|
Tiêu đề: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:20:16 pm T1 X. QUÂN KHU 7 T2 X. QUÂN KHU 8 T3 X. QUÂN KHU 9 T4 nh QUÂN KHU SÀI GÒN ■ GIA ĐỊNH T6 nh QUÂN KHU 6 T7 X. QUÂN KHU 7 T-34. xe tăng hạng trung của LX, chế tạo từ 1939, được cải tiến nhiều lần. Lúc đầu trang bị pháo 76,2mm. Từ cuối 1943 trang bị pháo 85mm và mang mác hiệu T-34-85, khối lượng chiến đấu 32t, kíp xe 5 người. Động cơ điêzen công suất năng leo dốc 17°, đi dốc nghiêng 30°, vượt hào rộng 2,7m. vách đứng 0,8m, lội nước sâu 1,4m. đi ngầm sâu 5m với độ dài 700m (khi có thiết bị). Vũ khí: pháo rãnh xoắn cỡ l00mm (đạn 34 viên), tầm bắn trực tiếp 6,9km. gián tiếp 14.6km: súng máy song song và súng máy phía trước 7,62mm (đạn 3.000-3.500 viên); súng máy phòng không 12,7mm (đạn 200-300 viên). Các biến thể chính: T-54A (pháo ổn định trong mặt phẳng đứng và có bầu hút khói đầu nòng). T-54B (pháo ổn định trong hai mặt phẳng, có thiết bị nhìn đêm hồng ngoại), T-54K (T-54AK, T-54BK), xe chỉ huy, có thêm thiết bị thông tin chỉ huy; T-54M. cải tiến T-54 qua đại tu, có kết cấu và tính năng cơ bản giống xe tăng T-55. TQ có xe tăng kiểu T-59 (chế tạo từ cuối 1958) phỏng theo mẫu T-54. Trên cơ sở T-54, đã chế tạo pháo phòng khống tự hành ZSU-57-2 368kW (500cvl. tốc độ lớn nhất 55km/h. T-34 (T-34-85) là xe tăng chủ yếu của LX trong CTTG-II; là xe gốc để chế tạo các kiểu pháo tự hành SU-122, SU-85, SU-100, xe tăng phun lửa OT-34, OT-34-85 và nhiều loại xe chuyên dùng khác. T-34-85 có trong trang bị của QĐND VN, được sử dụng trong KCCM. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67806246_460336394696246_1427827921543757824_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHvfxer7iHiaUiAtfaZ1Kc4ZQfUV5Dovfyz5VPSdtOU97oCcH29PUY9Oq-ijoYsYAQo_H7IyLNRioVMZJubEBg8U_gZAkIyuZ6sEtoqbwGG9g&_nc_oc=AQmox7e2T7WXrjH4lI00ve3cU3aaewGP1CAer5OejeQF85rVUmU6bc2CABgaGdBKZx0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=156c1046ea1146d187bab767c30d682f&oe=5DD67BA8) T-54, xe tăng hạng trung của LX; chế thử 1946, sản xuất hàng loạt tại Khaccôp và trang bị cho QĐ LX từ 1947. Khối lượng chiến đấu 36-36,5t. Kíp xe 4 người. Thân dài 6,04m (cả pháo quay phía trước 9,0m); rộng 3,27m; cao 2,4m (không kể súng máy phòng không), vỏ giáp dày nhất 203mm (phía trước tháp pháo), l00mm (mũi xe). Động cơ điêzen công suất 382kW (520cv). Tốc độ lớn nhất 50km/h. Hành trình dự trữ 270-290km (đường đất), 420-440km (đường nhựa). Khả và nhiều loại xe đặc chủng khác. T-54 và các biến thể có trong trang bị của QĐ nhiều nước. Ở VN, T-54 đã được sử dụng trong các chiến dịch của cuộc KCCM. đặc biệt trong cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67403183_460336381362914_454170706830163968_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFQORnknLRVA426Qwyhfoyf5-D3pgxF5E5cb8Y5BIpudPjsdhHkdtVReiPtIekZUqfk94-edFTG67wT2NtA-2r0OUJ1J3i-o37xHD3WtqSMJg&_nc_oc=AQkeKctP_3wtUBmA0zlMivUhJCPkbknBagJyc6qxpo8gVOWtBPXx29dLgoV4PUl7yyU&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=e677895f3df01ccce8441c2d255d374e&oe=5DD8F30D) T-55. xe tăng hạng trung do LX chế tạo trên cơ sở cải tiến, hoàn thiện mẫu T-54 và đưa vào trang bị cho QĐ LX từ cuối những năm 50 của tk 20. Khối lượng chiến đấu 36-37t, kíp xe 4 người. Thân xe dài 6,2m (cả pháo quay phía trước 9,0m); rộng 3,27m; cao 2,35m (đến nóc tháp pháo), vỏ giáp dày nhất 203mm (tháp pháo), l00mm (mũi xe). Động cơ điêzen công suất 426kW (580cv); khả năng leo dốc 32°, đi dốc nghiêng 17°; vượt hào rộng 2,7m. vách đứng 0,8m; lội nước sâu l,4m; đi ngầm sâu 5m (khi có thiết bị). Tốc độ lớn nhất 50km/h. hành trình dự trữ 290-320km (đường đất), 485- 500km (đường nhựa). Vũ khí: pháo rãnh xoắn cỡ l00mm có ổn định trong hai mặt phẳng (đạn 43 viên), tầm bắn trực tiếp 6.9km. gián tiếp 14.6km; súng máy song song và súng máy phía trước 7.62mm (ở các xe sản xuất trước 5.1963. đạn 3.500 viên); súng máy phòng không 12,7mm (có từ mẫu T-55AM). Các biến thể của T 55 nhưT-55M, T-55A (T-55AD, T-55AM. T-55AMD T-55AM2B. T-55K, T-55AK, T-62...) sản xuất ở LX hoặc các kiểu khác ở Tiệp Khắc. Ba Lan. cải tiến ở Phần Lan. Ai Cập, Ixraen,... chủ yếu là tăng cường hỏa lực pháo, tăng công suất động cơ, hiện đại hóa hệ thống điều khiển hỏa lực, hệ thống truyền lực, hệ thống bảo vệ (chống vũ khí NBC, có giáp phản ứng nổ...). Trên cơ sở T-55 đã chế tạo nhiều loại xe chuyên dụng: xe kéo tăng BTS (LX). MT-55 (Tiệp Khắc), KAN4-1 (Phần Lan), WZT (Ba Lan); xe bắc cầu MTU-20 (LX); xe tăng phun lửa TO-55, xe diệt tăng SU-122 (LX), tổ hợp pháo phòng không tự hành ZSU-57-2 (LX), xe quét mìn BMR (LX). T-55 có trong trang bị của QĐ hơn 40 nước, trong đó có QĐND VN. Đã được sử dụng trong chiến tranh Trung Đông và chiến tranh Vùng Vịnh. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67928797_460336378029581_100096424741437440_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeE30kaMaIE1wBBtJmUI205mSApTsZphvGB_obO8ngrThGGNhVcuIwVxr-Au45YDMuioqltOE8aUYviWjzYGxhytzqb1kuJ9PDR17Fm9lSJGqw&_nc_oc=AQk4Nh-0u1uAE-jGn69KzFdsOE_P4_vqy5LH1-3-3E6pXmMiaPCeHueqFjGKkDsybag&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=e27b0addd683ed746ef5fd4b88b08772&oe=5DD57F1C) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:22:41 pm T-59. xe tăng hạng trung kiểu 59 của TQ do Tổ hợp công nghiệp Hoa Bắc (NORINCO) chế tạo từ 1957 đến 1960 theo mẫu T-54 của LX. Khối lượng chiến đấu 36t, kíp xe 4 người, công suất đơn vị 14,44 CV/t, áp suất trên nền 0.80kg/cm2. Xe dài 6.04m (cả pháo phía trước 9,0m), rộng 3,27m. Cao 2,59m, khoảng sáng gầm xe 0.425m, chiều dài xích chạm đất 3,84m. Động cơđiêzen 12150 4 kì, LV-12, làm mát bằng nước, công suất 380kW (520cv), dung tích hệ thống nhiên liệu 815 lít. Tốc độ lớn nhất 50km/h, hành trình dự trữ 420-440km (600km nếu mang thêm 2 thùng nhiên liệu phụ 400 lít). Vượt dốc cao 31 °, dốc nghiêng 17°, vách đứng cao 0,79m, hào rộng 2.7m; lội nước sâu l,4m (có thiết bị lội ngầm: 5,5m). Trang bị 1 pháo rãnh xoắn kiểu 59 cỡ l00mm. cơ số đạn 34 viên; 2 súng máy 7.62mm (song song và phía trước), đạn 3.500 viên; 1 súng phòng không 12,7mm. đạn 200 viên. Góc quay tháp pháo 360°, góc tầm pháo +17°/-4°. Có hệ thống ổn định vũ khí trong mặt phẳng thẳng đứng, hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, thiết bị nhìn đêm hồng ngoại chủ động, hệ thống chữa cháy bán tự động. Ngoài QĐ TQ. T-59 còn trang bị cho QĐ Pakixtan, Băngladet, Campuchia, Anbani. CHDC nhân dân Triều Tiên, Iran, Irắc, Tandania, Dimbabuê... Xuất hiện ở VN trong những năm 60 tk 20, được sử dụng trong KCCM và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Các biến thể: T-59-II trang bị pháo 105mm L7 (U2) của Mĩ, T-59 Retrophit Package lắp động cơ 533kW (730cv). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68273062_460336411362911_179888434540707840_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeG-K0BfN37CRNDNGkQCwd7A7jfFz8LSpMBiIwS2eIb7KGamHu8V6uqJb5nt9pZVDVYAagbVXkiPo-DouYQkokLavMtF_bWegvm4TT4QS7vDZQ&_nc_oc=AQmb6QdQLrx6RsYyDoXtsVS5VqFG228hlOVU1sBQhW3-neiSiauae5Hvzm14jv2sxvs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b1b87724acde8dc0cecf36550bc23a0d&oe=5DA85DE6) T-62, xe tăng hạng trung do LX sản xuất từ 1961 trên cơ sở cải tiến và hiện đại hóa T-55. Khối lượng chiến đấu 37t và 37,5t (tùy theo loại xích); kíp xe 4 người. Thân xe dài 6,63m (cả pháo quay phía trước 9,335m), rộng 3,3m; cao 2,395m: vỏ giáp dày 20-102mm (thân xe) và 40-242mm (tháp pháo). Động cơ điêzen còng suất 425kW (580cv); tốc độ lớn nhất 50km/h; hành trình dự trữ 450km (đường nhựa), 320km (đường đất); khả năng leo dốc 31°, đi dốc nghiêng 17°, vượt vách đứng 0,8m và hào rộng 2,85m; lội nước sâu 1.4m: đi ngầm sâu 5m (khi có thiết bị). Vũ khí: pháo nòng trơn 115mm, có hệ thống ổn định trong hai mặt phẳng... cơ số đạn 40 viên, tầm bắn gián tiếp 5.800m, trực tiếp 4.000m hoặc 3.000m (tùy theo loại đạn), súng máy song song 7,62mm và súng máy phòng không 12,7mm. Có thiết bị chữa cháy tự động, thiết bị nhìn đêm hồng ngoại. T-62 có trong trang bị của QĐ LX và gần 20 nước khác, trong đó có QĐND VN. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67513976_460336418029577_2440897177799622656_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHycVIo-291eAqjDNnSqp4kaeTwSBfM2x3h-m4aK_ziGa0BPqntSx9U_V9WYekCAXHKNbEFBiBhUDhuYmkcob5vPQz7pISwHaSi6TJUrjhPhQ&_nc_oc=AQmr_iCeX8ON_VBJzh_fOR3SFazjUIZin_W3s06OLV6NapgwsCR1pd4mf1jgvDL5934&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c15e0e0c550d65f0b37c7dbdcc01e8d0&oe=5DE4BD20) T-69, xe tăng hạng trung của TQ do Tổ hợp công nghiệp Hoa Bắc (NORINCO) sản xuất từ 1969 trên cơ sở cải tiến kiểu T-59. Có hai mẫu: T-69-I và T-69-II. Khối lượng chiến đấu 36.5- 37t, kíp xe 4 người. Thân xe dài 6,24m (cả pháo: T69-I: 8,66m, T-69-II: 8,59m), rộng 3,3m (3,31m), cao 2,81m (súng phòng không 12,7mm ở thế hành quân). Động cơ điêzen công suất 425kW (580cv); khả năng leo dốc 31°. đi dốc nghiêng 21°: vượt vách đứng 0,8m, hào rộng 2,7m. Tốc độ lớn nhất 50km/h, hành trình dự trữ 440km (đường nhựa), 320km (đường đất). Vũ khí: pháo nòng trơn (hoặc rãnh xoắn) l00mm, đạn pháo 34 (44) viên, 1 súng máy phòng không 12,7mm với 500 viên đạn. 2(1) súng máy 7,62mm với 3.400 (3.000) viên đạn. Hệ thống điều khiển hỏa lực ISFCS có máy tính đường đạn; khí tài nhìn đêm hồng ngoại chủ động; máy do xa lade... T-69 có trong trang bị của QĐ TQ, Irắc, Iran, Pakixtan, Thái Lan... Trên cơ sở T-69 đã chế tạo các loại xe cứu kéo, bắc cầu, pháo phòng không tự hành... Các mẫu cải tiến tiếp theo là T-79 và T-80, trang bị pháo rãnh xoắn 105mm. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67469975_460336428029576_6289806023888732160_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHXMbUo4L-_kMtw-FzTmfS-0s8gsKEPbZytFQFazegO0SBCYS5Gfms3ruErg0kMj5MZPMLYWU0m4-OvaG6QzIx78GcwtR7v_KJpdKf6-FvFcA&_nc_oc=AQkhiwg7Ti3pxSSWD6XR0dVXHqUHHWFz5oG39eAPxS7PgNP_MZ8e-GGTwFT86s1JJvs&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d9e13c304dd92b878c3b4ff51235362c&oe=5DEED9E5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:24:53 pm T-72. xe tăng chủ lực của LX sản xuất từ 1971. Khối lượng chiến đấu 41-41.5t, kíp xe 3 người. Thân xe dài 6,67m (cả pháo quay phía trước: 9,53m với pháo D81GM hoặc 9,24m với pháo 2A46), rộng 3,46m, cao 2,19m (đến nóc tháp pháo). Động cơđiêzen đa nhiên liệu, công suất 581kW (780cv); khả năng leo dốc 31°, đi dốc nghiêng 21°; vượt vách đứng 0,82m, hào rộng 2,8m; lội nước sâu l,3m. Tốc độ lớn nhất 60km/h; hành trình dự trữ 480-500km. vỏ giáp dày nhất 200mm (thân xe), 280mm (tháp pháo). Vũ khí: pháo nòng trơn 125mm có ổn định trong hai mặt phẳng, cơ số đạn 39 viên, tầm bắn trực tiếp 5km, gián tiếp 9,4km; súng máy song song 7,62mm (đạn 2.000 viên), súng máy phòng không 12,7mm (đạn 300 viên). Các mẫu cải tiến như T-72A, T-72B. T-72B1, T-72M (T-72M1), T-72G... khác nhau chủ yếu ở hệ thống điều khiển hỏa lực và một số chi tiết vỏ giáp. Các xe sản xuất gần đây có lắp giáp phản ứng nổ, công suất động cơ đến 617kW (840cv), cơ số đạn pháo 46 viên. Trên cơ sở T-72 đã chế tạo xe sửa chữa cứu kéo BREM-1, xe bắc cầu MTU-20, xe tăng công binh IMR-2... Tất cả các xe họ T-72 (trừ xe chỉ huy mang kí hiệu “K”) đều có thể lắp thiết bị quét mìn ở phía trước. T-72 còn được sản xuất ở Ấn Độ, Ba Lan, Sec- Xlôvakia, Nam Tư (xe tăng M-84). Rumani (TR-125) và lắp ráp ở Irắc. Được trang bị cho QĐ các nước thuộc Hiệp ước Vacsava trước đây và một số nước thế giới thứ ba. Đã sử dụng trong các cuộc chiến tranh Trung Đông và Vùng Vịnh. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68549248_460336441362908_3197285534745493504_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFVPlZ9Q6GO0Nq5qri923u-z-SlkrRoR4wP3vL7g6IpTkJUGNkU112gPBmGd66aHhQYpMMQAZIxUCw1g_JTxr8mSaT3bta5QsY9PARIsauFWQ&_nc_oc=AQmdo4KBWopjR3v3HNTLkxJdJ2hWc2J_JvcZH-ieiBGthDbI2TKvqu8igA0eNzZZMoo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=656247d87e57b239d8dc2d3695957a22&oe=5DE9958A) T-74. xe tăng chủ lực kiểu 74 do hãng Mitxubisi (Nhật Bản) chế tạo. Thử nghiệm (các mẫu STB-1 đến STB-6) từ 1969 đến 1973. Đưa vào trang bị cho lục quân Nhật 1974. Sản xuất hàng loạt 1975-91. Khối lượng chiến đấu 38,0t, kíp xe 4 người. Xe dài 6.7m (cả pháo phía trước 9,41m), rộng 3,18m, cao tới nóc tháp pháo 2,48m (tới súng phòng không 2,67m). Chiều dài xích chạm đất 4m, áp suất trung bình trên nền 0,80kG/cm2. Động cơ diezen 10ZF, 4 kì, V-10, đa nhiên liệu, làm mát bằng không khí, tăng áp bằng 2 máy nén khí, công suất 522,6kW (716cv). Tốc độ lớn nhất 60km/h. Cơ số nhiên liệu 950 lít, hành trình dự trữ 400km. Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 22°, vách đứng cao 1m, hào rộng 2,7m; lội nước sâu 1m (có thiết bị lội ngầm: 4m). Hộp số thủy cơ MT-75A, 6 số tiến, 1 số lùi, lắp liền 1 khối với động cơ. Hệ thống treo thủy khí điều chỉnh được, cho phép mở rộng phạm vi thay đổi góc tầm của pháo, khoáng sáng gầm xe từ 0,25 đến 0,65m và giữ thăng bằng thân xe khi chạy trên dốc nghiêng. Trang bị 1 pháo rãnh xoắn 105mm L7A1, đạn 55 viên, góc hướng pháo 360°, góc tầm +15% 12° và 1 súng máy song song 7,62mm. 1 súng máy phòng không 12,7mm. Hệ thống điều khiển hỏa lực gồm: máy đo xa lade, kính ngắm chính pháo thủ, kính ngắm bổ trợ, hệ thống ổn định pháo, máy tính đường đạn kĩ thuật số, bàn điều khiển của trưởng xe và pháo thủ. Xe có hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, thiết bị hồng ngoại chủ động, hệ thống chữa cháy tự động. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67463130_460336451362907_7536274183945191424_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEp3xth9lNA3yQx-Sbcuy-nbYuZeh5Oa0aGT2XufKw-AuERLuMx7-mmX_nmUKp_gFN-u1HOUrpOAt0BnP_C8PuXm1c6ALstoSJzlmNwvCP4yA&_nc_oc=AQntjm8FByeDV4mluMrBP6mHXj4tQ_5cK36_VWfIku7DvmuQJDcCeI-3QeDMWA45QoE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=9f7c2caaf84712c80acc3ab28e7c5d19&oe=5DE4AA02) T-80. xe tăng chủ lực do LX sản xuất từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của tk 20. Khối lượng chiến đấu 39,7-43t, kíp xe 3 người. Thân xe dài 7,4m (cả pháo quay phía trước 9,9m); rộng 3,4m, cao 2,2m (đến nóc tháp pháo). Động cơ tuabin khí, công suất 735kW (l.000cv); khả năng leo dốc 31°, đi dốc nghiêng 21°; vượt vách đứng 0,8m, hào rộng 2,95m; lội nước sâu l,4m. đi ngầm sâu 5m (khi có thiết bị). Tốc độ lớn nhất 70km/h. Vũ khí: pháo 125mm nòng trơn (cơ số đạn 45 viên), tên lửa chống tăng điều khiển bằng lade (9M119), súng máy song song 7,62mm (đạn 2.000 viên), súng máy phòng không 12,7mm (đạn 500 viên). Các mẫu cải tiến như T-80B (1978), T-80BV (1985), T-80U (1985), T-80UĐ (1987), T-80UK,... khác nhau chủ yếu ở hệ vũ khí, hệ thống điều khiển hỏa lực và một số chi tiết vỏ giáp (vỏ giáp phức hợp, sau lắp thêm giáp phản ứng nổ). T-80 chỉ trang bị cho QĐ LX trước đây và SNG ngày nay. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67764159_460336458029573_446427379011682304_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHUxh5JhsK2AVrP4Yho5gb_SaGoY4oZrDsUOO4osRX7yRHny_KjoX6q_sf4XycWPS4qe1qkoQqu2Ndw07ci-Cdsk9e02YieAmAKe3OR_l8y_w&_nc_oc=AQky6Zgo_FL_RGHB1wYHr7MkT8-GgdpJJQ6xH08f1fC09GNWmC5kfRq_eChs_v5wRRw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5c523b0d814d1eb92cb409799a0d1308&oe=5DE635D5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:26:35 pm T-85. xe tăng chủ lực kiểu 85 TQ do Tổ hợp công nghiệp Hoa Bắc (NORINCO) chế tạo trên cơ sở cải tiến xe tăng chủ lực kiểu 80. Các biến thể chính: 85-11. 85-IIA (1989), T-85-IIM (1992). Khối lượng chiến đấu 41t, kíp xe 3 người. Xe dài 9.508m (cả pháo quay phía trước 10.28m), rộng 3,45m, cao 2,3m, khoảng sáng gầm xe 0,48m. Động cơ điêzen tăng áp 4 kì, V-12, công suất 533kW (730cv), công suất đơn vị 18,5cv/t. Tốc độ lớn nhất 57,25 km/h. Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 22°. vách đứng cao 0,80m, hào rộng 2,7m; lội nước sâu l,4m (có thiết bị lội ngầm: 5m). Trang bị 1 pháo nòng trơn 125mm và 1 súng máy song song 7,62mm. 1 súng máy phòng không 12,7mm. Góc hướng pháo 360°, góc tầm +14°/-6°. Có hệ thống ổn định vũ khí trong hai mặt phẳng, máy đo xa lade. hệ thống phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, chữa cháy tự động, thiết bị nhìn đêm tiên tiến. Biến thể mới kiểu 85-III (1995): khối lượng chiến đấu 41,7t; dài (cả pháo) 10.428m, cao 2,2m; công suất động cơ 733kW (l.000cv), công suất đơn vị 23,98cv/t; vận tốc lớn nhất 65km/h. Ngoài trang bị cho QĐ TQ, T-85 còn được xuất khẩu sang Pakixtan (từ 1991). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67380366_460336471362905_777287126642327552_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHHTp0HspvfjXrWu7CVZjkCkfCoioMd7lAO3dCvQtanJxWD917IeE6vBKBLbDk3CA-j-psRRB_bist86LX6J82gLFe5Gr2lHvJ-c3QZoUtkZg&_nc_oc=AQlvg-tNZ-OZgboE9Dv6Arm2MXBbJ5QX-IVu4h3jjNLvvmFBwhL90OSrqInLQUJvxZQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=42bb94953aeeb4cc4b6a69535faab370&oe=5DD519D7) T-90*, xe tăng chủ lực do Nga sản xuất trên cơ sở các xe tăng họ T-72. Đưa vào trang bị 1994. Khối lượng chiến đấu 46.5t, kíp xe 3 người. Xe dài 9,53m (pháo phía trước), 6,86m (pháo phía sau), rộng 3,37m, cao (đến nóc tháp pháo) 2,23m. khoảng sáng gầm xe 0.49m. Động cơ điêzen 4 kì, V-84 làm mát bằng nước, công suất 613.2kW (840cv). Dung tích hệ thống nhiên liệu trong xe 1.200 lít, dự trữ 400lít. Hộp số thủy cơ 7 số tiến, 1 số lùi. Hành trình dự trữ lớn nhất trên đường cứng 550km, đường đất 450-470km. Tốc độ lớn nhất 60km/h. Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 22°, vách đứng cao 0,85m. hào rộng 2,8m: lội nước sâu l,8m (có thiết bị lội ngầm: 5m). Trang bị pháo nòng trơn 125mm 2A46A1 và 1 súng máy song song 7,62mm, 1 súng máy phòng không 12,7mm. 8 ống phóng đạn khói. Góc hướng pháo 360°, góc tầm +14°/-8°. Có hệ thống nạp đạn tự động, hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, hệ thống chữa cháy tự động. Ngoài lớp giáp phản ứng nổ, còn trang bị hệ thống bảo vệ tự động “Stora-1”. Được đánh giá là một trong những kiểu xe có khả năng bảo vệ tốt nhất thế giới hiện nay. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67491825_460336484696237_6278863044218978304_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGMQGXK_fGVnnJtaKpNyH98DnTOlx9QIoyrqQ9la3YMkayYUBrDoP8ePnW_VvtJ0S47n0hjfnkPfCM9gz6Ahu0jki-4MrZQSlA2_9vLo4W1HQ&_nc_oc=AQldGWCU5i5GAW6z1eB-RKte5ZHU0KlEV_r1mrPwzxg6saYHyX_N8-YEEYR-BfCGp4A&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=1a3a82203ba0de0e1fddc13d735e1b93&oe=5DE9983F) T-90**, xe tăng chủ lực của TQ do Tổ hợp công nghiệp Hoa Bắc (NORINCO) chế tạo từ 1991. Khối lượng chiến đấu 48t, kíp xe 3 người. Xe dài 7m, rộng 3.4m, cao 2m (tới nóc tháp pháo), khoảng sáng gầm xe 0,48m. công suất đơn vị 25cv/t. Tốc độ lớn nhất 60km/h. Vượt dốc cao 31°, vách đứng cao 0,85m. hào rộng 3m, đi dốc nghiêng 17°, lội nước sâu 1.4m. Động cơ điêzen 4 kì, V-8, làm mát bằng nước có tăng áp, công suất 876kW (1,200cv). Hộp số thủy cơ SESM 500 (Pháp) 4 số tiến, 2 số lùi. Động cơ và hộp số lắp thành một khối, có thể thay thế trong 30 phút. Trang bị 1 pháo nòng trơn 125mm và 1 súng máy song song 7,62mm. 1 súng máy phòng không 12,7mm, mỗi bên tháp pháo lắp 4 ống phóng đạn khói. Hệ thống nạp đạn tự động, hệ thống điều khiển hỏa lực được máy tính hóa kết hợp với kính ngắm ổn định lắp trên nóc xe. Xe có hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, thiết bị nhìn đêm khuếch đại ánh sáng mờ thế hệ 2, hệ thống chữa cháy tự động. Phía trước xe lắp thêm lớp giáp phản ứng nổ kiểu môđun, có thể thay thế dễ dàng khi bị bắn hỏng. Xe được sơn bằng loại sơn phản xạ tia hồng ngoại. T-90 trang bị cho QĐ TQ gọi là kiểu 90-11. Được chế tạo theo giấy phép tại Pakixtan, sau phát triển thành xe tăng chủ lực kiểu 2000 hay AI Khalid. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67500552_460336491362903_3307920941647921152_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeG0ggOnQ74_4AwvRyJJ6WnYCDI9QU5gFORpZokqJHhvgl-Va5P14IF3GuRFVDr3g-gCjsvdcxD2a7u71-z3iInFpSgHaa8NQgqBrR32YfJKeQ&_nc_oc=AQkObqLw304kw3mOolS0sSZ7WMFjhhUqZPqfDUsOXiOzETjCNQsS3M3irwi_XyJOgEA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=47f572219ef45a9b25aa53ac283cef2e&oe=5DEAFE51) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:28:24 pm T-VI TAIGƠ (xe tăng Con Cọp, A. Tiger), xe tăng hạng nặng do hãng Hen Sen (Hen Schel. Đức) chế tạo 4.1942. Từ 8.1942 đến 8.1944 đã xuất xưởng 1.350 xe. Khối lượng chiến đấu 56t, kíp xe 5 người, áp suất trên nền l,03kG/cm2. Động cơ điêzen 4 kì, V-12, làm mát bằng nước, công suất 440kW (600cv). Hệ thống truyền lực cơ khí. Hành trình dự trữ 120km. tốc độ lớn nhất 38km/h, lội nước sâu l,30m (495 xe loạt đầu có thiết bị lội ngầm tới 4m). Trang bị 1 pháo cỡ 88mm, nòng dài 4,92m, đạn 92 viên, góc quay hướng 360°. điều khiển bằng thủy lực; 2 súng máy 7,62mm. đạn 5.700 viên. Độ dày vỏ giáp mũi xe và phía trước tháp pháo l00mm. thành xe 80mm. Từ 1.1944 đến hết CTTG-II. Đức đã xuất xưởng 489 xe tăng cải tiến kiểu T-VIB “Cọp chúa”, khối lượng 68t, công suất động cơ 511 kW (700cv); trang bị 1 pháo 88mm. nòng dài 6,25m; vỏ giáp mũi xe dày 150mm. phía trước tháp pháo 180mm; tốc độ lớn nhất 35km/h. TẢ ĐỊNH (đồn Bắc), pháo đài ở tả ngạn sông Sài Gòn. xây dựng 1790 trên địa phận tổng Bình An, h. Phước Long, phủ Gia Định (nay thuộc phường Thủ Thiêm, q. 2, tp Hồ Chí Minh). Lúc đầu gọi là đồn Dốc Ngư, 1863 đổi là TĐ. Cùng với pháo đài Hữu Bình trên bờ đối diện tạo thành tiền đồn bảo vệ cửa ngõ đông nam thành Gia Định. 16.2.1859 khi tiến đánh chiếm Gia Định lần thứ nhất, tàu chiến của liên quân Pháp - Tây Ban Nha tiến công hai pháo đài này. Quân ta chống trả quyết liệt nhưng không bảo vệ được. Cà hai đồn bị pháo địch san bằng. TẠ HIỆN (Tạ Quang Hiện; 1841-?), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tạ Hiện (1883-87). Quê tổng Hổ Đội, h. Thụy Anh, phủ Thái Bình. t. Nam Định (nay thuộc h. Thái Thụy, t. Thái Bình). Sau khi đỗ tú tài võ, làm đốc binh Tuyên Quang, cùng Lưu Vĩnh Phúc đánh dẹp quân Cờ Vàng. 1882 làm đề đốc Nam Định, khi Pháp chiếm Nam Định (27.3.1883), đã tổ chức lực lượng đánh lại quân Pháp, bất chấp lệnh bãi binh của triều đình. Sau khi triều Nguyễn đầu hàng, thỏa hiệp kí hiệp ước Quý Mùi (1883), TH treo ấn từ quan, về quê chiêu tập nghĩa binh dựng cờ khởi nghĩa, phối hợp với các lực lượng nghĩa quân trong vùng tổ chức hoạt động chống Pháp, tiến hành nhiều trận tập kích thắng lợi ở Trà Lí, Diêm Điền. Quỳnh Côi... 2.1887 bị bắt trong trận đánh quyết liệt ở Phả Lại, sau đó trốn thoát lên vùng Đỏng Triều tiếp tục hoạt động chống Pháp. TẠ QUANG BẠO (S. 1941), nhà điêu khắc, họa sĩ trưởng Viện bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam. Quê xã Hà Lâm, h. Hà Trung, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1971, trung tá (1992); đv ĐCS VN (1974). Từ 1964 TQB đã có nhiều công trình tượng đài với quy mô lớn và tác phẩm điêu khắc, tiêu biểu là: “Mẹ Trường Sơn” (giải nhì triển lãm mĩ thuật toàn quốc, 1976), “Đảo tiền tiêu” (1980, giải nhất triển lãm mĩ thuật toàn quốc), “Nguyễn Trãi làng Nhị Khê” (1982), “Dòng sông Mê Công”, “Mẹ lá chắn I”, “Đêm mùa hạ” (giải nhất triển lãm điêu khắc 10 năm, 1983), “Mẹ lá chắn II” (giải nhất triển lãm toàn quốc về đề tài QĐ. 1984), “Sông Lô” (1987), “Chiến thắng Quế Sơn” (1988), “Kháng chiến chống Pháp”, “Kháng chiến chống Mĩ” (giải nhất triển lãm toàn quốc về đề tài chiến tranh CM 1990)... Huân chương: Chiến công hạng ba, Kháng chiến hạng ba... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67898134_460336498029569_8757443951541092352_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHbBu-9tgy_6wfXAG-ViRj_SRo9WQYphkl-aOxMhl0XV-gtQQ3bC7_DNG7ZbL5jxmFKROS_9bUQj8ym4wr_ByPwiXi8wzw7Tg30G0xRSwJc9g&_nc_oc=AQk-msFFvATrnLfxoklBBf1PvSaQ8Tsz_BLDkoa93cdvVskqik_V18Uvei-ysaBnVD8&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1182ebb67268ae782c865261896f0524&oe=5DEBA9F4) TẠ QUANG BỬU (1910-86), bộ trưởng BQP chính phủ VN DCCH (1947-48). Què xã Nam Hoành, h. Nam Đàn, t. Nghệ An. Tốt nghiệp cử nhân tại Trường Xoocbon (Pháp) và Trường Ôxphơt (Anh). 1936 về nước làm nghề dạy học, nghiên cứu khoa học tự nhiên, tham gia phong trào Hướng đạo sinh và truyền bá chữ quốc ngữ tại Huế. Sau CM tháng Tám (1945), giữ nhiều trọng trách trong chính phủ VN DCCH: tham nghị trưởng Bộ ngoại giao (1945-46), thành viên phái đoàn chính phủ tại hội nghị Phôngtennơblô (6.7-13.9.1946), thứ trưởng BQP (1946-47). Năm 1947-48 bộ trưởng BQP; ủy viên Hội đồng quốc phòng tối cao, thành viên phái đoàn chính phủ tại hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5-21.7.1954). thay mặt BQP kí các văn bản QS với Pháp. 1955-58 thứ trưởng BQP. 1956 giám đốc đầu tiên Trường đại học bách khoa Hà Nội. 1965-76 bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, phó chủ tịch ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của VN, phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô... Đại biểu quốc hội khóa I-IV. Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996) về công trình “Tập hợp các công trình giới thiệu khoa học kĩ thuật hiện đại (sau 1945), chỉ đạo các nhiệm vụ kĩ thuật quan trọng trong KCCM cứu nước”. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68328007_460336514696234_2474459134582325248_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeE4Qq5Z6Ty9hzZ7Ysl97V6EMj-GWUom_kH6L6uX5-lr6QvYzbg8wfGPeo73miZ4qLN7hYLs34au8wmnJ9DUy7MySEnP9lebp9Qlx8S8rkohLA&_nc_oc=AQn256ICOzoL6mVFCXmspQsBIgFgwCJaxIBfi37y9cFPZKlVN2JdZwx6gz7Kvjs55yw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ddc7be7733e3de7c982a2341a8b35684&oe=5DA5254B) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:30:26 pm TẠ THỊ KIỂU (Mười Lí; S. 1938), Ah LLVTND (1965). Quê xã An Thạnh, h. Mỏ Cày, t. Bên Tre; nhập ngũ 1963. đại tá (1993), phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 7 (1984-99; đv ĐCS VN (1961); khi tuyên dương Ah là cán bộ Ban chỉ huy QS huyện Mỏ Cày. 1958 tham gia hoạt động trong vùng địch tạm chiếm. Kiên trì xây dựng và tổ chức phong trào quần chúng làm cơ sở cho đấu tranh chính trị và QS, kết hợp ba mũi giáp công, tổ chức và tham gia lãnh đạo hơn một trăm cuộc đấu tranh chính trị, vận động được 13 gia đình binh sĩ và 6 binh sĩ QĐ Sài Gòn theo CM. Tổ chức tiểu đội du kích liên tục hoạt động, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Lập mưu lừa địch đánh chiếm hai bốt An Bình và Kinh Quang. Trận phục kích trên đường Mỏ Cày (10.1961), bắn cháy một xe nhưng địch đông hơn đã đánh vào trận địa, TTK một mình ở lại chặn địch cho đồng đội rút. TTK đã chiến đấu 33 trận, diệt 7, bắn bị thương 11, bắt sống 13 địch, thu 24 súng. 12.1973 cán bộ Cục chính trị Quân khu 7. Từ 1984 đến 1999 phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 7. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhì... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67694145_460336541362898_1473316431276802048_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGNqHKJlIDOQyaiadG6ZRYqXypeQG_6bMS8qdOAaG5FiLt4g4AGM7vcvswmNV7P7JaJQQkWjxKbFa6-zB4X29MoH0tr5F_Mhvh3LyOGJpj_6g&_nc_oc=AQkNmkxogwIxtxycieh2z-Op3slHEPjsQAeRbBHDeaEDE7zR-S8UI9RFle9LqgiJID0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ab16b36d8393045f615d45e5132a0fd2&oe=5DDFB77C) TẠ VĂN THIỂU nh MAI NĂNG TẠ XUÂN THU (Tạ Tiến; 1916-71), tư lệnh đầu tiên Quân chủng hải quân. Quê xã Tây Giang, h. Tiền Hải, t. Thái Bình; tham gia CM 1937. nhập ngũ 12.1944, thiếu tướng (1961); đv ĐCS VN (1938). Năm 1940 bị thực dân Pháp bắt giam. 9.1944 vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân ở Chiến khu Việt Bắc. 3.1945 chỉ huy một đội của giải phóng quân đánh chiếm các đồn Chợ Chu, Chiêm Hóa, Sơn Dương và tham gia ủy ban giải phóng Hà Tuyên, trực tiếp chỉ huy chiến đấu giải phóng Tuyên Quang. 10.1945-50 chính trị viên Khu 1, chính ủy Khu 10, phụ trách mặt trận Tây tiến, kiêm ủy viên kiểm tra của Quân ủy trung ương và thanh tra QĐ. 1950-53 phái viên QS của chính phủ VN sang giúp chính phủ Lào, trực tiếp chỉ huy bộ đội tình nguyện VN ở Thượng Lào. 1954-55 tư lệnh kiêm chính ủy Bộ đội biên phòng; chính ủy Sư đoàn 335. Tháng 11.1955-63 chính ủy kiêm cục trưởng Cục phòng thủ bờ biển. 1964 tư lệnh Quân chủng hải quân. 1965-71 chính ủy: Quân chủng hải quân. Binh chủng pháo binh, Học viện QS. Đại biểu Quốc hội khóa I, II. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67405410_460336524696233_6637577110758096896_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHmpVe_BJ66w23GA4-yJ4vRG_VPuj8X1rDDuleIiuCozQJzrevDxAKnnM3zOmrEWjaPXLczAh8uaaN15OOJXqLRQB9uSycD-RG_F5tCSarTvg&_nc_oc=AQkmtqPPiIJRKtQ3UgBfC6irmUzI2QSzQiRS-eHfSkhU81yrHW-FKAxuYisozKSvw0g&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=fca84784a7e4d12f968042bf856601d5&oe=5DA4A4B3) TABUN (O- Etyl - N, N - dimetyl photphoami- doxyanidat), chất độc thần kinh, công thức cấu tạo: (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67673605_460336548029564_4160419293604872192_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHAHs81yHasKpifG8xMA8Ri3dsAeduSBCiYTfwVWkqKRp1NbaRJKr64O441j7_WNdrVRE8e7nTDCJ9Bmm5kiX5wqvpq7eA789xdW1DSSXhbng&_nc_oc=AQmXrG9x8kOpo4nbtDGcw31mBBlOv7EsFNwVbEu2xLdi8-OGe5p7haHG7TOsYe-j9Q0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=70e1bf282f5bda7d2e007366d3ae5b28&oe=5DA89BF3) T tinh khiết là chất lỏng sánh không màu (T công nghiệp màu nâu thoảng mùi hoa quả chín, nồng độ lớn mùi tanh cá), nhiệt độ đông đặc -50°c, nhiệt độ sôi 230°c, độ bay hơi 0,6mg/l ở 20°c, tỉ trọng 1,082 ở 20°c (tỉ trọng hơi T so với không khí 5,6); tan ít trong nước (12%), dễ tan trong các dung môi hữu cơ và một số chất độc khác; thấm sâu vào gỗ, cao su, màng sơn dầu. T thường sử dụng ở trạng thái hơi, giọt lỏng hay xon khí, gây nhiễm độc qua đường hô hấp, da, niêm mạc mắt,... với các triệu chứng điển hình như: co hẹp đồng tử, nôn mửa, tiêu chảy. gây cảm giác sợ hãi, co giật, có thể dẫn tới tử vong. Liều độc tử vong trung bình qua đường hô hấp LQ50 = 0,4mg ph/1, qua da LD50 = 14mg/kg và hầu như không có thời gian ủ bệnh. Để phòng tránh T, dùng mặt nạ phòng độc và khí tài phòng da, để tiêu độc T, dùng các dung dịch kiềm, vôi clorua, canxi hypôclorit, amôniac, xôđa, phenolat. T do phát xít Đức chế tạo đầu tiên từ trước CTTG-II, thường nhồi nạp vào đạn pháo, cối, tên lửa, bom, mìn. thiết bị phun... TÁC CHIẾN, hành động đánh địch có tổ chức của các đơn vị LLVT để thực hiện nhiệm vụ được giao. Tiến hành ở các quy mô: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật ở trên bộ, trên biển, trên không. TC có các loại cơ bản: tiến công (dạng đặc biệt là phản công) và phòng ngự. TC được tiến hành bằng các hình thức: trận chiến đấu. chiến dịch, đợt TC tập trung, hoạt động TC thường xuyên... Đặc điểm TC hiện đại: mục đích kiên quyết, không gian lớn, nhiều lực lượng tham gia, sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, kể cả vũ khí hủy diệt lớn, rất cơ động và linh hoạt, tình huống diễn biến khẩn trương, phức tạp, tiêu thụ phương tiện vật chất lớn. Đê tiến hành TC hiệu quả, phải huy động và sử dụng kết hợp nhiều lực lượng, hiệp đồng chặt chẽ, vận dụng phương pháp tác chiến phù hợp, tạo thế, lập thế có lợi, công tác bảo đảm TC chu đáo. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:31:22 pm TÁC CHIẾN ĐẶC CÔNG, tác chiến của các đơn vị đặc công để thực hiện nhiệm vụ được giao. Có hình thức TCĐC: trận chiến đấu, đòn dột kích, đợt tác chiến; được tiến hành ở mọi địa hình, trên mặt đất và dưới nước. Đặc điểm của TCĐC: lấy ít địch nhiều, đánh hiểm, tiêu diệt sinh lực đặc biệt và phá hủy phương tiện vật chất quan trọng của đối phương. TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ, loại bảo đảm tác chiến gồm tổng thể các hoạt động của bộ đội được tiến hành thống nhất theo mục đích, nhiệm vụ, địa điểm và thời gian nhằm loại trừ hoàn toàn hoặc làm giảm hiệu quả các hệ thống chỉ huy bộ đội, điều khiển vũ khí bằng các phương tiện điện tử của đối phương và bảo đảm ổn định tối đa cho hoạt động hệ thống đó của ta. TCĐT gồm: trinh sát điện tử, chế áp điện tử, bảo vệ điện tử. Thực hành kết hợp với tiêu diệt các phương tiện điện tử của đối phương. TCĐT xuất hiện vào đầu tk 20. Năm 1904 (chiến tranh Nga - Nhật), 2 tàu chiến của Nga đã dùng điện đài để trinh sát và phá thông tin liên lạc của tàu Nhật. Trong CTTG-I, TCĐT chỉ gây nhiễu vô tuyến điện từng phần, được phát triển cao hơn trong CTTG-II theo hướng phá hoạt động của rađa phòng không, hệ thống đạo hàng và thông tin vô tuyến điện. Trong thời gian này đã xuất hiện nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực. Thành công hơn cả là trong chiến dịch đổ bộ ở Noocmandi (1944), QĐ Mĩ - Anh đã sử dụng gần 700 máy phát nhiễu vô tuyến điện đật trên mặt đất, trên tàu biển và trên máy bay, đã đánh lừa được BTL Đức. Sau đó TCĐT được tiếp tục phát triển trong các cuộc chiến tranh cục bộ. Trong cuộc chiến tranh xâm lược VN (1955-75), QĐ Mĩ đã sử dụng các biện pháp và phương tiện trinh sát điện tử, kể cả trinh sát vũ trụ, các phương tiện nhiễu điện tử, chủ yếu đặt trên máy bay. Để tiến hành TCĐT. QĐ Mĩ đã dùng tổ hợp các phương tiện nhiễu vô tuyến điện, các mục tiêu giả (tên lửa giả mục tiêu, dây kim loại...), tên lửa tự dẫn chống rađa, thiết bị phát hiện và điều khiển phương tiện TCĐT, ngoài ra còn sử dụng máy bay trinh sát và máy bay chiến đấu vào TCĐT. LLVTND VN đã tiến hành TCĐT có hiệu quả trên lĩnh vực chống trinh sát điện tử, chống nhiễu và chống sát thương các phương tiện TCĐT. Trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến tranh Côxôvô 1999 và chiến tranh Apganixtan (2001) QĐ Mĩ và liên quân đã sử dụng các phương tiện hiện đại nhất để tiến hành TCĐT. Hiện nay, trong QĐ nhiều nước xuất hiện những tổ hợp nhiều chức năng với mức độ tự động hóa cao, gồm thiết bị trinh sát điện tử, nhiễu điện tử, các mục tiêu giả, các phương tiện sát thương khí tài điện tử. TÁC CHIẾN ĐỘC LẬP PHÁO BINH, tác chiến trong đó hỏa lực pháo binh giữ vai trò quyết định trong việc sát thương sinh lực, phá hoại phương tiện vật chất của đối phương, thực hiện mục đích trận chiến đấu (chiến dịch). Được tiến hành trong trận chiến đấu độc lập hay đợt tác chiến tập trung theo ý định và kế hoạch chung của chiến dịch (chiến lược) và có phối hợp với các lực lượng khác về mặt bảo đảm tác chiến. Các mục tiêu của TCĐLPB thường là: sân bay, bên cảng, kho tàng, căn cứ QS... Ở VN, xuất hiện lần đầu từ trận pháo kích sân bay Gia Lâm (25.1.1947) trong KCCP và được phát triển trong KCCM từ trận pháo kích sân bay Biên Hòa (31.10.1964) bằng pháo mang vác loại nhỏ. Trong TCĐLPB, pháo binh VN đã sử dụng từ cối, ĐKZ, sơn pháo đến đạn hỏa tiễn bắn ứng dụng; từ các phân đội pháo binh luồn sâu chuyển sang xây dựng và sử dụng các phân đội, binh đội pháo binh chuyên trách. TCĐLPB là một bước phát triển mới của nghệ thuật sử dụng chiến đấu pháo binh. TÁC CHIẾN HIỆP ĐỔNG BINH CHỦNG, gọi chung tác chiến có lực lượng của nhiều binh chủng được phối hợp chật chẽ với nhau, theo một ý định và kế hoạch tác chiến thống nhất nhằm tạo sức mạnh tổng hợp tiêu diệt địch. Thường do người chỉ huy binh chủng hợp thành tổ chức, chỉ huy. Ngày nay, TCHĐBC trở thành phổ biến trong mọi loại, hình thức, quy mô và môi trường tác chiến. TÁC CHIẾN HIỆP ĐỔNG QUÂN BINH CHỦNG, tác chiến được tiến hành bằng sự phối hợp chặt chẽ các đơn vị LLVT thuộc các binh chủng của một quân chủng hoặc giữa các quân chủng, nhằm thực hiện nhiệm vụ tác chiến theo một ý định và kế hoạch thống nhất. TCHĐQBC xuất hiện lần đầu tiên trong CTTG-I dưới hình thức trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng, thời gian này các binh chủng chiến đấu mới ra đời như pháo binh, xe tăng, máy bay... Từ CTTG-II, các quân chủng không quân, phòng không được thành lập, trang bị kĩ thuật chiến đấu của lục quân, hải quân được cải tiến. TCHĐQBC được tiến hành với sự phối hợp của nhiều binh chủng, quân chủng cả quy mô chiến dịch và chiến lược. Trong điều kiện hiện đại, TCHĐQBC giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:32:35 pm TÁC CHIẾN PHẢN KÍCH MÙA THU 1952, các đợt phản kích của quân chí nguyện TQ (7 quân đoàn: 7,12,15, 38,40. 65 và 68) phối hợp với QĐ Bắc Triều Tiên (2 quân đoàn: 1 và 3) đập tan kế hoạch tiến công của lực lượng QĐ LHQ do Mĩ cầm đầu (4 sư đoàn) trên tuyến Văn Đăng Lí - hạ lưu sông Lâm Tân và tuyến nam Bình Khang - bắc Kim Hóa, trong chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Diễn ra từ 18.9 đến 31.10, gồm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 (18.9-5.10), sử dụng 7 quân đoàn (5 quân đoàn quân chí nguyện TQ. 2 quân đoàn Bắc Triều Tiên) tiến hành phản kích chiến thuật vào 20 vị trí xung yếu; giai đoạn 2 (6-31.10). quân chí nguyện TQ tãng cường lực lượng thêm 2 quân đoàn 7 và 15. mở rộng phản kích trên toàn tuyến. Sau 44 ngày đêm chiến đấu. tiến hành 74 lần phản kích vào 60 mục tiêu, chiếm được 17 điểm chốt, đẩy lui hơn 480 đợt tiến công của QĐ LHQ. loại khỏi chiến đấu hơn 27 nghìn địch, thu hơn 2.300 súng các loại, phá hủy 57 khẩu pháo, 141 xe QS (có 67 xe tăng), bắn rơi 183 máy bay. Trong TCPKMT 1952 quân chí nguyện TQ và QĐ Bắc Triều Tiên đã tập trung được ưu thế về binh lực, hỏa lực, vận dụng linh hoạt phương thức tác chiến để giành thắng lợi. TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG, hoạt động tác chiến có tổ chức của lực lượng phòng không đánh trả các cuộc tiến công đường không, đổ bộ đường không, xâm phạm vùng trời của đối phương để bảo vệ mục tiêu và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Theo quy mô, có TCPK: chiến thuật và chiến dịch. TCPK được tiến hành dưới các hình thức: trận chiến đấu phòng không, trận chiến đàu phòng không then chốt (then chốt quyết định), hoạt động TCPK thường xuyên, đợt hoạt động TCPK tập trung, chiến dịch phòng không. TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG CƠ ĐỘNG, hình thức chiến thuật sử dụng lực lượng pháo, tên lửa phòng không cơ động để phục kích, đón lõng đánh địch trên không. TCPKCĐ thường được tiến hành ở vòng ngoài các yếu địa lớn. bảo vệ giao thông vận chuyển trên các tuyến đường quan trọng, bảo vệ các kho hàng, nơi tập kết phương tiện vật chất, bảo vệ các mục tiêu dự kiến địch sẽ đánh phá, đánh các loại mục tiêu đặc biệt ở những hướng (khu vực) chúng có thể đột nhập hoặc hoạt động (máy bay không người lái, máy bay bay thấp, máy bay trinh sát, gây nhiễu, tên lửa hành trình...). TCPKCĐ đã được vận dụng để chống chiến tranh phá hoại bằng không quân Mĩ ở Bắc VN (1965-72). TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG TRỰC TIẾP BẢO VỆ MỤC TIÊU, hình thức chiến thuật sử dụng pháo phòng không, tên lửa phòng không bố trí thường xuyên ở những vị trí then chốt, cách mục tiêu bảo vệ một khoảng thích hợp; đánh địch trước khi chúng cắt bom, bắn phá, để bảo vệ mục tiêu an toàn, dài ngày. TCPKTTBVMT thường tiến hành đánh địch ở khu vực trận địa chốt và kết hợp với cơ động đánh địch ở vòng ngoài. Vận dụng hỗn hợp hai cách này thường để bào vệ các yếu địa lớn và trung bình: trường hợp này thường có nhiều lực lượng (tên lửa, pháo phòng không) tham gia để hỗ trợ cho nhau tạo thành một hệ thống hỏa lực có chiều sâu, nhất là ở hướng chủ yếu, đánh địch từ xa đến gần, trực tiếp bảo vệ vững chắc mục tiêu. TCPKTTBVMT được vận dụng chống chiến tranh phá hoại bằng không quân Mĩ ở Bắc VN (1965-72). TÁC CHIẾN PHÒNG NGỰ HÈ THU 1951. đợt tác chiến phòng ngự của quân chí nguyện TQ (7 quân đoàn: 12, 26, 42, 47, 64, 67 và 68) và QĐ Bắc Triều Tiên (3 quân đoàn: 2, 3, 5), chống lại các cuộc tiến công của lực lượng QĐ LHQ do Mĩ cầm đầu (Mĩ 4 sư đoàn, Anh 1 sư đoàn và 2 lữ đoàn, Thái Lan 1 trung đoàn) và QĐ Nam Triều Tiên (5 sư đoàn) trong chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Diễn ra từ 18.8 đến đầu tháng 11, tại khu vực sông Bắc Hán - bờ Biển Đông (khoảng 80km) và các khu vực núi Dạ Nguyệt, Thiện Đức, Tây Thiết Nguyên, Liên Xuyên, núi Phong Hóa, núi Kiều Nham ở phía nam Kim Thành, Văn Đăng Lí, Sa Thức Lí, các điểm cao 1211, 1052, 851... Trong TCPNHT1951 quân chí nguyện TQ và QĐ Bắc Triều Tiên đã thực hiện có hiệu quả và rút được nhiều kinh nghiệm về cách đánh phòng ngự trận địa (có đường hầm) kết hợp phản kích, loại khỏi chiến đấu hơn 79 nghìn địch, buộc lực lượng QĐ LHQ phải chấp nhận lấy tuyến tiếp xúc thực tế làm giới tuyến QS giữa hai bên. TÁC CHIẾN TRÌ HOÃN, tác chiến ngăn cản, làm chậm tiến công của đối phương, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chủ yếu tranh thủ thời gian thực hiện nhiệm vụ. Lực lượng TCTH được xác định nhiệm vụ, yêu cầu, địa điểm, thời gian và cách kìm giữ địch. TCTH diễn ra chủ yếu khi rút lui hoặc phòng ngự. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:33:40 pm TÁC CHIẾN VÒNG NGOÀI, tác chiến được tiến hành trong phòng ngự (phòng thủ) chủ yếu do LLVT địa phương tiến hành bên ngoài khu vực phòng ngự (phòng thủ) nhằm phát hiện, tiêu hao, ngăn chặn làm chậm bước tiến công, buộc địch phải phân tán đối phó và triển khai đội hình sớm, kéo dài thời gian, sớm bộc lộ ý định hành động. Phương pháp TCVN: trụ bám quần lộn. đánh bên sườn, đánh phía sau đội hình địch khi chúng vượt qua, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng phòng ngự (phòng thủ)... và lực lượng cơ động tiến công đánh địch. Trên những hướng quan trọng có thể có bộ đội chủ lực, lực lượng tinh nhuệ, chuyên trách và bộ phận lực lượng dự bị cơ động bố trí sẵn để đánh địch. Tuỳ tình hình TCVN có thể tổ chức các chốt, cụm chốt (điểm tựa, cụm điểm tựa), cụm xã chiến đấu. căn cứ chiến đấu. Trên hướng chiến dịch chiến lược quan trọng có thể tổ chức khu vực TCVN. Trong TCVN thường vận dụng cách đánh linh hoạt như tập kích, phục kích, phá cầu cống, bắn tỉa... TÁC NGHIỆP BẢN ĐỒ, hình thức huấn luyện QS nhằm rèn luyện cho người học kĩ năng thao tác (viết, vẽ) trên bản đồ, sơ đồ hoặc phương tiện kĩ thuật theo một tưởng định nhất định. TNBĐ được tiến hành dưới sự hướng dẫn của người chỉ huy (giáo viên); thường vận dụng trong huấn luyện cán bộ, học viên các học viện, nhà trường và nhân viên chuyên môn. TÁC PHONG QUÂN NHÂN, phong cách sống, làm việc và sinh hoạt của quân nhân trong công tác và trong quan hệ với cấp trên, cấp dưới, với nhân dân, được quy định trong Điều lệnh quân lí bộ đội. TPQN được biểu hiện bằng việc chấp hành điều lệnh, giữ vững phẩm chất, đạo đức CM, có ý thức tổ chức ki luật, tinh thần đoàn kết, tương trợ, nếp sống văn minh, thái độ khiêm tốn, biết tự chủ và tự trọng. Thực hiện đúng TPQN là góp phần xây dựng QĐ CM, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP QUỐC PHÒNG, toàn bộ các quỹ tiền tệ và các quan hệ tài chính do các doanh nghiệp quốc phòng quản lí và sử dụng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất hoặc sửa chữa vũ khí, trang bị đồ dùng QS và tham gia sản xuất kinh doanh các mặt hàng kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu: quân lí, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước cấp để thực hiện nhiệm vụ được giao; huy động và đầu tư tiền vốn vào các cơ hội kinh doanh vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán cao và phát triển bển vững; quản lí, sử dụng mọi khoản thu. chi tài chính một cách hợp lí, hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất; quản lí, sử dụng các quỹ chuyên dùng, các khoản kinh phí sự nghiệp, các khoản hỗ trợ của nhà nước đúng mục đích; chấp hành nghiêm pháp luật về thu nộp ngân sách... TCDNQP phải giải quyết những mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước và BQP thông qua hệ thống pháp luật và chính sách tài chính đối với doanh nghiệp hoạt động công ích của nhà nước, của QĐ; giữa doanh nghiệp với thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính; giữa doanh nghiệp với bạn hàng, với đối tác kinh doanh... Thông qua các mối quan hệ này, doanh nghiệp xác định nhu cầu các yếu tố đầu vào, khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ đầu ra; huy động đầy đủ, kịp thời nguồn vốn sản xuất - kinh doanh, sử dụng linh hoạt các công cự huy động vốn; xác định chính xác giá trị của doanh nghiệp trên thị trường, nhằm thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện phương thức sản xuất - kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn. TÀI CHÍNH QUÂN ĐỘI, 1) bộ phận của kinh tế quân sự bao gồm những hoạt động quản lí và bảo đảm tài chính cho các đơn vị QĐ. Nhiệm vụ chủ yếu: lập dự toán ngân sách; cấp phát, sử dụng và thanh quyết toán ngân sách; quản lí vốn và tài sản QĐ: tổ chức công tác kế toán, thống kê và thực hiện một số nghiệp vụ về kho bạc, ngân hàng; thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động tài chính của các ngành, các đơn vị và tổ chức kinh tế trong QĐ. Hệ thống TCQĐ được xây dựng theo hệ thống tổ chức của QĐ. từ BQP đến đơn vị cơ sở; 2) toàn bộ của cải được tính bằng tiền do QĐ quản lí và sử dụng (theo nghĩa rộng); 3) toàn bộ các quan hệ tài chính và vốn bằng tiền do QĐ quản lí và sử dụng, chủ yếu bao gồm: kinh phí thuộc ngân sách nhà nước cấp, tài chính doanh nghiệp quốc phỏng, các nguồn lực tự huy động tại các cơ quan, đơn vị... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:34:38 pm TÀI LIỆU CÔNG NGHỆ, tài liệu kĩ thuật cho sản phẩm KTQS dưới dạng bản vẽ và văn bản, xác định quy trình công nghệ sản xuất và chế tạo sản phẩm, kể cả những số liệu để tổ chức dây chuyền sản xuất. TLCN bao gồm: phiếu công nghệ, phiếu tiến trình, bản vẽ phác thảo và chi tiết láp ráp, các bản hướng dẫn công nghệ; bản thống kê phân xưởng, trang thiết bị gia công và vật liệu. Phiếu tiến trình, văn bản công nghệ chính (cơ bản), có ở tất cả các giai đoạn khi lập hồ sơ gia công (sản xuất), bao gồm: thuyết minh quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm cho tất cả các nguyên công theo một thứ tự nhất định: chi dẫn trang thiết bị gia công, vật liệu và chi phí nhân công... Trong bản vẽ phác thảo, công nghệ chế tạo sản phẩm được biểu thị bằng bản vẽ (ở dạng phác thảo). Trong phiếu chi tiết lắp ráp. ghi các số liệu về chi tiết, đơn vị lắp ráp và vật liệu. Trong hướng dẫn công nghệ có thuyết minh biện pháp làm việc hoặc phương pháp kiểm tra quy trình công nghệ, quy tắc sử dụng trang thiết bị và dụng cụ, các biện pháp an toàn. Trong bản thống kê phân xưởng nêu số liệu về tiến trình phải đi qua của sản phẩm theo các phân xưởng của xí nghiệp (nhà máy). Bản thống kê thiết bị gia công liệt kê dụng cụ và phụ tùng cần thiết để chế tạo sản phẩm. Bản thống kê vật liệu, liệt kê chi tiết định mức tiêu hao vật tư. Ngoài ra TLCN còn có tài liệu chuyên sâu: phiếu nguyên công (chia quy trình công nghệ ra các nguyên công) và phiếu công nghệ theo các loại công việc (tạo vật đúc, ướm vật liệu, lấy dấu...). TLCN được thể chế hóa bằng các tiêu chuẩn thống nhất của nhà nước. TÀI LIỆU KĨ THUẬT, hệ thống tài liệu chứa các thông tin về một (hoặc một tổ hợp) sản phẩm từ lúc thiết kế đến khi hủy. Gồm: tài liệu thiết kế, tài liệu công nghệ, tiêu chuẩn kĩ thuật, tài liệu khai thác (hướng dẫn sử dụng, lí lịch, bảng thống kê đồng bộ phụ tùng...) và một số loại tài liệu khác. “TÀI LIỆU MẬT LẦU NĂM GÓC”, công trình nghiên cứu về chính sách của Mĩ đối với VN trong những năm 1945- 68, do tập thể các nhà khoa học (36 người) tham gia nghiên cứu, biên soạn dưới sự chỉ đạo của bộ trưởng quốc phòng Mĩ Mac Namara, tên gọi chính thức: “Lịch sử quá trình ra quyết định của Mĩ đối với Việt Nam”. Công trình bắt đầu 6.1967, hoàn thành đầu 1969, gồm 47 tập với 3.000 trang tường thuật, phân tích và 4.000 trang tư liệu. Nội dung phản ánh chính sách của Mĩ về vấn đề VN dưới thời các tổng thống Truman. Aixenhao, Kennơdi, Giônxơn; phân tích những sai lầm của chính phủ Mĩ khi quyết định leo thang can thiệp vào VN... 6.1971 do sự tiết lộ của Đanien Enxbec (thành viên trong nhóm biên soạn), phần lớn nội dung của “TLMLNG” lần lượt được đăng tải trên tờ “Thời báo Niu Ooc” và một số báo khác ở Mĩ (mặc dù chính quyền Nichxơn lúc đó tìm cách ngăn chặn). Công trình có giá trị sử liệu về cuộc chiến tranh do Mĩ gây ra ở VN, góp phần thúc đẩy phong trào nhân dân Mĩ chống chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam. TÀI LIỆU THIẾT KẾ, tài liệu kĩ thuật cho sản phẩm KTQS. xác định thành phần, cấu tạo và nguyên lí làm việc của sản phẩm, các số liệu cần thiết cho việc thiết kế, chế tạo, kiểm tra, nghiệm thu, thử nghiệm, sử dụng và sửa chữa sản phẩm. TLTK bao gồm: các bản vẽ, bản thống kê các chi tiết lắp ráp, bản tính toán, bản thuyết minh, các tiêu chuẩn kĩ thuật, sơ đồ, biểu đồ, các bảng biểu, phương pháp thử nghiệm... Dựa vào giai đoạn công nghệ, TLTK chia ra: các văn bản thiết kế nguyên lí, kĩ thuật (thiết kế sơ đồ, thiết kế kĩ thuật) và các văn bản gia công sản xuất (sản phẩm thử nghiệm, sản xuất loạt đầu, sản xuất đơn chiếc và hàng loạt). Ngoài ra TLTK còn có tài liệu hướng dẫn sử dụng và sửa chữa sản phẩm. TLTK dược thể chế hóa bằng các tiêu chuẩn thống nhất của nhà nước. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, nguồn lực vật chất của mỏi trường tự nhiên (đất đai, khoáng sản, động thực vật, nguồn nước, không khí, bức xạ Mặt Trời, các nguồn năng lượng tự nhiên như dòng chảy, thủy triều, địa nhiệt, gió...) được con người khai thác, sử dụng phục vụ các nhu cầu đa dạng của quá trình sản xuất và đời sống. Danh mục TNTN luôn được mở rộng theo sự phát triển của khoa học kĩ thuật và tiến bộ xã hội. Theo mức độ thay đổi về lượng trong quá trình khai thác, có: tài nguyên vô tận, tài nguyên phục hồi được, tài nguyên không thể phục hồi. Tài nguyên vô tận là những TNTN có trữ lượng rất lớn hoặc thường xuyên được phục hồi, tái tạo theo các quy luật tự nhiên (nước, không khí. bức xạ Mặt Trời, các nguồn năng lượng tự nhiên...). Tài nguyên phục hồi được là những TNTN có thể tái tạo trong quá trình sử dụng sau một thời gian nhất định (nước ngầm, độ phì của đất, các loài động vật, thực vật...), tuy nhiên sự phục hồi có thể bị cạn kiệt nếu mức độ khai thác vượt quá khả năng phục hổi. Tài nguyên không thể phục hổi là những TNTN (chủ yếu là khoáng sản) được hình thành trong quá trình dài lâu (hàng triệu năm) hoặc trong những điều kiện địa chất, khí hậu hết sức đặc biệt, khó lặp lại. Do nhu cầu sử dụng vật chất tự nhiên và năng lượng ngày càng tăng, việc sử dụng hợp lí và giữ gìn, bảo vệ các nguồn TNTN là một trong những vấn đề sống còn, có ý nghĩa toàn cầu. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:35:42 pm TÀI SẢN QUÂN ĐỘI, bộ phận tài sản nhà nước giao cho QĐ quân lí thường xuyên hoặc tạm thời trưng dụng, điều động cho QĐ sử dụng để đáp ứng các nhu cầu thực hiện nhiệm vụ trong các tình huống khác nhau. Gồm tất cả phương tiện vật chất, phương tiện kĩ thuật quân sự, đất quốc phòng, hạ tầng quân sự (phần do QĐ trực tiếp quản lí), mạng lưới và cơ sở vật chất kĩ thuật của dịch vụ quân sự, hệ thống các trạm, xưởng, nhà máy sản xuất, sửa chữa QS... Ngoài ra. TSQĐ còn bao gồm các nguồn vốn và tài sản kinh doanh tại các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực nói trên. Theo tính chất sử dụng, TSQĐ được chia thành: tài sản cố định, sử dụng lâu dài (hạ tầng QS, trang bị QS, doanh nghiệp quốc phòng...) và tài sản tiêu hao, tiêu phí trong khai thác, sử dụng (đạn dược, nguyên liệu, nhiên liệu...). TSQĐ được quản lí theo pháp luật nhà nước đối với công sản và quy định riêng trong các điều lệnh, điều lệ... của QĐ; được phân cấp quản lí theo đối tượng sử dụng (quân khu, quân chủng, binh chủng, các đơn vị...). TSQĐ không được phép sử dụng làm quà tặng, đồ thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng hoặc mua bán trên thị trường và chi được thanh lí, xử lí theo quyết định của cấp chỉ huy có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật... TÁI NGŨ, trở lại phục vụ tại ngũ trong QĐ khi có lệnh động viên (nói về quân nhân đã xuất ngũ). TÁI QUÂN SỰ HÓA, hoạt động khôi phục thực lực quân sự và tiềm lực quân sự của một nước hoặc một khu vực mà trước đó đã buộc phải phi quân sự hóa (thường là các nước bại trận trong CTTG-I và CTTG-II bị ràng buộc bởi các hiệp định quốc tế về phi QS hóa), nhằm phục vụ lợi ích của CNĐQ. TQSH di ngược lại xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác quốc tế. Đức, Nhật Bàn là những quốc gia điển hình về TQSH. TAICƠNĐƠRÔGƠ (A. Ticonderoga), tàu sân bay MT, số hiệu CVA-14 (từ 1969 đổi thành CVS-14), đã tham gia chiến tranh xâm lược VN. Thuộc lớp Ixêch, hạ thủy 7.2.1944. đưa vào trang bị 10.9.1945. Lượng choán nước 32.800t (chở đầy 42.000t). Kích thước 272,6x30,8x9,4m (đường băng 272,6x58,5m). Có 4 tổ hợp tuabin, tổng công suất 112,5MW (150.000cv). Tốc độ 30 hải lí/h (56km/h). Quân số 2.415 (1.615 của tàu, có 115 sĩ quan; 800 của không đoàn). Trang bị: khoảng 45 máy bay (F-4H, A-4, F-8U, A-3D2, AD-6...), 4 pháo 127mm. Sau khi tham gia chiến tranh với Nhật ở Thái Bình Dương. T bị loại khỏi trang bị 9.1.1947. Đến 11.9.1954 dược cải tạo và trang bị lại. 1964-69 hoạt động tại Vịnh Bấc Bộ. tham gia sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Theo số liệu của Mĩ từ 11.1965 đến 8.1969, các máy bay của T đã xuất kích 35.000 lần chiếc, đánh phá các mục tiêu ở Bắc và Nam VN. 1.9.1973 T bị loại khỏi trang bị (bán làm phế liệu). TAIPHUN, lớp tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược của LX, gồm 6 tàu (đưa vào trang bị 1982, 83, 84, 85, 87, 89). Lượng choán nước: 23.200t (nổi), 48.000t (ngầm). Kích thước: 171,5x24,6x13m. Hai lò phản ứng hạt nhân, tổng công suất 380MW, 2 tuabin tổng công suất 60MW, 2 chân vịt, tốc độ bơi nổi 19 hải lí/h (35km/h), di ngầm 26 hải lí/h (48km/h), lặn sâu tối da 500m. Quân số 175 (55 sĩ quan). Trang bị vũ khí: 20 tên lửa đường đạn 3 tầng SS- N-20 (tầm phóng 10.000km. đầu đạn hạt nhân chứa 10 đầu đạn con. mỗi đầu đạn con có đương lượng nổ l00kt, có thể tự tìm mục tiêu, sai số trúng đích 500m); 36 tên lửa chống ngầm và ngư lôi, gồm các loại: SS-N-15 phóng từ ống phóng ngư lôi 533mm (tầm phóng 37km, đầu đạn hạt nhân 200kt), SS- N-16 phóng từ ống phóng ngư lôi 650mm (tầm phóng 120km, phần chiến đấu là ngư lối kiểu 45. tự dẫn, có tầm hoạt động 15km với tốc độ 31 hải lí/h (57km/h), đầu nổ 100kg; loại SS-N-16B có đầu đạn hạt nhân), ngư lối 533mm (tầm hoạt động 20km, tốc độ 45 hài lí/h (83km/h), đầu nổ 400kg hoặc hạt nhân công suất nhỏ), ngư lôi 650mm (tầm hoạt động 50km, tốc độ 50 hải lí/h (92km/h), đầu nổ 900kg hoặc hạt nhân công suất nhỏ). T thuộc biên chế Hạm đội Biên Bắc. Hiện còn 5 chiếc trong trang bị Hải quân Nga (2001). TAM ĐẢO, dãy núi ở tây bắc Hà Nội 70km, nằm giữa các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Dài 50km, từ h. Sơn Dương (Tuyên Quang) đến Mê Linh (Vĩnh Phúc), rộng 8-12km. Ba đỉnh cao nhất: Phù Nghĩa (1.400m), Thạch Bàn (1.388m). Thiên Trị (1.375m). Có vườn quốc gia Tam Đảo với hệ động thực vật phong phú (trên 600 loài thực vật, 160 loài động vật). Nhiệt độ thường thấp hơn đồng bằng 6°C. Khu nghỉ mát (thị trấn Tam Đảo trực thuộc tx Vĩnh Yên) được xây dựng từ 1904 ở sườn núi phía nam. trên độ cao 900m. nối với tx Vĩnh Yên bằng QL 2B (25km). Qua TĐ có các đèo: Đèo Khế. Đèo Nhe, Kháng Nhật... TĐ từng là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa (Nguyễn Danh Phương, 1740-51. Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn đầu tk 20...). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:37:07 pm TAM ĐIỆP, dãy núi ở nam tx Tam Điệp, nằm giữa hai tinh Ninh Bình, Thanh Hóa. QL 1 vượt qua TĐ bằng ba đèo liên tiếp (cg đèo Ba Dội). TĐ có vị trí hiểm yếu; các mạch núi đá vôi khép kín như bức trường thành án ngữ con đường ra Bắc vào Nam. Là địa danh lịch sử. Tại đây 15.1.1789 quân Tây Sơn đã tập kết để tiến ra Thăng Long đánh tan khoảng 29 vạn quân Thanh xâm lược (30.1.1789). Hiện vẫn còn một số di tích: Đồn Dân, Bến Quân, lũy Ông Ninh, núi Vương Ngự, Thung Voi... TAM GIÁC SẮT, vùng chiến sự ác liệt ở bắc Sài Gòn 30km. nằm giữa Củ Chi - Trảng Bàng - Chơn Thành, có nhiều rừng cây xen lẫn đồn điền cao su. TGS là tên gọi theo cách của nước ngoài. Trong thời kì KCCM, nơi này Mĩ cho là có các cơ quan chỉ đạo kháng chiến của MTDTGPMN VN, nên đã tập trung nhiều lực lượng, phương tiện chiến tranh đánh phá ác liệt, để lập vành đai bảo vệ Sài Gòn. 1967 mờ cuộc hành quân Xìda Phôn 8-26.1.1967 nhưng bị thất bại. Sau Tết Mậu Thân (1968), mở hai cuộc càn quét lớn “Union Tooen”, “Toàn Thắng”, nhưng vẫn thất bại. “TAM LƯỢC” (“Hoàng Thạch Công kí” hay “Hoàng Thạch Công tam lược”), binh thư nổi tiếng TQ thời cổ. một trong “V77 kinh thất thứ" ra đời khoáng cuối Đông Hán tới Ngụy Tấn, do Hoàng Thạch Công soạn. Gồm ba phần: thượng lược, trung lược, hạ lược. Nội dung chủ yếu bàn về mưu quyền chính trị, ít bàn trực tiếp về mưu lược QS, trong đó coi trọng việc “đặt lễ thường, phân biệt gian hùng, làm rõ hiệu quả”, nêu cao vai trò của minh quân, “phân biệt đức hạnh, xem xét quyền biến” để giành thắng lợi, làm rõ mối quan hệ giữa nội chính và chinh phạt, yêu cầu người thống trị phải có đức, có uy... “TL” thể hiện quan điểm của Nho gia (nhân, nghĩa, lễ), Pháp gia (quyền, thuật, thể), Mặc gia (thượng hiền), Đạo gia (trọng nhu) và thuyết Sấm vĩ, có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng đời sau. TAM QUANG, chính sách khủng bố “giết sạch, đốt sạch, phá sạch” của các tập đoàn thống trị phản động và CNĐQ thường sử dụng để đàn áp các cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, các lực lượng đối lập trong nước hoặc trong chiến tranh xâm lược. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đã áp dụng chính sách TQ để đàn áp phong trào CM và kháng chiến của nhân dân VN như: đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-31), đàn áp khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9-28.10.1941), vụ thảm sát Sơn Mĩ (16.3.1968)... TẠM GIAM, biện pháp do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội mà khung hình phạt trên 1 năm tù giam cách li khỏi xã hội trong một thời gian nhất định nhằm: ngăn chặn hành vi phạm tội; gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm thi hành án phạt tù, án tử hình. Người có quyền bắt thì có quyền ra lệnh TG. Trong QĐND VN, cấp quân khu, quân đoàn và tương đương được tổ chức một hoặc hai trại TG. Thời hạn. quyển hạn và điều kiện TG theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. TẠM ƯỚC, điều ước quốc tế có hiệu lực tạm thời nhằm giải quyết những bất đồng hoặc tranh chấp, sẽ được thay thế bằng điều ước quốc tế chính thức khi có đủ các điều kiện sau đó. Nội dung TƯ phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế. Ở VN, sau khi kí tạm ước Việt - Pháp, 14.9.1946, do phía Pháp không có thiện chí hòa bình, nên VN và Pháp không kí được hòa ước chính thức như đã dự kiến. TẠM ƯỚC VIỆT - PHÁP (14.9.1946), tạm ước do chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện chính phủ VN DCCH và bộ trưởng Mutê đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp kí 14.9.1946 tại Pari (Pháp). Gồm 11 điều, với các nội dung chính: đình chỉ xung đột; Pháp thi hành các quyền tự do dân chủ ở miền Nam VN, thả những người yêu nước bị giam; VN bảo đảm cho Pháp mọi quyển lợi kinh tế, văn hóa; hai bên tiếp tục đàm phán vào 1.1947. TƯV-P phản ánh kết quả đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo của chủ tịch Hồ Chí Minh sau cuộc hòa đàm ở hội nghị Phôngtennơhlô (6.7-13.9.1946) không thành công; có tác dụng kéo dài thêm thời kì hòa hoãn để VN tiếp tục chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Sau khi kí TƯV-P. quân Pháp ngày càng tăng cường hành động gây chiến, buộc nhân dân VN phải tiến hành kháng chiến trong cả nước (từ đêm 19.12.1946). TÀN BINH, binh sĩ của bên bại trận trốn chạy sau trận đánh hoặc kết thúc chiến tranh. TB có thể gồm: nhóm nhỏ hoặc lực lượng lớn (khi thế trận tan vỡ); có bộ phận lẩn trốn hoặc hoạt động chống phá; có bộ phận ra đầu hàng, đầu thú hoặc tìm cách trở về đơn vị cũ. Việc truy quét và kêu gọi TB ra trình diện là nhiệm vụ quan trọng của bên chiến thắng. Cg tàn quân. TẢN MÁT của đạn, sự phân tán các điểm rơi (nổ) của đạn (bom, tên lửa...) trên một diện tích (khoảng không gian), khi bắn (phóng, ném...) từ một vũ khí nhất định trong những điều kiện bắn (đạn, phần tử bắn, khí tượng...) giống nhau. TMcđ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên và tuân theo quy luật phân bố chuẩn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:38:27 pm TÁN LÍ (cổ), chức quan phụ tá cho tướng cầm quân tác chiến hoặc quan cai trị trấn (lộ) thời Hậu Lê (1428-1788). Được đặt ra từ 1467 (đời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 8), do võ quan đảm nhiệm. Từ 1533 (đời vua Lê Trang Tông, năm Nguyên Hòa thứ 1) về sau, TL được trao cho quan văn. Đến 1636 (đời vua Lê Thần Tông, năm Đức Long thứ 8), TL được đặt ở các trấn để giúp quan cai trị trấn (thường là con chúa Trịnh) việc quân và nhiều việc khác. ít lâu sau, do bỏ việc cho con chúa ra các trấn, nên TL ở trấn cũng bị bãi, chỉ còn là chức vụ lâm thời trong các cuộc hành binh lớn. TANDANIA (Cộng hòa thống nhất Tandania; Jamhuri ya Muungano wa Tanzania, A. United Republic of Tanzania), quốc gia ở Đông Phi, gồm phần đất liền Tanganica và một số đảo ở Ấn Độ Dương; bắc giáp Uganda, Kênia, tây giáp Ruanda, Burundi và Cộng hòa Cônggô, tây nam giáp Dămbia và Malauy, nam giáp Môdămbich, đông giáp Ấn Độ Dương. Dt 945.100km2; ds 35,96 triệu người (2003); phần lớn người gổc Phi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Xoahili, tiếng Anh. Tôn giáo: Bái vật giáo, Cơ Đốc giáo, đạo Hồi. Thú đô: Đôđôma (thủ đô cũ: Đa-et-Xalam). Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyên, cao 1.000-1.500m (đỉnh Calimandarò cao 5.895m), phía đông có dải đồng bằng ven biển. Khí hậu xích đạo và cận xích đạo gió mùa. ít sông ngòi. Hồ lớn: Vichtoria, Tanganica, Niaxa. Nước nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, phụ thuộc vào tư bản nước ngoài. Khai thác dầu khí. GDP 9,341 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 270 USD. Thành viên LHQ (13.5.1964), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi, Khối liên hiệp Anh. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 14.2.1965. LLVT: lực lượng thường trực 27.000 người (lục quân 23.000, không quân 3.000, hải quân 1.000), lực lượng dự bị 80.000, lực lượng bán vũ trang 1.400. Tuyển quân theo chế độ động viên, thời hạn phục vụ 24 tháng. Trang bị: 100 xe tăng. 10 xe thiết giáp trinh sát, 35 xe thiết giáp chở quân, 245 pháo mặt đất, 58 pháo phân lực BM-21, 15 súng cối, 2 tàu phóng lôi, 6 tàu tuần tiễu... Căn cứ quân sự: Đa-et-Xalam, Dandiba. Ngân sách quốc phòng 141 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67557598_460336568029562_7347070927412133888_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeH_20L_SACsfrRKXOlGTHdOrXl-MJ6ngfAD0HTFfq3DFH4C1CyR80UscJRb7Kn9udNnlGdB9jGOQRJtfUo0x8wanrN4hRllGJOKxWbhGsNgvg&_nc_oc=AQm8Ot3O6eJao0TnMyged-dsjGNYgL_gUQ0aS-OGfzco_ROTjpLJpcvRQzL2LseJN2s&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5c246808acad69422be4f8583f86f7c1&oe=5DAD3339) TÀO MẠT (Nguyễn Duy Thục; 1930-93), nhà viết kịch, chèo kiêm đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân. Quê xã Hữu Bằng, h. Thạch Thất. t. Hà Tây; nhập ngũ 1950, đại tá (1992); đv ĐCS VN (1946). Đã viết và đạo diễn hàng chục vở kịch, chèo hấp dẫn, giàu tính dân gian, tính hiện thực và xây dựng những hình tượng nghệ thuật đặc sắc. Tiêu biểu là các vở chèo “Anh Giang đi bộ đội” (1958), “Chị Tâm bến Cốc” (1960), “Đường về trận địa” (cùng viết với Hoài Giao, 1965), “Câu thơ thêu dở” (1965), “Anh lái xe và cô chống lầy”, “Dọc đường chiến thắng” (1967), “Sông Trà Khúc” (1968), “Nguyễn Viết Xuân” (cùng viết với Nguyễn Đức Thuyết, 1970), bộ ba vờ chèo “Bài ca giữ nước” (1979-82). TM là hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu và Hội nhà văn VN, ủy viên chấp hành Hội nghệ sĩ sân khấu VN khóa II, III. Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Huân chương: Quân công hạng ba. Lao động hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67893342_460336574696228_5354809076821786624_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHMzSgt_1OH_iH04qhRk8TcF8AbfcfUuLfP5BcavJOt_Q_UWVXvvCGMzkfRujNF_QG3tWiC9mo6eRJ_2H6oQByWmOFKZ2ZZdrWLL24rTNDxTQ&_nc_oc=AQnUyOmnDJXAIYwV_TIJLmBhATJNuw7FY30nxb3imRpFgHIrcj_BsfoUef8k6AT5AF0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=28fdea7b03c773f05ec4ca1fe8db778c&oe=5DEEBD1B) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:39:56 pm TẠO LỰC, tạo ra những khả năng mới để tăng sức mạnh chiến đấu. Được thực hiện bằng xây dựng các lực lượng mới, nâng cao chất lượng chính trị, tổ chức, vũ khí, trang bị và huấn luyện của các lực lượng. Trong tác chiến, TL được hiểu là tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất mà một lực lượng (đơn vị) có thể đạt được trong những điều kiện, tình hình cụ thể. TL thường gắn liền với tạo thế, tạo thời cơ. TẠO NGUỔN BẢO ĐẢM HẬU CẦN, tổng thể các hoạt động khai thác, sản xuất, mua sắm, tiếp nhận các phương tiện vật chất hậu cần để bảo đảm cho LLVT trong thời bình cũng như thời chiến; một nội dung của tổ chức bảo đảm hậu cần. Thường đi đôi với tổ chức dự trữ vật chất hậu cần. Trong TNBĐHC cần kết hợp chặt chẽ giữa các nguồn bảo đảm để tổ chức bảo đảm hậu cần được thường xuyên, liên tục, chủ động và vững chắc. TẠO NGUỔN VẬT CHẤT QUÂN NHU, tổng thể các hoạt động nhằm phát hiện, tổ chức khai thác các loại vật phẩm phục vụ cho việc nuôi dưỡng, bào vệ và nâng cao sức khỏe bộ đội, giữ vững quân số lao động, huấn luyện học tập và chiến đấu của LLVT trong mọi tình huống; một nội dung của công tác quân nhu và là một mặt của hoạt động bảo đảm quân nhu. Bao gồm các biện pháp xây dựng nguồn, xây dựng kế hoạch, hợp đồng sản xuất, gia công, mua sắm, tiếp nhận, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời lương thực, thực phẩm, dụng cụ cấp dưỡng, chất đốt, quân trang và các trang thiết bị quân nhu khác cho bộ đội. Một trong những biện pháp TNVCQN có hiệu quả là tổ chức các hoạt động tăng gia sản xuất ở đơn vị. TẠO NGUỒN VẬT TƯ DOANH TRẠI, tổng thể các hoạt động sản xuất, khai thác, mua sắm, tiếp nhận nguyên vật liệu xây dựng, phương tiện dụng cụ doanh trại phục vụ huấn luyện, làm việc, sinh hoạt, học tập, giải trí của bộ đội; một nội dung của tạo nguồn bảo đảm hậu cần. TẠO SỈ (cổ), học vị cao nhất trong ngạch võ, tương đương tiến sĩ trong ngạch văn dưới thời Hậu Lê (1428-1788). Được đặt ra từ 1724 dưới triều vua Lê Dụ Tông, để trao cho những người đỗ trong kì thi đình sau khi đỗ tam trường (x. bác cử). Từ 1731 (đời vua Lê Duy Phường dưới niên hiệu Vĩnh Khánh), những người đỗ tam trường trong kì thi bác cử được công nhận là TS; nếu không đỗ ở trường ba nhưng kĩ thuật và sức khỏe hạng ưu thì mỗi khoa thi chọn lấy 10 người, cho bổ dụng như TS. TS được nhà vua ban mũ áo, yết tên trên bảng và dự yến tiệc theo nghi thức của triều đình. TẠO THẾ, tạo ra. hoàn thiện, tranh thù các hoàn cảnh, điều kiện, thế trận,... có lợi cho ta và đấu tranh ngăn chặn không cho đối phương làm được như vậy, để đánh thắng chúng. Có TT về chiến lược, chiến dịch, chiến đấu. Là cuộc đấu tranh của hai bên tham chiến diễn ra liên tục trong giai đoạn chuẩn bị và suốt cả quá trình chiến tranh (tác chiến), nhằm giành, giữ và phát triển thế lợi cho ta, đẩy địch vào thế bất lợi. TẠO THỜI CƠ, tạo ra những yếu tố và điều kiện có lợi cho ta, không lợi cho địch ở thời điểm nhất định trong chiến tranh và trong tác chiến. Tạo được thời cơ, nắm bắt được thời cơ, hành động đúng thời cơ mới giành được thắng lợi. TTC, tạo lực, tạo thế quan hệ mật thiết với nhau và là những vấn đề cốt lõi của nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc VN. TẠP CHÍ “LỊCH SỬ QUÂN SỰ", tạp chí chuyên ngành lịch sử QS, do Viện lịch sử QS VN trực tiếp quân lí, chỉ đạo. Chức năng, nhiệm vụ: thông tin, trao đổi ý kiến, giới thiệu các kết quả nghiên cứu khoa học lịch sử QS: tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc. Ra số đầu 9.1982 mang tên Nghiên cứu lịch sử QS, 1.1986 đổi thành TC“LSQS”, đến 1990 gọi là Thông tin lịch sử QS và từ 1993 là TC“LSQS”. Xuất bản 2 tháng 1 kì, số lượng hơn 3.000 cuốn; từ số 4/2001 được phát hành rộng rãi trên cả nước (giấy phép số 266 của Bộ văn hóa thông tin, kí 24.4.2001). Địa chỉ tòa soạn: 3B đường Hoàng Diệu, Hà Nội; cơ quan liên lạc tại tp Hồ Chí Minh: 161-163 đường Trần Quốc Thảo. TẠP CHÍ “QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN”, cơ quan lí luận QS và chính trị của Đảng ủy QS trung ương và BQP nước CHXHCN VN, do TCCT chỉ đạo, quản lí; đơn vị Ah LLVT- ND VN (2002). Ra số đầu tiên 4.1948. khi đó lưu hành nội bộ; từ 12.1964 được phát hành rộng rãi trong nước và quốc tế; từ 4.1988 ra hàng tháng, số lượng 10.000 cuốn. Đã qua các tên gọi: “Quân sự tập san” (4.1948), “Quân chính tập san” (10.1948), tạp chí “Quân đội nhân dân” (8.1957), TC‘QPTD” (4.1988). Đối tượng phục vụ chính là cán bộ cao cấp, trung cấp trong QĐ và cán bộ chủ chốt của các ban, ngành, địa phương đến cấp huyện. Huân chương: Hồ Chí Minh (1993), Quân công hạng nhất... Trụ sở tòa soạn: 57 Cửa Đông, Hà Nội; cơ quan thường trực phía Nam: số 1 Kì Đồng, q.3, tp Hồ Chí Minh. Tổng biên tập đầu tiên: Lê Liêm (1948). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:41:07 pm TẠP CHÍ “VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI”, tạp chí sáng tác văn học, lí luận và phê bình văn nghệ (chủ yếu về đề tài chiến tranh CM. LLVTND và quốc phòng toàn dân) của QĐND VN. do TCCT chỉ đạo, quản lí. Ra số đầu tiên 1.1957, phát hành mỗi tháng một số; từ 1998-2001 có thêm Phụ san “VNQĐ"; từ 2002 phát hành hai số một tháng. TC “VNQĐ" đã được đông đảo bạn đọc mến mộ, nơi rèn luyện và trưởng thành của nhiều thế hệ nhà văn QĐ, nơi phát hiện và bồi dưỡng nhiều tài năng văn học trẻ. Huân chương: Quân công hạng nhất... Trụ sở tòa soạn: số 4 Lí Nam Đế. Hà Nội; cơ quan thường trực phía Nam: số 1 Kì Đồng, q.3, tp Hồ Chí Minh. Chủ nhiệm tạp chí đầu tiên: Trần Văn Phác (1957-62). TARANTÔ. thành phố cảng, trung tâm công nghiệp lớn, căn cứ hài quân chính của Italia trên bờ vịnh Tarantô, biển Yôniô (thuộc Địa Trung Hải). Cảng T gồm cảng trong và cảng ngoài nối liền với nhau bằng kênh dào. Tổng chiều dài các cầu cảng 11,2km, sâu 6-25m. Có thể cập bên được tàu chiến các hạng. Có âu tàu 1 đốc nổi, 2 đốc cạn, bảo đảm đóng và sửa chữa được các loại tàu đến cỡ tàu sân bay chống ngầm... Có xưởng đóng tàu ngầm. Nơi đặt trụ sở bộ chỉ huy các lực lượng hải quân Italia vùng biển Yôniô và eo biên Tarantô. Trong CTTG- II, rạng sáng 12.11.1940. không quân từ tàu sân bay của Anh đã tiến công tàu chiến của Italia ở T. loại khỏi chiến đấu 6 tàu. Lần đầu tiên không quân tàu sân bay được sử dụng làm lực lượng tiến công chủ yếu của hạm đội. TATGIKIXTAN (Cộng hòa Tatgikixtan: a. Republic of Tajikistan), quốc gia ở Trung Á; tây giáp Udơbêkixtan. bắc giáp Udơbêkixtan và Cưrơgưxtan, đông giáp Trung Quốc, nam giáp Apganixtan. Dt 143.100km2; ds 6,86 triệu người (2003); 59% người Tatgich, 23% người Udơbêch, 11% người Nga và Ucraina. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tatgich. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni. Thù đô: Đusanbe. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình núi, phía bắc và tây nam là vùng thấp. Khí hậu lục địa. Nước công - nông nghiệp. Công nghiệp: dầu khí, than, kim loại màu, hóa chất, chế tạo máy... GDP 1.056 tỉ USD (2002), bình quân dầu người 170 USD. Thành viên LHQ (2.3.1992), Cộng đồng các quốc gia độc lập. Lập quan hệ ngoại giao với VN 14.7.1992. LLVT: lực lượng thường trực (lục quân) 6.000 người. Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS. thời hạn phục vụ 24 tháng. Trang bị: 35 xe tăng T-72, 34 xe chiến đấu bộ binh, 29 xe thiết giáp chờ quân. 12 pháo mặt đất (122mm D-30), 10 pháo phản lực BM-21,9 súng cối, 20 tên lửa phòng không, 5 máy bay trực thăng vũ trang. Ngân sách quốc phòng 14,8 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68410183_460336591362893_5913176738224930816_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFMoHFkx8tvF7tMWzFSUDwTWIE6yw8O6O7TYtsWX1Vys6paVwRvgoX_0eWQTglyaCSoNbt4W35OoXpdRLhqm2lQRKAwthlioEJ186DRhrKVzA&_nc_oc=AQmZt5rMpNe6YPagP8MlARefaDlKRRpEO3b8tS4cYBz2o7b3zuJJcGiMzbrpoTtNH5c&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=9be92e4621faef84e65af50781472247&oe=5DD56755) TATXINHI (P. Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny; 1889-1952), cao úy kiêm tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương (1950-52), thống chế Pháp (truy phong 1952). Tham gia kháng chiến chống phát xít Đức, chỉ huy tập đoàn quân (1944), thay mặt nước Pháp kí hiệp ước đầu hàng của phát xít Đức (1945). Sau CTTG-II: tổng thanh tra QĐ Pháp (1945- 46), tư lệnh lục quân khối Tây Âu (1948). Tại Đông Dương (1950-51), T đã chủ trương cố thủ miền Bắc VN, đề ra kế hoạch Đờ Lát Đờ Tatxinhi và lập phòng tuyến Đờ Lát nhằm giành thắng lợi trong 15 tháng; thành công trong việc thuyết phục Mĩ viện trợ QS và tài chính cho Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, cùng cố QĐ của chính quyền Bảo Đại để giảm bớt gánh nặng chiến tranh cho Pháp. Thất bại ở VN và cái chết của con trai độc nhất (trung úy Becna đờ Lát) tại Ninh Bình chấm dứt sự nghiệp của T. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:43:13 pm TÀU BỆNH VIỆN, tàu mặt nước chuyên dùng để cấp cứu. vận chuyển và điều trị thương binh, bệnh binh trên biển. TBV có thể được trang bị lại từ tàu chở khách hoặc tàu vận tải. Thời bình các tàu này được sử dụng để phục vụ các binh đoàn tàu hoạt động ở xa căn cứ, đảo xa bờ. TBV được sơn màu trắng, hai bên mạn và mặt boong sơn chữ thập màu đỏ. không được trang bị vũ khí. Theo công ước quốc tế (1949), các bên tham chiến không được tấn công hoặc bắt giữ TBV. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67466579_460336604696225_1630191756735676416_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHXYULIZacru6G4C6U2-moDWQzhYdFZOEflmtnPDxv7PP_nBlMUY6wyODydEUzCoqVVMAm0su_mZ6NmvKuvutn9poJEicRIM1pYW9PMhKscMg&_nc_oc=AQkWIc19RYyxEPtsaKPmE6JiEm7oriVenT-WqBBzvJkebYB1sKvx9se5m2AEAvp1rKE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=917b0afd03e3c3aed1449d6da8dea177&oe=5DDB8C50) TÀU BIA. tàu QS hoặc tàu thường, kích thước nhỏ, được trang bị đặc biệt, mô phỏng tàu mặt nước để làm bia huấn luyện tập bắn (phóng) hoặc thử nghiệm pháo, tên lửa. ngư lôi và ném bom. Hệ thống máy móc, thiết bị bảo đảm cơ động và thông tin liên lạc của TB dược điều khiển xa từ tàu (máy bay) dẫn bia. Khi không thể sử dụng hệ thống điều khiển từ xa. TB có thể được kéo bằng một tàu khác. TÀU BIÊN PHÒNG, tàu chiến mặt nước dùng để tuần tra, kiểm soát, bảo vệ và chống xâm phạm biên giới quốc gia trên biển (sông, hồ); bảo vệ tàu dân sự. tài nguyên biển; giám sát việc chấp hành quy chế đi biển (sông, hồ) của tàu thuyền; cấp cứu tàu thuyền bị nạn. TBP có quyền ra lệnh kéo quốc kì (của nước mà tàu mang quốc tịch hoặc của VN), bắt dừng lại, truy đuổi, kiểm tra. khám xét hoặc bắt giữ các tàu xâm phạm chủ quyền và các quyền trong vùng lãnh hái, nội thủy của VN. TBP có tính năng chiến - kĩ thuật; trang bị vũ khí và các phương tiện chiến đấu tương tự như tàu tuần tiễu. TÀU CẢNH GIỚI RAĐA, tàu mặt nước chuyên dụng được tăng cường trang bị khí tài rađa. nhằm phát hiện kịp thời các lực lượng và phương tiện tiến công đường không của đối phương, xác định các phần tử mục tiêu cho vũ khí phòng không, điều khiển và dẫn đường cho máy bay. Được bố trí phía trước (hướng nguy hiểm) các cụm lực lượng trong hành trình trên biển và trên hướng tiến công từ xa của đối phương vào các vị trí triển khai lực lượng. TÀU CÁNH NGẦM, tàu có cánh ở dưới đáy, khi đạt tốc độ nhất định sẽ tạo ra lực nâng, đẩy một phần hoặc toàn bộ thân tàu lên khỏi mặt nước, sức cản của nước giảm đi cho phép tàu đạt tốc độ cao với hao phí nhiên liệu không lớn. Theo vị trí đặt cánh, có: cánh ngầm mũi. cánh ngầm lái; theo độ ngập nước, có: cánh ngầm ngập ít, cánh ngầm ngập nhiều: theo khả năng điều khiển cánh, có: cánh ngầm cố định, cánh ngầm có điều khiển. TCN hiện đại sử dụng chân vịt hoặc động cơ phụt nước, đạt tốc độ hơn 60 hải lí/h (111 km/h), thường có hệ thống tự động điều khiển cánh ngầm theo diện tích, độ sâu, góc tấn,... để bám sóng, ổn định chuyển động của tàu. TCN đầu tiên được S. A. Lambectơ (người Nga) thiết kế từ 1891. Đầu tk 20, TCN xuất hiện ở Italia, Canada. Mĩ,... tốc độ đạt 90km/h. 1954 LX mới đóng được TCN đầu tiên, đạt tốc độ trên 100km/h. TCN được dùng rộng rãi trong QS và dân sự (làm tàu tốc hành chờ khách, chở hàng trên sông hay ven biển). Trong hải quân nhiều nước, TCN được sử dụng làm tàu phóng lôi, tàu tên lửa, tàu tuần tiễu, tàu thông tin liên lạc... (vd: TCN Pegac của Mĩ có lượng choán nước 220t, trang bị tên lửa hải đối hải và pháo 76mm, tốc độ trên 93km/h). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67401622_460336611362891_3367077514785587200_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeGSAo5bhB8uHGLf2oPtMzii1GROGXxcgl4Yjl5txPSJvyQml_QXQ6R2YHBrzCV08lC7z1g2CJvGznsBg-0ZBESi4qeizYtVRitrethOa2DFPQ&_nc_oc=AQlKUPkCuFFyKUzMNbPFDDHlj7EjJx8yjfoHHUCRZGs4Gj1QdUHgmkn9X5bEJctXT08&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=720063353600bead659ec06c625c84cc&oe=5DEE70C4) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:44:58 pm TÀU CHỈ HUY, tàu chiến chuyên dùng hoặc được trang bị bổ sung để bảo đảm chỉ huy lực lượng hải quân trong chiến dịch (trận chiến đấu) trên biển. Tàu có khả năng đi biển cao, cự li hoạt động xa. TCH bảo đảm cho người chỉ huy (binh đoàn, lữ đoàn tàu, cụm tàu) và các sĩ quan tham mưu tác chiến thực hiện chỉ huy điều hành thuận lợi, thông báo và nhận mệnh lệnh kịp thời, bảo đảm hiệu quả thông tin liên lạc với cấp trên và các cấp thuộc quyền. Tàu được trang bị các loại phương tiện kĩ thuật hiện đại có khả năng thu thập, phân tích tình hình, tổng hợp báo cáo, truyền mệnh lệnh, chỉ thị; được trang bị các loại hỏa khí mạnh. Các thiết bị bảo đảm điều khiển tàu và trang bị kĩ thuật khác của TCH về cơ bản giống các tàu chiến khác. TÀU CHIẾN, tàu được trang bị vũ khí, tổ hợp vũ khí và phương tiện KTQS khác để tác chiến và phục vụ tác chiến ở các vùng nước (biển, sông, hồ...). Theo công dụng, có: tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu quét mìn, tàu sân bay, tàu đổ bộ. tàu săn ngầm... Theo trang bị vũ khí chính, có: tàu pháo, tàu tên lửa, tàu phóng lôi... Theo môi trường hoạt động, có: tàu mặt nước (tàu nổi), tàu ngầm. Theo dạng năng lượng của động cơ, có: tàu (tàu ngầm) nguyên tử (hạt nhân), tàu chạy nhiên liệu thường (điêzen), tàu chạy bằng hơi nước, tàu tuabin khí. Theo kết cấu dẫn động, có: tàu chân vịt, tàu chạy bằng bơm thủy lực (phản lực)... Ngoài ra, TC còn được phân loại theo các dấu hiệu chiến thuật, vd: tàu chủ lực, tàu phụ (của hạm đội), tàu có mục đích chiến lược (mang vũ khí và tạo các đòn đánh chiến lược) và tàu có mục đích chiến thuật (mang vũ khí và thực hiện nhiệm vụ chiến thuật)... Các TC (cả tàu mặt nước và tàu ngầm) được chế tạo theo cùng một thiết kế gọi là lớp (kiểu) vd: Ôhaiô, Taiphun. Đenta.... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67727265_460336624696223_1656296112694231040_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHi5STC3YEkDIgXEUr4UylxPqM2wjXi6cPyZmODjNGQVRfLfzdmqZd5JHjU0n8_Oc2PaXVFNkyRCy034dzPp4rwrmaSBnq3e6hEbrYhf6qoBA&_nc_oc=AQloT7IoVRSQZGTv5wJC7KzYSN4I7WmXwekJovezyRGSBM1PuReGQKJULLHKmm3rVds&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=00460e3210309a3ce5a2e71ae6b26a5b&oe=5DEB3FD4) TÀU CHỦ LỰC, tàu chiến lớn, trang bị hỏa lực mạnh để thực hiện các nhiệm vụ chính của hạm đội. Trong các hạm đội thuyền buồm cuối tk 17 đầu tk 19, TCL là những tàu chiến lớn nhất, có 4 cột buồm. Tùy theo số tầng (boong) đặt pháo, TCL được chia thành tàu 2 tầng và tàu 3 tầng. Tk 19 TCL chạy bằng máy hơi nước có lượng choán nước đến 5.000t. là một trong những lớp tàu chủ yếu trong hạm đội tàu thiết giáp dùng để tiêu diệt các loại tàu. cũng như phá hủy các mục tiêu ven bờ của đối phương. Nửa đầu tk 20, đội TCL trong hạm đội hải quân các nước lớn gồm các tàu tuần dương, tàu thiết giáp trang bị pháo lớn cỡ 280mm-381mm. Trước CTTG-II, các nước Mĩ, Anh, Nhật, Đức. Italia, Pháp có khoảng 55 TCL đang hoạt động và 30 chiếc đang đóng, TCL lớn nhất thế giới là tàu thiết giáp Iamato của Nhật Bản đóng năm 1940, dài 240m, rộng 39m. lượng giãn nước 64.170t, tốc độ 27,5 hải lí /h, bọc thép dày 406-650mm; trang bị 9 pháo cỡ 456mm. TÀU CON THOI, tàu vũ trụ sử dụng nhiều lần; khí cụ bay có cánh, có hoặc không người lái, có thể hạ cánh xuống mặt đất như máy bay sau khi rời khỏi quỹ đạo. Chuyến bay có người đầu tiên của TCT do Mĩ thực hiện (12.4.1981). Những TCT đã được sử dụng gồm: Columbia, Chalengiơ, Đixcayơri, Atlantic, Enđivơ (Mĩ), Buran (LX). Từ 1981 tới nay đã có hơn 100 chuyến bay của các TCT được thực hiện. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67741358_460336634696222_346218675235192832_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGrNWjc1R5qjJb8kZOx0HNmkjG47QUmpZw87nSt6y7_T-21B-vueXft6ojqwKbLabmhmFoL8wFdK1BVfTej6j7727WP5coAUoyt7xL4Lw9PgQ&_nc_oc=AQlVbRR6mLeIPIHmzbRMfAL7IxOY_qOZqWROqn04zsiR9EQJWe8uCdRUkfwSgXNZxWI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=bed9df4003914b49cffc5e38976906d8&oe=5DDCCE05) 1. Cánh lái và hãm; 2. Cánh đuôi; 3. Động cơ điều khiển cơ động; 4. Cửa khoang hàng; 5. Buồng lái; 6. Cánh; 7. Cánh tà; 8. Động cơ chính. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:46:33 pm TÀU ĐỔ BỘ, tàu chiến mặt nước, chuyên dùng để chở và đổ quân cùng trang bị kĩ thuật lên bờ. Kết cấu thuận lợi cho việc xếp, đổ quân và trang bị kĩ thuật (mớn nước nông, khoang chứa rộng, cầu lên bờ đóng mở ngay ở mũi tàu...), có phương tiện bốc dỡ hàng, thiết bị hàng hải (máy quan sát, máy định vị thủy âm...), thiết bị thông tin (rađa, liên lạc vô tuyến...) và được trang bị vũ khí (tên lửa tàu đối đất, tàu đối không, giàn phóng đạn phản lực, pháo, súng máy...), thiết bị khử từ chống mìn, để chi viện hỏa lực cho quân đổ bộ và để tự vệ. Tốc độ TĐB thường khoảng 20-25 hải lí/h (37-46km/h) và hành trình có thể tới 10.000 hải lí (18.000km). Tùy theo lượng choán nước và tải trọng, có: TĐB lớn, vừa, nhỏ. Theo chức năng, có: tàu chở máy bay lên thẳng đổ bộ, TĐB chở xe tăng, TĐB vạn năng, TĐB vận tải. Theo kết cấu đặc biệt, còn có TĐB đệm khí. Thông thường, TĐB chở gọn một hoặc một số phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) với trang bị được biên chế hoặc một đơn vị trang bị KTQS (đại đội xe tăng, xe bọc thép...). Tùy theo địa hình, việc đổ bộ có thể tiến hành trực tiếp từ TĐB (tàu mẹ) hoặc phải qua các phương tiện bổ trợ (xuồng, xe lội nước...) đem theo tàu. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67927326_460336644696221_4789629004581699584_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGIEjzg9LD4k9Inmmj-zznTuqgibYCCLwx6Ez1cD9snEH8KMNDt1WKZiPlGs8YjpihAtvHX1Id-6GvrR0XfE-XoDPZLkndHgaLFCFJq1HzUhA&_nc_oc=AQkUpSgV-UCiBXUJMRV43LaoHP1VbQwRPq7r4Q0nF7-zxIxgpmPiMPQdfezRFGfmFKU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f3a159282712d16d142a3eef7f292c4c&oe=5DE48CFA) TÀU FRIGAT (A. Frigate), 1) (cổ) tàu chiến loại nhỏ, hoạt động ở những vùng biển gần bờ. Xuất hiện vào tk 13 ở châu Âu, di chuyên dưới tác động của chèo, buồm ở Địa Trung Hải. Những năm 1756-63, TF được tiêu chuẩn hóa như một loại tàu có 3 cột buồm với các cánh buồm vuông, trang bị 24- 50 pháo. Đến tk 19, phát triển TF chạy bằng động cơ hơi nước được, tiếp đó là TF bọc thép, có chân vịt; 2) tàu khu trục nhẹ, được trang bị các vũ khí tổ hợp tên lửa đối hải chống ngầm và đối không để tiêu diệt tàu ngầm, tàu mặt nước, máy bay của đối phương. TF hiện đại có lượng giãn nước tới 4.000t (hải quân Mĩ và NATO có TF tới 8.000t). TF hiện đại còn có thể được trang bị máy bay trực thăng và thiết bị tàng hình, giảm thiểu khả năng phát hiện của đối phương như TF kiểu La Phayê (La Fayette) của hải quân Pháp. Xt tàu hộ vệ. TÀU HỘ TỐNG nh TÀU HỘ VỆ TÀU HỘ VỆ, tàu chiến mặt nước có nhiệm vụ trinh sát hộ tống, bảo vệ các tàu chiến (hoặc đoàn tàu chiến) khác trong tác chiến, hành quân, ra vào căn cứ. Có thể dùng để bảo vệ cảng, bảo vệ căn cứ và tuần tiễu ven biển, trên sông. Được chia ra: THV hạng nặng và THV hạng nhẹ. THV hạng nặng có lượng choán nước từ 600-3.000t (cá biệt đến 5.000t), tốc độ tới 35 hải lí/h (65km/h), trang bị pháo 76-127mm. pháo phòng không 20- 40mm, súng phóng bom chìm phân lực chống ngầm, tên lửa chống ngầm, tên lửa phòng không và có thể có máy bay trực thăng chống ngầm. THV hạng nhẹ có lượng choán nước dưới 150t, tốc độ tới 40 hải lí/h. ị trang bị pháo 40mm. súng máy phòng khống... Trên THV có thiết bị thủy âm và thiết bị vô tuyến. Trong lực lượng hải quân nhiều nước, THV được gọi phân biệt thành tàu frigat và tàu covet (A. corvette. THV hạng nhẹ). Cg tàu hộ tống. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67375177_460336674696218_5428501039059828736_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHjtmRdEyqvz73w548rye_4TH6V66s0lSvFgIlxCJMp-j3cCKs_jqSoEwXpNAS5TT8eoygBnVKWhHHRgoVo89ezB67Q4l-ZJ4BzVoHJAESPKw&_nc_oc=AQlKmT0NBoEiypUUyoXV2I_bgE21W_AB2Rl6gmBNri2X4y9xKsTD_r9SVy0wQT5heQI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=49aac5bca20f86fd4aa6071b63b17a85&oe=5DA19635) TÀU KÉO, tàu mặt nước dùng để kéo các phương tiện nổi không tự hành (xà lan, phà, đốc nổi, cần cẩu nổi, bia, bè, mảng...) và cứu kéo các tàu bị nạn. TK có động cơ công suất lớn, khả năng cơ động tốt có các thiết bị cứu kéo, các phương tiện dập lửa và hút nước. Theo khu vực hoạt động, có: TK đại dương (trọng tải >1.000t), TK biển (trọng tải <1.000t). TK vịnh (trọng tải <600t), TK cảng (trọng tải <300t), TK sông (công suất có thể đến 733 kW (1 .000cv). Theo chức năng, có: TK dây cáp, tàu ủi mạn, tàu đẩy và tàu cứu kéo. Theo thiết bị động lực, có: TK hơi nước, TK diezen, TK điêzen-điện. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:48:16 pm TÀU KHU TRỤC, tàu chiến mặt nước đa năng, dùng để tiến công (hoặc đánh chặn) các tàu mặt nước, tàu ngầm của đối phương. Còn làm các nhiệm vụ: trinh sát, cảnh giới, bảo vệ (tàu, đoàn tàu và căn cứ), chi viện hỏa lực, pháo kích lên bờ, thả thủy lôi, rải mìn... Có lượng choán nước từ 3.000-8.000t, tốc độ trên 35 hải lí/h (65km/h), tầm hoạt động trên 6.000 hải lí. Được trang bị tên lửa, pháo, thủy lôi, ngư lôi, các tổ hợp vũ khí - khí tài chống ngầm, rađa, sôna và có thể có 1-2 máy bay trực thăng. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng các TKT Mađôc, TơcnơGioi... Cg khu trục hạm. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67622663_460336668029552_6517305382086377472_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHFOoKQOOu2gl4mvSOedOMoOfu0Y4Mbh0CSYFlL-HiBeJI2sNXSv_NpsBjuwFcl7ngHKEVmbtxR4qxh6fMhwmpGmeV7emK3ROShf2kuIDNO7w&_nc_oc=AQl6NA2DrbQShs2y-Pi6ccXZGXK9XfluHdPCvIKGmZFXeGZ6OyA_Gc900fJd1KgPYCk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f7898b1834b69a398d647779035ffcf3&oe=5DD5534C) TÀU LƯỚT, tàu loại nhỏ, trượt trên mặt nước nhờ phần mũi được nâng lên, lực cản của nước giảm đi và đạt tốc độ cao (93km/h), chuyển động ổn định nhờ lực thủy động của dòng chảy và lực nâng Acximet. TL được lắp đặt động cơ đốt trong loại nhẹ kiêu pittông hoặc tuabin khí. Bộ dẫn tiến là chân vịt, cánh quạt hoặc kiểu phụt nước. Trong CTTG-II, TL trang bị các loại súng máy, được nhiều nước sử dụng làm nhiệm vụ chiến đấu ở khu vực ven biển, hải đảo và trên sông. Khi xuất hiện tàu cánh ngầm và tàu đệm khí, việc chế tạo TL giảm đáng kể, nhưng vẫn được biên chế cho các hạm đội, trong đó có hạm đội Xô Viết. Ngoài mục đích QS, TL còn được dùng để chuyên chở hành khách hoặc dùng cho thể thao. TÀU MẬT NƯỚC, tàu chỉ hoạt động được ở trạng thái nổi. Có thiết bị động lực là động cơ hơi nước, điêzen, tuabin khí hay nguyên tử. TMN QS được trang bị tên lửa, pháo, ngư lôi, thủy lôi, các thiết bị liên lạc, trinh sát, dẫn đường và tổ hợp thiết bị chuyên dùng cho bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm tra kĩ thuật, vận chuyển và cung cấp nhiên liệu... Thuật ngữ TMN xuất hiện vào đầu tk 20 do sự ra đời của tàu ngầm. Từ những năm 60 và 70 tk 20 có TMN cánh ngầm và TMN chạy trên đệm khí. Cg tàu nổi. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67415196_460336684696217_964777880930222080_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeE29EF6ledI5j0wGESVwWS-aFUVK3rA1R8cLc0gbqaVY_8C-Pnoi-jVlwsg0ZWZu5jJbHM0xYjIHGzjtLnzRaPknfpsX5tpztHkwLNxFMZevw&_nc_oc=AQkHZR3f4N3KtBGT-KqBo6HW9Q6P69-UW6tdlmyohSsZOTErilTTho_7dWIK5AIfOXc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e6063bc07302e81f9b3faa65996a4284&oe=5DA92330) TÀU NGẦM, tàu có khả năng lặn và hoạt động dưới mặt nước trong một thời gian dài. TN QS dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên và dưới mặt nước, trên đất liền của đối phương. TN còn được dùng để trinh sát, vận tải, đổ bộ các lực lượng dặc nhiệm... Theo nguồn động lực, có: TN điêzen, tàu ngầm nguyên tử. Theo loại vũ khí được trang bị, có: tàu ngầm tên lửa, tàu ngầm phóng lôi, TN tên lửa - ngư lôi... TN đầu tiên do C. Van Đrepben (người Hà Lan) thiết kế và chế tạo tại Anh 1620. Hiện nay. TN phát triển theo hướng: tăng khả năng lặn sâu, tăng tốc độ; tăng tầm và tính độc lập hoạt động, giảm tiếng ổn và dấu vết để lại trên đường đi, hoàn thiện hệ thống vũ khí và các phương tiện liên lạc vô tuyến. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67722780_460336724696213_3819166927708749824_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHv1ubtmQUEZyLtZKB8X8bQPlmxov81v6nKFrlzMcMQ7iSVcJTyA__WNDDr2-fiJCYb8XNtkMyVx55tCnEx_p-41ActfeEeLPGVO9lnGAycKw&_nc_oc=AQm3B6eXqM5EWU3AueC_Daq5PnZ2p1-ERldKQi2aJEpC_Qzy-4uxMHGs-z4BVMCl1hM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1bcf8d7020e80fb338716b1d0ded5e1a&oe=5DAA99D5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:50:33 pm TÀU NGẦM chống ngẩm, tàu ngầm chuyên dụng để tìm và diệt tàu ngầm của đối phương. Được trang bị sôna, vũ khí chống tàu ngầm (ngư lôi, thủy lôi, tên lửa - ngư lôi...), các thiết bị dò tìm khác (có khả năng ghi được các trường vật lí của tàu ngầm, tên lửa - ngư lôi, thủy lôi của đối phương, để cung cấp số liệu cho các máy, bắn và hệ thống điều khiển bắn). TNCN nguyên tử xuất hiện từ những năm 50 của tk 20, có tốc độ đi ngầm tới trên 30 hài lí/h, lặn sâu 500-600m (vd: TNCN nguyên tử lớp V của Nga đóng 1958, có: lượng giãn nước 3.600t (nổi) và 4.200t (ngầm); TNCN nguyên tử lớp F của Nga, đóng 1969, lượng giãn nước nổi 2.000t và lượng giãn nước ngầm 2.300t. Nhiệm vụ chủ yếu của TNCN: tiêu diệt, đánh chặn tàu ngầm đối phương, bám sát, theo dõi săn ngầm; cảnh giới bảo vệ giao thông trên biển: hiệp đồng cùng các lực lượng chống ngầm khác (không quân chống ngầm, tàu mặt nước chống ngầm...), bố trí khu vục thủy lôi chống tàu ngầm đối phương... TẦU NGẦM LỚP ĐENTA X. ĐENTA TÀU NGẦM LỚP HẠ X. HẠ TÀU NGẨM LỚP HÁN X. HÁN TÀU NGẨM LỚP LÔT ANGIƠLET X. LÔT ANGIƠLET** TẦU NGẦM LỚP TAIPHƯN X. TAIPHUN TÀU NGẦM MINI, tàu ngầm cực nhỏ (lượng giãn nước 20- 400t). chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát hoặc tác chiến đặc biệt. Các TNM cỡ vài chục tấn có thể được chứa trong tàu mẹ để chở đến khu vực tác chiến. Trong trận Trân Châu Cảng (CTTG-II), các TNM 1-16 của Nhật Bản đã lọt qua các lưới chống ngầm vào cảng (do quân Mĩ đóng) để trinh sát, 5 TNM 1-16 bị đánh chìm. Hiện nay, hải quân Mĩ đang sử dụng loại tàu ngầm biệt kích mini chế tạo trong những năm 70 của tk 20. Tàu dài 6,6m, chở 4-6 người nhái, có thể được đặt trên lưng tàu ngầm mẹ khi hành quân. Hải quân Mĩ cũng sắp đưa vào sử dụng một kiểu TNM kí hiệu ASDS, (loại TNM chiến đấu làm nhiệm vụ đổ bộ bí mật lực lượng biệt kích lên bờ biển đối phương). Tàu do hãng Nothrop Grumman chế tạo, có hình dạng giống điếu xì gà khổng lồ dài 19,5m, rộng 2,4m, lượng giãn nước 55t, có thể được chở đến khu vực hoạt động bằng máy bay C-5, C-17 hoặc được đặt trên lưng tàu ngầm mẹ hay trên boong tàu đổ bộ. TÀU NGẨM nguyên Tử, tàu ngầm có động cơ dùng năng lượng hạt nhân. TNNT ra đời vào những năm 50 của tk 20, đánh dấu giai đoạn phát triển quan trọng của kĩ thuật tàu ngầm. TNNT hiện đại có lượng choán nước ngầm đến 26.500t, lặn sâu 750m, tốc độ đi ngầm 35 hải lí/h, lượng nhiên liệu nạp một lần có thể dùng trong 30 năm hoặc chỉ nạp một lần trong cả quá trình hoạt động; được trang bị tên lửa đường đạn hoặc tên lửa có cánh mang đầu đạn hạt nhân, là một trong ba loại vũ khí tiến công chiến lược chủ yếu của các cường quốc QS. Trong những năm gần đây, TNNT phát triển theo hướng: tăng khả năng lặn sâu, tăng tốc độ; giảm tiếng ồn và dấu vết để lại trên đường đi. hoàn thiện hệ thống vũ khí và các phương tiện liên lạc vô tuyến. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67587893_460336708029548_8989445045350301696_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeES6NzV4DPBYy0egFjeGVk4RH7bMhL9kl0Mh9UmVgktsU3d2fFTrsWizyDenPNJXgVv7xUisRfLfXP9XDI6HFuFNubGElUc4DX6ggDl_-mX9g&_nc_oc=AQl4GFg64oeB3rpt5JXXqfjONpsMqwIupOo11PfKiWYjVcG-xZidC979ORoRmEyg_7c&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e88c4695dd9a10a45a0a97d21ea9f28b&oe=5DEE2014) TÀU NGẦM PHÓNG LÔI, tàu ngầm được trang bị ngư lôi tự dẫn tầm xa mang đầu đạn thường hoặc hạt nhân và các loại ngư lôi khác. Lượng choán nước tới 8.000t, tốc độ đi ngầm 35 hải lí/h (65km/h), lặn sâu hơn 300m, trang bị tới 40 ống phóng lôi để có thể phóng ngư lôi, tên lửa có cánh, tên lửa - ngư lôi hoặc rải (thả) thủy lôi. Theo dạng nhiên liệu, có: TNPL điêzen và TNPL nguyên tử. TÀU NGẨM TÊN LỬA, tàu ngầm được trang bị tên lửa đường đạn để giáng đòn hạt nhân vào những mục tiêu chiến lược nằm sâu trong lãnh thổ đối phương hoặc tên lửa có cánh để diệt những mục tiêu trên bộ, trên biển. Tên lừa đường đạn được đặt trong giếng phóng thẳng đứng, tên lửa có cánh đặt trong những thùng (ống) phóng chuyên dụng hoặc ống phóng ngư lôi. Tên lửa có thể được phóng khi tàu ở tư thế nổi hay ngầm. TNTL hiện đại thường là tàu ngầm nguyên từ, lượng choán nước tới 28.500t, tốc độ đi ngầm trên 30 hải lí/h (56km/h), lặn sâu 1.000-1.250m, mang tới 24 tên lửa (chủ yếu là loại phóng từ dưới mặt nước), có ngư lôi để tự vệ chống tàu chiến đối phương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:52:35 pm TÀU NHIỄU, tàu mặt nước loại nhỏ, mang các máy gây nhiễu hoặc các vật phản xạ góc nhầm đánh lừa các phương tiện quan sát phát hiện và đầu tự dẫn của vũ khí (tên lửa, ngư lôi...) đối phương. TN hiện đại mới xuất hiện những năm gần đây, có thể được điều khiển từ xa. Là một trong những phương tiện quan trọng trong tác chiến điện tử trên biển, được biên chế trong các nhóm tàu tấn công hoặc tổ chức thành nhóm tác chiến điện tử - mục tiêu giả riêng. TÀU NỔI nh TÀU MẶT NƯỚC TẦU PHÁ MÌN nh TÀU QUÉT MÌN TÀU PHÁO, tàu chiến mặt nước, trang bị vũ khí chính là pháo (có nòng, phản lực), dùng diệt mục tiêu trên mặt nước (trên bờ) của đối phương. Số lượng và cỡ pháo (lớn, trung, nhỏ) đặc trưng cho khả năng hỏa lực của tàu. TP xuất hiện sớm nhất trong các loại tàu chiến. Đến giữa tk 20 TP gồm: tàu chủ lực (trọng hạm), tàu thiết giáp, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu tuần tiễu, pháo thuyền. Hiện nay do tên lửa được trang bị rộng rãi trong hải quân, TP thuần túy còn rất ít. Một số TP được trang bị phương tiện phát hiện, bám mục tiêu và hệ thống tự động điều khiển hỏa lực hiện đại, cho phép thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện khí tượng, thủy văn phức tạp. TP là một trong những loại tàu chiến chủ yếu của hải quân VN. Cg pháo hạm. TÀU PHÓNG LÔI, tàu chiến mặt nước hạng nhẹ dùng để diệt tàu đối phương bằng ngư lôi. Có lượng choán nước 80- 240t. tốc độ tới 50 hải lí/h (92,6 km/h), tầm hoạt động tới 1.000 hải lí (trên 1.850km), được trang bị 2-4 ống phóng lôi cỡ 450-533mm, 2-6 pháo 20-30mm, pháo phòng không (37- 57mm), súng máy, bom chìm, thủy lôi. thiết bị thả khói... TPL xuất hiện trong CTTG-I. Hiện nay TPL đệm khí hoặc cánh ngầm với tốc độ tới 70 hải lí/h (130km/h) đang được sử dụng trong QĐ của một số nước. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67808417_460336701362882_3097344909942718464_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEZ91t5AyviCe3VVE8kNgjkGVhguVlZUd_DacD7LE3JbNivPV_Q43dTW0O0-kIuYfuYIvU51coJWFYl2g2IUob-XzON8Ot93ouCLTa2g-QwXg&_nc_oc=AQmw3OOUMZRZ0cvksZWgIr1ViySRtn4eROgVfgTtvlHbhWEhvoez0quf7W5-M6n2ojI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f8bf846b0906f26906a44c954008ee5c&oe=5DEB922C) TÀU PHRIGAT nh TÀU FRIG AT TÀU QUÉT LÔI nh TÀU QUÉT MÌN TÀU QUÉT MÌN, tàu mặt nước được trang bị các khí tài chuyên dụng để tìm và phá hủy thủy lôi trên biển (sông, hồ, kênh) và dẫn đường cho tàu thuyền khác (đi sau lưới quét mìn) qua khu vực có thủy lôi (mìn nước). TQM được trang bị: lưới quét mìn, thiết bị gây nổ thủy lôi, khí tài thủy âm, thiết bị vô tuyến truyền hình.... để phát hiện, phân loại và diệt thủy lôi. Tính năng chính: lượng choán nước từ 100 tới 1.300t, tốc độ lớn nhất từ 22 đến 45,4km/h. Vũ khí: súng máy phòng không, pháo phòng không 20-40mm. pháo đa năng 76-100mm... TQM đầu tiên là loại được cải biến từ tàu phục vụ theo sáng kiến của đô đốc X. O. Macarôp (Nga) và dùng trong chiến đấu tại cảng Lữ Thuận (Actua) trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). TQM chuyên dụng đầu tiên được đóng 1909 tại Xanh Pêtecbua. Được dùng rộng rãi trong CTTG-I, CTTG-II. Trong thời chiến có thể cải biến tàu dân sự (vd: tàu vận tải, tàu đánh cá) làm TQM. Cg tàu quét lôi hay tàu phá mìn. TÀU RẢI MÌN, tàu mặt nước hoặc tàu ngầm có trang bị chuyên dụng để bố trí (rải) thủy lôi nhằm phong tỏa, ngăn trở hoạt động của tàu thuyền đối phương ở những vùng biển nhất định hoặc bảo vệ cửa sông, cảng, vũng, vịnh, nơi neo đậu tàu thuyền khỏi sự thâm nhập, tiến công của đối phương. Có: tàu nổi rải mìn và tàu ngầm rải mìn. Tàu nổi rải mìn được đóng chuyên dụng hoặc cải biến từ tàu vận tải, tàu phục vụ, chứa mìn trong khoang hoặc trên mặt boong. Tàu nổi rải mìn hiện đại có lượng choán nước tới 3.200t, tốc độ 37km/h, mang 4.000 thủy lôi, 4 pháo 76mm (hoặc 6 pháo 40mm). Những tàu nổi rải mìn đầu tiên trên thế giới là Buc và Đunai do đó đốc X. O. Macarôp (Nga) đề xướng và được đóng 1892. TRM nổi được dùng rộng rãi trong CTTG-I, CTTG-II. Tàu ngầm rải mìn chuyên dụng để bí mật bố trí thủy lôi trong vùng nước đối phương. Chiếc đầu tiên trên thế giới là Crap do M. P. Nalôtôp (Nga) thiết kế 1907, đưa vào trang bị 1915, mang được 12-60 thủy lôi. Trong CTTG-II tàu ngầm rải mìn có lượng choán nước 720-2.180t, mang 20-66 thủy lôi. Sau CTTG-II thôi chế tạo tàu ngầm rải mìn chuyên dụng. Hiện nay tất cả các tàu ngầm đểu có thể rải thủy lôi qua ống phóng ngư lôi. Cg tàu thả mìn hay tàu thà thủy lôi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:56:11 pm TÀU SĂN NGẦM, tàu chiến mặt nước dùng để tìm và diệt tàu ngầm của đối phương. Có thể hoạt động độc lập hoặc trong đội hình làm nhiệm vụ tuần tiễu, bảo vệ. Có các loại: TSN cỡ lớn (lượng choán nước 108-450t), TSN cỡ nhỏ (lượng hoán nước <100t) và TSN tuần dương (TSN lớn có mang trực thăng săn ngầm). TSN được trang bị sô na. rađa. các thiết bị quan sát và liên lạc vô tuyến, ngư lôi, tên lửa - ngư lôi, bom chìm phản lực. tên lửa. pháo phòng không và thiết bị tạo khói tự vệ.... để phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm đối phương. Hiện nay. QĐ nhiều nước đã có TSN tốc độ cao với kết cấu cánh ngầm hoặc chạy trên đệm khí. TÀU SÂN BAY, tàu chiến mặt nước có cấu tạo và trang bị đặc biệt để làm căn cứ và nơi cất hạ cánh cho máy bay, máy bay trực thăng chiến đấu của hải quân. TSB có đài chỉ huy, đường băng cất hạ cánh, khoang chứa máy bay; khoang sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, khoang chứa nhiên liệu, khoang thiết bị động lực, khoang chứa bom, khoang ở và sinh hoạt của thủy thủ... Được trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không, pháo và pháo phòng không để tự vệ, thiết bị liên lạc vô tuyến, rađa điều khiển máy bay cất hạ cánh... Theo sức chứa máy bay và lượng choán nước, có: TSB hạng nặng (tới 100 máy bay, lượng choán nước 30.000- l00.000t). TSB hạng nhẹ (khoảng 30 máy bay, lượng choán nước 30.000t). Theo chức năng, có: TSB đột kích. TSB chống ngầm. TSB lên thẳng đổ bộ. TSB đột kích chống ngầm... Theo nguồn động lực, có: TSB thường (dùng động cơ điêden, tuabin khí...) và TSB nguyên tử (dùng thiết bị động lực chạy bằng năng lượng nguyên tử). TSB xuất hiện từ CTTG-I, trong CTTG-II có trong biên chế của hải quân Mĩ. Anh. Nhật. TSB hiện đại có lượng choán nước trên l00.000t, chở 85-90 máy bay với hơn nhân viên phục vụ, được coi là nòng cốt trong nhóm tàu đột kích của hải quân. Tuy nhiên, TSB có các nhược điểm: dễ cháy, nổ vì chứa nhiều nhiên liệu. bom, đạn: kích thước và tài trọng lớn hạn chế tính cơ động, là mục tiêu khó bảo vệ đối với máy bay, tên lửa của đối phương; hoạt động của máy bay phụ thuộc vào thời tiết và sóng gió (sóng trên cấp 6 máy bay không cất hạ cánh được). Trong chiến tranh xâm lược VN. 19 TSB MT đã tham chiến là: America. Conxtelâysân, Taicơnđơrôgơ, Uôctao, Phrancơlin D. Rudơven, ỉntơpraidơ, Bern Hômơ Risat, Coran Xi, Phorextơn, Hencuc, Onit, Intripai. Kitti Hôc, Mituây, ơriscơni, Rangiơ, Saratoga. Sangrai Lơ. Indipenđơn (thường xuyên sử dụng 5 tàu). Cg hàng không mẫu hạm. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67580974_460336738029545_3323858744944623616_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeE9_mWcTsy7aF-pZFen7qL-rSMMkn_SlL3LRqNbHyke9K_W7xKEpPzb-tVx7jUDGKQVCSBZSBd74KCErT3t2ZbXVhQGjSqCQGr8hxNTg4h7XA&_nc_oc=AQlzDv3_epOdw7bhZW2qATDKZxiIO4vBO5d0GOOJLrYhPAsG2EwYnS5tmUJ84tZfhDw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f4f1db3e730f0b852cb8d54c99a508fc&oe=5DA69E7D) TÀU TÊN LỬA, tàu chiến mặt nước với vũ khí chính là tên lửa để diệt mục tiêu trên đất liền hoặc trên biển. TTL được phân ra: TTL tuần dương, TTL thu trục, TTL cỡ lớn và TTL cỡ nhỏ. TTL tuần dương, TTL khu trục, TTL cỡ lớn được trang bị tên lửa có cánh, tên lửa tàu đối tàu và tên lửa phòng không. TTL cỡ nhỏ có tên lửa tàu đối tàu và tên lửa phòng không. TTL xuất hiện vào những năm 50 (tk 20) và ngày càng được hoàn thiện theo xu hướng trang bị mạnh, cơ động nhanh và tầm hoạt động lớn. Vd: TTL cỡ nhỏ hiện nay có 2-6 hệ thống phóng tên lửa (tầm bắn 40-100km) chạy trên đệm khí với tốc độ 45-50 hải lí/h (75-85km/h), hành trình liên tục từ 600-2.000 hải lí (1.110 3.700km). TÀU THẢ MÌN nh TÀU RẢI MÌN TÀU THẢ THỦY LỎI nh TÀU RẢI MÌN TÀU TRỰC CANH, tàu chiến làm nhiệm vụ tuần tiễu nhằm duy trì chế độ hành trình ra vào, cảnh giới và bảo vệ căn cứ, bến cảng. Trên TTC quy định: ban ngày kéo cờ chữ “G” trên cột đèn hành trình phía trước (tín hiệu quy định của tàu hải quân), ban đêm bật đèn “xanh” (trực canh). Cg tàu tuần tra. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:58:06 pm TÀU TUẦN DƯƠNG. tàu chiến mặt nước loại lớn, trang bị vũ khí mạnh, có thể hoạt động dài ngày ở vùng biển xa, dùng để diệt tàu mặt nước, tàu ngầm, căn cứ trên biển của đối phương, bảo đảm đổ bộ. thả thủy lôi và thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu khác. Theo chức năng và trang bị vũ khí, TTD chia ra: TTD tên lửa. lượng choán nước tới 14.200t. có động cơ năng lượng nguyên từ hoặc tuabin khí, tốc độ tới 34 hải lí/h (63km/h), trang bị các loại tên lửa (có cánh có thể mang đầu đạn hạt nhân, phòng không, chống ngầm...), có thể chở 2-3 máy bay trực thăng; TTD chống ngầm trang bị phương tiện tìm kiếm tàu ngầm. 12-30 máy bay trực thăng chống ngầm, các tổ hợp tên lứa phòng không và pháo đa năng, các vũ khí chống ngầm khác; TTD chở máy bay. lượng choán nước tới 40.000t, tốc độ trên 30 hải lí/h (55,5km/h), bán kính hoạt động tới 15.000 hải lí, chở 30 máy bay (tiêm kích, cường kích, trực thăng), các tổ hợp tên lửa (tàu đối bờ, chống ngầm, phòng không) tầm gần và tầm xa. pháo đa năng; TTD hạng nặng, lượng choán nước tới 28.000t, tốc độ tới 33 hải lí/h (61 km/h), trang bị 6-9 pháo 203-305mm, 8-12 pháo đa năng 100-127mm. 12-22 pháo 76 và l00mm. nhiều pháo phòng không 20-40mm. vỏ tàu được bọc thép để chống pháo của TTD đối phương; TTD hạng nhẹ, lượng choán nước 12.000t, tốc độ tới 42 hải lí/h (78km/h), trang bị 6-15 pháo 130-180mm. 8-12 pháo đa năng 75-127mm, 16-20 pháo phòng không 20-40mm, vỏ tàu được bọc thép ở những phần quan trọng. TTD có thể mang tới 170 thủy lôi các loại. Xuất hiện vào những năm 60 của tk 19, được sử dụng rộng rãi trong hải quân nhiều nước. Trước CTTG-II có các loại TTD pháo, TTD chủ lực. TTD phòng không, TTD phục vụ, sau đó bị loại bỏ, thay bàng TTD hiện đại. Cg tuần dương hạm. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67909167_460336744696211_2053768080076570624_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHO4AshDhGPg1c_GW46iKGZBzmbRq9tXeyVQUzL3PP2PoVNbCfN3PXAcH6AhUDmqoaKz2rDhPcd9Q8-tcGT2lNNiTux4g1t_crR6HXIpn_D5g&_nc_oc=AQn4TLkivESZrQH_M14OO-n0cgwO1g61N9EQNZhTzFvgd8IjzL4Lqlsjf3iIILQLeTE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=87bf55a4beefdd82c2267500aaa45158&oe=5DEB82E6) TÀU TUẦN TIỄU, tàu chiến mặt nước dùng để cảnh giới, bảo vệ biên giới quốc gia. căn cứ hải quân, bến cảng, các tàu thuyền khỏi sự thâm nhập, tấn công của tàu ngầm, tàu mặt nước và máy bay đối phương khi hành quân và chiến đấu, khi neo đậu tại nơi trống trải. Cũng được dùng để cảnh giới căn cứ hải quân, cảng và bảo vệ biên giới biển. TTT hiện đại có lượng choán nước 600-4.000t, tốc độ tới 35 hải lí/h (65km/h); trang bị: 1-4 pháo 76-100mm, tới 10 pháo phòng không 20-40mm, bom chìm phản lực, ngư lôi tự dẫn chống ngầm: thiết bị rađa và thủy âm, các phương tiện tác chiến điện tử, thông tin liên lạc; có thể có các tổ hợp tên lửa và máy bay trực thăng chống ngầm. TTT được sử dụng rộng rãi trong hai cuộc chiến tranh thế giới. TÀU VŨ TRỤ, khi cụ bay vũ trụ tự động hoặc có người điểu khiển, dùng cho các chuyến bay vũ trụ. TVT có buồng kín trang bị hệ thống bảo đảm hoạt động cho các nhà du hành vũ trụ, các hệ thống cung cấp năng lượng, thiết bị động lực, điều khiển chuyển động và nhiệt độ của tàu, lắp ghép trong vũ trụ, thông tin liên lạc, hãm và hạ cánh, cứu nạn... Được đưa lên quỹ đạo bằng các tên lửa vũ trụ và hạ từ quỹ đạo xuống nhờ thiết bị động lực. Việc tiếp đất (hoặc nước) nhẹ nhàng được thực hiện bằng dù hoặc động cơ hãm. Các TVT sử dụng nhiều lần (tàu con thoi) khi trở về Trái Đất hạ cánh kiểu máy bay. Có các TVT chuyên dụng vận tải không người lái để chờ hàng từ Trái Đất lên các trạm quỹ đạo và ngược lại. Những TVT đã được sử dụng: Phương Đông. Rạng Đông, Liên Hợp, Liên Hợp T, Tiến Bộ (TVT vận tải) của LX; Apôlô, Giêmini, Mecquiri của Mĩ... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67404114_460336761362876_424170252893421568_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGgXvsNyxFuSpPpP9jJ08gxl9ypfb5DKDTYLstzLGW-xIXr3ISSCK1dZFGkjUs0d2xq1uEfHsVis9SUADcOdRwnyQK6WjQ2xod0-88kuNKIiQ&_nc_oc=AQmvUmz6P5pVICyMzRwFHl8dkQDzZaNP0vCQOZ9jMrcMsxrwDacS6lgwjEcVkQL033I&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=402549612af5157eb946178dfad164cc&oe=5DA687B1) Ghép nối tàu Apôlô và Liên Hợp TÀU VŨ TRỤ SỬ DỤNG NHIỀU LẦN nh TÀU CON THOI Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 08:59:36 pm TÀU (XUỒNG) ĐỆM KHÍ. tàu (xuồng) có khả năng di chuyển phía trên bề mặt tương đối bằng phẳng (mặt nước, mặt băng, đầm lầy...) vì tựa trên lớp không khí áp suất cao do các thiết bị phụt khí tạo ra ở dưới thân và được duy trì nhờ các vành chắn bao quanh đáy tàu (xuồng). Khi chuyển động, tàu (xuồng) được nâng lên khỏi mặt nước một phần hoặc toàn bộ. Theo dạng vành chắn, có: T(X)ĐK vành chắn mềm (chạy được cả trên bộ), T(X)ĐK vành chắn cứng (chỉ chạy được trên nước). Công suất tiêu thụ để tạo nên đệm không khí thường chiếm 80% công suất của thiết bị động lực; chuyển động tịnh tiến của T(X)ĐK được tạo bởi các cánh quạt không khí, chân vịt quạt nước hoặc động cơ phụt nước. T(X)ĐK có lượng choán nước không quá 500t, tốc độ đạt tới trên 150km/h, thường dùng để tuần tiễu, chở quân đổ bộ, vận tải... Ý tưởng sử dụng đệm khí để di chuyển không cần đường sá và để tăng tốc độ chuyển động của các khí cụ đã có từ hơn 200 năm trước. Ở VN, quân Mĩ đã dùng tàu đệm khí PACV 1-3 (VN gọi là “bo bo”) để tuần tiễu trên sông và tác chiến trong mùa nước ở đồng bằng sông Cửu Long (1966-69), có khối lượng l0t (chở đầy), tốc độ 110km/h, 3 nhân viên, 15-18 binh lính. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67562431_460336778029541_5653002574509375488_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGQHymE7HP8xBtb-EkxYysGRxLo_OaObmhyXfwzL6g2B_7Fsc7oGfFfnpZu2gYNFjGe73yWqB3D1FkJtQtl4q4KXAr6bYBbD5uNmeKPxyA9Qw&_nc_oc=AQmInUqLI0ZFcckPKfnAOGLSdjDKhil3XzU4WTlQ11gxP2-O66K-_eLtxdSJqcJo7W0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0999f41c95220338b96789dc9d34e830&oe=5DE290BB) TAYLO (A. Maxwell Dayenport Taylor; 1901- 87), nhà lí luận hàng đầu của Mĩ về chiến lược phản ứng linh hoạt và chiến tranh hạn chế, cố vấn QS cấp cao cho bốn đời tổng thống Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN, đại tướng (1944). Năm 1937 tùy viên QS Mĩ tại Nam Kinh (TQ). Tham gia CTTG-II với cương vị sư đoàn trưởng. 1945-49 giám đốc Học viện QS Oet Pointơ. Trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên (1953), tư lệnh Tập đoàn quân 8. Năm 1955-59 tổng tư lệnh các lực lượng MT ở Viễn Đông: tham mưu trướng lục quân Mĩ. 1961-62 cố vấn QS của tổng thống Kennơdi, được cử sang miền Nam VN nắm tình hình. 1962-65 chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mĩ; đại sứ Mĩ tại VN cộng hòa; cố vấn đặc biệt của tổng thống Giônxơn. 1968 thành viên của nhóm cố vấn cấp cao nghiên cứu vấn đề VN, đề xuất chiến lược chung trong chiến tranh xâm lược VN gồm 4 phần: xây dựng QĐ VN cộng hòa, tiến công bằng không quân ra miền Bắc VN, ổn định chính phủ và kinh tế - xã hội của VN cộng hòa, tìm một giải pháp cho cuộc chiến tranh ở VN. 1969 chủ tịch Hội đồng cố vấn tình báo nước ngoài. T ủng hộ tích cực can thiệp QS của Mĩ vào miền Nam VN nhưng đến 1973 thừa nhận Mĩ đã mắc nhiều sai lầm, dính líu quá sâu vào VN. Tác giả sách “Tiếng kèn ngập ngừng”. TĂNG* nh XE TẢNG TĂNG**, quân trang chiến đấu dạng tấm mỏng hình chữ nhật bằng chất liệu bền, không thấm nước (nilon hoặc vinilon), bốn góc có đệm góc (để tăng độ bền) và tai buộc, dùng để căng làm mái che mưa, che nắng khi ngủ, nghỉ ngoài trời. Có hai loại: T đơn và T kép. T đơn thường có kích thước 3m X l,4m, dùng cho cá nhân. T kép (eg T tiểu đội) có thể dùng làm chỗ mắc đồng thời hai võng, hoặc dùng cho các hoạt động sinh hoạt tập thể, ăn uống hoặc che phủ vũ khí lớn. TĂNG CƯỜNG, dùng lực lượng tăng sức chiến đấu cho một đơn vị LLVT (tập đoàn lực lượng) bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao. TC thực hiện bằng phối thuộc, chuyển thuộc, chi viện, phối hợp. Lực lượng TC được chỉ định khi hạ mệnh lệnh (giao nhiệm vụ) tác chiến. “TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI”, tác phẩm tuyển chọn những bài viết và nói của Nguyễn Chí Thanh trong KCCP và hơn 10 năm KCCM; Nhà xuất bản QĐND xuất bản 4.1997. Với chủ đề về tổ chức xây dựng Đảng và nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ.CTCT trong QĐND VN, tác giả khẳng định: nguyên tắc ĐCS VN lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện QĐND VN là bất di, bất dịch, là nguồn gốc sức mạnh và cơ sở của mọi thắng lợi; công tác chính trị để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng là công tác đảng, công tác vận động quần chúng của Đảng trong QĐ; công tác đó mang tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính quần chúng, theo nguyên tắc đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế và làm tan rã địch, với phương châm lấy giáo dục làm chính và phải đi sâu vào đời sống QĐ nhằm củng cố các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bài học kinh nghiệm lớn nhất để xây dựng QĐND VN thành QĐ CM hùng mạnh tiến lên chính quy, hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình là phải tăng cường và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò của công tác chính trị. Tác phẩm góp phần phát triển lí luận chính trị - QS, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với xây dựng QĐND VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:00:33 pm TĂNG GIA SẢN XUẤT, hoạt động sản xuất lương thực thực phẩm (trồng trọt và chăn nuôi) nhằm tạo ra một phần nông sản thực phẩm đáp ứng nhu cầu của bộ đội. Thường được tiến hành ở quy mô nhỏ và tận dụng nhân lực, thời gian, tiền vốn, đất canh tác, cơ sở doanh trại... Trong QĐND VN từ trước đến nay, TGSX là một nội dung của công tác tạo nguồn bảo đảm hậu cần nhằm tăng thêm của cải xã hội, tự túc một phần lương thực, thực phẩm để cải thiện đời sống bộ đội, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. TĂNG HẠN SỬ DỤNG VŨ KHÍ, TRANG BỊ KĨ THUẬT, tổng thể các giải pháp kĩ thuật đặc biệt để tiếp tục sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật đã hết hạn sử dụng (thời gian, số kilômét sử dụng, số lần sử dụng...) theo quy định của nhà sản xuất; một nội dung của công tác bảo đảm kĩ thuật. Gồm: tăng hạn sử dụng giữa hai lần bảo dưỡng kĩ thuật; tăng hạn sử dụng giữa hai lần sửa chữa; tăng tổng niên hạn sử dụng. Nội dung chủ yếu: kiểm tra, giám định các thông số kĩ thuật; bảo dưỡng; sửa chữa. Việc THSDVK,TBKT phải được tiến hành trước khi vũ khí trang bị kĩ thuật hết hạn sử dụng và trong một khoảng thời gian nhất định. Quy trình công nghệ THSDVK,TBKT đã hết hạn sử dụng do hội đồng kĩ thuật (hội đồng tăng hạn) xây dựng và được người chỉ huy có thẩm quyền quyết định. Kết quả thực hiện phải được ghi chép thành văn bản, báo cáo hội đồng và cấp trên ra quyết định tăng hạn sử dụng. TÂM LÍ, gọi chung những hiện tượng tinh thần diễn ra trong đầu óc con người, kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt động của bộ não, gắn liền với mọi hành vi, hoạt động của con người và điều khiển những hành vi, hoạt động đó; đối tượng của TL học. Gồm các hiện tượng ý thức (được chủ thể nhận biết) và các hiện tượng vô thức (chưa được chủ thể nhận biết). Theo nội dung phản ánh, các hiện tượng TL gồm; động cơ, nhận thức, cảm xúc - tình cảm, ý chí, vận động. Theo hình thức phản ánh, các hiện tượng TL gồm: các quá trình TL (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng...); các trạng thái TL (phấn khởi, buồn chán, tích cực, tiêu cực...); các cấu thành TL (giản đơn, phức tạp...); các thuộc tính TL nhân cách (xu hướng, tính cách, khí chất...). Các hiện tượng TL có vai trò quan trọng đối với đời sống con người và trong quan hệ xã hội. TÂM LÍ HỌC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, bộ phận của tâm lí học quân sự, nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật tâm lí diễn ra trong các lĩnh vực hoạt động QS của quân nhân, tập thể quân nhân; những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ huy, giáo dục, huấn luyện bộ đội. Cơ sở lí luận của TLHHĐQS: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, QS của ĐCS VN và các nguyên tắc của lí thuyết tâm lí học hoạt động (lịch sử, phát triển, hệ thống...). Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phân tích tâm lí hoạt động, như: đặc điểm, thành phần, cấu trúc (nhu cầu, động cơ, mục đích, nhiệm vụ, hành động, thao tác, phương tiện và mối liên hệ qua lại giữa chúng); phân tích ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, QS, kĩ thuật... đến chất lượng, hiệu quả hoạt động QS. TÂM LÍ HỌC KỈ LUẬT QUÂN SỰ, bộ phận của tâm lí học quản sự nghiên cứu: các cơ chế và quy luật tâm lí của sự hình thành, phát triển tính kỉ luật QS; cấu trúc nội dung các thành phần tâm lí tham gia tạo thành tính ki luật của quân nhân và tập thể quân nhân trong những điều kiện khác nhau của hoạt động QS; những biện pháp tâm lí - xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện tính kỉ luật QS. TLHKLQS trở thành một nội dung giảng dạy trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan ở các học viện, nhà trường của QĐND VN. TÂM LÍ HỌC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÍ BỘ ĐỘI, bộ phận của tâm lí học quân sự nghiên cứu quy luật, tính quy luật của các hiện tượng tâm lí nảy sinh trong hoạt động lãnh đạo, quản lí bộ đội. Có nhiệm vụ nghiên cứu: các việc tâm lí của bản thân hoạt động lãnh đạo, quản lí (các đặc trưng tâm lí, các kiểu loại của hoạt động lãnh đạo, quản lí, việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, các lí thuyết điều khiển trong hoạt động lãnh đạo, quản lí...); các vấn đề tâm lí đối với người thuộc quyền (khách thể) trong lãnh đạo, quản lí (đặc trưng tám lí của các cá thể người và các nhóm người, sự động viên kích thích con người, việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài trong lãnh đạo, quản lí...); các vấn dề tâm lí đối với chủ thể lãnh đạo, quản lí (uy tín và việc bồi dưỡng uy tín, nghệ thuật của nhà lãnh đạo, quản lí...); các vấn đề tâm lí trong quan hệ giữa chủ thể và khách thể của hoạt động lãnh đạo, quản lí (quyền uy, xung đột tâm lí và giải quyết xung đột tâm lí trong lãnh đạo, quản lí...). TLHLĐ,QLBĐ góp phần tăng thêm hiệu lực lãnh đạo, quản lí bộ đội trong thực hiện các nhiệm vụ QS. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:01:52 pm TÂM LÍ HOC QUÂN SỰ, chuyên ngành tâm lí học nghiên cứu quy luật hình thành và hoạt động tâm lí của quân nhân và tập thể quân nhân trong điều kiện hoạt động QS, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, huấn luyện, lãnh đạo, chỉ huy, quản lí bộ đội; môn học cơ sở trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống nhà trường QĐND VN. TLHQS VN hình thành, phát triển trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khoa học QS và nghệ thuật QS VN, tổng kết thực tiễn hoạt động QS hiện đại của VN và thế giới. TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM QUÂN SỰ, chuyên ngành tâm lí học quân sự nghiên cứu các hiện tượng tâm lí cùng những quy luật và tính quy luật tâm lí nảy sinh trong hoạt động sư phạm QS, đặc biệt ở các nhà trường QĐ. Chỉ ra các đặc trưng tâm lí hoạt động dạy (của giáo viên), hoạt động học (của học viên) và những vấn đề có tính quy luật tâm lí nhằm nâng cao hiệu quá hoạt động dạy và học, trong đó có việc rèn luyện nhân cách, năng lực sư phạm của các giáo viên... TLHSPQS có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục, huấn luyện trong QĐ và các LLVTND VN nói chung. TÂM LÍ TẬP THỂ QUÂN NHÂN, bộ phận của tâm lí xã hội QS, gồm những hiện tượng tâm lí xã hội trong một tập thể quân nhân, một mặt đời sống tinh thần của tập thể quân nhân. TLTTQN mang bản chất xã hội - lịch sử, phản ánh những điều kiện sống chung về vật chất và tinh thần của xã hội, dân tộc, giai cấp: đồng thời thể hiện đặc trưng hoạt động QS (về mục dích, nhiệm vụ, thành phần quân nhân, trình độ và phong cách quân lí, lãnh đạo...). Cấu trúc TLTTQN gồm hai hiện tượng tâm lí xã hội: kém bền vững (có tính quá trình như: sự ác cảm, đồng cảm, sự lây lan, ám thị, sự đánh giá, sự tranh đua, bắt chước...): tương đối bền vững (có tác động mạnh đến hành vi và nhân cách quân nhân như dư luận tập thể, tâm trạng tập thể, uy tín tập thể, truyền thống tập thể...). Xây dựng TLTTQN lành mạnh, bền vững, mang bản chất giai cấp công nhân là nhiệm vụ thường xuyên của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong QĐND VN. TẦM BAY của khí cụ bay, quãng đường bay liên tục xa nhất khí cụ hay có thể đạt được mà không cần tiếp thêm nhiên liệu: một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của khí cụ bay. TB phụ thuộc vào đặc điểm của khí cụ bay: cấu tạo, hình dáng và chất lượng khí động, khối lượng, lượng dự trữ và suất tiêu hao nhiên liệu, chế độ bay, điều kiện khí tượng và nhiều yếu tố khác. Hiện nay các máy bay phản lực hiện đại nhất (Concooc, Bôinh. B-52) có TB tới 18.000km, tên lửa vượt đại châu có TB trên 13.000km. Các biện pháp để tăng TB: nâng cao chất lượng khí động, hạ thấp suất tiêu hao nhiên liệu, dùng nhiên liệu mới, dùng thùng nhiên liệu phụ. TẨM BẮN, cự li bắn lớn nhất. TB đạt được với các góc bắn (phóng): gần 30° với súng bộ binh, gần 45° với pháo mặt đất... TB là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của vũ khí (xt tầm bắn thẳng). TẨM BẮN HIỆU QUẢ, tấm bắn bảo đảm xác suất trúng mục tiêu cao hoặc khả năng sát thương của đạn tiêu diệt mục tiêu có hiệu quả. Với súng bộ binh TBHQ không vượt quá một phần ba tầm bay giới hạn của đầu đạn (tầm bắn lớn nhất). TẨM BẮN THẲNG, cự li bắn thẳng lớn nhất. Phụ thuộc vào chiều cao mục tiêu và sơ tốc đạn. Chiều cao mục tiêu càng lớn, sơ tốc đạn càng lớn thì TBT càng lớn và cự li diệt mục tiêu bằng bắn thẳng càng lớn. TBT là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - ki thuật của hỏa khí pháo binh (pháo nòng dài, pháo chống tăng, ĐKZ...). Trong các bảng bắn thường cho trị số TBT ứng với các mục tiêu có chiều cao xác định (vd> 0,5: 2; 2,7; 3m). TBT của các hóa khí pháo binh thường khoảng trên dưới 1.000rn (không quá 2.000m) và cg cự li bắn là. TẦM ĐI XA của tàu, quãng đường biển (tính bằng hải lí tàu có thể đi được với vận tốc nhất định cho đến khi tiêu hao hết lượng dự trữ nhiên liệu hoặc cho đến khi hết thời hạn hoại động độc lập của tàu; một trong những chi tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của tàu. TĐX được tính toán khi thiết kế, xác định trong quá trình chạy thử sau khi hạ thủy và được định kì kiểm tra trong quá trình sử dụng. Tầm đi xa lớn nhất của tàu đạt được khi sử dụng vận tốc kinh tế (bảo đảm tiêu hao năng lượng ít nhất). TĐX sử dụng năng lượng hạt nhân được giới hạn bởi khả năng hoạt động liên tục của hệ thống máy chính, máy phụ và các hệ thống khác của tàu, cũng như sức chịu đựng của thành viên trên tàu. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:04:04 pm TẤM PHỦ NGỤY TRANG, khí tài ngụy trang dạng tấm mềm làm từ vật liệu thông thường hoặc vật liệu tổng hợp, dùng che phủ trên đối tượng bảo vệ nhằm vô hiệu hóa hoặc làm giảm hiệu quả các loại trinh sát kĩ thuật (rađa, hồng ngoại, quang học...), trinh sát công nghệ cao của đối phương. TÂN AN, tỉnh cũ ở Nam Bộ. Thành lập 12.1889, tách từ t. Gia Định. 10.1956 sáp nhập với Chợ Lớn thành t. Long An TÂN BINH, chiến sĩ mới nhập ngũ, dược phong quân hàm binh nhì. TẢN CẢNG, cảng ở hữu ngạn sông Sài Gòn, đông bắc tp Hồ Chí Minh 20km. TC do Mĩ xây dựng 1960. một trong 10 càng lớn ở Nam VN. Có hai cầu tàu dài 786m, rộng 90m, một bến xà lan dài 260m. Diện tích kho 19.200m2, diện tích bãi 156.600m2, mớn nước tại bến 11m, trên luồng 16-19m:có thể tiếp nhận một lúc 4 tàu l0.000t, khả năng bốc dỡ hàng 821.200t/năm. TÂN SỞ (cổ), thành do Tôn Thất Thuyết cho xây dựng vào khoảng 1883 ở xã Cam Chính, h. Cam Lộ, t. Quảng Trị để chuẩn bị cho việc kháng chiến chống Pháp. Thành xây hình chữ nhật dài 500m, rộng 350m, mở 4 cửa giữa 4 mặt tường thành. Trong thành, ngoài những dinh thự cua chánh sứ, phó sứ, bang tá, lãnh binh, còn có trại lính, kho đạn, hầm súng, trại tù và tàu voi. Đây là một trong những công trình phòng thủ cuối cùng của dòng kiến trúc cũ được xây dựng thời Nguyễn. Sau vụ đánh úp quân Pháp ở Mang Cá và Toà khâm sứ trong cuộc nổi dậy ở Huế, 5.7.1885 không thành, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra TS lập căn cứ chống Pháp. Di tích thành TS ngày nay còn lại chỉ là những gò đất, gạch vỡ. TÂN SƠN NHẤT, cảng hàng không quốc tế ở tây trung tâm tp Hồ Chí Minh 6km. Hai đường băng bê tông 3.050m x45m. Các loại máy bay hiện đại có thể cất hạ cánh. Do Pháp xây dựng, 1965 Mĩ sửa chữa nâng cấp thành một trong ba căn cứ QS liên hợp lớn nhất của Mĩ ở Nam VN. Trong KCCM, QGPMN VN đã nhiều lần đánh phá TSN, phá hủy nhiều máy bay và phương tiện chiến tranh, đặc biệt chiều 28.4.1975 không quân nhân dân VN dùng máy bay chiến lợi phẩm A-37 đánh sân bay (xt trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, 28.4.1975), phá hủy 24 máy bay. Sau KCCM nhiều lần được cải tạo và nâng cấp. Lượng vận chuyển 3 triệu khách/năm (2000). TÂN TRÀO, xã thuộc h. Sơn Dương, nay là thôn Tân Lập. xã Tân Trào. h. Sơn Dương, t. Tuyên Quang. Nguyên là xã Kim Lung (Kim Long) thuộc tổng Tú Trạc, châu Sơn Dương; khi thành lập khu giải phóng đổi thành xã TT, châu Tự Do. Sau CM tháng Tám đổi thành xã Tân Lập. 1948 sáp nhập với xã Hồng Thái (tên cũ: Kim Trận) thành xã TT mới. 5.1945, TT được xây dựng thành thủ phủ Khu giải phóng và trung tâm lãnh đạo CM. 16.8.1945 tại đình Tân Trào, Quốc dân đại hội họp, đề ra chủ trương, thông qua và ban bố lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn của Việt Minh, quy định quốc kì, quốc ca, cử ra ủy ban dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời) đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong KCCP. TT tiếp tục dược chọn là nơi ở và làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ. Hiện nay TT (bao gồm cả xã Hồng Thái cũ) được xây dựng thành khu di tích lịch sử CM. TÂN TỨ QUÂN X. HỔNG QUÂN CÔNG NÔNG TRUNG QUỐC TẨN THỦY HOÀNG (Qin Shihuang, Doanh Chính; 259- 210tcn). hoàng đế đầu tiên của nhà Tần (TQ), lập nên một quốc gia phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử TQ. kết thúc thời Chiến Quốc. Lên ngôi vua năm 13 tuổi; 230-221 tcn, lần lượt chinh phục các nước Hàn, Triệu. Ngụy, Sở, Yên, Tề, chấm dứt 550 năm cát cứ. Chia TQ thành 36 quận, dưới là huyện, cử quan lại của triều đình xuống cai trị. Hoàng đế quyết định mọi việc quan trọng của quốc gia. phong và tước mọi chức quan trọng yếu từ trung ương đến địa phương. Thực hiện thống nhất pháp luật, tiền tệ, chế độ đo lường, phá hủy các công trình và thành luỹ trước đây phân chia giữa các nước. Sai đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân lên phía bắc đánh đuổi người Hồ; bình định các dân tộc Bách Việt, lập ra Mân Trung. Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận ở phía nam. Bắt dân lao dịch nặng nể để xây dụng nhiều công trình đổ sộ như Vạn Lí Trường Thành, lăng Li Sơn. cung A Phòng ở kinh đô Hàm Dương. Cho húy các đồ binh khí dân gian, đốt sách sử của các nước, sách kinh điển nho gia, chôn sống khoảng 460 phương sĩ và nho sinh. Thực hiện chế độ chuyên chế, sưu thuế, lao dịch nặng nề, chiến tranh liên miên gây oán giận trong nhân dân. Sau khi TTH chết, khắp nơi trong nước nổi lên khởi nghĩa lật đổ nhà Tần. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:05:59 pm TẬP BÀI. hình thức huấn luyện chỉ huy tham mưu. được tiến hành để huấn luyện người chỉ huy, cơ quan và học viên đào tạo ở học viện, nhà trường QĐ. TB có thể tiến hành ở thực địa, trong nhà (phòng học, SCH) với các dạng: TB khung, TB nhóm. TB làm ngay. TB khung được tổ chức thành khung tập (với các cương vị chính như: người chỉ huy, tham mưu trường, chủ nhiệm các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn...) và luyện theo chức trách được phân công; hình thức huấn luyện tập thể về chiến dịch, chiến thuật nhằm nâng cao năng lực chuẩn bị và thực hành chiến dịch, trận chiến đấu, thực hiện các mặt bảo đảm, rèn luyện bản lĩnh, tác phong chỉ huy và hiệp đồng. Thường vận dụng trong huấn luyện chỉ huy và cơ quan, học viên là sĩ quan. TB nhóm được tổ chức thành tổ, nhóm và cùng thực hiện một nội dung (công việc) của một chức vụ nhất định nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng, củng cố lí luận chiến dịch, chiến thuật. Thường vận dụng trong huấn luyện người chỉ huy và học viên. TB làm ngay được tiến hành để kiểm tra kiến thức cơ bản và năng lực thực hành của người chỉ huy và cơ quan về một nội dung nhất định, nhằm cùng cố và nâng cao năng lực hành động độc lập. bản lĩnh chỉ huy và khả năng phân tích đánh giá tình hình. Thường tiến hành trước các cuộc diễn tập, do người chỉ huy cấp trên trực tiếp chuẩn bị và chỉ dạo. TẬP ĐOÀN nh TẬP ĐOÀN LỰC LƯỢNG TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM. hệ thống các cứ điểm, cụm cứ điểm hoặc các khu vực phòng ngự được xây dựng liên kết chặt chẽ với nhau theo một ý định và kế hoạch tác chiến thống nhất của QĐ Pháp trong chiến tranh xâm lược VN (1945-54). Tùy thuộc vào vai trò, vị trí, tính chất nhiệm vụ, TĐCĐ có quy mô lực lượng từ binh đội, binh đoàn đến liên binh đoàn. Trong cuộc chiến tranh xâm lược VN (1945-54), QĐ Pháp đã xây dựng các TĐCĐ lớn như Nà Sản (t. Sơn La 1952), Điện Biên Phú (t. Lai Châu 1953-54)... TĐCĐ có tác dụng chủ yếu: phòng thủ một khu vực quan trọng; thực hiện chia cắt chiến lược, ngăn chặn hoặc hạn chế cơ động lực lượng cấp chiến dịch, chiến lược của LLVTND VN giữa các chiến trường tác chiến; làm bàn đạp để mở các cuộc hành quân tiến công với quy mô chiến dịch, chiến lược đánh ra vùng do LLVTND VN kiểm soát. TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM ĐIỆN BIÊN PHỦ, tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của QĐ Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, hình thành cuối 1953 trên cánh đồng Mường Thanh và các điểm cao xung quanh thuộc châu Điện Biên t. Lai Châu (nay thuộc tp Điện Biên Phú. t. Điện Biên), do Đờ Catxtơri chỉ huy. 20-22.11.1953 tướng Nava cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ nhằm che chở cho Lai Châu và Thượng Lào khói bị uy hiếp. 3.12.1953 sau khi được tin nhiều đại đoàn bộ đội chủ lực VN tiến lên Tây Bắc, Nava quyết định gấp rút tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh với ý đồ thu hút và tiêu diệt đại bộ phận lực lượng chủ lực đối phương. Lực lượng quân Pháp phòng ngự ở Điện Biên Phủ gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (sau được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội dù), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh. 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 phi đội không quân (14 máy bay), 1 đại đội vận tải (khoảng 200 xe). TĐCĐĐBP tổ chức thành ba phân khu (bắc, nam và trung tâm) gồm 8 trung tâm đề kháng với 49 cứ điểm, có khả năng phòng ngự độc lập và chi viện lẫn nhau, có hệ thống công sự vững chắc và hỏa lực mạnh (súng cối, súng phun lửa và súng bắn thẳng các loại). Trong mỗi cứ điểm và cụm cứ điểm đều có hào giao thông, bên ngoài có bãi mìn và hàng rào thép gai nhiều tầng, nhiều kiểu dày 50-100m. Có hai căn cứ hỏa lực (phân khu trung tâm và phân khu nam); hai sân bay (Mường Thanh và Hồng Cúm) nối với Hà Nội, Hải Phòng bằng cầu hàng không trực tiếp; khi cần Bộ tổng chỉ huy QĐ Pháp có thể huy động tối đa lực lượng không quân chi viện cho Điện Biên Phủ. TĐCĐĐBP được các tướng lĩnh Pháp. Mĩ đánh giá là “pháo đài bất khả xâm phạm”, đã bị quân và dân VN tiêu diệt hoàn toàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM NÀ SẢN. tập đoàn cứ điểm phòng ngự do Pháp lập ra tại khu vực Nà Sản (t. Sơn La) nhằm ngăn chặn hoạt động tiến công của bộ đội chủ lực VN trên Mặt trận Tây Bắc. Hình thành cuối 10.1952, lực lượng gồm 8 tiểu đoàn bộ binh và dù (2.12.1952 được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn dù), 1 tiểu đoàn pháo. 8 đại đội độc lập và 1 đại đội công binh; bố trí thành 24 cứ điểm cấp đại đội và 4 cứ điểm cấp trung đội trên các điểm cao xung quanh có thể yểm trợ cho nhau, ở giữa là sân bay, trận địa pháo, SCH; cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, bảo đảm chi viện kịp thời. Là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp lúc đó ở Tây Bắc nhưng trước sức ép, bao vây, tiến công của quân và dân ta (x. chiến dịch Tây Bắc, 14.10-10.12.1952 và chiến cục Đông Xuân 1953-54), TĐCĐNS bị vô hiệu hóa và bị cô lập, 12.1953 Pháp buộc phải rút bỏ Nà Sán. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:07:28 pm TẬP ĐOÀN KHÔNG QUÂN 7. liên binh đoàn không quân chiến dịch - chiến thuật của QĐ Mĩ. Thành lập 1.4.1966 trong chiến tranh xâm lược VN, thay Sư đoàn không quân 2 trước đó chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của không quân Mĩ ở miền Nam VN. Gồm các không đoàn tiêm kích và tiêm kích - bom 3 (Biên Hoà), 12 (Cam Ranh), 35 (Phan Rang), 366 (Đà Nẵng), 31 (Tuy Hoà), 37 (Phù Cát); Sư đoàn không quân 834 vận tải chiến thuật, 1 không đoàn trinh sát, 2 không đoàn tác chiến đặc biệt và một số đơn vị yểm trợ, SCH ở Tân Sơn Nhất (Sài Gòn). Do MACV chỉ huy tác chiến (tư lệnh TĐKQ7 đồng thời là phó tư lệnh MACV về không quân), BTL Thái Bình Dương điều hành và phối hợp với Tập đoàn không quân 13 - SCH ở Clac. Philippin (tư lệnh TĐKQ7 và tư lệnh Tập đoàn không quân 13 thay nhau làm phó tư lệnh BTL Thái Bình Dương, và trên cương vị đó được quyền chỉ huy 3 không đoàn chiến thuật của Tập đoàn không quân 13 đóng ở Thái Lan hoạt động đánh phá miền Bắc VN và Lào). 1966-73 TĐKQ7 đã thực hiện chi viện hỏa lực không quân cho quân Mĩ và QĐ Sài Gòn mở các cuộc hành quân ở miền Nam VN. chịu nhiều tổn thất và đã 7 lần thay đổi tư lệnh. Sau chiến tranh VN thay đổi tổ chức (tới 2001 có 2 không đoàn chiến đấu, 1 phi đoàn tác chiến đặc biệt trang bị 96 máy bay các loại); SCH ở Ôsan (Hàn Quốc). TẬP ĐOÀN LỰC LƯƠNG, tập hợp lực lượng gồm các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội. phân đội thuộc quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn. được triển khai thành thế trận trên một hướng (khu vực), để cùng thực hiện những nhiệm vụ tác chiến nhất định. Số lượng và chủng loại các đơn vị của TĐLL được xác định tuỳ thuộc vào tính chất và yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến. Theo quy mô, có: TĐLL chiến lược. TĐLL chiến dịch, TĐLL chiến thuật: theo vai trò, vị trí, có: TĐLL chủ yếu, TĐLL thứ yếu...: theo quân chủng, có: TĐLL lục quân. TĐLL không quân, TĐLL hải quân. TĐLL phòng không... TĐLL thường được gọi tắt là tập đoàn, vd: tập đoàn chiến lược, tập đoàn chiến dịch... TẬP ĐOÀN QUÂN, liên binh đoàn chiến dịch trong QĐ một số nước (Mĩ. Nga. TQ...). Thường gồm một số binh đoàn, binh đội thuộc các quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn. Tổ chức biên chế của TĐQ thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiệm vụ. đặc điểm chiến trường và các điều kiện khác. Tùy theo quận chung mà TĐQ trực thuộc, thành phần chiến đấu và nhiệm vụ, có: TĐQ binh chủng hợp thành. TĐQ không quân. TĐQ phòng không... TĐQ có từ đầu tk 19, là đơn vị tổ chức phổ biến trong QĐ của các nước tham gia CTTG-I, CTTG-II. TẬP ĐOÀN QUÂN KHÔNG QUÂN, liên binh đoàn chiến dịch của không quân trong QĐ một số nước; thuộc lực lượng không quân tầm xa. Gồm: liên đội, trung đoàn, sư đoàn không quân và các đơn vị phục vụ, bảo đảm. Nhiệm vụ: phối hợp tác chiến với liên binh đoàn của các quân chủng: thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược như phá hủy các mục tiêu quan trọng trong khu vực mặt trận và chiều sâu bố trí chiến lược của đối phương. TẬP ĐOÀN QUÂN SỰ, liên minh (liên kết) các tổ chức hay thế lực QS của một hoặc nhiều nước có chung những quyền lợi kinh tế - xã hội hoặc xu hướng chính trị, thành một tổ chức lũng đoạn nhà nước (khu vực, quốc tế) nhằm phối hợp hành động vì mục đích chính trị; đặc trưng của xu thế quân phiệt hóa nền chính trị một nước, khu vực hoặc thế giới. TĐQS có thể hình thành dưới hình thức một tổ chức QS hoàn chinh (như NATO...), hoặc liên minh thông qua hội đồng tướng lĩnh, hội đồng QS trực tiếp nắm quyền lực nhà nước... (nhu chính quyền Pinôchê ở Chile sau 1973, chính quyền Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam VN trước 4.1975...). TẬP HỢP ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU của không quân hành động chiếm lĩnh vị trí nhất định ở trên không của máy bay, tốp máy bay sau khi cất cánh để tạo thành đội hình chiến đấu. Để THĐHCĐ nhanh và an toàn, phải quy định thứ tự cát cánh cho từng máy bay, có phương pháp tập hợp đội hình và quan sát tốt. Giảm thời gian cất cánh, tập hợp đội hình là biện pháp để tăng sức chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của không quân. Phương pháp THĐHCĐ: tập hợp đuổi, tập hợp lượn vòng 180°. TẬP HUẤN, hình thức huấn luyện cán bộ và nhân viên chuyên môn. kĩ thuật, nhằm bồi dưỡng về lí luận, nâng cao kĩ năng thực hành và phương pháp huấn luyện. Nội dung TH: các vấn đề mới về chiến dịch, chiến thuật, công tác tham mưu chỉ huy, phương pháp huấn luyện và các nội dung chuyên đề, chuyên ngành... Đối tượng, thời gian và hình thức TH dược xác định trong kế hoạch huấn luyện hàng năm. TẬP KẾT BỘ ĐỘI, tập trung lực lượng ở khu vực quy định để chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ. TKBĐ phải đúng thời gian, gọn, bí mật, an toàn. Khu vực TKBĐ phải được chọn ở địa điểm thích hợp; bố trí lực lượng phải phù hợp với phương án tác chiến, chú trọng các mặt bảo đảm tác chiến (trinh sát, cảnh giới, ngụy trang, công sự...). TKBĐ có các quy mô: chiến lược, chiến dịch, chiến đấu. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:09:21 pm TẬP KÍCH, lợi dụng sơ hở của đối phương và các điểu kiện có lợi khác, bất ngờ tiến công tiêu diệt (sát thương đối phương ); một hình thức chiến thuật. Có: TK chiến lược, TK chiến dịch và TK chiến thuật. TK trên bộ, TK đường không và TK đường thủy; TK xung lực và TK hỏa lực. TK xung lực có: kì tập, cường tập, bôn tập. Kì tập được tiến hành rất bí mật, bất ngờ, với lực lượng ít nhưng đạt hiệu suất chiến đấu cao. Cường tập là vận dụng kết hợp kì tập với sử dụng sức mạnh để tiêu diệt, phá hủy mục tiêu. Bôn tập là nhanh chóng cơ động lực lượng từ xa đến, bất ngờ tiến công tiêu diệt, phá hủy mục tiêu rồi rút ngay làm cho địch không kịp đối phó. TẬP KÍCH BAN ĐÊM. hình thức chiến đấu ban đêm; lợi dụng đêm tối đánh địch bất ngờ. Để TKBĐ có hiệu quả cần: giữ bí mật tuyệt đối ý định tác chiến, lực lượng, thời gian tiến hành: phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường; bí mật cơ động lực lượng áp sát mục tiêu, thực hành công kích mãnh liệt, kiên quyết và liên tục; phát huy uy lực của hỏa lực đánh gần. sử dụng thành thạo khí tài nhìn đêm và chiếu sáng; chỉ huy tập trung thống nhất, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, thành thục phương án chiến đấu ban đêm. TẬP KÍCH BẰNG CÁC TỐP NHỎ LẺ, hình thức chiến thuật của không quân tiêm kích dùng lực lượng nhỏ (tốp nhỏ) cơ động nhanh, bí mật, bất ngờ tiếp cận mục tiêu ở thế có lợi, công kích nhanh và kiên quyết, làm cho địch không kịp phát hiện và đối phó. Đặc điểm TKBCTNL: cơ động đến vị trí, không vực mục tiêu (địch đã trinh sát, tuần tiễu, tìm cứu...) có thể khống chế, bất ngờ tiến công khi địch còn đang chủ quan, sơ hở tiêu diệt một chiếc hay cả tốp máy bay địch. TẬP KÍCH BẰNG VŨ KHÍ TỰ TẠO, hình thức chiến thuật của lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, dựa vào thế trận làng, xã được chuẩn bị trước, bí mật đưa lực lượng và vũ khí tự tạo (bom, mìn, đạn lép chế tạo thành giàn phóng nổ, giàn thun phóng lựu đạn hàng loạt...) luồn sâu, lót sẵn, áp sát dồn bốt, trận địa pháo, kho tàng, sân bay, bến cảng, nơi trú quân của địch,... bất ngờ, đồng loạt tiến công nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch; một cách đánh truyền thống, đơn giản nhưng đạt hiệu quà chiến đấu cao, được vận dụng rộng rãi trong KCCM. TẬP KÍCH BÍ MẬT, bí mật tiềm nhập, luồn sâu lót sát mục tiêu, bất ngờ tiến công đồng loạt trong thời gian ngắn rồi rời khỏi chiến đấu hoặc chuyển sang tiến hành nhiệm vụ khác; phương pháp tác chiến cơ bản của đặc công. TKBM thường được tiến hành với quy mô từ tổ đến trung đoàn ở các địa hình trên bộ và dưới nước. TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC, tập kích do lực lượng chiến lược tiến hành nhằm tiêu diệt lực lượng chủ yếu, làm suy yếu tiềm lực chính trị, QS. kinh tế và tinh thần, làm rối loạn việc điều hành đất nước và hoạt động ở hậu phương của đối phương. Mục tiêu của TKCL là các trung tâm kinh tế, chính trị, tập đoàn (cụm) LLVT chiến lược và chiến dịch, căn cứ QS quan trọng, đầu mối giao thông, SCH chiến lược và chiến dịch, kho tàng... TKCL có thể được tiến hành trong thời kì đầu và cả trong quá trình chiến tranh bàng hỏa lực hoặc bằng các đòn tập kích tên lửa hạt nhân. Ở VN, TKCL được tiến hành bằng cách kết hợp hỏa lực và hành động tiến công của bộ đội, đặc biệt là bộ đội tinh nhuệ, LLVT tại chỗ... TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG, phương pháp tác chiến khóng quân dùng các phương tiện hỏa lực (bom, đạn phản lực. tên lửa...) từ trên không bí mật bất ngờ phá hủy, tiêu diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước của đối phương. Mục đích là làm mất sức chiến đấu, làm suy yếu sức mạnh quân sự và tiềm lực quân sự của đối phương để chi viện cho tác chiến trên chiến trường, hoặc tạo điều kiện thuận lợi để nhanh chóng giành thắng lợi trong chiến tranh. Có: TKĐK chiến thuật, TKĐK chiến dịch và TKĐK chiến lược. Lực lượng tiến hành TKĐK có thể từ từng chiếc, từng tốp, nhiều tốp máy bay đến từng binh đoàn, nhiều binh đoàn thuộc những binh chủng khác nhau của không quân. Trong TKĐK có thể tiến hành nhiều đòn đột kích không quản. TẬP KÍCH HẠT NHÂN, tập kích bằng vũ khí hạt nhân đánh vào các mục tiêu chọn lựa nhằm tiêu diệt sinh lực, hủy diệt những công trình, làm suy yếu lực lượng đối phương; một hình thức tác chiến trong chiến tranh hạt nhân. TKHN chia thành các loại: một quả, nhiều quả hoặc hàng loạt. Tập kích một quả là dùng một quà bom (đạn) hạt nhân đánh vào một mục tiêu hoặc một nhóm mục tiêu của đối phương. Tập kích nhiều quả là dùng một số quả bom (đạn) hạt nhân đánh vào một mục tiêu lớn hoặc một số mục tiêu của đối phương. Tập kích hàng loạt là cùng lúc đồng loạt hoặc trong một thời gian ngắn dùng số lượng lớn bom (đạn) hạt nhân, do một hoặc nhiều phương tiện tiến hành vào một mục tiêu lớn hoặc một số mục tiêu quan trọng của đối phương. Mĩ đã tiến hành TKHN vào hai thành phố Hirôsima (6.8.1945) và Nagaxaki (9.8.1945), phá hoại nặng hai thành phố trên của Nhật Bản và hậu quả còn lưu lại đến ngày nay. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:10:08 pm TẬP KÍCH HỎA LỰC PHÁO BINH XUÂN MẬU THÂN 1968. hoạt động tác chiến của lực lượng pháo binh QGPMN VN tiến công các vị trí của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên chiến trường miền Nam nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, phối hợp chiến đấu với các LLVT và nhân dân miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Lực lượng gồm: 56 tiểu đoàn chủ lực (30 tiểu đoàn pháo phản lực ĐKB, 20 tiểu đoàn pháo 85-130mm, 3 tiểu đoàn cối 120mm, 3 tiểu đoàn pháo phản lực A-12, H-12 và BM-14), hàng trăm trung đội súng cối và ĐKZ của bộ đội địa phương. Diễn ra hai đợt. Đợt 1 (30.1-31.3), pháo kích đồng loạt vào 42 sân bay, 65 SCH, 24 căn cứ và nhiều mục tiêu quan trọng khác, chi viện cho các LLVT và nhân dân tiến công địch ở 4 thành phố và nhiều thị xã, thị trấn, trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Những trận điển hình: tập kích sân bay Biên Hòa (31.1), Tân Sơn Nhất (18.2) của lực lượng pháo binh miền Đông Nam Bộ; các trận tập kích sân bay Phú Bài, Đắc Tô, Aria, Hòa Bình (31.1) của lực lượng pháo binh Tây Nguyên; tập kích các SCH Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 Mĩ, Sư đoàn bộ binh 1 QĐ Sài Gòn, các căn cứ La Vang, Ái Tử (1-2.2) của lực lượng pháo binh Trị - Thiên - Huế. Đợt 2 (4.5-17.8), pháo kích vào các cơ quan đầu não (Đại sứ quân Mĩ, dinh tổng thống và BTTM QĐ Sài Gòn), các sân bay Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nước Mặn, Chu Lai, Xuân Thiều, Vũng Tàu... Kết quả đánh 2.030 trận (1.614 trận độc lập), loại khỏi chiến đấu hàng nghìn địch, phá hủy 385 pháo, 2.149 máy bay, 2.049 xe QS, 508 kho, bắn chìm, bắn cháy 47 tàu chiến..., góp phần vào thắng lợi chung trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đầu Xuân 1968. TẬP KÍCH HÓA HỌC, tập kích bằng vũ khí hóa học nhằm tiêu diệt sinh lực, làm mất sức chiến đấu, gây trở ngại đến hành động chiến đấu của đối phương. Gồm: TKHH gây mất sức chiến đấu tạm thời. TKHH gây rối, TKHH gây sát thương, TKHH gây trở ngại. TKHH gây mất sức chiến đấu nhằm làm giảm khả năng tác chiến của đối phương trong thời gian ngắn: thường tiến hành bằng nhóm chất độc tâm thần hoặc kích thích trong trận chiến đấu trực tiếp giữa hai bên. TKHH gây rối nhằm làm cho địch hoang mang tinh thần, làm rối loạn các hoạt động của chúng trong một khu vực nhất định; thường bằng đạn, lựu đạn, thùng, hộp,... chứa chất độc kích thích, tâm thần. Đặc điểm: phạm vi hẹp, thời gian ngắn, quy mô nhỏ, chuẩn bị chu đáo, chỉ đạo, tổ chức chặt chẽ và chọn thời cơ có lợi. Vụ tập kích chất độc trong nhà ga đường xe điện ngầm ở Tôkiô (Nhật Bản) của giáo phái Aum (20.3.1995) là TKHH gây rối. TKHH gây sát thương bằng các loại chất độc có độc tính cao, nhằm tiêu diệt hoặc sát thương sinh lực của đối phương. Đặc điểm: chuẩn bị chu đáo, chọn thời cơ thích hợp và hiệp đồng chặt chẽ. TKHH gây sát thương thường sử dụng chất độc lâu tan hoặc kết hợp chất độc lâu tan với mau tan. Trong CTTG-I, ngày 12.7.1917 quân Đức tập kích chất độc ypêrit ở gần tp Iprexơ (Bỉ). TKHH gây trở ngại bằng các loại chất độc có tính chất lâu tan nhằm gây cản trở và hạn chế các hoạt động tác chiến và sát thương sinh lực của đối phương. Mục tiêu thường là các trọng điểm giao thông, bến vượt, trước tiền duyên phòng ngự, bên sườn đội hình hành quân và các khu vực địa hình có giá trị chiến thuật, chiến dịch. Trong chiến đấu, TKHH thường kết hợp sử dụng vũ khí thông thường để tăng hiệu quả sát thương. Để TKHH phải chuẩn bị chu đáo, chọn điều kiện và thời cơ thích hợp, sử dụng tập trung, bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ. Cuộc TKHH lần đầu tiên trên thế giới do quân Đức tiến hành ở gần tp Iprexơ của Bỉ (22.4.1915). Trong những năm Mĩ tiến hành chiến tranh xâm lược ở Nam VN, quân Mĩ đã nhiều lần thực hiện TKHH. TẬP KÍCH KỂT HỢP NỘI ỨNG, tập kích bằng cách dùng người đã cài cắm vào hàng ngũ địch hoặc sĩ quan, binh lính địch được giác ngộ làm lực lượng bên trong kết hợp với lực lượng ở bên ngoài bất ngờ tập kích tiêu diệt mục tiêu. TKKHNƯ là cách đánh độc đáo, rất có hiệu quả nhằm tiêu diệt ác ôn, phá tháp canh, đồn bốt hoặc bộ máy kìm kẹp của địch, được dân quân du kích sử dụng rộng rãi trong KCCP và KCCM. TẬP KÍCH PHÁO BINH, phương pháp tác chiến độc lập pháo binh, bí mật bất ngờ tập kích hỏa lực vào các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược (căn cứ hành quân, sân bay, bên cảng, kho tàng, khu tập trung lực lượng địch) nhằm sát thương sinh lực, phá hủy các phương tiện KTQS. Đặc điểm của TKPB là: lợi dụng điều kiện địa hình và sơ hở của địch bí mật luồn sâu, tiếp cận mục tiêu hay bí mật triển khai đội hình chiến đấu trên hướng địch không ngờ tới, thực hành hỏa lực nhanh, mãnh liệt và nhanh chóng cơ động trận địa. Trong KCCM, lực lượng pháo binh ba thứ quân đã tiến hành nhiều trận TKPB với các quy mô từ khẩu đội đến trung đoàn đạt hiệu suất chiến đấu cao. Vd: đêm 30.10.1964 Đoàn U80 (pháo binh Biên Hoà) với 7 khẩu cối 81mm. 2 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu pháo 70mm và 176 viên đạn các loại, tập kích sân bay Biên Hòa phá hủy 59 máy bay, nhiều kho đạn và diệt hơn 200 địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:11:43 pm TẬP KÍCH QUA BIÊN GIỚI, tập kích của lực lượng thù địch, thổ phỉ, biệt kích, thám báo vũ trang từ bên ngoài biên giới bí mật bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh nhằm đánh vào các đồn. trạm biên phòng, các làng bản, các mục tiêu an ninh - quốc phòng ở khu vực biên giới trong thời bình. Có hình thức tập kích chiến lược, tập kích chiến thuật bằng quy mô lực lượng khác nhau. TẬP KÍCH SINH HỌC, tập kích bàng vũ khí sinh học vào các mục tiêu chọn lựa nhằm gây bệnh hàng loạt cho người, động vật, thực vật và ô nhiễm môi trường sinh thái, gây tổn thất lớn về kinh tế và nhân dân, cản trở hoạt động tác chiến của đối phương. TKSH có thể sử dụng ở quy mô chiến lược hoặc chiến dịch. TẬP KÍCH TRÊN BIỂN, bí mật, bất ngờ tiến công tàu thuyền và mục tiêu khác trên biển, trung tâm kinh tế, văn hóa. chính trị QS ven biển của đối phương. Tuỳ theo nhiệm vụ và thời gian, TKTB được tiến hành bằng đơn tàu (máy bay), nhóm tàu (máy bay), phân đội đặc công, hải quân đánh bộ hoặc bằng lực lượng hỗn hợp nhiều binh chủng khác nhau. TẬP KÍCH VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, gọi chung tập kích hạt nhân, tập kích hóa học và tập kích bằng vũ khí sinh học vào các mục tiêu quan trọng (QS, chính trị, kinh tế, giao thông vận tải...) nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất, kĩ thuật, công trình quốc phòng, kinh tế; gây ô nhiễm môi trường, làm rối loạn sinh hoạt ở hậu phương đối phương. Nguyên tắc TKVKHDL: bất ngờ, tập trung hàng loạt, thống nhất chỉ huy, kết hợp vũ khí hạt nhân, hóa học. sinh học với nhau và với các loại vũ khí khác. TẬP PHÂN ĐOẠN, hình thức luyện tập của phân đội (binh đội) về từng vấn đề (từng động tác, thao tác) của một đề mục (khoa mục) huấn luyện, nhằm rèn luyện kĩ năng cần thiết của từng người, từng phần đội (binh đội) chuẩn bị cho bước tập tổng hợp của đề mục (khoa mục) đó. TPĐ phải tập từ dễ đến khó, từ giản đơn đến phức tạp. TẬP TỔNG HỢP. hình thức luyện tập của phân đội (binh đội), trong đó các vấn đề (các động tác thao tác) của một đề mục (khoa mục) huấn luyện được luyện tập liên kết với nhau, nhằm nâng cao kĩ năng thực hành của từng người và khả năng hiệp đồng trong phân đội (binh đội), giữa các phân đội (binh đội) trong đội hình của cấp trên; bước tiếp sau của tập phân đoạn và bước chuẩn bị hợp luyện chiến đấu với quy mô lớn hơn và nội dung phức tạp hơn. TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG, sử dụng, triển khai, bổ trí phần lớn lực lượng tham chiến trên hướng (khu vực), mục tiêu chủ yếu, vào thời cơ quyết định để thực hiện mục đích tác chiến; một nguyên tắc của nghệ thuật QS. TTLL được vận dụng trong tiến công để hình thành tập đoàn lực lượng, tạo ưu thế quyết định so với địch, trong phòng ngự để hình thành tập đoàn lực lượng trên hướng phòng ngự chủ yếu, giữ vững khu vực then chốt. TTLL còn được thực hiện nhằm tăng cường sức mạnh cho các tập đoàn lực lượng chủ yếu trong quá trình tác chiến. Hiện tượng TTLL ra đời trong các cuộc chiến tranh vào thời cổ đại và phát triển cùng với sự phát triển của phương tiện đấu tranh vũ trang và phương thức tiến hành chiến tranh qua các thời đại. Trong CTTG-II. TTLL để tiến còng thường tạo được ưu thế hơn đối phương 3-5 lần trở lên. Trong thời đại sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, TTLL vẫn còn nguyên giá trị, nhưng nội dung và phương pháp thực hiện có thay đổi. Theo quan điểm của các cường quốc hạt nhân. TTLLchủ yếu là tập trung sức mạnh của vũ khí hạt nhân, hỏa lực và đòn đột kích. TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG PHÒNG KHỔNG, sử dụng, triển khai, bố trí phần lớn lực lượng phòng không ở hướng (khu vực) chủ yếu, đánh trả đối phương, bảo vệ mục tiêu chủ yếu vào thời cơ quyết định để diệt địch và thực hiện mục đích tác chiến phòng không; một nguyên tấc tác chiến phòng không. Muốn TTLLPK có hiệu quả phải điều chỉnh lực lượng linh hoạt, cơ động nhanh chóng, bí mật, sử dụng hợp lí lực lượng dự bị. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 08:36:46 am TÂY BAN NHA (Vương quốc Tây Ban Nha; Reíno de Espaiìa. A. Kingdom of Spain), quốc gia ở tây nam châu Âu, chiếm phần lớn bán đảo Pirênê, một số đảo ở Địa Trung Hải và Đại Tây Dương. Dt 505.992km2; ds 40,217 triệu người (2003); 75% người Tây Ban Nha, còn lại người Catali. Galixi, Baxcơ. Có gần 3 triệu người TBN sống ở nước ngoài. Ngôn ngữ chính thức: tiếng TBN. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Mađrit. Chính thể quân chủ đại nghị, đứng đầu nhà nước là quốc vương, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên và núi. ở giữa là cao nguyên Mêxêta cao 600-1.000m. Ở phía bắc và đông bắc là các dãy núi Pirênè, Catabrian, lbêri. Phía nam là dãy Anđaluxia có đỉnh Mulaxen cao 3.478m (cao nhất TBN) và dãy Xiêra Môrêna. Các sông chính: Tagu 1.007km, Êbrô 910km, Đuêrô, Goadiana, Goađankivi. Nước công - nông nghiệp phát triển trung bình. Các ngành công nghiệp phát triển nhất: khai thác mỏ, chế tạo máy (đặc biệt là ô tô và đóng tàu), gia công kim loại, hóa chất, thực phẩm, hóa dầu, dệt may mặc, da giày. Công nghiệp QS sản xuất các loại trang bị cơ bản, tàu vận tải và tàu QS, đạn dược. Trữ lượng lớn than đá, quặng sắt, pherit, uran, chỉ, vàng, bạc. Tổng sản lượng công nghiệp đứng thứ 5 châu Âu. thứ 8 thế giới. Tư bản nước ngoài (Mĩ, Anh, Đức, Thụy Sĩ) nắm trên 50% các xí nghiệp chế tạo máy, luyện kim. 10% lực lượng lao động làm nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chính: lúa mì, lúa mạch, củ cải đường, cây ăn quả. Trồng nho làm rượu vang là nghề truyền thống. Chăn nuôi phát triển. Du lịch hàng năm có gần 50 triệu khách. GDP 581,82 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 14.150 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 23.5.1977. LLVT: lực lượng thường trực 177.950 người (lục quân 118.800, hải quân 26.950, không quân 22.750), lực lượng dự bị 328.500. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 682 xe tăng, 68 xe chiến đấu bộ binh, 317 xe thiết giáp trinh sát. 2.023 xe thiết giáp chở quân, 1.036 pháo mặt đất, 1.728 súng cối, 670 tên lửa chống tăng, 460 pháo phòng không, 380 tên lửa phòng không, 8 tàu ngầm, 1 tàu sân bay, 15 tàu frigat, 37 tàu tuần tiễu, 11 tàu quét mìn, 4 tàu đổ bộ, 27 tàu hộ tống và tàu phục vụ, 17 máy bay chiến đấu hải quân, 37 máy bay trực thăng hải quân, 198 máy bay chiến đấu không quân, tên lửa không đối đất, đất đối không, không đối không. Căn cứ QS: Côrunha, Xan Phecnanđô, Rôta, Catagêna, Panma để Maloocca. Ngân sách quốc phòng 7,1 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67560262_460604368002782_2413026907382611968_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHV_zVgsAal1UL0DmCLLvuEhao7SA8r1xlReTVcHg7qtrd4ZYCwNJLAzP_jjAc3BOF7U2tfZYSiYPfHhf-pKueTb1DH9db1yNByUdqhBBLavQ&_nc_oc=AQlvEao7S8EHerJuxs1eX06d0HSiw3D4GQ-7xoX0ykW_Vald2UkUh9-ehno0jUhfqBY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4ab78b8e94f7e83c098fe85ad8179749&oe=5DDA1808) TÂY KẾT, làng bên Sông Hổng, nay thuộc xã Tân Châu. h. Khoái Châu, t. Hưng Yên. Tháng 5 và 6.1285. trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II, quân và dân nhà Trần hai lần chặn đánh quân Nguyên - Mông tại đây (x. trận Táy Kết, 6.1285). TÂY NGUYÊN, cao nguyên miền tây Nam Trung Bộ. nằm ở ngã ba biên giới VN, Lào, Campuchia, gồm bốn tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Dt 55.568,9km2; ds 2.596.700; nhiều dân tộc: Kinh (60%), Giarai, Êđê, Bana, Xơđăng, Cơ Ho, Ra Giai, Mơ Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Chu Ru, Bráu, Rơmăm. Bru, Chàm, Xtiêng, Hoa, Tày, Thái... Địa hình rừng núi và cao nguyên, gồm những miền núi cao, cao nguyên và thung lũng, rừng chiếm 80% diện tích tự nhiên (bằng 17% diện tích rừng và 42% sản lượng gồ cả nước). Nơi bắt nguồn của 28 sông thuộc ba hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Công và Sông Ba. Có nhiều thác là những nguồn thủy điện lớn: Đa Nhim. Trị An, Yali, Liên Khương. Đrayanna. Nhiều hồ lớn: Hồ Lắc, Biển Hồ, Mê Linh... Có nhiều trục đường nối liền với các tỉnh duyên hải miền Trung với các thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, tp Hồ Chí Minh. TN có tiềm năng kinh tế lớn, có vị trí chiến lược quan trọng. Trong lịch sử là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa. Trong KCCP và KCCM là nơi diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), trận Buôn Ma Thuật (3.1975) mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:26:35 am TÂY NINH, tỉnh ở Đông Nam Bộ; bắc, tây và tây nam giáp Campuchia (đường biên giới 240km, cửa khẩu quốc tế: Mộc Bài. Xa Mát), đông giáp Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, nam giáp Long An. Dt 4.028,12km2; ds 1,01 triệu người (2003); 98.5% người Kinh, còn lại là người Chăm, Khơme... Nguyên là ti hành chính TN. 6.1872 đổi thành tỉnh. Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thị xã; tinh lị: tx Tây Ninh. TN có vị trí kinh tế, QS quan trọng, cửa ngõ tây bắc của tp Hồ Chí Minh. Rừng tập trung ở phía bắc (chiếm 37% diện tích), núi Bà Đen 986m: phía nam bằng phẳng, có hai sông lớn chảy qua: Vàm cỏ Đông, sông Sài Gòn. Hồ lớn: Dầu Tiếng (dt 27.000 ha). Khí hậu nhiệt đới; nhiệt độ trung bình trong năm 28°C, lượng mưa 1.500-1.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh trổng các loại cây công nhiệp: cao su, điều, mía. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 605,3 nghìn tấn (lúa 576,4 nghìn tấn). Công nghiệp: chế biến cao su, sản xuất đường, vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.354 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 22A, 22B và các tình lộ; đường thủy: sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông. Trong KCCP và KCCM, có các căn cứ kháng chiến: Hảo Đước, Suối Đá, Bời Lời, Suối Mây, Đồng Rùm, Dương Minh Châu (căn cứ của Trung ương cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền)... Các cuộc khởi nghĩa Huỳnh Công Giảng, Khâm Tấn Tướng, Đặng Văn Tòng, Trương Quyền; các chiến thắng: Tua Hai (1960) mở đầu đồng khởi ỞTN và miền Đông Nam Bộ. 6.11.1978, LLVTND Tây Ninh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67632423_460601568003062_7738022438654443520_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGpH3MJUe9ZWaurLbxTnRG91fAx0_UBHMP6Qxk97m2UQ7luN9PBQ-cA52a6S3pYJUwZlyPUEi0MTLgRnLIutT8JyxdPoLIzPaqw-RlJiC0DHA&_nc_oc=AQkWCPyYe_Yt99n-OdlG1Feh9znUCD1F8iCn0UtNmSAfwL5n_8hkgNKVXY_iQMkxtso&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=74677d79e357c042f838c411ca68b994&oe=5DA2A266) TÂY SƠN (Tây Sơn Nhất), ấp thuộc h. Phù Li, phủ Quy Nhơn, xứ Đàng Trong; căn cứ đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo. Nay thuộc khu vực thị trấn An Khê và các xã Phú An, Song An, Cửu An. h. An Khê, t. Gia Lai. Hiện nay tên TS được đặt cho một huyện của t. Bình Định, nơi có ấp Kiên Thành (nay là làng Kiên Mĩ, xã Bình Thành), quê hương anh em họ Nguyễn (Tây Sơn), trung tâm căn cứ của cuộc khởi nghĩa khi phát triển xuống đồng bằng cuối 1771 đầu 1772. TÂY SƠN ĐÁNH CHIẾM GIA ĐỊNH (1776-83), các cuộc tiến công của nghĩa quân Tây Sơn nhằm đánh đổ tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh ở Gia Định (nay thuộc tp Hồ Chí Minh), trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Tận dụng thời cơ tạm hòa hoãn với quân Trịnh ở phía Bắc, nhân đà thắng lợi trận Phú Yên (8.1775), bộ chỉ huy quân Tây Sơn quyết định đánh Gia Định, nơi tập đoàn phong kiến Nguyễn đang tổ chức lực lượng chuẩn bị phản công. Diễn ra năm lần trong đó lần 3 (1778) Nguyễn Nhạc đánh không thành công, còn lại bốn lần tiến công (1776, 1777, 1782 và 1783), quân Tây Sơn đều nhanh chóng giành thắng lợi, chiếm thành Gia Định. Đặc biệt lần đánh thứ 2 (1777), Nguyễn Huệ giết được Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương cùng đại bộ phận quân Nguyễn (riêng Nguyễn Ánh trốn thoát). Sau mỗi lần tiến công thắng lợi, đại quân Tây Sơn lại rút về Quy Nhơn, chỉ để một bộ phận giữ Gia Định; trong khi đó, họ Nguyễn dựa vào quân Đông Sơn, được các thế lực phong kiến địa phương và giáo sĩ phương Tây giúp sức đã mau chóng phục hồi, chiếm lại. Vì vậy lần đánh thứ 5 (1783), sau khi tiêu diệt quân Nguyễn, Nguyền Huệ đã chú ý phòng giữ Gia Định, buộc Nguyễn Ánh cùng vài trăm tàn quân, phải đi cầu cứu quân Xiêm, nhưng đã bị quân Tây Sơn đánh bại trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19.1.1785). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:32:23 am TÂY TIẾN, hoạt động chiến đấu của các đơn vị vũ trang chi viện cho quân và dân miền Tây thuộc Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (VN) và Thượng Lào, nhằm ngăn chặn âm mưu chiếm đóng trở lại của quân Pháp và các thế lực phản động trong thời kì đầu KCCP. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), tàn quân Pháp ở Bấc Bộ chạy sang Vân Nam (TQ), 11.1945 được các thế lực quân phiệt TQ giúp đỡ quay trở lại VN, chiếm một phần tỉnh Lai Châu, cùng với lực lượng ở Bắc Lào khống chế một vùng rộng lớn ở khu vực rừng núi giữa biên giới VN-Lào, nơi chính quyền và cơ sở CM của ta còn non yếu. Thực hiện quyết định của BCHTƯ ĐCS Đỏng Dương về thành lập Mặt trận Tây Bắc, cuối 1945 đầu 1946 nhiều đại đội Vệ quốc đoàn được điều lên Sơn La, kịp thời ngăn chặn địch ở Tuần Giáo, phối hợp với lực lượng CM Lào đánh địch ở Sầm Nưa,... tham gia vận động nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền CM. Đầu 1947 Pháp tăng thêm lực lượng, âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng ở Tây Bắc. Bộ tổng chỉ huy quyết định điểu động 6 tiểu đoàn của Hà Nội và các khu 2, 3, 4 lên miền Tây, triển khai hoạt động tác chiến ở Hòa Bình, Sơn La, tây Thanh Hóa, Thượng Lào... Hơn 1 năm chiến đấu, các đơn vị TT cùng LLVT và nhân dân địa phương từng bước ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công của quân Pháp, tiêu diệt nhiều địch, góp phần giữ vững địa bàn, củng cố chính quyền và phát triển lực lượng CM (trên cơ sở các đơn vị TT, đã thành lập các trung đoàn bộ đội chủ lực 148 và 52), tạo điều kiện đẩy mạnh KCCP (xt Bộ đội Tây tiến). TÂY TRANG, cửa khẩu trên biên giới Việt - Lào. Thuộc địa phận xã Na Ư, h. Điện Biên, t. Điện Biên; tây nam Điện Biên Phủ 36km theo QL 279, qua đèo Tây Trang dài 19km (từ km 604 đến km 623), độ dốc trung bình 10%, quanh co, taluy cao, vực sâu, dễ bị sụt lở. TÂY XAHARA (Sahara al-Gharbiyah, A. Western Sahara) X. XARAUY TẨY UẾ CHIẾN TRƯỜNG, làm sạch và an toàn môi trường (chủ yếu là thu gom, chôn cất xác chết của người và động vật) trong khu vực sau chiến đấu nhằm không cho bệnh dịch phát sinh. TUCT được thực hiện theo lệnh của chỉ huy đơn vị, do lực lượng của các đơn vị cùng lực lượng quân y và dân y tiến hành. TẨY XẠ, loại bỏ các chất phóng xạ bám dính trên địa hình, vũ khí, trang bị kĩ thuật, lương thực, thực phẩm, nước và các đối tượng bị nhiễm khác để ngăn chặn tác hại đối với người; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. Có TX sơ bộ và TX toàn bộ. TX sơ bộ được tiến hành trong hoặc ngoài khu nhiễm bằng lực lượng của đơn vị bị nhiễm, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến đấu. TX toàn bộ được tiến hành khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc khi tạm dừng chiến đấu, bằng lực lượng chuyên môn của bộ đội hóa học và lực lượng của đơn vị bị nhiễm, tại đơn vị hoặc tại trạm tiêu tẩy. TBILIXI, tàu sân bay của LX (trước tên là Brêgiơnhep, từ 1990 mang tên Atmiran Cudơnhetxôp), hạ thủy 5.12.1985, đưa vào trang bị 21.1.1991. Lượng choán nước tiêu chuẩn 55.000t (chở đầy 67.500t). Kích thước lớn nhất: 304,5x70xl0,5m (đường băng 304,5x70m). Thiết bị động lực: 8 nồi hơi, 4 tuabin tổng công suất 147MW (200.000cv), 4 chân vịt, tốc độ 30 hải lí/h (56km/h). Quân số 1.700 (200 sĩ quan). Trang vị vũ khí: 12 máy bay SU-27B2; 12 máy bay MiG-29 (hoặc Su-25, hoặc Iak-38, -41); 15 máy bay trực thăng Ka-27, 3 Ka-29; 12 tên lửa hải đối hải SS-N-19 (tầm phóng 20-450km, tốc độ M 1,6, đầu đạn thường 750kg hoặc hạt nhân 500kt); 4 bệ X 6 rãnh phóng với 192 tên lửa phòng không SA-N-9 (tầm phóng 12km, tốc độ với M2, đầu đạn 15kg); 8 tổ hợp pháo - tên lửa phòng không (gồm 1 pháo 2 nòng 30mm kết hợp 8 tên lửa phòng không SA-N-11 dẫn bằng lade, tầm phóng 8 km); 6 pháo X 6 nòng 30mm (tầm bắn 2km, tốc độ bắn 3.000 phát/phút); 2 giàn phóng bom chìm phản lực RBU-12.000 (tầm phóng 12.000m). T hiện thuộc hải quân Nga. TERCOM (vt từ A. Terrain Contour Matching - đối chiếu với biên dạng địa hình), hệ thống dẫn đường bay của tên lửa có cánh, dựa trên nguyên tắc so sánh, đối chiếu địa hình phía dưới tên lửa khi bay với bản đồ chuẩn đã ghi trong bộ nhớ của tên lửa. Bản đồ chuẩn được thành lập trên cơ sở số liệu trinh sát, chụp ảnh từ trên không (vệ tinh, máy bay...); địa hình phía dưới đường bay và khu vực mục tiêu được chia ô (gọi là ma trận), đặc điểm của các ma trận được số hóa và ghi vào bộ nhớ. Trước khi phóng, tên lửa được đặt chương trình để lần lượt bay qua các ma trận địa hình nhất định cho tới mục tiêu. Khi bay, các thiết bị đo của tên lửa xác định độ cao bay và đặc điểm đìa hình phía dưới và so sánh với thông tin chứa trong bộ nhớ để hiệu chỉnh đường bay. T thường dùng để dẫn tên lửa có cánh khi bay trong vùng hỏa lực phòng không của dối phương (thường độ cao bay 15-100m) và cho phép tránh sự phát hiện của rađa đối phương, giữ bí mật mục tiêu đánh phá và tăng độ chính xác trúng mục tiêu. T đã được úng dụng trong các tên lửa có cánh Tômahôc, AGM-86A, B... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:34:12 am TÊLÊTĂNG (xe tăng điều khiển từ xa, xe tâng mini), xe chiến đấu chạy xích, cỡ nhỏ (khối lượng chiến đấu từ vài trăm kilôgam đến vài tấn), bọc giáp toàn bộ hoặc từng phần, điều khiển từ xa (đến 200-300m) bằng vô tuyến điện. Loại lớn khi hành quân thường do người trực tiếp điểu khiển, loại nhỏ được chuyên chở đến vị trí triển khai bằng các phương tiện vận tải. Chủ yếu dùng trong việc bố trí các bãi mìn nổ chậm hoặc đưa lượng nổ lớn đến phá hủy các công trình QS của đối phương. Được QĐ Nhật và Đức sử dụng trong CTTG-II, nhưng hiệu quả không lớn vì rất dễ bị các phương tiện hỏa lực đối phương tiêu diệt và không thực hiện được triệt để nhiệm vụ đặt ra. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67511096_460601561336396_529813846940975104_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeE2pQMXcaJX_TB9FxwxzoBNX7SvHoXBZu83hVAIfSfWXhs8KSEe7LwjTkClJxkJdkLJc5ne2j0QPFgiOeTYEiAw7WFDCriFQ_S25FBNO_AHbA&_nc_oc=AQmUXQu-4imNg70PdSA-1voXQlXuwWxprU7K-CDhELXG9Nbhn6BzesG2bucAKv2mo-8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b84cb22219c4b82bec5e1b1e22871687&oe=5DA64382) TÊN, phương tiện sát thương bắn từ cung, nỏ, cần phóng tên. Thông thường gồm ba phần: mũi T là bộ phận sát thương, thân (cán) và đuôi có tác dụng ổn định đường bay, tăng khả năng bắn trúng mục tiêu. Mũi T được làm từ những vật liệu cứng, bền chắc như đá, xương, kim loại...; thân và đuôi T thường làm bằng tre, gỗ. Những mũi T sớm nhất ở VN được phát hiện trong các di tích văn hóa thuộc giai đoạn dầu thời kì Hùng Vương, chủ yếu làm bằng đá. Mũi T đá được chế tác đơn chiếc, khá đa dạng về kích thước, dài từ 2,3cm đến 5,6cm, cá biệt đến 7cm, rộng l-3cm, dày 0,2-0,3cm. Đa số mũi T có dạng hình lá thon dài, dọc thân có đường sống nổi nhẹ ở một hoặc cả hai mặt, mặt cắt ngang thân có hình thoi dẹt, hình tam giác hay gần hình bầu dục dẹt. Đầu mũi T được mài nhọn, rìa cạnh hai bên thân T được mài sắc, có thêm đoạn chuôi ngắn để nối vào thân T. Giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, mũi T được làm chủ yếu bằng đổng thau, một số ít bằng xương. Mũi T đồng được chế tạo hàng loạt bằng công nghệ đúc, thường có ngạnh sắc để tăng hiệu quả sát thương. Nhiều mũi T đồng được phát hiện tại các di chỉ khảo cổ như Đổng Đậu, Gò Mun, Cổ Loa... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67925400_460601578003061_2148429940964458496_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeE4yfkX8bV7tsdvemxjdkPtX3d1cuBRIeht52Z17UYsFrVI6zYRsAS9afieIfos2KyMynDr7zHcmn2qE-whGgE0eYP8SMYh19w6-hyMp3XZmg&_nc_oc=AQnqixRJjvFa5VwMsCV1EAQ86OxwP_R-6VkJUfNVFKG8ME7cj1WIIYkgbF6vWuVM-24&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3a7992f34310f2422cdd7427729953fe&oe=5DD53C1F) TÊN LỬA, khi cụ bay không có người điều khiển (thường chỉ sử dụng một lần), chuyển động nhờ động cơ phàn lực (chủ yếu là loại động cơ tên lửa). Các bộ phận chính: thân, động cơ và chất đốt, hệ thống điều khiển, tải trọng có ích (đầu đạn, thiết bị nghiên cứu khoa học...). Thân của nhiều loại TL có gắn các mặt khí động để tạo lực nâng, lái và ổn định TL. Hệ thống điều khiển bảo đảm ổn định TL trên đường bay và dẫn TL tới đích. Quá trình điều khiển TL diễn ra trên toàn bộ (hoặc một phần) quỹ dạo bay nhờ hệ điều khiển cánh lái, luồng phụt hay kết hợp cả hai loại. Khối lượng phóng của TL từ vài kilôgam tới vài nghìn tấn. Theo công dụng, có: TL chiến đấu, TL huấn luyện, TL nghiên cứu khoa học, tên lửa vũ trụ: theo số tầng, có: TL một tầng, TL nhiều tầng (có động cơ sau khi hoạt động được tách bỏ khỏi TL); theo tính chất và hệ thống điểu khiển, có: TL không điều khiển, TL có điều khiển (từ xa, theo chương trình, tự dẫn. kết hợp); theo quy mô nhiệm vụ, có: tên lửa chiến lược, tên lửa chiến dịch - chiến thuật, tên lửa chiến thuật: theo loại đầu đạn, có: TL mang đầu đạn hạt nhân, TL mang đầu đạn thông thường...; theo tầm hoạt động, có: TL tầm gần, TL tầm trung, TL tầm xa, tên lửa vượt đại châu: theo đối tượng tác chiến, có: tên lửa phòng không, tên lửa chống tăng, tên lửa chống rađa, tên lửa chống tên lửa, TL chống ngầm (tên lửa - ngư lôi)...; theo đặc tính đường bay và đặc điểm cấu tạo, có: tên lửa đường đạn, tên lửa có cánh: theo nơi phóng và vị trí mục tiêu, có: TL đất đối đất. TL đất đối khống, tên lửa hàng không (tên lửa không đối đất, tên lửa không đối không. TL không đối hải), TL đất đối hải, TL hái đối không, TL hải đối hải... TL đơn giản xuất hiện đầu tiên ở TQ và Ấn Độ (tk 10-12), châu Âu (tk 13), Nga (tk 17), VN (tk 15, X. hỏa tiễn). TL hiện đại được nghiên cứu chế tạo từ những năm 20 của tk 20 ở LX. Đức, Mĩ... Trong CTTG-II đã xuất hiện TL có điều khiển (x. bom bay), sau đó TL được phát triển mạnh mẽ, trở thành loại vũ khí chủ yếu của nhiều nước (x. vũ khí tên lửa). Trong KCCM. VN đã sử dụng hiệu quả nhiều loại TL phòng không (SAM-2, A-72), hàng không (K-13...), chống tăng (B72) diệt nhiều máy bay, xe tăng, xe thiết giáp của đối phương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:35:38 am TÊN LỬA CHIẾN DỊCH - CHIÊN THUẬT, tên lửa có điều khiển mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, dùng diệt mục tiêu của đối phương ở cự li từ vài chục kilômét tới 1.000krn để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch. TLCD-CT thường là loại điều khiển tự lập theo quân tính hoặc tự dẫn, có thể phóng từ mặt đất (thường là loại tự hành), từ biển hay trên không. Khái niệm TLCD-CT chỉ dùng trong QĐ các nước thành viên hiệp ước Vacsava, còn trong QĐ các nước khác, TLCD-CT thuộc loại tên lửa chiến thuật. TÊN LỬA CHIẾN LƯỢC, tên lửa có điều khiển có tầm hoạt động trên 1.000krn mang đầu đạn hạt nhân công suất lớn (đơn hoặc nhiều khối) để thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Theo tầm hoạt động, có: TLCL tầm trung (từ 1.000- 5.500km), TLCL vượt đại châu hay xuyên lục địa (trên 5.500km); theo đặc điểm khí động, có: TLCL đường đạn. TLCL có cánh: theo nơi phóng, có: TLCL phóng từ mặt đất (bệ phóng cố định hoặc cơ động), TLCL phóng từ tàu chiến (tàu ngầm hạt nhân, tàu mặt nước lớn), TLCL phóng từ trên không (máy bay chiến lược). TLCL có uy lực lớn, tầm hoạt động xa. độ tin cậy và độ chính xác trúng đích cao, tốc độ bay nhanh (10.000km trong 30-35 phút), khó bị tiêu diệt trên đường bay, có thể diệt các mục tiêu chiến lược quan trọng như trung tâm QS. công nghiệp, chính trị, hành chính nằm sâu trong hậu phương của đối phương hoặc bất kì nơi nào trên Trái Đất. TLCL có trong trang bị của QĐ Mĩ, Anh, Pháp, TQ và một số nước trong SNG. TÊN LỬA CHIẾN THUẬT, tên lửa dùng diệt mục tiêu của đối phương ở cự li gần để thực hiện nhiệm vụ chiến thuật. TLCT có tầm bắn đến vài chục kilômét, có thể phóng từ máy bay, máy bay trực thăng, tàu ngầm, tàu mặt nước hoặc thiết bị phóng cơ động trên mặt đất. TLCT có thể dùng để chế áp vô tuyến điện tử và rải mìn từ xa. TLCT có thể là không điều khiển hoặc có điều khiển (thường là loại tự dẫn), mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân không tách ra trong khi bay TÊN LỬA CHỐNG NGẦM nh TÊN LỬA - NGƯ LÔI TÊN LỬA CHỐNG RAĐA, tên lửa được dẫn tới nguồn bức xạ của đài rađa để diệt các đài này; một trong những phương tiện mạnh để thực hành tác chiến điện tử. Được phóng từ khí cụ bay hàng không, xe chiến đấu hoặc tàu chiến. TLCR được dẫn tới mục tiêu nhờ đầu tự dẫn rađa thụ động trên toàn bộ hoặc đoạn cuối của quỹ đạo (đoạn đầu và đoạn giữa dẫn bàng hộ thống quán tính). Các TLCR hiện đại như: Sơrai, Standơ, SRAM. HARM. Brađo (Mĩ), Macten (Pháp). Coocmôran (Đức), Sikilơ (Italia), ALARM (Anh), có các tính năng: khối lượng chung 168-1.000kg, khối lượng đầu đạn 60-200kg. động cơ nhiên liệu rắn, tốc độ bay 300- 5.000km/h, tầm phóng 10-300km. trang bị các đầu tự dẫn rađa thụ động hoặc kết hợp. TLCR Sơrai đã được Mĩ dùng rộng rãi trong chiến tranh xâm lược VN. TLCR cao tốc HARM AGM- 88A (trang bị 1983, nặng 360kg, tốc độ bay gấp bốn lần tốc độ âm thanh, đầu tự dẫn hai chế độ, có bộ nhớ toạ độ của đài rađa để dẫn tiếp khi rađa tắt máy) được Mĩ dùng lần đầu trong cuộc tập kích đường không vào Libi (1986) và dùng phổ biến trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67954528_460601598003059_1548726556526903296_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFUnpgwYqIt1b-unXsJKGVId1lqOK8m804RqmEZWLP0vwVLhuW3ovzF9tbqm54UvjOebFeS0DK4Kp6bNffljeMRifIxQ1meIXPfx313ka5uOg&_nc_oc=AQnG6M5Hs38Bdlmiubq6iC7oK1HubVmdzrnK9iv7k2M_3OixdMzz9T9MRdcgep_IpHw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a8192621525ca3bbeec4f42592761ea5&oe=5DA89164) TÊN LỬA CHỐNG TĂNG, tên lửa có điều khiển chuyên dùng để diệt xe tăng và mục tiêu bọc giáp khác. Gồm phần đầu đạn kiểu đạn lõm, động cơ phản lực nhiên liệu rắn, thiết bị điều khiển và ổn định đường bay... TLCT được phân loại: theo tính cơ động (mang vác, đặt trên xe kéo, tự hành, máy bay trực thẳng...); theo mức độ điều khiển (bằng tay, bán tự động, tự động); theo tốc độ bay (dưới âm. vượt âm); theo nguyên tắc điều khiển có: điều khiển bằng dãy (cáp điện, cáp quang), tự dẫn (vô tuyến, hồng ngoại, lade bán chủ động, ảnh hồng ngoại hoặc kết hợp hồng ngoại và vô tuyến điện). TLCT hiện đại như: TAO, Đragơn. Henphaiơ (Mĩ), Hot, Milan (Pháp và Đức) có tính năng: khỏi lượng 6,3-48kg, tốc độ bay 110-280m/s, tầm phóng 25- 7.000m, khả năng xuyên giáp 430-1.300mm (một số loại đã được dùng trong chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN và chiến tranh Vùng Vịnh). TLCT được chế tạo và đưa vào trang bị QĐ Mĩ và NATO từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 của tk 20. TLCT B72 của LX đã được QĐND VN sử dụng có hiệu quả cao trong KCCM (Ah LLVTND Lục Vĩnh Tưởng trong chiến dịch Quảng Trị 1972 đã bắn 11 quả B72 diệt 11 xe tăng đối phương). Cg hỏa tiễn chống tăng hay đạn phản lực chống tăng có điều khiển. