|
Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:16:57 am Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm
Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Năm xuất bản: 1982 Số hóa: macbupda (https://lh3.googleusercontent.com/wGwKRA1X_RacNvf-0VuL77xkHKETYXSRx2DbfyecH5wUBOQCxYdIN2Ta6cBlFQqwMgzlG_hJT7z1jHBGP114q5jqBAXaNMVujMXwDEdZ8tqzB5UwopOjpKCS8gC6R1Dic_MxbYYHR-lgLOX3s0opAKr1DYA4WX8mH6L0Drp7UKsDgFG5QMB8GwjiIa0Z_PspHEe8OUWmaTqppCAw_NSiiTAEYpAR1RMJfLhEEdAmvuJST1PnmiqyWKQA6XGlrjuUO7Y9UxllLMcqayX5b0YGMp7zfUAiAVLIfR9T_BCme7uUxF53GOkhDkP32Dxa2-gxMehHwlGaGQdUYeM6hFc96UGaxazxrrtxk0KwEoMCMSoA6P30bZgkwHJoYkGpwdk6LdaKu3xW4uGeUtBlYo3qCfoE4PToVESHCIrhepNiXqEK551JMtwQ49P8UajtqXB-nb-m2fVvt2606lufDrPjm1fGkxMTzUV2AzUaevPAympzj2ajvdW8aJVZi-2prJWKl_-hIHUwKpweFYy5juiXuP_l6xxvP4klQy-nntPFIRIHxRaHVEkWSMy_EyFXCk-fuZLSS3K-1pvvW8DrPINvh4Gy0S8V15xUIkWXqhXICRWE9oufC2VoRey4Uyi_-OSTiPZlSk-nsdg1rBICGgT9LdXk=w492-h827-no) LỜI NÓI ĐẦU Năm 1978, Tổng Cục Chính Trị Quân Đội nhân dân Việt Nam chủ trương cán bộ đã công tác và chiến đấu ở các chiến trường ghi hồi ký của mình về cuộc chiến tranh chống Mỹ oanh liệt của dân tộc ta và đề nghị tôi viết về B2 trong mùa Xuân thắng lợi năm 1975: “B2 đã chấp hành nhiệm vụ của Trung ương giao thế nào? Đã đóng góp gì vào mùa Xuân vẻ vang ấy?”. Vâng, cũng như các chiến trường trên toàn quốc, để làm tròn nhiệm vụ vinh quang của mình, B2 đã đóng góp không nhỏ vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Vùng đất B2, con người B2, đã tự hào xứng đáng là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhớ lại và ghi về những sự việc xảy ra ở đây là một vinh dự và cũng là trách nhiệm của mọi cán bộ chiến sĩ, mọi người của B2. Tôi đã nhận lời. Nhưng tôi nghĩ lại sự đóng góp của B2, một chiến trường chủ yếu, không những chỉ là riêng lẻ những trận đánh, những cân gạo, những con đường, những con người đã ngã xuống, mà còn là những cái gì lớn hơn nhiều, có giá trị về chiến lược, nghệ thuật tổ chức, bằng thực tế thúc đẩy quá trình thắng lợi của cuộc chiến tranh, có tính chất góp phần vào chủ trương, đường lối của Trung ương nữa. Cũng không phải chỉ toàn là những chiến thắng hào hùng, mà còn cả những thất bại chua cay tạm thời, từng nơi, từng lúc, vì tất cả đó là sự thật, và là những kinh nghiệm quý báu. Nó là những nốt nhạc không thể thiếu để dựng thành bản giao hưởng anh hùng của thời đại. Vậy thì chỉ ghi lại một số sự việc của những ngày thắng lợi cuối cùng, dù là thắng lợi rất vĩ đại, cũng sẽ là một thiếu sót lớn. Muốn tạo được mùa xuân bừng sáng, không thể không trải qua một mùa đông âm u; muốn có được mùa khô thắng lợi, không thể không trên cơ sở của mùa mưa năm trước. chỉ nói về ngọn mà không nói về gốc thì thật là khó nói, và nói sẽ không đúng. Vì vây, tôi quyết định ghi lại những gì tôi biết và nhớ về B2 trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài. Đây là một việc không đơn giản, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ, tìm tòi tư liệu, gặp lại cán bộ, về lại chiến trường xưa, tìm lại sự thật diễn biến hết sức trung thực... Phải nhờ nhiều anh em góp sức, cộng tác, phải cộng trí nhớ của nhiều đồng chí trên nhiều cương vị, nhiều khu vực chiến trường. nhưng tôi quyết tâm làm vì xem đó là trách nhiệm cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh giải phóng, và cũng không thể trút cho ai, đối với B2, vùng đất mà tôi rất yêu quý vì hầu như suốt cuộc đời mình, sống và phục vụ ở đó từ những ngày hoạt động chính trị bí mật trước cách mạng tháng Tám cho tới thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc và có lẽ tôi cũng sẽ chôn nằm xuống mãi mãi ở đây. Tôi chia tập sách của mình thành năm đoạn: Đoạn 1: Từ hiệp định Genève năm 1954 tới phong trào đồng khởi năm 1960. Đoạn 2: Từ năm 1961 tới 1965, thời kỳ chống chiến tranh đặc biệt có kết quả. Đoạn 3: Từ năm 1965 đến năm 1968 – Đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ. Đoạn 4: Từ 1969 đến 1973 – chống Việt Nam hóa chiến tranh và đuổi quân Mỹ khỏi Việt Nam. Đoạn 5: Từ Hiệp định Paris 1973 đến ngày toàn thắng (1973-1975). Tôi bắt đầu viết về giai đoạn chiến lược cuối cùng, giai đoạn còn đang nóng hổi (đoạn 5) vì nó phù hợp với yêu cầu của nhiều người, đặc biệt là anh em B2. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:18:38 am Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều người cũng chưa rõ lắm. Để tiện bạn đọc dễ hiểu hơn những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.
“B2” là ký hiệu để gọi của một vùng đất và những con người ở phần phía nam tận cùng của Tổ quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cả Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 chạy về phía Nam, lúc ấy ta chia làm 4 chiến trường – B1 hay thường gọi là Khu 5 gồm những tỉnh ven biển Miền Trung từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào đến Phú Khánh ngày nay. B3 là vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kontum và Đắc Lắc. B4 là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ. Và B2 là phần còn lại của Miền Nam từ Tỉnh Gia Nghĩa cũ (một phần của tỉnh Đắc Lắc ngày nay), Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500 – 2.000 mét ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống Miền Đông Nam Bộ. Tiếp ngay theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười... Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược, xóm làng bị chia cắt bằng những hệ thống sông lớn như: Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kinh rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bón mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng ngàn Kilômét và một thềm lục địa rộng, giàu tài nguyên thiên nhiên, với các cảng biển và cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sàigòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá... có lợi thế cho bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam bộ phát triển cao nhất trong toàn Miền Nam được Mỹ củng cố xây dựng để đảm bảo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sàigòn của ngụy quyền tay sai là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến 4 triệu dân; là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả Miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ xuất phát hành quân của Mỹ - Ngụy đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mỹ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mỹ và phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và cho lực lượng tay sai. Mỹ ngụy tổ chức Miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ sông Bến Hải trở vào tính là vùng 1 cho đến vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Sàigòn nằm giữa vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu Thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy. Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn Miền Nam, tương ứng với một phần vùng 2 và cả vùng 3 và vùng 4 của địch gộp lại. Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia B2 thành: Khu 6 (Phần cuối đất Trung bộ), Khu 7 (Miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (Miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sàigòn – Gia Định(1). Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Kampuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ số 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, Kinh Vĩnh Tế và các đường, các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau trong công tác làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con... thường qua lại thuận lợi trên các đường sá sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc hai bên bờ biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cùng đấu lưng chiến đấu cho hạnh phúc chung của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia. Vì vậy mà khiến cho lũ giặc căm tức lồng lộn để rồi mở rộng xâm lược, vươn nanh vuốt vào cả hai đất nước. Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, vốn có nguồn gốc ông cha ta xa xưa từ Miền Bắc, Miền Trung thân thiết, có lòng yêu nước nồng nàn; luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu; hướng về thủ đô Hà Nội, Thăng Long với niềm tin bất diệt: “Từ thuở mang gươm đi mở nước, “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. (Thơ Huỳnh Văn Nghệ một chỉ huy quân sự ở Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp). Con người B2 có niềm tự hào với những tuyền thống quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Thủ Khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước cương trực của Nguyễn Đình Chiểu... với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười Tám Thôn Vườn trầu” Hóc Môn, Bà Điểm... B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến thiết tha dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh - ở thị xã Phan Thiết, ở Bến nhà Rồng... Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, cách mạng tháng 8 năm 1945... Tất cả những cái ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2, sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh, hy sinh tất cả vì độc lập, tự do... * * * Viết những dòng suy, nhớ nay tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại vinh quang của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2 mà tôi hàng yêu mến; những con người từ thành thị đến nông thôn, sống rải rác ở rừng núi, bưng biền hay tập trung ở các khóm phường, làng mạc. Đặc biệt là đối với những bạn bè; người thân; đồng chí; đồng đội, những người đã quen biết cũng như chưa hề quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, dù ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình nhuộm thấm từng tấc đất B2 để đổi lấy độc lập, tự do, đã hy sinh tất cả cho Bắc Nam một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc, của Tổ quốc. Đúng, chỉ có họ, những con người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến, những sự kiện; những chịu đựng và hy sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến, được biết và còn nhớ. Tất nhiên do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chỉ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay tôi không thể nói hết ở đây những sự tích thần kỳ của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần tuy nhỏ của mình với những người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ được phần nhỏ nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2. Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi đã tự đề ra cho mình một quy định: Viết đúng sự thật hoàn toàn những sự thật có người đã biết cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loai trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhứt là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2 góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân. Tôi cũng xin tỏ ở đây lòng cảm động và biết ơn đông đảo các đồng chí, bạn bè đã khuyến khích, đã giúp đỡ; góp ý kiến, cộng tác trên mọi phương diện vô cùng quý báu. Xin cảm ơn các đồng chí ở các Ban Tổng kết chiến tranh các bộ phận tư liệu của Bộ Quốc phòng, của Quân Khu 7, Quân khu 9, của thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở các Ban Chỉ huy Tỉnh đội thuộc B2 cũ. Đặc biệt hai đồng chí thượng tá Nguyễn Viết Tá, đại úy Võ Trần Nhã đã để nhiều công sức sưu tầm tài liệu, liên hệ các địa phương, góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này. MÙA XUÂN 1980 (1) Những tỉnh trong các khu: - Khu 6: Quảng Đức (Gia Nghĩa), Tuyên Đức (Đàlạt), Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy. - Khu 7: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa), Bình Long, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa. - Khu 8: Long An (Tân An), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Sa Đéc), Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre). - Khu 9: Châu Đốc, An Giang (Long Xuyên), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Phong Dinh (Cần Thơ), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Kiên Giang (Hà Tiên Rạch Giá), Chương Thiện (Bạc Liêu), An Xuyên (Cà Mau). - Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:21:38 am CHƯƠNG MỘT MẶT TRẬN MỚI Hàng loạt bom B.52 nổ dữ dội và liên hồi làm rung chuyển các hầm trong Sở chỉ huy Bộ Tư Lệnh Miền. Ngay sau đó, loa phóng thanh treo trên các cành cây vang lên tiếng báo cáo của trực ban canh gác khu vực: “Chín chiến B.52 chia làm ba tốp thả ba loạt bom ngang qua khu A, giữa B1(1) và B2(2). Tất cả đều an toàn”. Chúng tôi tiếp tục buổi giao ban. Một cán bộ Tham mưu lại vào báo cáo: “Điện Bộ Tổng Tư lệnh cho biết Hiệp Định Paris đã được ký kết!.” Bất giác tôi mỉm cười nghĩ về cái phút giao thừa kỳ quặc giữa chiến tranh và hòa bình này – nếu quả thật có hòa bình. Thì ra Mỹ đã tận dụng từng giây cuối cùng của cuộc chiến tranh dài hàng chục năm, với những con quạ sắt B.52 gở bản “thông điệp hòa giải” đầy ý nghĩa (!) Dầu sao thì tin Hiệp định hòa bình Paris được ký kết cũng làm cho mọi người thở phào nhẹ nhõm. Nét hân hoan lộ rõ trên từng khuôn mặt của người chỉ huy. Những khuôn mặt dày dạn rám nắng, trông ai cũng gày mà khỏe. Đây phải chăng là phần thưởng quý giá cho gần mười tháng nỗ lực chiến đấu liên tục trên toàn chiến trường nhằm mục đích buộc địch phải ký cho được một hiệp định đình chiến, kết thúc một giai đoạn chiến lược. Chưa bao giờ có đợt hoạt động quân sự kéo dài và ngày càng gắng sức đến oải cả gân cốt như thời gian vừa rồi. Các quân khu đơn vị đều báo cáo về Bộ chỉ huy Miền những thắng lợi đã đạt được, những vị trí mà quân ta đang giành giật từng giờ với địch, nhưng đồng thời cũng không ngớt báo cáo những khó khăn, thiếu quân số, lương thực, đạn dược và đặc biệt là nói lên sự thấm mệt của cán bộ và chiến sĩ. Tư Lệnh Quân khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) đã điện đề nghị thẳng thừng với Bộ Tư Lệnh Miền cho lịnh kết thúc ngay chiến cuộc để chấn chỉnh lực lượng. Bộ đội không còn sức để đánh nữa! Nhưng, kẻ địch của ta vô cùng ngoan cố. Chúng đã bị thua đau trên chiến trường, đã bị đuối lý trên bàn hội nghị, đã buộc phải chấp nhận ký kết vào tháng 10, rồi lại tráo trở lật lọng. Thế thì ta phải làm gì? Kết thúc hoạt động, nghỉ, mục tiêu chưa hoàn thành ư? Không! Phải tiếp tục đánh. Ta phải đánh cho chúng phải hiểu ra ý chí của con người cách mạng là thế nào. Cái khó quyết định là ở những giờ phút như thế này. Ngừng lại, sự việc sẽ đi theo một hướng. Ráng lên chút nữa, giành thêm ít thắng lợi nữa, sẽ tạo ra được một chất lượng mới, sự việc tất yếu sẽ theo một hướng khác. Ta đã làm như vậy. Đã ráng lên một chút, đã giành thêm một ít thắng lợi ở Miền Nam trong tình trạng tưởng như kiệt sức, tưởng như không còn gạo, đạn để tiếp tục đánh. Ta đã vững vàng, thông minh và hiên ngang đánh trả, tiêu diệt hàng loạt B.52 và các loại máy bay khác, mười hai ngày đêm ròng rã ở Hà Nội, Hải Phòng, tưởng như sự việc diễn ra trong truyện thần thoại của con Rồng cháu Lạc xa xưa. Và rõ ràng, ta đã tạo được chất lượng mới: Kẻ địch, tên đế quốc đầu sỏ, nham hiểm và tàn bạo nhất của thời đại đã phải cúi đầu khuất phục. Chúng đã phải ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. “... Đánh cho Mỹ chút, đánh cho Ngụy nhào “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào “Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”. Thưa Bác, chỉ thị ấy của Bác năm nào, thể hiện chủ trương tài tình của Đảng, nay chúng con đã hoàn thành được một phần quyết định. Mỹ cút ắt Ngụy sẽ phải nhào và Bắc Nam nhất định sẽ sum họp. Chúng con nguyện làm hết sức mình để hoàn thành nhanh nhất ước mong của Bác. Đó là ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi khi biết chắc Hiệp định Paris đã ký kết. Bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh đã tạo ra rồi. Một chặng đường dài gay go đã vượt. Xốc lại hành trang, gom thêm sức lực, để bước nốt quãng đường còn lại, có lẽ không kém phần phức tạp khó khăn. Nhưng ta đã nhìn thấy rõ ánh sáng hồng ở chân trời. (1) Bộ tư lệnh Miền. (2) Bộ Tham Mưu Miền. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:27:11 am * * * Một ngày đầu tuần tháng giêng 1973, trong Sở chỉ huy Miền, tại gian nhà hầm giữa khu rừng căn cứ, không khí nhộn nhịp sôi nổi. Chúng tôi đang theo dõi tình hình chiến trường, đơn vị, nhưng trọng tâm là khẩn trương bàn kế hoạch và biện pháp thi hành hiệp định Paris một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Còn bao nhiêu việc phải làm: nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng; cảnh giác với kẻ địch mà chúng tôi đã hiểu biết tường tận từ lâu... Bỗng một cán bộ tham mưu vào trao cho đồng chí Năm Ngà(1) – tham mưu trưởng Miền lúc ấy, một bức điện hòa tốc. Đồng chí Năm Ngà nhẩm đọc lướt nhanh qua bức điện, với vẻ mặt nghiêm nghị, không phân tích được là vui mừng hay lo lắng, trao cho tôi. Nội dung bức điện: Trung ương chỉ định tôi làm Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở Sàigòn. Ồ! Thật là đột ngột. Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã xếp đặt từ trước thành phần của Đoàn và đã được Trung ương đồng ý rồi cơ mà, nay bỗng nhiên có sự thay đổi Trưởng đoàn vào giờ chót. Và chỉ còn vài ba hôm nữa tôi phải có mặt ở Sàigòn! Trong đời chiến sĩ suốt mấy chục ăn, tôi đã thường gặp biết bao sự việc bất ngờ, trên chiến trường, trong công việc, ở từng con người, của bạn cũng như của thù, nhưng lần này, bất ngờ đến với tôi đầy thú vị và cũng đầy lo lắng. Lo lắng vì công việc quá mới đối với tôi, và gấp quá, phải khăn gói lên đường ngay trong lúc tôi chưa kịp có thời giờ hình dung được công việc, nói gì đến chuẩn bị mọi thứ cho mặt trận đấu tranh mới, hoàn toàn không giống như trên chiến trường. Tuy vậy, trường hợp đột ngột trong công tác mà cấp trên giao cho tôi như vậy không là lần thứ nhất. Tôi đã quen rồi. Tin ở lãnh đạo của trên, tin ở các đồng chí cộng sự, tin ở mình, tôi vẫn bình tĩnh nhận lãnh trách nhiệm. Thực ra trong trường hợp này phần thú vị giành cho tôi nhiều hơn. Sàigòn thân yêu của tôi! Đã lâu lắm rồi từ hồi mồ ma thực dân Pháp, tôi đã sống, hoạt động cách mạng sôi nổi, đã thắng lợi và cũng đã từng nếm mùi thất bại ở đây, đã chiến đấu và phải xa thành phố mấy chục năm nay, giờ đây trở về trong sự theo dõi của đồng bào, đồng chí và trong vòng vây dày đặc của kẻ địch. Những đường phố, chợ búa, nhà máy, những xóm lao động nghèo, quen thân xưa kia giờ đây, chắc chắn đã thay đổi, nhưng có còn giữ chăng những kỷ niệm của những người con Sàigòn, như tôi, quyết tâm ra đi để rồi quyết tâm trở về trong một ngày nắng ấm. Đã một lần rồi, tôi đã cố trở về nhưng chưa đạt và lần này nữa, chưa phải là lần trở về hoàn tất, nhưng vẫn đầy thú vị như trong một giấc mơ đẹp. Trong một phút bao nhiêu ảnh tưởng tượng Sài gòn, xưa có, nay có, diễn qua đầu tôi như một cuộn phim. Thấy tôi ngồi im, đồng chí Mười Khang(2) nhắc: - Thế nào? Nhận nhiệm vụ đấy chứ: Chúc mừng nhé! Thế là đồng chí đến bắt tay và ôm hôn tôi, căn phòng tức thì vang lên mỗi người một câu chúc mừng, gởi gắm, rộn rã tiếng cười vui, không còn là không khí của buổi họp công tác nữa. Tôi trao đổi vào câu với anh Mười Khang rồi xin phép đi chuẩn bị cho cuộc hành trình vào Sàigòn. Mọi việc ở nhà anh Mười Khang đảm trách. Về đến nhà riêng của mình, nhìn xung quanh cảnh vật quen thuộc từ bao năm, tôi bỗng chốc xúc động với sự tạm biệt. Một cơn gió nhẹ lướt vào, phảng phất hương vị ngọt ngào của muôn loài hoa lá rừng xanh. Trên cánh đồng ruộng hẹp trải dài trước nhà, dọc theo thung lũng, từng đàn chim nhỏ vội vã lượm nốt những hạt lúa còn rơi rớt của vụ mùa sản xuất tự túc vừa qua. Dòng suối róc rách men theo đồng ruộng, len lỏi dưới những rặng cây xơ xác vì bom đạn, mới nhút một ít mần non mơn mởn. Mọi cảnh vật hôm nay dường như cũng đang có một tâm hồn dào dạt, tươi vui, quyến luyến. Không biết tôi còn ngồi trầm ngâm như vậy mấy phút nữa nếu như không có các anh Chín Vinh(3) và Hai Lê(4) phó chính ủy và chủ nhiệm chính trị Bộ Tư Lệnh Miền bước vào, kéo tôi về thực tại. - “... Anh cần gì nữa, anh đã bằng lòng với tổ chức và thành phần Ban liên hợp của anh chưa? – Anh Chín Vinh hỏi. Tôi đồng ý giữ nguyên tất cả những gì đã được sắp xếp và chỉ yêu cầu cho thêm tôi đồng chí Tư Bốn(5) Đồng chí là một cán bộ tình báo, anh hùng quân đội, đã ở trong Sàigòn hơn ba năm và mới ra căn cứ mấy tháng nay sau khi đã có triệu chứng bị lộ. Đồng chí rất thạo Sàigòn, rành từng đường phố, biết nhiều nhân vật thuộc vài giới đô thành. Ngoài việc giúp tôi một số việc đồng chí là người lái xe của tôi nếu địch đồng ý để ta tự lo người lái. (1) Tức Thiếu tướng: Nguyễn Minh Châu. (2) Tức Đại Tướng Hoàng Văn Thái – lúc ấy là Trung tướng. (3) Tức Thiếu tướng Trần-Độ. (4) Thiếu tướng Lê-Văn-Tưởng. (5) Thượng Tá Nguyễn-Hữu-Trí. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:30:31 am Anh Hai Lê lại nhắc:
- Trung ương còn hỏi anh lấy tên gì điện ngay ra để kịp báo qua Paris, phái đoàn ta cần chuyển cho Mỹ Ngụy. Từ lâu tôi cũng như mọi người, có dùng tên thật bao giờ đâu mà thường dùng bí danh và thỉnh thoảng lại thay đổi nhằm gây khó khăn phần nào cho sự theo dõi của địch, giữ bí mật cho hoạt động của ta. Mỗi giai đoạn dùng một cái tên cho một công tác nào đó là chuyện thông thường của chúng tôi trong chiến tranh. Giờ đây, trước một nhiệm vụ mới, tôi xuất hiện mặt đối mặt với đối phương, tất nhiên phải lấy một cái tên nào đó. Hầu như không suy nghĩ, tôi lấy ngay tên “Nguyễn Việt Châu” – tên của người em ruột vô cùng thân thiết đã hy sinh năm 1969 trong lúc đang chủ trì cuộc họp Đảng ủy thị xã Cần Thơ. Hai anh em chúng tôi đã cùng sống ở Sàigòn, cùng tham gia hoạt động cách mạng bí mật thời thuộc Pháp ở đây, cùng ra khỏi nhà tù Khám lớn của Pháp, cùng tham gia khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, cùng đi kháng chiến từ Sàigòn thân yêu, nay tôi trở về thành phố này tự nhiên nhớ đến người em yêu quý, người đồng chí chết sống có nhau, được mang cái tên không lúc nào quên này thì sung sướng biết mấy. Nhưng rồi một hôm trong bữa ăn bình thường của Bộ Tư Lệnh Miền có mặt cả anh Bảy Cường(1) tôi mới sự nhớ ra rằng tôi về Sàigòn, không như một người xa lạ mà lại mang một cái tên khác thì thực là bất tiện. Vì nhân dân Sàigòn hẳn nhiều người chưa thể quên những đứa con đã ra đi kháng chiến từ những năm nào và từ ấy đã gởi gắm vào đó niềm tin và hy vọng. Và kẻ địch không ít người đã từng biết tôi ví như Trần Thiện Khiêm thủ tướng Ngụy quyền, Lâm Văn Phát, thiếu tướng Ngụy và một số tướng khác. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự Đà Lạt của Pháp, họ đã ra Đồng Tháp xin đi kháng chiến năm 1947. Là tư lệnh Quân khu 8 lúc ấy, tôi đã thu nhận, cho họ đi học và tập sự ở trường quân chính quân khu. Nhưng rồi không chịu được gian khổ, không có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, nên họ lại trốn về đầu hàng Pháp trở lại, tiếp tục phục vụ chủ Pháp rồi chủ Mỹ cho đến nay. Ngay bọn Mỹ có lẽ cũng đã có hàng chục tấm ảnh của tôi. Như vậy tốt nhất dùng tên từ trước mà bạn, thù ai cũng đã biết. Các anh trong Trung ương Cục và Quân ủy Miền đều đồng ý. Thế là lại đề nghị Trung ương chấp thuận và điện qua Paris để thông báo cho đối phương: Trưởng Đoàn đại diện chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam là Trung tướng Trần-Văn-Trà. Chỉ còn một ít thời gian, tôi vội phác qua kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới, kiểm tra lại tổ chức của Đoàn, bàn kỹ với anh Ba Trần(2) về nhiệm vụ, về người, về tài liệu phương tiện, đặc biệt về thông tin liên lạc, dự kiến các tình huống, quyết định các biện pháp và giao cho anh Ba Trần, phó đoàn, thay tôi điều khiển mọi công việc thực hiện. Anh Ba Trần quê Hóc Môn sông từ nhỏ ở Sàigòn, đã đi kháng chiến từ những ngày đầu chống Pháp năm 1945, là Tham mưu phó Miền, đặc biệt phụ trách tổ chức và điều khiển đoàn tình báo chiến lược. Anh thạo Sàigòn, hiểu biết nhiều về địch, tôi tin ở khả năng của anh và nghĩ có lẽ địch cũng sẽ nể nang anh do dáng người khỏe, trắng mập, có bề thế và chững chạc. Còn tôi thì họp với Bộ Tư Lệnh Miền có các cơ quan Tham ưu, chính trị, hậu cần... dự, bàn sâu cụ thể về mọi biện pháp phối hợp đấu tranh giữa bàn hội nghị và trên chiến trường. Tôi nhấn mạnh trên bàn hội nghị 4 bên ở Sàigòn, kẻ địch phải kiêng nể chúng tôi, chúng tôi có giành được thắng lợi nào trong việc triển khai thực hiện Hiệp định, thì đó chủ yếu là do sức mạnh của bộ đội ta trên chiến trường, do uy thế của các anh bên ngoài này là chính. Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng là những người đại diện của các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng Miền Nam anh hùng ngay giữa thủ đô của địch và cũng là giữa lòng đồng bào thân yêu của ta. (1) Tức đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị bí thư Trung ương Cục. (2) Thiếu tướng Trần-Văn-Danh. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:31:49 am 28-1-73 là ngày mà chúng tôi phải có mặt tại Sàigòn. Đã hẹn giờ cho Mỹ đưa trực thăng đến đón chúng tôi ở Thiện Ngôn, một địa điểm nằm về phía Bắc Tây Ninh, ngay trên quốc lộ 22. Thiện Ngôn trước kìa có một lõm dân cư nhỏ sống nghề rừng. Trong chiến tranh, Mỹ đã đuổi hết dân và xây dựng ở đây thành một cứ điểm cho một chiến đoàn Mỹ đóng quân chung quanh. Đầu năm 1972 - lúc này quân ngụy đã thay thế cho Mỹ - Thiện Ngôn là hướng thứ yếu của chiến dịch “Nguyễn Huệ”(1). Trong chiến dịch ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này. Cho nên Thiện Ngôn lúc ấy chỉ là một bãi chiến trường cũ, hoang vắng, cây cối cháy trụi, mặt đất, mặt đường loang lổ hố bom đạn, xác tăng, thiết giáp, pháo, xe vận tải Mỹ ngổn ngang đây đó. Chỉ còn lại đường băng sân bay là tạm xử dụng được chờ trực thăng. Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, chúng tôi phái một tổ trinh sát đến tại Thiện Ngôn, dựa vào hầm hố cũ sửa sang lại thành công sự vững chắc, ở đây chờ địch, trước, trong và sau giờ hẹn. Anh em tổ nay thường xuyên cứ 15 phút điện cho chúng tôi biết mọi tình hình diễn biến tại đây. Trong lúc đó một đoàn cán bộ, với đủ phương tiện, thực sự chuẩn bị điểm xuất phát của Đoàn ở sân bay Lộc Ninh. Và toàn Đoàn chúng tôi ung dung tổ chức ăn tết Quý Sửu trước. Chúng tôi biết rằng đến Sàigòn là phải khẩn trương bắt tay vào việc nên mặc dầu còn 4, 5 ngày mơi tới Tết âm lịch, chúng tôi tranh thủ lúc còn “ở nhà”, vùng tự do giải phóng của ta, cùng nhau hưởng một cái tết dân tộc đậm đà tình nghĩa người đi kẻ ở. Ăn trết trước! Âu cũng chỉ là lặp lại một sự việc đã diễn ra đôi lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc ta. Quảng Trung – Nguyễn Huệ đã khao quân ăn tết trước, Tết Kỷ Dậu (1789), tại điểm điểm tập kết quân ở Tam Điệp để rồi tiến về Thăng Long, đại phá quân Mãn Thanh làm nên chiến công hiển hách Đống Đa và chấm dứt vĩnh viễn ngay từ đó sự đô hộ của kẻ thù phương Bắc trên đất nước ta. Mùa Xuân năm 1968 toàn Miền Nam cũng đã ăn Tết trước, Tết Mậu Thân, để rồi xông lên tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm kinh hoàng Nhà Trắng, làm mất vía Lầu Năm góc và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán với ta ở Paris, và rồi kết thúc hội nghị dài dằng dặc vào mùa Xuân này. Mùa Xuân này, Xuân Quý Sửu, chúng tôi lại ăn tết trước để vào tận giữa sào huyệt của quân thù đòi chúng thi hành đúng đắn Hiệp định và xem chúng còn dở trò gì, chúng thực sự muốn gì.
Giữa căn nhà hầm của Bộ Tư Lệnh Miền, bữa cơm Tết đậm đà hương vị. Không có gì thịnh soạn lắm nhưng cũng có bánh tét và cả bánh chưng, có thịt heo tự túc lại có thịt heo rừng, có dưa hấu và có rượu mùi, có sản phẩm tại địa phương lại có cả quà từ Hà Nội. Các anh bên Trung ương Cục, Mặt trận, Chính phủ, các đồng chí trong Bộ tư Lệnh Miền, đại diện các cơ quan đoàn thể và cả phóng viên Báo quân giải phóng... đã đến dự cùng các thành viên trong đoàn chúng tôi. Thật là thân tình và ấm cúng. Niềm vui tỏa lên nét mặt mọi người. Niềm vui tràn lên từng ly rượu. Chúng tôi chúc nhau thắng lợi, hẹn ngày gặp lại rực rỡ hơn hôm nay, chúc thành công cả trên bàn hội nghị, cả trên bãi chiến trường. Vào giữa bữa cơm tết, câu chuyện đang râm ran thì chúng tôi nhận được bức điện từ Thiện Ngôn: “Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ đến đón Đoàn mà có 2 phi cơ địch bay lượn vài vòng, thả một số loạt bom quanh sân bay. Mảnh bom cùng mảnh xác tăng thiết giáp bay tung tóe ngay quanh hầm chúng tôi. Sau đó yên tịnh”. Mọi người lại rót rượu và cùng nâng cốc chúc sức khỏe của chúng tôi trong Đoàn, chúc mừng sự khôn ngoan và cảnh giác của chúng ta, chúc mừng sốt dẻo một trận thắng đầu tiên của Đoàn trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ Ngụy. Câu chuyện trong bữa cơm càng thêm giòn giã, qua bàn luận về sự kiện Thiện Ngôn vừa rồi, về khả năng lật lọng của Mỹ, ngụy đối với Hiệp định Paris, sự phức tạp trong nhiệm vụ của chúng tôi, cũng như trong công tác ở chiến trường. Mặc dù vậy ở mọi người hôm ấy đều nung nấu một niềm tin mãnh liệt, niềm tin tất thắng, bất cứ trong tình huống nào. Ở mỗi cặp mắt ánh lên sức sống rực rỡ của mùa Xuân. Ngoài trời, không khí khô ráo, mắt mẻ dễ chịu. Khắp nơi, dọc mọi nẻo đường, men dài các trảng màu trắng phơ phới của hoa ngành ngạnh, xen lẫn màu vàng óng ả của mai rừng. Vùng căn cứ năm này Xuân về cũng sớm, cảnh vật như cùng đua nhau hưởng ứng niềm vui thắng lợi. Lộc Ninh, một thị trấn đông dân và sung túc trong vùng giải phóng Miền Đông Nam Bộ, nằm cách Sàigòn 100km ngay trên quốc lộ 13, chạy lên Kampuchia, rồi Lào. Quá về về mạn Bắc là quốc lộ 14 cũ đi lên Ban Mê Thuột – Tây Nguyên và về mạn Nam là đường 17, nối với vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của ta. Từ khi được giải phóng, tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh trở thành một vị trí quân sự quan trọng làm lo lắng cho quân địch phòng thủ Sàigòn và là một trung tâm chính trị của vùng giải phóng B2. Đất Lộc Ninh vùng đất đỏ phì nhiêu thích hợp với cỏ cây miền nhiệt đới, với rừng cao su bạt ngàn từ thời thực dân Pháp để lại, sum suê những vườn cây ăn trái nào sầu riêng, chôm chôm, xoài, vú sữa… với hàng trăm mẫu tiêu và cà phê có giá trị. Lộc Ninh trước đây vốn là một huyện lỵ thuộc bỉnh Bình Long, một cứ điểm kiên cố nằm trong hệ thống phòng thủ ngoài cùng của Sàigòn do quân đoàn 3 ngụy phụ trách. Trong chiến dịch “Nguyễn Huệ” của ta, đây là hướng chính, là điểm then chốt nhất cần phải thanh toán trên vòng đai phòng ngự tuyến ngoài của địch. Nơi đây không những ta đã tiêu diệt cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của địch mà còn diệt nhiều trung đoàn xe tăng, thiết giáp nhiều chiến đoàn sừng sỏ của quân đoàn 3 ngụy, bắt sống nhiều tù binh, nhiều sĩ quan trong đó có tên đại tá Vĩnh mà sau này vì nhân đạo, vì thiện chí ta đã trả lại cho Mỹ Ngụy. Chính vì vậy mà Lộc Ninh trở thành biểu tượng chiến thắng của ta, mối nhục thất bại của địch. Ta muốn đối phương đưa trực thăng ra tận đây đón phái đoàn ta để chúng luôn nhớ đến đòn khủng khiếp ấy và từ địa điểm vinh quang này, Đoàn ta hiên ngang đi vào Thủ Đô Ngụy. (1) Chiến dịch tiến công của ta năm 1972 miền Đông Nam Bộ. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:33:56 am Ngay sau khi chúng đã phản trắc bằng cách ném bom vào điểm hẹn Thiện Ngô, ta liền kịch liệt phản đối chúng và hẹn lại ngày đón ta ở Lộc Ninh này. Một lần đánh hụt nhục nhã, hẳn một lần chúng phải tỉnh ngộ với ngón cao tay của đối phương. Ta mong chúng không còn dám dở trò dơ bẩn nào nữa, tuy ta vẫn có đủ biện pháp đề đề phòng bởi ta đã có bản chất kẻ địch không bao giờ thay đổi. Sau khi ném bom Thiện Ngôn nhằm diệt Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hiệp quân sự Trung ương, đã bị phản đối, chúng lại cho quân càn quét đánh phá ném bom các điểm hẹn đón các đoàn đại biểu ta ở các Ban liên hiệp quân sự khu vực Pleiku, Mỹ Tho, ở các tổ liên hiệp quân sự địa phương Phú Bài, Đà Lạt, Kontum, Tân An. Chúng luôn luôn lợi dụng từng trường hợp nhỏ, bất chấp lẽ phải, bất chấp các điểu khoản của hiệp định, dở mọi mưu mô thủ đoạn hòng tiêu diệt chúng ta, từng người, từng thôn xóm, nếu có thể. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại kích liệt phản đối chúng ngay trong các kỳ họp 4 bên ở Sàigòn và chúng lại xin lỗi, đổ cho bọn bảo an địa phương, hứa sẽ sửa trị. Chúng tôi thừa biết là chúng hứa suông cho qua chuyện. Những sự việc ban đầu đó buộc chúng tôi phải suy nghĩ rằng Mỹ Ngụy đã có kế hoạch phá hoại hiệp định Paris từ việc nhỏ đến việc lớn.
Phải chăng lịch sử lại diễn lại: Pháp đã bị thua nặng phải ký hiệp định Genève 1954 để rồi cùng với Mỹ ra sức phá bỏ không thi hành hiệp định; ngày nay Mỹ, Ngụy bị đòn nặng phải ký hiệp định Paris rồi lại dở trò phá bỏ hiệp định lần này nữa? Dầu sao thì chúng ta là những người đã có kinh nghiệm. Chúng ta đánh, và thương vong, để có được một hiệp định có lợi cho cách mạng. Chúng ta sẽ ra sức đấu tranh để thi hành mọi điều khoản của hiệp định. Vì độc lập tự do của dân tộc, chúng ta sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến cùng, đồng thời chúng ta cũng đưa ra bàn tay hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu vớt những người đã lầm đường lạc lối. Nhưng, với kinh nghiệm xương máu đã qua, chúng ta không khờ khạo để tin rằng kẻ địch của ta sẽ thành thật thi hành hiệp định, do đó chúng ta không hề ngạc nhiên về những lật lọng này. Và chúng ta đã có sẵn hai kế hoạch cho hai tình huống, có thể diễn biến: một là do ta đấu tranh có kết quả, do áp lực của nhân dân ta và nhân dân thế giới, kẻ địch buộc phải thi hành đúng hiệp định Paris; hai là chúng lại phá bỏ hiệp định. Tùy ở kẻ địch. Ta nỗ lực cho tình huống một. Nhưng ta cũng sẵn sàng đối phó với tình huống hai. Ngày 1-2-1973 đúng giờ hẹn, một đoàn trực thăng Mỹ, do một trung tá Mỹ chỉ huy, có sĩ quan ngụy đi theo, bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định, lượn một vòng trên vùng trời Lộc Ninh rồi lần lượt hạ cánh theo đội hình hàng dọc thứ tự từ đầu Bắc sân bay. Trong khi bay trên trời hẳn chúng đã nhìn rõ sân bay, phố xá, nhưng quan trọng hơn, chúng còn nhìn rõ hàng loạt các trận địa phòng không và xe tăng, bố trí nhiều vòng xa xa quanh thị trấn, sẵn sàng tư thế đối phó với những trò phản trắc, nếu có. Hôm ấy thị trấn Lộc Ninh quả như một ngày hội lớn. Cờ cách mạng tung bay khắp nơi. Đặc biệt, tại sân bay tỏa ra một không khí trang nghiêm và trật tự. Đông đảo đồng bào các giới, cán bộ, bộ đội ăn mặc chỉnh tề, vẻ mặt hân hoan từ mọi nẻo trẩy về, sắp thành đội ngũ. Một rừng cờ đỏ sao vàng xen lẫn với cờ nửa xanh nửa đỏ và bao nhiêu là biểu ngữ, khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của hiệp định Paris về Việt nam, đòi nghiêm chỉnh và triệt để thi hành hiệp định, hoan hô phái bộ quân sự chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam… Một cuộc meeting chớp nhoáng diễn ra sôi nổi, khí thế, ngay bên cạnh đoàn trực thăng Mỹ im lìm nằm đợi. Nhiều đại biểu thay mặt các giới, các đoàn thể đứng lên phát biểu ngắn gọn nhưng đều có nội dung hoan nghênh hiệp định, đòi thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hòa bình và hòa hợp dân tộc, chúc mừng Phái đoàn ta và gởi gắm lòng tin tất thắng vào sự đấu tranh của phái đoàn. Tôi đã thay mặt Đoàn tỏ lời cảm ơn cán bộ, chiến sĩ đồng bào đã tiễn đưa thân tình trọng thể, ghi nhớ điều dặn dò gởi gắm vào Đoàn, hứa xứng đáng với niềm tin ấy. Các sĩ quan và tổ lái người Mỹ, cố tỏ ra văn minh, đứng lặng lẽ nhìn, nhưng các sĩ quan ngụy thì bối rối tức bực ngồi lì trong trực thăng mà không dám ra ngoài. Cuộc meeting kết thúc, theo lịnh của Tư lệnh căn cứ sân bay Lộc Ninh, đoàn trực thăng Mỹ nổ máy khởi động. Tôi quay nhìn khắp lượt đồng chí, đồng bào, trùm lên cảnh vật Lộc Ninh cái nhìn trìu mến rồi lần lượt bắt tay mọi người. Tôi ôm hôn các đồng chí Văn Phác, cục phó chính trị miền đã cùng tôi tham gia chiến dịch “Nguyễn Huệ” cũng ngay tại Lộc Ninh nầy năm trước, đồng chí Lê Thế Thường, phụ trách tuyên huấn của miền, người đã có lần cùng tôi đi suốt dọc Trường Sơn. Đồng chí Thường hẹn: “Tôi sẽ gởi tặng anh cái ảnh tự tay tôi chụp về quang cảnh nhân dân tin yêu tiễn anh và phái đoàn ta vào Sàigòn hôm nay”. Đoàn chúng tôi vẫy chào đồng bào, đồng chí rồi hăng hái nghiêm trang lần lượt lên trực thăng trước sự quyến luyến của mọi người, trước rừng cờ hoa rung chào tiễn biên. Viên thiếu tá Mỹ chỉ huy chiếc trặc thăng của tôi tỏ ra rất lễ phép, cân thận kiểm tra chiếc ghế ngồi của tôi rồi bước xuống đứng nghiêm chào, mời tôi lên, đỡ tôi ngồi vào chỗ thoải mái, gài nịt an toàn cho tôi, xong lui về ngồi vào vị trí của y. đoàn trực thăng bốc lên thứ tự theo đội hình, quanh một vòng trên bầu trời sân bay, nghiêng nghiêng chào rồi thẳng về Sàigòn dọc theo quốc lộ 13. Không phải chỉ đoàn người đông đảo ở sân bay vẫy chào đoàn trực thăng chúng tôi mà hầu như tất cả mọi người, những người đang đi trên đường, đứng ở sân nhà, phố xá, đang làm trong ruộng lúa, rẫy khoai quanh Lộc Ninh đều ngừng việc đứng lên vẫy chào vui vẻ. Một cảnh tượng hết sức cảm động, hết sức hòa bình ngay ở khu vực còn đầy dẫy vết tích của chiến tranh tàn phá. Những người Mỹ ngồi trên trực thăng này, cả bọn ngụy nữa, họ nghĩ gì trước cảnh tượng đó, trái ngược với cảnh mới đây mấy ngày thôi, cũng những chiếc trực thăng này, vốn đã gây ra biết bao chết chóc chia ly cho bao gia đình, bay đến đâu, dưới cánh nó cũng đều vắng vẻ, mặt đất không một bóng người? Bất giác viên thiếu tá Mỹ, quay lại nhìn tôi, vừa tươi cười, vừa kính cẩn nói: “Các ông đã thắng cuộc”. (https://lh3.googleusercontent.com/9uhfEpBZQ7ePtC8WbztPZLlMeVhZH4wgJTCzg1u_-AJIj3gMlAL9B5BzoujT2ila2fx2WERElFNGtQuo8oiPyD9WxICiEh2bHFHfx7BVscryDB1UnfqFTQfIU6hJL-JM1NR7YJfvaceen2YymWFS-hd0v25_EcB5nEp6U04a5yO6i_hy9129H-L7u-2a8gZwUgZ40F5-hDqqsKsmTn7nbfWv-bQBb_hzk1rM7cw35ytHQjVuINqlSeg7hG2Ac9SQ1Up1MXCSxkThfkjVM0HVc6XKEbE5_YK6-K0kpCC7Ux2ejloWsw3L0SCvhIqCoT29E9u-MXyV5-zuyPQP9XcoRgAkqvHIbTw-Kv-gMH3J_nIsgdfWL8KmDXfzQolWdmeLrolnROeCedspAKQ6uB_3I_GQAkW2wsSHEsD0woDG2c1qq2mIUlOiS_1tbDKcCgFm6SBFbLangme3rLvfSUcSxKVfdvnBPv-nV9L6RVIF79Nm7UQvE1oWjNCZqh5v941vbByqpkepQVWGtZ_pQcJqPzU1wLYbmcO_JRt07zowcg-MYZvsTGmq3PXDVK-cenKB7OjkMgyJ5jj17o58yEM-KDqw5NhuRnvbGFt4P6keYw-q2OfcBRmXr6GzWHFZgVurz3JgLI1tKkabgfKKJrAWR4td=w800-h422-no) Máy bay Mỹ cất cánh chở đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hợp quân sự bón bên đi Sàigòn Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:35:18 am Đàn trực thăng bay dọc theo đường 13, qua Bình Long, Tầu Ô, Chơn Thành, Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát… tất cả những nơi này đều từng là chiến trường của rất nhiều trận đánh ác liệt giữa và quân Mỹ, quân ngụy, trong nhiều năm, là nơi còn ghi dấu của bao chiến công oanh liệt của những chiến sĩ miền Đông gian lao anh dũng. Nhìn xuống rừng cây – trước kia um tùm cây to, cây nhỏ chằng chịt chen nhau – mà nay xơ xác hoang tàn. Mặt đất chi chít những hố bom. Nhiều vệt dài tàn phá của bom B52 rải thảm, nằm liền nhau, vắt chéo lên nhau, rừng tan nát. Hèn chi mà từ trên nhìn xuống bọn Mỹ tưởng chừng như nơi nào B52 chúng đi qua là trên mặt đất ở đó không còn sinh vật nào sống sót, rồi huênh hoang rằng B52 là thần chiến tranh khủng khiếp. Đây rồi, ta đang bay qua sông Sàigòn, kia cầu Bình Lợi nằm giữa hai hàng lưới thép dày, sâu tận đáy sông. Và, An Phú Đông, rồi Tân Sơn Nhất. Đàn trực thăng hạ cánh xuống phần sân bay quân sự. Đoàn chúng tôi nói lời cảm ơn với tổ lái và bắt tay tạm biệt. Mọi người gọn gàng trong bộ quân phục chỉnh tề, không có quân hàm của quân giải phóng, đứng thành hàng một cách trật tự trên sân bay. Các sĩ quan xách cặp, đeo súng ngắn. Các chiến sĩ đầu đội mũ tai bèo, vai đeo ba lô và khoác súng AK. Nhưng mọi người đều thống nhất mang dưới chân mình đôi dép cao su nổi tiếng. Không biết Mỹ Ngụy có hiểu được cái dụng ý của chúng tôi không, nhưng các nhà báo trong nước và nước ngoài đông đảo có mặt ở sân bay hôm ấy thì rất tinh. Họ quay phim, chụp ảnh lia lịa. Tôi mỉm cười thú vị khi thấy họ chú ý quay nhiều, chụp nhiều những đôi dép cao su. Họ đã nói: “… và những đôi dép cao su giản dị, hiên ngang, họ đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Họ đi vào thủ đô Sàigòn của Việt Nam cộng hòa lần này cũng vẫn bằng những đôi dép cao su từ Mậu Thân 1968…” (UPI 1-2-73). Đúng, các nhà báo nói đúng sự thật. Những đôi dép cao su đã từng in dấu vết hiên ngang trên đường phố Sàigòn, ở nhiều mục tiêu quan trọng và cả sân bay Tân Sơn Nhất này nữa, cũng như trên khắp các thị trấn, thị xã, thành phố toàn Miền Nam hồi tết Mậu Thân để có được khung cảnh ngày nay – những đôi dép cao su vào Sàigòn lần này bằng bước đi đầy thiện chí – để rồi một ngày nào đó chắc chắn cũng những đôi dép cao su sẽ trở về Sàigòn một lần nữa – trong ngày giải phóng Sàigòn. Tôi nhìn từ đầu hàng đến cuối hàng các cán bộ và chiến sĩ của tôi trong đoàn mà nghe lòng vui sướng và tự hào. Những ánh mắt sáng, những nụ cười tươi, họ đứng với dáng đứng thẳng và chững chạc uy nghi, tất cả đều biểu lộ một lòng tin của kẻ chiến thắng. Họ là những cán bộ và chiến sĩ từ khắp chiến trường với nhiều cương vị khác nhau, bộ phận khác nhau và lứa tuổi cũng khác nhau. Có người có mặt từ cuộc kháng chiến chống Pháp, có người bắt đầu từ chiếc mõ tre trong đêm Đồng Khởi. Có người đứng lên cầm súng từ Tết Mậu Thân ngay tại đất Sàigòn này, cũng có người mới vừa tròn tuổi quân, nhưng đã từng góp phần vào chiến thắng Lộc Ninh, đường 13 bất diệt. họ đứng đó giản dị bình thường, thản nhiên trước ống kính của các nhà báo cũng như trước ánh mắt soi mói có, tò mò có, ngạc nhiên có, của quân cảnh Mỹ Ngụy lăng xăng đông đảo rảo quanh. Từ những đám đông người, xuất hiện những bộ quân phục, quân hàm của quân đội Hung và Ba Lan đến gần chúng tôi. Thì rra các đồng chí Hung và Ba Lan trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát cũng ra sân bay đón chúng tôi với nhã ý là sẵn sàng giúp đỡ khi Đoàn cần thiết. Tôi đã thân mật chào các đồng chí, tỏ lòng cảm ơn nồng nhiệt. Sau khi làm vài thủ tục đơn giản xong, chúng tôi lên xe, một đoàn xe du lịch đen của Mỹ hiệu Ford có, hiệu Chevrolet có, đi về trụ sở của Đoàn mà Mỹ ngụy đã tự sắp xếp: “Trại David” – ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất.
Trại David, một trại của lính Mỹ trước đây nay đã được sửa sang lại, bao gồm nhiều nhà trệt tạm thời bằng gỗ và lợp tôn, xây dựng thành từng hàng thẳng, giữa có những đường đi rộng, thỉnh thoảng mới được một vài cây có bóng mát. Nắng chói chang, nóng dữ đội, đặc biệt là vào buổi trưa. Ban ngày oi bức như vậy lại thêm tiếng gầm rú của đủ loại máy bay và trực thăng, tiếng ồn ào tạp nham từ mọi hướng làm cho ai nấy đâm ra bực bội, khó chịu còn đâu trí óc thảnh thơi suy nghĩ làm việc và nghỉ ngơi. May mà khí hậu tự nhiên ở đây từ mặt trời lặn và đêm là mát dịu trở lại, nhưng vẫn không dứt được tiếng ồn chát chúa liên tục. Thật rõ là một trại lính. Hoàn toàn phù hợp với người lính đang trong cuộc chiến tranh, hày còn quá xa với các tiêu chuẩn tối thiểu cho những phái đoàn ngoại giao. Đúng là bọn chúng chơi khăm chúng ta đây. Có lẽ chúng cũng mất nhiều công phu để tìm ra một trụ sở khá “thích hợp” cho cả hai phái đoàn ở chung: phái đoàn quân sự của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và phái đoàn chúng tôi. (https://lh3.googleusercontent.com/F7NZRU8_AYCKmir2gFo2a09A59zoHWD3_WxVN2JkAdcdlg5CDNLs_vO9Br1-jSgEWVgDAOQnU380A3EZNvqZUesbYEepL4nBWOZM8vH-uaYxgSbwvGt23fmcb60g4-O_51cPLdCffYQpkQxhZNSZ3MRbc7miLYraHEJ8h9zJN5tpRTDacgngGeAjLxYYUhUIJh7zw_Jsgd8ErFkItbi6wh523eVXfk7sT0xiwcXu0kgrR9kN3Mg-giiXdsAYqtbfrzrZ5g1b_ZiM1Y8tk33T26v-YNPqNIaoqdXlYnEKLE1r3wmXYk5sAAg13RT5DV8KHGYU_BbRES6ohnnfTEmJgVXKG4VKGwtOP2fEUYGbhPmwtsS8otU4x68R9jR1tCrTvDDTRldXKd7vsXZHz_aHseGwndygcQ0UAfWZvGy4qeIqmDUnrjrvDKZOgGhFURrv6etJ6TCuRPOi6DETe02o2e-ldxHpAxmluH02yl5n4jHHPDCtxTGR4bSFZov3mjXYNBzyPb7ZA5-a3rcuFwJ-ggPyqWVDGiT74veMq-kDHkDGzHWUvWLMphUE03UBEKZLJq0LIPOCjdhNvISh3u4-G3asX6RCR9MCrWPcdErWMcoWvdPNQJNY_sQt3OSCABgiRhW40mim4l7S-2JbYqq-GE19=w800-h499-no) Trong trại Davít Xe vừa vào khỏi cổng trại thì anh Lê Quang Hòa, anh Lưu Văn Lợi, anh Hồ Quang Hóa, anh Bùi Thành Tín và đông quá, toàn là quen biết, hầu như tất cả phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa ùa ra vây chặt đoàn xe. Chúng tôi vừa xuống xe, anh Hòa tặng tôi một bó hoa Lây-Dơn còn tươi mát của thủ đô Hà Nội rồi mọi người chạy đến hôm hôn nhau, tiếng cười tiếng vỗ vai đôm đốp. Thật là cảm động, thật là thân tình ruột thịt của những đứa con cùng một mẹ - bà mẹ Tổ quốc đã quằn quại đau thương trong bao năm khói lửa của chiến tranh. Thật là gần gũi, thật là vui mừng khi những người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau ở chiến trường trước một kẻ thù tàn ác nay lại gặp nhau ngay trong lòng địch, chung quanh dày đặc quân thù vì một mục đích cao cả: đấu tranh cho hòa bình, hòa hợp dân tộc. (https://lh3.googleusercontent.com/Y79RN2h_V-NzNFRocgL_UpRUP-0gM7pmuC0hJNrTNQIBe2-aWC1Ij6chBmboiGeImiKDp2ot2xxdMLKT9vtLTSyPCD_iaxyNRy39vlTuPiUIxrp7v8jdyYjmquSYew1eJ_N9CafAcIDQaiF1WTZ3l0beMoHPpz43wlgvwkdZmjOTBypSz1uHE2uN9aK9p2gmVb_aygsvCfCqsIIiZDkJrdl1MYvpj-O82xdaWqQWtJtM7BS-_9UIeSNJz8bedeQqFVa2W4gzy3pkTxVVXcYOD8eEk7nMiv6PEtZ3IwSL83bYjpd_C9pP9Q-Qnxofb_Ht63Ba2DUehYIxbhVJcdE6RPOWxZg5_DJXF75csfHng1F4diHp8QNd4WOoXigsWFsaA2-_TZmFNjJaCDZkhNmXFWMkWJb_9g28QH7Rh_TXHSQlCY1WkTl8E2NvRGFMaCbSF43FrXcg9FOSaLX9cFDrUKmA__sEUSdWfPJs8d3lXCeylgxSeLjysuk5OGuOymCxjnyskYWUlGIrF0BQx8xGgsqC0hvNBbdyFEC3E05S0NRhy5t1w4WsWYvrRZbpaA0RVKh6zSWSRLJD4fzqolq6jH1hpO1li9WT1YwmDfbq0LRxa1dcsvXu2mAfwE1RBEHLdztFn_kqkxGVVZ2fmkBOzNvi=w800-h494-no) Phái đoàn VNDCCH và phái đoàn CPCMLTCHMNVN Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:36:36 am Tôi quay qua ôm hôn anh Đoàn Huyên, phó trưởng phái đoàn quân sự, chính phủ cách mạng lam thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã vào Sàigòn trước để họp các phiên họp cấp phó trưởng đoàn, bàn các thủ tục làm việc. Anh Dương Đình Thảo, đoàn viên của phái đoàn chúng tôi cũng vào kịp đến Sàigòn qua đường Paris đã sốt dẻo chuyển cho tôi thở và những lời thăm hỏi chúc mừng nồng nhiệt của chị Nguyễn Thị Bình và phái đoàn ta ở Paris.
Trại chia làm hai: một bên giành cho phái đoàn anh Hòa, một bên giành cho chúng tôi. Nhưng Mỹ Ngụy đã có nhã ý chuẩn bị cho hai trưởng đoàn một cái nhà tương đối tươm tất, làm theo kiểu nhà sinh đôi, mỗi bên một người ở, có đủ phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, phòng tắm rửa và vệ sinh. Các phòng cửa nẻo kín đáo, có đủ máy điều hòa không khí, đèn sáng, máy điện thoại và các tiện nghi khá tốt. Chúng tôi hiểu rõ “lòng tốt” của họ. Vì vậy mỗi người chúng tôi đã dọn một căn phòng khác để ở và làm việc trong dãy nhà chung của anh em. Còn nhà ấy đóng cửa lại và giao cho một số chuyên viên kiểm tra. Sau một thời gian lục lọi, tôi không biết mất bao nhiêu ngày, anh em cho chúng tôi xem một vài máy nhỏ tìm được, một số micro rất bé gắn dấu trong nẹp bàn của phòng làm việc và phòng khách. Chúng tôi cười với nhau, không hiểu đây là công trình của Mỹ hay ngụy hay là trò chơi tinh nghịch của những tay thợ mộc kiêm chuyên viên điện tử. Còn nhiều những chuyện thư thế này nữa, nào phá rối các làn sống điện, thông tin của ta liên lạc với vùng căn cứ, nào ghi trộm các điện của ta đánh đi... Nhưng thôi, nói làm gì, âu cũng là chuyện thông thường của Mỹ ở thời đại điện tử này, những chuyện ấy thấm gì với chuyện Watergatt sau này ở Oa Sinh Tơn. Quan trọng là ta đã biết, đã đề phòng từ những chuyện nhỏ nhặt nhất. Đó chẳng qua là sự tiếp tục của một cuộc chiến tranh chưa chấm hết mà kẻ địch đã dùng mọi thứ có thể dùng từ những vũ khí hiện đại giết được nhiều người cùng một lúc đến những máy móc điện tử tinh vi nhất, những ra đa, tia la de trong các máy nhìn trộm, nghe trộm, từ hàng rào MacNamara đến trại David này. Báo “Sao và vạch” của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ra ngày 15-3-73 đã công nhận “Mỹ vừa kết thúc ba cuộc chiến tranh lớn nhất trong thế kỷ này. Đây (chỉ chiến tranh xâm lược Việt Nam) là cuộc chiến tranh lớn nhất về tổng số bom đạn sử dụng, lớn nhất về sự tàn phá và cũng lớn nhất về sử dụng khoa học, kỹ thuật trong chiến tranh!”. Đây là việc lạm dụng kỹ thuật hiện đại của Mỹ vào mục đích xâm lược, giết người, lừa đảo. Còn bọn ngụy thì kỹ thuật không có mà trí thông minh cũng không, nên đã được chủ Mỹ phân công, và chúng có sáng tạo thêm, chuyên dở những trò hèn mọn nhỏ nhặt hàng ngày, gây khó dễ cho các phái đoàn ta, như hạn chế việc cung cấp thức ăn đồ dùng của chủ thầu vào trại David, cấm các nhà báo, đặc biệt là cấm nhân dân tiếp xúc chuyện trò với các phái đoàn ta, tìm cách cản trở việc đi lại của ta nhất là ngang qua phố xá Sàigòn, gây trễ nải, làm hư xe, quân cảnh hộ tống đến chậm... rồi dùng trực thăng, xe tăng uy hiếp, mưu dùng tiền gái mua chuộc. Đối với các đoàn địa biểu ta ở các khu vực, các tổ địa phương thì chúng đối xử càng tệ hại hơn nhiều. Bố trí chỗ ở tòi tệ, kém vệ sinh, chật chội, nóng nực, thiếu mọi phương tiện, ví dụ như đoàn khu vực Mỹ Tho, chúng bố trí vào một nhà nhốt gà vừa mới chuyển trong căn cứ Đồng Tâm, mùi hôi thối còn đang nồng nặc. Chúng cung cấp thực phẩm mất phẩm chất, có trường hợp như ở Huế, những đồ hộp quá hạn lâu đã hóa dòi. Trên bàn hội nghị 4 bên ở Sàigòn chúng tôi luôn kịch liệt phản đối cách đối xử của chúng, đòi chúng cử tổ điều tra và giải quyết thì Mỹ đổ thừa cho Mỹ. Út-uốt, thiếu tướng trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả bộ: “Thật đáng tiếc, phía Hoa Kỳ không hay biết gì những sơ xuất này. Phía Việt Nam cộng hào đảm nhận những công việc ấy, họ báo cho chúng tôi rằng mọi việc đã hoàn tất”. Những lần như vậy, phía Ngụy cúi gằm mặt im thin thít hoặc đổ cho dưới, bọn địa phương, bọn thực hành không được tốt, rồi cũng đồng ý cử tổ đi kiểm tra, họ hứa sẽ sửa sang lại nhà cửa, thêm thiết bị nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó. Không những thế chúng còn tổ chức những bọn lưu manh, côn đồ phối hợp với Quân cảnh và cảnh sát của chúng, hành hung các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ta trong các Ban, Tổ liên hợp quân sự đi làm nhiệm vụ như ném đá, ném đồ bẩn, thậm chí còn dùng gậy sắt, dao, búa đánh anh em ta bị thương như đồng chí thiếu tá Lê Thành Nhơn và 2 đồng chí đại úy khác ở tổ Ban Mê Thuột, 6 đồng chí ta ở Huế. Đồng chí Trần Hớn Ngọ bị đánh vào đầu bất tỉnh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi khi đang cùng tổ điều tra của Ban liên hiệp làm việc. Tất cả các sĩ quan và chiến sĩ của ta trong các Ban và Tổ liên hợp đều là những người đã lập nhiều thành tích trong chiến tranh, trên nhiều chiến trường vừa qua, đã chiến đấu rất dũng cảm, như những mãnh hổ trong các trận đánh giờ đây trên mặt trận đấu tranh mới này trong vùng địch kiểm soát, luôn tin tưởng ở chính nghĩa, ở tất thắng của cách mạng, đã rất bình tĩnh, vững vàng, không nao núng trước mọi hành vi xấu xa, uy hiếp hay mua chuộc nào. Chúng ta tự hào biết bao về họ, biết ơn biết bao đối với những anh bộ đội cụ Hồ rất bình thường, nhưng uy vũ không khuất phục tiền tài không lóa mắt. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:37:44 am Mỹ Ngụy dở những trò đê tiện ấy với mục đích gì? Hẳn không phải để tạo ra một không khí tốt lành để cùng cộng tác thi hành đúng đắn hiệp định, hẳn không phải tạo ra một không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc sau bao năm hận thù vì chiến tranh tan nhà, nát cửa. Làm sao mà con người có lý trí đứng trước những hành vi ấy của Mỹ ngụy mà vẫn tin rằng chúng thực tình muốn chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình. Rõ ràng chúng trắng trợn không che dấu bộ mặt nham hiểm, rắp tâm phá bỏ hiệp định.
Vấn đề quan trọng của hiệp định và cũng là vấn đề đầu tiên phải thi hành là ngừng bắn. Điều 2, 3 của Hiệp định và Nghị định thư về ngừng bắn quy định rất rõ ràng cụ thể về chấm dứt hoàn toàn chiến sự, các lực lượng ở nguyên vị trí v.v.... và v.v... Nhưng từ 28-1-1973 là ngày ngừng bắn có hiệu lực đến nay (mãi đến ngày 30-4-1975) mỉa mai thay, chưa hề có ngày nào ngừng tiếng súng trên bất cứ chiến trường nào ở toàn Miền Nam Việt Nam. Ngay đúng giờ ngừng bắn có hiệu lực, ngụy quyền Thiệu đã cho cả chiến đoàn có xe tăng dẫn đầu, hành quân lấn chiếm Cửa Việt của ta. Ở đây ta đã kiên quyết đánh trả, tiêu diệt quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Và như vậy là ở bàn hội nghị 4 bên ta có mạnh thế tố cáo chúng vi phạm hiệp định. Ngô Du, Trung tướng trưởng đoàn Ngụy cãi liều: Chúng tôi hoàn toàn chiếm Cửa Việt hồi 07 giờ 58 phút sáng 28-1 (chẳng là đúng 8 giờ sáng 28-1 là ngừng bắn có hiệu lực mà). Tôi đập lại: “Cửa Việt đã được chúng tôi giải phóng từ tháng 5-1972 cơ mà. Chúng tôi có mọi chứng cớ hiển nhiên về vụ lấn chiếm trái phép này của quân đội các ngài sau giờ ngừng bắn. Nhưng tôi xin thông báo với Trung tướng tin sốt dẻo rằng nhờ cảnh giác cao, quân giải phóng chúng tôi đã tiêu diệt quân lấn chiếm và làm thất bại cuộc phiêu lưu này, sau khi cố dùng loa kêu gọi họ hãy lùi lại, chớ có vi phạm hiệp định, nhưng không có kết quả. Đây là bài học cho những ai không muốn tôn trọng hiệp định, không tôn trọng chữ ký của mình”. Chúng sạm mặt lại, cay đắng. Để chặn đứng việc các máy bay địch bay ngang qua vùng ta kiểm soát, ta đòi bàn ngay điều 3 Nghị định thư về các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc di chuyển và của các máy bay vận tải quân sự, các loại xe vận tải quân sự và tàu thuyền vận tải quân sự của bên này phải đi qua vùng do các bên kia kiểm soát. Nhưng rồi trong phiên họp ngày 26-2 phía Mỹ dở trò báo tin khẩn cấp: một C47 bị bắn rơi ở Nam An Lộc, 2 nhân viên phi hành Mỹ bị thương nặng. Tiếp các phiên tới, Mỹ đều phản đối ta và đòi cử tổ điều tra. Ta đồng ý điều tra, nhưng nhấn mạnh rằng trong khi Ban liên hiệp quân sự 4 bên chưa có thỏa thuận về hành lang, độ cao v.v... của máy bay khi bay qua vùng quân giải phóng kiểm soát thì không ai chịu trách nhiệm về sự an toàn của nó cả. Rốt cuộc Mỹ cũng phải im đi cho xong chuyện. Rõ ràng vừa dựa vào pháp lý là hiệp định vừa kiên quyết đối phó với các vụ vi phạm ta buộc Mỹ ngụy phải kiêng nể. Nhưng nơi nào ta yếu và sơ xuất trên chiến trường thì dù địch vi phạm mười mươi đấy, chúng vẫn cãi cù nhầy và bất cần sự phản đối của ta. Ví như vụ ngụy lấn chiếm Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi. Vùng Sa Huỳnh ta đã giải phóng năm 1972 trong đó có một đoạn quốc lộ số 1 tương đối dài. Sau khi ngừng bắn có hiệu lực, ngụy mở hành quân hàng sư đoàn lấn chiếm rồi nối lại giao thông của chúng trên đường số 1. Ta kịch liệt vạch trần âm mưu đòi cử tổ đi điều tra. Nhưng rồi Mỹ ngụy ì ra, xem như việc đã rồi. Cả những làng ấp dọc đường số 4 Mỹ Tho trước 28-1 do ta kiểm soát nhưng sau 28-1 địch liên tiếp hành quân và đóng đồn bót sâu vào vùng ta. Ở đây vì lực lượng ta còn sơ hở ngỡ ngàng, sợ nổ súng đanh trả thì vi phạm hiệp định, nên địch mới lấn chiếm được và nói ngược nói ngạo trên bàn hội nghị là vùng của chúng. Vấn đề ngừng bắn là vấn đề cốt tử của Hiệp định thế mà ngụy quyền Thiệu không cần đếm xỉa đến, ngang nhiên phá hoại Hiệp định từ gốc. Kế hoạch “Lý Thường Kiệt” năm 1975 của chúng đề ra 5 biện pháp chến lược lớn là: - Lấn chiếm và bình định làm biện pháp trung tâm. - Xây dựng quân đội mạnh, chánh quyền mạnh làm trụ cột, 5 năm trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa và hiện đại hóa Quân lực Việt Nam cộng hòa. - Phá hiệp định Paris về Việt Nam những điểm nào không có lợi cho Việt Nam cộng hòa (ngụy). - Phục hồi kinh tế 73-74 – trong kế hoạch dài hạn 73 – 78 như là công nghiệp, đi đôi với bao vây phong tỏa kinh tế đối phương. - Duy trì lực lượng răn đe cái gọi là chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “chiến dịch cắm cờ”. Chúng đã chuẩn bị 1,6 triệu cờ ba que ngụy cho việc này. Thông cáo của Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh Việt Nam ra ngày 6-4-73 sơ kết rằng: “Trong thời gian 2 tháng từ 28-1 đến 28-3-1973 chính quyền Sàigòn đã vi phạm hiệp định Paris hơn 7 vạn lần, bao gồm 19.770 cuộc hành quân lấn chiếm, 23 vụ bắn đại bác, 3.375 vụ ném bom, bắn phá bằng máy bay vùng giải phóng và 21.075 cuộc hành quân cảnh sát trong vùng do họ kiểm soát”. Theo tài liệu địch thu cho đến tháng 10-75 chúng đã đóng thêm được 1.180 đồn bót trên toàn Miền Nam, kiểm soát thêm được 7.253 ấp so với trước 28-1-1973(1). (1) Tài liệu thu được của địch sau ngày giải phóng hiện giữ tại Ban Tổng Kết chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc Phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:49:54 am Sau đó nhiều ngày, vào ngày 16-2-1973, Mỹ gởi công hàm cho ta chính thức chịu để cho tổ liên hợp quân sự 4 bên đến các địa điểm quan sát việc rút quân Mỹ và Nam Triều Tiên và được chụp ảnh. Thế là họ phải nhượng bộ. Qua các cuộc giám sát đó, rõ ràng quân Mỹ cũng như Nam Triều Tiên, khi bước chân vào Việt Nam họ đã được vũ trang đến tận răng, nhưng khi rút ra thì không mang súng ống gì cả mà toàn những chăn màn đồ dùng và lú khú những vật kỷ niệm như voi sành, voi sứ, đồ đá Ngũ hành sơn... Anh em ta chất vấn thì họ trả lời: “vũ khí trang bị đã chở bằng tàu thủy”. Đấy, lý lẽ bịp bợm như vậy đó.
Việc này đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975, Mỹ mới bàng hoàng bực bội là sao đã tìm mọi cách gian lận để trang bị nhiều cho quân ngụy mà thua vẫn hoàn thua, nên trong cơn tức giận mới nói toạc ra sự thật: “Với khối lượng khổng lồ các trang bị và vật liệu để lại thì các lực lượng chúng ta rút về cộng với số lương tiếp tế thêm về sau nhẽ ra quân lực Việt Nam cộng hòa phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải”. (Chương 10 phần kết quyển sách “chiếc trực thăng cuối cùng” của Weldon A. Brown). Còn việc phá hủy các căn cứ quân sự? Út-uốt, thiếu tướng Hoa Kỳ nghiêm trang bảo: “Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng ở Miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ nào của chúng tôi cả. Tất cả đã chuyển cho Việt Nam cộng hòa từ trước khi ký hiệp định. Hiện nay quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của Việt Nam cộng hòa”. Thật là một sự lừa bịp trắng trợn hết chỗ nói. Một khi đế quốc đã có kế hoạch rồi, có mục tiêu rồi thì chúng hành động theo cách của kẻ xâm lược, nói láo trơ trẽn bất kể người nghe là ai. Đáng lý thì Ủy ban quốc tế có đủ khả năng phát hiện ra, nhưng vấn đề gian lận này, có quyền có những kết luận xác đáng lên án sự vi phạm hiệp định của Mỹ, ngụy nhằm ngăn chặn việc phá hoại hiệp định, tiếp tục chiến tranh. Ủy ban quốc tế có 4 nước tham gia: Hung, Ba Lan, Inđônêxia, Canađa. Về sau khi Canađa rút lui thì Iran thay tế và làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí. Cần nói thẳng ra rằng Canađa hầu như là của Mỹ, che chở cho Mỹ trong Ủy ban quốc tế, cãi bừa, lấp liếm và cần thì phủ quyết. Trưởng đoàn Canađa là đại sứ Gô-vin, bề ngoài có vẻ lịch thiệp, nhưng nghe nói là một con người có tính độc đoán, trịch thượng lấn lướt, coi thường người khác. Một hôm Gô-vin ngỏ ý muốn đến thăm xã giao phái đoàn chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi rất sẵn sàng, xem đây là một dịp khá tốt để nói chuyện thẳng thắng với vị đại biểu Ủy ban quốc tế này. Tôi đã tiếp y ở phòng khách được chuẩn bị khá tươm tất theo điều kiện cho phép trong trại David. Tôi đã ra tận xe để đón đại sứ vào và mời ngồi cùng tôi trên chiếc divan, vị trí trang trọng nhất trong phòng khách. Cùng đi với y có phụ tá về chính trị của đoàn Canađa và một phiên dịch. Phía ta có anh Võ Đông Giang, thành viên của đoàn và một số anh em khác. Ta dùng phiên dịch chính trong cuộc tiếp khách này là phiên dịch của ta, đồng chí Dũng, người đã dịch cho ta trong tất cả các phiên hịp trưởng đoàn 4 bên. Dũng là một thanh niên cừ khôi, nói tiếng Anh lưu loát, giọng khỏe, biết nhấn mạnh những đoạn cần thiết. Sau những thăm hỏi, chuyện trò có tính chất xã giao, Gô-Vin nói về vai trò, thành tích của Ủy ban quốc tế nhất là giai đoạn Gô-Vin làm chủ tịch, về vấn đề ngừng bắn: trao trả người các bên, về quân Mỹ và chư hầu rút khỏi Miền Nam Việt Nam... Tất cả đều có ý nói lên sự đắc lực của Ủy ban quốc tế, sự khách quan công bằng và đặc biệt hàm ý trách ta vi phạm ở chiến trường nhiều nên đến nay vẫn chưa ngừng tiếng súng có giọng đổ lỗi và hăm dọa. Tôi đã rất bình tĩnh và lễ độ ngồi nghe, vừa kiên trì nghe vừa cố hiểu hết ý nghĩa của từng lời nói. Ý hẳn đại sứ thấy nói đã dài và đủ nên dừng lại, nhìn tôi dò hỏi. Tôi thong thả mời khách ăn một vài món trái cây, mời hút thuốc. Rồi tôi bắt đầu nói: - Thưa ngài, đại sứ Gô-Vin, ngài nói rất đúng về vai trò rất quan trọng và tính khách quan rất cần thiết của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát việc thi hành hiệp định. Tôi thú thật với ngài rằng chúng tôi rất đau xót khi thấy tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi khi đã có hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên đất nước mà chiến tranh tàn phá hàng mấy chục năm nay liên tục. Trên thế giới này tôi tin rằng không có dân tộc nào thấm thía mong đợi hòa bình như dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã biết chiến đấu và biết chịu đựng để tìm cho ra chân lý. Nhưng thưa ngài đại sứ, mọi việc đều có nguyên nhân của nó. Tôi xin phép ngài dở lại một vài trang lịch sử đã qua. Dân tộc chúng tôi đã giành độc lập năm 1945. Thực dân Pháp lại xâm lược trở lại. Chúng tôi phải chiến đấu 9 năm trời mà thắng lợi nổi bật là trận Điện Bên Phủ, mới ký kết được hiệp định Genève. Thời kỳ ấy cũng có Ủy ban quốc tế kiểm soát, trong đó có đại biểu Canađa, chắc ngài biết rõ? – Gô-Vin gật đầu đồng tình. Tôi nói tiếp: “Nhưng Nixơn lúc đó là phó tổng thống Mỹ tuyên bố với báo chí rằng: “Dù cho Pháp ký kết đình chiến ở Đông Dương, Hoa kỳ cũng sẽ hành động một mình nếu điều ấy là cần thiết và sẽ gởi quân đội của mình sang vùng đó của thế giới”. Đó là lời thuật của Thời báo Nữu Ước, và Hoa Kỳ đã làm như vậy thật”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:52:31 am Gô-Vin làm một động tác khoát tay ngăn phiên dịch lại và nói một câu dài. Tôi nói với Dũng: Đồng chí hãy tiếp dịch những lời tôi nói, bao giờ tôi nói hết, ngừng lại thì mới được nghe và dịch lời của ông ta. Dũng lại dõng dạc dịch tiếp lời tôi:
- “Tôi xin cung cấp một số liệu để ngài Đại sứ biết: từ năm 1955 đến năm 1960 có trên 800 chuyến tàu biển của Mỹ chở vũ khí và phương tiện chiến tranh các loại vào các cảng của Việt Nam đặc biệt là cảng Đà Nẵng và cũng trong thời gian ấy số tiền viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm là một tỷ 600 triệu đô la. Cả thế giới đều biết việc ấy. Đó là sự vi phạm trắng trợn hiệp định Genève. Nhưng Ủy ban quốc tế lúc đó, hoặc làm ngơ, hoặc che dấu hoặc bị áp lực nào đó nên không ngăn chặn hành vi phi pháp ấy. Vì vậy mà tiếng súng vẫn nổ ra và chiến tranh lại tiếp tục trên đất nước Việt Nam chúng tôi. Canađa là thành viên quan trọng trong Ủy ban quốc tế lúc ấy tất nhiên không thể chối cãi về trách nhiệm lớn lao của mình”. GôVin lại cố cắt ngang, nói mãi một câu dài và định nói mãi nếu như tôi không bảo Dũng cứ dịch lời của tôi và dịch to hơn tiếng của GôVin. Quả Dũng là một thanh niên cừ khôi, Dũng đã nói át cả tiếng của GôVin, buộc GôVin phải ngừng nói chịu ngồi nghe, vừa tỏ vẻ ngạc nhiên. Có lẽ GôVin chưa hề gặp trường hợp không lấn lướt được và bị khép vào khuôn phép như thế này. Tôi tiếp: - Đến ngày nay, sự việc lại diễn lại: trước và sau khi ký hiệp định Paris, Mỹ đã chở cả bằng tàu biển, cả bằng máy bay, vũ khí, và trang bị qua cho Quân đội Việt Nam cộng hòa để phá hiệp định, tiến hành lấn chiếm và bình định. Không những thế, quân Mỹ và quân các nước khác rút về nước nhưng lại chuyển vũ khí, phương tiện, kho tàng, căn cứ lại cho quân đội chính quyền Thiệu, một sự vi phạm hiệp định Paris quá trắng trợn”. Đến đây, GôVin như không còn chịu đựng được nữa, y dãy nảy lên, khoát tay lia lịa, ấp úng một vài lời... Tôi phải trấn tĩnh y: “Xin đại sứ hãy bình tĩnh, Tôi chỉ xin nói vài lời nữa thôi, rồi sẽ nhường lời cho đại sứ”. Rồi tôi tiếp. - “Lần này nữa, nếu chúng ta, Ủy ban quốc tế và Ban liên hợp quân sự 4 bên không hợp tác chặt chẽ với nhau, nỗ lực cùng nhau hành động một cách khách quan, đắc lực; ngăn chặn mọi vi phạm như vậy thì tôi nghĩ rằng tiếng súng vẫn nổ là điều không lấy gì làm ngạc nhiên và nguyên nhân từ đâu cũng đã rõ. Và trách nhiệm chúng ta trước lịch sử quá nặng nề, chúng ta đã không đáp ứng được nguyện vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam, của cả nhân dân Canađa và nhân dân yêu chuồng hòa bình trên toàn thế giới. Và chính phủ Canađa hai lần tham gia Ủy ban quốc tế về hai hiệp định sẽ nghĩ thế nào về vai trò của mình? Tôi xin nhường lời cho Đại sứ”. Lần này thì GôVin không còn có sự hăm hở muốn nói như trước, thái độ hòa nhã nhỏ nhẹ: - “Thưa Ngài, Trung tướng Trần Văn Trà, thú thật với ngài là tôi không hiểu gì về hiệp định Genève... và hồi ấy... tôi không được biết... những việc ấy... tôi không theo dõi...” rồi đại sứ chuyển qua nói chuyện về thời tiết khí hậu ở Sàigòn, về các loại trái cây ở Việt Nam. Tôi vui vẻ mời khách uống bia và nước ngọt. Mọi người có thái độ thân thiện hiểu biết. GôVin lại nói, nhắc lại bữa tiệc lớn y tổ chức chiêu đãi ở Sàigòn nhân dịp Bộ trưởng Bộ ngoại giao Canađa – Sácpơ đi công cán qua đây. Hôm ấy có đủ nhân vật “tai to, mặt lớn” của ngụy quyền Sàigòn, có cả đại sứ Mỹ Bunker và mời các bên trong Ủy ban quốc tế cũng như trong Ban liên hợp quân sự 4 bên, chúng tôi đều có đến dự. - Ngài Trung tướng Trần Văn Trà, quả thật ngài là một ngôi sao sáng trong bữa tiệc hôm ấy, và ngôi sao sáng trên bầu trời Sàigòn hôm ấy”. - Thưa đại sứ, đó là ngôi sao sáng, ngôi sao chính nghĩa của chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam mà tôi được hân hạnh là người đại diện đến đây! - Không, không, tôi muốn nói tới vai trò cá nhân nổi bật của Trung tướng cơ. Y lại cố tránh né đề cao chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam của ta mặc dù đó là uy tín thật sự không thể chối cãi đã có từ lâu. Không phải chỉ ở Sàigòn này mà còn cả ở Paris và trên thế giới. Để chống lại, cả Mỹ và ngụy quyền Thiệu đã đề ra thành nguyên tắc: ở Miền Nam Việt Nam chỉ có một chính phủ duy nhất mãi mãi về sau này đó là chính phủ Việt Nam cộng hòa của Thiệu. Điều này Mỹ và Trung Quốc cũng đã thỏa thuận nhất trí với nhau trong cuộc gặp gỡ mua bán chính trị “Nixơn – Mao Trạch Đông – Chu Ân Lai” khi có thông cáo Thượng Hải. Y lại nói tiếp: - Trung tướng là một chiến sĩ vĩ đại. Lần này thì tôi lúng túng thực. Vì, dù tôi đã hiểu rõ thâm ý của y rồi, nhưng tôi không ngờ y lại tâng bốc tôi đến thế. May thay, tôi sực nhớ lại sự đánh giá người chiến sĩ của chúng ta của UPI năm 1964: “Du kích Việt cộng là nhân vật thần thoại. Họ là một kẻ thù đáng sợ, một kẻ địch mà người ta phải kính nể”. Và báo “Tin tức Mỹ thế giới” năm 1965: “Du kích Việt cộng là tài tình nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại”. Tôi mỉm cười thong thả: - Xin đa tạ lời ngợi khen của Đại sứ. Quả thật, vì lòng yêu nước, yêu nhân dân, và “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà người chiến sĩ giải phóng chúng tôi đã xả thân chiến đấu và chiến thắng, được báo chí và các hãng thông tấn Mỹ cũng như quốc tế đánh giá là những nhân vật thần thoại... là tài tình nhất, vĩ đại nhất... Tôi thực sự hãnh diện được là đại diện của họ ở ngay Sài Gòn này để đấu tranh thi hành đúng đắn Hiệp định mà họ phải đổ bao nhiêu máu mới giành được. Thế rồi đại sứ GôVin cáo từ ra về. Trước sân, GôVin đã đề nghị chúng tôi cùng chụp một tấm ảnh kỷ niệm cuộc gặp gỡ này. GôVin đã đưa máy ảnh riêng của y mang theo cho nhiếp ảnh viên chúng tôi chụp giùm vào đấy vài kiểu. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:54:33 am * * * - 60 ngày ở Sàigòn trong Ban liên hợp quân sự 4 bên là những ngày nặng nề và căng thẳng. Hai phái đoàn quân sự chúng ta đã làm hết sức mình để đấu tranh thi hành hiệp định nhưng kết quả có mức độ. Các đồng chí trong Đoàn Hung và Ba Lan trong Ủy ban quốc tế, với tinh thần quốc tế và lòng nhiệt tình anh em đã hợp đồng chặt chẽ với chúng tôi, cùng đấu tranh, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau. - Đồng chí Thiếu tướng “Xuyết” phó trưởng Đoàn Hung trong Ủy ban quốc tế, người to lớn, chắc nịch trong bộ quân phục Hung gọn và đẹp ngay trong buổi đầu gắp gỡ làm việc đã nói với tôi giọng chân thành: “Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Hung gởi chúng tôi đến Việt Nam vì nền hòa bình và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và hòa bình của thế giới, chúng tôi xem sự thành công của Cách mạng Việt Nam là của chính bản thân mình và vì vậy sẵn sàng hy sinh vì nó. Đó à nguyên tắc chỉ dẫn mọi hành động của chúng tôi – Chúng tôi không sợ chết và tất nhiên không sợ cực nhọc”. Cảm ơn biết mấy những lời nói chí tình của một sứ giả của giai cấp công nhân từ một đất nước xa xôi đến với chúng ta trong những ngày còn gian khổ, trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả! Qua thời gian 60 ngày ấy thử kiểm lại những gì đã thực hiện và không thực hiện được. Do Mỹ ngụy đã có mục tiêu, có kế hoạch sẵn nên vấn đề chủ chốt nhất là việc ngừng bắn không thực hiện được. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Hay nghe Thiệu nói chuyện với sĩ quan ngụy ở Thủ Đức: “Việt Nam cộng hòa sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi: 1. Quân đôi Việt Nam cộng hòa không còn ủng hộ tôi. 2. Khi Quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ để lo việc phòng thủ. 3. Khi quân lực Việt Nam cộng hòa không còn đủ sức bảo vệ các khu quan trọng tại Miền Nam Việt Nam”. Rõ ràng tên tay sai trung thành của Mỹ tưởng nó chiến thắng, ngoan cố phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh dù có hay không có hiệp định (!). Mỹ và chư hầu đã rút quân, các quân đội tay sai Mỹ, bán mình cho đế quốc tham gia giết hại nhân dân ta như quân đội Úc và Tân Tây Lan, quân đội Thái Lan và Nam Triều Tiên đã cút sạch khỏi đất nước ta. Sáng 15-3-1973 USARV, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã làm lễ cuốn cờ, chuồn. Chiều, MACVI Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam, thực tế là Bộ tư lệnh tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân đội Mỹ, quân các nước chư hầu và quân đội Thiệu, bộ máy chiến tranh xâm lược đồ sô của Mỹ ở Việt Nam có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là “Lầu năm góc phương Đông” cũng hạ cờ, cuốn gói. Tình cờ hay có sự gợi ý khéo léo nào đó mà ngay hôm sau, hai phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ cộng hòa và chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chúng ta đã phóng xe thọc thẳng vào sân của “Lầu năm góc phương Đông” này. Hai phái đoàn xuống xe tiến thẳng vào phòng khách giữa hai hàng quân cảnh Mỹ đứng nghiêm chào, để dự bữa tiệc của thiếu tướng trưởng phái đoàn Hoa Kỳ chiêu đãi. Chúng tôi đã cười vui, nâng rượu Mỹ, nói chuyện thời tiết thanh bình Việt Nam ngay ở “Lầu năm góc phương Đông”. Thế là quân Mỹ cũng đã cút. Nhưng chúng đã để lại như nói ở trên đủ thứ vũ khí, căn cứ quân sự và cả sĩ quan đội lốt dân sự để chống đỡ cho chế độ tay sai Thiệu. (https://lh3.googleusercontent.com/n-dH9AAE9eDL8wDjx3yDD2occwLvvEM8ujjeCBgYveSvlYBBXM5d-TiRbC3A8LmVO-aL3OLcC0nBXnwEFyVOE42yL3ZsszDzz5Wa7M7upkZs2LfmmXRvvwDKwGTciSsMRl-mMSkGNymQIUqqM4iaLJgXzsOkiWklvz7HkbPGlgfH3kyZvxnbafIntUIPa-rv9szEQYNXkw09ye4n0b3Eiw7tegK_H62HuVXxpxArZ_GqXf_ihu8pUPrvHV7spNlI3gNWxUd9s7eEyoymHPJtP7ulIdzOh4DDCg5rgXBzseivLuwDMT8nwW38fviao5Oy270RUWAxGBxZcE0KmVP18uIkZgp2_JxPCpc921Mc6n-jw2RNVfMyttvr55wh1DdMXFqMs_-oAGNubaXm-_fDSKBxB_8iqxeap2notDSMZEntsIqa6FFcbuGfwyomZUA1qql2AnmqTZ0LFjcqkcvnznpAPsD-Za_Aw4D127nqREXOTSkieRfXU-navflkCZp-KdAxpVS3M7mUnM0CkhTT7moaLDDWL3k8HQYYKSmql4dCuHg0rWuv8F_sbBi0_2Nla2rrU83enCJyl6DoA2Swv65mmUajnMh2icl5pngGvMUUiLKm0YtzA6xj-jTQDvGFVyYj3dohT18PGTQF1KPFXbaC=w800-h507-no) Họp báo ở trại David Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:57:32 am Về phần trao đổi theo Hiệp định, chúng ta đã đòi lại được những người của ta bị chúng bắt giữ trong chiến tranh. Đồng chí thiếu tá Nguyễn Thị Dung, thành viên phái đoàn quân sự của chúng ta, đặc biệt phụ trách vấn đề trao trả tù binh. Đồng chí rất tích cực xông xáo, đã đi khắp các nhà tù của Ngụy từ Biên Hòa đến Côn Đảo, Phú Quốc. Là thành viên nữ độc nhất trong 4 phái đoàn quân sự, nói thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh, xinh đẹp, lịch thiệp, đấu tranh kiên quyết đã làm cho Mỹ ngụy phải kính nể, và chúng tôi cũng hãnh diện. Đồng chí đã tranh thủ phổ biến các điều khoản của hiệp định nói về trao trả tù binh cho anh em ta còn bị giam, đấu tranh đòi Cải thiện chế độ nhà tù, đòi trả toàn bộ những người còn bị bắt giữ... Chúng không trả đủ, không thành thật nhưng ta cũng đã giải thoát được một số không ít những cán bộ và chiến sĩ ta, những người đã chiến đấu anh dũng và sa cơ lọt vào tay chúng, chịu đựng sự hành hạ dã man của chúng.
(https://lh3.googleusercontent.com/i8-mOe_jTo9iw-DrkOlBexY5uzrZ3_IovxFQea6FYuUNE-vMPsT0qsyCu11zTtCvsEMDbVwhECcY0S3ioGPPBE_HzDZSTXOLIhY7r6g9q71solxjo-1-b5TrxDnkwLvaTL7e9DHewCVd_Uq7QEHgKZ3XvUW4Uv7Q94yKY21TB9FmGxjBMbpmW63AqQeJAIAznum8peY6VdDOPf1HNAYxWqWyuB8OCR5Xaa7pUft3RUG09Fhfwwfawrp_r48AcoQmsvfK4lDL0rUXfsTP1zElQ29RKuIp1S0uiV5x9Q_G5TgS6nE29qiBugVh-a2L67KeMUeNo-DRLPpDNcU5WS5ydLAhPPf4eJfDROWCvbMbD9QBGHS604XrUuS8bLl1CgF1nBUlcA9VhXZqn3jFCU2YtsEJLYJeQaQplTw5qDBQm-8gmN8pmFRZKWZ33p9Nuy685PWPPkHMPGlSu2dfuuwAmvxhNnJSsRNDA4HYZL1w21svfKno7_FSzB2V8NlQeW4RtZHLp6New8e3AJooj0gDbbBGgkXlcJYWdfpEDMPfZ5eWF87OPFFse_jj_9XPDAEe88-Rge-1zdULDSgxvy-AniskQ6B3ju3mzA1LNCaOZaclMKA3njm7WB0eGDal6LwWrBZYp4ly4Xhz6S2zyS3qxFed=w800-h500-no) Chị Dung trong phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTCMHNVN cùng các nữ chiến sĩ QGP. Chúng ta cũng đã trả tất cả tù binh Mỹ ngụy mà ta giữ. Nhưng điều quan trọng nữa là qua 60 ngày, mặt đối mặt với kẻ địch ta đã hiểu chúng thêm. Mỹ chỉ cốt lấy lại được tù binh để làm quà cho nhân dân Mỹ, đưa quân Mỹ về nước vì nhân dân Mỹ đòi, còn thì vẫn thi hành chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để Mỹ tiếp tục ở lại Việt Nam. Ngụy thì giữ đúng phương châm “4 không” của Thiệu: không nhường đất cho “Cộng sản”, không trung lập, không liên hiệp với “cộng sản”, không nói chuyện với “cộng sản” – Tuy rằng Ngụy buộc lòng phải ngồi vào bàn với ta trong hội nghị 2 bên ở Paris, trong Ban liên hợp quân sự 4 bên rồi 2 bên ở Tân Sơn Nhất, nhưng thực sự chũng vẫn giữ nguyên tắc 4 không của chúng, không nói chuyện nghiêm túc mà cãi chày, cãi cối, nói bừa, nói ẩu, đồng ý hôm nay để xóa sạch ngày mai. Ngay vấn đề nhỏ nhất và đầu tiên là màu cờ và dấu hiệu của Ban liên hợp quân sự 4 bên mà chúng cũng lật lọng không thi hành điều đã thỏa thuận trong phiên họp cấp phó trưởng đoàn ngày 31-1-1973. Đó là quy định cờ, băng tay, dấu hiệu trên xe tàu, máy bay của Ban liên hợp Quân sự đều là màu da cam. Trong một phiên họp cấp trưởng đoàn chúng đề nghị ta bàn lại, lấy màu khác. Ta gạt đi. Vì việc gì đã thỏa thuận rồi thì làm, không cù nhầy. Giữa chừng phiên họp, giờ giải lao, Phan Hòa Hiệp, chuẩn tướng phó đoàn ngụy đến ngồi bên tôi tỉ tê: “Trung tướng không biết tôi chứ tôi biết trung tướng nhiều”. Tôi hỏi lại: “Biết lúc nào”. Hiệp nói: “Tôi là lính của đệ tam sự đoàn đây (Hồi Cách mạng tháng 8 năm 1945) tiếc rằng các anh lớn hồi ấy xích mích với nhau, nếu không thì có lẽ bây giờ tôi cũng vẫn còn đi kháng chiến, dưới quyền của Trung tướng”. Y cười hề hề để chấm dứt cho câu nói của mình. Thì ra thế. Cách “Anh lớn” mà Hiệp nói đây tức gồm có tôi, lúc đầu kháng chiến chống Pháp, tôi là chỉ huy đơn vị gọi tên là Giải phóng quân liên quận Hóc-Môn – Bà Điểm, Đức Hòa hoạt động quanh Sàigòn; Nguyễn Hòa Hiệp, tư lệnh đệ tam sư đoàn, Lý Huê Vinh, tư lệnh đệ tứ sư đoàn... Đệ tứ sư đoàn tan rã ngay từ khi Pháp đánh trở lại năm 1945. Đệ tam sư đoàn tan rã và đầu hàng Pháp sau một thời gian. Tôi đã tiến hành tước vũ khí của một số đơn vị cướp bóc, phá hại nhân dân của 2 sư đoàn này tại Nhuận Đức, An Nhơn Tây Hóc Môn – Gia Định và tại Mỹ Tho, Đức Hòa (Long An). Người ta nói Phan-Hòa-Hiệp thực tế không phải là họ Phan mà là Phiên âm “Francois” thành “Phan Hòa” vì y tên là Francois Hiệp lai Pháp, cha người Pháp, mẹ người Việt. Nói lại câu chuyện này y cốt xuống nước với tôi, tự coi là em út và nhân đó năn nỉ “anh lớn” đồng ý sửa lại màu cờ: - “Thưa Trung tướng, màu da cam gần với màu đỏ, trông nó dữ quá”. Y đã xuống nước làm em út thì tôi cũng lên giọng “anh lớn”. - “Sao lại dữ, màu dỏ là màu huy hoàng sáng lạn của tương lai, có gì phải sợ. Chuẩn tướng nên biết rằng màu da cam thông dụng trên quốc tế rồi, rất dễ nhìn thấy, dù rất xa. Màu đó thích hợp nhất mà đẹp nữa. Vả lại cái gì đã nhất trí rồi thì thi hành đừng trở tới, trở lui nữa, mất thì giờ. Ta còn nhiều việc phải làm”. – Y còn lẽo đẽo theo năn nỉ nhiều lần nhưng tôi kiên quyết gạt đi. Tuy vậy, ngụy vẫn không thi hành. Đấy, còn khối chuyện như chuyện màu da cam vậy. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:00:42 am * * * Căn cứ vào Hiệp định, Ban liên họp quân sự 4 bên sẽ chấm dứt hoạt động trong thời gian 60 ngày. Nhưng gần đến những ngày kết thúc thì có dư luận của Mỹ, của báo chí Sàigòn lúc ấy rằng Ban liên hợp quân sự 4 bên sẽ kéo dài thêm thời gian hoạt động. Chưa hiểu đây là âm mưu gì. Phải chăng để kéo dài thêm sự có mặt công khai của Phái đoàn Mỹ? Để ngụy cố bám vào chủ Mỹ nhờ sự che chở? Để giữ phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa lại hòng giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ như vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích? Hay là để hạ thấp vai trò chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam? Nhưng ta kiên quyết chuẩn bị cho đoàn quân sự Mỹ trở về Hoa Kỳ, đoàn anh Hòa trở về Hà Nội. Còn đoàn của tôi, trong khi chuyển thành Ban liên hợp quân sự 2 bên làm việc thì Trung ương đã quyết định anh Hoàng Anh Tuấn, thiếu tướng, sẽ là trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Tất nhiên tôi sẽ rút, nhưng chuyện rút đi của tôi trở thành vấn đề khó. Tôi đi Hà Nội? Không có lý do gì. Tôi đi Lộc Ninh? Mỹ, Ngụy sẽ làm khó dễ, không cung cấp phương tiện hoặc có âm mưu đen tối nào đó... Ý đồ của Mỹ Ngụy lúc ấy chúng tôi biết rõ là ít nhất cũng giữ tôi lại Tân Sơn Nhất. Để cho một cán bộ có cỡ - theo ý chúng – của Mặt trận giải phóng như tôi trở về chiến trường là “thả hổ về rừng”. Giữ một người thế này trong tay chúng làm con tin ắt sẽ có ích đây. Từ lâu chúng ta thừa biết là mọi việc do chủ Mỹ định đoạt, ngụy chỉ là những tên tôi tớ thi hành. 60 ngày qua càng cho phép tôi khẳng định như vậy. Trong việc này cũng như bao nhiêu việc đã qua nếu Mỹ ưng thuận thì mọi việc sẽ êm xuôi. Phải làm cho Mỹ ưng thuận đưa tôi đi Hà Nội. Tối 29-3 tôi mời Út-Uốt trưởng phái đoàn Hoa Kỳ đến gặp tôi tại trụ sở của phái đoàn ta trong trại David. Đúng giờ, cả Út-Uốt, cả Uých-Khâm, chuẩn tướng, phó trưởng đoàn Hoa Kỳ và tên phiên dịch Xô-va-đô, thiếu tá mũ nồi xanh, đã từng là cố vấn cho trường đào tạo cán bộ bình định của ngụy quyền ở Vũng Tàu, đều đến. Tôi báo cho Út-Uốt biết rằng do liên lạc của chúng tôi có khó khăn nên tôi vừa nhận được tin chậm là còn một tù binh Mỹ mà lực lượng của chúng tôi còn đang giữ ở tỉnh Trà Vinh. Để thể hiện thiện chí của chúng tôi thi hành đúng đắn Hiệp định Paris, chúng tôi xin trao trả cho các ngài. Ngay từ ngày mai hai bên sẽ cử cán bộ lo việc giao và nhận ngay người tù binh cuối cùng này. Về cá nhân, tôi nghĩ rằng đây là món quà thân thiện của tôi đối với thiếu tướng để ghi nhớ 60 ngày cùng làm việc với nhau trong Ban liên hợp quân sự 4 bên (ý tôi muốn nói là nhân việc này Út-Uốt thế nào cũng được khen thưởng, thăng cấp). Út-Uốt mừng rỡ ra mặt, cảm ơn tôi rối rít và để tỏ lòng biết ơn, y tỏ vẻ thân mật hỏi thăm tôi về sức khỏe, hỏi tôi có dự kiến riêng gì sắp tới không? Thật là một câu hỏi đúng chỗ và đúng lúc, tôi chỉ mong có thế. Tôi liền nói dự kiến riêng của tôi là đi Hà Nội một chuyến và nhân tiện thăm luôn Lào. Hẳn Út-Uốt và Uých-Khăm tưởng tôi có ý định giúp giải quyết vấn đề tù binh của Mỹ và Thiệu ở Lào, nhưng không tiện và không dám hỏi. Út-Uốt tỏ vẻ rất sốt sắng hỏi luôn “Trung tướng định bao giờ thì đi”. - Tôi định sáng mai đi nếu thiếu tướng sẵn lòng lo giúp phương tiện. - Trung tướng sẽ có ngay phương tiện. Tôi sẽ sắp xếp một chuyến C130 đi Hà Nội sáng mai vì trung tướng. Tôi nói lời cảm ơn và nhắc lại là sáng mai một sĩ quan ta sẽ gặp sĩ quan Hoa Kỳ, sắp xếp việc trả và nhận tù binh ở Trà Vinh. Y lại cảm ơn và hỏi tôi C130 sáng mai đi có phải chở tôi trở về không? Nếu không thì tôi sẽ trở về thế nào? (vì lẽ phái đoàn Hao Kỳ chấm dứt hoạt động và trở về Mỹ ngày 31-3. Nếu sau ngày đó thì phải nhờ phương tiện của Ngụy). Tôi mỉm cười lấp lửng, có thể tôi vòng qua Paris để trở vè Sàigòn, luôn tiện được biết thêm một thủ đô nổi tiếng của Châu Âu (Út-Uốt lại tưởng tôi cần gặp phái đoàn ta ở Paris đây). Út-Uốt rất vui, khen là một dự kiến hay của tôi và từ giã ra về. Không quên khẳng định lại là sáng mai sẽ có máy bay. (https://lh3.googleusercontent.com/zPlKAFxroVYHCuvollm9VQwdHY_MgPtuxG7I960HnuoMLe9ubfnw7srEo_H2U-7JQYBdlK90gYYw5J2y3x6EG9QDIbihtD0PLlk60fj6Ks9psPq-FBuphOfS5EFX3_1HpxcTOf3Hb1NqR3gqLRaXeK5F5FrkJyU5ZBdMR9dFxFsWdGBFrE_Idj6x1dS4KMMug3ngnKrNhjxMfXz97Vsy3Wdr7eKGY3DC9Pg9236v4oOVqaMWvsSuHWr8SlHSXJ-IufHB1Wi7eBj2appGjuN2R5kEh02IpzYf92jv8yAGGzIFh5b5CwWYffAxY13K95RDHc0Iv-XUBfqcGdbflx6LGNnn7GPhM9JWFjKLY1KP8NqJWc5Cxq8nceqA8LAcc4Y2wVF3aB7XU7tS1jIKq4BA7hPyXDXixGM1jIggL9RoFi06xGSsklQalcAMz5N9Eud6SZbJh5ebggqaRRj6KpzHAoMvm7Ft2cnaw3hSDzcyKcUJM-QeKeH8fES-cA3kTZffJzwOLFkVWgotmJH5rLBB9bSCo5alv88pvqERPBdMV_kapbIiPVekZOI-4s-Q7qacR71V3AxAEgkk-2wnn94A_P7aaO-KDFrJYpdksyniXpGF0to2hjTHgLrdgMo3w0dh2d_rdfMLp70u66iI_xWSmPKQ=w800-h502-no) Nói chuyện với trưởng phái đoàn Mỹ Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:01:30 am Buổi sáng này 30-3-1973 sĩ quan ngụy đã đưa đoàn xe du lịch đen đến đón tôi tận nhà và đưa tôi ra tận cầu thang máy bay một cách hết sức cung kính. Đưa tôi ra sân bay đi Hà Nội có thiếu tướng Lê Quang Hòa, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng một số anh em trong hai phái đoàn ta. Có các đồng chí trong hai phái đoàn Hung và Ba Lan trong ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến. Lại còn có cả vợ chồng thiếu tướng Út-Uốt, trưởng phái đoàn Mỹ. Tôi bắt tay từ giã mọi người một cách thân mật, những cái siết tay rung cảm và quyến luyến, hết sức cảm động, ngầm biểu dương một thắng lợi và những cái siết tay thông cảm biết ơn lẫn nhau. Út-Uốt chúc tôi đi bình yên, gặp nhiều may mắn và nói rằng sẽ cho máy bay ra Hà Nội đón tôi trở về, điều mà tôi không yêu cầu. Tôi chúc vợ chồng Ú-Uốt sống hạnh phúc và bước lên máy bay vẫy chào mọi người. Thế là trên chiếc C130 mà Mỹ có nhã ý dành cho tôi ngồi ở buồng lái, tôi cùng đồng chí trung tá Nguyễn Quang Minh cán bộ nghiên cứu tổng hợp tình hình của Ban liên hợp, Bác sĩ Lê Hoài Liễm, Dũng phiên dịch, Hoa cán bộ bảo vệ và một số đồng chí khác từ Sàigòn ra Hà nội, chấm dứt 60 ngày hoạt động rất sôi nổi và cẳng thẳng trong lòng quân thù.
