|
Tiêu đề: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:22:45 pm B1 x. CHIẾN TRƯỜNG B B-l, máy bay ném bom chiến lược đa năng tầm xa, có góc cánh thay đổi; do hãng Rocoen Intơnesânơ (Mĩ) thiết kế và chế tạo từ 1965. Bay thử lần đầu 18.6.1984, đưa vào trang bị 1985. Có hai loại chính: B-1A và B-1B (96/100 chiếc trong trang bị). Tính năng chiến - kĩ thuật chính của B-1B: kíp bay 4 người; 4 động cơ phản lực F-101-GE-102; dài 44,81m; cao 10,36m, sải cánh khi cụp: 23,8m. khi xòe: 41,67m; khối lượng rỗng 87.090kg; khối lượng cất cánh lớn nhất 216.400kg; tốc độ bay lớn nhất 2.300km/h; tốc độ bay đường dài 1.020km/h; trần bay thực tế 15.240m; tầm bay 12.000km (không tiếp dầu); sức chở lớn nhất 60.781kg (bên trong máy bay 34.019kg, treo bên ngoài 26.762kg). B-1B có khả năng tàng hình, mang 12 bom hạt nhân, bom thông thường (45t) hoặc 8 tên lửa hành trình, 24 tên lửa SRAM; lúc đầu được trang bị cho lực lượng không quân chiến lược Mĩ làm nhiệm vụ ném bom hạt nhân, sau chiến tranh lạnh được chuyển sang sử dụng vũ khí thông thường. Được sử dụng lần đầu trong chiến tranh Nam Tư (1999), mang bom CBU-97 (dẫn quân tính và điều khiển bằng rađa). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65102706_440986726631213_7017106972520480768_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQl018nY9cnF7m2tKFv7jQEJS7G4wP-9Xs0AlQz2P8hkOTq2DfYmPGHC_cxCFTRaXYA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a839f8cd0cc6582fdce8c6d4cfb85390&oe=5D7B25F5) B2 X. CHIẾN TRƯỜNG BB-2, máy bay ném bom chiến lược tàng hình của không quân M7 do hãng Nothrop chế tạo. Mẫu đầu tiên hoàn thành 1988, bay thử lần đầu 17.7.1989. Dài 21,03m, cao 5,18m, sải cánh 52,43m; khối lượng cất cánh bình thường 168,4t (tối đa 18lt); trần bay thực tế 15.240m; kíp bay 2 người; có thể mang các loại vũ khí: tên lửa không dối đất SRAM kiểu AGM-69, AGM-129, hoặc AGM-137, bom hạt nhân B61 hoặc B83, thủy lôi MK36, bom MK-82 (500 bảng, khoảng 227kg), MH7 (750 bảng, khoảng 340kg) hoặc bom có điều khiển cỡ 500 hoặc 2.000 bảng (khoảng 908kg), với khối lượng vũ khí tối đa là 22,68t; tầm bay với khối lượng cất cánh tối đa 8.154-11.675km (tùy theo chế độ bay); tầm bay với một lần tiếp dầu trên không 18.532km. B-2 được chế tạo theo kĩ thuật tàng hình, có hình dáng, cấu trúc, vật liệu đặc biệt cho phép giảm bức xạ và phản xạ sóng rađa, bức xạ hồng ngoại, bức xạ nhiệt, vệt khói phía sau... nên rất khó phát hiện bằng phương tiện trinh sát điện tử. Không quân Mĩ đã sử dụng B-2 trong chiến tranh Nam Tư (1999) và tới 2001 đã được trang bị 20 chiếc. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64973716_440986743297878_609094162926534656_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQl_7c0bWYV2idTXsi6VyICuf_TrZrtk-fLZ5C2JFjM0vDffVx0_JvU4yxYizCtWquU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=75558104635bcacfe3ccfe2d3340f06d&oe=5D821CFD) B3 x. CHIÊN TRƯỜNG B B4 x. CHIÊN TRƯỜNG B B5 x. CHIẾN TRƯỜNG B B-24 LIBÊRATƠ (A. B-24 Liberator - Người giải phóng), máy bay ném bom 4 động cơ cánh quạt, do công ti Consoliđat Mĩ chế tạo từ 1939. Đến cuối CTTG-II đã sản xuất 18.188 chiếc với một số biến thể. Tính năng chiến - kĩ thuật chủ yếu (B-24M, bay lần đầu 1945): dài 20,47m; cao 5,49m; sải cánh 33,53m; khối lượng rỗng 17,01t; khối lượng cất cánh bình thường 25,4t, lớn nhất 29,26t; tải trọng chiến đấu 5,8t; vận tốc lớn nhất (khi mang 2.265kg bom) 480km/h; tầm bay 5.310km. trần bay 8.500m, kíp bay 8- 10 người. Trang bị 10 súng máy 12,7mm; lượng bom mang nhiều nhất 5.800kg. Có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau như ném bom chiến thuật, trinh sát, tác chiến chống tàu ngầm, vận chuyển người và hàng hóa QS. Sử dụng hiệu quả trong CTTG-II và các cuộc chiến tranh khu vực. QĐ Pháp (được Mĩ viện trợ) đã sử dụng trong chiến tranh VN (1945- 54), thường gọi “Bê Vanh Cát” (Bê 24). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65386831_440986739964545_5157939428219420672_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmVBCDuvYLT3Pd38VQEKJ46nmPfK5DD3wEoyfSA8CnWTC6GzzA8JR-CBNeVvvLOZHg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=542094b06ee52e854e1d420e14288478&oe=5DBC239A) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:25:25 pm B-26 MARÔĐƠ (A. B-26 Marauder - Kẻ hủy diệt), máy bay cường kích hai động cơ cánh quạt, do hãng Mactin (Mĩ) chế tạo từ 1940, bay lần đầu 1941. Dài 17,75m; cao 6,55m; sải cánh 21,64m; khối lượng rỗng ll,47t. Khối lượng cất cánh bình thường 16,87t; lớn nhất 17,33t. Tải trọng chiến đấu bình thường l,82t; lớn nhất 2,36t Công suất động cơ 1.490kW. Vận tốc lớn nhất 460km/h, tầm bay 1.930km, trần bay 6.100m. Kíp bay 5 người. Trang bị 12 súng máy 12,7mm. Lượng bom mang nhiều nhất 2.360kg. Được sản xuất trong suốt CTTG-II (tổng số 5.150 chiếc), trang bị cho không quân một số nước Đồng minh và sử dụng trên nhiều chiến trường khác nhau. Được Mĩ viện trợ cho Pháp và sử dụng trong chiến tranh VN (1945-54), thường gọi “Bê Vanh Xít” (Bê 26). Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3- 7.5.1954), các lực lượng phòng không VN đã bắn rơi 6 chiếc B-26
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65046013_440986793297873_1259858102853828608_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmcVFMavExNJOcvo2hDe3KW2HCUKO5XwU99OTcQ2kdFpPyeESellJ8brMPv2Nzy8XE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4842ee143e1c0e350c8e78fe291572af&oe=5D830508) B-40, súng phóng lựu chống tăng xách tay cỡ 40mm kiểu RPG-2 của LX và những súng sản xuất theo mẫu này. B-40 là tên do VN đặt. Bắn đạn lõm cỡ 80mm. Súng dài 1.194mm, khối lượng 2,75-2,83kg. Đạn dài 670mm (không kể liều phóng - 500mm), khối lượng l,82kg (không kể liều phóng - 1,62kg). Tốc độ bắn 4-6 phát/ph, sơ tốc đạn 80m/s. Tẩm bắn hiệu quả 150m, khả năng xuyên giáp 200mm. Súng do TQ sản xuất gọi là kiểu 56 (đạn kiểu 50 có khả năng xuyên giáp đến 265mm). B-40 được sử dụng rộng rãi trong KCCM. Ngoài đạn lõm, VN còn chế tạo đạn B-40 nổ mảnh để diệt sinh lực. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65437737_440986806631205_187646352363094016_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnuzZ59CB3rkymlbl0VJIU56RCliddraX0qrtj8dGUP385qmlIXuREVOh4BrHjIHiU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f95b142a6aecf6b387359326f0fe2f5e&oe=5D821439) B-41, súng phóng lựu chống tăng kiểu RPG-7 của LX. B-41 là tên do VN đặt. Mẫu đầu tiên RPG-7 (1962), các mẫu cải tiến: RPG-7V, RPG-7Đ. Là loại súng không giật hoạt động theo nguyên lí động học phản lực (có loa phụt và buồng đốt mở rộng), dài 910mm, cỡ nòng 40mm, khối lượng (cả kính ngắm) 6,4kg. Đạn B-41 là loại đạn lõm, phản lực - tích cực, cỡ 85mm, khối lượng đạn 2,2kg, ngòi nổ áp điện, có cơ cấu tự hủy (loại của LX) sau 4-6s, sơ tốc đạn 120 ± 2m/s (tốc độ lớn nhất ở cuối đoạn tích cực của quỹ đạo 300m/s), tầm bắn 500m, tầm bắn hiệu quả 330m; khả năng xuyên giáp: 280mm (phễu đồng), 202mm (phễu sắt); xuyên bê tông 900mm; tốc độ bắn 4-6 phát/ph, khoảng cách nguy hiểm sau súng 30m. B-41 là một trong những vũ khí chống tăng cá nhân chủ yếu của QĐND VN. Trong chiến tranh, VN đã dùng các kiểu B-41 do LX. TQ sản xuất. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64994523_440986799964539_4682803109116772352_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmcXwD4apAhxZl58DH_E7-4nJRKDLjI82_aipeU6iXHolP4bqBU7-pfNQokZP3Ht2M&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8a7af4205a03a0cac9a5f9f14e56b8c2&oe=5D79BDE6) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:29:07 pm B-52 XTRATƠPHOTRI (A. B-52 Stratofortress - Pháo đài tầng bình lưu), máy bay ném bom chiến lược của không quân Mĩ do hãng Bôing (Mĩ) sản xuất. Sải cánh 56,39m; dài 49,05m; cao 12,4m; khối lượng cất cánh tối đa 221,35t; tầm bay B-52G: 12.000km, B-52H: 16.000km; kíp bay 6 người. Được trang bị súng máy, tên lửa, các phương tiện dẫn đường, ném bom rải thảm và tác chiến điện tử; có thể mang tới 30t bom (thường hoặc hạt nhân). Mẫu thử nghiệm đầu tiên 28.11.1951. Trang bị cho không quân chiến lược Mĩ 1955. Từ 1955 đến 1961 đã cải tiến 8 lần: B-52A, B, C, D, E, F, G, H. Dùng ném bom lần đầu tiên trên chiến trường Nam VN 18.6.1965 (Bến Cát, tây bắc Sài Gòn), Bắc VN 12.4.1966 (đèo Mụ Giạ, t. Quảng Bình). Từ 6.1965 đến 8.1973, đã dùng ở VN trên 120.000 lần chiếc. Là phương tiện chủ yếu tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược của không quân Mĩ vào Hà Nội, Hái Phòng (18-29.12.1972). Theo tài liệu của Mĩ, 31 máy bay B-52 đã bị bắn rơi trong chiến tranh VN. Sau chiến tranh VN, tiếp tục được cải tiến. Được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999), Apganixtan (2001). Ở VN, thường gọi Pháo đài bay. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64782556_440986869964532_2732900412137930752_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlIye8FhCXuiscoQsG2iC947NqLXqd2fpuYSY2L8CNK_J7-AOaXufNlUKOs3CRh_Jk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ec45117442f70dc4c7553e81cbc780c8&oe=5DBD760C) B72, tổ hợp tên lửa chống tăng điều khiển bằng dây kiểu 9K- 11 của LX (biệt danh “Maliutca”, Mĩ kí hiệu AT-3, NATO gọi là “Sagger”, B72 là tên do VN đặt). B72 gồm: bàn điều khiến 9C-415, hòm đạn kiêm bệ phóng 9H-110 và tên lửa 9M-14M. Chế tạo và trang bị từ giữa những năm 60 tk 20 (kí hiệu ban đầu: PUR-64). Đặc tính: khối lượng phóng ll,3kg, đường kính thân đạn 120mm, dài 880mm; đầu đạn lõm, ngòi áp điện; động cơ tên lửa hai tầng, nhiên liệu rắn; cự li phóng 500-3.000m; khả năng xuyên giáp 400mm. Điều khiển bằng tay, truyền lệnh qua dây dẫn theo phương pháp ba điểm: máy ngắm - đạn - mục tiêu. Có thể: mang vác, đặt trên xe thiết giáp (xe cơ sở BRĐM-I hoặc BRĐM-2), xe chiến đấu bộ binh BMP-1 và xe chiến đấu đổ bộ đường không BMĐ-1. Tên lửa 9M-14M hoặc các tên lửa có kết cấu phỏng theo cũng được chế tạo và lắp đặt trên các xe thuộc họ BMP ở TQ (WZ 501), Nam Tư (M-980). Sec- Xlôvakia (xe trinh sát BPzV),... B72 được đưa vào trang bị của QĐND VN sử dụng đạt hiệu quả cao trong KCCM (xt tên lửa chống tăng). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65229359_440986879964531_855245666442543104_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQl7HvJKPfZ0_MEFoTOOAOAhjze8zYyDZ97SYHLfcx9aSs0ykq7LdDIld34HB22dPB0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=de151c9cf57cb7ee0c287c2186242a4a&oe=5DB808A8) BA BÁM, phương châm hành động của quân và dân miền Nam VN trong KCCM với nội dung: Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch; trên cơ sở kế thừa và phát triển kinh nghiệm bám dân, bám đất, nắm bộ đội trong KCCP. Mục đích của BB: để cho Đảng nắm chắc tình hình cuộc kháng chiến; tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa QĐ và nhân dân, giữa cán bộ và chiến sĩ; giành thế chủ động và quyền làm chủ để tiến công, tiến công để làm chủ. BB đã góp phần đánh bại âm mưu và kế hoạch càn quét, bình định, “tát nước bắt cá” của Mĩ và chính quyền Sài Gòn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:30:57 pm BA DÂN CHỦ LỚN trong Quân đội nhan dân Việt Nam, nội dung cơ bản của quyền làm chủ của quân nhân; một truyền thống của QĐND VN. Gồm: dân chủ về chính trị, dân chủ về QS và dân chủ về kinh tế. Dân chủ về chính trị: phát huy trí tuệ của quân nhân tham gia xây dựng Đảng, nhà nước, QĐ, các tổ chức quần chúng và đơn vị; quán triệt và chấp hành đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước, kỉ luật của QĐ, mệnh lệnh của người chỉ huy; giám sát và kiểm tra các hoạt động của đơn vị; thực hiện tự phê bình và phê bình... Dân chủ về QS: phát huy trí tuệ của quân nhân trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu (tìm cách đánh hay, rút kinh nghiệm trân đánh, bình xét khen thưởng, thương vong...). Dân chủ về kinh tế: phát huy trí tuệ của quân nhân trong lao động sản xuất, cải thiện đời sống, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô (công khai các chế độ, tiêu chuẩn, giám sát chi tiêu, sử dụng tài chính, tài sản của đơn vị...). Để thực hiện có hiệu quả BDCL phải thực hiện tốt dân chủ trong Đảng; xây dựng đầy đủ quy chế dân chủ; kết hợp chặt chẽ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường kỉ luật; nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng quân nhân. BA ĐẢM ĐANG, phong trào hành động CM của phụ nữ miền Bắc VN trong KCCM, do BCHTƯ Hội liên hiệp phụ nữ VN phát động nhân dịp kỉ niệm lần thứ 15 ngày toàn quốc chống Mĩ (19.3.1950-19.3.1965), với ba nội dung: đảm đang nhiệm vụ sản xuất, công tác thay cho nam giới đi chiến đấu; đảm đang công việc gia đình để chồng con, anh em đi chiến đấu; đảm đang việc phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu: Phong trào BĐĐ đã phát triển sâu rộng, lôi cuốn hàng triệu phụ nữ VN tham gia (đến cuối 5.1965 đã có 1,7 triệu người), góp phần to lớn vào thắng lợi của KCCM. BA ĐÌNH, căn cứ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-87) do Đinh Công Tráng. Phạm Bành, Tống Duy Tân... lập 1886 để chống Pháp, hưởng ứng phong trào Cần Vương. Gồm ba làng Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh (mỗi làng có một ngôi đình lớn, từ đó có tên gọi BĐ), nay là xã BĐ, h. Nga Sơn (Thanh Hóa). Nằm giữa vùng đồng lầy, xung quanh có lũy tre bao bọc, ba mặt có sông và đê án ngữ. Mỗi làng được xây dựng thành một cứ điểm vững chắc, trong làng và ngoài đồng đều được đào đắp thêm hào luỹ, công sự. Ngoài cùng là một vành đai các đồn bốt bao bọc cả khu vực, hình thành một căn cứ án ngữ đường 1 giữa Ninh Bình và Thanh Hóa. Từ BĐ nghĩa quân đã đẩy lùi nhiều cuộc tiến công của Pháp. 1.1887 bị thiệt hại nặng trước cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp, nghĩa quân phải rút khỏi BĐ về căn cứ Mã Cao. Địa danh BĐ được lấy đặt tên cho một quận và quảng trường ở thủ đô Hà Nội, nơi diễn ra lễ tuyên bố độc lập 2.9.1945 của nước VN DCCH, nay là CHXHCN VN. BA GIA, ấp thuộc xã Tịnh Minh, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi; ở phía bắc sông Trà Khúc, tây bắc tx Quảng Ngãi 18km. Trong chiến dịch Ba Gia (28.5-20.7.1965), LLVT Quân khu 5 đã tiến công QĐ Sài Gòn ở các khu vực BG, Sơn Tịnh, Bình Sơn, Trà Bồng, tiêu diệt gọn một chiến đoàn, hai tiểu đoàn, phá hủy 15 xe QS, bắn rơi 18 máy bay, hỗ trợ nhân dân 29 xã thuộc 6 huyện của t. Quảng Ngãi nổi dậy giành quyền làm chủ. góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. BA GIỎI, phong trào hành động CM của phụ lão VN trong KCCM với ba nội dung: sản xuất, tiết kiệm giỏi; phục vụ chiến đấu giỏi; vận động chấp hành chính sách giỏi. Do Hội phụ lão VN đề xướng (6.1966). Trong phong trào BG đã xuất hiện nhiều điển hình tốt, lập nhiều chiến công (như Trung đội lão dân quân Hoằng Trường), nêu gương cho đồng bào và tuổi trẻ cả nước học tập, được chủ tịch Hồ Chí Minh khen “tuổi cao chí càng cao”. BA KHÔNG, 1) phương châm giữ bí mật chống lại các hoạt động tình báo, gián điệp của đối phương, được nhân dân VN thực hiện có hiệu quả trong KCCP và KCCM. Nội dung: không nghe, không thấy, không biết; 2) phương châm giữ bí mật trong hành quân, trú quân của lực lượng mở Đường mòn Hồ Chí Minh và các lực lượng khác (LLVTND VN, các đoàn công tác) khi đi trên tuyến đường đó trong KCCM: đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:33:34 pm BA LAN (Cộng hòa Ba Lan; Rzeczpospolita Polska, A. Republic of Poland), quốc gia ở Trung Âu. Dt 312.684km2; ds 38,62 triệu người (2003); 97,6% người Ba Lan, còn lại là Đức, Ucraina, Bêlarut. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Ba Lan. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (95%). Thủ đô: Vacsava. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. 2/3 lãnh thổ ở miền Bắc và miền Trung là các vùng đất trũng ven biển Bantich, có nhiều đầm, hồ. Phía nam và đông nam là các cao nguyên Tiểu Ba Lan và Lublin, dọc biên giới phía nam là hai dãy núi Cacpat, đỉnh cao nhất 2.499m và dãy Xuđet. Khí hậu ôn đới. Hệ thống giao thông phát triển. Mạng sông suối dày đặc. Sông chính: Vixla, Ôđe. Cảng biển: Gđanxcơ, Sêxin; sân bay quốc tế: Vacsava. Rừng chiếm 28% diện tích lãnh thổ. Nước công - nông nghiệp. Công nghiệp: đóng tàu, chế tạo máy, luyện kim, khai thác than...; nông nghiệp: lúa mì, lúa mạch, khoai tây...; chăn nuôi: bò, cừu, lợn, ngựa... GDP 176,256 tỉ USD (2002), bình quân đẩu người 4.560 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Liên minh châu Âu (EU, 2004), NATO (1999). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 4.2.1950. LLVT: lực lượng thường trực 206.000 người (trong đó lục quân 120.000, hải quân 16.760, không quân 43.700), lực lượng dự bị 234.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 1.677 xe tăng, 1.404 xe chiến đấu bộ binh, 726 xe thiết giáp chở quân, 500 xe thiết giáp trinh sát, 652 pháo tự hành, 440 pháo mặt đất xe kéo, 403 tổ hợp tên lửa chống tăng, 723 pháo chống tăng, 686 pháo phòng không, 1.012 tổ hợp tên lửa phòng không; 3 tàu ngầm, 1 tàu khu trục, 2 tàu frigat, 22 tàu tuần tiễu, 22 tàu quét mìn, 5 tàu đổ bộ, 18 tàu hộ tống; 238 máy bay chiến đấu (không quân 212, hải quân 26), 12 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 3,5 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65042000_440986906631195_3365395661427048448_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnApcjxgrMdjE2FuaeNk1FqxMYdmttFrtp8W7mIATkNQzkyk2E_u3XofkusjpUWLtA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=fc1abf5e588126526c12d4e3a7957cd3&oe=5D84E6D8) BA LÀNG AN, gọi chung ba làng An Vĩnh, An Kì thuộc xã Tịnh Kì, h. Sơn Tịnh và An Hải thuộc xã Bình Châu, h. Bình Sơn, t. Quảng Ngãi. 1.1969 tại BLA quân Mĩ tàn sát 300 dân thường bằng đạn rôckét và mìn định hướng, 4.1969 lại tàn sát 1.200 người, vứt xác xuống biển. BA LÒNG, xã thuộc h. Triệu Phong, t. Quảng Trị; nằm ở thung lũng trung lưu sông Thạch Hãn, căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Trị trong KCCP. 16.9.1948 quân dãn BL chiến đấu chống lại cuộc càn quét lớn của quân Pháp, diệt 400 địch, bảo vệ an toàn khu căn cứ. 9.1981 chia thành hai xã BL và Triệu Nguyên. Từ 12.1996 thuộc h. Đa Krông. BA MŨI GIÁP CÔNG, phương châm tiến công địch bàng sự kết hợp cả QS, chính trị và binh vận ở miền Nam VN trong KCCM, thể hiện bước phát triển cao của chiến tranh nhân dân Việt Nam, kế thừa và phát triển kinh nghiệm đấu tranh giành chính quyền trong CM tháng Tám (1945) và KCCP. BMGC xuất hiện đầu tiên trong đồng khởi Bến Tre (17.1- 20.4.1960), sau đó được thực hiện trên các chiến trường trong các nhiệm vụ chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. BMGC đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh địch: kết hợp mọi lực lượng, mọi biện pháp, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh CM, kết hợp tấn công QS với nổi dậy của quần chúng... BA NHẤT, phong ưào thi đua của QĐND VN và dân quân tự vệ (1960-63) với ba nội dung: lập thành tích nhiều nhất; thành tích các mật đều nhất; dạt chất lượng cao nhất trên các mặt rèn luyện kĩ thuật, chiến thuật, chấp hành điều lệnh, sản xuất, tiết kiệm... Một trong ba phong ưào thi đua yêu nước tiêu biểu ở miền Bác XHCN trong những năm 1960-63 (cờ BN của LLVTND, sóng Duyên Hải của công nhân, gió Đại Phong của nông dân). Khởi đầu từ Đại đội 2 (sơn pháo 75mm), Trung đoàn pháo binh 68, Sư đoàn 304 (nay thuộc Quân đoàn 2), BN đã trở thành phong trào thi đua yêu nước trong toàn quân, góp phần xây dựng LLVTND vững manh. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:35:57 pm BA QUYẾT TÂM, phong trào hành động CM của giới trí thức VN trong KCCM với ba nội dung: quyết tâm phục vụ sản xuất, chiến đấu, đòi sống; quyết tâm đẩy manh CM kĩ thuật, tư tưởng và văn hóa; quyết tâm đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ trí thức XHCN. Do ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN phát động từ 4.6.1966 (tại hội nghị trí thức VN chống Mĩ cứu nước họp tại Hà Nội). Đông đảo trí thức đã tích cực tham gia và có nhiều cống hiến quan trọng trong lĩnh vực CM kĩ thuật, tư tưởng và văn hóa, thiết thực phục vụ nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, chiến đấu. BA SẴN SÀNG, phong trào hành động CM của thanh niên miền Bắc VN trong KCCM, với ba nội dung: sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và gia nhập LLVTND; sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập, công tác; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà tổ quốc cần. Khởi đầu từ phong trào BSS của thanh niên thủ đô Hà Nội, do BCH thành đoàn phát động 9.8.1964 (ngay sau khi đế quốc Mĩ cho máy bay ném bom, bắn phá miền Bắc 5.8.1964), sau đó trở thành cao trào CM của tuổi trẻ. Hàng triệu thanh niên miền Bắc đã hăng hái tham gia BSS, cùng với năm xung phong, BSS đã góp phần to lớn vào thắng lợi của KCCM. BA THỨ QUÂN, ba thành phần thuộc LLVTND VN, gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dán quân tự vệ, được xây dựng theo nguyên tắc và phương châm do lãnh tụ Hồ Chí Minh xác định trong chỉ thị thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân (12.1944), kế thừa và phát huy truyền thống tổ chức QS lâu đời của dân tộc (với các thành phần hương binh, thổ binh làng xã, quân các lộ và quân triều đình). Trong KCCP và KCCM, BTQ dược hình thành và phát triển cả về quy mô tổ chức và trình độ tác chiến tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trong chiến tranh. BA TƠ, huyện miền núi phía nam t. Quảng Ngãi, trên thượng nguồn Sông Vệ. Địa hình chủ yếu là đồi núi. Đất lâm nghiệp chiếm trên 70% diện tích tự nhiên. Dân cư tập trung chủ yếu trên dải đồng bằng hẹp dọc theo các nhánh của Sông Vệ (Sông Nẽ, sông Trà Nô, Sông Liên) và Sông Re. Giao thông: QL 24 (đường 5A cũ) nối QL 1 với tx Kon Turn. Đầu tk 19 Pháp xây dựng tạị BT đồn binh và trại an trí tù chính trị. 11.3.1945 nổ ra khởi nghĩa Ba Tơ, thành lập chính quyền CM (12.3.1945) và Đội du kích Ba Tơ (14.3.1945). Núi Cao Muôn là căn cứ địa du kích BT. BA VÌ, dãy núi ở h. Ba Vì, t. Hà Tây (tây Hà Nội 50km), đình cao nhất (Ngọc Tản) 1.296m. Dưới chân núi có hồ Suối Hai, thác Ao Vua, sông Tích Giang. Pháp xây dựng trên các triền núi và khu vực phụ cận một hệ thống đồn bốt để kiểm soát vùng đồng bằng rộng lớn và tuyến đường thủy theo Sông Đà lên vùng Tây Bắc. 29-30.12.1951 Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 cùng LLVT địa phương tiến công quân Pháp ở hai cao điểm 500 và 564 (thuộc địa bàn xã Minh Quang), diệt 2 đại đội (bắt 87), thu 5 khẩu pháo 105mm trong đợt 2 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). BA VÙNG CHIẾN LƯỢC, ba vùng lãnh thổ và dân cư giữ vai trò, vị trí chiến lược ở miền Nam VN trong KCCM, gồm: vùng rừng núi (tây Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ); vùng nông thôn đồng bằng (Trung Bộ và Nam Bộ); vùng thành thị, được phân định theo đặc điểm địa lí, QS, chính trị, kinh tế, xã hội và so sánh lực lượng địch, ta. Trên cơ sở kế thừa và phát triển những kinh nghiệm chỉ đạo cuộc vận động CM và khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám 1945 và trong KCCP, ĐLĐ VN đề ra phương châm “đánh địch trên cả ba vùng chiến lược với những hình thức thích hợp”. Trong từng thời kì, tuỳ theo tình hình và điều kiện cụ thể mỗi vùng mà có cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo việc kết hợp các hình thức đấu tranh: vùng rừng núi, lấy đấu tranh vũ trang làm chính; vùng nông thôn đồng bằng, đấu tranh chính trị đi đôi với đấu tranh vũ trang; vùng thành thị, lấy đấu tranh chính trị làm chính; kết hợp chặt chẽ việc đánh địch ở mỗi vùng với việc đánh địch trên toàn chiến trường. BVCL và phương châm đánh địch trên cả BVCL là một sáng tạo quan trọng trong phương thức tiến hành chiến tranh của ĐLĐ VN trong KCCM BÀ ĐEN (Bà Đinh), núi đá hoa cương cao 986m, đông bắc tx Tây Ninh 15km. Trên núi có chùa Linh Sơn, nhiều hang động, suối nước. Có nhiều loài động vật, thực vật. BĐ nổi bật giữa vùng đồng bằng rộng, thuận tiện cho quan sát từ xa. Trưóc 1975, tại đây Mĩ đạt một trạm liên lạc viễn thông và tình báo QS, bị QGPMN đánh chiếm 7.1.1975. BĐ là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh được xếp hạng của Tây Ninh. BÀ ĐINH nh BÀ ĐEN Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:38:31 pm BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG, danh hiệu vinh dự nhà nước CHXHCN VN tặng hoặc truy tặng những bà mẹ VN có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Đặt ra theo pháp lệnh 29.8.1994 của ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCN VN. Tiêu chuẩn đạt danh hiệu BMVNAH (kể cả là Ah LLVTND VN): có hai con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; có hai con mà cả hai là liệt sĩ hoặc chỉ có một con mà người đó là liệt sĩ; có ba con trở lên là liệt sĩ; có một con là liệt sĩ, chồng và bản thân là liệt sĩ. Do chủ tịch nước kí tặng hoặc truy tặng theo đề nghị của chính phủ. Người được tặng (truy tặng) được cấp bằng và huy chương BMVNAH. Đến 6.2000 đã có 42.531 người được tặng (truy tặng) danh hiệu BMVNAH. BÀ RỊA - LONG KHÁNH, đơn vị hành chính kháng chiến ở Đông Nam Bộ trong KCCM, gồm phần lớn t. Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần t. Đồng Nai ngày nay. 6.11.1978, LLVTND Bà Rịa - Long Khánh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. BÀ RỊA - VŨNG TÀU, tỉnh ở Đông Nam Bộ; bắc giáp Đồng Nai, đông bắc giáp Bình Thuận, nam và đông nam giáp Biển Đông, tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Dt 1.975,15km2; ds 0,88 triệu người (2003); chủ yếu là người Kinh. Nguyên là t. Bà Rịa, thành lập 12.1889 do tách phủ Phước Tuy từ t. Biên Hoà. 10.1956 chính quyền Sài Gòn lập t. Phước Tuy gồm BR- VT và quần đảo Hoàng Sa. 3.1963-12.1963 và 11.1966- 10.1967, Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN sáp nhập Bà Rịa với Biên Hòa và Long Khánh thành t. Bà Biên. 2.1976 đổi thành t. Đồng Nai. 8.1991 tách phần Bà Rịa cũ (gồm cả đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo), thành lập BR-VT. Tổ chức hành chính: 6 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Vũng Tàu. Địa hình chủ yếu là đồng bằng xen lẫn đồi núi thấp; riêng huyện đảo Côn Đảo chủ yếu là núi, đỉnh cao nhất 690m. Bờ biển dài 70km, phần lớn là bãi cát, sỏi đá. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm 27°-28°C, lượng mưa 1.500mm/năm. BR-VT nằm trong tam giác phát triển kinh tế của các tỉnh phía nam với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 139 nghìn tấn (lúa 71,5 nghìn tấn). Công nghiệp: dầu khí, hóa dầu, năng lượng, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sản, dịch vụ du lịch, cảng biển. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 27.301 tỉ đồng, sản lượng thủy sản 163.881t. Hệ thống giao thông: QL 51, QL 55, QL 56; cảng biển Vũng Tàu, Thị Vải, Phú Mĩ, Cát Lở; cảng cá: Lộc An, Bến Đầm. Sân bay: Long Đất, Châu Thành, Vũng Tàu, Cỏ Ống. Di tích lịch sử: nhà tù Côn Đảo (Pháp lập 1862), các chiến khu Minh Đạm, Xuyên Mộc... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65255494_440986966631189_2472103190401646592_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlc9bRciKfw8qkVc6zcIbYGvDwIePbW6jJZuDwahWgsbrN7KKZU5SsPXvq4YueYz2U&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6445991aa6f3992ed80cb5d1d162bd05&oe=5D86F61E) BÀ TRIỆU (Triệu Thị Trinh; 225-248), Ah dân tộc, lãnh tụ khởi nghĩa chống nhà Đông Ngô (TQ). Quê q. cửu Chân (nay thuộc h. Triệu Sơn, t. Thanh Hóa); em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ở vùng núi Quan Yên. Từ nhỏ đã giỏi võ nghệ, nuôi chí đánh đuổi quân Đông Ngô: “tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Đông Ngô, cởi ách nô lệ...”. 19 tuổi cùng anh tập hợp nghĩa sĩ trên đỉnh Núi Nưa (Triệu Sơn, t. Thanh Hóa), phát động khởi nghĩa (x. khởi nghĩa Bà Triệu, 248). Năm 248 thất bại trong cuộc tiến công của 8.000 quân Đông Ngô do tướng Lục Dận chỉ huy. BT tuẫn tiết trên đỉnh Núi Tùng (núi Bồ Điền, t. Thanh Hóa), tại đây còn lăng mộ và đền thờ Bà. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:41:04 pm BÁ ĐA LỘC (P. Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine; 1741-99), giám mục Pháp, người giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn và đặt cơ sở cho sự xâm lược sau này của thực dân Pháp đối với VN. 1777 làm quen và giúp Nguyễn Ánh tại Hà Tiên khi Nguyễn Ánh lẩn trốn quân Tây Sơn. Sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, quan hệ giữa hai người gán bó hơn. BĐL đã khai thác mối quan hệ đó với mưu đồ có lợi cho đạo Kitô và nước Pháp, tham gia bàn tính mọi việc cơ mật với Nguyễn Ánh. 1784 được sự ủy nhiệm toàn quyền của Nguyễn Ánh, BĐL đi cầu cứu nước Pháp. 28.11.1787 kí với Pháp hiệp ước Vecxây gồm nhiều khoản có lợi cho Pháp. Khi triều đình Pháp còn do dự trong việc thực hiện hiệp ước trên, 1788 BĐL và Nguyễn Ánh đã bỏ tiền riêng mua vũ khí, tàu chiến và thuê thủy thủ đánh Tây Sơn. Chết sau khi chiếm được Quy Nhơn. BÁ ĐỎ X. K-44 BABILON. quốc gia cổ ở nam Mêdôpôtamia (vùng lãnh thổ Irắc ngày nay), tồn tại từ đầu thiên niên kỉ thứ 2tcn đến 539tcn. Thủ đô là tp Babilon trên bờ đông sông ơphrat, cách Batđa ngày nay 90km về phía nam. Thời kì hưng thịnh (dưới triều vua Hammurabi, tk 18tcn) là quốc gia chiếm hữu nô lệ tập quyền, có QĐ thường trực mạnh, khi có chiến tranh được bổ sung thêm lực lượng dân binh. Hoạt động tác chiến chủ yếu của QĐ B là đánh chiếm thành của đối phương. 539tcn bị người Ba Tư chiếm; 331 ten bị Alêchxanđơ Makêđônia sáp nhập cùng với vương quốc Ba Tư vào đế quốc Makêđônia. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65022494_440986973297855_4624148347073069056_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmTOReShwDglHeEt6Hl6OKBGBS_X3TWHOw1hIBASxynvPtCahgYtKY2dtw4exOFx7g&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3d0e035631ea880775ac198919dfd37a&oe=5D86433D) BÁC CỬ (cổ), bậc thi cao nhất trong võ cử. Được chuẩn định từ 1724 dưới triều vua Lê Dụ Tông. Đối tượng được dự thi là học sinh và biển sinh hợp thức (x. sở cử) và những người không đỗ trong kì thi sở cử năm trước. Nội dung thi gồm: trường nhất thi binh thư trong “Vũ kinh thất thư’’; trường nhì thi thực hành đấu võ từng hiệp; trường ba thi về văn sách. Người nào đỗ tam trường, được dự thi đình và nếu đỗ được công nhận là tạo sĩ. Đến 1731 (đời vua Lê Duy Phường dưới niên hiệu Vĩnh Khánh), nội dung thi BC được sửa đổi: trường nhất thi giương cung và múa đao để kiểm tra sức khỏe (với các loại cung có sức kéo 45, 55 cân và các loại đao có trọng lượng 24, 27 và 30 cân; mỗi cân bằng 0.605kg); trường nhì thi đấu đao, gươm, đấu giáo trên ngựa, bắn cung dưới đất và trên ngựa để kiểm tra trình độ võ nghệ; trường ba thi “Vũ Kinh thất thư” để kiểm tra kiến thức và trình độ QS. Người nào đỗ tam trường, được công nhận là tạo sĩ; người nào chỉ đỗ hai trường, cũng được bổ dụng; riêng những người có kĩ thuật và sức khỏe hạng ưu thì mỗi khoa thi chọn 10 người để bổ dụng như tạo sĩ. BÁC SĨ QUÂN Y, người thầy thuốc có trình độ đại học y khoa, phục vụ tại ngũ trong QĐ. Theo trình độ học vấn có bác sĩ; chung, chuyên khoa sơ bộ, chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2. Theo chuyên khoa, có bác sĩ: nội, ngoại, nhi, sản phụ, mắt, X - quang, thần kinh, tâm thần, da liễu, răng - hàm - mặt, tai - mũi - họng, lao, thú y... BSQY được đào tạo ở học viện quân y hoặc trường đại học y khoa của nhà nước. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:43:19 pm BẠC LIÊU, tỉnh duyên hải miền Tây Nam Bộ; đơn vị Ah LLVTND. Bắc và đông bắc giáp Hậu Giang, Sóc Trăng, nam và đông nam giáp Cà Mau và Biển Đông, tây giáp Cà Mau, Kiên Giang. Dt 2.520,63km2; ds 0,77 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh, Khơme, Hoa... Thành lập 12.1889 trên cơ sở tiểu khu BL (thành lập cuối 1882 tách một phần đất từ các tiểu khu Sóc Trăng và Rạch Giá). 1956 BL chia thành hai tỉnh: Ba Xuyên và An Xuyên, 1964 sáp nhập lại. 1976 sáp nhập BL với Cà Mau thành t. Minh Hải, 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 5 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Bạc Liêu. Địa hình bằng phẳng, nhiều ruộng trũng, lầy. Bờ biển: 52km, thuận lợi cho nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản và sản xuất muối. Khí hậu cận xích đạo, nắng nóng, mưa nhiều, chia 2 mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm 27°c, lượng mưa 1.600- 2.500mm/ năm. Thế mạnh kinh tế: nông nghiệp, chế biến, nuôi trồng thủy sản. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 695,3 nghìn tấn (lúa 694,1 nghìn tấn), thủy sản 116.911t. Công nghiệp: chế biến hải sản, cơ khí sửa chữa, xay xát, chế biến thực phẩm... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 998,5 tỉ đồng. Giao thông: QL 1; sông Gành Hào, các kênh Quản Lộ, Ngan Dừa, Phước Long, Vĩnh Mĩ, kênh xáng Quản Lộ - Phụng Hiệp, Cà Mau - Bạc Liêu (phục vụ thủy lợi và dùng cho giao thông thủy). Truyền thống lịch sử QS: phong trào Chủ Chọt nổi dậy (1927), Mười Chức đánh Pháp ở Đổng Nọc Nạn; các căn cứ Cạnh Đền, An Trạch, Ba Tổng... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65246246_440987013297851_1128611912402075648_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmvm7vxRNDMyNTSBfP3IoCrBfTLuIOho328iFFF-L7ZEs4PH5pKBhOR5CSZUpwHWpw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=30028fbdbd1a3cb226b8fba77e878cc2&oe=5D875875) BACBAĐÔT (A. Barbados), quốc gia trên đảo Bacbađôt, trong quần đảo Ăngti Nhỏ thuộc vùng biển Caribê. Dt 430km2; ds 277 nghìn người (2003); 91% người da đen và người lai. 5% người da trắng. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Cơ Đốc. Thủ đô Brigiơtao. Quốc gia độc lập trong Khối liên hiệp Anh, đứng đầu nhà nước là nữ hoàng Anh, do một toàn quyền đại diện. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do toàn quyền chỉ định. Địa hình bằng phẳng. Khí hậu nhiệt đới ẩm. Nước nông nghiệp, đường là sản phẩm xuất khẩu chính. Công nghiệp: khai thác kim loại màu, khí đốt. Du lịch phát triển. Cảng biển: Brigiơtao; sân bay quốc tế: Xêrơ - Grantli - Adam. GDP 2,76 tỉ USD (2003), bình quân đầu người 10.280 USD. Thành viên LHQ (9.12.1966), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ, Cộng đồng Caribê. LLVT: lực lượng thường trực 610 người (lục quân 500 người, hải quân 110 người), lực lượng dự bị 430 người. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị 5 tàu tuần tiễu. Ngân sách quốc phòng 13 triệu USD (2003). Có căn cứ QS của Mĩ ở Kharixôn - Pôit. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65318915_440987053297847_848466468587700224_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmD0zc6Ipx1SMsUWSVnS5L_K9B_wr5P5_o_i2QtvbgTuxOL4ARGsQCvWKUXsVRgOP0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5633af4d7aff27bcb371334272f15f32&oe=5DB9FDE9) “BACBAROXA” (Đ. Barbarossa Fall), kế hoạch tiến công xâm lược LX của phát xít Đức do Hitle chỉ thị cho Bộ tổng tư lệnh lục quân Đức soạn thảo từ 21.7.1940. Phương án cuối cùng được chấp nhận đưa vào mệnh lệnh số 21 ngày 18.12.1940 của Bộ tổng tư lệnh tối cao Đức và được triển khai bằng mệnh lệnh 31.1.1941, quy định tập trung và triển khai chiến lược các đơn vị của Bộ tổng tư lệnh lục quân Đức. Kế hoạch dự kiến bắt đầu tiến công LX 5.1941. nhưng đến 4.1941 mới có quyết định cuối cùng là 22.6.1941. Dự tính với lực lượng 5,5 triệu quân (gồm 190 sư đoàn quân Đức và chư hầu), 4.300 xe tăng thiết giáp, 47.000 pháo và gần 5.000 máy bay chiến đấu sẽ đánh bại LX bằng một chiến cục chớp nhoáng trong vòng 2-3 tháng, bằng những mũi đột kích thọc sâu nhanh của các cụm quân cơ động manh, sau đó tiêu diệt các cụm quân bị chia cắt của đối phương. Giai đoạn đầu sẽ đập tan chủ lực QĐ LX ở phía tây tuyến Đnhep, tây Đvina, không cho rút về phía sau. Tiếp theo chiếm Maxcơva, Lêningrat, Kiep, Đônbat và tiến tới tuyến Axtrakhan - Vônga - Ackhanghen. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân và LLVT LX đã phá vỡ kế hoạch B (x. chiến tranh Xô - Đức, 1941-45). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:46:01 pm BÁCH HỘ (cổ), chức quan võ cấp thấp dưới chế độ phong kiến ở một số nước phương Đông và VN. Thời Nguyên, Minh (TQ) thực hiện thế binh chế, đặt ra BH sở, thiên hộ sở và vạn hộ sở. Người chỉ huy BH sở (100 người) gọi là BH. Ở VN, BH thường gọi là “bá hộ”. BÁCH KHOA TOÀN THƯ QUÂN SỰ, sách tra cứu cung cấp một cách hệ thống các tri thức QS, tri thức của các ngành khoa học liên quan và có ý nghĩa QS. Ở nhiều nước, BKTTQS thường xuất bản thành bộ gồm nhiều tập. Còn được xuất bản dưới dạng phim, băng từ, đĩa... Đã có các sách BKTTQS như: “Bách khoa toàn thư quân sự Xô viết” 8 tập (LX, 1976-1980), “Bách khoa toàn thư quân sự Mĩ 1 tập (1990), “Bách khoa toàn thư quân sự và phòng thủ quốc tế” 6 tập (Mĩ, 1993, với sụ tham gia của các tác giả từ 17 nước), “Bách khoa toàn thư quân sự Trung Quốc” 11 tập (1997), “Bách khoa toàn thư quân sự Nga” 8 tập (1994)... Ở VN bắt đầu biên soạn “Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam” từ 2004. BẠCH ĐẰNG, đoạn hạ lưu sông Đá Bạc (Phà Rừng - cửa Nam Triệu) đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Dài 19km, rộng khoảng 2.000m (lúc thủy triều lên), sâu 6-10m. Tàu thuyền lớn ra vào dễ dàng. Trong lịch sử chống ngoại xâm, trên đoạn sông này đã diễn ra nhiều trận thủy chiến lớn: Ngô Quyền thắng Nam Hán (938), Lê Hoàn đẩy lùi quân Tống (981), Trần Quốc Tuấn đại thắng quân Nguyên - Mông (1288). BẠCH LONG VĨ, huyện đảo thuộc tp Hải Phòng; nằm trong Vịnh Bắc Bộ, đông nam Hải Phòng 136km. Dt 4,5km2; ds trên 200 người (2001). Đảo lớn nhất: BLV, dt 3km2, có núi nằm dọc đảo, đỉnh cao nhất 61,28m, bờ biển thấp, có đường cho xe cơ giới, xung quanh đảo là vành đai san hô, khí hậu biển, mưa nhiều vào tháng 6-7, sương mù tháng 3-4, có nước ngọt. 1805 Quận He, Quận Hẻo cho xây thành đắp lũy trên đảo. Từ 1920 dân tỉnh Quảng Yên (nay thuộc Quảng Ninh) ra lập nghiệp. 1937 Bảo Đại đưa QĐ ra lập chính quyền trên đảo. Trong KCCP, TQ quản lí đảo theo hiệp định giải giáp quân Nhặt, 1959 trao trả cho VN. Sau KCCM là xã thuộc h. Cát Bà. 11.1992 thành lập huyện đảo BLV. Trong KCCM, bắn rơi 23 máy bay Mĩ. 1973 BLV dược phong tặng danh hiệu đơn vị Ah LLVTND. BẠCH MÃ, dãy núi thuộc hai huyện Phú Lộc, Nam Đông, t. Thừa Thiên - Huế, nam tp Huế 60km; một nhánh của dãy Trường Sơn. Đỉnh cao nhất 1.450m. Khí hậu mát mẻ, là ranh giới giữa hai vùng khí hậu Bắc và Nam VN. Động vật, thực vật phong phú, có 500 loài thực vật, trong đó nhiều loại gỗ quý (tùng, bách, thông, cẩm lai, trầm hương, dẻ hương...), 150 loài chim, 45 loài thú. Vườn quốc gia BM dt 22.000ha, trong đó 8.600ha rừng nguyên sinh. Là nơi nghỉ mát tốt, 1932 Pháp xây dựng ở đây 139 nhà nghỉ mát, hiện nay bị đổ nát. QL 1 qua BM theo đèo Hải Vân. BẠCH VÂN nh YÊN TỬ BADÔCA (A. bazooka), súng phóng lựu phản lực chống tăng. Mẫu dầu tiên của B là loại súng xách tay cỡ 60mm (bắn đạn lõm trên cỡ) của Mĩ (1942). Trong KCCP, ngành quân giới VN đã sản xuất nhiều súng và đạn B cỡ 60, 75 và 90mm. B đầu tiên của VN do Hoàng Phúc và xưởng vũ khí Giang Tiên chế tạo phỏng theo mẫu của nước ngoài (giữa 1946) và cùng Trần Đại Nghĩa thiết kế, hoàn chỉnh (cuối 1946), tổ chức chế thử xong 2.1947. B của VN được sử dụng lần đầu diệt xe tăng Pháp ở gần Chùa Trầm (hướng Hà Nội đi Hà Tây) đầu 1947. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65010163_440987063297846_2180924748697960448_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkbiyTj5RknNEg5-9wmROLKnIVXBPkmN_RXI46AgeFL_lRXsQI5ojLcpe2_pPKcJ-8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2a791f00484a3cd7fb08511875a96a7c&oe=5DC54CF2) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:49:17 pm BAHAMA (A. Commonwelth of The Bahamas), quốc gia ở quần đảo Bahama, đông nam bán đảo Phloriđa (Mĩ). Dt 13.939km2; ds 297,48 nghìn người (2003); 85% người gốc Phi, 15% da trắng. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Tin Lành. Thủ đô: Nasau. Quốc gia độc lập trong Khối liên hiệp Anh, đứng đầu nhà nước là nữ hoàng Anh, do một toàn quyền đại diện. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: nội các, đứng đầu là thủ tướng do toàn quyền chỉ định. Quốc gia quần đảo với trên 700 đảo, 30 đảo có người ở. Địa hình bằng phẳng, thấp. Khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm. Đầu mối giao thông đường không, đường biển quan trọng. Các cảng biển chính: Naxai, Phripot. Matiu - Tain. Trên quần đảo có các mục tiêu QS, bãi thử nghiệm cấc loại vũ khí tự dẫn, tên lửa đạn đạo của Mĩ. Kinh tế chậm phát triển, phụ thuộc tư bản nước ngoài. Du lịch mang lại nguồn lợi lớn. GDP 4.82 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 15.800 USD. Thành viên LHQ (18.7.1973), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ. LLVT: hải quân 860 người. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 13 tàu tuần tiều, 1 tàu hộ tống, 4 máy bay... Ngân sách quốc phòng 26 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65060780_440987109964508_6313764730150322176_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlO90vZaMBxMq-7Ld5oTRvZKn7GS_t_Tg_lN0hmSp7LlioL6uNI0JLdKFiL3OcNfW4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d0e0c9848906d7bcb0454d16be08869f&oe=5D7F0538) BÀI GIẢNG, tài liệu học tập, giảng dạy được soạn ra trên cơ sở sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, về một số nội dung cụ thể của vấn đề huấn luyện (môn học) giúp người học hiểu sâu nội dung chủ yếu của vấn đề huấn luyện (môn học). Yêu cầu: nội dung BG phải bảo đảm tính chính xác, bao hàm được kiến thức mới, có tư liệu minh họa, kết cấu BG phải lôgic, có tính hướng dẫn, khêu gợi cho người học. BÃI BIỂN HIRÔN (TBN. Playa Giron), bãi biển trên bờ Vịnh Con Lợn, nam t. Matandat, miền Trung Cuba. 17- 19.4.1961 QĐ CM Cuba đã đập tan cuộc đổ bộ của lực lượng phản CM được Mĩ tuyển mộ và trang bị lên BBH (x. trận Hirôn, 17-19.4.1961). BÃI CẠN, vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao bị ngập nước. Khi toàn bộ hoặc một phần BC ở cách lục địa hoặc một đảo của quốc gia ven biển một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên BC này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải. Khi các BC hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một hải đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì các BC đó không có lãnh hải riêng. Cg bãi cạn lúc chìm lúc nổi. BÃI CẠN LÚC CHÌM LÚC NỔI nh BÃI CẠN BÃI CỌC CHỐNG ĐỔ BỘ, dải (khu vực) địa hình, tuyến mép nước ven sông, biển, vùng địa hình ngập nước... được bố trí các lớp, hàng cọc ngầm dưới mặt nước hay trên cạn tạo thành bãi cọc ngăn chặn đổ bộ. Có: bãi cọc chống tàu, xuồng đổ bộ, xe tăng bơi, tăng lội nước; bãi cọc chống máy bay trực thăng đổ bộ, chống nhảy dù. Có thể dùng các cọc chế thức hay ứng dụng bằng gỗ, thép hình chữ u, I, bê tông... được tính toán để bố trí BCCĐB; cọc phải chôn chắc chắn và cao hơn mặt đất l,2-l,5m, tạo thành hình hoa mai, có thể kết hợp bố trí các hố bẫy tăng. Vd: BCCĐB trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938), đời Trần chống quân Nguyên - Móng (1288). Trong KCCP, Thu Đông 1947 ở Việt Bắc đã bố trí bãi cọc chống nhảy dù đạt hiệu quả tốt. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2019, 03:51:37 pm BÃI CỌC CHỐNG TĂNG, dải (khu vực) địa hình bố trí các loại cọc chôn nghiêng về phía đối phương theo hình hoa mai dùng để chống tăng. BCCT thường có 5-6 hàng, khoảng cách giữa các cọc (nhóm cọc) trong hàng l,5-2m, khoảng cách giữa các hàng cọc thường 2,5-3m; có thể dùng các cọc chế thức hay ứng dụng, bằng gỗ, thép hình chữ u, I, bê tông... BCCT thường bố trí kết hợp với các loại vật cản như hố bẫy, vách cản tăng, hào chống tăng và các loại vật cản nổ khác để tăng hiệu quả chiến đấu và gây khó khăn trong việc khắc phục. BÃI MÌN, khu vực địa hình có bố trí mìn theo một quy cách nhất định, tạo thành bãi vật cản nổ; bộ phận quan trọng của hệ thống vật cản. Được bố trí trước tiền duyên, cạnh sườn, nơi tiếp giáp và trong chiều sâu phòng ngự. Theo công dụng, có BM: chống tăng, chống bộ binh, chống đổ bộ, hỗn hợp; theo phương thức gây nổ, có BM: điều khiển (vô tuyến điện hoặc hữu tuyến điện) và không điều khiển (nổ dưới tác dụng cơ học trực tiếp). BM có thể được bố trí trước hoặc trong quá trình tác chiến. BÃI MÌN CHỐNG ĐỔ BỘ, bãi mìn được bố trí ở khu vực dự kiến địch đổ bộ, nhằm ngăn chặn, tiêu diệt các lực lượng đổ bộ. Tùy thuộc vào ý định và đối tượng tác chiến, BMCĐB được bố trí các loại mìn có điểu khiển hay không có điều khiển nổ. Có BMCĐB: đường không, đường biển và đường sông. BMCĐB đường không thường bố trí mìn định hướng, mìn phóng, mìn chống bộ binh... với nhiều loại ngòi nổ khác nhau và thường là có điều khiển nổ. BMCĐB đường biển, đường sông, thông thường dưới nước bố trí các loại thủy lôi (mìn hải quân) như thủy lôi đáy, thủy lôi neo... với các loại ngòi nổ tiếp xúc (sừng chạm, anten, điện - chạm nổ...) hoặc không tiếp xúc (âm thanh, từ tính, thủy động...); trên cạn bố trí mìn chống tăng, mìn chống bộ binh... Hiệu quả chiến đấu của BMCĐB chủ yếu phụ thuộc vào: vị trí bố trí, yếu tố bí mật bất ngờ, thời cơ bố trí, tính chất bãi mìn (chủng loại mìn, quy mô và mật độ bãi mìn...) kết hợp yếu tố kĩ thuật với ý định tác chiến và hỏa lực cảnh giới bảo vệ... Trong KCCM, công binh QGPMN VN đã bố trí BMCĐB đường biển ở khu vực Vạn Tường. BÃI MÌN CHỐNG TĂNG, bãi mìn trong đó chủ yếu bố trí mìn chống tăng nhằm ngăn chặn sức đột kích của xe tăng, cản trở đội hình cơ động, phá hủy xe tăng và xe cơ giới địch; tạo điều kiện cho các phương tiện hỏa lực khác tiêu diệt địch. BMCT thường bố trí ở hướng tiến công của xe tăng, bộ binh cơ giới địch hoặc trên dường hành quân cơ động, khi địch tăng viện, phản kích... Mật độ mìn trong BMCT phụ thuộc vào yêu cầu tác chiến, khả năng trang bị và phương tiện phóng rải. BMCT có thể bố trí bằng tay, xe hoặc moóc rải mìn, pháo, máy bay... các loại mìn có điểu khiển, không có điều khiển nổ. Để tăng khó khăn trong việc khắc phục của đối phương, một số nước thường dùng mìn chống bộ binh có bẫy hoặc có bộ phận tự hủy bố trí xen kẽ trong BMCT. vd: QĐ Mĩ dùng mìn chống bộ binh BLU-92/B GATOR bố trí xen kẽ với BLU-91/B GATOR. Hiệu quả chiên đấu của BMCT chủ yếu phụ thuộc vào: vị trí bố trí (theo ý định tác chiến), yếu tố bí mật bất ngờ, quy mô và mật độ bãi mìn...; ngụy trang, sự kết hợp chặt chẽ với hệ thống hỏa lực. BÃI MÌN ĐIỂU KHIỂN, bãi mìn bố trí các loại mìn được gây nổ do người hoặc mìn tự động điều khiển. Điều khiển nổ có thể bằng vô tuyến hay hữu tuyến. Các loại mìn dùng cho BMĐK phải có ngòi nổ hoạt động theo nguyên lí điều khiến đã chọn. Hiện nay, các nước có KTQS tiên tiến thường dùng các loại mìn tự động điều khiển để thiết lập bãi mìn theo dự kiến. BMĐK bằng vô tuyến thường dùng trong đánh giao thông, đánh địch đổ bộ đường không. BÃI MÌN HỖN HỢP, bãi mìn có bố trí xen kẽ các loại mìn khác nhau nhằm làm tăng hiệu quả và đối tượng sát thương; bộ phận của hệ thống vật cản. BMHH thường bố trí để bảo vệ các điểm tựa, chốt, cụm chốt, căn cứ, làng xã chiến đấu, biên giới. Quy mô và mật độ của BMHH tùy thuộc yêu cầu chiến thuật, cách thức bố trí, phương tiện rải và tính năng chiến-kĩ thuật của mìn. Bố trí BMHH có thể bằng tay, xe cơ giới, pháo, tên lửa và máy bay. Khi bố trí bằng tay, xe cơ giới có mìn chống tăng và mìn chống bộ binh thì mìn chống tăng được bố trí trước, mìn bẫy phải bố trí sau cùng. BÃI SẬY, vùng đầm lầy thuộc các huyện Văn Giang (phủ Thuận An, t. Bắc Ninh), Đông Yên (phủ Khoái Châu, t. Hưng Yên), Đường Hào (phủ Bình Giang, t. Hải Dương), nay là các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mĩ, Mĩ Hào (t. Hưng Yên); đông nam Hà Nội 20-40km. Hình thành do đê Văn Giang vỡ liên tục 18 năm (1871-89), đồng ruộng ngập lụt, bỏ hoang, lau sậy mọc kín. Lợi dụng địa hình hiểm trở, Đinh Gia Quế (Đổng Quế) sử dụng BS làm căn cứ chống Pháp, sau được Nguyễn Thiện Thuật (Tán Thuật) củng cố trở thành căn cứ chính của khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-92), khống chế các trục giao thông quan trọng và một vùng rộng lớn ở phía đông đồng bằng Bắc Bộ. Ngày nay không còn dấu vết. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 08:45:47 pm BÃI TẬP, khu vực địa hình được chuẩn bị trước (có thể được lắp đặt các thiết bị) dùng để luyện tập, hội thao và kiểm tra các môn: kĩ thuật, chiến thuật, điều lệnh, thể dục, thể thao... BT phải phủ hợp với yêu cầu nhiệm vụ, chương trình luyện tập của đơn vị; sát với thực tế chiến đấu. BT được bố trí gần khu vực đóng quân thường xuyên của đơn vị hoặc là bộ phận của trung tâm luyện tập. BÃI TIÊU TẨY, khu vục địa hình xác định được bố trí lực lượng tiêu tẩy chuyên môn theo quy tắc nhất định nhằm tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho các đối tượng nhiễm. Thường nằm trong trạm tiêu tẩy, gồm: vị trí kiểm tra phân luồng điều chỉnh, vị trí phân loại khí tài nhiêm, vị trí tiêu tẩy vũ khí, trang bị kĩ thuật hoặc trang dụng, vị trí vệ sinh cho người, vị trí kiểm tra tiêu tẩy bổ sung, vị trí cất giữ chất tiêu tẩy; đường ra vào, công sự cho người và phương tiện. BTT do phân đội hóa học đảm nhiệm. BAICÔNUA (N. EaíiKOiiyp), sân bay vũ trụ ở bắc tp B (tên cũ: Lêninxcơ). tỉnh Kưdưloocđa (Cadắcxtan) 25km. cách thị trấn Baicônua 300km về phía tây nam. Cg sân bay vũ trụ Tiuratam, theo tên thị trấn cũ ở đông bắc tp B hiện nay. Do LX xây dựng từ 1955. Gồm một số tổ hợp thiết bị phóng, khu kĩ thuật và các trạm đo đạc. Từ B đã thực hiện việc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất (4.10.1957), tàu vũ trụ mang theo nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Gagarin (12.4.1961), các con tàu vũ trụ Phương Đông, Rạng Đông, Liên Hợp (trong đó có chuyến bay của nhà du hành vũ trụ VN Phạm Tuân, 24.7.1980), các trạm vũ trụ Chào Mừng, Hòa Bình, nhiều vệ tinh nhân tạo của Trái Đất và các trạm tự động giữa các hành tinh. Sau khi LX tan rã, B thuộc chủ quyền của Cadăcxtan. Từ 3.1996 Cadăcxtan cho Nga thuê khu vực B, bao gồm cả sân bay vũ trụ và thành phố B với tổng diện tích 6.000km2, trong thời hạn 20 năm, được tiếp tục gia hạn mỗi lần 10 năm, giá thuê 115 triệu USD/năm. BÁM MỤC TIÊU, quá trình theo dõi hoặc vừa theo dõi vừa xác định liên tục tọa độ Và các tham số chuyển động của mục tiêu để thông báo, báo động, chọn thời điểm bắn, đảm bảo dẫn phương tiện chiến đấu tới diệt mục tiêu hoặc luôn nắm vững tình hình đối phương. Khi BMT chủ yếu dùng các khí tài (điều khiển bằng tay, tự động hoặc bán tự động), sao cho mục tiêu (ảnh hoặc tín hiệu) luôn nằm trong phạm vi kiểm soát của vũ khí hoặc khí tài trinh sát, điều khiển. BÁM TRỤ, 1) kiên trì đứng vững ở vị trí chiến đấu (điểm tựa, trận địa, tuyến, khu vực, địa bàn tác chiến...) đánh địch đến cùng. Yêu cầu của BT là dũng cảm, linh hoạt, mưu trí, vận dụng sáng tạo cách đánh, đạt cho được mục đích của trận chiến đấu (chiến dịch). BT không phải là “giữ vị trí một cách cứng nhắc, không rời vị trí chiến đấu”, mà kết hợp giữ vị trí chiến đấu với cơ động hợp lí trong phạm vi được phép để đánh địch có hiệu quả nhất, giữ vững địa bàn (khu vực) được giao; 2) kiên trì ở lại vùng địch tạm chiếm để hoạt động đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang của cán bộ dân chính đảng, LLVT và nhân dân địa phương nhằm duy trì và phát triển lực lượng CM và kháng chiến giữ vững địa bàn. Nội dung BT thể hiện ở phương châm ba bám. BT có thể hoạt động bí mật hoặc công khai, hợp pháp hoặc nửa hợp pháp. Trong KCCP và KCCM, quân dân ta đã thực hành BT phổ biến. BÁM TRỤ BIÊN PHÒNG, bám trụ của Bộ đội biên phòng trong khu vực phòng thủ biên giới để tác chiến và quản lí bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống. Khi xảy ra chiến tranh, bộ đội biên phòng phải dựa vào khu vực phòng thủ phối hợp với LLVT tại chỗ, tổ chức đánh địch, bám địa bàn bảo vệ dân, bảo toàn lực lượng, phối hợp tạo thế cho bộ đội chủ lực và LLVT địa phương tiêu diệt địch, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới. Trong thời bình, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ an ninh với quốc phòng, chuẩn bị chu đáo mọi mặt, giáo dục chính trị tư tưởng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ biên phòng, xây dựng phương án kế hoạch tác chiến cụ thể, dự trữ lương thực, thực phẩm, có kế hoạch bố trí, cơ động lực lượng và hiệp đồng chặt chẽ vối các LLVT trong khu vực phòng thủ. BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ, cơ quan quân sự địa phương ở cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tinh) và cấp xã (phường, thị trấn), có chức năng tham mưu cho cấp ủy đảng và chính quyền quản lí nhà nước về quốc phòng ở địa phương và trực tiếp chỉ huy bộ đội địa phương, dân quân tự vệ thuộc quyền về tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, tác chiến và làm các nhiệm vụ khác. BCHQS đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền cùng cấp, sự chỉ huy của cơ quan QS cấp trên và được gọi tên theo cấp tổ chức và tên riêng của đơn vị hành chính, vd: BCHQS huyện Củ Chi, BCHQS thành phố Nam Định, BCHQS xã Kim Liên. BCHQS được tổ chức 3.1947 với tên gọi huyện đội, xã đội dân quân; 4.1949 đổi thành huyện đội, xã đội; 10.1971 gọi là BCHQS huyện (xã), từ 2004 đổi thành huyện đội, xã đội và chỉ tổ chức BCHQS ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị xã hội. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 08:47:02 pm BAN CÔNG ĐOÀN QUỐC PHÒNG, cơ quan chuyên trách về công tác công đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam; trực thuộc TCCT. Thành lập theo quyết định số 480/QĐ-QP ngày 16.4.1979 của bộ trưởng BQP. Có nhiệm vụ: đề xuất chủ trương công tác vận động công nhân, viên chức quốc phòng; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức công đoàn toàn quân. BCĐQP hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp về mọi mật của TCCT; chỉ đạo về nghiệp vụ công tác công đoàn của Tổng liên đoàn lao động VN theo luật công đoàn và Điều lệ công đoàn VN. Trưởng ban đầu tiên: Phạm Sĩ Đôn. BAN CÔNG TÁC PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI, cơ quan chuyên trách công tác phụ nữ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; trực thuộc TCCT. Thành lập theo quyết định số 102/QĐ-QP ngày 10.3.1993 của bộ trưởng BQP. Có nhiệm vụ: đề xuất chủ trương công tác phụ nữ QĐ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức phụ nữ toàn quân. Hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp về mọi mặt của TCCT, chỉ đạo về nghiệp vụ công tác phụ nữ của Trung ương hội liên hiệp phụ nữ VN, theo Điều lệ Hội liên hiệp phụ nữ VN. Trưởng ban đầu tiên: Vũ Thị Hồng. BAN CÔNG TÁC THANH NIÊN QUÂN ĐỘI. cơ quan chuyên trách giúp chủ nhiệm TCCT về công tác thanh niên trong Quân đội nhân dân Việt Nam; trực thuộc TCCT. Thành lập 8.1982 (tổ chức tiền thân là Phòng thanh niên QĐ thành lập 9.1955, trực thuộc Cục tổ chức). Có nhiệm vụ: đề xuất chủ trương công tác thanh niên QĐ; hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong toàn quân nhằm tố chức, giáo dục bồi dưỡng thanh niên thành những quân nhân CM ưu tú, lực lượng dự bị tin cậy của ĐCS VN, đội quân xung kích CM trên các lĩnh vực hoạt động, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị, của QĐ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. BCTTNQĐ hoạt động dưới sự chỉ đạo mọi mặt của TCCT và của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh về nghiệp vụ công tác thanh niên. Trưởng ban đầu tiên: Nguyễn Văn Thước. (Xt công tác thanh niên trong Quân đội nhân dân Việt Nam). BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ (BỐN BÊN, HAI BÊN), tổ chức QS liên hợp bốn bên (VN DCCH, Cộng hòa miền Nam VN, Mĩ, VN cộng hòa); và hai bên (Cộng hòa miền Nam VN, VN cộng hòa), được lập ra theo quy định của hiệp định Pari 1973 về Việt Nam để đảm bảo sự phối hợp của các bên trong việc thực hiện những điều khoản đã được xác định. Nhiệm vụ chính: theo dõi, kiểm tra, ngăn ngừa, điều tra, giải quyết những vi phạm, xung đột của các bên trong việc thi hành những điều khoản thuộc thẩm quyền. Làm việc theo nguyên tắc nhất trí, không có chủ tịch; các cuộc họp được triệu tập theo yêu cầu của bất cứ đại biểu nào, những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam. BLHQS bốn bên được tổ chức ở trung ương, khu vục và các địa phương, hoạt động trong thời hạn 60 ngày. BLHQS hai bên được thành lập và tổ chức hoạt động theo sự thỏa thuận của hai bên miền Nam VN. Do Mĩ và chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại hiệp định Pari 1973 về VN và liên tục cản phá những cuộc họp của các BLHQS(BB,HB), 22 và 23.6.1974 chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN và chính phủ VN DCCH ra tuyên bố đình chỉ không thời hạn việc tham dự các cuộc họp của các BLHQS. BAN MÊ THUẬT nh BUÔN MA THUỘT BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ HAI BÊN, tổ chức QS liên hợp lâm thời giữa VN và Pháp, được lập ra theo quy định của hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam để phối hợp hoạt động nhằm tạo thuận lợi cho việc thi hành những điều khoản về: ngừng bắn đồng thời và toàn diện: tập kết các LLVT; tôn trọng giới tuyến giữa các vùng tập kết và khu phi quân sự. về tổ chức và hoạt động của BLHQSHB: mỗi bên có số đại biểu bằng nhau, do sĩ quan cấp tướng làm trưởng đoàn; lập các nhóm liên hợp gồm một số sĩ quan của hai bên với số lượng bằng nhau; bảo đảm sự liên lạc giữa hai bên để soạn thảo kế hoạch thi hành những điều khoản đã thỏa thuận; cùng nhau giải quyết mâu thuẫn nẩy sinh trong quá trình thực hiện hiệp định. 1955 BLHQSHB chấm dứt hoạt động. BAN QUÂN DÂN Y, tổ chức phối hợp liên ngành giữa quân y và dân y ở địa phương, có chức năng chỉ đạo và điều hành các lực lượng quân dân y đóng trên địa bàn thực hiện các nhiệm vụ y tế QS địa phương và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Được tổ chức ở cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thị xã, quận) và xã (phường). BQDY tỉnh được thành lập ở tất cả các tỉnh, do giám đốc sở y tế làm trưởng ban, chủ nhiệm quân y tỉnh đội làm phó ban. Các BQDY huyện và xã chỉ thành lập ở những địa phương cần thiết, trước hết là các dịa phương thuộc vùng biên giới và hải đảo. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 08:54:01 pm BÀN ĐẠC CHỈ HUY BẮN PHÁO BINH, khí tài chỉ huybắn pháo binh, dùng để cơ khí hóa việc xác định phần tử đo đạc mục tiêu, phần tử bắn và giải các bài toán thường gặp trong xạ kích. Bộ phận chủ yếu: mặt bàn đạc, vành độ hướng, ổ giữa, thước đồ giải, thanh thước tầm, thước tọa độ. BĐCHBPB cho phép bảo đảm mức chính xác và rút ngắn thời gian chuẩn bị phần tử bắn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu cấp đại đội, tiểu đoàn và cụm pháo binh. Hiện pháo binh QĐND VN đang sử dụng các loại BĐCHBPB: PUO-9, PUO-9M (LX)... và trang bị cho các phân đội kế toán pháo binh. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65315009_440987136631172_3186922611883900928_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQkKBPcHIg8BNdlZmAdmLb3BQMeNjHqfeP3_7gTS6H_7ZtimcyPjonfRpv1tQORtTRA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=914161552da5a77445858f0279bc77ac&oe=5D8AE000) Bàn đạc PUO-9 BÀN ĐẠP, 1) khu vực địa hình trên bờ của chướng ngại nước do bộ đội tiến công đánh chiếm trước khi thực hành vượt chướng ngại nước bằng sức mạnh; 2) khu vực địa hình trên bờ biển do bộ đội đánh chiếm trong chiến dịch đổ bộ đường biển nhằm đảm bảo cho đổ bộ và triển khai lực lượng chủ yếu của quân đổ bộ; 3) vùng lãnh thổ một nước sử dụng để tập trung và triển khai LLVT chuẩn bị tiến công sang nước khác. “BÀN VỂ CHIẾN TRANH”, tác phẩm của Claodơvit, xuất bản 1832. “BVCT” gồm những vấn đề: định nghĩa chiến tranh (hành vi bạo lực dùng để buộc đối phương phục tùng ý chí của mình); bản chất chiến tranh (sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác); mục đích chiến tranh (tiêu diệt lực lượng QS địch, chiếm lãnh thổ, đánh bại ý chí kẻ địch, trong đó tiêu diệt lực lượng QS địch là mục đích bao trùm nhất); quy luật tối cao trong chiến tranh (giải quyết bằng sức mạnh của vũ khí); biện pháp đi đến mục tiêu chiến tranh (chiến đấu); tính chất chiến tranh (chỉ đề cập tính chất kĩ thuật - QS của chiến tranh: quy mô, phương thức tác chiến, thời gian và thành phần tham chiến...) và các vấn đề thiên tài QS, mối quan hệ chiến tranh với các hoạt động xã hội, tổ chức lực lượng và nghệ thuật QS... “BVCT” là nền tảng của hệ thống lí luận QS tư sản, góp phần phát triển kho tàng tri thức khoa học QS, nghệ thuật QS thế giới. "BÀN VỀ ĐÁNH LÂU DÀI" x. “LUẬN TRÌ CỬU CHIẾN" “BÀN VỂ KHẨU HIỆU GIẢI TRỪ QUÂN BỊ”, bài viết của Lênin đăng trong văn tập “Người dân chủ - xã hội” số 2, tháng 12.1916 phê phán lập trường của phái Cauxki đối với giải trừ quân bị, chỉ rõ quan điểm sai lầm của nhiều người thuộc cánh tả ĐXHDC Thụy Sĩ, Hà Lan và các nước vùng Xcanđinavơ về chủ trương thay yêu sách vũ trang nhân dân trong cương lĩnh của các ĐXHDC bằng yêu sách giải trừ quân bị. Với quan điểm lịch sử cụ thể khi đặt vấn đề giải trừ quân bị. Lênin phân tích: mối liên hệ giữa yêu sách giải trừ quân bị với cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội, trong đó khẳng định giải trừ quân bị là mục tiêu của CNXH và trong những điều kiện nhất định cần phải đưa ra yêu sách giải trừ quân bị để bảo vệ hòa bình, giảm bớt nguy cơ chiến tranh, nhưng trong xã hội tư bản, khi giai cấp tư sản vũ trang để chống lại giai cấp vô sản, thì việc đòi giải trừ quân bị là không thực tế, tức là phủ nhận đấu tranh giai cấp và từ bỏ mọi tư tưởng làm CM, trái lại, cần phải vũ trang cho giai cấp vô sản để chiến thắng giai cấp tư sản, đó là sách lược duy nhất mà giai cấp CM có thể tiến hành; mối liên hệ giữa yêu sách giải trừ quân bị và chủ nghĩa cơ hội, khẳng định đấu tranh chống CNĐQ mà không kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì chỉ là lòi nói suông hoặc sự lừa bịp. “BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP”, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc {Hổ Chí Minh) viết 1921-25 bằng tiếng Pháp. Được xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp (ở Pari 1925, ở VN 1946). bằng tiếng Việt 1960. Gồm 12 chương và một phụ lục. “BACĐTDP” vạch rõ sự thối nát của bộ máy cai trị thực dân ở thuộc địa, tố cáo và lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân và thực dân Pháp; coi đó là nguồn gốc nảy sinh mâu thuẫn không thể điều hòa giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân. “BACĐTDP” chỉ ra vị trí, vai trò của CM thuộc địa, mối quan hệ của CM thuộc địa với CM chính quốc và CM vô sản thế giới. “BACĐTDP” mở đầu cuộc tiến công mới, quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân, trước hết là thực dân Pháp, đồng thời thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh tự giải phóng mình. “BACĐTDP” góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào VN, chuẩn bị cho việc thành lập ĐCS VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 08:56:21 pm BẢN ĐỒ, hình ảnh thu nhỏ và khái quát hóa của một phần bề mật Trái Đất lên mặt phẳng theo những quy luật toán học nhất định. Nội dung BĐ được thể hiện bằng các kí hiệu, màu sắc, ghi chú... BĐ được phân loại theo nội dung: BĐ địa lí, BĐ địa hình, BĐ chuyên đề...; theo tỉ lệ: lớn, vừa, nhỏ. BẢN ĐỒ ẢNH, bình đồ ảnh trên đó các yếu tố địa hình cơ bản được biểu thị rõ bằng các kí hiệu bản đồ địa hình. BĐA được dùng vào các mục đích tương tự như bản đồ địa hình và được lập ra cho các khu vực cần thiết đối với hoạt động QS mà không có bản đồ địa hình tỉ lệ lớn. BẢN ĐỒ BAY, bản đồ hàng không trên đó đã chọn và vạch đường bay, tính toán chuyến bay, ghi việc định hướng bằng mắt và bằng vô tuyến điện, kiểm tra đường bay và các tính toán khác liên quan đến chuyến bay. BẢN ĐỔ CHUYÊN DỤNG, bản đồ dùng riêng cho một mục đích nhất định, được thành lập mới hoặc cải biên từ bản đồ thông thường có bổ sung, chi tiết hóa những nội dung cần thiết chưa có hoặc chưa rõ. Những loại BĐCD thường dùng trong QS: bản đồ hàng không dùng cho không quân để chuẩn bị và tiến hành các chuyến bay; bản đồ hàng hải dùng cho hải quân trong công tác bảo đảm hàng hải và dẫn đường; bản đồ giao thông phục vụ cho việc lập kế hoạch và tiến hành các cuộc hành quân, di chuyển lực lượng; bản đồ mạng khống chế QS và bản đồ ảnh có tọa độ các điểm địa hình dùng cho pháo binh và bộ đội tên lửa... BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỂ, bản đồ thể hiện các yếu tố phục vụ cho việc nghiên cứu một hoặc tổng hợp một số nội dung chuyên môn nhất định về tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội. Những loại BĐCĐ thường gặp: bản đồ địa chất, bản đồ giao thông, bản đồ địa mạo. bản đồ khí hậu, bản đồ dân cư, bản đồ kinh tế... BĐCĐ thường được thể hiện trên nền bản đồ địa lí chung và tập trung biểu thị các nội dung thuộc chuyên đề nghiên cứu. Cg bản đồ chuyên môn hay bản đồ chủ đề. BẢN ĐỒ CÔNG TÁC, bản đồ của người chỉ huy và cơ quan dùng để thể hiện tình hình và diễn biến tác chiến bằng kí hiệu, bảng biểu, ghi chú; thuộc văn kiện tác chiến. Có BĐCT của người chỉ huy, của cán bộ tham mưu, của các binh chủng, quân chủng, ngành... BĐCT của người chỉ huy có thể bổ sung thành bản đồ quyết tâm tác chiến, thường dùng để quán triệt nhiệm vụ, đánh giá tình hình, hạ quyết tâm, giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng, báo cáo thông báo tình hình và làm cơ sở để soạn thảo các văn kiện cần thiết khác. BĐCT của cán bộ trong cơ quan chỉ huy chỉ thể hiện các nội dung có liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, binh chủng, quân chúng, ngành... theo chức trách của người sử dụng. BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH, bản đồ địa lí có tỉ lệ bằng hoặc lớn hơn 1:1.000.000, được chi tiết hóa và tiêu chuẩn hóa về nội dung và bố cục, thể hiện được các yếu tố cơ bản về tự nhiên, kinh tế, xã hội (dáng đất, thực vật, dân cư, đường sá, công trình kinh tế...). Được lập ra trên cơ sở mạng đo đạc chính xác và hệ thống kí hiệu tiêu chuẩn. (x. phần bản đồ minh họa ). BẢN ĐỒ ĐỊA LÍ, bản đồ biểu thị trạng thái, sự phân bố và quan hệ của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Theo nội dung, có: chung và chuyên đề; theo lãnh thổ, có: thế giới, châu, khu vực, nước...; theo tác dụng, cổ: tra cứu, giáo khoa, du lịch...; theo tỉ lệ, có: lớn, vừa, nhỏ... BẢN ĐỒ GIAO THÔNG, bản đồ chuyên đề thể hiện các yếu tố của mạng lưới giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không). Nội dung thể hiện gồm: các tuyến đường bộ cùng với cấp hạng và các tham số kĩ thuật của đường; các công trình đầu mối giao thông (nhà ga, bến cảng, sân bay...), vị trí và tham số kĩ thuật các công trình vượt chướng ngại (cầu, phà, ngầm, bến vượt...); độ rộng, độ sâu, tốc độ dòng chảy, bãi đá, bãi cát, bãi ngầm, lượng choán nước toàn tải tối đa của tàu lưu thông trên các tuyến đường thủy và neo đậu tại các bến đổ bộ, cảng sông, cảng biển...; vị trí, cấp hạng các sân bay... BẢN ĐỐ GỐC, bản đồ nguyên bản dùng để chế bản và nhân bản thành các bản đổ đưa vào sử dụng. Gồm các loại: BĐG tác giả, bản vẽ tay với đầy đủ nội dung theo thiết kế có độ chính xác, tỉ lệ và phù hợp các quy định trong quy phạm đo vẽ hoặc theo hợp đồng đặt hàng; BĐG biên vẽ, bản đồ nét được (khắc) vẽ trên bản nhựa để lập BĐG chế in có tỉ lệ và độ chính xác như quy phạm hoặc hợp đồng; BĐG chế in, bản đồ được in ra theo đúng kĩ thuật chế in (tuân thủ đầy đủ các quy tắc về màu sắc, đường nét, kí hiệu, kiểu và cỡ chữ...) để làm bản sao, bản chế in. BĐG chế in lại được chia ra thành các bản nét, bản chữ, bản nền màu... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 08:58:09 pm BẢN ĐỒ HÀNG HẢI, hải đồ chuyên dụng, phục vụ cho việc lập kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, tác chiến, giao thông vận tải, nghiên cứu khoa học, khai thác và bảo vệ các tài nguyên trên biển, đại dương bằng tàu, thuyền. Bao gồm: tổng đồ các vùng biển, bản đồ dẫn đường, bản đồ cảng vịnh và các bản đồ bổ trợ khác. Các yếu tố được thể hiện trên BĐHH gồm: đường bờ biển, địa mạo đáy biển; các cảng, bến đậu; hệ thống mốc định vị, các yếu tố thủy văn (chế độ dòng chảy, thủy triều), địa từ, các chướng ngại vật và khu vực nguy hiểm... Phần lục địa biểu thị các yếu tố tự nhiên, dân cư, mạng lưới giao thông dải ven biển có quan hệ đến hoạt động tác chiến, huấn luyện; hệ thống vật chuẩn phương vị... BẢN ĐỒ HÀNG KHÔNG, bản đồ địa lí hoặc bản đồ địa hình làm nổi bật các yếu tố liên quan đến hàng không: sân bay, đài dẫn đường, các vật chuẩn định hướng, khu vực có dị thường từ tính... BĐHK dùng cho việc dẫn đường khi chuẩn bị và thực hiện chuyến bay. BẢN ĐỒ HỌC, khoa học nghiên cứu lí thuyết, phương pháp và kĩ thuật thành lập và sử dụng các loại bản đồ và các sản phẩm đồ bản khác như mô hình, bình đồ, mặt cắt ngang... Gồm các bộ môn: lí thuyết bản đồ, toán bản đồ, thành lập và biên tập bản đổ, trình bày bản đồ, xuất bản bản đồ và đo bản đồ. Cơ sở lí luận của BĐH là quan hệ giữa các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu (vị trí, kích thước, tính chất vật lí, các tham số định lượng và định tính, sự phân bố trong không gian và biến đổi theo thời gian... của các sự vật, hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội) với các quy tắc, quy ước khái quát hóa và biểu diễn chúng bằng các kí hiệu tượng hình. BĐH có quan hệ chặt chẽ với các khoa học Trái Đất và nhiều ngành khoa học khác. BẢN ĐỒ HỔNG ĐỨC, bộ bản đồ nước Đại Việt hoàn thành năm Hồng Đức thứ 21 (1490, triều Lê Thánh Tông). Gồm bản đồ chung cả nước và bản đồ riêng 13 thừa tuyên (Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Lạng Sơn, An Bang, Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam, phủ Trung Đô), gồm 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6.851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường. Thời Lê - Trịnh có sửa chữa, bổ sung. Hiện chỉ còn bản sao. 1467 Lê Thánh Tống đã ra sắc chỉ cho các thừa tuyên vẽ bản đồ của từng thừa tuyên gửi về Bộ hộ. Tập bản đồ đầu tiên hoàn thành 1469, nay đã thất truyền. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65009032_440987176631168_7946503612945924096_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkegIOap64SXIhbJHOei5sIrWrLcyCAhajjfnzV_TLBcdD53mYse_aAH5bQKJq4MDw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ff24726980db3c04d3d8047e5b837804&oe=5DBF9A83) Tờ bản đổ Đại Việt trong bộ bản đổ Hổng Đức BẢN ĐỒ KHÍ HẬU, bản đồ phản ánh đặc điểm khí hậu các vùng lãnh thổ theo số liệu nhiều năm, hàng năm, mùa, hàng tháng. Gồm các loại: bản đồ các nhân tố khí hậu (tổng bức xạ Mặt Trời, cân bằng bức xạ, số giờ nắng); bản đồ chế độ nhiệt (nhiệt độ trung bình năm, tháng...); bản đồ chế độ ẩm (lượng mưa trung bình năm, mùa, tháng, số ngày mưa, độ ẩm không khí...); bản đổ chế độ gió (hướng, tần suất, tốc độ gió); bản đồ các hiện tượng khí quyển (số ngày sương muối, bão, gió nóng...); bản đồ khí hậu ứng dụng (khí hậu nông nghiệp, khí hậu kĩ thuật...); bản đồ phân vùng khí hậu. Thường được lập ở tỉ lệ nhỏ. Phương pháp biểu thị chủ yếu là dùng các đường đẳng trị (đẳng áp, đẳng nhiệt...) kết hợp với thang tầng màu và biểu đồ định vị hoặc hướng mũi tên. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:00:03 pm BẢN ĐỔ NỔI, bản đồ thể hiện các yếu tố địa hình theo mô hình không gian ba chiều. Thường sử dụng tỉ lệ 1:50.000- 1:1.000.000. Địa vật trên BĐN được thể hiện bằng cách kết hợp các mô hình nổi với các kí hiệu bản đồ thông thường. Được chế tạo bằng cách bồi dán các lớp vật liệu theo độ cao rồi dán bản đồ in trên giấy lên mặt, hoặc in trên vật liệu dẻo và dập nổi bằng khuôn. Để dễ phân biệt sự thay đổi của địa hình, tỉ lệ theo phương thẳng đứng được làm lớn hơn tỉ lệ theo phương nằm ngang. Mức độ khác biệt giữa hai tỉ lệ phụ thuộc vào đặc điểm dáng đất khu vực địa hình; thông thường với địa hình núi cao là 2-5 lần, địa hình đồi 5-10 lần, địa hình bằng phẳng 10-25 lần. BĐN có tính trực quan cao về địa hình, nhưng khó đo, tính tọa độ và khoảng cách. Hiện công nghệ bản đồ số cho phép thay BĐN bằng các mô hình không gian ba chiểu của địa hình, có thể quan sát trên thiết bị chuyên dùng hoặc in ra giấy theo những góc nhìn tùy chọn, với tỉ lệ theo phương thẳng đứng bằng hoặc lớn hơn tỉ lệ theo phương nằm ngang, phục vụ hiệu quả cho việc nghiên cứu địa hình, xây dựng kế hoạch tác chiến và nhiều ứng dụng quan trọng khác. BẢN ĐỔ QUYẾT TÂM TÁC CHIẾN, bản đồ thể hiện quyết tâm tác chiến của người chỉ huy. Nội dung chính thường gồm: nhiệm vụ trên giao; đánh giá tình hình các mặt (địch, ta, bạn...); ý định tác chiến; nhiệm vụ các đơn vị thuộc quyền; những biện pháp chính về chỉ huy, hiệp đồng, bảo đảm; thời gian. Trên BĐQTTC có phần vẽ và phần thuyết minh (bảng kẻ, văn bản...). Cơ quan tác chiến soạn thảo, người chỉ huy kí, cấp trên trực tiếp phê chuẩn. BẢN ĐỔ SỐ, bản đồ thành lập dưới dạng cơ sở dữ liệu máy tính, trong đó toàn bộ thông tin về các đối tượng được mã hóa thành dữ liệu số và lưu giữ trên các băng, đĩa từ, đĩa quang. Được thành lập trên cơ sở xử lí số liệu nhận được từ các thiết bị quét chuyên dụng, các ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, viễn thám hoặc số hóa các bản đồ đã được chế tác theo phương pháp cổ điển. Thông tin trong BĐS thường được tổ chức quản lí theo các lớp - tập hợp các dữ liệu có cùng thuộc tính (vùng, đường, điểm, chữ) về các đối tượng cùng loại, thể hiện một nội dung (một mục thông tin) của bản đồ tổng thể. Số lượng các lớp tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể, nguồn cung cấp dữ liệu (các cơ sở dữ liệu ảnh quét có thể cho hàng trăm lớp) và khả năng quản lí của phần mềm chuyên dùng. Tùy theo yêu cầu sử dụng, các lớp thông tin có thể được hiển thị trên màn hình hoặc in trên giấy với tỉ lệ tùy chọn, riêng biệt hoặc chồng xếp với nhau tạo thành các bản đồ theo chủ đề thích hợp. BẢN ĐỒ TÌNH HUỐNG, bản đồ thể hiện diễn biến tình hình tác chiến để theo dõi tình hình, hạ quyết tâm, xứ lí tình huống, sơ kết, tổng kết sau chiến đấu. Trên BĐTH cần ghi đầy đủ mọi diễn biến tình hình về địch, ta. bạn và những tình hình khác có liên quan, đặc biệt thể hiện rõ những tình huống lớn của chiến dịch (trận chiến đấu). BẢN ĐỒ TRỰC ẢNH. bản đồ địa hình kết hợp giữa ảnh trực giao và bản đồ chiếu hình, được thành lập từ các bức ảnh được nắn chuyển về mặt phẳng theo các điểm khống chế bằng phương pháp chiếu song song theo phương thẳng đứng, trên đó thể hiện bằng kí hiệu đồ họa các yếu tố của bản đồ địa hình như bình độ, hệ thống giao thông, thủy hệ... Nhờ phương pháp xử lí này, trên BĐTA loại trừ được sai số địa hình và có thể áp dụng cho mọi địa hình, bao gồm núi và núi cao, khác với bản đồ ảnh có sai số do việc thực hiện theo phép chiếu xuyên tâm, chỉ áp dụng cho vùng đồng bằng. BĐTA thành lập dễ dàng nhờ công nghệ bản đồ số. BẢN KÉO, địa điểm cách tây bắc trung tâm Điện Biên 4km; 1954 quân Pháp xây dựng thành cụm cứ điểm (gồm BK và đồi Độc Lập) thuộc phân khu Bắc, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cùng với Him Lam và đồi Độc Lập, BK thuộc các cứ điểm vòng ngoài, án ngữ hai trục đường từ Lai Châu và Tuần Giáo vào trung tâm Mường Thanh. 16.3.1954 các lực lượng QĐND VN bao vây, bức hàng địch ở BK, kết thúc đợt 1 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ. phẩm chất chính trị của một người (một tổ chức) đã phát triển đến mức có thế tự quyết định một cách độc lập, sáng tạo, làm chủ hành vi chính trị của mình trước những bước ngoặt và tình huống phức tạp về chính trị; không dao động, chùn bước trước gian khổ, khó khăn, kiên quyết đạt đến mục tiêu đã định. BLCT phản ánh trình độ giác ngộ lợi ích giai cấp, dân tộc, lòng tin vào sự tất thắng của sự nghiệp chính nghĩa. Biểu hiện bằng việc tích cực, tự giác tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, nhạy cảm, giải quyết mau lẹ những vấn đề chính trị - thực tiễn theo quy luật khách quan, phù hợp điều kiện lịch sử cụ thể. BLCT được hình thành từng bước trong quá trình giáo dục, rèn luyện và hoạt động thực tiễn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:01:41 pm BÁN ĐÁO, phần đất liền nhô ra biển, hồ hay sông, có ba mặt tiếp giáp với nước. Theo nguồn gốc hình thành, BĐ có thể là phần vươn dài tự nhiên của lục địa (phần lớn BĐ thuộc loại nảy) hoặc vốn là các đảo dần dần được nối liền với lục địa qua quá trình biến đổi địa chất. Khái niệm BĐ mang tính tương đối trong phạm vi khu vực địa lí bao quanh nó. BĐ có thể là một vùng rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng, bao gồm toàn bộ lãnh thổ một hoặc nhiều nước như các BĐ Arập (dt khoảng 3.220.000km2). Ấn Độ (2.090.000km2). bán đảo Trung Ấn (2.069.300km2), Triều Tiên, Bancăng...; cũng có thể lả một bộ phận nhỏ lãnh thổ một nước, một đơn vị hành chính như các BĐ Sơn Trà, Cam Ranh (VN), Liêu Đông, Lôi Châu (TQ), Phloriđa, Caliphoocnia (Mĩ), Camchatca (Nga)... BÁN ĐẢO LIÊU ĐÔNG, bán đảo ở nam tỉnh Liêu Ninh, đông bắc TQ, ngăn giữa vịnh Liêu Đông của Bột Hải và vịnh Triều Tiên của Hoàng Hải. Dt khoảng 22.400km2, lớn thứ hai TQ (sau bán đảo Sơn Đông). Chỗ rộng nhất ở phía bắc (giữa các cửa sông Liêu Hà và Áp Lục) khoảng 150km: mỏm tây nam tạo thành bán đảo Quan Đông. Địa hình đồi núi, độ cao trung bình 500m, chủ yếu thuộc dãy Thiên Sơn chạy dọc bán đảo theo hướng đông bắc - tây nam, đỉnh cao nhất 1.132m. Bờ biển dài 1.340km, khúc khuỷu; phía đông nam và tây bắc thấp và thoải, phía nam cao, chia cắt mạnh. Dọc bờ biển có các cảng lớn Đơn Đông, Đại Liên, Lữ Thuận (căn cứ hải quân). Doanh Khẩu. Ven bờ có trên 410 đảo. Khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, lượng mưa 650-1.000 mm/năm. Mật độ dân cư lớn. Sau chiến tranh Trung - Nhật (1894-95) bị cắt nhượng cho Nhật theo hòa ước Mã Quan (Simonoseki). Từ 1898 được Nga thuê phần phía nam bán đảo (gồm các cảng Đại Liên và Lữ Thuận), trong 25 năm; từ 1900 Nga chiếm BĐLĐ cùng với toàn bộ Mãn Châu. Sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-05) Mãn Châu tiếp tục bị Nhật chiếm. 8.1945 được Hồng quân LX giải phóng. 4.1955 QGP nhân dân TQ tiếp quản các vị trí của QĐ LX tại Lữ Thuận, Đại Liên, sau đó thu hồi toàn bộ bán đảo. BÁN ĐẢO TRUNG ẤN (A. Indochinese Peninsula), bán đảo ở Đông Nam Á, gồm lãnh thổ các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, phần lãnh thổ Malaixia trên bán đảo Malacca. Dt khoảng 2.000.000km2. Có vị trí chiến lược quan trọng, nằm gần đường hàng hải quốc tế nối liền các nước châu Âu với các nước Đông Á và Đông Nam Á. Địa hình nhiều núi và cao nguyên, thấp dần từ bắc xuống nam. Các dãy núi lớn: Patcai, Naga, Aracan (Mianma), Tanentaungi, Bilauctaung (giũa Mianma và Thái Lan), Trường Sơn (giữa Lào và VN). Các cao nguyên lớn: Còrạt (Thái Lan), San (Mianma)... Thềm lục địa rộng, có nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho tàu thuyền trú đậu. Khí hậu cận xích đạo gió mùa, lượng mưa 1.000- 2.000mm/năm, ở bờ biển phía tây tới 5.000mm. Hệ thống sông ngòi dày đặc; các sông lớn: Mê Công, Xaluen, Iraoađi, Chao Phraya, Sông Hồng. Rất giàu tài nguyên: nhiều mỏ than, thiếc, vônfram, chì, kẽm, sắt, đồng, niken, bôxít, vàng, dầu mỏ, đá quý, cao su tự nhiên (về sản xuất cao su tự nhiên Malaixia đứng hàng đầu, Mianma đứng hàng thứ 3 thế giới). BÁN KÍNH HOẠT ĐỘNG CHIẾN THUẬT của máy bay, khoảng cách bay liên tục xa nhất mà máy bay có thể đạt được, tính từ vị trí cất cánh đến vị trí thực hiện nhiệm vụ được giao, trở về hạ cánh tại vị trí đã cất cánh khi không được tiếp dầu trên không; một tính năng chiến - kĩ thuật quan trọng của máy bay. BKHĐCTcmb phụ thuộc vào yêu cầu và phương pháp bay thực hiện nhiệm vụ được giao, như: lượng vũ khí và nhiên liệu mang trên máy bay, lượng dự trữ nhiên liệu an toàn và nhiên liệu chiến đấu, yếu tố chiến thuật trong sử dụng độ cao, tốc độ bay, số lượng máy bay trong đội hình, khả năng đánh trả của đối phương... BÁN KÍNH HOẠT ĐỘNG CHIẾN THUẬT của tàu, khoảng cách trên biển (tính bằng hải lí) lớn nhất mà tàu có nguồn động lực thông thường với lượng dự trữ nhiên liệu đẩy đủ có thể đi xa căn cứ với vận tốc kinh tế, đồng thời đảm bảo có đủ nhiên liệu để chiến đấu, giải quyết những tình huống bất trắc có thể xảy ra và trở về căn cứ xuất phát; một trong những chi tiêu quan trọng đánh giá khả năng hoạt động của tàu. Thông thường BKHĐCTct bằng 0,3-0,4 tầm đi xa của tàu. BKHĐCTct được xác định cho từng tàu, làm cơ sở cho việc xác định bán kính hoạt động chiến dịch của binh đoàn (cụm, nhóm) tàu. BÁN KÍNH SÁT THƯƠNG, bán kính hình tròn tính từ tâm nổ (điểm chiếu tâm nổ) của đạn trong đó các đối tượng (mục tiêu) bị diệt với xác suất không nhỏ hơn xác suất đã định (yêu cầu). Có thể dùng BKST kết hợp (do kết quả tác động đồng thời của các yếu tố sát thương tới mục tiêu) hay BKST của từng yếu tố sát thương riêng biệt. BKST được xác định bằng thực nghiệm (bắn thử, nổ thử...) hoặc tính toán. BKST mà trong giới hạn của nó, các mục tiêu đơn bị diệt với xác suất không dưới 90% gọi là BKST dày đặc. BKST mà trong phạm vi đó các mục tiêu đơn bị diệt với xác suất không dưới 50% gọi là BKST hiệu quả. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:03:20 pm BẢNG BẮN, bảng để xác định phần từ bắn khi bắn vào một mục tiêu nhất định, áp dụng cho các loại đạn của một mẫu (hệ) vũ khí cụ thể. BB thường gồm: các đồ thị và bảng số liệu, những chi dẫn chính khi bắn và tư liệu bổ trợ. Bảng số liệu gồm ba nhóm: số liệu cơ bản (các phần tử của máy ngắm, của ngòi nổ...), số liệu hiệu chỉnh (các lượng sửa bắn khi điều kiện thực tế khác điều kiện BB), số liệu phụ (các phần tử của đường đạn, thời gian bay của đạn, số liệu về tản mát...). Những chỉ dẫn khi bắn gồm các điều cấm hoặc hạn chế khi bắn, thông tin về đồng bộ đạn ngòi, quy tắc chọn liều phóng... Tư liệu bổ trợ gồm các bảng xác định lượng sửa về gió, lượng sửa do pháo... BB được lập bằng phương pháp tính toán lí thuyết kết hợp với bắn thực nghiệm cho các loại vũ khí khác nhau (bộ binh, pháo mặt đất, pháo cao xạ, tên lửa...). BB chia ra: BB đồng bằng (thường gặp nhất), BB miền núi, BB trên biển, BB vạn năng... Ngoài BB đầy đủ, còn có BB rút gọn (chỉ gồm những thông tin thiết yếu nhất) hay BB đồ thị (các bảng số được thay bằng các đồ thị). BẢNG CHẮP BẢN ĐỒ. sơ đồ ghép nối các mảnh bản đồ địa hình cùng loại về một khu vực nhất định. Trên sơ đồ chỉ rõ thứ tự các mảnh cùng với danh số, kí hiệu, lưới tọa độ khái lược; đồng thời thể hiện một số yếu tố địa hình đặc trưng như đường mép nước, các sông lớn, điểm cao nổi bật, biên giới quốc gia và địa giới các đơn vị hành chính lớn, vị trí các trung tâm dân cư chủ yếu... Được sử dụng để xác định danh số các mảnh bản đồ khi lập kế hoạch bảo đảm bản đồ các khu vực, cắt dán bản đồ... Trên lề mỗi mảnh bản đồ thường thể hiện bản chắp 9 mảnh gồm chính mảnh đó và 8 mảnh bao quanh. BẢNG CHỮ MẬT NGHIỆP VỤ VÔ TUYẾN ĐIỆN, văn kiện quy ước liên lạc vô tuyến điện gồm các nhóm chữ cái, chữ số hoặc hỗn hợp nhằm giữ bí mật khi trao đổi về mặt nghiệp vụ vô tuyến điện. Bao gồm: bảng chữ mật liên lạc điện báo, độ khẩn điện báo, thời gian thay đổi tần số, quy định về mã dịch... Ngoài ra, còn sử dụng một số luật Q, Z, chữ tắt quy ước của quốc tế và một số chữ mật nghiệp vụ khác. BCMNVVTĐ do BTL thông tin liên lạc ban hành và được sử dụng thống nhất trong các đơn vị thông tin toàn quân. BẢNG GIA ĐÌNH VẺ VANG, hình thức khen thường của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) đối với gia đình quân nhân trong KCCPvà KCCM. Sắc lệnh 129-SLngày 16.12.1952 và nghị định 11CP ngày 13.1.1968 quy định: bộ trưởng BQP tặng BGĐVV cho các gia đình có từ một đến hai con (cháu hoặc em còn ở chung) là cán bộ, chiến sĩ trong LLVTND VN (ba thứ quân) đã lập công trong KCCP và KCCM. BẢNG THÔNG BÁO KHÍ TƯỢNG TRUNG BÌNH, bản tổng hợp tin tức về điều kiện khí tượng cho các đơn vị pháo binh, tên lửa dưới dạng mã hóa. Có hai loại: BTBKTTB đầy đủ (gọi là BTBKTTB) và BTBKTTB gần đúng (eg BTBKTT B giản đơn). BTBKTTB do trạm khí tượng pháo binh lập dựa trên kết quả thăm dò tổng hợp khí quyển. BTBKTTB gần đúng do các vọng khí tượng lập dựa vào các yếu tố khí tượng đo được ở mặt đất và bảng hệ số khí tượng VN, hoặc căn cứ vào BTBKTTB đã quá thời hạn sử dụng (12 giờ). Giới hạn sử dụng hiệu quả của BTBKTTB gần đúng trong phạm vi bán kính (từ vọng khí tượng đến phân đội sử dụng) 2-3km, thời gian không quá 30ph. BTBKTTB dùng cho các đơn vị pháo binh và tên lửa để xác định lượng sửa điều kiện bắn. BẢNG VÀNG DANH DỰ, hình thức khen thưởng của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) đối với gia đình có nhiều con là quân nhân hoặc con là quân nhân có cống hiến đặc biệt trong KCCP và KCCM. sắc lệnh 129-SL ngày 16.12.1952 quy định tặng BVDD cho các gia đình có ba con (cháu hoặc em còn ở chung) trong LLVTND VN (ba thứ quân) đã lập công trong KCCP Nghị định 11CP ngày 13.1.1968 quy định việc tặng BVDD cho các gia đình có: từ ba con là quân nhân; hai quân nhân nhưng một là liệt sĩ, tử sĩ hoặc thương binh nặng; hai quân nhân đều là thương binh; hai cha con hoặc mẹ con đều là quân nhân; chỉ có hai con nhưng đều là quân nhân; một con đẻ duy nhất là liệt sĩ. BVDD do thủ tướng chính phủ tặng. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:04:35 pm BÀNH ĐỨC HOÀI (Peng Dehuai; 1898-1974), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955), tham gia sáng lập và lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; Ah CHDC nhân dân Triều Tiên (1953). Người h. Tương Đàm, t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCS TQ (1928). Năm 1930 chỉ huy quân đoàn đánh bại quân Tưởng ở Bình Gia, phó chủ tịch ủy ban QS CM nước Cộng hòa Xô viết. Tham gia chỉ huy Vạn lí trường chinh (1934-36), tư lệnh QGP ở tiền tuyến (1936). Trong kháng chiến chống Nhật, ủy viên Quân ủy trung ương, phó tổng tư lệnh Bát lộ quân, chỉ huy phong trào du kích ở Hoa Bắc, phát động đánh đường giao thông. Trong chiến tranh giải phóng chỉ huy hơn 20 nghìn bộ đội địa phương và cán bộ hậu cần đánh lui hơn 200 nghìn quân Tưởng do Hồ Tôn Nam chỉ huy (3.1947); vừa đánh vừa đàm phán, giải phóng 5 tỉnh ở Tây Bắc và làm tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1949). Khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1949) làm phó chủ tịch Hội đồng QS CM. Trong chiến tranh Triều Tiên, tư lệnh kiêm chính ủy quân tình nguyện TQ ở Triều Tiên (1950-52). Năm 1954-59 phó thủ tướng kiêm bộ trưởng BQPTQ. Ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS TQ (1934), ủy viên BCT (1936-59). BÀNH HỒ, quần đảo ở eo biển Đài Loan, nằm giữa bờ biển t. Phúc Kiến và đảo Đài Loan. Gồm 64 đảo, trong đó 21 đảo có người ở. Dt 127km2 (đảo lớn nhất là BH - 64km2); ds khoảng 114.000 người. Bờ biển bị chia cắt mạnh, khí hậu nhiệt đới gió mùa. Từ cuối tk 6 thuộc TQ. 1604 và 1624, hạm đội Hà Lan hai lần xâm nhập BH đều bị quân nhà Minh đánh đuổi. 1895 BH bị Nhật chiếm, 10.1945 TQ khôi phục chủ quyền. Từ 1949 do chính quyền Đài Loan quản lí. BÀNH VĂN KHÌU (Bành Khiu; s. 1941), Thầy thuốc nhân dân (1999), phó giáo sư (1993), giám đốc Viện y học cổ truyền quân đội (1990). Dân tộc Nùng, quê thị trấn Trùng Khánh, t. Cao Bằng; nhập ngũ 1971, đại tá (1996); đv ĐCS VN (1964). Năm 1959 cán bộ huyện đoàn, tham gia lãnh đạo phong trào hợp tác xã huyện Trùng Khánh. 1965-71 học tại Học viện trung y Bắc Kinh (TQ). 12.1971 bác sĩ Bệnh viện trung ương quân đội 108. Tháng 9.1981 chủ nhiệm khoa khám bệnh Viện y học cổ truyền QĐ. 12.1985 phó viện trưởng; 10.1990 viện trưởng Viện y học cổ truyền QĐ. Hơn 30 năm hoạt động nghiên cứu kết họp y học hiện đại với y học cổ truyền, có nhiều công trình khoa học được ứng dụng đạt hiệu quả cao như: "Điều trị trĩ và rò hậu môn bằng phương pháp kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền”, "Phòng chống sứa lửa trên biển bằng DAP", "Điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng MD", "Điều trị viêm loét hành tá tràng của KG". Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước "Bảo vệ nguồn gien cây, con thuốc" (có 6 đề tài nhánh phục vụ cho y học cổ truyền và bảo vệ môi trường sinh thái)... Tham gia đào tạo 60 thạc sĩ, 354 bác sĩ, 302 y sĩ chuyên ngành y học cổ truyền, hướng dẫn luận án 3 tiến sĩ và một số thạc sĩ... ủy viên Hội đồng khoa học Bộ y tế, phó chủ tịch: Hội châm cứu VN, Hội hậu môn - trực tràng VN; thường trực Hội đồng y học QS BQP, trướng ban y học cổ truyền BQP. ủy viên thường vụ thường trực Hội đông y VN... Huân chương: Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65034910_440987166631169_7794779830175662080_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmRTiMVFbNwaSDU8KuiZzJ79P-MPUV2LCuLj8_FJY59dIUKNzpqj4_5WIxa2uHyiBs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b2cf1b533968364cdbef212af09adb5b&oe=5D8950F2) BÁNH ÉP, lương khô ép thành bánh theo trọng lượng và kích thước nhất định, dùng để dự trữ. bảo đảm cho bộ đội trong hoạt động tác chiến và các hoạt động khác. Thuật ngữ BE xuất hiện trong QĐND VN vào những năm 80 tk 20. Trước đó loại BE gọi là lương khô (lương khô 701...). BANTICH. biển kín thuộc Đại Tây Dương, ăn sâu vào lục địa Bắc Âu giữa Thụy Điển, Phần Lan ở phía bắc, Đức, Ba Lan ở phía nam, Litva, Latvia, Extônia và Nga ở phía đông, thông với Biển Bắc bằng các eo biển giữa Đan Mạch và Phần Lan. Dt 419.000km2, sâu 40-100m. Các đảo lớn: Bon Hõm, Gôt Lan, Xaarêma, Hiiuma, Alan... Các vịnh chính: Bôtni, Phần Lan, Riga... Các sông chảy vào B: Neva, Daugava, Ode, Vixla, Neman. Nhiệt độ nước mùa đông l-3°c, trong các vịnh và ven bờ đóng băng, mùa hè 18-20°C. Độ mặn 6-11%0. Các thành phố và cảng chính: Xanh Pêtecbua (Nga), Talin (Extônia), Riga, Liepaia (Latvia), Claipeđa, Caliningrat (Nga), Gđanxcơ (Ba Lan), Rôxtôc, Kilơ, Luybêc (Đức), Côpenhaghen (Đan Mạch), Manmơ, Xtôckhôm (Thụy Điên), Henxinki, Turơcu (Phần Lan). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:05:57 pm BAO (HỘP) TIÊU ĐỘC CÁ NHÂN, phương tiện trang bị cho cá nhàn dùng để tiêu tẩy, khử sơ bộ những phần da người hoặc quân trang, vũ khí cá nhân bị nhiễm độc. Theo công dụng, có: B(H)TĐCN để tiêu độc đường hô hấp khi bị nhiễm chất độc kích thích, B(H)TĐCN để tiêu độc khi bị nhiễm chất độc thần kinh và loét da... Thông thường trong B(H)TĐCN có: ống đựng dung dịch rượu natri crezolat 15% (tiêu độc, khử nhiễm chất độc thần kinh); ống đụng dung dịch tiêu độc chất độc loét da; ống thuốc chống khói độc, giấy thấm và bản hướng dẫn sử dụng. Khi sử dụng B(H)TĐCN phải tuân thủ hướng dẫn. BAO VÂY, thủ đoạn tác chiến dùng lực lượng cô lập một bộ phận quân đối phương với các lực lượng khác của chúng nhằm không cho địch cơ động, tháo chạy và nhận sự chi viện từ mặt đất, mặt biển tạo điều kiện tiêu diệt hoặc tạo thế uy hiếp, khống chế để tiêu diệt lực lượng ứng cứu, giải vây hoặc tạo thuận lợi phát triển tiến công và hoàn thành các nhiệm vụ khác. BV có thể thực hiện ngay từ đầu hoặc trong quá trình tác chiến với các quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Để BV chặt quân địch thường phải tổ chức lực lượng trực tiếp BV, lực lượng tiêu diệt địch trong vòng vây, lực lượng chặn hoặc tiêu diệt quân ứng cứu, giải vây; lực lượng cắt đường bộ, đường thủy, đường không. Ở VN có các cuộc BV điển hình như: BV thành Đông Quan (Hà Nội), thành Xương Giang (phủ Lạng Thương, Bắc Giang 1426-27) và Điện Biên Phủ (1954). BV chiến lược được thực hiện bàng các liên binh đoàn chiến dịch, có thể kết hợp tác chiến trên bộ, trên không và trên biển cô lập cả một nước, chiến khu hoặc tập đoàn lực lượng chiến lược của địch nhằm hình thành thế chiến lược tiến công có lợi, làm địch suy yếu, tạo thuận lợi tiêu diệt tập đoàn lực lượng chiến lược của chúng, giành thắng lợi cho tác chiến chiến lược hoặc chiến tranh. Khi thực hiện BV chiến lược cần phối hợp chặt chẽ các mặt trận QS, chính trị, kinh tế, ngoại giao... BV chiến dịch được tiến hành bằng lực lượng chiến dịch, thực hiện cơ động, công kích bên sườn và phía sau liên binh đoàn chiến dịch của địch; phối hợp với các lực lượng khác cô lập chúng. BV chiến dịch thường phải sử dụng lực lượng đủ sức để BV chặt và chặn được lực lượng địch đến giải vây, có lực lượng cắt tăng viện, tiếp tế bằng đường bộ, đường thủy, đường không của địch. BV chiến thuật, do các phân đội, binh đội, binh đoàn tiến hành với mục tiêu hoặc địa bàn phòng ngự chiến thuật của địch. Trong BV chiến thuật thường dùng lực lượng ưu thế, vận dụng phương pháp cơ động và đột kích bên sườn, phía sau mục tiêu, để tiêu diệt lực lượng địch bị BV và lực lượng ứng cứu giải vây. BAO VÂY CHIA CẮT, thủ đoạn tác chiến dùng lực lượng bao vây và thực hành công kích từng phần, để chia nhỏ cụm quân địch, cô lập từng bộ phận của chúng, tạo điều kiện lần lượt tiến công tiêu diệt. Lực lượng BVCC thường tổ chức các bộ phận: bao vây, công kích, ngăn chặn quân tăng viện. BẢO AN BINH. LLVT của chính phủ Trần Trọng Kim; do Nhật xây dựng sau khi đảo chính Pháp (9.3.1945); gồm khoảng 6.000 lính khố xanh và lính dõng ở Bắc Kì, gần 5.000 lính khố xanh và hàng nghìn lính khố vàng ở Trung Kì, trên 2.000 lính thủ bộ ở Nam Kì trước đây do Pháp tổ chức nhưng đã đầu hàng Nhật trong đảo chính. Trong CM tháng Tám 1945, BAB không có hành động chống đối đáng kể, phần lớn đi theo CM. BẢO AN ĐOÀN, LLVT làm nhiệm vụ cảnh sát hành chính, bình định và bảo đảm an ninh lãnh thổ của chính quyền Sài Gòn. Thành lập 8.4.1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng bán QS (Bảo chính đoàn, Nghĩa dũng đoàn, Bảo chính quân Trung Việt, Địa phương quân Bắc Việt, vệ binh tinh, cảnh sát hương thôn Nam Việt) do Pháp bàn giao lại. Khi mới thành lập, BAĐ trực thuộc Bộ nội vụ, từ 19.11.1955 trực thuộc tổng thống và đến 3.12.1960 trực thuộc BQP như một binh chủng chiến đấu. Quân số 45.000 người (1955), 53.000 người (1958), biên chế thành 198 đại đội địa phương, 54 đại đội lưu động và 17 đại đội biên giới. Từ 10.4.1961 BAĐ có đơn vị tổ chức cao nhất là tiểu đoàn (có 46 tiểu đoàn, tính đến 12.1963). Đến 7.5.1964, đổi thành địa phương quân và trở thành một bộ phận của Quân lực Việt Nam cộng hòa. BẢO CHÍNH ĐOÀN, LLVT của chính quyền thân Pháp ở Bắc Kì, làm hậu thuẫn cho đảng Đại Việt. Thành lập 1948 (sau hiệp định Hạ Long 5.6.1948), chủ yếu làm nhiệm vụ an ninh, hành chính ở tỉnh; do Pháp tổ chức, trang bị và trả lương. Quân số (đông nhất) 1949 khoảng 5.000 người. 13.4.1949 trở thành vệ binh Bắc Việt (bộ phận của vệ binh quốc gia), gồm khoảng 2.000 người (còn 3.000 người hoạt động như dân vệ), tổ chức thành 4 liên đội (có 15 đại đội); cải tổ lại thành 3 tiểu đoàn (1953), gồm 15 đại đội chiến đấu và 3 đại đội chỉ huy, với quân số khoảng 2.700 người. Tan rã sau 7.1954; một bộ phận di cư vào miền Nam và trở thành lực lượng thuộc Bảo an đoàn 4.1955 (xt địa phương quân). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:07:16 pm BẢO DƯÕNG KĨ THUẬT, bộ phận của bảo đảm kĩ thuật, gồm toàn bộ các công việc và biện pháp tổ chức, kĩ thuật nhằm duy trì tính năng chiến - kĩ thuật của vũ khí, trang bị kĩ thuật và phòng ngừa hư hỏng. Được tiến hành ở mọi trạng thái (làm việc, vận chuyển, cất giữ...) và được chia ra; BDKT định kì và BDKT không định kì. BDKT định kì tính theo thời gian làm việc, số lần làm việc, số kilômét chạy...; được tiến hành theo kế hoạch và tạo thành chu kì bảo dưỡng của trang bị kĩ thuật. BDKT định kì được phân thành: BDKT-1, BDKT-2. BDKT không định kì gồm: BDKT rà trơn (đối với các trang bị mới hoặc sau sửa chữa lớn), BDKT thường xuyên (hằng ngày), BDKT bất thường (sau đợt làm việc liên tục hoặc quá tải)... Các nguyên công chính của BDKT: kiểm tra, làm sạch, siết chặt các mối lắp ghép, điều chỉnh, bổ sung hoặc thay dầu mỡ bôi trơn và nhiên liệu, khắc phục, thay thế những chi tiết phụ tùng bị hỏng hoặc hết tuổi thọ (BDKT-2). Quy trình BDKT được nêu trong tài liệu kĩ thuật kèm theo phương tiện, trang bị. Chất lượng và hiệu quả BDKT phụ thuộc vào điều kiện bảo đảm (dụng cụ, khí tài, vật liệu) và kĩ năng của người tiến hành. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT - 1, bảo dưỡng kĩ thuật định kì, tiến hành sau khi đã tiêu hao hết lượng dự trữ kĩ thuật hoặc hết thời gian hoạt động theo tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng kĩ thuật quy định hoặc ít nhất một lần trong một năm. Căn cứ vào tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng kĩ thuật từng loại vũ khí, trang bị kĩ thuật, yêu cầu thực tế các chuyên ngành kĩ thuật quy định thời gian, nội dung, định mức tiêu hao vật tư, phụ tùng, giờ công... đối với BDKT-1. Được tiến hành tại đơn vị hoặc trạm bảo dưỡng cấp trên, do lực lượng sử dụng hoặc có sự tham gia của phân đội sửa chữa thực hiện. Trước chiến đấu, trong điều kiện và thời gian cho phép có thể tiến hành BDKT-1 trước thời hạn. Trong chiến đấu, BDKT-1 thường tiến hành sau một ngày hoặc giữa các đợt chiến đấu, được phép làm phân đoạn, từng phần, rút gọn, bảo đảm không làm ảnh hưởng tới chiến đấu. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT - 2, bảo dưỡng kĩ thuật định kì, tiến hành sau một số lần bảo dưỡng kĩ thuật-1 hoặc sau một khoảng thời gian, điều kiện khai thác nhất định theo tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng kĩ thuật quy định. Quy trình BDKT-2 được nêu trong tài liệu kĩ thuật từng loại vũ khí, trang bị kĩ thuật. Tiến hành tại trạm bảo dưỡng sửa chữa (trung, lữ đoàn); do lực lượng sửa chữa thực hiện, có sự tham gia của lực lượng sử dụng. Trước chiến đấu, điều kiện và thời gian cho phép, có thể tiến hành BDKT-2 trước thời hạn. Sau chiến đấu, lập và thực hiện kế hoạch BDKT-2 theo phân cấp, được phép làm rút gọn, từng phần, phân đoạn, bảo đảm vũ khí, trang bị kĩ thuật sẵn sàng làm nhiệm vụ tiếp theo. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT ĐỊNH KÌ, bảo dưỡng kĩ thuật thực hiện theo kế hoạch và lặp lại theo một chu kì quy định cho từng loại vũ khí, trang bị kĩ thuật. Được tiến hành sau một khoảng thời gian và điều kiện khai thác nhất định (số kilômét sử dụng, giờ máy hoạt động, số lần làm việc...). BDKTĐK phân cấp thành: bảo dưỡng kĩ thuật-1 và bảo dưỡng kĩ thuật-2. Quy trình BDKTĐK được nêu trong tài liệu kĩ thuật từng loại vũ khí, trang bị kĩ thuật. Khi bảo dưỡng phải thực hiện hết nội dung, đúng quy trình công nghệ, bảo đảm chất lượng và thoi gian quy định. Trường hợp chiến đấu khẩn cấp, được phép tiếp tục sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật đã đến hạn hoặc quá thời hạn bảo dưỡng theo quy định, sau chiến đấu phải tổ chức bảo dưỡng kĩ thuật ngay. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT PHÂN ĐOẠN, bảo dưỡng kĩ thuật, thực hiện một số nhóm công việc kĩ thuật nhưng không thực hiện hết các nội dung của cấp bảo dưỡng định kì. Được tiến hành trong điều kiện chiến đấu, thường giữa các đợt chiến đấu hoặc sau một ngày chiến đấu, do người sử dụng và lực lượng sửa chữa đơn vị thực hiện. BẢO DƯÕNG KĨ THUẬT SỚM, bảo dưỡng kĩ thuật tiến hành trước thời hạn quy định của cấp bảo dưỡng tiếp theo, thực hiện các công việc được quy định của cấp bảo dưỡng đó. Thường BDKTS được tiến hành trước khi sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật vào chiến đấu, hành quân, diễn tập... nhằm bảo đảm tính năng chiến - kĩ thuật, độ tin cậy và hệ số kĩ thuật quy định. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT THƯỜNG XUYÊN, bảo dưỡng kĩ thuật thực hiện hàng ngày trước, trong và sau quá trình sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật. Nội dung gồm: làm sạch; kiểm tra tình trạng kĩ thuật, điều chỉnh; bổ sung đồng bộ; tra nạp nhiên liệu, dầu mỡ và chất lỏng chuyên dụng... Trong chiến đấu, BDKTTX được tiến hành giữa các đợt chiến đấu, sau một ngày đêm chiến đấu hoặc sau chiến đấu. BDKTTX chủ yếu tiến hành ở nơi sử dụng, do người sử dụng và lực lượng kĩ thuật tại chỗ thực hiện. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:08:27 pm BÁO DƯỠNG KĨ THUẬT TRONG CẤT GIỮ, bảo dưỡng kĩ thuật định kì tiến hành đối với vũ khí, trang bị kĩ thuật đang trong thời gian cất giữ, nhằm hạn chế tác động xấu của môi trường. Căn cứ vào tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng kĩ thuật, kết hợp với yêu cầu thực tế để quy định cấp bảo dưỡng, chu kì của từng cấp bảo dưỡng, nội dung công việc, định mức tiêu hao vật tư... của mỗi cấp bảo dưỡng cho từng loại vũ khí, trang bị kĩ thuật. Được tiến hành tại khu kĩ thuật hoặc trạm bảo dưỡng do lực lượng sử dụng và lực lượng sửa chữa thực hiện. BẢO DƯỠNG KĨ THUẬT VƯỢT CẤP, bảo dưỡng kĩ thuật thực hiện không theo đúng trình tự phân cấp bảo dưỡng quy định, có thể bỏ qua một cấp hoặc một số cấp bảo dưỡng nhất định để thực hiện nội dung công việc của cấp bảo dưỡng cao hơn. Được tiến hành trong điều kiện dự phòng đặc biệt; chuẩn bị sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật cường độ cao (cơ động hành quân dường dài, diễn tập, bắn đạn thật, chiến đấu...), địa hình phức tạp, trước khi vượt sông... và sau khi kết thúc các công việc đó. BẢO ĐẠI (Nguyễn Vĩnh Thụy; 1913-97), vua cuối cùng triều Nguyễn. Niên hiệu Bảo Đại (1926-45), quốc trưởng VN do Pháp dựng lên (1949-55). Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thắng lợi, BĐ tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ CM lâm thời, chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm ở VN. 9.1945 được chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn chính phủ nước VN DCCH. 3.1946 được cử sang Trùng Khánh (TQ), thực hiện chính sách giao hảo với chính phủ Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch. BĐ đã đi Hồng Công, không về nước. Cuối 1946 chính phủ VN DCCH mời BĐ trở về tham gia kháng chiến với dân tộc, BĐ từ chối. Cuối 1948 đã đàm phán riêng với Pháp, đầu 1949 được Pháp đưa về VN làm quốc trưởng, phục vụ chính sách xâm lược của Pháp. Sau hiệp định Giơnevơ (1954), Mĩ thay Pháp xâm lược miền Nam VN, phế truất BĐ (10.1955), đưa Ngô Đình Diệm lên thay, từ đó BĐ sống lưu vong và chết tại Pháp. BẢO ĐẢM BẢN ĐỒ VÀ ĐO ĐẠC, loại bảo đảm tác chiến, cung cấp cho người chỉ huy và cơ quan tham mưu bản đồ và cứ liệu đo đạc cần thiết cho việc nghiên cứu và đánh giá địa hình khi chuẩn bị và thực hành tác chiến, sử dụng vũ khí và phương tiện kĩ thuật. Nội dung cơ bản của BĐBĐVĐĐ là: chỉnh lí và làm mới các loại bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề và ảnh hàng không; lập mạng lưới đo đạc và cung cấp kịp thời bằng tọa độ, điểm mốc và số liệu trọng trường; tiến hành đo nối trận địa pháo, trận địa tên lửa với các vọng và đài quan sát. BẢO ĐẢM BAY, tổng thể các hoạt động nhằm bảo đảm cho mọi chuyến bay được hoàn thành với chất lượng, hiệu quả cao và an toàn tuyệt đối. BĐB gồm: bảo đảm dẫn đường bay, bảo đảm quản lí điều hành (thông báo) bay, bảo đảm khí tượng, bảo đảm thông tin - rađa, bảo đảm kĩ thuật hàng không, bảo đảm hậu cần - kĩ thuật, bảo đảm tìm kiếm - cấp cứu. BẢO ĐẢM CẠNH SƯỜN VÀ NỐI TIẾP GIÁP, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động của bộ đội nhằm loại trừ các đòn dột kích bất ngờ và sự thâm nhập của đối phương vào bên sườn và nơi tiếp giáp giữa các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội và phân đội, đánh lui các đòn đột kích và sự thâm nhập của chúng. Đê thực hiện BĐCSVNTG cần xác định rõ giới tuyến chiến đấu, chỉ định lực lượng bảo đảm, tổ chức hiệp đồng chật chẽ giữa các đơn vị tiếp giáp, trinh sát liên tục, chỉ định các lực lượng sẵn sàng cơ động đến cạnh sườn và nơi tiếp giáp, có kế hoạch sử dụng hỏa lực của pháo binh và bộ binh, các đòn đột kích của bộ đội tên lửa, máy bay và các phương tiện khác, đặt các loại vật cản. Nội dung của BĐCSVNTG được dự kiến trong quyết tâm và thể hiện cụ thể trong mệnh lệnh và chỉ thị của người chỉ huy. BẢO ĐẢM CHIẾN ĐẤU PHÁO BINH, tổng thể các hoạt động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các phân đội (binh đội, binh đoàn) pháo binh chiến đấu đạt hiệu suất cao. BĐCĐPB gồm: trinh sát, đo đạc, thông tin, chuẩn bị khí tượng, chuẩn bị đường đạn và kĩ thuật; phòng chống tác chiến điện tử, phòng tránh vũ khí hủy diệt lớn, phòng chống biệt kích thám báo; cơ động, công sự, ngụy trang, nghi binh... Yêu cầu: phải tiến hành chủ động, liên tục trong mọi tình huống; kết hợp với công tác chuẩn bị chiến đấu của người chỉ huy binh chủng hợp thành và tranh thủ sự giúp đỡ của LLVT và nhân dân địa phương trong khu vực tác chiến. BẢO ĐẢM CHIẾU SÁNG, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động nhằm tăng thêm tầm nhìn và tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tác chiến ban dèm. Gồm: soi sáng địa hình và mục tiêu, làm lóa mắt đối phương và chống phá những phương tiện chiếu sáng của chúng, đặt vật chuẩn bằng đèn sáng, quy định tín hiệu ánh sáng... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:11:01 pm BẢO ĐẢM CÔNG BINH, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các biện pháp công trình nhằm tạo điều kiện cho bộ đội kịp thời cơ động, triển khai, ẩn nấp, che giấu lực lượng... tránh và hạn chế vũ khí địch sát thương; bảo vệ và duy trì hệ thống chỉ huy; khai thác và sử dụng hiệu quả vũ khí, phương tiện kĩ thuật; làm trở ngại việc cơ động, chiến đấu và gây tổn thất cho địch. ĐBCB có các nhiệm vụ chủ yếu: trinh sát công trình (địa hình, địch); bảo đảm đường cơ động tác chiến, vận chuyển; bảo đảm giao thông, xây dựng công sự, trận địa, SCH, bố trí hệ thống vật cản, khắc phục vật cản; phá hoại công trình; bảo đảm nguồn nước (tìm và khai thác nguồn nước); ngụy trang công trình. BĐCB là nhiệm vụ của tất cả các lực lượng tham gia tác chiến, lấy công binh làm nòng cốt. BẢO ĐẢM CÔNG BINH CHO TÁC CHIẾN KHU VỰC PHÒNG THÚ. một nhiệm vụ bảo đảm công binh cho các lực lượng của khu vực phòng thủ phát huy được sức mạnh tổng hợp của sinh lực và binh khí kĩ thuật, gây trở ngại, tổn thất, hạn chế cơ động của địch, góp phần tiêu hao, tiêu diệt địch. Nội dung gồm: xây dựng công sự trận địa, bố trí vật cản, khắc phục vật cản và phá hoại công trình; bằng vũ khí công binh chống địch đánh phá giao thông, bảo đảm đường sá cho bộ đội chủ lực, LLVT địa phương tác chiến và sơ tán dân; tham gia khắc phục hậu quả sau khi địch tập kích đường không... hoặc rút chạy khỏi địa phương; tham gia chống bạo loạn. Công binh chủ lực và bộ đội địa phương làm nòng cốt trong tổ chức thực hiện. BẢO ĐẢM CÔNG BINH ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN, một nhiệm vụ bảo đảm công binh trong tác chiến, nhằm bảo đảm cho lực lượng bộ binh, hải quân đánh bộ và binh khí kĩ thuật đổ bộ bằng đường biển lên đất liền, đảo. Nội dung gồm: trinh sát khu vực đổ bộ, chuẩn bị và giữ đường cho bộ đội tiến vào vị trí, bảo đảm cho các lực lượng xuống tàu, mở cửa qua vật cản chống đổ bộ ở dưới nước và trên bờ, thiết bị đường lên bờ ở khu vực đổ bộ cho hành động chiến đấu đổ bộ ở bờ biển, ven đảo và trong chiều sâu tác chiến. BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC, một nhiệm vụ bảo đảm công binh nhằm chuyển LLVT vào trạng thái thời chiến; tạo điều kiện triển khai lực lượng quốc phòng, cơ sở kinh tế (cấp chiến lược) và hoàn thành việc chuẩn bị trực tiếp cho chiến tranh; thường được chuẩn bị và thực hiện một phần trong thời bình theo kế hoạch quốc phòng và được tiếp tục hoàn chỉnh khi có nguy cơ chiến tranh. BĐCBTKCL gồm: chuẩn bị và bảo đảm đường sá, bảo đảm vượt sông, cơ động, vận chuyển giữa hậu phương với các chiến trường, bảo đảm triển khai lực lượng dự bị chiến lược, chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và thực hành động viên; xây dựng công trình quốc phòng, SCH để triển khai bố trí các tập đoàn LLVT trên các chiến trường, hướng chiến lược, chiến dịch, khắc phục và bố trí vật cản, ngụy trang và nghi binh. BÀO ĐẢM CÔNG BINH TRONG PHẢN CÔNG, một nhiệm vụ bảo đảm công binh trong tác chiến nhằm bảo đảm cho bộ đội binh chủng hợp thành điều chỉnh bố trí lực lượng đội hình chiến đấu và thực hành tác chiến phản công; hạn chế địch cơ động và triển khai lực lượng đánh trả. Nhiệm vụ BĐCBTPC gồm: trinh sát công binh, bảo đảm cơ động, bảo đảm vượt sông, bố trí và khắc phục vật cản, thiết bị công sự trận địa, SCH ở khu vực (tuyến) xuất phát, các khu vực tập kết và triển khai lực lượng, bảo đảm ngụy trang... Được tiến hành liên tục trong giai đoạn chuẩn bị, thực hành và kết thúc phản công. BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRONG TIẾN CÔNG, một nhiệm vụ bào đảm công binh trong tác chiến nhằm bảo đảm cho cơ động lực lượng, triển khai đội hình chiến đấu an toàn, kịp thời, hạn chế địch triển khai cơ động và đánh trả. Nhiệm vụ BĐCBTTC gồm: trinh sát công binh, bảo đảm cơ động, vượt sông (chuẩn bị đường sá, bến vượt), thiết bị công sự trận địa, SCH, khắc phục vật cản, mở cửa mở ở tiền duyên và trong chiều sâu phòng ngự của địch; cơ động bố trí vật cản, phá hoại, chặn đánh địch phản kích hoặc rút chạy, bảo vệ bên sườn đội hình tiến công. BẢO ĐẢM DẪN ĐƯỜNG BAY, bộ phận của bảo đảm bay, gồm tổng thể các hoạt động chuyên ngành dẫn đường trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành bay nhằm bảo đảm cho chuyến bay được thực hiện, theo đúng đường bay, đến đúng địa điểm, khu vực, mục tiêu với thời gian quy định; bảo đảm dẫn máy bay vào thế có lợi để bắn súng (pháo), phóng tên lửa, ném bom, trinh sát ảnh - điện tử, đổ bộ, vận chuyển đường không đạt hiệu quả cao và an toàn. BẢO ĐẢM DOANH TRẠI, một mặt của bảo đảm sinh hoạt, gồm tổng thể các hoạt động bảo đảm nhà ở và các công trình khác: doanh cụ, nước sinh hoạt, ánh sáng, các trang bị dụng cụ dùng chung cho bộ đội trong sinh hoạt, học tập, huấn luyện và chiến đấu, theo tiêu chuẩn chế độ, chính sách của nhà nước và QĐ. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:12:19 pm BẢO ĐẢM ĐỊA HÌNH, tổng thể các biện pháp nhằm bảo đảm các thông tin cần thiết về địa hình và trắc địa cho việc lập kế hoạch, tổ chức và tiến hành thắng lợi các hoạt động tác chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác BĐĐH: thành lập mới hoặc chỉnh lí và kịp thời cung cấp cho bộ đội các loại bản đồ địa hình hay chuyên dụng; phát triển (tăng dày) lưới trắc địa, cung cấp đầy đủ và chính xác tọa độ các điểm khống chế, kể cả các số liệu đo thiên văn và đo trọng lực khi cần thiết, và tiến hành các hoạt động trinh sát địa hình. BẢO ĐẢM ĐƯỜNG SÁ, một nhiệm vụ của bảo đảm công binh, gồm tổng thể các biện pháp thực hiện chuẩn bị mạng đường theo yêu cầu tác chiến trên từng khu vực để cơ động lực lượng, vận chuyển... BĐĐS gồm: mở đường mới, tu sửa đường cũ, thường xuyên duy tu và tăng cường sức sống và tính ổn định của đường, tổ chức chỉ dẫn đường, điều chỉnh và giúp đỡ lực lượng cơ động trên đường, khắc phục hư hỏng do địch đánh hoặc do thời tiết. BĐĐS do công binh các cấp cùng các lực lượng khác như giao thông, địa phương... thực hiện. BẢO ĐẢM GIAO THÔNG, một nhiệm vụ bảo đảm công binh, gồm toàn bộ các hoạt động nhằm bảo đảm mạng đường sá và bến vượt thông suốt trên các tuyến đường giao thông ra mặt trận. BĐGT bao gồm: bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông, cơ động tác chiến, vận chuyển, đánh địch lấn chiếm, phá hoại... BĐGT do công binh các cấp cùng các lực lượng khác như giao thông, thanh niên xung phong, nhân dân địa phương... thực hiện. BẢO ĐẢM GIAO THÔNG TRỌNG ĐIỂM, bảo đảm giao thông cho bộ đội hành quân, cơ động, vận chuyển qua trọng điểm an toàn, thông suốt. BĐGTTĐ gồm: tu sửa đường, bến vượt, khai thác, dự trữ vật liệu, dự kiến làm các đường vòng tránh, thường xuyên duy tu nhằm tăng cường sức sống và tính ổn định của đường, bến vượt, điều chỉnh và giúp các lực lượng vượt qua trọng điểm; phát hiện đánh dấu làm mất hiệu lực bom đạn chưa nổ, mìn nổ chậm; khắc phục hư hỏng do địch đánh hoặc do thời tiết. Thường do trung đội hoặc đại đội công binh được tăng cường trang bị kĩ thuật công binh kết hợp với các lực lượng khác thực hiện. BẢO ĐẢM HÀNG HẢI, loại bảo đảm tác chiến của hải quân, gồm tổng thể các hoạt động chuyên ngành nhằm bảo đảm tàu thuyền hoạt động và chiến đấu: bảo đảm cho tàu thuyền cơ động, trú đậu, sử dụng vũ khí và phương tiện kĩ thuật an toàn, chính xác; bố trí và bổ sung thiết bị hàng hải ở các khu vực hoạt động, bảo đảm tàu thuyền hoạt động liên tục và tin cậy, khảo sát thủy văn, xây dựng và cung cấp các tài liệu hàng hải và hải đồ cần thiết cho các cơ quan tham mưu tàu thuyền, đơn vị; bảo đảm trang bị, sửa chữa, hiệu chỉnh các máy móc hàng hải, trinh sát khí tượng - thủy văn, làm rõ và thông báo kịp thời tình hình hàng hải, khí tượng - thủy văn trong khu vực hoạt động cho các lực lượng, hoa tiêu dẫn đường cho tàu thuyền trong các khu biển có địa hình phức tạp... Do ngành BĐHH của hải quân đảm nhiệm. BẢO ĐẢM HẬU CẦN, bộ phận của bảo đảm hoạt động tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động; bảo đảm vật chất, bảo đảm sinh hoạt, bảo đảm quân y (thú y), công tác vận tải và một số mặt bảo đảm khác (bảo đảm công trình sân bay, quân cảng, cầu cảng, bảo đảm bay của không quân...) cho LLVT nhằm duy trì khả năng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Để bảo đảm các mặt đó, hậu cần QĐ có các chuyên ngành: quân nhu, xây dựng và quản lí nhà đất (doanh trại), quân y, xăng dầu, vận tải... BẢO ĐẢM HẬU CẦN - KĨ THUẬT KHÔNG QUÂN, tổng thể các hoạt động chuyên ngành hậu cần - kĩ thuật nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động và chiến đấu của không quân. Gồm các mặt bảo đảm: xăng dầu mỡ, công trình sân bay, xe máy điện khí, kĩ thuật sân bay, vận chuyển, doanh trại, đời sống sinh hoạt của bộ đội không quân. BẢO ĐẢM HÓA HỌC, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động chuyên môn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của vũ khí hủy diệt lớn, duy trì sức chiến đấu của bộ đội và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do bộ đội hóa học và các lực lượng khác tiến hành. Nội dung BĐHH gồm: dự đoán và dự toán khả năng tập kích vũ khí hủy diệt lớn của địch; tổ chức quan sát, trinh sát, thông báo, báo động hóa học - phóng xạ và kiểm tra nhiễm độc, nhiễm xạ; bảo đảm trang bị, phương tiện phòng hóa; khắc phục hậu quả; sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh, vũ khí và phương tiện đặc chủng tham gia đánh địch. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:13:23 pm BÁO ĐẢM HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN, tổng thể các hoạt động nhằm duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu, giữ vững sức chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội bước vào tác chiến kịp thời và hiệu quả, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, ngăn chặn và hạn chế thiệt hại cuộc đột kích bất ngờ của quân địch. Theo tính chất nhiệm vụ phải hoàn thành và các biện pháp tiến hành, BĐHĐTC có: bảo đảm tác chiến, bảo đảm hậu cần, bảo đảm kĩ thuật và bảo đảm chuyên môn. BĐHĐTC được tiến hành trên cơ sở chỉ thị của cấp trên, quyết tâm và chỉ thị của người chỉ huy. Khi ra chi thị bảo đảm, người chỉ huy xác định lực lượng và phương tiện thi hành, thời hạn hoàn thành. BĐHĐTC được tiến hành liên tục trước và trong quá trình tác chiến. BẢO ĐẢM HUẤN LUYỆN, tổng thể các hoạt động nhằm đáp ứng cho nhu cầu huấn luyện. Gồm: lập dự toán, lập kế hoạch bảo đảm; tổ chức tiếp nhận và phân phối ngân sách, văn phòng phẩm, đồ dùng, thiết bị, mô hình học cụ, vũ khí, khí tài; chuẩn bị trường bắn (thao trường), bãi tập, xăng, dầu, các dụng cụ rèn luyện thể lực... BẢO ĐẢM KHÍ TƯỢNG - THỦY VĂN, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động thu thập, xử lí và cung cấp thông tin về tình hình khí tượng - thủy văn thực tế và dự kiến tại các khu vực tác chiến cho các đơn vị để tính toán xác định ảnh hưởng của tình hình khí tượng - thủy văn đối với việc tiến hành các hoạt động chiến đấu, sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật và đối với an toàn hàng hải, hàng không, do các phân đội BĐKT-TV thực hiện. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT, 1) bộ phận của bảo đảm hoạt động tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động nhằm bảo đảm kịp thời nhu cầu số lượng, chất lượng và hiệu quả khai thác sử dụng trang bị KTQS của các đơn vị LLVT khi thực hiện nhiệm vụ. Bao gồm: bảo đảm trang bị mà trọng tâm là bảo đảm đồng bộ. vật tư và phụ tùng thay thế; chuẩn bị sử dụng (kiểm tra và thực hiện các bước chuẩn bị để đưa trang bị kĩ thuật vào sử dụng); huấn luyện kĩ thuật; bảo quản, bảo dưỡng, niêm cất, tăng hạn sử dụng, sửa chữa; nghiên cứu và thông tin khoa học kĩ thuật; quản lí kĩ thuật; tiếp nhận, phân phối, sử dụng nguồn động viên kĩ thuật; chỉ huy kĩ thuật trong các hoạt động tác chiến. Nội dung, trình tự và phương pháp tiến hành BĐKT phụ thuộc vào quy mô, tính chất và điều kiện thực hiện nhiệm vụ của đơn vị (thời bình, thời chiến; huấn luyện, chuấn bị, thực hành chiến đấu; trong tiến công, phòng ngự...; ở cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật...). Theo chủng loại trang bị, phân biệt các chuyên ngành BĐKT: quân khí, tăng thiết giáp, xe - máy, pháo binh, công binh, hóa học, thông tin liên lạc, rađa, vô tuyến điện tử, tàu thuyền, hàng không, tên lửa... Trong QĐND VN hiện nay, cơ quan chỉ đạo chung về BĐKT là Tổng cục kĩ thuật, chi đạo các hoạt động BĐKT chuyên ngành là các cục kĩ thuật chuyên ngành của TCKT và các quân chủng, binh chủng chuyên môn. Hoạt động BĐKT do các lực lượng chuyên trách (cơ quan, cơ sở, phân đội...) thực hiện với sự tham gia của lực lượng sử dụng; 2) tổng hợp các hoạt động kĩ thuật nhằm duy trì và khôi phục tính năng chiến - kĩ thuật, độ tin cậy, tuổi thọ của trang bị kĩ thuật, bảo đảm sẵn sàng sử dụng theo đúng chức năng với hiệu quả cao, an toàn, tiết kiệm trong mọi hoạt động của LLVT; 3)bộ môn khoa học quân sự nghiên cứu lí luận và thực tiễn tổ chức BĐKT trong chuẩn bị và thực hiện các hoạt động QS. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu: các yếu tố (đặc biệt là yếu tố về hoạt động QS) và quy luật tác động của chúng đối với quá trình thực hiện nhiệm vụ BĐKT; chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế và phương pháp hoạt động của hệ thống BĐKT; nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, phương tiện BĐKT. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT CÔNG BINH, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật công binh và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Có quan hệ chặt chẽ với các chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật xe - máy và bảo đảm kĩ thuật quân khí. BÁO ĐẢM KĨ THUẬT GIAO THÔNG, gọi chung các hoạt động tổ chức và kĩ thuật nhằm bảo đảm hệ thống giao thống vận tải cả thời bình và thời chiến, đáp ứng yêu cầu vận tải của từng cấp trong mọi tình huống. Gồm: bảo đảm mạng đường vận tải: duy tu sửa chữa đường bộ, bảo đảm luồng lạch đường thủy, dự kiến mức độ hư hỏng (do địch hoặc thiên tai gây nên), căn cứ vào chất lượng đường và lưu lượng xe hoạt động bố trí lực lượng, phương tiện, vật tư duy tu bảo dưỡng đường; bảo đảm cơ động ứng cứu: bố trí lực lượng có chuyên môn kĩ thuật và được trang bị phương tiện để cứu kéo xe và xử lí các loại bom mìn, chướng ngại vật của đối phương, chi viện nơi xung yếu và khu vực trọng điểm; bảo đảm vượt sông, suối: bố trí lực lượng được trang bị phương tiện khí tài và được huấn luyện thành thạo bảo đảm tổ chức các biện pháp vượt sông an toàn; bảo đảm chỉ huy giao thông: tổ chức thảnh các trạm ở các đầu mối giao thông quan trọng, có hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy kịp thời quá trình vận chuyển. BĐKTGT lấy lực lượng công binh làm nòng cốt; khi cần được tăng cường lực lượng thanh niên xung phong, dân công, nhân dân địa phương và bộ đội tham gia chiến đấu. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:16:38 pm BẢO ĐẢM KĨ THUẬT HÀNG KHÔNG quân sự, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị hàng không QS (chiến đấu, vận tải...) và hoạt động của chúng trong tác chiến, công tác, huấn luyện... Yêu cầu hàng đầu đối với BĐKTHKqs là đảm bảo độ tin cậy cao và an toàn tuyệt đối cho trang bị và kíp bay. Việc huấn luyện kĩ thuật cho phi công và nhân viên kĩ thuật (cả trên không và trên mặt đất) phải được tiến hành theo những chương trình đặc biệt. BĐKTHKqs có quan hệ chặt chẽ với các chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật vô tuyến điện tử, thông tin liên lạc, rađa, quân khí... BẢO ĐẢM KĨ THUẬT PHÁO BINH, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật (vũ khí, tổ hợp vũ khí và khí tài) pháo binh (mặt đất, phòng không và hạm tàu) và những hoạt động có sử dụng các trang bị đó của các đơn vị LLVT. Bao gồm: bảo đảm lã thuật quân khí pháo binh, bảo đảm kĩ thuật rađa, bảo đảm kĩ thuật xe máy... Được tổ chức thực hiện theo chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan kĩ thuật quân chủng, binh chủng, ngành nghiệp vụ. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT PHÒNG HÓA, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là những trang bị khí tài hóa học và các hoạt động có sử dụng các trang bị đó của các đơn vị LLVT. Bao gồm: bảo đảm kĩ thuật khí tài đặc chúng hóa học, bảo đảm kĩ thuật khí tài phòng hóa ứng dụng, bảo đảm kĩ thuật xe - máy... Được tổ chức thực hiện theo chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan kĩ thuật binh chủng, ngành nghiệp vụ. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT QUÂN KHÍ, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các loại hỏa khí cùng với khí tài, đạn dược đi kèm và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Có phạm vi hoạt động rộng rãi nhất trong các chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật. Cg bảo đảm kĩ thuật vũ khí - đạn, bảo đảm kĩ thuật vũ khí - khí tài - đạn dược. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT RAĐA, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật rada và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Bộ phận hợp thành của bảo đảm kĩ thuật phòng không - không quân, tàu (thuyền) hải quân... đồng thời liên quan tới các chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật vô tuyến điện tử, bảo đảm kĩ thuật xe - máy... BÀO ĐẢM KĨ THUẬT TÀU (THUYỂN) HẢI QUÂN, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật hải quân và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Bao gồm: bảo đảm kĩ thuật thân tàu, thiết bị chạy tàu và bảo đảm kĩ thuật trang bị vũ khí trên tàu (pháo, tên lửa, ngư lôi, thủy lôi, bom chìm...; phương tiện kĩ thuật bảo đảm các tổ hợp vô tuyến điện tử, thủy âm, dẫn đường, thông tin liên lạc...). BĐKTT(T)HQ chủ yếu do các lực lượng của ngành kĩ thuật hải quân tiến hành, có quan hệ nghiệp vụ và bảo đảm với các cơ quan kĩ thuật chuyên ngành theo chủng loại trang bị. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT TĂNG THIẾT GIÁP, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật tăng thiết giáp và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Bao gồm: bảo đảm kĩ thuật xc cơ sở và bảo đảm kĩ thuật các hệ thống trang bị trên xe (vũ khí, thông tin liên lạc...). BẢO ĐẢM KĨ THUẬT TÊN LỬA, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị (tổ hợp, hệ thống) vũ khí tên lửa và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT. Bộ phận hợp thành trong bảo đảm kĩ thuật của các đơn vị phòng không - không quân lục quân, hải quân... và có liên quan chặt chẽ với các chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật vô tuyến điện tử, xe - máy, thông tin liên lạc... BẢO ĐẢM KĨ THUẬT THÔNG TIN LIÊN LẠC, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị kĩ thuật thông tin liên lạc (kể cả trên các phương tiện kĩ thuật quân sự khác) và những hoạt động có sử dụng chúng của các đơn vị LLVT; một mặt hoạt động của bảo đảm thông tin liên lạc và có quan hệ với nhiều chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật khác. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT VÔ TUYÊN ĐIỆN TỬ, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang thiết bị vô tuyến điện tử và những hoạt động có sử dụng các trang thiết bị đó của các đơn vị LLVT. Có liên quan đến nhiều chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật khác như bảo đảm kĩ thuật rađa, bảo đảm kĩ thuật thông tin liên lạc, bảo đảm kĩ thuật hệ thống chỉ huy tự động hóa... và có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác chiến điện tử. BẢO ĐẢM KĨ THUẬT XE - MÁY, chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật mà đối tượng bảo đảm là các trang bị xe - máy (kể cả phần xe cơ sở của các trang bị chuyên ngành) và những hoạt động có sử dụng các trang bị đó của các đơn vị LLVT. Là bộ phận hợp thành hoặc có quan hệ chặt chẽ với nhiều chuyên ngành bảo đảm kĩ thuật khác như tăng thiết giáp, pháo binh, công binh... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:17:49 pm BẢO ĐẢM NHU YẾU PHẨM, một mặt của bảo đảm quân nhu, gồm tổng thể các hoạt động nhằm cung ứng các vật phẩm tiêu dùng cần thiết cho bộ đội như: xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, kim, chi, bật lửa (diêm), giấy viết thư. phong bì thư, chè, thuốc... BẢO ĐẢM QUÂN LƯƠNG, một mặt của bảo đảm quân nhu, gồm tổng thể các hoạt động nuôi dưỡng và nâng cao sức khỏe của hộ đội, góp phần giữ vững quân số lao động, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của LLVT trong mọi tình huống. Gồm: xây dựng kế hoạch, tạo nguồn, tổ chức sản xuất, gia công, mua sắm, tăng gia, chê biến, tiếp nhận, dự trữ, bảo quản; bảo đảm kịp thời đầy đủ lương thực, thực phẩm. dụng cụ cấp dưỡng, chất đốt và các trang thiết bị quân lương cho bộ đội; chỉ đạo và tổ chức nuôi dưỡng theo chế độ tiêu chuẩn quy định của Bộ cho các đối tượng; quản lí chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả kinh phí, vật chất trang bị quân lương, thường xuyên hoặc định kì kiểm tra việc sử dụng, bảo quản vật chất, trang thiết bị quân lương. BẢO ĐẢM QUÂN NHU, bộ phận của bảo đảm vật chất, gồm tổng thể các hoạt động nhằm nuôi dưỡng, giữ gìn sức khỏe của bộ đội, góp phần xây dụng tư thế, tác phong chính quy của QĐ. Gồm: bảo đảm quân lương, đáp ứng nhu cầu vật chất cần thiết cho QĐ trong thời bình và thời chiến (lương thực, thực phẩm, lương khô, đường sữa, chất đốt, trang bị dụng cụ cấp dưỡng, quân trang, quân dụng, nhu yếu phẩm), trong thời bình bảo đảm vật chất có thể bảo đảm bằng tiền, hiện vật và kết hợp tiền với hiện vật; bảo đảm quân trang, đáp ứng nhu cầu quân trang, quân dụng cho QĐ trong lao động, công tác, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; bảo đảm nhu yếu phẩm, đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt và đời sống bộ đội. Có ba phương thức BĐQN: tại chỗ, cơ động (cơ động từ nơi khác đến) và kết hợp tại chỗ với cơ động từ nơi khác đến. BẢO ĐẢM QUÂN TRANG, một mặt của bảo đảm quân nhu, gồm tổng thể các hoạt động sản xuất, gia công, mua sắm các loại vật chất quân trang nhằm bảo đảm kịp thời, đúng, đủ theo chế độ tiêu chuẩn, cỡ số quân trang cho các đối tượng; quản lí chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả mọi kinh phí, vật chất trang bị quân trang; thường xuyên hoặc định kì kiểm tra việc sử dụng và bảo quản quân trang. BẢO ĐẢM QUÂN Y, loại bảo đảm hậu cần, gồm tổng thể các hoạt động bảo vệ, củng cố sức khỏe cho bộ đội, cứu chữa, phục hồi khả năng chiến đấu, lao động cho thương binh, bệnh binh. BĐQY thời bình gồm: điều trị dự phòng, vệ sinh phòng dịch, tiếp tế quân y, huấn luyện nghiên cứu khoa học kĩ thuật quân y; thời chiến gồm: tổ chức cứu chữa, vận chuyển thương binh, bệnh binh; vệ sinh phòng dịch, tiếp tế quân y. Nội dung công tác BĐQ Y được thể hiện trong kế hoạch tổ chức BĐQY của chủ nhiệm quân y các cấp. BẢO ĐẢM SINH HOẠT, loại bảo đảm hậu cần, gồm tổng thể các hoạt động nhằm giữ vững sức khỏe, sức bền bỉ, dẻo dai của bộ đội trong chiến đấu, huấn luyện và lao động. Bao gồm các biện pháp: bảo đảm ăn uống, vệ sinh phòng dịch phòng bệnh tật, bào đám doanh trại đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt khác; tổ chức tăng gia sản xuất đẽ’ duy trì ổn định và cải thiện bữa ăn của bộ đội. Ngoài ra, từng đơn vị còn có thể tổ chức lao động, tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh trong khu vực (có thể phối họp với các ngành khác, hoặc với địa phương để cùng làm như trồng cây gây rừng, cải tạo cơ sở hạ tầng nơi đóng quân như đường sá, cầu cống, hoặc phối hợp dập tắt dịch bệnh ở địa phương...). BÁO ĐẢM TÁC CHIẾN, bộ phận của bảo đảm hoạt động tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho bộ đội bước vào chiến đấu kịp thời, có tổ chức và tiến hành tác chiến tháng lợi. BĐTC được tổ chức cả trong tác chiến và trong hành quân, trú quân được tiến hành liên tục trong suốt quá trình chiến đấu, chiến dịch (tác chiến chiến lược). BĐTC gồm: trinh sát, phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, tác chiến điện từ, cảnh giới, ngụy trang, bảo đảm công binh, bảo đảm hóa học, bảo đảm khí tượng - thủy văn, bảo đảm bản đồ và đo đạc, bảo đảm cạnh sườn và nơi tiếp giáp, bảo đảm chiếu sáng... Mỗi quân chủng còn có BĐTC riêng (như bộ đội phòng không-không quân, hải quân có bảo đảm dẫn đường, tìm cứu, kĩ thuật vô tuyến điện tử...). Hải quân còn có bảo đảm chống tàu mặt nước, tàu ngầm, ngư lôi, bảo đảm hàng hải... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:18:58 pm BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH, tổng thể các biện pháp tổ chức và nghiệp vụ nhằm bảo đảm kịp thời nhu cầu tài chính cho các nhiệm vụ của QĐ. một mật hoạt động cơ bản của công tác tài chính QĐ. Nội dung và quy mô BĐTC phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ của QĐ trong từng giai đoạn, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Phương thức tiến hành BĐTC phụ thuộc vào quy mô, tính chất và điều kiện thực hiện nhiệm vụ của QĐ nói chung và từng đơn vị nói riêng (thời bình, thời chiến; ở cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật...). Trình tự BĐTC: lập kế hoạch (dự toán) và phân bổ chỉ tiêu tài chính; tổ chức tiếp nhận, cấp phát, chi tiêu và thanh toán, quyết toán tài chính. Trong QĐND VN hiện nay, cơ quan chỉ đạo chung về BĐTC là Cục tài chính BQP, có sự phối hợp của các ngành tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật... về từng mặt BĐTC chuyên ngành. Mỗi tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm về BĐTC cho các đơn vị trực thuộc. Việc tiếp nhận, cấp phát, thanh toán tài chính của các đơn vị được thực hiện thông qua hệ thống kho bạc nhà nước. BẢO ĐẢM TRANG BỊ, một nhiệm vụ bảo đảm kĩ thuật, gồm tổng thể các hoạt động nhằm bảo đảm số lượng, chủng loại, chất lượng vũ khí, trang bị kĩ thuật (gồm trang bị chính, trang bị bổ trợ và trang bị bảo đảm) theo lệnh của người chỉ huy , bảo đảm yêu cầu đúng, đủ, đồng bộ, kịp thời, vững chắc cho mọi hoạt động chiến đấu, huấn luyện, công tác của LLVT. Nội dung BĐTB gồm: thực hiện mệnh lệnh BĐTB của chỉ huy; đề xuất việc mua sắm, cải tiến, sản xuất và tổ chức sản xuất khi có lệnh; tổ chức tiếp nhận, cất giữ, dự trữ; duy trì số lượng, chất lượng và sự đồng bộ của vũ khí, trang bị kĩ thuật; đề xuất việc đưa vũ khí, trang bị kĩ thuât ra khỏi biên chế và dự trữ quốc phòng, phương thức giải quyết khi có quyết đinh xử lí. BẢO ĐẢM TRINH SÁT, bảo đấm tác chiến nhằm thu thập, xử lí và cung cấp tin trinh sát cho người chỉ huy và cơ quan tham mưu trong tác chiến. Các tin tức thu được phải chính xác, kịp thời theo yêu cầu tác chiến của từng chiến dịch, từng trận chiến đấu, từng quân chủng, binh chủng. BĐTS do cơ quan quân báo (trinh sát) tổ chức thực hiện. Nội dung BĐTS gồm: thu thập và cung cấp tình hình địch, địa hình thời tiết, khí tượng - thủy văn và tình hình địa phương. Trinh sát nắm địch phải toàn diện, tập trung (các trọng điểm, hướng, khu vực, mục tiêu chủ yếu); nắm vững âm mưu, ý đồ, đối tượng, lực lượng, phiên hiệu, hình thái bố trí, thủ đoạn tác chiến, mặt mạnh, mặt yếu của đối phương, về địa hình cần nắm: tính chất, đặc điểm chung của địa hình có ảnh hưởng đến hoạt động tác chiến của ta và địch, giá trị, khả năng ngụy trang báo vệ, khả năng lợi dụng, về khí tượng thủy văn cần nắm: tính chất, đặc điểm chung (nắng, mưa, máy mù, nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ và hướng gió, mực nước sông, thủy triều...), rút ra giá trị về mặt chiến thuật, ảnh hưởng và biện pháp khắc phục. Về tình hình địa phương cần nắm những vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động tác chiến của ta và địch. BẢO ĐẢM VẬT CHẤT, loại bảo đảm hậu cần, gồm tổng thể các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất cho LLVT trong thời bình và thời chiến. Bao gồm: các loại phương tiện vật chất do hậu cần đảm bảo, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, chất đốt, quân trang, doanh cụ, vật liệu xây dựng, dụng cụ sản xuất, thuốc men và dụng cụ phương tiện y tế, nhiên liệu và phương tiện trang bị ngành xăng dầu...; các loại phương tiện vật chất thuộc các ngành khác quản lí mà hậu cần có trách nhiệm vận chuyển tới đơn vị được bảo đảm như đạn dược, máy móc, vũ khí, trang bị và phương tiện của các binh chủng, phương tiện công tác tham mưu và công tác chính trị. Các biện pháp BĐVC gồm: xác định nhu cầu, xác định nguồn, tiếp nhận, khai thác, sản xuất, vận chuyển, bổ sung, dự trữ, bảo quản, quản lí, hướng sử dụng phương tiện vật chất, thu hồi và sử dụng chiến lợi phẩm. BÁO ĐẢM XĂNG DẦU, một mặt của bảo đảm vật chất, gồm tổng thể các hoạt động nhằm đáp ứng xăng dầu cho các đơn vị thực hiện nhiệm vụ. BĐXD thời bình bao gồm: tạo nguồn, dự trữ, xây dựng hạn mức, thanh quyết toán, tiếp nhận, cấp phát, vận chuyển và bảo quản, kiểm tra chất lượng xăng dầu. Trong thời chiến, nhiệm vụ chính của BĐXD là tạo lượng dự trữ xăng dầu đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ đội, có lực lượng và phương tiện dự bị cơ động; bố trí và di chuyển cơ sở vật chất xăng dầu phù hợp với nhiệm vụ tác chiến; tập trung bảo đảm cho nhiệm vụ, hướng và khu vực tác chiến chủ yếu; thu hồi và tận dụng chiến lợi phẩm xăng dầu... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:20:16 pm BẢO QUẢN trang bị kĩ thuật, một nội dung của bảo đảm kĩ thuật, gồm tổng thể các hoạt động nhằm duy trì trang bị KTQS ở trang thái tốt và sẵn sàng đưa vào sử dụng được ngay (đối với trang bị kĩ thuật trong kế hoạch sử dụng) hoặc sau một thời gian quy định (đối với trang bị kĩ thuật chưa có kế hoạch sử dụng hoặc để dự trữ). Các biện pháp BQtbkt chủ yếu gồm: cất giữ (đối với trang bị kĩ thuật chưa có kế hoạch sử dụng), làm sạch, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung vật liệu bảo quản, khắc phục hư hỏng nhỏ (đối với trang bị kĩ thuật trong kế hoạch sử dụng). BẢO QUẢN XĂNG DẦU, một nội dung bảo đảm xăng dầu, gồm tổng thể các biện pháp tổ chức và kĩ thuật nhằm bảo đảm an toàn và hạn chế đến mức thấp nhất sự hao hụt về số lượng và biến đổi về chất lượng của xăng dầu. Được thực hiện cả trong điều kiên cất giữ tại kho và trong quá trình vận chuyển. Bảo quản tại kho là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của các kho xăng dầu QS. Theo tính chất nhiệm vụ của kho, có: bảo quản tiêu thụ thường xuyên (hàng tháng có xuất, nhập từ vật chứa) và bảo quản lâu dài (hàng tháng không có xuất nhập). Thông thường các loại nhiên liệu được bảo quản trong các bể chứa xăng dầu, các loại dầu mỡ được bảo quản chủ yếu trong các khí tài chứa đựng nhỏ (phuy, can...). Trong quá trình bảo quản phải thường xuyên kiểm tra chất lượng xăng dầu bằng cách định kì (hoặc đột xuất) lấy mẫu xăng dầu và kiểm tra chỉ tiêu chất lượng xăng dầu theo quy định. Khi vận chuyển, nhiên liệu được bảo quản trong các phương tiện vận chuyển chuyên dùng (tàu chở dầu, xà lan, xe xitéc...). BẢO TÀNG, cơ quan bảo quản và trưng bày những sưu tập có giá trị tiêu biểu về lịch sử tự nhiên và xã hội của quốc gia (hoặc địa phương, ngành), nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. BT có nhiệm vụ: sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập; nghiên cứu khoa học và phát huy giá trị di sản văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ; quản lí cơ sở vật chất và trang thiết bị kĩ thuật; tiến hành hợp tác quốc tế và các nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của pháp luật. Hệ thống BT ở VN gồm: BT quốc gia, BT chuyên ngành, BT cấp tỉnh, BT tư nhân. Thủ tướng chính phú quyết định thành lập BT quốc gia và BT chuyên ngành; chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập BT cấp tỉnh và BT tư nhân. Hệ thống BT trong QĐND VN thuộc loại hình BT lịch sử QS tổng hợp và chuyên ngành gồm: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam và các BT quân khu, quân chủng, binh chủng và tương đương; do BQP quản lí nhà nước; TCCT chỉ đạo và quản lí trực tiếp; Bộ văn hóa - thông tin chỉ đạo nghiệp vụ. BẢO TÀNG BIÊN PHÒNG, bảo tàng của Bộ đội biên phòng QĐND VN, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị BTL biên phòng trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 15.10.1968. Có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa. khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Bộ đội biên phòng trong sự nghiệp bảo vệ, giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: số 2 Trần Hưng Đạo, q. Hoàn Kiếm, Hà Nội. Người phụ trách đầu tiên: Phạm Quang. BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG B-52, bảo tàng của LLVT Quân khu thủ đô Hà Nội, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu thủ đô Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 10.1.1986. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày, giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND Hà Nội (và một số địa phương liên quan) trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thủ đô, đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ trên không. Trụ sở: 157 phố Đội Cấn, q. Ba Đình, tp Hà Nội. Giám đốc đầu tiên: Ninh Cử Trực. Cg Bảo tàng Quân khu Thủ Đô. BẢO TÀNG ĐIỆN BIÊN PHỦ. bảo tàng về lịch sử và xã hội t. Điện Biên, về địa danh và chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), về chiến trường Tây Bắc. Thành lập 7.5.1959, trực thuộc Bộ văn hóa: từ 7.5.1984 là phân viện của Viện bảo tàng quân đội; 3.8.1996 trực thuộc sở văn hóa thông tin t. Lai Châu. Từ 2004 trực thuộc Sở văn hóa thông tin t. Điện Biên. BTĐBP hiện đang quản lí 6 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có di tích Điện Biên Phủ với 13 cụm và điểm di tích. Trụ sở: tp Điện Biên Phủ. Cg Bảo tàng miền Tây. BẢO TÀNG ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, bảo tàng của Binh đoàn Trường Sơn, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do cơ quan chính trị Tổng công ti xây dựng Trương Sơn trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 1.10.1997. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày, giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của các LLVT Đường mòn Hồ Chí Minh và tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương trong KCCM; phản ánh hoạt động của Tổng công ti xây dựng Trường Sơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trụ sở: xã Yên Nghĩa, h. Hoài Đức, t. Hà Tây (km 15, QL 6). Giám đốc đầu tiên: Trần Văn Huyên. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:22:00 pm BẢO TÀNG HẢI QUÂN, bảo tàng của lực lượng hải quân QĐND VN, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân chủng hải quân trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 4.1.1975. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu trưởng thành của Hải quân nhân dân VN và các vấn đề liên quan đến hải quân, vai trò của thủy quân VN trong lịch sử dân tộc. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: 38 Điện Biên Phú, tp Hải Phòng. Người phụ trách đầu tiên: Vũ Hữu Phùng. BÁO TÀNG KHÔNG QUÂN, bảo tàng của lực lượng không quân QĐND VN, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân chủng phòng không - không quân trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 3.4.1985. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của không quân nhân dân VN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: 86 đường Trường Chinh, q. Thanh Xuân, tp Hà Nội. Người phụ trách đầu tiên: Nguyễn Kim Dương. BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM, bảo tàng quốc gia do TCCT QĐND VN trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày, giới thiệu những tài liệu, hiện vật lịch sử về đấu tranh vũ trang trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là quá trình xây dựng, chiến đấu, truyền thống và phẩm chất CM của LLVTND VN mà nòng cốt là QĐND VN; giúp TCCT chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ công tác bảo tồn, bảo tàng trong toàn quân. Thành lập 22.12.1959 (Phòng bảo tàng QĐ thuộc Cục tuyên huấn); trưởng phòng: Phạm Đức Phỉ (1959-64). Năm 1964 tổ chức thành Viện bảo tàng quân đội; viện trưởng đầu tiên: Nguyễn Văn Từ (1964-80). Tháng 12.2002 đổi tên thành BTLSQS VN; giám đốc: Lê Mã Lương. Đến 2002 đã thu thập được hơn 11.000 hiện vật hình khối, hơn 90.000 phim, ảnh gốc lịch sử, sắp xếp thành hơn 40 bộ sưu tập, phục vụ gần 10 triệu lượt khách trong nước và quốc tế (1999-2002 có 850.000 khách quốc tế) đến tham quan, nghiên cứu. Huân chương: Quân công hạng nhất. Trụ sở: 28 Điện Biên Phủ, tp Hà Nội. BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỂN ĐÔNG NAM BỘ, bảo tàng của LLVT miền Đông Nam Bộ, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 7 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 27.2.1986. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày, giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND miền Đông Nam Bộ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: 247 Hoàng Văn Thụ, q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh. Bảo tàng chiến dịch Hổ Chí Minh: số 2 đường Lê Duẩn, q. 1, tp Hồ Chí Minh. Giám đốc đầu tiên: Đoàn Thành. Cg Bảo tàng Quân khu 7. BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, bảo tàng của LLVTND đồng bằng sông Cửu Long, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 9 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 21.12.1979. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND đồng bằng sông Cửu Long trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giới thiệu thân thế, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, tình cảm gắn bó giữa bộ đội và nhân dân Khu 9 với chủ tịch Hồ Chí Minh. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: số 6 đường Hòa Bình, tp Cần Thơ. Người phụ trách đầu tiên: Lưu Ngọc Ấn. Cg Bảo tàng Quân khu 9. BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TẦY BẮC nh BẢO TÀNG QUÂN KHU 2 BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VIỆT BẮC - QUÂN KHU I, bảo tàng của LLVT Việt Bắc, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 1 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 20.8.1984. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND các dân tộc Việt Bắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trụ sở: phường Tân Thịnh, tp Thái Nguyên. Người phụ trách đầu tiên: Nguyễn Văn Kế. Cg Bảo tàng Quân khu 1. BẢO TÀNG MIỀN TÂY nh BẢO TÀNG ĐIỆN BIÊN PHỦ BẢO TÀNG PHÒNG KHÔNG, bảo tàng của lực lượng phòng không QĐND VN, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân chủng phòng không - không quân trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 25.12.1959. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dụng, chiến đấu. trưởng thành của lực lượng phòng không VN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trụ sở: 176 đường Trường Chinh, q. Thanh Xuân, tp Hà Nội. Người phụ trách đầu tiên: Nguyễn Quang Thuận. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:28:08 pm BÁO TÀNG QUÂN KHU 1 nh BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VIỆT BẮC - QUÂN KHU 1 BẢO TÀNG QUÂN KHU 2, bảo tàng của LLVT Quân khu 2, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 2 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 4.10.1979. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND các dân tộc Tây Bắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trụ sở: xã Văn Phú, tp Việt Trì. Người phụ trách đầu tiên: Cù Trần Đô. Cg Bảo tàng lực lượng vũ trang Tây Bắc. BẢO TÀNG QUÂN KHU 3, bảo tàng của LLVT Quân khu 3, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 3 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 10.10.1969. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND đồng bằng Bắc Bộ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: đường Lê Duẩn, q. Kiến An, tp Hải Phòng. Người phụ trách đầu tiên: Kiều Kim Trùy. BÀO TÀNG QUÂN KHU 4. bảo tàng của LLVT Quân khu 4, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 4 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 22.12.1966. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND Bắc Trung Bộ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: 189 đường Lê Duẩn, tp Vinh, t. Nghệ An. Người phụ trách đầu tiên: Trần Thanh Tâm. BẢO TÀNG QUÂN KHU 5, bảo tàng của LLVT Quân khu 5, thuộc hệ thống bảo tàng QĐ, do Cục chính trị Quân khu 5 trực tiếp chỉ đạo, quản lí. Thành lập 4.1.1977. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày giới thiệu những tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVTND các dân tộc Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giới thiệu thân thế sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chi Minh, tình cảm gắn bó giữa bộ đội và nhân dân Khu 5 với chủ tịch Hồ Chí Minh. Xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Trụ sở: số 1 đường Duy Tân, tp Đà Nẵng. Người phụ trách đầu tiên: Phan Thành Đạt. BẢO TÀNG QUÂN KHU 7 nh BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ BÀO TÀNG QUÂN KHU 9 nh BẢO TÀNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN ĐỔNG BANG SÔNG CỬU LONG BẢO TÀNG QUÂN KHU THỦ ĐÔ nh BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG B-52 BẢO VỆ BIÊN GIỚI KHI CÓ CHIẾN TRANH, hoạt động tác chiến chống xâm lược, kết hợp với bảo vệ an ninh biên giới, biển, đảo khi biên giới có chiến tranh hoặc xung đột vũ trang; hình thức tổ chức bảo vệ biên giới đặc biệt. Các đơn vị biên phòng chuyển toàn bộ hoạt động sang thời chiến, 100% quân số triển khai ở địa bàn chiến đấu; thực hiện tác chiến phân đội nhỏ, làm nòng cốt trong các làng bản chiến đấu trên khu vực biên giới, phối hợp chặt chẽ với các LLVT khác, dưới sự chỉ huy thống nhất của chỉ huy khu vực phòng thủ tỉnh (thành) huyện biên giới. Ở những đoạn hoặc tuyến biên giới không xảy ra chiến tranh vẫn phải duy trì chặt chẽ các biện pháp công tác biên phòng, công tác quản lí biên giới. Kế hoạch BVBGKCCT phải được chuẩn bị trong thời bình. BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA, toàn bộ các biện pháp giữ gìn biên giới quốc gia nhằm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường, lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Có BVBGQG: thường xuyên, tăng cường và cao (khi có xung đột, chiến tranh). Bộ đội biên phòng là lực lượng chuyên trách và làm nòng cốt, phải kết hợp chặt chẽ các biện pháp công tác biên phòng, công tác phòng thủ, xây dựng thế trận an ninh, phát triển kinh tế xã hội và công tác đối ngoại. BVBGQG nằm trong chiến lược bảo vệ tổ quốc và phải tuân thủ các điều ước quốc tế, hiệp định về quy chế biên giới, pháp luật của nhà nước, quy chế về khu vực biên giới và đường lối chính sách đối nội, đối ngoại của Đáng, nhà nước trong từng thời kì trên từng tuyến biên giới, biển, đảo. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:29:41 pm BẢO VỆ BIÊN GIỚI TĂNG CƯỜNG, hình thức bảo vệ biên giới quốc gia của Bộ đội biên phòng để đối phó với tình huống đột xuất, căng thẳng, dược tiến hành trong thời gian và không gian nhất định. Để thực hiện quyết tâm và kế hoạch BVBGTC phải chuẩn bị bổ sung lực lượng chiến đấu; tăng cường tổ chức chỉ huy và sẵn sàng chiến đấu, áp dụng các biện pháp kiên quyết, tập trung 60-70% quân số, phương tiện để làm nhiệm vụ. Căn cứ tình hình cụ thể BTL bộ đội biên phòng ra lệnh BVBGTC trên tất cả các tuyến hay trên từng tuyến, từng khu vực. Chỉ huy bộ đội biên phòng các cấp tùy tình hình cụ thể mà quyết định phạm vi và các biện pháp bảo vệ cho thích hợp và báo cáo lên cấp trên. BVBGTC được thực hiện khi: có lệnh của cấp trên, có hoạt động vũ trang của đối phương; hai bên biên giới đang xảy ra bạo loạn, có thiên tai, dịch bệnh, diễn tập QS...; trong khu vực quản lí đang tiến hành bao vây, truy lùng, phá án. Kết thúc BVBGTC phải nhanh chóng đưa các hoạt động bảo vệ biên giới trở về hình thức bảo vệ biên giới thường xuyên. BẢO VỆ BIÊN GIỚI THƯỜNG XUYÊN, hình thức bảo vệ biên giới quốc gia cơ bản của Bộ đội biên phòng được tiến hành trong tình hình biên giới, vùng biển, đảo ở mức độ bình thường và tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới ổn định không có diễn biến đột xuất, phức tạp. Các đơn vị biên phòng tổ chức bảo vệ biên giới liên tục theo quyết tâm và kế hoạch đã đề ra; các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến vẫn duy trì chặt chẽ với 50% quân số làm nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ biên giới, vùng biển, và 50% thực hành huấn luyện, lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. BẢO VỆ ĐIỆN TỬ, bộ phận của tác chiến điện tử, gồm toàn bộ các hoạt động làm cho các phương tiện điện từ làm việc an toàn, ổn định, chống đối phương gây nhiễu và đánh phá, chống tự nhiễu lần nhau của các phương tiện điện tử. Gồm: chống trinh sát điện tử, chống chế áp điện tử, kiểm soát điện từ và dung hòa trường điện từ. Đối tượng BVĐT: các hệ thống, các phương tiện điện tử dùng để trinh sát, chỉ huy bộ đội, điều khiển vũ khí, thông tin, thông báo. BVĐT phải kết hợp với chế áp điện tử. BẢO VỆ ĐỘNG VIÊN, thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho các đơn vị dự bị động viên và lực lượng dự bị động viên trong giai đoạn thực hành động viên, như phòng chống đối phương tập kích bằng không quân, pháo binh, biệt kích, thám báo, chất độc hóa học... vào khu vực động viên, tuyến đường vận chuyển, kho dự trữ vật chất và sở chỉ huy động viên. Căn cứ nhiệm vụ được giao, người chỉ huy xác định vị trí, mục tiêu cần bảo vệ, thủ đoạn đối phương có thể sử dụng, đề ra các biện pháp tổ chức, bố trí lực lượng để phòng, tránh, đánh trả phù hợp. Phương án BVĐV được luyện tập từ thời bình. BẢO VỆ LÃNH THỔ QUỐC GIA, sử dụng tổng hợp các lực lượng và các biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ vững toàn vẹn chủ quyền nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, tổng thể các biện pháp nhằm giữ gìn, sử dụng hợp lí và phục hồi sinh giới (thế giới thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, khí quyển, lòng đất, khí hậu...). Từ giữa tk 20, sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa cao, sự tăng nhanh dân số và nhiều yếu tố khác đã làm tăng tác động tiêu cực của con người với thiên nhiên. Tải nguyên có nguy cơ cạn kiệt, sinh thái môi trường ngày càng xấu đi không phục hồi được. BVMT trở thành vấn đề cấp bách và lâu dài mà toàn thể các cộng đồng phải giải quyết ở quy mô toàn cầu, nhằm sử dụng hợp lí thiên nhiên, kiểm tra, ngăn chặn tình trạng và nguồn gây ô nhiễm môi trường. Hiến pháp nước CHXHCN VN quy định các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, các đơn vị vũ trang và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ, cải tạo môi trường sống. Nhà nước VN đã ban hành luật BVMT (Quốc hội khóa IX, kì họp thứ tư thông qua 27.12.1993, có hiệu lực theo lệnh công bố của chủ tịch nước 10.1.1994) và các pháp lệnh cụ thể (pháp lệnh bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước...). BẢO VỆ QUÂN, LLVT của chính quyền thân Pháp ở Trung Kì. Thành lập đầu 1947. Đổi tên thành Việt binh đoàn (sau hiệp định Hạ Long 5.6.1948); trở thành bộ phận của Vệ binh quốc gia (13.4.1949) với tên gọi Vệ binh Trung Việt. Tổ chức cao nhất tới trung đoàn (1951 có 4 trung đoàn); cải tổ lại (1953) thành 8 tiểu đoàn, gồm 30 đại đội chiến đấu và 8 đại đội chỉ huy, với quân số khoảng 5.700 người. Từ 8.4.1955 thuộc bảo an đoàn (x. địa phương quân). Không có tác dụng đáng kể trong chiến tranh xâm lược của Pháp ở VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:31:18 pm BÃO, vùng khí xoáy có sức gió ở gần trung tâm từ cấp 8 (60- 75km/h) trở lên. Thường phát sinh trong vành đai nhiệt đới giữa các vĩ tuyến khoảng 5-20° ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. B kèm theo mưa lớn, gió mạnh, biển động dữ đội, có sức tàn phá lớn và thường gây lụt lội. Đường kính vùng gió bão có thể lên tới hàng trăm kilômét. Các cơn B đổ bộ vảo VN thường từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm (nhiều nhất khoảng tháng 7, tháng 8, giảm dần vào cuối năm), được hình thành ngoài khơi Thái Bình Dương hoặc trong khu vực Biển Đông, chủ yếu di chuyển theo hướng giữa tây và tây bắc với tốc độ 10-20km/h. BÃO TỪ, hiện tượng nhiễu loạn mạnh từ trường Trái Đất do tác động của dòng plasma Mặt Trời (gió Mặt Trời) lên từ quyển Trái Đất. BT có thể kéo dài vài ngày và diễn ra thành từng đợt liên tiếp, ảnh hưởng rõ rệt đến trạng thái tầng điện li và tác động đến chất lượng truyền sóng vô tuyến điện, gây nhiễu loạn, thậm chí làm gián đoạn hoạt động của các thiết bị đo từ trường, thiết bị thông tin liên lạc, hệ thống truyền tải điện năng... và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. BÁO CÁO, văn kiện quân sự trình lên cấp trên về tình hình thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh, nhiệm vụ phản ánh tình hình tác chiến, huấn luyện và công tác; trả lời những vấn đề cấp trên yêu cầu... Theo thời gian và tính chất, có BC: định kì, không định kì, chuyên đề, tổng hợp. Theo nội dung, có: BC tác chiến (bổ sung, tóm tắt, tỉ mỉ, tổng hợp); BC tình hình chuẩn bị tác chiến, huấn luyện, tình hình công tác và chấp hành nhiệm vụ khác. BC cũng có thể bằng miệng. BÁO CÁO TÁC CHIẾN, báo cáo về tình hình và việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến được giao. Nội dung BCTC gồm: kết quả tiến hành tác chiến; vị trí, tình trạng và tính chất hoạt động của bộ đội, đơn vị bạn đến then điểm nhất định; thành phần, vị trí và tính chất hoạt động của quân địch; quyết tâm tiếp tục tiến hành tác chiến và yêu cầu chi viện của cấp trên (khi cần thiết) để hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. Theo thời hạn, có: báo cáo định kì và báo cáo bất thường. BCTC có thể bằng văn bản, sơ đồ, biểu đồ, băng từ... hay bằng miệng. BCTC do người chỉ huy hoặc phó chỉ huy được ủy quyền chịu trách nhiệm. “BÁO CÁO TẠI HỘI NGHỊ CHÍNH TRỊ ĐẶC BIỆT”, văn kiện có ý nghĩa lịch sử do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trước hội nghị chính trị đặc biệt (3.1964). “BCTHNCTĐB” nêu rõ thắng lợi của 10 năm xây đựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ xâm lược ở miền Nam VN; thất bại và âm mưu mới của Mĩ: đường lối đối nội, đối ngoại và chủ trương giải quyết vấn đề miền Nam VN của ĐLĐ VN và chính phủ VN DCCH. “BCTHNCTĐB” có sức cổ vũ to lớn toàn dân, toàn quân đoàn kết nhất trí thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và chính phủ trước âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh của Mĩ. Phong trào “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” ở miền Bắc (1964-75) là sự hường ứng tích cực lời kêu gọi được nêu trong báo cáo. BÁO “CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM”, cơ quan thông tin - tuyên truyển của Hội cựu chiến binh Việt Nam, thành viên của hệ thống báo chí nước CHXHCN VN. Có chức năng: góp phần quán triệt, động viên cựu chiến binh và nhân dân thực hiện tốt đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước; phản ánh và trao đổi kinh nghiệm hoạt động của các cấp hội; cổ vũ phong trào thi đua của Hội cựu chiến binh VN. Phát hành hai loại ấn phẩm: tuần báo (xuất bản thứ năm hàng tuần, mỗi số 13.000-15.000 bản, ra số đầu tiên 7.1992); và nguyệt san (xuất bản ngày 5 hàng tháng, mỗi số 25.000-30.000 bản, ra số đấu tiên 1.1991). Trụ sở: 34 Lí Nam Đế, tp Hà Nội. Tổng biên tập đầu tiên: Trần Minh Bắc. BÁO ĐỘNG, 1) toàn bộ những biện pháp khẩn cấp chuyển bộ đội vào trạng thái sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến hoặc các nhiệm vụ khác. Có: BĐ chiến đấu, BĐ vũ khí hủy diệt lớn (BĐ hạt nhân, BĐ hóa học...), BĐ phòng không, BĐ ứng cứu (thiên tai, hỏa hoạn và những sự cố khác), BĐ luyện tập. Theo quy mô, có: BĐ chung (toàn đơn vị), BĐ bộ phận; 2) hiệu lệnh (mệnh lệnh) chuyển bộ đội vào trạng thái sẵn sàng hành động, phát ra bằng lời, bằng các phương tiện thô sơ và phương tiện kĩ thuật do người chỉ huy có thẩm quyền quyết định. BÁO ĐỘNG PHÒNG KHÔNG, biện pháp phòng không nhằm khẩn cấp chuyển các lực lượng phòng không vào trạng thái sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích đường không của địch, đồng thời thực hiện phòng tránh cho lực lượng không trực tiếp chiến đấu (bộ đội và nhân dân). BĐPK bằng các phương tiện thông tin (vô tuyến điện, hữu tuyến điện...) hoặc bằng kẻng, còi và bằng miệng khi có hiện tượng hoặc bắt đầu cuộc tập kích đường không của địch. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:33:00 pm BẢO ĐỘNG VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, truyền đạt cấp tốc về nguy cơ và hành động tập kích vũ khí hủy diệt lớn của đối phương để các LLVT và nhân dân trong khu vực bị uy hiếp nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng chống. BĐVKHDL gồm các báo động: hạt nhân, hóa học, sinh học. Các tín hiệu báo động do cơ quan tham mưu binh đoàn, binh đội quy ước thống nhất cho từng loại và thông báo bằng các phương tiện thông tin liên lạc (vô tuyến điện, hữu tuyến điện, các tín hiệu nghe, nhìn được) cho các LLVT và nhân dân trong khu vực bị uy hiếp. Nhận được lệnh báo động, các lực lượng phải căn cứ vào nhiệm vụ và tình huống cụ thế để sử dụng các biện pháp phòng chống phù hợp và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao. BÁO “QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN”, cơ quan thông tin ngôn luận của Đảng ủy quân sự trung ương và BQP nước CHXHCN VN, do TCCT quản lí; đơn vị Ah LLVTND (2000). Ra đời theo chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở sáp nhập báo “Vệ quốc quân” và báo “Quân du kích”. Ra số đầu tiên 20.10.1950. Thời kì đầu phát hành trong QĐ; từ 23.1.1957 ra tuần ba kì, phát hành rộng rãi trong cả nước; từ 19.5.1965 ra hàng ngày; từ 7.7.1990 ra thêm báo tuần “Quân đội nhân dân thứ bảy” (từ 1.1996 đổi thành “Quân đội nhân dân cuối tuần”); từ 3.1994 ra đặc san “Sự kiện và nhân chứng” (mỗi tháng một số). B“QĐND”đượe phát hành ở nhiều nước. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất. Toà soạn: số 7 Phan Đình Phùng, tp Hà Nội; Ban đại diện tại tp Hồ Chí Minh (161-163 Trần Quốc Thảo); cơ quan thường trực tại tp Đà Nẵng (số 3 Duy Tân), tp Cần Thơ (số 207 đường 30.4), tp Vinh (số 224 đường Lê Duẩn). Tổng biên tập (chủ nhiệm) đầu tiên: Lê Liêm. BÁO VỤ, nhân viên thu và phát điện báo hoặc thu tình báo rađa bằng tín hiệu moóc. Có BV: thu, phát, thu phát, thu tin đánh dấu (báo vụ tiêu đồ). BV trong QĐ là chiến sĩ thuộc biên chế của đài điện báo, do trưởng đài điện báo trực tiếp chỉ huy. Được đào tạo ngắn hạn (thường là 3-6 tháng) tại các trường (lớp) chuyên môn của quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng hoặc sư đoàn. BÁO VỤ THU TIN ĐÁNH DẤU, báo vụ thu tình báo rađa bằng tín hiệu moóc trên mạng vô tuyến điện thông báo từ trạm rađa hoặc từ SCH sư đoàn phòng không và SCH Quân chùng phòng không - không quân; thể hiện các tín hiệu thu được lên bảng tiêu đồ tình báo xa (tiêu đồ 9x9) dưới dạng các quy ước về tọa độ và các phần từ của mục tiêu trên không. BVTTĐD được đào tạo trong các lớp chuyên môn ở các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng hoặc sư đoàn phòng không. Cg báo vụ - tiêu đồ. BÁO VỤ - TIÊU ĐỔ nh BÁO vụ THU TIN ĐÁNH DẤU BẠO ĐỘNG, hành động bạo lực có tính tự phát, cục bộ của một tổ chức hoặc một nhóm người chống lại chính quyền ở từng địa phương, từng khu vực nhằm những mục đích nhất định. Tính chất của BĐ (tiến bộ, CM, phân CM...) phụ thuộc vào mục tiêu chính trị của BĐ. BẠO ĐỘNG GIÁP TÍ nh BẠO ĐỘNG Ở HUẾ (3.8.1864) BẠO ĐỘNG Ở HUẾ (3.8.1864), cuộc bạo động chống Pháp ở kinh thành Huế do Nguyễn Văn Viện (quê Bình Định) khởi xướng, có sự tham gia của một số người trong dòng họ Tôn Thất (tri huyện Tôn Thất Thanh, hộ vệ thân binh Tôn Thất Thừa...) nhằm giết khâm sứ Pháp và một số quan lại theo phái chủ hòa (Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành...), phản đối việc triều đình Huế kí hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862), hiệp ước Giáp Tí (15.7.1864). Đầu 7.1864 Nguyễn Văn Viện bí mật đến Huế vận động, tổ chức lực lượng, vạch kế hoạch hành động, bầu Hồng Tập làm minh chủ. Theo kế hoạch, đêm 3.8.1864 lực lượng bạo động chia làm 4 đạo đột nhập kinh thành, nhưng do phối hợp giữa lực lượng bên ngoài với nội ứng bên trong không chặt chẽ nên chưa kịp hành động dã thất bại; những người lãnh đạo cuộc bạo động bị bắt và xử chém. Cg bạo động Giáp Tí. BẠO LOẠN, hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng li khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rổi loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương). Có: BL chính trị, BL vũ trang, BL chính trị kết hợp với vũ trang. BL lật đổ là một thủ đoạn của CNĐQ và các thế lực phản động trong chiến lược diễn biến hòa bình để xóa bỏ CNXH ở VN. BẠO LỰC, sức mạnh của một giai cấp, nhà nước (liên minh nhà nước) hoặc tập đoàn xã hội được sử dụng để cưỡng đoạt, trấn áp hoặc chống lại sự cưỡng đoạt, trấn áp. QĐ, công an, toà án, nhà tù... là những công cụ BL của nhà nước. Tính chất của BL (tiến bộ hay phản động, CM hay phản CM...) phụ thuộc vào mục đích chính trị của BL và bản chất chính trị - xã hội của lực lượng xã hội sử dụng BL. Chủ nghĩa Mác - Lênin không tuyệt đối hóa vai trò của BL, không coi BL là mục đích mà chỉ là phương tiện, là “bà đỡ cho xã hội mới ra đời từ xã hội cũ”, kiên quyết sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, ở VN, nhận rõ bản chất tàn bạo của kẻ thù, ĐCS VN đã xác định BL CM là con đường đúng đắn để đánh đổ kẻ thù của giai cấp và dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân, bảo vệ chính quyền CM, đưa CM đến thắng lợi. BL CM VN dựa vào lực lượng chính trị và LLVT; bao gồm hình thức đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị cùng sự kết hợp giữa các lực lượng và các hình thức đấu tranh đó. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:34:40 pm BẠO LỰC CÁCH MẠNG, bạo lực của các giai cấp và lực lượng CM sử dụng để chống lại các giai cấp và lực lượng phản CM nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. BLCM mang tính chất chính nghĩa, tiến bộ. BLCM dựa vào sức mạnh tổng hợp của lực lượng chính trị quần chúng và LLVTND, tiến hành các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị cùng sự kết hợp giữa các lực lượng và các hình thức đấu tranh đó. BẠO LỰC CHÍNH TRỊ, bạo lực chủ yếu dựa vào sức mạnh của quần chúng được tổ chức, có sự hỗ trợ của LLVT và đấu tranh vũ trang, tiến hành đấu tranh chính trị ngoài khuôn khổ pháp luật nhà nước, nhằm giành quyền lực chính trị. Bản chất của BLCT phụ thuộc vào lực lượng tổ chức bạo lực và mục đích của bạo lực. Có BLCT CM và BLCT phản CM. BLCT CM là một bộ phận của bạo lực cách mạng. Ở VN, CM tháng Tám 1945 thành công do lực lượng chính trị CM của toàn dân có sự hỗ trợ của LLVTND đã nắm vững thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước trong thời gian ngắn; phong trào đồng khởi ở miền Nam (1959-60) đã sử dụng BLCT CM, kết hợp với vũ trang tự vệ thích hợp giành chính quyền ở địa phương. BLCT phản CM là bộ phận của bạo lực phản cách mạng do CNĐQ và các thế lực phản động tiến hành bằng thủ đoạn lừa bịp, kích động, lôi kéo quần chúng đứng về phía lực lượng đối lập chống lại chính quyền nhân dân, kết hợp với răn đe QS làm áp lực gây bạo loạn. BẠO LỰC PHẢN CÁCH MẠNG, bạo lực của các giai cấp và lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu chống lại các giai cấp và lực lượng tiến bộ, CM. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, các giai cấp thống trị phản động đã từng sử dụng BLPCM chống lại cuộc đấu tranh của các lực lượng tiến bộ và CM nhằm duy trì hoặc chiếm lại địa vị thống trị. Ngày nay, CNĐQ và các thế lực phản động sử dụng BLPCM để chống lại các nước XHCN và phong trào CM của nhân dân thế giới. BẠO LỰC PHI VŨ TRANG, bạo lực không sử dụng lực lượng vũ trang và hình thức đấu tranh vũ trang. Các hình thức cơ bản của BLPVT: đấu tranh tư tưởng văn hóa, đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế. BLPVT được sử dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh không cần thiết hoặc không cho phép sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang. BẠO LỰC VŨ TRANG, bạo lực sử dụng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang, lấy QĐ và cảnh sát làm công cụ chủ yếu để giải quyết mâu thuần đối kháng. Tính chất của BLVT tùy thuộc mục đích chính trị, bản chất giai cấp của nhà nước, tập đoàn chính trị - xã hội sử dụng nó. BLVT của các nhà nước XHCN nhằm chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, dân tộc, tổ quốc và chế độ XHCN. BAREN (Vương quốc Baren; Mamlakat al-Bahrayn, A. Kingdom of Bahrain), quốc gia trên quần đảo Baren. trong vịnh Pecxich. Dt 694km2; ds 667 nghìn người (2003); phần lớn người Arập. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Arập. Tôn giáo: đạo Hồi . Thủ đô: Manama. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Gồm 33 đảo nhỏ. Đảo Baren lớn nhất, độ cao 134m. Khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới; nhiệt độ tháng 1: 16°c, tháng 7: 37°C; lượng mưa 90 mm/năm. Kinh tế lạc hậu, phụ thuộc Mĩ, Anh, Đức... Khai khoáng và chế biến dầu mỏ là ngành kinh tế chính. Trên đảo Mukharăc có sân bay quốc tế và trung tâm thông tin vũ trụ của Mĩ GDP 7,935 ti USD (2002), bình quân đầu người 12.190 USD. Thành viên LHQ (21.9.1971), Phong trào không liên kết, Liên đoàn các nước Arập. LLVT: lực lượng thường trực 10.700 người (lục quân 8.500, hải quân 1.000, không quân 1.200). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 140 xe tăng, 46 xe thiết giáp trinh sát, 25 xe chiến đấu bộ binh, 235 xe thiết giáp chở quân, 93 pháo mặt đất các loại, 21 súng cối, 15 tên lửa chống tăng, 27 pháo phòng không, 93 tên lửa phòng không, 34 máy bay chiến đấu, 40 máy bay trực thăng vũ ưang, 1 tàu frigat, 10 tàu tuần tiễu, 5 tàu đổ bộ... Ngân sách quốc phòng 315 triệu USD (2001). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65722632_441779116551974_4966267007872794624_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQnUvc0tsUeKopRCYMxdUrmPXRBnF6FYx069UL3M7DDceqn0xfFW_QlM3TZVzVMS3ko&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f17c4fb66071b364c2f9be7a462790e1&oe=5DC1D306) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:46:54 pm BAT-M (N. BAT-M), xe mở đường do LX chế tạo trên cơ sở xe kéo pháo hạng nặng AT-T (405 MU), dùng để cơ giới hóa công việc làm đất khi mở đường dã chiến, đường cơ động phục vụ chiến đấu. Khối lượng 27,5t. Kích thước khi hành quân: dài 7,05m; rộng 4,5m; cao 3,9m; khoảng sáng gầm xe 0,415m. Kíp xe 2 người. Có năng suất lớn, khả năng thông qua cao. Có thể sử dụng trong việc san đất, làm mặt bằng, lấp hào hố, mương rãnh, dọn đường hành quân, tự làm hầm trú ẩn, bốc dỡ trong thi công cầu đường, công trình QS. Hoạt động được trên các loại đất đến cấp 4. Tốc độ làm đường QS dã chiến ở địa hình bằng phẳng 4,5-10km/h; ở địa hình rừng núi, bụi cây 4- 8km/h; tốc độ dọn đường hành quân 5-16km/h; năng suất ủi đất 150-450m3/h; tốc độ hành quân lớn nhất 35km/h. BÁT KÌ BINH, hình thức tổ chức xã hội - QS của dân tộc Mãn dưới triều Thanh (TQ) từ 1601. BKB lấy 8 loại kì làm tiêu chí: Chính Hoàng, Chính Bạch, Chính Hồng, Chính Lam, Tương Hoàng, Tương Bạch, Tương Hồng, Tương Lam. Biên chế BKB 7.500 người. Có: Bát kì quân Hán, Bát kì quân Nguyên - Mông và Bát kì quân Mãn Châu. Sau khi triều Thanh thống nhất, BKB chia thành: 3 kì thượng (Tương Hoàng, Chính Hoàng, Chính Bạch) và 5 kì hạ (Tương Hổng, Tương Bạch, Tương Lam, Chính Hồng, Chính Lam). 3 kì thượng lạp thành Tân quân, sau thành Thân quân bảo vệ hoàng đế và cung đình. 5 kì hạ đóng giữ kinh thành và các nơi. BKB có chức năng: QS, hành chính và sản xuất (về sau BKB chỉ còn chức năng QS...). BKB thực hiện thế binh chế, chọn trong con em bát kì 16 tuổi trở lên, dưới 16 tuổi có thể dược nuôi dạy làm dự bị binh. Khi triều Thanh suy vong, BKB tan rã. BÁT LỘ QUÂN x. HỒNG QUÂN CÔNG NÔNG TRUNG QUỐC BÁT TRẬN (cổ), đội hình chiến đấu trong đó lực lượng tác chiến chia thành tám khối bố trí xung quanh trung quân (bộ phận chỉ huy và lực lượng dự bị ở giữa) và được gọi tên theo tám quẻ (bát quái): càn, khôn, tốn, khảm, chấn, đoài, li, cấn, hoặc là: thiên, địa, phong, vân, long, hổ, điểu, xà (trời, đất, gió, mây, rồng, hổ, chim, rắn). Thiên, địa, phong, vân là bốn khối chính binh; long, hổ, điểu, xà là bốn khối kì binh. BT là một loại phương trận. Hình BT (bát trận đổ) hiện còn di tích ở h. Miến, t. Thiểm Tây; h. Phụng Tiết và h. Tân Đô, t. Tứ Xuyên (TQ). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65080724_441779123218640_4216298171040530432_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQlbFiyMgWs7fv7L0hZq1T8GT1KnK6JMVRQbxguiDZhy0k6WIwI8Fbwtf4tc1lvsjQo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=abe03885ad9e4601e9084413897a211c&oe=5D88F82C) BÀU BÀNG, ấp thuộc xã Lai Uyên, h. Bến Cát, t. Bình Dương (từ 1975 đến 1996 thuộc t. Sông Bé), trên QL 13 từ tp Hổ Chí Minh đi Lộc Ninh, bắc Thủ Dầu Một 25km. 12.11.1965 Sư đoàn bộ binh 9 QGPMN VN tập kích vào Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn bộ binh số 1 Mĩ) đóng tại BB. đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn, phá hủy 39 xe tăng, xe thiết giáp, 6 pháo 105mm (xt trận Bàu Bàng, 12.11.1965). BAV (N. BAB), xe vận tải bơi bánh lốp do LX chế tạo, dùng cho các phân đội cơ giới vượt chướng ngại nước. Kích thước: dài 9,54m, rộng 2,485m, cao (cả mui bạt) 2,66m; khoảng sáng gầm xe 0,280m. Cơ cấu bơi kiểu chân vịt. Khối lượng khi đủ tải: 9,56t; tải trọng trên bộ: 2,5t; dưới nước: 3,5t; sức chở: 28 người, hoặc một pháo nòng dài 85mm, hoặc một pháo nòng ngắn 122mm, hoặc một ô tô (GAZ-69, UAZ-469, GAZ-63...). Tốc độ lớn nhất trên đường: 60km/h; dưới nước: 10km/h. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65601496_441779109885308_3940200248571330560_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQn-ir7Az8iWjLEtFzq1E-7wI_4PhnlBy03rC356RnOFJU4d0NZjdHm8B-mi0qq64eE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=bc4ae057c475c96f5a77a70fa700c4c0&oe=5DC2A0AB) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2019, 09:49:07 pm BAXTI (P Bastille), pháo đài cổ ở Pari (Pháp), xây dựng khoảng 1370-82 tại khu vực tường thành phía đông thành phố. Từ 1643 trở thành nhà tù, giam giữ nhiều nhà hoạt động nổi tiếng chống chế độ quân chủ chuyên chế Pháp. 14.7.1789 nhân dân Pari tiến công B, giải phóng tù nhân, mở đầu cuộc CM tư sản Pháp (1789). Năm 1790, B bị san bằng; nay là quảng trường B. Từ 1880, ngày 14.7 được chọn làm ngày quốc khánh Pháp. BAY CHIẾN ĐẤU, hoạt động của các phương tiện bay để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. BCĐ thường gồm các bước: cất cánh, tập hợp đội hình, bay đến khu vực quy định, nhận biết mục tiêu và công kích (tiến hành trinh sát, gây nhiễu, đổ quân hay thả hàng), rời khỏi chiến đấu, bay về sân bay và hạ cánh. BCĐ có thể bay chiếc lẻ hoặc bay đội hình. Bay phục vụ chiến đấu hoặc bay với mục đích khác nhưng kết thúc bằng hành động chiến đấu cũng được gọi là BCĐ. BAY ĐỘI HÌNH, bay theo đội hình bay nhất định. BAY THẲNG, VỌT CAO, CÔNG KÍCH BẤT NGỜ, thủ đoạn tác chiến của không quân tiêm kích, dùng lực lượng nhỏ (1-2 biên đội) bí mật bay theo hướng nhất định với tốc độ không đổi, bất ngờ vọt cao công kích tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu. BT,VC,CKBN có thể được vận dụng đánh độc lập hoặc hiệp đồng với pháo phòng không và tên lửa phòng không trong khu vực. Khi thực hành BT,VC,CKBN phi công phải thành thạo kĩ thuật dẫn dường, phát hiện địch, bay biên đội, cơ động và bắn. BAY TRÁI PHÉP QUA BIÊN GIỚI, hoạt động của phương tiện bay vượt qua biên giới quốc gia trên không, khi chưa (hoặc không) được phép của nhà nước hữu quan hoặc ở những vùng cấm bay, hành vi vi phạm luật pháp quốc tế. BTPQBG có thể do vô ý hoặc cố ý, bằng phương tiện bay dân sự hay QS, có động cơ hoặc không có động cơ, có người điều khiển hoặc không có người điều khiển, gây nguy hiểm hoặc đe dọa an ninh cho nhà nước hữu quan (phá hoại, xâm nhập lãnh thổ, chạy trốn khỏi quốc gia sở tại). BAY TRONG ĐIỂU KIỆN KHÍ TƯỢNG GIẢN ĐƠN, bay trong điều kiện khí tượng cho phép phi công, kíp bay căn cứ hoàn toàn vào đường chân trời và địa tiêu trên mặt đất để xác định trạng thái và vị trí của máy bay trong không gian. BAY TRONG ĐIỂU KIỆN KHÍ TƯỢNG PHỨC TẠP, bay trong điều kiện phi công, kíp bay không nhận biết rõ đường chân trời và địa hình, địa tiêu; việc giữ trạng thái và xác định vị trí máy bay trong không gian phần lớn hoặc hoàn toàn dựa vào các hệ thống, thiết bị lái, dẫn đường và các loại đồng hồ trên máy bay. Gồm: bay trong mây, giữa các tầng mây, trên mây; bay trong điểu kiện tầm nhìn hạn chế; bay trên biển không nhìn thấy bờ; bay trên sa mạc và các vùng không có địa tiêu rõ rệt; bay đêm; bay trên tầng bình lưu; bay khi buồng lái được che kín (bay tập). Việc tự động hóa hệ thống, thiết bị lái - dẫn đường trực tiếp nâng cao khả năng bay của phi công, kíp bay BTĐKKTPT. BẢY VIỄN (Lê Văn Viễn; 1904-70), thủ lĩnh lực lượng Bình Xuyên ở Nam Bộ. Quê làng Phong Đước, h. Cần Giuộc, t. Chợ Lớn (nay thuộc tp Hồ Chí Minh). Trước 1945 hoạt dộng trong giới giang hồ, nổi tiếng trong các băng đàng tội phạm khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, nhiều lần bị chính quyền thuộc địa bắt giam, đày ra Côn Đảo. Sau cách mạng tháng Tám (1945), được Xứ ủy Nam Bộ vận động tham gia KCCP tại Nam Bộ, được cử vào Ban chỉ huy Bộ đội Bình Xuyên, giữ chức khu bộ phó Khu 7. Tháng 6.1948 ra hàng địch, thành lập “lực lượng Bình Xuyên li khai” cộng tác với Pháp chống phá CM, được Pháp phong hàm thiếu tướng. 1954-55 khi chính quyền Ngô Đình Diệm thanh toán các lực lượng giáo phái, BV giữ vai trò chủ chốt chống Diệm nhưng bị thất bại. 1956 sang Pháp sống lưu vong tới khi chết. BẮC BĂNG DƯƠNG, đại dương nằm giữa lục địa Á - Âu và Bắc Mĩ. Dt 14,75 triệu km2, sâu trung bình 1.225m, sâu nhất 5.527m. Bờ biển chia cắt nhiều, địa hình đáy BBD phức tạp, có những dãy núi ngầm. Nhiều đảo với tổng dt khoảng 4 triệu km2, các đảo lớn: Grinlen, Xpitbecgân, Đất Mới, Đất Bắc, Êlèxmia, Alêchaibe... Khí hậu Bắc Cực, lượng mưa 75- 300mm/năm. Mặt nước bị phủ băng 11,5 triệu km2 vào tháng 3 và 7 triệu km2 vào tháng 9, vùng gần bờ lớp băng một năm dày tới 35m và trôi từ đông sang tây với tốc độ 2,5- 3,5km/ngày đêm, nhiệt độ nước mùa đông dưới 1°c, độ mặn 32-35%0. Có những dòng hải lưu lạnh và nóng. Nhũng đường hàng hải phía bắc với những cảng quan trọng: Muôcmanxcơ, Ackhanghenxcơ, Tichxi, Đichxơn (Nga), Trômxơ, Trônhem (Na Uy), Socsin (Canada). Thềm lục địa BBD có nhiều mỏ dầu khí lớn, bắt đầu được khai thác. BẮC BỘ, phần lãnh thổ phía bắc VN, từ Ninh Bình trở ra. Thời Tây Sơn và đầu triều Nguyễn là khu vực hành chính với tên gọi Bắc Thành. 1831 nhà Nguyễn bỏ quy chế khu vực hành chính đối với Bắc Thành; từ 1834 gọi khu vực này là Bắc Kì. Theo hiệp ước Quý Mùi (1883), Bắc Kì có thêm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và bị đặt dưới sự cai trị của Pháp theo chế độ bảo hộ. Hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884) trả ba tỉnh nói trên về Trung Kì. Từ 1887 trở thành một xứ thuộc địa trong Liên hiệp Đông Dương. 3.1945 thống sứ Nhật Nisimura đổi Bắc Kì thành BB. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:30:55 pm BẮC BỘ PHỦ, tòa dinh thự ở phố Ngô Quyền, Hà Nội, thời thuộc Pháp là Phú thống sứ Bắc Kì, sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) đổi thành Phủ khâm sai Bắc Kì. Là mục tiêu tiến công đánh chiếm đầu tiên của các lực lượng CM trong ngày tổng khởi nghĩa 19.8.1945. Sau CM tháng Tám (1945), chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phú lâm thời về làm việc tại đây trong một thời gian ngắn và đổi tên Phủ khâm sai Bắc Kì thành BBP. Trong trận Bắc Bộ Phủ (19- 20.12.1946), Đại đội 1 Tiểu đoàn 101 Vệ quốc đoàn Liên khu 1 phòng ngự đánh lui cuộc tiến công của khoảng 300 quân Pháp có xe tăng, xe thiết giáp yểm trợ. Sau ngày giải phóng Hà Nội (1954), BBP được tu sửa lại và trở thành Nhà khách chính phủ. BẮC CẠN nh BẮC KẠN BẮC CỰC, vùng cực Bắc của Trái Đất, giới hạn bởi đường đẳng nhiệt 10°c về mùa hè. Bao gồm Bắc Băng Dương, vùng ven phía bắc của các lục địa Á - Âu, Bắc Mĩ và các đảo phụ cận (trừ các đảo gần Na Uy). Dt khoảng 25 triệu km2. trong đó 3/5 là biển và đại dương, thường xuyên bị băng bao phủ với độ dày 2-4m, có nhiều núi băng trôi, hầu hết theo hướng từ đông sang tây. Khí hậu lạnh giá khắc nghiệt, gió mạnh, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 1) ở vùng trung tâm khoảng -40°c, rìa phía nam khoảng -20°c, trên đảo Grinlen khoảng -60 đến -70°c, cao nhất (tháng 7, 8) 0-6°C. Lượng mưa dao động từ 100mm ở trung tâm đến 400mm ở rìa phía nam. Độ bốc hơi yếu, không khí thường xuyên bão hòa hơi nước. Đêm cực trong khu vực kéo dài từ vài ngày ở 66°33’ bắc đến 179 ngày ở ngay điểm cực Bắc. Cảnh quan chủ yếu là đới băng tuyết vĩnh cửu và đài nguyên. Luật pháp quốc tế hiện nay chia BC thành 5 vùng theo hình quạt có đáy là biên giới phía bắc của các nước Nga, Mĩ, Canada, Đan Mạch (đảo Grinlen) và Na Uy. Việc nghiên cứu BC hiện nay rất được chú trọng, đặc biệt là nghiên cứu phục vụ mục đích QS: ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đối với hoạt động QS, khả năng sử dụng vũ khí và các phương tiện kĩ thuật, lập bản đồ hàng hải, xây dựng các công trình QS (kể cả xây dựng sân bay trên mặt băng trôi...). BẮC GIANG, tỉnh trung du đồng bằng Bắc Bộ; bắc và đông bắc giáp Lạng Sơn, nam và đông nam giáp Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh, tây giáp Hà Nội. Thái Nguyên. Dt 3.822km2; ds 1,54 triệu người (2003); dân tộc: Kinh, Nùng, Tày, Hoa, Cao Lan, Sán Dìu, Sán Chỉ... Thành lập 10.1895, tách từ Bắc Ninh. 4.1963 hợp nhất với Bắc Ninh thành t. Hà Bắc. 11.1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Bắc Giang. Địa hình chia ba vùng: phía bắc và đông bắc là rừng núi, giữa là trung du. phía nam đồng bằng. Các đỉnh cao: Yên Tử (1.068m), Đá Bạc (902m), Mô Inh (581m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 22°c, lượng mưa trung bình 1.300-1.800mm/năm. Các sông: Sông Cầu, Lục Nam, Sông Thương; hồ: Cấm Sơn, Khuôn Thần. Tỉnh nông nghiệp, kinh tế vườn đồi phát triển. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 539,7 nghìn tấn (lúa 520,4 nghìn tấn). Công nghiệp: phân đạm, nhiệt điện, xi măng, vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 669 tỉ đồng; khai thác gỗ 35,4 nghìn m2. Giao thông: đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, hai nhánh: Kép - Yên Thế, Kép - Cái Lân; sân bay Kép; đường bộ: QL 1, các đường 13B, 16A, 17A, 19, 34, 35, 279, 379... Địa danh lịch sử QS: Yên Thế (căn cứ chống Pháp của Hoàng Hoa Thám); thành Xương Giang (nghĩa quân Lam Sơn chống Minh tk 15); ATK Hoàng Vân (h. Hiệp Hoà)... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65572894_441779166551969_8844517743383281664_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmhhZhVHksaNAtsl0BUHMkT7FHiJS6r816zEBHV5eiWfHXqZULfUZgdCRslBNI3DXY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cef72c17e135ef656c9059e1c7c807bc&oe=5D874D5A) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:33:10 pm BẮC KẠN, tình miền núi Bắc Bộ; bắc giáp Cao Bằng, đông nam giáp Lạng Sơn, tây giáp Tuyên Quang, nam giáp Thái Nguyên. Dt 4.857,21km2: ds 0,29 triệu người (2003); dân tộc: Tày (61%), Dao, Nùng, Kinh. Hoa, Mông... Thành lập 4.1900 do tách từ Thái Nguyên. Từ 7.1956 thuộc Khu tự trị Việt Bắc. 1965 hợp nhất với Thái Nguyên thành t. Bắc Thái. 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Bắc Cạn. Địa hình chủ yếu là núi và núi cao. Các đỉnh cao: Phía Yêng (1.528m), Tao Tao (1.326m), Sam Sao (1.172m), Phía Ngỏm (1.193m)...; nhiều núi đá vôi ở Na Rì, Chợ Đồn, Bạch Thông. Các sông: Sông Cầu, Na Rì, Phó Đáy, Sông Năng...; hồ lớn: Ba Bể. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 21°c, lượng mưa 1.400-1.800mm/năm. Tiềm năng kinh tế: lâm nghiệp, khai khoáng và vật liệu xây dựng. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65023452_441779186551967_702724802166652928_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQkDb-VYdJu0OKYgSCkysTo0STpk75rgk4Zv-GLqo7G2f9BdYi78M-iIr1vzSUQnyME&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a8b4e9c73c36c069d68f7a5cc52d0e2f&oe=5D7AD092) Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 106,1 nghìn tấn (lúa 78,6 nghìn tấn); khai thác gỗ 22,7 nghìn m3. Khoáng sản: kẽm, chỉ ở Chợ Đồn; vàng sa khoáng ở Ngân Sơn, Na Rì, Bạch Thông. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 57,4 tỉ đồng. Giao thông: QL 3, QL 279. các tỉnh lộ: 256, 257, 258... Di tích và địa danh lịch sử CM và QS: khu căn cứ Chợ Đồn, Phủ Thông, Đèo Giàng, Chợ Rã... 10.2000, LLVTND Bắc Kạn được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. BẮC LỆ, làng nhỏ ven QL 1, trước thuộc h. Lục Nam, t. Bắc Giang, nay thuộc xã Tân Thành, h. Hữu Lũng, t. Lạng Sơn. 29.6.1884 sau thất bại ở cầu Quan Âm, quân Pháp lui về giữ đồn BL bị nghĩa quân do Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) chỉ huy tập kích, gây nhiều tổn thất, phải rút về Bắc Ninh, tạm ngừng kế hoạch đánh chiếm Lạng Sơn. Cao Bằng. Các sự kiện ở cầu Quan Âm và BL được người Pháp gọi là “vụ Bắc Lệ”. Để ghi nhớ chiến công này, dãy núi từ BL đến Than Muội được đặt tên là núi Cai Kinh. BẮC NINH, tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; bắc giáp Bắc Giang, đông và đông nam giáp Hải Dương, tây giáp Hà Nội, nam giáp Hưng Yên. Dt 803,87km2; ds 0,976 triệu người (2003). Nguyên là trấn Kinh Bắc, 1822 đổi thành trấn BN, 1831 đổi thành tỉnh. 10.1895 tách phần phía bắc thành lập t. Bắc Giang. Từ đầu tk 20 đến đầu những năm 60, lần lượt cắt một số vùng để thành lập t. Phù Lỗ (sau đổi thành Phúc Yên) và về các tỉnh Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, tp Hà Nội. 4.1963 hợp nhất với Bắc Giang thành t. Hà Bắc, 11.1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Bắc Ninh. Địa hình bằng phẳng. Sông Cầu ở phía bắc làm ranh giới với Bắc Giang. Sông Đuống ngăn cách 4 huyện phía bắc với 3 huyện phía nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. nhiệt độ trung bình hàng năm 22°c, lượng mưa 1.300-1.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 452,7 nghìn tấn (lúa 446,6 nghìn tấn). Công nghiệp: các nhà máy kính Đáp Cầu, thuốc lá Bắc Sơn, gạch Cầu Ngà, may Việt Thành. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 2.479,2 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn; QL 1, QL 18, QL 38... Nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng: chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, Đền Đô, thành Luy Lâu, thành Bắc Ninh... Quê hương Lí Công Uẩn, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự...; Đội du kích thiếu niên Đình Bảng... Địa danh lịch sử QS: phòng tuyến sông Như Nguyệt (kháng chiến chống Tống thời Lí), làng chiến đấu Yên Giả, Trà Lâm, Bùi Xá... trong KCCP. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65291621_441779173218635_8855505197439385600_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQkqBzmegTv3_JHMXzvXCbln9Sekc-QPvaBjEznm4F5uXigPYo8H7OlNx5iZF5SMhGE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d428b8ce957ec9e3f25a7346724a500a&oe=5DBCABE9) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:35:00 pm BẮC SƠN, huyện miền núi phía tây t. Lạng Sơn, giáp h. Võ Nhãi, t. Thái Nguyên. Địa hình chủ yếu là rừng rậm và núi thấp. Các cơ sở CM được xây dựng ở đây từ những năm 1930 (chi bộ Đình Cả 1933, chi bộ Vũ Lăng 1937). Ngày 14.2.1941 sau khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9-28.10.1940), đội du kích BS. tiền thân của trung đội Cứu quốc quân 1, được thảnh lập tại khu rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ). Khu căn cứ du kích được mở rộng ra các xã Vũ Lễ, Vũ Lăng, Ngư Viền, Hữu Vĩnh (h. Bắc Sơn), Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá (h. Võ Nhãi, t. Thái Nguyên) và phát triển sang các huyện Đồng Hỉ, Đại Từ (t. Thái Nguyên), Sơn Dương (t. Tuyên Quang), Yên Thế (t. Bác Giang), nối liền BS với các khu căn cứ khác ở Việt Bắc. BẮC THÁI, tỉnh cũ ở miền núi và trung du Bác Bộ. Tỉnh lị: tp Thái Nguyên. Thành lập 1965 do sáp nhập hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. 11.1996 chia lại thành hai tỉnh. BẮC THÀNH, đơn vị hành chính ở phía bắc VN dưới triều Tây Sơn và đầu triều Gia Long (nhà Nguyễn), tương đương với Bắc Bộ ngày nay. Thời Gia Long, BT gồm 11 trấn: Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Bắc Ninh. Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Yên Quảng, Cao Bằng và phủ Hoài Đức. Đứng đầu BT là tổng trấn, trị sở đặt tại Thăng Long (Hà Nội ngày nay). BẮN, 1) quá trình tạo ra phát bắn từ các loại vũ khí (súng, pháo, tên lửa, cung, nỏ...). Đối với hỏa khí, B thường gồm các thao tác: nạp đạn, ngắm, bóp (đạp, giật) cò hay ấn nút phóng, nạp đạn lại. Theo loại hỏa khí, chia ra: B pháo (mặt đất, phòng không, trên tăng, bờ biển, trên tàu...), B tên lửa, B súng bộ binh...; 2) quá trình tạo ra hỏa lực bằng các phát B. Thường có các giai đoạn: chuẩn bị B, thực hành B. Theo mục đích B, có thể chia ra: B chiến đấu, B huấn luyện, B thí nghiệm, B thử nghiệm, B mẫu, B chào, B thể thao...; theo phương pháp B, có: B gấp, B đón, B loạt, B thìa lia, B tốc độ đều... hoặc phân loại theo những dấu hiệu khác; 3) khẩu lệnh chỉ huy để người B bóp (đạp, giật) cò hay ấn nút phóng. BẮN CẢN, bắn pháo và súng máy phòng không tạo một màn đạn ở cự li và độ cao nhất định trên đường bay đến của mục tiêu. BC được ứng dụng khi không quan sát được mục tiêu bằng mắt (đêm tối, điều kiện thời tiết xấu...), hoặc không thể bắn bằng khí tài. Có BC theo phần tử rađa, theo tín hiệu đài quan sát phía trước hoặc theo tiếng động cơ máy bay (đối với súng máy phòng không). BẮN CẦU VỔNG, bắn pháo mặt đất với góc bắn lớn hơn 45° (đường đạn rất cong), thường áp dụng đối với cối. pháo lựu... để bắn những mục tiêu bố trí ở sườn phía bên kia các điểm cao, ở vực, hẻm núi... hoặc bắn phá hủy các công trình phòng thủ có nắp. Cg bắn xạ giới cao. BẮN CHẠM NỔ, bắn pháo có điểm nổ khi đầu đạn chạm mục tiêu bằng đạn lắp ngòi nổ tiếp xúc. Khi gặp mục tiêu bộ phận chạm nổ của ngòi sẽ kích nổ đầu đạn sát thương mục tiêu. Kiểu bắn thông dụng của các loại pháo mặt đất và pháo phòng không đối với mục tiêu lộ trên mặt đất, mặt nước và mục tiêu trên không. BẮN CHẶN, bắn pháo dùng đại đội (tiểu đoàn) pháo (trừ pháo phản lực) bắn phân đoạn thành một hay nhiều tuyến hỏa lực ngay trước đội hình công kích (phản kích, rút chạy) của bộ binh, xe tăng địch, nhằm ngăn chặn, sát thương và làm rối loạn đội hình, tạo điều kiện cho các loại hỏa lực khác và bộ binh, xe tăng ta tiêu diệt. Có BC: cố định và di động. Căn cứ vào tình hình cụ thể (uy lực, cỡ pháo đạn, phương pháp bắn, địa hình và các yếu tố khác) để xác định kích thước đoạn BC. BC được tiến hành bằng bắn gấp với một thước tầm, một độ hướng. BẮN CHỒNG, bắn tập trung tiến hành bằng cách dùng các phân đội pháo đồng thời bắn vào một mục tiêu với cùng một tọa độ và phương pháp phân phối hỏa lực, tạo nên mật độ hỏa lực cao nhằm sát thương, phá hủy mục tiêu. BC thường áp dụng khi chế áp, tiêu diệt những mục tiêu cụm có kích thước nhất định. BẮN ĐIỂM XẠ, phương pháp bắn với số lượng phát bắn hạn chế trong mỗi lần bắn. Tuỳ theo tính chất mục tiêu, loại vũ khí và khả năng thao tác..., có: BĐX ngắn (2-5 viên mỗi loạt) và BĐX dài (6-10 viên mỗi loạt). Đối với súng, pháo phòng không BĐX ngắn được sử dụng khi bắn mục tiêu bay bằng (theo phần tử máy ngắm), mục tiêu bay chậm và mục tiêu mặt đất, mặt nước... BĐX dài (dạng hỏa lực chủ yếu của súng, pháo phòng không cỡ nhỏ) sử dụng khi bắn máy bay bổ nhào, bay thấp hoặc cơ động lượn vòng và mục tiêu bay bằng (theo phần từ máy chỉ huy hoặc phần tử tổng hợp). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:36:40 pm BẮN ĐÓN, bắn có tính đến sự chuyển động tương đối giữa mục tiêu và vũ khí mà điểm diệt mục tiêu ở phía trước hướng chuyển động của nó. BĐ được sử dụng khi bắn mục tiêu di động (máy bay, xe tăng, tàu chiến...). Lượng BĐ phụ thuộc vào các tham số chuyển động (hướng, tốc độ, độ cao...) của mục tiêu và phương tiện mang vũ khí, vào đặc tính của vũ khí (loại đạn, tốc độ đạn...) và được tính toán sẵn để lấy thước ngắm hoặc được tính toán tự động bằng khí tài điều khiển bắn. BẮN ĐUỔI, phương pháp bắn của tên lửa phòng không có điều khiển và tên lửa tự dẫn hồng ngoại khi góc gặp giữa đường bay tên lửa và đường bay mục tiêu lớn hơn 90°: trường hợp tiếp tục của bắn đón khi điều kiện xạ kích cho phép (tốc độ mục tiêu không lớn, tham số đường bay nhỏ, tính năng chiến - kĩ thuật của loại tên lửa sử dụng...). BĐ cũng được ứng dụng đối với một số loại tên lửa chống tăng có điều khiển. BẮN GẤP, phương pháp bắn pháo dùng một hay nhiều pháo, bắn với tốc độ lớn nhất phù hợp chế độ bắn, nhằm tạo ra hỏa lực mãnh liệt sát thương, tiêu diệt mục tiêu. Trường hợp nhiều pháo BG vào một mục tiêu, mở đầu bắn loạt sau đó từng pháo tự bắn với tốc độ nhanh nhất cho phép. Quá trình BG vẫn tiến hành sửa bắn và kiểm tra phần tử trên pháo. BG thường dùng bắn sinh lực lộ và trong hỏa lực cấp tập (bắn dồn dập). BẮN HIỆU LỰC, bắn bằng phần tử có lợi nhất để hoàn thành nhiệm vụ bắn. BHL được tiến hành với quy mô từ một khẩu đội đến cụm pháo. Tùy theo tính chất, tầm quan trọng và điều kiện tình huống, nhiệm vụ BHL có thể là tiêu diệt. chế áp. phá hoại, kiềm chế mục tiêu... bằng các dạng hỏa lực, phương pháp bắn và phân phối hỏa lực khác nhau. BẮN KẸP NÒNG, phương pháp bắn sử dụng súng hoặc nòng súng (pháo) cỡ nhỏ (7,62-23mm), gá (kẹp) vào nòng pháo để mô phỏng đường đạn và một số động tác của pháo thủ khi bắn ngắm trực tiếp; kiểm tra kết quả huấn luyện. Để gá súng hoặc nòng súng (pháo) vào nòng pháo phải sử dụng thiết bị BKN (trong hoặc ngoài nòng). BKN được sử dụng để huấn luyện bắn pháo, tiết kiệm đạn pháo cỡ lớn. BẮN KIỂM NGHIỆM phán tử bắn của pháo binh, bắn để kiểm tra lại phần tử bắn thử kết quả hoặc phần tử bắn hiệu lực đã tính toán khi điều kiện bắn thay đổi (thời tiết đột ngột thay đổi hay thông báo khí tượng đã quá ba giờ, điều kiện đường đạn thay đổi). Bắn thử (lập) lại điểm bắn thử được thực hiện bằng cách dùng cùng khẩu pháo (cối, xe chiến đấu) ở cùng trận địa cũ, bắn bằng phần tử kết quả trước đó để tìm độ lệch về tầm, hướng và chiều cao điểm nổ so với mục tiêu, rồi sửa vào phần tử bắn hiệu lực (thước tầm, độ tà, độ hướng và vạch ngòi), cho các mục tiêu và sửa trực tiếp cho mục tiêu cần bắn ngay. BKN phần tử bắn hiệu lực đã tính toán được tiến hành bằng cách dùng pháo đầu đàn bắn một phát hoặc đại đội pháo bắn một loạt vào một mục tiêu bất kì, lấy lượng sửa bắn tìm dược làm lượng sửa chung cho các mục tiêu bắn khác. BẮN LÀ nh BẮN THẲNG BẮN MÁY BAY BỔ NHÀO, phương pháp bắn của pháo phòng không được tiến hành ở giai đoạn máy bay địch bổ nhào theo đường thẳng đứng, nhằm nâng cao hiệu quả tiêu diệt máy bay, bảo vệ an toàn mục tiêu. BMBBN thường bố trí trận địa bao quanh mục tiêu bảo vệ, bắn theo phần tử máy ngắm, máy chỉ huy hoặc ước lượng. Trong KCCM, BMBBN trực tiếp bảo vệ yếu địa, đội hình bộ đội binh chủng hợp thành, giao thông vận tải, đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần bảo vệ nhiều mục tiêu. Vd: trận đánh của Tiểu đoàn 18, Sư đoàn phòng không 365 bảo vệ cầu Đáp Cầu từ 10 giờ 40ph đến 10 giờ 42ph ngày 17.10.1967, đánh trả 24 lần chiếc máy bay Mĩ, bắn rơi 5 chiếc F-105 (4 chiếc rơi tại chỗ) bắt sống 3 giặc lái. bảo vệ cầu an toàn. BẮN NGẮM GIÁN TIẾP, bắn mục tiêu không quan sát thấy từ trận địa bắn. bằng cách ngắm gián tiếp vào mục tiêu qua một điểm dấu: ngắm tầm căn cứ vào góc tầm, độ tà với bọt nước dọc; ngắm hướng vào điểm dấu căn cứ độ hướng ngắm mục tiêu của kính ngắm. Phần lớn các nhiệm vụ hỏa lực pháo binh được thực hiện trong BNGT, từ trận địa che khuất và nửa che khuất; chỉ huy từ đài chỉ huy quan sát ở xa trận địa bắn. BẮN NGẮM TRỰC TIẾP, bắn mục tiêu nhìn thấy dược từ trận địa bắn, bằng cách ngắm trực tiếp vào mục tiêu. BNTT nhằm sát thương, phá hủy mục tiêu nhanh chóng, hiệu quả cao và là phương pháp bắn chủ yếu của pháo chống tăng, pháo trên xe tăng... Phần lớn các trận chiến đấu trong KCCP, pháo binh VN sử dụng BNTT ở cự li rất gần (200m trong trận tiến công nhà băng thành phố Nam Định 12.1946; 150m trong trận Khe Lau phục kích trên Sông Gâm; 50m trong trận tiêu diệt đồn Bí Chợ, chiến dịch Hoàng Hoa Thám 27.7.1951; 400m trong trận tiêu diệt đồn chợ Tổng, Thái Bình 8.2.1952) bằng pháo lựu 105mm. Trong KCCM. BNTT vẫn được sử dụng rộng rãi và có bước phát triển mới (bằng nhiều loại pháo xe kéo, đạn hỏa tiễn, súng cối, cự li bắn tùy theo địa hình). Để BNTT bằng pháo xe kéo có hiệu quả thường đưa pháo lên cao, vào gần (bằng kéo, đẩy, tháo rời...). BNTT khi độ cao dường đạn không vượt quá độ cao mục tiêu gọi là bắn thẳng. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:38:23 pm BẮN NỔ TRÊN KHÔNG, bắn pháo và tên lửa có điểm nổ trên không bằng đạn, tên lửa lắp ngòi nổ hẹn giờ, ngòi nổ có điều khiển. Đối với pháo mặt đất, pháo trên tàu BNTK nhằm tăng hiệu quả sát thương sinh lực và vũ khí. trang bị lộ trên mặt đất, mặt nước hay trong công sự không nắp của đối phương; lập điểm bắn thử giả trên không; bắn đạn chiếu sáng và đạn truyền đơn. Đối với pháo phòng không cỡ trung, BNTK dùng đạn lắp ngòi nổ cắt ngòi (ngòi hẹn nổ) tới độ cao dã định thì phát nổ để diệt mục tiêu trên không. Đối với tên lửa phòng không, BNTK dùng ngòi nổ vô tuyến kích nổ đầu đạn trên cơ sở năng lượng sóng điện từ phản xạ từ mục tiêu hoặc theo lệnh nổ trực tiếp từ đài điều khiển phát ra. BẮN PHÁO, tổng thể các hoạt động của người chỉ huy, cơ quan tham mưu và các phân đội (binh đội) pháo binh chuẩn bị và thực hiện các nhiệm vụ bắn. Theo phương pháp ngắm, có: bắn ngắm trực tiếp, bắn ngắm gián tiếp; theo quy mô lực lượng, có: bắn khẩu đội, bắn trung đội, bắn đại đội, bắn tiểu đoàn và bắn cụm pháo; theo kiểu bắn, có: bắn đơn lẻ, bắn tập trung, bắn chặn...; theo phương pháp bắn, có: bắn gấp, bắn loạt, bắn tốc độ đều và bắn phát một; theo dạng đường đạn, có: bắn xạ giới thấp (góc bắn dưới 45°) và bắn xạ giới cao (trên 45°); theo trạng thái đạn nổ, có: bắn chạm nổ, bắn nổ trên không, bắn thìa lia; theo vị trí, tính chất và trạng thái mục tiêu, có: bắn mục tiêu vận động, bắn mục tiêu không vận động, bắn mục tiêu mặt đất, bắn mục tiêu mặt nước; theo điều kiện quan sát và sửa bắn, có: bắn mục tiêu quan sát thấy và bắn mục tiêu không quan sát thấy; theo nhiệm vụ bắn, có: bắn tiêu diệt, bắn chế áp (kiềm chế), bắn phá hoại, bản quấy rối, bắn chiếu sáng, bắn tạo khói, bắn rải truyền đơn... BẮN PHÁT MỘT, phương pháp bắn với mỗi lần bắn có một phát bắn được thực hiện. BPM thường được sử dụng đối với các loại súng, pháo, tên lửa... khi bắn mục tiêu mặt đất, mặt nước có kích thước nhỏ, đơn lẻ và bắn thử tìm lượng sửa điều kiện bắn... BẮN (PHÓNG) LOẠT, phương pháp bắn (phóng) nhiều dạn, lượng nổ... đồng thời hoặc trong một thời gian ngắn. B(P)L nhằm tạo hỏa lực mạnh, bất ngờ. Thường được dùng bắn mục tiêu diện, tạo hỏa lực chuẩn bị, diệt sinh lực, vũ khí trang bị, bố trí tập trung hoặc để tăng xác suất tiêu diệt mục tiêu. Còn được dùng để bắn pháo hoa hoặc dùng trong nghi lễ QĐ. BẮN QUA BIÊN GIỚI, bắn (phóng) đạn, tên từ các loại vũ khí qua biên giới vào lãnh thổ của nước láng giềng. BQBG do vô ý hay cố ý đều vi phạm hiệp định về quy chế biên giới, xâm phạm chủ quyền nước láng giềng. Quy chế biên giới của nước CHXHCN VN quy định: việc đi săn bắn, luyện tập QS trên khu vực biên giới phải báo trước cho nước láng giềng và nghiêm cấm BQBG trong mọi trường hợp. BẮN TẠM DỪNG, bắn pháo (súng máy) trên xe (xe tăng, pháo tự hành, xe thiết giáp, xe chiến đấu bộ binh...) trong công kích hoặc phản kích ở tư thế xe tạm ngừng chuyển động nhằm tăng xác suất bắn trúng mục tiêu. BTD thường được tiến hành bằng bắn ngắm trực tiếp. Mỗi lần dừng xe có thể bắn một phát đạn pháo hoặc một vài loạt (điểm xạ) súng máy; việc chuẩn bị bắn và sửa bắn được thực hiện khi xe đang chuyển động. BTD thường áp dụng với các xe không có hệ ổn định vũ khí và khi bắn từ cự li xa. BẮN TẬP TRUNG, kiểu bắn pháo dùng một số đại đội, tiểu đoàn đồng thời bắn vào một mục tiêu có kích thước lớn hoặc quan trọng; tạo ra hỏa lực tập trung với mật độ hỏa lực cao để sát thương, phá hủy mục tiêu. Theo yếu lĩnh bắn, có BTT: chồng và phân đoạn; theo quy mô lực lượng, có: BTT, BTT lần lượt và BTT dày đặc. BẮN THẲNG, bắn ngắm trực tiếp với độ cao đường đạn không vượt quá độ cao mục tiêu. Trong phạm vi tầm bắn thẳng, có thể bắn trúng mục tiêu mà không cần thay đổi phần từ ngắm theo chiều cao (thước tầm), nên việc ngắm bắn đơn giản và nhanh, rất thuận lợi khi bắn mục tiêu di động. Cg bắn là. BẮN THIA LIA, bắn để đạn gặp chướng ngại (mặt đất, mặt nước...) thì nảy lên tiếp tục bay và nổ trên không, nhằm tăng hiệu quả sát thương bằng mảnh. Muốn có đạn thìa ha phải chọn phần tử bắn sao cho góc chạm giữa đầu đạn và mặt đất không quá 20° (với mặt nước - không quá 10°) và ngòi ở thế nổ chậm. Trong pháo binh, BTL được dùng để diệt mục tiêu bố trí lộ hay trong công sự không có nắp. Hiện tượng thia lia còn được dùng trong ném bom của không quân. BẮN THỬ của pháo binh, bắn để xác định phần tử bắn hiệu lực. BT được tiến hành trực tiếp vào mục tiêu hoặc điểm bắn thử bằng phương pháp đo độ lệch điểm nổ (dùng máy đo xa, quan sát giao hội, rađa, phân đội trinh sát âm thanh, trực thăng) hoặc quan sát dấu điểm nổ (đạn xa, đạn gần). BT bao gồm: BT về tầm, BT về hướng và BT độ cao nổ (khi bắn đạn nổ trên không). BT được tiến hành trong thời gian ngắn nhất, đảm bảo mức chính xác cần thiết để kịp thời chuyển sang bắn hiệu lực. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:41:21 pm BẮN THỬ NGHIỆM, bắn để xác định hoặc kiểm tra những đặc tính nào đó của hỏa khí và đạn dược. BTN được tiến hành với những mục đích nghiên cứu hoặc thử nghiệm khác nhau. Vd: BTN liều phóng là bắn để xác định áp suất trong nòng và sơ tốc đạn, tương ứng với liều phóng được thử hoặc để xác định khối lượng liều phóng nhằm đạt áp suất trong nòng và sơ tốc đạn đã cho; BTN thành lập bảng bắn là bắn để xác định giá trị các tham số được dùng khi lập bảng bắn (như tầm bắn, hệ số hình dạng đạn, ảnh hưởng của gió...). BẮN TỈA, bắn bất ngờ, chuẩn xác do từng người (du kích, chiến sĩ) được huấn luyện đặc biệt, thực hiện bằng súng trường hoặc súng bắn tỉa để sát thương từng tên địch hoặc từng mục tiêu nhằm tiêu hao và quấy rối địch. Trong KCCP và KCCM, BT được vận dụng rộng rãi và có hiệu quả. BẮN TỐC ĐỘ ĐỂU, phương pháp bắn pháo từ một hoặc một số pháo của trung (đại) đội với gián cách bắn đều giữa các phát bắn. Dùng trong hỏa lực cấp tập có quy định thời gian, trong hỏa lực giám thị hay khi cần xác định lượng sửa cho từng pháo trong quá trình bắn, bắn chiếu sáng địa hình, bắn pháo lễ... BTĐĐ ở cấp nào do người chỉ huy phân đội hỏa lực cấp đó duy trì nhịp bắn theo thứ tự nhất định. BẮN TRONG HÀNH TIẾN, bắn pháo (súng) dược thực hiện khi người hoặc phương tiện mang vũ khí (xe tăng, xe chiến đấu bộ binh...) đang vận động. BTHT được dùng trong công kích và phản kích của bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, thiết giáp... hoặc trong hành quân (khi đang vượt sông, khi pháo cao xạ hành quân...). Đối với xe tăng, thiết giáp, BTHT là một phương pháp bắn chủ yếu. Việc chuẩn bị, tiến hành và sửa bắn đều được thực hiện khi xe đang chạy. Để tăng độ chính xác khi BTHT các xe chiến đấu hiện đại thường có hệ ổn định vũ khí. BẮN ỨNG DỤNG, bắn không theo thiết kế nguyên mẫu của vũ khí, bằng cách vận dụng các yếu lĩnh thao tác bắn hoặc hay đổi kết cẫu của vũ khí cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện chiến đấu cụ thể, nhằm tận dụng và phát huy tối đa khả năng của vũ khí. Đặc điểm chủ yếu của BƯD là độ chính xác bắn bị giảm, nhưng hiệu quả khai thác vũ khí cao, trong nhiều trường hợp có thể tạo ra yếu tố bất ngờ của hỏa lực. BƯD xuất hiện rất sớm và được thực hiện rộng rãi trong pháo binh VN. Trong KCCP, bắn pháo ngắm qua nòng; trong KCCM, bắn súng cối không có bàn đế ở cự li gần. không chân, không kính ngắm, bắn thẳng, bắn thử về tầm ở vùng rừng rậm với góc bắn cố định; phóng đạn hỏa tiễn trên bệ phóng bằng đất hoặc trên giá ba chạc bằng sắt, tre, gỗ; phóng ngắm trực tiếp, bắn ĐKZ đặt trên vai, trên cây... Kinh nghiệm BƯD của pháo binh VN đã được pháo binh một số nước châu Á, Phi, Mĩ latinh tham khảo, vận dụng. BẮN XẠ GIỚI CAO nh BẮN CẦU VỒNG BẰNG GIANG (Nguyên Cao Cơ; 1915-90), tư lệnh đầu tiên Quân khu Tây Bắc. Dân tộc Tày, quê xã Đức Long, h. hòa An, t. Cao Bằng; tham gia CM 1932, nhập ngũ 1944, trung tướng (1974); đv ĐCS VN (1935). Nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. 1941-43 tỉnh ủy viên tỉnh Cao Bằng, ủy viên thường vụ liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, phụ trách binh vận. 1944-45 tỉnh ủy viên tỉnh Cao Bằng phụ trách QS, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp. 1946-47 khu phó, rồi khu trưởng Khu 1, Khu 10. Nãm 1949-54 tư lệnh Liên khu 10, Khu Tây Bắc, tham gia các chiến dịch: Biên Giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... 1957 tư lệnh Quân khu Tây Bắc. 1965-66 hiệu trưởng Trường sĩ quan lục quân. 1966-75 tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc. 1976-78 phó tổng thanh tra QĐ. Đại biểu Quốc hội khóa III-VI. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65544704_441779219885297_7045749130164961280_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnWbJ1IZaNqbOje4s4jfJcnuZvwMEdlJ7kFbtDNJEoISVBoqT_yZNOjHLHGrTb2caI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=82942254f66c7e1bdb45ae8d99885e92&oe=5DBD87A3) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:43:56 pm BẰNG TỔ QUỐC GHI CÔNG, hình thức khen thưởng của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng thưởng các gia đình liệt sĩ để ghi nhớ công lao và tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ, đề cao vinh dự gia đình liệt sĩ. Đặt ra theo nghị định 899/TTg ngày 25.5.1956. Mỗi liệt sĩ được tặng một BTQGC, do thủ tướng chính phủ kí tặng theo đề nghị của bộ trưởng Bộ lao động, thương binh và xã hội. BĂNGĐUNG (Bandung), thành phố, thủ phủ t. Tây Giava, Inđônêxia, tây nam Giacacta 120km. Ds khoảng 3,6 triệu người. Công nghiệp: dệt, thực phẩm, hóa chất, cao su, dược phẩm. Thương mại, du lịch phát triển. Nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu: đại học tổng hợp, trường nghệ thuật tạo hình, trường thể thao, học viện QS, Viện Paxtơ, đài thiên văn... Tại B, 18-24.4.1955 diễn ra hội nghị Á - Phi có 29 nước tham gia. Hội nghị lên án chủ nghĩa thực dân, chính sách phân biệt chủng tộc, thông qua mười nguyên tắc Băngđung. BĂNGLAĐET (Cộng hòa nhân dân Băngladet; Gana Prajatantri Bangladesh, A. People’s Republic of Bangladesh), quốc gia ở Nam Á. Dt 147.570km2; ds 138,5 triệu người (2003); 98% người Bengan. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bengan. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni (87%), đạo Hindu (12%), đạo Phật (1%). Thủ đô: Đaca. Chính thể cộng hòa, dứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình: 90% lãnh thổ thuộc đồng bằng châu thổ Sông Hằng và sông Bramaputra, ven biển thấp, bị chia cắt bởi các nhánh sông có đê chắn; phía nam và đông nam là rừng ngập mặn (chiếm 16% diện tích lãnh thổ); phía đông và đông bắc là vùng đồi và núi thấp. Khí hậu cận xích đạo, ẩm ướt. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000-3.000mm; nhiều lụt, bão. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (80% lực lượng lao động); sản phẩm chính: lúa, đay (90% sản lượng đay thế giới), mía, bông... Công nghiệp: khai thác khí đốt, luyện kim, chế tạo máy, hóa dầu... GDP 46,706 tỉ USD (2002). bình quân đầu người 350 USD. Thành viên LHQ (17.9.1974), Phong trào không liên kết. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.12.1973. LLVT: lực lượng thường trực 137.000 người (lục quân 120.000, hải quân 10.500. không quân 6.500). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 200 xe tăng hạng trung, 40 xe tăng hạng nhẹ, 150 xe thiết giáp chở quân, 140 pháo mặt đất, 236 pháo chống tăng, 100 súng cối, 16 pháo phòng không, 5 tàu frigat, 10 tàu tên lửa, 4 tàu phóng lôi, 4 tàu quét mìn, 8 tàu tuần tiễu, 14 tàu đổ bộ, 8 tàu hộ tống, 83 máy bay chiến đấu... Căn cứ hải quân: Chitagông, Captai, Môngla... Ngân sách quốc phòng 678 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65052001_441779239885295_2514133912158994432_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQk2hnWa4uT1UT84WFFUWyB0qCsaLAtsaopY-ExGheDyR_GQPTyZnAj7t7bM136hK0M&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=75cf97832454a3a6cdcfe04e159a5d38&oe=5DB6794B) BÂNCƠ (A. Ellsworth Bunker; 1894-1984), đại sứ Mĩ tại miền Nam VN (1967-73). Sinh tại Niu Ooc. 1916 tốt nghiệp Trường đại học Ialơ, làm chủ công ti kinh doanh đường. 1951-61 chuyển sang làm ngoại giao, đại sứ Mĩ tại Achentina, Italia, Ấn Độ, Nêpan. Đầu những năm 60, làm trung gian hòa giải một số cuộc xung đột và tranh chấp quốc tế. Khi làm đại sứ Mĩ tại miền Nam VN, đã ủng hộ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh; tán thành chủ trương mở chiến dịch QS, đưa QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn đánh sang đông bắc Campuchia (1970). Sau hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, làm đại sứ lưu động của Mĩ. Cuối đời nhận ra sai lầm trong quan điểm của mình, B nói: “Tôi là nhà yêu nước lỗi thời, trước đây bao giờ tôi cũng cho rằng nước tôi về cơ bản là đúng trong quan hệ đối xử với các nước khác”. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:46:07 pm BẤT NGỜ, hành động tác chiến làm cho đối phương không đoán trước được hoặc phát hiện muộn, không kịp đối phó; một nguyên tắc của nghệ thuật QS. Có BN về chiến thuật, chiến dịch và chiến lược. Để đạt được BN cần giữ bí mật ý định và chuẩn bị tác chiến, (lực lượng, thế trận, thời gian, địa điểm, quy mô tác chiến, phương pháp tác chiến, đồng thời khéo ngụy trang, nghi binh lừa địch). BN bảo đảm đạt hiệu quả tác chiến lớn nhất bằng lực lượng nhỏ và tiêu hao, tổn thất ít nhất. BẪY, phương tiện chiến đấu (thường là vũ khí thô sơ tự tạo) được bố trí giấu kín hoặc ngụy trang theo địa hình tự nhiên, nhằm sát thương, tiêu diệt đối phương khi vấp phải. Cấu tạo gồm phương tiện sát thương (mũi chông, đạn đá, vũ khí cháy nổ...) hoặc phương tiện sát thương kết hợp với cạm để điều khiển hoạt động của phương tiện. Thường kết hợp với việc lợi dụng và xử lí các yếu tố địa hình, địa vật để tạo ra những tác động bất ngờ làm cho đối phương sa B. Việc sử dụng B xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, phát triển từ các hoạt động săn bắn đến các hoạt động QS, đã phát huy tác dụng to lớn trong các cuộc chiến tranh từ cổ đại đến đương đại. Bẫy đá, các loại chông... là những dạng B được nhân dân VN sử dụng có hiệu quả trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. BẪY ĐÁ, vũ khí lạnh thô sơ, tạo ra sự rơi (lăn) bất ngờ của nhiều hòn đá từ độ cao nhất định xuống địa hình định trước để sát thương hoặc làm rối loạn đội hình đối phương, tạo điều kiện để tiêu diệt (sa vào bãi chông, mìn hoặc trận địa phục kích). Tuỳ theo điều kiện địa hình, vật liệu, nơi bố trí... BĐ có nhiều kiểu loại khác nhau. Cấu tạo một BĐ điển hình gồm: đá, giàn đựng, dây treo, lẫy, cạm vòng, dây vướng... Khi dây vướng bị kéo căng (do đối phương tự vướng hoặc người điều khiển), lẫy tuột khỏi cạm vòng, đá đựng trên giàn rơi (lãn) xuống. BĐ có thể bố trí đơn chiếc hoặc liên hoàn trên cành cây, vách đá... và được ngụy trang kĩ. BĐ dược dùng rộng rãi ở vùng rừng núi VN, từ thời cổ, trong KCCP và KCCM. BẪY ĐẠN, vũ khí tự tạo được làm từ đạn của các loại súng bộ binh và pháo cao xạ (12,7mm, 12,8mm, 14,5mm và 20mm) để sát thương đối phương ở cự li gần trong điều kiện không có súng. BĐ thường gồm: ống chứa viên đạn, chốt đỡ, đế và kim hỏa. Khi bố trí bẫy, ống chứa được đóng xuống đất sao cho đầu đạn nhô cao hơn mặt đất 2-3cm. Khi giẫm phải, viên đạn tụt xuống đột ngột, kim hỏa đâm vào hạt lửa, thuốc phóng cháy, đạn nổ, đầu đạn (hoặc mảnh kim loại) băn thẳng lên, sát thương mục tiêu. BẪY RAĐA, phương tiện kĩ thuật tạo ra tín hiệu phản xạ giống như mục tiêu thật (tạo mục tiêu giả) để thu hút rađa bám sát của đối phương, gây hiện tượng mất bám của các hệ thống bám sát tự động của rađa và tên lửa tự dẫn; làm cho rađa cảnh giới khó phân biệt với mục tiêu thật. Theo phương pháp sử dụng, BR chia thành: bẫy có điều khiển (tên lửa có các thiết bị phản xạ, phát xạ); bẫy kéo theo mục tiêu (góc phản xạ, lưới kim loại...); bẫy phóng vào không gian (bó, lưỡng cực phản xạ, góc phản xạ, máy phát nhiễu...). BÊ VANH CAT nh B-24 LIBÊRATƠ BÊ VANH XIT nh B-26 MARÔĐƠ BỂ CHỨA XĂNG DẦU, khí tài chứa đựng và bảo quản xăng dầu có dung tích sử dụng từ lm3 (RPL) trở lên tại các kho xăng dầu. Được sử dụng để tiếp nhận, dự trữ, bảo quản, cấp phát xăng dầu. BCXD được phân loại theo hình dạng và cấu tạo: bể trụ đứng, bể trụ nằm; theo vật liệu làm bể: bể thép, bê bê tông cốt thép, bể cao su; theo phương pháp đặt bể: bể nổi, bể chìm, bể nửa nổi nửa chìm. BẾ VĂN ĐÀN (1931-53), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Dân tộc Tày, quê xã Triệu Âu, h. Phục hòa (nay thuộc h. Quảng Hoà), t. Cao Bằng; nhập ngũ 1949; đv ĐCS VN (1953); khi hi sinh là tiểu đội phó thuộc Đại đoàn 316. Trận Mường Pồn (Lai Châu, 12.1953), khi quân địch phản kích đợt ba, đại đội chỉ còn 17 người, tình thế rất khẩn trương, một khẩu trung liên không bắn được do xạ thủ hi sinh, còn khẩu trung liên của Chu Văn Pù không bắn được vì chưa tìm được chỗ đặt súng. Không do dự, BVĐ rời khỏi công sự, lao đến cầm hai chân trung liên đặt lên vai mình nói như ra lệnh: ”kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi”. Khẩu trung liên nhả đạn về phía quân địch, đẩy lùi đợt phản kích. BVĐ mình đầy thương tích, đồng đội kịp thời cứu chữa và được kết nạp Đảng tại trận địa trước lúc hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65799172_441779249885294_1122576955070218240_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQm2i1hH3QlI_m70mlchAa9DAL1D_30t9yKOpJlphBjMkSISNHuyK30CWTFixcX8MNI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3579ea26ff95f1d14bc76ce70b1ab03a&oe=5DB92127) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:47:52 pm BÊLARUT (Cộng hòa Bêlarut; A. Republic of Belarus), quốc gia ở Đông Âu. Dt 207.600km2; ds 10,32 triệu người (2003); 80% người Bêlarut, 13% Nga, 4% Ba Lan, 3% Ucraina. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bêlarut, tiếng Nga được dùng phổ biến. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Thủ đô: Minxcơ. Chính thể cộng hòa. đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ bằng phẳng, phía nam có rừng, đầm lầy, rừng chiếm 1/3 diện tích tự nhiên. Khí hậu lục địa, ôn hòa. Lượng mưa trung bình hàng năm 500-700mm. Sông chính: Đnhep. Nước công - nông nghiệp. Các ngành công nghiệp chính: chế tạo ô tô, máy kéo; khai thác dầu mỏ, than bùn... Nông nghiệp: trồng lúa mì, khoai tây, củ cải đương...; chăn nuôi: bò, cừu, lợn... Giao thông phát triển. GDP 12,219 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 1.230 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 24.1.1992. LLVT: lực lượng thường trực 79.800 người (lục quân 29.300, phòng không và không quân 22.000, các đơn vị và cơ quan trực thuộc BQP 28.500), lực lượng bán vũ trang 110.000, lực lượng dự bị 289.500. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 1.608 xe tăng, 1.588 xe chiến đấu bộ binh, 919 xe thiết giáp chở quân, 1.471 pháo mặt đất, 60 tên lửa Scut, 36 tên lửa đạn đạo SS-21, 212 máy bay chiến đấu (Su-24, Su-25, Su-27, MiG-29), 58 máy bay trực thăng vũ trang, 350 tên lửa phòng không. Ngân sách quốc phòng 176,7 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65646315_441779279885291_4170981880906121216_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmQBMcbZcX0U5cp9r_dBI-hM12dGMVmyzzEyVh0DX4j17SKujPw-BBcAcLHSmFtX68&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=447110c7b91dbc52d2cb836bc17ed1b1&oe=5DBDE04F) BÊLIDƠ (A. Belize), quốc gia trên bán đảo Yucatan ở Trung Mĩ. Dt 22.965km2; ds 266,4 nghìn người (2003); chủ yếu người da đen, da đỏ, người lai. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Benmôpan. Đứng đầu nhà nước là nữ hoàng Anh, do một toàn quyền đại diên. Cơ quan lập pháp: quốc hội (hai viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thú tướng đứng đầu. Địa hình: đồng bằng thấp; phía nam là dãy Maia, đỉnh cao nhất 1.122m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Rừng nhiệt đới ẩm và đầm lầy chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ. Nước nông nghiệp, chuyên trồng mía, lúa, ngô. Công nghiệp: chế biến gỗ, chế biến nông sản. Tư bản Anh, Mĩ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. cảng biển chính: Bêlidơ; sân bay quốc tế: Schenli-Phind. GDP 805 triệu USD (2002), bình quân đầu người 3.260 USD. Thành viên LHQ (25.9.1981), Phong trào không liên kết,. Tổ chức các nước châu Mĩ, Cộng đồng Caribê, Khối liên hiệp Anh. LLVT: lực lượng thường trực 1.050 người, lực lượng dự bị 700 người. Trang bị: 6 súng cối, 8 súng không giật, 14 tàu tuần tiễu loại nhỏ. Ngân sách quốc phòng 18,5 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65293942_441779293218623_221544862783111168_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQn5a9bsUF4nGKT1KUdbw5W0YtL4Yz1u4FHwpXgYbBFQgIQ9NPfB1furgDTbSa5Vzzg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=50bb4982eda1f1e36e945f38bb6d8c45&oe=5DBC3CD3) BÊN MIỆNG HỐ CHIẾN TRANH, chiến lược ngoại giao của Mĩ dưới thời tổng thống Aixenhao (1953-60) khi Mĩ mất độc quyền (nhưng vẫn còn ưu thế vượt trội) về vũ khí hạt nhân và lực lượng không quân chiến lược. Nội dung: dựa trên sức mạnh áp đảo về kinh tế, QS và sự đe dọa chiến tranh hạt nhân để tiến hành các hoạt động đối ngoại, gây sức ép, bao vây, ngăn chặn, phá hoại sự phát triển của LX và các nước XHCH; khống chế các nước đồng minh và phụ thuộc; chống lại phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho hòa bình nhằm giành quyền thống trị thế giới. Kết hợp chiến lược ngoại giao BMHCT với chiến lược trả đũa ồ ạt, Mĩ đã tạo ra tình hình căng thẳng, đối đầu giữa các nước lớn, đe dọa nghiêm trọng an ninh thế giới, đẩy loài người vào cuộc chiến tranh lạnh. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:49:38 pm BẾN CÁT, huyện đồng bằng thuộc t. Bình Dương (2.1975- 11.1996 sáp nhập với Bính Phước thuộc t. Sông Bé), huyện lị: thị trấn Mĩ Phước, bắc tx Thủ Dầu Một 30km theo QL 13. Địa hình thoải dần từ bắc xuống nam. Các sông lớn: sông Sài Gòn, sông Đổng Nai. Giao thông: QL 13, các tỉnh lộ: 30, 741, 744, 745,746 và 747. Trong KCCP, tại BC diễn ra nhiều chiến dịch của các LLVTND Quân khu Sài Gòn - Gia Định tiến công quân Pháp dọc các tuyến giao thông. Trong KCCM, BC là căn cứ kháng chiến, nơi đứng chân của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ. 18.6.1965 Mĩ sử dụng 30 máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm xuống khu vực Trảng Lớn, Bờ Cảng thuộc xã Long Nguyên (đây là trận tập kích đẩu tiên bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mĩ trong chiến tranh VN). BẾN HẢI, sông ở t. Quảng Trị. Dài 65km, bắt nguồn từ núi Dông Chân, Dông Riang (thuộc h. Hướng Hóa) trên dãy Trường Sơn. chảy giữa các huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, đổ ra Biển Đông tại Cửa Tùng, gần vĩ tuyến 17. Thượng lưu có tên Rào Thanh. Theo hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, BH được lấy làm giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Bắc và miền Nam VN. BẾN NGHÉ, bên thuyền trên sông Sài Gòn, nay là khu vực bến Bạch Đằng ở phường Bến Nghé, q. 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tk 18-19, tên BN thường được dùng để chỉ thành Gia Định hoặc cả vùng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Hiện nay tên BN vẫn được dùng để đặt hoặc gọi nhiều địa danh khác ở tp Hồ Chí Minh như rạch BN (dài khoảng 12km, ranh giới tự nhiên giữa các quận 1, 5 và 4, 8; cg rạch Sài Gòn, rạch Bình Dương, rạch Chợ Lớn, rạch Cầu Ông Lãnh, kênh Tàu Hủ (đoạn giữa), kênh An Thông), phường Bến Nghé (q. 1), sông Bến Nghé (đoạn sông Sài Gòn chảy qua tp Hồ Chí Minh), cảng Bên Nghé ở phường Tân Thuận Đông, q. 1... BẾN THỦY, khu vực cảng dọc bờ Sông Lam, đông nam tp Vinh 5km, cách Cửa Hội llkm theo đường bộ, 25km theo đường thủy. Được xây dựng từ thời thuộc Pháp, hiện nay gồm: 3 bến cảng, nhà kho (2.000m2), bãi chứa (15.000m2). Độ sâu bên 4m, độ sâu luồng 2,5m, cập bến được tàu trọng tải trên l.000t. Ngày 1.5.1930 công nhân BT cùng nông dân các xã lân cận biểu tình mở đầu phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Trong KCCM, BT là đầu mối giao thông quan trọng, thường xuyên bị không quân và hải quân Mĩ đánh phá ác liệt song vẫn bảo dảm giao thông thông suốt. Tập thể công nhân bến phà BT được tuyên dương đơn vị Ah LLVTND. Hiện nay BT đang được xây dựng thành khu công nghiệp với nhiều nhà máy: dệt, ép dầu, sửa chữa tàu, vật liệu xây dựng. 1.9.1990 hoàn thành xây dựng cầu BT vượt Sông Lam (trên QL 1) dài 630,5m, 8 nhịp bê tông cốt thép cho hai làn xe ô tô và người đi bộ. BẾN TRE, tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; bắc giáp Tiền Giang, đông và đông nam giáp Biển Đông, tây và tây nam giáp Trà Vinh và Vĩnh Long. Dt 2.315,02km2; ds 1,34 triệu người (2003); chủ yếu là người Kinh. Nguyên là tiểu khu BT tách ra từ t. Vĩnh Long; 1891 đổi thành tỉnh. 10.1956 đổi thành t. Kiến Hoà. Sau KCCM vản giữ tên BT. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Bến Tre. Địa hình bằng phẳng, nằm trên các cù lao giữa hai nhánh Cửa Đại và cổ Chiên của sông Tiền Giang; kênh rạch dày đặc, lớn nhất là các sông Cứa Đại, Hàm Luông, cổ Chiên. Bờ biển dài 65km, thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sàn. Tỉnh nông nghiệp, kinh tế vườn phát triển, sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 395,5 nghìn tấn (lúa 392,1 nghìn tấn), thủy sản 134.263t. Công nghiệp: chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm, ép dầu dừa,... giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.229,4 tì đồng. Giao thông thủy bộ thuận lợi, các tuyến đường bộ: 881, 882, 884, 885. Quê hương Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Định... Truyền thống lịch sử CM: cuộc nổi dậy chống Pháp của Tấn Kế (Lê Quang Quan) 1875; Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày 1895; phong trào đồng khỏi (I960)... Ngày 6.11.1978, LLVTND Bến Tre được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65310415_441779313218621_5182827453734715392_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQn9midWEzwQ-Dctw5IaVvxv_RoNUAw6Xey26THXoxDgmkVsrAqfzE1EGgHIH8hRwKs&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=31f471b5e6d7d37c5ee087b57392b463&oe=5D7A1BB6) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:51:29 pm BẾN VƯỢT, khu vực chướng ngại nước và địa hình tiếp giáp hai bên bờ, được thiết bị để bảo đảm cho bộ đội và phương tiện KTQS vượt qua. Có các loại: BV bằng cầu nổi (cầu PMP, TPP, LPP, cầu nổi bằng tre, bương hoặc bằng các vật liệu tại chỗ khác), BV bằng phà (phà có ca nô đẩy, dắt, lấy từ bộ cầu nổi PMP, TPP, LPP hay bằng các phương tiện ứng dụng khác), bến lội (nơi nước nông, đất đáy cứng, tốc độ nước chảy nhỏ dùng cho bộ đội vượt qua. Khi đáy sông, suối đất mềm hoặc nước sâu, có thể dùng đá, sỏi, vật liệu khác khắc phục và tôn cao), bến tăng đi ngầm (ở đáy sông được gia cố và có thiết bị bảo đảm an toàn cho tăng vượt qua). Thành phần cơ bản của BV gồm: đường lên xuống bến, trạm điều chỉnh, vọng cảnh giới; khu vực tập kết phương tiện vượt sông, vị trí chỉ huy BV, công sự chiến đấu, công sự phòng tránh... Những công trình trên được làm trong quá trình thiết bị BV, bảo đảm các hoạt động của bến thuận lợi, có hiệu quả. BÊNANH (Cộng hòa Bênanh: République du Benin. A. Republic of Benin), quốc gia ở Tây Phi. Dt 112.622km2; ds 7,04 triệu người (2003); gồm người Phông (47%), Atgia (12%), Bariba (10%), Yôruba (9%). Ngón ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: 70% tôn giáo truyền thống, còn lại theo đạo Cơ Đốc, đạo Hồi... Thủ đô: Pooctô Nôvô. Chính thể cộng hòa. đứng đầu nhà nước và hội đồng hành pháp quốc gia (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan quyền lực cao nhất: hội đồng CM toàn quốc (quốc hội). Địa hình: bắc là cao nguyên (cao 500m), tây bắc lả núi Atacôra (cao 635m), nam là đồng bằng. Khí hậu xích đạo và cận xích đạo. Các sông chính: Veme và Ôcpara. Rừng xích đạo ở phía nam và dọc theo các sông. Nước nông nghiệp, công nghiệp kém phát triển. GDP 2,37 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 370 USD. Thành viên LHQ (20.9.1960), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 14.3.1973. LLVT: lực lượng thường trực 4.750 người (lục quân 4.500, không quân 150, hải quân 100). Tuyển quân theo lệnh nhập ngũ. Trang bị: 20 xe tăng, 33 xe thiết giáp, 16 pháo mặt đất, 8 máy bay các loại, 1 tàu tuần tiễu. Ngân sách quốc phòng 61 triệu USD (2003). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65526161_441779346551951_7018996831145164800_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlAl1MKTuz0n3uvM4Bt9bcIKGDpxwAQ_KeG2hE0zsoExWOjFTUUU4UnAdDZNFVLqsk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2b65ab072d0dc3e3ccb7c43de030be99&oe=5DB8AB61) BỆNH BINH, 1) quân nhàn tại ngũ bị bệnh đang điều trị tại bệnh viện hoặc quân nhân đã xuất ngũ mắc bệnh khi còn tại ngũ nay tái phát, được nhận vào điều trị tại bệnh viện QĐ; 2) quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh mà bị mất sức lao động từ 61% trở lèn do hoạt động ở chiến trường; hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn, gian khổ từ 3 năm trở lên hoặc chưa đủ 3 năm nhưng đã có trên 10 năm công tác trong QĐ, công an nhân dân; đã công tác trong QĐ, công an nhân dân đủ 15 năm. BB được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp “giấy chứng nhận bệnh binh”, được hưởng trợ cấp, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ mất sức lao động và tính theo mức lương; được hướng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước. BỆNH BỨC XẠ nh BỆNH PHÓNG XẠ BỆNH PHÓNG XẠ, bệnh toàn thân do cơ thể bị tác động của bức xạ ion hóa trong chiến tranh hạt nhân hoặc do sự cố phóng xạ, các nguồn phóng xạ trong còng nghiệp và tự nhiên... gây nên. Tuỳ theo liều lượng và cách tác động của bức xạ, có BPX cấp và BPX mạn, bệnh do chiếu ngoài (tương đối đều hoặc cục bộ) và do chiếu trong (khi chất phóng xạ xâm nhập cơ thể). BPX cấp (do bức xạ có liều lượng lớn trong thời gian ngắn) được chia thành bốn mức: nhẹ (liều lượng bức xạ 100-200R), vừa (200-400R), nặng (400-600R) và rất nặng (trên 600R). BPX cấp điển hình là BPX thể tủy xương. Bệnh diễn biến qua bốn thời kì: phản ứng đầu tiên, tiềm tàng, toàn phát và hồi phục. Thể bệnh này có thể cứu chữa được. Bệnh nặng như thể não, thể ruột... thường dẫn tới tử vong trong vòng vài ngày đến một tuần. BPX mạn (do bị bức xạ liều lượng rất lớn trong thời gian ngắn hoặc liều lượng nhỏ trong thời gian dài) diễn biến từ rối loạn chức năng có thể hồi phục đến những tổn thương thực thể gây nên bệnh nặng như suy tủy, ung thư. Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu điều trị BPX. Có thể hạn chế tác động của bức xạ đến cơ thể bằng cách sử dụng những phương tiện phòng hộ cá nhân, tập thể, sử dụng thuốc bảo vệ phóng xạ và chấp hành nghiêm ngặt các quy chế an toàn phóng xạ và điều trị. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:54:08 pm BỆNH TỐI NGUY HIỂM, gọi chung những bệnh lây lan nhanh chóng, dễ bùng phát thành dịch lớn, có tỉ lệ mắc bệnh và tử vong cao, thuộc diện kiểm dịch và khai báo quốc tế. Thuật ngữ BTNH được sử dụng từ tk 19 để chỉ những bệnh như dịch hạch, dịch tả, đậu mùa và sốt vàng, phát triển thành đại dịch lan tới nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, do có vacxin hiệu lực cao, bệnh đậu mùa đã được thanh toán trên phạm vi toàn cẩu, bệnh dịch hạch và dịch tả đang có xu hướng thu hẹp dần vào một số vùng nhất định và mức độ đe doạ đối với toàn cầu không còn nhiều. Trong 20-30 năm gần đây, mới xuất hiện một số BTNH gây tử vong với tì lệ rất cao đang lan rộng toàn cầu như AIDS (SIDA), hoặc mới chi khu trú ở một số địa bàn như bệnh nhiễm virut EBOLA, SARS... Hiện nay đang cần xác định và sắp xếp lại danh mục các BTNH. BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA QUÂN ĐỘI, bệnh viện quân y được tổ chức theo từng chuyên khoa: ngoại chung, chấn thương, thần kinh - sọ não, bụng - ngực, bỏng, truyền nhiễm... Trong QĐ nhiều nước, BVCKQĐ được tổ chức trong cụm bệnh viện chiến dịch hoặc cụm bệnh viện hậu phương. Ở VN, trong KCCP và KCCM đã hình thành các đội điểu trị cứu chữa chuyên khoa (Đội điều trị 1: cứu chữa vết thương sọ não, cột sống; các đội điều trị 2, 3, 5: điều trị vết thương gãy xương tứ chi...). Hình thức BVCKQĐ đã thực hiện trong KCCM tại Bệnh viện 109 (bênh viện chuyên khoa chấn thương chỉnh hình), được nghiên cứu áp dụng trong trường hợp tiến hành chiến tranh bảo vệ tổ quốc. BỆNH VIỆN Dà CHIẾN, bệnh viện quân y cơ động trực thuộc BQP hoặc quân khu, quân đoàn khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), làm nhiệm vụ cứu chữa cơ bản và giữ lại điều trị một tỉ lệ thương binh, bệnh binh nhất định. BVDC có thể cứu chữa chuyên khoa khi được tăng cường các tổ chuyên khoa. Khả năng thu dung của BVDC khoảng 150 giường; khi cần thiết, có thể nâng lên gấp rưỡi, gấp đôi. BVDC đứng sau tuyến quân y sư đoàn, độc lập đảm nhận việc thu dung thương binh, bệnh binh của một hướng chiến dịch, hoặc nằm trong đội hình của cụm bệnh viện chiến dịch. BỆNH VIỆN DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, bệnh viện được tổ chức, xây dựng trong thời bình để sẵn sàng chuẩn bị phục vụ cho nhiệm vụ thời chiến và các tình huống đột xùất. Có 2 loại: BVDBĐV khu vực và BVDBĐV dã chiến. Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lí. Khi có lệnh động viên, bàn giao cho QĐ quản lí và triển khai thực hiện nhiệm vụ điều trị cho quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng và các đối tượng khác theo quy định của BQR BỆNH VIỆN KHU VỰC. bệnh viện đa khoa QĐ có nhiệm vụ điều trị cho quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng và các đối tượng khác do BQP quy định trong một địa bàn nhất đinh theo phân tuyến của Cục quân y. Gồm hai loại: BVKV tuyến chiến lược như Bệnh viện 105, Bệnh viện 354, Bệnh viện 87; BVKV tuyến quân khu như Bệnh viện 91, Bệnh viện 6, Bệnh viện 5, Bệnh viện 7B, Bệnh viện 109. Bệnh viện 120... BỆNH VIỆN QUÂN ĐỘI nh BỆNH VIỆN QUÂN Y BỆNH VIỆN QUÂN Y, bệnh viện của QĐ, có nhiệm vụ điều trị quân nhân và công nhân, viên chức quốc phòng cùng các đối tượng khác theo quy định. Trong QĐND VN, có BVQY: đa khoa, chuyên khoa. BVQY đa khoa được phân thành ba loại: loại A, gồm các BVQY đa khoa tổng hợp chuyên khoa sâu (thường là BVQY tuyến cuối của toàn quân); loại B, gồm các BVQY đa khoa khu vực (trực thuộc Cục quân y) và BVQY tuyến cuối của quân khu, quân chủng; loại c, gồm các BVQY quân đoàn và BVQY khác của quân khu. Theo khả năng và phân công điều trị, có BVQY: dã chiến, hậu phương, phân loại, khu vực... Cg quân y viện. Có trong QĐND VN từ 1946. BỆNH VIỆN QUÂN Y 103, bệnh viện quân y đa khoa của QĐND VN; cơ sở thực hành của Học viện quân y. Thuộc loại viện quân y tuyến cuối của toàn quân (viện quân y loại A) về chuyên khoa: bỏng, tâm thần, bệnh nghề nghiệp. Tiền thân là Đội điều trị 3 thuộc Cục quân y, thành lập 22.12.1950 tại xã Anh Dũng, h. Phù Ninh, t. Phú Thọ (nay thuộc địa phận h. Phong Cháu, t. Phú Thọ); chuyển thành BVQY 103 (1958), đóng tại tx Hà Đông, t. Hà Tây. Viện trưởng đầu tiên (1958): Lê Khắc Thiển. BỆNH VIỆN QUÂN Y 175, bệnh viện quân y đa khoa của QĐND VN, trung tâm nghiên cứu y học chung và y học QS; đơn vị Ah LLVTND (9.1989). Thuộc loại viện quân y tuyến cuối của toàn quân (viện quân y loại A) ở phía Nam, do BQP trực tiếp quản lí từ 2002. Thành lập 5.1975 tại tp Hồ Chí Minh trên cơ sở hợp nhất một số bệnh viện dã chiến của Miền (B2) và đội điều trị thuộc Cục quân y. Viện trưởng đầu tiên: Trần Nam Hưng. BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108. bệnh viện quân y đa khoa trung ương của QĐND VN; trung tâm nghiên cứu y học chung và y học QS; đơn vị Ah LLVTND (1985). Thuộc loại viện quân y tuyến cuối của toàn quân (viện quân y loại A), do BQP trực tiếp quản lí từ 2002; có khả năng chẩn đoán và điều trị chuyên khoa sâu. Thành lập 1.4.1951 tại Việt Bắc. Từ 1954 chuyển về Hà Nội. Ngày truyền thống: 1.4.1951. Viện trưởng đầu tiên: Vũ Văn cẩn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:55:51 pm BỆNH XÁ, phân đội quân y được tổ chức ở cấp trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn (hoặc tương đương), có nhiệm vụ thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh nhẹ có thể chữa khỏi trong thời gian ngắn hoặc không cần những biện pháp điểu trị chuyên khoa phức tạp. Được chia thành: BX loại 1 (từ 20 giường bệnh trở lên), BX loại 2 (dưới 20 giường bệnh). BẾP HOÀNG CẨM, bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi không bị lộ khói và lửa, tránh địch phát hiện, do tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra. Bếp gồm: hố đặt nồi (chảo), hố ngồi nấu, hệ thống dường dẫn khói và tản khói; rãnh thoát nước và mái che. BHC được sử dụng từ trong chiến dịch Hòa Bình (1951- 52) và nhanh chóng phổ biến trong toàn quân. Được cải tiến, hoàn thiện và sử dụng rộng rãi trong KCCM. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65042048_441779366551949_5708696411869020160_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnEY4H8dppwxNiIOQ_JRbISV8Xrqq3aXQ8DSUlhCdsTVTKcUC9j_H_l6E2l-GqCWG4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f068d037dacb810f4bf4e98ae3fc10b0&oe=5D851723) BÊRINH, eo biển giữa lục địa châu Á và Bắc Mĩ, nối Bắc Băng Dương với Thái Bình Dương; dài 96km, rộng 86- 198km, sâu 36-80m. Biên giới quốc gia giữa Nga và Mĩ, tuyến đổi ngày nằm giữa eo biển B. Đường hàng hải lên phía bắc qua eo biển B, tàu qua lại bình thường vào tháng 8-9, các tháng còn lại có băng trôi. BỈ (Vương quốc Bỉ; tiếng Hà Lan: Koninkrijk Belgiể, p. Royaume de Belgique, A. Kingdom of Belgium), quốc gia ở Tây Âu. Dt 30.528km2; ds 10,26 triệu người (2003); 56% người Phlaman, 42% Valon. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Hà Lan, tiếng Pháp. Tôn giáo: dạo Thiên Chúa (86%). Thủ đô: Brucxen. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng và hạ nghị viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là đồng bằng, đông nam là bình nguyên, dãy núi Acđen ở phía nam, rừng chiếm 18% diện tích lãnh thổ. Khí hậu ôn đới. Các sông chính: Sơchen, Mêusê. Nước công nghiệp phát triển; các tập đoàn độc quyền: Xôxiêtê, Generan, Brucxen Lampet, Trăccheben nám vai trò chủ chốt trong nền kinh tế. Công nghiệp: khai thác mỏ, luyện kim, chế tạo máy, ô tô, hóa chất...; chăn nuôi: bò, lợn, gia cầm; sản xuất sữa và sản phẩm sữa nhiều nhất châu Âu. GDP 229,61 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 22.320 USD. Thành viên LHQ (27.12.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Nơi đặt trung tâm hành chính của EU, Bộ chỉ huy các LLVT thống nhất NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 22.3.1973. LLVT: lực lượng thường trực 39.260 người (lục quân 26.400, hải quân 2.400, không quân 8.600, lực lượng quân y 1.860), lực lượng dự bị 100.500. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 132 xe tăng, 218 xe chiến đấu bộ binh, 332 xe thiết giáp chở quân, 119 xe thiết giáp trinh sát, 272 pháo mặt đất, 3 tàu frigat, 11 tàu quét mìn, 12 tàu hộ tống, 90 máy bay chiến đấu, 79 máy bay trực thăng. Cân cứ hải quân: Ôxten, Debruc. Ngân sách quốc phòng 2,6 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65272510_441779373218615_2855767155754926080_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkX_BO6Zjpjv-TUcBagsMpfGmuHP77pxm4l6JDx8f1KIKiSJi08DdlkW6VnpOFLTsU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=773f11ed9e006db99da5dd64aae32308&oe=5D83AC23) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 04:57:25 pm BÍ MẬT CHỈ HUY, tổng hợp các biện pháp làm cho đối phương không nắm được những tin tức trong chỉ đạo, chỉ huy bộ đội trong thời bình và thời chiến. Để bảo đảm BMCH phải: thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác cho bộ đội; khi chuẩn bị tác chiến và trong quá trình tác chiến phải hạn chế số người được biết ý định và kế hoạch tác chiến; bí mật bố trí và di chuyển SCH: quy định các quy tắc gửi công văn, đàm thoại truyền tin qua các phương tiện thông tin, sử dụng mật mã. mã bản đồ, tên mật, tiếng mật, tín hiệu và các thiết bị chuyên món để bảo đảm cho nội dung các vãn kiện không bị lộ khi truyền qua các phương tiện thông tin và các biện pháp khác. Tham mưu trưởng chịu trách nhiệm chính về tổ chức bảo đảm BMCH bộ đội. BÍ MẬT QUÂN SỰ, những thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực QS, quốc phòng, an ninh quốc gia,... không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại cho việc thực hiện nhiệm vụ QS. Có ba mức độ BMQS: tuyệt mật, tối mật, mật. Nội dung cụ thể được quy định trong pháp lệnh nhà nước, điều lệnh, điều lệ, quy định,... của LLVT và các ngành liên quan. BÍ MẬT THÔNG TIN LIÊN LẠC, tổng hợp các biện pháp về tổ chức, kĩ thuật để bảo đảm bí mật thông tin (mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo...) trong quá trình truyền tin bằng các phương tiện thông tin (vô tuyến điện, hữu tuyến điện, vận động, tín hiệu) và vị trí triển khai tổng trạm thông tin, trạm thông tin... Để bảo đảm BMTTLL, thông tin phải mã hóa hoặc sử dụng bảng chữ mật nghiệp vụ, thời gian liên lạc nhanh,... và chấp hành nghiêm kỉ luật thông tin liên lạc. BMTTLL trong tác chiến còn được thực hiện bằng cách ngụy trang, bảo vệ, nghi binh vô tuyến điện. BIA, 1) mục tiêu giả dùng trong huấn luyện, nghiên cứu và thi đấu. Tùy theo mục đích và yêu cầu sử dụng, B mô phỏng một vài hoặc toàn bộ các dấu hiệu đặc trưng của mục tiêu thực (hình dạng, kích thước, màu sắc, tính chất cơ lí, đặc điếm và vận tốc chuyển động...). Có thể dùng mô hình trang bị, trang bị đã loại bỏ hoặc trang bị chiến đấu thực để làm B. Theo công dụng, có: B huấn luyện, B thử nghiệm và B thi đấu thể thao. Theo đặc điểm hoạt động, có: B cố định, B ẩn hiện và B di động. Theo phương thức điều khiển, có: B không điều khiển, B điều khiển và B tự hành. Theo nơi bố trí, có: B trên không, B trên mặt đất, B trên mặt nước và theo những dấu hiệu khác. B có thể dùng độc lập hoặc phối hợp với nhau tạo thành tổ hợp B hay tình huống B (khi diễn tập bắn chiến đấu); 2) B thuật phóng, thiết bị chuyên dùng trong nghiên cứu thuật phóng để ghi lại tư thể đầu đạn và thời gian đầu đạn bay qua những đoạn định trước trên đường bay. Tư thế đầu đạn được xác định theo vết thủng trên một loạt B bằng vật liệu đặc biệt đặt liên tiếp trên đường đạn, còn thời gian bay được đánh dấu nhờ các xung điện phát ra do tác động cơ học của đầu đạn với B (B tiếp xúc) hoặc nhờ các khóa liên động kiểu âm thanh, rađa, quang điện, tĩnh điện... (B không tiếp xúc). BIDĂNGTIN, quốc gia cổ, hình thành vào tk 4 ở phía đông đế quốc La Mã khi đế quốc này đang tan rã, tồn tại đến giữa tk 15 (thường gọi là đế quốc Đông La Mã hay đế quốc B). Thủ đô: Cônxtantinôpôn (tên của hoàng đếLa Mã Côngxtan- tin. nay là tp Ixtambun của Thổ Nhĩ Kì). Dân cư: người Hi Lạp, Xiri, Aơnẽnia... trong đó người Hi Lạp giữ vai trò chủ yếu trong đời sống của B. B trờ thành một cường quốc ở Địa Trung Hải vào tk 6 dưới thời hoàng đế Iuxtinian I, lãnh thổ bao gồm bán đảo Bancăng, bán đảo Tiểu Á, Xiri, Thượng Mêdôpôtami, Palextin, Ai Cập, Bắc Phi, Italia, đông nam Tây Ban Nha. B có QĐ lớn (100.000-500.000) và hạm đội mạnh, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh. 1204. B bị thất bại trong cuộc Thập tự chinh lần 4. Năm 1261, B được Mikhain VIII khôi phục. Trong các thế kỉ tiếp theo, B bị chia cắt dần do các cuộc xâm lăng của người Thổ Nhĩ Kì và bị tàn phá sau các cuộc Thập tự chinh. 1453 đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kì) xâm chiếm Côngxtantinôpôn, chấm dứt sự tồn tại của đế quốc B. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65046983_441779403218612_7293835314584354816_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQlpbKZgugozvOIbRhn592LkZBUO4PlpWsTSOMebRf3Mx9mrDHs30JxdjHjuf5vMf4o&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=de2f631b2a461fcd7d8777c3db411bab&oe=5DC1169C) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:00:00 pm BIÊN CHẾ, cơ cấu bố trí nhân lực và trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật QS hợp lí trong một tổ chức QĐ nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó. Có: biên chế chiến đấu, biên chế huấn luyện, biên chế rút gọn, biên chế thời bình, biên chế thời chiến. Trong QĐND VN, BC được thực hiện theo biểu biên chế do tổng tham mưu trường ban hành; một số cấp chỉ huy nhất định được ủy quyền thay đổi BC của đơn vị thuộc quyền. BIÊN CHẾ CHIẾN ĐẤU, biên chế của các đơn vị QĐ theo biên chế thời chiến, có sự điều chỉnh cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu và đặc điểm hoạt động của đơn vị. BIÊN CHẾ HUẤN LUYỆN, biên chế của các đơn vị huấn luyện trong QĐ. BCHL phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất, đặc điểm, yêu cầu của từng loại hình tổ chức huấn luyện ở nhà trường và đơn vị. BIÊN CHẾ RÚT GỌN, biên chế của các phân đội, binh đội, binh đoàn trên cơ sở biểu biên chế thời bình có giảm về quân số, nhưng đủ cán bộ, nhân viên chuyên môn kĩ thuật và trang bị chủ yếu, đồng thời sẵn sàng khôi phục biên chế thời chiến khi có lệnh. BIÊN CHẾ THỜI BÌNH, biên chế của các đơn vị QĐ theo biểu biên chế thời bình. BCTB phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức trong thời bình; thường gọn về tổ chức, ít về quân số, trang bị so với biên chế thời chiến. BIÊN CHẾ THỜI CHIẾN, biên chế của các đơn vị QĐ theo biểu biên chế thời chiến. BCTC phải phù hợp với yêu cầu tác chiến, khả năng nhân lực, vật lực, phải bảo đảm tăng cường và duy trì sức chiến đấu của bộ đội ở mức cao nhất. BIÊN ĐỘ THỦY TRIỂU, mức độ chênh lệch giữa mực nước cường hay mực nước ròng (x. thủy triều) so với mực nước biển trung bình. BĐTT của mực nước cường gọi là BĐTT lớn, của nước ròng là BĐTT nhỏ. Độ lớn của BĐTT thay đổi theo vị trí tương đối của Mặt Trời và Mặt Trăng với Trái Đất, đạt giá trị lớn nhất khi hai thiên thể này nằm trong cùng một mặt phẳng kinh tuyến Trái Đất (vào các ngày không trăng và trăng tròn, tức mồng một và ngày rằm Âm lịch), nhỏ nhất khi chúng nằm trong hai mặt phẳng kinh tuyến vuông góc với nhau. BIÊN ĐỘI, phân đội chiến thuật nhỏ nhất của không quân, hải quân dùng để thực hiện từng nhiệm vụ chiến thuật riêng. Có BĐ trên không và BĐ trên biển hoạt động độc lập hoặc trong đội hình chiến đấu của phi đội, hải đội. BIÊN ĐỘI QUYẾT THẮNG x. PHI ĐỘI QUYẾT THẮNG BIÊN ĐỘI TRÊN BIỂN, 1) tổ chức lực lượng lâm thời của hải quân gồm, 2 tàu mặt nước (tàu ngầm, máy bay) trở lên, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất để giải quyết một nhiệm vụ nhất định. Theo quy mô, có: biên đội chiến thuật, biên đội chiến dịch (hoặc chiến thuật - chiến dịch); theo nhiệm vụ, có: biên đội đột kích, biên đội chống ngầm, biên đội đổ bộ. biên đội vận tải, biên đội bố trí (rà quét) thủy lôi...; theo thành phần có: biên đội cùng loại (một loại tàu hoặc máy bay), biên đội nhiều loại tàu hoặc máy bay khác nhau, biên đội đa chủng (tàu mặt nước và máy bay hoặc tàu mặt nước và tàu ngầm...); 2) tổ chức lực lượng tương đương cấp binh đoàn của hải quân một số nước phương Tây, gồm một số phân đội tàu cùng loại và có thể có một số tàu phục vụ. BIÊN ĐỘI TRÊN KHÔNG, phân đội nhỏ nhất của không quân, hoạt động độc lập hoặc trong đội hình của phi đội, thực hiện từng nhiệm vụ chiến thuật riêng. BĐTK có 2-4 máy bay cùng loại. Có biên đội: không quân tiêm kích, không quân tiêm kích - bom, không quân ném bom và không quân cường kích... BIÊN GIỚI ĐỐI ĐỊCH, biên giới quốc gia giữa hai nhà nước đang trong tình trạng thù địch, có đường lối chính trị hay chính sách đối ngoại đối lập nhau, đang hoặc có thể xảy ra xung đột vũ trang hay chiến tranh. Trẽn BGĐĐ, nước đối phương thường sừ dụng lực lượng QS gây căng thẳng, lấn chiếm lãnh thổ, tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lí nhằm phá hoại an ninh, kinh tế, kích động bạo loạn, gây chia rẽ và hàn thù dân tộc giữa nhân dân hai bên biên giới. BIÊN GIỚI HỮU NGHỊ, biên giới quốc gia giữa các nước đang có quan hệ hữu nghị, bình đẳng và tôn trọng chủ quyền của nhau; mọi quan hệ biên giới được thực hiện theo hiệp ước biên giới, hiệp định về quy chế biên giới quốc gia đã kí giữa các nước và đảm bảo tôn trọng luật pháp quốc tế; các vấn đề tồn tại hay mọi phát sinh trong quan hệ biên giới được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. CHXHCN VN luôn mong muốn xây dựng BGHN với các nước láng giềng. BIÊN GIỚI LỊCH SỬ, biên giới quốc gia hình thành từ lâu đời, do các yếu tố lịch sử tự nhiên đã được hai nước công nhận để quản lí theo các điều ước đã kí. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:01:24 pm BIÊN GIỚI NHÂN TẠO, biên giới quốc gia hình thành dựa trên các nguyên tắc và phương pháp về định và vạch BGNT được luật pháp quốc tế thừa nhận; được xác định rõ ràng trên bản đồ và cố định chắc chắn ngoài thực địa bằng mốc biên giới; được bảo đảm bằng pháp lí và chủ quyền nhà nước. Khi hoạch định BGNT phải căn cứ bối cảnh cụ thể trên cơ sở tôn trọng các yếu tố về lịch sử và dân tộc. Ngày nay đa số biên giới quốc gia giữa các nước có chung biên giới là BGNT. BIÊN GIỚI QUỐC GIA. đường và mặt thẳng đứng theo đường đó xác định phạm vi chủ quyền quốc gia của một nước đối với lãnh thổ quốc gia (vùng đất và lòng đất phía dưới; vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và khoảng không trên vùng đất và vùng biển đó). BGQG bao gồm: biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc gia trên biển, biên giới quốc gia trên không, biên giới quốc gia trong lòng đất. Quyền bất khá xâm phạm của BGQG được quy định trong công pháp quốc tế và thể hiện trong các điều ước quốc tế. Mỗi nước đều có quy chế pháp lí về BGQG nhằm bảo vệ chủ quyền đối với BGQG trên cơ sở luật pháp quốc gia và điều ước quốc tế, phù hợp với lợi ích của mỗi nước. Luật biên giới quốc gia của nước CHXHCN VN quy định: BGQG của nước CHXHCN VN là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biến, lòng đất, vùng trời của nước CHXHCN VN. BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN BIỂN, biên giới quốc gia phân định lãnh thổ quốc gia trên biển giữa các quốc gia có bờ biển liền kề hay đối diện nhau; là ranh giới phía ngoài của lãnh hải. BGQGTB của quốc gia quần đảo là đường biên giới quốc gia phân định lãnh thổ quốc gia với biến cả. BGQGTB do quốc gia ven biển hoặc quốc gia quần đảo xác lập phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. BGQGTB được thể hiện trên các hải đổ có tỉ lệ thích hợp hoặc bằng bản kê tọa độ địa lí các điểm và ghi rõ hệ thống trắc địa được sử dụng. BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN ĐẤT LIỂN. biên giới quốc gia phân định lãnh thổ quốc gia trên bể mặt đất liền của vùng đất quốc gia. Được xác lập trên cơ sở các điều ước quốc tế, được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới. Trong thực tế, BGQGTĐL được xác lập dựa vào các yếu tố: địa hình (núi, sông, suối, hồ nước, thung lũng...); thiên văn (theo kinh tuyến, vĩ tuyến); hình học (đường nối liền những điểm quy ước). BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN KHÔNG, biên giới quốc gia phân định vùng trời quốc gia giữa các quốc gia liền kề hoặc với vùng trời quốc tế, được xác định bởi mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời. Khi khoa học và công nghệ phát triển, việc xác lập BGQGTK càng có ý nghĩa thực tiễn trong việc thực hiện chủ quyền quốc gia đối với vùng trời quốc gia. Đến nay, chưa có quốc gia nào quy định độ cao cụ thể của BGQGTK. BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG LÒNG ĐẤT, biên giới quốc gia phân định lãnh thổ quốc gia trong lòng đất phía dưới vùng đất quốc gia, nội thủy và lãnh hải, được xác định bởi mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất. Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán. Độ sâu cụ thể của BGQGTLĐ được xác định bằng độ sâu mà kĩ thuật khoan có thể thực hiện. Đến nay, chưa có quốc gia nào quy định độ sâu cụ thể của BGQGTLĐ. BIÊN GIỚI TRÊN SÔNG (SUỐI), biên giới quốc gia phân định vùng nước sông (suối) biên giới giữa các quốc gia với nhau. BGTS(S) gồm: biên giới quốc gia ngang sông (suối) và biên giới quốc gia dọc sông (suối). Biên giới quốc gia ngang sông (suối) được xác định bằng cách nối liền hai điểm của đường biên giới quốc gia trên đất liền tiếp xúc với hai bờ sông (suối). Biên giới quốc gia dọc sông (suối) được xác định bằng cách lấy lạch sâu nhất vào thời điểm mực nước thấp nhất (nếu là sông (suối) tàu thuyền đi lại được) hoặc lấy giữa dòng sông (suối) vào thời điểm mực nước sông (suối) ở mức trung bình (nếu là sông (suối) tàu thuyền không đi lại dược). Điểm rẽ của BGTS(S) khi từ ngang sông (suối) sang dọc sông (suối) và ngược lại, được xác định là nơi gặp nhau giữa biên giới quốc gia dọc sông (suối) với biên giới quốc gia trên đất liền kéo dài tự nhiên hoặc vuông góc với đường theo chiều tự nhiên của bờ sông (suối). BGTS(S) khi gặp cầu bắc qua sông thì biên giới trên cầu ở chính giữa cầu; những bãi bồi, cồn cát nổi trên sông sẽ căn cứ vào lạch sâu nhất (dòng chảy) để phân chia. Các nước có chung BGTS(S) phải cùng nhau kí các hiệp ước để thống nhất quy định việc giao thông, đánh bắt cá, xây dụng các công trình thủy lợi.... trên sông (suối) biên giới. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:07:14 pm BIÊN GIỚI TỰ NHIÊN, biên giới quốc gia được xác định ước lệ, giới hạn bằng các địa hình, địa vật tự nhiên như núi, sông, hồ, suối... BGTN không được đánh dấu, cắm mốc rõ ràng, cụ thể, chính xác trên thực địa, việc xác định phạm vi chủ quyền quốc gia chỉ là tương đối. BGTN không cố định mà chỉ ổn định trong điều kiện nhất định. Khi có sự biến đổi của tự nhiên hoặc tương quan lực lượng, mối quan hệ giữa các nước có chung biên giới thay đổi, thường xảy ra tranh chấp, đôi khi dẫn đến xung đột. BIÊN HOÀ, tỉnh cũ ở Đông Nam Bộ. Thành lập năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Theo hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862), BH bị cắt nhượng cho Pháp cùng với Gia Định và Định Tường. 12.1889 chia thành 3 tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa. Thú Dầu Một. Trong KCCP và KCCM, địa giới t. BH nhiều lần thay đổi, chia tách và sáp nhập với các tỉnh khác (t. Thủ Biên 5.1951-4.1955 và 9.1960-7.1961; t. Bà Biên 3-12.1963 và 11.1966-10.1967...). Tháng 2.1976 sáp nhập với Bà Rịa - Long Khánh thành t. Đồng Nai. BIÊN PHÒNG, tổng thể các biện pháp được tiến hành để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và an ninh biên giới quốc gia. Gồm: đánh trả kẻ địch xâm phạm lãnh thổ quốc gia; phòng ngừa, ngăn chặn mọi sự xâm phạm biên giới quốc gia hoặc vi phạm quy chế biên giới quốc gia (vượt biên, xâm canh, xâm cư, xê dịch mốc quốc giới...); giữ gìn an ninh, trật tự khu vực biên giới và phòng thủ biên giới quốc gia. Bộ đội biên phòng là lực lượng chuyên trách và nòng cốt trong công tác biên phòng. BIỂN, phần đại dương bị ngăn cách bởi lục địa, các đảo hoặc vùng cao của đáy, có những đặc điểm riêng về chế độ thủy văn, khí tượng, khí hậu. Tùy theo mức độ ngăn cách với đại dương và đặc điểm chế độ thủy văn, B được phân chia thành ba loại: B nội địa (cg biển kín), B ven bờ đại dương và B được bao quanh bởi các đảo. B nội địa có chế độ thủy văn khác nhiều so với đại dương; B ven bờ có chế độ thủy văn khác ít so với đại dương. Đôi khi B nội địa lại phân thành B nội lục (Biển Đen, Biển Trắng, Bantich) và B giữa các lục địa (Địa Trung Hải). Một số hồ lớn cũng được gọi là B (Biển Chết, Aran). BIỂN ARẬP, biển thuộc Ấn Độ Dương, giữa bán đảo Arập ở phía tây và bán đảo Ấn Độ ở phía đông. Dt 4.832.000km2. sâu 5.803m. Bờ biển phần lớn cao, nhiều núi, ở cửa sông thấp, tạo thành châu thổ và các vũng, vịnh. Các vịnh chính: Aden, Pecxich. Oman. Cambay. Nhiệt độ nước mùa hè 26-30°C. mùa đông 22-28°C. độ mặn 35-36,5%0, thủy triều nửa ngày đêm 5,lm. Các cảng và căn cứ hải quân: Mumbai (Bombay), Côchi (Ấn Độ). Carachi (Pakixtan), Benđơ Abat, Benđơ Khômêini (Iran), Côoet (Côoet), Manama (Baren), Aden (Yêmen). BIỂN BAREN, biển thuộc Bắc Băng Dương, giữa bờ biển bắc châu Âu, các quần đảo Xvanbađơ, Phranxalôxipha và đảo Đất Mới. Dt 1.424.000km2 (tính cả các đảo), sâu trung bình 220m, sâu nhất 600m. Bờ biển phía đông bán đảo Canin thấp, phía tây Canin cao nhiều núi. ít đảo. Nhiệt độ nước mùa đông từ -1,8 đến 4°c, mùa hè từ 0 đến 10°c, từ tháng 11 đến tháng 3 mặt nước phần lớn đóng băng, độ mặn 32-35%0. Biên độ bán nhật triều 0,6-4.8m. Thường có bão biển. Các cảng và căn cứ hải quân chính: Muôcmanxcơ (không đóng băng), Inđiga, Narianma (Nga), Kiơkenexơ, Vađiô, Hammơ Phextơ (Na Uy). BIỂN CẢ, vùng biển nằm ngoài quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. Mọi quốc gia (có biển hoặc không có biển) đều có quyền tự do: hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, xây dựng đảo nhân tạo và các công trình khác, đánh bắt hải sản, nghiên cứu khoa học trên BC. Tàu thuyền của mọi quốc gia đi trên BC có quyền treo cờ nước mình và chỉ áp dụng luật quốc gia mà mình mang cờ. Các tàu chiến trên BC chỉ thực hiện quyền cảnh sát trên biển đối với tàu thuyền mang cờ của quốc gia mình; được quyền khám xét tàu thuyền nước ngoài, nếu không phải là tàu thuyền được hưởng quyền miễn trừ (tàu QS, tàu của nhà nước không dùng vào mục đích thương mại) nếu có đủ lí do để nghi ngờ (như tiến hành cướp biển, chuyên chở nô lệ, buôn bán trái phép các chất ma túy và các chất kích thích, phát sóng trái phép từ BC). Quốc gia ven biển được quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm luật biển trong vùng biển của quốc gia mình. Cg biển công. BIỂN CÔNG nh BIỂN CẢ BIỂN ĐEN (Hắc Hải), biển kín thuộc vùng Địa Trung Hải, nằm giữa các nước Ucraina, Nga, Grudia, Rumani, Bungari, Thổ Nhĩ Kĩ; thông với Địa Trung Hải qua eo biển Bôxpho, biển Maơnara, eo biển Đacđanen và biển Êgiê; nối với biển Adôp bởi eo biển Kecchơ. Dt 422.000km2, sâu trung bình 1.315m, sâu nhất 2.210m. Các vịnh chính: Vacna, Burơgac, Calamit, Xinôp, Xamxun... Bờ biển phía tây và đông bắc thấp, phía đông nam và nam Crưm cao, nhiều núi. Nhiệt độ nước mùa hè 24-26°C, ven bờ 29°c, mùa đông tới 0,5°c ở tây bắc (các vịnh đóng băng), 9-ll°C ở đông nam, độ mặn 17-18%0. Các cảng chính: Ôđetxa, Khecxôn, Xêvaxtôpôn (Ưcraina), Nôvôrôxixcơ, Tuapxê (Nga), Batumi (Grudia) Vacna, Burơgac (Bungari), Trapdông, Xamxun (Thổ Nhĩ Kì). Thềm lục địa phía tây có những mỏ dầu lớn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:08:56 pm BIỂN ĐỎ (Hồng Hải), biển thuộc Ấn Độ Dương, giữa bán đảo Arập và châu Phi; thông với Địa Trung Hải qua kênh Xuyê, với biển Arập qua eo biển Baren Manđep. Dt 460.000km2; dài 1.932km, rộng 250-305km, sâu 3.039m. Bờ biển thấp, ít chia cắt. ở phía bắc, bán đảo Xinai ngăn cách vịnh Xuyê với vịnh Acaba. Biên độ bán nhật triều 0,6-l,6m. Là một trong những biển ấm nhất (32°C) và có độ mặn cao nhất (38-42%o). Các cảng và căn cứ hải quân chính: Xuyê (Ai Cập), Pot Xuđăng (Xuđăng), Mixioa (Êtiôpia), Gitđa (Arập Xêut), Anhuđaiđa (Yemen). BIỂN ĐÔNG, biển ở tây Thái Bình Dương, giữa TQ, bán đảo Trung Ấn và các đảo Calimantan, Palaoan, Ludông, Đài Loan. Dt khoảng 3.537.000km2. sâu trung bình 1.140m, sâu nhất 5.560m. Các vịnh lớn: Bắc Bộ, Thái Lan. Nhiều đảo nhỏ, đảo lớn nhất là Hải Nam. Nhiệt độ nước tháng 8 là 28-29°C, tháng 2 là 20-27°C, độ mặn 31-34%0. Thường có bão lớn. Biên độ nhật triều 5,9m. Có các mỏ dầu. Các cảng chính: Manila (Philippin), Băng Cốc, Xattahip (Thái Lan), Côngpông Xom (Campuchia), Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cam Ranh (VN), Trạm Giang. Du Lâm, Quảng Châu. Sán Đầu (TQ), Hương Cảng (Hồng Công), Áo Môn (Ma Cao). BIỂN KÍN, biển ăn sâu vào lục địa và thông với đại dương hay biển kế cận bởi eo biển, hoặc hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành. Theo chế độ thủy văn, BK được chia thành hai loại: biển nội lục (Biển Đen, Bantich, Biển Trắng) và biển giữa các lục địa (Địa Trung Hải, Biển Đổ). Các quốc gia ven BK hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện nghĩa vụ của mình theo công ước quốc tế về luật biển. BIẾN THỂ, các thiết bị kĩ thuật đã được biến đổi về kết cấu so với mẫu cơ sở để cải tiến nâng cao tinh năng chiến - kĩ thuật hoặc sử dụng trong những điều kiện khác với điều kiện sử dụng mẫu cơ sở. BT có thể làm thay đổi tính chất, chất lượng của mẫu cơ sở và một số tính năng chiến - kĩ thuật khác. Kí hiệu BT là kí hiệu của mẫu cơ sở có thêm các chữ, số... hoặc dùng kí hiệu mới. BT được nghiên cứu phổ biến trong các ngành KTQS nhằm tạo ra các thiết bị hoàn thiện hơn hoặc phục vụ cho mục đích huấn luyện, tác chiến ban đêm, trinh sát, hoạt động đặc biệt... từ một mẫu cơ sở. BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HÀNH CHÍNH biên phòng, biện pháp công tác biên phòng được tiến hành công khai dựa trên cơ sở pháp luật và các quy định tại các trạm kiểm soát qua lại biên giới, cửa sông, cửa cảng biển, cảng hàng không... nhằm quản lí, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, phát hiện, ngăn chặn, xử lí các hành vi vi phạm pháp luật, quy chế biên giới, duy trì việc lưu thông biên giới, vùng biển và trật tự xã hội ở khu vực biên giới. BPKSHC gồm: công tác kiểm tra giấy tờ đối với người, phương tiện và hàng hóa; khám xét theo quy định của pháp luật: thực hiện giám sát, giám hộ và hộ tống. BPKSHC phối hợp cùng các biện pháp nghiệp vụ khác góp phần hoàn thành nhiệm vụ quản lí bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. BIỆN PHÁP TÁC CHIẾN, cách thức thực hiện phương pháp tác chiến, gồm các hoạt động QS, phi QS, kết hợp chặt chẽ với nhau theo một kế hoạch thống nhất nhằm đánh bại từng thủ đoạn tác chiến, hình thức chiến thuật của địch tạo ra tình huống, thế và thời cơ có lợi hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. BPTC phụ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ tác chiến; tình hình địch - ta, địa hình, thời tiết... Có BPTC của bộ đội binh chủng hợp thành, các quân chủng, binh chúng, ngành chuyên môn và của LLVTND địa phương; có BPTC chiến lược, chiến dịch và biện pháp chiến đấu. BIỆN PHÁP TRINH SÁT. cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ trinh sát. BPTS gồm: tổ chức sử dụng lực lượng, bảo đảm thông tin liên lạc, vận dụng các thủ đoạn trinh sát... phù hợp với nhiệm vụ trinh sát. BIỆN PHÁP VŨ TRANG BIÊN PHÒNG, biện pháp công tác biên phòng được thực hiện bằng các hoạt động QS để quản lí, bảo vệ biên giới, chống lại các hành động tiến công, xâm phạm biên giới, trấn áp các hoạt động gây rối, bạo loạn của bọn cầm đầu quá khích, nổi phỉ, làm áp lực hỗ trợ các biện pháp công tác nghiệp vụ, góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. BPVTBP được tiến hành thường xuyên ở các đồn biên phòng, áp dụng trong tất cả các hình thức bảo vệ biên giới. Trong thời bình, BPVTBP thể hiện qua các hoạt động: tuần tra, quan sát, canh gác, phục kích, tập kích, truy lùng, thường trực sẵn sàng chiến đấu, trấn áp các hoạt động vũ trang phá hoại của địch và bọn tội phạm. Khi xảy ra xung đột QS hoặc chiến tranh xâm lược, BPVTBP được thể hiện bằng các hoạt động chiến đấu phối hợp tác chiến với các lực lượng trong khu vực phòng thú nhằm tiêu hao. tiêu diệt, ngăn chặn tiến công của dịch, bảo vệ biên giới, bảo vệ đồn, trạm và địa bàn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:10:14 pm BIỆT ĐỘNG QUÂN, binh chủng bộ binh của QĐ Sài Gòn, chuyên tác chiến ở vùng rừng núi, biên giới và vùng giáp ranh. Thành lập 1960 trên cơ sở cải tổ một bộ phận biệt kích theo nhu cầu biên phòng và ngăn chặn sự phát triển của LLVT CM ở vùng rừng núi. Hệ thống chỉ huy BĐQ gồm: bộ chỉ huy BĐQ ở BTTM và ba bộ chỉ huy ở ba quân đoàn - quân khu (1,2, 3). Đơn vị tổ chức cao nhất là liên đoàn (có 16 liên đoàn, 1975), thường gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 pháo đội (tương đương đại đội) và một số phân đội trực thuộc, quân số khoảng 2.000 người; được trang bị nhẹ, phù hợp với tác chiến cơ động trên địa hình rừng núi. BĐQ gồm hai bộ phận lực lượng (tới đầu 1975): lực lượng tổng dự bị (4 liên đoàn: 4, 6, 7 và 8) và lực lượng cơ động thuộc quân đoàn - quân khu (Quân đoàn 1 - Quân khu 1 có 4 liên đoàn: 11, 12, 14 và 15; Quàn đoàn 2 - Quân khu 2 có 5 liên đoàn: 21, 22. 23, 24 và 25; Quân đoàn 3 - Quân khu 3 có 3 liên đoàn: 31, 32 và 33). Quân số trên 30.000 người (1975). BIỆT KÍCH, lực lượng đặc biệt có vũ trang của QĐ địch được tổ chức thành từng toán, bí mật xâm nhập vào khu vực do ta kiểm soát để hành động chớp nhoáng rồi rút lui, hoặc cài lại một thời gian ngắn để điều tra, thu thập tình báo, xây dựng căn cứ ngầm, phá hoại các công trình QS, kinh tế, bắt cóc, gây bạo loạn lật đổ... Trong chiến tranh ở VN, QĐ Sài Gòn đã tổ chức lực lượng BK (xt biệt kích quân đội Sài Gòn) thành các đội BK hỗn hợp, BK hành lang, BK thám báo,... đưa ra miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam VN hoạt động. BIỆT KÍCH quân đội Sài Gòn, biệt kích chuyên hoạt động ở miền Bắc VN và vùng giải phóng ở miền Nam VN trong chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN. Tổ chức thành toán 10-15 người, được huấn luyện, trang bị đặc biệt theo nhiệm vụ và môi trường hoạt động. Theo môi trường hoạt động, có: BK rừng núi. BK nông thôn đồng bằng, BK đô thị; theo phương thức thâm nhập, có: BK đường không, BK đường bộ, BK đường biển. BK do Sở liên lạc (thuộc Phủ tổng thống chính quyền Sài Gòn, thành lập 1957) và CIA tổ chức, chỉ huy; đến 1974 có: Sở liên lạc (155 người), 3 đoàn liên lạc (thuộc sở, 474 người) và Sở công tác (941 người) chia thành 5 đoàn công tác (190 người), 45 toán công tác (555 người). Loại BK phái ra hoạt động ở miền Bắc VN thường được tuyển chọn kĩ trong số dân di cư từ miền Bắc vào, được huấn luyện ở nước ngoài. 1961-64 nhiều toán BK ra miền Bắc VN hoạt động bị bắt (có 59 toán với 427 người). Tan rã hoàn toàn 1975. BIỂU BIÊN CHẾ. văn bản pháp quy quy định mẫu biên chế thống nhất cho các tổ chức QĐ. Bao gồm: cơ cấu tổ chức, số lượng các chức danh và vũ khí trang bị kèm theo. Có BBC: thời bình, thời chiến, huấn luyện, chiến đấu... Xây dựng BBC phải căn cứ vào: ý định của cấp trên; đặc điểm tính chất trang bị của từng quân chủng, binh chủng và đơn vị chuyên môn; yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng. BIỂU ĐỒ HỎA LỰC pháo binh, bảng vẽ (kẻ) biểu hiện tiến trình thực hiện một giai đoạn hỏa lực; thường gồm: thời gian và phương pháp thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực của các phân đội, binh đội pháo binh. Có BĐHL pháo chuẩn bị tiến công, BĐHL pháo phản chuẩn bị... BĐHLpb được trình bày trên kế hoạch tác chiến pháo binh để chỉ huy hỏa lực. BIỂU THỊ DÁNG ĐẤT, thể hiện trạng thái không bằng phẳng (độ lồi lõm) của bề mặt Trái Đất lên bản đồ. Các phương pháp BTDĐ thường dùng: chải nét, vờn bóng, phân tầng độ cao bằng màu sắc và bằng đường bình độ. Phương pháp chải nét (dùng gạch nét đậm nhạt, dài ngắn và khoảng cách khác nhau, để thể hiện hình thái) và vờn bóng (dùng màu sắc đậm nhạt thể hiện độ cao) cho cảm nhận trực quan về độ lồi lõm, nhưng không cho phép xác định được độ cao và độ dốc địa hình. Phương pháp phán tầng độ cao bằng màu sắc chỉ phân biệt độ cao trong các khoảng giới hạn lớn (thường là hàng trăm mét), không thể hiện sự sai khác độ cao trong khu vực nhỏ. Ba phương pháp trên chi dùng cho các bản đồ địa li. Phương pháp đường bình độ được dùng chủ yếu cho bản đồ địa hình, cho phép xác định chi tiết hình thái và làm rõ các yếu tố cấu thành dáng đất như các đường phân thủy và tụ thủy, đỉnh núi, yên ngựa... xác định chính xác độ dốc địa hình và độ cao tuyệt đối của các điểm. Khi cần thiết, trên một bản đồ có thể dùng kết hợp hai hay nhiều phương pháp. BINH BỊ ĐẠO (cổ), chức quan chuyên lo việc quân nhu, hoặc việc chuẩn bị QS ở tỉnh trọng yếu. Ở VN, triều Nguyễn đời Minh Mệnh, Thiệu Trị cử BBĐ trực tiếp giúp việc cho khâm sai thống chế trấn giữ biên giới phía tây nam. Năm Thiệu Trị thứ 2 bỏ chức quan này. BBĐ còn có ở triều Minh, triều Thanh (TQ). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:11:39 pm BINH BIẾN, nổi dậy của tập thể quân nhân chống lại chính quyền hoặc cấp chỉ huy nhằm mục đích nhất định. Có thể diễn ra ở quy mô nhỏ (một đơn vị) hoặc lớn (nhiều đơn vị); độc lập hoặc là một bộ phận cấu thành của một cuộc đảo chính hoặc khởi nghĩa. BB có ý nghĩa tiến bộ hay phản động tuỳ thuộc vào mục tiêu chính trị của lực lượng tiến hành BB. BINH BIẾN ĐÔ LƯƠNG (13.1.1941), binh biến chống Pháp của binh lính VN yêu nước ở đồn Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An), do Đội Cung chỉ huy. Sau 5 ngày về làm quyền trưởng đồn Chợ Rạng, Đội Cung đã vận động được 10 lính khố xanh trong đồn làm binh biến, đêm 13.1 kéo về chiếm đồn Đô Lương, giết đồn trưởng, vận động 25 lính ở đó theo về đánh thành Vinh, nhưng trận đánh chưa kịp nổ ra đã bị lộ và thất bại. Toàn bộ lực lượng làm binh biến bị bắt; Đội Cung và 10 người khác bị xử tử (25.4.1941). Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9-28.10.1940), khởi nghĩa Nam Kì (11.1940), BBĐL thể hiện tinh thần đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân, báo hiệu một thời kì mới của CM VN. BINH BIẾN Ở BIỂN ĐEN (4.1919), binh biến của binh lính trên các tàu chiến Pháp ở Biển Đen phản đối hành động can thiệp của các nước đế quốc chống nước Nga xô viết, thời kì nội chiến và chống can thiệp ở Nga (1918-20). Ngày 16.4 phân hạm đội Pháp do phó đô đốc Amê chỉ huy được lệnh tiến vào cảng Xêvaxtôpôn. 16 giờ ngày 17.4 Amê lệnh cho tàu Phrăngxơ bắn phá bến cảng nhưng hầu hết binh sĩ trên tàu phản đối. 8 giờ 20.4 trong lễ chào cờ hàng ngày, binh lính trên tàu chỉ huy Giăng Ba và tàu bọc thép Phrăngxơ đã kéo cở đỏ (cờ trên tàu Phrăngxơ do thợ máy người VN là Tôn Đức Thắng kéo) và hát Quốc tế ca thay cho cờ Pháp và quốc ca Pháp, đưa yêu sách đòi rút tàu chiến về nước, chấm dứt sự can thiệp chống nước Nga... Phong trào phản chiến lan rộng sang cả hạm đội Pháp ở Biển Đen, buộc chính phủ Pháp phải rút hạm đội về nước. BINH BIẾN Ở TRUNG ĐOÀN THIẾT GIÁP 1 (23.3.1966), binh biến của một bộ phận sĩ quan và binh sĩ thuộc Trung đoàn thiết giáp 1 QĐ Sài Gòn đóng tại Gò Đậu (tx Thủ Dầu Một, t. Bình Dương). Lực lượng làm binh biến gồm 23 người là cơ sở nội tuyến của CM được cài cắm và móc nối từ trước, có sự phối hợp của chủ lực QGP ở bên ngoài (BI6, đặc công Sư đoàn 9...). Nổ ra lúc 19 giờ, sau 20ph chiến đấu làm chủ căn cứ; sau đó lực lượng binh biến cùng với Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9) tiến công các vị trí địch trong khu vực (Đại đội bảo an 261, căn cứ Trung đoàn 8, sư đoàn bộ và trường huấn luyện Sư đoàn 5...). Kết quả diệt hơn 100 địch, phá hủy 42 xe QS (có 22 xe tăng, xe bọc thép). BBƠTĐTG1 thăng lợi tạo điều kiện cho ta đẩy manh công tác binh vận, làm tan rã tinh thần binh lính địch trên địa bàn. BINH BỘ THƯỢNG THƯ nh THƯỢNG THƯ BỘ BINH BINH CHẾ (cổ), thể chế tổ chức và phục vụ QS. BC quy định người chỉ huy QS tối cao, biên chế tổ chức, chức năng nhiệm vụ các cơ quan QS tối cao, các quân chủng, binh chủng, tổ chức LLVT quần chúng và các lực lượng QS khác. Dưới chế độ phong kiến VN và một số nước khác, tổng tư lệnh tối cao thuộc vua, dưới vua có cơ quan QS tối cao giúp việc (bộ binh đặt dưới quyền một thượng thư). Các quân chủng, binh chủng thời kì phong kiến thường có: bộ binh, kị binh, thủy binh. Do sự phát triển khoa học kĩ thuật, vũ khí trang bị ngày càng nhiều chủng loại và hiện đại, xuất hiện nhiều quân chúng, binh chủng mới, dẫn tới thay đổi biên chế tổ chức QĐ. Chế độ phục vụ QĐ cũng thay đổi trong quá trình lịch sử của mỗi nước, như từ chế độ cha truyền con nối đến chế độ nghĩa vụ QS, tuyển quân, thay quân có thời hạn. BINH CHẾ TAM QUỐC (220-280), binh chế của ba nước Thục, Ngô và Ngụy, về cơ bản theo binh chế Tần - Hán, có thay đối chủ yếu trong xây dựng chế độ ngoại quân và thực hiện thế binh chế. QĐ Ngụy tổ chức: trung quân, ngoại quân và quân của các châu, quận; quyền QS tập trung vào trung ương. Trung quân là quân do cha con họ Tào và sau này là Tư Mã trực tiếp quản lí, chủ yếu bảo vệ kinh thành. Ngoại quân là quân phái đi trấn xa, vừa đóng giữ vừa cày cấy, làm đồn điền. Quân châu và quận lấy việc phòng giữ châu, quận làm chính. Việc bổ sung QĐ Tào Ngụy do nhà nước thống nhất tổ chức. Quân lương, kinh phí QĐ dựa vào thu nhập đồn điền và thuế. QĐ Tào Ngụy có phân chia khu vực cho bộ binh, kị binh và thủy quân. Thời kì đầu thực hiện chế độ mộ binh, trưng binh, về sau thực hiện thế binh chế. Chế độ QS Ngô, Thục giống Ngụy. Có chỗ khác là trung ương Ngô, Thục có ngũ quân: trung, tiền, hậu, tả, hữu đặt ngang nhau. Quân Ngô lấy thủy binh làm chủ, kị binh làm thứ; quân Ngụy lấy bộ binh làm chủ, kị binh làm thứ. Ngô thực hiện chế độ cầm quân cha truyền con nối, binh sĩ là thuộc riêng của tướng lĩnh. Ngô, Thục còn tổ chức cả quân dân tộc thiểu số. Thục có: tống binh, tẩu binh, thanh khương binh; Ngô có: sơn việt binh, man binh, di binh. Về trang bị vũ khí, phát triển hơn so với binh chế Tần - Hán. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:13:37 pm BINH CHẾ TẨN - HÁN (Tần 221-200tcn, Hán 206tcn- 220scn), binh chế theo đó QĐ được xây dựng thống nhất trong toàn quốc, đặt dưới quyền thống lĩnh của hoàng đế. Triều Tần lấy quốc úy, triều Hán lấy thái úy, đến đời Hán Vũ Đế đổi tên là đại tư mã để cai quản hành chính QS toàn quốc. Tướng lĩnh chỉ huy thời chiến, nhà Tần có: thượng tướng quân và các tướng quân tả, hữu, tiền, hậu; nhà Hán có: đại tướng quân, phiêu kị tướng quân, xa kị tướng quân, vệ tướng quân và các tướng quân tả, hữu, tiền, hậu. Quận úy, huyện úy cai quản QS ở quận, huyện. QĐ có ba bộ phận: kinh sư binh, địa phương binh và biên binh. Quân binh chủng có: bộ binh, kị binh, xa binh và thủy binh. Còn có cả thủy quân lục chiến. Thực hiện chế độ trung binh. Triều Tần, nam 17 tuổi đăng lính, tùy theo yêu cầu chiến tranh từng thời kì có thể gọi nhập ngũ, 60 tuổi hết hạn gọi nhập ngũ. Triều Hán, nam 20 tuổi nhập ngũ, phục vụ tại ngũ 2 năm, 56 tuổi hết hạn gọi nhập ngũ. Thời Tây Hán ngoài việc thực hiện chế độ trưng binh còn thực hiện chế độ tuyển mộ và huấn luyện rất nghiêm ngặt, có kiểm duyệt, thưởng phạt. Dưới triều Tần, Hán nhà nước cung cấp vũ khí, áo giáp, lương thực, ngựa cho binh lính và có quy định chế độ nuôi, dạy, quản lí ngựa chặt chẽ. Thời kì Tần - Hán, QĐ thống nhất chỉ huy tập trung, thể chế chỉ huy và quản lí chặt chẽ, chế độ binh dịch dược hoàn thiện. BINH CHẾ TRIỀU MINH (1368-1644), binh chế dược xây dựng trên cơ sở cải cách binh chế triều Nguyên, lập chế độ vệ sờ. Hoàng đế nắm toàn quyền QS ở trung ương xây dựng phủ đại đô đốc. Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), đổi thành phủ đô đốc ngũ quân (trung, tả, hữu. tiền, hậu quân) làm cơ quan QS tối cao. Ở địa phương đặt đô chỉ huy sứ ti (gọi tắt là dô ti), lập ra chỉ huy sứ. Dưới đô ti, ở nơi xung yếu có phủ (thuộc châu quản lí), huyện (châu) đặt vệ hoặc sở. Vệ do vệ chỉ huy sứ đứng đầu. Hạt có 5 thiên hộ sở với 5.600 người. Năm Hồng Vũ thứ 26 (1393) đặt ra đô ti toàn quốc, vệ sở gồm 17 thiết đô ti, 3 hành đô ti, 1 lưu thủ ti, 329 nội ngoại vệ, 65 thủ ngự thiên hộ sở. Quân số lớn nhất 270 vạn người. QĐ Minh tổ chức: kinh quân và địa phương quân. Những năm đầu niên hiệu Hồng Vũ, kinh quân có 48 vệ, có lúc 72 vệ và thành lập ngũ quân gồm 3.000 doanh và 3 thần cơ doanh. Ngoài ra, còn có thân quân bảo vệ hoàng đế. Địa phương quân gồm vệ quân biền binh và dân binh. Vệ binh phòng thủ kị binh Mông cổ phía Bắc. Dân binh là người ngoài quân tịch do quan phủ dùng để duy trì trị an địa phương. Vệ quân thực hiện chế độ đồn điền. Theo quy định quân đinh biên giới 3 phần giữ thành, 7 phần làm đồn điền; quân đinh nội địa 2 phần giữ thành, 8 phần làm đồn điền. Từ giữa triều Minh, đời sống quân lính khó khăn, bỏ trốn nhiều, do đó chế độ vệ sở bị xóa bỏ. Đến năm Chính Thống thứ 40 (1449), không còn kinh quân. Để bảo vệ kinh thành, triều Minh đã thực hiện chế độ tuyển mộ. Cuối triều Minh sức chiến đấu của QĐ suy yếu, triều Minh bị diệt vong. BINH CHẾ TRIỀU NGUYÊN (1206-1368), binh chế thực hiện theo thế binh chế, hoàng đế là thống soái tối cao; Khu mật viện là tổ chức QS tối cao, quản lí và chỉ huy QS toàn quốc. QĐ triều Nguyên gồm 4 loại: quân Mông cổ, quân Thám mã xích, quân Hán và quân Tân phụ. Quân Nguyên - Mông và quân Thám mã xích chủ yếu là kị binh, phòng giữ khu vực phía bắc. Quân Hán và quân Tân phụ chủ yếu là bộ binh, cùng với một bộ phận quân Nguyên - Mông và quân Thám mã xích đóng giữ ở nam Sông Hoài. Khu vực biên giới do thân tộc hoàng đế Mông cổ và quân bộ tộc địa phương phối hợp trấn giữ. QĐ triều Nguyên - Mông chia làm hai hệ thống: túc vệ và trấn thù. Túc vệ bao gồm cấm binh (gọi là khiết tiết) trực thuộc hoàng đế và thị vệ thân quân do Khu mật viện thống lĩnh; thời bình bảo vệ cung đình, kinh đô, nơi xung yếu, thời chiến cũng ra trận. Người chỉ huy và quân hộ (người đang tại ngũ) thực hiện chế độ cha truyền con nối. BINH CHẾ TRIỀU THANH (1644-1911), binh chế kết hợp các binh chế truyền thống dân tộc TQ với binh chế phương Tây. Hoàng đế nắm toàn bộ binh quyền, Bộ binh trên danh nghĩa là cơ quan QS tối cao. Năm Quang Tự thứ 32 (1906), đổi Bộ binh thành Bộ lục quân và có thực quyền điều hành QĐ cả nước, sau xây dựng thêm Bộ hải quân. Triều Thanh thực hiện chế độ bát kì, ban đầu là một tổ chức xã hội có ba chức năng: QS, hành chính, sản xuất; về sau chỉ còn chức năng QS. Bát kì binh và lục doanh binh trở thành công cụ của giai cấp thống trị. Bát kì binh thực hiện thế binh chế tuyển chọn con em bát kì từ 16 tuổi trở lên, dưới 16 tuổi có thể chọn nuôi dạy làm dự bị binh. Lục doanh binh là Hán binh thực hiện chế độ vệ sở của triều Minh có cải biên và đổi mới. Có mã binh (cg kị binh), bộ binh, thủy binh. Mã binh và bộ binh gọi là chiến binh. Lục doanh binh lấy trấn làm đơn vị cơ bản để trấn giữ các khu vực lớn trong cả nước, đặt một tổng binh làm chủ tướng, trên tổng binh có đề đốc bát kì binh. Lục doanh binh thực hiện chế độ tiền lương. Trang bị chủ yếu là vũ khí lạnh (cung, tiễn, đao, mâu...) và hỏa khí (pháo, súng hơi, súng kíp, súng hỏa mai, hỏa tiễn, hỏa cầu...). 1840 sau chiến tranh nha phiến, bát kì binh và lục doanh binh hủ bại, không được dùng nữa. Tăng Quốc Phiên đã tổ chức ra dũng doanh. Chế độ tướng quân thịnh hành trở thành một biến đổi lớn trong BCTT, binh quyền trung ương chuyển giao cho tướng soái. Bắt đầu trang bị vũ khí phương Tây, mở trường võ bị, xây dựng hải quân nhưng vẫn duy trì dũng doanh chế và các hình thức tổ chức cũ. Năm 1894 triều Thanh thất bại trong chiến tranh Giáp Ngọ, có tân kiến lục quân và tự cường quân thay thế dũng doanh. Do trang bị vũ khí nước ngoài, biên chế. huấn luyện theo phương Tây nên gọi là Tân quân. Qua cải cách chế độ QS chính phủ Thanh nắm binh quyền toàn quốc, nhưng việc mộ quân, phát lương nằm trong tay tướng soái. Đến năm cuối Tuyên Thống (Phổ Nghi), CM Tân Hợi (1911) bùng nổ, triều Thanh diệt vong. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:14:43 pm BINH CHẾ TRIỀU TỐNG (960-1279), binh chế thực hiện chế độ tuyển mộ. Triều Tống tập trung quyền lực vào hoàng đế, giảm binh quyền của đại tướng quân. Khu mật viện là cơ quan QS tối cao, điều hành QĐ toàn quốc; bộ binh* nắm các việc nghi lẽ, cờ quạt tán lọng, vũ khí, tuyển mộ lính, chọn võ quan. Thời Bắc Tống (960-1127) chủ yếu có cấm binh, sương binh, hương binh, ở vùng biên giới còn có phan binh. Cấm binh là chủ lực của QĐ. Sương binh là quân lao dịch (xây dựng công trình, tu sửa đường sá, vận chuyển). Hương binh (cg dân binh) là LLVT quần chúng, khi cần có thể chuyển thành cấm binh. Phan binh là quân của dân tộc vùng biên giới phía Bắc, Tây Bắc; ở biên giới Tây Nam có trại binh, động binh. Bắc Tống rất chú trọng việc phát triển nuôi, dạy và quản lí ngựa phục vụ QĐ. Thời kì Nam Tống (1127-1279), chế độ QS có nhiều thay đổi. Khu mật viện bị thu nhỏ, giảm quyền lực, cấm binh không giữ địa vị chủ lực; sương binh, hương binh phát triển, phan binh bị giải tán; các quân Tam nha và đại binh đồn trú trở thành chủ lực của QĐ. về sau triều Tống tăng cường khống chế đại binh đồn trú, đổi thành Ngự doanh quân. Cấm binh, sương binh và đại binh đồn trú thời Tống đều thực hiện chế độ tuyển mộ. QĐ Tống có các binh chủng: bộ binh, kị binh, thủy binh; coi trọng chế tạo vũ khí, mở trường dạy võ, bồi dưỡng và tuyển dụng tướng. BINH CHẾ TÙY - ĐƯỜNG (Tùy 581-618, Đường 618-907), thực hiện phủ binh chế, tập trung quyền QS tối cao vào hoàng đế. Triều Tùy xây dựng 12 vệ phủ, mỗi vệ phủ có 1 đại tướng quân chỉ huy; thời bình bảo vệ kinh thành và yếu địa. Vãn Đế đã tiến hành cải cách đối với phủ quan; quân nhân thuộc châu, quận đều biên chế thành hệ thống nhất, nhận ruộng cày, mỗi năm có một thời gian nhất định luân phiên di canh giữ, thời chiến đi đánh giặc, tự lo tư trang. Đây là đặc điểm phủ binh chế của triều Tùy và đầu triều Đường. Thời Tùy quân thường trực khoảng 60-70 vạn người, thời chiến có thể đến 130 vạn người. Thời kì đầu triều Đường khôi phục phủ binh chế, phủ binh trở thành quân thường trực cơ bản. Đời Thái Tông chỉnh đốn phủ binh chế: 12 vệ chia ra phụ trách 40-60 phủ. Tổ chức phủ có: thượng, trung, hạ. Phủ thượng có 1.200 người, phủ trung có 1.000 người, phủ hạ có 800 người. Cả nước có 634 phủ, khoảng 60 vạn người. Vũ khí trang bị. lương thực do phủ quân tự lo liệu. Quyền điều hành, chỉ huy phú binh thuộc triều đình, hàng năm đóng luân phiên ở kinh thành, mỗi phiên 1 tháng, mỗi năm khoảng 3 tháng. Nguồn phủ binh chủ yếu là trong dân, cứ 3 năm tuyển một lần; thanh niên nam 20 tuổi đăng lính, 21 tuổi nhập ngũ đến 61 tuổi xuất ngũ. Đến đời Huyền Tông hạn phục vụ 15 năm (từ 25-40 tuổi), 6 năm tuyển 1 lần. Đầu triều Đường, quân đóng giữ kinh thành và cung đình gọi chung là cấm binh, cha con nối tiếp nhau. Ở biên giới, tổ chức QS gọi là trấn, thú (đều có: thượng, trung, hạ). Đời Võ Tắc Thiên, biên giới phía bắc còn có LLVT quần chúng gọi là đoàn kết binh. BINH CHỦNG, bộ phận hợp thành quân chủng, có chức năng trực tiếp chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu, có vũ khí, trang bị kĩ thuật và phương pháp hoạt động tác chiến đặc thù. Trong LLVT của nhiều nước, lục quân có BC: bộ binh (bộ binh cơ giới), pháo binh, thiết giáp, phòng không lục quân...; quân chủng không quân có BC: tiêm kích, tiêm kích - bom, ném bom, trinh sát...; quân chủng phòng không có BC: pháo phòng không, tên lửa phòng không, rađa phòng không...; quân chủng hải quân có BC: tàu mặt nước, tàu ngầm, không quân hải quân, tên lửa - pháo bờ biển, hải quân đánh bộ... Ở VN, thuật ngữ BC còn được dùng để gọi một số bộ đội chuyên môn, vd : binh chủng công binh, binh chủng hóa học, binh chủng thông tin liên lạc... BINH CHỦNG CÔNG BINH x. CÔNG BINH BINH CHỦNG CÔNG BINH Quân đội nhân dan Việt Nam, binh chủng chuyên môn; đơn vị Ah LLVTND (1976). Hình thành 9.1945; từ các tổ, đội công binh phát triển nhanh chóng thành nhiều đại đội, tiểu đoàn và một trung đoàn công binh (trong KCCP), nhiều trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn công binh (trong KCCM). Tổ chức tiền thân là Công chính giao thông cục thuộc BQP (thành lập theo sắc lệnh 34-SL ngày 25.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH): đổi thành Giao thông công binh cục (2.12.1946), Cục công binh (5.2.1949). Tới 1.1.1951 trên cơ sở Cục công binh và một số đơn vị công binh trực thuộc Bộ, thành lập Trung đoàn công binh 151 thuộc Đại đoàn 351. Sau KCCP, Phòng công binh BTTM được thành lập (17.8.1951) và phát triển thành: Cục công binh (3.11.1955), BTL công binh (quyết định 102/QP ngày 28.6.1965 của BQP). Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật) các phân đội bảo đảm, phục vụ; Trường sĩ quan công binh; các binh đoàn, binh đội, phân đội công binh trực thuộc. Theo chức năng nhiệm vụ có: đơn vị công binh công trình, đơn vị công binh cầu đường, đơn vị công binh vượt sông, đơn vị công binh xây dựng... BCCB hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong KCCP, được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Mở đường thắng lợi” (1952). Trong KCCM được Quân ủy trung ương và BQP trao cờ “Mở đườmg thống nhất” (1964). Ngày truyền thống 25.3.1946. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên (1965): Phạm Hoàng, Chu Thanh Hương. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:16:21 pm BINH CHỦNG ĐẶC CÔNG X. ĐẶC CÔNG BINH CHỦNG ĐẶC CÔNG Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chúng chiến đấu; đơn vị Ah LLVTND (1976). Hình thành từ các đội vũ trang quyết tử, biệt động trong những năm đầu KCCP và tiếp tục phát triển trong KCCM. 19.3.1967 thành lập BTL đặc công gồm các thành phần: đặc công bộ, đặc công nước, đặc công biệt động. Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật), các phân đội bảo đảm, phục vụ; Trường sĩ quan đặc công và các binh đội, phân đội đặc công trực thuộc. Ngày truyền thống 19.3.1967, với lá cờ thêu 16 chữ vàng “Đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn”. Tư lệnh và chính ủy đầu tiên: Nguyễn Chí Điềm, Vũ Chí Đạo. BINH CHỦNG HÓA HỌC X. BỘ ĐỘI HÓA HỌC BINH CHỦNG HÓA HỌC Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chuyên môn, hình thành 19.4.1958 trên cơ sở Phòng hóa học nguyên tử, 1 tiểu đoàn và 2 đại đội hóa học; sau phát triển thành nhiều tiểu đoàn, trung đoàn hóa học trong KCCM. Cục hóa học (1967), BTL hóa học (1976). Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật), các phân đội bảo đảm, phục vụ, Trường sĩ quan phòng hóa, các binh đội, phân đội hóa học trực thuộc. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Độc lập (hạng nhất). Ngày truyền thống 19.4.1958. Tư lệnh đầu tiên: Đặng Quân Thụy. BINH CHỦNG PHÁO BINH X. PHÁO BINH BINH CHỦNG PHÁO BINH Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chiến đấu; đơn vị Ah LLVTND (1976). Hình thành 29.6.1946 với việc thành lập Đoàn pháo binh Thủ Đô gồm 3 trung đội: Pháo đài Láng (4 pháo phòng không 75mm). Pháo đài Xuân Tảo (2 pháo phòng không 75mm), Pháo đài Xuân Canh (1 pháo phòng không 75mm). Qua quá trình chiến đấu, lực lượng phát triển nhanh: tổ chức tới cấp tiểu đoàn pháo binh (1948), trung đoàn pháo binh (1950), đại đoàn công binh - pháo binh (1951). Sau KCCP, BQP quyết định thành lập bộ chỉ huy pháo binh (7.9.1954), sau đổi thành BTL pháo binh và Binh chủng pháo binh (28.5.1956). Từ giữa 1958 Sư đoàn 367 tách khỏi BTL pháo binh để thành lập BTL phòng không quốc gia. Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu. chính trị, hậu cần, kĩ thuật), các phân đội bảo đảm, phục vụ; Trường sĩ quan pháo binh; các binh đoàn, binh đội, phân đội pháo binh trực thuộc. BCPB tham gia các chiến dịch trong KCCP, KCCM và thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Campuchia. Được chủ tịch Hồ Chi Minh tặng tám chữ vàng “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” (13.4.1967). Ngày truyền thống 29.6.1946. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Lê Thiết Hùng, Lê Hiến Mai. BINH CHỦNG PHÁO PHÒNG KHÔNG Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chiến đấu thuộc Quân chủng phòng không - không quân QĐND VN,- đơn vị Ah LLVTND (1976). Được trang bị pháo phòng không, súng máy phòng không, khí tài trinh sát, chỉ huy phòng không để tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không, đổ bộ đường không của đối phương ở tầng thấp và tầng trung, độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng phòng không khác chống các cuộc tập kích đường không hoặc đổ bộ đường không của địch; bảo vệ các trung tâm chính trị, kinh tế, cụm LLVT và mục tiêu quan trọng khác của quốc gia. Có thể sử dụng để diệt mục tiêu đối phương trên mặt đất, mặt nước. Ngày truyền thống 1.4.1953 (ngày thành lập Trung đoàn 367 - trung đoàn pháo phòng không đầu tiên). BINH CHỦNG RAĐA PHÒNG KHÔNG Quân đội nhàn dàn Việt Nam, binh chủng bảo đảm thuộc Quân chủng phòng không - không quân QĐND VN; lực lượng nòng cốt của hệ thống quản lí vùng trời, thông báo báo động phòng không quốc gia; đơn vị Ah LLVTND (1976); được trang bị đài rađa các loại để trinh sát và thông báo tin tức về tình hình trên không; bảo đảm rađa cho tác chiến của lực lượng phòng không - không quân, các quân chủng và lực lượng phòng không địa phương; dẫn đường cho máy bay ta chiến đấu, huấn luyện và làm các nhiệm vụ khác. BCRPK được xây dựng từ 1956. Ngày truyền thống 1.3.1959 (ngày các đài rađa lần đầu tiên phát sóng cảnh giới vùng trời quốc gia). BINH CHỦNG TÀU MẶT NƯỚC, binh chủng chiến đấu của hái quân, được trang bị các loại tàu cơ động trên mặt nước, dùng để tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các lực lượng khác của hải quân và các quân chủng khác; tiến hành các hoạt động bảo đảm tác chiến trên chiến trường biển và vùng ven biển. Trong QĐND VN chưa tổ chức thành BTL BCTMN. Lực lượng tàu mặt nước của Hải quân nhân dân VN hình thành 1946, chính thức xây dựng 1955 và trưởng thành trong những năm KCCM. Ngày truyền thống 5.8.1964 (ngày đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân VN). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:18:08 pm BINH CHỦNG TÀU NGẨM, binh chủng chiến đấu của hải quân, được trang bị các loại tàu, có khả năng cơ động ngầm dưới mặt biển, bất ngờ tiến công mục tiêu trên biển (kể cả chống ngầm), trên đất liền; có thể tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các lực lượng khác của hải quân, không quân và tên lửa chiến lược. Trong hải quân hiện đại, BCTN được coi là lực lượng đột kích chủ yếu. BINH CHỦNG TĂNG THIẾT GIÁP X. BỘ ĐỘI TĂNG THIẾT GIÁP BINH CHỦNG TẢNG THIẾT GIÁP Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chiến đấu; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 22.6.1965 (quyền tư lệnh Đào Huy Vũ). Hình thành 1959 với việc thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên (Trung đoàn 202), phát triển thành nhiều trung đoàn, tiểu đoàn xe tăng trong KCCM. Tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh trên chiến trường miền Nam, chiến trường Lào như: trận Tà Mây - Làng Vây (1968), Đông Hà, Đắc Tô - Tân Cảnh, Lộc Ninh (1972), Cửa Việt (1973), Phước Long, Buôn Ma Thuột và giải phóng Sài Gòn (1975)... Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật), các phân đội bảo đảm, phục vụ; Trường sĩ quan tăng thiết giáp; các binh đoàn, binh đội, phân đội tăng trực thuộc. Ngày truyền thống 5.10.1959 (ngày thành lập Trung đoàn 202 - trung đoàn xe tăng đầu tiên). Tư lệnh và chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thế Lâm (1970), Lê Ngọc Quang. BINH CHỦNG TÊN LỬA - PHÁO BỜ BIỂN, binh chủng chiến đấu của hải quản, gồm các binh đoàn, binh đội tên lửa đất đối biển, binh đoàn, binh đội, phân đội pháo bố trí ven biển dùng để tiêu diệt tàu mặt nước, quân đổ bộ đường biển của đối phương, bảo vệ các căn cứ hải quân, các đảo, tuyến giao thông ven biển, chi viện cho bộ đội binh chủng hợp thành tác chiến trên hướng ven biển; bộ phận hợp thành của hệ thống phòng thủ bờ biển. BCTL-PBB có thể tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với lực lượng khác của hải quân, của các quân chủng, binh chủng và các lực lượng khác. BINH CHỦNG TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chiến đấu thuộc Quân chủng phòng không - không quân QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1973), thành lập 24.3.1967. Được trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không và khí tài chuyên dùng thích ứng, để tiêu diệt khí cụ bay của đối phương ở tẩm cho phép của từng loại tên lửa; độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng phòng không khác chống các cuộc tập kích đường không của địch, bảo vệ các mục tiêu quan trọng của quốc gia, các cụm LLVT và các mục tiêu khác. Ngày truyền thống 24.7.1965. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên; Đoàn Huyên, Trương Công Cẩn. BINH CHỦNG THÔNG TIN LIÊN LẠC X. BỘ ĐỘI THÔNG TIN LIÊN LẠC BINH CHỦNG THÔNG TIN LIÊN LẠC Quân đội nhân dân Việt Nam, binh chủng chuyên môn, đơn vị Ah LLVTND (1976). Hình thành 9.1945 từ những tổ, đội liên lạc phát triển thành nhiều đại đội, tiểu đoàn (trong KCCP), nhiều trung đoàn (trong KCCM). Tổ chức tiền thân là Phòng thông tin liên lạc QS, thành lập 9.9.1945 (trưởng phòng Hoàng Đạo Thúy), phát triển thành Cục thông tin liên lạc 31.7.1949 (cục trưởng Hoàng Đạo Thúy) và chuyển thành BTL thông tin liên lạc 31.1.1968. Hệ thống tổ chức gồm: BTL binh chủng, cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật), các phân đội bảo đảm, phục vụ; Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật thông tin; các binh đoàn, binh đội, phân đội thông tin trực thuộc. Ngày truyển thống 9.9.1945. Tư lệnh và chính ủy đầu tiên (1968): Tạ Đình Hiểu, Lê Cư. BINH CÔNG XƯỞNG, gọi chung các trạm, xưởng quân giới quy mô nhỏ tổ chức tại các chiến khu để sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu thô sơ... trong KCCP (1945-54); tiền thân của các cơ sở công nghiệp quốc phòng và bảo đảm kĩ thuật của QĐ ta hiện nay. Trong chiến tranh. BCX đã có nhiều sáng tạo trong việc chế tạo ra các vũ khí, trang bị độc đáo, gây bất ngờ cho địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dàn ta. Cùng với sự phát triển của ngành quân giới, sau này là ngành công nghiệp quốc phòng, một số BCX được đầu tư xây dựng thành những nhà máy nòng cốt của ngành công nghiệp quốc phòng. Một số khác tiếp tục thuộc biên chế của các lực lượng thường trực chiến đấu, phát triển thành các cơ sở sửa chữa thuộc ngành bảo đảm kĩ thuật. Cg công binh xưởng. BINH DỊCH nh PHỤC VỤ QUÂN SỰ BINH ĐOÀN, gọi chung các đơn vị lực lượng vũ trang cỡ sư đoàn, lữ đoàn và tương đương, thường gồm một số binh đội thuộc các binh chủng khác nhau trong cùng một quân chủng, các phân đội chuyên môn, bảo đảm, phục vụ và cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật. Tổ chức - biên chế của BĐ thay đổi theo nhiệm vụ và tính chất chiến trường, nhưng về mặt tổ chức lớn thường là ổn định. Trong QĐND VN, BĐ thường được phân loại theo chức năng thành các loại: BĐ chiến đấu, bảo đảm, phục vụ và xây dựng kinh tế. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:23:29 pm BINH ĐOÀN 15 (Tổng công ti 15), binh đoàn xây dựng kinh tế Tây Nguyên. Thành lập 20.2.1985 (quyết định số 68/CT- HĐBT) tại xã Biển Hồ, tx Plây Cu (t. Gia Lai), trực thuộc BQP; 4.1996 thuộc Quân khu 5, từ 1998 trực thuộc BQP. Nhiệm vụ: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, kết hợp kinh doanh tổng hợp các ngành xây dựng, dịch vụ thương mại (ưu tiên phát triển cây cao su và cà phê); cùng địa phương phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa xã hội cho đồng bào các dân tộc, bảo vệ trật tự an ninh, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn; kết hợp chạt chẽ giữa xây dựng, phát triển kinh tế với quốc phòng. Lực lượng ban đầu gồm: đoàn Đức Cơ (Đoàn 385), Nông trường 732, Nông trường 712, Lâm trường 714, Lâm trường 715, Trung đoàn xây dựng, Trung đoàn cầu đường; cơ quan và đơn vị phục vụ. 4.1996 tổ chức thành 8 công ti: 72, 74, 75, 715, 732, 711, 15, Bình Dương và cơ quan, đơn vị phục vụ. BĐ15 đã hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao, góp phần cùng quân và dân Tây Nguyên xây dựng và phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tư lệnh và phó tư lệnh chính trị đầu tiên: Nguyễn Hải và Dương Đình Chính. BINH ĐOÀN 70, liên binh đoàn chiến dịch - chiến lược của QĐND VN, trục thuộc BQP. Thành lập 10.10.1970 (quyết định số 200-QĐ/QP) nhằm sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công quy mô lớn của địch trên hướng đường 9 và sự đe dọa tiến công của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn ra bắc vĩ tuyến 17. Lực lượng gồm: 3 sư đoàn bộ binh (308, 304 và 320), một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, cơ quan và đơn vị trực thuộc. Có nhiệm vụ làm nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ của B4. B5, Đoàn 559 tác chiến trong các chiến dịch lớn, sẵn sàng phối hợp với LLVT Quân khu 4, chuẩn bị chiến trường theo kế hoạch của BQP. Từ 2.1971 thuộc quyền BTL Mặt trận Đường 9 (Mặt trận 702). Đám nhiệm hướng tiến công chủ yếu (hướng bắc) trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971). Giải thể (1972). Tư lệnh và chính ủy; Cao Văn Khánh, Hoàng Phương. BINH ĐOÀN 678, liên binh đoàn quân tình nguyện VN làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Thành lập 28.6.1978, gồm 3 sư đoàn bộ binh: 324, 968 và 337, cùng một số binh đội, phân đội binh chủng và bộ đội chuyên môn. Đến 1979 có thêm Mặt trận 379, Sư đoàn 348 (thay thế Sư đoàn 337). Đã phối hợp cùng Quân đội nhân dàn Lào chiến đấu, truy quét phỉ, góp phần xây dựng, củng cố chính quyền CM và LLVT CM Lào trong giai đoạn 1978-83. Cuối 1983 giải thể cơ quan binh đoàn và các đơn vị trực thuộc, chuyển sư đoàn 348, 324 và 968 về Quân khu 4, Mặt trận 379 độc lập. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Trần Văn Quang, Lê Tiến Phục. BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG (ngoại), binh đoàn chiến thuật gồm một số binh đội thuộc các binh chủng trong cùng một quân chủng và các phân đội bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ; có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên các chiến trường. 1951-54 trong cuộc chiến tranh xâm lược VN, Pháp tổ chức hai loại: BĐCĐ thường và BĐCĐ nhẹ. BĐCĐ thường: gồm 3-4 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 đại đội pháo 155mm (khi cần, có thể được tăng cường một số đơn vị tăng thiết giáp). BĐCĐ nhẹ: như BĐCĐ thường nhưng không được biên chế các đơn vị pháo binh. Quân số mỗi BĐCĐ khoảng 4.000-4.500 người. Các BĐCĐ của Pháp được tổ chức lần đầu (cuối 1950) theo kế hoạch của tướng Tatxinhi, nhằm tăng cường lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với các đại đoàn chủ lực QĐND VN. Tướng Nava thay tướng Salăng (1953), đã để ra kế hoạch thành lập 48 BĐCĐ, trong đó có 15 BĐCĐ cho QĐ Bảo Đại (10 BĐCĐ bộ binh, 4 BĐCĐ sơn cước, 1 BĐCĐ nhảy dù) (xt kế hoạch Nava). Trên thực tế, đến 4.1954 Pháp chỉ mới thành lập được 18 BĐCĐ (có 6 BĐCĐ cho QĐ Bảo Đại). Cg GM, liên đoàn lưu động. BINH ĐOÀN CỬU LONG nh QUÂN ĐOÀN 4 BINH ĐOÀN HƯƠNG GIANG nh QUÂN ĐOÀN 2 BINH ĐOÀN QUYẾT THẮNG nh QUÂN ĐOÀN 1 BINH ĐOÀN TÂY NGUYÊN nh QUÂN ĐOÀN 3 BINH ĐOÀN TRƯỜNG SƠN nh ĐOÀN 559 BINH ĐỘI, gọi chung các đơn vị lực lượng vũ trang cỡ trung đoàn, tiểu đoàn độc lập và tương đương. BĐ có hệ thống quản lí kinh tế, tài chính, hành chính độc lập. Trong biên chế có các phân đội, cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật. BĐ được phân loại theo chức năng nhiệm vụ: BĐ chiến đấu, BĐ bảo đảm và phục vụ... “BINH GIA DIỆU LÍ YÊU LƯỢC” nh “BINH THƯ YÊU LƯỢC” “BINH GIA YÊU LƯỢC” nh “BINH THƯ YÊU LƯỢC” BINH KHÍ, gọi chung vũ khí và phương tiện chiến đấu khác của LLVT. Trước dây BK được dùng để chỉ vũ khí. BINH LỰC nh LỰC LƯỢNG (nghĩa 2) BINH Mà SỨ (cổ), chức vụ chỉ huy Binh mã hộ thành ti (đơn vị QĐ thời cổ có xe, ngựa, binh khí để bảo vệ kinh thành), hàm tòng tam phẩm võ ban; thường lấy người trong Tôn nhân phủ (cơ quan nhân sự hoàng tộc) để bổ nhiệm. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:25:10 pm BINH NHẤT, bậc quân hàm của binh sĩ liền trên binh nhì. Trong QĐND VN, BN được quy định lần đầu theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Được trao cho quân nhân có quân hàm binh nhì hoàn thành nhiệm vụ, sau một thời gian phục vụ trong QĐ. BINH NHÌ, bậc quân hàm khởi đầu của binh sĩ. Trong QĐND VN, BN được quy định lần dầu theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Được trao cho chiến sĩ* mới nhập ngũ. BINH PHÁP (cổ), phép dùng binh, bao gồm hệ thống tri thức về lí luận và thực tiễn QS, về phương pháp điều hành chiến tranh và tác chiến. Trên thế giới, “Binh pháp Tôn Tử” được coi là loại BP cổ nhất. Ở VN, sách về BP (binh thư) cổ tiêu biểu là “Binh thư yếu lược”. “BINH PHÁP NGÔ KHỞI”, binh thư nổi tiếng thời cổ TQ, một trong “Vũ kinh thất thư" do Ngô Khởi thời Tây Hán soạn. Hiện còn sáu thiên: đỗ quốc, liệu địch, trị binh, luận tướng, ứng biến, lệ sĩ. Nội dung chủ yếu: chủ trương kết hợp chặt chẽ chính trị với QS, không cần nhiều quân, mà cần quản lí, huấn luyện, chỉ huy tốt; trong tác chiến, cần căn cứ tình hình và đặc điểm của địch để áp dụng phương châm và phương pháp phủ họp; miêu tả kĩ cách nuôi ngựa và phương pháp sử dụng kị binh; chú trọng việc chọn tướng và giáo dục, cổ vũ sĩ khí; nêu cách ứng phó trong nhiều trường hợp cụ thể. “BPNK” có một số điểm phát triển tư tưởng của Tôn Vũ, nhưng về tính triết học và khái quát không bằng “Binh pháp Tôn Tử”. “BINH PHÁP TÔN TỬ”, binh thư nổi tiếng thời cổ TQ. xếp đầu bộ “Vũ kinh thất thu”, do Tôn Vũ soạn khoảng 496- 453tcn (cuối thời Xuân Thu); gồm 13 thiên (khoảng 6.000 chữ); thủy kế, tác chiến, mưu công, quân hình, binh thế, hư thực, quân tranh, cửu biến, hành quân, địa hình, cửu địa, hỏa công, dụng gián. Nội dung chủ yếu: quan điểm về chiến tranh là việc lớn của quốc gia, có quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của đất nước, cần suy xét thận trọng; xác định năm yếu tố cơ bản quyết định thắng bại của chiến tranh là: đạo, trời, đất, tướng, pháp, trong đó đạo (sự ủng hộ của nhân dân) giữ vai trò quan trọng nhất; làm rõ sự phụ thuộc của chiến tranh vào điều kiện kinh tế. về tư tưởng chỉ đạo chiến lược, chiến thuật phải xuất phát từ mục đích bảo toàn mình, tiêu diệt địch; chủ trương cách tốt nhất giành thắng lợi là dùng mưu lược chính trị, sau đó là thủ đoạn ngoại giao, sau nữa mới dùng vũ lực (“không đánh mà khuất phục được quân người mới thực là giỏi”), về chỉ đạo tác chiến phải biết địch, biết ta, chắc thắng mới đánh; chủ động, linh hoạt điều động địch mà không để địch điều động mình, đánh vào nơi địch không phòng bị, ra quân lúc địch không ngờ, tránh thực đánh hư, kết hợp kì và chính, khéo dùng hỏa công, chú trọng dùng gián điệp... Toàn bộ tác phẩm toát lên tư tưởng triết học duy vật và phương pháp biện chứng (dưới dạng chưa thật hoàn bị), thể hiện ở việc xem xét, đánh giá đã bám chắc vào điều kiện vật chất hiện thực, làm rõ sự liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố. nguyên tắc trong một chỉnh thể. bài bác việc bói toán, chiêm tinh, trông đợi ở quỷ thần để mong giành thắng lợi trong chiến tranh. Là một trong những cuốn binh thư cổ nhất thế giới, có giá ưị lớn, được coi là “binh kinh” và “thủy tổ binh học”; đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và lưu hành ở nhiều nước. BINH SĨ, 1) gọi chung quân nhân có quân hàm binh nhất, binh nhì phục vụ trong QĐND VN theo Luật nghĩa vụ QS; 2) thành phần quân số của QĐ. BINH THỊ HẬU (cổ), bộ phận quân đội Hậu Lê, chuyên phục dịch và bảo vệ các chúa Trịnh, để phân biệt với binh nội hậu chuyên phục dịch và bảo vệ vua Lê. Gồm; bộ binh thị hậu và thủy binh thị hậu. Đơn vị tổ chức của bộ binh thị hậu là cơ, đội và của thủy binh thị hậu là cơ, đội, thuyên. Thành phần binh sĩ của BTH phần lớn là ưu binh (chiếm khoảng 2/3-4/5), còn lại là nhất binh. Binh sĩ thủy binh thị hậu từ 53 tuổi trở lên, bộ binh thị hậu từ 57 tuổi trở lên, nếu yếu sức được về nghỉ nhưng không được xếp là quan viên lão; nếu phục vụ đến 58 tuổi (đối với bộ binh thị hậu) thì được về nghi và được xếp ở hàng quan viên lão. “BINH THƯ YẾU LƯỢC”, binh thư nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn (tk 13). Nguyên bản đã thất truyền. Bản hiện lưu hành do người đời sau viết dựa theo tư tưởng của Trần Quốc Tuấn. Gồm bốn quyển. Quyển 1 gồm chín phần: thiên tượng, kén mộ, chọn tướng, đạo làm tướng, kén luyện, quân lễ (phụ: thưởng phạt), tuyển người làm việc dưới trướng, đồ dùng của binh, hiệu lệnh. Quyển 2 gồm mười phần: hành quân, hướng đạo, đồn trú, tuần canh, quân tư, hình thế, phòng bị, điểm về việc binh, phép dùng gián điệp, dùng cách lừa dối. Quyển 3 gồm bảy phần: liệu thế giặc, quyết chiến, đạt kì, dã chiến, sơn chiến, thủy chiến, lâm chiến. Quyển 4 gồm bảy phần: đánh thành, giữ thành, xông vây, ứng cứu, lui tránh, thắng và đặt phục, phép nhận hàng. “BTYL” là một đóng góp lớn vào kho tàng lí luận QS VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2019, 05:34:53 pm BINH TRẠM, đơn vị vận tải QS thời chiến, làm nhiệm vụ vận chuyển hàng QS và bảo đảm cho bộ đội hành quân trên một cung, đoạn thuộc một tuyến vận tải hoặc khu vực nhất định. Hình thành trong KCCP (sau chiến dịch Biên Giới 1950). Trong KCCM, BT được tổ chức trên tuyến vận tải QS chiến lược Bắc - Nam và ở hậu phương với quy mô lớn hơn (xt Đoàn 559). BT tương đương cấp trung đoàn, thường được biên chế: 1-3 tiểu đoàn công binh, 1-2 tiểu đoàn vận tải ô tô (80- 108 xe), từ 2 đại đội đến 2 tiểu đoàn pháo phòng không, 1-2 đại đội bộ binh, 2-3 đại đội kho, 1 tiểu đoàn giao liên (quản lí 5-7 trạm giao liên), 1-2 đại đội sửa chữa xe máy, 1-2 đại đội thông tin, đội điều trị và 2-3 đội phẫu thuật. Giải thể 1974. BINH TRỰC XỨ (cổ), một trong năm ti (cơ quan) của bộ binh* (Ti võ tuyển, Ti kinh kì, Ti trực tỉnh, Ti khảo công và BTX); gồm nhân viên các ti trong bộ binh được cử đến lo việc liên quan đến ti mình, do viên ngoại lang hoặc chủ sự điều hành. Nhiệm vụ chủ yếu viết, dâng phiếu bài, đóng dấu bài (như văn phòng trực ban của bộ binh). BINH YẾU ĐỊA CHÍ, tài liệu QS về tình hình hiện tại và lịch sử của một khu vực nào đó về các lĩnh vực QS, chính trị, kinh tế, địa hình, giao thòng, khí tượng - thủy văn. BYĐC là một trong những nguồn tham khảo quan trọng để chuẩn bị chiến trường, huấn luyện QS, lập các kế hoạch QS; một phần của địa lí QS. BÌNH CA, bến phà qua Sông Lô, tại km 62 QL 13A từ tp Thái Nguyên di tx Tuyên Quang, nay là đoạn nối QL 37 với km 130 QL 2; thuộc địa phận xã Bình Ca, nay là xã Tiến Bộ, h. Yên Sơn, t. Tuyên Quang, đông nam tx Tuyên Quang l0km. Trong chiến dịch Việt Bắc (7.10-22.12.1947) tại bến BC, 30.11.1947 bộ đội pháo binh đã phục kích các tàu QS Pháp trên Sông Lô, gây thiệt hại nặng nề cho quân Pháp. Thời kì cuối cuộc KCCP, BC là bến phà quan trọng trên tuyến vận tải chiến lược phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. BÌNH DƯƠNG, tỉnh miền Đông Nam Bộ; bắc giáp Bình Phước, đông giáp Đồng Nai, tây giáp Tây Ninh, nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Dt 2.695,54km2; ds 0,85 triệu người (2003). Nguyên thuộc t. Thủ Dầu Một. 1956 tách thành t. BD cùng với các tỉnh Bình Long và Phước Long. 1976 hợp nhất với Bình Phước (Bình Long và Phước Long hợp nhất 1975) thành t. Sông Bé. 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 6 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Thủ Dầu Một. Địa hình phần lớn gò đồi, đất đỏ badan, đất xám phủ sa. Các sông: Sài Gòn, Đồng Nai; hồ Dầu Tiếng. Khí hậu hai mùa, lượng mưa trung bình 2.000mm/năm, nhiệt độ trung bình trong năm 27°c. Công nghiệp chiếm 50% cơ cấu kinh tế và 60% nguồn thu ngân sách từ: chế biến cao su, gốm (Lái Thiêu, Thủ Dầu Một). Khu công nghiệp: Sóng Thần, Tân Định, VN - Xingapo, Việt Hương, Đồng An... với diện tích hơn 6.000ha. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 11.163 tỉ đồng. Ba thế mạnh: tiểu thủ công nghiệp (sơn mài, gốm, sứ), dịch vụ và du lịch. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 69,2 nghìn tấn (lúa 66,9 nghìn tấn). Giao thông đường bộ: QL 1, QL 3, các tỉnh lộ: 741, 746, 762; cảng sông: Thuận An. Địa danh lịch sử CM: căn cứ Đất Cuốc (Tân Uyên), trung tâm Chiến khu Đ trong KCCP... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65300551_442273443169208_8297196712095645696_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFOtV_cjYL1e6vzYa_rN-blpITvkPy77maZtZPJ2wPptbtRasHRrssgJGLCnM6dfpQcstRVR-ietYXXiuPXyoZ_kETNcVmDQWKp03BVq81Jzw&_nc_oc=AQmKX7mc8YWyZ2k59ioiBYkqf0ZBz6-YIYQZ6Ripm3vEpqCxNKHyjDgUXBKWydLOmHo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f840d8bf2cb9b84f1d3376b348b76ddd&oe=5DB659A7) BÌNH ĐỊNH*, chính sách của các nhà nước và các thế lực nắm quyền thống trị dùng để loại trừ những tổ chức, lực lượng đối lập, lực lượng li khai nhằm giữ vững an ninh chinh trị, củng cố chế độ và địa vị thống trị. Có thể diễn ra trong nội bộ một quốc gia dân tộc hoặc giữa thể lực xâm lược với lực lượng kháng chiến. BĐ được tiến hành bằng việc sử dụng tổng hợp các biện pháp: chính trị, QS, kinh tế, văn hóa... trong đó chính trị vừa là mục tiêu chiến lược vừa là biện pháp được coi trọng và sử dụng thường xuyên. Trong quá trình xâm lược và thống trị VN, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ đều thực hiện BĐ. Đặc biệt, đế quốc Mĩ ngay từ khi thay chân Pháp thống trị miền Nam VN bằng chủ nghĩa thực dân mới, đã coi BĐ như một chiến lược hàng đầu (x. chính sách bình định của Mĩ ở miền Nam Việt Nam). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:31:19 am BÌNH ĐỊNH**, tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, tây giáp Gia Lai, đông giáp Biển Đông. Dt 6.075,9km2; ds 1,53 triệu người (2003); các dân tộc : Kinh (chiếm đa số), Chàm, Bana, Cơdong, Hrê... Thành lập 1832 (nám 1853 sáp nhập thèm t. Phú Yên, 1876 tách trả lại). 2.1976 sáp nhập với Quảng Ngãi thành t. Nghĩa Bình; 6.1989 tái lập. Tổ chức hành chính: 10 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Quy Nhơn. Địa hình chia bốn vùng: rừng núi, trung du, đồng bằng và bãi cát ven biển. Phía tây có nhiều núi cao trên l.000m, rừng có nhiều lâm sản quý như: gỗ cẩm lai, lim, trắc, kiền kiền...; các loài cây dược liệu: quế, sa nhân, hà thủ ô... Bờ biển dài 134km với các cửa sông, vụng, vịnh, đầm (vụng Quy Nhơn, đầm Nước Ngọt, đầm Trà ô), nhiều cảng tốt, nhiều bán đảo và đảo (bán đảo Phước Mai, đảo Hòn Trân, Hòn Rùa...). Khí hậu nhiệt đới hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1, mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình trong năm 26°-27°C; lượng mưa trung bình hàng năm 1.700mm. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 538,0 nghìn tấn (lúa 517,1 nghìn tấn); khai thác gỗ 102,2 nghìn m3, thủy sản 88.812t. Công nghiệp: cơ khí sửa chữa và chế tạo các loại máy cho giao thông, thủy lợi, nông nghiệp, máy công cụ; khai thác và chế biến gỗ. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.433 tỉ đồng. Giao thông: QL 1, dường sắt Bắc - Nam nối BĐ với Hà Nội. tp Hồ Chí Minh. Đường 19 đi Plây Cu. Cảng Quy Nhơn có thể cho tàu l0.000t cặp bến, khả năng bốc dỡ 1,75 triệu tấn/năm. Hai sân bay: Phù Cát, Quy Nhơn. Nhiều di tích văn hóa cổ: Tháp Chàm xây dựng từ tk 13 về trước (hiện còn 13 tháp cao 10-13m ở các huyện An Nhơn, Tuy Phước và Tây Sơn). Quê hương phong trào Tây Sơn (hiện ở h. Tây Sơn có Nhà bảo tàng Quang Trung, h. An Nhơn còn di tích thành Hoàng Đế, nơi đóng đô của Nguyễn Nhạc). 6.11.1978, LLVT- ND Bình Định dược phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65385461_442273466502539_2754178891303092224_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHcivoR5s_OcnbwLSLUELa6pEuCjW63KpJ8l2uZ4WFptHJIAx8eXkGf1VkZ1nOcXO6YPQtS9f5OCiI7W13MiVHQYnJ75CP00-0XEQfYOLaoNA&_nc_oc=AQmJfvDSH5glyX1V4FCsL0Ag0Is3_hBXZ8NMBXHgb4qEBBzo9QPRSEKZagKyCG3qaRU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0bd16fee5d30a654d151e15f15b12468&oe=5D8776BF) BÌNH ĐỐ ẢNH. tài liệu ảnh được ghép từ các tấm ảnh hàng không đã được nắn về cùng một tỉ lệ ở mật phẳng ngang. BĐA có lưới tọa độ và ghi chú các địa vật có thể dùng để đo đạc với độ chính xác tương đương với bản đồ địa hình cùng tỉ lệ. BÌNH GIÃ, xã thuộc h. Châu Đức, t. Bà Rịa - Vũng Tàu, đông bắc tx Bà Rịa 18km, trên đường 2 từ Bà Rịa đi Xuân Lộc. 2.12.1964-3.1.1965, tại khu vực Bình Giã - Đức Thạnh diễn ra chiến dịch Bình Giã, mở ra khả năng của QGPMN VN đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận. đánh dấu sự kết thúc của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ ở VN. BÌNH LỆ NGUYÊN (cổ), tên vùng đất thời Trần (khoảng giữa tx Vĩnh Yên và tx Phúc Yên, nay thuộc h. Bình Xuyên, t. Vĩnh Phúc). 17.1.1258 tại BLN diễn ra trận đánh lớn trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần I, do vua Trần Thái Tông chỉ huy. BÌNH LÔ, thành do Lê Hoàn xây dựng trong kháng chiến chống Tống lần I (981). Vị trí thành chưa được xác định. Có thuyết cho BL ở khu vực giữa Sông Cầu và sông Cà Lồ, thuộc h. Sóc Sơn, tp Hà Nội ngày nay; có thuyết cho là ở vùng Duy Tiên, Lí Nhân. t. Hà Nam. “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO”, tác phẩm của Nguyễn Trãi viết theo chỉ dụ của Lê Lợi công bố rộng rãi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Nguyên bản bằng chữ Hán. Tác phẩm vạch trần tội ác trời không dung, đất không tha của quân Minh; nêu lên quá trình chiến đấu gian khổ, vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn và cách đối xử đầy lòng nhân đạo của nghĩa quân đối với tù binh, hàng binh Minh. “BNĐC” thực chất là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, thể hiện tinh thần tự hào dân tộc được coi là “thiên cổ hùng văn” (áng văn hùng tráng của ngàn đời) trong lịch sử VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:33:10 am “BÌNH NGÔ SÁCH”( tác phẩm của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán, dâng lên Lê Lợi khoảng những năm 1419-20, trình bày kế sách đánh đuổi quân xâm lược Minh (TQ), giành độc lập dân tộc. Tư tưởng cốt lõi trong “BNS” được Nguyên Trãi nêu lên là “đánh vào lòng người”, đó là việc nêu cao chính nghĩa, thu phục lòng người, dựa vào sức mạnh nhân dân, làm tan rã tinh thần kẻ dịch. Được Lê Lợi tiếp nhận và tiến hành thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Văn bản bị thất lạc, nay chỉ được biết qua bài tựa của Ngô Thế Vinh trong tác phẩm “Ức Trai di tập”. BÌNH PHƯỚC, tỉnh miền núi ở Đông Nam Bộ; đơn vị Ah LLVTND. Bắc và tây bắc giáp Campuchia, đông giáp Đắk Nông. Lâm Đồng, tây giáp Tây Ninh và Campuchia, nam giáp Bình Dương. Đồng Nai. Dt 6.855,99km2; ds 0,76 triệu người (2003); dân tộc: Kinh, Xtiêng, Mơ Nông, Khơme, Mạ, Hoa. Thành lập 1975 do hợp nhất hai tỉnh Bình Long và Phước Long (chính quyền Sài Gòn tách từ t. Thủ Dầu Một 10.1956). Năm 1976 hợp nhất với Bình Dương (Thù Dầu Một) thành t. Sông Bé. 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Đồng Xoài. Địa hình núi cao, rừng già nhiệt đới ở phía bắc (núi Bà Rá 723m). Đường biên giới với Campuchia 150km, cửa khẩu: Hoa Lư. Các sông: Đồng Nai, Đắc Quýt, Đắc Láp, Nước Trong, Mã Đà... Khí hậu hai mùa, lượng mưa trung bình 2.000mm/năm, nhiệt độ trung bình 26,2°c. Thế mạnh: lâm nghiệp, cây công nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp 187.600ha. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 54,1 nghìn tấn (lúa 35,2 nghìn tấn). Công nghiệp: thủy điện Thác Mơ, Suối Giai. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 437,7 tỉ đồng. Giao thông: QL13 đi Campuchia, QL 14 và một số tỉnh lộ. Truyền thống lịch sử CM: khởi nghĩa Trương Công Định (1864). phong trào đấu tranh của còng nhân Phú Riềng (1927-29), khởi nghĩa của đồng bào Xtiêng (1933-34). Căn cứ kháng chiến: Bình Long, Phước Long, Chiến khu Đ; thủ phủ của Chính phủ CM lâm thời cộng hòa miền Nam VN, căn cứ Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65193723_442273486502537_8671797020849078272_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeGL3h2qvQ6X10ilFlWiQmEdD2pzNLeQA1wldSz_oDkfeiOSwheCqxUoBacGIS4n_QshvFQ01u3phqoPXgjlqORxUZDDnGwzBmzHL5XSTC27wg&_nc_oc=AQnmcDlpbUxxKZY--XjKzRXTber0LY-Uqr5znb0GWZiYeSlqUgrU7LVVodTV9D0K6PY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6db02049653486d49e826c4edd77b649&oe=5DBCE8F4) BÌNH THAN, bến sông thuộc khu vực ngã ba Sông Đuống và sông Thái Bình (ngã ba Đại Than), nay thuộc xã Cao Đức, h. Gia Bình, t. Bắc Ninh; đông Hà Nội khoảng 50km. 10.1282 tại đây vua Trần Nhân Tông đã tổ chức hội nghị Bình Than bàn kế sách chống quân Nguyên - Mông xâm lược trong kháng chiến chống Nguyên - Mỏng lẩn II (1285). Nay ở khu vực này còn thôn Đại Than thuộc xã Cao Đức. BÌNH THUẬN, tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ; bắc giáp Lâm Đồng, đông bắc giáp Ninh Thuận, đông và đông nam giáp Biển Đông, tây giáp Đồng Nai. Dt 7.992km2; ds 1,120 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh (chiếm đa số), Chăm, Nùng, Cơ Ho, Khơme, Chơ Ro... Thành lập 1832. Tháng 5.1901 tách một phần thành lập t. Phan Rang (9.1913 Phan Rang sáp nhập vào BT và Khánh Hoà), 7.1922 lại tách riêng và đổi là t. Ninh Thuận). 10.1956 cắt một phần BT và một phần Lâm Đồng thành lập t. Bình Tuy. 2.1976 sáp nhập BT với Bình Tuy và Ninh Thuận thành t. Thuận Hải. 4.1992 tái lập t. BT. Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Phan Thiết. Địa hình thấp dần từ phía tây ra biển. Núi, rừng và đồi trọc chiếm trên 70% diện tích tự nhiên; các đỉnh cao: Ca Nong (1.279m), Núi Ông (1.307m), Núi Bà (756m). Nhiều sông ngắn và hẹp. Ven biển là dải đồng bằng. Bờ biển dài 192km, ba cửa sông: Phan Rí, Cà Tí, Hàm Tân; 4 cảng cá. Khí hậu nhiệt đới nóng, nhiệt độ trung bình trong năm 27°- 28°c, lượng mưa 800-1.150mm/năm. Tỉnh nông nghiệp, có tiềm năng phát triển lâm, ngư nghiệp và du lịch. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 393 nghìn tấn (lúa 330,3 nghìn tấn); thủy sản 135.176t; khai thác gỗ 31,7 nghìn m2. Có cảng cá Cồn Chà, nhiều cơ sở chế biến thủy hải sản. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.064 tỉ đồng: Giao thông: đường sắt Bắc - Nam, QL 1, đường 705 Phan Thiết đi Di Linh, cảng biển Phan Thiết. 20.12.1979, LLVTND Bình Thuận được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65844397_442273513169201_5409346060445286400_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFBA020OA_6h_gIiBGsk3HfMDxeQJnnW7u0DGDare9MpxMAeISNxrIW9HUC4FQn1eWKsowXE8-kgbt2ZSiZ2KQz_v3kJpYDFwx4YhD5kHdfew&_nc_oc=AQnY_j61mSm-nMhbhVexl9-bFAyHyWHUrQZAXZpG2ChhGQECrjGNaZA_5W0nBT5y7Kk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=07a801a4746fb63968fd586a1668b9a3&oe=5D87E317) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:35:11 am BÌNH TIÊU ĐỘC ĐEO LƯNG, khí tài tiêu tẩy cỡ vừa, trang bị cho các phân đội hóa học để tiêu độc, tẩy xạ và diệt trùng cho vũ khí, khí tài, xe máy, hầm hào công sự. Gồm: bình chứa dung dịch (9,5 lít), bơm không khí, cán phun cùng bàn chải. Khi lắc cần bơm theo phương thẳng đứng với tốc độ 25-30 lần/ph, dung dịch trong bình chứa qua cán phun - bàn chải phun đều lên be mặt cần xử lí. Lượng tiêu hao dung dịch 0,7 lít/ph; thời gian phun hết dung dịch trong bình chứa khoảng 12ph. Trọng lượng toàn bộ bình 18kg. QĐND VN có trang bị BTĐĐL RPO-4V do Nga, VN sản xuất. BÌNH TRỊ THIÊN, tỉnh cũ ở Trung Trung Bộ, tỉnh lị: tp Huế. Thành lập 2.1976 do sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình. Quảng Trị và Thừa Thiên. 6.1989 chia lại thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. BỊT CỬA ĐỘT PHÁ, hành động chiến đấu nhằm ngăn chặn dối phương mở rộng và vượt qua cửa đột phá. đồng thời khôi phục khu vực phòng ngự. Biện pháp thực hiện BCĐP: tập trung hỏa lực sát thương quân địch trước tiền duyên, khống chế cửa đột phá bằng mật độ hỏa lực dày đặc, chia cắt bộ binh với xe tăng, xe thiết giáp, ngăn chặn đội hình phía sau của địch cơ động lên; lực lượng phòng ngự gần lợi dụng địa hình và trận địa hiện có giữ vững phòng ngự, kiên quyết không cho địch củng cố và mở rộng; kịp thời cơ động binh lực, hỏa lực, vật cản, ngăn chặn và thực hành đánh địch đột nhập, khôi phục lại trạng thái phòng ngự. BỊT CỬA MỞ, hành động chiến đấu nhằm ngăn chặn đối phương vượt qua cửa mở và khôi phục hệ thống vật cản. Được thục hiện bằng hỏa lực, xe tăng và đặt lại vật cản... BCM bằng đặt lại vật cản thường do đơn vị phòng ngự gần cửa mở hoặc lực lượng dự bị công binh thực hiện, dưới sự chi viện của hỏa lực. Các trường hợp cần BCM là: khi phát hiện bên tiến công khắc phục vật cản tạo cửa mở hoặc đang qua cửa mở. Phải căn cứ tình hình cụ thể để chọn hành động thích hợp để BCM được kịp thời và hiệu quả. BLEDÔ (P. Roger c. Blaizot; ?-?), tổng tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương (5.1948-9.1949). Đại tướng. 1936-37 thiếu tá tham mưu trưởng quân Pháp ở Bắc Đông Dương. 9.1943 tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương chuẩn bị cho quân Pháp tham gia hoạt động cùng với QĐ Anh trên chiến trường châu Á (thực chất là chuẩn bị cho Pháp trở lại Đông Dương). 4.1944 dẫn đầu phái bộ QS Pháp tới Căngđi (Xri Lanca), đặt trụ sở bên cạnh BTL Đông Nam Á của Maobettơn. 1946 thành lập một binh đoàn Pháp tại Ấn Độ để chuẩn bị can thiệp vào Đông Dương. 1948-49 bênh vực quan điểm chiến lược của Rơve (tham mưu trưởng lục quân Pháp, người đỡ đầu B), kiên quyết rút bỏ Cao Bằng, tăng cường nỗ lực QS trên chiến trường phía Bắc. B đã mở một số cuộc hành quân để củng cố thế đứng của quân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, sau đánh lên Tuyên Quang, Việt Trì, Phú Thọ, bị tổn thất, không diệt được lực lượng chủ lực của đối phương. Sau thất bại ở biên giới phía bắc và do kế hoạch Rơve bị lộ, B bị triệu hồi về Pháp (1949). BM-13, pháo phản lực bắn loạt đầu tiên của LX dùng trong CTTG-II. BM-13 gồm 16 thanh dẫn hướng lắp thành giàn phóng trên khung bệ xe tải, đạn cỡ 132mm; khối lượng đạn 42,5kg, tầm bắn 8.500m, thời gian bắn một loạt 7-10s. Được trang bị từ 6.1941, pháo kích trận đầu tiên vào đầu mối đường xe lửa ở tp Oocsa 14.7.1941. Cg Cachiusa. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65284784_442273529835866_1162139603935690752_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFBiZlvDPvCsLM3HV7Y1gn05XLigKNLft3A7aI02J-cufSxd-DDwFweuNJ8ZE7zGVM5W-9wKdQfKrZHrHchPdMhCI6Sv90DKgXh7ycKBCxrTA&_nc_oc=AQkXnxxP6reJISMfsaLbdan_UaCPO7Cf0CSWF3OLtBC6Cl7CL32W8pxXjxbDaLwlrT4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3e43cafb2cba30fe102c92cb0b9d8369&oe=5DBDA5BA) BM-14, pháo phán lực bắn loạt gồm giàn phóng 16 (hoặc 17) ống và cơ cấu tầm, hướng lắp trên xe ô tô do LX thiết kế, chế tạo và đưa vào trang bị từ 1953. Có các loại: BM-14-16 (16 ống phóng), BM-14-17 (17 ống phóng), BM-14M. Tính năng chính: cỡ ống phóng 140mm, bắn đạn phản lực tuabin không điều khiển kiểu mảnh - phá (M-14-OF) và đạn khói (M- 14Đ); khối lượng đạn 39,6kg, tầm bắn 9.810m, thời gian bắn một loạt 7-10s; khối lượng toàn xe 8,2t; hành trình dự trữ 600km. BM-14 có trong trang bị QĐND VN từ giữa những năm 60 tk 20. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65418597_442273563169196_3382323403145871360_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeEw4kqiAmeXNyUzOpTnH3bZ4kQfEdZHfahtq7tqtqUjymXkY_1g3JOCD5F3nNNj0oB7yJFL3C6rWbSkS04Z11j_Y7QbKCgdO7hKJ5ybzdgxsw&_nc_oc=AQkqXN7w-mczpOaaxsiyWr-RIOfHVPBIuMFYpmrznpPt03-kIXQ5Ao9zeO0q4xnpz1A&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b20dd471bc64ce62ccd8e549c0243c4c&oe=5DB376E9) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:37:43 am BM-21, pháo phản lực bắn loạt gồm giàn phóng 40 ống và cơ cấu tầm, hướng lắp trên xe ô tô Ural-375E, do LX thiết kế, chế tạo và đưa vào trang bị từ 1964. BM-21 bắn đạn phản lực không điều khiển kiểu mảnh - phá (M-21-0F), cỡ 122mm; khối lượng đạn 66kg, tầm bắn 20.400m, thời gian bắn một loạt 20s; khối lượng toàn xe 13,7t; hành trình dự trữ 700km. Ngoài QĐ LX, BM- 21 còn được trang bị rộng rãi trong QĐ các nước thuộc khối Vacsava và các nước đang phát triển (TQ chế tạo phỏng theo, gọi là kiểu 81). BM-21 có trong trang bị của QĐND VN. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65603947_442273579835861_4232361048079859712_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFY3o2oFfTq6WwLkFCXMiWLl9P3BXZHb1g_M2_2TK9oiETdHrAj2GT9llXWTZ6d1FXJOk9jAPKp9BIUD7W-cJbLLYpUCBAPbzRO9VUerIGJ8g&_nc_oc=AQktgIjbKxfiBeFpJ1FF0wCxahtTrMg1MhSjGCMFLMEbfZgHsBl2S81lXmjfWo4rYbg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=4a2b9a67c16661826440c487665d1ae4&oe=5D86CE05) BMEO (vt từ p. Brigade mobile d’Extreme Orient - Lữ đoàn cơ động Viễn Đông), thành lập 1943 ở Mađagaxca cùng lúc với việc thành lập Trung đoàn bộ binh thuộc địa 5 ở Cancutta (Ấn Độ) theo lệnh của Đờ Gôn để chuẩn bị tái chiếm Đông Dương. Nhưng đến 8.1945, BMEO chưa sẵn sàng nên ủy ban quốc phòng Pháp quyết định thành lập CEFEO. BMP-1 , xe chiến đấu bộ binh chạy xích do LX chế tạo từ đầu những năm 60 tk 20. Khối lượng chiến đấu 13-13,3t. Kíp xe 3 người và chở 8 lính bộ binh. Dài 6,735m, rộng 2,94m, cao 2,068m, động cơ điêzen công suất 220kW (300cv), tốc độ lớn nhất 65km/h, bơi bằng xích với tốc độ lớn nhất 7km/h, hành trình dự trữ 400-570km (đường đất) và 5 5 0-600km (đường nhựa); trang bị: pháo nòng trơn 73mm, (đạn 40 viên); súng máy song song 7,62mm (đạn 2.000 viên); 4 tên lửa chống tăng có điều khiển 9M14M. Trang bị của bộ binh gồm 2 trung liên RPK, 7 tiểu liên AKM, 1 súng phóng lựu chống tăng RPG-7 hoặc tên lửa phòng không vác vai 9K32. Có khí tài nhìn đêm cho trưởng xe, pháo thủ, lái xe và có hệ thống chống vũ khí NBC. Trên cơ sở BMP-1, LX đã chế tạo các kiểu xe trinh sát BMP-R, BRM-1, xe chiến đấu bộ binh BMP-2 (chế tạo từ cuối những năm 70 tk 20); TQ chế tạo xe chiến đấu bộ binh WZ-501; Tiệp Khắc chế tạo xe thiết giáp chở quân OT-90, xe trinh sát BPzV, xe phá mìn svo... BMP-1 được trang bị cho QĐ hơn 20 nước, trong đó có QĐND VN. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65196387_442273603169192_6673219476684537856_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeEwaYCBMYX2xYYqf_UBHNQX8ki86lXYwAm1UkDuuveKTzfdnxC4Jx14WMNYJL36e_1Unq2Sa2AD7nHCPtROJjwvYktSXgnyxiC_bvfdReh5dg&_nc_oc=AQlwA_oeYEb2-_MuTmgrrAGXQXJKa7qD9-sSonVpKgkKx_KFWFnoKZ17epwkiipD14U&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d28de831a9c42a5fb52ea24ec46d3d14&oe=5D7CBC5B) “BO BO” x. TÀU (XUỒNG) ĐỆM KHÍ BO BO TỚI (s. 1945), Ah LLVTND (1976). Dân tộc Ra Giai, quê xã Sơn Trung, h. Khánh Sơn, t. Khánh Hoà; đv DCS VN; khi tuyên dương Ah là xã đội trưởng xã Sơn Trung. Trong KCCM, 1962 xây dựng phong trào chiến tranh du kích ở xã, tự tạo nhiều vũ khí thô sơ (chông, cung tên, bẫy đá...) đánh địch, lấy nhiều vũ khí của địch trang bị cho du kích. BBT chiến đấu 25 trận, diệt 60 địch (40 Mĩ, 7 Nam Triều Tiên), bắn cháy 1 xe QS, bắn rơi 2 máy bay trực thăng. 6.1971 BBT gỡ mìn của địch, bí mật đặt ở điểm cao 924 (nơi địch dổ quân đi càn) và bô' trí hầm chông ở xung quanh, phá hủy 1 máy bay trực thăng, diệt và làm bị thương hơn 30 lính Mĩ, buộc địch bỏ dở cuộc càn. Huân chương: Chiến công hạng ba... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65366784_442273633169189_6752930912897335296_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeHKt5rCSkVpdf4stM5r0OxfBbo31MP50vQMWfrMWXCJDqUvcIpCxuD9nF1jRIaXQbVAN7Q2D6JA-dPgIQOc6BozxfQHAMYd3bQIh6a08bvF4A&_nc_oc=AQlGlHKctfX6y5ffJlcy0Bo-WYa6THRKhN1jafA318e2Y7kJkvp79GCauz1kUJirrRg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=dc4463749e603b17c82c4ed5cf809566&oe=5DB498AC) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:40:00 am BOC SUỜN, thủ đoạn tác chiến được thực hiện bằng cách cơ động lực lượng vào sườn bố trí lực lượng (đội hình chiến đấu) của địch, hiệp đồng tác chiến vói các lực lượng ở chính diện, nhằm hoàn thành nhiệm vụ trận chiến đấu. BS được áp dụng trong tiến công khi đội hình chiến đấu của địch hở sườn, trong trận chiến đấu tao ngộ, khi truy kích, khi đánh trá các cuộc phản kích (phản đột kích) của địch và khi phản kích (phản đột kích) trong phòng ngự. BS có thể kết hợp với vu hồi. BOM, 1) loại vũ khí cơ bản của không quân (x. bom hàng không)-, 2) loại vũ khí để diệt mục tiêu ngầm dưới nước (x. bom chìm); 3) loại đạn mảnh - phá bắn từ súng phóng bom của QĐND VN dùng trong KCCP (x. bom phóng); 4) vũ khí chế tạo bằng phương pháp thủ công dùng vào việc phá hoại hay khủng bố. VN thường dùng dưới dạng lượng nổ trang bị cho đặc công, biệt động... BOM A nh BOM NGUYÊN TỬ BOM BA CÀNG, vũ khí chống tăng cầm tay, phần nổ có dạng hình nón. đáy có ba càng ngắn ở phía trước và cán dài ở phía sau (bằng tre, gỗ), gắn ngòi chạm nổ, hoạt động theo hiệu ứng nổ lõm. Khi chiến đấu, người sử dụng cầm cán bom đâm thẳng ba càng vào mục tiêu, bom nổ diệt mục tiêu. VN thu được BBC do QĐ Nhật sản xuất và các chiến sĩ cảm tử quăn đã dùng diệt xe tăng Pháp trong thời kì đầu KCCP (1946-47) (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65307450_442273659835853_259005962675814400_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHQ5liuBcI6eHEajjG1Uv4ZRGeLdW5xMlFdvqVUMkqozXKsghiJRjSJG-UNkNaqWydeMo7BCaGzCkWQgAmXfMCD1s_tzAhub_kKSCQdi3sl1g&_nc_oc=AQlsfIGBphdqvfTkv1Aykn-GoFD1eYi6LcOM_8dRbMCWDLp-IohNoInfqzdUfxAoG64&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=59a22cbd1c7b3a66245874977e83f2f4&oe=5DB71511) BOM BAY, tên thường gọi để chỉ các loại tên lửa có điều khiển V-1 (tên lửa có cánh) và V-2 (tên lửa đường đạn) do Đức chế tạo và sử dụng trong CTTG-II. Tuy độ chính xác chưa cao, hiệu quả chiến đấu thấp nhưng đây là bước tiên bộ lớn về phát triển hệ vũ khí tên lửa. BOM BI, bom hàng không, có phần tử sát thương là các viên bi. Gồm: vỏ kim loại đúc lẫn các viên bi (bằng thép, chất dẻo), thuốc nổ, ngòi nổ, bộ phận ổn định (cánh, gân, đuôi). Khối lượng của các loại BB đã dùng trong chiến tranh xâm lược VN thường là 0,42-l,15kg vói 250-380 viên bi, đường kính viên bi 5,6-6,5mm, bán kính sát thương 10-20m. Theo hình dạng, có các loại BB: quả dứa, quả cam, quả ổi. Theo thời gian hoạt động, có các loại BB: nổ ngay, nổ chậm. BB được xếp trong các bó ống phóng (6-19 ống, mỗi ống chứa 18-25 quả, tùy theo từng loại) hoặc các bom mẹ (mỗi bom mẹ chứa 200-640 quả, tùy loại) được phóng, thả xuống mục tiêu từ khí cụ bay. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65179614_442273796502506_5308269253583962112_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeG7SVMKjRdxsk5Fm5fbCwLzxxG7oF0YazUefDO3X8Q74J-5gf9nlBecouy9wiPtBH4MHSeX4dtki0W2BdGM1GpI6aRhmX_mp3uwoi1Ctr6wmg&_nc_oc=AQk1VA4lX9SlEAVxjJepmELSjB0ogJLbUwPf33Jkz-O6fojJJtQR5H8nbkcMStBTn_8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=149c4b0e628bd958c5d6657da26fd89a&oe=5D8BBF5F) BOM BƯỚM, bom chùm dạng thùng chứa dùng để rải mìn bướm xuống mục tiêu thành từng dải rộng và dài. BB có 2 ngăn với 40 ống chứa, mỗi ống có 12 kẹp mìn, mỗi kẹp có 4 quà mìn bướm (vì mìn có dạng cánh bướm). Toàn bộ thùng chứa 1.920 mìn bướm. Nguyên lí hoạt động: ở thời điểm phóng (thả) bom khỏi máy bay, vỏ bom được tách ra và thuốc phóng ở đáy ống chứa mìn cháy, các kẹp mìn dược phóng ra và tự mờ hất mìn xuống khu vực mục tiêu. QĐ Mĩ đã sử dụng BB (SUU-38) ở VN, Apganixtan (xt mìn lá). BOM CACBON nh BOM MỀM BOM CATXET x. BOM MẸ Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:42:04 am BOM CHÁY, bom hàng không sử dụng chất cháy làm phương tiện sát thương mục tiêu. Cỡ 0,5-500kg, thân mỏng và được nhồi hỗn hợp nhiệt nhôm, phôtpho, napan hoặc các chất dể cháy (xăng, dầu hỏa, ben- zen, toluen...) dưới dạng keo hoặc bột nhão. Khi bom nổ, các hợp chất cháy bám dính vào bề mặt của mục tiêu và cháy với ôxi không khí tạo ra nhiệt độ 1.000-3.000°c. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65466724_442273709835848_1367918260250476544_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHYVHIoCAssbmg0C_lS-VUjpRn9kclw7zQlLaxs2EIu6rpbQrj-dOdJYrsSAodoufOu8YxEifx00mlMNzBb_lTDKjnULORUz1W9Q6q0w6YLww&_nc_oc=AQmCxFsG4Bjder2iCcVVkFrAjt3GChT73DOM-eJeUL1MJNQUokM2SvtxWRE0ksEfw2A&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=05621a22740b0224dd1d14830e599ae0&oe=5DC56288) BOM CHÂN KHÔNG, bom chùm dạng catxet, kiểu nổ xon khí dùng để phá các công trình kiến trúc trên mặt đất, diệt sinh lực đối phương trong hầm trú ẩn và công sự, phát quang một khu vực địa hình giới hạn. Có vỏ thép mỏng, khối lượng 250- 500kg, lượng nhiên liệu chiếm 70%. Thông thường bom mẹ chứa 3 quả bom con. Khi bom mẹ nổ, tách đôi vỏ ở trên không và hất các quả bom con xuống khu vực mục tiêu. Các loại BCK điển hình: CBU-55, CBU-55B (Mĩ); FAACB (TQ); ODAB-500PM (Nga)... Trong chiến tranh xâm lược VN, QĐ Mĩ đã dùng BCK CBU-55 ở Quảng Trị (1972) với mục đích dọn bãi cho máy bay trực thăng đổ bộ, tiêu diệt sinh lực... Cg bom phát quang. BOM CHÌM, bom để diệt các mục tiêu ngầm dưới nước (tàu ngầm dang lặn, thủy lôi neo, người nhái...). Có: BC hàng không (được thả từ các khí cụ bay), BC hải quân (được phóng, thả từ tàu chiến). BC hải quân chia ra: BC phản lực (có động cơ, được bắn từ thiết bị phóng tương tự như đạn phản lực) và BC thường (được bắn từ súng phóng bom khí động hoặc được thà bằng thiết bị thả bom ở phía đuôi tàu). BC có thể chứa lượng nổ thường hoặc hạt nhân, được lắp ngòi nổ tiếp xúc (gây nổ khi BC va vào mục tiêu dưới nước), ngòi nổ không tiếp xúc (gây nổ khi BC đi qua gần mục tiêu, dưới tác động các trường vật lí của tàu, như: âm thanh, thủy động, từ trường...), ngòi nổ thủy tĩnh (gây nổ khi BC chìm tới một độ sâu định trước) hay ngòi nổ hẹn giờ (gây nổ sau một khoảng thời gian hẹn trước bằng cơ cấu đồng hồ hay liều cháy chậm sau khi chìm xuống nước). BC được sử dụng lần đầu tiên trong CTTG-I (1915), hiện có trong trang bị của hải quân VN và hải quân nhiều nước như là một phương tiện chống ngầm hiệu quả. BOM CHỐNG NGẦM, bom hàng không chuyên dùng diệt tàu ngầm. Cấu tạo giống bom phá, phần đầu có nhiều dạng làm giảm thìa lia khi tiếp nước. BCN cỡ nhỏ lắp ngòi chạm nổ, làm việc khi bom rơi trúng tàu ngầm. BCN cỡ lớn lắp ngòi theo chương trình (hẹn giờ, thủy tĩnh) gây nổ bom ở độ sâu nhất định hoặc ngòi không tiếp xúc, gây nổ bom khi khoảng cách giữa BCN và mục tiêu nhỏ hơn bán kính hoạt động của ngòi. BOM CHỐNG TĂNG, bom hàng không dùng hiệu ứng nổ lõm diệt xe tăng và mục tiêu bọc giáp khác (pháo tự hành, xe thiết giáp, bể chứa nhiên liệu...). BCT hiện đại có khối lượng 0,5-5kg, lắp ngòi chạm nổ quân tính hoặc áp điện. Được rải trực tiếp từ khí cụ bay hoặc bằng bom chùm (bom mẹ). Vd: trong chiến tranh xâm lược VN, quân Mĩ dùng bom chùm MK-20 Mod 0 chứa 240 BCT kiếu MK- 118 Mod 0. Mỗi BCTMK- 118 có đường kính 0,053m, dài 0,lm, chứa 0,18kg thuốc nổ, phễu lót bằng đồng đỏ có góc ở đỉnh 42°, có thể xuyên thủng vỏ thép dày 70-120mm, mảnh thân bom có thể sát thương sinh lực ở gần. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65281879_442273839835835_6455187768300535808_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFNzzrbyGV_8dUBi7cNh8slXxzZ1XjfcrIqyCzRMrBhGls1ORcjf0HA5lSZBMHLFKQEPET6XKyCxo3YcB_JZ-dMmgLCVa0FEhhvL4WCxbqU5g&_nc_oc=AQkKxQs_ezavCMLn0JdW2_ODVcAjUJTIun6y0yrdGhJ05-HwOqUORmdcT3SicbgkDWU&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ee1f5086878aee3502df08d86447428a&oe=5D7C0426) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:43:18 am BOM CHÙM, gọi chung các loại bom (mìn) hàng không cùng với kết cấu chứa (bom mẹ, bó ống phóng, thùng chứa...) hoặc thiết bị liên kết thành chùm. Tùy theo kết cấu, việc tách những bom con có thể thực hiện ở thời điểm phóng (thả) khỏi khí cụ bay hoặc ở trên không bằng ngòi nổ (hẹn giờ, không tiếp xúc...). Những bom con có thể là bom bi, bom chống tăng, bom sát thương, bom cháy, bom nổ xon khí... Bom mẹ nổ, tách đôi vỏ ở trên không, rải các bom con xuống một khu vực rộng. Bó ống phóng chứa bom con xếp theo thứ tự và phóng chúng xuống mục tiêu thành từng dải dài và hẹp. Thùng chứa thường đựng mìn, rải xuống mục tiêu thành tùng dải rộng và dài. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng các BC: bom mẹ SUU-30/B (chứa 550-640 bom bi hình cầu nổ ngay và nổ chậm), MK-20 (chứa 240 bom chống tăng MK-118), bó ống phóng SUU-7A (loại 19 ống chứa 360 bom bi quả dứa, loại 6 ống chứa 144 bom quả cam), thùng chứa mìn SUU-38 (chứa 540 quả mìn vướng nổ. hoặc 1.920 mìn tai hồng)... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65098229_442273846502501_2538881247430574080_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeG30cWB1tBJfm-71SKEbev0euYhO8yQDcrSBbQhIsw0fBF9W76MZ9lFhBowPnt80N4-V8M409ss9FXp3kQyWQxqNCwD7W__CZ6GO7uPWxll5Q&_nc_oc=AQlDvLQKAVIAYFxqw5feqpBQQMhfuYRiqVGQl37Zh0nhBh7P-KJ9XBMrBy7hWvpQnds&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ecbe70efdca652cfc621adbc722baee0&oe=5D7FE2FE) BOM CÓ ĐIỂU KHIỂN, bom hàng không có khả năng bám mục tiêu và điều khiển quỹ đạo bay, để diệt mục tiêu với độ chính xác cao. Gồm: thân, thuốc nổ, ngòi nổ. bộ phận ổn định, cánh lái (một số loại có cánh nâng), hệ thống điều khiển... Dài 3,3-4,2m, đường kính 0,16-0,61m, sải cánh 0,82- 2,4m, khối lượng 227-1.400kg, mang 87-900kg thuốc nổ, tầm bay 10-70km, sai số trúng đích 5-10m, có thể ném từ các độ cao khác nhau (từ rất thấp đến cao). Theo thiết bị động lực, có: BCĐK kiểu liệng (không có động cơ, chỉ dùng cánh lái khí động để hiệu chỉnh đường bay), BCĐK có động cơ (gần giống tên lửa điều khiển kiểu không đối đất); theo hệ thống điều khiển, có: BCĐK tự dẫn (bom vô tuyến truyền hình, bom lade...), BCĐK từ xa (theo lệnh vô tuyến điện, theo hiệu độ xa, theo hệ thống dẫn đường vệ tinh...); theo đạc điểm cấu tạo, có: BCĐK có kết cấu đặc biệt (vd: bom Oalai: bom GBU-17, GBU-28 là loại xuyên có đầu nổ kép kiểu lõm - phá); BCĐK cải tiến từ các bom phá thường kiểu MK-82. 83, 84, M118 (vd: loại thể hệ 1: GBU-8, 9, 10, 11, 12; thế hệ 2: GBU-10 cải tiến, 12 cải tiến, 16; thế hệ 3: GBU-22, 23, 24...); BCĐK có kết cấu mô đun (vd; GBU-15, 20...). BCĐK có uy lực lớn, độ chính xác cao (hơn bom thường hàng trăm lần), giá thành rẻ hơn tên lửa có điều khiển, lượng sử dụng ít mà vẫn đạt kết quả cao, giữ được bí mật bất ngờ, khó phát hiện và đối phó khi sừ dụng nhất là về ban dêm, giảm tổn thất máy bay mang, được coi là một trong những vũ khí công nghệ cao tối ưu... BCĐK được nghiên cứu chế tạo ở Mĩ, LX... từ những năm 60 tk 20, đưa vào trang bị dầu tiên 1965-66 (Oalai thế hệ 1), các loại khác đưa vào trang bị từ 1971 đến 1992. Trong chiến tranh xâm lược VN, không quân Mĩ đã dùng BCĐK dẫn bằng lade đánh cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Được dùng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999), chiến tranh Apganixtan (2001). Cg bom thông minh hay bom tinh khôn. BOM ĐIỆN TỪ, bom chuyên dụng để đánh phá (chủ yếu) các thiết bị diện, điện tử của hệ thống chỉ huy và hệ thống điều khiển vũ khí của đối phương. Bom nổ tạo ra các trường điện từ cường độ lớn trong thời gian rất ngắn, gây ra trường điện từ cực mạnh quanh điểm nổ và điện áp tức thời hàng ngàn von tác động vào các linh kiện bán dẫn, vi mạch, dây dẫn... của các thiết bị điện và điện tử, phá hủy các khí tài vô tuyến diện tử, máy tính, thiết bị quang điện, truyền hình... Có 2 loại: BĐT tần số thấp và BĐT siêu cao tần (BĐT siêu cao tần có xu hướng phát triển hơn vì có tác dụng cả ở dải tần số thấp). BĐT đang ở giai đoạn thử nghiệm, chưa được hoàn thiện và sử dụng rộng rãi; được QĐ Mĩ trang bị cho máy bay ném bom tàng hình B-2 và sử dụng lần đầu tiên trong chiến tranh Nam Tư (1999). Cg bom E. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:45:17 am BOM ĐIỂU KHIỂN TỪ VỆ TINH, bom có điều khiển được lắp máy thu tín hiệu từ hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS) để dẫn bom chính xác đến mục tiêu. Thường có khối lượng từ 450kg đến 900kg, được thả ở cự li 15-25km, có thể đạt độ chính xác tới 3m và sử dụng được trong mọi điều kiện thời tiết (mày, mưa, sương mù, khói...). Được trang bị cho các loại máy bay chiến thuật và chiến lược của không quân Mĩ. Máy bay ném bom B-2 của Mĩ lần đầu tiên đã sử dụng loại bom mới này để đánh phá nhiều mục tiêu kiên cố ở Nam Tư (1999). Được tiếp tục hoàn thiện và trang bị cho không quân Mĩ từ 2002. BOM E nh BOM ĐIỆN TỪ BOM GRAPHIT nh BOM MỂM BOM H nh BOM KHINH KHÍ BOM HÀNG KHÔNG, bom được ném (thả) từ khí cụ bay. Gồm: vỏ, một hoặc một số ngòi nổ (được lắp trước khi sử dụng), chất nhồi nạp (thuốc nổ, chất cháy, chất phát khói...), bộ phận ổn định (có thể có dù để ném từ độ cao thấp), ở bom có điều khiển còn có khoang điều khiển và cánh lái. Theo công dụng có hai loại: chính và phụ. Loại công dụng chính dùng diệt mục tiêu trên mặt đất, trên mặt nước và có: bom phá, bom mảnh, bom mảnh - phá, bom cháy, bom cháy - phá, bom hạt nhân, bom hóa học, bom napan, bom chống tăng, bom chống ngầm, bom xuyên, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường, bom chùm (bom catxet), bom có điều khiển, bom phản lực, bom xon khí...; loại công dụng phụ để giải quyết các nhiệm vụ riêng, có: bom chiếu sáng, bom truyền đơn, bom khói, bom tạo giả, bom tín hiệu - định hướng, bom tập ném, bom chụp ảnh (nhồi chất phát sáng tạo ánh chớp để chụp ảnh từ trên không)... Cỡ bom (khối lượng tính bằng kilôgam) từ 0,5 đến 20.000kg. Trong chiến tranh VN, Mĩ đã dùng gần 8 triệu tấn bom trong đó có nhiều loại BHK mới sừ dụng lần đầu (bom bi, CBU-55, Oalai...). Cg bom không quân. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65749236_442273929835826_7540675146739089408_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHES8kDlQzfniayFb_e5O_7pkP37AReJLwchcBt_uVADfLKNVqc4-eYK0BbZ9HYABIGvITMuWdmSUxz8xO9zYOSNayVnjQ_BiTTdseOMg6qgw&_nc_oc=AQkoqCx0cXFDKVAh2eNSTk7b8WwdW2K6zQYvCPXZesUESTcszMnx1a9anGMO16a5a8A&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=75d1d3dece39271b23467187bc60bba4&oe=5DB94B40) BOM HẠT NHÂN, bom hàng không chứa lượng nổ hạt nhân. BHN hiện nay có khối lượng 100-20.000kg với đương lượng TNT từ hàng chục tới hàng triệu tấn. Có thể ném từ độ cao lớn và nhỏ (có dù để bảo đảm an toàn cho máy bay mang); phương tiện mang BHN là các máy bay: tiêm kích, tiêm kích - bom, ném bom. Theo bản chất phản ứng hạt nhân và đặc điểm hoạt động, có: bom nguyên tử, bom khinh khi và bom nơtrôn. BOM HÓA HỌC, bom hàng không chứa chất độc hóa học để gây nhiễm độc địa hình, vũ khí, trang bị KTQS và sát thương sinh lực đối phương. BHH được nạp các chất hóa học khác nhau và lắp ngòi nổ hẹn giờ, ngòi nổ không tiếp xúc (gây nổ ở độ cao 50m hoặc 200m). Hiện nay phổ biến là BHH có vỏ bằng chất dẻo, khối lượng 0,4-0,9kg, không có ngòi nổ, tự vỡ ra khi chạm đất. BOM HƠI NGẠT, bom hóa học chứa các loại khí độc chủ yếu để sát thương sinh lực đối phương. Hơi độc làm nhiễm độc người, kích thích chảy nước mắt, rát họng, ho, có thể tấy đỏ da, ngứa ngáy, rát bỏng... (như chất CS), kích thích hệ thần kinh trung ương gây suy nhược thần kinh, chóng mặt, nôn... (như chất BZ). Đã được QĐ Mĩ sử dụng trong chiến tranh VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:47:13 am BOM KHINH KHÍ (bom H). bom hạt nhân tác dụng hủy diệt dựa trên phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ thành hạt nhân nặng hơn, diễn ra ở nhiệt độ cao hàng chục triệu độ, sinh ra một năng lượng lớn gấp hàng chục lần so với bom nguyên tử. BKK đầu tiên sử dụng phản ứng tổng hợp các hạt nhân triti và đơteri thành hạt nhân hêli. có hình dáng như một cái phích nước, cao 6m, đường kính l,8m, nặng 65t. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm thành công 1.11.1952 tại đảo Elugelap trên Thái Bình Dương. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65388921_442273966502489_8673653709441335296_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeF1hpPBCdwiTs1d4u5_dzVtMpOuDZwOH9DDtagaqIccCO2YRoYU7LPXhXXADs4nfngSB0h527019cBwZiQ1Mr08xHdYG4ffoDQa82nr0yclQg&_nc_oc=AQnC-dwJCXxO7k8bt63Tetfn9ElKJF4288qR40Q3PYJ9lQfKAgTtuF2yKYvOkROcZD8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ff00f5152b3b0c3cb1cec2429d5bac78&oe=5DC11C71) BOM KHÓI, bom hàng không dùng tạo màn khói ngụy trang hoặc chỉ điểm mục tiêu cho máy bay, pháo binh. Thường được nhồi phôtpho trắng và một ít thuốc nổ. Khi bom nổ, chất phôtpho trắng văng ra và cháy tạo thành đám khói đậm đặc. BOM KHÔNG QUÂN nh BOM HÀNG KHÔNG BOM LADE, bom có điều khiển tự dẫn bằng tia lade để diệt mục tiêu với độ chính xác cao. BL được điều khiển theo nguyên tắc bán chủ động, nhận nguồn năng lượng lade phản xạ từ các mục tiêu do thiết bị chiếu lade từ máy bay mang thực hiện và tạo lệnh thay đổi quỹ đạo bay dẫn bom tới mục tiêu. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo từ những năm 60 tk 20; đưa vào trang bị từ 1965. Trong chiến tranh xâm lược VN, không quân Mĩ đá dùng BL đánh cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa, 1972). Được dùng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65124525_442273976502488_3264153305051299840_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeH6QzLYWf9KCmKX_YrJPx1pBYUftWfL0nmgewngKEYykkOneMob2V3TPsoY44fm_1hKRcD-1SbRL5WpBA5CExLWsE30UC9p7hpZ2mtXhKO6hQ&_nc_oc=AQnVJ0a3GwHKjpwdh__So5L1rzfWIyDyqDeH8NsJxfdiaq3Cc2H3WdbTNH3J8IG2uPQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=4a719fb743da3a2202da8fe946bf00de&oe=5DB8108C) BOM MẸ, bom có vỏ mỏng, bên trong chứa nhiều bom con cỡ nhò như bom bi hình cầu nổ ngay, nổ chậm, bom mảnh hình cầu, bom bi quả dứa, bom xuyên chống tăng... BM thường có khối lượng 250 hoặc 500kg. Khi thả khỏi máy bay, ngòi nổ của BM được kích nổ trên không, tách đôi vỏ bom và hất toàn bộ bom con ra ngoài, rải xuống một diện tích rộng. Trong chiến hanh xâm lược VN, QĐ Mĩ sử dụng nhiều loại BM như CBU- 30B chứa 550-640 bom bi hình cầu nổ ngay và nổ chậm, MK- 20 chứa 240 bom chống tăng MK-118... Cg bom catxet. BOM MỂM, bom chuyên dụng để đánh phá mạng lưới điện của đối phương không sát thương sinh lực. Cấu tạo gồm: bom mẹ mang nhiều bom con (tới 200 quả); mỗi bom con bên trong chứa nhiều sợi graphit rất mảnh, có độ dài vài mét, có dù hãm để làm bom rơi chậm lại tới độ cao nhất định mới phát nổ, tung ra không gian hàng trăm ngàn sợi graphit tạo thành đám mây dày đặc bám vào các đường dây điện, trạm biến thế... gây đoản mạch, phá hỏng các thiết bị và hệ thống điện trên khu vực lãnh thổ có xung đột; gãy chập mạch các anten phát sóng công suất lớn. BM loại BLU-114/B của Mĩ được trang bị cho máy bay tàng hình F-117A và sử dụng lần đầu ở chiến trường Nam Tư (1999). Trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) QĐ Mĩ cũng đã sử dụng loại vũ khí tương tự để đánh phá lưới điện của Irắc. Cg bom graphit hoặc bom cacbon. BOM NAPAN, bom hàng không nhồi chất napan. dùng gây cháy, bỏng. BN xuất hiện đầu tiên ở Mĩ 1942. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược VN quân Pháp và Mĩ đều sử dụng rộng rãi BN đánh vào các mục tiêu QS, kinh tế và thường dân. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:52:08 am BOM NGUYÊN TỬ, dạng đầu tiên của bom hạt nhân, tác dụng dựa trên phản ứng phân chia hạt nhân. Được Mĩ chế tạo và thử nghiệm thành công 16.7.1945. Hai quả đầu tiên dùng trong CTTG-II sử dụng U235 và Pu239 có đương lượng nổ 20kt, không quân Mĩ ném hủy diệt hai thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật (1945), làm chết hàng chục vạn người và hàng chục vạn người khác bị các loại bệnh phóng xạ (ung thư, máu trắng, quái thai, vô sinh...). Cg bomA. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65751782_442273993169153_8466848439978688512_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHUg4G6IURL5cjFKqTf7c2wNCOb50sN44ph5gxbiWuVtXZ-02RjeMbQZ4Np8wo8RN-xxw5yaUcs2D_M9jBSnCa7Kish4mUIHyyFiKvML8iEhQ&_nc_oc=AQlM_M1XlNHUU-lSJBXNSMwUY3bUONiUDzR43EdSfH6CxdGJR_qi4xUHWcE3YvTtgZo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=21718ad5b8e092fec731dd236b23e641&oe=5DC6B5F1) BOM NHIÊN LIỆU - KHÔNG KHÍ X. CBU-55 BOM NỔ CHẬM, bom hàng không lắp ngòi nổ định giờ để nổ vào thời điểm được ấn định sau khi thả xuống vùng mục tiêu. Trong chiến tranh xám lược VN, không quân Pháp, Mĩ sử dụng rộng rãi loại bom này để đánh phá ngăn chặn giao thông, phổ biến là các kiểu bom phá cỡ 500-750 bảng (227- 340kg), lắp ngòi nổ chậm MK-346 Mod 0 (định giờ bằng đồng hồ) hoặc ngòi nổ chậm M124A1 (định giờ bằng hóa học) có thời gian chờ nổ từ 1 giờ đến 6 ngày đêm. BOM NOTRÔN, bom hạt nhân cỡ nhỏ khi nổ phần năng lượng biến thành bức xạ nơtrôn lớn hơn hàng chục lần so với bom hạt nhân khác. Tác dụng sát thương của BN chủ yếu do bức xạ xuyên của các nơtron gây ra, còn sóng xung kích và bức xạ quang đóng vai trò thứ yếu, nên BN chủ yếu để tiêu diệt sinh lực, ít phá hủy phương tiện vật chất, được phương Tây gọi là “bom sạch”. BN được Mĩ nghiên cứu từ thập kỉ 60 tk 20, đưa vào sản xuất hàng loạt từ 1981. BN được coi là tiền thân của vũ khí năng lượng định hướng (xt vũ khí hạt nhàn). BOM PHÁ, bom hàng không dùng diệt mục tiêu bằng sóng xung kích và mảnh của thân bom, loại bom phổ biến nhất. Cỡ 50-2.000kg (cá biệt có loại đến 10.000-20.000kg), có vỏ dày, lượng thuốc nổ chiếm 40-50%, dùng ngòi chạm nổ tức thì (với mục tiêu ở trên mặt đất) và ngòi nổ chậm (với mục tiêu ở sâu trong lòng đất). Có: BP thường, BP mảnh. BP cháy, BP xuyên. 1 2 3 4 5 1 6 (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65523916_442274046502481_6223404863124930560_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFZaFByPg1Vj4o3VC9Uo9TQC0K-3c4A_wlJbJJhNo77ujdySwgYTFpdGkj6UnTCuR-6ErgR6idQqnzbXmtNiefIjvsrHzBgs273pUegpAY1jA&_nc_oc=AQmzmgecs--UauQziO3RlxXF-ojaGHTKCtYBxWQmQDRReTzPgw6TzuAmpREp5kwLlKw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=20eee4d076ae6810231e5211024d11ca&oe=5D7F5D0A) 1. ngòi nổ; 2. kíp nổ; 3. thân; 4. hệ thống treo 5. thuốc nổ; 6. bộ phận ổn định. BOM PHẢN LỰC, bom được lắp thêm động cơ phản lực để tăng tốc độ của bom, đẩy bom bay theo quỹ đạo nhất định để tiêu diệt mục tiêu chính xác hơn. Các bộ phận chính: phần chiến đấu, phần động cơ phản lực nhiên liệu rắn và bộ phận ổn định. Có: BPL hàng không và BPL hải quân. Được phóng (thả) từ các thiết bị phóng trên máy bay hoặc tàu chiến. BPL hiện đại có cỡ 203-375mm, khối lượng toàn bộ 120-250kg, khối lượng thuốc nổ 40-100kg, tầm phóng tới 4.000m, ổn định đường bay nhờ các thiết bị ổn định, dùng ngòi nổ tiếp xúc hoặc không tiếp xúc. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65430533_442274063169146_8945463832914952192_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGySB5V0ySodiBCd8ifRdD-KRDWGurCO6gQh8-1mKBaCC2yC4Ow1a9SkTw1CC3EOvnR5_bszlzTvT-lveeeE1EAgneaEtRwbFh6kp-4o9Fk6Q&_nc_oc=AQlNbJo4kPFj_0GrRSAwfsEflusOOD4qXGYJFpc952YBQ13f9ZYzCwIfFfTBJtIxh-A&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2ee1835a5ed0bd2e1f35e55f68b5bb23&oe=5D84BCFC) 1, ngòi nổ; 2. kíp nổ; 3. thân: 4. hê thống treo; 5. thuốc nổ; 6. bộ phận ổn định; 7. thuốc phóng; 8. loa phụt; 9. đóng cơ. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:57:16 am BOM PHÁT QUANG nh BOM CHÂN KHÔNG BOM PHÓNG, đạn mảnh - phá, cỡ đạn lớn hơn cỡ nòng, gồm: đầu đạn (đúc bằng gang, khối lượng 10-12kg, bên trong nhồi 2kg thuốc nổ), có 4 cánh đuôi và vòng cánh đuôi bằng thép, chuôi gỗ bịt sắt (khi bắn chỉ có phần chuôi gỗ cắm vào nòng súng phóng bom); điếm hỏa bằng điện; tầm bắn hơn 400m; do quân giới VN chế tạo. BP còn được chế tạo bằng cách cải tiến từ đầu đạn pháo (cỡ 75- 105mm) thu được của địch. BP được sử dụng nhiều khi công đổn trong KCCP và thời kì đầu KCCM ở Đông Nam Bộ. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65308312_442274079835811_7793441733114593280_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGv-DdrbCCDccPnGdJgmh7IVt--FUvFZksaoBFEtNsJbWAv9B90bi2vHA-VhK2XNnIOXHb9vj7NlqcDomSbaubTLpO5tYB-u9F-CuAlrEb6bg&_nc_oc=AQlzwRyXuCAagY14iomdCJ2XmA1mo6Wo4RkWnDudGzw19vOyIpKU4JurB_pE7U6nms0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=13ac56b3c46da59ab7c4ea1cf8999945&oe=5D83287B) BOM SÁT THƯƠNG, bom hàng không dùng diệt mục tiêu lộ hoặc được bọc giáp yếu bằng mảnh hoặc các viên bi khi nổ. Có: bom mảnh, bom mảnh - phá, bom bi (quả dứa, quả cam, quả ổi). Bom bi và bom mảnh cỡ 0,5-100kg dùng để rải, phóng hoặc thả từng chùm xuống mục tiêu; bom mảnh - phá cỡ 100-150kg, lượng thuốc nổ chiếm 14-15%, thân dày có thể khía sẵn rãnh để tạo mảnh cần thiết. Dùng ngòi chạm nổ tức thì hoặc ngòi không tiếp xúc gây nổ trên không. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65296681_442274099835809_4014968267620745216_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFfJTNHgXFef5PZx1zJWMfVE4UnV1TxpWxcSGFwks4Ks9IUCEczs7cHV9ZxOEA57I0wiuYOzsFIi975faM69HBbb7RlP9-3JumkZu1L1u5Dvg&_nc_oc=AQk4t0Pe511OiQtiGguo5T-i3SQgJJhuvHmAucrLIcyEkCdmnJPqI7tukf4HsLLHzj8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=35843e0bcf297aa5e334586570ac3d0b&oe=5D81103F) 1. cốt ngòi; 2. trạm nổ; 3. thân; 4. đai có các tai treo; 5. lượng nổ; 6. bộ phận ổn định. BOM THẢ nh BOM HÀNG KHÔNG BOM THÔNG MINH x. BOM CÓ ĐIỂU KHIỂN BOM TINH KHÔN X. BOM CÓ ĐIỀU KHIỂN BOM TỪ TRƯỜNG X. MÌN TỪ TRƯỜNG BOM VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH. bom có điều khiển tự dẫn bằng vô tuyến truyền hình để tiêu diệt mục tiêu với độ chính xác cao. BVTTH được điều khiển theo nguyên tắc nhận biết mục tiêu bằng ảnh và tọa độ định sẵn, so sánh chúng với hình ảnh và toạ độ mục tiêu trong khi bay, tạo lệnh thay đổi quỹ đạo bay dẫn bom tới mục tiêu. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo từ những năm 60 tk 20; đưa vào trang bị từ 1966 và đã sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN (xt Oalai). BOM XUYÊN, bom hàng không dùng diệt mục tiêu bọc thép (xe tăng, xe thiết giáp, tàu bọc thép...) và phá hủy những công trình kiên cố (hầm sâu, địa đạo, công trình bê tông cốt thép) bằng cách xuyên vào mục tiêu và nổ. Đầu và thân BX rất cứng để xuyên sâu vào mục tiêu rồi nổ bằng ngòi nổ chậm. BX hiện đại có thể có điều khiển và đầu nổ kép. Khi trúng mục tiêu, lượng nổ thứ nhất (loại lõm) nổ, tạo ra lỗ sâu cho bom chui vào, sau đó ngòi nổ chậm hoạt động kích nổ bom. BX có thể phá hủy những mục tiêu kiên cố có lớp bẽ tông dày 4,5m hoặc nằm sâu dưới đất 7,5m. BOMBAY (Mumbai), thành phố cảng, trung tâm công nghiệp kinh tế và hành chính lớn, căn cứ hải quân chính của Ấn Độ, ở bờ biển phía tây bán đảo Ấn Độ. Ds 17,5 triệu người (2001). Có các ngành công nghiệp: bông, giấy, chế tạo máy, gia công kim loại, hóa dầu, hóa chất, công nghiệp nhẹ, thực phẩm, chế biến gỗ, điện ảnh, trường đại học tổng hợp. Gần B có nhà máy điện nguyên tử. Trong cảng có gần 50 cẩu cảng, chiều dài toàn bộ các cầu cảng 8km, độ sâu 10-12m. Có 5 đốc cạn, 4 đà tàu, triền có mái che. Lượng vận chuyển hàng 18 triệu tấn/năm. BOONGKE, lô cốt ngầm, kiên cố, có lỗ châu mai bắn quét sát mặt đất. Ưu điểm: giảm xác suất phá hoại của hỏa lực đối phương, tăng tính bất ngờ và hiệu quả vũ khí từ trong B bắn ra. Trong cuộc chiến tranh xâm lược VN (1945-54), QĐ Pháp đã xây dựng nhiều B để bảo vệ các vị trí, khu vực xung yếu và khống chế các tuyến giao thông huyết mạch. BÔ CÔ, làng bén Sông Đáy, thuộc h. Vọng Doanh, lộ Họàng Giang; sau đổi thành xã Hiếu cổ, nay thuộc xã Yên Phong, h. Ý Yên, t. Nam Định. 30.12.1408 trong cuộc khới nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407-13), tại bến sông BC (sau gọi là Bến Hiếu) diễn ra trận nghĩa quân Trần Ngỗi do Đặng Tất chỉ huy đại phá quân Minh, buộc Mộc Thạnh cùng tàn quân rút chạy về cố thủ trong thành cổ Lộng. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 11:59:01 am BỒ ẢI (Bù Ải), núi bên bờ Sông Lam, thuộc xã Đức Sơn, h. Anh Sơn, t. Nghệ An. Địa thế hiểm yếu, có khe Ải đổ ra Sông Lam. 1424 tại đây Lẽ Lợi đã tổ chức trận địa phục kích quân Minh, chém tướng giặc Hoàng Thành, bắt sống Đô Ti, Chu Kiệt cùng hàng ngàn quân Minh. BỒ ĐÀO NHA (Cộng hòa Bồ Đào Nha; Portugal, República Portuguesa, A. Portugal, Portuguese Republic), quốc gia ở tây nam châu Âu, ở phần tây bán đảo Pirênê, gồm cả các quần đảo Axoret. Manđêira ở Đại Tây Dương. Dt 92.345km2; ds 10,1 triệu người (2001); 99% người Bồ Đào Nha. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bồ Đào Nha. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (97%). Thù đô: Lixbon. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống kiêm tổng tư lệnh QĐ. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viên. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Hai quần đảo Mađâyra và Adoret theo chế độ tự trị. Địa hình: miền bắc là vùng đồi núi thấp và trung bình; gần trung tâm là dãy núi Extrela, đỉnh cao nhất 1.991m; phía nam là bình nguyên và đồi núi thấp; ven biển là vùng đất thấp. Khí hậu á nhiệt đới Địa Trung Hải. Lượng mưa trung bình hàng năm 400-800mm ở vùng ven biển, 1.200-2.400mm ở vùng núi. Sông chính: Tagiu dài 1.007km. Nước công - nông nghiệp. Các ngành công nghiệp chính: luyện kim, hóa chất, đóng và sứa chữa tàu biên... Nông nghiệp: trồng nho, ô liu, ngũ cốc, cây ăn quả; chăn nuôi bò, cừu, lợn, đánh cá. Hệ thống giao thông phát triển; cảng biển lớn: Lixbon, Pooctô, Xetuban. Du lịch phát triển, có năm doanh thu đạt 53 tỉ USD. GDP 109,8 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 10.950 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 7.1975. LLVT: lực lượng thường trực 43.600 người (lục quân 25.400. hải quân 10.800, không quân 7.400), lực lượng dự bị 210.930. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 187 xe tăng, 353 xe thiết giáp chở quân, 318 pháo mặt đất, 209 súng cối, 95 pháo phòng không, 51 máy bay chiến đấu, 2 tàu ngẩm, 6 tàu frigat, 28 tàu tuần tiễu... Căn cứ QS: Lixbon. Ngân sách quốc phòng 1,3 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65287052_442274156502470_1999103681953267712_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFhU5vS-Or2xYl_5EhIYyIpmzPRAZS1CLarqRP8zRkjLAXyWkAyXof_AhgJnK4-NUxDPb8JyLr_HTIXJqxwqY6Vt7MdbiBlt_QqEjbt1z6t_g&_nc_oc=AQnwtoDDIR6OHUgbUPSwhJS9u8O5fD9dnX4RNd1s9EJQe0DT38cL94JkbHmBDC7XFXk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3a68a711dab1e525a52cbaf24794717d&oe=5DC40892) BỒ ĐIỀN (Kẻ Bồ), làng thuộc quận Cửu Chân, sau là xã Phú Điển (nay thuộc xã Triệu Lộc, h. Hậu Lộc, t. Thanh Hóa), bắc tp Thanh Hóa 15km. ở đây có núi BĐ (cg Núi Tùng), nơi Bà Triệu tuẫn tiết sau khi khởi nghĩa chống ách thống trị Đông Ngô thất bại. Trên núi còn lăng mộ và đền thờ Bà (cũng có thuyết nói BĐ chính là quê hương Bà Triệu). BỔ NHÀO CỦA MÁY BAY, thủ đoạn tác chiến của không quân; nhằm giảm độ cao hoặc tăng tốc độ nhanh chóng, tăng độ chính xác khi ngắm bắn mục tiêu trên không hoặc ngắm bắn, ném bom các mục tiêu trên mặt đất (mặt nước), tránh hỏa lực phòng không mặt đất, tránh máy bay tiêm kích đối phương bám đuôi. BNCMB được phân ra: bổ nhào góc nhỏ (góc bổ nhào nhỏ hơn 30°), bổ nhào góc lớn (góc bổ nhào lớn hơn 30°) và bổ nhào thẳng đứng (góc bổ nhào gần bằng 90°). BỔ NHIỆM, quyết định giao chức vụ cho cán bộ QĐ hoặc cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu nhiệm vụ. Người được BN phải có đủ các điều kiện theo quy định của các văn bản pháp quy hiện hành của nhà nước hoặc của QĐ về việc BN. Thẩm quyền BN cán bộ QĐ thực hiện theo Luật sĩ quan QĐND VN và phân cấp quản lí cán bộ của Đảng ủy QS trung ương (trừ những chức vụ thuộc thẩm quyền của chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ). BỔ SUNG CẤP CỨU, tổng hợp các biện pháp kiểm tra và kĩ thuật bổ sung cho cấp cứu đầu tiên nhằm bảo đảm an toàn vận chuyển thương binh, bệnh binh về tuyến sau. Được tiến hành tại các trạm quân y tiểu đoàn. Nội dung gồm: kiểm tra cầm máu (đặc biệt garô); cố định xương gẫy, chống ngạt thở; băng, phòng chống sốc (cho thuốc giảm đau, ủ ấm, bổ sung nước...); khi địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn cho thuốc giải độc, trợ tim, chống nôn, kháng sinh... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:01:06 pm BỔ SUNG QUÂN SỐ, thêm quân số vào biên chế của đơn vị theo quy định nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Có BSQS lẻ từng người hoặc nhiều người và bổ sung cả một tổ chức (gồm cán bộ, chiến sĩ...). BSQS phải theo đúng kế hoạch được phê duyệt, đúng biểu biên chế, đủ số lượng, đúng chất lượng, đúng chuyên nghiệp QS và đúng thời gian, địa điểm quy định; ưu tiên đơn vị làm nhiệm vụ chủ yếu. BSQS được thực hiện theo quyết định điều động, thủ tục tiến hành, thấm quyền quyết định do BQP quy định. BỔ SUNG VẬT CHẤT HẬU CẦN, cấp thêm phương tiện vật chất hậu cần theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất hậu cần cho bộ đội. Bao gồm: cấp thêm (số còn thiếu theo quy định); cấp bù (số bị tổn thất, hư hỏng); cấp tiếp số tiêu hao trong ngày, trong đợt chiến đấu, trong một giai đoạn chiến dịch; cấp bổ sung ngoài kế hoạch do phát sinh thêm nhiệm vụ, theo lệnh của người chỉ huy cấp trên. BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG nh PHÙNG HƯNG BỐ CHÍNH, châu ở phía nam dãy Hoành Sơn có từ thời Lí. Nguyên là đất của Chămpa. 1070 vua Chămpa thua trận, dâng cho Lí Thánh Tông 3 châu, trong đó có châu BC. Thời Lê thuộc phủ Tân Bình. 1630 chúa Nguyễn chiếm nam Sông Gianh, từ đó hình thành Bắc BC và Nam BC. 1831 đổi Nam BC là Bố Trạch, Bắc BC là Bình Chính, nay là h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình. BỐ CỦNG (Bó Củng), đèo trên QL 4A, tây bắc thị trấn Na Sầm 3km, thuộc địa phận xã Tân Lang, h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn. Dài 5km (km 19-24), độ dốc 10%, địa thế hiểm trở, vách đứng, đường nhiều cua gấp, rừng che phủ. 8.1.1948 trên đoạn BC - Lũng Vài diễn ra trận Tiểu đoàn chủ lực 223 phối hợp với Tiểu đoàn 249 bộ đội địa phương Lạng Sơn phục kích đoàn xe QS Pháp, diệt 2 trung đội, phá húy 4 xe QS, thu 27 súng (x. trận Bố củng - Lũng Vài, 8.1.1948). BỐ TRÍ CHIẾN DỊCH, bố trí lực lượng để thực hành chiến dịch. Tùy từng loại chiến dịch và điều kiện tác chiến cụ thể BTCD có thể gồm bố trí các lực lượng tác chiến (lực lượng đánh địch trong và ngoài công sự: lực lượng phòng ngự, lực lượng cơ động), các lực lượng chi viện và bảo đảm... các đội dự bị, các cụm pháo binh, tên lửa, phòng không, các lực lượng tác chiến tại chỗ và LLVT địa phương... BTCD phải phù hợp ý định chiến dịch, tạo thế có lợi để sử dụng có hiệu quả tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch, tập trung sức mạnh vào khu vực (hướng) tác chiến chủ yếu và các trận then chốt, có điều kiện chuyển hóa thế bố trí và tăng cường sức chiến đấu trong quá trình chiến dịch, bảo đảm hiệp đồng tốt, chỉ huy liên tục trong suốt quá trình chiến dịch. BỐ TRÍ CHIẾN LƯỢC, bố trí lực lượng trên các hướng (địa bàn) chiến lược, tạo thế có lợi để tiến hành chiến tranh (kháng chiến) theo ý đồ chiến lược đã định. BTCL phải căn cứ vào tình hình chính trị và các yếu tố liên quan của các bên tham chiến. Trong kháng chiến chống Tống (tk 11) và kháng chiến chống Nguyên - Mông (tk 13), BTCL được tiến hành khi chuẩn bị kháng chiến. Trong khởi nghĩa Lam Sơn. kháng chiến chống Minh (tk 15) và KCCM (1954-75), sau một quá trình dài vừa tác chiến vừa xây dựng và phát triển lực lượng mới thực hiện được BTCL ở thế có lợi để giành thắng lợi hoàn toàn. BỐ TRÍ HẬU CẨN, triển khai cơ quan, đơn vị hậu cần ở những khu vực thích hợp trong đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) để tiến hành nhiệm vụ hậu cần đạt được chất lượng và hiệu quả cao. BTHC phải phù hợp với quyết tâm chiến đấu (chiến dịch); thuận tiện triển khai và cơ động lực lượng, phương tiện hậu cần; thực hành bảo đảm được kịp thời, liên tục và bí mật; kết hợp với hậu cần khu vực phòng thủ tạo thành thế trận hậu cần liên hoàn vững chắc. BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG, phân chia và sắp đặt lực lượng vào những vị trí thích hợp trong đội hình, trận địa, hướng, khu vực nhất định, theo yêu cầu, ý định thống nhất để thực hiện nhiệm vụ. BTLL trong tác chiến phải tạo thuận lợi cho ta, gây bất lợi cho địch, tiện chuyển hóa thế trận trong trận chiến đấu, chiến dịch (chiến lược) và trong các hình thức tác chiến hay hình thức hoạt động khác. BỐ TRÍ MÌN, đặt, rải, chôn một hoặc nhiều quả mìn vào vị trí thích hợp nhằm mục đích đã định. Mìn có thể bố trí từng quả đơn lẻ, hoặc thành cụm mìn, bãi mìn. Có thể BTM bằng tay, bằng phương tiện cơ giới (moóc rải mìn), bằng máy bay... BỔ TRÍ THẾ TRẬN PHÒNG KHÔNG, triển khai các lực lượng phòng không thành một hệ thống liên hoàn, vững chắc, bảo đảm đánh trả có hiệu quả các đợt tiến công đường không của địch từ mọi hướng, độ cao, nhằm bảo vệ mục tiêu (cụm mục tiêu); gồm: các phương tiện rađa trinh sát, vọng quan sát mắt, các trận địa hỏa lực phòng không (pháo phòng không, tên lửa phòng không), sân bay không quân tiêm kích, hệ thống SCH các cấp, các đơn vị bảo đảm và hệ thống phòng không nhân dân. Khi BTTTPK phải dựa vào thế trận khu vực phòng thủ địa phương và cả nước, thế trận phải vững chắc, bí mật, bất ngờ, nhanh chóng chuyển hóa khi cần thiết và không ngừng được hoàn thiện. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:02:44 pm BỐ TRÍ TRÚ QUÂN, tổ chức sắp xếp lực lượng ở ngoài doanh trại trong một khu vực và thời gian đã xác định. BTTQ do người chỉ huy cấp trên quyết định căn cứ vào: tình hình địch, tình hình dân cư địa phương, thời gian, phương thức trú quân và các điều kiện địa hình, thời tiết. Có BTTQ: trong nhà và ngoài trời. Khi BTTQ phải: triển khai kế hoạch chiến đấu tại chỗ, trực ban sắn sàng chiến đấu, làm công sự ngụy trang, tổ chức tuần tra canh gác, thực hiện nghiêm các quy định trú quân; chú ý bảo đảm bí mật, phân tán và nhanh chóng chuyển sang hành quân hoặc triển khai chiến đấu. BỘ, bộ tổng tư lệnh hoặc BQP ở VN (gọi tắt). Vd: chủ trương của B; lực lượng trực thuộc B; chủ lực B; theo lệnh B; do B chỉ đạo. BỘ BINH* (cổ), cơ quan QS cao nhất của nhà nước phong kiến VN và một số nước khác. Có nhiệm vụ tuyển chọn, bổ nhiệm các chức quan võ trong ngạch, chăm lo về hậu cần, bảo đảm vũ khí, thực hiện các hoạt động QS trong nước. Thòi Lí và đầu thời Trần đặt chức thượng thư, nhưng chưa định rõ tên bộ. Từ đời Trần Minh Tông (1314-29) mới đặt BB. Sang thời Lê Sơ, Lê Nghi Dân (1459-60) đặt đủ 6 bộ và Lê Thánh Tông (1460-97) đạt chức binh bộ thượng thư. 1675 quy định rõ chức năng của BB là giữ các việc binh nhung, cấm vệ, xe ngựa, nghi trượng, khí giới và các việc về biên cương trấn thủ, trạm dịch, nơi hiểm yếu, việc khẩn cấp. Thời Nguyễn. BB do một thượng thư phụ trách, có tả, hữu tham tri và tả. hữu thị lang giúp việc. Trong cơ quan BB có 5 bộ phận: Ti võ tuyển, Ti kinh kì, Ti trực tỉnh, Ti khảo công và Binh trực xứ. Nhân viên của BB có lúc lên 70 người, gồm: lang trung, viên ngoại lang; chú sự, tư vụ và nhiều thư lại khác... BỘ BINH**, binh chủng của lục quân, trực tiếp tiêu diệt sinh lực của đối phương, đánh chiếm hoặc giữ đất đai. Có thể tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các binh chủng, quân chủng và lực lượng khác (x. trận chiến đấu binh chủng hợp thành). BB ra đời sớm nhất, có quân số đông. Trong QĐ nhiều nước, BB được xây dựng theo hướng tăng sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động, được trang bị các loại vũ khí, phương tiện KTQS hiện đại, trở thành bộ binh cơ giới. Trong QĐND VN, BB là binh chủng chủ yếu của lục quân, được tổ chức thành đơn vị cấp phân đội, binh đội và binh đoàn; một số đơn vị được cơ giới hóa thành BB cơ giới. BỘ BINH CƠ GIỚI, bộ binh** được trang bị xe chiến đấu bộ binh, vũ khí và phương tiện KTQS hiện đại, có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, sức đột kích lớn hơn bộ binh. Thường tổ chức thành phân đội, binh đội, binh đoàn. Binh đoàn (binh đội) BBCG thường gồm các binh đội (phân đội) BBCG, xe tăng, pháo binh, phòng không... và bộ đội chuyên môn. BBCG có thể tác chiến" độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng, binh chủng khác; tác chiến trên xe hoặc trong đội hình đi bộ; có khả năng diệt mục tiêu trên mặt đất, trên không. Trong QĐND VN, có từ KCCM, được tổ chức tới cấp trung đoàn (1971), su đoàn (1979). Cg bộ binh** (trong QĐ một số nước). BỘ CHỈ HUY BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH (THÀNH PHỐ), cơ quan chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) trong hệ thống tổ chức ba cấp của Bộ đôi biên phòng theo nghị quyết 11 của BCT và pháp lệnh Bộ đội biên phòng quy định; trực thuộc BTL bộ đội biên phòng. BCHBĐBPT(TP) chịu trách nhiệm trước tư lệnh bộ đội biên phòng về quản lí xây dựng các đơn vị bộ đội biên phòng thuộc quyền vững mạnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lí bảo vệ chủ quyền an ninh, trật tự biên giới quốc gia do nhà nước quy định. Đồng thời chịu sự lãnh đạo và làm tham mưu cho tinh ủy, UBND tỉnh để phát huy sức mạnh của toàn dân, phối hợp với các cơ quan, các ngành, các lực lượng thực hiện công tác biên phòng ở địa phương theo nhiệm vụ, quyền hạn, thực hiện nhiệm vụ phòng thủ tác chiến theo sự chỉ đạo của BTL quân khu, tỉnh đội. BỘ CHỈ HUY PHÁO BINH, cơ quan chỉ huy pháo binh trực thuộc Bộ tổng tư lệnh QĐND VN trong những năm 1954-56. Được tổ chức theo nghị định số 33 NĐA ngày 7.9.1954 do đại tướng Võ Nguyên Giáp - bộ trưởng BQP kiêm tổng tư lệnh QĐND VN kí. BCHPB gồm: tư lệnh, chính ủy, tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị và một số trợ lí tham mưu, chính trị; có chức năng: chỉ huy các đơn vị pháo binh mặt đất và cao xạ trực thuộc Bộ, chỉ đạo xây dựng các đơn vị pháo binh của các đại đoàn; nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và lãnh đạo giáo dục chính trị các đơn vị pháo binh; dự trù, phân phối và bảo quản vũ khí, trang bị kĩ thuật, làm tham mưu cho Bộ tổng tư lệnh về tổ chức, biên chế, trang bị và sử dụng các đơn vị pháo binh, bổ nhiệm, đào tạo cán bộ pháo binh. Tư lệnh; Lê Thiết Hùng, chủ nhiệm chính trị: Phạm Ngọc Mậu. Đến 28.5.1956, BCHPB đổi thành BTL pháo binh. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:03:59 pm BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH (THÀNH PHỐ), cơ quan quân sự địa phương cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), có chức năng tham mưu cho tỉnh ủy (thành ủy) và UBND tinh (thành phố) lãnh đạo và quản lí nhà nước về quốc phòng ở địa phương, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy LLVTND địa phương về các mặt xây dựng, hoạt động và tác chiến, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy (thành ủy), UBND tỉnh (thành phố) và chỉ huy của BTL quân khu. Tổ chức gồm Chỉ huy trướng (tinh đội trường), các phó chỉ huy trường (phó tình đội trưởng), các cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật, tài chinh) và bộ phận phục vụ. BCHQST qua các thời kì với các tên gọi: tỉnh đội dân quân (3.1947), tỉnh đội (4.1949), BCHQST (10.1971), tỉnh đội từ 2004. BỘ ĐỘI, 1) gọi chung một tổ chức QĐ như: quân chủng (BĐ phòng không - không quân, BĐ hải quân), binh chủng (BĐ pháo binh, BĐ tăng thiết giáp. BĐ công binh...), các ngành chuyên môn (BĐ xăng dầu, BĐ quân khí...) và quân khu; một hình thức tổ chức như: BĐ chủ lực, BĐ địa phương; 2) từ thông dụng để chỉ QĐ và quân nhân nói chung; 3) (cũ) gọi cấp binh đội (như trung đoàn). BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, lực lượng vũ trang nhân dân của nước VN, bộ phận của QĐND VN có chức năng nòng cốt, chuyên trách quản lí, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia (trên đất liền, hải đảo, vùng biển. cửa khẩu). Thành lập 3.3.1959 theo nghị định 100/TTg của thú tướng chính phủ VN DCCH, thuộc Bộ nội vụ (nay là Bộ công an), với tên gọi Công an nhân dân vũ trang. 19.12.1979 trực thuộc BQP theo nghị quyết 22/NQ-TƯ, chính thức mang tên BĐBP; gồm: cơ quan chỉ huy các cấp, đơn vị biên phòng cơ động (đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, hải đội, hải đoàn độc lập...), đồn biên phòng và hệ thống nhà trường. 8.8.1988 trục thuộc Bộ nội vụ theo nghị quyết 07/NQ-TƯ và quyết định 104/HĐBT của HĐBT nước CHXHCN VN. Từ 124995 trực thuộc BQP theo nghị quyết 11/NQ-TƯ. Đơn vị Ah LLVTND (1979). Tư lệnh kiêm chính ủy đầu tiên: Phan Trọng Tuệ. BỘ ĐỘI BINH CHỦNG HỢP THÀNH, gọi chung các binh đội, binh đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới, hải quân đánh bộ, thiết giáp và liên binh đoàn lục quân. Trong biên chế thường có đơn vị binh chủng (bộ binh, bộ binh cơ giới, pháo binh, phòng không, thiết giáp...), bộ đội chuyên môn (thông tin, công binh, hóa học...) và ngành nghiệp vụ để tác chiến hiệp đồng quân binh chùng. Được gọi tên theo cấp tổ chức và binh chủng chủ yếu. Vd: sư đoàn bộ binh, trung đoàn bộ binh cơ giới, lữ đoàn hải quân đánh bộ... BỘ ĐÔI BÌNH XUYÊN, LLVT hợp nhất các nhóm vũ trang của giới giang hồ và các lực lượng khác của h. Nhà Bè (Sài Gòn), do Xứ ủy và Lâm ủy hành chính Nam Bộ tổ chức và chỉ đạo sau CM tháng Tám (1945). Lúc đầu lấy tên LLVT thống nhất Nhà Bè, sau đổi thành BĐBX gồm 9 nhóm vũ trang, quân số khoảng 2.000, tổ chức thành 24 trung đội chiến đấu, có 1.300 súng các loại, từ hạt nhân chi đội 2 và 3 thuộc Vệ quốc đoàn Khu 7. Chỉ huy trưởng: Dương Văn Dương, ủy vièn chính trị: Đinh Văn Nhị, tham mưu trưởng: Từ Vãn Ri. Hoạt động chiến đấu chủ yếu ở rnặt trận đông nam Sài Gòn, Chiến khu Rừng Sác và Nam Trung Bộ. Sau khi Dương Văn Dương hi sinh (16.2.1946), BĐBX có sự phân hóa: một bộ phận đầu hàng địch; lực lượng còn lại sáp nhập vào các trung đoàn, các cơ quan QS địa phương ở chiến trường miền Đông Nam Bộ (cuối 1948). BỘ ĐỘI CHỦ LỰC, thành phần của ba thứ quân, lực lượng nòng cốt của QĐND VN, trực thuộc BQP hoặc quân khu, gồm các quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn, cơ động trên các chiến trường, tác chiến tập trung, thường phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. BĐCL được quy định rõ về tổ chức theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Tiền thân của BĐCL (và của QĐND VN) là Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, thành lập 22.12.1944. BỘ ĐỘI CHUYÊN MÔN, lực lượng chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm hoạt động tác chiến và hoạt động thường ngày của các đơn vị trong QĐ (như: bảo đảm công binh, thông tin liên lạc, phòng hóa, xăng dầu, vận tải...). Một số BĐCM có thể trực tiếp chiến đấu (đánh phá giao thông, phá vật cản, tiêu diệt sinh lực...) bằng vũ khí trong biên chế. Trong QĐND VN, BĐCM được tổ chức trong bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và được biên chế trong các quân khu, quản đoàn, binh chủng, quân chủng...; có lực lượng trực thuộc BQP (công binh, thông tin, hóa học), có lực lượng thuộc ngành (xăng dầu, vận tải, quân khí...). BĐCM thuộc cấp nào, dưới sự lãnh đạo chỉ huy của cấp đó và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ của binh chủng, ngành chuyên môn. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:05:20 pm BỔ ĐỘI CỤ HỒ, tên gọi mà nhân dân VN dành cho cán bộ, chiến sĩ QĐND VN từ KCCP đến nay. Tên gọi BĐCH biểu hiện tập trung những truyền thống tốt đẹp của QĐND VN, nói lèn niềm tin yêu sâu sắc của nhân dân với QĐ, một QĐ CM “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện. BĐCH trở thành biểu tượng cao đẹp trong lòng nhân dân VN về một mẫu người, một nhân cách người chiến sĩ của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG, thành phần của ba thứ quân, được tổ chức ở cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), quận, huyện, thị xã; lực lượng nòng cốt trong chiến tranh nhân dân địa phương, lực lượng cơ động chủ yếu trên địa bàn địa phương trong tác chiến; phối hợp cùng dân quân tự vệ, công an nhân dân trong tác chiến và bảo đảm an ninh chính trị địa phương trong thời bình. BĐĐP do cơ quan QS địa phương trực tiếp chỉ huy, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo. BĐĐP thành lập 7.4.1949 theo sắc lệnh 103-SL của chủ tịch nước VN DCCH, có nhiệm vụ ban đầu: thay thế các đại đội độc lập chiến đấu bảo vệ địa phương, diệt tề, trừ gian, vũ trang tuyên truyền phát triển chiến tranh du kích... Tổ chức BĐĐP ở các cấp thường là; cấp tỉnh (tỉnh đội, các phân đội bảo đảm, phục vụ, các đơn vị trực thuộc); cấp huyện (huyện đội, bộ phận bảo đảm, phục vụ, các đơn vị trực thuộc). BỘ ĐỘI ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG, binh chủng của lục quân trong QĐ nhiều nước, thường đổ bộ bằng dù hoặc đổ bộ hạ cánh (x. đổ bộ đường không) để tác chiến trong hậu phương của đối phương và làm những nhiệm vụ khác. Được tổ chức thành đơn vị cấp lữ đoàn, sư đoàn hoặc quân đoàn. BĐĐBĐK có khả năng cơ động nhanh, xa, độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến đạt hiệu quả cao. Trong QĐ Mĩ và một số nước có không quân phát triển, BĐĐBĐK được trang bị máy bay trực thăng các loại, trở thành lực lượng tác chiến cơ động dường không. Cg lực lượng tác chiến không - bộ. BÔ ĐỘI HÓA HỌC, lực lượng chuyên môn của QĐ (LLVT) nhiều nước, được trang bị các phương tiện kĩ thuật chuyên ngành; có chức năng bảo đảm hóa học cho các hoạt động tác chiến, làm nòng cốt trong phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, có thể trực tiếp chiến đấu bằng các vũ khí đặc chủng (súng phun lửa, chất độc, khói...). Ở một số nước, BĐHH được tổ chức thành binh chủng (xt Binh chủng hóa học). BỘ ĐỘI NAM TIẾN, gọi chung các đơn vị Việt Nam giải phóng quân (Vệ quốc đoàn) tình nguyện vào miền Nam chiến đấu chống thực dân Pháp trở lại xâm lược trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến (23.9.1945). Hưởng ứng lời kêu gọi cả nước dốc sức chi viện cho miên Nam của chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời nước VN DCCH, từ thủ đô Hà Nội, căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, các tỉnh duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, nhiều đại đội, chi đội VN giải phóng quân được gấp rút thành lập và lên đường vào Nam. 26.9.1945 chi đội đầu tiên xuất phát bằng tàu hóa từ Thanh Hóa, do chi đội trưởng Mông Phúc Thơ và chính trị viên Nam Long chỉ huy, đầu 10.1945 vào đến Sài Gòn, đảm nhiệm mặt trận đông bắc thành phố. Đến 3.1946 có 12 chi đội và 6 đại đội BĐNT chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các đơn vị BĐNT giữ vai trò nòng cốt trong chiến đấu, xây dựng, phát triển bộ đội chủ lực tập trung ở Đông Nam Bộ, nhất là ở Nam Trung Bộ. Các trận đánh tiêu biểu: Thị Nghè (Sài Gòn, 18.10.1945), Nha Trang. Buôn Ma Thuật, Di Linh, Đà Lạt, Ma Đrắc (19.10.1945-2.1946). Thắng lợi của BĐNT đã góp phần làm phá sản chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, tạo điều kiện cho cả nước bước vào cuộc KCCP. BỘ ĐỘI PHÒNG KHÔNG, bộ phận của QĐ (LLVT) được trang bị vũ khí phòng không để bảo vệ vùng trời quốc gia, đánh trả các phương tiện tiến công đường không của đối phương, bảo vệ các mục tiêu được giao hoặc tiêu diệt các mục tiêu trên mặt đất, mặt nước, chi viện cho các lực lượng tác chiến trên bộ, trên biển; có thể chiến đấu độc lập hoặc phối hợp với không quân và các lực lượng phòng không khác. Ở một số nước, BĐPK được tổ chức thành quân chủng hoặc một thành phần của quân chủng phòng không - không quân (xt Quân chủng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam). BÔ ĐỘI TĂNG THIẾT GIÁP, binh chủng chiến đấu của QĐ (LLVT) nhiều nước; được trang bị xe tăng, xe thiết giáp, pháo tự hành (có hỏa lực manh, khả năng cơ động cao, sức đột kích mạnh, khả năng tự bảo vệ tốt); lực lượng đột kích quan trọng của lục quân và hải quân đánh bộ. Thường sử dụng để đột phá phòng ngự hoặc thọc sâu, vu hồi đánh chiếm những mục tiêu quan trọng trong chiều sâu đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của đối phương, phát triển tiến công, chiếm giữ tuyến (mục tiêu) quan trọng và làm những nhiệm vụ khác. Có khả năng độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với bộ binh và các lực lượng khác (xt Binh chủng tăng thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:06:43 pm BỘ ĐỘI TÂY TIẾN, gọi chung các đơn vị Vệ quốc đoàn (QĐND VN) tham gia nhiệm vụ “tiến quân lên Tây Bắc” sau 2.9.1945 và “mở mặt trận miển Tây” trong thời kì đầu KCCP. Gồm các đại đội, tiểu đoàn chiến đấu của Hà Nội, Phú Thọ, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Yên, Sơn Tây. Thanh Hóa, Nghệ An và một số đội vũ trang tuyên truyền, đội xung phong công tác của chiến khu 2,10... Đại đội Anh Đệ - Tuấn Sơn của Hà Nội là đơn vị BĐTT đầu tiên. BĐTT dã cùng với nhân dân các dân tộc Tây Bắc vừa xây dựng, củng cố chính quyền CM vừa chặn đánh quân Pháp từ TQ sang Điện Biên Phú, Tuần Giáo, Quỳnh Nhãi, Mường Sài; tiến quân sang Sầm Nưa cùng lực lượng CM Lào lập căn cứ, xây dựng chính quyền và LLVT CM; tiêu diệt căn cứ hậu cần quân Pháp ở Mường Láp (Thượng Lào); phá thế bao vây uy hiếp của quân Pháp đối với miền Tây Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ VN. Trong điều kiện hoạt động gian khổ, khó khăn, BĐTT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, công tác và nhiệm vụ quốc tế, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc KCCP của nhân dân VN và nhân dân Lào. BỘ ĐỘI THÔNG TIN LIÊN LẠC. lực lượng chuyên môn của QĐ (LLVT) nhiều nước, được trang bị các phương tiện kĩ thuật chuyên ngành để bảo đảm thông tin liên lạc quân sự. ở một số nước, BĐTTLL được tổ chức thành binh chủng (xt Binh chủng thông tin - liên lạc Quân đội nhân dân Việt Nam). BỘ ĐỘI TRINH SÁT, gọi chung các phân đội, binh đội trinh sát độc lập hoặc trong thành phần của binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn thuộc quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn, được trang bị phương tiện, khí tài tương ứng để thu thập tin tức cần thiết về đối phương, địa hình, thời tiết... BĐTS hoạt động dưới sự chỉ huy trực tiếp của người chỉ huy và cơ quan tham mưu. BỘ ĐỘI VẬN TẢI, bộ đội chuyên môn của ngành hậu cần QĐ, làm nhiệm vụ vận chuyển vật chất, kĩ thuật và người bàng các phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường không phục vụ yêu cẩu chiến đấu và sinh hoạt của bộ đội. Bao gồm các phân đội, binh đội, binh doàn vận tải được biên chế ở các đơn vị (tiểu đoàn bộ binh, các trung đoàn và tương đương trở lên) và hệ thống cơ quan các cấp (ban, phòng, cục) giúp người chỉ huy quản lí, điều hành công tác vận tải QS. BỘ ĐỘI VIỆT - MĨ, đơn vị của Việt Nam giải phóng quân. thành lập 7.1945 tại Việt Bắc theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Gồm khoảng 200 cán bộ chiến sĩ VN được chọn trong các đơn vị giải phóng quân và một số quân nhân Mĩ, được tổ chức theo thỏa thuận giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với tướng Sennôn - tổng tư lệnh không quân Mĩ ở TQ với mục đích cứu giúp phi công Đồng minh bị rơi ở Đông Dương. Do Đàm Quang Trung chỉ huy. Thiếu tá Tômat tự coi mình là tham mưu trưởng. Tham gia giải phóng Thái Nguyên (16- 20.8.1945). Ngày 20.8.1945, được bổ sung quân số, vũ khí, tổ chức thành Chi đội 4. Đến 9.9.1945 BĐV-M mặc nhiên không tổn tại do các quân nhân Mĩ chấm dứt nhiệm vụ. BỘ ĐỘI XĂNG DẨU, bộ đội chuyên môn của ngành hậu cần QĐ, làm nhiệm vụ bảo đảm xăng dầu, phương tiện kĩ thuật và vật tư chuyên dùng cho hoạt động của QĐ. Gồm cơ quan chuyên ngành (ban, phòng, cục) biên chế từ cấp sư đoàn (tương đương) trở lên và đơn vị (binh đội, phân đội, kho, trạm...) trực thuộc. BỘ ĐƯỜNG ỐNG Dà CHIẾN, tổ hợp các phương tiện kĩ thuật, thiết bị dùng dể chuyển nhiên liệu lỏng bằng cách bơm, đưa nhiên liệu đi xa trong hệ thống ống đặt trên địa hình. Gồm: các ống, phụ kiện đường ống, máy bơm đẩy, máy nén khí, thiết bị, dụng cụ lắp ráp, đo lường, kiểm tra và các phương tiện khác kèm theo như xe ô tô các loại, máy thông tin, bể chứa xăng dầu, máy ủi, cần cẩu... BĐÔDC loại PMT- 150 và PMTA-150 (chiều dài mỗi bộ 150km, đường kính của ống là 100 hoặc 150mm) sản xuất tại LX đã được QĐND VN sử dụng có hiệu quả trong KCCM. BỘ LUẬT HÌNH SỰ NƯỚC CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, bộ luật quy định các tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội; được Quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 21.12.1999, chủ tịch nước kí lệnh công bố 4.1.2000, co hiệu lực từ 1.7.2000. BLHSNCHXHCNVN kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự 1985 (sửa đổi, bổ sung 1989, 1991,1992 và 1997) và khoa học hình sự thế giới. Gồm lời nói đầu, phần chung và phần các tội phạm. Phần chung (10 chương, 77 điều) quy định: các điểu khoản cơ bản; hiệu lực của bộ luật; tội phạm (khái niệm và những vấn đề về tội phạm); thời hiệu truy cứu và miễn trách nhiệm hình sự; hình phạt (khái niệm) và các loại hình phạt (khái niệm); các biện pháp tư pháp; về quyết định hình phạt; thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành và giảm thời gian chấp hành hình phạt; xóa án tích; quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Phần các tội phạm (14 chương, 267 điều) quy định các tội về: xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm các quyền của công dân; xâm phạm sở hữu; xám phạm chế độ hôn nhân và gia đình; xàm phạm trật tự quản lí kinh tế; các tội phạm về môi trường; các tội phạm về ma tuý; xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; xâm phạm trật tự quản lí hành chính; các tội phạm về chức vụ; xâm phạm hoạt động tư pháp; xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. BLH- SNCHXHCNVN góp phần quan trọng vào việc bảo vệ những thành quả của CM, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:07:42 pm BỘ PHÁ RÀO x. TÊN LỬA PHÁ RÀO BỘ PHẬN (ĐỘI) MỞ CỬA ĐÁNH CHIẾM ĐẦU CẦU, thành phần của đội hình chiến đấu tiến công địch phòng ngự có chuẩn bị, dùng để mở cửa, đánh chiếm, giữ vững và mở rộng đầu cầu, tạo bàn đạp cho các phân đội đột kích đánh vào bên trong trận địa phòng ngự của địch. Lực lượng BP(Đ)MCĐCĐC gồm một trung đội hoặc một đại đội bộ binh được trang bị thuốc nổ, phương tiện mở cửa, vũ khí bộ binh và có thể được tăng cường hỏa khí, thường tổ chức thành tổ hỏa lực, tổ mở cửa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ mở cửa chiếm đầu cầu, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khác trong phát triển tiến công. BỘ QUỐC PHÒNG CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, bộ thuộc chính phủ nước CHXHCN VN (VN DCCH), do bộ trưởng Bộ quốc phòng đứng đầu, có chức năng quản lí nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, QĐ và dân quân tự vệ, đồng thời là cơ quan trung ương chỉ đạo, chỉ huy QĐ và dân quân tự vệ cùng nhân dân đấu tranh trong thế trận chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN nhằm ngăn chận, làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại và xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Tổ chức hiện nay gồm: Văn phòng BQP, BTTM, TCCT, TCHC, TCKT, TCCNQP, Tổng cục II và một số cơ quan trực thuộc khác. Thành lập 27.8.1945 (ngày chính phủ lâm thời VN DCCH thành lập và ra tuyên cáo). Tên gọi: BQP (8.1945-10.1946); BQP - tổng chỉ huy (11.1946-7.1947, sau khi thống nhất BQP với QS ủy viên hội); BQP (7.1947-10.1948, khi chia BQP - tổng chỉ huy thành BQP và Bộ tổng chỉ huy); BQP- tổng chỉ huy (10.1948- 3.1949, sau khi hợp nhất BQP và Bộ tổng chỉ huy); BQP - tổng tư lệnh (3.1949 -75, sau khi đổi tên Bộ tổng chỉ huy QĐ quốc gia và dân quân VN thành Bộ tổng tư lệnh QĐ quốc gia và dân quân VN); BQP (từ 1976). BỘ THAM MƯU, cơ quan chỉ huy cấp chiến dịch và tương đương trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, BTM là cơ quan tham mưu, dược tổ chức ở các quân khu từ 1957, sau đó tổ chức ở quân đoàn, quân chủng, binh chủng và tương đương. BTM có chức năng giúp đảng ủy và BTL hoặc thủ trưởng cấp mình quản lí, chỉ huy tác chiến, tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đáu; là trung tâm hiệp đồng các cơ quan, các đơn vị có liên quan trong các hoạt động QS đồng thời là cơ quan nghiệp vụ cấp trên của phòng (ban) tham mưu đơn vị trực thuộc. Tổ chức BTM thường có các phòng, ban: tác chiến, trinh sát, quân lực, quân huấn, thông tin, cơ yếu, tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, công binh, hóa học, chính trị và một số ban, đơn vị trực thuộc; ở quân khu, Quân chủng hải quân còn có phòng đặc công, phòng dân quân tự vệ. BÔ TỔNG THAM MƯU, cơ quan chỉ huy LLVT quốc gia, có chức năng bảo đảm trình độ sẵn sàng chiến đấu của LLVT và điều hành các hoạt động QS trong thời bình, thời chiến. Ở một số nước (Mĩ, Anh), tương đương với BTTM là bộ tham mưu liên quân (cơ quan làm việc của hội đồng các tham mưu trưởng). Trong QĐND VN, BTTM được thành lập 7.9.1945 theo chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ: tổ chức nắm tình hình địch, ta; nghiên cứu, đề xuất những chủ trương chung về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật; tổ chức lực lượng, chỉ huy QĐ và dân quân tự vệ trong huấn luyện, tác chiến; điều hành các hoạt động QS phòng thủ đất nước... Tổ chức biên chế BTTM phát triển theo từng giai đoạn CM của đất nước và nhiệm vụ chính trị của LLVT. Tổ chức hiện nay gồm có: Văn phòng BTTM, Cục tác chiến, Cục tác chiến điện tử, Cục quân lực, Cục quân huấn, Cục nhà trường, Cục cơ yếu, Cục bản đồ, Cục dân quân tự vệ, Cục chính trị, Cục quản lí hành chính và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc khác. Tổng tham mưu trưởng qua các thctì kì: Hoàng Văn Thái* (1945- 53), Văn Tiến Dũng (1953-78), Lê Trọng Tấn (1978-86), Lê Đức Anh (1986-87), Đoàn Khuê (1987-91), Đào Đình Luyện (1991-95), Phạm Văn Trà (1996-97), Đào Trọng Lịch (1997- 98), Lê Văn Dũng (1998-2001), Phùng Quang Thanh (từ 5.2001). BỘ TỔNG TƯ LỆNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, cơ quan chỉ huy cao nhất của LLVTND VN trong thời gian 1946-75. Tiền thân là ủy ban kháng chiến toàn quốc thành lập 2.3.1946, đổi thành Quân sự ủy viên hội (6.5.1946) theo sắc lệnh 60-SL của chủ tịch nước VN DCCH. Từ 11.1946 là Bộ tổng chỉ huy QĐ quốc gia VN, sau đổi là Bộ tổng chỉ huy QĐ quốc gia và dân quân tự vệ VN (3.1947), Bộ tổng chỉ huy QĐ quốc gia và dân quân VN (sắc lệnh 165-SL ngày 14.4.1948), Bộ tổng tư lệnh QĐ quốc gia và dân quân VN (sắc lệnh 14-SL ngày 12.3.1949), BTTLQĐND VN (từ 9.1954). Tổng tư lệnh (trước đó là chủ tịch QS ủy viên hội, tổng chỉ huy); Võ Nguyên Giáp. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:09:05 pm BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG, chức vụ đứng đầu BQP, thành viên của chính phủ, có nhiệm vụ, quyển hạn do hiến pháp và pháp luật quy định, ở một số nước, BTBQP có thể là quan chức dân sự. Ở VN, BTBQP chịu trách nhiệm trước thủ tướng chính phủ và Quốc hội về lĩnh vực phụ trách. 1945-48 BTBQP phụ trách công tác hành chính QS (không trực tiếp chỉ huy QĐ). Từ cuối 1948, BTBQP quản lí nhà nước về lĩnh vực quốc phòng, trực tiếp chỉ huy QĐ và dân quân tự vệ về xây dụng, huấn luyện và tác chiến. BTBQP qua các thời kì: Chu Văn Tấn (1945-46), Phan Anh (1946), Võ Nguyên Giáp (1946-47), Tạ Quang Bửu (1947-48), Võ Nguyên Giáp (1948-79), Văn Tiến Dũng (1980-86), Lê Đức Anh (1987-91), Đoàn Khuê (1991-96), Phạm Văn Trà (từ 1997). BỘ TƯ LỆNH, cơ quan chỉ huy cao nhất của một đơn vị (lực lượng) cấp chiến dịch, chiến lược hoặc tương đương trong LLVT nhiều nước, gồm tư lệnh, các phó tư lệnh và các bộ phận giúp việc. Trong QĐND VN, BTL được quy định lần dầu theo sắc lệnh 14-SL ngày 12.3.1949 của chủ tịch nước VN DCCH, có BTL quân chủng, quân đoàn, quân khu và tương đương. Chức năng nhiệm vụ: quản lí, chỉ huy tác chiến, tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, thực hiện các chế độ chính sách... đối với lực lượng thuộc quyền theo đường lối chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, nghị quyết của đảng ủy cấp mình, chỉ thị, mệnh lệnh và nghị quyết của cấp trên. Đối với BTL quân chủng, binh chủng còn có chức năng tham mưu cho BQP về tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân chủng, binh chủng dự bị chiến lược và lực lượng quân chúng, binh chúng toàn quân; lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp các đơn vị quân chủng, binh chủng dự bị chiến lược thuộc quyền. BTL thường có các bộ phận giúp việc: tham mưu, chính tri, hậu cần, kĩ thuật, tài chính... mà tổ chức biên chế cụ thể do BQP quy định. BỘ TƯ LỆNH HÀNH QUÂN, cơ quan chỉ huy tác chiến cao nhất trực tiếp dưới quyền của BTTM QĐ Sài Gòn. BTLHQ có những quyền hạn và trách nhiệm: chỉ huy các quân đoàn, các lực lượng trực thuộc và phối thuộc cho quân đoàn về mặt tác chiến; soạn thảo kế hoạch tác chiến chiến lược theo lệnh BTTM và kế hoạch sử dụng lực lượng; điều hành các cuộc hành binh theo kế hoạch và chỉ huy lực lượng tổng dự bị nếu được BTTM giao quyền; nghiên cứu và phát triển khả năng tác chiến của QĐ về mặt chiến thuật và kĩ thuật. Thành lập lần đầu 20.5.1961. Được thay thế bằng Trung tâm hành quân thuộc BTTM (từ 1965). BỘ TƯ LỆNH THÁI BÌNH DƯƠNG, liên binh đoàn chiến lược của QĐ Mĩ phụ trách chiến trường tác chiến Thái Bình Dương; một trong những BTL hợp nhất trực thuộc BQP thông qua Hội đồng tham mưu trưởng liên quân. SCH: Honolulu (Haoai). Tổ chức tiền thân: BTL Viễn Đông của Mac Actơ (đặt ở Tôkiô) trong chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Dưới quyền chỉ huy của tư lệnh BTLTBD có các lực lượng: Tập đoàn quân Thái Bình Dương, Hạm đội Thái Bình Dương (x. Hạm đội 7) và lực lượng không quân Thái Bình Dương. Có nhiệm vụ tiến hành các cuộc hành binh liên quân chúng trong các cuộc chiến tranh ở châu Á - Thái Bình Dương và các hoạt động QS khác. Trong chiến tranh xâm lược VN, BTLTBD đóng một vai trò trung gian không rõ ràng giữa Lầu Năm Góc và MACV trên nhiều vấn đề về tổ chức, chí huy, sử dụng lực lượng QĐ Mĩ trong tác chiến, đặc biệt trong các bước ngoặt quan trọng của chiến tranh. Các tư lệnh BTLTBD trong chiến tranh VN: đô đốc Hari Đ. Phentơ (đến 6.1964), đô đốc Iulixit s. Sap (đến 7.1968); đô đốc Giôn s. Măcken (đến 9.1972); đô đốc Noen Gailơ (đến cuối chiến tranh VN). BỘC PHÁ, 1) lượng nổ dùng để phá vật cản (hàng rào thép gai, tường chắn...), công trình QS (lô cốt, hầm ngầm...), công trình dân sự (cầu, cống, đường bộ, đường sắt...) và vào các mục đích khác; 2) dùng lượng nổ để chiến đấu hoặc thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công trình. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65174753_442655316464354_3575002933193867264_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeEDibD7PQLDk4Y-HuOIer53yrgQ411pnpUIWYtavM0KR1iIOUa9veWrzzZ1hRO1z0qDQhf4n1mVQcdzSypKn6-Vkh85WrLk4uiyWewW-k0Yjg&_nc_oc=AQlti2jszb97KfnRFSmCBtj1PqQtwNj_gMeYu7AimMxT-i_Uhahu2QA5MdxyZqiSh_o&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=fc4ea39828f70e80107f2c5a93580914&oe=5D861288) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:10:43 pm BỒI THƯỜNG CHIẾN TRANH, việc nước bại trận trong chiến tranh phải trả cho nước thắng trận một khoản tiền hoặc hiện vật. BTCT dựa trên “quyền kẻ thắng”, không kể chính nghĩa hay phi nghĩa. Hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) quy định triều đình Huế phải bồi thường cho Pháp 4 triệu USD (tương đương 2.880.000 lạng bạc), nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đỏng Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và đảo Côn Lôn... Công ước quốc tế La Hay (1907) đã đưa ra một số điều khoản hạn chế việc BTCT. Sau CTTG-I (1914- 18), theo hòa ước Vecxây (28.6.1919), BTCT được thay thế bằng chế định đền bù thiệt hại chiến tranh. BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC, tổng thể các nhân tố và điều kiện chi phối việc hình thành và phát triển chiến lược của các bên tham chiến. Các nhân tố chủ yếu là: tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, thành phần và trạng thái LLVT của các bên tham chiến. BCCL do cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi bên dánh giá, làm cơ sở để hoạch định chiến lược cho toàn bộ cuộc chiến tranh, hoặc từng giai đoạn chiến tranh. BÔLA (P. Emile Bollaert; 1890-?), cao ủy Pháp ở Đông Dương (3.1947-9.1948). Sinh tại Dunkêque. 1934-40 tỉnh trưởng vùng Rônơ, sau đó bị chính phủ Pêtanh cách chức. CTTG-II tham gia kháng chiến chống phát xít Đức. 1946 được bầu làm ủy viên Cộng hòa Pháp. 3.1947 được cử làm cao ủy Pháp tại Đông Dương, muốn tìm kiếm giải pháp chính trị cho quan hệ Pháp - VN, lúc đầu định đàm phán với chính phủ VN DCCH. Sau do sức ép của phái hữu trong chính phủ Pháp và của các phần tử thực dân muốn duy trì quyền lợi ở Đông Dương, đã quay sang đàm phán với Bảo Đại, nhằm thực hiện sự cai trị của Pháp ở VN thông qua chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên. 5.6.1948 trên tàu chiến Pháp Đugoay Truin (Duguay Trouin), đã cùng Bảo Đại kí hiệp định Hạ Long xác định VN nằm trong Khối liên hiệp Pháp. BOLIVIA (Cộng hòa Bolivia; República de Bolivia, A. Republic of Bolivia), quốc gia ở Nam Mĩ. Dt 1.098.58 lkm2; ds 8,59 triệu người (2003); 60% người da đỏ, còn lại người lai và người da trắng. Ngôn ngữ chính thức; tiếng Tây Ban Nha: ngôn ngữ thông dụng: tiếng Kèchoa, tiếng Aymara. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: La Pat. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Phía tây là dãy Anđet, đỉnh cao nhất: Nêvađô Xahama 6.542m; phía đông là đồng bằng. Khí hậu nhiệt đới và cận xích đạo. Ở vùng núi cao dao động nhiệt độ trong ngày 40-50°C; lượng mưa 1.300-1,600mm/năm. Sông sâu, đầy nước. Rừng chiếm 40% diện tích. Kinh tế phụ thuộc nhiều vào tư bản Mĩ, Nhật, Anh. Công nghiệp khai khoáng chiếm 93% giá trị xuất khẩu. GDP 7,969 ti USD (2002), bình quân đầu người 940 USD. Thành viên LHQ (14.11.1945), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với VN 12.2.1987. LLVT: lực lượng thường trực 31.500 người (lục quân 25.000, không quân 3.000, hải quân 3.500). Tuyển quân theo chế độ động viên, thời hạn phục vụ 12 tháng. Trang bị: 36 xe tăng hạng nhẹ, 16 xe thiết giáp trinh sát, 72 xe thiết giáp chở quân, 128 pháo mặt đất, 50 súng cối, 37 máy bay chiến đấu, 16 máy bay trực thăng, 80 tàu tuần tiễu đường sông, 18 tàu hộ tống... Ngân sách quốc phòng 118 triệu USD (2003). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65162998_442655333131019_5171939101753999360_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeE-r0L4AM9pIcL0njQ8SZl4l0IKQ_nVyEVUG181HCaK6LpXrIbY4I6m7kgEVM6z3yrAQo3rB-gsz6nOK1KFVYrQib1ZgbFGNXTEqF4glYGjrg&_nc_oc=AQkDRCQ70hvoxHoU70NVk-38Jfa1GMWNAO77QaorPgEgpKwta4QqzJZ_CaE6xc4p86Q&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a8e8564ffbdd59cf08ffad2229ace404&oe=5DC59DF5) BÔN TẬP X. TẬP KÍCH Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:12:22 pm BÔNG VÃN DĨA (1905-83), Ah LLVTND.(1967). Quê xã Tân An, h. Ngọc Hiển, t. Cà Mau; tham gia CM 1934, nhập ngũ 1945, đại tá (1981); đv ĐCS VN (1940); khi tuyên dương Ah là đoàn phó Đoàn vận tải biển 962 thuộc Quân khu 9. Trong khởi nghĩa Nam Kì (1940), tham gia đánh chiếm Hòn Khoai. Sau khởi nghĩa bị địch bắt, đày ra Côn Đảo 5 năm, địch tra tấn cực hình vẫn kiên trung, bất khuất; tham gia chuẩn bị nhiều cuộc vượt biển về đất liền của các chiến sĩ CM. Trong KCCP, mua và tổ chức vận chuyển 16t vũ khí từ nước ngoài về cung cấp cho các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trong KCCM, 4.1962 chỉ huy tàu trinh sát mở tuyến vận tải trên biển từ miền Bắc vào miền Nam. 10.1962 cùng Lê Văn Một chỉ huy chuyến tàu đầu tiên chở 30t vũ khí từ miền Bắc cập bến Vàm Lũng (Nam Bộ), mở đường vận tải chiến lược trên biển chi viện cho chiến trường miền Nam. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65744569_442655323131020_844187714793242624_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeFk4-FPHAV0ljyowrPXZp7PAdDsge6OQkPWKFL3ZoCHOm38rOXkRgYjwrc7YQMl7VsVZn2XZbQBOl5HsXE5oa7toGfmFrTgTEi3YQwNF0-pKQ&_nc_oc=AQn6pcM7FdMPq1j_f9J7CaOYRqlR_xgPaOZ6oyjCD8Oqvb1ISVMYI8CF8OawuUJBXWI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=05b21480f8e41dab0cb8c719c55b6dee&oe=5D80DFC2) BÔRÔĐINÔ (N. EopognHO), làng thuộc h. Môgiaixki, t. Maxcơva, tây tp Maxợơva 124km. Tại đây 7.9.1812 đã diễn ra trận quyết chiến giữa quân Nga (Cutudôp chỉ huy) và quân Pháp (Napôlêông chỉ huy) (x. trận Bôrôđinô, 1812). Tháng 10.1941 diễn ra các trận chiến đấu ác liệt chống quân phát xít Đức, bảo vệ Maxcơva. Phía nam B có khu bảo tàng lịch sử QS. BỘT HẢI, vịnh ở tây bắc Hoàng Hải. Dài 280km, sâu 40m. thông với Hoàng Hải qua các eo biển Bột Hải và Lão Thiết Sơn. Gần bờ vịnh băng phủ từ tháng 11 đến tháng 3, biên độ bán nhật triều 3,4m. Các cảng chính: Đường Cô, Tần Hoàng Đảo. Thềm lục địa có mỏ dầu. BÔTXOANA (Cộng hòa Bôtxoana; A. Republic of Botswana), quốc gia ở nam châu Phi. Dt 581.730km2; ds 1,57 triệu người (2003); 99% người Phi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Txoana. Tôn giáo: 70% theo tín ngưỡng địa phương, 30% đạo Cơ Đốc. Thủ đô: Gabôrơn. Chính thể cộng hòa trong Khối liên hiệp Anh, theo dường lối không liên kết, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: hội đồng quốc gia (quốc hội). Địa hình tương đối bằng phẳng, trung tâm là lòng chảo Calahari và vùng đầm lầy Ôcayangô. Xung quanh là cao nguyên. Khí hậu cận nhiệt đới lục địa; phía bắc khí hậu nhiệt đới; lượng mưa 250-600 mm/năm. Các sông lớn: Limpôpô, Ôcayangô; nhiều hồ nước mặn. Khoáng sản: kim cương, vàng, măng gan... Kinh tế kém phát triển, phụ thuộc vào Nam Phi, Anh. Công nghiệp khai khoáng phát triển. GDP 5,196 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 3.070 USD. Thành viên LHQ (17.10.1966), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. LLVT: lực lượng thường trực 9.000 người (lục quân 8.500, không quân 500), lực lượng bán vũ trang 1.500. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 86 xe tăng hạng nhẹ, 12 xe thiết giáp trinh sát, 44 xe thiết giáp chở quân, 18 pháo mặt đất, 18 súng cối, 6 tên lửa chống tăng, 28 tên lửa phòng không, 7 pháo phòng không, 30 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 277 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65262273_442655343131018_8480974900947845120_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeG8s2r85Y8pfwm1jSmcP96rHvPDjNss26F7mbwwuVf5SlgCS6a8nsQ7cY8XMplU6DY9jascZUplbABLE61mR2OUnsTA6QTVfCjOeZFrkEM8Jw&_nc_oc=AQlpkHYvNjnuQSuKbkpHAbbWXa10tVx4Khilw8pESbfxgoxJA4ddsr8kt5QYorFIsQs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=917389e6af38b7b6ef4a648524085bd8&oe=5DC5C1ED) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:13:48 pm BÔXNIA VÀ HECXÊGÔVINA (Cộng hòa Bôxnia và Hecxêgôvina; Bosna i Hercegovina, A. Republic of Bosnia and Herzegovina), quốc gia trên bán đảo Bancăng. Dt 51.129km2; ds 3,99 triệu người (2003); 44% người Bôxnia, còn lại Croatia và Xecbi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Xecbi, Crôatia. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni, chính giáo Đông Xlayơ, đạo Cơ Đốc. Thủ đô: Xaraêvô. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là chủ tịch hội đồng tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: hội đồng bộ trường do hội đồng tổng thống bổ nhiệm. Phần lớn lãnh thổ là đồi núi thuộc dãy Anpơ Đinarich. Ở phía bắc, dọc sông Xaya là đồng bằng hẹp. Chiều dài bờ biển khoảng 20km. Rừng nhiệt đới bao phủ vùng trung tâm và phía đông. Nước nông - công nghiệp. Công nghiệp: khai khoáng, chế biến gỗ, luyện kim... GDP 4,769 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 1.170 USD Thành viên LHQ (22.5.1992). Theo hiệp định hòa bình Đaitơn, LLVT gồm 13.200 người (Bôxnia 9.200. Hecxêgôvina 4.000), lực lượng dự bị 150.000. Trang bị: 203 xe tăng. 35 xe chiến đấu bộ binh, 118 xe thiết giáp chở quân, 880 pháo mặt đất, 353 tên lửa chống tăng, 25 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 130 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65317937_442655353131017_7564048092475949056_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeFK1uvYQ-vTKsoZF3_JXXQwDgHzwv4BhaWvyBXGRVggxVB2VWIPN1wVWHi6opjnwj74kMNdo4yr285yX8qD3sq_FSpdzB5oJghgI5S3h4Rx5Q&_nc_oc=AQm4SGF4LnHRBtz2I0cX4BiSD8aDN-gN24QODIBK6dB0lN6i1YHgfjzL-8iMWvjGOJA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b9f10b9e0e98ed62d34fcd0881ddc34e&oe=5DB56B97) BÔXPHO, eo biển ở tây bắc Thổ Nhĩ Kì, nối Biển Đen với biển Maơnara. Dài 30km, rộng 0,7-3,8km, sâu 20-102m. Bờ biển dốc, cao 20-25m. Khu vực cảng Ixtambun có cầu dài 1.560m, cao trên mặt nước 64m, bắc qua eo biển B. Mỗi năm hơn 20.000 tàu đi qua eo biển B. BÔXTƠN (A. Boston), thành phố cảng, hung tâm công nghiệp ở tây bắc nước Mĩ, trên bờ Đại Tây Dương. Ds 590 nghìn người (2000, cả khu vực phụ cận 5,8 triệu). Công nghiệp: chế tạo máy, hóa chất, cao su, in... Đường tàu điện ngầm, Trường đại học tổng hợp Hayơt. Cảng sâu 12m. Chiều dài toàn bộ các cầu cảng gân 40km, có xưởng sửa chữa tàu lớn. Được sử dụng làm nơi trú đậu cho các tàu chiến của hải quân Mĩ. BƠM TRINH ĐỘC NỬA TỰ ĐỘNG, khí tài trinh sát hóa học dùng để phát hiện, xác định một số loại chất độc (thần kinh, loét da, toàn thân, ngạt thờ) nhiễm trong không khí, bám dính trên địa hình, bề mặt vật thể... Gồm 3 bộ phận chính: đầu góp dùng để cắm ống trinh độc sấy nóng; bơm hút không khí lưu tốc 1,8-2,2 1/ph dùng điện áp một chiều 12V; cán bơm điểu khiển. Nhờ có bộ phận sấy nhiệt ở đầu góp nên BTĐNTĐ có thể làm việc trong khoảng nhiệt độ -40 đến +40°c. Nguyên lí trinh (kiểm) độc dựa trên sự đổi màu của chất chỉ thị trong các ống trinh độc. Hiện có các loại BTĐNTĐ: PPKhR (Nga); XM-21, M43AL AKATA (Mĩ); M93-DC-9V (VN)... Thường được trang bị cho các phương tiện trinh sát hóa học cơ động như xe UAZ-469, xe bọc thép... Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:15:33 pm BRAXIN (Cộng hòa liên bang Braxin; República Federativa do Brasil, A. Federative Republic of Brasil), quốc gia ở đông bắc Nam Mĩ. Dt 8.547.403km2; ds 182 triệu người (2003); 90% người lai và người châu Âu. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bổ Đào Nha. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (90%). Thủ dô Braxilia. Chính thể cộng hòa liên bang, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội gồm hai viện (thượng nghị viện và hạ nghị viện). Phía bắc là lưu vực sông Amadôn, đất thấp, rừng rậm; ở trung tâm, phía nam và đông nam chủ yếu là cao nguyên và núi; mật độ dân số cao. Khí hậu: xích đạo ẩm (ở tây bắc) và á nhiệt đới ẩm (ở đông nam). Nhiệt độ trung bình tháng 1: 23°- 29°, tháng 7:16°-24°. Lượng mưa trung bình hàng năm ở lưu vực sông Amadôn 3.000mm, giảm xuống còn 500mm ở cao nguyên đông bắc. Sông chính: Amadôn (6.448km), Parana (4.380km). Kinh tế phát triển nhất Mĩ Latinh. Công nghiệp: khai khoáng, năng lượng, chế tạo máy, ô tô...; nông nghiệp: cà phê, ca cao, bông, mía, ngô, lúa...; chăn nuôi: bò, cừu... GDP 502,5 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.920 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 8.5.1989. LLVT: lực lượng thường trực 287.600 người (lục quân 189.000, hải quân 48.600, không quân 50.000), lực lượng dự bị 1.115.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 464 xe tăng, 803 xe thiết giáp chở quân, 409 xe thiết giáp trinh sát, 601 pháo mặt đất, 1.024 súng cối, 200 pháo phòng không, 44 tên lứa phòng không, 4 tàu ngầm, 1 tàu sàn bay, 14 tàu frigat, 50 tàu tuần tiễu, 6 tàu quét mìn, 4 tàu đổ bộ, 25 tàu hộ tống, 288 máy bay chiến đấu, 83 máy bay trực thăng. Căn cứ hải quân: Riô đè Gianêrỏ, Xanvađo, Rexiphê, Belem, Phloriansôlit, Lađariô. Ngân sách quốc phòng 9,1 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65315016_442655366464349_3216045354893967360_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGnfqhs5JzKE8KijpIlpBdajYWyVDPYtqMNAI2ITQbGTnbltY-Cd3_BdKPU8Sas00jKhfvI_eM1bQOuohaQ_dGl33usayGKCymnP4qxlHoabQ&_nc_oc=AQmFjsZ8XMBgw-g8QNQvdpwnEDKqX-woNYHjqMuHa4c3RXhjqXbx4iSA2Xfim_ExDaE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0e1c0cd0a02f4e25b057493de752f389&oe=5D7FC8E8) BRÊGIƠNHEP (1906-82), tổng bí thư ĐCS LX (1966-82), nguyên soái LX (1976). Sinh tại tp Đnheprôdecginxcơ, thuộc Ucraina; đv ĐCS LX (1931). Năm 1937-41 làm công tác đảng và chính quyền ở Ucraina. Trong chiến tranh giữ nước (1941-45), công tác trong QĐ LX, cục trưởng Cục chính trị Phương diện quân. 1945-46 cục trưởng Cục chính trị Quân khu Pricacpat, sau đó trở lại làm công tác đảng ở Ucraina và Mônđayi. 1950-52 bí thư thứ nhất ĐCS Mônđayi. 1953 phó chủ nhiệm TCCT QĐ và hải quân LX. 1954-56 bí thư thứ hai rồi bí thư thứ nhất ĐCS Cadăcxtan. 1956-60 và 1963-64 bí thư ĐCS LX. 1964-66 bí thư thứ nhất ĐCS LX, chủ tịch: Đoàn chủ tịch xô viết tối cao LX, Hội đồng quốc phòng LX (1977-82). B tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và cuộc kháng chiến của nhân dân VN chống Mĩ xâm lược. BRUCXEN (Bruxelles), thủ đô nước Bỉ; nơi đặt trụ sở bộ tham mưu khối NATO và các cơ quan đầu não của EU. Ds 973,5 nghìn người (2000). Công nghiệp: chế tạo máy, hóa chất, in, công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng thêu ren, thảm len, kim hoàn lâu đời. Trường đại học tổng hợp, Viện hàn lâm khoa học và nghệ thuật. BRUNÂY (Vương quốc hồi giáo Brunây; Negara Brunei Darussalam, A. State of Brunei), quốc gia ở Đông Nam Á. phần tây bắc đảo Calimantan. Dt 5.765km2; ds 358,1 nghìn người (2003); 67% người Mã Lai, 16% TQ, còn lại là Ấn Độ và người bản địa. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Mã Lai. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni (60%), đạo Phật (30%), đạo Thiên Chúa (8%)... Thủ đô: Banđa Xêri Bẽgaoan. Chính thể quân chủ, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là quốc vương, có hội đồng lập pháp và hội đồng cơ mật giúp việc. Lãnh thổ gồm hai miền riêng biệt trên bờ biển phía bắc đảo Xaraoăc: miền tây chủ yếu là đồi, miền đông nhiều núi và rừng nhiệt đói. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm trên 2.500mm. Công nghiệp: khai thác và chê biến dầu khí chiếm 95% GDP; nông nghiệp kém phát triển, nhập khẩu lương thực. GDP 4,846 tì USD (2002), bình quân đầu người 15.060 USD. Thành viên LHQ (21.9.1984), ASEAN. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 29.2.1992. LLVT: lực lượng thường trực 5.900 người (lục quân 3.900, hải quân 900, không quân 1.100), lực lượng dự bị 700. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 20 xe tăng hạng nhẹ, 39 xe thiết giáp chở quân, 24 súng cối, 26 máy bay trực thăng, 3 tàu tên lửa, 3 tàu tuần tiễu, 5 tàu đổ bộ... Căn cứ hải quân: Muara. Ngân sách quốc phòng 267 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65519196_442655386464347_139580050503630848_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeEW7Bes6i_SwvztYJc15Y8M8-PIUX5wl18HI31QPsGf5XqouG9mQ7XkZEMWr7NePaqnNoQpgROygJnBYhIxiHd5cRGW-ufKZ9cStC52_SYi2A&_nc_oc=AQk1jqgueyj-9bcEYZ6w7B7yMlzFM6OvHuE3iAb3oDZNHZonFKYzai9vzj6VGRPnUM4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d923484c4cba74a90d8d63ce70bb2bd7&oe=5D7CA269) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:17:27 pm BTM-3 (N. ETM-3), máy đào hào do LX chế tạo trên cơ sở xe kéo pháo hạng nặng AT-T (động cơ 409-U). Kíp xe 2 người. Kích thước chủ yếu khi di chuyển: dài 7,6m, rộng 3,164m, cao 4,32m; khi làm việc: dài 11,2m, rộng 3,164m, cao 2,885m. Khoảng cách tâm xích 2,64m; chiều dài xích tiếp xúc với nền đất 3,836m; áp suất trung bình trên nền 0,71kG/cm2. Khoảng sáng gầm xe 0,425m. Thiết bị công tác gồm: bộ truyền lực, rôto đào, hệ thống nâng hạ rôto. Có thể đào hào giao thông ở những khu đất từ cấp 1 đến cấp 4. Kích thước hào: sâu l,l-l,5m; chiều rộng mép trên: 0,9-1,lm; chiều rộng đáy: 0,5m; tốc độ đào: 286-856m/h. Tốc độ di chuyển: 18-24km/h. BTR-40, xe thiết giáp chở quân bánh lốp do LX chế tạo trên cơ sở ô tô GAZ-63. Chế thử 1948, sản xuất hàng loạt từ 1950. Khối lượng 5,3t, kíp xe 2 người, chở 8 bộ binh. Xe dài 5m, rộng l,90m, cao l,75m. Bọc giáp hở phía trên, loại vỏ giáp chống đạn súng, các tấm giáp đều bố trí nghiêng để tăng khả năng chống đạn. Công thức bánh xe 4 X 4, khoảng cách giữa hai cầu 2,70m, khoảng sáng gầm xe 0,275m. Động cơ xăng 4 kì, 6 xilanh GAZ-40, làm mát bằng nước, công suất 58,4kW (80cv), dung tích hệ thống nhiên liệu 120 1. Tốc độ lớn nhất 80km/h, hành trình dự trữ 285km, tiêu hao nhiên liệu 0,42 1/km. Bán kính quay vòng (tính theo bánh xe ngoài) 7m. Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 17°, vách đứng cao 0,47m, hào rộng 0,7m; lội nước sâu 0,8m. Trang bị 1 súng máy SGMB 7,62mm. Các biến thể: BTR-40A (1950), trang bị súng máy phòng không KPV 14,5mm hai nòng, bắn cả mục tiêu trên không và mục tiêu mặt đất, kíp xe 4 người; BTR-40B (1958), bọc giáp kín, biên chế 8 người cả kíp xe và bộ binh. Có trong trang bị của QĐ nhiều nước, trong đó có QĐND VN. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65284798_442655379797681_1934452479844417536_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeGvbQbE2nyd681UJerGQqYuBInaIUzYXhIpfrbtr6FXgtpuKs1v94x7tWJ5uC7I_XS5YU9l2DaVUxD5v1T8siEZ95J9uNplOXIio6pYNbrDog&_nc_oc=AQkTLcbkgEj2wr8cFhdE6wXd_oA4O3uXo0M19JjiWFVrMOqDlHjYFnIPA5JV-tijZHo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=60542d9ebd277040eff1c053e2414b91&oe=5DC62586) BTR-60PB, xe thiết giáp chở quân bánh lốp do LX chế tạo từ cuối thập ki 50 tk 20; biến thể của xe BTR-60. Khối lượng chiến đấu 9,98t. Kíp xe 3 người và 7 bộ binh. Thân dài 7,56m, rộng 2,825m, cao 2,31 (2,05)m. Bọc giáp toàn phần, loại vỏ giáp chống đạn súng. Công thức bánh xe 8x8, khoảng cách giữa các cầu 1,35 +1,525 + l,35m, khoảng sáng gầm xe 0,475m. Lắp 2 động cơ xăng 4 kì, 6 xilanh GAZ-49B, làm mát bằng nước, tổng công suất 131,4kW (180cv). Hệ thống lái có trợ lực thủy lực. Tốc độ lớn nhất 80km/h, hành trình dự trữ 500km, tiêu hao nhiên liệu 0,58 1/km. Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 22°, vách đứng cao 0,4m, hào rộng 2m. Cơ cấu bơi kiểu chân vịt, tốc độ bơi lớn nhất 10km/h. Trang bị 1 súng máy phòng không 14,5mm và 1 súng máy 7,62mm song song. Tháp súng điều khiển bằng cơ khí và điện, góc quay 360°, góc tầm súng +23,5°/-6°. Có trong trang bị của QĐ nhiều nước, trong đó có QĐND VN. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65271896_442655403131012_4844022381678690304_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHZOGoJhWc8_2xO6TfZ6LBf2xKSfWqgXpGDenGq47muycpVM3uJS0AJAO17-7Hrn1gZWkMup35Y3c2rhGtjZJWYU5LVw2ykqz9OPmNvFm7LhQ&_nc_oc=AQnq8TDgvIF_OGVRCtuvtaZ8cEejoOBAvXTLHzGbnHJKY6DuLgiBX5KNhhsfc68kB6M&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=137841c26be5e2e49960c2e792a6108d&oe=5DBA24D9) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:46:37 pm BTR-152, xe thiết giáp chở quân bánh lốp do LX chế tạo từ 1950 trên cơ sở của ô tô ZiS-151. Khối lượng chiến đấu 8,6t; chờ 19 người (cả kíp xe). Động cơ xăng, công suất 81kW (llOcv). Tốc độ lớn nhất 75km/h; hành trình dự trữ 550km. Trang bị một súng máy 7,62mm. Từ 1955 có BTR-152V trên cơ sở xe ZiL-157 với các mẫu cải tiến BTR-152 VI, V2,V3,khối lượng chiến đấu 8,95t; thân xe dài 6,55m, rộng 2,33m, cao 2,35m, vỏ thép dày 13,5mm; khả năng leo dốc 28°, vượt vách đứng 0,6m và hào rộng 0,96m, lội nước sâu 0,8m; tốc độ lớn nhất 65km/h, hành trình dự trữ 650km. Các biến thể khác: BTR-152A (xe cơ sở ZiS- 151) và BTR-152E (xe cơ sở ZiL-157) là xe phòng không, khối lượng 9,6t, trang bị 1 súng máy phòng không 14,5mm 2 nòng trên giá quay 360°; BTR-152K bọc thép hoàn toàn; BTR-152U - xe chỉ huy, xe thiết giáp kiểu 56 (TQ)... BTR- 152 có trong trang bị của QĐ gần 40 nước, trong đó có QĐND VN. Hiện nay hầu hết được thay thế bằng các kiểu xe hiện đại hơn. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65632502_442655423131010_60846359300800512_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeG08givrnGDUa9qbd_JLdAAxrGZxxxAgCjy9BjbztqsP1xZx304Y2muOS9GBzjEp96E4VmPjy4go_zyA5ij1yHKYKhmuKDhnPy4a0lkggPPPg&_nc_oc=AQmuF4VyO62YkOFICUnhbdsvhayLxBfYbgFzqfs46QazaDnlCNXjfowXyjJ0ouKxMC8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=73e7ba06a95ded07fc089e65d1bec4d1&oe=5D7F6CC8) BỦA LƯỚI PHÓNG LAO, thủ đoạn tác chiến tiến công của QĐ Mĩ và QĐ Sải Gòn trong chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Nam VN. Được thực hiện bằng cách dùng một lực lượng bao vây, chặn đường rút của đối phương, đồng thời dùng lực lượng cơ động chia thành nhiều mũi tiến công tiêu diệt đối phương bị bao vây. BÚA X. RÌU CHIẾN BÙI CHÁT (1925-66), Ah LLVTND (1955). Quê xã cẩm Hà, tx Hội An, t. Quảng Nam; nhập ngũ 1951, chính trị viên phó tiểu đoàn (1966); đv ĐCS VN (1955); khi tuyên dương Ah là trung đội trưởng công binh, Trung đoàn 93, Sư đoàn 324. Năm 1947 tham gia tự vệ, sau chuyển sang biệt động. 1947-51 nhiều lần đột nhập vào tx Hội An diệt ác, trừ gian, bắt sống tỉnh trưởng Quảng Nam, đánh chìm 2 canô. 1952- 54 chỉ huy đơn vị đánh phá giao thông của địch trên đoạn đường sắt qua đèo Hải Vân, lật đổ 20 đoàn tàu QS, diệt hơn 300 sĩ quan và binh lính địch. Trận đánh tàu từ Đà Nẵng đi Huế (12.1953), chờ đoàn tàu mở đường (chở đá) đi qua, đánh vào đoàn tàu chở quân và vũ khí, diệt 100 sĩ quan và binh lính địch, thu 300 súng. 6.7.1954 đánh lật nhào đoàn tàu chờ 1 tiểu đoàn lính Âu - Phi vừa tăng viện từ Pháp sang, diệt hàng tràm địch. Huân chương: Qúân công hạng ba, Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65375953_442655416464344_4514246095383035904_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHCEDMY-h_qgN2GW21uq0fkjhlwLY9M9Zen4mh_tpe7-3vlp5yWzFNcjDhi8WCAze0QwPmYxNYKp019eocF1y9ZbWvTerbRMNmqaZM9DUWMgQ&_nc_oc=AQk2BLXl37_FBNoMhhzlC6oSGYB-1fa6XiJS4qNjYtAkKN4YdoSm28TSMmC096PJRe8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=208a5496d3141553a12097d19fc8a95c&oe=5DBF6C30) BÙI ĐẠI (s. 1924), Ah LLVTND (1989). Quê xã Liêm Chính, tx Phu Lí, t. Hà Nam; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1989); đv DCS VN (1961); khi tuyên dương Ah là giáo sư, tiến sĩ, giám đốc Viện quân y 108, chuyên viên đầu ngành về truyền nhiễm của QĐ, Thầy thuốc nhân dân. 1960-89 phụ trách 32 đoàn đến các vùng có dịch bệnh hướng dẫn phòng chống các bệnh truyền nhiễm, han chế tử vong cho bộ đội và nhàn dàn (7 lần sang giúp nhân dân Lào và Campuchia). BĐ đóng góp lớn về lí luận và thực tiễn trong xây dựng ngành truyển nhiễm VN, phòng chống dịch bệnh trong QĐ, có 64 công trình và nhiều báo cáo khoa học về phòng chống và điều trị bệnh sốt rét và một số bệnh truyền nhiễm khác... Tham gia đào tạo nhiều bác sĩ trong và ngoài QĐ, 6 lớp chuyên khoa truyền nhiễm, ủy viên BCH hội truyền nhiễm VN, ủy viên ủy ban phối hợp Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga. Tác giả 8 tập sách và chủ biên 7 tập khác (2 tập giáo khoa cấp đại học, 13 tập chuyên đề sau và trên đại học) về phòng chống các bệnh truyền nhiễm. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65969121_442655436464342_759174562360328192_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEDPxViMvAZ4eLihc-C0JjW7eBwWYC5KXDRKmgfkU6oEzfLY02y3aKRQi0s66c6USl_kppkHXOBvH59TEG70I3v5Q99I0ldtghGp7VXxZOQ2A&_nc_oc=AQk4hFUX4YL_cCDn-oFi5MIq9TAN4COacdfD_ASsLnEXdwaOeNcuzCcTuzvnQOdM6zM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b8c2cb38203f5a093ac02fa572cfba86&oe=5D89698F) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:49:08 pm BÙI ĐÌNH CƯ (Bùi Văn Mười; 1927-88), Ah LLVTND (1955). Quê xã Tứ Xã, h. Lâm Thao, t. Phú Thọ; nhập ngũ 1949, đại tá (1982); đv ĐCS VN (1952); khi tuyên dương Ah là khẩu đội trưởng pháo binh, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351. Trong KCCP, đã tham gia 9 chiến dịch lớn, trong trận Yên Mô Thượng (chiến dịch Quang Trung, 1951), BĐC dũng cảm vào gần lô cốt địch, dùng đèn pin chiếu sáng lỗ châu mai cho pháo ngắm bắn trực tiếp tiêu diệt mục tiêu. Trận Tu Vũ (chiến dịch Hòa Bình, 1952), BĐC vác nòng súng cối nặng 101kg di chuyển tới vị trí mới cách xa hơn 200m dưới hỏa lực của địch. Trận Him Lam mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, BĐC một mình vác nòng súng cối 120mm đi gần 3km dưới giao thông hào để chiếm lĩnh trận địa đúng giờ quy định; trận đánh đồi Độc Lập, sau khi bộ binh làm chủ trận địa, đã chỉ huy tiểu đội tháo và chuyển được 3 khẩu súng cối 120mm chiến lợi phẩm. Trong KCCM, 1966- 74 chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, giữ các chức vụ: phó chủ nhiệm chính trị các trung đoàn pháo binh 16 và 38; phó chính ủy rồi chính úy Trung đoàn trinh sát pháo binh 97. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhì, hạng ba). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65289322_442655446464341_245436425820962816_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHC3Q_QO6Mu8YccGq01p-0792UTnd9edQPV4zsf8NBssc4pEn16voiDLskNK8l8v1uVde0CqqkUIEmUMvXDNT2xdF6xVRBneXe6JvCSRyjm-Q&_nc_oc=AQnPpPDftBCz2vCEEvH6qUkWcUl_s9HgmkS4UKKpUh-Uk4qI6_KpecHFqszBq18Zcy0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=dee300a29620664336c6ca864c3d16f8&oe=5D887665) BÙI ĐÌNH ĐỘT (s. 1942), Ah LLVTND (1973). Qué xã Hiệp Lực. h. Ninh Giang, t. Hái Dương; nhập ngũ 1964, đại tá (1985), chủ nhiệm tăng thiết giáp Quân khu 1; đv DCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là trung úy, đại đội trưởng xe tăng, Trung đoàn 201, BTL tăng thiết giáp. 2.1971 tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tận dụng xe tàng hỏng thu được của địch, nghiên cứu sửa chữa và lái 4 xe tăng, xe bọc thép của địch đưa về tuyến sau. Trận đánh địch rút chạy từ Bản Đông về Huội San (23.3.1971), chỉ huy đại đội xe tăng diệt hàng trăm địch, thu nhiều vũ khí; trận Đắc Tô - Tân Cánh (24.4.1972), BĐĐ bị thương vẫn chỉ huy đại đội đánh căn cứ Tán Cánh, cùng bộ binh tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 22, thiết đoàn xe tăng và 1 đại đội bảo an chiếm giữ, xe BĐĐ diệt 10 khẩu pháo 105mm và nhiều địch. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65490347_442655453131007_3496640374410051584_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEQTRnk06_TZeIRux4eyI_jkqqu7nyCYzox9jGZALCyN7th5dgO0YuhfHPFN6qtTBB1KzDDQsMck_unjQl0VpiReerVOcnLcCd9F1Rmt1AHjw&_nc_oc=AQmtGVcXmE1MHoupexYeySnDxtx_sJD_vllc4euJlYfhLQDi5Sw09xpSLfdqSWi44yw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=5ac6e15bf82aaf4401df89048785bc95&oe=5D8A5E57) BÙI NGỌC DƯƠNG (1943-68), Ah LLVTND (truy tặng 1969). Quê phường Thịnh Liệt, q. Hoàng Mai, tp Hà Nội; nhập ngũ 1967; đv ĐCS VN (1968); khi hi sinh là chuẩn úy, trung đội phó thuộc Trung đoàn 7, BTL công binh. 23.1.1968 trong trận Huội San (Quảng Trị), chỉ huy trung đội hạ độ dốc, làm bến lội để vận chuyển thương binh; phá 4 bãi mìn (mỗi bãi dài gần 400m, rộng 20m), mở đường cho bộ binh tiến công. Khi mở thông đường, dùng súng 12,7mm trên xe tăng diệt một số hỏa điểm địch; bị thương nặng vẫn không rời vị trí chiến đấu. Huân chương: Chiến công hạng nhất. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65215110_442655469797672_7206174825914564608_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFpKWyEe6DOIPf-TI3AZ0NmPILEpN5IWUIGzCo6vhQNZ12OsG_ITl2Q8VRwF8RZy0gHjerFHIVyfxxtBGjeh4GHbXTOFgBNT48AF01CZwZJyg&_nc_oc=AQlbbFyu1a1SjCJjmlBCy30M4iAdu1jhrSXSs6ptKrs7PfkCfB3QgFHx_OpAZn2phyw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=765e148bcc3499469c324de7a338cd95&oe=5D83CE27) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2019, 12:51:30 pm BÙI PHÙNG (Bùi Văn Thận; 1920-99), thứ trưởng BQP (1977-88), kiêm chủ nhiệm TCHC QĐND VN (1977-82). Quê xã Đặng Xá, h. Gia Lâm, tp Hà Nội; tham gia CM 1943, nhập ngũ 1950, thượng tướng (1986); đv DCS VN (1946). Tháng 8.1944 bị thực dân Pháp bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). 3.1945 được trả tự do, chủ tịch ủy ban lâm thời huyện Gia Lâm. 2.1948 tỉnh ủy viên tỉnh Bắc Ninh. 5.1950 chuyển vào QĐ điều hành công tác vận tải QS, giữ các chức vụ; trạm trưởng vận tải, trưởng phòng chính trị, trưởng phòng kế hoạch Cục vận tải, Tổng cục cung cấp (TCHC). 11.1955 học tại Học viện hậu cần TQ. 1959 hiệu phó Trường sĩ quan hậu cần. 1960 tham mưu phó Bộ tham mưu TCHC. 1964-75 phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm hậu cần QGPMN. 1976 phó chủ nhiệm TCHC. 1977-88 thứ trưởng BQP, kiêm chủ nhiệm TCHC (1977-82). ủy viên BCHTƯ DCS VN khóa IV, V. Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII. Huân chương: Hồ Chí Minh, 2 Quân công hạng nhất, 2 Chiến cõng hạng nhì... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65742434_442655486464337_5804772476638461952_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEkYwFrUwj-0b0CKgE2QCU2UhJYfUPh5iBZ9XxeJRxTDetqa3_qh5OBl3p3ZJlsz2DPyiB3TvQ9n4dX_3QLJQckiXzPk9EDshbRk_A51393SA&_nc_oc=AQm8NPCnTTY6gR7aOmYi1oX8OU0Yi0XjsQN1GvCt8BQ6_M1Itz92aUUTsEOXn15Yl38&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=339392bbc2d0616ecf5d346090ffc154&oe=5DBE755B) BÙI QUANG MẠI (s. 1924), Ah LLVTND (1956). Quê xã Đại Mạch, h. Đông Anh, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946, trung tá (1978); đv DCS VN (1956); khi tuyên dương Ah là đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 102. Sư đoàn 308. Tham gia nhiều chiến dịch lớn, chỉ huy đơn vị đánh 60 trận, diệt hàng trăm địch. Trận phòng ngự trên đê Sông Đuống (1.1947), BQM dùng trọng liên bắn rơi 1 máy bay khu trục (một trong những người đầu tiên bắn rơi máy bay Pháp trên chiến trường Bắc Bộ). Trận phục kích đoàn xe địch trên đường Phủ Thông - Bắc Kạn (1.1947), dùng súng Badôca diệt 4 xe chờ hàng QS. Trận Non Nước (Ninh Bình, 5.1951), dùng trung liên diệt 15 địch, yểm hộ đắc lực cho lực lượng xung kích, cùng đơn vị đánh lui nhiều đợt phản kích, diệt 37 địch, bảo vệ và đưa thương binh về căn cứ an toàn. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công (1 hạng nhất, 2 hạng nhì). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65311875_442655479797671_1643900291617128448_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHpTYnbQYhMTVGPYDRRRIgdAa1j1IMcpzoFHx0swHQjQTX1zR2xALfYPsCXwMQ6Gm3DN_dVEZTKgE8FkfpZMPYmDs82DSJ2NcMchvpBhzSF8A&_nc_oc=AQkwmywWh6_F1E7bgyC9UuPW7AP5ungRTO84MDvG96ovz_qLvq4cqDKP4_nqE6EPKDk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a6f193532ee502de990c7f31a32a8161&oe=5DBD2F11) BÙI QUANG THẬN (s. 1948). người đầu tiên cắm lá cờ chiến thắng của QGPMN VN trên nóc dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30ph 30.4.1975. Quê xã Thụy Xuân, h. Thái Thụy. t. Thái Bình; nhập ngũ 1966. đại tá (1995); đv ĐCS VN (1968). Trong KCCM, 1966- 75 trưởng thành từ pháo thủ đến đại đội trưởng Đại đội 8, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn tăng thiết giáp 202. Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh là đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2 (đơn vị đảm nhận nhiệm vụ đánh chiếm dinh Độc Lập). Trưa 30.4.1975 mũi đột kích tiến vào trung tâm tp Sài Gòn, BQT trực tiếp chỉ huy Xe tăng 843 di đầu đội hình lao vào dinh Độc Lập, khi Xe tăng 390 húc đổ cổng chính, lập tức BQT mang cờ QGPMN VN cắm trên nóc dinh, cũng là lúc các lực lượng của lữ đoàn và quân đoàn tiến vào bắt Dương Văn Minh và toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn đầu hàng. 1975-99 phó tiểu đoàn trưởng rồi tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn phó rồi lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 203, chủ nhiệm tăng thiết giáp Quân đoàn 2. Huân chương: Chiến công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), Kháng chiê'n hạng ba. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65501986_442655503131002_6542848978524831744_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeEIpi2zAHZxShpnJYRJnoTgs5Z8YtrHO2Fh27zLZunSWgSqOAJV1PJGoie3pHRpysWAB-U0p8oeR6L7JPrQxg1iu9Z_67RIHxIvjcuVLK-QEA&_nc_oc=AQnZ8doR6TObNwUO2KGy7M1yD24ahqDjxHOwKNzmZ1bi0ak64V5TChdC3X0mShUZe9Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=92773f1b752aadc635485d8963991762&oe=5DB4ECB9) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:31:19 am BÙI THANH VÂN (út Liêm; 1927-94), tư lệnh Quân khu 7 (1989-94). Quê xã An Tịnh, h. Trảng Bàng, t. Tây Ninh; nhập ngũ 1945, trung tướng (1988); đv ĐCS VN (1948). Trong KCCP. trưởng thành từ chiến sĩ đến đại đội phó bộ đội địa phương huyện Trảng Bàng (Tây Ninh). Trong KCCM, 1961- 70 tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, sư đoàn phó Sư đoàn 9. Năm 1971-75 sư đoàn trưởng Sư đoàn 5; phó tư lệnh Đoàn 232. Tham gia các chiến dịch; Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Nguyễn Huệ... và chiến dịch Hồ Chí Minh. 4.1976 phó tư lệnh Quân đoàn 4; chỉ huv trưởng Bộ chỉ huy QS tỉnh Tây Ninh. 3.1979 phó tư lệnh Quân khu 7. Năm 1989-94 tư lệnh Quân khu 7. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VII. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhì... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65503052_442655529797666_3764442915439378432_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFTeGmLGzTPDC8jTW7tqlr0dc0Sv3FIpvDaOrYT_tNizP_JnF_ARYSzIMNYpQfRocntuEjhs28qp-EDpp7SquxV_Oh6S03pppNmTP5HsutVlQ&_nc_oc=AQkRPj-SqLY1yQ4URFOx_Y_UFYM3SFF_Ic_oMQjMy3OuSYtZOuEvxLiEBGFQIRtO1b0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=93987c34e6bc0d261ed10272531d1da4&oe=5D8710BD) BÙI THỊ XUÂN (7-1802), nữ tướng, đô đốc thời Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu. Quê xã Tây Phú, h. Tây Sơn, t. Bình Định. Giỏi võ nghệ, cùng chồng tham gia phong trào khởi nghĩa Tày Sơn. 1789 tham gia trận Ngọc Hồi - Đầm Mực (30.1.1789). Năm 1802 chỉ huy 5.000 quân Tây Sơn. tiến đánh Nguyễn Ánh ở lũy Trấn Ninh (t. Quảng Bình). Do thủy quân Tây Sơn bị thất thù ở Nhật Lệ. BTX buộc phải lui quân. Trong lúc cùng chồng ra sức gây dựng lại cơ nghiệp Tây Sơn đang có nguy cơ sụp đổ, BTX và cả gia đình (chồng và con gái) bị quân Nguyễn bắt tại h. Thanh Chương, t. Nghệ An và bị hành hình tại Phú Xuân (Huế). BÙI VĂN BA (s. 1929), Ah LLVTND (1956). Quê phường 22, q. 8, tp Hồ Chí Minh; nhập ngũ 1947, đại tá (1984); đv ĐCS VN (1951); khi tuyên dương Ah là trung đội phó đặc công, Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Trong KCCP. chiến sĩ đặc công, chiến đấu 7 trận ở chiến trường Nam Bộ. 9.1952 chi huy tổ ba người, đột nhập Câu lạc bộ sĩ quan Pháp ở sân bay Tân Sơn Nhất, dùng thủ pháo và súng tiểu liên diệt và làm bị thương 50 sĩ quan lái máy bay. Đêm 31.5.1954 chỉ huy tổ đặc công bí mật đột nhập vào kho Phú Thọ hòa (q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh), cùng tổ bạn phá hủy hơn 9 nghìn tấn bom đạn, 2 triệu lít xăng dầu, diệt và làm bị thương 1 đại đội lính Âu - Phi bảo vệ kho và hàng trăm binh lính đến cứu. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65434685_442655543130998_6636422864067100672_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeHHY_RoNSaYAYOZ5GiJXVXPO26G5bN0ZPwLKDgRusT6s0WpJsK12hUkTb--EG613X0zCnAI5BaTcqtn89GCWBgUeD8Ty-95PjxjL6nIHhFoTw&_nc_oc=AQmyO5ERBUyepRNkEU-oLMRl5ZnePgmeAX3f4I0UNXMukK7blIsHv3K19RFqBs6pgt4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c48ae683651d4fd91af185baa1f87e79&oe=5DBC96D9) BÙI VĂN NÊ (1947-72), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Dân tộc Mường, quê xã Hưng Thị. h. Lạc Thủy, t. hòa Bình; nhập ngũ 1965; đv ĐCS VN (1966); khi hi sinh là tiểu đoàn trường thuộc Sư đoàn 5. Trong KCCM, 1965-72 chiến đấu ở miền Nam VN và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, trưởng thành từ chiến sĩ đến tiểu đoàn trưởng, tham gia đánh 45 trận, diệt 105 địch, bắt 15 tên, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, phá hủy 3 xe QS (có 1 xe tăng). Trong trận phục kích đoàn xe địch trên đường 14 (đoạn Bầu Na - Phước Long, 1.1969), chỉ huy một mũi tiến công chia cắt đội hình địch, góp phần tiêu diệt đoàn xe hơn chục chiếc chở đầy lính, BVN diệt 1 xe tăng và 20 địch. Trong trận tập kích tiểu đoàn dù ở bến đò Na Hoa (Long Khánh, nay thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu. 19.5.1969), chỉ huy trung đội đánh thọc sâu vào giữa đội hình địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt gọn tiểu đoàn dù địch, BVN diệt 10 tên. Trong trận đánh chi khu Lộc Ninh (5.4.1972), chi huy tiểu đoàn phối hợp với các dơn vị bạn. diệt gọn Chiến đoàn 9 địch và hi sinh. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 3 hạng ba), 5 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65681205_442655549797664_5548295751483785216_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFVPDkrgLarAx1DSM1UXlhORLFOcNlGwayHUAcrP2-knVEETXxxSkRAIHpki_Z420EXC-d9F24J4i0hzYgXnWRKFiHyFbpjHxqb_JiEY4ioYA&_nc_oc=AQlW2ew4r_5WDvHe14q7ipIpeymo4mXM8VFZSlEoJGw4-0mFQ7hbgq-GaJa6Q50OMdY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=684f90144bbccc10491b2bb93b8d69dc&oe=5D7CAE77) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:35:05 am BÙI XUÂN NGUYÊN (1944-70), Ah LLVTND (truy tặng 1976). Quê xã Thái Bình. h. Châu Thành, t. Tây Ninh; nhập ngũ 1964; đv ĐCS VN; khi hi sinh là trung đội trưởng, Đại đội 3, Tiểu đoàn 14, bộ đội địa phương tỉnh Tây Ninh. Trong KCCM, chiến đấu và chỉ huy đơn vị đánh 160 trận, diệt 500 địch, BXN diệt 125 địch, 11 xe tăng và xe bọc thép. Trận chống càn ở Hiệp Thạnh, Gò Dầu (3.2.1969), diệt 4 xe tăng, 26 địch. Trận Thanh Đức. Châu Thành (15.7.1970), diệt 5 xe tàng, xe bọc thép và nhiều địch, chỉ huy trung đội đánh lui hàng chục đợt phản kích và hi sinh. Huân chương: Chiến còng hạng ba, 16 lần Dũng sĩ diệt Mĩ và xe cơ giới. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65745748_442655566464329_1151102173640130560_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFrKx6BX7URM83hHeQ8i5CM6XvmsU1DMa-3oVkXY_LQPHQqUsYuL7arqrfvCjD9VJLi2gPxBSIzlA-dCSjCXdYjmR64c9dOQocicYLJNSmJtg&_nc_oc=AQlt2OHacQ5yYKDP07UsQkAWvOe6C-J0YzjOFhILVj2qFfG2c4arWYTRZ-N23rmpW18&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9db9e80846e4cfb2eed87ba4d514eeff&oe=5DC5636D) BUNGARI (Cộng hòa Bungari; PenyốJiHKa EuirapHst, A. Republic of Bulgaria), quốc gia ở đóng nam châu Âu, trên bán đảo Bancẳng. Dt 110.994km2; ds 7.54 triệu người (2003); 83% người Bungari. Ngôn ngữ chính thức; tiếng Bungari. Tôn giáo: Giáo hội chính thống (80%), đạo Hồi dòng Sunni (8%)... Thủ đô: Xôphia. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ (1/3 diện tích) là các dãy Xtara - Planina, Xređna-Gora, Rila (đinh Muxala 2.925m, cao nhất B), Pirin, Rôđôpư thuộc hệ thống núi Bancãng, miền bắc là đồng bằng hạ lưu sông Đanuyp, miền trung là vùng lòng chảo Cadanlưc, đông nam là vùng đất thấp thuộc lưu vực sông Marixa. Bờ biển thấp, chia cắt nhẹ. Sông chính: Đunai (Đanuyp) dài 2.850km. Khí hậu lục địa ôn hòa ở phía bắc. chuyển dần sang cận nhiệt đới Địa Trung Hải ở phía nam. Nước công - nông nghiệp. Còng nghiệp: chế tạo máy, luyện kim, năng lượng, khai thác than...; nông nghiệp: lúa mì, đại mạch, ngô...; chân nuôi: đại gia súc, cừu, lợn... Giao thông phát triển; cảng biển: Buagat, Vacna. GDP 13,553 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 1.690 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), NATO (4.2004). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 8.2.1950. LLVT: lực lượng thường trực 68.450 người (trong đó lục quân 31.050, hải quân 4.370, không quân 17.780), lực lượng dự bị 303.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. rang bị: 1.475 xe tàng, 68 pháo tự hành, 224 xe chiến đấu bộ binh, 1.750 xe thiết giáp chở quân, 1.750 pháo mặt đất, 28 tên lửa hành trình, 36 Scut, 8 SS- 23, 400 pháo phòng không, 232 máy bay chiến đấu, 52 máy bay trực thăng, 1 tàu ngầm, 1 tàu frigat, 23 tàu tuần tiễu, 20 tàu quét mìn, 2 tàu đổ bộ, 16 tàu hộ tống hỗn hợp. Ngân sách quốc phòng 431 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65303968_442655589797660_5849000997585682432_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHojfPMtL0pCLJftzby0KrHdf-g9y_J29Kb2be9Yoy1uv4SQ65tU457xdNrlmxca5DMxfYdv0ALSIQENu4z2LEPvbn8XpxWKX7WxVKn_hlsDw&_nc_oc=AQmA6SZQweDPFboYAOxq2xxgaed8Ve252lioTtdxM89-uxkfWPpJA1sQw1Uhx4ESgR0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b76c496e5468ffe91155907d188429ef&oe=5DBFCCC6) BUNPƠP (A. Bullpup), họ tên lửa không đối đất, tầm gần, điều khiển vô tuyến, do hãng Mactin Marieta (Mĩ) thiết kế và chế tạo, có kí hiệu AGM-12. Chia làm hai hệ: hệ A gồm các loại AGM-12A, -12B, sau đó được cải tiến thành AGM-12E với đầu nổ kiểu mảnh; các thông số kĩ thuật chính: dài 3,2m, đường kính thân 0,305m, sải cánh 0,94m, khối lượng phóng 258kg, khối lượng đầu nổ 113kg, động cơ nhiên liệu lỏng, tầm phóng 7.000m; hệ B gồm AGM-12C, -12D; các thông số kĩ thuật chính: dài 4,14m, đường kính thân 0,450m, sải cánh l,22m, khối lượng phóng 812kg, khối lượng đầu nổ 454kg, động cơ nhiên liệu lỏng, tầm phóng l0.000m. B có 4 cánh lái nhỏ hình tam giác ở phía đầu và 4 cánh tam giác ở phía đuôi. Trang bị trên các máy bay A-4, -5, -6, -7; F-4, -8, -100,... B dược nghiên cứu từ 1950 theo yêu cầu của hải quân Mĩ, đưa vào sử dụng từ 1959. Mĩ đã sử dụng B trong chiến tranh xâm lược VN. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:37:07 am BUÔCKINA PHAXÔ (A. Burkina Faso; tên cũ: Thượng Vonta, p. République de Haute - Volta), quốc gia ở Tây Phi. Dt 274.200km2: ds 13,23 triệu người (2003); gồm người Môxi, Gurunxi, Gurơma, Xênuphổ, Phunbê... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: Bái vật giáo, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Uagađugu. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội (một viện). Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên và núi, độ cao 500-750m. Khí hậu cận xích đạo, nóng và khô, chỉ có mưa ở vùng đồng cỏ phía nam. Các sông chính: Vonta đen, Vonta tráng. Một trong những nước nghèo nhất thế giói, kinh tế kém phát triển. GDP 2,486 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 220 USD. Thành viên LHQ (20.9.1960), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN 16.11.1973. LLVT: quân thường trực 6.000 người (lục quân 5.800, không quân 200), lực lượng bán vũ trang 4.200. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Nguồn động viên 2,1 triệu người. Trang bị: 79 xe thiết giáp trinh sát, 13 xe thiết giáp chở quân, 14 pháo mặt đất, 42 súng máy phòng không, 5 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 277 triệu USD (2002) (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65861648_442655603130992_3144232994898706432_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHGBs5-4zSbAqc-rsN7LNfc6x-p4nLwET61UTXLgHGIKnqoKJ8Z7U50xY1UfWNBDHYJ84gX-Clfj6qBY8cW8q7YGOMhF7ho7LD1E88hBranLg&_nc_oc=AQn8kKBElycbiUeU-ubr4yKbzUaX28M5SoFb4c00IrPTURntO000EgcEf5bmulKYtik&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a7015e8648ca360fee4f688029a1c554&oe=5DBACAFC) BUÔN LẬU QUA BIÊN GIỚI, hành vi buôn bán trái phép hoặc hàng cấm qua biên giới quốc gia. BLQBG được thế hiện ở các hành vi như: không khai báo hoặc khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, không có giấy phép hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền (thương mại, hải quan...), cố tình che giấu hoặc trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng tại cửa khẩu\ được vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không hoặc đường bưu điện quốc tế. BLQBG gây tác hại đến nền kinh tế quốc dân và an ninh biên giới. Ở VN, BLQBG bị xét xử theo điều 153, 154, chương XVI, Bộ luật hình sự nước CHXHCN VN (1999). BUÔN MA THUỘT (Ban Mê Thuật), thị xã, nay là thành phố, tỉnh lị t. Đắk Lắk, nằm giữa cao nguyên Buôn Ma Thuật. Địa hình tương đối bằng phẳng (90% không có đồi núi), độ cao trung bình 350-450m, có sông Sêrêpốc chảy qua. Giao thông: QL 14 từ Bình Phước đi Gia Lai, QL 21 nối với QL 1 tại Ninh Hoà. 10-11.3.1975 BMT là nơi diễn ra trận đánh then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), QGPMN VN tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 (Quân khu 2) và một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của QĐ Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tinh Nam Trung Bộ. BURAN (N. Bypaư), tàu con thoi không người lái do LX chế tạo. Được phóng lên bằng tên lửa vũ trụ Enaxgia (Năng lượng). B dài 36,37m, cao 16,5m, sải cách 23,9m, thân rộng 5,5m, khoang hàng 18,55x4,7m, khối lượng phóng 105t (với 30t hàng), khối lượng hạ cánh lớn nhất 82t (với 20t hàng), tốc độ hạ cánh 340km/h (sau khi tiếp đất có dù giảm tốc độ). Được phóng lần đầu lên quỹ đạo 15.11.1988 từ sân bay vũ trụ Baicônua. Sau khi bay hai vòng quanh Trái Đất, B đã hạ cánh tại sân bay cách nơi phóng 12km. Do khó khăn về kinh phí (chi phí cho một chuyến bay 80 triệu USD) và kĩ thuật, đến nay B mới thực hiện một chuyến bay. BURUNDI (Cộng hòa Burundi; Republika y’u Burundi, p. République du Burundi, A. Republic of Burundi), quốc gia ở Trung Phi. Dt 27.834km2; ds 6,1 triệu người (2003); chủ yếu người Tutxi và Khutu. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Kirunđi, tiếng Pháp. Tôn giáo: Bái vật giáo. Thủ đô: Bugiumbura. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội (một viện). Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên và núi, độ cao 1.500- 2.600m. Khí hậu cận xích đạo. Sông ngắn, dốc. Hồ lớn: Tanganica. Kinh tế kém phát triển, 92% lao động nông nghiệp. GDP 689 triệu USD (2002), bình quân đầu người 100 USD. Thành viên LHQ (18.9.1962), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 16.4.1973. LLVT: lực lượng thường trực 45.500 người (lục quân 40.000). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Nguồn động viên 2,3 triệu người. Trang bị: 54 xe thiết giáp, 29 pháo mặt đất, 18 cối 81mm, 150 pháo cao xạ, 8 máy bay. Ngân sách quốc phòng 50 triệu USD (2001). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65273053_442655619797657_916984537127321600_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHJdVdKlcZBmD3tleJdkGBfa9OrxMXfjrdV-blS9KXyZ0hp3A8DN1ll4EKuGQJIalnFvZRubuBILZ6VyxdPbvK-pe8otS9Iz_jfgJYnaWsr4A&_nc_oc=AQmkLerXN4PfmSclbXaeGfHIERN9De0rAQs6TIluAWUuT6enOcGfnAH6FFA4PpKS1e8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c2b720b4637f7c4477ceeca51b518c73&oe=5D861F17) Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:38:30 am BUSƠ (A. George Walker Bush; s. 1946), tổng thống Mĩ thứ 43 (2001). Sinh tại Niu Hevơn, bang Connêcticơt; con trai cả tổng thống Mĩ thứ 41 (1988-92) Busơ (A. George Herbert Walker Bush); thuộc Đảng cộng hòa. 1968 tốt nghiệp cử nhân lịch sử Trường đại học lên. 1975 tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh Trường đại học Hayơt, tham gia thành lập Công ti năng lượng số 7 chuyên khai thác dầu và khí đốt ở Mitlen. 1978 tranh cử hạ nghị sĩ nhưng không thành. 1987-92 cố vấn về các vấn đề tổ chức cho phó tổng thống rồi tổng thống Busơ. 1994-2000 thống đốc bang Têchdat hai nhiệm kì liên tục, được dư luận chú ý với các thành tựu giáo dục, phúc lợi xã hội, cải tiến công nghệ và cắt giảm thuế. 1.2001 trở thành tổng thống Mĩ thứ 43. Từ khi nắm quyền,- B đơn phương hủy bỏ hiệp ước Xô - Mĩ về hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa (cg hiệp ước ABM), đẩy mạnh triển khai “hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia” (NMD); sau sự kiện nước Mĩ bị tiến công (11.9.2001) đã phát động cuộc chiến tranh chống khủng bố ở Apganixtan (cuối 2001), chiến tranh Irắc (3.2003), phê chuẩn hiệp định thương mại Việt - Mĩ (10.2001). BUTAN (Vương quốc Butan: Druk-Yul, A. Kingdom of Bhutan), quốc gia ở Nam Á, đông dãy núi Himalaya, giữa Ấn Độ và TQ. Dt 47.000km2; ds 2,14 triệu người (2003); phần lớn người Bôtia. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đôngkha. Tôn giáo: đạo Phật dòng Latma. Thú đô: Thimphu. Chính thể quân chủ lập hiến, theo đường lối trung lập không liên kết, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là quốc vương. Cơ quan lập pháp: hội đồng dân tộc. Địa hình núi cao, đỉnh cao nhất 7.554m, trung tâm là các thung lũng rộng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ở vùng thấp, khí hậu lạnh ở núi cao; lượng mưa 1.000mm ở núi cao, đến 7.500mm/năm ở thung lũng. Rừng rậm nhiệt đới Đuat nằm dọc biên giới với Ấn Độ. Kinh tế kém phát triển, 90% lao động nóng nghiệp. Khai thác quặng sắt, than đá. GDP 533 triệu USD (2002), bình quân đầu người 640 USD. Thành viên LHQ (21.9.1971), Phong trào không liên kết. LLVT: lực lượng thường trực 5.000, lực lượng bán vũ trang 15.000. Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS (nam từ 18-36 tuổi). Vũ khí do Ấn Độ sản xuất. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65279283_442655629797656_6048715950352498688_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGUaQ6sPYawEowcYZ1SXkvtx1MNkFOy51m1pUX27P0lWsjYyS64Xoqyjp2FUFxDycpjkIEzwXm8hX5NpDFJ2963DZIH1IQJwHcuuUavJOHufA&_nc_oc=AQnmpsvB4KqvrRnpbbIYf89RYjcbdWCoSoXkXRJAL_ZcnGENPBQwx_m57rIthZldSqs&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=61322df1d0a304563de93cabcc53c4df&oe=5DB51355) BỨC TUỜNG BECLIN, bức tường ngăn cách giữa Đông Beclin và Tây Beclin (từ 8.1961 đến 11.1989), dài gần 170km, cao 3,5-4,2m (tường bê tông 140,5km, lưới thép 55km chủ yếu giăng trên sông). Dọc theo tường có 290 vọng gác, 137 lô cốt và 9 trạm quá cảnh qua lại giữa Đông Beclin và Tây Beclin, các tuyến đường tuần tra, các vật cản xe ô tô và xe tăng, lưới điện, bãi mìn. 8.5.1945 nước Đức phát xít đầu hàng không điều kiện, lãnh thổ Đức bị chia thành các vùng chiếm đóng của LX, Mĩ, Anh, Pháp. 7.9.1949 trên lãnh thổ phía tây do Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng thành lập CHLB Đức. 7.10.1949 trên lãnh thổ phía đông do LX kiểm soát thành lập CHDC Đức. Khi đó ranh giới giữa Đông Beclin và Tây Beclin là đường lượn theo các đường phố, khu dân cư, vườn cây, công viên và sông. Giữa Đông Beclin và Tây Beclin thường xẩy ra xung đột ngày càng sâu sắc. 11.8.1961 chính phủ Đông Đức quyết định phong tỏa biên giới. 0 giờ 13.8.1961 các đội viên chiến đấu công nhân Đông Beclin tập trung tai các điểm đã định sẵn, dưng một hàng rào bằng lưới thép dài 165km, cao 3,6m. Chỉ trong một đêm Đông Beclin và Tây Beclin đã bị ngăn cách. Sau đó lưới thép được thay bằng tường bê tông hoặc gạch xây. Những biến động chính trị ở CHDC Đức (10.1989) dẫn đến việc chính phủ CHDC Đức tuyên bố giải tỏa BTB. 9.11.1989 bức tường bị dỡ bỏ. Hiện còn giữ lại một đoạn ở Anhat Xacxơn (Anhalt - Sachen). Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:39:50 am BỨC TƯỜNG ĐẠI TÂY DƯƠNG, tuyến phòng thủ của QĐ phát xít Đức trong CTTG-II dọc bờ Đại Tây Dương, từ Đan Mạch đến Tây Ban Nha để ngăn chặn QĐ Anh - Mĩ tiến công. Bắt đầu xây dựng từ 1942, đến giữa 1944 việc xây dựng vẫn chưa hoàn thành. Do 27 sư đoàn Đức chốt giữ, được cơ quan tuyên truyền phát xít Đức quảng cáo là bất khả xâm phạm, các nước đồng minh phương Tây dựa vào đó để trì hoãn việc mở mặt trận thứ hai. 6.1944 QĐ Anh, Mĩ đã chọc thùng BTĐTD khi đổ bộ vào Noocnanđi. BỨC TƯỜNG PHÍA ĐÔNG, tuyến phòng thủ chiến lược của quân phát xít Đức trên mặt trận Xô - Đức trong CTTG- II, chạy dọc theo tuyến: sông Nacva, Pơxcốp, Vitepxcơ, Oocxa, sông Xogiơ, trung lưu sông Đnhep (tuyến cơ sở), sông Môlôchnaia. Quyết định thiết lập được thông qua từ mùa Xuân, tốc độ được đẩy nhanh vào 8.1943 theo lệnh của Hitle. Theo tính toán của Bộ chỉ huy Đức, cuộc chiến trên tuyến BTPĐ sẽ mang tính chất trận địa; QĐ LX sẽ bị kiệt sức trong các cuộc tiến công không hiệu quả và Đức có thời gian dể mặc cả, thỏa thuận với các nước Mĩ, Anh kí kết hiệp ước riêng rẽ ở phía tây. Cuối 9.1943 BTPĐ bị chọc thủng. BỨC XẠ, hiện tượng phát ra các tia (chùm tia) sóng hoặc hạt đẳng hướng (định hướng). Theo bản chất vật lí, có: bức xạ điện từ, tạo ra sóng điện từ; bức xạ phóng xạ, phát ra chùm hạt và lượng tử gamma khi phân rã đồng vị phóng xạ, trong thiết bị gia tốc các hạt mang điện, trong vụ nổ hạt nhân hoặc xẩy ra trên mặt đất do các tia phóng xạ từ vũ trụ; bức xạ âm, phát ra sóng âm do bị kích thích trong môi trường đàn hồi (không khí, nước) bao quanh nguồn âm. Nguồn BX có thể là tự nhiên (các tia vũ trụ và các chất phóng xạ) hoặc nhân tạo (các vụ nổ hạt nhân, các máy gia tốc...). BX được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong QS dùng trong thông tin liên lạc, các khí tài trinh sát, các thiết bị điều khiển vũ khí... Nhưng BX sát thương người, động vật và thực vật; phá hủy vũ khí trang bị... là nhân tố sát thương của vũ khí hủy diệt lớn. BỨC XẠ CỰC TÍM nh BỨC XẠ TỬ NGOẠI BỨC XẠ DIỆN TỪ, bức xạ phát sinh do các hạt mang điện chuyển động có gia tốc hoặc các nguyên tử và các hệ nguyên tử chuyển về các mức năng lượng thấp hơn do được kích thích bởi các phần tử mang điện, phân tử, nguyên tử hay các hệ bức xạ khác. Theo dạng kích thích, có: bức xạ cảm ứng, bức xạ tự phát, bức xạ hãm, bức xạ nhiệt và bức xạ huỳnh quang; theo bước sóng, có: bức xạ sóng vô tuyến (λ>10-4m), bức xạ hồng ngoại, bức xạ tử ngoại và bức xạ nhìn thấy được (gọi chung là bức xạ quang có λ=10-3-10-9m), bức xạ rơnghen (λ=10-7-10-12m), bức xạ gamma (λ<10-10m). BXĐT được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học kĩ thuật, y học, nông nghiệp... Trong QS được dùng trong thông tin liên lạc, quan sát, định vị... BỨC XẠ GAMMA, bức xạ điện từ có bước sóng λ<10-I0m do các hạt nhân nguyên tử bị kích thích phát ra trong vụ nổ hạt nhân, phản ứng hạt nhân, quá trình phân rã hạt nhân và các hạt cơ bản, quá trình tương tác giữa các hạt mang điện có tốc độ lớn với mới trường, sự phân hủy cặp (vd: cặp positron - electron); một thành phần của bức xạ xuyên, một nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân. BXG có nàng lượng lớn (đến 5MeV ở các chất phóng xạ tự nhiên và đến 70MeV trong các phản ứng hạt nhân nhân tạo), có thể dễ dàng ion hóa các chất khác nhau, xuyên qua vật có chiều dày đáng kể, tác động mạnh đối với tế bào sống. Được dùng trong y học (khử trùng, trị liệu...), công nghiệp thực phẩm (khử nấm, vô trùng thực phẩm)... Lượng BXG lớn gây bệnh phóng xạ ở người, sinh vật. Để chống tác hại của BXG, cẩn có vật liệu che chắn dày, tận dụng hầm hào, ụ, nhà cửa hoặc địa vật tự nhiên... BỨC XẠ HỔNG NGOẠI, bức xạ điện từ, mắt thường không nhìn thấy, có bước sóng λ trong khoảng 10-3-0,77.10-6m. Mọi vật có nhiệt độ cao hơn không độ tuyệt đối (K) đều phát ra BXHN (khoảng 50% năng lượng bức xạ của Mặt Trời và khoảng 95% năng lượng bức xạ của đèn sợi đốt là BXHN). BXHN được sử dụng trong các ngành vật lí thiên văn, quang phổ, địa vật lí, y học, sinh học và là cơ sở của ngành kĩ thuật hồng ngoại (chế tạo các thiết bị hồng ngoại). Trong QS, BXHN dùng trong các thiết bị nhìn đêm, kính nhìn xa, rađa hồng ngoại, chụp ảnh hồng ngoại... để quan sát, định vị, nhận biết mục tiêu; trong thiết bị điều khiển (đầu tự dẫn hồng ngoại, ngòi nổ hồng ngoại...). BỨC XẠ ION HÓA, bức xạ gây ra sự ion hóa môi trường. Có hai loại BXIH: bức xạ lượng tử (gồm các bức xạ tử ngoại, rơnghen và gamma), bức xạ hạt cơ bản (gồm các bức xạ anpha, bêta, prôton, positron và nơtrôn). Nguồn BXIH có thể là tự nhiên (các tia vũ trụ và các chất phóng xạ) hoặc nhân tạo (các vụ nổ hạt nhân, các máy gia tốc hạt, các thiết bị phát rơnghen). BXIH hủy hoại tế bào, sát thương người, động vật, thực vật, làm hỏng các thiết bị điện tử, là một trong các nhân tố gây tác hại lớn của vũ khí hạt nhân. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 10:41:13 am BỨC XẠ MẶT TRỜI, dòng vật chất và nâng lượng của Mặt Trời tới Trái Đất. Gồm bức xạ điện từ và bức xạ hạt. Bức xạ điện từ khi tới bề mặt Trái Đất có hai dạng: bức xạ trực tiếp và bức xạ khuếch tán; có bước sóng từ bức xạ gamma đến sóng vô tuyến với năng lượng cực đại ở vùng quang phổ nhìn thấy. Khi qua khí quyển Trái Đất, các bức xạ sóng ngắn có hại cho sự sống bị tầng ôdôn hấp thụ. Bức xạ hạt (gió Mặt Trời) chủ yếu gồm các prôton và điện tử. Năng lượng bức xạ hạt của Mặt Trời thường thấp hơn năng lượng bức xạ nhiệt 107 lần và thâm nhập vào tầng khí quyển không quá 90km. BỨC XẠ NHIỆT, bức xạ điện từ của vật thể phát ra do sự biến đổi nội năng của nó, được xác định bởi nhiệt độ tuyệt đối và tính chất quang học của bề mặt vật thể. BXN xảy ra ở tất cả các nhiệt độ. Được ứng dụng trong nhiều ngành kĩ thuật và công nghiệp, đặc biệt trong các ngành năng lượng, luyện kim. BXN là cơ sở của thiết bị trinh sát mục tiêu và thiết bị báo sự cố kĩ thuật trong QS. Kiêcsôp, Planxcơ, Vine, Stêphani, Bôndơman là những nhà bác học tìm ra các định luật quan trọng nhất của BXN. BỨC XẠ NƠTRÔN, bức xạ dưới dạng dòng nơtrôn (hạt cơ bản của hạt nhân nguyên tử, trung hòa về diện, có khối lượng tĩnh mt= (1,674920 ± 0,0001) X 10-27kg) phát ra từ phản ứng hạt nhân; một thành phần của bức xạ xuyên, một trong những nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân. BXN được phát ra từ các nguồn nơtrôn dạng ống (ampun), từ các máy gia tốc hạt, lò phản ứng hạt nhân và vụ nổ hạt nhân. Tác dụng sát thương của nó được đặc biệt chú ý trong chế tạo vũ khí nơtrôn, loại vũ khí hạt nhân với lượng nổ nhiệt hạch công suất nhỏ; được Mĩ nghiên cứu, thử nghiệm từ những năm 60 của tk 20 và đưa vào trang bị từ 1981. BỨC XẠ QUANG của vụ nổ hạt nhân, bức xạ trong dải quang học phát ra từ mặt cầu lửa của vụ nổ hạt nhân do chất khí bị nung nóng ở nhiệt độ rất cao tạo thành. BXQcvnhn có bước sóng khác nhau thuộc các miền hồng ngoại, nhìn thấy, tử ngoại, tia rơnghen... và được truyền thẳng đi mọi phương với vận tốc ánh sáng (3.108m/s) và năng lượng rất lớn (khoảng 35% năng lượng vụ nổ hạt nhân). BXQcvnhn là nhân tố sát thương sinh lực quan trọng của vũ khí hạt nhân. Nó còn thiêu cháy, làm nóng chảy, phá hủy các phương tiện kĩ thuật, vũ khí, nhà cửa, hầm hào, công trình QS, cơ sở vật chất. Thời gian gây tác hại của BXQcvnhn từ 1/10 đến lOs, tùy theo đương lượng nổ. Có thể ngăn chặn hoặc hạn chế tác hại của BXQcvnhn bằng các vật che chắn, công sự phòng hóa, sương, khói, mây mù, cây cối, nhà cửa... BỨC XẠ TRÁI ĐẤT, bức xạ nhiệt do bề mặt Trái Đất phát ra sau khi hấp thụ thành phần bức xạ trực tiếp của bức xạ Mặt Trời, thường ở dải sóng 4-100µm (giới hạn trên của bước sóng ứng với nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái Đất khoảng 300K), thuộc vùng phổ hồng ngoại không nhìn thấy của bức xạ điện từ. Ở nhiệt độ 300K, cường độ bức xạ khoảng 0,6cal/cm2.ph. Do tác dụng của hiệu ứng nhà kính, BXTĐ có xu hướng làm tăng nhiệt độ của khí quyển và bề mật Trái Đất. BỨC XẠ TỬ NGOẠI (bức xạ cực tím), bức xạ điện từ có bước sóng λ nằm trong khoảng 10-380nm, mắt người không nhìn thấy được. Có BXTN gần (λ=200-380nm) và BXTN xa hay BXTN chân không (λ=10-200nm). Các nguồn BXTN tự nhiên gồm Mặt Trời, sao và các thiên thể; phần có bước sóng dài của chúng tới được bề mặt Trái Đất, phần có bước sóng ngắn bị bầu khí quyển (ở độ cao 30-200km) hấp thụ. Các nguồn BXTN nhân tạo dựa trên hiện tượng phóng điện qua chất khí, lade, plasma nhiệt độ cao, điện tử được gia tốc... BXTN gây hiệu ứng quang điện trên nhiều chất, làm phát huỳnh quang một số chất, thúc đẩy phản ứng quang hóa, có tác dụng sinh học mạnh (vd: tác dụng sát trùng). Được dùng trong vật lí (quang kĩ thuật), công nghệ hóa học, y học và nhiều lĩnh vực khác. Trong QS, BXTN được dùng để kích thích sự phát huỳnh quang trên các màn hiển thị ở một số thiết bị và nghiên cứu sử dụng như một loại vũ khí hủy diệt lớn với tác dụng phá hoại các tế bào sống bằng sự gây đột biến chúng. BỨC XẠ XUYÊN, bức xạ gamma và chùm hạt nơtrôn có khả năng xuyên thấu mạnh mà con người không nhìn thấy và cảm nhận được. Thường được phát ra từ tâm nổ, cầu lửa và đám mây phóng xạ của vụ nổ hạt nhân, từ quá trình phân rã của các đồng vị phóng xạ. BXX truyển thẳng di mọi phương với tốc độ hàng vạn km/s (chùm hạt nơtrôn) và tốc độ ánh sáng (chùm tia gamma). BXX chỉ chiếm 10-15% năng lượng vụ nổ hạt nhân, có tốc độ rất lớn, có tác dụng ion hóa tế bào sống, gây nên bệnh phóng xạ, làm hỏng khí tài quang học, linh kiện điện tử, nhiễm xạ môi trường, vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm... BXX là nhân tố hủy diệt chính của các vụ nổ hạt nhân cỡ nhỏ và rất nhỏ. Thời gian gây tác hại của nó từ 10-15s sau vụ nổ và tùy thuộc vào phương thức nổ. Liều lượng bức xạ của BXX phụ thuộc vào công suất nguồn, khoảng cách đến nguồn và tính chất vật lí của môi trường, vd: với vụ nổ trong không khí có công suất tương đương 20 nghìn tấn TNT, ở khoảng cách 600m tới tâm nổ, liều lượng bức xạ lên đến 10 nghìn rơnghen; ở khoảng cách lkm là 1.000R và l,5km là 100R. Để phòng chống BXX có hiệu quả dùng các lớp bê tông, phương tiện kĩ thuật bọc thép, lớp đất, cát dày hoặc vật cản tự nhiên để che chắn. BƯỚC VÀO CHIẾN ĐẤU nh TIẾN VÀO CHIẾN ĐẤU BZ (3- Quinuclidinyl bezylat), chất độc tâm thần, công thức cấu tạo: (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/65182509_442655636464322_398354651881144320_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEoZS-Qgn6Nr4F3IKe7hyV1b2qdibXXN_o7BSEASSSCy_pjtEdorCC7eUTI2fLbLrwsoPHM4jjzOMKrPxNju9JsZy_BOrvw9AZ0OB6nzLFXjg&_nc_oc=AQlBrL20QYd8w_P0YBvKuB_8zZCxJbFb-N6ceoFIwZOP9uHHVGVgMgpXLQV7_QKa5RM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=76338e54c4990b017202440f0cf8f7f8&oe=5DC5CEDB) tinh thể màu vàng nhạt hoặc trắng, nhiệt độ nóng chảy 190°c, nhiệt độ sôi 322°c, ít tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ. BZ được dùng ở thể xon khí. Các triệu chứng trúng độc: mất tiếng, giãn đồng tử, nôn mửa, tăng huyết áp và mạch, mất trí, ảo thị, ảo thính giác... Liều độc mất sức chiến đấu trung bình ICt50=0,llmg.ph/l, liều độc ngưỡng 0,05 mg.ph/1, thời gian ủ bệnh 0,5-2 giờ. Để phòng tránh, dùng mặt nạ phòng độc; để giải độc, dùng các thuốc an thần reserpin. aminazin, meratran... BZ được đưa vào trang bị QĐ Mĩ từ 1962. Trong chiến tranh xâm lược VN quân Mĩ đã sử dụng nhiều lựu đạn BZ ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bồng Sơn, Hậu Nghĩa, Châu Thành... Chỉ riêng chiến dịch Cánh Trắng 3.1966 Sư đoàn kị binh bay 1 của Mĩ đã dùng 3.000 quả lựu đạn BZ. Tiêu đề: Re: B Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 07:05:22 pm HẾT B |