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67432987_460601604669725_7266878502106824704_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeF8nFq7f66KI7Ax_j6mu26Kr5ig2aJHfxUCqOuMB9bskqsJD63-qWCv3mfm3-cooGLOAC2Ga9hQ-C1okFYPxF3v6fpcVZZIC8lSr-ly4ggWZg&_nc_oc=AQmA3NgkYuTTkq9mhM1nORqunLDBPA-wgSGnCbRlwdQEEPKNxJwOuJZ7zhhFW8WPt4k&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=80bbe296835f8622945d498ab2eb9fa5&oe=5DE7EF45) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:37:11 am TÊN LỬA CHỐNG TÊN LỬA, tên lửa phòng không để chặn diệt các loại tên lửa (chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật) và đầu đạn của chúng ngay trên đường bay. TLCTL có tốc độ bay rất nhanh (M10), có thể lắp đầu đạn kiểu mảnh - phá hoặc hạt nhân và được trang bị cho những tổ hợp hỏa lực phòng thủ chống tên lừa hoặc tổ hợp tên lửa phòng không đa năng (chống cả máy bay và tên lửa); gồm: tên lửa. thiết bị phóng, rađa phát hiện, chỉ thị, bám mục tiêu, thiết bị điều khiển, dẫn tên lửa... TLCTL hiện đại của Mĩ Xpactan và xprintơ có tính năng tương ứng là: khối lượng xuất phát 15.2t và 3,4t, tầm phóng nghiêng lớn nhất 640km và 40km, độ cao500km và 40km. TLCTL điển hình được Mĩ sử dụng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) là Patriot. TÊN LỬA CÓ CÁNH. tên lửa có điều khiển, có các bề mặt (cánh) tạo lực nâng khí động khi bay trong khí quyển. Những bộ phận chính: vỏ lượn (gồm thân, cánh, đuôi), động cơ xuất phát (thường dùng động cơ tên lửa) và động cơ hành trình (thường là động cơ phản lực - không khí), hệ thống điều khiển (từ xa, tự lập. tự dẫn, TERCOM và kết hợp), phần chiến đấu (đầu đạn thường hoặc hạt nhân, thiết bị trinh sát. gây nhiễu...). TLCC có thể là tên lửa phong không, chống tăng, chống tàu... TLCC có thể phóng từ mặt đất, tàu mặt nước, tàu ngầm, máy bay. TLCC chiến lược có khối lượng xuất phát trên một tấn, tầm hoạt động 1.000- 3.000km, tốc độ bay 800-900km/h. mang đầu đạn hạt nhân công suất dưới 200kt. TLCC chiến thuật có tầm hoạt động dưới l.000km. mang đầu đạn thường (dưới 500kg). TLCC có độ chính xác cao, kích thước nhỏ, bể mặt phản xạ hiệu dụng bé. có thể bay lượn theo địa hình ở độ cao rất thấp (dưới 30m), khó phát hiện và chống trả. TLCC đầu tiên trên thế giới là V1 của Đức xuất hiện 1944. Từ cuối những năm 70 tk 20 tới nay xuất hiện nhiều TLCC hiện đại như Tômahôc BGM- 109, AGM-86B,... và nhiều loại đã được dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), Nam Tư (1999), Apganixtan (2001), Irăc (2003). TÊN LỬA CÓ ĐIỂU KHIỂN, tên lửa được trang bị hệ thống điều khiển (gồm bộ cảm biến, thiết bị tính toán, cơ cấu chấp hành) để thay đổi tham số chuyển động trên toàn bộ hoặc từng phần quỹ đạo nhằm ổn định và dẫn tên lửa tới mục tiêu. TLCĐK có độ chính xác và hiệu quả chiến đấu cao. Theo hệ thống điều khiển, có: điều khiển theo chương trình hay tự lập (dẫn đường quán tính), dẫn đường thiên văn, dẫn đường theo từ trường Trái Đất...), điều khiển từ xa (bằng dây dẫn, cánh sóng hẹp. lệnh vô tuyến hoặc tia), tự dẫn (chủ động, bán chủ động, thụ động bằng rađa, vô tuyến truyền hình, hồng ngoại, lade...), kết hợp (đoạn đầu và giữa quỹ đạo điều khiển theo chương trình hoặc từ xa, đoạn cuối tự dẫn); TLCĐK đầu tiên là V-1 do Đức chế tạo và sử dụng cuối CTTG-II. Hiện nay phần lớn các loại tên lửa đều là TLCĐK. TÊN LỬA CRƯIDƠ X. TÊN LỬA CÓ CÁNH TÊN LỬA ĐẠN ĐẠO nh TÊN LỬA ĐƯỜNG ĐẠN TÊN LỬA ĐẤT ĐỐI ĐẤT, tên lửa mà toàn bộ hệ thống và trang thiết bị được đặt trên mặt đất, dùng để đánh phá các mục tiêu mặt đất của đối phương. TLĐĐĐ có thể bố trí cố định hoặc trên các phương tiện cơ động, mang đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường. Khả năng chiến đấu của TLĐĐĐ được xác định bằng tầm bay của tên lửa, độ chính xác, công suất đầu đạn, thời gian chuẩn bị phóng, khả năng cơ động và độ tin cậy tiêu diệt mục tiêu (xt tên lửa chiến lược và tên lửa đường đạn). TÊN LỬA ĐẨY, tên lửa đường đạn nhiều tầng có điều khiển để đưa các khí cụ bay vũ trụ (vệ tinh nhân tạo Trái Đất, tàu vũ trụ, trạm quỹ dạo...) vào khoảng không vũ trụ. TLĐ tạo cho các khí cụ bay tốc độ lớn hơn hoặc bằng tốc độ vũ trụ cấp 1 hoặc 2. TLĐ hiện đại có khối lượng phóng tới 3.000t (90% là nhiên liệu), thường có 2-4 tầng, các tầng được thiết kế nối tiếp hoặc song song (kiểu bó). Khối lượng khí cụ bay được TLĐ đưa lên quỹ đạo quanh Trái Đất lên tới 140t. Ngày 4.10.1957, TLĐ 2 tầng “Sputnic” của LX lần đầu tiên trong lịch sử đã đưa 1 vệ tinh nhân tạo Trái Đất vào vũ trụ, mở ra kỉ nguyên loài người chinh phục vũ trụ. Các loại TLĐ: Vôxtôc, Prôton, Soiuz (LX). Ađgiena, Atlat, Đenta, Satơn (Mĩ), Trường Chinh (TQ), Arian (các nước châu Âu)... TÊN LỬA ĐỐI HẢI. tên lửa dùng để tiêu diệt mục tiêu trên biển, được phóng từ tàu ngầm, tàu nổi, máy bay và bờ biên (đất liền). Hệ thống điều khiển đặt trên hạm tàu. khí cụ bay hoặc trên đất liền, bảo đảm điều khiển đoạn bay đầu và đoạn bay hành trình. Đầu tự dẫn sẽ tự điều khiển ở giai đoạn cuối cho tới mục tiêu. TLĐH có thể mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng tới 450km. Được phát triển mạnh sau CTTG-II và sử dụng rộng rãi trong các cuộc xung đột vũ trang. Một số TLĐH điển hình: Êdôxét (Pháp), Hacpun và BGM-109B (Mĩ), Styx (LX), Gabvrien (Ixraen)... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:38:38 am TÊN LỬA ĐƯỜNG ĐẠN, tên lửa có đường bay gồm đoạn tích cực (không lớn lắm) và đoạn thụ động theo dạng quỹ đạo của vật thể bay theo quân tính. TLĐĐ không có cánh để tạo lực nâng khí động học nên thường phóng thẳng đứng lên cao (hàng chục hoặc hàng trăm kilômét) nhờ lực đẩy của động cơ, sau đó tạo góc nghiêng và bay theo quân tính đến mục tiêu như một đầu đạn thông thường. TLĐĐ có thể gồm một tầng hoặc nhiều tầng, có hoặc không điểu khiển. TLĐĐ được phân loại theo công dụng (chiến đấu, khí Tượng, nghiên cứu vũ trụ...); theo quy mô sử dụng (chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật); theo nơi phóng (hầm hoặc giếng phóng, bệ phóng cơ động, tàu mặt nước, tàu ngầm); theo loại đầu đạn (thông thường, hóa học, hạt nhân đơn khối hoặc nhiều khối...); theo tầm phóng (gần - dưới l.000km, trung - 1.000-5.500km, xuyên lục địa - trên 5.500km). Tầm phóng của các TLĐĐ xuyên lục địa của Mĩ Traiđơn-1, MX, Minitmen-3 là 7.400. 11.000 và 13.000km. TLĐĐ đầu tiên là V-2 do Đức chế tạo và sử dụng cuối CTTG-II. Trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) Irắc đã dùng TLĐĐ Scut phóng sang Ixraen và Arập Xêut. Cg tên lửa đạn đạo. TÊN LỬA HÀNG KHÔNG, tên lửa được phóng từ khí cụ bay để diệt mục tiêu trên không và trên mặt đất (mặt nước). Theo phương pháp điều khiển, có: TLHK không điểu khiển (thường dùng diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước), TLHK có điều khiển (theo phương pháp tự dẫn, tự lập, từ xa, kết hợp); theo vị trí mục tiêu, có: TLHK không đối không, TLHK không đối đất (mặt nước); theo quy mô, có: chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật. TLHK chiến lược được dùng trên máy bay ném bom chiến lược tầm xa hoặc máy bay mang tên lửa để diệt mục tiêu trong hậu phương của đối phương. Khối lượng từ một đến vài tấn, mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng từ 1.000km trở lên, có hệ thống điều khiển tự lập hoặc kết hợp (tự dẫn với tự lập). Điển hình là TLHK AGM-86B của Mĩ (khối lượng 1.360kg, mang đầu đạn hạt nhân 150-200kt, tầm phóng 2.600km). TLHK chiến dịch - chiến thuật được dùng trên máy bay ném bom chiến lược, máy bay ném bom chiến thuật và máy bay mang tên lửa để diệt mục tiêu trong chiều sâu chiến dịch (khi cần cũng dùng diệt mục tiêu quan trọng trong phạm vi chiến thuật). Khối lượng từ vài trăm kilôgam tới vài tấn. có thể mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng 100-1.000km. Điển hình là TLHK SRAM AGM-69A của Mĩ (khối lượng 1.000kg, mang đầu đạn hạt nhân 3-200kt. hệ dẫn tự lập quân tính, tầm phóng 300km). TLHK chiến thuật được dùng trên máy bay cường kích, tiêm kích - bom, máy bay trực thăng, máy bay ném bom chiến thuật đẽ diệt mục tiêu trong chiểu sâu chiến thuật. Khối lượng từ vài chục tới vài trâm kilôgam, mang đầu đạn thông thường, tầm phóng dưới 100km. Vd: TLHK Mayerich AGM-65 (khối lượng 210kg, mang đầu đạn lõm 60kg, tự dẫn bằng vô tuyến truyền hình, lade bán chủ động hoặc hồng ngoại, tầm phóng 30km). TLHK đối không dùng diệt mục tiêu trên không. Khối lượng từ vài chục tới vài trăm kilôgam, thường là loại tự dẫn (rađa, hồng ngoại, lade...), cự li phóng từ vài trăm mét đến vài trăm kilômét. Điển hình là TLHK Xaiuynđơ AIM-9, Xperâu-3 AIM-7. Phinnich AIM-54A (Mĩ), Xiupơ Macta R.530, Magich-2 (Pháp)... Trong KCCM, không quân VN đã sử dụng các TLHK: K-13, K 5, C 24... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67875648_460601618003057_810877142446374912_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHG5QR9LBlzeLBysJsj4gZB_AdfptPS9Q5bo5sgxXdAYsAiXhKtWqoK_uV_xBn9b_9KvE9f-0RpkgN5BWwvBfBenUQ8dv0k754FvZt1bLSFbQ&_nc_oc=AQl83vTtQME1M-myh6aHTwW8UF9tA_4TnKkZdw3tsNMUZue539ZjCRQtvF35W4Xh5KU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7385b61227906459d443c73bff173f44&oe=5DAC0DD8) TÊN LỬA HÀNH TRÌNH X. TÊN LỬA CÓ CÁNH TÊN LỬA KHÔNG ĐỐl ĐẤT X. TÊN LỬA HÀNG KHÔNG TÊN LỬA KHÔNG ĐỐi KHÔNG X. TÊN LỬA HÀNG KHÔNG TÊN LỬA KHÔNG QUÂN nh TÊN LỬA HÀNG KHÔNG Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:40:09 am TÊN LỬA MỐI BẪY, tên lửa dùng làm mục tiêu giả, sử dụng động cơ tuabin phản lực, mang các máy phát nhiễu, được điều khiển bằng vô tuyến hoặc bay theo chương trình đặt trước. TLMB tạo ra tín hiệu cường độ lớn hoặc dải nhiễu rộng trên màn hiện sóng rađa đối phương. Khi tác chiến, máy bay mang sẽ phóng TLMB bay lên trước với các tham số (tốc độ, độ cao...) như mục tiêu thật để tạo giả tín hiệu của máy bay tán công và gây nhiễu làm rối loạn hệ thống phòng không, tiêu hao đạn của đối phương và tạo điều kiện cho tên lửa chống rađa hoạt động. TLMB thường được trang bị cho các loại máy bay ném bom và cường kích. Vd: ADM-20 Quail (trang bị cho B-52), ADM-141 TALD (cho không quân chiến thuật)... Trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991 không quân Mĩ đã sử dụng TLMB loại ADM-141 với số lượng lớn. gây khó khăn cho lực lượng phòng không Irắc. TÊN LỬA-NGƯ LÔI, vũ khí chống ngầm gồm tên lửa một tầng, nhiên liệu rắn, để đưa phần chiến đấu là một ngư lôi tụ dẫn hoặc bom chìm hạt nhân tới khu vực mục tiêu. Khi bay trong không khí TL-NL chuyển động theo quỹ đạo đường đạn hoặc được hệ thống dẫn điều khiển. Ở điểm đã tính toán, ngư lôi được tách khỏi tên lửa và hạ xuống bằng dù hãm. Sau khi tách dù ở thời điểm tiếp nước và chìm xuống đến độ sâu nhất định, ngư lôi tiến hành cơ động tìm kiếm mục tiêu theo chương trình định trước. Khi phát hiện được mục tiêu, ngư lôi tự dẫn tới để diệt. TL-NL được phóng từ thiết bị phóng của tàu mật nước hoặc tàu ngầm. TÊN LỬA PHÁ RÀO, chuỗi lượng nổ dài liên kết bằng dây mềm, được động cơ tên lửa kéo vắt qua bãi vật cản (hàng rào, bãi mìn) của đối phương để mở cửa qua vật cản. Các TLPR của VN đã sử dụng trong KCCM: FR-A (dùng động cơ ĐKB. mở được cửa mở rộng 4-5m, sâu l00m qua hàng rào thép gai); FR-B (dùng động cơ K-13, mờ cửa rộng 4-6m, sâu 100m qua hàng rào thép gai, hoặc rộng 2-3m qua bãi mìn chống xe cơ giới). QĐ TQ có TLPR qua hàng rào thép gai kiểu 73 hoặc 74 (mở cửa rộng 3-6m, sâu 90-105m) và TLPR cỡ nhỏ kiểu balô (mở cửa rộng 2-3m, sâu 30-40m). Cg bộ phá rào. TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tên lửa có điều khiển để diệt mục tiêu trên không; bộ phận của tổ hợp tên lửa phòng không. TLPK được phân loại: theo cự li tà, có: xa (trên 200km), trung (50-200km), gần (10-50km), rất gần (dưới 10km); theo phương pháp điều khiển, có: từ xa, tự dẫn, hỗn hợp...; theo độ cao diệt mục tiêu, có: rất thấp, thấp, trung, cao, rất cao; theo vị trí dặt, có: đất đối không, hải đối không; theo mức độ cơ động, có: cố định, tự hành, xe kéo, mang vác (x. tên lửa phòng không vác vai) và theo các dấu hiệu khác. TLPK hiện đại có khả năng diệt mục tiêu ờ cự li tà 0,5-700km, độ cao 15- 40.000m. có khối lượng phóng 8-15.200kg, tốc độ bay 270- 1.700m/s. TLPK xuất hiện cuối CTTG-II, từ 1950 có trong trang bị của QĐ LX, Mĩ... Trong chiến tranh VN, Mĩ đã đưa TLPK Hôc vào miền Nam VN. LLVT VN đã dùng các TLPK SAM-2,A-72 bắn rơi nhiều máy bay Mĩ. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67552632_460601634669722_7628463178757701632_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFxpBYBjyluY2_xH_cukBSHtD1M2xv7K6tlR7stwtLaGKE1PRQkdeVNuGTeBRplW4qVyuFMJs41rjcRYOWkv2XR7MaAXnAm20QbWh1e0OCZhQ&_nc_oc=AQlQPB5XaBbBd2F3d91ifT1Zn8ZGhWbRe4QYYCHwsZ6I1Ie-zBRwfTIa-ui7Bc9FsaI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b45d3f897518414f29fc0ec16563b068&oe=5DAC20C4) TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG VÁC VAI. tên lửa phòng không loại nhỏ do một (hoặc hai) người mang vác, dùng diệt mục tiêu trên không bay ở độ cao thấp và rất thấp. TLPKVV thường là tên lửa tự dẫn hồng ngoại thụ động, động cơ nhiên liệu rắn một (hoặc hai) tầng, dài 1,2-1,8m, đường kính thân 70- 100mm. nặng 9-17kg, diệt mục tiêu ở cự li tà 0,5-6km, độ cao 0,03-3,5km, đầu đạn kiểu nổ mảnh, khối lượng 0,37-3kg. TLPKVV được đặt trong ống (vừa là hộp đựng để bảo quản, chuyên chở vừa làm ống phóng), có lắp kính ngắm quang học, nguồn điện, thiết bị phụ khác tạo thành tổ hợp TLPKVV. Các TLPKVV điển hình: Ret-ai, Xtingơ(Mĩ), Maưa Mistran (Pháp), A-72 tức SA-7 (LX), HN-, 5A (TQ)... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67599556_460601641336388_8134004387392520192_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeE4qC-w8yHE0ky7i33eht4blDtLj_UUK_Iy9TzMSG3fLQ8Muyjrx8XvEoIsQDaqMaz-dSlg5hkEsta5gHRJI9BsqJCu5O_gyUmHLnUKbmz0VQ&_nc_oc=AQlx6LGD-N6JHfkJldqMpGux3MnPf3ZW82DskBYm9Kec-Jb90uokKwBosMbo4T4YC9s&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ea89313113db2fabad276169fdf30d2e&oe=5DEDBC33) TÊN LỬA TẨM GẨN, tên lứa có tầm phóng dưới 1.000km. Được trang bị cho các đơn vị lục quân, không quân và hải quân. Đầu đạn chứa lượng nổ thông thường hoặc hạt nhân không tách rời trong khi bay, dùng để tiêu diệt các mục tiêu trong chiều sâu chiến thuật đối phương, TLTG được phóng từ các bệ phóng cố định trên mặt đất, máy bay, tàu ngầm hoặc tàu nổi (xt tên lửa chiến thuật). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:42:13 am TÊN LỬA TẦM TRUNG, tên lửa có điều khiển tầm phóng 1.000-5.500km, dùng để tiêu diệt mục tiêu chiến dịch, chiến lược. TLTT xuất hiện từ những năm 50 tk 20, được phát triển mạnh và trang bị cho QĐ nhiều nước trên thế giới. Có một hoặc nhiều đầu đạn. chứa lượng nổ hạt nhân hoặc thông thường. Một số loại TLTT: SS-1, SS-2, SS-12 (LX), Pơsing (Mĩ), Plutôn (Pháp), DF-21 (TQ) TÊN LỬA TẦM XA, tên lửa có điều khiển với tầm phóng trên 5.500km, mang đầu đạn hạt nhân công suất lớn, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược. Theo đặc điểm khí động, có: tên lửa đường đạn, tên lửa có cánh; theo nơi phóng, có: tên lửa phóng từ mặt đất (bệ phóng cố định hoặc cơ động), tên lứa phóng từ tàu chiến (tàu ngầm hạt nhân, tàu mặt nước lớn). TLTX được các nước lớn nghiên cứu phát triển từ sau CTTG-II và trang bị cho QĐ vào đầu những năm 60 tk 20. TLTX hiện đại có tầm phóng tới 16.000km, mang đầu đạn hạt nhân 20-25Mt (một hoặc nhiéu đầu), tốc độ tới 25.000km/h. Một số loại TLTX: Titan. Minitmen, MX Pôlarit, Pôseiđơn, Traiđơn (Mĩ), SS-9, ss-ll, SS-13, SS-17, SS-18, SS-19, SS-20. SS-24, SS-25, SS-27 (LX), DF-31, DF-41 (TQ), MSBS (Pháp)... TÊN LỬA TUẦN KÍCH X. TÊN LỬA CÓ CÁNH TÊN LỬA TỰ DẪN, tên lửa có điều khiển theo chế độ tự dẫn trong cả hoặc ở đoạn cuối quỹ đạo bay. Các bộ phận chính: đầu tự dẫn, bộ khuếch đại, cơ cấu lái tự động, đầu đạn. động cơ... Đầu tự dẫn gồm máy tọa độ (thực hiện tìm kiếm, bắt và bám mục tiêu) và thiết bị tính toán điện từ (thực hiện xử lí thông tin nhận từ máy tọa độ và phát tín hiệu điều khiển tới máy lái tự động để lái tên lửa tới mục tiêu). Theo nguyên lí hoạt động, có: TLTD thụ động (nhận năng lượng bức xạ do mục tiêu phát ra), TLTD bán chủ động (nhận năng lượng phản xạ từ mục tiêu do nguồn phát không đặt trên tên lửa chiếu vào nó), TLTD chủ động (nhận năng lượng phản xạ từ mục tiêu do chính đầu tự dẫn phát ra); theo dạng năng lượng thu nhận, có: TLTD rađa, TLTD hồng ngoại, TLTD lade, TLTD vô tuyến truyền hình, TLTD theo ảnh hồng ngoại, TLTD kết hợp vô tuyến và hồng ngoại...: theo công dụng, có: TLTD chống rađa, TLTD chống tăng, TLTD phòng không, TLTD chống tàu, TLTD hàng không... TLTD được sử dụng rộng rãi trong các tổ hợp tên lửa phòng không, tổ hợp tên lửa hàng không (không đối không và không đối đất) và tên lửa có cánh của hải quân. TLTD hiện đại có tốc độ bay nhanh, tầm hoạt động xa, có các thiết bị vi điện tử, vi xử lí, vi tính nhiều chức năng, cho phép “phóng và quên” mà vẫn bảo đảm hiệu quả diệt mục tiêu cao (xt tên lửa chống rađa, tên lửa chống tên lửa, tên lửa chống tăng). TÊN LỬA VŨ TRỤ, tên lửa đường đạn có điều khiển, dùng để phóng các tải trọng có ích (vệ tinh nhân tạo của Trái Đất, tàu vũ trụ, trạm quỹ đạo, trạm tự động giữa các hành tinh...) vào vũ trụ theo quỹ đạo đã định. TLVT truyền cho tải trọng (khí cụ vũ trụ) tốc độ bằng hoặc lớn hơn tốc độ vũ trụ. TLVT thường nhiều tầng (2-5 tầng), bố trí nối tiếp hoặc song song (thành bó), dài 30- 110m, khối lượng 10-3.000t. có thể đưa lên quỹ đạo gần Trái Đất tải trọng có khối lượng đến 140t. Tầng một của TLVT thường dùng động cơ nhiên liệu rắn, những tầng khác thường dùng động cơ nhiên liệu lỏng (có loại dùng toàn động cơ nhiên liệu rắn), tầng cuối của một số TLVT có khả năng tắt mờ động cơ nhiều lần, cho phép thực hiện cơ động, thay đổi độ cao và độ nghiêng quỹ đạo hoặc để phóng khí cụ vũ trụ từ quỹ đạo gần Trái Đất. Lượng nhiên liệu thường chiếm 85-90% khối lượng khởi hành của TLVT, thời gian bay trên đoạn tích cực của quỹ đạo tới 17 phút. Theo khối lượng tải trọng (mt) mà tên lửa có thể đưa lên quỹ đạo gần Trái Đất. TLVT được chia ra: loại nhẹ (mt<5t) như: Coxmot, Điaman...; loại trung (mt=5-20t): Phương Đông. Liên Hợp, Titan-3C, Titan-3E...; loại nặng (mt=20-100t): Prôton; loại siêu nặng (mt>100t): Satơn-5. TLVT của LX đã dùng để phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất (4.10.1957) là loại Sputnic có 2 tầng, dài 29,167m, khối lượng 267t. đưa được tải trọng có ích đến l,35t lên quỹ đạo gần Trái Đất. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67514230_460601651336387_8133369114484801536_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFw-MbH-NrL4IURVTxwx9wh8mTyZ6zNb4qiGnwHQtdggIWbK2aIYAKKg4OkX7pQkC9ZbasXde0fgfkbFQSqdTMwASEFKSrmgZDU8NYvc9PxCw&_nc_oc=AQm8VmSassXzXO0eT6D44wbx3uQY0vW-x74h_B3M8sum3QoCsLjiIIiZt8r4sPG7M50&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7cc59473f7677869168d123f07041f72&oe=5DE3E9C4) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:43:41 am TÊN LỬA VƯỢT ĐẠI CHÂU, tên lửa đường đạn có tầm bay trên 5.500km. TLVĐC thường là loại 2-3 tầng, động cơ nhiên liệu lỏng hoặc rắn, mang đầu đạn hạt nhân đơn khối hoặc nhiều khối (2-10 đầu đạn) công suất tới vài chục Mt. có thể phóng từ thiết bị phóng mặt đất tĩnh tại (kiểu hầm hay giếng phóng) và cơ động hoặc từ tàu ngầm (cả khi đang lặn). TLVĐC hiện đại có tầm bay lớn, tốc độ bay nhanh (có thể vượt quãng đường 10.000km trong 30 phút), độ cao quỹ đạo trên l.000km. độ chính xác cao. Là vũ khí chiến lược, có trong trang bị của QĐ Mĩ, Nga, TQ, Anh, Pháp... Vd: TLVĐC Satan SS-18 của Nga dài 36,5m, đường kính 3m, khối lượng phóng 217t, mang đầu đạn hạt nhân đơn khối 20-25Mt hoặc 8-10 đầu đạn (mỗi đầu 500-750kt), tầm bắn 10.000- 16.000km. sai số trúng đích 430m. Cg tên lửa xuyên lục địa. TÊN LỬA XUYÊN LỤC ĐỊA nh TÊN LỬA VƯỢT ĐẠI CHÂU TÊN TẨM CHẤT ĐỘC. tên được ngâm (tẩm) thuốc độc, bắn đi bằng cung, nỏ, sát thương đối phương bằng sức xuyên của mũi nhọn và chất độc. Xuất hiện từ thời cổ và hiện nay vẫn được dùng để săn thú lớn ở một số bộ lạc thổ dân ở châu Phi. châu Mĩ... TTCĐ được sử dụng có hiệu quả trong các cuộc chiến tranh giữ nước, chiến tranh giải phóng của nhân dân VN. Thành phần các chất độc mà quân và dân VN dùng tẩm tên thường có: điểm tiêu, lưu huỳnh, nhựa thông, vôi, bộ đỗ đầu đỏ, quả ngón vàng, lá ngải, cà độc dược, mủ cây xương rồng, mủ cóc, phân súc vật... TÊROCHI (A. Terauchi Count Seiki; 1879-1946), thống chế, bá tước Hisaichi, tư lệnh đạo quân Nam của Nhật trong CTTG-II (1941-45). T là con bá tước Masataki, thủ tướng Nhật (1919). Tốt nghiệp Trường cao đẳng QS ở Đức (1897), Học viện QS hoàng gia Nhật (1900), thiếu tướng (1924). Năm 1932 chỉ huy quân Nhật ở Triều Tiên. Mãn Châu Lí và Đài Loan. Đại tướng (1935), bộ trưởng lục quân, tư lệnh QĐ Nhật ở Bắc TQ. 1936-38 ủy viên Hội đồng chiến tranh tối cao. Trong CTTG-II chỉ huy 4 tập đoàn quân thuộc đạo quân Nam đánh Mĩ trên các đảo ở tây nam Thái Bình Dương, đánh TQ ở Hoa Nam và đánh Anh ở Mianma (1941 và 1944-45): đặt SCH tại Sài Gòn. 9.3.1945 đảo chính Pháp ở Đông Dương. 13.8.1945 kiến nghị với vua Nhật tiếp tục chiến đấu đến cùng. 9.1945 đầu hàng Đồng minh. THẢ KHÓI NGHI BINH, tạo màn khói đánh lừa đối phương về ý định tác chiến, khu vực bố trí lực lượng, các trận địa hỏa lực, cầu phà, bên vượt,... làm cho đối phương phán đoán sai và mắc sai lầm trong tác chiến. TKNB do lực lượng chuyên môn hoặc các lực lượng khác đảm nhiệm, kết hợp với Ị các thủ đoạn nghi binh khác như: ánh sáng, tiếng động... 7.1967 tiểu đội hóa học Quân khu 4 đã TKNB bảo đảm cho trung đoàn bộ binh vận động tiến công Gio An. Bến Hải. THẢ KHÓI NGỤY TRANG, tạo màn khói để che mắt địch, ngụy trang hoạt động của bộ đội và các mục tiêu bảo vệ; một biện pháp bảo đảm hóa học do các phân đội khói thực hiện. TKNT có thể tiến hành ban ngày, ban đêm khi địch sử dụng khí tài chiếu sáng. Theo tác dụng (mục đích), thả khói được chia thành: thả khói làm mờ mắt và TKNT. Thả khói làm mờ mất được tạo tại vị trí bố trí của địch bằng các phương tiện khói của pháo binh, không quân, nhằm che mắt hỏa điểm, đài quan sát của địch, làm giảm khả năng quan sát của chúng. TKNT được tạo tại vị trí bố trí và mục tiêu cần bảo vệ nhằm che giấu các mục tiêu và hoạt động của bộ đội. THẢ KHÓI THEO DIỆN, tạo màn khói dày đặc trên một diện tích nhất định, che kín mục tiêu theo yêu cầu chiến đấu. TKTD được bố trí, triển khai khí tài phát khói ở khu vực mục tiêu bảo vệ. TKTD thường dùng để ngụy trang các mục tiêu cố định như: SCH, trận địa pháo, trận địa tên lửa, cầu phà, bến vượt, sân bay, bên cảng, nhà máy... Trong chiến tranh phá hoại miền Bác VN của không quân Mĩ, bộ đội hóa học đã tiến hành TKTD bảo vệ thành công Nhà máy điện Yên Phụ, Hà Nội, trạm biến thế Ba La Bông Đỏ, Hà Tây... THẢ THỦY LÔI BẰNG MÁY BAY, gọi chung việc sử dụng máy bay để bố trí các chướng ngại thủy lôi tiến công và phòng ngự, hoặc thả thủy lôi cơ động (theo yêu cầu đột xuất). Ưu điểm của TTLBMB: nhanh chóng tạo ra chướng ngại thủy lôi ở xa căn cứ, sâu trong hậu phương địch; không bị các thủy lôi đã thả uy hiếp. Nhược điểm: có sai số lớn hơn về vị trí và giãn cách giữa các quả thủy lôi so với thả thủy lôi bằng tàu mặt nước. Trong chiến tranh xâm lược VN, hải quân Mĩ đã sử dụng máy bay cường kích thả thủy lôi để phong tỏa các cảng ở miền Bấc VN. THẠCH HÃN, sông ở t. Quảng Trị, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua đồng bằng hẹp, đổ ra Biển Đỏng tại Cửa Việt. Dài 150km. Tàu nhỏ đi lại từ Cửa Việt đến tx Quảng Trị. Có cảng biển Cửa Việt. Thượng lưu có tên Đacrông. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:46:20 am THẠCH KHÍ (cổ), gọi chung các loại vũ khí lạnh được làm bằng đá. Các loại TK thường được sử dụng: lao. giáo, rìu, qua. Ở VN, TK xuất hiện ở giai đoạn đầu thời kì Hùng Vương, thuộc văn hóa Phùng Nguyên. Được tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ ở Phùng Nguyên, Văn Điển, Đồng Vông, Lũng Hòa, Chùa Gio. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68495026_460601668003052_4653133058424176640_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeE5ctBFDwrPhWoo2sllsZYR64c1HNzdXlBwUNuFdMMmdS_uBCB0f1XXq6Ixbp079LOiv6xwIgIJSuA2o37ti1wai80k19jyiMqjoHjPMFyPyw&_nc_oc=AQlouPcY8Wyvw7UMfncZo352603l3Z0xyGda4uN1u_-FIgR81LdHmtPZ8ZdfUO3XJmw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6f4e9c93a43dea2c6d586391b4bc579e&oe=5DA91FFE) 1-5: Mũi tên đá; 6-7 Mũi giáo đá: 8 MŨI lao đá THẠCH THIA (1948-72), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Dân tộc Khơme, quê xã Loan Mĩ, h. Tam Bình, t. Vĩnh Long; dv ĐCS VN; khi hi sinh là xã đội trưởng xã Loan Mĩ. Trong KCCM, 1962-72 hoạt động trong vùng địch kiểm soát, chỉ huy du kích xã đánh hàng trăm trận, diệt nhiều địch (TT diệt và làm bị thương 168, thu 25 súng các loại). 1963 có lần cải trang vào đồn địch, diệt trung đội trưởng ác ôn, làm cho địch hoang mang, giảm lùng sục gây tội ác. 1.1968 chỉ huy đội du kích phôi hợp với bộ đội đánh bại cuộc càn của địch vào xã, TT diệt 29 địch làm bị thương một số khác. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì. hạng ba). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67723100_460601674669718_7242695409573822464_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGedxbHNYy4kAEAAdN6CFgNJc8iYrvI-bwfP-e63FY3-aW8VZ6rX8dkAvKYSi__1NwKYC3-Bc6dLwGjASPbcj0IiAcPdsRIevXMapFnAneyDA&_nc_oc=AQnNS3k5do6tARCR7EhXWE1yWybDE068OB6H6R3YGbfMM822g8izzNiDezcEHtKNC1Q&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=59f50e9489309a290e239a89a33862bb&oe=5DE5F542) THẢI BÌNH*, sông lớn thứ hai ở Bắc Bộ, sau Sông Hồng, là hơp lưu của ba sông: Sông cầu, Sông Thương, sông Lục Nam. Dài 85km, từ Phả Lại chảy qua các tinh Bấc Ninh, Hải Dương, Hài Phòng, Thái Bình. Nhánh sông chính tiếp nhận nước từ Sông Hồng qua Sông Đuống, Sông Luộc (với khối lượng nước lớn gấp hơn 2 lần của chính 3 nhánh sông TB), đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại các cửa Thái Bình, Văn Úc và Lạch Tray. Cách Phả Lại 5km tách ra hai chi lưu: sông Kinh Thày chảy ra sông Bạch Đằng, sông Kinh Môn chảy ra Sông Cấm. Lượng nước mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10) chiếm khoảng 70% tổng lượng nước cả năm. Giao thông đường thủy thuận tiện. THẢI BÌNH**, tinh duyên hải đồng bằng Bắc Bộ; bắc giáp Hưng Yên. Hải Dương, Hài Phòng, dòng giáp Biển Đông, tây và tây nam giáp Hà Nam, Nam Định. Dt 1.541,89km2; ds 1,83 triệu người (2003). Thành lập 3.1890 từ các phủ Kiến Xương, Thái Bình của t. Nam Định và Tiên Hưng của Hưng Yên. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thành phố; tình lị: tp Thái Bình. Địa hình bằng phẳng. Các sông lớn: Sông Hồng, Sông Luộc, Sông Hóa là địa giới tự nhiên giữa TB với các tình xung quanh; sông Trà Lí chảy qua giữa tỉnh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa; nhiệt độ trung bình trong năm 23,5°C, lượng mưa 1.400- 1.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 1,1 triệu tấn (lúa 1,08 triệu tấn); thủy sản 47,8 nghìn tấn. Ba khu công nghiệp tập trung: Diêm Điền, tp Thái Bình, Tiền Hải. Các ngành công nghiệp chính: cơ khí. đóng tàu, chế biến hải sản, dệt. may mặc... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.796,7 tỉ đồng. Bờ biển dài khoảng 50km, các cửa sông: Ba Lạt, Trà Lí, Thái Bình, thuận lợi cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, làm muối. Giao thông đường bộ: QL 10, QL 39 và các tinh lộ, đường thủy theo các tuyến đường sông, biển. Sự kiện lịch sử: khởi nghĩa Phan Bá Vành (1811-27), phong trào CM 1930 ở Tiền Hải; làng chiến đấu: Nguyên Xá. Khuốc (h. Đông Hưng), Thần Đầu, Thần Huống (h. Thái Thụy)... 6.11.1978, LLVTND Thái Bình được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67503915_460601691336383_39429539239034880_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeFZfRbX-Zdtsg-t7EIAb80x-gvCT1GDKxDyMsM36ToOJHa-NbwO-AhIRheUDq3Cf-mgWIeACPUkCSumy1ekHn2RY-PSVK57dZWnpxQwip2wBQ&_nc_oc=AQnZEYzyhyE5R8gDaIoO1o35it2FQR29itdCUqCRK8nDgufBqgXVEjSazsQnR-0hqQY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=85efdecdf2baf66b01f60d7eba3d30d5&oe=5DE03174) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:48:35 am THÁI BÌNH DƯƠNG, đại dương lớn nhất của Trái Đất; tây giáp châu Á và Ôxtrâylia, đông giáp châu Mĩ, nam giáp châu Nam Cực, phía bắc thông với Bắc Băng Dương qua eo Bêrinh. Dt 178.680.000km2 (không tính các đảo), sâu trung bình 3.976m, sâu nhất 11.022m (khu vực quần đảo Mariana). Các biển của TBD: Bêrinh. Ôkhôt (phía bắc), Nhật Bản, Hoa Đông, Biển Đông, Hoàng Hải, Philippin. San Hô, Taxman (phía tây)... Các đảo và quần đảo: Aliusân (phía bắc) Curin, Xakhalin, Nhật Bản. Philippin, Mã Lai. Niu Ghinê, Niu Dilân (phía táy).... Nhiều quân đảo ở vùng trung tâm là lãnh thổ của nhiều quốc gia, thuộc châu Đại Dương. Đáy TBD có địa hình phức tạp, nhiều dãy núi ngầm và núi lửa hoạt động, nhiều vực sâu. Thềm lục địa rộng từ vài chục kilômét ở bờ biển nước Mĩ đến 700-800km (biển Bêrinh, Hoa Đông). Khí hậu á nhiệt đới, nhiệt đới, xích đạo. Vùng trung tâm TBD thường xuyên có bão lớn. Nhiệt độ mặt nước ven xích đạo 26°-29°C. gần 2 địa cực mặt nước đóng băng, độ mặn 30-35%o. Qua TBD có nhiều đường hàng hải và đường hàng không quốc tế nối liền bốn lục địa. Các cảng chính: Vlađivôxtôc, Nakhôtca, Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, Tôkiô, Xan Phranxixcô, Lôt Angiơlet, Vanparaixô. Trong CTTG-I và CTTG-II. TBD là chiến trường lớn, tại đây các hạm đội Nhật Bản, Nga, Mĩ, Anh. Đức, Pháp,... đã có nhiều hoạt động tác chiến. Sau chiến tranh, TBD giữ vị trí quan trọng trong các kế hoạch QS của Mĩ và Đồng minh. THÁI DŨNG (Nguyễn Hữu Thái; 1919-93), phó tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn (1968). Quê tx Cao Bằng, t. Cao Bằng; nhập ngũ 8.1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1946). Năm 1946-53 giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến trung đoàn trường. Cuối 1953-63 trường phòng, cục phó Cục tác chiến BTTM. 11.1964 sư đoàn trưởng Sư đoàn 308. Năm 1966 chiến đấu ở chiến trường B3; sư đoàn trưởng Sư đoàn 325. Tháng 6.1967 sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. 1968 phó tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn. 1.1969 hiệu trưởng Trường sĩ quan lục quân. 11.1977 công tác ở Viện khoa học QS BQP. 5.1979-81 công tác ở Học viện QS cao cấp. Huân chương: Độc lập hạng nhất. Quân công hạng ba... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67407232_460601701336382_892892021159624704_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeFIUsd-R7tNM96tQkVKGdQe5GnJ_YXHOXHpIMggMfXZgNa_OxeMWr5UL1PL0RIgsNJWsfyGqtQ7cHTIenW-EEVGECKw7LSTaprISIo4MkRaAw&_nc_oc=AQm-CLJ8JgPmLipYPVi8e0D18Eu1p65Oezqb2LlHVtCOwymKS5009McyhR_M0KjFYtI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3b4bee99746ea48aac94b35b61577993&oe=5DE92F4D) THÁI LAN (Vương quốc Thái Lan: Prathet (Prades) Thai, Rajanajak Thai, Muang-Thai. A. Kingdom of Thailand), quốc gia ở Đông Nam Á. Dt 513.115km-; ds 64,265 triệu người (2003); 75% người Thái. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Thái. Tôn giáo: 95% đạo Phật. Thủ đô: Băng Cốc (Crung Thep). Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương, tổng tư lệnh tối cao LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng nghị viện và hạ nghị viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Trên 1/2 diện tích lãnh thổ là đồng bằng. Bắc và tây nhiều núi, đình Inthanon cao 2.576m; đòng là cao nguyên Còrạt; đông nam giáp Campuchia là các dãy núi Crayan và Đãngrêch. Eo đất Cra nối Thái Lan với Malaixia ở phía nam. Khí hậu cận nhiệt đới, ẩm; nhiệt độ ở đồng bằng và trung du cao, ở vùng núi mát mẻ; lượng mưa 1.000- 3.000mm/năm. Hệ thống sông ngòi dày đặc; sông chính: Mê Công, Chao Phraya. Rừng nhiệt đới chiếm gần 60% diện tích. Kinh tế đang phát triển, xuất khẩu gạo (đứng dầu thế giới), cao su. Công nghiệp: dệt, may mặc, thực phẩm, công nghiệp nhẹ, khai thác đá quý... Ngành du lịch phát triển. GDP 114,681 ti USD (2002), bình quân đầu người 1.870 USD. Thành viên LHQ (14.12.1946), ASEAN. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 6.8.1976. LLVT: lực lượng thường trực 360.000 người (lục quân 184.000, hải quân 64.000, không quân 40.000. quân địa phương 72.000), lực lượng dự bị 200.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 793 xe tăng, 1.002 xe thiết giáp, 610 pháo mặt đất, 720 súng cối, 318 tên lửa chống tăng, 322 pháo phòng không, 271 máy bay trang bị cho lục quân, 1 tàu sân bay, 12 tàu frigat, 88 tàu tuần tiễu, 7 quét mìn, 9 tàu đổ bộ, 44 máy bay chiến đấu hải quân, 8 máy bay trực thăng vũ trang hải quân, 194 máy bay chiến đấu không quân... Ngân sách quốc phòng 1,9 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67774717_460601718003047_8322276482130903040_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeGaqaViiWaC4_Q1AhesuQJCBLIb9YkxQ7Pb09oz8YKwmf2iiuMI4Ed4pLhkrEQ157IsFpc-TdxhBJ4_9M532vOkMDJhz27nNwyWP7qFIk89sQ&_nc_oc=AQm6w_3Givf89sO8dXXgO4cvZgVLbbZnkzt9ozm9sf1uPoFBUTfiWkqs9LgwbKlVBpY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ef5f2d5692ee9f5941bef1debcf970df&oe=5DE2698B) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:50:02 am THÁI NGUYÊN, tỉnh trung du Bắc Bộ; bắc giáp Bấc Kạn, nam giáp Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, đông giáp Lạng Sơn. tây giáp Tuyên Quang. Dt 3.541,lkm2; ds-1,08 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao. Sán Dìu... Nguyên là trấn Thái Nguyên, 1831 đổi thành tỉnh, 4.1900 tách phần phía bắc thành lập t. Bắc Kạn. Từ 7.1956 thuộc Khu tự trị Việt Bắc. 1965 hợp nhất với Bắc Kạn thành t. Bắc Thái, 11.1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện (5 huyện miền núi), 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Thái Nguyên. Địa hình phần lớn là rừng núi. Rừng và đất rừng chiếm hơn 70% diện tích ở các huyện Định Hóa, Võ Nhãi. Dãy Tam Đảo ngăn cách giữa TN và Vĩnh Phúc; các đỉnh cao khác: Núi Giữa (1.592m), Khao Ruôn Pu (l.0l0m), Nam Long (890m)... Các sông lớn: Sông Cầu, Sông Công...; hồ lớn: Núi Cốc, Bảo Linh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 21°C, lượng mưa 1.400- 1.800mm/năm. Kinh tế nông - lâm nghiệp chiếm 80% GDP. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 348,9 nghìn tấn (lúa 310,9 nghìn tấn). Tp Thái Nguyên tập trung nhiều khu công nghiệp lớn: Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên, các nhà máy điêzen Sông Công, chế tạo máy công cụ... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 2.865,3 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt TN - Hà Nội, TN - Kép; đường bộ: QL 3, QL 1B. QL 37 (QL 13A cũ)... Sự kiện lịch sử QS: khởi nghĩa Thái Nguyên (1917); địa danh lịch sử QS: Đại Từ, Phổ Yên, vùng hoạt động của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám; rừng Khuôn Mánh (Võ Nhãi), nơi thành lập Đội cứu quốc quân 2. Trong KCCP, TN là trung tâm căn cứ địa Việt Bắc; Đại Từ, Định Hóa là ATK, nơi làm việc của BCHTƯ Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh. 2.10.2000, LLVTND Thái Nguyên được phong tặng danh hiệu Ah. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67432250_460601738003045_6733118628192845824_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeElg-Og8DzDnKa9EkFKgdlU9pvNO841_nmsDxWir5p8rNDH_cL6IDNw0XC3UwHGtXsnS-Be2W-boqB7UvJCtXYx6cpJ8bQJwq60bdadt24rsw&_nc_oc=AQlXEJ7ajWS9cRwqVEoJOsxJNnpHu9qnG51mFz2DdeZKesVeT47k1j9kTgusjD2AlTI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d9949fadc2e1eb5a592414b76374e24e&oe=5DE00692) THÁI PHIÊN (1882-1916), người lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam quang phục hội (5.1916). Quê làng Nghi An. h. Hòa Vang, t. Quảng Nam (nay là h. Hòa Vang, tp Đà Nẵng). Tích cực hoạt động trong các phong trào yêu nước: phong trào Đông Du (1905-09), phong trào Duy Tán (1906-08), phong trào chống thuế ở Trung Kì (1908). Năm 1915 cùng với Lê Ngung, Trần Cao Vân lập cơ sở VN quang phục hội tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Bình Định... chủ trương khởi nghĩa vũ trang ở Huế, chủ tịch ủy ban khởi nghĩa. 1916 bí mật liên lạc với vua Duy Tân để thống nhất kế hoạch khởi nghĩa, dự định vào đêm 3.5.1916. Khởi nghĩa không thành do kế hoạch bị lộ, TP và những người lãnh đạo khởi nghĩa bị thực dân Pháp bắt trên đường đưa vua Duy Tân rời kinh thành Huế lên căn cứ. 17.5.1916 bị xử chém tại An Hòa (Huế). THÁI ÚY (cổ), chức quan võ cao nhất trong QĐ một số triều đại phong kiến. Ở VN được đặt ra từ thời Tiền Lê (980-1009). Thời Lí (1010-1225), đặt thêm phụ quốc TU (tương đương tể tướng). Thời Trần (1225-1400), TU là chức gia thêm cho các thân vương trong tôn thất. Đến thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471), phẩm trật của TU là chánh nhát phẩm. Từ 1578 (đời vua Lê Thế Tông, năm Quang Hưng thứ 1), TU chỉ là chức gia thêm cho võ tướng và thân thần. Ở TQ, TU có từ thời Tần đến Tây Hán, cùng với thừa tướng, ngự sử đại phu đứng đầu về QS, chính trị toàn quốc. Thời Hán Vũ Đế đổi thành Đại tư mã. Đến thời Nguyên bỏ chức này. THÁI VĂN A (1942-2001), Ah LLVTND (1967). Quê xã Trung Hóa. h. Minh Hóa. t. Quảng Bình; nhập ngũ 1962. đại tá (1988); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ, trinh sát phòng không đảo Cồn Cỏ. Trong KCCM, là chiến sĩ trinh sát ở đảo Cồn Cỏ, nơi hàng trăm lần máy bay và tàu chiến địch đánh phá ác liệt. Có lần chân đài quan sát bị đánh gãy, đài đu đưa nghiêng ngả. TVA bị thương vẫn không rời vị trí quan sát, liên tục thông báo mục tiêu cho đơn vị đánh trả địch. 3 năm làm nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm chiến đấu trên đảo, TVA đã cùng đơn vị bắn rơi hơn 20 máy bay Mĩ (1 chiếc do tổ trinh sát của TVA bắn rơi), thông báo cho công binh trên đảo vị trí chính xác của từng quả bom chưa nổ. Huân chương: Chiến công hạng nhì. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67929297_460601731336379_6700121240566235136_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFcZpMg0e39xejbMyY_evAaQwcAPvb1uab5JiAsSWvJufuuoXYCujXeIQAIeb8qle8YYgSFnWE7FnAZACoSfuMGiWxtqzh6k7Xi8pJipsIgoA&_nc_oc=AQmY0AQx3DUAy3XQ3RjX6ZZ2Rd6Iz7hlx2UJOnXQeiOrbpDXL0N7gdsXD4AKFUjLNuU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9a205632b6c0063799bb8b8264fc819b&oe=5DE45140) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:51:34 am THAM MƯU TRƯỞNG, 1) chức vụ đứng đầu cơ quan tham mưu của các đơn vị từ cấp trung đoàn (và tương đương) trở lên trong QĐND VN; cấp trên của cán bộ cơ quan tham mưu cấp dưới thuộc quyền. Chức trách TMT được quy định trong Điều lệnh quản lí bộ đội của QĐND VN, bao gồm: giúp người chỉ huy về chỉ huy QS; được quyền ra chỉ lệnh, chi thị về công tác tham mưu để thực hiện ý định, quyết tâm của người chỉ huy và phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước người chỉ huy về những chỉ lệnh, chi thị đó; 2) chức vụ chỉ huy cao nhất của quân chủng lục quân, hải quân, không quân trong QĐ một số nước (Mĩ, Anh...). THAM SỐ CHUYỂN ĐỘNG của mục tiêu. đại lượng xác định hướng và tốc độ chuyển động của mục tiêu. TSCĐcmt được tính toán tự động (thông qua hệ thống chỉ huy chiến đấu, hệ thống điều khiển vũ khí và hệ thống rađa) và được xác định liên tục trong quá trình chiến đấu. Dùng để tính toán phần tử bắn cho các loại vũ khí (súng, pháo, tên lửa) hoặc chỉ thị mục tiêu, dẫn đường... THAM KỊCH HIRÔSIMA VÀ NAGAXAKl nh VỤ NÉM BOM HIRÔSIMA VÀ NAGAXAKI (6 và 9.8.1945) THÁM BÁO, gọi chung lực lượng trinh sát chiến thuật thuộc các đơn vị chiến đấu trong QĐ (LLVT) đối phương. TB được huấn luyện đặc biệt để tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập tin tức về tinh hình ta (lực lượng, bố trí, hoạt động,...), về địa hình, thời tiết, dân cư và các yếu tố liên quan phục vụ cho hoạt động tác chiến của đối phương. Khi hoạt động, TB thường vận dụng các thủ đoạn: quan sát, tiềm nhập, phục kích, tập kích, bắt cóc cán bộ (bộ đội)... THANH DÃ X. VƯỜN KHÔNG NHÀ TRỐNG THANH ĐẢO, thành phố cảng, căn cứ hải quân TQ, ở nam bán đảo Sơn Đông. Ds 3,1 triệu người (1995). Công nghiệp thực phẩm, dệt, hóa chất, đánh cá. Chiều dài toàn bộ các cầu cảng 15km, sâu 10-40m. Có xưởng đóng tàu, sửa chữa tàu. Căn cứ hải quân trong khu vực cảng, là căn cứ cho tàu ngầm, tàu khu trục của Hạm đội Bắc Hải. 1897 Đức chiếm TĐ làm căn cứ cho hải quân. Trong CTTG-I, QĐ Anh - Nhật chiếm TĐ. sau đó Nhật chiếm giữ đến hết CTTG-II. Từ 1945 đến 1947, Mĩ sử dụng TĐ làm căn cứ cho Hạm đội Thái Bình Dương. THANH HÓA, tỉnh ở bắc Trung Bộ; bắc giáp Sơn La, Hòa Bình. Ninh Bình, tây giáp Lào, đường biên giới dài 192 km. nam và tây nam giáp Nghệ An, đông giáp Biển Đông. Dt 11.106,09km2; ds 3,62 triệu người (2003); dân tộc: Kinh (70,5%), Mường, Thái, Mông... Nguyên là trấn Thanh Hóa, 1831 đổi thành tỉnh. Tổ chức hành chính: 24 huyện, 1 thành phố, 2 thị xã; tỉnh lị: tp Thanh Hóa. Địa hình đa dạng, rừng núi chiếm 50% diện tích tự nhiên. Phía tây có nhiều núi cao: Bù Cho (1.563m), Mường La (1.360m), Bù Rinh (1.291m); phía bắc có dãy Tam Điệp ngăn cách TH với Ninh Bình; phía nam là Núi Xước giáp Nghệ An; ven biển là đồng bằng (chiếm 20% diện tích). Bờ biển dài 102km; các cửa sông: Lạch Ghép. Cửa Hới, Lạch Trường. Cảng biển nước sâu: Nghi Sơn. Ngoài khơi có các đảo nhỏ: Hòn Nẹ, Hòn Mê, Nghi Sơn, Hòn Vát... Khoáng sản: crôm, niken, côban, sắt, đồng, chỉ, kẽm, vàng... Khí hậu nhiệt đới; nhiệt độ trung bình trong năm 24°C, lượng mưa 1.500-2.000mm/năm. Hộ thống sông ngòi dày đặc, lớn nhất là hệ thống Sông Mã. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 1.408 triệu tấn (lúa 1,252 triệu tấn); khai thác gỗ 35,5 nghìn m3, thủy sản 57,7 nghìn tấn. Công nghiệp: cơ khí, khai khoáng, vật liệu xây dựng (Nhà máy xi măng Bỉm Sơn). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 5.125 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1, 15, 217; đường sắt Bắc-Nam. Di tích lịch sử: thành Nhà Hồ, khu di tích Lam Kinh, chiến khu Ngọc Trạo (h. Thạch Thành), Hàm Rồng... 6.11.1978, LLVTND Thanh Hóa được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67936758_460601774669708_3234433415558201344_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHdAMi7Amk2Y7Vd5CHsQ01ZyiwHMNW-jQBkN_282kHfrixanOXioYdX8NKhCcfDmI-GAxKQe-V60-f1ps8Y2P_4v2bF7votGkwwBfyC5csdjg&_nc_oc=AQmp0_vfn-t_2pdZt4jv0tOzcBY5BHSdO_GTLHFxVsqE8tDE3_leeP58iB07fBB_QcM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=de7947835d71417cbc81c02b6108ef3a&oe=5DEDADC9) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:52:50 am THANH KIẾM VÀ LÁ CHẮN, lực lượng ngăn chặn (lá chắn) và lực lượng tiến công (thanh kiếm) trong chiến lược QS Mĩ. Trong chiến lược trả đũa ồ ạt, Mĩ coi lực lượng hạt nhân chiến lược là thanh kiếm tiến công, còn LLVT thông thường của Mĩ và NATO là lá chắn ngăn chặn sự “bành trướng cộng sản” ngay sát biên giới các nước XHCN. Đến chiến lược phân ứng linh hoạt, vai trò của hai lực lượng đó có sự đảo ngược, lực lượng thông thường thích ứng với các kiểu chiến tranh hạn chế của Mĩ và NATO là thanh kiếm tiến công linh hoạt và có hiệu quả, còn lực lượng hạt nhân chiến lược của Mĩ lại đảm nhiệm vai trò lá chắn ngân đe, chống lại các cuộc tiến công hạt nhân của đối phương. THANH NIÊN XUNG PHONG, lực lượng thanh niên VN tự nguyện, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và một số nhiệm vụ khác (mở đường, sửa chữa đường, điều chỉnh giao thông, vận chuyển hàng QS, tải thương, quan sát và đánh dấu vị trí bom nổ chậm, thủy lôi của địch...). Hình thành 1950 trước yêu cầu gấp rút sửa chữa và mở đường phục vụ chiến dịch Biên Giới; phát triển nhanh trong những năm cuối cuộc KCCP (với tên gọi: “TNXP công tác”) và từ 1965- 75 trong cuộc KCCM (TNXP chống Mĩ cứu nước). TNXP công tác tổ chức thành đội, liên đội, gồm những đội viên thuộc diện dân công làm nghĩa vụ kháng chiến (sắc lệnh 93- SL ngày 22.5.1950 của chủ tịch nước), hoạt động chủ yếu ở những địa bàn chiến dịch. TNXP chống Mĩ cứu nước tổ chức thành trung đội, đại đội, tổng đội, gồm những đội viên hầu hết quê ở các tỉnh miền Bắc (quyết định của thủ tướng chính phủ 6.1965), hoạt động chủ yếu trên đường mòn Hồ Chí Minh, điều chỉnh và bảo đảm giao thông thời chiến ở các trọng điểm địch đánh phá và trên những tuyến đường chiến lược từ Quân khu 4 vào Nam. TNXP được QS hóa về tổ chức và sinh hoạt, hoạt động độc lập hoặc phối hợp với bộ đội (công binh, vận tải, quân y...). Sau 1975 một số địa phương (Hà Nội, tp Hồ Chí Minh...) tổ chức Tổng đội TNXP làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng. THANH TRA BỘ QUỐC PHÒNG, cơ quan của BQP nước CHXHCN VN, đồng thời thuộc hệ thống thanh tra nhà nước, làm chức năng thanh tra đối với các cơ quan, đơn vị LLVT- ND và các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội và công dần trong lĩnh vực quốc phòng; quản lí công tác thanh tra trong các cơ quan, đơn vị thuộc BQP. TTBQP do chánh TTBQP đứng đầu; trong cơ cấu tổ chức có: thanh tra lục quân, thanh tra hải quân, thanh tra không quân, thanh tra phòng không, thanh tra ngành (hậu cần, kĩ thuật, kinh tế, tài chính), thanh tra xét khiếu tố và văn phòng. Tổ chức thanh tra đầu tiên là Phòng kiểm tra thuộc Bộ tổng chỉ huy (Lê Thiết Hùng phụ trách); sau đổi thành: Cục tổng thanh ưa QĐND VN (theo sắc lệnh 119/SL ngày 25.1.1948), Đoàn thanh tra BQP - Bộ tổng tư lệnh (1949), Ban thanh tra QĐND VN (1956; giải thể từ 1959). Đến 1971 thành lập ủy ban thanh tra QĐ; đổi thành: Ban thanh tra QĐ (1976), cơ quan Tổng thanh tra QĐ (1980), TTBQP (1992). Ngày truyền thống (ngành) 25.1.1948. Chánh TTBQP (1992-98): Nguyễn Kiệm. THANH TRA TÀI CHÍNH, hình thức đặc biệt của kiểm tra tài chính nhằm kiểm tra tình hình tuân thủ các chế độ và kỉ luật tài chính của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nội dung cơ bản của TTTC: kiểm tra tình hình chấp hành các chế độ và kỉ luật tài chính; kiểm tra việc sử dụng tài sản, tiền vốn đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả; phát hiện và động viên các nhân tố tích cực, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi tham ô, lãng phí, vi phạm chính sách, chế độ; đề xuất những kiến nghị để góp phần hoàn thành nhiệm vụ và hoàn thiện cơ chế quản lí tài chính. TTTC tiến hành tại nơi nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh; quá trình kiểm tra, xem xét phải căn cứ vào các chứng từ, tài liệu pháp lí; mọi kết luận phải có bằng chứng xác thực. TTTC QĐ do Cục tài chính BQP tiến hành định kì hoặc đột xuất tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Trong trường hợp cần thiết, chỉ huy các cơ quan, đơn vị quyết định tiến hành TTTC các cơ quan, đơn vị thuộc quyền. THÀNH, công trình kiên cố để phòng thủ những trung tâm chính trị, kinh tế và yếu địa QS thời cổ. Tường T xây đắp bằng đất, gạch, đá, tương đối cao và dày. Ở phía ngoài tường T có hào nước là một loại vật chướng ngại để bảo vệ T (từ đó có từ ghép “thành trì”, trong đó trì chỉ hào nước), trên tường T có các thiết bị để chỉ huy, quan sát, bắn,... ở vòng ngoài còn có thể có các vọng gác làm trận địa tiền tiêu của thành. T có thể có hai lớp tường, lớp trong là T, lớp ngoài là quách (từ đó có từ “thành quách”). Ở VN, T có lịch sử lâu đời, như T Cổ Loa thời vua An Dương Vương (tk 3tcn) và các T đời sau này. Hiện nay còn di tích một số thành nằm rải rác trong cả nước. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67405272_460601754669710_1070921018329006080_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeG-3H2qK5UDMC4s-k6rbAMVitoNatvCeKch_aTpVyd0Ych8wqysNlx6lxYZDzD2hAa3VPAd1I8tC8xtjYa-WWjsrALT_qWz47STKCyvTPnDVA&_nc_oc=AQm9VL43MMJO7UhDK1vgn-LEQbgZlOLwd1bDBj8zJeXn89IqZxUcU3nF1uEli-BVUFA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=17c844b81e8332c41908b9793fff86bb&oe=5DD7E501) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:54:03 am THÀNH BẤU, gọi chung các thành lũy do Vũ Văn Mật cho xây dựng ở vùng Tuyên Quang (tk 16) để chống nhà Mạc. Thành lũy chính xây trên gò Bầu. Di tích các thành lũy này hiện còn ở nhiều nơi trong khu vực từ ngã ba Đoan Hùng đến Lục Yên (t. Yên Bái). Một trong những thành lớn là thành Việt Tĩnh, xây dựng ven bờ Sông Chảy, gần Thác Bà, tường thành bằng đất, nay vẫn còn, chu vi 1.385m. cao 2,3m. mặt tường thành rộng 3m, chân thành rộng 9m, các cửa có xây ốp vách bằng gạch hoặc đá tảng, các mặt có hào. THÀNH CÁT TƯ HÃN (A. Genghis Khan. H. Chengjisihan; Tẽmughin: 11557-1227), người sáng lập đế quốc Mông cổ, nhà QS nổi tiếng thế giới đầu tk 13 về tài cầm quân. 1206 được đại hội giới quý tộc thị tộc Curuntai của liên bộ lạc Tacta (Thát Đát) bầu làm đại hãn của tất cả các bộ lạc. TCTH xây dựng đội quân thiện chiến gồm 100.000 người (chủ yếu là kị binh) vừa để đi chinh phục các nước, vừa để trấn áp các đối thủ trong nước. 1207-11 chinh phục các dân tộc vùng Xibêri, Đóng Tuôckextan, đánh Tây Hạ, Kim. 1219 đánh sang phía Tây, chiếm thêm một số nước. 1223 đánh vào nước Nga. 1227 ốm chết tại Thanh Thủy, t. Cam Túc (TQ) trong khi đang chinh phục nước Kim. TCTH gây ra nhiều tai họa cho các dân tộc trên thế giới trong các cuộc chinh phục tàn bạo; có nhiều đóng góp cho nghệ thuật QS: vận dụng tối đa khả năng cơ động của kị binh, trinh sát kĩ đối phương, tiến công bất ngờ áp đảo, chia cắt lực lượng đối phương để tiêu diệt từng bộ phận... THÀNH CHÀM, gọi chung các thành cổ của vương quốc Chămpa, được xây dựng từ những thế kỉ đầu công nguyên đến tk 17, nay vẫn còn dấu vết ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. THÀNH ĐÔ. thành phố, tỉnh lị t. Tứ Xuyên (TQ), ở thung lũng sông Mân Giang, tây bắc lòng chảo Tứ Xuyên, ds khoảng 4.3 triệu người. Công nghiệp: chế tạo máy, luyện kim, hóa chất, thực phẩm... Trường đại học tổng hợp. TĐ được xây dụng cách đây trên 2000 năm (thời Xuân Thu), thù phủ của nhà Thục Hán (221-263) thời Tam Quốc, Tiền Thục (907-960) thời Ngũ Đại, Hiện còn những di tích văn hóa: nhà Đỗ Phủ, đền thờ Gia Cát Lượng, Vọng Giang Lâu, Thanh Dương Cung. THÀNH ĐỔNG TỔ QUỐC, danh hiệu tôn vinh nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã anh dũng, kiên cường chiến đầu, đi đầu trong KCCP. Do chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ VN DCCH tặng (2.1946). Trong KCCM, TĐTQ được tặng cho toàn thể nhân dân miền Nam. THÀNH GIA ĐỊNH, thành do Nguyễn Ánh cho xây dựng 1790 tại thôn Tân Khai, h. Bình Dương cũ (tp Hồ Chí Minh). Hình vuông, mỗi cạnh gần 650m, có 8 cửa (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài), tạo thành hình 8 góc, cg thành Bát Quái hay Thành Quý. Thành nằm giữa các phố: Đinh Tiên Hoàng và Tôn Đức Thắng (phía đông), Nam Kì Khởi Nghĩa (phía tây), Lê Thánh Tông (phía nam) và Nguyễn Đình Chiểu (phía bắc) ngày nay. Thành có hai lớp bảo vệ (riêng phía nam chỉ có một lớp trong), lớp trong xây bằng đá ong Biên Hoà, chu vi gần 2.600m tường cao hơn 6m, chân tường rộng 30m; lớp ngoài là lũy bằng đất, dài hơn 3.800m. Trước mỗi lớp thành đều có hào rộng tới 70m, sâu hơn 6m. Tháng 7.1835 sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa chiếm TGĐ của Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho phá thành Bát Quái, xây thành mới nhỏ hơn (vuông, mỗi cạnh gần 500m) ở đông bắc thành cũ. Sau khi chiếm được TGĐ (17.2.1859), quân Pháp dùng thuốc nổ phá thành (8.3.1859). Cg thành Phiên An. THÀNH HÀ NỘI, thành do nhà Nguyễn xây dựng 1803, sau khi phá bỏ Hoàng Thành của thành Thăng Long cũ. THN hình vuông chu vi 5.000m. tường thành cao 4,5m, dày 16m. Phía dưới xây bằng đá xanh, đá ong. Phía trên xây bằng gạch hộp. Mỗi mặt tường thành bố trí hai pháo đài. Các góc đều có pháo đài góc. Thành mở năm cửa, mỗi mặt bắc, đông và tây mở một cửa ở chính giữa. Riêng mặt nam mở hai cửa đông nam và tây nam là mặt chính của THN. Chung quanh thành có hào nước rộng lớn. Bên trong thành ở chính giữa có điện Kính Thiên, phía trước điện Kính Thiên là cửa Đoan Môn, nhìn thẳng ra là Kì Đài (Cột Cờ) cao 60m (xây 1812). Hai bên đông và tây là công đường, dinh thự, kho tàng và trại lính. 1835 Minh Mạng cho hạ bớt THN 0,72m còn cao hơn 3,8m. Ngày 25.4.1882, quân Pháp đánh chiếm THN, Hoàng Diệu tổng đốc THN tự vẫn. 1896-97 quân Pháp san bằng THN, chỉ để lại Kì Đài và Cửa Bắc. THÀNH HOÀNG ĐẾ. thành Chà Bàn cũ của Chiêm Thành đã bỏ, được Nguyễn Nhạc cho sửa chữa và mở rộng để làm kinh đô và đổi tên là THĐ (1778). Thành ở địa phận hai thôn Nam Tân, Bắc Thuận thuộc xã Nhơn Hậu, và thôn Bá Canh thuộc xã Đập Đá, h. An Nhơn, t. Bình Định. Thành gồm ba lớp lũy: lớp ngoài có chu vi 4.500m; Hoàng Thành hình chữ nhật 430x370m nằm gọn trong thôn Nam Tân; Tử Cấm Thành hình chữ nhật 174xl25m. Lũy xây bằng đất bọc đá ong. 1799 Nguyễn Ánh chiếm được THĐ, nhưng bị quân các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng bao vây, buộc tướng Võ Tánh của Nguyễn Ánh phải tự sát. Về sau thành bị nhà Nguyễn phá, lấy vật liệu xây dựng thành Bình Định cách đó 5km. THÀNH HUẾ, thành do Gia Long cho xây dựng 1802 ở kinh đô Huế. Thành xây dựng trong gần 40 năm. gồm ba lớp vòng thành bao bọc nhau: vòng thành ngoài, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Vòng thành ngoài xây dựng theo kiểu thành Vôbăng. Hoàng Thành, Tử Cấm Thành theo kiểu VN. Vòng thành ngoài hình vuông mỗi cạnh dài 2.235m, bốn góc có bốn pháo đài, mỗi mặt tường thành có 5 pháo đài nhố ra phía ngoài. Số pháo trang bị cho thành ngoài là 404 khẩu. Tường thành cao 6,6m dày 21m, xây ốp toàn bộ bằng gạch. Thành có 13 cửa (4 cửa mặt trước, 2 cửa mặt sau, 2 cửa bên phải, 2 cửa bên trái, là những cửa chính có xây lầu cửa ở trên, và 3 cửa phụ khác). Bên ngoài tường thành có hệ thống vật chướng ngại, gồm đường hào ngoài rộng 40-60m, sâu 4m (nước sâu l,5m), có kè đá, một bức tường cao l,3m song song với mép ngoài của hào, có tác dụng như một lần luỹ vây bọc thành, và sông Hộ Thành (sông đào) bao bọc ba mặt thành: phải, trái và phía sau, đổ ra sông Hương chảy ngang mặt trước của thành. Các kiến trúc của TH hiện còn là điểm du lịch của VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:56:57 am THÀNH NHÀ HỒ. thành cổ thuộc địa phận hai xã vĩnh Long, Vĩnh Tiến h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa. Dài 900m, rộng 700m, cao trung bình 5-6m, đắp bằng đất, ốp những khối đá lớn gọt đẽo công phu (có khối nặng tới 16t, dài 5,lm rộng 1,2m cao 1,2m), có 4 cửa: đông, tây, nam, bấc. Thành do Hồ Quý Li cho xây 1397. Ngày nay bốn mặt tường thành và các cửa thành vẫn còn. Cg thành Tây Giai, thành Tây Đô. THÀNH NHÀ MẠC, gọi chung các thành lũy do nhà Mạc đắp vào những thời kì khác nhau (cuối tk 16, nừa đầu tk 17) ở các tỉnh phía bắc để chống nhà Lê: ở xã Xích Thổ, h. Hoành Bồ, t. Quảng Ninh (chu vi 1.220m; cao 3-4m, dựa theo thế tự nhiên của địa hình để xây, lợi dụng khe núi để mở cửa, đào ngòi thông với vịnh làm đường giao thông); ở tây nam tx Cẩm Phả 3km (chu vi 1.252m, cao 2,5m có hào bao quanh); ở núi Võ Tướng, xã Đông Linh. h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh; ở động Thiêm Sơn, h. Thủy Nguyên, Hải Phòng; ở Núi Voi, h. Đồng Hi, t. Thái Nguyên; ở phố Cao Bình, h. Thạch An và xã Vũ Thủy, h. Thạch Lâm, t. Cao Bằng... THÀNH PHẨN BAY, thành phần quân số của không quân được đào tạo chuyên ngành về bay, thực hiện nhiệm vụ theo chức năng: lái máy bay, dẫn đường, vận hành các hệ thống, thiết bị trên máy bay. TPB gồm: người lái máy bay, người dẫn đường trên không (trên máy bay), nhân viên cơ giới, điểu khiển vũ khí, thông tin và những nhân viên chuyên ngành khác. THÀNH PHIÊN AN nh THÀNH GIA ĐỊNH THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH, thành phố ở Đông Nam Bộ. trực thuộc trung ương; trung tâm kinh tế lớn nhất VN; trung tâm văn hóa. khoa học kĩ thuật của các tỉnh phía nam. Đông bắc giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, tây bắc giáp Tây Ninh, tây và tây nam giáp Long An, Tiền Giang, nam giáp Biển Đông. Dt 2.095,02km2; ds 5,554 triệu người (2003); gồm 36 dân tộc (Kinh 80%, Hoa 10%...). Được xây dựng từ cuối tk 17. Nguyên là dinh Phiên Trấn, thuộc phủ Gia Định. Đầu thời Nguyễn là lị sở trấn Gia Định (sau đổi là Gia Định Thành), đồng thời là thủ phủ Gia Định thành tổng trấn (Nam Bộ ngày nay). Từ 1832 là tỉnh lị t. Phiên An (1836 đổi thành t. Gia Định). 4.1861 sau khi chiếm Nam Kì và triệt phá thành Gia Định. Pháp cho xây dựng tp Sài Gòn; 3.1874 tách thành đơn vị hành chính riêng và trở thành thủ phủ của Nam Kì thời kì thuộc Pháp. Từ 1954 Sài Gòn là trung tâm chính trị, hành chính của chính quyền Sài Gòn. 7.1976 tp Sài Gòn - Gia Định được chính thức đặt tên là TPHCM. Tổ chức hành chính: 19 quận, 5 huyện. Địa hình đồng bằng châu thổ, hệ thống sông ngòi dày đặc; các sông lớn: sông Sài Gòn, sông Đồng Nai. Khí hậu nhiệt đới gió mùa; nhiệt độ trung bình hàng năm 27°C, lượng mưa 1.935mm/năm. Trung tâm công nghiệp lớn nhất nước. Các ngành công nghiệp chính: cơ khí. luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, dệt, giày, cao su, vật liệu xây dựng... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 66.320 tỉ đồng, đứng đầu cả nước. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 180,6 nghìn tấn (lúa 176,8 nghìn tấn); thủy sản 53,4 nghìn tấn. Đầu mối giao thông quan trọng của các tỉnh phía nam, một trong những đầu mối giao thông lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Giao thông đường bộ: QL 1, QL 13. QL 22, xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà. Cảng biển: Sài Gòn, Nhà Bè. Sàn bay Tân Sơn Nhất. Di tích lịch sử: địa đạo Củ Chi, dinh Thống Nhất, bến Cảng Nhà Rồng, Vườn Thơm, Láng Le, Trảng Bàng, Bến Cát, Rừng Sác, Tam Giác sắt. Sự kiện lịch sử: phong trào chống Pháp của nghĩa quân Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt, Nguyễn Hữu Huân: 30.4.1975 kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67660002_460601768003042_5374737845334310912_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeF-lPf0Get-TEvmanEf987DkvxXvEm1JYC_eocCdHsHMwhmGDBY08zSVTTuY12UnyeJpKTj6EqJoqPCjyZisW1xYPSP4yfh-inbNpKL72p9UQ&_nc_oc=AQn2LCZkHqZBJSEeb8QXxUFS7i_-wonZuEmNMXwoPKOG6Sch733qTkCHolqYR4x4H1U&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=e0b62c0a32ec229993bc2589e5ffe0d1&oe=5DA6C0D7) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 10:58:27 am THÀNH QUẢNG TRỊ, thành ở thôn Thạch Hân, h. Hải Lăng, đông bắc tx Quảng Trị. Thành hình vuông chu vi gần 2.000m, bốn góc có pháo đài nhô ra, tường cao 4m. dày 12m. xung quanh có hào nước rộng hơn 18m, sâu 3m. Có 4 của: đông, tây, nam, bắc. Thành đắp bằng đất 1824, xây bằng gạch 1827. Trong đợt tác chiến phòng ngự Quàng Trị (28.6.1972- 31.1.1973), QGPMN VN đã kiên cường bảo vệ thành trong suốt 81 ngày đêm. TQT đã bị bom đạn Mĩ phá hoại hoàn toàn. THÀNH THỦ ÚY (cổ), chức quan võ chỉ huy lực lượng tuần thành và chuyên giữ việc thời, khóa, đóng, mở cửa thành của một tỉnh trong quân đội Nguyễn. Được đặt ra từ 1826 dưới triều vua Minh Mạng. TTU thuộc quyền chức quan đầu tỉnh. Ngoài nhiệm vụ chính, có thể được giao kiêm quản cả cơ, đội để canh giữ thành. Phẩm trật của TTU là tòng tứ phẩm. THÀNH TRIỀU KHẨU nh LAM THÀNH THAO LƯỢC (cổ), mưu kế, tài năng QS. Có nguồn gốc từ tên gọi các binh thư cổ TQ “Lục thao” (gồm 6 tập) và “Tam lược" (3 chương), về sau gọi tài dùng binh là tài TL. THAO TRƯỜNG, khu vực địa hình được cấu trúc và thiết bị để huấn luyện kĩ thuật, chiến thuật cho người học. TT thường bố trí gần nơi trú quân. TT có thể là một bộ phận của trung tâm huấn luyện. THAO TRƯỜNG XE TẢNG, thao trường luyện tập của bộ đội tăng thiết giáp, gồm bãi tập lái, tập bắn, tập chiến thuật... TTXT được cấu trúc, thiết bị phù hợp với yêu cầu luyện tập kĩ thuật và chiến thuật sát với thực tế chiến đấu. THÁP CANH, 1) chòi cao để canh gác; 2) công sự của quân Pháp dùng trong chiến tranh ở VN (1946-47) dưới dạng nhà gạch nhỏ, thường hình bốn cạnh, tầng dưới để ăn ngủ, tầng trên là chòi canh, quan sát và chiến đấu (bắn qua các khe hoặc lỗ châu mai). Cg tháp Đờ Latua (tên tác giả đề xuất), (xt kế hoạch Đờ Latua). THÁP PHÁO, kết cấu bọc giáp kín đặt trên xe chiến đấu, xe tăng, tàu hỏa bọc giáp, tàu chiến và các công trình kiên cố bằng bê tông cốt thép để bố trí, lắp đặt pháo và bảo vệ kíp chiến đấu, vũ khí, đạn dược và các hệ thống điều khiển hỏa lực. Thông thường TP được đặt trên một ổ đỡ lớn và có thể quay 360°. Được chế tạo bằng phương pháp đúc hoặc hàn từ các tấm thép cán, có dạng hình nón cụt, hình bán cầu hoặc hình dạng phức tạp. Thường là kết cấu liền khối, song cũng có trường hợp TP gồm hai phần: phần dưới có thể quay trên thân xe trong mặt phẳng nằm ngang; phần trên cố định với pháo và quay trong mặt phẳng đứng, liên kết với phần dưới qua một trục ngang (như trên xe tăng AMX-13 của Pháp). Vũ khí lắp trong TP được quay hướng bằng cơ cấu quay TP, quay tầm bằng cơ cấu tầm. THAY ĐỔI BỐ TRÍ. tổ chức, điều chỉnh, sắp xếp lại lực lượng trên địa bàn tác chiến cho phù hợp với tình hình, quyết tâm. kế hoạch mới. TĐBT thường để thành lập lực lượng mới; tăng cường cho lực lượng hiện có; tổ chức lại đội hình, chuyển nỗ lực tác chiến sang hướng mới... Được thực hiện bằng cơ động trong giai đoạn chuẩn bị và thực hành tác chiến. TĐBT có các loại: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. THAY PHIÊN BỘ ĐỘI trong chiến đấu, giao và nhận khu vục chiến đấu giữa đơn vị đang làm nhiệm vụ và đơn vị đến thay thế. Khi có lệnh thay phiên, người chỉ huy và cơ quan của các đơn vị giao và nhận phải cùng trinh sát thực địa, lập kế hoạch thay phiên cụ thể. Nội dung giao nhận gồm: các khu vục, tuyến, đoạn, dải, trận địa đang chiếm lĩnh; tình hình địch, địa hình, các thiết bị công trình và vật cản, các số liệu do đạc địa hình và bắn hiệu chính pháo, tổ chức và chỉ huy hỏa lực... TPBĐ phải bảo đảm bí mật, an toàn, khẩn trương, sẵn sàng chiến đấu cao. Trước khi bắt đầu thay phiên, đơn vị đến thay phiên phải triển khai SCH để chỉ huy bộ đội tiến vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Trong quá trình TPBĐ, nếu quân dịch chuyển sang tiến công thì người chỉ huy bộ đội giao phiên đàm nhiệm chỉ huy chung việc đánh địch. THĂNG CẤP BẬC QUÂN HÀM, trao cấp bậc quân hàm cao hơn cấp bậc quân hàm hiện tại cho quân nhân, do cấp có thầm quyền quyết định. Đối với quân nhân trong QĐND VN, TCBQH được quy định lần đầu tại sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946 của chủ tịch nước VN DCCH; quy định tiếp theo tại Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999). Quyền TCBQH theo quy định hiện hành: chủ tịch nước thăng cấp đại tướng, thượng tướng, đô dốc hài quân: thủ tướng chính phủ thăng cấp trung tướng, phó đô dốc hải quân, thiếu tướng, chuẩn dô đốc hải quân: bộ trường BQP thăng quân hàm sĩ quan cấp tá và cấp úy; việc thăng quân hàm hạ sĩ quan và binh sĩ do BQP quy định. Xét, quyết định TCBQH căn cứ vào cấp bậc quy định cho từng chức vụ, phẩm chất, năng lực và thời gian giữ cấp bậc hiện tại của quân nhân...; thường mỗi lần thăng một bậc kế tiếp; trường hợp quân nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc mới thăng nhiều bậc (vượt cấp) hoặc trước niên hạn (hình thức khen thưởng). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:02:28 am THĂNG LONG, kinh đô Đại Việt thời Lí, Trần, Lê. Do Lí Thái Tổ đặt 1010 khi dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Tại đây nhà Lí đã xây dựng thành Thăng Long gồm hai lớp vòng thành: vòng ngoài là La Thành được tu bổ lại (dấu vết hiện nay vẫn còn khá rõ), vòng trong bao quanh cung điện nhà vua gọi là Hoàng Thành (các di tích khảo cổ đang được khai quật). 1397 Hồ Quý Li đổi tên TL thành Đông Đô. 1430 nhà Lê đổi tên Đông Đô thành Đông Kinh, song tên TL đã đi vào lịch sử, vẫn tồn tại tới 1831, khi trở thành tỉnh lị t. Hà Nội**. THẨM DƯƠNG, thành phố, thủ phủ t. Liêu Ninh, đông bắc TQ. Nằm trên đoạn tiếp giáp giữa bán đảo Liêu Đông với đại lục. Dt 13.008km2 (nội thành 3.555km2); ds 6,73 triệu người (2003, nội thành 4,76 triệu). Trung tâm công nghiệp lớn, đầu mối giao thông quan trọng. Công nghiệp chế tạo máy, luyện kim mầu, hóa chất, vật liệu xây dựng, dệt, điện lực. Trường đại học tổng hợp. TD hình thành từ tk 2tcn, 1625-44 là kinh đô của Mãn Châu, 1644-1911 được coi là kinh đô thứ hai của nhà Thanh. 1931-45 Nhật chiếm. Hiện còn nhiều di tích lịch sử: Cố Cung, Đông Lăng, Bắc Lăng... THẨM PHÁN TÒA ÁN QUÂN SỰ, chức danh trong ngành tòa án quân sự do chủ tịch nước CHXHCN VN bổ nhiệm (miễn nhiệm, cách chức) theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật cho sĩ quan QĐND VN tại ngũ, làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án QS. TPTAQS làm việc theo sự phân công của chánh án tòa án quân sự, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình: có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. TPTAQS có ba cấp: TPTAQS trung ương (đồng thời là thẩm phán Toà án nhân dân tối cao); TPTAQS quân khu và tương đương; TPTAQS khu vực. THÂN BINH (cổ), 1) binh lính trong đội quân riêng của các vương hầu thời Lí, Trần; 2) lực lượng chuyên hầu cận nhà vua và bảo vệ cấm thành thời Nguyễn (xt lính khố vàng). THÂN CẢNH PHÚC (?-?), danh tướng thời Lí Nhân Tông, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống. Dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn, Lạng Sơn). Được vua Lí gả công chúa và phong chức tri châu. 1075 cùng các tù trường Tông Đản, Vi Thủ An, Hoàng Kim Mãn.... chỉ huy 60 nghìn quân bộ tiến sang đất TQ. bất ngờ đánh phá các đồn trại của quân Tống dọc biên giới rồi vây thành Ưng Châu. 3.1076 phối hợp với đạo quân chủ lực của Lí Thường Kiệt đánh chiếm thành Ung Châu và các căn cứ xuất phát xâm lược Đại Việt của nhà Tống. 1077 chỉ huy quân bảo vệ biên giới tại Chi Lăng (Lạng Sơn), chống lại 30 vạn quân Tống sang xâm lược; TCP rút quân vào rừng, tổ chức đánh du kích tiêu hao sinh lực địch. Sau khi chết được dân địa phương tôn là Thần. THÂN QUẦN (cổ) nh QUÂN CẤM VỆ THẦN SẤM X. F-105 THẢNĐƠCHIP THẨN TỐC, TÁO BẠO, BẤT NGỜ, CHẮC THẮNG, phương châm tác chiến của QGPMN VN trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) với tư tưởng cốt lõi là chớp thời cơ, giành quyền chủ động chiến tranh để kết thúc chiến tranh. Trước tình hình phát triển đột biến của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân và dàn miền Nam sau chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), chiến dịch Trị Thiên - Huê (5- 26.3.1975) và chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975), ngày 31.3.1975, BCT BCHTƯ ĐLĐ VN (ĐCS VN) chủ trương “thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa” với quyết tâm TT.TB.BN.CT. Thực hiện quyết tâm của BCT, 7.4.1975 đại tướng Võ Nguyên Giáp lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch: “thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút; xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam; quyết chiến và quyết thắng”. TT.TB.BN.CT thể hiện sự nhạy cảm và mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ĐCS VN, góp phần giành thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch, kết thúc cuộc KCCM của nhân dân VN. THẬP (cổ), đơn vị tổ chức của bộ binh, liền trên ngũ, dưới đội trong quân đội TQ từ nhà Tần và trong quân đội Nguyễn, gồm 10 người do một chánh đội trường chỉ huy. THẬP ĐẠO TƯỚNG QUÂN (cổ), chức quan võ tống chỉ huy QĐ. thông lĩnh mười đạo quân dưới triều Đinh (968-80), do Đinh Tiên Hoàng đặt từ năm Thái Bình thứ 2 (971) và phong cho Lê Hoàn. TĐTQ kiêm luôn việc chỉ huy quân điện tiền nên là TĐTQ diện tiền đô chỉ huy sứ (xt đạo và quân đội Đinh). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:03:51 am THẬP TỰ CHINH (1096-1270), các cuộc chiến tranh xâm lược được ngụy trang bằng khấu hiệu chống tà giáo (đạo Hồi), giải phóng đất Thánh, do các quốc gia phong kiến Tây Âu tiến hành ở Cận Đông (Xiri, Palextin, Bắc Phi) dưới lá cờ của giáo hội Cơ Đốc. Gồm 8 cuộc. Trong cuộc thứ nhất (1096-99), quân thập tự chiến thắng lập ra Vương quốc Giêruxalem và thiết lập chế độ linh mục kiêm QS tại các lãnh địa chiếm được; cuộc thứ hai (1147-49) và thứ ba (1189-92) không thành công; trong cuộc thứ tư (1202-04) chiếm được Cônxtantinôpôn của đế chê Bidăngtin (nay là lxtămbun, Thổ Nhĩ Kì) và lập ra đế chế Latinh; các cuộc còn lại không có kết quả đáng kể. TTC dẫn đến việc thành lập các quốc gia Latinh ở phương Đông (khu vực Địa Trung Hải), tuy gây tàn phá, nhưng cũng góp phán mở mang giao lưu buôn bán và văn hóa Đóng - Tây. Trong TTC đã áp dụng chiến thuật của đội quân hiệp sĩ trang bị nặng, sử dụng rộng rãi các phương tiện vây hãm thành; hạm đội thuyền buồm thay thế cho thuyền chèo; vai trò của kị binh và bộ binh nhẹ được nâng cao; thuốc súng, hỏa khí, la bàn được phổ biến sang phương Tây. Cg chiến tranh Thập Tự. THÊ ĐỘI, thành phần của đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch, thế bố trí chiến lược). Có thể có một hoặc nhiều TĐ. Trong tác chiến, bố trí và sử dụng TĐ này sau TĐ kia một thời gian nhất định và được gọi tên theo thứ tự trước sau (TĐ một, TĐ hai...). Thành phần và nhiệm vụ của từng TĐ được xác định trong quyết tâm tác chiến của người chỉ huy (tư lệnh). TĐ một, thực hiện nhiệm vụ chủ yếu của trận chiến đấu (chiến dịch). TĐ một chiến lược gồm các tập đoàn lực lượng chiến lược đã triển khai trên chiến trường trước khi chiến tranh xảy ra và thường dùng để tiến hành những chiến dịch, hoạt động tác chiến chiến lược thời kì đầu chiến tranh. Trong tiến công, TĐ một có nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận TĐ một của địch, phát triển tiến công vào chiều sâu phòng ngự của chúng; trong phòng ngự là lực lượng phòng ngự tuyến (dải phòng ngự) một, có nhiệm vụ ngăn chặn và đánh thiệt hại nặng tiến công của TĐ một địch giữ vững khu vực phòng ngự chủ yếu. TĐ hai, dùng để tăng cường lực lượng trong quá trình tác chiến và thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo. Trong tiến công dùng để hoàn thành các nhiệm vụ tiếp theo hoặc phát huy kết quả tác chiến của TĐ một (đánh chiếm trận địa phòng ngự TĐ hai của địch, tiêu diệt lực lượng phản kích, phản đột kích của địch). Trong phòng ngự là lực lượng giữ các mục tiêu phòng ngự phía sau (tuyến, dải phòng ngự hai). TĐ hai chiến lược gồm những tập đoàn lực lượng chiến lược ở hậu phương chiến lược hoặc đang xây dựng trong quá trình chiến tranh. TĐ hai có thể thay thế toàn bộ hoặc một phần TĐ một, khi TĐ một bị tổn thất. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67651702_460601784669707_189922723684679680_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeEdFevpoa2VEcD3U_Ye9Qd9h2lzGPd8FGD7vwFrN0uw6CvFoA8Ug5rn5xBWFRTx4Caejo2uHaiTUmXV-EWYVCSSNugZ33LyGJPOCYVWHd_NKg&_nc_oc=AQlX6wIO6XLbEmh9HCb8MxpQVVaf83GHAPHY_P2xDTOGnwcImrIvYnVAQTZxTQ-u-G4&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f79444346c0def0901676f488ace95bf&oe=5DA3015C) Sơ đồ bố trí đội hình chiến đấu theo thể đội THỂ CHẾ QUÀN ĐỘI, những quy định pháp lí về nguyên tắc tổ chức, chế độ hoạt động,... của QĐ. TCQĐ của QĐND VN dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đáng, gồm: luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của thủ tướng chính phủ về QĐ; quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trường BQP và các văn bản ban hành kèm theo quyết định của bộ trưởng BQP như: điểu lệnh, điều lệ.... nhằm cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng đối với QĐ. đáp ứng yêu cầu quản lí, chỉ huy chiến đấu, xây dựng QĐ CM, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. THỂ CÔNG, đoàn thể dục thể thao của QĐ, thành lập 23.9.1954; trực thuộc Cục tuyên huấn, TCCT. Từ 1959 trực thuộc Cục quân huấn, BTTM. Nhiệm vụ: quản lí, huấn luyện, đào tạo các đội thể thao thành tích cao của QĐ để thi đấu quốc gia và quốc tế. Tổ chức ban đầu gồm các đội: bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ. 1955-60 thành lập thêm các đội: điền kinh, bộ phận tập huấn cán bộ thể dục thể thao QĐ, đội bắn súng thể thao, xe đạp thể thao, thể dục dụng cụ. TC đã có nhiều đóng góp vào phong trào thể dục thể thao trong nước và thi đấu quốc tế; nhiều đội lập thành tích cao như: đội bóng đá 7 lần vô địch miền Bắc và toàn quốc (1975-90), tham gia nhiều lần đại hội thể thao QĐ các nước hữu nghị (SKĐA); đội bắn súng (1975- 95 đã 13 lần dự giải vô địch quốc gia va cúp quốc gia, 11 lần xếp thứ nhất với 141 huy chương vàng). TC đã đóng góp nhiều vận động viên tiêu biểu cho đất nước như: Trần Oanh, Đặng Thị Đông, Nguyễn Quốc Cường... 10.12.1996 TC hợp nhất với Câu lạc bộ QĐ thành Trung tâm thể dục thể thao quân đội. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất. Đoàn trưởng đầu tiên: Nguyễn Văn Bưởi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:13:20 am THỂ THAO QUỐC PHÒNG, bộ phận của giáo dục quốc phòng, gồm: những hoạt động rèn luyện trí lực, thể lực, kì năng thể thao, kĩ năng QS, góp phần nâng cao sức chiến đấu, phục vụ chiến đấu của các LLVT và nhân dân. TTQP được thực hiện phù hợp với yêu cầu hoạt động QS, tâm sinh lí của từng đối tượng, nhằm phát triển thể lực bền bỉ dẻo dai, lòng dũng cảm. tính sáng tạo và mưu trí... TTQP có các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, chạy vũ trang, ném lựu đạn, nhảy dù, bắn cung nỏ... THẾ, tổng thể các hoàn cảnh, điều kiện cùng với xu thế vận động và khả năng phát triển của bên tham chiến dựa vào để phát huy sức mạnh trong chiến tranh. Những yếu tố cơ bản của T: địa hình, trận địa, điểm đứng, khí hậu - thủy văn, địa bàn (khu vực) tác chiến; số lượng, chất lượng của các lực lượng tham gia; hình thái bố trí, cách đánh.... cùng với diễn biến, kết quả tác chiến và sự chuyển biến so sánh lực lượng, trạng thái tinh thần - tâm lí giữa các bên tham chiến, tình hình chính trị trong nước, khu vực và quốc tế. T lợi thì lực nhỏ trở thành mạnh, T không lợi thì lực lớn trở nên yếu. Nghệ thuật QS VN coi T là nhân tố rất quan trọng, T lợi kết hợp với lực tạo thành sức mạnh đánh bại kẻ thù. THẾ BINH CHẾ (chế độ thế tập; cổ), chế độ binh dịch cổ TQ lấy gia đình binh sĩ làm quân hộ, cha chết con thay, anh chết em thay làm binh dịch. Người chỉ huy các cấp cũng thực hiện chế độ cha truyền con nối. Các thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều, Nguyên, Minh, Thanh (đối với bát kì binh) đều thực hiện TBC. THẾ BỐ TRÍ CHIẾN LƯỢC, tổ chức và bố trí các tập đoàn chiến lược của LLVT và các lực lượng khác trên lãnh thổ của quốc gia (liên minh các quốc gia) và trên các hướng, địa bàn chiến lược, tạo thế có lợi để tiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến chiến lược. Căn cứ để xác định TBTCL: tính chất cuộc chiến tranh có thể xảy ra, mục đích chính trị QS của chiến tranh, âm mưu và biện pháp tác chiến chiến lược của địch, tình hình so sánh thế và lực, điều kiện chiến trường, quyết tâm chiến lược, nghệ thuật QS và truyền thống đánh giặc của QĐ và nhân dân. TBTCL phải phù hợp với ý định chiến lược; bảo đảm chủ động trong các tình huống chiến tranh và các tình huống khác; phát huy hết khả năng của các lực lượng; kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với các mặt đấu tranh khác trong chiến tranh; đảm bảo thực hành cơ động chiến lược kịp thời và linh hoạt, đồng thời đảm bảo khả năng độc lập tác chiến của LLVT trên từng địa bàn (chiến trường) chiến lược; đảm bảo chỉ huy và hiệp đồng chiến lược thông suốt. THẾ CHIẾN LƯỢC X. THÊ BỐ TRÍ CHIẾN LƯỢC THẾ TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC, trạng thái của một bên tham chiến đang (hoặc có đủ điều kiện) chủ động thực hiện các đòn tiến công liên tiếp, đẩy đối phương vào thế bị động trên toàn bộ chiến trường. Được hình thành bởi lực lượng chiến lược mạnh, tổ chức và bố trí hợp lí các LLVT, chỉ đạo chiến lược đúng. Trong KCCM, TTCCL của ta thể hiện ở các lực lượng chính trị và LLVT địa phương rộng khắp; các liên binh đoàn, binh đoàn chủ lực mạnh bố trí ở thế có lợi trên các địa bàn chiến lược, có căn cứ vững chắc; linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến ưén các chiến trường. THẾ TRẬN, tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến để giành thắng lợi trong tác chiến. TT phải phù hợp với ý định tác chiến. TT luôn vận động và phát triển theo các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa hai bên đối địch. TT trong phạm vi chiến thuật là đội hình chiến đấu, trong phạm vi chiến dịch là bố trí chiến dịch, trong phạm vi cả cuộc chiến tranh là thế bố trí chiến lược. TT càng hiểm với mưu kế càng hay thì sức mạnh của lực lượng càng lớn. Trong chiến tranh nhân dân ở VN, TT rất phong phú đa dạng như: TT xen kẽ cài răng lược, TT bao vây chia cắt... THẾ TRẬN HẬU CẦN, thế trận để thực hiện việc bảo đảm hậu cần cho các LLVT trong quá trình chuẩn bị và tiến hành các hoạt động tác chiến; một bộ phận của thế trận QS. Trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, TTHC bao gồm thế bố trí các lực lượng hậu cần trong và ngoài QĐ, được xây dựng hợp lí, liên kết chặt chẽ với nhau, gắn liền với mạng lưới giao thông vận tải, với thế bố trí kinh tế - xã hội chung của cả nước. TTHC được triển khai sẵn trên những địa bàn nhất định, có tổ chức chỉ huy chặt chẽ, thống nhất do hậu cần QĐ làm nòng cốt, được chuẩn bị từ thời bình và duy trì sự bảo đảm vững chắc, liên tục trong thời chiến. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:14:52 am THẾ TRẬN LÀNG, XÃ, thế trận được xây dựng theo địa hình, địa vật tự nhiên và tình hình an ninh, chính trị ở địa phương (làng, xã), tạo nên thế hiểm hóc, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng chính trị, LLVT và nhân dân bám trụ đánh giặc. Xây dựng TTLX phải kết hợp với củng cố, kiện toàn nàng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền; đẩy mạnh các hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã hội, xây dựng lực lượng dân quân du kích đủ sức để giữ vững làng, xã... Trong KCCM, TTL,X được phát huy lên một trình độ mới. THỀM LỤC ĐỊA. phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển, hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lí (khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách dưới 200 hải lí và không quá 350 hải lí, hay cách đường đẳng sâu 2.500m không quá 100 hải lí (khi bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở hơn 200 hải lí. Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn về: thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả các tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật thuộc loài định cư dưới đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của TLĐ. có quyền cho phép và quy định việc khoan ở TLĐ vào bất cứ mục đích gì. Tất cả các quốc gia có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở TLĐ nhưng cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển có quyền đặt ra các điều kiện đối với các đường dây cáp hoặc ống dẫn đi vào lãnh thổ đất liền hay lãnh hải của mình. 12.5.1977 Chính phủ CHXHCN VN đã tuyên bố: “TLĐ của nước CHXHCN VN bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa VN mở rộng ra ngoài lãnh hải VN cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải VN không đến 200 hải lí thì nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từ đường cơ sở”; “Nước CHXHCN VN có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả các tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở TLĐ VN”. THI ĐUA GIẾT GIẶC LẬP CÔNG, phong trào thi đua giết giặc lập chiến công của LLVTND VN để đáp lại lời huấn thị “về chiến dịch Cao - Bắc - Lạng” của chủ tịch Hồ Chí Minh (2.9.1950); do bộ chỉ huy chiến dịch phát động (15.9.1950). TĐGGLC đã phát triển sôi nổi trong các đơn vị tham gia chiến dịch và nhanh chóng lan rộng ra toàn quốc, cổ vũ tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm của cán bộ và chiến sĩ, góp phần vào thắng lợi to lớn của chiến dịch. THI ĐUA QUYẾT THẮNG, phong trào thi đua trong LLVTND VN (ba thứ quân), được phát động từ 1973 theo quyết định của BQP, kế tục phong trào thi đua Quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược. TĐQT đã động viên đông đảo cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và công nhân, viên chức quốc phòng thi đua lập công, đạt thành tích cao nhất trong chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, học tập, công tác, lao động sản xuất, xây dựng kinh tế... Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 là đơn vị đầu tiên được nhận cờ thưởng luân lưu “Đơn vị dẫn đầu thi đua quyết thắng” của chủ tịch nước tặng (1975). THỊ NGHÈ, khu vực phía nam q. Bình Thạnh (các phường 17, 19, 21...), Thành phố Hồ Chí Minh; gọi theo tên cầu bắc qua rạch Thị Nghè (phụ lưu sông Sài Gòn, chảy theo hướng tây đông qua các q. 3, q. 1, Phú Nhuận và Bình Thạnh, đổ ra sông Sài Gòn tại Tân Cảng), nối đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc q. 1 với đường Xô Viết Nghệ Tĩnh thuộc q. Bình Thạnh. Thời kì đầu KCCP, tại đây diễn ra nhiều sự kiện QS: trận biệt động thành Sài Gòn đánh kho đạn Pirotechnic 8.4.1945, làm nổ 4.000t đạn, sập đài phát thanh, trụ sở Bộ chỉ huy của tướng Lơclec*,... ở gần đó; trận Thị Nghè (18.10.1945) của các đơn vị Vệ quốc đoàn trong đoàn quân Nam tiến cùng LLVT và nhân dân Sài Gòn chiến đấu chống lại cuộc tiến công quy mô lớn của quân Pháp được quân Anh, Nhật hỗ trợ; vụ kho xăng dầu TN bị cháy do Lê Văn Tám tẩm xăng vào người lao vào đốt (17.10.1945)... THIÊN CẦU, mặt cầu ước lệ với bán kính bất kì và tâm là điểm quan sát, trên đó hình chiếu của các thiên thể được xác định nhờ hệ tọa độ thiên văn. Sự phụ thuộc toán học giữa các yếu tố của thiên thể trên TC được xác định bằng các công thức của lượng giác cầu. Trong thiên văn học, TC được dùng để nghiên cứu vị trí và sự chuyển động tương đối của các thiên thể; sử dụng trong thiên văn trắc địa, thiên văn hàng hái và thiên văn hàng không để xác định mục tiêu, tính toán quỹ đạo các vật thể bay, dẫn đường cho máy bay, tàu thuyền, dẫn tên lửa... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:16:23 am THIÊN CỰC, giao điểm giữa mặt thiên cầu địa tâm với trục của nó (đường thẳng kéo dài trục tự quay của Trái Đất về hai phía). Ứng với Bán Cầu Bắc là TC Bắc, với Bán Cầu Nam là TC Nam. Do hiện tượng tiến động và chương động trong chuyển động quay của Trái Đất (trong đó có ảnh hưởng của Mặt Trăng nhưng ở mức độ yếu), các TC dịch chuyển trên nền trời sao quanh Hoàng cực theo một đường cong phức tạp gần với dạng hình sin quanh một quỹ đạo tròn với bán kính góc 23°27’ và chu kì khoảng 26 nghìn năm. Hiện nay TC Bắc nằm gần Sao Bắc Cực. THIÊN ĐỂ, giao điểm phía dưới của thiên cầu địa phương với đường thẳng đứng đi qua tâm của nó (điểm đứng). TĐ đối xứng với thiên đỉnh qua tâm thiên cầu và là điểm không nhìn thấy đối với người quan sát trên mặt đất. THIÊN ĐỈNH, giao điểm phía trên của thiên cẩu địa phương với đường thẳng đứng đi qua tâm của nó (điểm đứng). TĐ đối xứng với thiên để qua tâm của thiên cầu. Độ cao của TĐ trên đường chân trời bằng 90°. THIÊN NGA, tổ chức nữ gián điệp thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt của chính quyền Sài Gòn, được lập ra để hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình Phượng Hoàng. Thành lập 9.8.1968, gồm các biệt đội từ trung ương đến quận, trực thuộc chỉ huy cảnh sát cấp đó. Nhiệm vụ chính: thu thập tình báo, phát hiện cơ sở CM; thâm nhập vào các tổ chức của lực lượng trung lập (lực lượng thứ ba) và những tổ chức chính trị - xã hội khác (học sinh, sinh viên, nghiệp đoàn phụ nữ, tôn giáo...) để tìm hiểu khuynh hướng chính trị, nội dung, phương pháp hoạt động, phát hiện bộ phận nòng cốt có tính đối lập chống chính quyền, thực hiện các thủ đoạn chia rẽ, làm tan rã phong trào; thực hiện chiêu hồi. Thủ đoạn hoạt động: thường là giả danh nhà tu hành, nhà kinh doanh, sinh viên, học sinh,... có tư tưởng cấp tiến để dễ thâm nhập vào từng tổ chức, từng phong trào. Đến 1971 Biệt đội TN ở trung ương đổi tên thành Đoàn đặc nhiệm TN, mang biệt hiệu “Đoàn đặc nhiệm G423”. Tan rã sau 30.4.1975. THIÊN SƠN, hệ thống núi ở Trung Á, dài 2.500km, phần phía tây thuộc Cưrơgưxtan, Cadăcxtan; phía đông thuộc TQ. Phần tây TS dài 1.200km, gồm các dãy núi cao trên 4.500m. xòe thành hình quạt về hướng tây, có đỉnh cao 7.439m (đinh Chiến Thắng). Phần đông TS là hai dãy núi song song, cao 4.000-5.000m, chạy từ tây sang đông. Nhiều sông băng, diện tích đóng băng: 10.200km2, đường ranh giới tuyết ở độ cao 3.600-4.450m. Khí hậu lục địa rõ rệt, lượng mưa 150- 800mm/năm, phía tây 1.600mm/năm. Phần lớn diện tích TS là núi đá. thảo nguyên, hoang mạc, bán hoang mạc. Sườn phía bắc là rừng cây lá nhọn. Có 5 khu rừng cấm. Các mỏ dầu khí, than, thủy ngân, ăngtimoan, vôníram. THIÊN TÂN, thành phố cảng, trung tâm công nghiệp ở vùng đông bắc TQ, đơn vị hành chính trực thuộc trung ương. Nằm trên bờ vịnh Bột Hải; dt 11.000km2; ds 10 triệu người (2003). Công nghiệp luyện kim, hóa chất, dệt, thực phẩm, cao su, giấy, chế tạo máy, công nghiệp nhẹ... Thành phố cảng lớn thứ hai TQ (trong đó cảng mới Thiên Tân là cảng nhân tạo lớn nhất TQ, có thể tiếp nhận tàu biển trên l0.000t), tổng lượng vận chuyển hàng hóa khoảng 40 triệu tấn/năm. Có tàu điện ngầm. trường đại học tổng hợp, học viên âm nhạc, cung văn hóa, cung thể thao. TT hình thành từ tk 13 từ một làng đánh cá. 1860 QĐ Anh - Pháp chiếm, 1900-01 tám cường quốc chiếm, 1937-45 Nhật chiếm. THIÊN THỂ, gọi chung các vật thể tồn tại tự nhiên trong vũ trụ, bao gồm các sao (cg hằng tinh hay định tinh): hành tinh, tiểu hành tinh, vệ tinh, sao chổi, tinh vân...; đối tượng nghiên cứu của thiên văn học và vũ trụ học. Thuật ngữ TT được xác định và sử dụng trong các hiệp ước và văn bản luật quốc tế về vũ trụ. Đôi khi các vật thể nhân tạo (vệ tinh, hành tinh nhân tạo, trạm vũ trụ, tàu vũ trụ...) cũng được gọi là các TT nhân tạo. THIÊN VĂN HÀNG HẢI, môn khoa học ứng dụng, sử dụng các quy luật và phương pháp của thiên văn học để giải quyết các bài toán thực tế trong hàng hải, phục vụ cho hoạt động dẫn đường trên biển, xác định lượng sửa cho khí tài dẫn đường, xác định và duy trì thời gian chính xác trên tàu, nghiên cứu các phương pháp tính độ cao thiên thể so với đường chân trời mặt biển và giải các bài toán hàng hải bổ trợ khác. THIÊN VĂN HÀNG KHÔNG, môn khoa học ứng dụng, sử dụng các quy luật và phương pháp của thiên văn học để giải các bài toán hàng không như xác định tọa độ và đường bay của khí cụ bay. THIÊN VĂN HỌC, khoa học về cấu tạo và tiến hóa của các thiên thể, các hệ thiên thể và toàn vũ trụ nói chung. TVH nghiên cứu sự chuyển động nhìn thấy được và vị trí của các thiên thể trong vũ trụ, cấu tạo, tác động tương hỗ, sự hình thành và tiến hóa của các thiên thể đó, vật chất trong không gian vũ trụ giữa các hành tinh. TVH là một trong những môn khoa học cổ xưa nhất, ra đời do những yêu cầu thực tế của con người (dự đoán về hiện tượng các mùa trong năm, tính thời gian, xác định vị trí trên mặt đất...). Bao gồm: thiên văn cầu, thiên văn ứng dụng, thiên văn vật lí... Thiên văn ứng dụng được sử dụng trong ngành hàng không (thiên văn hàng không), hàng hải (thiên văn hàng hải), đo đạc (trắc địa thiên văn). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:19:17 am THIẾT BỊ BẾN VƯỢT, 1) tổng thể các hoạt động làm công trình để đưa bộ đội, binh khí kĩ thuật tiếp cận và vượt sông. TBBV gồm: trinh sát khu vực bến vượt, chuẩn bị khu tập kết, mạng đường sá (đường tới và thoát bến, đường lên xuống bên, đường nhánh...), các biển báo và chi dẫn giao thông; chuẩn bị các bãi ghép phà, bắc cầu; tổ chức các trạm điều chỉnh giao thông, đài quan sát, cảnh giới; trạm quân y, làm công sự. hào giao thông phòng tránh...; 2) gọi chung các vật thể. thiết bị được bố trí, lắp đặt trong công trình bên vượt. THIẾT BỊ CÔNG SỰ, 1) tổng hợp các hoạt động bố trí, xây dựng hệ thống công sự trên địa hình, phù hợp với ý định tác chiến, một nhiệm vụ bảo đảm công binh. TBCS nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát huy hiệu quả cao nhất của trang bị vũ khí, các phương tiện kĩ thuật, bảo đảm cho bộ đội hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu với tổn thất ít nhất do các phương tiện sát thương của địch gây ra. Quy mô tính chất của TBCS do yêu cầu chiến đấu quy định, thường tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị chiến đấu và được hoàn chỉnh trong quá trình chiến đấu do các lực lượng chiến đấu thực hiện, lực lượng công binh là nòng cốt về kĩ thuật. Tùy điều kiện chiến trường, TBCS có thể xây dựng từng phần theo quy hoạch các công sự kiên cố vững chắc làm nòng cốt (TBCS làm sẵn) cho các điểm tựa, chốt...; 2) vật thể, thiết bị được bố trí, lấp đặt trong công sự hoặc trên địa hình. THIẾT BỊ CÔNG TRÌNH, 1) tổng thể hoạt động tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công binh như đường sá, bến vượt, SCH... Nội dung và quy mô TBCT tuỳ thuộc vào yêu cầu và hình thức tác chiến, điều kiện địa hình, thời gian, thời tiết,... trên cơ sở đó mà huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, xác định thứ tự ưu tiên để sớm hoàn thành nhiệm vụ kịp thời, đáp ứng yêu cầu chiến đấu; 2) vật thể. thiết bị được bố trí, lắp đặt trong công trình hoặc trên địa hình. THIẾT BỊ LỌC ĐỘC KHÔNG KHÍ X. THIẾT BỊ THÔNG GIÓ - LỌC ĐỘC THIẾT BỊ MÔ PHỎNG, thiết bị dùng để tái hiện hình ảnh và mô tả hoạt động của trang bị KTQS, tạo ra các khu vực nhiễm xạ, nhiễm độc, ngụy trang bộ đội... TBMP bao gồm: các công trình giả (phỏng tạo một đoạn đường, cây cầu, trận địa...) nhằm đánh lừa đối phương; các mô hình trang bị (xe tăng, súng, pháo...); các loại đạn không đầu (chỉ có ống liều, thuốc phóng); các phương tiện mô phỏng ánh sáng, âm thanh, các phương tiện xả khói mù, vô tuyến điện... Thời bình, TBMP phục vụ cho diễn tập, cơ động lực lượng, bắn đạn thật...; thời chiến dùng làm mục tiêu giả để nghi binh đối phương. THIẾT BỊ NGOẠI VI. thiết bị được điều khiển và liên kết với một máy tính riêng biệt đảm nhận việc cung cấp tài nguyên để xử lí và biểu diễn thông tin máy tính. Gồm: các đĩa, thiết bị hiển thị (màn hình), thiết bị đầu cuối (bàn phím, con chuột, máy in). TBNV dược nối với máy tính thông qua các vi mạch vào - ra. Mỗi vi mạch có chứa các thanh ghi làm nhiệm vụ trung gian trao đổi dữ liệu giữa bộ xử lí trung tâm với TBNV tương ứng. THIẾT BỊ PHÓNG TÊN LỬA, 1) phương tiện của tổ hợp tên lửa dùng để chứa, đưa tên lửa vào vị trí phóng, lấy phần tử, chuẩn bị và phóng tên lửa. TBPTL gồm: bệ phóng (hoặc bộ dẫn hướng); cơ cấu lấy đường ngắm; các thiết bị điện, cơ - điện, lấy thăng bằng; kiểm tra phóng, nguồn điện cơ cấu chắn luồng phụt và cơ cấu khác... Theo hình thức phóng, có: TBPTL đứng. TBPTL nghiêng. Theo tính cơ động, có: TBPTL cố định. TBPTL bán cố định, TBPTL cơ động; 2) bệ phóng hoặc ống phóng của tên lửa phòng không vác vai. THIẾT BỊ TẬP. thiết bị giúp người học trau dồi kiến thức và thành thạo kĩ năng điều khiển một loại trang bị, vũ khí, khí tài,... trong những điều kiện sử dụng khác nhau. TBT thường dùng: xe chiến đấu - huấn luyện hoặc xe tập luyện (xe tăng, pháo tự hành, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân, ô tô...); máy bay chiến đấu - huấn luyện hoặc máy bay huấn luyện (có thêm một buồng lái dùng cho phi công hướng dẫn bay); vũ khí huấn luyện (chế tạo riêng hoặc sử dụng loại không dùng cho chiến đấu được nữa) và thiết bị tập lái (các loại cabin tập lái ô tô, xe tăng, máy bay, tàu chiến...), ngoài ra còn có: các loại thiết bị trực quan, bia bắn, các thiết bị ánh sáng và âm thanh (thiết bị mô phỏng, đèn pha chiếu sáng...). THIẾT BỊ THÔNG GIÓ LỌC ĐỘC, phương tiện lọc không khí bị nhiễm (bụi phóng xạ, chất độc, vi sinh vật,... có hại) thành không khí sạch và cung cấp cho nơi sử dụng. Gồm: bộ phận hút gió, bộ lọc bụi, bộ lọc sơ bộ, bầu lọc hấp phụ, quạt gió, hệ thống dẫn, hệ thống van làm kín và điều chỉnh, thiết bị sưởi ấm (hoặc làm lạnh) không khí. dụng cụ kiểm tra đo lường. Có hai loại chính: TBTGLĐ cho hầm lớn, hầm dã chiến, vd: FVU 100/50, FVU 50/25 (LX); M10, Mil, M12 (Mĩ) và TBTGLĐ cho các phương tiện di động, vd: FVA (LX); E36, M8A2. M13 (Mĩ). Có thể dùng bộ phận lọc bằng hòm lọc tự tạo (vỏ gỗ. trong là các lớp than hoạt tính, sỏi, cát...); hố lọc đơn giản (chứa các lớp than, cát, sỏi...) và quạt gió thủ công (quay tay dẫn động cánh quạt hoặc pittông hút, nén). Cg thiết bị lọc độc không khí. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:20:23 am THIẾT ĐOÀN, đơn vị chiến thuật cơ bản của binh chủng thiết giáp trong QĐ Sài Gòn. Được tổ chức từ 1963. Có TĐ chiến xa (xe tăng) và TĐ kị binh (cg thiết kị hay kị binh thiết giáp). TĐ chiến xa gồm 4 chi đoàn (1 chi đoàn chỉ huy - công vụ, 3 chi đoàn chiến xa) và 3 trung đội thiết kị; biên chế: 54 xe tăng M48. 15 xe chiến đấu bộ binh M113, khoảng 680 người. TĐ kị binh có hai loại. Loại 1 gồm 4 chi đoàn (1 chi đoàn chỉ huy - công vụ, 2 chi đoàn thiết kị. 1 chi đoàn chiến xa) biên chế: 42 xe M113, 17 xe tăng M41 và 700 người. Loại 2 gồm 4 chi đoàn (1 chi đoàn chỉ huy - công vụ, 3 chi đoàn thiết kị), biên chế: 58 xe M113 và 750 người. Tới đầu 1975, trong QĐ Sài Gòn có 3 TĐ chiến xa và 18 TĐ kị binh (trong đó 11 TĐ nằm trong thành phấn các sư đoàn bộ binh). Các TĐ thuộc BTL thiết giáp (gồm 3 TĐ chiến xa và 7 TĐ kị binh) hợp thành 4 lữ đoàn kị binh (1,2, 3 và 4) đóng tại 4 quân khu. THIẾT GIÁP HẠM (tàu thiết giáp, tàu bọc thép), tàu chiến nổi, được trang bị pháo mạnh và có vỏ thép dày dùng để tiến hành các trận chiến đấu trên biển. Lượng giãn nước 10-65 nghìn tấn: tốc độ 16-35 hải lí/h (30-64km/h); cự li hành trình 6-8 nghìn hải lí (11,1-14,8 nghìn kilômét), vỏ thép dày 40- 450mm. pháo lớn đến 406-460mm. TGH đầu tiên “Gloire” do hãng Dupuy de Lôme (Pháp) đóng 1859. Trong CTTG-I, các nước Nga, Anh, Pháp, Đức, Áo - Hung đã đóng và sử dụng 130 TGH: trước CTTG-II, Mĩ. Đức, Nhật,... tiếp tục đóng và giảm dần sau chiến tranh. Đầu những năm 70 tk 20, phần lớn TGH bị loại bỏ dần. một số ít được sửa chữa, nâng cấp, trang bị lại, vd lớp Iowa (Mĩ); Kirop (Nga); Misore (Ấn Độ)... TGH Niu Giơxi (lớp Iowa của Mĩ) trang bị pháo 406mm đã tham gia chiến tranh xâm lược VN (1964-72) và 2 lần bị thương do thủy lôi. THIẾT KẾ KIẾN TRÚC DOANH TRẠI, lập tài liệu kĩ thuật toàn bộ của dự án, bao gồm: các chi tiêu kinh tế - kĩ thuật, các bản tính toán, bản vẽ, dự toán, thuyết minh và những tài liệu khác, cần thiết cho việc xây dựng công trình doanh trại QĐ. Gồm các thiết kế: định hình, vận dụng và kĩ thuật. Thiết kế định hình: lập bản thiết kế nhà, công trình và kết cấu áp dụng nhiều lần trong xây dựng; bản thiết kế này, có những giải pháp kĩ thuật bảo đảm khả năng đưa vào thực tiền xây dựng doanh trại QĐ hoàn chinh về chức năng, chất lượng kĩ thuật và kinh tế, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư; được phát triển mạnh trong xây dựng nhà ở, các khu kho, khu kĩ thuật của các đơn vị QĐ hiện nay. Thiết kế vận dụng: đưa các điều chỉnh cần thiết vào các bản thiết kế định hình hoặc các bản thiết kế sử dụng lại của nhà, doanh trại, căn cứ vào điều kiện cụ thể của các khu vực địa bàn đóng quân và khả năng của đơn vị cơ sở về chế tạo các kết cấu, vật liệu xây dựng. Thiết kế kĩ thuật: lập thiết kế nhà, doanh trại với khối lượng đầy đủ để xác minh các số liệu của nhiệm vụ thiết kế cần phải đáp ứng khi thực hiện các bản vẽ thi công. Hiện nay TKKT- DT đã ứng dụng ngày càng rộng rãi các hệ thống thiết kế tự động hóa, cho phép nâng cao độ chính xác của các tính toán và chất lượng của tài liệu thiết kế, rút ngắn một cách căn bàn thời gian lập tài liệu thiết kế. THIẾT QUÂN LUẬT, thiết lập sự quản lí bằng quy chế đặc biệt do nhà nước ban hành trong tình trạng khẩn cấp. Quy mô khu vực thực hiện TQL (cả nước hay từng địa phương) tùy thuộc tình trạng khẩn cấp. Khi thực hiện TQL, quyền hạn của các tổ chức QS được mở rộng sang một số lĩnh vực dân sự, khi đó cơ quan QS có quyền: thực hiện chức năng quản lí nhà nước về mặt quốc phòng, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia, quy định những nghĩa vụ bổ sung cho công dân (lao động, dân công vận chuyển, trưng dụng phương tiện giao thông vận tải...): ban hành những quy tắc về trật tự an toàn xã hội (tụ họp, đi lại, giờ làm việc, sử dụng ánh sáng, năng lượng...); tòa án QS được quyền xét xứ các tội hình sự có liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia... THIẾT XA VẬN, chiến thuật tác chiến của QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), theo đó dùng tăng thiết giáp cơ động lực lượng, tiến hành các hoạt động tác chiến, càn quét, đánh phá vùng giải phóng, giải vây, ứng cứu... THIẾU TÁ, bậc quân hàm khởi đầu của sĩ quan cấp tá, dưới trung tá trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN. được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33/SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), TT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ tiểu đoàn trường và tương đương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 11:21:37 am THIẾU TƯỚNG. bậc quản hàm khởi đầu của sĩ quan cấp tướng trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, TT được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33/sL ngày 22.3.1946. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), TT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ tư lệnh quân đoàn và tương đương. Các quân nhân được trao quân hàm TT đầu tiên trong QĐND VN: Hoàng Văn Thái*, Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Trần Tứ Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Trần Đại Nghĩa, Lê Thiết Hùng. THIỂU ÚY*. bậc quân hàm khởi đầu của sĩ quan trong LLVT nhiều nước, dưới trung úy. Trong QĐND VN, TU được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33/sL ngày"22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. THIẾU ÚY** (cổ), chức quan võ cấp cao trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra từ thời Lí (1010-1225), dưới thái úy. Thời Trần (1225-1400) TU chi là hư hàm. Thời Hậu Lê đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471), định lại quan chế, TU có phẩm trật ở hàng chánh nhị phẩm; từ 1578 (đời vua Lê Thế Tông, năm Quang Hưng thứ 1), TU chi dùng làm hàm gia thêm cho võ tướng và thân thần. THỎA HIỆP, sự thỏa thuận về một vấn để nào đó giữa hai bên hoặc nhiều bên (lực lượng) bằng cách nhượng bộ. dàn xếp với nhau; sách lược để đạt mục đích của mỗi bên. Kết quả TH có lợi hoặc bất lợi tùy thuộc vào mục đích, vị thế, so sánh lực lượng và sự khôn khéo của mỗi bên. Có: thỏa hiệp vô nguyên tắc và TH có nguyên tắc. Để giải quyết đúng đắn TH cần có phương pháp lịch sử cụ thể đối với mỗi vấn đề TH, phải xuất phát từ lợi ích toàn cục, so sánh lực lượng và mục đích TH. TH chỉ cần thiết khi giữ đúng nguyên tắc, báo toàn lợi ích cơ bản của giai cấp, dân tộc và mục tiêu cuối cùng. THỎA HIỆP VÔ NGUYÊN TẮC, thỏa hiệp trái với quan điểm, chủ trương, nguyên tắc đã được xác định làm tổn hại đến lợi ích cơ bản và lâu dài của giai cấp, dân tộc. THVNT phản ánh lập trường hữu khuynh, thiếu kiên định, một biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội. THỎA ƯỚC, văn kiện có giá trị pháp lí quốc tế được kí kết trên cơ sở những thỏa thuận đạt được giữa hai hoặc nhiều nước, xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong các lĩnh vực cùng quan tâm hoặc để thực hiện các điều khoản mà hiệp ước chung đã kí kết. Nội dung TƯ có thể chỉ đề cập các chủ trương và nguyên tắc chung cho các giải pháp, hoặc xác định những điểu khoản cụ thể mà các bên phải thực hiện. TƯ có nhiều loại: song phương hoặc đa phương, công khai hoặc không công khai. Thỏa ước Trại Đêvit được kí kết 9.1978 giữa Ai Cập với Ixraen và Mĩ là sự xác định khuôn khổ để kí kết hòa ước Ai Cập - Ixraen và thương lượng về hòa bình ở Trung Đông theo quan điểm của Mĩ và Ixraen. TƯ QS Nhật - Pháp kí kết 22.9.1940, xác định các điểu khoản cụ thể buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật sử dụng trong chiến tranh ở khu vực Thái Bình Dương nhằm thực hiện hiệp ước Pháp - Nhật kí (1940). THỎA ƯỚC QUÂN SỰ PHÁP - NHẬT (1940), thỏa ước kí 22.9.1940 giữa đại diện của hai Bộ chỉ huy QĐ Pháp và Nhật ở Đông Dương nhằm thực hiện hiệp ước Pháp - Nhật (1940). Nội dung chủ yếu: Pháp nhường cho Nhật sử dụng 3 sản bay (Gia Lâm, Lào Cai, phủ Lạng Thương) và cảng Hải Phòng để làm căn cứ vận chuyển: Nhật có quyền đồn trú dưới 6.000 lính ở phía bắc Sông Hồng; QĐ Nhật có thể đi qua Bắc Việt để tham chiến ở Vân Nam (TQ), nhưng tổng quân số có mặt ở Đông Dương không được quá 25.000 người và những sư đoàn chiến đấu của QĐ Nhật ở Quảng Đông (TQ) có thể rút về nước qua đường Bắc Việt (khi được sự thỏa thuận cụ thể của Pháp). TƯQSP-N mở đầu cho sự thỏa hiệp và đầu hàng của Pháp đối với Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Tiếp đó Nhật thúc ép Pháp kí thêm nhiều hiệp định QS (29.7.1941; 7.12.1941...) buộc Pháp hợp tác với Nhật phòng thủ Đông Dương và giúp QĐ Nhật về nhiều mặt để tiến hành chiến tranh ở khu vực Thái Bình Dương như: cung cấp lương thực, thực phẩm; cho sử dụng các căn cứ QS, phương tiện giao thông; không hạn chế quân số và phạm vi địa bàn chuyển quân thuộc lãnh thổ Đông Dương... THỎA ƯỚC TRẠI ĐÊVIT, hai hiệp định mang tính chất thỏa hiệp, kí 9.1978 tại Trại Đêvit (Mĩ) giữa Ixraen. Ai Cập và Mĩ. Hiệp định 1: “khuôn khổ để kí hòa ước giữa Ai Cập và Ixraen”, tạo cơ sở pháp lí để Ixraen và Ai Cập kí hòa ước 26.3.1979 (Ixraen rút quân khỏi Xinai của Ai Cập, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao; Mĩ được xây dựng căn cứ QS trên lãnh thổ Ai Cập). Hiệp định 2: “Khuôn khổ của các cuộc đàm phán hòa bình ở Trung Đông, căn cứ theo hiệp định Trại Đêvit”, phủ nhận quyền tự quyết và quyền lập quốc gia độc lập của nhân dân Palextin, chủ trương thực hiện “chế độ tự trị hành chính" ở bờ Tây sông Gioócđan và khu vực Gada của Palextin do Ixraen chiếm đóng. Nhân dân Arập phản đối và dư luận thế giới lên án TƯTĐ, đòi giải quyết vấn đề Trung Đông một cách toàn diện, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Palextin, thiết lập nền hòa bình lâu dài và công bằng tại khu vực này. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:00:39 am THOÁT HOAN (H. Tuohuan. Togan; ?-?), hai lần thống soái quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt (1285 và 1287- 88). Con trai Hốt Tất Liệt. 7.1284 được Hốt Tất Liệt cho làm trấn nam vương, lấy cớ đánh Chiêm Thành, mang quân xâm lược Đại Việt (1285). Lần thứ hai đem quân sang trả thù cho thất bại lần trước và quyết chiếm Đại Việt. Hai lần vào được Tháng Long, nhưng bị quân nhà Trần đánh bại, phải chạy về Tư Minh (TQ). Có lần (1285) TH phải chui vào ống đồng cho lính khiêng chạy mới thoát chết. Sau lần thất bại thứ hai, Hốt Tất Liệt không cho TH gặp và đày đi trấn thủ Dương Châu (TQ) (xt kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II và kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III). THOÁT VÂY, tác chiến do lực lượng bị bao vây thực hiện (có thể có sự phối hợp với tác chiến của lực lượng bên ngoài) để ra khỏi vòng vây của đối phương. TV có thể thực hiện bàng phá vây hoặc bằng cách tìm và tạo sơ hở trong vòng vây để bí mật đưa lực lượng bị bao vây ra ngoài. THÓC KHAO QUÂN BÁC HỒ. thóc gạo do nhân dân bán theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh (20.8.1949) để khao thưởng QĐ nhân dịp quốc khánh 1949. TKQBH đã giải quyết được phần lớn khó khăn về lương thực cho bộ đội thời gian cuối 1949 đầu 1950. THÓC KHÔNG THIÊU MỘT CÂN, QUÂN KHỔNG THIẾU MỘT NGƯỜI, phong trào hành động CM của nhân dân miền Bắc VN hưởng ứng lệnh động viên cục bộ của chủ tịch Hồ Chí Minh (5.5.1965). Nội dung: huy động sức người, sức của với số lượng đủ, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc KCCM. Hưởng ứng phong trào TKTMC.QKTMN, đã có hàng triệu người tình nguyện nhập ngũ. gia nhập thanh niên xung phong, hàng trăm ngàn tấn lương thực, thực phẩm được huy động cho chiến trường, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc KCCM. THỌC SÂU, thủ đoạn tác chiến lợi dụng kết quả đột phá phòng ngự, cơ động nhanh một bộ phận lực lượng vào sâu trong đội hình của đối phương nhằm tiêu diệt (sát thương) và đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng, tạo điểu kiện cho lực lượng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ; hành động TS phải táo bạo, kiên quyết và nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu quy định; khi quyết định TS, người chỉ huy phải xác định; hướng (đường) TS, mục tiêu đánh chiếm, lực lượng, thời cơ TS, hiệp đồng, chi viện và bảo đảm cho lực lượng TS. THỔ CHU, quần đảo thuộc huyện đảo Phú Quốc, t. Kiên Giang, tây nam đảo Phú Quốc khoảng l00km, gồm 9 đảo (TC, Cái Bàn, Cao Cát, Hòn Sanh, Hòn Khỏ, Hòn Nhạn, Hòn Ngựa...). Dt 50km2; ds khoảng 1.000 người. Đảo lớn nhất là TC, dt 16km2. Đỉnh núi cao nhất 168m. Rừng rậm nhiều gỗ quý. Khí hậu ôn hòa, mùa khô (tháng 12-5), mùa mưa (tháng 6-11). Có nguồn nước ngọt quanh năm. Đánh bắt hải sản, sản xuất yến sào, đồi mồi, hải sâm... Trên đảo có trạm khí tượng. Tại Bãi Ngự, Bãi Linh, tàu thuyền cỡ nhỏ có thể neo đậu. 5.1975 quân Khơme Đỏ lên đảo bắt dân đưa đi thủ tiêu. Số còn sống sót sau được chuyển về Phú Quốc. Sau chiến tranh, nhân dân được đưa trở lại đảo và tái lập xã Thổ Châu. THỔ NHĨ KÌ (Cộng hòa Thổ Nhĩ Kì; Tiirkiye Cumhuriyeti, A. Republic of Turkey), quốc gia ở Tây Á, đông nam châu Âu. Dt 779.452km^; ds 68,1 triệu người (2003); 87% người Thổ Nhĩ Kì. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Thổ Nhĩ Kì. Tôn giáo: 98% đạo Hồi dòng Sunni. Thủ đô: Ancara. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước là tổng thống, tổng tư lệnh tối cao các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. 95% lãnh thổ nằm trên bán đảo Tiểu Á, ngăn cách với phần còn lại thuộc châu Âu bằng các eo biển Bôxpho và Đacđanen. Trung tâm là cao nguyên Anatôlia; phía bắc, nam và đông là các dãy núi Pôntich, Tavra..., đỉnh cao nhất: Ararat Lớn 5.165m. Khí hậu nhiệt đới Địa Trung Hải; hầu hết các sông bắt nguồn từ núi cao, ít nước. Các hồ lớn: Van, Tudơ. Các sông chính: Ơphrat, Tigrit. Nước nông - công nghiệp (hơn 50% lao động nông nghiệp). Nông nghiệp: lúa mì, gạo, bông... Công nghiệp: khai thác mỏ, sản xuất ô tô, hàng dệt (mặt hàng xuất khẩu chủ yếu). Du lịch mang lại nguồn ngoại tệ lớn. GDP 147,683 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.230 USD. Thành viên LHQ (24.10.1955), NATO, CENTO. Lập quan hộ ngoại giao với VN cấp đại sứ 7.6.1978. LLVT: lực lượng thường trực 514.850 người (lục quân 402.000, hải quân 52.750, không quân 60.100), lực lượng dự bị 378.700. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 4.205 xe tăng, 650 xe chiến đấu bộ binh, 250 xe thiết giáp trinh sát, 3.643 xe thiết giáp chở quân, 2.990 pháo mặt đất, 2.021 súng cối, 1.283 tên lửa chống tăng, 1.664 súng máy và pháo phòng không, 897 tên lửa phòng không, 13tàu ngầm, 19 tàu frigat, 49 tàu tuần tiễu (trong đó 21 tàu tên lửa), 24 tàu quét mìn, 8 tàu đổ bộ, 27 tàu hộ tống, 485 máy bay chiến đấu... Căn cứ hải quân: Genđgiuc, Ixtambun. Idơmia, Ixkenđrôn. Ngân sách quốc phòng 5,8 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67746858_460934727969746_1237957630819827712_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeF984XkQ1ncX8LbmF8Vyhtvt5ZMRmmbj7CrrMHtURCacLwvB61zpe_ZL1qEulHtHhTBGH2llKno0PwEdDHBHweCOOTZr9k_HEXYI0oZw8EUZA&_nc_oc=AQlrS1MA-ANfEW4NUjKpqLF4aVXfMl15r5NK9ZFDv9BoSKyk1oZazk7Lvh8cWYOUqhY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=685b972dd673436049d911715d3d09b5&oe=5DE7EBCC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:01:58 am THỔ trước binh (cổ), quân địa phương được tuyển từ dân bản địa, dùng để canh sác thành trì và đóng đồn ở vùng rừng núi và biên giới (trừ Thanh Hóa, Nghệ An, nơi có quân chính quy của triều đình đóng giữ). Được đặt ra từ cuối tk 16, sau khi nhà Mạc bị đánh đổ (1592). Từ 1721 TTB còn được dùng để đóng giữ vùng Cao Bằng (thay thế thú binh). THÔN TÍNH, hành động cưỡng bức của một nước (liên minh các nước) nhằm sáp nhập một phần hay toàn bộ lãnh thổ của nước khác hoặc chiếm dụng những khoảng không gian thuộc sở hữu chung của cộng đồng quốc tế (biển, đáy biển...) vào lãnh thổ của nước (liên minh) mình; một chính sách của các đế chế, các thể lực bành trướng và CNĐQ. Luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc cấm TT. Ngày nay, TT thường được thực hiện dưới danh nghĩa “thu hồi lãnh thổ lịch sử” hoặc lợi dụng “quyền bảo vệ lợi ích quốc gia”... VN kiên quyết chống lại mọi biểu hiện của TT, chủ trương giải quyết những vấn đề mâu thuẫn bằng con đường hòa bình, tôn trọng quyển bình đẳng và tự quyết của các dân tộc. THÔNG BÁO, văn kiện quân sự phổ biến cho cơ quan, đơn vị cấp dưới và đơn vị bạn có liên quan về tình hình, kết quả. kinh nghiệm tác chiến, huấn luyện và các mặt công tác khác. Có các loại TB: tình hình, giới thiệu kinh nghiệm, kết quả thi đua. TB tình hình dùng để cung cấp tình hình chung hoặc quá trình tiến triển của một loại công tác nào đó nhầm thúc đẩy công việc. TB giới thiệu kinh nghiệm dùng để phổ biến những kinh nghiệm thành công, thất bại trong công tác nhằm trao đổi kinh nghiệm. TB kết quả thi đua dùng để biểu dương, học tập cá nhân, đơn vị tiên tiến. THÔNG BÁO - BÁO ĐỘNG CHIÊN ĐÂU PHÒNG KHÔNG, báo tình hình địch trên không cho các lực lượng phòng không, khống quân tiêm kích và phòng không nhân dân sẵn sàng đánh trả không quân địch và tổ chức sơ tán, phòng tránh, hạn chế thiệt hại khi bị địch tiến công đường không. Tổ chức TB-BĐCĐPK gồm: thông báo cho SCH các đơn vị thuộc quyền, SCH cấp trên, cho các đơn vị hiệp đồng và phòng không nhân dân theo ba chiều: trên xuống, dưới lên, ngang với nhau. Nội dung TB-BĐCĐPK được ghi chép đầy đủ vào sổ sách ở SCH. THÔNG BÁO KHÍ TƯỢNG, tài liệu thông tin về các yếu tố khí tượng (áp suất không khí, nhiệt độ và độ ẩm không khí, tốc độ và hướng gió, mây, mưa, tầm nhìn...), gồm phần dự báo thời tiết chung, số liệu về khí hậu, thời tiết,... ở dạng văn bản, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu. THÔNG BÁO LỆNH ĐỘNG VIÊN, chuyển lệnh động viên, quyết định huy động, lệnh huy động lực lượng dự bị động viên theo kế hoạch tới các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện. Việc thông báo được tiến hành đồng thời theo hệ thống hành chính từ trung ương tới cơ sở và từ BQP tới cơ quan QS địa phương các cấp, các đơn vị QĐ. Có hình thức thông báo công khai và thông báo bí mật. Với BQP thường kết hợp thông báo lệnh động viên với lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Thông báo phải đúng thời hạn, chính xác, bí mật; tận dụng mọi phương tiện thông tin, giao thông; chú trọng thông báo chéo giữa đơn vị QĐ và địa phương có liên quan. THÔNG BÁO TÁC CHIẾN, văn kiện tác chiến thông tin cho cấp dưới, đơn vị bạn và địa phương có liên quan về tình hình tác chiến; thuộc văn kiện thông báo, báo cáo. Có: TBTC định kì và theo yêu cầu. Nội dung TBTC gồm: tình hình địch; tình hình ta (kết quả tác chiến, kinh nghiệm tác chiến...); tình hình đơn vị bạn. LLVT địa phương trong khu vực tác chiến; dự kiến khả năng và phương hướng hoạt động tiếp theo. TBTC phải kịp thời, chính xác, ngắn gọn; tùy tính chất, nội dung để xác định nơi nhận, độ mật và thứ tự ưu tiên khi chuyên gửi. TBTC có thể bằng văn bản hoặc các phương tiện thòng tin khác. THÔNG BÁO TÌNH HÌNH ĐỊCH TRÊN KHÔNG, báo cho người chỉ huy và các đối tượng liên quan về sự xuất hiện mục tiêu địch trên không; tọa độ, các tham số vận động, số lượng, kiểu loại, tính chất hoạt động của chúng thu được từ các mạng trinh sát để người chỉ huy và đơn vị kịp thời đưa các lực lượng thuộc quyển vào cấp sẵn sàng chiến đấu cần thiết, hạ quyết tâm tác chiến và có biện pháp bảo vệ, tổ chức phòng tránh, sơ tán, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân. hạn chế thiệt hại khi bị địch đánh. Có TBTHĐTK: tập trung, phân tán hoặc khu vực. THÔNG BÁO VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, báo cho người chỉ huy, bộ đội và nhân dân biết những tin tức về địch chuẩn bị hoặc thực hành tập kích vũ khí hủy diệt lớn, để thực hiện các biện pháp phòng chống. Nội dung gồm: tình hình chuẩn bị và sử dụng vũ khí hủy diệt lớn của địch; các khu vực (mục tiêu) dã bị tập kích và có nguy cơ bị tập kích (về loại vũ khí và phương tiện sử dụng, đương lượng nổ, thời gian, mức độ nhiễm, hướng truyền lan...); các biện pháp phòng chống cần thiết. TBVKHDL được phát đi bằng văn bản, bàng miệng, kí hiệu, tín hiệu quy ước truyền qua các phương tiện thông tin liên lạc nhanh nhất. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:03:13 am THÔNG CÁO CHUNG THƯỢNG HẢI, văn kiện ngoại giao giữa Mĩ và TQ, do Nichxơn và Chu Ân Lai kí 28.2.1972 tại Thượng Hải (TQ). Nội dung chủ yếu: hai bên thống nhất việc giải quyết các mối quan hệ giữa các nước phải căn cứ vào năm nguyên tắc cùng tốn tại hòa bình', TQ và Mĩ tiến hành bình thường hóa quan hệ là phù hợp với lợi ích của mỗi nước. Hai bên hi vọng trong thời gian tới sẽ giảm bớt những mỏi nguy hiểm của sự xung đột quốc tế, cam kết không mưu cầu bá quyền khu vực châu Á - Thái Bình Dương, kiên quyết chống lại bất kì nước nào, hoặc nhóm nước nào lập bá quyền ở khu vực này. Về vấn đề Đài Loan, phía TQ khẳng định, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chính phù hợp pháp duy nhất của TQ, Đài Loan là một tỉnh của TQ; phía Mĩ nêu rõ, nước Mĩ hiểu rằng, người TQ ở hai bên eo biển Đài Loan đều nhận thức chỉ có một nước TQ. Đài Loan là một bộ phận của TQ, nước Mĩ không có ý kiến nào khác về lập trường này của TQ. Mĩ sẽ rút LLVT và các công trình QS ra khỏi Đài Loan. TCCTH đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa Mĩ và TQ. THÔNG TIN CHỈ HUY. thông tin được tổ chức đảm bảo cho người chỉ huy (cơ quan) để điều hành các đơn vị thuộc quyền và phối thuộc. Để TTCH dược kịp thời, vững chắc và thường xuyên thông suốt, phải tổ chức liên lạc vu hổi, vượt cấp,... khi cần thiết. THÔNG TIN HẬU CẨN, KĨ THUẬT, thông tin được tổ chức để chủ nhiệm (cơ quan) hậu cần, kĩ thuật liên lạc với chú nhiệm (cơ quan), đơn vị hậu cần, kĩ thuật thuộc quyền và phối thuộc. TTHC,KT có thể thực hiện từ SCH phía sau. khu vực căn cứ, phân căn cứ hậu cần, kĩ thuật. THÔNG TIN HIỆP ĐỒNG, thông tin được thiết lập giữa người chỉ huy (cơ quan chỉ huy) các đơn vị thuộc các binh chủng, quân chủng, bộ đội chuyên môn và các lực lượng khác có nhiệm vụ liên quan để đảm bảo hiệp đồng tác chiến. TTHĐ được tổ chức trên cơ sở kế hoạch hiệp đồng của người chỉ huy (tham mưu trưởng) cấp mình và chỉ lệnh thông tin liên lạc cấp trên. THÔNG TIN HỌC, bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc, tính chất, tác động và quy luật hoạt động của thông tin khoa học; lí luận, lịch sử, phương pháp và việc tổ chức, quản lí hoạt động thông tin khoa học; nhằm tìm các phương pháp và phương tiện thể hiện tối ưu cho việc thu thập, xử lí phân tích, tổng hợp, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến và sử dụng thông tin khoa học trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau. TTH có mối liên hệ mật thiết và sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội - nhân văn như: thư viện học, thư mục học. tâm lí học, ngôn ngữ học, điểu khiển học, lí thuyết toán - thông tin, tin học, truyền thống - viễn thông... TTH được hình thành vào giữa tk 20 và phát triển rất mạnh vào những thập niên cuối của thế kỉ. THÔNG TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của thông tin khoa học, gồm những tài liệu lí thuyết hoặc số liệu thực tiền được hình thành và thu nhận trong quá trình hoạt động khoa học QS, huấn luyện, tác chiến, sản xuất quốc phòng,... nhằm phục vụ cho những đối tượng nhất định trong QĐ, để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động QS. Theo lĩnh vực hoạt động QS, có thông tin khoa học về: chính trị, xã hội - nhân văn QS, nghệ thuật QS, hậu cần QS, KTQS, y - dược QS, công nghệ QS, môi trường QS, tài chính QS... Đối tượng phục vụ chủ yếu của TTKHQS là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lí, nghiên cứu, giảng dạy, học tập, các nhà sản xuất, kinh doanh, đầu tư... THÔNG TIN LIÊN LẠC CÁP QUANG, thông tin liên lạc giữa các đối tượng phát và nhận tin bằng máy phát quang, máy thu quang và cáp quang. TTLLCQ gồm các giai đoạn: máy phát quang biến các tin tức, dạng dao động điện thành các tín hiệu quang tương ứng. Máy thu quang biến đổi tín hiệu quang thành tín hiệu điện và tin tức ban đầu cần truyền đi. Tín hiệu quang được truyền từ nơi phát đến nơi thu bằng cáp quang. TTLLCQ có ưu điểm: dung lượng thông tin lớn, tính chống nhiễu cao, hiệu suất và tốc độ truyền tin nhanh... THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐIỆN BÁO. thông tin liên lạc mà tin tức truyền đi đã được mã hóa thành các chữ cái, chữ số, kí hiệu. Có thể dược thực hiện trên kênh hữu tuyến, vô tuyến, kết hợp. Theo phương thức thu nhận thông tin trên máy thu, có: TTLLĐB dùng tai nghe (thu trực tiếp âm thanh phát đi bằng tai nghe), TTLLĐB băng ghi (các tín hiệu điện báo dược in lên băng giấy hoặc băng từ). TTLLĐB dùng tai nghe đơn giản, tiết kiệm hơn nhưng tốc độ chậm hơn. TTLLĐB băng ghi phức tạp hơn nhưng có tốc độ cao hơn và có thể sửa lỗi, hiệu chỉnh trong quá trình phát và thu. TTLLĐB có nhiều ưu điểm như dùng được trên nhiều loại kênh thông tin. tốc độ tương đối nhanh, tính bí mật và chống nhiễu cao, do vậy thường được sử dụng truyền các văn bản, mệnh lệnh, tin tức mật, khẩn cấp... 1895 Pôpôp (Nga) phát minh ra máy thu phát vô tuyến điện báo đầu tiên và từ 1898. hải quân Nga và hải quân một số nước châu Âu đã được trang bị loại máy này. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:04:37 am THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐIỆN THOẠI, thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi bằng tiếng nói trên các kênh thông tin liên lạc (hữu tuyến, vô tuyến, hoặc kết hợp). Là phương thức thông tin đơn giản, phổ biến nhất từ trước tới nay, sử dụng thuận tiện nhưng độ mật thấp. THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐỐI LƯU, thông tin liên lạc vô tuyến điện ở dài sóng cực ngắn, sử dụng hiện tượng tán xạ sóng điện từ của tầng đối lưu để tăng cự li liên lạc ra ngoài vùng nhìn thẳng của hai anten (đến hàng trăm kilômét, nếu có các trạm chuyên tiếp có thể đến hàng nghìn kilômét). TTLLĐL được dùng giữa các khu vực có núi cao, rừng rậm che chắn hoặc qua vùng lãnh thổ đối phương. Nhược điểm chính của TTLLĐL là phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu,... tính bí mật thấp, công suất phát lớn, anten công kềnh. TTLLĐL được sử dụng rộng rãi trong QĐ các nước từ đầu những năm 60 của tk 20. THÔNG TIN TRÊN LẠC FAXIMIN nh THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỂN ẢNH THÔNG TIN LIÊN LẠC HŨU TUYẾN ĐIỆN. thông tin liên lạc có môi trường truyền tin là dây dẫn và tin tức truyền đi dưới dạng dao động điện (dòng điện hoặc điện áp). Có thể truyền tiếng nói (thoại), hình ảnh (truyền ảnh. truyền hình), tín hiệu số... Ưu điểm: ổn định, thuận tiện, ít bị gây nhiễu, tương đối bí mật, ít phụ thuộc vào môi trường, với thiết bị ghép kênh có thể tăng số kênh liên lạc trên một đôi dây. Nhược điểm: khi tổ chức cần nhiều thời gian, lực lượng, kém cơ động, dễ bị phá hoại do đối phương hoặc tự nhiên (vd: đứt dây do bão...). TTLLHTĐ ra đời rất sớm, ngày nay vẫn được sử dụng phổ biến. THÔNG TIN LIÊN LẠC LADE, thông tin liên lạc bằng dao động điện từ trong dải sóng ánh sáng (dải tần số 1013- 1015 Hz, bước sóng 0,4-12mm) nhờ máy phát lade. So với thông tin liên lạc vô tuyến điện, TTLLL có ưu điểm: dải tần rộng hơn (gấp khoảng 14 lần), tính định hướng cao (góc truyền <10’), độ ổn định rất cao (biên độ, tần số, pha, tính phân cực hầu như không đổi hoặc thay đổi theo một quy luật nhất định), khá năng chống nhiễu tốt, độ mật cao. công suất phát nhỏ, anten gọn nhẹ... Nhược điểm chính là suy giảm năng lượng lớn khi truyền trong lớp khí quyển gần mặt đất do vậy hạn chế khả năng sử dụng trong thực tế. TTLLL được phân thành bốn nhóm: nhóm mặt đất (truyền trong khí quyển), nhóm truyền trong vũ trụ, nhóm truyền trong ống dẫn sóng, nhóm truyền theo cáp quang. TTLLL ra đời cuối những năm 60 của tk 20 (sau khi có máy phát lade) và đang được tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh theo hướng tìm loại lade phù hợp với từng môi trường (lade khí acgông truyền trong nước không bị hấp phụ), thiết lập hệ thống trạm và anten ổn định. THÔNG TIN LIÊN LẠC NHlỀU KÊNH, thông tin liên lạc mà tín hiệu (cùng hoặc khác loại) được truyền đồng thời hoặc độc lập bằng nhiều nguồn phát và thu trên một đường truyền, nhưng đều phải qua bộ phận ghép kênh và phần chung (nén tín hiệu). TTLLNK dùng phổ biến trong mạng thông tin quốc gia cũng như trong hệ thống thông tin QS ở hầu hết các nước trên thế giới; thành phần chính của thông tin liên lạc viễn thông. THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN BƯU. thông tin liên lạc do người đến tận nơi (bằng phương tiện hoặc đi bộ) và trực tiếp chuyển tin tức cho bộ phận thu (hoặc ngược lại) dưới hai dạng: văn bản (mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo, công văn. tài liệu...) hoặc bằng lời. TTLLQB bảo đảm bí mật, chuyển được nhiều công văn, tài liệu nhưng thời gian lâu vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con người, phương tiện cơ động, địa hình thời tiết... Tùy theo cự li, địa hình, phương tiện cơ động, tình hình.... mà trong TTLLQB, tin tức được truyền trực tiếp (giao nhận một lần) hoặc qua trung gian (giao nhận nhiều lần qua các trạm chuyển tiếp). TTLLQB được dùng nhiều trong QS. nhất là ở cấp phân đội. TTLLQB xuất hiện rất sớm, tk 14tcn (thời nhà Thương) ở TQ, 490tcn ở Hi Lạp (báo tin thắng trận Maratông, I3.9.490tcn)... Cg thông tin liên lạc vận động. THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN SỰ, phát và nhận tin giữa các đối tượng trong hoạt động QS bằng lực lượng thông tin; bộ phận quan trọng trong hệ thống chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí. Theo phương thức liên lạc và sử dụng các thiết bị đầu cuối, chia ra: liên lạc điện thoại, điện thoại truyền hình, điện báo, truyền ảnh, truyền số liệu; theo phương tiện sử dụng và môi trường truyền tin, chia ra: thông tin vô tuyến điện (tiếp sức, đối lưu, sóng ngắn, sóng cực ngắn...), thông tin hữu tuyến điện (dây trần, cáp, dây bọc); thông tin vệ tinh, thông tin lade, thông tin quang học, thông tin vận động (quân bưu), thông tin tín hiệu. TTLLQS thực hiện bằng cách truyền tin không mã hoặc mã hóa...; dùng phương pháp liên lạc một chiều, hai chiều (song công, đơn công, đơn xen ngắt). Yêu cầu cơ bản của TTLLQS là kịp thời, chính xác, bí mật và an toàn. Nhiệm vụ của TTLLQS là truyền tin bảo đảm chỉ huy, hiệp đồng, thông báo, báo động và hậu cần kĩ thuật... TTLLQS được tổ chức trên cơ sở quyết tâm của người chỉ huy, chỉ lệnh thông tin của cơ quan tham mưu cấp trên, chỉ thị của tham mưu trưởng, lực lượng thông tin và tình hình liên quan. TỔ chức TTLLQS gồm: lập kế hoạch, giao nhiệm vụ cho bộ đội thòng tin, điều hành quá trình triển khai, khai thác, thu hồi hệ thống thông tin liên lạc,... chủ nhiệm (trợ lí) thông tin lập kế hoạch và chỉ đạo thông tin cấp dưới, đơn vị thông tin thực hiện nhiệm vụ. Kế hoạch thông tin liên lạc là văn kiện cơ bản để tổ chức thông tin liên lạc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:05:57 am THÔNG TIN LIÊN LẠC SỐ, phương thức thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi ở dạng các tín hiệu số. Nguyên tắc truyền tin: tín hiệu thông tin liên lạc dưới dạng xung điện được biến đổi thành các nhóm kí hiệu mã hóa dạng số và qua thiết bị phát, truyền tới nơi thu. Đầu thu sẽ thu các tín hiệu mã hóa, biến đổi trở lại về dạng tin tức ban đầu. TTLLS được sử dụng trong các dạng thông tin liên lạc: điện báo số, truyền số liệu, truyền ảnh số, fax số và điện thoại số. Ưu điểm: tốc độ truyền tin nhanh; khả năng chống nhiều và tự động hóa cao; có thể kết hợp các dạng thông tin liên lạc số thành mạng số tổng hợp; nâng cao tính bảo mật và độ tin cậy thông tin; có thể thực hiện đồng thời nhiều kênh thông tin liên lạc trên một tần số. Nhược điểm: chiếm dải tần rộng, hệ thống trang thiết bị phức tạp và cần phải có tính đồng bộ. Hiện nay dang được dùng rộng rãi trong các mạng thông tin liên lạc quốc gia; trong QĐ, việc áp dụng TTLLS đã đem lại hiệu quả cao và đang được nghiên cứu phát triển. THÔNG TIN LIÊN LẠC TẢI BA, phương thức thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi nhờ các dao động điện tần số cao được điểu chế (cg dao động tần số mang). Có thể truyền trên kênh vô tuyến hoặc hữu tuyến. Nguyên tắc truyền: tin tức đồng thời từ nhiều nguồn phát vào đường truyền và thu tương ứng nhờ máy tải ba ghép (tách) kênh. Việc ghép (tách) kênh được thực hiện bằng cách phân chia kênh theo tần số hoặc theo thời gian và hoàn toàn tự động. Số kênh càng nhiều khi tần số mang có trị số lớn. Được sử dụng trong thông tin liên lạc nhiều kênh. THÔNG TIN LIÊN LẠC THỦY ÂM. thông tin liên lạc mà tin tức dược truyền đi trong môi trường nước bằng cách phát và thu sóng âm thanh hoặc sóng siêu âm. Được thực hiện nhờ các thiết bị thủy âm. TTLLTÂ dùng để liên lạc giữa các tàu ngầm, tàu ngầm với trạm ngầm, tàu ngầm với tàu nổi. trạm ngầm hoặc tàu ngầm với trạm trên bờ... Ngoài ra TTLLTÂ còn được dùng cho các thiết bị thăm dò dưới nước, thợ lặn... Cự li TTLLTÂ phụ thuộc vào công suất thiết bị phát, độ nhạy thiết bị thu, tốc độ của tàu và các điều kiện thủy văn trong vùng liên lạc. THÔNG TIN LIÊN LẠC TÍN HIỆU, thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi dưới dạng những tín hiệu đã quy ước tương ứng nhờ các thiết bị, dụng cụ phát tín hiệu đơn giản như: pháo hiệu, cờ... TTLLTH sử dụng đơn giản nhưng nội dung hạn chế, chỉ dùng rộng rãi ở các phân đội nhỏ. Quy ước tín hiệu thường do người chỉ huy (cơ quan chỉ huy) có thẩm quyền quy định. THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỀN ẢNH. thông tin liên lạc dùng để truyền đi các hình ảnh tĩnh, phẳng (đoạn văn. hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu, ảnh chụp...) nhờ các máy điện báo ảnh. TTLLTA có thể truyền theo các kênh hữu tuyến, vô tuyến... TTLLTA có tốc độ truyền không cao và chất lượng phụ thuộc vào môi trường truyền. Hiện nay. TTLLTA có cự li thông tin hầu như không hạn chế nhờ chuyển tiếp qua vệ tinh nhân tạo. Cg thông tin liên lạc faximin hoặc fax. THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỀN SỐ LIỆU, thông tin liên lạc mà tin tức được mã hóa và phát, thu, xứ lí tự động hoàn toàn trên máy tính điện từ và các thiết bị chuyên dụng. Kí hiệu trong bảng mã được gọi là “số liệu” (của tin tức) và được truyền dưới dạng xung điện áp, dòng điện hoặc dao động điện liên tục. Sự khác nhau cơ bản giữa TTLLTSL và các dạng thông tin liên lạc khác là trong TTLLTSL các máy móc đóng vai trò chủ yếu để phát, thu và xử lí thòng tin. Ưu điểm: tốc độ lớn, độ tin cậy cao (sai số <10-9); có thể thực hiện trên kênh vô tuyến, hữu tuyến...; là cơ sở của thông tin máy tính, tự động điều khiển công nghiệp, tự động hóa chỉ huy và tự động điều khiển vũ khí. khí tài trong QS. TTLLTSL đã được sử dụng trong các mạng thông tin quốc gia và QS ở nhiều nước. THÔNG TIN LIÊN LẠC VẬN ĐỘNG nh THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN BƯU THÔNG TIN LIÊN LẠC VỆ TINH, thông tin liên lạc vô tuyến điện trong dải sóng siêu cao tần được chuyển tiếp qua các vệ tinh nhân tạo của Trái Đất. Có hai phương thức chuyển tiếp: thụ động (dùng vệ tinh có diện tích phản xạ lớn (để phản xạ sóng điện từ), chủ động (vệ tinh có đặt trạm thu phát chuyển tiếp, hiện được dùng rộng rãi). TTLLVT có các ưu điểm: cự li liên lạc rất xa. diện tích phủ sóng lớn (vd: một vệ tinh ở quỹ đạo có điểm xa nhất 36 nghìn - 40 nghìn km tạo khoảng cách liên lạc giữa hai địa điểm trên mặt đất là 12 nghìn - 15 nghìn km và bao trùm 1/3 bề mặt Trái Đất. như vậy chỉ cần 3 vệ tinh sẽ có mạng thông tin liên lạc vô tuyến toàn cầu). Nhược điểm: hệ thống máy móc phức tạp. giá thành cao. TTLLVT được sử dụng ngày càng rộng rãi trong dân sự và QS. Trong QĐ nhiều nước có các hệ thống TTLLVT về chiến lược và chiến thuật. Vd: Mĩ có IDCSP (chiến lược) với 20 vệ tinh Syncom, TASACom (chiến thuật) với vệ tinh LES; Nga có “Quỹ Đạo” (chiến lược) với các vệ tinh “Tia Chớp 1 ”, “Tia Chớp 2” và gần đây có hệ thống vệ tinh chiến thuật bay trên quỹ đạo có độ cao khoảng 1.450km, góc nghiêng 74° Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:07:12 am THÔNG TIN LIÊN LẠC VI BA, thông tin liên lạc vô tuyến điện ở dải sóng vi ba (sóng cực ngắn có bước sóng 10-4- 1m tần số 3.108-3.1012Hz). có dải tần rộng, dung lượng thông tin lớn, tính định hướng cao, sử dụng thích hợp cho vùng biên giới, hải đảo, vượt qua vùng đối phương kiểm soát, cho liên lạc của các phương tiện cơ giới (xe, tàu thủy, máy bay...). Khi liên lạc trực tiếp cự li liên lạc chỉ giới hạn trong phạm vi tầm nhìn thẳng giữa hai anten (thu, phát). Để tăng cự li liên lạc, thường dùng các máy (trạm) chuyển tiếp (x. thông tin liên lạc vô tuyến điện tiếp sức), sử dụng tầng đối lưu (x. thông tin liên lạc đối lưu). Đã trở thành phương tiện thông tin chủ yếu cho dân dụng và QS. THÔNG TIN LIÊN LẠC VIỄN THÔNG nh VIỄN THÔNG THÔNG TIN LIÊN LẠC VÔ TUYẾN ĐIỆN, thông tin liên lạc mà tín hiệu được truyền đi ở dạng sóng điện từ thuộc dải vỏ tuyến điện (tần số từ 3.102 đến 3.1012Hz) trong không gian nhờ các máy vô tuyến diện; có thể truyền tiếng nói (thoại), số liệu, hình ảnh (truyền hình, truyền ảnh)... Theo dải sóng sử dụng, có: TTLLVTĐ sóng dài, TTLLVTĐ sóng trung, TTLLVTĐ sóng ngắn, TTLLVTĐ sóng cực ngắn. Theo phương thức truyển sóng, có: TTLLVTĐ sóng trời, TTLLVTĐ sóng đất. TTLLVTĐ còn phân loại theo một số dấu hiệu khác như: số kênh (một kênh hoặc nhiều kênh), phương pháp liên lạc (một chiều hoặc hai chiều), phương pháp tổ chức (hướng hoặc mạng)... TTLLVTĐ cho phép liên lạc giữa các đối tượng đang chuyển động, cự li xa với mọi địa hình, thời tiết; triển khai, thu hồi nhanh. Nhược điểm: chất lượng thông tin phụ thuộc vào môi trường truyền tin, tính bí mật thấp, chống nhiễu kém. TTLLVTĐ được sử dụng từ đầu tk 20. THÔNG TIN LIÊN LẠC VÔ TUYẾN ĐIỆN TIẾP SỨC, thông tin liên lạc vô tuyến điện có sử dụng các máy (trạm) chuyển tiếp, làm việc ở dải sóng cực ngắn (thường dùng vi ba) để tăng cự li liên lạc (đến hàng nghìn kilômét). Ưu điểm: dài tần rộng, dung lượng thông tin lớn, tính định hướng cao, công suất nhỏ. có thể truyền các dạng tín hiệu thoại, phi thoại (moóc, truyền số liệu. fax). Khi dùng trong QS, TTLLVTĐTS còn có các ưu việt: tổ chức nhanh, cơ động cao (do đặt trên phương tiên cơ giới), tính bảo mật cao... Nhược điểm: ở cự li liên lạc lớn, phải có nhiều máy (trạm) chuyển tiếp vì cự li liên lạc giữa các máy vô tuyến diện tiếp sức chỉ 40-60km (trong tầm nhìn thẳng giữa 2 anten). Trong CTTG-II mới khai thác thực nghiệm, đến nay đã được sử dụng rộng rãi trong QS cũng như dân sự ở hầu hết các nước trên thế giới. Hướng phát triển của TTLLVTĐTS trong QS là sử dụng tần số cao (5-10GHz), máy gọn nhẹ, anten nhỏ... (xt thông tin liên lạc vi ha). THÔNG TIN THÔNG BÁO, BÁO ĐỘNG, thông tin được tổ chức để kịp thời phát, thu tín hiệu báo động cho các đơn vị như: chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, địch tập kích đường không, tập kích vũ khí hủy diệt lớn, thông báo tình hình hoạt động của máy bay ta, máy bay đối phương, tình hình khí tượng thủy văn... Tín hiệu thông báo, báo động thường được thống nhất theo một quy định trước, ngắn, gọn, dễ nhận và dễ nhớ. TTTB,BĐ được ưu tiên liên lạc trên hệ thống thông tin hiện hành, riêng ở cấp chiến lược, chiến dịch có tổ chức mạng vô tuyến điện chuyên trách thông báo, báo động. THÔNG TRI, văn kiện quân sự truyền đạt công việc có liên quan đến cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân thuộc quyển. Có các loại TT mang: tính quy định, tính chất bổ sung, tính hội nghị, tính chất sự vụ. TT có tính quy định để truyền đạt những quy định, những yêu cầu và những việc cần chú ý đối với công tác nào đó của cấp trên hoặc cấp mình. TT có tính chất bổ sung dùng khi phát kế hoạch, phương án, tổng kết, tài liệu, biểu bảng báo cáo yêu cầu những người có liên quan phải nghiên cứu, xử lí, đề xuất Ý kiến, hoặc truyền phát tài liệu, văn kiện có liên quan. TT có tính hội nghị dùng để báo cho người có liên quan biết tham gia hội nghị gì, khi nào, ở đâu. TT có tính chất sự vụ dùng để phổ biến một số công việc lâm thời nào đó. Nội dung của các TT bao gồm các công việc và yêu cầu. TT cũng có thể truyền miệng. THỐNG CHẾ, 1) quân hàm cao nhất trong LLVT nhiều nước phương Tây, trên đại tướng. Xuất hiện từ tk 12 như một tước hiệu QS của các triều đại phong kiên. TC xuất hiện ở Pháp từ tk 16; Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì, Italia, Nhật (tk 19) và ở các nước Áo (về sau là Áo - Hung), Phổ (Đức) và Nga (đầu tk 20). TC thường mang dấu hiệu tượng trưng cho quyển lực và vinh dự. TC tương đương với nguyên soái trong QĐ một số nước (LX, TQ, Triều Tiên...); 2) chức quan võ cao cấp ở TQ từ triều Nam Tống đến cuối triều Thanh. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:08:19 am THỐNG KÊ HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của khoa học thông kê, nghiên cứu những chỉ số định lượng trong mối quan hệ biện chứng với các đặc trưng định tính của các hiện tượng, quá trình QS, như: các yếu tố tạo sức mạnh QS của quốc gia: tổ chức, bảo đảm và chuẩn bị lực lượng QS cho chiến tranh; tiến trình các cuộc chiến tranh... Nhiệm vụ quan trọng nhất của TKHQS là thống kê, lựa chọn, phân tích, xử lí số liệu. TKHQS sử dụng những thành tựu của các khoa học. kĩ thuật như lí thuyết xác suất, các phương pháp thống kê, lí thuyết nhóm, tin học, máy tính điện tử,... và được ứng dụng rộng rãi trong các ngành tham mưu, hậu cần, KTQS, lịch sử QS... THỐNG KÊ QUÂN Y, chuyên ngành y học quân sự nghiên cứu những số liệu, chỉ tiêu đánh giá tình hình sức khoẻ bộ đội, tình hình thương binh, bệnh binh và các mặt công tác quân y để tìm ra những kết luận, những quy luật nhằm nâng cao chất lượng tổ chức, bảo đảm quân y cho LLVT. Nhiệm vụ TKQY trong thời bình: nắm chắc tình hình và các yếu tố ảnh hường đến sức khỏe bộ đội; nghiên cứu tình hình diễn biến và các điều kiện hạn chế hoặc phát triển bệnh tật để có kế hoạch phòng bệnh, chữa bệnh hiệu quả; nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu số lượng và chất lượng mọi mặt hoạt động của ngành quân y. Trong thời chiến, TKQY có nhiệm vụ: tính toán tỉ lệ thương binh, bệnh binh, nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố chiến đấu đến tỉ lệ và tính chất thương vong; theo dõi tình hình sức khoẻ bộ đội trong chiến đấu, tình hình thực hiện các hoạt động cấp cứu, điều trị, chuyển thương, kết quả các biện pháp vệ sinh phòng dịch và công tác tổ chức bảo đảm quân y trong chiến đấu... THỐNG LĨNH, 1) chức quan võ thời xưa, chỉ huy toàn bộ LLVT của một nước; 2) chỉ huy thống nhất LLVT của một nước. Điều 103 Hiến pháp nước CHXHCN VN 1995 đã xác định: chủ tịch nước có quyền TL các LLVT và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Chủ tịch nước TL các LLVTND VN, có quyền chỉ huy thống nhất LLVT ba thứ quân, lực lượng công an nhân dân, lực lượng cảnh sát biển trong thời bình và thời chiến, dưới sự lãnh đạo của BCT BCHTƯ ĐCS VN. THỐNG TƯỚNG, 1) chức vụ chỉ huy cao nhất của QĐ một số nước (tướng tổng chỉ huy QĐ); 2) bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp tướng trong Quân lực Việt Nam cộng hòa (điều 15 Quy chế quân nhân hiện dịch QLVNCH-1972). THỜI BÌNH, thời kì xã hội không có chiến tranh. Trong TB. mọi hoạt động được tập trung vào việc ổn định đời sống xã hội, xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố nền hòa bình và giải quyết những hậu quả của chiến tranh (đối với những nước vừa kết thúc chiến tranh); từng bước lập lại quan hệ bình thường giữa các nước tham chiến; các đạo luật đã ban hành trong thời chiến không còn phù hợp với TB đều được bãi bỏ. THỜI CHIẾN, thời kì xã hội đang có chiến tranh. TC bắt đầu khi nhà nước tuyên chiến hoặc bắt đầu các hành động chiến tranh và kết thúc khi kí hiệp ước hòa bình, hiệp định đình chiến giữa các bên tham chiến hoặc sự đầu hàng của một bên. Trong TC, các biện pháp của tình trạng chiến tranh được áp dụng, ở VN, trong KCCP và KCCM, nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp TC nhằm huy động cao độ sức mạnh của toàn dân, của đất nước để chiến thắng quân xâm lược. THỜI CƠ, tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh giành thắng lợi trong khởi nghĩa, trong chiến tranh và trong tác chiến. TC có thể do năng động chủ quan tạo nên và cũng có thể do sai lầm của đối phương hoặc điều kiện khách quan đưa đến. TC thường xuất hiện rất nhanh, đột ngột, và qua đi cũng rất nhanh. Có TC chiến lược, TC chiến dịch và TC chiến thuật. Tạo TC, kịp thời nắm bắt TC và hành động đúng TC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giành thắng lợi. THỜI CƠ KHỞI NGHĨA, thời cơ đảm bảo cho khởi nghĩa giành thắng lợi. Đó là: kẻ thù khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng; đa số quần chúng ủng hộ khởi nghĩa; tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa đã sẵn sàng hành động. TCKN chỉ xuất hiện khi các điều kiện khách quan và chủ quan chín muồi, có sự tác động kết hợp với nhau chặt chẽ. Chớp đúng thời cơ để khởi nghĩa thì thành công. Khởi nghĩa non (chưa có thời cơ), hoặc chậm khởi nghĩa (để lỡ thời cơ) thì sẽ thất bại. Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 của nhân dân VN là một điển hình của việc tạo thời cơ, nắm bắt TCKN. Vào thời điểm, phát xít Nhật và tay sai đã hoang mang tan rã; quần chúng lao động và tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về phía CM, gia nhập hoặc ủng hộ Mật trận Việt Minh; ĐCS Đông Dương đã trở thành đội tiên phong có đủ uy tín và năng lực lãnh đạo khởi nghĩa của cả dân tộc, ủy ban tổng khởi nghĩa đã kịp thời ra lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước (13.8.1945). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 12:09:52 am THỜI CƠ VẬN TẢI, thời cơ mà bộ đội vận tải có thể lợi dụng những điều kiện thuận lợi về cầu đường, thời tiết khí tượng - thủy văn, hoặc lợi dụng sơ hở của đối phương,... để đẩy mạnh vận chuyển. THỜI ĐẠI, khoảng thời gian lịch sử được phân kì theo trình độ phát triển về chất của xã hội loài người với những tiêu chí nhất định. Có nhiều cách phân chia TĐ. Theo nhân chủng học, có: mỏng muội, dã man, văn minh; theo kĩ thuật, có: đồ đá, đồ đồng, máy hơi nước...; theo trình độ văn minh, có: công nghiệp, nông nghiệp, hậu công nghiệp... Các cách phân chia trên phản ánh nhận thức phiến diện, sai lệch về bản chất của TĐ. Chủ nghĩa duy vật lịch sử, lí luận hình thái kinh tế- xã hội là cơ sở khoa học để xem xét TĐ; theo đó, hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành TĐ, còn TĐ phản ánh lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Đặc điểm, nội dung, bản chất, xu hướng của TĐ được quyết định bởi vai trò của giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của TĐ. TĐ ngày nay mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga (1917), có nội dung cơ bản là bước quá độ của loài người từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới, với giai cấp công nhân quốc tế là trung tâm. THỜI GIAN BAY LIÊN TỤC, khoảng thời gian từ khi máy bay cất cánh, hoạt động trên không, bay về hạ cánh an toàn. TGBLT được dùng làm cơ sở để giao nhiệm vụ cho các đơn vị không quân, phù hợp với tính năng chiến - kĩ thuật của từng loại máy bay. THỜI GIAN BAY TỐI ĐA, khoảng thời gian từ khi máy bay bắt đầu chạy đà cất cánh và làm việc liên tục với các tham số ổn định, không xuất hiện hỏng hóc đến khi hạ cánh chạy hết đà, với số lượng nhiên liệu được nạp tối đa (không tính lượng dầu tiếp trên không). TGBTĐ là thông số quan trọng để bố trí lực lượng cơ động chiến đấu, lập kế hoạch tác chiến không quân... TGBTĐ dược tính bằng giờ. THỜI GIAN CHIẾN DỊCH, khoảng thời gian cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch; một chỉ số của quy mô tác chiến. TGCD gồm thời gian của các đợt (bước, giai đoạn) chiến dịch, trong đó quan trọng nhất là xác định thời gian đánh trận đầu của chiến dịch, trận then chốt, trận then chốt quyết định và thời gian kết thúc chiến dịch. Tùy theo điều kiện cụ thể, TGCD có thể dài, ngắn khác nhau. THỜI HẠN PHỤC VỤ TẠI NGŨ, thời gian quy định sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trong các đơn vị thường trực của QĐ. Theo Luật sĩ quan QĐND VN và Luật nghĩa vụ quân sự, THPVTN đối với sĩ quan được quy định tương ứng với cấp quân hàm; đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong thời bình là 2 năm. đối với hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kĩ thuật do QĐ đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là 3 năm, đối với quân nhân chuyên nghiệp có thể phục vụ tại ngũ từng thời hạn, hoặc dài hạn đến 50 tuổi. THỜI KÌ ĐẨU CHIẾN TRANH, khoảng thời gian từ khi nổ ra chiến tranh đến khi kết thúc nhiệm vụ chiến lược trước mắt, chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo của kế hoạch tác chiến chiến lược của mỗi bên tham chiến. Trong TKĐCT, bên tiến công (phát động chiến tranh) thường phải đột phá hệ thống phòng thủ chiến lược của đối phương, đánh chiếm những mục tiêu và địa bàn chiến lược có lợi để làm bàn đạp phát triển tiến công, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược tiếp theo; bên bị tiến công thường phải thực hiện nhiệm vụ chặn đứng, hoặc làm chậm lại cuộc tiến công mở đầu chiến tranh của đối phương, giữ vững hoặc tạm thời giữ vững các mục tiêu và địa bàn chiến lược mà đối phương định đánh chiếm, bảo toàn lực lượng chiến lược, hoàn thành việc chuyển toàn bộ đất nước vào thời chiến... Cũng trong TKĐCT, các bên tham chiến đều tích cực tiến hành nhiệm vụ động viên và triển khai lực lượng mọi mặt để đáp ứng nhu cầu phát triển của chiến tranh. Kết quả chiến đấu của mỗi bên trong TKĐCT có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với diễn biến của các giai đoạn chiến tranh tiếp sau và chiều hướng, kết cục của toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong chiến tranh hiện đại có thể có cuộc chiến tranh không có TKĐCT. THU BỔN. sông ở Quảng Nam. Dài khoảng 200km, bắt nguồn từ phía bắc núi Ngọc Linh trên ranh giới Quảng Nam - Kon Tum. Thượng nguồn có tên Đắc Di, đoạn giữa có tên Sông Tranh, chảy theo hướng nam - bắc qua các huyện Trà Mi. Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn, Điện Bàn, đổ ra Biển Đông ở Cửa Đại (tx Hội An). Các chi lưu: Sông Cái, Sông Bung, chảy vào sông Vu Gia, nhập vào sông TB tại ranh giới hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc. Mùa lũ ngắn và muộn, thường từ tháng 10 đến tháng 12, trong đó tháng 11 là đỉnh lũ, còn lại là mùa cạn. THU CHẶN VÔ TUYẾN ĐIỆN nh THU NGANG VÔ TUYẾN ĐIỆN Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:06:15 am THU DUNG, gọi chung hoạt động đón nhận thương binh, bệnh binh, quân nhân lạc ngũ, rớt lại sau đội hình hành quân. Đơn vị hành quân tổ chức đội TD đi ở cuối đội hình: trong hành quân đường dài có nhiều chặng, thường tổ chức thêm các trạm TD đặt ở những vị trí nghỉ ngắn hoặc nghi dài. Các đội, trạm TD giúp đỡ những người được TD về y tế, vật chất, đưa trả họ về đơn vị hoặc đưa đến bệnh viện gần nhất. THU NGANG VÔ TUYẾN ĐIỆN, thu và ghi lại các bức điện tín của đối phương nhằm nắm tình hình, ý định tác chiến của họ. TNVTĐ thường do lực lượng chuyên trách sử dụng các máy thu chuyên dụng hoặc do lực lượng không chuyên trách sử dụng máy vô tuyến điện thông thường thực hiện. Cg thu chặn vô tuyến diện. THU SƠN (Nguyễn Văn Càng; 1919-98), tiểu đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22.12.1944). Dân tộc Tày, quê xã Hồng Việt, h. Hòa An, t. Cao Bằng: tham gia CM 1941. nhập ngũ 1944. trung tá (1958); đv ĐCS VN (1941). Sau khi tốt nghiệp Trường QS Hoàng Phố (TQ). về nước hoạt động vũ trang tại Cao Bằng. 22.12.1944 gia nhập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, giữ chức tiểu đội trưởng, tham gia trận Phai Khắt (25.12.1944), trận Nà Ngần (26.12.1944) và khởi nghĩa giành chính quyền tại Thái Nguyên (8.1945). Tháng 10.1945 chi đội trưởng Chi đội Thu Sơn (Bộ đội Nam tiến). 1946-48 trung đoàn trưởng các trung đoàn: 79 Phú Yên. 81 Ninh Bình Thuận. 210, 215 và 216 Quảng Ngãi (Liên khu 5). Năm 1951 tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Cao Bằng. 1953-60 chủ tịch UBND tỉnh kiêm tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tuyên Quang. 1961-70 chánh án Toà án nhân dân Khu tự trị Việt Bắc. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Kháng chiến hạng nhì... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67379346_460934704636415_475026921990651904_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeE_Sy-SMIbktj8CYWxVDRfLgN7dJa9_f4WvLNtkWnDY1920RZNhw9y5MgTe-LaLIG4CEiT-9eWLnCUA8zo_d9lTFfoYn8kxIbAzgQ3Qzbp4cw&_nc_oc=AQmXa2XVHC3LM-EH6gjXa2psplSh5cXuoxYf8vGxquFXvrk6byz7GKjSw9LKylUHhAs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=18a4bed7ea416efe8914e02ef9dbe8d5&oe=5DDCB7CE) THU THẬP TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, giai đoạn đầu của quá trình hoạt động thông tin khoa học quân sự, có nhiệm vụ thu thập đầy đủ, kịp thời, chính xác các tư liệu cần thiết, nhằm tạo lập và xây dựng kho tư liệu phù hợp với những đề tài của một cơ quan thông tin và đáp ứng yêu cầu của người dùng tin trong QĐ. THU THẬP TÌNH BÁO ĐỊCH TRÊN KHÔNG, thu nhận những tin tức về địch trên không từ hệ thống trinh sát rađa, vọng quan sát mắt và các nguồn trinh sát khác. Để TTTBĐTK có thể sử dụng tất cả các phương tiện thông tin liên lạc: hữu tuyến điện, vô tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, tải ba... Việc TTTBĐTK ngày càng được tự động hóa. Yêu cầu TTTBĐTK: nhanh chóng, kịp thời, chính xác, đầy đủ. Đé TTTBĐTK cần áp dụng các biện pháp chống nhiễu thông tin vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác. THU VỂ THANH LÍ, XỬ LÍ VẬT TƯ, TÀI SẢN QUỐC PHÒNG, toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lí vũ khí, trang bị, thiết bị, vật tư trong QĐ. Theo quy chế về xử lí vũ khí, trang bị, thiết bị, vật tư trong QĐ, đối tượng xử lí là toàn bộ số vũ khí, trang bị KTQS, trang thiết bị, vật tư từ mọi nguồn của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ đã được cấp có thấm quyền loại ra khỏi biên chế và dự trữ quốc phòng. Quyết định xử lí phải đúng quyền hạn và chỉ thực hiện khi đã có quyết định của cấp có thẩm quyển. Phương thức xử lí: điều chuyển, tháo gỡ chi tiết phụ tùng để cung cấp cho các hoạt động bảo đảm kĩ thuật, phục hồi, sửa chữa hoặc nhượng bán,... nhằm phục vụ sản xuất quốc phòng - kinh tế, nhưng đều phải quản lí chặt chẽ cà hiện vật và giá trị, tiết kiệm chi phí trong quá trình xử lí. Mọi khoản thu, chi về xử lí phải ghi chép vào sổ sách kế toán; số tiền thu được về xử lí vật tư, tài sản, sau khi trừ chi phí xử lí theo quy định, được sử dụng tập trung vào các nhiệm vụ quốc phòng như bổ sung cho bảo đảm kĩ thuật, xây dựng cơ bản, mua sắm trang bị, vật tư,... và phải có dự án cụ thể khi quyết định sử dụng. THỦ BIÊN, tỉnh cũ ở Đông Nam Bộ trong KCCP và KCCM. Tồn tại từ 5.1951 đến 4.1955 và từ 9.1960 đến 7.1961 do sáp nhập các tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. THỦ DẨU MỘT, tỉnh cũ ở Đông Nam Bộ. Thành lập 12.1899 trên cơ sở Sở tham biện TDM tách ra từ t. Biên Hòa cũ. 5.1951-4.1955 và 9.1960-7.1961 hợp nhất với t. Biên Hòa mới thành t. Thủ Biên. 10.1956 chính quyền Sài Gòn chia TDM thành các tỉnh Bình Dương. Bình Long và Phước Long. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:08:45 am THÚ ĐOẠN QUÂN SỰ, nghệ thuật sử dụng các hoạt động tác chiến để đạt mục đích QS. Mỗi hình thức tác chiến, mỗi quân chủng, binh chủng có TĐQS tương ứng. Khi lựa chọn TĐQS phải căn cứ vào: tính chất nhiệm vụ và quy mô tác chiến; lực lượng tiến hành; khả năng của mỗi bên tham chiến: điều kiện địa hình, thời tiết... TĐQS thường được sử dụng kết hợp với các thủ đoạn chính trị, kinh tế, ngoại giao... THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN, hoạt động tác chiến nhằm phá vỡ thế trận, làm giảm hoặc mất khả năng tác chiến của đối phương; tạo thế có lợi cho hoạt động tác chiến của ta. Mỗi quân chủng, binh chủng, lực lượng,... thường có TĐTC riêng. TĐTC của bộ đội binh chủng hợp thành thường là: đột phá. bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt, chốt chặn, luồn sâu, mật tập... TĐTC thường được vận dụng kết hợp với nhau, phù hợp với nhiệm vụ, ý định và tình huống tác chiến cụ thể. THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN đặc công, thủ đoạn tác chiến gồm: luồn sâu, luồn - thọc sâu (hai TĐTC cơ bản), đánh đồng loạt, đánh lần lượt, đánh từ trong ra, đánh từ ngoài vào. THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN pháo binh, thủ đoạn tác chiến được vận dụng trong pháo binh, gồm: tập kích đồng loạt, đánh bồi vào đối phương đang giải quyết hậu quả trận chiến đấu, đánh vào nơi hiểm yếu... Tùy theo tính chất, nhiệm vụ và ý định tác chiến cụ thể mà vận dụng các TĐTCpb cho phù hợp. Trong KCCM, TĐTCpb được sử dụng rộng rãi, có hiệu qua trong pháo binh ba thứ quân (trận tập kích kho đạn pháo trong thành Nguyễn Huệ (tx Tây Ninh), gây nổ dây chuyền, sát thương nhiều sĩ quan cao cấp Mĩ và QĐ Sài Gòn. THÙ ĐOẠN TRINH SÁT, hành động để thu tin tình báo cần thiết. Các TĐTS: quan sát, sục sạo, tiềm nhập, nghe trộm, hỏi cung lù binh, trinh sát cải trang, quay phim chụp ảnh, trinh sát rada, trinh sát bằng trận chiến đầu... Tùy tình hình, nhiệm vụ có thể vận dụng một hoặc nhiều TĐTS. THỦ PHÁO, vũ khí ném bằng tay có uy lực lớn hơn lựu đạn, dùng đánh các mục tiêu tương đối kiên cố như xe thiết giáp, xe tăng, hỏa điểm... TP có loại chế tạo riêng hoặc tự tạo. Thường gồm: bánh thuốc nổ, cơ cấu gây nổ. Cũng có thể dùng một quả lựu đạn bên ngoài có vỏ bọc (ống bơ, túi vải...) dược chèn chặt bằng thuốc nổ hoặc bó chập một chùm quà lựu đạn thành TP để tăng uy lực. TP thường trang bị cho bộ binh, đặc công, sử dụng trong đánh gần. THỦ TRƯỞNG, người chỉ huy cao nhất trong một cơ quan, đơn vị, nhà trường của QĐ; cấp trên của cán bộ. chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc quyền. Chịu trách nhiệm cá nhân trước Đảng và Nhà nước, trước người chỉ huy cấp trên, trước cấp ủy Đảng cấp mình về mọi mặt hoạt động của cơ quan, đơn vị, nhà trường. Trước 1980 các đơn vị từ cấp đại đội đến cấp quân khu, quân chủng và tương đương có hai TT: QS và chính trị. Từ 1980 thực hiện chế độ một người chỉ huy , mỗi đơn vị chi có một TT. Chức trách TT được quy định tại Điều lệnh quản lí bộ đội. THÚ BINH (cổ), quân phòng thủ vùng biên giới phía bắc dưới đời Lê Trung Hưng. Được đặt ra sau khi triều Mạc bị đánh đổ (1592) để đóng giữ và đánh dẹp tàn quân nhà Mạc ở Cao Bằng. Từ 1721. TB được bãi bỏ: các đồn TB được chuyển giao cho thổ trước binh. THUẪN, trang bị che đỡ cầm tay bằng gỗ tấm, da, mây tre hoặc kim loại, dùng để tránh sát thương do vũ khí lạnh (cung, nỏ, màu, kích. đao...). T có hình chữ nhật dài (dùng cho bộ binh), vuông (dùng cho xa binh), tròn (dùng cho kị binh); kết cấu hình khum, có trang trí sơn, vẽ (trên T gỗ, da), hoa văn (trên T kim loại). T kết hợp với giáp, trụ tạo ra bộ phòng hộ cá nhân liên hoàn. Loại T dùng cho nhiều người làm bằng ván gỗ, tre đan có lớp rơm trộn bùn phía trước (chủ yếu chống tên bắn từ xa), được quân Tây Sơn dùng có hiệu quả trong trận Ngọc Hồi (1789) (xt mộc, khiên). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67428272_460934717969747_1269056406678405120_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeFgpNH_u-hbZ1YD4oq3FwAkZvksnpVdTAsoLbwhsiKbws5NKuTUSN2bH9wlSIs5oQDiBgeMxxYG5SgZWRMlA9fXVtoogjd7xthnsONwGLJpsQ&_nc_oc=AQkdLRnqRCVO81VAHbzaMWWh9yvYijIpPn7fmHTw65f-_WGZSK0VHv-gNR9thEy01gk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=fafd9d7835829843a982d7ea5ed67184&oe=5DD49425) THUẬN HẢI, tỉnh cũ ở duyên hải Nam Trung Bộ. Tỉnh lị: tx Phan Thiết. Thành lập 2.1976 do sáp nhập các tỉnh Ninh Thuận. Bình Thuận và Bình Tuy. 4.1992 tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:09:58 am THUẬN YẾN (Đoàn Hữu Công; S. 1935), nhạc sĩ. Quê h. Duy Xuyên, t. Quảng Nam: tham gia CM 1949. nhập ngũ 1955. thượng tá (1991); đv ĐCS VN (1955). Gần 40 năm gán bó với QĐ. bám sát chiến trường (Tây Nguyên. Trị-Thiên), sáng tác hàng trăm ca khúc, trong đó có nhiều bài hát viết về đề tài Bác Hồ và LLVT, được bộ đội và nhân dân yêu thích. Tác phẩm tiêu biểu: “Mỗi bước ta đi” (1965), “Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc” (1969), “Bác Hồ một tình yêu bao la” (1979), “Đi trong hương tràm” (1983, thơ Hoài Vũ), “Miền Trung nhớ Bác” (1988), “Màu hoa đỏ” (1991, thơ Nguyễn Đức Mậu)... 1989-92 trưởng đoàn nghệ thuật Quân khu 2. Năm 1992 chuyển ngành sang Đài tiếng nói VN, phụ trách ban âm nhạc. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công hạng nhì, Lao động hạng ba, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67657597_460934741303078_378474060016779264_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHBrLaIxTTLNmYzAW26axv07ueSE-sdy3aAgf3o76anl0tONj1HRLt-gp_kzVH1uZnuz1yNxcBqLEq8CByjNiJ3RpWUZEIpsqyZWq0hXa9BBg&_nc_oc=AQmPN784_83SCY4aeeduaOUW3GIbTFoNqDTPP0tQFv2PZYXsTgw6j2Pr_a_2RPUotVY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=af7007b574eaed176fc86b9ee0cf58a9&oe=5DDD489D) THUẬT LÁI MÁY BAY, cách thức (phương pháp) lái (điều khiển) máy bay cất cánh, hạ cánh, bay lên, bay xuống, bay bằng, lượn vòng và nhào lộn. Trong cất cánh và hạ cánh có các kiểu: thông thường, bằng thiết bị đặc biệt, có thả dù trước khi máy bay chạm đất, có tắt bớt một vài động cơ (đối với máy bay có nhiều động cơ), tắt động cơ (đối với một số loại máy bay đặc biệt); trong nhào lộn có các kiểu: giản đơn, phức tạp và cao cấp (cg thuật nhào lộn). Theo số lượng máy bay có: thuật lái từng chiếc và thuật lái khi bay đội hình. Nắm vững TLMB là yêu cầu rất quan trọng đối với phi công. THUẬT NGỮ QUÂN SỰ, 1) từ hoặc cụm từ biểu đạt khái niệm QS; 2) toàn bộ TNQS nói chung, như một bộ phận của từ vựng QS. TNQS phán ánh trình độ phát triển tri thức QS. Được chính thức hóa trong các văn kiện QS, điều lệnh, điều lệ, từ điển... Trong QĐND VN, một phần TNQS được phản ảnh trong “Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự” (1985), “Từ điển kĩ thuật quân sự” (1990), “Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam” (1996, 2004) và một số từ điển đã xuất bản của các binh chủng. THUẬT NHÀO LỘN, phương pháp điều khiển phương tiện bay của phi công (tổ lái) thực hiện những loại hình cơ động trong không gian theo mặt phẳng ngang, mặt phẳng đứng và mặt phẳng nghiêng. Theo độ phức tạp, TNL được phân ra: nhào lộn đơn giản, nhào lộn phức tạp và nhào lộn cao cấp. Theo số lượng máy bay, có: nhào lộn chiếc lẻ và nhào lộn tốp (đội hình). Nhào lộn đơn giản, có: lượn vòng tròn, lượn vòng số 8, vòng uốn khúc, vòng xoắn, trượt cạnh, bổ nhào và vọt lên với góc dưới 45°. Nhào lộn phức tạp, có: lượn vòng chiến đấu, lộn xuống, lộn lên, khoan, thắt vòng đứng, thắt vòng nghiêng và các đường bay trong nhào lộn đơn giản nhưng được thực hiện trong nhóm bay với đội hình mật tập. Nhào lộn cao cấp. có: khoan chậm, khoan nhiều vòng, khoan xuống, khoan lên, thắt vòng số 8 đứng, thắt vòng đứng lộn lên và các đường bay trong nhào lộn phức tạp, nhưng được thực hiện trong đội hình nhóm bay. THUẬT PHÓNG, bộ môn khoa học nghiên cứu sự chuyển động của đạn. tên lửa không điều khiên, bom,... khi bắn (phóng, ném). Các phần chính: thuật phóng trong (nội phao) và thuật phóng ngoài (ngoại phao). Ngoài ra còn phân biệt TP thực nghiệm (nghiên cứu các quá trình thực xảy ra khi thuốc phóng cháy, khi đạn, tên lửa, bom,... hoặc mô hình của chúng chuyển động), TP đặc biệt (TP dưới nước, TP hàng không, TP sát thương - nghiên cứu chuyển động của đạn trong lòng mục tiêu...). TP là môn khoa học cơ sở để thiết kế vũ khí, thành lập bảng bắn, là cơ sở của lí thuyết bắn, nghiên cứu quy luật chuyển động của các vật thể khi không có lực và mômen điều khiển tác động (một số khí cụ bay vũ trụ, mảnh đạn...). Việc sử dụng máy tính điện tử vào TP đã làm giảm nhẹ các tính toán phức tạp của các bài toán thuật phóng. TP ra đời từ tk 16, nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về TP là N. Tactali (Italia) với các công trình “Khoa học mới” (1537), “Các vấn đề và phát minh về bắn pháo” (1546). Từ tk 17 đến nay những nhà khoa học đã có công phát triển TP là: Galilê, Toriseli, Mecxen. Niutơn, Becnuli, ơle, Maiepxki, Huyghen, Varinon, Đrôdôp, Dabutxki, Venxen, Pugachôp, Slukhôpxki, Robinxơ, Hetton... Ở VN, người đầu tiên vận dụng lí thuyết TP để tính toán thiết kế badôca (1946) là giáo sư Trần Đại Nghĩa. Sau đó TP được ứng dụng để tính toán thiết kế, cải tiến vũ khí, tính toán các bảng bắn cho một số loại vũ khí... Cg đạn đạo học. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:11:34 am THUẬT PHÓNG NGOÀI, bộ phận của thuật phóng nghiên cứu chuyển động của đạn (tên lửa) sau khi chấm dứt sự tương tác lực giữa nòng súng, pháo hay thiết bị phóng với chúng và những yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động này. TPN gồm các phần: nghiên cứu lực và mômen tác động vào đạn trên đường bay (với tên lửa trên đoạn tích cực của quỹ đạo còn kể cả lực đẩy của động cơ); nghiên cứu chuyển động của khối tâm của đạn để tính toán các phần tử của đường đạn (đường bay) và các chuyển động của đạn đối với khôi tâm của nó (tự quay, chương động, tiến động...) để xác định độ ổn định của đạn khi bay và những đặc tính tản mát; lí thuyết lượng sửa; nghiên cứu phương pháp thu nhận số liệu để lập bảng bắn; thiết kế TPN... Chuyển động của đạn trong những trường hợp đặc biệt (bắn từ trên không, trong nước, trong lòng mục tiêu...) được nghiên cứu trong các phần riêng của TPN như: thuật phóng hàng không, thuật phóng dưới nước, thuật phóng sát thương. THUẬT PHÓNG TRONG, bộ phận của thuật phóng nghiên cứu chuyển động của đạn trong nòng và các quá trình khác xảy ra trong lòng nòng khi bắn (đối với hỏa khí có nòng) hay các quá trình xẩy ra trong buồng đốt động cơ ở giai đoạn thuốc phóng cháy (đối với đạn phản lực, tên lửa). Có TPT của hỏa khí có nòng và TPT của tên lửa. Đối với hỏa khí có nòng, TPT nghiên cứu quá trình hắn theo bốn thời kì: thời kì sơ bộ - từ lúc thuốc phóng bắt đầu cháy tới lúc đạn bắt đầu chuyển động; thời kì thứ nhất - từ lúc đạn bắt đầu chuyển động tới lúc thuốc phóng cháy hết; thời kì thứ hai - từ lúc thuốc phóng cháy hết tới lúc đạn bay khỏi miệng nòng; thời kì tác động sau cùng của khí thuốc - từ lúc đạn bay khỏi miệng nòng tới khi hết tác động của khí thuốc vào đạn. Phần nghiên cứu thời kì tác động sau cùng còn có thể tách riêng, gọi là thuật phóng trung gian. Đối với tên lửa, TPT nghiên cứu quy luật cháy của nhiên liệu trong buồng đốt, sự thoát khí qua ống phụt, sự tạo lực đẩy... Các phần chính của TPT gồm: nhiệt tĩnh học (nghiên cứu quy luật cháy của thuốc phóng và sự tạo khí trong thể tích không đổi - với súng, pháo, hay trong thể tích nửa kín với áp suất không đổi - với tên lửa); nhiệt động học (nghiên cứu các quá trình xảy ra trong lòng nòng khi bắn hoặc trong buồng đốt khi phóng tèn lửa và mối quan hệ giữa chúng); thiết kế thuật phóng (xác định tham số kết cấu của súng, pháo, liều phóng, động cơ,... để đạt các tính năng cần thiết của vũ khí). TPT xuất hiện vào tk 16. Các nhà khoa học có công phát triển TPT: Rôbinxơ, Hetton, Becnuli, Ph. Đrôdôp, Ancuđrôvich. Khrischianôvich... Cg nội phao. THỤC PHÁN (?-179tcn), người gây dựng nước Âu Lạc. thủ lĩnh tộc người Âu Việt ở vùng núi phía bắc nước Văn Lang. Khoảng 208tcn, sau khi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần (214-208tcn) thắng lợi, TP hợp nhất tộc người Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc, lên ngôi vua. xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa, h. Đông Anh, tp Hà Nội). TP lo việc xây thành Cổ Loa (Loa Thành), sai Cao Lỗ chế nỏ và tên đồng để giữ nước. Khoảng 181tcn, lãnh đạo quân và dân Âu Lạc nhiều lần đánh thắng quân Triệu xâm lược, nhưng sau đó bị Triệu Đà dùng mưu lập thông gia để chia rẽ nội bộ và thôn tính Âu Lạc. 179tcn Loa Thành mất. Trên đường rút chạy, TP tự vẫn ở biển Đại Nha (x. kháng chiến chống Triệu, 181 -179tcn). Hiện còn đền thờ ở cổ Loa (Đông Anh) và ở núi Mộ Dạ (h. Diễn Châu, t. Nghệ An). THUỐC ĐEN (thuốc phóng có khói), hỗn hợp cơ học dạng hạt của nitrat kali, than gỗ và lưu huỳnh theo tỉ lệ nhất định (thường là 75:15:10). Đặc tính của TĐ: Q = 2.900 kJ/Kg; w=300 dm3/kg; T=2.400K, 5=l,5-l,9kg/dm3; /=0,3MJ/kg TĐ được người TQ tìm ra từ năm 682 và được ứng dụng làm vũ khí từ tk 10. Người châu Âu tìm ra TĐ từ tk 13, đến giữa tk 19 được sử dụng làm thuốc nổ phá duy nhất, từ cuối tk 19 dùng chế tạo dây cháy, liều châm lửa, liều tăng lửa, liều giữ chậm trong ngòi nổ, liều thuốc đẩy đạn súng săn. THUỐC NỔ, chế phẩm của chất nổ mà khi chịu tác động của những xung kích thích từ bên ngoài đủ mạnh thì thường nổ (mà ít cháy). Được phân loại theo: thành phần (đơn, hỗn hợp); trạng thái (lỏng, rắn, khí, dẻo); tính chất và công dụng (mồi, phá)... TN sử dụng để nhồi vào hạt lửa. bộ lửa đạn pháo, kíp nổ, đạn hỏa thuật, liều phóng các loại đạn dược,... hoặc dùng trong công nghiệp. THUỐC NỔ DẺO, thuốc nổ phá hỗn hợp (hêxôgen, tetrin) với các chất phụ gia làm dẻo; là loại thuốc nổ mạnh, đồng nhất và dễ biến dạng. Có các loại: TND đinamit (gồm nitrôglixêrin, hêxôgen hoặc pentrit...), TND C4 (gồm hêxôgen và xăng khô). Dùng làm lượng nổ cho đầu đạn xuyên phá và chế tạo lượng nổ có hình dạng theo yêu cầu. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:12:51 am THUỐC NỔ MỒI, thuốc nổ có độ nhạy cao với các xung kích thích ban đầu (va đập, cọ xát, đâm chọc, tia lửa điện...), dùng gây nổ các loại thuốc nổ kém nhạy hơn hoặc dùng làm mồi cháy thuốc phóng. TNM thường dùng là phuminat thủy ngân, axít chì, stipnat chỉ, tetrazen,... dưới dạng đơn chất hoặc hỗn hợp. Đặc trưng cơ bản của TNM là độ nhạy và khả năng kích nổ. Được dùng trong các phương tiện kích nổ như hạt lửa, kíp nổ, bộ lửa đạn pháo, các bộ tự hủy, liều phóng ghế thoát hiểm cho phi công... Cg thuốc mồi, thuốc kích nổ. THUỐC NỔ PHÁ, thuốc nổ kém nhạy với các xung kích thích ban đầu, có năng lượng nổ cao, tốc độ nổ lớn (đến 8.500m/s) và khả năng phá hủy mạnh, được dùng chủ yếu để phá hủy vật thể. TNP được đặc trưng bời nhiệt suất nổ, tốc độ nổ, độ dập vụn, độ phá... Theo thành phần kết cấu, có: TNP đơn (TNT, hêxôgen, tetrin, pentrit...) và TNP hỗn hợp (amonit, thuốc nổ thuần hóa, thuốc nổ dẻo, thuốc nổ có chứa kim loại...). Dùng để nhồi vào các loại đạn dược hoặc dùng trong công tác nổ... THUỐC PHÓNG, chế phẩm của chất nổ mà khi bị tác động bởi xung nhiệt (tia lửa) từ bên ngoài, thì thường cháy (ít nổ) theo quy luật từng lớp song song (không cần lấy ôxi từ bên ngoài), tạo nên một lượng khí lớn, để đẩy đầu đạn, tên lửa,... chuyển động hoặc dùng vào các mục đích khác. Sự cháy theo time lớp song song trong điếu kiện áp suất lớn của TP cho phép điều chỉnh tốc độ tạo khí. Theo lượng khói sinh ra, có: TP có khói (thuốc đen), TP không khói (ballistic, không phát lừa, coocđit, pirôcxilin); theo thành phần, có: TP đơn, TP hỗn hợp: theo bề mặt cháy, có: TP cháy tăng diện, TP cháy giảm diện... Các đặc trưng chủ yếu của TP: nhiệt suất nổ (Q); thể tích khí dược tạo thành khi đốt cháy 1kg TP(W); nhiệt độ khí (T) khi TP cháy trong điều kiện thể tích không đổi và không có tổn hao nhiệt; mật độ TP (d); “lực” TP(f) (công giãn nở tự do 1kg khí TP khi đốt nóng từ 0°C đến nhiệt độ cháy và áp suất 101,3 kN/m2). THUỐC PHÓNG KHÔNG KHÓI, thuốc phóng được chế tạo từ các nitrat xenlulô được hóa dẻo bằng các dung môi bay hơi hoặc khó bay hơi. Thành phần chủ yếu: nitrat xenlulô, dung mới hóa dẻo, chất an định hóa học và chất phụ gia. Sản phẩm cháy là các khí nhẹ và hơi, không tạo khói. Tùy theo phương pháp điều chế, có: thuốc phóng pirôcxilin (thuốc phóng một gốc) là pirôcxilin được hóa dẻo bởi dung môi bay hơi (cồn - ete); đặc tính: 0=2.900 3.800kJ/kg, w=900-1000dm3/kg, T=2.270-2.900K, d = l,55-l,58kg/dm3, f =0,9-1 MJ/kg; nhược điểm chính là các đặc tính không ổn định; dùng chế tạo liều phóng đạn súng bộ binh và pháo binh; được P. Viel (Pháp) tìm ra 1884. Thuốc phóng balistit (thuốc phóng hai gốc) là côlôcxilin được hóa dẻo bằng các dung môi khó bay hơi (nitrôglixêrin, điêtilenglicônđinitrát,...); đặc tính (đối với pháo/ đối với tên lửa): Q= 3.700/5.000 kJ/kg, W=750/560 dm3/kg, T= 2.550/2.790K; d = 1,56/1,65 kg/dm3, / = 1/1,2 MJ/kg. Ưu điểm: đặc tính ổn định, độ bền cao, ít hút ẩm...; nhược điểm: nguy hiểm trong chế tạo (do chứa nitrôglixêrin); dùng chế tạo liều phóng đạn pháo binh và nhiên liệu rắn của tên lửa; được A. Nôben (Thụy Điển) phát minh năm 1888. Thuốc phóng coocđit (thuốc phóng hai gốc) là pirôcxilin có hàm lượng nitơ cao, được hóa dẻo bằng dung môi hỗn hợp (nitrôglixérin và hỗn hợp cồn - ête); đặc tính: Q = 3550kJ/kg, w=990dm3/kg, T=2.90OK, d = 1,6 kg/dm3, / = 1 MJ/kg; nhược điểm gây bào mòn nòng; dùng làm liều phóng đạn pháo binh, tên lửa của các nước phương Tây; được tìm ra ở Anh năm 1890. Thuốc phóng không phát lửa, chứa các chất phụ gia đặc biệt (như: sunphat kali, vadơlin...) bảo đảm khi bắn không phát ra lừa và khói. THUỘC ĐỊA, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia bị một nước TBCN (ĐQCN) xâm chiếm, cai trị, áp bức, bóc lột và bị mất chủ quyền, phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc. TĐ hình thành từ khi CNTB ra đời, các cường quốc TBCN tiến hành xâm lược thôn tính để bành trướng, mở rộng thị trường. Đến thời kì ĐQCN, TĐ trở thành thị trường quan trọng cung cấp nguyên liệu, nhân công, đầu tư kiếm lợi nhuận và tiêu thụ hàng hóa,... của chính quốc; một số trở thành căn cứ quân sự của các nước đế quốc. Sau CTTG-II, để đối phó với phong trào giải phóng dân tộc, CNĐQ áp dụng chủ nghĩa thực dân mới, biến nhiều TĐ thành nửa thuộc địa. THỦY ĐỘI. tổ chức tương đương hải đội, bao gồm các tàu nhỏ hoạt động trên sông và ven biển; là các phân đội tàu chiến đấu đầu tiên của Hải quân nhân dân VN. 24.8.1955 thành lập hai TĐ Sông Lô và Bạch Đằng, gồm 26 ca nô chiến đấu để bảo vệ bờ biển miền Bắc VN. Ngày nay, thuật ngữ TĐ không còn sử dụng trong tổ chức lực lượng của Hải quân nhân dân VN. THỦY ĐỘNG LỰC HỌC, bộ phận của cơ học chất lỏng, nghiên cứu chuyển động của những chất lỏng không nén được và tác dụng tương hỗ của chúng lên vật thể rắn mà chúng tiếp xúc. Có: TĐLH chất lỏng lí tướng (bỏ qua ma sát nhớt) và TĐLH chất lỏng nhớt. TĐLH là cơ sở lí thuyết để thiết kế tàu thủy, tính toán tuabin thủy lực và bơm, các công trình thủy lợi và đường ống dẫn, nghiên cứu tính thấm của nước ngầm và dầu... Trong QS, dùng để tính toán thiết kế tàu nổi, tàu ngầm, ngư lôi, các hệ thống cấp nước dã chiến, cấp nhiên liệu cho động cơ, bôi trơn, làm mát và những thiết bị thủy lực khác trong nhiều trang bị KTQS. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:14:05 am THỦY LÔI. mìn của hải quân được bố trí trong nước để diệt mục tiêu dưới nước (tàu mặt nước, tàu ngầm...) hoặc cản trở việc cơ động của chúng. Gồm: thân (vỏ) hình cầu hoặc trụ. lượng thuốc nổ (thường hoặc hạt nhân), ngòi nổ. thiết bị đặt và giữ TL ở vị trí xác định trong nước... TL có thể được thả từ tàu mặt nước, tàu ngầm, khí cụ bay. Theo đặc điểm thả đặt, có: TL hàng không, TL neo, TL đáy, TL trôi, TL kéo theo, TL nổi phản lực, TL - ngư lôi. Theo nguyên lí hoạt động của ngòi nổ, có: TL tiếp xúc (sừng chạm, anten, điện - chạm nổ, va đập - cơ khí...), TL không tiếp xúc (âm thanh, từ trường, thủy động, cảm ứng hoặc kết hợp). TL hiện đại có đường kính 0,4-0,6m. dài l,7-4,5m, khối lượng 400-1.000kg, mang từ vài chục đến 600kg thuốc nổ thường hoặc lượng nổ hạt nhân (một TL đương lượng nổ 20kt có thể đánh chìm mọi loại tàu ở cự li 700m hoặc gây hư hại nặng ở cự li 1.400m cách tâm nổ). TL xuất hiện lần đầu tiên ở Nga 1769. Trong CTTG-I, khoáng 310 nghìn TL được dùng, đánh đắm 400 tàu chiến và 600 tàu buôn của các nước tham chiến. Trong CTTG-II horn 700 nghìn TL được dùng, đánh chìm 750 tàu Anh, Mĩ, 210 tàu Đức, 213 tàu Nhật... Trong chiến tranh ở VN, Mĩ dùng hàng ngàn TL phong tỏa vùng biển, phá hoại cầu trên sông; VN dùng nhiều loại TL: UĐM, AĐM, IAM, KPM, ĐM-1, KB. PĐM-1, PĐM-2, APS (TL tự tạo dùng ngòi thủy động),... diệt nhiều tàu đối phương. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67660459_460934764636409_3946790377670836224_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFQQ9BX4EtAAurqn9GlXg8fMcI6YtzlD-NhqBfCDMGhduv-4MR6C7zt58ShilFzcbQq85iuUt2eQXDYb1RIDh6C8hjxKsqblQhKdLZKfDHGVg&_nc_oc=AQmIuYt_l8DM9HEPXRUL7TWro_qwdwNWN1fkf4lsZnh-KCqDiojoiSJQXDwc0dedJiE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=59ed11cca170fa528e52fafad766fc0a&oe=5DA34741) THỦY LÔI ĐÁY (thủy lôi chìm), thủy lôi không tiếp xúc, được đặt ở đáy biển, thường ở độ sâu nhỏ hơn 50-70m để tiêu diệt tàu mặt nước và tàu ngầm (khi ở độ sâu hàng trâm mét). Ngòi nổ của TLĐ hoạt động dưới tác dụng của một số trường vật lí (âm thanh, áp suất, từ trường hoặc kết hợp giữa chúng) do tàu mục tiêu gây ra. TLĐ đầu tiên do Đ. Busơnen (Mĩ) chế tạo 1775-76 và được hải quân các nước sử dụng trong hầu hết các cuộc chiến tranh trên biển. Trong CTTG-II. Nga đã chế tạo và sử dụng TLĐ tương đối hiện đại với ngòi cảm ứng từ AMD-1 và ngòi âm thanh kết hợp cảm ứng từ AMĐ-2. Trong chiến tranh VN, hải quân Mĩ sử dụng các TLĐ MK-50, MK- 52 (dài l,52m, đường kính 430mm. khối lượng toàn bộ 516kg; thuốc nổ 300kg, có cơ cấu định giờ, định lần rất phức tạp; cơ cấu gây nổ tự hủy từ 1 đến 145 ngày, thời gian phong tỏa có hiệu lực đến 5 tháng; bán kính sát thương 60m; ngòi nổ âm thanh - cảm ứng từ; độ sâu thả: 4-45m), MK-63. Hải quân VN đã cải tiến TLĐ AMĐ-2-500 và AMD-2-1000 thành TLĐ HAT-2, kết hợp với ngành công nghiệp quốc phòng chế tạo TLĐ APS. Các TLĐ này đã được sử dụng trên sông Cửa Việt và tiêu diệt được nhiều tàu địch. Ngày nay, TLĐ vẫn được hải quân các nước phát triển theo hướng tinh vi hơn và hiệu quả chiến đấu cao hơn, có ngòi nổ phức tạp, thậm chí có thể điều khiển từ xa. định lần, định giờ, chống tháo gỡ... THỦY LÔI HÀNG KHÔNG, thủy lôi được thả từ khí cụ bay. Có thể là thủy lôi đáy, thủy lôi neo hoặc thủy lôi trôi, được trang bị các bộ ổn định và dù bảo đảm rơi ổn định. Được không quân Anh. Mĩ sử dụng từ CTTG-II. Trong chiến tranh VN, không quân của hải quân Mĩ đã thả ở các cứa sông, vùng biển trọng điểm của miền Bắc VN hàng ngàn TLHK. THỦY LÔI KÉO. thủy lôi tiếp xúc, cả lượng thuốc nổ và ngòi nổ được đặt trong một thân vỏ có dạng thủy động học, có dây nối để kéo theo tàu ở một độ sâu định trước. Được sử dụng lần đầu trong chiến tranh Nga - Thổ (1877-78). Trong CTTG-I được dùng chủ yếu để tiêu diệt tàu ngầm. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:15:42 am THỦY LÔI NEO, thủy lôi có sức nổi dương, được giữ ở độ sâu nhất định trong nước nhờ hệ thống dây cáp hoặc xích neo nối với đế (bệ) neo nằm ở đáy biển (sông). Sử dụng ngòi nổ tiếp xúc, không tiếp xúc, hoặc kết hợp. TLN thường được thả từ phương tiện thả qua hệ thống ray. Đế neo TLN có các bánh xe trượt để trượt theo hệ thống ray. Khi đế neo tiếp xúc với đáy biển (sông), nhờ cơ cấu đặc biệt, thủy lôi tách khỏi đế (nhưng vẫn nối với đế bàng xích neo) nổi lên vị trí chiến đấu xác định trong nước. TLN chạm nổ (tiếp xúc) đầu tiên do viện sĩ Nga B. Iacôbi chế tạo từ 1840. Trong chiến tranh Nga - Thổ (1877-78), Nga đã sử dụng nhiều loại TLN có khối lượng thuốc nổ 40-50kg. Năm 1908 xuất hiện TLN có khả năng tự định được độ sâu xác định. Trong CTTG-II, xuất hiện TLN có ngòi nổ không tiếp xúc và tiếp xúc (KB) hiện đại hơn, tự động định được độ sâu cần thiết. TLN được hải quân các nước tham gia chiến tranh sử dụng rộng rãi, kết hợp với các loại thủy lôi khác trong CTTG-I và CTTG-II. Trong chiến tranh Vùng Vịnh, 1990-91, Irắc đã thả nhiều TLN trong số trên 1 triệu thủy lôi các loại, tạo thành hệ thống chướng ngại thủy lôi, gây khó khăn cho hoạt động QS trên biển của Mĩ và liên quân. Ngày nay TLN phát triển theo hướng đa năng, dễ dàng thả hoặc phóng đi từ các phương tiện mang, tăng bán kính sát thương và tăng sức công phá mục tiêu. THỦY LÔI - NGƯ LÔI, thủy lôi đáy có thùng chứa một ngư lôi tự dẫn hoặc lắp động cơ ngư lôi ở phía sau. Khi có tín hiệu tàu thuyền đến gần, TL-NL sẽ tự động mở nắp thùng chứa, khởi động ngư lôi lao đến mục tiêu hoặc động cơ ngư lôi làm việc và đẩy TL-NL đến mục tiêu. TL-NL MK-60 (Captow) của hải quân Mĩ chứa ngư lôi tự dẫn âm thanh MK-46. Khi có trường âm thanh mục tiêu (tàu) tác động, nắp thùng chứa tự động mở và ngư lôi MK-46 phóng đến tiêu diệt mục tiêu. TL-NL MĐC của Nga (dài 7,9m, nặng 1.380kg, đường kính 534mm, bán kính sát thương 50m) lắp ngòi nổ không tiếp xúc, có động cơ đẩy phía sau, được thả từ máy bay chuyên dụng hoặc phóng từ ống phóng lôi trên tàu mặt nước hay tàu ngầm để diệt tàu ngầm, tàu mặt nước ở biển xa, đại dương. Khi phát hiện mục tiêu, động cơ làm việc và đẩy TL-NL đến phá hủy mục tiêu. THỦY LÔI TRÔI (thủy lôi nổi), thủy lôi không có thiết bị neo, được giữ nổi ở độ sâu xác định trong nước nhờ thiết bị đặc biệt (thiết bị thủy tĩnh và các vây ổn định), có thể di chuyển vị trí do tác động của sóng gió, dòng chảy, thủy triều... Xuất hiện đầu tiên 1769 ở Nga (là loại được điểm hỏa bằng nguồn điện từ trên bờ). Công ước quốc tế La Hay (1907) cấm sử dụng TLT (trừ khi chúng được xác định là vô hại), nhưng một số nước vẫn sản xuất, tàng trữ và sử dụng bất chấp luật pháp quốc tế. TLT được tiếp tục sử dụng trong chiến tranh Nga - Nhật, CTTG-I, CTTG-II, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91). Mĩ mới sản xuất TLT kiểu bát giác, khối lượng toàn bộ 1.500kg, lượng thuốc nổ 200kg. nổ định giờ, đầu nổ tự điều khiển hoặc điều khiển từ xa. THỦY LÔI TỰ HÀNH (ngư lôi - thủy lôi), thủy lôi có thể tự di chuyển sau khi được thả xuống nước nhờ hệ thống đẩy (gồm động cơ và chân vịt) tới vị trí xác định để sẵn sàng tiêu diệt mục tiêu. Cự li di chuyển có thể tới hàng chục kilômét (TLTH kiểu MK-67 của Mĩ tự di chuyển đến 20km). THỦY PHI CƠ, máy bay có khả năng cất và hạ cánh trên mặt nước. Có: TPC thân thuyền (cg thuyền bay), TPC thân phao (phao dạng điếu xì gà) và TPC lưỡng dụng (TPC thân thuyền có cơ cấu càng, bánh xe để cất, hạ cánh trên mặt đất hoặc trên tàu, có khả năng bơi trên nước). Động cơ của TPC đặt cách xa mặt nước để tránh nước vãng vào hệ thống hút khí và cánh quạt: vật liệu thân thuyền và thân phao nhẹ, không thấm nước. Các thông số kĩ thuật bay của TPC thấp hơn so với máy bay bình thường. TPC dân sự dùng nghiên cứu khoa học, liên lạc và cứu hộ trên biển. TPC QS chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát mặt biển, tìm diệt tàu ngầm và tàu mặt nước đối phương, liên lạc giữa các tàu và đoàn tàu hộ tống... TPC được nghiên cứu và sản xuất ở các nước Nga (1911), Mĩ, Anh, Pháp, Đức. Nhật. Italia và được sử dụng rộng rãi trong CTTG-II. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67831983_460934771303075_6517004910469316608_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeE7gwQVW4SCvGA7nSHBw0kuBj0z_KpsoKvMyKAD1RPu8aaK29u2Tvzpcd7yziCZ--LB_ZkEorTpzU1NFyAbob195KLOlKdXf_N6i6B7v7Miiw&_nc_oc=AQklI5BGyQeT-ao8qb0LlnAXZarpnL1B2-pIvRGOE5GpgM-U8GnMgEEWh-MgNX3BXXw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=18682f77a89028dd0a62af7c1c2c9133&oe=5DE08130) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:17:15 am THỦY QUÂN (thủy binh: cổ), quân có khả năng tiến hành các hoạt động chiến đấu trên sông và vùng biển gần bờ, được trang bị tàu, thuyền mặt nước. Ở VN, TQ có từ thời các vua Hùng dựng nước; đã lập nhiều chiến công hiển hách, tiêu biểu là trận Bạch Đằng (938) trong kháng chiến chống Nam Hán lần II (938), trận Bạch Đằng (1288) trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III (1287-88), trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1785)... THỦY QUÂN LỤC CHIẾN nh HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ THỦY SƯ ĐÔ ĐỐC nh ĐÔ ĐỐC HẠM ĐỘI THỦY TRIỀU, hiện tượng dao động tuần hoàn mực nước biển dưới tác dụng lực hút của Mặt Trăng và Mặt Trời. Khi mực nước biên dâng lên cao nhất gọi là nước cường, khi rút xuống thấp nhất là nước ròng. Thông thường thủy triều diễn ra hai chu kì trong một ngày đêm (chế độ bán nhật triều), song cũng có nơi chỉ có một chu kì (chế độ nhật triều). Biên độ dao động đạt giá trị lớn nhất khi Mặt Trăng và Mặt Trời cùng nằm trong một mặt phẳng kinh tuyến Trái Đất, nhỏ nhất khi Mặt Trăng và Mặt Trời nằm trong hai mặt phảng kinh tuyến vuông góc với nhau. THỦY VĂN HỌC, khoa học về sự tồn tại và các quá trình, hiện tượng vận động của nước tự nhiên trên Trái Đất, quy luật tác động và quan hệ tương hỗ của nó với môi trường tự nhiên và hoạt động xã hội của con người. Theo đối tượng nghiên cứu (loại nguồn nước), TVH chia thành ba phân ngành lớn: TVH đại dương (thủy văn biển), TVH lục địa (thủy văn về nước trên mặt đất) và địa chất thủy văn (thủy văn nước ngầm). Ba lĩnh vực trên đều liên quan mật thiết đến các hoạt động QS. Các số liệu thủy văn biển được sử dụng trong bảo đảm huấn luyện và tác chiến của hải quân. Các số liệu của TVH lục địa đặc biệt cần thiết cho lục quân trong tác chiến hèn quan đến việc vượt các chướng ngại nước. Các số liệu về địa chất thủy văn được sử dụng trong việc xây dựng các công trình ngầm QS cũng như việc khai thác các nguồn nước phục vụ cho hoạt động QS và đời sống bộ đội. THỤY ĐIỂN (Vương quốc Thụy Điển; Konungariket Sverige, A. Kingdom of Sweden), quốc gia ở Bắc Âu, trên bán đảo Xcăngđinayơ. Dt 449.964km2; ds 8,878 triệu người (2003); 96% người Thụy Điển, 4% người Phần Lan, Đan Mạch, La Pon, Na Uy... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Thụy Điển. Tôn giáo: dòng Luthơ (94%). Thủ đô: Xtôckhôm. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phía bắc và phía tây là dãy núi Xcăngđinavơ, đỉnh Kepnêcâyse 2.117m (cao nhất TĐ). Phần lớn lãnh thổ còn lại là cao nguyên và đồng bằng. Vùng Svilan ở trung tâm có nhiều hồ. Phía nam là vùng đồng bằng màu mỡ Scanne. Nhiều sông chảy xiết. Rừng che phủ 57% diện tích. Nước công nghiệp phát triển cao, nông nghiệp thâm canh. Các ngành công nghiệp chủ yếu: chế tạo máy, đóng tàu, điện tử, công nghiệp xenlulô - giấy, chế biến gỗ, luyện kim, khai thác mỏ (sắt, uran), hóa chất, thực phẩm, dệt. Công nghiệp QS sản xuất vũ khí pháo binh, tên lửa, vật liệu nổ, kĩ thuật tăng thiết giáp và không quân, tàu chiến. Xuất khẩu vũ khí. Nông nghiệp đảm bảo cung cấp 90% nhu cầu trong nước, ngành nông nghiệp chính là chăn nuôi; trồng lúa mạch, củ cải đường, khoai tây... GDP 209,814 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 23.590 USD. Thi hành chính sách trung lập, chủ trương biến Bắc Âu thành khu vực không có vũ khí hạt nhân. Thành viên LHQ (19.11.1946), Liên minh châu Âu (EU), Hội đồng Bắc Âu. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.1.1969. LLVT: lực lượng thường trực 33.900 người (lục quân 19.100. hải quân 7.100, không quân 7.700), lực lượng dự bị 262.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 280 xe tăng, 1.327 xe chiến đấu bộ binh. 650 xe thiết giáp chở quân, 180 pháo mặt đất, 759 súng cối, 57 tên lửa chống tăng, 600 pháo phòng không, tên lửa phòng không, 7 tàu ngầm, 20 tàu tên lửa, 25 tàu tuần tiễu, 2 tàu rải mìn, 23 tàu quét mìn, 23 tàu hộ tống, 203 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 4,5 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67620706_460934787969740_576154692933910528_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeERAo91jI-WfHpT7qL_mdtB9_t4zmIDzW1gOnt9cJWwPtPttnBKC8OkC8F4z412gAzX_A2GrrGIjoY8AP9qJ7xp0kDVlb0Z7mYOkuwsogiFxA&_nc_oc=AQmrmGp81IDWdQ-3uW_LKgPXplYqV2C50KN8F0DlhBhWzFFSIxcaXqHMec7rI9CN6KA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=a02d6f217afc3cad9c5b2a4cc5657e13&oe=5DAB8134) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:18:24 am THỤY SĨ (Liên bang Thụy Sĩ; Đ. Schweiz, Schweizerische Eidgenossenschaft, P. Confederation Suisse; A. Switzerland, Swiss Confederation), quốc gia ở Trung Âu. Dt 41.284km2; ds 7,3 triệu người (2003); 65% người Đức, 18% Pháp, 10% Italia, 1% Roman. 6% người các dân tộc khác. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức. Pháp. Italia. Tôn giáo: 48% đạo Thiên Chúa, 44% dạo Tin Lành. 3% các tôn giáo khác. Thủ đô: Becnơ. Chính thể cộng hòa liên bang theo chế độ dân chủ đại nghị, gồm 26 bang; đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống liên hang, do quốc hội bầu ra trong số quốc vụ khanh, nhiệm kì một năm. Cơ quan lập pháp tối cao: quốc hội liên bang gồm hai hội đồng: viện dân tộc và viện liên bang. Cơ quan hành pháp tối cao: hội đồng liên bang (chính phủ). Phần lớn lãnh thổ thuộc hệ thống núi Anpơ, có đỉnh cao 4.634m. Trung tâm là cao nguyên. Các sông chính: Sông Ranh, Rôn... Nhiều hồ lớn: hồ Giưnevơ, Bôđenơ... Nước công nghiệp phát triển, một trong những trung tâm tài chính và ngân hàng quan trọng của thế giới. Các ngành công nghiệp chính: chế tạo máy, gia công kim loại, hóa chất thực phẩm, dược phẩm, đồng hồ, năng lượng (thủy điện) dệt, may mặc, chế biến gỗ. Nông nghiệp cung cấp 60% nhu cầu trong nước. Các sản phẩm nông nghiệp chính: ngũ cốc, rau quả, củ cải đường, nho, bơ sữa, cỏ khỏ cho gia súc. Ngành du lịch và tiền thuế thu từ các tổ chức quốc tế đóng trụ sở tại TS thu hút được nhiều ngoại tệ. GDP 247,1 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 34.170 USD. Thành viên LHQ (10.9.2002), Hội đồng châu Âu, Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.10.1971. LLVT: lực lượng thường trực (chỉ có khung thường trực) 3.500 người, lực lượng dự bị 351.000; lực lượng khi động viên: lục quân 320.400, không quân 30.600. Trang bị: 556 xe tăng. 435 xe chiến đấu bộ binh, 319 xe thiết giáp trinh sát, 1.257 xe thiết giáp chờ quân, 558 pháo mặt đất, 1.890 súng cối, 3.063 tên lửa chống tăng, tên lửa phòng không Xtingơ, 138 máy bay chiến đấu (F-5, Miragiơ...), 60 máy bay trực thăng. Ngân sách quốc phòng 3,3 ti USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67535024_460934807969738_2856260303899852800_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeEktf0uZYgLG1e2nVCnjQxlk3Yye9MGNJe71cGAY_SApSMjQuhEITW8bqUIGD55sGderXoAmmBb9-okcLvTUJWLY6SWFPv_gaUs6aVALEHaOQ&_nc_oc=AQnoQz2V1__LqiMOL7bzOIy47afu6xBC_Rf9dsx1GftWQJmAfpBrFkHk1AUtrZ1Qqes&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7706091d55cb3d8889f8a0f1aa3d797d&oe=5DA3CE02) THUYỀN (cổ), đơn vị tổ chức cơ bản của thủy quân QĐ các triều đại phong kiến Hậu Lê, Nguyễn và Tây Sơn ở VN, gắn với một loại chiến thuyền. Tùy theo kích thước, kết cấu, chức năng của từng loại chiến thuyền, T có quân số biên chế khác nhau, vd: khoảng 50 người (thời Lê Sơ, 1428-1527); 20-86 người thời nội chiến Trịnh - Nguyễn (1627-72)... Các T dùng để trực tiếp chiến đấu, ngoài quân số trực tiếp sử dụng chiến thuyền, còn có thể được biên chế (hoặc chở theo) quân chiến đấu. Vd: thời Tây Sơn, một số T có 16-60 đại bác, quân số 200-700 người... Thông thường, khoảng 4-5 T hợp lại thành 1 cơ, đội (hoặc vệ) thủy quân. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68534615_460934801303072_1784509497889259520_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeE5NOaHSMRypNc_Aacf4m_fPNx4D3rF9y1NqJ21I5CTqhGLbGkiu76YhdcVbf07ezl2O6r-uOrSNXwug1ZZ-dQf-WptCK6KpLwu8JtdEYYl6Q&_nc_oc=AQnafOjoyJ3iiIzMlK-kWMJhq6wHLVmJP1MouKDncBaZ3vBkPq5yO0147xo3zW4I_h4&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a733ae8638d83e0c34bce1985d06cde9&oe=5DE12B81) THUYỀN LƯỠNG PHÚC (cổ), chiến thuyên cổ hạng trung (vừa), hai đáy (bụng); đáy trên chở lương thực, vũ khí hoặc lính chiến đấu; đáy dưới dành riêng cho phu chèo thuyền, chủ yếu dùng để vận tải. TLP đóng bằng gỗ, liên kết bằng đinh sắt, có buồm và nhiều mái chèo. Xuất hiện ở VN thời nhà Hồ (đóng lần đầu tiên 1403-04). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:19:22 am THUYỀN MẪU TỬ, chiến thuyền cổ có cấu tạo hai thuyền lồng vào nhau và có thể tách rời nhau, chuyên dùng đánh hòa công. Thuyền ngoài (thuyền mẹ) dài khoảng 3 trượng 5 thước (12m), trong khoang chứa cỏ, củi, thuốc súng; đầu mũi cắm các đinh lớn. nhọn bằng sắt. Thuyền trong (thuyền con) là chiến thuyền nhỏ. Khi chiến đấu, TMT lao mạnh và cấm chặt các đinh đầu mũi vào mạn thuyền đối phương, thủy binh chàm lửa đốt thuyền mẹ. Thuyền con được tách ra khỏi thuyền mẹ, rút lui hoặc tiếp tục chiến đấu như một chiến thuyền thông thường. Lửa bắt vào cỏ, củi, thuốc nổ rồi lan sang và làm nổ tung thuyền đối phương. Chế tạo lần đầu ở VN vào thời Lí (tk 12). THUYỀN MÔNG ĐỒNG. chiến thuyên cổ hạng trung, vỏ bọc đồng để tăng độ bền và chống tên, đạn của đối phương. Dài khoảng 20m. rộng gần 4m; có 32 tay chèo. TMĐ chờ được 25 lính chiến và trang bị, cơ động nhanh. Xuất hiện ở VN khá sớm (807-809). Thời nhà Ngô (931), tướng Dương Đình Nghệ đã sử dụng TMĐ trong các trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược. THUYỀN TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy cao nhất của một tàu (thuyền) ở nhiều nước. TT hải quân VN có chức trách, nhiệm vụ như quy định trong Điều lệnh quản lí bộ đội (1991) và Điều lệnh tàu của BTL hải quân (1983). Chức danh của TT (diện bố trí, trần quân hàm, tiêu chuẩn...) theo quy định của BQP. THUYẾT CHỦNG TỘC VỀ CHIẾN TRANH, thuyết coi nguồn gốc chiến tranh là sự cạnh tranh sinh tồn; cơ sở tư tưởng của chú nghĩa sôvanh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa phát xít. Xuất hiện từ tk 19. Theo TCTVCT, loài người vốn sinh ra đã có những chủng tộc “thượng đảng” và “hạ đẳng”, cuộc đấu tranh giữa hai chùng tộc ấy là “tự nhiên”, “không tránh khỏi” và “là động lực thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển”, chủng tộc “thượng đẳng" nhất định chiến thắng và có “quyền chính đáng” thống trị, nô dịch, thậm chí tiêu diệt chủng tộc “hạ đẳng”. TCTVCT xuyên tạc nguồn gốc, bản chất của chiến tranh. Ngày nay, CNĐQ và các thể lực thù địch phản động dựa vào TCTVCT để kích động các cuộc xung đột trên thế giới. THUYẾT ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, thuyết chính trị - xã hội về việc thiết lập hệ thống chính trị trong đó có nhiều đàng phái chính trị với những xu hướng và ý đồ chính trị khác nhau, đối lập nhau được tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhằm tranh giành quyền thống trị xã hội. Cơ sở triết học của TĐNCT là thuyết đa nguyên luận cho ràng: tất cả những cái hiện tồn được tạo thành bởi nhiều đơn nguyên có bản chất cô lập, ngang nhau, không thể quy thành một khởi nguyên duy nhất: phủ định tính thống nhất, mối liên hệ nội tại và tính quy luật vận động khách quan của thế giới vật chất. Trong địa hạt chính trị, TĐNCT thuộc hệ tư tưởng tư sản, lúc đầu nhằm chống độc quyền chân lí của hệ tư tưởng phong kiến và giáo hội, đề cao tư tưởng tự do. bình đảng, bảo vệ quyền tồn tại của các cá nhân và các lực lượng chính trị khác nhau trong xã hội. Đến giai đoạn CNĐQ. TĐNCT trở thành công cụ và phương pháp thống trị của CNTB nhằm tô vẽ, bảo vệ chế độ dân chủ tư sàn và quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Khi CNXH hiện thực ra đời, TĐNCT là công cụ. thủ đoạn của CNTB hiện đại. của các thế lực phản động đồng thời cũng là quan điểm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa xã hội dân chủ nhằm xuyên tạc. chống phá chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của ĐCS, nguyên tắc tập trung dân chủ, tính thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội XHCN và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tiến tới xóa bỏ CNXH. Cùng với việc phê phán, bác bỏ TĐNCT, các ĐCS cầm quyền và nhà nước XHCN cần không ngừng hoàn thiện nền dân chú XHCN, thực hiện dầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động. THUYẾT ĐACUYN XÃ HỘI. khuynh hướng tư tưởng xã hội học tư sàn cuối tk 19 đầu tk 20, áp dụng máy móc thuyết tiến hóa của Đacuyn vào xã hội, luận giải quá trình phát triển xã hội giống sự tiến hóa của sinh vật. TĐXH coi các nguyên tác sinh vật học về chọn lọc tự nhiên, về đấu tranh sinh tồn là nguyên tắc quyết định của xã hội loài người; coi đấu tranh giai cấp, chiến tranh là lẽ “tự nhiên” và “không tránh khỏi” của mọi xã hội. Được sử dụng làm cơ sở lí luận biện hộ cho sự tồn tại của xã hội tư bản, sự thống trị của giai cấp tư sản, ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bành trướng... Thực chất TĐXH phủ nhận hệ tư tưởng Mác - Lênin, xuyên tạc lí luận hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết giai cấp, đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, che giấu nguồn gốc chiến tranh là CNĐQ và giai cấp bóc lột. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:20:07 am THUYẾT ĐẠI ĐÔNG Á, thuyết chủ trương liên kết các nước khu vực Đỏng Á thành một khối Đại Đông Á thịnh vương chung, đứng đầu là Nhật Bán, do chủ nghĩa quân phiệt Nhật đề xướng 1940. TĐĐA phản ánh mưu đồ thôn tính và thống trị của Nhật đối với các nước Đông Á, biến khu vực này thành thuộc địa của Nhật để 'khai thác các nguồn lực phục vụ mưu đồ xâm lược trong CTTG-II. Sau khi đánh chiếm Triều Tiên, Mãn Châu...(vào những năm 30 của tk 20), Nhật đưa ra TĐĐA nhằm tiếp tục thôn tính các nước khác (tấn công căn cứ Trân Châu Cảng, quân đảo Guam, đổ bộ vào Hồng Công, Philippin. Đông Dương, bán đảo Malacca), mở rộng thuộc địa rộng 8 triệu km2 với 450 triệu dân. Trong cuộc chiến tranh xâm lược các nước Đông Á, Nhật đã vấp phải sự kháng cự của các nước trong khu vực và trước sự tiến công của QĐ LX và Đồng minh. Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Với thời cơ thuận lợi đó, nhân dân các nước Đông Á đã vùng lên đánh đuổi quân Nhật ra khỏi đất nước mình, trong đó nhân dân VN đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, giành chính quyền từ tay Nhật. TĐĐA sụp đổ cùng với sự thất bại hoàn toàn của phát xít Nhật trong CTTG-II. THUYẾT ĐỊA CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN TRANH, thuyết tư sàn về nguồn gốc chiến tranh, xuất hiện phổ biến ở châu Âu và Mĩ vào cuối tk 19 đầu tk 20, do Ratxen (nhà địa lí Đức), Senlen (nhà địa lí Thụy Điển), Măckinđơ (nhà địa lí Anh), Mahan (nhà tư tưởng QS Mĩ)... đề xướng. Nội dung cơ bản: coi điều kiện địa lí là yếu tố quyết định tính chất, khuynh hướng đường lối đối ngoại, sự phát triển của một nước và là nguyên nhân chiến tranh để giải quyết vấn đề “không gian sinh tồn”. Cùng với thuyết Đacuyn xã hội và một số thuyết khác, TĐCTVCT được sử dụng làm cơ sở lí luận biện hộ cho hành động gây chiến tranh xâm lược của CNĐQ, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa hành trướng và các thế lực hiếu chiến, phản động. THUYẾT ĐOMINÔ. thuyết về sự sụp đổ theo phản ứng dây chuyền của hệ thống các nước có chế độ chính trị giống nhau nếu một nước trong hệ thống đó bị sụp đổ (giống sự sụp đổ của hàng quân cờ Đôminô xếp dựng đứng khi thúc đổ quân đầu tiên). Do tổng thống Mĩ Truman đề xuất (1946), nhằm biện bạch cho việc Mĩ viện trợ QS cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì để giữ vùng Trung Đông trong vòng ảnh hưởng của Mĩ. Dựa vào TĐ. 2.1950 Hội đồng an ninh quòc gia Mĩ đã quyết định viện trợ QS cho Pháp ở Đống Dương và 1954 Aixenhao đã chuẩn bị cho việc Mĩ can thiệp vào VN khi quân Pháp bị vây hãm trong chiến dịch Điện Biên Phủ với lí do nếu để mất VN sẽ mất cả Đông Nam Á. TĐ trở thành cơ sở cho chính sách leo thang chiến tranh của đế quốc Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN. THUYẾT MANTUYT. thuyết về sự hạn chế phát triển dân số bằng chiến tranh, dịch bệnh, hạn chế sinh đẻ nhằm tránh tình trạng đới nghèo, do Mantuyt (1766-1834) đề xướng. TM đã chi ra nguy cơ và tác hại của việc gia tăng dân số quá mức và sự cần thiết phải giữ được sự cân bàng tương đối giữa gia tăng dân số và gia tăng sản xuất, cung ứng tư liệu sinh hoạt. Theo TM nguyên nhân chính của đói nghèo là việc gia tăng dân số nhanh hơn nhiều (cấp số nhân) so với việc gia tăng tư liệu sinh hoạt (cấp số cộng). TM chi xem xét vấn đề dân số trên bình diện tự nhiên, coi những chỉ tiêu phát triển cơ bản của xã hội là bất biến, phương thức sản xuất và năng suất lao động là không thay đổi; đói nghèo chỉ do sinh đẻ quá nhiều; không thấy vấn đề dân số và con đường giải quyết sự mất cân đối giữa dân số và tư liệu sinh hoạt không chi là quy luật tự nhiên mà còn bị chi phối, quy định, điều chình bởi quy luật xã hội, của trình độ văn minh và chịu sự tác động tích cực của chế độ chính trị - xã hội, do đó đã dẫn đến kết luận sai lầm rằng: sự cân bằng giữa dân số và phát triển chỉ có thể tìm thấy trong việc giảm dân số bởi chiến tranh, dịch bệnh, nạn đói hay bằng sự kiểm soát sinh đẻ nhờ vào sự tiết dục của các gia đình nghèo. Vì vậy các học giả tư sản đã lợi dụng sai lầm này để phát triển thành “TM mới”, theo họ mọi tệ nạn xã hội chỉ là do quần chúng lao động sinh đẻ quá nhiều (nhất là ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh), để giải quyết các tệ nạn đó phải giảm bớt các tầng lớp “thấp”, loại bỏ những dân tộc “hèn kém”, mà phương tiện hữu hiệu, hợp quy luật tự nhiên để giảm bớt số dân quá thừa đó chính là “chiến tranh, dịch bệnh, nạn đới và lao động nặng nhọc”. Những sai lầm của TM. đặc biệt của “TM mới” đã trở thành cơ sở lí luận của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và biện hộ cho tội ác của CNTB và CNĐQ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:21:13 am THUYẾT SINH VẬT HỌC VỀ CHIÊN TRANH, thuyết giải thích chiến tranh như một hiện tượng sinh vật học, phát sinh từ bản năng sinh học của con người và sẽ vĩnh viễn tồn tại cùng với xã hội loài người. TSVHVCT hình thành từ sự biến tướng của các thuyết: thuyết Đacuyn xã hội, thuyết chủng tộc về chiến tranh, thuyết Mantuyt, thuyết địa chính trị về chiến tranh. TSVHVCT mang nội dung phản khoa học và phản động, một chỗ dựa của hệ tư tưởng quân phiệt, biện hộ cho hành động bạo lực vũ trang của CNĐQ, chuẩn bị tư tưởng , tinh thần cho các cuộc chiến tranh xâm lược. Những người theo TSVHVCT đã lợi dụng các vấn đề chủng tộc, tôn giáo, nhân khẩu thừa tương đối ở một số khu vực để khuếch trương thuyết này. THUYẾT TÂM LÍ VỀ CHIẾN TRANH, hệ thống các thuyết giải thích nguồn gốc, bản chất của chiến tranh và xung đột vũ trang từ tâm lí con người; thuyết phản khoa học và phản động. Xuất hiện cuối tk 19 đầu tk 20, các thuyết phổ cập nhất: “bản năng xâm lược” của phái phân tâm học; “thói quen tấn công” của chủ nghĩa hành vi; “giáo quyền” - một biến dạng của chủ nghĩa duy tâm khách quan. TTLVCT dược hình thành trên cơ sở khuynh hướng tâm lí học tư sản với quan niệm: tâm lí không phản ánh các điều kiện đời sống vật chất xã hội, là cái vốn có, độc lập, không đổi; tâm lí (trong đó bản năng, hứng thú tiềm thức đứng hàng đầu) bao gồm mọi hình thái ý thức xã hội và tâm lí cá nhân hoặc tâm lí các tầng lớp xã hội là nhân tố chủ yếu của sự phát triển xã hội, nguồn gốc chiến tranh và mọi xung đột. THƯ ĐIỆN TỬ (A. electronic mail, vt: e-mail), hình thức trao đổi thông tin qua các mạng máy tính, bao gồm; mạng vùng cục bộ (LAN), mạng vùng rộng (WAN), Internet... Tin tức dược chuyển đến người nhận qua địa chỉ là các hộp thư điện từ đăng kí trên mạng. Liên lạc bằng TĐT được thực hiện nhanh chóng, chính xác, thuận tiện; tin tức có thể đọc trên màn hình, in thành văn bản, lưu trong máy lính và khi cần thiết có thể chuyển, nhận cả sơ đồ, biểu đồ... Nhược điểm cơ bản khi liên lạc bằng TĐT là dễ lộ bí mật. “THƯ GỬI CÁN BỘ VÀ CHIẾN SĨ Ở MẬT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ”, thư của chủ tịch Hồ Chí Minh, được công bố 12.1953, khi các đơn vị bộ đội chủ lực của QĐND VN bắt đầu tiến vào Điện Biên Phủ. Nội dung chỉ rõ ba nhiệm vụ của bộ đội trong chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng căn cứ kháng chiến, giải phóng đồng bào ở Điện Biên Phủ và yêu cầu cán bộ chiến sĩ giữ vững quyết tâm tiêu diệt địch, chấp hành nghiêm chính sách, giành nhiều thắng lợi trong mọi hoàn cảnh. “THƯ VÀO NAM”, tác phẩm tập hợp một số thư, điện của Lê Duẩn gửi cán bộ lãnh đạo Đảng, mặt trận, chỉ huy LLVTND VN ở chiến trường miền Nam trong KCCM (1954-75) và kết luận tại hội nghị BCT BCHTƯ ĐLĐ VN bàn về tình hình và nhiệm vụ CM miền Nam (7.1.1975); xuất bản 1985. “TVN” thể hiện quá trình phát triển sinh động và ngày càng hoàn thiện của đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp CM và chiến tranh CM ở miền Nam, do BCHTƯ ĐLĐ VN và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. “TVN” đã góp phần quan trọng vào việc tổng kết kinh nghiệm KCCM và nghiên cứu đường lối CM, đường lối quân sự của Đàng cộng sản Việt Nam. THƯ VIỆN QUÂN ĐỘI, thư viện khoa học tổng hợp chuyên ngành QS cấp nhà nước, thư viện đầu ngành của hệ thống thư viện trong QĐND VN. một trong những trung tâm văn hóa, thông tin khoa học của QĐ; do TCCT chỉ đạo, quản lí. Có nhiệm vụ: sưu tầm, lưu giữ, khai thác, giới thiệu những sách, báo, tài liệu chủ yếu về QS và liên quan đến QS, phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin,... của bạn đọc trong và ngoài QĐ; lưu chiểu các xuất bản phẩm trong QĐ; trao đổi sách báo với thư viện QĐ các nước; hướng dẫn nghiệp vụ và phát hành sách cho hệ thống thư viện toàn quân... Đến 2000 có vốn sách hơn 300.000 bản, gần 1.500 loại báo, tạp chí và phục vụ gần 200.000 lượt bạn đọc mỗi năm. Thành lập 15.11.1957. Huân chương: Quân công hạng hai (1984)... Trụ sở: 83 Lí Nam Đế, Hà Nội. Giám đốc đầu tiên: Nguyễn Hữu Bưởi. THỬ NGHIỆM TRANG BỊ KĨ THUẬT QUÂN SỰ, xác định bằng thực nghiệm các đặc tính định lượng, định tính của mẫu thử nghiệm và mẫu trang bị KTQS sản xuất hàng loạt, nhằm đánh giá mức độ phù hợp của chúng với tài liệu chuẩn kĩ thuật và tính năng chiến - kĩ thuật đã đề ra. Có TNTBKTQS trong phòng thí nghiệm, ở nhà máy, trong vận hành và sử dụng... Theo mục đích, có: thử nghiệm nghiên cứu, thử nghiệm kiểm tra, thử nghiệm so sánh, thử nghiệm nghiệm thu, thử nghiệm bàn giao; theo mức độ sản xuất, có: thư nghiệm mẫu sản xuất loạt đầu, mẫu sản xuất hàng loạt; theo dạng các yếu tố tác động, có: thử nghiệm cơ khí, thử nghiệm điện, thử nghiệm âm, thử nghiệm thủy lực, thử nghiệm bức xạ, thử nghiệm điện từ, thử nghiệm sinh học, thử nghiệm khí hậu; theo thời gian và cường độ sử dụng, có: thứ nghiệm bình thường, thử nghiệm tăng tốc, thử nghiệm cường hóa. thử nghiệm rút gọn; theo tính chất thử nghiệm đánh giá. có: độ tin cậy, lượng dự trữ, tuổi thọ, độ tiện lợi trong khai thác và sử dụng. Khối lượng và trình tự tiến hành TNTBKTQS được quy định trong chương trình và phương pháp thử nghiệm. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:22:20 am THỨ TỰ VẬN TẢI, trật tự phải tuân thủ trong việc tổ chức các hoạt động vận tải quân sự. Được xác định căn cứ vào tính chất đặc thù của từng phương thức, loại hình vận tải hoặc mức độ quan trọng của các loại hàng hóa. đối tượng, khu vực phục vụ mà công tác vận tải phải bảo đảm theo yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến. TTVT được xác định trong mỗi giai đoạn chiến đấu của từng chiến dịch, trận đánh,... phụ thuộc hình thức tác chiến cụ thể và các yếu tố khách quan. THỪA THIÊN - HUẾ, tỉnh ở Trung Trung Bộ; bắc giáp Quảng Trị, tây giáp Lào, nam và đông nam giáp Quảng Nam. tp Đà Nẵng, đông giáp Biển Đông. Dt 5.053,99 km2; ds 1,1 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh. Bru, Cơ Tu, Chăm... Thời Nguyễn là phủ Thừa Thiên, thời thuộc Pháp đổi làm tỉnh. 1976 sáp nhập với Quảng Bình và Quảng Trị thành tỉnh Bình Trị Thiên. 6.1989 tái lập với tên mới là TT-H. Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Huế. Địa hình đa dạng: núi cao chiếm 1/4 diện tích, tập trung chủ yếu ở phía tày, thuộc dãy Trường Sơn dọc biên giới Việt-Lào, với các đỉnh cao: núi Động Ngai (1.774m), Động Nôm (1.208m); dãy Hải Vân giáp Quảng Nam, Đà Nẵng, chạy sát ra biển, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn. Đồi núi thấp chiếm 1/2 diện tích. Ven biển là dải đồng bằng hẹp. Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc; các sông chính: Sông Hương, sông Ô Lâu. Sông Bồ, Sông Truồi. Bờ biển dài 120km, có nhiều vụng, đầm, phá, cửa biển (Thuận An. Tư Hiền, Lãng Cô); vịnh Chân Mây, độ sâu 18-20m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm 26°C, lượng mưa 2.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 214,8 nghìn tấn (lúa 210,9 nghìn tấn); khai thác gỗ 26,2 nghìn m3, thủy sản 21,9 nghìn tấn. Có tiềm năng phát triển du lịch và dịch vụ. Các ngành công nghiệp: cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, chế biến gỗ. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.548,7 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1, QL 14; đường sắt Bắc - Nam, đường thủy theo các tuyến đường sông, đường biển. Cảng biển: Thuận An, Chân Mây. Sân bay Phú Bài. Di tích lịch sử: cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới (UNESCO công nhận 1993), trung tâm của Phật giáo VN, với nhiều ngôi chùa nổi tiếng: Linh Mụ, Từ Đàm, Bảo Quốc, Trà Am... 20.12.1979, LLVTND Thừa Thiên - Huế được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67950782_460934827969736_3433021751158636544_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeE6b9RbFt-173UrFfFEZU9sJ-lzQ4GpDA8-mjqeZyBEe4BUAfgFiOmvgQBKimyz0fhZcIJhqqj29_b1S52FpzrgXJcxkfkVisXv-UjCvLSkpg&_nc_oc=AQmiMH7j0t3WXfUpw_ZLItlN8iOsLAYhjqiZ0YVhT-Ht4rWjQFAMGULjT2RjzejAFUQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a55bc70ac25b9395be89cff8c7b2f625&oe=5DDBF145) THỰC HÀNH ĐỘNG VIÊN QUÂN ĐỘI. toàn bộ các biện pháp do các cơ quan nhà nước, địa phương, các đơn vị QĐ tiến hành nhằm chuyển QĐ từ tổ chức biên chế thời bình sang tổ chức biên chế thời chiến. Bắt đầu từ khi có lệnh động viên, kết thúc khi hoàn thành nhiệm vụ động viên được giao (đối với địa phương là khi giao xong lực lượng dự bị động viên, đối với đơn vị dự bị động viên là khi tiếp nhận xong lực lượng dự bị động viên, ổn định tổ chức biên chế). THĐVQĐ thường diễn ra trong một thời gian ngắn bằng triển khai những công việc chính: thông báo lệnh động viên; tập trung, vận chuyển, giao nhận lực lượng dự bị động viên. THỰC HÀNH TÁC CHIẾN, toàn bộ các biện pháp được tiến hành theo mệnh lệnh tác chiến của người chỉ huy nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao; một giai đoạn tác chiến. Có THTC: tiến công (phản công), phòng ngự. Mục đích THTC: trong tiến công, tiêu diệt bộ phận quan trọng lực lượng trong, ngoài công sự và đánh chiếm trận địa phòng ngự của địch; trong phòng ngự, sát thương lớn, tiêu diệt một bộ phận lực lượng và đánh bại tiến công của địch, giữ vững trận địa (mục tiêu phòng ngự chủ yếu). Tùy tình hình cụ thể THTC có thể chia ra một số bước kế tiếp nhau, mỗi bước đều phải thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. THTC đòi hỏi phải nắm vững quyết tâm tác chiến, tình hình diễn biến tác chiến; hành động kiên quyết, chủ động, mưu trí, linh hoạt và sáng tạo. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:24:00 am THỰC LỰC QUÂN SỰ, lực lượng hiện có tại một thời điểm nhất định của một đơn vị, địa phương hoặc một nước, gồm nhân lực và vật lực có thể huy động để phục vụ cho nhiệm vụ QS và cho chiến tranh. TLQS được biểu hiện ở số lượng, chất lượng (người, trang bị vũ khí, cơ sở vật chất bảo đảm. khoa học QS, nghệ thuật QS...), ở nguồn dự trữ của địa phương, nhà nước, ở các đơn vị LLVT và tiềm lực trong nhân dân. Lãnh đạo và chỉ huy các cấp theo chức năng, nhiệm vụ phải thường xuyên nắm chắc TLQS để có cơ sở lập kế hoạch, hạ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao. THỰC TIỄN QUÂN SỰ, tổng thể các hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị LLVT và đất nước cho chiến tranh và tiến hành chiến tranh, cũng như khởi nghĩa vũ trang; dạng đặc biệt của thực tiễn xã hội, cơ sở và mục đích phát triển lí luận QS và là tiêu chuẩn kiểm nghiệm sự đúng đắn của lí luận QS. TTQS trong thời chiến chủ yếu là hoạt động tác chiến; trong thời bình TTQS bao gồm những hoạt động về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng và chuẩn bị LLVT, chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, huấn luyện và giáo dục bộ đội, giữ vững khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, và tất cả các loại thực nghiệm QS... Tổng kết được những kinh nghiệm của TTQS cho phép phát hiện ra các quy luật và xu thế phát triển về QS. giải quyết được những vấn đề mới của khoa học QS. THƯỚC ĐO CỰ LI, dụng cụ chuyên dùng để đo cự li (khoảng cách) giữa các điểm trên bản đồ (yếu đồ) trong công tác tham mưu tác chiến hay đo đạc, chuẩn bị bắn pháo binh. Các loại TĐCL thường dùng là MPL-25, MPL-50, TĐCL của bàn đạc PUO-9... Một số loại TĐCL có thể kết hợp với thước đo góc như AK-3, KT-75... để xác định tọa độ các điểm trên bản đồ (yếu đồ) bằng phương pháp cực. Cũng có thể dùng các dụng cụ đơn giản như thước thẳng, thước chỉ huy qua tính toán ti lệ để đo cự li trên bản đồ. THƯỚC ĐO GÓC PHÁO BINH, dụng cụ đo góc chuyên dùng trong pháo binh để đo (vẽ) các góc, kết hợp với thước đo cự li để xác định tọa độ cực các điểm (yếu tố) trên bản đồ, lấy góc bắn và kiểm tra máy ngắm cho pháo (cối). Đơn vị đo là li giác hoặc độ. Theo nguyên lí cấu tạp, có thước đo góc vành tròn và thước đo góc dây cung (trị số các góc được quy về theo độ dài dây cung tương ứng, dùng cho các góc nhỏ dưới 15-00). Trong pháo binh VN, thường dùng loại thước đo góc: AK-3 (LX), KT-75 (VN), thước đo góc dây cung... THƯƠNG (cổ), vũ khí lạnh dùng để đâm, có cán dài (đến 2m), mũi nhọn bằng thép, hình thoi, có thể có gân như múi khế. T thường dược trang bị cho kị binh thời cổ. THƯƠNG BINH, 1) quân nhân bị thương trong khi chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu; 2) quân nhân, công an nhân dân bị thương và mất sức lao động từ 21% trở lên do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khản nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước, của nhân dân. TB được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bị thương, tặng huy hiệu TB và được hưởng phụ cấp, trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ mất sức lao động và tính theo mức lương; được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của nhà nước. THƯỢNG CAM LĨNH (Sanggamryong), vùng núi phía tây h. Kim Hóa (Kimhua), t. Canguôn - Đô, trên khu vực giới tuyến QS giữa hai miền Triều Tiên; một trong những trọng điểm chiến lược trên chiến tuyến miền Trung trong chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Địa thể hiểm yếu. dựa lưng vào dãy Ngũ Thánh Sơn, phía tây khống chế bình nguyên Bình Khang (Pyonggang), phía đông án ngữ tuyến đường bộ từ Kim Hóa đi Thông Xuyên (Tungchon). 14.10-25.11.1952 tại đây diễn ra chiến dịch Thượng Cam Lĩnh (10-11.1952) của quân chí nguyện TQ, một trong những chiến dịch nổi tiếng nhất trong chiến tranh Triều Tiên, để lại nhiều kinh nghiệm về tác chiến phòng ngự dựa vào hệ thống công sự đường hầm. THƯỢNG ĐỨC, chi khu QS của QĐ Sài Gòn, quận lị q. Thượng Đức do chính quyền Sài Gòn lập ở phía tây t. Quảng Nam, nằm bên sông Vu Gia và trên đường 14B, cách tp Đà Nẵng 40km về phía tây nam, nay là xã Đại Lãnh, h. Đại Lộc, t. Quảng Nam. 28.7-7.8.1974, Sư đoàn 304 tiến công chi khu QS TĐ. diệt 476, bắt 888 địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị, làm tan rã chính quyền quận. THƯỢNG HẢI. thành phố cảng, trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của TQ ở nam cửa sông Trường Giang, cách bờ biển Hoa Đông 50km. Dt 6.341km2; ds 16,74 triệu người (2003). Địa hình TH bằng phẳng, thấp, độ cao trung bình 3-5m. Khí hậu đại dương ấm áp, bốn mùa rõ rệt. Là thành phố trực thuộc trung ương, đông dân nhất TQ. Công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, cơ khí chính xác, đóng tàu. hóa chất, in. thực phẩm, dệt... phát triển. Nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, trường đại học, thư viện, bảo tàng. Đầu mối giao thông quan trọng, nhiều tuyến đường thủy trên sông Hoàng Phố, Tô Châu. Cảng biển lớn, cổng trình xây dựng của cảng kéo dài 60km, dọc theo bờ sông Hoàng Phố, tổng chiều dài cầu cảng 40km. Lạch cảng sâu 8m, rộng 50m, có thể tiếp nhận tàu trên l0.000t. Lượng vận chuyển hàng hóa trên 100 triệu tấn/năm. Có xí nghiệp sửa chữa tàu, căn cứ hải quân. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:25:23 am THƯỢNG SĨ. bậc quân hàm cao nhất của hạ sĩ quan, liền trên trung sĩ, trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, TS được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33/SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH; bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ tiểu đội trướng và tương đương. THƯỢNG TÁ, bậc quân hàm sĩ quan liền trên trung tá, dưới đại tá trong LLVT một số nước. Trong QĐND VN, được quy định lần đầu tại luật về chế độ phục vụ của sĩ quan QĐND VN (1958); luật về sĩ quan QĐND VN (1981) bỏ cấpTT; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật về sĩ quan QĐND VN (1991) khôi phục lại cấp TT. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), TT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ lữ đoàn trưởng và tương đương. THƯỢNG THƯ BỘ BINH (cổ), chức vụ đứng đầu Bộ binh (tương tự bộ trưởng BQP ngày nay) theo quan chế cổ, hàm tòng nhị phẩm. Chức vụ thượng thư có từ triều Lí (1010- 1225), nhưng mãi đến đời Trần Thuận Tông (1388-98) mới có TTBB. Nhiệm vụ của TTBB: ban đầu là lo việc trang bị vũ khí và phương tiện cho QĐ; bảo đảm an ninh biên giới và các khu vực hiểm yếu; tổ chức giao thông liên lạc bằng trạm dịch và những công việc khẩn cấp khác. Đến cuối thời Hậu Lê, nhiệm vụ được mở rộng thêm: tổ chức các khoa thi bác cử, sở cử, tuyển bổ các viên chỉ huy để trình nhà vua duyệt; tổ chức việc sản xuất, sửa chữa và cấp phát binh khí; quản lí cấp phát quân điền và lương lộc, tiền tuất. Cuối triều Nguyễn, TTBB và Bộ binh chỉ tồn tại trên danh nghĩa. THƯỢNG TƯỚNG, bậc quân hàm liền trên trung tướng trong LLVT một số nước. Trong QĐND VN, được quy định lần đầu tiên tại sắc lệnh 33/sL ngày 22.3.1946. Các quân nhân được trao TT đầu tiên (1958) trong QĐND VN: Văn Tiến Dũng, Chu Văn Tấn. THƯỢNG ÚY, bậc quân hàm sĩ quan liền trên trung úy, dưới đại úy, trong LLVT một số nước. Trong QĐND VN, TU được quy định lần đầu 29.4.1958 tại luật về chế độ phục vụ của sĩ quan QĐND VN. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), TU là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ trung đội trưởng và tương đương. TỈ LỆ BẢN ĐỔ, tỉ số giữa khoảng cách trên bản đồ và khoảng cách nằm ngang tương ứng trên thực địa. Được biểu thị dưới dạng một phân số có từ số bằng 1, mẫu số là số lần thu nhỏ khoảng cách trên bản đồ so với khoảng cách nằm ngang tương ứng trên thực địa. TLBĐ còn được biểu thị bằng thước tỉ lệ. TỈ LỆ BỆNH BINH, tỉ lệ phần trăm giữa số người ốm phải nghỉ việc tại đơn vị và điều trị tại các tuyến quân y với quân số của đơn vị, tính theo số trung bình/ngày (cg là tỉ lệ ốm nghỉ việc trung bình/ngày). Bao gồm: tỉ lộ ốm nghỉ việc tại đơn vị; tỉ lệ ốm nghỉ việc tại bệnh xá trung đoàn, sư đoàn; tỉ lệ ốm điều trị tại bệnh viện; tỉ lệ nghỉ dưỡng bệnh... Cơ sở để đánh giá tình hình sức khoẻ của bộ đội và khả năng bảo đảm quân số khỏe cho chiến đấu. TLBB trong chiến đấu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện lao động và chiến đấu, điều kiện bảo đảm hậu cần cho bộ đội, tình hình bệnh tật tại khu vực... Trong KCCM ở nhiều chiến trường miền Nam VN, do ảnh hường của các loại dịch bệnh, chủ yếu là bệnh sốt rét, TLBB cao hơn tỉ lệ thương binh, ảnh hưởng trực tiếp tới sức chiến đấu của bộ đội. TỈ LỆ QUÂN SỐ KHỎE, tỉ lệ phần trăm giữa quân số khỏe có khả năng chiến đấu, công tác, lao động và học tập với tổng quân số của một đơn vị trong một khoảng thời gian (tháng, quý, năm). Được tính gián tiếp thông qua tỉ lệ bệnh binh theo công thức: TLQSK = 100% - tỉ lệ bệnh binh. TỈ LỆ THƯƠNG BINH, tỉ lệ phần trăm giữa số người bị thương trong chiến đấu được chuyển về tuyến quân y trung đoàn (hoặc tương đương) với quân số tham gia chiến đấu. Thường được tính theo trận chiến đấu, chiến dịch, hoặc thời gian chiến đấu (ngày, tháng, năm)... TLTB cao hoặc thấp tùy thuộc vào tính chất ác liệt của chiến đấu, so sánh lực lượng giữa ta và địch, trình độ kĩ thuật của bộ đội, trình độ chỉ huy tác chiến, ảnh hưởng của những yếu tô địa hình, thời tiết... Dự báo TLTB là một trong các yếu tố quan trọng đối với việc lập kế hoạch tác chiến cũng như kế hoạch bảo đảm cho các trận đánh, chiến dịch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:26:46 am TỈ LỆ TỬ VONG, tỉ lệ phần trăm giữa số bị chết trong chiến đấu với tổng số thương vong hoặc với quân số tham gia chiến đấu. Các TLTV: TLTV hỏa tuyến so với tổng số thương vong là ti lệ phần trăm giữa số chết trong chiến đấu ở hỏa tuyến chưa kịp đưa tới tuyến quân y trung đoàn với tổng số thương vong trong chiến đấu của đơn vị trong cùng thời gian. TLTV hỏa tuyến so với quân số tham chiến là tỉ lệ phần tràm giữa số chết trong chiến đấu ở hỏa tuyến chưa kịp đưa tới tuyến quân y trung đoàn với tổng quân số tham chiến của đơn vị, bao gồm các lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng tăng cường và các lực lượng phục vụ chiến đấu. TLTV ở từng tuyến quân y là tỉ lệ phần trăm giữa số thương binh chết ở từng tuyến quân y (tuyến quân y trung đoàn, tuyến quân y sư đoàn...) với tổng quân số tham chiến của đơn vị, hoặc với tổng số thương binh được tuyến đó thu dung trong cùng thời gian. Có TLTV: ở trạm quân y trung đoàn, ở trạm quân y sư đoàn, ở bệnh viện dã chiến. TLTV trên đường vận chuyển là tỉ lệ phần trăm giữa số thương binh chết trên đường vận chuyển giữa các tuyến quân y với tổng quân số tham chiến của đơn vị, hoặc với số thương binh được vận chuyển. Có TLTV trên đường vận chuyển từ trạm quân y trung đoàn về trạm quân y sư đoàn và từ trạm quân y sư đoàn về bệnh viện dã chiến... TỊ NẠN CHIẾN TRANH, sự lánh nạn của công dân nước đang có xung đột quân sự hoặc chiến tranh sang một nước khác để thoát khỏi sự nguy hiểm đe dọa tính mạng và cuộc sống. Người TNCT thường ra đi ồ ạt, không có tổ chức, không có khả năng đảm bảo đời sống, phải trông cậy vào chính sách nhân đạo của chính quyền nơi đến và các tổ chức quốc tế. TNCT trở thành vấn đề nan giải cho các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế (làm suy giảm nển kinh tế, gây hậu quả xấu về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, môi trường sinh thái...). Nguyên nhân của TNCT thường do: xung đột (quyền lực. chủng tộc, dân tộc, tôn giáo), nội chiến, chiến tranh xâm lược, âm mưu của các thế lực thù địch. 1949 LHQ đã thành lập Cơ quan cao ủy LHQ về người tị nạn (UNHCR hoặc HCR), bắt đầu hoạt động 1.1.1951 nhằm giúp đỡ người tị nạn toàn thế giới. Để có thể chấm dứt TNCT, cần tiến hành các giải pháp chính trị trên cơ sở thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, tôn trọng chủ quyền của các dân tộc, đoàn kết để phát triển đất nước và đấu tranh loại trừ chiến tranh xâm lược. TỊ THỰC KÍCH HƯ (cổ), tránh lực lượng mạnh và chỗ mạnh (tị thực), đánh lực lượng yếu và chỗ yếu (kích hư) của đối phương. TTKH thường được vận dụng khi chọn hướng và mục tiêu tiến công, nhất là trong trường hợp lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. TlỀM LỰC, khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh hiện thực nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định. TL được phân ra: tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự, tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực khoa học và công nghệ... Mỗi loại TL có chỉ số về số lượng và chất lượng khác nhau, nhưng có mối liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố của mỗi loại TL và giữa các loại TL. TL muốn trở thành sức mạnh hiện thực phải thông qua yếu tố hoạt động chủ quan của con người. TIỀM LỰC CHIẾN TRANH. khả năng về các nguồn lực của một quốc gia hoặc; một bên tham chiến có thể huy động để tiến hành chiến tranh, Được thể hiện: trước hết ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển năng lực chiến đấu của các LLVT và của toàn dân trước sự phát triển và yêu cầu của chiến tranh; nguồn dự trữ về sức người, sức của của đất nước, sức sống của nền kinh tế trong chiến tranh... TLCT được xây dựng trên nền tảng tổng thể các tiềm lực của đất nước, trong đó tiềm lực quân sự và tiềm lực kinh tế quân sự có ảnh hưởng trực tiếp. Các nước đều coi trọng tích lũy và phát triển TLCT. Trong chiến tranh hiện đại, bên nào trội hơn đối phương về TLCT sẽ có lợi thế về lực lượng để giành thắng lợi. TIỀM LỰC CHÍNH TRỊ - TINH THẦN, khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh vật chất hiện thực nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Được biểu hiện trước hết ở hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước; trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm. trạng thái tâm lí... của các thành viên trong xã hội trước những nhiệm vụ đặt ra đối với họ. TLCT-TT có mối liên hệ hữu cơ với các loại tiềm lực khác và ở một mức độ đáng kể, quyết định hiệu quả sử dụng các tiềm lực đó. Trong QS. TLCT-TT được biểu hiện ở ý chí, quyết tâm của quần chúng nhân dân và LLVT sẵn sàng vượt qua mọi thử thách để thực hiệp nhiệm vụ. Trong mỗi cuộc chiến tranh, mỗi nhiệm vụ QS, việc động viên TLCT-TT nhằm tạo thành một yếu tố của sức mạnh QS hiện thực phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh và nhiệm vụ QS được tiến hành, vào bản chất chế độ chính trị - xã hội, quan niệm về giá trị đạo đức, trình độ văn hóa của dân tộc, năng lực lãnh dạo. quản lí của nhà nước... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:27:48 am TIỀM LỰC KHOA HỌC, khả năng về khoa học (xã hội và nhân văn. tự nhiên, kĩ thuật) có thể huy động nhằm giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của xã hội. Được biểu hiện ở trình độ và khả năng phát triển khoa học; ở số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học; ở cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biện và ứng dụng khoa học... TLKH có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của khoa học QS, nghệ thuật QS, khoa học KTQS, các môn khoa học xã hội và nhân văn khác trong lĩnh vực QS, cơ cấu tổ chức LLVT, công tác chỉ huy và quản lí bộ đội... Mức độ động viên TLKH phục vụ cho nhiệm vụ QS và chiến tranh phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của nhiệm vụ QS và của cuộc chiến tranh, vào bàn chất chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển lực lượng sàn xuất của mỗi nước. TIỀM LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, khả năng về khoa học và công nghệ có thể huy động để giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của xã hội. Được biểu hiện ở: trình độ phát triển khoa học và công nghệ; số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học và công nghệ... TLKHVCN của đất nước có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của khoa học và công nghệ trong lĩnh vực QS, quốc phòng, cơ cấu tổ chức LLVT, công tác chỉ huy và quản lí bộ đội... Mức độ động viên TLKHVCN của đất nước phục vụ nhiệm vụ QS, quốc phòng và chiến tranh phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh và nhiệm vụ QS. quốc phòng, vào bản chất chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của mỗi nước. TlỀM LỰC KINH TẾ. khả năng về kinh tế (bao gồm cả kinh tế quân sự) có thể huy động để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng hoặc tiến hành chiến tranh; cơ sở vật chất của các tiềm lực khác. Được biểu hiện ở; trình độ và khối lượng sản xuất xã hội; nhịp độ tăng trường của nền kinh tế; nguồn dự trữ tài nguyên và lao động... Trong lĩnh vực QS. TLKT được biểu hiện ở các mặt chủ yếu như: khối lượng và chất lượng các nguồn lực có thể động viên đáp ứng nhu cầu QS, quốc phòng và chiến tranh; tính cơ động và sức sống của nền kinh tế trước sự thử thách ác liệt của chiến tranh. Mức độ động viên TLKT cho QS, quốc phòng và chiến tranh phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh và nhiệm vụ QS, quốc phòng cụ thể, vào bản chất chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sán xuất. TIỀM LỰC KINH TẾ QUÂN SỰ, bộ phận đặc thù trong tiềm lực kinh tế, thể hiện khả năng tiềm tàng về kinh tế quân sự mà một quốc gia có thể huy động để đáp ứng các nhu cầu đối phó với chiến tranh và các nguy cơ khác đe dọa quốc phòng - an ninh của đất nước; một bộ phận của những ngành kinh tế cơ bản và dịch vụ xã hội khác (bưu chính - viễn thông, giao thông vận tải, y tế, thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục và văn hóa...); cơ cấu TLKTQS bao gồm các ngành công nghiệp quốc phòng, có nhiệm vụ trực tiếp hoặc gián tiếp đảm bảo các nhu cầu hoạt động của LLVT và tư liệu sản xuất cho công nghiệp quốc phòng. Đặc trưng nổi bật nhất của TLKTQS là không trực tiếp tham gia vào quá trình tái sản xuất mở rộng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trên phạm vi toàn xã hội. TLKTQS phải được chuẩn bị trong thời bình đề sẵn sàng trước mọi tình huống có thể xảy ra. Chuẩn bị TLKTQS bao gồm việc chuẩn bị các nguồn lực dự trữ chiến lược quốc gia và khả năng huy động để kịp thời bổ sung cho nhu cầu đột biến về các nguồn nhân lực, vật lực khi có chiến tranh (xt động viên kinh tê). Quá trình xây dựng và phát triển TLKTQS không chỉ dựa vào các khả năng về nhân lực, vật lực mà còn phụ thuộc nhiều vào khả năng tổ chức, quản lí và huy động các nguồn lực đó, trong đó các quan điểm, đường lối, cơ chế, chính sách và các hoạt động thực tiễn liên quan của nhà nước có vai trò quyết định. TlỀM LỰC QUÂN SỰ, khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh hiện thực phục vụ nhiệm vụ QS và tiến hành chiến tranh. Được biểu hiện trước hết ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các LLVT (cả về nhân lực, vũ khí trang bị, cơ sở vật chất bảo đảm, khoa học QS, nghệ thuật QS...); nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ nhiệm vụ QS và tiến hành chiến tranh. TLQS được xây dựng dựa trên nền tàng của các tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực khoa học và công nghệ... theo những định hướng do nhà nước vạch ra. Mức độ động viên TLQS phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh và nhiệm vụ QS cụ thể, vào bản chất chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống QS của dân tộc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:29:31 am TlỀM LỰC QUỐC PHÒNG, khả năng về vật chất và tinh thần ở trong nước và ngoài nước mà mỗi quốc gia, dân tộc có thể huy động nhằm mục tiêu bảo vệ đất nước, giữ vững hòa bình, ngăn ngừa mọi âm mưu và hành động gây chiến của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược mọi quy mô có thể xảy ra. TLQP của mỗi quốc gia, dân tộc dựa trên nền tảng của tiềm lực quân sự, tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực khoa học và công nghệ... mà tiềm lực QS là tiêu biểu và là kết quả tổng hợp của các tiềm lực đó; được xây dựng, tổ chức và quản lí vì lợi ích phòng thủ quốc gia. (CNĐQ và các thế lực hiếu chiến còn sử dụng TLQP để bành trướng và xâm lược dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia). Mức độ huy động TLQP phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của sự nghiệp phòng thủ đất nước, vào bản chất chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sàn xuất. TIỀM LỰC XÃ HỘI, khả năng của đất nước trong việc giải quyết những nhiệm vụ xã hội. Gồm tổng hòa các mối quân hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tập đoàn xã hội, các tổ chức chính trị xã hội; tính ưu việt của chế độ chính trị - xã hội, trình độ nhận thức và tính tích cực của cộng đồng... hợp thành kết cấu xã hội bền vững dựa trên nền tảng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. TLXH là một trong các nhân tố tạo ra những thuận lợi hoặc trở ngại cho việc phát huy tiềm lực mọi mặt của đất nước, kể cả tiềm lực quân sự, tiềm lực quốc phòng. TIỀM NHẬP, bí mật tiếp cận mục tiêu bằng cách vận dụng tổng hợp các biện pháp, động tác kĩ thuật đặc công (đi khom, lê, trườn, bò xổm, leo trèo, bơi thả, lặn...) và ngụy trang, khắc phục vật cản. Trong chiến đấu tuỳ theo tình hình địch, điều kiện địa hình, thời tiết và trình độ của bộ đội mà vận dụng kĩ thuật TN phù hợp. Có thể tổ chức TN vào mục tiêu từ một hoặc nhiều hướng. TIÊN PHÁT CHẾ NHÂN (cổ), tiến công trước giành quyền chủ động để chiến thắng đối phương; một phương pháp tác chiến cổ. Khi thực hiện TPCN thường vận dụng tập kích bất ngờ trong lúc đối phương đang chuẩn bị tác chiến hoặc chiến tranh. Trong lịch sử VN, Lí Thường Kiệt đã vận dụng TPCN, đánh phá các kho dự trữ chiến tranh ngay trên đất Tống, làm suy yếu tiềm lực QS, giành được thế chủ động đánh đuổi quân Tông xâm lược. TlỀN DUYÊN PHÒNG NGỰ, đường quy ước nối liền các hố bắn, các đoạn chiến hào ở mép trước trận địa cơ bản của khu vực (dải) phòng ngự. TDPN do cấp trên chỉ định hoặc người chỉ huy tự chọn. TIỀN GIANG, tình ở đồng bằng sông Cửu Long; bắc giáp Long An, tây giáp Đồng Tháp, nam giáp Vĩnh Long. Bến Tre, đông giáp Biển Đông, bờ biển dài 32km, với ba cửa biển: cửa Tiểu, Cửa Đại, cửa Soài Rạp. Dt 2.366.63 km2; ds 1,66 triệu người (2003); 99% là người Kinh, còn lại là người Chàm, Khơme, Hoa, Êđê... Thành lập 2.1976 do hợp nhất hai tỉnh Gò Công và Mĩ Tho. Tổ chức hành chính: 7 huyện. 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Mĩ Tho. Địa hình đồng bằng, nhiều sông ngòi, kênh rạch; các sông lớn: Sông Tiền, sông Gò Công, sông Bảo Định; các kênh: Chợ Gạo, Nguyễn Văn Tiếp, Mười Bưng... Ven sống, biển có rừng dừa nước, rừng chà là. Khí hậu nhiệt đới; nhiệt độ trung bình trong năm 27°C, lượng mưa 1.230mm/năm. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh trồng các loại cây ăn quả ở các huyện: Châu Thành, Cái Bè, nam Cai Lậy. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 1,29 triệu tấn (lúa 1,28 triệu tấn); sản lượng thủy sản 110,6 nghìn tấn; khai thác gỗ 61,7 nghìn m3. Các ngành công nghiệp: cơ khí, sửa chữa ô tò, máy kéo, chế biến nông sản xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.371 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1; các tỉnh lộ: 5, 12, 20, 24... Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (1785), Trương Định, Nguyễn Hữu Huân chống Pháp (1861-64), chiến thắng Ấp Bắc (1963), vành đai diệt Mĩ Bình Đức (1967), chiến thắng kênh Nguyễn Văn Tiếp... 6.11.1978, LLVTND Tiền Giang được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67592230_460934837969735_3402531082539630592_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFxLA0qzY9zt2l6NNd5_Cq2QNGSCS3uM8Duw_l80o42QVm2ssrFjttJQdwjxp-oOZQXrOjhgctgBU5bqePjkyV97rxdOPnQ0EYKFjd-wgdCDA&_nc_oc=AQnRa9LmPVkJqVwcrALE6V4KheLutv4CW6Ue_1V8sEfGcj6VxexO2-Xtu5MoJ2f_l5w&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5fed1d8583e7a5bca8f632725eeb0f86&oe=5DE63660) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:30:07 pm TIỀN GỬI, 1) tiền của cơ quan, đơn vị, cá nhân gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng) nhằm tiết kiệm, thanh toán, đầu tư lấy lãi, cất trữ... Theo phương thức gửi và rút tiền, TG được chia làm hai loại: có kì hạn và không kì hạn. TG có kì hạn là loại được kí thác vào tổ chức tín dụng trên cơ sở thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và tổ chức tín dụng. TG không kì hạn là loại TG của các thể nhân và pháp nhân tại các ngân hàng (theo luật pháp VN, chỉ các ngân hàng mới được nhận TG không kì hạn) nhằm mục đích thanh toán, cất trữ và không quy định kì hạn rút tiền. Người gửi có thể rút hoặc sử dụng để thanh toán toàn bộ hoặc từng phần TG vào bất kì lúc nào. TG không kì hạn có thể có hoặc không có lãi. Các doanh nghiệp thuộc BQP được gửi tiền tại các tổ chức tín dụng nhằm các mục đích và theo các phương thức nêu trên; 2) khoản kinh phí mà các đơn vị dự toán ngân sách được cơ quan tài chính hoặc đơn vị cấp trên cấp và đưa vào “tài khoản tiền gửi đơn vị dự toán” mở tại kho bạc nhà nước, chỉ dược rút ra để sử dụng cho các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao và theo dự toán đã được duyệt; trường hợp không sử dụng hết phải trả lại cho ngân sách và không được hưởng lãi. Số tiền thu được từ các hoạt động có thu của các đơn vị dự toán được gửi vào “tài khoản tiền gửi khác” mở tại kho bạc nhà nước, được sử dụng như TG của các tổ chức, cá nhân gửi tiền tại các tổ chức tín dụng. TIỀN TRẠM. bộ phận được phái đi trước để chuẩn bị cho bộ đội hành quân và trú quân (đóng quân). Nhiệm vụ của TT: nắm tình hình, quan hệ với chính quyền, nhân dân địa phương, chuẩn bị các khu vực dừng nghỉ trên dọc đường hành quân và nơi trú quân; đón các đơn vị hành quân; tiếp nhận lương thực, thực phẩm... Thành phần TT do người chỉ huy quyết định. TIỀN TUYẾN, nơi diễn ra hoạt động tác chiến chủ yếu của các bên tham chiến; cùng với hậu phương hợp thành không gian chiến tranh. Trong chiến tranh hiện đại, sự phân chia TT, hậu phương chỉ là tương đối. Ở VN, trong KCCP và KCCM, với hình thái cài răng lược của thế trận chiến tranh nhân dân, TT và hậu phương thường đan xen nhau. TIỀN TUYẾN LỚN, chỉ chiến trường miền Nam VN trong KCCM. BCHTU ĐLĐ VN xác định miền Nam là chiến trường chính, nơi trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện của đế quốc Mĩ. Thắng lợi của TTL có tác dụng bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc và quyết định trực tiếp thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. TIỀN VỆ. thành phần của đội hình hành quân chiến đấu, làm nhiệm vụ cảnh giới và bảo đảm phía trước cho lực lượng chủ yếu. Nhiệm vụ của TV: bảo đảm cho lực lượng chủ yếu di chuyển thuận lợi; phát hiện, ngăn chặn không cho quân địch tiến công bất ngờ vào lực lượng chủ yếu, trinh sát mặt đất của chúng lọt vào đội hình, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng chủ yếu triển khai và bước vào chiến đấu. TV cơ động trước lực lượng chủ yếu một khoảng cách bảo đảm thời gian và không gian cần thiết cho lực lượng chủ yếu triển khai và bước vào tác chiến có tổ chức. Thành phần của lực lượng TV được xác định trên cơ sở quy mô, tính chất và điều kiện của cuộc hành quân. TIẾN BỘ (N. Tlporpecc), loạt tàu vũ trụ vận tải tự động, sử dụng một lần của LX để chuyên chở hàng hóa lên các trạm vũ trụ bay quanh Trái Đất. Được chế tạo trên cơ sở tàu vũ trụ Liên Hợp. Khối lượng cất cánh 7t, tải trọng có ích 2,3t; gồm 3 khoang chính: khoang hàng hóa (có bộ phận lắp ghép với trạm vũ trụ), khoang nhiên liệu và khoang máy móc. Thời gian bay độc lập tới 4 ngày, bay cùng trạm vũ trụ 60 ngày. Tàu TB-1 phóng 20.1.1978, nối với tổ hợp vũ trụ Chào Mừng 6 - Liên Hợp 27. Năm 1986 đã có chuyến bay của tổ hợp vũ trụ Chào Mừng 7 - Liên Hợp T13 - Tiến Bộ 24. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:31:27 pm “TIẾN BƯỚC DƯỚI QUÂN KÌ”, hành khúc của nhạc sĩ Doãn Nho sáng tác 1958. “TBDQK” nói lên niềm tin tưởng tự hào của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam', cổ vũ, động viên cán bộ. chiến sĩ phát huy truyền thống anh hùng của QĐ trong nhiệm vụ xây dựng QĐND CM, chính quy, hiện đại. Một trong những bài hát truyền thống của QĐND VN, được phổ biến rộng rãi và thường được sử dụng trong các cuộc diễu binh, các ngày kỉ niệm lớn của QĐ và đất nước. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67849706_461238247939394_2422180569317113856_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHbFqsgTpzNWDSXrdS4SZMeJGrdfPM9iHNL-PycO3aWPTsueQugubdD15WQNCm4Y4y_6BaFyoXj756GOg3ZATojXyMEKoIzjRoPzP0Zx-DsCg&_nc_oc=AQlZ_1EAaScRmYUCvh1MPo_ezhtGT51ZtqJxF2YBFUpwZtAUa0UJPsjshkXEPe_bzmg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f33a287e4361d3074b0da5c37a68ebd8&oe=5DE739E3) TIẾN CÔNG, loại tác chiến cơ bản, được thực hiện bằng cách dùng hỏa lực sát thương quân địch, công kích mãnh liệt, nhanh chóng tiến vào chiều sâu bố trí của đối phương, tiêu diệt chúng, chiếm các khu vực (mục tiêu) quy định. TC có quy mô chiến lược, chiến dịch, chiến thuật: được thực hiện bằng các chiến dịch, trận chiến đấu và các hình thức tác chiến khác. Ở trên bộ, TC có thể đánh vào quân địch phòng ngự hoặc đang cơ động. Dạng đặc biệt của TC là phản công. Có thể chuyển vào TC từ vị trí trực tiếp tiếp xúc với quân địch hoặc TC trong hành tiến... Trong TC, để sát thương quân địch bằng hỏa lực tuỳ điều kiện có thể tiến hành hỏa lực yểm trợ (cho bộ đội vận động từ khu vực chờ đợi (tập kết) ra để TC), hỏa lực chuẩn bị công kích, hỏa lực chi viện công kích và hỏa lực hộ tống. Trong các cuộc chiến tranh của nhà nước chiếm hữu nô lệ, với vũ khí lạnh. TC được triển khai và tiến hành trên những khu vực không lớn, địa hình tương đối bằng phẳng và trong đội hình chiến đấu (chiến dịch) dày đặc. Kết cục của TC được quyết định bằng các trận đánh giáp lá cà. Trong thời gian này đã xuất hiện các yếu tố của nguyên tắc TC, như: tập trung nỗ lực chủ yếu trên hướng chủ yếu. bất ngờ, hiệp đồng, cơ động... Với việc xuất hiện và hoàn thiện hỏa khí bộ binh, xuất hiện QĐ đánh thuê. TC được tiến hành bằng vây thành, phong tỏa các trục đường giao thông quan trọng và cắt đứt tiếp tế,... buộc đối phương phải rút bỏ các khu vực (mục tiêu) quan trọng. Vào nửa sau của cuộc CTTG-I, do việc sử dụng mật tập pháo binh, việc sử dụng xe tăng và máy bay trong tác chiến, phòng ngự trận địa với chiến tuyến liên tục là phổ biến, nên đột phá phòng ngự trở thành vấn dề quan trọng trong TC. Trong CTTG-II. TC được tiến hành bằng các chiến dịch tập đoàn quân, phương diện quân, cụm phương diện quân, không gian TC mở rộng, tốc độ TC cao. TC được tiến hành liên tục ngày đêm. sử dụng rộng rãi bao vây, vu hồi, đổ bộ đường không và đổ bộ đường biển. QĐ các nước Mĩ, Anh, Đức coi TC là phương thức cơ bản hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. QĐ TQ coi TC là thủ đoạn chủ yếu tiêu diệt quân địch, triệt để lợi dụng yếu tố bất ngờ, thực hiện táo bạo bao vây, vu hồi. nghệ thuật QS VN quán triệt tư tưởng tích cực TC địch,... chủ trương có TC, có phòng ngự, nhưng TC là chủ yếu. Trong các cuộc chiến do LLVT và nhân dân VN tiến hành. TC được thực hiện trên các quy mô chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, bằng tất cả các lực lượng với tất cả các phương tiện tác chiến hiện đại và thô sơ, lấy TC quân địch ngoài công sự làm phổ biến, như các trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng (năm 938 và 1288), trận phục kích tiêu diệt đạo quân của Liễu Thăng ở Chi Lăng (10.10.1427), tiêu diệt đạo quân của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long (1789); đồng thời đã tiến hành thắng lợi TC vào quân địch trong công sự vững chắc, như trận vây hạ thành Đông Quan (1426-27), chiếm thành Xương Giang (1427), tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp (1954) và tiêu diệt lực lượng chủ yếu của QĐ Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:32:21 pm TIẾN CÔNG BIÊN HÒA XUÂN MẬU THÂN 1968. tiến công của LLVT miền Đông Nam Bộ kết hợp với nổi dậy của quần chúng nhằm giành quyền làm chủ, tiêu diệt lực lượng và cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn tại tp Biên Hòa (nay thuộc t. Đồng Nai), trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thận (1968). Lực lượng ta có: Sư đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 trung đoàn), Tiểu đoàn pháo binh 1 (Trung đoàn pháo binh 274), Tiểu đoàn đặc công 1 (Phân khu 4) và đại đội biệt động thành. 0 giờ 31.1, ta dùng hỏa lực pháo binh bắn vào trung tâm chỉ huy địch ở sân bay Biên Hòa làm hiệu lệnh cho bộ binh, đặc công và lực lượng biệt động đồng loạt tiến công các vị trí trọng yếu trong thành phố: sân bay Biên Hòa, khu kho Long Bình, SCH Dã chiến 2 Mĩ, BTL Quân đoàn 3 QĐ Sài Gòn, ti cảnh sát... Các đơn vị của ta thọc sâu vào các căn cứ địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; nhưng lực lượng quần chúng nổi dậy chưa mạnh và không đều do tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ. Địch tập trung lực lượng lớn bộ binh, xe tăng và máy bay phân kích quyết liệt. Từ 2.2 lực lượng tác chiến của ta được lệnh rút khỏi thành phố, tiếp tục đánh địch ở vòng ngoài. Cuộc tiến công tuy không dứt điểm được các mục tiêu đã định, nhưng đã gây tổn thất và ghìm chân một bộ phận quan trọng lực lượng địch, góp phần hỗ trợ tích cực cho quân và dân ta tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thán 1968. TIẾN CÔNG CẦN THƠ XUÂN MẬU THÂN 1968. tiến công của LLVT Quân khu 9 kết hợp với nổi dây của quần chúng nhầm giành quyển làm chủ, tiêu diệt lực lượng và cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn tại tp Cần Thơ trong cuộc tổng tiến công và nói dậy Xuân Mậu Thân (1968). Lực lượng ta có: 4 tiểu đoàn bộ binh (307, 303, 309, Tây Đô), Tiểu đoàn pháo binh 2311, một số đơn vị đặc công và du kích địa phương. Lực lượng địch có: SCH Quân đoàn 4 - Vùng chiến thuật 4, tiểu khu Phong Dinh, trung tâm chỉ huy địa phương quân Vùng 4. trung tâm nhập ngũ Vùng 4 (thường xuyên có 1.000-1.500 tân binh), cư xá tình báo và lãnh sự quân Mĩ, 2 không đoàn (73 và 74), 2 liên đoàn biệt động quân (42 và 44) cùng nhiều tiểu đoàn, đại đội bảo an, dân vệ... Diễn ra 2 đợt. Đợt 1 (31.1-25.2), sáng 31.1 ta đồng loạt tiến công các khu vực: SCH Quân đoàn 4, dinh tỉnh trưởng, đài phát thanh, khu hậu cần và trung tâm nhập ngũ Vùng 4, các sân bay Lộ Tẻ và Trà Nóc, lãnh sự quân Mĩ...; phối hợp với tiến công QS, quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược và làm binh vận. Từ 1.2 địch phản kích quyết liệt; sau 4 ngày đêm chiến đấu, lực lượng ta bị tiêu hao, phải chuyển hướng đánh địch ở vùng ven. Đợt 2 (5.5-16.6), chủ yếu sử dụng đặc công đánh một số mục tiêu ở nội đô, các đơn vị bộ binh rút ra đánh địch ở vòng ngoài. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 3.000 địch, bắn rơi và phá hủy hơn 100 máy bay, bắn chìm 6 tàu chiến, bắn cháy 3 xe M113, phá hủy 10 khẩu pháo... Cuộc tiến công không đạt mục tiêu đề ra, nhưng đã giáng đòn bất ngờ và tiêu hao một phần sinh lực địch, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đầu Xuân 1968. TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC, loại hình cơ bản của hoạt động tác chiến chiến lược của LLVT, được sử dụng nhằm đạt những mục đích chính trị - QS có ý nghĩa chiến lược trong chiến tranh. Được thực hiện bằng cách tiến hành các chiến dịch chiến lược và các hình thức hoạt động tác chiến khác, diễn ra trên một hoặc một số chiến trường tác chiến (hướng chiến lược) theo một ý định và kế hoạch thống nhất của Bộ tổng tư lệnh. Để đạt được mục đích, TCCL phải đập tan được các tập đoàn chiến lược của LLVT đối phương, đôi khi còn loại khỏi vòng chiến một hoặc một số quốc gia và chiếm các vùng xung yếu chiến lược của đối phương, làm thay đổi cục diện chiến tranh hoặc kết thúc chiến tranh. TCCL có thể diễn ra thành giai đoạn quyết định của tiến trình chiến tranh và có thể kết thúc bằng cuộc tổng tiến công. Trong chiến tranh nhân dân ở VN, TCCL thường được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng giành quyền làm chủ trên quy mô lớn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:33:14 pm TIẾN CÔNG ĐÀ LẠT XUÂN MẬU THÂN 1968. tiến công của LLVT Quân khu 6 kết hợp với nổi dậy của quần chúng nhằm giành quyền làm chủ, tiêu diệt lực lượng và cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn t. Tuyên Đức tại tp Đà Lạt (nay thuộc t. Lâm Đồng) trong cuộc tổng tiến công và nổi dậ\ Xuân Mậu Thản (1968). Lực lượng ta có: 2 tiểu đoàn bộ binh (186 và 145) của Quân khu 6. Đại đội 810 bộ đội địa phương tỉnh. 1 đại đội trợ chiến, 1 đại đội đặc công, 2 đội biệt động (850 và 852), 3 đại đội (870, 816 và 815) của các huyện Lạc Dương. Đức Trọng, Đơn Dương. Lực lượng địch (khoảng 10.000 quân) gồm: 2 đại đội bảo an, 2 đại đội cảnh sát, 2 đại đội quân cảnh. 4 trung đội pháo 105mm, 3 chi đội thiết giáp, 28 đoàn bình định, hơn 2.000 học viên QS (các trường võ bị quốc gia, chiến tranh chính trị, cảnh sát) thuộc QĐ Sài Gòn và 2 đại đội quân Mĩ ở 2 trạm rađa - truyền tin. Đêm 30 rạng 31.1. ta đồng loạt tiến công vào tiểu khu Tuyên Đức, dinh tình trưởng, tỉnh đoàn bảo an, tòa thị chính, ti cảnh sát, trường chiến tranh chính trị, sân bay Cam Li,... tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy làm chủ các khu phố 3, 5 và một số phường thuộc các khu phố 2,4, 7, 9; bám trụ và đánh địch phân kích trong hơn 10 ngày. 17-19.2 tiếp tục tiến công địch ở các khu vực Vạn Kiếp, Quang Trung, Trại Mát,... sau đó chuyển ra chiến đấu ở vùng ven đô. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 2.700 địch, bắn rơi 14 máy bay, phá hủy 80 xe QS, 3 pháo 105mm. 2 kho xăng...; góp phần vào thắng lợi chung cuộc tổng tiên công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đầu Xuân 1968. TIẾN CÔNG ĐÀ NẰNG XUÂN MẬU THÂN 1968. tiến công của LLVT Quân khu 5 kết hợp với nổi dậy của quần chúng (là chính) nhầm giành quyền làm chủ. tiêu diệt lực lượng và cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn tại tp Đà Nẩng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Lực lượng ta, chủ yếu là lực lượng của Mặt trận 4 (thành lập 7.1967) gồm Trung đoàn bộ binh 31 (thiếu 1 tiểu đoàn), 2 trung đoàn pháo binh (575 và 577), 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn đặc công, các đơn vị biệt động, tự vệ thành, phối hợp với Sư đoàn bộ binh 2 (Quân khu 5) tiến công từ hướng nam. Do không kịp nhận lệnh hoãn (lùi 1 ngày so với kế hoạch), 2 giờ 30 phút 30.1, pháo binh ta đồng loạt bắn phá khu vực sân bay và các vị trí địch trong thành phố, nhưng nhiều mũi bộ binh vào chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công chưa tốt, bị địch phát hiện và chặn đánh ngay trên đường hành quân. Mũi luồn sâu của ta (1 tiểu đoàn) định đánh chiếm SCH Quân đoàn 1 của địch bị chặn lại bên bờ sông Cẩm Lệ, các lực lượng tiến công ở Phước Tường, Non Nước bị địch phản kích quyết liệt. Địch tập trung lực lượng phản kích, dùng hỏa lực không quân, pháo binh khóa chặt mọi ngả đường vào thành phố làm cho hàng chục nghìn nhân dân vùng ven vào tham gia khởi nghĩa bị chặn lại. Do thiếu sự hỗ trợ và phối hợp hành động, lực lượng quần chúng ở nội đô cũng không nổi dậy được. Cuộc TCĐNXMT1968 không thực hiện được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. TIẾN CÔNG ĐỊCH CƠ ĐỘNG, hình thức chiến thuật tiến công nhằm tiêu diệt lực lượng địch đang cơ động, tạo thế và thời cơ cho các hoạt động tiếp theo của cấp trên và địa phương. Địch cơ động có thể để tăng viện, ứng cứu, giải tỏa; vu hồi; thọc sâu; hành quân càn quét; cơ động lực lượng chiến đấu hoặc vận chuyển vật chất. Phương pháp TCDCĐ dựa vào thế trận của lực lượng tại chỗ, dụ địch vào khu vực dự kiến, tạo thế và thời cơ cho lực lượng chủ yếu tiến công; nắm vững thời cơ, bí mật cơ động, triển khai lực lượng kịp thời hình thành thể bao vây, chia cắt, căng địch ra ngay từ đầu và trong quá trình tiến công; tập trung lực lượng đủ mạnh vào hướng, khu vực, mục tiêu, trận đánh chủ yếu, tiến công liên tục bằng nhiều hướng, nhiều mũi vào bên sườn, phía sau quân địch, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, quy mô và thủ đoạn chiến đấu, đánh liên tục ngày đêm. đánh gần, cài xen kẽ kết hợp với tiến công rộng khắp của LLVT địa phương tiêu diệt địch; sẵn sàng đánh bại các lực lượng ứng cứu, giải tỏa. TIẾN CÔNG ĐỊCH MỚI CHUYỂN VÀO PHÒNG NGỰ, hình thức chiến thuật tiến công nhằm tiêu diệt quân địch phòng ngự trong hệ thống công sự trận địa chưa vững chắc, vật cản sơ sài. hệ thống hỏa lực chưa hoàn chỉnh, chỉ huy hiệp đồng chưa chặt chẽ. Trường hợp địch mới chuyển vào phòng ngự: bị tổn thất trong quá trình tiến công, phản công, chuyển vào phòng ngự để chờ lực lượng phía sau lên tiến công tiếp; khi cần phải bảo vệ sườn cho đội hình cấp trên tiến công. TCĐMCVPN có thể tiến hành bằng các hình thức chiến thuật: tiên công trong hành tiến, tập kích... Căn cứ vào tình hình cụ thể mà vận dụng cách đánh TCĐMCVPN cho phù hợp, thông thường tiến hành hỏa lực chế áp ngắn, bất ngờ, mãnh liệt tiêu diệt các hỏa điểm, xe tăng, xe thiết giáp của địch trên các hướng tiến công: chế áp các SCH và các trận địa pháo cối của địch; bất ngờ tiến công nhiều hướng, nhiều mũi, đồng loạt xung phong vào đội hình địch, nhanh chóng thọc sâu tiêu diệt mục tiêu hiểm yếu, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận địch, không để dịch co cụm đối phó, chủ động kết thúc trận đánh trong điều kiện có lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:35:09 pm TIẾN CÔNG ĐỊCH TẠM DỪNG, hình thức chiến thuật tiến công nhằm tiêu diệt quân địch tạm dừng trong thời gian ngắn, tạo điều kiện cho hoạt động tác chiến tiếp theo của cấp trên. Trường hợp địch tạm dừng: quá trình cơ động bị ngăn chặn, khi tiến công không thành, tăng viện, phản kích, ứng cứu giải toả bị sát thương lớn: khi đánh chiếm được mục tiêu hoặc sau một ngày, đêm càn quét... Khi tạm dừng, địch thường chọn địa hình có giá trị chiến thuật để bố trí đội hình, tổ chức quan sát, lùng sục, cảnh giới từ xa, dùng hỏa lực đánh phá ngăn chận. Cách đánh TCĐTD: dựa vào thế trận của cấp trên, khu vực phòng thủ địa phương, bí mật vận động tiếp cận triển khai đội hình thành thế bao vây sát địch; bất ngờ tiến công từ nhiều hướng, nhiều mũi; vận dụng các thủ đoạn thọc sâu, chia cắt, nghi binh, kiềm chế, phát triển chiến đấu nhanh vào mục tiêu chủ yếu, tiêu diệt toàn bộ quân địch, nhanh chóng kết thúc trận đánh. TIẾN CÔNG ĐUỜNG KHÔNG CHIẾN LƯỢC, tiến công đường không quy mô lớn, sử dụng tối đa máy bay ném bom chiến lược. tên lửa hành trình,... tập trung đánh vào các mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, gây thiệt hại nặng cho đối phương ở một khu vực hoặc cùng lúc ở nhiều khu vực. nhằm thực hiện ý đồ chiến lược và làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho bên tiến công. TCĐKCL có thể tiến hành ngay thời kì đầu và trong quá trình chiến tranh. TIẾN CÔNG HUẾ XUÂN MẬU THÂN 1968. tiến công của LLVT Quân khu Trị-Thiên kết hợp với nổi dậy của quân chúng nhằm giành quyền làm chủ, tiêu diệt lực lượng và cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn tại Thừa Thiên - Huế (trọng điểm là tp Huế) trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Lực lượng ta có: 2 trung đoàn (6 và 9) cùng 4 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo phản lực ĐKB, các đội biệt động thành, bộ đội địa phương huyện và du kích xã..., sau được tăng cường 3 trung đoàn bộ binh của các sư đoàn 324, 325. Lực lượng địch có: 14 tiểu đoàn bộ binh (6 tiểu đoàn Mĩ, nòng cốt là Sư đoàn bộ binh 1 QĐ Sài Gòn), 4 chi đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo binh. 2 tiểu đoàn công binh, các đơn vị cảnh sát, bình định, bảo an, dân vệ..., sau tăng lên 23 tiểu đoàn (15 tiểu đoàn Mĩ) và được sự chi viện mạnh của không quân, pháo hạm. Giai đoạn chuẩn bị tiến công: từ 7.1 LLVT quân khu đẩy mạnh hoạt động ở khu vực nam Quảng Trị. Phú Lộc. phối hợp với mặt trận đường 9 mở chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968) nhằm nghi binh phân tán chủ lực địch, tạo thuận lợi cho hướng tiến công chủ yếu đánh chiếm tp Huế. Giai đoạn tiến công: 2 giờ 33 phút 31.1, với cách đánh bất ngờ, đồng loạt, kết hợp chặt chẽ tiến công và khởi nghĩa, đến 3.2 lực lượng CM đánh chiếm phần lớn mục tiêu quan trọng trong thành phố (trừ SCH Sư đoàn bộ binh 1 của địch ở Mang Cá), giành quyền làm chủ ở nhiều xã thuộc các huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền...; từ 7.2 tập trung đánh địch phản kích, giữ vững quyền làm chủ. đến 23.2 được lệnh rút ra khỏi thành phố, tiếp tục đánh địch ở vòng ngoài. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 20.000 địch, bắn cháy và phá hủy 50 máy bay, hàng trăm xe QS, thu và phá hủy hơn 2.500 súng, pháo các loại cùng nhiều kho tàng, phương tiện QS khác; đập tan phần lớn bộ máy chính quyền địch ở cấp tỉnh, huyện tới xã, thôn, giải phóng hàng nghìn tù chính trị và hàng trăm nghìn dân, thành lập chính quyền CM ở nhiều nơi. Thắng lợi của TCHXMT 1968 (trong đó việc giành và giữ vững quyền làm chủ ở nội thành Huế 25 ngày đêm) có ý nghĩa lớn về chính trị, QS, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68355831_461238404606045_6345021998892056576_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHsaXBpBHF2ZeBryJjuiOgT15RkaumoDa6PU1ZH6GSj3MkrufaowqYsKR0-AKTVQMsD4jjJORWVG3QVFP1ivi0Jet_uxjED1vbhnF8R2Kh1HA&_nc_oc=AQkNqrvKPcuBFNmq8IZDzgzFML6Z3OX-nf-lUx99zKvP_elsJeDrG8CL1IBwdnH7gBk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=34f7547367fb6a99062de4121b9da1de&oe=5DDCDDB7) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:36:50 pm TIẾN CÔNG QUA BIÊN GIỚI, hoạt động quân sự của một nước đối với nước khác, do LLVT thực hiện với quy mô tương đối lớn nhằm tiêu diệt sinh lực, đánh chiếm và làm chủ khu vực địa hình quan trọng ở vùng biên giới thuộc lãnh thổ đối phương, phục vụ ý đồ chính trị QS của một nước hoặc một tổ chức chính trị. TCQBG được tiến hành bằng các trận chiến đấu, các trận tập kích qua biên giới của bộ binh (bộ binh cơ giới), máy bay, hóa lực pháo binh, tên lửa,... và cả lực lượng phi vũ trang với phương thức đánh nhanh rút nhanh hoặc phương thức tiến công QS kết hợp chính trị qua biên giới đối phương nhằm hỗ trợ bạo loạn lật đổ, li khai tự trị, tranh thủ phân hóa, li gián và bắt đối phương phải khuất phục. TIẾN CÔNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH XUÂN MẬU THÂN 1968, tiến công chiến lược của các LLVT giải phóng miền Nam VN vào Sài Gòn - Gia Định, hướng tiến công chủ yếu của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Theo kế hoạch đã định, đêm 30 rạng 31.1 các đội biệt động, đặc công và các tiểu đoàn mũi nhọn từ 5 hướng thọc sâu vào nội thành Sài Gòn, cùng lúc bất ngờ tiến công tòa đại sứ Mĩ, dinh Độc Lập, đài phát thanh, BTL hải quân. BTTM QĐ Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều mục tiêu trọng yếu khác. Ở hầu hết các mục tiêu, ta đột nhập đánh chiếm được một phần, nhưng do lực lượng tiếp ứng không đến kịp, địch điều lực lượng tổng dự bị đến phản kích nên ta phải rút ra đánh địch ở vùng ven. Ở vòng ngoài, các sư đoàn bộ đội chủ lực Miền (5, 7 và 9) tiến công nhiều căn cứ, ngăn chặn và kiềm chế hoạt động của các sư đoàn Mĩ và QĐ Sài Gòn. Từ 19 đến 28.2 ta tiếp tục tiến công, pháo kích nhiều mục tiêu trong nội thành (đài rađa Phú Lâm. sân bay Tân Sơn Nhất, Nha cảnh sát Đô Thành...), đồng thời đánh địch càn quét giải tỏa ở vùng ven. TCSG-GĐXMT1968 giành thắng lợi to lớn (tuy chưa đạt yêu cầu cao nhất), đưa chiến tranh CM vào trung tâm đầu não, làm rối loạn hậu phương địch, góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ; để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tiến công địch trong thành phố. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68443438_461238587939360_4989863936154140672_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFxsdbmVpveR8ZTx0c_fafkBIvrLCVDVXdAG35YTC0dWMvLcL-DgqtWplvEj6surcWs5R6IkFFkofFc5FhXqVDDaOBfbdJiQilJ60Bw957Tmg&_nc_oc=AQnTopIYIxTDcvpaxJwtynmbqbe7u8Tvt5kFxyylFWTVflJkxLKUshwFWnO-LoVt6pA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8b42d923f79ea877301d50e81f48d029&oe=5DEE7578) TIẾN CÔNG SẨM NƯA (4-30.9.1960), đợt tiến công của LLVT Pathét Lào, sau khi chính phủ liên hiệp lần thứ nhất tan vỡ (8.1958), nhằm khôi phục vùng giải phóng ở Thượng Lào, xây dựng căn cứ địa KCCM. Nhân lúc lực lượng phái hữu Lào phải đối phó với cuộc đảo chính Coong Le (9.8.1960) ở Viêng Chăn, Tiểu đoàn 1 Pathét Lào và bộ đội địa phương Hủa Phăn, phối hợp với một bộ phận quân tình nguyện VN, tập kích các cứ điểm Sốp San (4.9), Xiềng Khọ (6.9), Mường Liệt, Noọng Khang, Mường Pua (11.9), chiếm điểm cao Huổi Thầu, pháo kích sân bay Sầm Nưa; tiếp đó sử dụng lực lượng nhỏ thọc sâu hướng Bản Ngựu, còn đại bộ phận tiến công địch ở tx Sầm Nưa. Bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy, LLVT Pathét Lào truy kích đến Mường Pồn (28.9), buộc địch ở Mường Hâm đầu hàng (30.9). Kết quả loại khỏi chiến đấu 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội dù, 25 đại đội dân vệ, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng, giải phóng t. Sầm Nưa rộng 5 000km2 với 110.000 dân. TIẾN CÔNG TRẬN ĐỊA, tiến công quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc (kiên cố). TCTĐ thường phải đột phá trận địa phòng ngự của địch, phát triển tiến công vào chiều sâu và sang hai bên, tiêu diệt địch và đánh chiếm khu vực, mục tiêu quy định. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:42:40 pm TIẾN CÔNG TRONG HÀNH TIẾN, phương pháp chuyển vào tiến công từ vị trí cách xa quân địch phòng ngự, bộ đội vận dộng từ phía sau lên, lần lượt triển khai thành đội hình trước chiến đấu và đội hình chiến đấu, không dừng lại trước tiền duyên phòng ngự địch để làm công tác chuẩn bị, thực hành công kích ngay. Được vận dụng khi phòng ngự của quân địch bị phá hoại và chế áp nặng bằng hỏa lực hoặc bằng vũ khí hạt nhân; khi đưa thê đội 2 (đội dự bị) vào tác chiến; khi đột phá các tuyến (trận địa) trung gian của quân địch; khi tiến công quân địch mới chuyển vào phòng ngự, trong điều kiện địa hình và mạng đường sá cho phép cơ động bộ đội được thuận lợi. Để tiến hành TCTHT, cần xác định các tuyến: điều chỉnh, triển khai, tuyến chuyển sang công kích... Khu vực xuất phát tiến công được chọn tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, nhưng thường ở ngoài tầm hỏa lực pháo binh của đối phương. TIẾN CÔNG TỪ VỊ TRÍ TRỰC TIẾP TIẾP XÚC, phương pháp chuyên vào tiến công từ vị trí phòng ngự trực tiếp với quân địch sau khi đã bố trí lại đội hình chiến đấu, hoặc bộ đội từ phía sau lên thay phiên và chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công trực tiếp với trận địa phòng ngự của địch. TIẾN CÔNG VÀO KHU VỰC ĐỊCH PHÒNG NGỰ, tiến công nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch trong và ngoài công sự (lấy diệt địch ngoài công sự là phổ biến); chiếm giữ khu vực mục tiêu khi cần thiết; tạo thế, thời cơ cho các hoạt động tiếp theo của cấp trên và địa phương. Đặc điểm phòng ngự của địch: lấy hành động phòng ngự, giữ vững địa hình có giá trị làm cơ sở, kết hợp với các hoạt động tiến công; phần lớn lực lượng triển khai giữ trận địa, một phần bố trí ở phía sau làm nhiệm vụ cơ động; trận địa vật cản xây dựng vững chắc; phòng ngự có chính diện, chiều sâu. Phương pháp TCVKVĐPN dựa vào thế trận của khu vực phòng thủ địa phương, bí mật cơ động, triển khai lực lượng hình thành thế trận trước khi tiến công; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, tạo sức ép mạnh, buộc địch tăng viện, phản kích để tiêu diệt địch ngoài công sự ở khu vực đã dự kiến và chuẩn bị; tích cực chủ động tạo và nắm thời cơ, tập trung lực lượng tạo sức mạnh ưu thế, vận dụng cách đánh linh hóạt, tiến công kiên quyết, tiêu diệt từng bộ phận địch bằng một số trận liên kết chặt chẽ và kết hợp với đánh rộng khắp của LLVT địa phương; tích cực phòng chống vũ khí công nghệ cao và tác chiến điện tử của địch. “TIẾN QUÂN CA”, quốc ca của nước VN DCCH (nay là CHXHCN VN), do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác 1944. Đầu tiên được sử dụng làm bài ca chính thức của Trường quân chính kháng Nhật. 16.8.1945 theo đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã chọn “TQC” làm quốc ca. 9.11.1946 được Quốc hội khóa I nước VN DCCH chính thức phê chuẩn. Được ghi vào Hiến pháp nước VN DCCH 1946 và Hiến pháp nước CHXHCN VN 1992. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67825375_461238604606025_7004050138796654592_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFTmWM-s31O2hC-LjJEjcM0SWMu4k4jQNEniShjDMroc6rveiqSysqHUn51-dbqBp1RJWH2RFpfLw0JlLaLF1t8T0iqOrofWI97jy2MRMwqMA&_nc_oc=AQnemPBFfTvgo7fXNzuwz-9OS25VzNi7RGUCfe9QKbQXhnSGxsx9F2cQb14OYb58qZQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=eeadd2cf8d325b8b3959d44d55b600c2&oe=5DE30979) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:44:40 pm TIẾN VÀO CHIẾN ĐẤU, hoạt động tác chiến của lực lượng đánh địch ngoài công sự, lực lượng cơ động tiến công hoặc lực lượng dự bị vận động tiến lên, triển khai và tác chiến. Trong tiến công nhằm tăng cường cho lực lượng đột kích phát huy kết quả chiến đấu; thay thế lực lượng tiến công đã bị tổn thất hoặc đánh địch phản kích, ứng cứu, giải tỏa, đổ bộ đường không, tiêu diệt lực lượng địch bị bao vây. Trong phòng ngự nhằm tăng cường cho lực lượng phòng ngự đã bị tổn thất hoặc thay thế phòng ngự; phản kích; đánh địch đổ bộ đường không, vu hồi hoặc phòng ngự trong chiều sâu khi địch đã đột phá được phòng ngự. Cg bước vào chiến đấu. TIẾN VÀO CỬA ĐỘT PHÁ, hoạt động tác chiến tiến công của bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng, lợi dụng kết quả hỏa lực chuẩn bị, vượt qua tuyến xuất phát xung phong, vận động với tốc độ cao, kết hợp phát huy tối đa sức mạnh hỏa lực của các loại vũ khí nhanh chóng TVCĐP, thực hành công kích mãnh liệt, tiến công liên tục. Trong'quá trình vận động phải tổ chức hỏa lực tiêu diệt, chế áp các hỏa điểm, phương tiện chống tăng, xe tăng, xe bọc thép địch; lợi dụng địa hình cơ động hỏa khí (cối, ĐKZ, súng máy phòng không) bám sát bộ binh, xe tăng, chi viện liên tục và kịp thời. TIẾP DẨU TRÊN KHÔNG, tiếp thêm nhiên liệu cho máy bay ở trên không từ một máy bay khác bàng thiết bị chuyên dùng. TDTK làm tăng thời gian, tầm hoạt động, tăng đáng kể tài trọng chiến đấu và giảm đáng kể số lần xuất kích. TIẾP NHẬN XĂNG DẦU, hoạt động thu nhận xăng dầu từ các phương tiện vận chuyển và các thiết bị chuyên dùng vào kho chứa theo các hợp đồng mua bán, giao nhận, vận chuyển và các phiếu, lệnh xuất, nhập của cấp có thẩm quyền. Khi TNXD phải đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, xác định rõ tỉ lệ hao hụt và đảm bảo an toàn bằng các phương pháp, biện pháp, quy định và các phương tiện, thiết bị chuyên dùng. Việc TNXD có thể thực hiện tại các kho xăng dấu cố định và kho xăng dầu dã chiến. TIẾP QUẢN, thu nhận và quản lí lãnh thổ và dân cư, cơ sở vật chất kĩ thuật và phương tiện KTQS, cơ sở kinh tế và văn hóa - xã hội khi đối phương rút chạy, đầu hàng hoặc giao lại trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên khi kết thúc chiến tranh. TQ được tiến hành chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn; các trung tàm QS. kinh tế, văn hóa... Phía TQ thường phải giải quyết nhiều vấn đề như: công bố chính sách TQ; thiết lập trật tự mới; trấn áp sự phản kháng của các lực lượng đối lập; xây dựng chính quyền địa phương (lúc đầu thường thực hiện chế độ quân quân); ban bố luật pháp và các quy định bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội (lúc đầu thường thực hiện lệnh giới nghiêm), duy trì các hoạt động về kinh tế, văn hóa phù hợp với chính sách TQ. Ở VN từ 7.1954, theo hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương, Quân đội nhân dân Việt Nam đã TQ những vùng do quân Pháp chiếm đóng từ bắc vĩ tuyến 17; từ 30.4.1975 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã TQ tp Sài Gòn - Gia Định và các địa phương ở miền Nam VN sau khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng không điều kiện. TIẾP TẾ QUÂN Y, mặt công tác nghiệp vụ của ngành quân y có nhiệm vụ tạo nguồn cung cấp và quản lí mọi vật tư quân y nhằm đảm bảo vật chất cho ngành quân y phục vụ QĐ. Nội dung TTQY gồm: tạo nguồn, tiếp nhận, tổ chức tiếp tế, kho, bào chế thuốc, đảm bảo kĩ thuật trang bị và kiểm soát, kiểm nghiệm thuốc. TIẾP TẾ TRÊN BIỂN, bổ sung các phương tiện vật chất cho tàu thuyền đang ở trên biển, được thực hiện tại các khu vực đã xác định. Có thể tiến hành khi đang hành trình, thả trôi hoặc neo đậu. Trong trường hợp khẩn cấp, TTTB có thể thực hiện bằng máy bay hoặc máy bay trực thăng, bằng cách thả hàng xuống biển để vớt lên hoặc chuyển hàng trực tiếp xuống boong tàu. TIỂT CHẾ (cổ), chức danh tổng chỉ huy QĐ hoặc chỉ huy một lực lượng QĐ trong chiến tranh dưới một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra dưới triều vua Trần Nhân Tông (1279-93) và phong cho Trần Quốc Tuấn khi ông thống lĩnh quân vương hầu và quân triều đình chống quân Nguyên - Mông xâm lược. TC tiêu biểu cho quyền lực, không phải là chức vụ chính thức. Thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông, những năm dưới niên hiệu Hồng Đức (1470-97), TC được phong cho tướng chỉ huy một đạo quân hoặc một lực lượng tham chiến. Vd: trong cuộc hành binh 1479, Sùng quận công Lê Thọ Vực được phong TC các doanh du kích, Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn được phong TC các doanh hoành dã. Từ đời vua Lê Chiêu Tông (1516-22) về sau, TC dùng để phong cho người chỉ huy các doanh thủy bộ hoặc các dạo (lộ). Từ 1788 (năm cuối thời Hậu Lê) không còn chức danh này. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:46:12 pm TIẾT ĐỘ SỨ (cổ), chức quan đặt ra từ triều Đường đến triều Nguyên (TQ). Thời kì năm 710-711 bắt đầu có tên gọi TĐS. Đầu đời Huyền Tông Thiên Bảo, có 9 TĐS dọc biên giới. Sau vụ loạn An - Sử ở nội địa nhiều nơi cũng đặt TĐS. Đến đầu Bắc Tông chính quyền trung ương thu hồi binh quyền, TĐS chỉ là hàm danh dự trao cho những người có công trong tôn thất, hoặc bổ nhiệm nhưng không có thực quyền. Đến thời Nguyên bãi bỏ. Nửa cuối tk 9 triều Đường đặt chức TĐS ở VN, đầu tiên là Chu Toàn Dục. TIÊU CHỈ ĐƯỜNG HÀNH QUÂN, dấu hiệu đặt trên đường hành quân ở nơi dễ thấy để thông báo về hướng, đường hành quân hoặc đặc điểm của đường hành quân. Theo cách chế tác, có TCĐHQ: chế sẵn, ứng dụng. Theo phương tiện giao thông, có TCĐHQ: đường bộ, đường sắt. đường thủy... Do người chỉ huy quy định thống nhất trong đơn vị và thường do bộ phận tiền trạm đặt. Cg lộ tiêu hành quân. TIÊU CHUẨN ĐỊNH LƯỢNG ĂN, định lượng lương thực, thực phẩm, chất đốt do Nhà nước và BQP quy định bảo đảm cho một quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng trong 1 ngày. Quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc các đối tượng khác nhau (quân chủng, binh chủng, ngành nghề chuyên mòn, điều kiện công tác...) có TCĐLĂ khác nhau, được xác định trên cơ sở mức độ tiêu hao năng lượng trong quá trình luyện tập, công tác, chiến đấu, phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế của đất nước và khả năng ngân sách quốc phòng, phong tục tập quân ăn uống và điều kiện địa lí, khí hậu của đất nước. TCĐLĂ dùng làm căn cứ tính toán xây dựng kế hoạch bảo đảm ăn cho bộ đội. Cg khẩu phần ăn. TIÊU CHUẨN KĨ THUẬT, tài liệu kĩ thuật dưới dạng văn bản, bảng, biểu bao gồm các dạng tiêu chuẩn, các quy định bắt buộc có liên quan đến thiết kế, chế tạo, sử dụng và sửa chữa sản phẩm KTQS. TCKT xác định các tham số chính, kích thước, tính chất hoặc đặc điểm sử dụng sản phẩm, chỉ số chất lượng, tính đồng bộ sản phẩm... Trong nghiệm thu và cung ứng có chỉ dẫn thứ tự và quy phạm kiểm tra thử nghiệm của nhà máy khi xuất sản phẩm để bàn giao và nghiệm thu sản phẩm của người đặt hàng. Trong kiểm tra (thử nghiệm, phân tích, đo đạc) có các quy định: phương pháp xác định các tham số, tính năng của sản phẩm so với tiêu chuẩn và yêu cầu đặt ra; quy tắc lựa chọn mẫu sản phẩm hoặc mẫu thử, thiết bị, dụng cụ, vật liệu và chất (thuốc) thử; phương pháp chuẩn bị và tiến hành thử nghiệm, phân tích và đo đạc; phương pháp xử lí kết quả. Trong quy tắc sử dụng, vận chuyển và bảo quản có các chỉ dẫn lắp ghép, hiệu chình và sử dụng sản phẩm; các quy định về bao gói và vận chuyển; vị trí, điều kiện và thời hạn bảo quản. Có TCKT cho một loại sản phẩm riêng biệt, cho một nhóm sản phẩm. Ở VN, TCKT được xác lập, phê chuẩn và đăng kí tại Tổng cục tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng nhà nước. TCKT có hiệu lực trong một thời hạn nhất định và được thay đổi khi trình độ sản xuất đạt tới một mức độ nhất định. TIÊU CHUẨN QUÂN TRANG, danh mục và số lượng quân trang quy định cụ thể cho quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng được hưởng trong một thời hạn nhất định. Có TCQT riêng cho sĩ quan, binh sĩ, TCQT chuyên dụng cho các đối tượng khác nhau. TCQT được xây dựng trên cơ sở yêu cầu xây dựng và tác chiến của QĐ, phù hợp với điểu kiện phát triển kinh tế của đất nước, khả năng ngân sách quốc phòng và điểu kiện địa lí, khí hậu đất nước. TCQT dùng để làm căn cứ tính toán xây dựng kế hoạch đảm bảo quân trang cho bộ đội. TIÊU ĐỘC, phân hủy chất độc thành chất không độc và gạt bỏ chất độc ra khỏi bể mặt các đối tượng và địa hình để ngăn chặn tác hại đối với người; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. Được tiến hành bằng các khí tài, trang bị kĩ thuật với các chất tiêu độc, các dung môi hữu cơ và nước; bằng các phương pháp hóa học, cơ học, vật lí và hóa lí. Có TĐ sơ bộ và TĐ toàn bộ. TĐ sơ bộ là xử lí những chỗ lộ hở trên da, một phần bề mặt các đối tượng nơi thường phải tiếp xúc (vũ khí, tay cầm, núm vặn, chỗ ngồi...) bằng lực lượng tại chỗ và khí tài TĐ hiện có, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến đấu. TĐ toàn bộ là xử lí tất cả bể mặt đối tượng bị nhiễm và xử lí vệ sinh cho người, được tiến hành ở các trạm tiêu tẩy ngoài khu nhiễm bằng lực lượng phân đội tiêu tẩy và đơn vị bị nhiễm, sau khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:47:14 pm TIÊU HAO PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT, hao tổn vô hình hoặc hữu hình và các tổn thất, mất mát về tài sản quân đội diễn ra trong quá trình khai thác, sử dụng cả thời bình và thời chiến do sự tác động của mọi nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời bình, THPTVC thể hiện trước hết trong quá trình tiêu dùng thường xuyên, bao gồm tiêu hao cho các hoạt động tác chiến và tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ lưỡng dụng khác trong hoạt động huấn luyện, diễn tập, nuôi quân, xây dựng cơ sở vật chất, bảo quản và khai thác vũ khí, trang bị.... của các LLVT; tiêu hao do tác động của môi trường tự nhiên, sự thất thoát do các nguyên nhân chủ quan, các hình thức khấu hao vô hình khác... THPTVC thời chiến bao gồm những tổn thất trực tiếp và gián tiếp do chiến tranh gây ra trên chiến trường và ở hậu phương. Mức độ tổn thất và THPTVC trong chiến tranh được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật. THPTVC trong chiến tranh là tiêu hao do khai thác, sử dụng vũ khí, đạn dược, trang bị kĩ thuật, các chi phí cho bảo đảm kĩ thuật, bảo đảm hậu cần và các thiệt hại, tổn thất do các hoạt động QS gây ra (những thiệt hại về các công trình, tài sản công cộng, thiệt hại của dân chúng về vật chất, tài sản, cơ sở, nhà cửa, phương tiện vận tải). Phần THPTVC gắn với nguồn ngân sách cấp được gọi là chi phí chiến tranh từ ngân sách. Tiêu hao gián tiếp bao gồm việc thanh toán hưu trí, tổn thất chi cho các gia đình nạn nhân, trả phần trãm (%) lãi suất vay tín dụng để mua hàng QS, chi phí cần thiết để phục hồi tiềm lực vật chất đã bị thất thoát... Dự báo về mức độ THPTVC trong chiến tranh, đặc biệt là trong thời kì đầu chiến tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc chuẩn bị trong thời bình các đối sách chiến lược và trù tính cơ cấu “dự trữ nóng” và “dự trữ lạnh”. TIÊU TẨY chuyên môn, biện pháp khắc phục hậu quả của vũ khí hủy diệt lớn, gồm: tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện vận tải, quân trang, quân dụng, khí tài, địa hình và xử lí vệ sinh cho người. TTCM do bộ đội hóa học làm nòng cốt với sự tham gia của các lực lượng khác và phụ thuộc vào loại nhiễm, mức độ nhiễm, các phương tiện tiêu tẩy hiện có và các điểu kiện khác. TTCM có thể tiến hành sơ bộ hay toàn bộ ngay tại đơn vị bị nhiễm hoặc tại trạm tiêu tẩy. TIÊU TẨY địa hình, tiêu độc, tẩy xạ và diệt trùng địa hình ở các trận địa (hỏa lực, phòng ngự, xuất phát tiến công...), các SCH, các đoạn đường, bến phà, trạm quân y, kho tàng.... để hạn chế tác hại cho bộ đội; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn, do phân đội tiêu tẩy tiến hành. Tùy theo đặc điểm và quy mỏ khu vực địa hình bị nhiễm, loại và mức độ nhiễm, phạm vi phải tiêu tây, thời gian cho phép và khả năng của phân đội mà chọn phương án tiêu tẩy thích hợp. Có thể tiến hành tiêu tẩy toàn bộ địa hình, hoặc chỉ những khu vực (đoạn) địa hình quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chiến đấu của bộ đội. TIÊU TẨY VŨ KHÍ, TRANG BỊ KĨ THUẬT, tiêu độc, tẩy xạ và diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật để hạn chê tác hại đến người sử dụng; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. do các phân đội tiêu tẩy tiến hành. Có tiêu tẩy sơ bộ và tiêu tẩy toàn bộ. Tiêu tẩy sơ bộ nhằm xử lí những bộ phận thường phải tiếp xúc: tay cầm, cần gạt, cứa xe, núm vặn...; do lực lượng tại chỗ dùng khí tài tiêu tẩy hiện có tiến hành, không đề ảnh hường đến nhiệm vụ chiến đấu. Tiêu tẩy toàn bộ nhằm xử lí tất cả bể mặt đối tượng bị nhiễm, được tiến hành ở các trạm tiêu tẩy ngoài khu nhiễm bằng lực lượng phân đội tiêu tẩy và đơn vị bị nhiễm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc khi tạm dừng chiến đấu. TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN, hành động của phía kháng chiến tự triệt phá nhà cửa, ruộng vườn, hệ thống giao thông, công trình kiên cố, kho tàng, cơ sở sản xuất không di chuyên được... nhằm ngăn chặn bước tiến của địch, không cho địch lợi dụng khi chiếm đóng. Thường được áp dụng trong thời kì đầu chiến tranh. Ở VN trong những năm đầu KCCP, TTKC được thực hiện trên quy mô cả nước, nhất là ở các thành phô với sự tham gia rộng khắp của quần chúng nhân dân. TIÊU VĂN (Xiao Wen; 1890-?), phó tư lệnh quân Quốc dân đảng TQ vào Đông Dương (1945-46), thay mặt Đồng minh nhận sự đầu hàng và giải giáp quân Nhật ở miền Bắc VN và Lào (bắc vĩ tuyến 16). Người Quảng Đông (TQ); trung tướng (1943). Năm 1942 chủ nhiệm chính trị Chiến khu 4 đóng ở Quảng Tây (TQ), phụ trách nhóm tay sai người Việt lưu vong tại TQ. 3.1945 phái các nhóm “Phục quốc” (tổ chức tay sai người Việt do Quốc dân đảng TQ lập ra) về VN hoạt động tình báo và chuẩn bị cơ sở cho quân Tường vào VN. Trong thời gian ở VN, TV đòi cải tổ chính phủ VN DCCH, đòi đưa người của VN Quốc dân đảng giữ các chức thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, bộ trường ngoại giao; cùng với Lư Hán thực hiện chủ trương “diệt cộng sản, bắt giữ Hồ Chí Minh”, “trước hết tiêu diệt Việt Minh, sau mới giải giáp quân Nhật”; gây các vụ khiêu khích, bắt cóc cán bộ VN, khủng bố, phá rối trật tự an ninh, giúp bọn tay sai người Việt xây dựng LLVT riêng, xuất bản báo chí phản động chống phá CM VN. Ở lại TQ khi quân Tưởng rút ra Đài Loan (1949). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:48:36 pm TIỂU Á, bán đảo ở Tây Á, lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kì, bao xung quanh là các biển: Địa Trung Hải, Biển Đen, Êgiê, Macmara, ngăn cách với châu Âu bởi các eo biển Bôxpho, Đacđanen. Dt gần 400.000km2. Cao nguyên Tiểu Á chiếm gần hết diện tích. Ven theo bờ biển là các dải đất thấp và hẹp. ở TA có các căn cứ QS của Thổ Nhĩ Kì, Mĩ và các nước thuộc khối NATO. TIỂU ĐIỂN (cổ), lễ đăng kí hộ tịch để duyệt dân tuyển quân, tiến hành 3 năm một lần dưới thời Lê Sơ nhà Hậu Lê. Được đặt ra dưới triều vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 1 (1470) (xt đại điển). TIỂU ĐOÀN, phân đội chiến thuật lớn nhất, liền trên đại đội. Thường gồm 3-4 đại đội và một số trung đội trực thuộc, nằm trong biên chế trung đoàn, lữ đoàn, huyện đội hoặc được tổ chức độc lập trong các đơn vị từ cấp sư đoàn (và tương đương) trở lên để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác. Có TĐ chiến đấu (TĐ bộ binh, TĐ pháo binh, TĐ xe tăng, TĐ đặc công, TĐ hải quân đánh bộ...), TĐ bảo đảm hoặc phục vụ (TĐ công binh, TĐ thông tin, TĐ hóa học, TĐ quân y, TĐ vận tải...). Trong QĐND VN, TĐ được quy định tổ chức lần đầu tiên theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946, biên chế chi tiết theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946, là thành phần trong trung đoàn từ giữa 1946 (sau khi các chi đội được cải tổ, sáp nhập thành trung đoàn). TIỂU ĐOÀN 2, tiểu đoàn pháo binh tầm xa thuộc Đoàn pháo binh 75; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1969 và 1976). Tiền thân là Tiểu đoàn 21, Trung đoàn 204 BTL pháo binh, thành lập 1967, trang bị pháo 130mm. Tham gia chiến đấu bảo vệ vùng biển Quân khu 4 (1967-68), chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, đánh địch ở Dốc Miếu, Quán Ngang, Đông Hà, Cửa Việt (1968-69), tham gia chiến dịch Cánh Đồng Chum (Lào 1971). Năm 1973 hành quân 2.000km vào chiến trường Đông Nam Bộ an toàn. 1974-75 mang phiên hiệu Tiểu đoàn 2, thuộc Đoàn pháo binh 75, tham gia giải phóng tỉnh Phước Long, Lâm Đồng, Bình Long và chiến dịch Hồ Chí Minh (góp phần hạn chế hoạt động của không quân địch, chi viện bộ binh phá vỡ tuyến phòng thủ Xuân Lộc, khống chế làm tê liệt sân bay Biên Hòa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ). 1967- 75 đã đánh 580 trận, tiêu diệt trên hai nghìn địch, bắn cháy, bắn chìm, làm trọng thương 40 tàu các loại, phá hủy 26 xe QS (có 20 xe tăng), 12 khẩu pháo các loại, 8 máy bay (2 C-130), 8 SCH các cấp, 3 trung tâm thông tin, 1 trận địa pháo, 30 lô cốt, 9 khu nhà, 23 kho xăng dầu. Huân chương: 3 Quân còng, 20 Chiến công, “Đơn vị Thành đồng quyết thắng 1968”. TIỂU ĐOÀN 4, tiểu đoàn thông tin vô tuyến điện tiếp sức thuộc Lữ đoàn 614, BTL binh chủng thông tin liên lạc; đơn vị AhLLVTND (9.1975). Thành lập 12.4.1962. Tiền thân là Đại đội vô tuyến điện tiếp sức 22, Trung đoàn thông tin 205, Cục thông tin liên lạc (thành lập 19.8.1959). TĐ4 gồm: 3 đại đội thông tin (12, 13 và 14) cùng bộ phận phục vụ. Trong KCCM, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin đường trục vô tuyến điện tiếp sức, từ BQP (BTTM) đến một số đơn vị trên các chiến trường. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Tô Minh Nhật, Nguyễn Khước. TIỂU ĐOÀN 61, tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không tầm trung thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1967). Thành lập 7.1.1965. Trong KCCM, chiến đấu trên nhiều tỉnh, thành phố ở miền Bắc và t. Quảng Trị. Đánh 162 trận, bắn rơi 42 máy bay (có 3 B-52), gồm 9 kiểu, loại, 16 chiếc rơi tại chỗ. 11.8.1965 tại Xích Thổ (Ninh Bình) ra quân trận đầu bằng 3 quả đạn bắn rơi 3 máy bay (2 F-4, 1 A-4). Ngày 7.3.1966 tại Quỳnh Thắng (Quỳnh Lưu, Nghệ An), bằng 1 quả đạn bắn rơi 2 máy bay trinh sát RF-101. Ngày 4.2 và 30.4.1967 tại Vạn Điểm (Hà Nội) đánh 2 trận, bắn rơi 2 máy bay không người lái trinh sát tầng cao BQM-34. Ngày 27.12.1967 tại Lĩnh Nam bằng 1 quả đạn bắn rơi máy bay không người lái bay thấp 147J. Ngày 13.4.1972 tại Ái Sơn bắn rơi 1 B-52. Một cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (3 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Hồ Sĩ Hưu, Vũ Ngọc Thụy. TIỂU ĐOÀN 172, tiểu đoàn tên lửa phòng không tầm thấp đầu tiên của Quân chủng phòng không - không quân thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 1.12.1971, thuộc biên chế: Trung đoàn tên lửa phòng không 237 Quân chủng phòng không - không quân (12.1971-2.1972); Trung đoàn 71, Sư đoàn phòng không 77 miền Đông Nam Bộ (1973- 2.1976); Sư đoàn phòng không 367 (2.1976); Sư đoàn phòng không 361 (từ 4.1990) và dược trang bị tên lửa A89. Trong KCCM, trang bị loại tên lửa A72, chiến đấu ở miền Tây và Đông Nam Bộ, đánh 408 trận, bắn rơi 153 máy bay (phần lớn rơi tại chỗ), gồm 20 kiểu, loại. Có cách đánh mưu trí, sáng tạo, đánh thắng nhiều thủ đoạn kĩ thuật, chiến thuật của máy bay Mĩ và QĐ Sài Gòn, đạt hiệu suất chiến đấu cao, chi viện hiệu quả cho bộ binh đánh địch. 11.5-15.5.1972 bắn rơi 10 máy bay; 9.9.1972 bằng một quả tên lửa A72, bắn rơi 2 máy bay UH-1A. 1973 đánh 68 trận, bắn rơi 24 máy bay. 27.1- 28.2.1974 đánh 24 trận, bắn rơi tại chỗ 18 máy bay. Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) đánh 85 trận, bắn rơi 34 máy bay. 1 đại đội, 3 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Nguyễn Kiên, Vũ Thọ Nhì. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:49:50 pm TIỂU ĐOÀN 306. tiểu đoàn bộ binh chủ lực thuộc Trung đoàn 3, Quân khu 9; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1972, 1976 và 1983). Thành lập 6.1961 trực thuộc quân khu, đến 4.1968 thuộc biên chế Trung đoàn 3. Trong KCCM chiến đấu trên địa bàn các tỉnh: Cà Mau, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, lập nhiều chiến công xuất sắc. Nổi bật là trận Vĩnh Hòa Hưng (t. Rạch Giá), trong một ngày diệt 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn. 1967-72 đánh gần 200 trận, diệt và đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 49 đại đội, bắn rơi 92 máy bay, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. 1972-75 diệt 5 tiểu đoàn, 28 đại đội. 1977-78 đánh địch ở biên giới Tây Nam. 1979-89 làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia, đánh sân bay Pôchentông, thu 33 máy bay. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Tư Hiền và Năm Tân. TIỂU ĐOÀN 307. tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Khu 8 (gồm các tỉnh nằm hai bên bờ Sông Tiền, Nam Bộ) trong KCCP. Thành lập 5.7.1948 tại vùng giải phóng Giồng Luông (Đại Điền, Thạnh Phú, t. Bến Tre) với tên gọi “Tiểu đoàn liên quân lưu động”, quân số khoảng 1.200 người. Trong năm đầu tiên đánh thắng 2 trận vang dội ở Mộc Hóa (t. Tân An) và La Bang (t. Trà Vinh), mỗi trận diệt 1 tiểu đoàn địch. Đặc biệt là trận diệt tiểu đoàn bộ binh Marốc tại Phong Phú, góp phần quyết định nhất vào thắng lợi của chiến dịch Cầu Kè (t. Vĩnh Long) cuối 1949. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Đỗ Huy Rừa, Hồng Long. Huân chương: 2 Quân công hạng ba. Có 1 Ah QĐ (Nguyễn Thành Út). Có ca khúc nổi tiếng “Tiểu đoàn 307”, lời thơ Nguyễn Bính, nhạc Nguyễn Hữu Trí. TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, tiểu đoàn chiến đấu được trang bị chủ yếu xe chiến đấu bộ binh (xe thiết giáp) và xe tăng; thường biên chế 3 đại đội bộ binh cơ giới (có khi gồm 2 đại đội bộ binh cơ giới, một đại đội tăng), kíp xe chiến đấu của tiểu đoàn trưởng và các phân đội thông tin, sửa chữa, vận tải, cấp dưỡng... TĐBBCG nằm trong biên chế của trung đoàn (lữ đoàn) bộ binh cơ giới (xe tăng), tỉnh đội (thành đội) hoặc được tổ chức độc lập trong quân khu, quân đoàn và sư đoàn bộ binh (hoặc tương đương). TĐBBCG chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. TIỂU ĐOÀN CĂN CỨ SÂN BAY, tiểu đoàn thuộc biên chế của trung đoàn không quân, để bảo đảm hậu cần kĩ thuật không quân trong căn cứ và trên toàn mạng sân bay của trung đoàn. TĐCCSB hoạt động với nhiều chức năng khác nhau, được tổ chức thành đại đội: xăng dầu, công binh sân đường, xe máy đặc chủng, bom đạn, dù, cảnh vệ, doanh trại...; các phân đội bảo đảm đời sống. Nhiệm vụ TĐCCSB: bảo đảm chỉ huy, bảo đảm cơ sở vật chất, kĩ thuật cho trung đoàn không quân chiến đấu, huấn luyện và làm các nhiệm vụ khác. Tổ chức bố phòng bảo vệ sân bay, sửa chữa đường băng, kịp thời khắc phục các hậu quả do địch đánh phá, quản lí các loại vật tư kĩ thuật. TIỂU ĐOÀN CÔNG BINH, tiểu đoàn thuộc công binh chủ lực trong biên chế của trung đoàn, lữ đoàn công binh hoặc tổ chức độc lập ở binh đoàn binh chủng hợp thành và bộ chỉ huy QS tỉnh; thường gồm 3-4 đại đội và đơn vị trực thuộc. TĐCB thuộc trung đoàn, lữ đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị đặc thù để thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công binh khác nhau. TĐCB độc lập thường tổ chức hỗn hợp gồm các đại đội, trung đội được chuyên môn hóa, có thể giải quyết các nhiệm vụ bảo đảm công binh cấp chiến thuật. Theo chức năng nhiệm vụ, có TĐCB: vượt sông, trận địa - SCH, công trình, cầu đường... TIỂU ĐOÀN HỎA LỰC TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn thuộc biên chế trung đoàn tên lửa phòng không gồm: đại đội kĩ thuật, đại đội bệ - đạn, trung đội rađa trinh sát - chỉ thị mục tiêu, trung đội thông tin, tiểu đội phục vụ. Được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không (đài điều khiển tên lửa, các thiết bị phóng, đạn tên lửa phòng không có điều khiển, khí tài chỉ huy và thông tin, trạm phát điện, các xe chở - nạp tên lửa , các xe chở và kéo khí tài, đài rađa trinh sát và chỉ thị mục tiêu và các thiết bị bổ trợ khác...). Có nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của địch, bảo vệ các trung tâm chính trị, kinh tế, cụm LLVT và các mục tiêu quan trọng khác của quốc gia (diệt các mục tiêu mặt đất, mặt nước). Thực hiện nhiệm vụ trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. TIỂU ĐOÀN HÓA HỌC, tiểu đoàn bảo đảm chiến đấu thuộc biên chế của trung đoàn hóa học hoặc được tổ chức độc lập trong quân khu, quân đoàn và Binh chủng hóa học; thường gồm; chỉ huy tiểu đoàn, 2-3 đại đội hóa học và bộ phận phục vụ. TĐHH tổ chức theo từng chuyên ngành: tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn tiêu tẩy... hoặc TĐHH hỗn hợp gồm: đại đội trinh sát, đại đội tiêu tẩy... Có nhiệm vụ: bảo đảm hóa học trên các hướng tác chiến của Bộ hoặc các chiến dịch của quân khu, quân đoàn; khắc phục sự cố hóa chất độc, phóng xạ và làm nhiệm vụ khác. TĐHH đầu tiên của QĐND VN là TĐHH 6 (đổi tên là TĐHH 901, ngày 30.01.1962), thành lập theo quyết định số 214/BMG ngày 19.04.1958. Đơn vị Ah LLVTND (1985). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:51:12 pm TIỂU ĐOÀN KĨ THUẬT TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn trong biên chế của trung đoàn tên lửa phòng không; thường gồm: chỉ huy, cơ quan tiểu đoàn, đại đội lắp ráp, đại đội kiểm tra, đại đội nạp nhiên liệu, khí nén, trung đội vận chuyển, tiểu đội thông tin, bộ phận hậu cần. Được trang bị khí tài; lắp ráp, kiểm tra kĩ thuật, nạp khí nén và nhiên liệu (loại tên lửa dùng nhiên liệu lỏng), xe chở - nạp, xe vận chuyển tên lửa; dây, xà, cáp, dụng cụ chuyên dụng... Có nhiệm vụ bảo đảm đạn tên lửa chiến đấu cho các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không. TIỂU ĐOÀN NGUYỄN VIẾT XUÂN, tiểu đoàn pháo phòng không thuộc Lữ đoàn pháo phòng không 283, Quân khu 4; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1967 và 1970). Thành lập 1.4.1953, tiền thân là Tiểu đoàn 396, Trung đoàn pháo phòng không 367; Tiểu đoàn pháo phòng không 14, Sự đoàn bộ binh 325 (11.1954-6.1966); trực thuộc Quân khu 4 (6.1966-1.1968 và 7.1969-5.1980); Sư đoàn phòng không 375 (1.1968-7.1969); Lữ đoàn pháo phòng không 283 (từ 5.1980); TĐNVX (1.1967). Trong KCCP, bắn rơi 9 máy bay, (chiến dịch Điện Biên Phủ bắn rơi 8 chiếc). Trong KCCM chiến đấu chủ yếu ở Quân khu 4, bắn rơi 121 máy bay. 18.11.1964 ở Cha Lo, Quảng Bình, đánh trả 3 đợt tiến công của 22 lần chiếc F-100, bắn rơi 3 chiếc; chính trị viên đại đội Nguyễn Viết Xuân bị thương nặng vẫn hô: “nhằm thẳng quân thù mà bắn”. 22.3.1965 tại Đèo Ngang hiệp đồng cùng bộ đội hải quân bắn rơi 3 máy bay. Từ 6-12.1966 ở Kì Anh (Hà Tĩnh) đánh 160 trận bắn rơi 12 máy bay, có 7 chiếc rơi tại chỗ. 23.11.1968 tại Đồi Cháy, nông trường Phú Quý bắn rơi tại chỗ 2 F-105. Lúc 13 giờ 17 phút 23.11.1968 trên đường 15, bắn rơi tại chỗ máy bay trinh sát RF-4C. Ngày 30.12.1972 tại Vinh (Nghệ An) hiệp đồng cùng quân dân địa phương bắn rơi 7 máy bay, có 5 chiếc rơi tại chỗ. 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công, Chiến công. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Phan Thái, Trịnh Đăng Khuê. TIỂU ĐOÀN PHÁO BINH, phân đội chiến thuật lớn nhất của pháo binh gồm 2 đến 4 đại đội pháo, các phân đội chỉ huy và phục vụ. Thuộc trung (lữ) đoàn pháo binh, sư đoàn bộ binh, quân đoàn và tỉnh đội (thành đội). TĐPB được trang bị một hoặc nhiều loại pháo. TĐPB chiến đấu trong đội hình cụm pháo binh hoặc trực thuộc người chỉ huy binh chủng hợp thành hoặc chiến đấu độc lập. TĐPB đầu tiên của QĐND VN là Tiểu đoàn 410 (gồm 5 đại đội pháo), thành lập 1.1.1948. TIỂU ĐOÀN PHÁO PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn thuộc biên chế sư đoàn phòng không, lữ đoàn pháo phòng không, vùng hải quân, lữ đoàn hải quân; gồm: chỉ huy, cơ quan tiểu đoàn, 3-4 đại đội pháo phòng không, phân đội bảo đảm và chuyên món. Được trang bị pháo phòng không cùng hoặc khác loại. Có nhiệm vụ: tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của dịch ở độ cao thấp và trung bình, bảo vệ các mục tiêu kinh tế, chính trị, cụm LLVT... Có khả năng chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. TĐPPK đầu tiên của QĐND VN mang tên Tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308, thành lập 6.1951. TIỂU ĐOÀN PHỦ THÔNG, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 308 (nay là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312), đơn vị lập chiến công xuất sắc trong trận tiến công Phú Thông (25.7.1948) mở màn chiến dịch Đường 3 (25.7-12.8.1948). Trong trận này, tiểu đoàn do tiểu đoàn trưởng Vũ Yên chỉ huy dùng lối đánh cường tập, diệt trên 100 quân Pháp, mờ đầu phong trào diệt cứ điểm địch trong QĐND VN, được BCHTƯ ĐCS VN biểu dương. TIỂU ĐOÀN QUÂN Y, phân đội chuyên môn quân y, thường tổ chức độc lập trong binh đoàn binh chủng hợp thành, binh đoàn phòng không, không quân hoặc vùng hải quân và một số bộ chỉ huy QS tỉnh. Tổ chức gồm các ban: nội, ngoại, dược, truyền nhiễm, phòng dịch, phân loại, hộ tống, xét nghiệm... Nhiệm vụ: tiến hành điều trị dự phòng, công tác vệ sinh phòng dịch, bồi dưỡng chuyên môn kĩ thuật cho cán bộ, nhân viên quân y; tham gia chỉ đạo kĩ thuật và tăng cường nhân lực, phương tiện cho quân y tuyến trước khi cần thiết; tổ chức cung cấp vật tư quân y và quản lí việc sử dụng , pha chế một số thuốc theo phân cấp; thống kê báo cáo tình hình thương binh, bệnh binh và các mặt hoạt động của tiểu đoàn; thời bình triển khai bệnh xá để điều trị theo chức năng bệnh xá loại 1 trên hệ thống bậc thang điều trị; trong chiến đấu, triển khai trạm quân y để cứu chữa cơ bản cho thương binh, bệnh binh, được quy định trên hệ thống bậc thang điều trị thời chiến. Từ 1955 gọi là TĐQY. TIỂU ĐOÀN TĂNG, tiểu đoàn chiến đấu được trang bị chủ yếu xe tăng; phân đội chiến thuật cơ bản của bộ đội tăng thiết giáp, thường biên chế 3 đại đội tăng, kíp xe tăng của tiểu đoàn trường và các phân đội thông tin, sửa chữa, vận tải, cấp dưỡng... TĐT thường nằm trong biên chế của trung đoàn (lữ đoàn) tăng, hoặc được tổ chức độc lập ở các quân khu, quân đoàn và một số tỉnh đội (thành đội). TĐT có thể chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc phối thuộc chiến đấu với các đơn vị bộ binh (bộ binh cơ giới) hoặc chiến đấu độc lập. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:52:50 pm TIỂU ĐOÀN THÔNG TIN, tiểu đoàn thuộc biên chế trung đoàn thông tin (lữ đoàn thông tin) hoặc độc lập trực thuộc BTL binh chủng thông tin liên lạc, tổng cục, quân đoàn, sư đoàn (vùng hải quân), quân chủng, để bảo đảm liên lạc trong tác chiến và các nhiệm vụ khác. TĐTT gồm 3-4 đại đội thông tin, bộ phận phục vụ. Theo chức năng và nhiệm vụ, có: TĐTT hỗn hợp, TĐTT chuyên ngành vô tuyến điện, hữu tuyến điện, tiếp sức, quân bưu. TĐTT đầu tiên của QĐND VN là TĐTT 303, thành lập 15.2.1951. TIỂU ĐOÀN THÔNG TIN - RAĐA, tiểu đoàn thuộc biên chế của trung đoàn không quân; có nhiệm vụ bảo đảm thông tin, rađa cho hoạt động của trung đoàn 24/24 giờ trong ngày trên địa bàn và vùng trời quy định, truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh, tín hiệu, mục tiêu nhanh chóng, kịp thời, chính xác, phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện bay. TĐTT-R được tổ chức thành 3 đại đội. Đại đội 1 bảo đảm thông tin SCH và toàn căn cứ, thu tình báo trên các mạng tiêu đồ xa, tiêu đồ gần, trên mạng thông tin và bảo đảm thông tin thông suốt 24/24 giờ trong ngày. Đại đội 2 bảo đảm thông tin trên tuyến cất cánh, hạ cánh, dẫn máy bay cất cánh, hạ cánh, bảo đảm hệ thống đèn cất hạ cánh đêm. Đại đội 3, đại đội rađa, có nhiệm vụ cùng SCH theo dõi, quản lí chặt chẽ các máy bay đang hoạt động bằng các tín hiệu mục tiêu trên tiêu đồ gần, tham gia cảnh giới, dẫn đường cho không quân chiến đấu. TIỂU ĐỘI, đơn vị tổ chức nhỏ nhất của LLVT, thường gồm 6-12 người. Ở một số quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, tương đương TĐ là tổ bay (máy bay...), kíp xe (tăng, thiết giáp...), khẩu đội (pháo, súng cối, súng máy hạng nặng...), TĐ thường nằm ương biên chế trung đội. Tùy thuộc tính chất và khối lượng nhiệm vụ, TĐ hoạt động trong đội hình trung đội hoặc đôc lập. Trong LLVTND VN, TĐ được quy định và hình thành từ 1941 (trong các đội tự vệ). TIỂU ĐỘI DU KÍCH HỒNG HÀ. tiểu đội du kích đặc biệt của Liên khu 1 (gồm phần lớn q. Hoàn Kiếm, Hà Nội hiện nay) thành lập 1.1947, gồm 16 người được chọn lọc trong lực lượng tự vệ và du kích khu Phúc Xá (ven Sông Hổng), do Nguyễn Ngọc Nại làm tiểu đội trưởng. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm giao thông liên lạc giữa Liên khu 1 với vùng tự do phía bắc Hà Nội, đưa đón cán bộ Trung ương ĐCS VN an toàn. Chiến công tiêu biểu nhất: bí mật đưa Trung đoàn Thủ Đô vượt Sông Hồng đêm 17 rạng 18.2.1947. Khi đại bộ phận lực lượng đã qua sông, quân Pháp phát hiện, tiến công, tiểu đội đã chiến đấu dũng cảm đến người cuối cùng tại Bãi Giữa, Phúc Xá để bảo vệ trung đoàn vượt sông an toàn. TIỂU ĐỘI MƯỜI CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC nh TIỂU ĐỘI VÕ THỊ TẦN TIỂU ĐỘI VÕ THỊ TẦN, tiểu đội nữ thanh niên xung phong thuộc Đại đội 552, Tổng đội thanh niên xung phong chống Mĩ cứu nước, làm nhiệm vụ san lấp hố bom, sửa đường, bảo đảm thông xe tại Ngã Ba Đồng Lộc - một “trọng điểm lửa” trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở Bắc VN. Gồm 10 nữ thanh niên dưới 22 tuổi: Võ Thị Tần (tiểu đội trưởng), Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ. Hồ Thị Xanh, Trần Thị Rạng, Nguyễn Thị Xuân, Võ Thị Hà, Trần Thị Hường, Võ Thị Hợi, Dương Thị Xuân. Đã bám trụ kiên cường, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt. Sáng 24.7.1968, không quân Mĩ liên tục đánh phá (ném khoảng 600 quả bom xuống khu vực Ngã Ba Đồng Lộc, nhiều quả trúng mặt đường). Sau khi bị vùi trong trận bom thứ 12 của địch, cả tiểu đội vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và đã anh dũng hi sinh (cách ngã ba 200m về phía nam). TĐVTT nêu gương sáng về chủ nghĩa Ah CM, tiêu biểu cho ý chí của con người VN trước bom đạn Mĩ. Đơn vị Ah LLVTND (1972). Nghĩa trang 10 liệt sĩ được xây dựng trang nghiêm bên rừng thông dưới chân núi Trọ Voi, và hố bom nơi họ đã hi sinh (sát bên phải đường lên nghĩa trang) được bảo tồn làm di tích tội ác của không quân Mĩ. TIỂU HOÀNG NAM X. HOÀNG NAM TIỂU HÙNG, chòm sao ở gần cực Bắc của thiên cầu, nhỏ hơn chòm Đại Hùng, gồm 7 ngôi (kí hiệu theo chữ cái Hi Lạp từ anpha đến nuy) xếp thành hình gần giống cái gầu sòng có cán cong. Sao anpha ở đuôi cán nằm gần sát cực Bắc hiện nay của thiên cầu và được gọi là Sao Bắc Cực. TIỂU KHU, tổ chức QS địa phương cấp tỉnh của QĐ Sài Gòn, có nhiệm vụ bảo đảm an ninh (soạn thảo và thực hiện kế hoạch an ninh), tổ chức các cuộc hành quân của tỉnh, yểm trợ hoạt động bình định* và những nhiệm vụ khác (hoạt động tình báo; xây dựng lực lượng nhân dân tự vệ; yểm trợ các chi khu, quản lí nguồn động viên...) trên lãnh thổ thuộc quyền. Được tổ chức 1961; trực thuộc khu chiến thuật hoặc biệt khu (1961-7.1970), quân khu (vùng chiến thuật, trước 7.1970); có 44 TK, chia thành: 15 TK loại A (có dưới 5.000 quân), 23 TK loại B (5.000-10.000 quân), 6 TK loại C (trên 10.000 quân). TK thường do tỉnh trưởng (là sĩ quan cao cấp) làm TK trưởng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:54:12 pm TIỂU KHU BIÊN PHÒNG, cấp trực thuộc chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh, trực tiếp chỉ huy một số đồn biên phòng trong phạm vi huyện, liên huyện. TKBP được tổ chức ở vùng biên giới, các đảo lớn, quần đảo, nơi giao thông liên lạc khó khăn hoặc ở những tỉnh có biên giới, bờ biển quá dài, có nhiều đồn biên phòng trong huyện, liên huyện, với chức năng là cơ quan đốc chiến của bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh. Biên chế, tổ chức do cấp trên quy định phù hợp tình hình vùng biên giới phụ trách. TKBP thường có chỉ huy trưởng, các phó chỉ huy trưởng và các trợ lí: tham mưu, trinh sát, chính trị, hậu cần. TIỂU KHU TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy tiểu khu trong QĐ Sài Gòn. Thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của tư lệnh quân đoàn, quân khu (vùng chiến thuật, trước 1970). TKT thường do tỉnh trưởng (là sĩ quan cao cấp) kiêm nhiệm. TIẾU LIÊN, súng tự động cá nhân loại nhỏ, có thể bắn phát một hoặc liên thanh, dùng để diệt sinh lực ở cự li gần bằng đầu đạn, lưỡi lê và báng súng. Tự động theo nguyên lí trích khí hoặc sử dụng năng lượng lùi của khóa nòng khi nòng cố định. Cỡ nòng 5,45-9,00mm, khối lượng 2,5-4,5kg, tầm bắn (trên thước ngắm) đến 1.000m, tầm bắn hiệu quả đến 400m, hộp đạn chứa đến 30 viên (có loại đến 71 viên, như K-50): tốc độ bắn lí thuyết 600-800 phát/phút, tốc độ bắn chiến đấu 40 phát/phút (khi bắn phát một), 100 phát/phút (khi bắn liên thanh). TL xuất hiện đầu tiên ở Italia (1915). Các mẫu TL phố biến hiện nay là: 7,62mm AK và AKM, 5,45mm AK-74 (LX). 5,56mm AR-15 (Mĩ)... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67566071_461238597939359_6551910762518937600_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHeOm_ZfR0EBOf0wd-ucb3OmOAvryxKWq3uQHKICRxC3qQBE0bKG7tbqyusicb3uAdgPkEtaQa9R-l045KF3_ziI08QWjM5RNCF_8TX_Z5lyw&_nc_oc=AQmLfT1xJ5xXKYtpu92KaINzeMy0FFHMXpTG50JkIXHZyWLzacgrw0zmJnqNwBPt7Pc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3f3ca26dc432e524a558d518f66d0ec4&oe=5DDFB818) TIỂU LIÊN CỰC NHANH nh AR-15 TIỄU PHỈ. tổng thể các hoạt động tiến công QS. kết hợp đấu tranh chính trị, kinh tế,... của LLVT và nhân dân nhằm buộc phải hàng phục hoặc làm tan rã lực lượng phỉ. Thường tiến hành thành đợt, có thể trên địa bàn rộng và thời gian kéo dài nhiều tháng... Để TP thắng lợi phải chú ý tiêu diệt hoặc bắt bọn đầu sỏ hàng phục, củng cố được chính quyền nhân dân trên địa bàn, tuyên truyền giác ngộ được dân, làm tan rã LLVT của chúng. Diễn ra nhiều ở Bắc VN và Thượng Lào trong thời gian 1950-70. TÌM DIỆT VÀ BÌNH ĐỊNH, chiến lược của Mĩ trên chiến trường miền Nam VN mùa khô 1966-67 nhằm tạo bước ngoặt tiến tới giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn. Nội dung: tập trung lực lượng quân Mĩ và QĐ Sài Gòn đánh vào miền Đỏng Nam Bộ để tìm diệt lực lượng chủ lực QGPMN VN và Trung ương cục miền Nam: đẩy mạnh bình định, mờ rộng vành đai an ninh Sài Gòn - Gia Định; kiềm chế các hướng Tây Nguyên, Trị - Thiên. Để thực hiện TDVBĐ. Oetmolen sử dụng 20 sư đoàn, 10 lữ đoàn, trung đoàn (có 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn quân Mĩ) và số lượng lớn vũ khí, trang bị KTQS (cả B-52) để mở các cuộc hành quân tìm diệt quy mô lớn, dài ngày (có trận huy động hàng chục nghìn quân: hành quân Attơnborơ (14.9-25. II .1966) với 30.000, hành quân Gianxơn Xiti (22.2-15.4.1967) với 45.000, tiến công vào các căn cứ kháng chiến ở Tây Ninh (Attơnborơ, Gatxđen, Gianxơn Xiti), khu tam giác sắt (hành quân Xida Phôn, 8- 26.1.1967), Plây Girăng - Tây Nguyên (hành quân Pôn Rivơ IV, 23.10-6.12.1966), Bồng Sơn - Quảng Nam (Tayơ 2, Liên Kết 81); đồng thời sử dụng gần 80 tiểu đoàn chủ lực QĐ Sài Gòn, một số đơn vị quân Mĩ, quân chư hầu và hàng nghìn đội “phát triển sản xuất”, “tái thiết nông thôn”... chi hàng tỉ USD vào bình định. Kết quả QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn không thực hiện được mục tiêu tìm diệt, không xoay chuyển được tình thế, chết và bị thương hàng chục nghìn quân, hàng chục tiểu đoàn bị tiêu diệt; kế hoạch bình định bị phá sản; sau mùa khô 1966-67, chỉ còn kiểm soát 5.400/16.293 ấp ở miền Nam (trong khi MTDTGPMN VN giải phóng thêm 390 ấp xã, nâng tổng số lên 700 xã, 6.750 ấp được giải phóng). Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) đã cho thấy sự thất bại hoàn toàn của chiến lược TDVBĐ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:55:52 pm TÌM TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, quá trình lựa chọn trong một tập hợp tài liệu (thư viện, kho tin...) hay một mạng tin nào đó để tìm ra những tài liệu, thông tin phù hợp với yêu cầu của người dùng tin trong QĐ; khâu quan trọng trong quá trình hoạt động thông tin khoa học quân sự. TTKHQS gồm các bước: xác đinh yêu cầu tin; thể hiện yêu cầu tin bằng ngôn ngữ tư liệu, vạch ra cách thức tìm, thực hiện tìm, phân tích kết quả tìm. đánh giá tính phù hợp của thông tin, chuyển kết quả tìm cho người dùng. Theo dạng tin được bảo quản, có: tư liệu, dữ kiện; theo công cụ tìm, có: tìm tin trên các bộ phiếu thủ công (phiếu mục lục, phiếu thư mục, phiếu đục lỗ), trên máy tính điện tử; theo tính chất của tài liệu cần tìm, có: tìm tin hồi cố, tìm tin chọn lọc. TIMO, đảo lớn nhất của nhóm đảo Tiểu Xôngđơ, thuộc quần đảo Mã Lai. Dt 33.620km2; ds khoảng 1,2 triệu người; chủ yếu là người Malaixia, Papua và người TQ. Địa hình phần lớn là núi. cao tới 2.950m. thường có động đất. Khí hậu cận xích đạo gió mùa. Mùa khô kéo dài (từ tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa trung bình 1.500mm/năm. Nhiệt độ trung bình ven biển 25°-27°C. Rừng nhiệt đới. Bị chia cắt thành hai phần: phần tây nam từ tk 18 là thuộc địa của Hà Lan, từ 1945 thuộc Inđônêxia. Phần phía đông là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ 1586 đến 6.1974. nay là quốc gia độc lập Đông Timo. TIN HỌC, bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và các tính chất chung của thông tin, các quy luật và phương pháp thu thập, lưu trữ, xử lí hợp lí, truyền và khai thác thông tin trong các lĩnh vực khác nhau. Gồm: phần TH lí thuyết (lí thuyết thuật toán và lập trình, lí thuyết ngôn ngữ, lí thuyết chương trình dịch, công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu, viễn tin, trí tuệ nhân tạo...) và phần TH ứng dụng (thiết kế hệ xử lí, hộ điều hành, hệ tự động hóa thiết kế, phân tích, đánh giá, quản lí...). Công cụ chính của TH ứng dụng là máy tính điện tử. TH ra đời vào đầu thập kỉ 60 của tk 20 nhưng phát triển rất nhanh, đã và đang được áp dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Trong QS, TH là cơ sở của hệ thống chỉ huy tự động hóa, được áp dụng vào công tác quản lí lực lượng, công nghệ sản xuất vũ khí mới... TIN TÌNH BÁO, tin tức về tình hình của đối phương (các mặt địa lí, QS, chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ...) do các nguồn tình báo và trinh sát thu thập, tổng hợp, phân tích để cung cấp theo yêu cầu của chỉ huy và lãnh đạo các cấp. Để có TTB có thể sử dụng các phương thức và lực lượng chủ yếu: điệp báo chiến lược (điệp báo chiến lược bất hợp pháp và điệp báo chiến lược dưới bình phong công khai); trinh sát vô tuyến điện và kĩ thuật vô tuyến điện; điệp báo và trinh sát của các quân chủng, binh chủng, quân khu, quân đoàn; trinh sát đặc nhiệm; quân báo nhân dân; cơ quan nghiên cứu chiến lược. Các cơ quan quân báo (trinh sát) các cấp phải tổ chức thu thập và nghiên cứu tin tình báo, để xử lí loại bỏ tình báo giả và kiểm tra xác minh TTB nghi ngờ. TTB phải chính xác, kịp thời, bí mật, đúng yêu cầu của chỉ huy và lãnh đạo. TIN TRINH SÁT. tin tức về địch, địa hình, thời tiết,... do trinh sát thu thập để cung cấp cho người chỉ huy chuẩn bị hạ quyết tâm tác chiến và để xử trí tình huống trong tác chiến. Có TTS: tin cậy, nghi ngờ, giả. TTS tin cậy là những tin được xấc nhận từ một hoặc nhiều nguồn tin đáng tin cậy, phù hợp với tình huống chiến đấu (các tài liệu, ảnh chụp, bản đồ, sơ đồ thu được khi đánh chiếm cơ quan chỉ huy của địch). TTS nghi ngờ là tin thu được từ một nguồn tin không đáng tin cậy hoặc từ nhiều nguồn tin có mâu thuẫn với nhau cần phải kiểm tra xác minh lại. TTS giả là tin do địch sử dụng để đánh lừa ta. TTS phải chính xác, kịp thời, đúng yêu cầu của người chỉ huy, không có các tin giả và tin nghi ngờ. Cơ quan tham mưu chịu trách nhiệm thu thập và xử lí TTS. TÍN HIỆU HÀNG HẢI QUỐC TẾ, tín hiệu để trao đổi thông tin giữa tàu thuyền một nước hoặc giữa các tàu thuyền cũng như trạm tín hiệu trên bờ của các nước. THHHQT được sử dụng khi có vấn đề an toàn hành trình hoặc cần có sự giúp đỡ cứu nạn cho người và phương tiện. THHHQT có thể trao đổi bằng cờ tay, đèn pha, đèn chớp, vô tuyến điện báo, vô tuyến điện thoại... Bảng THHHQT hiện nay được áp dụng từ 1969, gồm gần 2.000 tín hiệu, mỗi tín hiệu đều có ý nghĩa hoàn chỉnh và cụ thể. TÍN HIỆU SOS, tín hiệu mooc của ba chữ cái “S” “O” “S” (... _ ...) được quốc tế thừa nhận dùng khi tàu thuyền, máy bay bị tai nạn trên biển yêu cầu cấp cứu. THSOS được thu, phát bằng vô tuyến điện báo ở tần số quy định quốc tế là 500 kHz. Nhiều tàu (máy bay) được trang bị máy thu, phát tự động chuyên dùng cho mục đích này. Luật quốc tế nghiêm cấm dùng tín hiệu này vào mục đích khác. TÍN PHONG nh GIÓ MẬU DỊCH Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:57:18 pm TÌNH BÁO, hoạt động điều tra, thu thập nghiên cứu, tổng hợp, xứ lí những tin tức, tư liệu bí mật về QS, chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ... của đối phương. Theo quy mô, có: TB chiến lược, TB chiến dịch, TB chiến thuật. TB kinh tế là một bộ phận của TB chiến lược và TB quốc phòng; TB khoa học- công nghệ là một bộ phận của TB kinh tế. TÌNH BÁO CHIẾN DỊCH, bộ phận của tình báo quân sự do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến dịch tổ chức và chỉ đạo nhằm thu thập, nghiên cứu các tin tức và tư liệu về địch, về chiến trường (thực tế hoặc dự kiến) để bảo đảm cho việc chuẩn bị và thực hành chiến dịch. TBCD liên quan chặt chẽ với tình báo chiến lược và tình báo chiến thuật. Phạm vi hoạt động của TBCD phụ thuộc vào tính chất, quy mô nhiệm vụ chiến dịch, tình hình địch. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCD: xác định vị trí bố trí và phiên hiệu đơn vị, âm mưu, thủ đoạn tác chiến, số lượng, chất lượng quân số, vũ khí trang bị, đặc điểm và trình độ chỉ huy, khả năng bảo đảm hậu cần, kĩ thuật của đối phương và tình hình địa hình, khí tượng - thủy văn. Để tiến hành TBCD có thể sử dụng phương thức điệp báo chiến dịch và các phương thức hoạt động tình báo QS khác. TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC, bộ phận của tình báo quân sự, do cơ quan lãnh đạo QS tối cao tổ chức và chỉ đạo nhằm thu thập, khai thác, nghiên cứu tin tức về đối phương và chiến trường phục vụ cho chuẩn bị và tiến hành chiến tranh và tác chiến chiến lược, được thực hiện trong thời bình và thời chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCL: xác định thành phần, trạng thái và bố trí LLVT của đối phương trên các chiến trường, tìm hiểu quan điểm tư tưởng QS. phương thức tiến hành chiến tranh, tiềm lực kinh tế - QS, tình trạng và triển vọng phát triển trang bị và KTQS, đặc biệt là vũ khí chiến lược, về những biện pháp trực tiếp chuẩn bị chiến tranh, về thiết bị chiến trường... Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, để phục vụ TBCL, ngoài dùng điệp báo chiến lược và thông qua sưu tầm nghiên cứu tài liệu công khai, một số nước còn dùng trinh sát vũ trụ, trinh sát đường không, trinh sát đường biển, trinh sát điện tử... TBCL ra đời cùng với sự xuất hiện đấu tranh vũ trang. Với sự phát triển của các phương tiện đấu tranh vũ trang và quy mô sử dụng chúng, vai trò của TBCL ngày càng được tăng lên. Ở một số nước, TBCL được tiến hành không chỉ bằng các cơ quan tình báo QS mà còn bằng các cơ quan chuyên môn của chính phủ, như: ở Mĩ có Cục tình báo trung ương Mĩ (CIA), ở CHLB Đức có Cục tình báo liên bang (BND), Cơ quan tình báo Nga (SVR), Tổ chức tình báo Anh (MIS). TÌNH BÁO CHIẾN THUẬT, bộ phận của tình báo quân sự do người chỉ huy và cơ quan tham mưu các binh đoàn, cơ quan QS địa phương, binh đội, phân đội, chủ nhiệm binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ của tất cả các quân chủng, binh chủng tổ chức và tiến hành nhằm thu thâp, nghiên cứu các tin tức và tư liệu về địch, về chiến trường (thực tế hoặc dự kiến) để bảo đảm cho việc chuẩn bị và thực hành trân chiến đấu. TBCT quan hệ chặt chẽ với tình báo chiến dịch và tình báo chiến lược. Có thể tiến hành liên tục trên bộ, trên biển, trên không, trên vũ trụ. TBCT có thể sử dụng các phương tiện điện tử (rađa, vô tuyến truyền hình, hồng ngoại, lade...). Lực lượng TBCT có thể là các phân đội trinh sát chuyên nghiệp và các phân đội chiến đấu, các cơ sở quân báo nhân dân tại các địa phương. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCT: xác định đội hình chiến đấu, phiên hiệu đơn vị, tổ chức trận địa, ý định chiến đấu, hệ thống hỏa lực, cấu trúc công sự, số lượng, chất lượng quân số và vũ khí trang bị, trình độ tổ chức chỉ huy của đối phương và tình hình địa hình, khí tượng - thủy văn. TÌNH BÁO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, tình báo về tiềm lực khoa học’ khả năng và trình độ công nghệ của đối phương trong các lĩnh vực dân sự và QS; được tiến hành bằng các biện phấp và phương thức: hợp pháp, bất hợp pháp; công khai, bí mật; trực tiếp hoặc gián tiếp. TÌNH BÁO KINH TẾ, tình báo về chiến lược, âm mưu, kế hoạch kinh tế QS; tiềm nâng kinh tế, cơ sở công nghiệp; khả năng kiểm soát cung ứng, kiểm soát giá cả, phân phối, sản xuất QS và các sản phẩm bị cấm (hạt nhân, hóa học...); khả năng nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới của các tổ chức, các nước có liên quan đến lợi ích quốc gia; bộ phận của tình báo quốc phòng. TBKT gồm: tình báo khoa học công nghệ, tình báo công nghiệp. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 03:58:53 pm TÌNH BÁO QUÂN SỰ, tình báo phục vụ quốc phòng, chuẩn bị tiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến; căn cứ quan trọng để xác định sách lược quốc phòng và chỉ huy tác chiến. Theo quy mô, tác dụng và nhiệm vụ có: tình báo chiến lược, tình báo chiến dịch, tình báo chiến thuật. Nội dung chủ yếu của TBQS gồm: tư tưởng QS, học thuyết QS, phương châm chiến lược, tiềm lực chiến tranh, tình hình chính trị, kinh tế, khoa học - kĩ thuật có liên quan đến hoạt động QS; chuẩn bị chiến trường, ý đồ và mục tiêu tác chiến, tổ chức biên chế, số lượng và chất lượng quân số, vũ khí trang bị, phiên hiệu và bố trí đơn vị QĐ của đối phương; điều kiện địa hình, khí tượng, thủy văn và các tình hình khác liên quan đến hoạt động tác chiến. Yêu cầu cơ bản của TBQS: tích cực, liên tục, bí mật, chính xác, kịp thời, có mục đích. TBQS được tiến hành trong thời bình và thời chiến; trên bộ, trên không, trên vũ trụ và trên biển bằng tất cả các phương thức, thủ đoạn, lực lượng cần thiết. TBQS xuất hiện từ trước công nguyên, ngày càng được sử dụng rộng rãi, có hiệu quả. Ngày nay, trong điều kiện chiến tranh hiện đại, TBQS càng được coi trọng và phát triển manh mẽ. Ở VN sau 1996, TBQS thường gọi là tình báo quốc phòng. TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG X. TÌNH BÁO QUÂN SỰ TÌNH BÁO RAĐA PHÒNG KHÔNG, tình báo từ mạng trinh sát rađa sắp xếp theo những quy ước. được mã hóa dưới dạng chữ hoặc số truyền trong hệ thống quản lí vùng trời, thông báo, báo động phòng không quốc gia, biểu thị tọa độ tức thời, tính chất (số lượng, kiểu loại, độ cao) và hoạt động (cơ động, lượn vòng, gây nhiễu, đánh phá, hợp tốp, phân tốp...) của mục tiêu trên không tại một thời điểm xác định trong không gian. Có TBRPK: đủ và rút gọn (cg tình báo đủ, tình báo gọn). Tình báo đủ gồm: số tốp, tọa độ, số lượng, kiểu loại, độ cao, tính chất hoạt động, thời gian phát hiện; tình báo gọn gồm: số tốp, tọa độ, thời gian phát hiện. Thường quy định cứ ba tình báo có một tình báo đủ, khi mục tiêu trên không thay đổi độ cao, phân tốp, hợp tốp phải thông báo tình báo đủ. TÌNH BÁO TRUYỂN TIN, phương thức tình báo vô tuyến điện và kĩ thuật vô tuyến điện, thu thập tin tức bằng cách thu chặn tín hiệu được truyền trên các loại kênh thông tin liên lạc vô tuyến điện và những thông tin về các đặc trưng của tín hiệu thuộc các hệ thống vô tuyến điện. TÌNH HÌNH ĐỊCH, tình hình các mặt của đối phương cần thiết cho việc lãnh đạo, điều hành của nhà nước, chỉ huy các đơn vị LLVT để có các biện pháp chuẩn bị và đối phó hoặc hạ quyết tâm tác chiến; một tròng những yếu tố quan trọng đầu tiên để đánh giá tình hình, chuẩn bị hạ quyết tâm tác chiến. Nội dung chủ yếu THĐ gồm: tình hình chính trị - xã hội, kinh tế, QS, khoa học kĩ thuật, đường lối, quan điểm, địa hình, khí tượng, thủy văn, bố trí và phiên hiệu đơn vị LLVT, binh khí kĩ thuật, chất lượng QĐ, trình độ và đặc điểm chỉ huy, khả năng tác chiến, bảo đảm hậu cần, kĩ thuật và ý đồ... của địch. Để nắm được THĐ có thể tiến hành công tác: tình báo chiến lược, tình báo chiến dịch, tình báo chiến thuật và trinh sát các cấp, tuỳ theo yêu cầu của cấp chỉ huy, lãnh đạo. TÌNH HUỐNG HẬU CẦN, diễn biến tình hình công tác hậu cần của đơn vị LLVT trong tác chiến, đòi hỏi phải giải quyết để thực hiện bảo đảm hậu cần được liên tục; bộ phận của tình huống tác chiến. THHC thường gồm: những thay đổi lớn, thay đổi đột xuất về tình hình và khả năng các phương tiện vật chất, vận chuyển, quân y, nguồn tại chỗ,... trình độ khả năng của các đơn vị, cơ quan và cơ sở hậu cần; tác động của đối phương đến các lực lượng và phương tiện hậu cán gây cản trở nghiêm trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của chúng. TÌNH HUỐNG HÓA HỌC, diễn biến tình hình do hậu quả địch sử dụng vũ khí hóa học hoặc do sự cố hóa chất độc gây nên ở mức độ phải xử lí. THHH được thể hiện ở quy mô, loại chất độc và phương tiện đối phương sử dụng; các mục tiêu bị tập kích hóa học; phạm vi các vùng nhiễm, mức độ nhiễm, độ bền vững và chiều sâu truyền lan của chất độc; thiệt hại về người, phương tiện vật chất... Chủ nhiệm hóa học cùng cơ quan tham mưu thu thập, phân tích, dự toán, tổng hợp, cung cấp tình hình và đề đạt kiến nghị để người chỉ huy có biện pháp xử trí. TÌNH HUỐNG KĨ THUẬT, tổng hợp các điều kiện và yếu tố (khách quan, chủ quan) để tổ chức và tiến hành hoạt động bảo đảm kĩ thuật. THKT gồm: tình trạng của trang bị KTQS, lực lượng và phương tiện bảo đảm kĩ thuật (kể cả của địa phương, tại chỗ), lượng dự trữ vật tư kĩ thuật cho bào dưỡng và sửa chữa, khả năng cứu kéo, số lượng phương tiện, trang bị hư hỏng và tác động của đối phương đối với hoạt động bảo đảm kĩ thuật trong quá trình tác chiến... THKT thay đổi theo thời gian. Việc dự báo THKT và xử lí hợp lí những biến đổi của nó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động bảo đảm kĩ thuật. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:00:02 pm TÌNH HUỐNG PHÓNG XẠ, diễn biến tình hình về nhiễm xạ do hậu quả địch sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc sự cố phóng xạ gây nên ở mức độ phải xử lí. THPX được thể hiện ở phạm vi, mức độ nhiễm xạ địa hình, không khí, nước và các đối tượng khác có ảnh hưởng đến hoạt động và sức chiến đấu của bộ đội, uy hiếp đến sinh hoạt và sinh mạng của nhân dân. Chủ nhiệm hóa học cùng cơ quan tham mưu thu thập, phân tích, dự toán, tổng hợp, cung cấp tình hình và đề đạt, kiến nghị để người chỉ huy có biện pháp xử lí. TÌNH HUỐNG QUÂN Y, tổng hợp các điều kiện, yếu tố trong dải (khu vực) tác chiến đòi hỏi ngành quân y phải có kế hoạch và biện pháp riêng biệt để bảo đảm việc hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội; bộ phận hợp thành của tình huống hậu cần. Bao gồm: tình hình vệ sinh dịch tễ khu vực bố trí đội hình và triển khai các hoạt động tác chiến; tình trạng sức khỏe của bộ đội, số lượng và tình trạng thương binh, bệnh binh; thực trạng và bố trí lực lượng bảo đảm quân y trong tác chiến; khả nàng huy động lực lượng y tế địa phương... Cũng như tình huống chiến đấu, THQY luôn thay đổi theo diễn biến các hoạt động tác chiến. Dự báo và xử lí kịp thời các THQY có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội. TÌNH HUỐNG TÁC CHIẾN, diễn biến tình hình trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, đòi hỏi các đơn vị LLVT phải giải quyết để thúc đẩy tiến trình hoạt động tác chiến và hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. THTC nảy sinh do hoạt động của hai bên đối địch và do tác động của những yếu tố khác. Có THTC: chiến lược, chiến dịch, chiến đấu. Có THTC chung tác động đến toàn bộ và THTC riêng từng mặt; có THTC trên bộ, trên biển, trên không và liên vũ trụ... TÌNH HUỐNG TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ, diễn biến tình hình khi tổ chức, bố trí, khai thác sử dụng các hệ thống và các phương tiện điện tử trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, đòi hỏi phải xử lí; bộ phận của tình huống tác chiến. THTCĐT được đặc trưng bởi: tình hình các phương tiện điện tử; tình hình tổ chức, bố trí và sử dụng các hệ thống điện tử; tình hình đối phương chế áp điện tử và chế áp bằng hỏa lực; tình hình chế áp, bảo vệ, ngụy trang, nghi binh điện tử của ta; ảnh hưởng của khí tượng, địa hình khu vực tác chiến đến sự truyền lan của sóng điện từ và sóng âm... TÌNH HUỐNG TRÊN KHÔNG, diễn biến tình hình hoạt động của các mục tiêu trên không, cần phải xử lí. THTK có thể là: mục tiêu địch xâm phạm vùng trời, tiến hành tập kích đường không; trinh sát, gây nhiễu; phóng tên lửa tự dẫn chống rađa và đài điều khiển tên lửa; cơ động về tốc độ, độ cao và hướng bay, đặc biệt là bay thấp, tốp nhỏ, chiếc lẻ, bay đêm... THTK thường diễn biến mau lẹ đòi hỏi người chỉ huy bộ đội phòng không phải nhạy bén, nắm vững và xử lí kịp thời. TÌNH THẾ CÁCH MẠNG, sự chín muồi của toàn bộ những điều kiện khách quan dẫn đến cuộc cách mạng xã hội. TTCM có những dấu hiệu chủ yếu: khùng hoảng vai trò lãnh đạo của giai cấp thống trị; nỗi cùng khổ và quẫn bách của các giai cấp bị áp bức trở nên nặng nề, không thể chịu đựng nổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi; ý thức chính trị của các lực lượng CM được nâng cao rõ rệt, sẵn sàng làm CM và hi sinh vì CM. TTCM bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng thời điểm xuất hiện, hình thức và nhíp độ phát triển phụ thuộc vào những quan hệ chính trị - xã hội, so sánh lực lượng giữa giai cấp thống trị và giai cấp CM. Hành động đúng thời cơ khi xuất hiện TTCM có ý nghĩa quyết định thắng lợi của CM. TÌNH TRẠNG CHIẾN TRANH, trạng thái đặc biệt của xã hội các nước tham chiến kể từ khi các nước đó tuyên chiến với nhau hoặc bắt đầu các hành động chiến tranh cho tới khi chấm dứt các hành động trên bằng một hiệp ước hòa bình, hiệp định đình chiến hoặc sự đầu hàng của một bên. Khi có TTCT, các quan hệ đối nội và đối ngoại của các nước tham chiến có sự đột biến. Về đối nội, thường ban bố tình trạng khẩn cấp, ra sắc lệnh tổng động viên, chuyển mọi hoạt động xã hội sang thời chiến... về đối ngoại, thường: cắt quan hệ ngoại giao, buôn bán, tài chính, hủy bỏ hiệu lực các hiệp ước, hiệp định với nước đối chiến và phong tỏa tài sản, quản thúc kiều dân... của nước đó. Việc tuyên bố TTCT thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước cao nhất do hiến pháp từng nước quy định, ở VN, Hiến pháp nước CHXHCN VN (1992) quy định: Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình, tuyên bố TTCT; chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định tuyên bố TTCT. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:01:34 pm TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP, trạng thái xã hội của cả nước hoặc một khu vực trọng yếu đang bị đe dọa bởi những nguy cơ (tiến công QS, đảo chính, bạo loạn, khủng hoảng chính trị, thiên tai lớn...), đòi hỏi phải áp dụng ngay chế độ luật phấp đặc biệt nhằm ổn định tình hình, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Khi ban bố TTKC thường lập ra các cơ quan có quyền lực đặc biệt và ban hành những đạo luật khẩn cấp (không phải tuân theo thủ tục lập pháp) nhằm tăng cường chức năng trấn áp của chính quyền nhà nước, thực hiện thiết quân luật hoặc lệnh giới nghiêm. Việc ban bố TTKC do hiến pháp quy định. Ở VN, TTKC do Quốc hội quy định, ủy ban thường vụ Quốc hội ban bố và việc giải quyết TTKC được thực hiện theo Pháp lệnh về TTKC. TỈNH ĐỘI X. BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH (THÀNH) TỈNH TRƯỚNG, chức vụ đứng đầu cơ quan chính quyền tỉnh dưới chế độ Sài Gòn ở miền Nam VN (1954-75). Chịu trách nhiệm trước tổng thống, thủ tướng về các vấn đề QS, an ninh trật tự, điều hành các cơ quan, công sở và chỉ huy lực lượng (QS và bán QS) thuộc quyền, thực hiện các luật lệ, chính sách quốc gia và kế hoạch, chương trình của chính phủ trên địa bàn tỉnh...; chịu trách nhiệm trước tổng trưởng nội vụ về điều hành chung bộ máy hành chính địa phương trong tinh. Do nhu cầu QS, TT thường là sĩ quan cấp cao thuộc QĐ Sài Gòn và kiêm nhiệm chức vụ tiểu khu trưởng (x. tiểu khu), chịu sự chỉ huy của tư lệnh quân đoàn - quân khu (vùng chiến thuật, trước 1970). TÍNH CHẤT BẢO VỆ CỦA ĐỊA HÌNH, đặc điểm dáng đất và địa vật có khả năng làm giảm tác động của các loại vũ khí sát thương. Loại địa hình có tính chất bảo vệ tốt nhất là đồi núi bị chia cắt bởi các khe, lũng sâu; có thể giảm tới 2,5 lần áp suất dư của sóng xung kích vụ nổ hạt nhân so với ở nơi bằng phẳng. Sự lồi lõm của địa hình là màn chắn có hiệu quả đối với bức xạ quang và bức xạ xuyên của vụ nổ hạt nhân. Khối cây rừng có thể làm yếu sóng xung kích đến 2 lần, giảm tác hại của bức xạ quang 6-8 lần so với nơi trống trải. Lợi dụng được TCBVCĐH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ sinh lực và phương tiện kĩ thuật. Trong tác chiến, khi nghiên cứu địa hình phải xác định ảnh hưởng của nó đối với hoạt động của bộ đội, xác định nơi ẩn nấp tự nhiên, tính toán khối lượng công trình phải xây dựng để nâng cao tính chất bảo vệ.... TÍNH CHẤT CHIẾN THUẬT CỦA ĐỊA HÌNH, tập hợp các tính chất của địa hình có ảnh hưởng đến các hoạt động tác chiến ở quy mô chiến thuật. Bao gồm: tính chất bảo vệ, khả năng thông qua đối với người và các loại phương tiện, điều kiện ngụy trang, điều kiện quan sát và định hướng, điều kiện phát huy hỏa lực... Khi tiến hành các hoạt động tác chiến chiến thuật phải vận dụng tối ưu TCCTCĐH để có thể cơ động bí mật. triển khai kịp thời, ngụy trang kín đáo, tiến công bất ngờ, phát huy cao nhất hiệu quả vũ khí phương tiện kĩ thuật và hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng hỏa lực của đối phương. TÍNH CHẤT CHIẾN TRANH, tổng hợp những đặc điểm cơ bản của một cuộc chiến tranh cho phép hiểu và phân biệt sự khác nhau giữa các cuộc chiến tranh. Mỗi cuộc chiến tranh đều có tính chất chính trị - xã hội và tính chất kĩ thuật - QS nhất định, trong đó tính chất chính trị - xã hội giữ vai trò chủ yếu. Tính chất chính trị - xã hội chỉ rõ nguyên nhân chiến tranh, mục đích chính trị của các bên tham chiến, sự phù hợp hay không phù hợp của mục đích đó với tiến bộ xã hội, từ đó để phân định chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, tiến bộ hay phản động, CM hay phản CM... về tính chất kĩ thuật - QS: căn cứ vào trình độ vũ khí trang bị được sử dụng mà chia ra chiến tranh thông thường hay chiến tranh hủy diệt; căn cứ vào phương thức tiến hành chiến tranh mà chia ra chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy...; căn cứ vào quy mô của chiến tranh mà chia ra chiến tranh cục bộ, khu vực, thế giới; căn cứ vào thành phần tham chiến mà chia ra chiến tranh giữa hai nước hay chiến tranh liên minh; căn cứ vào độ dài thời gian mà chia ra chiến tranh chớp nhoáng, chiến tranh lâu dài... Các nhà lí luận QS tư sản thường hay lảng tránh tính chất chính trị - xã hội và tuyệt đối hóa tính chắt kĩ thuật - QS của chiến tranh nhằm che đậy tính chất phi nghĩa, phản động của các cuộc chiến tranh mà giai cấp tư sản tiến hành. TÍNH CHẤT NGỤY TRANG CỦA ĐỊA HÌNH, đặc tính của địa hình thể hiện ở khả nâng che giấu hoạt động và mục tiêu QS, tránh địch trinh sát. TCNTCĐH được xác định bởi thảm thực vật tự nhiên, dáng đất và màu sắc các vật thể trên địa hình. TÍNH ĐỔI TỌA ĐỘ, tính chuyển tọa độ của các điểm từ một hệ tọa độ này sang một hệ tọa độ khác bằng các công thức toán học. Thường gặp TĐTĐ từ hệ tọa độ địa lí sang hệ tọa độ vuông góc, từ hệ Gauss sang hệ UTM, hệ quốc gia sang hệ địa phương... và ngược lại... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:02:52 pm TÍNH KIÊN CƯỜNG CỦA PHÒNG NGỰ, biểu hiện quyết tâm của bộ đội phòng ngự, hoàn thành nhiệm vụ được giao; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. TKCCPN thể hiện: quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, chủ động tìm mọi biện pháp có hiệu quả nhất, gây cho địch nhiều tổn thất, đập tan âm mưu và thủ đoạn tác chiến, đánh bại tiến công của địch, kiên cường giữ vững các khu vực phòng ngự, chưa có lệnh không được rời khỏi trận địa, tạo thế có lợi chuyển sang phản công, tiến công tiêu diệt địch. TÍNH NĂNG CHIẾN - KĨ THUẬT của trang bị quân sự, tập hợp các đặc tính định lượng của đơn chiếc (tổ hợp) trang bị KTQS, xác định khả năng chiến đấu của trang bị đó. TNC- KT phổ biến của các loại hòa khí, tên lửa, hỏa tiễn (tên lửa không điều khiển), bom, mìn là: cỡ, vận tốc, tầm bắn (phóng), hiệu quả tiêu diệt mục tiêu, tốc độ bắn (phóng), độ chính xác bắn (phóng), độ tin cậy, các đặc tính về kích thước và khối lượng...; dối với tăng thiết giáp là: khối lượng, vỏ giáp, công suất động cơ, tốc độ chuyển động, cơ số đạn, hành trình dự trữ...; đối với máy tính điện tử là: tốc độ tính toán, dung lượng bộ nhớ, loại máy...; đối với rađa là: cự li, độ cao phát hiện và bám sát mục tiêu, khả năng chống nhiễu, sai số phát hiện mục tiêu; đối với máy bay và máy bay trực thăng là: vận tốc, trần bay, tầm hoạt động, thời gian hoạt động, tải chiến đấu, trang bị...; đối với tàu mặt nước và tàu ngầm là: lượng choán nước, tổc độ, tầm hoạt động, khả năng hoạt động độc lập, kiểu thiết bị động lực và trang bị vũ khí... TNC-KT được xác định khi thiết kế chế tạo mỗi loại phương tiện KTQS cụ thể. Cg đặc tính chiến thuật - kĩ thuật hoặc phần tử chiến - kĩ thuật. TÍNH TÍCH CỰC CỦA PHÒNG NGỰ, biểu hiện sự chủ động của bộ đội phòng ngự liên tục đánh quân địch tiến công; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. TTCCPN được thực hiện bằng cách sớm phát hiện ý định tiến công của địch; đánh địch từ xa đến gần; kịp thời và kiên quyết cơ động lực lượng, hỏa lực đánh vào các tập đoàn lực lượng địch uy hiếp phòng ngự hoặc tiến công tiêu diệt các lực lượng địch bộc lộ sơ hở; thực hành phản kích (phản đột kích) tiêu diệt lực lượng địch đã đột nhập phòng ngự ta và khôi phục lại phòng ngự; liên tục chiến đấu tạo thế lợi cho ta và đẩy địch vào thế bất lợi. TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG PHÒNG KHÔNG, dùng phương pháp toán học để giải các phép tính chiến dịch, chiến thuật, cần cho việc tổ chức tác chiến, hạ quyết tâm, làm kế hoạch phòng không, như: dự tính hiệu suất của cụm phòng không; tính tương quan lực lượng trong đánh trả đòn tiến công đường không; dự kiến lực lượng phòng không cần để lập cụm phòng không với hiệu suất cho trước; tính số đạn cần thiết cho chiến dịch (trận đánh)... Có TTKNPK bằng phương pháp giản đơn (áp dụng các định mức trung bình đã có và các công thức, bảng tính, biểu đồ) và bằng phương pháp phức hợp (giải các phép tính dựa vào các tham số tĩnh hoặc cách tính xác suất) để đánh giá bằng số liệu cụ thể khả năng của ta và địch trong các tình huống. Kết quả tính toán giúp phán đoán khá chính xác tương quan lực lượng ta - địch trong chiến dịch (trận đánh) để người chỉ huy hạ quyết tâm, cơ quan làm văn kiện. TTKNPK do cơ quan tham mưu thực hiện. TÍNH VỮNG CHẮC CỦA PHÒNG NGỰ, khả năng giữ vững khu vực phòng ngự trước những đòn tiến công liên tục, mãnh liệt của lực lượng địch ưu thế; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. Để bảo đảm TVCCPN cần phải lập thể trận phòng ngự có lợi, đánh được địch tiến công từ nhiều hướng và xử trí linh hoạt các tình huống; phòng ngự có chiều sâu, xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự hoàn chỉnh, cấu trúc đầy đủ các loại công trình vững chắc, kiên cố, tổ chức ngụy trang, nghi binh khéo léo; tổ chức có hiệu quả việc phòng không, phòng pháo, chống tăng, phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, chống quân địch vu hồi, chống địch đổ bộ đường không, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng; thực hành phản kích, phản đột kích, tiến công địch với quy mô thích hợp, cố thủ giữ vững những địa bàn, mục tiêu trọng yếu; có dự trữ lực lượng, phương tiện vật chất cần thiết bảo đảm cho phòng ngự bền bỉ, lâu dài. TITÔ (Josip Broz Tito; 1892-1980), người đứng đầu Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư và nhà nước Liên bang Nam Tư (1945-80). Sinh tại Croatia; đv ĐXHDC (1910). Năm 1934 ủy viên Khu đảng bộ Crôatia. 1934-37 ủy viên BCT ĐCS Nam Tư. 1937 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS Nam Tu, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Tư chống ách chiếm đóng của chủ nghĩa phát xít trong CTTG-II. 1945 thủ tướng Chính phủ dân chủ Nam Tư. 1952 tổng bí thư Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư. 1953 tổng thống Liên bang cộng hòa nhân dân Nam Tư. 1971 chủ tịch Đoàn chủ tịch nước CHXHCN Liên bang Nam Tư; một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết (1961). TIURATAM X. BAICÔNUA Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:03:57 pm TNT (trinitrôtôluen), thuốc nổ phá dùng để nhồi vào các loại đạn dược, các lượng nổ,... ở dạng đơn chất hoặc hỗn hợp với các loại thuốc nổ khác. Công thức hóa học C5H2CH3 (N02)3. Tinh thể không màu, theo thời gian ngả màu vàng tươi, vị đắng. Khối lượng riêng l,66g/cm3, nhiệt độ nóng chảy 81°C, nhiệt độ kích nổ 290°C, tốc độ nổ tăng theo mật độ đạt 7.000m/s ở mật độ l,6g/cm3, nhiệt suất nổ 4,19 MJ/kg. Ở ngoài không khí, TNT bùng cháy ở 310°C, lửa màu vàng và rất nhiều khói, không dẫn tới nổ dù cháy với khối lượng lớn (trong buồng kín có thể dẫn tới nổ). TNT không tác dụng với kim loại, không tan trong nước, ít hút ẩm, độ nhạy va đập thấp nên sử dụng an toàn. TOA ĐÔ (H. Suodu, Sogatu; 7-1285), tướng Mông cổ chỉ huy quân thủy xâm lược Đại Việt (1285). Năm 1282 đem quân thủy từ Quảng Châu (TQ) theo đường biển đi đánh Chiêm Thành. Bị thất bại, phải lui về phía bắc Chiêm Thành, đóng tại vùng Ô Lí, Việt Lí (nay là Quảng Trị. Thừa Thiên). 2.1285 theo lệnh của Thoát Hoan, TĐ đem quân đánh ra phủ Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch. Quảng Bình), rồi tiến ra Nghệ An, Thanh Hóa. 21.6.1285 do không biết đại quân của Thoát Hoan bại trận đã rút chạy, TĐ đem quân thủy từ Thanh Hóa ra Thăng Long bằng đường biển vào cửa Sông Hồng ngược lên đến Tây Kết (khúc sông thuộc h. Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay). 24.6.1285 bị quân Đại Việt đánh bại ở bến Tây Kết, TĐ bị giết (x. kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần II, 1285). TÒA ÁN LA HAY, cơ quan xét xử chính của Liên hợp quốc. Thành lập 11.1945; trụ sở tại La Hay (Hà Lan). Nhiệm vụ: giải quyết tranh chấp pháp lí giữa các quốc gia thành viên LHQ nếu họ thỏa thuận (những nước khác có thể sử dụng TALH nếu chấp thuận cả hoặc từng trường hợp cụ thể những điều kiện đối với nước thành viên LHQ); đưa ra những ý kiến tư vấn về những vấn đề pháp lí cho Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn khác được Đại hội đồng ủy quyền. Hoạt động theo điều 94 Hiến chương LHQ. Thành phần của tòa án có 15 thẩm phán, do Hội đồng bảo an và Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu lựa chọn một cách độc lập từng người một, nhiệm kì 9 năm và có thể được bầu lại, mỗi quốc gia chỉ có một thẩm phán trong một nhiệm kì. Hội đồng xét xử gồm 9 thẩm phán, các vấn đề được phán quyết bởi đa số thẩm phán có mặt. Ngôn ngữ xét xử bằng tiếng Anh và tiếng Pháp (ngôn ngữ khác do hội đồng xét xử cho phép). Ngày nay, TALH không giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Cg Toà án quốc tế Liên hợp quốc. TÒA ÁN QUÂN SỰ QUỐC TẾ, tòa án QS được thành lập theo sự thỏa thuận của LX, Mĩ, Anh và Pháp để xét xử các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Ngày 8.8.1945 đã tiến hành tổ chức xét xử các tội phạm chiến tranh ở các nước châu Âu (x. Phiên tòa Nurembe, 20.11.1945-1.10.1946) và 3.5.1946 tiến hành xét xử các tội phạm chiến tranh ở Viễn Đông (x. Phiên tòa Tôkiô, 3.5.1946-12.11.1948). TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG UƠNG, cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống tòa án quân sự ở Việt Nam được tổ chức trong QĐND VN. Thuộc cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao, có thẩm quyền do pháp lệnh tổ chức tòa án QS quy định. Gồm: chánh án, các phó chánh án, thẩm phán, hội thẩm quân nhân, thư kí tòa án và ủy ban thẩm phán. Thành lập theo sắc lệnh số 45/sL ngày 25.4.1947 của chính phú VN DCCH. Tên gọi: tòa án binh tối cao (1947), TAQSTƯ(1961), Tòa án QS cấp cao (1986), TAQSTƯ (1993). Ngày truyền thống (ngành) 13.9.1945. Chánh án TAQSTƯ(1961): Trần Văn Trà. TÒA ÁN QUÂN SỰ VIỆT NAM, cơ quan xét xử của nước CHXHCN VN được tổ chức trong QĐND VN để xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là: quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với QĐ; những người được trưng tập làm nhiệm vụ QS do QĐ trực tiếp quản lí; những người không thuộc các đối tượng trên phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho QĐ. Hệ thống TAQS VN gồm: Tòa án quân sự trung ương, tòa án QS quân khu (và tương đương), tòa án QS khu vực. Tòa án QS trung ương thuộc cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tối cao, gồm: chánh án, các phó chánh án. thẩm phán, hội thẩm quân nhân, thư kí tòa án; Tòa án QS trung ương, tòa án quân khu và tương đương có ủy ban thẩm phán (gồm chánh án, các phó chánh án và một số thẩm phán). Việc quản lí tòa án QS quân khu và tương đương và tòa án QS khu vực do bộ trưởng Bộ tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp với bộ trưởng BQP và chánh án Tòa án nhân dân tối cao. TAQSVN các cấp thực hiện chế độ bổ nhiệm chánh án, phó chánh án, thẩm phán (do chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức) và chế độ cử hội thẩm quân nhân, thực hiện xét xử công khai (trừ trường hợp cần phải giữ bí mật); làm việc tập thể và quyết định theo đa số; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyển bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:05:26 pm TÒA ÁN QUỐC TẾ BECTƠRANG RUTXEN, diễn đàn quốc tế mang tên nhà triết học Anh, huân tước Bectơrang Rutxen (người đề xướng và tổ chức) để phán xét tội ác chiến tranh của Mĩ ở VN theo thủ tục, trình tự pháp lí của một tòa án quốc tế. Gồm một số nhà khoa học và hoạt động xã hội có uy tín trên thế giới, do Giăng Pôn Sactrơ làm chủ tịch. Phiên họp đầu tiên 2-10.5.1967 tại Xtôckhôm (Thụy Điển), phiên cuối họp 20.11-1.12.1967 tại Retkenđe (Đan Mạch). Căn cứ luật pháp quốc tế và tập tục chiến tranh, TAQTBR đã phán xét: chính phủ Mĩ phạm tội gây chiến tranh xâm lược, tội chống hòa bình, tội diệt chủng (x. tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, tội chông loài người) theo đúng lời văn và tinh thần phán quyết của Tòa án quản sự quốc tế Nurembe và Tôkiô; hành động ném bom có chủ đích, có hệ thống, trên quy mô lớn vào các mục tiêu dân sự, dùng bom bi, bom napan, bom lân tinh, vũ khí hóa học, ném bom rải thảm,... của QĐ Mĩ ở VN là những hành vi tàn bạo, bị luật pháp quốc tế và tập tục chiến tranh ngăn cấm; chính phủ Mĩ liên tiếp vi phạm chủ quyền, nền trung lập, toàn vẹn lãnh thổ của Lào và Campuchia; các chính phủ Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên, Philippin, Thái Lan là những đồng phạm với Mĩ thực hiện tội ác chiến tranh ở VN. TAQTBR đã góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới, thúc đẩy phong trào đấu tranh rộng lớn chống tội ác chiến tranh của Mĩ ở VN. TOÀ ÁN QUỐC TẾ LIÊN HỢP QUỐC nh TOÀ ÁN LA HAY TỌA ĐỘ, đại lượng xác định vị trí các điểm trên mặt phẳng, bề mặt, trong không gian. Trong QS thường dùng tọa độ vuông góc, tọa độ địa lí. TỌA ĐỘ ĐỊA LÍ, tọa độ của một điểm trên bề mặt Trái Đất, xác định bằng cặp giá trị kinh độ và vĩ độ của nó. Kinh độ của một điểm là góc giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc (kinh tuyến Grinuych). Kinh độ được tính từ kinh tuyến gốc sang phía đông với giá trị dương (0° đến +180°), cg kinh độ đông. Từ kinh tuyến gốc sang phía tây với giá trị âm (0° đến -180°), cg kinh độ tây. Vĩ độ của một điểm là góc giữa đường thẳng đứng tại điểm đó và mặt phẳng xích đạo. Vĩ độ được tính từ xích đạo đến cực bắc với giá trị dương (0° đến +90°) từ xích đạo đến cực nam với giá trị âm (0° đến -90°); để tránh dấu âm còn được gọi là vĩ độ bắc và vĩ độ nam. Các đường kinh tuyến địa lí và các đường vĩ tuyến địa lí tạo thành lưới TĐĐL. TỌA ĐỘ MỤC TIÊU, tập hợp các thông số (khoảng cách hoặc góc) xác định vị trí của mục tiêu trên bề mặt (đất, nước) hoặc trong không gian (trong lòng nước) trong một hệ tọa độ nhất định. Với mục tiêu di động TĐMT được xác định ở từng thời điểm một (tọa độ tức thời). Tùy theo yêu cầu, TĐMT được xác định một cách gián đoạn hoặc liên tục nhờ các loại khí tài trinh sát, đo đạc khác nhau. TỌA ĐỘ THIÊN CẦU, tập hợp các đại lượng xác định vị trí các thiên thể hoặc các điểm đạc trung trên thiên cầu. Theo tính chất hệ quy chiếu, có: hệ TĐTC địa phương và hệ TĐTC tuyệt đối. Các hệ TĐTC địa phương phụ thuộc vị trí quan sát, được dùng rộng rãi trong các ngành thiên văn ứng dụng. Theo yếu tố được chọn làm mốc tọa độ và các đại lượng dùng trong đo đạc, có: hệ tọa độ chân trời, được quy về hai mặt phẳng cơ bản là mặt phẳng ngang và mặt phẳng kinh tuyến qua điểm quan sát, với hai tọa độ góc phương vị và góc cao; hệ tọa độ giờ (cg hệ tọa độ xích đạo thứ hai), gồm góc giờ và độ xích vĩ (góc giữa phương từ điểm quan sát tới thiên thể với mặt phẳng xích đạo thiên cầu là mặt phẳng cơ bản). Các hệ TĐTC tuyệt đối không phụ thuộc vị trí quan sát, chủ yếu dùng trong nghiên cứu vũ trụ, tính toán thiết lập các mục lục hay bản đồ sao; gồm hệ tọa độ xích đạo với hai tọa độ là độ xích kinh (góc giữa vòng giờ của thiên thể và vòng giờ qua điểm Xuân phân, tính về phía đông và biểu thị bằng đơn vị thời gian từ 0 đến 24 giờ) và độ xích vĩ (như trong hệ tọa độ giờ); hệ tọa độ hoàng đạo với hai tọa độ là độ hoàng kinh (kinh độ hoàng đạo) và độ hoàng vĩ (vĩ độ hoàng đạo); cách tính như trong hệ tọa độ xích đạo song lấy mốc chuẩn là mặt phẳng hoàng đạo và hệ tọa độ Thiên Hà với mốc chuẩn là mặt phẳng xích đạo Thiên Hà (nghiêng 62° so với mặt phẳng xích đạo thiên cầu) và hai tọa độ là độ thiên kinh và độ thiên vĩ. TỌA ĐỘ VUÔNG GÓC, toạ độ xác định bằng khoảng cách từ điểm cần xác định tới hai trục tọa độ vuông góc với nhau trên mặt phẳng (trục tung, trục hoành). Trong bản đồ địa hình thường sử dụng hai hệ TĐVG: Gauss (do phép chiếu hình Gauss) và hệ UTM (do phép chiếu UTM). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:06:52 pm TOÁN TRINH SÁT, tổ chức lâm thời do liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội, phân đội hoặc do các đội trinh sát phái ra làm nhiệm vụ trinh sát. Căn cứ vào tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ, có: TTS tuần tiễu, TTS cảnh giới chiến đấu, TTS luồn sâu, TTS đặc nhiệm, TTS địch hậu, TTS sĩ quan, TTS công trình, TTS hóa học... Mỗi toán thường gồm một tiểu đội đến một trung đội. TTS thường được chỉ thị khu vực, mục tiêu trinh sát. TTS thường dùng các phương pháp trinh sát: phục kích, tập kích, bắt tù binh, quan sát, chụp ảnh, quay phim, nghe trộm... TTS được trang bị khí tài trinh sát, thông tin, vũ khí chiến đấu, khi cẩn sẽ được tăng cường lực lượng chiến đấu yểm hộ. TTS có thể tiến hành trinh sát bằng đi bộ, xe cơ giới, máy bay trực thăng và những phương tiện phù hợp khác. TOÁN TRINH SÁT CẢNH GIỚI CHIẾN ĐẤU, toán trinh sát được phái ra từ các tiểu đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới, hải quân đánh bộ, đổ bộ đường không, xe tăng) để thu thập tình hình địch và địa hình ở phía trước và bên sườn đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, trong cự li quan sát bằng mắt. TTSCGCĐ được chỉ thị khu vực trinh sát và có khi cả mục tiêu cụ thể. TTSCGCĐ hoạt động trong cự li chi viện hỏa lực của tiểu đoàn và vận dụng các thủ đoạn trinh sát như: quan sát, sục sạo chiến đấu. TOÁN TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM, toán trinh sát do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến lược hoặc cấp chiến dịch phái ra, được huấn luyện và trang bị đặc biệt để tiến hành trinh sát dặc nhiệm. TTSĐN được tổ chức thành một tiểu đội hoặc một trung đội, trang bị các máy thông tin vô tuyến điện để liên lạc nội bộ và với cơ quan chỉ huy cấp trên. TOÁN TRINH SÁT LUỒN SÂU, toán trinh sát do người chỉ huy và cơ quan tham mưu binh đoàn (liên binh đoàn), binh chủng hợp thành hoặc cơ quan QS địa phương (tỉnh) phái ra nhằm thực hiện một số nhiệm vụ trinh sát mục tiêu quan trọng trong lòng địch. TTSLS thường được chỉ thị khu vực hoạt động, mục tiêu và nhiệm vụ trinh sát cụ thể, được trang bị các phương tiện trinh sát, phương tiện thông tin để thực hiện nhiệm vụ. TTSLS thường vận dụng các thủ đoạn trinh sát như: quan sát, chụp ảnh, nghe trộm, cải trang trinh sát, tiềm nhập và khi cần có thể bắt tù binh, thu tài liệu. TOÁN TRINH SÁT TUẦN TIÊU ĐỘC LẬP, toán trinh sát được phái ra từ các binh đội (binh đoàn) binh chủng hợp thành để thu thập tình hình về địch và địa hình ở phía trước, bên sườn đội hình của binh đoàn hoặc binh đội; không thuộc biên chế của đội trinh sát tuần tiễu của liên binh đoàn. TTSTTĐL thường gồm một tiểu đội đến một trung đội (bộ binh hoặc bộ binh cơ giới) và có thể được tăng cường xe tăng. TTSTTĐL thường vận dụng các thủ đoạn: quan sát, sục sạo, phục kích, tập kích bắt tù binh; trinh sát bằng hành động chiến đấu. trận chiến đấu... TTSTTĐL được chỉ thị khu vực trinh sát hoặc mục tiêu trinh sát. Khoảng cách của TTSTTĐL đến các phân đội phía trước phụ thuộc vào lực lượng và nhiệm vụ được giao, tình hình địch, địa hình và khả năng thông tin liên lạc. TOOCNAĐÔ (A. Tornado), máy bay chiến đấu đa năng (tiêm kích, cường kích, trinh sát) vượt âm, có hình dạng cánh thay đổi (cụp, xoè) do Anh, Tây Đức, Italia hợp tác chế tạo. Mẫu đâu tiên bay thử 8.1974. Đưa vào trang bị 1980. Có các mẫu GR1. GR1 A, IDS, có thể cất hạ cánh trên đường băng ngắn và hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp, ngày và đêm. Dài 16,72m, cao 5,95m, sải cánh 8,60m (khi cụp), 13,91m (khi xòe). Khối lượng rỗng 14,091t, khối lượng cất cánh tối đa 28t, tốc độ tối đa 2.350km/h, trần bay thực tế 15.000m, 2 người lái, tầm hoạt động 4.265km. Có thể mang: pháo 27mm, các tên lửa Xaiuynđơ, ALARM, Mayerisk AGM-65, bom chùm, bom có điều khiển GBU-15, GBU-123B, với tổng khối lượng vũ khí tối đa 9.070kg. Trang bị điện tử: rada cảnh giới, máy chiếu xạ mục tiêu, máy phát nhiễu rada nhiều chế độ, bộ rải nhiễu thụ động... T hiện có trong trang bị QĐ Anh, Đức, Italia, Arập Xêut, G00cđani, Malaixia... Đã dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67513186_461238624606023_1978804884828323840_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEpIcyBY_DyTPMKCn5smClecCcgEmxMehpKWkR9iFxIR6Ps5W-dXVOD1NpNY7tegyjAFewEqH15YNH6c7JweWpERAZ45sSATxpsVtqjH4NONg&_nc_oc=AQnQoHsN1tD9fv4VFhLpnUvUfdFC7oKeovXytQZxL7K5aTdGh00CvQk9IzkCVagWN14&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=2ebc8ddcc48e0d11abc25f638e041e10&oe=5DD49A50) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:07:42 pm TOW (vt từ A. Tube launched. Optically tracked, Wire command - phóng bằng ống, bám quang học, truyền lệnh qua dây dẫn), tổ hợp tên lửa chống tăng có điều khiển do Công ti Hiu Mixai Xixtem (Mĩ) nghiên cứu chế tạo từ 1962, trang bị cho QĐ Mĩ từ 1972. Có thể phóng từ các hệ thống phóng mặt đất (mang vác) M151E2, trên các xe thiết giáp, ô tô và máy bay trực thăng. Tên lửa là loại BGM 71 (A, C, D, E, F) mang đầu đạn lõm chống tăng, động cơ nhiên liệu rắn hai tầng, dài 1.174mm, đường kính 127mm, khối lượng 22,5- 28,lkg, tốc độ bay lớn nhất 200m/s, tầm phóng 3.000- 3.750m, khả năng xuyên giáp 500-600mm. Ống phóng bằng vật liệu phức hợp (compôzit) xốp, nhẹ, đồng thời là ống bảo quản khi cất giữ, vận chuyển. Hệ thống điều khiển bán tự động hoặc tự động với thiết bị bám quang học và hồng ngoại. Khẩu đội 4 người, có thể phóng 3 quả trong 90s. TOW được xuất khẩu và cung cấp cho QĐ gần 40 nước, trong đó có QĐ Sài Gòn trước đây. Các mẫu cải tiến có đường kính đầu đạn lõm tăng lên đến 152mm (TOW-2) để tăng khả năng phá giáp. Kiểu BGM-71F (TOW-2B) là loại cải tiến mới nhất (có đầu đạn kép và xenxơ mục tiêu ở đầu tên lửa) để đánh từ nóc xe xuống. Tên lửa được đặt trước chương trình để bay tới phía trên mục tiêu, xenxơ sẽ kích hoạt cho đầu đạn kép xuyên xuống mục tiêu ở thời điểm thích hợp, khả năng xuyên giáp tới 1.030mm. TÔ HIẾN THÀNH (Phi Diên; 7-1179), nhà chính trị - QS, đại thần thời Lí. Quê làng Hạ Mỗ, h. ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, h. Đan Phượng, t. Hà Tây). Có tài văn võ, được vua Lí Anh Tông trọng dụng làm tướng, lập nhiều công lớn. 1141 cùng tướng Đỗ Anh Vũ dập tắt cuộc nổi dậy của Thân Lợi ở phía bắc. 1159 đánh dẹp tù trưởng Ngưu Hống câu kết với quân Ai Lao quấy phá vùng biên giới phía tây, được phong chức thái úy. 1161 làm đô tướng chỉ huy 2 vạn quân đi tuần, dẹp phán loạn và hải tặc ở biên giới tây nam và vùng ven biển. 1167 chinh phục Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi quốc gia. 1175 được giao chức nhập nội kiểm hiệu thái phó, bình chương quân quốc trọng sự, tước Vương, vua Lí Anh Tông mất, nắm quyền nhiếp chính, một lòng tuân thủ di chiếu giúp vua Lí Cao Tông (khi còn nhỏ) điều hành việc triều chính. Tấm gương lớn về lòng trung nghĩa, chính trực, một trong những trụ cột tạo dựng sự ổn định của triều Lí. TÔ KÍ (Năm; S. 1919), chính ủy Quân khu Hữu Ngạn (1967- 74). Quê xã Mĩ Bình, h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh; tham gia CM 1936, nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1961); dv ĐCS VN (1937). Năm 1936-37 tham gia Hội tương tế ái hữu. 1939 huyện ủy viên huyện Hóc Môn; bị địch bắt, kết án 5 năm tù và đày đi biệt xứ. Hai lần vượt ngục (3.1941 và 3.1945). Năm 1945 tỉnh ủy viên tỉnh Gia Định, phụ trách QS và tham gia lãnh đạo khỏi nghĩa ở Gia Định. 1946 chi đội trưởng Chi đội 12 (Khu 7). Năm 1947-50 tư lệnh Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, thường vụ khu ủy, phó tư lệnh Khu 7. Năm 1951-53 tỉnh đội trưởng, bí thư Tỉnh ủy Gia Định. 1954-55 trưởng ban chuyển quân tập kết khu Hàm Tân, Xuyên Mộc; chủ nhiệm phòng cung cấp Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. 1957-64 chính ủy Sư đoàn 338, chánh án Tòa án QS trung ương. 6.1967-74 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Hữu Ngạn. 12.1978 chuyển ngành sang Tổng cục dầu khí. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Chiến công hạng nhì... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67665203_461238631272689_6582434373537103872_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeF8Oh1_UMzso3skjQJV0wcYP69wlQqDvgQTxEubgiBYhj8bMqx1arM6jo1-CatONt_cNnM_cLmyf13Ns-2pqZUs3th89HL1T5fUrIIwLrDdRA&_nc_oc=AQnfoUi_S9ZIOyKP58UsJ8u7X-cMSLFvsRhbQWmfVG4_mTeJdGFMeOhWQt83gGMVoko&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=64b976aec68ca4278b2ae76515592c33&oe=5DD6B7D3) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:09:18 pm TÔ NHƯ KHUÊ (S. 1925), Nhà giáo nhân dân (1994), giáo sư (1984). Quê xã Đại Hoàng, h. Tiền Hải, t. Thái Bình; nhập ngũ 1945, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1950). Tháng 10.1945 chính trị viên Đại đội Hoàng Văn Thụ, Chiến khu 3. Năm 1946-54 học Đại học y khoa kháng chiến, trưởng ban quân y Trung đoàn 108, đội trưỏng Đội điều trị Phòng quân y Liên khu 5, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm Ban quân y Sư đoàn 305. Năm 1955-63 trưởng ban huấn luyện Cục quân y, phó chủ nhiệm Y vụ Viện quân y 108. Năm 1963-97 giảng viên, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm Bộ môn sinh lí lao động Học viện quân y. Chuyên viên đầu ngành sinh lí học lao động QS, BQP. Phó chủ tịch, rồi chủ tịch Hội sinh lí học VN (1969-98). ủy viên nhiều hội đồng khoa học y học của nhà nước và BQP. Chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học về lĩnh vực sinh lí lao động QS cấp nhà nước và BQP, được ứng dụng có hiệu quả như: “Nghiên cứu áp dụng các biện pháp cổ truyền Á Đông về rèn luyện tâm thế, dưỡng sinh, võ thuật để nâng cao bản lĩnh tự điều chỉnh của phi hành viên vũ trụ” (1982), “Bảo đảm an toàn cho thợ lặn VN sử dụng các kĩ thuật hiện đại” (1991)... Biên soạn nhiều tài liệu, giáo trình, giáo khoa chuyên ngành được sử dụng như; “Giáo trình sinh lí lao động”, “Giáo trình y học hàng không”, “Đại cương tâm lí học kĩ thuật”... Tham gia giảng dạy nhiều khóa đào tạo bác sĩ, cao học, nghiên cứu sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba, Chiến thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67764153_461238637939355_6170423074274410496_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFzmB3werbh1_tOnw1nWwNTLFeTHdCInZVzLAarhLYhbRSry52SDLLrL0a2fI1ZhhBhmW3Lxgo4MthP2ahLGaawQseLBx5oGZ5GNctQ-bmmXQ&_nc_oc=AQkTB5v9xPmdRbcDPLELGPxMvWqgi7bnHv5L3ab1bxtu_e4l9OOOmRi9vHx6kVOqBdQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=2646dff6d566256762f9e8e3d5ee6c1e&oe=5DE0FEA0) TÔ VĨNH DIỆN (1924-54), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Nông Trường, h. Triệu Sơn, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1949; đv ĐCS VN (1949); khi hi sinh là khẩu đội trưởng pháo phòng không, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), khi kéo pháo ra, đến đoạn xuống Dốc Chuối, TVD và pháo thủ Ty xung phong cầm càng lái pháo. Khi dây tời chính bị đứt, pháo lao nhanh và khó điều khiển, pháo thủ Ty bị càng pháo đánh bật ra, TVD vẫn bám càng, điều khiển hướng lao của pháo, bất chấp nguy hiểm lấy thân mình đẩy càng vàovách núi cho pháo dừng lại, TVD hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67599560_461238654606020_9089659989714272256_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEp-fLOIsa_i-JYuoZVdYo1ZODAa20R9IN-V9RqaLBVzGsizEmAiq_bMTukAO9xM8dP81qhvUMIydWFRifr6v6rLF_L_Cp5Ck9wMWrf323Iuw&_nc_oc=AQkjOENsmCGIbNNuqWp4yRH_XMjqWFC8572jrKfmmz3GHthiR5ISdw_EHpXXy3F93Fw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=cf7bdd1eb32ae4975e389b3ede199398&oe=5DD4E5E8) TỔ BA NGƯỜI, tập thể chiến đấu, công tác và sinh hoạt tư tưởng có tính chất quần chúng, được tổ chức ở tiểu đội và tương đương (chu yếu ở các đơn vị chiến đấu) của QĐND VN. Thông thường, cứ ba quân nhân có liên quan, gắn bó với nhau về nhiệm vụ thì tổ chức thành TBN để giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong chiến đấu, học tập, công tác và tư tưởng, tình cảm... Hoạt động dưới sự lãnh đạo của chi bộ (chi ủy), sự chỉ đạo của cán bộ trong đại đội, nhất là cán bộ chính trị. Hình thức sinh hoạt ngắn gọn, đơn giản, nội dung thiết thực. TBN mạnh là cơ sở để xây dựng tiểu đội, trung đội, đại đội mạnh và tạo nguồn đào tạo cán bộ QĐ. TỔ BAY, nhóm quân nhân được đào tạo chuyên môn (phi công, hoa tiêu, kĩ sư hàng không, nhân viên điện đài...) và được biên chế để trực tiếp thực hiện chuyến bay trên một khí cụ bay (máy bay, máy bay trực thăng, khinh khí cầu, tàu vũ trụ...). TB thường gồm tổ trưởng (chỉ huy) và các thành viên. Tổ trường là người lái (phi công) chính, có nhiệm vụ chỉ huy TB thực hiện nhiệm vụ được giao. Các thành viên có thể gồm: người lái phụ, dẫn đường trên không, cơ giới, điều khiển vũ khí,... thực hiện nhiệm vụ theo chức trách quy định dưới sự chỉ huy của tổ trưởng TB. Số lượng thành viên TB phụ thuộc vào công dụng của từng loại máy bay, giải pháp thiết kế các hệ thống, thiết bị điều khiển máy bay, động cơ, dẫn đường, vũ khí, thông tin liên lạc... và phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ bay. TB có thể gồm 1-2 người hoặc 2-5 người (máy bay ném bom, vận tải). Cg kíp bay, đội bay. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:10:41 pm TỔ CHUYÊN KHOA TĂNG CƯỜNG, tổ quân y có trình độ kĩ thuật và trang bị chuyên khoa sâu, được tách ra từ các bệnh viện hoặc cơ sở y tế khác, dưa lên bệnh viện tuyến trước để tăng khả năng cứu chữa chuyên khoa của các bệnh viện đó. Thường có: tổ phẫu thuật chuyên khoa đầu - mặt - cổ, bụng, ngực, chấn thương, tổ chuyên khoa bỏng, gây mê hồi sức, X quang, độc - xạ, truyền nhiễm, tổ pha chế dịch truyền. TỔ CHỨC AN NINH VÀ HỢP TÁC CHÂU ÂU (A. Organization on Security and Cooperation in Europe, vt: OSCE), tổ chức khu vực có vai trò thúc đẩy an ninh thông qua hợp tác ở châu Âu; công cụ của khu vực nhằm cảnh báo sớm, ngăn chặn xung đột, kiểm soát khủng khoảng và khôi phục sau xung đột. Thành lập đầu những năm 70 (tk 20) với tên gọi Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (A. Conference on Security and Cooperation in Europe, vt: CSCE) - diễn đàn đa phương để đối thoại và thương lượng giữa Đông Âu và Tây Âu. Hội nghị thượng đỉnh Buđapet (1994) chính thức đổi tên thành TCANVHTCÂ với 55 quốc gia thành viên (có vị trì địa lí trải dài từ Vancuyơ tới Vlađivôxtôc). Lĩnh vực hoạt động chủ yếu: kiểm soát vũ khí, ngoại giao phòng ngừa, các biện pháp xây dựng lòng tin và an ninh, nhân quyền, giám sát bầu cử, an ninh kinh tế, an ninh môi trường. Các nước thành viên đều bình đẳng và mọi quyết định đều dựa trên cơ sở đồng thuận. Về cơ cấu tổ chức gồm: Hội đồng thường trực - cơ quan tư vấn chính trị và ra quyết định (họp hàng tuần); Hội đồng cấp cao và Hội đồng ngoại trưởng (họp mỗi năm một lẩn), hội nghị thượng đỉnh (họp 2 năm một lần); chủ tịch luân phiên - chịu trách nhiệm chung về điều hành (luân phiên hàng năm giữa các nước thành viên); tổng thư kí - đại diện cho chủ tịch luân phiên, quản lí các cơ cấu và hoạt động chung (nhiệm kì 3 năm); Ban thư kí - cơ quan soạn thảo văn kiện và thu thập thông tin; ngoài ra còn một số cơ quan khác: Văn phòng liên lạc ở Trung Á, Văn phòng phụ trách các thể chế dân chủ và nhân quyền, Cao ủy phụ trách vấn đề dân tộc thiếu số của các quốc gia... TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TÀU, bố trí hợp lí các thành viên trên tàu theo vị trí chỉ huy và vị trí chiến đấu với chức trách cụ thể của từng người, nhằm duy trì mức độ sẵn sàng chiến đấu cao của tàu và nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện kĩ thuật trong chiến đấu. Cơ sở TCCĐCT là các bảng bố trí chiến đấu trên tàu. TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tổ chức cơ sở của ĐCS VN được thành lập ở các đơn vị cơ sở của QĐND VN (trung đoàn, lữ đoàn, tiểu đoàn, đại đội trực thuộc sư đoàn và tương đương). Căn cứ vào số lượng, chất lượng đảng viên và cơ cấu tổ chức đơn vị mà thành lập TCCSĐ: ba cấp (đảng bộ cơ sở, đảng bộ bộ phận, chi bộ), ở trung đoàn, lữ đoàn có các tiểu đoàn và tương đương; hai cấp (đảng bộ cơ sở, chi bộ) ở trung đoàn không có tiểu đoàn, ở tiểu đoàn độc lập và tương đương; một cấp (chi bộ cơ sở) ở đại đội độc lập và tương đương. TCCSĐ hoạt động theo điều lệ Đảng và các quy định của BCHTƯ, BCT, Ban bí thư và Đảng ủy QS trung ương. Nhiệm vụ chủ yếu: lãnh đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng đảng bộ trong sạch vũng mạnh, làm tốt công tác vận động quần chúng, lãnh đạo công tác kiểm tra,... phù hợp với tính chất và đặc điểm nhiệm vụ của từng loại TCCSĐ (đơn vị, cơ quan, nhà trường, bệnh viện, công ti, xí nghiệp...). Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của TCCSĐ 5 năm họp hai lần; đại hội chi bộ trong TCCSĐ mỗi năm 1 lần; đảng úy TCCSĐ nếu có 9 ủy viên trở lên bầu ra ban thường vụ. TỔ CHỨC CỨU CHỮA VẬN CHUYỂN THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, tổng thể các hoạt động phân loại cấp cứu, điều trị, vận chuyển thương binh, bệnh binh. TCCCVCTB.BB trong chiến tranh được tiến hành bằng các hình thức: tổ chức cứu chữa, vận chuyển theo tuyến trên từng hướng hoặc trong từng khu vực; kết hợp cứu chữa theo tuyến vận chuyển theo chỉ định về hậu phương (chỉ định y học) với điều trị tại chỗ ở từng khu vực; kết hợp quân y với dân y. Tổ chức cứu chữa theo tuyến là phân chia việc cấp cứu và điều trị thành từng thể loại cứu chữa, tiến hành một cách kịp thời, thống nhất, liên tục, kế tiếp nhau trên các tuyến. Có các thể loại cứu chữa: cấp cứu đầu tiên (do y tá, cứu thương đại đội và bộ đội tiến hành), bổ sung cấp cứu (do y sĩ tiểu đoàn), cứu chữa bước đầu (do tuyến quân y trung đoàn), cứu chữa cơ bản (do tuyến quân y sư đoàn), cứu chữa chuyên khoa (do tuyến quân y chiến dịch). Người chỉ huy quân y phải vận dụng những hình thức và thể loại TCCCVCTB.BB một cách linh hoạt sáng tạo vào những điểu kiện cụ thể. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:38:19 pm TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM. bộ phận trong hệ thống tổ chức của ĐCS VN được tổ chức trong QĐND VN để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mật của ĐCS VN đối với QĐND VN. TCĐTQĐNDVN, được tổ chức tương ứng với hệ thống tổ chức của QĐ gồm: Đảng ủy quân sự trung ương lãnh đạo mọi mặt đối với toàn quân; cấp quân khu, BTTM - cơ quan BQP, tổng cục, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, sư đoàn (và tương đương) mỗi đảng bộ có BCH (gọi tắt là đảng ủy) do đại hội cùng cấp dân chủ bầu cử, trường hợp đặc biệt do đảng ủy cấp trên chỉ định (đảng ủy quân khu ngoài số cấp ủy viên do đại hội cùng cấp dân chủ bầu cử còn có bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc trung ương trên địa bàn quân khu tham gia); cấp trung đoàn, lữ đoàn, tiểu đoàn, đại đội trực thuộc sư đoàn (và tương đương) thành lập tổ chức cơ sở đảng (x. tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam). Tổ chức đảng QS địa phương ở cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương cấp đó về mọi mặt, đồng thời chấp hành nghị quyết của đảng ủy QS cấp trên về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác QS địa phương. Đảng ủy quân sự tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã (và tương đương) ngoài số cấp ủy viên do đại hội cùng cấp dân chủ bẩu cử, còn có bí thư và một số cấp ủy viên địa phương cùng cấp tham gia, do bí thư cấp ủy địa phương cùng cấp làm bí thư. TỔ CHỨC GIẢI PHÓNG PALEXTIN, tổ chức chính trị tập hợp hầu hết các tổ chức QS - chính trị yêu nước của nhân dân Palextin nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Xiôn: thành viên của Phong trào không liên kết, Liên đoàn các nước Arập (AL), Tổ chức hội nghị Hồi giáo (OIC) và của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. Thành lập 1964, gồm: Phong trào giải phóng dân tộc Palextin (Anfatah); Quân giải phóng Palextin; Mặt trận dân chủ giải phóng Palextin; Mặt trận nhân dân giải phóng Palextin và một số tổ chức khác. TCGPP đã và đang lãnh đạo nhân dân Palextin đấu tranh giành quyền tự quyết và các quyền dân tộc cơ bản, trong đó có quyền thành lập một nhà nước Palextin độc lập trên lãnh thổ của mình và đấu tranh nhằm thiết lập một nền hòa bình bền vững ở Trung Cận Đông. TCGPP được hội nghị những người đứng đầu các nước Arập (1973), hội nghị những người đứng đầu các nước theo đạo Hồi (1974) và hơn 100 nước công nhận là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân Palextin; được hưởng quy chế quan sát viên tham gia hoạt động của Đại hội đồng LHQ và các hội nghị quốc tế dưới sự bảo trợ của LHQ. Có đại diện ở hàng chục nước, trong đó có VN. Các cơ quan chủ yếu gồm: Hội đồng dân tộc Palextin, BCH TCGPP (do Araphat làm chủ tịch). Dưới sự lãnh đạo của TCGPP, nhân dân Palextin đã giành được thắng lợi quan trọng buộc nhà cầm quyền Ixraen kí hiệp định hòa bình Trung Đông (1993), trao quyền tự trị cho người Palextin ở bờ Tây sông Gioocđan và dải Gada. Cg PLO. TỔ CHỨC HẬU CẦN, tổng thể các hoạt động do chủ nhiệm hậu cần và cơ quan hậu cần tiến hành theo ý định của người chỉ huy để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần. TCHC là một nôi dung quan trọng của chuẩn bị chiến đấu (chiến dịch); gồm: tổ chức, sắp xếp, bố trí lực lượng hậu cần, chuẩn bị đường vận tải, tổ chức phòng vệ hậu cần... TỔ CHỨC HIỆP ƯỚC VACSAVA, liên minh QS - chính trị nhằm bảo vệ an ninh của các nước XHCN châu Âu, duy trì, củng cố hòa bình ở châu Âu và trên thế giới. Thành lập trên cơ sở hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ giữa tám nước: Bungari, Hunggari, CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, LX, Tiệp Khắc và Anbani (1962 rút khỏi hiệp ước), kí 14.5.1955 ở Vacsava (Ba Lan), có hiệu lực từ 5.6.1955. Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Hội nghị chính trị hiệp thương, gồm những người đứng đầu đảng và chính phủ các nước thành viên, có hai cơ quan giúp việc (thành lập 1976) là HĐBT ngoại giao và Ban thư kí. Tổ chức QS gồm có HĐBT quốc phòng, LLVT thống nhất và Bộ chỉ huy thống nhất, ngoài ra còn có Hội đồng QS, Bộ tham mưu LLVT thống nhất và các cơ quan chỉ huy khác để chỉ huy hoạt động của LLVT thống nhất. Tổng tư lệnh các LLVT thống nhất đầu tiên: nguyên soái I. X. Cônhep (LX). Trong thời gian tồn tại TCHƯV đã tăng cường được khả năng phòng thủ của các nước XHCN, trở thành một nhân tố duy trì hòa bình ở châu Âu, tích cực đấu tranh chống chính sách hiếu chiến và xâm lược của CNĐQ, hỗ trợ có hiệu quả phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới. Do sự sụp đổ của các nhà nước XHCN Đông Âu và việc thống nhất CHDC Đức vào CHLB Đức (1990), sự tồn tại của TCHƯV không còn ý nghĩa. 25.2.1991 hội nghị bộ trường ngoại giao và bộ trưởng quốc phòng các nước thành viên hiệp ước họp tại Buđapet (Hunggari) đã tuyên bố giải thể TCHƯV. Đến 1.7.1991 chấm dứt sự tồn tại. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:40:58 pm TỔ CHỨC HÒA BÌNH XANH (A. Green Peace), tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế; ra đời 1971 từ một nhóm người Canada và Mĩ trên chiếc tàu nhỏ ở cảng Vancuyơ (Canada) phản đối những vụ thử vũ khí hạt nhân của Mĩ trên đảo Amchitca trong vịnh Alaxca. Trụ sở đặt tại Amxtecđam (Hà Lan). Hiện có 3,5 triệu người tham gia và 1.000 nhân viên làm việc tại hơn 30 nước trên thế giới; mỗi năm sử dụng khoảng 750 triệu USD cho chương trình bảo vệ môi trường. TCHBX đấu tranh đòi thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ môi trường như cấm thử vũ khí hạt nhân, cấm đổ chất thải hạt nhân xuống biển, không sử dụng các khí độc gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ tầng ôdôn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần, bảo vệ động vật, bảo vệ rừng... Hoạt động của TCHBX bị một số thế lực QS cản trở. 1985 trong lần phản đối Pháp thử lại vũ khí hạt nhân ở Nam Thái Bình Dương, một chiếc tàu của TCHBX đã bị tình báo Pháp đánh chìm. TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG PHÒNG NGỰ, tổng thể các hoạt động sử dụng lực lượng để thực hiện nhiệm vụ phòng ngự; một nội dung trong ý định tác chiến phòng ngự. TCLLPN phải căn cứ vào tình hình cụ thể; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; tập trung lực lượng vào hướng, khu vực phòng ngự chủ yếu; có lực lượng đủ sức giữ các trọng điểm (mục tiêu phòng ngự chủ yếu) và lực lượng cơ động kịp thời đáp ứng các tình huống; bí mật bất ngờ, hạn chế tổn thất, duy trì sức chiến đấu liên tục dài ngày. TCLLPN gồm: lực lượng tác chiến vòng ngoài; lực lượng phòng ngự giữ trận địa; lực lượng cơ động tiến công; lực lượng hỏa lực; lực lượng dự bị các binh chủng; lực lượng hậu cần kĩ thuật; các đội chuyên trách và các lực lượng bổ sung (nếu có); các SCH. TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG TIẾN CÔNG, tổng thể các hoạt động sử dụng lực lượng để thực hiện nhiệm vụ tiến công; một nội dung trong ý định tác chiến tiến công. TCLLTC phải căn cứ vào cách đánh và tình hình cụ thể và việc chọn mục tiêu, hướng tiến công, phương pháp, thứ tự tiêu diệt địch. TCLLTC phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong khu vực tác chiến, nhưng tập trung lực lượng vào hướng, mục tiêu chủ yếu, các trận then chốt; có lực lượng đủ sức đánh địch trong và ngoài công sự; hạn chế tổn thất, duy trì sức chiến đấu liên tục. TCLLTC gồm: lực lượng tạo thế, nghi binh; lực lượng tiến công địch (trong và ngoài công sự); lực lượng dự bị binh chủng hợp thành; lực lượng hỏa lực; lực lượng dự bị binh chủng; lực lượng làm các nhiệm vụ thọc sâu, chia cắt, bao vây, vu hồi, đón lõng...; lực lượng hậu cần kĩ thuật; các đội chuyên trách; các SCH. TỔ CHỨC QUÂN SỰ, 1) cơ cấu của LLVT để bảo đảm thành phần và tỉ lệ hợp lí giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị, giữa các bộ phận hợp thành LLVT, giữa các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn và các ngành nghiệp vụ, giữa cơ quan chỉ huy, lực lượng chiến đấu và lực lượng bảo đảm trong LLVT để thực hiện nhiệm vụ QS. TCQS phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, quy luật, nguyên tắc tổ chức và những yếu tố liên quan khác (con người, trang bị, điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội...); có đủ sức chiến đấu và hoàn thành các nhiệm vụ; 2) QĐ, đơn vị LLVT. TỔ CHỨC TÁC CHIẾN, tổng thể các hoạt động do người chỉ huy, cơ quan tham mưu và các cơ quan khác thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ tác chiến; một nội dung của chuẩn bị tác chiến. TCTC gồm: hạ quyết tâm, lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng, tổ chức chỉ huy, tiến hành CTĐ,CTCT và các mặt bảo đảm. TỔ CHỨC TRINH SÁT, tổng thể các hoạt động nhằm bảo đảm trinh sát cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy. TCTS được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị tác chiến. Gồm: xác đinh nhiệm vụ, lập kế hoạch, ra chỉ lệnh, hiệp đồng trinh sát; tổ chức lực lượng và chuẩn bị khí tài trinh sát. TCTS được thực hiện theo lệnh của cơ quan tham mưu (ngành nghiệp vụ quân báo - trinh sát) và người chỉ huy cấp trên hoặc theo quyết tâm tác chiến và chỉ lệnh trinh sát của cấp mình. TỔ CHỨC VÀ CHIẾN THUẬT QUÂN Y, chuyên ngành y học QS nghiên cứu về tổ chức bảo đảm quản y thời chiến. Nội dung TCVCTQY gồm: nghiên cứu những kinh nghiệm bảo đảm quân y cho LLVT và điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động của quân y trong mọi tình huống tác chiến, tìm ra những quy luật, hình thức và phương pháp tổ chức, chỉ huy và bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiền và điều kiện hoạt động chiến đấu cụ thể của QĐ. TỔ CÔNG BINH, nhóm chiến sĩ công binh (thường từ 3-4 người) được tổ chức lâm thời trong các đơn vị công binh để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong chiến đấu hoặc công tác. TCB có thể thực hiện nhiệm vụ trong đội hình phân đội công binh hoặc hoạt động độc lập. Theo chức năng, nhiệm vụ có TCB: gây nổ, cấp nước, phá bom. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:42:33 pm TỔ ĐẠI DIỆN KHÔNG QUÂN, nhóm sĩ quan tác chiến không quân được phái đến SCH binh đoàn, liên binh đoàn của các quân chủng khác để duy trì hiệp đồng và theo dõi sử dụng không quân trong quá trình tác chiến. TĐDKQ được trang bị các phương tiện kĩ thuật cần thiết để gọi máy bay đến hoạt động theo kế hoạch hoặc theo lệnh gọi; chỉ đạo các tổ chỉ thị mục tiêu trên các hướng tác chiến; thay đổi mục tiêu, nhiệm vụ, vị trí chiến đấu cho các máy bay đang bay; thông báo về hoạt động của không quân cho các đơn vị có liên quan. TỔ ĐẶC CÔNG, phân đội chiến thuật cơ sở của binh chủng đặc công, có thể chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình mũi đặc công, đội đặc công. Biên chế 4-6 người, được trang bị gọn, mạnh để luồn sâu đánh các mục tiêu trong hậu phương, trận địa, kho tàng,... địch hoặc làm nhiệm vụ mở cửa, đánh chiếm và bảo vệ đầu cầu. TỔ ĐỘT KÍCH, thành phần của mũi tiến công, thường là một trung đội bộ binh được trang bị thêm thuốc nổ và hỏa lực. Có TĐK 1 và TĐK 2. TĐK 1: lợi dụng kết quả hỏa lực mà mở cửa đánh chiếm đầu cầu, thực hành các thủ đoạn tác chiến, tiêu diệt mục tiêu tạo điều kiện cho TĐK 2 phát triển chiến đấu; sẵn sàng tăng cường lực lượng cho bộ phận (đội) mở cửa đánh chiếm đầu cầu trong tình huống bộ phận này chưa hoàn thành nhiệm vụ. TĐK 2: lợi dụng kết quả của TĐK 1 tiêu diệt lực lượng còn lại trong phạm vi nhiệm vụ của đại đội, hiệp đồng cùng đơn vị bạn đánh bại phản kích của địch, giữ vững khu vực đã chiếm, sẵn sàng phát triển chiến đấu vào chiều sâu phòng ngự của địch. TỔ HỎA LỰC, thành phần của bộ phận (đội) mở cửa đánh chiếm đầu cầu, được trang bị các phương tiện hỏa lực, có nhiệm vụ tiêu diệt và kiềm chế hỏa điểm của địch ở khu vực cửa mở, yểm hộ trực tiếp cho tổ mở cửa. Khi thực hiện nhiệm vụ phải chuẩn bị công sự, trận địa, xác định cự li bắn chính xác vào các mục tiêu được phân công. TỔ HỢP CÔNG NGHIỆP - QUÂN SỰ, liên minh của các tổ chức độc quyền công nghiệp quốc phòng với giới quân phiệt trong bộ máy quyền lực nhà nước ở các nước TBCN, tạo thành một thế lực hỗn hợp kinh tế - chính trị - QS trực tiếp chi phối đường lối chính trị, kinh tế và QS (vạch các chính sách QS và kinh tế - QS, học thuyết và chiến lược QS, kế hoạch xây dựng LLVT, các chương trình chế tạo vũ khí mới...) theo hướng đẩy mạnh quân sự hóa và chạy đua vũ trang nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền; một sản phẩm tất yếu của CNTB độc quyền nhà nước, phản ánh bản chất hiếu chiến, xâm lược và phản động của CNĐQ. THCN-QS phát triển mạnh sau CTTG-II ở Mĩ. sau đó trở thành phổ biến ở các nước tư bản phát triển. Các bộ phận kết thành THCN-QS gồm: các tập đoàn tư bản độc quyền công nghiệp quốc phòng, các cơ quan nghiên cứu và thực nghiệm khoa học KTQS, giới quân phiệt trong bộ máy chính quyền (quan chức chính phủ và BQP) và cơ quan chuẩn chi ngân sách QS của quốc hội, trong đó các tập đoàn tư hàn độc quyền công nghiệp quốc phòng là cơ sở kinh tế của THCN- QS giữ vai trò quyết định. TỔ HỢP PHÁO PHÒNG KHÔNG, tổ hợp một (hay một số) pháo phòng không, khí tài quan sát và chỉ huy bắn (rađa, pháo, máy đo xa. máy tính - chỉ huy, hệ thống bám...) và nguồn điện, có liên hệ chức năng với nhau để diệt mục tiêu trên không. Các THPPK trên bộ hiện nay thường dùng pháo cỡ nhỏ (20-57mm), lắp đặt trên một xe để diệt mục tiêu bay thấp. Điển hình như: ZSU-23 có 4 nòng cỡ 23mm (LX); Vuncan Phalanxơ 6 nòng cỡ 20mm (Mĩ); AMX 2 nòng cỡ 30mm (Pháp); VEAK-40 có 2 nòng cỡ 40mm (Thụy Điển)... THPPK trên tàu chiến là các pháo cỡ nhỏ, có tốc độ bắn nhanh, để diệt mục tiêu trên không trong tầm hỏa lực (máy bay, máy bay trực thăng, tên lửa đối hạm...), vd: Phalanxơ 6 nòng, cỡ 20mm, tốc độ bắn 3.000 phát/phút (Mĩ), BK-27 có 4 nòng, tốc độ bắn 7.200 phát/phút (Đức), Gôn Kipơ có 7 nòng, cỡ 30mm, tốc độ bắn 4.200 phát/phút (Hà Lan)... THPPK xuất hiện từ CTTG-II. TỔ HỢP TÊN LỬA, tổ hợp gồm tên lửa và các khí tài làm nhiệm vụ chỉ huy, phóng, điều khiển tên lửa theo yêu cầu. THTL thường gồm: thiết bị quan sát, chỉ thị, bám mục tiêu, tên lửa, thiết bị phóng, thiết bị điều khiển, chỉ huy và các thiết bị phụ khác. Theo lĩnh vực sử dụng, có: THTL nghiên cứu (vũ trụ, địa vật lí, khí tượng...), THTL chiến đấu và THTL huấn luyện; theo quy mô nhiệm vụ, có: THTL chiến lược, THTL chiến dịch - chiến thuật, THTL chiến thuật; theo công dụng chiến đấu, có: THTL phòng không, THTL chống tăng, THTL chống ngầm, THTL chống tên lửa...; theo nơi đặt, có: mặt đất (cố định, nửa cố định, cơ động), THTL trên tàu (tàu mặt nước, tàu ngầm) và THTL hàng không (trên máy bay, máy bay trực thăng). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:49:28 pm TỔ HỢP TÊN LỬA - PHÁO PHÒNG KHÔNG, tổ hợp hệ thống tên lửa phòng không có điều khiển, pháo phòng không và khí tài chỉ huy lắp trên xe chuyên dụng, tự hành, có liên hệ chức năng với nhau để tăng khả năng hỏa lực khi bắn các mục tiêu bay thấp. Các THTL-PPK điển hình: SA-19 (Nga) đặt trên xe xích, lắp 8 tên lửa 9M311 và 2 pháo phòng không 2 nòng cỡ 30mm; Lay-25 (Mĩ) lắp 8 tên lửa Xtingơ và pháo phòng không 25mm; Samos (Pháp) lắp 4 tên lửa WNW và pháo phòng không 7 nòng cỡ 30mm... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67503588_461354691261083_4390544358584090624_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFURhN50QJ9nPrH17zvSi9HtF4Q1TFFcZbZpXmoI1yWz2p4LechSwHKZz4L1nTLfV92RjXFX8ANxDa5pikiudmYGrvsxo6svi6wfcHPj5CjQg&_nc_oc=AQmYgfiAryVTR4YbPMBJZJSaZnwXfLglh_ku-g1-Vk_maf_LYfxIdNZhJsgiardqnwQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=98e307495ad79b00504f04f46e49db9d&oe=5DE9E3D4) TỔ HỢP TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG X. TIỂU ĐOÀN HỞA Lực TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG TỔ HỢP VŨ TRỤ, tổ hợp các khí cụ có liên hệ chức năng với nhau trên vũ tru và phương tiện kĩ thuật ở mạt đất, được dùng giải quyết một cách độc lập những nhiệm vụ trong vũ trụ. từ vũ trụ hoặc để đảm bảo những nhiệm vụ đó trong thành phần của hệ thống vũ trụ. THVT gồm: tên lửa vũ trụ, khí cụ vũ trụ, tổ hợp kĩ thuật, tổ hợp phóng, các thiết bị của trung tâm đo đạc trên sân bay vũ trụ, trung tâm điểu khiển khí cụ vũ trụ ở mặt đất. TỔ MỞ CỬA, thành phần của bộ phận (đội) mở cửa đánh chiến đầu cầu, được trang bị các phương tiện mở cửa và hỏa khí, có nhiệm vụ tạo cửa mở qua vật cản của địch, tạo điều kiện cho lực lượng đánh chiếm đầu cầu. Khi thực hiện nhiệm vụ phải triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu, bí mật vận động tiến sát vật cản và mở cửa theo đúng quy cách và thời gian quy định. TMC được tổ hỏa lực trực tiếp bảo vệ và hỏa lực của cấp trên chi viện. TỔ SĂN DIỆT TĂNG, tổ chức lâm thời thường từ 3 đến 5 chiến sĩ bộ binh được trang bị các vũ khí và phương tiện chống tăng mang vác để làm nhiệm vụ tìm diệt xe tăng địch. TỔ TRINH SÁT. tổ chức làm thời thường gồm một tổ, một tiểu đội do cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội hoặc do các toán, đội trinh sát phái ra làm nhiệm vụ trinh sát đặc biệt hoặc làm nhiệm vụ do toán, đội trinh sát giao. Theo nhiệm vụ, có: TTS cơ động luồn sâu, TTS tuần tiễu sục sạo chiến đấu, TTS tuần tiễu độc lập. TTS có thể dùng phương pháp trinh sát: quan sát, chụp ảnh, nghe trộm, phục kích, bắt tù binh... TỔ TRINH SÁT CƠ ĐỘNG LUỒN SÂU của pháo binh, tổ trinh sát pháo binh thường do cấp trung (lữ) đoàn pháo binh hoặc sư đoàn bộ binh tổ chức để bí mật cơ động luồn sâu vào đội hình địch thu thập tin tức, phát hiện và xác định các mục tiêu quan trọng, phục vụ bắn trong một thời gian nhất định của trận chiến đấu (chiến dịch). Thủ đoạn hoạt động cơ bản là bí mật cơ động luồn lách tránh địch. TTSCĐLScpb được tổ chức trang bị gọn nhẹ, hợp lí bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao. TTSCĐLS lần đầu tiên được sử dụng tại mặt trận Bắc Quảng Trị 9.1967, gồm 5 cán bộ và chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn pháo binh 164 từ bờ bắc luồn sang bờ nam sông Bến Hải, trinh sát phát hiện Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 2 Mĩ ở nam cứ điểm Cồn Tiên, bảo đảm cho trung đoàn tập kích hỏa lực vào mục tiêu có hiệu quả (19.9.1967). TỔ TRINH SÁT PHÁO BINH, tổ chức lâm thời tập hợp một số quân nhân từ các phân đội chuyên môn dưới sự chỉ huy chung để thực hiện nhiệm vụ trinh sát nhất định trong trận chiến đấu (chiến dịch). Để trinh sát địa hình có thể lập tổ trinh sát để trinh sát đường cơ động, trinh sát nơi trú quân, trinh sát trận địa bắn. Để trinh sát địa hình và địch có tổ trinh sát đi trước, làm nhiệm vụ trinh sát địch, lựa chọn đài quan sát và những khu vực có thể bố trí trận địa bắn trong hành quân có dự kiến gập địch. Để trinh sát địch cổ tổ trinh sát cơ động luồn sâu, tổ trinh sát vùng địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:52:27 pm TỔ TRINH SÁT VÙNG ĐỊCH của pháo binh, tổ trinh sát pháo binh hoạt động dài ngày và sâu trong hậu phương địch để trinh sát các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến dịch, phục vụ bắn. Do chủ nhiệm pháo binh quân khu, quân đoàn, mặt trận phái ra, có sự hiệp đồng và hỗ trợ của trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành. TTSVĐ được huấn luyện riêng, trang bị gọn nhẹ, có khả năng hoạt động độc lập, dài ngày, dựa vào cơ sở địa phương và vận dụng nhiều phương pháp, thủ đoạn trinh sát khác nhau. Trong KCCM, TTSVĐ đã được sử dụng nhiều ở mặt trận Đường 9. Năm 1968, TTSVĐ thuộc Đại đội trinh sát 767 đã phát hiện, xác định chính xác các kho nhiên liệu và đạn dược ở căn cứ Đông Hà (Quảng Trị), quan sát đạn bắn giúp cho Trung đoàn pháo binh 204 tập kích hỏa lực độc lập 20.6.1968. Trong chiến dịch TrỊ-Thiên 1972, TTSVĐ đã phát hiện chính xác sở chỉ huy Sư đoàn 3 QĐ Sài Gòn ở căn cứ Ái Tử, đảm bảo cho tập kích hỏa lực “Bão táp 3” của pháo binh chiến dịch; kịp thời phát hiện địch chuẩn bị rút chạy khỏi Quảng Trị, giúp bộ chỉ huy chiến dịch kịp xứ trí, hạ quyết tâm đánh địch. TỐ CỘNG, chính sách của Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện 7.1954-60 nhằm xóa bỏ tư tưởng cộng sản, tìm diệt cán bộ CM, đảng viên ĐCS, lực lượng kháng chiến và các cơ sở của CM hoạt động bí mật ở miền Nam VN. Được tiến hành qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 (7.1954-7.1956) làm thí điểm ở Tây Nguyên và miền Trung; giai đoạn 2 (7.1956- cuối 1960) thực hiện khắp miền Nam với các chiến dịch QS càn quét, đánh phá các cơ sở CM. Để chỉ đạo và triển khai TC, Mĩ và chính quyền Sài Gòn thành lập hệ thống hội đồng TC từ trung ương đến cơ sở, gồm đại diện các ngành QS, mật vụ, tình báo, cảnh sát. tâm lí chiến,... do người đứng đầu chính quyền các cấp làm chủ tịch; mở các lớp học TC ở nhiều nơi nhằm trấn áp tinh thần, kết hợp với khủng bố bằng bạo lực. Luật 10-59 có những điều khoản hợp pháp hóa mục tiêu diệt cộng. TC đã gây cho CM miền Nam những tổn thất nghiêm trọng về người và tổ chức (1954-60 có: 466.000 đảng viên và người yêu nước bị bắt; 400.000 người bị tù đày; 65.000 người bị giết), nhưng cuối cùng đã thất bại, buộc Mĩ và chính quyền Sài Gòn phải chuyển sang tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt. TỐC CHIẾN TỐC THẮNG X. ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH TỐC ĐỘ BAY, đại lượng đặc trưng cho mức độ chuyển động nhanh, chậm của khí cụ bay trên đường bay. Đơn vị tính: m/s (có thể dùng km/h - hoặc km/s). Theo hệ quy chiếu, có: không tốc (so với mới trường khí quyển), địa tốc (so với mặt đất); theo giá trị, có: TĐB lớn nhất, TĐB nhỏ nhất, TĐB trung bình; theo trạng thái, có: tốc độ tiếp đất (hạ cánh), tốc độ rời đất (cất cánh), tốc độ cho tầm bay, tốc độ cho thời gian bay lâu nhất; so với tốc độ âm thanh (thường dùng cho máy bay), có: TĐB dưới âm (số M<1), TĐB gần âm (M=l), TĐB vượt âm (1<M<5) và siêu âm hay siêu vượt âm (M>5). Với khí cụ vũ trụ, có tốc độ vũ trụ. TĐB phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng khí động (hình dáng, chất lượng bể mặt vỏ...) và trang bị động lực của khí cụ bay. Hiện nay, các biện pháp để nâng cao TĐB là: tăng chất lượng khí động bằng hình dáng và vật liệu vỏ mới. đổi mới kết cấu động cơ, dùng nhiên liệu mới... TĐB là thông số chiến-kĩ thuật quan trọng của các khí cụ bay dùng trong QS. TỐC ĐỘ BẮN, số phát bắn có thể thực hiện được trong một đơn vị thời gian (thường là 1 phút) đối với một mẫu vũ khí nhất định; một trong những tính năng chiến - kĩ thuật chủ yếu của vũ khí. Có: TĐB kĩ thuật, TĐB chiến đấu. TĐB kĩ thuật (TĐB lí thuyết) là TĐB lớn nhất mà khả năng kĩ thuật của vũ khí cho phép, được xác định căn cứ theo thời gian giữa hai phát bắn kế tiếp nhau hoặc thời gian chu trình làm việc của cơ cấu bắn tự động. TĐB chiến đấu (TĐB thực tế) là TĐB lớn nhất có thể thực hiện được trong điều kiện chiến đấu, có tính tới thời gian ngắm, nạp đạn lại và di chuyển hỏa lực từ mục tiêu này tới mục tiêu khác... TĐB chiến đấu luôn nhỏ hơn TĐB kĩ thuật và phụ thuộc vào các yếu tố: tính năng, chất lượng; độ ổn định của vũ khí; đặc tính và phân bố của mục tiêu; dạng hỏa lực (bắn phát một, điểm xạ ngắn hoặc dài, bắn liên tục...), mức độ thành thục, tinh thần và sức khỏe của người bắn (xạ thủ). Nâng cao TĐB chiến đấu là một trong những biện pháp để bảo đảm mật độ hỏa lực cao. TỐC ĐỘ ĐẠN, đại lượng đặc trưng cho mức độ chuyển động nhanh chậm của đạn trên quỹ đạo được đo bằng m/s, đôi khi bằng chỉ số M. Đối với đạn pháo (cối, súng) đại lượng quan trọng nhất là sơ tốc đạn. TĐĐ đạt giá trị cực đại ở cuối thời kì tác động sau cùng của khí thuốc (x. thuật phóng trong), sau đó dưới tác động của trọng lực và lực cản của không khí TĐĐ giảm đi, đạt giá trị nhỏ nhất ở đỉnh đường đạn, rồi lại tăng liên tục cho đến điểm rơi. Đối với đạn phản lực hoặc đạn phản lực tích cực đại lượng quan trọng nhất là tốc độ cực đại, đạt được ở cuối đoạn tích cực của quỹ đạo, sau đó thay đổi như với đạn thường. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:54:11 pm TỐC ĐỘ HÀNH QUÂN, tốc độ di chuyển trung bình của bộ đội khi hành quân, được tính bằng cách lấy quãng đường hành quân chia cho tổng số thời gian đi và nghỉ. TĐHQ được quy định cho hành quân đi bộ, hành quân bằng phương tiện cơ giới. TĐHQ tuỳ thuộc vào: nhiệm vụ được giao, tình hình đối phương, tình hình cầu đường, khả năng và phương tiện hành quân của bộ đội và trình độ tổ chức của người chỉ huy... TỐC ĐỘ TIẾN CÔNG, tốc độ vận động của lực lượng tiến công vào đội hình địch, được tính bằng km/h hoặc bằng kilômét trong một ngày đêm. TĐTC tuỳ thuộc vào khả năng chiến đấu, mức độ chuẩn bị, mức độ chế áp của ta và sự chống trả của địch, tính chất địa hình và các yếu tố khác. Có TĐTC bằng vận động trên bộ và TĐTC bằng xe cơ giới. TĐTC càng nhanh, càng giảm được tổn thất và phá được thế của địch. Khi lập kế hoạch tác chiến phải xác định cụ thể tốc độ và thời gian hoàn thành nhiệm vụ tiến công. TỐC ĐỘ VŨ TRỤ, tốc độ nhỏ nhất mà khí cụ bay vũ trụ cần đạt tới để bay vào vũ trụ theo một dạng quỹ đạo xác định. Có 3 TĐVT: cấp một, cấp hai và cấp ba. TĐVT cấp một (V1) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ trở thành vệ tinh nhân tạo của Trái Đất với quỹ đạo tròn; trên mặt đất Vl=7,91km/s, ở độ cao 200km Vl=7,78km/s. TĐVT cấp hai (V2) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ thoát khỏi sức hút của Trái Đất và trở thành vệ tinh nhân tạo của Mặt Trời; trên mật đất V2=ll,186km/s, ở độ cao 200km V2=ll,01km/s. TĐVT cấp ba (V3) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ xuất phát gần mặt đất thắng được sức hút của Mặt Trời, thoát khỏi Thái Dương hệ, di vào không gian giữa các vì sao; V3=16,67km/s. Khái niệm TĐVT cũng dược áp dụng khi phân tích chuyển động của khí cụ vũ trụ trong trường hấp dẫn của các hành tinh khác hay các vệ tinh tự nhiên của chúng, hoặc của Mặt Trời (vd: ở bề mặt Mặt Trăng V1=1,68km/s, V2=2,375km/s). TÔGÔ (Cộng hòa Tôgô; P Togo, République Togolaise, A. Republic of Togo), quốc gia ở Tây Phi. Dt 56.785km2; ds 5,43 triệu người (2003); chủ yếu người Eve, Mina... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: 60% theo Bái vật giáo, 25% đạo Cơ Đốc... Thủ đô: Lômê. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên, nam là đồng bằng, tây nam là núi, đỉnh cao nhất 986m. Khí hậu xích đạo, cận xích đạo. Các sông lớn: Mônô, Ôti. Dọc theo các sông là rừng nhiệt đới. Nước nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển. GDP 1,259 ti USD (2002), bình quân đầu người 270 USD. Thành viên LHQ (20.9.1960), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 8.2.1975. LLVT: lực lượng thường trực 9.450 người (lục quân 9.000, hải quân 200, không quân 250), lực lượng bán vũ trang 750 người. Tuyển quân theo chế độ động viên. Thời hạn phục vụ 24 tháng. Trang bị: 11 xe tăng, 20 xe chiến đấu bộ binh, 55 xe thiết giáp trinh sát, 34 xe thiết giáp chở quân, 10 pháo mặt đất, 20 súng cối 82mm, 43 súng máy và pháo phòng không, 16 máy bay chiến đấu, 2 tàu tuần tiễu... Ngân sách quốc phòng 33 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67721904_461354704594415_7099084360464203776_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeE_GuJ45ry9EgV8_ci-ZCIiueEEaY5v7_c6Fo0AT16eDAL2DWGH1QcL--5bBXPCovNAkxfp2oCQVPQVr5YaclhR1qHQvafaMDE7Kaq7MiN8Ag&_nc_oc=AQlsxvgGoPVmmkqSTqiL7orFc3nzyeArfFHGdJ-nCx-fHpC1I5vdR7n4CnyQjp5Is_0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d114a4e20f3df089fe4b995dca485b71&oe=5DE57523) TỐI HẬU THƯ, văn bản đưa ra những yêu sách buộc đối phương phải thực hiện trong một thời gian nhất định, nếu không sẽ bị áp dụng những biện pháp mạnh (vũ lực). THT được thể hiện dưới dạng công hàm của một nước (liên minh các nước) gửi cho một nước (liên minh các nước) khác hoặc của người chỉ huy cao nhất của một bên tham chiến gửi cho đối phương. Việc bác bỏ THT thường dẫn tới cắt đứt quan hệ ngoại giao, bị trừng phạt về kinh tế hoặc bị áp dụng những biện pháp QS ác liệt hơn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:56:48 pm TỘI ÁC TRONG CHIẾN TRANH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi vi phạm công pháp quốc tế về luật pháp và tập tục chiến tranh. Những hành vi chủ yếu của TATCT: sử dụng những phương tiện và phương pháp tác chiến đã bị công pháp quốc tế lên án; hủy diệt có chủ đích và hệ thống những thành tựu văn hóa, những khu dân cư; đối xử tàn bạo với tù binh, người bị thương, người ốm và dân thường; bắt giữ con tin; tấn công quốc gia trung lập, các khu trung lập, an ninh y tế... TATCT được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và đã được dùng để xét xử tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. ' TỘI BẠO LOẠN, tội phạm mà người phạm tội có hành vi bạo loạn; thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 82. người phạm TBL hoặc đồng phạm, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92. TỘI BỎ VỊ TRÍ CHIẾN ĐẤU, tội phạm mà người phạm tội có hành vi bỏ vị trí hoặc không thực hiện nhiệm vụ trong chiến đấu; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 324, người phạm TBVTCĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tù chung thân. TỘI CHIẾM ĐOẠT HOẶC HỦY HOẠI CHIẾN LỢI PHẨM, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm, thuộc các tội xăm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 337, người phạm TCĐHHHCLP tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 12 năm. TỘI CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS; thuộc các tội xâm phạm an toàn và trật tự công cộng, được quy định tại chương XIX, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 230, người phạm TCĐVKQD tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 1 năm đến chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư ưú từ 1 đến 5 năm. TỘI CHỐNG LOÀI NGƯỜI, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy các nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia dân tộc, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội để phá hoại xã hội đó, hoặc có những hành vi diệt chủng, diệt môi trường tự nhiên, diệt sinh. TCLN đã được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và được dùng để xét xử các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Điều 392 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) đã quy định mức hình phạt đối với TCLN là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. TỘI CHỐNG MỆNH LỆNH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 316, người phạm TCML tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 6 tháng đến tử hình. TỘI DIỆT CHỦNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tiêu diệt một bộ phận hay toàn thể cộng đồng người về các phương diện dân tộc, chủng tộc, nòi giống, tôn giáo hoặc chính trị (giết thành viên cộng đồng; xâm phạm nghiêm trọng đến sự toàn vẹn về thể chất hoặc tinh thần của thành viên cộng đồng; tạo ra những điều kiện sống làm hao mòn dần đến tuyệt diệt từng cộng đồng đó, kể cả việc ngăn cản sự sinh đẻ tự nhiên của họ; cưỡng bức trẻ em của những người trong cộng đồng này sang một cộng đồng khác). Trong CTTG-II (1939-45), Hitle đã phạm TDC trên quy mô lớn đối với nhiều dân tộc cháu Âu (Xlavơ, Do Thái...). Ở Campuchia, trong 4 năm cầm quyền (4.1975-1.1979), Pôn Pốt và Iêng Xari đã phạm TDC đối với chính nhân dân mình (giết hàng triệu người). Công ước quốc tế về TDC (9.12.1948) quy định; TDC dù xẩy ra với bất cứ lí do nào, người phạm tội với tư cách là cá nhân hay đại diện cho nhà nước, là kẻ thực hiện, chủ trương, cổ vũ, bao che đều bị xét xử và trừng trị tại nước đã xẩy ra diệt chúng hoặc trước một tòa án quốc tế mà các bên cam kết chấp nhận theo đúng pháp lí quốc tế (Mĩ là nước chưa tham gia công ước này). Điều 342 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định TDC thuộc tội danh của tội chống loài người, mức hình phạt: tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 08:58:54 pm TỘI ĐÀO NGŨ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đào ngũ; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 325, người phạm TĐN tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 12 năm. TỘI ĐẦU HÀNG ĐỊCH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đầu hàng địch trong chiến đấu; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 322, người phạm TĐHĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình. TỘI GÂY CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC, tội phạm mà người phạm tội có hành vi sử dụng vũ lực không hợp pháp (theo quan điểm của Hiến chương LHQ) nhằm chống lại chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của một quốc gia, một dân tộc. Luật pháp quốc tế coi TGCTXL là tội ác quốc tế lớn nhất chống hòa bình và an ninh nhân loại. Sau CTTG-II, tòa án QS quốc tế tiến hành ở Nurembe (Đức), ở Tôkiô (Nhật) đã xác định bọn phát xít Đức - Nhật phạm TGCTXL quốc tế nghiêm trọng nhất; 1967 Tòa án quốc tế Bectơrang Rutxen họp ở Xtôckhôm (Thụy Điển) đã kết luận: chính phủ Mĩ phạm TGCTXL chống nước VN. Điều 341 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định: “Người nào tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ một nước khác thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”. TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi gây rối trật tự công cộng; thuộc các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, được quy định tại chương XIX, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 245, người phạm TGRTTCC bị hình phạt thấp nhất từ 1 triệu đến 10 triệu đồng; mức cao nhất: tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tiền đến 10 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm, hoặc phạt tù đến 7 năm. TỘI GIÁN ĐIỆP. tội phạm mà người phạm tội có hành vi hoạt động gián điệp, thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 80, người phạm TGĐ tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92. Người nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ và tự thú thành khẩn khai báo, được miễn trách nhiệm hình sự. TỘI HOẠT ĐỘNG PHỈ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi hoạt động trong các tổ chức phỉ, thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 83 người phạm THĐP, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra theo điều 92, còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung. TỘI HỦY DIỆT MÔI TRƯỜNG, MÔI SINH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy hoàn toàn những điều kiện về tự nhiên, xã hội trên quy mô rộng lớn nhằm ngăn trở hoạt động hoặc tiêu diệt đối phương trên các vùng đó như: dùng vũ khí hạt nhân gây nên sự hủy diệt hệ sinh thái tuyệt dối; dùng bom đạn và chất độc hóa học nhằm phá hủy hệ sinh thái từng vùng (hủy hoại mùa màng, vườn tược cây cối, thảm rừng, nguồn nước, diệt các động vật, vi sinh vật...); phá hoại để điều gây ngập lụt; triệt hạ thành phố, làng mạc để cưỡng bức dân chúng vào sống trong các trại tập trung... Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã phạm THDMT,MS một cách nghiêm trọng nhất, gây phẫn nộ trên toàn thế giới. Điều 342 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) đã quy định những hành vi hủy diệt môi trường, môi sinh thuộc tội danh của tội chống loài người, có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. TỘI HỦY HOẠI VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, PHƯƠNG TIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy hoặc làm hư hỏng có chủ định vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS trang bị cho QĐ; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 334, người phạm THHVKQD.PTKTQS tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 2 năm đến tử hình. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:01:13 pm TỘI KHỦNG BỐ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi khủng bố công dân nước sở tại và nước ngoài; thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ở VN, TKB được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 84, người phạm TKB căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, bị phạt tù từ 2 năm đến tử hình; ngoài ra có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92. TỘI LÀM LỘ BÍ MẬT QUÂN SỰ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi cố ý hay vô ý làm lộ hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật quân sự, thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 327, người cố ý phạm TLLBMQS, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm (nếu không thuộc điều 80 và 263), bị phạt tù từ 6 tháng đến 10 năm. Theo điều 328, người vô ý phạm TLLBMQS (nếu không thuộc điều 264) tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm; hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. TỘI LÀM MẤT VŨ KHÍ. tội phạm mà người phạm tội do làm mất hoặc vô ý làm hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 335, người phạm TLMVK tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm; hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. TỘI LÀM NHỤC, HÀNH HUNG ĐỒNG ĐỘI, tội phạm mà người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung đồng đội; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy đinh tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 321, người phạm TLN.HHĐĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Các trường hợp phạm tội đối với chỉ huy hay cấp trên (điều 319), với cấp dưới (điều 320) trong quan hệ công tác, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm. TỘI NGƯỢC ĐÃI TÙ BINH, HÀNG BINH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đối xử thô bạo (đe dọa, lăng nhục, tra tấn, không cho ăn, uống...) với tù binh, hàng binh, thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 340, người phạm TNĐTB.HB tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. TỘI PHÁ HOẠI HÒA BÌNH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tuyên truyền, kích động chiến tranh hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh nhằm những mục đích phi nghĩa, phản tiến bộ. TPHHB đã được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và được dùng để xét xứ các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Điều 341 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định mức hình phạt đối với TPHHB là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. TỘI PHÁ HỦY CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy công trình quốc phòng, thuộc các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được quy định tại chương XIX và các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 85, người phạm TPHCTQP nhằm mục đích chống chính quyền, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình. Theo điều 231. người phạm TPHCTQP nếu không thuộc điểu 85 tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 3 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị hình phạt bổ sung theo điều 92 và điểm 3 điều 231. TỘI PHẠM, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và người đó phải bị xử phạt theo pháp luật, ở VN, các TP được quy định trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, TP được chia thành: TP ít nghiêm trọng (bị xử phạt đến 3 năm tù); TP nghiêm trọng (bị xử phạt đến 7 năm tù); TP rất nghiêm trọng (bị xử phạt đến 15 năm tù); TP đặc biệt nghiêm trọng (bị xử phạt trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình). Những hành vi tuy có dấu hiệu của TP, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là TP và được xử lí bằng các biện pháp khác. Thuật ngữ TP còn được dùng để chỉ người phạm tội. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:02:35 pm TỘI PHẠM ẨN, tội phạm đã được thực hiện mà chưa bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện, xử lí hình sự hoặc chưa có trong thống kê hình sự. TPÂ có ba loại: tự nhiên, nhân tạo và thống kê. TPÂ tự nhiên là những tội phạm đã xảy ra nhưng các cơ quan chức năng không nắm được hoặc không có thông tin về chúng. TPÂ nhân tạo là tội phạm đã xẩy ra, các cơ quan chức năng đã nắm được nhưng những hành vi tội phạm ấy chưa bị xử lí bằng chế tài hình sự. TPÂ thống kê là những tội phạm đã bị xử lí bằng chế tài hình sự, nhưng bị sót khi thống kê hình sự. TPÂ hợp với tội phạm rõ tạo thành tình trạng phạm tội. Đấu tranh làm giảm TPÂ sẽ góp phần chống và ngăn ngừa tội phạm có hiệu quả. TỘI PHẠM CHIẾN TRANH, người phạm một trong các tội: tội ác trong chiến tranh, tội phá hoại hòa bình, tội gây chiến tranh xâm lược hoặc tội chống loài người (trong chiến tranh). TPCT được chia làm hai loại: tội phạm chính (do tòa án quốc tế đặc biệt xét xử) và không phải tội phạm chính (do tòa án từng nước, nơi TPCT gây ra tội ác xét xử). Sau CTTG- II, các TPCT chính đã bị tòa án quân sự quốc tế xét xử ở Nurembe và Tôkiô (x. Phiên tòa Nurembe và Phiên tòa Tôkiô; những người không phải TPCT chính do tòa án từng nước (LX, Ba Lan. Bungari, Rumani, Hunggari, Tiệp Khắc, Italia, Nam Tư. Pháp, Hà Lan, Áo) xét xử. 26.11.1968, Đại hội đồng LHQ đã thông qua công ước về việc không áp dụng thời hiệu đối với TPCT, nhưng hiện nay một số nước đã vi phạm quy ước quốc tế vẫn cố tình chứa chấp một số TPCT. Điều 343 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) về TPCT đã quy định: “người nào trong thời kì chiến tranh mà ra lệnh hoặc trực tiếp tiến hành việc giết hại dân thường, người bị thương, tù binh, cướp phá tài sản, tàn phá các nơi dân cư, sử dụng các phương tiện hoặc phương pháp chiến tranh bị cấm, cũng như có những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế theo các công ước mà VN tham gia hoặc công nhận thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”. TỘI PHẠM QUỐC TẾ, người phạm tội hoạt động có tổ chức trên lãnh thổ nhiều quốc gia. Hoạt động của TPQT thường là: sản xuất, buôn .lậu ma túy; buôn lậu các chất phóng xạ; buôn lậu vũ khí; buôn bán người; khủng bó quốc tế; bắt cóc con tin; lừa đảo quốc tế; cướp biển, cướp máy bay; sản xuất và lưu hành tiền giả, séc giả... TPQT mang các quốc tịch khác nhau, liên kết tiến hành các hành vi phạm tội bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sử dụng nhiều phương tiện hiện đại, kể cả vũ khí, mua chuộc các quan chức chính phủ, các cơ quan quyền lực nhà nước, hoặc giết người mang tính chất khủng bố, bắt cóc người để tống tiền... Đấu tranh chống lại các tổ chức TPQT đang là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế. Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol ) là cơ quan phối hợp hành động chống TPQT hoạt động trên lãnh thổ các nước thành viên, vì lợi ích của mỗi nước và lợi ích chung các quốc gia thành viên. TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chống phá XHCN, gây nguy hại tới lực lượng quốc phòng, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia; thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 78, người phạm TPBTQ, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 7 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị hình phạt bổ sung theo điều 92. TỘI QUẤY NHIỄU NHÂN DÂN, tội phạm mà người phạm tội có hành vi quấy nhiễu đối với nhân dân, vi phạm Mười lời thề danh dự quân nhân và Mười hai điều kỉ luật quan hệ quân dân, thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 338, người phạm TQNND tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm. TỘI TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ của công dân phải phục vụ trong QĐ theo quy định của luật nghĩa vụ quân sự, thuộc các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính được quy định tại chương XX, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 259, người phạm TTTNVQS tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm, hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:03:58 pm TỘI TRỐN TRÁNH NHIỆM VỤ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tự gây thương tích, làm tổn hại sức khỏe của mình hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để trốn tránh nhiệm vụ; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 326, người phạm TTTNV tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ 3 năm, hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 10 năm. TỘI VI PHẠM CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, TỬ SĨ TRONG CHIẾN ĐẤU, tội phạm mà người phạm tội có hành vi vi phạm chính sách đối với thương binh, từ sĩ trong chiến đấu; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 336, người phạm TVPCSĐVTB,TSTCĐ. tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 10 năm. TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA, tội phạm mà người phạm tội có hành vi gây nguy hại tới an ninh quốc gia; thuộc loại tội phạm mang tính nguy hiểm cao cho xã hội; luật pháp các nước đều quy định xử phạt nghiêm khác. ở VN, TXPANQG gồm toàn bộ những tội danh quy định tại các điều 78-91, chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999); tội phản bội tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội gián điệp, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ, tội khủng bố, tội phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước CHXHCN VN, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, tội phá hoại chính sách đoàn kết, tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN VN, tội phá rối an ninh, tội chống phá trại giam, tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. Người phạm tội TXPANQG tùy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội có thể bị phạt tù có thời hạn (2-20 năm), tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, tại điều 92 còn quy định các hình phạt bổ sung: tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; trường hợp người phạm tội là công dân VN còn bị tước một số quyền công dân, bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 đến 5 năm. TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM QUÂN NHÂN, tội phạm mà người phạm tội có hành vi vi phạm các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm phục vụ LLVT; do quân nhân tại ngũ. quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong QĐ, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với QĐ, những người khác được quy định thuộc LLVT thực hiện và những người không thuộc diện trên nhưng đồng phạm. Ở VN, TXPNV,TNQN gồm toàn bộ những tội danh ghi trong chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999): chống mệnh lệnh; chấp hành không nghiêm mệnh lệnh; cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm; làm nhục, hành hung chỉ huy hoặc cấp trên; làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới; làm nhục, hành hung đồng đội; đầu hàng địch; khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch; bỏ vị trí chiến đấu; đào ngũ; trốn tránh nhiệm vụ; vắng mặt trái phép; cố ý làm lộ bí mật QS, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật QS; vô ý làm lộ bí mật QS, làm mất tài liệu bí mật QS; cố ý báo cáo sai; vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, về bảo vệ, về bảo đảm an toàn, về sử dụng vũ khí; hủy hoại vũ khí, phương tiện KTQS; làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí, phương tiện KTQS; vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu; chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm; quấy nhiễu nhân dân; lạm dụng nhu cầu QS trong khi thực hiện nhiệm vụ; ngược đãi tù binh, hàng binh. Mức hình phạt quy định cho TXPNV,TNQN là phạt tù từ 3 tháng đến chung thân hoặc tử hình. TÔGIÔ HIĐÊKI (Nhật: Tôjô Hideki; 1884-1948), tội phạm chiến tranh trong CTTG-II, đại tướng QĐ Nhật hoàng, thủ tướng Nhật Bản (1941-44). Sinh tại Tôkiô. 1905-15 tốt nghiệp Trường sĩ quan lục quân và đại học lục quân, trở thành nhân vật quan trọng trong lục quân Nhật Bán. 1935-38 tư lệnh đội hiến binh Quan Đông, rồi tham mưu trưởng đạo quân Quan Đông, chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược Hoa Bắc (TQ), phó quan lục quân. 10.1941 thủ tướng chính phủ kiêm đại thần: lục quân kiêm tổng tham mưu trưởng, quân nhu, ngoại vụ, công thương. Đề xướng thuyết Đại Đông Á, chủ mưu và điều khiển chính tất cả các kế hoạch chiến tranh của phát xít Nhật trong CTTG-II: tập kích Trân Châu Cảng (x. trận Trân Cháu Cảng, 7.12.1941), chiến tranh Thái Bình Dương, xâm lược các nước Đông Nam Á... Bị thất bại trên chiến trường, buộc phái từ chức thủ tướng (7.1944). Sau CTTG-II, Tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông xử tử hình (23.12.1948). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:06:07 pm TÔMAHÔC (A. Tomahawk), tên lửa có cánh chiến lược và chiến thuật của hải quân Mĩ. Kí hiệu BGM-109. Dài 5,55- 6,24m, đường kính 0,51-0,53m, sải cánh 2,62-2,65m, khối lượng 1.203-1.453kg, tốc độ bay 885-1.407 km/h, mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, động cơ hành trình loại phản lực - không khí kiểu tuabin cánh quạt, hệ dẫn bằng quân tính kết hợp với hệ thống TERCOM, rađa chủ động hoặc DSMAC (thích ứng theo ảnh địa hình được số hóa), sai số trúng đích nhỏ (khoảng 10m). Được phóng từ tàu mặt nước hoặc tàu ngầm. Có bốn loại: BGM-109A (diệt mục tiêu trên mặt đất, cự li phóng 2.500km, đầu đạn hạt nhân 200kt); BGM-109B (diệt tàu. cự li phóng 450km); BGM-109C (diệt mục tiêu trên mặt đất. cự li phóng 900km từ tàu ngầm. 1.300km từ tàu mặt nước, đầu đạn kiểu nổ phá, khối lượng 454kg); BGM-109D (diệt mục tiêu trên mặt đất, cự li phóng 900km từ tàu ngầm và 1.300km từ tàu mặt nước, chứa 166 bom con BLU-97B); ngoài ra trên cơ sở của T còn chế tạo loại BGM-109G (phóng từ thiết bị phóng mặt đất). T do hãng Generơn Đainamic và Mac Đônen Đuglat (Mĩ) nghiên cứu chế tạo từ cuối những năm 70 tk 20, đưa vào trang bị cho hải quân từ 1982 đến 1989 và sử dụng hàng trăm quả trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), Nam Tư (1999), Apganixtan (2001), Irắc (2003). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67481164_461354684594417_475446188108152832_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGMtje5WWIc89Rrj49t5w4TcoN1PC7D0ANTlHPZHEGZiJk8YF4D2_S9VCsozo7CrkZxTqYlc9XFGhaJ2NkifpWhIBq6L8BS2iv7eyrCLdMb9A&_nc_oc=AQkjf646v0UrihyMrweEkYj4FVON_a3FwWeI9zUc7MSSFCROMUMN9trrjnfYDS1WrVQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=2a81be90ffab09b662ce66d72c30ea8a&oe=5DA47CF2) TOMXƠN (A. Robert Thompson: S. 1916), chuyên viên chống nổi dậy (thực chất là chống du kích). Những năm 30 tk 20 làm việc tại Malaixia. Trong CTTG-II, phục vụ 6 năm trong không quân Anh. Sau chiến tranh, trở lại Malaixia làm thứ trưởng rồi bộ trưởng quốc phòng Malaixia (1957-61), trở thành chuyên gia chống nổi dậy ở đây. 1961-65 được Mĩ mời làm cố vấn chống hoạt động du kích ở miền Nam VN. T cố gắng áp dụng ở VN những bài học đã tích lũy được tại Malaixia, đưa ra chương trình ấp chiến lược, nhưng thất bại. Đầu những năm 70 tk 20 khi làm tư vấn cho chính quyền Nichxơn, T đã ủng hộ chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ. Tác giả sách “Chống nổi dậy”, “Chiến tranh cách mạng trong chiến lược thế giới 1945-69”, “Không có đường rút ra khỏi Việt Nam”... TÔN DẬT TIÊN nh TÔN TRUNG SƠN TÔN ĐỨC THẮNG (1888-1980), chủ tịch nước VN DCCH (CHXHCN VN; 1969-80). Quê xã Mĩ Hòa Hưng, tx Long Xuyên, t. An Giang; tham gia CM 1920; đv ĐCS VN (1930). Năm 1910 làm công nhân trong xưởng máy của hải quân Pháp tại Sài Gòn. 1912 tổ chức bãi công ở Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son, bị địch lùng bắt phải trốn sang Pháp, làm thợ máy trên tàu của hải quân Pháp. 24.4.1919 tham gia cuộc binh biến của công nhân và thủy thủ Pháp tại Biển Đen, chống chiến tranh can thiệp của các đế quốc vào nước Nga Xô viết (x. binh biến ở Biển Đen, 4.1919), cuối 1919 bị trục xuất khỏi Pháp. 1920 về nước, xây dựng công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn. 1925 lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son. 1926-29 tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), ủy viên BCH Kì bộ Nam Kì. Cuối 1929 bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo. Sau CM tháng Tám (1945), trở về đất liền, tham gia Xứ ủy Nam Bộ. 1947 ủy viên BCHTƯ ĐCS Đông Dương, chủ tịch Mặt trận Liên Việt. 1955 chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN, trưởng ban Ban thường trực quốc hội. 1960-69 phó chủ tịch nước VN DCCH. 1969-76 chủ tịch nước VN DCCH. 1976-80 chủ tịch nước CHXHCN VN. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN (1947) và khóa II-IV. Đại biểu Quốc hội khóa I-VI. Huân chương: Sao vàng... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67779617_461354717927747_3869996968008744960_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHTQ6qbTdhtPLqiqjUVYtw1c5QlTdmETNkSN_u8_ONP3HiaM4G6GW2fD39U1LBcHEozk9PF7nkFPQwXaglbbrtSFyxAXlAWo8nX26y6KJDuYg&_nc_oc=AQkLdx5R8gOh0PO_qb42exhaWkSPSkYGHJOwpYhF0HU-xNCfS7UKGtIdz5_5GxvmZGY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=93edf8e7fa189fcb2e215b6e14700abf&oe=5DE4F8BF) TÔN GIÁO, hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan theo quan niệm hoang đường, ảo tưởng phù hợp với tâm lí và hành vi của con người trong sự phản ánh đó; hình thức cao nhất của văn hóa tâm linh; một hiện tượng xã hội - lịch sử nảy sinh do sự bất lực của con người trước sức mạnh của thiên nhiên và sự áp bức xã hội. Đậc trưng của quan niệm TG là lòng tin của con người vào lực lượng siêu tự nhiên. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp cầm quyền phản động sử dụng TG như một công cụ để duy trì sự thống trị. CNĐQ và các thế lực phản động lợi dụng mâu thuẫn TG, gây ra những cuộc xung đột tôn giáo gắn với xung đột sắc tộc khốc liệt, làm mất ổn định ở nhiều khu vực trên thể giới. Chính sách TG của nhà nước CHXHCN VN là tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, mọi TG đều bình đảng trước pháp luật, nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng TG. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:08:11 pm TÔN MINH LAI (1903-92), Ah LLVTND (1978). Quê tx Thú Dầu Một, t. Bình Dương; nhập ngũ 1947, đại úy (1978); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là thượng úy tình báo thuộc Đoàn 22, Bộ tham mưu Quân khu 7. Năm 1947-75 hoạt động tình báo tại tx Châu Đốc, Rạch Giá và tp Sài Gòn - Chợ Lớn, đạp xích lô. bán hàng rong,... để che mắt địch. Xây dựng được nhiều cơ sở, tuyến giao liên, tổ chức đưa đón cán bộ, chuyển công văn tài liệu bảo đảm bí mật, an toàn. Nhiều lần cải trang lọt vào nơi địch kiểm soát nghiêm ngặt để nắm tình hình, lấy được nhiều thông tin của địch. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67557602_461354724594413_1444634699803656192_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFV4t1xqY3FGaXraityyB4_KiezJjl_p5Vs9J3S1hjWY3nbS29RkVvRUit8ASy19qZYgdDstLGNxKqljHlgDuEnR5jGG-MxH5z51DXhcy9tIw&_nc_oc=AQnPj8jkHX2AXcYzblwuCd2PhEKNMl53xIntvbG6DsieuyUZsjWqvgR3e0q4x29vX0k&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f21355f1d9c8764b726b46973d380252&oe=5DA6E529) TÔN SĨ NGHỊ (Sun Shiyi; ?-?), tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây, TQ). 1788 được vua Càn Long phong chinh man đại tướng quân, thống lĩnh khoảng 29 vạn quân thuộc 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu xâm lược Đại Việt dưới chiêu bài “phò Lê, diệt Tây Sơn". 25.11.1788 thúc quân từ các hướng vượt biên giới Trung - Việt, TSN trực tiếp chỉ huy đạo quân chủ lực đánh theo hướng Lạng Sơn - Thăng Long. Sau khi chiếm thành Thăng Long (17.12.1788) do quân Tây Sơn bỏ trống, được vua Càn Long phong tước mưu dũng công, TSN càng chủ quan, coi thường quân Tây Sơn, tuyên bố “giặc gầy mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt” và cho quân dừng lại ăn tết. 30.1.1789 khi quân Tây Sơn tràn vào Thăng Long (x. trận Đống Đa - Thăng Long, 30.1.1789), TSN vội vàng lên ngựa bỏ chạy, mặc cho đám quân lính đi theo bị tiêu diệt hoặc chết đuối. Trên đường rút chạy, bị quân Tây Sơn chặn đánh ở Phượng Nhãn (Bắc Giang), TSN phải bỏ cả ấn tín, cờ hiệu trốn về TQ. TÔN THẤT THUYẾT (1839-1913), đại thần triều Nguyễn, người đứng đầu phe chủ chiến chống Pháp. Quê xã Hương Long, tp Huế, t. Thừa Thiên - Huế. 1873 cùng Lưu Vĩnh Phúc phục kích địch ở Cầu Giấy (Hà Nội), giết thiếu tá Pháp Gacniê. 1875 chỉ huy đánh thắng quân Cờ Vàng ở làng Châu Thượng, phủ Vĩnh Tường, bắt sống tướng địch là Hoàng Sùng Anh. 1881 thượng thư bộ binh, 1883 phụ chính đại thần. Khi vua Kiến Phúc mất (31.7.1884), TTT đưa Hàm Nghi lên thay. 5.1885 TTT đề nghị chính phủ Pháp rút hết quân về nước, mặt khác lệnh gấp rút chuẩn bị lực lượng xây dựng khu căn cứ kháng chiến tại Tân Sở (Quảng Trị) phòng khi bất trắc. 7.1885 hạ lệnh tấn công doanh trại quân Phấp tại Huế. Bị thất bại, TTT đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở và phát động phong trào Cần Vương đánh Pháp cứu nước. Sau đó lại đưa Hàm Nghi ra Hương Khê (Hà Tĩnh). 8.1886 TTT sang TQ cầu viện nhưng không thành và mất tại đó. TÔN TRUNG SƠN (Sun Zhongshan, Tôn Dật Tiên; 1866- 1925), lãnh tụ Quổc dân đảng (TQ), lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911-13) lật đổ triều Thanh, thiết lập Trung Hoa dân quốc. Người h. Hương Sơn (nay là h. Trung Sơn), t. Quảng Đông (TQ). 1878-92 học ở Honolulu (Mĩ), rồi học Trường y Nam Hoa (Quảng Châu) và Trường tây y ở Hồng Công và làm nghề y tại Ma Cao, Quảng Châu. 11.1894 thành lập Hưng trung hội, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở Quảng Châu, bị lộ phải trốn sang Nhật. 1900 phát động khởi nghĩa tại Tam Châu Điền, Huệ Châu (nay là Huệ Dương), t. Quảng Đông, bị thất bại. 1903-05 mở Trường QS CM Thanh Sơn tại Tòkiô (Nhật), hợp nhất Hưng trung hội với một số tổ chức CM trong nước thành TQ Đồng minh hội (tổ chức CM của giai cấp tư sản TQ), công bố chủ nghĩa tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Nhiều lần binh biến bị thất bại. 10.10.1911 khởi nghĩa Vũ Xương thắng lợi, mở đầu CM Tân Hợi. 29.12.1911 được đại biểu 17 tỉnh họp tại Nam Kinh bầu làm đại tổng thống lâm thời. 1.1.1912 TTS nhậm chức tại Nam Kinh và tuyên bố thành lập Trung Hoa dân quốc, xây dựng hiến pháp lâm thời, cải tổ TQ Đồng minh hội thành Quốc dân đảng. 13.2.1912 TTS từ chức để Viên Thế Khải làm đại tổng thống chính thức, vua Phổ Nghi thoái vị. Sau do Viên Thế Khải phản bội, TTS tập hợp lực lượng CM ở các tỉnh miền nam chống lại Viên Thế Khải và lực lượng quân phiệt Bắc Dương. 1914 thành lập Trung Hoa CM đảng. 1916 tổ chức chính phủ QS ở Quảng Châu, đại nguyên soái. 1919 cải tổ Trung Hoa CM đảng thành TQ Quốc dân đảng. 1920 đại tổng thống ở Quảng Đông. TTS chủ trương "liên Nga, liên cộng, phủ trợ công nông”, đã thúc đẩy sự hợp tác Quốc - Cộng (Quốc dân đảng - ĐCS TQ) để chống đế quốc và phong kiến, quân phiệt. Các tác phẩm chính được in trong: ‘Tôn Trung Sơn tuyển tập”, “Tôn Trung Sơn toàn tập”. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:09:30 pm TÔN TỬ nh TÔN VŨ TÔN VŨ (Sun Wu; ?-?), nhà tư tưởng QS kiệt xuất thời cổ, tướng nước Ngô cuối thời Xuân Thu (TQ). Người t. Sơn Đông nước Tề chạy loạn sang cư trú ở nước Ngô. 512tcn được đại thần Ngũ Tử Tư tiến cử, dâng lên vua Ngô 13 thiên binh pháp, được phong tướng. Cùng với Ngũ Tử Tư phò tá vua Ngô, đề xuất mưu lược làm cho nước mạnh, chia quân quấy nhiễu, nước Sở phải thường xuyên lo đối phó, mệt mỏi. 506tcn bày mưu cho vua Ngô đem 3 vạn quân đánh bại 20 vạn quân Sở bằng cách cho quân Ngô vu hồi kì tập vào vùng đông bắc (nơi bố phòng yếu nhất của Sở), rồi tiến đánh chiếm kinh đô nước Sở. Từ đó Sở không còn khả năng tranh bá với Ngô. Trong 30 năm phục vụ nước Ngô, TV đã làm cho Ngô từ một nước nhỏ phá được nước Sở lớn mạnh, uy hiếp các nước Tề, Tấn và bắt nước Việt thần phục. Tác phẩm nổi tiếng “Binh pháp Tôn Tử”. Được tôn là “Người thầy của binh gia muôn đời”. TỔN THẤT CHIẾN TRANH, sự mất mát, thiệt hại về người, của cải vật chất, tinh thần, văn hóa, xã hội, môi trường sinh thái do chiến tranh gây nên; thường để lại hậu quả lâu dài đối với các bên tham chiến. Có TTCT không thể khôi phục (người chết, mất tích, tàn phế; môi trường sinh thái, phương tiện vật chất kĩ thuật bị tiêu hủy) và TTCT có thể khôi phục được (người bị thương, vũ khí bị hỏng). Trong CTTG-II (1939- 45) gần 55 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị tàn phế, hàng chục vạn làng mạc bị thiêu cháy, hàng ngàn thành phố bị phá hủy,... là TTCT lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. TỔN THƯƠNG HỖN HỢP, tổn thương do hai hoặc nhiều yếu tố sát thương khác nhau (cơ học, nhiệt học, lí học, sinh học) của vũ khí, gây ra trên cơ thể người bị thương. Theo nghĩa hẹp, là tổn thương do vũ khí hạt nhân như: chấn thương do sóng xung kích, bỏng do bức xạ nhiệt và tổn thương do chất phóng xạ (tia gamma, bêta, anpha, nơtrôn...). TÔNG ĐẢN (?-?), danh tướng thời Lí Nhân Tông, tù trưởng, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống. Dân tộc Tày. 10.1075 phó tướng cho Lí Thường Kiệt, trực tiếp chỉ huy 60 ngàn quân bộ tiến sang đất TQ, bất ngờ đánh chiếm các đồn trai địch dọc biên giới rồi vây chặt thành Ung Châu (trong thành có khoảng 60 ngàn quân Tống, do tướng Tô Giám chỉ huy). 1.3.1076 phối hợp với đạo quân chủ lực của Lí Thường Kiệt đánh chiếm Ung Châu, triệt phá các căn cứ xuất phát xâm lược Đại Việt của nhà Tống. 4.1076 chỉ huy quân phòng thủ biên giới (xt trận Ung Khâm Liêm, 10.1075-3.1076). TỔNG BINH SỨ (cổ), chức quan võ đảm nhiệm việc binh trong một đạo thừa tuyên (tương tự tỉnh ngày nay) thời Hậu Lê. Được đặt ra từ đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460-69). TBS thường kiêm chức thừa tuyên sứ nên ngoài việc binh còn kiêm việc hộ tịch, thuê má, kiện tụng. Đến niên hiệu Hồng Đức (1470-97), khi định lại quan chế, đặt thêm các chức đô tổng binh, tổng binh thiêm sự, tổng binh đồng tri, phẩm trật ở hàng tam, tứ phẩm. Đời Lê Trung Hưng (1533-1788), TBS không kiêm các việc dân sự. Riêng Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An là những nơi quan trọng thì TBS được gọi là đốc trấn và Thanh Hóa là nơi căn bản quan trọng được gọi là lưu thủ. TỔNG CHỈ HUY, chức danh chỉ huy cao nhất của LLVT một số nước. Ở VN, TCH có từ 11.1946 (khi thống nhất BQP và QS ủy viên hội thành BQP-TCH), gọi là TCH QĐ quốc gia VN. Sau đổi là TCH QĐ quốc gia và dân quân tự vệ VN (sắc lệnh 47-SL ngày 1.5.1947), TCH QĐ quốc gia và dân quân VN (sắc lệnh 165-SL ngày 14.4.1948), tổng tư lệnh QĐ quốc gia và dân quân VN theo sắc lệnh 11-SL ngày 12.3.1949 (có hiệu lực từ 22.12.1948). TCH QĐ quốc gia và dân quân VN: Võ Nguyên Giáp. TỔNG CÔNG KÍCH, tiến công đồng loạt, dồn dập và mãnh liệt trên toàn bộ mặt trận hoặc địa bàn tác chiến (chiến trường) do tất cả (đại bộ phận) lực lượng tham chiến tiến hành nhằm nhanh chóng giành thắng lợi. Thường là giai đoạn cuối cùng quyết định của một cuộc tổng tiến công, trận quyết chiến chiến lược, chiến dịch, ở VN, để kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, TCK được tiến hành từ 2 giờ 6.5.1954; để kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh, TCK được tiến hành từ sáng 29.4.1975. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:11:13 pm TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ, cơ quan đảm nhiệm CTĐ.CTCT trong toàn quân (QĐND VN), hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban bí thư và sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng ủy quân sự trung ương (Quân ủy trung ương). TCCT căn cứ vào nghị quyết, chỉ thị của BCHTƯ Đảng, BCT, Ban bí thư để nghiên cứu và đề nghị Đảng ủy QS trung ương quyết định những chủ trương, biện pháp lớn về CTĐ.CTCT trong QĐ; căn cứ vào nghị quyết của Đảng ủy QS trung ương, mệnh lệnh của bộ trưởng BQP đề ra những nội dung, biện pháp, kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra cấp dưới thực hiện. Thành lập 9.1945 với tên gọi Cục chính trị (cục trưởng: Văn Tiến Dũng)-, từ 11.7.1950 đổi thành TCCT. Tổ chức biên chế TCCT phát triển theo từng giai đoạn CM của đất nước và nhiệm vụ chính trị của LLVT. Tổ chức hiện nay gồm có: Văn phòng TCCT, Cục tổ chức, Cục tư tưởng - văn hóa, Cục cán bộ, Cục chính sách, Cục bảo vệ an ninh QĐ, Cục dân vận và tuyên truyền đặc biệt, Cục chính trị, Cục hậu cần - kinh tế, Ban thanh niên QĐ. Ban phụ nữ QĐ, Ban công đoàn quốc phòng và một số cơ sở trực thuộc (Báo “Quân đội nhân dân”, Tạp chí “Quốc phòng toàn dân”, Tạp chí “Văn nghệ quân đội”, Thư viện QĐ, Bảo tàng lịch sử QS VN. Điện ảnh QĐ, Truyền hình QĐ, Phát thanh QĐ, Nhà xuất bản QĐND, Nhà máy in QĐ, Trường nghiệp vụ, Trường cao dẳng văn hóa - nghệ thuật QĐ, Đoàn ca múa QĐ, Đoàn kịch nói QĐ...). Chủ nhiệm TCCT qua các thời kì: Nguyễn Chí Thanh (1950-61), Song Hào (1961-76), Chu Huy Mân (1977-87), Nguyên Quyết (1987-91), Lê Khả Phiêu (1991-98), Phạm Thanh Ngân (1998-2001), Lê Văn Dũng (từ 5.2001). TỔNG CỤC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, cơ quan đầu ngành về công nghiệp quốc phòng trong QĐND VN, trực thuộc BQP; có chức năng quản lí các cơ sở sản xuất quốc phòng của QĐ. Thành lập 3.3.1989 theo nghị định 22- HĐBT của HĐBT nước CHXHCN VN, mang tên Tổng cục công nghiệp quốc phòng và kinh tế, đổi thành TCCNQP theo quyết định số 249/1998-QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ nước CHXHCN VN. Tổ chức hiện nay gồm: Văn phòng tổng cục, Cục tham mưu-kế hoạch, Cục chính trị, Cục quản lí công nghệ, một số phòng ban trực thuộc và các công ti, nhà máy, xí nghiệp... Chủ nhiệm TCCNQP qua các thời kì: Phan Thu (1989-97), Trần Đức Việt (1997-2000), Phạm Tuân (từ 2000). TỔNG CỤC HẬU CẨN, cơ quan đầu ngành về hậu cần của QĐND VN, trực thuộc BQP, có chức năng bảo đảm vật chất, bảo đảm sinh hoạt, bảo đảm quân y, bảo đảm vận tải cho QĐ. Thành lập 11.7.1950 với tên gọi Tổng cục cung cấp (sắc lệnh 121-SL của chủ tịch nước VN DCCH; đến 13.1.1955 đổi thành TCHC (quyết định 211/QĐ-TM của BTTM). Tổ chức hiện nay gồm: Văn phòng TCHC, Bộ tham mưu, Cục chính trị, Cục hậu cần, Cục quân nhu, Cục quân y, Cục vận tải, Cục xăng dầu, Cục xây dựng - quản lí nhà đất, Binh đoàn 11 và một số cơ quan, cơ sở, đơn vị trực thuộc khác. Chủ nhiệm TCHC qua các thời kì: Trần Đăng Ninh (1950-55), Trần Hữu Dực (1955-56), Hoàng Anh (1956-58), Trần Quý Hai (1961- 62), Trần Sâm (1963-65), Đinh Đức Thiện (1965-5.1969 và 11.1969-76), Nguyễn Đôn (6-11.1969), Vũ Xuân Chiêm (1976-77), Bùi Phùng (1977-81), Đinh Thiện (1982-83), Nguyễn Chánh** (1984-86), Nguyễn Trọng Xuyên (1988- 93), Nguyễn Phúc Thanh (1994-97), Nguyên Văn Đà (1997- 2001), Trần Phước (từ 2001). TỔNG CỤC KĨ THUẬT, cơ quan đầu ngành về kĩ thuật của QĐND VN, trực thuộc BQP, có chức năng chỉ đạo công tác bảo đảm kĩ thuật trong QĐ, nghiên cứu KTQS và quản lí các xí nghiệp quốc phòng. Thành lập 10.9.1974 theo nghị định 221/CP của chính phủ nước VN DCCH. Từ 3.3.1989, chức năng quản lí các xí nghiệp quốc phòng được chuyển cho TCCNQPVKT (nay là Tổng cục công nghiệp quốc phòng). Tổ chức hiện nay gồm có: Văn phòng TCKT, Bộ tham mưu, Cục chính trị, Cục hậu cần, Cục quân khí, Cục quản lí xe - máy, Cục tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, Cục kĩ thuật binh chủng, Tạp chí “kĩ thuật và trang bị” và một số cơ quan trực thuộc khác. Chủ nhiệm TCKT qua các thời kì: Đinh Đức Thiện (1974-75), Lê Văn Tri (1977-87), Đào Đình Luyện (1989-92), Trương Khánh Châu (1992-97), Nguyễn Hoa Thịnh (4997-2001), Đỗ Đức Pháp (từ 2001). TỔNG ĐÀI THÔNG TIN LIÊN LẠC, tổ hợp các thiết bị kĩ thuật để chuyển tiếp, kết nối các dịch vụ liên lạc (thoại, báo, truyền số liệu, fax, truyền hình...). Theo phương tiện truyền dẫn tín hiệu, có TĐTTLL: hữu tuyến điện và vô tuyến điện; theo phương thức thực hiện chuyển tiếp (kết nối), có: tổng đài thông tin liên lạc tự động và tổng đài thông tin liên lạc nhân công: theo dung lượng, có TĐTTLL: loại nhỏ (hàng chục số), loại vừa (hàng trăm số) và loại lớn (hàng nghìn số). Trong QĐ, TĐTTLL thường được trang bị cho cấp tiểu đoàn trở lên. TỔNG ĐÀI THÔNG TIN LIÊN LẠC NHÂN CÔNG. tổng đài thông tin liên lạc để chuyển tiếp, kết nối liên lạc thoại qua đường truyền thông tin hữu tuyến điện, thông qua thao tác bằng tay của nhân viên khai thác. Thường có dung lượng nhỏ, nhiều nhất là 100 số (loại mang xách cơ động 10- 20 số, loại đặt cố định trên xe tổng trạm hoặc trong trạm tổng đài 40-100 số). Chỉ thực hiện việc chuyển mạch đối với tín hiệu tương tự (annalog). TĐTTLLNC gọn nhẹ, dễ sử dụng, dễ triển khai, thu hồi. Thường trang bị cho cấp chiến thuật (tiểu đoàn - sư đoàn). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:12:37 pm TỔNG ĐÀI THÔNG TIN LIÊN LẠC TỰ ĐỘNG, tổng đài thông tin liên lạc để chuyển tiếp, kết nối các kênh thông tin qua đường truyền dẫn bằng phương tiện kĩ thuật, không dùng các thao tác bằng tay của nhân viên khai thác. Theo cấu tạo và phương thức chuyển kênh, TĐTTLLTĐ được chia thành các loại: cơ khí (dùng rơle, tiếp điểm,... để cắt, nối), điện tử (dùng mạch điện tử), bán điện tử (cơ khí - điện tử), điều khiển theo chương trình lưu giữ, tọa độ... Theo dạng tín hiệu, có: tổng đài kĩ thuật số và tổng đài tương tự. TĐTTLLTĐ được sử dụng rộng rãi trong QS và dân sự. TỔNG ĐỐC (cổ), chức quan đúng đầu một tỉnh lớn từ triều Nguyễn đến thời Pháp thuộc ở VN và từ triều Minh đến triều Nguyên ((TQ). Ở VN, thời Pháp thuộc, TĐ dưới quyền điều hành mọi mặt của một viên công sứ người Pháp. Ở TQ, bắt đầu từ 1469 đặt TĐ Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây), sau trở thành một thể chế quy định. Bắt đầu từ triều Thanh chính thức lấy TĐ làm quan đứng đầu cao nhất của một địa phương. TỔNG ĐỘNG VIÊN, động viên được tiến hành trên phạm vi cả nước, thực hiện toàn bộ kế hoạch động viên. TĐV thường diễn ra khi đất nước bị xâm lược quy mô lớn hoặc nổ ra chiến tranh toàn diện và được thông báo công khai: khi đó QĐ được bổ sung quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân với số lượng lớn nhất để nhanh chóng kiện toàn tổ chức biên chế thời chiến; mọi hoạt động của nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội tập trung bảo đảm cho nhu cầu QĐ một cách nhanh chóng với khối lượng nhân lực, vật lực lớn nhất; đồng thời phải bảo đảm nhu cầu tối thiểu, cần thiết cho nhân dân. “TỔNG KẾT CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (TỪ NGÀY THÀNH LẬP ĐẾN 1959)”, công trình nghiên cứu tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi thành lập (22.12.1944) đến 1959 (chủ yếu trong KCCP), do TCCT biên soạn và xuất bản 1960. Nội dung tổng kết gồm các mặt công tác: giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; xây dựng đảng; cán bộ; bảo vệ; dân vận; địch vận và CTĐ.CTCT trong chiến dịch, chiến đấu. Qua đó đã rút ra những bài học kinh nghiệm; kết luận những vấn đề cơ bản và những nguyên tắc chỉ đạo tiến hành CTĐ.CTCT; góp phần đưa CTĐ.CTCT đi vào nề nếp, đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và xây dựng QĐ tiến lên chính quy, hiên đại. “TỔNG KẾT CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƯỚC (1954-75)”, công trình nghiên cứu tổng kết công tác đảng - công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam trong KCCM (1954-75), do TCCT biên soạn, Nhà xuất bản QĐND xuất bản 1990. Gồm ba phần: đặc điểm tình hình thế giới, đất nước, QĐ và đối tượng tác chiến chiến lược, những hoạt động chủ yếu của CTĐ.CTCT qua các giai đoạn của cuộc KCCM; ưu điểm, khuyết điểm và những bước phát triển trên các lĩnh vực hoạt động của CTĐ,CTCT; những bài học về xây dựng quyết tâm chiến đấu, đánh giá kẻ thù, nắm vững và thực hiện sáng tạo đường lối QS của ĐCS VN. xây dựng hệ thống tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ trong QĐ, thực hiện đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, xây dựng hậu phương và chính sách hậu phương QĐ... Với những kết luận khoa học về các vấn đề có tính bản chất và nguyên tắc của CTĐ,CTCT. công trình góp phần phát triển và hoàn thiện lí luận CTĐ.CTCT trong QĐND VN thời kì CM mới. “TỔNG KẾT CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƯỚC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC”, công trình nghiên cứu tổng kết sự lãnh đạo của ĐCS VN trong KCCM (1954-75), do Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc BCT BCHTƯ ĐCS VN biên soạn, xuất bản 1995. Nội dung cơ bản: trên cơ sở phân tích bối cảnh lịch sử, nguyên nhân chiến tranh, tính chất và đặc điểm của cuộc kháng chiến, tác phẩm trình bày tổng quát quá trình KCCM trải qua 5 giai đoạn chiến lược, mỗi giai đoạn đánh thắng một chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ, đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới (x. kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam, 1954-75)-, đánh giá khách quan, toàn diện sự lãnh đạo chiến tranh của ĐCS VN về ưu điểm, thành công cũng như khuyết điểm, sai lầm trong chỉ đạo chiến lược, sách lược; đúc kết 8 bài học kinh nghiệm lớn đồng thời là những nhân tố giành thắng lợi của cuộc kháng chiến, trong đó nổi bật, xuyên suốt là vai trò lãnh đạo của ĐCS VN. Công trình được soạn thảo công phu, có ý nghĩa lớn trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lí luận về chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của dân tộc VN, góp phần bồi dưỡng kinh nghiệm, giáo dục truyền thống cho các thế hệ VN hiện nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:13:55 pm “TỔNG KẾT CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC”, công trình nghiên cứu tổng kết sự lãnh đạo của ĐCS VN trong KCCP (1945-54), do Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc BCT BCHTƯ ĐCS VN biên soạn xuất bản 1996. Nội dung cơ bản: phân tích bối cảnh lịch sử, nguồn gốc chiến tranh, tính chất và đặc điểm của cuộc kháng chiến; trình bày khái quát quá trình KCCP trải qua 3 giai đoạn chiến lược, bằng sức mạnh toàn dân vượt qua khó khăn, thử thách từ những năm đầu bảo vệ chính quyền CM, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh, tiến lên phản công và tiến công, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp và can thiệp Mĩ. đưa kháng chiến đến thắng lợi (x. kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, 1945-54)-, phân tích, đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của ĐCS VN, đúc kết 6 bài học kinh nghiệm lớn và khẳng định con đường đi lên của CM VN trong giai đoạn mới. Công trình được soạn thảo công phu, có ý nghĩa lớn trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lí luận về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của dân tộc VN, góp phần bồi dưỡng kinh nghiệm, giáo dục truyền thống CM cho các thế hệ VN hiện nay và mai sau tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. TỔNG KHỞI NGHĨA, khởi nghĩa diễn ra trên phạm vi cả nước, trong một thời gian tương đối ngắn, theo một kế hoạch và sự chỉ đạo tập trung thông nhất nhằm giành chính quyền trong cả nước. Cuộc TKN tháng Tám 1945 ở VN diễn ra trong 12 ngày (13-25.8.1945) đã giành thắng lợi hoàn toàn, đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai, thiết lập chính quyền CM của nhân dân trong cả nước (x. tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945). TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1945, tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước của nhân dân VN do ĐCS Đông Dương lãnh đạo, đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai. Giữa lúc cao trào kháng Nhật dâng cao trên cả nước, 13-15.8.1945 hội nghị toàn quốc ĐCS Đông Dương họp tại Tân Trào (Tuyền Quang). Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, hội nghị nhận định tình thế trực tiếp CM đã chín muồi và quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật ở Đông Dương. Đêm 13.8 ủy ban khởi nghĩa được thành lập và ra quân lệnh số 1. Ngày 16.8 cũng tại Tân Trào. quốc dân đại hội thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quy định quốc kì, quốc ca, các chính sách lớn của Việt Minh và cử ra ủy ban dân tộc giải phóng (tức chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Nhiều đại biểu ở xa trên đường đến đại hội, được lệnh trở về địa phương lãnh đạo khởi nghĩa. Nhiều tỉnh tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa, đã dựa theo tinh thần chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (12.3.1945), đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, kịp thời và chủ động lãnh dạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền. 14-18.8, nhân dân nhiều địa phương được sự hỗ trợ của các tổ, đội vũ trang nhanh chóng giành chính quyền ở xã, huyện và tiến lên giải phóng thị xã. 16- 20.8 các đơn vị chủ lực của VN giải phóng quân đánh bại quân Nhật ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, giải phóng tỉnh lị. Đặc biệt, với thắng lợi giành được chính quyền ở Hà Nội (19.8), Huế (23.8), Sài Gòn (25.8), sức kháng cự của quân Nhật và tay sai hầu như bị đập tan, chế độ quân chủ chuyên chế ở VN cơ bản bị xoá bỏ. Đến 28.8 trừ một số ít thị xã phía bắc có quân Tưởng và tay sai vào chiếm trái phép, TKNTT1945 thành công trên phạm vi cả nước, dẫn tới sự ra đời của nước VN DCCH, mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc VN, góp phần làm thất bại một bước âm mưu xâm lược trở lại của thực dân Pháp. TKNTIT945 thắng lợi là kết quả của quá trình tổ chức và lãnh đạo của ĐCS Đông Dương, qua ba thời kì Vận động CM (1930-31, 1936-39, 1941-45), tích cực chuẩn bị lực lượng, nắm bắt thời cơ, động viên được sức mạnh của toàn dân nổi dậy giành chính quyền nhanh gọn trong thời gian ngắn. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67916034_461354784594407_579829140534853632_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFUJkl4q5_xQrh0cVNSursotD7eV6Rdjg-UcRXE6up46UupmoPEUWUjxhAK3hN9Y_m-zd8eFSeGqsW-JhTvWkR2BoE5u1R7ElWNnVvT8lTYUQ&_nc_oc=AQlnATX8JSsj5bRGm2wT2ZVHxm8bjPIyL2ktwGntoXqBxiu7NUrZ-aiabkf3s0hGAMY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e9b1dc39b631e9d1ae617360c7e230df&oe=5DD9B5D5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:15:40 pm TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Ở HÀ NỘI, tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân tp Hà Nội, do Xứ ủy Bắc Kì và Thành ủy Hà Nội ĐCS Đông Dương lãnh đạo trong tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 theo lời hiệu triệu của ĐCS Đông Dương và lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh. 17.8 Thành ủy Hà Nội lãnh đạo quần chúng đấu tranh, biến cuộc mít tinh ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim (do Tổng hội công chức của ngụy quyền tiến hành) thành diễn đàn tuyên truyền 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, thông báo việc phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh và kêu gọi nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa. Cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình tuần hành của quần chúng trên đường phố Hà Nội, lôi cuốn một số lính bảo an, cảnh sát tham gia. Nhận định thời cơ đã chín muồi, 18.8 ủy ban QS CM (ủy ban khởi nghĩa) của Thành ủy chuyển vào nội thành để trực tiếp chỉ đạo. Sáng 19.8 hơn 100.000 đồng bào nội ngoại thành và các huyện lân cận mang cờ, khẩu hiệu và các loại vũ khí thô sơ tập trung tại quảng trường Nhà hát lớn dự mít tinh do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Sau mít tinh, quần chúng CM có các đội tự vệ dẫn đầu tỏa đi chiếm Phủ khâm sai, trại bảo an binh, sở cảnh sát và các công sở của chính quyền dịch với khí thế áp đảo, khiến quân Nhật không dám chống lại. TKNTTƠHN thắng lợi nhanh chóng đã cổ vũ và thúc đẩy các địa phương trong cả nước nổi dậy giành chính quyền. TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Ở HUẾ (23.8.1945), tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân tp Huế, do Tỉnh ủy ĐCS Đông Dương và ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên lãnh dạo trong tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 theo lời hiệu triệu của ĐCS Đông Dương và lòi kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Hà Nội (19.8.1945) thắng lợi, nhân dân một số xã, huyện quanh tp Huế đã nổi dậy giành được chính quyền. Được tin chính phủ Trần Trọng Kim định tổ chức biểu tình vào 23.8 để mừng “Nhật trả Nam Kì cho VN” hòng đánh lạc hướng phong trào quần chúng, Tỉnh ủy và ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên lập tức phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Trước sức mạnh của hơn 150.000 nhân dân nội ngoại thành, chính phủ Trần Trọng Kim hoàn toàn tê liệt, lực lượng khởi nghĩa lần lượt chiếm các công sở và làm chủ thành phố. Đêm 23.8 ủy ban dân tộc giải phóng VN (tức chính phủ lâm thời) gửi điện, yêu cầu vua Bào Đại thoái vị. Chiều 30.8 trong cuộc mít tinh của hàng vạn quần chúng ở cửa Ngọ Môn (Huế), cờ vàng của nhà vua bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên, vua Bảo Đại đọc lời thoái vị, nộp ấn, kiếm cho phái đoàn chính phủ lâm thời (gồm Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận), đánh dấu sự cáo chung của chính thể quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở VN. TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Ở SÀI GÒN (25.8.1945), tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân tp Sài Gòn do Xứ ủy Nam Kì lãnh đạo trong tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 theo lời hiệu triệu của ĐCS Đông Dương và lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh. 20.8 trên đường phố Sài Gòn đã xuất hiện cờ đỏ sao vàng và truyền đơn của Mặt trận Việt Minh kêu gọi nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Ngày 23 dược tin khởi nghĩa đã thắng lợi ở Hà Nội và nhiều địa phương khác trong đó có Tân An (nơi Xử ủy chọn làm thí điểm khởi nghĩa), Xứ ủy Nam Ki quyết định lãnh đạo nhân dân Sài Gòn và các tinh giành chính quyền vào 25.8. Đêm 24 hàng trăm nghìn nhân dân mang theo băng, cờ, khẩu hiệu. giáo mác, gậy tầm vông,... từ ngoại ô thành phố và các tỉnh lân cận kéo về Sài Gòn. Sáng 25 diễn ra cuộc biểu tình tuần hành của hơn một triệu quần chúng trên các đường phố. Lực lượng khởi nghĩa, với nòng cốt là các đội xung phong công đoàn lần lượt chiếm sở cảnh sát, nhà ga, nhà bưu điện, nhà máy điện, sở mật thám,... đến trưa đã làm chủ toàn thành phố. Quân Nhật và bộ máy chính quyền bù nhìn hoàn toàn tê liệt, không dám kháng cự. TKNTTƠSG đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở các tình Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và trong cả nước. TỔNG QUẢN (cổ), chức quan coi việc binh trong toàn quốc hoặc trong một lộ (đạo) dưới thời Tiền Lê, Lí, Trần, Hậu Lê. Thời Tiền Lê (980-1009), TQ kiêm chức tể tướng, trên chức thái úy. Thời Lí (1010-1225), TQ chỉ coi việc binh. Thời Trần (1225-1400), chức TQ chỉ có từ đời vua Trần Thuận Tông (1388-98), là chức quan đảm nhiệm việc phòng thủ một địa phương. Thời Hậu Lê (1428-1788), trong những năm đầu, chức TQ có phân biệt: đại TQ, đô TQ, đồng TQ coi việc quân ở triều đình; TQ coi việc quân ở các đạo. Đến 1471 (đòi vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2) chức TQ bị bãi bỏ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:17:38 pm TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG, chức vụ đứng đầu Bộ tổng tham mưu, có chức trách tổ chức lực lượng, chỉ huy QĐ và điều hành các hoạt động QS phòng thủ đất nước trong thời bình, thời chiến. Trong QĐND VN, TTMT có nhiệm vụ giúp Quân ủy trung ương, bộ trưởng BQP quản lí nhà nước về lĩnh vục quốc phòng, chỉ huy QĐ, dân quân tự vệ, Lực lượng cảnh sát biển; chỉ đạo cơ quan tham mưu cấp dưới, hiệp đồng với cơ quan chính trị, hậu cần, kĩ thuật chuẩn bị các kế hoạch ngắn hạn. dài hạn...; triển khai tổ chức hiệp đồng, chỉ huy, bảo đảm,... phối hợp với các ngành có liên quan của nhà nước để thống nhất kế hoạch thực hiện; điều hành các hoạt động QS, phòng thủ đất nước và các nhiệm vụ khác. TTMT đầu tiên của QĐND VN: Hoàng Văn Thái*. TỔNG THANH TRA QUÂN ĐỘI, chức vụ đứng đầu cơ quan thanh tra cao nhất của QĐND VN. TTTQĐ chịu trách nhiệm trước Đảng ủy quân sự trung ương và bộ trường BQP về tổ chức, xây dựng cơ quan thanh tra cấp mình và chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra trong LLVT; giữ mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan thanh tra nhà nước để giải quyết những vấn đề có liên quan đến quốc phòng; thanh tra tình hình mọi mặt của LLVT. đánh giá việc chấp hành nhiệm vụ chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu và việc hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm khác trong từng thời kì của các đơn vị trọng điếm và ở hướng trọng điểm. TTTQĐ được đặt ra từ 20.1.1948 theo sắc lệnh 107-SL của chủ tịch nước VN DCCH. Tên gọi thay đổi qua các thời kì: 1948-59 TTTQĐ, 1971-76 chủ nhiệm ủy ban thanh tra QĐ (1.1959-7.1971, giải thể cơ quan tổng thanh tra), 1976-92 TTTQĐ, từ 9.1992 chánh thanh tra BQP. TTTQĐ đầu tiên: Lê Thiết Hùng. TỔNG TIẾN CÔNG, tiến công ở quy mô toàn cục của chiến tranh, có ý nghĩa quyết đinh kết thúc thắng lợi chiến tranh hoặc làm thay đổi cục diện chiến tranh, thực hiện những mục đích chính trị, QS đã đề ra. Được thực hiện bằng hầu hết các lực lượng chiến lược trên phần lớn hay toàn bộ các chiến trường tác chiến chiến lược bằng một hoặc nhiều chiến dịch chiến lược và các chiến dịch khác tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau, nhằm tiêu diệt và đập tan các lực lượng chủ yếu của quân địch, đánh chiếm nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn, giành thắng lợi quyết định cho chiến tranh. Trong chiến tranh nhân dân VN, TTC được kết hợp chặt chẽ với nổi dậy của quần chúng giành quyền làm chủ, là bước quyết định của giai đoạn tiến công chiến lược, do cơ quan lãnh dạo chính trị - QS cao nhất của đất nước tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:23:58 pm TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân VN đập tan bộ máy chính quyền và QĐ Sài Gòn, giải phóng miền Nam VN, kết thúc thắng lợi KCCM. Từ giữa 1974 cục diện chiến trường miền Nam đã thay đổi cơ bản có lợi cho CM, đặc biệt thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long (14.12.1974-6.1.1975) cho thấy sự suy sụp của QĐ Sài GÒỊU khả năng can thiệp trở lại của Mĩ rất hạn chế. Qua 2 lần họp (30.9-8.10.1974 và 18.12.1974-8.1.1975), BCT BCHTƯ ĐLĐ VN đã thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975-76) và dự kiến nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975. Trên tinh thần đó, công tác chuẩn bị cho cuộc TTCVNDX1975 được tiến hành khẩn trương, đồng bộ. Lực lượng ta có 4 quân đoàn chủ lực (1, 2, 3 và 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn), gồm: 15 sư đoàn, 2 lữ đoàn và 3 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp; 6 trung đoàn và 4 tiểu đoàn đặc công, các đơn vị biệt động thành, bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh, thành phố miền Nam. Lực lượng địch có 4 quân khu - quân đoàn, gồm: 13 sư đoàn bộ binh, 18 liên đoàn biệt động quận, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn xe tăng thiết giáp, 22 trung đoàn hải quân, 66 tiểu đoàn pháo binh cùng với lực lượng lớn cảnh sát, bảo an, phòng vệ dân sự... TTCVNDX1975 mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên (4.3- 3.4.1975), tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 và một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của địch, giải phóng 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức), tạo sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, dẫn tới sự sụp đổ về chiến lược và tinh thần của chính quyền và QĐ Sài Gòn. Đồng thời tại Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5, ta mở chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975), chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975) và phát triển tiến công địch ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, diệt và làm tan rã phần lớn Quân đoàn 1- Quân khu 1 và bộ phận lực lượng tổng dự bị của địch, giải phóng 5 tỉnh (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng TÚI, Quảng Ngãi) và 2 thành phố lớn (Huế, Đà Nẵng), trực tiếp đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, tạo bước nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta. Nắm vững thời cơ chiến lược, sau khi quét sạch địch ở Phan Rang (16.4), Xuân Lộc (21.4), tập trung lực lượng áp sát và hình thành thế tiến công Sài Gòn từ nhiều hướng, 26.4 ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) với tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo. bất ngờ, chắc thắng”, đập tan lực lượng phòng thủ và các cơ quan đầu não của địch, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện. Cùng với chiến dịch Hồ Chí Minh, ta giải phóng các đảo trên biển, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong 55 ngày đêm của cuộc TTCVNDX1975, ta diệt và làm tan rã hơn 1 triệu quân chủ lực và 1,5 triệu quân thuộc lực lương phòng vệ dân sự của địch, đập tan bộ máy chính quyền và QĐ Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc toàn thăng cuộc KCCM và 30 năm chiến tranh giải phóng, mở ra kí nguyên mới của dân tộc VN: cả nước độc lập, thống nhất và đi lèn CNXH (x. minh họa giữa trang 176 và 177). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67768742_461374414592444_3659666651382546432_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHYtmzTE-M9s2j2JuEKVVL7_0LO-rq41RFS4mF_CnKWfMSDkVgLYe7j8XVb8SBhvxYrCfv045v7P-1fe3gy2kLmjjhbZHay7TdpruXVS3ik5g&_nc_oc=AQmmACJX3HWb-HY5lRouxkAZhSNuFuN2MzI02fshWp4zXMmKxsIup45I57I262mUUSw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=efe6b8eee47108d64c073732d2ed45cc&oe=5DE695F7) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:24:57 pm TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968), tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân miền Nam VN tại các thành phố, thị xã do Mĩ và chính quyền Sài Gòn chiếm đóng, nhằm tạo bước ngoặt lớn, chuyển chiến tranh CM miền Nam sang thời kì mới - thời kì giành thắng lợi quyết định. Lực lượng địch khoảng hơn 1 triệu 200 nghìn quân (quân Mĩ 542.000, quân các nước phụ thuộc Mĩ 57.800, QĐ Sài Gòn 650.000). Sau khi đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược của Mĩ trong các mùa khô 1965-66 và 1966- 67, thu hút và giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng địch ở Khe Sanh (x. chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, 20.1-15.7.1968) , đêm 30 rạng 31.1.1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân) quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lị, thị trấn; tập trung đánh vào nội thành và các cơ quan đầu não (dinh Độc Lập, tòa đại sứ Mĩ, BTTM, BTL hải quân, Tổng nha cảnh sát, đài phát thanh Sài Gòn...), các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng lớn, nhiều SCH cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của địch...; giành nhiều thắng lợi, trong đó làm chủ cố đô Huế 25 ngày (x. tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968, tiến công Huế Xuân Mậu Thân 1968...). ở nhiều vùng nông thôn, được sự hỗ trợ của LLVT, nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, đập tan bộ máy chính quyền địch. Tuy nhiên các địa phương không đạt được mục tiêu và không diễn ra tổng khởi nghĩa như dự kiến. Kết quả sau gần 2 tháng, ta diệt và làm tan rã 150.000 địch, phá hủy khoảng 34% khối lượng vật tư chiến tranh của Mĩ và QĐ Sài Gòn. TTCVNDXMT1968 giành thắng lợi quan trọng, đánh bại cố gắng QS cao nhất của Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mĩ, làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ, buộc Mĩ phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mĩ về nước, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc và chấp thuận đàm phán với ta ở hội nghị Pari (1968-73); để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức và thực hành tiến công trong thành phố, về sử dụng và phối hợp lực lượng, kết hợp giữa tiến công QS và nổi dậy của quần chúng, giữa tác chiến trong nội đô và đánh địch ở vùng ven,... tạo cơ sở nghiên cứu, vận dụng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 giành thắng lợi (x. minh họa giữa trang 176 và 177). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67979791_461373621259190_7938477710639104000_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHkmH-2c7hEw3y4wcygfr6_i9iR3vN2OA1uQG4PE2TsWUFSf2Blqo0Asf4IzmicZQ3LVmysXgUSCLWgzEIdU49nHyE-_zOrsWP158WVv2Fycg&_nc_oc=AQmXfzbzWVkZw67K6by7ZZUJhcTM3AM_RDOv7j1wPNv38JnWMDqOhiBW2WgWY6hBZjs&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=69cd087aa0696a035814aac6b2442e52&oe=5DDD6AE5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:28:02 pm TỔNG TRẠM THÔNG TIN, tổ hợp về tổ chức, kĩ thuật của lực lượng thông tin và tự động hóa chỉ huy được triển khai trong khu vực SCH hoặc vị trí chuyển tiếp, phân phối kênh thông tin; thành phần quan trọng của hệ thống thông tin. Theo điểu kiện bố trí và trang thiết bị thông tin, có; TTTT cố định và TTTT cơ động; theo ý nghĩa sử dụng, có: TTTT SCH và TTTT bổ trợ. Thành phần của TTTT thường có; cụm (trạm) vô tuyến điện, cụm (trạm) vồ tuyến điện tiếp sức, đối lưu; trạm điện thoại, trạm điện báo, trạm tạo kênh, trạm nguồn điện, trạm thông tin quân bưu, cụm xe chỉ huy tham mưu, phương tiện tự động hóa chỉ huy, vị trí điều hành TTTT... Yêu cầu cơ bản của TTTT là: vững chắc, dung lượng thích hợp; tổ chức đơn giản và sử dụng thuận tiện, phải kết hợp chặt chẽ các thành phần trong tổng trạm, không gây nhiều lẫn nhau và bảo đảm bí mật. TỔNG TRẠM THÔNG TIN BỔ TRỢ, tổng trạm thông tin triển khai ngoài khu vực SCH bảo đảm liên lạc với các đối tượng xa SCH, hoặc đang cơ động, nhằm nâng cao tính vững chắc và cơ động của hệ thống thông tin; thành phần của hệ thống thông tin quân sự. Thường tổ chức từ cấp chiến dịch trở lên. Yêu cầu: đơn giản về tổ chức, thuận tiện trong khai thác, sử dụng, triển khai, di chuyển, thu hồi nhanh, bảo đảm liên lạc vững chắc, bí mật và an toàn. TỔNG TRẠM THÔNG TIN CỐ ĐỊNH, tổng trạm thông tin được triển khai trong nhà hoặc trong các công trình kiên cố, lâu bền trong khu vực SCH cố định (thường xuyên), để bảo đảm liên lạc trong nội bộ SCH cố định, giữa SCH cố định với các SCH cấp mình và SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan: thành phần của hệ thống thông tin cố định. TTTTCĐ gồm các lực lượng thông tin và tự động hóa chỉ huy. Yêu cầu: bảo đảm liên lạc vững chắc, ổn định, bí mật, an toàn, dung lượng hợp lí và không gây nhiễu lẫn nhau. TỔNG TRẠM THÔNG TIN CƠ ĐỘNG, tổng trạm thông tin được triển khai trên các phương tiện cơ động để bảo đảm liên lạc trong SCH cơ động, giữa SCH cơ động với SCH cố định cấp mình và các SCH cấp trên, cấp dưới, đơn vị có liên quan. TTTTCĐ thường trang bị phương tiện thông tin gọn nhẹ (mang, xách) hoặc lắp đặt trên các phương tiện cơ giới (ô tô, tàu thủy, máy bay...). Yêu cầu: tổ chức đơn giản, khai thác sử dụng thuận tiện, triển khai, thu hồi, di chuyển nhanh, dung lượng hợp lí và bảo đảm liên lạc vững chắc, bí mật trong quá trình cơ động. TỔNG TRẠM THÔNG TIN SỞ CHỈ HUY. tổng trạm thông tin triển khai trong khu vực SCH (trạm phát hoặc cụm vô tuyến điện sóng ngắn triển khai ngoài khu vực SCH) để bảo đảm thông tin liên lạc trong SCH, với các SCH cấp mình, SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan; thành phần quan trọng nhất của hệ thống thông tin quân sự. Có TTTTSCH: cố định, cơ động. Theo tính chất nhiệm vụ, có TTTTSCH: cơ bản, phía trước, phía sau, bổ trợ...; thường gồm: trạm điện thoại, trạm phát, trạm thu, cụm vô tuyến điện sóng ngắn, cụm vô tuyến điện sóng cực ngắn, tiếp sức (vi ba), trạm thông tin quân bưu, trạm thông tin tín hiệu, trạm nguồn điện... Yêu cầu của TTTTSCH: vững chắc, cơ động, dung lượng hợp lí, triển khai, thu hồi nhanh, sử dụng thuận tiện không gây nhiễu lẫn nhau và bảo đảm bí mật. TỔNG TRẠM THÔNG TIN SỞ CHỈ HUY BỔ TRỢ, tổng trạm thông tin được triển khai trong khu vực SCH bổ trợ để bảo đảm thông tin liên lạc nội bộ SCH bổ trợ, giữa SCH bổ trợ với các SCH cấp mình, SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan. Được tổ chức từ cấp chiến dịch trở lên. Yêu cầu: tổ chức đơn giản, khai thác thuận tiện, triển khai, sử dụng, di chuyển, thu hồi nhanh, dung lượng hợp lí và bảo đảm liên lạc bí mật, vững chắc. TỔNG TRUỞNG QUỐC PHÒNG, chức vụ đứng đầu BQP dưới chính quyền Bảo Đại (1949-54) và chính quyền Sài Gòn (1955-75). Chức TTQP thường do thủ tướng (hoặc phó thủ tướng) kiêm nhiệm. TỔNG TƯ LỆNH, chức vụ chỉ huy cao nhất của LLVT (QĐ) nhiều nước; thường do tổng thống, chủ tịch nước, chủ tịch hội đồng nhà nước kiêm nhiệm. Ở VN, chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền tổng chỉ huy (TTL) QĐ toàn quốc cho Võ Nguyên Giáp theo sắc lệnh số 230 ngày 30.11.1946 (xt Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam). Một số nước có TTL: chiến trường tác chiến chiến lược (Nga, đầu tk 19), hướng chiến lược, quân chủng, cụm bộ đội đóng ở nước ngoài (LX), LLVT hợp nhất (Tổ chức hiệp ước Vacsava), liên binh đoàn LLVT (khối NATO)... TỐNG (H. Song, Vũ Hán - C), lớp tàu ngầm tuần tiễu của hải quân TQ, kết cấu tương đương với tàu ngầm lớp Minh. Chiếc đầu tiên được hạ thủy ở xưởng đóng tàu Vũ Hán (5.1994), thử nghiệm trên biển 8.1995. Tính năng chiến - kĩ thuật: lượng giãn nước nổi 1.700t; lượng giãn nước ngầm 2.250t; kích thước 74,9x8,4x5,3m. Máy chính: 3 động cơ diezen MTU 12V493; 3 máy điện, 1 môtơ, 1 trục chân vịt. Tốc độ đi nổi 15 hải lí /h, đi ngầm 22 hải lí /h. Quân số: 60 (10 sĩ quan). Vũ khí trang bị: 6 ống phóng ngư lôi 533mm, 2 loại ngư lôi Yu-4 (SAE T-60) và Yu-1 (53-51); có thể thay thế bằng thủy lôi. Có khả năng phóng tên lửa đối hải, tên lửa chống ngầm. Được lắp đặt hệ thống kiểm tra bắn, hệ thống trinh sát thủy âm tiên tiến của Nga. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:29:53 pm TỐNG BÌNH, huyện thuộc q. Giao Chỉ (nhà Đường đổi thành Giao Châu) thời Bắc thuộc. Đặt từ đời Hiếu Vi nhà Nam Tống (454-464), tách từ h. Long Biên thời Tấn, sau đổi thành quận. Sau khi thống nhất TQ (589) và chiếm nước Vạn Xuân (602), nhà Tùy đặt lại TB làm huyện. Địa bàn thuộc nam Hà Nội (phần phía nam Sông Hồng và Sông Đuống), đông Hà Tây, bắc Hưng Yên và nam Bắc Ninh; trị sở tại khu vực nội thành Hà Nội ngày nay. Từ thời Đại Nghiệp (605- 616) là quận trị quận Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 4 nhà Đường (621) đổi thành Tống Châu, năm thứ 6 thành châu Nam Tống. Năm Trinh Quán thứ 1 (627) bỏ châu, tách một phần khôi phục lại TB. Từ năm Bảo Lịch thứ 1 (825) là phủ trị An Nam đô hộ phủ. Trương Bá Nghi cho xây thành đất để phòng thủ (767), sau được Cao Biền củng cố (866), thường được gọi là La Thành. TỐNG DUY KIÊN (1942-72), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Hà Bắc, h. Hà Trung, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1961; đv ĐCS VN (1966); khi hi sinh là trung úy, đội trưởng Đội đặc công 1, Đoàn 126, BTLhải quân. Trong KCCM, xây dựng Đội đặc công 1 và nhiều cơ sở trong nhân dân, tạo điều kiện cho đơn vị đánh tàu địch tại Cửa Việt, Đông Hà (Quảng Trị). 1966-72 chỉ huy đơn vị chiến đấu 52 trận, đánh chìm, đánh hỏng 47 tàu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch (TDK đánh chìm 4 tàu). 5.1967 cùng một đồng đội vượt qua nhiều vật cản, dùng khối thuốc nổ đánh chìm tàu cuốc lớn của Mĩ tại cảng Cửa Việt. 6.1970 chỉ huy trận đánh cảng cứa Việt, dùng 5 quả thủy lồi HAT2 diệt 5 tàu địch, khởi đầu thời kì sử dụng thuốc nổ có khối lượng lớn đánh tàu, đạt hiệu suất chiến đấu cao. 1972 chỉ huy 1 tổ luồn sâu vào vùng sau lưng địch tại Thừa Thiên-Huế, chuẩn bị cơ sở để mở hướng tác chiến mới. TDK hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hi sinh. Huân chương: 4 Chiến công hạng ba, 3 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67500006_461354737927745_7632131566159790080_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEQwgzfixZUtI08IcbSwuehkKVSMlCRvgD5YRdZGtaQsHx_kG8lxhUn-Ytbv3nK6INFRHDiRuGzaTJ67cTLX5re3QpTscPGwHGmHZEj0ra5Tw&_nc_oc=AQkiZgdZpFtb4MR2YitbBzsnk3ZgxWDPGFeurnpcQ485dkOa9kck1UFqEZGmAVbhiLY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d24109c9235c6baf496f76337d23467d&oe=5DD9B20D) TỐNG DUY TÂN (1837-92), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (188&-92), thuộc phong trào Cần Vương (1885-95). Quê làng Bồng Trung, xã Đông Biện (nay là xã Vĩnh Tán, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). 1875 đỗ tiến sĩ, được bổ chức tri phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), sau cáo quan về dạy học. Khi Tôn Thất Thuyết làm tổng đốc Thanh Hóa, TDT được mời làm đốc học, chuyển sang Thương biện tinh vụ, rồi lãnh chức chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa. 1885 hưởng ứng “Chiếu Cần Vương" của vua Hàm Nghi, TDT cùng Cao Điển chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ chống Pháp tại vùng núi Hùng Lĩnh (Nông Cống, Thanh Hóa), phối hợp hoạt động với các lực lượng khởi nghĩa khác trong tỉnh. Bị quân Pháp khủng bố sau khi khởi nghĩa Ba Đình (1886-87) thất bại, TDT phải tạm lánh ra Sơn Tây. 1889 trở về Thanh Hóa tiếp tục gây dựng lại phong trào ở vùng Yên Định, Vạn Lại, Nông Cống, Thọ Xuân, giành được một số thắng lợi, nổi bật là trận Niên Kỉ (18.5.1892). Ngày 5.10.1892 bị phản bội, TDT bị Pháp bắt ở xã Thiết Ống (Bá Thước, Thanh Hóa), xử chém tại tỉnh lị Thanh Hóa (15.10.1892). TÔNGA (Vương quốc Tônga; Pule’anga Fakatu’i ‘o Tonga, A. Kingdom of Tonga), quốc gia ở tây nam Thái Bình Dương, trên quần đảo Tônga, thuộc Châu Đại Dương. Dt 750km2; ds 108 nghìn người (2003); chủ yếu người Tonga. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tônga, tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Tin Lành. Thủ đô: Nacualôpha. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: hội đồng lập pháp (quốc hội). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Lãnh thổ gồm 175 đảo, tạo thành 2 chuỗi đảo, chuỗi phía tây có nguồn gốc núi lửa, nhiều núi lửa đang hoạt động, đỉnh cao nhất 1,029m; chuỗi phía đông là các đảo san hô, cao 200m. Khí hậu nhiệt đới, lượng mưa lớn. Nước nông nghiệp; dừa là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. GDP 142 triệu USD (2002), bình quân đầu người 1.410 USD. Thành viên LHQ (14.9.1999), Khối liên hiệp Anh. LLVT; khoảng 200 cảnh sát (không có QĐ). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68535623_461354764594409_5893030506928275456_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeE8rvzdep5fjEg0_nTP_WA5-M08fy8EzF2jsQ1OGZLCgMHcCxWRRJI5xEKe6SaoH9CxwNsAVGNdEVGWAKZyM3p4Fx5d7CiQRpEn8RNol6763Q&_nc_oc=AQl2FKDUUzfP9NxlQalJNhjaFA2Stb92qs4RETfBgYhBzlK99VDYpNY15N7BS1pcjgM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d5d57f5a3f4dfc7a7186d7987f67167b&oe=5DE575D5) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:31:23 pm TỐT (cổ), đơn vị tổ chức của quân đội Đinh, liền trên ngũ, dưới lữ. T có số quân 100 người (mỗi T gồm 10 ngũ; mỗi ngũ 10 người). Trong QĐ TQ thời nhà Chu, 1 T cũng gồm 100 người (mỗi T gồm 4 lạng; mỗi lạng gồm 5 ngũ; mỗi ngũ 5 người). TỐT ĐỘNG (Tụy Động, Làng Rét), làng thuộc h. Chương Đức, trấn Sơn Nam (nay là xã Tốt Động, h. Chương Mĩ, t. Hà Tây). Nằm trên vùng đồng chiêm trũng, đất thấp, lầy lội giữa Sông Bùi và Sông Đáy, gần Ngã Ba Thá, cách tx Hà Đông khoảng 20km về phía tây nam. Nơi nghĩa quân Lam Sơn tổ chức trận địa phục kích thứ nhất, tiêu diệt bộ phận tiền quân của quân Minh trong trận Tốt Động - Chúc Động (5- 7.11.1426). TƠCNƠ GIOI (A. Turner Joy), tàu khu trục hạng nhẹ của hải quân Mĩ thuộc lớp Phoret Sơmen, số hiệu DD-951. Dài 127,4m, rộng 13,7m; mớn nước 6,lm, lượng choán nước tiêu chuẩn 2.800t; tốc độ tối đa 33 hải lí/h (61km/h). Công suất động cơ 54.000kW. Trang bị 3 bệ pháo 127mm (mỗi bệ 1 nòng), 3 giàn phóng ngư lôi MK-32 (mỗi giàn 3 ống phóng), 2 bệ phóng bom chìm chống ngầm. Biên chế 292 người (17 sĩ quan). Hạ thủy 3.8.1959, hoạt động trong thành phần Hạm đội 7 Mĩ. 4.8.1964 cùng với tàu Mađôc xâm phạm vùng biển miền Bắc VN, tạo cớ cho chính quyền Mĩ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964). TPO-50 (N. TnO-50), súng phun lửa bộ binh (hóa học) hạng nặng dùng để tiêu diệt sinh lực trong và ngoài công sự, thiêu hủy các phương tiện KTQS đối phương bằng chất cháy. Súng có 3 nòng nối trực tiếp vào 3 bình chứa hỗn hợp cháy, dung tích mỗi bình 21 lít, lắp trên giá súng có 2 bánh xe, nặng 173kg. Mỗi bình chứa hỗn hợp cháy có vòi phun, cơ cấu châm lửa và thuốc phóng để tạo áp suất phóng hỗn hợp (60at). Bắn bằng cơ cấu điểm hỏa (cơ khí) hoặc điện. Tầm bắn hiệu quả 180m, 2 người sử dụng. Ưu điểm: chứa được một lượng chất cháy lớn, có thể phun bắn nhiều lần. Tương tựTPO-50 có M-132, ABC-M10-8 (Mĩ) gắn trên xe bọc thép, tầm bắn 180m, tần suất bắn 30-40 lần/phút. QĐND VN được trang bị TPO-50 vào dầu những năm 60 tk 20, chiến đấu có hiệu quả trong KCCM. TRA NẠP XĂNG DẦU, thao tác kĩ thuật tiến hành khi cấp phát xăng dầu cho các phương tiện, thiết bị sử dụng (máy bay, tàu thuyền, xe chiến đấu, phương tiện vận tải, xe máy công trình, máy phát điện...) bằng cách sử dụng các phương tiện, thiết bị chuyên dùng (xe tra nạp, máy bơm, cột tra, súng tra...). Khi tiến hành TNXD phải bảo đảm đúng số lượng, chất lượng, giảm hao hụt và bảo đảm an toàn bằng các phương tiện chuyên dùng. Theo phương pháp tiến hành, TNXD có: tra nạp kín và tra nạp hở. Theo điều kiện thực hiện (đối với các loại xe chiến đấu phục vụ chiến đấu), có TNXD cho xe: trong khu vực cấp phát cố định, trong điều kiện dã ngoại, trong hành quân, trong chiến đấu. TRÀ KHÚC, sông ở t. Quảng Ngãi, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua thị trấn Sơn Hà, tx Quảng Ngãi, đổ ra Biển Đông tại cửa Trà Khúc (Cổ Lũy), dài 120km. Giữa sông có nhiều cồn cát, thuyền bè đi lại khó khăn. TRÀ KIỆU, làng thuộc xã Duy Sơn, h. Duy Xuyên, t. Quàng Nam, cách Đà Nẵng 35km về phía nam, nơi có di tích kinh thành Simhapura (thành Sư Tử), kinh đó đầu tiên và tồn tại lâu dài nhất (đến cuối tk 10) của vương quốc Chămpa (Chiêm Thành). Kinh thành được xây dựng cuối tk 3 đầu tk 4 dưới đời vua Bađravacman (Phạm Hồ Đạt), gồm nhiều thành quách, cung điện, đền tháp...; bị chiến tranh tàn phá và hư hại theo thời gian, hiện chỉ còn lại các nền tháp lớn. TRÀ LÍ, sông nhánh của Sông Hồng, thuộc t. Thái Bình, từ Thượng Hỗ, xã Hồng Xuân, Vũ Thư, đổ ra cửa Trà Lí. Dài 65km, rộng trung bình 100-150m, sâu 3-5m, lòng sông nhiều bãi bồi, mùa cạn tàu thuyền đi lại khó khăn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:33:09 pm TRÀ VINH, tỉnh ở đồng bằng sông cửu Long; đông bắc giáp Bến Tre, tây bắc giáp Vĩnh Long, tây nam giáp Sóc Trăng, đông nam giáp Biển Đông. Dt 2.225,67 km2; ds 1,0 triệu người (2003); phần lớn người Kinh, còn lại là người Khơme, người Hoa. 1889 lập tỉnh do tách phủ Lạc Hóa của t. Vĩnh Long. 1951 sáp nhập với t. Vĩnh Long thành t. Vĩnh Trà. 1954 tái lập tỉnh. 8.10.1957 đổi TV thành Vĩnh Bình. 2.1976 sáp nhập với Vĩnh Long thành t. Cửu Long. 12.1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Trà Vinh. Địa hình bằng phẳng, ba mặt giáp sông biển, bờ biển dài 65km với hai cửa biển: Cung Hầu, Định An. Khí hậu nhiệt đới hai mùa; nhiệt độ trung bình trong năm 26,5°C, lượng mưa 1.400mm/năm. Các sông: sông Cổ Chiên, Sông nền, Sông Hậu, sông Ma Thít, kênh mương dày đặc, thuận lợi cho giao thông đường thủy. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 1.018 nghìn tấn (lúa 1.005 nghìn tấn); sản lượng thủy sản 103 nghìn tăn. Các ngành còng nghiệp: cơ khí sửa chữa, chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 771,5 tỉ đồng. Giao thông thủy, bộ phát triển. Sân bay: Trà Vinh, Long Toàn. Cảng sông: Trà Vinh. Phong trào chống Pháp của Phan Tôn, Phan Liêm (1867), khởi nghĩa Ba Động. Trong KCCP, KCCM diễn ra các trận đánh ác liệt: trận La Bang (1948), chiến dịch Cầu Kè (1949), Trà Vinh (1950), đồng khởi (1960), chiến thắng (1968). Ngày 6.11.1978, LLVTND Trà Vinh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67293723_461354774594408_6568758523356774400_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHEo79SC6JDydXleAjCuzIt7ZR9JGUfyHmLIqRZY1no8i39DkbBMkfoMrrsyKqMSpkdGn7dZwxjWRHFiYz_ugG5pdu_yaA1AEWtEhb6fYhP7Q&_nc_oc=AQmhpnG5A_6RtXvrw8vkPdl9Z7Me5BJLGvcDZ92vYLMo8krNSXS4jSCYYiMzMJ3KRZg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6fd742b7814fc077b4fa72634829af6d&oe=5DEDDCC6) TRẠI TẬP TRUNG, nhà tù tập trung người thuộc lực lượng đối kháng hoặc tù binh, nhằm thực hiện mục đích chính trị của các chính quyền phản động, phát xít. Nạn nhân của TTT thường là những người bị kì thị chủng tộc, bị coi là đối kháng, bị bắt trong chiến tranh... Ở TTT, con người bị đầy ải, dùng làm vật thí nghiệm y học, sinh học,... bị cưỡng bức lao động đến chết, bị tra tấn, bắn giết không cần xét xử. Trong CTTG- II, phát xít Đức lập ra các TTT người Do Thái, TTT công dân nước ngoài bị bắt để cưỡng bức lao động và thực hiện sự hủy diệt bằng các lò thiêu người (điển hình là Trại tập trung Bukhenvan, nơi đã thủ tiêu 56.000 tù nhân thuộc 18 dân tộc trên thế giới). Trong các cuộc chiến tranh xâm lược VN, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai đã lập ra nhiều nhà tù, dồn dân vào ấp chiến lược, thực chất là những TTT để khủng bố nhân dân và đàn áp phong trào CM. TRẠI TẬP TRUNG BUKHENVAN, trại tập trung của phát xít Đức giam giữ tù binh và những người chống chủ nghĩa phát xít trong CTTG-II; xây dựng 1937 ở ngoại vi tp Vâymai (Đức). 1937-45 trại đã giam giữ hơn 239.000 người. Tù nhân thường bị khủng bố, tra tấn dã man và làm vật thí nghiệm cho các chuyên gia y tế phát xít. Hơn 56.000 người thuộc 18 dân tộc bị chết trong ngục tù; hơn 10.000 người bị hành quyết, trong đó có lãnh tụ cộng sản Đức E. Tenlơman. Tại TTTB các tù nhân có nhiều hoạt động bí mật, đấu tranh chống phát xít: lập ra ủy ban quốc tế (1943) do chiến sĩ cộng sản Đức V. Baten lãnh đạo, tuyên truyền chống phát xít, tiêu diệt khủng bố, chuẩn bị vũ khí... 11.4.1945 nhân thời cơ tan rã của QĐ phát xít, ủy ban quốc tế được thành lập trong TTTB đã kịp thời lãnh đạo tù nhân đứng lên khởi nghĩa, bắt hơn 800 lính SS và lính gác, chiếm vũ khí, phá tan trại tập trung, cứu được hàng chục ngàn người (trước đó, lực lượng phát xít đã có lệnh giết hết các tù nhân). 1958 tại khu vực Bukhenvan đã khánh thành tượng đài kỉ niệm các tù nhân hi sinh trong trại tập trung này. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:35:27 pm TRẠI TÙ BINH. nơi giam tập trung tù binh. Theo các điều ước quốc tế (công ước La Hay 1907; công ước Giơnevơ 1929 và 1949; nghị định thư Giơnevơ 1977), TTB của các nước phải: đảm bảo điều kiện ăn ở cho tù binh như binh sĩ nước họ; không ngược đãi, sỉ nhục, dọa nạt, không sử dụng tù binh làm vật thí nghiệm khoa học (y học, sinh học). Trong TTB, tù binh phải được tự do, nếu lao động phải được trả công, sau chiến tranh tù binh phải được phóng thích theo các hiệp định mà các bên tham chiến đã kí kết. Trong thực tế, ở các TTB của các chính quyền phản động, phát xít, tù binh bị ngược đãi vô nhân đạo, bị khủng bố dã man cả tinh thần và thân xác bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mặt. TRẠM BỔ TRỢ THÔNG TIN HŨU TUYẾN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc hữu tuyến điện làm nhiệm vụ liên lạc giữa tổng trạm thông tin sở chỉ huy với các đối tượng tác chiến trên hướng độc lập hoặc ở xa các SCH không có điều kiện tổ chức liên lạc hương (liên lạc trực tiếp) qua hữu tuyến điện. TBTT- THTĐ thường triển khai các máy: tổng đài, điện thoại, tải ba... và các trang bị đồng bộ. TRẠM CHUYỂN THƯƠNG, tổ chức quân y thiết lập trên tuyến giao thông QS trong thời chiến làm nhiệm vụ vận chuyển thương binh, bệnh binh từ các địa bàn chiến dịch và chiến trường về hậu phương. Có từ KCCP trong một số chiến dịch lớn (chiến dịch Trung Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ...). Trong KCCM được tổ chức thành hệ thống trên tuyến vận tải QS chiến lược từ nam Quân khu 4 ra phía bắc (nam Hà Nội). Nhiệm vụ của TCT: tiếp nhận, phân loại, điều trị hộ lí, nuôi dưỡng và hậu tống vận chuyển thương binh, bệnh binh đến các cơ sở điều trị, an dưỡng theo quy định. Thường biên chế 30-70 cán bộ, nhân viên (trong đó 1/3 là nhân viên chuyên môn), do một bác sĩ phụ trách. TCT tương đương cấp tiểu đoàn và trực thuộc binh trạm vận tải QS. Trạm được trang bị một số xe vận tải chuyên dụng (ô tô chuyển thương) và kết hợp với lực lượng vận tải cơ giới của binh trạm để vận chuyển thương binh, bệnh binh, về năng lực chuyên môn, TCT tương đương bệnh xá trung đoàn. Một số TCT được tổ chức kết hợp với bệnh xá (bệnh xá - chuyển thương) hoặc trạm giao liên (trạm giao liên - chuyển thương). TRẠM CHUYỂN TIẾP, trạm thông tin liên lạc làm nhiệm vụ chuyển tiếp nội dung liên lạc giữa các đài (trạm) trên đường truyền tin để tăng cự li liên lạc. Thường có: TCT thông tin vô tuyến diện, TCT thông tin hữu tuyến điện, TCT thông tin quân bưu (vận động) và TCT thông tin tín hiệu. Có TCT tích cực (chủ động) và thụ động. TCT tích cực thường sử dụng các thiết bị thu, phát tự động hoặc nhân công để chuyển tiếp liên lạc. TCT thụ động thường sử dụng thiết bị phản xạ để chuyển tín hiệu giữa 2 anten khi liên lạc vô tuyến điện tiếp sức (viba). Số lượng TCT trên đường truyền tin phụ thuộc vào cự li liên lạc, tính năng chiến - kĩ thuật của máy và điều kiện địa hình, thời tiết... Cg trạm trung gian hoặc trạm giữa. TRẠM CHUYỂN TIẾP VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN X. TRẠM TRUNG GIAN (CHUYỂN TIẾP) VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN TRẠM (ĐÀI) DẪN ĐƯỜNG VÀ CHỈ THỊ MỤC TIÊU, trạm (đài) điều khiển máy bay có người lái, đang bay ở trên không. Có nhiệm vụ dẫn máy bay đến khu vực tác chiến (mục tiêu trên không, trên mặt đất, mặt nước) và đảm bảo cho máy bay đó không bị phương tiện phòng không của bên dẫn đường bắn nhầm. Trạm (đài) có thể đặt ở mật đất, trên máy bay và trên tàu hải quân. TRẠM ĐIỆN BÁO, tổ hợp về mật tổ chức, kĩ thuật của các thiết bị điện báo, truyền chữ, truyền ảnh, truyền số liệu và các thiết bị khác để bảo đảm liên lạc điện báo bằng phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TĐB thường được tiếp hợp với trạm điện thoại; trạm tạo kênh... Hiện nay TĐB được tổ chức chủ yếu ở tổng trạm thông tin cấp chiến lược và chiến dịch. TRẠM ĐIỆN THOẠI, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các thiết bị tổng đài, máy diện thoại và các thiết bị khác, để bảo đảm thông tin hữu tuyến điên, và thông tin vô tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TĐT thường được tiếp hợp với trạm điện báo, trạm tạo kênh... TĐT có thể chuyển tiếp liên lạc bằng tự động hoặc nhân công và thường bố trí ở trung tâm tổng trạm thông tin. TRẠM ĐIỂU CHỈNH GIAO THÔNG, tổ chức cố định hoặc lâm thời trên các tuyến giao thông thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, điều chỉnh, phân luồng, giải tỏa lực lượng và các phương tiện tham gia giao thông, nhằm đảm bảo giao thông thông suốt. TĐCGT được lập ở những nơi xung yếu và đầu mối giao thông quan trọng, thường do lực lượng của các ngành công an, giao thông và QS phối hợp tổ chức. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:37:43 pm TRẠM ĐO PHÔNG THIÊN NHIÊN, trạm theo dõi tình hình nhiễm xạ trong không khí, trên cơ sở phát hiện những đột biến tình hình phóng xạ trong khoảng không, nhằm báo động, bảo vệ môi trường chiến đấu và sinh hoạt trong từng khu vực. TĐPTN nằm trong trung tâm tính toán phân tích hóa học - phóng xạ, trực thuộc binh chủng hóa học, và có thể có ở một số đơn vị khác. 1986 sau sự cố Nhà máy điện nguyên từ Trecnôbưn (LX), ở VN, các TĐPTN của Binh chủng hóa học đã theo dõi và cung cấp các số liệu tin cậy cho nhà nước. TRẠM GIANG, thành phố cảng, căn cứ hải quân của Hạm đội Nam Hải (TQ), đông bán đảo Lôi Châu, t. Quảng Đông. 1898 bị Pháp chiếm (gọi là "Quảng Châu Loan”), TQ thu hồi 1945. Có công nghiệp hóa chất, dệt, thực phẩm và cơ khí. Tổng chiều dài các cầu cảng 9km, sâu 10m, có thể tiếp nhận tàu 10 nghìn tấn. TRẠM GIAO LIÊN, tổ chức được thiết lập trên tuyến (đường) giao thông để làm nhiệm vụ liên lạc, dẫn đường, tải thương và vận chuyển hàng QS trong thời chiến. Có từ KCCP với tên gọi: “trạm liên lạc”, “trạm giao thông”. Trong KCCM, được tổ chức thành hệ thống trên tuyến vận tải QS chiến lược Bắc - Nam (xt Đoàn 559). TGL tương đương cấp đại đội, thuộc tiểu đoàn giao liên (mỗi tiểu đoàn giao liên thường gồm 5-7 TGL). Mười năm cuối của KCCM (1965-75). TGL không làm nhiệm vụ vận chuyển hàng QS. TRẠM GIỮA nh TRẠM CHUYỂN TIẾP TRẠM HIỂN LƯƠNG (Trạm 54), trạm biên phòng đóng tại phía bắc cầu Hiền Lương trên QL 1, đơn vị bảo vệ giới tuyến QS tạm thời, thuộc Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh. Thành lập 8.1954. Có nhiệm vụ: bảo vệ lá cờ Tổ quốc ở đầu cầu phía bắc, kiểm soát việc di lại, trao đổi bưu thiếp, thư tín giữa hai miền, quan hệ giao dịch với cảnh sát của Chính quyền Sài Gòn trên cầu Hiền Lương. 1954-62, đã 24 lần làm thất bại các cuộc hội họp lớn của địch, 32 lần đẩy đuổi các phái đoàn Mĩ và Chính quyền Sài Gòn xâm nhập trái phép khu phi QS, điển hình vụ 28.4.1962, đã đẩy đuổi phái đoàn QS gồm 60 tướng tá do trung tướng Trần Văn Đôn, bộ trưởng Công an dân vụ và Ngô Trọng Hiếu, bộ trưởng chiến tranh tâm lí của chính quyền Sài Gòn làm trưởng đoàn xâm nhập trái phép khu phi QS bờ nam sông Bến Hải. THL đã giáo dục, vận động và tranh thủ được 348 cảnh sát ngụy, 14 lần đấu tranh với địch sơn lại cầu Hiền Lương, bắt giữ gần 200 trường hợp vượt tuyến trái phép. Trong KCCM, lá cờ Tổ quốc chưa một lần ngừng bay ở giới tuyến mặc dù bị địch ném bom, bắn phá 192 lần (khoảng 7.000t bom, 2.000 quả đại bác, 5 lần bị rải chất độc hóa học) trên diện tích chưa đầy 2ha; trạm đã bắn rơi 1, bắn bị thương 2 máy bay. 15.5.1976 THL làm nhiệm vụ ở đồn biên phòng cửa khẩu Lao Bảo. Huân chương: Quân công hạng ba, 4 Chiến còng các loại. Trạm trưởng đầu tiên: Nguyễn Anh Thạc. TRẠM KIỂM SOÁT BIÊN PHÒNG, trạm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và làm thủ tục cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại biên giới quốc gia hoặc ra vào khu vực biên giới; một bộ phận của đồn biên phòng, thuộc sự chỉ huy trực tiếp của đồn trưởng đồn biên phòng. Được đặt ở các cửa khẩu: đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển, cửa sông, cửa lạch và kể cả các điểm qua lại biên giới hoặc đường ra vào khu vực biên giới... Biên chế do cấp trên quy định, có trạm trưởng, trạm phó và nhân viên nghiệp vụ được đào tạo cơ bản tại các trường của bộ đội biên phòng. TRẠM KIỂM SOÁT CỬA HỘI (Đồn 96), trạm biên phòng đóng tại xã Nghi Hoà, h. Nghi Lộc, t. Nghệ An, trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1970 và 1973). Thành lập 1.1959. Có nhiệm vụ: kiểm soát biên phòng, bảo vệ tàu thuyền trong nước và nước ngoài qua cửa sông Bến Thủy vận chuyển hàng hóa phục vụ tiền tuyến. Đã phát hiện 87 trường hợp vi phạm quy chế biên phòng (có 39 trường hợp phải xử 10; 136 lần tàu ra, vào không hợp lệ (có 9 lần tàu mang hàng lậu); giúp địa phương tổ chức các tổ đội đánh cá, bảo đảm sản xuất, chiến đấu tốt, góp phần đưa 3 xã ở địa bàn trở thành đơn vị tiên tiến và đơn vị quyết thắng. Trong KCCM, cán bộ, chiến sĩ của Trạm phát huy sáng kiến làm vòng phương vị giản đơn, có góc độ và kim chỉ hướng khá chính xác nên đã đánh dấu và phát hiện được 958 quả bom nổ chậm và bom từ trường, phá 50 quả bom từ trường, cứu được 56 người thoát chết, 20 nhà khỏi bị cháy, chuyển được nhiều tài sản của Nhà nước ra nơi an toàn, bắn rơi 2 máy bay Mĩ và phối hợp bắn rơi 2 chiếc khác. Huân chương: 2 Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:39:12 pm TRẠM NGUỒN ĐIỆN THÔNG TIN, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các máy phát điện, máy nắn dòng, ăcquy và các thiết bị phân phối điện... để cung cấp điện cho các thiết bị trong tổng trạm thông tin; thành phần của tổng trạm thông tin. TNĐTT thường bố trí ở phía sau, nơi kín đáo đảm bảo giữ bí mật và yên tĩnh cho SCH và tổng trạm thông tin. TRẠM PHÁT THÔNG TIN VÔ TUYÊN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc chuyên làm nhiệm vụ phát tin tức bằng tín hiệu đến các đối tượng liên lạc; thành phần của tổng trạm thông tin sở chỉ huy. Thường triển khai ngoài khu vực SCH để đảm bảo bí mật và tránh nhiễu ảnh hưởng đến các thành phần khác của tổng trạm thông tin. TPTTVTĐ thường triển khai các máy phát vô tuyến điện sóng ngắn, máy vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), tải ba và các trang bị đồng bộ. Tín hiệu phát theo sự điều khiển từ trạm thu thông tin (điều khiển xa) qua vô tuyến diện tiếp sức (vi ba) hoặc hữu tuyến điện. Cg trạm phát. TRẠM QUAN SÁT BIỂN X. ĐÀI (TRẠM) QUAN SÁT BIỂN TRẠM QUÂN BƯU nh TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU TRẠM QUÂN LƯƠNG, tổ chức (phân đội) trong biên chế ổn định hay tạm thời của ngành quân lương có nhiệm vụ bảo đảm quân lương cho bộ đội. Gồm việc tạo nguồn, khai thác, tiếp nhận, thu mua và dự trữ lương thực thực phẩm; chế biến, cấp phát (cung cấp) quân lương cho các cơ quan, đơn vị. Tổ chức TQL thường có: chỉ huy trạm, các cán bộ nhân viên phục vụ (kế hoạch, tài vụ, kế toán, thủ kho, thủ quỹ,... bộ phận tiếp phẩm, chế biến, kho, bảo vệ và chăn nuôi)... Trong hoạt động TQL được triển khai ở cấp sư đoàn, trung đoàn và các tiểu đoàn độc lập. Thường bố trí ở nơi giao thông thuận tiện, nguồn lương thực, thực phẩm ổn định, điều kiện dự trữ và xuất nhập thuận tiện. TRẠM QUÂN VẬN, bộ phân của các đơn vị vận tải khu vực (binh trạm) bố trí ở bến cảng, sân bay, ga tàu, có nhiệm vụ tổ chức kĩ thuật giao nhận, xếp dỡ, áp tải và vận chuyển cung ngắn lực lượng, vật chất hậu cần kĩ thuật QS. Tùy theo nhiệm vụ, TQV có thể gồm một hoặc một số chốt đặt tại các ga, cảng của nhà nước để làm nhiệm vụ QS. Lực lượng TQV trong thời chiến tương đương cấp đại đội, thời bình là tổ chốt, khi có nhiệm vụ thì huy động lực lượng đơn vị vận tải khu vực tổ chức thực hiện. Tổ chức TQV gồm: cán bộ chỉ huy, lực lượng quân vận áp tải, lực lượng chỉ huy hành quân, phương tiện xếp dỡ, vận chuyển, kho trung chuyển. Tiền thân của TQV là các chốt quân vận của Ban tiếp nhận biên giới thuộc Tổng cục cung cấp ở biên giới Việt - Trung (thành lập 8.1953). TRẠM QUÂN Y, phân đội hoặc một bộ phận phân đội quân y triển khai trên tuyến cứu chữa, vận chuyển trong chiến đấu. Có nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại cứu chữa và chuẩn bị vận chuyển thương binh, bệnh binh về tuyến sau. Thường tổ chức ở cấp sư đoàn (do tiểu đoàn quân y triển khai), trung đoàn (do đại đội quân y trung đoàn triển khai). Một số trường hợp có thể tổ chức TQY tiểu đoàn (do quân y tiểu đoàn triển khai). TQY cũng là một tuyến trong hệ thống tuyến quân y từ đại đội về các tuyến sau. TRẠM QUỸ ĐẠO, khí cụ bay vũ trụ tự động hoàn toàn hoặc có người lái để hoạt động nhiều ngày trên quỹ đạo quanh thiên thể (Trái Đất, Mặt Trăng...). Được đưa lên quỹ đạo dưới dạng đã lắp sẵn hoặc đưa lên từng khối và lắp ráp trong vũ trụ. Được trang bị máy móc để tiến hành nghiên cứu về Trái Đất, các hành tinh khác, không gian vũ trụ, các thí nghiệm y - sinh học, kĩ thuật, công nghệ... Có hệ thống đảm bảo cho tổ bay làm việc và nghỉ ngơi trong chuyến bay. Các TQĐ đã hoạt động: Chào Mừng, Hòa Bình (LX); Xcailap (Mĩ); ISS (quốc tế). TRẠM RAĐA 45, trạm rađa cảnh giới kiêm dẫn đường, thuộc Trung đoàn rada 293, Sư đoàn phòng không 361; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 20.8.1965, thuộc biên chế: Trung đoàn rađa 291 (8.1965-4.1966; 8.1966-11.1969; 11.1972-4.1984); Trung đoàn rađa 290 (11.1969-11.1972); Tiểu đoàn rada 300 (4-11.1984); Trung đoàn rađa 293 (5- 8.1966 và 12.1984). Trong KCCM, cảnh giới kiêm dẫn đường ở Hà Nội (1965-68), Nghệ An (1969-75); phát hiện, thông báo kịp thời, chính xác các tình báo rađa cho các đơn vị hỏa lực phòng không khu vực và dẫn đường cho không quân đánh địch, báo động để nhân dân phòng tránh. 1965-75 phát hiện hàng vạn tốp máy bay địch (có 1.850 tốp ở tầng cao, 5.180 tốp ở tầng thấp). 6.11.1966 phát hiện, dãn đường cho không quân bắn rơi 3 máy bay trinh sát tầng cao (18.000m) không người lái BQM-34 ở tây Mường Xén. 18.4.1967 trong điều kiện nhiễu nặng, dẫn đường cho không quân ta bắn rơi 3 F- 105 ở Thanh Hóa. 17.9.1967 lần dầu dùng rađa P-35 phát hiện, bám sát máy bay trinh sát địch, vừa thông báo cho lực lượng phòng không đánh trả, vừa dẫn đường cho không quân bắn rơi 4 F-4. Ngày 24.4.1968 phát hiện máy bay C-130 phóng máy bay trinh sát không người lái bay thấp ở đảo Long Châu, thông báo kịp thời cho lực lượng phòng không bắn rơi. Một trong hai trạm rađa đầu tiên phát hiện, thông báo máy bay B-52 trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972), có nhiều kinh nghiệm chống tên lửa tự dẫn. Huân chương: 5 Chiến cổng. Trạm trưởng, chính trị viên đầu tiên: Lê Bá Chơn, Bùi Sĩ Nho. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:39:55 am TRẠM RAĐA PHÒNG KHÔNG, phân đội rađa thuộc biên chế các trung đoàn (tiểu đoàn) rađa phòng không. Gồm; các trung đội rađa, thông tin, phân đội (tiểu đội súng máy phòng không, vọng quan sát mắt. Có nhiệm vụ trinh sát (dẫn đường), hoặc trinh sát - dẫn đương và thông báo tình hình trên không. Được trang bị chủ yếu đài rađa các loại, nguồn điện, phương tiện thông tin. Khi làm nhiệm vụ, TRPK tổ chức thành các kíp trắc thủ, phiên ban chiến đấu SCH, kíp chiến đấu toàn trạm. TRẠM SỬA CHỮA TRANG BỊ KHÍ TÀI PHÒNG HÓA, trạm để bảo dưỡng kĩ thuật định kì, sửa chữa vừa và nhỏ các khí tài trinh sát hóa học - phóng xạ, khí tài tiêu tẩy và khí tài phòng hóa khác. Có trạm cơ động và trạm cố định. TRẠM TẠO KÊNH, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các máy tải ba, tải báo, vô tuyến điện tiếp sức, vô tuyến điện đối lưu... và thiết bị chuyển mạch, đo lường,... để tạo ra kênh liên lạc điện thoại, điện báo...; thành phần của tổng trạm thông tin cấp chiến lược, chiến dịch và thường bố trí gần trạm điện thoại (các máy tiếp sức, đối lưu, triển khai ngoài khu vực tổng trạm thông tin). TRẠM TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, nơi cơ quan quân sự địa phương triển khai tập trung, kiêm tra và đưa lực lượng dự bị động viên bàn giao cho đơn vị thường trực của QĐ theo kế hoạch khi có lệnh động viên. Được tổ chức ở cấp huyện (quận, thị xã...) và tỉnh, thành phố. Tùy theo đối tượng tập trung, có: trạm tập trung quân nhân dự bị và trạm tập trung phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân. TTTLLDBĐV được chuẩn bị trong thời bình, bố trí ở khu vực an toàn, thích hợp, có cán bộ, nhân viên của cơ quan QS địa phương và cơ quan dân sự (được trưng tập và huấn luyện nghiệp vụ), sẵn sàng triển khai hoạt động trong thời chiến. TRẠM TẬP TRUNG SƠ BỘ NGUỒN ĐỘNG VIÊN X. TRẠM TẬP TRUNG NGUỒN ĐỘNG VIÊN TRẠM THẢN, xã thuộc h. Phù Ninh, t. Phú Thọ. Nằm bên QL 2, đông nam Chân Mộng 4km, tây bắc Việt Trì khoảng 40km. 17.11.1952 tại khu vực Chân Mộng - Trạm Thản diễn ra trận phục kích của Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, phá hủy 44 xe QS Pháp, loại khỏi chiến đấu hàng trăm địch, góp phần đánh bại cuộc hành quân Loren của Pháp (x. trận Chân Mộng - Trạm Thản, 17.11.1952). TRẠM THÔNG TIN LIÊN LẠC, tổ hợp về tổ chức, kĩ thuật của lực lượng thông tin (thường cùng loại), được triển khai trong khu vực tổng trạm thông tin hoặc trên đường trục liên lạc (trạm chuyển tiếp vô tuyến điện sóng cực ngắn đặt trên điểm cao...), để bảo đảm thông tin liên lạc; thành phần của tổng trạm thông tin sở chỉ huy các cấp hoặc đường trục liên lạc. Theo nhiệm vụ và tính năng kĩ thuật, chiến thuật của phương tiện, có: trạm phát, trạm thu, trạm vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), trạm thông tin quang, trạm điện thoại, trạm thông tin quân bưu, trạm thông tin tín hiệu... Theo cách bố trí, có: .TTTLL cố định và TTTLL cơ động. TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU, trạm thông tin liên lạc có nhiệm vụ tiếp nhận, chuyển đạt các văn kiện, công văn, thư từ, bưu phẩm...; thành phần của tổng trạm thông tin hoặc đường trục thông tin quân bưu. Từ cấp sư đoàn trở lên TTTQB thường có 2 tổ: tổ thu phát văn kiện và tổ thông tin quân bưu. Trong tác chiến, tổ thông tin quân bưu thường bố trí ở nơi kín đáo, ngoài khu vực SCH để giữ bí mật nhưng tiện cơ động cho người và phương tiện. Cg trạm thu phát văn kiện hoặc trạm quân bưu. TRẠM THÔNG TIN VỆ TINH MẶT ĐẤT, tổ hợp thiết bị thông tin, thiết bị truyền dẫn, nguồn điện và các trang bị đồng bộ khác dùng để bảo đảm thông tin liên lạc vệ tinh, thông tin hữu tuyến diện và thông tin vô tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TTTVTMĐ thường được tiếp hợp với các trạm điện thoại, trạm điện báo, trạm tạo kênh... Trang bị của TTTVTMĐ thường có dự bị 100% (để bảo đảm độ tin cậy quá trình thông tin liên lạc) và được bố trí trong nhà (thiết bị anten đặt ngoài trời). Các TTTVTMĐ liên lạc với nhau qua vệ tinh địa tĩnh. Được tổ chức và sử dụng ngày càng rộng rãi trong dân sự và QS. Trong QĐ nhiều nước (Mĩ, Nga...) có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh TTTVTMĐ được tổ chức ở cấp chiến lược và chiến thuật. TRẠM THÔNG TIN VI BA, tổ hợp thiết bị thông tin vi ba để thiết lập đường truyền dẫn thông tin liên lạc. Các thành phần chính: thiết bị thu phát vô tuyến điện dải sóng vi ba. thiết bị ghép, tách kênh, nguồn cung cấp, hệ thống anten. phiđơ và các trang bị bổ trợ khác. Thông thường các thiết bị được lắp đặt cố định trong nhà hoặc trên xe, trừ hệ thống anten đật ngoài trời. Một số TTTVB có thiết bị thu phát VTĐ lắp đặt ngoài trời cùng với hệ thống anten. Theo vị trí đặt trạm trên đường trục thông tin, có TTTVB đầu cuối và TTTVB giữa (trạm trung gian). TTTVB đầu cuối được đặt ở vị trí bắt đầu hoặc vị trí kết thúc của đường trục thông tin vi ba (hoặc vị trí cuối của các đường nhánh). Trạm trung gian có chức năng thu phát chuyển tiếp tự động thông tin truyền đi trên đường trục, ngoài ra còn có thể có chức năng rẽ kênh để kết nối với tổng đài khu vực. TTTVB thường được triển khai ở cấp chiến dịch trở lên. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:42:12 am TRẠM THU HỔI TRANG BỊ, KHÍ TÀI BỊ NHIỄM, trạm tập trung và phân loại vũ khí, trang bị, khí tài, quân trang bị nhiễm độc, nhiễm xạ, nhiễm trùng để xử lí chuyên môn. TTHTB,KTBN được lập ra theo kế hoạch phòng chống vũ khí hủy diệt lớn do phân đội tiêu độc trang dụng thực hiện, có sự tham gia của các phân đội có trang bị, khí tài bị nhiễm. Trạm được bố trí theo yêu cầu đảm bảo thu hồi nhanh chóng các trang bị, khí tài bị nhiễm. TRẠM THU PHÁT CÔNG ĐIỆN, trạm nhận và chuyển các bức điện từ bộ phận cơ yếu đến các đài (trạm) vô tuyến điện và ngược lại, đăng kí và quân lí số lượng điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TTPCĐ thường được bố trí gần đài (trạm) vô tuyến điện để kịp thời chuyên nhận côrtg điện. TRẠM THU PHÁT VĂN KIỆN nh TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU TRẠM THU THÔNG TIN VÔ TUYẾN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc chuyên làm nhiệm vụ thu tín hiệu vó tuyến điện có chứa tin từ đối tượng liên lạc; thành phần của tổng trạm thòng tin sở chỉ huy cấp chiến lược, chiến dịch. TTTTVTĐ thường lắp đặt các máy thu vô tuyến điện sóng ngắn, máy vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), tải ba và các trang bị đồng bộ. TTTTVTĐ điểu khiển phát tín hiệu ở trạm phát thông tin (điểu khiển xa) qua vô tuyến điện tiếp sức (vi ba) hoặc hữu tuyến điện... Cg trạm thu hay buồng thu. TRAM TIẾP NHẬN LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, nơi đơn vị dự hị động viên triển khai tiếp nhận lực lượng dự bị động viên được bổ sung khi có lệnh động viên. Có: TTNLLDBĐV tăng cường đầu tiên (ở khu vực đóng quân thường xuyên) và TTNLLDBĐV bổ sung cơ bản (ở khu vực động viên). TTNLLDBĐV, tuỳ theo loại đôi tượng tiếp nhận, có: trạm tiếp nhận quân nhân dự bị và trạm tiếp nhận phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân. TTNLLDBĐV thường được chuẩn bị từ thời bình (địa điểm; phương tiện; cán bộ, nhân viên nghiệp vụ...), để nhanh chóng triển khai, tiếp nhận trong thời chiến. TRẠM TIÊU TẨY, trạm tiến hành tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện vận tải, quân trang, quân dụng và xử lí vệ sinh cho người. TTT do các phân đội chuyên môn hóa học và các nhân viên quân y triển khai sẵn ở nơi an toàn, ngoài khu nhiễm, địa hình thuận lợi, kín đáo, để cơ động, gần nguồn nước. TTT gồm: điểm kiểm tra, phân phối, bãi tiêu tẩy vũ khí, binh khí kĩ thuật và phương tiện vận tải, bãi tiêu tẩy trang dụng và quần áo, bãi xử lí vệ sinh cho người, khu sạch, công sự cho người và phương tiện. TTT do phân đội tiêu tẩy chuyên môn phụ trách. TRẠM TÍNH TOÁN PHẦN TÍCH HÓA HỌC - PHÓNG XẠ X. TRUNG TÂM (TRẠM) TÍNH TOÁN PHÂN TÍCH HÒA HỌC - PHÓNG XẠ TRẠM TRUNG GIAN nh TRẠM CHUYỂN tiếp TRẠM TRUNG GIAN(CHUYỂN TIẾP) VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN , trạm thông tin liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn, làm nhiệm vụ chuyển tiếp liên lạc giữa các đài vô tuyến điện sóng cực ngắn, để tăng cự li thông tin liên lạc hoặc khắc phục ảnh hưởng của địa hình đến việc truyền sóng và phòng chống tác chiến điện tử của địch, nâng cao tính vững chắc của liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn. Tuỳ theo tính năng kĩ thuật, chiến thuật của máy và phương pháp tổ chức, TTG(CT)VTĐSCN có thể làm việc tự động, bán tự động, nhân công. Theo quy mô từng cấp, yêu cầu chỉ huy, yêu cầu liên lạc, khả năng trang bị, điều kiện địa hình,... trên mỗi trạm có một hay nhiều máy, cùng hoặc khác chủng loại. TRẠM TỰ ĐỘNG GIỮA CÁC HÀNH TINH, khí cụ bay vũ trụ không người lái để nghiên cứu các hành tinh của hệ Mặt Trời và không gian vũ trụ. Thường được trang bị các hệ thống định vị, động cơ hiệu chỉnh quỹ đạo bay và các thiết bị khoa học. Số liệu và hình ảnh thu nhận được có thể truyền về Trái Đất theo kênh vô tuyến hoặc nhờ các thiết bị thu hồi. Các TTĐGCHT của LX: Vêga, để nghiên cứu Sao Kim và sao chổi Halây (1984 phóng 2 trạm); Sao Kim, để nghiên cứu Sao Kim và không gian vũ trụ bao quanh nó, 1961-83 đã thực hiện 16 chuyến bay; Thăm Dò, để nghiên cứu đặc tính vật lí của không gian vũ trụ tuyến Trái Đất - Mật Trăng - Trái Đất, ảnh hưởng đến cơ thể sống, chụp ảnh Trái Đất và Mặt Trăng từ vũ trụ, từ 1964-70 đã phóng 8 trạm; Mặt Trăng, để nghiên cứu Mặt Trăng và không gian vũ trụ, từ 1959-76 phóng 24 trạm; Sao Hỏa, để nghiên cứu Sao Hỏa, từ 1962-73 phóng 7 trạm. Các TTĐGCHT của Mĩ: 2 trạm Viking, để nghiên cứu Sao Hỏa; 2 trạm Voiagiơ, để nghiên cứu Sao Mộc và Sao Thổ; Marinơ, để nghiên cứu Sao Kim và Sao Hỏa, 1962-73 đã phóng 10 trạm; Paiơnia, để nghiên cứu không gian giữa các hành tinh và các hành tinh Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Kim..., từ 1958-78 đã phóng 14 trạm; Rangiơ, để nghiên cứu Mặt Trăng, 1954-65 phóng 9 trạm; Xvâyơ đã hạ cánh nhẹ nhàng và chụp ảnh Mặt Trăng, chương trình bắt đầu 1960, năm 1966-68 đã phóng 7 trạm. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:43:44 am TRẠM VŨ TRỤ, khí cụ bay vũ trụ có người điều khiển hoặc tự động điều khiển, hoạt động lâu dài trên quỹ đạo của thiên thể vũ trụ (Trái Đất, Mặt Trăng...). Dùng để kíp (đội) bay thực hiện các công việc nghiên cứu khoa học. kĩ thuật, công nghệ... TVT có thể được đưa lên quỹ đạo ở dạng thu gọn hoặc được lắp ghép trên vũ trụ. Được trang bị máy móc khoa học, kĩ thuật,... cũng như các hệ thống bảo đảm cho kíp (đội) bay chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi dài ngày trong chuyến bay. Các TVT đã được phóng lên quỹ dạo quanh Trái Đất là Chào Mừng, Hòa Bình (Nga) và Xcailap (Mĩ). Từ 11.1998 dự án TVT quốc tế (ISS hợp tác Nga, Mĩ, Nhật và châu Âu) đã được thực hiện. Đây là TVT lớn nhất hiện nay (dài 108m, nặng 454t), bắt dầu hoạt động từ 11.2000, sẽ được hoàn chình vào 2005 và dự kiến tồn tại 15 năm. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67950515_461674187895800_1545471452352872448_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHjuWZOZLCoWh4PYuGKJ0ry1Vo_y23W60lwV_JEpDCaj87Y7UfZdCjwuaEvIQy5oPQy0wnNXudE6sIBe8XTf2w-xDUThYqhHVct9S215omU-Q&_nc_oc=AQmA6xfFQV8G7HiVwMVmtcl4d36VWmYaLHcd3G76DneLQeU39inHwLDGlrYTMUCr3Pc&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=4c7ed6f1cf1e43319c3550d6571bea15&oe=5DD5583E) TRANG BỊ, gọi chung những phương tiện vật chất được giao cho LLVT quản lí và khai thác để chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, huân luyện QS và hoạt động hàng ngày. TB chia ra: theo ngành quản lí, có: TB kĩ thuật, TB hậu cần...; theo quân chủng, binh chủng sử dụng, có: TB không quân, TB hải quân, TB phòng không, TB pháo binh, TB công binh, TB tăng thiết giáp, TB hóa học...; theo đơn vị mà TB được biên chế, có: TB quân đoàn, TB sư đoàn, TB trung đoàn, TB tiểu đoàn, TB đại đội... Từng loại TB lại được phân chia theo nhiều cách khác nhau (nguyên lí hoạt động, công dụng, đặc điểm, kết cấu, tính nâng tác dụng...). Phần cơ bản lớn nhất của TB là TB kĩ thuật, trong đó vũ khí đôi khi được tách riêng thành một nhóm và tồn tại thuật ngữ “vũ khí và trang bị kĩ thuật (khác)”; cũng có thể tách vũ khí và các phương tiện, khí tài bảo đảm sử dụng chúng thành một nhóm riêng gọi là trang bị vũ khí. TRANG BỊ CÔNG BINH X. TRANG BỊ KĨ THUẬT CÔNG BINH TRANG BỊ - KHÍ TÀI HÓA HỌC, gọi chung phương tiện kĩ thuật để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hóa học, như: trinh sát, tiêu tẩy, phòng hóa, tạo màn khói... Theo mục đích sử dụng, chia ra: khí tài trinh sát phóng xạ, khí tài trinh sát hóa học, khí tài phòng hóa cá nhân, phương tiện đề phòng tập thể, khí tài tiêu tẩy, khí tài phát khói, khí tài sửa chữa... Theo biên chế, có: khí tài đặc chủng hóa học (sản xuất công nghiệp trang bị cho các phân đội phòng hóa) và khí tài phòng hóa ứng dụng. TRANG BỊ KĨ THUẬT CÔNG BINH, trang bị KTQS được sử dụng trong QĐ để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm công binh và chiến đấu. Gồm: vũ khí công binh, xe máy công binh và khí tài công binh. Vũ khí công binh có: lượng nổ, mìn (chống bộ binh, chống tăng, chống đổ bộ), thiết bị phóng nổ chuyên dùng, hỏa cụ... Xe máy công binh có các loại: xe máy trinh sát công binh, xe máy bố trí vật cản, xe máy làm đường, xe máy vượt sông, xe máy cấp nước dã chiến, xe máy làm đất, xe máy chế biến và gia công gõ cơ động, xe máy bảo đảm kĩ thuật chuyên dùng công binh, trạm điện công trình cơ động... Khí tài công binh có các loại: trinh sát công binh, vật cản, vượt sông, làm đất đá, chế biến và gia công gỗ, cấp nước, ngụy trang, quân cụ cầm tay, thiết bị công trình... Cg trang bị công binh. TRANG BỊ KĨ THUẬT TĂNG THIẾT GIÁP, gọi chung các loại xe QS có vỏ giáp bảo vệ. Gồm: xe tăng, pháo tự hành, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân (vận tải), xe trinh sát chiến đấu, xe thiết giáp chỉ huy... các xe bảo đảm kĩ thuật (vd: xe cẩu, xe cứu kéo), xe chở tăng... và xe cơ sở của nhiều loại trang bị KTQS khác (vd: các hệ thống phòng không, trang bị kĩ thuật công binh...)... Theo kết cấu phần dẫn tiến, TBKTTTG có các loại: chạy xích, bánh lốp hoặc hỗn hợp (xe nửa xích, ít dùng) hay lưỡng thể (xe xích - bánh lốp). Một bộ phận TBKTTTG là xe bơi (xe tăng bơi, xe thiết giáp bơi) và có thể vận chuyển bằng đường không. TBKTTTG hiện đại có thành phần rất đa dạng, đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau như đột kích, yểm trợ và chế áp hỏa lực, chống tăng, phòng không, chỉ huy, bảo đảm công trình, kĩ thuật, hậu cần... Tùy theo nhiệm vụ, trên xe có thể đặt các loại vũ khí có nòng, vũ khí tên lửa... và các thiết bị chuyên dùng. Ngoài vỏ giáp, còn có các hệ thống bảo vệ đặc biệt chống vũ khí hủy diệt lớn. Các thành tựu của kĩ thuật điện tử, tin học, tự động hóa được sử dụng ngày càng rộng rãi vào TBKTTTG. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:45:05 am TRANG BỊ QUÂN Y CÁ NHÂN, phương tiện quân y cấp phát cho quân nhân để tự cấp cứu và cấp cứu cho đồng đội khi bị thương, tự phòng bệnh và điều trị một số chứng bệnh thông thường. Gồm: thuốc, bông băng đóng gói thành cơ số quân y (đơn hoặc kép). Cuối thời kì KCCP, TBQYCN là một cuộn băng cấp cứu. Trong KCCM, từ 1961 mỗi quân nhân vào Nam đi trong một tổ chức tập thể nhỏ không có nhân viên quân y đi cùng được phát TBQYCN là một túi thuốc cá nhân trong có 26 loại thuốc thông thường và 5 loại bông, băng, gạc, thuốc đóng trong tuýp nhựa; tất cả đóng vào một túi vải; từ 1966 túi này có tên là túi B2. Đối với quân nhân đi trong phân đội có biên chế nhân viên quân y, TBQYCN có một cơ số quân y kép gồm một hộp thuốc cá nhân (có 8 loại thuốc) và một bao cấp cứu tiêu độc cá nhân (có ống thuốc chống khói độc, dầu xua muỗi và bông băng). Trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc và tây nam Tổ quốc những năm 80 tk 20, sử dụng TBQYCN cơ số T81 cho bộ đội trinh sát luồn sâu và cơ số Đ84 cho bộ đội đặc công. TRANG BỊ THÔNG TIN LIÊN LẠC, gọi chung các phương tiện kĩ thuật quân sự để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc. Theo mục đích sử dụng, TBTTLL chia theo nhóm; tác chiến, huấn luyện, phục vụ và niêm cất; theo tính chất bảo đảm kĩ thuật, TBTTLL chia ra: trang bị chính (trực tiếp bảo đảm liên lạc), gồm các tổ hợp máy vô tuyến điện, các loại tổng đài và máy điện thoại, cáp, dây thông tin, súng pháo hiệu, cờ, đèn...; trang bị bổ trợ (đồng bộ đi cùng để bảo đảm trang bị chính hoạt động), gồm tổ máy nắn điện, ăcquy, phối nắn điện...; trang bị bảo đảm (bảo đảm kĩ thuật cho các trang bị chính và bổ trợ). TRANG BỊ VŨ KHÍ trên tàu, gọi chung vũ khí và phương tiện kĩ thuật bảo đảm sử dụng chúng đặt trên tàu hải quân. Vũ khí gồm: pháo, tên lửa, ngư lôi, thủy lôi, bom chìm...; phương tiện kĩ thuật bảo đảm gồm: các tổ hợp vô tuyến diện tử, thủy âm. dẫn đường, thông tin liên lạc, hệ tự động điều khiển vũ khí... Theo dạng vũ khí. có: TBVK pháo, gồm những tổ hợp pháo cỡ lớn, cỡ trung đa năng và pháo cỡ nhỏ (phòng không) đặt trên tàu mặt nước; TBVK tên lửa, gồm những tổ hợp tên lửa đường đạn trên tàu ngầm, tên lửa có cánh và tên lửa - ngư lôi đặt trên tàu ngầm và tàu mặt nước, tên lửa phòng không và tên lửa đa năng trên tàu mặt nước; TBVK ngư lôi, gồm ngư lôi. ống phóng lôi (bệ), thiết bị bảo đảm nạp, ngắm và phóng lôi; TBVK thủy lôi, gồm thủy lôi, thiết bị bảo quản, chuẩn bị rải (thả) thủy lôi; TBVK chống ngầm, gồm tổ hợp tên lửa - ngư lôi chống ngầm, ngư lôi tự dẫn chống ngầm, bom chìm phản lực, thiết bị bắn (phóng) và điều khiển chúng. Một số TBVKtt được máy bay hoặc máy bay trực thăng của hải quân sử dụng. TRANG BỊ VƯỢT SÔNG nh PHƯƠNG TIỆN VƯỢT SÔNG TRẠNG THÁI SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, mức độ chuẩn bị chiến đấu của bộ đội được quy định trong văn kiện tác chiến, cho phép đơn vị chuẩn bị từng bước để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, trong một thời hạn quy định đáp ứng yèu cầu của tình hình QS. Có TTSSCĐ: thương xuyên, tăng cường, cao, toàn bộ. Từng quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn có quy định cụ thể nội dung, cách thức và thời hạn chuyển TTSSCĐ. Có thể chuyển TTSSCĐ tuần tự hoặc vượt cấp. TRANH CHẤP BIÊN GIỚI, tranh giành chủ quyền quốc gia giữa các nước đối với lãnh thổ ở khu vực biên giới. TCBG là một hiện tượng xã hội phát sinh trong quan hệ biên giới do mâu thuẫn về nhận thức, tư tưởng, lợi ích trong việc xác định đường biên giới: bất đồng về nguồn gốc đường biên giới, khi đường biên giới chưa phân giới cắm mốc hay hoạch định chưa chính xác; khi có tranh chấp về các nguồn tài nguyên khi có mâu thuẫn đối kháng giữa các nước có chung biên giới... TCBG có thể làm cho quan hệ giữa các nước có chung biên giới trở nên căng thẳng, phức tạp, có trường hợp dẫn đến xung đột biên giới, dụng độ QS, chiến tranh. TCBG cần được giải quyết triệt để bằng biện pháp thương lượng hòa bình, thông qua ngoại giao giữa các nước có chung biên giới. TRANH CHẤP XÔ - TRUNG (1969), tranh chấp biên giới và chủ quyền lãnh thổ giữa LX và TQ tại khu vực đảo Đamanxki (TQ gọi là Trân Bảo) trên sông Uxơri. Từ giữa những năm 50 của tk 20, quan hệ Xô - Trung bắt đầu rạn nút và trở nên căng thẳng, do bất đồng quan điểm trong giải quyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là đường biên giới lịch sử giữa hai nước, trong đó nổi bật là việc tranh chấp chủ quyền đối với đảo Đamanxki. Tranh chấp kéo dài dẫn đến xung đột vũ trang khi LX triển khai lực lượng QS trên đảo (2.3.1969). Bắt đầu là những trận đánh nhỏ lẻ, từ 15.3 QĐ hai bên đã sử dụng xe tăng, pháo binh tiến hành các trận đánh quy mô lớn, sau đó chiến sự lan ra một số khu vực khác ở biên giới, gây hậu quả nghiêm trọng. Trước tình hình đó, các cuộc đàm phán giữa hai nước đã được xúc tiến, xung đột chấm dứt, nhưng nhiều vấn đề chủ quyền lãnh thổ ở đây vẫn chưa được giải quyết triệt để. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:47:02 am TRAO ĐỔI TÙ BINH, đồng thời chuyển đổi tù binh cho nhau theo thỏa thuận giữa các bển tham chiến. Tù binh được đem trao đổi thường là những sĩ quan cấp cao hoặc sĩ quan và nhân viên đảm đương những nhiệm vụ đặc biệt. Được tiến hành trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn hoặc trong giai đoạn tạm thời ngừng chiến. Địa điểm và thể thức TĐTB do hai bên thống nhất quy định. TRAO TRẢ TÙ BINH, trả lại cho nhau tù binh mà các bên tham chiến đã bắt giữ trong chiến tranh. TTTB thường được thực hiện trong thời gian ngừng bắn hoặc khi kết thúc chiến tranh, trên cơ sở những thỏa thuận của các bên. Công ước La Hay (1907) và Công ước Giơnevơ về tù binh là cơ sở luật pháp quốc tế về việc TTTB, theo đó khi TTTB, ngoài số tù binh còn sống, mỗi bên còn cung cấp cho nhau danh sách số tù binh đã chết, nguyên nhân chết, địa điểm chôn cất và sơ đồ mộ chí. TRẠO NHI ĐỘI (ĐOÀN) (cổ) nh QUÂN THIỆN TRẠO TRẮC ĐỊA, 1) khoa học về xác định hình dạng, kích thước và trọng trường của Trái Đất, về việc đo đạc trên bề mặt đất để lập bản đồ, xây dựng còng trình... phục vụ cho kinh tế, quốc phòng; 2) đo đạc và vẽ bản đồ. TRẮC ĐỊA QUÂN SỰ, chuyên ngành trắc địa nghiên cứu hình dạng, kích thước Trái Đất, đo vẽ bản đồ địa hình các loại tỉ lệ và phục vụ cho xây dựng quốc phòng, tác chiến và huấn luyện. Bao gồm: đo thiên văn, đo trọng lực, đo tam giác, đo độ cao, chụp ảnh hàng không, đo vẽ bản đồ, đo đạc công trình QS, đo đạc biển; biên chế các loại bản đồ: địa hình, hải đồ, không đồ, bảo đảm tư liệu địa hình cho ngành in, kĩ thuật công nghệ, điều tra biên chế binh yếu địa chí... và nghiên cứu khoa học kĩ thuật trắc địa QS. TRẮC ĐỊA THIÊN VĂN, môn khoa học ứng dụng nghiên cứu các phương pháp quan trắc thiên văn và sử dụng các kết quả quan trắc đó cho công tác đo đạc bản đồ. Trong QS, TĐTV được sử dụng cho ngành đo đạc bản đồ, đo đội hình chiến đấu, định hướng cho tên lửa, pháo và khí tài. TRẮC ĐỊA VỆ TINH (trắc địa vũ trụ), bộ phận của khoa học trắc địa, sử dụng kết quả quan sát, ảnh chụp từ vệ tinh... để xác định các số liệu trắc địa gốc, hình dáng, kích thước, thể trọng trường của Trái Đất; xác lập hệ tọa độ Trái Đất, hệ tọa độ vũ trụ, làm cơ sở cho việc xác lập lưới trắc địa toàn cầu; thiết lập các cơ quan theo dõi không gian vũ trụ, xử lí số liệu, cung cấp tín hiệu giờ chuẩn trên phạm vi thế giới. Từ khi có vệ tinh nhân tạo của Trái Đất (10.1957), TĐVT góp phần thay đổi diện mạo của ngành trắc địa theo phương pháp cổ truyền. TRẮC THỦ, người sử dụng khí tài chuyên dụng để xác định vị trí mục tiêu trên không, trên biển, trên đất liền phục vụ chỉ huy tác chiến của pháo và tên lửa (TT máy đo xa, TT máy chỉ huy, TT rađa, TT tên lửa...). TRÂN CHÂU CẢNG, căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương (Mĩ) ở đảo Oahu (quần đảo Haoai). Dt 22,7km2, tổng chiều dài các cầu cảng 12km. sâu 15m. Các bộ tham mưu của Hạm đội Thái Bình Dương, Hạm đội 3, các lực lượng tàu ngầm đóng tại TCC. 7.12.1941 không quân Nhật bất ngờ tiến công TCC, loại khỏi chiến đấu lực lượng chủ yếu của Hạm đội Thái Bình Dương Mĩ (x. trận Trân Cháu cảng, 7.12.1941), mở đầu cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương. Trong ngày đầu của cuộc chiến tranh, Nhật làm chủ vùng biển, tạo điều kiện mở các chiến dịch đánh chiếm Philippin, Malaixia và Inđônêxia. TRẦN BÁ (1923-63), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê thị trấn Diêu Trì, h. Tuy Phước, t. Bình Định; nhập ngũ 1951, chính ủy trung đoàn (1954); đv ĐCS VN; khi hi sinh là chính ủy trung đoàn thuộc Cục địch vận TCCT, biệt phái làm phó ban binh vận Miền. 1945-51 bí thư huyện ủy, tỉnh ủy viên. 1954-58 phó ban binh vận Miền, hoạt động tại Sài Gòn, xây dựng nhiều cơ sở CM trong QĐ Sài Gòn và một số cơ quan đầu não của địch; thu thập nhiều tin quan trọng. 1958 bị địch bắt, tra tấn cực hình, TB kiên cường bất khuất, động viên đồng đội đấu tranh với địch và tổ chức vượt ngục. Sau nhiều lần tra tấn không kết quả, TB bị địch sát hại trong tù. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68662753_461674174562468_1497529244983492608_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHf8KKjAj9CJ29n92gBpZCD2uGGBJS8XIJ-9EWHISsMuuzOEs6jXYYrblHtdSHbsUgz_c84qMNJyasFDAY08JXbvAnWsSy7_Kmt1C2n00cqCw&_nc_oc=AQnlVf_gKr3sEMNsioUkflQKlDoQ8FsaYiqvYwaX1kCb8t7CE60pqyLkxE64kjgl-2c&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=6fee10586760570e769b1ea85078f9f0&oe=5DA366BC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:48:30 am TRẦN BÁ LỘC (1839-99), quan tổng đốc triều Nguyễn thân Pháp ở Nam Kì nửa cuối tk 19. Quê Cù Lao Giêng, làng Tân Đức, tổng An Bình, t. Long Xuyên (nay thuộc h. Cái Bè, t. Tiền Giang). Khi Pháp chiếm Gia Định, TBL tình nguyện đi lính cho Pháp (1861), đội nhì (1862), đội nhất (1864), tri huyện Kiến Phong (1865), tri phú (1867), đốc phủ sứ (1868), tổng đốc Thuận Khánh (1883), rồi ủy viên Hội đồng tối cao Đông Dương (1899). TBL đã tham gia hoặc trực tiếp chỉ huy quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Thủ Khoa Huân ở Mĩ Tho, Trương Định ở Gò Công, Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười, Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, Trương Quyền - Pucom Bô ở Tây Ninh, Mai Xuân Thưởng ở Phú Yên, Bình Định... và trả thù những người thân của nghĩa quân. Đã bắt hàng ngàn dân đi phu, lao động khổ sai, đào hàng trăm kilômét kênh mương, đào đến đâu chiếm đất lập đồn điền riêng rộng nhất vùng Đồng Tháp Mười. Chết bệnh (26.10.1899). TRẦN BAY, độ cao lớn nhất mà máy bay đạt dược trong những điều kiện bay và chế độ bay nhất định. Phân biệt: TB tĩnh (cg TB lí thuyết), TB động và TB thực tế. Đối với máy bay có cánh: TB tĩnh là độ cao bay bằng lớn nhất với tốc độ không đổi, TB động là độ cao tối đa mà máy bay đạt được nhờ sử dụng động năng dự trữ trong quá trình cơ động lên và tốc độ giảm đến giới hạn nhỏ nhất cho phép, TB thực tế là độ cao hoạt động lớn nhất trong thực tế. Đối với máy bay trực thăng: TB tĩnh (cg TB treo) là độ cao lớn nhất ở chế độ bay treo (tốc độ tịnh tiến và tốc độ tháng đứng đều bằng 0), TB động là độ cao tối đa bay bằng, thẳng với tốc độ không đổi, TB thực tế là độ cao bay thực tế lớn nhất mà ở đó tốc độ lên thẳng cực đại bằng 0,5m/s. TB phụ thuộc vào tải trọng, vật treo ngoài, điều kiện khí tượng. Để có lượng dự trữ về lực kéo, bảo đảm khả năng sửa chữa những sai sót về lái hoặc trục trặc kĩ thuật, không nên bay ở TB. TRẦN BÌNH TRỌNG (1259-85), tướng trung nghĩa triều Trần Nhân Tông dược phong tước Bảo Nghĩa Vương. Quê h. Thanh Liêm, t. Hà Nam. Xuất thân thuộc dòng dõi Lê Đại Hành, đến đời Trần Thái Tông, ông cha có công với nhà Trần được ban quốc tính (mang họ vua). Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285) chỉ huy một cánh quân, chặn địch ở bãi Đà Mạc (nay là bãi Mạn Trù, t. Hưng Yên), bị địch bắt tra khảo và dụ dỗ cho làm vương đất Bắc, TBT lớn tiếng trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc”. Bị địch giết 26.2.1285. Hiện có đền thờ ở quê. TRẦN CAN (1931-54), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Sơn Thành, h. Yên Thành, t. Nghệ An; nhập ngũ 1951; đv ĐCS VN (1953); khi hi sinh là đại đội phó thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Trong KCCP, tham gia đánh trận Bản Hoa (chiến dịch Tây Bắc, 1952), dẫn đầu tổ ba người vượt qua làn đạn dày đặc của địch, dùng thủ pháo diệt 3 ụ súng và toàn bộ địch trong SCH. Trận Him Lam (13.3.1954), trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, TC dẫn đầu tiểu đội đánh chiếm SCH, là người đầu tiên trong chiến dịch cắm cờ “Quyết chiến quyết thắng” lên nóc lô cốt địch, sau đó chỉ huy tiểu đội diệt 25 địch trong hầm ngầm. Trận đánh ở điểm cao 507, chỉ huy tiểu đội đánh chiếm mỏm cột cờ, giằng co quyết liệt từng tấc đất với địch. Khi cả ban chỉ huy đại đội bị thương vong, TC bị thương, vẫn chủ động chỉ huy đại đội đánh bại nhiều đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa bàn đạp, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phú. Sáng 7.5.1954 TC hi sinh. Huân chương: Quân công (hạng nhì. hạng ba), 2 Chiến công hạng nhất. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67655780_461674181229134_2196872129771732992_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFNFhpqRKabFP5CfwiUDToHP8YnENc_NwAwqUBMkIniVjcfhJ799QU_s5Ru67qiHadHpEIa3OdEiS3-AVI61MWpM1qmhZgfNe4OOCn_BjZvgw&_nc_oc=AQnVm5Q-OYl1MiWkXiZm1kF2krBjLQmpAWj5z0QczcQ9b1CthXYBJW9DwVhWfgRNarw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=4f1319ba6752505f7f9b61debfe29e85&oe=5DE4E89F) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:50:14 am TRẦN CANH (Chen Geng. Hi Khang; 1903-61). đại tướng Quàn giải phóng nhân dân Trung Quốc (1955), cố vấn của QĐND VN trong chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Người h. Tương Hương, t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCSTQ (1922). Tốt nghiệp khóa I Trường QS Hoàng Phố. Tham gia khởi nghĩa Nam Xương (1.8.1927). Năm 1928-33 tình báo đặc khoa của BCHTƯ ĐCS TQ ở Thượng Hải; sư đoàn trường, Phương diện quân 4 Hồng quân công nông Trung Quốc, hiệu trưởng Trường bộ binh Bành Dương. 1934-36 tham gia Vạn lí trường chinh, đoàn trường Đoàn cán bộ Hồng quân; khi tới Thiểm Bắc sư đoàn trưởng Sư đoàn 1, Quân đoàn 1 Hồng quân. Trong chiến tranh chống Nhật, 1940-49 tư lệnh: Quân khu Thái Nhạc, Tung đội Thái Nhạc; tham gia lãnh đạo thành lập khu căn cứ Sơn Tây - Hà Bắc - Hà Nam. Trong chiến tranh giải phóng, 1948-50 tham gia chiến dịch Hoài Hải; tư lệnh kiêm chính ủy Binh đoàn 4. vượt Trường Giang, tham gia chỉ huy chiến dịch Quảng Đông - Quế Lâm, Vân Nam; chủ tịch t. Vân Nam, kiêm tư lệnh Quân khu Vân Nam. 8.1951 tham gia chiến tranh Triều Tiên, 1950-53, phó tư lệnh Chí nguyện quân, tư lệnh kiêm chính ủy Binh đoàn 3. Năm 1954 phó tổng tham mưu trường QGP nhân dân TQ. 1959 thứ trường BQP TQ. ủy viên BCHTU’ ĐCS TQ (dự khuyết khóa VII) khóa VIII, ủy viên Hội đồng quốc phòng TQ khóa I-II. TRẦN CAO VÂN (Trần Công Thọ; 1866-1916), người tham gia lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam quang phục hội (5.1916). Quê làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phú Điện Bàn (nay là xã Điện Hòa, h. Điện Bàn), t. Quảng Nam. 1886 tu ở chùa Cổ Lâm (h. Đại Lộc, t. Quảng Nam), mở trường dạy học để tuyên truyền tư tưởng yêu nước và tập hợp lực lượng chống Pháp. 1892 hoạt động ở Bình Định, Phú Yên, cố vấn cuộc khởi nghĩa của nhà sư Võ Trứ (1898). Ba lần bị thực dân Pháp bắt (1898, 1900 và 1908), giam tại các nhà lao: Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Côn Đảo. 1914 được trả tự do. 1915 cùng Thái Phiên và một số người yêu nước lập cơ sở VN quang phục hội tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,... chủ trương khởi nghĩa vũ trang ở Huế. 1916 bí mật liên lạc với vua Duy Tân thống nhất kế hoạch khởi nghĩa, dự định vào đêm 3.5.1916. Khởi nghĩa không thành do kế hoạch bị lộ, TCV và những người lãnh đạo khởi nghĩa bị thực dân Pháp bắt trên đường đưa vua Duy Tân rời kinh thành Huế lên căn cứ. 17.5.1916 bị xử chém tại An Hòa (Huế). TRẦN CÔNG AN (Trần Văn Kìa; S. 1920), Ah LLVTND (1996). Quê xã Thanh Phước, h. Tân Uyên, t. Bình Dương; nhập ngũ 1946, đại tá (1980); đv ĐCS VN (1948). Trong KCCP, đại đội trưởng đại đội đặc công đầu tiên (Đại đội Nguyễn Văn Nghĩa) của bộ đội địa phương huyện Tân Uyên. Là một trong những người đầu tiên thực hiện thành công cách đánh công đồn. 19.3.1948 chỉ huy trận đánh tháp canh (đồn, bốt) cầu Bà Kiên thắng lợi, mở ra cách đánh mới, làm phá sản kế hoạch phòng thủ chiến lược của Pháp ở Đông Nam Bộ (sau chiến dịch Bến Cát 1950, Đại đội Nguyễn Văn Nghĩa được BTL khu tặng danh hiệu “Anh hùng diệt tháp canh”). Trong KCCM, 1955-61 tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó. 1964-71 thị đội trưởng Biên Hòa. 1972 đoàn trưởng Đoàn La Ngà, Quân khu 7, chỉ huy lực lượng đặc công đánh nhiều trận vào sân bay Biên Hòa, Tổng kho Long Bình diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mĩ và QĐ Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67607187_461674207895798_2151012573519020032_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEKsCv08d6aQQlgClglLlIlC1T5XdNYMb1bHTNaG6i6mXWEgHbzBo-Mx_VL-Hx-ELfGv2J_XEv38zRfzGqSeewAkNUK6hnoKTyb12Um-Rp17Q&_nc_oc=AQlwSkdsb85VgmdCCccQuKp4SN5g9owzNO4M_gEvjwI4D8O0DRq08wjmz96v1X5xNT8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b4d2fd0d1a204e4528dd2ed464f84262&oe=5DA49805) TRẦN CÔNG NHỠN (1936-70), Ah LLVTND (1969). Quê xã Đông Sơn, h. Đông Hưng, t. Thái Bình; nhập ngũ 1959; đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ, trung đội trưởng Trung đội ô tô vận tải, Đại đội 3, Đoàn 878, Binh trạm 16, TCHC. Trong KCCM, lái ô tô vận tải QS trên tuyến đường Quảng Bình - Vĩnh Linh (nơi địch thường xuyên đánh phá ác liệt). Hàng trăm lần dịch đánh phá vào đội hình đoàn xe đang chạy, TCN vẫn chở hàng đến đích an toàn. Máy bay địch đánh phá bãi đỗ xe, TCN lái xe làm mục tiêu thu hút máy bay địch để đơn vị sơ tán đến vị trí an toàn. TCN lái xe 155.000km an toàn. Huân chương: Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67825996_461674214562464_7750104881737760768_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeF6FifapqTWzp0QxEQrP2OMsAOVMdip9QgTaU0M0HyCVrP89r8cG2gIaq7zXvMBbsjv4FWZ1Y88JdRmvC-L3GxzIzAyF7Nw5qK-aRch82Ki2Q&_nc_oc=AQlofhNS1kksqmBcYajKCePnaEZObAB7MU0CRXU6CUY-90Kh3Txl8NQUR-rp07X7hag&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6c1351816d2c1ad2088c5b56b4f501a3&oe=5DD7D647) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:52:41 am TRẦN CỪ (1920-50), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Quê xã Đức Bác, h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc; nhập ngũ 1945; đv ĐCS VN; khi hi sinh là đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Sông Lô, Đại đoàn 312. Năm 1945-50 trưởng thành từ chiến sĩ đến đại đội trường, chiến đấu hàng chục trận ở chiến trường Việt Bắc. 9.1945 tham gia đánh Nhật ở tx Vĩnh Yên, diệt 1 lính Nhật, thu 1 súng. 1946 đánh quân Quốc dân đảng ở cầu Đông Đạo (Vĩnh Yên), cùng đồng đội dùng trung liên diệt 2 tiểu đội địch, giữ vũng trận địa. Trận đánh đồn Đông Khê (chiến dịch Biên Giới, 17-18.9.1950), chỉ huy đại đội chủ công của trung đoàn đánh chiếm được một số mục tiêu. Khi 100 địch cố thủ trong hầm có hỏa điểm lợi hại ngăn chặn bước tiến của đơn vị, TC bị thương nặng vẫn xông lên ném thủ pháo và dùng thân mình bịt lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt đồn địch. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67946858_461674231229129_200534952217935872_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGV-mBx_ZmP9DUU_hND-xMGYYUkALamdtTVCDJJ1Gvi9LCVoRo3NcecikY-ldpFa5V767KFWhc0kVouU2W-WBKSLNUkkcXxp8AYKkknBslplg&_nc_oc=AQkzWFgMfuIqD15wd1WftRP5UrlFz6g2qk2VMmy8zS1Us65R0XZyhi0vDtxp1m2G70k&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=0262689cc51617948717541ca0190735&oe=5DA67F1E) TRẦN ĐẠI NGHĨA (Phạm Quang Lễ; 1913-97), Ah lao động (1952). Quê xã Chân Hiệp, h. Tam Bình, t. Vĩnh Long; nhập ngũ 1946, thiếu tướng (1948), phó chủ nhiệm TCHC (1973-77); đv ĐCS VN (1949), giáo sư, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học LX (1966); khi tuyên dương Ah là cục trưởng Cục quân giới. Trong KCCP, có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Trong kháng chiến, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo nàn, TĐN đã thiết kế, hướng dẫn thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí: mìn, đạn, lựu đạn, bom phóng, súng badôca, súng SKZ. 1947 cục trưởng đầu tiên của Cục quân giới kiêm cục trưởng Cục pháo binh (5.1949); thứ trưởng Bộ công thương (9.1950). Năm 1964-72 chủ nhiệm: ủy ban kiến thiết cơ bản nhà nước, ủy ban khoa học - kĩ thuật nhà nước kiêm phó trường ban cơ khí trung ương ĐCS VN (12.1972). Năm 1973-77 phó chú nhiệm TCHC, TCKT BQP. 3.1977 chuyển ngành, viện trưởng Viện khoa học VN. 1980- 83 chủ tịch: ủy ban nghiên cứu vũ trụ của VN, Liên hiệp các hội khoa học - kĩ thuật VN. Có nhiều cống hiến trong sự nghiệp xây dựng và phát triển khoa học - công nghệ của VN. Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng ba, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67554100_461674247895794_5684060805876678656_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeF8c_9EYxpCOuwQ0iL52s3jGHXgJlE0t6pi17Xm0tGrGjIi2TjbDE4lroCLfRUP2OQbB1T6D6BRWA9tpF9q1H-6lSCl_d2chwFOp4y1G0gfRQ&_nc_oc=AQmssmgxWho0VA0tkxfk_Rw-nbk7g82c49Yrt0S7Iln65glPnrkWaePdwEhLWlR6pL4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=49f759cfb7dd61b916beef40930e4e14&oe=5DE7661D) TRẦN ĐĂNG (Đặng Trần Thi; 1921-49), nhà văn. Quê xã Tây Tựu, h. Từ Liêm, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946; đv ĐCS VN (1948). Sau CM tháng Tám (1945), làm việc trong Ban liên kiểm Việt - Pháp. 1946 làm việc ở Văn phòng BQP. 1948 phóng viên mặt trận báo “Vệ quốc quân” (nay là báo “Quân đội nhân dân ”). TĐ đã có mặt ở nhiều nơi trên chiến trường Bắc Bộ, viết hàng loạt bài báo, truyện ngắn, bút kí về anh bộ đội Cụ Hồ. Tác phẩm tiêu biểu: “Một lần tới thủ đô” (1948, tác phẩm đầu tiên về đề tài “Bộ đội Cụ Hồ”), ‘Trận phố Ràng” (1949), “Một cuộc chuẩn bị” (1949). Năm 1954 những truyện ngắn và kí của TĐ được xuất bản thành tập truyện và kí sự. 26.12.1949 hi sinh tại vùng biên giới Việt - Trung và là chiến sĩ văn nghệ đầu tiên hi sinh trên chiến trường. Huân chương: Kháng chiến hạng nhất, Clụến thắng hạng ba... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67491251_461674257895793_313567096900419584_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFwFcL_5LD3wmXoCrOVQ2FZryrEd_HGL3Vi8KqLuwABQXFvGIknmWipd5_qV5IVRuYQjzklLmsNUoijbFUviXpua8C70I6qbnUc-FLmbvx6ZQ&_nc_oc=AQkkZ_hd7HJKVx6LQVftWN27Qmobg4tLHJKdjEipe0C13So2LWRCmApZVACzTGEg97E&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b1426d65664b2b81b33520f6bf01d9d0&oe=5DD7F825) TRẦN ĐĂNG NINH (1910-55), chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (chủ nhiệm đầu tiên của ngành hậu cần QĐND VN) (1950-55). Quê xã Quảng Phú Cầu, h. Ứng Hòa, t. Hà Tây; tham gia CM 1930, nhập ngũ 1950; đv ĐCS VN (1936). Năm 1939 ủy viên Thành ủy Hà Nội, tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân. 1940 ủy viên Xứ ủy Bắc Kì. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, được cử về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo củng cố phong trào CM, lập ủy ban CM, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ Ngũ Viễn - Vũ Lăng. 5.1941 bí thư Xứ ủy Bắc Kì. 1941-43 hai lần bị thực dân Pháp bắt giam, kết án tù chung thân. 3.1945 vượt ngục lần hai, ủy viên ủy ban QS CM Bắc Kì, phụ trách Chiến khu Hoàng Hoa Thám. 8.1945 được cử vào Tổng bộ Việt Minh, tham gia ủy ban khởi nghĩa. Cuối 1946 được chủ tịch Hồ Chí Minh cử đặc trách xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. 1947 trưởng ban kiểm tra BCHTU Đảng, phó tổng thanh tra chính phủ. 1950-55 chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (TCHC), ủy viên Tổng quân ủy, kiêm trưởng ban cung cấp chiến dịch Biên Giới (1950), ủy viên BCHTU ĐCS VN khóa II (dự khuyết từ 1941). Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67894506_461674264562459_7163271766234628096_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFTThSHJOoj7WcpnAuQ5HWjXvSwP1KKmfXisX0ZUZvs_2Vc8g3PdxyDHBr4JnA_4jZb_iAK3gnd-Hx1pu9YmIuHmceoEMf6MvvKLfFMrj6MoQ&_nc_oc=AQmNlLoS31UojV6XoxmyQgMkBrp6gInysiEpJX5uZvnwdRvJq7CKWlS0ZmBVJyrccpQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=e13baeebb024d55070ffcd18d199eb6f&oe=5DA49595) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:54:22 am TRẦN ĐÌNH XU (Trần Sinh; 1921- 69), tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định (1967). Quê t. Quảng Bình; nhập ngũ 8.1945, đại tá (1961); dv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, giữ các chức vụ từ đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng, chỉ huy liên trung đoàn 306-312, rồi tỉnh đội trưởng Gia Ninh. Trong KCCM, 1956-61 cục trưởng Cục công binh. 11.1964 chỉ huy chiến dịch Bình Giã. 1967 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, chỉ huy trưởng Phân khu 1 (x. phân khu). Hi sinh trong chiến đấu. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67544912_461674287895790_5104267639987896320_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGBmj2t2ibsJx-4bAtQkHAjDZ1QgWfUMBycwSJmztnaBJ8_9DTPPQ4Bok7jxvnLbT5oPOBREdrx1SkBsLZ-vvrjK-GcVLHfDDpn5W2vhiroag&_nc_oc=AQnKkH5-wDcoTW7IWzrAL7I1BBtSw4_BT00hPjYcm6uk3nb99R3iVppe6RWKm_hFJXg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f5b6475180d5b2b3b8693eff40b96f25&oe=5DE22BD9) TRẦN ĐỘC TÚ (Chen Duxiu; 1879-1942), tổng bí thư đẩu tiên ĐCSTQ. Người h. Hoài Ninh, t. An Huy (TQ). 1898 học ở Học viện cầu thị Hàng Châu, hoạt động chống triều Thanh, bị đuổi học. 1901 sang Nhật học, tham gia phong trào học sinh chống CNĐQ xâm lược TQ, bị trục xuất, về nước dạy ở Trường tiểu học Hàng Châu. Sau CM Tân Hợi (1911), tham gia chính quyến CM tỉnh An Huy. 1915 sáng lập tạp chí "Tân thanh niên” vận động phong trào văn hóa mới, giương cao ngọn cờ khoa học và dân chủ, trở nên nổi tiếng và được mời giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh. CM tháng Mười Nga (1917) đã ảnh hưởng sâu sắc tới giới trí thức tiến bộ TQ. TĐT là một trong những người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác ở TQ. 1920 lập ra tiểu tổ cộng sản đầu tiên của TQ tại Thượng Hải và vận động thành lập ĐCS TQ. 7.1921 tại đại hội đại biểu ĐCS TQ lần thứ nhất được bầu làm tổng bí thư. Sau khi Tôn Trung Sơn mất (1925), những phần tử phái hữu trong Quốc dân đảng tiến hành chống lại ĐCS và ngăn chặn CM TQ. TĐT lại theo đường lối cơ hội hữu khuynh, thỏa hiệp, nhượng bộ. 8.1927 BCHTƯ ĐCS TQ họp ở Cừu Giang (Giang Tây) đã phê phán đường lối của TĐT và cách chức tổng bí thư. 11.1929 bị khai trừ khỏi ĐCS TQ. Sau đó thành lập và lãnh đạo nhóm Trôtkit “Người vô sản”. 1932-37 bị chính quyền Quốc dân đảng bắt giam ở Thượng Hải. 1942 bị bệnh chết tại Tứ Xuyên. Tác phẩm chính: “Độc Tú văn tồn”. TRẦN ĐỐI (Trần Khoa; S. 1933), Ah LLVTND (1978). Quê xã Điện Nam, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam; nhập ngũ 1950, thiếu tướng (1985), phó trưởng đoàn chuyên gia Khu vục 4 Campuchia; đv ĐCS VN (1950); khi tuyên dương Ah là trung tá, trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 bộ binh, Sư đoàn 5, Quân khu 9. Trong KCCM, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ, trưởng thành từ đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng, chỉ huy đơn vị tham gia nhiều chiến dịch và trận đánh tiêu biểu như: chiến dịch Sa Thầy (18.10-6.12.1966), chỉ huy 2 tiểu đoàn, diệt và làm bị thương gần 1.000 địch (chủ yếu là quân Mĩ); chiến dịch Đắc Tô 1 (3-22.11.1967), chỉ huy 1 tiểu đoàn diệt gọn 2 đại đội Mĩ và góp phần cùng đơn vị bạn diệt 2 tiểu đoàn Mĩ; tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), chỉ huy trung đoàn tiến công kết hợp chốt diệt 2 đại đội Mĩ trong các trận Chư Tăng Cra, Ngọc Cam Liệt. 4.1972 vào chiến trường Nam Bộ chỉ huy trung đoàn tiêu diệt căn cứ Xa Mát, vây ép căn cứ Thiện Ngôn, buộc địch phải tháo chạy, diệt Chiến đoàn 49, QĐ Sài Gòn. 1973-74 chỉ huy trung đoàn đánh địch ở Mĩ Tho diệt 4 tiểu đoàn địch, 30 đồn bốt, mờ rộng vùng giải phóng bắc Cái Bè. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (1 hạng nhì, 2 hạng ba). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67471472_461674294562456_396819312741974016_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeH0LAxPLgp86GeGt8mXYm_mwrBE9T-BZ6NdqK0TXBaY3mXlHvJJ017jnfbIb0RLtR8k0lcgy5clVYPDaI96DW6qJ-W3RfRP4zR4R5fU1zkywQ&_nc_oc=AQlhu4Pvq8ZaEoJ0JLeuXhqTKv2EPQbrQGvAAWydRRKhQSx0Z8sRS9ybmlENXYEVd78&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=bfa99f3dd99fb9c00834d8e72e9de258&oe=5DEAE33F) TRẦN ĐỨC (1917-50), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Hải Yến, h. Tĩnh Gia, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1946; đv ĐCS VN (1947); khi hi sinh là tiểu đội trưởng, Đại đội 212, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Sư 305, Liên khu 5. Trong KCCP, chiến đấu ở chiến trường Khu 5. Năm 1946-50 đánh 40 trận, diệt 200 địch, bắn hỏng 7 xe vận tải QS. Trận chặn đánh 3 đại đội địch ở Nam Ô (4.1947), dùng súng trung liên diệt 1 trung đội địch, yểm trợ cho đơn vị diệt 1 trung đội, đánh bại 3 đợt tấn công của địch. Trận 1.000 địch bao vây 2 đại đội ở nam Thừa Thiên - Huế (2.1949), TĐ dùng trung liên bắn chế áp, diệt và làm bị thương 70 địch, cùng đơn vị đánh bại các đợt tấn công của địch. 11.1950 sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chặn địch cho đại đội rút lui an toàn, TĐ hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67776452_461674307895788_6070539057140596736_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeEcMrQqX6vHMl_lmdliZwecTjdclW9K0385fXqRAoFJ2_bXqeFYXi_v6N0NJG5Sw-Eh3d-dU5VVymf2-eIo9E_7N8EFHYps1OFENj3aqd8VnA&_nc_oc=AQmTlb1TwrVwRXN3n3SwwaiCAUwwHp2VisMivph3l8SeRct0_U1Q_Ky0tQM2CKPBTVE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=78fd517c9e6d7223acb028597932cd5f&oe=5DE04A4F) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:58:38 am TRẦN ĐỨC LƯƠNG (S. 1937), chủ tịch nước CHXHCN VN (từ 1997). Qué xã Phổ Khanh, h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1955; đv ĐCS VN (1959). Tháng 2.1955 tập kết ra miền Bắc, công tác trong ngành địa chất. 1969-76 kĩ sư địa chất; cục phó, đảng ủy viên thường trực Cục bản đồ địa chất. 1977-81 liên đoàn phó, rồi liên đoàn trưởng Liên đoàn bản đồ địa chất; tổng cục trưởng Tổng cục địa chất, kiêm bí thư Ban cán sự Đảng; phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm ủy ban khoa học và kĩ thuật của Quốc hội. 1982-86 và an ninh, ủy viên thường vụ Đảng úy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI-IX (dự khuyết khóa V). ủy viên BCT khóa VIII, IX, ủy viên thường vụ BCT khóa VIII. Đại biểu Quốc hội khóa VII-XI. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67669305_461674324562453_9181749740717473792_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeFAeNDXMm-sg1YV6eRz0qv9F35UHbCBF8cQt4bktuW9ARURW93sk4u27w-sJC0OdIhRBgLUQcevgk4ZVtn5GiSXbtLs2nQmN7ivp1CD1ugOSw&_nc_oc=AQkK0Eiyso0OtlMX-e6rv8V6nEkhZ5nXd372mbyf7h9gZQosYjWQEs-NODwprBpySdA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b677a7c08c98842dfbf0d64830e84548&oe=5DA1250B) TRẦN HẢI PHỤNG (Trần Lương; S. 1925), tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định (1961-67 và 1972-74). Quê xã Đức Lâm, h. Đức Thọ. t. Hà Tĩnh; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1979); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP. 1945-52 trưởng thành từ chiến sĩ đến cán bộ trung đoàn; tham mưu trưởng Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. 1954-55 cán bộ Ban liên hiệp đình chiến trung ương. 11.1956 trung đoàn trưởng, trưởng phái đoàn liên hiệp đình chiến ở khu phi QS. 1960 cục phó: Cục tình báo, Cục kế hoạch trang bị vật tư BTTM. Trong KCCM. 1961-67 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Đặc trách nội thành Sài Gòn, chỉ huy trưởng Phân khu 6 (x. phân khu). 1968 chỉ huy trưởng Tiền phương 2 (Đoàn 500). Năm 1972-74 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định. 10.1976 chỉ huy trưởng đoàn Phước Long, Quân khu 7. Tháng 2.1978- 82 cục trưởng Cục xây dựng kinh tế Quân khu 7; tư lệnh Bộ chỉ huy QS Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ Quân khu 7. Năm 1984-88 phó trưởng đoàn chuyên gia QS VN tại Cuba. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Chiến thắng hạng nhất... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67556698_461674337895785_4055884295040925696_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFQUxIY24qrxhYSkG1Gds7HBURC_Xlm8wFCg8JoFmCMuQqfqMi5Yt8zA4FhhrqGtLQ46E-9083XpXckGyDJTGcHyJjQ0PsXl1OasjfHTVw6-w&_nc_oc=AQnAtm1MIK77ff6lA8-SSVypKubS1vA7tT1gqJDitgWKSsNLcPBP07ygwpwXPUoWXW0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=6d2ab6a70de46de1b1358c43b69bf21b&oe=5DE0DE70) TRẦN HANH (S. 1932). thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1996-2000). Ah LLVTND (1967). Quê xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định; nhập ngũ 1949, trung tướng (1989); đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, 1951- 55 phái viên ban chính trị trung đoàn, chính trị viên đại đội, chính trị viên Tiểu đoàn 680, Trung đoàn 48, Đại đoàn 320. Năm 1956-58 học tại Trường không quân số 3 (TQ). 1964-69 đại đội trưởng Đại đội máy bay phản lực, rồi trung đoàn phó, trung đoàn trưởng Trung đoàn 921, Quân chủng phòng không - không quân. 1972 phó tư lệnh BTL không quân. 1973 học tại Học viện Gagarin (LX). 1974-76 tư lệnh Binh chúng không quân chiến đấu kiêm sư đoàn trưởng Sư đoàn 371, rồi tham mưu phó Quân chủng phòng không - không quân. 1977 phó tư lệnh Quân chủng không quân. 8.1977-79 học tại Trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. 1980-83 phó tư lệnh kiêm cục trưởng Cục huấn luyện, rồi phó tư lệnh thứ nhất Quân chủng không quân. 1985-86 học tại Học viện Vôrôsilôp (LX). 3.1986 tư lệnh Quân chủng không quân. 1989 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1996-2000 thứ trưởng BQP. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV (dự khuyết 1976-81. chính thức 11.1981-82). Đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, XI. Từ 2002 phó chủ tịch kiêm tổng thư kí BCHTU Hội cựu chiến binh VN. Huân chương: Quân công (hạng nhất, 2 hạng ba), Chiến công (hạng nhất. 2 hạng ba), Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68373135_461674357895783_5041458351783804928_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHJVPrnKd-J8T5I3s2kfBV2-OtKtOlLh65Zf-xNfYL9BVVUEZFXqr8hP65LqTEXUvD9Lpjku7Esh1gqB2WUdPk853GVMDr3yqu_sAg8vsNPbQ&_nc_oc=AQnsS7pfULEbCmquoQPAcNQidLC3M-lWLzXWuCDMLmmeLHmkNq2Ia1QwlDpQFkRcfQs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=646c5e760f6f18b7c0c5933b63108414&oe=5DE0E29D) TRẤN HIỂN QUANG (S. 1928), Ah LLVTND (1956). Quê xã Ninh Qưới, h. Hồng Dân, t. Bạc Liêu; nhập ngũ 1947, đại tá (1990); đv ĐCS VN (1948); khi tuyên dương Ah là đại đội trưởng công binh, Sư đoàn 330. Trong KCCP, 1950-54 chiến sĩ công binh, chỉ huy và tham gia đánh tàu địch trên sông tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, đánh chìm 5 tàu, 1 xe lội nước, đánh hỏng nặng 2 tàu, diệt hơn 500 địch (có 12 sĩ quan). 2.1952 trong trận đánh đoàn tàu của bộ tham mưu vùng Cần Thơ, Rạch Giá đi kiểm tra trên sông Sa Nô (Ô Môn, Cần Thơ), THQ chỉ huy tiểu đội, khéo ngụy trang, đặt thủy lôi đánh chìm tàu chỉ huy, diệt toàn bộ địch trên tàu. Trận chống càn 12.1952 cùng đồng đội đặt thủy lôi ở sông Cái Xĩnh (Long Mĩ, Cần Thơ), đánh chìm 1 tàu lớn của địch đón quân đổ bộ, diệt hơn 400 sĩ quan và binh lính dịch, buộc dịch phải bỏ dở cuộc càn quét. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67868483_461680667895152_5582663220792918016_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHWduV1nwsZkn53EOJPOF452O5i5eCsluPsCySWxeGtK7pAG-3nRFIi59ZET0yvJbHsu2hsIYBLG9oZusffd72WSGIl8y7jUJvXgqjehGA9xg&_nc_oc=AQkv9vXk508YAjAR_E3kXsVj6hr7IQZt5cfdH0z0cFCi4UBN3m0cLOUESJbaq822JJc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=701aa63362706ac4a50a3bc157544eae&oe=5DA6D721) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:00:37 pm TRẦN HƯNG ĐẠO X. TRẦN QUỐC TUẤN TRẦN HỮU BÀO (S. 1949). Ah LLVTND (1970). Quê xã Hiền Sơn, h. Đô Lương, t. Nghệ An; nhập ngũ 1967, đại tá (1992); dv ĐCS VN (1970); khi tuyên dương Ah là chiến sĩ, Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Ngày 6-7.4.1968 cùng tiểu đội chốt giữ điểm cao 595 (Khe Sanh, Quảng Trị), đánh lui nhiều đợt tiến công của hơn 1 tiểu đoàn Mĩ có máy bay và pháo binh yểm trợ, diệt gần 200 địch (THB diệt 78). Khi còn một mình. THB vừa băng bó cho đồng đội, vừa chiến đấu giữ vững chốt. Huân chương: Chiến công hạng nhất, Dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67469977_461680674561818_2894904001562673152_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHBoU5-fcLq2ZzcAnaDyr2EVnRP5wAE6q62scKDrtFCMf1NAnOseUXHUV6zxI5h51GSLbnxweFvkr3BBg7yq3M7DiY0JJAv3alPY9Nici5hrA&_nc_oc=AQkW8tUl_RbwOVI3C2lUfuPfKS_dVqEUUVqT1wH3UJUL2OeX1DNrwgmGDw0wnfjvxNo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c8abb1dcf134111c0c97f64a4a4e51c3&oe=5DDF5E6C) TRẦN ÍCH TẮC (?-?), Chiêu Quốc Vương (1267) triều Trần đầu hàng quân Nguyên - Mông. Con thứ vua Trần Thái Tông, có tham vọng đoạt ngôi trưởng, muốn dựa vào thế lực quân Nguyên - Mông để lên ngôi vua. 1285 quân Nguyên - Mông do Thoát Hoan cầm đầu sang xâm lược Đại Việt lần hai. Thăng Long thất thủ, TIT cùng gia quyến ra hàng. Khi quân Nguyên - Mông bị đánh bại, đã chạy theo sang TQ, vua Nguyên phong làm An Nam quốc vương, cho ở Hán Dương (t. Hồ Bắc, TQ) sử dụng làm con bài để tiếp tục thực hiện âm mưu xâm lược Đại Việt. 1287 quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt lần ba, TIT theo chân về nước. Một lần nữa quân Nguyên - Mông bị đánh bại, TIT lại chạy theo sang TQ, vua Nguyên cho làm bình chương ở Hồ Quảng; gần 30 năm sau TIT chết tại đó. TRẦN KHÁNH DƯ (7-1339), danh tướng, tôn thất nhà Trần, tước Nhân Huệ Vương. Quê h. Chí Linh, t. Hải Dương. Say mê sách vở, giỏi binh thư. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần / (1258), TKD là một trong những dũng tướng thường bất ngờ đánh úp quân địch, lập nhiều chiến công, được Trần Thái Tông khen là người trí dũng, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Sau đó, dẹp loạn ở vùng núi, thắng lớn, được phong Phiêu kị đại tướng quân. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III (1287-88) TKD làm phó tướng chận giặc ở Vân Đồn, tuy không ngăn được đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi (cuối 1287), nhưng nhờ tài phán đoán thuyền lương giặc sẽ đến, TKD chỉ huy đánh bại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, thu nhiều quân lương, khí giới (đầu 1288). Mất nguồn lương thảo, quân Nguyên - Mông hoang mang, dao động, buộc phải tìm cách rút khỏi Đại Việt. TKD viết đề tựa cho tập binh thư “Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Quốc Tuấn. Có đền thờ ở bến Linh Giang (Chí Linh, Hải Dương). TRẦN KHÁT CHÂN (1370-99), danh tướng cuối thời Trần. Quê Hà Lương, h. Vĩnh Ninh (nay là h. Thanh Liêm, t. Hà Nam). Xuất thân dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng. 1389 quân Chiêm Thành vào đánh phá Thanh Hóa, Hồ Quý Li không đánh dẹp được, thượng hoàng Trần Nghệ Tông cử TKC chỉ huy quân Long Tiệp đánh bại quân Chiêm Thành, giết chúa Chiêm là Chế Bồng Nga. từ đó quân Chiêm không dám quấy phá nữa. TKC được phong nội vệ thượng tướng quân, tước Vũ Tiết Quan Nội Hầu. 1399 nhân hội thề ở Đốn Sơn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), cùng một số vương hầu và tướng nhà Trần mưu giết Hồ Quý Li, nhằm khôi phục nhà Trần. Việc không thành, TKC cùng hơn 370 người bị Hổ Quý Li giết hại. Nhân dân vùng Kẻ Mơ (Thăng Long) và nhiều nơi khác đã lập đền thờ TKC. TRẦN KIỆN (7-1285), tướng nhà Trần đầu hàng quân Nguyên - Mông. Đầu 1285 khi quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy đánh Đại Việt ở phía nam, Chương Hiến Hầu TK được lệnh đem quân vào giữ Thanh Hóa. 8.3.1285 chỉ huy 10.000 quân chưa đánh đã đầu hàng địch. 9.3.1285 dẫn đường cho tướng Nguyên - Mông là Giảo Kỉ tập kích quân Trần ở Thanh Hóa, giết hai tướng Đại Việt là Đinh Xá và Nguyễn Tất Thống. 5.1285 khi tướng Nguyên - Mông là Minh Lí Tích Ban đưa những người đầu hàng phản bội về TQ, TK bị Nguyễn Địa Lô bắn chết. TRẦN KIỆT (Trần Thùng; 1937-71), Ah LLVTND (truy tặng 1976).Quê xã Hòa Hiệp Nam, h. Tuy Hòa, t. Phú Yên; nhập ngũ 1960; đv ĐCS VN (1964); khi hi sinh là trung úy, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14, bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên. 1960-71 tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu hàng trăm trận, cùng đơn vị diệt hơn 800 địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (TK diệt 245 địch, có 35 Mĩ và 69 Nam Triều Tiên). 30.12.1971 khi đi chuẩn bị chiến trường bị 3 đại đội bộ binh địch có máy bay yểm trợ bao vây ở Tuy Hòa, một mình giữa vòng vây, TK bình tĩnh chiến đấu, diệt 18 địch và hi sinh. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67800243_461680684561817_2209841380522459136_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHfv0VCsEt368aSz7db_Ixdg1pRqtt37FlcxvfIHp572wZjpne4vggYMpYv8gvDSzX-6BAwVxI7mW6BLdpCXTk8_NPtAOXcYC3I50HgfaUQDA&_nc_oc=AQk4t5iWZVh2KU7sOoNk1eWIjBGO6fhzldHTfhRLzhsPtEvQWfqQoNZAH-UMt4Uw_no&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a4d5f03cf8cec67db0759d760e88058c&oe=5DD830E6) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:02:17 pm TRẦN MINH THIỆT (Trần Quang Diệu; 1946-98), Ah LLVTND (1976). Quê phường Hòa Quý, q. Ngũ Hành Sơn, tp Đà Nắng; nhập ngũ 1965, thiếu tướng, phó tư lệnh Quân khu 5 (1998); đv ĐCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là thượng úy, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bộ binh 8, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2. Từ 1965-75 chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, miền Đông Nam Bộ; chỉ huy trung đội, đại đội rồi tiểu đoàn đánh 64 trận, diệt 7 tiểu đoàn và nhiều đại đội địch (riêng TMT diệt 86 địch, bắn cháy 1 xe tăng). 5.2.1967 trong trận Đồi Tranh (Quảng Ngãi), chỉ huy trung đội đánh chiếm lô cốt đầu cầu và SCH địch, tạo thuận lợi cho đơn vị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên (Hàn Quốc). 30.10.1972 trong trận chốt giữ khu vực Ái Tử (Quảng Trị), địch phản kích, bắn hàng nghìn đạn pháo, dùng 5 lần chiếc B-52 ném bom xuống trận địa, TMT chỉ huy đại đội diệt 1 tiểu đoàn địch, giữ vững trận địa. 1975 trong chiến dịch Đà Nẵng, chỉ huy tiểu đoàn đánh chiếm quân cảng Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, diệt 3 tiểu đoàn địch; trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975), chỉ huy tiểu đoàn đánh chiếm Bình Sơn (Bà Rịa) diệt 1 tiểu đoàn địch, tạo thế cho trung đoàn tiến công vào Sài Gòn. Hi sinh 25.5.1998 do tai nạn máy bay tại Xiêng Khoảng (Lào). Huân chương: chiến công (hạng nhất, hạng ba), 2 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67820079_461680701228482_6279062476730400768_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHERab-BY66WUdWzQ3eaW1WzKeytllTa7QnkG2cMd_pE6vvikbQD6Cip1D0RiQtl2Zzqc8xlxi1bvOBqCBUZ1h_3B7GkARNttfCwhXFLSG4xQ&_nc_oc=AQnT4s9bXnj0Fpruvuhkq3HgoBcpdU_X9dl02D-FgYibLees_SXMMm42rQQrq0CTSdc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=af4dbc08ccc3f562b86040371af417a2&oe=5DE04C26) TRẦN MINH VÂN (S. 1922), trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 trong KCCP (1953-54). Quê xã Xuân Trung, h. Xuân Trường, t. Nam Định; nhập ngũ 8.1945, đại tá (1966); dv ĐCS VN (1945). Tháng 3.1945, đội trưởng Đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Nam Định, trong cách mạng tháng Tám 1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện miền nam t. Nam Định. 10.1945 chính trị viên trung đội, Chi đội Thu Sơn {Bộ đội Nam tiến). 1946-48 chính trị viên dại đội rồi tiểu đoàn phó. chỉ huy trường Mặt trận Nam Định, ủy viên ủy ban kháng chiến t. Nam Định. 1950-52 tiểu đoàn trướng rồi trung đoàn phó Trung đoàn 66. Năm 1953-54 trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chiến đấu ở chiến trường Trung - Hạ Lào. Tháng 8.1954-56 tham mưu phó, rồi sư đoàn phó Sư đoàn 304. tham mưu phó Quân khu Hữu Ngạn. 7.1956-59, học tại Học viện BTTM QĐ LX. 1960 hiệu phó Trường trung cao QS. 1963 chủ nhiệm Hệ QS Học viện quân chính. 1966 phó giám đốc Học viện QS. 1967 phó tư lệnh chiến dịch Nậm Bạc. 1968 phó tư lệnh Mạt trận Quảng Đà. 1969-79 cục phó Cục tác chiến BTTM. Huân chương: Độc lập hạng ba. Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhì... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67566905_461680711228481_7156446698129063936_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGh1hA7DCoYzMWPWTD4DkQyzUjTAgJIVVDTQT5s806OOnlUBaroehaubyGwCn9uHk3121Nb8nULF-QFWDAmD5038x2TPobzN41PZHbRL-Y8dQ&_nc_oc=AQmxjDCcanJj6qOoeuDxvQJ4trDfWdDORZgEbRwwLzs1nZvQyfK7NlGntDCs52-xP8s&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e34ced5f643ce2fdfb006ac838d1fabb&oe=5DEA8E4F) TRẦN NAM TRUNG (Trần Lương; S. 1912), bộ trưởng BQP Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN (1969- 75). Quê xã Đức Thạnh, h. Mộ Đức, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1927, nhập ngũ 1945; dv ĐCS VN (1931). Năm 1930 hoạt động trong nhóm Đông Dương cộng sản liên đoàn. 1931-43 bí thư huyện ủy, rồi bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi, nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. 1944-8.1945 tham gia thành lập ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, bí thư Tỉnh úy Quảng Ngãi và Bình Định. 9.1945-46 ủy viên Xứ ủy Trung Bộ phụ trách QS; chính úy, thường vụ Khu ủy Khu 5, chính ủy Mặt trận Buôn Hồ - An Khê. Tháng 4.1952-54 phó chủ nhiệm TCCT, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, phụ trách công tác chính trị hậu cần. 1955 bí thư Liên khu ủy Liên khu 5. Năm 1964 phó chủ tịch ủy ban trung ương MTDTGPMN VN. Năm 1969-75 bộ trưởng BQP Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN. 1976-82 chủ nhiệm ủy ban thanh tra chính phủ nước CHXHCN VN, ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa III, IV (dự khuyết 1955-60). Đại biểu Quốc hội khóa VI. Huân chương: Hồ Chí Minh. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67709394_461680731228479_8334485025454030848_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHlUesGVedXnXJE82wJCE9xTVj1eu57hPptEl4yKF_DsRaPE2ioKznyRFMs_sPWqRHfRQi53mToEcRG7GhzCyUtc1eqq-D7KhabWkemQC3S9Q&_nc_oc=AQkYJT_4eAakZvNJE_3Cmd1O2PTAhlT1ycBIthL1-fhIazdL-uZJbjJErz_iWFNQSoE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7af4cc293b05df2b7934d467256a5bd2&oe=5DDF0EBC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:03:17 pm TRẨN NGHỊ (Chen Yi; 1901-72), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955). tham gia sáng lập và lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người h. Lạc Trí t Tứ Xuyên (TQ); đv ĐCS TQ (1923). Năm 1919 sang học tại Pháp. 1926-28 tham gia chiến tranh Bắc Phạt, khởi nghĩa Nam Xương; lãnh đạo khởi nghĩa Tương Nam; tư lệnh Quân đoàn 22, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Giang Tây... Tham gia Vạn li trường chinh (1934-36). Năm 1936-39 trưởng ban cán sự chính phủ trung ương nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa; lãnh đạo chiến tranh du kích ở Giang Tây, Quảng Đông. Trong chiến tranh chống Nhật, tư lệnh Chi đội 1 Tân tứ quân; tổng chỉ huy Bộ tổng tư lệnh Hoa Trung, cùng Lưu Thiếu Kì chỉ huy Bát lộ quân và Tân tứ quân. 1941-48 chỉ huy Tân tứ quân kiêm tư lệnh quân khu: Sơn Đông, Hoa Đông, tư lệnh kiêm chính ủy Dã chiến quân Hoa Đông; tham gia chỉ huy chiến dịch Hoài Hải. 1949 tư lệnh Dã chiến quân 3, đưa quân vượt Trường Giang giải phóng Nam Kinh, Thượng Hải... 1954-66 phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm bộ trưởng Bộ ngoại giao; phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng khóa I-III; phó chủ tịch Quân ủy trung ương ĐCS TQ khóa VIII, IX. ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa VII-IX, ủy viên BCT khóa VIII. Trong “đại CM văn hóa” bị bức hại, mất tại Bắc Kinh. Tác phẩm chính: “Tuyển tập thu từ Trần Nghị”. TRẦN NGỖI (Giản Định Đế; ?-?), lãnh tụ khởi nghĩa chống Minh (1407-09). Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Con thứ vua Trần Nghệ Tông. 1407 khi quân Minh (TQ) xâm lược, TN dựng cờ khởi nghĩa để giành độc lập và khôi phục triều Trần, lên ngôi ở châu Trường Yên (nay thuộc Ninh Bình), xưng là Giản Định Đế, tập hợp được một số tướng dưới triều Trần, Hồ như Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân... Sau khi đánh tan quân Minh ở cửa Nhật Lệ (Quảng Bình), nghĩa quân chiếm cứ từ Thanh Hóa trở vào Nam. 12.1408 cùng Đặng Tất chỉ huy trận Bô Cô (Ý Yên, Nam Định), gây tổn thất lớn cho quân Minh, tướng Minh là Mộc Thạnh phải chạy về thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định). Thừa thắng, nghĩa quân bao vây thành Đông Quan (Hà Nội). Nghe lời dèm của nịnh thần, TN đã giết hai tướng tài Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, làm nội bộ li tán, dẫn đến tan rã. 1409 cuộc khởi nghĩa bị thất bại, TN bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (Nam Kinh, TQ). TRẦN NGUYÊN HÃN (Lê Hăn; 7-1429). danh tướng nghĩa quân Lam Sơn. Quê xã Sơn Đông, h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc, vốn dòng dõi tư đồ Trần Nguyên Đán; người có học thức, giỏi binh pháp, tham gia kháng chiến chống Minh, được Lê Lợi tin dùng, phong tư đổ, cho dự bàn mưu kín. 1425 góp công lớn trong trận vây hãm Nghệ An và giải phóng Thuận Hóa. 1426 chỉ huy hơn 100 thuyền đánh thẳng thủy quân của Vương Thông ở bến Đông Bộ Đầu, thu hơn 100 thuyền. 1427 chỉ huy đánh trận Xương Giang (9.1427), được phong thái úy. 1428 sau thắng lợi được bình công đầu và được thăng tả tướng quốc, được ban quốc tính (mang họ vua). 1429 bị nghi oan và bị bắt; chết trên đường giải về kinh. 1455 được Lê Nhân Tông minh oan. TRẦN NHÂN TÔNG (Trần Khâm; 1258-1308), vua thứ ba nhà Trần (1278-93). Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Con trưởng Trần Thánh Tông, năm 16 tuổi được lập làm thái tử, lên ngồi 1278, lấy niên hiệu Thiệu Bảo (1279-84), Trùng Hưng (1285-93). Năm 1282 trước nguy cơ xâm lược của quân Nguyên - Mông (TQ), TNT triệu tập hội nghị Bình Than (10.1282), cùng thượng hoàng Trần Thánh Tông mở hội nghị Diên Hồng (1285) tại kinh đô Thăng Long để bàn kế sách chuẩn bị kháng chiến và thống nhất ý chí quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Nhờ đoàn kết được lực lượng, dựa vào sức mạnh cả nước, biết sử dụng nhân tài, TNT đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh bại quân Nguyên - Mông xâm lược (1285 và 1288), thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo với nhà Nguyên - Mông và các nước láng giềng, tạo cơ sở giữ gìn toàn vẹn bờ cõi quốc gia, phát triển đất nước. 1293 truyền ngôi vua cho con là Trần Anh Tông để làm thái thượng hoàng. TNT sùng đạo Phật. 1299 xuất gia đi tu ở núi Yên Tử (h. Đông Triều, t. Quảng Ninh) và mất tại đó, được tôn là đệ nhất tổ giáo phái Trúc Lâm. TRẦN NHẬT DUẬT (1255-1330), danh tướng thời Trần. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Con thứ 6 của vua Trần Thái Tông. TND học rộng biết nhiều, am hiểu phong tục tập quán và biết nhiều thứ tiếng của các dân tộc trong và ngoài nước. 1280 dẹp loạn Trịnh Giác Mật (tù trưởng đạo Đà Giang) bằng cách thuyết phục quy hàng. 1285 chỉ huy quân Trần với sự tham gia của gia tướng Triệu Trung cùng một số binh sĩ người Tống, đánh bại quân Nguyên - Mông trong trận Hàm Tử (5.1285), góp phần đánh bại cuộc xâm lược lần II của quân Nguyên - Mông. 1297 TND chỉ huy dẹp loạn cát cứ ở sách A Lộc. TND soạn thảo văn thư triều đình ở các thời: Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông. Được nhà Trần phong thái úy quốc công và tá thánh thái sư. 1329 được phong Đại Vương. TND còn là nhà văn, nhà soạn nhạc. Tác giả sách: “Lĩnh Nam dật sử”. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:04:33 pm TRẦN PHÚ (Lí Quý; 1904-31), tổng bí thư ĐCS Đông Dương (10.1930-4.1931). Quê xã Tùng Anh, h. Đức Thọ, t. Hà Tình. 1922 dạy học ở Vinh (Nghệ An), bắt đầu liên lạc với các chí sĩ yêu nước. 1925 gia nhập hội Phục Việt (sau đổi thành Tân Việt CM đảng), tích cực tham gia phong trào đấu tranh đòi trả tự do cho Phan Bội Châu và tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh. 1926 được cử sang Quảng Châu (TQ) bàn việc hợp nhất các tổ chức CM VN. dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy. 1927-29 học Trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản ở Maxcơva (LX), đại biểu cho những người cộng sản VN dự đại hội VI Quốc tế cộng sản. 4.1930 về nước hoạt động. 7.1930 được bổ sung vào BCHTƯ lâm thời của ĐCS VN, trực tiếp soạn thảo Luận cương chính trị 1930 của Đảng (tại nhà số 90 phố Thợ Nhuộm. Hà Nội). 10.1930 chủ trì hội nghị BCHTƯ lần thứ nhất, thông qua luận cương chính trị, quyết định đổi tên Đảng thành ĐCS Đông Dương, được bầu làm tổng bí thư. 3.1931 hoạt động tại Sài Gòn (nay là tp Hồ Chí Minh), chủ trì hội nghị BCHTƯ lần thứ hai bàn việc chấn chỉnh tổ chức, đẩy mạnh cao trào CM. 18.4.1931 bị thực dân Pháp bắt; 6.9.1931 hi sinh tại nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67873253_461680741228478_6079180308001849344_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFGQ7Fy6SHhPd3kQvEOz_aNAHo2QuYtbe1eZ3eF559HO6hXekUPq6F1-hinZr5FGYQohRUABhW98EJZrUTg9bKch61pAiyZ3s1cMf8LpTwkPw&_nc_oc=AQnh31VyT0iYTcj6urUHen3nl8ROAMlGwW2Er686NEQNTTUn892qu64Thh4b6le8Cjw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=49b6ef5e9a23a531e48da5685ac9cc4a&oe=5DA307B3) TRẦN PHƯỚC YÊN (1947-72), Ah LLVTND (1972). Quê xã Thạch Hóa, h. Tuyên Hóa, t. Quảng Bình; nhập ngũ 1963, trung úy (1972); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là tiểu đội phó súng máy phòng không 12,7mm, Đại đội 42, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 40, BTL Mặt trận Tây Nguyên. 1965-72 chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, cùng tiểu đội bắn roi 35 máy bay Mĩ (mỗi trận bắn rơi 4 chiếc). 1969 làm nhiệm vụ chiến đấu chi viện cho bộ binh vây ép địch tại Plây Cần, TPY bị thương vẫn chiến đấu, bắn rơi 9 máy bay địch. Trận Đắc Song (2.11.1969), cùng tiểu đội tạo thế bất ngờ, bắn rơi và bắn cháy 2 máy bay, đánh trả quyết liệt hơn 30 lần máy bay đến cứu phi công, bắn rơi 5 (TPY bắn rơi 4 chiếc). Chiến dịch Đắc Siêng (4.1970), chỉ huy tiểu đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu (TPY bắn rơi 2 chiếc). Huân chương: Chiến công (2 hạng nhì, 1 hạng ba), 7 lần Dũng sĩ diệt Mĩ. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67732106_461680754561810_4762943642627211264_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFmHczYi72V8irZEEA4BwNYbxcBBAeg_TU4f5SqYKY-5xIYkmDxo7ud4HuOXdeyPehryDWu6W7Y54oLYpyzfJ3XWjFiPJE1KNS39pDRZO4Xdw&_nc_oc=AQkvpUJNfeMysK8ufzV25tSC-9EAxLdbfN6J-102CRAHP9JBvTrRncKK8UDDk9XtKd8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f35450a6335d5bc1236bea49b6e427ef&oe=5DE5B7EA) TRẦN QUANG DIỆU (7-1802), danh tướng, trọng thần triều Tây Sơn, chồng đô dốc Bùi Thị Xuân. Quê xã Ấn Tín, h. Hoài Ấn, t. Bình Định. Tham gia khởi nghĩa Tây Sơn từ đầu, tham gia trận đại phá quân Thanh đầu Xuân Kỉ Dậu (1789), được cử làm đốc trấn Nghệ An. 1790-91 chỉ huy đánh bại quân nhà Lê do Lê Duy Chỉ (em ruột Lê Chiêu Thống) chỉ huy. 1792 thái phó, hết lòng giúp vua Cảnh Thịnh, chống lại thế lực Nguyễn Ánh, giữ phần đất phía Nam. 1801 chỉ huy đánh chiếm lại thành Quy Nhơn, bắt và phóng thích nhiều tướng sĩ của Nguyễn Ảnh. 1802 cùng Vũ Văn Dũng kéo quân ra cứu viện Nghệ An, bị bắt cùng vợ con ở Thanh Chương. Nguyễn Ánh nhiều lần chiêu dụ nhưng TQD không chịu khuất phục. Bị hành hình ở Phú Xuân. TRẦN QUANG KHẢI (1241-94), danh tướng thời Trần. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Con thứ ba của vua Trần Thái Tông, em trai Trần Thánh Tông. Vốn thông minh, giỏi văn võ, được phong tước Chiêu Minh Đại Vương (1258), cùng với Trần Quốc Tuấn là trụ cột của triều Trần trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II và III. Năm 1285 chỉ huy đánh chặn quân Toa Đô ở Nghệ An, phá kế hoạch hội quân của Thoát Hoan và đánh bại hàng vạn quân Nguyên - Mông ở bến Chương Dương (Thường Tín, Hà Tây), góp phần đánh bại cuộc xầm lược lần II của địch. Được vua Trần phong thượng tướng thái sư. Tác giả tập thơ: “Lạc Đạo”. Hiện còn đền thờ tại thôn Độc Lập, xã Mĩ Thành, h. Bình Lục, t. Hà Nam. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:05:44 pm TRẦN QUỐC TOẢN (1267-85), danh tướng trẻ tuổi thời Trần, tước Hoài Văn Hầu thuộc tôn thất nhà Trần. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). 1282 mới 15 tuổi không được dự hội nghị Bình Than, hổ thẹn và phẫn khích, TQT bóp nát quả cam vua ban mà không hay biết. Trở về Võ Ninh (nay là vùng Quế Võ, Từ Sơn, Bắc Ninh) tự chiêu tập hơn 1.000 gia nô, thân thuộc, lập thành đội quân dưới cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá địch mạnh báo ơn vua). 1285 đội quân của TQT tham gia đánh thắng quân Nguyên - Mông ở Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, Như Nguyệt (Sông Cầu). Khi đối trận với địch, TQT luôn xông lên trước quân sĩ. Hi sinh trong trận chặn quân Thoát Hoan rút chạy ở sông Như Nguyệt. Thương tiếc TQT, Trần Nhân Tông làm bài văn tế và truy tặng TQT tước Hoài Văn Vương TRẦN QUỐC TUẤN (Trần Hưng Đạo; 7-1300), Ah dân tộc, quốc công tiết chế (1283), nhà QS thiên tài. Quê phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Cháu vua Trần Thái Tông, TQT học rộng, có tài văn võ, đặt lợi ích dân tộc trên lợi ích của gia tộc và bản thân, dẹp hiềm khích với vua Trần, nêu gương trung quân, trọng dụng và đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước (Phạm Ngũ Lão, DãTượng, Yết Kiêu, Trương Hán Siêu...). 1258 chỉ huy đánh chặn quân Mông cổ ở Hưng Hóa. 1284 khi quân Nguyên - Mòng chuẩn bị sang xâm lược Đại Việt lần thứ II, TQT tổ chức duyệt quân ở Đông Bộ Đầu, đọc “Hịch tướng sĩ”, tổ chức rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng. Cuối 2.1285 quân Nguyên - Mông vào Thăng Long, vua Trần lo ngại ướm hỏi, TQT khẳng khái thưa: “Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết xin hãy chém đầu thần”. 5.1285 TQT cho quân Trần tổng phản công và trực tiếp chỉ huy đánh thắng trận đầu ở A Lỗ; liên tiếp thắng lớn trong các trận: Hàm Tử, Chương Dương và Vạn Kiếp, đánh bại cuộc xâm lược lần II của Nguyên - Mông. 1287 trước tình thế quân Nguyên - Mông chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần III, vua Trần hỏi về thế địch, TQT thưa: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Khi triều Trần muốn tuyển mộ thềm quân, TQT nêu nguyên tắc “Quân cần tinh, không cần nhiều” và chính mình rèn quân theo nguyên tắc đó. 1.1288 quân Trần đánh thắng trận Vân Đồn; 4.1288 thắng lớn trong trận Bạch Đằng và trận phục kích ở ải Nội Bàng (Bắc Giang), tiêu diệt hàng vạn quân địch, đánh bại ý đồ xâm lược của triều Nguyên. Được vua Trần phong: thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Tác giả của: “Hịch tướng sĩ”, "Vạn Kiếp tông bí truyền thư", “Di chúc tâu trình vua”. Hiện có đền thờ TQT ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương) và nhiều nơi trong cả nước. TRẦN QUÝ CÁP (Trần Nghị; 1870-1908), người tham gia sáng lập phong trào Duy Tân (1906-08). Quê làng Bất Nhị, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam. 1904 đỗ tiến sĩ, cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và một số sĩ phu yêu nước chủ trương vận động cải cách dân chủ, mở trường học dạy chữ quốc ngữ, nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, chống đế quốc phong kiến. 1906 làm giáo thụ phủ Thăng Bình (t, Quảng Nam) sau chuyển vào phủ Diên Khánh (t. Khánh Hòa); TQC sử dụng các trường này thành trung tâm truyền bá tư tưởng duy tân. 1908 phong trào chống thuế bùng nổ và phát triển mạnh ở Quảng Nam, thực dân Pháp lấy cớ bắt TQC, khép vào tội mưu phản và xử chém tại Khánh Hòa (5.5.1908). TRẦN QUÝ HAI (Bùi Chấn; 1913-85), thứ trướng BQP nước CHXHCN VN (1961-85). Quê xã Tịnh Thiện, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1930, nhập ngũ 3.1945, trung tướng (1974); đv ĐCS VN (1930). Nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. 1944 trong thời kì bị an trí ở Ba Tơ, tham gia thành lập ban vận động cứu quốc ở t. Quảng Ngãi và lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ (3.1945). Năm 1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở t. Quảng Ngãi, bí thư tỉnh ủy, ủy viên thường trực UBND tỉnh. 1946 ủy viên dự khuyết Xứ ủy Trung Bộ, phụ trách ba tỉnh Bình Định. Phú Yên, Khánh Hòa. 1947-52 chính trị viên Trung đoàn 101, chính ủy rồi tư lệnh Mặt trận Bình - Trị - Thiên. 1953-54 đại đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên Đại đoàn 325; chính ủy Mặt trận Trung Lào; chỉ huy chiến dịch Hạ Lào. 1955-78 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN, sau kiêm thứ trướng BQP (1961-85). Năm 1961-62 thứ trưởng BQP kiêm chủ nhiệm TCHC. 1973-80 thứ trưởng BQP, phó tổng tham mưu trưởng kiêm chủ nhiệm ủy ban thanh tra QĐ. 1975-85 thứ trưởng BQP kiêm trưởng ban cơ yếu trung ương, ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS VN khóa III. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba), Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67779309_461680771228475_3566172506203095040_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFCkQojcD1RTSq30APYLIPyu0p-BWOueyEXHNivjJJaIeRYiVx142122Ag36wMK-MKitmZx72A_kqpse8sHiAodnoXWwbbWPyJ-QBxiCTZAuw&_nc_oc=AQnwgKJwJovPYDIxMRJK6E2T1njAGl84e1Wv6gyLuvzRC2H2g7SZefralgpOm_qs7DE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f334fb5fcc32ed2475893e69cca20573&oe=5DE62E39) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:07:25 pm TRẦN QUÝ KHOÁNG (Trùng Quang Đế; 7-1414), vua thời Hậu Trần, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Minh (TQ) (1409-14). Quê làng Tức Mặc, phú Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định); cháu nội vua Trần Nghệ Tông. 1409 khi lực lượng khởi nghĩa của Trần Ngỗi suy yếu, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị suy tôn TQK làm vua (tại Nghệ An), đưa Trần Ngỗi làm thái thượng hoàng nhằm tập hợp và thống nhất lực lượng tiếp tục đẩy mạnh khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của TQK, 1409-12 nghĩa quân giành nhiều thắng lợi và làm chủ nhiều vùng rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào, có lúc mở rộng hoạt động tới sát thành Đông Quan (Hà Nội), nhà Minh phải đưa viện binh sang đối phó. Do lực lượng yếu hơn và sau thất bại tại Mộ Độ (Yên Mô, Ninh Bình), Ái Tử (Quảng Trị), đầu 1414 TQK và các tướng lĩnh bị quân Minh bắt và giải sang TQ, trên đường đi TQK nhảy xuống biển tự vẫn. TRẦN SÂM (S. 1918), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1963-76 và 1982-90). Quê xã Hải Xuân, h. Hải Lăng, t. Quảng Trị; tham gia CM 1938, nhập ngũ 1946, thượng tướng (1986); đv ĐCS VN (1939). Cuối 1939 bị thực dân Pháp bắt giam. 8.1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hải Lăng (Quảng Trị). 9.1945-50 ủy viên ủy ban hành chính tỉnh Quảng Trị; chính trị viên Chi đội Thiện Thuật; trung đoàn trưỏng Trung đoàn 101. Tháng 6.1950-52 chỉ huy phó Phân khu Bình - Trị - Thiên; tư lệnh kiêm chính ủy Khu 4. Năm 1953-57 cục trưởng Cục quán lực BTTM. 1957-60 phó chủ nhiệm TCHC. 1960-63 phó tổng tham mưu trưởng. 1963 thứ trưởng BQP kiêm: chủ nhiệm TCHC (1963-65), phó tổng tham mưu trưởng (1965-74 và 1975-76), phó chủ nhiệm TCKT (1974-75). Năm 1976-82 bộ trưởng Bộ vật tư. Thứ trưởng BQP kiêm chu nhiệm Tổng cục kinh tế(1982-86). ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa IV. Đại biểu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Hồ Chí Minh, 2 Quân công hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67483358_461680784561807_892309640774156288_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGc6cR0WhOP6hNYAkbWcgnzncyW3lIQWQVQkMcLDlCuTETKBLjaXcr5jFkB6DxlvJsKTe5-mNafBKBoz2CdgCA2z41WLJ8jg-p-mF0QC-gYmA&_nc_oc=AQlhQ3wN6rdNPcqQMAz0_EFY13fvBfrQrylz1PO0YhywvoJTIUUf3rwVvgnrR6EV_SY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=df879d4989e914fa27e884a2af89ddbc&oe=5DA1AB5A) TRẦN TÂN (7-1874), người lãnh đạo chú chốt khởi nghĩa Giáp Tuất (1874). Quê Chi Nè (nay là xã Thanh Chi), h. Thanh Chương, t. Nghệ An. Sau khi đỗ tú tài, làm bang biện ở Thanh Chương. Đầu 1874 TT cùng Đặng Như Mai tập hợp các văn thân yêu nước trong vùng, truyền hịch “bình Tây, sát Tả”, dấy binh khởi nghĩa ở vùng Thanh Chương, Quỳnh Lưu. Quân khởi nghĩa đã chiếm được thành Hà Tĩnh, bao vây phú Diễn Châu. 9.1874 triều đình Nguyễn đem quân dàn áp, nghĩa quân phải rút về vùng Cam Môn (nay thuộc t. Khâm Muộn, Lào), TT chết bệnh tại đó. TRẦN THÁI TÔNG (Trần Cảnh; 1218-77), vua đẩu tiên và dũng tướng nhà Trần (1225-58). Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Đinh). 1225 lên ngôi vua do sự sắp đặt của chú họ là thái sư Trần Thủ Độ. 1241 cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình thuộc Châu Khâm và Châu Ung nhà Tống để dẹp nạn cướp ở phía bắc. 1252 cầm quân chống Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi phía nam của tổ quốc. 1258 chỉ huy trận đánh lớn chống quân Mông cổ ở Binh Lệ Nguyên (nay thuộc h. Bình Xuyên, t. Vĩnh Phúc) và trận đánh bại quân Mông cổ ở Đông Bộ Đầu (khu vực gần cầu Long Biên. Hà Nội), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần I (1258). Dưới thời TTT (1225-58), các lĩnh vực QS, chính trị, văn hóa, tôn giáo, hành chính đều được củng cố và phát triển. TTT còn đặc biệt quan tâm đến việc đắp để Sông Hồng và những đê sông thuộc Thanh Hóa. Tác giả “Khóa hư lục”. TRẦN THANH HẢI (S. 1953), Ah LLVTND (1973). Quê xã Thọ Dân, h. Triệu Sơn, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1971, đại tá (1997); đv ĐCS VN (1972); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ, trung đội trưởng tên lửa chống tăng (B72). Đại đội 6, Tiểu đoàn 371, BTL pháo binh. 1972-73 là khẩu đội trưởng tham gia chiến đấu tại Quảng Trị, đánh 8 trận, điều khiển 26 quả B72, diệt 17 xe tăng, xe bọc thép, 1 xe ủi đất và 1 xe ở tô, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Trận Cầu Nhi (24 và 27.7.1972), bản 7 quả B72 diệt 5 xe tăng, giữ vững trận địa. 19.1.1973 ở Long Quang (Triệu Phong), bắn 2 quả B72, diệt 2 xe tăng. 27.1.1973 dùng quả đạn cuối cùng bắn cháy chiếc xe đi đầu chở lính, những chiếc còn lại hoảng hốt bỏ chạy. 29-30.1.1973 tại Cửa Việt, bắn 9 quả đạn diệt 7 xe tăng, cùng đơn vị đánh bại nhiều đợt phản kích của địch. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67445078_461680801228472_8653202926308687872_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeH4v5ayu1vs1CWlz8cC9uP7mTwYkb2Ek9WRJeGmuRTpRDyz17bk3xhiBO7Z89TwU13z4nMvWmkyfr0NBsTOuROznZkEjMFJsEYhjLKrVOJS0A&_nc_oc=AQntrB01st-usPzzxhmG_2xkJeeaWLDhGPsv7pTZmssiC7DkjgeLVHd7kqm2Fvic2ro&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5512a04891702299779c066e9f0079e1&oe=5DE5F917) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 12:09:03 pm TRẦN THANH HÙNG (S. 1951), Ah LLVTND (1976). Quê xã Long Hưng A, h. Lấp Vò, t. Đồng Tháp; nhập ngũ 1968, đại úy (1986); đv ĐCS VN (1969); khi tuyên dương Ah là trung sĩ, y tá Huyện đội Lấp Vò. 1968-75 y tá bộ đội địa phương tỉnh Đồng Tháp, cứu chữa và nuôi dưỡng 667 thương binh, bệnh binh trong điều kiện thuốc men, lương thực thiếu thốn, địch đánh phá ác liệt, chiến đấu nhiều trận để bảo vệ thương binh (bị thương 6 lần), diệt 137 địch. 12.1970 cùng một chiến sĩ chặn đánh 1 đại đội địch, cả hai đều bị thương, đơn vị đã kịp cất giấu thương binh an toàn. 9.1971 cùng một chiến sĩ đánh lui 1 đại đội địch, diệt 12, bảo vệ được thương binh. 3.1973 cài 2 quả đạn 106mm ở cổng đồn, diệt 9 dịch, phá kế hoạch càn quét của dịch. Huân chương: Chiến công hạng ba, 4 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67618030_461680827895136_8346977040913661952_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGfrnuelxM4JpeiwrnY9HRV4dYOAhSGvW4zZW9rdhGqYw7ahQm45Hwsyzm7rChgsn1P0suu1whTqOH84FfbhGQm8NRe_8-fMkK5RH0niu8R7w&_nc_oc=AQkiJ1m98OmjQcEQYyUzjAwq8ksdjmdKbm9mmfXZ5GF3i25bBZA0ebRvjX3Qfm_crLo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=ba08949d70e624301e4dbccf4963e2ff&oe=5DD86B74) TRẦN THANH TỪ (Trần Thanh Hùng; S. 1922), phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn (1968 vả 1970). Quê xã Vinh Xuân, h. Hương Phú, t. Thừa Thiên - Huế; tham gia CM 1939, nhập ngũ 1946, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1945). Năm 1939-45 thường vụ Việt Minh tỉnh Thừa Thiên. 11.1945 phụ trách binh công xưởng và công tác công vận tỉnh Khánh Hòa. Trong KCCP, 1946-54 giữ các chức vụ từ chính trị viên đại đội đến trung đoàn trưởng Trung đoàn 9. Trong KCCM, 3.1955 tham mưu trưởng Sư đoàn 351. Tháng 4.1961 tham mưu trưởng Cục hải quân. 1967 phó tư lệnh BTL hải quân, kiêm Quân khu Đông Bắc. 9.1968 phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, phó tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 10.1970 phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, rồi phó tư lệnh Quân khu 3. Tháng 1.1981-89 phó chủ nhiệm TCKT. Huân chương: Quân công hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68493356_461680807895138_8148803586269118464_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHncCl381hLd7vsTyVbV6UVASt7CeC5Yp3bKknOmV0zTryi4pUNI7mt9pN3GqLU9QfHOsjJQSP6gixZ0lIFh7d3pvTh_VLPW35FPoww8CNayA&_nc_oc=AQnXvrf_7EnGEW63yw77v2PjFvIg_saO7dBUUkMKFM16w1beDfrdVrkBUbCP6GO2aus&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=95c1656166664094b46b197c836bf665&oe=5DE8E9ED) TRẦN THÁNH TÔNG (Trần Hoảng; 1240-90), vua thứ 2 nhà Trần (1258-78), người tham gia chỉ đạo kháng chiến chông Nguyên - Mông lần II (1285) và kháng chiến chống Nguyên - Mông lấn III (1287-88). Quê làng Tức Mặc, phù Thiên Trường (nay là xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định). Lên ngôi vua sau khi quân dân Đại Việt giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần I (1258). Trong thời gian trị vì đã chú trọng việc học hành, khuyến khích khẩn hoang, lập điền trang, tích trữ lương thực, quan tâm xây dựng QĐ, nhất là thủy quân (X. quân đội nhà Trần), thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo..., đất nước bình yên, thịnh vượng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu xâm lược. 1278 nhường ngôi cho con là Trần NhânTông, lên làm thái thượng hoàng. Khi quân Nguyên - Mông lại sang xâm lược Đại Việt, đã cùng vua Trần Nhân Tông triệu tập hội nghị Diên Hồng (1285) và tổ chức kháng chiến thắng lợi, đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông. Cuối đời chuyên tâm soạn kinh phật, tác phẩm chính: “Di hậu lục”, “Cơ cừu lục”, “Thiền tông liễu ngộ ca”... TRẦN THẾ MÔN (Trần Đình Thìn; S. 1915), chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Tây Bắc (1963-66). Quê xã Nhân Đạo, h. Lí Nhân. t. Hà Nam; tham gia CM (1936); nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1944). Năm 1936-40 hoạt động CM ở Hải Phòng. 11.1940 bị địch bắt giam ở Thái Nguyên. 10.1944 vượt ngục, đại đội trưởng cứu quốc quân ở khu giải phóng (Sơn Dương, Đại Từ). 8.1945-47 trung đoàn trưởng, chính ủy các trung đoàn: Phú Yên, Bắc Bắc, 115; trưởng phòng kinh tế khu úy Khu 10. Từ 1948-53 phái viên thanh tra thuộc Tổng thanh tra QĐ, trưởng phòng tham mưu Cục dân quân. 1954-56 học tại Trường đảng Bắc Kinh (TQ). 7.1956 chính ủy, bí thư đảng ủy Cục công binh BTTM. 1962 học tại Học viện QS cao cấp (TQ). 1963 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Tây Bắc. 8.1966 chính ủy, bí thư đảng ủy Mặt trận B5 (Trị - Thiên), phó chính ủy Quân khu 4. Tháng 7.1967 chính ủy, bí thư đảng ủy Mặt trận B3 (Tây Nguyên). 1974-76 chính ủy, bí thư đảng ủy Binh chủng công binh. 1977-79 chánh án, bí thư đảng ủy Tòa án quân sự trung ương, phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Huân chương: Độc lập hạng nhất. Quàn công hạng nhất. Chiến công hạng nhất. Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67684885_461680841228468_7243048258317058048_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFM-mTxk3gWU_B8nSl2cTNldWN54PJGa1N7xjVjKGpGg2fQhIiA-sr5qA4OVi4w1kJRxizk5lfi_7OmQ663zd4piXMR6a9EWuMDdQ3067g-Jw&_nc_oc=AQloYGAcaz_lyCXTXjrGA63Im4KwyRYNiAbMNu6MXM9LnYH5SrGP_aIcFNJPDI23bQs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1cb6dfbe17916cbf41a1f420363b83c2&oe=5DDC55CD) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:24:24 pm TRẦN THỊ LÍ (Trần Thị Nhâm; 1933-92), Ah LLVTND (1992). Quê xã Điện Quang, h. Điện Bàn. t. Quảng Nam; tham gia CM 1945; đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP. 12 tuổi đã tham gia Đội thiếu niên cứu quốc. 1946- 53 chánh văn phòng Huyện hội phụ nữ Điện Bàn; ủy viên thường vụ BCH thanh niên cứu quốc huyện. 1954-55 cán bộ thanh niên tỉnh Quảng Nam, phụ trách đường dây bí mật của tỉnh tại tp Đà Nẵng, TTL đã kiên trì, khôn khéo liên lạc, tập hợp được nhiều cán bộ ở các địa phương đang bị địch truy lùng, khủng bố tìm cách lánh ra Đà Nẵng, tránh được tổn thất cho CM. Ba lần bị địch bắt giam (1952. 1953 và 1957) và dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man (tra điện, đóng đinh vào mười ngón tay, dùng dùi nung đỏ đâm vào da thịt...), vẫn kiên trung, bất khuất. 10.1958 sau tra tấn địch tưởng chết đem vứt ra ngoài nhà lao. Được cơ sở cứu và đưa ra miền Bắc chữa trị vết thương. Mặc dù là thương binh hạng 1/4, trên người mang gần 50 vết thương, TTL vẫn tích cực tham gia công tác xã hội. 1961-79 ủy viên BCH trung ương Hội thanh niên VN. Mất 20.11.1992 do vết thương cũ tái phát. Huân chương: Kháng chiến hạng nhất. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67594439_461680851228467_5557973506802581504_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeGwSEqytCMI03ovXTbqzy0F0fa0poTFhJaYcDX9VmPTmreaskIrvrdR10OdKJygw0RZ17TwbcY-asxA3x8yVp_deVuVxrlGvsrE12PuQ33ZMA&_nc_oc=AQkye8EI0kuTjKvU-qLb6OWQvH1ARdiySC4S2ul03KTdeDSLJfLVco6YcwsLDMF0J-U&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cc52f62378779f2393a3512602cdfaf1&oe=5DDA2CD7) TRẦN THỦ ĐỘ (1194-1264), thái sư, người chủ đạo sáng lập nhà Trần. Quê làng Lưu Xá, h. Ngự Thiên, lộ Long Hưng (nay là xã Canh Tân, h. Hưng Hà, t. Thái Bình). Cuối thời Lí, làm điện tiền chỉ huy sứ. 1225 TTĐ ép Lí Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần cảnh (cháu TTĐ), lên ngôi hoàng đế hiệu là Trần Thái Tông, lập ra triều Trần. Có công lớn giúp vua (còn nhỏ tuổi), trấn áp các lực lượng chống đối, ổn định triều chính. 1257 trước sức mạnh của khoảng 3 vạn quân xâm lược Mông Cổ, TTĐ khẳng khái tâu vua: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” đã cúng cố quyết tâm kháng chiến của vua tôi nhà Trần. 1258 ra sức đôn đốc quân dân đẩy mạnh kháng chiến, lập chiến công thắng quân Mông cổ lần I (X. kháng chiến chống Nguyên - Mông lần 1,1258). TRẦN TRỌNG KIM (Lệ Thuần; 1882-1953), thủ tướng chính phủ do Nhật dựng lên ở VN (1945). Quê xã Đan Phổ, h. Nghi Xuân, t. Hà Tĩnh. 1903 tốt nghiệp trường thông ngôn, làm việc tại tỉnh lị Ninh Bình. 1904 sang Pháp học ở Liông. 1911 về nước, làm việc ở Nha học chính, thanh tra các trường tiểu học, tham gia Hội đồng biên soạn sách giáo khoa, dạy học ở Trường sư phạm thực hành Hà Nội, giám đốc các trường nam Hà Nội. 1943 về hưu. 17.4.1945 TTK thành lập chính phủ thân Nhật và làm thủ tướng (tổng lí đại thần), đi ngược lại CM giải phóng dân tộc của nhân dân VN. Chính phú TTK bị sụp đổ trong CM tháng Tám (1945). Tháng 9.1953 tham gia chính phủ Bảo Đại, làm chủ tịch Hội đồng quốc gia. Bị chết đột ngột (12.1953). Có một số tác phẩm viết về lịch sử, tiếng Việt và tôn giáo. TRẦN TỬ BÌNH (Phạm Văn Phú; 1907-67), phó tổng thanh tra QĐ (1950). Quê xã Tiêu Động, h. Bình Lục, t. Hà Nam; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1948); đv ĐCS VN (1931). Năm 1929 tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). 2.1942 ủy viên Xứ ủy dự bị Bắc Kì, bí thư Khu ủy Khu D (Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên Quang), rồi bí thư Khu ủy Khu B (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình). Bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần. 3-8.1945 vượt ngục, ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kì, bí thư Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Bắc Bộ. 10.1945 chính ủy Trường quân chính. 3.1947 phó bí thư Quán ủy trung ương phụ trách công tác cán bộ và kiểm tra Đảng. 10.1950 chính ủy Trường lục quân, kiêm phó tổng thanh tra QĐ. 1957 đại sứ VN tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa III, đại biểu Quốc hội khóa n, m. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến thắng hạng nhất... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67802809_461680871228465_4151931501925105664_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGC_EaknOt9pf-P66VfSGLhFm5VhnaLTiaqk83jdqsnH4uUl5_eJPh6Fvlclw00iXYjwGZLwpi-3lb7HdL7XJ6Mc5BvoidCmmWllPeQXiu56g&_nc_oc=AQkWBQTxtAS7frNsarMwtBpL6gB1p9KZb6k343CnJsAtGO9fUlIxOEZad7_d-6qpSP8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=800016c718f289b921c6c740d7c3d849&oe=5DDBAC31) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:26:10 pm TRẦN VĂN CHUÔNG (1929-54), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Quê xã Cát Lại, h. Bình Lục, t. Hà Nam; nhập ngũ 1948; đv ĐCS VN (1949); khi hi sinh là đại đội phó, bộ đội địa phương tỉnh Hà Nam. Trong KCCP, 1948-54 đánh trên 200 trận, diệt 392 địch, làm bị thương 99 và bắt sống 19, phá hủy 57 xe QS (có 4 xe tăng). Có nhiều sáng kiến đánh địch bằng bom, mìn, được tôn là “vua mìn”, huấn luyện 193 cán bộ, chiến sĩ sử dụng bom mìn đánh hàng trăm trận, gây cho dịch nhiều tổn thất. 7 lần bị địch bắt tra tấn dã man, 7 lần vượt ngục, tiếp tục chiến đấu. Địch khiếp sợ, treo giải lấy đầu TVC. Đầu 1949 đặt mìn gần bốt Bương (trên để Át Lợi), phá 1 xe gíp, diệt 5 sĩ quan tham mưu. phá vỡ trận càn của dịch vào Hà Đông. 10.1949 đột nhập giết chánh mật thám Nam Định tại nhà riêng, thu nhiều tài liệu. Trận Quyển Sơn (1950), dùng kiếm giết 4 lính gác, mở đường cho đơn vị tiến công, bị thương vẫn chiến đấu, diệt thêm 8 địch, cùng đơn vị diệt 1 đại đội. Trận trên Sông Hồng (đoạn ven thôn Từ Đài, xã Chuyên Ngoại, h. Duy Tiên; 2.1954) TVC chỉ huy đơn vị bắn cháy 1 tàu chiến địch và hi sinh. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng nhát. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67753738_461680887895130_8110127358523998208_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeE_yc43kDVpND-nWLRHXbLjYV9XD4pTyOUa-ezrvYLpw_4mfSZMxk7YtMKAusoKxfk7-VLFn6zKch11g-kJZ3iAUW-ogWP_Ng5MubKtBCkNaQ&_nc_oc=AQmbMhR-lnLWddN1dP8vEggKeuHoOFT_HRSa5g6SpXZF_OuLJ2qsMqo-LSqKgmY2cjo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=fd87fbc4d8319ede1003e2bfbfa09a58&oe=5DD9018F) TRẦN VĂN DƯỢC (1929-89), Ah lao động (1989). Quê xã Tuyên Thạnh, h. Mộc Hóa, t. Long An; nhập ngũ 1948; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là đại tá, bác sĩ chuyên khoa cấp I, giấm đốc Xí nghiệp nuôi trồng dược liệu 408 (Quân khu 9). Thầy thuốc nhân dân. Trong KCCP và KCCM, 1948- 75 tham gia điều trị cho nhiéu thương binh, bệnh binh và nhân dân ở chiến trường Khu 8 (Trung Nam Bộ). 1975-89 phụ trách xây dựng đội sản xuất nuôi trồng dược liệu (sau trở thành Xí nghiệp 408). TVD nghiên cứu và đã thành công trong chương trình nuôi rắn quy mô lớn, có sinh sản trong điều kiện tự nhiên, bán tự nhiên và nuôi lồng; nuôi trân, kì đà, cá sấu, rùa, báo, nai; trồng nhiều cây thuốc quý. Chế biến 19 loại sản phẩm dược phục vụ bồi dưỡng sức khỏe và chữa bệnh có hiệu quả. Nghiên cứu thành công thuốc điều trị rắn cắn, cùng nhân viên trong xí nghiệp cấp cứu, điều trị được trên 4.000 người bị rắn cắn, lập phác đồ cấp cứu, điều trị rắn cắn, phổ biến áp dụng cho toàn quân, hạn chế được nhiều trường hợp tử vong. Huân chương: Quân công hạng ba, 3 Chiến công... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67538681_461680894561796_1793743982518337536_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHsCa_B5qGgULTr1WpCQGI9Xfr8syT44iTYKVBhjoD2mtzmkCPBhwhDQXjBP-pCVbkmJ8b_fQuXt2MI6HItrZKdLeN18q--7_PrT8MiXh2A9w&_nc_oc=AQkNMuzp7Gf8lccce4wXjJYD4tO5MvPBdv5eiqOb6f4dZF3u7uwG1MqZfsjbophflKA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d25b342a2195b06f1d2e74af2473d75a&oe=5DE7D790) TRẦN VĂN ĐÔN (S. 1917), tổng trưởng quốc phòng VN cộng hòa (1963 và 1974-75), thủ lĩnh ĐDC, trung tướng. Quê t. Quảng Ngãi, xuất thân từ gia đình đại địa chủ, mang quốc tịch Pháp. 1939 vào QĐ Pháp. 1940 bị Đức bắt, trốn về VN, được phong thiếu úy, đồn phó đồn Phố Lu (1942), phụ tá cho tướng Lơclec* (1945-46). Sau đó phục vụ trong QĐ Báo Đại do Pháp thành lập. 1950-51 học chỉ huy tham mưu tại Pháp. 1954 tổng tham mưu trướng QĐ Sài Gòn, chuyên sang phục vụ Mĩ, được Mĩ đồng tình, tham gia đảo chính lật Ngô Đình Diệm (1963). Năm 1964 bị Nguyền Khánh bắt giam. Ra khỏi QĐ. thượng nghị sĩ (1967-70), chủ tịch Mặt trận cứu nguy dân tộc (1968), chủ tịch ủy ban quốc phòng của thượng viện (1969), hạ viện (1971-72). Sống lưu vong tại Mĩ (từ 29.4.1975). TRẦN VĂN NGHIÊM (1923-85), tư lệnh Quân khu 9 (1979- 85). Quê xã Ninh Sơn, h. Hoa Lư, t. Ninh Bình; nhập ngũ 1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, trường thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trường. Trong KCCM, 1955-63 phó phòng, trưởng phòng, cục phó Cục tác chiến BTTM. 9.1964 trưởng phòng tác chiến, rồi tham mưu phó Bộ tham mưu QGPMN VN. 10.1972 phó tư lệnh Quán khu 2 (T2) thuộc chiến trường B2 (x. Quản khu 8). Tháng 2.1975 phó tư lệnh Đoàn 232, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. 8.1977 phó tư lệnh, rồi tư lệnh Quân khu 9 (1979-85). Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68651301_461680914561794_3385728135390560256_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGIunLiDbP7bfFSM5_sch8Lp0wK-u_C27P57aLdl8YQjH2-zOGCaW2CJ4QskyApZt_Yhl9uLf7mG6wyiofcr5r8QkydiCb6CRff_bGoGE8kbw&_nc_oc=AQlE1QxPoL41Ga2qmi-w3tjJJBC3061R22mU8tOMLBQ7kCyTaDLlEqYCZVgIxAkirEM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1075bfc4892a59126d50290c6c62a61c&oe=5DEE5522) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:28:22 pm TRẦN VĂN NHỎ (S. 1929), Ah LLVTND (1967). Quê xã Sơn Long, h. Hương Sơn. t. Hà Tĩnh; nhập ngũ 1948; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là trung úy, trung đội trưởng thuộc Đại đội 2, Trung đoàn 600, BTL công an vũ trang (nay là Bộ đội biên phòng). 1948-54, tham gia 11 trận chiến đấu. Trong trận Ba Lay, xung phong bơi vượt Sông Đà, kéo 7 chuyến vũ khí kịp thời bảo đảm cho trận đánh giành thắng lợi. Sau KCCP (1954), công tác tại đơn vị bảo vệ các cơ quan trung ương. 1959 đơn vị chuyển sang lực lượng công an nhân dân vũ trang. Là cán bộ trực tiếp phụ trách đơn vị cơ sở, chiến sĩ thi dua, chiến sĩ quyết thắng 12 năm liên tục, 2 lần được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu. Huân chương: Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67563339_461680927895126_1168356015045869568_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHFxXV98qt65sOS3bPbSoxHsTqzOf3PhNjfr7OFm91aoSyQ7Xo3dRhFVz4wlaq8LCURuv0J4ADoOZGY6a1X1PVgIKkC9-eWA7Ut_yPRcAeU1w&_nc_oc=AQnS2sQii971WZeyoS8j4KS44fr3xs-Y67lKtjkGuWxLjYFWeFdjSKJv_TXf4sXFEVQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8d6798553d85a456cc66cd1bc8560304&oe=5DE29173) TRẦN VĂN PHÁC (Trần Hương Nam; S. 1926), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1977-82). Quê xã Lí Thường Kiệt, h. Yên Mĩ, t. Hưng Yên; nhập ngũ 1945. thiếu tướng (1977); đv ĐCS VN (1945). Tháng 1- 8.1945 tham gia Việt Minh, đội trưởng Đội tự vệ chiến đấu xã; tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Yên ML Trong KCCP, 1.1946-54 giữ các chức vụ từ chính trị viên đại đội đến phó chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 312, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Trong KCCM, 6.1955 trường phòng văn nghệ Cục tuyên huấn TCCT. 1957-62 chủ nhiệm tạp chí “Văn nghệ quân đội”. 1963 phó tổng biên tập báo “Quân đội nhân dân”. 9.1964 chánh văn phòng Quân ủy Miền, kiêm bí thư cho chính ủy Nguyễn Chí Thanh. 1967 phó chủ nhiệm chính trị QGPMN, chủ nhiệm chính trị Đoàn 301 (Tiền phương của QGPMN). 2.1975 chính ủy Đoàn 232 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tháng 7.1976 hiệu trưởng Trường sĩ quan chính trị. 2.1977-82 cục trưởng Cục tuyên huấn TCCT, rồi phó chủ nhiệm TCCT. 4.1982 chuyển ngành, thứ trưởng rồi bộ trưởng Bộ văn hóa. 1990 ủy viên Đoàn chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN. ủy viên BCHTƯĐCS VN khoa V, VI. Đại biểu Quốc hội các khóa VIII, IX. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công hạng nhì. Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67955444_461680944561791_2334780587593695232_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeGLnrw5M4eHGrio-4WFMmLQZMXNQJ-ZE8OFNeaMTQ_4Kd04cDwgA1QA-SldM9tmLyAUO_v1DLefSnUu9RJenzCLTxiB5FXJSv9MxBtLvUX3SQ&_nc_oc=AQkXcjeJLbLoYvg6Jr5fciiXtd-ZAaVpMFUixljHmPkhTTF6QZ1xljuNQZWRoCobahY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f129cd4e331fff9e28b7eb82aeebaffd&oe=5DE020E6) TRẤN VĂN QUANG (Trần Thúc Kính; S. 1917), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1977-78 và 1981-92). Quê xã Nghi Hoa, h. Nghi Lộc, t. Nghệ An; tham gia CM 1935, nhập ngũ 1945, thượng tướng (1984); đv ĐCS VN (1936). Năm 1938-39 thành ủy viên Sài Gòn - Chợ Lớn, hoạt động trong phong trào công nhân xe lửa và thợ thủ công; bị thực dân Pháp bắt giam. 10.1940 vượt ngục, được giao tổ chức lại Đảng bộ tỉnh Nghệ An. 4.1941 bị bắt lần thứ hai, bị kết án tù chung thân và đày đi Buôn Ma Thuật. 6.1945 được trả tự do, tham gia ủy ban khởi nghĩa tỉnh Nghệ An, tính ủy viên, phụ trách QS. Trong KCCP, 12.1945-49 tham mưu chủ nhiệm, chính úy Bộ chỉ huy tiếp phòng quân trung ương; chính úy Khu 4; chỉ huy trưởng kiêm chính ủy Phân khu Bình - Trị - Thiên. 1950-58 chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 304; cục trưởng: Cục địch vận, Cục tác chiến BTTM. 1959-61 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1961-64 ủy viên Trung ương cục miền Nam phụ trách QS. 1965 tư lệnh Quân khu 4, bí thư khu ủy kiêm tư lệnh Quân khu Trị - Thiên (1966-73), phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1974- 77), thứ trưởng BQP (11.1977-78), tư lệnh kiêm chính ủy Quân tình nguyện VN ở Lào (6.1978-81). Tháng 2.1981-92 thứ trưởng BQP. 11.1992-2002 chủ tịch Hội cựu chiến binh VN, ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS VN khóa III. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67963549_461680964561789_2411122918315524096_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeF-vxP9Cz2urVL0WbeK-zCvGondj9jnrIefgtaYjj8VKAmazA_tWQlWdEAvJXV6q8U1xk0AIU3ZrY3DojVt5hg0o_2Bmirw5n1SGVJb-PDdmA&_nc_oc=AQlBOd60UsYQ-nWtPKjk_cAa16fQ9bfkZ-p4qo3ggbRV0M-v70g0qAR0fT1MHB8Hy50&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a97bb4ffe7b61cde773cc042db97d979&oe=5DE96CEC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:30:06 pm TRẦN VĂN THỌ (1935-61), Ah LLVTND (truy tặng 1967). Quê xã Nỗ Lực, h. cẩm Khê, t. Phú Thọ; nhập ngũ 1952; đv ĐCS VN (1956); khi hi sinh là thiếu úy, đồn biên phòng Lèng Xu Xìn, công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu. 1952 chiến sĩ Trung đoàn 148. bộ đội Tây Bắc. 1954 làm nhiệm vụ tiễu phỉ trừ gian ở Bát Sát, Sa Pa, Dào San và Mường Hun. Cuối 1958 chuyển sang công an nhân dân vũ trang, hoạt động, chiến đấu tại đồn biên phòng Lèng Xu Xìn xã Xin Phần, h. Mường Tè, t. Lai Châu. TVT sử dụng được 7 thứ tiếng dân tộc, để tuyên truyền vận động nhân dân; cùng đồng đội và địa phương gọi được 5 người theo phỉ về với gia đình, bắt 6 đặc vụ Tưởng Giới Thạch, thu một số vũ khí và tài liệu. Cùng với đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ địa phương, giới thiệu 13 người kết nạp vào ĐCS VN, được huyện ủy cho thành lập chi bộ đầu tiên ở đây. Vận động nhân dân định canh, định cư, xây dựng tổ đổi cổng và hợp tác xã, đưa giống mới vào sản xuất, học chữ, bỏ tập tục lạc hậu, giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh, xây dựng nếp sống văn hóa mới. Được coi là “người con của dân tộc Hà Nhì”. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến thắng hạng nhì. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67873859_461680974561788_5698969135577300992_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHStGuVykNcPH8B36jkRSpmc1Vwqd-6OH4d2FK3C9icgYDL6aR6iG-LIhfLII-v64o5W03Pxb8L9HdKr2VLhMN1wKTxi-j__VwKre2wsVBIDg&_nc_oc=AQmWcIUtSLoHfJkJF86uhJm-iG374y4SVwrlIKZ6syV1lLQSyFnrMbxW4_GmuKrJvh4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=33f7c2210af262dd4e6606fda359dc3a&oe=5DEE9994) TRẦN VĂN TRÀ (Nguyễn Chấn; 1919-96), thứ trường BQP nước CHXHCN VN (1978-82). Quê xã Tịnh Long, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1936, nhập ngũ 1945, thượng tướng (1974); đv ĐCS VN (1938). Trước CM tháng Tám (1945), hai lần bị thực dàn Pháp bắt giam. Trong KCCP, 1945-46 ủy viên Kì bộ Việt Minh Nam Bộ, chính trị viên Giải phóng quân Liên quân Hóc Môn - Đức Hòa - Bà Điểm. 3.1946-48 chi đội trưởng Chi đội 14, khu trưởng Khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ. 1949-50 tư lệnh kiêm chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Khu 7. Năm 1951-54 phó tư lệnh Nam Bộ, tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Trong KCCM, 1955-62 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN, kiêm: phó chủ nhiệm Tổng cục quân huấn, giám đốc Học viện quân chính và chánh án Tòa án QS trung ương. 1963-67 tư lệnh, phó bí thư Quân ủy QGPMN VN, ủy viên Trung ương cục miền Nam. 1968-72 phó tư lệnh QGPMN. 1-3.1973 trưởng đoàn đại biểu QS Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN tại Ban liên hợp QS bốn bên ở Sài Gòn, phó bí thư Quân ủy QGPMN. 1973-75 tư lệnh QGPMN; phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. 5-12.1975 chủ tịch ủy ban quàn quản thành phô Sài Gòn - Gia Định. 1976-78 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7. Tháng 5.1978-82 thứ trướng BQP, ủy viên thường vụ Quân ủy trung ương, ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS VN khóa III, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Đại biểu Quốc hội khóa VI. Huân chương: 2 huân chương Hồ Chí Minh, Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68374565_461680997895119_2572770107059077120_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEpSbwjYaHiDgh-hCXuTZ9VGdZbbTaVHMdBKuZCML4pucY20NeuA_TTWxcAVVMSXDGtwm8VvIOXCXCD83z-9rJrurEyP0U4snqGdf33ZpCM0Q&_nc_oc=AQlN-U84_TtCd3plRq7EqMzxVp6lSs_GLC_Eg6pWONnD9DytJBr3A7qhOewFciNCIlY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=98d45faa5220fc2698017bc111ccfc08&oe=5DD7D359) TRẨN VĂN TRÂN (1927-97)/tham mưu trưởng BTL Mặt trận 719 (1987). Quê tp Huế, t. Thừa Thiên - Huế: nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1985); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn phó. Trong KCCM, 10.1963 chiến đáu ở Mặt trận Tây Nguyên, giữ các chức vụ: sư đoàn phó, sư đoàn trưởng Sư đoàn 1. Tháng 2.1970 bị địch bắt. 2.1973 được trao trả theo hiệp định đình chiến. 9.1973 sư đoàn trưởng Sư đoàn 341, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Tháng 4.1976 phó tư lệnh Quân đoàn 4. Tháng 12.1978 phó giám đốc Học viện lục quân. 9.1984-87 tham mưu phó, tham mưu trưởng BTL Mặt trận 719. Tháng 5.1988 thành viên đoàn công tác của BQP VN (Đoàn 890) giúp BQP Campuchia. Huân chương: Quân công (3 hạng nhất, 2 hạng nhì), 3 chiến công hạng nhất, Ăng Co (Nhà nước Campuchia tặng). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67516002_461681004561785_9016259926338568192_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHxDG-ooOX03cMr4dhaLkGibgliuA88kZ2SC97V33WZCTbVdzy6235VEbrJABozHCnz6qtj985IXHFRELcedgypW1VVvnysTyBTXSVVVmG-xA&_nc_oc=AQniIwIzmRGsVGRUBtR-Z5Cj99JKto7_KiifnPSHWjgNG8A7sntmYsmjze54fqD48qI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=99f1183f09e2441dd95dc539121f5edb&oe=5DA8F9DC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:32:08 pm TRẨN VIỆT (Trần Vũ; S. 1925), đạo diễn điện ảnh QĐ, Nghệ sĩ nhân dân (1993). Quê xã Vân Từ, h. Phú Xuyên, t. Hà Tây; nhập ngũ 1946, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, làm công tác tuyên huấn. 1958 công tác điện ảnh. 1959 biên tập và chủ nhiệm phim “Dưới cờ quyết thắng” (bộ phim tài liệu đầu tiên của QDND VN). 1962-88 đạo diễn hàng chục phim tài liệu, phóng sự có giá trị về nghệ thuật và lịch sử; giám đốc xí nghiệp phim QĐ (1973-75). Tác phẩm tiêu biểu: “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ nhất, 1961), “Quân và dân Trị Thiên tiến công và nổi dậy” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ hai, 1967), “Chiến thắng lịch sử Xuân 1975” (Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ tư, 1976), “Cuộc đụng đầu lịch sử” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ sáu, 1980). Năm 1983 ủy viên BCH Hội điện ảnh VN khóa III. Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhì... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68425933_461681024561783_3236212768969326592_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHy8mfn9YvBi2CV0qIivSKf1X0QCnJqnIF1skELWzgRrEiRmRsAEHzVL6NCRAjubpygjbDymL0Dgi8PUqgZdnntUONJQiAMCuL-6hR0qxISzg&_nc_oc=AQmbDw5QxDxKC33tfOzQBNuKtVjJxGUGb42YLrvMkxKvcbUMMcZD43OZYom6QNoC-1Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3d69d7371b87c232aa724bfdd498eb49&oe=5DEBAC55) TRẦN XUÂN LAI (1942-72), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Quê xã Văn Phú, h. Trấn Yên, t. Yên Bái; nhập ngũ 1968; đv ĐCS VN (1969); khi hi sinh là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, BTL Miền. Trong KCCM, 1969-72 chiến đấu tại miền Nam VN và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn địch, TXL diệt 120 (có 40 Mĩ), bắt 5 địch, bắn cháy 7 xe tăng. Trận phục kích trên đoạn đường Bổ Túc - Bà Chiêm (3.1970), bắn 2 quả đạn B-40 diệt 2 xe tăng, rồi dẫn đầu tiểu đội xông lên, cùng đại đội diệt đoàn xe 30 chiếc của địch. Trận đánh Thiết đoàn 1 của dịch ở Lộc Ninh (6.4.1972), hai lần bị thương vẫn chỉ huy đại đội làm tròn nhiệm vụ chốt chặn, tạo điều kiện cho trung đoàn diệt thiết đoàn địch, TXL diệt 4 xe tăng, 20 địch. Trận Bình Long (15.4.1972) chỉ huy đại đội thọc sâu vào thị xã, chủ động phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm dinh tỉnh trưởng và anh dũng hi sinh. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba), 5 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68277147_461681037895115_4557455600979542016_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHni6cZn7ejEZ1rzolZowh5o92GA-7r-HJGf98CRBKtYlAiZ6BeP7iveM2pSz_IWOATfNnicLdW8_vSZNEW4AhexZsYDGhl9QOawLiKXRjg9A&_nc_oc=AQlVFytvqVzGMcvZdP6aJdC-Pr19DPc0LWHi8U4PJcuy6tmv5-EA7tSTk98BTOjN0Qg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=5abe2f1e9d63d5a891fba657f6699771&oe=5DEC93BD) TRẦN XUÂN SOẠN (1849-1923), người tham gia lãnh đạo phong trào Cần Vương. Quê làng Thọ Hạc, h. Đông Sơn, t. Thanh Hóa. Xuất thân nông dân nghèo. Chiến đấu lập nhiều công được phong chức lãnh binh. Sau được Tôn Thất Thuyết tin dùng, giao giữ chức đề đốc. 7.1885 trong trận đánh ở thành Huế, chỉ huy quân Phấn nghĩa tiến công quân Pháp ở đồn Mang Cá; bị thất bại, TXS cùng Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng (Quảng Trị), rồi Ấu Sơn (Hà Tĩnh), cùng Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân lãnh đạo kháng Pháp tại Thanh Hóa. Khi quân Pháp bao vây chiến luỹ Ba Đình, TXS đem quân hỗ trợ Đinh Công Tráng phá vây. Cùng Tôn Thất Thuyết sang Long Châu (TQ) cầu viện và mất tại đó. TRẦN XUÂN TRƯỜNG (Nguyễn Thạch Toàn; S. 1928), Nhà giáo nhân dân (1994), giáo sư (1988). Quê phường Nhân Chính, q. Thanh Xuân, tp Hà Nội; tham gia CM 6.1945, nhập ngũ 1946, trung tướng (1992); đv ĐCS VN (1946). Tháng 6.1945 đội viên tự vệ Trường kĩ nghệ Hà Nội. 8.1945 trung đội trưởng đội tự vệ chiến đấu Hà Nội. 1947-55 chính trị viên đại đội, trưởng ban chính tri trung đoàn, trưởng ban tuyên huấn Sư đoàn 308. Năm 1956-78 chủ nhiệm Khoa kinh tế - chính trị Trường trung cao chính trị QĐ, trưởng phòng giáo dục, cục phó Cục chính trị Học viện chính trị, cục phó Cục chính trị BTL 968 và Đoàn 559, chủ nhiệm Khoa kinh tế QS, Viện khoa học QS, chú nhiệm Khoa Mác - Lênin, Học viện QS cao cấp. 5.1979 phó giám đốc Học viện chính trị - QS. 1.1992 giám đốc Học viện chính trị - QS. ủy viên Hội đồng lí luận trung ương, ủy viên Hội đồng khoa học xã hội và nhân văn QS BQP. Chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước và BQP. Tác phẩm: “Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta” (1980), “Mấy vấn đề về chủ nghĩa yêu nước XHCN VN” (1981), “Bảo vệ tổ quốc XHCN” (1983), “Thời đại và thích nghi” (1991), “Chủ nghĩa yêu nước VN thời đại Hồ Chí Minh” (1999), “Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta” (2000)... Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng ba), Chiến thắng hạng nhì. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67815284_461681054561780_1096369189184077824_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEv10XWCrrYaWgK8f_0Bk35lt0aPO9UipVSmZU49q5Q6YQOp5J__zhUuVIsc94bi3jkb6inHCPrvQCfvB-O2fvuR_4FaPhm1Mp-BRfFISFvBw&_nc_oc=AQkNohO3SBGLG_7BULHzytc8hkyM7oW9Jwn1x4GM8vcb43eDuMDfVN0dmSY1pTndpBE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=86c8dad62207f5e9278363ff09d93ca6&oe=5DE6D41A) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:33:30 pm TRẤN HẢI, pháo đài cổ ở làng Thái Dương Hạ, h. Hương Trà, t. Thừa Thiên - Huế. Được xây dựng 1813 để bảo vệ cửa biển Thuận An. Pháo đài hình tròn, có thành bao quanh, chu vi 285m, cao 6m. Ở giữa có đài chu vi 68m, cao 4,4m. Ngoài có hào rộng 4m, sâu 2,4m, mở một cửa. Trên thành bố trí 994 súng. Pháo đài kiên cố, xung quanh có các đồn luỹ yểm trợ tạo thành một hệ thống công trình QS bảo vệ kinh đô Huế trước đây. TRẬN, gọi chung cạc cuộc giao chiến, không phân biệt quy mô, loại tác chiến. Như: T chiến đấu, T then chốt, T Ngọc Hồi, T Bạch Đằng, T Đông Khê. T Điện Biên Phủ, T Tây Nguyên. Cg trận đánh. TRẬN A BIA (10-17.5.1969), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324) phối hợp với Trung đoàn 6 và du kích Thừa Thiên chặn đánh quân Mĩ và QĐ Sài Gòn hành quân càn quét tại khu vực A Bia (h. A Lưới, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế). Sáng 10.5 địch huy động 13 tiểu đoàn (có 8 tiểu đoàn Mĩ, trong đó lực lượng chủ yếu là Lữ đoàn dù 3 thuộc Sư đoàn dù 101), được máy bay, pháo binh yểm trợ càn quét vùng A Lưới nhằm đánh phá hậu phương và ngăn chặn tuyến vận chuyển của ta trên đường 14 vào nam Thừa Thiên. Dựa vào cụm trận địa chốt ở Ấp Bia (điểm cao 937), điểm cao 903 và 916, ta kịp thời đưa lực lượng vận động tiến công địch ở các điểm cao 400, 500 và 903; sau đó liên tục đánh phản kích và chặn đánh địch đổ bộ vào khu vực trận địa. Từ 15.5 Mĩ tiếp tục đổ thêm quân xuống điểm cao 916 và 900 phối hợp lấn sang A Bia, chiếm được một số chốt. Ta kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời đánh vào bên sườn, đến 15 giờ ngày 17 giành lại điểm cao 916, bẻ gãy đợt tiến công cuối cùng của địch lên A Bia, buộc Mĩ phải rút quân về Phú Bài, chấm dứt hành quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu 1.300 địch (riêng ở Âp Bia diệt gần 300), góp phần bảo vệ hành lang chiến lược của ta, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở đồng bằng Thừa Thiên. TAB làm quân Mĩ kinh hoàng, gây chấn động dư luận nước Mĩ và Âp Bia được báo chí Mĩ mệnh danh là “Đồi thịt băm”. TRẬN ACBEN (331tcn) nh TRẬN GÔGAMEN TRẬN AĐRIANÔPÔN (9.8.378), trận đánh giữa quân của người Tây Gôt do Phrithighec chỉ huy với quân La Mã của hoàng đế Valen tại Ađrianôpôn (nay là tp Êđianê, tây bắc Thổ Nhĩ Kì). Quân Tây Gôt liên kết với phong trào khởi nghĩa của các nô lệ và dân thuộc địa đã đánh bại quân La Mã. TA đã thúc đẩy quá trình tan rã của đế quốc La Mã. TRẬN ẢI QUAN (5.11.1952), trận chống càn của trung đội du kích xã Minh Hoàng đánh 1 tiểu đoàn quân Pháp càn quét làng Ải Quan (xã Minh Hoàng, h. Phù Cừ, t. Hưng Yên). 15 giờ ngày 5.11 địch có pháo binh yểm trợ, triển khai đội hình tiến công nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực ta. Dựa vào trận địa đã chuẩn bị trước, du kích tích cực bám đánh, kết hợp nghi binh, dùng chông, mìn, cạm bẫy tự tạo đánh địch cả trong và ngoài làng, sau 3 giờ chiến đấu, diệt và làm bị thương 32 địch, thu 2 súng, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn quét. Trong TAQ lực lượng ta ít, trang bị kém, đã sử dụng tốt cách đánh du kích và các loại vũ khí tự tạo, giành thắng lợi, bảo vệ an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân cơ động trên địa bàn. TRẬN ÁI TỬ (28.4-1.5.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304), Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B) được xe tăng, pháo binh chi viện, đánh căn cứ Ái Tử (h. Triệu Phong, t. Quáng Trị) do Trung đoàn bộ binh 2 và SCH Sư đoàn 3, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, Trung đoản thiết giáp 20 và 2 tiểu đoàn pháo binh QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên (30.3- 27.6.1972). Sau khi mất các cứ điểm phía tây và tây bắc Quảng Trị, để bảo vệ Ái Tử địch áp dụng chiến thuật phòng ngự cơ động, nòng cốt là lực lượng xe tăng; tổ chức 4 cụm phòng thủ phía tây căn cứ, mỗi cụm có 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đội tăng thiết giáp được ngụy trang kín đáo trong công sự, có hỏa lực mạnh tạo thành vành đai thép ngăn chặn đối phương tiên công. 5 giờ 28.4 trận đánh bắt đầu. Trung đoàn 24 triển khai tiến công từ hướng tây, dùng cách đánh “mớm” làm địch bộc lộ lực lượng, bắn cháy 6 xe tăng và đập tan đợt phản kích của địch, sau đó các mũi bộ binh và xe tăng đột phá vào căn cứ, phối hợp với mũi tiến công hướng bắc của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đánh xuống sân bay Ái Tử. Cùng lúc 1 tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 304) được lệnh phối hợp đánh chiếm khu vực cầu Quảng Trị và đoạn QL 1 phía nam Ái Tử để cắt đường rút chạy của địch về tx Quảng Trị (x. trận cầu Quảng Trị, 29.4.1972). Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, địch trong căn cứ dựa vào công sự cố thủ, dùng không quân (có cả B-52) đánh chặn dữ đội nhưng đến chiều 29.4 bị ta đánh chiếm sân bay. Sáng 30.4 ta tập trung lực lượng đồng loạt đánh vào khu trung tâm, chiếm SCH Sư đoàn 3, đến 14 giờ ngày 1.5 làm chủ toàn bộ căn cứ. Cùng với các hướng tiến công dịch ở Đông Hà (x. trận Đông Hà, 27- 28.4.1972), La Vang, Hải Lăng..., thắng lợi của TAT góp phần phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển giải phóng tỉnh Quảng Trị. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:34:32 pm TRẬN AIACUCHÔ (1824), trận quyết chiến trong chiến tranh giải phóng dân tộc của các xứ thuộc địa ở châu Mĩ Latinh chống lại thực dân Tây Ban Nha. Tại Aiacuchô - thành phố ở đông nam Lima (thủ đô của Peru) 320km, liên quân các xứ thuộc địa Mĩ Latinh (hơn 5.700 người) đã đánh tan quân Tây Ban Nha (hơn 9.000 người), góp phần giải phóng toàn bộ vùng Thượng Peru (nay là Bolivia). Trước 1825 Aiacuchô gọi là Huamanga, cg trận Huamanga. TRẬN AMIÊNG (8-13.8.1918), trận tiến công của liên quân (Anh, Pháp) đánh quân Đức tại khu vực phía đông tp Amiêng bên Sông Xom (Bắc Pháp) trong giai đoạn kết thúc CTTG-I. Với ưu thế lực lượng gấp ba lần đối phương về bộ binh và pháo binh, liên quân đã phá vỡ tuyến phòng thủ của Đức trên chính diện 75km và chiều sâu 10-18km, bắt 30.000 tù binh. TA mở đầu sự đại bại của Đức; 8.8.1918 được coi là “ngày đen tối của QĐ Đức”. Điểm nổi bật của TA là đánh bất ngờ và sử dụng mật độ xe tăng dày đặc (500 chiếc) trong đột phá. TRẬN AN CHÂU (8.10.1948), trận kì tập của Tiểu đoàn bộ binh 29 (Trung đoàn 308), được tăng cường 1 đại đội chủ công của Tiểu đoàn bộ binh 18 cùng du kích địa phương, đánh cứ điểm An Châu (nay là thị trấn An Châu, h. Sơn Động, t. Bắc Giang), một trong những cứ điểm mạnh, căn cứ hậu cần đồng thời là SCH phân khu An Châu của Pháp, do 150 quân đóng giữ. TAC diễn ra đêm 8.10, mở đầu chiến dịch Đông Bắc I (8.10-7.12.1948). Do công tác chuẩn bị thiếu chu đáo, không dự kiến trước phương án chuyển sang cường tập khi tình huống nhân mối bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, nên bị địch chống trả quyết liệt, quân ta phải rút lui sau khi diệt được 2/3 cứ điểm. TRẬN AN CƯ - KIM HÚC (27.1.1953), trận chống càn của Tiểu đoàn bộ binh 664 (Trung đoàn 42. Khu Tả Ngạn) và Đại đội 15 bộ đội địa phương tỉnh Hải Dương, đánh quân Pháp càn quét tại các thôn An Cư, Kim Húc (nam tx Hải Dương 16km). Sáng 27.1 trong khuôn khổ cuộc hành quân Noocmandi (27.1-12.2.1953). Pháp huy động Binh đoàn cơ động số 4 và 2 tiểu đoàn ứng cứu, có xe tăng, pháo binh yểm trợ, chia 2 cánh tiến công vào An Cư - Kim Húc nhằm tìm diệt quân chủ lực ta (Trung đoàn 42) đang đứng chân tại đây. Từ 10 giờ đến 17 giờ, địch tổ chức 6 đợt xung phong vào An Cư, 4 đợt vào Kim Húc. Dựa vào làng chiến đấu, bộ đội phối hợp cùng du kích và nhân dân địa phương đánh trả, giữ vững trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, đến đêm vượt vòng vây về nơi an toàn. TRẬN AN ĐIỂN (10.10.1965), trận chiến đấu chống càn của tiểu đội du kích xã An Điền (t. Thủ Dầu Một, nay thuộc h. Bến Cát, t. Bình Dương) chặn đánh quân Mĩ thuộc Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 1) càn quét khu vục nam Bến Cát, trong đợt chống càn An Điền (8-13.10.1965). Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo, vật cản, du kích kiên cường bám trụ đánh địch, dùng mìn định hướng kết hợp với hầm chông, hố đinh, lựa đạn gài và hỏa lực súng bộ binh tự tạo diệt 1 trung đội Mĩ, góp phần đánh bại cuộc càn lớn của địch. Một trong những trận đánh tiêu biểu đạt hiệu quả cao, chứng minh khả năng của lực lượng du kích có thể đánh thắng quân Mĩ bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. TRẬN AN KHÊ (20.2.1966), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 407 (Quân khu 5) vào căn cứ Sư đoàn kị binh không vận 1 của Mĩ tại khu vực Tân Tạo (tây thị trấn An Khê 4km, h. An Khê, t. Gia Lai). Lực lượng địch có SCH sư đoàn, trung tâm thông tin, rada, trận địa pháo, sân bay trực thăng; tổ chức phòng thủ vững chắc bằng hệ thống cứ điểm, vật cản và lực lượng tuần tra, canh gác nghiêm ngặt. Đêm 19 rạng 20.2 tiểu đoàn chia 2 mũi, bí mật đột nhập diệt lực lượng bảo vệ, đồng loạt đánh vào các khu chứa máy bay. doanh trại, nhà kho, trận địa pháo, chiếm khu thông tin, rađa ở điểm cao Hòn Cong; sau 2 giờ chiến đấu diệt và làm bị thương hàng trăm địch, phá hủy hơn 90 máy bay, 50 xe QS, đốt cháy nhiều kho tàng. TAK đánh dấu bước trưởng thành bộ đội đặc công Khu 5 trong chiến thuật tập kích căn cứ QS Mĩ, góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược lần I (mùa khô 1965-66) của Mĩ ở chiến trường Tây Nguyên. TRẬN AN LỖ (29.11.1966), trận tập kích của bộ đội đặc công phối hợp với bộ binh Trung đoàn 6 (mặt trận Trị - Thiên) vào căn cứ hành quân của QĐ Sài Gòn ở thị trấn An Lỗ (bắc Huế 17km, nay thuộc h. Hương Trà, t. Thừa Thiên - Huế), nhằm khôi phục vùng đồng bằng bị địch lấn chiếm, mở rộng vùng giải phóng. Đêm 29 các đơn vị bộ binh Trung đoàn 6 và lực lượng đặc cổng đồng loạt tiến công tiêu diệt 1 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn đóng vòng ngoài và lực lượng bảo vệ cầu An Lỗ, làm chủ hoàn toàn căn cứ. Trận đánh mở ra khả năng sử dụng từng tiểu đoàn đặc công phối hợp với các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh tiến công thắng lợi một số mục tiêu trong hậu cứ lớn của địch ở vùng đồng bằng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:35:26 pm TRẬN AN LỘC (13.4-15.5.1972), trận tiến công hiệp đồng binh chủng của QGP miền Đổng Nam Bộ gồm 2 sư đoàn bộ binh (9 và 5), 2 trung đoàn pháo binh (28 và 42), 4 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội xe tăng nhằm giải phóng thị xã An Lộc thuộc t. Bình Long (nay là thị trấn An Lộc, h. Bình Long, t. Bình Phước) trong đợt 1 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972-19.1.1973). Sau khi ta chiếm Lộc Ninh (x. trận Lộc Ninh, 5-7.4.1972), địch củng cố An Lộc thành vị trí phòng thủ cuối cùng ở tuyến ngoài phía bắc Sài Gòn; lực lượng gồm Sư đoàn bộ binh 5, Liên đoàn biệt động quân 3, cùng 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội thiết giáp, 8 đại đội địa phương.... sau tăng lẻn thành 5 chiến đoàn tăng cường (tương đương 2 sư đoàn) được không quân Mĩ chi viện (có B-52), tăng gấp 5 lần so với trước chiến dịch. 5 giờ ngày 13.4 ta tiến công từ ba hướng (bắc là hướng chủ yếu), đến cuối ngày chiếm các vị trí vòng ngoài (điểm cao 128, sân bay, cẩu Phú Hòa, Núi Gió...), phát triển vào nội đô, nhưng bị địch chặn quyết liệt ở đường Hùng Vương và chiếm lại Núi Gió. 5 giờ ngày 15.4 ta tiếp tục tiến công vào đường Trần Hưng Đạo, vườn hoa Tao Phùng và khu vực gần nhà lao... bị địch dùng không quân, pháo binh ngăn chặn, gây tổn thất nặng. Ở vòng ngoài ta tổ chức đánh địch đổ bộ đường không giải toả đạt kết quả tốt, chiếm lại Núi Gió và điểm cao 169 (ngày 20.4), tạo điều kiện thuận lợi cho tiến công địch trong thị xã. 11-15.5 ta tăng cường lực lượng cho Sư đoàn 9, hình thành nhiều mũi liên tục đột kích, chiếm được ti công chính, ti cảnh sát, nhà lao, ti chiêu hồi... nhưng bị tổn thất lớn (nhất là xe tăng) phải kết thúc trận đánh. Là trận then chốt chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về chỉ huy, hiệp đồng tác chiến binh chủng trong đánh địch phòng ngự ở thành phố, thị xã. TRẬN AN LỘNG I (7.12.1972), trận tập kích của Đại đội bộ binh 1 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27), có 1 phân đội súng phun lửa thuộc Đại đội 3 (Tiểu đoàn 901, Cục hóa học) phối hợp, đánh chốt An Lộng I (xã Triệu Hòa, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị) do Đại đội 2 (Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258) QĐ Sài Gòn chốt giữ. Ta triển khai tiến công trên ba hướng, mỗi hướng có 1 súng phun lửa (loại LPO-50), 5 giờ 15 phút nổ súng. Phát huy sức mạnh hỏa lực khống chế và sát thương địch, yểm trợ cho bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, sau 45 phút chiến đấu diệt gọn đại đội địch (riêng súng phun lửa diệt 20 quân), làm chủ trận địa và tổ chức chốt giữ đến 18 giờ, đẩy lui 4 đợt phản kích của 1 đại đội khác của địch đến ứng cứu. Trận đánh góp phần tích cực ngăn chặn hoạt động lấn chiếm của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng của ta trên địa bàn phía đông tinh Quảng Trị trong chiến dịch phòng ngự Quàng Trị (28.6.1972-31.1.1973).. TRẬN AN SƠN (8-9.1.1968), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Lữ đoàn 196) của Mĩ càn quét tại thung lũng An Sơn (xã Sơn An, h. Quế Tiên, nay là xã Quế Thọ, h. Hiệp Đức, t. Quảng Nam). Sau khi tiến hành hoạt động nghi binh nhử địch, ta bố trí đội hình phục kích theo thế chân vạc: Tiểu đoàn 40 ở An Cường 2, Tiểu đoàn 60 ở Phước Tuy, Tiểu đoàn 90 ở cẩm Tú. Trưa 8.1 địch từ Phú Bình chia hai mũi tiến quân, lọt vào trận địa; ta dùng một bộ phận khoá đuôi ở hướng Phú Bình, đồng thời phát huy hỏa lực yểm trợ cho Tiểu đoàn 90 xung phong diệt phần lớn quân địch ở cánh đồng Cẩm Tú, nam Sông Trầu, ngã ba An Sơn. 9.1 ta điều chỉnh đội hình, vận động tiến công diệt địch đến lấy xác và tập kích hỏa lực vào quân địch co cụm ở xóm An Sơn. Trận đánh đạt hiệu suất cao, loại khỏi chiến đấu khoảng 500 địch, bắn rơi 4 máy bay, thu 61 súng các loại; hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, kéo địch ra khỏi thành phố, hỗ trợ cho cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng Xuân Mậu Thân 1968. TRẬN AN THÁI (16.7.1972), trận tập kích của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện An Nhơn đánh đồn An Thái (xã Nhơn Phú, h. An Nhơn, t. Bình Định) do 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. 4 giờ 55 phút ta nổ súng, kết hợp chật chẽ các mũi tiến công và bao vây, đón lõng đánh địch rút chạy, sau 35 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt 46 địch, thu nhiều vũ khí. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội địa phương huyện, phối hợp với hoạt động tiến công địch ở Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê và tx Quy Nhơn, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng, làm thất bại chương trình “bình định nông thôn” của địch tại địa phương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:36:28 pm TRẬN AN THUẬN (21.4.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 24, Quân khu 8) vào QĐ Sài Gòn ở phân chi khu An Thuận (h. Cần Đước, t. Long An). 5 giờ 15 phút ta triển khai lực lượng thành ba mũi nổ súng tiến công, dùng mìn định hướng mở cửa mở, khắc phục vật cản rồi xung phong đánh chiếm các mục tiêu, sau 15 phút chiến đấu làm chủ phân chi khu, diệt và bắt 22 địch, thu 18 súng các loại. Trận đánh khiến địch trong vùng hoang mang, rút bỏ nhiều đồn bốt; góp phần mở nhanh vùng giải phóng, tạo thế tiến công Sài Gòn từ hướng tây nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). TRẬN AN TỊNH (25.3.1968), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 9, QGP miền Đông Nam Bộ) đánh đoàn xe QS và bộ binh cơ giới Mĩ trên QL 22 tại xã An Tịnh (h. Trảng Bàng, t. Tây Ninh). Sáng 25.3 đoàn xe địch (khoảng 35 chiếc, có xe tăng M41 và xe bọc thép M113) cùng 1 đại đội bộ binh, hành quân từ Củ Chi lên Trảng Bàng, lọt vào trận địa phục kích của ta ở khu vực cầu Trường Chùa. Ta nổ súng chặn đầu, khoá đuôi, đồng thời triển khai lực lượng vận động đánh chính diện và 2 bên sườn, chia cắt và truy kích diệt phần lớn quân địch. Số địch còn lại rút về bốt Trường Chùa, co cụm chống cự quyết liệt, kết hợp hỏa lực máy bay, pháo binh ngăn chặn, đánh phá trận địa ta. Trưa và chiều 25.3 địch huy động lực lượng từ Củ Chi (30 xe) và chi khu Trảng Bàng (20 xe) phối hợp mở nhiều đợt phản kích, nhưng đều bị ta đẩy lùi. Kết quả loại khỏi chiến đấu gấn 500 địch, phá hủy 52 xe QS (có 40 xe M41 và M113), bán rơi 10 máy bay, thu 11 súng... Trận đánh gây bất ngờ lớn với địch ở cửa ngõ phía tây Sài Gòn, góp phần hỗ trợ cho cuộc tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968 phát triển thuận lợi. TRẬN ANGÔRA (7.1402), trận đánh lớn giữa quân của vương triều Timua (vùng Trung Á) do vua Timua (cg Tameclan) chỉ huy với quân Thổ của vua Baiadit I ở Angòra (nay là Ancara, thủ đô Thổ Nhĩ Kì). Cuối 7.1402 sau trận kịch chiến chủ yếu bằng kị binh, do các đạo quân chư hầu của Thổ bỏ chạy, quân của Timua đã đập tan quân đối phương, bắt sống vua Thổ. Thất bại ở TA đã làm đế chế Thổ (Ổxman) suy yếu mất hàng chục năm. TRẬN AOXTECLIT (2.12.1805). trận quyết chiến giữa quân Pháp của Napôlêóng 1 với liên quân Nga - Áo của M. I. Cutudôp trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815), tại vùng Aoxteclit trên đất Áo (nay là tp Xlapcôp, Cộng hòa See). Với 73.000 quân và 250 pháo, Napôlêông I đã đánh tan đạo quân Nga - Áo (86.000 người và 250 pháo), khiến Áo phải rút ra khỏi chiến tranh, làm tan rã liên minh chống Pháp thứ ba (Anh - Nga - Áo - Thụy Điển). TA là thí dụ điển hình về tải dùng binh của Napôlêông I, chứng tỏ sự phá sản của chiến lược phòng thủ bằng phòng ngự dàn đều và thụ động (chiến lược ngăn phòng) của quân Nga - Áo. TRẬN APGUXTÔP (7-26.2.1915), trận phòng ngự của Tập đoàn quân 10 Nga (14 sư đoàn) phá vỡ cuộc tiến công của 2 tập đoàn quân 8 và 10 Đức (16 sư đoàn) tại vùng Apguxtôp (tây bắc Ba Lan) trong CTTG-I. Sau thất bại ở Tannenbec (1914), quân Nga phải lui ra ngoài biên giới Đông Phổ, tổ chức phòng thủ ở khu rừng Apguxtôp và bị quân Đức tiến công, hợp vây tại đây. Đến 22.2 Tập đoàn quân 12 của Nga (mới thành lập) bước vào phản công đã phá vây cho Tập đoàn quân 10 và chặn được cuộc tiến công của Đức. TA cho thấy Đức không dễ gì thực hiện ý đồ muốn nhanh chóng loại quân Nga ra khỏi vòng chiến. Cg trận Maduri. TRẬN AXPEC - ETLING (1809), trận đánh giữa quân Pháp (70.000 người, 114 pháo) của Napôlêông I với quân Áo (105.000 người, 288 pháo) của công tước Saclơ tại khu vực hai làng Axpec và Etling ở phía đông Viên khoảng 10km, trên bờ trái sông Đanuyp trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815). Ngày 21-22.5 sau khi quân Pháp chiếm hai làng trên, quân Áo phản công. Hai bên giành đi giật lại nhiều lần, cuối cùng do cầu trên sông Đanuyp bị đánh sập, đường tiếp viện bị cắt, quân Pháp phải rút về đảo Lôban. Phía Pháp mất 37.000 người, phía Áo 20.000 người. Tuy cả hai bên đều tuyên bố mình thắng trận, nhưng TA-E là trận đầu tiên Napôlêông I bị thua nặng. TRẬN ÂN THI (26-30.5.1948). trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 64 (bộ đội chủ lực Liên khu 3) cùng du kích và nhân dân địa phương bẻ gãy cuộc càn quét lớn của quân Pháp tại Ấn Thi (t. Hưng Yên). Thực hiện ý đồ giải tỏa vùng giáp ranh, vây diệt quân chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến t. Hưng Yên, 26.5 Pháp huy động 3.000 quân có thủy quân, không quân và pháo binh yểm trợ, thọc sâu vào vùng tự do thuộc các huyện Khoái Châu, Kim Động, Ấn Thi. Du kích và nhân dân địa phương đào đường, đắp ụ để ngăn các mũi tiến quân của địch. Đổng thời các tiểu đoàn 239 và 182 của Trung đoàn 64 tổ chức chặn đánh quyết liệt ở Cầu Đìa, Làng Thi tới Phố Thi, bẻ gãy nhiều đợt tiến công, diệt hơn 200 địch, bắn chìm 3 canô buộc Pháp phải lui quân. TÂT là thắng lợi lớn đầu tiên của quân và dân VN trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong KCCP. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:37:38 pm TRẬN ẤP 2 (3.6.1973), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Quân khu 8) đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 12, Sư đoàn 7) QĐ Sài Gòn hành quân lấn chiếm vùng giải phóng tại Ấp 2 (xã cẩm Sơn, h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay là t. Tiền Giang). Sáng 3.6 địch từ rạch Bà Phò chia hai mũi tiến quân về hướng đông ngã tư lộ Thầy Thanh. Trung đoàn 1 bí mật triển khai trận địa phục kích từ bắc lộ Thầy Thanh đến Ấp 2, chờ địch lọt hẳn vào khu quyết chiếm điểm; 11 giờ dùng hỏa lực cối 82mm bắn chặn không cho địch chạy về hướng tây, đồng thời các đơn vị nhanh chóng vận động hình thành thế bao vây, chia cắt, đẩy địch ra khu vực cánh đồng trống để tập trung tiêu diệt; sau 20 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa và tiến hành truy kích số địch sống sót bỏ chạy. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 290, bắt 5), thu 10 súng (có 1 ĐKZ75mm) và nhiều phương tiện QS; làm thất bại âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng. TRẬN ẤP 5 (23-25.2.1967). trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn bộ binh 186 (Quân khu 6) ở khu vực Ấp 5 (h. Di Linh, t. Lâm Đồng). Đêm 23.2 ta sử dụng một bộ phận cùng du kích địa phương diệt 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng ở Ấp 5, đồng thời tiến hành phá cầu, đường và tổ chức phục kích chặn viện. Trong ngày 24 địch liên tiếp đưa 3 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn biệt động quân đến giải tỏa đều bị ta đánh bại. Trưa 25.2 địch tiếp tục dùng máy bay trực thăng đổ bộ 1 đại đội Mĩ xuống ứng cứu cũng bị ta đẩy lui. Kết quả diệt và đánh thiệt hại nặng 5 đại đội và 1 trung đội địch, bắn rơi 4 máy bay trực thăng; mở màn thắng lợi đợt hoạt động Xuân 1967 của LLVT Quân khu 6. TRẬN ẤP AN BÌNH, AN HÒA nh TRẬN TRUNG AN (8-9.1.1967) TRẬN ẤP BẮC (2.1.1963), trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam VN đánh bại lực lượng càn quét của QĐ Sài Gòn có cố vấn Mĩ chỉ huy tại Ấp Bắc (xã Tân Phú, h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Lực lượng ta gồm 1 đại đội tăng cường thuộc Tiểu đoàn 261 bộ đội chủ lực Quân khu 8, 1 đại đội địa phương tỉnh Mĩ Tho, 1 trung đội huyện Châu Thành, 1 trung đội trợ chiến và lực lượng dân quân du kích tại chỗ, do tiểu đoàn trưởng Tiếu đoàn 261 chỉ huy . 5 giờ ngày 2.1 địch huy động khoảng 2.000 quân (25 đại đội), gồm 3 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7, Tiểu đoàn dù 8, 13 xe M113, 13 tàu chiến, có máy bay, pháo binh yểm trợ chia thành nhiều mũi, theo đường bộ, đường thủy, đường không đánh vào Ấp Bắc. Dựa vào hệ thống công sự, bờ mương, lùm cây trong ấp, bằng cách đánh du kích ta lần lượt bẻ gãy 5 đợt tiến công của địch. Để hỗ ữợ cho Ấp Bắc. Ban QS tỉnh Mĩ Tho cho 2 đại đội (Tiểu đoàn 514) đánh địch ở vòng ngoài, đồng thời huy động hàng ngàn quần chúng đấu tranh chặn đường hành quân của địch, đòi chấm dứt bắn pháo, càn quét. Trận đánh kéo dài tới 20 giờ, quân địch với số lượng gấp 10 lần, có phương tiện vũ khí hiện đại phải rút lui. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, bắn hỏng 3 xe M113 và 1 tàu chiến. TAB mở đầu sự thất bại của chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ, cổ vũ mạnh mẽ quân và dân miền Nam trong phong trào “thi đua Âp Bắc, giết giặc lập công”. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67568380_461681077895111_8144089447344898048_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEH5VijVCG8YKbFAyXRHdJ1wlfL7AvSFmGGX1kqwhUBQ6H9E9m-G-DzgKyjJMfSfAXXrY3INQ81rAOUESdkiRdyXWDJU64nxdZ2l5vWNwtysQ&_nc_oc=AQlGYy1_NCYu53J30E-SBQe3DFotLnS4wKXXHxNRKpwvSV7tWv9zRC9S8tzlJkzLst8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3a350f52011e2bf85fe557c6a104243f&oe=5DA4FDD3) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:39:13 pm TRẬN ẤP CHÁNH (22.7.1968), trận chiến đấu của Đại đội 33 bộ đội địa phương huyện Gò Dầu phối hợp với du kích và nhân dân địa phương đánh bại cuộc càn của quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn Anh cả đỏ) tại Ấp Chánh (xã Hiệp Thạnh, h. Gò Dầu, t. Tây Ninh). Dựa vào làng chiến đấu, bộ đội và du kích kiên cường bám trụ trận địa, từ 9 giờ 30 phút đến 17 giờ ngày 22.7, liên tiếp bẻ gãy 8 đợt tiến công của bộ binh, xe tăng địch (có không quân, pháo binh yểm trợ), loại khỏi chiến đấu 120 địch, bắn cháy 11 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 5 súng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân đánh Mĩ ở địa phương. TRẬN ẤP ĐẤT CHÁY (23.4.1971), trận đánh địch đổ bộ đường không của Đại đội súng máy phòng không 18 (Trung đoàn bộ binh 10, Quân khu 9) tại ấp Đất Cháy (xã Phong Lạc, h. Mười Tế, nay là h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau). 12 giờ 10 phút ngày 23.4, sau 1 giờ ném bom, bắn phá, địch sử dụng 5 máy bay trực thăng UH-1, có 3 máy bay trực thăng vũ trang yểm trợ. đổ bộ Đại đội trinh sát thám báo 967 (Tiểu khu An Xuyên) xuống khu vục Kênh Ba, Kênh Tư và ven đầm Đồng Cùng, nhằm chuẩn bị cho cuộc càn quét của Trung đoàn bộ binh 32 (Sư đoàn 21). Nắm chắc ý đồ của địch, ta bí mật bố trí trận địa (có 5 súng máy phòng không 12,7mm) sát nơi địch đổ quân, kịp thời nổ súng, với 120 viên đạn bắn rơi 7 máy bay (4 chiếc rơi tại chỗ), diệt phần lớn quân địch. Số còn lại co cụm chống cự, bị ta bao vây, diệt và bắt gần hết (lúc 17 giờ). Kết quả diệt gọn đại đội địch (diệt 63, bắt 23), bắn rơi 7 máy bay, thu 20 súng, góp phần phá vỡ kế hoạch càn quét, bình định vùng giải phóng của QĐ Sài Gòn. TRẬN ẤP HÒA LỢI (11.1.1972), trận phục kích của du kích xã Xuân Hòa đánh Đại đội 384 (thiếu) thuộc Liên đoàn bảo an 84 QĐ Sài Gòn, tại khu vực ấp Hòa Lợi (xã Xuân Hòa, h. Kế Sách. t. Sóc Trăng). Nắm vững hoạt động của địch, ta bố trí lực lượng phục kích theo trục đường chạy qua cánh đồng phía tây ấp Hòa Lợi. 17 giờ 30 phút, sau khi đi càn khu vực rạch Cái Cau, trên đường hành quân về đồi Đường Đào, địch lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và tổ chức các mũi xung phong chia cắt tiêu diệt, kết hợp gọi hàng. Sau 10 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 22 địch (trong đó giáo dục và thả tại chỗ 6), thu 15 súng các loại, 1 máy thông tin PRC25. Trận đánh táo bạo, đạt hiệu quả cao, góp phần phá vỡ kế hoạch khai quang “tát nước bắt cá” của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh địch vận và chiến tranh du kích địa phương. TRẬN ẤP HOA TÂY (15.6.1965), trận tập kích của du kích xã Kì Anh phối hợp với du kích xã Kì Lí đánh ấp chiến lược Hòa Tây (xã Kì Lí, h. Tam Kì, t. Quảng Nam), do 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Lực lượng ta có 1 trung đội du kích xã và một số du kích thôn, ấp, được tăng cường 1 tổ công binh huyện, 1 giờ 35 phút, chia hai tổ, bí mật tiếp cận mục tiêu, 3 giờ 35 phút đồng loạt nổ súng đánh chiếm trụ sở hội đồng xã và khu nhà ở của địch. Sau gần 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ ấp, diệt và bắt 46 địch, thu 5 súng, phá sập 1 cầu, góp phần hỗ trợ nhân dân xã Kì Lí nổi dậy phá ấp chiến lược và bộ máy kìm kẹp của địch, đồng thời mở ra khả năng đánh tập trung của lực lượng du kích xã. TRẬN ẤP MĨ TRANG (31.1.1970), trận tập kích của đội du kích (12 người) xã Phổ Cường (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi) đánh 1 trung đội bảo an, 1 tiểu đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ tại khu đông ấp Mĩ Trang. Đêm 30.1 ta tổ chức lực lượng thành hai mũi bí mật áp sát mục tiêu, 0 giờ 10 phút nổ súng, dùng lựu đạn, thủ pháo bất ngờ đánh chiếm lô cốt và tiêu diệt địch trong các khu nhà ở. Sau 7 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt toàn bộ quân địch. Trận đầu ra quân thắng lợi của du kích xã Phổ Cường bằng cách đánh đặc công, góp phần hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch trên địa bàn xã. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 02:40:14 pm TRẬN ẤP SÒ ĐO (29.4.1965), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 510 bộ đội địa phương tỉnh Long An, được tăng cường 4 tiểu đội đặc công và hỏa lực (4 khẩu ĐKZ 57mm, 5 súng cối 82mm và 60mm) đánh Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 49, Sư đoàn 5) QĐ Sài Gòn hành quân càn quét, tạm dừng tại ấp Sò Đo (h. Đức Hòa, t. Long An). Địch tổ chức phòng ngự thành 2 tuyến, chủ yếu ở hướng tây và tây nam ấp. Đêm 28.4 ta bí mật triển khai chiếm lĩnh trận địa: bố trí 3 đại đội bộ binh tiến công từ hướng tây nam và đông nam, một bộ phận đón lõng ở hướng đông bắc, lực lượng đặc công luồn sâu cắt rào, tạo cửa mở; 0 giờ 15 phút ngày 29 đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh bất ngờ, phát huy hỏa lực áp đảo, đặc công đánh trước cho bộ binh xung phong, sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa. tiến hành truy kích diệt số địch bỏ chạy. Kết quả diệt gọn đại đội địch và 1 tiểu đội dân vệ ấp (diệt, bắt và làm bị thương 80 địch), thu 40 súng các loại, góp phần bẻ gãy cuộc hành quân càn quét, bình định nông thôn của địch ở Đức Hòa. TRẬN ẤP THẠCH BI (8-9.5.1970), trận tập kích của du kích xã Phổ Thạnh (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi), đánh ấp chiến lược Thạch Bi do 2 trung đội dân vệ, 6 trung đội nghĩa quân cùng lực lượng bình định, tể điệp ác ôn của QĐ và chính quyến Sài Gòn chốt giữ. Đêm 7 rạng 8.5 ta tổ chức lực lượng thành bốn mũi bí mật áp sát mục tiêu, đồng loạt nổ súng đánh chiếm các khu nhà lính và cơ quan hội đồng địch, đồng thời tiến hành nghi binh, làm công tác binh vận, trừ diệt ác ón và tổ chức quần chúng đấu tranh đòi trở về làng cũ làm ăn, chống địch càn quét, khùng bố. 9.5 du kích mật ném lựu đạn vào nhà hội đồng địch, diệt thêm một số (trong đó có ấp trướng), kết hợp vận động làm tan rã 4 trung đội nghĩa quân. Trận đánh kết hợp giữa tiến công QS với đấu tranh chính trị và binh vận đạt hiệu quá cao, diệt, bắt và làm tan rã hơn 100 địch, thu 7 súng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng quyền kiểm soát của ta. TRẬN ẤP TUY TỊNH (5.4.1967). trận chống càn của Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 840, Quân khu 6) tại ấp Tuy Tịnh (h. Tuy Phong, t. Bình Thuận). Từ 9 giờ đến 19 giờ đại đội kiên cường bám trụ trận địa ở tây ấp Tuy Tịnh, liên tiếp đấy lui 4 đợt tiến công của 1 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn, đồng thời đánh bại 1 đại đội Mĩ cơ động bằng máy bay trực thăng đến tăng viện. Kết quả diệt 287 địch, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 28 súng các loại. TRẬN BA ĐÌNH (18.12.1886-20.1.1887), trận phòng ngự của nghĩa quân Ba Đình do Phạm Bành, Đinh Công Tráng chỉ huy, chống lại cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) trong khởi nghĩa Ba Đình (1886- 87). Dựa vào địa thế hiểm trở và hệ thống hào lũy, hầm hố, hơn 300 nghĩa quân bảo vệ căn cứ Ba Đình đã đánh lui 2 đợt tiến công lớn của quân Pháp (18.12.1886 và 6.1.1887). Sau thất bại, Pháp phải điều thêm quân từ miền Bắc. miền Trung đến đàn áp, sử dụng binh lực lớn gồm 78 sĩ quan, 3.530 lính (có 1.580 lính Pháp), 25 đại bác và 4 pháo hạm do đại tá Britxô chỉ huy, tập trung vây chặt Ba Đình nhằm làm cho nghĩa quân cạn lương thực và vũ khí, đồng thời khống chế nhân dân quanh vùng, ngày đêm bắn pháo vào căn cứ, phun dầu đốt chiến lũy, biến Ba Đình thành biển lửa. Mặc dù gặp khó khăn, tổn thất, nghĩa quân vẫn kiên trì chiến đấu. kết hợp công tác binh vận, đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Pháp. Do chiến đấu dài ngày, lực lượng quá chênh lệch, bị cô lập. không liên lạc được với quân của Trần Xuân Soạn ở bên ngoài, đêm 20 rạng 21.1.1887, nghĩa quân chủ động phá vây, rút khỏi Ba Đình về căn cứ Mã Cao. TRẬN BA ĐỐN (25.5.1974), trận tập kích của Đại đội đặc công 2 (Tiểu đoàn 28, Trung đoàn 117, Quân khu 7) vào đồn Ba Đồn (xã Thanh Lợi, h. Đức Hòa, t. Long An) do 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. Ta tổ chức lực lượng thành 2 mũi, bí mật áp sát mục tiêu, 1 giờ 40 phút nổ súng, đánh nhà chỉ huy, phá sập tháp canh rồi tỏa ra diệt các lô cốt, ổ đề kháng...; sau 20 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt toàn bộ địch (32 quân). Trận đánh diễn ra nhanh gọn, đạt hiệu suất cao, góp phần mở rộng vùng căn cứ ở huyện Đức Hòa. TRẬN BA ĐỘNG (3.1868). trận chiến đấu phòng ngự của nghĩa quân Trà Vinh do tán lí Lê Văn Quân, đề đốc Triều, đốc binh Say chỉ huy chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại xã Ba Động (Trà Vinh) trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Tháng 3.1868 nghĩa quân chuyển hoạt động về Ba Động lập căn cứ, vận động nhân dân nổi dậy diệt cường hào, chống lại việc chiếm đóng của quân Pháp. Pháp dưa quân đến đàn áp, bị nhân dân và nghĩa quân chặn đánh quyết liệt, dã dùng thủ đoạn đốt làng. Sau 6 ngày chiến đấu, gây cho địch nhiều thương vong, nghĩa quân rút lui an toàn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:44:15 pm TRẬN BA HUYÊN (14.1 .1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Đại đoàn 312) đánh cứ điểm Ba Huyên (thôn Yên Lập. tổng Bình Hồa, nay thuộc xã Hướng Đạo, h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc), trong đợt 2 chiến dịch Trấn Hưng Đạo (25.12.1950- 18.1.1951). Đây là cứ điểm manh của quân Pháp bảo vệ cửa ngõ phía bắc tx Vĩnh Yên, lực lượng gồm 5 trung đội (có 2 trung đội Âu - Phi), tổ chức phòng ngự vững chắc trên đồi cao, có hệ thống lô cốt, hầm hào và nhiều lớp vật cản (tường, hào, hàng rào thép gai...). 1 giờ 10 phút ta nổ súng tiên công, nhung quá trình mở cửa gặp khó khăn, bị địch chống trả quyết liệt, phải đánh kéo dài đến 10 giờ mới dứt điểm, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Trong TBH Trung đoàn 141 đã thực hiện tốt ý đồ chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn đánh tiêu diệt lực lượng cơ động ứng cứu của địch ở Thanh Vân, Đạo Tú (xt trận Thanh Vân - Đạo Tú, 14.1.1951). TRẬN BA SƠN (5-6.3.1949), trận kì tập của 1 đại đội thuộc Trung đoàn 28 bộ đội Lạng Sơn và du kích tập trung h. Cao Lộc đánh đồn Ba Sơn (xã Xuất Lễ, h. Cao Lộc, t. Lạng Sơn; đông bắc tx Lạng Sơn 37km). Đồn dược Pháp xây dựng từ 8.1947, gồm toàn bộ xóm Ba Sơn, xung quanh có hào, lũy cắm chông tre, gai sắc bảo vệ, bên trong có 2 lô cốt đắp đất dày 60cm và hơn 40 ngôi nhà xây tương đối kiên cố, do 2 trung đội lính dõng đóng giữ. Được du kích dẫn đường vượt qua các vùng địch kiểm soát, đêm 4.3 bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, hình thành các bộ phận đánh đồn và phục kích, chặn viện; 3 giờ ngày 5.3 bắt đầu tiến công. Dựa vào một số lính dõng làm nội ứng, ta đánh chiếm được lô cốt và một số vị trí ở cổng chính, nhưng sau đó không phát triển được (do địch co cụm vào lô cốt ở cổng sau dùng hỏa lực chống cự quyết liệt), phải chuyển sang bao vây kết hợp gọi hàng. Địch ở đồn Bản Sâm dưa 1 trung đội sang ứng cứu bị ta phục kích đẩy lùi, khiến số địch còn lại ở đồn Ba Sơn sau 1 ngày bị vây hãm buộc phải ra hàng (6.3). Kết quả diệt và bắt hơn 50 địch, thu 45 súng và nhiều đạn dược, giải phóng toàn bộ vùng Cao Lâu - Xuất Lẻ và một phần xã Mẫu Sơn, nối liền khu du kích h. Cao Lộc, tạo thế uy hiếp địch ở hướng đông bắc tx Lạng Sơn. TRẬN BẠCH ĐẰNG 938. trận phục kích đường sông của quân Việt do Ngô Quyền chỉ huy diệt thủy quân Nam Hán (TQ), trong kháng chiến chống Nam Hán lần II (938). Cuối 938 vua Nam Hán sai Lưu Hoằng Tháo chỉ huy thủy quân, theo đương biển qua cửa sông Bạch Đằng vào xâm lược. Nắm vững đường tiến quân của địch, Ngô Quyền lợi dụng thủy triều, dựng bãi cọc ngầm nơi hiểm yếu trên sông Bạch Đằng (nay thuộc h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh), bố trí quân thủy, bộ mai phục. Khéo dụ địch vào nơi quyết chiến, chờ khi nước triều xuống, dồn sức phản công, trong 1 ngày, diệt phần lớn quân Nam Hán, giết Hoằng Tháo, buộc vua Nam Hán phải từ bỏ ý đổ xâm lược. Trận quyết chiến chiến lược, lần đầu lợi dụng thủy triều và trận địa cọc ngầm có hiệu quả trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN. TRẬN BẠCH ĐẰNG 9.4.1288. trận phục kích đường sông của quân Trần (Đại Việt), do Trần Quốc Tuấn chỉ huy diệt quân Nguyên - Mông rút chạy, kết thúc kháng chiến chống Ngu\ên - Mông lần III (1287-88). Cuối 3.1288, từ Vạn Kiếp (nay thuộc Hải Dương), khoảng 60.000 quân Nguyên - Mông với 600 chiến thuyền do ô Mã Nhi chỉ huy, có kị binh hộ tống rút bằng đường thủy ra sông Bạch Đằng. Trần Quốc Tuấn chọn sông Bạch Đằng (đoạn của Sông Chanh - sông Thái Khê, nay thuộc h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh) làm nơi quyết chiến, dựng trận địa cọc ngầm ở cửa Sông Chanh, Sông Rút,... bố trí quân thủy, bộ mai phục kết hợp với thuyền lửa hỏa công, có thủy binh của vua Trần đánh bọc phía sau. Bằng cách chận kị binh hộ tống, chốt chặt các hướng phụ và nhử thủy binh địch vào đúng nơi đã định, chọn thời cơ tập trung đánh bất ngờ khi nước triều xuống, chỉ trong 1 ngày (9.4), quân Trần đã tiêu diệt hầu hết quân Nguyên - Mông, bắt Ô Mã Nhi và hơn 400 chiến thuyền. Trận quyết chiến chiến lược, dập tan ý chí xâm lược của nhà Nguyên, kế thừa và phát triển nghệ thuật lợi dụng thủy triều, dùng trận địa cọc ngầm ở trận Bạch Đẳng 938 trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67890015_461793777883841_4803854408712454144_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeF6pAxpC2HG1cfVgjj9ysdnb7Ct_u7rGVhsZuKRW1ErIShdsFeVo2BoXoxjYXkcMlM4Fj3_7sNtGC5QYo-vR9zej5TAhUilnWGGRUGqfFK63w&_nc_oc=AQk4E52M6F79msdO9DIbI2Bbt8N9eu74RSPmxTtlbIyRd6Oy5OjOkG_o64-PgS35V9E&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3cd14956886855dac7823dd917c60df4&oe=5DDC42FC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:45:31 pm TRẬN BẢN KHÈN (15.10.1964), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 927 (Quân khu 4) được Đại đội 15 QGP nhân dân Lào phối hợp đánh Tiểu đoàn BR340 quân phái hữu Lào chốt giữ khu vực Bản Khèn (h. Khăm Cợt, t. Bòlikhămxay, Lào). Tại đây địch dựa vào địa hình núi cao, lèn đá hiểm trở, tổ chức phòng ngự thành 4 điểm, có công sự vững chắc. Rạng sáng 15.10 ta triển khai ba hướng bí mật vượt sông Nậm Himbun chiếm lĩnh trận địa, nổ súng lúc 4 giờ. Sau 7 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, tiến hành truy kích địch rút chạy, đồng thời tổ chức lực lượng chốt giữ nhằm ngăn chặn địch từ đường 13 ra phản kích. Kết quả diệt và bắt hơn 30 địch, đốt cháy 2 kho đạn. thu 90 súng các loại,... làm thất bại kế hoạch của địch dùng Bản Khèn làm bàn đạp lấn chiếm vùng giải phóng. TRẬN BẢO VỆ BẮC KINH (10.1449), trận bảo vệ kinh thành Bắc Kinh của quân Minh (TQ) đánh bại cuộc tiến công của quân Ngoã Lạt (Mông cổ) sau trận Thổ Mộc Bào (7- 8.1449). Ngày 9.10.1449 quân Ngoã Lạt đánh chiếm Tử Kinh Quan và Bạch Dương Khấu rồi tiến đánh Bắc Kinh. Triều Minh rung chuyển. Binh bộ thượng thư Vu Khiêm kiên quyết chống lại chủ trương cố thủ trong thành, dùng 22 vạn quân bố trí ngoài chín cửa thành nghênh chiến. Mấy ngày đầu, quân Minh tránh quyết chiến, chi dùng binh lực nhỏ tập kích tiêu hao dịch. 13-14.10 hai bên kịch chiến ngoài cửa Đức Tháng, cửa Tây Trực và cửa Chương Nghĩa. Bộ binh và kị binh của Minh được sự yểm trợ đắc lực của pháo binh và sự phối hợp tác chiến của cư dân đường phố đánh quân Ngoã Lạt thiệt hại nặng, đầu tháng 11 buộc quân Ngoã Lạt phải rút hết ra. khỏi biên giới. Nét đặc sắc của TBVBK là trước cục diện nguy ngập, quân Minh giành thắng lợi nhờ chủ trương phòng thủ tích cực (dựa vào thành quách kiên cố, đánh địch ngoài thành), có sự phối hợp chặt chẽ quân dân. TRẬN BÁO VỆ THIÊN KINH (1862-64), trận chiến đấu cuối cùng của quân Thái Bình Thiên Quốc chống quân Thanh tại Thiên Kinh (TQ). Từ 1862 quân Thái Bình Thiên Quốc bị triều Thanh tập trung quân tiến công. Hai bên đánh nhau liên tục 46 ngày trong hai tháng 10 và 11.1862. Thiên Kinh bị quân Thanh vây chặt (1864), thiếu lương thực, phải ăn cỏ ngọt, nhưng Hồng Tú Toàn không đồng ý với kiến nghị rút khỏi Thiên Kinh để chờ cơ hội khôi phục. 6.1864 Hồng Tú Toàn ốm chết, quân Thanh càng tiến công dữ đội và 19.7.1864 chiếm được thành, Thiên Kinh thất thủ. Cg trận Thiên Kinh. TRẬN BÀU BÀNG (12.11.1965), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 (QGP miền Đông Nam Bộ) đánh Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn bộ binh 1 Mĩ) đóng quân dã ngoại tại khu vực Bàu Bàng - Đồng Sổ (bắc Thủ Dầu Một 25km, nay thuộc xã Lai Uyên, h. Bến Cát. t. Bình Dương), mở màn chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (12-27.11.1965). Sau khi bí mật vận động áp sát, bao vây khu vực trú quân của địch, 5 giờ 30 phút từ nhiều hướng, các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công, dùng cách đánh thọc sâu, chia cắt, kết hợp hỏa lực và xung lực, tạo thế xen kẽ, đánh gần, nhanh chóng đẩy quân Mĩ vào thế bị động dẫn đến tan vỡ từng mảng và bị tiêu diệt từng cụm. Kết quả sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, phá hủy 39 xe tăng, xe bọc thép, 6 pháo 105mm. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi, lần đầu tiên đánh quân Mĩ giữa ban ngày ở cấp sư đoàn, thể hiện khả năng đánh tiêu diệt quân Mĩ của QGPMN VN. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66383627_461793764550509_8684998294323068928_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEozHt6nq-RjU66x5baIHyWLA4qBDzmg16U9XutQ5vGqcTcBLJGenU0UqcHjxqLaUIqmzXK7nKHkCZGXEEUgJexPvg1BPuzgB-NX6ZvrJOr4Q&_nc_oc=AQkvc0Vv_NzkU7mSUY1ESGoa7FlyYjFP-iSMakxM7bk33GTYHH5LPhqGR1thkIzEJhw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=a05c853b991dfa2f079e497282ba6199&oe=5DEAC3BB) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:46:58 pm TRẬN BÀU CÁ (14.7.1947), trận phục kích của Chi đội 10 Biên Hòa đánh đoàn xe lửa chở quân Pháp tại khu vực Bàu Cá (xã Hưng Thịnh, h. Thống Nhất, t. Đổng Nai) trên đoạn đường sắt Biên Hòa - Phan Thiết. Sau khi dùng mìn điện tự chế từ bom 50kg lấy được của địch lật đổ tàu, bộ đội ta nhanh chóng tiến công diệt địch trong các toa. Kết quá loại khỏi chiến đấu gần 200 địch, thu 60 súng các loại. TBC để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh giao thông của bộ đội VN trong những năm đầu KCCP. TRẬN BÀU CÁ TRÊ (13.5.1964), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 800 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ được tăng cường 1 trung đội đặc công, đánh đồn Bàu Cá Trê (bắc Tân Uyên 10km, t. Phước Thành, nay là t. Bình Dương) do 2 trung đội thuộc Đại đội biệt động quân 324 (Tiểu đoàn 37) cùng lực lượng dân vệ, thanh niên chiến đấu QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 13.5 ta bí mật chiếm lĩnh trận địa, áp sát mục tiêu từ 3 hướng, 23 giờ 25 phút đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh hiệp đồng giữa bộ binh và đặc công, kết hợp hỏa lực chế áp, sau 20 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt, bắt và làm bị thương 37 địch, thu 12 súng... Trận đánh đạt hiệu quả cao, có tác dụng nhử viện, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiếp tục đánh địch thắng lợi. TRẬN BÀU DA DỐT (5.12.1965), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9) QGP miền Đông Nam Bộ vào Lữ đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 1 Mĩ) hành quân ứng cứu Dầu Tiếng tại bàu Da Dốt (xã Long Nguyên, h. Bến Cát, t. Thủ Dầu Một, nay là t. Bình Dương). Vận dụng kinh nghiệm đánh Mĩ trong trận Bầu Bàng (12.11.1965), bộ đội ta vận động áp sát, dùng cách đánh gần, chia cắt địch thành từng cụm nhỏ để tiêu diệt, từ 10-16 giờ đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch, thu 40 súng các loại, buộc quân Mĩ phải rút khỏi Dầu Tiếng. TBDD cổ vũ tinh thần quyết đánh và quyết thắng Mĩ của quân và dân VN trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. TRẬN BÀU LÁCH (9.5.1965), trận chống càn của Tiểu đoàn 1 (Tiểu đoàn Quyết Thắng) bộ đội chủ lực Quân khu Sài Gòn - Gia Định phối hợp với du kích địa phương, đánh Trung đoàn bộ binh 8 (Sư đoàn 5) QĐ Sài Gòn càn quét tại xóm Bàu Lách, xã Nhuận Đức, h. Củ Chi, tp Sài Gòn - Gia Định (nay là tp Hồ Chí Minh). Sáng 9.5 địch có pháo binh yểm trợ, dùng máy bay trực thăng đổ quân và tổ chức tiến công từ nhiều hướng nhằm tìm diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở củ Chi. Ta chủ động bố trí lực lượng áp sát, đánh vào đội hình địch đang vận động trên các hướng, làm địch rối loạn, lúng túng, không phát huy được hỏa lực. Sau nhiều đợt tiến công và phản kích không kết quả, bị thiệt hại nặng, đến 16 giờ 40 phút, địch buộc phải rút quân, ta truy kích diệt thêm một số. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, thu 270 súng và nhiều phương tiện QS, bảo vệ căn cứ, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định. TRẬN BÀU ỐC (8.11.1967), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 840 (Quân khu 6), có sự phối hợp của học viên Trường quân chính quân khu và du kích các xã Hồng Liêm, Hàm Trí vào căn cứ hành quân dã ngoại của QĐ Sài Gòn và quân Mĩ ở Bàu Ôc (h. Hàm Thuận, t. Ninh Thuận). Lực lượhg địch ở căn cứ gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội biệt kích, 1 đại đội bảo an, 2 trung đội thấm báo QĐ Sài Gòn và 1 đại đội công binh Mĩ. Đêm 7.11 ta bí mật triển khai lực lượng áp sát mục tiêu, 1 giờ ngày 8.11 dùng hỏa lực tập trung của các loại hỏa khí và mìn định hướng chế áp, tạo điều kiện cho các mũi bộ binh, đặc công xung phong diệt các cụm quân, xe tăng, khu thông tin, SCH địch. Sau 55 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa. diệt hơn 700 địch, phá hủy 47 xe QS. bắn rơi 4 máy bay trực thăng: buộc địch phải hủy kế hoạch càn quét vùng bắc Hàm Trí và rút bỏ căn cứ Bàu Ốc. TRẬN BẮC BỘ PHỦ (19-20.12.1946), trận phòng ngự của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 101 Vệ quốc đoàn Liên khu 1, sau thuộc Trung đoàn Thủ Đô) đánh trả cuộc tiến công của khoảng 300 quân Pháp (có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ) tại khu vực Bắc Bộ Phủ (nay thuộc phường Tràng Tiền, q. Hoàn Kiếm, tp Hà Nội) trong đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946-18.2.1947). Trận đánh diễn ra từ đêm 19.12 đến chiều tối 20.12. Dựa vào hệ thống trận địa được tổ chức theo thế chân kiềng, gồm các vị trí chốt giữ trọng điểm tại nhà Bắc Bộ Phủ, bưu điện Bờ Hồ, khách sạn Gà Trống Vàng (nay là khách sạn Dân Chủ), bằng cách đánh phòng ngự tích cực, phát huy hiệu quả các loại vũ khí kể cả vũ khí tự tạo (mìn, bom ba càng, chai cháy...), bộ đội ta chiến đấu kiên cường, đẩy lui 6 đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa được một ngày đêm. Địch bị tổn thất nặng với gần 150 quân bị thương vong, 8 xe QS (có 4 xe tăng và xe bọc thép) bị phá hủy. Là một trong những trận đánh lớn, tiêu biểu của LLVT Liên khu 1 tại Hà Nội những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, góp phần kìm giữ và làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp. Trong TBBP nổi bật gương chiến đấu, dũng cảm hi sinh của chính trị viên đại đội Lê Gia Định. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:47:58 pm TRẬN BẮC RUỘNG (31.7.1960), trận tập kích của Đội “2.9” (đơn vị vũ trang đầu tiên của t. Bình Thuận, thành lập 2.9.1959) vào chi khu quận lị Hoài Đức và khu dinh điền Bắc Ruộng (nay thuộc h. Tánh Linh, t. Bình Thuận), do 1 đại đội bảo an, 3 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát, thanh niên cộng hòa của QĐ và chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ta tổ chức lực lượng thành 5 tổ bí mật tiếp cận mục tiêu, 0 giờ 5 phút đồng loạt nổ súng, kết hợp rải truyền đơn, gọi hàng; sau 2 giờ chiến đấu làm chủ trận địa. Do được chuẩn bị trước, nhân dân trong khu nổi dậy phối hợp đánh địch, san bằng đồn bốt, trở về quê cũ. Kết quả diệt và bắt 300 địch, thu 250 súng các loại, giải phóng 40 tù chính trị và hơn 5.000 đồng bào dân tộc ít người. Thắng lợi của TBR mở đầu phong trào đồng khởi, phá ách kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ ở Bình Thuận. TRẬN BẰNG LĂNG (13.7.1974), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 1 (Quân khu 8) vào cứ điểm Bằng Lăng (xã Mĩ Thiện, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho nay là t. Tiền Giang), do Tiểu đoàn bảo an 450 (thiếu) QĐ Sài Gòn đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng kiên cố hai bên bờ kênh 28, gồm 1 đồn tứ giác ở giữa, 5 đồn tam giác và hệ thống vật cản bao quanh, tổ chức phòng ngự nhiều tầng, trang bị hỏa lực mạnh, khả năng chi viện nhanh khi bị tiến công. Đêm 12.7 trung đoàn triển khai chiếm lĩnh trận địa; do bị lộ nên quá trình chiếm lĩnh trận địa kéo dài và phải nổ súng trước giờ quy định. 3 giờ 25 phút đến 5 giờ 30 phút, ta tổ chức nhiều lần tiến công nhưng không đột phá được, bị địch chống trả quyết liệt, chuyển sang vây lấn. Bằng cách đánh tập trung hỏa lực triệt phá công sự và sát thương địch, kết hợp bắn tỉa, từng bước lấn dần tạo bàn đạp tiến công, đồng thời phối hợp các lực lượng kiềm chế không cho địch ứng cứu, đến 18 giờ 10 phút ta làm chủ trận địa. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 115, bắt 6), thu 52 súng, giải phóng toàn bộ khu vực dọc tuyến kênh 28, rút được nhiều kinh nghiệm về cách đánh vây lấn trên địa bàn Khu 8. TRẬN BẰNG TÂN (4-9.10.1953), trận phòng ngự của bộ đội địa phương huyện và du kích xã Thượng Yên Công chặn đánh cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Bằng Tân ở h. Quảng Yên (nay là h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh). Lực lượng ta lúc đầu có 11 người (3 du kích), sau tăng lên 43 người (6 du kích), trang bị chủ yếu súng trường và 3 trung liên. 13 giờ ngày 4.10 Pháp huy động 3 đại đội Commăngđô và 3 đại đội bảo chinh đoàn tập kết ở bãi Bằng Tân, tổ chức tiến công trận địa phòng ngự của ta ở đồi B2 và đổi Kháng Chiến, chiếm được một phần đồi B2 nhưng sau đó bị ta phản kích giành lại. Từ 5.10 địch tập trung lực lượng, có máy bay, pháo binh chi viện, chia hai hướng tiếp tục tiến công. Ta tích cực ngăn chặn đồng thời dùng lực lượng nhỏ, xuất kích ngắn, vòng đánh phía sau và tạt sườn, kết hợp nghi binh, phản kích, gây nhiều thiệt hại, buộc địch phải rút quân. Kết quả diệt và bắt hơn 100 địch, thu 83 súng. Trận đánh được chuẩn bị kĩ, phối hợp chiến đấu tốt, phát huy nhiều cách đánh đạt hiệu quả cao, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta. TRẬN BẾN CÁT (18.6.1965). trận tập kích đầu tiên của Mĩ bằng máy bay chiến lược B-52 trên chiến trường miền Nam VN, nhằm triệt phá căn cứ kháng chiến, diệt bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, lập tuyến an ninh từ xa cho Sài Gòn, hỗ trợ các cuộc hành quân trên bộ. 18.6 Mĩ sử dụng 30 máy bay B-52 thuộc Sư đoàn không quân 3 từ căn cứ Guam đến ném bom rải thảm khu vực Trảng Lớn, Bờ Cảng (xã Long Nguyên, h. Bến Cát, t. Thủ Dầu Một, nay là t. Bình Dương), đồng thời thả truyền đơn tuyên truyền “sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của pháo đài bay B-52”. TBC không đạt mục đích đề ra nhưng với việc đưa máy bay B-52 vào tham chiến đã làm tăng thêm tính chất ác liệt của chiến tranh xâm lược VN, đánh dấu bước chuyển của Mĩ từ chiến lược chiến tranh đặc biệt sang chiến lược chiến tranh cục bộ. TRẬN BẾN CỦI (19.9.1968), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 5 (Sư đoàn 5) QGP miền Đông Nam Bộ vào cụm quân Mĩ thuộc Lữ đoàn 1 (Sư đoàn bộ binh 25) chốt giữ khu vực tây nam sân bay Bến Củi (nay thuộc xã Bến Củi, h. Dương Minh Châu, t. Tây Ninh), trong đợt 2 chiến dịch Tây Ninh (17.8-28.9.1968). Sau 2 lần bị tập kích (đêm 16 và 17.9), lực lượng địch chốt giữ tại Bến Củi gồm 2 đại đội bộ binh cơ giới, 1 đại đội cối 106,7mm, 1 trung đội công binh, 100 xe tăng thiết giáp, phòng ngự theo hình bầu dục trên khu vực dài 700m, rộng 500m, có hai tuyến công sự dùng cho xe tăng, 3 hàng rào dây thép gai bảo vệ. 23 giờ ngày 19.9 Trung đoàn 5 được sự chi viện của 4 giàn hỏa tiễn H-12, tổ chức đột kích từ ba hướng (đông, tây bắc và nam) vào trận địa địch, tập trung diệt xe tăng thiết giáp, thọc sâu đánh chiếm SCH, khu thông tin, trận địa cối. Kết quả sau gần 3 giờ ta loại khỏi chiến đấu gần 400 địch, phá hủy 9 khẩu cối 106,7mm và phần lớn xe tăng thiết giáp, bắn cháy 2 máy bay trực thăng. Trận tập kích thứ ba vào Lữ đoàn 1 Mĩ ở Bến Củi đạt hiệu suất cao. để lại nhiều kinh nghiệm tập kích cụm bộ binh cơ giới Mĩ trên chiến trường vùng ven. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:49:15 pm TRẬN BẾN TRANH (23 và 25.2.1969). hai trận tập kích quân Mĩ ở Bến Tranh (t. Thủ Dầu Một, nay thuộc xã Thanh An, h. Dầu Tiếng, t. Bình Dương), do Trung đoàn bộ binh 141 (thiếu) tiến hành, mở đầu đợt hoạt động Xuân 1969 của Sư đoàn 7 ở Bình Dương. Lực lượng quân Mĩ đóng chốt ở Bến Tranh gồm Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 1 và 2 đại đội pháo binh (6 pháo 105mm. 6 cối 106,7mm) thuộc Lữ đoàn bộ binh cơ giới 3 (Sư đoàn 25) tổ chức trận địa phòng ngự trên khu dồi dài 550m. rộng 400m. có hai tuyến công sự, hầm chiến đáu. xung quanh là tường đất dày 3m, cao lm và ba lớp rào thép gai. 1 giờ 45 phút ngày 23.2 Trung đoàn 141 sử dụng Tiểu đoàn 2, dược tăng cường 2 đại đội đặc công, 3 đại đội hỏa lực (4 cối 81 mm, 3DKZ 75mm, 4 súng máy phòng không 12,7mm) tiến hành đột kích từ bốn hướng, sau hơn một giờ loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, thu 7 súng, phá hủy 12 khẩu pháo và cối, 20 xe GMC, 1 kho xăng, 1 kho đạn. bắn cháy 1 máy bay trực thăng. Trong ngày 23 Mĩ đưa 1 tiểu đoàn hỗn hợp (bộ binh và pháo binh) đến ứng cứu, chiếm lại Bến Tranh. Đêm 24 rạng 25 trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 1 và Đại đội bộ binh 6 (Tiểu đoàn 2) được chi viện hỏa lực (5 cối 82mm, 2 ĐKZ 75mm) tiếp tục tập kích lần 2 diệt thêm một số quân Mĩ. phá hỏng 5 pháo 105mm, 2 cối 106,7mm, 6 xe GMC, bắn cháy 3 máy bay trực thăng. Trận đánh bồi, đánh nhồi vào đối tượng quân Mĩ đạt hiệu quả cao. buộc địch phải co lực lượng về vùng Dầu Tiếng đề đối phó. TRẬN BÍCH DU (30.3.1952), trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 48 (Đại đoàn 320) phối hợp với du kích và nhân dân địa phương, đánh Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) và 1 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) của Pháp càn quét tại làng Bích Du (nam cửa Diêm Điển, h. Thái Ninh, nay là h. Thái Thụy, t. Thái Bình), trong đợt chống càn Mecquya (23.3-4.4.1952). Sáng 30.3 quân Pháp có máy bay, pháo binh và xe bọc thép yểm trợ tổ chức tiến công vào làng theo ba hướng nhằm bao vây, tiêu diệt bộ đội chủ lực ta. Phát huy cách đánh gần, dựa vào hệ thống hầm hào, công sự và địa hình có lợi, ta bố trí lực lượng chặn đánh quyết liệt, bẻ gẫy 7 đợt tiến công của dịch, chiều tối chớp thời cơ phản kích đánh bật địch ra khỏi làng. Trận đánh kết thúc thắng lợi, loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, giữ gìn lực lượng và bảo vệ hàng ngàn dân vượt qua vòng vây của địch về nơi an toàn. TRẬN BIÊN GIỚI BẮC PHÁP (21-25.8.1914), trận đánh giữa quân Đức và liên quân Anh - Pháp ở bắc và đông bắc Pháp, tại vùng Acđen và giữa hai sông Xambrơ và Maaxơ trong thời kì đầu CTTG-I. Liên quân Anh - Pháp có 4 tập đoàn quân (hơn 22 quân đoàn và hơn 7 sư đoàn kị binh) bị thất bại trước 5 tập đoàn quân Đức (22 quân đoàn tăng cường và 7 sư đoàn kị binh), buộc phải rút về tuyến sông Macnơ (x. trận Macnơ, 1914). Trong TBGBP cả Đức và Pháp đều không thực hiện được ý định của mình. TRẬN BIỂN CỬA HỘI (19.2.1971), trận phục kích của Phân đội 26 (Đoàn 128. Quân chủng hải quân) đánh tàu biệt kích QĐ Sài Gòn tại vùng biển Cửa Hội (t. Nghệ An). Đêm 19.2. Phân đội 26 sử dụng 2 tàu (T257, T68) giả làm tàu đánh cá. bí mật đón lõng ở đông nam đảo Hòn Ngư khoảng 4 hải lí; 22 giờ 40 phút kịp thời phát hiện và tổ chức chận đánh 2 tàu địch vào xâm nhập. Bằng cách đánh bất ngờ, dùng hỏa lực bắn phủ đầu, tiếp đó tập trung đánh chiếc thứ 2, sau hơn 10 phút chiến đấu bắn cháy 1 tàu, buộc địch phải rút chạy. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ an toàn mục tiêu. TRẬN BIỂN CỬA VIỆT (8.9.1969), trận tập kích của tổ đặc công (3 người) thuộc Đội 1, Đoàn 126, Quân chúng hải quân, đánh tàu chở dầu Nôxiubi (trọng tải 15.000t) của Mĩ tại vùng biển Cửa Việt (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Sau 2 ngày kiên trì chờ đợi, đêm 7 rạng 8.9 tổ đặc công bí mật tiếp cận mục tiêu ở vị trí phía đông cảng Cửa Việt 4km, dùng 2 mìn hẹn giờ phá hủy tàu. Trận đánh đạt hiệu quả cao, lần đầu tiên bộ đội đặc công hải quân VN đánh chìm tàu chở dầu trọng tải lớn của Mĩ ở vùng biển miền Nam VN trong KCCM. TRẬN BIỂN SẨM SƠN (14.6.1966), trận phục kích của 2 thuyền máy vũ trang (Phân đội 21. Quân chủng hải quân) phối hợp với 2 máy bay An-2 (Trung đoàn không quân 919, Quân chủng phòng không - không quân) và các đơn vị pháo binh, rađa bờ biển, đánh 3 tàu biệt kích (loại PTF) của QĐ Sài Gòn xâm nhập vùng biển Sầm Sơn (t. Thanh Hóa). Đèm 13 rạng 14.6, ta bí mật phục kích ở khu vực phía đông Sầm Sơn 10 hải lí, kịp thời phát hiện địch và triển khai đội hình chiến đấu. Bằng cách đánh hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, xử lí tình huống và thực hành công kích chính xác, bắn chìm 1 tàu, bắn bị thương 1 chiếc khác, buộc địch phải rút chạy. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần đúc kết kinh nghiệm và phát triển cách đánh hiệp đồng của bộ đội không quân và hải quân trong bảo vệ vùng biển của tổ quốc, đánh bại thủ đoạn xâm nhập, phá hoại của địch. Cg trận đánh tàu biệt kích 14.6.1966. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:50:19 pm TRẬN BILA HÔRA (8.11.1620), trận quân liên minh Cơ Đốc giáo (48.000 người) diệt tan quân Tiệp của liên minh Tín Lành (33.000 người) trong chiến tranh ba mươi năm (1618- 48) tại khu vực núi Bila Hôra (Bạch Sơn), phía tây Praha (Cộng hòa Sec ngày nay). Quân Tiệp bị thua vì lính đánh thuê và tướng lĩnh người nước ngoài không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia Tiệp. TRẬN BÌNH GIÃ - XUÂN SƠN (28-31.12.1964), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 761 Quân khu miển Đông (nay là Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4). Đại đội 445 bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa, Đoàn pháo binh 563 bộ đội chủ lực Miền (3 tiểu đoàn) đánh QĐ Sài Gòn tại khu vực Bình Giã - Xuân Sơn (h. Đức Thạnh, t. Bà Rịa nay là t. Bà Rịa - Vũng Tàu), mở đầu đợt 2 chiến dịch Bình Giã (2.12.1964- 3.1.1965). Sáng 28.12 ta đánh chiếm ấp chiến lược Bình Giã, bám trụ và bố trí trận địa đánh thiệt hại năng Tiểu đoàn biệt động quân 30 và 1 đại đội bảo an của địch ở chi khu Đức Thạnh đến giải tỏa. Chiều 29.12 địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ Tiểu đoàn biệt động quân 33 xuống sở cà phê để chuẩn bị giải tỏa. Ta tập trung lực lượng đánh thẳng vào đội hình, kết hợp vu hồi từ phía đông, diệt gọn tiểu đoàn địch, bắn rơi 6 máy bay. Sáng 30.12 địch tăng cường ném bom, bắn phá, đến chiều tiếp tục đổ bộ Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 4 xuống phía nam ấp Bình Giã; trong ngày 31 bị ta vận động bao vây, tiến công tiêu diệt. Kết quả loại khỏi chiến đáu gần 300 địch (bắt 67), bán rơi 10 máy bay trực thăng, thu 154 súng và nhiều phương tiện QS. Trận then chốt chiến dịch đạt hiệu suất cao, lần đầu tiên ta diệt gọn 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến thuộc lực lượng tổng dự bị QĐ Sài Gòn, làm hoang mang tinh thần binh lính địch, góp phần vào thắng lợi quyết định của chiến dịch. Với thành tích này, Trung đoàn 761 được mang tên “Trung đoàn Bình Giã”. TRẬN BÌNH HÌNH QUAN (25.9.1937), trận phục kích của Sư đoàn 115 Bát lộ quân (Hồng quân công nông TQ) tại Bình Hình Quan (bắc Sơn Tây) trong kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc (1937-45). Sáng 25.9 khi đoàn bộ binh và cơ giới Nhật tiến đến hẻm núi, Bát lộ quân bất ngờ tung lựu đạn và xung phong từ trên núi xuống. Sau gần một ngày kịch chiến, cánh quân Nhật bị tiêu diệt hơn 1.000 người. Trận tiêu diệt lớn đầu tiên của Bát lộ quân trong kháng chiến chống Nhật, có tác dụng cổ vũ tinh thần kháng chiến của quân và dân toàn TQ. TRẬN BÌNH LỆ NGUYÊN (17.1.1258), trận phòng ngự của quân Đại Việt do vua Trần Thái Tông và tướng Lê Tần chỉ huy nhằm ngăn chặn bước tiến của quân Mông cổ tại Bình Lệ Nguyên (nay thuộc h. Bình Xuyên, t. vinh Phúc), trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần 1 (1258). Với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, sau khi hội quân ở Việt Trì, 17.1.1258 (12 tháng Chạp, năm Đinh Tị), các cánh quân Mông Cổ ồ ạt tiến đánh xuống Bình Lệ Nguyên, kết hợp bộ binh và kị binh triển khai bao vây từ nhiều hướng định bắt sống và tiêu diệt vua quan nhà Trần. Dựa vào thế trận phòng ngự và cách đánh cơ động trên sông nước, quân Đại Việt chống trả quyết liệt gây cho quân Mông cổ nhiều thiệt hại, sau đó theo kế sách của tướng Lê Tần rút về Phù Lỗ lập tuyến phòng ngự mới tiếp tục chăn địch. Trân đánh lớn đầu tiên của quân dân Đại Việt chống quân Mông cổ, biết rút lui đúng lúc, tránh thế mạnh ban đầu của địch để bảo toàn lạc lượng chiến đấu giành thắng lợi. TRẬN BÌNH MĨ (14.2.1962), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 800 và 1 đại đội của Tiểu đoàn bộ binh 900 (Quân khu 7), đánh đoàn xe chở 1 đại đội bảo an thuộc Tiểu đoàn bảo an 31 QĐ Sài Gòn trên đường 16, tại khu vực xã Bình Mĩ (h. Tân Uyên, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). 7 giờ 30 phút, đoàn xe địch gồm 11 chiếc (có 2 xe thiết giáp) từ Phú Giáo về Tân Uyên lọt vào trận địa phục kích (dài khoáng 1,5km, giữa hai bốt Mĩ Đức và Suối Cầu). Ta dùng súng ĐKZ bắn cháy chiếc xe thiết giáp đi đầu làm đoàn xe ùn lại, rồi tổ chức xung phong, bao vây, truy kích; sau 20 phút chiến đấu. phá hủy toàn bộ đoàn xe, diệt, bắt và làm bị thương 87 địch, thu 42 súng các loại. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương chống địch dồn dân. lập ấp chiến lược. Cg trận Lộ 16. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:51:10 pm TRẬN BÌNH PHÚ (12.8.1969), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9, bộ đội chủ lực Miền) đánh Trung đoàn thiết giáp 11 của Mĩ và 2 đại đội biệt kích QĐ Sài Gòn hành quân càn quét trên đường 14 tại Bình Phú (táy tx Hớn Quản 3km, thuộc t. Bình Long, nay là h. Bình Long, t. Bình Phước). 6 giờ 30 phút, phát hiện địch không theo đường chính như dự kiến mà tạt ngang qua lộ cao su tiến vào trận địa phục kích từ hướng tây bắc, ta điều chỉnh đội hình, chờ địch cách 50m mới nổ súng, diệt toàn bộ đoàn xe tăng đi đầu 15 chiếc. Địch sử dụng không quân, pháo binh bắn phá ác liệt, sau đó dùng xe tăng tiến công trận địa ta, bị diệt thêm 3 chiếc. Từ 12 giờ ta tiếp tục tổ chức lực lượng đánh xe tăng ở hướng bắc diệt 4 chiếc, đồng thời đẩy lùi các đợt tiến công của 2 đại đội biệt kích địch ở hướng đông và nam. Kết quả diệt và đánh thiệt hại nặng 2 chi đoàn thiết giáp, loại khỏi chiến đấu 200 địch, thu 130 súng các loại,... góp phần hỗ trợ cho phong trào quần chúng diệt ác ôn, phá kìm kẹp của địch trong các ấp chiến lược và vùng ven tx Hớn Quàn. TRẬN BÌNH QUỚI TÂY (10.12.1947), trận tập kích của Chi đội 1 Vệ quốc đoàn Thủ Dầu Một (Khu 7) vào căn cứ “Chiến khu quốc gia” của lực lượng chính phủ “Nam Kì tự trị” thuộc Pháp (do Lê Văn Hoạch làm thủ tướng), tại khu vực Bình Qưới Tây (t. Gia Định, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh). Sau khi bí mật đưa người vào hàng ngũ địch làm nội ứng, 14 giờ, tận dụng thời cơ địch có nhiều sơ hở, ta bất ngờ nổ súng, diệt 5 sĩ quan, nhanh chóng khống chế, bức hàng và làm tan rã binh lính địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị... Trận đánh gây cho địch hoang mang và nội bộ nghi ngờ lẫn nhau, đồng thời tạo cho ta có thêm thực lực trong thời gian đầu KCCP ở chiến trường Nam Bộ. TRẬN BÌNH THỦY (21.8.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 309 (Quân khu 9) vào căn cứ pháo binh Bình Thủy và xưởng sửa chữa Vùng chiến thuật 4 QĐ Sài Gòn đóng ở đông nam cầu Bình Thủy (tp Cần Thơ). Lực lượng địch tại căn cứ pháo binh khoảng 100 quân trong đó có 1 trung đội bảo an và 23 lính Mĩ, 5 pháo 105 và 155mm, được bảo vệ cẩn mật bằng hệ thống tường, hàng rào (3 lớp), các lô cốt và đèn chiếu sáng cực mạnh; xưởng sửa chữa có 1 trung đội bảo an (khoảng 70 quân), 40 xe QS, được bảo vệ bằng một lớp hàng rào thép gai... Đêm 20 rạng 21.8 được trinh sát và du kích dẫn đường, tiểu đoàn bí mật vượt qua tuyến bảo vệ vòng ngoài, luồn sâu, lót sẵn ở các mục tiêu, bố trí 2 đại đội đánh căn cứ pháo binh (hướng chủ yếu) và 1 đại đội đánh xưởng sửa chữa. 2 giờ 10 phút ngày 21.8 ta đồng loạt nổ súng, dùng cách đánh gần, thọc sâu khiến địch hoàn toàn bất ngờ, sau 50 phút chiến đấu, diệt 85 địch (có 13 Mĩ), phá hủy 5 pháo, gần 40 xe QS, hàng nghìn đạn pháo... Trận đánh gây hoang mang, bất ngờ lớn cho địch, tạo điều kiện cho địa phương đẩy mạnh đấu tranh chính trị và địch vận, góp phần củng cố thế và lực của ta sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). TRẬN BLENHEM (1704), trận đánh giữa liên quân Anh - Áo (52.000 người) của quận công Manbôrô với liên quân Pháp - Bavaria (60.000 người) của nguyên soái Tanlac, tại địa phận làng Blenhem (bên bờ sông Đanuyp, nam Đức ngày nay) trong cuộc chiến tranh giành quyền kế vị Tây Ban Nha. Trên đường đánh chiếm xứ Bavaria (phía nam Đức), sau khi vượt sông Đanuyp, phát hiện quân Pháp - Bavaria tập trung ở phía bắc sông, quân Anh - Áo vượt sông quay lại tiến đánh. 13.8.1704 lợi dụng lúc chính diện đối phương bị dàn mỏng để dồn sang chi viện 2 sườn, kị binh Anh - Áo đánh mạnh vào giữa, chia cắt đội hình đối phương, rồi lần lượt diệt từng bộ phận. Phía Pháp - Bavaria thiệt hại 28.000 quân (có 13.000 đầu hàng, nguyên soái Tanlac bị bắt), phía Anh - Áo mất 12.000 quân. Sau TB, quân Bavaria bị loại khỏi vòng chiến, tàn quân Pháp phải rút về Sông Ranh, tiêu tan mộng bá chủ toàn châu Âu của vua Lu-i XIV Pháp. TRẬN BÔ CÔ (30.12.1408), trận tiến công của nghĩa quân Trần Ngỗi do Đặng Tất chỉ huy, đại phá quân Minh (TQ) tại bến Bô Cô (nay thuộc h. Ý Yên, t. Nam Định) trong khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407-13). Cuối 1408 trước các cuộc tiến công của nghĩa quân ra Bắc, vua Minh sai Mộc Thạnh đem 50.000 quân từ Vân Nam (TQ) sang Đông Quan (nay là Hà Nội), phối hợp với quân của đô ti Lữ Nghị, tập trung tiến đánh Bô Cô. Tại đây, nghĩa quân đã đóng cọc ở sông và đắp lũy hai bên bờ sẵn sàng đánh địch. Quân thủy bộ hai bên giao tranh quyết liệt từ khoảng 11 giờ đến 16 giờ, Trần Ngỗi thúc trống lệnh cho quân xông ra chiến đấu. Bằng thế trận áp đảo, nghĩa quân giết phần lớn quân Minh và một số tướng lĩnh như thượng thư Lưu Tuấn, đô ti Lữ Nghị, tham chính Lưu Dục, chỉ huy Liễu Tống, buộc Mộc Thạnh cùng tàn quân phải rút chạy về thành Cổ Lộng (nay thuộc t. Hà Nam). Một trong những trận thắng lớn của nghĩa quân Trần Ngỗi, góp phần cổ vũ quân dân Đại Việt tiếp tục kháng chiến chống ách đô hộ của nhà Minh. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:52:10 pm TRẬN BỒ BỒ (19.7.1954), trận tập kích của Tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được tăng cường 2 đại đội (64 và 22), 1 trung đội trinh sát, 1 thung đội huyện Điện Bàn và lực lượng du kích địa phương, đánh 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Binh đoàn cơ động 10 của Pháp tại căn cứ cuộc hành binh Con Báo, ở khu vực điểm cao Bồ Bồ (nay thuộc xã Điện Thọ, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam). 0 giờ 30 phút, trận đánh mở màn bằng hỏa lực cối, SKZ bất ngờ bắn vào trận địa pháo, bãi để xe và các điểm cao để khống chế, tạo điều kiện cho các mũi xung kích đột phá, dùng tiểu liên, thủ pháo diệt các cụm quân địch. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt suốt 2 giờ, trong từng công sự, từng gầm xe. Kết quả diệt và bắt gần 700 địch (hầu hết là lính Âu - Phi), trong đó có đại tá chỉ huy cuộc hành binh, phá hủy 10 xe QS, thu 124 súng các loại. Trận thắng lớn của quân dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn kết thúc KCCP. TRẬN BỐ CỦNG - LỦNG VÀI (8.1.1948), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 223 bộ đội chủ lực Bộ tổng tư lệnh có sự phối hợp của Tiểu đoàn 249 (Trung đoàn 28 bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn), chặn đánh quân Pháp trên QL 4, đoạn Bố Củng - Lũng Vài (h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn), dài khoảng 6km. Đêm 7.1 Tiểu đoàn 223 triển khai chiếm lĩnh trận địa, gồm hai bộ phận: bộ phận chủ yếu (2 đại đội) ở Lũng Vài, bộ phận thứ yếu (1 đại đội) ở Bố Củng. 14 giờ ngày 8.1, có 4 xe chở quân Pháp (gần 1 đại đội) từ hướng Na Sầm vượt qua Bố Củng tiến đến Lũng Vài. Do ta sơ hở, địch phát hiện và tổ chức tiến công ba lần vào trận địa nhưng đều bị đẩy lui, buộc phải rút chạy. Ta tập trung hỏa lực bắn vào đội hình, đồng thời cho nổ địa lôi và phối hợp các lực lượng xung phong chặn đánh, truy kích các toán quân địch, đến 20 giờ 30 phút kết thúc trận đánh. Kết quả diệt gọn 2 trung đội địch, phá hủy 4 xe, thu 27 súng các loại. TBC- LV gây tiếng vang lớn trên mặt trận đường 4, cho ta nhiều kinh nghiệm về tổ chức đánh giao thông trên chiến trường rừng núi. Với chiến thắng này, Tiểu đoàn 223 được tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Lũng Vài”. TRẬN BỘ TỔNG THAM MƯU (29-30.4.1975), trận tiến công trong hành tiến và hiệp đồng binh chủng của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1), Trung đoàn bộ binh 28 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3), được tăng cường xe tăng, pháo binh, pháo phòng không, đặc công,... phối hợp với LLVT Quân khu Sài Gòn - Gia Định, đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Lực lượng địch tại BTTM khoảng 4.400 quân (gồm cơ quan văn phòng, 1 tiểu đoàn tổng hành dinh, 1 tiểu đoàn truyền tin, 1 đại đội quân cảnh, 1 chi đội xe tăng thiết giáp, 2 đại đội pháo và súng cối...), ngoài ra còn có lực lượng bảo vệ vòng ngoài của hệ thống phòng thủ Sài Gòn. Sáng 29.4 ta sử dụng Trung đoàn 48 (có 22 xe tăng) tiến công từ hướng bắc, Trung đoàn 28 (có 14 xe tăng) hướng tây bắc, nhanh chóng cơ động đột kích, chọc thủng 3 tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch (có chiều sâu 60-90km), tiến vào nội đô Sài Gòn đánh chiếm các vị trí bàn đạp (cầu Bình Triệu, ngã tư Quang Trung...). Với sức mạnh áp đảo, sáng 30.4 ta tiếp tục tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng và lực lượng phản kích của địch, hình thành nhiều mũi đột phá cổng chính và các cổng 1, 2, 3, đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu trong BTTM, làm chủ và kết thúc trận đánh lúc 11 giờ 30 phút. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch, thu và phá hủy gần 200 xe QS (phần lớn là xe tăng, xe bọc thép), 6 khấu pháo, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, thu hơn 3.500 súng bộ binh và nhiều tài liệu quan trọng... Với việc đập tan cơ quan đầu não của QĐ Sài Gòn, TBTTM góp phần quyết định vào thắng lợi chung của chiến dịch, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức, chỉ huy và thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của QĐ ta trong KCCM. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68263293_461793784550507_2269546511178137600_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeF6IiZ4hZ9_ReH8HSZJnhRQI-i4EAJIrShICvaYkBa2msEBEhsEG_zc1CLZ__uxZOw6kU7mTJzN7tYImS76SKWKUaoauGYDbuhC9sQevKIlEQ&_nc_oc=AQk9ikcUy-CyeFY-x7HDucC2jEcsbXNxRR-SMFUv8-fcNfr7RXIKgdLvZYYE3vpwZu8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=95ca2e6c6faf496f332bbf1650466b0d&oe=5DED0D82) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:52:59 pm TRẬN BỐI THỦY (204tcn), trận đánh giữa 50.000 quân Hán do Hàn Tín chỉ huy với khoảng 100.000 quân Triệu do Trần Dư chỉ huy ở Tỉnh Hình Khẩu (nay thuộc Hà Bắc, TQ). Hàn Tín cho bố trí đội hình dựa lưng vào sông, không có đường rút, với dụng ý “hãm vào đất chết rồi sau mới sống”, đồng thời phái 5.000 kị binh vu hồi theo đường núi đến phía sau quân Triệu mai phục, chờ thời cơ chiếm thành. Mở đầu quân Hán khiêu chiến, nhử quân Triệu ra khỏi thành, sau một thời gian ngắn kịch chiến, vờ thua chạy. Quân Triệu mắc mưu, truy kích, tranh nhau thu chiến lợi phẩm. Quân Hán chạy đến gần bờ sông bất ngờ quay lại đánh mãnh liệt, cũng là lúc quân mai phục đã chiếm thành của quân Triệu, cắm cờ Hán lên. Quân Triệu hoảng loạn, tan vỡ, Trần Dư bị giết, Triệu Vương Yết bị bắt sống. Trận điển hình về dùng thế và dùng mưu. lấy ít thắng nhiều. Cg trận Tính Hình. TRẬN BÔNG LAU - LŨNG PHẨY (25.4.1949), trận phục kích đoàn xe QS Pháp trên QL 4A (đoạn Bông Lau - Lũng Phầy, nay thuộc h. Tràng Định, t. Lạng Sơn) do Tiểu đoàn 23 bộ đội chủ lực Bộ tổng tư lệnh và 3 tiểu đoàn bộ binh của Liên khu 1 tiến hành, có pháo binh chi viện, mở đầu đợt 2 chiến dịch Cao Bắc Lạng (15.3-30.4.1949). Sáng 25.4 đoàn xe chở quân Pháp gồm 114 chiếc có xe tăng, xe bọc thép, được máy bay yểm trợ lọt vào trận địa phục kích (dài 6km). Khi những xe đi đầu bị xịt lốp do đâm vào đinh ba chạc rải trên đường phải dừng lại gây ùn tắc, ta dùng hỏa lực pháo, binh bắn phá đội hình, sau đó bộ binh xung phong chia cắt diệt từng bộ phận quân địch. Kết quả diệt và bắt hơn 500 địch, phá hủy 53 xe, 500 thùng xăng, thu nhiều vũ khí. Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần ngăn chặn việc vận chuyển tiếp tế của địch từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Sau TBL-LP, Tiếu đoàn 23 được tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Lũng Phầy”. TRẬN BORÔĐINÔ (5-7.9.1812). trận đánh lớn nổi tiếng giữa quân Pháp của Napôlêông I (130-135.000 người, 587 pháo) và quân Nga của Cutudôp (120.000 người, 640 pháo) tại khu vực làng Bôrôđinô (tây Maxcơva 124km) trong chiến tranh Pháp - Nga (1812). Ngày 5.9 quân Pháp bắt đầu tiến công, đến sáng 7.9 đánh quyết liệt vào chính diện phòng ngự của quân Nga, chiếm được hai khu vực, nhưng không phát triển được, cuối ngày phải rút về tuyến xuất phát ban đầu. Phía Pháp thiệt hại hơn 50.000 người mà không đạt được mục đích; phía Nga mất 44.000 người, bảo toàn được chu lực, rút về hướng Maxcơva. Kế hoạch của Napôlêổng định đập tan đối phương trong một trận tổng giao chiến đã bị phá sản trước chiến lược của Cutudôp chủ trương chặn và tiêu hao địch từng bước, rút lui bảo toàn chủ lực, đưa quân Pháp vào sâu, xa hậu cứ, bị phân tán và mệt mỏi, rồi quân Nga phản công thắng lợi. TRẬN BRÂYTENPHEN (1631), trận liên quân Thụy Điển - Xacxông (39.000 người) thuộc phe đạo Tin Lành chặn đánh quân La Mã (36.000 người) thuộc phe đạo Cơ Đốc ở địa phận làng Brâytenphen, phía bắc Laixich (nay thuộc tp Linđentan, Đức) trong cuộc chiến tranh ba mươi năm (1618-48). Ngày 17.9 trên đường tiến đánh Laixich, quân La Mã với đội hình bộ binh đi giữa, kị binh ở hai bên, do I. Tinli chỉ huy, bị chặn ở Brâytenphen. Trong khi cánh phải kị binh La Mã đánh lui được quân Xacxông, thì cánh trái lại bị hỏa lực của quân Thụy Điển (do vua Guxtap II Ađôn chỉ huy) kiềm chế suốt 7 giờ. Đến quá trưa, khi Thụy Điển đưa đội dự bị kị binh vào trận, cuộc tiến công của La Mã bị chặn đứng, tướng Tinli bị trọng thương, quân La Mã phải rút chạy vào hôm sau. Phía La Mã tổn thất 19.000 người (có 7.000 bị bắt), phía liên quân mất 3.000 người. TB là chiến tháng đầu tiên của phe đạo Tin Lành trong chiến tranh ba mươi năm, vận dụng thành công chiến thuật dàn thành tuyến. TRẬN BÙ ĐĂNG (14.12.1974), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 3 vào chi khu QS Bù Đăng (nay là thị trấn Đức Phong, h. Bù Đăng, t. Bình Phước), do Tiểu đoàn bảo an 362 và lực lượng dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ, mở màn chiến dịch Đường 14 - Phước Long (13.12.1974-6.1.1975). Chi khu Bù Đăng nằm trên đường 14, được phòng thủ thành từng cụm cứ điểm, gồm: SCH chi khu, căn cứ Vĩnh Thiện, khu hành chính quận, bao quanh là 12 đồn bốt dân vệ, phân chi khu, 5 chốt phòng vệ dân sự. Sau khi hình thành thế bao vây và chế áp bằng hỏa lực, sáng 14.12 sư đoàn sử dụng 2 trung đoàn bộ binh (271 và 201) bất ngờ nổ súng tiến công. Được sự chi viện hiệu quả của xe tăng, pháo binh và pháo phòng không, đến 8 giờ Trung đoàn 201 làm chủ căn cứ Vĩnh Thiện; 8 giờ 40 phút Trung đoàn 271 đánh chiếm SCH chi khu và khu hành chính quận. Cùng lúc LLVT địa phương Bù Đăng phối hợp tiến công tiêu diệt các chốt dân vệ xung quanh chi khu, truy quét tàn quân và đánh chiếm một số vị trí của địch trên đường 14. Kết quả diệt và bắt 60 địch, thu 90 súng các loại, góp phần giải phóng gần 100km đường 14, tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển tiến công Đồng Xoài, Bù Đốp và cô lập Phước Long. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:53:54 pm TRẬN BÙ ĐỐP (20.7.1965), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 840 (Quân khu 6) và một bộ phận của Trung đoàn bộ binh 273 (bộ đội chủ lực Miền) vào căn cứ biệt kích QĐ Sài Gòn ở Bù Đốp (Phước Long, nay là xã Thiện Hưng, h. Lộc Ninh, t. Bình Phước) trong đợt 3 chiến dịch Đồng Xoài (10.5- 22.7.1965). Sau 3 giờ chiến đấu ta làm chủ căn cứ và tổ chức đánh quân cứu viện, loại khỏi chiến đấu 2 đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng; góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch. TRẬN BÚNG (4-5.3.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 165, Sư đoàn 7) vào 1 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 5 QĐ Sài Gòn càn quét, trú quân tại trường Cộng Đồng (nay là trường Trịnh Hoài Đức) ở thị trấn Búng (nay là thị trấn An Thạnh, h. Thuận An, t. Bình Dương). Đêm 4.3 tiểu đoàn bí mật tiếp cận mục tiêu, triển khai đội hình chiến đấu; 23 giờ 28 phút tập trung lực lượng chủ yếu diệt địch ở trường Cộng Đồng, một bộ phận tiến công địch ở bốt dân vệ Nhà Làng, đến 5 giờ ngày 5.3 kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu hàng trăm địch, phá hủy 4 xe QS. TRẬN BUÔN HỔ (29.12.1968), trận tập kích của Đại đội 309 (Tiểu đoàn đặc công 401 tỉnh Đắc Lắc) đánh chi khu quận lị Buôn Hổ (nay là thị trấn Buôn Hồ, h. Crông Búc, t. Đắc Lắc), là chi khu và cứ điểm QS quan trọng trong hệ thống phòng thủ của QĐ Sài Gòn ở khu vực Tây Nguyên. Lực lượng địch khoảng 700 quân, gồm 1 đại đội bảo an, 1 đại đội pháo, cối hỗn hợp, 3 trung đội biệt kích cùng bộ máy chính quyền, SCH chi khu, lực lượng cảnh sát, bình định và hàng trăm tể điệp xã ấp, được trang bị hỏa lực mạnh. Đêm 28.12 ta tổ chức lực lượng thành ba mũi, bí mật luồn sâu, áp sát; 1 giờ ngày 29.12 nổ súng diệt các lô cốt bên ngoài, đồng thời đánh chiếm SCH, trận địa pháo, khu nhà lính và tiến hành tảo trừ, bắt tù binh, thu vũ khí. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt, bắt và làm bị thương 500 địch (trong đó có quận trưởng, quận phó), phá hủy 8 pháo, cối các loại, 4 xe QS, 2 kho xăng và lương thực... TBH được tổ chức, chỉ huy, phối hợp chiến đấu tốt, giữ vững thế chủ động, bất ngờ, giành thắng lợi lớn, phá vỡ kế hoạch bình định cấp tốc của địch trên địa bàn. TRẬN BUÔN LOỌNG (9.10.1972), trận tập kích đường không của biên đội máy bay IL-28 (2 chiếc, do Bùi Trọng Hoan, Nguyễn Đình Nhẫn, Nguyễn Hùng Cường, Nguyền Văn Trừ, Thân Xuân Hạnh, Ngô Văn Trung điều khiển) thuộc Tiểu đoàn 929 (Trung đoàn không quân 919, Quân chúng phòng không - không quân), được biên đội máy bay MiG-21 (2 chiếc) yểm hộ khi trở về, đánh căn cứ của quân phái hữu Lào - Thái Lan ở khu vực Buôn Loọng (đông bắc tx Xiêng Khoảng 30km, Lào), trong chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xìêng Khoảng (21.5-15.11.1972). Căn cứ địch được xây dựng ở độ cao 1.800m, địa hình hiểm trở, có hệ thống phòng thủ kiên cố. 17 giờ 7 phút biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bài, mỗi chiếc mang 8 quả bom (gồm bom phá và bom bi), bí mật bay theo bản đồ. phát hiện mục tiêu và ném bom chính xác, phá hủy phần lớn căn cứ địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao (diệt gần 400 địch, đốt cháy 1 kho xăng và 1 kho đạn...), bảo đảm an toàn lực lượng, góp phần hỗ trợ tích cực cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Cg trận chiến đấu không quân 9.10.1972. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:54:36 pm TRẬN BUÔN MA THUỘT (10-11.3.1975), trận tiến công hiệp đồng binh chủng của Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn bộ binh 95B (Sư đoàn 325), Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 10), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273, 2 trung đoàn pháo binh (40 và 675), 2 trung đoàn pháo phòng không (232 và 234), 2 trung đoàn công binh (5 và 575), Trung đoàn thông tin 29 đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuật (t. Đắc Lắc), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lực lượng QĐ Sài Gòn ở Buôn Ma Thuột có Trung đoàn bộ binh 53 (thiếu), SCH Sư đoàn 23 và các đơn vị trực thuộc, 3 tiểu đoàn và một số đại đội bảo an, SCH Liên đoàn biệt động quân 296, cơ quan hành chính và ban chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, hậu cứ Thiết đoàn 8 và các trung đoàn 44 và 45, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh cùng lực lượng cảnh sát, dân vệ (tổng số gần 8.400 quân); tổ chức phòng ngự gồm ba tuyến (hướng chính là tây bắc), có 2 sân bay, hệ thống hỏa lực mạnh, công sự và vật cản kiên cố, trong đó khu phòng thủ then chốt là căn cứ SCH Sư đoàn 23. Sau khi tiến hành các hoạt động nghi binh làm lạc hướng đề phòng của địch, đêm 9.3 ta bí mật triển khai lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột từ năm hướng (đông bắc, tây bắc, tây nam, tây và nam). 2 giờ 3 phút ngày 10.3 trận đánh mở đầu bằng lực lượng đặc công luồn sâu bất ngờ đánh chiếm một số vị trí ở kho Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình, sân bay thị xã và hậu cứ Trung đoàn 53; tiếp đó các cụm hỏa lực pháo binh chiến dịch và pháo binh sư đoàn đồng loạt bắn chế áp và sát thương địch trong thị xã (căn cứ Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắc, các khu pháo binh, thiết giáp...), tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng trên các hương phát triển tiến công thắng lợi. Bằng cách đánh kết hợp đột phá với thọc sâu, đánh địch cả ở trong và ngoài thị xã, thực hiện chia cắt và cô lập, tiêu diệt địch ở từng khu vực kết hợp đánh phản kích, đến cuối ngày 10.3 ta chiếm được các cứ diểm Chư Bua, Chư Duê, 491, Chư Lom ở ngoại vi cùng các khu thiết giáp, pháo binh, kho Mai Hắc Đế, Ngã Sáu, tiểu khu Đắc Lắc và các khu thông tin, quân y của Sư đoàn 23... Địch co về phòng thủ tại căn cứ SCH Sư đoàn 23, tăng cường máy bay ném bom, đánh phá, đồng thời đưa Liên đoàn biệt động quân 21 đến ứng cứu và tổ chức phản kích hòng chiếm lại các vị trí quan trọng trong thị xã, nhưng bị ta kịp thời tập kích, đẩy lùi. Sáng 11.3 ta tập trung lực lượng bao vây, pháo kích và tiếp tục đánh địch co cụm tại căn cứ SCH Sư đoàn 23, đến 11 giờ hoàn toàn làm chủ trận địa, tiến hành truy quét tàn quân địch ra khỏi thị xã, bắt đại tá sư đoàn phó Sư đoàn 23 và đại tá tỉnh trưởng Đắc Lắc, thu nhiều vũ khí, phương tiện QS. Trận then chốt thứ nhất của chiến dịch thắng lợi giải phóng hoàn toàn Buôn Ma Thuột, cùng với việc đánh chiếm các quận lị Thuần Mẫn và Đức Lập (x. trận Thuần Mẩn, 8.3.1975', trận Đức Lập, 9-10.3.1975) là đòn điểm huyệt bất ngờ làm đảo lộn thế phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, buộc địch phải rút bỏ Kon Tum và Plây Cu, dẫn đến hàng loạt sai lầm khác, tạo điều kiện cho ta phát triển tiến công giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung Bộ. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67934249_461793807883838_3596175373911457792_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGYk-eGRu9eJjenDAkEV74fg7IdQaSxDHxtOw9htfXQnSQq7c2Wx0qL1KAeRuoMl-tAwn-fvB-RE-KaDFejXuE-IffNa2UZkyf7ujusMoomuA&_nc_oc=AQny9x3YVEhR2JJbCJhw80kClUaiNlk61xtBvkt23KxzrBgExMNZ5_FosTY3DWCVJ9Y&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ab838897aad867908f1735d3608632a8&oe=5DE9AF47) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:55:43 pm TRẬN CAĐET (1288tcn), trận đánh giữa 16.000 quân của vua Hitit Moatalit với 20.000 quân của vua Ai Cập RamxetII. Trên đường viễn chinh đánh chiếm vương quốc Hitit ở Tiểu Á để củng cố vương quyền, vua Ai Cập tiến theo sông Ôrôn về phía thành Cadet (tây Xiri ngày nay). Tại đây quân Ai Cập bị 2.500 xe chiến và bộ binh Hitit tiến công bất ngờ, chịu tổn thất lớn. Khi quân Hitit ngừng chiến đấu để cướp đoạt của cải, quân Ai Cập đã củng cố tổ chức và phản công, đuổi quân Hitit đến tận chân thành. Trận đánh kết thúc không phân thắng bại. TC là trận xưa nhất được biết đến trong lịch sử chiến thuật và đội hình chiến đấu, mở đầu cho sự phối hợp chiến đấu giữa bộ binh và xe chiến. TRẬN CÁI BÈ - CAI LẬY (11.1861), trận tiến công tàu chiến Pháp của quân dân tình Định Tường dưới sự chỉ huy của án sát Nguyễn Văn Nhã, tại vùng Cái Bè - Cai Lậy (nay thuộc t. Tiền Giang) trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh bất ngờ, quân và dân Định Tường đã đánh chìm 2 tàu chiến của quân Pháp đang đi tuần trên sông, diệt 50 địch. Thắng lợi của TCB-CL có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống Pháp ở Nam Bộ. TRẬN CÁI NƯỚC 10.9.1963, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 306 (bộ đội chủ lực Quân khu 9) và đại đội bộ đội địa phương huyện Cái Nước vào chi khu QS Cái Nước (tây nam tx Cà Mau 32km) do QĐ Sài Gòn đóng giữ. 0 giờ ngày 10.9 ta nổ súng tiến công, sau hơn 1 giờ chiến đấu làm chủ chi khu quận lị, diệt và bắt 176 địch (có quận trưởng, quận phó), thu 94 súng, nhiều đồ dùng QS. Cùng với trận Đầm Dơi (10.9.1963), TCN góp phần hỗ trợ nhân dân vùng nam Cà Mau nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. TRẬN CÁI NƯỚC 1-16.12.1974, trận vây lấn tiên công của du kích và nhân dân xã Tân Hưng Đông (h. Cái Nước. t. Cà Mau) bức rút đồn Cái Nước, do Tiểu đoàn bảo an 452 (thiếu 1 đại đội) QĐ Sài Gòn đóng giữ. Ta hình thành các lực lượng QS, chính trị và binh vận, triển khai trận địa bao vây, dùng cách bắn tỉa, kết hợp tiếng trống, mõ.... gáy sức ép và tiêu hao địch; từ 7.12 đưa trân địa váy lấn vào sát đồn chính, đồng thời tiên hành phong tỏa chợ, cắt đường tiếp tế, tổ chức quần chúng đấu tranh, rải truyền đơn vận động binh lính địch. BỊ cô lập và sau nhiều lần phản kích không kết quả, đêm 15 rạng 16.12 địch bỏ đồn rút chạy, ta truy kích diệt thêm một số. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã 77 địch, thu 24 súng và nhiều phương tiện QS, giải phóng hoàn toàn xã Tân Hưng Đông. Là một trong những trận vận dụng tốt sức mạnh ba mũi giáp công của chiến tranh nhân dân VN trong KCCM. TRẬN CAMBRÊ (20.11-6.12.1917), trận tiến công của quân Anh vào tuyến phòng ngự của quân Đức ở khu vực Cambrê (Bắc Pháp) trong CTTG-I (1914-18). Ngày 20.11 bằng đòn đợt kích ổ ạt, bất ngờ của 378 xe tăng hiệp đồng với bộ binh, được máy bay, pháo binh yểm trợ, sau 10 giờ chiến đấu, Tập đoàn quân 3 của Anh chọc thủng tuyến phòng ngự của quân Đức trên chính diện 12km, sâu 8-10km; nhưng do thiếu lực lượng dự bị (đến 23.11 chỉ còn 92 xe tăng hoạt động) nên quân Anh không thể phát triển thắng lợi đã giành được. Từ 30.11 quân Đức phản công, khôi phục trận tuyến ban đầu. Trong TC cả hai phía đều bị thiệt hại nặng; trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đầu tiên trong CTTG-I, thể hiện vai trò của tác chiến hiệp đồng binh chủng và sức mạnh đột kích tập trung của xe tăng. TRẬN CAN (2.8.216tcn), trận đánh giữa quân La Mã (63.000 bộ binh, 6.000 kị binh) với quân Cactagiơ của Haniban (40.000 bộ binh, 1.000 kị binh) nong chiến tranh Punich (264- 146tcn), tại làng Can (đông nam Italia ngày nay). Quân La Mã bố trí thành một phalăng dày đặc (48 hàng) có kị binh ở hai sườn, lúc đầu đánh mạnh ở chính diện, khiến quân Cactagiơ phải lùi trung quân về phía sau. Sau đó quân Cactagiơ với lực lượng kị binh và bộ binh thiện chiến ở hai sườn, phản công mạnh mẽ, tạo thế bao vây, rồi đánh tan quân La Mã. TC được lấy làm mẫu mực kinh điển trong nhiều thế ki về cách đánh hợp vây và tiêu diệt đối phương có lực lượng trội hơn. TRẬN CÀNG LONG (24.4.1971), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 3 (thiếu) bộ đội chủ lực Quân khu 9 đánh chi khu Càng Long và hậu cứ Trung đoàn 14 (Sư đoàn 9) QĐ Sài Gòn tại tiêu khu Vĩnh Bình (nay là huyện lị Càng Long, t. Trà Vinh). Lực lượng địch tại chi khu Càng Long có 1 đại đội bảo an, 2 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát, nhân viên hành chính... (quân số khoảng 250); hậu cứ Trung đoàn 14 có 1 trung đội pháo binh (2 pháo 105mm), 2 trung đội công binh và một số lính gác... (quân số khoảng 100). Đêm 23.4 trung đoàn sử dụng 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội đặc công và một số đơn vị hỏa lực, chia thành 14 mũi, bí mật luồn sâu, lót sẵn; 0 giờ 15 phút ngày 24.4 đồng loạt nổ súng, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào. Sau hơn 2 giờ chiến đấu ta làm chủ chi khu Càng Long, đánh thiệt hại nặng hậu cứ Trung đoàn 14, diệt và làm bị thương gẩn 300 địch (có 4 cố vấn Mĩ), phá hủy 5 pháo 105 và 155mm, 1 kho đạn, 14 xe QS. Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần hỗ trợ cho phong trào CM ở địa phương phát triển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:56:39 pm TRẬN CẢNH DƯƠNG (8.6.1953), trận chống càn của du kích và nhân dân làng chiến đấu Cảnh Dương (nay là xã Cảnh Dương, h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình), đánh trả cuộc càn quét của 1 tiểu đoàn quân Pháp. Lực lượng ta có 125 du kích, trang bị 26 súng bộ binh và các loại chông, mìn, lựu đạn, đại đao, mác... 5 giờ 30 phút, địch có pháo binh yểm trợ, triển khai tiến công từ ba hướng (2 hướng đường bộ và 1 hướng đường biển) vào các xóm Trung Vũ, Đông Yên, Đông Hải. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa đã chuẩn bị trước, ta chờ địch vào gần mới nổ súng, đẩy lui các mũi tiến công của địch. 10-15 giờ địch dùng máy bay bắn phá và tăng cường lực lượng tiếp tục tiến công, chiếm được xóm Trung Vũ và một phần các xóm Liên Trung, Đông Hải, Đông Yên. Ta tích cực bám đánh, giành giật với địch từng căn nhà, ngách tường, kết hợp đánh phía trước, phía sau, tạt sườn... đến 17 giờ buộc địch phải rút quân. Kết quả diệt và làm bị thương 49 địch, giữ vững làng chiến đấu, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương, đánh bại âm mưu càn quét, cướp phá, bắt phu, bắt lính của địch. TRẬN CÁNH ĐỒNG CHUM (18-20.12.1971), trận tiến công của quân tình nguyện VN phối hợp với QGP nhân dân Lào, đánh quân phái hữu Lào (có quân Thái Lan giúp sức) ở Cánh Đồng Chum (Lào), mở đầu chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường sủi (18.12.1971-6.4.1972). Lực lượng quân tình nguyện VN gồm; Sư đoàn bộ binh 312 (3 trung đoàn: 141, 165 và 209), Trung đoàn bộ binh 174 (Sư đoàn 316), Trung đoàn bộ binh 335, Trung đoàn pháo phòng không 226, Tiểu đoàn xe tăng 195 (Trung đoàn 202), Tiểu đoàn pháo binh 42... Lực lượng địch gồm: 2 binh đoàn cơ động (GM21, GM23) quân phái hữu Lào, 13 tiểu đoàn phỉ Vàng Pao. một số đơn vị biệt động và pháo binh Thái Lan... 4 giờ 45 phút ngày 18.12 ta sử dụng pháo binh bắn chế áp, chi viện cho bộ binh và xe tăng đột phá trận địa địch trên nhiều hướng. Ở hướng nam, Trung đoàn 165 đánh chiếm Phu Thengneng, Phu Tàng, buộc địch ở Phu Tôn rút chạy; Trung đoàn 141 truy kích địch hướng Nậm Khô - Mường Pốt; Trung đoàn 209 diệt địch trên cánh đồng Cang xẻng... Ở hướng bắc, Trung đoàn 174 đánh chiếm Na Hin, phát triển sang Bản Sút; Trung đoàn 335 làm chủ Phu Keng... Kết quả diệt 6 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn và 5 tiểu đoàn, khôi phục lại toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum bị địch lấn chiếm từ 6.1971. TRẬN CÁT BI (7.3.1954) nh TRẬN SÂN BAY CÁT BI TRẬN CATALAO (451), trận đánh giữa liên quân Tây La Mã - Tây Gót với qụân Hun tại đồng bằng Catalao (đông bắc Pháp). Trong cuộc xâm chiếm xứ Gôlơ (địa phận nước Pháp ngày nay), quân Hun của Attila từ phương bắc tràn xuống bị đẩy lùi về Catalao. Tại đây 20.6 trong khi quân Hun đang thắng thế ở chính diện và cánh phải thì bị quân Tây Gôt phản công mạnh ở cánh trái, bị thiệt hại nặng, phải lui. Ngày hôm sau, do không bị đánh tiếp, quân Hun vượt Sông Ranh, rút lui an toàn. Chiến thắng của quân Tây La Mã - Tây Gôt trong TC mở đầu quá trình tan rã của liên minh bộ tộc Hun và chặn được cuộc tiến quân của Hun vào Tây Âu. TC xảy ra gần vùng Salông (P. Châlons) bên sông Macnơ nên cg trận Salông. TRẬN CATE (29.10-1.11.1969), trận vây lấn căn cứ Cate do Tiểu đoàn bộ binh 8 thuộc Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 (Mặt trận Tây Nguyên) tiến hành, nhằm phá một mắt xích trong tụyến phòng ngự biên giới VN - Campuchia của Mĩ và QĐ Sài Gòn. Căn cứ nằm trên điểm cao 936, trong tuyến phòng ngự Bu Prăng - Đức Lập, do 2 đại đội biệt động quân QĐ Sài Gòn và 1 đại đội pháo binh Mĩ đóng giữ, có 2 tuyến công sự, 3 hàng rào dây thép gai và bãi mìn bảo vệ. Đêm 28.10 Tiểu đoàn 8 sử dụng Đại đội bộ binh 5 và hỏa lực tăng cường, bí mật tiếp cận làm công sự bao vây căn cứ, lực lượng còn lại cơ động tiến công ngoài căn cứ. 5 giờ ngày 29.10 Đại đội 5 nổ súng. Sau 4 ngày bị ta vây lấn, địch phải bỏ căn cứ rút chạy, rồi bị tiêu diệt. Kết quả loại khỏi chiến đấu 190 địch, 6 pháo 105-155mm, 14 máy bay (2 phản lực). Là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, làm rung chuyển thế phòng ngự từ xa của Mĩ, củng cố lòng tin cho ta về cách đánh công sự vững chắc bằng “vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:57:31 pm TRẬN CĂN CỨ 41A (19.6.1972), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 20 (Trung đoàn 400) QGP Tây Nguyên đánh căn cứ 41A của QĐ Sài Gòn nằm trên đường 14, nam tx Kon Tum 20km (nay thuộc xã la Khươi, h. Chư Păh, t. Gia Lai). Lực lượng địch gồm SCH Chiến đoàn 53 và Thiết đoàn 19, một tiểu đoàn pháo và 1 đại đội biệt kích (quân số hơn 400), có hệ thống công sự vững chắc. Đêm 18.6 tiểu đoàn triển khai bốn mũi, bí mật luồn sâu, áp sát; 2 giờ 56 phút ngày 19.6 nổ súng, sau gần 1 giờ chiến đấu diệt được chỉ huy tiểu đoàn pháo và phần lớn mực tiêu. Bị địch chống trả quyết liệt, tiểu đoàn tàng cường thêm lực lượng, tập trung đánh chiếm SCH Chiến đoàn 53 và giải quyết cơ bản các mục tiêu còn lại, 4 giờ 25 phút tổ chức rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu 380 địch (bắt 30), phá hủy 15 khẩu pháo, cối các loại, 1 xe thiết giáp, 1 xe vận tải,... làm tê liệt hoàn toàn SCH hành quân của địch, góp phần hỗ trợ tích cực cho đơn vị bạn cắt đường 14 và đánh phá giao thông ở khu vực nam tx Kon Tum. TRẬN CĂN CỨ BÀ THÀY (7.4.1972), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 7 (Trung đoàn đặc công 10, Quân khu 9) vào căn cứ Bà Thày (xã Khánh An, h. Mười Tế. nay là h. U Minh. t. Cà Mau), nơi có SCH Trung đoàn 33 (Sư đoàn 21) QĐ Sài Gòn. Đêm 6.4 ta chia nhiều mũi bí mật tiềm nhập, áp sát mục tiêu; 0 giờ 45 phút ngày 7, do bị lộ nên phải nổ súng sớm trước giờ quy định. Trận đánh lúc đầu phát triển thuận lợi, ta làm chủ nhiều khu vực, nhưng sau 30 phút chiến đấu, bộ đội hết lựu đạn, thủ pháo, bị địch phản kích quyết liệt nên tiểu đoàn quyết định kết thúc trận đánh và lui quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch (bắt 14), phá hủy 12 pháo, cối, 1 trạm rađa, bắn chìm 3 tàu, thu 64 súng. Trận đánh góp phần đánh quỵ Trung đoàn 33, kìm chân lực lượng chủ lực địch, tạo thuận lợi cho chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972- 19.1.1973) ở miền Đông Nam Bộ. TRẬN CĂN CỨ CARÔN (7.3.1967), trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn pháo binh 84B, Tiểu đoàn pháo binh 11 (Trung đoàn 164) và các đại đội hỏa lực (cối 82mm, 120mm) của Sư đoàn bộ binh 324 vào căn cứ Carôn (căn cứ hành quân của Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 Mĩ) tại điểm cao 241 (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Lực lượng địch ở căn cứ khoảng 2.500 quân (có SCH sư đoàn), 20 khẩu pháo 105mm và 155mm, 15 xe tăng... Trận đánh diễn ra lúc 0 giờ 7 phút, bắt đầu bằng toàn bộ các loại hỏa lực bắn cấp tập, sau đó thay phiên bắn liên tục đến sáng. Với 1.056 viên đạn (có 224 đạn pháo phản lực ĐKB, 375 đạn pháo phản lực H6) gây cháy nổ suốt 48 giờ, phá hủy phần lớn căn cứ, loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, buộc địch phải chuyển căn cứ sang vị trí khác. Trận đánh đạt hiệu quả cao, lần đầu tiên sử dụng pháo phân lực tập kích căn cứ địch trên chiến trường miền Nam trong KCCM. TRẬN CĂN CỨ THẺ 23 (1.4.1970), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 269B. Tiếu đoàn bộ binh 261A (Quân khu 8) đánh căn cứ Thẻ 23 (căn cứ hành quân của Sư đoàn bộ binh 7, đồng thời là hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 12 QĐ Sài Gòn) ở khu vực ngã ba QL 4 (nay là QL 1) và đường 20, trên địa bàn h. Cái Bè, t. Mĩ Tho (nay là t. Tiền Giang). Lực lượng địch gồm: Tiểu đoàn bộ binh 3 và cơ quan trung đoàn bộ Trung đoàn 12, có 1 trung đội thám kích, 1 đại đội và 1 trung đội pháo (8 pháo 105 và 155mm, 10 súng cối 81 và 60mm); hệ thống bảo vệ kiên cố bằng tường đất kết hợp lô cốt. công sự chiến đấu, hàng rào (3-5 lớp) xen kẽ bãi mìn... Đêm 31.3 ta bí mật tiếp cận mục tiêu từ bốn hướng, 1 giờ 45 phút ngày 1.4 nổ súng, kết hợp giữa đặc công luồn sâu, ém sẵn đánh bên trong, bộ binh mở cửa đánh từ ngoài vào, sau 1 giờ chiến đấu phá hủy căn cứ, diệt và bắt hơn 350 địch (có 4 cố vấn Mĩ), phá hủy 50 xe QS. 16 khẩu pháo, cối và hàng vạn tấn đạn... Là trận mở màn thắng lợi trong đợt hoạt động ABC của LLVT Quân khu 8, làm mất chỗ dựa quan trọng cho kế hoạch bình định của địch ở đồng bàng sông Cửu Long. TRẬN CĂN CỨ TOÀN THẮNG (16.12.1974), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 2, Quân khu 9) được tăng cường hỏa lực (2 cối 120mm, 2 ĐKZ, 4 súng máy phòng không 12,7mm) vào căn cứ pháo binh Toàn Tháng tại xã Biển Bạch (h. Thới Bình, t. Cà Mau), do 1 đại đội và 1 trung đội bảo an, 1 trung đội pháo binh (2 pháo 105mm) QĐ Sài Gòn đóng giữ. 6 giờ 40 phút ta sử dụng hỏa lực chế áp, đồng thời các mũi xung kích tạo cửa mở từ ba hướng xung phong đánh chiếm các lô cốt, khu nhà ở...; sau 32 phút chiến đấu làm chủ căn cứ, diệt và bắt hơn 100 dịch, phá hủy 2 pháo 105mm, thu 6 máy thông tin PRC25 và 72 súng các loại... Cùng với hoạt động tác chiến trong khu vực, TCCTT góp phần khai thông hành lang từ U Minh Thượng đến U Minh Hạ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:58:28 pm TRẬN CẢNG ESEPIC 28.12.1951, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 86 (Trung đoàn 812 Liên khu 5) và LLVT thị xã Phan Thiết vào căn cứ Cảng Esepic (Trường cao đẳng thể thao Đông Dương, tây nam tx Phan Thiết 4km, nay là tp Phan Thiết, t. Bình Thuận), do 1 đại đội Âu - Phi, 1 trung đội pháo (2 khẩu 75mm) và hơn 100 học viên đào tạo hạ sĩ quan của Pháp đóng giữ. Đêm 28.12 tiểu đoàn triển khai lực lượng bí mật áp sát mục tiêu, tổ chức một bộ phận (đội quyết tử) cải trang làm lính địch đi tuần bất ngờ đột nhập vào cổng chính, đồng loạt đánh chiếm khu trường huấn luyện và trận địa pháo, sau đó chặn đánh đẩy lui đoàn xe địch từ Phan Thiết lên ứng cứu. Kết quả sau 40 phút chiến đấu, ta diệt và làm bị thương hơn 150 địch, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 xe bọc thép, thu 175 súng các loại. Trận tập kích lớn nhất và tiêu biểu về diệt sinh lực địch, góp phần phá vỡ kế hoạch đào tạo bổ sung đội ngũ sĩ quan của địch ở chiến trường Nam Trung Bộ trong KCCP. TRẬN CĂNG ESEPIC 22.2.1969, trận tập kích của bộ đội đặc công tỉnh Bình Thuận đánh căn cứ hành quân của Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn kị binh không vận 506) QĐ Mĩ tại Căng Esepic (tây nam tx Phan Thiết 4km, nay thuộc tp Phan Thiết, t. Bình Thuận). Ta sử dụng 85 đặc công của các đơn vị Đại đội 5 (Tiểu đoàn 840), Đại đội 1 (Tiểu đoàn 481) và Tiểu đoàn 482, đêm 21.2 tổ chức lực lượng thành 7 tổ, bí mật tiềm nhập từ ba hướng; 0 giờ 22 phút ngày 22 đồng loạt nổ súng đánh vào sân bay, bãi xe, trận địa pháo, khu nhà ở, kho tàng... Sau 40 phút chiến đấu, diệt và làm bị thương hàng trăm địch, phá hủy 11 máy bay trực thăng, 12 khẩu pháo, 2 xe tăng... Trận đánh diễn ra nhanh, gọn, đạt hiệu quả cao, mờ màn thắng lợi đợt hoạt động Xuân 1969 ở Khu 6. TRẬN CẨM LÍ (21.7.1948), trận tập kích của 2 đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn Bác Bác (Trung đoàn 36), đánh đồn Cẩm Lí (xã Vũ Xá, h. Lục Nam, t. Bắc Giang), do 1 trung đội quân Pháp đóng giữ. Đồn nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm, có lô cốt, hầm ngầm xi măng cốt sắt và 4 hàng rào dây thép gai bảo vệ. Được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, lợi dụng lúc quân Pháp bắt dàn chuyển gạch xây công sự, 54 chiến sĩ ta cải trang làm dân phu (20 người hóa trang là phụ nữ) gánh gạch vào đồn, bất ngờ dùng dao găm, đoản kiếm diệt gọn quân địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận đánh diễn ra mau lẹ giữa ban ngày, đạt hiệu quả cao; được Bộ tổng chỉ huy tuyên dương trong toàn quân. TRẬN CẨM SƠN (26.10.1961), trận phục kích của Tiểu đoàn 120 bộ đội địa phương tỉnh Khánh Hoà, phối hợp với du kích địa phương đánh 1 đại đội bảo an và 1 chi đội thiết giáp (3 xe) QĐ Sài Gòn đi giải tỏa tại khu vực cẩm Sơn (h. Diên Khánh, t. Khánh Hòa). Đêm 25 rạng 26.10 ta diệt lực lượng dân vệ ở ấp Đại Điền, đồng thời bố trí trận địa phục kích trên đoạn đường Diên Khánh - Gia Lệ chờ đánh địch giải tỏa. 10 giờ ngày 26.10 địch từ tiểu khu Khánh Hòa hành quân giải tỏa bằng cơ giới lọt vào trận địa, ta nổ súng nhưng phối hợp không tốt, để địch chiếm được cứ điểm Cấm Sơn (cứ điểm cũ thời Pháp, có công sự kiên cố) co cụm chống trả quyết liệt. Ta chuyển sang đánh công kiên, diệt địch sau 3 giờ chiến đấu. Thầng lợi của TCS góp phần làm tê liệt, tan rã hệ thống kìm kẹp của địch ở nhiều ấp, xã từ Đại Điền đến Suối Dầu, tạo điều kiện cho phong trào CM địa phương phát triển. TRẬN CẤM DƠI (17-19.8.1972). trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 711 (Quân khu 5) được tăng cường hỏa lực (pháo 130mm và tên lửa chống tăng B72), đánh căn cứ Cấm Dơi và chi khu quận lị Quế Sơn (h. Quế Sơn, t. Quảng Nam) do 2 trung đoàn bộ binh (5 và 6) thuộc Sư đoàn 2, 1 trung đoàn và 1 chi đoàn thiết giáp, 1 liên đoàn biệt động quân, 2 liên đoàn bảo an, 2 tổng đoàn dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Cấm Dơi là điểm cao đột xuất trong thung lũng Quế Sơn (cách quận lị Quế Sơn 2km) được xây dựng thành căn cứ vững chắc với 3 tầng công sự, lô cốt, nhà hầm, 12 lớp rào xen kẽ mìn. có lực lượng cơ động vòng ngoài bảo vệ. không quân, pháo binh chi viện. Đêm 17.8 ta bất ngờ tiến công các vị trí bảo vệ vòng ngoài; ngày 18 dùng pháo 130mm bắn phá căn cứ, khống chế các trận địa pháo của địch, yểm trợ cho các đơn vị vận động tiếp cận, chiếm lĩnh trận địa và đánh địch phản kích. Sáng 19.8 sau 20 phút hỏa lực cấp tập của pháo binh, các mũi bộ binh đồng loạt tiến công đánh chiếm mục tiêu, đến 15 giờ 10 phút làm chủ căn cứ, diệt SCH Trung đoàn 5 của địch; tiếp đó phát triển tiến công đánh chiếm quận lị Quế Sơn. truy kích, đón lõng đánh địch rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 3.000 địch, phá hủy 40 khẩu pháo. 70 xe QS, thu 30 xe (có 12 xe M113), hơn 500 súng các loại; phá vỡ tuyến phòng thủ chủ yếu của địch ở tây nam Đà Nẵng, giải phóng thung lũng Quế Sơn với 20.000 dân. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 05:59:35 pm TRẬN CẦN ĐÂM (8.6.1966), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9) chặn đánh đoàn xe QS Mĩ và QĐ Sài Gòn trên đường 13, đoạn ngã ba Cây Đa - cầu Cần Đâm thuộc khu vực xã Tân Khai (quận An Lộc, t. Bình Long, nay là h. Bình Long, t. Bình Phước), nhằm cắt giao thông, hỗ trợ cho hướng chủ yếu tiến công căn cứ Lộc Ninh, Hớn Quản trong đợt hoạt động tác chiến mùa mưa 1966 của Sư đoàn 9. Trận địa phục kích được triển khai từ 25.5 trên đoạn đường dài 3,5km, tuyến xuất phát xung phong cách đường 200- 400m. Sau nữa tháng bí mật ém quân, 13 giờ 20 phút ngày 8.6 trận đánh bắt đầu. Khi đoàn xe địch lọt vào trận địa, lực lượng công binh nổ mìn chặn đầu, tiếp đó các đơn vị vận động tiếp cận đánh chính diện và vòng đánh tạt sườn, nhưng do phối hợp không chặt, để địch co cụm chống cự và dùng hỏa lực không quân bắn phá ác liệt làm trận đánh kéo dài. Từ 14 giờ 40 phút trung đoàn kịp thời đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu đến 18 giờ kết thúc trận đánh. Kết quả diệt và làm bị thương 500 địch, phá hủy 40 xe QS (có 31 xe tăng, xe bọc thép), bắn cháy 8 máy bay, thu 45 súng các loại. TRẬN CẨN GIUỘC (16.12.1861), trận tiến công của nghĩa quân Trương Định vào quân Pháp ở đồn Cần Giuộc (nay thuộc t. Long An). 16.12.1861 Trương Định đem quân từ Gò Công (nay thuộc t. Tiền Giang) đến phối hợp với cai tổng Là, chủ động tiến công đổn Cần Giuộc nhằm phá kế hoạch của Pháp mở rộng đánh chiếm vùng Tân An - Cần Giuộc. Nghĩa quân chiến đấu dũng cảm bằng các loại vũ khí thô sơ, diệt dược nhiều lính Pháp, nhưng cũng bị tổn thất. TCG thể hiện tinh thần hi sinh vì nước của các nghĩa sĩ Cần Giuộc và nhân dân Nam Bộ trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84), được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi trong bài “văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. TRẬN CẨU CÂY KHẾ (15.4.1949), trận đánh phá giao thòng bằng vũ khí tự tạo của Đại đội 21 (Khu 7) tại cầu Cây Khế, một vị trí bảo đảm giao thông trọng yếu của quân Pháp trên trục lộ 15 (nay là QL 51) từ Sài Gòn đi Vũng Tàu. Đêm 14 rạng 15.4 đại đội bố trí một bộ phận yểm trợ và một bộ phận bí mật vượt qua hệ thống canh phòng của địch, dùng 18 quả mìn lõm (loại 10kg, nổ bằng kíp điện) đánh sập 2 trong số 5 nhịp cầu, sau đó rút lui an toàn. Kết quả trận đánh cho ta kinh nghiệm chế tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng loại mìn lõm, đồng thời đấy mạnh phong trào dùng vũ khí tự tạo đánh địch trong những năm đầu KCCP. TRẬN CẦU GHỂNH (27-29.4.1975), trận tập kích của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 23) và 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 174 (Trung đoàn đặc công 113) tại khu vực Cầu Ghềnh trên QL 1 (đoạn Biên Hòa - Sài Gòn) do QĐ Sài Gòn đóng giữ trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Đêm 27 rạng 28.4 ta bí mật luồn sâu, lót sẵn, bất ngờ đánh chiếm cẩu và tổ chức chốt giữ; tiếp đó 28-29.4 liên tục đánh địch phản kích, giữ vững cầu, tạo thuận lợi cho Quân đoàn 4 nhanh chóng đánh chiếm Biên Hòa và phát triển tiến công vào Sài Gòn. TRẬN CẦU GIẤY 21.12.1873, trận phục kích quân Pháp do quân Cờ Đen tiến hành ở khu vực Cầu Giấy (Hà Nội) trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội lần 1 (20.11.1873), theo lệnh của Hoàng Tá Viêm - thống đốc quân thứ Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) và Tôn Thất Thuyết - tham tán quân thứ, quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy về bố trí xung quanh Hà Nội; 21.12.1873 tổ chức mai phục ở khu vực Cầu Giấy rồi cho quân đến khiêu chiến ở cửa tây thành Hà Nội. Chỉ huy quân Pháp chiếm đóng thành Hà Nội là Gacniê đang hội đàm với phái đoàn đại diện triều Nguyễn vội bỏ họp, dẫn quân ra nghênh chiến, đuổi theo quân Cờ Đen đến Cầu Giấy, lọt vào ổ phục kích; đại úy Gacniê, trung úy Banni Đayricua và một số lính Pháp bị bắn chết. TCG khiến Pháp hoang mang (trong thành Hà Nội chỉ còn 40 quân) định rút chạy, nhưng triều đình Huế nhu nhược, không nắm thời cơ để phát huy thắng lợi, tiếp tục nhượng bộ Pháp bằng hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1874). TRẬN CẦU GIẤY 19.5.1883, trận phục kích quân Pháp do quân triều Nguyễn và quân Cờ Đen tiến hành ở khu vực Cầu Giấy (Hà Nội). Sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội lần II (25.4.1882), quân triều đình do Hoàng Tá Viêm chỉ huy, cùng quân Cờ Đen ở Sơn Tây, về giữ phủ Hoài Đức (Hà Tây) và bao vây, uy hiếp Hà Nội. Để đối phó. Pháp mở cuộc hành quân lớn về phía tây, nhằm ổn định tình hình và mở rộng địa bàn chiếm đóng quanh Hà Nội. Nắm được kế hoạch của địch, Hoàng Tá Viêm bố trí sẵn trận địa ứng chiến ở Cầu Giấy, chia lực lượng thành ba cánh, lập trận địa theo hình vòng cung từ làng Dịch Vọng Tiền sang Dịch Vọng Trung đến Hạ Yên Quyết, đón đánh quân Pháp. Sáng 19.5 HăngriRivie (chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Bắc Kì) đưa khoảng 500 quân, có đại bác yểm trợ, từ Hà Nội bí mật tiến về phủ Hoài Đức. Đến Cầu Giấy, quân Pháp bị đánh tổn thất nặng (chết 33, trong đó có Rivie; bị thương 61), phải rút về Đồn Thủy (Hà Nội) cố thủ. TCG 19.5.1883 làm quân Pháp ở Bắc Kì rất hoang mang, nhưng triều Nguyễn và Hoàng Tá Viêm đã dừng lại, không phát huy thắng lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:00:44 pm TRẬN CẦU LỒ (13-14.7.1954), trận vây lấn tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 80 (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308) được tăng cường hỏa lực (2 sơn pháo 75mm, 3 ĐKZ 75mm, 2 cối 120mm), đánh cứ điểm Cầu Lồ (nay thuộc xã Lan Mẫu, h. Lục Nam, t. Bác Giang) trong hệ thống phòng ngự bắc Phủ Lạng Thương của Pháp. Tại đây địch có 1 đại đội (sĩ quan Pháp chỉ huy), tổ chức phòng ngự vững chắc, trang bị hỏa lực mạnh. Đêm 13.7 tiểu đoàn triển khai trận địa vây lấn, đưa hỏa lực vào sát hàng rào cuối cùng, rạng sáng 14.7 nổ súng tiến công chiếm được nửa cứ điểm. Địch co cụm chống cự quyết liệt, đồng thời gọi máy bay ném bom, bắn phá ngăn chặn ta tiến công, đến tối 14.7 địch bí mật rút chạy. Kết quả diệt và bắt hơn 60 địch, thu 28 súng các loại, rút được nhiều kinh nghiệm đánh cứ điểm boong ke. TRẬN CẨU MĨ ĐỨC (20, 22.4.1965), các trân chiến đấu của Tiểu đoàn pháo phòng không 9 (Trường sĩ quan phòng không) phối hợp với Đại đội pháo phòng không 4 (Quân khu 4), tự vệ nông trường Quyết Thắng và dân quân địa phương, đánh máy bay Mĩ tại trận địa bảo vệ cầu Mĩ Đức trên đường 15 (h. Lệ Thủy, t. Quảng Bình). Thực hiện tác chiến hiệp đồng, bố trí hỏa lục tập trung, kết hợp làm trận địa giả nghi binh, trong 2 ngày đánh trả 4 đợt tiến công của 33 máy bay Mĩ, bắn rơi 14 chiếc (10 AD-6. 