Ngồi trên máy bay, lần đầu tiên bay dọc theo chiều dài đất nước, nối liền Sàigòn và Hà Nội, lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây rồi, non sông mổi dải 4.000 năm, tạo lập bằng xương máu, mồ hôi của bao thế hệ, xưa, nay. Làng mạc xanh tươi, núi rừng trùng điệp, bờ biển dài với những bãi cát trắng phau, thềm lục địa bao la xanh biếc, thật là muôn hình muôn vẻ. Ánh nắng chan hòa của Mặt trời tháng ba rực rỡ đã tô thêm lên cảnh vật những màu sắc lung linh kỳ diệu. Đẹp vô cùng. Tổ quốc của ta. Đẹp vô cùng lòng dũng cảm, trí thông minh sáng tạo và sức lao động bền bỉ, đời nay qua đời khác của triệu triệu con người Việt Nam để có được giang sơn gấm vóc ngày nay. Tôi thầm cảm ơn vô hạn đối với tổ tiên Hồng lạc và bất giác tôi nhớ đến Bác Hồ, nhớ lời Bác nói với bộ đội năm nào dưới mái đền Hùng trên sườn núi Nghĩa: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Lời nói của Bác đã khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Không một kẻ thù nào, dù là bọn đế quốc đầu sỏ từ Đại tây Dương hay bọn bành trướng vô liêm sỉ ở lục địa phương Bắc cũng sẽ bị đánh tan tành, sẽ bị đuổi sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Bọn Lê Chiêu Thống xưa, bè lũ Nguyễn Văn Thiệu nay, sẽ là bia xấu muôn đời trong sử sách. Tổ quốc ta nhất định độc lập, tự do và thống nhất bất cứ bằng phương pháp nào. Máy bay đã bay vào đồng bằng sông Hồng. Kia rồi! Hà Nội, thủ đô yêu dấu, trái tim của Tổ quốc. Tôi đã sống nhiều ngày ở Hà Nội, đã làm việc ở đây, đã đôi ba lần đi xa rồi lại trở về. Nhưng lần trở về này sao khác xa các lần trước, nó hồi hộp, xúc động lạ thường giống như đứa con lâu ngày đi xa vật lộn với bao khó khăn nguy hiểm của đời, nay bỗng được trở về gian nhà ấm cúng gặp người mẹ hiền da diết yêu thương. Con đây rồi, con đã về đây mẹ dịu hiền, để rồi lại chuẩn bị lên đường cho một chuyến đi xa khác chắc là khác nhiều với chuyến đi vừa qua. Sau ba ngày, một máy bay C130 từ Sàigòn ra hạ cánh ở sân bay Gia Lâm để đón tôi – đúng như Út-Uốt đã hứa hôm nọ. Tôi phái đồng chí trung tá Nguyễn Quang Minh ra báo cho sĩ quan Mỹ chỉ huy máy bay biết chúng tôi chưa về được. Đồng chí Minh đã viết một thông báo nói rõ rằng Trung tướng Trần Văn Trà còn bận việc, chưa về và cho phép máy bay trở lại Tân Sơn Nhất mà cũng không cần trở ra đóng. Và đồng chí cũng không quên thay tôi tỏ lời cảm ơn. Trong niềm vui dạt dào được trở về thủ đô yêu mến, với không khí tự do thoải mái giữa bạn bè, đồng chí, đồng bào ruột thị, tôi càng nhớ thương các đồng chí còn đang ở Tân Sơn Nhất. Vì nhiệm vụ không thể thiếu trong giai đoạn đấu tranh hiện nay, các đồng chí buộc phải sống làm việc căng thẳng giữa vòng vây kẻ thù mà thời gian chưa biết đến bao giờ. Rồi đây những gì sẽ đến với các đồng chí trong lúc kẻ thù của ta vô cùng ngoan cố và nham độc? Tôi tự nhỏ lòng, anh em vùng giải phóng phải làm hết sức mình, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí trong ấy giành thắng lợi cho cách mạng. Nhất định các đồng chí không bị cô lập, đã có chúng tôi, đã có nhân dân ta, ngay tại Sàigòn. Một ngày nào đó chúng ta lại sẽ gặp nhau đón mừng chiến thắng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:07:34 am CHƯƠNG HAI CHỈ CÓ CON ĐƯỜNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG Ngay sau khi ra tới Hà Nội, tôi đã được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính phủ và Bộ Quốc Phòng, Bộ ngoại giao, báo cáo về công việc của Ban liên hợp quân sự 4 bên; những vấn đề đã đạt và những vấn đề chưa đạt được; những gì tôi đã rút ra kết luận sau 60 ngày mặt giáp mặt với Mỹ Ngụy; những nhận định của tôi về tình hình v.v.... Tôi đã nghe các đồng chí nhận xét, đánh giá tốt về công tác của Ban liên hợp quân sự bốn bên, về âm mưu địch và những gì ta sẽ làm tiếp. Sau đó tôi được phép nghỉ vài hôm rồi tiến hành chuẩn bị và tham gia hội nghị Bộ chính trị Trung Ương Đảng mở rộng bàn về tình hình nhiệm vụ cách mạng Miền Nam Việt Nam. Các anh trong Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền, anh Phạm Hùng, Mười Cúc(1), Hai Hậu(2), Mười Khang, Sáu Dân(3), đi theo đường Trường sơn cũng lần lượt ra tới Hà Nội. Chúng tôi họp riêng phần chiến trường B2 để thống nhất đánh giá tình hình, nhận định sự diễn biến thực tế vừa qua và dự kiến sắp tới. Cũng đã trao đổi kinh nghiệm với các anh Năm Công(4), Chu Huy Mân ở chiến trường khu 5 và anh Hoàng Minh Thảo ở B3 ra dự hội nghị. Hạ tuần tháng 4-73 họp Bộ chính trị Trung ương Đảng có đủ đại biểu các chiến trường ở Miền Nam tham gia. Đây là một cuộc hội nghị vô cùng quan trọng. Sau khi các bên đã ký kết hiệp định Paris, tức là ta đã giành được một thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, buộc Mỹ chất dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc, buộc quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam, và đặc biệt là sau 60 ngày thi hành hiệp định ta đã có thêm một số thực tế diễn biến ở chiến trường, cuộc hội nghị này nhằm đánh giá lại tình hình, đánh giá tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng vạch ra đường đi nước bước của cách mạng Miền Nam trong giai đoạn chiến lược mới. Đó là điều mong mỏi của tất cả mọi người, cán bộ cũng như chiến sĩ, nhân dân. Cục diện ấy, thực ra là trong hàng ngũ cán bộ các cấp, ở các chiến trường cũng như ở Trung ương, chưa phải đã nhất trí với nhau về giá trị của Hiệp định Paris, về tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, và đặc biệt là về cách thi hành hiệp định như thế nào, về cách đối phó với kẻ địch đang ngày càng vi phạm các điều khoản của hiệp định. Ngay đến diễn biến ở mỗi chiến trường cũng khác nhau vì ở mỗi chiến trường điều kiện về ta và địch hoàn toàn không giống nhau, giá trị chiến lược của mỗi chiến trường đối với toàn bộ cuộc chiến tranh không giống nhau, cấp lãnh đạo ở chiến trường đó suy nghĩ nhận thức vấn đề và hành động cũng khác nhau. Và đó cũng là một thực tế không thể khác được. Cho nên căn cứ thực tế diễn ra ở một chiến trường nào đó để đánh giá và chủ trương cho chung sẽ không tránh khỏi sai lầm nguy hiểm nếu không phải là một chiến trường có nhiều cái chung, có tính tiêu biểu cho toàn cục, có giá trị chiến lược quan trọng đối với toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong lúc đang diễn biến chiến tranh, không đánh giá đúng vai trò của từng chiến trường sẽ dẫn đến sai lầm trong tổ chức bố trí lực lượng các mặt, trong chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, và tất nhiên ảnh hưởng đến thắng lợi hay thất bại của chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược giải phóng đất nước của ta không phải không có trường hợp sai lầm. Nhưng nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt, dân chủ và tập trung của Đảng ta mà ta kịp thời sửa chữa sai lầm và giành thắng lợi. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mỗi thành bại của cách mạng trong từng giai đoạn đều là thành bại của ý chí và hành động của hàng triệu con người mà trước tiên là của tập thể lãnh đạo. Chớ có bao giờ, bại là do anh mà thành là do tôi. Ở mỗi giai đoạn của cách mạng, mỗi khúc quanh của lịch sử, chủ trương và hành động đúng cũng đều là kết quả của tư duy, của nhận thức tập thể, của bao nhiêu đầu óc cộng lại, từ đầu óc của người lãnh đạo cao nhất tới đầu óc của người chiến sĩ, người dân bình thường trong khi vì yêu nước yêu dân mà xông phá vào thực tế cụ thể sinh động ở chiến trường. Không một người nào luôn là đúng, cũng không một người nào luôn là sai, vì tất cả đều là con người. Cái cao quý nhất, sáng suốt nhất là nhận ra được cái sai và kiên quyết kịp thời sửa chữa. Ngay cả tập thể nữa không phải lúc nào cũng đúng hết. Nhưng chắc chắn là tập thể ít sai lầm nhiều hơn là cá nhân chuyên quyền. Hồ Chủ Tịch, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, của dân tộc bằng một câu rất ngắn gọn nhưng rất thâm thúy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đoàn kết đây không phải chỉ là đoàn kết trong hành động mà trong mọi lĩnh vực tư tưởng suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng, ý chí. Và cũng chính vì thấm nhuần truyền thống ấy mà Người thành con người hết sức giản dị, hết sức khiêm tốn. Người là tập trung trí tuệ của mọi người. Đạo đức Hồ Chí Minh tỏa sáng non sông, chiếu rọi từng tấm lòng Việt Nam. Người không chỉ thấy rõ mình mà thấy rõ mọi người, công minh, chính trực, lòng tương mênh mông. Dân tộc ta cũng đã đúc kết truyền thống của mình trong quá trình dựng nước và giữ nước bằng câu châm ngôn “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Dân tộc Việt Nam là như vậy, Hồ Chí Minh là như vậy! (1) Tức đ/c Nguyễn Văn Linh, phó bí thư TWC. (2) Tức Trần Nam Trung. (3) Tức Võ Văn Kiệt. (4) Tức Võ Chí Công. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:10:02 am Trong thời kỳ này tôi còn nhớ nhiều câu hỏi của nhiều đồng chí cán bộ ở các chiến trường nêu lên.
“Vì sao Hiệp định đã ký rồi mà ngụy quân, ngụy quyền không rã nhiều”? Hay nhận định: “Hiện nay Mỹ cút nhưng ngụy không nhào mà lại mạnh hơn lên”, hoặc: “Vừa qua là quá trình Mỹ thua nhưng cũng là quá trình ngụy quyền tồn tại và mạnh lên, cả về chính quyền, về quân đội và về kinh tế…”. Có một số triệu chừng bề ngoài cộng với những âm mưu đen tối và ngoan cố, những kế hoạch chủ quan cao độ của Mỹ ngụy, đã làm cho các đồng chí ấy không hiểu được thực chất của tình hình. Ngay khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ngụy đã xua quân lấn chiếm một số vùng quan trọng của ta như Cửa Việt (Trị Thiên), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), đường 4 (Mỹ Tho), đường 2 (Bà Rịa), vùng Bảy Núi (Long Xuyên)… Không những chúng đã lấn chiếm nhiều vùng ta mới mở ra trước ngày 28/1 mà còn chiếm thêm một số vùng ta đã làm chủ từ trước. Trong lúc do chúng tiến hành ào ạt nhiều cuộc hành quân càn quét và cảnh sát trong các vùng trước nay đang tranh chấp giữa ta và địch, các vùng mà chúng đang kềm kẹp, tiến hành bình định, lập các lõm căn cứ du kích của ta, phá cho được thế xen kẽ, da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng. Hầu hết ở các chiến trường chúng đều đóng them đồn bót ở nơi mới lấn chiếm và ken dày thêm nơi chúng kềm kẹp, dọc đường giao thông chiến lược, quanh độ thị lớn. Riêng ở bốn tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Tường, Bến Tre, từ tháng 1 đến tháng 4-73 chúng đóng thêm 297 đồn trong 129 ấp thuộc 24 xã. Cũng trong thời gian đó, Mỹ đã ra sức chở vũ khí phương tiện chiến tranh từ Mỹ, Nhật, Phi Luật Tân qua củng cố và phát triển quân đội ngụy. Chúng trang bị thêm các loại vũ khí hiện đại cho quân ngụy như xe tăng M48, pháo 175 ly “vua chiến trường” của Mỹ, phi cơ F5E... Ngụy đã dùng mọi biện pháp bắt lính đại quy mô. Đổ đồng mỗi tháng chúng bắt 15.000 thanh niên, nhờ đó mà bổ sung được đủ và nhanh cho quân chủ lực của chúng và số còn lại, số dự trữ để bổ sung khá lớn, được huấn luyện tại các trung tâm huấn luyện tân binh mà lúc ấy không nơi nào còn đủ chỗ chứa. Quân bảo an và phòng vệ dân sự cũng tăng lên nhiều. Lập các liên đoàn bảo an để cơ động chiến đấu tại địa phương thay cho chủ lực. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1973 số tiểu đoàn bảo an toàn Miền của chúng đã từ 189 lên 337. Ở các đô thị thì phát triển mạnh cảnh sát. Thành lập nhiều tiểu đoàn cảnh sát dã chiến, đặc biệt là ở Sàigòn. Kế hoạch của Mỹ ngụy là tiếp tục phát triển quân đội ngụy thành một đội quân mạnh 1.100.000 tên, hiện đại hóa, trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa… nhất là tăng cường các binh chủng kỹ thuật. Không quân sẽ lên đến 1.500 – 1.800 phi cơ các loại. Cơ giới sẽ có 31 – 35 thiết đoàn… Đi đôi củng cố phát triển ngụy quân, chúng tận lực củng cố ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, Tung ccán bộ bình định về xã ấp, đưa sĩ quan quân đội về lập các phân chi khu ở xã – công cụ đàn áp phát xít chủ yếu – Ra sức kềm kẹp nhân dân chặt chẽ hơn như: củng cố hộ liên gia, phát triển “đoàn ngũ hóa quần chúng”… Chúng phát triển do thám gián điệp khắp thôn ấp, tung ra vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta. Để hậu thuẫn cho ngụy quyền Thiện để sẵn sàng yểm trợ quân đội tay sai ở Đông dương – chủ yếu là ở Miền Nam Việt Nam – Mỹ đã để ở Đông Nam Á một lực lượng quân sự cơ động gồm bốn hàng không mẫu hạm, 735 máy bay chiến thuật, 173 máy bay chiến lược B52. Tất cả những việc nêu trên đây, Mỹ Ngụy đã tiến hành một cách mạnh mẽ ngay từ khi có hiệp định. Có thể nói có hiệp định rồi, chúng lại tích cực đánh phá nhiều hơn, kèm dân chặt hơn, gây cho ta khó khăn không in ở tất cả các địa phương. Trong lúc đó về phía ta, do qua một thời gian dài hoạt động liên tục từ tháng 4-72 đến nay, nên cán bộ chiến sĩ mỏi mệt, quân số tiêu hao chưa kịp bổ sung, đơn vị nào cũng xốc xếch, thiếu người cầm súng, lương thực đạn dược kém sút, vì vậy mà rất khó đối phó với các cuộc tấn công của địch. Một số nơi buộc phải lùi để địch chiếm mất đất, mất dân. Thêm vào đó, một số cán bộ, một số địa phương, với tinh thần chấp hành chỉ thị của trên là đấu tranh thi hành triệt để hiệp định Paris, công tác binh địch vận vô hiệu hóa quân ngụy một cách hữu khuynh, nguy hiểm, cụ thể hóa ta thành 5 cấm: cấm tấn công địch, cấm đánh quân địch càn quét lấn chiếm, cấm bao vây đồn, cấm pháo kích đồn ngụy và cấm xây dựng xã chiến đấu. Tưởng như vậy để ổn định tình hình, tránh gây căng thẳng để đi vào hòa giải hòa hợp dân tộc. Một số nơi rút các đơn vị ở phía trước về phía sau để chấn chỉnh, củng cố. Cho rằng không rút về sau thì đơn vị sẽ bị tiêu diệt. thực tế là khi rút đơn vị vũ trang ta về, thì địch lại lấn lướt phá cơ sở quần chúng, diệt cơ sở Đảng ta, xóa trạng thái da beo ở đây. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:11:33 am Giữa bối cảnh như vậy, nhìn vào hiện tượng rối bời lúc đầu ấy, một số cán bộ từ Trung ương đến địa phương nghĩ rằng sau hiệp định, ta yếu đi nhiều, còn địch thì mạnh lên. Địch thu nhiều thắng lợi mới còn ta thì bị thiệt hại mất mát thêm. Từ đó kết luận rằng hiện nay địch mạnh hơn ta, tương quan lực lượng trên chiến trường có lợi cho địch, bất lợi cho ta, nguy hiểm cho cách mạng. Trên cơ sở nhận định đó mà có một số chủ trương, hành động sai lầm. Tôi sẽ có dịp trở lại những vấn đề cụ thể này.
Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng lần này đã giải đáp một cách đầy đủ tất cả băn khoăn của cán bộ, của các chiến trường. Hội nghị đã phân tích một cách khoa học đúng đắn tương quan lực lượng ta địch, đánh giá một cách sâu sắc tình hình đề ra chủ trương sáng suốt đưa cuộc cách mạng Miền Nam đi lên giành thắng lợi. Kết quả của hội nghị này đã được Trung ương Đảng thảo luận nhất trí và thành nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng để đi đến kết quả nhất trí đó, hội nghị Bộ chính trị đã trải qua một cuộc thảo luận khá sôi nổi, có lúc rất gang. Một sự cọ xát giữa nhiều ý kiến khác nhau, giữa nhiều nhận thức về thực tế biểu hiện trên các chiến trường… Được dự hội nghị này, tôi thấm thía biết bao về tinh thần trách nhiệm cao của từng đồng chí dự họp, tinh thần dũng cảm phản ánh thực tế tình hình chiến trường, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ vì chân lý và tinh thần yêu nước, đoàn kết, khách qua. Đó là cách làm việc dân chủ và tập trung của Đảng ta, bí quyết của mọi chủ trương đúng đắn, của mọi thành công. Vấn đề thảo luận sôi nổi nhất, ngay từ đầu là vấn đề ta mạnh hay địch mạnh. Nhận xét về mạnh yếu không phải là chuyện dễ dàng. Nói chung chung mà không đi vào cụ thể thì không thể xác minh đó là mạnh yếu. Đi vào cụ thể mà không phải là cái cụ thể chung nhất thì nói yếu mạnh không hẳn là đúng mà có khi ngược lại. Lại còn cái mạnh, cái yếu ở nơi nào, thời điểm nào, là nhất thời hay cơ bản và khả năng vận động chuyển hóa của sự vật, của cái yếu và cái mạnh ấy. Và cũng phải hiểu thế nào là sức mạnh. Ví dụ sau Hiệp định một iểu đoàn chủ lực ngụy được bổ sung nhanh lên đến 400 – 500 tên, lương thực, đạn dược đầy dủ, trong lúc đó tiểu đoàn chủ lực của ta chưa được bổ sung, cao lắm là được 200 quân, đạn dược thiếu, lương thực kém. Tổng quân số ngụy sau khi quân Mỹ và chư hầu rút, cỡ từ 70 vạn đến một triệu mốt, còn ta tại chiến trường đạt tỷ lệ 1/3 so với địch là cao rồi. Nếu lấy cái cụ thể đó mà kết luận rằng ngụy mạnh ta yếu thì không thể đúng được. Ngoài số lượng vật chất ấy còn phải tính đến rất nhiều yếu tố cộng lại. Như sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ, chất chiến đấu về kỹ thuật, chiến thuật của đơn vị, nghệ thuật chỉ huy của cán bộ, thế bố trí của đơn vị, nhiệm vụ của nó, trong kế hoạch chiến dịch và chiến lược, trong tấn công hay trong phòng ngự ngày hôm nay hay ngày mai… Đó là chưa nói đến vấn đề rộng lớn hơn nhiều là yếu tố chính trị, mục đích cuộc chiến đấu, yếu tố nhân dân… mà không một quân đội nào thoát ra ngoài được. Cuộc chiến tranh giải phóng chính nghĩa của ta mà bao nhiêu nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ là tiến hành bằng cả hai lực lượng quân sự và chính trị. Ta tấn công địch bằng cả lực lượng quân sự và cả lực lượng chính trị quần chúng. Nói mạnh yếu không thể chỉ nhìn khía cạnh quân sự thôi mà phải nhìn mọi mặt, cả khía cạnh chính trị đôi bên nữa. Hàng chục năm trong chiến tranh, có biết bao lần ta phải đánh giá tương quan lực lượng ta địch. Năm 1959 là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng Miền Nam, ngụy quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp nơi đàn áp phát xít đẫm máu. Chỉ có một quân đội của Diệm tung hoành trên chiến trường như một võ sĩ diễu võ dương oai trên võ đài, không có đối thủ. Thế mà Nghị quyết 15 của Trng ương Đảng đã tạo ra một phong trào đồng khởi với sức mạnh vũ bão, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, làm cho Mỹ hoảng hốt phải mở cuộc chiến trnh đặc biệt để cứu bẻ lũ Diệm khỏi sụp đổ. Lúc này, nếu không có cái nhìn cách mạng, biện chứng thì không thể nào thấy sức mạnh của ta đang còn tiềm tàng trong dân, mà chỉ thấy sức mạnh của thể của địch. Năm 1965; số dân đi với cách mạng trong các vùng đã khá đông, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng không thể nhiều hơn dân bị địch kềm kẹp (nhưng đừng ai tưởng rằng số dân địch kềm kẹp là của địch). Lực lượng vũ trang ta thì du kích tương đối mạnh, nhưng chủ lực mới xây dựng một số ít trung đoàn. B2 lúc ấy mới có 2 trung đoàn.chiến đấu được. Còn địch ngoài bảo an, dân vệ chúng có hàn chục sư đoàn trang bị kỹ thuật mạnh và hàng vạn cố vấn Mỹ, lại có các đơn vị trực thăng, phi cơ chiến đấu, tàu hải quân Mỹ yểm trợ và tham gia trực tiếp chiến đấu. Thế mà chúng ta đã mở chiến dịch Bình Giã, tiêu diệt gọn nhiều tiểu đoàn mạnh của địch và các chi đoàn thiết giáp, hạ nhiều máy bay, mở ra một thời kỳ mới trong chiến tranh. Sau các trận đánh sân bay Biên Hòa, chiến dịch Bình Giã rồi các trận thắng Ba Gia, Pleiku, Mỹ ngụy đã thấy rõ nguy cơ ngụy quân bị tiêu diệt, ngụy quyền sụp đổ. Vì vậy mà Mỹ phải ào ạt đưa quân Mỹ vào để cứu nguy, chữa cháy, chuyển chiến tranh đặc biệt thành chiến tranh cục bộ, theo đúng chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ để làm tròn vai trò xen đầm quốc tế. Trước khi quân Mỹ vào, so sánh tương quan lực lượng ta địch, căn cứ nhìn số lượng cụ thể, vật chất kỹ thuật đơn thuần, thì đảm bảo rằng ta mạnh, có khả năng tiêu diệt ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền? Rồi khi quân Mỹ ào ạt vào một lúc khoảng 20 vạn quân, trang bị hiện đại, dựa vào sức mạnh của hỏa lực áp đảo và cơ động nhanh, tiến hành phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966, ta nhận định rằng Mỹ Ngụy không mạnh và bị động, và ta vẫn nắm vững chiến lược tấn công, ta mở chiến dịch tấn công Bàu Bàng – Dầu Tiếng và giành chủ động chiến trường, thu nhiều thắng lợi. Năm 1968 khi quân Mỹ lên tới gần nửa triệu quân với các vũ khí hiện đại đủ loại, trừ bom nguyên tử, lại mua được xương máu của một số quân chư hầu tay sai ngoài quân đội Thiệu, thế mà ta thấy rõ được chỗ yếu của địch, thấy được sức mạnh của ta, phát huy sức mạnh ấy cao độ tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân, có một không hai trong lịch sử chiến tranh xưa nay. Đòn Mậu Thân không những đánh địch cùng một lúc vào mọi trung tâm đô thị, cả cơ quan đầu não chiến tranh xâm lược Mỹ ở Sàigòn, thủ đô ngụy, mà còn tiêu diệt được nhiều sinh lực quan trọng của Mỹ ngụy. Đòn chiến lược này đã thắng chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đi vào hòa đảm Paris, chuyển qua chiến lược “phi Mỹ hóa chiến tranh” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”. Như vậy ta đã đập tan từ đó chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ. Tên sen đầm quốc tế đã phải run sợ với vai trò tự đặt ra cho nó, tiêu tan mộng ảo “sức mạnh quân sự tuyệt đối Hoa Kỳ”. Nhưng mặt khác trong Tết Mậu Thân, ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu cao quá sức thực tế ta có. Nghĩa là ta không dựa vào sự tính toán khoa học, cân nhắc sâu sắc mọi yêu tố mà có phần ảo tưởng dựa vào sự mong muốn chủ quan. Chính vì vậy mà mặc dầu là một chủ trương tài tình, độc đáo, đúng thời cơ, việc tổ chức thực hành giỏi, táo bạo, hợp đồng tuyệt diệu trên toàn chiến trường, mọi người hành động vô cùng dũng cảm, xả thân, giành thắng lợi hết sức to lớn, tạo ra một bước ngoặt chiến lược có ý nghĩa ở Việt Nam, Đông Dương, chúng ta đã phải chịu một hy sinh thiệt hại lớn lao về sức người, sức của, đặc biệt là cán bộ các cấp, làm cho sức ta yếu xuống rõ rệt. Sau đó không những ta không giữ được tất cả các thành tựu đã đạt được mà còn chịu muôn vàn khó khăn tiếp theo trong những năm 1969 – 1970 để cho cách mạng đứng vững trước cơn sóng gió. Đành rằng con đường cách mạng không bao giờ là con đường suông sẻ đi lên mãi mãi, thắng lợi nào mà không chịu sự hy sinh, nhưng trong trường họp Tết Mậu thân nếu ta cân nhắc, chu đáo, phù hợp với tương quan lực lượng đội bên, đề ra yêu cầu xác đúng thì thắng lợi ta còn to lớn hơn nhiều, tiết kiệm được nhiều xương máu của cán bộ, chiến sĩ, của nhân dân và sự tiến triển sau đó của cách mạng chắc chắn là khác nhiều. Năm 1972, sau một thời gian nỗ lực vượt bao khó khăn hàn gắn những tổn thất to lớn vừa qua, phát triển thế và lực mới của một tinh thần cách mạng tuyệt vời của chiến sĩ và nhân dân, bộ đội ta đã tham gia giành những thắng lợi ở Kampuchia, Lào – tuy vậy chủ lực ta vẫn chưa về hoàn toàn được đất Miền Nam. Trong tình hình như vậy, ta đã xác định đúng thế và lực của đôi bên, mở các chiến dịch tấn công, giành nhiều thắng lợi, phá tan nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của của địch, ở Quảng Trị, Tây Nguyên, Miền Đông Nam Bộ, mở ra nhiều vùng giải phóng liên hoàn ở Đông Hà, Đắc Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bắc Tây Ninh, rồi phối hợp với chiến thắng lớn “Điện Biên Phủ trên không” ở Miền Bắc thực hiện được quyết tâm của ta là đánh tan ý đồ ảo tưởng thương lượng trên thế mạnh của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris có lợi cho ta. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:13:12 am Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.
Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh? Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình. Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:14:30 am Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.
Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh? Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình. Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:42 am Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.
Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh? Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình. Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin. (https://lh3.googleusercontent.com/NO_BPzHAj7uGMucXh73RlRnPK_OkBkvhhKw0qqO1B0eCfqphVLtpW1eVTAkrajyM25RPidOLGIWtuMkuMPgDHIq_3crBy4Kd8oVgCHj3G07QIdxDPALEMiLWyTMDWtTrwJo-SOp64Y7W5y7KOG-ceFRONbiBcAb5E9lhQDa64tFq4u-gsisOiElLYps1g5DCgHFPoBesPXUHBw164Vby1ssebn3K4nSP4YxwgP2KIK3v1lBs6IiqBf_57QUvUFCp3VZpj_rUJ1AF8P5heV9xslM9Rt5Ozeqfagyp-zxmbzg5aJ_tpU7s-w4oYJLcB38_x-DhfYgbQz8qosQSftSvJLE-f5Zfrcm8G4kXikJyKdAT3kE4TF3WFKZuBRgQKoB5ndQiQit86ubl7VsuvdNgR_ANSR3PGzM8gLf8bC4pcizzRWWKqg6ZQJe4aRwv5sMoPZzw5nwugLso4f8GIBlhKxAmpNMKzc0WOERIALHRbMbBXy6DHEfXS0wJfnhDr3r8LHdC2TdUnH5PVrKLY_835BGSNgXSXJHm5qZYU5aC_EAw4nfvtFlvM-_BwOBhMGUT1Q_y30RNEij9uf98et9p5GALoV2-YwWTWODVB69xrGomaPkEdoqyEcTm1h5HWtiCeqHmUA7dJh8tvDLJqkHGbSLQ=w540-h800-no) Trên đường đi Trung đoàn 320 Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:18:25 am Trước một bản đồ Miền Đông Nam Bộ bao gồm cả tỉnh Long An, Gò Công, một phần Đồng Tháp Mười, treo trên thân cây, với que trúc vừa chặt ở bụi bên cạnh, tôi nghiêm trang truyền đạt mệnh lệnh trực tiếp cho trung đoàn. Tiếp theo đó tôi giải thích rõ về địa hình, về tình hình ta và địch ở các nơi mà đơn vị sẽ hoạt động. Cán bộ của trung đoàn chưa ai hiểu biết về vùng này. Riêng tôi nhờ hoạt động từ hồi kháng chiến chống Pháp tới nay, tôi đã từng lội bộ khắp nơi này nên biết rõ về con người và địa vật để truyền đạt cặn kẽ bước đầu cho anh em. Tôi đã chỉ thị cụ thể về nhiệm vụ, về phương châm, phương thức tác chiến, về những hình thức chiến thuật địch đã và sẽ dừng ở nơi nào trong tỉnh, về chiến thuật và kỹ thuật mà ta cần áp dụng để đánh thắng. Tôi đã nói về phương pháp vận động quần chúng, về công tác tổ chức du kích và giúp đỡ bộ đội địa phương, về việc kết hợp giữa các đơn vị của trung đoàn với xã và huyện sở tại, giữa trung đoàn và tỉnh đội. Cuối cùng tôi đã chỉ thị về công tác Đảng và công tác chính trị, về sinh hoạt tinh thần và vật chất của cán bộ và chiến sĩ trong mỗi trường hợp hoạt động từng đơn vị lớn, nhỏ, từng tổ lẻ rải rác.
Sau đó, anh em có hai ngày thảo luận về mọi mặt và nêu những gì còn thắc mắc chưa rõ để tôi giải đáp cuối cùng. Những ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, những tình cảm thân thiết chan hòa ở trung đoàn 320 không thể nào quên. Anh em từ cán bộ đến chiến sĩ đều phấn khởi được nhậ nhiệm vụ, vui vẻ bàn bạc và cố hình dung những trận chiến đấu sắp tới, những gì gian khổ đang chờ đợi. Nói sao hết những tháng ngày vô cùng khó khăn mà cán bộ và chiến sĩ của toàn trung đoàn đã đồng cam cộng khổ với cán bộ địa phương, với du kích và nhân dân, một bước không đi, một ly không rời, mặc bom đạn tập trung ác liệt mà anh em chỉ có những gốc dừa nước mỏng manh làm công sự. Có ai ghi lại những sinh hoạt kỳ lạ của anh em, ngày ngày đầm mình dưới bùn lầy nước đọng của bãi lá, bắn trực thăng, phi cơ, đánh càn quét, “nhảy dò”(1) của Lữ 3 sư đoàn 9 Mỹ, đêm đêm lại cùng nhân dân bàn mưu tính kế đánh địch, mua tải lương thực đạn dược trong các ấp chiến lược. Làm sao quên được những đêm hành quân sông Vàm Cỏ, căng thẳng, lo âu. Một đại đội từ huyện này qua huyện bên cạnh phải mất 5, 7 đêm liền, rồi lại qua đường số 4 của địch căng dày đồn bốt, dây thép gai, bãi mìn… Thế mà từ tháng này qua tháng nọ phải cõng thương binh về phía sau, đưa vũ khí đạn dược và tân binh lên bổ sung tại chỗ trên đoạn đường dài của vùng xen kẽ gần 100 cây số với khẩu hiệu “kiên trì, bám trụ, chủ động tấn công”, “sống chiến đấu ở đây mà chết cũng ở đây, vì thành công của cách mạng” (Ngày nay nhân dân vùng Cần Đức, Tân Trụ, Đức Huệ, Châu Thành… hàng năm vào những ngày quét mộ sắp tết, các má, các bà con đã đắp lên nấm mộ vô danh của chiến sĩ trung đoàn 320 những nắm đất tưởng lệ nhớ thương nghĩa tình!). Chính vì vậy mà trung đoàn đã cùng địa phương giữ vững được cơ sở cách mạng, các căn cứ của huyện, xã, các lõm du kích qua nổi thời kỳ khó khăn nhất. Mùa xuân 1975, trung đoàn nằm trong đội hình của sư đoàn 8 thuộc quân khu 8 cùng các lực lượng khác tham gia tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn 7 ngụy và kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giải phóng vùng Tiền Giang. Với gương chiến đấu oanh liệt của mình, trung đoàn cũng như các đơn vị và địa phương khắp các chiến trường, đã góp cho B2 những kinh nghiệm quý báu.. Qua những sự việc điển hình ở chiến trường như vậy mà các đồng chí trong Trung Ương Cục Miền Nam và quân Ủy Miền đã không đồng ý rút lực lượng phía trước về phía sau mà lịnh phải củng cố chấn chỉnh tại chỗ, giữ vững thế xen kẽ ba vùng và đã tích cực báo cáo ý kiến này với Trung Ương. Lại còn vấn đề hai vùng hay ba vùng. Trong suốt cuộc chiến tranh một mất một còn giữa ta và địch, sự đấu tranh ác liệt căng thẳng đã diễn ra, trên toàn chiến trường và từ đó đã hình thành ba vùng: - Vùng ta mạnh, lực lượng vũ trang lớn của ta đứng chân, nhân dân ở đây tham gia mọi hoạt động trong các tổ chức quần chúng, tham gia đánh địch, bằng mọi cách chính trị, binh vận và quân sự. Vùng địch mạnh, chúng kiểm soát bằng quân sự và cảnh sát, đàn áp bóc lột nặng nề. Ở đó, ta tổ chức quần chúng bí mật, có du kích, bộ đội biệt động và đặc công. Ta có những lõm chính trị mà nhân dân bí mật cất dấu cán bộ và giúp cách mạng bằng nhiều biện pháp che mắt địch, lồng trong công khai hợp pháp. Những lõm căn cứ du kích, cất dấu vũ khi lương thực, có du kích, có khi có bộ đội địa phương và đơn vị mũi nhọn của chủ lực đứng chân hoạt động. Tất nhiên có các chi bộ Đảng lãnh đạo tại chỗ - nhân tố trung tâm của phong trào. Giữa hai vùng ta và vùng địch ấy có một vùng ta gọi là vùng tranh chấp, rộng hẹp tùy nơi. Đây là một vùng mà sức mạnh đôi bên tương xứng, đang tranh giành nhau quyết liệt, luôn luôn xáo động, biến chuyển có khi từng ngày, từng giờ. Ở đây quần chúng nhân dân phần lớn là đi với cách mạng, các loại lực lượng và tổ chức cách mạng nếu có. Bộ đội địa phương huyện, tỉnh thường hoạt động ở đây, đôi khi có đơn vị chủ lực của khu hay của trên thọc về đây đánh địch và hỗ trợ cho địa phương. Địch thường hành quân đánh phá, càn quét, dùng phi pháo oanh tạc, gom dân về vùng chúng. Có thể nói cuộc đấu tranh ở đây bằng mọi hình thức của cả đôi bên diễn ra hàng giờ, cả ngày và đêm. Có nơi ban ngày do địch ban đêm do ta kiểm soát. Bên này cố đẩy lùi bên kia, để biến dần thành vùng mình kiểm soát. Do vậy vùng tranh chấp thường thay đổi liên tục giống như một vùng đất đai toàn cát, nằm giữa hai chiều gió. Nếu gió từ bên này thổi mạnh hơn thì cát đổ xô về phía kia, lấn vào phía kia, hoặc ngược lại. Khi nào còn hai phía, cách mạng và phản cách mạng và hai phía ấy còn đấu tranh chống nhau cố giành đất, giành dân về mình thì còn có vùng tranh chấp. Nó chỉ sẽ mất đi khi không còn đấu tranh nữa giã hai bên, nghĩa là một bên chịu khuất phục và bên kia toàn thắng. Hiệp định Paris không phải chấm dứt đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng và cũng không chấm dứt được ngay cả đấu tranh vũ trang mà nó qui định. Vì địch vi phạm lấn chiếm như nói trên kia với ý đồ là chỉ còn một chính quyền ngụy, một quân đội ngụy. Thế mà chủ trương tự ta nên phân định dứt khoát thành hai vùng thôi, vùng địch và vùng ta, để có phương châm đấu tranh thích hợp cho mỗi vùng để ổn định ngay tình hình, để ta có thể củng cố xây dựng lại lực lượng vũ trang của ta đã yếu rồi, xây dựng vùng kinh tế của ta, xây dựng chính quyền của ta, thì thật là không phù hợp chút nào. Tôi còn nhớ trong cuộc họp các đồng chí trong Trung ương Cục chuẩn bị tham gia hội nghị Bộ chính trị, các đồng chí đều khẳng định là căn cứ vào thực tế chiến trường B2 thì bất cứ tình hình nào, thời kỳ nào, cũng phải giữ đấu tranh ở cả ba vùng. Trừ phi ta thủ tiêu đấu tranh thì mới mất đi vùng tranh chấp. Thực tế không phải mất đi mà vùng ta lần lượt biến thành vùng tranh chấp, vùng tranh chấp sẽ biến thành vùng địch, cho tới khi không còn cả vùng ta lẫn vùng tranh chấp mà chỉ còn độc nhất vùng địch kiểm soát. Các đồng chí còn phân tích rằng thực tế không bao giờ có tình hình ổn định trên chiến trường vì cả ta và địch không bên nào thủ tiêu đấu tranh cả, cho dù không còn chiến đấu vũ trang thì vẫn còn đấu tranh chính trị, kinh tế (1) “Nhảy dò” là danh từ địa phương đặt cho một loại chiến thuật phổ biến của quân Mỹ ở Long An lúc ấy. Đó là dùng từng toán quân nhỏ đổ bộ đột kích từ vài chiếc trực thăng đang bay thấp và chậm, bất ngờ bắn phá bừa bãi và dữ dội một vài điểm nghi có quân ta, có căn cứ của cán bộ địa phương, nơi tập trung của nhân dân để làm công tác cho cách mạng. Sau đó lập tức nhảy lên trực thăng nhanh chóng trốn thoát. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:20:06 am Trong lúc đang họp Bộ chính trị mở rộng thì đồng chí Trần Hữu Dực được trung ương phái vào chiến trường Trị Thiên nghiên cứu tình hình thực tế đã về và báo cáo tại hội nghị rằng,Trị Thiên đã phân vùng xong, từ đường xe lửa trở về biển là vùng địch, từ đường xe lửa lên biên giới với Lào là vùng ta. Đã rút bộ đội về vùng ta củng cố. tình hình hiện nay đã ổn định, anh em đều phấn khởi…
Chúng tôi trình bày quan điểm của mình cho rằng làm như vậy là nguy hiểm. Sự ổn định chẳng qua là tạm thời. Khi địch có được một bước chấn chỉnh sẽ đánh lấn lên tây đường xe lửa và nếu chúng ta chống lại thì sẽ xuất hiện ra vùng tranh chấp trở lại. Nhưng lần này, vùng tranh chấp sẽ nằm ở tây đường xe lửa thôi. Vô hình trung ta đã tự nguyện đưa thêm đất thêm dân cho địch và giúp chúng phá được thế xen kẽ, xóa được trạng thái da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng – một vùng gồm đất đai phì nhiêu, đường sá thuận lơi, nhân dân đông đúc, bao gồm hầu hết các thị trấn, thị xã, đô thị - và triển vọng tình hình sắp tới thế nào hẳn ai cũng đoán được… Phân vùng theo cách như vậy đối với địch là lý tưởng. Ngụy quyền Thiệu, cũng như các hãng nghiên cứu chiến lược Mỹ đã từng nghiên cứu ba phương án phân vùng để làm cơ sở dấu tranh ở bàn hội nghị Paris: 1. Phân vùng theo cách cắt ngang Miền Nam Việt Nam theo vĩ tuyến, phía Bắc vĩ tuyến ấy là vùng Việt cộng (Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam), phía Nam là vùng ngụy quyền Thiện. 2. Chia dọc theo chiều dài Miền Nam Việt Nam, vùng trên núi dọc theo bien giới với Lào, Kampuchia, ít dân, nghèo về kinh tế, đường sá giao thông không thuận tiện là vùng “Việt cộng”, vùng dọc theo biển, giàu có đông dân, thuận lợi mọi mặt là vùng ngụy quyền Thiệu. 3. Ngừng bắn tại chỗ, ai ở đâu đứng đó và thành vùng kiểm soát xen kẽ lẫn nhau. Trong ba phương án ấy Ngụy sợ nhất là phương án 3, vùng xen kẽ da beo, vì chúng cho rằng như vậy sẽ không thể ngừng bắn, nguy hiểm cho chúng, vì rất nhiều khả năng nhân dân sẽ nổi dậy chống và tiêu diệt chúng. Vùng chúng không hoàn chỉnh sẽ khó xây dựng kinh tế, khó cai trị hữu hiệu vân vân… Chúng thích nhất là chia dọc theo phương án 2. Vì chia như vậy hoàn toàn có lợi cho chúng. Chúng nghĩ không bao lâu với sự giúp đỡ và viện trợ của Mỹ, chúng sẽ giàu mạnh, nắm nhiều dân và sẽ đi đến tiêu diệt chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam và độc chiếm Miền Nam Việt Nam. Ta đấu tranh trên bàn hội nghị, nhưng chí là đổ máu nhiều ở chiến trường mới buộc địch phải bất đắc dĩ nhận ngừng bắn tại chỗ. Bây giờ ta lại tự dưng chia theo dọc ư? Nghị quyết 21 đã xác định rõ: “Thế và lực của cách mạng Miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ 1954 đến nay” và “thắng lợi của nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Kampuchia đã dẫn đến sự thay đổi trong so sánh lực lượng trên bán đảo Đông Dương có lợi hơn bao giờ hết cho cách mạng Miền Nam”. Thực tế tình hình diễn biến trên chiến trường càng ngày càng rõ sự xác định này rất chính xác, lực lượng cách mạng đã mạnh hơn hẳn lực lượng phản cách mạng ở Miền Nam Việt Nam. Sau này, trong Hội nghị Bộ chính trị trung ương Đảng mở rộng vào tháng 12-1974 để bàn kế hoạch chiến lược 1975-1976 nghĩa là gần hai năm sau khi thực tế đã có, anh Lê Đức Thọ đã phát biểu đại ý: Từ hiệp định tới nay nói chung là ta đánh giá địch cao, ta thấp. Thực tế trên chiến trường chỉ rõ: Khu 5 khi đánh thì sợ địch đánh phía sau, khi trên ra lịnh kiên quyết đánh thì đánh thắng lợi. Trị Thiên cũng ngại địch. Đồng bằng sông Cửu Long, một tháng 12 thôi ta gỡ trên 500 đồn bót địch đóng trái phép. Mới một tháng mà đạt chỉ tiêu 70% sáu tháng mùa khô. Bây giờ qua thực tiễn rõ ràng ta mạnh hơn địch. Thế mà trước đây khi bàn để ra Nghị quyết 21, vẫn cãi nhau ta mạnh hay địch mạnh. Nghị quyết 21 còn xác định: “Con đường của cách mạng Miền nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất cứ tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tấn công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng Miền Nam tiến lên. Nghị quyết đã đề ra phương châm phương thức đấu tranh cho từng vùng: “Vùng giải phóng… phải xây dựng và củng cố”; “vùng tranh chấp…, phải giữ giữ vững thế và lực của ra và từng bước chuyển lên…” và “vùng địch kiểm soát,… cần lãnh đạo quần chúng đấu tranh”… Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:20:34 am Sự xác định chiến lược và đề ra nhiệm như thế và đã dẹp đi những tư tưởng (nhưng chưa hẳn đã đập tan) còn tìm nơi nơi Mỹ ngụy có thể thi hành hiệp định, tưởng có thể có hòa bình, có ổn định. Nó cũng làm bớt đi tư tưởng sợ địch mạnh. cũng trong cuộc họp Bộ chính trị này đã xác định ta phải đánh trả một cách kiên quyết kẻ địch vi phạm hiệp định. Nghị quyết 21 đã nêu: “Hiện nay phương hướng chủ động, tích cực có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng của cả nước là luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và chính nghĩa, đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao và buộc địch phải thi hành hiệp định Paris để thắng địch”. Rõ ràng Đảng ta đã nhận định nhất quán từ đầu, hiệp định Paris là một thắng lợi của ta, ta phải đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh, ta có chính quyền ta nhất định thắng. Ta đã ký và ta tôn trọng chữ ký của ta. Ta cũng bắt chúng phải tôn trọng chữ ký của chúng. Không cho phép Mỹ Ngụy trắng trợn phá hoại hiệp định. Để giữ thành quả của cách mạng ta phải trừng trị kẻ địch vi phạm hiệp định tiến hành lấn chiếm và bình định. Không phải ta bị động đánh trả nơi nào địch thấy có lợi cho chúng để vi phạm tấn công ta. Ta phải chủ động đánh trả chúng thật đau, đánh ngay vào cả những nơi xuất phát tấn công của chúng; vào nơi bất lợi cho chúng. Trên tinh thần đó vào tháng 9 năm 1973 chúng ta tuyên bố công khai trên đài truyền thanh của ta để cảnh cáo trước kẻ địch và để thế giới hiểu rõ hành động chính đáng của ta.
Chúng ta mong rằng với sự cảnh cáo này, Mỹ ngụy sẽ tỉnh ngộ lại để tránh cho ta buộc lòng phải hành động nổ súng thật. Những điều kiện để đi vào thi hành hiệp định vẫn còn đó, cánh cửa vẫn còn mở cả ở Paris cả ở Tân Sơn Nhất. Nhưng Thiệu có lẽ tưởng chừng nó mạnh thật, tưởng quân thầy Mỹ của chúng vẫn là chỗ dựa vững vàng. Vì thế Thiệu càng đẩy mạnh chiến tranh, bất chấp Hiệp định, bất chấp những lời cảnh cáo, mong ngự trị mãi mãi Miền Nam Việt Nam. Và Mỹ cũng tưởng rằng Mỹ rút quân, nhưng bằng chiến lược Việt Nam hóa, Mỹ sẽ vĩnh viễn ở lại Miền Nam Việt Nam. Hãy nghe một người Mỹ, Weldon A. Brown kể trong quyển sách: “Chiếc trực thăng cuối cùng” của ông ta: “… Thiệu vẫn nghĩ là được Mỹ viện trợ và với những lời cam kết bí mật của Nixon, ông ta chẳng có gì phải lo ngại cả. Lời cam kết vẫn còn giá trị và đã được tăng cường qua việc Mỹ đã cung cấp thêm cho ông ta các máy bay phản lực chiến đấu và các vũ khí rất hiện đại, thậm chí năm 1975 khi quốc hội Mỹ cấm không được tiếp tục giúp đỡ về mặt chiến đấu, Thiện vẫn cảm thấy ung dung vị đã có lời cam kết của Nixon. Chương trình viện trợ, và những lời hứa của chúng ta đã làm cho Thiệu cảm thấy an toàn một cách giả tạo và do đó dẫn tới kết quả là Thiệu đã từ chối mọi nỗ lực hòa giải hoặc thương lượng với đối phương và đã làm cho Thiệu coi thường hiệp định Paris. Trong năm đầu sau khi hý Hiệp định, Thiện đã tiến hành các cuộc tấn công nhỏ, đẩy quân cộng sản ra khỏi một số khu vực thuộc Châu Thổ sông Cử Long và dọc theo bờ biển thiết lập các tiền đồn ở đó, và tái định cư những người tị nạn vào các khu vực mới chiếm lại được và thậm chí còn cho quân đột kích vào cả Kampuchia nữa. “Thiện không muốn cho quá trình chính trị thành công để làm suy yếu chính quyền của ta, dù bất cứ dưới hình thức nào – Anthony Lewis đã viết như sau: “Thiệu cấm mọi người không được đi từ vùng này sang vùng khác, biến những người tù chính trị thành các tù thường phạm để tiếp tục giam giữ họ và cấm hoàn toàn các Đảng phái không được hoạt động trừ Đảng của ông ta. Thiệu không chỉ từ chối không thực hiện các điều khoản của Hiệp định Paris mà thôi, mà Thiệu còn coi việc tuyên truyền cho hiệp định ở Nam Việt Nam là một tội lỗi, và vào lúc cuộc ngừng bắn sắp được thực hiện thì Thiệu đã phát động các cuộc hành quân gây hấn. Thiệu cần chúng ta ngấm ngầm ủng hộ các hoạt động vi phạm hiệp định ấy của ông ta và hình như Thiệu đã được chúng ta ủng hộ như vậy. Ngay trước khi có cuộc hưu chiến Oa-sinh-tơn đã nhanh chóng chuyên chở cho Thiệu một đợt vũ khí mới trị giá một tỷ đô la. Có tin là đầu tháng 2-1975 Thiệu đã nói với một nhà báo Mỹ rằng kể từ khi ký hiệp định Paris, Hoa Kỳ chưa bao giờ gây sức ép buộc ông ta phải có những nhượng bộ chính trị với phái cộng sản cả, tức là thực hiện các điều khoản gìn giữ hòa bình. “Shipler đã viết đại sứ Martin và Mỹ đã chẳng làm gì để can ngăn những hành động liều lính này và chẳng làm gì để thuyết phục Thiệu thực hiện hiệp định Paris”. Như vậy là đã rõ, kẻ đã vi phạm hiệp định, cố tình đẩy mạnh chiến tranh là ai. Và nhất thiết kẻ vi phạm ấy phải bị trừng trị. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:15:07 pm CHƯƠNG BA TRỪNG TRỊ KẺ VI PHẠM HIỆP ĐỊNH Sau cuộc họp Bộ chính trị, chúng tôi hợp với Quân ủy Trung ương để bàn cụ thể chấp hành Nghị quyết Bộ chính trị. Ngày 1-6-73 Đoàn B2 đã họp bàn nội dung điện chỉ đạo trước về chiến trường theo tinh thần hội nghị và sắp xếp việc đi về. Tôi còn phải làm việc cụ thể một loạt với Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị, Tổng cục Hậu cần, các Bộ Tư Lệnh binh chủng để các đồng chí hiểu rõ thực tế của chiến trường, nghe ý kiến đóng góp chỉ đạo về chuyên môn của các đồng chí, nhận những sự chi viện có giá trị của các đồng chí về kế hoạch, về vật chất kỹ thuật. Và tôi hối hả chuẩn bị lên đường. Được trở lại với rừng xanh, với chiến trường khói lửa, với cá đơn vị chiến đấu của mình sau một thời gian xa cách, lòng tôi nôn nao vui sướng. Cái vui sướng hồn nhiên này đã làm tôi phát hiện một cảm giác đã có trong tôi từ bao giờ: tôi đã xem căn cứ là nhà, chiến trường là quê hương, cán bộ và chiến sĩ trong cơ quan và đơn vị chiến đấu là thân thuộc. Khi nhận nhiệm vụ rời khỏi chiến trường ra Sài Gòn trong ban hiên hợp quân sự 4 bên, tưởng như không còn trở lại, lòng tôi bồi hồi luyến tiếc như bùi ngùi từ biệt quê hương. Giờ đây sáp trở lại căn cứ và chiến trường, tôi khấp khởi mừng vui khác nào như sắp trở về làng cũ, thân thương. Có phải chăng hàng chục năm quen sống ở chiến trường, trời rộng đất dài, cảnh vật thay đổi, chim rừng cá nước, đã làm cho tâm hồn tôi chỉ rung động với rừng xanh. Hay tôi đã tâm niệm suốt đời mình vì độc lập tự do nên nguyện cầm súng chiến đấu cho đến ngày đạt mục đích mà cuộc đời đã gắn bó với chiến trường. Không hoàn toàn là như vậy. Mãi cho đến ngày cầm bút viết những dòng này tôi càng thấy rõ thêm lý do luyến tiếc cuộc đời và xã hội chiến sĩ trong bao năm trường khói lửa. Đẹp làm sao, cao quý làm sao, tình bạn chiến đấu thiêng liêng vì mục đích chung giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Trong những ngày gian khổ thiếu ăn thiếu uống, ta đã chia nhau từng khúc củ mài, củ chụp, từng lá bép, trái gùi, và sớt cho nhau từng ngụm nước suối lấy từ bên kia dốc núi. Trên đường Trường Sơn năm nào, sau hàng tháng trời mang nặng, trèo đèo vượt suối đến kiệt sức và nhường nhau từng muỗng đường, tí muối hay biếu nhau viên ký ninh cuối cùng để cố dìu nhau về tới đích. Mỗi một mạng sống quý giá biết ngần nào, tổ quốc đang cần từng tay súng. Nhưng ta cũng coi mạng sống nhẹ như lông hồng. Anh sẵn sàng hy sinh, lao vào quân địch, không chút đắn đo để cứu sống đồng chí mình. Tôi vui cái vui của anh, anh buồn cái buồn của tôi. Nghe tin anh thắng trận, làm tốt hơn tôi, tôi phấn khởi cố học hỏi noi theo. Nghe tin tôi bại trận, anh lo nghĩ tìm phương giúp đỡ. Tất cả vì sự nghiệp chung. Tất cả đều vì cách mạng. Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Cuộc sống ở “Rừng xanh”, là như thế đó. Cuộc giữa những người bạn chiến đấu trong cả hai cuộc chiến tranh, trong các căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, Rừng U Minh là như thế đó. Tình thương đồng chí, đồng đội, khu rừng, giòng suối, mênh mông không bờ bến. Đó là tình thương học được của Bác, tình thương mênh mông của Bác đối với đất nước ta và con người lao động chiến đấu. Tình thương đó vượt cả không gian, vượt cả thời gian, ở đây, ở kia, trước sau như một. Ai đã từng sống những đoạn đời như vậy mà lại không nâng niu luyến tiếc. Đúng rồi, không phải chiến trường hay rừng xanh quyến rũ tôi mà là lòng người, đạo đời làm tôi quyến luyến. Suốt dọc đường Trường Sơn, lần này bom đạn địch giảm hơn trước nhiều. Mọi hoạt động tươi vui hẳn lên, phấn chấn hẳn lên. Hết binh trạm này đến binh trạm nọ, từ Đoàn này đến Đoàn khác, mỗi người một việc, năng suất cao hơn trước gấp bội. Anh em vui mừng khi gặp Đoàn từ Hà Nội vào Nam, mọi người đều muốn biết có gì mới về chủ trương đường lối? Bộ chính trị đã có nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới chưa? Cán bộ phụ trách các đoạn, các trạm rỉ tai tôi hỏi: B2 định làm ăn thế nào? Triển vọng ra sao? và hứa sẽ làm hết sức mình để chi viện cho chiến trường. tôi rất cảm động. Các đồng chí đã tận lực chi viện, đảm bảo cho các chiến trường nhưng chính đây cũng là chiến trường, các đồng chí không những chỉ viện cho tiền tuyến mà còn chiến đấu anh dũng trong bom đạn ác liệt có thua gì ở tiền tuyến. thật là một tinh thần cao cả chỉ nghĩ cho các đồng chí mình, vì các đồng chí mình, vì toàn thắng của cách mạng. Khắp nơi trên đất nước này trong chiến tranh đều như vậy đó. Triệu người như một, nghe và tin theo Đảng đã sống, công tác, chiến đấu, hy sinh tất cả vì chiến thắng, vì thành công của cách mạng Miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc. Tất nhiên, không tránh khỏi một bộ phận nào đó lạc hậu “tụt tạt”(1) phạm kỷ luật, cơ số nào đó sợ chết, nên tránh không dám vào chiến trường, nhưng đó là một tỷ lệ quá nhỏ hầu như không đáng kể. (1) Có nghĩa là sợ chết tụt lại phía sau hay tạt qua đơn vị khác ít nguy hiểm hơn. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:35 pm Trên đường đi vất vả và hiểm nghèo tôi đã mơ về chiến thắng. Chiến thắng rồi ta sẽ có một dải non sông từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, từ biên giới đến hải đảo, bầu trời bao la, biển rộng bao la. (Ta sẽ có 40, 50 triệu con người Việt Nam sống theo kiểu mới. Ta sẽ xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa hệt như xã hội và con người mà lòng người, đạo trời đã quyến luyến tôi. Phải quét sạch những thói hư tật xấu của con người mà lối sống đua chen vì cá nhân ích kỷ trong xã hội phồn vinh giả tạo, xã hội hưởng thụ của thực dân kiểu mới Mỹ để lại. Phải không còn những thói đen bạc, chạy theo ham muốn cá nhân thấp hèn, đi đến chồng phụ vợ, con bỏ cha, bạn bè thay đổi tùy sự cần thiết nhất thời cho mình. Xã hội mới phải là một xã hội không còn bóc lột, không còn áp bức, bất công, mọi người đều có điều kiện phát huy tài năng của mình tham gia xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Con người mới phải là con người gương mẫu có đức độ, có tài năng.
Đức, biểu hiện ở đạo xử thế giữa người và người,giữa chung và riêng, trong gia đình, ngoài xã hội. Mọi người thương yêu kính phục lẫn nhau, trung thực, chân thành, thủy chung. Không có gì giống với kiểu người trước mặt tươi cười vồn vã, sau lưng tìm cách đầm nhau, “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”. Phải là đạo đức Việt Nam, đạo đức Cộng sản, cả hai kết lại thành đạo đức Hồ Chí Minh. Tài, biểu hiện ở kết quả cụ thể của công việc, của nhiệm vụ hoàn thành, không phải qua lời nói ba hoa, phô trương, bề ngoài. Nói không đi đôi với làm thì nói không có giá trị gì, lý luận không chứng minh bằng thực tế thì chỉ là lý luận suông. Mỗi cá nhân phải là tấm gương trong học tập, công tác, chiến đấu, sản xuất, cách sống, sống trong một gia đình gương mẫu, hòa thuận, trong một xã hội trật tự nhịp nhàng. Mình không gương mẫu nói không ai nghe, gia đình không hòa hợp gương mẫu thì nói gì xây dựng xã hội trật tự, công minh. Tôi nghĩ xã hội của ta sau này nhất định phải là một xã hội trong sáng bao gồm những con người trong sáng. Khác xa với xã hội của Mao mà đồng chí P.P Vladimirop đã viết xong “Nhật ký Diên An”: “… Tính Nguyên tắc của Đảng được thay thế bởi óc tiến thân, thói xu nịnh công khai và tự hạ thấp mình xuống. Tự hạ thấp mình nói chung đang trở thành một đặc trưng của đời sống Diên An. Trong khi cố tiến thân bằng bất cứ giá nào, giữ lấy chức vụ của mình, hơn nữa cố leo cao hơn, người ta càng như đã phát điên lên. Danh dự, phẩm giá, tình bạn… đều bị quên lãng…”. Dứt khoát đó không phải là con người cộng sản. Đó không phải là xã hội xã hội chủ nghĩa. Tôi còn mơ về một con đường. Tôi đã trao đổi hào hứng với các đồng chí trong Bộ Tư Lệnh đoàn 559 ngay ở Sở chỉ huy Đoàn lúc ấy. Chúng tôi bàn: Cách mạng thành công rồi, nước nhà thống nhất rồi, ta đã xây dựng đường 559 này, con đường Trường Sơn Đông, con “đường mòn Hồ Chí Minh” nổi tiếng thành một đường Hồ Chí Minh hiện đại thực sự. Đó là một xa lộ chạy dài Nam Bắc dọc giải Trường Sơn dựa vào nền cũ của đường 559 cải tiến lại, rộng thênh thang, đúng tiêu chuẩn. Từng chặng, xây lên những tượng đài kỷ niệm ghi thành tích chiến công của một đoạn đường, của những anh hùng liệt sĩ, để con cháu ta mãi mãi về sau biết rõ về con đường xương sống của Tổ quốc xuyên suốt đất nước, con đường thống nhất ngay từ dạo ấy. Trong xương sống ấy đã chảy đi giòng tủy sống từ hà Nội thủ đô, từ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cho Miền Nam sống còn chiến thắng. Và sau này nếu có khả năng nữa ta lại xây một đường xe lửa song song. Đường xa lộ Hồ Chí Minh, đường xe lửa Hồ Chí Minh, thực sự sẽ là những con đường xương sống điều hòa cho cả một đất nước đang phát triển mạnh. Mọi ước mơ sẽ trở thành sự thật, ngày nay ta xả thân chiến đấu cho thành công, con cháu ta sẽ tiếp tục xây dựng cho nước nhà giàu mạnh cho đời sống văn minh, hạnh phúc của nhân dân. Vào cuối tháng 6, giòng sông Sékong nước đã nhiều và chảy mạnh. Hai chiếc thuyền máy vững chắc của đoàn 471 (thuộc Bộ Tư Lệnh 559) đã đưa chúng tôi xuôi về Nam, vượt bao thác ghềnh hiểm trở. Mỗi lần qua thác ngồi trên thuyền nghe rợn cả người. Một chiến sĩ ngồi cầm vững cần lái phía sau, mắt đăm đăm nhìn về nước. Một người khác đứng oai phong đằng mũi hai tay cầm một sào dài, sẵn sàng chống lách con thuyền tránh các tảng đá nguy hiểm nhô lên giữa dòng hay ngầm dưới mặt nước. Trong khi đó con thuyền cứ lao nhanh theo giòng sông chảy xiết nhiều lúc tưởng sắp va đập vào đá tan tành. Bỏ xe xuống thuyền rồi lại rời thuyền lên bộ những cuộc đón đưa thân mật tận tình, những buổi giã từ quyến luyến. Làm sao nhớ hết được những con người dọc mọi nẻo đường chinh chiến. Họ là cán bộ hay chiến sĩ, là gái hay là trai, hầu như ai cũng giống như ai: một vẻ mặt bình tĩnh trước mọi gian nguy, một nụ cười rạng rỡ nặng tình ruột thịt, mới tấm lòng thương nước, một ý chí sắt son. Gặp là thân ngay, đi là nhớ tiếc. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:18:29 pm Vừa lên bờ tôi gặp ngay đồng chí Cửu(1), Phó phòng Bảo vệ Miền cùng một số anh em đưa mấy xe con “Com-măng-ca” đón chúng tôi về căn cứ. Cửu là cán bộ chuyên tổ chức những chuyến đi công tác, đi chiến dịch cho chúng tôi, rất có nhiều kinh nghiệm đảm bảo an toàn và nhanh chóng. Tôi ôm chầm đồng chí và lần lượt bắt tay mọi người thật chắc. Đồng chí nhìn ngắm tôi một hồi rồi nói:
- Trông anh hơi gầy đi nhưng vẫn chắc chắn. Nghe tin anh trở về, ai nấy đều mừng. Tôi tưởng không còn có dịp tổ chức cho anh đi công tác và chiến đấu nữa chứ! - Bộ anh tưởng tôi ở luôn trong Sài Gòn sao? Thực tình thì tôi cũng muốn như vậy, ở trong Ban liên hợp quân sự 4 bên, rồi 2 bên và có thể cả trong Hội đồng hòa hợp và hòa giải dân tộc, nếu được. Nhưng địch không muốn thế. Chúng không muốn hòa bình, chỉ muốn chiến tranh, nên tôi lại phải trở về với rừng xanh, với các anh thôi. Đoàn xe chúng tôi về đến nhà vào xế chiều. Nửa năm trời bao nhiêu sự việc đã diễn qua, thế mà cảnh vật đất trời ở đây hầu như chưa có gì thay đổi lắm. Đồng chí Tám Hòa tức Nguyễn Xuân Ôn chánh văn phòng Bộ tư lệnh Miền cùng các đồng chí Lê Văn Xúp, cán bộ bảo vệ, giúp việc tôi từ những ngày mới trở về nam, các cô Xuân, Thục, Hương ở tổ quân y, Liên, Tâm, tổ cấp dưỡng đều chạy ùa ra tận cổng đón chào rối rít. Vào sân nhà tôi đưa mắt nhì khắp lượt. Vườn xanh mượt nào rau tươi, cây ăn trái, chuối, bưởi, màu hồng đào sum xuê. Đồng chí Chín Dũng già, người chiến sĩ Tiểu đoàn 309 cũ hồi kháng chiến chống Pháp, nay chăm chỉ làm vườn vui vẻ khoe với tôi thành tích và nhật xét: - Lâu này địch có bớt thả bom bắn phá chỗ này nên cây cối mới nảy chồi tươi tốt. Ước gì hòa bình được thực hiện thì khắp khu rừng bị phá trụi này sẽ thành những vườn cây ăn trái những líp rau cải xanh um. Tôi sẽ có dịp về Mỹ Tho – Cẩm Sơn quê tôi an dưỡng tuổi già. – Chín Dũng quay qua giới thiệu tiếp: - Đây là cậu Tài, cô Thảo, Tổ văn thư cũng sư chuẩn bị cho hai người làm lễ cưới để anh em uống cốc rượu mừng. Trong lúc Thảo và Tài bèn lên cố giấu cái mỉm cười sung sướng thì Kiên Chiến, phó văn phòng, cùng các thanh niên Điệp, Cách, Lưu, tổ công vụ cười to tán thưởng. Mỗi người một câu tíu tít hỏi thăm tôi đủ chuyện. Tôi không kịp trở lời cho một ai đầy đủ. Thật là cảm động, y như trong một gia đình. Tôi vội vàng nhờ đồng chí “Năm thuốc độc” (tức Nguyễn Văn Hoành, thơ ký của tôi, lấy quà Hà Nội từ trên xe, phân phát cho từng người. Anh em gọi đồng chí như vậy vì đồng chí tên Năm, là cán bộ binh chủng hóa học, để phân biệt với đồng chí “Năm thuốc đỏ” bác sĩ quân y cùng cơ quan – Quà không có gì quí giá, thuốc lá “Thủ đô” cho nam và kim, chỉ, kẹp tóc cho nữ, chỉ quí là ở tấm lòng. Như sực nhớ ra một điều thú vị, anh Tám Hòa kéo tay rồi hỏi: - À, anh có biết rằng ngụy ra kiến nghị công khai đòi anh trở lại Sài Gòn không? Nực cười quá, chúng nói Hà Nội đã “quản thúc” anh, Hà Nội phải trả anh về cho chúng (!) - Chẳng qua là trò tâm lý chiến. - Anh Hai Khiết(2) trong Ban liên hợp quân sự điện báo cáo rằng khi anh đã đi Hà Nội rồi và lúc biết chắc anh đi luôn, chúng lồng lộn lên. Chúng uy hiếp Phái đoàn ta. Chúng hăm: nếu trung tướng Trần Văn Trà không trở lại, chúng sẽ cho xe xúc cả Phái đoàn. Biết đâu chúng không làm thật, vì bọn ngụy trước nay có từ một hành vi thấp hèn nào. Vì vậy anh em ta trong đó cũng phải có phương án sẵn sàng chiến đấu tự bảo vệ đấy. Tình hình căng thẳng kéo dài hàng tháng. Thương anh em quá anh ạ. - Chúng ta sẽ đấu tranh buộc chúng phải thi hành đúng Hiệp định Paris thôi. Chúng không dám làm gì anh em ta đâu. Vì chúng ta mạnh cả về pháp lý, cả về chính trị, quân sự. Nghỉ ngơi được vài hôm thì Trung ương Cục họp bàn ngay việc phổ biến Nghị quyết 21 và tổ chức thực hiện. Nhằm mục đích đó, cuộc hội nghị cán bộ quân chính toàn Miền (B2) mở ra vào tháng 9-73 dưới một rừng le đẹp mắt của khu căn cứ, tập hợp rộng rãi cán bộ lãnh đạo các cấp, các khu, các đoàn thể và các trung đoàn, sư đoàn lực lượng vũ trang. Cuộc thảo luận rất sôi nổi hào hứng. Các đồng chí đã đem về đây những thực tế ở các địa phương, Các đơn vị, những cái hay và cả những cái dở của ta vừa qua, soi rọi với lý luận, với nghị quyết, phê phán cái đúng, cái sai. Những vấn đề thời sự tập trung của tình hình, không tránh được lôi ra phân tích, vẫn là vấn đề địch mạnh hay ta mạnh, hai vùng hay ba vùng, củng cố tại chỗ hay rút về sau, đánh trả thế nào… Có khác chăng là ở đây cuộc thảo luận đã đi vào rất cụ thể, đi vào từng chi tiết, khía cạnh để về thực hiện đúng, tránh lệch lạc tả hữu khuynh. Đặc biệt các đồng chí đã kháo với nhau nhiêu về chủ trương binh vận ngay sau khi có hiệp định: Nào là hiện nay phải lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, binh vận là chiến lược. Phải dùng nhiều thủ đoạn binh vận của quần chúng làm tê liệt các cuộc hành quân của địch, vô hiệu hóa dồn bót chúng, đó là tấn công rồi. Ta có lực lượng quân sự mạnh nhưng tránh dùng, vì dùng quân sự rắc rối lắm, mất tin nhau, găng nhau. Ta phải dám làm việc hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù. Từ những quan điểm phiến diện này chỉ căn cứ vào suy nghĩ và mong muốn chủ quan của ta mà không đếm xỉa đến thực tế âm mưu và hành động của địch, làm cho bên dưới cũng đề ra tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, hữu khuynh, thủ tiêu chiến đấu. Có cán bộ còn phê phán cấp dưới: “Các anh đánh nhau hàng chục năm rồi chưa đủ sao, nay còn muốn đánh nữa”. Bây giờ phải “xanh vỏ đỏ lòng” đẩy mạnh binh vận, biến người của địch thành người của ta “… Ta vẫn có quân, có súng đạn, Mỹ Thiệu tổ chức Mỹ Thiệu nuôi, có đủ lực lượng mà khỏi phải lo về hậu càn rắc rối; lôi thôi và vân vân”… Cấp dưới không dám trả lời nhưng trong thâm tâm anh em muốn hỏi lại: “thưa đồng chí, chúng tôi có muốn đánh nữa cho thỏa chí cả nhân dân, chúng tôi muốn đất nước hòa bình, nhân dân hết chết chóc. Nhưng địch hành quân càn quét lấn chiếm, chĩa súng bắn chúng tôi, âm mưu xóa sạch thành tựu cách mạng vừa qua thì chúng tôi phải làm gì. Có phải chúng tôi đứng thẳng người, dơ nắm tay lên trời hô khẩu hiệu ;”Hòa bình muôn năm”? Không! Thật tình chúng tôi không muốn cái trò ngây thơ đau xót hồi những năm 1954-1959 diễn lại. Trong tìm mình còn nhức nhối, cái tang của không ít đồng chí đa ngã xuống lúc ấy trong tay còn cầm súng mà không dám bắn, cái tang của nhiều phong trào địa phương bị dìm trong máu”. Vì sợ bị phê bình là làm sai chủ trương (binh vận) ở Mỹ Tho du kích phải tổ chức đánh lén (lén đối với cấp trên) đồn bót địch đóng trái phép vào căn cứ mình. Ở Mỏ Cày, Bến Tre, trước tình hình địch lấn chiếm mà lực lượng vũ trang không được đánh trả phải lui mãi, anh em than thở: “Chỉ còn nước chui xuống sàn mà ở” Cuối cùng phải tự động đánh trả mới khôi phục lại được vùng căn cứ của huyện. (1) Thượng tá Huỳnh Văn Cửu. (2) Tức Bùi Thanh Khiết, Đại tá Phó trưởng phái đoàn quân sự của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự 2 bên. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:19:33 pm Sau hội nghị cán bộ quân chính, chúng tôi họp với các đồn chí quân sự bàn cụ thể kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974, mùa khô đầu tiên thực sự sau hiệp định. Nội dung kế hoạch là xác định lại thái độ rõ ràng của ta tôn trọng Hiệp định, bảo vệ Hiệp định và vì vậy phải trừng trị kẻ vi phạm. Ta cố làm đúng như đã tuyên bố, kiên quyết và chủ động trừng trị, trừng trị ngay từ nơi xuất phát tấn công vi phạm của địch. Muốn như vậy ta phải mạnh, mạnh về chính trị, pháp lý, mạnh cả về quân sự, không phải chỉ mạnh về lực lượng mà còn mạnh về cách bố trí các loại lực lượng ở cả các vùng theo một thế chiến lược vững vàng sẵn sàng cho mọi tình huống. Phải củng cố chấn chỉnh các lực lượng vũ trang, củng cố tại chỗ, phải phát triển thế và lực của cách mạng ở cả ba vùng, vùng ta, vùng địch, vùng tranh chấp. Tất cả các địa phương phải dùng mọi hình thức chính trị thuyết phục, binh vận, ép rút, tiêu diệt tất cả các đồn bót vị trí đóng trái phép, bất cứ ở vùng nào sau ngày 28-1-73. Phải bảo đảm cho nhân dân các quyền tự do dân chủ, tự do đi lại làm ăn, tự do phá bỏ ấp chiến lược, trở về làng cũ nếu họ không muốn. Phải tiêu diệt lực lượng nào đi hành quân đánh phá, càn quét, cướp bóc nhân dân, cản trở công việc làm ăn sinh sống của nhân dân. Tất cả hành động này là hợp pháp, ta đã báo cho đoàn ta trong Ban liên hợp quân sự 2 bên biết để các đồng chí phối hợp đấu tranh ở bàn hội nghị.
Kiểm điểm lại tình hình từ khi có hiệp định cho đến bây giờ, chiến trường B2 đã có nhiều thay đổi: Từ tháng 1 đến tháng 4-7 trên tất cả các quân khu, các tỉnh, địch dùng các thứ quân đánh phá lấn chiếm các vùng của ta, ra sức bình định, gom dân, bắt lính, phía địa hình, đặc biệt quanh Sài Gòn dùng xe ủi đất san bằng nhà cửa vườn tược nhân dân, dùng quân lính, tội phạm chặt phá cây cối, đốn sạch dừa nước, đóng thêm dồn bót, tung gián điệp “Phượng hoàng” phát hiện, bắt, giết những người yêu nước mà chúng gọi là hạ tầng cơ sở Việt cộng. Từ tháng 5-73 trở đi, do sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền, các cấp lãnh đạo địa phương, ta đánh trả lại quyết liệt nên địch chựng lại rồi bị đẩy lùi từng bước. Đồn bót đóng trái phép bị diệt, đầu hàng, rút chạy, lính địch rã và đào ngũ mỗi ngày một nhiều, các đơn vị chủ lực, bảo an địch bị đòn đau đã bộc lộ các điểm suy yếu và ngày càng bị thua thiệt trên tất cả các vùng. Tình hình diễn biến về phía ta và địch theo 2 chiều ngược nhau ngày càng rõ. Về ta, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thấy Mỹ thua, ngụy suy yếu, ta thắng lợi, thế ta lên, tinh thần phấn khởi tin tưởng và tích cực tham gia mọi công tác chống địch. Về địch sĩ quan và binh lính các loại lực lượng đều nhận thấy sự thật là Mỹ đã thất bại, đã tỏ ra ngán chiến tranh, sợ chiến tranh tiếp tục, mong muốn hòa bình. Trên đôn đốc hành quân thì làm lấy lệ, có khi không làm nhưng báo cáo láo (xảy ra từ cấp chiến đoàn và cấp tiểu đoàn). Có binh lính đã chống lịnh, đào rã ngũ ngày càng nhiều. Các lực lượng kềm kẹp dân cũng tiêu cực, nới lòng kềm. Nhờ đó nhân dân đấu tranh bung ra làm ăn gày càng xa nơi ở, lần lượt trở về làng cũ, về vùng giải phóng của ta. Trong lúc đó bọn Mỹ, ngụy bên trên vẫn rất ngoan cố, và chủ quan, đặt hết kế hoạch này đến kế hoạch nọ và ra lệnh cho dưới thi hành. Thiệu đã chỉ thị cho đến cấp tiểu khu (tỉnh): 1) Lấn đất giành dân giữ vững vùng đã kiểm soát, giữ vững an ninh, không được để mất một xã, ấp nào. (Chỉ tiêu chung là kiểm soát cho được 11.000 trong tổng số 13.000 ấp trong toàn Miền Nam và đến tháng 2-74 phải đạt 65% số ấp loại A tức loại kềm chặt). 2) Chiếm giữ và bảo vệ tất cả các trục giao thông chiến lược. 3). Tiêu diệt lực lượng vũ trang và lực lượng tiếp vận đối phương ở tất cả các vùng nhất là từ biên giới vào. 4 Cô lập bao vây kinh tế, phá hoại, làm mất ổn định vùng căn cứ, vùng giải phóng của đối phương. 5) Tăng cường do thám, gián điệp, biệt kích trinh sát đường không để nắm tình hình, điều tra mục tiêu, chuẩn bị sẵn kế hoạch chờ thời cơ chiếm lại các vùng như trước ngày 29-3-1972.” Chúng cũng chỉ thị cụ thể cho từng vùng: “1) Vùng kiểm soát, các đô thị, diệt mầm mống, ngăn ngừa nổi dậy bằng tuần tiễu, phục kích, hành quân, cảnh sát, diệt cơ sở Việt cộng, kềm chặt dân, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, tổ chức dân chúng, củng cố chính quyền, bình thường hóa đời sống dân, tạo điều kiện phục hồi phát triển kinh tế. 2) Vùng củng cố (tức vùng tranh chấp), gồm các ấp lại C, D. Đẩy lùi, ngăn chặn, diệt lực lượng chính trị quân sự Việt cộng. Lập lại và củng cố chính quyền, nâng cao mức độ an ninh, nới rộng vùng kiểm soát, mở rộng vùng an toàn, dùng chính trị, kinh tế mua chuộc dân, nhưng biện pháp quân sự là chủ yếu. Các lực lượng quân sự lãnh thổ sẽ dần dần tập trung đánh phá vào vùng này. 3) Vùng tảo thanh Việt cộng (tức vùng giải phóng và căn cứ của ta). Tập trung đánh phá hành lang vận chuyển bao vây kinh tế, trinh sát, tình báo, tùy tình hình dùng không quân và pháo đánh phá kho tàng và vận chuyển, lôi kéo dân, duy trì chính quyền lưu vong, gây bất ổn định. Duy trì hoạt động quân sự và sẵn sàng kế hoạch chiếm lại”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:21:37 pm Về kế hoạch bình định, chúng nêu: cần mở nhiều chiến dịch bình định trong từng tiểu khu, quân khu và toàn quốc, nâng mật độ hành quân đơn vị nhỏ - Đóng thêm nhiều đồn bót. Ủi phá địa hình vùng tranh chấp và giải phóng của ta. Chi tiêu năm 1973 của chúng là phá 12.000 ha. Vùng nào kiểm soát được thì di dân, lập áp khẩn hoang lấn vào vùng giải phóng của ta. Kế hoạch 1973 của chúng là di dân 10 vạn, lập 20 ấp ở các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy, Lâm Đồng, Kiến Phong, Ninh Thuận, Đắc Lắc. Kinh phí dùng là 50 tỷ tiền ngụy Miền Nam.
Địch đã nêu thành mục tiêu quốc gia: Chiếm và bảo vệ tối đa lãnh thổ. Tranh thủ nắm dân đặc biệt là nông dân. Củng cố thực lực quân sự, chính trị. Trọng tâm của địch là vùng 3 và vùng 4 chiến thuật. Ngỳ 6-3-1973, Thiệu họp với các tư lịnh quân khu và các tỉnh trưởng đã nói: “Tôi đặt sự đấu tranh mất còn của Miền Nam vào các vị chỉ huy cao cấp ở 2 vùng này” (Vùng 3 và vùng 4 chiến thuật). Như vậy là ngụy quyền Thiệu không những không đếm xỉa gì đến hiệp định Paris mà còn lợi dụng Hiệp định, lợi dụng lòng ngay thật của đối phương tin ở hòa bình, ổn định, hòa hợp dân tộc, tranh thủ củng cố và phát riển lực lượng của chúng tăng cường đánh phá lấn chiếm, đi đến thủ tiêu hoàn toàn quân giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Nếu như ta mất cảnh giác, hữu khuynh lùi bước, thì lực lượng ngụy ngày càng mạnh, thế chúng càng lên và chưa biết tình hình sẽ đi đến đâu. Rõ ràng từ cuối tháng tư trở đi khi ta phản ứng lại, đánh trả lại thì địch đã bộc lộ chỗ yếu kém của chúng, bị chặn và tháo lùi lại. Từ khi có hội nghị Bộ chính trị, theo tinh thần thảo luận, Trung ương Cục đã chỉ đạo đối phó, kiên quyết hơn, thì tình hình trên chiến trường diễn biến ngày càng thuận lợi cho ta. Ngay trong thời kỳ từ tháng 1 đến tháng 4 ở các chiến trường khác ta bị lấn mất đất, mất dân nhiều nhưng riêng ở Quân khu 9 (Miền Tây Nam bộ) là nơi địch tập trung quân đông nhất lúc ấy, xem đấy là trọng tâm đánh phá lấn chiếm, đặc biệt là vùng Chương Thiện, khu vực giữa bốn tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, ta vẫn giữ vững các vùng của ta. Sở dĩ được như vậy, vì Khu ủy Khu 9 lúc ấy do đồng chí Sáu Dân(1) làm Bí thư đã thống nhất với Bộ Tư lệnh quân khu do đồng chí Lê Đức Anh làm tư lệnh, nhận định rằng kẻ địch không bao giờ chịu thi hành Hiệp định đâu, chiến tranh vẫn là chiến tranh, mọi mặt hoạt động vẫn như cũ không có gì thay đổi cả. Do đó, các trung đoàn chủ lực của Quân khu vẫn ở nguyên tại chỗ, cùng với lực lượng địa phương và du kích hoạt động như bình thường, kiên quyết tấn công, đánh trả quyết liệt, tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch (tiểu đoàn 3 trung đoàn 16 sư đoàn 9 ngụy và tiểu đoàn 86 biệt động quân). Điều này rõ ràng không chứng tỏ là lực lượng ta yếu đi và lực lượng địch mạnh lên sau khi có hiệp định như một số đồng chí đã tưởng tượng. Qua hoạt động đó, quân khu 9 đã giải phóng một vùng dài 20 cây số dọc kinh Nước Đục, phía Nam Chương Thiện, và một số vùng khác nữa. Số dân mới giải phóng lúc ấy lên đến 60 vạn, trong 11 xã, 152 ấp – Không kể số dân vùng tranh chấp trở về vùng ta sản xuất. Cùng lúc ấy, Khu 9 đã diệt tất cả các đồn bót lấn chiếm trái phép của địch, và rồi một số đồn bốt khác của địch, đã có từ trước cũng hoảng hốt tháo chạy. Hành động dũng cảm và kết quả cụ thể rực rỡ của quân dân khu 9 lúc ấy nổi bật, độc đáo, so với tất cả các quân khu khác, đã được bộ chính trị biểu dương và nêu gương cho các chiến trường khác. Nhưng éo le thay, hành động cụ thể ấy lại ngược hẳn với một loạt chủ trương lúc ấy, khi mới có hiệp định, là gấp rút ổn định tình hình, phân thành hai vùng ta, địch ngay, rút lực lượng vũ trang về phía sau để củng cố, không dùng quân sự rắc rối mà đấu tranh chính trị, binh vận là chính. Dùng binh vận dùng quần chúng làm tê liệt cá cuộc hành quân địch, làm vô hiệu hóa đồn bót địch, đó là tấn công rồi – như đã nói ở đoạn trên. Đặc biệt hành động của các lực lượng vũ trang quân khu 9 xuất phát từ chỗ xem như không có hiệp định, không có gì mới, cứ đánh như cũ. Đó là một nhận thức không đúng về hiệp định Paris, về giai đoạn chiến lược mới. Nhưng nó lại đúng ở chỗ đánh giá sự ngoan cố lật lọng của địch, giống như hồi hiệp định Genève, kiên quyết giữ những thành quả cách mạng đã giành được; đúng với thực tế tình hình mà không có ảo tưởng viển vông “May” mà đây là một chiến trường xa, phổ biến chủ trương của tiền phương rất chậm và uốn nắn sai lầm cũng thường không kịp thời. Ở đây nổi lên một điểm: thực tế là vô cùng quý báu, dù thực tế của sai lầm hay đúng đắn, nó là cơ sở cho lý luận, cho chủ trương đường lối. Mọi lý luận, mọi chủ trương đường lối không dựa trên thực tế sẽ sai lầm. (1) Tức đồng chí Võ Văn Kiệt. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:22:30 pm Địch tính toán trong một kế hoạch dài hạn của chúng:
“- Từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1973, ra sức lấn chiếm và kiểm soát tuyệt đại bộ phận lãnh thổ Nam phần Việt Nam. “- Từ tháng 9-73 đến 2-74 ra sức củng cố những cái đã giành được, phòng thủ vững chắc. “- Sau đó vào năm 1974 hay quá lắm là năm 1975 sẽ có giải pháp chính trị, tổng tuyển cử để hợp pháp hóa, chỉ còn một chính quyền (tức chính quyền của Thiệu), một quân đội mạnh (tức quân đội Việt Nam cộng hòa) – Chiến tranh tàn lụi – Việt cộng chỉ còn như một Đảng đối lập đấu tranh chính trị đơn thuần không hơn không kém. Nếu không, như vậy thì sẽ dùng chiến tranh lớn thanh toán hoàn toàn Việt cộng vào năm 1976 và 1977”. Về kinh tế, tương xứng với kế hoạch chính trị quân sự đó, chúng vạch ra kế hoạch dài hạn 8 năm 1973-1980 đã ban hành ngày 20-5-193 kế hoạch chia làm 3 thời kỳ: “1973-1974, phục hồi tái thiết, 1975-1976, phát triển củng cố, 1977-1980, Tự lực, giảm viện trợ.” Tham vọng, kế hoạch và hành động của kẻ địch nhất quán từ đầu là như vậy. Trên cơ sở tình hình thực tế diễn biến trên chiến trường cho đến lúc ấy vào giữa mùa mưa, biết được mưu đồ và hành động của địch như vậy, chúng tôi nghiên cứu chấp hành nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, cụ thể hóa thành nghị quyết 12 Trung ương cục mà làm kế hoạch hoạt động mùa khô 73-74 của chiến trường B2. Sau khi trình bầy và được sự chấp thuận của Trung ương cục, tôi đã duyệt lại kế hoạch mấy lần cuối cùng và hạn quyết tâm vào tháng 9 năm 1973 để kịp cho Tham mưu và các chiến trường triển khai thực hiện chu đáo và báo cáo ra Quân ủy Trung ương. Chiến trường chính được xác định lúc ấy là Đồng bằng Cửu Long - Ở đây địch chọn làm trọng tâm bình định, lấn đất, giành dân, vét người vét của. ta phải chặn bàn tay độc ác của địch lại, kiên quyết trừng trị chúng. Phải lấy lại và giữ vững vùng giải phóng của ta đã có từ trước 28-1-73. Muốn đạt mục tiêu ấy ta phải hoạt động phối hợp các chiến trường chặt chẽ, không cho phép địch hòa hoãn nơi chúng yếu, thất thế, để tập trung quân đánh nơi chúng có ưu thế, nơi có ý nghĩa chiến lược cho chúng. Chúng tôi quyết định tăng cường lực lượng, cả người và vũ khí cho quân khu 8, 9, chiến trường đồng bằng, để hai quân khu làm tròn được nhiệm vụ của chiến trường chính trong giai đoạn này – Lúc này có một vấn đề đặt ra, trong hàng ngũ cán bộ quân sự, cũng như cán bộ dân, Đảng là tăng cường lực lượng cho đồng bằng cách gì? - Đã xác định đồng bằng là chiến trường chính thì ta phải tập trung ba thứ quân của ta mạnh ở đây để đánh bại địch – Như vậy chủ lực cũng tập trung nhiều ở đây. - Đối với trước mắt cũng như về lâu dài, có nêu cứ dàn quân của cả hai bên đánh nhau ở Miền Đông này như từ trước đến giờ theo kiểu chọi trâu không? Hay ta chọn một hướng bất ngờ khác, ý nói hướng đồng bằng Cửu Long để tập trung quân ở đây mà đánh? Những ý kiến này là muốn bố trí lại lực lượng đưa chủ lực Miền về tăng cường cho nông thôn đồng bằng. Cho rằng giải phóng được đồng bằng đông dân nhiều của là giải quyết được chiến tranh. Thực ra đây không phải là quan điểm mới mà nó đã có từ lâu và dai dẳng, mãi cho đến ngày nay, cho rằng phải giải phóng nông thôn rồi mới giải phóng thành thị được. Nó trái ngược với đường lối chiến lược của cuộc chiến tranh chống Mỹ của Đảng ta. Đó là chiến lược tấn công, tấn công trên cả 3 vùng chiến lược: Nông thôn, đồng bằng, rừng núi và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng quân sự, cả bằng lực lượng chính trị quần chúng, luôn kết hợp tấn công và nổi dậy. vì vậy mà vị trí của đô thị rất quan trọng. Trong chiến lược tấn công này, đòn chủ lực rất quyết định mà chủ lực với binh khí kỹ thuật ngày càng tăng của ta không thể tập trung đánh lớn ở đồng bằng trống trải, đầy dẫy sông rạch, sình lầy. Ở đó, kẻ địch lại kèm giữ chặt các đường giao thông được bảo vệ bằng hệ thống đồn bót có công sự vững chắc, địch lại có các hạm đội trên sông và làm chủ hoàn toàn bầu trời – Đưa chủ lực lớn về đồng bằng trong tình thế như vậy là ta tự làm tê liệt mình, sa ngay vào thế yếu, thế bị động, sai về chiến lược, bất lợi về chiến dịch và chiến thuật, còn địch sẽ phát huy được thế mạnh của chúng gấp bội. Qua nhiều kinh nghiệm chúng tôi đã nhất trí với nhau là trong điều kiện đối đầu với Mỹ ngụy, chủ lực ta ở đồng bằng sông Cửu Long rồi nhất là tập trung đến trung đoàn với binh khí kỹ thuật nhẹ. Nếu tổ chức sư đoàn thì là sư đoàn nhẹ, việc chỉ huy và chiến thuật không thể giống như ở chiến trường rừng núi. Trong lúc đó, ta phải ra sức phát triển lực lượng du kích rộng rãi, lực lượng đặc công tinh nhuệ nhiều, bộ đội địa phương mạnh, để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích thần kỳ, liên tục, sôi nổi, một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng kết hợp ba thứ quân một cách linh hoạt trên mọi địa hình, mọi vùng, mọi thời tiết bằng ba mũi giáp công, bằng những chiến dịch tổng hợp, bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng. Ta hoàn toàn có điều kiện làm như vậy, và có nhân dân cách mạng đông đảo, ta có ưu thế, có kinh nghiệm. Mỗi chiến trường khác nhau về điều kiện cá mặt, về nhiệm vụ mục tiêu, về khả năng, phải có cách tổ chức và bố trí lực lượng phù hợp, không thể rập khuôn, càng không thể theo ý muốn chủ quan của mình được. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:24:11 pm Bộ chỉ huy Miền luôn xác định rằng chiến trường Miền Đông Nam bộ bao gồm Sài Gòn là chiến trường chủ yếu của B2, là chiến trường quyết chiến chiến chiến lược, quyết định cuộc chiến tranh. Ở đó, ta có khả năng phát huy vai trò to lớn của chủ lực. Địa hình thuận lợi cho tập trung và triển khai chủ lực lớn, triển khai mọi binh khí, kỹ thuật, là nơi ta có khả năng tổ chức bố trí và dự trữ hậu cần, cơ sở đảm bảo vật chất kỹ thuật cho một đội quân lớn, cho những chiến dịch lớn. Chiến trường này có vị trí chiến lược quan trọng, ta có thể uy hiếp địch, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, diệt sinh lực lớn địch kết hợp đòn tấn công sấm sét với đòn nổi dậy vũ bão đập tan đầu não chiến tranh Mỹ ngụy và cuối cùng quật ngã địch ở đây.
Chiến trường đồng bằng giữ một vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì cả ta và địch đều dựa vào kho người kho của ở đây để xây dựng và phát triển lực lượng cả quân sự, chính trị và kinh tế, thay đổi tương quan đôi bên. Có lúc nào đó ta đưa lên thành chiến trường chính là với ý nghĩa đó, nhưng chỉ là từng thời gian trong quá trình cuộc chiến, như mùa khô này và mùa mưa 1974, hay trước đây nữa vào những năm 1962, 1963, tuy nhiên nó không phải là chiến trường quyết định cuộc chiến tranh. Vì vậy, mà từ lâu B2 bố trí thế chiến lược, bố trí lực lượng là căn cứ vào vai trò và vị trí của chiến trường, trong một kế hoạch chiến lược tấn công của một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự. Nhất thiết không thể làm yếu khối chủ lực Miền Đông mà ngược lại, ngày càng phải tăng cường mạnh lên. Tôi còn nhớ vào năm 1965-1966 khi Mỹ ngụy đưa quân ồ ạt vào Miền Nam, một số đồng chí phụ trách thành phố Sài Gòn đã hỏi trực tiếp tôi: Mỹ đưa quân lớn và các loại vũ khí mạnh vào, chuyển thành chiến tranh cục bộ, vậy ta có nên thay đổi đường lối chiến lược không? Có nên phân tán chủ lực để tiến hành chiến tranh du kích trường kỳ để thắng địch không? Tôi đã trả lời dứt khoát rằng không. Tôi đã tình bày thế bị động chữa cháy của Mỹ, quân nhiều nhưng không mạnh và ta vẫn tấn công, chủ lực ta không những không phân tán đánh du kích mà sẽ còn tổ chức thêm nhiều sư đoàn – lúc ấy mới chỉ tổ chức một sư đoàn ở B2 – rồi lên quân đoàn nữa. Hoàn toàn không có vấn đề thay đổi đường lối chiến lược, không có vấn đề trường kỳ du kích mà thắng địch được. Thế nhưng, tư tưởng này vẫn không dứt hẳn mà còn đấu tranh kéo dài. Đến ngày nay đã qua một chặng đường dài, Mỹ đã phải cút, Ngụy đang hung hăng nhưng là cái hung hăng dãy chết thì vai trò chủ lực Miền Đông càng vô cùng quan trọng. Chúng tôi đã ra sức củng cố mạnh chủ lực Miền Đông và quyết định tăng cường lực lượng cho đồng bằng với nhiều cách khác nhau: Tích cực bổ sung nhiều và nhanh quân số vũ khí đạn dược phương tiện để đẩy mạnh và phát triển cả ba thứ quân tại chỗ; giao nhiệm vụ cho các sư đoàn chủ lực miền gấp rút tổ chức và huấn luyện một số đại đội, tiểu đoàn, binh chủng kỹ thuật để đưa xuống cho quân khu; giao hẳn cho quân khu 9 trung đoàn 1 thuộc sư đoàn chủ lực số 1 của Miền đang hoạt động vùng Bảy Núi – Hà Tiên; tăng cường chỉ đạo sát về kế hoạch, phương thức; chỉ đạo kế hoạch phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa các chiến trường, của cả chủ lực, để không cho địch tập trung đánh phá đồng bằng theo ý chúng. Mùa khô này, B2 cũng đã triển khai công tác bảo vệ, củng cố và mở rộng các hành lang giao thông vận tải nối liền từ căn cứ của Miền ở Miền Đông với căn cứ Đồng Tháp Mười và xuống tận rừng U Minh bằng ba hướng: - Hướng dọc biên giới với Kampuchia qua Bảy Núi, Hà Tiên, Rạch Giá, Rừng U Minh. - Hướng Mỹ Tho qua Bến Tre, Vĩnh Trà, Cà Mau. - Hướng đường thủy theo sông Tiền và sông Hậu. Đồng thời củng cố nối liền Miền Đông với hậu phương lớn qua đường Trường Sơn 559. Được tổng cục hậu cần đồng ý và giúp dỡ tích cực, Cục hậu cần Miền đã cùng hậu cần của các quân khu khẩn trương xây dựng lực lượng dự trữ vật chất cho Miền và cho các quân khu ngay từ đầu mùa khô này để luôn chủ động với tình thế đang phát triển mạnh. Số lượng vũ khí khí tài Bộ Tổng tham mưu cấp cho B2 trong năm 1973 đang được tiếp thu và vận chuyển tốt. Nhưng muốn tranh thủ vận tải và dự trữ sẵn cho năm 1974 sớm, chủ động, thì chưa có kế hoạch phân phối của trên; chờ có quyết định thì lỡ thời cơ vận chuyển và chậm, có khi gặp trở ngại bất ngờ, kế hoạch dự trữ có thể bị phá. Tôi đã suy nghĩ vấn đề này từ lúc còn đang dự cuộc họp Bộ chính trị mở rộng trong tháng 5 ở Hà Nội, nhưng không tìm được cách giải quyết. Tôi đến gặp riêng đồng chí Đinh Đức Thiện, chủ nhiệm tổng cục Hậu cần lúc ấy để trao đổi. Đồng chí Thiện là một người thẳng thắn và nhiệt tình, nhiệt tình với bạn bè đồng chí, nhiệt tình với công việc chung. Vóc dáng cao lớn, anh là một con người dám nghĩ dám làm, có tấm lòng cởi mở, tốt bụng để cho người ta gần gũi và đặc biệt là vui tính. Cái vui tính kèm theo một ít “cái tục” dân gian mà cán bộ quân sự Miền Bắc cũng như Miền Nam, cán bộ cách mạng cũ cùng hoạt động trước nay, nam cũng như nữ, đến chiến sĩ ai cũng biết tiếng và có cảm tình. Sau khi tôi trình bày vấn đè, thú thật sự lo lắng của mình chưa có cách nào giải quyết, anh cười xòa nói: - Có khó khăn gì đâu, một chuyện dễ như vậy mà một người tướng ở chiến trường không nghĩ ra sao? Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:25:40 pm Tôi ngạc nhiên im lặng nhìn anh dò hỏi. Chầm chờ một lúc, với vẻ mặt rất thân thiện anh mới chậm rãi:
- Cứ để tôi làm Tổng tham mưu trưởng một tiếng đồng hồ thôi, tôi sẽ ký ngay cho B2 thêm vài nghìn tấn vũ khí và ký luôn cho các Quân khu khác nữa. Tôi bật cười biết anh lại đùa. Tôi đùa lại: - Nếu tôi có quyền lực vô biên, tôi sẽ cho anh làm “Thiên tử” trong 24 tiếng đồng hồ để anh thực hiện mọi ý nguyện mà anh có và cưới một nàng cung nữ đẹp tuyệt trần làm vợ, y như chàng Hat-sân vậy. Nhưng tôi không chịu trách nhiệm nếu anh lại cũng giống như Hat-sân bị bắt vào nhà thương điên và nhận mỗi ngày 50 roi gân bò đây đấy!”(1). Chúng tôi lại cười với nhau vui vẻ. Nhưng rồi anh hiến kế: - “Nếu anh đồng ý, tôi sẽ lịnh xuất kho cho anh mượn trước 2000 tấn vũ khí các loại nằm trong tổng số sẽ phân phối cho B2 năm 1974.” Tôi rất đỗi vui mừng. Thế là chúng tôi thỏa thuận với nhau vấn đề vay mượn. và anh không quên nhấn mạnh: - “Sau tôi sẽ trừ vào số được cấp đấy, anh liệu bảo anh em giữ gìn cẩn thận kẻo thiếu rồi đòi nữa thì vào tù cả đám đấy!” Sau đó còn vấn đề tải. Tôi tin chắc trước rằng anh em có trách nhiệm vận chuyển sẽ sẵn sàng nhận làm những công việc cực nhọc này. Và sự thật đã đúng như vậy. Đây còn là một mùa khô mà đôi bên đều ra sức giành đất, giành dân – Địch nêu mục tiêu giành kiểm soát các vùng như trước 29-3-1972 – Chúng xem hiệp định Paris như không có – Còn mục tiêu của ta thì giành lại tất cả các vùng như trước 28-1-1973 - Hoàn toàn phù hợp với pháp lý Hiệp định Paris. – Trọng tâm kế hoạch quân khu 9 là trừng trị quân địch lấn chiếm vùng căn cứ U Minh của ta và giành lại các vùng đông dân ở Gò Quao, Giồng Riềng thuộc Rạch Giá, ở Vĩnh Long Trà Vinh, một vùng có tầm chiến lược quan trọng nằm giã hai sông Tiền và sông Hậu. Trọng tâm quân khu 8 là trừng trị bọn lấn chiếm trung tâm căn cứ Đồng Tháp Mười của ta và giành lại vùng đông dân Cái Bè, Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm hai bên đường số 4 chiến lược, xương sống của đồng bằng cũng như các vùng thuộc tỉnh Bến Tre liên hoàn với Vĩnh Long, Trà Vinh của quân khu 9. Còn một nội dung nữa của hoạt động mùa khô này của cả đôi bên là giành của – Ngày 24-8-1973 Thiệu đã triệu tập ở Cần Thơ cái gọi là Hội nghị lúa gạo – Chỉ tiêu của chúng đề ra trong mùa khô này phải cướp cho được một triệu tấn lúa. Ngày 29-9-1973 tướng ngụy Vĩnh Nghi, Tư lệnh vùng 4 chiến thuật chỉ thị cho 16 tỉnh trưởng đồng bằng là đến cuối năm 1973, phải cướp và nộp lên trên 40 vạn tấn gạo (tương dương 1 triệu tấn lúa) – Ta phải kết hợp trừng trị địch với phá cho được kế hoạch cướp lúa này, bảo vệ tài sản cho dân và giành dự trữ cho ta. Không phải chỉ quân khu 8 và 9 làm nhiệm vụ này mà cả quân khu 7 (Miền đông) và quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ) cũng phải kết hợp đánh trả và giành vụ mùa để có sự trữ lúa gạo tại chỗ. Chủ lực Miền trong mùa khô này cũng có nhiệm vụ khá nặng nề. Ngoài việc tranh thủ thời gian ra sức xây dựng, củng cố tổ chức, đặc biệt là binh chủng, tăng cường huấn luyện chiến thuật kỹ thuật, nâng trình độ tác chiến tập trung của binh chủng hợp thành còn phải phân ra tác chiến, hỗ trợ các địa phương. Hai sư đoàn 9 và 7 được bố trí đứng vững ở tuyến trung gian phòng thủ Sài Gòn của địch thuộc hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương phối hợp tác chiến giúp hai tỉnh này trong các nhiệm vụ mùa khô của tỉnh. Nhiệm vụ chủ yếu của hai sư đoàn là uy hiếp tuyến trung gian và tuyến trong cùng (vùng ven Sài Gòn) của địch phòng thủ Sài Gòn, kềm chân các sư đoàn 5, 25, 18, các liên đoàn biệt động của quân đoàn 3 ngụy, không cho rút đi chi viện cho đồng bằng, hay tấn công nơi khác, không cho chúng hoàn chỉnh thế phòng ngự vững chắc thủ đô của chúng. (1) Chuyện anh chàng say ngủ trong sách “Một nghìn lẻ một đêm”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:27:02 pm Cần nói thêm về âm mưu và hành đông của địch ở khu vực Sài Gòn trong ý đồ chiến lược chung của chúng từ sau khi có hiệp định. Trước năm 1972, Sài Gòn của địch phòng thủ bằng 3 tuyến vững chắc: Tuyến ven đô, tuyến giữa và tuyến ngoài cùng. Với chiến dịch “Nguyễn Huệ” của ta và đợt hoạt động quân sự mùa khô 1972 trong toàn Miền, ta đã đập tan tuyến phòng thủ ngoài cùng, chọc thủng từng đoạn tuyến phòng thủ giữa, chỉ còn lại tuyến ven đô là nguyên vẹn. Như vậy là thế trận phòng ngự Sài Gòn khá mỏng manh, không đáng tin cậy. Sau khi hiệp định Paris đã ký kết, ngụy quyền Sài Gòn, một mặt ra sức càn quét lấn chiếm các vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta, mặt khác củng cố và hoàn chỉnh các vùng kiểm soát của chúng đặc biệt là hết sức chú ý việc củng cố phòng ngự vững chắc thủ đô Sài Gòn, trung tâm đầu não của chúng. Chúng đã mở liên tục các cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm diệt cơ sở chính trị, du kích của ta ở ven đô. Đi theo các cuộc càn quét đánh phá đó, chúng dùng xe ủi đấy san bằng vườn tược nhà cửa của nhân dân như vùng Củ Chi, Hóc Môn, vùng Thủ Dầu Một… Dùng lao công đào binh của chúng chặt phá cây cối vùng Lái Thiêu, Thủ Đức, các rừng dừa nước ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc. Chúng đóng thêm đồn bót dặt thêm chướng ngại, gài mìn, đào hào chống tăng riêng hướng nội đô. Nơi nào không kiểm soát được, như các căn cứ du kích của ta đã có từ lâu, xung quanh Sài Gòn, gồm Bưng sáu xã ở Thủ Đức, Khu rừng sát Duyên Hải, An Sơn, Lái Thiêu, Tân Mỹ, Bình Lý, Hóc Môn, ba xã Nam Bến Cát mà chúng đã phải gọi là “tam giác sắt” Vườn Thơm, Bà Vụ, Tam Tân, Bình Chánh, vùng Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè… thì chúng liên tục dùng phi cơ ném bom và pháo bắn ngày đêm, hủy diệt, tạo thành vùng trắng, cố xóa các khu căn cứ ấy của ta. Kế hoạch trong mùa khô 73-74 của Ngụy là chiếm cho được 60 lõm căn cứ giải phóng của ta ở Miền Đông Nam Bộ đặc biệt là quanh Sài Gòn. Chúng mưu mô hàn lại tuyến phòng thủ giữa bằng cách chiếm lại đường 2 ở Bà Rịa, Vùng Đất Cuốc bắc Tân Uyên, vùng Dầu Tiếng, Long Nguyên, Thủ Dầu Một và vùng Bời Lời Tây Ninh, Hố Bò An Nhơn Tây, Củ Chi. Chúng đã mở cuộc hành quân lớn cỡ sư đoàn đánh vào vùng Long Nguyên, Dầu Tiếng, vùng giải phóng của ta đang làm gián đoạn tuyến phòng thủ giữa của chúng về phía bắc, nhưng bị ta đánh bại, tiêu diệt hàng tiểu đoàn quân ngụy, khiến chúng không thực hiện được ý đồ. Nhưng củng cố thế phòng ngự Sài Gòn là vấn đề sống còn nên chũng vẫn không bỏ kế hoạch lấn chiếm các vùng ta để xây dựng các tuyến phòng thủ của chúng.
Kế hoạch của ta không những là giữ vững các vùng giải phóng, chặn đứng bọn lấn chiếm, tiêu diệt bọn càn quét mà còn phá không cho chúng hoàn thành thế phòng ngự vững chắc Sài Gòn theo kế hoạch dự kiến co cụm chiến lược, buộc lực lượng quân đoàn 3 ngụy phải luôn bị động phòng ngự ở một thế trận không vững chắc và lúc nào cũng lo ngại tuyến phòng thủ Sài Gòn bị chọc thủng. Không những thế mà lực lượng dự bị chiến lược rất ít của chúng cũng không thể rút đi khỏi Sài Gòn để chi viện cho các chiến trường khác. Điều này tạo thêm mâu thuẫn gay gắt cho quân ngụy trong việc thực hiện đường lối chiến lược ngu xuẩn của Thiệu là phải dàn quân giữ tất cả, không để mất một xã ấp nào, buộc chúng luôn bị động về chiến lược, chiến dịch, không có cách nào thoát ra khỏi tình thế hoàn toàn bất lợi đó. Sư đoàn chủ lực số 5 của Miền trực tiếp hỗ trợ cho đồng bằng bằng cách phản công quân địch lấn chiếm vùng Kiến Tường giáp biên giới Kampuchia và củng cố mở rộng hành lang nối liền Miền Đông và đồng bằng qua hướng Tây tỉnh Tây Ninh – Trong lúc đó một bộ phận nhỏ chủ lực cùng đặc công trừng trị địch ở khu vực Bù Bông, Tuy Đức thuộc tỉnh Quảng Đức kết hợp đảm bảo hành lang nối tiếp với đường Trường Sơn 559 đồng thời cũng là hỗ trợ cho quân dân Quân khu 6 đang bị địch lấn chiếm ở vùng Bình Thuận, Bình Tuy. Bù Bông là một cứ điểm của địch giáp với biên giới Kampuchia. Quân địch đóng ở đây thường xuyên càn quét bắn phá các làng xã xung quanh, đột kích vào hành lang vận tải của ta và dùng pháo khống chế suốt ngày đêm gây trở ngại không ít cho việc tiếp thu hàng hóa của ta. Để thực hiện việc trừng trị ngay từ điểm xuất phát vi phạm của địch và cũng là mở màn mùa khô 73-73, ta đã dùng trung đoàn 429, một trung đoàn đặc công mạnh được tăng cường bộ phận bộ binh, tiêu diệt cứ điểm này ngày 4-11-1973. Tiếp theo đó ta mở rộng giải phóng vùng xung quanh ngã ba Tuy Đức, đảm bảo hành lang vận tải của ta thông suốt và an toàn. Đúng như ý định của ta, ngụy phải điều sư đoàn 22 thuộc quân đoàn 2 của chúng cùng với ba chiến đoàn bảo an, một trung đoàn thiết giáp đang lấn chiếm ở vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận lên đối phó, hòng cắt đứt hành lang vận tải của ta. Ta đánh trả lại quyết liệt, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững các vùng giải phóng và tạo điều kiện cho lực lượng quân khu 6 của ta chống lại địch có kết quả ở tây Phan Thiết. Cũng để thực hiện lời cảnh cáo trừng trị địch ngay từ điểm xuất phát, ta đã dùng pháo thuộc đoàn đặc công 113, ngày 5-6 tháng 11, bắn vào sân bay Biên Hòa, diệt một số phi cơ và cơ sở địch ở sân bay. Từ lâu nay phi cơ địch đã từ đây đi thả bom và bắn phá các vùng giải phóng của ta như Lộc Ninh, Bù Đốp, Lò Gò, Kà Tum và dùng sân bay Rang Rang nằm giữa khu căn cứ của ta (chiến khu A) làm nơi tập ném bom. Ở những nơi đó ta cũng đã bắn hạ tại chỗ 50 máy bay địch từ tháng 10 cho đến tháng 12-73. Bắt đầu từ tháng 11-73 mỗi lần địch dùng phi cơ oanh tạc bắn phá vùng giải phóng của ta là ta bắn pháo hoặc dùng đặc công đánh vào các sân bay của địch. Không những thế ta còn đánh trả đau hơn bằng cách hủy diệt các kho nhiên liệu của địch bất cứ chúng đặt ở đâu. Ngày 2-12-1973 kho xăng Nhà Bè, nơi dự trữ chiến lược lớn nhất của địch ở Miền Nam đã bị đặc công ta thuộc trung đoàn 10 đột nhập cho nổ hàng loạt kho chứa, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, khói lửa bốc cao hàng trăm mét làm rực sáng cả một góc trời thành phố Sài Gòn. Đây là một chiến công vang dội của đoàn 10 đặc công để chứng tỏ cho địch biết rằng ta nói được và làm được, chúng bây liệu hồn. Thật ra trận đánh này không dễ dàng. Khu kho này nằm ven Sài Gòn, được bao bọc bằng một hệ thống chằng chịt sông rạch sình lầy, từ trước đã bị đánh nhiều lần nên địch đề phòng rất cẩn thận. Chúng đã tăng cường lực lượng, thay đổi cách bố phòng, căng dây chướng ngại, mìn, sử dụng hàng chục chó berger, cả Radar phát hiện… Trước trận đánh tôi đã trực tiếp kiểm tra kế hoạch, mọi chi tiết đã chuẩn bị. Bảy Ước(1) chính ủy Đoàn 10, đã báo cáo: “Đội được phân công đánh có hơn mười anh em cán bộ và chiến sĩ, đã vào nghiên cứu tận bên trong khu kho, đã đi đến từng bồn nhiên liệu. Chúng tôi đảm bảo trận này chắc thắng”. Truyền thống đặc công là mò đến tận nơi, đánh là phải được. Anh em Đoàn 10 đã thực hiện đúng cam kết quyết tâm. (1) Thượng tá Lê Bá Ước. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:33:49 pm Bước vào mùa khô này như vậy là ta và địch đều hoạt động sôi nổi trên toàn chiến trường B2. Ta đã hợp đồng khá chặt chẽ giữa các quân khu, giữa địa phương và chủ lực, căng kéo và kềm địch khắp nơi, thu nhiều thắng lợi. Ở vùng đồng bằng Cửu Long, địch đã phải thay đổi vùng trọng tâm hoạt động của chúng. Từ sau hiệp định đến hết mùa mưa 1973, địch lấy vùng Hậu Giang quân khu 9 của ta, tập trung cả sư đoàn 21 và sư đoàn 9, một số biệt động quân và Bảo an, giang thuyền để tiến hành lấn chiếm. Bị đánh trả quyết liệt, địch không thực hiện nổi mục tiêu đã định mà còn bị thiệt hại nặng. Nhưng chúng có đóng thêm một số đồn bót ở một số nơi như Bảy Núi, Hà Tiên, Sông Trẹm ở rừng U Minh, nhưng nhiều nơi khác ta lại giải phóng rộng, kế hoạch lấn chiếm vùng giữa bốn tỉnh bị thất bại hoàn toàn. Bước mà mùa khô, chúng đành phải rút bớt giang thuyền từ Cần Thơ về Cái Lái Miền Đông, điều sư đoàn 9 lên Kiến Tường, một số tiểu đoàn biệt động về quân đoàn 3, chỉ để lại vùng Hậu Giang sư đoàn 21 đã bị suy yếu cùng một số tiểu đoàn biệt động và lực lượng bảo an. an. Chúng tập trung quân hoạt động vùng Tiền Giang thuộc quân khu 8 của ta chủ yếu là lấn chiếm Đồng Tháp Mười và vùng giáp biên giới Kampuchia, đánh chặn hành lang vận tải của ta cho đồng bằng sông Cửu Long và đối phó với sư đoàn 5 của ta. Tập trung quân về đây, chúng cũng có ý định giữ vững vùng Tây Nam Sài Gòn, vùng tiếp giáp rất quan trọng của Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, làm cho Sài Gòn không bị cô lập, cho ngụy quyền có một cơ sở vững cả về xã hội, chính trị, quân sự, kinh tế. Như vậy là thể hiện rõ ý đồ của Mỹ Thiệu gắn chặt vùng 3 và vùng 4 Chiến Thuật (Nam bộ cũ) trong một thế chiến lược tồn vong của cả Miền Nam Việt Nam của chúng. Củng cố mạnh mọi mặt vùng 3, 4 chiến thuật để từ đó tiến tới có thể tấn công đánh quỵ đối phương, khi cần thì về co cụm phòng ngự ở đó mà tồn tại. Nhưng tính toán thì như vậy mà thực hiện thì nửa vời, thiếu dũng khí, bằng một chiến lược tham lam và mù quáng ;”Bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tất cả không để mất một xã, ấp nào vào tay “Việt cộng”. Thông thường là như vậy, những kẻ thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu dũng cảm táo bạo, hay nghĩ một đàng mà làm một nẻo, vừa làm vừa run đi đến mụ mẫm ngay trong suy nghĩ của mình.
Bắt đầu từ mùa khô 73-74, toàn bộ ý định chiến lược của Bộ chỉ huy B2 có thể tóm tắt gọn là: Áp chặt Sài Gòn, kẹp cổ kẻ địch, bắt chúng phải bị động phòng ngự thủ đô – trung tâm đầu não – để ta chủ động trừng trị chúng vi phạm hiệp định có hiệu quả. Mở rộng phía sau và các vùng đông dân, mở hành lang thông suốt dự trữ vật chất kỹ thuật. Tạo thế tạo lực, thay đổi tương quan lực lượng mọi mặt có lợi cho ta. Ta bố trí các sư đoàn 9 và 7, các lực lượng đặc công, biệt động (tôi sẽ nói ở dưới) quanh và sát Sài Gòn ngay trong nọi đô cùng với lực lượng địa phương, du kích, lực lượng quần chúng nhân dân đấu tranh và trừng trị địch là để vây hãm Sài Gòn không cho địch tự do cựa quậy. ta bố trí sư đoàn 5 cùng đặc công ở Kiến Tường là để thu hút địch về phía này không cho chúng tập trung đánh phá vùng Hậu Giang đông dân nhiều của. ta mở hành lang Bù Bông, Tuy Đức, nối thông với đường 559, hành lang phía tây Tây Ninh nối thông Miền Đông và đồng bằng sông Cửu Long và cá đường khác nữa để vận tải tích trữ hậu cần cho các chiến trường ở thời điểm chiến lược quan trọng này. Ta mở rộng các vùng phía sau để các căn cứ và vùng giải phóng ta liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau, thành thế vững chắc, trong lúc đó ở phía trước, ta tích cực phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương và quần chúng có tổ chức. Rút kinh nghiệm về cách đánh của ta vào Sài Gòn và cách đối phó của địch hồi tết Mậu Thân, chúng tôi nghiên cứu sẵn sàng một kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy nếu nó xảy ra. Bởi vì như trên tôi đã nói, Mỹ ngụy ngoan cố phá hiệp định Paris, không chịu ngừng bắn và hành quân đánh ta với quy mô ngày càng lớn thì tất nhiên chiến tranh vẫn tiếp tục và phát triển, và chỉ có thể chấm dứt bằng một bên thắng. Trong thương lượng bằng con đường ngoại giao, căn cứ vào sức lực của nhau, hai bên cần có sự nhân nhượng hiểu biết. Nhưng trong chiến tranh do dự không sẵn sàng là chết. Địch cũng đã dự kiến tiêu diệt ta hoàn toàn vào năm 1976 và 1977. Ta phải chuẩn bị sẵn cho một cuộc tổng tấn công và nổi dậy giành toàn thắng về ta. Năm 1968, ta đã căn cứ vào tình hình và địa hình, các mục tiêu chủ chốt trong nội đô địch mà vạch ra 5 mũi tấn công và bố trí lực lượng mọi mặt của ta theo 5 mũi ấy. Ta đã dùng cách hợp đồng tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng trong ngoài cùng đánh, với bên trong là lực lượng quần chúng cách mạng cộng với biệt động và đặc công, tiếp theo đó là lực lượng mũi nhọn và địa phương, rồi ngoài cùng là lực lượng chủ lực. Một cuộc tập dượt thực tế và quy mô Tết Mậu Thân đã thu được thắng lợi lớn. nhưng chưa đứt điểm vì tình thế và tương quan chưa cho phép thôi. Ngày nay các mục tiêu của địch khôngthay đổi nhiều, cái thay đổi cơ bản là tình thế và tương quan lực lượng đôi bên. Dự đoán tình hình, dự kiến về chiến lược bao giờ cũng phải sớm, có sớm thì mới kịp thời triển khai trước một số việc cụ thể của kế hoạch chiến lược có thể, mà những sự việc triển khai đó đòi hỏi thời gian, không thể đợi đến lúc quá rõ, sinh ra hấp tấp, không kịp chuẩn bị thậm chí để lỡ mất thời cơ. Năm 1972 vì thiếu dự kiến không chuẩn bị trước nên ta thắng ở Quảng Trị, địch hầu như bỏ ngỏ Huế mà ta không tận dụng được thời cơ thuận lợi ấy. Tất nhiên ngoài thiếu dự kiến, thiếu chuẩn bị trước còn có thiếu nhạy bén linh hoạt và táo bạo lợi dụng thời cơ lúc ấy. Người chỉ đạo chỉ huy về chiến lược đòi hỏi phải suy rộng nghĩ sâu, phải lo xa, biết dự đoán tình hình trước và dự kiến bước đi sớm; bằng công việc của mình mà tạo điều kiện chắc thắng cho người dưới; bằng năng động tính của mình mà thúc đẩy và dẫn dắt tình hình theo chiều hướng giành thắng lợi về ta; bằng quả cảm, kịp thời hành động khi có thời cơ xuất hiện. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:35:08 pm Ngay từ tháng 9-1973, bộ tham mưu Miền đã cùng lực lượng tình báo chiến lược của B2 bố trí từ trước ngay trong các cơ quan đầu não của Ngụy cũng như của Mỹ, kiểm tra lại các mục tiêu địch mà ta phải xử trí và luôn luôn nắm tình hình hàng ngày, nắm các kế hoạch và mệnh lệnh của địch. Cần nói rõ là trong chiến tranh, chiến trường bao gồm các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị rộng rãi trong đó có Thủ đô Sài Gòn của địch là một chiến trường hoàn chỉnh, cũng là một chiến trường bao gồm lực lượng địch đông nhất có nhiều mục tiêu chiến lược và chiến dịch quan trọng, mọi diễn biến ở đây đểu ảnh hưởng đến toàn bộ nên cấp trên cho phép bộ chỉ huy Miền (B2) được tổ chức và chỉ đạo bộ phận tình báo chiến lược quan trọng thiết thân nhất cho mình đồng thời phục vụ cho trên. Bộ phận tình báo này đã giúp chúng tôi nắm được nhiều kế hoạch; âm mưu của Mỹ ngụy, đã lấy được của địch một số nguyên bản có giá trị nên chúng tôi đã kịp thời phán đoán tình hình và đối phó có kết quả. Các tình báo viên của ta – trừ một số bị hư hỏng không tránh khỏi – với bản chất cách mạng trung kiên, có nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng và nhiều đồng chí lập được công trạng, nhiều người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Căn cứ vào kế hoạch dự kiến tổ chức và bố trí lực lượng của bộ tham mưu Miền đã được duyệt, tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Ba Trần, rút đoàn 367 – đoàn đặc công và biệt động của ta đặc biệt phụ trách ở chiến trường Phnom Pênh Kampuchia để giúp bạn từ trước mà nay không cần giữ nhiều – để kiện toàn cho Sài Gòn. Ta đã tổ chức bố trí hoàn chỉnh theo mục tiêu và theo hướng các đoàn biệt động và đặc công ta từ nội đô ra vùng ven. Ở B2 lúc đó chấn chỉnh tổ chức thành một Bộ chỉ huy binh chủng đặc công gọi là đoàn 27 do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ, tự Phong là tư lệnh, trực thuộc bộ chỉ huy Miền – Sĩ là một cán bộ có sức khỏe lực lưỡng trực tính, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chân lý mà không sợ nguy hại cho riêng mình, một đức tính đáng quí, nhất là lúc xã hội có những hiện tượng không lành mạnh. Bản thân Sĩ là một cán bộ đặc công trưởng thành trong chiến đấu, bình tĩnh, kiên quyết, nói ít làm nhiều, đã làm là quyết làm cho được. Đến ngày 30-11-9173, tôi kiểm tra đoàn 27 thì đoàn đã có trên 6000 cán bộ và chiến sĩ đã được rèn luyện và chiến đấu. Trừ cơ quan và các cơ sở ra, đoàn gồm các lực lượng trực tiếp chiến đấu đã được bố trí ở các địa bàn vùng ven, Bắc Sài Gòn có đoàn đặc công 115 và 119; đông Sài Gòn có đoàn 116 ở Long Thành, đoàn 10 ở Rừng sát; tây Sài gòn có đoàn 117, phụ trách Biên Hòa có đoàn 113. Đang thành lập thêm đoàn phía nam Sài Gòn. Đoàn 27 còn trực tiếp nắm trung đoàn đặc công tập trung đã từng lập nhiều chiến công, đó là trung đoàn 429. Về biệt động nội thành thì tổ chức thành Đoàn 316 do đồng chí Nguyễn Thanh Tùng (tức Mười Cơ) chỉ huy, tổ chức thành nhiều Z, mỗi Z phụ trách một số mục tiêu quan trọng. Đặc công và biệt động được bố trí theo hướng và mục tiêu nhất định, cón hiệm vụ liên tục củng cố tổ chức, huấn luyện kỹ năng chiến đấu và điều tra nắm chắc các mục tiêu được phân công tiêu diệt, hoàn chỉnh phương án tác chiến và rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trên thực tế địa hình và mục tiêu của mình phụ trách. Anh em còn phải gây dựng cơ sở chính trị làm chỗ dựa cho mình. Ngày 15-12-1973 đồng chí Đạo, chính ủy BTL binh chủng đặc công của Bộ Tổng tư lệnh vào kiểm tra tình hình đặc công B2 đã phát biểu; “Đặc công B2 được phát triển và trưởng thành đã tham gia chiến đấu và chiến dịch có kết quả tốt và hiện nay đã được xác định nhiệm vụ và xây dựng bố trí theo thế chiến lược mới. Là vì một mặt nhờ sự chỉ đạo của Bộ Tư Lệnh Miền rõ, có ý đồ chiến lược sớm, có phương châm phương thức cụ thể. Về mặt khác anh em có truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu từ lâu”. Đồng chí cũng đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho việc tổ chức và huấn luyện đặc công B2.
Trong mùa khô 1973-1974 này còn một vấn đề không kém phần gay cấn cho chúng tôi, đó là vấn đề giữ vững vùng giải phóng Lộc Ninh, căn cứ của Miền. Lâu này địch thường xuyên uy hiếp đánh phá vùng này bằng không quân, quyết không để cho vùng căn cứ của ta được ổn định, bất chấp cái giá nhiều phi cơ bị lực lượng phòng không của ta hạ tại chỗ. Quân đoàn 3 Ngụy đã có kế hoạch dùng lực lượng mạnh đánh chiếm Lộc Ninh chỉ còn chờ thời cơ và lệnh của chỉ huy tối cao của chúng và của quan thầy Mỹ. Biết thế, ta cũng phải sẵn sàng kế hoạch ngăn chặn, đánh bại chúng để giữ vững vùng căn cứ của ta. Vấn đề đặt ra là ta dùng lực lượng nào, bao nhiêu và đánh cách nào: phòng ngự, phản công, tấn công, đánh nhỏ hay đánh lớn. Lúc nào thì địch có thể đánh? Ta bố trí sẵn lực lượng chờ giáng cho chúng một đòn sấm xét chăng? Thế thì, đợt trong bao lâu? Ta có kẹt lực lượng có hạn của ta trong thế bị động không? Một loạt vấn đề cần phải suy nghĩ kỹ để có quyết tâm đúng trong tình hình mà chiến trường đang sôi động. Quân ủy Trung ương đã điện cho chúng tôi nêu rõ Lộc Ninh có tầm quan trọng không những về quân sự mà còn có ý nghĩa lớn về chính trị trong tình hình hiện nay. Vì vậy địch luôn có âm mưu đánh chiếm. Bằng bất cứ giá nào ta phải giữ cho được, không được để mất, cần điều ngay một sư đoàn chủ lực về, có kế hoạch sẵn sàng phản công, tiêu diệt quân lấn chiếm. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:36:49 pm Chấp hành lệnh của Quân ủy Trung ương chúng tôi lập tức triệu tập cán bộ Tham mưu, chính trị, Hậu cần nghiên cứu kế hoạch giữ Lộc Ninh. Cuộc thảo luận khá sôi nổi. Mọi người đều nhận thức được tầm quan trọng phải giữ vững căn cứ này như Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ, nó còn là danh dự và uy tín của Quân giải phóng chúng ta.
Chúng tôi đã nhận định tình hình tổng quát của B2, của toàn Miền, kiểm điểm lực lượng của địch và phán đoán cách đánh của chúng. Địch có thể dùng lực lượng nào? Quy mô cuộc tấn công, các điểm xuất phát và mọi khả năng khác của chúng? Chúng tôi biết rằng muốn đánh chiếm Lộc Ninh địch sẽ dùng chủ yếu là lực lượng quân đoàn 3 trong đó nòng cốt là sư đoàn 5 ngụy được tăng cường một bộ phận của sư đàon 25, sư đoàn 18, một số biệt động quân, liên đoàn 84 dù, lực lượng tổng dự bị của chúng lúc đó. Chắc chắn chúng sẽ dùng Lai Khê, căn cứ của sư đoàn 5 Ngụy làm điểm xuất phát và hướng chính là đường 13, qua Bình Long, một thị xã đã bị tàn phá nặng nề. Nhưng các sư đoàn 5, 25, 18 còn phải lo phòng thủ Sài Gòn, lo hoàn chỉnh các tuyến phòng ngự mà hiện nay đang bị rách nát. Đặc biệt là sư đoàn 5 Ngụy phụ trách phòng thủ phía Bắc Sài Gòn là hướng rất quan trọng, đối diện với lực lượng lớn, với vùng giải phóng của ta, càng khó mà tự do hành động. Chúng cũng thừa biết rằng đánh chiếm Lộc Ninh không phải là chuyện dễ dàng cho chúng, và không thể chỉ dùng 1, 2 sư đoàn mà dủ. Kinh nghiệm đụng độ từ nhiều năm nay ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ này, ngay khi còn quân Mỹ ở đây, nào sư đoàn bộ binh số 1 “anh cả đỏ” sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” sư đoàn hiện đại nhất là sư đoàn kỵ binh bay số 1… mà quân ngụy đã từng đi theo điếu đóm, vậy mà cũng không tránh khỏi bị nếm mùi thất bại. Điều thêm lực lượng ở các vùng chiến thuật 1, 2, 4 về ư? Rất khó và không nhiều, vì để thực hiện cái kiểu chiến lược “không để mất một ấp xã nào”, vì còn phải lấn chiếm và làm chủ hoàn toàn Miền Nam Việt Nam như tham vọng của chúng thì còn lấy đâu ra quân mà tập trung và một điểm. Như vậy muốn đánh Lộc Ninh, chúng phải có kế hoạch chu đáo, tính toán rất kỹ, dùng nhiều lực lượng và chỉ huy phải giỏi – một điều mà bản thân chúng còn hoài nghi. Thế thì về phần ta nên như thế nào? Chúng tôi đã đi đến quyết tâm là bằng kế hoạch hoàn toàn chủ động buộc địch phải lo phòng giữ Sài Gòn, trói chân buộc tay chúng lại, không cho chúng tự do rút lực lượng đi xa Sài Gòn lên tấn công Lộc Ninh. Như vậy ta sẽ không rút bất cứ sư đoàn nào về giữ Lộc Ninh mà ngược lại ép sát Sài Gòn, sẵn sàng thọc vào tìm chúng nếu chúng phiêu lưu đi đánh người. Còn ở Lộc Ninh chúng tôi tổ chức một mặt trận bao gồm du kích địa phương, du kích cơ quan, kết hợp với các lực lượng phòng không cơ giới của Miền đang đứng tại đây và một trung đoàn chủ lực vừa mới kiện toàn, trung đoàn 201, để làm nòng cốt. Lực lượng này sẽ là “Thiên la địa võng” tiêu hao, ngăn chặn chúng khắp nơi nào chúng đến, ngay từ rìa căn cứ. Trong lúc đó các sư đoàn chủ lực của ta, nếu cần, sẽ ung dung tập trung về nơi tập kết đã định sẵn và giáng đòn sấm sét tiêu diệt tập đoàn quân ngụy nào mà ta chọn. Đó là kinh nghiệm quý báu của chiến dịch phản công lại chiến dịch Junction City của Mỹ ở Bắc Tây Ninh năm 1967 – Westmoreland đã bị đòn đau trong chiến dịch này và tiếp theo đòn Mậu Thân choáng váng, đành phải ôm hận tiêu tan quân nghiệp của mình mà đã có thời được mệnh danh là “vị tướng tài giỏi nhất nước Mỹ”. Như vậy là chúng tôi đã chấp hành mệnh lệnh của Trung ương một cách sáng tạo, hoàn toàn phù hợp với tình hình B2 lúc đó. Chúng tôi đã ép địch, buộc chúng phải phòng ngự Sài Gòn và đã giáng cho địch một đòn chí tử, chấm dứt cuối cùng mọi âm mưu củng cố hoàn chỉnh vững chắc tuyến phòng ngự Sài Gòn và âm mưu tập trung lực lượng đánh chiếm Lộc Ninh. Đó là vào tháng 5-74, khi mà quân đoàn 3 ngụy lăm le đánh chiếm An Nhơn Tây để nối liền qua Bến Cát theo đường 7 ngang từ Thái Mỹ - Gò Nổi (Trảng Bàng) – tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây qua Rạch Bắp – Bến Cát. Dự kiến kế hoạch của chúng là lấy đồn Rạch Bắp làm thành một đầu cầu kiên cố trên bờ phía đông sông Đồng Nai nối với một đồn sẽ đóng trên tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây làm đầu cầu bên bờ Tây sông Sài Gòn nối ra đường 7, Gò Nổi, Trảng Bàng. Như vậy chúng sẽ tạo được một tuyến giữa, có lùi một ít so với cũ, nhưng hoàn chỉnh thành một tuyến phòng ngự liên tiếp Bắc Sài Gòn một cách vững chắc. Hoàn chỉnh kế hoạch này, lực lượng quân đoàn 3 sẽ tương đối rảnh, có điều kiện tập trung đánh chiếm Lộc Ninh hay một nơi nào khác. Để thực hiện kế hoạch, trong tháng 3, 4, chúng đã tăng cường một số tiểu đoàn biệt động quân, các chi đoàn thiết giáp cho sư đoàn 25 từ Đồng Dù đánh lên Trung lập theo đường số 2 Củ Chi, Trảng Bàng và Gò Nổi trên đường số 7, đóng đồn bót lấn dần ra vùng giải phóng của ta, đi đôi với phát quang địa hình. Chúng dùng lực lượng đồn trú ở Jinet và Rạch Bắp đánh lên phía Bắc về hướng Bưng Công để phối hợp hỗ trợ cho nhau. Nắm được kế hoạch của địch, ta kiên quyết đánh trả chống lại lấn chiếm và phá âm mưu hoàn chỉnh tuyến phòng ngự theo đường 7 ngang đông tây sông Sài Gòn. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:40:23 pm Ở Tây sông, trung đoàn chủ lực độc lập 16 trực thuộc bộ chỉ huy Miền cùng với tiểu đoàn quyết thắng của quân khu Sài Gòn, lực lượng địa phương và du kích Củ Chi đánh trả quyết liệt sư đoàn 25 Ngụy, giữ vững vùng giải phóng An Nhơn tây đông sông. Vào giữa tháng 5 sư đoàn 9 của ta đang đứng ở Long Nguyên Bến Cát, đã trừng trị đích đáng lực lượng địch ở Jinet, tiêu diệt đồn này, làm cho đồn Rạch Bắp bị cô lập hoảng hốt rút chạy. Ta giải phóng đoạn đường số 7, đông sông, từ Rạch Bắp đến Kiến Điền và uy hiếp trực tiếp Bến Cát. Trong lúc đó, sư đoàn 7 phối hợp với sư đoàn 9, đã đánh thiệt hại nặng căn cứ Phước Hòa trên đường 16 đi Tân Uyên, diệt một số sinh lực và thiết giáp địch, bức rút một số đồn bót lấn chiếm trái phép. Như vậy là địch không thực hiện được kế hoạch của chúng, không lấn chiếm nổi An Nhơn Tây để thông ra sát sông Sài Gòn về phía Tây. Còn bên đông sông, ta lại mở ra một đoạn dài 10km đẩy lùi địch xa sông thêm và nối liền căn cứ Long Nguyên của ta từ bắc lộ 7 với căn cứ An Thành, tức 3 xã phía nam đường 7 của Huyện Bến Cát, khu tam giác sắt nổi tiếng. Cửa ngõ phía bắc Sài Gòn không khép kín được mà lại bị mở rộng ra, tuyến phòng ngự không liên hoàn, lại tiếp tục bị chọc thủng. Địch đã lồng lộn phản ứng lại sự kiện này. Chúng đã tập trung về đây phần lớn lực lượng toàn quân đoàn 3, tất cả lữ 3 thiết giáp, số lớn phi cơ và pháo binh chi viện, thực hiện liên tụ kế hoạch tấn công phản kích hàng tháng trời nhưng đều bị đánh bại. Địch tập trung được như vậy một phần cũng do sự hoạt động kém của sư đoàn 7 của ta từ hướng Phước Hòa Tân Uyên, không đủ sức thu hút phân tán địch, để đỡ nhẹ cho sư đoàn 9. Nhưng vùng ta đã giải phóng ở đây vẫn được giữ vững. Thế là từ tháng 5 đến tháng 6, chỉ một sư đoàn 9 của ta đã đối đầu có hiệu lực với lực lượng gần như toàn bộ quân đoàn 3 địch một cách vô cùng quyết liệt và anh dũng, mưu trí, đã đứng vững ở đây, giữ vững vùng giải phóng, gây thiệt hại nặng nề cho địch, không cho phép địch xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc Sài Gòn, tạo cho ta một lợi thế chiến lược lớn. Khu vực này đến mùa Xuân 1975, chỉ 9 tháng sau đó, được mở rộng thêm về phía sau, đã trở thành tuyến xuất phát tấn công của một mũi quan trọng của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Sư đoàn 9 của ta có bị tiêu hao vì phải tác chiến dai đẳng gần hai tháng với lực lượng địch đông gấp 3 lần, nhưng giá trị chiến dịch chiến lược đạt được của những trận đánh này cũng như ý nghĩa chính trị của nó tác động vào tinh thần quân ngụy và tâm lý nhân dân Sài Gòn là rất lớn. Frank Snepp một chuyên gia của CIA thường trú ở Việt Nam giữ trách nhiệm nghiên cứu, phân tích về chiến lược và thảo các bản “đánh giá tại trận” của ngành CIA nhằm phục vụ việc vạch ra đường lối của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và của cả Oa-sinh-tơn, đã viết về chiến cuộc mùa hè năm 1974 có liên quan đến trận đánh này như sau: “Tuy quân Bắc Việt Nam mới đánh thăm dò vào hướng Bắc và Đông Bắc của Sài Gòn và vừa rồi cũng bị trừng trị lại, nhưng sư đoàn 5 và 18 quân Nam Việt Nam cũng bị thương vọng nặng, nhất là ở vùng “Tam giác sắt” và hiện nay thì kiệt sức và không thể chiến đấu được nữa”(1). Lúc đó có một số ý kiến chỉ trích chiến trận này, cho rằng không cần thiết chịu sự tiêu hao như vậy, rằng chọn hướng này mà đánh là sai. Thực sự đó là vì không hiểu hết ý nghĩa phá thể phòng thủ co cụm Sài Gòn của địch trong một giai đoạn chiến lược cuối cùng, ý nghĩa bắt địch bị động phòng ngự, cột chặt tay chân địch, để ta tự do hành động trên chiến trường chủ chốt ở thời kỳ quyết định này. Trong chiến tranh, làm được như vậy là cả một cuộc đấu tranh kiên cường, đòi hỏi nghị lực mưu trí vầ dũng cảm. Nhất là lúc mà tương quan lực lượng đôi bên chưa phải là đã chênh lệch nhiều; tuy ta phải mạnh mới làm được. Còn khi sức mạnh ta đã áp đảo đối phương trong một tình hình đã rõ như ban ngày thì nói làm gì. Và đây là một sự bắt mạch quan trọng để hiểu địch hơn nữa về nhiều mặt thực tế tại chiến trường có tầm chiến lược này, sức lực và khả năng địch đến đâu, hành động chúng thế nào.
Sự đánh giá về trận đánh khác nhau biểu lộ sự đánh giá về thời kỳ chiến lược, cũng như về tác dụng từ khu vực chiến trường khác nhau mà thôi. Nhưng người tư lệnh chiến trường buộc phải hiểu một cách cụ thể thực tế thế và lực của ta và địch, phải biết tìm mọi cách đẩy địch vào thế bất lợi và dành cho ta thế có lợi, phải sớm đánh giá từng thời kỳ chiến lược một cách đúng đắn và biết phải làm gì để sớm chuẩn bị cho trận quyết chiến thành công của chiến trường mình, nhất là chiến trường ấy có vai trò kết thúc cuộc chiến tranh. Về chiến lược không giống như chiến thuật, chờ đến giờ chót để mở đột phá khẩu. Tháng 6-1974 Bộ chỉ huy Miền đã kiểm điểm tình hình mọi mặt của B2 qua một mùa khô thử thách, thử thách về sức mạnh của đôi bên ta, địch thực tế chiến chiến trường, thử thách về ý chí và hiệu quả hành động thực hiện kế hoạch mà cả hai bên đều đã vạch ra sớm từ mùa mưa 1973 và đều cùng nỗ lực giành thắng lợi về mình. Từng cơn mưa đầu mùa đổ xuống như trút nước, báo hiệu một mùa mưa tầm tã như bình thường mọi năm ở B2. Cái nóng bức của trưa hè mệt mỏi đã nhường chỗ cho không khí mát mẻ dễ chịu. Rừng xanh đó đây đã điểm vàng bởi những chùm gùi chín rộ. Chiến sĩ Miền Đông còn lạ gì với những trái gùi ngon lành chua chua ngọt ngọt này. Trong lúc thiếu thốn mọi về, thịt cá hiếm hoi, nó là thực phẩm quí của bộ đội chủ lực đấy. Ngon sao những nồi canh rau rừng nấu với những trái gùi chín mộng thành một loại canh chua ngọt mát dạ mát lòng. Trong những cuộc hành quân vào trưa hè nóng bức, mang vác nặng nhọc, anh hãy uống một ly nhỏ nước gùi trong lúc dừng chân 10 phút, anh sẽ có sức đi tiếp tới đích một cách khoan khoái lạ lùng. Vào cuộc họp kiểm điểm tình hình này, mọi người cùng được nếm nước gùi khoan khoái, nhưng cái khoan khoái nhất là kết quả rực rỡ của hoạt động mùa khô của ta trên toàn chiến trường, trong lúc kẻ địch đang bước vào ngưỡng cửa của một thời kỳ thất bại cơ bản. Địch đã hoàn toàn phá sản kế hoạch điên rồ của chúng là lấn chiếm lại các vùng từ trước 29-3-72, một kế hoạch tham vọng quá đáng, không coi đối phương ra gì, lại biểu lộ rõ nét nhất sự chà đạp lên hiệp định Paris. Chúng đã thất bại trong kế hoạch bình định các vùng đông dân, vùng chúng kiểm soát không những không ổn định mà còn bị co hẹp lại. Chúng không cướp được của dân số lúa dự định và cũng không mảy may phong tỏa được kinh tế của đối phương. Trừ căn cứ Đồng Tháp Mười của Quân khu 8 chúng đã lấn chiếm và đóng được 9 đồn bót lớn nhỏ, tất cả các căn cứ khác của đối phương, chúng không đánh được mà cũng không phá được thế ổn định. 60 lõm căn cứ của “Việt cộng” ở Miền đông và bao quanh Sài Gòn vẫn còn nguyên vẹn tuy chúng có gây khó khăn từng lúc. Ngược lại các tuyến phòng ngự thủ đô của chúng đã không được hàn gắn lại mà còn bị chọc thủng thêm cả về phía Bắc (đường 7 Rạch Bắp Bến Cát) cả về phía đông (đường 2 Bà Rịa) khiến cho thế phòng ngự càng sơ hở bấp bênh. Chúng không hề giành được chủ động trên chiến trường, mặc dù là chiến trường mà Thiệu đã đánh giá với các Tư lệnh Vùng của y là thế “mất còn của cả Miền Nam” tức là vùng 3 và vùng 4 chiến thuật của chúng. Không những vậy chúng còn sa vào thế bị động phòng ngự, lực lượng bị co kéo khắp nơi. Muốn lấn chiếm bình định vùng Bình Thuận, Ninh Thuận đông dân ven biển thì bị thu hút và thiệt hại trên rừng núi Quảng Đức. Muốn mở rộng kiểm soát và cướp lúa vùng giàu có Hậu Giang thì bị đối phương điều lên và kèm chân ở Kiến Tường biên giới với Kampuchia. Quân đoàn 3 sợ bị hở sườn phía tây, phải điều lực lượng đến 6 chiến đoàn đặc nhiệm đánh phá vùng Quéo Ba, Đức Huệ nên đành phải để mất trở lại đường 2 Bà Rịa làm tuyến phòng thủ giữa của Sài Gòn ở đây bị bể, mà hai vùng căn cứ bắc nam đường 2 của đối phương được nối liền. Đã không tập trung được lực lượng đánh chiếm căn cứ Lộc Ninh nổi tiếng của đối phương mà còn bị lủng củng và phòng giữ trung tâm đầu não(!). Tất cả các quân đoàn của địch, từ lúc ấy chỉ còn có thể có khả năng tập trung lực lượng ở một hướng nào đó nếu các hướng khác không bị đánh. Lực lượng dự bị chiến lược của chúng quá ít, lúc đó chỉ có lữ 81 biệt kích dù. Các sư đoàn dù và thủy quân lục chiến đã chôn chân ở Trị Thiên xem như không có gì để Bộ Tổng tham mưu (địch), đúng hơn là để cho Nguyễn Văn Thiệu chuyên quyền tác động đến tình hình của cả một vùng chiến thuật nào đó khi cần thiết, còn thì quyền hành của cả Bộ tổng tham mưu chỉ để mà nhìn sự thất bại lần lượt kéo đến một cách thảm hại. Đây là kết quả của một chủ trương chiến lược ngu xuẩn không đánh giá đúng được mạnh yếu của đôi bên, tham lam muốn giữ từng xã, ấp, từng đồn bót, không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào, rải quân mỏng ra khắp chốn, đến nỗi không còn lực lượng dự bị cơ động. (https://lh3.googleusercontent.com/urUZUUaobi5wqHfJsZ3Upi27djBu-S21AVd3jZ_KwgTIGqC7lAQAQV_VnlvqYXy3KE-a0HzrKJNfo1220ke5IuEOx2bLuMfBxqbct15670scSdQHJ7u81cxbfs-r0BQnFtv7DSmitr87chYatSNnAyOtObAPwXurVGcIHsNpuTBavquORFElhkcRaZVkk2o2wccZnODhO8Box9jxwfvhGmzz8sy-TvRnqCMP3n4gaLsO4p6j0xt980PZdQwUsWRqWSL27X5ViTY9nxlOx2DqGveVeilHup5ZAkfyJOchbd_-wuhMFEBchhNDIaeZuoMHuOa6r_yrCkVTU14Q82CnjFp46cfSiW0scSgttx8KsYFfV15mt2FR51NdUJFFdCOiy1NEToesnKVnjgS7Y2DD1cdYb6-5ruFSyHgodXW6nLcX-6ExpMTXtt-R7e4CIXBOGz44TNjXk4qWoj9k696EI-ThFViB3Y4rFFI4mUXF-Z3ul7vwqQHiiH9Z0TdIC-Ex_cP42dp3fayv2XkYtSXQz8S12npjqEdZI_Qv2zBaR5HfAFSpnidz87K_PTVeoipesOm3lZMWSpFn_bM18Gwbe2yxQC-tHm7KHkD6vGxsZXbRJW26sl4btw7izcp5NSWIXLNUgdw1y6wY2Q9gAIkPSucq=w605-h600-no) Mùa gùi chín (Ảnh tác giả) (1) Trích sách “khoảng cách thời gian vừa đủ” (Decent Interval) của Frank Snepp do nhà xuất bản Random House-New york – Toronto xuất bản 11-1977. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:41:27 pm Tình trạng này của địch, kéo dài cho đến ngày kết thúc chiến tranh, làm cho lực lượng địch đông gấp 3, 4 lần lực lượng ta, mà đành bị tiêu diệt từng bộ phận, đi đến bị tiêu diệt hoàn toàn.
Từ tháng 5, địch cũng đã thấy phần nào thiếu lực lượng dự bị chiến lược, chúng đã quyết định rút sư đoàn dù ở quân đoàn 1 về làm tổng trù bị, nhưng khi thực hiện, chúng cũng chỉ có thể lần lượt rút từng lữ đoàn về Sài Gòn một cách chậm chạp kéo dài. Ngay trong mùa khô này, không phải chưa xuất hiện những sự kiện để cho địch đánh giá được khả năng của chúng đến đâu và đường lối chiến lược của chúng sai lầm đến mức nào. Suốt cả mùa khô, đặc biệt là vào những tháng cuối, lực lượng vùng 4 chiến thuật của chúng, vùng đồng bằng Cửu Long bị thu hút đại bộ phận lên Mỹ Tho và biên giới Kiến Tường – Kampuchia, thì ở Hậu Giang, sư đoàn 21 phải phân tán từng tiểu đoàn vẫn không giữ được tinh thần bọn bảo an và dân vệ. Nhiều đồn bót phải rút chạy, nhiều xã, ấp bị mất. Tư lệnh vùng 4 buộc phải chủ động rút bỏ một số đồn bót nhỏ cỡ tiểu đội và trung đội để tăng cường cho các đồn bót quan trọng hơn, cỡ đại đội trở lên và để đôn quân bù số tiêu hao thiệt hại. Đấy, chỉ khi nào không làm sao được, có nguy cơ cấp bách bị diệt chúng mới chịu bỏ từng đồn bót, từng xã ấp, và bắt đầu “công việc ấy” từ mùa khô 1974 này ở Đồng bằng Sông Cửu Long… đến phải bỏ cả vùng Tây Nguyên và mùa 1975 là như vậy đó. Chiều hướng sự thất bại của Mỹ ngụy, và thắng lợi của chúng ta trong cuộc chiến tranh đã xuất hiện từ mùa khô 1973 – 1974 cho đến lúc thất bại hoàn toàn là bắt nguồn từ một chiến lược chung sai lầm từ đầu của Mỹ, ngụy, tức là chiến lược phòng ngự trên toàn bộ đất nước, dàn mỏng quân ra giữ không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào theo đường lối “bốn không” của Thiệu. Còn về cái quân đội rường cột của chế độ bán nước thì thế nào? Mặc dù Mỹ đã ra sức tăng cường xây dựng và trang bị hòng để thay thế được cho quân Mỹ, chất lượng chiến đấu và số lượng của quân đội ngụy vẫn tiếp tục giảm sút. Nếu sau hiệp định Paris chúng ồ ạt bắt lính, tăng nhanh được quân số cả cho chủ lực và bảo an thì bắt đầu từ tháng 6, 7 trở đi quân số ngày càng tut. Chúng đã thừa nhận từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1974 số quân bị mất trong chiến đấu và đào rã ngũ lên đến trên 10 vạn, đổ đồng mỗi tháng mất trên 2 vạn. trong lúc đó số thanh niên chúng bắt được để bổ sung chỉ trên một vạn mỗi tháng. Quân đoàn 4 của chúng là nơi thiếu hụt quân số cao nhất, mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 200 quân, có đơn vị chỉ còn 150-180 tên mà không thể nào bổ sung nổi. Tỷ lệ hư hỏng về trang bị lên cao. Trong số trên 1.800 phi cơ các loại, chúng chỉ sử dụng được khoảng 1.000. Số trên 100 máy bay F5 chúng sử dụng được dưới 1/2. Chúng đã buộc phải đề ra những biện pháp gắt gao như kiểm tra quân số, chống nạn lính ma, lính kiểng. Chỉnh biên cơ quan tổng tham mưu, giảm 20% quân số, giải tán các đơn vị không cần thiết, các đơn vị tạp dịch khác. Đôn quân từ dân vệ lên bảo an, từ bảo an lên chủ lực. Tăng cường hành quân vây ráp bắt lính, trắng trợn, xông vào chùa chiền bắt cả sư sãi đi lính. Mặc dù vậy tình thế của chúng vẫn không sáng lên tí mào mà tiếp tục xuống dốc. Còn về ta thì hết mùa khô ta đã giành lại tất cả các vùng giải phóng như trước 28-1-1973 kể cả vùng Nam Bắc Lộ 4 ở Mỹ Tho là nơi mà địch đã lấn chiếm ồ ạt sau hiệp định. Không những thế ta còn giải phóng rộng thêm trên 20 xã với khoảng 30 vạn dân, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long. Đó là kết quả những đòn trừng trị của ta, ta đánh tiêu diệt một đòn mới lấn chiếm trái phép thì quân địch hoảng hốt rút chạy 4, 5 đồn khác. Ta diệt một tiểu đoàn địch càn quét lấn chiếm vi phạm hiệp định thì địch bỏ chạy trong phạm vi 3-4 ấp gần đó. Rõ ràng quân ngụy hung hăng khi ta lùi bước, nhưng khi ta kiên quyết đánh trả thì chúng mất hết tinh thần chạy thoát chết. Cả ở ba vùng lực lượng quần chúng có tổ chức và lực lượng du kích, bộ đội địa phương của ta được phát triển. Vùng tranh chấp đã lấn vào vùng địch kiểm soát ở tất cả các quân khu thuộc B2. Lực lượng chủ lực các Quân khu cũng như của Bộ tư lệnh miền được tăng cường, được rèn luyện và được bố trí hợp lý tạo thành một thế trận tấn công lợi hại, đặc biệt là ở Miền Đông Nam Bộ và quanh Sài Gòn. Trong lúc ta vẫn giữ vững các khu căn cứ, các lõm du kích ở Miền Đông và quanh Sài Gòn thì vùng căn cứ phía sau của ta lại được mở rộng và củng cố vững vàng hơn bao giờ hết. Đó là một vùng giải phóng liên hoàn từ tỉnh Quảng Đức đến Phước Long, Bình Long, Tây Ninh dọc theo biên giới với Kampuchia. Căn cứ Lộc Ninh ta được nối liền về phía trước với vùng giải phóng Long Nguyên, Bến Cát rộng rãi, do ta trừng trị diệt đồn Nha Bích trên bờ sông Bề và đồn Tống Lê Chân của Ngụy trên bờ sông Sài Gòn bí mật rút chạy trong đêm. Hai căn cứ biệt kích này của ngụy nằm sâu biệt lập trong vùng giải phóng của ta. Chúng cố duy trì là để làm bàn đạp có giá trị tung gián điệp sâu vào vùng ta, thu thập tin tức tình báo, tung biệt kích đánh phá hành lang kho tàng, cơ quan ta, nếu có sơ hở. Nó còn là đầu cầu chiến thuật cho cuộc hành quân lớn đánh chiếm căn cứ của ta sau này. Sau hiệp định, vấn đề khó khăn cho địch là tiếp tế, thay quân cho 2 vị trí này, vì xung quanh đều là vùng giải phóng của ta. Trên bàn Hội nghị của Ban liên hợp quân sự 4 bên, rồi sau đó của Ban liên hợp quân sự 2 bên, ta dựa vào điều 3 (b) nghị định thư về ngừng bắn ở Miền Nam Việt Nam, liên tiếp đòi Mỹ - Ngụy phải bàn để quy định các hành lang vận tải quân sự, cho bên này có thể đi qua vùng do bên kia kiểm soát khi cần thiết. Nhưng Mỹ - Ngụy đều ngoan cố làm ngơ. Có lần vì nhân đạo, mặc dù chưa có quy định, ta đã cho phép trực thăng ngụy đến tải thương ở đồn Tống Lê Chân. Nhưng ta kiên quyết không cho xe quân sự, tàu thuyền quân sự, máy bay vận tải quân sự của địch tiếp tế lương thực, đạn dược cũng như thay quân, đi qua vùng ta khi chưa có thỏa thuận theo như hiệp định đã quy định. Vào tháng 4-75, quân địch ở Nha Bích đã liều mạng hành quân mở đường về Chơn Thành nhận tiếp tế, đi qua vùng giải phóng của ta, liền bị sư đoàn 7 của ta trừng trị và diệt gọn cả bọn hành quân, lẫn bọn trong đồn. Địch biết lỗi đã im thin thít, cắn răng chịu đựng trong sự kiến này. Rút kinh nghiệm, quân địch ở Tống Lê Chân đã thừa một đêm tối trời bỏ trốn len lỏi theo đường rừng lén lút rút chạy an toàn về vùng chúng. Sau đó địch dở trò vu oan giá họa tuyên truyền rằng ta diệt đồn Tống Lê Chân, vi phạm hiệp định Paris. Sự việc không di đến đâu vì không có một bằng chứng nào cả. Nhưng vùng giải phóng phía sau của ta đã mở rộng hoàn chình, căn cứ Lộc Ninh nói đến khu “Tam giác sắt” chỉ cách Sài Gòn trên 30km. Cũng trong mùa khô này các đường hành lang vận tải của ta từ phía sau ra phía trước từ đường Trường Sơn về căn cứ Miền Đông, rồi từ đó đi các quân khu đều thông suốt. Những nơi xa và khó khăn nhất như ven biển Miền Trung thuộc quân khu 6 và rừng U Minh thuộc quân khu 9, tân binh bổ sung và hàng hóa vật tư hậu cần đã được đưa đến, có bổ sung, có dự trữ. Như vậy là qua hết mùa khô 1973-1974 tình thế trên chiến trường B2 của ta và địch đã rõ nét. Thế và lực của ta lớn mạnh. Thế và lực của ngụy đang suy sụp tương đối nhanh. Địch bị hãm vào một thế bị động không thể nào xoay ngược lại được vì sức ngày càng xuống mà biện pháp thì cũ kỹ và lúng túng trong một đường lối chính trị và chiến lược hết sức ngoan cố và đầy ảo vọng, tiếp tục phá hoại hiệp định Paris, tìm cách tiêu diệt hoàn toàn đối phương. Ta bước vào mùa mưa năm 1974 là như vậy đó. Không phải chỉ có chúng ta mới đánh giá được tình hình đã chuyển biến từ cuối mùa khô 1974 như nói ở trên mà phía Mỹ cũng đã có người cảm thấy tuy chưa thật rõ rệt. có lẽ như vậy. Weldon A. Brown đã viết trong phần kết quyển “Chiếc trực thăng cuối cùng” như sau: “David Shipler, Phóng viên tờ “Thời báo Nữu Ước”, một nhà quan sát có kinh nghiệm ở Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng trước khi Nam Việt Nam sụp đổ tuyên bố rằng Thiệu đã bị ảo tưởng về sức mạnh của Mỹ làm cho mù quáng – Shipler nhận xét rằng trong mùa hè năm 1974, Hà Nội đã bắt đầu tăng cường áp lực trên toàn lãnh thổ Nam Việt nam. Shipler viết rằng trong lúc nguy kích này, một nhà ngoại giao Mỹ đã dự đoán rằng nếu Oa-sinh-tơn cứ tiếp tục trang bị vũ khí cho Sài Gòn mà không thúc ép Sài Gòn hòa giải về chính trị với những người Cộng sản, thì nhất định Oa-sinh-tơn và Sài Gòn sẽ thất bại trong cuộc chiến tranh này”. Đáng khen thay nhà ngoại giao Mỹ nào đó, đã thấy được nguyên do và thời kỳ bắt đầu của sự thất bại hoàn toàn không thể tránh khỏi của Mỹ, Ngụy. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:07:41 pm CHƯƠNG BỐN MỘT MÙA MƯA CHƯA TỪNG CÓ Thời tiết ở B2 nói chung chia thành 2 mùa, mưa nắng gần như đều nhau, mỗi mùa 6 tháng. Ở rừng núi, mưa sớm và nhiều, ở đồng bằng mưa muộn và ít hơn. Đặc biệt về mùa mưa, nước từ các nguồn sông trên cao đổ về với khối lượng lớn và tốc độ chảy xiết, đọng lại tràn đầy các lưu vực sông ngòi vốn bằng phẳng và thấp, đặc biệt là lưu vực sông Cửu Long, trước khi chậm chạp rút ra biển đông. Đồng Tháp Mười, cái túi sâu của đồng bằng, vào mùa khô có thể đi bộ dọc ngang khắp chốn, nhưng mùa mưa, nước về ngập mênh mông như biển, có nơi sâu đến 4-5 thước. Phương tiện đi lại chủ yếu là bằng xuồng ghe. Ở Miền Đông nam bộ vùng rừng núi tuy đất cao, nhưng nước mưa cũng ngập đầy các trảng, ngập cả đường đi, đất đỏ, sình lầy. Điều kiện thời tiết đất đai như vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động của các binh đoàn tập trung, các binh chủng kỹ thuật. Vì thế, đến mùa mưa, các đơn vị lớn của cả ta và địch điều buộc phải giảm cường độ hoạt động và lợi dụng thời gian đó để chuẩn bị cho mùa khô tới, tung lực lượng sung sức ra tấn công nhau. Trong bao nhiêu năm chiến tranh, việc ấy đã trở thành qui luật. Nhưng mùa mưa năm 1974 là một mùa mưa khác thường ở B2, chúng ta quyết phá qui luật đó, quyết nỗ lực khẩn trương hành động để tạo ra một thời cơ mới, biến mùa mưa âm u thành một bình mình cho một thời kỳ rạng rỡ. Trong hội nghị tháng 6, Thường vụ Trung ương cục, kiểm điểm tình hình mùa khô 1974 và bàn phương hướng sắp tới, đồng chí Phạm Hùng bí thư, đã kết luận gọn: “Qua mùa khô này, nhân tố mới đã xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không được dừng lại, phải tiếp giành thắng lợi lớn hơn, đẩy địch suy sụp nhanh hơn. Mùa mưa này ta có rất nhiều thuận lợi và khả năng thắng lớn hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế mới và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, cho địa phương cho chủ lực để bước vào mùa khô 1974-75 với khí thế mạnh, sung sức. năm 1975, nhất là mùa khô 1975 ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình tạo ra bước ngoặt mới bước ngoặt có tính chất quyết định”. Sự tiên tri của Trung ương Cục như vậy không có gì là thần bí cả. Đó là xuất phát từ thực tế của tình hình ta địch trên chiến trường, là sự phản ánh của kết quả hoạt động của hàng triệu đồng chí và đồng bao ở từng thôn ấp, hàng vạn chiến sĩ du kích, địa phương và chủ lực, giành giật với địch từng người dân, từng tấc đất, hàng ngày hàng giờ trên khắp chiến trường. Đó là rút ra từ sự hiểu biết sâu sắc về ta, về địch. Đó là kết quả của sự nắm vững mục đích cách mạng của ta, nắm vững phương pháp cách mạng, hiểu rõ ta phải làm gì và đi đến đâu, trong lúc cũng phải hiểu sâu âm mưu và hành động, ý muốn và khả năng của địch. Lúc ấy có câu hỏi nêu lên làm cho ta phải suy nghĩ nhiều: - Vì sao trước tình hình thua thiệt như vậy mà ngụy quyền Thiệu vẫn một mực ngoan cố giữ đường lối chính trị phản động, phủ nhận thực trạng ở Miền Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị. Chúng không chấp nhận có lực lượng thứ ba, không chịu liên hiệp với “Việt cộng”, quyết phả bỏ hiệp định Paris, tiếp tục chiến tranh? - Vì sao chúng vẫn khư khư một chiến lược quân sự ngu xuẩn, giữ tất cả, lấn chiếm mọi nơi, cố diệt lực lượng vũ trang giải phóng, thanh toán chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam? Từ lâu chúng ta đã biết rằng Ngụy quyền Thiệu chẳng qua chỉ là tay sai, là công cụ của đế quốc Mỹ - Mọi suy nghĩ của chúng là theo sự hướng dẫn và mọi hành động là theo gậy chỉ huy của quan thầy. Như vậy phải tìm cái gốc là từ âm mưu và chủ trương của Mỹ. Trong hồi ký của Westmoreland: “Một quân nhân tường trình” Y đã thú nhận: “Ông (P. Harkines) và các quan chức khác của Mỹ đến Việt Nam để thực hiện chính sách quân gia đã được định ra ở Oa-sinh-tơn…” Còn những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự Nam Việt Nam kể lại trong các Bản báo cáo soạn thảo cho Ban quân sự, văn phòng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ - nhan đề: “Sự sụp đổ của Nam Việt Nam” rằng: “Theo Trần Văn Đôn, Đại tướng Viên đã thừa nhận vai trò lệ thuộc của người Nam Việt Nam. Một tướng khác đồng ý rằng các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam đã bị dồn vào việc thi hành các kế hoạch của người Mỹ…” không còn gì rõ hơn những lời thốt ra từ miệng của những nhân vật Mỹ, Ngụy có chức quyền cao ấy, sau khi đã thất bại hoàn toàn. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:09:09 pm Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta đã mang tính chất rất phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức ngay từ đầu và qua các quá trình diễn biến của nó cho đến ngày nay. Nó không chỉ là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống xâm lược, cũng không chỉ là một cuộc chiến tranh có tính chất giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng trong nước, mà còn giữa hai thế lực tiến bộ và phản động trên toàn thế giới hội tụ vào chiến trường điểm: Việt Nam! Ngay từ khi Pháp phải ký hiệp định Genève, Mỹ đã chống lại và quyết tâm can thiệp vào Đông Dương, hất cẳng Pháp để tự đảm nhận vai trò sen đầm quốc tế. Âm mưu của Mỹ là chiếm Miền Nam Việt Nam làm tuyến đầu chống phe xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội lan rộng, để làm chủ toàn bộ thế giới còn lại (ngoài các nước xã hội chủ nghĩa). Mỹ cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ, nhưng ở vào vị trí chiến lược quan trọng của thế giới. Mỹ giàu đô la và vũ khí hiện đại, có khả năng và cần phải thắng phe xã hội chủ nghĩa tại đây, mà tránh được đụng độ lớn với Liên Xô, Trung Quốc (Trung Quốc lúc ấy còn là một nước trong phe xã hội chủ nghĩa). Những nhà lãnh đạo nhà nước Mỹ tưởng nước cờ chiến lược ấy là cao, dương dương tự đắc, không nghiên cứu sâu về đất nước và con người Việt Nam, coi thường kinh nghiệm của ông bạn Pháp của họ, bất chấp tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Rốt cục càng bị sa lầy thì lại càng phải leo thang chiến tranh, càng leo thang thì càng hao người tốn của và như một con bạc khát nước, cay cú, cứ lao vô chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Leo thang đến nấc cao cùng rồi thì tất phải xuống thang, nhưng leo thang hay xuống thang cũng đều là những biện pháp để thực hiện chiến lược toàn cầu của Đế quốc Mỹ, thực hiện âm mưu làm bá chủ hoàn cầu, chống phe xã hội chủ nghĩa. Khi chiến lược “giáng trả ồ ạt” dựa vào độc quyền vũ khí hạt nhân bị phá sản, mà trên thế giới ba dòng thác cách mạng đang tấn công thắng lợi, Mỹ phải chuyển qua chiến lược “phản ứng linh hoạt” với ba loại chiến tranh đặc biệt, cục bộ và tổng lực để chủ động dành phần thắng bất cứ trong trường hợp nào – đặc biệt là để chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Khi bảo bối này tung ra chiến trường Việt Nam vào năm 1961 thì chiến tranh đặc biệt bị đánh bại vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến tranh cục bộ bị phá sản vào năm 1968, nhưng so sánh lực lượng trên thế giới và điều kiện lúc ấy không cho phép Mỹ mở ra chiến tranh tổng lực dùng vũ khí hạt nhân, nên chiến lược phản ứng linh hoạt liền bị tắc tị. Hoang mang lúng túng, Johnson vội vàng đề ra chiến lược “phi Mỹ hóa” hòng rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Nhưng những nhà lãnh đạo và chiến lược gia đế quốc Mỹ không cam tâm chịu nhục hất bại, còn tin rằng nước Mỹ vẫn có thiên chứ cầm đầu thế giới, và rất sợ mất Việt Nam thì sẽ mất hàng loạt các nước khác theo thuyết con bài Donino. Do đó Nixon lên và đề ra cái chiến lược mới gọi là “liên minh tự phòng thủ khu vực” thực chất là âm mưu huy động lôi kéo lực lượng cả thế giới chống lại phe xã hội chủ nghĩa mà không phải trơ trọi một mình Mỹ. Ở việt Nam chúng chữa lại thành Việt Nam hóa chớ không phải phi Mỹ hóa chiến tranh. Người ta có lý một phần mà nói rằng Johnson muốn ra khỏi Việt Nam với “phi Mỹ hóa” còn Nixon muốn ở lại Việt Nam với “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thực ra Nixon chưa bị đo ván mất tinh thần như Johnson nên còn cố nắm vững mục tiêu không thay đổi của đế quốc Mỹ. Trước và sau hiệp định Paris, Mỹ vẫn tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh với nội dung là bằng mọi cách làm cho ngụy quân ngụy quyền mạnh, mạnh cả về quân sự, kinh tế và chính trị để đánh bại lực lượng vũ trang giải phóng, tiêu diệt chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam, giữ Miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phụ thuộc Mỹ, chia cắt lâu dài nước Việt Nam chúng ta. Mục đích ấy từ trước đến nay không thay đỏi mà chỉ thay đổi biện pháp là dùng xương máu người Việt Nam để thay cho xương máu người Mỹ. Hiệp định Paris mà Mỹ buộc phải ký với nội dung và lời văn đều không có lợi cho Mỹ - Ngụy, nhưng chúng vẫn ký và tin tưởng là có thể lật ngược được tình hình bằng những thủ đoạn gian ngoan, lật lọng, bằng sức mạnh kinh tế của Mỹ, bằng lối ngoại giao lắt léo thâm độc trên thế gới. Chúng coi hiệp định Paris chỉ là biện pháp, là chiến thuật trong một giai đoạn chiến lược nhất định thôi. Ký để thi hành những gì có lợi cho Mỹ ngụy và xuyên tạc phá bỏ những gì không có lợi. Mục đích vẫn làm phục vụ cho chiến thắng của chúng. Sức mạnh của vũ khí và đô la mới là thứ pháp lý thực sự của đế quốc Mỹ trên thế giới ngày nay. Chính từ miệng chúng nó đã nói lên sự thật rõ ràng về mưu đồ thâm độc của chúng. Trần Văn Đôn, Trung tướng Ngụy Sàigòn trong quyển : “Cuộc chiến tranh không chấm dứt ở Việt Nam” do nhà xuất bản Persidfo Press phát hành năm 1978 tại California (Mỹ) và Luân Đôn (Anh) đã kể: “Ông ta (tức Charles Whitehouse, Phó Đại sứ Mỹ cùng đi trong đoàn của Kissinger qua Sàigòn vào trung tuần tháng 10-1972 đã giải thích về hiệp định Paris và thuyết phục Thiệu ký vào Hiệp định) nói với tôi: “Hiệp định này có mặt tốt, hiệp định phải được ký kết. Nó chỉ là một mảnh giấy và sẽ không thay đổi được cái gì cả, rồi ngài sẽ thấy”.
Đầu tháng 1 năm 1973, Trần Văn Đỗ và Bùi Diễm cầm đầu phái đoàn đặc biệt của Thiệu qua Oa-sinh-tơn để tìm hiểu ý đồ của Mỹ, đã trường trình về cho Thiểu rằng A. Lếch-dít Giôn-sơn, thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã nói riêng với tôi (tức Diễm): “Tôi với anh là bạn lâu năm, tôi nói với anh lời nói của một người bạn. Thực tế Hoa Kỳ chưa bao giừ thay đổi mục tiêu ở Việt Nam” còn trong một bức điện tối mật gởi cho Thiệu cũng thời kỳ đó, Nixon đã viết: “… Nền tự do và độc lập của Việt Nam cộng hòa vẫn là mục đích tối cao của đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ…”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:10:38 pm Như vậy đã rõ. Mưu sâu của Nixon – Kissinger là bằng cách ký hiệp định Paris, Mỹ rút được quân đội về nước, lấy lại được tù binh Mỹ, làm dịu dư luận Mỹ và thế giới, ổn định phần nào nước Mỹ đã bị chia rẽ, yếu kém, mất lòng tin và để củng cố lực lượng quân sự Mỹ đã bị mất thế cân bằng thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, đồng thời có được một thời kỳ hòa hoãn ở Việt Nam một vài năm để thi hành các thủ đoạn thâm độc:
1- Tăng cường trang bị vũ khí và trang bị kỹ thuật hiện đại để xây dựng quân đội Ngụy thành một lực lượng mạnh và có hiệu lực đủ sức tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng. Tăng viện trợ, đầu tư phát triển kinh tế cho Ngụy Thiệu, làm cho chính quyền Thiệu mà Mỹ công nhận là chính quyền hợp pháp duy nhất ở Miền Nam Việt Nam thành một chính quyền mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế ở Đông Nam Á. 2- Viện trợ tái thiết Miền Bắc Việt Nam, dùng mồi vật chất kỹ thuật để nhử Miền Bắc, xâm nhập lũng đoạn và qua đó hạn chế Miền Bắc chi viện cho Mặt trận giải phóng Miền Nam, dùng Miền Bắc kiềm chế hoạt động ở Miền Nam và mưu tính có thể chuyển biến hòa bình ngay cả chế độ Miền Bắc. 3- Dùng chính sách hòa hoãn trên thế giới theo kiểu Mỹ để gây áp lực và hạn chế sự chi viện của phe xã hội chủ nghĩa cho cả Miền Bắc và Miền Nam hòng bóp chết cuộc chiến đấu của ta. Thực tế là sau thỏa thuận Thượng Hải: giữ Thiệu, giữ Miền Nam Việt Nam trong quĩ đạo của Mỹ, Trung Quốc đã hạn chế sự chi viện cho Việt Nam đặc biệt là các loại vũ khí lớn và phương tiện vận tải. Trong quyển hồi ký: “Những năm ở Nhà trắng”, Chương “chuyến đi Trung Quốc của Nixon”, Kissingger đã thuật lại về những buổi làm việc của Chu Ân Lai và Nixon: “Cách trình bày của Chu về Việt Nam là một kỳ công về sự nhập nhằng quanh co; Ông phản đối ý kiến của Nixon vì buồn phiền nhiều hơn là tức giận. Ông nêu “một cảm tình” đối với người Bắc Việt Nam, nhưng không nói gì về lợi ích chung nào. Ông rút cái nghĩa vụ ủng hộ Hà Nội không phải từ tình đoàn kết về lý tưởng càng không phải từ những quyền lợi dân tộc phù hợp, nhưng từ những món nợ lịch sử đối với Việt Nam do quá khứ của Đế chế Trung Quốc để lại”. “Lập luận chính của Ông về việc cần sớm chấm dứt cuộc chiến tranh là ở chỗ nó làm Mỹ sa lầy và làm cho chúng ta tiêu phí nhiều năng lực mà đáng lẽ phải để vào những phần quan trọng hơn của thế giới. Chu chỉ trích lập trường thương lượng của chúng ta theo một cách rất chiếu lệ. Ông đòi hỏi chúng ta phải rút quân khỏi Việt Nam. Ông không hề hỗ trợ cho chương trình chính trị của Hà Nội – và của những người chỉ trích chúng ta – về chính phủ liên hiệp mà về việc lật đổ Thiệu”. Rồi Kissinger kết luận: “Công tác ngoại giao của chúng ta sắp sửa hoàn thành việc cô lập Hà Nội”. Mỹ thật sự tin tưởng là thủ đoạn chia rẽ các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và chính sách hòa hoãn Mỹ trên thế giới sẽ có hiệu quả. 4- Thêm vào các thủ đoạn trên còn phải phô trương sức mạnh nữa là để một lực lượng quân sự Mỹ mạnh ở Đông Nam Á làm lực lượng răn đe, hù dọa những người yếu bóng vía và hỗ trợ cho bọn Ngụy. Bằng những thủ đoạn ấy, dần dần chế độ Thiệu sẽ mạnh, chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam việt Nam ngày càng suy yếu, Thiệu có khả năng thanh toán đối thủ để độc chiếm Miền Nam, biến Miền Nam Việt Nam thành một nước phụ thuộc đế quốc Mỹ ở vị trí chiến lược trên bờ tây Thái Bình Dương này. Với mưu đồ như vậy, Mỹ tiếp tục tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam trong điều kiện có hiệp định Paris. Từ Tổng thống đến các nhân vật trọng yếu trong chính quyền Mỹ lúc ấy đều nhấn mạnh để khuyến khích Thiệu là Hoa kỳ luôn bên cạnh Thiệu, sẽ viện trợ mọi mặt cho Thiệu và sẵn sàng lại can thiệp vào Miền Nam Việt Nam nếu cần. thậm chí Kissinger còn hứa với Thiệu trong chuyến qua Sàigòn tháng 10 năm 1972 là sẽ dùng lực lượng quân sự đánh chiếm Miền Bắc việt Nam qua vĩ tuyến 17 khi có yêu cầu, khi Thiệu bị tấn công. Thiệu quá hí hửng góp bàn nên đổ bộ vào bở biển gần hơn là đánh từ vĩ tuyến 17 lên. Thiệu và bè lũ tuy có lo lắng về số phận tôi đòi, bị chủ Mỹ sai khiến và không coi ra gì, thế cô, lực yếu, nhưng vẫn tin tưởng bám vào quan thầy cho rằng nếu chúng co bề gì thì ắt quan thầy không nuốt lời hứa, sẽ che chở, vực dậy. Chuẩn tướng ngụy Lê Trung trực, trước đây là phụ tá cho tướng ngụy Cao Hảo Hớn được Thiệu giao chức vụ chủ tịch Ủy ban liên bộ điều hợp việc ngừng bắn đã thú nhận: … ”Mỹ luôn rêu rao rằng sức mạnh của Mỹ là vô địch… Thiệu tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh quân sự của Mỹ, và cho rằng Mỹ đã dính lúi vào Việt Nam rồi sắt sẽ dính líu đến cùng”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:11:33 pm Vì tin như vậy nên bè lũ Thiệu mù quáng trước thực tế tình hình, tiếp tục chiến tranh để đạt cho được mong muốn chủ quan của chúng và ý định của chủ. Âm mưu Mỹ và hành động Thiệu là như vậy, không cho ta có chút gì ảo tưởng là tớ thầy chúng sẽ thi hành nghiêm chỉnh hiệp định. Không những Mỹ chỉ muốn chiếm Miền Nam mà còn ngông cuồng hơn là mong xâm nhập và nắm Miền Bắc, chia rẽ và lũng đoạn phe xã hội chủ nghĩa. Ảo tưởng này là có sự đảm bảo rất đáng khích lệ của người bạn đồng minh mới là Trung Quốc và đã được thử thách qua thời gian và các sự kiện. Nếu những nhà lãnh đạo Trung Quốc trong những năm 60 không liên tiếp đưa ra những tín hiệu bằng nhiều cách cho Mỹ hiểu rằng anh có thể tự do hành động ở Việt Nam miễn là không đụng chạm đến Trung Quốc: “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi”, thì năm 1965, Mỹ không dám ngang nhiên đưa quân vào Miền Nam và tiếp sau đó gây chiến tranh phá hoại và phong tỏa Miền Bắc. Nếu năm 1972, ở Thượng Hải họ không hứa với Mỹ là giữ Thiệu và giữ Miền Nam Việt Nam cho Mỹ như Lu-i-gi Xom-ma-rơ-ga đã viết trong báo ý “Người đưa tin” ngày 3-4-1979 “… Trung Quốc đã chấp nhận đề nghị của Mỹ giữ chế độ Thiệu ở Miền Nam Việt Nam. Hậu quả sẽ là; Việt Nam vĩnh viễn bị chia cắt như Triều Tiên. Đánh đổi lại, Nixon hứa để Trung Quốc gia nhập liên hợp quốc và dành cho Trung Quốc một ghế trong Hội Đồng bảo an, đồng thời Mỹ hứa sẽ từ bỏ chính sách ủng hộ Đài Loan…”, thì Mỹ cũng không thể mạnh dạn rút quân khỏi Việt Nam thay đổi chiến lược mà vẫn tin là có thể vĩnh viễn ở lại Miền Nam Việt Nam.
Tóm lại chuyện này nghĩa là Mỹ vào Việt Nam hay ra khỏi Việt Nam đều có sự đảm bảo, mỉa mai thay, của ông bạn khổng lồ phương bắc, núi liền núi sông liền sông, của chúng ta. Từ khi ký hiệp định Paris đến nay đã qua một năm rưỡi. Sự việc diễn biến thực tế ở Việt Nam không theo sự sắp đặt công phu của Mỹ, không giống như kế hoạch mà Nixon – Kissinger đã vạch. Sở dĩ như vậy vì còn một vế vô cùng quan trọng của kế hoạch mà Nixon – Kissinger không tính ra hay không thể hiểu nổi. Đó là trí thông minh và dũng cảm trong suy nghĩ và hành động của đối phương tác động vào. Nếu như từ năm 1973, chúng ta tin rằng bằng cách này hay cách khác, hiệp định Paris sẽ được thi hành giống như đã tin hai năm sẽ tổng tuyển cử như hồi hiệp định Genève, nếu như ta đánh giá sai sức ta và sức địch, mà có những tả hữu khuynh và sai lầm trong suy nghĩ và hành động thì tình hình không như bây giờ được. Tất nhiên không thể tránh khỏi những bước chập choạng ban đầu. Nhưng thời gian chập choạng ba, bốn tháng đầu ấy của một giai đoạn chiến lược mới trong một cuộc chiến tranh lâu dài là ngắn ngủi. Nó cảnh chưa dủ cho địch lướt lên giành phần thắng. Ngược lại, ta đã cảnh giác, sự chỉ đạo của Đảng ta đã sắc sảo và kịp thời, nhân dân và lực lượng vũ trang ta đã dày dạn trong chiến đấu và đấu tranh cách mạng nên tình thế ngày nay đã dẫn đến chỗ là ta vươn lên cao và địch thì thất thế không gượng lại được. Thủ đoạn gian xảo ác độc của địch chưa kịp và không thể thi thố. Lực lượng quân sự ngụy không mạnh lên được mà đang mất tinh thần và rệu rã. Muốn tăng phòng vệ dân sự đông đảo, xây dựng bảo an mạnh và cơ động để địa phương đủ sức chiếm và giữ mọi nơi, thì nay hai lực lượng này giảm về số lượng, đào rã ngũ nhiều, rút đồn bót, bỏ cơ sở mà chạy. Muốn tập trung quân chính qui thành lực lượng hoàn toàn cơ động, trang bị vũ khí hiện đại, tính năng cao để có thể rút bớt quân số, dành ngân sách cho phát triển kinh tế mà quân sự vẫn mạnh, nhưng nay thì buộc phải gấp rút tăng quân số, tăng đơn vị vẫn không đủ để bố trí giữ các địa phương mà lực lượng cơ động cũng không có. Muốn vùng chúng được mở rộng và ổn định để kêu gọi ngoại quốc đầu tư xây dựng kinh tế nhưng nay thì bị bóp chẹt, không ổn định, không ma nào dám đầu tư vào. Ngân sách thiếu hụt trầm trọng, viện trợ Mỹ phải dồn vào chi tiêu quân sự. Muốn xây dựng một đảng cầm quyền mạnh, “Đảng dân chủ”, nhưng lại buộc người ta phải vào “Đảng ông Thiệu”, gồm toàn bọn cơ hội, bọn đầu cơ buôn bán chính trị đua nhau vào để mong địa vị, leo cao, tha hồ ăn cắp và hối lộ, ức hiếp nhân dân thì làm sao có được một đảng cầm quyền mạnh? Như thế là Ngụy quyền Thiệu không mạnh lên về mọi mặt như mưu toan của Mỹ, mà đang yếu toàn diện, quân sự, chính trị, kinh tế… mọi mặt đang thất thế và xuống dốc. Khi mà đế quốc Mỹ đã thất bại, phải rút lui về quân sự, và chuyển qua dùng mọi mưu ma chước quỉ tô đắp lên một “bù nhìn có cỡ”, để thay thế, để nắm chức Miền Nam, mà bù nhìn đó đã không đứng vững, bắt đầu quị, thì lúc này rất cần một lực đẩy – đủ để nó lao nhanh xuống vực thẳm tức là làm cho cả tớ thầy không có cách nào cứu vãn – đó chính là thời cơ! Đánh giá chính xác tình hình này và nhận thức đúng thời điểm là vô cùng quan trọng về chỉ đạo chiến lược mở một chiến trượng trọng điểm có tính đại diện cho cả Miền Nam. Lê-nin đã nói: “Cách mạng là khoa học đồng thời là một nghệ thuật, nó đòi hỏi sự nhạy cảm đối với tình hình và sự ứng phó kịp thời và chủ động đối với những biến đổi của tình hình. Cách mạng luôn luôn là sáng tạo”. Trung ương cục và Quân ủy Miền đã đánh giá và nhận thức tình hình đã biến đổi ấy để chỉ đạo mọi kế hoạch và hoạt động mùa mưa, đồng thời dự kiến kế hoạch 1975 đặc biệt là mùa khô 1974-1975 và báo cáo ra Trung ương. Trong cuộc hội nghị tháng 7-1974 của Trung ương Cục đồng chí Bí thư đã nhấn mạnh: “Ta đặt vấn đề dành thắng lợi quyết định trong năm 1975-1976, nhất là phải nỗ lực trong mùa khô 1974-1975 là nằm trong dự kiến của Nghị quyết 21 Trung ương và Nghị quyết 12 Trung ương cục, quyết tâm giành thắng lợi quyết định trong vài ba năm tới (74-75-76). Ta phải hoàn thành nhiệm vụ mùa mưa và tích cực chuẩn bị để hoàn thành nhiệm vụ năm 1975. Cần có nỗ lực lớn của toàn Đảng. Ta đặt như vậy là có cơ sở thực tiễn trong tình hình vừa qua, tốc độ diễn biến vừa qua, đặc biệt là trong 4 tháng vừa qua của năm 1974. Sẽ có chỉ thị để các khu, các tỉnh, kiểm điểm công tác thực hiện nghị quyết 12, cố gắng mùa mưa và chuẩn bị thật tốt cho mùa khô 1975 với tinh thần hết sức kiên quyết. Sẽ báo cáo đầy đủ ra Trung ương và đề nghị Trung ương có chỉ đạo kết hợp về đấu tranh ngoại giao, về hiệp đồng trên chiến trường toàn Miền Nam”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:24 pm Nội dung mọi mặt hoạt động mùa mưa 1974, theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền bao gồm:
- Tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch bằng phản công và tấn công, mở rộng vùng kiểm soát của ta, phát triển phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đứng lên làm cho các vùng, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven đô thị. Mở hội nghị tổng kết công tác chống phá bình định toàn B2 vào tháng 9-1974. - Tăng cường lực lượng của ta cả về quân sự và chính trị tạo thế và tạo lực đủ sức làm tròn nhiệm vụ năm 1975. Ta phải mạnh ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh để có thể tự lực mở mảng mở vùng. Lấy cái mốc, riêng về nắm dân là năm 1960, dân vùng giải phóng và tranh chấp của ta là gần 5 triệu mà ta đã thành công rực rỡ trong cuộc đồng khởi. Năm 1968, số dân ta nắm là gần 4 triệu thì ta đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết mậu Thân. Vậy chỉ tiêu về số dân cho đến hết mùa mưa này ta phải đạt cho được ít nhất là mức của năm 1968 để bước vào mùa khô 1975. - Tập trung sức đẩy công tác đô thị lên nhanh. Ngày nay mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị, tư sản mại bản quan liêu quân phiệt với các từng lớp nhân dân đang dâng lên gay gắt nhất là ở đô thị. Ta có điều kiện làm cho quả đấm đô thị mạnh. - Nắm vững các lực lượng vũ trang, chăm lo xây dựng huấn luyện và chiến đấu. Đã tới lúc cả ba thứ quân phải phát triển nhanh, mạnh để hoàn thành nhiệm vụ trọng đại của mình là lực lượng quyết định trực tiếp. - Xây dựng tốt vùng giải phóng và căn cứ địa, đảm bảo tốt các hành lang vận tải. mặc dù mùa mưa có trở ngại và địch cố ngăn cản, phải bằng mọi biện pháp tăng cường vật chất, hậu cần cho các lực lượng các hướng, các quân khu để sẵn sàng cho một mùa khô dành thắng lợi lớn. - Về công tác lãnh đạo của Đảng phải làm sao phát động được tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và quần chúng. Làm cho toàn Đảng toàn quân và toàn dân thấy rõ được âm mưu thâm độc của Mỹ, Ngụy, thấy rõ thắng lợi mới của ta, nhân tố mới của tình hình và phấn khởi sự nỗ lực vươn lên. Trước mưu thâm của địch phải thấy không có con đường nào khác là dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, phải tấn công mạnh dành quyền sống về ta. Mỗi người phải phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình để thắng lợi lớn. Chống hữu khuynh mơ hồ về địch. - Các cấp, các ngành phải chấn chỉnh biên chế tổ chức lề lối làm việc cho thích hợp với tình hình mới, gọn nhẹ, sát thực tế, sát cơ sở, có hiệu lực cao nhất. Một trong những công tác hết sức khẩn trương trong mùa mưa là công tác chuẩn bị lực lượng quân sự cho mùa khô. Trong lúc cá lực lượng đều phải tham gia đánh địch ở cả 3 vùng, thực hiện chỉ tiêu các mặt của trên đề ra cho mùa mưa, thì cả 3 thứ quân và các cơ quan quân sự đều phải lo chấn chỉnh tổ chức, phát triển đơn vị, huấn luyện nâng cao hiệu lực tác chiến theo nhiệm vụ và hoàn chỉnh thế bố trí trên toàn chiến trường. Kế hoạch xây dựng lực lượng này của Bộ tư lệnh Miền đã được Trung ương cục thông qua vào cuối tháng 6 và ngay sau đó phổ biến cho các quân khu, các cấp, đến cơ sở. Dự kiến của kế hoạch là động viên các địa phương, tùy khả năng cho phép, mở rộng không hạn chế lực lượng du kích xã, ấp và bộ đội địa phương huyện, có thể huyện có điều kiện và xã có đại đội để tự mình mở mảng mở vùng giải phóng mà không cần có sự chi viện của lực lượng tỉnh. Đây là căn cứ vào kinh nghiệm thực tế của huyện Mỹ Xuyên thuộc tỉnh Sóc Trăng và một số nơi thuộc tỉnh Kiến Phong. Những nơi này, trong mùa khô vừa qua, chỉ với lực lượng bản thân, đã đánh trả địch lấn chiếm có kết quả và qua đó mở rộng vùng giải phóng bao gồm nhiều ấp liên hoàn nhau. Ở những nơi đó, khí thế quần chúng và nhân dân nổi dậy sôi nổi tham gia cùng du kích và bộ đội địa phương tấn công địch, tiêu diệt, bức rút và bức hàng nhiều đồn bót do bọn dân vệ và bảo an đóng trong xã. Các tỉnh đều phải mở rộng việc vận động thanh niên tòng quân và kết hợp với số tân binh của trên phân phối, bổ sung và tổ chức thành các tiểu đoàn mạnh của tỉnh. Tùy điều kiện, tỉnh có từ một đến bốn tiểu đoàn. Riêng những tỉnh có khả năng và do yêu cầu của nhiệm vụ có thể tổ chức một trung đoàn nhẹ cùng với một vài tiểu đoàn lẻ. Trong thời gian này, trừ Quân khu 6 và Sàigòn, các Quân khu 7, 8, 9 mỗi quân khu đều có một số trung đoàn độc lập trực thuộc. Để chuẩn bị cho Bộ tư lệnh quân khu nắm chắc được toàn bộ lực lượng quân sự và chính trị, chỉ huy cuộc tấn công và nổi dậy trong toàn Quân khu, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập một sư đoàn nhẹ cho mỗi quân khu bằng cách ghép các Trung đoàn lẻ lại, tăng cường binh chủng và tổ chức cơ quan chỉ huy sư đoàn do một đồng chí chỉ Phó tư lệnh quân khu kiêm sư đoàn trưởng. Quân khu 9 tổ chức sư đoàn 4 gồm các trung đoàn 10, 20 và 30 do đồng chí Nguyễn Đình Chức làm Sư trưởng. Quân khu 8 có sư đoàn 8 do đồng chí sư trưởng Sáu Phú(1) chỉ huy gồm các Trung đoàn 18, 24 và 320. Quân khu 7 tổ chức 2 trung đoàn lẻ là Trung đoàn 33 và trung đoàn 4 tổ chức thành sư đoàn 6 hiếu do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ (Hai Phong) chỉ huy. Về Quân khu 6 do điều kiện thiếu nhân lực, kém về vật chất, vận tải khó khăn, để thích hợp với nhiệm vụ và phương châm phương thức hoạt động ở đây, nên từ trước ta chỉ tổ chức từng tiểu đoàn bộ binh lẻ, các đơn vị đặc công cùng với du kích và các đội vũ trang công tác. Trước tình hình mới và nhiệm vụ giao cho Quân khu sắp tới, từ tháng 5, 6-1974, Bộ Tư lệnh Miền đã ra lệnh ghép các tiểu đoàn bộ binh 186, 840, 15 và các đại đội pháo, thông tin… thành lập ra trung đoàn tập trung 812, gấp rút huấn luyện và lấy các tỉnh Bình Tuy, Bình Thuận làm chiến trường hoạt động chuyên. Do chưa rõ ý định của Miền, nên quân khu chưa thông suốt việc thành lập trung đoàn này. Bộ tư lệnh Miền một mặt giải thích, một mặt ra lệnh xây dựng ngay trung đoàn để kịp với nhiệm vụ, khỏi lỡ thời cơ. Chính trung đoàn này, năm 1975 đã cùng với lực lượng địa phương tại chỗ kết hợp với lực lượng bản giải phóng phần lớn tỉnh Bình Tuy, Lâm Đồng, toàn bộ tỉnh Tuyên Đức và một phần tỉnh Ninh Thuận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân khu. Khu Sàigòn, ngoài các lực lượng của Miền bố trí và hoạt động ở nội ngoại thành do điều kiện đặc biệt cũng chỉ tổ chức các tiểu đoàn lẻ như tiểu đoàn quyết thắng 1, 2, 3, 4… cùng với các bộ đội địa phương huyện, du kích, an ninh vũ trang, thanh niên võ trang (Sau này mới thành lập trung đoàn Gia Định). Bộ Tư Lệnh Miền đến lúc ấy trực tiếp nắm các sư đoàn 5, 7, 9, các trung đoàn lẻ 201, 205, 16, 271 và Đoàn 27 đặc công, đoàn 316 biệt động thành, một số binh chủng rất hạn chế. Toàn B2 có tiểu đoàn pháo xe kéo, các loại dùng cho cả chiến dịch và chiến đấu trong đó có 2 tiểu đoàn là pháo 105, 155 lấy của địch, đạn rất thiếu, 3 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp không dủ xe và cũng gồm cả xe M41 và M113 lấy của địch, công binh, thông tin thì càng yếu hơn nữa, vỏn vẹn chỉ có một tiểu đoàn công binh vượt sông, không đủ khí tài, một tiểu đoàn công trình, hai tiểu đoàn công binh chiến đấu, ba tiểu đoàn cầu đường, hai tiểu đoàn vô tuyến, một tiểu đoàn hữu tuyến điện… Từ lâu chúng tôi vẫn thường than phiền với các đồng chí ở Bộ Tổng tham mưu cũng như với các Bộ tư lệnh binh chủng của Bộ Tổng tư lệnh rằng lực lượng của chúng tôi ít quá trong lúc phải đảm nhận một chiến trường rộng, trọng điểm như B2, và tất nhiên đã nhiều phen đòi thêm lực lượng, thêm phương tiện khí tài, vũ khí đạn dược. Người chỉ huy nào lại không muốn trong tay mình có lực lượng chiến đấu đủ và có dự bị để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất. Có lẽ vì thế mà một số anh em công tác ở Bộ tổng Tham mưu phê phán rằng B2 có tư tưởng địa phương, cục bộ, đòi cho mình nhiều lực lượng hơn B1, B3, B4. Chúng tôi đã nghe nhiều. Không phải trực tiếp mà là nghe kể lại những nhận xét thiên lệch đó đến nỗi mỗi lần bàn về lực lượng quân sự chúng tôi thường cười nói với nhau: Hãy nghe nhà triết học Hy lạp Pythagore nói: “Bạn chịu bất công, bạn hãy tự an ủi, khốn nạn thật chính là gây ra bất công”. Và chúng tôi còn thêm: Người tướng giỏi không nhất thiết lúc nào cũng phải có lực lượng dồi dào mới thắng. (1) Tức thượng tá Huỳnh Văn Nhiên. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:17:47 pm Tuy thế, lúc cần thiết, chúng tôi vẫn đề nghị với trên, vẫn đòi tăng thêm lực lượng. Chúng tôi đã quyết tâm thành lập quân đoàn cho B2, bằng cách ghép các sư đoàn 9 và 7 lại cùng một số binh chủng sẵn có và đề nghị với Bộ tổng tư lệnh cho thêm chúng tôi một sư đoàn mới và các đơn vị xe tăng và pháo… có mặt ở chiến trường đầu mùa khô để kiện toàn thành một quân đoàn mạnh ở chiến trường quan trọng này. Được Bộ chấp thuận, trong cuộc hội nghị quân sự tháng 7-1974, Bộ tư lệnh Miền đã chính thức công bố thành lập Quân đoàn, sau này thành quân đoàn 4, do đồng chí Hoàng Cầm làm tư lệnh và đồng chí Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Ngoài ra các trung đoàn lẻ 271, 205 cũng được lập thành sư đoàn 3 thiếu để tiện việc chỉ huy và do đồng chí Đỗ Quang Hưng làm sư trưởng. Sư đoàn 3 cũng như sư đoàn 5, trung đoàn 16, 201, đoàn đặc công 27 và đoàn biệt động 316, đều trực thuộc Bộ tư lệnh Miền để sử dụng ở các hướng cần thiết.
Việc thành lập Quân đoàn ở B2 và các sư đoàn chủ lực quân khu là một sự chuẩn bị tích cực về lực lượng chủ lực của chiến trường để đáp ứng đòi hỏi của tình hình và chủ trương hoạt động sắp tới của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Nó đã được nhân dân và các ngành các cấp nhiệt liệt hoan nghinh, chăm sóc và giúp đỡ xây dựng. Nó đã cổ vũ quân và dân B2 phấn khởi vươn lên giành thắng lợi lớn. Nó cũng chứng tỏ một thời kỳ phát triển lực lượng lớn chưa bao giờ có của toàn chiến trường B2 không phải chỉ chủ lực mà cả bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích xã ấp. Cũng không phải chỉ có lực lượng vũ trang được phát triển nhanh trong thời kỳ này mà cả lực lượng Đảng ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng cũng lớn mạnh vượt bực, ngay ở những vùng mà từ lâu nay ta còn rất yếu. Ví dụ như huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, là một huyện xung yếu, một rẻo đất hẹp nằm giữa hai sông lớn: Sông Tiền, và sông Hậu, nơi đó trước ngày 28-1-73, trong toàn huyện, ta chỉ có hai chi bộ Đảng và quần chúng có tổ chức còn rất ít, tuy rằng nhân dân ở đây tốt, có truyền thống cách mạng từ lâu. Vậy mà đến hết mùa khô 1974, ta có được 8 chi bộ nằm trong 11 xã trong tổng số 13 xã. Ta đã xây dựng được hàng trăm du kích mật và đặc biệt là có 79 cơ sở nằm trong 15 toán và liên toán phòng vệ dân sự của địch. Cán bộ ta có thể đi lại hoạt động và huy động quần chúng đấu tranh khắp các nơi trong huyện. Hay huyện Chợ Gạo thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm ngay phía đông đường quốc lộ số 4 kẹp giữa sông Tiền Giang kinh Chợ Gạo và hệ sông Vàm Cỏ. Địa thế gây trở ngại nhiều cho cán bộ ta hoạt động ở đây. Huyện có 20 xã. Đã có chi bộ và cơ sở quần chúng trong 18 xã. Tính chung lúc ấy lực lượng quân sự và chính trị của ta có 4.366 người trong lúc địch có 3.318 bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự. ta đã đạt ưu thế riêng trong một huyện mà đây là một huyện yếu của ta. Không những thế, một số tề xã và gia đình binh sĩ ngụy đã quyên góp hàng vạn đồng vào quĩ kháng chiến của huyện… Theo số liệu tổng hợp vào cuối tháng 8 năm 1974, trong toàn B2 có 3 triệu 400.000 dân ở vùng giải phóng và vùng tranh chấp, trong các tổ chức cách mạng từ thấp đến cao, so với mức năm 1968 đã không thấp hơn nhiều, trong mùa mưa, ta có thể nỗ lực phát triển lên được. Sở dĩ được như vậy vì Trung ương Cục luôn theo dõi và chỉ đạo các khu, tỉnh qua việc trực tiếp với các địa phương và qua các chỉ thị từ số 01 đến 08 mà nội dung chủ yếu của từng chỉ thị vẫn là phải gấp rút tạo thế, tạo lực, thay đổi so sánh lực lượng ta địch. Các chỉ tiêu về phát triển thực lực quân sự chính trị tại địa phương về hoạt động chống địch mở rộng vùng giải phóng mà Trung ương Cục và Quân ủy Miền đề ra cho các khu, tỉnh trong mùa khô vừa qua đều đạt và vượt. Trung Ương Cục cũng tin chắc rằng chỉ tiêu đã đặt ra cho mùa mưa trong toàn B2 cũng sẽ vượt xa hơn nữa. tất cả cán bộ dự hội nghị quân sự tháng 7 đều đã hạ quyết tâm vượt mọi chỉ tiêu cấp trên đã đề ra. Các đồng chí đã nêu ra một tình hình rất tốt là quần chúng nhân dân khắp nơi đều có nhận thức về sự suy sụp của địch và thế thắng của ta không khác gì trong nghị quyết của Đảng chứng tỏ quần chúng đã tiến kịp với sự chỉ đao của Đảng hay nói một cách khác, Đảng và quần chúng đã hòa cùng một nhịp. Những thời kỳ nào như vậy, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, thì cách mạng sẽ có một sức mạnh có thể làm nên tất cả, giải quyết được nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt nổi. Trong hội nghị quân sự tháng 7 này, chúng tôi đã phổ biến và quán triệt nghị quyết tháng 4-1974 của Quân ủy trung ương nghị quyết này đã được Bộ chính trị thông qua nhằm căn cứ vào tình hình diễn biến mới nhất vừa qua, bổ sung cho nghị quyết 21 của Trung ương. Nghị quyết đã đánh giá về âm mưu Mỹ rất rõ là: “… Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ vẫn là thực hiện “Học thuyết Nixon” áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Miền Nam, biến Miền Nam thành một quốc gia riêng biệt thân Mỹ, nhưng chuyển từ chỗ dùng lực lượng quân sự của Mỹ trực tiếp tham chiến là chính, đến chỗ dùng ngụy quân ngụy quyền có sự việc trợ đắc lực của Mỹ về cố vấn quân sự, kinh tế và tài chính”. “Để thực hiện ý đồ nói trên, Mỹ đã có chủ trương nhất quán từ đầu vừa ký hiệp định lập lại hòa bình, vừa giúp đỡ ngụy quyền Sàigòn tiếp tục chiến tranh”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:21:14 pm Nghị quyết nhận xét: “Nói nào ta kiên quyết phản công và tấn công thì chúng lúng túng bị động, gắp khó khăn. Chúng đã bị đẩy lùi ở khu 9, bị chặn lại ở Khu 8, tuy có lấn được một số ít ở khu 5, những cũng đã bị chựng lại...” Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực khá lớn của địch, giữ vững các lõm giải phóng ở đồng bằng sông Cửu Long, xung quanh Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng và căn cứ địa rộng lớn, duy trì được thế uy hiếp địch về mặt chiến lược”.
Nghị quyết đã chỉ đạo cụ thể cho các chiến trường: “hết sức tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng, tăng cường vật chất tập trung chỉ đạo bảo đảm cho đồng bằng nhất là đồng bằng sông Cửu Long giành được một chuyển biến rõ rệt có lợi cho ta. “Khu 5 cần đánh giá đúng tình hình, giải quyết tốt tư tưởng cán bộ, phương thức hoạt động, phối hợp chặt chẽ giữa Tây Nguyên và đồng bằng, đưa phong trào hồi phục lại căn bản như hồi năm 1972 và mở rộng thêm, bảo vệ, hoàn chỉnh từng bước vùng giải phóng căn cứ địa Tây Nguyên và Miền Tây các tỉnh đồng bằng”. Miền đóng giữ vững các lõm giải phóng xung quanh Sàigòn, củng cố thành những bàn đạp vững chắc bao vây uy hiếp Sàigòn ngày càng chặt hơn, củng cố mở rộng hành lang nối liền vùng ven Sàigòn với vùng giải phóng căn cứ địa rộng lớn. “Trị Thiên củng cố thế đứng vững chắc ở giáp ranh, luồn sâu xuống đồng bằng xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở du kích, làm lỏng kềm, nêu lên phối hợp ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận, đưa phong trào lên, tạo lại thế 5 vùng, phá thế phân tuyến của địch, thường xuyên uy hiếp địch để giữ chân hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác ở Miền Nam. Đồng thời phải giữ vững và ra sức xây dựng vùng giải phóng vững mạnh”. Hội nghị còn được phổ biến cận kề sự đánh giá và nhận định tình hình của Trung ương cục, về kế hoạch mùa mưa và dự kiến hoạt động giành thắng lớn mùa khô 1974-1975 của Trung ương cục và Quân ủy Miền. Là Những cán bộ lặn lội ở chiến trường, thường xuyên tiếp xúc với cơ sở với hiểm nguy qua các thời kỳ diễn biến, anh em hoàn toàn nhất trí với nhận thức tình hình của Trung ương Cục và sự nhất trí đó đã chuyển thành sức mạnh tập thể chấp hành nghị quyết Đảng, sức mạnh chuyển tới từng đảng viên, từng quân chúng. Ngay sau cuộc hội nghị quân sự, đồng chí Phạm Hùng với danh nghĩa là bí thư Trung ương Cục, bí thư Quân ủy Miền và là chính ủy bộ tư Lệnh Miền đã cùng chúng tôi làm việc cụ thể với từng đoàn cán bộ của từng quân khu. Đặc biệt là với đoàn cán bộ của Thành đội Sàigòn, bàn về việc xây dựng và bố trí các loại lực lượng quân sự và chính trị, bí mật và công khai cũng như các hình thức hoạt động, nhất là hình thức hoạt động vũ trang ở vùng ven và trong nội thành. Đồng chí đã trực tiếp giải quyết những vướng mắc trong nhận thức của cán bộ thành về việc bố trí các đoàn đặc công sâu vào vùng ven và việc hoạt động quân sự ở các vùng ấy. Nhiều cán bộ đã quan niệm sai là ở vùng ven hiện nay tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng còn yếu, không nên bố trí đặc công và bộ đội địa phương vào vì sợ lộ, sợ hôi, sợ địch sẽ càn quét đánh phá làm cho không ổn định, để xây dựng cơ sở. Nhất là sợ nếu đặc công hay bộ đội địa phương lại đánh địch ở đây thì sẽ bị bể hết cơ sở. Không lẽ có lực lượng vũ trang ở đây mà địch đến đây lại không cho đánh? Vì thế mà nêu rằng: “Đánh thế nào để không bể cơ sở” làm anh em rất lúng túng. Một số nơi đã rút lực lượng vũ trang ra khỏi hay đã thủ tiêu chiến đấu. Đồng chí nhấn mạnh: “Đường lối của Đảng ta là tấn công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng vũ trang và cả bằng lực lượng chính trị. Muốn vậy phải tổ chức và bố trí lực lượng quân sự kết hợp lực lượng quần chúng. Chỉ khác nhau giữa các vùng là cách tổ chức lực lượng ra sao, bố trí loại lực lượng gì. Ta phải đánh địch bằng ba mũi giáp công. Vậy cần nghiên cứu phương thức ba mũi thế nào? Ở đâu? Để giành thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Dứt khoát ta không phải trường kỳ mai phục, càng không thủ tiêu chiến đấu. Trong chiến tranh không thể mong có sự yên ổn để tổ chức lực lượng, mà lực lượng được tổ chức trong hoàn cảnh ổn định giả tạo đó sẽ không có chất lượng. Trong giai đoạn chiến lược hiện nay, ta phải vây ép chặt Sàigòn hơn nữa, phải sẵn sàng phối hợp giữa các vùng để giành thắng lợi mùa khô tới, không được chậm trễ. Khi cán bộ thông suốt tư tưởng quan niệm đúng vấn đề, dũng cảm đấu tranh, kết hợp chặt chẽ giữa cấp ủy địa phương với chỉ huy quân sự của cấp trên xuống và tại chỗ, thì sẽ có phương thức đúng. Phải mạnh dạn, dám nghĩ và dám làm…”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:31:10 pm Một khâu dám nghĩ và dám làm rất quan trọng không thể nào quên là công tác vận tải, bố trí, tích trữ lương thực đạn dược cho B2 trong mùa mưa, của những chiến sĩ thực sự là “đi trước về sau”, như truyền thống của Nam bộ kháng chiến, những chiến sĩ vất vả, gian lao nhưng thầm lặng, vui cái chiến thắng của anh em mà hầu như quên mất cái chiến thắng của mình – Đó là chiến sĩ Hậu cần! Trong suốt mùa mưa tầm tã, lầy lội, hàng vạn chiến sĩ hậu cần cùng hàng chục vạn lượt nhân dân đã làm việc cả ngày lẫn đêm trên mọi tuyến đường từ phía sau ra phía trước, trên đồng lầy, biển cả và sông nước Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, khắp đồng bằng sông Cửu Long đến núi rừng khu 7, khu 6, đến vùng ven và vào đến tận nội đô Sàigòn. Có lẽ ngành hậu cần B2 đã nói lên rõ nhất mọi thứ kết hợp một cách tài tình trong chiến tranh chống Mỹ của ta: Kết hợp làm cả hậu cần quân đội và hậu phương quốc gia, kết hợp việc tập trung cung cấp của trên với việc mua sắm sản xuất tại chỗ, kết hợp hậu cần chuyên môn và hậu cần nhân dân, kết hợp lực lượng quân đội và lực lượng quần chúng, chiến sĩ và dân công, chính qui và du kích, quy mô lớn và nhỏ, công khai và bí mật, bí mật mang vác len lỏi qua các vùng địch ban đêm, bí mật dùng xe cơ giới, tàu thuyền công khai chạy trên các đường và sông, vào cả các đô thị, kết hợp hiện đại và thô sơ (xe bò, xe đạp thồ, xuồng chèo, mang vác…) kết hợp công tác và chiến đấu diệt địch tự bảo vệ mình. Ngay trong cấu tạo thành phần chỉ huy của Cục Hậu cần Miền đã phải có sự kết hợp rất cần thiết để đảm bảo công tác có hiêu quả cao. Đồng chí Lư Khanh(1) chính ủy Cục, trước đây là một công nhân xưởng Ba son, Sàigòn, quê tỉnh Gia Định, đã sớm tham gia phong trào cách mạng và vào Đảng cộng sản Đông dương từ những năm 1930. Trong chiến tranh chống Pháp, đồng chí là chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Định. Trong chiến tranh chống Mỹ, trước khi sang ngành hậu cần đồng chí là Tư lệnh pháo binh của Miền. Vì vậy đồng chí hiểu biết về quân sự, rành cả địa phương và người dân Sài gòn cũng như Miền Đông Nam Bộ. Tính trung thực và chân thành, đồng chí thương yêu, và lo lắng tận tình cho cán bộ và chiến sĩ, biết phải nuôi dưỡng và đảm bảo thế nào cho bộ đội đánh thắng. Đồng chí Cục Trưởng Bùi Phùng, quê ngoại thành Hà Nội, đã từng làm tham mưu ở Tổng Cục hậu cần, có nghiệp vụ công tác thành thạo. Đồng chí Tư Võ(2) Cục phó, trước kia, thời chống Pháp, là bí thư Tỉnh ủy Long Châu Tiền, đã hoạt động cách mạng nhiều năm vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở đất nước Kampuchia, là người có nhiều công lao tạo nguồn vật chất tại chỗ cho ngành. Cán bộ bên dưới cũng có sự bố trí tương tự để kết hợp được tài năng và đạo đức, quen việc và thạo chiến trường, biết tìm của và rõ lòng người. Đề ra công việc to lớn phải đi đôi với tổ chức và chọn người tương xứng mới đảm bảo thành công. Không thể kể hết được mọi thứ kết hợp từ đó tạo ra một sức mạnh tổng hợp làm cho ngành hậu cần B2 đã đảm bảo được mọi cuộc chiến đấu và chiến dịch, bất cử mở ra ở đâu và lúc nào, suốt từ đầu đến cuối chiến tranh. Ngay trong thời kỳ khó khăn thiếu thốn nhứt về lương thực đạn dược của B2, đặc biệt là ở chiến khu A, bắc Biên Hòa, năm 1966, Miền vẫn cắm và giữ ở đó đoàn hậu cần 81 do đồng chí Mười Thiện(3) phụ trách. Nhờ vậy mà sư đoàn 9 lúc ấy khi ần tác chiến khu vực này, vẫn có gạo và đạn để đánh mà không cần phải mang theo nặng nề chậm chạp. Nhân một chuyến đi công tác mùa thu năm 1966, tôi ghé thăm đoàn 81, đồng chí Mười Thiện và anh em vẫn bảo đảm với tôi kiên quyết “bám trụ” bất kể tình hình thế nào. Anh chị em công tác ở đây, ngoài bom đạn và chất độc hóa học tấn công, còn có bệnh sốt rét vàng da cũng là một kẻ thù đáng sợ. Vì vậy mà “hồi chín năm”(4) anh em đã có câu: “Mã đà, Sông bé, anh hùng tận” (Sông Mã đã chảy ra và sông Bé nơi nổi tiếng là nước độc đã làm chết bao nhiêu chiến sĩ ta vì bệnh sốt rét trong những năm chống Pháp).
Thần tốc ở đây phải hiểu là lo trước ém dẵn, ở đâu ần ở đó có, lúc nào cần là có ngay. Muốn vậy phải có một suy nghĩ chiến lược dự kiến sớm chính xác kịp thời, một tổ chức giỏi triển khai trước, có phương pháp, có hiệu năng gồm những con người dũng cảm mưu trí. Không có thứ thần tốc để “Nước tới chân mới nhảy” công việc xảy ra rồi mới chạy nhốn chạy nháo, mà chạy thế nào kịp? Mỹ ngụy có máy bay vận tải hạng nhẹ, trực thăng nhiều mà chạy chết còn không kịp, huống hồ gì tải người, tải hàng đáp ứng với yêu cầu khi thời cơ cấp bách? Hậu cần B2 có thuật “Lót ổ sẵn”. Lót ổ hàng trăm, hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí đạn dược từ trước ở các lõm du kích, các địa bàn mà bộ đội chủ lực, địa phương sẽ đến đó hoạt động, khi cần, lót ổ thuốc nổ, súng đạn ở vùng ven đô thị, sát các sân bay, bến cảng, kho tàng của địch, trong nội thành, gần các mục tiêu quan trọng như ở ngay trung tâm Sàigòn cho lực lượng đặc công biệt động ta sử dụng theo kế hoạch của trên qui định. Không có lực lượng có tổ chức khéo léo tinh vi, không có cán bộ phù hợp có năng lực phụ trách, không có quần chúng cách mạng thì không thể nào làm nổi những việc như vậy. Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, trong mùa mưa, hậu cần đã chuyển đến cho các quân khu kể cả Sàigòn trên 3000 tấn vũ khí đạn dược, đã cấp phát đủ cho các đơn vị các cơ số đạn và lương thực cần thiết cho chiến đấu và dự trữ thường xuyên, để tích trữ tại các khu vực sẽ diễn ra chiến đấu mùa khô chủ yếu ở Miền Đông Nam Bộ gần 30.000 tấn vật chất trong đó có gần 8000 tấn đạn dược và 1.500 tấn xăng dầu. Cái đáng nói của hậu cần B2 còn là việc cố tạo ra vật chất tại chỗ, cái gì có thể tạo được và chỉ yêu cầu trên cung cấp những gì không thể tạo ra được tại chỗ. Nếu tính trong suốt năm 1973 và cả mùa mưa năm 1974, thì số lượng vật chất hậu cần B2 tự tạo ra được đạt tỷ lệ 73% số nhu cầu của chiến trường. Như vậy chỉ còn 27% là xin Trung ương cung cấp. Thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền, hậu cần đã đảm bảo lượng dự trữ thường xuyên từ bốn đến sáu tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; ba đến sáu tháng xăng dầu và bắt buộc phải có một năm vũ khí đạn dược. Làm được như vậy ở một chiến trường xa xôi, trọng điểm, vô cùng ác liệt là một chiến công có ý nghĩa biết đường nào. Tôi đã gặp họ, những chiến sĩ hậu cần tận tụy trên khắp các ngả đường chiến dịch, họ hồn nhiên vui vẻ như bất chấp nặng nhọc hiểm nguy, làm mà không nói. Đầu năm 1975, tôi qua bến Tà Lài, trên sông Đồng Nai, tại Chiến khu A, bắc Biên Hòa hỏi chuyện một chiến sĩ lái xe chất đầy đạn, người vạm vỡ, lanh lẹn. Đồng chí đang cúi xuống rờ vào bánh xe đã mòn, vội đứng thẳng: “Báo cáo thủ trưởng, em ngươi Hà Bắc, vào chiến trường từ năm 1973 tên là Phạm Văn Miêng”, và đồng chí lái canô đẩy phà sang sông đã đứng tuổi, người gầy nhưng chắc: “Em ở Cà Mau, tòng quân năm đồng khởi, tên là Út Đen. Lên trên này mới học thêm, ở nhà chỉ biết lái đuôi tôm đưa vợ đi chợ” – “À đồng chí đã có vợ. Vậy đã có con chưa?” – “Dạ có một trai được ba tuổi thì bọn dân vệ đi càn bắn chết. Sau đó em tòng quân luôn, quyết trả nợ nước thù nhà”. Tôi ngậm ngùi lòng quặn đau. Tôi hỏi tiếp: “Còn đồng chi Miêng thế nào?” – “Em chưa có gia đình, thành công rồi, em tình nguyện ở luôn trong này đấy ạ” – À ra thế, vậy đã có chú ý đến cô nào chưa?” – “Thưa chưa ạ - bây giờ thì suốt ngày suốt đêm phải dành cho xe đã”… Nhớ năm 1968, khi qua sông Sàigòn ban đêm, ở một bến đò trong rừng tre xơ xác bom đạn nhưng còn đủ để ngụy trang cho ta từng đoạn… ở đây tôi đã gặp các cô gái trẻ mang đang vác từng hòm đạn nặng từ thuyền lên chất vào các hầm trên bờ. Tôi đã quen một hai cô, cô Thắm và cô Liên, các cô là những chiến sĩ thi đua đã từng về họp mừng công ở căn cứ Miền, tại Cục hậu cần. Phần lớn các cô này đều là ở vùng ven Sàigòn; trong quân vào công tác ở hậu cần khu Sàigòn – Gia Định. Các cô nhận ra thủ trưởng mừng quá, xúm quanh hỏi chuyện ríu rít – Bao giờ thì giải phóng Sàigòn, làng Tân Thới Nhất, Bà Điểm đây chú? Cô khác chen vào – Cả làng Tân Hiệp Hóc Môn nữa, mày chỉ nghĩ đến xã của mày thôi hả - Liệu chúng cháu có được về quê sau Tết không chú? – Không biết giờ đây thì các cô Thắm, cô Liên ấy, các cậu Miêng, cậu Út, ai còn ai mất! Biết bao người trong đó có chiến sĩ hậu cần, đã ngã xuống, trên mảnh đất này. Đồng chí chủ nhiệm hâu cần đầu tiên của B2, đồng chí Nguyễn Văn Dung, một công nhân Sàigòn, đầu tóc hoa râm qua hai mùa kháng chiến, cũng đã hy sinh trong lúc đang đi công tác. Không làm gì có phân chia hậu phương, tiền tuyến trong cuộc chiến tranh này. Hậu cần luôn phải xung phong lên tuyến trước, hăng hái đi trước để chuẩn bị và thu dọn chến trường nên vui vẻ về sau! (1) Tức thiếu tướng Đào Sơn Tây (2) Đồng chí Võ Phát (3) Đồng chí đại tá Võ Văn Lạn, hiện là Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu 7. (4) Anh em gọi “Hồi chín năm” là chỉ thời kỳ chống Pháp. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:33:42 pm Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1974, Bộ Tham mưu Miền theo xu hướng của Trung ương Cục vạch ra, và dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền, làm kế hoạch hoạt động mùa khô 1974-75 trong dự kiến giành thắng lợi quyết định trong vài năm tới. Đầu tháng 10, Trung ương cục đã thảo luận và thông qua kế hoạch này. Trong cuộc họp, tình đồng chí trong Trung ương cục cũng đã phân tích rõ ràng, cụ thể tình hình chiến trường và cả tình hình chung và đã nhất trí quyết tâm giành thắng lợi quyết định, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976. Năm 1975 là năm bản lề và năm 1976 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh. Cũng không phải là dễ dàng mà đi đến nhất trí như vậy. Bao nhiêu là đắn đo suy nghĩ, bao nhiêu phân tích lật đi lật lại vấn đề. Mọi người đều nêu rõ về sự suy sụp của cả ngụy quân và ngụy quyền ở các vùng. Ở đô thị cũng đã xuất hiện phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng chống Ngụy quyền Thiệu tham nhũng, bất lực, và tình hình đó tác động lại tinh thần quân lính địch không ít. Mọi người đều phân tích thế và lực ta lên mạnh, phát triển đều trên các chiến trường. Du kích xã ấp của ta cũng đã diệt, gỡ được đồn bót địch. Nhưng vẫn lo lắng về một số mặt còn yếu: Lực lượng du kích và địa phương tuy gần đây có phát triển nhanh, nhưng số lượng còn thấp so với yêu cầu, chủ lực ta chưa có đòn tiêu diệt lớn, phong trào quần chúng có lên mạnh nhưng chưa đủ mạnh cho một cuộc nổi dậy lật đổ ngụy quyền. Ba đòn chiến lược của ta: chủ lực, nông thôn, đô thị vẫn chưa đều. Đòn đô thị còn yếu... Tụi Mỹ thua cuộc phải rút quân khỏi Việt Nam, tình hình nước Mỹ đang rối ren về chính trị, kém sút về kinh tế, tài chính, nhưng cần thiết phải có những biện pháp khôn khéo để hạn chế sự can thiệp của Mỹ đảm bảo ta thắng lợi nhanh và gọn. Tất cả những lo lắng đó rất đúng. Đó là sự thật và ai nấy đều thấy ta phải nỗ lực lớn, nỗ lực liên tục mới đảm bảo thành công trong thời gian như vậy.
Điều làm cho mọi người nhất trí cao là xác định xem ta đang ở giai đoạn nào trong cuộc cách mạng, của cuộc chiến tranh, và đều đồng ý như phát biểu của anh Mười Cúc(1): “Chế độ Thiệu đang suy yếu nghiêm trọng, một mặt do mâu thuẫn bản thân của nó đến lúc phát triển, một mặt do ta tấn công ngày càng mạnh. Ta cần tấn công mạnh và liên tục hơn nữa, không cho chúng dừng lại lấy sức. Ngày nay ta có điều kiện đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần đi đến giành thắng lợi hoàn toàn. Chế độ Ngụy không thể chịu nổi qua mùa khô 1975-1976”. Và anh Bảy Cường đã kết luận! “Địch đang khủng hoảng toàn diện - cả ngụy quyền Trung ương chớ không phải chỉ một phần nào, một vùng nào. Ngụy sẽ suy sụp với tốc độ ngày càng nhanh như một chiếc xe lao xuống dốc, không loại trừ đi đến khả năng đột biến. Khuyết nhược điểm ta vẫn còn, Nhưng có khả năng và đang trên đà khắc phục. Ta đang giành thắng lợi lớn ngay trong mùa mưa này. Ta có điều kiện chuẩn bị tốt cho mùa khô tới. Ta nhận định rằng ta có thể hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ vào năm 1976. Năm 1976 là một thời cơ hết sức quan trọng. Những năm 1975 phải thực sự là năm bản lề, nỗ lực giành thắng lợi lớn thì mới tạo điều kiện cho năm 1976 quyết định. Nói năm 1975 nhưng thực chất quyết định là mùa khô 1974-1975. Cần phải nắm vững tinh thần kế hoạch mùa khô mà Trung ương Cục và Quân ủy đã bàn, phải quán triệt ý nghĩa và nội dung mùa khô cho xuống tới dưới, phải quan niệm mùa khô này như một kế hoạch chiến dịch chặt chẽ từ quân khu 6 đến quân khu 9, từ chủ lực đến địa phương, từ nông thôn đến rừng núi, đô thị, phải phối hợp rất nhịp nhàng. Lần này hơn hẳn các lần trước, ta có kế hoạch phối hợp và bàn chuẩn bị kỹ từ trên xuống dưới, cả trong quân sự và các cấp Đảng bộ. Ta quyết định giành thắng lợi lớn. Do vậy việc lãnh đạo chỉ đạo của Trung Ương cục và Quân ủy phải chặt chẽ trong mùa khô này, các khu và tỉnh cũng vậy. Phải chặt chẽ giữa cấp ủy và cấp quân sự tương đương trong việc chỉ đạo và chỉ huy. Ta vừa thực hiện thật tốt kế hoạch mùa khô, đồng thời chuẩn bị hướng phát triển mạnh nếu tình hình diễn biến tốt cho ta, ta phải rán lên đạt thắng lợi cao nhất, kịp thời ngay trong năm 1975 này”. Cũng trong cuộc họp này của Trung ương Cục, chúng tôi đã thảo luận đến trường hợp tình hình diễn biến nhanh, ngụy quân, ngụy quyền có thể suy sụp sớm hơn ta dự kiến, đặc biệt là nếu có xảy ra đột biến về quân sự chính trị ngay ở Sàigòn. Trong trường hợp đó có thể chiến trường B2 phải tự mình tiến hành tấn công cuối cùng vào sào huyệt đầu não của địch, kết thúc chiến tranh, mà không được để lỡ thời cơ. Tôi đã trình bày với Trung ương Cục rằng chúng tôi sẽ cố gắng đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng võ trang địa phương và du kích, cũng như các địa phương tăng cường phát triển lực lượng quần chúng cách mạng cho thời cơ ấy. Nhưng về chủ lực thì B2 còn rất yếu, thiếu cả về bộ binh và binh chủng kỹ thuật cho một nhiệm vụ nặng nề như vậy. Tôi đề nghị xin trung ương cho ngay B2 từ ba đến bốn sư đoàn nữa thì tự mình chúng tôi đảm bảo trận chiến đâu cuối cùng ấy nhanh chóng. Xét về khả năng điều kiện có thể của tình hình, về đường lối chiến lược, cách tổ chức bố trí và xử dụng lực lượng của ta, về vị tri và vai trò của chiến trườn B2, việc tăng thêm vào giai đoạn này ba, bốn sư đoàn cho chúng ta là hoàn toàn hợp lý. Tôi đã trình bày phác họa các hướng tấn công vào Sàigòn, nói lên sự cân thiết phải có số lực lượng chủ lực như vậy. Sau khi thảo luận, các đồng chí Trung ương Cục đều nhất trí và quyết định xin Trung ương điều theo lối cuốn chiếu, nghĩa là điều những sư đoàn ở Tây Nguyên vào B2, rồi điều lực lượng Trị Thiên vào thay ở Tây Nguyên, và cứ như thế cho đủ số bố trí ở các chiến trường, làm như vậy chúng ta sẽ rút ngắn được thời gian hành quân của các đơn vị. (1) Đồng chí Nguyễn-Văn-Linh, phó bí thư Trung ương Cục. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:37:01 pm Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã báo cáo kế hoạch ra Trung ương và Quân ủy Trung ương và đã đề nghị Bộ chính trị triệu tập một cuộc họp với đại diện của tất cả các chiến trường để bàn kế hoạch thống nhất toàn Miền Nam trong giai đoạn quan trọng này.
Kế hoạch mùa khô 1974-75 của B2 mà Trung ương Cục đã thông qua thực sự là một kế hoạch chuẩn bị tiến lên Tổng tấn công và nổi dậy của B2, kế hoạch tạo điều kiện đi lên dành thắng lợi kết thúc cuộc chiến tranh ở chiến trường trọng điểm này. Vì vậy mà phải dựa trên cơ sở dự kiến trước một kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy của toàn B2. Thật ra thì kế hoạch dự kiến này chúng tôi đã ôm ấp rất lâu, bắt đầu từ khi chuẩn bị và tiến hành Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân cho đến ngày nay. Hàng chục năm chiến đấu trên chiến trường này, đánh Pháp rồi đánh Mỹ, cán bộ quân sự chúng tôi đã hầu như thuộc lòng mọi địa hình địa vật, từng làng mạc, sông rạch. Chúng tôi cũng đã nắm rất rõ kẻ địch của mình, cách tổ chức và khả năng tiến hành phòng ngự, phản ứng của chúng trong từng thời kỳ. Nhưng quan trọng hơn là chúng tôi nắm chắc đường lối lãnh đạo của Đảng ta trong cuộc chiến tranh này: Chúng ta đánh địch bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị. Quân sự và chính trị song song tất yếu dẫn đến Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Nhất trí và tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đó, chúng tôi luôn tâm niệm là đến một thời cơ nào đó, dứt khoát phải tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa. Vì vậy mà sau khi có Nghị quyết 9 của Trung ương năm 1963, một nghị quyết vạch rất rõ đường lối đó, chúng tôi ở chiến trường có thành phố Sàigòn – Gia Định, thủ đô của Ngụy quyền, luôn suy nghĩ cách thức tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa như thế nào? Từ năm 1964, B2 đã vạch ra 5 hướng tân công vào Sàigòn, rồi tổ chức khu Sàigòn thành năm phân khu 1, 2, 3, 4, 5 để tổ chức bố trí lực lượng và chỉ đạo cuộc Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân – Từ lúc ấy đã xác định các mục tiêu ở nội ngoại thành trong đánh bung ra kết hợp với ngoài đánh vào. Tết Mậu Thân đã là một kinh nghiệm thực tế vô cùng quí báu. Nhưng mỗi ngày, cuộc chiến tranh tiến triển bởi nhiều hình thức và qui mô khác nhau cũng là mỗi ngày làm phong phú thêm sự suy nghĩ, làm già dặn thêm những kinh nghiệm cho đến ngày nay, chúng tôi lại đứng trước ngưỡng cửa của lần thứ hai, Tổng tấn công và nổi dậy ở Sàigòn cũng như ở toàn B2. Chín muồi qua ngẫm nghĩ nhiều năm, chúng tôi không khó khăn lắm phác họa ra một kế hoạch dứt điểm Sàigòn và toàn B2 để làm nền cho kế hoạch mùa khô 1975 này. Đó không phải là một kế hoạch Tổng phản công quân địch từ một tuyến nào đó như trong một chiến tranh qui ước thông thường. Không phải dùng lực lượng quân sự thuần túy, những quân đoàn chủ lực hùng mạnh, tiêu diệt và đuổi địch từ Tây Nguyên, hay Quảng Trị vào Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, vào Sàigòn và truy kích đến tận Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc… Thực ra muốn làm thế cũng không làm được, mà có làm được đi nữa thì cũng có nguy cơ địch co dãn quấy rối cụm lại ở một vùng nào đó, dựa vào không, hải quân ưu thế của Mỹ để rồi phản công trở lại. “Phương án Gavin” đã từng dự kiến co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long như vậy đó. Gavin là một tướng lĩnh có hạng của Mỹ, qua Sàigòn năm 1972 là năm mà Mỹ Ngụy bị đập tơi bời, bị thua nặng từ Quảng Trị đến Miền Đông Nam Bộ. Trong bối cảnh ấy, y đã nghĩ ra một phương án chiến lược co dần, rút dần nếu bị thất bại mà khu vực cuối cùng phải bám giữ là Mỹ Tho – Vĩnh Long – Cần Thơ. Y tính toán: Đồng bằng sông Cửu Long là kho nhân lực, là cuộc sống tính từng giờ, là nhịp đập của “trái tim thủ đô”. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi củng cố lực lượng chi viện cho Sàigòn. Từ đó phát triển tăng cường lực lượng phòng thủ, tạo sức phản kích lại đối phương trong điều kiện xấu nhất”. Hẳn y đã nhớ lại bài học quân ngụy từ Mỹ Tho về cứu Ngô Đình Diệm ở Sàigòn năm nào. Y còn nghĩ rằng đồng bằng sông Cửu Long còn dựa lưng ra biển, ra đảo Côn Sơn, Thổ Chu, Phú Quốc… là thế mạnh, tiện lợi cho Mỹ lại từ đại dương tiến vào. Cái nhìn của những tên thực dân thật không khác nhau. Năm 1946, trong một chỉ thị gởi cho cao ủy Pháp ở Đông Dương, D’Argenlieu, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet đã nhấn mạnh: “… Nam kỳ là cái trục thực sự của toàn bộ chính sách của chúng ta ở Đông Dương. Chúng ta phải thành công và thành công nhanh ở Nam kỳ và rằng tương lại của sự có mặt của nước Pháp hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào thắng lợi hay thất bại của chúng ta ở đây”. D’Argenlieu cũng có quan điểm: “…Nam kỳ là chìa khóa của toàn bộ liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp. Nếu quyền lực Pháp củng cố được ở đây thì liên bang Đông Dương trong khối liên hợp Pháp sẽ trở thành hiện thực…” “… Không bao giờ được quên tầm quan rọng của bộ phận Nam kỳ. Bộ phận này là hòn đá tảng trong lâu đài liên bang Đông Dương và là nền tảng của ảnh hưởng của chúng ta”(1). Vào thời kỳ đó Nguyễn Văn Thiệu đã kịch liệt chống lại phương án này, cho đó là một ngu xuẩn, một sự đầu hàng “Việt cộng”. Nhưng đó là lúc mà Thiệu tưởng vẫn đứng vững, dựa vào cái cọc chống đỡ mạnh mẽ của Mỹ. Còn lúc mà cơ hồ không còn manh giáp thì phương án Gavin là tối ưu rồi còn gì? Báo chí phương tây đã từng bình luận: “Với số dân xấp xỉ mười triệu ở đồng bằng Nam bộ, Nguyễn Văn Thiệu chẳng có thể là một vị Tổng thống đường hoàng của một quốc gia trong Đông Nam Á có diện tích ngót nghét ba mươi sáu nghìn cây số vuông hay sao?”. (1) Theo tư liệu của Phân viện lịch sử Cục Khoa học Quân sự - BQP. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:38:41 pm Nhưng về phần chúng ta, chúng ta đã suy nghĩ tất cả những việc ấy trước hơn Gavin, cả phương án Gavin chưa nghĩ đến, để chọn một chiến lược thích hợp nhất cho cuộc chiến tranh này.
Ngay từ đầu, Đảng ta đã chủ trương một kế hoạch chiến lược Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa thần kỳ của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển đến cao độ. Chúng ta tấn công địch bằng lực lượng quân sự tổ chức theo rất nhiều kiểu cách thích hợp, kết hợp với nổi dậy của quần chúng từ nhỏ chí lớn, ở khắp các vùng, vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng đô thị. Trước một kẻ địch hoàn toàn chiếm ưu thế trên không, dưới biển, ở sông ngòi, ưu thế về vũ khí và phương tiện hiện đại, cơ động nhanh chóng bằng trực thăng bất cứ ở địa hình nào, hỏa lực hủy diệt dồi dào, thì lực lượng của ta chủ yếu quyết định là lực lượng nằm ngay tại chỗ, ở đâu cũng có lực lượng cách mạng, quân địch đến đâu, ở đâu, cũng đều bị đánh, bị đánh bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng, bằng lực lượng lớn cũng như lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, bằng lực lượng thấy được và lực lượng không thấy được. Ngay chủ lực của ta cũng là chủ lực hoàn toàn cơ động tác chiến, nhưng cơ động trong từng khu vực nhất định, kết hợp chặt chẽ với địa phương, không có thứ chủ lực cơ động toàn chiến trường, tách rời địa phương. Ưu việt của ta là địa phương có tính chất quyết định, nhưng tất cả địa phương được lãnh đạo thống nhất rất chặt chẽ từ trung ương. Tết Mậu Thân 1968 đã chẳng chứng tỏ điều đó sao? Trong cùng một ngày đêm, dưới một hiệu lệnh phát ra từ Trung ương, hàng trăm thành phố, hàng nghìn làng mạc, mục tiêu, của địch cùng bị tấn công dữ dội đến nỗi quân địch không còn biết đâu mà lần, không co vào đâu, không rút đi đâu được, choáng váng ngay tại chỗ, choáng váng cả nước Mỹ. Thần tốc của ta là như vậy, thần tốc, bao trùm một không gian rộng, một thời gian ngắn, thần tốc trong hành động chiến đấu, trong chiến dịch và quan trọng hơn là trong một giai đoạn chiến lược, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh. Đừng suy nghĩ đơn giản theo kiểu thần tốc tấn công từ xa bằng những binh đoàn chủ lực cơ động thần kỳ mà rồi không thể nào hiểu nổi thực tế. Nắm vững quan điểm chiến lược này, trong suốt mùa mưa 1974, Trung ương cục và Quân ủy Miền hết sức theo dõi đôn đốc các địa phương phát triển nhanh thực lực quân sự chính trị của bản thân, tạo thế tạo lực, để từng nơi tự mở mảng vùng giải phóng. Và tới tháng 10-1974, Trung ương cục đã chỉ đạo nhấn mạnh “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh, trong toàn chiến trường B2”. Khẩu hiệu hành động bất hủ đó xuất phất từ quan điểm chiến lược kết hợp tấn công và nổi dậy và từ thực tế đã diễn ra trên chiến trường từ trước, đưa ra đúng vào lúc ấy, đã tạo thành một sức mạnh ghê gớm. B2 đã làm kế hoạch mùa khô 1974-75 là dựa trên dự kiến, tự B2 phải tiến hành Tổng tấn công và nổi dậy ở Sàigòn, tự từng quân khu, từng tỉnh phải giải quyết chiến trường của mình, mà không đợi lực lượng của trên, nhưng có hợp đồng trong một kế hoạch chung chặt chẽ từ mục tiêu về thời gian, và dưới sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất của Trung ương. Kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy dự kiến của toàn B2, được xác lập trên những yếu tố quan trọng sau đây: Trước nhất phải đảm bảo không đánh đuổi địch từng huyện, không để cho địch co cụm chiến lược ở bất cứ vùng nào, ngay ở Sàigòn, hay ở đồng bằng sông Cửu Long, kể cả ở các đảo ngoài biển đông ngoài Vịnh Thái Lan như Gavin đã tính toán. Co cụm ở Sàigòn thì chúng tôi đã lo ngăn chặn dần từ trước không để địch xây dựng được những tuyến phòng thủ vững chắc và lần lượt phá dần thế có thể co cụm được quanh Sàigòn. Co cụm ở đồng bằng sông Cửu Long hay ở hải đảo thì biện pháp có hiệu quả hất là phải tấn công và nổi dậy kịp thời và mạnh mẽ của lực lượng quân sự, chính trị tại chỗ, và chia cắt chiến lược vùng đồng bằng ra nhiều mảnh, tiêu diệt địch từng khu vực một mà không cho chúng dồn về một nơi nào để cố thủ. Yếu tố thứ 2 là phải chia cắt, bao vây, cô lập quân địch cả về mặt chiến dịch và chiến đấu để tiêu diệt chúng không cho chúng tập trung lại, dựa vào nhau, chi viện cho nhau; đầu đuôi không cứu nhau được. Quân địch ở B2 tương đối đông bao gồm lực lượng của hơn hai vùng chiến thuật cộng với lực lượng của biệt khu thủ đô của chúng và lực lượng tổng trù bị. Phải đảm bảo quân địch nào ở đâu, cũng đều bị đánh cùng một lúc, nắm vững phương châm hai chân ba mũi, đánh bất ngờ, kịp thời và liên tục, dồn dập khắp mọi nơi cùng trong một thời gian nhất định. Thứ 3 là phải triệt hạ chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng. Trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, Mỹ ngụy dựa chủ yếu vào lực lượng không quân mạnh, khống chế bầu trời, chi viện hỏa lực mạnh từ trên không, cơ động bằng máy bay vận tải và trực thăng. Sau đó đến hải quân, các giang đoàn, cơ giới và pháo binh. Không có không quân chi viện mạnh thì quân ngụy sẽ mất tinh thần chiến đấu nhanh, dễ đi đến tan rã và đầu hàng. Ở B2 có ba sân bay lớn là chỗ dựa của chúng, là sức mạnh của chúng, đó là sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Lộ Tẻ ở Cần Thơ. Ngoài ra chúng phải dựa vào các tàu sân bay của hạm đội 7 Mỹ ngoài khơi. Phải có kế hoạch và có lực lượng đặc biệt bố trí sẵn từ trước, khống chế cho được ở mức tối đa ba sân bay này đi đôi với lực lượng phòng không bảo vệ bầu trời của ta. Yếu tố thứ 4 nằm trong trận tấn công và đầu não của địch, giải phóng Sàigòn, nơi được phòng thủ cứng nhất, mạnh nhát. Là một trung tâm chính trị, văn hóa, thương mại có nhiều đường bộ nối thông với khắp mọi miền đất nước. Quan trọng nhất là đường số 1 và đường xe lửa nối với Miền Trung, đường số 4 nối với đồng bằng vựa lúa và kho người và cũng là vùng 4 chiến thuật mà lực lượng quân sự còn tương đối mạnh. Lại có đường 15 và sông Lòng Tàu nối với Đại dương qua cảng Vũng Tàu, là hướng quân Mỹ vào cứu nguy hay hướng rút chạy của Ngụy về mẫu quốc. Là đầu não chỉ huy chiến tranh nên có đủ mọi đường giây liên lạc với các vùng, các đơn vị, cả với hạm đội 7 Hêu Kỳ. Muốn giải phóng Sàigòn, trước hết phải cô lập nó với xung quanh, không có đường co, đường chạy, không dựa vào đâu nhờ chi viện, bị bao vây không có lối thoát, chỉ hỗn loạn và tan vỡ. Yếu tố thứ 5 là đánh Sàigòn phải mạnh, nhanh, gọn, các mục tiêu trọng yếu phải bị chiếm hầu như cùng một lúc mới bảo đảm thắng lợi thần tốc làm cho địch không còn thì giờ sắp xếp lại việc phòng thủ, củng cố lại lực lượng, dựa được vào các cấu trúc phức tạp bên trọng, phá hoại, gây đổ nát cho thành phố, gây khó khăn cho bên tấn công. Lại còn vấn đề nữa là không để cho những tay phù thủy chính trị có thời gian, cấu trúc sân khấu, vá víu các con rối để làm phép ngăn chặn sự thắng lợi của cách mạng. Muốn vậy phải kết hợp chặt chẽ cuộc tấn công như vũ bão từ bên ngoài bằng nhiều hướng với sự đánh phá và nổi dậy từ khắp bên trong. Không thể để ta phải đánh từng đường phố, chiếm từng gian nhà, diệt từng mục tiêu. Bộ đội chủ lực mạnh từ nhiều hướng bên ngoài đánh vào, bộ đội đặc biệt và tinh nhuệ đánh các mục tiêu bên trong, quần chúng nổi dậy chiếm các đường phố, làm chủ các công sở, bảo vệ các nhà máy… Phải làm cho quân địch không còn một chút tinh thần nào, rã toàn bộ. Chúng ta đang làm một cuộc chiến tranh cách mạng ngay trong lòng đồng bào của ta: Đảng đã chỉ cho ta phải nắm vững chiến lược Tổng tấn công và nổi dậy. Có tấn công, có nổi dậy, có đánh ngoài vào, có đánh trong ra, đồng loạt. Đó là thần tốc. Để làm được như vậy, Trung ương cục, Thành ủy Sàigòn – Gia Định đã nghiên cứu bố trí từng chi bộ từng Đảng viên, đoàn viên, từng nòng cốt lãnh đạo, từng tổ quần chúng có tổ chức, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên khắp phố phường quan trọng, cơ sở quan trọng. Lực lượng võ trang được giao từng mục tiêu trong nội thành ra đến vùng ven, đã được rèn luyện và có truyền thống. Còn các binh đoàn chủ lực từ ngoài đánh vào thì thế nào? Nó rất quyết định cho thành công, cho nên phải mạnh và phải được tính toán thật chi li, ngay trong một trận đánh hợp đồng binh chủng trong chủ lực cũng phải có sự hợp đồng tất cả các chủ lực vũ trang và càng phải có sự hợp đồng giữa lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng có tổ chức và chưa có tổ chức. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:44:08 pm Kế hoạch dự kiến các binh đoàn chủ lực đánh vào từ năm hướng đó là căn cứ vào các mục tiêu trọng yếu nhất trong nội thành cần phải chiếm lĩnh nhanh hầu như cùng một lúc. Căn cứ vào tính chất và cách phân bố các mục tiêu ấy nằm trong thành và liên hệ với ngoại thành. Căn cứ vào địa hình địa vật xung quanh các mục tiêu, xung quanh thành phố. Căn cứ vào cách bố trí phòng thủ của địch và khả năng các bàn đạp xuất phát tấn công của ta… Trong năm hướng ấy thì hướng Tây bắc và hướng Bắc là thuận lợi hơn cả. Vì địa hình ở cả hai hướng ấy tốt, khô ráo, bằng phẳng, rộng rãi, tiện lợi cho triển khai các binh khí kỹ thuật, cho cơ giới, cho lực lượng lớn của chủ lực. Trong tấn công phải vượt qua đồng bưng Cầu An Hạ; sông Rạch Tra, Lái Thiêu, nhưng các đồng bưng này hẹp, dễ khắc phục. tuyến xuất phát tấn công tuy phải chiến đấu tạo ra trước cho hoàn chỉnh hơn, nhưng nó nằm ngay ven vùng căn cứ hậu phương rộng rãi của ta, thuận lợi cho cơ động và bố trí lực lượng, cho tiếp tế từ phía sau lên và liên lạc với hậu phương, với chỉ huy sở chiến dịch. Quân địch phòng thủ có chú ý nhiều đến 2 hướng này, vì tiếp giáp với căn cứ ta và chủ lực ta thường xuyên đứng ở đây. Chúng bố trí hai sư đoàn tương đối mạnh, nhưng bị phân tán ra cả chiều rộng và chiều sâu, không thành tuyến có công sự và nối liền bằng đồn bốt kiến cố vì đã bị ta phá thủng từ trước rồi. Các mục tiêu trọng yếu mà hai cánh quân này phải chiếm lĩnh không nằm sâu trong nội thành, đường tấn công không phức tạp.
Hướng đông thì địa lợi, nhưng nhân không hòa. Quần chúng có Tổ chức của ta còn yếu. Tung thâm tấn công hướng này sâu hơn các hướng khác vì phải đánh chiếm các mục tiêu lớn và cứng như sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa và đặc biệt là chỉ huy sở Quân đoàn 3 Ngụy là quân đoàn có nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng phòng thủ chủ yếu Sàigòn. Lại còn phải vượt qua hai con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sàigòn, tuy đường sá thuận lợi nhưng nếu địch phá các cầu thì rất khó mà tiến vào đến mục tiêu đúng thời gian. Các tuyến xuất phát tấn công ở đây xa với hậu phương căn cứ, việc tải lương thực, đạn dược gặp nhiều trở ngại. Hậu phương trực tiếp của cánh thì phải chiến đấu mở ra sớm mới tạo đường tải, xây dựng dự trữ hậu cần được. Vì hiện các vùng này địch còn kiểm soát. Hai hướng Tây và Nam là khó khăn phức tạp nhất. Địa hình ở cả hai hướng này trước khi đến và ngay cả ở tuyến xuất phát tấn công cho vào tới mục tiêu phải chiếm, đều thấp và lầy, bị nhiều sông rạch chia cắt. Đặc biệt là hướng Nam, quân đi bộ cũng không thoát ra khỏi đường lộ được, nói gì đến cơ giới, xe pháo. Nước ngọt cũng phải mang theo mới có uống. Xe pháo muốn đến triển khai ở tuyến xuất phát tấn công thì phải vừa đánh địch mở đường, vừa tổ chức các phà vượt hệ thống sông Vàm Cỏ. Tiếp tế từ hậu phương ra vừa xa, vừa trở ngại vì không có đường sá. Nếu không phải là những cán bộ và đơn vị hoạt động nhiều năm ở đây thông thạo địa hình, địa phương và địch thì không thể nào có thể khắc phục được những khó khăn nhiều mặt để thành những hướng tấn công có giá trị. Và khi đã khắc phục được những trở ngại để tấn ông thì trở thành những mũi tấn công rất bất ngời với địch và rất lợi hại, đảm bảo cho thành công nhịp nhàng của toàn chiến dịch. Hướng Tây và hướng Đông còn một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cho thắng lợi chiến dịch là phải bao vây cô lập hoàn toàn Sàigòn trước khi nổ súng tấn công vào trung tâm thủ đô Ngụy. Đó là cắt đứt quốc lộ số 4 nối Sàigòn và đồng bằng sông Cửu Long, cắt đứt đường số 1, và đường xe lửa ra Miền Trung, đường 15 và sông Lòng Tàu ra biển. Để đảm bảo cho cả năm hương tấn công đúng cùng thời gian vào Sàigòn, chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng nhứt cùng mọt lúc trong một kế hoạch chiến dịch hợp đồng chặt chẽ, trong khi mỗi hướng có điều kiện và các đặc điểm khác nhau xa như vậy, đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu từ trước, phải tiến hành trước hàng nhiều tháng trời một số công việc hết sức quan trọng. Đó là việc chuẩn bị lực lượng cho hướng Tây và Nam. Như trên đã nói, hai hướng này cần lực lượng quen thạo địa hình, quen hoạt động ở các vùng bưng lầy sông rạch… Đặc biệt là mang vác. Phải là những đơn vị quen chiến đấu ở địa hình phức tạp, điều kiện khó khăn, mang vác theo mình súng đạn lương thực, và chỉ được yểm trợ bằng pháo nhẹ. Chỉ có thể dùng ở đây các đơn vị được tổ chức nhẹ, gọn, từng trung đoàn, biết phân tán, tập trung linh hoạt, biết vượt sông bằng mọi phương tiện tại chỗ thậm chí không có phương tiện… Phải là những đơn vị quen sống với dân địa phương, biết kết hợp chặt chẽ với du kích và bộ đội địa phương, biết vận động nhân dân cùng chiến đấu và giúp đỡ bộ đội chiến đấu. Hướng Tây có thể dùng xe, pháo, thậm chí cả xe, pháo nặng nhưng phải quen thạo điều động xe pháo trên địa hình phức tạp, bí mật vượt sông ban đêm và ngụy trang khéo léo… Cả hai hướng này đòi hỏi phải chuẩn bị công phu các đường hành quân xa đến nơi trú quân, chuẩn bị nơi tập kết và tuyến triển khai xuất phát tấn công rất khó khăn, có khi xen kẽ với địch. Vấn đề dự trữ hậu cần cho hai hướng này cũng rất gian khổ cả trong công tác vận tải cũng như xây dựng kho tàng trạm xã quân y và tải thương… Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:48:51 pm Căn cứ vào kế hoạch dự kiến Tổng tấn công và Nổi dậy trên chiến trường B2 như vậy mà Bộ Tham mưu vạch kế hoạch mùa khô 1974-75 của B2 mở đầu từ tháng 12-1974, chia làm hai đợt:
- Đợt 1 từ đầu tháng 12-1974 đến đầu tháng 2-1975 - Đợt 2 từ đầu tháng 3 đến hết tháng 5-1975. Nội dung chủ yếu của kế hoạch mùa khô là tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng giải phóng dành nhiều dân về với cách mạng, mở rộng và hoàn chỉnh vùng căn cứ hậu phương và hành lang nối liền các chiến trường, đặc biệt là căn cứ chính Miền Đông và hai cánh đông tây Sàigòn, tiêu diệt từng tiểu đoàn, chiến đoàn quân ngụy, giải phóng quận lỵ, tiến lên có điều kiện thì giải phóng tỉnh lỵ, tiếp tục tạo thế tạo lực mạnh cho ta; thúc đẩy nhân sự suy sụp của ngụy và sẵn sàng tạo ra và nắm vững thời cơ giành thắng lợi. Các hướng và mục tiêu tấn công tiêu diệt địch mở rộng vùng giải phóng… đều phải phù hợp với kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy toàn B2 đã dự kiến như trên. Làm được như vậy, đạt được những chỉ tiêu đề ra cũng tức là tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho thắng lợi quyết định. Đồng bằng sông Cửu Long chọn trọng điểm số một tấn công địch là ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre. Hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh là vùng đất nắm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, ở trung tâm đồng bằng Cửu Long; có đường số 4 và sông Măng Thít là hai đường chiến lược bộ thủy chạy qua. Mở rộng vùng giải phóng và nắm dân ở đây đã tạo điều kiện cắt đứt lộ 4, làm chủ sông Măng Thít, khóa chặt hai bên phà Cần Thơ và Mỹ Thuận tức là cắt toàn bộ vùng đồng bằng cửu long ra làm ba mảnh, chặt vùng 4 chiến thuật địch ra làm nhiều đoạn cô lập nhau. Đây là đòn chiến lược đập tan ảo tưởng của Mỹ ngụy ngay từ sớm là co cụm chiến lược về đây để phả kích lại, khi bị thua nặng các nơi khác. Bến Tre là một tỉnh có địa hình tốt nằm sát với Gò Công, Cần Đước, Cần Giuộc. Thắng lợi của ta ở một bàn đạp tốt cho mũi tấn công vào Sàigòn từ hướng Nam. Để bảo đảm cho hướng tấn công phía Nam Sàigòn, Bộ tư lệnh Miền dự kiến tạo cho được hai hướng tiến quân một là từ vùng Long Định, Mỹ Tho qua Chợ Gạo, Tân Trụ, Tân An, rồi Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè. Hai là từ Bến Tre qua Gò Công và Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè đánh vào Quận 7 và 8… Cả 2 đường tiến quân này đều phải qua những vùng yếu của ta, địch đóng dày đồn bót, địa hình khó khăn, lại xa vùng căn cứ giải phóng. Vì vậy nếu không hoạt động tạo điều kiện sớm từ nhiều tháng và phải có những đơn vị thạo thì khó mà thực hiện được kế hoạch. Ngoài ra khu 9 còn trọng điểm 2 là phải mở rộng vùng căn cứ giải phóng U Minh lên hướng Cần Thơ để chuẩn bị việc khống chế sân bay Lộ Tẻ và đánh vào “Tây đô” chỉ huy sở Quân đoàn 4 của địch. Khu 8 lấy trọng điểm 2 là mở rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười sát ra lộ 4 để sẵn sàng cắt lộ 4 ra vùng đất Mỹ Tho và đánh diệt các sư đoàn 7 và 9 của Ngụy không cho chúng chi viện cho Sàigòn. Bộ tư lệnh Miền còn giao cho Quân khu 8 chuẩn bị các trung đoàn tham gia chiến dịch giải phóng Sàigòn từ phía nam vì chỉ lực lượng của khu 8 với sự tích cực chuẩn bị của Quân khu mới có điều kiện tiến hành mũi tấn công bất ngờ và lợi hại này. Miền cũng có dự kiến có thể điều hai trung đoàn của Quân khu 9 từ Trà Vinh lên tham gia tấn công phía Nam Sàigòn. Chủ lực của Miền, của Quân khu 7 và 6 phải đánh mở rộng hoàn chỉnh các vùng căn cứ, chuẩn bị cho các hướng bắc, Tây bắc, Đông và tây Sàigòn, bao vây cô lập và ép sát Sàigòn ngày càng chặt. Ngay từ đầu mùa khô phải giải phóng đường 14 từ Đòng Xoài lên giáp Quảng Đức là để mở rộng căn cứ của Miền về phía sau giáp Tây Nguyên và nối liền căn cứ Miền về phía đông Sàigòn tạo điều kiện mở đường và dự trữ vật chát kỹ thuật sẵn trước cho hướng này. Muốn giải phóng đường 14 thực hiện ý định nói trên thì phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt là Đồng Xoài và khi đã đạt được thì tỉnh lỵ Phước Long hoàn toàn bị cô lập, ta chỉ cần bao vây địch tại đó, chúng không còn tác dụng gì nữa. Nhưng nếu có điều kiện thì ta giải phóng luôn toàn tỉnh Phước Long làm cho căn cứ hậu phương ta hoàn chỉnh mà còn đạt được một tác động về tâm lý và chính trị rất có lợi cho ta. Lực lượng quân khu 6 và 7 có nhiệm vụ giải phóng các huyện Hoài Đức và Tánh Linh để tạo được một khu vực tập kết cho bộ đội và dự trữ lương thực đạn dược cho hướng tấn công phía đông Sàigòn vào chỉ huy sở quân đoàn 3 rồi vào Sàigòn. Sau đó hiệp đồng với lực lượng của trên cắt đường số 1, đường 20, 15. Lực lượng chủ lực của Miền còn phải mở rộng hành lang tây tỉnh Tây Ninh, giải phóng vùng Bến Cầu, Quéo Ba thuộc quận Đức Huệ và phía bắc quận Đức Hòa là nhằm tạo bàn đạp phong tỏa Sàigòn từ phía tây tạo khu vực và tuyến xuất phát tấn công từ cho hướng Tây. Phải diệt điểm núi Bà Đen là cao điểm khống chế toàn bộ phía Bắc, Tây bắc Sàigòn, là nơi quan sát các hành động trong vùng căn cứ của ta, là trung tâm thông tin chuyển tiếp của Quân đoàn 3 địch cho tất cả các lực lượng của chúng ở các hướng này. Phải mở rộng và hoàn chỉnh căn cứ của tra về phía trước, bằng cách diệt Bình Long, Chơn Thành, Dầu Tiếng, làm chủ đường số 26 Tây Ninh là để tạo vùng tập kết lực lượng và bàn đạp xuất phát tấn công cho hướng Tây Bắc và cả hướng bắc nữa. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:52:32 pm Kế hoạch mùa khô 1974-75 của toàn B2 như vậy thực chất là tiếp tục đánh sụp địch, thay đổi so sánh lực lượng có lợi hơn nữa cho ta, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định, là thiết thực chuẩn bị hoặc cũng có thể nói là bắt đầu vào những công việc cho Tổng tấn công và nổi dậy của chiến trường, tạo điều kiện cho trận tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch.
Quân và dân B2 bước vào hoạt động mùa khô là với sự nhận thức rất rõ về giai đoạn chiến lược quan trọng này, với lòng tin tưởng ở thắng lợi với quyết tân cao và tinh thần phấn khởi. bộ tư Lệnh Miền đã trực tiếp làm việc với từng quân khu, từng đơn vị, đã lần lượt duyệt kết hoạch của các nơi và kiểm tra sự chuẩn bị mọi mặt. Chưa bao giờ có một chiến cuộc được chuẩn bị chu đáo và công phu như vậy cả về mặt quân sự, cả về mặt chính trị, cả về lực lượng tấn công, cả về lực lượng nổi dậy, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương cục. Những công việc sôi nổi, bí mật, khẩn trương ấy tiến hành rất tích cực trong suốt mùa mưa 1974, một mùa mưa chưa từng có! Để động viên bước vào mùa khô mong đợi này, tháng 11-1974 Quân ủy và bộ tư lệnh miền đã gởi thơ cho tất cả cán bộ và chiến sĩ chủ lực địa phương, du kích – thơ động viên có đoạn viết: “… Quyết tâm lớn của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta là trong năm 1975 quyết giành thắng lợi thật to lớn, toàn diện, tạo bước ngoặt có ý nghĩa quyết định làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm cơ sở vững chắc tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”. “Đối với cả năm 1975, thắng lợi mùa khô 1974-1975 có tính chất quyết định”. “… Sống trên mảnh đất thiêng liêng Thành đồng Tổ quốc, quê hương đồng khởi Nam Kỳ, tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân, và bao chiến công rực rỡ, các đồng chí hãy tỏ rõ chí khí anh hùng, quyết ghi mùa khô 74-75 vào lịch sử bằng những chiến công thật chói lói. “Hãy vượt mọi gian khổ khó khăn, đạp lên đầu thủ xốc tới giành thắng lợi!...”(1) Cuối tháng 10, Trung ương Cục nhận được điện của Bộ chính trị gọi đồng chí Phạm Hùng và tôi ra Hà Nội dự cuộc họp của Bộ chính trị Trung ương Đảng cùng với đại diện các chiến trường toàn Miền Nam để bàn phương hướng kế hoạch sắp tới. Ngày 13-11, Đoàn lên đường. Cũng chính những ngày này, lực lượng toàn B2 cũng nhộn nhịp lên đường đến nơi tập kết bước vào chiến cuộc mùa khô theo kế hoạch. Tôi dặn dò đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh Miền thay thế tôi trong những ngày tôi vắng mặt, rằng ngoài các điện báo cáo ra bộ như thường lệ, hãy luôn điện cho tôi mọi việc diễn biến của toàn chiến trường. Tôi sẽ rất phấn khởi nhận được những tin thắng trận nhưng tôi sẽ càng chú ý theo dõi những gì khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch. Đồng chí Đức Anh còn nhắc tôi: “Anh ráng trình bày với Trung ương xin thêm lực lượng cho chiến trường ta, quân đoàn 4 vẫn què quặt, quá yếu, yếu nhứt trong tất cả các quân đoàn. Thế mà nó là chủ lực của chiến trường chủ yếu, không thể nào hiểu nổi”. Tôi hứa sẽ cố hoàn thành nhiệm vụ. Người đi, kẻ ở, ai nấy đều tràn đầy tin tưởng vào chiến thắng. Chúng tôi lại một lần nữa đi dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước, theo đường 559, đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng lần đi này nhanh hơn trước và ít vất vả hơn nhiều vì chúng tôi toàn đi bằng thuyền máy và xe hơi từ Lộc Ninh cho đến Hà Nội. Đường qua Miền đông Kampuchia, vượt Hạ Lào về đường 9 qua Cam Lộ, Đông Hà, ngang Khu 4 cũ rồi về Hà Nội. “Đường mòn Hồ Chí Minh” ngày nay không còn là đường mòn nữa rồi mà là một hệ thống đường xe hơi vận tải với nhiều được dọc đường ngang, chi chít, bổ sung bằng những đường sông Mêkông, sông SêKông… được tô điểm thêm bằng những đường giây trần thông tin sừng sững trước gió và đường ống xăng dầu men suối, lưng đèo. Đó đây, trạm xăng dầu, xưởng cơ khí, bãi đỗ xe, đoàn bộ, tấp nập hoạt động. Từ đồi này qua đồi khác, các trận địa pháo và tên lửa phòng không, ngụy trang khéo léo, nòng hướng lên trời ngạo nghễ uy phong. Khác xa rồi thời kỳ tháng 5 năm 1959, ngày khai sinh con đường mòn cho đến những năm đầu 1960, thời kỳ mà tôi còn phụ trách, giao cho đồng chí Võ Bẩm cùng một số anh em “chí cốt”, mò mẫm mở đường, đi phải lần từng bước, về không để một dấu vết, thế mà các đồng chí trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương luôn nhắc nhở dặn dò: “cần thận, bí mật, chắc ăn đấy nhé”. Đồng chí Thiếu tướng Võ Bẩm, một đảng viên cộng sản từ những năm 1930, quê Quảng Ngãi, ở Mỹ Lai ngay nơi từng ghi tội rác trời không dung đất không tha của Mỹ. Tinh thần giác ngộ cách mạng cùng với lòng yêu quê hương đã làm cho đồng chí có một quyết tâm sắt đá vững vàng như con người vạm vỡ chắc nịch của đồng chí. Trong những ngày đầu xuyên rừng khai phá, có biết bao gian truân vất vả. Lúc ấy không phải đường mòn mà là con đường không được để cho mòn. Mọi cái nặng nề còn nằm gọn trên lưng, trên vai và đôi chân dép cao su của chiến sĩ. Ngày nay ai qua “Đường Mòn Hồ Chí Minh” mà lòng không tràn đầy tin tưởng vào tương lai sáng lạn, không thấy được sự phát triển hùng hậu của con đường sống còn, lớn mạnh thần kỳ kiểu phù đổng thiên vương với cây tre Việt Nam nghìn đời bất diệt. Cây tre Việt Nam vẫn hiên ngang đứng vững dọc suốt con đường đã chiến thắng và sẽ mãi mãi chiến thắng mọi thế lực phản động, mọi bom đạn, chất độc hóa học, khí tài điện tử hay cả gì nữa sau này. (1) Hồ sơ lưu trữ Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:21:13 am CHƯƠNG NĂM GIAI ĐOẠN MỚI MỞ ĐẦU NHƯ THẾ ĐẤY Ra đến Hà Nội, trong lúc chưa họp Bộ chính Trị, tôi báo cáo tình hình B2 cho Bộ Tổng Tham mưu và nghe tình hình chung, tình hình các chiến trường khác. Tôi đã thăm dò về khả năng tăng cường thêm lực lượng và vũ khí phương tiện cho B2, điều mà tôi đang lo lắng nhiều, làm sao để chiến trường có thể đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay. Trong suốt dọc đường và ra đến đây, điều không thể dứt khỏi sự suy nghĩ của tôi là thời cơ hiện nay khá thuận lợi, chỉ cần thêm một số lực lượng thì chắc chắn B2 sẽ dành thắng lợi lớn và qua đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình của cuộc chiến tranh trên toàn Miền Nam. Đồng chí Lê Ngọc Hiền lúc ấy phụ trách tác chiến của Bộ tổng Tham mưu cho biết: Vũ khí đạn dược dự trữ của ta còn rất mỏng đặc biệt là vũ khí tấn công cỡ lớn, pháo và cơ giới. Vì vậy các anh cấp trên chỉ thị phải qui định hết sức chặt chẽ việc cấp phát và xử dụng. Phải lấy của địch mà đánh địch. Về lực lượng, đồng chí chỉ có thể cho biết số quân bổ sung sắp tới cho các chiến trường. Riêng B2 phải dành 40% số quân được bổ sung cho vùng đồng bằng sông Cửu Long với ý định là tăng cường mạnh lực lượng của tỉnh và huyện. Đi đôi đó, phải phát triển nhanh chóng dân quân du kích để cho lực lượng tại chỗ đủ sức đánh địch mà chủ lực quân khu có khả năng tập trung và cơ động nhiều hơn. Về kế hoạch năm 1975, đồng chí cho biết Bộ tổng tham mưu dự kiến lấy đồng bằng sông Cửu Long làm chiến trường chính, tập trung mọi nỗ lực để phá kế hoạch bình định của địch, dành dân, dành của về cho cách mạng, thay đổi một bước có ý nghĩa tương quan lực lượng có lợi cho ta. Miền Đông Nam Bộ chủ yếu mở hành lang liên hoàn đến các chiến trường và vây ép Sàigòn chặt hơn. Đòn chủ lực chỉ sử dụng ở Nam Tây Nguyên nhằm mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt và tiêu diệt sinh lực địch. Ta sẽ dành sức cho năm 1976, tiến hành đòn tiêu diệt chiến lược lớn, tiến lên tổng tấn công và tổng khởi nghĩa dành thắng lợi hoàn toàn. Năm 1975 sẽ chia làm ba đợt: - Đợt 1 từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975. Đợt này chỉ B2 hoạt động vì B2 đã có kế hoạch sẵn. - Đợt 2 là đợt toàn Miền từ tháng 3 đến tháng 6. - Đợt 3 từ tháng 8 trở đi là đợt hoạt động nhỏ để chuẩn bị cho năm 1976. Nghe phổ biến kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu như vậy, lòng tôi băn khoăn lo lắng là vì tinh thần và nội dung kế hoạch của B2 không phù hợp với kế hoạch của bộ tổng tham mưu. Quân ủy Miền và Trung ương cục chúng tôi nhận định tình hình chiến trường đã thay đổi rất cơ bản, thế ta đang lên, ta đang giành nhiều thắng lợi, thế và lực của địch đang đi xuống. Ngụy đang suy sụp. Không cho chúng gượng lại, không để cho Mỹ có thời gian vực chúng lên. Vì vậy năm 1975, ngay từ đầu mùa khô, cả Miền Nam phải đánh mạnh và nhất định sẽ thắng to, tạo ra thời cơ mới cho bước quyết định của chiến tranh. Kế hoạch mùa khô của B2 được xây dựng trên tinh thần đó đã báo cáo ra Trung ương và đề nghị với Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương có kế hoạch chỉ đạo phối hợp toàn miền Nam. Nay thì chỉ riêng chiến trường B2 hoạt động trong đợt 1, chắc chắn sẽ hạn chế thắng lợi và địch sẽ đối phó dễ hơn. Kế hoạch của Bộ tổng tham mưu năm 1975, chỉ đánh nhỏ, phá bình định, mở hành lang và ép Sàigòn, chuẩn bị cho năm 1976 mới đánh lớn. Tôi suy nghĩ thời cơ không dừng lại đợi chúng ta, nó sẽ qua đi và tình hình lại chuyển biến theo một chiều hướng khác khi không có tác động mạnh mẽ kịp thời của ta. Sau đó trong một buổi làm việc riêng với anh Lê Đức Thọ, anh nói với chúng tôi: “Tình hình đã rõ ràng, tương quan lực lượng rõ ràng, chiến trường cũng rõ ràng, không lật ngược được. Cần có quyết tâm chiến lược hai năm 1975-1976. Thời cơ năm 1976 là rất quan trọng. Cần hết sức đề phòng địch co cụm chiến lược lớn năm 1976. Dự trữ vật chất của ta còn rất kém nhất là vũ khí đạn dược. Tình hình trong nước và ngoài nước cũng rất phức tạp, ta khó mà tăng lượng dự trữ chiến lược lên được nhiều. Vì vậy ta cần phải hạn chế đánh trong năm 1975 để dành sức cho năm 1976 đánh lớn đạt thắng lợi quyết định. Phải có quyết tâm chiến lược năm 1976 rõ thì mới có hướng chỉ đạo kết hoạch và hoạt động trong năm 1975. Ta không nên và không thể kéo dài mãi cuộc chiến tranh”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:22:56 am Vì chưa phải thảo luận nên tôi chỉ trình bày ngắn ý kiến của tôi. Tôi rất đồng ý là địch sẽ cố co cụm chiến lược khi bị thua nặng, nhưng đề phòng việc này phải bằng nhiều biện pháp, tiến hành từ sớm mới được. Và không nên đặt vấn đề hạn chế đánh năm 1975 để dành sức cho năm 1976, mà ngược lại là phải đánh mạnh năm 1975 mới kết thúc thắng lợi chiến tranh năm 1976 được. Thời cơ đang đến cần nắm thời cơ để tạo thời cơ, ta không thể bỏ lỡ. Trung ương cục chúng tôi đã thảo luận và nhất trí như vậy, chúng tôi sẽ báo cáo kỹ với Quân ủy Trung ương và Bộ chính trị.
Tôi đã nghiên cứu các bức điện của chiến trường gởi cho chúng tôi. Qua điện báo cáo anh Lê Đức Anh tôi mới biết rằng chấp hành điện của anh Văn Tiến Dũng và của anh Ba(1) B2 đã điều chỉnh kế hoạch của chủ lực tức là không đánh Đồng Xoài, không dùng chủ lực lớn, pháo lớn và xe tăng mà chỉ đánh nhỏ thôi. Như vậy là cá quân khu 6, 7, 8, 9 và Sàigòn – Gia Định thuộc B2 vẫn hoạt động theo kế hoạch đã vạch ra lúc tôi còn ở nhà, có điều chỉnh một ít, chỉ riêng chủ lực của Miền vì không đánh lớn, không đánh Đồng Xoài nên chuyển lên đánh khu vực Bù Dăng hay Bù Na trên đường 14 quá về phía Bắc. Ngoài ra Bộ tổng tham mưu quyết định điều sư đoàn 7 và trung đoàn đặc công 429 của B2 lên chuẩn bị đánh vào Gia Nghĩa trong đợt 2 mùa khô (tháng 3/1975) để phối hợp với hướng chính của chiến dịch do Bộ tổ chức và chỉ huy là Đức Lập (nam Tây Nguyên). Tôi càng không yên tâm. Vì toàn bộ kế hoạch đợt một mùa khô của B2 là nằm trong ý định thống nhất toàn chiến trường không những liên quan chặt chẽ với nhau giữa các hướng đồng bằng và rừng núi, địa phương và chủ lực mà còn là chuẩn bị tích cực cho đợt 2 mùa khô và cả năm 1975. Điều chỉnh lại kế hoạch và điều động lực lượng như vậy sẽ làm cho kế hoạch của B2 khập khiễng và địch sẽ có điều kiện phản ứng mạnh, nhất là đối với vùng đồng bằng. Vì sao như vậy? Xây dựng kế hoạch chiến cuộc mùa khô 1974-1975 của B2, chúng tôi dựa trên sự nhận định đánh giá tình hình chung giữa ta và địch, thực hiện một bước quan trọng ý định của một giai đoạn chiến lược như phần trước đã nói rõ. Muốn giành thắng lợi ở các hướng chiến trường B2 như ta dự định, kế hoạch phải có những biện pháp kèm chân địch chặt chẽ, không cho chúng tự do cơ động lực lượng đối phó nơi chúng muốn, phải đánh lạc hướng địch, phân tán địch. B2 chúng tôi có hai sư đoàn mạnh là sư đoàn 9 và sư đoàn 7 đã từng lập nhiều chiến công đánh ngụy đánh Mỹ ở Miền đông Nam Bộ. Đặc biệt là sư đoàn 9 là sư đoàn chủ lực đầu tiên của Miền Nam đã trải qua một đoạn đường dài từ Bình Giã, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Tết Mậu Thân, Lộc Ninh cho đến nay. Địch luôn theo dõi hành động của hai sư đoàn này và qua đó mà phán đoán ý đồ và kế hoạch hoạt động của ta. Trong đợt đầu mùa khô, chúng tôi chỉ xử dụng một bộ phận sư đoàn 7 và các trung đoàn chủ lực lẽ khác, bộ phận còn lại của sư đoàn đứng yên phía Tân Uyên, Phú Giáo thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Sư đoàn 9 thì đứng ở Long Nguyên Bến Cát chưa hoạt động nhưng có những hành động nghi binh nhằm kèm lực lượng quân đoàn 3 ở vùng truyng tuyến và vùng ven Sàigòn không cho chúng điều động đi nơi khác, nhất là phản ứng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào sự phán đoán của địch là mùa khô này ta sẽ đánh giải phóng tỉnh Tây Ninh để lấy thị xã Tây Ninh làm thủ đô của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi dùng biện pháp nghi binh nhằm làm cho địch tưởng dự đoán của chúng là đúng để chúng kẹt lực lượng lo phòng thủ ở đây. Trong lúc đó, chúng tôi sử dụng một trung đoàn của sư đoàn 7 được tăng cường một đại đội xe tăng, hai đại đội pháo lớn, bất ngờ diệt điểm Đồng Xoài và các trung đoàn 271 và 201 cùng địa phương giải phóng đường 14 thuộc phạm vi của quân đoàn 3 địch. Chúng tôi đã cho một trung đoàn khác của sư đoàn 7 bố trí ngăn chặn trên đường bộ độc nhất từ Phước Vĩnh lên Đồng Xoài và dự kiến kế hoạch sẵn sàng diệt địch phản ứng cả bằng đường không. Điểm Đồng Xoài là then chốt của toàn bộ tỉnh Phước Long cũng như của đoạn đường 14 này vì nó là yết hầu, là cửa ngõ, là con đường sống, nối toàn tỉnh với các vùng của Quân đoàn 3 Ngụy. Mất Đồng Xoài thì bộ phận còn lại của tỉnh Phước Long và đường 14 bị cô lập, khốn đốn về tiếp tế từ mọi mặt cho một tỉnh miền núi nghèo lương thực thực phẩm. Mục đích giải phóng đường 14 của ta là để mở đường hành lang về phía đông vận tải vũ khí đạn dược, lương thực dự trữ ở căn cứ Khu A và đông đường 20. Hành lang này phải qua Đồng Xoài hay sát đấy về phía Bắc. Không giải phóng được Đồng Xoài thì hành lang vẫn bị hạn chế như từ trước, nghĩa là mục đích của kế hoạch không đạt. Ta chiếm được điểm Đồng Xoài thì quân địch bị khốn quẫn ở Phước Long, tạo điều kiện để ta giải phóng toàn tỉnh nếu cần. Như vậy Đồng Xoài chỉ là một điểm, một quận lỵ, một chi khu tương đối kiên cố, nhưng điểm đó lại là một khâu trong toàn bộ kế hoạch thống nhất của B2 vào mùa khô, một trận mở đầu bất ngờ đối với địch và gây phấn khởi cho lực lượng vũ trang của ta. Nay nếu không đánh Đồng Xoài, không mở được đường hành lang về phía đông, lại điều sư đoàn 7 đi khỏi chiến trường thì rõ ràng kế hoạch của B2 bị ảnh hưởng không nhỏ. Chính vì vậy mà tôi lo lắng nhiều. Tôi vội vàng báo cáo rõ mọi suy nghĩ với anh Phạm Hùng và anh Hai Văn(2). Anh Hai Văn đang có mặt ở Hà Nội nên đã nhập vào đoàn B2 thành ra đoàn chúng tôi gồm có 3 người. Chúng tôi đề nghị họp với Quân ủy Trung ương và Bộ tổng tham mưu để trình bày rõ ý kiến chúng tôi, xin giữ kế hoạch cũ và không điều sư đoàn 7 lên Tây Nguyên. Cuộc hộp được tiến hành ngày 3 tháng 12. Tôi đã cố gắng trình bày kế hoạch mùa khô của B2 với mọi lý lẽ, cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, có lẽ không được hùng biện nhưng rõ ràng và tha thiết vì lợi ích riêng của chiến trường cũng như lợi ích chung toàn cục. Có đồng chí chất vấn: Đánh Đồng Xoài, nếu địch đưa lên một sư đoàn để phản ứng lại thì sao? Có thể buộc ta lại phải dùng toàn bộ cả hai sư đoàn 7 và 9 để diệt viện và như thế là kẹt cả chủ lực ta vào ngay đầu mùa khô. Tôi đã trình bày kỹ về trạng thái ta và địch trên toàn chiến trường, mọi phán đoán về địch khi làm kế hoạch, mọi biện pháp đảm bảo thắng lợi, đảm bảo tính chủ động của ta, và khẳng định rằng địch, nếu cố gắng phản ứng cũng chỉ có thể đưa tối đa lên Đồng Xoài không quá 1 trung đoàn. (Sự thực về sau này khi ta đánh Đồng Xoài, địch không đưa lên được một đơn vị nào để cứu nguy, ngay khi đánh tỉnh lỵ Phước Long địch cũng chỉ đưa lên được khoảng trên 200 lính biệt kích dù của lữ 81). Sở dĩ tôi dám khẳng định như vậy và không sai với thực tế vì chúng tôi ở B2 đã nắm chắc địch và hiểu rõ địa hình, biệt địch phải lên Đồng Xoài, Phước Long bằng đường nào, khả năng lực lượng và khả năng không vận của chúng, khả năng và phương páp ngăn chặn và đánh diệt của ta. Tôi tin ở sự thành công của kế hoạch kèm giữ địch ở Sàigòn của chúng tôi. Mỗi người chỉ huy quân sự ở một chiến trường khi trình bày và báo cáo với cấp trên đòi hỏi phải có tinh thần trách nhiệm cao, phải chính xác, rõ ràng và dứt khoát. (1) Tức là đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư. (2) Tức anh Phan Văn Đáng, thường vụ Trung ương cục. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:23:32 am Tôi đã yêu cầu không điều sư đoàn 7 lên Tây Nguyên vì trong giai đoạn chiến lược hiện nay, chúng tôi cho rằng cần phải điều thêm lực lượng từ các chiến trường khác về Miền Đông Nam Bộ, áp sát Sàigòn chớ không phải điều lực lượng ngược lại, đi xa Sàigòn. Vấn đề này hoàn toàn không phải là cục bộ địa phương mà là vì lợi ích của giai đoạn chiến lược của năm 1975. Nếu vì cần quá cho kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu thì tôi đồng ý điều trung đoàn đặc công 429 lên Gia Nghĩa cũng đủ. Trong hội nghị này các anh đã đồng ý không điều sư đoàn 7 mà chỉ điều trung đoàn 429. Tôi rất vui mừng và thầm cảm ơn sự chú ý đến ý kiến cấp dưới. Còn đánh Đồng Xoài thì chưa giải quyết ngã ngũ. Nhiều anh đã đưa ra nhiều lý lẽ nhưng chưa kết luận:
- Dùng chủ lực ta phải chủ động, đừng để địch kéo ta, tiêu hao và làm kẹt lực lương ta. - Ta đánh cốt tiêu diệt sinh lực địch mà chưa cần giữ đất trong giai đoạn này nên không cần đánh Đồng Xoài. - Tình hình năm 1975 chưa có gì khẩn trương, hãy chững chạc, không đánh Đồng Xoài làm gì. - Quyết tâm chiến lược chung năm 1975 là đồng bằng, Gia Nghĩa, hành lang, Trị Thiên – Đà Nẵng. - Phải có đòn tiêu diệt lớn lực lượng của địch thì mới có thay đổi tương quan có lợi cho ta, mới có chuyển biến tình hình. Anh Phạm Hùng đã tỏ ra không đồng ý với các lỹ lẽ trên. Anh phát biểu: “- Đây không phải chỉ là vấn đề Đồng Xoài mà là cả kế hoạch của B2. Nếu thay đổi sợ ảnh hưởng đến đồng bằng, ảnh hưởng đến phương hướng chung. Ta cần nắm vững rằng trong cuộc chiến tranh này ta đánh địch bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, ta tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, tiến lên Tổng tấn công và Tổng nổi dậy. Do đó phải căn cứ nhiều điều kiện, phải có nhiều phương thức làm chuyển biến tình hình, không nhất thiết phải có tiêu diệt sinh lực lớn của địch mới có chuyển biến. Ví như khi ta nắm được mấy triệu dân và làm chủ trên chiến trường cỡ nào cũng là một yếu tố quyết định. Lực lượng quân sự địch còn đông không phải là một dấu hiệu của sự vững mạnh. Chúng ta cần trước tiên thống nhất với nhau về nhận định và đánh giá tình hình hiện nay trên chiến trường, ta đang ở vào giai đoạn nào, rồi mới nói được là nên hoạt động ra sao…” Sau cuộc họp này, anh Phạm Hùng, anh Hai Văn và tôi đã trao đổi nhiều lần về đánh giá tình hình, đánh giá giai đoạn chiến lược hiện nay, về kế hoạch chung và riêng của B2, dựa trên cơ sở những thảo luận của Trung ương cục trước khi đi, để chuẩn bị cho cuộc họp của Bộ chính trị sắp tới. Tôi suy nghĩ trong chiến tranh, thực hiện được đòn tiêu diệt sinh lự lớn quân địch trong một vài trận đánh hay một vài chiến dịch là một yêu cầu thực sự để làm chuyển biến tình hình. Điều ấy hoàn toàn đúng nếu không nói là điều kiện duy nhất trong một chiến tranh thông thường. Nhưng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Mỹ xâm lược này nay, đường lối của ta không phải là cho một cuộc chiến tranh qui ước thông thường. Tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân tự đứng lên quyết định vận mệnh của mình, đảng ta đã chủ trương một cuộc chiến tranh cách mạng kết hợp với khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Ta phải dùng lực lượng quân sự kết hợp với lực lượng quần chúng nhân dân. Ta đánh địch bằng cả vũ trang và bằng cả chính trị, binh vận. Ta phải tiến hành song song tấn công và nổi dậy đi đến Tổng tấn công và Tổng khởi nghĩa. Tính chất của cuộc chiến tranh của ta vừa là chống quân xâm lược từ ngoài vừa là nội chiến chống bọn quân phiệt, mại bản trong nước. Chính vì vậy mà lực lượng nhân dân giác ngộ cách mạng là một sức mạnh đáng kể, một đòn cân chiến lược có giá trị. Cương lĩnh cách mạng của Mặt trận dân tộc giải phóng của ta đã là một hiệu triệu, một ngọn cờ, một tập hợp quần chúng xông lên xây dựng cuộc đời mới: tự do độc lập và ấm no hạnh phúc. Đó là sức mạnh, là một yếu tố thắng lợi không chỉ có tác dụng chuyển biến tình hình. Về chiến lược đã vậy về chiến dịch, chiến thuật cũng không phải như trong chiến tranh thông thường. Hàng chục năm đánh Mỹ và đánh Ngụy ta đã luôn luôn tìm tòi suy nghĩ, thực nhiệm bằng xương máu và thay đổi cho thích hợp cách đánh thế nào cho có hiệu lực nhất mà đỡ tốn xương máu, gạo đạn… hầu ta có thể đánh dài ngày nếu cần và tạo ra thắng lợi quyết định trong từng thời gian tương đối ngắn. Ta không đánh theo cách đánh của địch mà buộc địch đánh theo lối đánh của ta. Ta không thi đua với địch về vật chất kỹ thuật, đơn thuần về sức mạnh quân sự mà là về ý chí quyết tâm, về trí thông mình và lòng dũng cảm, về sự khéo léo và đức tính kiên trì, về lực mà cả về thế. Lòng yêu nước và ham muốn tự do, hạnh phúc của nhân dân ta phải thắng dã tâm nô dịch và bóc lột của Mỹ, Ngụy. Vì vậy mà nếu cứ suy nghĩ theo lối cũ, chỉ hiểu theo cách đã hiểu trước đây, bước theo đường mòn từng quen thuộc, thì không phù hợp tí nào với những hiện tượng mới, với một cuộc chiến tranh mới, nó không lặp lại nguyên xi cuộc chiến tranh trước đây. Nếu Trung ương Cục và Bộ tư Lệnh Miền (B2) chúng tôi nhận định rằng ngụy sau mùa khô 1974, trên toàn bộ chiến trường Miền Nam đã có một sự chuyển biến rõ rệt rồi, ta thắng và đi lên, địch bại và đi xuống, để rồi chủ trương phải liên tục tấn công, và làm mọi công tác trung mùa nưa chưa từng có, và cũng để rồi, vạch ra một kế hoạch toàn diện cho mùa khô 1974-75 và cả năm 1975, giành thắng lợi quyết định, thì do hoàn toàn không quan niệm rằng chỉ khi nào có đòn tiêu diệt sinh lực địch lớn mới có chuyển biến tình hình. Sự chuyển biến tình hình ở đây rõ ràng do rất nhiều yếu tố, vũ trang và chính trị, lực lượng quân sự và lực lượng nhân dân, vật chất và tinh thần, trong nước và ngoài nước, cả phía địch và phía ta, thế và lực. Đến một cái gút nào đó thì lượng sẽ biến thành chất. Chỉ đạo phải nhạy bén thấy được cái gút ấy hiểu ra cái chất đã hình thành, không phải cứ đợi hay cố tạo cho được đòn tiêu diệt lớn rồi lúc đó mới có chuyển biến. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:25:40 am Rồi một hôm, sau bữa ăn chiều, tôi đang đi bách bộ ngoài hành lang vừa suy nghĩ miên man thì chuông điện thoại reo. Anh Phạm Hùng rủ tôi, tối nay đến thăm anh Ba ở nhà riêng anh ấy. Tôi vui mừng, đồng ý ngay và hẹn giờ đến nhà anh để cùng đi. Từ hôm ra đến nay, công việc bận rộn, nhiều lo nghĩ, tôi chưa có dịp gặp anh Ba. Đúng mười chín giờ rưỡi, anh Hùng và tôi tới. Anh Ba đã ra cửa, tươi cười đón chúng tôi và kéo vào phòng khách. Anh có vẻ khỏe mạnh, lanh lẹ và rất vui. Không đợi chúng tôi hỏi thăm sức khỏe của anh, anh đã hỏi chúng tôi ra đây, thay đổi thời tiết, có ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Rồi anh hỏi thăm luôn về các anh trong Trung ương cục, trong quân ủy Miền và một số anh ở khu, tỉnh mà anh biết. Nhưng đó cũng chỉ là mở đầu câu chuyện, sau đó anh nói ngay vào những công việc, đang làm bận rộn đầu óc của mọi người – Đây cũng là đặc tính của anh, khi gặp gỡ cán bộ - Anh nói, nói liên tục, nói nhiều như muốn giải thách căn kẽ cho cán bộ hiểu rõ, hiểu sâu, nhớ kỹ. Có khi trong hội nghị, cán bộ nào đó mới đứng lên phát biểu được một câu gợi ra một ý mà anh chú tâm, thì anh nói luôn nhiều lúc tới 5-7 phút mới dứt, để cho cán bộ kia lại tiếp. Anh nói: “Tình hình tốt lắm, ta thắng nhiều. Ta thắng là vì ta mạnh. Mạnh từ chính trị, từ quân sự, từ nông thôn, từ thành thị, từ người dân, từ cách đánh, đánh kiểu chủ lực, kiểu du kích, kiều đặc công, kiểu đội quân phụ nữ tóc dài vân vân… Phải tổng hợp như vậy mới thắng được. Tổng hợp về chiến lược, về lực lượng, về phương pháp cách mạng. Mỹ đánh ta là chúng sử dụng chiến lược toàn cầu, nó đánh ta và cả phe xã hội chủ nghĩa. Ta cũng phải sử dụng chiến lược toàn cầu. Độc Lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau. Ta phải sử dụng lực lượng tổng hợp chung toàn Việt Nam và cả thế giới. Ta phải dùng phương pháp cách mạng tổng hợp cao nhất, tấn công và nổi dậy; nổi dậy và tấn công, lực lượng chính trị và lực lương quân sự, chủ lực, địa phương, du kích, đánh cả ở ba vùng ba mũi giáp công. Đó là khoa học. Có đường lối đúng phải có phương pháp đúng là như vậy.
“Về quân sự trong giai đoạn này phải suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ mãi, suy nghĩ cho sáng vấn đề. Năm 1975, ta thắng thế nào? Trong năm 1975 có diễn biến gì về chính trị, về quân sự? Trong đó các anh đã tiêu diệt chi khu được chưa? Có giữ được Rạch Bắp không? Miền đông bố trí ra sao? Trong giai đoạn này khác với hai năm trước về bao vây Sàigòn thế nào? Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi. Trong giai đoạn này đánh thế nào? Tiêu diệt và làm chủ, làm chủ và tiêu diệt ra sao? Ta đánh tiêu diệt toàn bộ hay đánh cho tan rã toàn bộ?”. Anh nói có tính chất giải thích và đặt một loạt những câu hỏi mà không cần phải trả lời, có lẽ anh cố nêu lên, khêu gợi và hướng dẫn để cán bộ phải suy nghĩ, cố tự giải đáp cho đúng. Nhưng qua đó tôi chú ý là anh quan tấn vấn đề giữ Rạch Bắp, phá co cụm phòng ngự cứng của địch ở Sàigòn. Anh lo về việc bố trí lực lượng ta ngay ở Sàigòn và vây Sàigòn, hình thành một thế trận tấn công vững vàng. Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi, phải, tôi rất thấm thía về câu nói ấy. Tri túc, mưu lược, dũng cảm, công phu là ngay từ việc tổ chức và bố trí lực lượng hình thành thế trận chiến lược vững chắc rồi mới nói đến đánh thắng giặc. Binh pháp Tôn Binh thời chiến quốc của nước Trung Hoa xưa cũng rất chú trọng về bố trí đội hình, sắp xếp lực lượng. Binh pháp ấy đã ghi: “Người làm tướng chỉ đạp lên đỉnh cao của nghệ thuật quân sự khi biết sắp xếp đội hình thế nào để phát huy được sức mạnh lớn nhất của lực lượng sẵn có trong tay mình: biết thay đổi cho phù hợp với những tình huống diễn biến khác nhau và biết lợi dụng thời cơ làm cho quân địch bị chia cắt, phân tán, mạnh trở thành yếu và nhiều hóa ra ít”(1). Người làm tướng thời nay, một thời đại cách mạng và khoa học, có sự lãnh đạo của Đảng Macxit Lêninít không những phải biết sắp xếp đội hình hợp lý nhất lực lượng có trong tay mà còn phải biết tạo ra lực lượng tổ chức ra nhiều kiểu lực lượng với nhiều kiểu cách đánh, phải biết kết hợp mọi thứ lực lượng quân sự với cả lực lượng chính trị của quần chúng, lực lượng trong nước và lực lượng ngoài nước, không phải chỉ biết sắp xếp đội hình đánh địch ở phía tước mà cả ở phía sau địch, ngay trong lòng địch. Khoa học quân sự cách mạng ngày nay đã phát triển cao hơn nhiều. Nhân lúc anh Hùng nói về triển vọng ta thắng lợi nhiều trong mùa khô này vừa dừng lại, tôi hỏi anh Ba: “Vừa rồi anh điện vào không cho đánh Đồng Xoài vì nguyên do thế nào?”. Anh trả lời: “Bộ Tổng tham mưu báo cáo với tôi là các anh tung cả chủ lực ra đánh ngay từ đầu mùa khô. Đánh Đồng Xoài và tiếp theo một loạt các trận đánh lớn khác, như vậy là không phù hợp. Cần phải đánh thế nào để giữ cho giai sức, trong tình hình hiện nay phải luôn nắm trong tay một lực lượng sung sức để khi có thời cơ, anh mới có điều kiện giành thắng lợi”. Tôi lại trình bày với anh về ý định của chúng tôi và về cách xử dụng lực lượng. Tôi nói: trong đợt đầu mùa khô chúng tôi vẫn nắm vững một lực lượng dự bị mạnh là sư đoàn 9 và một số trong đoàn khác. Anh Hùng nói thêm vào: “Đánh Đồng Xoài không cần lực lượng lớn đâu và chúng tôi chắc thắng, chúng tôi cũng đã cân nhắc kỹ”. Anh Ba nói: “Nếu đúng như vậy thì cứ đánh chớ có vấn đề gì đâu”. Tôi tưởng tai mình nghe không rõ, liền hỏi lại cho chắc: “Như vậy anh cho chúng tôi giải quyết Đồng Xoài để có hành lang về phía Đông như kế hoạch chúng tôi đã dự định?” Anh nói: “Nhưng phải chắc thắng và không xử dụng lực lượng lớn”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi sung sướng quá, chỉ mong về ngay để viết điện chỉ đạo chiến trường cho kịp. Ngay tối hôm ấy tôi đã thảo điện về để anh Hùng, anh Hai Văn duyệt, ký gởi cho Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền bảo cứ thực hiện đúng như kế hoạch đã định, tức mở đầu mùa khô của chủ lực bằng trận đánh Đồng Xoài. Nhưng không kịp nữa rồi. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ tư lệnh B2 đã điều chỉnh kế hoạch không đánh Đồng Xoài mà chỉ dùng lực lượng nhỏ đánh một số điểm nhỏ trên đường 14 vùng Bù Đăng hay Bù Na thôi. Bây giờ không trở lại kế hoạch cũ được nữa. Điện anh Lê Đức Anh ngày 6-12 báo cáo: “Hôm nhận điện anh Ba, chúng tôi họp quân ủy, điều chỉnh kế hoạch, sắp xếp lại đội hình chiến đấu, điều động xe tăng và pháo 130 ly trở về căn cứ, giải quyết tư tưởng cho bộ đội v.v…. Vì vậy đến ngày 12 hướng đường 14 mới nổ súng được. Trong khi đó thì toàn bộ B2 nổ súng vào đêm 6 rạng ngày 7-12. Nay nếu trở lại kế hoạch cũ thì cũng phải sắp xếp đội hình, điều động xe tăng và giải thích cho bộ đội, v.v… Được chỉ đạo của Thường vụ trung ương Cục là cứ nên thực hiện kế hoạch điều chỉnh và không lùi ngày tấn công lại. Chúng tôi thực hiện như điện ngày 5-12 đã báo cáo về Bộ, Anh Bảy(2), Anh Tư(3)”(4). (1) Tạp chí “Air University Review” 1980, tháng 7, 8. (2) Tức Anh Phạm Hùng. (3) Tức Trần Văn Trà (4) Hồ sơ lưu trữ Ban tổng kết B2 thuộc Bộ Quốc Phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:30:22 am Trước đó, khi tôi đã đi khỏi chiến trường, ngày 16-11, thay mặt Bộ tư lệnh B2, anh Sáu Nam tức Lê Đức Anh đã điện báo cáo ra Bộ:
“Nhận điện ngày 24-10 của anh Dũng, xin báo cáo trước một số điều mà Bộ cần biết gấp. “…… giành thắng lợi tốt trong đợt đầu của mùa khô sẽ tạo thêm điều kiện giành thắng lợi to lớn suốt mùa khô, cả năm 1975, nếu để qua đợt 2 mới tấn công mạnh thì thắng lợi cho cả năm 1975 sẽ bị hạn chế. Vì vậy đề nghị Bộ chấp thuận kế hoạch mà chúng tôi đã dự định… “Mọi việc sẽ có người (chỉ anh Phạm Hùng và tôi)(1) trực tiếp báo cáo cho kỹ với Bô”(2). Ngày 18-11 anh Sáu Nam lại điện báo cáo: “… tiếp nhận được điện 484, của anh Dũng có ý kiến của anh Văn(3) nay nhận được điện 491 của anh Ba. Chúng tôi trao đổi thấy rõ là vì chưa nắm được ý định và kế hoạch lớn của Trung ương và Trung ương Quân ủy đối với chiến trường B2 liên quan tới cả chiến trường Miền Nam. Trước mắt chúng tôi chấp hành chỉ thị của trên, điều chỉnh kế hoạch như sau: “1/ - Đối với khối chủ lực Miền: - Trong đợt 1, chủ lực tác chiến nhằm tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút, kềm căng địch để chúng không thể tập trung về đồng bằng và vùng ven, hỗ trợ địa phương giữ lúa, bung dân ra, đồng thời tiếp tục củng cố huấn luyện giữ sức để về đợt 2 có thể hoạt động mạnh theo yêu câu phối hợp chiến trường chung như Trung ương chỉ đạo…… Trong khi đó tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2 cao điểm nhất, như chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội đánh điểm theo phương hướng sử dụng pháo mang vác, cao nhất là pháo 85 bắn thẳng, không xử dụng xe tăng, pháo 130 ly. “Xin báo cáo một số điều chính trong kế hoạch đợt 1, đợt sau khi anh Hai Nhã(4) về và anh Tư(5) ra báo cáo, Bộ chỉ đạo thêm chúng tôi sẽ bổ sung. “Nhưng đề phòng trường hợp anh Tư có thể ra chậm hơn và anh Hai Nhã về chưa kịp, đề nghị Bộ có chỉ đạo gì thêm để chúng tôi triển khai cho kịp”(6). Có vấn đề đợi anh Hai Nhã về nêu trong điện là như sau: Anh Hai Nhã kể lại: “- Vào tháng 11 năm 1974, sua khi ra khỏi bệnh viện 108 ở Hà Nội, tôi chuẩn bị đi an dưỡng ở bờ biển Sầm Sơn. Anh Lê Ngọc Hiền đến gặp tôi, hỏi thăm sức khỏe và nói Bộ đang cần người có trình độ và tin cẩn để mang mệnh lệnh về B2 và báo cáo một số tình hình về kế hoạch năm 1975. Liệu anh có đủ sức khỏe để về không? Tôi rất vui mừng được về ngay chiến trường tham gia chiến đấu nên báo là đảm bảo đủ sức để nhận nhiệm vụ quan trọng này. Anh Hiền nhận lời và bảo tôi, tối mai đến gặp anh Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng. Y hẹn tôi đến thì anh Tấn nói: “Cần anh về B2 ngay, mang chỉ thị về kế hoạch năm 1975 và ý định của Quân ủy Trung ương. Trong khi các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà sắp ra. Nhưng có điện cho các anh không ra nữa. Vì đã có anh về báo cáo quyết tâm của ngoài này. Kế hoạch năm 1975 không chủ trương đánh lớn mà giữ vũ khí đạn dược, giữ lực lượng, lo huấn luyện để chờ thời cơ 1976…”. Anh Tấn và anh Hiền nói cụ thể các ý kiến để tôi ghi nhớ để báo cáo lại. Và bảo tôi, sáng mai đên gặp anh Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ và chỉ thị. (1) Tác giả ghi chú. (2) Hồ sơ lưu trữ của Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng. (3) Đồng chí Võ Nguyên Giáp. (4) Đ/c Thiếu tướng Lương Văn Nho. (5) Trần Văn Trà (6) Hồ sơ lưu trữ tại an Tổng kết chiến tranh B2 – Bộ Quốc Phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:36:56 am Sáng ngày sau tôi đến gặp anh Dũng tại “Nhà Con rồng” tức là nơi làm việc lúc ấy của Quân ủy Trung ương và Bộ quốc Phòng trong nội thành Hà Nội. Sau khi hỏi về sức khỏe của tôi, anh hỏi tôi đã nắm rõ nhiệm vụ chưa? Tôi báo cáo rằng anh Tấn và anh Hiền đã phổ biến cụ thể rồi. Tôi đã nắm được. Anh bảo tôi nói lại toàn bộ xem ó hiểu rõ không. Tôi lại báo cáo lại từ đầu chí cuối, mấy nội dung chủ yếu là:
“Tôi về ngay mang chỉ thị của Bộ về cho B2, anh Hùng và anh Trà khỏi ra nữa. “Năm 1975 không đánh lớn chỉ lo phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở Miền Đông, chủ lực không đánh lớn. B2 định đánh Đồng Xoài, Phước Long, nhưng Bộ không đồng ý mà chỉ đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ là để tích lũy lực lượng chờ đời thời cơ. Không sử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ tổng tham mưu duyệt từng trường hợp.” Anh Dũng nói: “Anh hiểu như vậy là đúng rồi! Phải giữ lực lượng chờ cơ. Năm nay chỉ đánh ở đồng bằng, phá bình định. Đạn dược nhất là pháo lớn ta còn kém lắm. Không nên đánh lớn rồi khi có thời cơ không có lực lượng mà đánh. Anh phải hiểu rằng cán bộ tham mưu như các anh phải có trách nhiệm đề đạt ý kiến với Tư lệnh, chứ không phải chỉ có Tư lệnh chịu trách nhiệm đâu. Như vậy là anh đã quán triệt được ý kiến cấp trên rồi. nhưng tôi sẽ viết điện y như nội dung này để anh Ba ký gởi về trước trong ấy”. Tôi đã mang cả bức điện ấy của anh Ba (tức điện số 491 nói trong điện của anh Sáu Nam gởi ra Bộ đoạn trên đây) về và giao lại cho anh Sáu Nam và Hai Lê(1)”. Sự việc xảy ra là anh Phạm Hùng và tôi chưa nhận được điện báo, nên đã lên đường đúng ngày đã định và trên đường đi, may thay! Lại không gặp anh Hai Nhã. Vì nếu gặp có lẽ chúng tôi phải phân vân đôi chút giữa đi tiếp và trở lại rồi. Tuy vậy ngay từ tháng 10, chúng tôi đã đề nghị được họp với Bộ chính trị và toàn bộ chiến trường Miền Nam thì bây giờ dù có gặp anh Hai Nhã, truyền đạt lại ý kiến quân ủy Trung ương như vậy và báo đừng ra, chắc chúng tôi cũng sẽ xin ra, để trực tiếp báo cáo về nhận thức đanh giá tình hình từ thực tế chiến trường của Trung ương cục và Quân ủy Miền, cũng như đề đạt chủ trương hoạt động năm 1975, nhằm thực hiện kế hoạch hai năm 1975 – 1975. Việc cấp dưới báo cáo chính xác trung thực và kịp thời tình hình việc đề đạt ý kiến một cách dũng cảm và có trách nhiệm lên cấp trên là vô cùng quan trọng, cũng như cấp trên cần có mọi biện pháp để thu thập ý kiến của cấp dưới, lắng nghe dư luận từ mọi phía, nghiêm chỉnh và khách quan phân tách xem xét để có kết luận đúng, là đảm bảo cho mọi thành công. Đó là cách làm việc thực sự dân chủ và tập trung của Bộ chính trị Trung ương Đảng từ trước đến nay. Chúng tôi thấy có trách nhiệm phải ra và phải phản ánh đúng tình hình. Để các anh ở nhà yên tâm chỉ đạo đợt hoạt động, chúng tôi gởi một điện về Trung ương Cục và Thường vụ Quân ủy Miền do cả anh Phạm Hùng và tôi cùng ký có đoạn: “Sau khi sơ bộ trao đổi ý kiến với một số anh trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, thì về nhận định đánh giá tình hình chung về phương hướng chủ trương sắp tới rất nhất trí. Nhưng đi vào cụ thể còn nhiều vấn đề phải tiếp tục bàn, nhất là về kế hoạch mùa khô của ta… Chúng tôi sẽ đề nghị giữ nguyên kế hoạch của ta về chủ lực Miền…”(2). Và sau khi biết B2 đã hoạt động theo kế hoạch điều chỉnh, tôi điện về hướng dẫn (điện sô 567/ZK): “… Sau Bù Đăng, Bù Na, cố gắng diệt Đồng Xoài, nó có tác dụng cả về chiến dịch, chiến lược, tuy là điểm không lớn. Có thể dùng sư đoàn 7 đánh Đồng Xoài…”(3). Ngày 20-12-74, Anh Sáu Nam điện báo cáo: “… Trên đường 14, ta giải phóng hoàn toàn đoạn từ cầu 11 gần Đồng Xoài, đến khỏi Bù Đăng giáp ranh chi khu Kiến Đức… Ở Bù Đăng, Vĩnh Thiện, Bù Na, ta thu được 4 pháo và 7000 đạn pháo, trên 3000 súng các loại, bắt trên 300 tù binh, sẽ tiếp tục truy tìm thêm…”.(4).. Và điện ngày 27-12-74: “… để khỏi lỡ thời cơ chiến dịch giành thắng lợi lớn khi có đủ điều kiện, chúng tôi đã cho sẵn sàng một đại đội xe tăng làm lực lượng dự bị. Ngày 26, tiêu diệt cụm cứ điểm Đồng Xoài không dùng xe tăng”(5). Ngay sau đó chúng tôi nhận được điện của anh Hoàng Cầm chỉ huy trưởng mặt trận Phước Long như sau: “Đoàn 301(6) gởi R(7) đồng điện Bộ Tổng tham mưu. Tấn công chi khu Đồng Xoài là 3 giờ 35’ ngày 26-123. Đến 8 giờ 30’ ta làm chủ hoàn toàn chi khu Đồng Xoài.” - Năm Thạch -(8). (1) Sáu Nam là anh Lê Đức Anh, phó tư lệnh BTL Miền. Hai Lê – là Anh Lê Văn Tưởng Phó chính ủy BTL Miền. (2) và (3) Hồ sơ lưu trữ Bản Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng. (4) và (5) Hồ sơ lưu trữ của Ban tổng kết CT/B2 thuộc BQP. (6) Tiền phương Bộ tư lệnh Miền. (7) Mật danh Bộ tư lệnh Miền. (8) Tức Hoàng Cầm. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:38:09 am Như vậy là đường 14 thuộc phạm vi B2 phụ trách đã hoàn toàn được giải phóng. Căn cứ phía sau và hành lang của ta đã mở rộng. Mặc dù kế hoạch tấn công của ta thay đi đổi lại, từ nhỏ đến lớn một cách chậm chạp ngoài ý muốn nhưng quân địch vẫn không có khả năng phản ứng, không điều động được một lực lượng bộ binh nào chi viện, phải để mất cả ba chi khu: Bù Dăng, Đồng Xoài, và trước đó chi khu Bù Đốp do tiểu đoàn địa phương tỉnh đội Phước Long của ta tiêu diệt. Chúng chỉ dùng được không quân bắn phá và ném bom không có hiệu quả gì. Quân địch còn lại ở Phước Long hoang mang giao động mạnh. Trước tình hình thuận lợi như vậy, chúng tôi đã tranh thủ xin ý kiến anh Ba và các anh trong Quân ủy trung ương cho phép chúng tôi giải phóng luôn tỉnh Phước Long theo như kế hoạch cũ của chúng tôi dự kiến phát triển khi có thuận lợi. Tôi đã trình bày khả năng của bộ đội ta có thể hoàn thành nhiệm vụ này và chắc chắn địch không có khả năng tăng cường lực lượng mạnh cho Phước Long nếu bị đánh. Tôi đã trình bày giá trị có tính chất chiến dịch và chiến lược của việc giải phóng được tỉnh Phước Long. Sau khi cân nhắc, các anh đồng ý. Tôi mừng quá, nhưng để đảm bảo chắc thắng, tôi đã xin anh Ba cho phép được xử dụng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Tôi hứa sẽ chỉ đạo ở nhà đảm bảo thành công. Anh đồng ý. Tỉnh Phước Long là một tỉnh Miền núi, địa thế hiểm trở. Về phía bắc và phía dông tỉnh lỵ có nhiều núi cao, lại bao bọc bởi con sông Bé sâu và chảy xiết. Phía tây và nam, đất đai bằng phẳng hơn nhưng ngay sát cửa ngõ phía nam lại có núi Bà Rá cao nhất ở vùng đó, 735 thước so với mặt biển, và có nhiều hang hốc, đá to và cây xanh. Từ lâu địch đã thiết lập trên đỉnh núi này một trạm chuyển tiếp truyền tin vô tuyến và 1 đài quan sát với khí tài quang học hiện đại có thể kiểm soát một vùng rộng. Khi cần thiết, địch có thể dùng cả trung đoàn dựa vào địa hình phức tạp và khống chế của núi này mà phòng ngự vững chắc cho tỉnh lỵ Phước Long. Vì địa thế hiểm trở của Bà Rá và của tỉnh Phước Long, nên thời Pháp thuộc trước kia, bọn thực dân Pháp đã dùng khu vực núi Bà Rá này làm nơi tập trung quản chế các nhà hoạt động chính trị yêu nước. Nhiều cán bộ, đảng viên của ta đã từng bị giữ nhiều năm tại đây, sống tách biệt với xã hội, cực khổ và ốm đau vì bệnh sốt rét hoành hành, trong số đó có cả phụ nữ như các chị Hai Sóc Bà Điểm, Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Định(1), chi Hai Bé An Giang, Hai Ninh Hậu Giang và nhiều chị khác. Quá về phía tây núi Bà Rá, cách năm kilômét là thị trấn, huyện lỵ Phước Bình tương đối sầm uất. Đây là một ngã tư đường xe hơi đi Bù Đốp, tới Đồng Xoài, vào tỉnh lỵ và xuống đường 14 tại ngã ba Liễu Đức. Ở đây còn có một sân bay cấp 2 tương đối tốt, căn cứ không quân của tỉnh, vừa dùng cho tỉnh Phước Long vừa là chỗ dựa cho không quân hoạt động cả vùng núi rừng này.
Với địa hình thiên nhiên của một tỉnh Miền núi như vậy, với cách bố phòng tổ chức của địch như vậy, muốn tấn công giải phóng tỉnh Phước Long bằng lực lượng có hạn của ta, không thể có quyết tâm nào hay hơn là trước nhất phải chiếm Đồng Xoài để cô lập toàn bộ quân địch còn lại trong tỉnh. Phải triệt hạ cho được trạm truyền tin, đài quan sát tại điểm tựa Bà Rá cũng như ngã tư đường và sân bay Phước Bình. Được như vậy rồi mới có thể thọc vào tỉnh lỵ diệt quân địch bố trí phòng ngự dựa vào núi, sông, hồ, ao, hiểm trở và kiến trúc phức tạp ở đây. Chúng tôi đã điện về Bộ Tư Lệnh B2 chỉ đạo việc phát triển thắng lợi của Đồng Xoài, nhanh chóng chiếm cho được núi Bà Rá và sân bay Phước Bình và giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Tôi không quên điện cho biết được dùng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Điện tôi tự viết và ký tên nhờ Bộ tổng tham mưu cho chuyển. Nhưng chiều hôm đó đương lúc tôi đang ngồi trước bản đồ, nghiên cứu cách bố trí địch trong tỉnh Phước Long, hình dung xem địch có thể phản ứng lại sự tấn công của ta thế nào thì đồng chí Lê Ngọc Hiền đến. Đồng chí đưa ra bức điện tôi viết và nói chưa cho điện di vì trong điện tôi đã cho được xử dụng xe tăng và pháo lớn, điều mà các anh trên đã dặn là không được sử dụng. Tôi hơi bực mình vì sợ trễ như điện hôm trước (bảo thực hiện kế hoạch cũ mùa khô như dự định). Để tỏ sự không hài lòng, tôi nói với đồng chí Hiền rằng là tư lệnh chiến trường không lẽ tôi không có quyền điện chỉ huy các lực lượng của tôi sao? Không lẽ điện của tôi lại bị kiểm duyệt và bắt buộc phải sửa đổi ngoài ý muốn của tôi. Việc sử dụng vũ khí lớn tôi đã xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí cho điện đi và đồng chí sẽ chịu trách nhiệm nếu điện của tôi bị chậm trễ, lỡ thời cơ. Thế là mọi việc để giải phóng tỉnh Phước Long đã được giải quyết ổn thỏa. Trên dưới đều nhất trí. Sau này trong lúc bàn bạc tổng kết chiến tranh, một số anh em không hiểu tình hình cho rằng giải phóng tỉnh Phước Long theo cách đánh bóc vỏ từ ngoài vào trong lần lượt từ Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Bà Rá rồi tỉnh lị, đánh từ nhỏ trước rồi đến đánh lớn sau. Khác với một cách đánh khác là dùng lực lượng mạnh thọc ngay vào trung tâm vào tim địch rồi từ đó đánh bung ra như một bông hoa nở. Diễn tả cũng hay. Nhưng đó là suy luận mà không phải đúng như thực tế. Từ đó mà rút ra bài học thì bài học không có giá trị. Quân sự là một khoa học. Không thể hiểu theo lối suy diễn viển vông xa rời thực tế. Nêu nói tấn công vào một tỉnh lỵ thì có hàng trăm cách đánh cho hàng trăm tỉnh lỵ, mỗi tỉnh lỵ, có cách đánh khác nhau, không phải chỉ có 2 cách như vậy. Chọn một cách đánh nào đó hoàn toàn không do suy nghĩ chủ quan của người nay ngươi nọ, mà phải dựa vào một loạt yếu tố cụ thể. Tỉnh lỵ đó nằm ở đâu, trong hệ thống phòng thủ của địch, có vị trí chiến dịch chiến lược thế nào? Muốn giải phóng tỉnh lỵ ấy thì phải đánh những mục tiêu chủ chốt nào? Các mục tiêu ấy được phân bố ra sao? trên thực địa? được phòng ngự bằng công sự, lực lượng thế nào? Địa hình địa vật của tỉnh lỵ? Quân địch sẽ cố thủ ở đâu, tiếp viện từ đâu bằng phương tiện gì, và qui mô, khả năng lực lượng ta về mọi mặt, bàn đạp triển khai, đường tiếp vận, vân vân và vân vân – Chỉ nói gọn như vậy thôi cũng thấy rằng muốn chọn một cách đánh phải căn cứ vào thực tế không gian và thời gian, vào ta và vào địch, không thể ngồi suy nghĩ một cách đánh có sẵn nào đó, rồi đem úp vào mỗi tỉnh lỵ, sửa đổi cho vuông, tròn khía cạnh là được. Cái giỏi của người chỉ huy là nắm sát thực tế, phân tích chính xác định ta, địa hình, các mục tiêu quan trọng, thời cơ tạo ra hay đã có sẵn, mà hạ quyết tâm hoàn toàn phù hợp, sáng tạo, đưa đến thắng lợi. Đó là chưa nói đến vấn đề diễn biến, có những yếu tố bất ngờ xảy ra từng phút, từng giây cần phải xử trí. Nhiều khi vào trận đánh thực tế đi đến kết thúc không giống gì với kế hoạch quyết tâm ban đầu. Có khi kế hoạch rất hay đấy nhưng người chỉ huy trực tiếp đơn vị tấn công xử trí sai một tình huống diễn biến phức tạp nào đó, hay xử trí đúng một trường hợp bất lợi nào đó thì kết thúc trận đánh cũng rất khác nhau. Tổng kết phải tìm cho ra sự thật lịch sử khách quan, phân tích chính xác mối rút ra được những bài học có giá trị. (1) Tức thiếu tướng Nguyễn thị Định, nguyên Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Miền mà cán bộ và chiến sĩ Quân giải phóng thường gọi là “Chị ba” một cách trìu mến. Thời kỳ đồng khởi năm 1960, đồng chí là bí thư tỉnh ủy Bến Tre. Hiện nay là chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:41:09 pm * * * Như vậy là trước khi họp hội nghị Bộ chính trị, đoàn chúng tôi, đại diện cho B2, đã tranh thủ báo cáo thảo luận và được các anh trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch mùa khô mà B2 đã vạch ra trên cơ sở nhất trí, đánh giá tình hình thực tế ta địch. Các anh đã cho phép đánh Đồng Xoài, đánh Phước Long. Ngày 22-12 anh Hùng đã gởi về Thường vụ Trung ương cục bức điện trong đó có một số nội dung: “… 1) Những ý kiến của anh Hai Nhã đưa về lúc chúng tôi ra chưa đến nơi. Nay sau khi làm việc thì kế hoạch năm 1975 như Trung ương cục đã dự kiến và đã chuẩn bị từ sau hội nghị 6 tháng đầu năm 1974 là rất đúng. Các anh cần đôn đốc và theo dõi chỉ đạo thật sát việc thực hiện kế hoạch ấy, nhất là trong đợt mùa khô này. Chúng tôi và các anh ngoài này rất mừng về kết quả bước đầu của đợt 1 mùa khô. Tùy tình hình phát triển mà các anh xem xét ký và có sự điều chỉnh cho hợp lý và kịp thời, nhưng căn bản toàn bộ kế hoạch năm 1975 như ta đã dự định là được. Nếu hoàn thành được kế hoạch năm 1975 và nhất là mùa khô này thì đó là việc rất có ý nghĩa đối với năm bản lề. Trong bước 2 của đợt mùa khô sẽ có sự phối hợp với các chiến trường thì đó là sự thuận lợi tốt nhất cho ta, hoàn thành tốt kế hoạch mùa khô của ta mà thôi, chứ không phải có sự thay đổi gì lớn đâu…”(1). Và ngày 29-12, anh Hùng và tôi cùng ký một điện gởi cho Quân ủy Miền, đồng điện Thường vụ Trung ương Cục như sau: …1) Tình hình đầu mùa khô ở chiến trường ta, các địa phương và đơn vị đều có nỗ lực giành thắng lợi, kết quả khá cao tuy còn một số nơi chưa đều. Chúng tôi rất mừng và tin rằng chúng ta còn nhiều triển vọng đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch nếu các cấp nắm chắc tình hình, không chủ quan thảo mãn, sẵn sàng vượt khó khăn để ngày càng giành thắng lợi lớn hơn. Được như vậy thì ta sẽ có cơ sở vững vàng cho những bước sắp tới theo đúng ý định chiến lược. Các anh ngoài này rất mừng và đang ra sức chỉ đạo mọi mặt tiến hành cho tốt… “…2)… “… Do quyết tâm giành thắng lợi lớn hơn của năm nay tạo điêu kiện sắp tới nên các anh có điều chỉnh kế hoạch chi viện. Đã đồng ý cho ta năm 1975 đúng như ta xin tức 27.000 tấn chứ không phải 11.000 tấn như đã thông báo trước đây. Chúng tôi đang trao đổi đôn đốc vận tải. Như vậy các anh nên nghiên cứu xử dụng sao cho thật hợp lý và tiết kiệm, chú ý tăng thêm cả cho các khu và hướng dẫn xử dụng cho tốt, đi đôi với hết sức tiết kiệm…”(2) Trong thời gian trước cuộc họp Bộ chính trị tôi có thì giờ và điều kiện gặp thăm một số anh em cán bộ quen biết công tác ở Bộ quốc phòng và Bộ tổng tham mưu – Tuy do nhiệm vụ, các đồng chí ấy vẫn theo dõi hàng ngày tình hình chiến sự, luôn biết tin tức về tôi, nhưng được gặp nhau hàn huyên là một dịp hiếm có. Chúng tôi kể cho nhau nghe hết chuyện thủ đô lại đến chuyện chiến trường và cố nhiên không thể tách rời công tác. Một ít cán bộ có trách nhiệm cho biết về kế hoạch đánh Đức Lập mở hành lang của Bộ Tổng tham mưu: Bộ sử dụng vào đây 3 sư đoàn quân chủ lực của B3 và của Bộ, được một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo 130 ly chi viện. Chắc chắn hành lang chiến lược sử mở thông, việc chi viện cho chiến trường B2 của anh sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. B3 và đồng chí Vũ Lăng đang đi nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị mọi mặt. Tôi hỏi: Đức Lập chỉ là chi khu cô lập cùng một số điểm nhỏ trên đường 14, thì cần gì đến 3 sư đoàn và từng ấy xe tăng và pháo lớn? Trả lời: không phải chỉ có tiêu diệt Đức Lập và một ít điểm nhỏ ở đây thôi mà còn kéo địch đến để tiêu diệt chủ lực, có thể là sinh lực lớn đây. Ta chủ động chọn chiến trường kéo địch đến để tiêu diệt lớn, đi đôi mở hành lang. Tôi đã trao đổi với các đồng chí ấy rằng theo tôi biết thì địa hình ở đây hiểm trở chật hẹp, con đường 14 độc đạo chạy giữa những hàng núi tương đối cao và có cây cối rậm rạp thì địch dại gì mà đến đó để ta tiêu diệt. Có chăng là địch sẽ dùng chủ yếu không quân đánh phá thả bom vào đội hình quân ta thôi. Vả lại trong thời điểm này, địch biết rõ rằng lực lượng của chúng cần cho những mục tiêu quan trọng hơn nhiều so với Đức Lập xa xôi hẻo lánh. Đức Lập tuy cần cho ta về hành lang chiến lược nhưng chưa phải đã đụng chạm nhiều gì đến kế hoạch phòng ngự chiến lược toàn Miền Nam của địch. Nếu ta đã điều động được đến đó lực lượng mạnh như vậy sao không đánh thẳng ngay vào Ban Mê Thuột mà lại đánh Đức Lập làm gì? Đánh giải phóng Ban Mê Thuột là ta chiếm được một mục tiêu có giá trị chiến dịch chiến lược quan trọng, rung động toàn Tây Nguyên và tức khắc hành lang của ta được mở rộng vững chắc. Với lực lượng ấy, ta đủ sức đánh Ban Mệ Thuột vì ở đây địch có nhiều sơ hở, chỉ xem như một hậu cứ của các sư đoàn, trung đoàn. Tuy là tỉnh lớn, nhưng địa hình thuận lợi, phòng thủ yếu, lực lượng ít, và nhất là địch không nghĩ rằng ta lại điều động được lực lượng lớn đến đây và chủ trương đánh Ban Mê Thuột như vậy. Vả lại nó hoàn toàn phù hợp với giai đoạn chiến lược hiện nay của chiến tranh, là ta phải tấn công lớn tiêu diệt địch và giải phóng vùng, tạo thời cơ lớn chơ không phải là thời kỳ mở hành lang nữa. Các đồng chí cãi lại: Chuyện ấy thì còn phải bàn, nhưng nếu đến lúc đánh lớn mở chiến dịch Tây Nguyên thì không phải chỉ lực lượng như vậy. Bộ tổng Tham mưu đang dự thảo kế hoạch này. Chúng ta sẽ tập trung lực lượng lớn, ưu thế áp đảo, mở đầu đánh thẳng vào Kontum, tiêu diệt địch và giải phóng tỉnh này. Tiếp đó ta đánh ngay vào chỉ huy sở quân đoàn 2 ngụy ở Pleiku. Ta sẽ diệt cả hai sư đoàn 22 và 23 và các lực lượng ngụy ở dây, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Mở đầu đánh vào Kontum, ta có mọi điều kiện thuận lợi, sát vùng căn cứ giải phóng rộng của ta, hệ thống đường sá, kho tàng của 559 sẵn và đủ sức phục vụ chiến dịch, ta có nhiều điều kiện tập trung lực lượng lớn và triển khai dễ dàng mọi binh khí kỹ thuật. Tôi không đồng ý. Tôi đã cười và nói vui: Thật các anh là những lính nhà vua. Các anh đã đánh và luôn nghĩ đánh theo kiểu dồi dào lực lượng và súng đạn, khác xa với chúng tôi là những lính nhà nghèo ở chiến trường xa và khó khăn, tính từng viên đạn một, vừa thèm thuồng nhìn các anh. Hèn nào mà anh Lê Ngọc Hiền báo cáo hôm trước ỏ Bộ Tổng Tham mưu rằng năm 1972 toàn Miền Nam tiêu thụ hết 22 vạn viên đạn cơ lớn mà riêng Quảng Trị đã ngốn mất 15 vạn rồi. Theo tôi đánh Kon Tum và Plaiku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Lâu này địch luôn phán đoán ta đánh vào Kontum trước nên dồn lực lượng và mọi sự chủ yếu ở đây, tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lợi, nhưng địch đã đề phòng, ta không phải dễ dàng trong tấn công. Còn đánh vào Ban Mê Thuột là đánh đòn bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không được phòng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần phải xử dụng lực lượng nhiều. Hậu phương bị chiếm thì quân địch phòng thủ phía trước sẽ hoang mang giao động. Ban Mệ Thuột là một vị trí chiến lược quan trọng, và ở đây có sân bay “Hòa bình” lớn, có đường chiến lược số 21 nối với Ninh Hòa Nha Trang dựa lưng với Gia Nghĩa, Đà Lạt, Ban Mê Thuột mất thì toàn bộ quân đoàn 2 Ngụy ở Tây Nguyên chỉ còn dựa được vào đường 19 xuyên qua đèo núi hiểm trở dễ bị cắt đứt và sân bay Pleiku độc nhất còn lại để trông nhờ sự tiếp tế và chi viện. Các đường khác như đường số 5, số 7 đều là đường núi, cầu nhiều và rất yếu, lưu thông không đảm bảo nhất là cơ giới. Còn nếu đối phương phong tỏa nữa, điều này chắc chắn xả ra, thì hàng chục vạn con người và binh khí kỹ thuật bị lâm nguy không phương cứu vãn. Tôi ví đánh chiếm Ban Mê Thuột đối với các tỉnh Tây Nguyên còi lại giống như đố một cây gỗ lớn từ gốc, toàn bộ tán và lá và thân cây phải đổ. Đánh như vậy mới là đòn hiểm về chiến dịch, chiến lược, đảm bảo chắc thắng và thắng to. Tôi đã đem toàn bộ câu chuyện nào báo cáo lại và trao đổi kỹ với anh Hùng và anh Hai Văn – Tôi cho đây là quyết tâm lớn có tính chất chiến lược trong giai đoạn chiến tranh này không thể không suy nghĩ. Các anh đều nhất trí là nên bỏ Đức Lập mà đánh ngay vào Ban Mê Thuột. Chúng tôi đã đề nghị anh Hùng tìm cách trao đổi với các đồng chí trong Bộ chính trị. (1) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc Phòng. (2) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc QQP. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:42:38 pm * * * Ngày 18 tháng 12 năm 1975, cuộc họp liên tịch Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương có đại diện các chiến trường Miền Nam tham gia cuộc họp bắt đầu trong không khí chiến thắng dội lại của chiến trường B2. Đến ngày ấy toàn B2 đã vào đợt 1 mùa khô và đã giành nhiều thắng lợi. Ở đồng bằng sông Cửu Long, kế hoạch bình định của địch đã bị phá bể từng mảng lớn, ta đã giải phóng nhiều xã, ấp mở rộng vùng nông thôn Tiểu cần, Trà Cú, Cần Kè, Duyên Hải, thuộc Trà Vinh và Mỏ cày, Giồng Trôm thuộc Bến tre. Ta đã giải phóng chi khu Hưng Long ở vùng Hậu Giang và Quận lỵ hành chính Tuyên Nhơn ở vùng Tiền Giang. Đây là lần đầu tiên ở đồng bằng, ta tiêu diệt được chi khu quận lỵ và chiếm giữ luôn. Ta đã đánh tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn khác của sư đoàn 21 ngụy đến phản ứng ở Hưng Long. Ta đã làm chủ từng bộ phận sông Ông Đốc, Cái Tàu, Bảy Háp ở Cà Mau, Kinh Xà No, ở Cần Thơ, sông Cổ cò và vùng Huyện Mỹ tú ở Sóc Trăng, tuyến Vàm Cỏ Tây ở Kiến Tường… Ở Miền Đông, ta đã giải phóng đoạn đường 14 bắc Đồn Xoài, diệt cao điểm Lồ ô – núi Giám, giải phóng một số xã bao vây cô lập các huyện lỵ Hoài Đức, Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy, vây hãm điểm núi Bà Đen và diệt một số đồn bót thuộc tỉnh Tây Ninh. Ở vùng ven, lực lượng của Thành đội Sàigòn cùng đặc công đẩy mạnh điệt địch, gỡ đồn, mở lõm ở các vùng Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bình Chánh, nam Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch, và tập kích, khống chế sân bay Biên Hòa. Mới nửa tháng đầu mùa khô ở B2, thành tích diệt địch, giải phóng vùng, nhân dân đứng lên làm chủ, đã đạt kết quả cao, báo hiệu những chiến thắng vang dội của ta sắp tới và sự suy sụp rõ ràng của ngụy. Những thực tế ở chiến trường ấy nói nhiều hơn bất cứ báo cáo và lý luận hay ho nào. Hội nghị tập trung bàn về kế hoạch chiến lược 2 năm 1975 1976 hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ mà Bộ Chính trị đã đề ra trong mùa mưa. Trung ương Cục và Quân Ủy Miền (Tức B2) chúng tôi cũng đã bàn bạc từ hội nghị thường lệ kiểm điểm tình hình 6 tháng đầu năm 1974. Thật là những dự kiến lớn của lãnh đạo tối cao và suy nghĩ của cấp dưới của chiến trường tiêu biểu là trùng hợp nhau. Lý luận và thực tế đã khớp với nhau. Nhưng quá trình diễn biến cụ thể, các bước đi, các biện pháp thực hiện còn phải thảo luận nhiều mới nhất trí hoàn toàn được. Tất nhiên là như vậy. Vì nếu mọi người đều thống nhất ý kiến một cách dễ dàng hoặc không có ý kiến khác nhau nhiều thì chứng tỏ một sự nghèo nàn đáng thương hại về trí tuệ và suy nghĩ. Mở đầu hội nghị, đại biểu các chiến trường B2, khu 5 báo cáo tình hình địch, ta, thực tế của chiến trường mình, phương hướng và khả năng hoạt động sắp tới, đề đạt và yêu cầu. Về B2, chúng tôi đã báo cáo gọn tình hình diễn ra từ nghị quyết 21 của Trung ương, trong mùa khô, rồi mùa mưa 1974. Những kết quả cụ thể ở Đồng bằng, ở khu 6, 7 và ngay ở Sàigòn. Tôi đã báo cáo rõ mục đích phá sự củng cố tuyến phòng ngự trước mắt và thế co cụm tương lai của ngụy ở Sàigòn bằng hoạt động ở đường 7 - Bến cát, giải phóng Rạch Bắp. Đã báo cáo việc xây dựng lực lượng chính trị, quân sự, cho tới hôm nay và đặc biệt là việc tổ chức và bố trí thế bao vây chặt thủ đô của Ngụy. Chúng tôi đã báo cáo nhận định và đánh giá tình hình của Trung ương cục vừa qua, những vấn đề mới đã xuất hiện, ta mạnh và đi lên, địch đang yếu và đi xuống. Chúng tôi đã báo cáo phương hướng và kế hoạch của B2 trong năm 1975, nhất là mùa khô 1975, phải đánh mạnh thắng to cả Miền Nam để kết thúc chiến tranh thắng lợi năm 1976. Sau cùng chúng tôi không quên đề nghị được tăng thêm vật chất vũ khí, tăng thêm lực lượng cho B2, như trung ương cục đã nhất trí, trước mắt là một sư đoàn chủ lực ngay vào đầu mùa khô này nhằm kiện toàn quân đoàn 4. Chúng tôi đã đề nghị cần có kế hoạch hoạt động nhịp nhàng toàn chiến trường Miền Nam, và Bộ Tổng Tư lệnh cần có quy định một lực lượng dự bị chiến lược mạnh để kịp thời phát triển thắng lợi quyết định khi thời cơ đến ở chiến trường chủ yếu. Chúng tôi báo cáo rằng vì chiến trường miền Đông Nam Bộ, bao gồm Sài Gòn là chiến trường tiêu diệt sinh lực lớn của địch và kết thúc chiến tranh, cho nên lực lượng dự bị chiến lược chắc sẽ sử dụng ở đây, phải được bố trí ngay từ nay ở Tây Nguyên thì mới hành động kịp khi cần đến. Chúng tôi đã nhấn mạnh là kế hoạch hoạt động năm 1975 là dựa trên cơ sở kết quả đạt được trong năm 1974, dựa trên tình hình đã diễn biến hết sức thuận lợi cho ta mà tinh thần là phải nhanh chóng liên tục phát triển, đẩy mạnh vào thế nguy khốn. Không thể dừng lại, để mất thời cơ. Sau khi các chiến trường báo cáo, đồng chí Lê Ngọc Hiền thay mặt Bộ Tổng Tham mưu trình bày dự kiến của Bộ về kế hoạch hoạt động của năm 1975. Kế hoạch xây dựng trên cơ sở nhận định, địch đang phải bị động phòng ngự, giữ chỗ nào được thì cố giữ. Chúng đã suy yếu về tổ chức và tinh thần. Ta đang thắng, nhưng cũng có những khuyết, nhược điểm. Kế hoạch đề ra một loạt các chỉ tiêu cho các chiến trường về giải phóng vùng và giành dân, về tiêu diệt và làm tan rã địch, đánh tụt quân số chúng xuống mà không để chúng bổ sung được. Về tiêu diệt dự trữ vật chất kỹ thuật của địch v.v… Kế hoạch dự kiến về xây dựng lực lượng ta trong năm, về mở các hành lang thông suốt, về dự trữ vật chất, hậu cần ở các hướng. Năm 1975 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn. Tổng công kích Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:43:42 pm Đồng chí đã báo cáo cụ thể về lực lượng quân sự của ta hiện nay ở các chiến trường và ở Trung ương. Số lượng binh khí kỹ thuật và đạn dược đang có ở các nơi và số dự trữ. Dự kiến phân chia việc sử dụng các loại ở các chiến trường trong hai năm. Riêng về số lượng đạn cỡ lớn, đồng chí báo cáo: Số lượng còn lại phía trước và phía sau tổng cộng là… (100%) sẽ sử dụng… (hơn 10%) trong năm 1975,… (45%) trong năm 1976, còn lại dự trữ… (gần 45%).
Như vậy là bước vào thảo luận, hội nghị đã có đủ tình hình các chiến tường, đã có các dự kiến về hai năm và về kế hoạch cụ thể năm 1975 của Bộ Tổng Tham Mưu và của các chiến trường. Hội nghị đã thảo luận với một không khí hào hứng và phấn khởi. Không biết từng đồng chí đã nghĩ gì, nhưng riêng tôi thật là xúc động khó tả. Hội nghị này đã quyết định kết thúc 30 năm chiến tranh của đất nước. Có dân tộc nào trên con đường đấu tranh gay go dài dằng dặc, bị buộc phải cầm súng và chịu đựng chết chóc và tàn phá ghê gớm suốt 30 năm trời, như dân tộc Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng và thống nhất Tổ quốc này của chúng ta, đã có nhiều trường hợp cả 3 thế hệ ông, cha, cháu, đều xông ra tiên tuyến, có khi cùng chung trong một đơn vị. Đã có nhiều trường hợp, trong một trận càn của giặc, toàn bộ gia đình hay một tập thể các gia đình cùng hy sinh vì bom đạn thù. Và trên đất nước này, cho đến nay, hầu như không có 1 gia đình nào từ Hoàng Liên Sơn Cao Lạng cho đến Mũi Cà Mau, Phú Quốc, Côn đảo, không có mất đi ít nhất 1 người thân yêu. Trăm nghìn hy sinh, vô vàn khổ cực để mong có ngày nay, ngày quyết định một tương lai huy hoàng. Trách nhiệm nặng nề làm sao. Mỗi suy nghĩ, mỗi lời phát biểu trong hội nghị như có mang theo sức nặng của 4000 năm lịch sử, của hàng vạn gánh đau thương, của hàng triệu cặp mắt theo dõi của người dân Việt Nam, của người dân đang bị áp bức trên toàn thế giới, của bạn bè bốn biển Năm Châu. Nhiều đồng chí đã phát biểu sôi nổi, có đồng chí phát biểu nhiều lần. Tất cả xoay quanh nhận định đánh giá tình hình trong nước, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có giám can thiệp trở lại không hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Phương pháp cách mạng của ta thế nào là đúng nhất. Các bước đi trong hai năm, nên bước thế nào cho kịp và cho vững. Năm 1975 nên thế nào? Và rồi năm 1976? Hai năm trong chiến tranh, ác liệt có phải đâu là ngắn, nhưng hai năm cuối cùng của trên 30 năm khổ cực thì sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi. Khi kết luận hội nghị, anh Ba đã nói: “Chuẩn bị hai năm tuy ngắn đấy nhưng có khi cũng là dài đấy”. Và khi phát biểu anh Đồng nói: “Lúc nào là thời điểm sụp đổ của Ngụy? Không phải chờ đến năm 1976 đâu. Có thể nhanh, không phải dần dần đâu”. Và anh Giáp cũng như nhiều anh khác nhấn mạnh: “Hạ quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 là đúng. Nhưng kế hoạch cần đề phòng tình huống sớm hơn, trong năm 75 và cả tình huống kéo dài qua năm 77. Như vậy mới chủ động vững vàng”. Anh Đồng đi đi lại lại, suy nghĩ rồi dừng lại phát biểu, mặt lúc nào cũng hồng hào, tiếng nói rắn rỏi. Anh nói: “Đánh giá địch, ta cần khẳng định một số vấn đề, đừng nghĩ theo lối cũ lỗi thời. Ta đang ở giai đoạn mới. Mỹ rút quân do qui định của hiệp định Paris, nó cho đây là một thắng lợi sau khi bị nhiều thất bại, không lối thoát. Ngày nay, nó đem quân can thiệp trở lại là một chuyện không thể có. Có chăng là dùng không hải quân chi viện, nhưng việc ấy không quyết định được vấn đề thắng bại”. Rồi anh vừa cười to vừa nói: “Nói chơi cho vui nhưng cũng đúng sự thật là cho kẹo Mỹ cũng không vào”. Mọi người cũng cười vui vẻ. Anh lại tiếp: “Về ta, quan trọng nhất là một cao trào cách mạng Miền Nam xảy ra. Rất mới, cả quân sự và chính trị. Bạo lực quân sự đến mức cao nhất đi đôi bạo lực chính trị. Cả Khu 8, khu 9 báo cáo như vậy rất tốt. Tình hình diễn biến sẽ vượt bực nhanh. Anh Trường chinh đứng lên, mang kính, nhìn vào tập giấy cầm trên tay đã chuẩn bị sẵn, phát biểu một cách trịnh trọng. Anh thường như vậy. Lúc nào cũng cẩn thận chứ không để một sơ hở nhỏ nào. Trong các bài viết chú ý phải mở đầu, phần chính, đủ cả, rồi phần kết thúc. Tôi không làm biên bản mà chỉ ghi ở đây vài ý thôi. Anh nói: “Địch bị ba sức ép tấn công quân sự của ta, đấu tranh chính trị của quần chúng và khó khăn về kinh tế tài chánh. Vì vậy địch bị suy yếu nhanh chóng. Quân địch không gỡ được mâu thuẫn giữa giữ đất giữ dân và cơ động tác chiến. Nhưng nay nó còn đứng được vì chưa bị tiêu diệt nặng, còn lấy được người, Mỹ còn viện trợ lớn về mọi mặt. Ta dành được quyền chủ động trên chiến trường. Năm 1974, ta đã đạt được kế hoạch. Nếu Phước Long ta diệt được nữa thì chúng tỏ hùng hồn là ta mạnh lên nhiều. Địch có xu hướng co cụm phòng ngự. Ta khó ngăn nó co cụm vào các thành phố lớn. Ta khó đánh nổi địch co cụm lớn có công sự kiên cố và đánh vào thành phố rất phức tạp. Mỹ có vào không? Thực sự nó còn hai vạn rưởi cố vấn quân sự đội lốt dân sự. Nếu nó thấy lâm nguy nó sẽ can thiệp. Nhưng can thiệp bằng bộ binh thì khó, mà bằng không, hải quân thì cũng phải cân nhắc và có mức độ. Ta phải tạo điều kiện thực hiện đòn tiêu diệt chiến lược. Cũng không hạn chế chỉ một đòn tiêu diệt chiến lược…”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:44:58 pm Lúc này tin chiến thắng của chiến trường B2 ngày nào cũng có. Phấn khởi nhất là tin ở Trà Vinh, một tỉnh đồng bằng và cũng là hướng chủ yếu của đầu mùa khô, ta đã diệt nhiêu địch, gỡ nhiều đồn bót, giải phóng nhiều xã, nhiều dân. Mọi người trong hội nghị, nhất là đại biểu B2, có nhiều, rất đỗi vui mừng. Thực tiễn của chiến trường, đã dẫn chứng cho nhiều lập luận đánh giá tình hình, giống như các chiến sĩ và nhân dân ở chiến trường xa cũng tham gia trực tiếp thảo luận ở hội nghị vậy. Anh Lê Đức Thọ khi phát biểu đã dẫn chứng: “Đồng bằng Cửu long trong tháng 12 đã gỡ trên 500 vị trị, mới một tháng đạt 70% kế hoạch 6 tháng mùa khô… như tôi đã kể ở đoạn trước. Còn ở Miền Đông nam Bộ, phía đông ta đã chếm toàn huyện Tánh Linh… và một số xã Huyện Hoài Đức của tỉnh Bình Tuy. Tại Tây Ninh ta vây ép căn cứ núi Bà đen và diệt gọn một tiểu đoàn của Trung đoàn 49 thuộc sư đoàn 25 ngụy. Tại tỉnh Phước Long, ta đã chiếm sân bay và chi khu Phước Bình, núi Bà rá và đang tấn công vào thị xã. Ai nấy trong hội nghị đều mong chờ kết quả của trận đánh Phước Long. Bỗng một hôm, trong lúc đang họp, một đồng chí trong Cục tác chiến Bộ tổng tham Mưu đưa đến và đọc một bức điện từ chiến trường báo cáo rằng “vì địch đã tăng viện được lữ 81 biệt kích dù vào thị xã; chúng đã cố thủ, nên chúng tôi tạm cho dãn bộ đội ra chấn chỉnh để nghiên cứu đánh lại”. Tôi sửng sốt, không tin. Tôi ngồi, gần như đối diện với anh Ba, khi nghe đọc xong, anh ngó thẳng vào tôi có vẻ hỏi tại sao vậy. Trước đây, khi xin được đánh Phước Long và được sử dụng một ít pháo lớn và xe tăng, tôi đã khẳng định với anh rằng ta đánh chắc thắng và địch không thể tăng viện được. Nay nếu đánh không nổi tỉnh lỵ Phước Long thì mọi việc đánh giá khác của tôi sẽ khó mà tin được là đúng. Trình độ tác chiến của quân chủ lực ta ở chiến trường là thước đo chính xác nhất trình độ khả năng lãnh đạo và chỉ huy của cán bộ, hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nhưng rồi vẫn nghĩ rằng sự việc không phải như vậy, tôi vẫn tin ở khả năng của bộ đội và cán bộ B2, vẫn tin rằng chắc chắn Phước Long sẽ được giải phóng.
Lòng tin của tôi là có căn cứ. Tôi đã sống với các đơn vị chủ lực B2 từ những ngày dầu tiên mới xây dựng từng tiểu đoàn, trung đoàn cách đây hơn chục năm trời. Tôi đã đem hết tâm lực của mình góp một phần nhỏ cùng anh em chăm chút từng cán bộ từng cây súng ngày đêm lo rèn luyện, chiến đấu, từ thời kỳ này dến thời kỳ khác cho đến nay. Tôi đã có mặt với anh em gần như trong tất cả các chiến dịch quan trọng của B2. Tôi hiểu họ như hiểu mình và tin họ như tin mình. Tổi rất tiếc không có mặt minh để chia sẻ gian truân cùng anh em trong trận đánh Phước Long có tầm chiến lược này. Nhưng tôi luôn nghĩ rằng có hay không có tôi, họ đã là họ, những đơn vị chủ lực kiên cường và quyết thắng. Còn cán bộ chỉ huy? Đơn vị thế nào thì cán bộ thế ấy. Đó là những nơi được rèn luyện và lớn lên qua hàng trăm trận lớn nhỏ và phần lớn đã trải qua hai thờ kỳ kháng chiến. Tôi đã từng giao cho họ những nhiệm vụ rất nặng nề, tôi cho họ những mệnh lệnh hết sức nghiêm ngặt đã cùng họ trải qua những giờ phút gian nan nguy hiểm cũng như những ngày thắng trận vẻ vang. Tôi dựa vào họ mà suy nghĩ và hành động. Mỗi cán bộ cấp dưới của tôi ngã xuống là một phần cơ thể và linh hồn tôi bị tổn thương. Cho đến khi nhắm mắt cuối đời, trong tôi không thể xóa nhòa hình ảnh của đồng chí Trần Đình Xu, người chỉ huy bình tĩnh và vững vàng trong mội tình huống, đã hy sinh anh dũng trong lúc đang là Tư lệnh khu Sài gòn năm 1969. Hay đồng chí Nguyễn Thế Truyện một tư lệnh sư đoàn dũng cảm vô song, đã vào tận thủ đô ngụy trong Tết Mậu thân 1968 và đã hy sinh trên vùng ven ác liệt ngày nào. Đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ (Hai Nhỏ) người Tân An, con một lão du kích kiên cường của Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940. Đồng chí coi thường mọi gian khổ hiểm nguy. Năm 1986, đồng chí đã đặt sở chỉ huy của mình ngay trên đường số 1 gần Bà Quẹo, đã chỉ huy cánh quân đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất từ phía tây. Đồng chí đã hy sinh anh dũng năm 1969 khi đang là phó tư lệnh quân khu 8. Và còn biết bao đồng chí như vậy nữa. Còn bây giờ, ngươi chỉ huy trực tiếp trận Phước Long là đồng chí Hoàng Cầm, người tư lệnh sư đoàn đâu tiên của B2 khi mới thành lập là sư đoàn thứ 1, cho đến nay là tư lệnh quân đoàn. Trải qua thời gian dài chiến đấu, đồng chí đã cùng đơn vị của mình hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn nhất được giao. Còn người thay tôi ở Bộ tư lệnh miền lúc ấy, đồng chí Lê Đức Anh, người mà trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ đã nhiều lần làm Tham mưu trưởng cho tôi. Người, năm 1973 là tư lệnh quân khu 9 đã kiên quyết đánh trả quân địch, giành thắng lợi vẻ vang. Các đồng chí khác đang ở chiến trường cũng đều là những cán bộ kiên cường đã qua nhiều thử thách. Tôi đánh giá được khả năng và nhược điểm của họ để mà gởi gắm lòng tin của mình. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:46:40 pm Tôi biết rằng lần đầu tiên đánh giải phóng hoàn một tỉnh, tấn công vào một tỉnh lị có địa hình phức tạp, có công sự phòng ngự kiên cố, không thể dễ dàng, có những giờ phút gay go, cố giành đi giật lại. Nhưng kết quả cuối cùng anh em sẽ chiến thắng. Nghĩ như vậy, tôi đã bình tĩnh trình bày với các anh ở hội nghị rằng khi ta đã chiếm được Phước Bình và núi Bà Rá rồi thì địch không thể nào cố thủ trong thị xã lâu được và chắc chắn địch không thể đưa quân đông đến đây nổi. Tôi vẫn tin rằng quân ta sẽ diệt Phước Long trong vài ngày nữa thôi. Tôi liền điện về hỏi sự thật diễn biến của trận đánh, báo phải tăng thêm lực lượng dứt điểm cho được thị xã. Hôm sau, chúng tôi nhận được điện của Bộ tư lệnh B2 rằng không có vấn đề giãn bộ đội ra, đó chỉ là báo cáo sai lầm của một cán bộ ở tiền phương. Đang tăng thêm trung đoàn độc lập 16 và trung đoàn 2 của sư đoàn 9 để tiêu diệt quân địch ở thị xã. Tôi yên tâm. Trước ngày kết luận hội nghị của anh Ba, chúng tôi nhận điện báo cáo của B2… “Chiều ngày 6-1-1975 quân ta đã quét sạch các cụm đề kháng mà chúng khôi phục lại trong ngày 5 bằng 250 biệt kích dù mới tăng cường đến… chủ trương của chúng tôi là tiếp tục truy diệt cho sạch tàn quân giữ vững thị xã và toàn bộ tỉnh Phước Long. Nếu địch tiến hành phản kích thì tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch gồm cả bọn đổ bộ đường không và bọn đi đường bộ, tạo điều kiện cho ta thực hành tấn công vào các hướng rất nguy hiểm cho địch, hạn chế đến mức tối đa thương vong của ta, bảo vệ tính mệnh tài sản của nhân dân”. Và điện báo cáo của Bộ tham mưu B2: “… bắt đầu rạng sáng 3-1 mở đợt công kích toàn diện vào tiểu khu, thị xã Phước Long và đến 15 giờ 30 ngày 6-1, ta đã tiêu diệt bắt sốn toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long….”(1) Tôi thở phào nhẹ nhõm trút sạch tất cả những lo lắng, nặng nề trong mấy ngày qua.
Tin dứt điểm thị xã Phước Long đến trong lúc đang họp. Mọi người đều vui vẻ, đứng dậy bắt tay nhau mừng chiến thắng. Không phải chỉ bắt tay riêng đại biểu B2. Điều đó nói lên rằng chiến thắng này có ý nghĩa chung, không riêng gì cho chiến trường B2. Nó đánh dấu một cái gì đó về khả năng tác chiến của quân đội ta, về sự suy yếu của quân đội địch, về một trang sách mới vừa mở ra, một giai đoạn mới đã bắt đầu… không ai nói thẳng ý nghĩ của mình ra, nhưng nét mặt và cử chỉ nói nhiều hơn lời và có vẻ như nhất trí cả. Mấy phút trôi qua, rồi ai nấy đều về chỗ của mình. Và anh Ba nói: “Lần dầu tiên ở Miền Nam, một tỉnh hoàn toàn được giải phóng. Tỉnh đó lại ở gần Sàigòn là mở rộng vùng căn cứ quan trọng của ta ở Miền đông. Thực tế này nói rõ hơn hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ”. Tất cả đều tỏ đồng tình tán thưởng lời nói đó. Tất cả các cán bộ và chiến sĩ tham gia các trận đánh ở Phước Long của sư đoàn 7, sư đoàn 3, sư đoàn 9, bộ đội đặc công, lực lượng địa phương, du kích và nhân dân ở tỉnh Phước Long nhất là các đồng chí đã ngã xuống tại đây có hiểu chăng giá trị của chiến công mình đã lập nên. Các đồng chí có biết rằng chính các đồng chí đã cùng các chiến sĩ và đồng bào đồng bằng sông Cửu Long vào đợt 1 mùa khô, chớ không phải đoàn đại biểu B2 chúng tôi, đã báo cáo cụ thể nhất, rành rẽ nhất, tình hình ta, địch thực tế trên chiến trường ở giai đoạn chiến lược hiện tại của cuộc chiến tranh cho Bộ chính trị Trung ương Đảng ta, cơ quan lãnh đạo cách mạng tối cao và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Tôi có viết điện về hoan nghênh chiến thắng này nhưng không thể nói hết được tình hình trong cuộc họp và sự xúc dộng của riêng tôi. Còn kể địch của ta thì nhận định thế nào về sự kiến Phước Long. Tài liệu “Sự sụp đổ của Nam Việt Nam” của Mỹ (sách dẫn trên) đã viết: “Cuộc tường thuật sau đây cố gắng vạch ra sự sụp đổ cơ cấu “tuyến phòng thủ cứng rắn” này, bắt đầu bằng sự thất thủ của tỉnh lỵ Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975. Theo quan điểm của nhiêu người trả lời thì sự thất thủ thị trấn đó đánh dấu việc Nam Việt Nam bắt đầu tan rã…” Bửu Viện xem sự thất thủ của tỉnh lỵ nào có ý nghĩa quan trọng: “Để thử thách quyết tâm của quân lực Việt Nam cộng hòa và đặc biệt là để thăm dò phản ứng của chính phủ Hoa kỳ, quả thật cộng sản đã chọn một mục tiêu dễ dàng. Sự thật thì Phước Long có một ý nghĩa to lớn. Đây là lần dầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cả một tỉnh đã lọt vào tay cộng quân…”. Còn ngay sau khi Phước Long bị mất, Mỹ, ngụy ở Sàigòn đã nghĩ và làm những gì, tâm trạng tướng tá ngụy ra sao? Dương Hảo, trong sách “một chương bi thảm” do nhà xuất bản quân đội nhân dân ta phát hành năm 1980, đã viết: “… Sau này, kể lại hậu quả thất bại Phước Long, Phạm Bá Hoa, Đại tá, tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận ngụy nói: “… Những ngày chiến sự ở Phước Long sôi động là những ngày căng thẳng cho tất cả sĩ quan ở Bộ tổng tham mưu (quân ngụy), nhất là khi Phước Long thất thủ. Có thể nói, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng. Không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mỗi người. Ưu tư không phải vì chiến sự sôi động ngay cửa ngõ Sàigòn, mà cũng chẳng phải vì mất Phước Long với tổn thất lớn 6000-7000 quân bị tiêu diệt, tan rã. “Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân lực cộng hòa. Chỉ mới bị đánh một điểm mà không còn lực lượng đối phó, hỏi bị đánh mạnh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện trong 6 năm qua. Trước đây, quân đội cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ vào sự cứu viện của Hoa Kỳ, Họ đã cung cấp đủ trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mạnh mẽ, thậm chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tình mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng chính thức đã gởi công hàm, rồi tướng Khuyên đã điện đàm trực tiếp với Xmít (Trưởng cơ quan DAO) – Tất cả đều là con số không. “Tình hình đó đã dồn ép chúng tôi đến hoang mang, bi quan cực độ, Có thể nói Phước Long là một đòn thử sức đôi bên và kết quả đã quá rõ ràng…”. (1) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 – thuộc Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:48:17 pm Cuộc họp vẫn tiếp tục. Anh Lê Thanh Nghị vẫn như thói quen của anh, phát biểu nhè nhẹ, chậm rãi, xung quanh ai tỏ thái độ gì cũng mặc, cứ nói ho hết ý mình. Sau khi phân tách tình hình, nói về kế hoạch, nhấn mạnh: Đưa thêm lực lượng vào B2 là đúng và càng sớm càng tốt. Dự bị chiến lược chung và cho từng chiến trường quan trọng là phải có. Nhưng dự bị chung một quân đoàn thì làm sao cơ động được vào chiến trường chủ yếu cho kịp thời nếu để tận ngoài xa. Anh Lê Đức Thọ thì nhấn mạnh: Phải chú ý đầy đủ cả ba quả đấm phối hợp nhau. Phải đánh mạnh, thắng to năm 1975 thì mới có điều kiện hơn cho năm 1976. Anh Văn Tiến Dũng trình bày: Triển khai lực lượng sớm không thể kịp. Phải chuẩn bị nhiều vấn đề : xây dựng bổ sung lực lượng, huấn luyện tác chiến, rồi vật chất hậu cần, đường sá, v.v…. Tăng cường lực lượng cho B2 cũng phải chờ đánh Tây Nguyên xong mới được, không thể lấy sư đoàn nào khác. Phải tháng 5 năm 1975, sư đoàn 316 mới vào tới Miền Đông. Như vậy anh Ba nhìn chúng tôi nói: “ta đánh theo cách của ta là phải chính trị, quân sự, chiến lược tổng hợp ba quả đấm, khác đó là không thắng được. Có khó khăn chung, thôi chậm vài ba tháng, cũng phải như vậy để không phá kế hoạch Tây Nguyên”. Tô im lặng bụng bảo dạ: thôi ta lại đánh theo lối dân gian ta thường nói là “liệu cơm mà gắp mắm” tức là có bao nhiêu lực lượng thì có cách xử dụng bấy nhiêu cho phù hợp nhứt, Nhưng nhất định cũng sẽ phải giành thắng lợi to lớn mới được.
Ngày 8-191975, anh Ba kết luận hội nghị. Tôi chỉ lược ghi ý chính: “hội nghị có Khu 5, Nam bộ dự và rất phấn khởi vì có sự nhất trí rất cao, quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 mà bộ chính trị đã đề ra, đã suy nghĩ nhiều, bàn bạc nhiều lần, nay càng nhất trí với cả chỉ huy chiến trường. - Năm 1959-60 thì phong trào quần chúng rất mạnh nhưng lực lượng quân sự ta chưa có gì. - Khi đánh Mỹ thì quân sự mạnh nhưng quần chúng bị địch dùng mọi biện pháp dã man đè xuống. - Bây giờ thì cả quân sự, chính trị ta mạnh cùng lên nên mới thành sức mạnh tổng hợp. “Vì vậy cần nắm vững hơn nữa qui luật của chiến tranh cách mạng và phong trào cách mạng quần chúng. Hai mà một, một mà hai… “Hiện nay ta đã giữ chủ động trên chiến trường dành dân và dành quyền làm chủ. Ta đã tạo ra 1 thế chiến lược có thể liên hoàn từ Trị Thiên đến Nam bộ, tới đồng bằng sông Cửu Long. Ta đã xây dựng được những quả đấm chủ lực rất mạnh và cơ động. Ta đã tạo được quả đấm ở đồng bằng như khu 9, Khu 8 và đang phát triển. Ta đã tạo được một bàn đạp áp đảo xung quanh Sàigòn, đó là một chiến lược lớn lắm. Đô thị đã bắt đầu có phong trào quần chúng. Những điều đó chứng tỏ chúng ta mạnh. Trên thế mạnh đó, ta chuẩn bị cho quyết tâm hai năm… “Ngụy đang xuống dốc về mọi mặt, quân sự, chính trị, kinh tế. Do ta tấn công và cả bản thân nó nữa… “Còn Mỹ thì thế nào? Mỹ đã thất bại nhiều, thất bại cả về chiến lược toàn cầu. Vì vào Việt Nam, Mỹ đã yếu đi, rất nguy hiểm. Nay trở vào nữa thì sẽ rút xuống không còn gì cả, sẽ mất tất cả. Tuy thế, ta vẫn phải đề phòng. Có thể Mỹ sẽ dùng không quân hải quân có mức độ. Nếu ta đánh không mạnh, không nhanh mà kéo dài, thì Mỹ sẽ vào mức độ nào đó để cứu vãn cho Ngụy không thất bại hoàn toàn. “Nhưng một điều cần khẳng định là dù Mỹ có vào như thế nào đi nữa ta vẫn quyết tâm đánh, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. Lý do đơn giản là vì ta không muốn bị nô dịch, mất nước. Ta muốn tự do độc lập và thống nhất. “Phương châm phương pháp cách mạng của ta là: Tấn công nổi dậy, nổi dậy tấn công, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, tiêu diệt làm chủ, làm chủ tiêu diệt, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa. “Năm 1975 phải thế nào? - Phải thắng nhanh ở đồng bằng Nam bộ dính liền với chủ lực Miền đông, tạo liên hoàn từ Miền đông đến đồng bằng sông Cửu Long. Giành nông thôn nhiều hơn, giải phóng nhân dân nhiều hơn. Vây ép Sàigòn hơn, diệt chủ lực ngụy bảo vệ Sàigòn để tạo sức ép Sàigòn mạnh hơn. Làm sao cho từng địa phương mạnh hơn, hoàn thành nhiệm vụ và để đủ sức lợi dụng thời cơ. Phải có cú mạnh ở Tây Nguyên, nhưng có khả năng thì đánh Ban Mê Thuột, Khu 5, chú ý vùng Bình định, Đà Nẵng, – Trị Thiên thì vùng Huế. “Phải diệt chi khu quận lỵ rồi diệt tiểu khu thị xã. Phải diệt từng trung đoàn, sư đoàn chủ lực của Ngụy. “Năm 1975 làm được như vậy thì mới rõ năm 1976, cho nên năm 1976 là kết quả của 1975. “Ta còn có khó khăn nhưng khó khăn mấy cũng quyết vượt để đi lên hoàn thành nhiệm vụ. vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình ở Đông nam Á và thế giới chúng ta phải giành toàn thắng. Ta có trách nhiệm với nhân dân ta, ta còn có trách nhiệm với nhân dân cả thế giới”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:48:51 pm Khi kết luận hội nghị, nói về đánh Ban Mê Thuột anh Ba chưa nói tiếng nói cuối cùng, tôi hiểu có lẽ anh dành quyết tâm ấy cho Quân ủy Trung ương. Trước đó tôi đã có dịp trình bày với anh Ba rằng để giải phóng toàn tỉnh Phước Long với địa hình phức tạp và địch đã chú ý phòng ngự, B2 đã dùng tất cả có 2 sư đoàn kết hợp với lực lượng địa phương tại chỗ. Hai sư đoàn đó không đầy đủ, ghép các trung đoàn lẻ lại, không phải là những đơn vị mạnh và có rất ít pháo lớn và xe tăng chi viện, ta lại đánh kéo dài, lần lượt, không còn bất ngờ. Thế thì đánh Ban Mê Thuột, ta có ba sư đoàn và xe tăng, pháo lớn mạnh, nhất định ta chắc thắng. Xong hội nghị tôi hết sức phấn khởi và tin tưởng. Chì còn chờ và mong được biết Quân ủy Trung ương có hạ quyết tâm đánh Ban Mê Thuột hay không để có cơ sở làm kế hoạch đợt hai mùa khô cho B2. Vì đánh hay không đánh Ban Mê Thuột sẽ ảnh hưởng khác nhau đến toàn chiến trường Miền Nam. Tôi tin rằng nếu đánh Ban Mê Thuột thì tốc độ chiến tranh sẽ nhanh lên nhiều. Vì vậy mà kế hoạch của B2 phải rất phù hợp nếu không thì không kịp với thời cơ. Tôi quyết định tìm cách biết rõ vấn đề nay trước khi lên đường về chiến trường.
Ngày 15-1, Đoàn chúng tôi còn gặp anh Ba để anh có chỉ thị cuối cùng. Lần này anh đi vào những vấn đề rất cụ thể, về cách đánh, về diệt đơn vị địch, phá dự trữ của chúng. Về bố trí lực lượng của ta vùng Sàigòn, biệt động, đặc công phải mạnh. Anh vẫn nhấn mạnh lực lượng tổng hợp, chiến lược tổng hợp. Anh nói về quả đấm, củ lực phải thế nào? Quả đấm đồng bằng thế nào, và đặc biệt nói nhiều về đô thị. Anh nói ở đó thì phải hết sức chú trọng phong trào quần chúng, phải thành cao trào. Mũi nhọn là lực lượng công đoàn. Lãnh đạo chỉ đạo chính trị ở Sàigòn phải sắc bén lắm mới được vì chính trị thay đổi rất nhanh, từng ngày, từng giờ, phải kiên quyết và sắc bén như Lênin đã làm. Giành được chính quyền đã khó! nhưng giữ được chính quyền còn khó gấp trăm, cho nên ngay từ giờ phải suy nghĩ lo tổ chức ngay. Phải quyết tam và tin tưởng thắng lợi to năm 1975. Ngày 20-1, chúng tôi còn gặp anh Lê Đức Thọ để anh dặn dò thêm một số việc. Anh nói: “Kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo từ trước đến nay vẫn là đánh giá cho hết địch ta. Và anh cho biết đã quyết tâm đánh Ban Mê Thuột rồi. Anh kẻ: “Tôi đã đến cuộc họp thường trực Quân ủy Trung ương; đã truyền đạt quyết tâm của Bộ chính trị là đánh Ban Mê Thuột. Chỉ chấp hành lịnh không thảo luận gì nữa cả”. Trong quyển “Đại thắng mùa xuân” Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng viết: “Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê Đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và phối hợp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng Bộ chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Ban Mê Thuột chưa thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên đã cử đồng hí Lê Đức Thọ đến tham gia ý kiến với chúng tôi là nhất quyết đánh Ban Mê Thuột. Đồng chí Lê Đức Thọ nói rất sôi nổi: “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Ban Mê Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Ban Mê Thuột là thế nào?”. Chúng tôi rất vui mừng về quyết tâm và từ đó trở đi, lúc nào tôi cũng suy nghĩ hình dung về sự diễn biến có thể của toàn chiến trường Miền Nam và kế hoạch hoạt động của B2. Chắc chắn là phải chạy, không thể thư thả được. Tôi nhớ lại câu nói không thể quên của anh Ba trong thời kỳ khẩn trương của chiến tranh là: “Phải vừa chạy vừa sắp hàng, không phải đợi sắp hàng xong mới chạy”. Ngày 24-1-1975, Đoàn chúng tôi lên đường về B2 với tâm trạng rộn ràng náo nức. Đầu óc tôi không bao gờ dứt suy nghĩ về các mục tiêu phải đánh, về sử dụng lực lượng thế nào. Nhiệm vụ rất nặng nề đang chờ đợi. Phải đi nhanh, về gấp. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:51:16 pm * * * Kết quả hoạt động đợt 1 mùa khô 1974-1975 của toàn chiến trường B2 thật là rực rỡ, thắng to, vượt mọi chỉ tiêu đề ra. Sự lo lắng của tôi trước đây rằng trong đợt này chỉ riêng B2 hoạt động có thể sẽ gặp nhiều khó khăn do địch tập trung đối phó, giờ đây không xảy ra vì rõ ràng địch rất lúng túng, bị động, suy yếu nghiêm trọng. Mặc dù địch cũng đã tập trung xử dụng không quân của cả Quân khu 2 và 4 để đối phó ta ở quân khu 3, phi cơ chiến đấu, có lúc xử dụng đến 160 trực thăng, nhưng không giải quyết được gì trên chiến trường. Về bộ binh chúng đã điều Liên đoàn 4 biệt động quân từ Kontum về Long Bình, sau đó thay đổi bằng liên đoàn 8 biệt động quân từ Dực Đức vào, điều lữ đoàn 4 dù rồi lữ đoàn 2 dù từ Đà Nẵng về căn cứ Hoàng Hoa Thám, lữ đoàn 4 thủy quân lục chiến từ Trị thiên về căn cứ Sóng Thần, nhưng không phải để phản công mà là để lo tăng cường phòng ngự hướng Bắc và Đông Bắc Thủ Đô Sàigòn của chúng. Kết quả cụ thể riêng một đợt từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2-1975 đã hơn hẳn bất cứ đợt hoạt động nào từ trước đến nay. Ta giải phóng hoàn toàn 1 tỉnh, 4 huyện, 72 xã, 489 ấp, và giải phóng cơ bản 52 xã khác. Số dân mới giải phóng là 584.800 người. Đã tiêu diệt 1548 đồn bót trong đó có 1 tiểu khu, 8 chi khu, 3 yếu khu, 88 phân chi khu. Đã phá hủy 108 máy bay, 110 tàu, 494 xe các loại và diệt 56.315 tên địch, thu 12.122 súng, 786 máy vô tuyến điện, 118 xe và 2 máy bay. Mặc dù những con số ấy rất có ý nghĩa, nó vẫn chưa nói được hết giá trị thắng lợi của đợt 1 mùa khô 1974-1975 của chiến trường B2. Thắng lợi ấy không phải chỉ là kết quả của 1 đợt mà nó là sự phát triển hoàn toàn phù hợp từ thắng lợi mùa khô năm 1974 và liên tục cả mùa mưa. Trung ương cục và quân ủy Miền phán đoán trước được thắng lợi này khi đã nhận thức được sự chuyển biến tình hình đã diễn ra trên chiến trường giữa ta và địch khi kết thúc mùa khô 1974, từ đó thúc đẩy tình hình qua hoạt động tiếp tục mùa mưa và đến đầu mùa khô này. Quân và dân B2 đã hiểu được địch, đã biết được mình, để nỗ lực tấn công và nổi dậy không mệt mỏi từ mùa khô năm trước đến mùa khô này, càng đánh càng mạnh, càng mạnh về lực thì càng lên về thế. Trong lúc đó Ngụy đã bắt đầu suy sụp từ mùa khô 1974, bị đánh liên tục từ đấy đến nay, càng bị suy sụp nặng, không còn cách gì gượng lại được. Thực ttế đã chứng minh nhận định đánh giá tình hình của Trung ương cục là chính xác và từ đó có chủ trương chính xác. Lần đầu tiên trong hàng chục năm chiến tranh một tỉnh (Phước Long) hoàn toàn được giải phóng mà tỉnh đó lại là ải địa đầu của Quân khu 3 địch, là một quân khu mạnh vào bậc nhất nhì, có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô, trung tâm đầu não chiến tranh của Mỹ ngụy. Sự kiện ấy diễn ra trong lúc ngụy còn trong tay một lực lượng trên một triệu quân về lý thuyết và cũng gần 1 triệu quân về thực tế và được trang bị mạnh bằng vũ khí, phương tiện Mỹ, được Mỹ xây dựng, huấn luyện và chỉ huy để thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Thế mà Mỹ ngụy không hề điều được một đơn vị quân chủ lực nào để phản ứng dối phó bảo vệ cho cửa ngõ vào Sàigòn. Và cả Mỹ nữa, cũng đành đứng mà nhìn Ngụy, đứa con mang nặng đẻ đau cả hàng chục năm trời, bước vào ngưỡng cửa của thời kỳ bại vong nguy hiểm. Phước Long giải phóng khác nào như thanh gươm đang kề sát vào cổ Sàigòn, mà ngụy quyền Sàigòn giống như một tên ngoan cố keo kiệt quá cỡ, thà chết chớ không chịu dể mất một tấc đất nào, có bao nhiêu quân đều rải ra phòng giữ khắp hang cùng ngõ hẻm, rốt cục ở đâu bị đánh thì ở đó chịu chết, còn đâu quân mà cứu viện. Thôi thì đành dở trò cười “Ba-ngày-toàn-quốc-để-tang” cho Phước Long! Đây chính thức là để tang cho cái chế độ buôn dân bán nước của Ngụy Thiệu, cái chế độ đã bắt đầu thời kỳ diệt vong từ Phước Long vậy. Cũng trong đợt 1 mùa khô này, một sự kiện nổi bật khác nữa làm cho Mỹ ngụy run sợ: Đó là đòn tấn công và nổi dậy của quân dân ta ở đồng bằng sông Cửu Long đã nói lên khả năng xã giải phóng xã, quận giải phóng quận, tỉnh giải phóng tỉnh là thực tế, là một chủ trương đúng đắn. Chỉ trên 2 tháng, ta đã tiêu diệt 15 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 34.400 tên, phá tan 168 đồn bót trong đó có 2 chi khu quận lỵ, 2 yếu khu, 11 căn cứ, 65 phân chi khu. Bằng tấn công của lực lượng vũ trang, ba thứ quân, kết hợp với cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, ta đã giải phóng hoàn toàn 51 xã, 414 ấp, giải phóng cơ bản 49 xã khác. Số dân giải phóng là 48.900 người. Đặc biệt khu vực dành thắng lợi lớn, phong trào cách mạng lên mạnh là Trà Vinh, Vĩnh Long, trọng điểm số 1 của quân khu 9, vùng ruột quan trọng của đồng bằng Cửu Long. Nếu tướng Mỹ Gavin có theo dõi sát tình hình chiến sự, hắn đã tỉnh ngộ ra rằng cái phương án co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long của y đã bị phá sản từ lúc chưa kịp thực hiện. Ngay ở Sàigòn và vùng ven là nơi địch hết sức chú trọng củng cố phòng ngự, chống nổi dậy, là nơi mà càng thua, địch càng điều thêm lực lượng về đây để giữ mạng sống cho chúng, phong trào cách mạng cũng sôi nổi trong đợt này và ta cũng giành được thắng lợi đáng kể. Trong thời gian đó ở vùng ven, ta đã giải phóng hoàn toàn 3 xã, 37 ấp, 17.000 dân và giải phóng cơ bản 4 xã nữa. Địch phải co lại trong đồn bót và nhiều nơi ban đêm cũng không dám ngủ trong đồn, không tin được vào công sự và vũ khí của chúng, Kềm kẹp của Ngụy quyền bị lỏng, nhân dân đi lại làm ăn tự do hơn, thậm chí dân trong nội thành đã ra vùng ven để liên hệ với cách mạnh, nhận nhiệm vụ của cách mạng. Đây là một tình hình gần giống như hồi tết Mậu Thân. Hoạt động ở đây không có chủ lực, không có xe tăng, pháo lớn. Ta chỉ có đơn vị đặc công, bộ đội địa phương, du kích nhưng các đơn vị nhỏ tinh nhuệ đó đã phát huy tác dụng vì biết kết hợp chặt chẽ với nhân dân đang khát vọng tự do hòa bình, đứng lên, nổi dậy, làm chủ. Trong đợt một mùa khô này ta còn giải phóng được vùng Tánh Linh, Hoài Đức, thuộc tỉnh Bình tuy để làm bàn đạp sau này cắt đứt lộ 1 và là nơi xuất phát của mũi tấn công vò Biên hòa và vào Sàigòn từ hướng đông. Cũng như ta đã làm chủ một khu vực tương đối rộng dọc tuyến Vàm cỏ Tây để tạo điều kiện cho lực lượng ta tiến vào cắt đứt đường số 4 khi cần thiết, bao vây cô lập Sàigòn với đồng bằng. Ta cũng đã bắt đầu khống chế sân bay Biên hòa có kết quả mà kẻ địch, không có cách nào đối phó. Đặc biệt là trên hướng bắc Sàigòn có tầm chiến lược lớn lao, ta đã bịt tai bịt mắt kẻ địch với kết quả chiếm lĩnh 2 trung tâm viễn thám và chuyển tiếp truyền tin quan trọng, đó chính là 2 pháo đài của địch, núi Bà Rá và núi Bà Đen, 2 cao điểm đột xuất. Thắng lợi đợt một mùa khô năm 1974-1975 đã giúp chúng ta hiểu rõ kẻ địch của ta hơn, sức lực và khả năng hành động của chúng đến đâu, đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu rõ được ta, khả năng thực tế, biện pháp cách mạng phải tiến hành và chỗ ta đang đi là chỗ nào trên đoạn chót con đường trường chinh trên một vạn ngày khói lửa. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:17 pm CHƯƠNG SÁU NGHÌN NĂM CÓ MỘT TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN Một dân tộc đã biết đứng lên cầm vũ khí tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn để tự giải phóng cho mình khỏi ách nô lệ thì dân tộc đó cũng biết phải kết thúc cuộc chiến tranh thế nào cho có lợi nhất. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hy sinh chiên đấu kiên cường và cũng đã ký kết hiệp định Paris, mong chấm dứt chiến tranh trong không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc và kết thúc sự can thiệp của Mỹ trong danh dự. Nhưng kẻ thù của chúng ta lại nghĩ khác. Chúng xoay vào một âm mưu thâm độc, nhằm đưa cuộc chiến tranh đi đến “tàn lụi” để chúng nắm phần thắng hoàn toàn. Nhưng ở đời, mưu sâu thì họa càng sâu. Mỹ đã đánh giá được sức chiến đấu và lòng dũng cảm của chúng ta, nhưng Mỹ chưa hiểu hết được sự khôn khéo và trí thông minh của con người Việt Nam; tưởng có thể lừa dối được chúng ta. Nếu pháp lý hiệp định không chấm dứt được chiến tranh thì chỉ còn một phương pháp độc nhất là phải dùng bạo lực cách mạng vậy. Nhân dân ta rất cần hòa bình nhưng là hòa bình thực sự gắn liền với tự do độc lập dân tộc và phù hợp với lương tri loài người. Với tình thần trách nhiệm cao trước nhân dân và nhân dân thế giới, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra nghị quyết hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và đi đến thống nhất nước nhà trong hai năm 1975-1976. Chấp hành nghị quyết ấy Bộ chính trị đã hạ quyết tâm cụ thể: đánh Ban mê thuột giải phóng Tây Nguyên, tạo ra thời cơ thuận lợi cho giai đoạn cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm. Đã qua trọn hai năm từ khi có Hiệp định Paris. Thế mà tiếng súng chưa hề dứt bất cứ ở nơi nào khắp các chiến tường. Máu người Việt Nam vẫn tiếp tục đổ chỉ có người Mỹ và chư hầu thì rút về nước một cách an toàn vì chúng ta thi hành hiệp định còn Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” mà không phải “Hòa bình hóa Việt Nam”. Con số “hai năm” là có sự trùng hợp. Hiệp định Genève qui định hai năm tổng tuyển cử thống nhất nước nhà nhưng Mỹ - Diệm đã xé toạc hiệp định khi vừa ký ráo mực: Hai năm qua đi mà trên cả Miền Nam lúc ấy cũng không ngớt tiếng súng của quân đội Diệm bắn giết những người yêu nước trong các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”. Nhưng có điều khác nhau căn bản của hai năm hồi ấy và hai năm ngày nay. Đó là sau hiệp nghị Genève toàn thể quân đội ta đã phải tập kết hết ra Miền Bắc, chỉ còn độc nhất quân đội Diệm ở Miền Nam, tự do nổ súng vào những người tay không. Còn sau hiệp định Paris, quân đội ta vẫn đứng đây, xen kẽ với quân đội Thiệu trên cả các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị. Chúng không thể tự do hành động vi phạm hiệp định mà không bị trừng trị. Mỗi một mưu đồ đen tối của chúng đều không lọt qua được con mắt cảnh giác của nhân dân ta, của lực lượng vũ trang giải phóng của ta. Suốt mùa khô 1974-75, hết sự kiện vi phạm này đến sự kiện vi phạm khác, từ đòn trừng trị này đến đòn trừng trị khác, ngày nay thế và lực đôi bên đã thay đổi: ta mạnh hơn hẳn địch. Tỉnh Phước Long giải phóng như một cái mốc sáng màu da cam nên cả ta và địch đều nhìn quá rõ. Nhưng nhìn rõ rồi thì phải làm gì chứ. Đến lúc đó thật sự còn đủ thì giờ để nghiêm chỉnh thi hành hiệp định chấm dứt chiến tranh – riêng tôi nghĩ như vậy. Cả hai phái đoàn ngoại giao của ta vẫn kiên trì “bám trụ”, một ở Paris lộng lẫy và một ở Tân Sơn Nhất, “một tô giới xã hội chủ nghĩa” giữa thủ đô Sàigòn” như các nhà báo phương tây đã gọi. Nhưng thời gian đã trôi qua, hết ngày này sang ngày khác, tiếng súng ở Phước Long đã dứt từ lâu thì tới các tiếng súng ở Ban-mê-thuột phải nổ. Và thế là hết, xe đã mở hết tốc lực từ trên dốc cao lao xuống rồi thì còn làm sao mà cản lại được. Tôi hình dung trận đánh Ban-mê-thuột là như vậy: xe đã nổ máy rồi. Về hiệu quả cũng có thể ví nó như một ngòi pháo làm nổ tan xác “quả pháo ngụy quân ngụy quyền” đã suy yếu nghiêm trọng nhưng lại vẫn hết sức chủ quan, ngoan cố một cách lạ lùng. Từ lúc biết Bộ chính trị đã ra lệnh đánh Ban-mê-thuột, tôi tin tưởng chắc chắn rằng trận đánh này sẽ dành thắng lợi rực rỡ. Vì rằng lực lượng ta dùng vào trận này có ưu thế gấp nhiều lần quân địch tại chỗ cả về số lượng cũng như chất lượng. ta lại đánh một đòn bất ngờ sấm xét vào phía sau không được phòng bị, quân ngụy ở đây phần lớn là quân ở hậu cứ của sư đoàn và trung đoàn. Địch đã trập trung quân lực và sự chú ý mọi mặt ở phía trước, hướng Pleiku và Kontum. Quan điểm bố trí phòng ngự này của địch, xuất phát từ dự đoán hướng tấn công chủ yếu của ta vào Kon-tum – đã có từ trước và vẫn giữ cho đến tận ngày mất Ban-mê-thuột. Và như trên kia tôi đã ví như cây bị đốn từ gốc, Ban-mê-thuột bị mất thì toàn bộ Tây Nguyên không có cách nào giữ được. Thiệu không ra lệnh rút bỏ ngay 2 tỉnh Pleiku và Kontum, mong lấy quân về giữ các tỉnh ven tiển thì không lâu đâu, hai tỉnh ấy cũng sẽ bị mất thôi. Sau này khi thất thủ Tây Nguyên, rồi tan vỡ cả ở ven biển và thất bại hoàn toàn, Mỹ vội vã che dấu nguyên do chính về thất bại đau đớn của cuộc chiến tranh Việt Nam ở Đông Dương đã từng làm suy yếu và rối loạn cả nước Mỹ, bằng cách đổ lỗi cho Thiệu là tự ý rút bỏ Tây Nguyên mà không chờ xin ý kiến Mỹ. Một số nhà báo phương tây phụ họa theo luận điệu tuyên truyền này của Mỹ: thậm chí một số cán bộ của ta cũng tưởng như vậy thật vì không hiểu rõ ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của đòn tấn công Ban-mê-thuột. Sự thất bại thảm hại của Mỹ Ngụy nằm ở ngay trong mục đích phi nghĩa phản tiến bộ, chống lại lương tri lài người, của cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và thể hiện bằng đường lối chiến lược bị động, phòng ngự, giữ dân, kèm dân, đóng đồn giữ đất khắp mọi nơi. Khi tỉnh ngộ, muốn co lực lượng về cụm ở vùng chiến lược quan trọng có dồi dào nhân, vật lực, vùng Nam bộ cũ, thì đã quá muộn rồi. Đối phương đã tính trước nước cờ, không để cho Mỹ ngụy tự do co và cụm nữa, bị chia cắt và bị đánh tơi bời, nổi dậy khắp nơi cùng trong một thời gian, làm tan rã toàn bộ một đội quân cả triệu người của ngụy. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:45 pm Đồng chí Lê Duẩn trước đây đã gợi lên câu hỏi về chiến lược mà tôi đã thuật ở đoạn trên: “Đánh tiêu diệt toàn bộ hay tan rã toàn bộ”. Nếu đánh tiêu diệt toàn bộ không có nghĩa là tiêu diệt đến tên lính địch, đến đơn vị địch cuối cùng mà là phải có một hay nhiều đòn liên tiếp tiêu diệt cho được tập đoàn lực lượng chủ yếu của địch thì mới làm cho địch hết khả năng đề kháng và ta thắng lợi hoàn toàn. Nói đánh cho tan rã toàn bộ không có nghĩa là không có đòn thối động nào đó làm cho quân địch suy sụp nhanh không còn ý chí và khả năng chống cự hay phản kích mà đi đến tan rã hoàn toàn, thất bại hoàn toàn – mặc dù còn đông quân và nhiều vũ khí trang bị. Đòn thối động nói đây không nhất thiết là phải tiêu diệt cho được tập đoàn chủ yếu quân địch mà là tiêu diệt một bộ phận địch nào đó, chiếm lĩnh một số địa phương có tầm chiến lược nào đó, tạo ra một tình hình quyết định làm địch mất hết tinh thần và ý chí chiến đấu, hỗn loạn, và khi bị tấn công và nổi dậy liên tiếp sẽ tan rã từng mảng rồi toàn bộ. Tùy theo mỗi cuộc chiến tranh cụ thể, tùy theo giai đoạn chiến lược cụ thể mà chọn chủ trương và phương pháp. Đây có thể nói là một nghệ thuật trong điều khiển chiến tranh. Nghệ thuật ấy biểu hiện cụ thể ngay trong cách tổ chức phân chia chiến trường, tổ chức bố trí và xử dụng lực lượng tổng hợp, cách đánh hợp đồng các loại lực lượng, các địa phương trong từng thời gian nhất định. Đó là nghệ thuật tạo ra và phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả nước cộng với sức mạnh của thời đại. Đó là nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo Tổng tấn công và nổi dậy trong một cuộc chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang mà Đảng ta đã tiến hành. Khi hiểu các bí quyết này thì sẽ thấy rằng sự thất bại của Mỹ và ngụy không phải là ngẫu nhiên hay kỳ lạ gì cả. Số phận của chúng đã được định đoạt do một thế trận chiến lược đã được bố trí vững chắc và từng bước đưa chúng đi vào con đường dẫn tới cái huyệt đã đào sẵn. Hoàn toàn không phải do một quyết định sai lầm nhất thời nào đó của Thiệu trong chiến dịch Tây Nguyên hay trong bất cứ một chiến dịch trước đó hay tiếp theo nào. Cả Mỹ và Thiệu cùng gây ra chiến tranh cùng chủ quan ngoan cố, sai lầm về chính trị và chiến lược và cũng bị vùi dập trong hố thất bại, không thể đổ thừa cho nhau. Còn về phía ta, sự sáng suốt và đúng đắn trong mục tiêu cách mạng, trong đường lối chiến lược, trong phương pháp đấu tranh cách mạng, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh của Đảng ta đã đưa dân tộc lên con đường vinh quang đại thắng.
Khi suy nghĩ về trận đánh Ban-mê-thuột, về chiến dịch Tây Nguyên, về diễn biến của tình hình toàn Miền Nam sau Tây Nguyên, đặc biệt là diễn biến có thể của chiến trường B2, tôi vừa phấn khởi vừa rất sốt ruột. Tôi hiểu rằng tình hình sẽ diễn biến rất nhanh chóng, chiến trường sẽ ảnh hưởng sâu rộng, thời cơ sẽ vô cùng quý giá, đòi hỏi những hành động táo bạo và kịp thời. Thế mà chúng tôi có ít thời gian quá, vỏn vẹn một tháng trời sau khi từ Hà Nội về đến căn cứ, để phổ biến nghị quyết Bộ chính trị và triển khai mọi mặt công tác cho kịp nổ súng vào ngày “N” phối hợp toàn miền, theo lệnh của Bộ Tổng Tư Lệnh. Về đến nhà ngày 2 thì ngày 3 tháng 2 chúng tôi bàn việc với tham mưu, hậu cần, chính trị Miền, với Quân đoàn 4, nắm tình hình địch và ta ở các quân khu, xem xét lại kế hoạch đợt 2 mùa khô của B2 để chuẩn bị các cuộc họp của Trung ương Cục và của Quân ủy Miền. May thay kế hoạch mùa khô của B2 về cơ bản là đúng hướng. trong cuộc hội nghị của Trung ương Cục từ 13 đến 16 tháng 2, nhiều vấn đề cụ thể đã được thảo luận và đặt ra để giải quyết. trong khi thông qua kế hoạch đợt 2 mùa khô của toàn B2, các đồng chí trong Trung ương Cục đều lo lắng đến mũi vây ép và tấn công phía nam Sàigòn. Các đồng chí nhấn mạnh đến việc sớm đẩy mạnh hoạt động của ta vùng Chợ Gạo, Gò Công và nam Long An vì ở đó phong trào ta chưa mạnh, chưa đảm bảo cho lực lượng vũ trang ta tiến lên áp sát quận 4, 7 và 8 Sàigòn. Một lo lắng nữa là lực lượng vũ trang đặc biệt là chủ lực tại chiến trường, một chiến trường chủ yếu trong giờ phút này còn quá yếu. Việc ta xin Trung ương thêm lực lượng chưa vào kịp thời, dự bị chiến lược còn để quá xa. Ngoài kế hoạch quân sự, hội nghị nhấn mạnh phải làm ngay các kế hoạch nổi dậy của quần chúng, đảm bảo xử dụng được lực lượng tổng hợp của nhân dân cùng lực lượng vũ tang tổ chức việc chỉ huy thống nhất bao gồm cả các đồng chí trong cấp ủy Đảng quân sự, chính quyền, thanh niên, phụ nữ, nông hội và binh vận ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh, nhất là ở khu 8 và khu 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây thật sự là kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy, phải đảm bảo xã tự giải phóng xã, huyện tự giải phóng huyện và tỉnh tự giải phóng tỉnh. Hội nghị cũng bàn cụ thể vấn đề tổ chức và làm việc của các ban quân quản khi có thị trấn, thị xã được giải phóng. Rút kinh nghiệm những việc đã xuất hiện mà ta phải giải quyết ở thị xã Phước Long khi mới giải phóng như vấn đề tổ chức bảo đảm an toàn và chăm lo đời sống của nhân dân, đảm bảo sinh hoạt, sản xuất bình thường, trừng trị bọn gián điệp và phá hoại… để chỉ đạo cho các địa phương kịp thời. Cuối cùng là hội nghị bàn biện pháp phổ biến quán triệt nghị quyết Bộ chính trị mà không làm lộ bí mật. Giữ được bí mật quân sự, bí mật quốc gia bất cứ ở giai đoạn nào cũng là đảm bảo cho thành công. Không bàn kỹ biện pháp giữ bí mật, chưa làm đã lộ, mới dự kiến mà ai cũng biết là một trong những lý do của thất bại không thể tha thứ. Đây là vấn đề khó khăn. Các cấp các ngành phải thông suốt nhiệm vụ của mình, được động viên phấn khởi để nỗ lực giành thắng lợi lớn nhất, đi vào thực hiện kế hoạch một cách tốt nhất mà không làm cho địch hiểu biết và sẵn sàng đối phó lại. Anh Bảy Cường đã kết luận một cách dứt khoát: Phải đảm bảo làm thực sự mà không nói hay nói rất ít. Chống lại lối ba hoa một tấc đến trời, chưa làm đã nói tung ra, nói mười làm chỉ một. Phải kiên quyết: - Không nói gì về hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ. - Không nói gì về kế hoạch 2 năm 1975-1976. - Không nói gì về Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa. - Không nói gì về nghị quyết mới, xem như chỉ có nghị quyết 21, nghị quyết mà địch đã nắm và đến nay chúng chỉ biết tới đó. Chỉ phổ biến công tác từng bước chặt chẽ nhưng kịp thời. Trên tinh thần và nội dung hội nghị Trung ương Cục này mà chúng tôi tiến hành cuộc hội nghị quân sự Miền vào cuối tháng hai để triển khai toàn bộ công tác quân sự. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:47:40 pm Trước khi bước vào đợt hai mùa khô đầu tháng Ba, theo qui định chung của Bộ Tổng tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau xót của Mỹ Ngụy là công việc bình địch mà chúng đã bỏ ra bao nhiêu công sức và tiền của, đến nay đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hanh quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng giêng, ở biên giới Kiến Tường, Chợ Gạo – Mỹ Tho, Thầy Phó – Trà Vinh, Thới Bình – Ca Mau, khu vực Rạch giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại, ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước sau dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở Miền Đông nam Bộ chúng định tập trung quân, cố chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “chiến dịch 274” nhưng không thành và bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Chúng xoay qua nỗ lực chiếm lại núi Bà Đen – một vị trí thiết yếu cho chúng không những đối với công cuộc phòng thủ cả Miền Đông nam Bộ, Sàigòn mà còn để bảo vệ cho Kampuchia – PhnomPênh (Lonnol) nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng giêng Quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của Bộ Tổng tham mưu tham dự đã xử dụng lực lượng của Tiểu khu Tây Ninh và Sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (đổ đồng trên 6000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần chiếc/ngày) đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ qân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng… Rốt cuộc địch đành nhận thất bại lui về phòng thủ Tây Ninh.
Thắng lợi rất có ý nghĩa của trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. Đó là tiểu đoàn trinh sát 47 trực thuộc Bộ tham mưu Miền được tăng cường 2 đại đội đặc công của trung đoàn 429, một đơn vị súng máy cao xạ và một đơn vị cối, tất cả chỉ trên 300 cán bộ và chiến sĩ. Hiểu rõ giá trị của trận đánh, Bộ Tư Lệnh Miền đã chỉ định đồng chí Ba Trầm, tham mưu phó Miền trực tiếp chỉ đạo, các đồng chí Sơn Bích và Chín Lộc, trưởng và chính trị viên phòng 2, phải thông qua phương án tác chiến và các đồng chí Huỳnh Long, phó phòng 2, đồng chí Hải trưởng trinh sát trực tiếp chỉ huy trận đánh. Đêm 3 tháng 12, đơn vị tấn công vị trí từ 3 hướng. Hướng Tây nam là mũi chính do đồng chí Tộ làm mũi trưởng, đồng chí Thăng làm mũi phó và 5 chiến sĩ đã thọc thẳng vào trung tâm cứ điểm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nhưng quân địch được phi cơ và trực thăng chi viện đã phản kích và giữ được vị trí. Toàn tổ đã hy sinh anh dũng. Được hướng dẫn của trên, đơn vị chuyển qua bao vây đánh lấn, chặt đứt mọi nguồn tiếp tế, không cho một trực thăng nào đổ bộ được. Quân địch nguy khốn buộc phải rút chạy vào cuối tháng 12 nhưng bị diệt và bắt sống gần hết. Vì là một cứ điểm quan trọng chuyển tiếp truyền tin cho cả 2 chiến trường Việt Nam và Kampuchia, nên cả Bộ Tổng tham mưu và Quân đoàn 3 ngụy quyết tâm chiến lại cho kỳ được, bằng những trận đánh vô cùng ác liệt. nhưng đơn vị trinh sát, đặc công nhỏ của ta đã thắng một lực lượng binh chủng hợp thành lớn của địch, lớn hơn ta gấp cả hàng chục lần. Sự thắng lợi ở đây là của cả thế và lực, của sự khôn khéo và trí thông minh, lòng dũng cảm và kỹ năng chiến đấu, của ý chí và quyết tâm, của sự chịu đựng khó khăn gian khổ và sự hy sinh quên mình vì nghĩa lớn của dân, của nước. Phải chăng trên ý nghĩa nầy, trận đánh là một hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng của ta chống lại đế quốc Mỹ: ít đã thắng nhiều, nhỏ đã thắng lớn, tài trí và nghĩa nhân đã thắng vũ phu và cường bạo, chính đã thắng tà. Trận đánh càng có giá trị vì nó diễn ra vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, bịt tai mắt của địch cho ta chuẩn bị tấn công vào sào huyệt cuối cùng của chúng. Trong thời kỳ đó, tình báo ta báo cáo rằng địch đã phát hiện ý định của ta vào cao điểm mùa khô 1975 từ Tết Ất Mão cho đến tháng 6 năm 1975: Ta chủ yếu là đánh phá công cuộc bình định của chúng mà trọng điểm là đồng bằng Cửu Long, tiêu diệt và làm suy yếu quân ngụy, buộc Thiệu từ chức, thực hiện giải pháp chính trị thành lập chính phủ liên hiệp. Hoặc có thể tổng tấn công, đánh chiếm một số thành phố Quảng Trị, Kontum, Tây Ninh, Long Khánh, Kiến Tường, Chương Thiện. Ngày 18-2 tại Phủ Tổng thống, Bộ quốc phòng ngụy đã thuyết trình về tình hình quân sự và dự đoán: - Tại Quân khu 1 ta sẽ tấn công và bức rút các quận lỵ cận sơn lâm ung thúi đồng bằng, pháo kích phi trường Đà Nẵng, lấn chiếm thị xã Huế. - Tại Quân khu 2 ta sẽ chốt chặn phong tỏa lâu ngày các lộ 1, 19, 14, 21, cô lập và tấn công các tỉnh Kontum, Pleiku. - Tại Quân khu 3 ta sẽ tấn công chiếm thị xã Tây Ninh, bức rút Chơn Thành, Phú Giáo, Trị Tâm và cô lập Sàigòn bằng chốt chặn các đường 1, 4, 20, 15. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:48:31 pm Rồi kết luận:
Ta sẽ phát động chiến dịch Xuân hè tháng 3-1975 nhằm thực hiện kế hoạch mấu chốt trong năm 1975 la đánh phá mạnh mẽ kế hoạch bình định, giành đất, giành dân, tiêu hao tiềm năng quân sự của chúng. Quân khu 2 là trọng điểm. Các quân khu khác là phối hợp. Hiện nay sự chuẩn bị của “cộng sản” đã gần hoàn tất. Khắp các chiến trường chúng tăng cường công tác phòng thủ, tung trinh sát thăm dò và theo giõi các lực lượng của ta. Chúng khẩn trương khôi phục các đơn vị vừa qua bị thiệt hại nặng và bị tiêu diệt. Địch liên tục báo động cho các cấp là ta sẽ tấn công vào dịp tết âm lịch rồi sau đó thông báo là ngày 14-2 mở đầu, rồi lại thông báo là ngày 20-2 v.v… Chúng đặc biệt chú trọng hướng Chương Thiện ở Miền Tây, Kiến Tường ở Miền Trung, Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Long Khánh ở Miền Đông nam Bộ. Phần lớn lực lượng của sư đoàn 25 tập trung lên khu vực thị xã Tây Ninh. Sư đoàn 18 điều hết qua phía đông Sàigòn quanh Xuân Lộc. Dùng quân dù và biệt động tích cực sục sạo vùng ven phía bắc Sàigòn. Nói chung vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 quân địch đã biết chắc ta sẽ mở đợt tấn công cao điểm mùa khô, chúng đã có kế hoạch bố phòng, sẵn sàng đối phó lại. Nhưng chúng vẫn không rõ qui mô và phương thức tấn công, không biết thời gian nào bắt đầu, đoán sai hướng chủ yếu tấn công của ta. Trong lúc đó tinh thần sĩ quan và binh lính của chúng tiếp tục hoang mang suy yếu, rất căng thẳng, không tin tưởng có khả năng đối phó lại ta. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền, lủng củng. Thiệu, Khiêm mâu thuẫn nhau, Kỳ lăm le chờ thời cơ đảo chính, lên nắm quyền. Mỹ phải tìm mọi biện pháp để giúp Thiệu, tránh xáo trộn nguy hiểm về chính trị. Martin, đại sứ Mỹ và Polgar trùm CIA Mỹ ở Sàigòn hoạt động ráo riết, lo lắng và kịp thời chặn tay Kỳ, khuyên Khiêm, trấn áp phe phái đối lập, bảo vệ Thiệu, che chở cho chế độ Thiệu ngay ở Mỹ, đối đầu cả với dư luận nhân dân Mỹ, với Quốc hội Mỹ. Tại Sàigòn, phong trào đấu tranh của quần chúng càng ngày càng lên mạnh, đòi cứu đói, công nhân chống sa thải, đồng bào “lánh cư” đòi cấp phát gạo, phong trào phụ nữ đòi quyền sống, cùng đấu tranh sôi nổi, các nhà giáo chống việc đóng cửa 5 tờ báo đối lập và bắt hàng chục ký giả. Đã có những cuộc biểu tình, những cuộc tuyệt thực đòi thả tù chính trị, đòi Thiệu từ chức và lập một chính phủ thi hành hiệp định Paris. Sau khi mất Phước Long, mất cứ điểm núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh bị uy hiếp và nhiều tin đồn ta sẽ giải phóng tỉnh Tây Ninh để làm thủ đô của chính phủ Cách mạng lâm thời cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, tình hình ở thị xã này rất xáo tộn. Một bộ phận nhân dân lo lắng chiến trận diễn ra sẽ bị chết chóc nên đã lánh nạn về vùng nông thôn, vùng cách mạng làm chủ và cả về Sàigòn. Dân sống gần các cứ điểm quân sự ngụy đã giãn xa để khỏi bị vạ lây. Các nhà lãnh đạo của đạo Cai đài, biết rõ quân ngụy không còn bảo vệ họ nổi mà có cơ tòa thánh bị tàn phá nên đã ra tuyên bố “trung lập”, vận động ngụy quyền rút lực lượng ngụy quân, cả phòng vệ dân sự ra khỏi “thánh địa”, mà lâu nay chúng dựa vào đấy chống lại quân giải phóng. Ở An Giang, đạo Hòa hảo cũng lập lực lượng vũ trang riêng biệt để tự bảo vệ và để thực hiện ý đồ chính trị riêng khi Thiệu sụp đổ. Ngày 30-1-1975, Thiệu đã ra sắc lệnh giải tán Tổng đoàn Bảo an của Hòa Hảo, không chịu để “một quân đội trong một quân đội”. Vì vậy đã nổ ra cuộc xung đột giữa lực lượng vũ trang Hòa Hảo và cảnh sát của Thiệu ở Sađéc, Kiến Phong, Long Xuyên. Cuộc đàn áp đẫm máu của Thiệu đã làm nhiều người bị thương, hàng trăm bảo an Hòa Hảo bị bắt trong đó có cả những người cầm đầu. Như vậy là bước vào đợt 2 mùa khô 1974-75, trên toàn Miền Nam mà đặc biệt là trực tiếp ở chiến trường B2, ngụy Thiệu đang đứng trước một tình hình hết sức rối rắm cả về quân sự, kinh tế, chính trị và xã hội. Trên cơ sở kế hoạch đợt 2 mùa khô đã được Trung ương Cục thông qua, Bộ tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ và thông qua kế hoạch của Quân đoàn 4, các sư đoàn, và các quân khu. Đồng chí Tám Phương tức Thiếu tướng Lê Quốc Sản, tư lệnh Quân khu 8, đã trực tiếp nhận nhiệm vụ. Đồng chí rất phấn khởi và tin tưởng có thể thực hiện đúng kế hoạch vừa tự giải phóng các tỉnh trong quân khu mình bằng tấn công và nổi dậy, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng mà Miền giao để đảm bảo thành công trên toàn chiến trường. Đó là dùng lực lượng của mình tham gia tấn công dứt điểm Sàigòn từ phía Nam mà mục tiêu chủ yếu là Tổng nha cảnh sát Ngụy và làm chủ cắt đứt đường số 4 chiến lược đê thực hành bao vây thủ đô ngụy hướng tây nam. Đồng chí đã phát biểu với Bộ tư Lệnh Miền: - Quân và dân Quân khu 8 hết sức vinh dự được tham gia chiến dịch lịch sử, tiêu diệt hang ổ cuối cùng của Mỹ ngụy là Sàigòn. Bao nhiêu năm chiến tranh mới có được giờ phút vinh quang này. Thay mặt lực lượng vũ trang Quân khu 8, tôi xin hứa thực hiện đúng kế hoạch đã thông qua, dành thắng lợi lớn nhất, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên. Còn Quân khu 9, mặc dầu xa và đi lại rất khó khăn, đồng chí Ba Hải tức Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng, tư lệnh quân khu, cũng đã về miền trực tiếp nhận mệnh lệnh, bằng chuyến đi công khai mạo hiểm, nhưng tổ chức rất chu đáo và kịp thời. Đồng chí hứa sẽ chọn Trung đoàn 1 là trung đoàn mạnh nhất của Quân khu đang cùng trung đoàn 3 của tỉnh và lực lượng quân dân tại chỗ giải phóng vùng chiến lược quan trọng là Vĩnh Bình – Trà Vinh, cắt đường số 4, đường sông Măng Thít và sẵn sàng nếu có lịnh lên tham gia cùng lực lượng quân khu 8 đánh vào Sàigòn từ phía Nam. Việc khống chế sân bay Lộ Tẻ mặc dù có khó khăn, đồng chí hứa đảm bảo nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ để đóng góp vào thắng lợi chung. Trong khi đó đồng chí Sáu Hát tức đại tá Nguyễn Trọng Xuyên, tư lệnh Quân khu rất lo lắng với nhiệm vụ nặng nề giải phóng từ tỉnh Bình Tuy đến Di Linh, Đà Lạt và các tỉnh ven biển thuộc quân khu mình. Sở dĩ như vậy vì ở quân khu này là nơi ta có rất nhiều khó khăn về mọi mặt. Lực lượng quần chúng có tổ chức chưa đủ mạnh và lực lượng vũ trang thì bộ đội địa phương còn nhỏ bé, du kích không nhiều, lực lượng chủ lực chỉ vỏn vẹn một trung đoàn 812. Sự cân nhắc thận trọng sức lực của mình trước nhiệm vụ lớn lao như vậy hoàn toàn phù hợp với tinh thần trách nhiệm của một cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Thay mặt Bộ tư lệnh Miền tôi đã phân tích tình hình chung trên toàn chiến trường, các yếu tố thuận lợi trong giai đoạn chiến lược này sẽ tạo ra sức mạnh rất lớn cho quân khu hoàn thành nhiệm vụ. Với sự phối hợp của lực lượng bạn, quân và dân trong quân khu, trung đoàn 812 chủ lực, sẽ đóng góp xứng đáng chiến công của mình, sẽ dành thắng lợi to lớn như các chiến trường khác. Đồng chí yên tâm, hứa cố gắng tối đa nhưng tôi cảm thấy ở đồng chí vẫn còn nhiều lo lắng. Mặc dù vậy tôi biết đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ vì tin ở trên, tin ở sự nỗ lực chung của toàn chiến trường trong giai đoạn quan trọng này. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:49:45 pm Quân khu 7 do đồng chí Đại tá Lê Văn Ngọc, tư lệnh và đồng chí Đặng Ngọc Sĩ, phó tư lệnh quân khu kiêm sư trưởng Sư đoàn 6 có mặt ở Miền để nhận nhiệm vụ. Các đồng chí trình bày về sự yếu kém của sư đoàn thiếu của mình, yêu cầu Miền bổ sung gấp về quân số và trang bị nhưng hứa chắc vượt mọi khó khăn để thực hiện đúng kế hoạch. Nhiệm vụ quan trọng nhất của quân khu là phối hợp với trung đoàn 812 của Quân khu 6 nhanh chóng quét sạch địch ở khu vực Tánh Linh, Võ Đắc thuộc tỉnh Bình Tuy để thành bàn đạp thuận lợi cho Quân đoàn 4 tấn công Xuân Lộc và Biên Hòa, Sàigòn, cắt đứt cho được đường số 1 từ Xuân Lộc đến Rừng lá để cô lập Sàigòn với ven biển Miền Trung, Đường 15 Sàigòn - Vũng Tàu và tham gia tấn công địch với Quân đoàn 4.
Về Quân đoàn 4, tới lúc này cũng chỉ gồm có hai sư đoàn 7 và 9, các binh chủng vẫn rất yếu. Ban đầu theo yêu cầu của B2 Bộ Tổng Tham mưu dự định điều sư đoàn 968 ở Tây Nguyên vào để kịp củng cố Quân đoàn. Sau lại thay bằng Sư đoàn 316. Nhưng, đều không được. Cuối cùng đã quyết định lấy sư đoàn 341 đang xây dựng và đứng ở vùng quân khu 4 của ta, hành quân cấp tốc vào. Ngày 11 tháng 2 tôi đã điện ra Bộ Tổng tư lệnh đề nghị điều gấp sư đoàn vào. Điện viết: “đề nghị cho đơn vị anh Trân (tức sư trưởng sư đoàn 341) vào sớm. Đầu tháng 3 cố gắng vào được một nửa thì mới kịp”. Chúng tôi phải điều động sẵn 1 số cán bộ đã quen thạo chiến trường và đã dày dạn chiến đấu để khi đơn vị vào đều là tăng cường ngay và huấn luyện cấp tốc về chiến thuật (Sư đoàn chưa thực tế chiến đấu nhiều). Chúng tôi cũng sẵn sàng một đơn vị trinh sát kỹ thuật gồm chiến sĩ quen thạo và các máy móc thiết bị nhẹ nhàng cần thiết cho công tác để giao cho tham mưu sư đoàn xử dụng. Nói chung quân đoàn 4 vẫn còn thiếu cả bộ binh và binh chủng theo biên chế. Thế mà kế hoạch hoạt động của quân đoàn do Bộ tư lệnh Miền chỉ thị lại chia làm 2 hướng, hướng Bình Long, Bình Dương, Tây Ninh và hướng đường 20, Long Khánh, Biên Hòa. Mỗi hướng như vậy phải do một sư đoàn trong quân đoàn kết hợp với lực lượng quân khu 7 và lực lượng các tỉnh tại chỗ cùng hoạt động. Các đồng chí trong Bộ tư Lệnh quân đoàn đã trình bày nguyện vọng và ý kiến của mình là được tập trung toàn quân đoàn về một hướng để có đủ sức mạnh chiến đấu hơn, để thực hiện được đòn tiêu diệt tạo thối động chung cho chiến trường. Chúng tôi ở Bộ tư Lệnh Miền đã suy nghĩ nhiều cân nhắc nhiều mặt về vấn đề này. Thành lập quân đoàn, mục đích chính là để xử dụng tập trung và có sức mạnh đánh tiêu diệt, vừa dành thắng lợi lớn, vừa rèn luyện cho đơn vị trưởng thành, chúng tôi hoàn toàn thông cảm với những lo lắng và suy nghĩ của quân đoàn. Nhưng tiếc rằng chúng ta đang ở thời kỳ mà sự diễn biến trên chiến trường sẽ rất nhanh chóng. Trận đánh Ban-Mê-Thuột chắc chắn sẽ gây một thối động mạch trên toàn Miền Nam và buộc địch ở chiến trường miền Đông Nam bộ có thủ đô Sàigòn đầu não này phải gấp rút đi vào phòng ngự thật vững chắc. Đây cũng là nơi mà địch sẽ phản ứng nhanh và mạnh với sự cố gắng tối đa để đảm bảo sống còn. Ta muốn thắng địch không phải chỉ biết tập trung nhiều và mạnh mà chủ yếu là có những biện pháp, những thủ đoạn phân tán quân địch, lừa địch, làm cho chúng không phán đoán nổi ý định của ta, để ta đánh những trận bất ngờ, chắc thắng. Sự thành lập quân đoàn của ta đã là chậm rồi. Lực lượng xin thêm để đủ bố trí ở các hướng theo một thế chiến lược chiến dịch dự kiến trong mọi tình huống xảy ra kể cả tình huống đột biến về quân sự, chính trị, đến nay chưa có. Như vậy, với lực lượng hiện có trong tay, ta phải biết bố trí và xử dụng thế nào cho có lợi nhất, dành thắng lợi lớn nhất và kịp thời nhất. Chiến trường B2 có trách nhiệm lớn lao là đảm bảo trận đánh quyết định cuối cùng vào Sàigòn đúng lúc và thành công chắc chắn. Muốn vậy phải sớm tạo đủ điều kiện thuận lợi cho triển khai lực lượng mọi mặt, phải áp sát vây chặt Sàigòn, phải sẵn sàng cho mọi tình huống, phải hành động được ngay khi thời cơ xuất hiện, khi có lịnh. Nếu ta đã phải dự kiến kế hoạch tấn công và nổi dậy vào Sàigòn từ trong mùa mưa 1974 để vạch kế hoạch mùa khô thì nay lại càng phải sẵn sàng cho việc tiến hành cuộc tấn công và nổi dậy ấy. Mặc dù quân đoàn còn thiếu nhưng gồm những sư đoàn thiện chiến và quen thạo chiến trường, những cán bộ dày dạn, là lực lượng chủ chốt nhất trong tay Bộ tư Lệnh Miền, cho nên việc xử dụng nó phải được cân nhắc kĩ lưỡng, phải thật phù hợp với chiến dịch và cả chiến lược, phù hợp với thời kỳ hết sức quan trọng hiện nay. Ở chiến trường Miền Đông Nam bộ vào thời điểm này, ta muốn tập trung về một hướng cho mạnh thì địch cũng sẽ tập trung vào một hướng mà đối phó quyết liệt. Tả phải giữ quyền chủ động linh hoạt không để bị kẹt vào thế giằng co kèm cứng nhau giữa ta và địch. Ta muốn có đòn tiêu diệt sinh lực có kết quả thì phải đánh vào điểm then chốt, kéo được địch để diệt mà giờ đây địch lại sống chết giữ cho được những nơi then chốt ấy. Vì vậy mà quyết tâm của Miền là xử dụng Quân đoàn ở 2 hướng nhằm mở rộng bàn đạp ở cả các hướng Bắc, Tây bắc và đông Sàigòn, mở và diệt địch bất ngờ ở những nơi rất có lợi cho ta mà chưa phải đụng chạm vào nơi thiết yếu của địch, đồng thời lại triển khai được lực lượng của ta cho cuộc tấn công khi cần thiết cấp bách. Lực lượng ta ít mà thành mạnh, đánh thắng được liên tục. Một hướng quan trọng khác của chiến trường B2 là diệt địch ở rộng phía tây tỉnh Tây Ninh, vùng Bến Cầu – Quéo Ba nhằm tạo bàn đạp cho hướng tấn công phía tây vào Sàigòn, cũng như cho mũi bao vây Sàigòn từ tây nam chia cắt với đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy Bộ tư lệnh Miền đã xử dụng ở đây Sư đoàn 5 và Sư đoàn 3. Sau này để đảm bảo thành công đối với hướng này – hướng có nhiều khó khăn nhưng rất quan trọng – Bộ tư Lệnh Miền đã quyết định thành lập Đoàn 232, tương đương với Quân đoàn để chỉ huy thống nhất cả 2 Sư đoàn và lực lượng địa phương tại chỗ, các binh chủng phối thuộc. Đồng chí Năm Ngà, một con người cần cù và dũng cảm, xem trọng tình nghĩa, đã có nhiều kinh nghiệm về chỉ huy chiến đấu của chủ lực từ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Cực nam trung Bộ, đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở Bình Tuy đợt 1 mùa khô, từng công tác tham mưu nhiều năm ở Miền, nay được chỉ định làm Tư lệnh Đoàn. Chính ủy là đồng chí Tám Trần, tức thiếu tướng Trần Văn Phác và tư lệnh phó là đồng chí thiếu tướng Trần Văn Nghiêm. Đối với đặc công và biệt động nội thành để chỉ huy thống nhất, chặt chẽ theo hướng, Bộ tư lệnh Miền đã quyết định thành lập các Bộ chỉ huy các cánh. Cánh Bắc Sàigòn do các đồng chí Mười Cơ tức Nguyễn Thanh Tùng và đồng chí Nguyễn Văn Tăng, anh hùng quân đội, cánh Tây Nam do đồng chí Nguyễn Văn Mây và Nguyễn Văn Hát, cánh Đông do đồng chí Tống Viết Dương và đồng chí Lê Bá Ước chỉ huy. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:51:04 pm * * * Ngày N nổ súng mở đầu đợt 2 mùa khô 1974-75, hay thực sự là mở đầu cuộc tổng tấn công và nổi dậy trên toàn Miền, theo quy định của Bộ Tổng tư lệnh, “Đêm 9 rạng ngày 10 tháng 3 1975”. Ngày đó đã đến. Phối hợp với chiến trường chung, trên toàn B2, từ núi rừng Khu 6 đến đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven độ thị; từ quân chủ lực đến địa phương, dân quân du kích đều nhất tề xông lên nô nức diệt địch. Cả B2 đồng loạt nổi dậy và tiến công! Trừ một vài khu vực gặp khó khăn lúc đầu, tốc độ tấn công chậm, thắng lợi có hạn chế như ở vùng Hậu Giang thuộc Quân khu 9, ở tỉnh Bến Tre thuộc Quân khu 8, còn các chiến trường khác đều thuận lợi, thực hiện đúng như kế hoạch đã dự kiến. Thắng lợi giòn giã. Ở khu vực thành phố Sàigòn, lực lượng của thành đội và đặc công, theo lối đánh tuyệt đối bí mật bất ngờ, đảm bảo thắng lợi của mình mà không hại gì đến chiến trường chung, đã được phép nổ súng từ đêm 8 rạng 9 tháng 3. Hàng loạt đồn bót địch, ở các hướng cần mở cho triển khai lực lượng và hành động sắp tới của đặc công và biệt động, lần lượt bị diệt. Lực lượng phòng vệ dân sự vừa bị tấn công, mất tinh thần, vừa được nhân dân giáo dục vận động đã tan rã nhiều trong thời gian này: Sức kèm của địch ở nhiều vùng sát nội thành bị lỏng. Những thắng lợi nổi bật là một số đồn bót địch ở Hóc Môn, trên đường 8 và vùng sông Rạch Tra, là nơi địch rất chú trọng phòng ngự cho phía bắc sân bay tân Sơn Nhất và Sàigòn cũng bị diệt. Ở Bình Chánh, chỉ huy sở tiểu đoàn 86 biệt động quân đóng ở Tân Túc bị đánh thiệt hại nặng. Ở Thủ Đức, kho hóa học Sicona của địch bị phá khoảng 40%. Kho xăng Vũng Tàu bị cháy. Và ngày 20-3, tiểu đoàn Quyết Thắng phối hợp với bộ đội địa phương và du kích đánh diệt một đoàn xe vận tải 51 chiếc chở đạn có hộ tống ở Củ Chi, trên đường số 1, tiêu diệt và gây thiệt hại nặng cho 4 đại đội địch đến tiếp cứu… Ở đồng bằng sông Cửu Long, Sư đoàn 4 của Quân khu 9 cùng lực lượng địa phương và du kích đã giải phóng Kinh Xáng Ô-Môn, Thị Đội, vào sát Thới Lai, Kinh Xáng Xàno, diệt và bức rút nhiều đồn bót, giải phóng một số xã. Tại Vĩnh Trà hai trung đoàn 1 và 3 phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ tiến hành bao vây yếu khu Thầy Phó, quét các đồn bót trên lộ Vĩnh Xuân, diệt 2 Tiểu đoàn địch đến ứng cứu, buộc địch ở Yếu khu này rút chạy, đánh thiệt hại các Chi khu Cái Nhum, Cái Vồn, từng lúc cắt đường số 4 và căn bản làm chủ tuyến sông Măng Thít. Tại Long An, ngay từ ngày 9 tháng 3, Tiểu đoàn 1 của tỉnh đã tiêu diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở huyện Bến Lức. Sư đoàn 8 của Quân khu 8 bước vào đợt ngày 11 tháng 3 đã diệt gọn căn cứ Ngã Sáu, một điểm quan trọng ở khu vực Cái Bè (ven Đồng Tháp Mười) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Địch dùng Trung đoàn 10 của Sư 7 ngụy phản kích quyết liệt để chiếm lại ngày 14-3, bị ta diệt 2 tiểu đoàn và tiểu đoàn thứ 3 bị diệt nốt khi ta đánh chiếm căn cứ lần thứ 2. Nhiều đồn bót khác ở hai huyện Cái Bè và Cai Lậy cũng bị diệt và rút chạy. Trong lúc đó sư đoàn 3 và sư đoàn 5, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 3 đã tiêu diệt địch giải phóng hoàn toàn vùng Bến Cầu, Mộc Bài, An Thạnh, Trà Cao và đến ngày 20 tháng 3 dứt điểm Quéo Ba thuộc huyện Đức Huệ mở thông hành lang phía tây tỉnh Tây Ninh xuống tới Đồng Tháp Mười, làm chủ một vùng rộng bờ tây sông Vàm Cỏ Đông nằm dài trên hai tỉnh Tây Ninh và Long An, đúng như kế hoạch đã vạch ra. Đây là vùng Mỏ Vẹt nổi tiếng mà trước kia Mỹ rất sợ, cho đó là bàn đạp lợi hại của “Việt cộng” uy hiếp Sàigòn từ phía tây, chúng đã từng hành quân đánh phá nhiều lần, có lúc rải bom và đặt mìn dày đặc cố biến nơi đây thành khu tử địa. Đặc biệt là năm 1970 quân Mỹ và ngụy đã vượt qua vùng này đánh sâu vào Kampuchia, bắt đầu thời kỳ mở rộng chiến tranh Việt Nam thành chiến tranh Đông dương. Ngày nay vùng Mỏ Vẹt ấy, qua chiến trận này đã được quét sạch quân địch và mở rộng vè phía đông giáp sông Vàm Cỏ Đông và về phía Nam gần đến sông Vàm Cỏ Tây, trở thành vùng bàn đạp của ta vững chắc gấp nhiều lần so với trước. Mới mùa khô 1974 đây thôi, Quéo Ba vừa bị uy hiếp, Quân đoàn 3 ngụy đã tức tốc điều đến 6 chiến đoàn đặc nhiệm càn quét và bảo vệ trong một thời gian. Thế mà nay, thế tận và lực tận, ngụy đành nhìn bàn đạp đối phương tiến sát vào phía tây Sàigòn một cách nguy hiểm hơn trước gấp bội. Như vậy là vào đợt 2 chưa đầy 1 tháng, quân và dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã đạt được những thành tích cao, tiếp tục phá bình định, giành dân giành quyền làm chủ sôi nổi và có kết quả. Còn ở Miền Đông Nam bộ, trên bờ tây sông Sàigòn, ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 16 tiêu diệt điểm Suối Ông Hùng thì ngày 12 Sư đoàn 9 đánh chiếm Chi khu Tri Tâm và đến ngày 13 giải phóng toàn bộ quận Dầu Tiếng bên bờ đông sông Sàigòn, và khu vực Bến Củi ở tây sông. Ngày 17-3, điểm Cầu Khởi bị diệt, ta làm chủ một đoạn đường 26 chạy dọc theo cánh đông tỉnh Tây Ninh. Thế là 2 bên bờ sông Sàigòn ta đã giải phóng một vùng rộng lớn tạo bàn đạp cho hướng tấn công vào Sàigòn từ tây bắc. Địch đã dùng lữ 3 kỵ binh cùng một lực lượng của sư đoàn 25 phản kích ở lộ 2 Suối ông Hùng. Đây là thời cơ tốt để ta tiêu diệt một lực lượng thiết giáp quan trọng của Quân đoàn 3 nhưng do khuyết điểm trong công tác chuẩn bị và tác chiến, ta chỉ gây thiệt hại nặng cho địch và buộc địch lui về phòng ngự từ Bầu Đồn về phía nam. Lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh lúc này đã phối hợp rất đẹp bằng cách đánh thẳng vào lộ 22, cắt đứt lộ này từng nơi và từng thời gian, buộc Sư đoàn 25 ngụy phải ra sức giữ đường để đảm bảo cho Tây Ninh không bị cô lập. Về hướng đông Sư đoàn 6 Quân khu 7 từ 15 đến 18-3 đã mở rộng giải phóng lộ 2 Xuân Lộc đi Bà Rịa, giải phóng toàn bộ lộ 3 từ Hoài Đức đi Gia Ray, ngày 20-3 chiếm ngã 3 Ông Đồn, Suối Cát và đêm 28-3 đã làm chủ một đoạn dài 50km trên quốc lộ 1 từ Suối Cát đến Rừng Lá cắt đứt con đường huyết mạch nối liền ven biển Miền Trung với Biên Hòa – Sàigòn. Trung đoàn 812 của Quân khu 6 đã tiêu diệt xong Võ Đắc, giải phóng toàn bộ một vùng rộng lớn của tỉnh Bình Tuy, 2 huyện Hoài Đức và Tánh Linh, tạo một bàn đạp cho Quân đoàn 4 sau này tấn công Xuân Lộc và Biên Hòa. Sau đó Trung đoàn theo đúng kế hoạch đã hành quân nhanh chóng lên phối hợp với sư đoàn 7 trên lộ 20 đi Đà Lạt. Ngày 15-3 Sư đoàn 7 nổ súng tấn công, ngày 18 đã chiếm xong Quận lỵ Định Quán, một cứ điểm kiên cố dựa lưng vào núi đá chồng, án ngữ con đường 20 quan trọng. Sau khi diệt xong Định Quán, sư đoàn đã đánh chiếm yếu khu Đa Oai và cùng lực lượng tại chỗ quét sạch địch mở rộng làm chủ đường 20 và đến 28-3 hành quân cơ giới tấn công trong hành tiến chớp nhoáng giải phóng thị xã Lâm Đồng, chỉ trong 2 tiếng đồng hồ. Như vậy là ta đã hoàn thành việc mở rộng và nối liền căn cứ quan trọng của ta hoàn chỉnh vững chắc từ Đồng Tháp Mười phía tây Sàigòn chạy qua tây và bắc tỉnh Tây Ninh đến Phước Long chiến khu A bắc Biên Hòa và đến Bình Tuy Bà Rịa giáp biển Đông: Sàigòn thực tế đã bị bao vây từ tây qua bắc và đông bắc. Trung đoàn 812 được một bộ phận của Sư đoàn 7 chi viện, tận dụng thời cơ, tiến chiếm thị trấn Di Linh. Thế là toàn bộ tỉnh Lâm Đồng đã được giải phóng. Đây là một thắng lợi lớn trên chiến trường Miền Đông Nam bộ trong thời điểm này. Nó làm cho thế ta rất mạnh từ bắc qua đông Sàigòn và làm thất bại mưu đồ co cụm phòng ngự của địch. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:52:27 pm Trong quyển sách “khoảng cách thời gian vừa phải” ở phần II “Chung cuộc” tác giả FranK Snepp đã viết: “Ngày hôm sau lực lượng cộng sản đã mở một mặt trận mới ở phần phía nam vùng này (vùng 2 chiến thuật ngụy) và tiến về thị xã Lâm Đồng, cách Sàigòn 3 tiếng đi ô tô mà không hề gặp phải sự kháng cự nào, (đúng ra là sự kháng cự bị đè bẹp nhanh chóng). Chính lúc này, Thiệu và tướng tá của mình lại một lần nữa bàn cãi và cân nhắc khả năng thành lập một tuyến phòng thủ ngay phía bắc Thành phố (Sàigòn) chạy từ Tây Ninh tới Nha Trang. Trước khi màn đêm buông xuống Polgar (trùm CIA Mỹ ở Việt Nam) đã đích thân đến dinh Tổng thống báo cho Thệu và tướng tá của ông ta biết rằng kế hoạch của họ đã bị đánh phủ đầu. Bởi vì tỉnh Lâm Đồng cái xương sống của tuyến phòng ngự đã bị rơi vào tay quân Bắc Việt Nam”.
Mất tỉnh Lâm Đồng, mất đường 20 thị xã Đà Lạt và toàn tỉnh Tuyên Đức (theo tên đặt của chinh quyền Ngụy) bị cô lập. Con đường 11 nối thông Đà Lạt đến Phan Rang ven biển là con đường độc đạo, đèo cao dốc đứng và quanh co rất nguy hiểm không thể cứu sống cho thành phố này. Giải phóng Đà Lạt thuộc trách nhiệm của B2 nhưng lực lương của B2 đã ít và phải lo áp sát Sàigòn nên không thể lên giải phóng tỉnh Tuyên Đức. Khi ấy toàn bộ Tây Nguyên đã được giải phóng, lực lượng của ta ở đây mạnh có thể xuống chiếm Đà Lạt và tiến luôn về Miền Đông Nam bộ rất thuận lợi và kịp thời. Vì vậy tôi đã điện đến anh Văn Tiến Dũng, lúc này đang chỉ huy các lực lượng ở chiến trường Tây Nguyên, bức điện nội dung như sau: Đề nghị anh cho lực lượng xuống giải phóng Đà Lạt, lực lượng chúng tôi phải đi về phía trước, hướng Sàigòn, nên không thể lên đấy được. Anh Dũng trả lời đồng ý. Nhưng quân địch rất hoang mang sợ hãi và bị lực lượng vũ trang của ta tại chỗ uy hiếp, đã rút chạy khỏi Đà Lạt. Một bộ phận của trung đoàn 812 cùng lực lượng đại phương tiến vào chiếm Đà Lạt ngày 4 tháng 4 và truy kích địch giải phóng luôn đường 11 áp sát sân bay Thành Sơn. Toàn tỉnh Tuyên Đức có thành phố Đà Lạt quan trọng đã được giải phóng. Về phía bắc Sàigòn, sau khi Dầu Tiếng được giải phóng thị xã An Lộc của tỉnh Bình Long (tên đặt của Ngụy quyền) bị bao vây cặt. Ở đây ta dùng các lực lượng chiết ra từ các cơ quan của Bộ tư lệnh Miền kết hợp với bộ đội địa phương và du kích uy hiếp tấn công địch từ ngày mở đầu đợt 2 mùa khô. Ngày 23-3 quân địch rút chạy về Chơn Thành một huyện lỵ quá về phía nam trên đường 13. Lúc này Sư đoàn 341 trung ương cho đã vào đến một bộ phận. ta dùng 1 trung đoàn của Sư đoàn này cùng 1 lực lượng của Sư đoàn 9 truy kích và tấn công luôn Chơn Thành. Đêm 31-3 sau khi bị thiệt hại nặng, tàn quân địch chạy thoát khỏi Chơn Thành. Toàn tỉnh Bình Long được giải phóng. Căn cứ chủ yếu của ta trải rộng hoàn chỉnh về sát Sàigòn, nơi mà những căn cứ của sư đoàn 5 địch là Lai Khê, Phú Lợi, của sư đoàn 25 ngụy là Đồng Dù trở thành tiền tiêu bảo vệ Sàigòn từ hướng Bắc đến Tây bắc. Thế mà đến lúc ấy địch vẫn mù quãng ra sức giữ Tây Ninh, một thị xã đã trở thành xa xôi cô lập về phía sau, chỉ vì sợ xuất hiện một thủ đô của chính phủ cách mạng. Chiến trường B2 trong tháng 3 đã dành thắng lợi lớn nhờ tích cực phối hợp với chiến trường chính Tây Nguyên, tận dụng được sự thối động của trận đánh Ban-mê-thuột và tiếp sau đó. Sự hành động nhịp nhàng của toàn Miền Nam trong cuộc tấn công và nổi dậy đồng loạt mạnh mẽ là kết quả bước suy sụp và tan rã nhanh chóng của ngụy quân ngụy quyền. Từ Hà Nội, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương đã theo giõi thật sát tình hình chung, tình hình cụ thể của từng chiến trường, thông báo kịp thời mọi diễn biến cho từng nơi, chỉ đạo và uốn nắn hoạt động đúng lúc cho mỗi hướng. Có thể nói, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo và thực tế chỉ huy hợp đồng tất cả các chiến trường, điều khiển hành động tất cả các cánh quân. Ngày 14 tháng 3 ta đã dứt điểm về cơ bản thị xã Ban-mê-thuột. Từ Sở Tổng chỉ huy nhận được báo cáo thắng lợi này, đồng chí Lê Duẩn đã nêu: “Trước đây ta dự kiến 2 năm, nay có phải là mở đầu cuộc tổng tấn công và nổi dậy không?” Sự nhạy bén trước tình hình như vậy luôn là chìa khóa của những bước đi kịp thời. Sự thông báo chiến thắng đã là một cổ vũ lớn rồi, nhưng lúc nào Trung ương cũng thúc đẩy các chiến trường vươn lên đánh mạnh, giành thắng to. Ngày 12-3 trong một bức điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp gởi cho đồng chí Văn Tiến Dũng ở Tây Nguyên có đoạn: “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương dự kiến là nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Ban-mê-thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, đường số 19 bị cắt thì lực lượng còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Pleiku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược bỏ Tây Nguyên. Do đó Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cần hình thành ngay việc bao vây Pkeiku, triệt hạ cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt việc tiêu diệt địch trong cả 2 tình huống”(1). Rõ ràng ta đã dự đoán chính xác và sớm những hành động của địch. Mãi đến ngày 15-3 trước tình hình khốn quẫn Thiệu mới họp với tướng tá của Y ở Cam Ranh quyết định rút bỏ Tây Nguyên. Ngày 15 chúng bí mật thực hiện kế hoạch một cách vất vả hỗn độn thì ngày 16 từ Hà Nội đã thông báo là sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 2 ngụy và lãnh sự Mỹ từ Pleiku đã chuyển về Nha Trang. Và từ ngày 18 đến 24 quân địch rút chạy đã hoàn toàn bị diệt và rã. Tây Nguyên được giải phóng. (1) Trích “Đại thắng mùa Xuân” của đồng chí Văn Tiến Dũng trang 104-105. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:53:47 pm Toàn B2 vui mừng phấn khởi, được thúc giục hành động do các tin chiến thắng của các chiến trường khác thông báo kịp thời phối hợp với toàn Miền, quân dân Trị Thiên cũng vùng lên tấn công và nổi dậy mạnh mẽ và ngày 19-3 đã giải phóng Quảng Trị. Quân khu 1 ngụy cũng động rục rịch rút chạy khỏi Huế thì ngày 18-3, Bộ Tổng tư lênh đã ra lệnh cho Quân khu Trị Thiên cắt đứt đường số 1, nam Huế, không cho sư đoàn 1 rút về Đà Nẵng. Quân ngụy rối loạn. Chỉ còn con đường thoát chết độc nhất là chạy ra cửa biển Thuận An để rồi bị Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu Trị Thiên tiêu diệt ở đây vào ngày 25-3. Cố đô Huế được giải phóng lần thứ 2 (lần thứ nhất là Tết Mậu Thân 1968) và vĩnh viễn. Cũng như vậy đối với Đà nẵng, ngày 18-3 Bộ Tổng tư lệnh đã ra lịnh cho Khu 5 khẩn trương và táo bạo tấn công, cắt đứt đường số 1 phía nam Đà Nẵng nhằm bao vây tiêu diệt không cho quân địch co cụm về Đà Nẵng và chạy về Nam. Trước tình hình thuận lợi, chấp hành lịnh của trên, sư đoàn 2 quân khu cùng lực lượng địa phương đã kiên quyết tấn công diệt địch giải phóng Tam Kỳ, Tuần Dưỡng, Chu Lai. Quân và dân Quảng Ngãi kết hợp tấn công và nổi dậy cũng đã tự mình giải phóng toàn bộ tỉnh nhà. Như vậy là một vùng rộng lớn và đường số 1 ở phía nam Đà Nẵng đã được giải phóng. Quân địch ở Đà Nẵng đã bị bao vây chỉ còn hướng biển bị Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 5 tiêu diệt và tan rã vào ngày 29-3 trong một cảnh tượng vô cùng bi đát không kém gì ở Tây Nguyên và ở Huế. Tất cả những tin này chúng ta đều biết sớm trừ tin hiếm có trong lịch sử chiến tranh: tên tướng giỏi nhất của ngụy lao xuống biển Đông bơi ra tàu để thoát chết. FranK Snepp kể lại (trong sách đã dẫn):
“Sáng 29-3, tướng Ngô Quang Trưởng, một viên tướng có tiếng là chỉ huy giỏi nhất trong quân đội Nam Việt Nam đã phải vùng vẫy trên những lớp sóng cũng chẳng hiền từ gì cho cam để ra khỏi Đà Nẵng. Ông ta cũng vào loại bơi kém, nên một người phụ tá đã phải giúp ông ta khi ông ta bơi tới một chiếc thuyền tuần tiễu của Việt Nam Cộng hòa đã chờ sẵn. Suốt hai ngày sau đó ông ta ở lại trên tàu ngắm nhìn những bọn tàn quân của một quân đội đáng tự hào một thời của mình đang đột phá và cướp bóc thành phố lớn thứ 2 ở Miền Nam. Có lẽ sau này một vài chiến hữu của ông ta sẽ chỉ trích ông, buộc cho ông cái tội nhút nhát không dám ở lại để rồi cùng chết với quyền chỉ huy của mình. Trong số hai triệu người tị nạn vẫn đang ở Đà Nẵng, ắt hẳn có 100.000 là binh lính chạy trốn từ các sư đoàn 1, 2 và 3 và sư đoàn thủy quân lục chiến nổi tiếng, tất cả đều không khác gì những con chuột mắc bẫy. Giờ thì họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì từ phản bội, ăn cắp, giết hại lẫn nhau để mong tìm được một phương kế chạy trốn cho bản thân và gia đình họ”. Sự nhận định tình hình một cách nhạy bén, phán đoán chính xác và kịp thời, chỉ đạo linh hoạt, chỉ huy kiên quyết và tài tình của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương đã phá hỏng một kế hoạch chiến lược và chiến dịch của Mỹ, ngụy. Chúng muốn rút lui, bảo toàn thực lực để co cụm về Quân khu 3 và 4, một chiến trường có đủ nhân lực để vơ vét và có thể chi viện của Mỹ, nhưng không cách nào thực hiện nổi. Chúng đã bị chặn các ngả đường, đã bị bao vây chia cắt về chiến dịch và chiến lược. Ta đã dùng cách đốn cây từ gốc nên “chuột đã mắc bẫy” cả ở Tây Nguyên, ở Huế, ở Đà Nẵng và cả về phía nam. Cách tổ chức và bố trí lực lượng của ta: Cơ động từng khu vực sẵn tại chỗ kết hợp với lực lượng địa phương và dân quân rộng rãi trên khắp các chiến trường của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng là vô cùng lợi hại. Kẻ địch ở đâu cũng bị đánh, bị bao vây rất kịp thời, thần tốc, không chạy đi đâu thoát, không cụm vào đâu được. Cách sử dụng lực lượng tổng hợp, cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của nhân dân trong một cuộc tổng tấn công và nổi dậy đều khắp là một sức mạnh vô địch đánh ngã kẻ thù trong lúc chúng còn trong tay cả triệu quân và trang bị đầy đủ, có quan thầy đứng sau làm trụ cột. Trong khi ở phía bắc như vậy thì ở chiến trường B2, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương cũng kịp thời thông báo tình hình, chỉ đạo cụ thể thúc đẩy mạnh dạn tấn công địch, nhất thiết không cho địch co cụm bất cứ đâu. Chúng ta đã chấp hành nghiêm chỉnh và đã dành thắng lợi lớn trong tình hình cụ thể của chiến trường và tương quan ta địch. Chuyên gia CIA Mỹ đã nhận xét: “quá về phía nam của Quân đoàn III, quân chính phủ cũng tiếp tục xuống dốc, có lẽ không nổi bật bằng, nhưng hậu quả cũng như nhau: mất đất và mất sự linh hoạt về chiến thuật. Khoảng 20-3 hai sư đoàn quân đội Việt Nam cộng hòa bị cầm chưn vào việc bảo Tây Ninh và vùng tây bắc của khu vực này. Một số chỉ huy của chính phủ muốn rút lui hoặc là đưa thêm một sư đoàn từ vùng Châu Thổ đến làm dự trữ lưu động. Nhưng Thiệu không đồng ý cả hai cách. Thiệu cho rằng bỏ Tây Ninh sẽ làm mất tinh thần quân đội và thường dân ở các vùng khác và rút lực lượng ở vùng Châu Thổ đến thì có nghĩa là bỏ những vùng rộng lớn cho địch bởi vì cả ba sư đoàn quân đội Việt Nam cộng hòa ở đó đều đã bị căng ra đến mức giới hạn rồi. Nếu ở đây chỉ là một ván cờ thì Thiệu đã thua rồi. Thiệu đã bị chiếu tướng trên tất cả các mặt trận” (Frank Snepp trong sách đã dẫn). Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:56:10 pm Trước tình hình chung toàn Miền Nam diễn biến hết sức nhanh chóng, nhanh chóng hơn ta dự kiến nhiều, tạo những điều kiện rất thuận lội để các chiến trường giành thắng lợi lớn nhất. Chúng tôi trong Quân ủy Miền cũng như trong Trung ương Cục làm việc rất khẩn tương, ngày đêm theo giõi chặt các khu, các đơn vị, tin chiến thắng tới tấp gởi về, điện chỉ đạo đánh đi không ngớt. Nhưng vẫn cảm thấy mình còn chậm, lực lượng vũ trang không đủ sức khai thác hết tình hình. Anh Bảy Cường đã gởi đi mấy điện xin Bộ chính trị thêm gấp lực lượng. Ngày 23-3 tôi nhận được điện số 81/TK của anh Dũng nội dung cho biết tình hình chung, phát họa sự phát triển tấn công sau khi giải phóng xong Tây Nguyên là theo đường 19, đường 7 và đường 21 nhằm diệt sư đoàn 22, giải phóng Bình Định, Phú Yên rồi tiếp là Khánh Hòa, Diên Khánh. Điện viết: “Trước mắt chưa có lực lượng đưa vào trong anh. Khi đã đưa vào là lúc có thời cơ làm trận quyết chiến cuối cùng. Muốn vậy phải chuẩn bị chiến trường sẵn”. Cuối điện, anh bảo suy nghĩ sẵn về trận cuối cùng để ra chỗ anh, gặp và bàn với anh Sáu(1).
Đọc xong điện tâm trạng tôi không vui lắm. Một là chưa thể có thêm lực lượng. Hai là biết rằng các sư đoàn ở Tây Nguyên phát triển tấn công về hướng đông ra biển. Điều này tôi nghĩ rằng không giống như khi bàn trong hội nghị Bộ chính trị tháng giêng năm 1975. Hồi đó tôi còn nhớ anh Ba đã kết luận: sau khi giải phóng Tây Nguyên rồi thì lực lượng ở đây nhanh chóng phát triển xuống phía Nam. Vừa nói anh vừa xòe cả bàn tay quét sát trên bản đồ từ Tây Nguyên xuống đến Sàigòn. Tôi không quên được hình ảnh này đã làm tôi xúc động lúc đó, vì nó phù hợp với suy nghĩ của tôi. Tôi nghĩ rằng nếu cả quân đoàn 3 xuống ngay Miền đông nam Bộ thì ta có thể đánh vào Sàigòn sớm hơn, đúng thời cơ hơn, quân địch ở Miền trung không thể co về kịp. Vả lại ven biển đã có quân đoàn 2 cùng lực lượng của quân khu 5 đủ sức tiêu diệt địch. Nhưng ngày hôm sau tôi nhận được bản sao bức điện của anh Sáu Mạnh(2) gởi anh Bảy Cường điện số 71 ngày 23-3: “Đã điều anh Trân (ám chỉ sư đoàn 341) vào. Cán bộ (ám chỉ sư đoàn) như anh ấy là loại khá, có năng lực. Sắp tới dự định điều thêm cho anh độ 3 cán bộ (tức 3 sư đoàn) có năng lực như vậy. Không kể một số cán bộ để hỗ trợ cho những cán bộ này (tức là các binh chủng phối thuộc cho các sư đoàn điều vào). Số cán bộ này sẽ điều ngay ở chỗ tôi đến. Chuẩn bị sẵn để vào là dùng được ngay”(2). Tôi mừng quá nhưng vẫn băn khoăn vì đường xa các đơn vị sẽ vào chậm. Ngày 25-3-75 Bộ chính trị họp và đã hạn quyết tâm giải phóng Miền Nam, giải phóng Sàigòn trước mùa mưa (mùa mưa bắt đầu từ tháng 5). Đến ngày 29-3, anh Ba đã điện cho anh Bảy Cường (điện số 928/KT) có đoạn: “Trước những thắng lợi to lớn và dồn dập của ta, những thất bại hết sức nặng nề và không lường trước của địch, bọn Mỹ ngụy đang đứng trước nguy cơ sụp đổ nhanh chóng, cả về quân sự và chính trị tinh thần. “Tôi rất đồng ý với các anh là lúc này cần hành động hết sức kịp thời, kiên quyết và táo bạo. Trên thực tế trận Sàigòn hiện nay đã bắt đầu. “Trong khi xúc tiến gấp rút thực hiện sớm quyết tâm chiến lược đã định, tôi muốn nhấn mạnh một điều cấp thiết là tiến mạnh bạo tăng thêm lực lượng thực hiện ngay nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược, cắt tây Sàigòn phía Mỹ Tho – Tân An”(4). (1) Tức anh Lê Đức Thọ. (2) Tức anh Lê Đức Thọ. (3) Tư liệu của phòng Tổng kết Chiến tranh Quân khu 7. (4) Tư liệu của Ban Tổng Kêt chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:58:56 pm Ngày 30-3 anh Văn(1) cũng đã điện cho tôi:
“Chúng tôi đã điện cho anh Tuấn(2) đưa lực lượng vào cáng sớm càng tốt, hết sức tranh thủ thời gian. Các đơn vị binh khí kỹ thuật mới cũng đang trên đường đi vào để tăng thêm cho B2. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một quân đoàn để lên đường sớm vào nam B3 để làm dự bị”(3). Được điện chỉ đạo của Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã họp bàn kế hoạch thực hiện. Nghị quyết 15 TWC ra trong dịp đó đã nhận định đánh giá tình hình: “Cuộc chiến tranh cách mạng Miền Nam không những đã bước vào thời kỳ phát triển nhảy vọt, mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc tổng công kích tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà”. Về nhiệm vụ nghị quyết viết: “Nhiệm vụ trực tiếp khẩn cấp của toàn Đảng ta là: “Động viên toàn Đảng, toàn quân toàn dân, tập trung cao nhất mọi sức mạnh tinh thần và lực lượng của mình, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp 3 mũi giáp công, 3 thứ quân, 3 vùng, vùng lên tổng công kích và tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sụp toàn bộ ngụy quân ngụy quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân với khí thế tấn công quyết liệt, thần tốc, táo bạo, và quyết giành toàn thắng. Nghị quyết thúc dục các cấp: “Phải tranh thủ thời gian vì thời gian lúc này là sức mạnh…”, “Phải thật tập trung từng giờ từng ngày từng tháng từ đầu tháng 4-75 này…”. Trong cuộc hội nghị của Trung ương Cục này chúng tôi bàn nhiều về tình hình cụ thể diễn biến ở B2. Nếu chúng ta dành thắng lợi thêm ở các chiến trường thì ở Sàigòn cũng có thể hỗn loạn. Trong trường hợp đó, ta không thể không có kế hoạch nắm thời cơ mà hành động. Điện anh Ba cho Trung ương Cục khẳng định là tình hình sẽ diễn biến rất nhanh, cần đẩy mạnh đánh địch hơn nữa, áp sát vào Sàigòn hơn nữa. Thắng lợi của ta thêm một bước có thể gây ra biến động ở Sàigòn. Hiện nay thời gian là sức mạnh. Nghiên cứu kỹ ý kiến chỉ đạo của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, cân nhắc kỹ tình hình, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền chúng tôi vạch một kế hoạch tấn công Sàigòn với lực lượng bản thân thiện có được Trung ương Cục nhất trí và báo cáo ra Trung ương. Kế hoạch 5 hướng tấn công vào nội đô, những đơn vị địch cần phải diệt, các mục tiêu phải đánh chiếm đều có dự kiến sẵn, vấn đề là bố tri và xử dụng lực lượng thế nào. Các mục tiêu trong nội thành và lực lượng đặc công biệt động tấn công từ bên trong đã bố trí và giao nhiệm vụ rồi. Bây giờ là lực lượng từ ngoài đánh vào. Kế hoạch chúng tôi dự kiến hướng Đông sẽ do Quân đoàn 4 chỉ huy gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, và Sư đoàn 6 đảm nhận hướng Tây bắc do Sư đoàn 9, Trung đoàn 16, 271B, hướng Tây do Đoàn 232 gồm Sư đoàn 5 và 3. Còn hướng Nam do Trung đoàn 88 và 24 của Quân khu 8. Riêng hướng Bắc bố trí trung đoàn Gia định nếu có lực lượng ngoài vào thêm sẽ tăng cường hướng này, nếu không có thì thay vào đó lực lượng đặc công biệt động mạnh. Các lực lượng này các hướng như vậy cũng đã được phân chia sẵn sàng, chúng tôi theo giõi kỹ thình hình diễn biến để xác định lúc nào tốt nhất cho việc thực hiện trận tấn công này. Trước mắt cần tiêu diệt thêm sinh lực địch bảo vệ Sàigòn và cắt đứt đường 4, sông Lòng Tàu và khống chế các sân bay đặc biệt là sân bay Biên Hòa. Phải bao vây Sàigòn chặt hơn không cho địch co cụm vào giờ chót nhất là chia cắt giữa Quân đoàn 3 và 4 ngụy, phân tán và kèm chưn địch các nơi. Trung ương Cục đồng ý với Quân ủy Miền là tấn công ngay Xuân Lộc, tiêu diệt Sư đoàn 18 và Lữ kị binh ngụy là lực lượng mạnh của Quân đoàn 3, áp sát Biên Hòa. Ra lịnh cho Đoàn 232 chuẩn bị chiếm Mộc Hóa, giành con đường độc nhất là đường 4, kết hợp với sư đoàn 8 của Quân khu 8 diệt Sư đoàn 7 và 9 Ngụy. Thực hiện tốt bước này, trên toàn chiến trường ta thắng lớn, ngụy quân ngụy quyền giao động rói loạn không tổ chức phòng ngự Sàigòn có hiệu lực, hoặc xảy ra biến động chính trị quân sự trong nội bộ ngụy hay giữa ngụy và Mỹ, thì lập tức nắm thời cơ, ta phát động cuộc tấn công và nổi dậy kết hợp công kích quân sự với khởi nghĩa của quần chúng, kết hợp trong đánh ra ngoài đánh vào nhằm chủ yếu 5 mục tiêu quan trọng nhất là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát và Dinh Độc lập giải phóng toàn B2. Ngày 31-3, tôi cùng đồng chí Trung tá Nguyễn Văn Minh, cán bộ tác chiến Bộ tham mưu Miền và một số đồng chí khác đến chỉ huy sở của Quân khu 7 để giao nhiệm vụ cho Quân khu và Quân đoàn 4. Trước khi đi tôi đã điện triệu tập cán bộ và hẹn cuối ngày 1-4 có mặt. Tháng 3 trời nắng ráo, đường băng qua khu A chỉ là đường đất nhưng không có gì trở ngại. Xe com-măng-ca của chúng tôi được ngụy trang khéo léo, xuyên nhanh qua từng cánh rừng. Đứng giữa tiết xuân, cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Hoa xuân đua nở khắp nơi, ven đường hoa mua tím xen lẫn mai vàng và cả lá xanh, lá trắng. Cũng đúng giữa mùa chiến đấu, tiếng bom, tiếng pháo đua nhau nổ ran mọi phía, hướng quan Sàigòn. Thật là cảnh vừa đẹp vừa hùng, cảm khích lòng người. Tôi xúc động nhớ đến những mùa xuân chiến thắng của ông cha xa xưa và của chúng ta ngày nay. Việt Nam vẫn là Việt Nam. Tôi nghi vào trang nhật ký: Mai vàng rực nẻo hành quân, Gió ngàn nổ rộn súng xuân vây thành Xưa, nay, vẫn núi sông mình Rạng tài Nguyễn Huệ, thắm tình Ngọc Hân. (1) Đồng chí Võ Nguyên Giáp. (2) Đồng chí Văn Tiến Dũng. (3) Tư liệu của Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 06:05:52 am Xe chạy cả ngày và chạy thâu đêm. Chỉ huy sở quân khu đặt trên bờ sông Đồng Nai thuộc khu vực Vĩnh An. Rừng ở đây cũng bị bom đạn và chất độc hóa học tàn phá nhưng nhờ cây to nhiều nên vẫn còn xen kẽ từng lõm kín đáo. Tôi tới thì đêm đã về khuya. Địa điểm khá bất ngờ đối với địch nên tạm gọi là tương đối an toàn. Nhưng cả ngày lẫn đêm, pháo ở hướng Hóc Ba Thức và Cây Gáo vãn nổ xung quanh không ngớt. Lúc dồn dập, lúc cầm canh. Các đồng chí được triệu tập đã có mặt đông đủ. Đồng chí Năm Chữ tức Nguyễn Như Vĩ bí thư Khu ủy, người nhỏ, gầy nhưng ý chí kiên cường, đã từng bị Pháp bắt với tôi vào bót mật thám Catinat và cùng bị giam ở khám lớn Sàigòn năm 1944-1945. Đồng chí gặp tôi mừng rỡ, nhắc: “tình hình phấn khởi quá, tôi nóng ruột mong về thăm Sàigòn sớm, thăm xóm nghèo ở Tân Định, nơi ta đặt cơ quan bí mật và cùng bị mật thám Pháp vây bắt ở đó, qua trào Mỹ ngụy đã có gì thay đổi…” Các đồng chí Sáu Trung, thường vụ khu ủy, Dương Cự Tẩm chính ủy Quân khu, Lê Văn Ngọc tư lệnh, Đặng Ngọc Sĩ, Phó tư lệnh quân khu kiêm sư trưởng sư đoàn 6 đều tỏ vẻ vui mừng phấn chấn. Các đồng chí Quân đoàn 4, đồng chí Hoàng Cầm, tư lệnh, Bùi Cát Vũ, phó tư lệnh, đồng chí Trân, sư trưởng Sư đoàn 341, giờ đây đã đổi tên thành Sư đoàn 1, đã đến đây từ chiều. Mặc dầu đã khuya, chúng tôi vẫn ngồi nói chuyện với nhau, quên cả ngủ, quên cả nhọc nhằn. Sáng sớm hôm sau chúng tôi họp. Tôi thông báo về tình hình chung, tình hình từng chiến trường tên toàn Miền, về nhận định đánh giá của Bộ Chính trị, của Trung ương Cục, về chỉ đạo cụ thể của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương. Tôi báo cáo những điểm cần thiết về kế hoạch tấn công vào Sàigòn của Quân ủy Miền đã được Trung ương Cục duyệt để các đồng chí nắm được nhiệm vụ chung. Cuối cùng là tuyên bố quyết định của Bộ tư lệnh Miền tấn công Xuân lộc, diệt sư đoàn 18 và Lữ kỵ binh 3 và giao nhiệm vụ.
Chúng tôi đã thảo luận kỹ về kế hoạch cụ thể của trận đánh, khả năng diễn biến thuận lợi và không thuận lợi, các biện pháp cần thiết. Các đồng chí đều nêu lên rằng hiện nay địch đã có chủ ý phòng ngự rồi nên đánh chắc chắn là gay go. Nếu sau khi diệt xong Định Quán, ta đánh ngay Xuân Lộc mà không đánh lên Lâm Đồng thì chắc là ngoạn mục. Tôi đã bênh vực cho quyết tâm giải phóng Lâm Đồng trước với những lý do: - Ta chỉ làm chủ một đoạn đường 20 từ Định Quán lên tới Phương Lâm thì hành lang trước mắt cũng như lâu dài cho quân đoàn 4 nối với Hậu phương khu A là không vững chắc. Hiện nay đã khó khăn về đạn dược, nếu đánh to hơn thì hành lang cũng phải bảo đảm. Ta làm chủ đường 20 không những có được một trục đường tiến tới uy hiếp phía trước vào Biên Hòa và Sàigòn mà còn gây khó khăn không nhỏ cho Đà Lạt từ phía nam. Nếu không mở rộng ngay địch có thể liều chết phản kích chiếm lại, để có thể co cụm chiến lược vững vàng cho khu vực Sàigòn và toàn Miền đông của chúng. - Xuân Lộc là một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng thủ Sàigòn, đồng ý là nay địch đã đề phòng hơn trước kia nhưng không phải trước kia địch lơi lỏng vì chúng đã điều toàn bộ sư đoàn 18 và lữ 3 kỵ binh về hướng này từ tháng 2. Mọi người đều nhất trí rằng đánh Xuân Lộc phải xem là đánh vào một điểm chốt hết sức quan trọng của địch, cần phải dự kiến chúng ra sức cố thủ và sẽ tăng cường chi viện mạnh, trận đánh sẽ rất ác liệt. Mọi người bàn cãi rất kỹ về chiến thuật và kỹ thuật, xin thêm đạn pháo và phương tiện đảm bảo kỹ thuật cho xe tăng. Trong lúc đang họp chúng tôi đã nghe tin ta giải phóng xong Qui Nhơn, Tuy Hòa càng làm cho mọi người náo nức lập công. Tình hình tiến triển quá nhanh. Vì vậy trước định đến ngày 10 tháng 4 sẽ nổ súng để chuẩn bị thêm mọi mặt cho chu đáo, nay đi đến nhất trí lấy ngày 9-4 làm ngày “N”. Tôi cũng tranh thủ bàn với các đồng chí trong Khu ủy và Bộ tư lệnh quân khu chuẩn bị trước và cách thức tổ chức làm việc của các ban quân quản các thị xã Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Biên Hòa. Trước khi trở về tôi đã ra lịnh cho Đoàn 75 và Bộ tư lệnh pháo binh của Miền bố trí ngay trận địa cố định pháo tầm xa 130 ly tại Hiếu Liêm, ngã ba sông bé và sông Đồng Nai, để khống chế có hiệu quả sân bay Biên Hòa và chi viện cho quân đoàn 4 tấn công. Lâu nay đánh phá vào sân bay Biên Hòa là do pháo phản lực và cối của đoàn đặc công 113 phụ trách. Nay có điều kiện tốt nên tăng thêm trận địa pháo 130 ly nữa thì số phận sân bay này xem như đã quyết định. Đoàn 75 pháo của Miền quả có duyên với sân bay Biên Hòa. Trận đánh đầu tiên bằng pháo vào đây, tháng 12 năm 1964, lúc đó Đoàn 75 mới có súng phóng đạn 57 ly và cối các loại, đã kết hợp với đặc công, dồn dập nhả đạn diệt hàng loạt máy bay Mỹ trong đó có trên 20 chiếc loại ném bom B57 mới vừa ở Hoa Kỳ qua. Trận đánh do đồng chí Lương Văn Nho chỉ huy và đồng chí Hai Cát tức đại tá Trần Công An chỉ huy đặc công, phụ trách. Lần đầu tiên không quân Mỹ bị đòn đau quá làm cho Maxwel Taylor lúc đó là đại sứ Mỹ ở Sàigòn tức tốc đến sây bay, đứng nhìn một cách ngao ngán những con đại bàng Hoa Kỳ gãy cổ, mất cánh nằm ngổn ngang thành những đống sắt vụn. Mười hai năm đã qua, một chặng đường trưởng thành từ trong chiến tranh vô cùng ác liệt quí giá biết ngần nào. Qua chặng đường đó cán bộ pháo binh được rèn luyện, đơn vị được phát triển có anh có em vui vầy, pháo và khí tài được chi viện trang bị thêm và đặc biệt là đã lấy pháo địch xử dụng rất có hiệu quả, từ DKZ, 106,7 đến lựu pháo 105 ly, 155 ly. Cho đến ngày nay đoàn có trong tay pháo 103 ly có uy lực mạnh, có tầm xa và rất chính xác, đã đóng góp chiến công của mình trong tất cả các chiến dịch ở B2 và bây giờ có nhiệm vụ làm tê liệt một trong các sân bay lớn vào giai đoạn quyết định này. Các đồng chí đã từng phụ trách đoàn 75, từ đồng chí Lương Văn Nho lúc đầu đến đồng chí Đào Sơn Tây, Bùi Cát Vũ, rồi các đồng chí Sơn Tiêu, Nguyễn Tám, đồng chí Sô, đồng chí Lai…, đáng tự hào với công sức góp phần xây dựng các đơn vị và xử dụng đầy sáng tạo pháo của ta, cả pháo lấy được của địch, từ nhỏ chí lớn, đánh hợp đồng cũng như đánh độc lập, đánh công sự cũng như đánh ngoài trời, đánh không quân địch ở sân bay và diệt tàu thủy địch chạy trên sông, bằng mọi cách, trong mọi tình huống. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 06:07:48 am Làm việc xong tôi tức tốc trở về chỉ huy sở Miền. Khi ngang qua sân bay Rang Rang giữa lòng căn cứ Khu A của ta, tôi đã quan sát vết tích tội ác của không quân ngụy gọi là tập ném bom, phá hoại ở đây liên tục từ sau Hiệp định Paris. Nhưng đường băng lên xuống của máy bay vẫn còn nguyên, máy bay nhỏ của ta khi cần có thể sử dụng, chứng tỏ sự kém cỏi của phi công ngụy. Vừa di khỏi sân bay, xe qua ngầm Sông Mã Đà thì hai phi cơ chiến đấu của địch đến lượn vòng: chúng đã phát hiện đoàn xe nhỏ của ta di động qua ngầm. Xe vượt nhanh lên phía trước, rẽ vào rừng. Tôi núp vào một hầm dào sâu bên bờ sông, xem máy bay địch bổ nhào trút bom xung quanh. Cùng lúc ấy súng máy cao xạ ta nỏ giòn giã quyện lấy máy bay địch.. Một chiếc bị thương xịt khói và chuồn thẳng. Đoàn lại lên đường an toàn.
Về đến nhà đã một giờ sáng 4-4. Tôi được biết đoàn anh Văn Tiến Dũng đã đến đây từ chiều hôm trước và đã bố trí xong nơi ở và làm việc. Tôi mừng quá, thế là đồng chí Tổng tham mưu trưởng với toàn bộ sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh – mật danh là Đoàn A.75 – đã có mặt tại chỗ. Thật là kip thời cho trận quyết chiến chiến lược vào hang ổ cuối cùng của Mỹ ngụy. Như thường lệ, đi công tác về bất cứ giờ nào, thư ký của tôi đem đến những bản tin gấp, những điện khẩn từ chiến trường, của các đơn vị và của Trung ương. Tôi chú ý ngay bức điện của anh Ba đến ngày 1-4: Bộ Chính Trị đã họp ngày 31-3 nghe Quân ủy báo cáo tình hình phát triển các mặt tổng tấn công của ta trong 3 tuần qua, đặc biệt trong thời gian gần đây. “1- Nhất trí nhận định: “Tiếp theo thắng lợi của ta ở Khu 9 và Miền Đông Nam Bộ giải phóng tỉnh Phước Long với thắng lợi to lớn trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc tổng tấn công chiến lược của ta thực tế đã bắt đầu và trong một thời gian rất ngắn đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn. “… 2- Cách mạng nước ta hiện đang phát triển sôi nổi, với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Do vậy Bộ chính trị quyết định nắm vững thờ cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc táo bạo bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa vũ trang thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng tư không thể để chậm. Chắc thắng và bất ngờ hiện nay chủ yếu là ở khâu tranh thủ thời gian, tấn công địch vào lúc chúng đã hoang mang, suy sụp, tập trung lực lượng hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trong từng lúc trên từng hướng. “… 3- Muốn thực hiện phương châm chiến lược theo phương hướng nói trên cho kịp yêu cầu về thời gian thì ngay bây giờ cần có kế hoạch hành động táo bạo với lực lượng có sẵn cả trên chiến trường Miền Đông. “… Quân ủy Trung ương đã chủ trương nhanh chóng chuyển lực lượng Quân đoàn 3 và các binh khí kỹ thuật từ B3 xuống, đồng thời ra lịnh điều quân đoàn dự bị vào. “… Để tranh thủ thời gian cao độ không nên chờ đợi lực lượng tăng cường đến nơi thật đầy đủ, cũng tránh những việc điều động không hợp lý ảnh hưởng đến thời gian hành động”(1). Và một điện dài của Quân ủy Trung ương do anh văn ký có những đoạn: “… Bất ngờ hiện nay chủ yếu là khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng thần tốc, mặt khác xử dụng lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợt tập trung lực lượng đông đủ mới làm ăn. Chính theo ý nghĩ đó mà Bộ chính trị đã khẳng định từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược Sàigòn đã bắt đầu. “… C) Hướng phía đông, gồm những sư đoàn hiện nay đã có tại chỗ (không nên điều động xáo trộn làm mất thời gian) tăng thêm lực lượng cần thiết, nhất là binh khí kỹ thuật, trước hết là diệt Sư đoàn 18, đánh chiếm Xuân Lộc, áp sát sân bay Biên Hòa càng sớm càng tốt… “… tốt nhất là cho bộ đội địa phương bao vây Mộc Hóa, cho toàn bộ chủ lực Miền ở đây cùng chủ lực Khu 8 thì tập trung, tiến ngay xuống cắt lộ 4 giữa Bến Lức – Tân An – Mỹ Tho…(2) (1) Tư liệu của Ban Tổng kết Chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc phòng. (2) Tư liệu của Ban Tổng kết Chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 06:08:16 am Tôi đi nằm trong một trạng thái suy nhĩ không dứt. Ba mươi năm rồi có bao nhiêu đêm dài thao thức, nhưng có đêm nào lại giống đêm nào. Tôi nhẩm tính lực lượng của địch bố trí vòng trong vòng ngoài để bảo vệ Sàigòn và lực lượng của ta ở từng hướng chiến dịch. Tôi nhắm mắt mường tượng lại những con đường đầu tiên vào nội ô Sàigòn, các sông rạch, những cánh đồng, nơi có địa hình cao ráo hay lầy lội Đánh Xuân Lộc thì bố trí rồi. Còn bỏ Mộc Hóa tiến về đường 4 thì binh khí kỹ thuật làm sao đi được? Và hình dung sự phản ứng của địch khi ta tấn công Khu vực Sàigòn, một thành phố lớn, phức tạp về nhiều mặt, là hang ổ của cuối cùng giặc, bị bao vây không còn lối nào để thoát, buộc địch phải cố thủ đến hết hi vọng sống còn, mới đầu hàng hay tan rã. Và đó cũng là thành phố thân yêu của ta, nhân dân ta đông đúc cần phải bảo vệ, phố xã, công trình kiến trúc, tài sản của xã hội không thể dể địch phá hoại. Miền Đông nam bộ bao quanh thành phố là một vùng địa hình trung bình phần lớn là cao ráo, nhiều đường sá, rộng cả chiều dọc, lấn chiều ngang, không giống như Tây Nguyên cô lập trên núi cao hay ven biển Miền Trung dài mà hẹp dễ bị cắt, bị chia, dễ gây cho địch hỗn loạn và tan vỡ. Lực lượng vũ trang bản thân của B2 hiện có, trước tình hình địch đang suy sụp, có thể kết hợp với nổi dậy của quần chúng, đánh thẳng và giải phóng Sàigòn nhưng không đủ sức đánh nhanh mạnh giữ cho thành phố nguyên vẹn.
Trong những lúc suy nghĩ căng thẳng gặp khó khăn chưa giải đáp được tôi thường nhớ đến Bác Hồ và tự nhiên tôi nhẩm một đoạn dịch bài thơ chữ Hán “Học đánh cờ” của Bác: “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ, “Kiên quyết không ngừng thế tiến công. “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, “Gặp thời, một tốt cũng thành công. Phải rồi, tôi tự nhủ, lực lượng ta ít nhưng thời cơ đã đến, gặp thời cơ thì một tốt cũng thành công, không ngừng thế tiến công khi địch đã rồi. Tôi mỉm cười một cách sung sướng và chợp mắt lúc nào không hay. Khi tỉnh giấc, trời vừa sáng. Tôi qua gặp anh Dũng. Anh ấy cũng đã thức dậy rồi. Chúng tôi ôm nhau mừng rỡ. Tôi hỏi: - Lần đầu tiên vào Nam bộ, anh thấy thế nào? - Cảm động và sung sướng, tả sao cho hết. Anh trả lời. Rồi câu chuyện xoay quanh các chiến thắng ở các chiến trường và chúng tôi bàn cách làm việc sắp tới. Rời anh tôi đi thăm và bắt tay lần lượt các đồng chí trong “Tiền phương”. Các đồng chí Lê Ngọc Hiền, Lê Quang Vũ đã từng là phó tham mưu trưởng Miền một thời gian trước đây, quen mặt và biết người rồi, đồng chí Doãn Tuế, tư lệnh pháo binh của bộ tổng tư lệnh vào đây lần thứ hai, còn nhiều đồng chí tư lệnh các binh chủng, cán bộ tham mưu, tác chiến, lần đầu vào B2, cảnh lạ nhưng người quen, mừng vui và thích thú. Thế là thời cơ đã sẵn, đội ngũ được tăng cường, khi lực lượng chủ lực tập trung đầy đủ thì phần thắng rõ ràng là nắm chác trong tay, thật là nghìn năm có một. Ngày hôm ấy, chúng tôi thổ chức làm việc giữa 2 bộ phận: các cơ quan của Miền và đoàn A.75. Tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu, chính trị, hậu cần B2 báo cáo cho các đồng chí cơ quan tiền phương Bộ đầy đủ và cụ thể tình hình chiến trường đặc biệt là khu vực Sàigòn, từ hình thái và giá trị các mục tiêu quan trọng của địch, lực lượng và các bố trí phòng ngự của chúng, địa hình đại vật các vùng đến các lực lượng lớn, nhỏ của ta bên trong và bên ngoài thành phố, những tâm lý, cách sống và khả năng hành động của con người Nam bộ và Sàigòn, các kế hoạch đã vạch ra và thế trận đã hình thành. Công việc báo cáo phải xong trong một thời gian ngắn nhất. Từ giờ phút này chúng ta phải chạy đua với thời gian mà! Chiều ngày 7 tháng 4, đồng chí Lê Đức Thọ, Đại diện của Bộ chính trị, một mạch từ Hà Nội vào thẳng B2, đã đến căn cứ Bộ tư lệnh Miền lúc ấy nằm về phía tây thị trấn Lộc Ninh, sau này trở thành chỉ huy sơ cơ bản của chiến dịch giải phóng Sàigòn. Sáng ngày 9-4, trong cuộc họp có đủ mặt các đồng chí trong Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ tư lệnh B2 cán bộ chủ chốt trong các cơ quan Miền và đoàn A.75, đồng chí Thọ đã phổ biến nghị quyết mới nhất của Bộ chính trị. Nghị quyết đã nhận định và đánh giá tình hình toàn chiến trường có hệ thống từ nghị quyết 21 đến nay, các diễn biến nổi bật của từng chiến trường, tình hình nước Mỹ và của thế giới bên ngoài có liên quan và quyết tâm giải phóng Miền Nam trước khi mùa mưa bắt đầu. Đồng chí nói: “Tình hình biến chuyển hết sức nhanh chóng, thời cơ là vô cùng thuận lợi vì vậy kế hoạch 2 năm 1975-1976 của ta có thể và phải được thực hiện trong vòng mấy tháng. Bộ chính trị chỉ thị; “Lúc này thời gian là sức mạnh. Phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 06:10:00 am Sau đó hội nghị đã quyết định về cách làm việc và phân công rành mạch giữa các bộ phận:
Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền vẫn chịu trách nhiệm như cũ, chỉ đạo và chỉ huy cuộc tổng tấn công và nổi dậy trong toàn B2, đặc biệt là chỉ đạo sát cuộc nổi dậy của quần chúng ở Sàigòn. Chiến dịch tiến công giải phóng Sàigòn mà sau này Bộ chính trị đặt tên là “chiến dịch Hồ Chí Minh” theo nguyện vọng chung, do đồng chí Văn Tiến Dũng làm tư lệnh. Bộ tư lệnh Miền trong lúc đó vẫn đảm nhận trách nhiệm B2 của mình. Có vài đồng chí tham gia vào chỉ huy chiến dịch. Như đồng chí Phạm Hùng với cương vị là chính ủy, tôi và đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh. Các cơ quan của Miền, tham mưu, chính trị, hậu cần đều phải làm 2 chức năng: một vẫn là những cơ quan giúp Bộ Tư lệnh miền chỉ huy toàn B2 như từ trước, hai là thành cơ quan của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh được tăng cường các cán bộ và cơ sở của Đoàn A.75 vào. Bộ tham mưu miền phải chọn cho những cán bộ am hiểu tình hình và địa hình, địa phương, có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu của chủ lực nhiều năm ở B2, trực tiếp giúp đỡ các quân đoàn của Bộ sẽ vào tham gia chiến dịch còn bỡ ngỡ nhiều trong một hoàn cảnh hết sức khẩn trương: vừa hành quân đến, có khi chưa đủ đã phải triển khai và chiến đấu ngay. Đồng chí Đinh Đức Thiện chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần cùng vào một lúc với đồng chí Dũng, đi thẳng đến cơ quan của Cục Hậu cần Miền, nhập thân vào với anh em, cùng lo đảm bảo mọi mặt vật chất kỹ thuật cho chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục, đặc biệt phụ trách công tác nổi dậy của quần chúng nhất là ở thành Sàigòn. Đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục thì chỉ đạo việc tiếp quản các cơ sở ở Sàigòn cũng như điều khiển kế hoạch và tổ chức quân quản thành phố. Với cương vị là đại diện Bộ chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ tham gia ý kiến vào mọi mặt công tác của Trung ương Cục cũng như của chỉ huy chiến dịch. Rừng Lộc Ninh đã nổi tiếng, giờ đây càng đi vào lịch sử, tưng bừng, nhộn nhịp suốt cả ngày đêm. Dưới tầng cây lá còn lại của nó xen thêm vào những lưới ngụy trang khéo léo, cán bộ, chiến sĩ, xe gắn máy, đi lại từ nhà này qua lán trại nọ không lúc nào ngừng. Ban đêm ánh đèn điện được che chụp cẩn thận chiếu rọi từng khuôn mặt rạng rỡ, từng bản đồ chứa đựng bao bí mật, từng thiết bị máy móc nhiều loại, cũ có, mới có… làm tăng thêm vẻ huyền bí mà hiện đại, khẩm trương mà nghiêm ngặt của khu rừng thiêng vừa là Chỉ huy sở Miền, vừa là của Bộ chỉ huy chiến dịch. Từ cành cây này qua cành cây nọ, giây điện thoại tỏa đi khắp phía. Và thoát lên trên vòm trời là những tín hiệu vô hình của những mật điện đi, về mọi nẻo. Đồng chí Xuân Đào(1) phu trách thông tin của Miền, vẫn thường than phiền tình trạng thiếu thốn kinh niên máy móc phương tiện, thiếu giây cáp lẫn giây trần, nhưng vẫn luôn tự hào về đội ngũ cán bộ và chiến sĩ của mình đã từng dũng cảm và xoay xở mọi cách, bảo đảm cho chỉ huy thông suốt của Miền đối với tất cả các quân khu, đơn vị trong mọi chiến dịch của chủ lực B2 từ trước đến nay. Giờ dây Xuân Đào hả hê vui sướng được thông tin của Bộ tăng cường, giúp đỡ mọi cần thiết trong thời kỳ mà công việc nhân lên gấp hai gấp ba này. Căn cứ vào nghị quyết và chỉ thị của Bộ chính trị, hội nghị cũng đã nhận định rằng tình hình chiến trường vẫn tiếp tục diễn biến nhanh chóng. Cần có dự kiến đến lúc nào đó, có thể có những diễn biến ngay ở Sàigòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Vì vậy để chủ động trong mọi thình huống, ta phải có kế hoạch hành động lập tức khi thời cơ đến với lực lượng hiện có mà không đợi các quân đoàn của Bộ vào đến nơi. Trường hợp không có đột biến, thì sẽ đợi cho lực lượng chủ lực ta được tập trung đầy đủ có ưu thế áp đảo quân địch để đánh đòn sấm sét bất ngờ chắc thắng loại trừ mọi sự chống cự dai dẳng, mọi đổ nát và phá hoại. đảm bảo an toàn cao cho mộ thành phố lớn nhất và đông dân cư nhất của ta.Hội nghị đã nhất trí thông qua phương án tấn công Sàigòn bằng lực lượng hiện có của B2 mà Trung ương Cục đã thông qua, đang bắt đầu thực hiện và chúng tôi đã trình bày cặn kẽ. Trong lúc B2 bắt đầu thực hiện chia cắt chiến lược và bao vây Sàigòn theo kế hoạch nói trên thì Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương kiên quyết tập trung toàn lực có thể có vào mặt trận Sàigòn, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Theo mệnh lên khẩn cấp của trên và lửa nhiệt tình nung nấu trong tim, từng đoàn quân rầm rập tiến nhanh về Nam để kịp tham gia vào “ngày hội giải phóng dân tộc”. Các quân đoàn sư đoàn từ đồng bằng sông Hồng, từ Quân khu 4, hành quân cơ giới ngày đêm chật ních đường Trường Sơn. Các đơn vị chủ lực của Quân khu 5 và của Bộ, các binh khí kỹ thuật, đạn dược mà quân dân khu 5 vét trong các kho gởi chi viện, tiến dọc theo ven biển Miền Trung, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Hoàng Minh Thảo, Nam Long do Quân ủy Trung ương chỉ định, vừa diệt địch vừa cấp hành quân tăng cường cho cánh phía Đông đánh vào Sàigòn. Tiếp theo đó là các đoàn quân bổ sung từ Hà Nội, từ Tây Bắc, Việt Bắc, từ các tỉnh miền Bắc xã hội chủ nghĩa gởi vào, sẵn sàng người trước ngã người sau thay thế cho dân tộc vươn lên đỉnh cao chói lọi. Cũng trong thời gian này, các tỉnh B2 đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, thanh niên nhập ngũ tòng quân, tham gia du kích, xây dựng đơn vị mới để có sức mạnh cùng đồng bào tấn công và nổi dậy giải phóng quê hương. Ở Sàigòn 1 trung đoàn trở thành 2 trung đoàn Gia Định 1 và 2, ở các tỉnh Khu 8 và 9 như Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ… huyện nào hầu như cũng có tiểu đoàn. Có tỉnh 5, 6 tiểu đoàn. Hàng vạn thanh niên về quân khu bổ sung cho chủ lực. Khí thế quần chúng sôi sục. Thật là hào hùng, cả nước hành quân, cả nước chiến đấu, cả nước đứng dậy. Ôi! Tổ quốc ta thiêng liêng, dân tộc ta anh hùng biết mấy! (1) Đại tá Nguyễn Xuân Đào (hiện là Trưởng Phòng Thông tin Quân khu 7) Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 06:14:41 am Trong thời gian này về phía địch chúng rất hoang mang vì đã bị thất bại lớn. Lực lượng quân đoàn 1 và 2 cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Nhưng chúng vẫn ngoan cố vội vàng tập hợp lại lực lượng tổ chức lại phòng thủ vùng chiến thuật 3 và 4. Thiệu đã đề ra một chiến lược mới mà y đặt tên là: “nhẹ ở đầu nặng ở đáy” nghĩa là rút bỏ các vùng thuộc quân khu 1 và 2 còn lại để về giữ Quân khu 3 và 4 theo như kế hoạch Gavin đề ra. Nếu trước đây Thiệu đã chửi rủa kế hoạch này một cách thậm tệ thì ngày nay y bám víu vào như một kế hoạch cứu tinh cái chế độ đang hấp hối của y. Nhưng thương hại thay, muộn quá rồi! Cả người Mỹ đến giờ phút này cũng còn chủ quan nặng. Tiêu biểu nhất là Martin, Đại sứ Mỹ ở Sàigòn. “Martin trả lời thượng viện (Mỹ) rằng lực lượng Nam Việt Nam rút lui khỏi Tây Nguyên một cách có trật tự, mặc dù có những tin tức trái ngược lại. Và khi phó vụ trưởng vụ Việt nam (thuộc Bộ ngoại giao Mỹ) phản đối sự lạc quan này thì Martin hứa là trong một năm nữa sẽ mời vợ chồng vụ phó này đi chơi Ban-mê-thuột một chuyến. Maritn còn ra vẻ sốt ruột về tay chưn của mình là Al. Francis. Sau khi xem bức điện ảm đạm từ Đà Nẵng gởi về, Martin nhẫn tâm bình luận đại khái nói là: “Chắc tuyến giáp trạng của Francis lại hành anh ta lần nữa”. Martin tin tưởng như vậy không phải chỉ vì không hiểu biết sự thật. Ông ta luôn luôn bảo những người bi quan, hết người này đến người khác, ở Oa-sinh-tơn rằng ông coi mất nửa phía bắc của Việt Nam cũng là nhẹ nợ vì về kinh tế nó không được lợi lãi bao nhiêu, chỉ tốn tài nguyên của chính phủ. Phần còn lại giàu có hơn, nó tập trung hẳn thành một khối, có thể bảo vệ một cách có hiệu quả hơn”(1). Ngay các nhà phân tích CIA và Lầu năm góc cũng có quan điểm: “Tuy thừa nhận mất phần lớn Quân khu 1 và 2 là mất vĩnh viễn, họ vẫn lập luận rằng lực lượng chính phủ ở nơi khác trong nước đủ mạnh để ít nhất cũng giữ được phòng tuyến bắc Sàigòn suốt cho đến đầu mùa mưa vào tháng 5, sau thời gian đó cuộc tấn công của Bắc Việt Nam nhất định sẽ bị khó khăn về thời tiết và chính phủ sẽ có thời gian để chỉnh đốn và tập hợp lực lượng lại và có lẽ mở lại đàm phán từ một thế tương đối mạnh”(2).
Sáng ngày 25-3 một cuộc họp của cấp chóp bu Mỹ đã diễn ra tại Nhà trắng gồm cả Tổng thống Ford, Kissinger, Martin, Weyand, tham mưu trưởng lục quân và cả Tổng tư lệnh Mỹ ở Đông dương để nhận định tình hình và bàn kế hoạch đối phó với chiến sự ở Việt Nam. Cuộc họp lúng túng với những tin tức trái ngược nhau nên phải cử tướng Weyand đi Sàigòn để đích thân đánh giá tình hình tại chỗ và bàu mưu tính kế cho Thiệu chống trả cho có hiệu lực. Ngày 28, Weyand cùng một phái đoàn quan trọng đã đến Sàigòn và lao ngay vào việc: “Ngay từ khi đặt chân đến Sàigòn, Weyand đã tập trung tâm lực vào một vài mục tiêu cơ bản. Ngoài công việc cụ thể là điều tra tình hình, ông tập trung nhiều vào việc xây dựng một chiến lược mới nhằm cứu vãn những người Miền Nam Việt Nam. Điều mấu chốt của kế hoạch này là sự thay đổi cơ cấu của chính Thiệu: “nhẹ ở đầu, nặng ở đấy”. Đầu tiên theo quan điểm của Thiệu hy vọng xây dựng một tuyến phòng thủ vòng ngoài cho Sàigòn kéo dài từ Tây Ninh ở hướng tây đến Nha Trang ở vùng bờ biển. Nhưng bây giờ điểm với tình trạng cộng sản thâm nhập sâu vào vùng phía nam Quân khu 2, rõ ràng cần có một vài điều chỉnh bổ sung. Weyand gợi ý như một cách lựa chọn, một tuyến phòng thủ mới sẽ được xây dựng chốt tại thị xã Phan Rang rồi Xuân Lộc làm căn cứ trung tâm và Tây Ninh là chốt phía tây. Vì Thiệu cũng chẳng có mấy phương án, ông ta chấp nhận ngay đề nghị này”(3). Weyand nhấn mạnh với Thiệu: “Phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sàigòn”. “Như vậy là bước đầu tiên nhằm thực hiện kế hoạch phỏng thủ mới, Thiệu cử tướng Toàn giữ Phan Rang (tướng Toàn là chỉ huy Quân đoàn III) và Toàn lại chỉ thị cho người bạn cũ của mình là tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (cựu chỉ huy Quân khu IV bị cách chức mùa thu trước vì tham nhũng) thành lập Tổng hành dinh vòng ngoài ở đó cùng với một bộ phận của Sư đoàn cơ động. Ông ta cũng triển khai một lữ đoàn thiết giáp và một vài đơn vị iệt động tới phía đông Quân khu III để tăng cường cho sư đoàn quan Nam Việt Nam tại thị trấn trọng yếu Xuân Lộc”(4). Tuy xoay sở như vậy, bề ngoài có vẻ cố thủ đến cùng nhưng trong thâm tâm cả Thiệu và Mỹ đều không tin có thể đứng vững. Bằng chứng là trong ngày 2 và 3 tháng 4 Thiệu đã lén lút cho chở tài sản quí giá mà y đã cướp được của nhân dân ta qua Đài Loan và Canada để mưu sống một đời vương giả khi phải chạy trốn ra nước ngoài. Còn Mỹ thì cũng lo chuẩn bị trước cho kế hoạch phục thù vè sau khi phải cút khỏi Việt Nam. “Từ lúc phái đoàn Weyand đến đây, Giôn-xơn (trùm CIA ở Sàigòn) đã xin được phép tuyển lựa một số “người ở lại” và thành lập tổ chức những người tị nạn Việt Nam ở Băng Cốc, coi đó như một chiếc cầu tung các mang lưới điệp viên, hoạt động dài hạn vào Việt Nam. Đứng về quan điểm mà nói, điều đó tương đối đơn giản. CIA đã từng làm vậy với các nhóm lưu vong ở Đông Âu nhiều năm về trước”(5). Những người có lương tri trên toàn thế giới hãy qua sự tự thú này để hiểu rõ vấn đề tị nạn Việt Nam mà loa tuyên truyền Mỹ làm rùm beng lâu này là thế nào. Đó thực chất là một khâu trong kế hoạch phục thù của Mỹ và bọn bành trướng Trung Quốc cấu kết với nhau sau thất bại cay đắng và nhục nhã ở Đông Dương. Và cũng qua đây để hiểu đầy đủ Băng Cốc, thực sự là một căn cứ bàn dạp của Mỹ để đánh vào Đông Dương, nơi mua xương máu lính Thái Lan qua tham chiến trong cuộc chiến tranh vừa qua và còn là căn cứ đào tạo và tung gián điệp vào Đông Dương thực hiện kế hoạch phục thù của đế quốc và bành trướng, là nơi xuất phát mọi mưu đồ phá hoại hòa bình ở Đông Nam Á sau chiến tranh. Theo kế hoạch phòng thủ mới, ngoài các sư đoàn ngụy số 25 ở Củ Chi tây bắc Sàigòn, số 5 ở Lai Khê phía bắc, số 18 và Lữ 3 kỵ binh, 2 lữ thủ quân lục chiến, 1 lữ dù ở phía đông, chúng gấp rút bổ sung xây dựng lại sư đoàn 22 bố trí ở Long An phía tây để nối liền với các sư đoàn 7, 9, 21 ở Đồng bằng. Ở vùng ven Sàigòn chúng còn có một lữ dù, 3 liên đoàn biệt động quân và một số liên đoàn bảo an trấn giữ. Trong nội đô, chúng bố trí thành 3 liên khu phòng thủ do lực lượng cảnh sát dã chiến và phòng vệ dân sự rải khắp các quận, phường. Để đưa phái đoàn Weyand về Mỹ một cách có ý nghĩa, ngày 1-4 ta giải phóng Quy Nhơn, Tuy Hòa, ngày 3-4 chiếm Cam Ranh, Nha Trang và sát Sàigòn hơn về phía bắc chiếm Chơn Thành trên đường 13, ngày 4-4 giải phóng thị xã Đà Lạt. Một sự việc nổi bật nữa là sáng ngày 4-4 phái đoàn Weyand bay về Mỹ để báo cáo nhiệm vụ hoàn thành tại Nhà trắng thì Dinh Độc Lập của Thiệu bị oanh tạc bằng phi cơ sáng ngày 8-4. Đó là chiếc máy bay F-5E do Trung úy không quân Nguyễn Thành Trung lái, cất cánh từ sân bay Biên Hòa đã ném hai quả bom rất trúng đích vào Dinh lũy của Tổng thống Ngụy quyền báo hiệu trước ngày sụp đổ sắp tới của chế độ tay sai. Trung là một thanh niên yêu nước, con một đồng chí ta ở Bến Tre, được tổ chức đưa vào hoạt động trong lực lượng không quân ngụy từ lâu. Đã đến lúc ta sử dụng các loại máy bay và bom đạn lấy được của địch để chuẩn bị cho giờ phút cần thiết. Sân bay Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long đã được tổ chức và điều khiển cho chiếc F-5E hiện đại nhất của ngụy hạ cánh an toàn, nguyên vẹn. Nguyễn Thành Trung đã lập được thành tích, được khen thưởng xứng đáng, đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang lâu dài trong lòng địch và đã trở về bằng một chiến thắng. Đây là một trong những dung nhan muôn hình muôn vẻ của người chiến sĩ quân giải phóng hoạt động khắp nơi nào, ở đó có người Việt Nam sống trong những năm chống Mỹ cứu nước oanh liệt. (1) Sách “khoảng cách thời gian vừa phải” nhà xuất bản Random House, 1977 New Yorrk, phần II “chung cuộc”. (2) Sách đã dẫn. (3) Sách đã dẫn, phần III “sụp đổ”. (4) Sách đã dẫn. (5) Sách đã dẫn ở trên của Frank Snepp, một cán bộ có cỡ của CIA ở Sàigòn trong những năm chiến tranh. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:31:04 pm CHƯƠNG BẢY TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC QUYẾT ĐỊNH: CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ Trong những ngày đầu tháng tư trở đi, sân khấu chính trị Sàigòn hoạt động sôi nổi khẩn trương. Nhân dân thì đòi hạ bệ Thiệu để có hòa bình theo yêu cầu của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Weyand và Martin thì muốn vẫn giữ Thiệu tránh xáo trộn chính trị, nhưng mở rộng chính phủ có nhiều thành phần kể cả phe đối lập để có thể đàm phán với Mặt trận dân tộc giải phóng hòng cứu vãn sự thất bại hoàn toàn của “Việt Nam cộng hòa”. Cái gọi là “Thượng nghị viện” Miền Nam cũng ra nghị quyết, tuy biết rằng nghị quyết này không có giá trị gì cả, đòi thay đổi lãnh đạo để “cứu vãn quốc gia”! Khiêm thị nịnh bợ Mỹ, hoàn toàn tán thành ý kiến của Mỹ, còn Cao Kỳ thì rủ rê Cao Văn Viên, Lê Minh Đảo sư trưởng Sư 18 ở Xuân Lộc và một số khác làm đảo chính. Như ta đã biết mọi sự việc diễn ra ở Sàigòn từ kế hoạch quân sự, kế hoạch “Phượng hoàng” giết người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại cho đến cả việc đánh lộn nhau giữa bầy tay sai đều phải do chủ Mỹ quyết định. Vì vậy Kỳ phải xin phép Mỹ, và Polgar trùm CIA ở Sàigòn đã nghiêm khắc cấm không cho đảo chính. Thế là tướng không quân anh hùng rơm Cao Kỳ đành nằm im ở nhà riêng của mình trong sân bay Tân Sơn Nhất chờ ngày chạy trốn. Tất nhiên là được Mỹ đỡ đầu, Thiện vẫn ngồi vững. Y cho rằng Khiêm cùng phe với Kỳ nên liền truất Khiêm khỏi chức Thủ tướng và Bộ trưởng quốc phòng đưa tay chân là Nguyễn Bá Cẩn lên cầm đầu chính phủ gọi là đã cải tổ, mệnh danh “Chính phủ chiến đấu và đoàn kết dân tộc” và cho Trần Văn Đôn làm Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Thật là đánh chết, nết không chừa. Giờ tận số của chúng đã sắp đến nơi rồi, thế mà những têm tham quyền thế cố bám chắc lấy địa vị, còn những tên cơ hội thì vẫn ra sức nịnh bợ chủ hoặc chòi đạp để ngoi lên. Thế nhưng chúng cứ rêu rao nào “quốc gia” nào “dân tộc”. Đến lúc này Martin đã thấy rằng chỉ còn độc nhất giải pháp đàm phán là may ra cứu vãn được tình hình tranh thủ được thời gian cứu được hàng vạn người Mỹ và những tay sai đắc lực lâu nay, khỏi kẹt ở Sàigòn. Trong lúc Đại sứ Mỹ Martin cùng trùm CIA Polgar kết hợp với các nhà ngoại giao, các nhà chính trị khác cố tìm mọi cách đi đến một cuộc đàm phán nóng lòng mong đợi ấy thì phái đoàn của ta trong Ban liên hợp quân sự 2 bên ở trại David bỗng trở nên quan trọng hết sức. Thỉnh thoảng lại có những nhân vật Sàigòn đến xin tiếp xúc, thăm dò về tình hình quân sự, về thái độ của chính phủ cách mạng lâm thời về khả năng và điều kiện để nói chuyện, để tránh một cuộc tấn công thẳng vào Sàigòn. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi. Chính phái đoàn ta là những nười duy nhất ở cái “Thủ đô” đang run sợ từng ngày này bình tĩnh tự tin như những người đã làm chủ thực sự, am hiểu tình hình chiến sự thực tế hơn ai hết và hiểu ý kiến rõ ràng của chính phủ cách mạng. Trong những ngày này chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên với phái đoàn chúng ta, và theo sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Chính Trị, trả lời nhanh những bức điện, hướng dẫn mọi ý tứ và hành động cho phù hợp với không khí ngoại giao cũng như diễn biến của chiến trường. Cũng chính trong những ngày này, Nhà trắng hết sức sốt ruột, “mấy ngày qua kể từ khi Weyand đi Sàigòn, Nhà Trắng không dám bình luận trực tiếp về tình hình khủng hoảng ở Đông Dương. Nhưng đến ngày 3-4, khi cuộc chiến đấu dữ dội xảy ra quanh Sàigòn, Tổng thống Ford đã không giữ được in lặng nữa. Trong chuyến đi nghỉ ở Pam Xprinh, Ford đã tuyên bố với các nhà báo, tỏ ý chê trách Thiệu đã quá vội rút quân từ Tây Nguyên về và nói là việc di tản 6.000 người Mỹ khỏi Việt Nam đang được xem xét tới. Đề cập đến một trong những vấn đề tế nhị nhất, ông cũng nói rõ rằng theo ý ông hiểu về đạo luật quyền hạn chiến tranh, ông được quyền dùng sức mạnh để giúp di tản những người Mỹ đi khỏi bất cứ khu vực chiến tranh nào trên thế giới(1). “Những nhận xét của ông về vấn đề này không phải là một sự ngẫu nhiên. Vì thêm vào tình hình căng thẳng ở vùng quanh Sàigòn, chính quyền còn phải đương đầu với tai họa xảy ra đến nơi ở Kampuchia. Thực tế tình hình quân sự của Phom Pênh trở nên nguy nan trong khoảng vài ngày qua. Nhà trắng cuối cùng đã quyết định tiến hành việc rút toàn bộ quân Mỹ ở đó” (2) Thế là Dean, đại sứ Mỹ ở Phnom Pênh ngày 12-4 đã cắp nách cờ Mỹ bước lên máy bay, chuồn trước Martin, trong khi Lôn-nôn tên đầu sỏ ngụy quyền Kampuchia thì ngụy trang một chuyến công du ra nước ngoài để trốn qua Mỹ từ đầu tháng. Ngày 17-4 toàn bộ đất nước Kampuchia được lực lượng cách mạng của nhân dân Khmer anh hùng giải phóng. Thật là một sự hợp đồng đẹp đẽ giữa hai chiến trường gắn bó với nhau từ lâu, trong thế chiến lược 3 nước Đông Dương dựa vào nhau mà tồn tại và xây dựng lớn mạnh, một thế chiến lược vững chắc không gì lay chuyển được như dãy Trường Sơn và giòng sông Mêkông hùng vĩ. (1) Chú thích của Frank Snepp: (1) “Những ngày vừa qua, các luật gia của Nhà trắng đã chuẩn bị một bản tường trình để báo cáo với Ford về cuộc tranh luận luật pháp xung quanh đạo luật quyền hạn chiến tranh. Ngoài các vấn đề khác, họ chỉ ra rằng khi đạo luật được thảo luận trong ủy ban và ở hội trường quốc hội, ngay cả những người đề xướng ra nó cũng đồng ý có thể xử dụng vũ lực để cứu những người công dân Mỹ ở nước ngoài một cách khẩn cấp. Không có quyền hạn nào tốt hơn nên bây giờ Ford quyết định dùng điểm này để biện luận cho việc dùng lính thủy đánh bộ được túc trực trên tàu ngoài bờ biển Đông Dương”. (2) Sách đã dẫn của FrankSnepp, phần 3 “sụp đổ”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:35:16 pm Trong lúc người Mỹ thực hiện “cuộc rút lui đại bàng” bằng trực thăng ra khỏi Phom Pênh thì ở Sàigòn cuộc di tản cùng ngày cũng tăng tốc độ “Cho đến ngày 7-4 số lượng những máy bay vận tải Mỹ đến và rời sân bay Tân Sơn Nhất đã tăng vọt lên – Gần một tá máy bay vận tải C-141 đi về trong một ngày cùng với số lượng ít hơn máy bay C-130 hạ cánh ban đêm để chuyên chở hàng hóa”(1).
“ngay từ lúc bắt đầu, những chuyến chuyên chở đi về như con thoi đến căn cứ Clark chủ yếu là phục vụ cho nhân viên cơ quan DAO và gia đình của họ. Những nhân viên không thiết yếu của sứ quán đã phải rời khỏi nước này bằng những máy bay thương mại để cho việc di tản được tiến hành nhanh chóng. Nhân viên Bộ ngoại giao đã liên hệ với hãng PANAM vào ngày 7-4 và yêu cầu hãng này bổ sung thêm những chuyến bay đến Sàigòn. Nhân viên hãng hàng không này không muốn nghe theo vì làm như vậy có nghĩa là họ phải tăng thêm tiền bảo hiểm cho những chuyến bay đến Đông Dương. Nhưng họ đã đồng ý cho mở thêm chỗ ngồi cho những máy bay 747 cho cuộc rút chạy của Sàigòn”(2). Còn tại Oa-sinh-Tơn thì các nhà chức trách chóp bu đang cãi vã nhau về việc viện trợ khẩn cấp ngay cho Thiệu 722 triệu đô la coi như liều thuốc hồi sinh trong chốc lát. Kíp Kissinger Bộ trưởng ngoại giao thì muốn viện trợ tối đa còn Kíp Slé-Xing-giơ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ thì phản đối vì theo ông Nam Việt Nam xem như đã thất thủ rồi. Trong bối cảnh như vậy, cuộc bao vây chiến lược Sàigòn bắt đầu thực hiện theo kế hoạch đã định. Ngày “N” ngày 9-4, những trận đánh cắt đường số 4 phía tây Sàigòn và trận tấn công vào Xuân Lộc, cứ điểm then chốt số 1 trận tuyến phòng ngự sống còn cho Sàigòn và vùng 3 chiến thuật bắt đầu. Ở phía Tây, trước đây kế hoạch dự kiến dùng lực lượng Đoàn 232 đánh chiếm thị trấn Mộc Hóa rồi theo đường 12, một đơn vị binh chủng hợp thành tiến về làm chủ con đường số 4 từ Cai Lậy lên Tân Hiệp phối hợp với Sư đoàn 8 Quân khu 8 tiêu diệt Sư đoàn 7 và 9 của ngụy. Nhưng vì tình hình tiến triển quá nhanh chóng, Bộ tư Lệnh Miền ngại rằng lực lượng ta không nhiều, dễ bị kẹt dài ngày tại Mộc Hóa nếu địch tập trung lực lượng cố giữ và cũng theo gợi ý của trên nên thay đổi kế hoạch. Trong lúc đang kèm giữ địch ở biên giới Kampuchia, Sư đoàn 5 với pháo mang vác đã cấp tốc băng đồng, vượt sông xuống cắt đường 4 trong khu vực Tân An – Bến Lức. Ngày 9-4, Sư đoàn 5 tấn công vào thị trấn Thủ Thừa và thị xã Tân An không thành công vì Sư đoàn 7 và 22 của ngụy đã có phòng bị sẵn trong công sự kiên cố ra sức chống cự, còn sư đoàn ta thì chỉ có bộ binh và được chi viện yếu. Bộ chỉ huy đoàn 232 lịnh cho Sư đoàn chuyển qua đánh tiêu diệt quân địch phản ứng và quét hệ thống đồn bót của địch phía bắc đường số 4 tạo bàn đạp khống chế đường này và cắt từng thời gian cần thiết. Trong một số ngày hoạt động tiếp theo sư đoàn đã đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn bộ binh của sư đoàn 7 ngụy và một trung đoàn thiết giáp, diệt 80 đồn bót lớn nhỏ lớn nhỏ, giải phóng một vùng rộng dọc bờ sông Vàm Cỏ Tây và Kinh Bo Bo ngay phía bắc đường 4 uy hiếp trực tiếp đường này. Lực lượng Quân khu 8 thì làm chủ từng thời gian đường 4 trên đoạn Tân Hiệp – Cái bè, tỉnh Mỹ Tho, còn lực lượng quân khu 9 tấn công đoạn Cái Vồn – Ba Càng, tỉnh Vĩnh Long. Về hướng Đông, đêm 9 rạng 10-4, Quân đoàn 4 gồm 2 sư đoàn 7, 1 (341 cũ) và Sư đoàn 6 thiếu của Quân khu 7 tấn công Xuân Lộc, thị xã tỉnh Long Khánh. Cuộc tấn công dũng mãnh đã chọc thủng tuyến phòng ngự thị xã bằng nhiều mũi, nhanh chóng phát triển trung tâm. Đến 7 giờ 40’ ngày 10-4 ta đã cắm cờ trên Dinh Tỉnh trưởng và làm chủ một loạt căn cứ vị trí khác như Ty cảnh sát, Khu cố vấn Mỹ, Khu tình báo CIA, khu Biệt động, nhà ga xe lửa… Địch còn giữ được tiểu khu liền tập trung 2 trung đoàn của sư đoàn 18 cùng số tàn quân của các tiểu đoàn bảo an, biệt động và thiết giáp cố thủ và liên tục phản kích. Ngay trong ngày 15-4, chúng đã điều về đây thêm 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn của sư đoàn 5, 8 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp. Như vậy là chung đã tập trung xử dụng vào đây đến 50% chủ lực, cỡ 60% pháo, gần hết tăng thiết giáp của quân đoàn 3 và tương đương 1 sư đoàn lực lượng tổng trù bị dù và thủy quân lục chiến chỉ trong vòng mấy ngày đầu chiến sự. Chúng cũng xử dụng không quân với mật độ cao chi viện trực tiếp cho các mũi phản kích của bộ binh và thiết giáp của chúng đồng thời oanh tạc những nơi ta đã chiếm, đánh vào đội hình quân ta cũng như tuyến tiếp tế, phía sau của ta. Chúng đã dùng 2 loại bom có uy lực mạnh nhất, loại “Daisy Cutler” và “CBU”(3) là lại dùng để phá rừng dọn bãi cho trực thăng và sát thương hàng loạt mà quân đội Mỹ đã từng dùng nhiều năm rồi ở Việt Nam và khi rút về Mỹ theo hiệp định Paris qui định thì lén lút để lại vũ khí cả các loại bom nói trên cho không quân ngụy xử dụng (sau ngày giải phóng ta còn chiếm được một kho bom CBU và nay đang triển lãm ở nhà trưng bày tội ác Mỹ - ngụy ở đường Võ Văn Tần, thành phố Hồ Chí Minh) Từ 1973 đến nay là lần đầu máy bay ngụy mang bom này trút xuống mục tiêu. Có thể nói là quân ngụy đã dùng đến mọi thứ có thể, mọi sức mạnh có thể tập hợp được để cố giữ cho được Xuân Lộc. Phải chăng chúng rất sợ câu nói quái gở của quan thầy Weyand của chúng khi vạch ra kế hoạch phòng thủ cuối cùng: “mất Xuân Lộc là mất Sàigòn”. Không những ngụy cố đem hết sức lực để giữ cho được Xuân Lộc, điểm trung tâm then chốt của tuyến phòng ngự chiến lược cuối cùng, mà còn mong dành được một thắng lợi tâm lý và chính trị lớn ở thời điểm nguy nan này. Thời kỳ ấy báo chí ngụy và ngoại quốc tuyên truyền rùm beng về khả năng chiến đấu của quân ngụy đã hồi phục, rằng quân ngụy chưa đến nỗi nào, vẫn còn đủ mạnh để giữ vững cho chế độ v.v… Hãng UPI của Mỹ ngày 12-4 tưởng đã chắc ăn liền nêu là ngụy chọn Xuân Lộc “làm một nơi thí điểm khả năng chiến đấu của quân nam Việt Nam”. Có lẽ cũng đúng một phần, kết quả trận Xuân Lộc sẽ quyết định số phận của ngụy quân, ngụy quyền. Lúc này Thiện rất cần một chiến thắng như vậy để kêu gọi Mỹ tin tưởng và viện rợ tối đa cho y, để ra sức giúp đỡ xây dựng lại quân ngụy và cũng để củng cố lại tinh thân sĩ quan và binh lính chúng, chủ yếu là giữ vững địa vị của Thiệu đang bị lung lay dữ dội, Mỹ thì mong ngụy trụ lại được 1 thời gian để có cái gì còn lại mà trả giá trong cuộc đàm phán nếu có. (1) Frank Snepp kể trong sách “khoảng cách thời gian vừa phải” đã dẫn ở trên. (2) Frank Snepp kể trong sách “khoảng cách thời gian vừa phải” đã dẫn ở trên. (3) Lời chú thích về 2 loại bom này của sĩ quan cao cấp CIA Mỹ Frank Snepp trong sách “khoảng cách thời gian vừa phải” như sau: “Daisy Cutler là lại dùng để phá các cây trong rừng làm bãi đáp cho máy bay lên thẳng. Bom này nổ trên không ở địa điểm mục tiêu, dọn sạch một khoảng đất rộng tới một trăm thước vuông. Còn CBU là loại khủng khiếp hơn, nổ ở độ cao đã định trước, tạo ra một đám mây lỏng có đường kính trên 100 mét và dày đến hơn 2 mét. Gặp lửa, đám mây này tỏa ra một nhiệt lượng lớn và áp mực mạnh, thốc xuống mặt đất nặng tới hàng tấn trên một cen-ti-mét vuông và có thể phá tan mọi thứ. Con người dẫu có thoát vòng lửa này, cũng vẫn bị chết ngạt sau tiếng nổ của trái bom, tạo một khoảng chân không lớn. Trong kho vũ khí của Mỹ, bom CBU là một trong các loại sát thương tàn ác nhất ngoại trừ vũ khí hạt nhân”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:36:21 pm Tại Sở chỉ huy của Miền, chúng tôi chăm chú theo dõi từng diễn biến của trận đánh. Các báo cáo ngày 9, 10 có nhiều phấn khởi. Các mũi tiến triển tốt, ta chiếm được nhiều mục tiêu. Nhưng vào cuối ngày 10 trở đi tình hình trở nên căng thẳng. Địch phản kích điên cuồng tuy chúng bị thiệt hại nặng. Máy bay địch đánh phá ác liệt có tính chất hủy diệt các mục têu chúng đã bị mất. Quân đoàn đã kêu thiếu đạn các loại nhất là sư đoàn 1 và 6. Sư đoàn 7 thì thiếu quân số vì đã chiến đấu liên tục trên đường 20 cho đến nay. Rồi báo cáo từng vị trí chiếm được phải bỏ lần lượt. Có vị trí thay đổi chủ vài lần. Số thương vong của sư đoàn 1 cao hơn các đơn vị khác vì kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều ở chiến trường ác liệt. Tình hình rất gay go.
Các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiễn Dũng và cả anh Lê Đức Thọ rất lo lắng khi thấy địch ngày càng tập trung thêm lực lượng và ta có vẻ khựng lại, chiếm mục tiêu không nhanh gọn, hoặc bị đẩy lùi. Trận đánh quá ác liệt e rằng các đơn vị ta thương vong nặng trong thời điểm này không lợi. Vì vậy các anh gợi ý có thể cho anh em rút ra khỏi thị xã và đánh diệt quân địch bên ngoài, tập trung diệt từng bộ phận. Tôi đề nghị cho tôi đến tận nơi, nắm rõ tình hình cụ thể tại chỗ và cùng anh em nghiên cứu cách đánh thắng lợi. Các anh đều đồng ý. Thế là chiều ngày 11-4 tôi lên đường đến thẳng chỉ huy sở của Quân đoàn 4. Xe chúng tôi vượt sông Đồng Nai bằng phà tại bến Tà Lài và ra gặp đường 20 ở Phương Lâm. Chỉ huy sở Quân đoàn đóng trên bờ sông Là Ngà, địa danh này đã đi vào lịch sử với trận thắng lớn Là Ngà hồi 9 năm chống Pháp. Trận đánh hồi ấy do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ và đồng chí Bùi Cát Vũ chỉ huy. Bây giờ đồng chí Vũ lại là Phó tư lệnh quân đoàn 4, khi gặp đồng chí trên bờ sông Là Ngà tôi vui vẻ nhắc đồng chí hãy cố gắng làm nên chiến công Là Ngà một lần nữa. Thực tình tôi tin tưởng như vậy. Sau khi nghe báo cáo kỹ tình hình diễn biến trận đánh, quan sát trận địa trên một số hướng, theo dõi hoạt động không quân và pháo binh địch, kiểm điểm lại tình hình quân địch và nắm chắc lại thực lực của ta, ngày 13-4 chúng tôi bàn quyết tâm mới. Lần này quân đoàn được tăng cường thêm trung đoàn 95B vừa mới từ ngoài vào, 1 đại đội xe tăng, 1 số pháo và cao xạ, đồng thời đã gấp rút bổ sung quân số, đạn dược nên sức chiến đấu vẫn còn tốt. Quân địch hiện đang ra sức phản kích cố chiếm lại các vị trí đã mất hòng khôi phục lại toàn bộ thị xã Xuân Lộc, mật độ pháo cao và hoạt động không quân chúng rất lớn. Đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh, Tham mưu trưởng Quân đoàn phân tích gọn tình hình rồi đề nghị: - Bỏ Long Khánh, toàn bộ lực lượng ta vòng qua diệt Trảng Bom rồi đánh chiếm luôn Biên Hòa. - Đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn có ý kiến khác: - Tiêu diệt Trung đoàn 52 ngụy ở ngã 3 Dầu Giây và Núi Thị. Sau đó đánh chiếm Xuân Lộc. Đánh Biên Hòa là khi hợp đồng chung với các hướng. - Nhiều ý kiến đồng ý như đồng chí Hoàng Cầm, chỉ đề nghị xử dụng lực lượng có khác nhau. Sau khi nghe tất cả ý kiến, tôi đã phân tích một số điểm và kết luận dứt khoát: Xuân Lộc là điểm then chốt hết sức quan trọng trong tuyến phòng ngự của địch nên chúng đã tập trung nhiều lực lượng cố giữ. Hiện nay lực lượng chúng đã chiếm ưu thế so với ta. Ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không lợi. Ta có được con đường 20 cho đến Túc Trưng là rất có thế. Địch từ Túc Trưng đến ngã 3 Dầu Giây (ngã 3 đường 20 và đường số 1) không mạnh. Ta phải tận dụng lợi thế này của đường 20 và sơ hở này của địch ở khu vực quanh Dầu Giây. Nếu ta chiếm ngã 3 Dầu Giây và giữ vững luôn – điều này ta làm được, vì địch ở đây yếu và bị bất ngờ - thì Xuân Lộc tự nhiên mất hết tác dụng của một cứ điểm then chốt vì nó nằm ngoài tuyến phòng thủ rồi. Còn Biên Hòa thì lập tức bị uy hiếp. Khi ta chiếm giữ Dầu Giây rồi thì địch ở Xuân Lộc sẽ bối rối hỗn loạn vì bị cắt đứt với hậu phương,bị bao vây cô lập. Quân đoàn 3 sẽ hoảng sợ vì kẹt lực lượng lớn bên ngoài tuyến – bởi trong tuyến yếu. Vậy chúng sẽ có 2 hành động: một là tập trung sức đánh vào Dầu Giây từ 2 phía Xuân Lộc và Trảng Bom. Hai là rút khỏi Xuân Lộc về Bà Rịa Biên Hòa. Vì vậy ta không được để lơi lỏng đối với lực lượng địch ở Xuân Lộc mà phải kèm kỹ và diệt khi chúng phản kích hay rối loạn rút chạy. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:37:28 pm Căn cứ vào những phân tích ấy, quyết định:
- Trước tin dùng 1 sư đoàn diệt Trung đoàn 52 ở Dầu Giây và núi Thị, một cao điểm khống chế ở đây, giải phóng rộng và chốt giữ cho được ngã ba Dầu Giây, một điểm trở thành trọng yếu cho ta cũng như cho địch. Chặn và diệt cho được quân địch từ Trảng Bom ra phản kích. - Lực lượng mạnh của Quân đoàn kèm chặt và diệt từng bộ phận địch ở Xuân Lộc chủ yếu là hướng giữa Xuân Lộc và ngã 3 Dầu Giây để hỗ trợ cho chốt Dầu Giây,. - Cho 1 lực lượng phục kích ở đường số 2 sẵn sàng khóa đường diệt địch rút chạy theo đường độc nhất về Bà Rịa. - Bố trí hợp lý hỏa lực phòng không để đánh có kết quả máy bay địch, đồng thời trận địa pháo Hiếu Liêm cùng với đoàn 113 khống chế cho có hiệu lực sân bay Biên Hòa. Chính từ đây máy bay địch trang bị bom có uy lực mạnh để cất cánh đánh ta. Tất cả mọi người đều nhất trí với phương án tác chiến này và khẩn trương chuẩn bị thực hiện theo quyết tâm cụ thể của quân đoàn. Tôi chuyển qua bàn với Quân đoàn và Quân khu 7 về phương hướng tác chiến sau khi giải quyết xong Xuân Lộc: hành động của hướng đông đánh vào Sàigòn khi có lệnh thống nhất. Khi chúng tôi bàn vấn dề này, chưa tính đến lực lượng của ta do đồng chí tấn chỉ huy đang tiến vào theo ven biển miền Trung. Chúng tôi vẫn theo kế hoạch tấn công Sàigòn với lực lượng bản thân B2 hiện có. Tôi phân tách cặn kẽ: Thị xã Biên Hòa kết hợp với sân bay và chỉ huy sở quân đoàn 3 ngụy có nhiều kiến trúc và công sự phức tạp. Địch sẽ dựa vào dây ra sức chống cự ngăn chặn ta tiến về Sàigòn. Xuân Lộc mất rồi thì Biên Hòa là điểm quan trọng nhất ở hướng này. Đánh vào đây là ta đánh vào nơi cứng nhất trên tuyến ngăn chặn của địch, sẽ không lợi và chậm. Hướng địch yếu và cũng là bất ngờ là theo đường 15 cặp sườn khu kho Long Bình lên gặp xa lộ Sàigòn – Biên Hòa, và theo xa lộ thênh thang ấy mà nhanh chóng về chiếm mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập. Đánh theo hướng này, ta hành quân cơ giới có xe tăng dẫn đầu sẽ tiến triển rất nhanh và được chi viện tốt khi ta đặt được trận địa pháo 130 ly tại Nhơn trạch. Trong lúc đó cho một bộ phận lực lượng kèm chân địch tại Biên Hòa rồi sẽ giải quyết về sau. Mọi người đều nhất trí với các phân tách trên đây. Tôi bàn luôn với các đồng chí về kế hoạch và quyết tâm: sư đoàn 6 của quân khu 7 quen thạo địa phương được tăng cường pháo và xe tăng, bí mật hành quân, bất ngờ giải phóng 1 đoạn trên đường 15, chọc qua tỉnh lộ 19 chạy quanh lòng chảo Nhơn Trạch, nhanh chóng giải phóng Nhơn Trạch, đặt cho được trận địa pháo 130 ly tại đây. Từ trận địa pháo này, trước khi có lịnh thống nhất tấn công vào Sàigòn thì bắn khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Khi các hướng tiến vào nội đô thì không được bắn vào các mục tiêu trong nội thành nữa mà chi viện đắc lực cho cánh quân phía đông. Để hợp đồng ở hướng này, dùng Đoàn 10 đặc công khóa chặt sông Lòng Tàu không để bất cứ sự lưu thông ra vào nào được tiến hành và một bộ phận lực lượng vượt sông Đồng Nai kết hợp với địa phương vào giải phóng quận 9 Sàigòn. Sư đoàn 1 có trách nhiệm kèm giữ và diệt địch ở Biên Hòa, giữ sườn phải cho quân đoàn. Lực lượng chủ yếu của quân đoàn, sư đoàn 7, có trung đoàn 95B làm dự bị vòng qua Biên Hòa tiến lên đường 15 rồi theo xa lộ đánh thẳng về Sàigòn chiếm cho được Dinh Độc Lập là mục tiêu chính của quân đoàn. Các đồng chí trong Quân đoàn đều tán thành và phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi. Các đồng chí Lê Văn Ngọc tư lệnh quân khu 7 và Đặng Ngọc Sĩ phó tư lệnh kiêm sư trưởng sư 6 hăng hái nhận cả nhiệm vụ diệt trung đoàn 52 chiếm và chốt ngã 3 Dầu Giây trước mắt và sau này chiếm Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo 130 ly quan trọng khống chế sân bay Tân Sơn Nhân và chi viện cho quân đoàn tiến về Sàigòn. Chúng tôi chia tay nhau trong niềm tin chiến thắng. Đoàn tôi gấp rút trở về trong lúc các đồng chí thì người nào việc ấy khẩn trương triển khai trận tác chiến có giá trị lớn lao này. Trong lúc đó quân ngụy hút vào Xuân Lộc, cố xây dựng một chiến thắng Xuân Lộc “nổi tiếng thế giới” không hề biết rằng chúng lại sắp thành bẫy “chuột mắc bẫy”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:38:40 pm * * * Trong những ngày giữa tháng 4 này, mọi người chúng tôi đều sốt ruột theo dõi từng bước hành quân của các Quân đoàn 3, quân đoàn 1, các đơn vị binh chủng vào tham gia chiến dịch giải phóng Sàigòn. Các đoàn cán bộ được phái đi hướng dẫn các hướng. Mỗi đơn vị có đường hành quân khác nhau, ngày lên đường khác nhau. Quân đoàn 1 xuất phát từ bờ sông Hồng. Quân đoàn 3 thì có sư đoàn từ Tây Nguyên lại có sư đoàn từ ven biển quặt lên theo đường 14 đi Đà lạt rồi theo đường 20 vào. Còn quân đoàn 2 và sư đoàn 3 của quân khu 5 thì vừa hành quân tác chiến dọc ven biển. Có đơn vị vào tới thì đạn dược chưa tới. Cso xe tăng đến nơi nhưng xăng dầu hết, đạn pháo chỉ còn 1, 2 viên, còn phải bổ sung chấn chỉnh. Cán bộ tham mưu và hậu cần vùi đầu với công việc. Mỗi người làm việc gấp mấy lần ngày thường, không kể ngày hay đêm. Tinh thần phơi phới, sức lực như được tăng lên bội phần, công việc được giải quyết sáng suốt và nhanh chóng. Trừ cánh quân ven biển, mỗi quân đoàn đều có đoàn cán bộ phải đi trước do đồng chí tư lệnh quân đoàn cầm đầu đến chỉ huy sở chiến dịch nhận nhiệm vụ. đoàn phải đi nghiên cứu trước nơi tập kết quân, tuyến xuất phát tấn công của các đơn vị mình phải chiếm lĩnh, đơn vị địch mà mình phải diệt, tìm hiểu đường tiến quân, địa hình, mục tiêu chủ yếu mà đơn vị phụ trách. Rồi lại tổ chức hợp đồng giữa các hướng, các cánh, giữa các binh chủng giữa chủ lực và địa phương v.v… Các cán bộ tham mưu của Miền do đồng chí Đồng Văn Cống chỉ huy và phân phối cùng với đoàn A.75 do đồng chí Lê Ngọc Hiền điều khiển đã trao đổi mọi chi tiết của kế hoạch tác chiến, trả lời mọi câu hỏi cho các đoàn một cách cặn kẽ. Đồng chí Trần Văn Danh thì tổ chức hợp đồng giữa các quân đoàn, các hướng với các cánh đặc công biệt động, bàn giao cho từng quân đoàn, từng sư đoàn thọc sâu, cán bộ và đơn vị đặc công, biệt động hướng dẫn đường tấn công, mục tiêu phải tấn công. Mọi người đều cố làm hết sức mình, đóng góp tất cả những gì hiểu biết của mình để góp phần vào thắng lợi. Do tình hình cần thiết, các quân đoàn đã lần lượt vào chiến trường nên Trung ương Cục và Bộ chỉ huy chiến dịch có anh Sáu Thọ tham gia đã quyết định nên chờ các quân đoàn vào đủ để ta có ưu thế tuyệt đối hơn địch, đánh trận chắc thắng và nhanh chóng vào hang ổ cuối cùng của Mỹ ngụy, giữ vẹn toàn cho thành phố. Quyết định này được Bộ chính trị đồng ý. Chúng tôi lo hoàn chỉnh lại kế hoạch chiến dịch. Trên cơ sở của kế hoạch đánh vào Sàigòn với lực lượng bản thân mà Bộ tư lệnh B2 đã vạch, được Trung ương Cục thông qua và các anh Văn Tiến Dũng và Lê Đức Thọ xem xét đồng ý trước đây; trên cơ sỏ các lực lượng đã triển khai sẵn ở các hướng, tránh những điều động xáo trộn không cần thiết mất thì giờ; với tinh thần là lực lượng B2 quen thạo chiến trường phải đảm nhiệm các hướng mà địa hình phức tạp và có nhiều khó khăn; Cần phải dành những hướng gần nhất cho lực lượng từ xa đến kịp thì giờ triển khai. Kế hoạch đã điều chỉnh bố trí và phân công các lực lượng như sau: Hướng tây bắc xuất phát từ Củ Chi, Bến Cát đánh vào sư đoàn 25 ngụy, theo trục đường số 1 là chính, chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay tân Sơn Nhất do Quân đoàn 3 đảm nhiệm. Trước đây dự định sư đoàn 9, trung đoàn 16 và 271B chịu trách nhiệm đánh hướng này thì nay các đơn vị này chuyển qua tăng cường cho đoàn 232. Đoàn 232 như kế hoạch cũ đánh theo hướng tây, lấy trục đường 10 làm chính và mục tiêu cần chiếm là biệt khu thủ đô – Trung đoàn 271B chuyển xuống hướng Nam. Hướng nam vẫn là Trung đoàn 88 và trung đoàn 24 nay được tăng cường trung đoàn 271B, do Quân khu 8 chịu trách nhiệm tổ chức và Quân khu chỉ định Bộ chỉ huy hướng này là đồng chí Ba Thắng tức thiếu tướng Võ Văn Thạnh làm tư lệnh, đồng chí Tư Thân tức thiếu tướng Huỳnh Văn Mến làm phó tư lệnh và đồng chí Chín Phẩm, thường vụ khu ủy Khu 8 làm chính ủy. Từ Long An lại được tăng cường đồng chí Tư Chiểu tỉnh đội trưởng, làm chỉ huy phó cho cánh. Trục đường chính của hướng này là đường số 5 từ Cần Đước tiến lên và mục tiêu chủ yếu là Tổng Nha cảnh sát. Đồng chí Lê Đức Anh Phó tư lệnh Miền và là phó chỉ huy Bộ chỉ huy chiến dịch và đồng chí Lê Văn Tưởng phó chính ủy Miền được chỉ định trực tiếp chỉ huy thống nhất cả hướng tây và nam. Hướng Bắc đánh vào sư đoàn 5 và theo trục đường 13 đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy do Quân đoàn 1 đảm nhiệm – Trung đoàn Gia Định phụ trách ở vùng ven hướng này. Hướng đông trước chỉ Quân đoàn 4 phụ trách nay được tăng thêm quân đoàn 2 thiếu và sư đoàn 3 Quân khu 5. Đồng chí Lê Trọng Tấn phó chỉ huy Bộ chỉ huy chiến dịch được chỉ định trực tiếp chỉ huy cả 2 quân đoàn và hạ quyết tâm cụ thể lại cho hướng này. Như vậy là cả 5 hướng đều được tăng cường lực lượng rất mạnh cả bộ binh và các binh chủng, trừ công binh thiếu nhiều về đơn vị và phương tiện, đặc biệt là phương tiện vượt sông. Riêng có hướng đông, tây và nam được tăng cường chỉ huy mạnh vì gồm nhiều lực lượng và có nhiều phức tạp. Chỉ huy sở tiền phương của chiến dịch nằm trên khu vực Ván Tám tây nam Chơn Thành, bắc Bến Cát, ngay sau đội hình Quân đoàn 3 mà Bộ tham mưu Miền đã bố trí trước. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:43:11 pm Ngày 18-4 đồng chí Sáu Thọ, đại diện Bộ chính Trị đã cùng Bộ chỉ huy chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng quyết tâm chiến dịch – Tất cả đều nhất trí cao là thực hiện đúng phương châm của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương đề ra là “Thần tốc – Táo bạo – bất ngờ - chắc thắng”. Với riêng chủ lực, ưu thế của ta đã gấp ba lần so với địch về số lượng và gấp nhiều lần về chất lượng. Ta phải bố trí có lực lượng tiêu diệt quân địch phòng thủ bên ngoài đồng thời cùng lúc có lực lượng mạnh thọc thẳng nhanh vào mục tiêu chủ yếu bên trong. Phải đánh nhanh, mạnh từ ngoài vào kết hợp chặt với tấn công và nổi dậy từ bên trong để địch không kịp trở tay., không kịp phá hoại, bộ đội kết hợp với lực lượng cách mạng quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh ngay moi cơ sở mọi phố phương trong toàn thành trong một thời gian ngắn nhất. Đây là nội dung và ý nghĩa của thần tốc. Quyết tâm quy định 5 cánh quân phải hợp đồng chiến đấu chặt chẽ, 5 mục tiêu chủ yếu phân chia cho 5 cánh phải được chiếm gần như cùng một thời gian nhưng lấy mục tiêu Dinh Độc lập làm mục tiêu trung tâm cuối cùng, cánh nào đã chiếm xong mục tiêu chủ yếu của mình rồi thỉ phải tiến ngay về Dinh Độc lập. Nếu chưa có lực lượng nào chiếm thì phải đánh chiếm và treo cờ chiến thắng của ta lên, nếu đã có lực lượng ta chiếm rồi thì lui ngay về giải tấn công của mình.
Ngày N tấn công vào Sàigòn chủ yếu dựa vào việc Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 đã đến nơi phần lớn chưa. Trước đây trong điện số 07, anh Ba đã chỉ đạo: “Tôi đã bàn với anh Văn, nhận thấy cần chuẩn bị thêm mấy ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 (cả bộ binh và binh khí kỹ thuật) đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tấn công lớn, chưa nên làm bây giờ”(1). Căn cứ vào chỉ đạo này chúng tôi một mặt theo dõi từng giờ, từng ngày, cuộc hành quân của từng đơn vị thuộc các quân đoàn.Nhất là quân đoàn 1 đường hành quân xa nhất. Mặc khác chúng tôi phái từng đoàn cán bộ tham mưu hậu cần, túc trực ở các nơi tập kết để giúp các quân đoàn kiểm điểm thực lực, chấn chỉnh tổ chức, bổ sung đạn dược, hậu cần. Công binh Miền phải chuẩn bị sẵn các ngầm Bến Bầu qua Sông Bé ở tây bắc Tân Uyên cho Quân đoàn 1, đảm bảo qua cầu Nha Bích đã bị sập và sông Sàigòn cho Quân đoàn 3… Thật là chạy đua không kịp với thời gian. Tình hình chung thúc đẩy, cấp trên cũng thúc đẩy. Ngày 22-4 anh Ba đã điện có đoạn: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tiến công vào Sàigòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng giờ kịp thời phát động tấn công địch trên các hướng không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để dành thắng lợi hoàn toàn. “Các anh ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời chú trọng kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng, sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. “Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng”(2). Đó là lúc mà toàn bộ quân địch đã bị tiêu diệt, tan rã và rút chạy khỏi Xuân Lộc và Thiệu đã buộc phả từ chức Tổng thống ngụy quyền. Đêm 13 rạng ngày 14-4, theo quyết tâm mới của quân đoàn 4, sư đoàn 6 đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn của trung đoàn 52 thuộc sư đoàn 18 và một chi đoàn thiết giáp, giải phóng ngã 3 Dầu Giây. Tiếp theo hôm sau đã chiếm núi Thị, chiếm Túc Trưng, Kiệm Tân những điểm cuối cùng trên đường 20, diệt nốt toàn bộ trung đoàn 52. Sư đoàn 6 chuyển qua bố trí phòng thủ vững chắc khu vực quan trọng này và đánh diệt quân địch phản kích liên tục từ Trảng Bom ra. Các sư đoàn 7 và 1 của quân đoàn 4 cũng lần lượt tiêu diệt từng bộ phận của lực lượng địch ở Xuân Lộc thuộc các trung đoàn 48, lữ dù và thiết giáp. Không chiếm lại nổi ngã 3 Dầu Giây lại mất toàn bộ đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu mà lại không còn mấy lực lượng để phòng giữ. Ngày 18-4 Quân đoàn 3 ngụy đã phải dùng trực thăng bố một số lực lượng từ Xuân Lộc về Biên Hòa – Trảng Bom để củng cố tuyến phòng thủ mới và ngày 20-4 thì tàn quân còn lại rút chạy khỏi Xuân Lộc theo đường sô 2 qua Bà Rịa về Biên Hòa. Ta chỉ tiêu diệt một bộ phận của quân rút chạy vì đơn vị của ta do Bộ chỉ huy quân sự Bà Rịa chịu trách nhiệm khóa đường 2 đã sơ hở không kịp chặn lại từ đầu. Frank Snepp trong sách đã dẫn kể lại: “… Rạng ngày 21 các tuyến phòng thủ cuối cùng của chính phủ tại Xuân Lộc sụp đổ. Bốn tiểu đoàn còn sống sót của sư đoàn 18 quân đội Việt Nam cộng hòa với tư lệnh, tướng Đảo được kéo chạy khỏi thành phố đổ nát bằng máy bay lên thẳng”. Cùng ngày 21 buổi trưa Thiệu triệu tập cựu thủ tướng Khiêm và phó tổng thống Hương đến văn phòng và buồn rầu nói với họ là ông ta từ chức. Thiệu nói: “Vì tình hình quân sự, ông ta diễn tả là “tuyệt vọng” (Khiêm và Hương đồng ý) mà ông ta cứ tiếp tục tại chức thì không có mục đích gì cả và việc này chỉ cản trở một giải pháp mà thôi”(3). Chiều tối hôm đó, Thiệu tuyên bố từ chức và giao quyền cho phó tổng thống Hương. “Trong lễ tuyên thệ nhậm chức của mình, Trần Văn Hương 71 tuổi, bệnh thấp khớp và gần như mù, đã hứa sẽ giữ vững cho đến khi “quân đội chết hết hoặc đất nước bị mất”. Các nhà thông thái ở tòa Đại sứ Mỹ cười khảy các tuyên bố cứng rắn này: Họ cho là “đây chỉ là cả vú lấp miệng Kỳ và cánh hữu để giữ họ đừng có nhảy vào…”(4). “Vài tháng sau ông ta (Thiệu) đã nói với một người bạn ở Đài Loan rằng: “Vâng, việc quyết định thời gian của tôi vừa đúng. Tôi đã đợi con bệnh cho đến khi anh ta liệt giường. Không ai có thể vượt tôi trong các việc tôi đã làm cho đất nước mình”(5). Đúng là khẩu khí và tư tưởng của một Tổng thống Ngụy quyền. (1) Tư liệu Ban tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng. (2) Tư liệu Ban tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc phòng. (3), (4), (5) Trích trong sách “khoảng cách thời gian vừa phải” của Frank Snepp. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:44:15 pm * * * Trong lúc chờ đợi lực lượng Quân đoàn 3 và 1 vào tới thì chúng tôi lo điều khiển cho ăn khớp cánh quân của quân khu 8 đánh từ hướng nam vào Sàigòn. Như trên đã nói hướng này là hướng khó khăn nhất vì địa hình rất phức tạp, căn cứ bàn đạp ta lại rất xa, đường hành quân đi bộ phải qua các vùng địch chiếm đóng lâu ngày. Có những đoạn phải hành quân bí mật ban đêm, có những đoạn phải diệt cho được đồn bót địch, diệt quân địch phản kích để tiến đến ven Sàigòn. Con đường dài nhưng đều qua các vùng dân cư đông đúc mà ở đó cơ sở cách mạng không phải chỗ nào cũng đông hơn gia đình binh sĩ ngụy, chưa được giác ngộ. Đây là một cuộc hành quân vừa đánh vừa đi, mở đường mà tiến. Phải giỏi vận động quần chúng, phải biết cách làm binh vận. Những sơ hở có thể làm thất bại ngay cuộc hành quân chưa nói đến việc tham gia tấn công Sảigòn. Tính toán thì giờ không chính xác, bố trí trận đánh không chắc thắng đều có thể làm vỡ kế hoạch, muộn ngày N tấn công. Còn nếu sớm thì lộ ý đồ chung, hại cho cả chiến dịch. Cân nhắc kỹ lưỡng, tuần đầu tháng 4 chúng tôi đã ra lịnh cho Quân khu triển khai cánh quân này rồi. Quân khu đã nhận nhiệm vụ từ tháng 2, chuẩn bị sẵn tổ chức, chỉ huy, lực lượng và kế hoạch nhưng vẫn giữ bí mật cho đến khi có lịnh trên. Tôi được phép trích vào đây một ít trang nhật ký của đồng chí Trần Hàm Ninh trợ lý tác chiến và là bí thư của đồng chí Ba Thắng tức thiếu tướng Võ Văn Thạnh, chỉ huy trưởng cánh này. Qua những giòng ngắn gọn của mấy trang nhật ký tuy chưa tả rõ nổi nhưng cũng giúp ta có thể hình dung được phần nào cách tổ chức và thực hiện một hướng tấn công nhỏ của chiến dịch Hồ Chí Minh. Nói nhỏ vì hướng nam này ta buộc phải sử dụng lực lượng nhỏ hơn các hướng khác: chỉ 3 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh nhẹ chính thức trong đội hình của cánh. Không có xe tăng thiết giáp rầm rầm rộ rộ cũng không có pháo to, cao xạ lớn. Nói đơn vị chính thức trong đội hình cánh vì còn bao nhiêu đơn vị khác tổ chức khác kể cả nhân dân không tham gia vào cánh nhưng giúp khá nhiều cho thành công của cánh. Các lực lượng hướng này để mở đường hành quân đã phải diệt 45 đồn bót địch giải phóng 12 xã đánh thiệt hại địch bên ngoài và chọc thẳng và trung tâm thành phố, chiếm lĩnh đúng thời gian qui định một trong 5 mục tiêu chủ yếu nhất để đồng hè đánh ngã quân thù một cách thần tốc. Mục tiêu chủ yếu nó phải đập tan và chiếm lấy là cơ quan cầm đầu cảnh sát, lực lượng phòng thủ trong cùng và là lực lượng đề phòng và dập tắt nổi dậy của nhân dân, một vế trong chiến lược tổng tấn công và nổi dậy của ta. Đồng chi Trần Hàm Ninh ghi: Ngày 6-4-1975 ● 23 giờ 30, cả nhà đã ngủ. Tại sao tôi trăn trở mãi mà chưa ngủ được. ● Từ phía ngoài ruộng có ánh đèn pin đi vào. Tôi ngồi dậy, vặn đèn lên. Đồng chí liên lạc bên cơ yếu đến. Lúc đó đã 12 giờ khuya. ● Điện gì mà gấp thế? ● Điện ZN. ● Em về nghe anh Sáu (tức Ninh) Tôi xé bao thơ, rút bức điện ra, lướt nhanh trên tờ giấy. Nhiều qui ước quá. Cuối bức điện ký tên Bảy Hồng , Tư Nguyễn . Chỉ bấy nhiêu đó cũng biết được tầm quan trọng của bức điện này. Đẩy cái đèn vào một góc để ánh sáng bớt tỏa ra ngoài. Mở các chỗ qui ước. - Lại có 1 sự thay đổi lớn. Tôi bấm đèn pin đi lại chỗ anh Hai Phát (trưởng phòng tác chiến) ngủ, khẽ lay anh dậy. - Điện thay đổi nhiệm vụ. Chỉ bấy nhiêu tiếng cũng làm anh bật ngồi dậy, chui ra khỏi mùng. Sau khi đọc đi đọc lại bức điện mấy lượt, anh vội xách đèn pin đi ngay vào Bộ chỉ huy. Lúc ấy là 1 giờ sáng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:44:52 pm Ngày 9-4-1975:
Lại từ giã vùng 20-7 thân yêu (vùng thuộc 2 huyện Cái Bè và Cai Lậy của tỉnh Mỹ Tho nằm giữa lộ 4 và sông Cửu long) không biết đây là lần thứ mấy. Nhưng sao lần này thấy lưu luyến quá. Mới tuần trước đã có lần từ giã. Nhưng sau mấy ngày lại trở lại. Hôm nay đi, bao giờ trở lại? Chưa biết được. Túi hột giống (rau, cải) gởi lại anh Ba Lạc. Ngồi trên xuồng đi ngang căn cứ Mỹ Long. Một tiểu đoàn địch vừa bỏ chạy cách đây 2 ngày. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh bay phấp phới trông đẹp quá. Dòng nước vẫn lặng lẽ trôi, hình như không cần biết là ở một góc căn cứ hãy còn lại xác một tên lính đánh thuê. Đến Nhị Qui mặt trời chưa lặn. Du kích bao vây bót Bờ Keo nên pháo cối địch bắn lung tung. Bộ binh địch trên lộ 4 chưa rút. Chưa qua lộ được. 21 giờ bắt liên lạc được với tỉnh đội. Tổ chức qua lộ. Như vậy đã xa vùng 20-7, 12 giờ khuya, chỗ ăn, chỗ ở tạm đủ. Ngày 10-4-1975: Tân Hội, một mảnh đất kiên cường. Căn cứ bất khả xâm phạm của tỉnh đội Mỹ Tho. Hôm nay trong Ban chỉ huy chỉ còn anh Tám Công ở nhà. Chỉ huy 2 tiểu đoàn hẹn gặp Bộ chỉ huy ở đây, chờ mãi chỉ gặp tham mưu trưởng E2. 15 giờ lên đường qua Tam Hiệp, đến Tam Hiệp gặp E3 (E88) các anh đã sẵn sàng. 19 giờ lại vượt qua lộ 4. Bên phải là ngã 3 Trung Lương, bên trái là cầu Bến Chùa. Trong lòng dân đoàn quân vượt qua lộ an toàn. Qua vùng Bảo Định, gặp người quen. Không nói gì được vì đoàn quân lại tiếp tục vượt lên. Còn bạn quen, nhiệm vụ ở lại bám giữ đất này. Đi bên ngoài hè của nhiều ngôi nhà. Trong nhà hoàn toàn im lặng. Nhưng chắc chắn rằng những người mẹ, người chị, người em trong ấy không thể nào ngủ được. Bởi vì những bàn chân, tuy đi rất nhẹ nhàng vẫn dội vào tận đáy lòng. Tất cả nằm đó mà trăn trở, mà nhớ thương. Do hợp đồng không chặt, cả đoàn đi xuống Lương Hòa lạc không gặp ai hết. Qua khuya tạm ngủ lại dưới mấy gốc cây keo. Ngày 11-4-1975: Sáng sớm dậy, trở lên Song Bình gặp tất cả ở đây. Báo về T10 (Bộ chỉ huy Quân khu 8) báo lên Đoàn 232, Bộ chỉ huy cánh Nam đã đến nơi an toàn. Chiều rồi Bộ chỉ huy vượt lộ Ông Văn, dời xuống Quơn Long (Chợ gạo). Đến nơi tìm chỗ đất bằng để trải tấm nilông ngủ thật là khó. Nhưng không sao mọi việc rồi đâu cũng vào đó. Ngày 12-4-1975: Quơn Long, hết một ngày rồi mà tình hình hành quân của E2, E4 (tứ trung đoàn 24) vẫn chưa nắm được. Vị trí đứng chân và tình hình hoạt động của E3 cũng không nắm được. Sốt ruột chờ đợi. Báo cáo quyết tâm của cánh Nam về R, đoàn 232 và J10: quyết tâm mở đường và đến vị trí tập kết đúng thời gian qui định. Ngày 13-4-1975: Đoàn cán bộ của E2, E4 đến. Nhưng vị trí đứng chân của E3 và anh Tư Thân vẫn chưa nắm được. 2 tiểu đoàn Mỹ Tho hoạt động mạnh ở Kinh Chợ Gạo. Địch đối phó quyết liệt. Chúng bị thu hút vào đây để ta được yên. Đêm nay hướng Đoàn (sư đoàn 5) nổ súng. Bạn nổ súng ta sẽ thuận lợi hơn. Đôn đốc E3 cố gắng đêm 14-4 nổ súng vào Tân Trụ. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:45:42 pm Ngày 14-4-1975:
Do hợp đồng không chặt, đoàn cán bộ E4 đã đến Rạch Tràm không có người đón. Không vượt lộ 21 được phải trở lại Quơn Long. E2 được lệnh trở lại, có sự thay đổi sử dụng lực lượng. Ai thay E2 vào đội hình cánh Nam? Tiểu đoàn 279 diệt đồn Ông Bài, mở rộng đường đi. Toàn bộ E4 đến. Đoàn anh Hai Phát đến. Như vậy cơ quan chỉ huy của cánh đến hôm nay mới tập hợp được. Về lực lượng hôm nay đã được 2E và 3D (tức 3 tiểu đoàn). Cò d10, D14 và một E nữa (E nào?) chừng nào mới tới. Ngày 15-4-1975: Hôm nay rời Quơn Long. 17 giờ ra đồng. Sắp xếp đội hình và thời gian hành quân. Rời Quơn Long. Sình lầy quá, tưởng không xiết. Nào ngờ sình nước lên quá bụng. Lần theo những bụi lá dừa nước đi ra Rạch Tràm. Qua lộ 21 xong thì đã gần đến 24 giờ. Không có ghe qua sông Vàm Cỏ Tây. Nằm ngoài đồng chờ. Kế kia là bót Thuận Mỹ. Xa hơn một chút là Thanh Vĩnh Đông. Bên kia sông là Chợ Dinh. Gan quá. Thế mà đã 15 năm rồi chưa đi tới. Hôm nay mới gần tới thôi. Nhớ thương quá. Mẹ đã ra đi và nằm bên đó. Anh làm tròn nhiệm vụ hồi kháng chiến chống Pháp. Em mới hy sinh hồi năm kia. Còn một mình và ba. Không! Còn cả một dân tộc. Ngày 16-4-1975: Nhựt Ninh. 4 giờ sáng mới qua sông được. Đến chỗ nghỉ rồi mặt trời đã mọc. Quần áo bùn sình bê bết. Bộ đội đi lại coi sao thanh bình quá. Ngày 22-4-1975: Sở chỉ huy vẫn ở Tân Phước. Thiệu đã từ chức. Bộ chỉ huy có điện số 72ZN gởi E3 - E4 chỉ đạo vừa đẩy mạnh tiến công, vừa làm tốt công tác binh địch vận. E3 phát triển thuận lợi ở Cần Giuộc (diệt 4 đồn), E4 cũng diệt được 4 đồn ở Cần Đước. Các mặt đảm bảo hậu cần gặp khó khăn một tuần rồi. Việc chuyển hàng cho phía trước quá ít. Trong ngày Bộ chỉ huy cánh đã có 5 điện ZN về công tác hậu cần. Sở chỉ huy đã liên lạc với anh Tư Chiểu (tỉnh đội trưởng Long An, chỉ huy phó cánh Nam) qua E3. Ngày 23-4-1975: Vàm Rạch cá (Tân Phước). bộ chỉ huy giao nhiệm vụ cho E4: “Hướng phát triển của E là Phước Hậu, Long Thương (Cần Giuộc, giáp Bình Chánh), để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu”. Về mặt hậu cần rất khó khăn. Được biết j10 cũng gặp khó khăn nhưng để bảo đảm cho thắng lợi, đề nghị j10 (anh Ba Đào) cho anh Năm Tri hoặc Ba Thi sang thay anh Ba Cảnh (không hoàn thành nhiệm vụ) và đề nghị j10 thông báo tình hình cho j50 (Bộ chỉ huy cánh Nam) biết. Trong ngày E4 đã giải phóng Long Cang (Cần Đước) và đang vây đánh d2/E42. Anh Tư Thân đã đi 232. Báo cáo tình hình của cánh Nam về R, 232, j10. Ngày 24-4-1975: Các đơn vị tạm ngưng mở nhanh… củng cố tại chỗ, báo cáo về R, 232 và j10 vị trí đứng chân của các E và d. Quân bổ sung cho j50 chưa thấy. Đề nghị anh Ba Đào (j10) đôn đốc. Đề nghị anh Tư Chiểu và E3 cho một cán bộ của Cần Giuộc về đón Sở chỉ huy. Bộ chỉ huy hỏi anh Tư Chểu đã liên lạc được huyện ủy và huyện đội Nhà Bè và Bình Chánh chưa. Theo lịnh của R, anh Ba Thắng phải đến 232 nhận nhiệm vụ. Điện cho Long An liên lạc tại lộ 4 (Bình Đức) 18 giờ lội qua sông Nhựt Tảo – sình lầy và muỗi, bù mắt cắn quá. Ra gần lộ 4, lúa đã gặt xong, ruộng khô, cảm thấy dễ chịu quá. Nằm chờ đến 22 giờ, tình hình động nên không liên lạc được với Long An. Phải trở lại sở chỉ huy. Ngày 25-4-75: Long Sơn. Đồng khô, lúa đã gặt xong. Nhận được điện 111ZN của 232 về ngày N của chiến dịch. Lập lại ngày N. Ngày chờ đợi đã đến. Chỉ đạo E3 kết hợp thật tốt giữa tác chiến và binh địch vận trong tình hình hiện tại. Bộ chỉ huy đồng ý đề d4/E4 ở lại, E3 mở Long Thượng. Điện hợp đồng với anh Tư Chiểu và Bốn Độ (E3) đón Sở chỉ huy tại khu vực Chợ Mỹ. D1 Long An đã đánh sập cầu Rạch Đào. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:47:54 pm Ngày 26-4-75:
Long Sơn. Điện đi từ ngày nay, lấy lại từ số 01. Điện 01ZN là điện gởi 232 lập lại ngày N lần thứ 2 (trả lời điện 44ZN của 232). Báo cáo về R. 232 và j10. Việc đi họp gặp trở ngại, đề nghị 232 thông báo nhiệm vụ bằng điện. Cả anh Tư Thân cũng không đi được. Nhận điện số 45ZN của anh Sáu Nam (232) giao nhiệm vụ cho cánh. Cánh hạn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Vẫn chưa liên lạc được với Nhà Bè và Cần Giuộc. Bộ chỉ huy nhắc anh Phong ET/E271B nên tổ chức một khối hành quân vì thời gian gấp rút. Nhắc anh Năm Nghi cho d1 Long An chốt giữ bót Chợ Đào một Km để bảo đảm cho sở chỉ huy hành quân. 18 giờ, Sở chỉ huy rời Long Sơn lên hướng Cần Giuộc. Hành quân giữa lòng dân. Đại bộ phận đồng bào ở nguyên. 22 giờ đến Phước Lâm (Cần Giuộc). 23 giờ Bộ chỉ huy cánh Nam họp, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của E3, kiểm điểm ưu, khuyết. Có anh Tư Đỏ (E trưởng) và Năm Tư (chính ủy) E3 dự. Nhận xét: hoàn thành nhiệm vụ, mở được hành lang tiến quân, chuẩn bị nhanh đánh nhanh. Nhấn mạnh: - giáo dục quan điểm quần chúng cho đơn vị: chiến đấu vì nhân dân, bảo vệ dân, giải phóng dân, phát động quần chúng tham gia cách mạng, làm hầm cho dân tránh đạn. - Chú ý hơn công tác binh, địch vận. Ngày 27-4-75: Phước Lâm. Đề nghị 232 và R cho liên lạc với E117 (đặc công) 17 giờ 30’ bộ chỉ huy cánh Nam họp bàn kế hoạch tấn công và sắp xếp tổ chức. Nhận điện số 53ZN của 232 cho biết: - 232 đã chỉ đạo cho anh Năm Mân (thành đội Sàigòn) cho Bình Chánh và Nhà Bè liên lạc với cánh Nam. - Hiện có 1d/E429 (Chín Mây) ở khu vực Cầu Nhị Thiên đường. 9 giờ 20’ Bộ chỉ huy cánh giao nhiệm vụ cho E4 do đồng chí Ba Thuyên ET, Hai Vân, Chính ủy E nhận: - Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sàigòn. - Mục tiêu chủ yếu: Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia. - Thời gian: Đêm 27-4 – tiền trạm lên Bình Đăng Đêm 28-4 – toàn E lên Bình đăng Đêm 29-4 – hành quân chiếm lĩnh tấn công. - Chỉ huy sở Bộ chỉ huy cánh Nam: Nam Cầu Mật. Quân y triển khai gần chỉ huy sở. - Từ 27-4 trở đi E4 hành quân không nổ súng cho đến khi tấn công, d1 Long An là dự bị của E. - Các mục tiêu của E3, là tấn công Qui Đức, Hưng long, Phong Đước, Bình Dăng. - Khẩu hiệu: Hỏi: hồ Chí Minh Đáp: Muôn năm - Mật hiệu: - Mang cờ giải phóng - Măng băng đỏ ở tay trái. Ngày 28-4-75: E271B hành quân đến đầu Bộ chỉ huy vẫn chưa hết, kể ra một E xuống đồng bằng mà hành quân kiểu này cũng khó khăn thật. Bộ chỉ huy một mặt điện cho E271B một mặt điện cho j10 đề nghị cho biết về E271B. Điện báo cáo j10 và 232 biết là hàng còn lại rất ít đề nghị chi viện. Đã cử người liên lạc với anh Chín Mây. Đêm, sở chỉ huy từ Phước Lâm – Thuận Thành cùng các đơn vị hành quân vượt qua sông Quán Cơm, tiến về Hưng Long. Lặn lội suốt đêm mới đến, triển khai công sự xong, trời đã sáng tỏ. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 06:48:36 pm Ngày 29-4-75:
Hưng Long. Quần chúng nhân dân sau một đêm, sáng dậy thấy bộ đội giải phóng ở khắp nơi, phấn khởi vô cùng. Có một mẹ già ra đồng đào moi lên một lá cờ đỏ sao vàng không biết má chôn dấu từ bao giờ mà lá cờ còn mới quá. Điện số 15ZN, gởi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương, báo cáo sở chỉ huy cánh Nam, E4, E3, d10 đã đến Hưng Long trong đêm 28-4 E4 sẽ chiếm quận 8 (Cầu Chữ Y), E3 chiếm lộ 5. Bộ chỉ huy cánh sử dụng cả 2d của Long An. Bộ chỉ huy điện cho E271B: “Thời gian thực hiện nhiệm vụ đã đến, cho hành quân thần tốc”. Điện số 16ZN gởi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo sử dụng 1d/E3 tấn công phân chi khu Hưng Long. Bộ chỉ huy họp bàn kế hoạch tấn công. Anh Tư Chiểu báo cáo tình hình địa hình đông lộ 5, tình hình ta, địch khu vực Bình Chánh, Nhà Bè. Ở khu vực Rạch Cây khô rất hoang vu, không ta không địch sình lầy không đi được. Do việc bố trí E4 có thay đổi một ít. Thay vì toàn bộ E4, đêm 29-4 vượt qua đông lộ 5, từ Rạch Cây khô tiến vào cầu Chữ Y, thì chỉ sử dụng 1d/E4 thực hiện phương án này, còn 2d/E4 sẽ đánh dọc lộ 5 đến cầu Nhị Thiên Đường, quẹo sang bên Phạm Thế Hiền về cầu Chữ Y. E3 vẫn như cũ: Điện số 18ZN gởi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo đã giải phóng Hưng Long, báo cáo nhận được điện 731 và báo cáo kế hoạch tấn công. 19 giờ, Sở chỉ huy hành quân ra Đa Phước. Các E hành quân theo kế hoạch. 21 giờ đến Đa Phước. Các bộ phận đều đào công sự - Quần chúng lúc đầu không cho đào có lẽ sợ “động” đất. Sau khi giải thích việc đào công sự vừa cho bộ đội chiến đấu, vừa cho đồng bào núp bom đạn. Khi biết có bộ đội về, địch sẽ ném bom, bắn pháo. Không có công sự làm sao tránh được nguy hiểm cho bộ đội, cho nhân dân. Sau cùng không những cho đào mà đồng bào còn cho cây làm nắp, nắm cơm nếp cho bộ đội ăn. Qua 24 giờ đào xong công sự. Tất cả công sự đều đầy nước. Có vài cái đào xong đã sụp lở. Ngày 30-4-75: Đa Phước. Sáng sớm dậy đã nghe rõ tiếng xe ngoài lộ 5. Sở chỉ huy cách chừng 500m. Đài phát Thanh giải phóng phát thanh bản thông cáo của chính phủ cách mạng lâm thời và bản thông báo của Bộ chỉ huy Mặt trận Sài Gòn nghe giục giã quá. Bộ chỉ huy điện chỉ đạo E3, E4 ghi 2 bản thông cáo, điện báo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ. 8 giờ điện số 23ZN gởi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo E3, E4 đã vào chiếm lĩnh đúng thời gian và đã nổ súng. 10 giờ E4 báo cáo đã phát triển qua Cầu Chữ Y. Sau đó một báo cáo khác: đang tiến chiếm mục tiêu chủ yếu của cánh Bộ Tư Lệnh Cảnh sát quốc gia. Đúng 10 giờ 30’. Hơn 10 giờ đồn tam giác Đa Phước mới đầu hàng. Toàn bộ sở chỉ huy ra lộ 5. Từ Đa Phước quần chúng dùng xe đò, xe hàng chở toàn bộ cơ quan chỉ huy đến đầu cầu Chữ Y, lúc bấy giờ là 11 giờ 30’. 12 giờ Sở chỉ huy cánh Nam đến bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia, sau E4 1 tiếng rưỡi. Bức điện cuối cùng mang số 24ZN gởi anh Tư Nguyễn, Sáu Nam, Tám Phương báo cáo đã tiếp quản Nha cảnh sát đô thành và Bộ tư Lệnh Cảnh sát quốc gia. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:16:35 am * * * Một vấn đề hóc búa nhất vào những ngày chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch Hồ Chí Minh là vấn đề công binh vượt sông cho các hướng tiến quân vào nội đô. Đó là lúc mà chúng tôi phải giải quyết cho đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông để đưa toàn bộ đội hình của mình tới tuyến xuất phát tấn công Đoàn 232 được tăng cường thêm lực lượng bộ binh, pháo và cao xạ, cả pháo nặng 130ly, có đến 1 trung đoàn xe tăng và thiết giáp trong đó 1 phần 3 là tăng T.54. Tất cả xe, pháo các loại gần 800 chiếc – Thế mà từ lâu nay Miền chỉ có 1/2 bộ cầu phà nặng TPP của Liên Xô). Đã xin Trung ương cho thêm nửa bộ nữa nhưng chưa vào. Tất cả các hướng khác lực lượng công binh cũng thiếu. Tham mưu kiểm điểm lại lúc ấy Bộ Tổng tư lệnh đã tăng cường cho Mặt trận Sàigòn các lực lượng công binh như sau: - Trung đoàn 279 công binh công trình đã vào đến nơi. - Trung đoàn 574 làm đường của 559 đã vào và sẽ giao cho Cục hậu cần sử dụng. - Trung đoàn 249 cầu phà có 4 đại đội và 1/4 bộ cầu phà nặng TPP khác, ước khoảng ngoài ngày 20-4 tới nhưng chưa thấy. Chúng tôi dự tính đơn vị cầu phà nào tới nơi sẽ đưa ngay cho 232 vì lực lượng 232 phải vượt sông sớm nhất và có lẽ duy nhất nếu địch không phá hoại được cầu nào. Quân đoàn 1 phải qua sông Bé nhưng mùa này sông Bé nước cạn, công binh Miền đã làm sẵn ngầm vượt ở bến Bàu rồi. Trước mắt 232 phải dựa vào lực lượng hiện có và huy động phương tiện tại chỗ mà vượt Vàm cỏ Đông. Chính vì vậy một vấn đề đặt ra lúc ấy là nếu địch ngoan cố rút nhanh vào nội thành và phá hoại các cầu trên các trục đường tiến vào Sàigòn thì sao? Cái gì cũng có thể xảy ra cả, ta phải dự kiến để có kế hoạch sẵn. Ta đã biết rằng Sàigòn nằm giữa một vùng mà quanh nó bao nhiêu là sông rạch kinh mương. Các sông rạch đều sâu và lầy. Lòng sông lầy mà cả hai bên bờ cũng đều lầy, lên bờ rồi có khi phải qua một cánh ruộng lầy nữa. Địch có đủ thuốc nổ cũng có đủ kỹ thuật phá hoại. Trước giờ chết chúng cũng có đủ âm mưu thâm độc. Đây là một trở ngại rất lớn cho binh chủng hợp thành với binh khí kỹ thuật nặng triển khai sức mạnh tấn công của mình. Hướng nào của ta cũng phải vượt qua ít là 4, 5 cầu. Nếu càu bị phá, xe pháo bị chặn lại từ vùng ven? Rồi ta cũng sẽ khắc phục được từng bước thôi nhưng địch sẽ có thì giờ xây dựng công sự, vật cản, tổ chức phòng thủ và biệt động ta đánh mục tiêu bên trong bị cô lập, nhân dân không nổi dậy được, ta lại phải đánh từng tuyến, từng đường phố, căn nhà thì đâu còn là bất ngờ, thần tốc và thành phố đâu còn nguyên vẹn. Quân ta lúc ấy không có khả năng như những quân đội hiện đại khác, phái các đơn vị nhảy dù hoặc đổ bộ trực thăng bất ngờ đánh chiếm các cầu trước khi đại quân tiến vào. Nhưng không đơn giản khi phải đánh giữ hàng chục cầu 1 lúc ở nhiều hướng. Ta lại đánh theo cách đánh độc đáo của ta: dùng đặc công và biệt động tiêu diệt địch chiếm và giữ cho kỳ được các cầu trọng yếu trên các hướng tiến quân. Chúng ta có tất cả 6 trung đoàn đặc công với hàng chục đội biệt động đang sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành. Đây là những đơn vị tinh nhuệ đã được rèn luyện thử thách từ nhiều năm đánh Mỹ đã lập nhiều chiến công hiển hách, nhiều đơn vị đã được tặng danh hiệu “anh hùng”. Quân đoàn 3 lại có riêng 1 trung đoàn đặc công nữa. Như vậy là ta có đủ sức làm nhiệm vụ giữ không cho địch phá cầu, đảm bảo cho các quân đoàn tiến thẳng vào mục tiêu không bị trở ngại. Nhưng phải thay đổi nhiệm vụ của các cánh đặc công biệt động. Trước đây Bộ tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ chính là đánh các mục tiêu được phân công, từ 5 mục tiêu chủ yếu cho đến các mục tiêu quan trọng khác cùng lúc các quân đoàn vào để kết hợp tấn công từ bên trong và tấn công từ bên ngoài vào. Bây giờ phải chuyển thành nhiệm vụ chính là đánh chiếm và giữ các cầu quan trọng ở các hướng cho tới khi quân đoàn tiến qua. Tuy vẫn còn nhiều đội biệt động và một số đơn vị đặc công vẫn phụ trách đánh mục tiêu bên trong nhưng đơn vị mạnh phải chuyển qua nhiệm vụ mới. Việc chuyển nhiệm vụ chính lại quá gấp rút, chỉ trong vòng 4, 5 ngày vừa hành quân vừa điều tra nghiên cứu vừa làm kế hoạch chiến đấu. Hơn nữa khó khăn là chiếm rồi lại phải giữ, đánh địch phản kích, đó là chiến thuật mà đặc công ít khi xử dụng, mà nay không còn thì giờ để huấn luyện lại. Tuy vậy tin ở khả năng và truyền thống của đặc công biệt động, tin ở ý chí cao và lòng dũng cảm của anh em, ngày 25-4 chúng tôi quyết định chuyển nhiệm vụ. Các cầu phải được chiếm và giữ ngay trước giờ “G” và ngày “N”, đồng loạt tấn công vào nội thành. Muộn sẽ trở ngại cho tiến quân, cho thành công của cả chiến dịch, nhưng sớm quá, nhiều khi rất nguy hiểm. Vì lẽ các đơn vị đặc công với chiến thuật tấn công bất ngờ chớ không phải phòng ngự và không được trang bị để tấn công bằng sức mạnh công khai vì vậy khó mà giữ cầu lâu ngày, hay đánh chiếm lại lần thứ 2, thứ 3. Hơn nữa địch có thể đánh trả lại mạnh khi quân đoàn ta chưa đến và nhân đó có thể phá luôn cầu. Tính toán lúc nào nên chiếm giữ cầu là phải ăn khớp với hành động của các quân đoàn. Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Bộ chỉ huy các hướng quyết định ngày giờ cho đặc công. Hướng có nhiều cầu lớn là hướng Đông. Ngoài các cầu qua sông Đồng Nai như cầu xa lộ Đồng Nai, Cầu Ghềnh; qua sông Sàigòn như cầu xa lộ Tân Cảng, cầu Bình Lợi, lại còn các cầu nhỏ hơn nhưng không kém quan trọng như cầu Rạch Chiếc… các hướng khác cầu không lớn lắm nhưng nhiều và nếu bị phá cũng gặp trở ngại không nhỏ. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:17:12 am * * * Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông trước khi chiến đấu nhưng đã gặp rất nhiều khó khăn. Và chính vì trước khi chiến đấu nên phải giữ bí mật đối với địch, phải tiến hành vượt sông ban đêm và chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công cũng vào ban đêm trong một khu vực địch còn kiểm soát: Khu Mỹ Hạnh ở gần ngã ba đường 9 và đường 10 (Đức Hòa, Long An). Đoạn sông Vàm Cỏ Đông phải vượt nằm trên xã An ninh, cách Bảo Trai (tức Khiêm Hạnh tỉnh lỵ Hậu Nghĩa của ngụy) trên 10Km về phía tây bắc. Đoạn sông dự bị sẵn sàng khi cần thì vượt bằng sức mạnh, qua thẳng thị trấn Hiệp Hòa rồi lên đường 10. Sông Vàm Cỏ Đông ở những đoạn này cả 2 bên bờ đều sình lầy, tìm được một nơi đất cứng thật là khó khăn. Bên bờ tây sông là vùng ta đã giải phóng từ đầu đợt, vùng “mỏ Vẹt”, một bộ phận của Đồng tháp Mười, chủ yếu là bưng sình, chỉ có một số giồng đất cao có dân cư nhưng không đông đúc. Ở đây cây cối thật là hiếm. Trong chiến tranh, cả trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội ta về đây, đồng bào có thể giúp ta gạo và nhất là cá nhiều nhưng củi đốt thì cớ có đụng đến, của quí đấy. Mỗi người một bó củi nhỏ mang theo mà dùng. Dọc bờ sông là vùng địch kiểm soát xen kẽ có những căn cứ du kích của ta. Xã An Ninh là một xã có truyền thống cách mạng, năm Tết Mậu Thân, sư đoàn 9 của ta cũng về đóng quân ở xã này để rồi tiến về Sàigòn trong đợt 2 tấn công và nổi dậy. Địa hình ở đây tương đối tốt, có rẻo đất giồng liền ra đường 10, xuống ấp Bào công rồi đến xã Mỹ Hạnh, và căn cứ đầu tiên của “giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa” năm 1945 chống Pháp, xã của anh hùng quân giải phóng trong chiến tranh chống Mỹ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh. Như vậy là đoạn sông vượt từ vùng của ta ra vùng bưng sình và đổ bộ lên vùng đất tương đối cao ở phía của địch kiểm soát, có thể triển khai chiến đấu ngay được. Đường từ hậu phương ra tới bến vượt rất lầy lội không có biện pháp khắc phục thì khó mà hành quân cơ giới nổi. Cán bộ của đoàn 232 đã cùng cán bộ các địa phương lân cận vận động nhân dân chặt và bỏ hàng ngàn bó chà, phân tán cất dấu nhiều nơi. Như đã nói, ở đây cây, củi hiếm nên phải vận động nhân dân từ trước và trong một vùng rộng thì mới đủ và kịp thời gian. Thế mà mọi việc đều kết quả mỹ mãn, và đặc biệt là địch không hề hay biết tí gì cả. Đồng chí Bảy Triết (Võ Minh Triết) chủ nhiệm công binh Miền được chỉ định làm chủ nhiệm công binh đoàn 232 đã kể lại: “… Ngay trước hôm vượt sông, một trận mưa đầu mùa trút nước xối xả xuống một vùng rộng. Đường càng bị ngập bị sình. Đêm bộ đội hành quân ra bờ sông, ngồi trên bờ từ anh Năm Ngà, cán bộ tham mưu, công binh, pháo binh, xe tăng đều lo lắng hồi hộp. Tiếng xe ầm ì suốt một đoạn đường dài mấy chục km, chiếc xe đầu đã đến bến, chiếc xe cuối còn tận nơi xuất phát ở ven biên giới Việt Nam – Kampuchia. Trong bóng tối, đồng bào ta mọi hướng thôn ấp đổ ra đường, đặt xuống những đoạn lầy từng bó chà vác trên vai. Mỗi chiếc xe, mỗi khẩu pháo, nhất là tăng T.54, pháo 130 ly nòng dài, vượt qua là đường đi càng nhão ra, đoạn lầy càng thủng xuống. Chà lại được bỏ thêm vào, chất thêm lên, xe pháo lại cứ vượt “Dễ muôn phần, không dân cũng chịu, Khó vạn lần, dân liệu cũng xong”. câu ấy đúng cả với tình huống chiến thuật cũng như chiến lược, đúng cả trong chiến tranh cũng như trong xây dựng hòa bình. Trên đường đất còn như vậy, xuống sông nước, còn gay go hơn. Nếu có cầu phà hiện đại đủ thì còn nói gì. Đồng chí Sáu Nhàn, (Bùi Hữu Trữ) phó phòng công binh Miền, chịu trách nhiệm về phà vượt sông hôm đó cho biết: “Tất cả xe pháo đều được đưa qua sông trên phà ứng dụng: giữa là khoang thuyền hiện đại, hai bên là vật nổi tự tạo. Trong đời công binh mấy chục năm của tôi, chưa bao giờ tôi lo đến muốn vỡ tim như hôm lực lượng 232 qua sông Vàm Cỏ. Hôm ấy anh Năm Ngà đến tận nơi đứng đó kiểm tra. Chiếc tăng từ từ lăn xích xuống phà – phà chìm đến đâu tim tôi thắt lại đến đó. May quá, đúng như tính toán, phà chỉ chìm đến chắn nước qui định và nổi hẳn. Có lẽ nếu chiếc tăng chìm nghỉm theo phà thì tim tôi cũng ngừng đập luôn”. “Cầu phà, đến giờ qui định xe chở đến cách sông 5km, hạ xuống nước. Lợi dụng con rạch nhỏ dùng sào và sức người chống từng khoang thuyền ra sông rồi nhanh chóng ghép lại thành phà ứng dụng. Phải đảm bảo bí mật và khẩn trương, đòi hỏi kỹ thuật thao tác của từng chiến sĩ, động tác chỉ huy của từng cán bộ hết sức thành thạo. Còn sức đẩy nữa chứ. Sông rộng, gió to, máy đẩy “Hải âu” của công binh không đủ sức, phà dễ trôi. Đoàn hậu cần 230 đã tiếp sức cho chúng tôi mấy chiếc thuyền máy có sức đẩy 50 mã lực mới đảm bảo được an toàn”. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:18:02 am Một lần vượt sông không chiến đấu đã như vậy, nếu phải vượt sông nhiều lần, nhiều hướng và trong chiến đấu thì thật là nan giải. Các quân đoàn các lữ đoàn xe tăng và pháo binh tiến hành qua các cầu vào hội sư rực rỡ ở trung tâm thành phố không thể không nhớ đến chiến công của các đơn vị đặc công góp phần. Và mỗi chiến công của một đơn vị nào đó, binh chủng nào đó làm nên mà lại không có sự đóng góp bằng cách này hay cách khác của nhân dân.
Trong kế hoạch tấn công vào Sàigòn, Quân ủy Miền chúng tôi còn một vấn đề phải lo nghĩ. Đó là trách nhiệm đối với cán bộ và chiến sĩ ta trong phái đoàn quân sự ở trại David, ngay giữa vòng vây quân địch. Đã nhiều lần quân ngụy đã dở những thủ đoạn thô bạo hăm dọa tính mệnh của anh em ta. Ngay những ngày đầu mới vào, Tết âm lịch Quý Sửu, lúc tôi ở trong ấy, chúng đã dùng xe thiết giáp bao vây uy hiếp, dùng trực thăng võ trang ầm rú trên nóc nhà, đe dọa, chỉ vì phái đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa treo cờ ăn Tết dân tộc. Quanh trại David đều là căn cứ của ngụy, chúng có 12 chòi gác cao luôn hướng nòng súng máy vào anh em ta. Còn nhiều hành vi xấu ca khác. Như vậy khi ta tấn công vào, quân ngụy có để yên cho anh em ta? Điều này khó mà tin được. Để trả thù và cho là anh em ta không bao nhiêu người mà phần lớn là cán bộ, chúng dám dở thủ đoạn tấn công vào một cách đê hèn lắm. Chúng tôi thấy có trách nhiệm bảo vệ anh em ta trong ấy. Vào cuối tháng 3, tôi mời đồng chí Ba Trần và Bùi Thanh Khiết bàn về các vấn đề này và đi đến kết luận là trước khi ta nổ súng tấn công vào Sàigòn cần phái một đơn vị đặc công giỏi và thạo khu vực quanh sân bay Tân Sơn Nhất, vào để đưa tất cả anh em ta ra khu giải phóng. Kế hoạch đã được bàn tỉ mỉ và đơn vị đã được chọn, tôi giao cho 2 đồng chí ấy phụ trách chỉ đạo thực hiện. Kế hoạch được triển khai khẩn trương và anh em phái đoàn ta đã được phổ biến để hợp đồng trong hành động. Nhưng trong quá trình thực hiện chúng tôi vẫn suy nghĩ và không yên tâm. Vì rằng thành phần phái đoàn chủ yếu là cán bộ, rất ít chiến sĩ, vũ khí chiến đấu không đủ, dù đơn vị đặc công ta có thiện chiến thì vẫn là một đơn vị nhỏ để tấn công chớ không phải để bảo vệ. Kẻ địch quanh sân bay Tân Sơn Nhất đông đặc được trang bị mạnh, có máy bay, thiết giáp yểm trợ. Cuộc chiến đấu thoát vòng vây này rất không cân sức trong một chiến trường bất lợi cho ta, dễ xảy ra thương vong đáng tiếc. Vì vậy cuối cùng chúng tôi đã hủy bỏ kế hoạch cũ. Nhất là khi đã có quyết tâm đợi các quân đoàn tới tương đối đầy đủ, ta tấn công nhanh mạnh từ ngoài kết hợp với nổi dậy từ bên trong thì chúng tôi dự đoán chắc chắn cuộc chiến đấu sẽ không kéo dài. Anh em ta trong trại David nếu có chuẩn bị chu đáo sẽ có khả năng chiến thắng trong tự vệ cho đến khi Sàigòn hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi liền cho liên lạc với các đồng chí có trách nhiệm trong trại David phổ biến ý kiến của Quân ủy Miền là Phái đoàn phải có kế hoạch chiến đấu tự bảo vệ mình trong suốt thời gian trận tấn công của ta vào Sàigòn. Kế hoạch chiến đấu tại chỗ, kiên cường phải dựa vào một hệ thống hầm hào tự tạo hết sức bí mật. Phải là hầm hào chiến đấu chắc chắn, chịu được sức công phá của pháo địch và pháo 130 ly của ta nữa. Công việc phải tiến hành khẩn trương, toàn phái đoàn tổ chức thành một đơn vị chiến đấu được chỉ huy chặt chẽ. Đồng chí Mười Sương (thượng tá Ngô Văn Sương) phụ trách chính trị của phái đoàn lúc ấy, đã kể lại như sau: “… Khi được phổ biến có đơn vị đặc công vào đón trước ra vùng giải phóng, toàn thể cán bộ chiến sĩ đều rất cảm động thấy rằng Đảng đã luôn quan tâm tới anh em, tuy là một bộ phận nhỏ so với bao đoàn quân lớn. Nhưng mọi người không ai bảo ai đều có chung một ý nghĩ: trong lúc các cánh quân của ta từ ngoài ào ạt tiến vào nội thành, chúng ta, xem như một đơn vị sẵn trong này, sao không tham gia chiến đấu mà lại ra ngoài? Ta cứ xem như một đơn vị đặc công biệt động tại chỗ có được không? Chúng tôi đã định điện xin được tình nguyện ở lại chiến đấu cho đến phút cuối cùng. Cho nên khi được lịnh ở lại chiến đấu, từ cán bộ đến chiến sĩ rất phấn khởi, ai nấy đều thức trắng đêm để đào hầm. Để khỏi lộ bí mật, đêm đào ngày nghỉ, đào nhẹ nhàng tránh tiếng động lớn. Đất đào lên một phần dấu dưới các sàn nhà kín đáo, một phần dồn vào các tủ bằng tôn sắt rồi để nằm lên nóc hầm, hầm thêm kiên cố. Chỉ hơn một tuần anh em đã xây dựng được một địa đạo hàng mấy trăm mét, có hầm trú ẩn, hầm hào chiến đấu nổi liền nhau từ chỗ anh Tuấn (trưởng phái đoàn) đến các đơn vị, đến cả bộ phận hậu cần, nối thông với Đoàn Miền Bắc (tổ mồ mã) còn lại, có cả nơi họp và nơi để thương binh. Chính tại hầm này vào giờ chót của chiến tranh, mấy sứ giả của ngụy quyền Sàigòn đến thương lượng vớt vát đã cùng chúng tôi tránh đạn, chờ đến khi Sàigòn giải phóng “họ đã được bảo vệ an toàn”. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Phái đoàn ta ở trại David đã đóng góp xương máu vào chiến thắng lịch sử: hy sinh một đại úy kỹ sư và một thượng sĩ, bị thương 5, 6 đồng chí khác trong đó có một trung tá! Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:19:36 am * * * Ngày 26-4-75, một số xe con đưa anh Văn Tiến Dũng và tôi cùng cơ quan di chuyển xuống phía nam: Sở chỉ huy tiền phương bắt đầu làm việc. Hai ngày sau anh Sáu Thọ và Phạm Hùng cũng tới đó để nhanh chóng quyết định tập thể những vấn đề lớn. Đến lúc này tình hình đã ngã ngũ rõ rệt. Sàigòn hoàn toàn bị vây hãm. Ở phía tây từ ngày 26-4 sư đoàn 5 của Đoàn 232 bắt đầu tấn công vào sư đoàn 22, diệt lần lượt từng trung đoàn và làm chủ hoàn toàn đường số 4 từ Tân An lên đến Cầu Voi. Trung đoàn 16 thì đánh chiếm cầu Bình Điền và cầu An Lạc. Hai trung đoàn đặc công 115 và 117 chiếm Phú Lâm. Xa hơn về phía tây, lộ 4 lại bị cắt một đoạn khác ở khu vực Điềm Hy – Nhị Quí – Nhị Bình thuộc huyện Cai Lậy. đó là do lực lượng tỉnh Mỹ Tho trong đó có tiểu đoàn Ấp Bắc được tuyên dương anh hùng quân giải phóng, đồng chí Lê Quang Công dẫn đầu lên chiếm lộ vào đêm 26 rạng ngày 27-4. Cũng từ ngày 26-4 sư đoàn 8 Quân khu 8 đã cắt hoàn toàn lộ 4 đoạn từ ngã 3 Trung Lương lên giáp Tân An. Lực lượng Quân khu 9 cũng khống chế hẳn đoạn Cái Vồn – Ba Càng. Con đường chiến lược độc nhất xuyên suốt đồng bằng Cửu Long bị băm nát. Về phía đông Quân đoàn 2, ngày 26-4 cũng nổ súng tấn công căn cứ huấn luyện thiết giáp Nước Trong, đánh chi khu Long Thành, ngày 27-4 chiếm thị xã Bà Rịa. Đường 15 bị cắt đứt hoàn toàn. Cùng đêm 26-4, trung đoàn đặc công 116 bắt đầu đánh cầu xa lộ Đồng Nai. Tàu địch trên sông Lòng Tàu thì bị chặn đánh quyết liệt từ ngày 26-4 do lực lượng trung đoàn 10 đặc công trên đoạn từ Phước Khánh đến ngã 3 sông Đồng Tranh và khóa chặt đường sông khi đánh chìm 1 tàu vào hôm sau. Sân bay Biên Hòa bị phá phá bằng pháo 130 ly của trận địa Hiếu Liêm từ ngày 15-4, nhiều máy bay bị phá hủy, sân bay bị rối loạn. Đến ngày 18-4 địch phải chuyển máy bay F5 về sân bay Tân Sơn Nhất và A-37 về sân bay Lộ Tẻ Cần Thơ. Và ngày 23-4 sân bay Biên Hòa bị đóng cửa hẳn cùng lúc với tòa Lãnh sự Mỹ ở thị xã Biên Hòa. Địch chỉ còn 2 sân bay cuối cùng: Lộ Tẻ và tân Sơn Nhất. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng bị tên lửa 122 ly của trung đoàn đặc công 117 ở phía tây và của cánh Bắc đặc công từ Quới Xuân bắn phá từng lúc gây khó khăn cho địch nhưng mãi đến khi trận địa pháo nòng dài 130 ly Nhơn trạch của Quân đoàn 2 đặt xong vào cuối ngày 28-4 bắn phá và trận tấn công độc đáo của không quân Việt Nam cũng ngày hôm ấy, dùng 5 chiếc A37 lấy của địch do đồng chí Nguyễn Thành Trung hướng dẫn thì Tân Sơn Nhất không còn phục vụ cho địch nữa. Sân bay Lộ Tẻ do pháo của quân khu 9 khống chế từ ngày 28-4 nhưng do vùng địch kiểm soát ta có khó khăn nên mãi đến ngày 30-4 địch vẫn xử dụng được, tuy bị hạn chế. Mỹ và ngụy đều đã thấy tình hình là tuyệt vọng. “Từ trong các tường thành bao bọc cuộc sống của mình, chính Thiệu cũng bắt đầu nhìn thấy cái không thể tránh khỏi. Ông ta khó có thể tránh được nó. Trước rạng đông ngày 18, một tiểu đội đặc công cộng sản đã tiến đánh trạm rađa Phú Lâm ở ngoại ô phía tây của Sàigòn – Như vậy là đã đưa chiến sự đến ngưỡng cửa của thành phố. Khoảng 1 giờ sau, tướng Toàn tư lệnh Quân khu 3, từ chỉ huy sở của mình ở Biên Hòa bay về báo cáo Thiệu là: thực tế, cuộc chiến tranh đã thất bại, quân đội đã hỗn loạn và bị áp đảo về số lượng một cách tuyệt vọng. Không thể hy vọng sẽ giữ được thêm hai hoặc ba ngày nữa”(1). Martin là con người xa thực tế nhất, chủ quan hạng nặng đến bây giờ cũng phải thấy ra sự thất bại không thể tránh đi đâu được và ra sức vận động Thiệu rút lui để mơ tưởng một âm mưu chính trị may ra cản bước tiến của quân ta. Từ xa rời thực tế này đến xa rời thực tế khác, Martin quả là một con người chuyên sống bằng ảo vọng. “Martin đánh xe đến Phủ tổng thống gặp Thiệu, sáng 20, sau khi gặp Mérillon (đại sứ Pháp), về cùng một chủ đề, cho cùng một mục đích. Y đã nói với Thiệu; “Tôi đã nói rằng kết luận của tôi là hầu hết các tướng lĩnh, mặc dù họ có thể tiếp tục chiến đấu, tin rằng sự phòng thủ là vô hy vọng trừ phi có một cuộc ngưng bắn nhờ thương lượng và họ không tin là thương lượng có thể bắt đầu được trừ phi tổng thống từ chức hoặc có các bước làm cho thương lượng bắt đầu được ngay”(2). Ngày 21-4 Thiệu từ chức không biết có phải công của Martin không. Cũng trong ngày 28-4, Trần Văn Hương – Tổng thống ngụy quyền một tuần lễ - sức đã mòn, trí đã cạn, lại tưởng mình có “số trời cho” lăm le lấp biển vá trời, đã bừng tỉnh hay buộc phải bừng tỉnh, nhường “ngai vàng” lại cho Dương Văn Minh. Còn Minh, có lẽ do bản chất có phần thật thà, tin vào phù phép của tả phò Martin và hữu trợ Mérillon, nên đã bị chúng gạt ra dìa từ lâu mà đến giờ chót còn cố vươn vai gánh chịu cái đầu hàng vô điều kiện. Lại cũng chính trong ngày ấy, sở chỉ huy của Quân đoàn 3 ngụy ở Biên Hòa hoàn toàn tan vỡ, rút chạy về Gò Vấp để qua ngày hôm sau tên Tư lệnh của nó, tướng Toàn chạy theo Tổng tham mưu trưởng Cao-Văn-Viên trốn qua Mỹ. Chỉ huy quân sự của chế độ Sàigòn đã mất đầu. Về phía ta, chúng tôi chuyển gấp đến toàn thể cán bộ chiến sĩ trên mặt trận Sàigòn bức điện động viên sau đây đề 22 giờ ngày 28-4-75: “Bộ chính Trị và Quân ủy Trung ương gởi lời chào quyết thắng đến toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, các đồng chí hãy anh dũng tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại.”. (1) Frank Snepp trong sách đã dẫn. (2) Frank Snepp trong sách đã dẫn. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:29:34 am CHƯƠNG TÁM GIỜ TẬN SỐ CỦA MỘT CHẾ ĐỘ: CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH TOÀN THẮNG Giờ “G” Ngày “N” đã điểm. Đó là 00 giờ 00 ngày 29-4-1975, giờ qui định hợp đồng cho tất cả các canh quân ta từ năm hướng nổ súng đồng loạt tấn công vào nộit hành Sàigòn, tiêu diệt nốt quân địch phòng thủ, chọc thẳng vào 5 mục tiêu trọng yếu nhất. Đó là giờ qui định cho tất cả các tổ biệt động, các đơn vị đặc công, từ nơi ém quân, đứng dậy cho nổ tung địch từ bên trong, chiếm lĩnh các mục tiêu được giao và bắt liên lạc với các cánh quân từ ngoài vào. Đó cũng là giờ qui định cho cán bộ Đảng, cán bộ chính trị, từ trong lòng nhân dân, vùng lên dẫn đầu đồng bào yêu nước nổi dậy diệt ác ôn, phá rã ngụy quyền, vận động ngụy quân bỏ súng đầu hàng, giành chính quyền về tay nhân dân, làm cuộc đổi đời long trời dậy đất, xóa sạch kềm kẹp áp bức, bất công, nô dịch. Giờ “G” ngày “N” này là mốc mà Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh phát ra cho toàn mặt trận Sàigòn. Hãy lấy đó mà tính toán từng công việc, từng hành động của anh, dù anh xa hay gần, dù anh khó hay dễ, anh gặp trở ngại hay thuận lợi, anh hành động trước hay sau, sớm hay muộn, đến giờ đó là tất cả phải sẵn sàng ở tư thế hổ sắp vồ mồi. Và tất cả từ giờ đó nhất tề chồm lên dũng mãnh nhất vồ lấy mồi của mình nguyên vẹn và về hội sư ở điểm trung tâm: Dinh Tổng Thống ngụy quyền. Giờ “G” ngày “N” đó cũng là giờ qui định cho toàn B2 mà Bộ tư Lệnh Miền đã phát ra cho tất cả các quân khu, các tỉnh, các đơn vị, những nơi còn địch, để đồng loạt đứng lên tấn công tiêu diệt và đánh ngã quân thù, để đồng khởi nổi dậy nắm lấy chính quyền, định đoạt số phận của mình. Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh. Đã có mấy giờ “G” mà hàng triệu trái tim rộn ràng, hồi hộp vừa lo lắng vừa sung sướng đợi chờ. Đã có giờ “G” nào mà mà ta mong đợi từ mấy chục năm khói lửa ngất trời. Đã có ngày “N” nào mà hàng triệu con người ngã xuống từng ngày, từng ngày trong suốt hơn một vạn ngày cam go chiến đấu, anh dũng hy sinh, để quyết định ra nó. Ngồi trong Sở chỉ huy chiến dịch, mọi người chúng tôi lẳng lặng đợi. Tự nhiên tôi cảm thấy tinh thần thư thái lạ lùng. Vào giờ đó không còn gì mà lo nữa. Kiểm tra tất cả các cánh quân đều báo cáo thuận lợi và sẵn sàng. Các quân khu, các đơn vị xa cũng đã lặp lại đúng giờ “G” ngày “N” không nhầm lẫn. Tất cả các mệnh lệnh đều đã phát đi và đã được trả lời nhận đúng. Còn công việc sắp tới? Hãy chờ súng nổ giống hết như chờ pháo giao thừa. Giờ phút thư thái như vậy rất ngắn thôi nhưng quí vô cùng. Nó giúp ta thải nốt khí độc nhọc nhằn còn lại của giờ trước và hút khí mới trong lành cho giờ sau của công việc khẩn trương sắp tới. Đúng như giờ giao thừa, âm vang tiếng pháo từ mọi hướng. Hướng Tây bắc, Quân đoàn 3 ta đã tấn công diệt Đồng Dù, căn cứ của Sư đoàn 25 ngụy, bắt sống tên tướng tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá, cho Trung đoàn đặc công của mình đánh chiếm và giữ trước cầu Bông trên đường số 1 và cầu Xáng trên đường 15. Quân đoàn đánh vào nội thành theo 2 đường, đường chính là đường số 1 và đường phụ là đường 15 nhưng khi qua cầu Xáng, cầu bị sập, 2 xe tăng rớt xuống nước nên cánh quân đường 15 lại chuyển qua đường 1 tiến về Hóc Môn. Lực lượng tỉnh Tây Ninh phối hợp chặn diệt quân của Sư đoàn 25 không cho chúng từ Tây Ninh rút về và lần lượt cùng nhân dân giải phóng tỉnh mình. Bộ đội địa phương quận Củ Chi đã phối hợp với chủ lực đánh Đồng Dù và chiếm chi khu. Nhân dân vùng Củ Chi do má Bảy Nguyễn Thị Lánh, một đảng viên 76 tuổi đã có 3 con trai hy sinh cho Tổ Quốc cầm đầu chiếm chi cảnh sát rồi cả quận lỵ Củ Chi, giữ nguyên vẹn giao cho bộ đội địa phương quận. Chính má Bảy đã tự leo lên cắm cờ tại chi cảnh sát trong lúc địch còn ở đây. Chúng đã run sợ trước ánh mắt căm thù của một mẹ già tóc bạc, trước lực lượng tay không của nhân dân nổi dậy vứt súng bỏ chạy. Trước mặt Quân đoàn 3, trong ngày 29 tiểu đoàn 14 đặc công đã chiếm cầu Chợ Mới, đài phát thanh Quán Tre, Chi khu cảnh sát và trường huấn luyện Quang Trung ở Hóc Môn tan rã bỏ chạy. Trung đoàn 1 Gia Định giải phóng 2 xã Tân Thới Nhất và Xuân Thới Thượng, chiếm cầu Tham Lương. Tiểu đoàn 4 trung đoàn Gia Định cùng trung đoàn đặc công 115 giải phóng xã Tân Thới Hiệp và mở 2 cửa mở phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất chờ lực lượng quân đoàn tới để đột phá tấn công. Tảng sáng 30-4 Quân đoàn 3 từ Hóc Môn tiến chiếm mục tiêu chủ yếu của mình, đánh bại các cuộc phản kích và làm chủ toàn bộ sân bay lúc 14 giờ trong ngày. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:32:25 am Hướng Bắc, Quân đoàn 1 đánh chiếm thị trấn Tân Uyên, bao vây căn cứ Phú Lợi và chọc thẳng xuống Lái Thiêu để tấn công và nội đô. Toàn bộ sư đoàn 5 ngụy bị bao vây cô lập giữa 2 cánh quân của ta – quân đoàn 3 và quân đoàn 1 – không còn đường chạy và bị bộ đội địa phương phối hợp với quân đoàn tấn công liền treo cờ trắng đầu hàng. Cả 3 trung đoàn 7, 8, 9 đều hạ súng đầu hàng tại chỗ. Tiểu khu Bình Dương cũng treo cờ trắng đầu hàng vào sáng 30-4.Quân đoàn 1 vượt qua cầu Bình Phước tiến về mục tiêu chủ yếu: Bộ Tổng tham mưu. Cầu Bình Phước đã do trung đoàn đặc công 115 đánh chiếm từ sáng 29-4, bị địch phản kích chiếm lại. Từ sở chỉ huy được tin địch gài mìn định phá cầu Bình Phước, chúng tôi liền điện gấp cho trung đoàn 115: Đánh chiếm và giữ cho được cầu Bình Phước. Cắt đứt ngay giây mìn địch đã gài sẵn ở cầu…” Rạng sáng 30-4, trung đoàn đánh lại và giữ cầu luôn đến lúc Quân đoàn 1 vượt qua. Phía trước quân đoàn 1 tiểu đoàn 80 đặc công đã cùng các đội biệt động đêm 28-4 tấn công vào căn cứ pháo Cổ Loa ở Gò Vấp đến sáng 30-4 mới chiếm được. Cũng sáng hôm ấy lúc 9 giờ 30’ tiểu đoàn đã chiếm căn cứ thiết giáp “Phù Đổng”. Tại Bộ Tổng tham mưu địch, sáng 30-4, không còn chỉ huy, quân ngụy đã mất hết tinh thần, có bọn đã bỏ trốn. Nhưng tại các cửa vào, bọn biệt kích dù 81 vẫn còn ngoan cố. 8 giờ 30’ ngày 30-4 đội bệt động Z28 do đồng chí Bảy Vĩnh chỉ huy đã đánh vào cổng 1 không thành công, liền chuyển qua cổng 3. Ở đây có một số xe tăng bỏ không, địch trên xe đã chạy. Tổ liền lấy súng địch trang bị đầy đủ, lên 1 xe gíp dội thẳng vào trung tâm điện toán. Tên Đại tá Hổ phụ trách ở đây đã giao nguyên vẹn cơ sở này cho tổ. Hệ thống IBM và toàn bộ băng từ quản lý nhân sự và trang bị ngụy còn đầy đủ. Lúc ấy là 10 giờ. Tổ liền lên xe chạy đến tòa nhà chính của Bộ Tổng Tham mưu. Tất cả quân ngụy đã chạy trốn còn lại một hạ sĩ đón tổ bàn giao chùm chìa khóa với toàn bộ văn kiện và tài sản nguyên vẹn. Hạ sĩ ngụy ấy là đồng chí Ba Minh, tình báo Miền cài vào làm việc ở Bộ Tổng tham mưu từ lâu (hiện này là Thượng úy tại Bộ Tham mưu quân khu 7) Lá cờ được treo lên cột cờ chính và nóc nhà chính ở đây vào hồi 10 giờ 30’. Đúng 12 giờ ngày 30-4 đồng chí Vĩnh (nay là Trung tá Lê Văn Vĩnh, anh hùng các lực lượng vũ trang Phó tham mưu trưởng tỉnh Tây Ninh) đã đón lực lượng của Quân đoàn vào và chuyển giao lại mục tiêu cho bạn. trên cánh này nhân dân đã nổi dậy phối hợp với biệt động đặc biệt ở xã An-phú-Đông, diệt cơ quan tề, cảnh sát xã và xây dựng ngay chính quyền mới. 9 giờ 30’ ngày 30-4, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng tại chỗ, nhân dân đã chiếm phường 2 thị trấn Gò Vấp. Sớm hơn nữa chiều 29-4, đồng chí Thuần cán bộ quận đã lãnh đạo quần chúng chiếm và trèo cờ ở trụ sở phường 12 quận Phú Nhuận.
Hướng Tây, đoàn 232 sáng ngày 29-4 đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, Chi khu Đức Hòa bảo đảm sườn trái, 1 bộ phận diệt sư đoàn 22 ngụy chiếm thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức, Cầu Bình Điền sau đó tiến vào Sàigòn theo lộ 4 bảo đảm sườn phải. Bộ phận chủ yếu thọc sâu, sư đoàn 9, từ Mỹ Hạnh, Vĩnh Lộc đánh thẳng vào ngã tư Bảy Hiền, tiến chiếm mục tiêu chủ yếu, Biệt khu Thủ đô ngụy, vào 10 giờ 30’ ngày 30-4. Trên khu vực ngã tư Bảy Hiền địch đã cố sức chống cự dùng cả 1 tốp A37 đánh bom vào đội hình quân ta gây một số thiệt hại. Trung đoàn đặc công 429 và Trung đoàn 117 phối hợp với cánh tây trong 2 ngày 29 và 30 đã chiếm một số mục tiêu then chốt như Đài ra đa Phú Lâm, Yếu khu Tân Tạo, Khu ngã 5 Vĩnh Lộc, Trung tâm phát tin Phú Thọ, Cầu Bà Hom, cầu Nhị Thiên Đường. Nhân dân các xã vùng Hóc Môn, Bà Điểm đặc biệt là ở xã Phú Thọ Hòa, đã nổi dậy vận động địch hạ súng đầu hàng, phá rã ngụy quyền, treo cờ giải phóng. Nhiều xã xây dựng chính quyền cách mạng. Tại quận 11, chị Út Vân và anh Sáu Hoàng cán bộ Đảng tại chỗ đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền Phường 8, lúc 9 giờ 30-4 và chiếm luôn toà hành chính quận lúc 9 giờ 15’ trước khi quân ta tiến vào. Hướng Nam, như phần trên đã nói, tuy có nhiều khó khăn, cùng về tới đích đúng thời gian quy định và nhanh chóng chiếm được mục tiêu chủ yếu: Tổng nha cảnh sát. Các kho tài liệu hồ sơ, văn kiện tài liệu đang làm việc dở để trên bàn giấy còn y nguyên ở đó. Hướng Đông, Quân đoàn 4 theo đường số 1 đánh thẳng vào sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa và chỉ huy sở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy. Lực lượng còn lại của sư đoàn 18, lữ đoàn 3 thiết giáp, thủy quân lục chiến ngụy ra sức ngăn chặn liên tục phản kích, tất cả các mũi đều phải tiến chậm. Lực lượng thọc sâu gồm Sư đoàn 7 và dự bị là lữ 52, sáng sớm ngày 30-4 bộ phận đi đầu đã đến cầu Ghềnh nhưng thấy cầu yếu sợ xe tăng không qua được, phải quay đội hình trở lại xa lộ Biên Hòa, theo sau Quân đoàn 2 về Sàigòn chiếm trụ sở Bộ Quốc phòng ngụy, căn cứ Hải quân và Đài phát thanh. Nhân dân quận Bình Thạnh được chị Ba Liễu phát động và chỉ huy, đã chiếm trụ sở phường 15 lúc 9 gờ 30’ ngày 30-4. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:33:20 am Quân đoàn 2, một cánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu (Sư đoàn 3 Quân khu 5) một cánh đánh Long Thành, qua chiến khu Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo 130 ly ở đây và chuẩn bị cho một bộ phận vượt sông Đồng Nai phối hợp với đặc công biệt động tiến vào Quận 9. Cánh chủ yếu đánh vào Sàigòn đi đầu là Lữ xe tăng 203. Đến sông Buông, cầu bị sập. Cả ngày 29-4 Lữ xe tăng 203 không qua được. Đến giữa đêm mới qua khỏi cầu sông Buông và tiến thẳng lên xa lộ Biên Hòa – Sàigòn. Ở đây Lữ xe tăng 203 tiếp xúc được với lực lượng ta đang giữ cầu. Một bộ phận của trung đoàn 116 làm nhiệm vụ chiếm giữ cầu Đồng Nai đã mở rộng chiếm luôn một góc kho Long Bình (giải phóng 2 xã An Hòa và Long Hưng). Trung đoàn 116 liền tổ chức công sự phòng giữ ở đây. Vào lúc quá nửa đêm, Lữ 203 xe tăng ta vừa tiến vừa bắn dữ dội về phía trước. Tưởng địch, chiến sĩ đặc công chốt giữ đã dùng B40, B41 bắn trả. May mà không trúng. Nhưng nhờ ánh lửa của đạn, anh em nhận ra cờ Mặt trận cắm trên xe tăng (lúc đó là 05 giờ ngày 30-4) liền hỏi khẩu hiệu:
- Hồ Chí Minh? - 19-5 – Trả lời (chiến sĩ xe tăng nhớ lầm khẩu hiệu lúc ở khu 5). - Hồ Chí Minh? – hỏi lại lần thứ 2. - Muôn Năm – trả lời. Đúng rồi. Thôi bắn. Anh em mừng rỡ, phất cờ nhận nhau. Trên xa lộ này có 3 cầu trọng yếu nhất là cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc và cầu Tân Cảng. Đêm 26-4 Trung đoàn đặc công 116 đã bắt đầu đánh chiếm cầu Đồng Nai nhưng ngày 27 địch phản kích chiếm lại. Đêm 28-4 đơn vị lại chiếm lại đầu cầu phía đông, đánh sang đầu cầu phía tây và tổ chức chốt giữ phòng ngự. Chiều 29-4 có tiếng nhiều xe di chuyển trên đường 15 từ Long Thành về Sàigòn. Trinh sát báo cáo tất cả có 15 xe địch, đi đầu là 5 tăng và thiết giáp, những xe sau đầy lính có cả phụ nữ, trẻ em và có cả bộ binh đi hai bên đường. Mở máy bộ đàm PRC-25 của Mỹ, chỉ huy Trung đoàn đã nghe một đoạn nói chuyện ngắn vội vã: - Khi xe máy qua cầu đứt đuôi thì dùng 5 tấn thuốc nổ phá sập luôn cầu. - Còn đơn vị sau làm sao? - Không đi đường này nữa. Đó là lịnh chỉ huy. Việt cộng đang đuổi sau lưng mầy. Nổ sập cầu ngay! Bộ đội ta vẫn giữ kín được trận địa phục kích. Đoàn xe không hay biết tiến đến cách cầu khoảng 1 Km (Đoạn Ngã Ba Bến Gỗ). Lập tức súng B40, B41 và các loại cùng nổ. 5 chiếc xe đầu bị diệt. Một số bỏ xe nhảy hàng rào kho Long Bình chạy bộ, những xe sau quay đầu chạy tắt về hướng Biên Hòa. Thừa thắng, đơn vị phát triển chiếm luôn một góc kho Long Bình (hướng tây và tây nam). Cầu được giữ nguyên vẹn cho đến cuối cùng. Còn ở Cầu Rạch Chiếc, cuộc chiến đấu cũng xảy ra rất ác liệt. Đội biệt động Z23 cùng tiểu đoàn 81 đặc công do đồng chí Nguyễn Hoàng Ân, Trưởng, Trần Kim Thinh, Phó và Nguyễn Văn Tư, Chính trị viên, chỉ huy chung có trách nhiệm chiếm giữ cầu này. 3 giờ ngày 27-4 nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu anh em đã làm chủ toàn bộ cầu, cẩn thận cắt tất cả giây điện giăng dưới cầu. Cả ngày 27 bộ binh địch kết hợp với tàu dưới sông đã phản kích lại quyết liệt. Mãi đến 15 giờ ngày 28-4, Z23 kiên cường đã có 20 đồng chí hy sinh. Lực lượng ta phải tạm lui vào con rạch nhỏ dừa nước và ô-rô cách đường khoảng 500 mét. Lo trách nhiệm, đêm 28-4, Z23 lại tổ chức tấn công lại. Nhưng không thành công. Đến đêm 29-4, toàn bộ đơn vị mới đánh chiếm lại được cầu lần thứ 2 và giữ cho đến khi xe tăng ta vượt cầu vào 9 giờ 30’ ngày 30-4. Cầu Tân Cảng thì 28-4 do tiểu đoàn 4 Thủ Đức đánh chiếm không thành công vì ở đây địch mạnh và sát Sàigòn. Khi Lữ 203 xe tăng của Quân đoàn 2 đến cầu xa lộ Đồng Nai thì bộ binh vẫn còn ở xa chưa đến kịp. Đồng chí Tài, Lữ trưởng đã gặp tại đây các đồng chí Tống Viết Dương anh hùng quân đội, chỉ huy trưởng đặc công biệt động cánh đông (nay là Thượng tá, chỉ huy phó quân sự tỉnh Đồng Nai) và Võ Tấn Sĩ, trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 đặc công biệt động (hiện nay là Thượng tá trung đoàn trưởng kiêm chính ủy trung trung đoàn 304 cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố Hồ Chí Minh), đồng chí Tài cho biết lịnh quân đoàn phải tiến chiếm nhanh Dinh Độc Lập ngày hôm nay. Nhưng bộ binh chưa đến kịp. Địch ở chỗ nào chưa rõ. Đường đi không rành. Chỉ biết trên bản đồ. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:34:06 am Đồng chí Dương nói ngay:
- Đợi bộ binh thì chậm mất. Chúng tôi có cả một trung đoàn đặc công mạnh. Tôi từng là cán bộ tình báo nằm nhiều năm trong Sàigòn. Tôi rành đường lắm. Các khu vực địch tôi đều biết. Biết rõ cả Dinh Độc Lập. Anh cứ quyết tâm tấn công đi. Đồng chí Sĩ cũng góp bàn: - Trung đoàn chúng tôi đã phụ trách đánh trong sát ven đô. Mới chuyển nhiệm vụ ra đây. Nhiều cán bộ chiến sĩ quen thực địa. Trung đoàn tôi còn có khả năng tác chiến như bộ binh và có cả kinh nghiệm đánh diệt căn cứ, hậu cứ địch. Đồng chí cứ mạnh dạn hợp đồng tấn công. Đồng chí Tài, cân nhắc. Đồng ý. Mất một thời gian sắp xếp đội hình xe tăng và điều động tập trung trung đoàn đặc công. Trừ hai đại đội ở lại giữ cầu, toàn bộ trung đoàn 116 ngồi lên xe tăng của Lữ 203 cùng hợp đồng chiến đấu, hùng dũng tiến về chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền Đồng chí Dương ngồi với đồng chí tài và đồng chí Minh (chủ nhiệm chính trị) ở xe chỉ huy của lữ trưởng, chiếc thứ 6 trong đội hình. Đồng chí Sĩ, trung đoàn trưởng trung đoàn 116 ngồi lên xe thứ 3. Đồng chí Phạm duy Đô, quyền đại đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 19 ngồi lên xe thứ 2. Đoàn xe xuất phát từ cầu Đồng Nai đúng 6 giờ ngày 30-4. Khi ngang qua Suối Cái Thủ Đức, quân ngụy ở Liên trường huấn luyện sĩ quan địch dùng pháo bắn tới tập vào đội hình quân ta. Một xe tăng trúng đạn, anh em ta hy sinh. Ba pháo cao xạ 37 ly bị hỏng. Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Dương, đồng chí Tài ra lịnh 2 mũi xe tăng, một băng đồng, một vòng vào hướng chợ Nhỏ, tiêu diệt ngay trận địa pháo ở liên trường (thuộc xã Tăng Nhơn Phú). Đoàn xe qua cầu Rạch Chiếc, đồng chí Tư Thinh báo cáo tình hình cầu và địch ở khu vực. Gần đến cầu Tân Cảng, thình lình nhiều đạn bắn vào quân ta từ các dãy nhà hai bên đường. Một xe bị hư, một đồng chí hy sinh, lập tức đơn vị đặc công nhảy xuống xe chiến đấu và lùng sục bắt sống được nhiều địch hãy còn sắc phục “rằn ri”, còn đủ súng ống. Tiếp đó 2 máy bay A37 vòng tới nhào xuống trút 2 loạt bom rồi bay luôn. Ta an toàn, lại tiếp tục tiến. Xe qua khỏi cầu Tân Cảng, nhân dân đổ ra 2 bên đường, càng gần Sàigòn càng đông, vẫy cờ, vỗ tay hoan hô quân giải phóng. Các nhà báo quốc tế quay phim, chụp ảnh dần cho tới nội thành. Gần cầu Thị Nghè, 3 xe M113 địch xuất hiện, ta bắn, 1 xe cháy, 2 xe khác lính bỏ xe ngay trên Cầu Thị Nghè, chạy bỏ trốn. Chiếc xe tăng T54 đi đầu húc vô cửa sắt Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30’, xe tiến thẳng vào cột cờ giữa sân. Xe khác rẽ qua trái, phải, dừng lại. Chiến sĩ trung đoàn 116 nhảy xuống xe bao vây toàn bộ khu nhà, lùng xục bắt bọn lính bảo vệ, nhân viên ra ngồi tập trung trước bãi cỏ. Một tổ chiến sĩ xe tăng do đồng chí Bùi Quang Thận dẫn đầu, 1 tổ chiến sĩ đặc công có 2 đồng chí Phạm duy Đô và Phạm huy Nghệ, cùng cắm cờ chạy lên ban công cao phía trước Dinh Tổng Thống Ngụy quyền, đứng phất cờ hồi lâu, rồi cờ được kéo lên cột cờ chính trước ban công. Đúng 11 giờ 30’. Tổ đặc công lại chạy thẳng các tầng dưới lục soát các phòng. Đến tầng cuối, phòng bên phải, kéo màn qua 1 bên, toàn bộ nội các ngụy quyền đang ngồi đủ mặt ở chiếc bàn hình bầu dục trong phòng họp chính phủ. Đồng chí Đô chĩa súng AK hô to: “Các ông đã bị vây. Ai có súng bỏ xuống. Đầu hàng” Không ai nhúc nhích. Không ai thốt một lời. Đô lại ra lịnh cho đồng chí Nghệ, cầm súng AK đứng ở cửa: “Đồng chí hãy đứng gác ở đây. Không ai được ra khỏi phòng này!” Xong, Đô chạy ra tìm chỉ huy. Vừa lúc ấy các đồng chí Tùng, chính ủy, Tài lữ trưởng lữ 203, Minh Chủ nhiệm chính trị và Dương, chỉ huy trưởng cánh Đông đặc công biệt động vừa kịp đến cửa. Đô đưa Đoàn cán bộ vào. Mọi người trong phòng đều đứng cả lên. Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền; đứng đầu bàn phía trong cùng nói: - “Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao!”. - “Các Ông không còn gì để mà bàn giao. Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Mời ông ra tuyên bố ở Đài phát thanh: xin đầu hàng vô điều kiên” – Đồng chí Tùng nói dõng dạc. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:37:33 am * * * Tại Sở chỉ huy, chúng tôi chăm chú theo dõi từng giừ các mũi tiến quân của từng hướng. Trên bàn to trải bản đồ vùng Sàigòn và xung quanh, mọi người nhìn theo vạch bút chì đỏ mà cán bộ tham mưu, từng lúc, căn cứ vào báo cáo của các cánh về, đánh dấu nơi quân ta đến, mục tiêu ta đã chiếm. Bỗng một đồng chí cán bộ vừa reo mừng vừa xách máy ghi âm vào để lên bàn: tiếng nói của Dương Văn Minh trên đài phát thanh xin đầu hàng vô điều kiện và lịnh cho quân ngụy hạ súng đầu hàng. Tất cả đổ xô đến, im lặng, lắng nghe. Mọi người nhảy lên reo mừng. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng đều xúc động mạnh, ôm hôn mọi người, bắt tay nhau thật chặt. Có mấy phút giây trong đời ta mà sung sướng đến nghẹn ngào, mừng vui muốn trào lệ. tự nhiên tôi cảm thấy như tâm hồn mình trong suốt, nhẹ lâng lâng, mọi thứ như đọng xuống tận đáy sâu. Chiến tranh sắp chấm dứt hoàn toàn rồi. Một cuộc chiến tranh dài ngày, khốc liệt mà biết bao như đồng chí, đồng bào không còn trong giờ phút này để cùng ta hả hê vui sướng. Đồng chí đồng bào đã ngã xuống cho ta có giờ phút hôm nay. * * * Sàigòn, ngày 30-4 rực rỡ nắng vàng. Khắp phố phường, cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh, xen kẽ với cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Cả thành phố đổ ra đường, hạ cờ ngụy, treo cờ ta, kêu gọi binh sĩ ngụy buông súng đầu hàng, giải tán ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng. Tất cả thành phố đứng lên, giữ trật tự, bảo vệ các nhà máy, cơ sở, cho cách mạng, cho bản thân mình. Bao nhiêu năm mới có ngày nay. Nhờ ngày 25 tháng 8 năm 1945 cũng tương tự như thế này, rầm rập bước chân cách mạng. Mừng mừng, tủi tủi nhìn anh bộ đội giải phóng, bộ đội cụ Hồ, nhìn những chiếc xe tăng khổng lồ, những khẩu pháo lớn quá cỡ. Có con ta, có anh mình cùng về trong đoàn quân chiến thắng? Có chú ta, có cô ta ngồi trên xe tăng hay xe kéo pháo hùng dũng tỏa ra khắp nơi? Từng đám đông, phố nào cũng có, vây quanh các anh giải phóng, hỏi han trò chuyện. À, không giống lính ngụy chút nào. Các anh hiền quá, đẹp quá. Các con trẻ quá, thương quá. Sàigòn một ngày hành động. Đúng ra là đã hành động từ mấy ngày nay. Không phải chỉ là hoan hô, reo mừng, tiếp đón như một đôi ngày lịch sử trước đây. Ngày 31-1-1789, ngày Tết Kỷ Dậu, nhân dân kinh thành Thắng Long đã đổ ra đường mừng vui, tự hào, tin tưởng, nghênh đón đoàn quân chiến thắng của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ tiến vào giải phóng thủ đô. Nhà thơ Ngô Ngọc Du đã tả không khí tưng bừng ngày chiến thắng năm ấy: “Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng Đầy thành già trẻ, mặt như hoa”. Ngày nay ở Thành phố Sàigòn, một thành phố lớn nhất trong cả nước, một thành phố đã chiến đấu từ nhiều năm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, không khí tưng bừng cũng giống như vậy. Nhưng còn hơn như vậy, một không khí sục sôi nổi dậy hào hùng, mà mỗi người có góp phần của mình vào chiến công hiển hách giữ cho thành phố thân yêu nguyên vẹn, cho nhân dân hạnh phúc trọn lành. Sinh hoạt bình thường ở Sàigòn có gì khác, trước và sau 11 giờ 30’ ngày 30-4? Khác là trước thì súng đạn nổ vang, nhà nhà lo lắng, người hành động. Còn sau đó thì cờ xí phấp phới bay phố phường bỗng trở thành ngày hội. Đóng chặt khắp nẻo nhưng trật tự vui tươi. Điện nước, mọi nhà vẫn đây đó, giòng đời không ngừng một phút. Có cuộc chiến tranh nào kết thúc ở một thành phố cỡ ba triệu rưởi dân như vậy không? Hay đấy là một kỳ công lịch sử hiếm có. Kỳ công đó chính là trí tuệ lãnh đạo của Đảng ta: kết hợp tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, kết hợp đánh từ ngoài vào và đánh từ trong ra. Khác đi thì trạng thái không như vậy được và cũng sẽ không thắng được. Và kết quả thực tế đã rõ. Nhà máy cung cấp nước cho thành phố nằm ở Thủ Đức đã được Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Nguyễn Văn Muống cầm đầu, phát động quần chúng, dù họa đuổi địch, chiếm lĩnh làm chủ nhà máy nhiều giờ trước khi quân ta tiến về đi ngang qua đây. Ở đây trong và xung quanh nhà máy, địch đã đóng một tiểu đoàn thủ quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an, và đến ngày 28-4 địch lại kéo về đây thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp. Địch lại trang bị cho phòng vệ dân sự tại nhà máy 30 súng nhưng số súng này phần lớn nằm trong tay của quần chúng có tổ chức của ta. Đồng chí Muống rất lo lắng. Công đoàn quận Thủ Đức, do đồng chí Thành Đô đại diện đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Muống phải tổ chức cho được công nhân và bằng mọi cách bảo vệ nhà máy được nguyên vẹn. Ngày 30-4, khi nghe xe tăng ta từ Biên Hòa, tiến về gần đến, đồng chí Muống đã lãnh đạo quần chúng công nhân tung tin tác động hù dọa quân ngụy và tự mình trèo lên nóc nhà treo cờ thật lớn đã chuẩn bị từ trước. Quân ngụy hoảng hốt tưởng quân giải phóng đã tiến vào nhà máy, liền tan rã bỏ chạy, có bọn bỏ cả xe chạy bộ. Đồng chí Muống đã tổ chức đội vũ trang bảo vệ và Ban tự quản nhà máy, tiếp tục điều hành hoạt động bình thường cung cấp nước cho thành phố không một giờ gián đoạn. Còn nhà máy điện ở Thủ Đức là đội biệt động Z23 đánh chiếm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở cầu Rạch Chiếc, Z23 được lịnh chiếm Nhà máy xi-măng Hà Tiên, khu tồn trữ, nhà máy Zét-cô (nay là liên hợp công trình 4) và nhà máy điện, tổ chức bảo vệ an toàn và điều khiển công nhân tiếp tục điều hành công việc. Điện ở thành phố Sàigòn thực sự chỉ gián đoạn trong vòng 2 tiếng đồng hồ trong ngày 30-4. Tất cả đêm và sau đó liên tục đều vẫn sáng trong mọi nhà, công sở và đường phố. Hầu như tất cả các nhà máy, từ những nhà máy dệt, nhà máy thực phẩm đến các nhà máy cơ khí… công nhân đều tham gia bảo vệ nhà máy, giữ an toàn máy móc, phương tiện cho đến khi có ban quân quản chính thức đến quản lý. Ở tất cả các công sở của trung ương cũng như của thành phố, nhân viên công chức đều giữ nguyên hồ sơ, tài liệu, phương tiện làm việc để sẵn sàng giao nộp chính quyền cách mạng. Thật là một cuộc chuyển tiếp vô cùng đẹp đẽ từ một chế độ qua một chế độ. Không một đổ vỡ nặng nề nào. Không một cuộc trả thù hèn mọn rối loạn nào. Chỉ có cách mạng chân chính, chiến tranh nhân dân thực sự, toàn dân phục tùng nghĩa lớn của Đảng ta thì mới được như vậy. Lực lượng vũ trang nhân dân ta, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh anh hùng xứng đáng được khen ngợi vì chiến công rực rỡ. Chúng tôi sung sướng chuyển ngay đến cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đoàn viên nhân dân Sàigòn bức điện khen của Bộ Chính Trị Trung ương Đảng ta ngay trong ngày 30-4: “Bộ Chính Trị nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sàigòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, thuộc các đơn vị chủ lực, địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ, đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chủ lực, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng. Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn Miền Nam thân yêu của Tổ quốc. Bộ Chính Trị”(1). (1) Tư liệu Ban tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:38:38 am * * * Trong lúc cuộc tấn công và nổi dậy ở Sàigòn và Miền Đông nam Bộ như vậy thì ở các tinh đồng bằng sông Cửu Long, và ở hải đảo xa xôi như Phú Quốc, Côn Đảo, làn sóng cách mạng của nhân dân dâng lên cuồn cuộn. Quân và dân hợp đồng tấn công và nổi dậy rất chặt chẽ, lần lượt quét sạch quân thù, giải phóng hết tỉnh này đến tỉnh khác. Phong trào đã được chuẩn bị và phát động từ rất sớm, từ sau tháng 10-1974 là lúc có chỉ thị của Trung ương Cục, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh. Các tỉnh, cán bộ và nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng chủ trương đúng đắn này. Hàng vạn thanh niên đã đầu quân tham gia các loại lực lượng vũ trang chiến đấu. Hàng chục vạn quần chúng đi tham gia dân công tải đạn tải thương. Tất cả các đoàn thể dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp Ủy Đảng địa phương huy động lực lượng mình sẵn sàng tham gia đồng khởi. Truyền thống cách mạng của đồng bằng sông Cửu Long đã chứng tỏ qua nhiều phong trào từ cách mạng tháng 8 năm 1945, qua thời chống Pháp, tới “Đồng khởi”, năm 1960 và suốt thời gian chống Mỹ. Ngày nay hàng triệu tấm lòng mang ơn Đảng, có đất ruộng cày, có đời sống khấm khá, đang chờ ngày giải phóng quê hương mình. Tỉnh được giải phóng sớm nhất là “Tỉnh dẫn đầu hai tháng chiến dịch mùa khô 1974-75” như khu Tây nam bộ khen tặng, tỉnh được tặng thưởng Huân chương thành đồng hạng nhất của chính phủ cách mạng lâm thời: Tỉnh Trà Vinh, thuộc Quân khu 9, nay thuộc tỉnh Cửu Long. 15 giờ ngày 28-4 mệnh lệnh của Ban chỉ huy chiến dịch tổng hợp tỉnh ban hành. Từ thị xã đến các huyện nô nức ra quân. Đêm 29-4 toàn tỉnh nổ súng. Đến 7 giờ ngày 30-4 tại thị xã, các đồn bảo an, trận địa pháo, sân bay đều đã được giải phóng. Nhân dân từ trong và ngoài thị xã có trên 30.000 đồng bào gốc Việt, gốc Khmer sát cánh xuống đường tước súng ngụy, giải tán các tề ấp, tề xã, phường khóm. Kể cả các huyện thì có đến 180.000 quần chúng tham gia nổi dậy cướp chính quyền. Đến giờ đó chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng Ngụy quyền. Cuộc chiến đấu hết sức ác liệt của lực lượng tỉnh gồm cả bộ đội địa phương, đặc công, công an võ trang do anh Mười (Nguyễn Tấn Tài) và anh Hai Tri chỉ huy. Có tới 50 đồng chí ta hy sinh tại rào Dinh tỉnh trưởng. Anh Hai Tri, người chỉ huy kiên cường đã ngã xuống tại đây. 8 giờ ngày 30-4 cuộc chiến đấu vẫn ác liệt, bao vây chặt bốn phía. Ngay lúc ấy Lục cả Sơn Xớt ở chùa Xóm Ròm đã tình nguyện vào thuyết phục tên đại tá tỉnh trưởng ngoan cố, mở cho nó con đường thoát, chuộc tội với đồng bào. Đến 10 giờ 30’ toàn bộ lực lượng ngụy đã chịu hạ súng đầu hàng. 11 giờ cờ cách mạng đã phấp phới bay trên dinh tỉnh trưởng. Tỉnh lị Trà Vinh được giải phóng sớm hơn Sàigòn một ít. Nơi tiêu biểu của điểm nổi dậy nữa trong tỉnh là tại đồn Mỹ Khê huyện Càng Long. Ở đây đồng bào tay không đã bao vây và tiến vào đồn. Một tên trung úy cảnh sát ngụy cho nổ một trái mìn Clây-mo giết chết 4 người dân và bị thương 12 người khác. Lập tức hàng trăm đồng bào tràn vào cướp đồn, bắt sống toàn bộ lính ngụy. Tên trung úy cảnh sát đã bị xử tử trước mặt đông đảo nhân dân. Nơi sau cùng giải phóng trong tỉnh là huyện Duyên Hải. Lúc đó là 20 giờ ngày 30-4. Một tỉnh có vị trí quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, không xa Sàigòn bao nhiêu, là bàn đạp để từ đồng bằng chi viện cho thủ đô ngụy nếu chúng có khả năng, đó là tỉnh Tiền Giang, bao gồm tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công cũ. Ở đây địch đã tập trung gần đủ cả 2 sư đoàn 7 và 9 của chúng với lực lượng thiết giáp và pháo binh mạnh. Chúng cố giữ cho được con đường số 4 là con đường sống còn của chúng nhưng ngay từ 26-4 như phần trên kia đã nói, đường số 4 đã bị chiếm từ nhiều đoạn cắt đứt địch ra nhiều mảnh. Về giao thông chiến lược đi ngang qua tỉnh còn có kinh Chợ Gạo, một đường nước vận tải nội địa nối liền từ vùng Cà Mau đến Sàigòn, con đường lúa gạo hết sức quan trọng từ xưa đến nay. Đồng bào Tiền Giang đã từng tham gia biết bao phong trào chống ngoại xâm từ những ngày đầu quân Pháp mới đến, rồi quân Xiêm mà Nguyễn Ánh đã cõng rắn cắn gà nhà ở Rạch Gầm, có một phần Đồng Tháp Mười nổi tiếng, có phong trào từ năm 30, 40 cho đến ngày nay. Riêng trong tháng 4 đã có đến 40.000 người tham gia dân công, vận tải vũ khí. Từ 15-4 trở đi có đến 4000 người tham gia cắt đường và đắp cản trên kinh Chợ Gạo. đã có hàng vạn người xuống đường tham gia tấn công và nổi dậy giải phóng tỉnh nhà. Nơi chiếm được chính quyền sớm trong tỉnh là ở quận Chợ Gạo. Lực lượng bộ đội địa phương cùng an ninh võ trang biệt động đã tiêu diệt địch giải phóng hoàn toàn thị trấn vào lúc 13 giờ 30’ ngày 30-4. Từ đó bộ đội đã phát động quần chúng nổi dậy phá rã ngụy quyền ngụy quân lan ra giải phóng toàn huyện. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:40:13 am Ở Gò Công sự việc diễn biến có khác. Tỉnh lỵ nằm ở vùng sâu, bộ đội tỉnh không nhiều và phải ở xa về phía tây. Khi nghe ngụy quân ngụy quyền Trung ương ở Sàigòn đã đầu hàng, quần chúng nhân dân đã rùng rùng kéo ra thị xã Gò Công dùng loa tay và cả loa điện kêu gọi binh lính địch buông súng trở về quê cũ làm ăn. Gia đình binh sĩ ùa vào trong đồn bốt, lôi con em ra, bắt vứt mọi thứ về với cha mẹ anh em. Cán bộ Đảng, cán bộ chính trị tại chỗ đã khéo léo lãnh đạo bà con giải tán tề ngụy, phá bót canh, thu gom sung đạn. Cả một tỉnh lỵ của địch tan nát rã rời. Nhân dân đã làm chủ hoàn toàn vào lúc 13 giờ ngày 30-4. Sau đó nào xe lam, xe hàng từ thị xã chạy lên đồn Vĩnh Hựu chở bộ đội về cho nhanh để tiếp quản. Toàn tỉnh Gò Công được giải phóng lúc 14 giờ 30’ ngày 30-4.
Gò Công đã có truyền thống dùng sức mạnh đồng khởi của nhân dân chống địch. Năm 1954 trước ngày ký kết hiệp định Genève, chỉ một đại đội bộ đội địa phương cùng dân quân và đồng bào, mỗi đêm tiêu diệt hàng loạt 30-40 đồn bót và đến ngày ngừng bắn hầu như chỉ còn có thị xã là địch còn kiểm soát. Sư việc như vậy lại diễn lại nhiều lần, năm đồng khởi 1960, rồi phá dề, phá mảng ấp chiến lược thời Diệm và mới năm 1974 đây, cũng mở rộng quyền làm chủ của nhân dân trong nhiều vùng cho đến nay tự mình giải phóng lấy tỉnh mình. Tại thị xã Mỹ Tho, một đội biệt động của thành đoàn thanh niên lao động đã đưa vào các cơ sở cách mạng phát động quần chúng nổi dậy ở các phường, buộc phòng vệ dân sự, cảnh sát, giao súng cho cách mạng, kêu gọi lính ngụy hạ vũ khí đầu hàng, 16 giờ ngày 30-4 một lá cờ giải phóng lớn được kéo lên cột cờ cao chót vót tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu. Các phường 1, 2, 4, 5, 6 được giải phóng trước. Nhưng địch ở khu quân sự gần sân banh vẫn còn. Anh em đã ngồi trên 6 chiếc xe jeep dương cờ cách mạng chạy vòng xuống cặp bờ sông dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Ngang qua Chương Dương bị địch bắn dữ dội vào xe. Một xe bị trúng đạn. Anh Trần Văn Trầm hy sinh. Họ vừa chống trả lại bằng súng ngắn và lựu đạn vừa tiếp tục cuộc hàng trình, chiếm luôn cầu Bắc để liên lạc với Bến Tre. Đến 24 giờ ngày 30-4 thì trung đoàn 1 sư đoàn 8 của Quân khu 8 mới tiến vào đến, chiến đấu diệt thiết đoàn 6 ngụy còn kháng cự ở Chợ Cũ. 5 giờ ngày 1-5 thị xã Mỹ Tho được hoàn toàn giải phóng. Sáng 30-4 nhân dân đổ ra đường số 4 rất đông. Trong lúc lực lượng vũ trang của tỉnh diệt địch chiếm cầu đúc Bưng Môn thì phía trên Bình Phú dân đã hù dọa lính ngụy chiếm được 6 chiếc M113 còn nguyên vẹn và cả trận địa pháo ở Thuộc Nhiên gồm 2 pháo 155 ly và 4 pháo 105 ly. Chính đơn vị tỉnh đã dùng xe M113 này chạy về giải phóng thị trấn Cai Lậy. Trung đoàn 12 sư đoàn 7 ngụy hoàn toàn tan rã tại đây. Tỉnh Mỹ Tho còn có căn cứ quân sự lớn của địch ở Bình Đức. Đây là căn cứ của của Sư đoàn bộ binh 9 Mỹ. Sau khi Mỹ rút đi thì giao căn cứ này lại cho quân ngụy. Mỹ đã đổ nhiều công sức, tiền của, đưa nhiều máy móc tới đây, cướp đoạt các ruộng lúa phì nhiêu, san bằng nhà cửa vườn tược của dân trên bờ sông Cửu Long này để xây dựng căn cứ. Chiếm đoạt tài sản và bắn giết vô tội vạ người dân lương thiện địa phương để biến ruộng nương thành chiến trường, căn cứ quân sự. Tên tướng Mỹ võ biền thô lỗ Westmoreland không những không thấy y là một tên tội phạm chiến tranh còn vênh váo khoe khoang về công trình này: “… công binh của hải quân và lục quân (Mỹ) đã tạo ra một hòn đảo cát mà trong mùa khô đã trở thành một nơi có nhiều cát nhất trên trái đất… “… Các ruộng lúa đã được đào xới để có chỗ cho tàu dậu, còn các máy nạo vét thì xúc cát ở lòng sông để lập một khu ruộng lúa ngập nước rộng tới 640 arces (1 dặm vuông)… “… tôi đã đích thân chọn cái tên đặt cho căn cứ để tiêu biểu cho sự hợp tác giữa Mỹ và Nam Việt Nam: “Đồng tâm”…(1) Không những thế, tên tướng này còn thú nhận hắn đã dùng chiến tranh hóa học chống lại nhân dân ta. Y nói: “… hóa chất phát hoang còn được dùng để triệt phá thóc lúa của địch ở các vùng xa xôi bị Việt Cộng kiểm soát. Mặc dầu ranh giới vùng chánh phủ kiểm soát và vùng chịu ảnh hướng của Việt Cộng không được phân định rõ ràng, loại thuốc phát hoang này vẫn thường được dùng. Thuốc phát hoang có gây ra sự thiệt hại về sinh thái học, gây ra bao nhiêu và hậu quả của nó dài bao lâu thì chưa ai rõ…”. (1) Trích hồi ký của Westmoreland “Một quân nhân tường trình” Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:43:41 am Chính tại cái căn cứ Đồng Tâm này, sáng 30-4 có cuộc họp khẩn cấp giữa Bộ tư Lệnh sư đoàn 7 ngụy và các tiểu khu lân cận để bàn “tử thủ”. Chúng tưởng các công sự kiên cố, các rào giây thép gai phức tại của Mỹ có thể cứu sống chúng. Đến trưa chúng đã ra lịnh cho các trung đoàn còn ở phía bắc Cây Lậy và Châu Thành rút hết về đây. Thiết giáp được dàn ra lộ 4 để đón quân. Thế nhưng dọc đường rút về căn cứ, lính tráng đã bỏ trốn một mớ. về đến căn cứ thấy tình trạng hỗn quân hỗn quân chúng lại bỏ trốn một mớ nữa. Đồng bào suốt từ lộ 4 dài đến lộ Cổng 2, ai ai gặp lính còn mang súng cũng hỏi: “Bộ muốn chết để hổng còn được hưởng hòa bình hay sao mà giờ này còn mang súng mang ống kinh kinh vậy đó?!”; Hoặc “Sàigòn thua tất rồi, bộ mấy chú, mấy em hổng hay hay sao? Trời đất! Sức mấy mà cái “Đồng Tâm” này chống nổi với giải phóng? Thôi, về nhà lo lăm ăn đi cho nó yên chuyện!”… Và, khi lính kéo về đây, đồng bào cũng ùa theo vô căn cứ. Bọn lính lại lần lượt bỏ trốn. Đến 7, 8 giờ tối thì du kích đã lọt vô căn cứ. Đến 12 giờ đêm thì bộ đội tỉnh, bộ đội khu cũng đã ở ngay trong căn cứ rồi. Toàn bộ sĩ quan, binh lính, số rã, số bị bắt. 00 giờ 00 ngày 1-5 căn cứ “Đồng Tâm” hoàn toàn được giải phóng.
Tất cả các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long đều diễn ra tấn công và nổi dậy tương tự như các vùng nói trên, nhịp độ sôi sục nhất trong các ngày 29, 30-4 và 1-5. Tuy Sàigòn đã phải đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30-4 và Bộ Tư Lệnh vùng 4 chiến thuật hay Quân đoàn 4 ngụy đầu hàng vào cuối ngày này nhưng bọn cầm đầu ngụy quân ngụy quyền ở cá tỉnh vẫn ngoan cố chống cự. “Cố thủ” trông chờ sự chi viện cuối cùng của Mỹ. Nhưng trước sức tấn công và nổi dậy như vũ bão của lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng, một số bị diệt, số khác phải đầu hàng, tan rã và hầu hết các tỉnh đều được giải phóng hoàn toàn vào ngày 30-4 và 1-5. Từ Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng hùng hậu bộ binh, xe tăng, pháo binh, cao xạ để tiến về đồng bằng, giúp đỡ một tay với quân, dân 2 Quân khu 8 và 9 diệt nốt nhanh chóng quân địch nào còn ngoan cố chống cự. Chúng tôi biết rất rõ ràng khi đầu não ngụy quân, ngụy quyền ở Sàigòn đã bị đập nát, Mỹ đã phải trèo lên nóc nhà “đằng vân dá vũ” trốn thoát, thì đó là một đòn quyết định để giải phóng toàn bộ Miền Nam Việt Nam. Nhưng không phải đơn giản là Sàigòn giải phóng thì tự khắc các nơi khác cũng được giải phóng, ta không phải hành động gì, ngồi đó mà đợi cho trái chín rụng vào bị. Đến những ngày chót mà Thiệu còn bàn với những thủ hạ tâm phúc của hắn: “Nếu như bị mất Miền Đông và Sàigòn, thì bằng mọi giá gom hết sức lực còn lại của Nam phần Việt Nam, lui về đồng bằng sông Cửu Long, cố thủ ở đó… Phải giữ chặt các hòn đảo ở phía nam. … Cần Thơ là thủ phủ của Việt Nam cộng Hòa”… Rồi thực tế là Sàigòn đã đầu hàng mà quân ngụy còn định cố thủ ở Đồng Tâm, ở Cần Thơ và ngay khi Cần Thơ đã đầu hàng bọn ngụy ở một số địa phương vẫn mong cố thủ. Nếu ta không có những biện pháp sớm từ trước phá tan âm mưu co cụm về đồng bằng, nếu ta không có một chiến lược cách mạng tổng hợp đồng loạt tấn công và nổi dậy bằng lực lượng tổng hợp chính trị và quân sự thì chắc chắn tình hình đã diễn biến phức tạp hơn nhiều. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã nhận thức sớm được trách nhiệm lịch sử tự mình đứng lên giải phóng quê hương mình, đã đóng góp xương máu không nhỏ vào những trận chiến đấu sau cùng. Theo sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, hợp đồng chiến đấu với mặt trận Sàigòn, các tỉnh đồng bằng đều đã đồng loạt tấn công và nổi dậy, có tỉnh giải phóng trước Sàigòn, có nơi cùng một lúc và khi ngụy quyền Trung ương phải đầu hàng vô điều kiện thì lợi dụng thời cơ quí giá ấy hàng triệu người, quân cũng như dân đã nhất tề xông lên mạnh hơn, chỉ trong 2 ngày 30-4 và 1-5 giải phóng hầu hết các tỉnh vùng Châu Thổ này. Đoàn quân binh chủng hợp thành chuẩn bị sẵn của chúng tôi từ Miền đông Nam Bộ, đã không cần thiết phải xuất quân chiến đấu. Cả quân khu 8 và 9 đều điện về Miền: “Chúng tôi tự lực được” mà thực tế đồng bằng đã tự lực gọn ghẽ quét sạch quân thù, tự giải phóng. Quân khu 9 tự mình giải quyết đầu não vùng 4 chiến thuật, giải phóng “Tây Đô” mà còn phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ cắt đường sông Mang Thít, đường 4 chiến lược và khống chế sân bay lớn ở Cần Thơ. Ngày 25-4, Quân khu nhận được điện của Bộ tư Lệnh Miền (điện số 693/ZN/24-4): “Bắt đầu từ 28-4 trở đi, Quân khu phải kiên quyết đánh phá cắt đường 4 ở nhiều đoạn quan trọng đã qui định. Cũng từ 28-4 trở đi, dùng đặc công đánh nhỏ và lớn liên tục sân bay Trà Nóc, đi đôi với đùng cối, pháo, khống chế vào các đường băng, đài chỉ huy, không cho địch cất cánh và hạ cánh ở sân bay này. Tối 29 rạng 30-4, dùng tất cả lực lượng của Quân khu, đánh chiếm hoàn toàn sân bay Trà Nóc làm chủ và giữ luôn sân bay. Sau đó khi có điều kiện thì đánh chiếm thị xã Cần Thơ”(1). (1) Tư liệu của Phòng khoa học quân sự Quân khu 9. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:03 am Ngày 28-4, Quân khu đã tổ chức pháo kích và tấn công liên tục vào sân bay theo lệnh của Miền và sáng 30-4 khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, trung đoàn 20 chủ lực của khu lập tức đánh thẳng vào và chiếm sân bay Trà Nóc lúc 14 giờ trong ngày. Toàn bộ quân địch ở đây đầu hàng gồm có Bộ tư lệnh sư đoàn 21 bộ binh, Bộ tư lệnh sư đoàn 4 không quân. Ta thu 113 máy bay các loại.
Trong khi đó, tại thị xã Cần Thơ, cán bộ chính trị đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm các phường ở trung tâm thị xã: Phường An Cư, An Nghiệp, An Hòa thuộc quận 1: Phường An Hội, An Thạnh thuộc quận 2 và ấp Bình Di, Xã Long Tuyền thuộc quận 3… cơ sở binh vận của ta kết hợp với nhân dân chiếm đài phát thanh vào lúc 14 giờ và 15 giờ đã phát đi tiếng nói của cách mạng kêu gọi binh lính ngụy đầu hàng. 15 giờ ngày 3-4 lực lượng vũ trang Quân khu 9 siết chặt vòng vây và tấn công thẳng vào chỉ huy sở Quân đoàn 4 ngụy. Trước tình hình tuyệt vọng không còn lối thoát, tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh vùng 4 chiến thuật phải đầu hàng. Vài giờ sau y tự sát, kết liễu một cuộc đời tay sai nhơ nhuốc. Ta làm chủ toàn bộ thành phố Cần Thơ trong đêm 30-4. Sau đó, Bộ Tư Lệnh Quân khu 9 đã sử dụng 24 xe M113 vừa lấy của địch cùng một số xe vận tải chỏ trung đoàn chủ lực 101 chạy thẳng lên hướng Long Xuyên, Châu Đốc nơi giải phóng cuối cùng ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng không phải lực lượng quân đội mạnh đã đơn độc giải quyết được tình hình phức tạp ở khu vực này. Ở đây lại thể hiện thêm sự kết hợp giữa tấn công và nổi dậy, giữa lực lượng quân sự và chính trị của quần chúng. Chính ở đây nói lên sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân, nói lên rõ sức mạnh của chính nghĩa cách mạng. Cũng không phải tất cả khu vực này đều được giải phóng muộn. Ngay từ ngày 25-4 huyện Thanh Bình trên bờ đông sông Tiền đã được giải phóng. Tiếp theo đó tất cả bọn địch ở khu vực đông sông này đều bị quét sạch, bọn chúng rút chạy về cụm ở Hồng Ngự nhưng chúng cũng phải đầu hàng trước sức ép của ta vào 8 giờ ngày 1-5. Tại thị xã Châu Đốc, tối ngày 30-4, địch ở Tiểu khu được lịnh rút về tử thủ ở vùng “thánh địa Hòa Hảo”. Trước khi rút đi chúng đã đốt kho bạc và tài liệu hồ sơ, nhưng đồng bào tại chỗ đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu được 11 thùng bạc và các giấy tờ hồ sơ cần thiết cho cách mạng. “Thánh địa Hòa Hỏa” là nơi thờ cúng của đạo giáo Hòa Hỏa tại làng Hòa Hảo, quê hương của người lập ra đạo giáo này: Huỳnh Phú Sổ. Làng nằm trên sông Vàm Nao, con sông nhỏ nối liền 2 sông Tiền và sông Hậu. từ trước đến nay bọn ngụy dựa vào một số người xấu trong những người lãnh đạo của Đạo này, lợi dụng đồng bào theo đạo để mưu lợi cho chúng, chống lại cách mạng. Ngày nay trước ngày tận số chúng lại mưu mô lợi dụng đồng bào Phật giáo Hòa Hảo định nắm cả triệu tín đồ trong vùng, dựa vào “thánh địa” làm nơi cố thủ lâu dài. Chúng mơ tưởng như vậy vì chúng không hiểu được lòng yêu nước và chống áp bức của đồng bào tín đồ vốn đa số là nông dân lao động. Chúng cũng không hiểu được nguồn gốc của Đạo và ý nguyện thực sự của “Thầy” tức Huỳnh Phú Sổ, con người nho nhã, cổ cao, mắt sáng, đã từng xem tôi như một người bạn, đã tin và nghe theo những lời tôi giải thích về cách mạng và cũng đã tâm tình nhiều lần với tôi trong những dịp gặp gỡ. Lúc ấy tôi là Tư lệnh Quân khu 8 ở Đồng Tháp Mười trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và Huỳnh đã có thời gian ở trong căn cứ với tôi. Huỳnh đã từng tâm sự: “Tôi là một người yêu nước. Tôi không chịu được cách Tây chiếm đoạt đất nước mình, đè đầu đè cổ dân mình. Nhưng làm sao để chống lại. Đêm ngày tôi lo nghĩ đắng cay. Phải chi tôi gặp các anh sớm để biết được con đường phải đi. Ông đứng lại và ngó tôi vừa cười: “Nhưng giờ cũng chưa muộn” rồi ông tiếp: “Tôi nghĩ ra cách là nhân lúc này dân ta còn mê tín nhiều, tôi lập ra một cái Đạo để tập hợp nhân dân, che mắt Tây và bọn mật thám mà. Khi ta đã có lực lượng đông đảo rồi thì có sức mạnh lúc đó sẽ hành động, dành lại nước nhà. Ông lại ngừng một chút có vẻ ngẫm nghĩ rồi nói: “bây giờ nghe các anh nói có lý, tôi tin. Phải cả nước, phải mấy chục triệu dân Vệt Nam ta đồng lòng mới được. Mà lấy nghĩa vụ đối với Tổ quốc, thất phu hữu trách, thì nhân dân ta vốn có lòng yêu nước chắc là đồng lòng đánh Tây thôi… Đúng là không nên để cho dân ta cứ mê tín mãi…”. Tiếc rằng sau đó có một thời gian ông xa chúng tôi rồi bị bọn xấu lợi dụng, xuyên tạc, khống chế, cố lôi ông đi xa con đường mà ông đã tìm thấy, rồi ông mất đi, cho bọn xấu dùng danh nghĩa của ông lợi dụng tín đồ của ông. Nhưng chính nghĩa khi nào cũng thắng, đó là chân lý. Như vậy là bọn tàn quân ngụy từ các nơi đổ về “Thánh địa” co cụm tại đây với số quân trên 1 vạn bố trí thành trận địa. Sau khi ta giải phóng Tân Châu gần biên giới với Kampuchia thì bộ đội địa phương của tỉnh, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 cùng bộ đội huyện tiến xuống “Thánh địa” theo 2 mũi: bờ đông sông Tiền và bờ đông sông Hậu. Khi tiểu đoàn 2 tiến đến gần Kinh Xáng An Long định vượt sang Cù Lao Tây thì bị địch bắn ngăn chặn quyết liệt. Lại không đủ phương tiện sang sông. Đồng bào đã huy động xuồng ghe cho bộ đội. Một mặt đồng bào tự phái một số ông bà già cùng với gia đình binh sĩ đi trước, đánh xuồng thẳng ngay vào trận địa địch kêu gọi chúng đầu hàng. Trận địa địch tan rã, rút chạy. Bộ đội ta tràn sang an toàn. Cánh tiểu đoàn 2 cũng xuống đến An Phú, tiêu diệt một số địch và bắt liên lạc giữa 2 cánh để tiến đánh vào nơi co cụm chính. Lúc đó đã là 14 giờ ngày 2-5. Đang tổ chức lại đội hình tấn công thì chị Út Nhang, tỉnh ủy viên phụ trách vận động bà con các tôn giáo, thường xuyên ở vùng nầy, đến bảo: “Địch đang hoang mang. Các anh phải đánh gấp nội trong chiều nay”. Xong, chị đi trước, vận động bà con hưởng ứng kết hợp với bộ đội lấn áp địch và vận động lính ngụy ra hàng. Chị Út Nhang đã gặp và thuyết phục Lương Trọng Tường, một trong những người cầm đầu Phật giáo Hòa Hảo. Tường xin hàng quân giải phóng. Bội đội ta vào. Trên 1 vạn quân ngụy buông súng đầu hàng. Ta làm chủ toàn bộ khu vực lức 17 giờ ngày 2-5. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:50:13 am Thế nhưng chưa hết. Số ngoan cố lại trốn về nhập chung với một bọn tàn quân đông đảo hơn, trang bị mạnh hơn, co cụm tại một ngôi chùa cổ gọi là Tây An cổ tự thuộc quận Chợ Mới cũng với danh nghĩa là quân đội Phật giáo Hòa Hỏa.
Trước khi giải quyết điểm co cụm này ta đã giải phóng thị xã Long Xuyên, một thành phố đẹp có nhiều kiến trúc mới trên bờ sông Hậu. Ở đây, có vai trò nổi bật của giới giáo chức và học sinh trong phong trào nổi dậy chiếm chính quyền. Trưa 30-4 đông đảo giáo chức và học sinh chiếm trường học, trừng trị bọn ác ôn đã từng kềm kẹp, bắt bớ anh chị em trong bao năm trước. Sau đó, dựa vào cơ sở đã có sẵn, chiếm Đài truyền tin, chiếm kho bạc và cả trận địa pháo địch. Cờ cách mạng cất dấu từ trước được tung ra treo các nơi và vận động bà con may thêm nhiều cờ mới. Họ tổ chức ngay lực lượng võ trang của mình trang bị bằng một ít súng lấy được của địch. Tình hình phức tạp là khi nghe Đài phát thanh Sàigòn phát đi lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh thì một số bọn xấu, bọn phản động cơ hội, lợi dụng lúc bộ đội ta chưa đến kịp liền làm cuộc đảo chính nắm chính quyền gọi là “Hảo Hảo cướp chính quyền”. Như vậy là ngay ở thị xã Long Xuyên lúc ấy có hai lực lượng nổi dậy: nhân dân nổi dậy và bọn phản động mệnh danh “Hảo Hảo nổi dậy”. Bọn nầy súng ống đầy đủ, bắt đầu cướp bóc trả thù. Nhân dân thì lực lượng võ trang yếu, chưa tiếp xúc được với bộ đội ta bên ngoài. Nhờ nắm được Đài truyền tin, lực lượng giáo chức học sinh một mặt kêu gọi Cần Thơ xin viện trợ gấp, mặt khác sử dụng những vị có uy tín lớn ở thị xã lâu nay đến thẳng gặp bọn cầm đầu cướp chính quyền nói với chúng: “Các ông đừng làm cái việc dại như vậy! Các ông chỉ là một nhúm người nhất định không đánh lại nổi với giải phóng đâu. Các ông chỉ làm cho dân chúng Long Xuyên này đổ máu tiếp tục trong khi mọi nơi, kể cả Sàigòn, đã yên ổn vui vẻ rồi. Đất nước sắp yên lành hoàn toàn mà các ông nỡ gây thêm nỗi oán hận nữa hay sao? Xe tăng dưới Cần Thơ đã lên sắp đến nơi rồi đó. Dân chúng đã đi đón giải phóng hằng hà ngoài đường. Các ông ra mà nhìn một chút để rồi biết nên làm gì lúc nầy…” - “Họ còn bao xa nữa?” - “Khoảng sáu, bảy cây số thì tới đây thôi” Thế là chúng ra lịnh giải tán. Súng ống vứt bừa bãi, tan rã. Số đông lẩn vào trong dân. Một số chạy về nhập bọn ở Tây An cổ tự. Long Xuyên được hoàn toàn giải phóng hồi 9 giờ ngày 2-5. Còn ở Tây An cổ tự. Chúng đã có âm mưu từ trước nếu khi các nơi bị ta đánh chiếm, giải phóng thì chúng liền qui tụ về “Thánh địa” và về đây. Khi “Thánh địa” bị mất nữa thì chúng coi đây là nơi cố thủ cuối cùng. Ước lượng số quân ngụy dồn về đây có đến 14.000 tên võ trang đầy đủ. Ngoài ra không biết bao nhiêu là tàu chở vũ khí trang bị, lương thực… đậu đầy dưới sông. Khu chùa trở thành quá hẹp không đủ đất, đủ nước để chứa nữa. Chúng vội vã tổ chức “cố thủ”. Nhưng Ban trị sự chùa lúc ấy gồm các cụ cao tuổi, các bậc đạo chính tông, không chấp nhận việc làm sai trái như vậy. Các cụ đã nói: “Cơ hội lập lại hòa bình đã đến rồi. Chính đây là nguyện ước thái bình mà Thầy hồi sinh tiền đã ôm ấp và chỉ giáo cho bổn đạo hằng bốn phương. Cho nên tiếp tục gây cảnh núi xương sông máu là trái với lòng Thầy”. Đồng bào Hòa Hảo đã nhất trí với các cụ. Vả lại khi đám tàn quân ô hợp kéo về đây thì bao tai nạn cướp bóc, hiếp đáp, bắn giết đổ lên đầu nhân dân còn tệ hơn những kềm kẹp, đàn áp của ngụy quyền trước kia nữa. Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của cán bộ cách mạng vùng xung quanh đã đứng dậy phá tề, giải tán phòng vệ dân sự, thu vũ khí, trương cờ cách mạng, treo khẩu hiệu “chánh quyền về tay nhân dân”, vận động chúng bỏ súng về nhà làm ăn tránh chết chóc. Và tin lan rộng lực lượng quân giải phóng từ Sađéc, Long Xuyên, từ Cần Thơ đang tiến đến bằng cả hành quân bộ, bằng xe tăng, bằng tàu hải quân… Bọn đầu sỏ hoảng hốt, hoang mang cao độ. Thực tế chúng cũng không còn chỉ huy được cái đám quân đã rã rời, đã chán chường, không còn một chút tinh thần gì. Thế là mạnh ai nấy tìm đường mà thoát, nhân dân giúp đỡ tích cực chỉ lối cho mà trốn đi. Không mấy chốc cả một đám người hổ lốn ấy tan rã như bọt nước. Ngày 6-5-1975 cờ giải phóng đã rực đỏ tòa Tây An cổ tự, đã phấp phới bay trước gió trong lành khắp cả vùng mảnh đất cuối cùng của B2 của Miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:51:16 am * * * Trong đất liền đã tấn công và nổi dậy, ở hải đảo cũng nổi dậy và tấn công. Hai hòn đảo ở phía nam nầy lớn nhất, quan trọng nhất là Côn Đảo và Phú Quốc. Mỹ, Ngụy ỷ vào lực lượng hải quân và không quân của chúng mạnh, nên xem các đảo này là nơi an toàn nhất của chúng. Chúng đã biến cả hai hòn đảo này thành những trại tù khổng lồ. Hàng vạn chiến sĩ yêu nước đã bị giam cầm, hành hạ, nhiều người đã hy sinh ở đây. Nơi non xanh nước biếc, tài nguyên thiên nhiên phong phú, gió biển trong lành, từ nhiều năm đã trở thành nơi chồng chất uất hận căm thù, chỉ mong có ngày phá tung ngục tù, đập tan xiềng xích. Tại Côn Đảo cũng như tại Phú Quốc, những ngày tháng 3, tháng 4 năm 1975, không thiếu những tin tức phấn khởi dồn dập từ đất liền. trong các trại tù chính trị, anh chị em đã dấu được một máy thu tin nhỏ, thường xuyên theo dõi từng chiến thắng của ta, từng nơi được giải phóng. Rồi chính những bàn luận nhỏ to của bọn sĩ quan và binh lính ngụy gác tù cũng là những nguồn động viên tin tưởng: “Giải phóng đã chiếm tỉnh Phước Long rồi”; “Tây Nguyên thất thủ rồi”; “Tỉnh Lâm Đồng cũng mất rồi”… “Họ mạnh quá, pháo họ bắn rất xa và rất trúng, một quả đạn phá một tòa nhà…; còn xe tăng họ đi tới đâu cán nát ở đó, xe tăng Mỹ không loại nào chống lại nổi… Nghe nói toàn là vũ khí của Nga… Khéo không thì tàu ngầm họ ra đến đây bây giờ…” Ngày 30-4 ở Côn Đảo, trong trại tù chính trị số 7, một số anh em chụm đầu lại nghe đài phát thanh Hà Nội: … Sàigòn đã được giải phóng… Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền đã xin đầu hàng vô điều kiện… Tức thì tin loan ra trong toàn trại. Nhưng cuộc hội ý chớp nhoáng, phán đoán, xác minh hư thực, bàn luận phương thức hành động. Bỗng cửa mở, vài sĩ quan ngụy ló đầu vào khúm núm, hết cả vẻ hách dịch thường ngày, nói: “các ông đã biết giải phóng chiếm Sàigòn chưa? Thôi các ông còn ở trong đó làm gì nữa”. Tức thì, quyết định dứt khoát. Toàn trại tung cửa, ùa cả ra ngoài. Cờ mặt trận giải phóng và cờ đỏ sao vàng, bí mật chuẩn bị lâu nay được tung ra, kéo lên cột cờ, trèo lên trước trại. Anh em kéo qua trại 1 mở tung cửa trại rồi lần lượt hết trại này đến trại khác. Rừng người bật dậy, rừng cờ tung bay. Toàn đảo bừng lên niềm hân hoan chiến thắng, ánh lên màu tươi sáng thanh bình. Côn Đảo hoàn toàn được giải phóng vào khoảng 16 giờ ngày 30-4. Ủy ban giải phóng được lập nên để tạm thời quản lý đảo, chờ liên lạc với đất liền. Trong lúc đó đoàn tàu bộ đội hải quân của ta, được phái ra giải phóng đảo, đang mở tốc độ vượt biển đông. Đảo Phú Quốc, thì gần đất liền hơn rộng hơn và cũng có đông dân cư sinh sống hơn. Đảng bộ địa phương từ nhiều năm đã xây dựng căn cứ kháng chiến, liên tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch, có tổ chức vũ trang gần một đại đội, đã tích cực hoạt động phối hợp tấn công địch trong đợt xuân 1975. Ở Dương Đông đã pháo kích và tấn công nhiều đồn bót giặc, đã bức rút 1 đồn và diệt 1 bót canh. Nơi đây địch giam giữ chủ yếu là số anh em chiến đấu của ta là cán bộ và chiến sĩ sa cơ bị bắt khắp các mặt trận. Anh em ta nhiều phen đã đánh trả lại lính ngụy tàn ác, nhiều toán đã vượt ngục ra rừng, tổ chức thành đội võ trang chiến đấu, liên lạc với với địa phương. Đã có số anh em đốn gỗ, đóng thuyền, vượt biển về đất liền, xin được chỉ đạo, được tiếp tế, trang bị. Có lần Bộ tư Lệnh Miền đã tổ chức co một số cán bộ thoát ngục về gặp tại căn cứ, nghe báo cáo rõ tình hình trại giam, đề ra phương châm hoạt động, tạo phương tiện và cho trở lại đảo chỉ đạo công tác và làm gạch nối liền với cấp trên. Địch thì vân coi thường phong trào đấu tranh ở đây, có lẽ chúng cho là nhỏ yếu, cô lập để đàn áp. Vì vậy chúng vẫn xem đây là nơi an toàn cuối cùng. Ngày 20-4 khi Sàigòn đã bị uy hiếp mạnh, CIA lập tức di chuyển toàn bộ nhân viên và gia đình và các đài phát thanh bí mật do CIA điều khiển lấy bí danh “nhà số 7” ra đảo Phú Quốc. Đó là 5 đài phát thanh cả tiếng Khmer và tiếng Việt trong đó có đài “Tiếng nói gươm thiêng” và “Mẹ hiền Việt Nam” đặt tại nhà số 7 đường Hồng Thập Tư (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh). Vì vậy mà có bí danh “nhà số 7”. Những đài này rất phản động, chống công, theo nội dung và hình thức của CIA, nhằm lung lạc tinh thần những người Việt Nam yêu nước, là một vũ khí thêm vào những âm mưu thâm độc của Kissinger, nhằm giành toàn thắng giữ Miền Nam Việt Nam mãi mãi là một thuộc địa kiểu mới của Mỹ? Chính Kissinger đã ra lịnh lập ra các đài này ngay sau khi ký xong Hiệp định Paris. Điều này nữa nói lên sự giả dối khi ký kết hòa bình của Kissinger – Nixon và cũng nói lên sự phá bỏ hiệp định Paris của Mỹ - Ngụy là tất nhiên. Nhưng các đài này và hàng nghìn người vừa di chuyển ra đây đã phải lên tàu Mỹ chạy về dảo Guam vào cuối tháng tư. Trưa 30-4 lực lượng trong trại giam anh em vũ trang ngoài trại giam, kết hợp với địa phương và nhân dân nổi dậy, diệt tháp canh, phá trại, đánh tan quân ngụy, giành chính quyền trên toàn đảo. Chính quyền cách mạng đã quản lý đảo vào khoảng 17 giờ ngày 30-4. Sau đó một số tàu hải quân ngụy, cả bọn phản động trong đạo Hòa Hảo cũng chạy ra đây định cụm lại đảo. Nhưng đảo đã được ta giải phóng trước rồi nên chúng lại chạy tốn, một số tàu ngụy trở về đầu hàng. Như vậy là cả đảo, tách rời với đất liền cũng đã tự mình tấn công và nổi dậy tự giải phóng cho mình, rất sớ, ngay chiều ngày 30-4-1975. Thế là toàn bộ chiến trường B2 đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình. Quân và dân B2 đã tin tưởng và theo sát sự lãnh đạo của Đảng giữ vững truyền thống đấu tranh cách mạng 2 chưn, 3 mũi, tấn công và nổi dậy, từ rừng núi đến đồng bằng, hải đảo, từ nông thôn đến thành thị, ngay cả tại Sàigòn, thủ đô của ngụy. Quân và dân B2 luôn giữ vẹn nghĩa tình chung thủy, đi trước về sau, luôn đáng tự hào là Thành đồng Tổ quốc. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:07:11 pm CHƯƠNG CUỐI VÀO QUÂN QUẢN THÀNH PHỐ Tôi lại gặp bất ngờ. Tại Sở chỉ huy Tiền phương chiến dịch, Ngày 1-5 tôi gấp rút tiến hành một số công việc: theo dõi cuộc tiến công và nổi dậy đang diễn biến sôi nổi ở đồng bằng sông Cửu Long, hoàn chỉnh rồi tổ chức cánh quân tiến về chi viện; sắp xếp và bố trí lại các lực lượng quân sự ở Sàigòn và Miền đông; tiếp tục chỉ đạo việc quét bọn tàn quân còn rải rác từng đơn vị đại đội, có nơi cả tiểu đoàn ở các cánh rừng và miệt bưng xung quanh Sàigòn… Ạnh Sáu Thọ và anh Bảy Cường đến gặp phổ biến “điện anh Ba nói Bộ chính Trị quyết định cậu vào làm chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Sàigòn – Gia Định. Đi ngay thôi cho kịp”. Từ đầu tháng 4, theo sự chỉ đạo của Bộ Chính Trị, Trung ương cục, có cả anh Sáu Thọ tham gia, đã dự liệu tất cả rồi. Đã có một kế hoạch công tác tỉ mỉ của Ủy ban Quân quản cũng như của ban tiếp quản các cơ sở các ngành ở thành phố. Đã tổ chức các bộ máy, chỉ định về nhân sự. Đã chỉ định rồi chủ tịch Ủy ban quân quản và Trưởng ban tiếp quản (lúc ấy không phải là tôi). Bộ Chính Trị đã thông qua và đã phái nhiều cán bộ từ các ngành Trung ương ở Hà Nội vào tăng cường để đủ sức triển khai công tác với khối lượng hết sức to lớn. Khi các cánh quân từ các hướng đánh vào Sàigòn thì các bộ máy quân quản cũng như tiếp quản đã tiến sát theo đoàn quân. Nay có lẽ, anh em đã bắt tay vào công tác rồi. Như vậy là từ đầu tháng 4, khi đội quân tác chiến và đội quân nổi dậy hoàn chỉnh việc bố trí, thì đội quân quản lý và đội tiếp quản thành phố cũng song song được triển khai kịp thời. Kế hoạch tấn công và nổi dậy được vạch ra thì kế hoạch tiếp quản và quân quản cũng được xây dựng. Công việc này chưa dứt hẳn thì công việc kia đã phải tiến hành rồi. Ta đã quyết tâm giành toàn thắng, ta đã tin chắc thắng nên mọi việc đều được lo toan từ trước. Tôi thường không bao giờ nhớ đây là lần bất ngờ thứ mấy đối với tôi trong công tác, mà luôn đinh ninh rằng không phải là lần chót. Sẽ còn nhiều bất ngờ nữa, cả những bất ngờ hay cũng như bất ngờ dở. Và đó cũng là sự thật của cuộc sống thôi, là chuyện bình thường khi công việc cần mà ta còn hơi thở và còn làm việc. Ngay khi không còn làm việc được nữa, khi “mắt hòa xanh đầu dễ bạc, Lưng khôn uốn, lộc nên từ”(1), hoặc lúc sức đã yếu tuổi đã già – đây cũng là chuyện bình thường – thì vẫn còn có những bất ngờ cho đến khi ta trở về đất bụi thì mới hết mọi việc. Đoàn xe Com-măng-ca của chúng tôi, tới sở chỉ huy, xuyên rừng cao su Dầu Tiếng vượt sông Sàigòn tới Bến Củi rồi ra Trảng Bàng theo quốc lộ 1 tiến về Sàigòn ngang qua Củ Chi, Tân Phú Trung, Hóc Môn, Bà Quẹo. Ôi! Những vườn cây ăn quả, những rặng trúc, bờ tre xanh tốt, những thửa ruộng bìa làng và cả những đám hàng bông kia nữa, sao mà quen thân quá như mới hôm nào mình đã sống nơi đây. Rồi những con người gặp dọc đường đông đảo hay đang ở trước cửa, trong vườn nhà, ai nấy đều một vẻ mặt hân hoan chào đón, một ánh mắt sáng ngời, đều có những nét thân thuộc giống như mình đã có gặp ít nhất một lần. Lòng tôi dạt dào xúc động. Tôi muốn ghé lại thăm từng nhà, ôm hôn thắm thiết từng người mà tôi gặp. Tôi muốn thu vào tầm mắt, in vào tận đáy lòng mọi thứ mà tôi nhìn thấy hôm nay, từ những cánh đồng phi nhiêu rộng rãi, cho đến cả vòm trời cao vút trong xanh. Không cần biết đây là làng gì, ấp gì, phường gì, khóm gì, anh là họ Nguyễn ư? Chị là họ Lê ư? Tất cả đều là bà con, làng mạc của ta, tất cả đều là mình hết. Ba mươi năm rồi, chúng phân cắt, chia ly, gần mà hóa ra xa, thân mà làm như lạ. Giờ đây trời của ta, đất của ta. Tự do và độc lập rồi. Bà con ơi! Các mẹ, các anh, các em, các cháu đã nhận rõ hết chưa? Nhớ lại tâm trạng mình lúc đó, tôi thầm khen nhà thơ Xuân Diệu, đã viết nên những câu thơ hay trong bài thơ “Tôi muốn đến thăm khắp cả Miền Nam” đây là những câu cuối: “… Ôi! Trên đôi cánh huy hoàng của con chim phượng hoàng Chiến thắng. Phải chi tôi bắt chước được Khuất Nguyên cưỡi phượng qua đèo Dắt cầu vồng mống cụt cũng bay theo Đặng nói nỗi hân hoan ngang tầm đất nước. Tôi muốn đi thăm mỗi làng, mỗi nhà, Mỗi hàng rào bông bụt của miền Nam ta. Tôi muốn đến nghiêng đầu chào thương đôi má Cất tiếng đáp “muôn năm”mỗi tiếng nói của sơn hà(2). (1) Thơ của Nguyễn Trãi “man thuật” (bìa thứ 14) Quốc âm thi tập. (2) Trích tập “thơ Việt Nam 1945-1975” của Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới Hà Nội, trang 85. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:10:22 pm Vô tình mà đường tôi tiến vào Sàigòn hôm nay gần như trùng hợp với đường tôi đã từ Sàigòn ra đi kháng chiến tháng 9 năm 1945. Hồi ấy tôi đã ra Gò Vấp, Bà Quẹo rồi quanh quẩn ở Hóc Môn, Bà Điểm. Lại lên An Nhơn Tây, Củ Chi, Đức Hòa, Mỹ Hạnh… Đành để sau lưng mình thành phố thân yêu cho bọn Tây, bọn Anh chiếm đóng. Biết làm sao được! Năm ấy chính quyền cách mạng ta còn trong trứng nước. Chúng ta chỉ có trong tay tầm vông vạt nhọn và một số cây súng mut (mousqueton), súng trường Nhật, giựt được của thù. Trước khi ra đi tôi đã cầm gậy tầm vông, hông cài súng lục, tham gia chiến đấu ở mặt trận Cầu Bông, Bà Chiểu dài ra tới Phú Nhuận. Bao thanh niên dũng cảm có thừa sát cánh với những cụ già đầy nhiệt huyết, nhịp bước theo bài hát mà ai cũng thuộc: “Nào anh em ta, cùng nha xông pha, lên đường…” Tôi không quên được hình ảnh cụ Phạm Thiều, một giáo sự nổi tiếng của Sàigòn hồi ấy, cũng đầu đội mũ nan, tay cầm tầm vông vạt nhọn, lần bò theo đánh thanh niên chúng tôi, nhằm quân thù mà tiến. Bao nhiêu đồng chí, đồng bào đã ngã xuống, đã nằm lại vĩnh viễn ở đất Sàigòn này. Còn chúng tôi, chúng tôi ra đi với hai bàn tay trắng, quí nhất chỉ là tấm lòng. Tấm lòng tin tưởng ở Đảng, tin ở tương lai nhất định sáng lạn. Chúng tôi trìu mến tạm biệt thành phố, lòng nguyện với lòng, ra đi để rồi trở lại, thề trở lại trong một ngày huy hoàng giải phóng thành phố của ta, đồng bào của ta, và ngày ấy nhất định không xa. Sự thật không như mơ ước, xa đến quá mười nghìn ngày rồi còn gì. Nhưng thời gian hết đêm lại ngày, hết mùa mưa qua mùa nắng… còn có thể tính được, song đố ai nhớ được con đường ta đã đi trải dài bao nhiêu cây số. Từ làng này qua ấp nọ, tôi cũng như bao nhiêu đồng chí đã sống trong sự đùm bọc thương yêu của đồng bào cô bác vùng ven Sàigòn, rồi suốt các tỉnh Miền đông, từ bưng lầy đến rừng núi, rồi Miền Trung, Miền Tây, khắp sông rạch Đồng Tháp Mười. Làm sao mà kể hết được tên xóm tên làng, làm sao mà kể hết được tên các má, các anh, các chị. Các em liên lạc dẫn đường hồi ấy, mới trên mười tuổi đời, ngày nay, nếu còn sống, ắt hẳn đã thành gia thất, có con, có cháu rồi. Nếu có thể kể được tên thì đó là những xóm làng “Việt Nam” với những gia đình, ở đâu cũng có, “má Năm”, “má Tám”, “bác Hai”, “chú Bảy”, mà “thắng Ba”, “thằng Tư” này đã từng xem là gia đình mình. Mỗi sự nghiệp của mỗi con người đều là sự nghiệp của tất cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp dập mà nên. Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành, chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay đã làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân. Nhờ bạn bè mà anh xây thành sự nghiệp, nay có sự nghiệp chớ quên lãng bạn bè. Đức Việt Nam là tình là nghĩa, là đạo xử thế thủy chung giữa con người với con người. Mắt ta phải trong mà lòng ta phải sáng, đó là quí nhất của một đời người.
Nhưng đã qua mọi nẻo đường đất nước, cay đắng ngọt bùi đã trải, gian lao nguy hiểm đã từng, ngày nay ta lại trở về. Tôi bất giác lần tay rờ khắp thân mình: à ra mình còn nguyên xương thịt. Bao phen rồi mà bom đạn còn nương nhẹ đối với mình. Có lẽ đừng nghĩ đến nó thì nó cũng tránh mình - đó cũng chỉ là may mắn thôi. Nguyễn Trãi đã chẳng có câu “can qua vị tức, hạnh thân tuyền”. Trong bài thơ của ông: “Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác”: Mười năm xa cách chốn non nhà, Tùng cúc quay về nửa xác xơ. Đã hẹn rừng khe đâu phụ ước, Cúi đầu đất bụi chỉ thương ta. Tưởng như thấy mộng, quê vừa gặp, Mừng hãy còn thân, loạn chửa qua. Dưới núi bao giờ lều đã dựng. Đá kê đầu ngủ, suối pha trà. (Khương Hữu Dụng dịch)(1). Nhưng trong chinh chiến đấu phải ai cũng vẹn toàn. Bao nhiêu đồng chí, anh em bạn bè của tôi đã phải nằm lại ở một mảnh đất nào đó của quê hương. Họ nằm xuống cho chúng tôi ngày nay trở về, đại diện cho những người trai đi mùa Thu năm ấy, ra mắt đồng bào rằng chúng tôi đã giữ trọn lời thề. Hỡi những gia đình đã trải qua những mất mát, đã có những người thân ra đi mà không bao giờ trở lại, hãy xem chúng tôi đây là con, là cháu, là anh, là em, giờ đây ta cùng nhau xây dựng nên cuộc đời mà ta hằng mong ước. Tôi còn nhớ như những bức tranh vô cùng đẹp đẽ của những làng mạc Việt Nam mỗi khi có bọn xâm lăng. Năm ấy từng tốp từng đoàn thanh niên, trai, gái, đủ các tầng lớp công nhân, trí thức… lòng nặng căm thù, chí cao hơn núi, kéo nhau lũ lượt đi, số này thì ra Miền trung - ở đó Tây chưa đến – xin Trung ương cho trang bị, tổ chức bộ đội trở về diệt thù giữ nước. Số khác thì ở lại, tập hợp nhau, cướp súng địch trang bị cho mình, chặn địch ngay ở rìa thành phố. Tôi và em tôi, Việt Châu, nhập với đám sau nầy. Đã có những đêm, tôi cùng chị Năm Bi (tức Thượng tá Hồ Thị Bi, nay đã nghỉ hưu) len lỏi đến vùng Bà Điểm vào căn cứ đóng quân cũ của Nhật, cùng một vài anh em trai tráng, đào các giếng cạn kiếm súng của Nhật để trang bị đánh Tây, Vì có tin rằng khi đầu hàng, Nhật đã chôn dấu súng như vậy. Tôi đi hợp với Tỉnh ủy Đảng tỉnh Gia Định (tỉnh ủy giải phóng) ra quyết nghị tổ chức lực lượng vũ trang, tập hợp những du kích từ các quận Hốc Môn, Đức Hòa, Bà Điểm, lập ra đội “giải phóng quân liên quận hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa”, lấy căn cứ là làng Mỹ Hạnh. Dân chúng trong vùng yêu mến gọi chúng tôi là “bộ đội của mình” Để phân biệt với những bộ đội không chịu đánh giặc mà thường sách nhiễu nhân dân. Từ đó anh em chiến đấu liên tục trong sự bảo bọc của bà con, phát triển lên thành các chi đội 12, 14, 15, rồi Quân khu 7, 8… ngày càng hùng hậu. Rồi tập kết, rồi lại trở về. Và ngày nay ta trở về với đại bác, xe tăng thay thế cho tầm vông, súng mút. Ta trở về áp đảo quân thù cũng mạnh hơn quân thù trước đây gấp bội, đánh bại tên Đế quốc đầu sỏ mạnh hơn cả thực dân Pháp xưa kia. Cách mạng là như vậy, chính nghĩa là như vậy. Nghe theo Bác Hồ, được sự lãnh đạo của Đảng chân chính, với tấm lòng trong sáng, ý chí sắt son, ta có được sức mạnh dời non lấp biển, làm nên được tất cả. (1) Trích tập “thơ văn Nguyễn Trãi” của nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, trang 83. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:13:46 pm Ngày ấy tôi ra đi lòng nặng ưu tư, nhìn lại thành phố, nhìn lại đồng bào mà ruột đau quặn thắt. Ngày nay tôi trở về, lòng phơi phới nhìn phố phường đỏ mà cờ chiến thắng, nhìn mọi người mặt rạng rỡ như hoa. Từ Hóc Môn vào đến nội thành xe chúng tôi chạy cán lên nào áo quần, giầy, vớ của lính bộ binh, lính dù ngụy trút bỏ bừa bãi dọc đường. Trên hai lề đường còn nhiều hơn nữa, nào ba lô nào nón, nào băng đạn vứt ngổn ngang. Hàng chục vạn tên ngụy đã khiếp đảm rã trốn ở Sàigòn nầy, đã bày ra khắp phố phường một cảnh tượng tan nát thảm hại của một đội quân đánh thuê, giết mướn, của một chế độ cõng rắn cắn gà nhà. Tất cả những gì không phù hợp đạo lý, không hợp lòng người, phi chính nghĩa, dù có thời nào, có vẻ hưng thịnh cũng chỉ là tạm thời, bề ngoài mà thôi. Số phận của nó là như vậy đó.
Xe chúng tôi lại bon trên đường nhựa. Thế nào mà lại lọt ra đường Thống Nhất thênh thang (nay là đường 30-4) thẳng về Dinh Độc Lập. Ở đó các đồng chí đi trước đã đặt trụ sở Ủy ban Quân quản thành phố. Gặp tất cả, đủ mặt. Nhưng thôi, trước khi bắt tay vào việc chôi tôi đi nhìn khắp Sàigòn một lượt, cho đỡ nhớ đỡ thương. Còn gì sung sướng bằng đi giữa thành phố tự do của ta mới vừa giải phóng, nhìn ngắm hết phố này đến phường nọ, nhìn ngắm nhân dân mình hồ hởi vui tươi và nhân dân cũng nhìn mình với thiện cảm là anh giải phóng mới về, một anh giải phóng mà “tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm”. Có lẽ anh quê quán đâu đây, đến tìm người nhà thất lạc qua bao thăng trầm của thế sự. Một số đồng bào đã ái ngại hỏi tôi như vậy. Khác xa với hồi năm 1973, khi tôi là Trưởng đoàn quân sự chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt nam tại Trại David ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hồi ấy mỗi bước ra phố của tôi phải có quân cảnh ngụy có vẻ “tiền hô hậu ủng” nhưng là để không cho tự do đi đây đi đó, không cho tiếp xúc với đồng bào. Xe quân cảnh ngụy đi trước rú còi inh ỏi, dẹp người và xe cộ đi đường, qua ngã tư ngã ba, đèn đỏ đèn xanh mặc, xe cứ thắng chạy không dừng lại, ngại đồng bào xúm quanh coi mặt anh giải phóng. Trước tiên tôi đã ra thẳng bờ kinh Bến Nghé, qua Cầu Quay đến trước Bến Nhà Rồng. Đây rồi, nơi Bác đã ra đi năm xưa, chân Bác bước đi mà mắt lưu luyến nhìn thành phố thân yêu, nhìn quê hương xứ sở mà nghìn năm tổ tiên ra sức đắp bồi. hẳn lòng Bác xót xa phải xa cách đồng bào còn đang trong cảnh lầm than, xiềng xích. Nuốt hận trong lòng, rèn cao chí khí, Bác đã từ đây ra đi tìm đường cứu nước cứu dân. Đường Bác ra đi, đường Bác đã vạch sẵn. Chúng con đã đi theo con đường ấy, đã kiên trì và dũng cảm đi mãi theo ánh sáng chân lý của Bác soi rọi, theo tình thương mênh mông của Bác sưởi ấm; ngày nay chúng con đã về đến đích, về giáp với vết chân của Bác, đây rồi! “… Bác như ánh nắng ban mai Chiếu soi bãi rậm truông dài con đi…”(1) và: “… Cha con núi rộng sông dài Cho con lưỡi kiếm đã mài nghìn năm…”(2) Nhớ lại lần đầu tiên tôi được gặp Bác, năm 1948 ở Việt Bắc. từ sau ngày Nam bộ kháng chiến, 23-9-1945, đó là lần đầu tiên một phái đoàn Nam bộ có đủ cán bộ quân sự, chính trị, mặt trận do tôi làm trưởng đoàn, xuất phát từ Đồng Tháp Mười ra Việt Bắc để báo cáo với Bác, với Trung ương Đảng tình hình kháng chiến mọi mặt của chiến trường Nam bộ. Đường đi phần lớn xuyên qua các vùng địch tạm chiếm. Chúng tôi phải tổ chức thành một đơn vị chiến đấu được trang bị mạnh để sẵn sàng tự bảo vệ và mở đường mà đi khi cần thiết, tuy rằng qua các địa phương đều được sự giúp đỡ lo lắng rất tận tình. Chúng tôi đã đi bộ suốt dọc dãy Trường Sơn Đông, leo núi trèo đèo, vượt sông vượt suối, có những đoạn vượt biển dài như qua biển Cam Ranh và Nha Trang, suốt sáu tháng trời không nghỉ. Giặc Pháp lúc ấy theo dõi chúng tôi thật sát, chặn đường phục kích ở rừng núi Phan Rang, ở Dốc Mỏ, Khánh Hòa rồi cuối cùng nhảy dù ở Vân Đình phía tây Hà Nội, mong thình lình bắt gọn cả phái đoàn, nhưng đều thất bại. Bác và Trung ương đã cho đón chúng tôi từ xa. Tới núi rừng Việt Bắc chúng tôi nóng lòng muốn gặp ngay Bác để thỏa lòng mong ước từ lâu. Khi được gặp Bác, mọi người chúng tôi đều xúc dộng; đây là người thầy, người cha, đây là biểu tượng của Tổ quốc, đây là hình ảnh của dân tộc? Người có vầng trán cao, có chòm râu phơ phất, có cặp mắt sáng ngời, một vẻ mặt hiền từ và một dáng người mảnh khảnh ung dung. Chưa biết đến những tư tưởng vĩ đại, những đức độ cao sâu, chỉ nhìn Người, ta bỗng thấy ngay lòng ta tin yêu vô hạn, kính trọng mà gần gũi muôn phần. Tài Người đã chinh phục thiên hạ, đức: Người đã tập hợp nhân tài. Quí biết bao, trong những ngày tháng lịch sử này Tổ quốc ta, dân tộc ta đã sản sinh ra một con người như vậy để cho triệu người tin theo, triệu người yêu mến. Ngày trở về Nam của Phái đoàn, Bác, Trung ương và Chính phủ đã tổ chức một bữa cơm tiễn biệt. Trước mặt mọi người, Bác đã kêu tôi lại, đưa ra một thanh gươm rất đẹp và nói với một giọng ấm áp làm rung động đến tận đáy lòng tôi: “- Bác trao chú thanh gươm quí này, đưa về cho đồng bào Nam bộ để diệt thù, chú báo cáo với đồng bào rằng lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta thắng!”. Âm vang lời Bác không bao giờ phai trong tôi, trong lòng người dân Nam bộ. (1), (2) Trích trong bài thơ “Gởi lòng con đến lòng Cha” của nhà thơ Thu Bồn. Sách “thơ Việt Nam 1945-1975” – nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hà Nội, trang 30-31. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:22:07 pm Rồi lần trở về Nam đánh Mỹ năm 1963. Ngày ấy tôi được chỉ định làm chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam. Bác kêu đến nhà của Bác ăn cơm trước khi lên đường. Và Bác đã đưa ra cho tôi một hộp thuốc xì gà sản xuất từ Cu Ba xa xôi. Bác bảo: “Bác chỉ có món quà này, đồng chí Phi-Đên gởi biếu Bác, Bác gởi chú đem vào biếu lại cán bộ Miền Nam. Khi hút thì nhớ tấm lòng thiết tha của Bác đối với Miền Nam và trong đó có cả tấm lòng của Cu Ba anh em. Cố gắng để Bác có dịp vào thăm đồng bào Miền Nam”.
Có bao giờ quên được lời dặn của Cha già. Ngày nay đất nước đã hoàn toàn giải phóng và Cha già đã nghỉ một giấc nghỉ yên lành. Không là nhà văn cũng không là nhà thơ tôi không diễn tả nổi tấm lòng mình. Tôi đành nhờ Thu Bồn nói hộ một phần trong bài thơ “Gởi lòng con đến lòng cha”: “… Cho con là một mũi tên Xòa năm cánh nhọn giương trên thành đồng Việt Nam ơi! giống tiên rồng Bốn ngàn năm lấy máu hồng làm hoa Gửi lòng con đến lòng cha Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng”(1) Rời bến Nhà Rồng tôi đi khắp Sàigòn rồi lên Chợ Lớn cũ. Đến đường Thuận Kiều, chúng tôi xuống xe, đứng mặc niệm các đồng chí Lê Thị Riêng và Nguyễn Văn Kiều mà bọn ngụy đã hèn mạt sát hại tại đây vào mùng 2 Tết Mậu Thân năm 1968. Chị Lê Thị Riêng, Thành ủy viên Sàigòn, Trưởng ban phụ vận thành ủy và là ủy viên trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi biết chị từ những năm kháng chiến chống Pháp ở Miền Đông gian lao mà anh dũng. Tôi đã gặp lại chị ở rừng căn cứ Miền đông những năm đánh Mỹ. Chị đã tình nguyện vào nội thành vận động tổ chức các chị em để đấu tranh chống địch bảo vệ quyền lợi phụ nữ. còn anh Kiều cũng là thành ủy viên, Phó ban công vận thành. Chẳng may giặc bắt được lần lượt từng người và giam cả hai ở khám Chí Hòa. Trong đợt 1 tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, ngụy đưa chị Riêng và anh Kiều lên xe từ khám ra đây rồi dùng súng sát hại. Không thể hiểu được hành vi hèn hạ đến như vậy đối với những người đấu tranh chính trị đã sa cơ bị bắt giam, trong tay không có 1 tấc sắt. Chúng còn lắm những hành vi man rợ khác như tên tướng Ngụy Nguyễn Ngọc Loan bắn tù binh đã bị trói tay ngay trên đường phố Sàigòn. Lính ngụy đã chặt người chúng bắt được ra làm nhiều mảnh, mình riêng đầu riêng rồi xách đi như giết súc vật. Ta không nói đến bọn ngụy Việt gian không còn tính người làm gì mà chỉ hỏi người Mỹ, thầy và cha đẻ của chúng, đã lớn tiếng nói về nhân quyền, hành vi ấy gọi là gì? Ngày nay ta là những người chiến thắng, ta xử sự thế nào với hàng triệu tướng tá và lính ngụy mà trong số đó có nhiều người có thể xem là tội phạm chiến tranh. Không có trả thù, không có tắm máu như chúng rêu rao. Ai là văn minh? Và ai biết quí trọng con người? Tôi đã đến đường Minh Phụng và khu vực xung quanh. Đây là bãi chiến trường ác liệt trong đợt 2 Tết Mậu Thân, khi mà hàng trung đoàn ta đã vào và chiếm được những nơi đây. Chúng đã dùng trực thăng vũ trang kết hợp thiết giáp và pháo binh điên cuồng phản kích. Đồng chí Hai Hoàng đã hy sinh ở đây. Đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn “Gironde” đã chỉ huy thắng lợi trận Ấp Bắc nổi tiếng đầu năm 1963 chống lại có hiệu quả chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của địch lần đầu tiên. Năm Mậu Thân đồng chí là chỉ huy trưởng cánh quân của tỉnh Long An đánh vào đây và đã hy sinh anh dũng ngay tại khu vực này. Ở đây nữa, tại đường Minh Phụng, đồng chí Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) một nhà văn có tài, một chiến sĩ dũng cảm cũng đã đến nợ nước trong đợt 2 tổng tấn công và nổi dậy năm 1968. Đồng chí Nguyễn Thi đã có mặt từ những ngày kháng chiến chống Pháp ở Miền Đông Nam bộ và từ lúc ấy vừa cầm súng giết giặc vừa cho ra những truyện ngắn đầu tay của mình mà chiến sĩ ai cũng thích. Rồi trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí luôn xung phong ra mặt trận, hòa nhịp sống và sáng tác của mình với nhịp sống của anh chiến sĩ giải phóng, nhịp sống của chiến trường khói lửa. Phải chăng đồng chí là tiêu biểu cho phẩm chất và tâm hồn của những nhà văn Việt Nam trong những năm chiến tranh oanh liệt của dân tộc. Đi khắp các đường phố Sàigòn – Gia Định, nơi nào hầu như cũng ghi dấu những chiến công oanh liệt của những chiến sĩ đặc công, biệt động, của những thanh niên vũ trang, nam cũng như nữ. Không phải chỉ có những trận đánh nổi tiếng vào Dinh tổng thống ngụy, vào Sứ quán Mỹ, vào Đài phát thanh, vào Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy, tại Cầu Chữ Y… hồi Tết Mậu Thân mà trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, ở vào thời điểm nào cũng có những trận thắng vang dội ngay tại Sàigòn này. Cũng không phải chỉ có những chiến sĩ võ trang mà còn rất nhiều những người dân yêu nước, thuộc các tầng lớp xã hội, những cán bộ chính trị, những chiến sĩ văn hóa đã từng đấu tranh mọi cách giữa thành phố Sàigòn – Gia Định này, chống quân cướp nước và bán nước. Làm sao nói hết được những chiến công muôn màu muôn sắc, làm sao biết hết được những chiến sĩ vô danh đã hy sinh thân mình trên mảnh đất yêu thương này cho ngày toàn thắng hôm nay. Đó chính là những con người đã làm nên lịch sử. Xương máu của họ đã chất chồng lên cho cái giải đất, núi, sông hình chữ S nằm trên bờ tây Thái Bình Dương này ngày càng cao càng vững, đã viết nên những trang lịch sử hào hùng chói lọi Việt Nam. Hãy biết ơn họ mãi mãi hỏi con cháu nghìn đời sau này, khi ta đã có thể đứng thẳng người cao đầu nhìn mặt trời tỏa sáng trên cảnh huy hoàng của đất nước. Hãy biết ơn cả những người cha, người mẹ đã đóng góp những giòng máu của con em mình cho mùa Xuân đại thắng hôm nay. Đừng bao giờ lãng quên quá khứ để có thể xây đắp cho một tương lai rực rỡ, vững vàng. Vì không có quá khứ thì làm gì có tương lai. (1) Trích trong tập “thơ Việt nam 1945-1975” – Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới Hà Nội, trang 32. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:25:03 pm * * * Trở về Dinh Độc Lập. Theo chỉ thị của Bộ chính Trị, tôi cho tuyên bố thả tất cả những nhân vật trọng yếu của ngụy quyền mà từ hôm giải phóng Sàigòn, bộ đội ta đã giam giữ họ tại một phòng ở đây. Tôi chỉ gặp những người đứng đầu: Dương Văn Minh, Tổng Thống, Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng Thống và Vũ Văn Mẫu Thủ tướng ngụy quyền. Tôi đã giải thích chính sách của cách mạng là quang minh, chính đại, độ lượng khoan hồng. “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Tôi đã nhấn mạnh: Tất cả những việc làm đã qua chúng tôi xếp nó vào quá khứ, chúng tôi căn cứ vào thái độ và hành động từ ngày nay trở đi. Tôi mong họ quan niệm được sự thắng lợi vĩ đại của dân tộc vừa rồi mà tự hào rằng mình cũng là người Việt Nam. Có vẻ họ tỏ ra xúc động. Dương Văn Minh đã phát biểu: “… Tôi vui mừng được là công dân của một nước Việt Nam độc lập…” Còn Nguyễn Văn Huyền thì nói: “Là một công dân Việt Nam tôi có thể tự hào về sự thành công và chiến thắng vui quang của dân tộc. Tuy nhiên, nếu nhìn lại thời gian qua, tôi xét thấy có tội…” Vũ Văn Mẫu cũng tỏ ra tỉnh ngộ: “30-4-1975, ngày thành công của cách mạng, cũng là ngày làm cho tôi thoát khỏi sự ngộ nhận. Chúng tôi sung sướng và kiêu hãnh làm công dân một nước Việt Nam độc lập và thống nhất”. Chúng tôi tin ở lời nói danh dự của họ. Còn họ thành thật đến mức độ nào thì đó lại là đạo đức của một con người. Chánh sách của cách mạng đã đề ra là thi hành. Cũng thể theo đường lối nghĩa nhân của Đảng, truyền thống xử sự của ông cha ta mà Nguyễn Trãi đã viết: “Thể lòng trời bất sát, ta mở đường hiếu sinh”. Và Bác Hồ với lòng nhân ái vô biên đã nói về những người lầm đường lạc lối: “trong anh em đó, dù thế nào, lòng thương nước cũng không tắt hẳn, còn âm ỉ như cục than hồng, phải giúp anh em nhen lên cho thành lửa ngọn”. Ủy ban Quân quản đã thông báo và đăng ký trình diện cho tất cả tướng tá, sĩ quan, binh lính cũng như nhân viên các cấp ngụy quyền và tổ chức cho họ học tập về đường lối của cách mạng, về thái độ với Tổ quốc và dân tộc, về quan niệm đối với độc lập và tự do. Tất cả những việc ấy nhằm biến những người sai lầm, có tội với dân với nước thành những người công dân lành mạnh góp phần thực hiện đại đoàn kết dân tộc và xây dựng nước nhà. Chúng ta đã đổ máu nhiều rồi để có được ngày vinh quang hôm nay, chúng tôi không muốn phung phí thêm chút máu Việt Nam nào nữa. Chúng ta là một dân tộc anh hùng và cũng là một dân tộc văn minh. Chúng ta biết quí trọng nhân phẩm của con người. Chúng ta mong làm tất cả những gì có thể được để người với người đến là bạn, xã hội toàn là những người tốt. Khác xa với những kẻ, suy bụng ta ra bụng người, tưởng rằng thế nào cũng sẽ có “tắm máu” trả thù ghê gớm. Khác xa với Mỹ ngụy trước đây khi những người của đối phương lọt vào tay họ, thì họ hành hạ dã man, tra tấn nhục hình khó mà tưởng tượng được. Họ đã coi con người như con vật, tha hồ bắn giết, họ cố biến thành tàn tật cả thể chất và tâm hồn con người bị hỏi bắt. Một lần nữa ta có quyền đặt lên câu hỏi: ai là người văn minh? Ai biết quí trọng con người? Ngày 7-5-1975, Ủy Ban quân quản làm lễ ra mắt nhân dân thành phố Sàigòn – Gia Định. Suốt đêm 6 rạng 7-5, toàn thành phố rạo rực, cả Sàigòn sống một đêm không ngủ. Từng người, từng nhà cuẩn bị, từng đoàn thể, từng quận chuẩn bị, ai nấy náo nức mong chờ một ngày mai tràn ngập nắng hồng. Đày trời có nhưng phút giây đã cùng lòng người ghi đậm dấu vết thời đại. 117 năm rồi non sông ta mới có hôm nay, 400 năm rồi, thành phố trên giòng sông Bến Nghé này mới có những giờ phút lớn lao như vậy. Đây là quân quản ban đầu, đây là chính quyền cách mạng mà xương máu của đồng bào cả nước của đồng bào Sàigòn xây dựng lên. Đây là quân đội của mình, là chính quyền của mình, của dân, vì dân. Từ sáng tinh mơ, từng giòng người khắp các quận, huyện nội ngoại thành với băng cờ khẩu hiệu hoan hô chiến thắng của cách mạng, hoan hô Ủy ban quân quản kéo về đầy sân “Dinh Độc Lập”. Sàigòn thật sự là một ngày hội lớn, ngày hội chiến thắng trọn vẹn từ trên một thế kỷ này. Niềm vui tự hào của cả một dân tộc, niềm sung sướng hân hoan của những người đã thực sự là chủ đất nước đẹp đẽ của mình, dâng tràn khắp các pố phường. Trước sân Dinh Độc Lập, nơi xưa kia từng bầy quân cảnh, cảnh sát ngụy xua đuổi đồng bào ra xa vòng nghiêm cấm thì ngày nay nô nức từng đoàn người tiến vào, trật tự nghiêm trang. Các cụ già, da mồi, tóc bạc, từng sống qua những thời kỳ đen tối của bọn thực dân áp bức, hôm nay cũng tựa vào tay con cháu đến đây để tận mắt nhìn quang cảnh biểu hiện cái quí giá nhất, thiêng liêng nhất: tự do độc lập của đất nước, của người dân. Các em bé nữa, thỏa thuê thích thú vì không còn gì hăm dọa cuộc vui và sự sống của các em. Nhưng từng lớp đông đảo nhất, ý thức đầy đủ nhất niềm kiêu hãnh của chiến thắng vĩ đại hôm nay, ý thức đầy đủ nhất về một tương lai huy hoàng là từng lớp thanh niên nam, nữ. Họ mặc những quần áo đẹp nhất, cầm những cành hoa tươi thắm, từng đoàn, từng đoàn sát cánh nhau đi vào sân lễ, như sẵn sàng nối bước cha anh để viết tiếp những trang sử không kém oai hùng trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:26:29 pm Thay mặt Ủy Ban Quân quản tôi đã đọc diễn văn ra mắt, kêu gọi mọi người mọi từng lớp tham gia bằng mọi ách giữ gìn trật tự và xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tôi đã nhấn mạnh:
“… Non sông Việt Nam từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau lần đầu tiên từ trên một thế kỷ nay sạch hết bóng thù hắc ám của quân xâm lược nước ngoài… “Cả nước đã giành được độc lập trọn vẹn và tự do thật sự… “Dân ta ta từ đây nhất định trường tồn và phát triển… “Không một thế lực phản động nào có thể ngăn cản bước đường của dân tộc ta đi lên, tiến tới, tạo lập cho mình cuộc sống ấm no, hạnh phúc muôn đời… “Chỉ có Đế Quốc Mỹ là kẻ chiến bại… “Toàn thể dân tộc Việt Nam là người chiến thắng… “Bất cứ ai còn mang giòng máu Việt Nam đều có quyền tự hào về chiến thắng của cả dân tộc… “Mỗi người Việt Nam biết nghĩ đến đâu đến nước không thể không mừng vui sâu sắc trước tiền đồ rộng mở của quê hương đất nước… “Con cháu chúng ta, con em của mọi từng lớp trong xã hội mới cũng đều được tiến lên mãi mãi từ đây trong tinh thần tự hào dân tộc, sống ngẩng cao đầu, được vui, được học, được làm việc trong một thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nước nhà… “Chúng ta không hổ thẹn với ngàn năm tổ tiên về trước… “Chúng ta đã không phụ lòng tin yêu trìu mến ủa anh em, bè bạn ta trên thế giới… “Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử này là thắng lợi của truyền thống dân tộc anh hùng được đào luyện qua bốn nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó được cách mạng hết lòng gìn giữ và không ngừng phát huy cao độ… “Thắng lợi có ý nghĩa thời đại này là thắng lợi của đường lối cách mạng duy nhất đúng và sự chỉ đạo cách mạng hoàn toàn chính xác đã đưa cách mạng nước ta đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đi đến toàn thắng, đi đến tương lai huy hoàng… “Trong giờ phút thiêng liêng này, lòng tất cả chúng ta hướng về anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người… “Vinh quang hôm nay trước hết thuộc về đồng bào cả nước, để 30 năm trường hy sinh phấn đấu, vì nghĩa lớn của dân tộc bom đạn chẳng sờn, tù đày không sợ… “Vinh quang thuộc về các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, trung hiếu vẹn toàn, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào ũng đánh thắng… “Nhân dân Sàigòn – Gia Định đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình… “Nhân dân Sàigòn – Gia Định đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình… “Cách mạng là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là giải phóng khả năng sáng tạo vô tận của quần chúng… “Ai cũng hiểu, sau 30 năm chiến tranh liên tục, buổi đầu tiên của hòa bình lập lại, tránh sao khỏi có nhiều khó khăn trong đời sống và trong công việc. Tội ác chiến tranh của Đế Quốc Mỹ còn di hại nhiều năm trong đời sống của dân tộc ta. Bọn Việt gian tay sai đầu sỏ của Đế Quốc Mỹ, vì quyền lợi ích kỷ đê hèn của chúng, cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dầy mả tổ, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi mặt hậu quả nghiêm trọng lâu dài do chính sách thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ gây ra trên đất nước nầy… “Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi hãy cùng nhau đồng tâm hiệp lực, xây dựng lại quê hương,mau chóng băng bó lại những vết thương chiến tranh, giải quyết mọi hậu quả nghiêm trọng do tội ác chồng chất của Đế quốc Mỹ và tay sai chúng gây ra khiến người dân nào, gia đình nào cũng phải chịu phần đau khổ… “Dân tộc ta đã từng chiến thắng đế Quốc Mỹ, nhất định có đủ tinh thần, trí tuệ và khả năng giải quyết mọi vấn đề khôi phục mau chóng và phát triển vững chắc dời sống của đất nước… “Có độc lập, có hòa bình, người dân có ý thức làm chủ vào có tất cả…”. * * * Rõ ràng chúng ta đã biết có nhiều khó khăn ngay cả trong những ngày vang lừng chiến thắng. Chúng ta còn biết cả những vấp váp không tránh khỏi trong những bước đi ban đầu, thời nào cũng vậy. Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm bằng đại thắng mùa Xuân 1975 là bắt nguồn từ những ngày gian khổ của những năm 1945… 1957… 1959… mà biết bao những vấp váp sai lầm trong từng chặng đường đi lên, đã làm cho ta dầy thêm kinh nghiệm Không có những cây tầm vông vạt nhọn thì khó có những đại bác xe tăng. Ví không có cảnh đông tàn Thì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân (Rút từ trong bài thơ “Tự Khuyên mình” của Bác)(1) Ta quyết tâm tạo ra một ngày Xuân đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của ấm no hạnh phúc thì có ngại gì mà không vượt những khó khăn vấp váp trong những năm tháng ban đầu. Ý chí Việt Nam là như vậy.” Mùa Xuân 1982 (1) Tổng tập văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội, trang 662. Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:37:52 pm (https://lh3.googleusercontent.com/xv5mYh_EJnbjGb_hJHhiR5b9BKDXuwRr3hYqnI4mKx-suctjVu64qV9GwfCKttbjlkAQpG7M_a5d7EeqbTl5GfKVAW0S0KPEgyycA1wOg9JkpoCqCSDkoJ32hD2SaoKGNCVxmp4wZHgD1Ut6bZUYzFxvzTOX1LXJywmhwjMEujeuNR3-jNrzL9HzfKW0rq9neT8APS6Te1ssg9mHVLnYc0qp-k9nja4uaJD2Vr4SgN2aLFXKQyQia1cTdIVA3FwpD4MQqb4zcXVEU42u3fE02nwXKiFdvpwta5tHMGZ2t2DwS2EkxyGLe7OGDOwVV5dh9d56GSaXUZNlN_anat2-THSK5Aa9rQ0UVHfEF7ROxDr5OGUv0y9XNuYEjX2Kgc1azzPcISJ7tuUxC5T7pAp8D3AzPL1wSA_2bhWh2EMh1X0jcFOjh7ahyOMIj71Z4p9B9LaNVkuXWwhjEGLDS1eJC6q_ftD2GJ0EQv5TOw3bPke0Y6YJRn3O3-WK37MMIWya60KJk7TjtnkntGSaTxIZqG2mpqu-E5pnfNqAQEzTjDKlXiSHg5B5SUBcbsyUlZFP1P0kFver97J2T427p8bneYl4z6-sdzon-FHY5y0we6UQFInPcHwvMF9R5M_0Xoncd0SMGnwfnQoUuZe0Wl7JLs65=w531-h800-no) Nhà hội nghị ở Rừng Le trong khu căn cứ 9-73 (https://lh3.googleusercontent.com/nlH4tb6YxwTCynBLYHXokfJxww-LaXp_VU0IZJUs7SAOy9lCvx96DfSDAUhE5CNBenzAgoduRBz6s0hQmTkU9Cpe3EVuQmV725ud7LiTRHt94QxReRYEJC84Q4jWTtLeO1dRWj0vXB9giq8XCOfpcOgbFQ_DysgrJz3ph7XHbFEBt6zIndOKpdmqv_sTWhJUVyRhTp3CHYu8ymTZClZlLmykv4I2RpaHbYdRIbO__0W-BpfSf11kptjkeIJnPYNdtAXG_jTEoVnyjXTYCfxUMRCmJcvJ6-RglMNQX2RkfS-9qP4wsbSjyeMOehy0MwTSfHXReBNcUEWaA91X2UqraFkuC3zmaDdrNWr1pCA7zohyc7w_e8EbiM6QZ4pbW_Ee1eGIMKQRB0DEXuf5TIhi2niZpDaJynh16h5FQXoc4w0DcAUbPv-iGUbvjyPWFviH-D0CsKJjLDFZX1NamOIaK4O_BUL3M7QMtCiYeFzDjPPXKitleBFYqIDoFRJfCBpIfFvpPOPr5frPZFoGcxZo9KHAEHcOqA9aQ0oG5yX47dKkecMC5g-mIkACQbz6jAmIZXJdQzAcAZztYifw_vOU7HmzkbtY9d1lzyQug9BoD1znNBkgsxH0VCEDtvQt9mbtFBN671dDghXWaV2NYrTbd9a5=w800-h500-no) Rừng Miền Đông trong chiến tranh chống Mỹ (https://lh3.googleusercontent.com/1qmmBw0wZ0KKuV_-oWXa46sruPrPZUq2q-MQzlkXGJnnnNga4AN4oko1tF_ZMbhv6D8A_psmqZiRVwHvsmopYLXcspylmSXS5oyGvdkoZ6T3HQIzv4VGrAw8nfzoD_myLZFO2EUSm9k__FodGzGnU8ymSfc9Js011hN2g0MOLyCdQSIH1GBmI0o0Cp_Ei4boxjcNzTxf0l8jaMc7fTu9w3wtwy9UZ2TIoxuabPf6eN2lvKMEIOJbCrllqnJBvjabIY6Had5pUxb-6_w-PVeLSf3L05OEXWFBTmTXANoFzxaDAl7O-oCbP8FX6xW5TuXxyJ5gAV3m7aFofR_6Rqtl8MJYX-zx9bCetwZoZ9ntZIT-CdP0UOborBgfE-Jji5OgSRRGnYLXt0BhjATF0gMjmWQWrB5Gn8TDaJ-IXCMFm6Dl8793NFxRGCU3sg7dtmQovH3dj-G3QFQNtxQSXMphHQL4LjwrBLhRjShbIg-H3uZX7eNbuKPVeLuUyPxYoA9tBYOqVmHBlQZvF2AHTRUtjOuNe7ZJBA47naEwKFsbFqP6SMpbUiPVGrqIahKSimo14dANGjoxpY-_EFbv4_s6yDEv4MUd9i4XgLTki7FlyGNZXYnLqE5ccx-7sCdfWGH9nAxvR8qPFLQh2MuRqfyeGyxG=w541-h800-no) Đường về căn cứ (https://lh3.googleusercontent.com/Oh9Zq6cvkchrfI7DSlsL6OrChNH_eeAwi3ZKo_ncAUFujJ43ZqUp80IaIUroaJf2sO4bFJ4_rCUEQuLtW8MSBBNgLJtm4wvciWr2XaY_Iu90IPLfpKz0T1RbfaBjbLOsMasyNV4G0ffOp-GdQy6e5Ype-NmUHgv4GjPFLUdcfW80bvCzUwxf8t4xxUzZCiPUhvL0JUkOKTMUaD2KyvmuegyvP7LNcXUR-HyR45LK0DMrdvhnRUe7DTufP1OM0teLGUYj5EZMNl180NdxHB3lArrgPNxQf-A8qRFD7enNXEMv37srqdgsJBrUvwNUbxE_KKGEcisNmkVuoO4hzOlbSyTc2WNqoXNFQIUTryXkIxB-6Vi-gZihZ4TXxnPHOfi7d2S5h-AlZZoeWtelRrstaehVtCUtdMJDoSQvxrqlnQsidtRSB3Z006cO_9Si4PQ6UjLmic8R7lLIlIYODL6ltb3OZSZwp3i-VBcMSJNI14jqR7W1uQ0UwRkVZY3rFR8kViFtEuLTZdIS1LURadDZmscFkuqOixht45AhAdE4JwM4VWTwbDxwkUUkyFTGv3sqfepWImiaK2I_m-LQwgjgMfGI3UtlerFIhLkhf9brOVRY7XtnxQnpXVbVsiJfHtlFJR35mFCj-tExG2Kcazlr7IG6=w800-h503-no) Qua sông Saigon Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:42:31 pm (https://lh3.googleusercontent.com/L1vpH9_Y07_R4tBpD41696d-YOwwJx0HSmI-Dyf0ai1ZjdmfproTM3PA-74qxIErYbiwIN_65HFbIvpnG95MDl9qomBeOo8Xx2InjpGSMZ2v_szWiSurhR3hwsioz9QYZKxcgR-Jifmc1BdN4TBQyg1vq5zhjzOxkgBAisokWjd5ScJsD6TquigxYm6RlEA1wnEl8TXlxviHvL5UmeMrdpFThgEYH1RIpnl6pasNoEapJg234qKbl-i2kt9QRPam3hhYMYSAfrZxADMQM_bHXd4kJ7hTfi5MIyowRNy_DBm0jW5n-jaKZ9aoxzW3mT_ov13XXtck1NhWgXPYTfOEKxU6TNuCaI0MOvNDhD803F27HXoZxBR6qIzQELze6Ew5yDp9LRO-NTkZS4jhAr9MN0aGUFklt7eYP2BNnqTT5UHOzoPBzDDiJ_s5YGMjFljIzPZLGkMOxz5OZ5tVh-KLXDWhRHBb6pOwXPAXc2EXq3UI8OyT2Fn2S3agS1rmhvg-JKNUO-QGYR1IbvqrGyf7C3Zx6pLCoMTWrHHLpX7Xb8ZtiWknUSVoesxhYtV26Jf8ir8yZPnTLRFw6a38C3DW16fxUQhMl9i-AC3_C4kLpWntrVbDopSMKp5ZWnmhRS81rkZpGbFZ-A-0bbgFWLoXsLfY=w800-h587-no) Nói chuyện từ giã đồng bào Lộc Ninh (https://lh3.googleusercontent.com/GQWuOt9YvEY7_eJ9_1knYu2rEPqONqriVLg4L3GCbqtEE0lqHFt7NrgR0Fste2rvsOZMWPez3uVmLrSs3nLdfSkv71vTjpF18DdDvJtte5BcJShvyyk2ei0ZeuQyly1GLaH0sBbDaMblSGtCkmnDcWG4tKFJwTL-_kEqNctCLqTawFULRSmp-qaPWIQuTzimds-yZu-IwDcvncvYi9FQWPlZoUUecn6sUU_tjBsNMsvEtrNjDy-mDHr1FpzS5wcPCitvMBy4SVLOALEdSZ8oziAUstH7SM0raluOpfQVgiTYV9RhQ0Q_vSEE3fp2CIZUjJDKYqb2NO61X03-JsbDNlM_nzJ1DxHmEIaUr6YqzYETu7hXc-31WGsNcc1qdIh6_tivVohpNFP3Zp9A3jqXUcFMrdA2N9wIiSpe28oukzO0B0o2pFoWnCqTJADmMAxmLJjif4AX9HG3WsNOcNJCNhgFAAlwhxx7XdLAdTrCoz4bdvfU6GO7kqQujW7QzW9SoSOYUDIWWvUMr9gLo7el5oldbmLOwB5oPt2s2T8lEpz63eVjrfXrjH4jHRaewqkRFUoY6g-zQJ-GlIpH_a7sIEWeHiLzmdSRWa7lnNX6ngxnYIlwhGAK20sKdwCj62EzI8L6k4VO7KB47Lsl4Zuo83Wi=w800-h578-no) (https://lh3.googleusercontent.com/jsQCwx2lG8slAqB_pUZ_I-yc6wMD3b_3GRfFE1COpuZ-C1UO8ZLU8jcZUaKp5c2bqKn27tpXu9jz3IXpGn7WzLisIPveEH_j0RAByaxGEzkaNX5iB4A3LeSnAjMx1zS-OyqkNE8nEXbDFz1HbdjrytdLuQL7SuQtMMTE9bPRHzQOiEl81DdCOpex7KvIeBHns4eYQ0M0fgSlXQdrUTf8TOvi5GvbfqB-zffR5DLwxY4mXdB8sb8NtKiMhTrexrmPkMYKCTO2VkMY7jaDMKheEqueHkqb9Jt7OSvITDeZi1QHixw5quJRogsBHrBP3C38Tu80na63kCNHShzUi7dOR9mTIXXThivZlD62WWszfmePbtbPTtrBpIp9CZWnIRkO8a0rMgicyCHQm5g3qUHWyPFLBeaAuKpj2XkJrUiWUAKcXy-GIdXvlfoLzrL7Xx7FleB-KC7SdRYgkiKtiXFODys_rqteXaWGkma-E-uTtKOVu5S-jBRqA_C8nP8YqSf64EUSRjzk8SQbV1eH8SOU_03vQtwcd5c-3orLK6rXC3iqJtzGXOUeF4QbYZ6nMnFM2UGvQr8M8PGjyHrNJndKZrbclVhbSU3LBpGh9-jSHkGAC-w0sm4uADd7A0EQpwskOKq0rcj8OPRBWSkh48MvX7TM=w800-h412-no) Tiễn đưa tại Lộc Ninh (https://lh3.googleusercontent.com/8ieBQ_BGRtfc3MZXy74xja6A409bZ1EyfLKfArjUfl5k57L0BQ4noc4-iQwZLvmRH6COY0jXd3wl20dXdUD2U9zkUUB9QMZP1wSrG72O8IR1mz-9-c3UAKK9ua-iNqd5I3TZRBmCF3CMnJdBveLPmbj4Fgshx0Mx8tSygReJ79_rXXlB8jZ6QHA118WlisU6-d-Lh9VuW-C9luMsgM6VP3b62TIPmx1PHH6GmV9xv6e70ntAdulh9ETsHhj9K2lVB5lt8YANiUakQ-1FZZoCzkuY8hO8ibX1Bh-2a1o7NRYsEJ6Z5U9Itml29oSzBNNy5vTsYTnYLL-HB4pZqRPGlSKLGnUKK0Fq-7AkNLgJWM8ret3moyBZUpq8WdosKdcTMGG8P0_w9fgdCXMGJ0K8cWINJrojV4fDR5uBgJmQNZvn5MEA3eg-WWzTuOBjWxD7nqDqIPUXUTn1EIFpJ38Eo1Ef5N929v8cXR120zZJXg2xkxizWRj2Dzf8xPIjQWY523AfsoBztCbGfW8llgZwy1FZZ1dkuPoo6xM7SxjYRnLLmZNs-GB18yUj3yKe3jFfYr8vRVVI7rkPVln12_bt44QLd68HV8xjaQ1rP1ih6dkqIgNFenmqkKodjTekJXucLF-Qv10_GtM-C32ta5TTG5Mt=w800-h499-no) Đón ủy ban quốc tế ở Lộc Ninh 5-74 Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:46:47 pm (https://lh3.googleusercontent.com/DpHJfbMAKG8DmYRAKAAX5UCjDC68KvuaWkuRg1_z-Hk2yl6_TB8fx62e49GqqFKDhs9pfezezdG3WNH_-pRHisNuEJ3v6fqoNUWJGhMQmpY1Xd7Yzv7MQjQOuF45vYuwvS8j3ayJ-xYEJ88Mdrir82o8dbIMGtoW7ywU-XbDMpYj-9bM_aTjjl1j72q1bLFAwUaAnHZa64GmtdijLPFJOHm192CdYhsKmXWspYaWcwZBm3OzpcGujO-_qBily31H-ky8oF_UYwXwAJVi00nMYqyxxIrBW7MmGE5unovkDftLEGhpheBWBuu3joZmer1geYMntWcBF1xxhZ4Wtw2G5BZNJtGLTUloK8Gh1RljBG7H66GYqjHWXcbPbjXYtr1M-H8_DOz1x58YoG0SBlOZBmh4RQIaX7efdgKHq0lL9Zot3SDGmJ0eJsyI5HLN3a6GowEvkE2PJ9sxlusYWt_B7PQIQL_mApPaLW2fFOdqYDHZX3sszI4lJzmbBC2uODDD2g0a2JFt50ojFn2sOv6ze0QjOUes_sjwirU5uKQqIYbTRAf1h8hhrtbj95SL50U69vyT_SuaHIzqK6Y1GkUFlORPPVBQxw_ap1q1SDRvvmrrfSj9NmzEA1XIhaBaaSLOjooRwev_bJHznrP8eqXtPpPW=w529-h800-no) Thuyền ngụy trang xuôi dòng Sékong (https://lh3.googleusercontent.com/zDVlJnmxRRIo5qeSgJdxglFIyzblPiXpZbEgycwoFQ3zZOE_ZA5OXhaFkgjBUn7ZkXc6A0XXRXJWbqpJLSkCcHPnlAGlHDGa5RJr7ya1xbOGlnzdgJCuLleDNZzi2QHcsQQAShZ0e3XAE4Ltvbhh89fBsoEokqhVXJIHKOAQtyWSQVpFQZU-zLGEjQSqn0JrqvV3C2qpZld1XHkv3Cc0sMiEPgnb2cIic3tByOx0RdNMHSroaphMjgnkhpzbCvhi-fn3fl1UOe5h7GtfQpbqZVY0DsJfal3UPgcu_iiod77zp211AL1bZS0lhCQJwswD6FdPUvsm9oc8C7rgLJhO5pkdMjunhZajorAJMXY4CiGLR5n6YJOyxN3z4U_96S98YzPiic-U96M06xIk44x1LxM4OyiwcdZeDrbUyvhxmSvzOyRgzkNQ3tESZdgdOQihlkbjc3_9v16VfOFeNcIPwY3in4CHyZQcUaoFzsjSuVGSg7D1mYBH-69lTxm0z42hWONwVNc4x33hinLREFQ4wuuVDSWIy0dgUYQzqFjTB16GapFHUKDVZrF2eQ1l4DT_QO06CSR3XWyY0jxF19CTXvzIrQBHJs4rY65vvR-HDXPlCKHEn5lIRMZDArcnk_ZpNZay-3985_FPd77wHX9quDyd=w800-h521-no) Qua cầu Hiền Lương (https://lh3.googleusercontent.com/y5K2Zbx8eTprarqAtScetaTOD23l7VxaxuvOsI-yMey8SyZXPqQFhvqAMPdBpHH0nakOC6ntvSOyP2kpx1AvTBL0d_B-X0oN350z1gBfRsWDT3eNCA8b5ttpAl1U8hGosxFt27F0eFa-dIfcrThN8Uk41tU7bxWKJSxy7Ff5hAsQ34fQ0zvay0HE-4gnP1aErsoYwkWJHSzFKktEGUj7PoNJzXQb2Vx_dlMmgb4j_hwkC-Lsgfmac43KsO1FnP6S-STjB8pxO3vbvTPg1_KCPFZ4epavTBddp4ydIq86PccE9ESHKQGymT0KFmA6tfnkXFGMTW8Wv-zS9ggK5Wi2dFvfDj5xLeAqpxHoXIUI3bt1fnwbzjV0eI_JNgSyMMTfZPbue6MqjHCSy1TWBye1t-aSnoJaS7QPFhUGRcJftp3WZmKW9bmn7kE_ic539XGg-gX0SOFNECxA5tQefbTBJCXmeRdiR1BcYgIU0s0xf4hr3C2BLbU7dywml1eYxKC6ulYEvRgrJzH_ta_qFRMohG4Vo-CF8KqnSXOP_trBZWVSqHAS9EK9DWMuuPm-62zqIgWrmJH3-VgvCF9Jq1ge3k9eDuOTkatZ3lUoNFSELkqVNNxGjzp4iA36U_WIu_hCbP05rez8BHv6ZKSHAr3fQToB=w800-h520-no) Giã thuyền lên bờ (https://lh3.googleusercontent.com/_EJFZvgFyee4_24eWM-XZCtM6X-zwIDgHioKFs0zKa9ZEbBhR4VcVeCU1YODwRP3-Y1nI6jq3NXIQX1nni-pbnvcdblEsjGnfAsMVx3Zas6rPSOaoOt5_1aDmyvefi5to2dJtw40Wws8flvJjbtUxpVJ79mL3vwEJ9oVjTbxjdwcaMJ8jP_Z8JIk5NMU0q5y_2jawS4QvBhEH88xBIH7Pgzkk2j5NSfkpJ6k3n2NexPBZWiRKyf9-yYSmiLHbojJtiwRK3WafgrS3tDvddkmJ6NI0OY0_oyopxdDxsrY0kwjJ2nAe1_svW2s5HYJN_o-cTN67ABeqhfz2nNff6K9gPUUJetA2FD6MsxOiNk6AB4G1IzLm7ZzaOmN1so2hTAvh6J2SoWlXEcP49hZwIUlf-ia1UVhUKZtIPPt3aW_70X-kRB6SMU_BSvV0MWscGNoL7-WJoJ8xegqfOIaPWwMdU72k0tRziJgI2S9B9rziB2fjo_5jhK34_2zu8hRWTCYTxfP9P-S3lrKNprLTUkvWM8-dRh6CeZ39kecRfqLRA9oHrJzHKTItJA_1_wbyvEQ5nPW9oVDAfVbay6Ghm5doK2C4525fa5RGPVNYWI3-2mZoSU-MC02TGNISiMYNFTjoIdLDecDrAyqT_-Q9t3F4Gce=w800-h528-no) Đường xuyên chiến khu Đ đi Xuân Lộc Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:57:06 pm (https://lh3.googleusercontent.com/IBJWEMf1Gj6ZIaqmhlViYhMfKWTA9vZsAmMpvwshMfljtgMYwNY6xSihqHcPDynMJIOIp_JB0bpBCjUoPKvz4UarerJ6udZGJYyeR7Uymp6MHyBkIIRJWpdPK9O7hknoF0cszxp4pq_n3M3d81YpL03mBvR12AExFeYGydzA6uu3M9VXgfkyMPILfXmLXuv6XzW80UxqjrzLYUDIQ3-zyxajDuxyHJomeh-iXjqgky0fSHsnb7u56sygA6gNkrcC_ApVid3XL8MUFZJWTVbzyDf3BeOQN81iCBWD_CfrgOF152sfSKTF9tSxC8IZjyrKDAW59lI19VpXC13OSxs33EYMUTzrUR6oU8CmUX9xSWVwGztWeBrtHXoOlOnpoxd9SdPSVTnKByWnLGJbGHRaLoFokPOTsDJSEm9CuZMmLIk__WgE8aHMxoLJ_DGXvs1U_livc4ak7m3H4s6CK4XWKHasavByf5CGThmSOefbIDAkvLR881AJOFLNa8AD8o6RIp6bT1gKF_EjfHG8uelIFS0wo1TsW1OoDYR06MShlQ6r9HnZ-Nb_lfQBhvakYX01YhwgHYPJxDGVEbyRZaVD0XC6B1X9OmD3qU6E37jFjdx-0hdOAS_UoFCLltGtXYq0o7jbLcLbWH-afXXy46YH3qoB=w800-h561-no) Nhà riêng trong khu căn cứ (https://lh3.googleusercontent.com/SQb7_8RZrfVNuXkoVFqvw4dk10uEHmu0tJbqg8mDTqpZEEXKPFz9M-U8ri-QV0vdxMuSMYdn7915CeYPIyNQZDNlphSOcsWVvnSTHuZmcZ-rut4k9a66e-GENPscQNqtLAp3Gc5rtcNOTh-Xoh6Ulb2GNMY9fSfomEGgYWeUy9_10dLW9ASd79msK7wGtR02wsEjRhq9j6w_ct_Y7N7zSKbiFAN57BOPCZKmHD7BERLOx6UgmLN6AMtsSvjGbXYTJlUSPwyabG8uDMpeOtikKr8z-bbc6jSu8aee0EyK1nmjHWNJpQ8aqV9aYGuPFghhOk767i0u1kGPyNCMvIc3TUrDp0noLei_TQ6Uq9MqmiKBnbcZzmryVBr8slnh_96b3OMzeT6BDpR3mXLNYahCkOiBjFuKY0AXKdH0xMYNpJzRRrfuUfRPcrjF--FpQ3XCeNzl_OM03RJKoC-tJ79LOXNPPOrzxZDb70orDicgq7kJUiJwCMq9c6BhNaVSR3BfB6gjKIZsxGVetG_McmGP6agskSz-_mzTGNMdeLR-iSmhHDq8qUzJRUJ-23RNkvxyl2JyxhWj5vtRI7t_bxDcvU5UTGIoLS3Qgnsu5P3VV6NFF-vXNCtp0eGHhn1Flp34HBfWJI3uZInFtEzf6TEKWZhN=w800-h516-no) Đường rừng miền Đông trong chiến tranh chống Mỹ (https://lh3.googleusercontent.com/p7zY4CuyiKs5n0yiV41kFcLS0sYHoe0xLJCpF1HuBggQmhYpALFyn8H74sN6AwjxJrnfCCcKXBNSfLs7gCIxH3QaxaTr8i__HqhUFlXGtV66nNuqghbU7GbjVC4ofpaVtvPydPVbSsHXkJFNbBxUcGrTFST_iweJ5oRoOFBh_d0gNFw34_c4CFirREOrFSLgRr65d9ZGHYB_RtKw44_wtvoKEhWKyCLndVoPTiFV8sccyVgp8_DRMkujC6GQkvOUK0sfkDhbSOVVYvlWBgym6iB5qw-tojl21shWVmZIe-RDPPTuqo7pxhEXc42tsfWh7NHqFD5MXiCr39bULnnuINYdSGOu48RXjYBM78hndgRaIszBwpa8H09wdjHeqhkSQO69MP_153dx_onFNaVw4hmKSQAFLGOnpZuA5xfz-C8sa-jwdrETIPhVLCExL8Yy0XXvUw5CEq2TvMC2UR4daNr8Nu6f0-BDIVXRq59VebC0AE8zYOqCP57McwVAVlfs2j8CQI5ot3WTs0bywwoRDuXkEq_heuhbES5iBeKeYfgktPfD0zI8kKQk32WPZl3HiaxOKFdpEOOb9vB7bkI6OHxzrV7kqY9KfJqDqdX_iGPL6hQ9peK55NMnIAHqT8sncgH9U68gcnjiWzytT0OGa-iu=w800-h490-no) Xông lên giành thắng lợi quyết định (https://lh3.googleusercontent.com/U7NJ1KRFtOwBXsUtxD_oIrHT03USnpv3SjFzCSqksmZLqRWlH7795WscOLuom3mW3pkSaQHSu3t7NbIOopWox-KYsUgBnsKLUJAuqyHVYwBT1p-cwKYQ2JQDVWB-as2xk3Fv8T7cMj_qM7Oa2C_PdQPCRkGnDOxUb6dsmgGIsHqDpGwL7AwPAMkm4zk--gIqV8vZYVPxI4cotcyd-n11puEb_-SWKNUyCM_QIUaayUmnRMaJW_sEXcxe7TjZZX5RvNx8AH203iYrBBiRlFIu18am5MGk6dqCWCJsLOS5a20lsgobp8NQ9WMgz6bPp56xAC3ngaZYHxfn-ibgaP8uMJ-UcnNLDiW8Eb7XtklKCf7ve-_V8yXcrMtNCej7rnoXQdDBxlEgsA4ThIKPWzD8ZuBKtsf1qNjBfgOxRk4gYrQqR5dYC3N22rDl46bxEKcKmFlWD28wGwuNHeLjaKcoOf9_IWYC-mobpzBAX--IrA55bj-vfXj65lQrCQbn-qP5tsWeCvCncpioVAxaAOVkQzBkupxeOag3DbHMFn6FtHGXc3G9mITTgQgPqXrxNLJlbMAQa5zkbOu0JeK0LR0i-E2dwMQpljrLkB3cBpDWQ-6RZZEP8I8t05YksZxfQK3AQyLtHDTeihJky4bmNivOpKuy=w640-h477-no) (https://lh3.googleusercontent.com/6b3JOs9Lg0tQUjCJmFPgAnKuULT3vBNfQU7BZue2EfyO0Q5X11FFd0hl8mksGRRDaUv9GzNEG7HyuYcYd7DG0NJRtepZt9Gv7MWdKB5b40u_P-nEudo-Aj1oCLmOKzbjfr0Zqm5CXHwenUfmGGI3buDSNW5bUnMbpZ9aHNlT7g_IdqOkzhQmYrB_bEbvAijn2mCpuf1EdFIVRWs1nqP8dI-WgtRY4mOYn6R2LJCt5foJ1cjIwWncLN3gL7ZbRGendBrF-_BtkEveKYAzcPxNv1Bb7cGynunKvr7ahBotmmKiI4lreyV9eU54BBTEX1itYz6Q-7naNZsUkEJD8gDuZC3_D1dEPxqti6c73Y3Eo6LyR1nuvwNJmSRUfnuxuk5fPR6GRM3MOHHVgJPeW8E5JkJGIY5-wZ-mooPoN9kKt0ln711qwaLVgmS2YhSi3LfbrTXxD-fazSSzuLS7nZc7v_z4W__krhxBh484ec8nZw33QsnMCBJLm8pixyOCJ31Vt-y6uM31CKwvhuZ6dPnuMse4sbSoe2gnXarsQqSXPs2XfWfJbROc9rzyD4uhZj1Z7-h-kPp3dk9BKKlbpR_fKq5ZbQMp3ZrgoWBAQdsNR7RS289DV1w8uyAT28rcTO15Fdm_QuvSERA5o7pq5vmlbDoS=w640-h387-no) Sàigòn 30-4, 1-5-1975 Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 04:00:12 pm (https://lh3.googleusercontent.com/SFHg-_pZCT7tfRHdaunHeGqchmzTaIeiWfUm4NJQAVc6IyTIU-oPG3glk81NsbGuQK4AEhMMhBlrd1vTQ5dlS0YFr_0Md3HR-B_aSCjDBdik_BtSRfjoNOAadDjh_VImCDBpTrU1ZQEuM_QDbU-g7N4_Yp5quHaWOU0s4MnPUZsu_1vFqMWG5SAtU9SC1vH-QT_taaWCj4YHCpKlLhV5LzRoh-HTuo2fgmWdCcN2725_fozHSWuuUD287B6rFdLI6VOUViFjnYdJBFX0I4TuQ3Sw6Zs90sE6oYypsHvSCkNb166j9zQhyHzEulsddG4IpiuBSK3XNNmH8A7BI7GRQ5jERX-E3yjg9uMZsOH8U-uuDSrv4WQtua0sGc1i6ArrIYH-k8OdPkEQ2ju7349b-uWDUitSsaMWWz6U1dSSgqSl3s-l_hkP7yGGFQ45gnxy_1X1RNHbRuY5JxhpPGJ-cuVTqrEgEfKiMRt7fc26J1tDw8Kddq_2WiyvMznlqnDtnVutam6iO_AXM3mKR3hFD0TDIVZKuIvlrjm4J1EHVwSZGIfRFtrVtYB59A4Czo4X7YIK9xuZEQumBH7NvMuyeahD7UPXuF3oegEOX9FkUNhbxQH5zWUg8xUumGk4elaojWWEbcpE7uOv_E_cMc2KCq4q=w800-h505-no) Sàigòn ngày ra mắt Ban Quân Quản 7-5-1975 (https://lh3.googleusercontent.com/P645tS8bG0uk6KojAYMD6duyqbKm4UPg7ywHlTEMNBcCd-wVSXVwjKe0LHtRls0x2YM5oYdkqnn4YU0aiCuroG_5YJwLVr0GVVVAr1WISuGFsnNk7APDkCwCdqu4ocoB7xbByLSM2hTdzzZ5N4_tJYSxrksrUKL9TdG1aRn1iWmCuG_UJB606dLV_y8YHBzwy4hc-OkaqnqIAxc5uEzufd5Q80Rm78yW2_tB9s2DFR4omHcKyr6aCNYG3XpOj67wc5A_x-tGmzMHaGaJDpFQ73afp_RNUENULU6XtPShHVoKwgmRIzRJYix1o874MvdOJGpx_Ivv0RkY-hjjyxFC9Z8mxfINGZvG79P6o-sTVX8gkT9Ru6UtD3HL_z5l0Jc6pbyQaf3gkBQjkLe_ZOCxWUq8OVyErOF-ickabSsp13XXoKlKA0z6JfQg4uRJL5MbrcBMggvMEVs7cGF3J8lwKZmIodmQnROQgtlqBROmEvAy0NfpLWYECe5A3e5K6d3AeVurRFtSh5H6BjE4v_GJPpTENN3qI8tz3gTz0A5oinBJgs4kOF_yE-kKpwfaINtaUyc8aia9b3Htkl5vWEt4O12haDc_3jwkPo1cPyTWV9MY_3Uvtt5STR5_2ODnahan7IrzWK7ZuwPMoFMQ7YALmqUC=w800-h564-no) (https://lh3.googleusercontent.com/3emrl0GdxhcBRlkalLg3ZGLAdF63Cr5U7OX5-_YCOHYw13hzU8iSHeW-XojsU0ZT_LROXAJpQj-aNo8Jcci6vN6sCgIIvvcvZnje7SGSD9cc6Ku2ZUWFuIFUbq_ia6GG5sM-bDntrd7NbQJOx0SHItiloXn5l1w7x7RvsgO4B1DOByIegkP-tBGjq-1D0ftrn6PLFJh61sNe_KJSRtkjeLvmd7y0DGKynUhFDNQMqzNRkPPGLSpzjBixUEJzMiYQJgHOjt60GW1XPgPt7KsHIHKMsk46oxKe3aLySOdlxyqSUGlDB5GvDANEUMVuOPsQSEtHWVrnW6BHwBXKNmNztC4zaeKms_te85sgzKcZYSRpEt_a5_rzOPyHqVE8htGgg8GfJD7uCWnQAFkAN4oBUHT8EfAhgve4sW9hku0csDuDvEmqMJMyb9rG6iKGQTrwBc_MNKcYwm2Izq2t4KAAe66F1xVrAFqPfltaIYpgcOYTD1_RgtnaFdtat1zI3lNH64MCb9f_T36hqecj8hAHAdacz1EZBjtcazn53W8P7R0u6GX04jy0-Q4MAr3vPGqadqfMvclXhorPGgiY3H4O0ZPI-cQV4jdtLUQelhm5c8Y1QuKjOF-WzQW2jn765Qnrbz3Wz3mlmzGmbvLEIYIveX36=w800-h573-no) Sàigòn vui rước Bác Tôn về 15-5-1975 Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 04:04:32 pm (https://lh3.googleusercontent.com/jP8oeNzCKbCLzG1WdTnl2_n0reMIt-PaWcCAa6kTnaypPwrgU2FymemE8qD-eaSjBoSGv5xeezf6sN3-Sm6cARCKmsnn9zfeCJcTs0GKFGmXJKO-37mSg80gBNa71WJogAw4hiH5zA-gOvkNqUarQ-TUeEmF-7JclsPPgy8IdBejN2yE-mI2kjWbyDxmMOZy9LWa2vEzcyy7I0FovQQRBGIx-Mbn0WLUqwAAwqCm8bRzwV-8I0WfXuWDn1m4FFgAIa-c-nX9bj_EIgqoJX10sidISh0u4-KYRQljpUTPnjLhOzq7hakMuk1KRtkQ357nGphFLRDoS2kW-1369TDzDI3DDqe4hmy7mMKTXdIBKUj6hpslugY3bg1mB6GMsiBdY4KlXjYUHhumrv4kvx7GdzsQjelnyQW5DDaoYDw952KgD-Hqd-agTthUm7xvQ2_9YtiSEGFYAGBcvyrm2C3KxUgP0jo-B0eDO1Frnry4WytGZ81OVzlD1F0w9uesgSq5x9vU6yD4v65cieX-IwiKXa5Vg7MqlPVaYVww9LRNB5lQN7sp1sAvpaoV3VuDbgZ7LgY9Kn2LZpjZGaNbKfWAuBQ5UjABHlmpSRdNBchtPivg1pQmEuJWfJHsSivR4JT4BQDgpaC1GHAdy8fCrrO-uQrF=w640-h442-no) (https://lh3.googleusercontent.com/I2JH44NeCRabMcliIgg_JbXrrUXoROii3UgLBIJU8z7moUltuq8ZPQwG-lgRKXeouo5Dc9ri0t3-Nclbv1_GnuNGczh6pK_d3bXSeVtN_AihJZEVzBKqfuRe29t4ULC_1J-MnOg-yHYGjwpMkErWIC0WIXFGBCi2b8lIi9G_9g4QQjx2yLIrVGvPMxzHSxk8VY3G3NR38Jj87jJPahhSe35CQM93mAjr6U-J2WWr36PnhA95Qv-umU7sRWHCU73UFv1QYe7kBiDX9iL-rUuH1qxJf0vo0R95pFBME9pgC8updcTHsV_akPw3W05i3vjH7PaEE-L7CTEZYtJnN055mviTob3I4CxaH_3dTgkwOfwWKN3KI4BA23VCrSjlJ-7nFvn1nMwL3NOF6asMh0wacA7fycr8lDTNeldlvYTZpc5rnhBngAYOagZu_bjpK8TLf4ZzOFAa4mf7oNdUmT7Nua4TAA-to-qh5z4MPvrSYtVRFxgdV7btCBn8BTmDepgWBCElD8XiUa_WcfHhCNofwkZXOCKkibkkxhoeZtMNTyaPckceHtOfzPBvS9w0Ado7lbeHJlMETuWNk7yRw9KLLJWPamXThmknJI-keeuHSXedw-51yzgi1lmFWtDS63iBPugp1g8UcvWJzg57qW5vALsu=w640-h442-no) (https://lh3.googleusercontent.com/A7cxW8E4866YqSAjsmCfZWs-NSjyJPQ3S3tUEPJI7PGCHawyoP24877qQOS2EZs0drMXETxumZ60Z6kC3VW90UDZLPvMK3Xe9bR68FjYQvPzCXCqbJt7JYQcvcxEOzLgSXw6K6LhrSd9FK5h3jJTu3p9kYQIgdMrh7kvdO6iihyUgm3tlGS4UdRSCPwLizvZ02-wjI8w_zeuTO3qPu_XkmzHQZ6xblQdnvDoaUqFQb6vE8P9AmTSRqfUF9ur13rxc7YT90Zl9yEesuQXG4VUDZOYaHScwhVgqVMQtZ-c6mxKODq7o6wF0uLALXSY6kOdWtc6-Of6GDmmRlPrUQQBuI1oNs1y7Pl5oQdptXWBhJlJiTy5sXneMBQB-9nHFU7Oz-IrLFc4h6w98TpYjZn-UmOmguTjYiM-4vXTne0WtEg2o4GfEgcMuyvAAoOjqTti7t3K1IdaCvp9_mvVcyQk_9yfSJDiYHpcoMJIe8XVaAHmcq7u0LVVn3CAau2kDZrQe5-LCZ30RR71dNeFEQZ2p9Mrq4_PZIVTLMakBsmRcEXpBZPeC6GQJhqIFSqoOIZgM_ycCwn0hKyNPPONg2lEEV0woydEWa-yatg9zVJk0-e01tK_Jz6yGg6VocrWtAd8noJTIhx3FDu8665JRs7gb-Qp=w640-h440-no) Biểu dương lực lượng ngày Sàigòn giải phóng Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 04:06:58 pm (https://lh3.googleusercontent.com/UirVtUpe-v3o4Vb2wvVrlT0edd2hq7gLN_jrMar02RhUjpm_4SG7DluA5oeK-O-3DFYQ_WcP8wgzouzl_KgJL2hjopFnwtOdsDJuyvMCYiJ6nU2hOVAstyH4HkIvQe2Y3VVNpQnUUDDTFzbskIrTowh9GYqWWR_cUxgZtAKSCSpSg1o_pkcB4-uBz5Sk6f_6nb5pNfXe3-50mNF1Vcg45dOxctY4BzET4FNn1gUerd0-gYkVkMstUlBYF5YTfde9Mnl8NFARDY6680B6P2eNOMn4wvbwjwhPY7xMMSsbHH7RZ0Vohm_SydlJScVDi6hPb9v_BtpNR6fW2Z1nf33fyDqEAhHInJDJMtgiAeeJo0LJTB795eW_orX1w4dE0iUtBC7vwY4gMBU3fuiQrn5t6LqP1sBh-3fHc0Z_kfLJrvIXItoYgPQ890U7n6Uobsnq3j92vpoDL3GUhNE2P0J1qm4NVTFNlHSo3wKT-tS6__GvU6AaL5o2YR6-IQyi3OOVbXPHJ4RMJ-OxeHF6LvKKIGpIvuoKiwGErrQgjQl9RV2HEU8YSHhyRjgunKGKibe-mPAl8h3UdYgT1mx6A4ZByjwF1UzAJTbMB8XvYI9OzMAWDfwnOMzfz9CT3BENQAC6GcGXkgXuzivfyJfoD1td5A-F=w800-h515-no) Họp báo tại Dinh Độc Lập (https://lh3.googleusercontent.com/PgeNJfGB5mbQGqfQAPb2ireHGbqDUbHqjeYBX4H_adQ12WJDD88VvbgONzyN471TGQC_UtcKMXdWSeiL47vwqxVOsf1xaaW5KCttM3k3tD_eRSC_I9HhQFbksUewDkdL_crTOT1kXGKQDe9zeB_NW7j6iMG3ROGZBeF06NuXb5s_EDwSpMZEMAzb8vWQ-lOwAc34bizCJALQKHhciYgi-DhyUmR99GObWzTh2d9vGL8HwhE7Z0SyWhEhBKfUGx_sD_wN-rbt7gjMmVww0bQwT7v6_ZYbSYfvNosR4HbO1xbTsU4oY6kJRkNDOhVE1l5I7XqAHc2zF6n0yEsncHtDGvQ-Y5N0P3wLP-E793Ud9BH8YB8JBWcUiL50eM2uexh84iBSQRvdmOMyQ2DMoq6f3by0mg_3OCj_kxnR2M4osG285OCF70DE-rbxlDLjL5cgfgDiYRufEOfElgPrhXvaJczacwx0KC27NAiAvOqiEBdNEQ7OZiJPgU96rdlDihz7uzlGyP58O3HCqXGuZOxCKH5BsP1WsB0IVN9enj4rrwszs6B3-JrcQmsQ0J6XELxYfiTlH-HanyZzs3h9QxMcN5oQHbF96WD3UroGxd6xnhvJPvyK-ln7Wbc1J6-Vq5dfuc1kBbWKHnmOsE1GdKtmhFtE=w800-h567-no) Lễ ra mắt Ban Quân Quản Thành phố Hồ Chí Minh 7-5-1975 (https://lh3.googleusercontent.com/1isdNh9NPC2XEM2BGGjPzT7mWxlCIcKgilClwacJwdmJbOML0U5sQMKVx4WiLLtFS08d-peiHtZP20Q2qRzjunBRLDSU5-J84Kap5qhk2nacgE2YxAl83I_Rw5tm0VKEq3ncYeW-Y9jFdP5Yw3yDcIcaByroAzARTEIiulKi71BwbWGLrCedGyHNn0q8Ncs_xqRqEKMXzz_HG7Jzg6PzX5o9K4_1tR_lEIyCQmGpLDMarG0z5tyPDuNk7u4OfbzXZ75lv1mcIktrfdYShI-OLaBLs92QZS2kzsF2hGcilDPaRA6Q6yHW-UWxJH_NDmu_OBe4473Omsxw55AMXyhg5r1SA_z-baCDN1MP24H5r1D9YXS94JzeG09vNoh04dPUDiKjAFi6Q4kmBoOAFZ4fYf0qyD225l55jUyfgwpCJajyYA5_zB4G0wfNVmhe0_tT0QwPnVZYUUo7dLzW13I9XKx2Dg1du6v2bjkX-zgBfnBYp7MErYIo2ijVR_cd2ci94z2W6HocniK7M7f6f8meg3MQwGH2TKqsR0Uk5sgxBu2_b6HyN1KI3IH5-jCMeNhq35oxBdX_Dm0zOwPAcDhSxRidI5SNqyAXzKd2v_mdkxMHgf9rIAgq2SnQ1OPdIqONZynLv2DJwL7HrRUDPxwbO303=w472-h640-no) Tiêu đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 04:14:08 pm (https://lh3.googleusercontent.com/oU_LVX-zIUrXMqvYeg2h8v-gY_F19VDzP46vXbD-llrZ7Pk7bmw9BUxhjYaKz4qgbxsATlQO81P5xLfsTNnm7CCdy2mPFskpA1CTY4Iq-wNF48rNa3IrSzTdDgWL0qPDEagkCMWJ5F1cds_HOmoE4RshhcTb4Qa2zXcJAJSokN1Bhtftb07QiJxuS7Jg9EBmX-Ype8rlwvk_V7Asw_H3_5sTrTPDVVDK8m9Qugp33BP07moSOVkjISEqqW_lLMHREM4KAXPU7EvlEQaVXk8R5nUVUl8O3lODb3efhjbFnSE8snZvSZ8S7KiKLTik0ugZPwKIOYRDgMWY9dwYT9J5Sv3LQ-Jbck3B-ItYcgfHZIaD02yy2dIS3A6D57TRNOwVEyBdwFEmTxQTU6EJ48y7ZlOO0fDHB3YEAUDpdGRhZeqcbj8_CwhkdulQS385zl4y3pyTWNj9kXoahTJoCyCgMrN8tes-8jlW4w7kDOf7KBrLTbMxVkawtyaFRE4KwV9PzQ5Gybytc-zL-kQG6yty0CUTJeprbL0Moe4X0wYPOLouBM32BMJfcdiUbg2iAPTc_IG0iroFxqVsRx2uPynieK5WkdRzARvN_40it__-7WnjJoQ0j5SRwqqHlB2nA4SJDp4zIDkdbxKp_11az_xF9F78=w493-h827-no)
CHIẾN CUỘC ĐƯỜNG 7 NGANG (BẾN CÁT - BƯNG CÔNG) Tháng 5 và 6 Năm 1974 (https://lh3.googleusercontent.com/3iCZ9sHAnGB1o-nOPvjE35tqpf4TOyCCcY1U4HvLG64b8VKeiErZ7mWZmw3mVsznwQ34OCttRyRMj67OiNMUPEl-MKBmLtCvhS67YmoPFb-8Atj9gfico5IBbXKfjVv-xdZkLWuA6XdJbUJal1OHJ7HCSO0Nzx0jzDM-82Rf-nOa2ZF-NcLhc-k2KSABh0NTU56Htc2ycd24zmOqekT1uLQpXkWCYVga-MUQcsGiQpzbvlLS8JDNwWKw9s3u_q4WyA_mOmV21nW_ekWJugoQFgyp_v6ohfmnGh_Xh34tptXfCkXxt1GKdBiH1OfL19gHCc3jLw85WEw4Yn9WxazQ36A7bFD5vRtR36Vn2_xiidM10IqJ-x2eplpogwh-h4rKwvySw0CqB0wyv699CNgu24pYnQV5JGKDEqpda5j2fsWm4oItJPLzxd_eOSWsJle8EziOcUnhKQ6cndlX2-1kJ4k1XGjZJNNmfcK3Fqpsg8Cn_ZIrVwbwWrVZlTSEbGinypPnaFMgiFHPBtV6qm43HV0Nu17myzT6FuwqOIuSn4SeMxtJobXWULreOl3XmSudHr_yxpN7RvNF15rX9yeIxpInITFdsD-rmcAKx2pvCop7qvwhDveiMZ_wyTzEDrN4WvFXhWzE-lvdCc64-ZTqDNjD=w601-h827-no) CHIẾN CUỘC MÙA KHÔ 74-75 ĐỢT I Từ Th/12/74 đến hết 02/75 (https://lh3.googleusercontent.com/Hxf_4F4FpLO5joL-p9DM33BGH5fbWmlxCUMR8HYzeq6t0qg9ISevnQHySdeVET5Zs95olfHiSeOPmFXj98lXDxyS4npdueZ-UTemc83_p3yY8M-XxpuJTXy09DzxLSTSfr1_GQWL40rEQhVBjA2UU1MauASHd2cE0azO48so5Jv_fY9OXxfbNJm2ajiC0F8LEDB78pm2OEvBHoFPvj0p40agc7NZdKEalZ515cgBpPCHxBf2xUM9J985ibdqbp_rfyu9xOZSfmcswhPt8ckd2UdJcViNb2hs1tbjurDwuO0qA6lEICSOjGAgDE8BQ4QUKAgPjaCN3vwiCjqMyV3UT7m9N3DygE1eLG618pbw0-TQvbdTO0Qf_22vHcc1apdIgxUJ5EWw7-loOif1Rwfj5Tk8GqKwVa9tUlulLEnpOmkWMG8vLjsOH3Dhbig54YB5H1BdBaRdyb789ZmkQKPXIMLd6dk9G2FXn2j1m130UK9fVMqAbbyvxvn5v6hYfv2RBfv5Do-OD-hilntBSyISE9cHxWS0ILHAkeAG026z4Nx7Mdc84HsBDNATb8VQSlzFy6sqdiqYiS7OygzOVk4ddV5ujGY_vBd-oGGftylGtC_aaZrF_0wKvf2J7iG0Grr9Z1UShaUK1fSJIRkV4Ud507Yt=w1055-h827-no) CHIẾN CUỘC MÙA KHÔ 74-75 BƯỚC 2 ĐỢT 2 Từ Th/04/75 CZ HỒ CHÍ MINH (https://lh3.googleusercontent.com/NzsvZHXeq1H4aLDWaTJ-k_s3Hf1HMUtiRoWNAiAti-yv-JO5bbfmlppxTM6X0KZD3dukxyBfNRLSn3Tn2lHG4_lBy85PSX1uKjCQKtMYkSJfy1Hw-g1Kt1lPNdh0HIRx6AL-4gx_CG22Gz75qBImjY0TQ6W_NGU74-bpFbI9XQ8ZZP9OBacSFk5R0k7LGmHeMoCkwsgV6m3SZzqsXVCVKFrEKXOLs55o0M80xMAte-TrC5SgWBEWUS1WZWzxAI1It8fR6c2B58zMDbeoAQ7XVF6UWIGiBB_9R7klk6AVXzTgsHUdSQzZz6spqCMNOIrPYYwvDxBoBM3R1w3DrM0dvpGW_luQOXDBv9k8sK4NQyz3me6gLA5z5P3JHDnAzjIRDAyofxy_hO7unriS78c11J4SDZsO616qTNO8IDz1PBFCDdjzq2VPp7ENR5OLBBnoKUrA1ys2F9Gmcsq6wEnZxxAyzANoXNbiRKR51H6WzizR9ug1Ed4U40YMhaLTuFoygekIvB3TjmSAO5atShnv5Op0mQq5PGTyIc309h6RSN9Z67b2x1s_p1LJ6ifjU94yPir4ZIhjxI3KtdwHAtEafclL87L87xSpghTpVPjuyN69RQntFWSklp6K7yZTB5UxgwsgleBRH0_hMjtqwkSK1s7w=w1109-h827-no) |