4 F-100), bảo vệ an toàn mục tiêu. Trận đánh đạt hiệu quả cao, thực hiện tốt phương châm “huấn luyện ở nhà trường gắn liền với chiến trường”. TRẬN CẦU QUAN ÂM VÀ BẮC LỆ (24 và 29.6.1884), hai trận tiến công của quân Cờ Đen và các nhóm nghĩa quân VN đánh quân Pháp ở cầu Quan Âm và đồn Bắc Lệ (t. Lạng Sơn) trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Nhằm thi hành kế hoạch thay thế quân Thanh (TQ) ở Bắc Kì, độc chiếm VN, Pháp tổ chức 1 lữ đoàn (khoảng 1.000 quân) tiến đánh Lạng Sơn. 24.6 khi vượt cầu Quan Âm, quân Pháp bị quân Cờ Đen phối hợp với nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện,... phục kích gây tổn thất nặng, phải lui về giữ đồn Bắc Lệ. 29.6.1884 quân Pháp ở Bắc Lệ lại bị nghĩa quân Hoàng Đình Kinh tập kích diệt thêm một số, buộc phải tháo chạy về Đáp Cầu (Bắc Ninh). Sau thất bại TCQÂVBL, chính phủ Pháp quyết định gây sức ép QS buộc nhà Thanh thực hiện hiệp ước Thiên Tân (11.5.1884) để độc chiếm VN. TRẬN CẦU QUẢNG TRỊ (29.4.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) phối hợp với Đại đội xe tăng 5 (Tiểu đoàn 512, Trung đoàn 202) đánh chiếm cẩu Quảng Trị do QĐ Sài Gòn chốt giữ, nhằm cắt đứt giao thòng, cô lập địch ở khu vực bắc và đông Quảng Trị, trong chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Sau khi căn cứ Phượng Hoàng bị tiêu diệt (9.4), địch tăng cường lực lượng bảo vệ cầu Quảng Trị, điều 2 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp hoạt động ở khu vực An Đôn, An Dập, Thượng Phước sẵn sàng chi viện khi bị QGP tiến công. 23 giờ 10 phút ngày 28.4, sau khi đánh chiếm làng An Đôn, ta dùng xe tăng dẫn bộ binh đột phá, tập trung hỏa lực diệt xe tăng và các ổ đề kháng của địch, đến 1 giờ 45 phút ngày 29.4 làm chủ trận địa, tiến hành phá cầu, ngăn chặn và đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch. Kết quả diệt 2 đại đội, bắn cháy 10 xe tăng và xe bọc thép, hoàn thành tốt nhiệm vụ chia cắt địch, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công đánh chiếm căn cứ Ái Tử và khu vực bắc sông Thạch Hãn. TRẬN CẦU TA RẾCH (9.1.1965), trận phục kích của trung đội du kích xã Hồng Quang (h. A Lưới, t. Thừa Thiên - Huế) và 1 tiểu đội bộ đội huyện, chặn đánh 1 đại đội QĐ Sài Gòn tuần tra tại khu vực phía đông cầu Ta Rếch trên đường A Sầu - A Lưới. Địch tổ chức lực lượng tuần tra thành hai bộ phận, mỗi bộ phận cách nhau 500m. 7 giờ 30 phút khi bộ phận đi đầu của địch (2 trung đội) lọt vào trận địa phục kích của ta bố trí cách cầu 400m, ta đồng loạt nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, xung phong diệt phần lớn, tiếp đó đánh địch co cụm và đẩy lui trung đội dịch phía sau lên tiếp ứng. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt 40 địch và rút lui an toàn. Là trận đánh tập trung đầu tiên của du kích xã Hồng Quang, phối hợp chiến đấu tốt với bộ đội huyện, nhưng do chưa chú ý tổ chức chặn viện nên kết quả còn hạn chế. TRẬN CẦU VĨ (18.1.1972), trận phục kích của 2 tiểu đoàn bộ binh (514C và 2009B) bộ đội tinh Mĩ Tho được tăng cường 1 đại đội đặc công, 1 phân đội hỏa lực, cùng du kích địa phương chặn đánh Liên đoàn biệt động quân 41 (thiếu 1 tiểu đoàn) QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực Cầu Vĩ (xã. Tân Hội, h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang), trong đợt 2 chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long (10.6-10.9.1972). Ngày 16.7 ta sử dụng 1 đại đội cùng du kích xã Mĩ Hạnh Đông vây ép đồn Cống Huế, đồng thời tổ chức lực lượng chuẩn bị đánh quân cứu viện. 15 giờ 35 phút ngày 18.7, địch từ Tân Phú đến giải tỏa lọt vào trận địa phục kích, ta đồng loạt nổ súng, chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt và truy kích. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta diệt và bắt 270 địch, thu 102 súng các loại, buộc địch ở đồn Cống Huế và một số đồn khác rút chạy; giải phóng các xã Mĩ Phước, Mĩ Phước Tây, Mĩ Hạnh Đóng, mở lại mảng 3 Cai Lậy Bắc, tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:01:31 pm TRẬN CHÀ LÀ 23-24.11.1963, trận đánh điểm diệt viện của 2 tiểu đoàn bộ binh (306 và U Minh), Tiểu đoàn súng máy phòng không 207 và lực lượng pháo binh hỗn hợp Quân khu 9, phối hợp với bộ đội và du kích địa phương đánh QĐ Sài Gòn tại cụm cứ điểm Chà Là (nay thuộc h. Đầm Dơi, t. Cà Mau). Ta sử dụng Tiểu đoàn U Minh được tăng cường hỏa lực và đại đội địa phương huyện Cái Nước tiến công cụm cứ điểm Chà Là; các tiểu đoàn 306 và 207 cùng bộ đội địa phương huyện Ngọc Hiển và du kích tổ chức trận địa đánh viện. 23 giờ 30 phút ngày 23.11 trận đánh bắt đầu, sau hơn 3 giờ chiến đấu ta làm chủ ấp chiến lược Chà Là và 1 đồn tam giác, diệt và đánh thiệt hại nặng cơ quan hành chính quận, 1 đại đội biệt động quân, 1 đại đội dân vệ (thiếu) và tiểu đội thám báo. Trong ngày 24 các đơn vị kiên cường bám trụ đánh lui 3 đợt đổ bộ đường không của 3 tiểu đoàn địch đến ứng cứu, đồng thời chặn đánh tàu chiến địch trên sóng Bảy Háp. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 600 địch, bắn rơi 19 máy bay, bán bị thương 1 tàu chiến, thu 100 súng và nhiều đồ dùng QS; hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá hai ấp chiến lược Chà Là và Giá Ngựa. Trận mở đầu đánh tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực QĐ Sài Gòn trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, một trong những chiến thắng lớn nhất của quân và dân miền Nam trong năm 1963, góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận của địch. TRẬN CHÀ LÀ 21.8.1968. trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 5 (Sư đoàn 5) và một bộ phận đặc công Miền vào cụm cơ giới Mĩ ở Chà Là (đông tx Tây Ninh, nay thuộc h. Dương Minh Châu, t. Tây Ninh), trong đợt 1 chiến dịch Tây Ninh (17.8-28.9.1968). Địch đóng quân trên gò đất cao (dài 700m, rộng 500m). xung quanh có hàng rào dây thép gai gồm 3 hàng rào bùng nhùng đơn, 1 hàng rào bùng nhùng kép. Đêm 21.8 từ nhiều hướng mũi, ta bí mật tiếp cận, bất ngờ đánh chiếm các mục tiêu, sau hơn 3 giờ chiến đấu, tiêu diệt gần hết cụm quân địch, phá hủy 13 khẩu pháo và 140 xe QS (có 80 xe bọc thép). Thắng lợi của TCL tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển. TRẬN CHÁNH THIỆN (23.6.1974), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 50 bộ đội tỉnh Bình Định, đánh 2 chi đoàn xe M113 (Thiết đoàn 19), 2 đại đội biệt động (Tiểu đoàn 35), 2 đại đội bộ binh (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47) QĐ Sài Gòn hành quân lấn chiếm vùng giải phóng tại Chánh Thiện (xã Mĩ Chánh, h. Phù Mĩ, t. Bình Đinh). 12 giờ 40 phút cánh quân thứ nhất của địch gồm 1 chi đoàn xe M113 và 2 đại đội biệt động, có pháo binh mở đường lọt vào trận địa phục kích của ta ở Trung Thuận - Chánh Thiện. Ta đồng loạt nổ súng, diệt gọn chi đoàn xe M113 (12 chiếc), 1 đại đội biệt động. 13 giờ 30 phút địch điều cánh quân thứ hai, gồm 1 chi đoàn xe M113 và 2 đại đội bộ binh, có máy bay yểm trợ đến ứng cứu, bị ta đánh thiệt hại nặng (diệt 7 xe), số còn lại rút chạy về Trà Quang. Là trận diệt nhiều xe M113 nhất của các LLVT tỉnh Binh Định, bảo vệ vùng giải phóng, đập tan âm mưu phản kích, lấn chiếm bằng lực lượng cơ giới kết hợp với bộ binh của địch. TRẬN CHÂN MỘNG - TRẠM THẢN (17.11.1952). trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308) chặn đánh quân Pháp trên đường 2, tại khu vực Chân Mộng - Trạm Thản (thuộc h. Phù Ninh và h. Đoan Hùng, t. Phú Thọ), nhằm chống lại cuộc hành quân Loren và âm mưu của địch đánh phá hậu phương chiến dịch của ta, trong chiến dịch Tây Bắc (14.10-10.12.1952). Đêm 16.11, Trung đoàn 36 chuẩn bị đánh đồi Chân Mộng, phát hiện lực lượng hành quân của địch đang rút lui khỏi Đoan Hùng, đã kịp thời tổ chức trận địa phục kích trên đường Chân Mộng - Năng Yên, Trạm Thản (dài hơn 1km). 9 giờ 43 phút, khi đoàn xe chờ Tiếu đoàn 2 thuộc Trung đoàn lê dương 2 (2/2REI) của địch lọt vào trận địa, ta đồng loạt nổ súng chận đầu, khoá đuôi, đánh giáp lá cà diệt phần lớn quân địch, sau đó tiếp tục truy kích diệt thêm một số, buộc địch ở đồn Chân Mộng hoảng sợ bỏ đồn rút chạy. Kết quả diệt và bắt gần 300 địch, phá hủy 44 xe QS (có 17 xe tăng và xe bọc thép). TCM-TT góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Loren của Pháp, bảo vệ hậu phương chiến dịch, tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc phát triển thắng lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:02:15 pm TRẬN CHEO REO (17-19.3.1975), trận truy kích của Sư đoàn bộ binh 320 (Mặt trận Tây Nguyên), được tăng cường Trung đoàn bộ binh 95B. Trung đoàn pháo phòng không 593, Trung đoàn pháo binh 675 và 1 tiểu đoàn xe tăng đánh QĐ Sài Gòn rút chạy tại khu vực thị xã Cheo Reo (t. Phú Bổn, nay là thị trấn Ayun Pa, h. Ayun Pa. t. Gia Lai), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Đêm 16.3 phát hiện lực lượng địch ở bắc và trung Tây Nguyên (khoảng 15.000 quân, gồm cơ quan Quân đoàn 2 - Quân khu 2, Sư đoàn không quân 6, Lữ đoàn kị binh 2 và 6 liên đoàn biệt động quân, 6 tiểu đoàn pháo...) theo đường liên tỉnh 7 rút chạy qua Cheo Reo về đồng bằng Khu 5, Sư đoàn 320 được lệnh cấp tốc truy kích tiêu diệt. Sáng 17.3 sư đoàn tập trung mọi khả năng cơ động triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa: Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) cắt đường liên tỉnh 7 chặn phía đông nam Cheo Reo, Trung đoàn 48 cơ động về phía tây thị xã làm mũi đột phá chủ yếu, Trung đoàn 9 tiến xuống Phú Thiện cắt đường liên tỉnh 7 ở phía tây bắc Cheo Reo. Sau khi hình thành thế bao vây, tổ chức lực lượng chốt chặn nhiều tầng trên đường 7 và đẩy lui các đợt phản kích của địch, 11 giờ 30 phút ngày 18.3 ta tập trung pháo binh và các loại hỏa lực bắn chế áp, chi viện cho bộ binh xung phong đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã Cheo Reo, đến 18 giờ 30 phút làm chủ sân bay, sau đó phát triển đánh địch ở trại Ngô Quyền, chiếm ti cảnh sát, đài phát thanh và một số mục tiêu phía tây bắc tiểu khu. Đêm 18 và sáng 19.3 các đơn vị tiếp tục đánh địch co cụm và các mục tiêu còn lại, đến 9 giờ 10 phút ngày 19.3 hoàn toàn làm chủ thị xã, truy quét tàn quân địch rút chạy. Kết quả diệt, bắt và gọi hàng 13.570 địch, thu gần 4.000 súng các loại (có 32 khẩu pháo 105mm-175mm) và hơn 1.000 xe QS (có 161 xe tăng, thiết giáp), giải phóng phần lớn tỉnh Phú Bổn với khoảng 20.000 dân. Thắng lợi của TCR tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch tiếp tục phát triển tiến công về hướng đông, tạo thế chia cắt chiến lược và đập tan ý đồ co cụm phòng ngự ở đồng bằng của địch. TRẬN CHI KHU CÁI BÈ (20.7.1964), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 261 (bộ đội chủ lực Quân khu 8) được tăng cường 1 đại đội dặc công, 2 đại đội hỏa lực cùng LLVT địa phương vào chi khu QS Cái Bè (t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang) do QĐ Sài Gòn đóng giữ. Ta dùng đặc công luồn vào bên trong diệt các mục tiêu chủ yếu, phối hợp với bộ binh tiến công từ ngoài vào, trong đêm 20.7 đánh chiếm chi khu Cái Bè, diệt hơn 100 địch, phá hủy 2 pháo 105mm, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Là trận đầu tiên diệt chi khu QS địch ở chiến trường Trung Nam Bộ. TRẬN CHI KHU HÒA ĐA (19.9.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 200C (thiếu 1 đại đội) được tăng cường một bộ phận Đại đội đặc công 5 (Tiểu đoàn 840), 1 pháo DKZ75 của Quân khu 6 và 1 tiểu đội đặc công huyện Bắc Bình đánh chi khu Hòa Đa (h. Bắc Bình. t. Bình Thuận), do 1 đại đội bảo an, 2 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 18.9 ta tổ chức lực lượng thành 3 mũi tiềm nhập mục tiêu từ ba hướng, 1 giờ ngày 19.9 đồng loạt nổ súng, diệt các lô cốt và ổ đề kháng của địch, đánh chiếm SCH, khu trại lính, nhà cố vấn Mĩ và tiến hành truy kích quân địch rút chạy. Sau 40 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương 120 địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Là chiến công đầu của Tiểu đoàn 200C, diệt một chi khu QS lớn ở bắc Bình Thuận, gây hoang mang cho địch trong khu vực, tạo điểu kiện cho phong trào CM ở địa phương phát triển. TRẬN CHI KHU KIÊN LƯƠNG (6.10.1964), trận tiến công của Tiểu đoàn 364 bộ đội địa phương tỉnh An Giang được tăng cường 1 trung đội địa phương huyện Hà Tiên, 2 trung đội đặc công, 1 đại đội trợ chiến, đánh chi khu QS Kiên Lương (nay là thị trấn Kiên Lương, h. Hà Tiên, t. Kiên Giang) do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Lực lượng địch tại chi khu có 250 lính, cảnh sát và nhân viên chính quyền, tổ chức phòng ngự vững chắc, xung quanh có 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ bãi mìn bảo vệ. Được lực lượng nội ứng phối hợp, đêm 5.10 ta chia thành nhiều mũi, bí mật tiếp cận, chiếm lĩnh trận địa; 1 giờ 40 phút ngày 6.10 nổ súng tiến công trên 2 hướng (tây nam và đông nam), nhanh chóng phá hủy các lô cốt, lần lượt đánh chiếm khu cảnh sát, trại lính, dinh quận trưởng..., sau đó đẩy lui 1 trung đội dân vệ của địch (có xe thiết giáp) từ Núi Còm đến ứng cứu; 3 giờ kết thúc trận đánh. Kết quả diệt và bắt hơn 200 địch, thu 127 súng các loại. Trận đánh lớn đầu tiên của Tiểu đoàn 364, mở ra khả năng tiêu diệt chi khu QS địch của bộ đội địa phương miền Tây Nam Bộ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:03:15 pm TRẬN CHI KHU PHƯỚC BÌNH VÀ THỊ XÃ PHƯỚC LONG (31.12.1974-6.1.1975), trận tiến công của QGPMN VN vào chi khu Phước Bình và tx Phước Long (nay là huyện lị Phước Long, t. Bình Phước) do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 3 chiến dịch Đường 14- Phước Long (14.12.1974- 6.1.1975). Lực lượng ta có 6 trung đoàn bộ binh: 165. 141 (Sư đoàn 7), 271,201 (Sư đoàn 3), 2 (Sư đoàn 9) và 16. được tăng cường Tiểu đoàn đặc công 79 (Trung đoàn 429), 1 tiểu đoàn và 1 đại đội xe tăng, 2 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn pháo phòng không. Lực lượng địch có: Tiểu đoàn 1 (Chiến đoàn 7), 3 tiểu đoàn bảo an (340, 362 và 363), 1 chi đội thiết giáp, lực lượng cảnh sát, dân vệ và bộ máy chính quyền tinh, sau được tăng cường thêm 2 đại đội biệt kích dù. Sáng 31.12.1974 ta nổ súng tiến công và đánh địch phản kích, sau 2 ngày chiếm được chi khu Phước Bình, núi Bà Rá và các cụm địch quanh Thác Mơ, Hiếu Phong, Long Điền, tạo bàn đạp triển khai bao vây tx Phước Long từ 4 hướng. Sáng 2.1 ta sử dụng hỏa lực pháo binh khống chế mục tiêu, đồng thời tổ chức các mũi bộ binh và xe tăng thọc sâu đột phá vào trung tâm thị xã, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, đến chiều 6.1 làm chủ thị xã; diệt, bắt và làm tan rã hơn 2.000 địch, bắn rơi 12 máy bay, thu và phá hủy 90 xe QS cùng nhiều vũ khí, phương tiện kĩ thuật. Là trận then chốt quyết định của chiến dịch, giải phóng hoàn toàn tinh Phước Long, tạo điều kiện cho ta củng cố quyết tâm chiến lược mở chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68242484_461793824550503_5250391360929792_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeH921erneyaKVF-gYTFRvPbneeCNdBUUYIvNEgBS__1gqA1zzrHzRyUZVaUsfZYXBJcTGkNm7Viil1sWrV9vhH4Kv2UaV61WRH--nl7l8E0Kw&_nc_oc=AQntLRscldf2UiMWJGUbPcJ5wvdgIAijKrbJ9T0VmUKSHUx3fdzWyB1FtFAXkc3QKdM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=558a2b25cae6f676b08bd1b7a65e68b9&oe=5DD99EBA) TRẬN CHI KHU THƠI BÌNH (10.6.1972), trận tập kích của Trung đoàn đặc công 10 (Quân khu 9) được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh. 1 đại đội hỏa lực vào chi khu QS Thới Bình (t. Cà Mau). Chi khu nằm trên địa hình nhiều sông, rạch, có hệ thống phòng ngự vững chắc, do 3 đại đội bảo an, 3 trung đội dân vệ, thám báo, cảnh sát của QĐ và chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Đêm 9.6 ta triển khai lực lượng thành 8 mũi bí mật tiềm nhập, 3 giờ 15 phút ngày 10.6 nổ súng tiến công, đến 7 giờ chiếm phần lớn mục tiêu; số địch còn lại dựa vào lô cốt, hầm ngầm cố thủ và chống cự quyết liệt. Từ 9 giờ ta chuyển sang chặn đánh 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn bảo an của địch phản kích, đến 19 giờ rút khỏi trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 400 địch (bắt 16), thu 49 súng, phá hủy 3 khẩu pháo, bắn cháy 14 tàu, xuồng, góp phần làm thất bại kế hoạch lấn chiếm vùng u Minh của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:04:19 pm TRẬN CHI LĂNG - XƯƠNG GIANG (8.10- 3.11.1427), trận quyết chiến chiến lược diệt quân Minh (TQ) trên địa bàn từ Chi Lãng đến Xương Giang (113km) do nghĩa quân Lam Sơn (Đại Việt) tiến hành, kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Tháng 10.1427 nhà Minh đưa viện binh sang giải vây thành Đông Quan (Hà Nội), gồm 2 cánh: cánh chính, khoảng 100.000 quân, từ Quảng Tây (TQ) tiến theo đường Lạng Sơn, do Liễu Thăng cùng các tướng Lương Minh, Lí Khánh, Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy; cánh phụ, khoảng 50.000 quân, từ Vân Nam (TQ) tiến vào hướng Lào Cai, do Mộc Thạnh chỉ huy. Thực hiện chủ trương 'Vây thành, diệt viện”, một bộ phận quân Lam Sơn tiếp tục vây thành Đông Quan và các thành khác, một bộ phận chặn quân Mộc Thạnh, còn lực lượng chính được bố trí diệt quân Liễu Thăng. 8.10 cánh quân Liễu Thăng vượt biên giới, 10.10 bị phục kích tại Chi Lãng (nay thuộc Lạng Sơn), hàng vạn quân bị diệt, Liễu Thăng tử trận ở núi Mã Yên. 15 và 18.10 quân Minh tiếp tục bị tập kích, phục kích thiệt hại nặng ở Cần Trạm, Phố Cát (nay thuộc Bắc Giang), tướng chỉ huy là Lương Minh bị giết, Lí Khánh tự vẫn. Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy số quân còn lại cố tiến về thành Xương Giang (nay thuộc Bắc Giang), nhưng thành đã bị hạ (x. trận Xương Giang, 9.1427), quân Minh phải đắp lũy tự vệ trên cánh đồng Xương Giang. 3.11 nghĩa quân Lam Sơn từ bốn hướng tổng công kích, diệt và bắt toàn bộ quân Minh, bắt Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Biết tin cánh quân Liễu Thăng bị diệt, Mộc Thạnh vội rút quân, bị truy kích, tổn thất trên 20.000 quân. Sau TCL-XG tướng Minh là Vương Thông ở Đông Quan buộc phải chấp nhận rút quân, âm mưu xâm lược của nhà Minh bị đập tan. Chiến thắng của TCL-XG chứng tỏ tài thao lược của những người lãnh đạo nghĩa quân, chọn hướng chiến lược chính xác, sử dụng binh lực hợp lí, bày thế trận lợi hại. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68300823_461793814550504_5102062530763685888_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeEFq1fGuXDHuXa_JKSuKJNoVKPcQZpGUG29skp0kCg2OvbaHLZQfzrzFiCC_uOlUoH2VohC7rxgsxZxo9z8JWRcC8sXOBg7Hi_aUXZtRqJRZg&_nc_oc=AQkPQ8XcFqq3CvUD57iUq1tzVOGZiv8Ds8jKgcCIC9k6UsX-ruvSM7Iydja_mo3oC7g&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=edd9b74908aa4a87e5fc9e4c68f3081e&oe=5DECB3F1) TRẬN CHÍ HÒA (24-25.2.1861), trận phòng ngự của quân triều Nguyễn do Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại đại đồn Chí Hòa (Gia Định) trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Từ 8.1860 Nguyễn Tri Phương được triều dinh cử giữ chức tổng thống "quân vụ, xây dựng Chí Hòa thành cụm cứ điểm lớn, gồm 12.000 quân, 150 đại bác, chia thành 5 khu, xung quanh có thành đất và đá ong, nhiều lớp rào tre, hầm hố, chông bẫy...; phía sau có các đồn nhỏ yểm trợ (Tham Lương, Thuận Kiều, Rạch Tra...), ở hai bên có hai chiến lũy dài (đồn tả và đồn hữu) làm điểm tựa nhằm ngăn chặn và giam chân quân Pháp ở Sài Gòn. 7.2.1861 quân Pháp được tăng viện (khoảng 4.000 quân và 50 tàu thuyền chiến) do đô đốc Sacnơ chỉ huy tập trung tại Bên Nghé, 4 giờ 30 phút ngày 24.2 bắt đầu tiến công. Quân Nguyền dựa vào thành lũy chống trả quyết liệt, nhưng chỉ cầm cự được gần 2 ngày trước hỏa lực áp đảo và cách đánh thọc sườn, kết hợp với nghi binh chính diện của địch; Nguyễn Tri Phương bị thương phải rút quân về giữ Biên Hòa, bỏ lại toàn bộ đại bác và hàng nghìn khẩu súng. Chiếm được Chí Hoà, Pháp tạo bàn đạp mở rộng đánh chiếm các tinh thành Định Tường, Biên Hòa (x. Pháp chiếm ba tinh Đông Nam Kì, 1861). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:05:06 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU, cuộc giao chiến có tổ chức của binh đoàn, binh đội, phân đội (bộ đội chủ lực và LLVT địa phương), máy bay, tàu chiến... của hai bên, diễn ra trong một khu vực hạn chế và trong thời gian ngắn, nhằm tiêu diệt (đánh bại) quân địch, chiếm hoặc giữ khu vực mục tiêu được giao và hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu khác; một hình thức tác chiến. Loại cơ bản của TCĐ là tiến công và phòng ngự. Theo lực lượng sử dụng và môi trường tác chiến, có: TCĐ binh chủng hợp thành, TCĐ hiệp đồng nhiều binh chủng của một quân chủng hoặc của nhiều quân chủng khác nhau, TCĐ độc lập của từng quân chủng, binh chủng, TCĐ trên bộ, TCĐ trên không, TCĐ trên biển, TCĐ phòng không; TCĐ có thể là thành phần cơ bản của chiến dịch hoặc được tiến hành độc lập. TCĐ là đối tượng nghiên cứu của chiến thuật. TCĐ xuất hiện lần đầu trong các cuộc xung đột giữa quân của các tộc trưởng đối địch ở thời kì tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. Nó không ngừng phát triển và hoàn thiện trên cơ sở phát triển và hoàn thiện các phương tiện đấu tranh vũ trang và nghệ thuật QS. Ở thời cổ đến trước khi hỏa khí xuất hiện, tất cả các TCĐ đều là những trận đánh giáp lá cà của những chiến binh được trang bị vũ khí lạnh. Với việc xuất hiện và hoàn thiện hỏa khí vào tk 14-17, hỏa lực dần dần trở thành yếu tô quan trọng nhất của TCĐ. TCĐ trên biển xuất hiện từ thời cổ, khi hải quân chỉ mới được trang bị thuyền chiến chèo tay và vũ khí lạnh; TCĐ trên không xuất hiện vào đầu tk 20 (trong CTTG-I), khi máy bay được sử dụng trong tác chiến. Việc trang bị hàng loạt súng máy, pháo và các phương tiện khác cho bộ đội, việc sử dụng xe tăng và máy bay trong CTTG-I và nhất là việc sử dụng tập trung các lực lượng và phương tiện đó trong CTTG-II làm cho thắng lợi trên chiến trường chi có thể giành được bằng sự nỗ lực thống nhất (hiệp đồng) của tất cả các lực lượng tham chiến. Từ đó TCĐ hiệp đồng đã trở thành hình thức tác chiến đặc trưng. Trong điều kiện hiện đại, các phương tiện đấu tranh vũ trang có nhiều đổi mới và hoàn thiện, tính chất và nội dung TCĐ hiện đại đang có thay đổi lớn. TRẬN CHIẾN ĐẤU binh chủng hựp thành, trận chiến đấu do binh đoàn, binh đội binh chủng hợp thành tiến hành, dược tăng cường một số binh đội (phân đội) của binh chủng và bộ đội chuyên môn của lục quân, có thể được không quân và hải quân chi viện. TCĐbcht được thực hiện bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa hỏa lực, cơ động, vật cản, công sự, và đột kích của nhiều lực lượng, vận dụng nhiều hình thức chiến thuật khác nhau, trong không gian và thời gian nhất định. Loại TCĐbcht cơ bản là tiến công và phòng ngự được tiến hành trên mọi địa hình và trong mọi thời tiết. TCĐbcht có một quá trình phát triển lâu dài nhưng hình thành rõ nét trong CTTG-I, nhất là khi bộ đội được trang bị nhiều súng máy, pháo và xe tăng; máy bay cũng như khi các binh chủng khác được sử dụng trong tác chiến. Điều đó yêu cầu các lực lượng tham chiến phải hiệp đồng chặt chẽ nhằm tạo nên sức mạnh thống nhất, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chung trong tác chiến. Việc có nhiều thành phần lực lượng tham gia trong chiến đấu làm tăng quy mô về không gian (chính diện và chiều sâu) của nó. Đặc điểm chủ yếu của TCĐbcht: quy mô lớn, tính cơ động và linh hoạt cao, tình huống diễn biến nhanh chóng và đột ngột, phát triển không đều về chiều sâu và chiều rộng, phương thức tiến hành rất đa dạng, biến hóa, có thể diễn ra đồng thời trên bộ và trên không, thứ thách cao về tâm lí tinh thẩn và về thể lực của bộ đội, tiêu hao nhiều về người và phương tiện vật chất. TRẬN CHIẾN ĐẤU đặc công, trận chiến đấu do tổ, mũi, đội, tiểu đoàn, trung đoàn đặc công thực hiện chủ yếu bằng tiến công nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất quan trọng của đối phương, khi cần thiết có thể chiếm giữ mục tiêu trong thời gian nhất định. Đặc trưng của TCĐđc là: độc lập. táo bạo, bí mật, bất ngờ, tạo thế có lợi hơn đối phương trước và trong quá trình trận đánh, tiến công mạnh mẽ, dồn dập, đánh nhanh, rời khỏi chiến đấu nhanh. Có TCĐđc: trên bộ, dưới nước, ở địa bàn rừng núi, đồng bằng, thành thị. Từ tk 18 đã xuất hiện những trận chiến đấu kiểu đặc công. Trận diệt tháp canh cầu Bà Kiểu đêm 18 rạng 19.3.1948 là TCĐđc đầu tiên của bố đội đặc công VN. TRẬN CHIẾN ĐẤU không quân, trận chiến đấu do từng chiếc (tốp) hoặc nhiều tốp máy bay tiến hành nhằm tiêu diệt các mục tiêu trên không, mặt đất và mặt nước. TCĐkq tiêu diệt mục tiêu trên không gọi là không chiến. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:06:32 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 16.2.1964. trận chiến đấu của máy bay T-28 (số hiệu 963, do Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng phòng không - không quân, đánh máy bay chở biệt kích (loại C-123) QĐ Sài Gòn trên vùng trời Tây Bắc. 1 giờ 7 phút, máy bay ta cất cánh từ sân bay Gia Lâm. được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, bí mật tiếp cận mục tiêu, bám sát và thực hành công kích. Bằng 2 loạt đạn bắn rơi máy bay địch, diệt toàn bộ toán biệt kích và tổ lái. Chiến công đầu của bộ đội không quân VN ở mặt trận trên không, góp phần ngăn chặn hoạt động của địch dùng máy bay đưa biệt kích phá hoại miền Bắc trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 3.4.1965, trân chiến đấu của biên đội máy bay MiG-17 (4 chiếc, do Phạm Ngọc Lan, Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân), đánh máy bay Mĩ tại khu vực cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). 9 giờ 48 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bải, được SCH và rađa dẫn đường, sau 20 phút tiếp cận mục tiêu, chuyển sang công kích. Bằng cách đánh cơ động, táo bạo, bất ngờ, kết hợp giữa yểm trỢ và tiến công, cùng với lực lượng phòng không mặt đất cản phá nhiều tốp máy bay địch vào đánh phá cáu Hàm Rồng, bắn rơi 2 máy bay F-8U, bảo vệ an toàn mục tiêu và lực lượng ta. Trận đầu đánh thắng của bộ đội không quân nhân dân VN, mở ra mặt trận trên không chống chiến tranh phá hoại'của Mĩ ở miền Bắc VN. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68322110_461793847883834_6227271596411715584_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHa1ooO_aWt_YbdqJfbfcIfMhZQInbqCvWZFxbsCcmcT0ew7PtLK9dG7DGuCZ6xy_0ln3F5S8GnxQGRjZDVsTG02_9KtBP3zr0R7VlIymODXQ&_nc_oc=AQlcTHh3AntuTrriTNL_q6rRciq38erdWqXIojuIjAEDQmHCxygeGEblb-ecj52JOwQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d6c06c25d822c5a3425f8885d041410b&oe=5DE64341) TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUẢN 20.9.1965, trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-17 (4 chiếc, do Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Nhật Chiêu, Trần Văn Trì, Nguyễn Ngọc Độ điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 923 (Sư đoàn 371, Quân chùng phòng không - không quân) phối hợp với lực lượng phòng không mặt đất, đánh máy bay Mĩ (khoảng 20 chiếc) tại vùng trời Nhã Nam (t. Bắc Giang). Biên đội cất cánh từ sân bay Kép, được SCH và rađa dẫn đường, nhanh chóng phát hiện mục tiêu và triển khai đội hình, tập trung đánh máy bay tiêm kích của địch. Bằng cách đánh chủ động, bám sát, tận dụng cơ hội đón đầu bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4, làm rối loạn đội hình địch, tạo điều kiện cho lực lượng tên lửa và pháo phòng không đánh máy bay cường kích, bắn rơi 1 máy bay AD-4 và 1 máy bay A-4E. Trận tác chiến hiệp đồng đầu tiên của bộ đội không quân với lực lượng phòng không mặt đất, mở ra khả năng phối hợp chiến đấu giữa các LLVTND VN đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 3.2.1966. trận chiến đấu ban đêm của máy bay MiG-17 (do Lâm Văn Lích điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) tại vùng trời Chợ Bến (t. Hòa Bình). Máy bay ta cất cánh từ sân bay Nội Bài, được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, kịp thời phát hiện mục tiêu và thực hành công kích chính xác, bắn rơi 2 máy bay AD-6 của Mĩ. Trận đánh đêm đầu tiên thắng lợi, mở ra khả năng tác chiến mới của bộ đội không quân VN chống chiến tranh phá hoại của không quân Mĩ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:07:44 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 4.3.1966. trận chiến đấu của 2 trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) đánh máy bay Mĩ tại vùng trời các tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái. 14 giờ, máy bay MiG-21 của Trung đoàn 921 (do Nguyễn Hồng Nhị điều khiển) cất cánh từ sân bay Nội Bài, được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, sau 19 phút phát hiện mục tiêu ở độ cao 18km, bằng 2 quả tên lửa không đối không bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát không người lái tại Quảng Ninh. 15 giờ 42 phút, biên đội máy bay MiG-17 của Trung đoàn 923 (4 chiếc, do Phan Thành Chung, Ngô Đức Mai, Trần Minh Phương, Nguyễn Thế Hôn điểu khiến) lần đầu xuất kích, bắn rơi 1 máy bay F-4 tại Yên Bái. Trận đầu máy bay MiG-21 sử dụng tên lửa không đối không bắn rơi máy bay trinh sát không người lái của địch ở tầng cao, đánh dấu bước trưởng thành của không quân nhân dân VN trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ; ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Trung đoàn 923. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 8.3.1966, trận chiến đấu của biên đội máy bay An-2 (2 chiếc, do Phan Như Cẩn và Đào Hữu Ngoan lái chính) thuộc Trung đoàn khống quân vận tải 919 Quân chủng phòng không - không quân đánh 2 tàu biệt kích QĐ Sài Gòn tại vùng biển Sầm Sơn (t. Thanh Hóa). Đêm 8.3 biên đội cất cánh từ sân bay Gia Lâm, được SCH và rađa dẫn đường bí mật bay thấp, tiếp cận khu vực tác chiến, lợi dụng ánh trăng phát hiện mục tiêu, tiến hành 2 đợt công kích bằng rôckét, bắn chìm 1 tàu địch. Trận đầu bộ đội không quân vận tải VN tiêu diệt tàu địch, mở ra khả năng sử dụng không quân đánh các mục tiêu mặt đất và trên biển trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 7.7.1966, trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-21 (2 chiếc, do Nguyễn Nhật Chiêu và Trần Ngọc Xíu điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chúng phòng không - không quân) tại vùng trời sân bay Nội Bài (t. Vĩnh Phúc). Thực hiện phương án tác chiến đã định, biên đội cất cánh vào khu chờ, được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, phát hiện mục tiêu, bí mật đón lõng đường bay, bất ngờ công kích tốp máy bay F-105 của không quân Mĩ vào đánh phá t. Thái Nguyên. Bằng cách đánh nhanh, rút nhanh, chóp thời cơ phóng tên lửa chính xác, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay địch. Trận đầu máy bay MiG-21 sử dụng tên lửa không đối không bắn rơi máy bay có người lái của Mĩ, bước đầu rút được kinh nghiệm về cách đánh của máy bay MiG-21. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 19.7.1966, trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-17 (2 chiếc, do Nguyễn Biên và Võ Văn Mẫn điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không- không quân) phối hợp với lực lượng phòng không mặt đất, đánh trả đợt tiến công của 12 máy bay F-105 của Mĩ tại vùng trời sân bay Nội Bài (t. Vĩnh Phúc). 14 giò 50 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bài, nhanh chóng phát hiện mục tiêu và triển khai đội hình chiến đấu. Bằng cách đánh hiệp đồng, kết hợp chặt chẽ cảnh giới và tiến công, khéo léo cơ động luồn tránh tên lửa, thực hiện thay đổi tâm lượn vòng, ghìm kiéo địch xuống thấp, bất ngờ tạo thế công kích, bắn rơi 2 máy bay F-105, đồng thời tạo điều kiện cho lực lượng phòng không bắn rơi thêm 1 chiếc. Trận đánh đạt hiệu quả cao, bước đầu hình thành cách đánh “thay đổi tâm lượn vòng”, làm thất bại ý đồ săn lùng máy bay MiG của địch. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 30.4.1967. trận chiến đấu của 2 biên đội máy bay MiG-21 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) tại vùng trời Thanh Sơn (t. Phú Thọ). Chiều 30.4 phát hiện đội hình lớn máy bay F-105 của Mĩ vào đánh phá, trung đoàn cho một biên đội (2 chiếc, do Nguyễn Ngọc Độ và Nguyễn Văn Cốc điều khiển) xuất kích, dùng cách đánh thọc sâu và chiến thuật “số 2 đồng thời công kích”, bắn rơi tại chỗ 2 máy bay địch; sau đó tiếp tục đưa biên đội thứ hai (2 chiếc, do Lê Trọng Huyên và Vũ Ngọc Đỉnh điều khiển) đánh lực lượng tìm cứu phi công, bắn rơi 2 chiếc. Thắng lợi của trận đánh góp phần khẳng định hiệu quả chiến thuật “số 2 đồng thời công kích” và khả năng chiến đấu của máy bay MiG-21 trong tác chiến với máy bay hiện đại của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 23.8.1967. trận chiến đấu hiệp đồng của biên đội máy bay MiG-21 (2 chiếc, do Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Văn Cốc điều khiển) và biên đội máy bay MiG-17 (4 chiếc, do Cao Thanh Tịnh, Lê Văn Phong, Nguyễn Văn Thọ, Lê Hổng Điệp điều khiển), thuộc các trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) phối hợp với lực lượng phòng không mặt đất đánh máy bay Mĩ tại vùng trời các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. 14 giờ 58 phút, máy bay ta cất cánh từ các sân bay Nội Bài, Kép, được SCH và rađa dẫn đường, sau hơn 10 phút phát hiện máy bay địch. Bằng cách đánh hiệp đồng, kết hợp chặt chẽ giữa yểm trợ, cảnh giới với tiến công, xử lí tốt các tình huống và chọn thời cơ nổ súng chính xác, bắn rơi 4 máy bay (2 F-4 và 2 F-105). Trận đánh đạt hiệu quả cao, mở ra khả năng mới về tác chiến hiệp đồng giữa các loại máy bay và giữa không quân với các lực lượng phòng không, góp phần ngăn chặn đợt đánh phá lớn của địch vào thủ đô Hà Nội. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:08:55 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 18.11.1967, trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-21 (2 chiếc, do Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) phối hợp với Đại đội rađa 43 và Trung đoàn tên lửa phòng không 274, đánh tốp máy bay F-105 (4 chiếc) của không quân Mĩ tại khu vực Thanh Sơn - Hạ Hòa (t. Phú Thọ). 7 giờ 48 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bài, sau 9 phút chuyển sang đội hình tiến công, áp dụng chiến thuật “đánh nhanh, thọc sâu” và “số 2 đồng thời công kích”, bí mật bám sát máy bay địch, chọn thời cơ nổ súng chính xác, bằng 3 quả tên lửa không đối không bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-105. Trận đánh đạt hiệu quả cao do vận dụng chiến thuật và xử lí tốt các tình huống trên không, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 19.11.1967. trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-21 (2 chiếc, do Vũ Ngọc Đỉnh và Nguyễn Đăng Kính điểu khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân), đánh máy bay gây nhiễu điện tứ EB-66 của Mĩ tại vùng trời Lang Chánh - Hồi Xuân (thuộc các huyện Ngọc Lạc, Bá Thước, t. Thanh Hóa). 7 giờ 13 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Nội Bài, được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, thực hiện bay thấp để tránh địch phát hiện, sau đó tăng độ cao, bí mật tiếp cận mục tiêu. Bằng cách đánh hiệp đồng, kết hợp chặt chẽ cơ động cảnh giới và tiến công, với 2 quả tên lửa không đối không bắn rơi 1 máy bay EB-66. Trận đầu bộ đội không quân VN bắn rơi mấy bay gây nhiễu điện tử hiện đại của Mĩ, tạo điều kiện cho các đơn vị phòng không trong khu vực tác chiến thắng lợi. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 17.12.1967, trận chiến đấu hiệp đồng của biên đội máy bay MiG-21 (3 chiếc, do Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Hồng Nhị điều khiển) và biên đội máy bay MiG-17 (4 chiếc do Lưu Huy Chao, Nguyễn Hồng Thái, Bùi Văn Sưu, Lê Hải điều khiển) thuộc các trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) tại vùng trời t. Phú Thọ, cản phá đội hình 32 máy bay Mĩ vào đánh phá Hà Nội. Thực hiện phương án tác chiến, biên đội máy bay MiG-21 tập trung ngăn chặn máy bay cường kích của địch, bắn rơi 3 chiếc F-105; đồng thời biên đội máy bay MiG-17 tổ chức chận đánh máy bay tiêm kích, bắn rơi 2 chiếc F-4. Trận đánh được tổ chức và phối hợp tốt, cách đánh phù hợp với từng đối tượng, đạt hiệu quả cao, làm thất bại đợt tiến công lớn của địch vào Hà Nội. TRẬN CHIẾN ĐẨU KHÔNG QUÂN 12.1.1968 nh TRẬN PA THÍ (12.1.1968) TRẬN CHIÊN ĐẤU KHÔNG QUÂN 20.11.1971, trận chiến đấu của máy bay MiG-21 (do Vũ Đình Rạng điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) đánh máy bay B-52 của không quân Mĩ tại vùng trời t. Sầm Nưa (Lào). 20 giờ 30 phút, máy bay ta cất cánh từ sân bay Anh Sơn (Nghệ An), được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, bí mật tiếp cận khu vực tác chiến. Sau khi phát hiện mục tiêu, ở độ cao 10km máy bay ta tăng tốc vượt qua lực lượng bảo vệ của địch, sử dụng 2 quả tên lửa bắn bị thương 1 máy bay B-52. Trận đầu bộ đội không quân VN thể nghiệm cách đánh máy bay B-52, đồng thời khẳng định máy bay MiG-21 có thể bắn rơi máy bay B-52 của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 19.4.1972, trận chiến đấu của biên đội máy bay MiG-17 (2 chiếc, do Lê Xuân Dỵ và Nguyền Văn Bảy điều khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) đánh tàu chiến Mĩ tại vùng biển Quảng Bình. 16 giờ 5 phút, biên đội cất cánh từ sân bay dã chiến Khe Gát, được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, bí mật bay thấp nhanh chóng tiếp cặn mục tiêu và tiến hành công kích; sau 17 phút chiến đấu, với 4 quả bom (loại 250kg) phá hỏng 2 tàu địch. Lần đầu tiên ta sử dụng máy bay tiêm kích mang bom đánh mục tiêu trên biển thắng lợi trong KCCM, tạo điều kiện phát triển lực lượng không quân tiêm kích - bom của không quân nhân dân VN. TRẬN CHIẾN ĐÂU KHÔNG QUÂN 10.5.1972. trận chiến đấu của 2 biên đội máy bay MiG-19 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 925, Quân chủng phòng không - khống quân phối hợp với lực lượng phòng không và rađa mặt đất, đánh 3 tốp máy bay F-4 của không quân Mĩ tại khu vực sân bay Yên Bái. Nắm chắc âm mưu và thủ đoạn hoạt động của địch, 9 giờ 44 phút Biên đội 2 (4 máy bay, do Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Phúc, Lê Đức Oánh điểu khiển) cất cánh; 10 giờ 3 phút Biên đội 1 (4 máy bay, do Hoàng Cao Bống, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cường, Lê Văn Tương điều khiển) lên phối hợp. Bằng cách đánh hiệp đồng, tích cực bám sát tiến công, sau 30 phút chiến đấu bắn rơi 2 máy bay F-4, cản phá đợt tập kích của địch, bảo vệ an toàn mục tiêu. Trận đánh khẳng định máy bay MiG-19 có đủ khả nâng đánh thắng máy bay hiện đại của Mĩ, đồng thời để lại nhiều bài học về công tác tổ chức chỉ huy, chuẩn bị chiến đấu và làm chủ kĩ thuật của đơn vị. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:10:11 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 27.6.1972, trận chiến đấu của 2 biên đội máy bay MiG-21 (4 chiếc, do Nguyễn Đức Soát, Ngô Duy Thư, Phạm Phú Thái, Bùi Thanh Liêm điều khiển) thuộc các trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 927 (Sư đoàn 371, Quân chúng phòng không - không quân), đánh máy bay Mĩ tìm cứu phi công bị ta bắn rơi, tại vùng trời các tỉnh Sơn La, Hòa Bình. 11 giờ 49 phút máy bay ta cất cánh từ các sân bay Nội Bài, Yên Bái, hình thành hai mũi bí mật tiếp cận mục tiêu theo phương án tác chiến đã định. Bằng cách đánh hiệp đồng và phương pháp đồng thời công kích, chọn thời cơ và mục tiêu tiến công chính xác, với 6 quả tên lửa không đối không bắn rơi tại chỗ 4 máy bay F-4 của địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, các phi công đều lập công xuất sắc, thể hiện tinh thần và trình độ tác chiến hiệp đồng của bộ đội không quân VN đánh thắng máy bay hiện đại của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 9.10.1972 nh TRẬN BUỒN LOỌNG (9.10.1972) TRẬN CHIẾN ĐẤU KHÔNG QUÂN 28.12.1972, trận chiến đấu của máy bay MiG-21 (do Vũ Xuân Thiều điểu khiển) thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân) đánh máy bay B-52 của Mĩ tại vùng tròi Sơn La. 21 giờ 41 phút, máy bay ta cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy (Thanh Hóa), được SCH và rađa mặt đất dẫn đường, bí mật vòng phía sau đội hình địch, bất ngờ vượt qua lực lượng bảo vệ, tiếp cận mục tiêu, bằng 2 quá tên lửa không đối không bắn rơi tại chỗ 1 máy bay. B-52. Do cự li quá gần, máy bay không kịp thoát li, Vũ Xuân Thiều hi sinh. Trận đánh thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công, sẵn sàng hi sinh để giành thắng lợi của bộ đội không quân VN. TRẬN CHIẾN ĐẤU pháo binh, trận chiến đấu do khẩu đội, phân đội, binh đội, binh đoàn pháo binh tiến hành bằng một đến nhiều lần bắn đồng thời hay lần lượt vào một hoặc nhiều mục tiêu. Theo tính chất, mối quan hệ giữa các đơn vị binh chủng, có: TCĐ hiệp đồng binh chủng và TCĐ độc lập của pháo binh. TCĐpb độc lập có các phương pháp tác chiến chính là tập kích và phục kích. Các phương pháp tác chiến của đơn vị binh chủng hợp thành mà pháo binh chi viện hay phối thuộc cũng là các phương pháp tác chiến của trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng của pháo binh. TRẬN CHIẾN ĐẤU phòng không, trận chiến đấu do các binh đoàn, binh đội, phân đội phòng không (có thể hiệp đồng với không quân tiêm kích theo mục tiêu, địa điểm, thời gian) tiến hành nhằm tiêu diệt địch trên không, bảo vệ mục tiêu và khu vực mục tiêu được giao. Có TCĐpk độc lập, do những đơn vị thuộc một binh chủng, một loại lực lượng (tên lửa, pháo, súng máy phòng không) tiến hành hoặc TCĐpk hiệp đồng do các đơn vị thuộc các binh chủng (lực lượng) khác nhau tiến hành. TCĐpk thường diễn ra ở một khu vực, một thời gian ngắn và có thể là một phần của trận đánh lớn (đợt tác chiến hoặc chiến dịch) phòng không. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 21.12.1946. trận chiến đấu của Trung đội Pháo đài Láng thuộc Đại đội pháo binh Thủ Đô tại Mặt trận Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. 10 giờ ngày 21.12 trung đội sử dụng pháo phòng không 75mm thu dược của Nhật, bàng phương pháp ngắm trực tiếp qua gờ nòng, bắn rơi 1 máy bay trinh sát Pote (chiếc máy bay Pháp đầu tiên bị bắn rơi ở Hà Nội trong KCCP). Trận đánh góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân cả nước, được bộ trưởng BQP Võ Nguyên Giáp gửi điện khen. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 5.3.1952, trận chiến đấu của Đại đội 612 (đại đội pháo phòng không đầu tiên của QĐND VN) tại trận địa bảo vệ cầu Tà Lùng (xóm Phục Hòa, h. Quảng Uyên, nay là thị trán Tà Lùng. h. Phục Hòa, t. Cao Bằng) trên QL 3, giáp biên giới VN - TQ. 9 giờ 30 phút, bằng 36 viên đạn pháo phòng không 37mm và 40 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát F-8F của Pháp. Trận thắng đầu tiên của bộ đội pháo phòng không VN. Kinh nghiệm trận đánh được vận dụng có hiệu quả trong tác chiến phòng không chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 2.7.1961, trận cơ động phục kích của Tiểu đoàn súng máy phòng không 24 (Quân khu 3) đánh máy bay chở lực lượng biệt kích QĐ Sài Gòn xâm nhập miền Bắc, tại khu vực nông trường Rạng Đông (h. Kim Sơn, t. Ninh Bình). 1 giờ 30 phút bằng phương pháp ngắm trực tiếp, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay C-47, diệt và bắt sống toàn bộ nhóm biệt kích (diệt 7, bắt sống 3). Trận đầu tiên bắn rơi máy bay chở biệt kích trên miền Bắc trong KCCM. Kinh nghiệm trận đánh được các lực lượng phòng không VN vận dụng đánh máy bay địch thả biệt kích những năm 1961-63. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 11:43:54 pm TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 5.8.1964, trận chiến đấu của bộ đội phòng không hiệp đồng cùng bộ đội hải quân, dân quân tự vệ và nhân dân các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Ninh chống lại cuộc hành quân Mũi tên xuyên (5.8.1964) của Mĩ. Trận đánh diễn ra từ 12 giờ 25 phút đến 17 giờ tại các khu vực Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), cảng Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai - Bãi Cháy (Quảng Ninh). Với tinh thần cảnh giác cao, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, quân và dân ta kịp thời đánh trả các đợt tập kích của 64 lần chiếc máy bay Mĩ cất cánh từ các tàu sân bay Conxtêlâysân và Taicơnđơrôgơ thuộc Hạm đội 7. Kết quả bắn rơi 8 máy bay và bắn bị thương 1 chiếc khác; lần đầu tiên bắt sống phi công Mĩ (trung úy Anvaret, tại Hòn Gai - Bãi Cháy). Kinh nghiệm trận đầu đánh thắng không quân Mĩ được vận dụng có hiệu quả trong tổ chức lực lượng phòng không ba thứ quân chống chiến tranh phá hoại của Mĩ trên miền Bắc VN. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 18.11.1964, trận chiến đấu của Tiểu đoàn pháo phòng không 14 (Sư đoàn 325, Quân khu 4) làm nhiệm vụ chiến đấu cơ động bảo vệ tuyến vận tải chiến lược ở Cha Lo (h. Tuyên Hóa, nay thuộc h. Minh Hóa, t. Quáng Bình). Tiểu đoàn hiệp đồng cùng với quân và dân địa phương đánh trả 18 lần chiếc máy bay Mĩ từ 10 giờ đến 16 giờ, bắn rơi 3 chiếc. Khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” của Nguyễn Viết Xuân trong trận này được phát động thành phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mĩ trong những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ ở miền Bắc VN (xt Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân). TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 15.3.1965. trận chiến đấu của trung đội dân quân xã Diễn Hùng (h. Diễn Châu, t. Nghệ An), dùng súng bộ binh bắn rơi 1 máy bay A-4D bay thấp ban đêm, là chiếc máy bay Mĩ đầu tiên bị lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc bắn rơi. Kinh nghiệm trận đánh được các lực lượng phòng không vận dụng, mở đầu phong trào dùng súng bộ binh bắn máy bay bay thấp trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 24-27.7.1965 nh TRẬN SUỐI HAI (24-27.7.1965) TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 20.7.1966. trận cơ động phục kích của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 72 (Trung đoàn 285) đánh máy bay trinh sát và gây nhiễu điện tử của Mĩ tại trận địa Vô Tranh (t. Thái Nguyên). 8 giờ 10 phút tiểu đoàn phóng 2 quả tên lửa, bám sát bằng tay, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay EB-66, diệt toàn bộ kíp lái (chiếc máy bay trinh sát và gây nhiễu điện tử đầu tiên bị bộ đội tên lửa phòng không VN bắn rơi tại chỗ). Kinh nghiệm trận đánh được các đơn vị tên lửa phòng không vận dụng đánh các loại máy bay gây nhiễu tích cực. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 14.10.1966. trận chiến đấu của Đại đội súng máy phòng không 119 thuộc Binh trạm 11 (Cục vận tải, TCHQ, đánh máy bay Mĩ bảo vệ tuyến giao thông đường 7, khu vực Mường Xén - Nậm Cắn (h. Kì Sơn, t. Nghệ An). Kết quả bắn rơi 1 máy bay F-105 (chiếc máy bay Mĩ thứ 1.500 bị quân dán miền Bắc bắn rơi). Kinh nghiệm tổ chức lực lượng phòng không chốt giữ trọng điểm kết hợp cơ động bảo vệ giao thông của Đại đội 119 được các đơn vị phòng không vận dụng có hiệu quả chống chiến tranh phá hoại của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 4.11.1966, trận chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 61 (Trung đoàn 236, Sư đoàn 361, Quân chủng phòng không - không quân), đánh máy bay Mĩ tại trận địa thị trấn Văn Điển (h. Thanh Tri, tp Hà Nội). 15 giờ 17 phút tiểu đoàn phóng 1 quả tên lửa bám sát mục tiêu bằng tay, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát RF-101 bay cơ động ở độ cao 700m. Trận đầu bộ đội tên lửa phòng không VN bắn rơi máy bay Mĩ bay thấp (dưới 1km). Kinh nghiệm trận đánh được các đơn vị tên lửa phòng không vận dụng có hiệu quả trong đánh máy bay Mĩ bay thấp. TRẬN CHIẾN ĐÂU PHÒNG KHÔNG 5.6.1967, trận chiến đấu của 5 đại đội thuộc Trung đoàn pháo phòng không 228 (Sư đoàn 365) bảo vệ cẩu Hàm Rồng (Thanh Hóa) trên QL 1. Bằng một loạt hỏa lực tập trung, thời điểm chính xác. bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát F-8E, là chiếc máy bay Mĩ thứ 2.000 bị bắn rơi trên miền Bắc. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 16.6.1967, trận chiến đấu của trung đội nữ dân quân xã Hoa Lộc (h. Hậu Lộc, t. Thanh Hóa), đánh máy bay Mĩ tại trận địa phòng không bảo vệ khu vực Cầu De và bên Phà Thắm. 13 giờ 30 phút một tốp máy bay A-4D lợi dụng cửa sông Lạch Trường, bay thấp vào đánh phá mục tiêu. Trung đội kịp thời nổ súng, bằng 27 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm, bắn rơi 1 chiếc. Trận đầu tiên đơn vị nữ dân quân bắn rơi máy bay Mĩ trên miền Bắc VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:30:07 am TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHỔNG 12.8.1967, trận chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 63 (Trung đoàn 236, Sư đoàn 361) đánh máy bay Mĩ tại trận địa Chèm (Từ Liêm, Hà Nội). 16 giờ 3 phút tiểu đoàn phóng 1 quả đạn, bám sát mục tiêu bằng tay, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát RF- 4C mang nhiễu tạp rãnh mục tiêu (loại QRC-160). Lần đầu bộ đội tên lửa phòng không VN đánh thắng thủ đoạn chiến thuật gây nhiễu trong đội hình QRC-160 của không quân Mĩ bằng phương pháp "ba điểm”, được các đơn vị tên lửa phòng không vận dụng có hiệu quả trong KCCM. TRẬN CHIÊN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 17.9.1967, trận cơ động phục kích của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 84 (Trung đoàn 238, Sư đoàn 367), đánh máy bay B-52 của Mĩ tại khu vực nông trường Quyết Thắng (đặc khu Vĩnh Linh, nay là h. Vĩnh Linh, t. Quảng Trị). 17 giờ 3 phút tiểu đoàn phóng 2 quả đạn tên lửa, bám sát mục tiêu bằng tay, bắn rơi 1 máy bay B-52 ở độ cao 11km (chiếc B-52 đầu tiên bị bộ đội tên lửa phòng không VN bắn rơi). Kinh nghiệm trận đánh là cơ sở hình thành cách đánh B-52 và được các đơn vị tên lửa phòng không nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 17.10.1967, trận chiến đấu của Tiểu đoàn pháo phòng không 18 hiệp đồng cùng quân và dân Bắc Ninh đánh trả đợt tập kích của 24 lần chiếc máy bay Mĩ, bảo vệ cầu Đáp Cầu (nay thuộc tx Bắc Ninh, t. Bắc Ninh) - đầu mối giao thông quan trọng trên QL 1 qua Sông Cầu. Trận đánh bắt đầu lúc 10 giờ 40 phút, saụ 2 phút chiến đấu bắn rơi 5 máy bay F-105D (có 3 chiếc rơi tại chỗ), bắt sống phi công. Kinh nghiệm chiến đấu đạt hiệu suất cao của cấp tiểu đoàn được các đơn vị phòng không vận dụng trong cách đánh máy bay bổ nhào. TRẬN CHIẾN ĐÂU PHÒNG KHÔNG 18.11.1967. trận chiến đấu của 3 trung đoàn tên lửa phòng không (236, 274 và 257) phối hợp với các lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội, đánh trả đợt tiến công đường không của 20 lần chiếc máy bay Mĩ mang nhiễu tạp rãnh mục tiêu trong đội hình (loại QRC-160A) vào đánh phá sân bay Nội Bài. Sau 4 phút chiến đấu (8 giờ 5 phút - 8 giờ 9 phút), bắn rơi 4 máy bay F-105D (3 chiếc rơi tại chỗ). Kinh nghiệm tác chiến tập trung hỏa lực nhiều trung đoàn tên lửa vào đội hình bay mật tập mang nhiễu tạp trên cùng một đường bay, được các đơn vị tên lửa phòng không VN vận dụng có hiệu quả khi bảo vệ các mục tiêu yếu địa và giao thông vận chuyển trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 19.11.1967, trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng của các đơn vị thuộc Quân chủng phòng không - không quân phối hợp với quân và dân địa phương bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận. Trận đánh diễn ra từ 6 giờ 45 phút đến 16 giờ 8 phút, đánh trả 5 đợt tiến công của hàng trăm lượt chiếc máy bay chiến thuật không quân và hải quân Mĩ, bắn rơi 17 chiếc (gồm 5 kiểu loại: F- 4. F-105, A-4, RF-4C, EB-66), trong đó tên lửa phòng không bắn rơi 8, pháo phồng không bắn rơi 5, không quân tiêm kích bắn rơi 4 (trận đầu tiên không quân tiêm kích VN bắn rơi loại máy bay EB-66 trên miền Bắc). Trận đánh đạt hiệu quả cao, để lại nhiều kinh nghiệm về chỉ huy, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng phòng không nhân dân VN chống chiến tranh phá hoại của Mĩ. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 17.10.1972, trận phục kích của trung đội dân quân xã Tiền Châu (h. Yên Lãng, t. Vĩnh Phú, nay thuộc tx Phúc Yên, t. Vĩnh Phúc) hiệp đồng cùng các lực lượng phòng không trong khu vực đánh máy bay Mĩ bay thấp ban đêm. Thực hiện đón lõng đường bay, chớp thời cơ nổ súng chính xác, 0 giờ 5 phút, bằng 50 viên đạn súng bộ binh, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-111A (là chiếc F-111A đầu tiên bị lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc bắn rơi tại chỗ và chiếc máy bay Mĩ thứ 4.000 bị bắn rơi trên miền Bắc). Kinh nghiệm trận đánh được các lực lượng phòng không vận dụng đánh máy bay bay thấp ban đêm, đặc biệt trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:32:34 am TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 22.11.1972, trận chiến đấu của 2 tiểu đoàn (43 và 44) thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 263 (Sư đoàn 361) đánh máy bay B-52 của Mĩ tại trận địa Bảo Nham và Nghi Lâm (Nghệ An). Tập trung hỏa lực, bám sát dải nhiễu và chọn thời cơ bắn chính xác, trong 4 phút (21 giờ 44 phút - 21 giờ 48 phút) phóng 4 quả tên lửa, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B-52. Kết quả trận đánh khẳng định bộ đội tên lửa phòng không VN có thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52. Kinh nghiệm trận chiến đấu được hoàn chỉnh thành tài liệu “Cách đánh B-52”, phổ biến đến các đơn vị tên lửa phòng không và được vận dụng có hiệu quả trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972), bộ đội tên lửa phòng không), đánh trả các đợt tiến công của máy bay Mĩ, mở đầu chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972). Từ 19 giờ 40 phút ngày 18.12 đến 4 giờ 39 phút ngày 19.12, Sư đoàn phòng không 361 phối hợp với không quân và lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội liên tiếp đánh trả 3 đợt tiến công của 90 lần chiếc máy bay B-52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật không quân Mĩ, bắn rơi 3 máy bay B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 2 máy bay F-4. Cùng lúc tại Hải Phòng, Sư đoàn phòng không 363 và quân dân địa phương đánh trả các đợt tiến công của 28 lần chiếc máy bay chiến thuật hải quân Mĩ, bắn rơi 1 máy bay A-7. Kinh nghiệm trận đầu bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ở Hà Nội được các lực lượng phòng không (đặc biệt là bộ đội tên lửa phòng không) vận dụng và phát huy hiệu quà trong 12 ngày đêm tiến hành chiến dịch, đánh bại cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của không quân Mĩ (xt chiến dịch LainơbêchcơII, 18-29.12.1972). TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 18.12.1972. trận chiến đấu của quân và dân Hà Nội, Hải Phòng (nòng cốt là bộ đội tên lửa phòng không), đánh trả các đợt tiến công của máy bay Mĩ, mở đầu chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972). Từ 19 giờ 40 phút ngày 18.12 đến 4 giờ 39 phút ngày 19.12, Sư đoàn phòng không 361 phối hợp với không quân và lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội liên tiếp đánh trả 3 đợt tiến công của 90 lần chiếc máy bay B-52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật không quân Mĩ, bắn rơi 3 máy bay B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 2 máy bay F-4. Cùng lúc tại Hải Phòng, Sư đoàn phòng không 363 và quân dân địa phương đánh trả các đợt tiến công của 28 lần chiếc máy bay chiến thuật hải quân Mĩ, bắn rơi 1 máy bay A-7. Kinh nghiệm trận đầu bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ở Hà Nội được các lực lượng phòng không (đặc biệt là bộ đội tên lửa phòng không) vận dụng và phát huy hiệu quà trong 12 ngày đêm tiến hành chiến dịch, đánh bại cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của không quân Mĩ (xt chiến dịch LainơbêchcơII, 18-29.12.1972). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67885705_461943947868824_5519750896323395584_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeFhTnVAutPGLY-sINUS97eD8r-sRDD3DoPN90DjR8sg81Cl_sAd5pYyC9RyrxJTUVEfYplhpJTbP-88M57VoFzwiIJfcVCsDy3_zTqBI3ss8A&_nc_oc=AQmIew7Id4z3obr3wQ1W4trhoalr3w_fK2BcPKVVe_vmNcyb9jT4ZQlLwtJ0xmvztVU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=95bd72170b43113b87060fd7942c99ac&oe=5DD592B0) TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 21.12.1972, trận chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) phối hợp với quân và dân Hà Nội, đánh trả các đợt đánh phá chủ yếu bằng máy bay B-52 của Mĩ trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18- 29.12.1972). Tại trận địa Đại Đồng, có rađa K8-60 bổ trợ, trong 5 phút (5 giờ 9 phút - 5 giờ 14 phút), bằng 2 quả tên lửa, bắn rơi 2 máy bay B-52 (1 chiếc rơi tại chỗ) trong điều kiện nhiễu điện tử nặng. Là một trong những trận đánh đạt hiệu quả cao của bộ đội tên lửa phòng không VN, góp phần đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược 12.1972 của không quân Mĩ. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67819782_461943934535492_1456601299029065728_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHmwt69eRuvNWnXY_pK-sWTIN9aAnyUkYGlqsV7OjjLYFg2F2SMrUUN0HOZ3RzWtxiagUchY5YnMU1XJRcsZCC68h2DtaMXnL69y02XpuD1vw&_nc_oc=AQnc_05Sgtrbi96x0O-o9wF5ptFlGcL0A9ROgDiDAWticYDKcutF4IV0pPwkpwS7bKA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=69bf550e495c91cd3864bf3283eb016b&oe=5DD2412D) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:34:43 am TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 26.12.1972, trận chiến đấu của quân và dân Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên (nòng cốt là bộ đội tên lửa phòng không), đánh trả các đợt tiến công của 105 lần chiếc máy bay B-52 (Hà Nội 66 lần chiếc, Hải Phòng 21 lần chiếc, Thái Nguyên 18 lần chiếc) và 90 lần chiếc máy bay chiến thuật không quân Mĩ, trong đợt 2 chiến dịch phòng không 'Hà Nội - Hái Phòng (18- 29.12.1972). Bằng cách đánh tập trung nhiều tiểu đoàn vào cùng một đường bay, phối hợp chặt chẽ các lực lượng, phát hiện và cản phá thành công các thủ đoạn nghi binh, đánh phá, gây nhiễu dày đặc của địch, từ 21 giờ 49 phút đến 23 giờ 12 phút, bắn rơi 8 máy bay B-52 (Hà Nội 5, Hải Phòng 2, Thái Nguyên 1) và 9 máy bay chiến thuật. Là trận then chốt quyết định thắng lợi của chiến dịch, làm thất bại bước leo thang cao nhất trong chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bắc VN (x. chiến dịch Lainơbẽchcơ 11, 18-29.12.1972). Trong trận này máy bay B-52 của Mĩ ném bom hủy diệt khu phố Khâm Thiên ở Hà Nội. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG 30.4.1975, trận chiến đấu của Đại đội pháo phòng không 1 (Tiểu đoàn 119, Trung đoàn 234) trong đội hình binh chủng hợp thành, bảo vệ Sư đoàn bộ binh 10 (Quân đoàn 3) đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Sáng 30.4 đơn vị vừa hành quân cơ động, vừa tác chiến, bám sát bộ binh, đánh địch cả trên không và trên mặt đất, lúc 10 giờ 30 phút bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát L-19, là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong KCCM, góp phần cùng các lực lượng tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG CẦU GIẼ (6.10.1972), trận chiến đấu của cụm phòng không bảo vệ Cầu Giẽ trên QL 1 (h. Phú Xuyên, t. Hà Tây). Lực lượng gồm 3 đại đội pháo phòng không 37mm (2 đại đội của Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Ngô Quyền, 1 đại đội huyện Phú Xuyên), 3 trung đội súng máy phòng không 12,7mm và các tổ súng bộ binh của dân quân du kích địa phương. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa liên hoàn cách cầu 300-500m, bố trí hỏa lực nhiều tầng, nhiều hướng, kết hợp biện pháp nghi binh lừa địch bằng các trận địa và cầu giả, từ 11 giờ 27 phút đến 11 giờ 34 phút, các lực lượng bảo vệ cầu đã phối hợp đánh trả 4 đợt đánh phá của không quân Mĩ, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4H, bảo vệ an toàn mục tiêu. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG CON RIÊNG nh TRẬN ĐIỂM CAO 500 (14.5.1967) TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG CỒN ĐEN, trận phục kích của Trung đội dân quân xã Kim Đài (h. Kim Sơn, t. Ninh Bình), đánh máy bay Mĩ bay thấp tại Cồn Đen (cồn cát ở ngã ba Sông Đáy và Sông Vạc, nam xã Kim Đài 12km). Nắm chắc quy luật hoạt động của máy bay Mĩ, ta bí mật bất ngờ, đón lõng chính xác, 9 giờ 45 phút bằng 31 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4H. Kinh nghiệm cơ động, phục kích, xây dựng trận địa trên bãi sình lầy ở Cồn Đen được các địa phương ven biển vận dụng khi tổ chức các trận địa bắn máy bay bay thấp trong KCCM. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG CỐNG LÂN (12.7.1972), trận chiến đấu của Đại đội 4 nữ dân quân huyện Tiền Hải đánh máy bay Mĩ, bảo vệ công trình thủy lợi Cống Lân (xã Đông Lâm, h. Tiền Hải, t. Thái Bình). 14 giờ 55 phút bằng 18 viên đạn pháo phòng không 37mm, đại đội bắn rơi tại chỗ 1 máy bay cường kích A-7, bảo vệ an toàn mục tiêu. Kinh nghiệm tố chức đơn vị nữ dân quân tập trung, vừa sản xuất vừa chiến đấu được nhiều địa phương vận dụng có hiệu quả trong phòng chống chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bắc. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG HOẰNG TRƯỜNG (14.10.1967), trận chiến đấu của Trung đội lão dân quân Hoằng Trường đánh máy bay Mĩ bay thấp tại trận địa phòng không xã Hoằng Trường (h. Hoằng Hóa, t. Thanh Hóa). Trận đánh diễn ra lúc 12 giờ ngày 14.10, bằng 92 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm, bắn rơi 1 máy bay F-4H, là chiếc máy bay Mĩ đầu tiên bị đơn vị lão dân quân bắn rơi, đồng thời là chiếc máy bay Mĩ thứ 2.400 bị bắn rơi trên miền Bắc VN. Được chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG NGƯ THỦY (17.1.1973), trận chiến đấu của dân quân xã Ngư Thúy (h. Lệ Thủy, t. Quảng Bình), đánh máy bay Mĩ bay thấp tại trận địa phòng không xã Ngư Thủy. 13 giờ 20 phút bằng 150 viên đạn súng bộ binh, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay không người lái (loại 147J), là chiếc máy bay cuối cùng trong tổng số 4.181 máy bay Mĩ bị bắn rơi trên miền Bắc VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:36:10 am TRẬN CHIẾN ĐÂU PHÒNG KHÔNG NHÀ ĐÈN AVAN (7.7.1966), trận phục kích của Tiểu đội 10 (Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 50 BTL Hải Phòng) đánh máy bay Mĩ bay thấp tại đảo Nhà đèn Avan ở cửa sông Nam Triệu (đông Hải Phòng 18km). Tiểu đội tổ chức trận địa cơ động, bí mật phục kích đón lõng chính xác đường bay, chớp thời cơ nổ súng lúc 9 giờ, bằng 27 viên đạn súng bộ binh bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4H. Kinh nghiệm dùng lực lượng nhỏ, cơ động phục kích đón lõng được các đơn vị vận dụng trong đánh máy bay bay thấp ở vùng ven biển, địa hình trống trải. TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG NINH GIANG (31.3.1968), trận chiến đấu của trung đội nữ dân quân tập trung xã Tráng Liệt (h. Bình Giang, t. Hải Dương), đánh máy bay Mĩ bay thấp ban đêm tại trận địa bảo vệ thị trấn Ninh Giang (t. Hải Dương). Trung đội bố trí trận địa ở bãi giáp Sông Luộc gần bên Đò Chanh (h. Quỳnh Phụ, t. Thái Bình), lúc 23 giờ 10 phút bằng 57 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay cường kích A-6A. Trận đánh thắng lợi đúng thời điểm Mĩ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào, trong chiến tranh phá hoại Iần I (7.2.1965-1.11.1968). TRẬN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG NÚI CHÙA (8.7.1972), trận chiến đấu của trung đội dân quân xã Trần Phú (h. Chương Mĩ, t. Hà Tây), đánh máy bay Mĩ bay thấp tại trận địa phòng không khu vực Núi Chùa và cánh đồng thôn Kì Viên. 10 giờ 25 phút đơn vị tổ chức đón lõng chính xác đường bay, kịp thời nổ súng khi máy bay địch ném bom Hà Nội trở về, bằng 23 viên đạn súng bộ binh, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4. Kinh nghiệm trận đánh được nhiều địa phương vận dụng trong phong trào dùng súng bộ binh bắn máy bay Mĩ bay thấp. TRẬN CHIẾN ĐẤU trên biển, trận chiến đấu do các binh đoàn, binh đội hải quân độc lập hoặc hiệp đồng với các binh đoàn, binh đội, quân chúng,, binh chủng khác tiến hành trên biển nhằm tiêu diệt lực lượng đối phương hoặc gây tổn thất buộc đối phương phải từ bỏ ý định chiến đấu. TCĐtb được đặc trưng bởi tính kiên quyết, cơ động, bất ngờ cao, chuyển hóa tình hình rất nhanh và đột ngột, phương thức hoạt động đa dạng, sử dụng vũ khí tập trung, tác chiến điện tứ mạnh mẽ. TCĐtb gồm các giai đoạn: tìm và tiếp cận địch, triển khai chiến thuật, thực hiện các đòn đánh, công kích địch, đồng thời đánh trả các đòn đánh và công kích của địch; phát huy thắng lợi; củng cố và triển khai lại lực lượng làm nhiệm vụ tiếp theo. Có TCĐ tiến công và TCĐ phòng ngự trên biển. TRẬN CHỢ BỜ (29-30.1.1891), trận tiến công của khoảng 600 nghĩa quân Đốc Ngữ vào quân Pháp ở đồn Chợ Bờ (t. Hòa Bình). Kết hợp địch vận với tiến công QS, đém 29 rạng 30.1 nghĩa quân do Đốc Ngữ chỉ huy đã chiếm đồn Chợ Bờ, giết phó công sứ Rugiơni, thu 122 súng và 40.000 viên đạn. Do tác động của TCB, chiều 1.2.1891 một đội quân 24 binh sĩ người Việt trong QĐ Pháp, khi đi phục kích ở Chợ Bờ đã nổi dậy, giết 2 sĩ quan người Pháp rồi trở về với nghĩa quân. Trận đánh đạt hiệu quả cao, có tác dụng cổ vũ nhân dân vùng hạ lưu Sông Đà chống Pháp. TRẬN CHỢ ĐỔNG XUÂN (14.2.1947), trận phòng ngự của Tiểu đoàn 101 (Trung đoàn Thủ Đô) chặn đánh quân Pháp tại khu vực chợ Đồng Xuân (nay thuộc q. Hoàn Kiếm, tp Hà Nội), trong đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946-18.2.1947). Từ 5 giờ ngày 14.2 sau khi dùng máy bay, pháo binh liên tục ném bom, bắn phá, Pháp huy động 1 tiểu đoàn lê dương (khoảng 400 quân, 5 xe tăng) từ hướng đầu cầu Long Biên, phố Cửa Bắc và Cửa Đông tổ chức nhiều mũi tiến công chợ Đồng Xuân. Mặc dù lực lượng chênh lệch, vũ khí chủ yếu là mìn, lựu đạn, dao, mã tấu và một số súng bộ binh, các chiến sĩ Tiểu đoàn 101 (hơn 100 người) chiến đấu dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch trên các đường phố, sau đó xung phong đánh giáp lá cà với địch trong khu vực chợ. Trận đánh kéo dài đến quá trưa 14.2, quân Pháp chiếm được chợ và một phần phố Hàng Chiếu nhưng bị tổn thất lớn với gần 200 quân chết và bị thương. Là trận đánh lớn nhất ở Liên khu 1 trong thời kì đầu KCCP, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tác chiến phòng ngự trong thành phố, góp phần phá vỡ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch ở thủ đô Hà Nội. TRẬN CHÙA CAO (4-6.6.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 88 (Đại đoàn 308) vào cứ điểm Chùa Cao (xã Khánh Cư, h. Yên Khánh, t. Ninh Bình), trong đợt 2 chiến dịch Quang Trung (28.5-20.6.1951). Cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản vững chắc, do 1 đại đội Commăngđô (160 quân) của Pháp đóng giữ. Đêm 4.6 trung đoàn nổ súng tiến công, chiếm được một phần cứ điểm thì trời sáng, phải rút ra. Địch đưa 1 hải đoàn và 1 tiểu đoàn dù đến tăng viện và củng cố phòng thủ. Đêm 6.6 trung đoàn được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh tiến công lần 2 vẫn không dứt điểm, bị thương vong lớn, phải lui quân. Trận đánh không thành công do ta chủ quan, đơn giản, công tác tổ chức, chuẩn bị thiếu chu đáo, xử lí cách đánh không phù hợp. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:37:33 am TRẬN CHƯ NGHÉ (22.9.1973), trân tiến công của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 470), Trung đoàn pháo binh 675 (thiếu), 2 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn công binh và 1 đại đội xe tăng đánh cứ điểm Chư Nghé (tây tx Plây Cu 35km, nay thuộc xã la Crai, h. Ia Grai. t. Gia Lai). Cứ điểm xây dựng trên đồi cao 320m có hệ thống công sự, hầm ngầm vững chắc, vật cản dày đặc, sân bay dã chiến, do Tiểu đoàn biệt động biên phòng 80 QĐ Sài Gòn đóng giữ. 13 giờ đến 16 giờ 40 phút, ta đưa pháo Đ74 lên sườn núi sát cứ điểm dùng cách bắn ngắm trực tiếp phá hủy các lô cốt, ụ súng, kết hợp với hỏa lực pháo bắn cầu vồng chế áp trận địa địch, chi viện cho bộ binh, xe tăng đột phá lần lượt đánh chiếm mục tiêu, làm chủ cứ điểm. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 87, bắt 204), thu hơn 200 súng, 50t đạn và nhiều phương tiện QS. TCN đập tan tiền đồn phía tây Gia Lai của địch, góp phần giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ hành lang chiến lược của ta từ bắc Tây Nguyên vào Đông Nam Bộ. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67494514_461943941202158_2865074354180325376_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGfuIFiMdhAd2lFqiM7GjQ5n0AWknmxPVfIMfAkLGOfObzRAO1zWfpItxzrlqe94H0Fb4dYqxC1XdQvP1T9nTS8sZ_Z_8ruf5H5-zJOv074FA&_nc_oc=AQmAwbyMUDZOtKTBhloO_zvAoOuMnZ1X4W50FvZuLPWxWuHcOn1zkLypdEa_XhzwOvo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=990af4f6527a2a0f02e5b2b8c942b336&oe=5DD21F74) TRẬN CHƯƠNG DƯƠNG (6.1285), trận tiến công của quân và dân nhà Trần (Đại Việt) diệt quân Nguyên - Mông (TQ) ở Chương Dương (Thường Tín, t. Hà Tây) trong giai đoạn phản công của kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285). Sau thắng lợi ở A Lỗ, Giang Khẩu, Tây Kết, Hàm Tử, nhà Trần tập trung binh lực tiến đánh Chương Dương, căn cứ quan trọng của quân Nguyên - Mông trên tuyến phòng thủ dọc Sông Hồng bảo vệ Thăng Long. Với thế áp đảo, quân Trần do Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Chiêu Thành Vương (không rõ tên) chỉ huy, được Trần Thông, Nguyên Khả Lạp, Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ tới phối hợp, đã nhanh chóng đánh tan quân Nguyên - Mông, thu nhiều vũ khí. TCD góp phần quyết định cho nhà Trần giải phóng kinh đô Thăng Long. TRẬN COM RẪY (16-18.3.1974), trận tiến công của 2 trung đoàn bộ binh (28 và 24) thuộc Sư đoàn 10 Mặt trận Tây Nguyên, đánh 2 tiểu đoàn biệt động quân (95 và 62) QĐ Sài Gòn ở khu vực điểm cao 800 - cầu Com Rẫy (đồng bắc tx Kon Tum 15km). Thực hiện ý đồ lấn chiếm và phá kế hoạch mở đường 220 của ta, đầu 3.1974 địch đưa quân ra khu vực điếm cao 800 - Com Rẫy tổ chức phòng ngự theo chiến thuật “mạng nhện co giãn”, đóng quân phân tán và thường xuyên di chuyển để tránh bị ta phát hiện, tiêu diệt. 9 giờ 30 phút ngày ta tập trung lực lượng đánh chiếm điểm cao 800, sau đó phát triển tiến công diệt các chốt còn lại ở dãy điểm cao 867, truy kích, bao vây, đón lõng quân địch rút chạy; đến 17 giờ ngày 17 diệt Tiểu đoàn 95 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 62. Tàn quân địch chạy về phía tây cầu Com Rẫy cùng với 1 đại đội của Tiểu đoàn 62 ở dây tổ chức phòng ngự; rạng sáng 18.3 bị ta bất ngờ tập kích tiêu diệt. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 500 địch (bắt hơn 200), thu gần 300 súng các loại, góp phần đánh bại ý đồ lấn chiếm và chiến thuật phòng ngự “mạng nhện co giãn” của dịch, bảo vệ vùng giải phóng và kế hoạch mở đường của ta. TRẬN CON RỐC (2.4.1974), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên) vào cứ điểm Con Rốc trên dãy điếm cao 1227 (đông bắc tx Kon Tum 16km) do Tiểu đoàn bảo an 280 QĐ Sài Gòn đóng giữ. 12 giờ 55 phút, ta sử dụng 2 pháo 105mm bắn ngắm trực tiếp vào cứ điểm, chi viện cho bộ binh mở cửa, xung phong đánh chiếm các mục tiêu trên điểm cao 1227, dùng bộc phá diệt địch cố thủ trong hầm ngầm, sau đó đánh sang điểm cao 869. Sau 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt gọn tiểu đoàn địch, thu 59 súng các loại, buộc địch phải lui về tuyến sau, tạo điều kiện cho ta mở thông đường 220 xuống phía bắc đường 19. Cg trận điểm cao 1227. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:38:33 am TRẬN CORAN (7-8.5.1942), trận chiến đấu giữa hải quân Nhật và hải quân Mĩ trên vùng biển San Hô (tây Thái Bình Dương) trong chiến tranh thế giới lần II (1939-45). Nhật có 27 tàu chiến (3 tàu sân bay với 125 máy bay); Mĩ có 21 tàu chiến (2 tàu sân bay với 143 mấy bay). Nhật dự định đổ bộ chiếm cảng Môrơxơbi làm bàn đạp tiến công Ôxtrâylia và quần đảo Haoai nhưng Mĩ kịp thời phát hiện, tổ chức lực lượng ngăn chặn. 3.5 hải quân đánh bộ Nhật chiếm đảo Tulaghi. 7.5 không quân Mĩ đánh chìm 1 tàu sân bay của Nhật; không quân Nhật đánh chìm 1 tàu phóng lôi, đánh hỏng nặng 1 tàu chở xe tăng của Mĩ. 8.5 hai bên tiếp tục dùng không quân tiến công các tàu sân bay của đối phương. Kết quả Nhật bị tổn thất 6 tàu chiến (1 tàu sân bay chìm, 1 hỏng nặng), hơn 80 máy bay, gần 900 quân, buộc phải bỏ kế hoạch đánh chiếm cảng Môrơxơbi; Mĩ mất 3 tàu chiến, 66 máy bay, 543 quân. Trận đầu tiên hải quân Mĩ giành thắng lợi ở Thái Bình Dương nhờ sớm phát hiện được ý định tiến công của đối phương. TRẬN CỔ CÒ (22.1.1947). trận phục kích của Chi đội 17 (t. Mĩ Tho), Chi đội 18 (t. Sa Đéc), đại đội học viên Trường quân chính Khu 8, lực lượng quốc vệ đội và du kích huyện Cái Bè chặn đánh Tiểu đoàn Nêon của Pháp hành quân càn quét ở Chợ Mới trên đường về Sài Gòn. Trận địa phục kích được bố trí từ cầu Bà Tồn đến bắc Mĩ Thuận (dài 23km) dọc theo QL 4 (nay là QL 1), chủ yếu ở khu vực Cổ Cò (xã An Thái Đông, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). 10 giờ 30 phút ngày 22.1 (mông một Tết Đinh Hợi) trận đánh bắt đầu. Sau khi nổ mìn chặn đoàn xe chở quân địch ở cầu Rạch Miễu, các đơn vị đồng loạt tiến công bao vây, chia cắt, dùng tiêu liên, lựu đạn tiêu diệt phần lớn quân địch; số địch sống sót chạy về hướng Mĩ Thuận bị LLVT địa phương chặn đánh diệt gần hết. 13 giờ cùng ngày Chi đội 17 tiếp tục đánh thiệt hại 1 đại đội địch từ Mĩ Tho đến ứng cứu. Kết quả diệt và bắt 185 địch, phá hủy 14 xe QS (có 8 xe bọc thép), thu hơn 100 súng. Trận thắng lớn đầu tiên của LLVT Khu 8 trong thời kì đầu KCCP, đánh dấu bước trướng thành về trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, góp phần thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở địa phương phát triển. TRẬN CỐC XÁ (5-8.10.1950), trận tiến công của Đại đoàn 308 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 154 (Trung đoàn 209), diệt Binh đoàn Lơ Pagiơ của Pháp tại vùng núi Cốc Xá trên đường 4 (tây nam Đông Khê 6-7km, nay thuộc h. Thạch An, t. Cao Bằng) trong đợt 2 chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Ý đồ chiếm một số điểm khống chế ở Đông Khê thất bại, Binh đoàn Lơ Pagiơ chạy về Cốc Xá tổ chức phòng ngự để chờ hội quân với Binh đoàn Sactông từ Cao Bằng rút về. Đại đoàn 308 sử dụng 3 tiểu đoàn (11, 80, 89) cùng với Tiểu đoàn 154 kịp thời bám sát và tổ chức bao vây tiêu diệt địch theo quyết tâm của bộ chỉ huy chiến dịch. 17 giờ ngày 5.10 các đơn vị nổ súng tiến công, đập tan nhiều đợt phản kích của địch, khép dần vòng vây, đồng thời cho một mũi luồn sâu bất ngờ chiếm đỉnh núi đánh xuống làm rối loạn đội hình địch. 6 giờ ngày 7.10 ta làm chủ trận địa và tổ chức lực lượng truy kích, đến chiều 8.10 diệt và bắt hầu hết quân địch, trong đó có Lơ Pagiơ; số địch sống sót chạy sang điểm cao 477 cũng bị tiêu diệt (x. trận điểm cao 477,. Một trong những trận then chốt, góp phần cho chiến dịch phát triển thuận lợi, thể hiện sự trưởng thành và khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực VN trên chiến trường rừng núi. TRẬN CỔN RỪNG (20.8.1972), trận đánh điểm diệt viện của đại đội bộ đội địa phương huyện Thạnh Phú (Bến Tre) và một bộ phận Tiểu đoàn đặc công 518 (Quân khu 8) tại Cồn Rừng (xã Thạnh Phong, h. Thạnh Phú, t. Bến Tre). 1 giờ ngày 20.8, phối hợp với lực lượng nội ứng, ta tiến công đánh chiếm đồn Cồn Rừng, diệt và bắt toàn bộ quân địch; tiếp đó lúc 6 giờ 30 phút tổ chức phục kích diệt 2 trung đội thuộc Đại đội bảo an 883 QĐ Sài Gòn từ Hồ Cỏ đến giải tỏa. Kết quả loại khỏi chiến đấu 57 địch (bắt 21), thu 57 súng các loại. TCR góp phần đẩy mạnh hoạt động chống phá bình định ở Bến Tre - hướng phối hợp mở mảng trong chiến dịch đồng bảng sông Cửu ling (10.6-10.9.1972). TRẬN CÔNG KÊ RƠ PÔ (17-18.1.1974), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 28, được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 24) thuộc Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 40) QĐ Sài Gòn tại dãy điểm cao Công Kê Rơ Pô (bắc tx Kon Tum 12km, t. Kon Tùm). 14.1 địch nống ra khu vực tây nam Công Kê Rơ Pô nhằm tạo bàn đạp lấn chiếm vùng giải phóng. Ta triển khai lực lượng bí mật bao vây, đón lõng, sáng 17 đến chiều 18.1 liên tục tiến công, bao vây, diệt từng bộ phận, kết hợp tập kích, truy kích địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt 230 địch, thu hơn 100 súng các loại, góp phần đánh bại ý đồ của địch dùng chiến thuật “mạng nhện” lấn chiếm vùng giải phóng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:39:59 am TRẬN CÔNXTANTINOP 559, trận bảo vệ kinh đô Cônxtantinôp (nay là thành phố cảng Ixtambun, tây bắc Thổ Nhĩ Kì, trên eo Bôxpho) của đế chế Bidăngtin do dân binh tiến hành dưới sự chỉ huy của cựu chiến binh Bêlixariut. Cuối 558 đầu 559, quân của các bộ tộc Hung Nô và Xlavơ vượt sông Đanuyp đóng băng tiến đánh kinh đô Cônxtantinôp, bắt sống tướng chỉ huy quân Bidăngtin. Trước nguy cơ kinh đô thất thủ, Bêlixariut đã tập hợp các cựu kị binh và dân chúng (khoảng 300 người) gấp rút huấn luyện. Bằng thủ đoạn nghi binh phô trương thanh thế làm đối phương lầm tưởng là quân Bidăngtin rất dông và mạnh, dân binh của Bêlixariut đã tiến công, khiến 7.000 quân Hung Nô - Xlavơ hoang mang phải bỏ chạy về sông Đanuyp. TRẬN CÔNXTANTINÔP 1453, trận 80.000 quân có 70 pháo của vua Thổ Muhamet II vây hãm kinh đô Cônxtantinôp của đế chế Bidàngtin (nay là thành phố cảng Ixtambun, tây bắc Thổ Nhĩ Kì, trên eo Bôxpho). Sau 50 ngày bị liên tục bắn pháo và vây hãm, mặc dù kinh đô được bảo vệ bởi ba lớp tường thành và hàng rào sắt ở cửa lạch, 7.000 quân Bidăngtin vẫn bị nguy khốn, thiếu lương thực trầm trọng. 29.5 quân Thổ dùng lực lượng 12.000 người vượt qua các cửa mở do pháo bắn thủng ở tường thành, tràn vào giết và bắt làm tù binh hầu hết quân giữ thành, tàn sát dân lành. Vua Cônxtantin XI của Bidăngtin bị chết. Đế chế Bidăngtin chấm dứt sự tồn tại. Trong TC pháo binh giữ vai trò nổi bật và có ảnh hường lớn về sau. TRẬN CÔRÔNEN (1.11.1914), trận hải chiến giữa hạm đội Đức và hạm đội Anh tại mũi Côrônen gần bờ biển Chi Lê trong CTTG-I. Hạm đội Đức với 5 tàu tuần dương (có 16 pháo tầm xa) do Phôn Xipi chỉ huy từ TQ vượt Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương; đến Nam Mĩ (ngoài khơi Chile) gặp hạm đội Anh với 4 tàu tuần dương (có 2 pháo tầm xa) do Cơrađôc chỉ huy. Tuy có nhiều pháo tầm gần, song hạm đội Anh không tiếp cận được hạm đội Đức, bị Đức bắn chìm 2 tàu tuần dương hạng nặng; các tàu còn lại bỏ chạy. Trong TC, hạm đội Đức chiếm ưu thế về trang bị và trình độ tác chiến. TRẬN CÔXÔVO (15.6.1389), trận đánh giữa liên quân Xecbia - Bôxnia (15-20 nghìn người) của vương công Lada với 27-30 nghìn quân của vua Thổ Murat I trên thung lũng Côxôvô (phía nam Xecbia ngày nay). Quân Thổ đại thắng, Lada bị bắt. Vua Murat I cũng chết trên chiến trường. Sau TC, Xecbi trở thành chư hầu của đế chế Thổ (Ôxman). TRẬN CRAVIÊN (19.6.1970), trận tập kích của Tiêu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 165, Sư đoàn 7) được tăng cường hỏa lực, đánh cụm quân Mĩ thuộc Trung đoàn kị binh thiết giáp 11 hành quân càn quét tại khu vưc phum Craviên (h. Mi Môt, t. Côngpông Chàm, Campuchia). 17 giờ 30 phút, khoảng 150 quân Mĩ cùng 50 xe tăng, xe bọc thép sau khi càn quét, dừng lại bố trí trận địa ở đông nam Crayiên. Ta bí mật áp sát, tổ chức đột kích từ 3 hướng, 20 giờ 45 phút đồng loạt nổ súng; sau hơn 1 giờ chiến đấu, diệt nhiều địch, phá hủy 42 xe. Trận đánh góp phần làm thất bại kế hoạch tiến công của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn nhằm triệt phá cơ sở hậu cần của ta ở vùng biên giới VN - Campuchia. TRẬN CRÊXI (26.8.1346), trận đánh giữa 10.000 quân của vua Anh Etuôt III với 12.000 quân (có 8.000 kị binh) của vua Pháp Philip VI trong cuộc chiến tranh trăm năm (1337-1453) tranh giành ngôi vua nước Pháp. Sau khi đổ bộ lên đất Pháp được một tháng rưỡi và bị đánh đuổi đến địa phận làng Crêxi (bắc Pháp, nay thuộc t. Xom), 26.8 bằng loại cung đại, bắn xa 250m (nhanh hơn nỏ), bộ binh Anh đã chia cắt và đánh lui kị binh mặc giáp sắt của Pháp. Hơn 1/3 quân Pháp bị trúng tên. Phía Anh tổn thất chưa đến trăm người. TC được coi là trận đánh đầu tiên của bộ binh Anh trang bị cung đánh bại kị binh và bộ binh Pháp trang bị nỏ. TRẬN CÙ LAO THU (27.4.1975), trận tập kích của LLVT Quân khu 5 (gồm 1 đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 95, 1 phân đội đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 407 và 43 chiến sĩ bộ đội địa phương tỉnh Ninh Thuận) phối hợp với tàu hải quân 643 (có thêm 3 tàu đánh cá và 1 thuyền gỗ chở quân) giải phóng đảo Cù Lao Thu (nay là huyện đảo Phú Quý, t. Bình Thuận) do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Lực lượng địch trên đảo có 1 liên đội nghĩa quân, 1 trung đội cảnh sát, gần 4.000 đoàn viên nhân dân tự vệ, khoảng 800 tàn quân mới từ đất liền chạy ra, từ 22.4 có thêm 2 tàu hải quân bảo vệ. Tối 26.4 các tàu chở quân của ta đến vị trí tập kết, 1 giờ 50 phút ngày 27.4 bí mật đổ bộ lên đảo triển khai nhiều hướng tiến công, 5 giờ 15 phút đồng loạt nổ súng, sau hơn 1 giờ chiến đấu làm chủ Cù Lao Thu. Ngoài khơi ven Cù Lao Thu, tàu 643 bắn bị thương 1 tàu địch, buộc 1 tàu khác phải rút chạy. Kết quả diệt và bắt 382 địch, thu 900 súng, bắn bị thương 1 tàu, 1 xuồng máy. Thắng lợi TCLT để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức đánh chiếm cù lao bằng lực lượng hỗn hợp trong thời gian chuẩn bị gấp. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:41:08 am TRẬN CUA CHỮ S - XA CÁT (12.8.1969), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 9) vào cụm bộ binh cơ giới QĐ Sài Gòn ở khu vục cua Chữ S - Xa Cát (h. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước). Trận địa địch có công sự dã chiến, tường đất và rào thép gai bao quanh; lực lượng gồm 1 chi đoàn tăng - thiết giáp, 1 đại đội bộ binh, 1 trung đội pháo (3 khẩu 105mm), 1 trung đội cối 82mm, 1 đại đội vận tải. 1 giờ 5 phút, tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ, tiểu đoàn nổ súng tiến công không có hỏa lực chuẩn bị (do bộ phận súng cối khi hành quân bị lạc), làm chủ trận đánh lúc 2 giờ 40 phút. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, phá hủy 3 khẩu pháo, 60 xe QS (có 30 xe bọc thép), bắn cháy 3 máy bay trực thăng. TRẬN CỦNG SƠN (24.3.1975), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) được sự phối thuộc của Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tính Phú Yên chặn đánh QĐ Sài Gòn rút chạy tại khu vực quận lị Củng Sơn (nay là thị trấn Củng Sơn, h. Sơn Hòa, t. Phú Yên), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Trước sức tiến công của ta, lực lượng địch ở Củng Sơn gồm cánh quân từ Cheo Reo chạy thoát về (có Liên đoàn biệt động quân 6, Thiết đoàn 19 và 1 tiểu đoàn pháo binh, công binh) và lực lượng tại chỗ (có 1 tiểu đoàn bảo an và lính biệt kích, dân vệ quận Sơn Hòa) hoang mang, tìm cách rút về Tuy Hòa (do cầu qua Sông Ba đã bị phá). Nắm chắc thời cơ đánh địch, 11 giờ ngày 24.3 ta cấp tốc đưa 1 đại đội vượt sông chốt chặn, đồng thời tập trung các loại hỏa lực áp đảo và tổ chức 2 mũi tiến công nhanh chóng thọc sâu, bao vây, chia cắt tiêu diệt xe tăng và các cụm quân địch. Kết quả diệt và bắt hơn 2.000 địch, thu và phá hủy 400 xe QS (có 41 xe tăng, xe bọc thép), hàng chục khẩu pháo lớn... Thắng lợi của TCS góp phần tiêu diệt lực lượng rút chạy cuối cùng của địch ở Tây Nguyên, mở đường cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công xuống tx Tuy Hòa. TRẬN CỨ ĐIỂM 206 (17-23.4.1954), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308), đánh cứ điểm 206 do 1 đại đội lính lê dương của Pháp đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Cứ điểm nằm trên cánh đồng phía bắc khu trung tâm Mường Thanh, trong hệ thống phòng ngự phía tây Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, có hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, vật cản dày đặc, được hỏa lực pháo binh chi viện. 17.4 trung đoàn triển khai trận địa vây lấn trên ba hướng, tiến hành đào công sự và hệ thống giao thông hào, dùng rơm bện thành con cúi làm lá chắn, kết hợp bắn tỉa, đánh phản kích, phá hủy một số công sự, vật cản của địch để tạo sẵn cửa mở... Sau 4 ngày vây lấn, các chiến hào của ta đã áp sát trận địa tiền duyên của địch, đêm 22 rạng 23.4 bắt đầu nổ súng tiến công. Ngay loạt pháo đầu tiên, ta đã đánh trúng SCH địch, phá hủy điện đài, tạo điều kiện cho bộ đội xung phong đánh chiếm mục tiêu và làm chủ cứ điểm; sau 2 giờ chiến đấu, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Thắng lợi của TCĐ206 đã tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch áp sát trung tâm tập đoàn cứ điểm của địch, đồng thời góp phần hoàn thiện hình thức chiến thuật vây lấn của nghệ thuật QS VN trong KCCP. TRẬN CỬA VIỆT (31.1.1973), trận phản đột kích của một số đơn vị thuộc các sư đoàn bộ binh 304, 320 và 325 cùng với 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương và các lực lượng hải quân, pháo binh, xe tăng nhằm tiêu diệt Lữ đoàn đặc nhiệm QĐ Sài Gòn lấn chiếm vùng giải phóng ở nam Cửa Việt (h. Triệu Phong, t. Quảng Trị), trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973). Sau khi bất ngờ đánh chiếm vùng giải phóng nam Cửa Việt (đêm 25 và ngày 26.1.1973) theo kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” trước khi hiệp định Pari 1973 về Việt Nam có hiệu lực, nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt từ 28 đến 30.1, địch buộc phải co lại thành 4 cụm, kéo dài từ nam Cửa Việt đến Vĩnh Hòa. 6 giờ 30 phút ngày 31.1 trận đánh bắt đầu. Sau nửa giờ bắn pháo cấp tập, xe tăng và bộ binh ta đánh vào cụm quân lớn nhất của địch ở gần Cửa Việt, dùng cách đánh gần, chia cắt địch thành tùng mảng, tích cực diệt xe tăng, đến 8 giờ 30 phút tiêu diệt hai cụm địch ở nam Cửa Việt và bắc Vĩnh Hòa, rồi thừa thắng phát triển tiến công đến 12 giờ 30 phút tiêu diệt nốt hai cụm địch ở nam Vĩnh Hòa và bắc Thanh Hội, khôi phục lại toàn bộ khu vực phòng thủ cảng Cửa Việt. Kết quả diệt và bắt gần 2.500 địch, phá hủy 113 xe tăng, xe thiết giáp, 10 khẩu pháo, bắn rơi 5 máy bay, thu 10 xe QS và hơn 300 súng các loại. Trận then chốt kết thúc thắng lợi đợt tác chiến ở Quảng Trị, có ý nghĩa lớn về chính trị, QS, ngoại giao, góp phần tạo thế bố trí và giành quyền chủ động đấu tranh chống địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67574935_461943974535488_8295005926587367424_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeGsSjYPN6sFtXfAOXL3Ci6esOt-ehTtW7iWtH2-B_aeHzkUvNL8Xh35GmiJXK0rJQGQnA_SHt7-GP9qEtbsyx8cgav_xEjxrQOebMzaJvFO4w&_nc_oc=AQn1F3rsaJb-KVwo1YbVGdmykaW30KM_7gXd0q5RUy-QWIiHLBj_MC1oy_jtP8acPf0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9161875096dfdc880fda7ff6535b6370&oe=5DE9BF06) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:42:18 am TRẬN DAMA (19.10.202tcn), trận quân La Mã (31-38 nghìn người) của Xipiô Châu Phi Già đánh bại quân Cacphaghen (Cactagiơ, 37-38 nghìn người, 80 thớt voi) của Haniban ở Dama, tây nam Cactagiơ (thuộc Tuynidi, Bắc Phi ngày nay) trong chiến tranh Punich (264-I46tcn). Bằng cách sử dụng kị binh (6-8 nghìn người) vu hồi, quân La Mã đã đánh quân Cactagiơ thua chạy và bị thiệt hại 10 nghìn người. Phía La Mã mất 1.500 người. Trong TD, lần đầu tiên đội hình chiến đấu nhiều thể đội được áp dụng, làm tăng khả năng đột kích của đơn vị chiến đấu. TRẬN DẦU TIẾNG (11.10.1958), trận tập kích của 2 đại đội bộ binh (80 và 70), Đại đội đặc công 60 LLVT miền Đông Nam Bộ vào quận lị Dầu Tiếng (t. Thủ Dầu Một, nay là thị trấn Dầu Tiếng, t. Bình Dương), do 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 13 cùng lực lượng bảo an, dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Rạng ngày 11 ta nổ súng, sau 30 phút làm chủ quận lị, diệt gần 200, bắt 30 địch, thu hơn 200 súng các loại, buộc quân địch đóng ở 20 đồn bốt xung quanh Dầu Tiếng hoảng sợ, bỏ chạy, một trong những trận thắng lớn đầu tiên của LLVT CM miền Nam VN trong KCCM. TRẬN DI LĂNG (222), trận phòng ngự chuyển sang phản công của quân Ngô đánh bại quân Thục có lực lượng đông hơn nhiêu lần. Nhằm giành Kinh Châu bị Ngô chiếm năm 219 và báo thù cho Quan Vũ (tướng Thục) bị Tôn Quyền bắt giết, năm 221 Lưu Bị đem 500.000 quân đánh Ngô. Lục Tốn (tướng Ngô) đem 50.000 quân chống lại. Trước ưu thế rõ rệt của quân Thục, Lục Tốn chủ trương tránh kẻ địch đang mạnh, lui quân về tuyến có lợi từ Di Lăng đến Hào Đinh (nay ở Nghi Đô, Hồ Bắc, TQ), để cho Lưu Bị chiếm giữ mấy trăm dặm khe núi. Mặc quân Thục khiêu chiến, quân Ngô không ra đánh, cũng không chia quân đi cứu Tôn Hoàn đang bị vây ở Di Đạo. Sau 7-8 tháng khi quân Thục mỏi mệt, quân Ngô phản công, dùng hỏa công đốt cháy hơn 40 doanh trại Thục và thừa thắng truy kích. Quân Thục tan vỡ, thương vong và bỏ trốn hàng chục vạn. Lưu Bị thua chạy về thành Bạch Đế và chết ở đó năm 223. TDL là trận lấy ít thắng nhiều, đánh giá đúng so sánh lực lượng, biết lui quân khi điều kiện tác chiến không lợi, làm hao mòn sức địch, nắm đúng thời cơ phản công giành thắng lại. Cg trận Hào Đình. TRẬN DINH ĐỘC LẬP (31.1.1968), trận tập kích của Đội biệt động 5 (cụm 3, 4 và 5) LLVT Sài Gòn- Gia Định vào dinh Độc Lập (phủ tổng thống chính quyền Sài Gòn) trong cuộc tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Đội gồm 15 chiến sĩ (có 1 nữ), chia 3 tổ, 1 giờ 45 phút ta bí mật cải trang, cơ động bằng 3 xe ô tô, tới cổng phụ dinh Độc Lập (đường Nguyễn Du) nổ súng diệt lính gác rồi dùng bộc phá phá cổng nhung bộc phá không nổ, phải triển khai đánh địch trên đường Nguyễn Du. Địch điều lực lượng phản kích; ta bám giữ từng căn nhà, góc phố đánh trả quân địch, đến 17 giờ kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 50 địch, bắn cháy 2 xe QS; ta 8 chiến sĩ hi sinh, số còn lại bị thương và bị địch bắt. Trận đánh gây tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới. TRẬN DÓM (16.7.1949), trận tiến công của 2 tiểu đoàn bộ binh (54 và 79) bộ đội chủ lực Bộ tổng tư lệnh, có 2 đại đội pháo binh Liên khu 10 chi viện, đánh cứ điểm Dóm (h. Văn Yên, t. Yên Bái) thuộc phòng tuyến Sông Thao của Pháp, trong đợt 3 chiến dịch Sông Thao (19.5-18.7.1949). Cứ điểm có 5 lô cốt, 4 lớp rào, sau khi bị tiến công lần 1 (24.5.1949) địch đã tăng cường phòng thủ, lực lượng gồm 1 đại đội người Thái (có 15 lính Âu - Phi). Sáng 16.7 ta tổ chức chặn đánh các toán quân thăm dò và tuần tiễu của địch, đến 17 giờ bắt đầu tiến công cứ điểm. Bằng hỏa lực pháo binh từ bờ Sông Thao khống chế các hỏa điểm, công binh dùng mìn phá rào, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong đánh chiếm các lô cốt, sau gần 1 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa. tiến hành truy kích địch rút chạy, đồng thời chặn đánh quân địch từ Giốc Lụ tới ứng cứu. Kết quả diệt và bắt gần 60 địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, buộc Pháp phải rút bỏ nhiều vị trí trên phòng tuyến Sông Thao đoạn từ Ba Khe đến Báo Hà dài 70km, góp phần cho chiến dịch kết thúc thắng lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:43:19 am TRẬN DỐC MIẾU (20.3.1967), trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn pháo binh 164 (Quân khu 4) và 1 đại đội súng cối 82mm của Trung đoàn 270 (Khu đội Vĩnh Linh) vào căn cứ Dốc Miếu (nam cầu Hiền Lương 6km, thuộc h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Dốc Miếu là một trong những căn cứ QS lớn của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên tuyến phòng thủ đường 9 được xây dựng kiên cố từ 1966 để ngăn chặn QGP và tiến hành các hoạt động đánh phá khu vực Vĩnh Linh; lực lượng thường xuyên có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (20 khẩu pháo 105mm - 175mm), 30 xe tăng và xe bọc thép. Để tổ chức trận đánh, Trung đoàn 164 sử dụng 20 khẩu pháo (loại 100 và 105mm) triển khai trận địa ở bờ bắc sông Bến Hải, đại đội cối 82mm (6 khẩu) bí mật luồn sâu bố trí sát căn cứ, đồng thời dân quân xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh) tổ chức 4 trận địa nghi binh thu hút hỏa lực địch. Chiều tối 20.3 phát hiện địch tập trung lực lượng (tăng cường thêm 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ và 7 khẩu pháo 105mm) chuẩn bị càn quét Gio Linh, ta kịp thời nổ súng; mở đầu bằng hỏa lực pháo binh bắn cấp tập, chính xác vào căn cứ, sau đó rạng sáng ngày 21 hỏa lực cối tiếp tục đánh bồi. Kết quả với hơn 1.200 viên đạn pháo và 350 viên đạn cối đã loại khỏi chiến đấu 1 tiểu đoàn địch, phá hủy 17 khẩu pháo, 57 xe QS, 5 máy bay trực thăng... Trận đánh phát huy tốt yếu tố bất ngờ, cách đánh và hiệu quả từng loại vũ khí, giành thắng lợi lớn, góp phần phá vỡ âm mưu đánh phá, càn quét của địch. Sau TDM bộ đội pháo binh VN được chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng 8 chữ vàng: “chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”. TRẬN DUY XUYÊN (20-28.3.1975), trận tiến công của LLVT địa phương Quảng Đà phối hợp với nổi dậy của quần chúng giải phóng huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Ngày 20.3 các đại đội 2 và 3 bộ đội địa phương huyện Duy Xuyên diệt đồn Bò Coi, khu đồn Triều Châu. Đêm 22.3 Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 96 Quảng Đà) tiến công diệt địch ở Gò Phan. Đá Đen, Núi Đất; đồng thời Đại đội 3 (của Duy Xuyên) phục kích trên đoạn đường từ Nam Phước đi Câu Lâu diệt 40 địch. Phát huy thắng lợi của đòn QS, nhân dân nổi dậy làm chủ các khu Trung, khu Tây, khu Nam của huyện, buộc quân địch ở An Hòa, Đức Dục, Trà Kiệu, Nam Phước tháo chạy về Đà Nẵng. 13 giờ ngày 28.3 ta giải phóng hoàn toàn huyện Duy Xuyên, tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực Quân khu 5 và Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Đà Nẵng. TRẬN DƯƠNG CÔI - SÔNG SỬ (24-25.7.1974), trận tiến công của 2 trung đoàn bộ binh (1 và 31) thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đánh Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn ở khu vực Dương Côi - Sông Sử (h. Quế Sơn, t. Quảng Nam) trong đợt 2 chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (17.7- 25.8.1974). Sau khi ta chiếm Nông Sơn, địch điều Trung đoàn 2 đến ứng cứu, chiếm dãy điểm cao ở khu vực Dương Côi - Sông Sứ. Đêm 23.7 ta bí mật vận động, hình thành thế bao vây, rạng sáng 24 nổ súng tiến công. Trung đoàn 1 đánh chiếm Dương Côi, diệt địch, trên núi Kì Vĩ, đến 15 giờ diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, làm chủ trận địa. Trung đoàn 31 tiến công địch ở Sông Sừ, Khương Quế, các điểm cao 238, 284...; địch chống cự, phản kích quyết liệt, trận đánh kéo dài đến sáng 25 mới kết thúc. Kết quả ta loại khỏi chiến đấu hơn 700 địch (bắt 73), bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 16 xe QS, 10 khẩu pháo, thu trên 100 súng các loại; đánh bại cuộc phản kích của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. TRẬN ĐACĐANEN nh TRẬN GALIPÔLI (19.2.1915- 9.1.1916) TRẬN ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN (31.1.1968), trận tập kích của Đội biệt động 4 (cụm 3, 4 và 5) LLVT Sài Gòn - Gia Định vào Đài phát thanh Sài Gòn trong cuộc tiến công Sải Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Đội gồm 14 cán bộ, chiến sĩ (có 2 nữ phục vụ) chia 3 tổ: 2 tổ (9 người) đột kích đánh vào bên trong, 1 tổ (3 người) kiểm chế bên ngoài. Sau khi bí mặt cải trang, tiếp cận mục tiêu từ vị trí ém quân cách đài 100m, 2 giờ ngày 31.1 ta bất ngờ nổ súng, nhanh chóng diệt trung đội bảo vệ, chiếm đài phát sóng nhưng không phát thanh được theo kế hoạch vì thiếu nhân viên kĩ thuật. Địch điều 1 đại đội dù, 1 chi đội thiết giáp đến phản kích. Ta kiên cường bám giữ trận địa đánh trả, đến 6 giờ 30 phút dùng bộc phá phá hủy đài. Kết quả tiêu hao nặng 1 đại đội và 1 trung đội địch, bắn cháy 1 xe thiết giáp; phía ta có 10 chiến sĩ hi sinh. Trận đánh gây tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:44:31 am TRẬN ĐẠI AN (25.8.1971), trận tiến công của du kích và nhân dân xã Nhơn Mĩ (h. An Nhơn, t. Bình Định) đánh chốt Đại An do 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. Từ 17.8 ta mở đợt tiến công bằng ba mũi giáp công trên phạm vi toàn xã, đồng thời tiến hành một số hoạt động QS ở các chốt và khu vực lân cận, gây hoang mang, căng thẳng cho địch. Đêm 24.8 lực lượng du kích xã (16 người) triển khai đội hình tiến công, 1 giờ 15 phút ngày 25.8 nổ súng, sau 20 phút chiến đấu diệt toàn bộ trung đội địch, thu 35 súng, làm chủ trận địa. Phát huy thắng lợi cách đánh kết hợp ba mũi giáp công, du kích và nhân dân xã Nhơn Mĩ tiếp tục bao vây, bức rút 6 điểm chốt khác của địch, giải phóng hoàn toàn xã, đưa phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn huyện lên một bước mới. TRẬN ĐẠI BỤC (19.5.1949), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 54 chủ lực Bộ tổng tư lệnh, có pháo binh chi viện, đánh cứ điểm Đại Bục (nay thuộc Văn Yên, t. Yên Bái) thuộc phòng tuyến Sông Thao của Pháp, mở đầu chiến dịch Sông Thao (19.5-18.7.1949). Cứ điểm được xây dựng tương đối kiên cố gồm 2 khu bố trí theo đội hình tam giác, có lô cốt và ba lớp rào tre ken dày kiểu lóng nhím, do 120 lính Âu - Phi và lính người Thái chiếm giữ. 16 giờ 30 phút được sự yểm trợ của hỏa lực pháo và súng phóng bom làm tê liệt phần lớn các hỏa điểm của địch, tiểu đoàn tổ chức 2 mũi tiến công, dùng lửa đốt phá hàng rào, xung phong vào đồn đánh giáp lá cà bằng mác và mã tấu, kết hợp gọi hàng; sau hơn 30 phút chiến đấu diệt và bắt toàn bộ quân địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, cùng với việc diệt cứ điểm Đại Phác tạo đà cho chiến dịch phát triển, buộc địch phải điều quân từ Lào Cai, Phong Thổ đến đối phó. TRẬN ĐẠI CÔ (1858-60), trận chiến đấu bảo vệ bờ biển Đại Cô của QĐ nhà Thanh (TQ) ba lần chống liên quân Anh - Pháp trong chiến tranh Nha Phiến lần II (1856-60). Lần một (3.1858), 20 tàu chiến Anh - Pháp tiến vào cửa Đại Cô bắn pháo và cho 1.000 quân đổ bộ lên bờ. Quân Thanh đánh trả làm bị thương một số tàu và giết gần 100 quân, nhưng cuối cùng các pháo đài đều bị chiếm, buộc triều Thanh phải kí hiệp ước Thiên Tân (5.1858). Lần hai, Đại Cô được triều Thanh tăng cường, gồm 6 pháo đài, có 60 pháo lớn và 4.000 quân phòng giữ. 25.5.1859 liên quân sử dụng 13 pháo hạm tiến công; quân Thanh đánh trả có hiệu quả: bắn cháy 10 tàu (chìm 4, bị thương 6), giết và làm bị thương 500 lính Anh (tư lệnh hạm đội Anh bị thương), buộc liên quân phải rút. Lần ba, 10.6.1860 liên quân sử dụng 206 tàu chiến và 17.000 quân tiếp tục tiến đánh Đại Cô. 5.7.1860 tướng chỉ huy quân phòng thủ của nhà Thanh tử trận, đại bộ phận binh lính hi sinh, các pháo đài lần lượt bị chiếm. Đại Cô thất thủ. 10.7.1860 liên quân chiếm Thiên Tân, uy hiếp Bắc Kinh. TRẬN ĐẠI CÔ - THIÊN TÂN (1900), trận chiến đấu của Nghĩa Hòa Đoàn phối hợp với quân Thanh (TQ) bảo vệ Đại Cô và Thiên Tân chống liên quân tám nước Anh, Mĩ, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Ý, Áo. 6.1900 tám nước tổ chức liên quân, đem 20 tàu chiến tới cửa Đại Cô, đưa yêu sách đòi triều Thanh nhượng thêm quyền lợi ở miền Bắc. Lúc này phong trào Nghĩa Hòa Đoàn phát triển manh, yêu cầu triều Thanh không được bán rẻ quyền lợi đất nước. 15.6 hơn 900 quân liên quân đổ bộ lên Đường Cô, 10 tàu tiến vào sông, hình thành thế bao vây Đại Cô (nơi cửa sông, cửa ngõ vào Thiên Tân, trong pháo đài có 180 pháo và 2.000 quân phòng thủ). 17.6 qua 6 giờ kịch chiến, liên quân chiếm được Đại Cô và tiến vào khu tô giới Thiên Tân. 21.6 triều Thanh buộc phải tuyên chiến. Nghĩa Hòa Đoàn không ngừng tập kích quân xâm lược, phá đường sắt và dây điện thoại. 9.7 liên quân từ khu tô giới xuất kích chiếm thành phố, hai bên kịch chiến ở Bát Lí đài. Lo sợ trước Nghĩa Hòa Đoàn, 10.7 triều Thanh ra lệnh giải tán và tàn sát quân Nghĩa Hòa Đoàn, đồng thời đề nghị hòa đàm. 13.7 liên quân (7.000 người) tiến công thành Thiên Tân trên hai hướng. Hơn 2 vạn quân Thanh bỏ chạy, 14.7 Thiên Tân thất thủ. Bắc Kinh bị uy hiếp trực tiếp. TRẬN ĐÁNH nh TRẬN TRẬN ĐÁNH CĂN CỨ 45 (12.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên), được tăng cường 1 đại đội xe tăng đánh hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 45 (Sư đoàn 23) QĐ Sài Gòn ở đông bắc thị xã Buôn Ma Thuột 3km (nay thuộc tp Buôn Ma Thuột, t. Đắc Lắc), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lúc 5 giờ bộ binh và xe tăng ta chia thành hai mũi thọc thẳng vào trung tâm căn cứ rồi tỏa ra đánh chiếm các mục tiêu, đến 9 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt 449 địch, bắn cháy 3 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay, thu 12 pháo 105mm và 155mm, 243 xe QS (có 2 xe M113), hơn 1.000 súng các loại. Thắng lợi của trận đánh góp phần phá vỡ bàn đạp và ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:45:38 am TRẬN ĐÁNH ĐẠI DOANH GIANG NAM (3.1860), trận đánh lớn của quân Thái Bình Thiên Quốc vào đại doanh Giang Nam của quân Thanh (TQ) nhằm giải vây cho Thiên Kinh. 1856 sau khi bị đánh tan, quân Thanh xây dựng lại đại doanh Giang Nam, thắt chặt vòng vây Thiên Kinh; 1860 chiếm được cửa quan phía bắc thành. Vận dụng chiến thuật “vây Nguy cứu Triệu”, quân Thái Bình Thiên Quốc tiến quân nhanh chóng đánh chiếm Hàng Châu, thủ phủ t. Chiết Giang (27.2). Quân Thanh vội rút 13.000 quân ở đại doanh đi cứu. 3.3 quân Thái Bình Thiên Quốc bí mật rút khỏi Hàng Châu, quay về Thiên Kinh, chia làm năm mũi tiến công đại doanh Giang Nam (12.3). Bằng cách trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân Thái Bình Thiên Quốc phá vỡ vòng vây, buộc quân Thanh tháo chạy về Trấn Giang. TRẬN ĐÁNH ĐẠI SỨ QUÁN MĨ 30.3.1965. trận tập kích của 5 chiến sĩ Cụm biệt động 345 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào đại sứ quân Mĩ ở Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh). Toà đại sứ Mĩ cao 5 tầng được bảo vệ cẩn mật bằng tường bê tông đặc biệt, bên trong là lính gác và nhân viên phục vụ Mĩ, bên ngoài là cảnh sát và mật vụ chính quyền Sài Gòn. Trận đánh diễn ra lúc 10 giờ 45 phút; bộ phận xung kích bí mật tiếp cận mục tiêu diệt lính gác, đồng thời lái xe chở 150kg thuốc nổ lao vào cửa chính tòa đại sứ rồi nhanh chóng thoát ra, được đồng đội ở bên ngoài phối hợp chiến đấu giải vây. Kết quả làm ngôi nhà sạt lở nhiều phòng, hơn 100 nhân viên Mĩ và Sài Gòn chết và bị thương (có phó đại sứ Mĩ Aléchdit Giônxơn), hơn 20 xe bị phá hủy. Trận đánh táo bạo đầu tiên vào đại sứ quân Mĩ ở Sài Gòn, gây tiếng vang lớn trong nước và thế giới. TRẬN ĐÁNH ĐẠI SỨ QUÁN Mĩ 31.1.1968, trận tập kích của Đội biệt động 11 (Đoàn F100, LLVT Sài Gòn-Gia Định) vào đại sứ quân Mĩ ở Sải Gòn trong tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Sau khi bị tiến công lần 1 (x. trận đánh đại sứ quân Mĩ 30.3.1965), tòa đại sứ Mĩ được xây dựng lại kiên cố gồm 6 tầng (khánh thành 7.1967), có tường cao 2,5m bao quanh, do lực lượng quân cảnh và lính thủy đánh bộ Mĩ trực tiếp canh gác, bảo vệ. 2 giờ 45 phút đội biệt động gồm 17 chiến sĩ bí mật cải trang, đi trên 2 xe ô tô tiến đến cổng chính, bất ngờ nổ súng diệt lính gác, dùng thuốc nổ phá vỡ một mảng tường, chia 3 tổ đánh chiếm tầng 1 đến tầng 3; chặn đánh nhiều toán quân cảnh Mĩ đến ứng cứu. 8 giờ BTL Dã chiến 2 của Mĩ cho quân dù đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống tầng thượng, dùng chất độc CS từ trên đánh xuống, kết hợp với lực lượng bên dưới vây kín tòa nhà. Cuộc chiến không cân sức kéo dài đến 9 giờ, các chiến sĩ biệt động kiên cường chống trả, hi sinh đến người cuối cùng. Kết quả diệt và làm bị thương hơn 100 lính Mĩ; làm choáng váng giới cầm quyền và chỉ huy QS Mĩ, gây xôn xao dư luận nước Mĩ và thế giới. TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN BRINH (24.12.1964), trận tập kích của Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào khách sạn Brinh (tòa nhà 6 táng, 193 phòng, nằm ở trung tâm tp Sài Gòn), nơi ở thường xuyên của khoảng 200 sĩ quan Mĩ, bên ngoài có cảnh sát Sài Gòn, bên trong có trung đội lính thủy đánh bộ Mĩ bảo vệ. Lợi dụng địch chuẩn bị đón lễ Nôen, 17 giờ hai chiến sĩ của Đội biệt động 5 cải trang thành sĩ quan QĐ Sài Gòn lái xe đến làm việc với cố vấn Mĩ, khéo vượt qua gác cổng cho xe chở 100kg thuốc nổ hẹn giờ vào giữa tầng dưới của khách sạn. 18 giờ bộc phá nổ, làm sập 3 tầng nhà, gây chấy nổ kéo dài 40 phút, diệt và làm bị thương hơn 100 địch (có 2 đại tá). Trận đánh gây xôn xao dư luận Mĩ và thế giới. TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN MÊTRÔPÔN (4.12.1965), trận tập kích của 5 chiến sĩ Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào khách sạn Mêtrôpôn cao 7 tầng - nơi ở chủ yếu cho phi công và nhân viên kĩ thuật Mĩ ở trung tâm thành phố Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh). Bằng cách bí mật đột nhập đặt mìn hẹn giờ trong khách sạn, ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch. Trận đánh đạt hiệu suất cao, gây hoang mang, lo sợ cho quân Mĩ ở Sài Gòn, đồng thời củng cố lòng tin của quân dân miền Nam VN dám đánh và đánh thắng Mĩ trong chiến lược chiến tranh cục bộ. TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN VICHTORIA (1.4.1966), trận tiến công chóp nhoáng của Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) nhằm diệt phi công và chuyên viên kĩ thuật Mĩ tại khách sạn Vichtoria ở trung tâm Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh). Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, các chiến sĩ của Đội biệt động 5 khôn khéo vượt qua hệ thống canh phòng cẩn mật của địch, tiếp cận diệt lính gác, đưa xe thuốc nổ vào sân khách sạn rồi nhanh chóng điểm hỏa khối thuốc nổ trên xe, kết hợp nổ súng chận địch và rút lui an toàn. Kết quả làm sập một tầng lầu khách sạn, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:46:55 am TRẬN ĐÁNH KHO THÀNH TUY HẠ (12-13.12.1972), trận tập kích của 5 chiến sĩ đặc công (Đoàn 10 Rừng Sác, Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào kho Thành Tuy Hạ (đông nam Sài Gòn 18km, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh) - một trong những khu kho dự trữ bom đạn lớn của Mĩ và QĐ Sài Gòn ở miền Nam VN. Kho được xây dựng trên khu vực dài 1.500m, rộng l.000m, có 3 tuyến phòng thủ với 14 lớp rào kẽm gai, 1 hàng rào tôn cao 2m và một tuyến lô cốt; lực lượng bảo vệ gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn quân cụ, 1 trung đội cảnh sát, 100 chó becgiê, một số xe cơ động tuần tiễu. Đêm 12 ta khắc phục vật cản, đột nhập vào kho, nhưng không xác định được mục tiêu (do địch đã san ủi làm thay đổi địa hình), phải bí mật ém lại; đém 13 phát hiện 8 dãy nhà kho, đặt lượng nổ hẹn giờ rồi rút lui an toàn. Kết quả gây nổ truyền lan 60 gian kho kéo dài 3 ngày đêm, làm náo động cả tp Sài Gòn; phá hủy gần l0.000t bom đạn (80% số bom đạn trong kho). TRẬN ĐÁNH KHU KHO HẢI PHÒNG (18.6.1953), trận tập kích của LLVT tỉnh Kiến An vào căn cứ hậu cần lớn của Pháp tại tp Hải Phòng. Khu kho gồm kho dầu và kho bom đạn, được bảo vệ nghiêm mật bằng hệ thống rào kẽm gai, hào sâu, đèn chiếu sáng và lính Âu - Phi tuần tra, canh gác ngày đêm. Lực lượng tập kích gồm 5 tiểu đội chọn từ Đại đội 131 của tỉnh và đội du kích An Dương, đêm 18.6 chia ba mũi bí mật tiếp cận mục tiêu. Mũi đánh lực lượng bảo vệ khi đột nhập bị lộ, phải nổ súng trước giờ quy định; mũi đánh kho dầu nhanh chóng vượt vật cản, tiến công mục tiêu làm cả khu kho bốc cháy, thiêu hủy 147 triệu lít dầu và 300 xe các loại; mũi đánh kho bom đạn còn cách xa mục tiêu, không tiếp cận được, phải rút ra. TĐKKHP thể hiện khả năng của LLVT địa phương dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ đánh căn cứ ở sâu trong hậu phương địch. TRẬN ĐÁNH TÀU BIỆT KÍCH 14.6.1966 nh TRẬN BIỂN SẨM SƠN (14.6.1966) TRẬN ĐÁNH TÀU CAĐƠ (2.5.1964), trận tập kích của Đội biệt động 65 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào tàu sân bay Cađơ của Mĩ tại cảng Sài Gòn. Tàu Cađơ trọng tải 15.000t chở 21 máy bay UH-1A, 2 máy bay L-19, 1 máy bay AD-6, được bảo vệ cẩn mật. Đêm 1.5 hai chiến sĩ của Đội biệt động 65 cải trang, dùng xuồng bí mật tiếp cận mục tiêu, đặt 80kg thuốc nổ hẹn giờ vào mạn tàu. 1 giò ngày 2.5 mìn nổ, nhấn chìm tàu Cađơ cùng toàn bộ máy bay và 55 lính Mĩ. TĐTC là một trong những chiến công xuất sắc nhất của lực lượng biệt động Sài Gòn, làm xôn xao dư luận Mĩ, góp phần đúc kết kinh nghiệm đánh tàu ở bến cảng bằng cách đánh đặc công. TRẬN ĐÁNH TÀU CRAYXẮC VÀ ÔĐAXIƠ (7 và 11.9.1945), trận chiến đấu của Đại đội Kí Con, đánh tàu chiến Pháp tại vùng biển Hòn Gai (t. Quảng Ninh) trong những ngày đầu bảo vệ chính quyền CM. Sáng 7.9 phát hiện tàu Crayxắc từ đảo Vạn Hoa vào bến Hòn Gai, ta sử dụng 2 tàu và 1 ca nô kịp thời triển khai đội hình bao vây, bất ngờ áp sát, bắt gọn. Trưa 11.9 Pháp cho tàu Ôđaxiơ vào tìm kiếm tàu Crayxắc, tiếp tục bị ta truy đuổi, bắt giữ. Kết quả ta thu 2 tàu cùng toàn bộ vũ khí, trang bị (có 1 pháo 37mm, 1 trọng liên 12,7mm, 5 đại liên...), bắt 24 sĩ quan và thủy thủ, góp phần hạn chế hoạt động của địch ở vùng biển Đông Bắc, bảo vệ chính quyền CM non trẻ. TRẬN ĐÁNH TÀU LST (29.6.1967), trận tập kích của 21 chiến sĩ đặc công thuộc Đoàn 126 Quân chủng hải quân đánh tàu LST (trọng tải gần 5.000t) của Mĩ tại cảng Cửa Việt (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Được sự phối hợp, giúp đỡ của du kích và nhân dân địa phương, các chiến sĩ đặc công chia thành 5 tổ bí mật vượt qua hệ thống bảo vệ của địch vào vị trí tập kết đúng kế hoạch. Đêm 29 rạng 30.6, tổ đánh tàu sử dụng kĩ thuật người nhái tiếp cận chính xác mục tiêu, bằng 2 mìn hẹn giờ đánh chìm tàu LST cùng toàn bộ vũ khí, thiết bị trên tàu. Trận đầu bộ đội đặc công hải quân sử dụng kĩ thuật người nhái đánh địch trên chiến trường sông biển đạt hiệu quả cao, góp phần đúc kết kinh nghiệm, phát triển nghệ thuật đánh tập kích của bộ đội đặc công VN trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:48:17 am TRẬN ĐÁNH TÀU MAĐÔC (2.8.1964), trận chiến đấu của ba tàu phóng lôi (333, 336 và 339) thuộc Phân đội 3, Đoàn 135, Quân chủng hải quân đánh đuổi tàu khu trục Mađôc (số hiệu 731) thuộc Biên đội xung kích 77, Hạm đội 7 của Mĩ khiêu khích vũ trang, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước VN DCCH tại vùng biển giữa đảo Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hóa). 13 giờ 50 phút các tàu của ta rời khỏi vị trí neo đậu ở phía bắc đảo Hòn Mê, tiến vào khu vực tàu Mađôc hoạt động; 14 giờ 52 phút phát hiện mục tiêu, tổ chức tiếp cận. Tàu địch tăng tốc chạy ra xa, dùng pháo bắn chặn, sau đó được không quân chi viện đánh phá ác liệt. Mạc dù bị một số thương vong, các tàu của 4a vẫn bám sát mục tiêu, phóng ngư lôi, dùng vũ khí bắn thẳng bắn vào boong tàu địch, đồng thời đánh trả máy bay. Kết quả bắn rơi tại chỗ một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, buộc tàu Mađốc rút chạy. Trận đánh đầu tiên của Hải quân nhân dân VN với hải quân hiện đại Mĩ, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân VN trong KCCM (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67753738_461943984535487_687946743119085568_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHMpplHA48P6_EPV0n1OBSzMwk7_boKFu-jBgRBrOV8q3MglTvoEA3UvTEVT5X2p7pcLvuveJeRiZLEufILO1RcQ0BD_zc6ac-9zN9D01uTVw&_nc_oc=AQl3s_eKez4ch1sNI482UIfrtFblisKCH0pigXZ0ksMAHzTHlB-zcvHhhWzVQo7ugWc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=a95ee914ff4fcafeab60bbfd14a27ed1&oe=5DD54ED6) TRẬN ĐẢO CÔN LÔN (1703), trận tập kích của quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong do Trương Phúc Phan (trấn thủ vùng Trấn Biên) chỉ huy vào đảo Côn Lôn (nay là h. Côn Đảo, t. Bà Rịa - Vũng Tàu) bị Anh chiếm đóng. 1702 lợi dụng việc giao thương, buôn bán, công ti Đông Ấn của Anh đánh chiếm đảo Côn Lôn, xây dựng pháo đài và tuyển mộ 200 lính người Mã Lai đóng giữ, nhằm tạo bàn đạp xâm nhập vào VN và khu vực Đông Nam Á. Trước tình hình đó, 1703 chúa Nguyễn cử Trương Phúc Phan đem quân chiếm lại. Bằng cách sử dụng 15 người Mã Lai giả làm người giúp việc, trá hàng, đồng thời bí mật vận động một số binh lính địch làm nội ứng, phối hợp với nhân dân địa phương đang đêm nổi dậy, kết hợp trong ngoài cùng đánh, diệt phần lớn quân địch. Trận đánh thắng lợi, giành lại chủ quyền đảo Côn Lôn cho đất nước, góp phần làm thất bại âm mưu bành trướng của thực dân Anh. TRẬN ĐẮC HÀ (30.8-2.9.1961), trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn bộ binh 90, Đội đặc công 406, Phân đội học viên Trường quân chính Quân khu 5 và LLVT địa phương tại khu vực quận lị Đắc Hà (Tumơrông, nay là thị trán Đắc Hà. h. Đắc Hà, t. Kon Tum) trên đường 14B do QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 30.8 ta tập kích vào Đắc Hà. diệt gọn đại đội bảo an, làm chủ quận lị. 2.9 địch đưa 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 22 từ Đắc Tô đến giải tỏa, bị ta phục kích đánh thiệt hại nặng, bắt gần 100 quân, thu nhiều súng đạn. Chiến thắng Đắc Hà hỗ trợ nhân dân 28 ấp dọc đường liên tỉnh 5 (từ Đắc Hà qua Măng Bút, Măng Đen đến Giá Vụt) nổi dậy phá tan hàng chục ấp chiến lược và khu dinh điền của địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. TĐH là tiền đề cho sự ra đời loại hình chiến dịch tổng hợp. TRẬN ĐẮC PÉT (15.5.1974), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 10) được tăng cường xe tăng, pháo binh đánh căn cứ Đắc Pét (nay là thị trấn Đắc Giây, h. Đắc Giây, t. Kon Tum). Căn cứ Đắc Pét nằm sâu trong vùng giải phóng của ta, án ngữ đường 14, do Tiểu đoàn biệt động quân biên phòng 88 QĐ Sài Gòn đóng giữ. 8 giờ ngày 15.5 ta sử dụng 4 cụm pháo (14 khẩu) bắn ngắm trực tiếp phá hủy các mục tiêu, hỗ trợ tạo cửa mở; 11 giờ 15 phút bộ binh và xe tăng đột phá tiến công, sau 25 phút chiến đấu làm chủ căn cứ, diệt và bắt hơn 400 địch, thu hơn 600 súng các loại. Cùng thời gian, trên hướng phối hợp Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324) tiến công giải phóng quận lị Đắc Pét. Trận đánh thắng lợi tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng hoàn toàn khu vực Đắc Pét, nối liền vùng giải phóng từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc, mở thông hành lang chiến lược Đông Trường Sơn vào Nam Bộ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:50:18 am TRẬN ĐẮC PƠ (24.6.1954), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 96 bộ đội chủ lực Liên khu 5, diệt Binh đoàn cơ động 100 (GM100), Tiểu đoàn khinh quân 520 và 1 tiểu đoàn pháo binh của Pháp đang rút từ An Khê về phòng thủ Plây Cu, tại khu vực cầu Đắc Pơ (tây An Khê 15km, nay thuộc xã Hà Tam, h. An Khê, t. Gia Lai). 23.6 phát hiện quân Pháp rút chạy, Trung đoàn 96 đang chuẩn bị tiến công một cứ điểm trên đường 19, nhanh chóng chuyển hướng vận động đến khu vực cầu Đắc Pơ bố trí trận địa phục kích trên đoạn đường dài hơn 3km. 24.6 khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu vực quyết chiến, bộ đội ta bất ngờ dùng hỏa lực cối và súng phóng bom sát thương, rồi cùng lúc đánh chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đội hình, đánh phản kích, kết hợp gọi hàng, sau hơn 1 giờ chiến đấu ta diệt và bắt gần 2.000 địch, trong đó có đại tá chỉ huy cùng toàn bộ Ban tham mưu Binh đoàn 100, thu và phá hủy hơn 200 xe QS (có 1 xe tăng), 20 đại bác và hàng nghìn súng các loại. Chiến thắng Đắc Pơ tạo điều kiện cho ta làm chủ đường 19, giải phóng An Khê và phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây tx Plây Cu, góp phần đập tan âm mưu co cụm của quân Pháp ở Tây Nguyên sau thất bại ở Điện Biên Phủ, đẩy Pháp ngày càng lún sâu vào thế lúng túng, bị động. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67704861_461943991202153_4157404437016477696_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeH_eq5ZuHxKzDcBbUSSNFFXM4HgNf9owpow2kIkuhNYTwrOihRyb1wbdcctQll1xVC8J__ruL6u6mAvOXCRUVVxJDYuRMiKX-Tw7kE2hHlGyA&_nc_oc=AQkPEz09bPgTB9-IN4GJChQI07VT0tMrFRdU8WImS9-RdL9IAoeH-3_SCpKZnfpB_fc&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a5365e6beac04e0e465de19afb9abcd1&oe=5DEB7225) TRẬN ĐẮC SÚT (18.8.1965), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 2 (Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 2 pháo 75mm, 1 trung đội bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum đánh chi khu quận lị Đắc Sút trên trục đường 14 (nay thuộc xã Đắc Roong, h. Đắc Giây, t. Kon Tum), do 3 đại đội bảo an (101, 104 và 749), 2 đại đội biệt kích, 5 trung đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105mm QĐ Sài Gòn đóng giữ (có 13 cố vấn Mĩ chỉ huy). 18 giờ 34 phút ta đồng loạt nổ súng đánh chiếm các cứ điểm Bl, B2 (hướng chủ yếu) và B3, đến 20 giờ 13 phút chia thành nhiều mũi đột phá trung tâm. Sau gần 3 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa và tiến hành truy quét dịch rút chạy, diệt và bắt hơn 300 địch (có 5 cố vấn Mĩ), bắn rơi 7 máy bay, phá hủy 20 xe QS, thu 185 súng các loại... Trận đánh góp phần phá vỡ hệ thống kìm kẹp và âm mưu bình định của địch ở khu vực đường 14, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh tại địa phương phát triển. TRẬN ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH (24.4.1972), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 2 (trung đoàn 1 và 141), được tăng cường Trung đoàn bộ binh 66, Tiểu đoàn đặc công 37, cùng 1 đại đội xe tăng và một bộ phận pháo binh, pháo phòng không cùng LLVT địa phương đánh cụm phòng ngự của QĐ Sài Gòn ở Đắc Tô - Tân Cành (bắc - tây bắc tx Kon Tum 37km), trong chiến dịch bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Lực lượng địch gồm: SCH tiền phương Sư đoàn 22 và 2 trung đoàn bộ binh (42 và 47), một số tiểu đoàn độc lập, Thiết đoàn 14 và 2 tiểu đoàn pháo binh, 6 đại đội bảo an... 4 giờ 30 phút tại Tân Cảnh, sau khi pháo bắn chuẩn bị hỗ trợ tạo cửa mở, bộ binh và xe tăng phối hợp tiến công, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm SCH Sư đoàn 22 và Trung đoàn 42. khu cố vấn Mĩ..., đến 11 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ quân địch (bắn chết đại tá sư đoàn trưởng, bắt đại tá sư đoàn phó Sư đoàn 22). Trên hướng Đắc Tô, 8 giờ ta nổ súng tiến công căn cứ Đắc Tô 2 (tây Tân Cảnh 4km) do Trung đoàn 47 đóng giữ, đến 10 giờ làm chủ căn cứ, truy kích, đón lõng diệt và bắt phần lớn quân địch; sau đó tiến công giải phóng quận lị Đắc Tô. Kết quả đánh quỵ Sư đoàn 22, loại khỏi chiến đấu gần 2.000 địch, bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng và xe bọc thép, 8 khẩu pháo, gần 100 xe QS...; góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đợt 1 chiến dịch, đập tan cụm phòng ngự then chốt và vững chắc nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch, buộc địch phải tăng thêm lực lượng bảo vệ tx Kon Tum. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67657604_461944011202151_7993152859065548800_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHjPwF3F8q6Tw2WEh1ExfyHqU3hVoaKPI8D07Oaudt0Yp_FO-pCtvnYjznP4d2gXApljW-9jbmUi0mSqAEU6z8TNIbvzoCBhBY7rK5_12uVEQ&_nc_oc=AQl3_xFME7WbL-hSs4zCYsLgp0W6wD2XGziB4hidgnw9zcXkYR_5tMFYwe3aGTFEhl0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=2616c7adbb8ddc7da9a1f66493af99a8&oe=5DD5EB0A) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:51:38 am TRẬN ĐẨM DƠI (10.9.1963), trận tập kích của Tiểu đoàn U Minh (bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau) được phối thuộc 1 trung đội đặc công, 1 đại đội ĐKZ 75mm đánh chi khu QS Đầm Dơi (nay là thị trấn Đầm Dơi. h. Đầm Dơi, t. Cà Mau), do QĐ Sài Gòn đóng giữ. 4 giờ 10 phút ta nổ súng tiến công, sau 2 giờ chiến đấu làm chủ chi khu quận lị, diệt và bắt 158 địch, thu 86 súng các loại; tiếp đó chặn đánh 1 tiểu đoàn địch đến ứng cứu, loại khỏi chiến đấu gần 200 quân, bắn rơi 3 máy bay. Cùng với trận Cái Nước (10.9.1963), TDD góp phần hỗ trợ nhân dân vùng nam Cà Mau nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. TRẬN ĐẨM RÒN (5.12.1962), trận tập kích của Đại đội đặc công 121 phối hợp với 4 đại đội bộ binh và một bộ phận hỏa lực của Quân khu 6, đánh căn cứ hành quân Đầm Ròn (Tuyên Đức, nay thuộc h. Lạc Dương, t. Lâm Đồng), nhằm tiêu diệt SCH tiền phương Sư đoàn bộ binh 23 QĐ Sài Gòn. Đêm 4 rạng 5.12, ta bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng đánh thiệt hại nặng SCH Sư đoàn 23, phá hủy 2 pháo 105mm, loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch. TĐR là trận thắng lớn nhất của Quân khu 6 trong năm 1962, hỗ trợ nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược và diệt chi khu Đơn Dương (Tuyên Đức). TRẬN ĐẬP ĐÁ (5-7.6.1972), trận tiến công của 3 tiểu đoàn bộ binh (8, 50 và 52), một số đơn vị hỏa lực, công binh, đặc công thuộc LLVT tỉnh Bình Định phối hợp với 2 đại đội địa phương huyện An Nhơn, đánh chiếm thị trấn Đập Đá (h. An Nhơn, t. Bình Định) do 2 tiểu đoàn bảo an (201 và 209), Liên đội bảo an 49, Đại đội bảo an 211, cùng 2 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát dã chiến QĐ Sài Gòn đóng giữ. 5 giờ ngày 5.6 ta nổ súng tiến công và vây lấn địch ở các chốt Ngãi Chánh, cầu Đập Đá. 10 giờ ngày 6.6 địch đưa Đại đội bảo an 211 đến giải tỏa, ta phục kích diệt gọn và chiếm chốt Ngãi Chánh; 15 giờ địch tiếp tục đưa Tiểu đoàn bảo an 201 đến ứng cứu cũng bị ta đẩy lùi. 5 giờ ngày 7.6 ta tập trung lực lượng bao vây, tiến công và truy kích tiêu diệt địch, đến 17 giờ 30 phút làm chủ thị trấn Đập Đá. Kết quả diệt và bắt 565 địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 2 xe QS, thu 1.600 súng các loại cùng nhiều phương tiện QS. TDD mở ra khả năng đánh tập trung quy mô lớn của LLVT tỉnh Bình Định, hỗ trợ tích cực cho phong trào nổi dậy của nhân dân địa phương đấu tranh chống âm mưu bình định của địch. TRẬN ĐẤT CUỐC 8.11.1965, trân vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 1 Sư đoàn 9) chặn đánh quân Mĩ thuộc Lữ đoàn không vận 173 hành quân càn quét tại khu vực Đất Cuốc (bắc tx Biên Hòa 30km, nay là xã Tân Mĩ, h. Tân Uyên, t. Bình Dương). Sau một ngày chiến đấu, với lối đánh gần, chia cắt, ta đẩy lui 13 đợt phản kích của địch, loại khỏi chiến đấu 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác, thu nhiều vũ khí và trang bị. Trận đầu diệt 1 tiểu đoàn quân Mĩ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ động viên tinh thần quyết tâm đánh Mĩ của quân và dân cả nước. TRẬN ĐẤT CUỐC 24.11.1967, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu 1 đại đội) thuộc Trung đoàn Đồng Nai, QGP miền Đông Nam Bộ đánh Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 18) QĐ Sài Gòn ở Đất Cuốc (h. Tân Uyên, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). Chiều 23.11 sau 1 ngày hành quân, càn quét, tiểu đoàn địch trú quân dã ngoại gần cầu Tân Lợi. Được du kích dẫn đường, ta bí mật vận động tiếp cận, áp sát địch; 6 giờ 10 phút ngày 24 chia năm mũi đồng loạt tiến công, sau 35 phút chiến đấu, diệt và bắt hơn 300 địch, thu 29 súng. Nhờ nắm chắc địch, làm tốt công tác tổ chức, chỉ huy nên tuy thời gian chuẩn bị gấp, trận đánh vẫn giành thắng lợi nhanh, gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao. TRẬN ĐẦU, trận chiến đấu đầu tiên của chiến dịch (đợt tác chiến tập trung) hoặc của đơn vị. TĐ có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của chiến dịch, giành quyền chủ động, thắng TĐ có tác dụng động, viên khí thế phấn khởi, tin tường cho các lực lượng chiến dịch, tạo điều kiện cho các trận chiến đấu tiếp theo giành thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Yêu cầu TĐ: chủ động tiến công địch, tạo được bất ngờ; bảo đảm chắc thắng (đặc biệt TĐ là trận then chốt); tạo được tình huống và thời cơ thuận lợi để phát triển tiến công (phản công). Để đánh thắng TĐ cần chọn đúng đối tượng, mục tiêu; đúng thời cơ; tập trung lực lượng đủ sức; chọn cách đánh thích hợp; chỉ huy kiên quyết, linh hoạt. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:52:33 am TRẬN ĐẦU MẦU (31.3.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) vào căn cứ Đầu Mầu - một vị trí lợi hại án ngữ trên đường 9, mở cửa phía tây tx Đông Hà (t. Quảng Trị), do Tiểu đoàn bộ binh 3 (thiếu một đại đội) thuộc Trung đoàn 56 QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Ta triển khai bao vây, chốt chặn đường rút (ngã ba đường 9 và đường rẽ vào điểm cao 241) và khống chế các trận địa pháo của địch, 10 giờ 30 phút nổ súng tiến công; sau 2 giờ chiến đấu làm chủ căn cứ, diệt gọn Tiểu đoàn bộ binh 3 (diệt và bắt 128 địch, thu 35 súng). TĐM thắng lợi tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công, bao vây căn cứ địch ở điểm cao 241, Núi Kiếm. TRẬN ĐÈO MAĐRẮC (29.3-1.4.1975), trận vận động tiến công của Sư đoàn bộ binh 10 (Quân đoàn 3) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 25, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn pháo phòng không 234 và 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu) diệt Lữ đoàn dù 3 (thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược) QĐ Sài Gòn, nhằm mở đường xuống duyên hải miền Trung trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lữ đoàn dù 3 của địch được tăng cường 1 tiểu đoàn biệt động quân, có Sư đoàn không quân 6 chi viện, đã chốt đèo Mađrắc (Phượng Hoàng, vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Đắc Lắc và Khánh Hòa) trên đường 21, áp dụng chiến thuật “mạng nhện”, phân tán từng đại đội, chốt, dùng hỏa lực không quân và pháo binh chi viện tối đa kết hợp với phản kích nhằm ngăn chặn các mũi truy kích của QGP. Sáng 29.3 trận đánh bắt đầu. Ta tập trung các loại hỏa lực diệt pháo binh địch, kết hợp bắn máy bay, làm mất chỗ dựa của quân dù, đồng thời liên tục tiến công chia cắt vây diệt từng đại đội và các cụm chốt của địch, mở đường cho bộ binh, xe tăng đột phá mục tiêu chính. Bằng cách đánh hiệp đồng binh chủng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, đến chiều 30.3 ta đã loại khỏi chiến đấu 2 tiểu đoàn dù và một phần ba lực lượng pháo binh, xe tăng của địch, hình thành thế bao vây, tiêu diệt. Sáng 31.3 địch tập trung các trận địa pháo ở Lam Sơn, Dục Mĩ cùng với không quân đánh phá ác liệt vào trận địa chốt của Trung đoàn 24 ở phía đông đèo, đồng thời đưa 1 tiểu đoàn biệt động quân và 1 chi đội xe bọc thép đến ứng cứu hòng mở đường'rút chạy nhưng đều thất bại. Sáng 1.4 Trung đoàn 24 chuyển từ chốt chặn sang tiến công diệt gọn SCH lữ đoàn dịch. Kết quả loại khỏi chiến đấu Lữ đoàn dù 3 (diệt và bắt khoảng 3.800 địch), thu 24 khẩu pháo 105 và 155mm, 84 xe QS cùng toàn bộ vũ khí, trang bị. Thắng lợi của TĐM mở đường cho Sư đoàn 10 phát triển tiến công giải phóng tx Ninh Hòa và tp Nha Trang. TRẬN ĐÈO NHÔNG (7-8.2.1965), trận đánh điểm diệt viện của Trung đoàn bộ binh 2 (Quân khu 5) chặn đánh QĐ Sài Gòn tại khu vực Dương Liễu - Đèo Nhông (h. Phù Mĩ, t. Bình Định). Rạng sáng 7.2 ta tập kích cứ điểm Dương Liễu diệt 1 đại đội báo an và 4 trung đội dân vệ của địch, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện ở khu vực Đèo Nhông trên QL 1 (đoạn núi Chóp Vung - Núi Nùng, dài 5km). Sáng 8.2 địch điều 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn xe thiết giáp thuộc Sư đoàn 22 từ Phù Mĩ theo QL 1 tiến ra Dương Liễu theo đội hình sâu đo, dùng 2 đại đội bộ binh đi trước lùng sục và chiếm các điểm cao khống chế ở hai bên đường. Ta bí mật đưa lực lượng ém nơi bộ phận lùng sục của địch vừa đi qua, chờ đánh lực lượng chính ở phía sau. 13 giờ 30 phút khi đội hình địch lọt vào trận địa phục kích, ta đồng loạt nổ súng, tập trung hỏa lực diệt xe M113 kết hợp các mũi bộ binh bao vây chia cắt, đánh gần tiêu diệt các cụm quân địch ngoan cố chống cự. Kết quả sau 2 giờ loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, phá hủy 10 xe M113. Trận đánh thể hiện sự trưởng thành về trình độ đánh tập trung, tiêu diệt gọn của bộ đội chủ lực Quân khu 5 trong KCCM. TRẬN ĐÈO PHÚ GIA (3.7.1967), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Quân khu Trị - Thiên) ở đèo Phú Gia trên QL 1, đoạn cẩu Thổ Sơn - ấp Luân Lí (h. Phú Lộc, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế) nhằm cắt tuyến vận chuyển đường bộ Huế - Đà Nẵng của QĐ Sài Gòn, phối hợp với lực lượng chủ yếu tiến công ở đường 9. Ta tổ chức lực lượng thành ba bộ phận, tối 1.7 bí mật chiếm lĩnh vị trí, làm công sự trận địa cách đường 400-500m. 1 giờ 55 phút ngày 3.7, đoàn xe vận tải QS thuộc lực lượng Vùng chiến thuật 1 của địch từ Đà Nẵng ra Huế lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và nhanh chóng vận động đánh chính diện; sau 3 giờ loại khỏi chiến đấu 371 địch (bắt 20), phá hủy 70 xe, 2 pháo 105mm. Trận đánh cắt giao thông đạt hiệu suất cao ở mặt trận nam Huế 1967, góp phần kìm giữ bộ phận quân địch ở Trị - Thiên, hỗ trợ cho các nơi khác tiến công thuận lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:54:17 am TRẬN ĐỊA. khu vực địa hình (mặt nước) mà các đơn vị LLVT đang hoặc sẽ chiếm lĩnh để tiến hành tác chiến. TĐ thường được thiết bị công trình. Lục quân thường có: TĐ chờ, TĐ xuất phát tiến công, TĐ phòng ngự, TĐ hỏa lực pháo binh... Quân chủng phòng không - không quân, có: TĐ tên lửa phòng không, TĐ pháo phòng không, TĐ rađa phòng không. Hải quân có: TĐ bắn, TĐ chống ngầm... Ngoài ra còn có TĐ giả. ở VN, TĐ được xây dựng kết hợp với làng (bản) chiến đấu. TRẬN ĐỊA BẮN của xe tăng, trận địa do xe (phân đội) tăng chiếm lĩnh để bắn. Có TĐB: chính, lâm thời, dự bị và giả. TĐB chính để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực chủ yếu trong một giai đoạn chiến đấu nhất định. TĐB dự bị được chuẩn bị sẵn để chiếm lĩnh và bắn khi bắt buộc phải rời khỏi TĐB chính. TĐB lâm thời thường được chuẩn bị trong phòng ngự để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực riêng lẻ, chi viện cho bộ binh, giữ bí mật cho TĐB chính, TĐB giả để đánh lừa dịch. TRẬN ĐỊA BẤN pháo binh, trận địa do một phân đội hỏa lực pháo binh chiếm lĩnh hoặc đã chuẩn bị chiếm lĩnh. TĐB có các vị trí đạt bắn của pháo (cối, xe chiến đấu phản lực, bệ phóng tên lửa chống tăng), chỉ huy, phương tiện xe, đạn, phòng vệ... TĐB thường có công sự, hầm hố, phương tiện ngụy trang cho người và vũ khí, trang bị; vật cản... Theo công dụng, có: TĐB cơ bản (để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực chủ yếu), TĐB dự bị (để khi cần. cơ động đến hoặc khi bắt buộc phải rời khỏi TĐB chính); trận địa lâm thời để thực hiện các nhiệm vụ bắn trước khi bắn ở TĐB chính (thường trong chiến đấu phòng ngự), TĐB nghi binh. Theo mức độ che khuất đối với các đài quan sát mật đất của địch, có: TĐB che khuất (ẩn) (giấu được vũ khí, ánh lửa, khói, bụi khi bắn), TĐB nửa che khuất (chỉ che giấu được vũ khí), TĐB không che khuất (lộ) (không che giấu được vũ khí, khói, bụi và ánh lửa khi bắn). TRẬN ĐỊA CẢNH GIỚI CHIẾN ĐẤU trong phòng ngự. trận địa xây dựng trước tiền duyên trên các hướng địch có thể tiến công khi không có trận địa chiến đấu phía trước. TĐCGCĐ thường cấu trúc theo kiểu điểm tựa hình tròn. Lực lượng ở TĐCGCĐ thường từ một tiểu đội đến một trung đội do đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) trên hướng bị uy hiếp phái ra hoặc LLVT địa phương đảm nhiệm. TRẬN ĐỊA CHÉO, thành phần của hệ thống trận địa phòng ngự được xây dựng nhằm ngăn chặn quân địch tiến công phát triển sang bén sườn. Trong TĐC có thể xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa, hào chiến đấu, hào giao thông, bố trí vật cản... Số lượng TĐC trong khu vực, dải phòng ngự và mức độ cấu trúc công trình phụ thuộc vào ý định tác chiến. TĐC còn được dùng làm tuyến triển khai cho lực lượng cơ động tiến công (thể đội 2, lực lượng dự bị) tiến hành phản kích (phản đột kích); làm tuyến hỏa lực cho xe tăng, xe thiết giáp. TĐC cổ thể dùng để tạo thành túi hỏa lực. TRẬN ĐỊA CHIẾN ĐẤU PHÍA TRƯỚC, trận địa được xây dựng trước tiền duyên phòng ngự; nhằm sớm phát hiện địch, giữ bí mật hình thái tiền duyên và bố trí trận địa phòng ngự của ta; tiêu hao, tiêu diệt, từng bước, buộc địch phải sớm triển khai đội hình chiến đấu, không cho địch bất ngờ tiến công vào trận địa phòng ngự cơ bản của ta. Để tổ chức TĐCĐPT các lực lượng phòng ngự phái ra các phân đội bộ binh (bộ binh cơ giới) phối hợp với LLVT địa phương xây dựng những điểm tựa trung đội, đại đội kết hợp hỏa lực với vật cản chốt chặn trên hướng địch có khả năng tiến công. TRẬN ĐỊA DÃ CHIẾN. trận địa có cấu trúc bằng công sự dã chiến là chủ yếu để tiến hành tổ chức phòng ngự gấp. TĐDC có đặc điểm: công sự không kiên cố, bố trí vật cản chưa hoàn chỉnh. Khi cấu trúc TĐDC phải lợi dụng, cải tạo địa hình và dùng cấu kiện chế sẵn có trọng điểm, có kế hoạch củng cố và hoàn thiện liên tục trong quá trình chiến đấu. TRẬN ĐỊA DỰ BỊ, trận địa được chuẩn bị trước để cơ động lực lượng từ trận địa cơ bản hoặc trận địa chính về chiếm lĩnh. TRẬN ĐỊA ĐẦU CẦU, 1) gọi chung các cứ điểm dùng để xâm nhập vào đối phương; 2) lô cốt, điểm chốt được cấu trúc để khống chế cầu và bến vượt: 3) trận địa chiếm lĩnh ở bến vượt, đầu cầu bên bờ phía đối phương hoặc phụ cận, dùng để ngăn cản địch tới gần, chiếm lại cầu, bến vượt hoặc để yếm hộ cho bộ đội vượt sông. TRẬN ĐỊA GIẢ, trận địa được xây dựng để nghi binh, đánh lừa đối phương, có hình dáng bên ngoài giống như thật. Được cấu trúc công trình giả và thật, có thể có vũ khí, mô hình, phương tiện KTQS và một số phân đội hoạt động nghi binh. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:55:42 am TRẬN ĐỊA HỎA LỰC, trận địa bố trí khẩu đội, phân đội hỏa lực và phân đội xe tăng, xe chiến đấu để bắn; một thành phần của hệ thống trận địa. Theo tính chất hỏa lực, có: TĐHL bộ binh (bộ binh cơ giới), TĐHL pháo binh, TĐHL phòng không. TĐHL hải quân. Theo nhiệm vụ, có: TĐHL cơ bản (dùng để hoàn thành nhiệm vụ bắn chủ yếu trong một thời gian dài), TĐHL lâm thời và TĐHL dự bị; theo vị trí trận địa và mức độ quan sát, có: TĐHL che khuất, TĐHL nửa che khuất. TĐHL không che khuất (ngắm bắn trực tiếp). TRẬN ĐỊA KIÊN CỐ, trận địa phòng ngự có cấu trúc chủ yếu bằng hệ thống công sự lâu bền, có chiều sâu, có chướng ngại vật ở những nơi trọng yếu, bộ đội có thể thực hành phòng ngự lâu dài. TĐKC có đặc điểm: công sự kiên cố, sức chống đỡ cao, thiết bị hoàn chỉnh, cấu trúc từ thời bình hoặc trước khi bước vào chiến tranh. TĐKC có thể kết hợp cấu trúc công sự dã chiến, nhưng nòng cốt vẫn lấy cấu trúc công sự lâu bền. TRẬN ĐỊA PHÒNG NGỰ, trận địa do lực lượng phòng ngự chiếm lĩnh làm chỗ dựa đánh trả quân địch tiến công. TĐPN của phân đội thường là các điểm tựa, cụm điểm tựa; của binh đội, binh đoàn là khu vực phòng ngự. TĐPN thường gồm: trận địa của lực lượng tác chiến vòng ngoài (hoặc trận địa cảnh giới chiến đấu), trận địa của lực lượng phòng ngự, khu vực bố trí và trận địa của lực lượng cơ động tiến công (lực lượng dự bị), trận địa hỏa lực pháo binh, trận địa pháo (tên lửa) phòng không, trận địa trung gian, trận địa chéo, trận địa dự bị, trận địa giả... TRẬN ĐỊA TÀU NGẦM, khu vực biển có giới hạn xác định mà tàu ngầm phải chiếm lĩnh và hoạt động khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Có trận địa tuần tiễu chiến đấu, trận địa trinh sát, trận địa phục kích, trận địa chờ... Cg khu vực hoạt động của tàu ngầm. TRẬN ĐỊA TRUNG GIAN, trận địa được xây dựng giữa các khu vực (dải) phòng ngự dành cho các đơn vị phòng ngự phía trước lui về hoặc từ chiều sâu tiến lên hay từ các hướng không bị tiến công đến, chiếm lĩnh để ngăn chặn địch phát triển tiến công. TĐTG có thể dùng làm tuyến triển khai của lực lượng cơ động tiến công (thể đội 2, lực lượng dự bị) để đánh địch đột nhập. Trong QĐ một số nước, TĐTG còn được dùng để tác chiến trì hoãn trong phòng ngự và được xây dựng giữa dải phòng ngự cơ bản và dải phòng ngự 2. TRẬN ĐỊA XUẤT PHÁT TIẾN CÔNG, trận địa mà các phân đội, binh đội, binh đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng, tàu hải quân chiếm lĩnh để tiến công. TĐXPTC thường được chọn ở địa hình có lợi, tiện quan sát, bố trí và phát huy binh lực, hỏa lực, bất ngờ mở đầu tiến công. Được cấu trúc công trình và ngụy trang chu đáo. TRẬN ĐIỂM CAO 25 (27-28.6.1974), trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 9) chặn đánh QĐ Sài Gòn lấn chiếm tại khu vực điểm cao 25 (h. Bến Cát, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). Với mục đích giành lại các vị trí đã mất trên tuyến đường 7 ngang (Bến Cát - Rạch Báp), củng cố tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn, từ 27.6 địch huy động lực lượng lớn bộ binh và xe tăng, thiết giáp thuộc Quân đoàn 3 đánh vào khu vực phòng ngự của Tiểu đoàn 3 ở điếm cao 25. Dựa vào trận địa được xây dựng vững chắc, liên hoàn, tiểu đoàn tổ chức chặn đánh trước tiền duyên, tập trung hỏa lực diệt xe tăng, kết hợp phản kích đánh địch đột nhập, giữ vững trận địa, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Kết quả diệt 340 địch, bắn cháy 22 xe tăng, góp phần kìm giữ lực lượng địch, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiến công hướng đường 14, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. TRẬN ĐIỂM CAO 37 (19.4.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 102, Sư đoàn 308) đánh 2 đại đội thuộc Liên đoàn biệt động quân 5 QĐ Sài Gòn phòng ngự di động tại khu vực điểm cao 37 (ven tx Đông Hà, t. Quảng Trị), trong chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Sáng 19.4 ta triển khai lực lượng bí mật chiếm lĩnh trận địa, 16 giờ 45 phút tập trung hỏa lực pháo cối, ĐKZ, B-40, B-41 bắn đồng loạt vào đội hình địch đang thu quân di chuyển, tiêu diệt các xe bọc thép địch vừa ra khỏi công sự; tiếp đó các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Sau gần một giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt gọn 2 đại đội địch, bắn cháy 7 xe bọc thép M113,... làm thất bại chiến thuật “phòng ngự di động” của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công đánh chiếm căn cứ Đông Hà và giải phóng tỉnh Quảng Trị. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:57:01 am TRẬN ĐIỂM CAO 62 (4-5.3.1966), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 21 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) đánh Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 1 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 1) của Mĩ tại điểm cao 62 (xã Sơn Châu, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi) trong đợt 2 chiến dịch Tây Sơn Tịnh (20.2-20.4.1966). Sáng 4.3 địch dùng máy bay trục thãng đổ quân chiếm điểm cao 62 nhằm thực hiện kế hoạch tìm diệt bộ đội chủ lực ta. Trung đoàn sử dụng 2 tiểu đoàn (22 và 33) nhanh chóng vận động tiếp cận, triển khai tiến công trên hai hướng {bắc, đông nam), 10 giờ bắt đầu nổ súng. Do tổ chức hiệp đồng giữa các mũi thiếu chặt chẽ, bị pháo binh địch ngăn chặn quyết liệt nên trận đánh kéo dài. Đêm 4.3 ta đưa thêm Tiểu đoàn 11 vào chiến đấu và tăng cường hỏa lực chi viện, tiếp tục tiến công, đến 5 giờ ngày 5.3 làm chủ trận địa, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn địch. Một trong những trận then chốt, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, làm thất bại kế hoạch hành quân tìm diệt của địch. TRẬN ĐIỂM CAO 252 (30.3.1972), trận tiến công của Đại đội bộ binh 6 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) đánh 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 56) QĐ Sài Gòn chốt giữ điểm cao 252, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Đúng 8 giò ta nổ súng tiến công từ hai hướng. Địch dùng hỏa lực cối, đại liên chống trả quyết liệt, giành giật với ta từng vị trí, sau đó rút lên đỉnh điểm cao cố thủ. 15 giờ 30 phút ta tăng cường hỏa lực, tiếp tục tiến công, phối hợp chặt chẽ giữa hỏa lực với xung lực, đến 16 giờ 30 phút làm chủ trận địa, diệt và bắt 53 địch. Thắng lợi của trận đánh góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở tây Quảng Tn, mở đầu thuận lợi cho chiến dịch phát triển. TRẬN ĐIỂM CAO 311 (3-21.3.1971), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 102, Sư đoàn 308) được tăng cường 1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm và 1 trung đội ĐKZ 75mm, đánh Lữ đoàn dù 2 QĐ Sài Gòn cơ động trên đường 9, tại khu vực điểm cao 311 (bản Po Ho, h. Sê Pôn, t. Xavannakhẹt, Lào), trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.197ì). Đêm 3 rạng 4.3, ta triển khai trận địa chốt, bất ngờ nổ súng đánh bộ phận địch trú quân ở chân điểm cao, diệt 9 xe; 14 giờ ngày 5.3 ta phục kích diệt gọn đoàn xe (30 chiếc) chở đạn cùng 1 đại đội hộ tống của địch trên đường 9. Địch phát hiện trận địa chốt, tập trung lực lượng có xe tăng, máy hay, pháo binh yểm trợ, tiến hành gần 30 đợt tiến công đánh phá trong các ngày 6-13.3, nhưng đều bị đẩy lùi. Từ 15 đến 21.3, ta củng cố trận địa, bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch, tiếp tục giữ vững chốt, đồng thời đưa lực lượng cơ động xuống phía nam phối hợp đánh địch rút chạy trên đường 9. Kết quả diệt và bắt gần 600 địch, bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 52 xe QS (có nhiều xe tăng và xe bọc thép), 2 pháo 105mm, góp phần chia cắt, khống chế hoạt động của địch trên đường 9, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Trận địa chốt ở điểm cao 311 được mang tên “Chốt thép anh hùng”. TRẬN ĐIỂM CAO 351 (8.2-21.3.1971), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 304) tại khu vực điểm cao 351- cầu Ca Ki (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị) nhằm ngăn chặn hoạt động của QĐ Sài Gòn trên đường 9 tới Bản Đông trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Tiểu đoàn (được tăng cường 2 súng máy phòng không 12,7mm và 1 súng ĐKZ 82mm) sử dụng 1 đại đội làm nhiệm vụ chốt giữ các điểm cao (351, 402 và 489), 2 đại đội làm nhiệm vụ cơ động đánh địch trên đường 9 và sẵn sàng hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ chốt. Trong 43 ngày đêm, địch dùng 2 tiểu đoàn dù cùng nhiều xe tăng, xe bọc thép M113, có máy bay, pháo binh yểm trợ. mờ 32 đợt tiến công vào trận địa. Ta kiên cường bám trụ, tổ chức phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng, vừa chốt chặn, phản kích, vừa cơ động đánh địch đổ bộ đường không, tập kích và truy kích tiêu diệt dịch, giữ vững trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 900 địch, bắn rơi 24 máy bay, phá hủy 21 xe QS và 1 pháo 105mm. thu 27 súng các loại và nhiều phương tiện QS, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi đồng thời đúc kết được kinh nghiệm chốt chặn trong chiến dịch phản công trên địa bàn rừng núi. TRẬN ĐIỂM CAO 400 (7.4.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn 24. Sư đoàn 304) vào điểm cao 400 (Làng Bù, h. Hướng Hóa, t. Quáng Trị) do 2 tiểu đoàn dù (3, 8) thuộc Chiến đoàn 3 QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong đợt 3 chiến dịch Dường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Ta hình thành bốn mũi bí mật luồn sâu, áp sát, 2 giờ đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ: mũi 1 (mũi chủ yếu) từ đỉnh núi đánh thẳng xuống khu nhà ở, phối hợp với mũi 2 đánh vào trung tâm phòng ngự của địch, mũi 3 đánh bên phải và mũi 4 đánh sườn trái, làm đội hình địch rối loạn, không kịp đối phó, đến 3 giờ ta làm chủ trận địa và truy kích số địch sống sót bỏ chạy. Trận đánh đạt hiệu quả cao (loại khỏi chiến đấu gần 300 địch), tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển, đúc kết kinh nghiệm về cách đánh địch đổ bộ đường không chốt giữ điểm cao trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:58:02 am TRẬN ĐIỂM CAO 477 (7.10.1950), trận vận động tiến công của 3 tiểu đoàn bộ binh (23, 18 và 29) thuộc Đại đoàn 308 và Tiểu đoàn bộ binh 84 (Trung đoàn 209), diệt Binh đoàn Sactông của Pháp đang rút chạy tại khu vực điếm cao 477 (tây nam Đông Khê 8km, nay thuộc h. Thạch An, t. Cao Bằng), trong đợt 2 chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Bị đánh thiệt hại nặng trên đường rút khỏi Cao Bằng, nhất là ở điểm cao 590, tối 6.10 Binh đoàn Sactông còn khoảng 2 tiểu đoàn về tới vùng Lán Hai và điểm cao 477, hi vọng hội quân với Binh đoàn Lơ Pagiơ và chờ lực lượng ứng cứu từ Thất Khê lên, nhưng chưa kịp thực hiện, đã bị bộ đội VN vây chặt. 7 giờ ngày 7.10 trận đánh bắt đầu. Bằng tác chiến hợp đồng, khép dần vòng vây từ 3 hướng và tổ chức lực lượng đón lõng ở thung lũng Bản Ca, đến 17 giờ ta diệt và bắt toàn bộ quân địch, trong đó có chỉ huy Binh đoàn Sactông và tỉnh trưởng Cao Bằng. Một trong những trận then chốt góp phần cho chiến dịch phát triển thuận lợi, cùng với trận Cốc Xá (5- 8.10.1950) mở ra khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực VN trên chiến trường rừng núi. TRẬN ĐIỂM CAO 500 (14.5.1967), trận phục kích bằng mìn tự tạo và súng bộ binh của du kích xã Con Riêng đánh quân Mĩ đổ bộ đường không càn quét tại khu vực điểm cao 500 (làng Tà Ém, xã Con Riêng, nay là xã Vĩnh Hảo, h. Vĩnh Thạnh, t. Bình Định). Sáng 14.5 ta sử dụng 1 tổ du kích (3 người) bí mật gài mìn và phục sẵn ở bãi đổ quân của địch, 8 giờ 30 phút diệt tại chỗ 1 máy bay trực thăng UH-1A chớ biệt kích. Sau đó ta tiếp tục gài mìn kết hợp súng bộ binh bắn rơi thêm 2 máy bay trực thăng cần cẩu H-54 đến lấy xác lúc 9 giờ 40 phút và 10 giờ. Trận đánh đạt hiệu quả cao (diệt 22 địch và 3 máy bay trực thăng) nhờ phán đoán chính xác, cách đánh táo bạo, bất ngờ, được nhiều địa phương vận dụng trong phòng chống địch đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng trong KCCM. Cg trận chiến đấu phòng không Con Riêng (14.5.1967). TRẬN ĐIỂM CAO 500 VÀ 564 (29-30.12.1951), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 11 (Trung đoàn 141. Sư đoàn 312) vào các điểm cao 500 và 564 (núi Ba Vì, h. Ba Vì, t. Hà Tây) do 1 đại đội lính Âu - Phi và 1 đại đội lính ngụy chốt giữ. trong đợt 2 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). Đêm 29.12 ta nổ súng đánh chiếm cửa mở, đồng thời tổ chức lực lượng dùng thang vượt vách đá bất ngờ đánh vào trung tâm, nhanh chóng diệt địch ở điểm cao 500; tiếp đó đột phá sang điểm cao 564. hình thành các mũi thọc sâu, bao vây chia cắt tiêu diệt địch. 6 giờ 30 phút ngày 30.12, ta làm chủ trận địa, diệt 2 đại đội địch (bắt 87), thu nhiều vũ khí, trang bị QS. Trận đánh góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ Sông Đà của quân Pháp, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. TRẬN ĐIỂM CAO 543 (20-25.2.1971), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320) được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 tiêu đoàn pháo binh. 2 đại đội súng máy phòng không vào căn cứ 31 của Lữ đoàn dù 3 QĐ Sài Gòn tại điểm cao 543 (tây bắc Bản Đông 7km), trong đợt 2 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Lực lượng địch có SCH lữ đoàn, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội công binh, tổ chức phòng ngự kiên cố. Từ 20.2 ta thực hành vây lấn trên hướng đông (chủ yếu) và tây bắc (thứ yếu), 11 giờ 30 phút ngày 25.2 nổ súng tiến công. Bằng cách đánh bất ngờ (chuyển hướng đột phá từ hướng đông sang đông nam), phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng, sau 5 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 500 địch (có đại tá lữ đoàn trưởng cùng toàn bộ ban tham mưu Lữ đoàn dù 3), thu 10 khẩu pháo, bắn rơi 1 máy bay. Trận đánh then chốt thắng lợi, tạo điểu kiện cho lực lượng chiến dịch phát triền, bẻ gãy cánh quân bảo vệ phía bắc đường 9 của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 05:59:37 am TRẬN ĐIỂM CAO 544 (30-31.3.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 27 (Mặt trận B5) đánh 2 tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 56 (Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn chốt giữ và cơ động ứng cứu tại khu vực điểm cao 544, đồi Tròn (xã Cam Tuyền, h. Cam Lộ, t. Quảng Trị), mở đầu chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Theo kế hoạch tác chiến, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 2 (được tăng cường hỏa lực) và một bộ phận của Tiểu đoàn 1 tiến công điểm cao 544 và đồi Tròn (do 2 đại đội bộ binh địch phòng ngự trong còng sự vững chắc), đồng thời sử dụng Tiểu đoàn 3 bí mật luồn sâu đánh lực lượng ứng cứu của địch. Sau khi đánh chiếm các mỏm đồi Dl, D2, D3, D4 ở phía bắc điểm cao 544, đến 22 giờ 30 phút ngày 30.3 Tiểu đoàn 2 tiến hành mở cửa bằng bộ phá rào FR, tổ chức các mũi thọc sâu và phát huy hỏa lực (súng phun lừa, B- 40, B-41) nhanh chóng đánh chiếm điểm cao 544; sáng 31.3 tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở đồi Tròn. Phối hợp với lực lượng tiến công, Tiểu đoàn 3 phục kích ở phía nam dãy điếm cao 322,288 và 166, diệt phần lớn 1 tiểu đoàn địch (30.3), sau đó chuyển sang chốt chặn, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội địch ở cầu Thiện Xuân. Kết quá loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, thu và phá hủy 8 xe QS (có 2 xe tăng) cùng nhiều vũ khí trang bị, góp phần phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch trên đường 9, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công giải phóng tx Quảng Trị. TRẬN ĐIỂM CAO 550 (15-22.3.1971), trận vây lấn tiến công của Sư đoàn 324 tại khu vực điểm cao 550 (t. Xayannakhẹt, Lào), trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Điểm cao 550 nằm ở phía tây nam Lao Bảo 10km, do Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 QĐ Sài Gòn chiếm giữ và tổ chức phòng ngự, có công sự dã chiến, hàng rào thép gai, sân bay trực thăng, trận địa pháo. Từ 15.3 sư đoàn sử dụng 2 trung đoàn (1 và 3) đánh địch ở vòng ngoài và tiến hành vây ép, đêm 22.3 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tiến công dứt điểm và làm chủ điểm cao. Do vây không chặt, SCH lữ đoàn và một phần lực lượng địch chạy thoát bằng máy bay trực thăng. Kết quà đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147, loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, phá hủy 12 khẩu pháo, thu gần 1.500 súng, tạo điều kiện cho chiến dịch kết thúc thắng lợi. TRẬN ĐlỂM CAO 560 (21.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) được tàng cường 1 đại đội bộ binh, 3 trung đội hỏa lực, đánh chiếm điểm cao 560 (bắc dãy núi Bạch Mã, h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế), do Tiểu đoàn biệt động quân 61 QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Lúc 5 giờ 50 phút ta nổ súng tiến công; sau đợt hỏa lực chuẩn bị, bộ đội từ ba hướng xung phong đánh chiếm mục tiêu. Địch chống cự quyết liệt, ta đưa lực lượng dự bị dồn sức tiến công, đến 15 giò làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 10), góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch ở tây và tây nam Huế, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch cắt QL 1, không cho dịch rút chạy bằng đường bộ từ Huế vào Đà Nẵng. TRẬN ĐIỂM CAO 581 (14.3.1975), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3) được tăng cường 1 đại đội xe tăng vào khu vực điểm cao 581 (đông Buôn Ma Thuột 9km), do Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 45, Sư đoàn 23) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Chiều 12.3 địch đổ quân xuống khu vực điểm cao 581 và trục đường 21 nhằm tạo bàn đạp phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. 7 giờ ngày 14.3 ta tổ chức lực lượng thành hai hướng vận động tiến công địch: hướng chủ yếu tập trung bộ binh và xe tăng đánh thẳng lên điểm cao 581, đến 12 giờ làm chủ điểm cao và khu vực xung quanh; hướng thứ yếu theo đường 21 diệt địch từ kilômét 9 đến cầu la ích, truy kích, đón lõng, diệt tàn quân địch tháo chạy. Kết quả diệt và bắt hơn 300 dịch, thu 3 khẩu pháo 105mm, 1 xe QS,... góp phần đập tan ý đồ phản đột kích của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. TRẬN ĐIỂM CAO 600 (9.5.1969), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Mặt trận Tây Nguyên) vào điểm cao 600 - làng Giả (h. Chư Pa, t. Gia Lai) do Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4) của Mĩ đóng giữ, nhằm phối hợp với hướng chính trong chiến dịch Đắc Tô II (5.5-17.6.1969). Lực lượng địch có SCH tiểu đoàn, 2 đại đội bộ binh, 2 đại đội pháo và cối, 3 xe tăng, tổ chức trận địa phòng ngự gồm nhiều công sự gỗ, đất, lô cốt cố thủ, 3-4 lớp rào thép gai và bãi mìn. 0 giờ 20 phút tiểu đoàn tổ chức thành bốn mũi, bí mật cắt rào, tiếp cận vị trí địch trên 2 hướng; 2 giờ 10 phút đồng loạt nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu đánh chiếm phần lớn trận địa, loại khỏi chiến đấu 250 địch, phá hủy 2 pháo 105mm, 2 cối 106,7mm. Địch phản kích quyết liệt; ta không tiếp tục phát triển được nên lui quân, riêng bộ phận hỏa lực trụ lại bắn rơi 5 máy bay trực thăng đến ứng cứu. Lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên, bộ binh dùng cách đánh đặc công tập kích cụm quân Mĩ giành thắng lợi. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 06:01:11 am TRẬN ĐIỂM CAO 622 (16.4.1968), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 304) đánh 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn lính thủy đánh bộ 26 của Mĩ và một số đơn vị QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực điểm cao 622 (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị), trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Hồi 10 giờ 8 phút địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, chia ba mũi đánh vào điểm cao, ta kiên cường bám giữ trận địa, chờ địch tới gần nổ súng, liên tiếp đẩy lùi 2 đợt tiến công của địch. 16 giờ 30 phút địch sử dụng toàn bộ lực lượng mở đợt tiến công lần 3, ta dùng lực lượng chốt ngăn chặn, đồng thời đưa lực lượng cơ động đánh tạt sườn và truy kích, đến 19 giờ buộc địch phải rút chạy về Tà Cơn. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 300 địch, bắn rơi 2 máy bay, thu 53 súng các loại, tạo thế tiếp tục bao vây tiến công dịch ở cụm cứ điểm Tà Cơn. TRẬN ĐIỂM CAO 690 (16-18.6.1968), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 88, Sư đoàn 308) đánh Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3 (Trung đoàn 4) của Mĩ tại khu vực điểm cao 690 (núi Phu Nhôi, h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị), trong đợt 4 chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Ngày 12.6 địch huy động máy bay trực thăng đổ bộ 2 đại đội xuống điểm cao 690 ở phía sau đội hình tác chiến Sư đoàn 308, nhằm ngăn chặn tuyến hậu cần tiếp tế của ta. Đêm 15.6 ta triển khai chiếm lĩnh trận địa, 5 giờ 30 phút ngày 16 nổ súng tiến công từ ba hướng, chiếm được một phấn điểm cao. Địch dùng máy bay, pháo binh ngăn chặn và phản kích quyết liệt, sáng 17.6 tăng cường thêm lực lượng, vũ khí trang bị xây dựng công sự phòng thủ. Tiểu đoàn 4 được bổ sung 2 đại đội bộ binh và 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 5 giờ ngày 18 tổ chức tiến công lần 2, diệt phần lớn quân địch, đến 16 giờ làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 400 địch, bắn rơi 3 máy bay. Thắng lợi của TĐC690 đã tác động mạnh đến tinh thần binh lính Mĩ ở Khe Sanh, buộc địch phải co về giữ đường 9 và nam Tà Cơn, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, góp phần xây dựng cách đánh địch đổ bộ đường không chốt giữ điểm cao ở địa bàn rừng núi trong KCCM. TRẬN ĐIỂM CAO 723 (13-18.3.1971), trận vây lấn cứ điểm 723 (Phu Rệp, h. Sê Pôn, t. Xavannakhẹt, Lào) trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971), do Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu 1 trung đoàn) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 48) và Trung đoàn pháo binh 368 thuộc mặt trận B70 tiến hành. Cứ điểm 723 có công sự khá vững chắc do Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn đóng giữ, gồm 2 tiểu đoàn bộ binh đóng tại cứ điểm và 2 tiểu đoàn khác cơ động ở vòng ngoài, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp (12 khẩu pháo 105mm, 155mm và cối 81mm)... 13-15.3 ta thực hành vây ép, tập trung hỏa lực sát thương địch trong cứ điểm, bắn máy bay tiếp tế đường không, đồng thời dùng lực lượng nhỏ đột phá, đánh địch phản kích. Sáng 16.3 phát hiện địch có biểu hiện rút chạy, ta đồng loạt tiến công đánh chiếm điểm cao 723, sau đó vận động bao vây, tiến công liên tục quân địch rút chạy và quân cơ động ở vòng ngoài, đến 9 giờ 30 phút ngày 18.3 làm chủ trận địa. Kết quả tiêu diệt gọn Trung đoàn 1 (4 tiểu đoàn bộ binh) và 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp. trong đó diệt và bắt 1.950 địch, bắn rơi 19 máy bay trực thăng, thu 332 súng các loại (4 khẩu 155mm, 5 khẩu 105mm) và nhiều quân trang quân dụng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần bẻ gãy cánh quân phía nam đường 9 của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. TRẬN ĐIỂM CAO 824 (25.5.1968), trận tiến còng của Trung đoàn bộ binh 2 vào điểm cao 824 (nam đường 18, nay thuộc h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum) do 2 đại đội Mĩ chốt giữ. Đêm 25.5 trung đoàn sử dụng 2 đại đội (2 và 3) của Tiểu đoàn 4 và Đại đội 9 (Tiểu đoàn 6) triển khai tiến công trên hai hướng, nhưng do thiếu khí tài phòng hóa, quá trình chiến đấu bị địch dùng hỏa lực và vũ khí hóa học ngăn chặn quyết liệt tại cửa mở và trong trung tâm, gây nhiễm độc và thương vong lớn; trong khi đó trận địa hỏa lực của trung đoàn cũng bị địch khống chế bằng chất độc hóa học, không thực hiện được nhiệm vụ chi viện cho đội hình tiến công. Thất bại của trận đánh là bài học lớn về công tác bảo đảm phòng hóa của bộ đội ta trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 06:02:46 am TRẬN ĐIỂM CAO 875 (19.11.1967), trân vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 174, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội hỏa lực, đánh Tiểu đoàn dù 2 (Lữ đoàn 173) của Mĩ tại khu vực điểm cao 875 (tây nam quận lị Đắc Tô 25km. t. Kon Tum), trong chiến dịch Đắc Tô I (3-22.11.1967). Ta sử dụng 1 đại đội chốt giữ điểm cao 875 để khống chế, thu hút địch, lực lượng còn lại bố trí ở khu vục đồi Không Tên làm nhiệm vụ cơ động. 17-18.11 địch dùng 2 đại đội thám báo, biệt kích đánh thâm dò trận địa chốt của ta nhưng bị đẩy lùi; ngày 19 tập trung Tiểu đoàn dù 2 có máy bay, pháo binh yểm trơ tiếp tục tiến công. Ta kịp thời đưa lực lượng cơ động hình thành thế bao vây, phối hợp với bộ phận chốt chặn đánh từ 14 giờ đến 18 giờ tiêu diệt phần lớn tiểu đoàn địch. Trận then chốt chiến dịch kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển tương đối hoàn chỉnh của chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trong tác chiến với quân Mĩ trên chiến trường rừng núi. TRẬN ĐIỂM CAO 1015 (12-15.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320) vào khu vực điểm cao 1015 (nay thuộc xã Pô Cô, h. Đắc Tô, t. Kon Tum) do Tiểu đoàn dù 11 (Lữ đoàn dù 3) QĐ Sài Gòn chốt giữ (có công sự, vật cản dày đặc), trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Lúc 10 giờ ngày 12.4 trung đoàn tổ chức đột phá lần 1 nhưng không thành công, bị địch chống cự, phản kích quyết liệt. 8 giờ ngày 14 trận đánh tiếp tục bằng hỏa lực tập trung phá hoại công sự và sát thương địch, sau đó các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, truy quét, bao vây đón lõng diệt địch rút chạy, đến 13 giờ ngày 15 làm chủ trận địa. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 260, bắt 166), bắn rơi 20 máy bay, thu 160 súng các loại; là trận then chốt thứ nhất, góp phần tạo thế cho trận then chốt tiếp theo của chiến dịch ở Đác Tô - Tân Cảnh (x. trận Đắc Tô - Tân Cảnh, 24.4.1972). TRẬN ĐIỂM CAO 1049 (30.3-3.4.1972), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 52 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) tại điểm cao 1049 do Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn dù 2) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Điểm cao 1049 (xã Sa Nhơn, h. Sa Thầy,.t. Kon Tum) là cứ điểm thuộc tuyến ngăn chặn vòng ngoài của địch ở phía tây bắc tx Kon Tum, có hệ thống hàng rào (2-3 lớp), công sự gỗ cát và các tuyến hào chiến đấu. Sáng 30.3 Trung đoàn 52 được tăng cường hỏa lực, tổ chức vây lấn từ ba hướng; địch dùng không quân, pháo binh yểm trợ cho bộ binh đánh trả quyết liệt. Ta vừa đánh địch phản kích, vừa tiếp tục vây ép, rạng sáng 31.3 chiếm được đồi C, đồi Không Tên; 3 giờ 30 phút ngày 3.4 tiếp tục tiến công đánh chiếm các đồi A, B, đến 7 giờ chiếm được SCH địch. Do ta không tiêu diệt gọn, số địch sống sót co cụm lại, gọi không quân, pháo binh đánh trùm lên cứ điểm và kết hợp với lực lượng ứng cứu phản kích chiếm lại. Kết quả diệt 190 địch, bắn rơi 12 máy bay. Trận đánh tuy không dứt điểm, song đã góp phần thu hút lực lượng địch, tạo điều kiện cho ta chuẩn bị tiến công ở Đắc Tô, Tân Cảnh và rút kinh nghiệm cách đánh vây lấn tiến công cứ điểm địch có hỏa lực mạnh trên địa hình rừng núi. TRẬN ĐIỂM CAO 1227 nh TRẬN CON RỐC (2.4.1974) TRẬN ĐIỂN XÁ (4.3.1949), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 98 bộ đội chủ lực Liên Khu I. chặn đánh đoàn xe QS Pháp trên đường 4, đoạn Khe Mo - Điền Xá (xã Điền Xá, h. Tiên Yên, t. Quảng Ninh) mở đầu chiến dịch Đông Bắc II (4.3- 30.4.1949). Khi đoàn xe địch gồm 52 chiếc từ Tiên Yên chở vũ khí lên Cao Băng. Lạng Sơn lọt vào trận địa phục kích, bộ đội ta dùng mìn chặn đầu, khóa đuôi rồi xung phong bao vây, chia cắt. diệt từng toán địch co cụm chống cự; sau 30 phút chiến đấu. ta phá hủy 18 xe, diệt và bắt hơn 100 địch (trong đó có chỉ huy đoàn xe), thu 71 súng các loại. Thắng lợi của TĐX góp phần làm hạn chế việc vận chuyển tiếp tế của Pháp ở vùng Đông Bác, tạo điểu kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. TRẬN ĐIỆN NGỌC (20.4.1962), trận phòng ngự của tiểu đội trinh sát đặc công (7 chiến sĩ) và 3 cán bộ đội công tác huyện Điện Bàn đánh trả cuộc tiến công của 1 đại đội biệt kích và 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn tại thôn 4 (xã Điện Ngọc, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam). Sáng 20.4 phát hiện lực lượng ta đang hoạt động ở Điện Ngọc, địch tập trung lực lượng đông hơn nhiều lần bao vây hòng tiêu diệt. Tận dụng địa hình có lợi. ta chủ động luồn tránh và phối hợp đánh địch ở trong làng, đến 16 giờ rút ra giếng cạn giữa đồng, tiếp tục đẩy lui 3 đợt xung phong của địch, sau đó lợi dụng đêm tối, nghi binh và đột phá thoát vây, đưa thương binh về hậu cứ an toàn. Kết quả diệt gần 100 địch; với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, 10 chiến sĩ tham gia trận đánh được tôn vinh danh hiệu Dũng sĩ Điện Ngọc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 06:05:05 am TRẬN ĐỖ XÁ (30.4-15.5.1963), trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 2, Phân đội đặc công 409 bộ đội chủ lực Quân khu 5 cùng một số đơn vị bộ đội địa phương, dân quân và nhân dân các làng vùng Đỗ Xá, nhằm bảo vệ khu căn cứ Mang Xim (địch gọi là mật khu Đỗ Xá, nay là xã Trà Dơn. h. Trà Mi. t. Quảng Nam), nằm ở giáp ranh ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum - nơi đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu 5. Ta tổ chức nhiều trận địa chốt chặn ở vòng ngoài và vòng trong căn cứ, giành quyền chủ động, phối hợp chặt chẽ các lực lượng liên tục ngăn chặn, phục kích, tập kích, đẩy lui các mũi tiến công đường bộ và đổ bộ đường không của 16 tiểu đoàn bộ binh (thuộc 3 sư đoàn: 2, 22 và 25), 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến QĐ Sài Gòn; loại khỏi chiến đấu gần 600 địch, bắn rơi và bắn hỏng 20 máy bay trực thăng, bảo vệ an toàn căn cứ. Trận chống càn lớn nhất từ đầu cuộc KCCM trên chiến trường Khu 5, hỗ trợ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh của nhân dân chống phá kế hoạch bình định của địch. TRẬN ĐỒI AI (30.3-7.5.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316), Trung đoàn bộ binh 102 (Đại đoàn 308), được chi viện của cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch đánh đồi AI (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên), một trong những cứ điểm quan trọng nhất, được xây dựng kiên cố trong hệ thống phòng ngự phía đóng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp, do 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Marốc 4 đóng giữ, trong đợt 2 và đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Từ 21 giờ 30 phút ngày 30.3, Trung đoàn 174 bắt đầu nổ súng, đến 4 giờ ngày chiếm được 2/3 cứ điểm, nhưng bị địch dựa vào hầm ngầm, đưa lực lượng phản kích, có pháo binh, xe tăng yểm trợ, giành lại phần lớn. Trung đoàn 102 được điều đến cùng một bộ phận của Trung đoàn 174, tiếp tục tiến công lần hai (đêm 31.3), lần ba (đêm 1.4), chiến đấu giằng co quyết liệt với địch đến 4.4 vẫn không dứt điểm, phải ngừng lại củng cố và tổ chức phòng giữ nửa đồi phía đông (lúc này địch đã đưa Tiểu đoàn dù 6 lên thay thể). Cùng với việc đẩy mạnh bao vây, khống chế, đánh địch phản kích tại các khu vực, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng công binh đào đường ngầm tới sát vị trí địch trong lòng đồi Al, đặt 1.000kg thuốc nổ để phá hầm ngẩm đồng thời làm hiệu lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận. 21 giờ ngày 6.5 sau khi bộc phá nổ, Trung đoàn 174 tổ chức tiến công từ ba hướng vào các vị trí còn lại của địch và đến 4 giờ 30 phút ngày 7.5 chiếm toàn bộ cứ điểm A1. Thắng lợi của trận đánh góp phần quyết định cho chiến dịch chuyến sang tổng công kích giành toàn thắng. TRẬN ĐỒI C1 (30.3-1.5.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 98 (Đại đoàn 316) vào đồi C1 (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên), một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng ngự phía đông Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. do 1 đại đội bộ binh thuộc địa và 1 trung đội lê dương của Pháp đóng giữ. trong đợt 2 và đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Lúc 18 giờ ngày 30.3, được pháo binh chi viện. Trung đoàn 98 bắt đầu tiến công, sau 45 phút chiếm được cứ điểm, diệt toàn bộ quân địch. Sáng 1.4 Pháp đưa 1 tiểu đoàn tới phản kích, dùng pháo bắn ác liệt vào trận địa gây cho ta một số thương vong. Hai bên giành giật nhau từng vị trí, đến 17 giờ cùng ngày, địch bị đẩy lùi. 9.4 quân Pháp được tăng cường 1 tiểu đoàn dù tiếp tục phản kích và sau 4 ngày đêm chiến đấu, chiếm được nửa phía tây. Trung đoàn 98 tổ chức phòng ngự giữ vững nửa phía đông, đến đêm 1.5 chuyển sang phản công giành lại toàn bộ cứ điểm. Thắng lợi của TĐC1 tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch khép chặt vòng vây, uy hiếp Mường Thanh và chuyển sang tổng công kích giành thắng lợi. TRẬN ĐỒI CHUỐI - VÀNH KHĂN (23.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Sư đoàn 312) đánh chiếm cứ điểm đồi Chuối - Vành Khăn trên trục đường Sảm Thông đi Long Chẹng (t. Xiêng Khoảng, Lào), do Tiểu đoàn 8 (TEM) quân Thái Lan đóng giữ. 11 giờ ta dùng hỏa lực bắn khống chế và sát thương địch, 12 giờ tổ chức tiến công: sử dụng 1 tiểu đoàn phối hợp 1 trung đội xe bọc thép K63 diệt địch ở đồi Chuối, 2 tiểu đoàn đánh chiếm đồi Vành Khăn, đến 16 giờ làm chủ cứ điểm và tiến hành cúng cố trận địa sẵn sàng đánh địch phản kích. Kết quả diệt hơn 100 địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị, góp phần cùng cố thắng lợi của ta sau chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường sùi (18.12.1971-6.4.1972), cùng LLVT CM Lào đánh bại âm mưu lấn chiếm Cánh Đồng Chum của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 06:06:08 am TRẬN ĐỒI ĐÁ (8.8-7.9.1974), trận vận động tiến công kết hợp chốt của LLVT huyện Phù Cát (t. Bình Định), đánh QĐ Sài Gòn lấn chiếm tại khu vực Đồi Đá (điểm cao 300) thuộc địa bàn các xã Cát Minh, Cát Khánh (h. Phù Cát, t. Bình Định). Ta bố trí 1 trung đội chốt giữ Đồi Đá, 2 đại đội sẵn sàng cơ động đánh địch giải tỏa; 8-12.8 chặn đánh địch từ xa, đẩy lui cuộc hành quân cua 2 đại đội bảo an. Ngày 20 và 21.8 địch lợi dụng sơ hở, bí mật đột nhập chiếm chốt, ta kịp thời phản kích lấy lại. Từ 22.8 địch tăng cường lực lượng (có ngày sử dụng tới 1 tiểu đoàn và 2 đại đội thủy quân lục chiến), có máy bay, pháo binh chi viện, cố gắng đánh chiếm chốt. Ta giữ vững trận địa, đồng thời vận động đánh vào bên sườn, phía sau, buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 200 địch, thu 9 súng, tạo điều kiện cho LLVT tinh tiến công giải phóng các xã phía nam huyện Phù Cát. TRẬN ĐỒI ĐỘC LẬP (15.3.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 88 (Đại đoàn 308) và Trung đoàn bộ binh 165 (Đại đoàn 312), được tăng cường 2 đại đội sơn pháo 75mm và 2 đại đội cối 120mm, do BTL Đại đoàn 308 chỉ huy, diệt cụm cứ điểm đồi Độc Lập (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên) trong đợt 1 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Cụm cứ điểm đổi Độc Lập (dài 500m, rộng 200m) án ngữ đường đi Lai Châu, một trong ba trung tâm đề kháng mạnh thuộc phân khu bắc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp, được xây dựng kiên cố, có hẩm ngầm và hệ thống công sự, hỏa lực mạnh, xung quanh có nhiều lớp hàng rào, vật cản (nhất là ở phía bắc và nam), do Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn Angiêri 7 (5/7RTA) và 1 đại đội người Thái chiếm giữ. Sau đợt pháo bắn chuẩn bị, 3 giờ 30 phút ngày 15.3 các đơn vị bộ binh bắt đầu công kích: Trung đoàn 165 (hướng chủ yếu) từ hướng đông nam nhanh chóng đột phá vào sâu bên trong cứ điểm, đánh chiếm khu thông tin, diệt trận địa súng cối và bao vây SCH địch cố thủ dưới hầm ngầm; Trung đoàn 88 ( hướng thứ yếu) đột phá từ hướng đông bắc, sau khi chỉnh lại đúng hướng cửa mở, đã tiến thẳng vào bên trong cụm cứ điểm, phối hợp với Trung đoàn 165 tiêu diệt SCH địch và đánh lui cuộc phản kích của 1 tiểu đoàn bộ binh và 5 xe tăng địch từ Mường Thanh ra ứng cứu. Sau 3 giờ chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 600 địch. Cùng với trận diệt cụm cứ điểm Him Lam (X. trận Him Lam, 13.3.1954). thắng lợi của TĐĐL khiên quân địch ở Bản Kéo phải đầu hàng, góp phần mở thông hướng bắc xuống cánh đồng Mường Thanh. TRẬN ĐỔI KHÔNG TÊN (27.2-3.1971), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 64), 1 đại đội xe tăng, có pháo binh chi viện, đánh Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn dù 8 QĐ Sài Gòn tại khu vực đồi Không Tên - đồi Mâm Xôi (dài 5km) trên đường 16B (bắc thị trấn Bản Đỏng 14km. h. Sê Pôn, t. Xayannakhẹt, Lào), trong đợt 2 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Ngày 26.2 địch huy động Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn dù 8 từ Bản Đông lên phản kích nhằm chiếm lại điểm cao 543 và các vị trí sườn phía bắc đường 9. Ta tổ chức lực lượng ngăn chặn và cơ động bám đánh liên tục, dồn địch về khu vục đồi Không Tên; từ 1.3 tập trung bao vây, tiến công, truy kích tiêu diệt toàn bộ quân địch. Kết quả diệt và bắt hơn 500 địch, bắn rơi 7 máy bay, phá hủy 81 xe tăng, xe bọc thép, thu 4 xe và 176 súng các loại..., góp phần bẻ gãy cánh quân phía bắc và ý đồ phản kích đánh lên Sê Pôn của địch, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch bao vây, tiến công địch ở Bản Đông. TRẬN ĐỒi MÃ TỔ (19.11.1966), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 60 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2, Quân khu 5) đánh đại đội quân Nam Triều Tiên ở đồi Mã Tổ (xã Tịnh Sơn, h. Sơn Tịnh. t. Quảng Ngãi). Trận đánh diễn ra quyết liệt, sau nhiều giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu toàn bộ quân địch, thu vũ khí. Cùng với các trận thắng ở Trung Linh, đồi Ông Râu, An Điền, Quang Thanh, Bình Phước..., TĐMT góp phần làm nhụt ý chí chiến đấu của quân Nam Triều Tiên trên chiến trường Khu 5. TRẬN ĐỔI TRANH (12-13.3.1969), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28, Mặt trận Táy Nguyên), đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 4 tại khu vực đồi Tranh ở phía tây dãy Ngọc Ta Lum (nay thuộc xã Mỏ Rai, h. Sa Thầy, t. Kon Tum). Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trận địa pháo chiến dịch ở phía đông sòng Sa Thầy, Đại đội 1 xây dụng trận địa chốt trên hai mỏm của đồi Tranh, sử dụng 2 tiểu đội giữ chốt, còn lại là lực lượng cơ động. Trưa 12.3 khoảng 1 đại đội Mĩ lùng sục vào khu vực trận địa. Ta dựa vào chốt đánh chặn, đồng thời vận động tiến công vào bên sườn và phía sau. diệt gần hết đại đội địch. Sáng 13.3 quân Mĩ đưa 1 đại đội khác đánh chiếm chốt, bị ta phân kích đẩy lùi. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, góp phần bảo vệ các trận địa pháo và tuyến đường vận chuyển của ta ở đông sông Sa Thầy. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 06:31:24 am TRẬN ĐỐI MÃ (27.5.1905), trận phục kích trên biển của hải quân Nhật chặn đánh hải quân Nga tại eo biển Đối Mã (Xusima) nằm giữa Triều Tiên và Nhật Bản, trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). Sau những thất bại liên tiếp của QĐ và hải quân Nga ở đông bắc TQ và vùng biển Nhật Bản, Nga hoàng quyết định điều 38 tàu chiến thuộc Hạm đội Bantich sang tăng viện cho Hạm đội Thái Bình Dương ở Viễn Đông. Sau hơn 7 tháng vượt biển với hành trình 18.000 hải lí, 20.5.1905 đội tàu Nga đến Thượng Hải (TQ), rạng sáng 27.5 tiến vào eo biển Đối Mã. Hải quân Nhật tiến hành trinh sát nắm vững đối phương, bí mật phục kích, phát huy ưu thế về số lượng (99 tàu), hỏa lực và tốc độ, bất ngờ bao vây, tiến công gây tổn thất nặng cho quân Nga với 28 tàu bị đánh chìm, 8 tàu bị bắt và đầu hàng, hơn 10.000 quân thương vong và bị bắt; phía Nhật mất 3 tàu phóng lôi, thương vong 700 quân. TĐM quyết định kết cục của chiến tranh Nga - Nhật, buộc Nga phải kí hòa ước nhượng cho Nhật nhiều quyền lợi ở vùng đông bắc TQ; chứng minh hiệu lực của tàu pháo hạng nặng và tàu phóng lôi trong tác chiến trên biển. TRẬN ĐỒN AN QUÝ 2 (12.8.1974), trận tập kích của du kích xã Hoài Châu (h. Hoài Nhơn, t. Bình Định) đánh đồn An Quý 2 và các chốt Miếu Lùn, cầu Mương Cái, do 1 đại đội bảo an thuộc Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 47) QĐ Sài Gòn đóng giữ. Lực lượng ta gồm 1 trung đội du kích xã (25 người) và một số du kích thôn, trang bị súng bộ binh và các loại bom mìn tự tạo. Sau khi tiến hành vây ép, cô lập địch, 4 giờ 30 phút ta bất ngờ nổ súng, tập trung lực lượng chủ yếu đánh đồn An Quý 2. Bằng kĩ thuật phóng bom. đạn pháo chính xác vào mục tiêu, kết hợp các mũi xung phong đánh đồn và làm công tác binh vận, sau 15 phút chiến đấu, ta làm chủ đồn An Quý 2, buộc địch rút chạy khỏi các chốt Miếu Lùn và cầu Mương Cái; diệt, bắt và làm bị thương 34 địch (trong đó diệt toàn bộ ban chỉ huy đại đội), thu 15 súng các loại. Trận đánh đạt hiệu quả cao. đã thúc đẩy phong trào lấy vũ khí địch đánh địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng. TRẬN ĐỔN CẦU CHÙA (13.2.1974), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Quân khu 8 ) đánh đồn Cầu Chùa (xã Bình Trưng, h. Châu Thành, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang) do Đại đội bảo an 3 (Tiểu đoàn 423) và 1 trung đội thuộc Đại đội bảo an 2 (Tiểu đoàn 430) QĐ Sài Gòn đóng giữ. 5 giờ 22 phút, tiểu đoàn được tăng cường 2 súng máy phòng không 12,7mm và 1 súng ĐKZ 75mm nổ súng tiến công từ ba hướng, phát triển thành nhiều mũi đánh chiếm các mục tiêu và truy kích diệt địch, làm chủ đồn. 9 giờ 30 phút địch đưa lực lượng tới ứng cứu, bị các đơn vị ta ở vòng ngoài chận đánh, đẩy lùi. Trận đánh đạt hiệu suất cao (diệt 79, bắt 5), góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trong hệ thống đồn bốt bảo vệ chi khu Sầm Giang của địch, tạo thuận lợi cho hoạt động tác chiến của ta tại địa phương. TRẬN ĐỒN CHÙA TAM (4.4-6.6.1954), trận vây lấn tiến công của du kích và nhân dân xã Cao Minh (h. Vĩnh Bảo, tp Hải Phòng) vào đồn Chùa Tam, do 1 đại đội ngụy quân của Pháp đóng giữ. Lực lượng ta có 1 trung đội du kích cơ động xã. 3 trung đội và 2 tiểu đội du kích thôn (90 người), trang bị chủ yếu súng bộ binh, mìn, được huyện tăng cường 1 súng cối 60mm, 1 đại liên và 1 trung liên. Từ 4.4 ta tổ chức lực lượng đào 3.500m hào và nhiều hầm hố chiến đấu vây chặt đồn. dùng cách bắn tỉa, ngăn chặn tiếp tế, đánh phản kích, kết hợp binh vận, gây cho địch nhiều tổn thất, tinh thần hoang mang, tan rã. 6.6 địch đưa 3 tiểu đoàn đến giải tỏa và rút bỏ đồn, bị ta chặn đánh tiêu hao thêm một số. Kết quả diệt 45 địch, giải phóng hoàn toàn xã Cao Minh, góp phần thúc đẩy phong trào kháng chiến ở địa phương phát triển thắng lợi. TRẬN ĐỒN CRABAU (20.4.1970), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) quân tình nguyện VN và 2 trung đội LLVT CM Campuchia diệt dồn Crabau (h. Cam Chaymea, t. Prây Veng, Campuchia). Đồn có công sự vững chắc, 3 lớp rào thép gai, mìn và tường đất bao quanh, do 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội cối 82mm (Tiểu đoàn 56) QĐ Lon Non đóng giữ. 0 giờ 33 phút, sau đợt hỏa lực chế áp ngắn, ta dùng mìn định hướng mở cửa rổi từ 2 hướng (đông - đông nam và nam) xung phong đánh chiếm mục tiêu; 2 giờ 15 phút làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu 377 địch, thu 468 súng các loại và hơn 20t đạn. TRẬN ĐỒN GIANG MA (30.9.1951), trận tập kích của Đại đội 965 bộ đội địa phương tình Lai Châu đánh đồn Giang Ma trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp ở nam Phong Thổ (t. Lai Châu). Đồn xây dựng trên đèo Giang Ma, gồm 3 khu, có công sự gỗ, đất, tường đất đá bao quanh, do khoảng một tiểu đoàn hỗn hợp lính Âu - Phi và lính ngụy chiếm giữ. Đêm 29.9 đại đội bí mật chiếm lĩnh trận địa, 3 giờ 35 phút ngày 30 dùng lực lượng trinh sát diệt lính gác, đồng loạt nổ súng tiến công từ ba hướng vào 3 khu. Địch bị đánh bất ngờ, một số ngoan cố chống cự. một số bỏ chạy về Tam Đường. Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ đồn, diệt 47 địch (có 7 lính Âu - Phi), thu 15 súng. TĐGM góp phần phối hợp tích cực với chiến dịch Lí Thường Kiệt (29.9-10.10.1951). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 06:33:04 am TRẬN ĐỐN KÊNH 11 (6-8.12.1974), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn 101 (thiếu) Quân khu 9, đánh Tiểu đoàn bảo an 457 QĐ Sài Gòn chốt giữ cụm đồn kênh 11 (xã Nam Thái Sơn, h. Châu Thành A, t. Long Châu Hà, nay thuộc h. Hòn Đất, t. Kiên Giang). Lực lượng địch khoảng 130 quân, gồm SCH tiểu đoàn, 1 đại đội bảo an, 1 trung đội trinh sát và 1 trung đội pháo binh, tổ chức phòng ngự vững chắc trong 1 đồn tứ giác (chính) và 2 đồn tam giác, xung quanh có hệ thống tường đất, hàng rào, bãi mìn... Đèm 5.12 ta triển khai trận địa vây lấn trên 2 hướng đông nam (chủ yếu) và tây (thứ yếu), đồng thời bố trí lực lượng-đón lõng và chặn viện ở hướng bắc. 7 giờ ngày 6.12 nổ súng. Sau gần 2 ngày đêm liên tục vây lẫn và tập trung hỏa lực bắn phá mãnh liệt gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc địch phái co về đồn chính và đồn tam giác phía bắc để rút chạy, 4-6 giờ ngày 8.12 bộ đội ta đồng loạt xung phong đánh chiếm đồn và tiến hành truy kích tàn quân địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt hơn 100 địch, thu 79 súng các loại..., góp phần phá vỡ hệ thống đồn bốt địch trên địa bàn, hỗ trợ nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng xã Nam Thái Sơn và một phần xã Tân Hội (nay thuộc h. Tân Hiệp). TRẬN ĐỒN KÊNH BÙI (28.3-5.4.1972), trận vây lấn tiến công của Đại đội đặc công 25 (Trung đoàn 88, Quân khu 8) phối hợp với du kích địa phương, đánh đồn kênh Bùi ở xã Tân Ninh ( nay thuộc h. Tân Thạch, t. Long An), do Đại đội bảo an 86 Tiểu khu Kiến Tường đóng giữ. Tại đây địch phòng ngự vững chắc, xung quanh có hệ thống tường, hào, hàng chục lớp rào kẽm gai, bùng nhùng xen kẽ bãi mìn... Đêm 28.3 ta bí mật khắc phục vật cản, xây dựng trận địa vây lấn trên ba hướng (bắc, đóng, nam), 3 giờ ngày 29.3 nổ súng. Bằng cách đánh bao vây, lấn dần, kết hợp nghi binh, bắn tỉa, triệt nguồn tiếp tế, gọi hàng và bố trí lực lượng đón lõng đánh địch rút chạy, sáng 5.4 ta làm chủ đồn, diệt và bắt 80 địch, thu 89 súng các loại... TĐKB được chuẩn bị tốt, cách đánh phù hợp. đạt hiệu suất chiến đấu cao, gây cho địch hoang mang (sau 1 ngày, địch ở 3 đồn lân cận bỏ chạy), góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh ở địa phương, mở rộng và củng cố vùng giải phóng, bảo đảm hành lang vận chuyển từ biên giới Campuchia xuống đồng bằng sông Cửu Long. TRẬN ĐỒN NGÃ NĂM (1-6.10.1974), trận bao vây tiến công của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Cai Lậy Bắc và du kích địa phương, đánh đồn Ngã Năm (bắc chi khu Cai Lậy 8km, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang), do Tiểu đoàn bảo an 512 QĐ Sài Gòn đóng giữ (có công sự, vật cản vững chắc). Từ 7 giờ ngày 1.10 ta tiến hành bao vây, dùng hỏa lực phá hoại và khống chế địch trong đồn, đồng thời tổ chức lực lượng đánh bại 2 đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch đến giải tỏa, sau đó tiếp tục thắt chặt vòng vây, buộc địch rút chạy khỏi đồn (6.10). Kết quả diệt và làm rã ngũ 27 địch, góp phần mở rộng vùng giải phóng, làm đảo lộn thế bố trí bảo vệ đường 4 của địch. TRẬN ĐỒN PHỔ LẠI (10.3.1951), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 436 (Trung đoàn 101, Mặt trận Bình - Trị - Thiên) đánh đồn Phổ Lại (h. Quảng Điền, t. Thừa Thiên, nay là Thừa Thiên - Huế), một cứ điểm quan trọng trong hệ thống vành đai bảo vệ thành Huế của Pháp, do khoảng 200 lính Âu - Phi và lính ngụy đóng giữ. 2 giờ ngày 10.3 ta sử dụng hỏa lực pháo và bộc phá tạo cửa mở cho mũi chủ yếu xung phong diệt lô cốt chính, đồng thời tổ chức lực lượng bất ngờ đánh vu hổi tiêu diệt địch. Sau một giờ chiến đấu, ta chiếm dược đồn, diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu 134 súng các loại và nhiều phương tiện QS, góp phần phá vỡ sự kiểm soát của địch trên tuyến hành lang Huế - Hương Trà - Quảng Điển. TRẬN ĐỒN TAM ĐƯỜNG (9210.12.1953), trận tập kích kết hợp vây ép của Đại đội 965 (bộ đội tỉnh Lào Cai) và Đại đội 513 (Tiểu đoàn 183, Liên khu Việt Bắc) cùng du kích địa phương đánh đồn Tam Đường (trung tâm h. Phồng Tô, t. Lào Cai, nay là thị trấn Tam Đường. h. Phong Thổ, t. Lai Châu). Đồn án ngữ trục đường Lai Châu - Lào Cai, gồm 1 đồn chính và các đồn nhỏ ở các bản và 5 quả đồi xung quanh, do 2 đại đội phi và 2 trung đội lính dõng đóng giữ. Rạng sáng 9.12 ta tập kích diệt 2 trung đội lính dõng ở bản Tả Sín Chải và Teo Sín Chải; sáng 10.12 tổ chức bắt chỉ huy đồn, sau đó tiến hành vây ép kết hợp gọi hàng. Sau gần 2 ngày chiến đấu, ta phá hủy đồn, diệt 33, bắt và gọi hàng gần 200 địch, thu hơn 100 súng các loại... góp phần giải phóng hoàn toàn h. Phồng Tô trong KCCP. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 06:34:11 am TRẬN ĐỒN TÂN LỢI (10.8.1974), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn 165, Sư đoàn 7) được tăng cường 2 phân đội đặc công của Tiểu đoàn 28, đánh đồn Tân Lợi (xã Tân Lợi, h. Tân Uyên, t. Biên Hoà, nay thuộc h. Đồng Phú, t. Bình Phước), do 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đồn được xây dựng trên điểm cao 50, có công sự vững chắc, xung quanh có tường, 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn bảo vệ. Đêm 9.8 ta bí mật chiếm lĩnh trận địa, khắc phục vật cản, áp sát mục tiêu, 5 giờ 45 phút ngày 10 nổ súng tiến công trên hai hướng; sau 2 giờ chiến đấu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, thu 20 súng, phá hủy 1 kho đạn, bắn rơi 2 máy bay trực thăng. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần phá vỡ một mảng trong hệ thống phòng ngự của địch ở bắc sông Đồng Nai, trực tiếp uy hiếp chi khu Tân Uyên và căn cứ QS Biên Hoà. TRẬN ĐÔNG BỘ ĐẦU (29.1.1258), trận phản công chiến lược của quân Trần (Đại Việt), do vua Trần Thái Tông chỉ huy đánh tan đạo quân xâm lược Mông cổ tại Đông Bộ Đầu (khu vực gần cầu Long Biên, Hà Nội ngày nay), kết thúc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần I (1258). Ngày 29.1 vua Trần đem thủy binh từ Thiên Mạc (nay thuộc Hà Nam) ngược Sông Hồng, phối hợp với lực lượng tại chỗ vây đánh địch ở Thăng Long, tạo thế áp đảo từ bốn hướng bất ngờ tiến công Đông Bộ Đầu, làm toàn bộ quân Mông cổ ở Thăng Long bị thiệt hại nặng phải rút chạy. Nắm vững thời cơ, chọn hướng tiến công đúng, dùng thủy binh để hạn chế ưu thế của kị binh địch là nét đặc sắc của TĐBĐ. TRẬN ĐÔNG HÀ 28.4.1967, trận tập kích hỏa lực của Đại đội pháo binh 12 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 84) vào căn cứ Đóng Hà (t. Quảng Trị), là căn cứ QS lớn, đầu não chỉ huy và dự trữ vật chất của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên tuyến phòng thủ đường 9. Được sự hỗ trợ, bảo vệ của 2 tiểu đoàn bộ binh và nhân dân địa phương, đêm 27.4 Đại đội 12 vượt sông Bến Hải, bí mật luồn sâu bố trí trận địa gồm 78 ống phóng pháo phản lực A-12 ở khu vực Lâm Xuân; 2 giờ ngày 28.4 đồng loạt nổ súng. Sau 35 phút chiến đấu, với 230 quả đạn, diệt và làm bị thương 400 địch, phá hủy 71 máy bay, 5 khẩu pháo, 4 kho, trong đó đánh thiệt hại nặng SCH Sư đoàn 3 của Mĩ. TĐH phát huy tốt cách đánh luồn sâu của pháo binh và uy lực của vũ khí mới, góp phần đẩy mạnh hoạt động tiến công địch trên Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. TRẬN ĐÔNG HÀ 27-28.4.1972, trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 308 được tăng cường xe tăng, pháo binh, đặc công... vào cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước (nay thuộc tx Đông Hà, t. Quảng Trị), do Trung đoàn bộ binh 57 (Sư đoàn 3), 2 liên đoàn biệt động quân (4 và 5), 2 thiết đoàn (17 và 20) QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước là vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía bắc Quảng Trị được xây dựng kiên cố, có hệ thống hầm ngầm, công sự, vật cản nhiều tuyến, nhiều lớp; sau các đợt tiến công của ta, địch áp dụng chiến thuật cụm bộ binh phòng ngự cơ động với vỏ cứng bằng hàng rào xe tăng bố trí trong công sự. Chiều và đêm 26.4 ta triển khai chiếm lĩnh trận địa trên ba hướng; 5 giờ ngày 27.4 nổ súng tiến công. Sau khi tập trung hỏa lực pháo binh bắn cấp tập vào đội hình bộ binh xe tăng và làm tê liệt các trận địa pháo địch, ta tổ chức đánh chiếm các điểm cao phía tây, thọc sâu vào sân bay, chi khu Đông Hà, kết hợp đánh địch phản kích. Sáng 28.4 ở hướng nam, Trung đoàn 102 phát triển ra đường 1, chiếm cầu Lai Phước, chia cắt đội hình địch; hướng tây Trung đoàn 88 đánh chiếm Trung Chỉ, Đại Áng; hướng bắc Trung đoàn 36 vượt Sông Hiếu đánh chiếm thị trấn Đông Hà. Bằng tác chiến hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh, thực hiện cách đánh đột phá chính diện và hai bên sườn, kết hợp với thọc sâu, bao vây chia cắt, truy kích tiêu diệt địch, đến 15 giờ ngày 28.4 ta làm chủ toàn bộ cụm cứ điểm. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 3.800 địch, thu và phá hủy hơn 200 xe QS (110 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 35 máy bay, giải phóng thị trăn Đông Hà, phối hợp với các hướng giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Trận then chốt chiến dịch giành thắng lợi sớm hơn dự kiến 2 ngày, thể hiện sự trưởng thành về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực VN trong KCCM. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67797221_464662390930313_1901040799672434688_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeHl0J28KqU3ovc9wgF4e8Ev8P3NV-5BH1fuQ24M6GYPEmgQAKKNwz-Q3t4S6AQkTsjqFRshqKOfTjQ-8XMns576GiPKmgRYKTOIKw8kBRwxZg&_nc_oc=AQmFG7CumhcaJ_iiWcXTOv2O6Imri_vWL8syfYLQ8tesVNzX9b_hxDlT8Qu5kNrR_7I&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=620c5fe2eff6552f966a431a5b0cf9b6&oe=5DEDF3AA) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 06:36:11 am TRẬN ĐÔNG HÒA 8.3.1967, trận chiến đấu tao ngộ của Đại đội 3 (Tiểu đoàn 514) bộ đội địa phương tỉnh Mĩ Tho, đánh quân Mĩ thuộc Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 9) hoạt động tại xã Đông Hòa (h. Châu Thành, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Thực hiện nhiệm vụ thọc sâu, tìm diệt quân Mĩ trong vùng Long Hưng, Đông Hòa, Vĩnh Kim, đại đội tổ chức lực lượng thành 3 đội và 1 tổ trinh sát (quân số 42 người), chiều 5.3 xuất phát hành quân. Sau 2 đêm không thực hiện được ý định tác chiến, đêm 7 rạng 8.3 đại đội tiếp tục hành quân, trên đường trở về dọc theo bờ kênh Kháng Chiến (xã Đông Hòà) bất ngờ gặp địch, đã kịp thời triển khai đội hình chiến đấu, dùng cách đánh áp sát, xung phong chia cắt tiêu diệt từng toán quân địch. Sau khoảng 15 phút chiến đấu, do địch phía sau còn đông và dùng hỏa lực bắn trả quyết liệt, ta chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, Kết quả diệt hơn 30 địch, thu 4 súng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần đẩy mạnh phong trào “tìm Mĩ mà diệt”, bước đầu hình thành cách đánh hiệu quả trong tác chiến với quân Mĩ trên địa bàn tỉnh. TRẬN ĐÔNG HÒA 8-10.7.1972, trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Quân khu 8) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 200 (Trung đoàn 88), Tiểu đoàn đặc công 269 và hỏa lực quân khu, đánh Tiểu đoàn bảo an 402 và 3 liên đội bảo an (15, 46 và 99), 2 tiểu đoàn biệt động quân (67 và 76) QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa khu vực xã Đông Hòa (q. Sầm Giang, t. Định Tường, nay thuộc h. Châu Thành, t. Tiền Giang). Đêm 7.7 ta nổ súng tiến công chi khu Vĩnh Kim, đồng thời triển khai trận địa phục kích ở 2 bên lộ Đông Hòa (đoạn nối từ đường 4 đến chi khu Vĩnh Kim). Sáng 8.7 địch điều Tiểu đoàn bảo an 402 đến ứng cứu, ta nghi binh, chờ địch vào gần mới nổ súng, kết hợp đánh tại chỗ và đánh vận động diệt phần lớn tiểu đoàn địch, sau đó tổ chức bộ phận chặn đánh tàu chiến địch hoạt động trên kênh Nguyễn Tấn Thành. Trong các ngày 9 và 10.7, địch tăng cường lực lượng, có máy bay, pháo binh, xe bọc thép yểm trợ, tiếp tục tiến hành giải tỏa. Ta khéo giữ bí mật, bất ngờ cơ động đánh địch trên các hướng, hình thành thế bao vây, chia cắt, truy kích diệt 5 đại đội, buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, bắn cháy 1 tàu chiến, thu hơn 100 súng... Là trận đầu tiên đơn vị đánh phục kích và trụ bám dài ngày đạt hiệu suất cao, góp phần đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở địa phương làm tan vỡ nhiều đồn bốt địch. TRẬN ĐÔNG KHÊ 25-26.5.1950, trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 174 và Tiểu đoàn pháo binh 253 (8 khẩu sơn pháo 75mm) vào Đông Khê (nam tx Cao Bằng 45km, nay là thị trấn Đông Khê, h. Thạch An, t. Cao Bằng), một trong những cứ điểm quan trọng của quân Pháp trên đường 4, do 2 đại đội lính Ma rốc và 1 đại đội ngụy quân chiếm giữ, có công sự vững chắc, hỏa lực mạnh. 19 giờ ngày 25.4 trận đánh bắt đầu bằng hỏa lực pháo binh tập trung chi viện phá rào và .sát thương quân địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong đánh chiếm các vị trí trong cứ điểm. Đến 6 giờ ngày 26.5 ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 300 địch, thu và phá hủy 6 khẩu pháo... TDK thể hiện sự trưởng thành của bộ đội chủ lực VN về trình độ kĩ thuật, chiến thuật và tác chiến hiệp đồng giữa bộ binh với pháo binh trong đánh công sự vững chắc. TRẬN ĐÔNG KHÊ 16-18.9.1950, trận tiến công của 2 trung đoàn bộ binh (174 và 209) được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh (11, 426), 13 khẩu pháo 75mm và 2 khẩu ĐKZ, vào cụm cứ điểm Đông Khê (nam tx Cao Bằng 45km, nay là thị trấn Đông Khê, h. Thạch An, t. Cao Bằng), mở đầu chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Đông Khê là cụm cứ điểm hiểm yếu trong tuyến phòng ngự đường 4 của Pháp, được xây dựng kiên cố gồm khu đồn chính (SCH, có hầm ngầm cố thủ) và 7 đồn tiền tiêu, do 2 đại đội thuộc Trung đoàn lê dương 3, 1 trung đội lính dõng và 1 phân đội pháo 105mm đóng giữ (tổng quân số khoảng 350). Từ 6 giờ ngày 16.9 trận đánh bắt đầu. Sau khi hỏa lực chuẩn bị mở cửa, Trung đoàn 174 và các tiểu đoàn 11, 426 làm nhiệm vụ chủ công, đánh hướng bắc - đông bắc, Trung đoàn 209 đánh hướng nam - tây nam; đến 4 giờ ngày 17.9 chiếm 5 đồn tiền tiêu, nhưng không phát triển được, bị địch dùng máy bay, pháo binh ngăn chặn và phản kích chiếm lại 3 dồn. 17 giờ ta tập trung lực lượng tổng công kích vào khu đồn chính, diệt SCH và các vị trí còn lại; đến 10 giờ ngày 18.9 làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch (phần lớn lính Âu - Phi, có đại úy đồn trưởng), bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí. Trận then chốt mở màn chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện cho ta phát triển thế tiến công, buộc địch phải rút quân khỏi Cao Bằng. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67888246_464662404263645_4839549671456112640_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEzfbRqO5bFkA0AzC5Ccsb48zWkOlD1IyUUaq2sMMgO2StwqDWp5LOQVbyayCCG_eAyGm91bsh_hxylpzAz22DzAof_OZZ4t9q_k6xx3j1IEA&_nc_oc=AQkdbiLTkQBE41dlFhZ56sAMbABMycmghevy3Fv0XnUjH2dRiz9yF3ZJkmhEmZn1gM4&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f913c7dfce45e6e5c6f2285bf9599065&oe=5DD33D82) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:49:04 am TRẬN ĐÔNG NAM HUẾ (23-26.3.1975), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 324 (Quân đoàn 2) truy kích QĐ Sài Gòn rút chạy tại khu vực đông nam Huế trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Chiều 23.3 phát hiện quân địch ở Huế tháo chạy ra cửa Thuận An, Tư Hiền theo đường biển rút về Đà Nẵng, ta triển khai lực lượng thành ba mũi cấp tốc cơ động xuống đồng bằng, vừa hành quân vừa đánh địch: Trung đoàn 1 đánh địch ở Phú Thứ, Lương Viên rồi vượt phá Tam Giang, tiến công tiêu diệt địch ở Cự Lại, Kế Sung, đánh lên Thuận An; Trung đoàn 2 tiến quân bên bờ tây phá Tam Giang, chia hai hướng đánh ra Tân Mĩ - Thuận An; Trung đoàn 3 có xe tăng đi cùng đánh vào tp Huế, chiếm Mang Cá, SCH tiền phương Quân đoàn 1- Quân khu 1 của địch,... rồi phát triển ra cửa Thuận An. Bằng cách đánh áp đảo, sau 3 ngày chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ khu vực phía đông Huế, từ cửa Thuận An đến Cự Lại, diệt và bắt hơn 15.000 dịch, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, bắn cháy 5 tàu chiến, thu 3 xe tăng, gần 4.000 súng các loại. TĐNH góp phần tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn bộ binh 1 và toàn bộ quân địch ở Thừa Thiên - Huế, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. TRẬN ĐỔNG DÙ 26.2.1969, trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 3 (trực thuộc BTL Miền), Tiểu đoàn đặc công 28 (Sư đoàn bộ binh 7) và 1 tiểu đoàn pháo, cối hỗn hợp vào căn cứ Sư đoàn Tia chớp nhiệt đới của Mĩ ở Đồng Dù (Củ Chi, tây bắc Sài Gòn 30km). Càn cứ có SCH sư đoàn và Lữ đoàn bộ binh 2, sân bay, trận địa pháo, bãi xe cơ giới, 7 lớp rào thép gai cao 5m, 320 lô cốt và ụ súng; bên ngoài có 5 đại đội thám báo bảo vệ. 2 giờ 45 phút ta nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu, đánh thiệt hại nặng SCH sư đoàn và Lữ đoàn 2, diệt và làm bị thương hơn 1.000 địch, phá hủy 50 máy bay, 176 xe QS, 12 khẩu pháo, 4 kho bom đạn, xăng dầu và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Trận đánh lớn đầu tiên với quy mô trung đoàn của bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ, đạt hiệu suất cao. TRẬN ĐỒNG DÙ 29.4.1975, trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 320 (Quân đoàn 3) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh và Trung đoàn pháo phòng không 593 (thiếu 1 tiểu đoàn) vào căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 QĐ Sài Gòn tại Đồng Dù (tây bắc Sài Gòn 30km, nay thuộc h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh), nhằm mở cửa hướng tây bắc, không cho địch co cụm về Sài Gòn, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26- 30.4.1975). Lực lượng địch trong căn cứ có SCH Sư đoàn 25, Trung đoàn bộ binh 50, Trung tâm huấn luyện tân binh và hạ sĩ quan, các tiểu đoàn trực thuộc gồm công binh, pháo binh, thiết giáp, thông tin, trinh sát... Trận đánh được tiến hành theo phương án địch đã tăng cường phòng thủ, bắt đầu lúc 5 giờ 30 phút. Bằng cách đánh hiệp đồng binh chủng, tập trung tối đa hỏa lực pháo binh và pháo phòng không chi viện cho bộ binh và xe tăng đột phá liên tục trong quá trình mở cửa, thọc sâu đánh chiếm mục tiêu và đánh dị - h phản kích, sau 6 giờ chiến đấu ta làm chủ toàn bộ căn cứ. Kết quả diệt và bắt hơn 2.700 địch (có chuẩn tướng sư đoàn trưởng, đại tá sư đoàn phó và một số sĩ quan tham mưu Sư đoàn 25), thu gần 5.000 súng các loại, thu và phá hủy 434 xe QS (có 23 xe tăng và xe bọc thép); góp phần mở thông cánh cửa hướng tây bắc cho Sư đoàn bộ binh 10 thọc sâu vào nội đô, giải phóng tp Sài Gòn. TRẬN ĐỒNG DƯƠNG (8.12.1965), trận vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 70 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2, Quân khu 5) chặn đánh Tiểu đoàn biệt động quân 11 (Chiến đoàn 5) QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại thôn Đồng Dương (h. Hiệp Đức, t. Quảng Nam), trong đợt 2 chiến dịch Đồng Dương (17.11-18.12.1965). Tiểu đoàn 70 tổ chức trận địa phục kích trên đường 16, nhưng địch hành quân theo đường Hà Lam lên Đồng Dương (phía bắc đường 16), qua đội hình bố trí của Đại đội 2. Thực hiện điều chỉnh phương án tác chiến, tiểu đoàn cho Đại đội 2 bí mật lùi dần về cuối thôn nổ súng chặn đầu, đồng thời đưa Đại đội 3 đánh tạt sườn vào trung tâm đội hình địch, Đại đội 1 khóa đuôi ở tháp Đồng Dương. Bằng cách đánh áp đảo, bất ngờ, nhanh chóng hình thành thế bao vây, chia cắt, tập trung diệt SCH, kết hợp hỏa lực và xung lực tiêu diệt các toán quân dịch co cụm chống cự, sau gần 2 giờ chiến đấu (từ 12 giờ 30 phút) ta diệt phần lớn tiểu đoàn địch. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi góp phần đánh bại cuộc hành quân giải tỏa của dịch ở khu vực Việt An, Hiệp Đức, Quế Sơn, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:49:58 am TRẬN ĐỒNG ĐÁ (15.10.1973), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 7 được tăng cường Đại đội bộ binh 6 (Tiểu đoàn 8 ) thuộc Trung đoàn 16 bộ đội chủ lực Miền, đánh QĐ Sài Gòn lấn chiếm tại khu vực Đồng Đá (xã Lộc Hưng, h. Trảng Bàng, t. Tây Ninh). Lực lượng địch gồm 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội thám sát thuộc Trung đoàn 50 (Sư đoàn 25), đóng thành 3 cụm, công sự dã chiến, xung quanh có hàng rào kẽm gai, bãi mìn bảo vệ. 22 giờ 30 phút ta nổ súng tiến công, sau 13 phút hỏa lực chuẩn bị, bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, làm chủ trận địa lúc 22 giờ 57 phút. Kết quả diệt và bắt hơn 100 địch, thu 78 súng các loại, góp phần đánh bại âm mưu lẩn chiếm của dịch, buộc địch phải rút bỏ khu vực chiếm đóng ở Đồng Đá. TRẬN ĐỒNG LÂM (19.5.1968), trận tập kích hỏa lực của Tiểu đoàn pháo binh 35 (Quân khu Trị - Thiên) vào căn cứ hành quân của Sư đoàn kị binh không vận số 1 QĐ Mĩ tại Đồng Lâm (tây bắc tp Huế khoảng 20km, h. Phong Điền, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huê). Dựa vào trận địa chuẩn bị trước, 18 giờ 17 phút, phát hiện địch đang tập trung quân, tiểu đoàn kịp thời nổ súng chính xác, bắn 4 loạt với 8 viên đạn pháo phản lực ĐKB, phá hủy 3 máy bay vận tải và 10 máy bay trực thăng, hơn 3.000t nhiên liệu, đạn dược, làm chết và bị thương hàng trăm quân địch. Trận đánh được chuẩn bị tốt, đánh đúng thời cơ, đạt hiệu quả cao, góp phần hạn chế hoạt động càn quét và tiếp ứng của địch cho mạt trận Khe Sanh. TRẬN ĐỒNG RÙM (21.3.1967), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 (thiếu), chủ lực QGP miền Đông Nam Bộ vào Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 4) và 1 tiểu đoàn bộ binh thuộc Lữ đoàn 173 của Mĩ đóng chốt dã ngoại ở Đồng Rùm (nay thuộc xã Thanh Đông, h. Tân Châu, t. Tây Ninh). 5 giờ 39 phút trận đánh bắt đầu. Sau khi bắn cấp tập các loại hỏa lực cối và ĐKZ, sư đoàn sử dụng Trung đoàn 2 đột phá hướng chủ yếu (hướng bắc), thọc sâu vào SCH, đồng thời Trung đoàn 16 phối hợp đánh hai cụm quân địch ở nam, bắc Đồng Rùm. Kết quả sau gần 3 giờ chiến đấu, ta đánh thiệt hại nàng SCH Lữ đoàn 3,1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, tiêu hao 1 tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 87 xe tăng thiết giáp, bắn rơi 12 máy bay, thu nhiều vũ khí đạn dược. Trận then chốt, có ý nghĩa quyết định đánh bại đợt 2 cuộc hành quân Gianxơn Xiti (22.2-15.4.1967). TRẬN ĐỒNG THÁP MƯỜI (14-18.2.1948), trận chống càn của quân và dân Đồng Tháp Mười nhằm đánh bại cuộc hành quân Vêga (14-18.2.1948) của Pháp, bảo vệ căn cứ và cơ quan lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ. Sáng 14.2 Pháp huy động 11 tiểu đoàn bộ binh và dù, 2 tiểu đoàn xe lội nước, 3 đại đội thiết giáp, 1 đại đội công binh, 4 đội tàu đổ bộ, 9 khẩu pháo, 13 máy bay chia ba hướng bao vây, tiến công. Dựa vào địa hình kênh rạch chằng chịt, cỏ lác rậm rạp, ta kịp thời chặn đánh các cánh quân địch bằng nhiều biện pháp: phục kích, tập kích, quấy rối, bắn tỉa kết hợp gài mìn và địa lôi; thực hiện đánh nhanh rút nhanh, tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu... Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, làm thất bại cuộc hành quân quy mô lớn nhất của Pháp ở Nam Bộ kể từ đầu chiến tranh, để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh du kích, góp phần giữ vững và phát triển Chiến khu Đồng Tháp Mười trong KCCP. TRẬN ĐỒNG XOÀI 9-10.6.1965, trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 2 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 3), 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội ĐKZ 75mm, 1 đại đội súng phun lửa vào chi khu Đồng Xoài (t. Phước Long, nay thuộc t. Bình Phước), do QĐ Sài Gòn chiếm giữ, trong đợt 2 chiến dịch Đồng Xoài (10.5-22.7.1965). Lực lượng địch tại chi khu có 3 đại đội biệt kích, 2 đại đội bảo an và dân vệ, 1 trung đội pháo binh, 2 chi đội xe bọc thép, 1 trung đội cảnh sát, có hệ thống bảo vệ, công sự, hầm ngầm kiên cố. Đêm 9.6 ta triển khai tiến công, do tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ, có bộ phận nổ súng trước giờ quy định nên các hướng bộ binh mở cửa gặp khó khăn, bị địch tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt. 3 giờ 40 phút ngày 10.6, sau 3 lẫn đột phá, ta chiếm được khu biệt động quân, phần lớn khu bảo an. khu hành chính,... tiến hành đánh địch phản kích, đến 17 giờ làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 600 dịch, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, thu và phá hủy 7 xe bọc thép, gần 400 súng các loại (có 2 pháo 105mm)„. Là trận then chốt tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi; đánh dấu bước trường thành của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ về đánh địch trong công sự vững chắc. Sau TĐX Trung đoàn bộ binh 1 được tặng danh hiệu “Trung đoàn Đổng Xoài”. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:51:04 am TRẬN ĐỒNG XOÀI 26.12.1974, trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Sư đoàn 7, Quàn đoàn 4) được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh và cụm hỏa lực chiến dịch (3 cối 120mm, 4 pháo nòng dài 85mm, 4 súng máy phòng không 12,8mm) vào chi khu QS của QĐ Sài Gòn ở Đồng Xoài (t. Phước Long, nay là thị hấn Đồng Xoài, t. Bình Phước), trong đợt 2 chiến dịch Dường 14 - Phước Long (13.12.1974-6.1.1975). Lực lượng địch khoảng 1.300 quân, gồm ban chỉ huy chi khu, Tiểu đoàn bảo an 341 và 2 trung đội pháo (2 pháo 105mm, 2 pháo 155mm) bố trí trong 500 ụ súng, lô cốt, hầm ngầm, xúng quanh có tường đất dày 3m, 11 lớp rào kẽm gai xen kẽ bãi mìn, cùng với 19 trung đội cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự đóng đồn ở ngoại vi. Đêm 25.12 trung đoàn triển khai chiếm lĩnh trận địa, tổ chức lực lượng trên 3 hướng: tây (chủ yếu), đông (thứ yếu), nam (vu hồi). 5 giờ 37 phút ngày 26.12 trận đánh bắt đầu. Sau đợt hỏa lực chuẩn bị mãnh liệt, các đơn vị đồng loạt mở cửa dột phá vào căn cứ, lần lượt đánh chiếm mục tiêu và đánh địch co cụm, đến 10 giờ 30 phút làm chủ trận địa. Kết quả diệt, bắt và gọi hàng 887 địch, thu 552 súng các loại (2 pháo 105mm, 2 pháo 155mm), 50 máy thông tin, 30 xe QS, 3.000 đạn pháo 105-155mm, 10t gạo, giải phóng 4.500 dân. TĐX thắng lợi góp phần đánh bại ý đồ phản kích chiếm lại đường 14 của dịch, buộc địch phải co cụm phòng thủ, tạo thuận lợi cho lực lượng Quân đoàn 4 tiến công giải phóng tx Phước Long. TRẬN ĐỐNG ĐA - THĂNG LONG (30.1.1789), trận tiến công trên hướng thứ yếu của quân Tây Sơn do đô đốc Long (có tài liệu nói là Đặng Tiến Đông) chỉ huy, diệt quân Thanh (TQ) ở đồn Đống Đa (Khương Thượng, tây nam Hà Nội 2km) phối hợp với hướng chủ yếu tiến công Ngọc Hồi (x. trận Ngọc Hổi - Đầm Mực, 30.1.1789). Đạo quân của đô đốc Long gồm kị binh, tượng binh; lực lượng không nhiều nhưng có sức cơ động, đột phá nhanh qua Chương Đức (nay thuộc Hà Tây), đến Nhân Mục (nay thuộc Từ Liêm, Hà Nội), bí mật vây đồn Đống Đa. Mờ sáng 30.1 quân Tây Sơn bất ngờ tiến công, đập tan tuyến ngoài, chọc thẳng vào SCH quân Thanh; được nhân dân quanh vùng tham gia phối hợp, dùng rơm bện thành con cúi, tâm dẩu đốt, tạo thành vòng vây lừa uy hiếp. Quân Thanh không chống cự nổi, tan vỡ và bị diệt gần hết. Tướng Thanh là Sầm Nghi Đống phải tự tử. Quân Tây Sơn liên tiếp hạ các đồn Yên Quyết, Nam Đồng, dùng lực lượng xung kích thọc sâu vào thành Thăng Long qua cửa tây nam (nay là ô Chợ Dừa), làm rối loạn khu phòng thủ trung tâm, uy hiếp đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ, không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên cùng đội kị binh cận vệ vượt cầu phao qua Sông Hồng trốn chạy. Binh lính địch hoảng loạn, tranh nhau qua cầu, cầu gẫy làm hàng nghìn quân Thanh bỏ xác dưới sông hoặc bị bắt. Trưa 30.1 quân Tây Sơn hoàn toàn làm chủ chiến trường, kịp đón đại quân Nguyễn Huệ vào Thăng Long. Trận vu hồi, bất ngờ thọc sâu nhanh, kết hợp được với sức mạnh của nhân dân, phát huy cao độ sức đột phá của bộ binh, tượng binh vào chỗ yếu đối phương, góp phần quyết định kết thúc kháng chiến chống Thanh (1788-89). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68285313_464662397596979_3322559792215490560_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeGHg-XcpmgauWHNY0GjZTK0BntgQNAsULf0rS4zsL9IMy3zWiRXG0I8uPGl93Hyln2nH5OXGcksmLPfbxwezk3NRpAUeTZH-75pR17Qt4UT8w&_nc_oc=AQlMLieXTFNhaHXg7z2u3ZAVz0svQtVc8QylqxfjQJau3rVqbz15s8Q_10oih1aEXFo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=08f0b54d15f3b1ef7621fd1c2a4b4b45&oe=5DD1A208) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:52:04 am TRẬN ĐỘNG CÔ TIÊN (2.6.1970). trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 304) đánh Trung đoàn bộ binh 54 QĐ Sài Gòn hành quân ứng cứu khu vực nam Quảng Trị, co lại ở động Cô Tiên (nay thuộc h. Đa Crông, t. Quảng Trị). 3 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9 bất ngờ nổ súng tiến công, thọc sâu vào SCH làm địch rối loạn; sau 30 phút chiến đấu, làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương hơn 600 địch, bao gồm SCH hành quân của Trung đoàn 54, Tiểu đoàn bộ binh 2, 1 đại đội công binh, 1 trung đội thám báo. TĐCT là một trong những trận đánh đạt hiệu suất cao của Sư đoàn 304 trong năm 1970. TRẬN ĐỘNG TOÀ (12.9.1974), trận tập kích của 4 chiến sĩ đặc công thuộc Đại đội 5 (Tiểu đoản đặc công 33) đốt cháy kho xăng trong căn cứ Động Toà (h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế), hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn. Cãn cứ địch được canh phòng cẩn mật với 7 lớp rào thép gai; lực lượng có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp và các đơn vị tuần tra, bảo vệ. Đêm 11.9 lực lượng đặc công chia hái tổ, bí mật đột nhập căn cứ, đạt lượng nổ hẹn giờ vào các dãy bồn xăng rồi rút ra an toàn; 0 giờ 10 phút ngày 12, kho xăng phát nổ, đốt cháy 1.400.000 lít xăng, làm chết và bị thương một số địch. TRẬN ĐỘNG TOÀN (30.3-1.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (thiếu 1 tiểu đoàn) thuộc Sư đoàn 304 vào căn cứ Động Toàn (h. Cam Lộ, t. Quảng Trị), do Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 4 (Lữ đoàn 147) QĐ Sài Gòn đóng giữ, mở đầu chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Căn cứ được xây dựng kiên cố trên ba mỏm núi cao hiểm trở, xung quanh vách đá sườn núi dốc đứng, là “con mắt thần” trong khu vực phòng ngự tây đường 9 của địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt suốt 2 ngày đêm; lúc đầu gặp khó khăn tại cửa mở, sau đó được hỏa lực pháo của sư đoàn tăng cường chi viện, đến 6 giờ ngày 1.4 trung đoàn làm chủ căn cứ và tổ chức truy kích diệt phần lớn quân địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt 375 địch, trong đó diệt gọn 2 đại đội, 1 trung đội cùng SCH Tiểu đoàn 4. Chiến thắng Động Toàn cùng với những trận đánh ở Đầu Mầu, Ba Hồ của Sư đoàn 304 đã phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở phía tây đường 9, tạo điều kiện cho lực lượng dự bị chiến dịch vào chiến đấu giải phóng hoàn toàn Quảng Trị. TRẬN ĐỘNG TRANH (25-26.7.1972), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 324 (2 trung đoàn) được tăng cường Trung đoàn pháo binh 368 đánh căn cứ Động Tranh trên dãy điểm cao 372 (h. Hương Điền, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế) do Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn chốt giữ. Nằm trong tuyến phòng thủ đường 12 bảo vệ phía tây Huế, căn cứ Động Tranh được xây dựng, củng cố, có hệ thống công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, khả năng chi viện ứng cứu nhanh (có trận địa pháo, sân bay dã chiến...). Sau khi đánh chiếm cứ điểm Mái Nhà, dãy đồi Không Tên và một số điểm cao ngoại vi, tạo thế vây ép địch, 18 giờ ngày 25.7 ta tập trung hỏa lực pháo, cối bắn chế áp địch ở Động Tranh, đồng thời kiềm chế địch ở Bình Điền, đèo Sơn Na, Ap 5, phá hủy trận địa pháo, SCH, nhiều công sự, kho tàng của địch. 4 giờ 30 phút ngày 26 tiếp tục tiến hành hỏa lực chi viện cho bộ binh xung phong đánh chiếm Động Tranh và đánh địch phản kích, đến 14 giờ làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 800 dịch, bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 15 khẩu pháo... Là trận đánh hiệp đồng binh chủng đạt hiệu suất cao, góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trong tuyến phòng ngự của địch, chia cắt đường 12, tạo thuận lợi cho các lực lượng tiến công Huế. TRẬN ĐRAN (15.5.1961), trận tập kích của Đại đội đặc công 121 và Đại đội bộ binh 120 (LLVT Liên tỉnh 3) vào chi khu QS Đran thuộc t. Tuyên Đức (nay là huyện lị Đơn Dương, t. Lâm Đồng), là chi khu QS quan trọng án ngữ đường 11, do một đại đội bảo an QĐ Sài Gòn và một số dân vệ chốt giữ. Đêm 15.5 bộ đội ta bí mật tiếp cận, đồng loạt nổ súng, sau một giờ chiến đấu, diệt hầu hết các mục tiêu quan trọng, bắt quận trưởng, thu hàng trâm súng (có 12 trung liên). Lần đầu tiên ta tiên công vào trung tâm quận lị ở khu vực cao nguyên Làm Đồng trong KCCM, đã tác động mạnh đến lực lượng địch ở đây, tạo thuận lợi cho các đội vũ trang Liên tỉnh 3 và Liên tinh 4 phát triển nhanh lên phía bắc để xây dựng và mở rộng căn cứ kháng chiến ở các tính Lâm Đổng, Tuyên Đức. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:52:57 am TRẬN ĐỨC HÒA (7.10.1964), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 263 (Quân khu 8) và LLVT tỉnh Long An chặn đánh Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 46) và Đại đội biệt động quân 30 QĐ Sài Gòn tại khu vực Cầu Cá - ngã ba đường 224 đi Lương Hòa (tây nam quận lị Đức Hòa l,5km). Sáng 7.10 địch từ Đức Hòa hành quân theo đường 9A nhằm ứng cứu cho đồn Lương Hòa bị ta bao vây. Khi đội hình địch lọt vào trận địa, ta bất ngờ nổ súng chặn đầu, khóa đuôi rồi xung phong tiêu diệt; sau 1 giờ loại khỏi chiến đấu 400 địch (bắt 100), thu 40 súng, bắn roi 2 máy bay trực thăng. Trận đánh góp phần đánh bại âm mưu càn quét, gom dân lập ấp chiến lược của địch ở Long An. TRẬN ĐỨC LẬP (9-10.3.1975), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 10 (Mặt trận Tây Nguyên) vào chi khu QS quận lị Đức Lập (tây nam tx Buôn Ma Thuột 35km, nay là thị trấn Đắc Min, h. Đắc Min, t. Đắc Lắc), do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lực lượng địch gồm: SCH hành quân Sư đoàn 23, 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 53, 1 chi đoàn xe tăng, thiết giáp (24 xe), 14 khẩu pháo 105-155mm, 1 tiểu đoàn và 2 đại đội bảo an, 18 trung đội dân vệ, 1 trung đội cảnh sát (tổng số khoảng 2.400 quân). 5 giờ 35 phút ngày 9.3, sư đoàn nổ súng tiến công, sau hơn 3 giờ chiến đấu, chiếm căn cứ Núi Lửa và SCH Sư đoàn 23 nhưng tiến công quận lị Đức Lập không thành công do nắm địch không chắc, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, bị địch dựa vào công sự và xe tăng đặt ngầm dưới đất chống trả quyết liệt. Sáng 10.3 ta tổ chức lại lực lượng, đưa 2 khẩu pháo 85mm lên đồi Nhà Thờ bắn ngắm trực tiếp, chi viện có hiệu quả cho bộ binh tiếp tục tiến công, làm chủ quận lị lúc 8 giờ 30 phút. Kết quả diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu 20 xe tăng, thiết giáp, 14 khẩu pháo, giải phóng quận lị Đức Lập, mở thông đường vận chuyển chiến lược từ Tây Nguyên vào Đông Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho trận Buôn Ma Thuật (10-11.3.1975). TRẬN ĐỨC VINH (20-28.5.1972), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 165 (Sư đoàn 7) được tăng cường 1 đại đội hỏa lực, đánh 2 tiểu đoàn bộ binh QĐ Sài Gòn chốt giữ khu vực Đức Vinh (xã Tân Khai, h. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước), trong đợt 2 chiến dịch Nguyễn Huệ. (1.4.1972-19.1.1973). Từ 20-27.5 trung đoàn triển khai bao vây, dùng hỏa lực khống chế, đưa lực lượng áp sát vị trí địch, đồng thời chặn đánh Thiết đoàn 19 của địch đến giải tỏa; sáng 28 đẩy mạnh tiến công, đánh địch rút chạy, đến rạng sáng 29 làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 400 địch (bắt 31), thu 188 súng, bắn rơi 14 máy bay, phá hủy 7 xe thiết giáp, góp phần thực hiện nhiệm vụ chốt chặn đường 13, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển. TRẬN ĐƯỜNG 2 (9.12.1964), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 762 (nay là Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) đánh Chi đoàn thiết giáp 3 (Thiết đoàn 1) QĐ Sải Gòn hành quân giải tỏa trên đường 2, tại xã Bình Ba (h. Châu Thành, nay là h. Châu Đức, t. Bà Rịa - Vũng Tàu) trong đợt 1 chiến dịch Bình Giã (2.12.1964-3.1.1965). Trung đoàn sử dụng 2 tiểu đoàn (4 và 6) được tăng cường hỏa lực cối 82mm, ĐKZ 75mm và súng máy phòng không 12,7mm, bố trí trận địa phục kích theo trục đường, đoạn bắc Sông Cầu đến ấp Đông Ngọc Khai (khoảng 2km). 13 giờ 30 phút đoàn xe địch hành quân hàng dọc lọt vào trận địa, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, tạt sườn, chia cắt đội hình và vận động đánh địch co cụm. Kết quả sau gần 2 giờ chiến đấu diệt hơn 100 địch, phá hủy 14 xe bọc thép M113, bắn rơi 3 máy bay, thu và phá hủy hàng trăm súng các loại... Trận đầu tiên ta diệt gọn một chi đoàn thiết giáp của địch ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. TRẬN ĐƯỜNG 13 (21.7-2.8.1967), trận chốt chặn giao thõng của 1 trung đội thuộc Đại đội công binh 19 (Sư đoàn 9) phối hợp với du kích và 2 tiểu đội bộ đội địa phương, nhằm cắt đứt hoạt động vận chuyển, tiếp tế của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên đường 13 (đoạn Lai Khê đi Chơn Thành, t. Bình Dương). Đêm 20.7 ta xây dựng trận địa chốt dài 3-4km tại khu vực thôn Bàu Bàng 1 - Bàu Bàng 2 (bắc Thủ Dầu Một 25km), gồm 6 bãi mìn liên hoàn trên mặt đường và hai bên đường, xen kẽ vật cản (ụ đất) và các đoạn đường bị đào phá, đồng thời bố trí lực lượng thành các tổ nhỏ thay phiên chốt chặn ở các vị trí xung yếu, có công sự vững chắc. Bằng cách đánh cơ động, linh hoạt, tích cực đánh địch cả trên bộ, trên không, sau 12 ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương 175 địch, bắn rơi 2 máy bay, phá hủy 22 xe QS (có 16 xe bọc thép), thực hiện tốt nhiệm vụ triệt phá tuyến giao thông quan trọng của địch trong thời gian dài. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:53:46 am TRẬN ĐƯỜNG 14 (29.3.1965), trận phục kích của trung đội du kích xã B1 (h. Chư Pa, t. Gia Lai) đánh đoàn xe QS của QĐ Sài Gòn trên đường 14, tại khu vực giữa ấp Ra Vai đến ngã ba ấp Ba Ke. Ta tổ chức lực lượng thành 3 tổ, đêm 28 rạng 29.3 bí mật triển khai trận địa ở hai bên đường, chờ đánh xe địch khi lên dốc, chạy chậm. 15 giờ 30 phút ngày 29.3 đoàn xe địch (3 xe GMC) và lực lượng hộ tống chở hàng tiếp tế từ Plây Cu về Kon Tum lọt vào trận địa, ta đồng loạt nổ súng, bắn cháy 2 xe, diệt và làm bị thương 15 địch, thu 5 súng. Đém 29.3 ta lập trận địa giả, nghi binh, khiến địch ở đồn Grút hoang mang bỏ chạy, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy phá 2 ấp chiến lược Brút và Ba Ke. TRẬN ĐƯỜNG 14A (18.7.1970), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 174, Sư đoàn 5 bộ đội chủ lực Miền) được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm, 1 đại đội đặc công, chặn đánh 1 đại đội cơ giới Mĩ và 1 đại đội QĐ Sài Gòn hành quân trên đường 14A, ở phía tây nam chi khu QS Bù Đốp 8km (h. Lộc Ninh, t. Bình Phước). 15.7 ta bí mật bố trí trận địa cách đường khoảng 200m. 17 giờ ngày 18.7 đoàn xe địch có máy bay trực thăng yểm trợ từ hướng Lộc Ninh lên Bù Đốp, lọt vào trận địa. Ta nổ súng bắn cháy 2 xe M113 đi đầu, đồng thời dùng hỏa lực cối 82mm bắn vào đội hình địch, dùng súng máy phòng không 12,7mm bắn máy bay tạo điểu kiện cho các mũi xung phong diệt địch trên đường. Sau 40 phút chiến đấu, ta diệt hơn 170 địch, bắn rơi 6 máy bay, phá hủy 29 xe QS... Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần hạn chế sự lùng sục của địch, bảo vệ được kho tàng của ta ở khu vực biên giới. TRẬN ĐƯỜNG 19 (Cà Tung, 2.9.1967), trận phục kích của 1 trung đội công binh thuộc Đại đội 17 bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai, phối hợp với 2 tiểu đội du kích xã Cà Tung, đánh đoàn xe QS Mĩ trên đường 19, tại khu vực cống Cà Tung - cống Đắc Pơ (tây thị trấn An Khê 15km, t. Gia Lai). 6 giờ ngày 2.9 ta bí mật triển khai trận địa phục kích, bố trí lực lượng sát đường, ngụy trang kín đáo. 17 giờ 15 phút đoàn xe 40 chiếc chở quân Mĩ từ Plây Cu chạy đến, ta đồng loạt nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, dùng súng B-40, mìn diệt xe, đồng thời tổ chức các mũi xung phong chia cắt đội hình địch. Sau hơn 10 phút chiến đấu. ta phá hủy 37 xe (có 2 xe bọc thép M113), diệt 52 địch, làm ngưng trệ hoạt động vận'chuyển của địch trong nhiều ngày. TRẬN ĐƯỜNG 19 (Hà Tam, 23.8.1969), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, Quân khu 5) đánh đoàn xe vận tải QS của Mĩ và QĐ Sài Gòn trên đường 19, tại khu vực Hà Tam (h. Mang Giang, t. Gia Lai). Đêm 22.8 tiểu đoàn bí mật chiếm lĩnh trận địa ở phía đông đèo Mang Giang 10km, nơi có địa hình hiểm trở, đường uốn lượn quanh co, hai bên là rừng rậm, núi cao. 9 giờ 20 phút ngày 23, đoàn xe địch (25 chiếc, có xe bọc thép bảo vệ) từ An Khê lên Plây Cu lọt vào trận địa, ta sử dụng hỏa lực bắn chận đầu đoàn xe và chế áp trân địa pháo Cà Tung, kết hợp bộ binh xuất kích bao vây chia cắt diệt địch trên đường. Sau ít phút chiến đấu ta diệt 50 địch, phá hủy 21 xe (có 3 xe bọc thép), 1 pháo 105mm, buộc địch phải tăng cường lực lượng phòng giữ con đường này. TRẬN ĐƯỜNG 19 (Hà Tam - Xa Guồng, 9.2.1968), trận phục kích của Đại đội công binh 17 (bộ đội tỉnh Kon Tum), phối hợp với du kích địa phương đánh đoàn xe QS Mĩ trên đường 19, đoạn cầu Hà Tam - cầu Xa Guồng (tây thị trấn An Khê khoảng 15km, t. Gia Lai). Tối 8.2 ta bí mật bố trí trận địa phục kích (dài 3km) theo trục đường, ngụy trang kín đáo. Sáng 9.2 khi đoàn xe chở xăng của địch, có 2 xe bọc thép M113 và 2 xe chở quân hộ tống từ An Khê lên Plây Cu lọt vào trận địa, ta bất ngờ nổ súng chặn đầu. khóa đuôi, dùng mìn và các loại hỏa lực đánh cháy nhiều xe, sau đó xung phong diệt địch trên đường, nhanh chóng làm chủ trận địa và rút lui an toàn. Trận đánh được chuẩn bị tốt, diễn ra nhanh gọn, đạt hiệu quả cao (diệt 58 địch, phá hủy 20 xe QS), góp phần triệt phá giao thông của địch trên đường 19, hỗ trợ tích cực đợt tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở chiến trường Khu 5. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:54:42 am TRẬN ĐƯỜNG 22 (25.8.1968), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 88 QGP miền Đông Nam Bộ đánh đoàn xe QS Mĩ trên đường 22, đoạn cầu Đá Hàng - ấp Vên Vên (xã Hiệp Thạnh, h. Gò Dầu, t. Tây Ninh) nhằm cắt giao thông, hỗ trợ hướng chủ yếu tiến công cứ điểm Chà Là, Trà Phí, trong đợt 1 chiến dịch Tây Ninh (17.8-28.9.1968). Được sự giúp đỡ của nhân dân và du kích địa phương, đêm 24.8 Trung đoàn 88 (thiếu 1 tiểu đoàn) chia thành các bộ phận chặn đầu, khóa đuôi, đánh chính diện, dự bị, bố trí lực lượng cách đường 400-500m (Đại đội 9 làm nhiệm vụ chủ yếu, cách đường 1.200-1.500m). Lúc 10 giờ 30 phút ngày 25.8, đoàn xe thuộc Sư đoàn bộ binh cơ giới 25 Mĩ từ Gò Dầu Hạ lên lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu, nhanh chóng vận động đánh giáp lá cà diệt bộ binh, xe tăng dịch sau đó trụ lại đánh địch giải tỏa bàng đường bộ và đổ bộ đường không. Kết quả loại khỏi chiến đấu khoảng 400 địch, phá hủy 147 xe (33 M41 và M113), bắn rơi 8 máy bay trực thăng. Trận chiến đấu đạt hiệu suất cao về diệt xe cơ giới; lần đầu tiên trung đoàn bộ đội chủ lực thực hiện đánh bồi trong chiến thuật phục kích giao thông ở miền Đông Nam Bộ giành thắng lợi. TRẬN ĐƯỜNG 74 (Nam Đông, 13.3.1952), trận phục kích của Trung đoàn 95 (Đại đoàn 325) chặn đánh quân Pháp tại khu vực Nam Đông (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Sáng 13.3 Pháp huy động 1 tiểu đoàn Âu - Phi và 1 tiểu đoàn ứng chiến ngụy hành quân bằng cơ giới giải tỏa đường 74. Đến 11 giờ 5 phút khi đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích, ta sử dụng hỏa lực bắn cháy 2 xe bọc thép đi đầu, đồng thời cho nổ mìn gài sẵn trên đường khiến địch rối loạn, sau đó bộ đội ta từ nhiều hướng xung phong đánh chặn đầu, khóa đuôi, tạt sườn, hình thành thế bao vây chia cắt, dùng súng trên xe địch đánh địch. 19 giờ ta làm chủ trận địa và tiến công đánh chiếm đồn Nam Đông. Kết quả diệt và bắt hơn 900 địch, thu và phá hủy 30 xe QS, thu hơn 200 súng các loại; giải phóng 5.000 dân bị địch giam giữ, góp phần mở rộng căn cứ du kích, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của địch ở phía tây đường 1, h. Gio Linh. TRẬN ĐƯỜNG 100 (2.9.1965), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 (Quảng Đà) phối hợp với 2 trung đội bộ đội huyện Điện Bàn và 2 trung đội du kích địa phương, đánh Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 51) và Tiểu đoàn biệt động quân 39 QĐ Sài Gòn hành quân càn quét trên đường 100, tại địa bàn các xã Điện Thọ, Điện Hồng (h. Điện Bàn, t. Quảng Nam). Ta bố trí lực lượng phục kích dọc theo trục đường, từ kilômét 6 đến ngã ba Trùm Giao (khoảng 3km), chọn đoạn Đa Hòa - Trùm Giao làm quyết chiếm điểm. 14 giờ 10 phút, khi đội hình hành quân chủ yếu của địch lọt vào trận địa, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, xung phong chia cắt địch thành nhiều bộ phận để tiêu diệt. Kết quả sau 4 giờ loại khỏi chiến đấu 350 địch (bắt 35), thu 150 súng các loại, bắn cháy 2 xe M113, góp phần làm thất bại âm mưu càn quét, cướp lúa và lấn chiếm vùng giải phóng của địch ở Điện Bàn. TRẬN ĐƯỜNG LONG (31.12.1963), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9) bộ đội chủ lực Miền đánh Tiểu đoàn biệt động quân 32 “Cọp Đen” QĐ Sài Gòn (cố vấn Mĩ chỉ huy) hành quân càn quét tại ấp Đường Long (h. Bên Cát, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). Trận đánh bắt đầu lúc 12 giờ 45 phút trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp. Trung đoàn 2 (thiếu) nhanh chóng giành quyền chủ động, tổ chức trận địa chặn đánh chính diện đẩy lui 4 đợt tiến công của địch, đồng thời đưa lực lượng vận động đánh bên sườn và phía sau, kết hợp bao vây, gọi hàng, đến 18 giờ 30 phút làm chủ trận địa. Kết quả diệt và làm bị thương 250 (gồm cả ban chỉ huy tiểu đoàn), bắt 58 địch, bắn rcá 3 máy bay trực thăng, thu 110 súng các loại và nhiều đồ dùng QS. Lần đầu một trung đoàn bộ đội chủ lực Miền tiêu diệt một tiểu đoàn chính quy QĐ Sài Gòn, góp phần đánh bại cuộc càn “Đại phong 35” vào Thủ Dầu Một, Tây Ninh của địch. TRẬN EA SÚP (30.5.1974), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 25 (Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320), và một số đơn vị hỏa lực (có 8 khẩu pháo, cối) vào cứ điểm Ea Súp (h. Ea Súp. t. Đắc Lắc) do Tiểu đoàn bảo an 211 QĐ Sài Gòn đóng giữ (cứ điểm có hệ thống công sự vững chắc, 9-11 lớp rào thép gai và mìn...). 5 giờ 30 phút ta sử dụng hỏa lực pháo binh chế áp, chi viện mở cửa và sát thương địch; 7 giờ 30 phút các mũi bộ binh đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu, sau hơn 20 phút chiến đấu làm chủ trận địa và tổ chức truy kích đánh địch rút chạy. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 65, bắt 60), thu 68 súng và nhiều phương tiện QS; góp phần nối liền vùng giải phóng tây bắc Đắc Lắc và tây nam Gia Lai, bảo vệ vững chắc hành lang chiến lược của ta. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:55:56 am TRẬN GA PHẠM XÁ (31.1.1954), trận phục kích của trung đội bộ đội địa phương huyện Kim Thành (t. Hải Dương) đánh đoàn xe lửa chở quân Pháp tại đoạn đường sắt ga Phạm Xá - Xuân Mang. Đây là đoạn giao thông quan trọng địch bảo vệ cẩn mật bằng hệ thống đèn pha, hàng rào thép gai, mìn và lực lượng tuần tra canh gác ngày đêm. Sau thời gian nghiên cứu, nghi binh (đật mìn giả), ngày 15.1 ta sử dụng 100kg thuốc nổ làm mìn điện chôn giữa đường sắt. bí mật chờ địch. 10 giờ 25 phút ngày 31.1, đoàn xe lửa chở quân Pháp từ Hải Phòng lên lọt vào trận địa, ta nổ mìn phá hủy 4 toa xe, lật đổ đầu máy và 4 toa xe khác, diệt và làm bị thương 776 địch, làm ngưng trệ hoạt động vận chuyển đường sắt của dịch trong 4 ngày, góp phần trực tiếp ngăn chặn sự chi viện của địch cho chiến trường Điện Biên Phủ. TRẬN GALIPÔLI (19.2.1915-9.1.1916), trận đổ bộ đường biển của liên quân Anh - Pháp (570.000 người) lên bán đảo Galipôli (bờ tây eo biển Đacđanen) trong CTTG-I, nhằm chiếm các vịnh ở Đacđanen, uy hiếp thủ đô Ixtambun của Thổ Nhĩ Kì và buộc Thổ Nhĩ Kì phải rút khỏi chiến tranh. Phòng thủ trên đảo và ở các eo biển Đacđanen có 700.000 quân Thổ Nhĩ Kì với 100 pháo hạng vừa và nặng, 11 vành đai thủy lôi và lưới chống tàu ngầm dưới mặt nước. Đợt đổ bộ lần đầu 25.4.1915, lần hai 6-8.8.1915 đều không đạt mục tiêu đã định và bị thiệt hại nặng; đến cuối 1915 liên quân phải ngừng tiến công và rút quân khỏi Đacđanen. Toán cuối cùng rút khói bán đảo về Hi Lạp 8-9.1.1916. Cg trận Đacđanen. TRẬN GIÁ VỤT (19-20.9.1974), trận tiến công của Lữ đoàn bộ binh 52 và 1 tiểu đoàn pháo binh (Quân khu 5) vào cụm cứ điểm Giá Vụt (tây nam huyện lị Ba Tơ 20km, t. Quảng Ngãi), do QĐ Sài Gòn đóng giữ. Cụm cứ điểm gồm một đồn lớn ở trung tâm và 15 chốt bao quanh, có 3 trận địa pháo, hầm ngầm, công sự kiên cố. 19.9 ta tổ chức vây hãm, diệt từng vị trí vòng ngoài rồi đánh vào khu trung tâm đến 16 giờ 20.9 tiêu diệt cụm cứ điểm, loại khỏi chiến đấu 3 đại đội thuộc Tiểu đoàn biệt động quân 70, 1 trung đội pháo binh, 1 trung đội thám báo, 1 trung đội dân vệ và cảnh sát, thu nhiều vũ khí và đổ dùng QS. TGV góp phần hỗ trợ nhân dân vùng lân cận nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng miền tây Quảng Ngãi. TRẬN GIÊNA - AOXTET (1806), hai trận đánh phối hợp giữa hai cánh quân Pháp (hơn 150.000 người) của Napôlêông I với hai đạo quân Phổ (hơn 100.000 người) tại Giêna và Aoxtet (đông nam Đức ngày nay) trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815). Ngày 14.10 trong khi một cánh quân Pháp do Napôlêông I chỉ huy đánh một đạo quân Phổ ở Giêna, thì một cánh quân Pháp khác (cách nhau khoảng 15km) tiến đánh một đạo quân Phổ ở Aoxtet. Hai đạo quân Phổ thua chạy về Vaima, bị kị binh Pháp truy kích gây tổn thất lớn. Cả hai trận. Phổ mất 40.000 người (18.000 bị bắt) và 20 tướng; Pháp thiệt hại 11.000 người. Sau TG-A, Napôlêông I chiếm gần hết nước Phổ. TRẬN GIO AN (2-6.7.1967), trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng của Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324), Trung đoàn pháo binh 164, được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội pháo, cối của Quân khu 4 và khu đội Vĩnh Linh, đánh 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 của Mĩ hành quân giải tỏa khu vực Gio An (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). 13 giờ ngày 2.7 địch đưa 2 đại đội hành quân vào Cồn Chùa và bắc Hải Sơn, bị ta chặn đánh, truy kích diệt phần lớn. Trong các ngày 3-5.7, ta liên tục pháo kích SCH Sư đoàn 3, sân bay Đông Hà và các tàu địch ở ngoài khơi, đồng thời triển khai đánh địch đổ bộ ở Cát Sơn, An Nha; 6.7 phối hợp lực lượng tiếp tục đánh địch càn quét tại các khu vực Hảo Sơn Đông, An Nha, Gia Bình, điểm cao 82,... buộc địch phải rút chạy về Cồn Tiên, Dốc sỏi. Kết quả đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, bắn cháy 3 tàu chiến, 3 xe tăng, thu và phá hủy nhiều vũ khí trang bị, góp phần làm thất bại kế hoạch giải tỏa của địch trên chiến trường bắc Quảng Trị. TRẬN GIỘC PHÁT (28.8.1950), trận chống càn của du kích và nhân dân xã Đức Thịnh, phối hợp với 2 đại đội (209, 165) bộ đội địa phương tỉnh Phú Thọ, đánh 1 tiểu đoàn và 1 đại đội quân Pháp càn quét tại làng Giộc Phát (xã Đức Thinh, nay là xã Yên Kì, h. Hạ Hòa, t. Phú Thọ). Rạng sáng 28.8 quân Pháp chia hai cánh bí mật tổ chức tiến công. Lúc đầu ta để một cánh quân địch lọt vào làng, nhưng sau đó kịp thời chấn chỉnh lực lượng, chặn đánh tích cực, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đến 12 giờ buộc chúng phải rút quân. Trận đánh tuy không diệt được nhiều sinh lực nhưng đã góp phần bẻ gẫy cuộc hành quân Cái Kén của địch, bảo vệ an toàn căn cứ và cơ quan lãnh đạo kháng chiến của tỉnh và Liên khu 10, rút được kinh nghiệm về công tác năm tình hình, tổ chức hiệp đồng chiến đấu, chủ động đối phó với mọi thủ đoạn càn quét, đánh phá của địch vào hậu phương ta. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:57:02 am TRẬN GIỐNG CÁT (17-18.2.1967). trận tập kích của Tiểu đoàn 261 bộ đội chủ lực Quân khu 8, được phối thuộc 2 đại đội của Tiểu đoàn 516 bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre và 1 trung đội hỏa lực đánh Tiểu đoàn biệt động quân 32, Đại đội bảo an 994 QĐ Sài Gòn đóng quân dã ngoại ở khu vực Giồng Cát (xã Châu Hưng. h. Bình Đại, t. Bến Tre). Tối 17.2 bộ đội ta bí mật chiếm lĩnh trận địa, 23 giờ 45 phút dùng hỏa lực cối 82mm bắn chế áp trận địa pháo và đồn bốt lân cận, đồng thời tổ chức lực lượng thành ba mũi xung phong đánh chiếm mục tiêu, diệt phần lớn quân địch. 2 giờ 45 phút ngày 18.2 địch đưa máy bay đến đánh phá và yểm trợ cho lực lượng còn lại (khoảng 2 trung đội) chống cự quyết liệt, ta kết thúc trận đánh và lui quân an toàn. Kết quả loại khỏi chiến đấu 300 địch, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, thu 50 súng, góp phần phá kế hoạch hành quân bình định của địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương. TRẬN GIỒNG DỨA (25.4.1947). trận phục kích của đại đội học viên Trường quân chính Khu 8 phối hợp với Chi đội 17 và du kích Mĩ Tho đánh đoàn xe QS Pháp từ Sài Gòn tiếp tế vũ khí cho các tỉnh miền Tây Nam Bộ (có đoàn xe của chính phủ “Nam Kì tự trị” cùng đi) trên QL 4, tại ngã ba Trung Lương - cầu Long Định. 10 giờ ngày 25.4 khi đoàn xe địch lọt vào trung tâm trận địa phục kích tại ấp Giồng Dứa (xã Tam Hiệp, h. Châu Thành, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang), ta dùng mẹo đẩy xe bò đá chặn đầu, đồng thời tổ chức lực lượng khóa đuôi, chặn viện và đánh chính diện. Sau 10 phút chiến đấu phá hủy 14 xe, diệt, bắt và làm bị thương 87 địch (có 1 quan năm chỉ huy tình báo Pháp và 1 bộ trưởng chính phủ “Nam Kì tự trị”). TGD gây chấn động dư luận trong nước và ở Pháp, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích địa phương; một điển hình về vận dụng cách đánh phục kích giao thông thời kì đầu KCCP. TRẬN GIỒNG LỚN nh TRẬN MĨ HẠNH (9.5.1968) TRẬN GIỒNG THỊ ĐAM VÀ GÒ QUẢN CUNG (26.9.1959), hai trận phục kích của Tiểu đoàn 502 bộ đội tỉnh Kiến Phong, đánh Trung đoàn bộ binh 43 (Sư đoàn 23) QĐ Sài Gòn càn quét tại khu vực giồng Thị Đam và gò Quản Cung (h. Hồng Ngự, t. Kiến Phong) nay thuộc xã An Phước (h. Tân Hồng) và xã Phú Hiệp (h. Tam Nông) t. Đồng Tháp. Trận đánh diễn ra vào mùa nước lớn, việc đi lại chủ yếu bằng xuồng, ghe. Sáng 25.9 địch từ quận lị Hồng Ngự chia hai cánh tiến quân: cánh A (Tiểu đoàn 3, thiếu 1 đại đội) đánh xuống giồng Thị Đam; cánh B (Tiểu đoàn 2, thiếu 2 đại đội) vu hồi lên gò Quản Cung. Dựa vào địa hình quen thuộc vùng căn cứ, Tiểu đoàn 502 (gồm ban chỉ huy tiểu đoàn và hơn 1 trung đội; quân số 40 người, trang bị 35 súng) bí mật phục kích trong các đám cỏ và lau sậy cao lút đầu người ở giồng Thị Đam, bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, áp sát, 10 giờ ngày 26 diệt và bắt phần lớn Tiểu đoàn 3; tiếp đó cơ động 3km về gò Quản Cung tổ chức phục kích, 14 giờ 30 phút cùng ngày đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2, buộc địch phải rút chạy. Kết quả diệt, bắt và làm bị thương 116 địch (toàn bộ tù binh sau đó dược giáo dục và thả tại chỗ), thu 200 súng... Thắng lợi của trận đánh đã tác động manh đến tinh thần binh lính địch, tạo bước chuyển biến mới cho phong trào CM và phát triển LLVT trong tỉnh. TRẬN GIUTLAN (31.5-1.6.1916), trận hải chiến lớn trong CTTG-I giữa hạm đội Đức (99 hạm tàu trong đó có 22 tàu bọc thép, 5 tàu tuần dương hạng nặng) với hạm đội Anh (148 hạm tàu trong đó có 28 tàu bọc thép. 9 tàu tuần dương hạng nặng) ở gần đảo Giutlan (Biển Bắc). Nắm được kế hoạch hạm đội Đức 30.5 ra khỏi đảo đi về hướng Xcaphêrăc, Anh đã cho hạm đội của mình xuất kích lúc 15 giờ ngày 31.5. Hai đội tàu phái đi trước gặp nhau giao tranh dữ đội trong vòng 30 phút. Đến đêm 31.5 rạng 1.6. hạm đội Đức rút về bên đậu ở Giađe. Cả hai đều không thành công trong vận dụng chiến thuật giáp chiến trên biển. Tổn thất phía Anh - 14 tàu và 6.800 người: phía Đức - 11 tàu và 3.100 người. TRẬN GỜ CAO (5.7.1965), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 1 (bộ đội chủ lực Quàn khu 5) vào cứ điểm Gò Cao (xã Sơn Bắc, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi), trong đợt 3 chiến dịch Ba Gia (28.5-20.7.1965). Cứ điểm nằm trên đồi cao 30m tây tx Quảng Ngãi 19km, do Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 51, Sư đoàn 25) QĐ Sài Gòn đóng giữ, có công sự kiên cố. 1 giờ 45 phút ta nổ súng tiến công, kết hợp hỏa lực bắn chế áp và các mũi xung kích đánh chiếm mục tiêu; sau 35 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt, bắt và làm bị thương gần 300 địch, thu 160 súng các loại, phá hủy 8 xe QS. Trận đánh đạt hiệu quả cao, tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển; với chiến thắng này, Trung đoàn 1 được mang danh hiệu “Trung đoàn Ba Gia”. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:58:12 am TRẬN GÒ HÀ (30.10.1965), trận tập kích của Tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương Quảng Đà đánh đại đội lính thủy đánh bộ Mĩ chốt giữ cứ điểm Gò Hà ở khu nam Hòa Vang (nay thuộc xã Hòa Khương, h. Hòa Vang, tp Đà Nang). 1 giờ 30 phút ta sử dụng hỏa lực cối, DKZ bắn chế áp, yểm trợ cho bộ binh từ hai hướng xung phong đánh chiếm phần lớn SCH và bãi xe; địch có hỏa lực manh, dùng xe M113 và bộ binh chống trả quyết liệt, giằng co với ta từng vị trí, công sự. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta loại khỏi chiến đấu 145 địch, phá hủy 28 xe QS (có 1 xe M113), thu 52 súng các loại. Trận đánh góp phần thúc đẩy phong trào thi đua diệt Mĩ của quân và dân Quảng Đà trong KCCM. TRẬN GOOCLIT (2.5-23.6.1915), trận tiến công của quân Đức - Áo ở vùng Gooclit (nam Ba Lan) nhằm diệt Tập đoàn quân 3 của Nga và chiếm Galixi trong CTTG-I. Quân Đức - Áo tập trung ưu thế binh lực (bộ binh gấp 2 lần, pháo binh gấp 5 lần quân Nga) tiến công trên chính diện 35km; qua 6 ngày chiến đấu đã chọc thủng trận tuyến của quân Nga và tiến sâu 40km. Tiếp đó ép dần quân Nga lùi về phía đông, đến giữa tháng 6 chiếm được Galixi. Sau thất bại tại Gooclit, Nga phải bỏ Ba Lan; mặt trận phía đông bị đẩy lùi về đất Nga. TRẬN GÔGAMEN (331tcn), trận đánh giữa 40.000 bộ binh và 7.000 kị binh của Makêđônia do Alêchxanđơ Makêđônia chỉ huy với 80.000 bộ binh, 15.000 kị binh, 200 xe chiến và 15 thớt voi chiến của vua Ba Tư Đariut III tại đồng bằng Gôgamen (nay là Ecbin ở Irắc). 1.10 sau khi tiến công vào cánh trái đối phương không thành công, lợi dụng lúc kị binh đối phương dồn về phía trái, để hở chính diện, ở đó chỉ còn có bộ binh, Alêchxanđơ chuyển hướng, tổ chức cơ động và hiệp đồng giữa bộ binh và kị binh, dẫn kị binh đánh sâu vào khoảng trống giữa chính diện với cạnh sườn, rồi vu hồi vào sườn và phía sau khối bộ binh Ba Tư ở chính diện. Vua Đariut III phải rút lui, quân Ba Tư hoảng loạn, bỏ chạy, bị truy kích và bị tàn sát. Tổn thất của Ba Tư ước tính lên tới 40.000-90.000 quân; phía Makêđônia khoảng 100-500. Chiến thắng Gôgamen củng cố địa vị của Alêchxanđơ và mở đầu sự suy tàn của đế quốc Ba Tư. Cg trận Acben. TRẬN GRANICH (334tcn), trận quân Makêđônia của Alêchxanđơ Makêđônia (30.000 bộ binh và 5.000 kị binh) đánh tan quân Ba Tư của vua Đariut m (35.000 bộ binh, 5.000 kị binh) tại khu vực sông Granich (trên đất Thổ Nhĩ Kì ngày nay). Chiến thắng này đã mở đường cho Makêđônia đánh chiếm toàn bộ Tiểu Á. TG là chiến lệ đầu tiên về vai trò quyết định của kị binh. TRẬN GRƯNVAN nh TRẬN TANNENBEC (15.7.1410) TRẬN HÀ HỒI (28.1.1789), trận tiến công của quân Tây Sơn do Nguyên Huệ chỉ huy diệt quân Thanh (TQ) ở đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Tây, nam Hà Nội 18km), trong kháng chiến chống Thanh (1788-89). Sau khi diệt đồn Gián Khẩu do quân Lê Chiêu Thống đóng giữ và các dồn tiền tiêu của quân Thanh từ bắc sông Nguyệt Quyết, Nhật Tảo (thuộc các tinh Nam Định và Hà Nam) tới Phú Xuyên (Hà Tây), bắt toàn bộ tàn binh và quân do thám của địch, nửa đêm 28.1 quân Tây Sơn đến sát Hà Hồi mà quân Thanh trong đồn không hề hay biết. Nguyễn Huệ vừa cho quân vây chặt đồn vừa nổi chiêng trống, bắc loa truyền hịch kêu gọi đầu hàng, khiến quân Thanh bị bất ngờ, hoảng loạn phải xin hàng. Thắng lợi nhanh chóng của THH tạo đà cho quân Tây Sơn thần tốc tiến lên diệt dồn Ngọc Hồi (x. trận Ngọc Hồi - Đấm Mực, 30.1.1789). TRẬN HẢI CHIẾN ANH - TÂY BAN NHA (21- 30.7.1588), trận đánh trên biển Măngsơ giữa hạm đội Anh gồm 163 tàu của quận công Hôuôt Epphinham với hạm đội Tây Ban Nha gồm 130 tàu của công tước Mêđina Xiđônia. Bằng hỏa lực pháo tầm xa đánh tàu đối phương trên biển và bằng tàu chở đầy thuốc nổ (“ngư lôi tk 16”) tiến công khu vực trú đậu ở cảng, phía Anh đã gây tổn thất đáng kể cho hạm đội Tây Ban Nha (được coi là lực lượng hải quân mạnh nhất thời đó). Sau khi ngừng chiến, trên đường rút quân, hạm đội Tây Ban Nha lại bị bão gây thiệt hại nặng, chỉ còn một nửa lực lượng ban đầu về được căn cứ. Chiến thắng này đã nâng cao uy thế của hạm đội Anh, chứng tỏ ưu thế của pháo tầm xa và sự lỗi thời của cách đánh áp mạn trong tác chiến trên biển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 08:59:21 am TRẬN HẢI VÂN (22.5.1947), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 19 (Trung đoàn 96 bộ đội chủ lực Khu 5) chặn đánh đoàn xe QS Pháp tại đèo Hải Vân trên QL 1 (đoạn km 906,400 - km 908.500 thuộc khu vực giáp ranh giữa Quảng Nam - Đà Nẵng với Thừa Thiên - Huế). Bằng cách gài mìn kết hợp dùng xung lực chặn đầu, khóa đuôi và đánh bên sườn, với các loại vũ khí thô sơ (chủ yếu mã tấu, giáo mác), sau 1 giờ 30 phút chiến đấu (từ 6 giờ 30 phút đến 8 giờ), ta phá hủy 10 xe, diệt và bắt hơn 100 địch (có đại tá Rôgiê chỉ huy quân Pháp ở Quảng Nam - Đà Nẵng). THV gây chấn động mạnh tinh thần binh lính Pháp, nhiêu lính Âu - Phi tự thương để tránh đi càn. Một trong những chiến công lớn nhất của LLVT Khu 5 năm 1947, góp phần phát triển các hình thức tác chiến của chiến tranh du kích bằng vũ khí tự tạo (chông, mìn, cạm bẫy). TRẬN HẢI YẾN (17.1.1954), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 664 (Trung đoàn 42 bộ đội chủ lực Liên khu 3) đánh Tiểu đoàn 73 thuộc Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của Pháp đang càn quét, tạm dùng ở thôn Hải Yến (h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên). Chiều 16.1 nhận lệnh tác chiến, Tiểu đoàn 664 nhanh chóng vượt Sông Luộc, hành quân gần 20km tiếp cận địch, triển khai lực lượng thành ba mũi tiến công, 4 giờ 15 phút ngày 17.1 đồng loạt nổ súng, dùng bộc phá, lựu đạn, lưỡi lê diệt địch. Sau 45 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương 250 địch, bắt 60 tù binh, thu hơn 60 súng các loại. Trận đánh được tiến hành trong thời gian chuẩn bị gấp, do tổ chức tốt nên đã giành thắng lợi lớn, hiệu quả cao, góp phần làm thất bại cuộc càn của địch ở bắc Sông Luộc. TRẬN HÀM TỬ (5.1285), trận tiến công của quân nhà Trần (Đại Việt) diệt quân Nguyên - Mông (TQ) đóng giữ căn cứ Hàm Tử (nay thuộc h. Khoái Châu, t. Hưng Yên), trong giai đoạn phản công của kháng chiến chổng Nguyên - Mông lần 11 (1285). Trận đánh diễn ra khoảng cuối 5.1285, do Trần Nhật Duật chỉ huy có một bộ phận binh lính nhà Tống (trốn sang VN từ trước) tham gia, đã nhanh chóng giành thắng lợi, diệt và bắt phần lớn quân Nguyên - Mông. Cùng với trận diệt đồn Tây Kết, chiến thắng Hàm Tử tạo điều kiện cho các cánh quân khác tiến công Chương Dương (x. trận Chương Dương, 6.1285), đập tan toàn bộ tuyến phòng thủ của địch trên Sông Hồng, áp sát Thăng Long, trực tiếp uy hiếp đại bản doanh Thoát Hoan từ phía nam. TRẬN HÀNH HOA - TRI BƯU (5.8.1972), trận tập kích của 4 đại đội bộ binh thuộc các trung đoàn 48, 64 (Sư đoàn 320B) và 95 (Sư đoàn 325), đánh 2 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 QĐ Sài Gòn tại khu vực Hành Hoa - Tri Bưu (tx Quảng Trị), trong đợt 1 chiến dịch phòng ngự Quàng Trị (28.6.1972-31.1.1973). Từ 5 giờ ngày 5.8, sau 7 phút hỏa lực cấp tập, ta triển khai nhiều mũi đồng loạt tiến công; đến 5 giờ 40 phút đánh bật địch ra khỏi làng Hành Hoa, chiếm phần lớn trận địa địch ở khu vực nhà thờ Tri Bưu, loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, phá hủy 5 xe tăng. Trận đánh góp phần cải thiện thế trận phòng ngự của ta ở tx Quảng Trị; thể hiện tư tưởng phòng ngự tích cực của QĐND VN trong KCCM. TRẬN HÀNH THỊNH (12.5.1966). trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 83 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi, đánh Trung đoàn bộ binh 4 (Sư đoàn 2) và Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 5 (được tăng cường 26 máy bay trực thăng, 2 chi đoàn xe bọc thép, 2 trận địa pháo binh) QĐ Sài Gòn càn quét, tìm diệt ở xã Hành Thịnh, h. Nghĩa Hành, t. Quảng Ngãi. Trận đánh diễn ra quyết liệt cả ngày 12. Ta tổ chức tiến công địch từ nhiều hướng, trong đó tập trung lực lượng tiêu diệt Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 5, đồng thời ngăn chặn, đánh lui các hướng khác. Kết quả diệt và bắt hơn 500 địch (có 8 cố vấn Mĩ), bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe tăng, thu 100 súng. THT đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội địa phương và sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ở Quảng Ngãi trong KCCM. TRẬN HÀO ĐÌNH nh TRẬN DI LĂNG (222) TRẬN HAXTINH (14.10.1066), trận tiến công của 7.000 kị binh Noocman của quận công Uyliam nước Pháp vào trận địa phòng ngự của 7.000 bộ binh Anh của vua Harôn II. Sau khi vượt biển Măngsơ đổ bộ lên đất Anh được nửa tháng, quân N00ơnan tiến về phía Luân Đôn bị quân Anh chặn lại ở vùng đồi Xenlac, cách Haxtinh khoảng 15km. Ngày 14.10 bộ binh Anh phòng ngự trên chiều sâu 1 km, dùng rìu và và cung tên đánh lui nhiều đợt tiến công của kị binh Noocman mặc giáp sắt. Quân Noocman nghi binh rút lui để cho quân Anh rời bỏ trận địa đuổi theo, rồi bất ngờ quay trở lại phản công mãnh liệt, đánh tan bộ binh Anh, vua Harôn II bị tử thương. Quận công Uyliam lên ngôi vua Anh, được gọi là “Uyliam, người chinh phục”. TH có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử nước Anh, thống nhất đất nước về mặt chính trị, hình thành nhà nước phong kiến tập quyền. Cg trận Xenlac. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:00:21 am TRẬN HẬU MĨ (4.3.1964), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 261 (bộ đội chủ lực Quân khu 8) được tăng cường Đại đội đặc công 31, Đại đội trợ chiến 318 vào chi khu Hậu Mĩ (chi khu Thiên Hộ, xã Hậu Mĩ, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho. nay thuộc t. Tiền Giang), căn cứ xuất phát của QĐ Sài Gòn đi đánh phá vùng giải phóng của ta. Chi khu được xây dựng kiên cố, gồm 2 khu (A, B), có trận địa pháo, nhiều lô cốt, hầm ngầm bê tống, 9 lớp rào kẽm gai bao bọc, do 1 đại đội bảo an. 1 đại đội thám báo, 2 đại đội dân vệ và lực lượng bình định, tề điệp đóng giữ, ngoài ra còn có 1 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 đến tăng cường (tổng số khoảng 700 quân). Đêm 3.3 ta triển khai chiếm lĩnh trận địa, 1 giờ ngày 4.3 nổ súng (chậm 1 giờ so với kế hoạch). Sau 15 phút hỏa lực bắn cấp tập chế áp địch, các mũi xung phong diệt lô cốt đầu cầu, đánh thẳng vào khu chỉ huy, trận địa pháo; tập trung diệt các ổ đề kháng và đánh địch co cụm. Sau 2 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 500 địch, thu 77 súng các loại. TRẬN HIĐAXPO (326tcn), trận tiến công của quân Hi Lạp cổ đại do Alêchxanđơ Makêđônia chỉ huy (25.000 bộ binh, 5.000 kị binh) đánh tan quân của vua Pôrơ Ấn Độ (30.000 bộ binh, 3-4.000 kị binh, 300 xe chiến, 200 thớt voi). Diễn ra bằng cách đánh vu hồi, trong thời gian Alêchxanđơ Đại Đế hành binh xuống Ấn Độ, ở tả ngạn sông Hiđaxpơ (nay là sông Giêlam), một chi lưu của Sông Ấn, trên địa phận bang Pungiap thuộc Ấn Độ giáp Pakixtan hiện nay. TRẬN HIỆP HÒA (23.11.1963), trận tập kích của LLVT tình Long An (gồm 2 đại đội bộ binh. 2 phân đội đặc công. 1 phân đội trinh sát, 1 đại đội hỏa lực cối 82mm và trọng liên 12,7mm) vào trung tâm huấn luyện biệt kích của QĐ Sài Gòn tại Hiệp Hòa (h. Hậu Nghĩa, nay là h. Đức Hoà, t. Long An). Lực lượng địch: 500 lính biệt kích và 35 sĩ quan, do sĩ quan Mĩ chỉ huy. Ta sử dụng 1 đại đội bộ binh và 2 phân đội đặc công tập kích vào căn cứ, còn lại đánh địch ở vòng ngoài và chặn viện. 1 giờ 45 phút được sự phối hợp. cảnh giới của lực lượng nội ứng, các cánh quân ta bí mật đột nhập, tiếp cận đánh nhà chỉ huy, thông tin, khu cố vấn Mĩ; sau hơn 1 giờ chiến đấu làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 170 địch, thu hơn 500 súng và gần 4t đạn. Địch điều 2 tiểu đoàn đến ứng cứu, bị ta chặn đánh diệt thêm một số. Trận đánh đạt hiệu quả cao, lần đầu tiên bộ đội địa phương tỉnh tiêu diệt một trại huấn luyện biệt kích lớn của địch, góp phần đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược ở Long An. TRẬN HIM LAM (13.3.1954), trận tiến công của Đại đoàn bộ binh 312 (thiếu Trung đoàn 165) vào cụm cứ điểm Him Lam (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên), mở màn chiến dịch Điện Biên Phù (13.3-7.5.1954). Cụm cứ điểm Him Lam là một trong những trung tâm đề kháng ngoại vi kiên cố nhất của quân Pháp trên hướng đông bắc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, gồm 3 cứ điểm do Tiểu đoàn lê dương 1 thuộc Bán lữ đoàn lê dương 13 (13è DBEI) và 1 đại đội người Thái đóng giữ. 17 giờ ngày 13.3 pháo binh ta bắn mãnh liệt, phá hủy nhiều hầm hào, công sự và sát thương một phần sinh lực địch; 18 giờ 30 phút từ ba hướng các mũi xung kích nhanh chóng mở cửa, thọc sâu chia cắt, diệt từng lô cốt, ụ súng ngầm, tạo điểu kiện cho đơn vị phát triển vào tung thâm, lần lượt đánh chiếm các cứ điểm. Đến 23 giờ 30 phút, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt và bắt 470 địch, thu và phá hủy hơn 450 súng các loại. Là trận đánh hiệp đồng binh chủng đạt hiệu suất chiến đấu cao. góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ ngoại vi của địch, tạo thế uy hiếp trung tâm Mường Thanh từ hướng bắc và đông bắc. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68379939_464662434263642_3632318313981280256_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeH1R5IyfGo0MeaKFcNVbtXCqqH7ynFm2hMWDBtWjKT7MXceFXiDRrjiFa9riWGejLYFyatGmkWm--tcqp6lc3z4N_a-7rRwR18gkNcQIZ9n5w&_nc_oc=AQlsP4NqOLigs6Q94dzKNkdPGijMtcxoz5Ch-LaxT123kr_u1v7reep8cgY5Yg57uEM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=94fdc98d442f047b6eadc60efdaee418&oe=5DD0667E) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:01:11 am TRẬN HIRÔN (17-19.4.1961), trận chiến đấu của QĐ và nhân dân Cuba đánh bại cuộc đổ bộ đường biển vào bãi biển Hirôn (Vịnh Côtrinôsơ - Vịnh Con Lợn) của lực lượng phản CM Cuba được Mĩ giúp đỡ. Để phá hoại CM Cuba, lật đổ chính phủ Phiđen Caxtrô, một trong những hành động can thiệp QS trực tiếp của Mĩ là đưa LLVT phản động lưu vong Cuba về nước. 15.4 Mĩ dùng máy bay ném bom các căn cứ không quân Cuba ở La Habana và các thành phố khác. Sáng 17.4 lực lượng chủ yếu của Lữ đoàn đặc nhiệm 2506 quân phản CM Cuba (4 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh và các phân đội binh chủng; tổng cộng hơn 1.500 quân) được các tàu chiến Mĩ chi viện đổ bộ lên hai khu vực: Hirôn và Lacga (bắc Hirôn 33km). Lợi dụng thế bất ngờ, lực lượng đổ bộ chiếm được bàn đạp và tiến vào đất liền. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của chủ tịch Phiđen Caxtrô, QĐ CM Cuba chiến đấu kiên cường, kết hợp phòng ngự với phản công tiều diệt địch ở Lacga, sau đó ở Hirôn; đến 17 giờ 30 phút ngày 19.4, sau 72 giờ chiến đấu đã đánh tan lực lượng phản động, bắn chìm 4 tàu vận tải, bắn rơi 6 máy bay, bắt gần 1.200 tù binh, thu hàng trăm súng các loại. Thắng lợi ở Hirôn của QĐ và nhân dân Cuba đã làm thất bại âm mưu phá hoại của Mĩ, bảo vệ và củng cố nền độc lập Cuba. Cg sự kiện Vịnh Con Lợn. TRẬN HÒA MĨ (3.3.1963), trận tập kích của Đại đội 105 bộ đội địa phương tỉnh Thừa Thiên đánh 1 đại đội bảo an, 2 trung đội dân vệ và một số lính bình định, biệt kích, tề điệp (khoảng 100 quân) QĐ Sài Gòn đóng giữ tại ấp chiến lược Hòa Mĩ (h. Phong Điền, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế). Đêm 3 rạng 4.3, ta chia ba mũi, bí mật vận động tiếp cận đánh trúng ban chỉ huy đại đội bảo an và cụm địch ở đình, chùa Hòa Mĩ. Địch hoảng loạn, một số ngoan cố chống cự, bị tiêu diệt còn phần lớn tìm cách trốn chạy. Ta vừa đánh vừa gọi hàng, sau hơn 1 giờ chiến đấu, diệt 27 địch, bắt gần 2 trung đội, thu 40 súng các loại, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, đập tan ách kìm kẹp của địch. THM thực hiện tốt phương châm “hai chân, ba mũi” trong phong trào đánh phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng, mở rộng vùng giải phóng, khai thông liên lạc giữa khu căn cứ địa ở miền núi với đồng bằng. TRẬN HOÀNG DƯƠNG - TỬ DƯƠNG (12.5.1950), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn Lê Lợi (Trung đoàn 66, Đại đoàn 304), đánh một đại đội Âu - Phi của Pháp tại khu vực Hoàng Dương - Tử Dương (h. Ứng Hoà, t. Hà Đông, nay thuộc t. Hà Tây). Sau khi càn quét ở Phú Hữu, Bột Xuyên (trong cuộc hành quân Davit I đánh chiếm 5 huyện vùng tự do t. Hà Đông), sáng 12.5 địch hành quân về Miêng Thượng. Tiểu đoàn Lê Lợi từ Thanh Ánh, Khe Sở bí mật vận động ra đoạn để Sông Đáy ở khu vực Hoàng Dương - Tử Dương, nhanh chóng tiếp cận địch và nổ súng tiến công. Bằng cách đánh bất ngờ, bao vây, chia cắt, sau 40 phút chiến đấu diệt gọn đại đội địch (diệt 92, bắt 124), thu hơn 100 súng các loại. Là trận đánh đạt hiệu quả cao, một điển hình về cách đánh vận động tiến công trên địa hình đồng bằng trong KCCP. TRẬN HÓC MÔN (23.3.1970), trận phục kích của du kích xã Sơn Long, h. Quế Sơn, t. Quảng Nam đánh quân Mĩ tại cánh đồng Hóc Môn ở phía nam xã. Ta tổ chức lực lượng thành hai tổ (mỗi tổ 2 người, trang bị súng AK), bí mật phục sẵn ở ven rừng, sát cánh đồng Hóc Môn, nơi địch thường đi lùng sục hoặc bí mật phục kích (gọi là chiến thuật “Mĩ lết”). 10 giờ ngày 23.3 địch đưa 1 trung đội từ đồi Đá Khảm vào lùng sục, cách trận địa khoảng 70m, ta bất ngờ nổ súng diệt 10 dịch, sau đó tiếp tục trụ bám, bắn tỉa, đánh địch ứng cứu. diệt thêm một số, đến 13 giờ buộc địch phải rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu 28 địch, thu 11 súng. Là trận dùng lực lượng nhỏ, phát huy tốt địa hình và cách đánh, đạt hiệu quả cao, làm thất bại thủ đoạn lùng sục, đánh phá của địch ở vùng giáp ranh, bảo vệ an toàn địa bàn và lực lượng ta. TRẬN HÓI MÍT (12.1.1949), trận phục kích đoàn xe lửa QS Pháp trên tuyến đường sắt Đà Nẵng - Huế tại xóm Hói Mít (xã Lăng Cô, h. Phú Lộc, t. Thừa Thiên nay là Thừa Thiên - Huế), do Tiểu đoàn 319 (Trung đoàn 101, Phân khu Bình - Trị - Thiên) và LLVT địa phương tiến hành trong thời kì đầu KCCP. Tiểu đoàn bí mật bố trí trận địa cách ga Lăng Cô 2km vé phía bắc, 14 giờ ngày 12.1 dùng mìn đánh chặn, buộc tàu địch phải dừng lại rồi xung phong diệt lực lượng bảo vệ trên các toa xe; tiếp đó chặn đánh 1 đại đội tăng cường của địch từ Phú Gia, Lăng Cô đến ứng cứu. Kết quả sau gần một giờ chiến đấu phá hủy toàn bộ đoàn xe lửa (17 toa) chở 80t vũ khí, diệt 300 địch, phá hủy 1 pháo 105mm, thu 120 súng các loại. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:02:03 am TRẬN HÒN CHIÊNG (9.6.1970), trận phục kích của du kích xã Sơn Thắng (nay là xã Quế An, h. Quế Sơn, t. Quảng Nam), bắn máy bay trực thăng Mĩ bằng súng bộ binh tại khu vực núi Hòn Chiêng (phía tây nam xã). Nắm chắc hoạt động của địch thường sử dụng máy bay trực thăng tiếp tế cho lực lượng chốt trên núi Hòn Chiêng, ta bí mật bố trí trận địa sát chốt, đón lõng đường bay, từ 11 giờ đến 14 giờ 30 phút bắn rơi 3 máy bay, diệt và làm bị thương 10 địch. Thắng lợi của trận đánh góp phần thúc đẩy phong trào dùng súng bộ binh bắn máy bay, đánh bại thủ đoạn “chụp quân” bằng máy bay trực thăng của Mĩ tại địa phương. TRẬN HÒN ĐỐC (21.5.1978), trận chiến đấu của 2 tàu (T612, T619) thuộc Hạm đội 171 Quân chủng hải quân, phối hợp với lực lượng bảo vệ đảo Hòn Đốc, đánh tàu chiến của quân Khơme Đỏ (Campuchia) tại khu vực phía đông bắc đảo Hòn Đốc 3 hải lí, thuộc vùng biển tỉnh Kiên Giang. 21 giờ 25 phút ngày 21.5 phát hiện 3 tàu địch trên đường xâm nhập vào Mũi Nại, tàu của ta từ vị trí phục kích ở bắc đảo Hòn Long kịp thời xuất kích, bất ngờ nổ súng bắn chìm 1 chiếc, bắn bị thương 2 chiếc khác, sau đó cùng pháo binh trên đảo chặn đánh lực lượng ứng cứu của địch, rạng sáng 22.5 buộc địch phải rút chạy. Trận đánh đạt hiệu quả cao, phối hợp chiến đấu tốt, góp phần đánh bại thủ đoạn xâm nhập ban đêm của địch trên vùng biển Tây Nam. TRẬN HÒN GIÓ (6.12.1965), trận phục kích của Phân đội 2 (Đoàn 135, Khu tuần phòng 2, Quân chùng hải quân) đánh tàu biệt kích QĐ Sài Gòn tại vùng biển nam đảo Hòn Gió (h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình). Đêm 5 rạng 6.12 phát hiện 3 tàu địch (loại PTF) vào hoạt động đánh phá, Phân đội 2 gồm 3 tàu phóng lôi (T323, T326, T329) được tăng cường 1 canô (T26) và 1 thuyền máy, từ vị trí phục kích, bí mật tiếp cận triển khai đội hình chiến đấu. Bằng cách đánh chủ động, bất ngờ, tích cực bám sát, sau khoảng 20 phút chiến đấu bắn bị thương 2 tàu, buộc địch phải rút chạy. Trận đánh đạt mục đích để ra, góp phần hạn chế và làm thất bại thủ đoạn xâm nhập đánh phá ban đêm bằng tàu, thuyền của địch. TRẬN HÒN MỘT (25.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường hỏa lực (cối 120mm, ĐKZ 75mm) và 1 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên đánh cụm quân chủ lực QĐ Sài Gòn co cụm phòng ngự ở Hòn Một (điểm cao trên bờ Sông Ba, nay thuộc h. Sơn Hoà, t. Phú Yên), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Sau khi tập trung hỏa lực bắn cấp tập vào đội hình dịch và tạo khói mù, Tiểu đoàn 9 sử dụng 2 đại đội (5 và 7) tiến công hướng chủ yếu và thứ yếu; đồng thời đại đội địa phương Phú Yên bí mật luồn theo Sông Ba, áp sát mục tiêu bất ngờ đột phá vào sườn. Bị đánh bất ngờ, địch tổ chức phản kích bằng xe tăng, xe bọc thép nhưng không cản được sức tiến công áp đảo của ta. Kết quả ta diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu và phá hủy 21 xe tăng, xe bọc thép cùng hàng chục xe ô tô các loại. THM giành thắng lợi nhanh gọn, góp phần cùng với trận Củng Sơn (24.3.1975) tiêu diệt lực lượng rút chạy cuối cùng thuộc Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của địch ở Táy Nguyên, mở thông đường 7 cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công xuống tx Tuy Hoà. TRẬN HỐ CHUỐI 9.12.1890-10.1.1891. trận phòng ngự của khoảng 150 nghĩa quân Đề Thám đánh trả các cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Hố Chuối (xã Phồn Xương, h. Yên Thế, t. Bắc Giang), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884- 1913). Ngày 9.12.1890 đồn trưởng Nhã Nam đem 145 lính lê dương và lính khố đỏ, 1 đại bác, lùng sục vào Yên Thế, khi đến căn cứ Hố Chuối, bị nghĩa quân chặn đánh, phải rút chạy. 11.12 gần 300 quân Pháp chia thành hai mũi tiến công lần thứ hai, chiếm được các pháo đài bên ngoài, nhưng rồi bị đẩy lui với hàng chục lính thương vong. 22.12, sau khi điều thêm lực lượng từ Đáp Cầu, Thái Nguyên, Bố Hạ, Kép với gần 600 quân, 3 khẩu pháo, Pháp mở cuộc tiến công lần thứ ba. Nghĩa quân dựa vào trận địa tổ chức ngăn chặn, sát thương lớn quân địch, nắm thời cơ phản kích vào bản doanh địch ở Hữu Thượng Bắc và một cánh quân khác, buộc địch phải rút chạy vé Nhã Nam. 2.1.1891 Pháp sử dụng 1.100 quân, 25 khẩu pháo, 2 cối, 2 tàu chiến lập tuyến bao vây, chiếm các điểm cao quanh căn cứ, tổ chức cuộc tiến công thứ tư trong 7 ngày đêm. nhưng vẫn thất bại. Nghĩa quân còn tổ chức đánh nhỏ ngăn chặn quân tiếp ứng. Trước kẻ địch hơn hẳn về số lượng và trang bị, để bảo toàn lực lượng, 10.1 nghĩa quân đã bí mật rút khỏi Hố Chuối. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:02:57 am TRẬN HỐ CHUỐI 19.5.1894, trận phục kích của nghĩa quân Đề Thám đánh quân Pháp tại căn cứ Hố Chuối (xã Phồn Xương, h. Yên Thế, t. Bắc Giang), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Sau khi ngừng thương lượng và dùng Bá Phức (cha nuôi Đề Thám) hai lần sát hại Đề Thám không thành công, 15 giờ ngày 19.5 công sứ Bắc Ninh Muydeliê cùng tổng đốc Lê Hoan đem lực lượng lớn quân Pháp và lính khố xanh, có pháo binh yểm trợ, tiến công căn cứ Hố Chuôi. Đề Thám đã “tương kế tựu kế”, cho quân bí mật ẩn nấp trong các công sự, lợi dụng vật cản, chờ địch vào thật gần mới nổ súng, diệt hàng chục tên, bắn bị thương Muydeliê, buộc quân Pháp phải tháo chạy. Cg trận Hữu Nhuế. TRẬN HỘI CHIẾN (ngoại), tổng thể các trận chiến đấu, các đòn đột kích quan trọng và quyết liệt được liên kết theo một ý định chung do các tập đoàn lực lượng nhất đinh cùng tiến hành nhằm hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng của chiến dịch; một hình thức tác chiến. Tùy theo quy mô và loại hình chiến dịch, trong một chiến dịch có thể có một vài THC được tiến hành đồng thời hoặc lần lượt trên toàn bố mặt trận hoặc trên một hướng nhất định. Theo lực lượng và môi trường tiến hành, có: THC binh chủng hợp thành (trong đó có THC xe tăng), THC trên không, THC phòng không và THC trên biển; theo mục đích và loại tác chiến có thể có THC trong tiến công (trong đó có THC tao ngộ) và THC trong phòng ngự. THC ra đời rất sớm trong hoạt động tác chiến của QĐ nhiều nước. Đầu tk 19, khái niệm “THC” đồng nghĩa với khái niệm “trận chiến đấu”, sau đó trước khi xuất hiện trong nghệ thuật QS khái niệm “chiến dịch”, THC là hình thức hoạt động tác chiến cơ bản của QĐ các nước. Trước tk 20, THC được chia thành THC cục bộ và trận tổng hội chiến. Trận tổng hội chiến có tác dụng quyết định kết cục của chiến cục, đôi khi của cả cuộc chiến tranh, như các trận tổng hội chiến ở Pôntava (Ucraina) - 1709, ở Aoxteclit 1805, ở Bôrôđinô (Nga) 1812. Ngày nay trong nhiều ấn phẩm, khái niệm “THC”, “trận đánh lớn” và “chiến dịch” đôi khi được dùng đồng nghĩa với nhau. Đặc điểm của THC hiện đại là tính kiên quyết trong hành động và quyết tâm của đôi bên đối địch rất cao để đạt cho được mục đích đề ra, quy mô lớn và tính linh hoạt cao. THC binh chủng hợp thành do các liên binh đoàn binh chủng hợp thành tiến hành thường hiệp đồng với các binh đoàn của các quân chủng khác nhằm tiêu diệt các tập đoàn đối kháng của QĐ đối phương. Trong CTTG-II các liên binh đoàn xe tăng tiến hành nhiều THC xe tăng nhằm tiêu diệt các tập đoàn xe tăng của quân địch. THC trên không do máy bay tiêm kích tiến hành có khi có máy bay tiêm kích bom tham gia có sự hiệp đồng chặt chẽ của bộ đội phòng không nhằm tiêu diệt máy bay của đối phương ở trên không. THC trên biển do lực lượng của hải quân tiến hành nhằm tiêu diệt các binh đoàn (cụm) tàu mặt nước và tàu sân bay của đối phương. Được tiến hành độc lập hoặc phối hợp với lực lượng của quân chủng khác. THC phòng không do bộ đội phòng không độc lập hoặc phối hợp với không quân tiến hành nhằm phá (đánh lui) cuộc tập kích đường không của đối phương tiêu diệt máy bay của chúng (xt hội chiến). TRẬN HỘI ĐỨC (21.3.1966), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 60 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) đánh 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ ứng cứu, giải tỏa ở khu vực Hội Đức (xã Tịnh Hiệp, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi) trong đợt 3 chiến dịch Tây Sơn Tịnh (20.2-20.4.1966). Đêm 20.3 tiểu đoàn được tăng cường hỏa lực (2 ĐKZ 75mm, 3 trọng liên 12,7mm) xây dựng trận địa ở làng Hội Đức nhằm chặn địch từ hướng Vĩnh Tuy vào Phú Thành, Thạch An Nội. 8 giờ ngày 21.3 địch đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống phía tây làng Hội Đức. Ta nổ súng khi địch đang đổ quân, đẩy lui 5 đợt tiến công, giữ vững trận địa; đến 19 giờ rút quân về Phước Lộc. Kết quả diệt hơn 200 địch, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. TRẬN HỒNG THANH (18.9.1967), trận phục kích của du kích xã Hồng Thanh thuộc Chiến khu Lê Hồng Phong, đánh máy bay trực thăng Mĩ tại khu vực phía đóng nam Đồi 50 (xã Hồng Thanh, h. Thuận Phong, nay là xã Hồng Phong, h. Bắc Bình, t. Bình Thuận). Ta có 8 du kích, chia hai tổ bí mật cơ động phục kích: sáng 18.9 bằng 8 viên đạn súng bộ binh bắn rơi tại chỗ 2 máy bay trực thăng. Trận đánh mở đầu phong trào dùng súng bộ binh đánh máy bay Mĩ ở địa phương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:04:13 am TRẬN HUỘI SAN (24.1.1968), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304), được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội công binh và cụm pháo binh của Sư đoàn 325, phối hợp với LLVT địa phương và cán bộ địch vận QĐND Lào đánh trận địa phòng ngự của Tiểu đoàn 33 quân Viêng Chăn ở Huội San (Lào), trong đợt 1 chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Lực lượng địch gồm 6 đại đội và một số trung đội dân vệ phòng ngự trên 13 điểm, có công sự vững chắc; SCH ở Tà Mây. Đêm 23.1 các đơn vị chiếm lĩnh trận địa, khi vượt ngầm số 3, xe tăng sa lầy và bị địch phát hiện dùng hỏa lực từ căn cứ và máy bay bắn phá ác liệt. 6 giờ ngày 24 trận đánh bắt đầu bằng bộ binh lên trước tiến công, sau đó được 2 xe tăng phối hợp đột phá vào thẳng cổng chính khiến địch bất ngờ, rối loạn và bỏ chạy. Các mũi tiến công của ta nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu, phát triển vào bên trong diệt các ổ đề kháng, bao vây, truy kích quân địch. Kết quả sau 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ căn cứ, diệt và bắt 300 địch, góp phần cắt đứt mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía tây đường 9 của địch, tạo điểu kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công cứ điểm Làng Vây. TRẬN HƯƠNG AN - BÀ RÉN (24.5.1967), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 31 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) trên QL 1 (đoạn Hương An - Bà Rén, h. Quế Sơn, t. Quảng Nam), nhằm tiêu diệt đoàn xe QS hỗn hợp Mĩ - QĐ Sài Gòn Nam Triều Tiên. Trận đánh bắt đầu lúc 17 giờ 55 phút, sau 26 phút chiến đấu ta diệt và làm bị thương 600 địch, phá hủy 143 xe QS các loại, hơn 200t đạn và nhiều phương tiện chiến tranh. Trận đánh đạt hiệu suất cao, để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh phục kích giao thông ở đồng bằng trong KCCM. TRẬN HỮU BẰNG (26.12.1950), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 322 (Trung đoàn 88, Đại đoàn 308), được tăng cường 2 trung đội du kích, đánh dồn Hữu Bằng (xã Tam Hợp, h. Bình Xuyên, t. Vĩnh Phúc), trong đợt 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950-18.1.1951). Đồn có hệ thống công sự, hầm ngầm kiên cố, 4 lớp rào xen kẽ bãi chông, mìn bảo vệ, do 1 đại đội quân Pháp (khoảng 100 quân, phần lớn là lính Âu - Phi) đóng giữ. Đêm 25.12 tiểu đoàn bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa. triển khai đội hình chiến đấu, 1 giờ 30 phút ngày 26.12 tổ chức tiến công, có hỏa lực chi viện. Trên hướng chủ yếu, bộ đội nhanh chóng tạo cửa mở, xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển thuận lợi. Hướng thứ yếu mở cửa gặp khó khăn, được lệnh chuyển sang vượt cửa mở trên hướng chủ yếu, phối hợp diệt dịch. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ta chiếm hầu hết mục tiêu, dùng bộc phá đánh sập hầm ngầm cố thù của địch, kết thúc trận đánh, diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu 60 súng các loại. TRẬN HỮU ĐỊNH (7.5.1968), trận chống càn của bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre (2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội đặc công, 2 trung đội trinh sát, 2 trung đội công an vũ trang, 2 đại đội và 2 trung đội hỏa lực...), đánh Trung đoàn bộ binh 10 (Sư đoàn 7) QĐ Sài Gòn càn quét tại xã Hữu Định (đông bắc tx Bến Tre 4km). Sáng 7.5 địch chia hai cánh (mỗi cánh 1 tiểu đoàn), có máy bay. pháo binh yểm trợ, tổ chức bao vây, tiến công từ hai hướng. Ta dùng cách nhử địch vào trận địa chuẩn bị trước, đồng loạt nổ súng đẩy lui nhiều đợt tiến công và kìm chân địch ngoài cánh đồng, sau đó hình thành thế bao vây, phối hợp các lực lượng chặn đánh phía trước và vòng đánh phía sau, đến 17 giờ 30 phút làm chủ trận địa. Kết quả diệt, bắt và làm bị thương hơn 550 địch, thu 112 súng các loại, bắn cháy 1 máy bay trực thăng và 1 xe QS... Là trận đánh quy mô lớn đầu tiên của LLVT Bến Tre, góp phần thúc đẩy phong trào địa phương, làm thất bại kế hoạch đánh phá vùng ven đô của địch, buộc địch phải co lại và cấp tốc tăng cường lực lượng phòng thủ tx Bến Tre. TRẬN HỮU NHUÊ nh TRẬN HỐ CHUỐI 19.5.1894 TRẬN IA ĐRẢNG (17.11.1965), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 66) và Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 33) chặn đánh Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn kị binh không vận 3 Mĩ ở thung lũng la Đrăng (nay thuộc h. Chư Prông, t. Gia Lai), trong chiến dịch Plây Me (19.10- 26.11.1965). Sáng 14.11 Tiểu đoàn kị binh không vận 1 Mĩ đổ bộ xuống khu vực Chư Prông định bất ngờ đánh vào sau lưng đội hình ta nhưng bị chặn đánh quyết liệt, phải rút xuống thung lũng la Đrăng để co cụm phòng ngự. Ta triển khai lực lượng vận động tiếp cận, trưa 17.11 nổ súng tiến công. Bằng cách đánh gần, bao vây chia cắt, sau hơn 8 giờ chiến đấu làm chủ trận địa, diệt phần lớn tiểu đoàn địch, hoàn thành thắng lợi trận then chốt của chiến dịch. Trận đánh khẳng định, mặc dù Mĩ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào VN, ta vẫn giữ được quyền chủ động về chiến dịch, chiến thuật và có thể tiêu diệt gọn từng đơn vị chiến đấu Mĩ. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67814167_464662440930308_4615739282143838208_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFwXcV77KNHK9p2XUZ-PAT_NLhS2gVzVLoQ00Rd6zGnSEkbo37cI_NkyT8izJd66WyPumR8UQuuD7y2VfNxdO7CEskU0ikL1cPgI_ILt6VObA&_nc_oc=AQlNV6sm1viA1ekMHzc-BJAnPF4woNqsE3VQNrlgikkNbmsbktSoG2mUiJAr906p4AE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ae769aaaa464ca9691f589b91466c609&oe=5DD9B4A3) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:05:19 am TRẬN IDÔNXÔ (1915-18), các trận chiến đấu ác liệt giữa quân Italia với quân Áo - Đức trong CTTG-I tại lưu vực sông Idônxô (trên lãnh thổ Nam Tư và Italia). 5.1915-9.1917, quân Italia đột phá 11 lần vào tuyến phòng ngự của quân Áo - Đức, nhưng chỉ tiến được 15km mà tổn thất tới hơn 800.000 quân. 10-11.1917 quân Áo - Đức chuyển sang phản công từ Capôretô, gây thiệt hại nặng cho đối phương, tiến được 50km thì phải dừng lại vì không bảo đảm được tiếp tế. 11.1918 quân Italia đổ bộ từ vịnh Vơnidơ, tiến vào châu thổ sông Idônxô và chiếm được thành phố Triet. TRẬN IPRƠ II (22.4-24.5.1915), trận tiến công đầu tiên bằng vũ khí hóa học của quân Đức nhằm chọc thủng tuyến phòng thủ của quân Anh - Pháp tại tp Iprơ (Bỉ) trong CTTG-I (1914- 18). Sau nhiều lần tiến công không thành công, 22.4 Đức sử dụng 5.000 thùng chứa khí độc clo, lợi dụng hướng gió bí mật thả vào các trận địa phòng ngự của quân Pháp từ Pickem đến Laungemac (rộng khoảng 8km), làm phần lớn quân Pháp bị chết và bỏ chạy. Quân Đức (2 quân đoàn) vượt qua tuyến phòng ngự của Pháp, thọc sâu vào chiến tuyến của Anh, nhưng do không đủ lực lượng, nên không tận dụng được bước đột phá để giành thắng lợi. 20-24.5 quân Anh - Pháp tổ chức phản công, đẩy lui quân Đức về noi xuất phát. Trong TI có 35.000 quân Đức, 60.000 quân Pháp và 10.000 quân Anh thiệt mạng. TRẬN IVÔ GIMA (19.2-26.3.1945), trận đổ bộ đường biển của quân Mĩ chiếm đảo Ivô Gima (thuộc quần đảo Catdan của Nhật) trong CTTG-II. Lực lượng Nhật phòng thủ trên đảo có 1 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn lính thủy đánh bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng, 40 máy bay, 5 tàu ngầm và 10 tàu tuần tiễu. Lực lượng Mĩ gồm 3 sư đoàn lính thủy đánh bộ được tăng cường, 200 xe tăng lội nước, 2 trung đoàn bộ binh độc lập, gần 700 tàu chiến (có 28 tàu sân bay với 1.172 máy bay); ngoài ra, còn 352 máy bay của không quân ở căn cứ chi viện. 19.2 Mĩ bắt đầu đổ bộ, sau hai ngày đưa hầu hết lực lượng và phương tiện lên bờ, nhưng tiến chậm do vấp phải sức kháng cự của Nhật. Với lực lượng ưu thế, 16.3 Mĩ đã đập tan quân chủ lực của Nhật, còn các điểm tựa lẻ phải tiếp tục kéo dài đến 26.3 mới kết thúc. Thiệt hại của hai bên; Mĩ thương vong 29.600 quân, mất 163 máy bay, 1 tàu sân bay, 1 tàu đổ bộ và bị hư hỏng nặng một số tàu khác; Nhật thương vong 22.000 quản, bị bắt 1.000, đắm 3 tàu ngầm. Chiếm được Ivô Gima, Mĩ có thêm một căn cứ quan trọng để tiến đánh các mục tiêu kinh tế, QS khắc của Nhật ở Thái Bình Dương. TRẬN IXƠT (333tcn), trận tiến công của Alêchxanđơ Makêđônia vào quân Ba Tư của vua Đariut III trên đường viễn chinh tiến vào châu Á. Bằng đột kích chính diện kết hợp với dùng kị binh đánh vu hồi vào hai bên sườn đối phương rồi truy kích mãnh liệt, 40.000 quân của Alêchxanđơ đã diệt tan lực lượng Ba Tư với 120.000 quân (trong đó có 30.000 quân Hi Lạp) ở hữu ngạn sông Pinarơ chảy qua cánh đồng Ixơt. Quân Ba Tư thiệt hại non nửa. Quân của Alêchxanđơ tiến tiếp vào Xiri. Cách đánh truy kích trong TI là hiện tượng mới trong sự phát triển của nghệ thuật QS thời cổ đại. TRẬN KÊNH BẰNG LĂNG (11.3.1975), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 320 (Sư đoàn 8, Quân khu 8) đánh Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 10, Sư đoàn 7), QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực kênh Bằng Lãng thuộc các xã Hậu Mĩ Nam, Mĩ Thiện và Mĩ Trung (h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Sáng 11.3 dịch điểu Tiểu đoàn 2 có máy bay, pháo binh yểm trợ, từ bắc Cống Trâu đến giải tỏa cho căn cứ Ngã Sáu, qua khu vực kênh Bằng Lăng. Tại đây ta bố trí sẵn trận địa phục kích, kịp thời triển khai chiến đấu từ 11 giờ 30 phút đến 18 giờ 20 phút; dùng cách đánh cơ động, phát huy hỏa lực, kết hợp đánh chính diện với bao vây, chia cắt, đánh địch co cụm và phản kích. Kết quả diệt, bắt hơn 300 địch, thu hơn 100 súng các loại... Là một trong những trận đánh tiêu diệt lớn của LLVT Quân khu 8 trong mùa khô 1975, góp phần nâng cao trình độ tác chiến và đẩy mạnh hoạt động tiến công địch trên địa bàn. TRẬN KÊNH XÁNG THỊ ĐỘI (13-14.9.1965), trận tập kích của Tiểu đoàn Tây Đô (bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ), đánh 2 tiểu đoàn biệt động quân (44, 42) QĐ Sài Gòn càn quét tại khu vực kênh xáng Thị Đội (h. Ô Môn, nay thuộc h. Cờ Đỏ, tp Cần Thơ). Sáng 13.9 địch dùng máy bay trực thãng đổ quân xuống khu vực kênh xáng Thị Đội nhằm tìm diệt lực lượng ta, bị chặn đánh quyết liệt, phải dừng lại củng cố, chờ hôm sau đánh tiếp. Chớp thời cơ địch co cụm, sơ hở, đêm 13 rạng 14.9 Tiểu đoàn Tây Đô bố trí 8 mũi, bí mật luồn sâu từ ba hướng, bất ngờ nổ súng diệt gọn Tiểu đoàn 44, đồng thời tổ chức chặn đánh Tiểu đoàn 42 của địch đến ứng cứu, diệt thêm một số. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 500 địch (bắt 40), thu 200 súng các loại, làm thất bại âm mưu càn quét của địch, bảo vệ an toàn địa bàn và lực lượng ta. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:06:07 am TRẬN KHÂU LUÔNG (2-4.10.1950), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308) vào 2 tiểu đoàn quân Pháp thuộc Binh đoàn Lơ Pagiơ tại Khâu Luông (dãy điểm cao 663, nam Đông Khê 3km thuộc h. Thạch An, t. Cao Bằng) trong đợt 2 chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Binh đoàn Lơ Pagiơ từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê nhưng bị chặn lại, phải lui về Nà Mục, Tróc Ngà, dùng 2 tiểu đoàn chốt giữ Khâu Luông nhằm khống chế đường 4, đón Binh đoàn Sactông từ Cao Bằng rút về. 19 giờ ngày 2.10 trung đoàn tổ chức tiến công, sau 40 phút hỏa lực chế áp, bộ đội xung phong lên điểm cao, nhưng do trời tối, địa hình phức tạp, địch từ trên cao bắn chặn quyết liệt, mờ sáng 3.10 ta mới chiếm được mỏm 4. Chiều 3.10 trung đoàn được tăng cường Tiểu đoàn 11, tiếp tục tiến công chiếm được mỏm 1; đêm 3 rạng 4.10 đánh chiếm mỏm 2 và 3. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch (bắt 86) thu 2 khẩu pháo và nhiều vũ khí, đạn dược. TKL đã góp phần tiêu hao sinh lực, đẩy Binh đoàn Lơ Pagiơ lui về khu vực Cốc Xá, tạo tiền đề cho các trận đánh tiếp sau giành thắng lợi (x. trận Cốc Xá, 5-8.10.1950; trận điểm cao 477, 7.10.1950). ' TRẬN KHO 53 LONG BÌNH (13.8.1972), trận tập kích của Trung đoàn đặc công 113 (bộ đội chủ lực Miền) vào khu kho 53 thuộc tổng kho Long Bình do Mĩ xây dựng tại Biên Hòa (nay thuộc tp Biên Hòa, t. Đồng Nai). Khu kho 53 có dt 3,75km2, gồm: 18 dãy nhà với 200 gian kho (mỗi nhà dài 30m, rộng 25m, cao 5,5m, cửa sắt kiên cố), được bảo vệ cẩn mật bằng hệ thống lô cốt, công sự, đèn chiếu sáng, xung quanh mỗi dãy nhà có ụ đất dày 4,5m có thể chống được các loại đạn pháo và đạn bắn thắng; 5 lớp rào các loại xen kẽ mìn, có lính tuấn ưa, canh gác ngày đêm trong khu vực kho kết hợp với lực lượng cơ động của tổng kho. Đêm 12.8 Trung đoàn 113 sử dụng 57 chiến sĩ của các tiểu đoàn 9 và 12 tổ chức thành hai bộ phận (đánh kho và chốt giữ bên ngoài), trong đó bộ phận đánh kho (35 người) chia làm 3 mũi bí mật khắc phục vật cản. áp sát mục tiêu, tiến hành cắt khoá cửa và đặt 200 quả bộc phá lắp ngòi nổ hẹn giờ MY8 vào 130 gian kho rồi rút lui an toàn. 4 giờ 30 phút ngày 13.8 kho 53 bắt đầu cháy nổ, kéo dài gần 3 ngày đêm, phá hủy toàn bộ 130 gian nhà kho và một số dãy nhà ở với 5.430t bom đạn, 200t thuốc nổ, 1 triệu lít xăng, làm chết và bị thương khoảng 300 địch. Trận đánh tiêu biểu của bộ đội đặc công vào tổng kho dự trữ chiến lược lớn nhất nằm sâu trong hệ thống phòng thủ của địch. TRẬN KHO B103 (6.5-23.6.1970), trận chống càn của đơn vị kho B103 (Đoàn 83, Cục hậu cần Miền) đánh 3 tiểu đoàn dù (1, 2, 3) QĐ Sài Gòn càn quét tại khu vực xã Tân Hội (h. Tân Biên, nay thuộc h. Tân Cháu, t. Tây Ninh). Từ 6.5 địch có máy bay, pháo binh yếm trợ, liên tiếp mở 3 đợt càn lớn đợt 1: 6-15.5; đợt 2: 19-25.5; đợt 3: 7-23.6), mỗi đợt 1 tiểu loàn, sử dụng chất độc hóa học và máy bay B-52 rải thảm nhằm hủy diệt căn cứ hậu cần của ta. Dựa vào trận địa chuẩn bị trước, sử dụng các phương tiện phòng chống chất độc hóa học có hiệu quả, ta kịp thời tổ chức lực lượng ngăn chặn, bám lánh, đẩy lui mọi đợt tiến công và thủ đoạn tập kích của địch. Kết quả diệt và làm bị thương gần 500 địch, bắn rơi 5 máy bay, bảo vệ căn cứ an toàn. Trận đánh để lại kinh nghiệm tốt về công tác phòng hóa trong đánh địch càn quét dài ngày có vũ khí hóa học trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. TRẬN KÌ SANH (9-10.8.1964), trận đánh điểm diệt viện của tiểu đoàn bộ binh 90 (Trung đoàn 1, Quân khu 5) tại xã Kì Sanh (nay là xã Tam Mĩ, h. Núi Thành, t. Quảng Nam). Đêm 9.8 tiểu đoàn nổ súng tiến công diệt phần lớn lực lượng bảo an, dân vệ QĐ Sài Gòn đóng trong các ấp chiến lược thôn 7 và thôn 8, sau đó bám trụ, bí mật tổ chức trận địa phục kích, 10.8 chặn đánh quân ứng cứu (gồm 2 đại đội bộ binh và 9 xe bọc thép M113, có máy bay, pháo binh yểm trợ), loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, bắn cháy 6 xe M113. Trận đầu bộ đội chủ lực quân khu 5 đánh bại chiến thuật thiết xa vận của QĐ Sài Gòn, góp phần đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược trên địa bàn. TRẬN KIÊN AN (30.10.1959), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh Ngô Văn Sở bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá đánh vào chi khu Kiên An (Xẻo Rô), thuộc h. An Biên, t. Rạch Giá nay là t. Kiên Giang). Ta triển khai lực lượng thành nhiều mũi bí mật tiếp cận mục tiêu, 0 giờ 5 phút đồng loạt nổ súng, thọc sâu đánh chiếm khu hành chính, đại đội bảo an,... tập trung diệt chỉ huy và kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Bị đánh bất ngờ, mất chỉ huy, địch rối loạn. Sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ chi khu, diệt và bắt 66 địch, thu 56 súng, giải thoát hàng trăm dân bị địch giam giữ. Phối hợp với hoạt động QS, nhân dân các xã Đông Yên, Tây Yên, Đông Thái nổi dậy diệt ác ôn, giải tán chính quyền, trở về làng cũ. Là trận đầu tiên diệt chi khu địch ở Tây Nam Bộ, góp phần hỗ trợ cho phong trào nổi dậy ở Khu 9 trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:07:17 am TRẬN KLENG (4-9.5.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 52 (Sư đoàn 320 Mật ưận Tây Nguyên), đánh cứ điểm Kleng (tây tx Kon Tum 20km) nhằm mở đường đưa lực lượng, binh khí kĩ thuật vào vây ép tx Kon Tum trong đợt 2 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Cứ điểm nằm trên điểm cao 530, có hệ thống công sự vững chắc, 8-11 lớp rào kẽm gai, do Tiểu đoàn biệt động quân biên phòng 62 QĐ Sài Gòn (khoảng 400 quân) đóng giữ. Từ 4.5 trung đoàn được tăng cường xe tăng, pháo binh, tiến hành vây ép và dùng hỏa lực chế áp; 4 giờ ngày 9.5 nổ súng tiến công, sau 2 giờ chiến đấu làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 300 địch, bắn rơi 8 máy bay. Trận đánh góp phần đập tan lá chắn phía tây, mở thông đường 511, tạo thuận lợi cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công vào tx Kon Tum. TRẬN LA BANG (16.12.1948), trận công đồn diệt viện của Tiếu đoàn 307 (bộ đội chủ lực Khu 8) và Đại đội 993 (Tiểu đoàn 331 bộ đội tỉnh Trà Vinh) đánh quân Pháp tại khu vực đồn La Bang (xã Đôn Châu, h. Trà Cú, t. Trà Vinh). Đêm 15.12 ta sử dụng Đại đội 993 được tăng cường hỏa lực tiến công đồn La Bang (đồn có 1 trung đội bảo an đóng giữ) để nhử viện, đồng thời sử dụng Tiểu đoàn 307 phục kích trên trục đường Cầu Ngang - Đôn Châu, cách đồn 3-4km. Sáng 16.12 địch điều 1 tiểu đoàn lê dương từ thị trấn Cầu Ngang đến ứng cứu, bị Tiểu đoàn 307 phục kích, bao vây, chặn đánh quyết liệt. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta diệt và bắt hơn 100 địch, thu 60 súng, buộc địch phải tháo chạy, sau đó rút bỏ đồn La Bang. Trận đánh thắng lợi, xã Đôn Châu được giải phóng, tạo điều kiện phát triển cơ sở CM vùng đồng bào Khơme, làm thất bại âm mưu chia rẽ người Khơme và người Kinh của địch. TRẬN LA NGÀ (1.3.1948), trận phục kích giao thông của Chi đội 10 vệ quốc đoàn, Liên quân 17 cùng bộ đội và du kích địa phương, đánh đoàn xe QS Pháp (70 chiếc) trên đường 20 (Sài Gòn - Đà Lạt) tại khu vực xã La Ngà (h. Định Quán, t. Đồng Nai). Chiều và đêm 29.2 các đơn vị bí mật chiếm lĩnh trận địa phục kích gồm ba cụm (A, B, C) trên đoạn đường cầu La Ngà - nam thị trấn Định Quán (dài 9km), đồng thời bố trí một tổ nghi binh ở phía đông đường 20 cách trận địa 3-4km để thu hút máy bay địch. 15 giờ 15 phút ngày 1.3, khi phần lớn đoàn xe chở sĩ quan cao cấp của địch cùng các xe chở hàng và xe hộ tống từ Sài Gòn lên lọt vào trận địa, ta cho nổ địa lôi diệt 1 xe thiết giáp và 2 xe chở lính đi đầu, sau đó tập trung hỏa lực bắn áp đảo rồi đồng loạt xung phong bao vây, chia cắt, dùng lựu đạn, chai xăng đốt cháy các xe và tiêu diệt các toán địch ngoan cố chống cự. Kết quả sau hơn 40 phút chiến đấu ta diệt và bắt 150 địch (có 25 sĩ quan, trong đó có 2 đại tá), phá hủy 59 xe, thu nhiều vũ khí, trang bị. Trận đánh giành thắng lợi lớn, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về khả năng tổ chức chỉ huy và trình độ tác chiến của LLVT miền Đông Nam Bộ trong những năm đầu KCCP, gây chấn động mạnh đến tinh thần binh lính địch. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67813797_464662430930309_7333111214253277184_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHvJiKLLQbSpY8dlQoSBI0i9wN3HY9no0BHdWJEtu0nkUhYHUs--ib_Z3jXPomsFa8oRKZXR5vRdOhUYKCFFWx4fvNG3F-HGKJmH6MCRtRVxw&_nc_oc=AQn_tYmTWxnTDhszcJXlnqc2CrhBcoT0HSCL8O6RGZU43vEsKI8AqXY8CTemRIMYAGY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=fe6523c1dcf4d3cc466913c637b534fd&oe=5DD42D5C) TRẬN LA VANG (6.4.1967), trận tập kích của 2 đại đội đặc công, 5 trung đội bộ binh (Quân khu Trị - Thiên) vào căn cứ của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn ở La Vang (nam tx Quáng Trị 3km, nay thuộc h. Hải Lăng, t. Quảng Trị). Ta tổ chức lực lượng thành 11 mũi, trong đó sử dụng đặc công làm nhiệm vụ mở cửa cho bộ binh ở các hướng, đồng thời đảm nhận hướng chủ yếu đánh vào SCH, khu hậu cần và đại đội bảo vệ của địch. Trận đánh diễn ra nhanh gọn từ 1 giờ 27 phút đến 2 giờ 30 phút. Kết quả diệt và làm bị thương hơn 500 địch, phá 3 máy bay L-19, 4 khẩu pháo 105 và 155mm, 3 kho xăng... TLV mở ra cách đánh phối hợp đặc công - bộ binh vào căn cứ địch đạt hiệu quả cao của QGPMN VN trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:09:03 am TRẬN LẠCH TRƯỜNG (21.5.1965), trận chiến đấu của 2 tàu hải quân (TI20, TI36) phối hợp với trung đội súng máy phòng không Trạm rađa 510 và dân quân, du kích địa phương đánh máy bay Mĩ tại khu vực cửa sông Lạch Trường (t. Thanh Hóa). Bằng cách đánh cơ động, hiệp đồng, phát huy hiệu quả các loại hỏa lực phòng không trên tàu và mặt đất, từ 5 giờ 25 phút đến 11 giờ, đánh trả 3 đợt tiến công của nhiều tốp máy bay F-105 và F-101 của Mĩ cất cánh từ Hạm đội 7, bắn rơi 3 chiếc. Trận đánh thắng lợi, rút được kinh nghiệm về tổ chức, hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị tàu hải quân với lực lượng phòng không trong chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ. TRẬN LÁI THIÊU (30.4.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1) và Đại đội xe tăng 3 (Trung đoàn 202) vào chi khu quận lị Lái Thiêu (t. Bình Dương, bắc Sài Gòn 15km) do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Lực lượng địch ở chi khu có trung tâm huấn luyện của Sư đoàn bộ binh 5 (khoảng 2.000 quân), Tiểu đoàn biệt động quân 31, Tiểu đoàn bảo an 317 và 1 chi đội thiết giáp. 3 giờ 30 phút 30.4 ta sử dụng hỏa lực pháo binh bắn chế áp, chi viện cho bộ binh và xe tăng đánh thẳng vào trung tâm quận lị, tiến hành bao vây, chia cắt, kết hợp tiến công và gọi hàng, sau hơn 2 giờ chiến đấu làm chủ quận lị, phát triển đánh chiếm và chốt giữ cầu Vĩnh Bình. Kết quả diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch (diệt 500, bắt hơn 1.000. gọi hàng hơn 3.000), thu và phá hủy hơn 100 xe QS (có 2 xe tăng), 2 khẩu pháo,... góp phần đập tan tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở phía bắc Sài Gòn, mở đường cho lực lượng thọc sâu đánh chiếm BTTM (xt trận Bộ tổng tham mưu, 29-30.4.1975). TRẬN LAIXICH (16-19.10.1813), trận đánh của liên quân Nga, Phổ, Áo, Thụy Điển (hơn 350.000 người) bao vây quân Pháp của Napôlêông 1 (175.000 người) ở Laixich (đông nam Đức ngày nay) trong cuộc chiến tranh Napôlêông (1799- 1815). Sau thất bại trong việc đánh chiếm Beclin lần hai, Napôlêông I rút quân về Laixich định dùng làm căn cứ tiền tiêu. 16-18.10 quân Pháp bị liên quân bao vây và tiến công mãnh liệt, tổn thất nặng, đêm 18 và sáng 19.10 buộc Napôlêông I phải rút khỏi Laixich qua chiếc cầu duy nhất còn lại. Do thiếu phối hợp và thiếu kiên quyết, liên quân đã bỏ lỡ dịp diệt tan quân Napôlêông I. Trong TL quân Pháp mất gần 80.000 người, liên quân thiệt hại trên 50.000 người. Chiến thắng của liên quân đã giải phóng hai nước Đức và Hà Lan khỏi ách chiếm đóng của quân Pháp, dẫn đến sự tan rã của liên minh Sông Ranh do Napôlêông I bảo hộ. TRẬN LÀNG 5 (23.5.1969), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 141, Sư đoàn 7) được tăng cường 1 đại đội đặc công và 1 đại đội hỏa lực, chặn đánh quân Mĩ thuộc Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 1) hành quân giải tỏa tại khu vực làng 5 (xã Thanh Bình, h. Bình Long, t. Bình Phước). Thực hiện chủ trương kéo quân Mĩ ở thị trấn An Lộc ra để tiêu diệt, ta tiến hành vây ép lực lượng bảo an, dân vệ ở ấp Sở Tư, đồng thời bí mật bố trí trận địa phục kích trên đoạn đường dài 1.400m từ làng 4 đi làng 6. Sáng 23.5 quân Mĩ tiến hành giải tỏa. Phát hiện trận địa ta, địch dùng xe tăng, xe bọc thép hình thành các mũi bao vây, tiến công, có máy bay, pháo binh yểm trợ. Ta kịp thời điểu chinh lực lượng, tổ chức chặn đánh quyết liệt từ sáng đến trưa, đẩy lui 3 đợt tiến công của địch, sau đó chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Kết quả loại khỏi chiến đấu 280 địch, bắn cháy 30 xe tăng và xe bọc thép... Trong TL5 ta thực hiện tốt ý đồ “vây điểm, diệt viện”, kịp thời chuyển thế trận và cách đánh hợp lí giành thắng lợi. TRẬN LÀNG VÂY (6-7.2.1968), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) được tăng cường Tiểu binh 2 (Trung đoàn 101, Sư đoàn 325), Tiểu đoàn pháo binh 2 (Trung đoàn 675), 2 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu), 2 đại đội đặc công, 1 đại đội súng máy phòng không, 1 trung đội súng phun lửa, đánh cứ điểm Làng Vây (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị) trong đợt 1 chiến dịch Đường 9- Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Làng Vây là cứ điểm mạnh trên tuyến phòng thủ đường 9 của địch, có hệ thống công sự, hầm ngầm kiên cố, do 4 đại đội biệt kích và thám báo QĐ Sài Gòn đóng giữ. 23 giờ 30 phút ngày 6.2 sau khi dùng pháo binh chế áp, ta thực hành tiến công, kết hợp bộ binh, đặc công và xe tăng đột phá cứ điểm từ ba hướng (nam, tây bắc và đông bắc), 1 giờ 5 phút 7.2 chiếm được khu trung tâm; từ 3 giờ 30 phút đánh chiếm xong các khu vực, tiến hành truy quét, gọi hàng quân địch lẩn trốn trong các hầm ngầm, đến 10 giờ làm chủ cứ điểm. Kết quả diệt 400, bắt 253 địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị; giải phóng khu vực đường 9 từ Gi Lu đến biên giới Việt - Lào, tạo thế vây hãm Tà Cơn và đánh địch phản kích. Trận then chốt chiến dịch, lần đầu sử dụng xe tăng tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, đánh dấu bước phát triển mới về tác chiến hiệp đồng binh chủng của QGPMN VN trong KCCM. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67729527_464662460930306_7924613470308270080_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGSBtbEMR_NNApZ8URFHUnSD1u96XLvCZXIuOp5jtvu3I5xeOi8XfeJp2cUmzZvPkIHDXGHcNE043Wa3_gzqWl4HTNxOB2LAIsKzfsilDf_Xw&_nc_oc=AQna0axy_cEJqVoiNllbRTTTc3ZYOvAx2UzbnwZmef-X91AHUwNbeX0mgyVDhOJZp58&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=de64ddced9d874edc08cdae5464927c1&oe=5DD8603F) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:10:04 am TRẬN LÁNG LE (15.4.1948), trận chống càn của Trung đoàn Phạm Hồng Thái (2 tiểu đoàn), Trung đoàn 308 (4 đại đội), Trung đoàn 312 (4 tiểu đoàn) cùng với du kích và các đơn vị bảo vệ cơ quan kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn tại khu vực Láng Le, Bàu Cò trong căn cứ Vườn Thơm (nay là xã Bình Lợi, h. Bình Chánh, tp Hồ Chí Minh) thời kì đầu KCCP. Sáng 15.4 Pháp huy động khoảng 3.000 quân (chủ yếu lính Âu - Phi), có máy bay, pháo binh, tàu xuồng yểm trợ mở cuộc càn lớn từ nhiều hướng vào căn cứ, nhằm bao vây, tìm diệt lực lượng chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn, mở rộng phạm vi chiếm đóng vùng quanh Sài Gòn. Dựa vào địa hình có nhiều kênh rạch, các LLVT trong căn cứ tổ chức chặn đánh quyết liệt, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, đến chiều tập trung thành một mũi đột kích mạnh để phá vây, rồi thừa thắng quay sang đánh tạt sườn kết hợp vu hồi làm rối loạn đội hình và buộc quân Pháp phải rút lui. Kết quả diệt và bắt hơn 300 địch, phá hủy 5 xe QS, thu 85 súng cùng nhiều đạn dược, trang bị. Trận thắng lớn đầu tiên của LLVT Sài Gòn - Chợ Lớn sau khi thành lập các trung đoàn, bảo vệ an toàn căn cứ, góp phần đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, làm thất bại âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng của thực dân Pháp. TRẬN LẠNG SƠN (22 và 28.3.1885), trận tiến công quân Pháp ở Lạng Sơn do quân Thanh (TQ) tiến hành với sự phối hợp của một bộ phận quân và dân VN ở địa phương. Sau khi kí với nhà Thanh quy ước Thiên Tân (11.5.1884) trong đó quy định quân Thanh rút khỏi Bắc Kì, Pháp huy động hơn 7.000 quân từ Bắc Ninh lên đánh chiếm tx Lạng Sơn (13.12.1885), Đồng Đăng (23.2.1885). Đề đốc nhà Thanh là Phùng Tử Tài điều quân từ Long Châu (TQ) sang được sự giúp đỡ của một bộ phận quân triều Nguyễn và nhân dân VN ở địa phương, 22.3.1885 đánh chiếm lại ải Nam Quan, Đồng Đăng, diệt gần 200 quân Pháp; 28.3 tiến công xuống Kì Lừa (tx Lạng Sơn), diệt hơn 70 quân (tướng Nêgriê bị thương nặng phải trao quyển chỉ huy cho trung tá Ecbanhgiê). Quân Pháp hoang mang, ngay đêm 28 bỏ Lạng Sơn rút về Chũ (Bắc Giang). TRẬN LARIVÊ nh TRẬN PHỦ Lỗ (6.12.1951) TRẬN LẢYTƠ (24-25.10.1944), trận hải chiến giữa hải quân Nhật với Mĩ ở khu vực đảo Lâytơ (thuộc quần đảo Philippin) trong CTTG-II. Sau khi phát hiện ý đổ của Mĩ chiếm đảo Lâytơ làm bàn đạp đánh chiếm toàn bộ Philippin. bộ chỉ huy Nhật điều 3 binh đoàn tàu chiến (Trung Tâm, Nam và Bắc) đến Lâytơ gồm 9 tàu thiết giáp, 4 tàu sân bay, 21 tàu tuần dương và 35 tàu khu trục nhằm tiêu diệt lực lượng Mĩ, phá vỡ cuộc đổ bộ. Nắm được kế hoạch của Nhật, Mĩ sử dụng 2 hạm đội (3 và 7) gồm 12 tàu thiết giáp, 25 tàu sân bay, 20 tàu tuần dương, 144 tàu phóng lôi triển khai ngăn chặn. Trận đánh lớn giữa hạm đội đôi bên diễn ra ở phía đông mũi Enganô, gần đảo Xamarơ và vịnh Xurigao. Kết quả Nhật bị thiệt hại nặng, mất 24 tàu chiến (có 4 tàu sân bay); Mĩ mất 7 tàu chiến (có 3 tàu sân bay). Thắng lợi của hải quân Mĩ quyết định quá trình đổ bộ chiếm Lâytơ và ảnh hưởng quan trọng đến diễn biến tiếp theo ở Thái Bình Dương. TRẬN LỆ MĨ (26.5.1949), trận truy kích của Trung đoàn bộ binh 308 (3 tiểu đoàn 18, 79 và 626), Tiểu đoàn bộ binh 510 (Liên khu 10) đánh quân Pháp rút lui tại khu vực Lệ Mĩ - Tiên Du (nay thuộc xã Tiên Du, h. Phù Ninh, t. Phú Thọ) trong đợt 3 chiến dịch Sông Lô (29.4-31.5.1949). Theo kế hoạch, các tiểu đoàn 18, 79 vận động đánh địch từ phía sau và tạt sườn, Tiểu đoàn 510 chặn ở Tiên Du, Tiểu đoàn 626 làm lực lượng dự bị. Do không nắm chắc địa hình, bị máy bay địch đánh phá cản đường, các tiểu đoàn 79 và 510 không thực hiện được nhiệm vụ nên Tiểu đoàn 626 phải vào chiến đấu sớm hơn dự kiến. 5 giờ ngày 26.5 bộ đội ta nổ súng, diệt 150 địch, giải thoát hàng trăm đồng bào bị bắt, nhưng quân Pháp đông hơn, có máy bay yểm hộ, vừa chống trả quyết liệt, vừa nghi binh, phần lớn chạy thoát về Việt Trì. Trận đánh hiệu quả không cao do công tác tổ chức chỉ huy, thông tin liên lạc và nắm tình hình của ta còn nhiều hạn chế. TRẬN LIÊN TỈNH LỘ 8A (Rạch Giá - Sóc Xoài. 4.8.1948), trận phục kích của Trung đoàn 124 (2 đại đội), Trung đoàn 126 (3 đại đội), Đại đội 1097 và 1 trung đội công binh bộ đội chủ lực Quân khu 9, đánh Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 43) thuộc lực lượng cơ động Pháp ở tiểu khu Long Xuyên đi hành quân tiếp tế, giải tỏa trên tinh lộ 8A (Rạch Giá - Hà Tiên, t. Kiên Giang). Đêm 1.8 ta tập kích hỏa lực, bao vây đồn Tri Tôn. đồng thời bố trí phục kích ở khu vực cầu số 2-số 3 (đông - đông nam tx Rạch Giá 4,5km). 10 giờ 30 phút đội hình hành quân của địch gồm 11 xe ô tô đi trước trên bộ và 3 tàu thủy đi sau dưới kênh lọt vào trận địa phục kích. Ta cho nổ địa lôi gài sẵn trên đường, kết hợp đánh chận đầu, khóa đuôi, tạt sườn, chia cắt tiêu diệt dịch và tổ chức đánh lực lượng ở phía sau lên phân kích. Sau gần 2 giờ chiến đấu, ta diệt và bắt hơn 70 địch, phá hủy 9 xe ô tô, thu 58 súng (có 1 pháo 88mm) và nhiều phương tiện QS. Trận đánh đạt hiệu quả cao, buộc địch phái rút bỏ hàng loạt đồn bốt trong vùng như Tri Tôn, Sóc Xoài, Vị Thanh, Sóc Ven... Cg trận Sóc Xoài (4.8.1948). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:10:58 am TRẬN LIỄN SƠN - XUÂN TRẠCH (25-27.12.1950), trận tiến công của Đại đoàn 312 (trung đoàn 209 và 141), phối hợp với LLVT địa phương các tinh Vĩnh Phúc, Phú Thọ đánh 3 tiểu đoàn (Tiểu đoàn dù 10, Tiểu đoàn lê dương 24 và tiểu đoàn ngụy Mường) thuộc Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của Pháp hành quân, càn quét vùng Xuân Trạch - Bạch Hạc (t. Vĩnh Phúc), mờ đầu chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950- 18.1.1951). Sáng 25.12 địch sử dụng Tiểu đoàn dù 10 và 1 tiểu đoàn ngụy Mường mở cuộc hành quân Bêcatxanh đánh vào Thần Sơn, Liễn Sơn, bị Trung đoàn 141 và bộ đội địa phương chận đánh, diệt và làm tan rã 1 tiểu đoàn. 26.12 địch đưa Tiểu đoàn 24 từ Kéo Cài đến ứng cứu cũng bị chặn đánh quyết liệt, phải dừng lại ở làng Xuân Trạch. Tại đây Trung đoàn 209 và Tiểu đoàn 428 (Trung đoàn 141) kịp thời vận động, triển khai đội hình bao vây và tiến công địch trên ba hướng, 5 giờ ngày 27.12 nổ súng, đến 7 giờ 30 phút làm chủ trận địa, diệt gọn tiểu đoàn địch. Là trận đầu ra quân thắng lợi của Đại đoàn 312, bẻ gãy cuộc càn quét và kế hoạch bình định của địch, buộc địch phải lui về phòng thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển. TRẬN LIÊU DƯƠNG (8.1904), trận đánh lớn giữa Nga và Nhật ở Liêu Dương (một địa bàn chiến lược quan trọng ở đông bắc TQ) trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). Nhật sử dụng 135.000 quân, 474 khẩu pháo tiến công 152.000 quân Nga với 606 khẩu pháo đóng ở Liêu Dương. Qua 10 ngày kịch chiến, Nhật bị thiệt hại nặng, bị thương vong 24.000 quân, Nga - 20.000, nhưng Nga sợ bị bao vây nên dã rút khỏi Liêu Dương về Sa Hà. Nhật thừa thế chiếm Liêu Dương. TRẬN LONG ĐIỀN (28.4.1975), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 8, Quân khu 8) vào trận địa phòng ngự tạm thời của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 10, Sư đoàn 7) QĐ Sài Gòn tại ấp Long Điền (xã Tam Hiệp, h. Châu Thành Bắc, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). 27.4 tiểu đoàn địch hành quân giải tỏa đường 4, bị ta chặn đánh phái dừng lại và tổ chức phòng ngự gấp. Ta bí mật áp sát, triển khai lực lượng hình thành thế bao vây từ 3 hướng, 4 giờ 30 phút ngày 28 bất ngờ nổ súng, thọc sâu chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, đến 5 giờ 15 phút làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu 166 địch (bắt 13), thu 24 súng các loại, góp phần cắt đứt đường 4, tạo điều kiện cho LLVT quân khu từ hướng nam vào tham gia giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). TRẬN LONG ĐIỀN – CẦU NGAN (26.8 và 1.9.1867), trận chiến đấu phòng ngự bảo vệ căn cứ Long Điền - Cầu Ngan (nay thuộc t. Trà Vinh) của 300 nghĩa quân Trà Vinh, dưới sự chỉ huy của phó lãnh binh Lê Đình Đường, trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Ngày 26.8 một đại đội lính Pháp và lính mã tà mở cuộc càn quét vào căn cứ Long Điền. Dựa vào chiến lũy, nghĩa quân tiến hành phản kích bẻ gãy các đợt tiến công gây nhiều thiệt hại cho địch. Trong trận này Lê Đình Đường hi sinh. Để trả thù cho thất bại ở Long Điền, 1.9 quân Pháp được tăng viện, tiếp tục tiến công căn cứ Cầu Ngan. Nghĩa quân được nhân dân giúp đỡ, tổ chức đánh trả quyết liệt, tiêu hao sinh lực địch, nhưng sau 2 giờ chiến đấu, do quân Pháp có ưu thế hơn về binh lực, nghĩa quân phải rút khỏi căn cứ. TRẬN LONG KHÁNH (30.10.1972), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh Đồng Tháp (Quân khu 8).chặn đánh Trung đoàn 16 (Sư đoàn 9) QĐ Sài Gòn hành quân càn quét ở khu vực xã Long Khánh (h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Đêm 28.10 trung đoàn cơ động bằng xuồng vào bố trí trận địa phục kích theo đội hình chữ V ở đồng Sáu Não (Long Khánh), giữa rạch Ba Muồng và Rạch Sâu; dùng súng cối 82mm bắn vào SCH trung đoàn địch. Sáng 30.10 địch điều 1 đại đội trinh sát và 1 tiểu đoàn bộ binh ra giải toả, lọt vào trận địa. Ta bí mật vận động, hình thành thế bao vây, dùng hỏa lực bắn chế áp, tổ chức xung phong đánh địch cả phía trước, phía sau, hai bên sườn, dồn địch vào khu quyết chiến điểm để tiêu diệt. Kết quả ta diệt 1 tiểu đoàn, 2 trung đội (diệt hơn 200, bắt 31), thu 93 súng, khiến địch hoang mang, phải rút bỏ một số đồn bốt, tạo điều kiện giải phóng nhiều xã ở nam Cai Lậy. TRẬN LONG MĨ (13.4.1969), trận phục kích của du kích xã Long Mĩ (h. Giồng Trôm, t. Bến Tre), đánh máy bay trực thăng chở quân Mĩ bằng mìn tự tạo tại khu vực cánh đồng Ấp 5. Ta sử dụng 9 mìn tự tạo, 15 mìn chống bộ binh, bố trí thành 3 cụm ở những địa điểm địch thường đổ quân lùng sục; 8 giờ đến 8 giờ 5 phút ngày 13.4, ta phá hủy 3 máy bay và làm bị thương 2 chiếc khác, loại khỏi chiến đấu hơn 50 địch. Kinh nghiệm trận đánh được các địa phương nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả, đánh bại thủ đoạn “nhảy cóc” bằng máy bay trực thăng của địch trên chiến trường Khu 8. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:11:53 am TRẬN LONG PHƯỚC THÔN (22.9.1947), trận chống càn của 1 trung đội thuộc Chi đội 6 vệ quốc đoàn Gia Định (Khu 7), chặn đánh gần 2.000 quân Pháp và quân Cao Đài phản động càn quét căn cứ cù lao Long Phước Thôn (h. Thủ Đức, t. Gia Định, nay là q. Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh). 6 giờ địch sử dụng máy bay, pháo binh đánh phá, đến 12 giờ 30 phút dùng 14 ca nô và xà lan đổ quân bao vây căn cứ từ ba hướng. Dựa vào công sự chuẩn bị trước, ta tổ chức thành 2 trận địa ngăn chặn ở chính diện, đồng thời hình thành các mũi tạt sườn, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đến 18 giờ buộc địch phải rút quân. Kết quả ta diệt 143 địch, thu 21 súng các loại, giữ vững và mở rộng căn cứ. TRẬN LONG THÀNH (26-27.4.1975), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 101 (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội hỏa lực, đánh chiếm quận lị Long Thành (t. Biên Hoà, nay thuộc t. Đồng Nai; đông tp Sài Gòn 30km), do 2 tiểu đoàn bảo an cùng lực lượng cảnh sát, dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Ta triển khai tiến công trên 2 hướng, 17 giờ 5 phút ngày 26.4 bắt đầu nổ súng; sau 35 phút pháo bắn chuẩn bị, bộ binh và xe tăng xung phong đánh chiếm mục tiêu (ngã ba đường 15, đường 10, trận địa pháo...). Địch co cụm chống cự quyết liệt, chờ quân cứu viện; phía ta một số bộ phận phát triển chệch hướng, hiệp đồng giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh không chặt nên trận đánh kéo dài. 13 giờ ngày 27 ta tập trung hỏa lực chi viện, đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu, mở đợt tiến công dứt điểm, đến 16 giờ làm chủ quận lị. Kết quả diệt và bắt hơn 300 địch, làm tan rã nhiều đơn vị bảo an, dân vệ, phá hủy 2 xe tăng, bắn rơi 1 máy bay, thu hơn 300 súng (có 8 pháo, cối), góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường cho lực lượng chiến dịch từ hướng đông phát triển tiến công vào nội đô Sài Gòn. TRẬN LỘ 16 nh TRẬN BÌNH MĨ (14.2.1962) TRẬN LỘ LIÊN TỈNH TIỂU CAN - CAU KÈ (4.12.1974), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 3 (Quân khu 9) chặn đánh đoàn xe QĐ Sài Gòn trên đường 37, đoạn tiếp giáp giữa 2 huyện Tiểu Cần và Cầu Kè (t. Trà Vinh), từ cầu Rộc Lá đến tây Ranh Hạ. Sáng 4.12 địch dùng 12 xe QS chở Tiểu đoàn bảo an 404 đến ứng cứu chi khu Cầu Kè đang bị ta bao vây, uy hiếp. 7 giờ 25 phút đoàn xe lọt vào trận địa phục kích (dài 2,5km); ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi rồi xung phong diệt địch, sau hơn 1 giờ loại khỏi chiến đấu 142 địch, phá hủy 11 xe (có 2 xe bọc thép). TRẬN LỘ TẺ (25.12.1973), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 20 (Quân khu 9) chặn đánh Tiếu đoàn 3 (Trung đoàn 31, Sư đoàn 21) QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa ở Lộ Tẻ (xã Ngọc Hoà, h. Giồng Riềng, t. Rạch Giá, nay thuộc t. Kiên Giang). Đêm 23.12 ta tổ chức bao vây, tập kích hỏa lực vào đồn bảo an Xẻo Dung, đồng thời sử dụng 2 tiểu đoàn bố trí trận địa phục kích từ Ấp 1 đến Ấp 3 (dài 3,5km). Sáng 25.12 địch đưa Tiểu đoàn 3 đến úng cứu, 9 giờ 20 phút lọt vào trận địa phục kích. Ta bất ngờ nổ súng chặn đầu, khóa đuôi rồi xung phong diệt địch, sau 45 phút loại khói chiến đấu 294 địch (bắt 38), thu 150 súng các loại. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần đánh bại kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch ở huyện Giồng Riềng. TRẬN LỘC GIANG (17.12.1966), trận phục kích của Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3, Quân khu 5) chặn đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn kị binh không vận 1 ở khu vực Lộc Giang (xã Ấn Tường, h. Hoài Ấn, t. Bình Định). 15.12 Trung đoàn 12 sử dụng 2 tiểu đoàn (6 và 4) tổ chức trận địa phục kích từ xóm 19 Lộc Giang đến xóm 30 Long Giang theo thế dựa lưng vào nhau, sẵn sàng đánh địch từ mọi hướng. Sáng 17.12 địch đưa 1 tiểu đoàn từ căn cứ Gò Lõi chia ba mũi tiến vào Lộc Giang. Ta dựa vào công sự, địa hình có lợi kiên cường ngăn chặn, đồng thời vận động đánh vào bên sườn, phía sau, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. 15 giờ địch dùng máy bay trực thăng đổ 1 tiểu đoàn nhằm bao vây, tiêu diệt lực lượng ta. Với thế trận đã chuẩn bị sẵn, ta kịp thời nổ súng ngay khi địch vừa tiếp đất, diệt nhiều địch, bắn cháy nhiều máy bay trực thăng; đến tối tổ chức lui quân an toàn. Kết quả đánh thiệt hại nặng 4 đại đội, diệt hàng trăm địch, bắn cháy 12 máy bay, thu 18 súng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần làm thất bại cuộc phân công chiến lược lần II của Mĩ trên địa bàn Khu 5. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 11:14:23 am TRẬN LỘC HÒA (13.9.1968), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 141 (Sư đoàn 7) chặn đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 hành quân giải tỏa khu vực Lộc Hòa (h. Lộc Ninh, t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước). Sáng 13.9 địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ 1 tiểu đoàn xuống Trảng Tranh (tây Lộc Hoà), đồng thời điều 1 tiểu đoàn khác có xe tăng, xe bọc thép dẫn dầu vòng theo đường Lộc Tấn đến nam đường 13 nhằm cứu nguy cho chi khu Lộc Ninh bị uy hiếp. Ta bố trí phục kích ở khu vực Lộc Hoà, từ 14 giờ đến 18 giờ 30 phút, liên tiếp chặn đánh địch ở nam điểm cao 222, tập kích địch tạm dừng ở nam Lộc Hoà, vận động tiêu diệt địch ở bắc làng 9... Kết quả loại khỏi chiến đấu hàng trăm địch, bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 6 xe bọc thép. TRẬN LỘC NINH 18-19.10.1963, trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn T80 (Quân khu 9) và du kích các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hòa đánh 2 tiểu đoàn biệt động quân và thủy quân lục chiến QĐ Sài Gòn hành quân ứng cứu tại xã Lộc Ninh (h. Hổng Dân, t. Bạc Liêu). Đêm 17 rạng 18.10 ta tiến công diệt địch ở Bến Luông đồng thời bố trí trận địa sẵn sàng đánh viện. Trong ngày 19 địch dùng máy bay trực thăng đổ bốn đợt quân xuống các khu vực Ngan Bình. Bà Ai, Bà Hội, Tà Hong phối hợp với lực lượng tại Lộc Ninh tiến hành nhiều đợt tiến công nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn T80. Dựa vào làng xã chiến đấu, bộ đội và du kích vận dụng sáng tạo các cách đánh, tập trung hỏa lực bắn máy bay và diệt địch ngay tại bãi đổ quân, tích cực bám đánh đẩy lui các đợt tiến công, loại khỏi chiến đấu gần 600 địch (có 22 cố vấn Mĩ), bắn rơi 6 máy bay trực thăng, bắn hỏng nhiều chiếc khác. Trận đánh đạt hiệu quả cao. góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận của địch trên chiến trường miền Tây Nam Bộ. TRẬN LỘC NINH 5-7.4.1972, trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 5, được tăng cường Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 9), 1 trung đoàn pháo binh (cối và hỏa tiễn), 2 đại đội xe tăng, vào chi khu QS Lộc Ninh (nay là thị trấn Lộc Ninh, h. Lộc Ninh, t. Bình Phước), do Chiến đoàn bộ binh 9 (Quân đoàn 3) QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972-19.1.1973). Trận đánh mở màn lúc 5 giờ 30 phút ngày 5.4, địch hoàn toàn bị bất ngờ và hoảng loạn, phải điều Tiểu đoàn bộ binh 2 từ căn cứ Hoa Lư (Thành Vinh), Thiết đoàn 1 và Tiểu đoàn biệt động quân 74 từ Lộc Tấn về ứng cứu, nhưng quân viện vừa tới bắc Lộc Ninh 2km, bị Trung đoàn 3 và 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 5 phục kích diệt Tiểu đoàn biệt động quân 74, phá hỏng 56 xe QS, thu 32 xe thiết giáp; Tiểu đoàn bộ binh 2 chạy về phía nam cũng bị diệt gần hết. Sau 2 ngày liên tục tiến công, vây hãm và đánh địch ứng cứu. sáng 7.4 bộ binh và xe tăng của ta từ nhiều hướng đột phá mãnh liệt, đến 16 giờ làm chủ toàn bộ chi khu. Kết quả diệt và bắt 3.000 địch (bắt 1.876, có đại tá chiến đoàn trường Chiến đoàn 9), thu 1.789 súng, 72 máy thông tin, 30t đạn. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi diệt chiến đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc ở Lộc Ninh, buộc quân địch phải rút chạy khỏi Bù Đốp, Hồng Tâm và một loạt đồn bốt trên đường 22, tạo điều kiện cho ta phát triển tiến công vào thị xã Bình Long. TRẬN LỘC THUẬN (23.3.1964). trận phục kích của Đại đội 620 được tăng cường 2 trung đội bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đánh 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa trên lộ 175 tại địa bàn xã Lộc Thuận (h. Bình Đại, t. Bến Tre). Đêm 22.3 ta bí mật xây dựng trận địa ở khu vực 3 cụm vườn dừa, dọc theo trục lộ dài khoảng 1.200m. 14 giờ ngày 23.3, xe chở quân địch từ xã Vang Qưới trở về Bình Đại lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu. dùng hỏa lực yểm trợ cho bộ binh xung phong chia cắt diệt địch, đồng thời khống chế các bốt lân cận. Sau 45 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 50 địch, thu hơn 30 súng các loại và hàng nghìn viên đạn. hỗ trợ cho nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược, bức hàng, bức rút đồn bốt địch. TRẬN LÔTDƠ (11 -24.11.1914), trận tiến công của quân Đức trên mặt trận Nga - Đức trong CTTG-I nhầm tiêu diệt quân Nga ở khu vực Lôtdơ (thành phố ở Ba Lan ngày nay). Tập đoàn quân 9 Đức tiến công theo hướng đông nam vào 2 tập đoàn quân (2 và 5) của Nga đang làm nhiệm vụ phòng ngự bảo vệ sườn phía bắc cho cuộc tiến công lớn của Nga. Trên hướng đột kích chủ yếu, quân Đức đã thọc sâu vào nơi tiếp giáp giữa 2 tập đoàn quân Nga. Quân Nga tổ chức phản công mạnh, đã bẻ gãy mũi đột kích của quân Đức. TL là một thắng lợi của quân Nga trước cuộc tiến công của quân Đức song lại có ý nghĩa chiến lược đối với Đức, bởi sau đó quân Nga buộc phải rút khỏi Lôtdơ, không còn khả năng uy hiếp lãnh thổ Đức. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 11:17:11 am TRẬN LƠCTRA (371 ten), trận quân Phivơ (7.500 người) của Êpaminông đánh thắng quân Xpacta (11.000 người) của vua Clêombrôt trong chiến tranh Bêôtia (378-362tcn). Ngày 5.8.371tcn tại Lơctra, thành phố ở Bêôtia (nay là Trung Hi Lạp), cách Phivơ 11 km, Êpaminông chiến thắng nhờ lần đầu tiên trong lịch sử đã áp dụng nguyên tắc bố trí lực lượng không đều trên chính diện, tập trung ưu thế binh lực trên hướng chủ yếu. Sau TL, Xpacta mất địa vị bá chủ ở Hi Lạp. TRẬN LŨNG MƯỜI - TÔNG VÀ (1.1.1948), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 73 (Trung đoàn 74) phối hợp với Đại đội 670 bộ đội huyện Thạch An và 2 trung đội du kích địa phương, đánh đoàn xe QS của Pháp trên đường 4, tại khu vực Lũng Mười - Tông Và (bắc Đông Khê 12km, t. Cao Bằng). Trận địa phục kích dài khoảng 2km, trên đoạn đường đèo dốc quanh co, hiểm trở. Sáng 1.1 đoàn xe địch (60 chiếc) có xe bọc thép và lực lượng hộ tống từ Cao Bằng xuống Đông Khê. Khi phần lớn xe địch lọt vào trận địa, ta bất ngờ nổ súng chặn đầu, xung phong đánh địch trên đường, sau 15 phút chiến đấu diệt 75 địch, phá hủy 5 xe, phá hỏng một số chiếc khác, thu 30 súng các loại. Trận đánh diễn ra nhanh gọn đạt hiệu quả cao, rút được kinh nghiệm về cách đánh phục kích trong những năm đầu KCCP, góp phần ngăn chận hoạt động vận chuyển, tiếp tế của địch trên tuyến Lạng Sơn - Cao Bằng. TRẬN LŨNG PHẨY (3.9.1949), trận phục kích đoàn xe QS Pháp trên đường 4 tại khu vực Bông Lau - Lũng Phầy (h. Tràng Định, t. Lạng Sơn), do Trung đoàn bộ binh 174 (thiếu 1 tiểu đoàn) và Tiểu đoàn pháo binh 253 tiến hành nhằm diệt sinh lực địch, đánh phá việc vận chuyển tiếp tế của Pháp từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. 2.9 Trung đoàn 174 bố trí trận địa phục kích từ Bản Bó đến đỉnh đèo Bông Lau. Quá trưa 3.9 khi đội hình chủ yếu của đoàn xe địch gồm hơn 100 chiếc, có xe tăng, xe bọc thép hộ tống từ Thất Khê lên Cao Bằng lọt vào trận địa, bộ binh và pháo binh ta đồng loạt nổ súng, chiếm địa hình có lợi, nhanh chóng chặn đầu, khóa đuôi rồi từ hai bên đường xung phong, chia cắt diệt dịch. Sau hơn một giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, tiếp đó đánh lui viện binh địch từ Thất Khê lên ứng cứu. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, phá hủy 86 xe (có 1 xe tăng, 2 xe bọc thép), thu gần 100 súng các loại. Đây là lần thứ tư trong vòng 2 năm (10.1947-9.1949) ta phục kích trên đoạn Bông Lau - Lũng Phầy, nhờ nắm chắc tình hình địch và địa hình, chuẩn bị chu đáo, bảo đảm bí mật bất ngờ, nên trận đánh vẫn giành thắng lợi và đạt hiệu suất chiến đấu cao. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68726480_465819277481291_5881150352509632512_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHmegYIOHdso7MKe4zQfrwctetSBfbG_CbOPyNdj3ljFXbsWTLvMU-6DwiUTJjLBsw7UnIaxMRpl8JyyzltwQfCzSjehPsJv8dznOOGe08QUg&_nc_oc=AQkS9zR8-ig81n5RgH6dvOypASe5Go4SjdC7UaoJad5lKOVD1u652mY1r_ixAV4wEac&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c271fb030e8ebea05583fdb36b6fbabf&oe=5DE9D5F4) TRẬN LUTXEN (2.5.1813), trận đánh giữa 70.000 quân Pháp của Napôlêông I với liên quân Nga - Phổ (65.000 quân) tại Lutxen (gần Laixich, đông nam Đức ngày nay) trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815). Sau nhiều lần hai bên giành đi giật lại 5 làng, đến tối liên quân Nga - Phổ phải rút lui. Do thiếu kị binh, quân Pháp không thể thực hiện truy kích. Phía Nga - Phổ mất 20.000 quân; phía Pháp - 18.000 quân. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:16:21 pm TRẬN LỮ THUẬN 10-11.1894, trận quân Nhật đánh chiếm cảng Lữ Thuận ở đông bắc TQ trong chiến tranh Trung - Nhật (1894-95). Sau khi đánh bại quân Thanh ở Triều Tiên. 10.1894 Nhật sử dụng hơn 200.000 quân chia thành hai đường tiến sang TQ. Hướng đường bộ, quân Nhật vượt sông Áp Lục, chiếm các thành Cửu Liên (nay ở đông bắc Đan Đông), An Đống (nay là Đan Đông), đánh tan 40.000 quân Thanh. Hướng đường thủy, quân Nhật đổ bộ lên bán đảo Liêu Đông, 6.11 chiếm Kim Châu (nay là Kim Huyện), 7.11 chiếm Đại Liên, chuẩn bị tiến đánh Lữ Thuận. Tại đây quân Thanh phòng thủ khá mạnh, có 29 pháo đài với 150 khẩu pháo đủ đạn, nhưng tinh thần chiến đấu thấp, nhiều tướng lĩnh bỏ trốn, chỉ còn tổng binh Từ Bang Đạo và một số quân chống trả. Sau 4 ngày chiến đấu tuyệt vọng (18-22.11), Lữ Thuận thất thủ. Nhật tàn sát toàn bộ 18.000 dân trong thành. TRẬN LỮ THUẬN 8.1904-1.1905, trận tiến công của quân Nhật vào cảng Lữ Thuận ở đông bắc TQ do quân Nga chiếm giữ trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). Sau khi bao vây dài ngày và triệt đường tiếp tế của quân Nga, 19.8.1904 Nhật dùng 130.000 quân, 400 khẩu pháo tiến công quân Nga (50.000 quân, 545 khấu pháo) phòng thủ tại cảng. Bằng thủ đoạn bao vây, chia cắt, kết hợp tiến công. 5.12.1904 Nhật chiếm được điếm cao 203, lập trạm quan sát pháo binh, bắn phá các tàu ra vào tiếp tế cho cảng. 1.1.1905 quân Nga đầu hàng, bị bắt 32.000 người. Nhạt bị thương vong 60.000 người. TRẬN MÃ LĂNG (342tcn), trận phục kích nổi tiếng thời Chiến Quốc của quân Tề diệt toàn bộ đạo quân chủ lực Ngụy tại Mã Lăng (Hà Nam, TQ). 343tcn Ngụy đánh Hàn, Hàn cầu cứu Tề. 342tcn quân Tề dùng kế “vây Ngụy cứu Triệu”, đem quân đánh sang đất Ngụy khiến Bàng Quyên (tướng Ngụy) vội rút quân từ Hàn về Ngụy. Quân sư Tôn Tẫn của Tề biết Bàng Quyên kiêu ngạo, lập kế vờ rút chạy và chủ trương giảm số bếp nấu ăn hàng ngày, nhằm đánh lừa quân Ngụy là quân Tề bị hao hụt do bỏ trốn. Bàng Quyên mắc mưu. thúc quân đuổi gấp đến Mã Lăng (nơi đất hiểm) bị quân Tề phục binh, bắn tên dày đặc tiêu diệt toàn bộ quân Ngụy. Bàng Quyên tự sát. Thái tử Thân của Ngụy bị bắt. Trận nổi tiếng về nghi binh và phục kích trong lịch sử chiến tranh thời cổ đại ở TQ. TRẬN MÃ VĨ (1884). trận tập kích trên biển của hạm đội Pháp vào Hạm đội Phúc Kiến của TQ trong chiến tranh Trung - Pháp (1883-85). Sau khi đánh Cơ Long (Đài Loan) không thành công, hạm đội Pháp lui về vùng biển Mã Vĩ (Phúc Kiến) thả neo cạnh hạm đội TQ lấy danh nghĩa du lịch. Nhân phía TQ mất cảnh giác, 23.8.1884 tàu Pháp bất ngờ tiến công, bắn chìm 9 tàu của Hạm đội Phúc Kiến, 2 tàu còn lại bị thương. TQ bị thương vong 760 người. Trên đường rút, 2 tàu Pháp bị pháo TQ bắn bị thương, trong đó có tàu chỉ huy hạm đội của đô đốc Cuôcbê. TRẬN MACNƠ 5-12.9.1914, trận phản công của liên quân Anh - Pháp vào quân Đức ở khu vực sông Macnơ (đông bắc Pari khoảng 25km) trong CTTG-I (1914-18). Sau thắng lợi trong trận biên giới Bắc Pháp (21-25.8.1914), quân Đức (51 sư đoàn, 3.364 khẩu pháo) tiến về Pari, trong đó đưa Tập đoàn quân 1 vòng sang hướng đông nam đến sông Macnơ (2.9) nhằm đánh vào phía sau quân Pháp. Liên quân Anh - Pháp (56 sư đoàn, 3.000 khẩu pháo) tổ chức chặn đánh trên chính diện, đồng thời dùng Tập đoàn quân 6 (Pháp) tiến công vào sườn phía tây Tập đoàn quân 1 (Đức). Ở phía sau quân Đức cũng bị Tập đoàn quân 9 (Pháp) đánh chặn. Trước nguy cơ bị chia cắt, quân Đức rút về tuyến sông Enơ tổ chức trận địa phòng ngự. TM làm tiêu tan ý đồ đánh nhanh thắng nhanh của Đức; đánh dấu bước chuyển tiếp từ giai đoạn chiến tranh vận động sang giai đoạn chiến tranh trận địa trong CTTG-I. TRẬN MACNƠ 15.7-4.8.1918. trận chiến đấu giữa quân Pháp trong lực lượng Đồng minh với quân Đức ở khu vực giữa hai sông Macnơ và Enơ ở Bắc Pháp trên mặt trận Tây Âu trong CTTG-I. Sau ba ngày (15-17.7) phòng ngự ngoan cường gây thiệt hại nặng cho đối phương, 18.7 quân Pháp (36 sư đoàn, 3.038 pháo) với sự tham gia của một số sư đoàn Mĩ, đã chuyển sang phản công bất ngờ, không có chuẩn bị bằng hỏa lực, trên dải 50km, đánh bật quân Đức (48 sư đoàn, 6.353 pháo) về phía sông Enơ được 40km, cứu thủ đô Pari của Pháp khỏi nguy cơ bị Đức chiếm. Sau TM quyền chủ động chiến lược hoàn toàn chuyển sang tay Đồng minh, CTTG-I bước vào giai đoạn kết thúc. TRẬN MADURI nh TRẬN APGUXTÔP (7-26.2.1915) TRẬN MAI LĨNH (9.3.1975), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 10 (bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị) vào chi khu Mai Lĩnh (xã Hải Phú, h. Hải Lăng, t. Quảng Trị), do 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Chi khu có hệ thống lô cốt, công sự kiên cố, xung quanh có hào sâu, tường bê tông và 9 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn. Đêm 8.3 tiểu đoàn chia ba mũi bí mật luồn sâu, áp sát các mục tiêu; 1 giờ 47 phút ngày 9 đồng loạt nổ súng, sau hơn 10 phút chiến đấu làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt 113 địch, thu toàn bố vũ khí, góp phần phá vỡ một trong những mắt xích chủ yếu trong hệ thống phòng thủ của địch ở bắc thị xã Quảng Trị. tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:18:05 pm TRẬN MANDICƠT (1071), trận đánh giải vây của 40.000 quân Bidăngtin chống 70.000 quân Thổ xâm chiếm tại khu vực Mandicơt trên đất Bidăngtin (địa phận Acmênia ngày nay). Ban ngày, quân tinh nhuệ của vua Bidăngtin Rômanơt IV tiến công chính diện và đẩy lui đối phương ra khỏi Mandicơt. Ban đêm, quân của vua Thổ Acxlan phản công, bao vây tiêu diệt toàn bộ quân đối phương, bắt sống vua Rômanơt IV. Thất bại trong TM mở đầu sự suy tàn của đế chế Bidăngtin vùng Tiểu Á. TRẬN MANVINAT (8.12.1914), trận hải chiến giữa hạm đội Đức và hạm đội Anh gần vùng đảo Phooclen (Manvinat) ở tây nam Đại Tây Dương trong CTTG-I. Do không nắm được hạm đội Anh (9 tàu tuần dương, 56 pháo) đang đậu tại cảng để tiếp dầu, hạm đội Đức (5 tàu tuần dương, 28 pháo) tiến vào vùng đảo Manvinat, dự định tập kích cảng Itxtanlây. Trên đường rút ra bị hạm đội Anh tiến công, hầu hết hạm đội Đức bị đánh chìm, chỉ còn một tàu tuần dương hạng nhẹ chạy thoát. TM đã củng cố quyền bá chủ trên biển của Anh. Từ đây, Đức chuyển sang đẩy mạnh hoạt động của tàu ngầm. Cg trận Phooclen. TRẬN MẠO KHÊ MỎ (30.3.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 209 (Đại đoàn 312) và Liên đội sơn pháo 756 (Trung đoàn 675) vào đồn Mạo Khê Mỏ (thị trấn Mạo Khê, h. Đông Triều, t. Quăng Ninh), do 140 lính Pháp đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3-7.4.1951). Dự kiến bắt dầu lúc 23 giờ ngày 29.3, nhưng do hành quân chiếm lĩnh trận địa chậm, đến 3 giờ 30 phút ngày 30.3 Trung đoàn 209 mới nổ súng; kết hợp hỏa lực pháo binh, cối và các mũi xung kích đột phá cửa mở, sau 40 phút chiến đấu chiếm được lô cốt đầu cầu rồi phát triển vào bên trong tiêu diệt địch. Số địch còn lại (khoảng 50 quân) dồn về cố thủ quyết liệt trong ngôi nhà ba tầng chờ tăng viện. Sau nhiều lần công kích không kết quả, bị máy bay, pháo binh địch bắn cản dữ đội, Trung đoàn 209 tạm rút ra ngoài tiếp tục bao vây, chờ đêm đánh tiếp. Chiều 30.3 Pháp đưa 1 tiểu đoàn Âu - Phi có xe tăng yểm trợ, từ Đông Triều tới ứng cứu. Nhân lúc bộ đội ta tập trung chặn viện, lực lượng địch cố thủ ở Mạo Khê Mỏ bỏ đồn chạy thoát. TRẬN MẠO KHÊ PHỐ (31.3.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308) vào đồn Mạo Khê Phố (thị trấn Mạo Khê, h. Đông Triều, t. Quảng Ninh) của quân Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3- 7.4.1951). Trước trận đánh Pháp đột ngột tăng cường 1 tiểu đoàn Âu - Phi cho Mạo Khê Phố, đưa số quân ở đây từ 150 lên 700, bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn tiến công. Do mệnh lệnh không đến kịp, 1 giờ ngày 31.3 Trung đoàn 36 vẫn nổ súng theo kế hoạch. Do địch có quân đông, công sự vững chắc, được pháo binh từ Đông Triều và pháo hạm từ sông Đá Bạch hỗ trợ nên trận đánh không thành công. Trung đoàn chỉ tiêu hao được một số địch rồi lui quân. TRẬN MARATÔNG (13.9.490tcn), trận chiến đấu giữa quân Ba Tư và Hi Lạp trong cuộc chiến tranh Hi Lạp - Ba Tư (500-449tcn), trên cánh đồng làng Maratông, đông bắc Aten khoảng 40km. Quân Ba Tư có 72.000 (bộ binh 60.000. kị binh 12.000), quân Hi Lạp có 11.000. Sau khi tàn phá thành phố Erêtri trên đảo ơbê (đông Hi Lạp), quân Ba Tư đổ bộ gần Maratông, nhưng ngay sau đó, xét địa hình bất lợi, nhổ trại để tiến về cảng Pirê của Aten bằng đường biển. Đúng lúc một bộ phận quân Ba Tư lên tàu, quân Hi Lạp xông thẳng vào đối phương, gây cho quân Ba Tư thiệt hại nặng (Ba Tư mất 6.000 quân, 7 tàu bị bắt; Hi Lạp: 200 quân). Một binh sĩ được phái chạy về Aten báo tin chiến thắng đã gục chết khi tới nơi vì kiệt sức. Từ sự kiện này, tên gọi Maratông được đặt cho môn thi chạy đường dài trong phong trào Ôlempic hiện đại. TRẬN MARENGÔ (1800), trận phản công của quân Pháp (30.000 người) do Napôlêông I chỉ huy đánh quân Áo (40.000 người) do nam tước M.v. Melat chỉ huy tại khu vực làng Marengô ở Bắc Italia, tây nam tp Alêchxanđria, trong thời gian đầu chiến tranh Napôlêông (1799-1815), xảy ra giữa Pháp với liên minh chống Pháp thứ hai. 14.6 khi quân Pháp chưa kịp triển khai thì bị đánh bất ngờ, phải rút. Quân Áo truy kích chậm chạp, nên sau khi được tăng viện, quân Pháp đã tổ chức lại và phản công, đẩy lui đối phương về Marengô. Đến đêm kị binh Pháp xung trận diệt tan quân Áo. Phía Áo thiệt hại hơn 9.000 quân, Pháp gần 6.000. Sau TM, Napôlêông I chiếm được Bắc Italia. [/b][/color] Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:19:16 pm TRẬN MĂNG ĐEN (27-28.1.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 108 bộ đội chủ lực Liên khu 5 vào cứ điểm Măng Đen (đông bắc tx Kon Tum 50km, nay là thị trấn Kon Plông. h. Kon Plông, t. Kon Tum), trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (26.1-17.2.1954). Măng Đen là cứ điểm then chốt trong tuyến phòng thủ của Pháp ở bắc Tây Nguyên, được xây dựng kiên cố trên ngọn đồi hình yên ngựa, gồm hai khu cách nhau 800m: khu A (chính) cấu trúc hình tam giác, có 4 lô cốt bê tông, nối nhau bằng hệ thống hào, hầm ngầm, do 2 đại đội đóng giữ; khu B cấu trúc hình móng ngựa, có 3 lô cốt và hệ thống hào, công sự ngầm với khoảng 100-150, lúc cao lên tới 400 lính ứng chiến đóng giữ; giữa 2 khu có sân bay dã chiến, xung quanh là hàng rào thép gai dày 30-90m. 23 giờ 30 phút ngày 27.1, Trung đoàn 108 sử dụng 2 tiểu đoàn (19 và 79) chia hai hướng đồng loạt tiến công. Sau khi dùng hỏa lực chế áp và phá hủy công sự địch, các mũi xung kích cùng lúc mở cửa bằng bộc phá liên tục cho bộ đội xung phong. Trên hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 19 tiến công khu A gặp khó khăn tại cửa mở và rơi vào thế trận giằng co sau 3 đợt tiến công không đạt kết quả. Trong khi đó tại khu B, Tiểu đoàn 79 giành thắng lợi sau 6 giờ chiến đấu, đã kịp thời phát triển sang khu A, hỗ trợ Tiểu đoàn 19 đè bẹp sự kháng cự của địch; đến 7 giờ ngày 28.1 làm chủ toàn bộ cứ điểm. Kết quả diệt hơn 100 địch, bắt 2 đại đội. thu gần 300 súng. Trận then chốt mở màn hướng chính chiến dịch thắng lợi, cùng với các trận diệt cứ điểm Măng Bút và Kon Brây, đập tan cụm phòng ngự then chốt của quân Pháp ở bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch đẩy nhanh tốc độ tiến công, áp sát và uy hiếp tx Kon Tum. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67898148_465819260814626_4834032571216035840_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeF20UuVmbopMd_hZqtK_rIKJEVt8Jj9BxdEcnlSgT5jpc3xnTpS43p93bfgHydNIdyCEqtD4cQVNpbuZwiaY1FxghhXalLAByGq07rt0x8kEg&_nc_oc=AQno8QEaUlnvDb5Gc9blYFhBo-Nbj3M-vXQ5iTVq_vvvwn0zLVd2KufIxbHnxa7KQcY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=127bfadc45711b0179c3e7f85b267dc8&oe=5DCD5190) TRẬN MEXIN (7-15.6.1917), trận tiến công của quân Anh trong CTTG-I nhằm phá vỡ tuyến phòng ngự của quân Đức ở khu vực thành phố Mexin (tây bắc Bỉ ngày nay). 7.6 quân Anh cho nổ 19 khối mìn (mỗi khối 23t) được bí mật đặt trong địa đạo sâu 20-30m, phá hủy tuyến phòng ngự 1 và một phần tuyến 2 của Đức, rồi tiến công chính diện và cạnh sườn, bắt hơn 7.000 tù binh, thu nhiều vũ khí. 8.6 quân Đức tổ chức một số cuộc phản công, nhưng không kết quả, đến 15.6 phải rút khỏi Mexin. Trong TM. Đức mất 25.000 quân. Anh - 16.000. Quân Anh tạo được bất ngờ lớn về chiến thuật nên thắng lợi, cải thiện được thế trận. TRẬN MÊ PU (17.1.1965), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 186 (Quân khu 6) và du kích địa phương chặn đánh QĐ Sài Gòn ở khu vực Mê Pu (h. Hoài Đức, nay là h. Tánh Linh. t. Bình Thuận). Sáng 17.1 địch huy động 1 đại đội bảo an, 4 trung đội dân vệ, 1 đoàn bình định thực hiện kế hoạch bình định, chiếm đóng Mê Pu; 6 giờ đến xóm Mừn Nhà, bị ta chặn đánh diệt một số. 10 giờ lợi dụng lúc địch sơ hở khi dừng lại, ta tổ chức lực lượng thành ba mũi, bí mật vận động tiếp cận, bất ngờ tiến công, sau 30 phút làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 29), thu 93 súng các loại. TRẬN MĨ HẠNH (9.5.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) được tăng cường 1 trung đội bộ đội địa phương, 5 súng máy phòng khòng 12,7mm. 2 ĐKZ 75mm, 3 cối 82mm, đánh cụm quân Mĩ ở cánh đồng xóm Giồng Lớn (xã Mĩ Hạnh, h. Đức Hoà, t. Long An), nhằm phá vành đai phòng ngự bảo vệ Sài Gòn của địch, hỗ trợ cho lực lượng chủ yếu của ta tiến công bén trong. Quân Mĩ ở Giồng Lớn gồm 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới (100 xe tăng, thiết giáp), phòng ngự trên khu vực dài 350m, rộng 250m, bố trí thành tùng cụm có công sự, hàng rào dây thép gai. 0 giờ 30 phút ta bắn pháo chuẩn bị 5 phút, sau đó bộ binh từ ba hướng đột phá, làm địch rối loạn. Sau 2 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa. loại khỏi chiến đấu 300 dịch, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp, 12 cối 106,7mm. bắn rơi 7 máy bay trực thăng; 30 xe QS của địch chạy về Bà Quẹo (Sài Gòn) cũng bị du kích Mĩ Hạnh và Tiểu đoàn bộ binh 5 tiêu diệt. TMH là trận điển hình về tiêu diệt lớn lực lượng bộ binh cơ giới Mĩ, trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp và sát hậu cứ địch. Cg trận Giồng Lớn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:20:16 pm TRẬN MINH THẠNH (10.8.1957), trận tập kích của LLVT miền Đông Nam Bộ vào thị trấn Minh Thạnh (Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương) do QĐ Sài Gòn chiếm giữ. Lực lượng ta gồm 21 tiểu đội của Thủ Dầu Một, Đại đội 20 Tây Ninh, Đại đội 60 miền Đông Nam Bộ, một số đơn vị Bình Xuyên đi theo CM, hoạt động dưới danh nghĩa LLVT Bình Xuyên. 9 giờ ngày 10.8, từ ba hướng ta bất ngờ tập kích diệt lực lượng cảnh sát, bảo vệ ở các trạm gác, tháp canh vòng ngoài rồi dột nhập thị trấn đánh các mục tiêu bén trong, sau một thời gian ngắn ta làm chủ thị trấn, thu nhiều vũ khí, lương thực, thuốc men. Trận đánh thắng lợi góp phần hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, xây dựng LLVT ở miền Đông Nam Bộ trong những năm đầu KCCM. TRẬN MỘC CHÂU (19.11.1952), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 215 (Trung đoàn 98) vào cứ điểm Mộc Châu, một trong những vị trí tiền tiêu bảo vệ vòng ngoài nam Sơn La của Pháp, trong đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (14.10-10.12.1952). Cứ điếm được xây dựng trên núi dá hiểm trở, có hệ thống công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, xung quanh có hàng rào thép gai xen kẽ bãi mìn, do 1 tiểu đoàn người Thái (sĩ quan Pháp chỉ huy) đóng giữ. 23 giờ 30 phút ngày 19.11 trung đoàn tổ chức tiến công từ ba hướng, dùng một mũi thọc sâu chiếm đỉnh núi, bất ngờ đánh từ trên xuống phối hợp với lực lượng từ dưới đánh lên. Sau ba giờ chiến đấu, ta làm chủ cứ điểm, diệt và bắt 350 địch, thu hơn 500 súng các loại (có 1 pháo 94mm), giải phóng hàng nghìn dân bị địch giam giữ. Thắng lợi của TMC góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ mạnh của địch ở cửa ngõ Tây Bắc. buộc Pháp phải rút quân khỏi nhiều vị trí ven Sông Đà và đường 41 về Nà Sản, tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc phát triển thuận lợi. TRẬN MỘC HẠ (28.3-12.4.1951), trận chống càn của 1 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Sơn La, 1 trung đội bộ đội địa phương huyện Mộc Châu và dân quân du kích các xã Quang Minh, Mường Tè, Song Khủa, Quy Hương,... đánh 2 tiểu đoàn quân Pháp (khoảng 1.000 quân, phần lớn là lính dõng Lai Châu) càn quét khu căn cứ Mộc Hạ ở đông bắc h. Mộc Châu, t. Sơn La. 28.3 địch chia hai cánh, từ Mộc Li, Vạn Yên đánh vào căn cứ, hình thành thế bao vây Bó Bụt (nơi diễn ra đại hội đảng bộ tỉnh), nhằm tìm diệt cơ quan đầu não của ta. Lúc đầu ta bị động đối phó, từ 3.4 tổ chức sơ tán dân vào rừng, thực hiện "vườn không nhà trống”, đồng thời dùng lực lượng nhỏ tích cực bám đánh bàng các loại chông, mìn, cạm bẫy. gây cho địch nhiều thiệt hại và buộc chúng phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 100 địch, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta. tạo điểu kiện thúc đấy chiến tranh du kích ở địa phương tiếp tục phát triển. TRẬN MỘC HÓA (16-18.9.1948), trận vây đồn diệt viện của Tiểu đoàn 307 và Trung đoàn 120 (bộ đội chủ lực Khu 8), 1 trung đội bộ đội huyện Mộc Hóa cùng du kích địa phương, đánh quân Pháp tại Mộc Hóa (t. Tân An, nay thuộc t. Long An). Đêm 16 và ngày 17.9 ta tổ chức vây ép đồn Mộc Hóa và chặn đánh các toán quân địch ra thăm dò, đồng thời tập trung lực lượng phục kích chờ đánh viện binh trên lộ Côngpông Rồ và sông Vàm cỏ Tây. 15 giờ ngày 18.9 địch đưa 1 tiểu đoàn từ Xvay Riêng (Campuchia) theo lộ Côngpông Rồ đến ứng cứu, lọt vào trận địa phục kích. Ta đồng loạt nổ súng, bao vây, chia cắt tiêu diệt phần lớn quân địch. Kết quả sau 15 phút chiến đấu, ta diệt và bắt hơn 300 địch, thu hơn 300 súng (có 3 súng cối 60mm). TMH là chiến công đầu của Tiểu đoàn 307. đồng thời là trận đầu tiên vận dụng thành công cách đánh vây đồn diệt viện trên chiến trường Nam Bộ trong KCCP. TRẬN MÔÔNDUN (12-19.10.1917), trận hải quân Đức đổ bộ đánh chiếm quần đảo Môôndun (cg quần đảo Tây Extônia) của Nga ở vịnh Phần Lan (vịnh Riga) trong CTTG-I. Phía Đức có 300 tàu chiến (10 tàu tuần dương), trên 100 máy bay và 25.000 quân. Phía Nga có 116 tàu chiến, 30 máy bay và 12.000 quân. Với ưu thế lực lượng, quân Đức chiếm được các đảo, đổ bộ lên dược đất liền, nhưng không tiến được về phía Pêtrôgrat (nay là Xanh Pêtecbua). TRẬN MỤC DÃ (1057tcn), trận quyết chiến của Chu Vũ Vương diệt vua Trụ nhà Thương. Vua Trụ đứng đầu tập đoàn thống trị chủ nô Ấn Thương tàn bạo, bị liên minh các bộ tộc, đứng đầu là bộ tộc Chu chống lại. Nhân lúc quân chủ lực Ấn Thương đang viễn chinh, quân Chu nhanh chóng tiến đánh thủ đô Triều Ca bó trống; vua Trụ vội vã vũ trang cho nô lệ, nghênh chiến tại Mục Dã (nay ở Huyện Kì, Hà Nam, TQ). Trước trận đánh, Chu Vũ Vương cho đọc bản tuyên thệ (sử gọi là Mục Thệ), lên án vua Trụ, khích lệ quân sĩ và tuyên bố chính sách không giết tù binh. Quân Thương tan rã, vua Trụ tự thiêu chết, nhà Thương mất. Trận đánh nổi tiếng thời cổ bằng chiến xa, kết hợp QS với chính trị, tâm lí, làm tan rã hàng ngũ địch, có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển tư tưởng QS cổ đại TQ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:21:11 pm TRẬN MƯỜNG SẠI (16-20.11.1952), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 564 (Trung đoàn 165, Đại đoàn 312), đánh đồn Mường Sại (h. Quỳnh Nhãi, t. Sơn La) do 1 tiểu đoàn ngụy Thái của Pháp đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (14.10- 10.12.1952). Sau khi đuổi địch rút chạy khỏi Pác Ôn, Tà Giàng về Mường Sại. 16.10 ta triển khai lực lượng áp sát, bao vây, kết hợp tập kích hỏa lực chuẩn bị tiến công. 16 giờ ngày 20.11 phát hiện địch bỏ đồn rút chạy về Mường Piềng, ta tổ chức truy kích trên quãng đường gần 10 km, kết hợp tiến công với gọi hàng, đến 22 giờ diệt và bắt phần lớn quân địch (diệt 28, bắt 348). Trận đánh góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mũi vu hồi chiến dịch (Mặt trận Y13), phá vỡ tuyến phòng thủ mới củng cố của địch dọc tuyến Sông Đà. cắt đứt liên lạc và cô lập địch ở Sơn La, buộc chúng phải rút về Nà Sản. TRẬN NÀ NGẦN (26.12.1944), trận đánh thứ hai của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào đồn Nà Ngần (xã Cẩm Lí, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, h. Nguyên Bình, t. Cao Bằng), nhằm tiếp tục gây hoang mang tinh thần binh lính Pháp sau trận Phai Khắt (25.12.1944). Đồn do 22 lính khố đỏ đóng trong nhà của phó lí Páo từ đầu 1944, xung quanh có giao thông hào và hàng rào tre bảo vệ. Trận đánh diễn ra 5 phút (7 giờ 14 phút - 7 giờ 19 phút), bằng cách cải trang thành toán lính tuần tra bắt được “cộng sản” giải lên quan đồn. Khi tiếp xúc, phát hiện địch có biểu hiện nghi ngờ, ta chủ động nổ súng diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu 17 súng các loại. TNN tiêu biểu sự khôn khéo, mau lẹ, kết hợp mưu và lực của bộ đội VN trong chiến đấu. TRẬN NAM ĐỊNH (28.4.1953), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 46 (chủ lực Liên khu 3) phối hợp với LLVT địa phương, đánh tiểu đoàn huấn luyện tân binh của Pháp (hơn 1.000 quân do sĩ quan Pháp huấn luyện, chỉ huy) đóng tại tp Nam Định. 18 giờ ngày 28.4 ta bí mật chiếm lĩnh trận địa xung quanh vị trí địch, được lực lượng nội ứng giúp sức đưa một bộ phận vào bên trong án ngữ những nơi xung yếu, nửa đêm đồng loạt nổ súng, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt, bắt và gọi hàng hơn 700), thu 700 súng các loại. Là trận tập kích táo bạo vào thành phố vùng dịch tạm chiếm giành thắng lợi lớn, buộc địch phải điều lực lượng cơ động từ Ninh Bình về phòng giữ. TRẬN NAM SA MÁT (7.10.1971), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 209, Sư đoàn 7) đánh 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 (Chiến đoàn 50) QĐ Sài Gòn đi giải tỏa trên đường 22, đoạn Sa Mát - Thiện Ngôn (t. Tây Ninh). Tiểu đoàn được tăng cường 1 đại đội ĐKZ, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không, tổ chức trận địa phục kích theo thế chân kiềng (có thể đánh địch từ mọi hướng) trong các cánh rừng ven đường 22, phía nam Sa Mát 2km. Sau gần nửa tháng kiên trì chờ đợi, 9 giờ ngày 7.10 đại đội địch từ Sa Mát xuống lọt vào trận địa phục kích; ta bất ngờ nổ súng chặn đầu rồi xung phong, sau 15 phút chiến đấu diệt gọn quân địch. 9 giờ 30 phút địch cho 1 đại đội khác đến ứng cứu, bị pháo ta bắn chận diệt một số, số còn lại rút chạy. Trận đánh thắng lợi, diệt và bắt 90 địch, bắn cháy 2 máy bay, thu 30 súng; góp phần vào thắng lợi chung của đợt hoạt động tiến công địch trên tuyến phòng thủ đường 22. TRẬN NAM THANH GIÁO (20-24.12.1972), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320) diệt Tiểu đoàn 22 (Liên đoàn biệt động quân 2) QĐ Sài Gòn ở khu vực phía nam Thanh Giáo 10km (nay thuộc xã la Lang, h. Đức Cơ, t. Gia Lai). 17.12 địch dùng máy bay trực thăng đổ 2 tiểu đoàn biệt động quân (11 và 22) xuống nam Thanh Giáo nhằm bất ngờ luồn sâu đánh phá hậu phương ta. Đêm 19.12 trung đoàn triển khai trận địa, tổ chức lực lượng chốt chặn, bao vây (lúc này Tiếu đoàn 11 của địch đã kịp rút về Thanh Giáo), chiều 20.12 nổ súng diệt một bộ phận quân địch. Tiếp đó, trong các ngày 21-24.12 liên tục cơ động, bám sát và tiến công địch, kết hợp bắn máy bay, không cho địch dùng trực thăng bốc quân rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu Tiểu đoàn 22 (diệt và bắt hơn 300 địch), bắn rơi 7 máy bay, thu 115 súng, góp phần đánh bại âm mưu của địch, bảo vệ an toàn hậu phương của ta ở tây Gia Lai. TRẬN NẬM THON (28.10.1972), trận tập kích của Đại đội đặc công 3 (Tiểu đoàn 31, Quân khu 4) vào căn cứ SCH tiểu đoàn địa phương quân (BV43) QĐ phái hữu Lào tại khu vực Nậm Thon (bắc tx Thà Khẹt 12km, thuộc h. Hiên Bun, t. Khăm Muộn, Lào). Căn cứ do 1 đại đội bộ binh và 1 đại đội hỏa lực bảo vệ, có hệ thống hàng rào vật cản, lô cốt gỗ, đất, nằm sâu trong hậu phương địch. Tối 27.10 ta tổ chức lực lượng thành nhiều mũi, bí mật cắt rào tiềm nhập, 0 giờ 15 phút ngày 28.10 nổ súng. Sau 25 phút chiến đấu, ta làm chủ căn cứ, diệt và bắt gần 100 địch, phá hủy 4 xe QS và 2 kho, thu 173 súng và nhiều phương tiện QS. TNT thắng lợi góp phần mở rộng vùng giải phóng, tạo thuận lợi cho hoạt động tác chiến của ta ở khu vực Noọng Leng, đường 7 và đường 12. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:22:17 pm TRẬN NÉM BOM DINH ĐỘC LẬP (8.4.1975), trận tập kích đường không vào dinh Độc Lập (dinh tổng thống chính quyền Sài Gòn, nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh), do Nguyễn Thành Trung (chiến sĩ CM hoạt động bí mật trong lực lượng không quân QĐ Sài Gòn) tiến hành, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Lợi dụng nhiệm vụ được giao, Nguyễn Thành Trung lái máy bay chiến đấu F-5E cất cánh từ căn cứ không quân Biên Hòa bất ngờ ném 2 quả bom xuống dinh Độc Lập rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long trong vùng giải phóng. Trận đánh gây chấn động lớn, làm tăng thêm sự hoảng loạn của chính quyền và QĐ Sài Gòn. TRẬN NÉM BOM SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT (28.4.1975), trận tập kích đường không của Phi đội Quyết Thắng vào Tân Sơn Nhất (nay thuộc q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh) trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Lúc 16 giờ 25 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), vượt qua mạng lưới cảnh giới của địch, ném bom trúng khu vực đỗ máy bay, phá hủy 24 chiếc, diệt hàng trăm sĩ quan, nhân viên kĩ thuật QĐ Sài Gòn, rồi trở vê sân bay Thành Sơn an toàn. Trận đánh bất ngờ, làm tê liệt cầu hàng không di tản của địch, góp phần làm suy sụp tinh thần và thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của chính quyền và QĐ Sài Gòn. TRẬN NGÃ BA ĐƯỜNG 15 (29.4.1975), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 304, Quân đoàn 2) được tăng cường 10 xe tăng và hỏa lực pháo binh, đánh chiếm khu vực ngã ba đường 15 (cách căn cứ Nước Trong 9km, thuộc h. Long Thành, t. Long Khánh, nay thuộc t. Đồng Nai), do Tiêu đoàn thủy quân lục chiến 1 (Lữ đoàn 468), 4 tiểu đoàn bộ binh (8, 16, 21, 82) và 2 chi đoàn thiết giáp (20, 22) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tại đây sau khi căn cứ Nước Trong bị tiêu diệt, địch cấp tốc tổ chức các tuyến phòng ngự lâm thời, lấy xe tăng và pháo binh làm lực lượng chủ yếu để ngăn chặn, phản kích. Trận đánh bắt đầu lúc 5 giờ 15 phút; sau gần 1 giờ pháo bắn chuẩn bị, bộ binh và xe tăng ta đồng loạt tiến công từ hai hướng, kết hợp đột phá chính diện và đánh vu hồi, nhanh chóng thọc sâu, chia cắt tiêu diệt địch, đến 10 giờ làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt hơn 500 địch, bắn cháy 19 xe tăng và xe bọc thép, góp phần cắt đứt giao thông, phá vỡ tuyến phòng ngự của địch ở đông bắc Sài Gòn, tạo bàn đạp thuận lợi cho hướng tiến công của Quân đoàn 2 vào giải phóng Sài Gòn. TRẬN NGÃ BA TÂN THÀNH (18.2.1967), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 261 (Quân khu 8), 2 đại đội của Tiểu đoàn 516 (t. Bến Tre) và đại đội địa phương huyện Mỏ Cày, đánh Tiểu đoàn biệt động quân 41 đóng tại hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 10 QĐ Sài Gòn ở ngã ba Tân Thành (xã Sơn Đông, tây bắc tx Bẽn Tre 3,5km). Đêm 17.2 ta bí mật tiếp cận, triển khai đội hình chiến đấu; 2 giờ 35 phút ngày 18 tập kích hỏa lực vào sân bay, các mục tiêu trong hậu cứ, đồng thời tổ chức lực lượng nhanh chóng thọc sâu vào vị trí đóng quân của Tiểu đoàn biệt động quân 41, sau 50 phút chiến đấu diệt 360 địch, phá hủy 4 máy bay, 7 xe QS, 1 kho xãng, 1 kho đạn, thu 90 súng. TRẬN NGÃ HAI (18.9.1952), trận tập kích của 1 trung đội đặc công, 1 đại đội xung kích và 1 trung đội bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận vào cứ điểm Ngã Hai (nam tx Phan Thiết 7km), do 1 đại đội tăng cường của Pháp đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng kiên cố theo hình tam giác, gồm khu nhà lính ở giữa và hệ thống lô cốt bảo vệ (10 chiếc), xung quanh có 3 lớp rào thép gai, tường cao, hào sâu cắm đầy chông và thả vịt, ngỗng để báo động. 2 giờ ngày 18.9 trận đánh bắt đầu. Trung đội đặc công hình thành 4 mũi, bí mật luồn sâu, ém sát, bất ngờ dùng bộc phá đánh sập các lô cốt, diệt các ụ súng, nhà lính, tạo điều kiện cho đại đội xung kích vào đánh chiếm các mục tiêu bắt tù binh, thu vũ khí. Cùng lúc, lực lượng chặn viện diệt các tháp canh ở cầu 40 và trong khu tập trung dãn. Kết quả sau 20 phút chiến đấu. ta làm chủ trận địa. diệt và bát hơn 120 quân Pháp, giải phóng hơn 1.000 dân khỏi khu tập trung của địch. TNH là chiến thăng đầu tiên bằng cách đánh đặc công của LLVT Bình Thuận, góp phần đánh bại chiến thuật phòng ngự bằng cứ điểm và tháp canh của địch ở chiến trường cực Nam Trung Bộ trong KCCP. 18.9.1952 trở thành ngày truyền thống của bộ đội đặc công Bình Thuận. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:23:17 pm TRẬN NGÃ SÁU (11.3.1975). trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Quân khu 8) vào cứ điểm Ngã Sáu (xã Mĩ Trung, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang), mở đầu đợt tiến công của LLVT Quân khu 8 trong tổng tiến công và nổi dậv Xuân 1975. Là vị trí then chốt trên tuyến phòng thủ bắc đường 4 (nay là QL1) của QĐ Sài Gòn, cứ điểm có 11 lô cốt, hệ thống công sự, hàng rào, vật cản dày đặc, do 1 tiểu đoàn bảo an, 1 trung đội thám báo, 1 trung đội pháo binh đóng giữ. Đêm 10.3 ta vượt kênh 28 vào chiếm lĩnh trận địa, bí mật cắt rào, tạo cửa mở; 5 giờ ngày 11.3 dùng bộc phá đánh sập các lô cốt đầu cầu rồi từ hai hướng phát triển vào bên trong. Địch dùng máy bay trục thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống phía đông cứ điểm 1 km để ứng cứu, bị ta chặn đánh. Cuộc chiến đấu trong cứ điểm diễn ra giằng co. đến 17 giờ mới kết thúc. Kết quả ta loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 3), thu 60 súng, phá hủy 2 pháo 105mm, 4t đạn... TNS thắng lợi góp phần làm lung lay hệ thống phòng thủ của địch, tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân các huyện Cái Bè, Cai Lậy,... nổi dậy phá đồn bốt, mở mảng, mở vùng thuận lợi. TRẬN NGHĨA LÔ (3-4.10.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Đại đoàn 312) vào cứ điểm Nghĩa Lộ (nay thuộc thị xã Nghĩa Lộ, t. Yên Bái), vị trí quan trọng nhất của phân khu Nghĩa Lộ, do 350 lính Pháp đóng giữ, trong chiến dịch Lí Thường Kiệt (29.9-10.10.1951). Theo kế hoạch, trung đoàn dự định tiến công lúc 22 giờ ngày 2.10, nhưng do chủ quan, tổ chức hành quân chiếm lĩnh trận địa thiếu chặt chẽ, đến 3 giờ ngày 3.10 mới nổ súng. Phát hiện ý định tác chiến của ta, quân Pháp dựa vào công sự vững chắc và hỏa lực mạnh tổ chức chống trả quyết liệt. Đêm 3.10 trung đoàn tổ chức tiến công lần hai. nhưng lại mắc sai lầm như trước, đến 2 giờ 30 phút ngày 4.10 mới nổ súng. Trong khi đó địch được bổ sung thêm 2 đại đội và tăng cường phòng thủ, có ưu thể hơn. Trận đánh không thành công, loại khỏi chiến đấu 169 địch, nhưng ta cũng bị thương vong lớn, phải lui quân. TRẬN NGỌC HỔI - ĐẤM MỰC (30.1.1789). trận tiến công trên hướng chủ yếu của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, diệt quân Thanh (TQ) ở đồn Ngọc Hồi (nay thuộc Thường Tín, Hà Tây), trong kháng chiến chống Thanh (1788- 89). Sau khi đồn Hà Hồi bị hạ (x. trận Hà Hồi. 28.1.1789), đồn Ngọc Hồi do Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long chỉ huy được tăng cường, gồm khoảng 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh, ngoài lũy đất có hàng rào chông sắt, địa lôi, là cứ điểm then chốt chặn quân Tây Sơn, bảo vệ nam Thăng Long. Sáng 29.1 (mồng 4 Tết), quân Tây Sơn triển khai xong lực lượng gồm hai bộ phận: bộ phận chính do Nguyễn Huệ chỉ huy, tập kết tại cánh đồng Cung ở phía nam Hà Hồi; bộ phận phối hợp do đô đốc Bảo chỉ huy, tập kết ở Đại Áng, bố trí mai phục tại cánh đồng gần Đầm Mực (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội). Trong ngày 29.1, Nguyễn Huệ chỉ dùng những toán nhỏ đánh khiêu khích vùng ngoại vi Ngọc Hồi, gây tâm lí căng thẳng cho quân Thanh và tạo yếu tố bất ngờ cho cánh quân đô đốc Long trên hướng thứ yếu đánh đồn Đống Đa (x. trận Đống Đa - Thăng Long, 30.1.1789). Mờ sáng 30.1, từ hướng nam, quân Tây Sơn bắt dầu tiến công: mở đầu, đội tượng binh (hơn 100 voi chiến) đánh tan phản kích của kị binh Hứa Thế Hanh rồi vòng sang tiến công ở hai hướng tà, hữu, dùng đại bác, hỏa hổ bắn phá thành lũy, đốt cháy doanh trại địch; tiếp đến, đội cảm tử (khoảng 600 quân, chia thành 20 toán), trang bị đoản đao, ván gỗ quấn rơm ướt chống hỏa lực, tiến thành hàng ngang, áp sát chiến luỹ, tạo điều kiện cho đại quân do Nguyễn Huệ đốc chiến ập vào giáp chiến. Quân Thanh không chống nổi, bỏ đồn chạy, chết và bị thương quá nửa. Hứa Thế Hanh và Thượng Duy Thăng bị giết. Tàn quân do Trương Triều Long chỉ huy định rút về Thăng Long theo đường để Yên Ninh, nhưng Nguyễn Huệ đã bố trí sẵn lực lượng nghi binh, chặn đường, dồn địch vào trận địa phục kích ở Đầm Mực để cho quân đô đốc Bảo diệt gọn. Quân Tây Sơn thừa thắng đánh chiếm đồn Văn Điển (nay thuộc Thanh Trì. Hà Nội), mở thông đường vào giải phóng Thăng Long. Chi trong ngày mồng 5 Tết Kỉ Dậu, quân Tây Sơn đã tiêu diệt toàn bộ quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi. Là trận quyết chiến chiến lược thể hiện quyết tâm đánh tiêu diệt và nghệ thuật tổ chức lực lượng, nhất là dùng voi chiến công đổn của Nguyễn Huệ. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/69025260_465819267481292_4211927414751625216_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFD8W_ow4YpmOETgBw_tIBuANtYjgljIpjLP9bWnVM0JVAnmRd_ay_IaSo8Cd97W6yDH4Fc1AaylsVtiTJsuwGOF3CSD1evtWRejt9gtZ-A3A&_nc_oc=AQmRYWEzGiuMfGf8nebW7Q2EFlrZ4EfaN6KSbD_XGQ8Xs-YxUJ4XQPbMezk-1I6iYVs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=eadea108dad5a2e8efb0d34f634d6a3c&oe=5DD4C2DA) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:27:18 pm TRẬN NGỌC RINH RUA (31.3.1971), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 66, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường Đại đội đặc công 19 và một bộ phận Trung đoàn pháo binh 40 vào cứ điểm Ngọc Rinh Rua (điểm cao 1001), ở tây nam Đắc Tô (nay thuộc xã Đắc Xú, h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum) do Tiểu đoàn bộ binh 4 (thiếu) thuộc Trung đoàn 42, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội pháo binh (thiếu) QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 (27.2-16.4.1971). Đêm 30.3 các đơn vị triển khai chiếm lĩnh trận địa trên 3 hướng, 5 giờ ngày 31.3 nổ súng tiến công. Do địch có lợi thế hỏa lực máy bay, pháo binh, dựa vào hệ thống vật cản, công sự vững chắc, co cụm chống cự quyết liệt, trận đánh kéo dài đến 16 giờ ta mới làm chủ cứ điếm. Kết quả diệt và bắt hơn 100 địch, thu 95 súng các loại (có 4 pháo 105mm), bắn cháy 5 máy bay trực thăng. Thắng lợi TNRR chứng minh khả năng tiến công ban ngày và liên tục của QGP Tây Nguyên vào cứ điểm địch có công sự vững chắc. TRẬN NGỌC TA VÁT (10.5.1968), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 40 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) và 1 đại đội đặc công vào cứ điểm Ngọc Ta Vát (xã Phước Năng, h. Phước Sơn, t. Quảng Nam), do 1 đại đội và 1 trung đội biệt động quân, 1 trung đội pháo binh QĐ Sài Gòn đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng trên đồi cao 540m, có lô cốt, công sự kiên cố, hàng rào thép gai bảo vệ, là vị trí án ngữ phía tây nam chi khu Khâm Đức. Đêm 9 rạng 10.5 lực lượng đặc công dẫn bộ binh vào tiềm nhập định tập kích bí mật nhưng bị lộ, phải chuyển sang cường tập, gần sáng chiếm được một phần cứ điểm. 8 giờ 30 phút địch cho máy bay trực thăng đổ quân cứu viện; ta dùng hỏa lực chặn đánh kịp thời, bắn cháy 2 máy bay, sau đó tiếp tục tiến công buộc địch phải rút chạy khỏi cứ điểm. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, thu nhiều vũ khí (có 2 pháo 105mm), tạo điều kiện phát triển tiến công giải phóng vùng Khâm Đức. TRẬN NGỌC TÔ BA (3-4.3.1971), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (Mặt trận Tây Nguyên) đánh Trung đoàn bộ binh 42 và Liên đoàn biệt động quân 2 QĐ Sài Gòn ở khu vực Ngọc Tô Ba (nay thuộc xã Sa Loong, h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum), trong chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 (27.2-16.4.1971). Sau khi tiêu diệt địch ở điểm cao 935, từ 3.3 Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 28) và 1 tiểu đoàn hỏa lực cối, ĐKZ chuyển sang bao vây, tiến công lực lượng chủ yếu của địch ở Ngọc Tô Ba. Sau 2 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 42) và Tiểu đoàn biệt động quân 22 (Liên đoàn 2), diệt và bắt hơn 400 địch, bắn rơi 4 máy bay, thu hàng trăm súng các loại. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi, góp phần bảo vệ căn cứ và hành lang chiến lược của ta ở Tây Nguyên, buộc QĐ Sài Gòn phải rút lực lượng về phòng ngự trên tuyến Plây Cần - Đắc Mốt - Tân Cảnh. TRẬN NGŨ GIÁP (14.7.1966), trận tập kích của du kích xã Điện Thắng (h. Điện Bàn, t. Quảng Nam) được tăng cường 2 tiểu đội bộ đội huyện và sự phối hợp của du kích các xã Điện An, Thanh Trung, đánh đồn Ngũ Giáp do Đại đội bảo an 466 QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đồn nằm ở trung tâm xã, án ngữ hai bên QL 1, được xây dựng kiên cố và bảo vệ cẩn mật, trang bị hỏa lực mạnh. 12 giờ ngày 14.7 du kích xã Điện Thắng (24 người chia 4 mũi) hóa trang đột nhập đồn, diệt lính gác và nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu bên trong; cùng lúc bộ đội huyện bí mật tiếp cận diệt lô cốt phía nam, dùng hỏa lực khống chế địch, kịp thời hỗ trợ du kích diệt đồn. Địch ở các đồn xung quanh đến ứng cứu bị du kích các xã Điện An, Thanh Trung và lực lượng chính trị quần chúng đấu tranh, ngăn chặn. Sau 35 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt 58 địch, thu và phá hủy 12 súng các loại. Là trận đánh phối hợp nhiều lực lượng, được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ, kết hợp tiến công QS với đấu tranh chính trị, tạo sức mạnh tổng hợp đạt hiệu quả cao. TRẬN NGỤY DIỆT THỤC (263), trận đánh nổi tiếng bằng kì binh thời cổ TQ. do tướng Ngụy là Đặng Ngải bất ngờ đánh thẳng vào kinh đô Thục. Tháng 8, quân Ngụy chia làm ba đường đánh Thục. Cánh quân chủ lực do Chung Hội chỉ huy bị ngăn lại ở Kiếm Các. không tiến được. Đặng Ngải dẫn một cánh quân nhỏ vượt đường núi 700 dặm không có dấu chân người, dục núi mở đường, lấp suối bắc cầu, vòng qua Kiếm Các đến thẳng Thành Đô (kinh đô Thục). Không có quân bảo vệ, triều đình Thục phải hàng. Nước Thục mất. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:40:00 pm TRẬN NGUYÊN CHIẾM LÂM AN (1275-76), trận quyết chiến chiến lược của quân Nguyên do thừa tướng Nguyễn Bá Nhan chỉ huy đánh vào Lâm An (Hàng Châu) thủ đô của Nam Tống (TQ). Sau khi mở thông Trường Giang, 20 vạn quân Nguyên theo hai đường thủy bộ đánh xuống Lâm An. 2.1275 chỉ trong một trận, 13 vạn quân Tống do thừa tướng Giả Tự Đao chỉ huy bị đánh tan. Từ 3.1275 các thành phố quan trọng khác như Kiến Khang (Nam Kinh), Trấn Giang, Thường Châu (thuộc Giang Tô), Bình Giang (Tô Châu). Quảng Đức (thuộc An Huy) lần lượt bị chiếm. Nam Tống xin hòa, bị cự tuyệt, phải dốc toàn lực chống cự. 7.1275, thủy quân Tống do danh tướng Trương Thế Kiệt chỉ huy bị quân Nguyên giáp kích, bắt hơn 1 vạn quân và 700 thuyển. 11.1275 quân Nguyên chia ba đường tiến xuống Lâm An, liên tục đánh thắng quân Tống. Triều Tống xin làm thuộc quốc, không được chấp nhận, phải xin hàng. 3.1276 quân Nguyên vào Lâm An, bắt Tạ thái hậu và vua Tống Cung Đế Triệu Hiển đưa về Bắc. Các tướng Tống đem hai con nhỏ của vua Tống chạy xuống Quảng Đông, đến 7.1279 bị quân Nguyên diệt nốt. TRẬN NHÀ BÈ (3.12.1973), trận tập kích của Đội đặc công 5 (Đoàn 10 Rừng Sác, Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào kho xăng dầu tại cảng Nhà Bè (đông nam Sài Gòn 12km, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh). Kho được xây dựng trên địa hình bốn mặt đều có sông lạch, sình lầy; xung quanh có hệ thống vật cản dày đặc và các lô cốt bảo vệ. Sau 14 lần trinh sát và chuẩn bị chu đáo, đêm 2 rạng 3.12, Đội đặc công 5 sử dụng 8 chiến sĩ (chia 2 tổ) bí mật luồn lách từ nhiều hướng vượt qua hệ thống bảo vệ của địch, đột nhập đặt mìn hẹn giờ vào các bồn xăng và khí cháy (butan)...; 2 giờ 15 phút ngày 3.12 mìn nổ, gây cháy nổ 8 ngày đêm. Kết quả phá hủy toàn bộ kho xăng dầu. đốt cháy 140 triệu lít xăng dầu, 12 bồn khí cháy. 1 tàu chở dầu trọng tải 12.000t. 1 cơ sở lọc dầu. 1 kho lương thực. 1 khu nhà lính... Trận đánh đạt hiệu suất cao. gây khó khăn lớn cho địch trong việc cung cấp xăng dầu tại tp Sài Gòn. TRẬN NHÀ ĐỎ - BÔNG TRANG (24.2.1966), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 QGPMN VN vào cụm quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 (gồm 2 tiểu đoàn bộ binh. 2 chi đoàn thiết giáp và SCH Lữ đoàn bộ binh 1), đóng quân dã ngoại ở khu vực phía tây Sở cao su Nhà Đỏ và dọc suối Bông Trang (nay thuộc xã Tân Bình. h. Tân Uyên, t. Bình Dương). 1 giờ 20 phút trận đánh bắt đầu bằng đợt hỏa lực dồn dập vào đội hình địch trong 7 phút, tạo điều kiện cho bộ binh từ hai hướng (đông bắc và tây nam) đồng loạt tiến công, thọc sâu, chia cắt diệt từng bộ phận địch. Địch co cụm, dựa vào xe tăng chống trả quyết liệt chờ trời sáng; ta đưa lực lượng dự bị vào tiếp tục đột phá. đến 4 giờ 45 phút kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, phá hủy 72 xe tăng và xe bọc thép. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần làm thất bại cuộc hành quân Đá Lăn (15.2-5.3.1966) trong cuộc phản công chiến lược lần 1 (mùa khô 1965-66) của Mĩ ở miền Đông Nam Bộ. TRẬN NHÀ THƯƠNG VỌNG (15.1.1947), trận phòng ngự của Đại đội 68 (Tiểu đoàn 64) và 3 trung đội tự vệ Hà Nội, chặn đánh quân Pháp ở khu vực Nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai) trong đợt tác chiến Hà Nội 119.12.1946-18.2.1947). Sáng 15.1 Pháp huy động khoảng 300 quân có xe tăng, thiết giáp dẫn đầu từ hướng Kim Liên tiến đánh Nhà thương Vọng. Ta chặn đánh quyết liệt, dùng bom ba càng phá xe tăng, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đến chiều tối thoát vòng vây ra ngoài. Kết quả diệt khoảng 100 địch, bắn cháy 2 xe tăng, 3 xe vận tải QS nhưng lực lượng ta cũng bị tổn thất, không thực hiện đúng phương châm bảo toàn lực lượng để đánh lâu dài thời kì đầu KCCP. TRẬN NHÀ XANH (7.7.1959), trận tập kích đầu tiên tiêu diệt cố vấn Mĩ tại câu lạc bộ sĩ quan Mĩ ở Nhà Xanh (nay thuộc tp Biên Hoà, t. Đồng Nai), do Đội đặc công C250 miền Đông Nam Bộ tiến hành. Được sự hỗ trợ của lực lượng tự vệ mật thị xã Biên Hoà, 19 giờ 15 phút Đội đặc công C250 sử dụng 6 chiến sĩ cải trang, bí mật đột nhập diệt lính gác và các cố vấn Mĩ đang xem phim trong câu lạc bộ. Kết quả sau 15 phút chiến đấu ta diệt và làm bị thương 6 địch, trong đó có 2 cố vấn Mĩ chết là Đalơ Bơvit và Chextơ Môtman được ghi đầu tiên trong danh sách lính Mĩ chết và mất tích tại đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam đặt ở thủ đô Oasinhtơn (Mĩ). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:40:49 pm TRẬN NHÀ XÔ VA (6.2.1947), trận phòng ngự của Đại đội 14 (Tiểu đoàn 103, Trung đoàn Thủ Đô) và công nhân tự vệ Hà Nội, chặn đánh quân Pháp tại khu vực trụ sở Công ti vận tải thủy Xôva (nay là trường Nguyễn Huệ, phố Trần Quang Khải, Hà Nội) trong đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946- 18.2.1947). Sáng 6.2 Pháp huy động 1 đại đội lê dương có xe tăng, xe bọc thép dần đầu tiến công nhà Xôva. Trong gần 2 giờ chiến đấu. ta đẩy lui 3 đợt xung phong của địch, nhưng bị dịch chiếm tầng một, phải rút lên tầng hai cố thủ; sau đó được 1 trung đội cảm tử quân đến hỗ trợ phản kích, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, ta chiếm lại nhà Xôva, truy kích địch rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu 40 địch, đốt cháy 1 xe tăng và 1 xe bọc thép, góp phần giữ vững đầu mối giao thông quan trọng nối Liên khu 1 với hậu phương trong những ngày đầu KCCP ở thủ đô Hà Nội. TRẬN NHẠC NGHỊ ĐÁNH TỀ (284tcn), trận tiến công quy mô lớn của liên quân 5 nước dưới sự chỉ huy của Nhạc Nghị (tướng Yên) đánh chiếm nước Tề cuối thời Chiến Quốc (TQ). Để báo thù việc năm 314tcn Tề đánh chiếm thủ đô nước Yên, năm 284tcn Yên dùng mưu đấy Tề tranh chấp với các nước Tống, Tần rồi liên kết với 4 nước Tần, Hàn, Triệu, Ngụy đánh Tể. Tề đem toàn bộ chủ lực ra đón đánh, bị diệt ngay trong trận đầu. Nhạc Nghị cho quân các nước dừng lại, dùng quân Yên tiến chiếm thủ đô Tề, rồi chia quân nhanh chóng đánh chiếm tiếp hơn 70 thành. Nước Tề chỉ còn lại hai thành: Cử và Tức Mặc. Trận đánh để lại bài học quý trong lịch sử về việc dùng binh biết giành thắng lợi bằng phương lược liên kết với nhiều nước và tiến công nhanh, liên tục của Yên và thất bại của Tề do đem chủ lực quyết chiến quá sớm (xt trận Tức Mặc, 279tcn). TRẬN NHAN BlỀU (2-3.11.1972), trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325), đánh Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn thủy quân lục chiến 369) QĐ Sài Gòn tiến công, lấn chiếm khu vực Nhan Biều ở bắc sông Thạch Hãn (h. Triệu Phong, t. Quảng Trị) trong đợt 2 chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973). Rạng sáng 2.11 dịch bí mặt vượt sông Thạch Hãn định bất ngờ đánh chiếm Nhan Biều, tạo bàn đạp chiếm lại các huyện phía bắc Quảng Trị, khôi phục phòng tuyến đường 9. Tiểu đoàn kịp thời phát hiện, tổ chức chặn đánh quyết liệt, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa; từ chiều 2.11 đến sáng 3.11. được xe tăng và pháo binh chi viện, tiến hành phản kích, đánh địch co cụm. Kết quả diệt 2 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội khác, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ trên hướng phòng ngự chủ yếu của trung đoàn, làm thất bại âm mưu lấn chiếm của địch, đồng thời rút được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy , cách đánh trong tác chiến phòng ngự đạt hiệu quả cao. TRẬN NHÂN LANG (8.4.1951), trận tập kích của Tiểu đoản 38 bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình đánh đồn Nhân Lang (xã Tân Tiến, h. Hưng Hà, t. Thái Bình). Đồn nằm trong hệ thống phòng ngự nam Sông Luộc của quân Pháp, được xây dựng và bảo vệ khá vững chắc (có hệ thống lô cốt, ụ súng, giao thông hào, 3 lớp rào tre), do 1 trung đội đóng giữ. Được sự phối hợp của bộ đội huyện, du kích và nhân dân xã, tiểu đoàn đã điều tra, nắm chắc tình hình địch và gây dựng lực lượng nội ứng. Chiều 8.4 bộ đội cải trang cùng nhân dân đi làm đồng vào sát đồn, bí mật chiếm lĩnh trận địa, 17 giờ 30 phút xung phong đánh chiếm đồn lúc địch đang tập trung ăn cơm. Bằng cách đánh bất ngờ, kết hợp trong ngoài cùng đánh, bao vây, khống chế, sau 5 phút, chiến đấu ta làm chủ đồn, diệt 2, bắt 50 địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, lần đầu tiên tiểu đoàn sử dụng cách đánh kì tập kết hợp nội ứng đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng. TRẬN NHẬT TẢO (10.12.1861), trận tập kích của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực diệt pháo hạm Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, thuộc địa phận làng Nhật Tảo (nay thuộc t. Long An). Trưa 10.12 Nguyễn Trung Trực chỉ huy đội cảm tử quân (59 người), phân tán thành nhiều thuyền nhỏ, giả làm thuyền đám cưới, áp sát pháo hạm Experanxơ (Hi Vọng) đang tuần tra trên sông. Bằng vũ khí thô sơ, nghĩa quân bất thần nhảy lên chiếm tàu, diệt 37 địch (có 17 Pháp), sau đó lấy búa phá tàu không được, bèn nổi lửa đốt cháy tàu. 4 nghĩa binh hi sinh. Lần đầu tiên, pháo hạm - một ưu thế QS của Pháp trong chiến tranh xâm lược VN bị đánh bại. Sau TNT Pháp đem quân tàn phá, đốt cháy làng Nhật Tảo để trả thù. Bài học của chiến thắng Nhật Tảo được nghĩa quân nhiều nơi áp dụng. Cg trận Vàm cỏ Đông. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:42:21 pm TRẬN NHƯ NGUYỆT 18.1-2.1077, trận quyết chiến chiến lược diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến Sông cầu (Bắc Ninh) của quân dân Đại Việt do Lí Thường Kiệt chỉ huy, kết thúc cuộc kháng chiến chống Tống lần II (1075-77). Ngày 18.1 các mũi tiến công của bộ binh và kị binh Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy (100.000 quân và 200.000 dân phu) đến bờ bắc Sông Cầu đóng quân trên trận tuyến dài khoảng 30km (từ bến Như Nguyệt đến núi Nham Biền), dựng cầu phao, đóng bè, chuẩn bị vượt sông tiến về Thăng Long. Dựa vào chiến tuyến Sông Cầu từ ngã ba sông Cà Lồ - Sông Cầu (Đa Phúc) đến Vạn Xuân (Phả Lại), quân Lí Thường Kiệt khoảng 60.000 đã đánh bại 2 cuộc tiến công vượt sông lớn của địch. Bị tổn thất nặng, Quách Quỳ phải lui về bờ bắc phòng ngự, hình thành hai cụm quân: cụm đóng ở Thị Cầu (chừng 50.000 quân) do Quách Quỳ chỉ huy, và cụm ở Như Nguyệt (chừng 30.000 quân) do Triệu Tiết chỉ huy, hi vọng chờ tiếp viện. Cuối 2.1077 nắm bắt thời cơ, Lí Thường Kiệt tổ chức phản công: sau khi dùng thủy quân đánh vào cụm quân ở Thị Cầu, nhằm thu hút lực lượng và sự chú ý của quân Tống, mũi chủ công do Lí Thường Kiệt chỉ huy, lợi dụng đêm tối, bất ngờ vượt sông đánh úp vào cụm quân ở Như Nguyệt, diệt quá nửa quân địch. Chiến thắng Như Nguyệt dồn quân Tống vào thế cùng lực kiệt, buộc phải giảng hòa, xin rút quân về nước. 3.1077 quân Tống rút lui trong cảnh hỗn loạn, khi về đến TQ (4.1077) chỉ còn 23.400 quân và 3.174 ngựa với chi phí chiến tranh hết 5.190.000 lạng vàng. Nhà Tống phải từ bỏ âm mưu xâm lược Đại Việt. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67872996_465819294147956_8771261612951601152_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeE1FAqB0Iiv4IFOK8-OJ80zJr8j7Se30T5mTkq7YiewHlGuL_ljdauDu7h5dltVqYY7KsAJem6J9hXnK1E77rGjT9aoCuAO7vEU6ItQpKlo4Q&_nc_oc=AQlzicrGKXOjdviUOgOgac4D37mY0PU79KyxAHzJY0r9TlYlStpDX6MlM3ywhRGpmCU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f8ec56777a5d52546a3a04db9b1a8c38&oe=5DE2AE8A) TRẬN NHƯ NGUYỆT 16.6.1953 nh TRẬN PHẢ LẠI (16.6.1953) TRẬN NHƯ NGUYỆT - VẠN KIẾP - VĨNH BÌNH (6.1285), trận truy kích kết hợp phục kích của quân Trần (Đại Việt), diệt quân Nguyên - Mông (TQ) rút chạy trong kháng chiến chống Nguyên - Móng lần II (1285). Sau khi đập tan hệ thống phòng thủ trên Sông Hồng và bao vây Thăng Long, nhà Trần đã bố trí các trận địa mai phục sẵn sàng đánh địch rút chạy. 10.6 cánh quân Nguyên - Mông ở Thăng Long do Thoát Hoan chỉ huy rút theo đường bộ, hướng đông bắc. Đến Như Nguyệt (nay thuộc Bắc Ninh), bị quân Trần Quốc Toản đánh chặn, Thoát Hoan phải đưa quân chạy sang Vạn Kiếp (nay thuộc Hải Dương). Tại đây quân Nguyên - Mông bị Trần Quốc Tuấn dùng đại binh phục kích diệt quá nửa lúc đang tranh nhau vượt sông bằng cầu phao. Số quân còn lại tiếp tục bị truy kích đến Vĩnh Bình (nay thuộc Lạng Sơn) và bị chặn đánh, thêm nhiều quân, tướng bị diệt. Sau gần 1 tháng Thoát Hoan cùng tàn quân mới chạy thoát về Tư Minh (Quảng Tây, TQ). TRẬN NHƯ SƠN - BẾN ĐÁ (24.10.1950), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 227 (Trung đoàn 95. Mặt trận Bình - Trị - Thiên) được tăng cường 1 đại đội bộ binh, 2 tiểu đội công binh đánh đoàn tàu QS của Pháp từ Đà Nẵng ra Quảng Trị trên đoạn đường sắt Như Sơn - Bến Đá (h. Hải Lăng, t. Quảng Trị), trong đợt 2 chiến dịch Phan Đình Phùng (15.6-24.10.1950). Đoàn tàu gồm 15 toa xe bọc thép trang bị 2 pháo Bôpho 40mm, 4 trọng liên 12,7mm, 10 đại liên, có 1 đại đội Âu - Phi đi cùng bảo vệ. 2 giờ ngày 24.10, tiểu đoàn vào vị trí phục kích; 9 giờ 5 phút khi đoàn tàu lọt vào trận địa. ta cho nổ quá mìn 50kg làm đoàn tàu trật bánh, tiếp đó công binh điểm hỏa các quả mìn chôn dọc ven đường tàu đồng thời bộ binh xung phong lên tàu diệt địch. Sau gần 2 giờ chiến đấu phá hủy 1 đầu máy và 10 toa xe, diệt và bắt 170 địch, thu 75 súng các loại, góp phần hạn chê hoạt động vận chuyển, chi viện bằng đường sắt của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. TRẬN NIÊN KỈ (18.5.1892), trận chiến đấu phòng ngự của liên quân Đốc Ngữ - Tống Duy Tân chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại căn cứ Niên Kỉ (châu Quan Hóa, nay thuộc h. Quan Hoá, t. Thanh Hóa). 3.1892 sau thắng lợi trận Yên Lãng (5.2.1892), để bảo toàn lực lượng, Đốc Ngữ rút quân khỏi vùng Sông Đà vào Thanh Hóa phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Tống Duy Tân tại căn cứ Niên Ki. Đạo quan binh 4 Sơn La của Pháp do quan năm Pennơcanh chỉ huy bám theo truy kích. 18.5 quân Pháp từ hai hướng mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ, nhưng bị nghĩa quân đánh thiệt hại nặng (chết 8 sĩ quan và 70 lính...), phải lui quân. Sau TNK Đốc Ngữ đưa quân trở lại vùng Sông Đà tiếp tục chống Pháp. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:43:33 pm TRẬN NINH KIỂU, NHÂN MỤC (13.9 và 20.10.1426), trận đánh phục kích của nghĩa quân Lam Sơn (Đại Việt), diệt quân Minh (TQ) trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Tháng 9.1426, sau khi vây chặt các thành Nghệ An, Tây Đô (Thanh Hóa), nghĩa quân Lam Sơn chia thành ba cánh quân tiến ra Bắc. Cánh thứ nhất do Phạm Văn xảo, Lí Triện, Đỗ Bí và Trịnh Khả chỉ huy 3.000 quân uy hiếp phía tây nam thành Đông Quan (nay là Hà Nội). Để tránh nguy cơ bị vây, 13.9 tướng Minh ở Đông Quan là Trần Trí dốc hết quân ra đánh, bị phục kích ở Ninh Kiều (nay thuộc Chương Mĩ, Hà Tây), mất 2.000 quân, phải rút lui. 20.10 đạo quân Minh do Viên Lượng chỉ huy lại ra tiến công, rơi vào trận địa mai phục của quân Lam Sơn do Lí Triên, Đỗ Bí tổ chức ở cầu Nhân Mục (nay thuộc q. Thanh Xuân, Hà Nội), mất hơn 1.000 quân, Viên Lượng bị bắt. TNK,NM thắng lợi là bước mở đầu giai đoạn phản công ra Bắc của nghĩa quân Lam Sơn, buộc quân Minh phải lui vào cố thủ ở Đông Quan. TRẬN NON NƯỚC 30.5.1951, trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 54 (Trung đoàn 102, Đại đoàn 308) vào cứ điểm Non Nước, một vị trí quan trọng bảo vệ tx Ninh Bình của Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Quang Trung (28.5-20.6.1951). Cứ điếm được xây dựng trên núi Non Nước (tx Ninh Bình), có địa thế hiểm trở, công sự vững chắc, do 2 đại đội quân Pháp và lính Bảo Hoàng đóng giữ. 2 giờ 15 phút 30.5 được pháo binh chi viện, tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội tiến công từ hai hướng. Bằng chiến thuật tổ ba người, dùng thang vượt vách đá, khắc phục vật cản, bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu chia cắt, đánh chiếm từng hầm ngầm, lô cốt, ngách hang; đến 5 giờ 30 phút làm chủ trận địa. Khi lui quân, 18 cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn không rút kịp, đã tổ chức phòng ngự đẩy lùi nhiều đợt phản kích của 2 đại đội địch, đến 12 giờ mới rời khỏi trận địa. Kết quả diệt và bắt gần 200 địch, đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội ta về đánh địch trong công sự vững chắc trên địa hình đồng bằng, tạo đà cho chiến dịch phát triển thuận lợi. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68252117_465819297481289_3475462719602163712_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGRgbAsY_RGzZwdY1xQqmXpmHgVOhP1OUtBJFaDH-zMJfSd2Y_p1lAMqo2_M-HPJGG8tmdM-yP-eFMTe37si46C-FrBqBdTxMedVvJx0hAFJA&_nc_oc=AQnCZbirYOgthXh5QWZafumRsde5YGJvuBCVsuRFp9TEywYj-l10sFpBK_4SODs5nB4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=54a92003edad444d9c2cc6f77b1d99ff&oe=5DD2B5DB) TRẬN NON NƯỚC 23.8.1968, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu) bộ đội địa phương tỉnh Quáng Đà (Khu 5) vào căn cứ Non Nước (nay thuộc q. Ngũ Hành Sơn, tp Đà Nẩng), do Tiểu đoàn biệt kích 776 QĐ Sài Gòn đóng giữ (cố vấn Mĩ chỉ huy). Căn cứ được xây dựng trên khu vực dài 900m, rộng 600m, chia thành 4 khu (1, 2, 3, 4), có hệ thống hầm ngầm, lô cốt, hào, hàng rào thép gai và mìn bao quanh. Đêm 22.8 tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội, chia thành 5 mũi (mỗi mũi 2-3 tổ) từ ba hướng (bắc, nam, đông nam) bí mật luồn sâu, 1 giờ 45 phút ngày 23.8 đồng loạt nổ súng, dùng lựu đạn, thù pháo tiêu diệt các mục tiêu trong căn cứ. Địch hoàn toàn bị bất ngờ và tê liệt. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch, phá hủy hàng chục dãy nhà, 25 xe QS. bắn cháy 1 máy bay trực thăng, thu 9 súng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ đông nam tp Đà Nẵng của Mĩ và QĐ Sài Gòn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:44:23 pm TRẬN NÔNG TRẠI - CHƯ CÚC (14-18.3.1975), trận vận động tiến công của Sư đoàn bộ binh 10 (Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 23 (thiếu), Liên đoàn biệt động quân 21, 3 tiểu đoàn bảo an và tàn quân của Trung đoàn bộ binh 45... QĐ Sài Gòn ở khu vực Nông Trại - Phước An - Chư Cúc (t. Đắc Lắc), trong chiến dịch Tây Ngu\ên (4.3-3.4.1975). Ngày 14.3 sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng tiêu diệt và làm tan rã 2tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn bảo an của địch ở chân điểm cao 581 và trên đường 21 tới phân chi khu Phước Bình, dồn tàn quân Trung đoàn 45 và Liên đoàn biệt động quân 21 về Nông Trại (đông 581). 16-17.3 sư đoàn tập trung lực lượng tiếp tục tiến công, diệt và bắt phần lớn quân địch ở khu vực Nông Trại - Phước An, trong đó có SCH nhẹ Sư đoàn 23, sau đó từ 12 giờ ngày 18.3 tiến hành truy kích đập tan lực lượng còn lại của địch co cụm ở Chư Cúc. Trận then chốt thứ hai của chiến dịch thắng lợi góp phần đánh bại ý đồ phán kích chiếm lại Buôn Ma Thuật của địch. TRẬN NÚI BÀ ĐEN (16.6.1969), trận tập kích của đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 16 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đánh trung tâm tiếp vận truyền tin của SCH Dã chiến 2 Mĩ tại đỉnh núi Bà Đen (đông bắc tx Tây Ninh 8km). Lực lượng địch tại trung tâm gồm các nhân viên kĩ thuật và 2 đại đội quân cảnh (khoảng 300 quân), được bảo vệ nghiêm ngặt bằng hệ thống hàng rào (3-5 lớp), bãi mìn, đèn pha chiếu sáng, hầm ngầm, lô cốt, tháp canh và lính gác tuần tra ngày, đêm. Tối 15.6 ta tổ chức lực lượng thành 2 mũi, bí mật luồn sâu áp sát từ hai hướng tây (hướng chủ yếu) và nam, 24 giờ đồng loạt nổ súng, dùng bộc phá, B-40, lựu đạn đánh sập các mục tiêu và diệt dịch trong các công sự, khu nhà ở... Sau gần 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch (phần lớn là nhân viên kĩ thuật), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, góp phần làm tê liệt hoạt động cảnh giới, thông tin liên lạc của địch trong khu vực. TRẬN NÚI BÔNG (21.3.1975), trận tập kích cua Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 324, Quân đoàn 2) được tăng cường cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch, vào trận địa phòng ngự công sự vững chắc của QĐ Sài Gòn tại khu vực Núi Bông (h. Hương Phú, nay thuộc h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên - Huế), trên phòng tuyến tây nam Huế. 5 giờ 40 phút trung đoàn nổ súng tiến công, sau 40 phút chiến đấu chiếm Núi Bông, buộc địch phải điều Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 cùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng từ Núi Nghệ tới phản kích. TNB góp phần tiêu hao, thu hút dịch, tạo thuận lợi cho Sư đoàn bộ binh 325 phát triển tiến công cắt QL 1, hiệp đồng giải phóng tp Huế trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). TRẬN NÚI ĐANH (16.1.1951), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 209 (Đại đoàn 312) đánh quân Pháp tại Núi Đanh (bắc tx Vĩnh Yên khoảng 6km, nay thuộc h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc ), trong đợt 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950-18.1.1951). Ngày 15.1 Pháp mở cuộc hành quân giải tỏa tx Vĩnh Yên đang bị bao vây, dùng 2 tiểu đoàn chiếm các điểm cao trên dãy Núi Đanh để khống chế ta. Phát hiện ý đồ của địch, Trung đoàn 209 được lệnh đánh chiếm Núi Đanh nhằm tạo điểu kiện cho các đơn vị bạn phối hợp đánh địch giải tỏa. Sáng 16.1 các đơn vị của trung đoàn vượt qua hỏa lực ngăn chặn của không quân, pháo binh địch, chiếm được điểm cao 210 (mỏm cao nhất Núi Đanh), đồng thời tổ chức chặn đánh địch quyết liệt ở điểm cao 83, nhưng đến 14 giờ 30 phút bị địch tập trung lực lượng đẩy lùi khỏi điểm cao 210. Chiều và đêm 16.1 trung đoàn hai lần tổ chức phản kích chiếm lại điểm cao này đều không thành công. Kết quả loại khỏi chiến đấu 250 địch, nhưng ta bị thương vong lớn, phải kết thúc trận đánh. TRẬN NÚI MIẾU (29.10.1966), trận chống càn của du kích xã Kì Chánh (nay là xã Tam Anh, h. Núi Thành, t. Quảng Nam) đánh 1 tiểu đoàn quân Mĩ và 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn (có 12 xe tăng và xe bọc thép). Sáng 29.10 địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, chia thành nhiều mũi càn quét các thôn Xuân Vinh, Đức Bổ 2, Đập Đá, trong đó tập trung 1 đại đội Mĩ đánh chiếm Núi Miếu (ở trung tâm xã) để xây dựng thành cứ điểm mạnh làm bàn đạp tiến công và khống chế ta. Nắm vững ý đồ của địch, ta triển khai lực lượng ngăn chặn trên các hướng, đồng thời bố trí trận địa phục kích bằng bom, mìn tự tạo tại Núi Miếu, kết hợp hỏa lực đánh thiệt hại nặng 1 đại đội, buộc địch phải rút quân. Kết quả diệt và làm bị thương hơn 100 địch, giữ vững địa bàn, đẩy mạnh phong trào cải tiến bom đạn địch thành vũ khí chống càn có hiệu quả ở vành đai diệt Mĩ Chu Lai trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:45:17 pm TRẬN NÚI ÔNG LA (14.1.1972), trận tập kích của Đại đội bộ binh 3 (Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên) vào SCH hành quân của 1 trung đoàn quân Nam Triều Tiên tại núi Ông La (tây bắc tx Tuy Hòa 16km). Từ 9.1 địch đổ quân xuống núi Ông La gồm SCH trung đoàn, 1 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 trung đội cối 106,7mm, 1 đại đội bố binh (khoảng 350 quân), xây dựng công sự dã chiến, có hàng rào kẽm gai và mìn bảo vệ, nhằm thiết lập SCH cuộc càn quét ở Sơn Long - Sơn Hòa. 2 giờ ngày 14.1 sau khi bí mật tiềm nhập, áp sát mục tiêu, ta đồng loạt nổ súng, sau 25 phút chiến đấu diệt SCH, trung tâm thông tin, trận địa pháo..., loại khỏi chiến đấu gần 100 địch, thu 21 súng, phá hủy nhiều vũ khí, điện đài. Trận đánh diệt đầu não chỉ huy của địch, buộc 4 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên đang càn quét ở Sơn Long phải vội vã rút lui. TRẬN NÚI RO (20.4.1972), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 5) vào SCH Lữ đoàn dù 1 và Tiểu đoàn dù 6 QĐ Sài Gòn chốt giữ khu vực Núi Rô (điểm cao 169), một vị trí trọng yếu án ngữ phía đông nam thị trấn An Lộc (t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước), trong đợt 1 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972-19.1.1973). Trung đoàn được tăng cường 3 xe tăng T-54 và hỏa lực pháo binh chi viện, 2 giờ ngày 20.4 tổ chức đột kích vào trận địa địch trên 2 hướng. Trận đánh diễn ra quyết liệt, đến 10 giờ ta làm chủ trận địa. Tàn quân địch đạt xuống chân núi, cụm lại ở Tông Cui cũng bị ta truy kích, tiêu diệt. Kết quả loại khỏi chiến đấu 460 địch (bắt 35), thu hơn 100 súng (có 6 pháo 105mm). Trận đầu sử dụng xe tăng trên chiến trường Đông Nam Bộ, sức tiến công của ta được nâng cao, nhưng chỉ huy, hiệp đồng lúng túng nên hiệu quả tác chiến của xe tăng bị hạn chế. TRẬN NÚI SÁNG (5.10.1909), trận chiến đấu phòng ngự cứa nghĩa quân Đề Thám (Hoàng Hoa Thám), chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại căn cứ Núi Sáng (h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Sau khi phát hiện được căn cứ nghĩa quân ở Núi Sáng, 5.10 một lực lượng lớn quân Pháp cùng quân của tổng đốc Lê Hoan chia thành hai cánh bao vây nhằm diệt bằng được Đề Thám. Dựa vào công sự và bằng cách đánh gần, nghĩa quân chống trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tiến công, diệt 52 địch, đến sáng 6.10 bí mật rút khỏi vòng vây về vùng Tam Đảo, Thái Nguyên tiếp tục hoạt động. TRẬN NÚI THÀNH (26.5.1965), trận tập kích của Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 70) và 12 chiến sĩ đặc công thuộc Đại đội đặc công 16 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đánh 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mĩ ở Núi Thành (tây căn cứ Chu Lai 4km, nằm trong cụm núi đá trọc thuộc xã Kì Liên, h. Tam Kì, nay thuộc xã Tam Nghĩa, h. Núi Thành, t. Quảng Nam). Tại đây quân Mĩ bố trí phòng ngự thành ba cụm, công sự dã chiến, xung quanh có 2 lớp hàng rào thép gai bùng nhùng bảo vệ. Đêm 25.5 ta tổ chức lực lượng thành các tổ ba người bí mật luồn sâu, áp sát; 0 giờ 30 phút ngày 26.5 đồng loạt nổ súng, dùng lựu đạn. thủ pháo đánh chiếm công sự vòng ngoài rồi phát triển vào trong. Sau ít phút bị bất ngờ, hoảng loạn, địch tổ chức chống trả quyết liệt; ta đưa lực lượng dự bị vào diệt thêm một số rồi kết thúc trận đánh lúc 0 giờ 50 phút. TNT mở đầu phong trào đánh Mĩ của QGPMN VN, ngay khi Mĩ bắt đầu thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam VN. TRẬN OATECLÔ (18.6.1815), trận đánh giữa quân Pháp của Napôlêông I (72.000 người) với liên quân của Liên minh chống Pháp lần thứ bảy (Anh, Hà Lan, Phổ, 130.000 người) tại khu vực Oateclô (15km nam Brucxen, Bỉ), trong thời kì 100 ngày tái trị của hoàng đế Napôlêông I. Với ưu thế áp đảo về lực lượng, liên quân đánh thắng quân Pháp, chấm dứt chiến tranh Napôlêông (1799-1815), buộc hoàng đế Napôlêông I phải thoái vị lần thứ hai (22.6.1815). TRẬN Ô CAU DỂN (26-28.12.1946), trận phòng ngự của 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 vệ quốc đoàn và tự vệ Hà Nội chặn đánh quân Pháp tại khu vực ô Cầu Dền (đoạn để La Thành cuối phô Bà Triệu, đầu phô Bạch Mai), trong những ngày đầu KCCP ở thủ đô Hà Nội. Sáng 26.12 Pháp cho bộ binh và xe tăng tiến công ô Cầu Dền nhằm thực hiện kế hoạch đánh thông đường La Thành. Ta dựa vào chiến lũy dược xây dựng vững chắc, kiên quyết chặn đánh, đẩy lui 3 đợt xung phong của địch. 28.12 địch tiến công lần 2, ta sử dụng khẩu badôca duy nhất của Mặt trận Hà Nội vừa được điều đến, bắn cháy 1 xe tăng và 1 xe bọc thép buộc địch tháo chạy. Ta giữ vững cửa ô hơn 20 ngày đêm. góp phần vào thắng lợi của đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946-18.2.1947). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:46:22 pm TRẬN ÔXÔVET (12.2-22.8.1915), trận chiến đấu phòng thủ của quân Nga tại Ôxôvet (thảnh phố đông bắc Ba Lan) chống lại cuộc tiến công của quân Đức trong CTTG-I. Ôxôvet là pháo đài của Nga được xây dựng trên sông Bôpbrơ từ 1882-87, sang đầu CTTG-I được củng cố và tăng cường công sự kiên cố và dã chiến trên một chính diện 60km, sâu 15km. Trong hơn 6 tháng dựa vào các công trình phòng thủ, Sư đoàn bộ binh 57 Nga (27 tiểu đoàn) cùng với các đơn vị đồn trú bảo vệ pháo dài đã chiến đấu kiên cường, đánh bại cuộc tiến công của Tập đoàn quân 8 Đức (40 tiểu đoàn và 68 đại đội). TÔ là mô hình phòng thủ trận địa kết hợp hệ thống công sự kiên cố và công sự dã chiến được các nước châu Âu coi là vững chắc và đã áp dụng trong những năm 1920-40. TRẬN PA THÍ 12.1.1968. trận tập kích đường không của biên đội máy bay An-2 (4 chiếc, do Phan Như Cẩn chỉ huy) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng phòng không - không quân, đánh căn cứ rađa của Mĩ ở Pa Thí (thuộc t. Hủa Phăn, Lào). Căn cứ được xây dựng trên đinh núi cao 1.667m, có địa hình hiểm trở và hệ thống bảo vệ cẩn mật, là một trong những trạm rađa lớn và hiện đại của Mĩ bảo đảm cho hoạt động chỉ huy và dẫn đường máy bay từ các sân bay ở Thái Lan vào đánh phá miền Bắc VN. Sau thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, 11 giờ 43 phút ngày 12.1 biên đội cất cánh từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội), dùng cách bay thấp để tránh địch phát hiện, bí mật tiếp cận mục tiêu, tiến hành công kích lúc 13 giờ 7 phút. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, bất ngờ, với 128 quả rôckét và 48 đạn cối 120mm phá hủy toàn bộ hệ thống rađa, đài chỉ huy, diệt 1 đại đội bảo vệ và hàng chục nhân viên kĩ thuật của địch. Trận đầu bộ đội không quân vận tải VN đánh mục tiêu mặt đất thắng lợi, góp phần hạn chế hoạt động đánh phá của không quân Mĩ trên hướng tây. Cg trận chiến đấu không quân 12.1.1968. TRẬN PA THÍ 11.3.1968. trận tập kích của phân đội đặc công (31 người) thuộc Tiểu đoàn đặc công 41 (Quân khu Tây Bắc) được tăng cường 1 tiểu đội bộ binh, vào căn cứ của Lực lượng đặc biệt Vàng Pao trên dãy núi Pa Thí (thuộc t. Hủa Phăn, Lào). Căn cứ được xây dựng kiên cố trên đỉnh núi cao, vách đứng, đường lên độc đạo, có trận địa pháo, sân bay trực thăng, SCH và trạm rađa; xung quanh có các bãi mìn, do 4 trung đội phỉ đóng giữ (có 19 cố vấn Mĩ và một số nhân viên kĩ thuật Thái Lan), bên dưới và các khu vực xung quanh còn có 15 đại đội bảo vệ. Ta tổ chức 2 mũi (9 tổ), bí mật leo vách đá, đột nhập vào căn cứ; 3 giờ 45 phút đồng loạt nổ súng, đánh chiếm các mục tiêu, diệt gọn quân địch, làm chủ trận địa. Lực lượng bảo vệ bên dưới của địch hoảng sợ bỏ chạy, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh, pháo binh của ta đánh chiếm toàn bộ khu vực, giải phóng 10.000 dân. TRẬN PHẢ LẠI (16.6.1953), trận tập kích tàu chiến Pháp trên sông Như Nguyệt, gần phố Phả Lại (nay là thị trấn Phả Lại, h. Chí Linh, t. Hải Dương), do Trung đội 59 bộ đội địa phương tỉnh Bắc Giang tiến hành trong KCCP. ở khu vực neo dậu tàu, địch tổ chức báo vệ nghiêm ngặt bằng hệ thống đồn bốt dày đặc dọc phố Phả Lại, có lính tuần tra canh gác ngày đêm kết hợp với hệ thống đèn chiếu sáng và hàng rào thép gai xung quanh. 21 giờ ngày 15.6 từ vị trí tập kết, 4 chiến sĩ của Trung đội 59 dùng bè chuối bí mật tiếp cận đặt 60kg thuốc nổ sát thành tàu. đốt dây cháy chậm rồi rút ra an toàn. 4 giờ 30 phút ngày 16 bộc phá nổ làm chìm 1 tàu, 2 ca nô, phá hủy nhiều vũ khí trang bị, diệt và làm bị thương nhiều quân địch trên tàu. Thắng lợi của TPL góp phần phá kế hoạch càn quét của Pháp vào khu du kích Yên Dũng (Bắc Giang). Cg trận Như Nguyệt. TRẬN PHACXAN (6.6.48tcn), trận của Xéda (30.000 bộ binh, 1.000-2.000 kị binh) đánh bại quân của Pômpây (30.000 bộ binh. 3.000-4.000 kị binh) ở gần Phacxan (Phacxala, đông Hi Lạp) trong nội chiến ở La Mã (49-45tcn). Sau khi liên minh tam hùng lần thứ nhất tan vỡ do một trong ba người chết (53tcn), giữa Xêda và Pômpây diễn ra cuộc tranh giành quyết liệt quyền thống trị La Mã. Trong TP, tuy lực lượng ít hơn, nhưng do khéo sử dụng đội dự bị, nên Xêda đã chiến thắng, trở thành người độc quyền ngự trị đế quốc La Mã. TRẬN PHAI KHẮT (25.12.1944), trận chiến đấu tiến công đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào đồn Phai Khắt (tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay là h. Nguyên Bình. t. Cao Bằng), nhằm thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “trong vòng một tháng sau khi thành lập phái có hoạt động”, “trận đầu nhất định phải đánh thắng”. Đồn do 21 lính dõng đóng giữ dưới sự chỉ huy của đồn trường Simônơ người Pháp. 17 giờ, lợi dụng lúc địch đang ăn cơm chiều và Simônơ đi vắng, Đội VN tuyên truyền giải phóng quân cùng du kích (khoáng 50 người) để một bộ phận canh gác vòng ngoài, số còn lại chia thành 2 tiểu đội cải trang làm quân tuần tiễu của cấp trên đến kiểm tra đồn rồi bất ngờ chĩa súng buộc địch phải đầu hàng. Cùng lúc đó, Simônơ trở về đồn cũng bị bắn chết. Kết quả trong 10 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 18 địch (4 lính trốn trại từ trước), thu 17 súng cùng toàn bộ trang bị và rút lui an toàn. Thắng lợi của TPK mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của QĐND VN. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:47:38 pm TRẬN PHAN RANG (16.4.1975), trận tiến công của Quân đoàn 2 (gồm Sư đoàn bộ binh 325, 2 trung đoàn pháo phòng không, 1 lữ đoàn và 1 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp) được tăng cường Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 5) và Trung đoàn bộ binh 25 (Mặt trận Tây Nguyên), phá vỡ tuyến phòng thủ của QĐ Sài Gòn ở khu vực tx Phan Rang (t. Ninh Thuận), trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Sau khi mất Quân khu 1 và Quân khu 2, địch gấp rút củng cố Phan Rang thành tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn với lực lượng khoảng 12.000 quân, gồm: BTL tiền phương Quân khu 3, Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu), Lữ đoàn dù 2, Liên đoàn biệt động quân 31, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 chi đội thiết giáp; ngoài ra còn có SCH Sư đoàn không quân 6 ở sân bay Thành Sơn, khoảng 7-10 tàu chiến ở cảng Ninh Chữ... Trận đánh mở màn lúc 5 giờ. Bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiến công trong hành tiến, phát huy sức mạnh đột phá của xe tăng và các loại hỏa lực chế áp dịch, đến 6 giờ 10 phút ta chọc thủng tuyến phòng ngự bên ngoài, hình thành các mũi thọc sâu, làm chủ thị xã lúc 7 giờ, sau đó nhanh chóng phát triển tiến công, đánh chiếm các cảng Ninh Chữ, Tân Thành, quận lị Bửu Sơn (Tháp Chàm) và sân bay Thành Sơn, tiến hành truy kích tàn quân địch ở Cà Ná. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch, trong đó bắt hàng nghìn binh lính, sĩ quan (có 1 trung tướng, 2 chuẩn tướng), thu 40 máy bay, 60 khẩu pháo cùng nhiều phương tiện QS; giải phóng hoàn toàn tx Phan Rang và t. Ninh Thuận, tạo thế tiến công thuận lợi giải phóng Bình Tuy, Bình Thuận, đập tan kế hoạch phòng thủ từ xa của địch. TRẬN PHAN TÂY HỔ (5.3.1951), trận chống càn của Đại đội 26 bộ đội địa phương huyện Tiên Lữ và du kích xã Phan Tây Hồ (nay thuộc các xã Lệ Xá và Trung Dũng, h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên), đánh 2 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) và lực lượng đồn trú của Pháp càn quét vào xã. Đầu 1951 Phan Tây Hồ là khu du kích cuối cùng ở Hưng Yên mà địch tập trung triệt phá, gồm 7 thôn được xây dựng thành làng chiến đấu liên hoàn, có hệ thống hầm hào rộng khắp, vững chắc. Sáng 5.3 địch có pháo binh yểm trợ triển khai nhiều hướng tiến công vào các thôn Canh Hoạch, An Tràng, Hoàng Xá, Phí Xá,... nhưng bị chặn đánh quyết liệt và thiệt hại nặng, đặc biệt tại thôn Hoàng Xá. Sau 6 giờ chiến đấu, do địch chiếm ưu thế. ta chủ trương vừa đánh vừa rút sang Phù Liễu, sau đó rút về thôn Giai Lệ (nơi có làng chiến đấu vững chắc nhất của xã), tiếp tục bám trụ, đẩy lui 4 đợt tiến công của địch, bảo vệ cho các lực lượng (trong đó có cơ quan lãnh đạo kháng chiến các huyện Tiên Lữ, Phù Cừ) rút sang Thái Bình an toàn. TPTH tuy không giữ được căn cứ nhưng đã gây cho địch nhiều thiệt hại (diệt hơn 300 địch), bảo toàn lực lượng ta, tạo cơ sở đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. TRẬN PHÁP (cổ), phương pháp bố trí lực lượng thành thế trận. TP là một bộ phận của binh pháp. Ở VN, trong cuốn binh pháp “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ, TP được chuyên bàn trong tập “Địa”. TRẬN PHÂN CHI KHU CẦU TRÀM (22-23.4.1975), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Quân khu 8) vào phân chi khu QS Cầu Tràm (h. Cân Đước, t. Long An), do QĐ Sài Gòn chiếm giữ. Lực lượng địch ở phân chi khu khoảng 70 quân, tổ chức phòng ngự có công sự vững chắc, xung quanh có 3-4 lớp rào thép gai xen kẽ mìn bảo vệ. 5 giờ 10 phút ngày 22.4 tiểu đoàn chia ba mũi đồng loạt tiến công, sau gần 1 giờ chiến đấu. làm chủ phân chi khu và tổ chức chốt giữ, trong ngày 23 đánh lui 4 đợt phản kích của địch. Kết quả diệt và bắt hơn 50 địch, thu 22 súng; góp phần giữ vững địa bàn, mở đường cho bộ đội chủ lực quân khu vào tham gia giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). TRẬN PHÂN CHI KHU MƯỜI BỔN NGÀN (6.12.1974), trận tập kích của đại đội bộ đội địa phương huyện Long Mĩ và du kích xã Vị Thanh vào phân chi khu QS Mười Bốn Ngàn của QĐ Sài Gòn ở xã Vị Thanh (h. Long Mĩ, t. Chương Thiện, nay thuộc h. Vị Thủy, t. Hậu Giang). Tại đây địch tổ chức phòng ngự vững chắc, gồm 1 đồn chính, 2 chốt tiền tiêu, có nhiều lô cốt, tường, rào kẽm gai, mìn bảo vệ; lực lượng khoảng 90 sĩ quan, binh lính, gồm ban chỉ huy phân chi khu, bảo an, dân vệ, cảnh sát, bình định... Đèm 5.12 ta bí mật triển khai, chiếm lĩnh trận địa; 0 giờ 10 phút ngày 6.12 dùng hỏa lực B-40, phi lôi bắn chế áp rồi từ nhiều hướng, xung phong đánh chiếm các mục tiêu; đến 5 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt 89 địch, thu 83 súng. Trận đánh thắng lợi tạo thế cho ta bức rút 3 đồn dân vệ khác, giải phóng một vùng dài hơn 10km trên tuyến xáng Xà No. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:48:36 pm TRẬN PHÂN CHI KHU NGÃ BẮC (24.8.1974), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 10, Quân khu 8) vào QĐ Sài Gòn ở phân chi khu Ngã Bắc (xã Xà Phiên, h. Long Mĩ, t. Hậu Giang). Phân chi khu có khu QS do 1 đại đội bảo an đóng giữ và khu hội đồng xã do 2 trung đội dân vệ và 1 tiểu đội cảnh sát bảo vệ. Đêm 23.8 ta chiếm lĩnh trận địa, khắc phục vật cản; 2 giờ ngày 24 nổ súng diệt đồn bảo an, sau đó đánh địch ở khu hội đồng xã; đến 5 giờ làm chủ phân chi khu, diệt và bắt 119 địch, thu 103 súng. Trận đánh tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân địa phương bức rút các đồn lân cận, giải phóng các xã Xà Phiên, Tân Thành. TRẬN PHÂN CHI KHU TRẦU HÔI (12-13.3.1975), trận tập kích của Tiêu đoàn Tây Đô bộ đội địa phương tinh Cần Thơ vào phân chi khu QS Trầu Hôi (xã Nhơn Nghĩa, h. Châu Thành, nay thuộc h. Phong Điền, tp Cần Thơ), do 1 đại đội thám báo, 1 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát, bình định QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 12.3 ta bí mật tiếp cận, cắt rào, gỡ mìn; 22 giờ 30 phút chia bốn mũi xung phong đánh chiếm các mục tiêu, sau 25 phút chiến đấu làm chủ phân chi khu. Ngày 13 tiểu đoàn tiếp tục bám trụ, đánh lui 2 đợt phản kích của địch. Kết quá diệt và bắt hơn 70 địch, thu 63 súng các loại; góp phần mở rộng địa bàn cho bộ đội chủ lực Quân khu 9 vào áp sát tp Cần Thơ trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. TRẬN PHEO (7.1.1952), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 102 (Đại đoàn 308) vào cụm cứ điểm Pheo (bắc tx Hòa Bình 6km), một vị trí quan trọng trên phòng tuyến đường 6 do 1 tiểu đoàn lê dương, 1 đại đội pháo binh và 1 trung đội xe tăng của Pháp đóng giữ, trong đợt 3 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). Đêm 7.1 trung đoàn nổ súng theo kê hoạch, pháo binh diệt được một số mục tiêu, nhưng bộ binh chưa chiếm lĩnh xong trận địa nên các mũi đột phá gập khó khăn; sau khi mở cửa, bị pháo binh và xe tăng địch bắn chặn, bộ đội không phát triển được, bị thương vong lớn, phải lui quân. Trận đánh không thành công do chủ quan, đơn giản, nắm tình hình địch và địa hình không chính xác, chuẩn bị chiến đấu không chu đáo, tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ... TRẬN PHÌ THỦY (383), trận tập kích của quân Đông Tấn vào lực lượng ưu thế gấp nhiều lần của Tiền Tần tại Phì Thủy (nay thuộc vùng hồ Ngõa Phụ, An Huy, TQ). Sau khi thống nhất phương Bắc, Tiền Tần không ngừng bành trướng xuống phương Nam, lần lượt đánh chiếm Lương Châu, Ích Châu, Tương Dương, Bành Thành. Tháng 7, vua Tiền Tần là Phù Kiên tập trung hơn 90 vạn quân, mở cuộc tiến công vào Đông Tấn với đội quân tiên phong gồm 25 vạn do Phù Dung và Mộ Dung Thùy chỉ huy; Phù Kiên dẫn quân chủ lực đi sau, đội hình hành quân dài hàng ngàn dặm. Đông Tấn quyết tâm chống lại, phái Tạ Thạch, Tạ Huyền, Lưu Lao Chi đem 8 vạn quân đến bờ Sông Hoài chống trả. Được Chu Tự (tướng người Hán trong QĐ Tiền Tần) cho biết về những mâu thuẫn và tâm lí chán ghét chiến tranh trong hàng ngũ binh lính của Tiền Tần, về tình trạng đạo quân Tiền Tần phía trước tiến nhanh và bị cắt rời, cách xa đạo quân chủ lực, Tạ Thạch quyết định đánh nhanh khi quân Tiền Tần chưa đến đủ. Tháng 11, khoảng 5.000 quân Đông Tấn tập kích vào căn cứ Lạc Gián, tiêu diệt 15.000 quân và 10 tướng trong đội tiên phong của Tiền Tần. Khi quân chủ lực của mình đến bờ Phì Thủy, Đông Tấn dùng Chu Tự làm nội gián, lập mưu lừa chủ tướng Tiền Tần cho quân lui lại lấy chỗ cho quân Tấn sang sông quyết chiến. Quân Tiền Tần được lệnh cứ lui mãi, lại bị Chu Tự tung tin thất thiệt làm cho hoảng loạn. Quân Tấn thừa cơ vượt sông truy kích. Quân Tiền Tần dẫm đạp lên nhau rút chạy, chết đới. chết rét đến bảy, tám phần mười; về đến Lạc Dương, chỉ còn lại hơn 10 vạn. Phù Dung chết trong đám loạn quân, Phù Kiên trúng tên, một mình một ngựa chạy về Hoài Bắc. Với lực lượng chưa bằng 1/10 quân đối phương, nhờ đồng tâm nhất trí, nắm vững tình hình nội bộ địch, xác định phương lược tác chiến thích hợp, biết dùng tướng trong QĐ đối phương lập mưu lừa giặc giỏi nên Đông Tấn dã giành toàn thắng. Một trận điển hình về lấy ít thắng nhiều trong lịch sử chiến tranh ở TQ. TRẬN PHOOCLEN nh TRẬN MANVINAT (8.12.1914) TRẬN PHỐ LU (8-12.2.1950), trận tiến công của Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) vào thị trấn Phố Lu (nay thuộc h. Bảo Thắng, t. Lào Cai), một ví trí phòng ngự vững chắc của Pháp, do 1 đại đội Âu - Phi, 1 đại đội lính khố đỏ và khoảng 80 lính dõng đóng giữ, mở đầu chiến dịch Lê Hồng Phong I (7.2-15.3.1950). Đúng 17 giờ ngày 8.2, được pháo binh chi viện, Trung đoàn 102 (có 2 tiểu đoàn: 79 và 54) nổ súng tiến công, nhung không đạt kết quả; đêm 10.2 tiếp tục tiến công lần 2 cũng không thành công do thiếu kinh nghiệm đánh công sự vững chắc và công tác hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh với pháo binh khống chặt chẽ. Chiều 12.2 trung đoàn được tăng cường Tiểu đoàn 11 (bộ đội chủ lực Liên khu 10), tập trung các loại hỏa lực tổ chức tiến công lần 3, diệt phần lớn quân địch và làm chủ trận địa sau 2 giờ chiến đấu. TPL tuy giành thắng lợi nhưng thời gian trận đánh kéo dài, bộ đội thương vong nhiều phải dừng lại củng cố nên đã ảnh hưởng tới kết quả và sự phát triển của chiến dịch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:49:35 pm TRẬN PHỒN XƯƠNG (29.1.1909), trận chiến đấu phòng ngự của nghĩa quân Đề Thám, bảo vệ căn cứ Phồn Xương (nay thuộc thị trấn Cầu Gồ, h. Yên Thế, t. Bắc Giang), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Trong khi Pháp đang tập trung lực lượng lớn (khoảng 15.000 quân) về Nhã Nam, chuẩn bị cuộc hành quân bí mật nhằm đánh úp và tiêu diệt nghĩa quân Đề Thám, sáng 29.1 viên đại lí Nhã Nam muốn lập công đầu, chỉ huy ba toán lính khố xanh và một số dân binh tiến công căn cứ Phồn Xương. Dựa vào chiến lũy, nghĩa quân với 200 tay súng tổ chức đánh trả quyết liệt, đẩy lui và diệt 20 địch. Sau thắng lợi, sáng 30.1 nghĩa quân rút khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng, làm thất bại kế hoạch đánh úp của quân Pháp. TRẬN PHU TĂNG (18-20.12.1971), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 165 (Sư đoàn 312) vào cứ điểm Phu Tâng (Phu Theng Neng) ở đồng nam Cánh Đồng Chum (Lào), trong đợt 1 chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (18.12.1971-6.4.1972). Cứ điểm được xây dựng trên 3 mỏm (cao 1.300-1.584m), có công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, 3- 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn, do Tiểu đoàn BC 609 QĐ Thái Lan đóng giữ. Từ 4 giờ ngày 18.12 trung đoàn được tăng cường hỏa lực, triển khai trận địa bao vây, tiến hành mở cửa, bắn phá các mục tiêu vòng ngoài; 17 giờ 30 phút ngày 19 tổ chức tiến công trên ba hướng, sau 30 phút chiến đấu làm chủ các mỏm 1 và 2; trưa ngày 20 đánh tiếp mỏm 3, đến 14 giờ 30 phút chiếm toàn bộ cứ điểm. Kết quả diệt và bắt gần 500 địch, thu 150 súng các loại, góp phần cùng lực lượng chiến dịch phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, giải phóng Cánh Đổng Chum, tiến sâu vào Sảm Thông - Long Chẹng. TRẬN PHÙ LỖ (6.12.1951), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 249 (Trung đoàn 174, Sư đoàn 316) diệt đồn Larivê, một vị trí phòng ngự quan trọng của Pháp ở tiểu khu Phù Lỗ (t. Vĩnh Phúc, nay thuộc xã Phù Lỗ, h. Sóc Sơn, tp Hà Nội). Đồn Larivê được xây dựng kiên cố, gồm 1 lô cốt chính và 6 lô cốt vệ tinh, có nhiều lớp rào thép gai do 1 đại đội Âu - Phi và 1 trung đội quân ngụy đóng giữ. Tiểu đoàn 249 phải vượt qua 17km vành đai trắng và hệ thống đồn bốt địch để tiếp cận mục tiêu, 23 giờ 45 phút bắt đầu nổ súng. Các lô cốt vệ tinh lần lượt bị tiêu diệt, địch dồn vào cố thủ trong lô cốt chính. Tiểu đoàn dùng súng ĐKZ và bộc phá đánh vào cửa chính lô cốt, kết hợp với gọi hàng; sau hơn 3 giờ chiến đấu, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Thắng lợi của trận đầu diệt địch cố thủ trong công sự vững chắc nằm sâu trong vùng địch kiểm soát tạo điều kiện thuận lợi cho đợt hoạt động của Sư đoàn 316 phối hợp với mặt trận Hòa Bình; đánh dấu bước tiến của bộ đội chủ lực VN về cách đánh công kiên trong KCCP. Cg trận Larivê. TRẬN PHỦ THÔNG (25.7.1948), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 11 (Trung đoàn 308) được tăng cường 2 khẩu đội pháo 75mm, đánh đồn Phủ Thông (nay thuộc xã Phương Linh, h. Bạch Thông, t. Bắc Kạn), một vị trí tương đối kiên cố trong tiểu khu Bắc Kạn, do 1 đại đội thuộc Trung đoàn lê dương 3 của Pháp đóng giữ (khoảng 150 quân), mở đầu chiến dịch Đường 3 (25.7-12.8.1948). Lúc 18 giờ ngày 25.7, sau khi pháo bắn chuẩn bị, tiểu đoàn chia thành hai mũi, dùng thang, ván vượt rào, xung phong diệt các ụ súng, phát triển vào trung tâm, đánh chiếm gần hết các lô cốt và diệt phần lớn quân địch trong đồn. Khoảng 1 tiểu đội địch dựa vào hầm ngầm cố thủ chống cự quyết liệt. Trận đánh kéo dài đến 23 giờ, ta vẫn chưa làm chủ hoàn toàn trận địa, bị thương vong nhiều, phải lui quân. Trận đầu đánh cứ điểm bằng hiêp đồng bộ binh với pháo binh, để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh công kiên của bộ đội chủ lực trong KCCP. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68883577_465819304147955_5246123185639784448_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHaSETT98DW_MIUsyuUIXyvVAy9f_JZ6LzS0IhhV2l0-7vEwYUY-wJ4BJONpMpV9HsyZ01tctzCgqH_Akl6TSmVuoBrPDCgiNdwi5w1QbF0JQ&_nc_oc=AQkgy5yzkGYGyo7YhubjFXIDNFqMN7D-K8DENhXjTITRxSHr8SB2Vb9OI_szdXg8B5Q&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1c2eadfe6bfbb30ed247d2d2ce1bb5bb&oe=5DD5A325) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:50:28 pm TRẬN PHÚ AN 2 (6.2.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 304. Quân đoàn 2) được tăng cường hỏa lực (1 pháo ĐKZ 75mm, 1 cối 82mm, 2 súng máy phòng không 12,7mm), vào ấp Phú An 2 (vùng B Đại Lộc, t. Quảng Đà, nay thuộc t. Quảng Nam) do Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 56, Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn đóng giữ. Từ 5 giờ 30 phút đến 10 giờ, tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội (1, 3) mở 3 đợt tiến công trên hai hướng (bắc và tây nam), chiếm được một số vị trí nhưng bị địch dùng hỏa lực ngăn chặn và phản kích quyết liệt. 15 giờ tiểu đoàn đưa thêm lực lượng dự bị (Đại đội 2) mở đợt tiến công thứ 4, đến 15 giờ 30 phút làm chủ trận địa và tiến hành truy kích, đánh địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt 93 địch, thu 47 súng các loại, giải phóng các ấp Phú An 1 và Phú An 2, góp phần vào thắng lợi chung của Sư đoàn 304 giải phóng vùng B Đại Lộc, tạo bàn đạp uy hiếp địch ở Đà Năng từ hướng tây nam. TRẬN PHÚ HỮU (13.11.1947), trận chống càn của Đại đội 10 thuộc Chi đội 6 Vệ quốc đoàn Gia Định (Chiến khu 7) cùng 2 tiểu đội du kích địa phương, chặn đánh 1 trung đoàn lính Âu - Phi (khoảng 1.500 quân) của Pháp tại khu vực xã Phú Hữu (tả ngạn sông Đồng Nai, h. Thủ Đức, t. Gia Định, nay là q. Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh). Đêm 12 rạng 13.11, địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, dùng 3 tàu thủy và 5 ca nô đổ quân, chia thành bốn mũi bao vây, bất ngờ tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Ta kịp thời chặn đánh và tập trung đột phá thoát vây an toàn, diệt 40 địch, thu 20 súng. Là trận phá vây điển hình ở chiến trường Nam Bộ trong những năm đầu KCCP, góp phần tiêu hao sinh lực địch, giữ gìn lực lượng ta chuẩn bị kháng chiến lâu dài. TRẬN PHÚ LONG (17.5.1965), trận tập kích của Đại đội bộ binh 486 được tăng cường Đại đội hỏa lực 487 (Quân khu 6) đánh ấp chiến lược Phú Long (nay thuộc xã Hàm Nhơn, h. Hàm Thuận Bắc, t. Bình Thuận), do 4 trung đội dân vệ và phòng vệ dân sự QĐ Sài Gòn đóng giữ. 14 giờ 35 phút ta triển khai lực lượng thành nhiều mũi, hóa trang, bí mật đột nhập vào ấp bằng các phương tiện xe lam, xe đạp,... nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu, phối hợp với đội công tác địa phương truy bắt tề điệp, ác ôn, phát động nhân dân nổi dậy làm chủ. 15-17 giờ địch huy động 3 đại đội bảo an (443, 887 và 442) có xe bọc thép M113 yểm trợ, mở nhiều đợt phản kích, giải toả, bị ta chặn đánh, đẩy lùi. Kết quả diệt, bắt và làm bị thương hơn 100 địch, thu 90 súng các loại, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, làm tan rã hàng ngũ địch ở vùng giáp ranh. TRẬN PHÚ LỘC - ĐÀ NẴNG (25-29.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) đánh Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 và Liên đoàn bảo an 914 QĐ Sài Gòn phòng ngự lâm thời từ quận lị Phú Lộc (t Thừa Thiên, nay là Thừa Thiên - Huế) đến tp Đà Nẵng, trong chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975). Lúc 16 giờ ngày 25.3, sau khi chiếm khu vực cửa Tư Hiền, ta tổ chức đội hình hành tiến đánh dọc theo QL 1, lần lượt vượt qua các vị trí Nước Ngọt, Thừa Lưu, Trung Kiên, Thổ Sơn, Phú Gia, đến 18 giờ ngày 27.3 làm chủ ga Lăng Cô và tổ chức đánh địch phản kích. 4 giờ ngày 29.3 tiến công diệt địch ở điểm cao 168, sau đó được tăng cường 1 đại đội xe tăng (6 chiếc) của Lữ đoàn 203, triển khai đánh chiếm đèo Hải Vân, khu Liên Chiểu rồi thọc sâu vào trung tám tp Đà Nẵng (lúc 11 giờ) và bán đảo Sơn Trà (13 giờ 30 phút). Sau 5 ngày chiến đấu ta diệt và bắt 2.427 địch, thu 685 xe (có 35 xe tăng), hàng trăm tàu thuyền cùng nhiều vũ khí, phương tiện QS, hoàn thành nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch, góp phần quan trọng giải phóng tp Đà Nẵng. TRẬN PHÚ SƠN (23.11.1967), trận phục kích của Tiểu đoàn 482 bộ đội địa phương t. Bình Thuận và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 430 h. Hàm Thuận), phối hợp với Đại đội 3 (Tiểu đoàn 840 bộ đội chủ lực Quân khu 6) đánh quân Mĩ đổ bộ bằng máy bay trực thăng tại Phú Sơn (nay thuộc xã Hàm Phú, h. Hàm Thuận Bắc, t. Bình Thuận). Bằng cách nhử quân Mĩ vào trận địa chuẩn bị sẵn ở khu vực ruộng Sần (thôn Phú Sơn), bất ngờ nổ súng khi địch vừa chạm đất và đánh địch co cụm, từ 11 giờ 15 phút đến 19 giờ ta đánh 7 đợt địch đổ quân, bắn rơi 13 máy bay (8 rơi tại chỗ), diệt hơn 100 quân Mĩ thuộc Tiểu đoàn kị binh không vận 3 (Sư đoàn 101). TPS thắng lợi góp phần bẻ gãy chiến thuật trực thăng vận của địch trên chiến trường Bình Thuận. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:51:21 pm TRẬN PHÚ THỌ HÒA (31.5.1954), trận tập kích của 12 chiến sĩ Đội đặc công 205 (Đặc khu Sài Gòn) đánh tổng kho Phú Thọ Hoà, kho dự trữ chiến lược lớn nhất của Pháp ở Đông Dương nằm trong Sở cao su Phú Hòa (đông bắc Chợ Lớn, nay thuộc q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh). Kho có diện tích khoảng 3km2, gồm 40 dãy nhà kho và hầm chứa bom, đạn, xăng dầu, được bảo vệ cẩn mật bằng 12 lớp rào thép gai xen kẽ bãi mìn, hệ thống đèn pha, lô cốt, chó bécgiẽ; bên trong có 1 đại đội Âu - Phi và bên ngoài có 2 tiểu đoàn lính ngụy thường xuyên tuần tra canh gác... Sau gần 2 năm điều tra tỉ mỉ, được sự giúp đỡ của cơ sở nội tuyến, đêm 31.5 các chiến sĩ đặc công chia thành 2 tổ, bí mật đột nhập vào kho. nhanh chóng đặt mìn vào các mục tiêu đã định rồi rút về căn cứ an toàn. Mìn nổ lúc quá nửa đêm, gây cháy nổ hai ngày liền, phá hủy hơn 9.000t bom đạn, hàng triệu lít xăng dầu, loại khỏi chiến đấu 1 đại đội địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, thể hiện cách đánh tiêu biểu của bộ đội đặc công VN, góp phần đẩy nhanh cuộc KCCP đến thắng lợi. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67983657_465819334147952_617230016396132352_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEL11KmD11eXJ4vAcwc5smcy9NNw4C0l63OXGCHXyijD71UASSduuGMkaTkOMAMz-DUncPfj-wH8SHRAa99N4lLVrkvCdRnwTOmlDYrY1h0HQ&_nc_oc=AQnAjdLxnZK76S7BxjIKdjquRSiI08XVrCaCgkfbmCsSQQKBxwbaIEmPlgcsWyPQuFQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=122e130200830286c261548c52c91840&oe=5DCCC03E) TRẬN PHÚ XUÂN (6.1786), trận tiến công của nghĩa quân Tây Sơn diệt quân Trịnh ở thành Phú Xuân (Huế) trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Sau khi đánh tan quân xâm lược Xiêm và thế lực Nguyền Ánh ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ được cử làm tiết chế cùng Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm thống lĩnh hai đạo quân thủy bộ theo hai đường tiến đánh thành Phú Xuân do Phạm Ngô Cầu, Hoàng Đình Thể và hàng vạn quân Trịnh trấn giữ; đồng thời, một đạo thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy vượt biển lên thẳng Sông Gianh để chặn viện binh và cô lập quân Trịnh ở Phú Xuân. Bằng cách dùng mưu gây chia rẽ nội bộ, làm suy yếu quân Trịnh, đêm 19.6 lợi dụng nước sông dâng cao, Nguyễn Huệ cho thuyền chiến áp sát chân thành bắn pháo dữ đội, kết hợp với bộ binh tiêu diệt cánh quân Hoàng Đình Thể ra giao chiến tại cầu Lạc Thu, sau đó, quân Tây Sơn phá cổng thành, đè bẹp sức kháng cự của quân Trịnh, buộc Phạm Ngô Cầu phải kéo cờ trắng, tự trói xin hàng. Thành Phú Xuân bị hạ khiến quân Trịnh từ Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên) tới Sông Gianh (t. Quảng Bình) tan vỡ nhanh chóng, tạo thời cơ thuận lợi cho Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lật đổ thế lực phong kiến họ Trịnh. TRẬN PHÚ YÊN (8.1775), trận tập kích của nghĩa quân Tây Sơn vào quân Nguyễn ở Phú Yên, trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Sau khi tạm hòa với quân Trịnh ở phía Bắc để tránh thế bị tiến công từ hai phía, Nguyễn Nhạc bắt đầu dồn sức diệt quân Nguyễn ở phía Nam, trước hết tập trung đánh Phú Yên do Tống Phúc Hiệp và 200.000 quân Nguyễn chiếm giữ. Nguyễn Nhạc dùng mưu vờ giảng hòa, lập hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên ngôi vua làm cho quân Nguyễn chủ quan, không chú ý phòng bị, rồi sai Nguyễn Huệ đem đại binh bất ngờ đánh úp, diệt phần lớn quân, tướng Nguyễn, buộc Tống Phúc Hiệp phải rút chạy khỏi Phú Yên. Sau đó, quân Nguyên từ Bình Khang, Khánh Hòa tới ứng cứu cũng bị đập tan. TPY là chiến thắng lớn đầu tiên của Nguyễn Huệ (khi đó 23 tuổi), đồng thời thể hiện tài mưu lược của bộ chỉ huy nghĩa quân, góp phần nhanh chóng lật đổ chế độ thống trị họ Nguyễn ở Đàng Trong. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:52:13 pm TRẬN PHỤNG THIÊN (2-3.1905), trận đánh lớn giữa quân Nga với quân Nhật tại Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương) thuộc vùng đông bắc TQ trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). Sau trận Lữ Thuận 8.1904-1.1905, chiến tranh Nga - Nhật đi vào bước ngoặt. Nhật dốc toàn lực để sớm kết thúc chiến tranh. 20.2 Nhật tập trung 250.000 quân, 992 khấu pháo tiến công 320.000 quân và 1.494 khẩu pháo của Nga. Do phán đoán sai về hướng chủ công của Nhật, lại sử dụng đội dự bị không hợp lí nên trận tuyến quân Nga bị vỡ, phải rút về Tứ Bình trong đêm 9.3. Quân Nhật bị thương vong 70.000, quân Nga bị thương vong và bị bắt 90.000. TRẬN PHƯỚC LONG (11.5:1965), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 271), Tiểu đoàn bộ binh 840, Tiểu đoàn pháo binh 34 và trung đội đặc công miền Đông Nam Bộ vào tx Phước Long (nay thuộc h. Phước Long, t. Bình Phước), nhằm tiêu diệt tiểu khu QS Phước Long, mở đầu chiến dịch Đồng Xoài (10.5-22.7.1965). Hồi 0 giờ 45 phút ngày 11.5 ta nổ súng tiến công, sau hơn 3 giờ chiến đấu chiếm được dinh tỉnh trưởng, khu cư xá Mĩ, khu thông tin, trận địa pháo, sân bay, kho xăng, phần lớn khu cảnh sát, diệt đồn bảo an, chi đội thiết giáp... Trong ngày 11 ta tổ chức chốt giữ, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, sau đó rút ra khỏi thị xã sẵn sàng đánh viện. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 1.300 địch (có tỉnh trưởng Phước Long và 28 cố vấn Mĩ), bắn rơi 14 máy bay trực thăng. Lần đầu ta đánh chiếm một thị xã ở miền Nam VN trong KCCM. Cùng với việc đánh chiếm chi khu QS Phước Bình, thắng lợi của TPL tạo cơ sở cho bộ chỉ huy chiến dịch quyết tâm tiêu diệt chi khu Đổng Xoài trong đợt 2. TRẬN PHƯỚC THÀNH (17.9.1961), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 500 (Quân khu 7) được tăng cường đặc công, pháo binh cùng bộ đội và du kích địa phương vào tỉnh lị Phước Thành (nay thuộc t. Bình Dương) do 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn bảo an, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 1 trung đội pháo và 1 chi đội thiết giáp QĐ Sài Gòn đóng giữ. Tỉnh lị Phước Thành mới được xây dựng, tổ chức phòng thủ của địch sơ sài, chưa có công sự vững chắc. Đêm 17.9 ta chia thành bốn mũi bí mật tiếp cận mục tiêu, 22 giờ 45 phút đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh bất ngờ, thọc sâu, tạo thế bao vây chia cắt ngay từ đầu, các mũi xung kích của ta nhanh chóng đánh chiếm trận địa pháo, khu vực trại giam, kho tàng, khu hành chính, dinh tỉnh trưởng, diệt SCH tiểu đoàn bảo an và lực lượng biệt động quân. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ta làm chủ tỉnh lị, diệt và bắt 300 địch (có tỉnh trưởng và phó tỉnh trưởng), giáo dục và thả tại chỗ 400 hàng binh, thu hơn 600 súng các loại, phá 2 khẩu pháo 105mm, 14 xe QS (có 4 xe bọc thép), giải thoát 300 tù chính trị. Chiến thắng lớn của quân và dân Nam Bộ trong năm 1961; lần đầu tiên đánh chiếm một tỉnh lị, giáng đòn phủ đầu vào chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. Sau TPT dịch ở nhiều nơi trên tỉnh lộ 14 hoảng sợ bỏ chạy, Chiến khu Đ hoàn toàn được giải phóng. TRẬN PHƯỚC TƯỜNG (14.5.1967), trận tập kích của Đại đội đặc công 2 (Tiểu đoàn đặc công 89 Đà Nẵng) vào trận địa tên lửa Hốc của Mĩ tại điểm cao 327 trên dãy núi Phước Tường (xã Hòa Phát, h. Hòa Vang, tp Đà Nẵng). Tại đây địch đặt 15 giàn tên lửa (45 quả), 2 giàn rađa, hầm chỉ huy điện tử, có hệ thống lô cốt, công sự, vật cản kiên cố và 1 đại đội lính bảo vệ. Đêm 14.5 Đại đội đặc công 2 sử dụng 14 chiến sĩ chia 2 mũi, bí mật tiếp cận, nhanh chóng diệt các hỏa điểm, nhà chỉ huy rồi chuyển sang đánh các giàn tên lửa, rađa. Kết quả sau gần 20 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương 50 dịch, phá hủy 12 bệ phóng và 35 tên lửa, 2 giàn rađa, 1 đài chỉ huy, 2 lô cốt, 3 nhà nghỉ. 1 xe tăng và 1 hầm chứa tên lửa. Chiến thắng Phước Tường cổ vũ phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Nam - Đà Nẵng. TRẬN PHƯƠNG ĐIẾM (6.12.1953), trận tiến công cứ điểm Phương Điếm (xã Phương Hưng, h. Gia Lộc, t. Hải Dương) và đánh quân Pháp đến ứng cứu của Trung đoàn bộ binh 42 (Khu Tả Ngạn) và đại đội địa phương huyện Tứ Kì. Phương Điếm là cứ điểm mạnh, nơi đặt SCH tiểu khu của địch, nằm trên đường 17, có hệ thống lô cốt, công sự vững chắc, nhiều lớp rào, tường xây bao bọc, do 1 đại đội lính Âu - Phi và 1 đại đội quân ngụy đóng giữ. Theo kế hoạch tác chiến, trung đoàn sử dụng 1 tiểu đoàn tiến công cứ điểm, lực lượng còn lại bố trí phục kích trên đường 17, phía bắc Phương Điếm 2km. 3 giờ 50 phút ta nổ súng tiến công, sau 30 phút chiến đấu làm chủ cứ điểm. Địch điều 1 tiểu đoàn bộ binh và 4 xe tăng từ tx Hải Dương đến phản kích, 9 giờ lọt vào trận địa ta phục kích, bị tiêu diệt phần lớn. Kết quả diệt và bắt hơn 400 địch, phá hủy 8 xe QS (có 2 xe tăng ), thu 150 súng các loại. Là trận đánh tập trung quy mô lớn đầu tiên của Trung đoàn 42, góp phần mờ đầu thắng lợi đợt hoạt động của LLVT đồng bằng Bắc Bộ phối hợp với chiến trường chính trong chiến cục Đông Xuân 1953-54. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:53:05 pm TRẬN PHƯỢNG HOÀNG (9-10.4.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 304) vào cứ điểm Phượng Hoàng, một vị trí quan trọng án ngữ phía tây Ái Tử 10km (t. Quảng Trị), trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Cứ điểm được xây dựng trên các điểm cao 52 và 44, có công sự dã chiến, 6 lớp rào kẽm gai và bãi mìn, do 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 QĐ Sài Gòn đóng giữ. 6 giờ 25 phút ngày 9.4 tiểu đoàn được tăng cường 1 đại đội xe tăng, nổ súng tiến công địch trên cả 2 điểm cao; sau hơn 1 giờ chiến đấu, làm chủ trận địa, diệt 70 dịch, bắn rơi 1 máy bay. 9 giờ địch cho 1 tiểu đoàn bộ binh và 6 xe tăng từ Thường Phước ra phản kích; ta tổ chức phòng ngự chưa tốt nên bị bật ra khỏi cứ điểm, đến 17 giờ ngày 10 mới chiếm lại được. TPH tạo bàn đạp thuận lợi cho ta tiến công căn cứ Ái Tử trong đợt 2 chiến dịch. TRẬN PLÂY CẦN (12-13.10.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 10) được tăng cường Tiểu đoàn đặc công 37 và 4 khẩu pháo của Trung đoàn pháo binh 40 (Mật trận Tây Nguyên) vào căn cứ của QĐ Sài Gòn ở Plây Cần (Bến Hét, nay thuộc xã Đắc Xú, h. Ngọc Hổi, t. Kon Tum). Căn cứ được xây dựng trên trục đường 18, án ngữ vùng ngã ba biên giới VN - Lào - Campuchia, gồm 5 cứ điểm, có hệ thống công sự vững chắc, trận địa pháo (7 khẩu pháo 105mm và 155mm), do Tiểu đoàn biệt động quân biên phòng 95 và 1 chi đội xe tăng đóng giữ. 10 giờ ngày 12.10 ta tổ chức tiến công trên hai hướng (bắc và đông nam), đưa pháo vào gần bắn ngắm trực tiếp, chi viện cho bộ binh, đặc công mở cửa, xung phong lần lượt đánh chiếm từng cứ điểm, đến rạng sáng 13.10 làm chủ căn cứ, diệt và bắt hơn 400 dịch, bắn rơi 6 máy bay, thu 10 pháo, cối, 3 xe tăng và toàn bộ kho tàng. Là một trong những trận đánh đạt hiệu quả cao, phối hợp chiến đấu tốt giữa bộ binh, đặc công, pháo binh ở chiến trường Tây Nguyên trong KCCM. TRẬN PLÂY CU (7.2.1965), trận tập kích của Đại đội đặc công 30 (Tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu 5) vào sân bay Plây Cu (canh đường 19, đông tx Plây Cu khoảng 3km, nay thuộc tp Plây Cu, t. Gia Lai), một căn cứ QS quan trọng của quân Mĩ ở Tây Nguyên. Tại sân bay thường xuyên có 50 máy bay trực thăng, một trại lính (khoảng 500 quân); xung quanh có 10 lớp rào kẽm gai, xen kẽ các loại mìn; vòng ngoài có hệ thống đồn bốt bảo vệ, hệ thống đèn pha cực mạnh. Sau nhiều lần trinh sát, đêm 6 rạng 7.2 đại đội tổ chức bốn bộ phận, chia thành nhiều tổ, bí mật đột nhập sân bay và khu trại lính, dùng bộc phá, thủ pháo, lựu đạn phá sập khu trại lính, phá hủy các máy bay rồi nhanh chóng lui quân, tiếp đó lực lượng pháo binh quân khu phối hợp đánh bồi thêm một đợt. Kết quả phá hủy 42 máy bay, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch (có 1 đại tá Mĩ), phá sập 3 lô cốt, đốt cháy 2 xe QS. Trận đánh mở đầu thắng lợi đợt hoạt động Xuân 1965 của LLVT Quân khu 5, gây nên sự hoảng loạn của binh lính địch trong căn cứ và làm chấn động dư luận Mĩ. TRẬN PLÂY MORÔNG (2.1.1963), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 407 và Tiểu đoàn pháo binh 200 Quân khu 5 vào trại huấn luyện QS đặc biệt của Mĩ ở Plây Mơrông (tây tx Kon Tum 15km). Trại huấn luyện có hơn 400 quân người dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ, có công sự vũng chắc, hàng rào thép gai... Phối hợp giữa tập kích bằng hỏa lực pháo binh và lực lượng đặc công, sau 45 phút chiến đấu ta diệt và làm bị thương 250, bắt 140 địch, giải phóng hàng trăm thanh niên người dân tộc bị tập trung để huấn luyện QS. TPM góp phần làm thất bại âm mưu sử dụng người dân tộc thiểu số để chống phá CM của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, cổ vũ quân và dân Quân khu 5 tiếp tục tiến công và nổi dậy diệt địch, mở rộng vùng giải phóng. TRẬN PLÂY RING (21.3.1954), trận tập kích của Trung đoàn 803 (thiếu 1 tiểu đoàn) bộ đội chủ lực Liên khu 5 diệt Binh đoản cơ động 100 (GM100) của Pháp tại khu vục Plây Rinh (t. Gia Lai), nhằm chống lại cuộc hành quân Atlăng (1-3.1954), giữ vững khu du kích Đắc Pét. 2 giờ ngày 21.3 ta tập trung hỏa lực bất ngờ bắn vào khu tập trung xe tăng, pháo binh và sinh lực của dịch ở ngoài công sự, sau đó tổ chức lực lượng thành năm mũi đột phá thọc sâu, bao vây chia cắt, tiêu diệt các toán quân dịch co cụm chống cự. Kết quả sau hơn 2 giờ chiến đáu ta diệt và làm bị thương hơn 600 địch, phá 33 xe cơ giới, thu 88 súng các loại. Thắng lợi của trận đánh làm đảo lộn kế hoạch bước 2 cuộc hành quân của địch, buộc Bộ chỉ huy quân Pháp ở Tây Nguyên phải rút GM100 về Plây Cu củng cố và tăng cường lực lượng bảo vệ khu vực ngã ba đường 7, đường 14. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:54:44 pm TRẬN POACHIÊ (1356), trận 7.000 quân Anh (chủ yếu là quân bắn cung) của hoàng từ Đen Et-uôt đánh bại 16.000 quân của vua Giôn II Phúc Hậu ở Poachiê (phía tây Pháp) trong cuộc chiến tranh trăm năm (1337-1453). Sau khi cướp phá vùng đông bắc Pháp và bị đánh đuổi, quân Anh lùi ra ven biển, phòng ngự trong ruộng nho và cây ăn quả ở vùng Poachiê. Ngày 19.9 kị binh Pháp xuống ngựa, đi bộ vây đánh, gây thiệt hại nặng cho quân Anh thời gian đầu. Bằng phản công của bộ binh và vu hồi của kị binh vào sườn trái đối phương, quân Anh chuyển bại thành thắng, buộc quân Pháp tháo chạy. Phía Pháp thiệt hại 40.000 quân (có 2.000 bị bắt, kể cả vua Giôn). Cho đến hiệp ước Brêtini (1360), đây là trận tháng lớn thứ ba của Anh trên đất Pháp trong chiến tranh trăm năm. TRẬN PÔNTAVA (8.7.1709), trận đánh giải vây của 10.000 quân Nga chống 20.000 quân xâm lược Thụy Điển bao vây thành Pôntava của Nga hai tháng trong chiến tranh Phương Bắc (1700-21). Ngày 8.7 quân Thụy Điển dưới sự chỉ huy của vua Saclơ XII tiến công hước, gây cho quân Nga tổn thất lớn về pháo binh. Sau hai giờ ác chiến, lợi dụng lúc đối phương do dự, vua Nga Piôt I cho đại quân phản công, đánh vào hai bên sườn, dồn quân Thụy Điển lùi dần về góc hẹp giữa hai sông Vôrơxcơla và Đnhep, đánh tan quân xâm lược. Vua Thụy Điển chạy thoát sang đất Thổ. Chiến thắng của Nga trong TP chôn vùi sức mạnh QS Thụy Điển, tạo ra bước ngoặt quan trọng có lợi cho Nga trong chiến tranh phương Bắc. TRẬN PÚ CHẠNG (17.10.1952), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 102 (Đại đoàn 308) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 322 (Trung đoàn 88), vào cứ điểm Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi) thuộc phân khu Nghĩa Lộ (nay thuộc tx Nghĩa Lộ, t. Yên Bái) của Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Tây Bắc (14.10- 10.12.1952). Cứ điểm được xây dựng kiên cố trên đồi cao, có SCH phân khu, nhiều lô cốt, ụ súng và hầm ngầm, do hơn 300 lính Âu - Phi và người Thái đóng giữ. Sáng 17.10 Trung đoàn 102 bí mật chiếm lĩnh trận địa, bị địch phát hiện cho máy bay bắn phá gây một số thương vong nhưng bộ đội ta vẫn giữ vững vị trí. Trận đánh diễn ra từ 17 giờ đến 20 giờ. Được hỏa lực pháo binh chi viện, trung đoàn tổ chức ba hướng đột phá, nhanh chóng mở cửa, thọc sâu, chia cắt, diệt phần lớn quân địch. Số địch còn lại rút vào hầm ngầm cố thủ; ta dùng bộc phá đánh sập cửa hầm đồng thời dùng loa kêu gọi, buộc địch phải ra hàng. Kết quả diệt và bắt toàn bộ quân địch, trong đó có chỉ huy trưởng phân khu Nghĩa Lộ. Là trận then chốt góp phấn quyết định tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. TRẬN QUAN ĐÔ (199-200), trận quyết chiến cuối thời Đóng Hán của quân Tào Tháo đánh bại cuộc tiến công với ưu thế 5/1 về binh lực của quân Viên Thiệu ở Quan Độ (nay thuộc Trung Mâu, Hà Nam, TQ). Năm 199, Viên Thiệu đem 10 vạn bộ binh, 1 vạn kị binh đánh Tào Tháo. Sau mấy trận tiêu hao một phần lực lượng của Viên Thiệu, Tào Tháo tổ chức phòng ngự cố thủ ở Quan Độ, chờ thời cơ phản công. Hai bèn cầm cự hơn một năm. Tháng 10.200, dò biết tinh thần quân Viên Thiệu sa sút và lương thực tập trung cả ở ô Sào. Tào Tháo thân chinh dẫn 5.000 kị binh và bộ binh tập kích ban đêm. tiêu diệt quân phòng thủ ô Sào, đốt cháy hơn 1 vạn xe lương của Viên Thiệu, đánh tan quân viện và đạo quân tiến công của đối phương rồi nhanh chóng chuyển sang phản công. Toàn bộ quân Viên Thiệu bị tiêu diệt. Là trận nổi tiếng về kết hợp tiến công và phòng thủ, lấy ít đánh nhiều, nhằm đúng thời cơ, đánh nơi hiểm yếu. phát huy thắng lợi, phản công kịp thời. TRẬN QUÁN TIÊN (20.10.1953), trận phục kích của Đại đội 468 bộ đội địa phương huyện Tam Dương đánh 1 trung đội lính dõng (sĩ quan Pháp chỉ huy) tuần đường bảo vệ giao thông trên QL 2, ở khu vực Quán Tiên (xã Hợp Thịnh, h. Tam Dương, nay thuộc tx Vĩnh Yên, t. Vĩnh Phúc). Đêm 19.10 đại đội sử dụng 1 trung đội bí mật triển khai trận địa phục kích, đào 9 hầm giấu quân ở hai bên đường gần Bốt Hạ. 7 giờ 30 phút ngày 20.10 địch từ Bốt Hạ chia 2 tốp đi tuần trên đường và dọc bờ kênh bên sườn tiến về hướng Quán Tiên. Khi 2 tốp địch gặp nhau và dừng lại sát trận địa, bộ đội ta đồng loạt nổ súng, áp sát, bao vây, truy kích tiêu diệt. Kết quả diệt và bắt 19 địch, thu 10 súng các loại, góp phần hỗ trợ tích cực phong trào du kích vùng địch hậu của tỉnh phát triển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:55:35 pm TRẬN QUANG THẠNH (15.2.1967), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 2, Quàn khu 5) vào cứ điểm Quang Thạnh (xã Sơn Kim, nay thuộc xã Tịnh Sơn, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi), do Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 3 thuộc Lữ đoàn Rồng Xanh và 1 đại đội bộ binh thuộc Sư đoàn Mãnh Hổ của Nam Triều Tiên đóng giữ. Đêm 14.2 trung đoàn triển khai chiếm lĩnh trận địa gặp khó khăn, phải đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu; 3 giờ 30 phút ngày 15.2 trân đánh bắt đầu. Sau 2 giờ chiến đấu ta chiếm và làm chủ gần hết cứ điểm, nhưng một bộ phận quân địch còn lại được máy bay, pháo binh chi viện, tổ chức cố thủ và chống cự quyết liệt khiến trận đánh kéo dài, đến 6 giờ 30 phút ta buộc phải lui quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 400 địch, thu 30 súng. Trận đánh tuy không dứt điểm nhưng đã buộc địch phải co lại và rút bỏ một số điểm chốt ở Khánh Mĩ, Hòn Ngang, Hòn Dọc, góp phần hỗ trợ cho phong trào dấu tranh của quần chúng ở Bình Sơn - Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). TRẬN QUẾ LĂNG (353tcn), trận vây Ngụy cứu Triệu nổi tiếng thời Chiến Quốc: quân Tề tiến vào sâu đất Ngụy, buộc quân Ngụy đang đánh Triệu phải quay về, nhân đó phục kích tiêu diệt quân Ngụy. Trong cuộc tranh bá vùng trung nguyên giữa Tề và Ngụy, Triệu đứng về phía Tể. 354tcn, tướng Ngụy là Bàng Quyên đem 8 vạn quân vây kinh đô Hàm Đan (nay thuộc Hà Bắc, TQ) của Triệu. Triệu cầu cứu Tề (353tcn). Vua Tề phái Điền Kị và Tôn Tẫn đem 8 vạn quẫn sang cứu Triệu. Tôn Tẫn kiến nghị với Điền Kị không đem quân sang Triệu mà tiến thẳng vào đất Ngụy đang bỏ trống, Bàng Quyên tất phải rút về. Quân Tề theo kế, tiến nhanh về hướng Đại Lương là kinh đô Ngụy và bí mật phục kích ở Quế Lăng, nơi Bàng Quyên phải về qua. Quân Bàng Quyên trên đường về cứu kinh đô, bị đánh chặn bất ngờ và thất bại nặng. Bàng Quyên bị bắt, kinh đô Triệu được giải vây. Trong trận này, Tôn Tẫn đã có cách đánh hay “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu”, “đánh vào nơi kẻ địch tất phải cứu, phục ở nơi kẻ địch tất phải qua”, nên giành thắng lợi và cách đánh đó trở thành một thủ đoạn dụ địch dược dùng nhiều trong QS hơn 2.000 năm nay. TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC, trận đánh lớn do lực lượng chủ yếu của các bên tham chiến tiến hành nhầm quyết định thắng bại của chiến tranh hoặc tạo bước ngoặt quyết định trong tiến trình chiến tranh. Trong một cuộc chiến tranh có thể có một hoặc một số TQCCL. Ở VN, trận Bạch Đằng đánh quân Nam Hán (tk 10); trận Như Nguyệt đánh quân Tống (tk 11); trận Bạch Đằng đánh quân Nguyên (tk 13); trận Chi Lăng - Xương Giang đánh quân Minh (tk 15); trận Ngọc Hồi - Đống Đa đánh quân Thanh (tk 18). Ở LX, có TQCCL nổi tiếng trong chiến tranh giữ nước (1941-45) như trận Maxcơva mùa Đông 1941-42, trận Xtalingrat 1942, trận Cuốcxcơ 1943, trận Beclin 1945... TRẬN RẠCH BÀ HƯƠNG (4.7.1974), trận chiến đấu của Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 1, Quân khu 8 ) đánh 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn bảo an 512 QĐ Sài Gòn hành quân lấn chiếm tại khu vực rạch Bà Hương (xã An Thới Trung, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Chiều 3.7 phát hiện 1 đại đội địch hành quân tái chiếm đồn Bà Hương, tạm dừng đóng quân trên bờ rạch Bà Hương (phía nam đồn 400m), tiểu đoàn sử dụng 1 đại đội vây ép hướng đông và tây, đồng thời bố trí lực lượng phục kích ở hướng đông nam để chặn viện và đánh địch rút chạy; 4 giờ ngày 4.7 bắt đầu vây ép địch. Từ 9 đến 13 giờ địch đưa 1 đại đội vào giải tỏa hai lần đều bị lực lượng phục kích chặn đánh phải quay ra. Ta tiếp tục vây ép mạnh ở rạch Bà Hương buộc địch rút chạy, sau đó vận động bao vây, phối hợp các lực lượng chặn đánh diệt gọn toàn bộ quân dịch lúc 16 giờ. Kết quả diệt và bắt 92 địch, thu 42 súng, làm thất bại kế hoạch tái chiếm đồn Bà Hương của địch. TRẬN RẠCH CÁI CAO (25.6.1973), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 309 (Trung đoàn 1, Quân khu 8 ) được tăng cường hỏa lực (2 trọng liên 12,7mm, 4 hỏa tiễn H-12) và 1 đại đội trinh sát, đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 16, Sư đoàn 9) và Tiểu đoàn bảo an 428 QĐ Sài Gòn hành quân lẩn chiếm, tạm dừng tại khu vực rạch Cái Cao (xã Long Bình, h. Long Mĩ, t. Chương Thiện, nay thuộc t. Hậu Giang). Chiều 25.6 ta triển khai lực lượng trên hai hướng, bí mật vận động tiếp cận vị trí Tiểu đoàn 3 của địch ở bờ tây rạch, 15 giờ 55 phút nổ súng lúc địch đang hoán đổi vị trí phòng ngự, làm rối loạn đội hình địch. Trong khi đó, Tiểu đoàn bảo an 428 ở bờ đông rạch bị hỏa lực ta chế áp, vội vã rút chạy càng tác động mạnh đến tinh thần binh lính địch. Bằng cách đánh bất ngờ, phát huy tốt hỏa lực, kết hợp chặt chẽ các mũi xung phong đánh phía trước, phía sau và hai bên sườn, sau 45 phút chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Kết quả diệt 153 địch, thu 85 súng, góp phần làm thất bại âm mưu lấn chiếm và kế hoạch bình định cấp tốc đợt 2 của địch ở bắc Long Mĩ, giữ vững vùng giải phóng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:57:22 pm TRẬN RẠCH GẦM - XOÀI MÚT (19.1.1785), trận phục kích đường sông nổi tiếng của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, diệt quân Xiêm và quân Nguyễn Ánh trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Tháng 7.1784 mượn cớ giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm và hơn 300 chiến thuyền do Chiêu Tăng, Chiêu Sương, Sa Uyển, Chiêu Chùy Biện chỉ huy cùng 3.000-4.000 quân Nguyễn Ánh theo hai đường thủy bộ tiến vào Kiên Giang. Cuối 1784 quân Xiêm - Nguyễn chiếm được một số vùng đất phía tây Gia Định, đóng quân ở căn cứ Trà Tân (nay thuộc t. Tiền Giang) để chuẩn bị đánh thành Mĩ Tho và Gia Định. 1.1785 Nguyễn Huệ đưa 20.000 quân thủy bộ từ Quy Nhơn vào Gia Định. Không chủ trương phòng thủ Gia Định đang bị uy hiếp, Nguyễn Huệ đưa quân lên Mĩ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải, cầu hòa với Chiêu Tăng nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ quân Xiêm - Nguyễn sớm tiến đánh Mĩ Tho. Đoạn sông Mĩ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (khoảng 6-7km) được chọn làm nơi quyết chiến. Rạng sáng 19.1 Chiêu Tăng chỉ huy toàn bộ lực lượng theo đường thủy, đẩy quân Nguyễn đi trước, tiến đánh thành Mĩ Tho. Khi hầu hết thuyền quân Xiêm - Nguyễn lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thủy binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mĩ Tho kéo lên chặn đầu, khóa đuôi, đánh tạt sườn. Bộ binh Tây Sơn đón lõng diệt tàn quân trốn chạy trên bờ. Kết quả toàn bộ chiến thuyền và phần lớn quân Xiêm - Nguyễn bị diệt; Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn quân sống sót mở đường máu rút về Xiêm; Nguyễn Ánh ở phía sau vội quay lui trốn sang Xiêm. Chỉ một trận quyết chiến chiến lược, Nguyễn Huệ đã đập tan ý đồ bán nước của Nguyễn Ánh cùng âm mưu xâm lược của quân Xiêm. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68469718_465819327481286_7348041461172011008_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEGWHkkIUSoOUEipPJ0iInOqhcsDhndd55uAlTtzagDSa2Dtmg4PU5hU2CTZPFwXWKe8jhEovZYOxq9KAL2k9PZ-aItDC6Vc8uu1hoo2k1qhg&_nc_oc=AQlmSOVyaL7j1q7FAxjuaELvC9U9UMp8W_vWd1dZhYa8AkQ4jR28cTS78f2PJbbrxns&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a63a40554c7941d9234ee3b3c6aef600&oe=5DDDDA76) TRẬN RẠCH GÔ - BA HỔ (5.6.1973), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 20 (Sư đoàn 4, Quân khu 9) đánh 2 tiểu đoàn biệt động quân (86, 76) và Tiểu đoàn bảo an 479 QĐ Sài Gòn hành quân lấn chiếm ở khu vực Rạch Gô - Ba Hồ (xã Vĩnh Hòa Hưng, h. Gò Quao, t. Rạch Giá, nay thuộc t. Kiên Giang). Đêm 3.6 trung đoàn vào xây dựng trận địa ở bờ sông Cái Tư; cả ngày hôm sau bộ đội ẩn mình trong công sự chờ địch. 17 giờ ngày 5.6 khi các cánh quân địch lọt vào trận địa, ta bất ngờ nổ súng, vận động bao vây, chia cắt, tiêu diệt; sau 40 phút, loại khỏi chiến đấu Tiểu đoàn 86, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn còn lại. Trận đánh thắng lợi nhanh gọn (diệt và bắt hơn 600 địch, thu 146 súng...), góp phần phá vỡ kế hoạch lấn chiếm vùng Vĩnh Hòa Hưng của địch. TRẬN RẠCH ÔNG CŨNG (30.4.1971), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 3 bộ đội chủ lực Quân khu 8, đánh Liên đoàn bảo an 28 QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực rạch Ông Cũng thuộc xã Long Hiệp (h. Kiên Văn, t. Kiến Phong, nay là h. Cao Lãnh, t. Đổng Tháp). Phối hợp với LLVT địa phương Kiến Phong đánh đồn xẻo Quýt và một số vị trí dịch trên đường 30, trung đoàn dùng hai tiểu đoàn (7 và 8 ) bí mật bố trí trận địa phục kích ở khu vực rạch Ông Cũng (cách đồn xẻo Quýt 300m). Sáng 30.4 dịch chia lực lượng thành hai cánh (mỗi cánh 2 đại đội), có máy bay, pháo binh đánh phá dọn đường, đến 13 giờ 20 phút tiến quân hợp điểm đánh giải tỏa Xẻo Quýt. Ta sử dụng hỏa lực cối, ĐKZ bắn ngăn chặn cánh quân phía nam, đồng thời tập trung lực lượng diệt cánh quân phía bắc, sau đó chuyển sang truy kích cánh quân phía nam rút chạy trên đường 30. Sau gần 1 giờ chiến đấu, ta diệt và bắt 241 dịch (có 3 cố vấn Mĩ), bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 1 xe QS, thu 62 súng và nhiều phương tiện QS. Là một trong những trân đánh lớn trên địa bàn tỉnh, tiêu diệt lực lượng cơ động quan trọng của địch, hỗ trợ phong trào CM địa phương từng bước phá kế hoạch bình định của địch ở Quân khu 8. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:58:45 pm TRẬN RẠCH THÀY CAI (28.10. 1972), trận phục kích của Đại đội 7 (Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 20), được tăng cường 1 tiểu đội trinh sát, 1 khẩu đội súng máy phòng không 12,7mm, đánh 1 tiểu đoàn (thiếu) bảo an QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực rạch Thày Cai (xã Ngọc Chúc, h. Giồng Riềng, t. Kiên Giang). Đêm 27 rạng 28.10, ta bí mật triển khai trận địa phục kích ở phía nam đồn Thày Cai khoảng 200m, đồng thời tiến hành tập kích hỏa lực và vây ép các đồn Thày Cai, Đường Lác để nhử viện. 14 giờ 35 phút ngày 28.10, khi lực lượng ứng cứu của địch lọt vào trận địa, ta đồng loạt nổ súng, nhanh chóng áp sát, bao vây, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Kết quả diệt và bắt 130 địch, thu 76 súng các loại... Trận đánh được chuẩn bị chu dáo, phát huy yếu tố bất ngờ, cách đánh tốt, đạt hiệu quả cao, góp phần hỗ trợ phong trào địa phương nổi dậy tiến công, bao vây, bức hàng đồn bốt địch. TRẬN RẠCH TRA, THUỘC NHIÊU (17-18.12.1862), các trán chiến đấu tiến công của nghĩa quân Trương Định, diệt quân Pháp ở đồn Rạch Tra (trên đường Sài Gòn - Tây Ninh, cách Sài Gòn 15km) và đồn Thuộc Nhiêu (Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang) trong khởi nghĩa Trương Định (1861- 64). Đêm 17.12 nghĩa quân do Trương Định chỉ huy, bí mật đột nhập đồn Rạch Tra, dùng giáo mác nhanh chóng tiêu diệt gọn 1 đại đội địch, diệt đồn trưởng thu toàn bộ vũ khí trang bị. 18.12 nghĩa quân đánh chiếm đồn Thuộc Nhiêu, gây cho Pháp thiệt hại nặng. TRT,TN thắng lớn có tác dụng khích lệ nghĩa quân và nhân dân Nam Kì chiến đấu chống Pháp. TRẬN RẠP KINH ĐÔ (16.2.1964), trận tập kích của Đội biệt động 159 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào rạp chiếu bóng Kinh Đô ở trung tâm tp Sài Gòn, nơi các quân nhân Mĩ đang xem phim, phía ngoài có quân cảnh Mĩ và cảnh sát Sài Gòn bảo vệ. 20 giờ 15 phút khi buổi chiếu phim mới bắt đầu, 3 chiến sĩ của Đội biệt động 159 cải trang, dùng xe ô tô tiếp cận mục tiêu, diệt lính gác, nhanh chóng đưa khối thuốc nổ (10kg) vào trong rạp rồi thoát ra an toàn. Mìn nổ làm chết và bị thương gần 150 quân địch. Một trong những trận mở dẫu cho hàng loạt trận đánh liên tục của lực lượng biệt động và đặc công vào các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn. TRẬN RIGA (1-6.9.1917), trận tiến công của quân Đức vào quân Nga ở khu vực Riga trong CTTG-I, nhằm cắt vùng Pribantich ra khỏi Nga và đe dọa phong trào CM ở Pêtrôgrat (nay là Xanh Pêtecbua). Với thủ đoạn nghi binh, không thực hành chuẩn bị bằng hỏa lực mà sử dụng hơi độc, đạn khói, quân Đức đã tạo được bí mật, bất ngờ về chiến thuật, phá vỡ tuyến phòng ngự của quân Nga, chiếm được Riga, nhưng không tiến sâu được về hướng Pêtrôgrat. TRẬN RIVÔLI (1797), trận đánh của 5 sư đoàn quân Áo do Anvindi chỉ huy tiến công các vị trí quân Pháp do Napôlêông chỉ huy trên các điểm cao ở Rivôli trong chiến dịch Bắc Italia. 14.1.1797 dựa vào trận địa vững chắc, quân Pháp với lực lượng ít hơn đã đánh tan 28.000 quân Áo đang trên đường tiến quân giải vây cho pháo đài Mantuya. Sau khi một cánh quân Áo khác đầu hàng ở ngoài pháo đài, quân Pháp chiếm được Mantuya. Trong TR quân Pháp bị thương vong 2.200, phía Áo có 3.300 chết, 13.000 bị bắt làm tù binh. TRẬN SA MƯU (31.5.1968), trận tập kích bằng hỏa lực của Tiểu đoàn pháo binh 4 (Trung đoàn pháo binh 84, Mặt trận Trị Thiên) vào căn cứ Sa Mưu (h. Cam Lộ, t. Quảng Trị) nhằm phá kế hoạch vận chuyển tiếp tế của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn cho cụm cứ điểm Khe Sanh trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Phát hiện địch tập trung quân bốc dỡ hàng, 12 giờ ngày 31.5 bằng 11 loạt bắn cấp tập, với 67 viên đạn ĐKB và 70 viên đạn H6, Tiểu đoàn 4 đã bắn trúng các mục tiêu trong căn cứ, đốt cháy 1 kho xăng (hơn 1 triệu lít), 24 nhà bạt, 28 xe QS, 33 kiện hàng, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, làm tê liệt sân bay trong 7 giờ liền. TSM đánh đòn phủ đầu vào căn cứ hậu cần mới xây dựng gây thêm khó khăn về hậu cần cho quân Mĩ ở chiến trường Quảng Trị. TRẬN SALÔNG nh TRẬN CATALAO (451) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 02:59:56 pm TRẬN SÂN BAY BẠCH MAI (18.1.1950), trận tập kích của Tiểu đoàn 108 (Mặt trận Hà Nội) vào sân bay Bạch Mai (căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Hà Nội). Sân bay được bảo vệ cẩn mật bằng nhiều lớp rào thép gai, hào, lô cốt, tháp canh, hệ thống đèn pha, do 1 đại đội Âu - Phi và 1 trung đội dù ngày đêm tuần tra. canh gác. Nhờ chuẩn bị chu đáo, được nhân dân và du kích địa phương giúp đỡ, đêm 17 rạng 18.1, Tiểu đoàn 108 sử dụng 30 chiến sĩ bí mật tiếp cận sân bay, chia làm ba mũi đột nhập gài mìn nổ chậm vào các máy bay, kho xăng, kho đạn rồi rút ra an toàn. Kết quả phá hủy 20 máy bay, 32t vũ khí, 600.000 lít xăng. Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao của quân dân Hà Nội ngay tại đầu não của địch, để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh của bộ đội đặc công trong KCCP. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68736132_465819340814618_7036605346655240192_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeElCp-mGB6vd7oixQC25DTD7nVuRnReSIbdO6RJqwW5P4VBjRGgwLL5W8z_ToLgSZVfXAQ5OrtD7nQAOBGpohLyte2MQi_eGbGnmm_Gh2gjXA&_nc_oc=AQlWq1Dm6AnqcBGks3NG81ezL7U9w11VOSlkqGN4C6YwQBWuJr3huiUg_Xd_JhlEVQU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=180eae17a3d4ce1978166670208c208d&oe=5DD17D8F) TRẬN SÂN BAY BIÊN HÒA 31.10.1964, trận tập kích hỏa lực của 7 phân đội cối 81mm, 2 khẩu đội ĐKZ 75mm và 2 khẩu đội pháo 70mm (Đoàn pháo binh 563 trực thuộc BTL Miền) vào sân bay Biên Hòa (đông bắc Sài Gòn 30km, nay thuộc tp Biên Hoà, t. Đồng Nai). Các phân đội pháo được đơn vị bạn và nhân dân giúp đỡ, dã vượt qua nhiều vòng kiểm soát của địch, bí mật bố trí trận địa tại hốc Bà Thức (đông bắc sân bay 1 km), bắn 176 quả đạn trong 17 phút (23 giờ 20 phút - .23 giờ 37 phút), phá hủy 59 máy bay (trong đó có 21 B-57, 11 AD-6, 1 trinh sát), 2 kho đạn, 1 kho xăng, 1 đài quan sát, 18 căn nhà, loại khỏi chiến đấu 293 địch (hầu hết là phi công và nhân viên kĩ thuật). Trận tập kích đầu tiên vào sân bay Biên Hòa thể hiện bước phát triển mới về cách đánh luồn sâu của bộ đội pháo binh QGPMN VN. Sau thắng lợi của trận đánh, Đoàn 563 được tặng thưởng huân chương Quàn công hạng nhất và danh hiệu “Đoàn pháo binh Biên Hòa”. TRẬN SÂN BAY BIÊN HÒA I2.5.I967, trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn pháo binh 724 (Đoàn pháo binh Biên Hoà, trực thuộc BTL Miền) vào sân bay Biên Hòa (đông bắc Sài Gòn 30km, nay thuộc tp Biên Hoà, t. Đồng Nai). Được sự phối hợp của các đơn vị Quân khu 7, trung đoàn bí mật triển khai trận địa gồm 54 bộ pháo phản lực ĐKB; 0 giờ ngày 12.5 đồng loạt bắn cấp tập hơn 160 quả đạn vào sân bay rồi rút lui an toàn. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 800 địch (phần lớn là phi công và nhân viên kĩ thuật), phá hủy, phá hỏng 150 máy bay. Là trận pháo kích thứ ba vào sân bay Biên Hoà, nhờ giữ bí mật, bất ngờ và cách đánh phù hợp nên giành thắng lợi lớn. TRẬN SÂN BAY BIÊN HÒA 14-26.4.1975, trận tập kích của Đại đội pháo binh 26 (Tiểu đoàn 2, Đoàn 75 - Đoàn pháo binh Biên Hoà) bộ đội chủ lực Miền đánh sân bay Biên Hòa (đông bắc Sài Gòn 30km, nay thuộc tp Biên Hoà, t. Đồng Nai), nhằm làm tề liệt hoạt động của không quân QĐ Sài Gòn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đại đội có 3 pháo 130mm, hành quân vượt chặng đường 130km, chiếm lĩnh và bố trí trận địa tại khu vực Hiếu Liêm. Địch phát hiện, ném bom bắn phá ác liệt vào hận địa, nhưng bộ đội ta kiên cường bám trụ; 17 giờ ngày 14.4 bắt đầu nổ súng. Sau 12 ngày đêm chiến đấu với 60 đợt bắn (326 viên đạn), đại đội đã phá hủy 7 máy bay, 5 kho, 2 đường băng, 1 trạm điều không, diệt và làm bị thương 29 phi công và nhân viên kĩ thuật, hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay”, mở màn thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:02:01 pm TRẬN SÂN BAY CÁT BI (7.3.1954), trận tập kích của 32 chiến sĩ bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (đông nam tp Hải Phòng 6km), một trong những căn cứ không quân quan trọng của Pháp ở Đông Dương. Sân bay nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm, được bảo vệ bằng hai tuyến phòng thủ của 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Âu - Phi), 6 lớp rào dây thép gai xen kẽ bãi mìn, đèn chiếu sáng... Sau gần 7 tháng chuẩn bị, được sự giúp đỡ của nhân dân Kiến Thụy, Tiên Lãng, Hải An, đêm 6.3 các chiến sĩ chia làm hai mũi (mũi một 17 người, mũi hai 15 người) bí mật đột nhập, ém sẵn gần đường băng; 1 giờ ngày 7.3 đồng loạt tiến vào khu đỗ máy bay, dùng bộc phá phá hủy 59 máy bay trong 15 phút và rút lui an toàn. Sân bay bốc cháy suốt 17 giờ. TSBCB sử dụng lực lượng nhỏ, với cách đánh táo bạo, đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần phát triển chiến tranh du kích trong chiến cục Đông Xuân 1953- 54, hỗ trợ đắc lực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Các chiến sĩ tham gia TSBCB được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “Dũng sĩ Cát Bi”. Cg trận Cát Bi (7.3.1954). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67765640_465819357481283_511412020906557440_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEcg11jdPwTe-v_U40BRxiCzt5Y4dyvdLv_ZxToyQ2vjTMlF4a_fu8h6btNTmJWEJSuz0hptZEm589wahBHFgsO5yNYpQYGvGwoBddb2VZ8-g&_nc_oc=AQlvQlQODSP2zMadcMwIi6pbj8zKgweT00T4W-6IOAezgsQtOReoyLJ1JNXwv9ZhF90&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0f612dfacf2650303ce0e98aae8724b7&oe=5DD1BD2E) TRẬN SÂN BAY CHU LAI (27.10.1965), trận tập kích của 22 chiến sĩ Tiểu đoàn đặc công 409 (Quân khu 5) vào sân bay Chu Lai, một trong những căn cứ QS lớn của Mĩ ở Quảng Nam. Được du kích và nhân dân xã Kì Xuân (nay là các xã Tam Xuân I và Tam Xuân II, h. Núi Thành, t. Quảng Nam) che chở, giúp đỡ phương tiện vận chuyển người và vũ khí vào vị trí tập kết, đêm 26 rạng 27.10 ta bí mật luồn vào sân bay, gài mìn hẹn giờ và rút về căn cứ an toàn. Kết quả phá hủy, phá hỏng 45 máy bay cùng nhiều phương tiện chiến tranh, diệt nhiều phi công và nhân viên kĩ thuật Mĩ. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần cổ vũ phong trào đánh Mĩ ở vành đai diệt Mĩ Chu Lai chống chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ. TRẬN SÂN BAY ĐỒ SƠN (31.1.1954), trận tập kích của 38 chiến sĩ Đại đội 295 bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Đồ Sơn (nay thuộc tx Đồ Sơn, tp Hải Phòng). Sân bay được quân Pháp bảo vệ cẩn mật bằng hệ thống hàng rào thép gai, mìn, điện cao thế, đèn pha và các đội tuần tra canh gác. Đêm 31.1 được nhân dân giúp đỡ, bộ đội ta từ khu du kích Tiên Lãng (cách Đồ Sơn 9km) dùng thuyền vượt biển, chia thành ba mũi bí mật luồn sâu vào sân bay, sử dụng tiểu liên, thủ pháo, bộc phá nhanh chóng diệt SCH, phá hủy 5 máy bay, đốt cháy 5 triệu lít xăng dầu, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch. Trận đánh để lại kinh nghiệm cho bộ đội ta đánh sân bay Gia Lâm và sân bay Cát Bi sau này. TRẬN SÂN BAY GIA LÂM (4.3.1954), trận tập kích của 16 chiến sĩ thuộc Đại đội 8 (Mạt trận Hà Nội) và 3 dân quân địa phương vào sân bay Gia Lâm (Hà Nội), căn cứ không quân quan trọng của Pháp được canh phòng cẩn mật, do một trung đoàn Âu - Phi, lực lượng mật thám cùng hệ thống đồn bốt, hàng rào thép gai và bãi mìn dày đặc bảo vệ. Đêm 3 rạng 4.3, được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, các chiến sĩ ta vượt hồ Lâm Du từ hướng tây nam, chia làm 3 tổ bí mật khắc phục vật cản, đột nhập vào sân bay, bất ngờ nổ súng, dùng bộc phá, lựu đạn. thủ pháo phá hủy 18 máy bay, đốt cháy 1 nhà sửa chữa máy bay, 1 kho xăng, diệt 16 dịch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, gây khó khăn cho Pháp trong việc dùng không quân chi viện, tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:03:35 pm TRẬN SÂN BAY MƯỜNG THANH (21-23.4.1954), trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 23 (Trung đoàn 88, Đại đoàn 308), Tiểu đoàn bộ binh 16 (Trung đoàn 141, Đại đoàn 312), đánh quân Pháp phản kích tại sân bay Mường Thanh, trong đợt 2 chiến dịch Diện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Sau khi sân bay Mường Thanh bị chiến hào của ta cắt ngang và cứ điểm 105 ở đầu bắc sân bay bị tiêu diệt (đêm 18.4), trong các ngày 21-22.4 dịch sử dụng nhiều trung đội, đại đội lính dù liên tiếp phản kích vào trận địa của Tiểu đoàn 16 ở phía dông sân bay. Ta đẩy lui 3 đợt tiến công và đánh địch đột nhập, giữ vững trận địa. 23.4 địch dùng không quân, pháo binh bắn phá ác liệt, sau đó đưa Tiểu đoàn dù lê dương 2 (được tăng cường từ 10.4) và 3 xe tăng chia hai mũi đánh vào trận địa của Tiểu đoàn 23 (mũi chính) và Tiểu đoàn 16 (mũi phụ). Được sự chi viện của 5 đại đội lựu pháo và hỏa lực súng cối của đại đoàn, bộ đội ta chặn đánh quyết liệt, giành giật với địch từng đoạn chiến hào, buộc địch phải rút chạy. Kết quả ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn dù, bắn rơi 1 máy bay, giữ vững quyền kiểm soát sân bay và xiết chặt vòng vây, tạo điều kiện thuận lợi cho đợt tiến công cuối cùng của chiến dịch. TRẬN SÂN BAY NƯỚC MẶN 27.10.1965, trận tập kích của 30 chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn đặc công 489 (Quân khu 5) vào sân bay trực thăng của Mĩ ở căn cứ Nước Mặn (đông nam tp Đà Nẵng 5km), do hơn 300 lính biệt kích Mĩ và một số đơn vị công binh, pháo binh... bảo vệ. Được sự giúp đỡ của nhân dân và du kích địa phương, đêm 27.10 các chiến sĩ đặc công chia thành 2 mũi (gồm 10 tổ) luồn vào sân bay, đồng loạt tiến công, sau 30 phút chiến đấu phá hủy gần 100 máy bay trực thăng, 6 khu kho lớn, diệt và làm bị thương nhiều lính Mĩ. Trận đánh đạt hiệu quả cao của bộ đội đặc công, gây lòng tin về khả năng đánh vào căn cứ Mĩ được bố phòng cẩn mật, góp phần cổ vũ quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ trong các LLVT và nhân dân Quân khu 5. TRẬN SÂN BAY NƯỚC MẶN 15.4.1972, trận tập kích hỏa lực của khẩu đội cối 82mm bộ đội địa phương huyện Hòa Vang (t. Quảng Đà, nay thuộc tp Đà Nẵng) vào sân bay trực thăng của QĐ Mĩ ở căn cứ Nước Mặn (đông nam tp Đà Nẵng 5km). Đêm 14.4 dược du kích địa phương dẫn đường, khẩu đội (4 cán bộ, chiến sĩ) bí mật luồn sâu, chiếm lĩnh trận địa tại khu vực động Huyên Không; 2 giờ ngày 15, bắn 22 quả đạn vào sân bay rồi rút quân an toàn. Kết quả phá hủy 19 máy bay, loại khỏi chiến đấu 50 địch. Trận đánh tiêu biểu của pháo binh luồn sâu, lực lượng nhỏ, hiệu quả cao. TRẬN SÓC XOÀI nh TRẬN LIÊN TỈNH LỘ 8A (Rạch Giá-Sóc Xoài, 4.8.1948) TRẬN SONG TỬ TÂY (14.4.1975), trận tập kích đổ bộ đường biển của các tàu T673, T674, T675 (Đoàn 125) và Đội đặc công 1 (Đoàn 126) Quân chủng hải quân phối hợp với bộ phận đặc công Quân khu 5 đánh chiếm đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa (nay là h. Trường Sa, t. Khánh Hoà) do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Ta tổ chức lực lượng thành ba mũi, cải trang làm tàu đánh cá, rạng sáng 14.4 dùng xuồng cao su bí mật đổ bộ lên đảo, bằng cách đánh áp sát, táo bạo, bất ngờ, sau 30 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt và bắt 39 địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận đánh thắng lợi tạo điều kiện phát triển tiến công giải phóng quẩn đảo Trường Sa, bảo vệ chủ quyền đất nước. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68501562_465819364147949_5706845023266406400_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHXFNsrFeXI4ZbjIxqPNw5te2ItDmgWTAMzDkV22Osk65goFLqSYaR7xVoRI6Yo5RnirJoysFdGrbEtwYLoqpEbDX2w7gsYuQMYvMSi4FjjCw&_nc_oc=AQmN_bcpJYFrMu6SwmvM2pkRTvIWpfJP9aKt44R1aOh4K9CSIdgdE4h1HJMHE8wygz0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=609a183f797f1688915812fa5b6c6259&oe=5DDBD541) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:04:41 pm TRẬN SÔNG GÀNH HÀO (18, 25.10.1968), trận tập kích của đội nữ trinh sát biệt động thị xã Cà Mau (t. Cà Mau) đánh Giang đoàn 25 và Đại đội tuần giang 11 của QĐ Sài Gòn hoạt động trên sông Gành Hào. Ta chia lực lượng thành 3 tổ, cải trang làm dân buôn, dùng xuồng máy bí mật đặt bom hẹn giờ (do công binh tỉnh cải tiến từ bom không nổ của dịch) ở khu vực địch neo đậu tàu, 17 giờ ngày 18.10 và 13 giờ ngày 25.10, với 5 quả bom đã đánh chìm 10 tàu và 1 xuồng máy, làm hỏng nặng 6 tàu khác, phá sập cầu Giá Rai, diệt gần 200 địch. Là trận đánh mưu trí táo bạo của lực lượng biệt động Cà Mau. phát huy hiệu quả cách đánh đặc công trên địa bàn sõng nước, gây hoang mang và làm cho tàu địch không dám hoạt động ở tx Cà Mau trong hơn 9 tháng. TRẬN SÔNG GIANH (28.4.1965), trận chiến đấu phòng không của 5 tàu tuần tiễu hải quân (T126, T161, T163, T165 và T173) thuộc các phân đội tàu tuần tiễu 5 và 6 Quân chủng hải quân, phối hợp với lực lượng phòng không mặt đất (Đại đội pháo phòng không 24, trung đội súng máy phòng không của Đại đội pháo binh 47, trung đội cảnh vệ, tự vệ ngư trường Thanh Khê và dân quân du kích địa phương), đánh trả 8 đợt tập kích của 80 lần chiếc máy bay Mĩ tại khu vực cảng Sông Gianh (t. Quảng Bình), diễn ra từ 8 giờ đến 18 giờ 10 phút. Bằng cách đánh hiệp đồng, các tàu vừa cơ động phòng tránh vừa tổ chức chiến đấu, cùng các đơn vị bạn bắn rơi 5 máy bay địch. Là một trong những trận đánh lớn và quyết liệt của lực lượng tàu hải quân trong tác chiến chống máy bay Mĩ, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về công tác phòng tránh giữ bí mật, bảo đảm an toàn lực lượng và tổ chức phối hợp chiến đấu giành thắng lợi. TRẬN SÔNG LÔ (23, 24.10 và 10.11.1947), các trận phục kích đường sông của lực lượng pháo binh Khu 10, có sự phối hợp của Trung đoàn bộ binh 112 và dân quân du kích địa phương, đánh tàu chiến Pháp trên Sông Lô thuộc địa phận h. Yên Sơn (t. Tuyên Quang) và h. Đoan Hùng (t. Phú Thọ), trong chiến dịch Việt Bắc (7.10-20.12.1947). Ngày 23.10 tại Khoan Bộ, với 1 sơn pháo 75mm và 1 súng chống tăng 25mm ở cự li 500m, Trung đội pháo binh 175 bắn trọng thương 2 tàu vận tải. Trưa 24.10 tại trận địa chân Gò Đồi (gần bến phà Đoan Hùng), Trung đội pháo binh 200 sử dụng 1 pháo phòng không 75mm và 1 sơn pháo 75mm ở cự li 500m, bắn chìm và bắn bị thương 4 trong số 5 tàu và ca nô địch có máy bay hộ tống từ Tuyên Quang về Đoan Hùng. 10 giờ ngày 10.11 tại Khe Lau (ngã ba Sông Gâm - Sông Lô), với 1 sơn pháo 75mm ở cự li 150m, Trung đội pháo binh 225 đã bắn chìm 2 và bắn bị thương 1 tàu chở quân từ Chiêm Hóa về Tuyên Quang, diệt hàng trăm địch. Là chiến công đầu của pháo binh VN trong KCCP. Bằng cách bắn ngắm trực tiếp, bí mật bất ngờ bố trí trận địa sát bờ sông, kết hợp nghi binh (làm trận địa giả, tạo khói thu hút máy bay, dùng bưởi sơn đen giả làm thủy lôi trên sông lừa địch vào hướng đã định...), TSL đã góp phần bẻ gãy gọng kìm phía tây trong cuộc bao vây tiến công của quân Pháp vào Việt Bắc. Sau chiến thắng Sông Lô, lực lượng pháo binh Khu 10 và Trung đoàn 112 được tặng danh hiệu “Pháo binh Sông Lô” và “Trung đoàn Sông Lô”. TRẬN SÔNG MAO 24.11.1968, trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 200C phối hợp với 2 đại đội đặc công và 2 đại đội hỏa lực của các tiểu đoàn 840, 240 đánh căn cứ Sông Mao (h. Hòa Đa, t. Bình Thuận) của QĐ Sài Gòn. Lực lượng địch có SCH nhẹ Sư đoàn 23, hậu cứ Trung đoàn 44, 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 chi đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn huấn luyện tân binh. Đêm 23.11 ta tổ chức lực lượng thành nhiều mũi bí mật luồn sâu, áp sát từng mục tiêu trong căn cứ; 0 giờ 30 phút ngày 24 đồng loạt nổ súng, đánh chiếm hầu hết mục tiêu, sau 40 phút loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần thể nghiệm cách đánh kết hợp đặc công và hỏa lực tiến công căn cứ địch trong KCCM. TRẬN SÔNG MAO 1.4.1970, trận tập kích của 3 đại đội đặc công và 1 đại đội bộ binh thuộc các tiểu đoàn 840, 186, 240 Quân khu 6 vào căn cứ Sông Mao thuộc tuyến phòng thủ tây h. Hòa Đa, t. Bình Thuận - nơi có SCH nhẹ Sư đoàn bộ binh 23, SCH Trung đoàn bộ binh 44, SCH chiến đoàn thiết giáp 21 và Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 44) QĐ Sài Gòn. Căn cứ có hệ thống hầm ngầm kiên cố, đèn pha cực mạnh, xung quanh có hàng chục lô cốt và nhiều lớp rào thép gai xen kẽ bãi mìn bảo vệ. 0 giờ 30 phút ta nổ súng, đột phá nhiều mũi, trong đó mũi chủ yếu do Đại đội đặc công 5 (Tiểu đoàn 840) đảm nhiệm. Địch đưa nhiều tốp xe tăng ra bịt cửa mở nhưng đều bị bắn cháy. Sau 55 phút chiến đấu, ta loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, bắn cháy 7 xe tăng và xe bọc thép... TSM buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân càn quét vào bắc Bình Thuận. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:05:31 pm TRẬN SÔNG TẢ TRẠCH (12.6.1967), trận phục kích của du kích xã Hương Thọ (h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên - Huế) đánh 1 trung đội công binh Mĩ tại khu vực sát bến Đò Tuần, trên sông Tả Trạch (tây nam tp Huế 12km). Nắm vững hoạt động của địch hàng ngày đi xây đồn, làm đường bằng phà trên sông (sáng đi chiều về), ta sử dụng 5 du kích, bí mật cải trang phục sẵn trên bờ sông phía nam, đồng thời bố trí 1 tổ (3 người) chặn viện ở đồn La Khê. Khoảng 17 giờ ngày 12.6 địch có 6 chiếc phà do 1 ca nô kéo, trên đường về Nam Hòa lọt vào trận địa, cách bờ 25m, ta đồng loạt nổ súng, ném thủ pháo, lựu đạn xuống phà, sau 5 phút chiến đấu phá hỏng 1 phà, diệt 35 dịch. Trận đánh diễn ra nhanh, gọn giữa ban ngày trong vùng địch kiểm soát, đạt hiệu quả cao do được tổ chức chặt chẽ, phát huy yếu tố bất ngờ và đúng thời cơ, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. TRẬN SỞ HỘI (13 và 16.5.1968), các trận vận động tập kích của Trung đoàn bộ binh 141 (Sư đoàn 7) QGP miền Đông Nam Bộ đánh quân Ôxtrâylia và quân Mĩ ở khu vực sở cao su Sở Hội (t. Thủ Dầu Một, nay thuộc xã Hội Nghĩa, h. Tân Uyên, t. Bình Dương). Sáng 12.5 quân Ôxtrâylia đổ bộ xuống Sở Hội có Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn 12). 1 đại đội pháo binh (3 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm) và 2 xe tăng. Trung đoàn 141 sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh (2 và 3), 5 cối 82mm. 2 ĐKZ 75mm, 3 súng máy phòng không 12,8mm. chia thành bốn mũi; 3 giờ ngày 13.5 nổ súng. Sau 2 phút hỏa lực bắn cấp tập vào SCH và trận địa pháo dịch, các mũi bộ binh thọc sâu đánh chiếm mục tiêu, đến 4 giờ 5 phút làm chủ trận địa, tiêu diệt Tiểu đoàn 5, phá hủy 3 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm, 1 cối 81mm. bắn cháy 2 xe tăng, bắn rơi 1 máy bay trực thăng. Sáng 14 lực lượng quân Mĩ gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội pháo binh (4 pháo 105mm, 4 cối 106,7mm), 6 xe tăng kèm theo lô cốt đúc sẵn đổ bộ xuống bắc và đông bắc Sở Hội 500m, hình thành cụm chốt (700m x 300m) có 2 hàng rào thép gai bao quanh. 1 giờ 30 phút ngày 16.5 Trung đoàn 141 được tăng cường 1 đại đội huyện Tân Uyên và hỏa lực H-12 của sư đoàn tập kích lần 2 vào Sở Hội; sau 1 giờ 30 phút loại khỏi chiến đấu 650 quân Mĩ, phá hủy 4 pháo 105mm, 4 cối 106,7mm, bắn cháy 6 xe tăng, 4 máy bay trực thăng. Thắng lợi của TSH góp phần đánh bại ý đồ của Mĩ lập vành đai ngăn chặn, đẩy chủ lực QGP ra khỏi vùng ven Sài Gòn sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). TRẬN SỞ TƯ (12.8.1969),Trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 1. Sư đoàn 9) chặn đánh quân Mĩ và QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa khu vực Sở Tư (xã Minh Đức, q. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước). Sau khi đánh chiếm ấp chiến lược Sở Tư, tiểu đoàn bố trí trận địa phục kích theo thế chân kiềng gần Làng 4 (ấp Sờ Tư) và Làng 5, đến 5 giờ ngày 12.8 dùng hỏa lực bắn phá đồn bảo an Sở Tư. Địch đưa 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 2) từ Hớn Quản đến giải tỏa bị ta diệt 1 đại đội và tiếp tục cơ động chận đánh, đẩy lui 2 đợt phản kích của lực lượng bộ binh cơ giới Mĩ, 16 giờ kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch, bắn cháy 50 Xe QS (phần lớn là xe M113), góp phần làm suy yếu lực lượng cơ động của địch ở Hớn Quản. TRẬN SƠN QUANG (1.2.1967), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi đánh quân Nam Triều Tiên ở khu vực xã Sơn Quang (h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi). 8 giờ ngày 1.2 địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ 1 đại đội vào khu vực đứng chân của tiểu đoàn. Ta kịp thời vận động bao vây, tiến công liên tục, đến 17 giờ diệt 1 đại đội địch, đánh lui 1 trung đội khác đến ứng cứu. Kết quả loại khỏi chiến đấu 200 địch, thu 40 súng. Trận điển hình của LLVT tỉnh Quảng Ngãi về thành tích diệt một đơn vị quân Nam Triều Tiên trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:06:24 pm TRẬN SƠN TRÀ - ĐÀ NẴNG (1.9.1858-2.1859), trận chiến đấu phòng ngự của quân và dân VN đánh trả cuộc tiến công của quân Pháp vào Quảng Nam - Đà Nẵng, mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Thực hiện kế hoạch xâm lược VN của vua Pháp Napôlêông III, 31.8.1858 quân Pháp (có một bộ phận quân Tây Ban Nha phối hợp) dàn trận ở cửa biển Đà Nẩng; lực lượng gồm 14 chiến thuyền (Pháp 13, Tây Ban Nha 1) và 2.350 quân do Rigô Đờ Giơnui chỉ huy. Quân triều đình phòng thủ Quảng Nam - Đà Nẵng có 2.000 lính đồn trú, sau được tăng thêm 2.000 cấm binh. Sáng 1.9 quân Pháp bất ngờ dùng pháo hạm bắn áp đảo rồi đổ bộ đánh chiếm các đồn An Hải, Điện Hải và bán đảo Sơn Trà, tiến sâu vào nội địa nhưng bị chặn lại ở ven biển Hòa Vang. Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng thực hiện “vườn không, nhà trống”, lập các đội dân binh đánh địch. 9.1858 Nguyễn Tri Phương được triều đình cử làm tổng thống quân thứ Quảng Nam vào chỉ huy mặt trận, gấp rút lập phòng tuyến Liên Trì, cho đắp lũy từ Hải Châu đến Phúc Ninh, chỉ huy quân và dân ta đánh lui nhiều đợt tiến công của chiến thuyền Pháp vào Sông Hàn, sông Nại Hiên, giam chân địch ở bán đảo Sơn Trà... Âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” bị thất bại, Rigô Đờ Giơnui phải từ bỏ ý định đánh ra Huế, đầu 2.1859 để lại một bộ phận giữ bán đảo Sơn Trà, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng tiến công vào Gia Định (x. Pháp đánh chiếm Gia Định, 17.2.1859). TRẬN SƠN TRUNG (10.5.1967), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 31 (Sư đoàn 2) chặn đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ 1 càn quét tại xã Sơn Trung (h. Quế Sơn. t. Quảng Nam). Đêm 9.5 trung đoàn sử dụng 2 tiểu đoàn tổ chức trận địa phục kích ở khu vực từ Gò Đôi đến Nghi Hạ, sáng 10.5 bất ngờ nổ súng diệt gần hết 1 tiểu đoàn địch. 9 giờ 30 phút địch đưa máy bay trực thăng đổ bộ nhiều tiểu đoàn xuống bao vây, phản kích. Ta kiên cường bám trụ, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đến tối bí mật rời khỏi trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, bắn cháy 12 máy bay trực thăng, góp phần làm thất bại cuộc hành quân “Liên kết 1” và kế hoạch phản công mùa khô 1966-67 của địch ở chiến trường Quảng Nam. TRẬN SUỐI ĐÁ (10.3.1975), trận tiến công của Lữ đoàn bộ binh 52 (Quân khu 5) vào căn cứ của Liên đoàn biệt động quân 916 QĐ Sài Gòn tại khu vực Suối Đá (nay thuộc xã Tam Dân. tx Tam Kì, t. Quảng Nam). Căn cứ nằm trên tuyến phòng thủ Tiên Phước - Phước Lâm. được tổ chức phòng ngự vững chắc. 4 giờ 30 phút ta sử dụng Tiểu đoàn 7 tiến công, nhưng không thành công, phải tạm dừng để tổ chức lại lực lượng. 14 giờ được sự chi viện của các cụm pháo binh bắn ngắm trực tiếp, ta tiếp tục tiến công, đến 16 giờ làm chủ căn cứ, diệt gọn quân địch. Thắng lợi của TSĐ góp phần cùng các đơn vị của Sư đoàn bộ binh 2 đập tan tuyến phòng thủ Tiên Phước - Phước Lâm, phát triển tiến công giải phóng tx Tam Kì trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. TRẬN SUỐI HAI (24-27.7.1965), trận phục kích của 2 tiểu đoàn tên lửa phòng không (63, 64) thuộc Trung đoàn 236 Quân chủng phòng không - không quân phối hợp với các đơn vị pháo phòng không và lực lượng dân quân địa phương bắn máy bay Mĩ tại khu vực Suối Hai (h. Bất Bạt, nay thuộc h. Ba Vì, t. Hà Tây). 15 giờ 53 phút ngày 24.7 hai tiểu đoàn 63 và 64 phóng 4 quả đạn diệt 1 tốp 3 máy bay F-4C (1 chiếc rơi tại chỗ), bắt một phi công, sau đó nhanh chóng di chuyển và tổ chức trận địa tên lửa giả để nghi binh thu hút địch. Trưa 26.7 địch cho máy bay trinh sát, bị Tiểu đoàn 64 bắn rơi 2 chiếc. 27.7 địch tiếp tục huy động 48 lần chiếc máy bay “đánh trả đũa” vào trận địa tên lửa giả, bị các đơn vị phòng không và dân quân phục kích đánh trả quyết liệt, diệt thêm 5 máy bay (2 chiếc rơi tại chỗ), bắt 3 phi công. TSH là trận đầu tiên bộ đội tên lửa ra quân thắng lợi. 24.7.1965 trở thành ngày truyền thống của bộ đội tên lửa phòng không nhân dân VN. Sau TSH hình thức phối hợp tác chiến của bộ đội tên lửa phòng không, pháo phòng không và súng bộ binh bắn máy bay được áp dụng đạt hiệu quả ngày càng cao trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở miền Bắc VN. Cg trận chiến đấu phòng không 24-27.7.1965. TRẬN SUỐI RÚT (25-28.11.1949), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 130 (Trung đoàn 209 Bộ tổng tư lệnh) vào đồn Suối Rút thuộc tuyến phòng ngự đường 6 của Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Lê Lợi (25.11.1949-30.1.1950). Chiều 25.11 tiểu đoàn tổ chức tiến công nhưng gặp khó khăn do địch co cụm chống cự quyết liệt, đã chuyển sang vây hãm để thu hút viện binh, tạo điều kiện cho 1 đơn vị bạn trong trung đoàn (Tiểu đoàn 154) chặn đánh diệt I trung đội địch đến ứng cứu tại Bến Bưởi trên đường 6. Sau 3 ngày bị vây hãm, lực lượng địch ở Suối Rút buộc phải bỏ đồn tháo chạy. Thắng lợi của TSR tạo đà cho Trung đoàn 209 tiến vào giải phóng vùng Mai Châu (Hoà Bình). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:07:34 pm TRẬN TÀ BẠT (4.9.1969), trận tập kích hỏa lực của Đại đội 12 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn pháo binh 368) vào căn cứ QS Mĩ ở Tà Bạt (trong thung lũng A So, h. A Lưới, t. Thừa Thiên, nay là Thừa Thiên - Huế). Tại căn cứ có SCH Trung đoàn 3 (Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3), 1 đại đội pháo binh (2 khẩu 175mm, 2 khẩu 105mm), 1 đại đội cảnh vệ... Đêm 3.9 ta bí mật đưa 2 khẩu ĐKB vào bố trí trận địa; từ 9 giờ đến 11 giờ ngày 4.9 bắn 9 loạt (18 quả đạn) vào căn cứ địch, đánh trúng SCH, trận địa pháo, bắn cháy 1 máy bay trực thăng,... sau đó rút lui an toàn. Trận đầu ra quân thắng lợi của Đại đội 12 thể hiện khả năng tác chiến độc lập của pháo binh luồn sâu trong KCCM. TRẬN TÀ PẢNG - RÔBON (19-20.9.1968), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 14 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9), được tăng cường hỏa lực và 1 trung đội súng phun lửa (loại LPO- 50), đánh đồn Tà Păng - Rôbon (h. Châu Thành, t. Tây Ninh) trên đường 13, do 1 đại đội bảo an và 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Ta triển khai đội hình trên hai hướng, 23 giờ 40 phút ngày 19.9, dùng hỏa lực cối, ĐKZ và súng phun lửa diệt các hỏa điểm và lô cốt địch, đồng thời tạo cửa mở cho các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, đến 1 giờ 30 phút ngày 20.9 làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Trận đánh thực hiện hiệp đồng chiến đấu tốt, phát huy hiệu quả sức mạnh hỏa lực, nhất là súng phun lửa khi tiến công địch trong công sự vững chắc. TRẬN TAM PHÚC - NGŨ KIÊN - TỨ TRUNG - YÊN ĐỔNG (7.3.1952), trận chống càn của 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 176, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 238, phối hợp với 4 đại đội bộ đội địa phương và du kích, đánh quân Pháp càn quét tại các xã Tam Phúc, Ngũ Kiên, Tứ Trưng, Yên Đồng (thuộc 2 huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, t. Vĩnh Phúc). Sáng 7.3 Pháp huy động 4 tiểu đoàn Âu - Phi, 4 đại đội biệt kích, có máy bay, pháo binh chi viện, mở cuộc hành quân Thanh Kiếm từ nhiều hướng càn quét vào địa bàn 4 xã. Bộ đội và du kích đã triển khai sẵn thế trận trong các thôn xóm, có bộ phận mai phục ngoài cánh đồng, chặn đánh địch quyết liệt, từ 8 giờ 30 phút đến 18 giờ đẩy lui nhiều đợt tiến công, giữ vững trận địa; sau đó cơ động về Yên Đồng củng cố, tiếp tục chiến đấu. Bị tổn thất nặng, sáng 8.3 địch rút quân khỏi 4 xã, chấm dứt cuộc càn. Kết quả ta diệt và bắt hơn 350 địch (phần lớn là lính Âu - Phi) thu 248 súng các loại. Trận đánh góp phần củng cố cơ sở kháng chiến, làm thất bại âm mưu càn quét, mở rộng vùng chiếm đóng của địch. TRẬN TANNENBEC 15.7.1410, trận đánh giữa quân của vua Ba Lan Vlađixlap II và quân của đế chế Tơtông (địa phận Đức và vùng Ban tích ngày nay) ở Tannenbec (nay là Xtêbac, đông bắc Ba Lan). Được sự hỗ trợ của quân đánh thuê người Bôhêmiêng, Nga và Litva với lực lượng 32.000 người, phía Ba Lan đã bao vây rồi diệt tan 27.000 quân Tơtông, phần lớn là kị binh. TT làm đế chếTơtông suy yếu và tạo điều kiện cho vương quốc Ba Lan phát triển. Cg trận Grunvan. TRẬN TANNENBEC 26-31.8.1914, trận phản công của quân Đức nhằm đánh bại cuộc tiến công của quân Nga vào Đông Phổ, tại Tannenbec (nay là Xtêbac, đông bắc Ba Lan) trong CTTG-I (1914-18). Mở chiến dịch Đông Phổ (17.8- 15.9.1914), quân Nga (các tập đoàn quân 1 và 2) chọc thủng phòng tuyến Đức ở nam và bắc hồ Maxuri, cánh bắc chiếm Gumbinen (20.8), cánh nam tiến đến Phrankennao - Ooclao. Quân Đức (Tập đoàn quân 8) dùng lực lượng nhỏ kiềm chế ở phía bắc, đồng thời cơ động phần lớn lực lượng xuống phía nam bao vây, tiến công tiêu diệt Tập đoàn quân 2 của Nga (diệt 70.000, bắt 75.000) ở Tannenbec; sau đó quay lên phía bắc hồ Maxuri, đẩy lùi Tập đoàn quân 1 ra khỏi Đông Phổ. Thất bại trong TT khiến tướng Xamxônôp, tư lệnh Tập đoàn quân 2 của Nga phải tự sát; thế tiến công của quân Nga bị chặn đứng. TRẬN TÀU Ô - XÓM RUỘNG (11.5-31.8.1972), trận phòng ngự của Trung đoàn bộ binh 209 (Sư đoàn 7) tại khu vực Tàu Ô - xóm Ruộng (xã Tân Khai, h. An Lộc và xã Minh Thanh, h. Chơn Thành, t. Bình Long, nay thuộc h. Bình Long, t. Bình Phước), nhằm đánh bại cố gắng giải tỏa đường 13 của QĐ Sài Gòn, trong đợt 2 chiến dịch Nguyên Huệ (1.4.1972- 19.1.1973). Dựa vào trận địa phòng ngự (chính diện 3.500m, sâu 5.000m), từ 12.5 đến 15.6 ta đẩy lùi các đợt tiến công của Trung đoàn bộ binh 32 (Sư đoàn 21) và 2 tiểu đoàn biệt động quân (65 và 73), giành giật quyết liệt với địch ở khu chốt cống Ông Tề. Từ 19.6 địch tập trung lực lượng gồm Trung đoàn bộ binh 46 (Sư đoàn 25), Trung đoàn bộ binh 33 (Sư đoàn 21), Lữ đoàn dù 1, Thiết đoàn 3 mở cuộc tiến công quy mô lớn vào trận địa của ta. Trận đánh diễn ra ác liệt, kéo dài nhiều ngày đêm, ta kịp thời điều chỉnh lực lượng, giữ vững các chốt cơ bản, đồng thời liên tục tiến hành phản kích, đánh vào bên sườn và phía sau, buộc địch phải chấm dứt tiến công, rút quân về Chơn Thành. Kết quả loại khỏi chiến đấu khoảng 1.000 địch (bắt 137), phá hủy 34 khẩu pháo, 84 xe tăng, thiết giáp, bắn rơi 62 máy bay, làm thất bại ý đồ giải tỏa đường 13 của địch, tạo điểu kiện cho chiến dịch phát triển tiến công xuống bắc Bình Dương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:08:19 pm TRẬN TẮC THỦ (22.12.1967), trận tập kích của Tiểu đoàn U Minh 2 bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau đánh Đại đội bảo an 974, đoàn bình định và 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng quân dã ngoại ở bờ nam kênh Tắc Thủ (xã Lợi An, tây tx Cà Mau 7km). 7 giờ 40 phút, lợi dụng địch sơ hở, ta dùng 3 xuồng máy chở 3 tiểu đội cải trang làm dân chở lúa từ sông Ông Đốc vào kênh Tắc Thủ, đến ngang vị trí địch, bất ngờ đổ bộ, phối hợp với lực lượng phục sẵn trên bờ, đồng loạt nổ súng tiến công; sau gần 1 giờ chiến đấu diệt và bắt 57 địch, thu 45 súng. Thắng lợi của TTT góp phần đánh bại một bước kế hoạch bình định của địch, giữ vững bàn đạp tiến công của ta ở vùng ven tx Cà Mau. TRẬN TẨM BUNG (8-9.5.1969), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 5 (Sư đoàn 5), được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,8mm và 1 giàn hỏa tiễn H-12, đánh 3 tiểu đoàn bộ binh của các trung đoàn 43, 52 (Sư đoàn 18) QĐ Sài Gòn càn quét tại khu vực suối Tầm Bung (xã Bình Hoà, q. Xuân Lộc, t. Long Khánh, nay thuộc t. Đồng Nai). Sáng 7.5 địch dùng máy bay trực thăng đổ quân lùng sục khu vực bình độ 90, ngã ba Suối Son, suối Tầm Bung và điểm cao 87. Nắm chắc ý đồ của địch, trung đoàn triển khai trận địa ở khu vực suối Tầm Bung, chiều 8.5 nổ súng diệt và làm bị thương hơn 200 địch, sau đó tập trung lực lượng hình thành thế bao vây, chiều 9.5 tiếp tục đánh địch ứng cứu và co cụm. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 700 địch, bắn rơi 2 máy bay, thu 30 súng... Là thắng lợi mở màn đợt hoạt động hè thu 1969 của QGP miền Đông ở mặt trận Long Khánh, góp phần giữ vững vùng căn cứ ở đông sông La Ngà và sông Đồng Nai. TRẬN TẨM VU (19.4.1948), trận phục kích của LLVT Khu 9 chặn đánh đoàn xe QS Pháp tại khu vực Tầm Vu (xã Thạnh Hoà, h. Phụng Hiệp, t. Hậu Giang). Lực lượng tham gia có 3 đại đội của Trung đoàn 122 tình Cần Thơ, 1 đại đội của Trung đoàn 125 tỉnh Bạc Liêu, 1 đại đội của bộ đội Hồ Chí Minh Khu 9 cùng một số đơn vị tình báo đội (quân báo), quốc vệ đội (công an) tỉnh Cần Thơ và du kích địa phương (tổng cộng khoảng 600 tay súng). Từ đêm 12 đến 16.4 ta tập kích hỏa lực vào đồn điền Bảy Ngàn để thu hút viện binh, đồng thời bí mật bố trí lực lượng phục kích ở rạch Láng Hầm, dọc theo trục đường từ cầu Tầm Vu đi Rạch Gòi. 15 giờ ngày 19.4. đoàn xe địch gồm 14 chiếc (có 3 xe bọc thép và 1 xe kéo pháo) chở 150 quân (phần lớn lính Âu - Phi) đi ứng cứu hướng Rạch Gòi trên đường trở về, lọt vào trận địa. Ta cho nổ địa lôi chặn đầu, khoá đuôi rồi đồng loạt xung phong đánh thẳng vào đội hình địch. Kết quả sau hơn 1 giờ chiến đấu ta diệt hơn 100 địch, phá hủy 12 xe (có 2 xe bọc thép và 1 xe kéo pháo), thu nhiều vũ khí, trong đó có 1 khẩu pháo 105mm. Là trận đánh thứ tư trên cùng địa điểm, giành thắng lợi lớn nhờ giữ bí mật và cách đánh bất ngờ; lần đầu tiên thu được pháo 105mm ở Khu 9 trong KCCP. “Bài ca Tầm Vu” ra đời từ thắng lợi này. TRẬN TÂN AN (9.12.1974), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 306 (Trung đoàn 3, Quân khu 9) vào phân chi khu Tân An (xã Tân An, h. Càng Long, t. Trà Vinh), do Tiểu đoàn bảo an 472 và lực lượng bình định, thám báo... QĐ Sài Gòn đóng giữ. Phân chi khu có khu trung tâm, các đồn, lô cốt xung quanh, hệ thống kênh mương, tường, rào kẽm gai bảo vệ. Đêm 8.12 tiểu đoàn vào chiếm lĩnh trận địa, bí mật cắt rào, tạo cửa mở; 2 giờ 40 phút ngày 9.12 nổ súng diệt các lô cốt vòng ngoài, đánh chiếm vị trí đầu cầu tạo bàn đạp phát triển vào bên trong, sau 20 phút chiến đấu làm chủ khu trung tâm. Địch chống cự quyết liệt, chờ quân cứu viện nhưng không có. Ta tiếp tục tiến công các đồn, lô cốt xung quanh, truy quét tàn binh, đến 14 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ quân địch (diệt 62, bắt 83). thu 115 súng các loại. TTA khiến địch hoang mang, rút bỏ một loạt đồn bốt; tạo điều kiện cho nhân dân trong vùng nổi dậy giành quyền làm chủ. TRẬN TÂN CẢNH (17.6.1967), trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn pháo binh 40 (Mặt trận Tây Nguyên) vào căn cứ của Trung đoàn 42 QĐ Sài Gòn tại Tân cảnh (h. Đắc Tô, t. Kon Tum). Đêm 17.6 trung đoàn sử dụng 12 khẩu ĐKB, 3 khẩu cối 120mm, 2 khẩu cối 82mm, bố trí trận địa ở chân núi Ngọc Bờ Biêng (tây Tân Cảnh) bắn cấp tập vào căn cứ (trong đó ĐKB bắn 93 viên đạn). Kết quả phá hủy 12 pháo và cối, 3 máy bay trực thăng, nhiều phương tiện QS, loại khỏi chiến đấu hàng trâm địch; lần đầu tiên ta sử dụng pháo phản lực ĐKB đánh dịch đạt hiệu quả cao. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:09:11 pm TRẬN TÂN LẠC (11.5.1969), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 631 (Mặt trận Tây Nguyên) vào hậu cứ Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 4) của Mĩ ở Tân Lạc (tây nam tx Plây Cu 23km, nay thuộc xã Bình Giáo, h. Chư Prông, t. Gia Lai). Căn cứ địch được xây dựng trên khu vực dài 1.000rn, rộng 600m, chia thành 4 khu (A, B, C, D) với 2 tuyến lô cốt, ụ súng, hầm ngầm, xung quanh có 6 lớp rào thép gai xen kẽ bãi mìn; lực lượng khoảng 400-450 quân, gồm 2 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu 155mm và 175mm), 1 đại đội xe tăng . Đêm 10.5 tiểu đoàn sử dụng 78 chiến sĩ chia thành bảy mũi bí mật đột nhập, khắc phục vật cản, áp sát mục tiêu; 1 giờ ngày 11 bắt đầu nổ súng. Bằng cách đánh thọc sâu, bất ngờ, sau hơn 2 giờ chiến đấu ta làm chủ các khu A, B, C, chiếm SCH, khu thông tin, nhà ở, trận địa pháo, trạm rađa, đồng thời đánh địch phản kích từ khu D. Kết quả loại khỏi chiến đấu 300 địch, phá hủy 12 khẩu pháo, 1 giàn rađa, 16 xe QS (có 2 xe tăng), đốt cháy 1 kho xăng... Trận đánh đạt hiệu quả cao, để lại kinh nghiệm tốt về bộ binh vận dụng cách đánh đặc công, góp phần kiềm chế địch ở hướng đường 19 (Gia Lai), tạo thuận lợi cho hướng chính chiến dịch Đắc Tô II (5.5-26.6.1969) phát triển tiến công tuyến phòng thủ của dịch ở Đắc Tô, Plây Cần (Kon Tum). TRẬN TÂN LẬP (10.6.1972), trận vận động tiến công của Đại đội 602 bộ đội địa phương tình Sóc Trăng được tăng cường 1 trung đội địa phương huyện Vĩnh Châu và 1 khẩu đội súng máy 12,8mm, đánh SCH Tiểu đoàn bảo an 422 QĐ Sài Gòn tại khu vực ấp Tân Lập (xã Vĩnh Hiệp, h. Vĩnh Châu, t. Sóc Trăng). Địch đi giải tỏa đồn Tân Lập, đóng quân dã ngoại ở bờ nam rạch Tân Lập. Ta lợi dụng địa hình, vận động tiếp cận, chiếm lĩnh bờ bắc làm bàn đạp, 18 giờ ngày 10.6 bất ngờ nổ súng, đánh thẳng vào trận địa địch; sau gần 1 giờ chiến đấu, diệt gọn SCH Tiểu đoàn 422. Kết quả diệt 30 địch, thu 29 súng các loại, bức rút đồn Tân Lập. TRẬN TÂN LỢI (27.12.1972), trận vây lấn tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (thiếu) và Đại đội bộ binh 11 (Tiểu đoàn 9) thuộc Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) đánh Đại đội biệt động quân 3 (Tiểu đoàn 33, Liên đoàn 5) QĐ Sài Gòn phòng ngự trong công sự vững chắc tại khu vực phía đông xã Tân Lợi (trên đường 303, đông bắc tx An Lộc 3-4km, nay thuộc h. Bình Long, t. Bình Phước) trong đợt 3 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972- 19.1.1973). Đêm 26.12 ta chuyển từ phòng ngự trực tiếp tiếp xúc sang vây lấn tiến công; sau khi ép trận địa vây lấn vào sát tiền duyên địch trên hướng nam và đông nam, kết hợp bắn tỉa tiêu hao địch, 17 giờ 25 phút ngày 27.12, ta xung phong đánh chiếm trận địa, diệt và bắt 22 địch, thu 9 súng... Trận đánh thắng lợi tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển bao vây tx An Lộc, đồng thời để lại kinh nghiệm cách đánh vây lán tiến công từ vị trí phòng ngự trực tiếp tiếp xúc. TRẬN TÂN VĨNH (27.4.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 48. Sư đoàn 320B) vào trận địa phòng ngự của 1 liên đoàn biệt động quân và 2 chi đoàn thiết giáp QĐ Sài Gòn tại Tân Vĩnh (xã Triệu Ái, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị) trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Tân Vĩnh là vị trí bảo vệ vòng ngoài tuyến phòng thủ Đóng Hả - Ái Tử - La Vang, do tổ chức phòng ngự gấp, địch chủ yếu sử dụng xe tăng, bố trí thành những “lô cốt” cố định và cơ động để ngăn chặn ta. Phát hiện thủ đoạn của địch, đồng thời rút kinh nghiệm trận đánh ngày 6.4 của đơn vị bạn, tiểu đoàn quyết định đổi hướng đột phá, bí mật đưa lực lượng luồn sâu đánh địch từ phía sau. 5 giờ ngày 27.4 ta nổ súng tiến công, mũi chủ yếu đánh thắng vào trung tâm, diệt SCH, trận địa pháo; các mũi khác tỏa ra diệt các ổ đề kháng xe tăng trong chiến hào... Kết quả sau 30 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt gần 100 địch, bắn cháy 9 xe tăng, thu 54 súng các loại, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch đập tan hệ thống phòng ngự của địch ở Đông Hà - Ái Tử - La Vang và tx Quảng Trị. TRẬN TẤN DIỆT NGÔ (279-280), trận tiến công của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm dùng lực lượng thủy - bộ tiến chiếm Kiến Nghiệp (kinh đô Ngô, nay là Nam Kinh, TQ), diệt nước Ngô, thống nhất TQ. Nhân triều chính Ngô mục nát, nhân dân cùng cực, Tấn Vũ Đế cử hơn 20 vạn quân từ bắc xuống nam, từ tây sang đông tiến đánh Ngô. Quân Ngô đại đa số không đánh mà tan vỡ. Cánh quân của tướng Vương Tuấn từ Tây Thục theo Trường Giang tiến thẳng xuống Kiến Nghiệp. Vua Ngô Tôn Hạo đầu hàng, nước Ngô mất. Cục diện chia cắt 90 năm cuối thời Đông Hán tới đây chấm dứt. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:10:03 pm TRẬN TÂY KẾT (6.1285), trận tiến công của quân Trần (Đại Việt) chận đánh quân Nguyên - Mông (TQ) ở khu vực Tây Kết (nay thuộc t. Hưng Yên), trong giai đoạn kết thúc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285). Trong khi tiền hành các trận đánh truy kích tiêu diệt cánh quân Thoát Hoan rút chạy khỏi Thăng Long (x. trận Như Nguyệt - Vạn Kiếp - Vĩnh Bình, 6.1285), nhà Trần chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đón đánh các cánh quân địch ở phía nam. 24.6.1285 bộ phận quân Nguyên - Mông ở Thanh Hóa do Toa Đô, ô Mã Nhi chỉ huy theo đường biển ngược Sông Hồng lên Thăng Long định hội quân với Thoát Hoan (không biết Thoát Hoan đã rút chạy), đến Tây Kết bị cánh quân của vua Trần đón đánh tiêu diệt gần hết, Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi trốn thoát ra biển. TTK góp phần đưa cuộc phản công của nhà Trần mau chóng giành thắng lợi. TRẬN TÂY NAM NÚI LỤC (8.4.1978), trận tập kích của Hải đội 811 (Hạm đội 171, Vùng hải quân 5) vào khu vực neo đậu tàu của lực lượng hải quân Khơme Đỏ (Campuchia) ở vùng biển phía tây nam Núi Lục (t. Cam Pốt, Campuchia). Tại đây quân Khơme Đỏ thường có 4-6 tàu chiến thực hiện các hoạt động xâm nhập, đánh phá biên giới vùng biển tỉnh Kiên Giang. Nắm chắc thủ đoạn hoạt động của địch, đêm 8 rạng 9.4, Hải đội 811 sử dụng 2 tàu (T601, T614) bí mật xuất kích, triển khai đội hình chiến đấu. Bằng cách đánh áp sát, bất ngờ, sau hơn 20 phút nổ súng bắn chìm 2 và bắn bị thương 2 tàu địch; đơn vị bảo đảm an toàn. Trận đánh đạt hiệu quả cao, thực hiện tốt ý định tác chiến, góp phần ngăn chặn hoạt động phá hoại của địch ở tuyến biên giới Tây Nam. TRẬN TÂY NINH (7 và 14.6.1866), trận tiến công của nghĩa quân Võ Duy Dương, Trương Quyền (VN) và nghĩa quân Pucom Bô (Campuchia), đánh quân Pháp ở thành Tây Ninh, trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Chiều tối 7.6 các lực lượng nghĩa quân phối hợp tiến công thành Tây Ninh, giết tỉnh trưởng và nhiều binh lính, sĩ quan, buộc quân Pháp phải rút vào đồn Tây Ninh cố thủ, chờ viện binh. 14.6 Pháp đưa lực lượng tới ứng cứu và mở nhiều đợt phản kích, bị nghĩa quân đánh thiệt hại nặng, đại tá Macsedơ bị giết. TTN thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu chống Pháp của nhân dân hai nước VN - Campuchia. TRẬN TÂY TRÌ (2-6.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) vào khu vực Tây Trì (bắc Đông Hà, t. Quảng Trị) do Trung đoàn 57 và Thiết đoàn 20 QĐ Sài Gòn chốt giữ, nhằm đánh chiếm bàn đạp tiến công tx Đông Hà trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Sau khi truy kích địch rút chạy khỏi miếu Bái Sơn về Đông Hà, đêm 2 rạng 3.4 trung đoàn gấp rút vượt sông Cam Lộ bằng phương tiện ứng dụng (bè chuối, bao nilon...) dưới làn hỏa lực địch, tiến hành đánh chiếm thôn Tây Trì và trụ lại xây dựng bàn đạp tiến công. 3-6.4 địch dùng không quân, pháo binh đánh phá ác liệt, đồng thời đưa 3 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp liên tục phản kích nhưng đều bị đẩy lùi. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch, phá hủy 7 xe tăng, giữ vững trận địa bàn đạp, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công căn cứ Đông Hà. TRẬN THA TENG (9-20.12.1971), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 968 bộ đội tình nguyện VN) được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm, 2 pháo 122mm, 1 giàn hỏa tiễn ĐKB và 3 xe tăng, vào thị trấn Tha Teng (t. Sè Công, Lào) do Binh đoàn cơ động 41 (GM41) QĐ phái hữu Lào đóng giữ. Tại đây địch bố trí 3 tiểu đoàn bộ binh và SCH GM41 đóng trong thị trân Tha Teng và điểm cao 881; 1 tiểu đoàn pháo đóng ở Phù Chôm. 23 giờ ngày 9.12 tiểu đoàn nổ súng, sau 2 giờ chiếm điểm cao 881 (nam Tha Teng 500m), diệt khoảng 100 địch nhưng chưa làm chủ được thị trấn. Địch tăng viện 3 tiểu đoàn của GM33 cho Tha Teng. Ta sử dụng Trung đoàn 141 và một bộ phận Trung đoàn 9 đánh viện và phối hợp vây đánh dịch ở Phù Chôm, Pắc Xoong, hỗ trợ cho Tiểu đoàn 3 tiếp tục tiến công, vây ép địch ở Tha Teng. Bị bao vây và tiêu hao sinh lực, 20.12 địch phải rút chạy khỏi Tha Teng. TTT thắng lợi góp phần mở rộng vùng giải phóng và mở thông tuyến vận chuyển chiến lược của ta ở Hạ Lào. TRẬN THẠCH LONG (18.8.1974), trận tập kích của trung đội du kích xã Tam Hiệp, đánh tiểu đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng đồn ở ấp Thạch Long (xã Tam Hiệp, h. Châu Thành, t. Mĩ Tho, nay là t. Tiền Giang). Lợi dụng thời cơ địch dang hành quân dã ngoại ở khu vực Xóm Giữa, ta tổ chức lực lượng thành hai mũi bí mật vận động tiếp cận, 13 giờ 40 phút đồng loạt nổ súng. Sau 15 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt 7 địch, thu 7 súng. Trận đánh diễn ra nhanh, gọn đạt hiệu quả cao do phát huy yếu tố bất ngờ, đúng thời cơ, phối hợp chiến đấu tốt, góp phần phá vỡ kế hoạch đóng đồn của địch trên địa bàn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:10:57 pm TRẬN THANH HƯƠNG (21.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 3 bộ đội địa phương tinh Quảng Trị, đánh QĐ Sài Gòn co cụm ở Thanh Hương (trên phòng tuyến bảo vệ phía bắc tp Huế), trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Sáng 21.3 tiểu đoàn được xe tăng, pháo binh, pháo phòng không chi viện, từ hai mũi theo tỉnh lộ 68 và theo QL 1 qua Mĩ Xuyên đánh vào Thanh Hương, đến 10 giờ làm chủ trận địa. Thừa thắng, nhân dân địa phương nổi dậy, dẫn đường cho bộ đội diệt ác ôn, giải tán chính quyền địch, giải phóng quê hương. TTH góp phần đập tan tuyến phòng thủ phía bắc, tạo thuận lợi cho lực lượng chiến dịch tiến vào giải phóng tp Huế. TRẬN THANH HƯƠNG - ĐÔNG GIÁP (27.5.1972), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 244 (thiếu) thuộc Trung đoàn 202 hiệp đồng với Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 18) đánh 2 tiểu đoàn biệt động quân (37, 21) QĐ Sài Gòn hành quân phản kích, tạm dừng ở khu vục Thanh Hương - Đông Giáp (h. Hướng Điền, t. Thừa Thiên, nay là Thừa Thiên - Huế), trong chiến dịch Trị Thiên (30.3- 27.6.1972). Sáng 27.5 Tiểu đoàn 244 triển khai đội hình chiến đấu tại Thanh Hương, một bộ phận của Tiểu đoàn 8 chốt giữ điểm cao 27. Từ 8 giờ 30 phút khoảng 2 đại đội địch từ Đông Giáp tiến vào điểm cao 27; ta tổ chức chặn đánh và nhử địch về Thanh Hương, chờ địch vào gần (cách 200m), phối hợp bộ binh cùng xe tăng, thiết giáp bất ngờ xung phong tiêu diệt. Trên đường truy kích phát hiện 1 tiểu đoàn địch co cụm ở Đông Giáp, ta tiếp tục phát triển tiến công, dùng sức mạnh xe tăng áp đảo diệt từng bộ phận và đánh địch rút chạy về Vĩnh Xương - Kế Môn. Kết quả sau 3 giờ chiến đấu diệt gần 400 địch, góp phần bẻ gãy mũi phản kích của địch, củng cố thế trận của ta khi bước vào đợt 3 chiến dịch. TRẬN THANH HƯƠNG - MĨ XƯYÊN (11-13.3.1951), trận chiến đấu chống càn do 2 trung đoàn (95, 101) bộ đội chủ lực Mặt trận Bình - Trị - Thiên và các LLVT địa phương tiến hành tại khu vực Thanh Hương - Mĩ Xuyên (nay thuộc xã Hái Chánh, h. Hải Lăng, t. Quảng Trị) trong KCCP. Thực hiện âm mưu phá hoại cơ sở kháng chiến, diệt bộ đội chủ lực ta, sáng 11.3 Pháp dùng 5 tiểu đoàn bộ binh có không quân, pháo binh yểm trợ, từ hai hướng mở cuộc càn lớn vào Thanh Hương, Mĩ Xuyên trong vùng căn cứ du kích Hải Lăng - Phong Điền. Các trung đoàn 95 và 101 tổ chức chận đánh, đẩy lui nhiều đợt tiến công rồi phản kích địch ở cánh đồng Vĩnh An, Vĩnh Xương, kết hợp với hoạt động quấy rối, bắn tỉa của dân quân du kích, buộc địch phải co về cố thủ ở Hòa Viên, nhà thờ Tháp Một; 12-13.3 tiếp tục chặn đánh địch ở Vĩnh An, Mĩ Xuyên, tổ chức tập kích vào nhà thờ Tháp Một và truy kích địch rút chạy trên đường 68. Kết quả sau ba ngày chiến đấu, ta diệt và bắt hơn 1.600 địch, trong đó có nhiều sĩ quan, làm thất bại cuộc càn quét của địch. TRẬN THANH LÂM BỒ (26.7.1951), trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 101 phối hợp với bộ đội tinh, du kích và nhân dân địa phương, đánh quân Pháp càn quét tại khu vực Thanh Lâm Bổ (h. Phú Vang, t. Thừa Thiên - Huế). Đêm 25.7 phát hiện ý đồ càn quét của địch, Trung đoàn 101 kịp thời chuyển sang bờ tây phá Tam Giang bố trí trận địa ở khu vực Dưỡng Mông và Thanh Lâm Bồ. Sáng 26.7 địch từ Hòa Đa chia ba cánh tiến quân, trong đó 1 tiểu đoàn đánh vào Thanh Lâm Bồ, 2 tiểu đoàn đánh hướng Dưỡng Mông. 13 giờ 5 phút Trung đoàn 101 nổ súng, kết hợp đánh ngăn chặn tại trận địa và đánh vận động, hình thành thẻ bao vây, chia cắt không cho địch hợp điểm, đến chiều tối buộc địch phải rút chạy về Huế. Kết quả diệt và bắt gần 500 địch (trong đó diệt gọn 1 tiểu đoàn), thu nhiều vũ khí trang bị, làm thất bại kế hoạch càn quét, tìm diệt của địch, tạo điều kiện đẩy mạnh phong trào du kích, mờ rộng vùng giải phóng ven biển Trị - Thiên. TRẬN THANH MĨ (16-18.3.1975), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 207 (Sư đoàn 8, Quân khu 8) đánh đồn Thanh Mĩ (xã Thanh Mĩ, h. Tháp Mười, t. Đồng Tháp), do Tiểu đoàn bảo an 417 QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đồn gồm 1 đồn chính và 2 đồn nhỏ, xung quanh có hai lớp rào thép gai xen kẽ mìn, phía ngoài có lực lượng cảnh giới ở khu vực Kênh Nhất và kênh Nguyễn Văn Tiếp (cách đồn 500-700m). Đêm 16 rạng 17.3 ta hành quân chiếm lĩnh trận địa, diệt lực lượng cảnh giới vòng ngoài và triển khai trận địa bao vây dồn từ ba hướng. 0 giờ ngày 18.3 ta đồng loạt nổ súng tiến công đồn chính và đồn nhỏ phía nam, sau đó phát triển sang đồn phía đông, đồng thời đưa lực lượng vận động đón lõng ở hướng đông nam đánh địch rút chạy. Sau hơn 5 giờ chiến đấu, ta chiếm đồn, diệt gọn tiểu đoàn dịch (bắt 12), thu 22 súng các loại cùng nhiều phương tiện QS, đập tan mắt xích cuối cùng trong hệ thống phòng thủ bắc đường 4 của địch, mờ rộng vùng giải phóng, tạo địa bàn triển khai lực lượng tiến công địch ở Quân khu 8 trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:11:45 pm TRẬN THANH VÂN - ĐẠO TÚ (14.1.1951), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 88 (Đại đoàn 308) chặn đánh quân Pháp tại khu vực Thanh Vân - Đạo Tú (tây bắc tx Vĩnh Yên 5-6km), thuộc h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc, trong đợt 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950-18.1.1951). Cứ điểm Ba Huyên bị tiến công (x. trận Ba Huyên, 14.1.1951), sáng 14.1 Pháp điều Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) có máy bay, pháo binh yểm trợ từ Vĩnh Yên lên ứng cứu. Trung đoàn 88 được lệnh bố trí lực lượng chặn đánh ở Thanh Vân - Đạo Tú ven đường 203; khi địch lọt vào trận địa, các đơn vị nhanh chóng vận động tiếp cận, tận dụng địa hình có lợi, tạo thế bao vây chia cắt, bám sát đánh gần, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, truy kích về sát tx Vĩnh Yên. Kết quả sau 6 giờ chiến đấu diệt và bắt gần 700 địch, bắn cháy 5 xe QS (có 1 xe bọc thép), góp phần làm thất bại ý đồ dùng lực lượng cơ động ứng chiến của Pháp trong quá trình chiến dịch. Trận vận động chiến ban ngày trên địa hình trống trải đạt hiệu quả cao nhờ chuẩn bị chu đáo, giữ bí mật, cách đánh phù hợp, hạn chế được thương vong do máy bay và pháo binh địch. TRẬN THÀNH NGUYỄN HUỆ (10.4.1969), trận tập kích hỏa lực của tổ trinh sát pháo binh thuộc Trung đoàn 96 (Đoàn pháo binh Biên Hòa) vào căn cứ của Mĩ và QĐ Sài Gòn trong thành Nguyễn Huệ (tx Tây Ninh). Được cơ sở mật báo sắp có cuộc họp quan trọng của địch trong thành Nguyễn Huệ, ta bí mật đưa 5 quả đạn H-12 vào bố trí gần căn cứ; sáng 10.4 bất ngờ pháo kích lúc địch đang họp, bắn trúng kho rôckét, kích nổ thêm 5 kho đạn gần đó, phá hủy 2.000t đạn, 40 xe QS, 8 khẩu pháo và nhiều căn nhà; diệt nhiều sinh lực địch (có 1 thiếu tướng, 1 đại tá tỉnh trường và hơn 50 sĩ quan khác). Là trận đánh hiểm, đạt hiệu quả cao, thể hiện khả năng tác chiến độc lập của pháo binh luồn sâu trong KCCM. TRẬN THẠNH PHÚ - TÂN AN (7.10.1965), trận chống càn của Tiểu đoàn bộ binh 2 bộ đội địa phương tỉnh Trà Vinh, đánh 7 tiểu đoàn bộ binh và 3 chi đội xe bọc thép QĐ Sài Gòn càn quét tại khu vực xã Thanh Phú và Tân An thuộc các huyện Cầu Kè, Càng Long (t. Trà Vinh). Sáng 7.10 địch huy động máy bay trực thăng liên tiếp đổ quân kết hợp với lực lượng từ Trà Vinh lên triển khai bao vây, cùng lúc tiến công vào Thạnh Phú, Tân An nhằm tiêu diệt bộ đội ta đang trú quân ở đây. Ta tổ chức trận địa chặn đánh quyết liệt, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của dịch. 14 giờ địch thay đổi thủ đoạn, dãn đội hình ra xa để dùng máy bay rải chất độc hóa học; ta kịp thời phát hiện, cơ động bám đánh làm thất bại âm mưu của địch, đến 17 giờ buộc địch phải rút quân. Trận chống càn thắng lợi (diệt 175 dịch, bắn cháy 4 xe M113), rút được kinh nghiệm và cách đánh hiệu quả trong tình huống địch tiến công có ý đồ sử dụng chất độc hóa học. TRẬN THÁP CHÀM (7-8.4.1975), trận tập kích của Đại đội đặc công 311 và LLVT địa phương tỉnh Ninh Thuận đánh chiếm thị trấn Tháp Chàm (nay thuộc tx Phan Rang - Tháp Chàm, t. Ninh Thuận), do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đêm 7.4 ta tổ chức lực lượng thành các mũi thọc sâu, bất ngờ đánh chiếm trại lính Nguyễn Hoàng, nhà ga Tháp Chàm, Cầu Móng, ngã ba đường 11 vào sân bay Thành Sơn và triển khai chốt giữ. 8.4 địch điều 3 tiểu đoàn bộ binh có xe tăng, xe bọc thép, máy bay, pháo binh yểm trợ, từ sân bay Thành Sơn và tiểu khu Phan Rang lên mở 16 đợt phản kích chiếm lại một số vị trí. Sau 1 ngày chiến đấu quyết liệt, do so sánh lực lượng bất lợi, ta chủ động rút khỏi thị trấn. Kết quả diệt và bắt 131 địch, bắn cháy 3 xe bọc thép, thu 2 xe GMC, 150 súng,... góp phần hỗ trợ cho hoạt động tiến công của bộ đội chủ lực trên địa bàn. TRẬN THÀY PHÓ (9-10.1.1975), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 3 (Quân khu 9) vào yếu khu Thày Phó (tiểu khu Vĩnh Long), một vị trí quan trọng của QĐ Sài Gòn ở vùng tiếp giáp giữa các huyện Trà Ôn, Vũng Liêm (t. Vĩnh Long), Cầu Kè (t. Trà Vinh). Lực lượng địch khoảng 300 quân, gồm 1 tiểu đoàn bảo an, 1 trung đội pháo binh, 1 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát, tề xã, bình định... Đêm 8.1 ta bí mật tiếp cận mục tiêu, khắc phục vật cản, 4 giờ ngày 9 nổ súng tiến công, sau 35 phút chiếm được SCH tiểu đoàn bảo an, trận địa pháo... Ở các khu vực khác, địch cố thủ, chống cự quyết liệt; ta dùng 2 khẩu pháo 105mm vừa chiếm được bắn thẳng vào SCH yếu khu và các lô cốt còn lại. Địch dùng máy bay trực thăng đổ 2 tiểu đoàn bảo an xuống ứng cứu, bị ta chặn đánh, phải rút chạy. Đêm 9 và ngày 10.1 ta mở nhiều đợt tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại; đến 19 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 200 địch, thu 136 súng các loại (có 2 pháo 105mm). Trận đánh góp phần củng cố, mở rộng vùng giải phóng nam sông Măng Thít, phá kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:12:50 pm TRẬN THEN CHỐT, trận chiến đấu hoặc đòn đột kích do một bộ phận lực lượng quan trọng của chiến dịch tiến hành có tác dụng quyết định thắng lợi cho từng đợt hoặc cả chiến dịch. Mỗi chiến dịch thường có một hoặc một số TTC, trong đó có trận then chốt quyết định. Theo lực lượng và môi trường tiến hành có TTC binh chủng hợp thành. TTC trên không, trận then chốt phòng không, TTC trên biển; theo mục đích và loại tác chiến có TTC trong chiến dịch tiến công, phản công hoặc phòng ngự. TTC được dự kiến trước trong chuẩn bị chiến dịch, được xác định trong quá trình tác chiến. Tư lệnh chiến dịch thường trực tiếp chỉ huy TTC. TRẬN THEN CHỐT PHÒNG KHÔNG, trận then chốt do các lực lượng phòng không chiến dịch tiến hành theo một ý định thống nhất, nhằm đánh bại tiến công đường không của địch trên một hướng, tiêu diệt lực lượng không quân địch, tạo đột biến quyết định cho từng đợt hoặc cả chiến dịch. TTCPK có thể do lực lượng phòng không tiến hành độc lập hoặc hiệp đồng với không quân. Mỗi chiến dịch phòng không có một số TTCPK. TRẬN THEN CHỐT QUYẾT ĐỊNH, trận then chốt nhằm tiêu diệt bộ phận lực lượng quan trọng nhất của địch, có ý nghĩa quyết định tới sự hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. TTCQĐ có thể diễn ra trong đợt một hay trong quá trình chiến dịch. TTCQĐ của bộ đội binh chủng hợp thành thường là trận đánh tiêu diệt cỡ 1-2 tiểu đoàn địch ngoài công sự, hoặc tiêu diệt SCH lữ đoàn (trung đoàn) và một bộ phận lực lượng địch. TTCQĐ được tập trung lực lượng mạnh nhất, chỉ huy, bảo đảm và vật chất đủ sức giành thắng lợi trận đánh. TRẬN THỊ NGHÈ (18.10.1945). trận chiến đấu phòng ngự của bộ đội Thị Nghè thuộc Mặt trận số 1 (Mặt trận miền Đông) cùng LLVT và nhân dân Sài Gòn chống lại cuộc tiến công quy mô lớn của quân Pháp được quân Anh, Nhật giúp sức, tại khu vực cầu Thị Nghè (Sài Gòn, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh). Sau nhiều lần cho quân tiến công nhưng đều thất bại, 18.10 Pháp huy động thêm lực lượng, có tàu chiến, xe tăng, pháo binh yểm trợ quyết tâm đánh chiếm Thị Nghè nhằm thực hiện ý đổ mở rộng chiến sự ra vùng ngoại ô Sài Gòn. Trận đánh diễn ra quyết liệt ngay từ đầu, quân Pháp dùng xe tăng đột kích chiếm được khu vực đầu cầu trận địa ta. Bằng tinh thần chiến đấu “quyết tử”, bộ đội ta dựa vào chiến lũy phản kích giành lại, sau đó tiếp tục đẩy lui nhiều đợt tiến công, diệt và làm bị thương hàng trăm địch, giữ vững trận địa. TTN là chiến công lớn của quân dân Sài Gòn trong những ngày đầu KCCP, góp phần kiềm chế địch, bảo toàn lực lượng ta và cổ vũ phong trào đánh Pháp ở Nam Bộ. TRẬN THỊ XÃ KIẾN AN (21.4.1953), trận tập kích của 2 đại đội (195, 53) bộ đội tỉnh Kiến An và 2 đại đội (196, 295) bộ đội huyện Tiên Lãng vào tx Kiến An (tp Hải Phòng) do Pháp chiếm đóng. Lực lượng địch bảo vệ thị xã có 17 đại đội đóng ở 17 vị trí. Đêm 20.4 ta bí mật đột nhập thị xã, 1 giờ 55 phút ngày 21.4 bất ngờ nổ súng tiến công địch ở Trại Pháo Thủ, kho bom Quý Tức, trại biệt kích Đền Sùng, dinh tỉnh trưởng, bốt Ngã Năm..., sau 45 phút chiến đấu diệt và bắt khoảng 600 địch (trong đó diệt 1 đại đội biệt kích, tinh trưởng cùng nhiều sĩ quan...), thu hơn 100 súng, phá hủy 1 kho xăng, nhiều kho vũ khí, bom đạn và hàng trăm xe, pháo các loại. Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, cổ vũ LLVT vùng đồng bằng Bắc Bộ đẩy mạnh các hoạt động luồn sâu, đánh hiểm trong hậu phương địch. TRẬN THIÊN KINH nh TRẬN BẢO VỆ THIÊN KINH (1862-64) TRẬN THỔ CHU (23-27.5.1975), trận tiến công của Đoàn 125 Quân chủng hải quân (1 phân đội đặc công 39 người, 4 tàu PCF, 2 tàu vận tải, 2 tàu tuần tiễu) phối hợp với LLVT Quân khu 9 (Tiểu đoàn bộ binh 410, trung đội bộ đội địa phương huyện Phú Quốc, 2 tàu LCM của Rạch Giá...) giải phóng quần đảo Thổ Chu (nay là xã Thổ Châu, h. Phú Quốc, t. Kiên Giang), do 1 tiểu đoàn tăng cường quân Khơme Đỏ (Campuchia) chiếm giữ. Quần đảo Thổ Chu thuộc chủ quyền của VN, bị quân Khưme Đỏ đánh chiếm từ 10.5.1975 nhân lúc QĐ Sài Gòn ở đây tan rã trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đêm 23 rạng 24.5 ta triển khai lực lượng thành hai cánh đổ bộ đánh chiếm đảo Thổ Chu và Bãi Ngự, sau đó phát triển sang Bãi Nam, Bãi Đông, diệt và bắt phần lớn quân địch, bắn chìm 1 thuyền máy, bắt sống 1 tàu. 27.5 ta đưa 2 tàu tuần tiễu án ngữ phía đông nam các đảo Hòn Cao, Hòn Từ, kết hợp dùng tù binh gọi hàng, đến 13 giờ làm chủ quần đảo. Trận đánh được tổ chức, phối hợp chiến đấu tốt, đạt hiệu quả cao, góp phần bảo vệ chủ quyền đất nước. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:39:09 pm TRẬN THỔ MỘC BẢO (7-8.1449), trận thất bại nặng của đại quân Minh (TQ) do hoàng đế Minh Anh Tông chỉ huy trước quân Ngõa Lạt (Mông Cổ). 7.1449 Dã Tiên (thủ lĩnh bộ tộc Ngõa Lat, thống nhất các bố tộc Mông cổ) đem quân đánh vào Đại Đồng, Tuyên Phủ (nay thuộc Sơn Tây - Hà Bắc, TQ). Minh Anh Tông bị thái giám Vương Chấn xúi giục, vội vã đem 50 vạn quân đi đánh. 16.7 quân Minh rời Bắc Kinh, 1.8 đến Đại Đồng nhưng 3.8 phải lui quân do tình thế bất lợi và bị quân Ngõa Lạt bám sát truy kích. 14.8 Minh Anh Tông lui quân về Thổ Mộc Bảo (nay ở đông nam Hoài Lai, Hà Bắc, TQ). 15.8 quân Ngõa Lạt hợp vây và dùng kế làm hàng ngũ quân Minh rối loạn, rồi thừa cơ xung phong chém giết. Toàn bộ đại quân Minh tan vỡ, các quan văn võ hộ giá trong đó có Trương Phụ (viên tướng đã từng xâm lược VN) đều bị diệt; Minh Anh Tông bị bắt. TRẬN THÔN 2 (3.12.1966), trận tập kích bằng mìn hẹn giờ của du kích xã Mĩ Thủy đánh lực lượng bình định của chính quyền Sài Gòn tại thôn 2 (xã Mĩ Thủy, h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên - Huế). Địch gồm 3 đoàn bình định (khoảng 200 quân), 1 trung đội cảnh sát và 1 trung đội nghĩa quân, đóng quân trong trường tiểu học thôn 2, có tổ chức lực lượng canh gác, bảo vệ nghiêm ngặt. Chiều 3.12 ta sử dụng 2 nữ du kích mật đột nhập vào trường lúc học sinh vừa tan học, đặt 1 mìn hẹn giờ có sức công phá lớn vào ngăn bàn của lớp học, nơi địch tập trung ngủ đêm; 21 giờ mìn nổ, phá sập toàn bộ dãy nhà 5 gian, diệt gọn 2 đoàn bình định (giết và làm bị thương 93 địch), hỗ trợ nhân dân đấu tranh phá vỡ kế hoạch bình định của địch. TRẬN THÔN 4 (18-19.2.1965), trận chống càn của du kích thôn 4 (xã Phước Sơn, h. Tiên Phước, t. Quảng Nam) đánh trả cuộc càn quét của 1 đại đội QĐ Sài Gòn (có 2 xe bọc thép M113). Lực lượng ta có 12 du kích chia 3 tổ, chủ yếu sử dụng các loại vũ khí tự tạo (chông, mìn, cạm bẫy...) kết hợp vật cản ngăn chặn và đánh nhử địch vào trận địa đã chuẩn bị trước để tiêu diệt, sau 2 ngày chiến đấu, diệt và làm bị thương 38 địch, đánh bại âm mưu càn quét, bình định của địch, bảo vệ an toàn địa bàn và lực lượng ta. TRẬN THỚI LAI (4-5.2.1964), trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn bộ binh 96 (Quân khu 9), Đại đội 20 bộ đội địa phương tỉnh Cán Thơ tại thị tứ Thới Lai (nay là thị trấn Thới Lai, h. Cờ Đỏ. tp Cần Thơ) do QĐ Sài Gòn đóng giữ. 23 giờ 35 phút ngày 4.2 ta tiến công Thới Lai, lần lượt đánh chiếm các mục tiêu, kết hợp gọi địch đầu hàng, đến 2 giờ 5.2 làm chủ thị tứ. Sau đó ta buộc tù binh địch dùng điện đài gọi về chi khu Cờ Đỏ yêu cầu ứng cứu; đồng thời bố trí lực lượng sẵn sàng đánh viện. Sáng 5.2 địch ở chi khu Cờ Đỏ cho 1 đại đội bảo an, 1 trung đội biệt kích đến giải tỏa, 8 giờ lọt vào trận địa phục kích. Ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, tiến công tiêu diệt tùng bộ phận; số địch bỏ chạy bị ta đón lõng, truy kích diệt và bắt gần hết. Kết quả diệt và bắt 159 địch (riêng đánh viện: 130), thu 84 súng, nhiều phương tiện QS. Trận đánh góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, binh vận ở địa phương. TRẬN THU CÚC (9.4.1949), trận tập kích của trung đội du kích xã Thu Cúc (10 người) và tổ công tác Trung đoàn bộ binh 209 (4 ngưừi), đánh dồn Thu Cúc (xã Thu Cúc, h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ) do 1 đại đội (thiếu) lính dõng (sĩ quan Pháp chỉ huy) đóng giữ. 5 giờ ngày 9.4 được lực lượng nội ứng trong đồn phối hợp, ta bí mật đột nhập vào đồn, bất ngờ nổ súng diệt chỉ huy, sau đó khống chế, uy hiếp và kêu gọi binh lính địch đầu hàng, đến 6 giờ hoàn toàn làm chủ trận địa và huy động nhân dân phá hủy đồn. Kết quả diệt 1 sĩ quan Pháp, gọi hàng 60 lính dõng, thu 47 súng. Trận đánh dùng lực lượng nhỏ, đạt hiệu quả cao nhờ khéo kết hợp tác chiến với địch vận. TRẬN THU CÚC - LAI ĐỒNG - KIỆT SƠN (25- 26.11.1951), trận vận động tiến công quân Pháp ở khu vực Thu Cúc - Lai Đồng - Kiệt Sơn (nay thuộc h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ) do Trung đoàn bộ binh 165 (thiếu 1 tiểu đoàn), được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 141 (Đại đoàn 312) và LLVT địa phương tiến hành. Sau khi đánh chiếm tx Hòa Bình và khu vực Sông Đà - Ba Vì (14-15.11.1951), ngày 22.11 Pháp dùng 1 tiểu đoàn tăng cường (khoảng 800 quân) từ Quang Huy tiếp tục tiến công nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng và thăm dò lực lượng ta. Trung đoàn 165 được lệnh cơ động đánh địch, đêm 24.11 hành quân từ Địch Quả ra Chiềng Át, ngày 25 tổ chức bao vây diệt phần lớn quân địch ở cánh đồng Thu Cúc - Lai Đồng - Kiệt Sơn, sau đó tiếp tục đánh địch co cụm ở điểm cao 294. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 500 địch, thu hơn 100 súng các loại; góp phần làm thất bại âm mưu của Pháp càn quét lấn chiếm ra vùng tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:41:04 pm TRẬN THUẦN MẪN (8.3.1975), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) vào căn cứ chi khu QS, quận lị Thuần Mẫn (Cẩm Ga, nay là huyện lị Ea HTeo, t. Đắk Lắk), do Tiểu đoàn bảo an 257 QĐ Sài Gòn chiếm giữ, nhằm cô lập Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Được 5 khẩu đội pháo binh (2 pháo 105mm, 3 pháo 85mm) chi viện bằng phương pháp bắn ngắm trực tiếp, trung đoàn bất ngờ tiến công; sau 1 giờ 15 phút chiến đấu, chiếm được quận lị, bắt sống 121 địch (do ta vây không chặt, quận trưởng và một số chạy thoát), thu 200 súng (có 2 pháo 105mm, 1 cối 106,7mm). Thắng lợi của TTM tạo thuận lợi cho ta tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột. TRẬN THỨ 11 (6.11.1969), trận tập kích của 2 trung đoàn bộ binh (1,2), Tiểu đoàn pháo binh 2311 và 1 đại đội công binh (Quân khu 9) vào cụm phòng ngự hỗn hợp của QĐ Sài Gòn tại khu vực Thứ 11 (h. An Biên, t. Rạch Giá, nay là t. Kiên Giang). Lực lượng địch khoảng 750 quân (có cố vấn Mĩ), gồm: SCH và Tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn thủy quân lục chiến B, Giang đoàn 74 (hơn 10 tàu chiến), Pháo đội C (6 pháo 105 và 155mm) thuộc lực lượng tổng dự bị và chủ lực Vùng chiến thuật 4, làm nhiệm vụ cắm chốt và càn quét căn cứ U Minh. Ta triển khai lực lượng bí mật luồn sâu, áp sát và thực hiện tốt việc nghi binh, rạng sáng 6.11 đồng loạt nổ súng đánh chiếm các mục tiêu, diệt SCH làm đội hình địch rối loạn, bị động không chi viện được cho nhau. Sau 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 700 địch (có 4 cố vấn Mĩ), phá hủy 8 tàu chiến, 6 pháo và hàng chục súng cối... Trận thắng lớn của LLVT Quân khu 9 mở màn đợt hoạt động tác chiến Đông Xuân 1969-70, đánh bại kế hoạch bình định vùng căn cứ U Minh lần thứ nhất của địch. TRẬN THUỜNG THỚI HẬU (11.9.1967), trận phục kích của 2 tiểu đội bộ đội địa phương huyện Hồng Ngự và du kích các xã Thường Thới Tiền, Thường Thới Hậu, Thường Phước, Thường Lạc (h. Hồng Ngự, t. Đồng Tháp), đánh đại đội thuyền bay (xuồng vũ trang tốc độ cao) của QĐ Sài Gòn tại Thường Thới Hậu. 8 giờ ngày 11.9 địch chia hai mũi tiến vào vùng căn cứ của ta: mũi 1 (8 xuồng) vào hướng rạch Cái Sách (hướng chủ yếu), mũi 2 (4 xuồng) vào hướng rạch xẻo Gáo. Tại rạch Cái Sách ta bố trí chướng ngại vật không cho địch vào, sau đó tổ chức chặn đánh quyết liệt ở Rạch Vọp và vàm Bầu Gáo, buộc địch phải rút chạy và bỏ lại 2 xuồng. Trong khi đó lực lượng địch ở rạch xẻo Gáo cũng bị chặn đánh, phải bỏ lại 1 xuồng, không thực hiện được ý đồ hợp điểm ở vàm Xẻo Gáo. Sau 8 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 16 địch, thu 3 xuồng cùng nhiều vũ khí, bắn hỏng 5 chiếc khác... Trận đánh đạt hiệu quả cao, lần đầu tiên LLVT địa phương đánh bại chiến thuật “thuyền bay” của địch trên địa bàn sông nước ở Khu 9. TRẬN THƯỢNG ĐỨC (28.7-7.8.1974), trân tiến công của Sư đoàn bộ binh 304 (thiếu) và các lực lượng tăng cường đánh chi khu QS quận lị Thượng Đức (nay thuộc xã Đại Lãnh, h. Đại Lộc, t. Quảng Nam), do Tiểu đoàn biệt động quân 79 và 1 đại đội bảo an, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 16 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (17.7-25.8.1974). Thực hiện phương châm “vây chặt, đánh mạnh, đánh dứt điểm trong thời gian ngắn”, sư đoàn sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 được tăng cường đại đội tên lửa B72 (thiếu), trung đội tên lửa A-72, đại đội súng máy 12,7mm và một lực lượng pháo binh của Trung đoàn 68, tiến công tiêu diệt đồn chính; đồng thời sử dụng Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324) và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương đánh chiếm các điểm ngoại vi, bao vây và sẵn sàng đánh địch tăng viện. Từ 28 đến 31.7 các đơn vị nổ súng tiến công, chiếm phần lớn tiền đồn ngoại vi, hình thành thế bao vây, chốt chặn, nhưng nhiêu lần tổ chức đột phá vào trung tâm quận lị không thành công, phải dừng lại phòng ngự, giữ vững bàn đạp đã chiếm và đánh lui các đợt phản kích của 3 tiểu đoàn địch ở Ba Khe. 5 giờ ngày 6.8 ta tiếp tục tổ chức tiến công, dùng cách đánh áp sát không cho địch phân tuyến, kịp thời chuyển hướng đột phá chủ yếu từ hướng tây bắc sang tây nam, tập trung hỏa lực chi viện, đưa pháo vào gần bắn ngắm trực tiếp, đến 8 giờ 30 phút ngày 7.8 làm chủ toàn bộ khu vực Thượng Đức. Kết quả diệt và bắt hơn 1.300 địch, bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 3 xe M113, thu 562 súng các loại (có 13 khẩu pháo và cối), giải phóng 13.000 dân. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi, góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ tây nam Đà Nẵng và buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó trong thế bị động, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta trên Mặt trận Quảng Đà. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67953913_465819377481281_1472756367541403648_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEhU4r53AroN5wG_ACYB-6KjJsHIveSQxvlZ6dA_RHBmRwwfMUlDEVeaZd21KUgWRvwCFlDA4lC1ZLyn0HpkhOh24QqS2hg2Bx4bRpakkF2DA&_nc_oc=AQnEfsChbJjydx-Ci11jMOFwcLVqjl92b2EARbLgsZc8U9Hwln08csxTIr-L3Cbc2Ms&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7b1b20a6bf5955c8c0a258e87b5d08a1&oe=5DE8B3C3) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:43:31 pm TRẬN TIÊN YÊN (4.1.1952), trận chống càn của Tiểu đoàn 884, Đại đội 85 (Trung đoàn 48, Đại đoàn 320) và Đại đội 29 bộ đội địa phương tỉnh Ninh Bình, đánh quân Pháp tại xã Tiên Yên (h. Yên Khánh, t. Ninh Bình). Sáng 4.1 địch huy động 1 tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh, có máy bay, tàu chiến, pháo binh yểm trợ, mở cuộc càn quét vào xã Tiên Yên. Từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút, ta đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, kết hợp phản kích đánh địch đột nhập, diệt và làm bị thương 130 địch, phá hủy 3 xe bọc thép, thu hơn 100 súng các loại. Sau TTY, Tiểu đoàn 884 được mang tên “Tiểu đoàn Tiên Yên”. TRẬN TỈNH HÌNH nh TRẬN BỐi THỦY (204tcn) TRẬN TỈNH LỊ HÒA BÌNH (2.8.1909), trận tiến công của nghĩa quân người Mường do Tổng Kiêm chỉ huy đánh quân Pháp ở tình lị Hòa Bình. Đêm 2 rạng 3.8 từng toán nhỏ nghĩa quân bất ngờ đánh chiếm trại lính khố xanh, ti thương chính, kho bạc và các công sở, phá nhà lao, đốt các kho tàng... Kết quả diệt 1 giám binh Pháp và 7 lính khố xanh, thu 150 súng và 35.000 viên đạn, giải thoát 40 tù nhân và làm chủ tỉnh lị một ngày. Chính quyền Pháp ở Hòa Bình trong khi chờ viện binh, phải đặt vấn đề thương lượng nhưng nghĩa quân không nhượng bộ. TTLHB thắng lợi đã cổ vũ tinh thần chống Pháp của nhân dân, tạo điều kiện phát triển lực lượng nghĩa quân. TRẬN TỔNG KHO AN ĐỒN (23.2.1969), trận tập kích hỏa lực của Đại đội pháo binh 3 (Tiểu đoàn pháo binh 577 Quảng Đà) vào tổng kho An Đồn ở tp Đà Nẵng. An Đồn là tổng kho dự trữ chiến lược Vùng chiến thuật 1, trực tiếp cung cấp vũ khí, trang bị cho lực lượng không quân Mĩ và QĐ Sài Gòn ở các sân bay Nước Mặn, Đà Nẵng; gồm 60 dãy nhà kho kiên cố, được bảo vệ nghiêm ngặt với lực lượng khoảng 600 quân (chủ yếu là nhân viên kĩ thuật Mĩ). Trận đánh diễn ra lúc 2 giờ 15 phút. Bằng cách đánh táo bạo, bí mật luồn sâu đặt pháo sát mục tiêu, bắn chính xác 16 viên đạn pháo phản lực ĐKB, gây cháy nổ trong 36 giờ, phá hủy phần lớn các dãy kho và hàng nghìn tấn vũ khí, làm chết và bị thương nhiều địch. Là một trong những trận đánh tiêu biểu, hiệu suất cao của lực lượng pháo binh Quảng Đà, gây khó khăn lớn cho hoạt động của địch ở Quảng Nam - Đà Nẵng. TRẬN TỐT ĐỘNG - CHÚC ĐỘNG (5-7.11.1426), trận phục kích lớn của nghĩa quân Lam Sơn (Đại Việt) diệt quân Minh (TQ) trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Cuối 10.1426, sau khi tập trung hơn 100.000 quân về Đông Quan (nay là Hà Nội), tướng Minh là Vương Thông chủ trương mở cuộc hành quân lớn nhằm giải vây thành Đông Quan, giành lại thế chủ động trên chiến trường. 5.11 quân Minh chia thành ba hướng đánh vào cánh quân Lam Sơn (khoảng 10.000 quân do Phạm Văn Xảo, Lí Triện, Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huy) ở phía tây nam Đông Quan. Biết trước ý định đối phương, nghĩa quân thực hiện một số trận phục kích, tập kích nhỏ để tiêu hao sinh lực, làm rối loạn kế hoạch của Vương Thông rồi rút về Cao Bộ (nay thuộc Hà Tây) và bố trí hai trận địa phục kích ở Tốt Động, Chúc Động (nay thuộc Chương Mĩ, t. Hà Tây). Rạng sáng 7.11 dựa vào binh lực lớn, Vương Thông tổ chức hai cánh quân phối hợp tiến công Cao Bộ: cánh chính binh đánh trực diện, cánh là binh vòng đánh phía sau. Quân Lam Sơn dùng mưu dụ cánh chính binh vào trận địa mai phục ở Tốt Động, diệt bộ phận tiền quân, buộc cả hai cánh quân Minh phải tháo chạy và bị đánh tan tại Chúc Động. Kết quả khoảng 60.000 quân Minh bị diệt; các tướng Minh: Trần Hiệp, Lí Lượng, Lí Đằng bị giết, Vương Thông bị thương cùng tàn quân rút về Đông Quan cố thủ. Nghệ thuật khéo dùng mưu lôi kéo đối phương hành động theo kế hoạch của ta và lối đánh mai phục rất lợi hại là nét nổi bật của TTĐ-CĐ. TRẬN TRÀ PHÍ (18 và 22.8.1968), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 3 (thiếu 1 tiểu đoàn) thuộc Sư đoàn 9 bộ đội chủ lực Miền vào căn cứ SCH Lữ đoàn bố binh cơ giới 1 (Sư đoàn 25) QĐ Mĩ tại khu vực Trà Phí (xã Ninh Sơn, h. Hòa Thành, t. Tây Ninh). Lực lượng địch ở căn cứ có Tiểu đoàn 3 (thiếu 2 đại đội), 1 đại đội cơ giới và 1 đại đội pháo, tổ chức phòng ngự vũng chắc, xung quanh có 2 lớp rào thép gai và mìn bảo vệ. 0 giờ 35 phút ngày 18.8, trung đoàn được tăng cường 1 tiểu đoàn hỏa tiễn H-12 và 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm tiến hành tập kích hỏa lực, chi viện cho các mũi bộ binh đột kích vào căn cứ, sau gần 2 giờ chiến đấu diệt và làm bị thương 400 địch, phá hủy 33 xe tăng và xe bọc thép, 6 pháo 105 và 155mm, 2 cổi 106,7mm. Địch tăng cường phòng ngự bổ sung thêm 3 đại đội bộ binh cơ giới, 2 đại đội pháo và số lượng lớn xe tăng, thiết giáp. 0 giờ 15 phút ngày 22.8 ta tiếp tục tập kích lần hai, sau gần 3 giờ loại khỏi chiến đấu 600 địch, phá hủy 82 xe tăng và xe bọc thép, 14 pháo và súng cối, bắn rơi 4 máy bay. Trận đánh mở màn chiến dịch Tây Ninh (17.8 - 28.9.1968) đạt hiệu quả cao, làm phong phú thêm nghệ thuật tập kích “đánh bồi, đánh nhồi” vào căn cứ địch trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:44:43 pm TRẬN TRẠI BE (10.9.1957), trận tập kích của Đại đội bộ binh 250 QGP miền Đông Nam Bộ cùng LLVT “Bình Xuyên”, đánh 1 tiểu đoàn bộ binh và lực lượng cảnh sát dã chiến QĐ Sài Gòn tại Trại Be (Biên Hoà, nay thuộc t. Đồng Nai). Trại Be là cơ sở khai thác gỗ, án ngữ phía nam Chiến khu Đ, được địch sử dụng phục vụ mục đích QS và tổ chức mạng lưới bảo vệ chật chẽ, nơi tiến hành các hoạt động đánh phá, chia cắt vùng căn cứ của ta. Dựa vào cơ sở CM địa phương, sau khi điều tra, nắm chắc lực lượng, cách bố phòng của dịch, bộ đội ta cải trang làm công nhân khai thác gỗ, bí mật đột nhập, tiến công bất ngờ diệt 1 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội địch, thu và phá hủy 80 xe vận tải cùng nhiều vũ khí, phương tiện QS. Trận đánh giành thắng lợi lớn, góp phần phá âm mưu địch chia cắt vùng căn cứ của ta. TRẬN TRẠI THÁN (22.8.1948), trận tập kích của Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) và 1 đại đội độc lập thuộc Mặt trận Đông Bắc, đánh đồn Trại Thán là sào huyệt của khoảng 200 quân phỉ do Pháp lập ra ở khu vực An Châu (t. Quảng Yên, nay thuộc h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh). Sáng 22.8 ta bí mật tiếp cận, đột nhập vào đồn, ngay từ đầu giết được đổn trưởng, sau đó tỏa ra đánh chiếm các mục tiêu, kết hợp gọi hàng đồng thời tổ chức lực lượng đón lõng đánh địch rút chạy. Kết quả diệt và gọi hàng hơn 100 địch, thu lại 70 ha đất chia cho dân, góp phần làm thất bại âm mưu của Pháp tổ chức quân phỉ chống phá CM ở vùng Đông Bắc. TRẬN TRẢNG A LẤN (26.2.1967), trận vận động tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 9) bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ vào cụm quân Mĩ ở trảng A Lấn (nay thuộc xã Tân Lập, h. Tân Biên, t. Tây Ninh), trong đợt 1 chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti (22.2-15.4.1967). Phối hợp với du kích, bộ đội địa phương và các đơn vị bạn, Tiểu đoàn 2 đã vận động tập kích vào bên sườn và phía sau đội hình hành quân của địch, làm thương vong 150 quân Mĩ, phá hủy 8 xe thiết giáp, bắn rơi 1 máy bay trực thăng. TTAL góp phần làm thất bại cuộc hành quân và ý đồ chiến thuật “bủa lưới phóng lao” của địch, buộc địch phải co về chốt giữ trục đường 22. TRẬN TRẢNG BÀ ĐIẾT (29.3.1970), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 3, Sư đoàn 9) vào căn cứ yểm trợ hành quân của Sư đoàn kị binh không vận 1 Mĩ ở trảng Bà Điết (xã Phước An, h. Tân Biên, t. Tây Ninh). Thực hiện kế hoạch càn quét vùng giải phóng Tây Ninh, từ 23.3 Sư đoàn kị binh không vận 1 Mĩ dùng máy bay trực thăng đổ bộ 1 đại đội và 2 trung đội bộ binh, 1 đại đội chỉ huy, 2 đại đội pháo, 1 đại đội cơ giới thuộc Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 7) xuống trảng Bà Điết lập căn cứ yểm trợ hành quân và tổ chức phòng ngự trên khu vực dài 350m, rộng 250m, có công sự dã chiến, hàng rào thép gai bảo vệ. Tiểu đoàn 9 được tăng cường 1 đại đội bộ binh. 1 đại đội ĐB20, 1 đại đội ĐKZ 75mm và hỏa lực cấp trên chi viện, 3 giờ 5 phút chia bốn mũi đột kích vào trận địa địch; sau hơn 1 giờ loại khỏi chiến đấu hàng trăm quân Mĩ, phá hủy 15 pháo, cối, 21 xe QS (có 14 xe bọc thép), bắn cháy 9 máy bay trực thăng. Trận đánh góp phần phá vỡ kế hoạch tiến công của địch, giữ vững vùng giải phóng bắc Tây Ninh. TRẬN TRẢNG BOM (20.7.1951), trận tập kích của Tiểu đoàn 303 (bộ đội chủ lực Khu 7), phối hợp với đội biệt động t. Thủ Biên và du kích địa phương, đánh đồn Trảng Bom (đông tx Biên Hòa 20km, nay thuộc thị trấn Trảng Bom, h. Thống Nhất, t. Đồng Nai), do 1 đại đội Âu - Phi và 1 trung đội lính ngụy của Pháp đóng giữ. Chiều 20.7 ta sử dụng 2 xe ô tô vận tải, chở 75 chiến sĩ cải trang làm công nhân đồn điền cao su từ Bàu Cá về Trảng Bom, đến cổng đồn bất ngờ nổ súng diệt lính gác, phối hợp với bộ phận ém sẵn cách đồn 500m, xung phong đánh chiếm mục tiêu. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ địch (khoảng 200 quân), phá 1 xe thiết giáp, thu 200 súng và hàng chục tấn đạn, lương thực chở về căn cứ an toàn. Trận đánh đạt hiệu quả cao, lần đầu tiên ta sử dụng ô tô hành quân đánh dịch trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. TRẬN TRAPDÔN (5.2-18.4.1916), trận chiến đấu giữa quân Nga với quân Thổ Nhĩ Kì trong CTTG-I tại khu vực Trapdôn (Thổ Nhĩ Kì) bên bờ Biển Đen. Với lực lượng hơn 30.000 quân được hải quân yểm hộ, sau gần hai tháng rưỡi, quân Nga chiếm được Trapdôn, tạo thuận lợi cho việc bảo đảm hậu cần ở mặt trận Capca. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:45:39 pm TRẬN TRAPHANGA (21.10.1805), trận đánh lớn trên biển Đại Tây Dương giữa hải quân Anh (27 tàu chủ lực) do G. Nenxơn chỉ huy với hải quân Pháp - Tây Ban Nha (33 tàu chủ lực ) do P. Vinnhôp chỉ huy, trong thời gian đầu chiến tranh Napôlêông (1799-1815) xảy ra giữa Pháp với liên minh chống Pháp thứ ba tại mũi Traphanga, nam Tây Ban Nha. Bằng chiến thuật cơ động, hải quân Anh đã giành thắng lợi, diệt 1 và bắt 17 tàu đối phương, trong khi Anh bị hỏng 7 tàu. Đô đốc Nenxơn bị tử thương. TT đem lại quyền khống chế trên biển cho hải quân Anh. TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG (7.12.1941), trận tập kích của hải quân Nhật vào căn cứ chính Hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ ở Trân Châu cảng thuộc quần đảo Haoai, mở đầu chiến tranh Nhật - Mĩ trong CTTG-II. Hải quân Mĩ đóng tại cảng có 93 hạm tàu (trong đó 8 tàu thiết giáp, 8 tàu tuần dương, 29 tàu khu trục, 5 tàu ngầm, 9 tàu rải mìn, 10 tàu quét mìn), 394 máy bay, 42.959 quân. Đường vào cảng được phòng thủ bằng các loại chướng ngại nước, có tổ chức cảnh giới bằng hạm tàu ở phía nam, và máy bay trinh sát theo định kì. Kế hoạch tập kích của Nhật vào Trân Châu cảng được chuẩn bị kĩ, do dô đốc Iamamôtô hoạch định, sử dụng binh đoàn tàu sân bay (6 tàu sân bay chờ 353 máy bay, 2 tàu thiết giáp, 3 tàu tuần dương, 11 tàu khu trục) và 27 tàu ngẩm (đã triển khai từ trước ở vùng đảo Haoai) do phó đô đốc Nagumô Chuichi trực tiếp chỉ huy. 26.11 binh đoàn tàu sân bay Nhật rời căn cứ tập kết ở đảo Iturup (quần đảo Curin), giữ bí mật tuyệt đối về thông tin liên lạc, trao đổi bằng vô tuyến giả, như đang đi lại trên lãnh hải Nhật; đến 6 giờ ngày 7.12 đã vượt chặng đường biển dài 6.300km tới khu vực triển khai (bắc Trân Châu Cảng 300-500km). Để đánh lạc hướng đối phương, đêm 6 rạng 7.12 Nhật cho 2 tàu khu trục bắn vào đảo Mituây và 5 tàu ngầm loại nhỏ bắt dầu hoạt động ở cảng. Đợt 1 bắt đầu lúc 7 giờ 55 phút, Nhật sử dụng 183 máy bay bất ngờ bắn phá các hạm tàu lớn và máy bay Mĩ đậu trên sân bay, sau gần 1 giờ bản chìm 3 tàu thiết giáp, diệt một số lớn máy bay Mĩ. Đợt 2 diễn ra từ 8 giờ 40 phút đến 9 giờ 15 phút, Nhật sử dụng 167 máy bay tiếp tục đánh phá; Mĩ chống trả mạnh. Kết quả hải quân Mĩ bị mất toàn bó tàu thiết giáp (4 bị đắm. 4 bị hư hỏng nặng), 6 tàu tuần dương và khu trục, 270 máy bay, bị thương vong 4.498 quân (theo số liệu Mĩ); Hạm đội Thái Bình Dương bị tê liệt cả năm sau. Thất bại của Mĩ, nguyên nhân trước hết do kém cảnh giác, tiến hành trinh sát và phòng thủ không hợp lí. Thắng lợi TTCC tạo điều kiện cho Nhật giành quyền khống chế trên biển, mở rộng bành trướng tới Philippin, Malaixia và Inđônêxia (thuộc Hà Lan), buộc Mĩ tham gia chiến tranh chống trục phát xít. TRẬN TRENTINÔ (15.5-25.6.1916), trận đánh giữa quân Áo - Hung và quân Italia trong CTTG-I tại vùng Trentinô (đông bắc Italia), trên mặt trận Italia. Cuộc tiến công của phía Áo - Hung được chuẩn bị kĩ, tiến hành bất ngờ, nhưng do địa hình phức tạp và đối phương đã kịp tăng cường lực lượng, nên sau 25 ngày quân Áo - Hung chỉ tiến dược 12-20km. Sau đó quân Italia phản công, chiếm lại được phần đất đã mất. TRẬN TRÍ PHẢI (29.10.1963), trận vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh T70 (Quân khu 9) và đại đội bộ đội địa phương huyện Thới Bình, đánh trả cuộc hành quân càn quét của tiểu đoàn học viên hạ sĩ quan biệt kích thuộc trại huấn luyện biệt kích Tân Phú (Huyện Sử) và đại đội dân vệ chi khu Thới Bình QĐ Sài Gòn (có cố vấn Mĩ chỉ huy) tại xã Trí Phải (h. Thói Bình, t. Cà Mau). 2 giờ ngày 29.10, địch chia 2 hướng tiến công, với ý đồ bí mật luồn sâu vào kênh Sáu La Cua và hợp điểm ở khu vực kênh Ba Mươi - kênh Bảy - kênh Tám. Ta kịp thời chặn đánh làm chậm tốc độ hành quân của địch ở đoạn kênh Năm, kênh Sáu La Cua, đồng thời triển khai lực lượng vu hồi, khóa đuôi dồn ép địch ra hướng kênh Ba Mươi để tiêu diệt. 9 giờ 30 phút trận đánh bắt đầu bằng các loại hỏa lực cối, đại liên bắn chính xác vào đội hình địch, sau đó các mũi bộ binh từ nhiều hướng đồng loạt xung phong, đột phá, bao vây chia cắt, truy kích tiêu diệt phần lớn quân địch. Số địch sống sót bỏ chạy bị sa vào hầm chông hoặc vấp lựu đạn gài, đạp lôi của du kích. Kết quả sau gần một ngày chiến đấu, ta diệt, bắt và làm bị thương hơn 400 địch, thu gần 30 súng cùng nhiều đạn dược, đổ dùng QS. Trận đánh lớn đầu tiên đạt hiệu quả cao của Tiểu đoàn T70 kể từ khi thành lập, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương chống lại chương trình bình định của địch. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:46:51 pm TRẬN TRIỆU PHONG - HẢI LĂNG (24.4-1.5.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 27 (Quân khu Trị - Thiên) được sự phối hợp của các tiểu đoàn 3 và 47 (Vĩnh Linh), Tiểu đoàn xe tăng 66 (Trung đoàn bộ binh cơ giới 202) cùng LLVT và nhân dân địa phương giải phóng hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng (t. Quảng Trị), trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Lực lượng địch có các đơn vị của Sư đoàn bộ binh 3 (vừa được củng cố) và lực lượng địa phương quân, tổ chức phòng ngự ở hàng trăm vị trí. 24.4 ta vượt sông Cửa Việt, đánh chiếm bàn đạp ở Long Quang, Thanh Hội, Vĩnh Hổ, Cầm Phố; ngày 27 chia ba mũi tiến công địch ở Linh Chiểu, Gia Đẳng, cảng Mĩ Thủy, Ngô Xá Đông, quận lị Triệu Phong,... hỗ trợ nhân dân nổi dậy bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt bảo an, dân vệ; 10 giờ 1.5 đánh chiếm quận lị Hải Lăng, giải phóng hoàn toàn hai huyện. Trận đánh thực hiện tốt nhiệm vụ của mũi thọc sâu, vu hồi phía đông, phối hợp với hướng chủ yếu của chiến dịch giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị. TRẬN TRƯNG AN (8-9.1.1967), trận chống càn của du kích xã Trung An (h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh) đánh 1 tiểu đoàn quân Mĩ (có 20 xe tăng, xe ủi) càn vào xã. Lực lượng ta có 1 tiểu đội du kích xã và các tổ du kích ấp (40 người). 7 giờ 30 phút ngày 8.1 địch dùng máy bay, pháo binh đánh phá ác liệt, triển khai tiến công từ nhiều hướng, kết hợp tiến công đường bộ và đổ bộ đường không, mục tiêu chủ yếu là các ấp Ần Hoà, An Bình và khu vực nam ấp Bổn Phú. Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo và các ổ chiến đấu bí mật, ta dùng lực lượng nhỏ, cơ động đánh nhử địch vào các bãi chông, mìn, diệt xe tăng, kết hợp bắn tỉa và đánh máy bay ở các bãi đổ quân, bẻ gãy các mũi tiến công của địch, đến 17 giờ buộc địch phải rút quân. 9.1 địch ở đồn Bầu Giang tiếp tục đi lùng sục cũng bị ta chặn đánh, đẩy lùi. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 100 địch, bắn cháy 12 máy bay trực thăng, phá hủy 4 xe tăng, góp phần đánh bại cuộc hành quân Xđa Phân (8- 26.1.1967) và chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của địch đánh phá vùng giải phóng ven đô của ta. Cg trận ấp An Bình, An Hòa (8-9.1.1967). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68594075_465819387481280_1967186933868134400_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFbLUbXSnx5NKLjita6ysvOvkO8DUAm3P8dwrB1nb5BTkdGPOQ7uVKJxt9S4OEB59uLIKHuOTCwwyoCFwE9o-FMIRDR1FVAWstjllPnMrHXfQ&_nc_oc=AQlKkF7-T6ImS0dWQRqFf13vIwf4x-k8s93NRvNGjFkgKR7jiPyaWFjlt8YWNSWFDrQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=049faba57ca8c2b003cf342d248ccc13&oe=5DED7DF9) TRẬN TRUNG HƯNG - RÀNG (17.12.1946), trận chống càn của các chi đội 6, 11 và 12 đánh quân Pháp càn quét ở khu vực Trung Hưng - Ràng (nay là xã Trung Hưng Tây, h. Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh). Sáng 17.12 Pháp huy động Lữ đoàn lê dương 13 (13è DBLE) và lực lượng chiếm đóng ở sở Mây Sắc, bốt Cầu Trắng, chia ba mũi có pháo binh yểm trợ đánh vào 2 xã Trung Lập và An Nhơn Tây, dự định hợp điểm ở xóm Ràng nhằm tiêu diệt các chi đội 6 và 12 đang đứng chân tại đây. Trên hướng xóm Trại, Ba Sòng, Chi đội 12 tổ chức chặn đánh, đẩy lùi cánh quân địch từ sở Mây sắc và bốt Cầu Trắng; Chi đội 6 kiên cường bám trụ, đánh trả quyết liệt 4 tiểu đoàn địch tại xóm Ràng; Đại đội B (Chi đội 11) từ An Tịnh, cơ động 8km, kịp thời hỗ trợ đánh vào bên sườn và phía sau đội hình địch, buộc địch phải rút chạy. Kết quả ta diệt gần 300 địch, phá hủy 14 xe, thu nhiều vũ khí. Trận đánh đầu tiên diệt nhiều địch ở vùng ven Sài Gòn thời kì đầu KCCP; thể hiện tinh thần chủ động hiệp đồng chiến đấu của bộ đội ta, bước đầu làm thất bại kế hoạch mở rộng tiến công của địch ở mặt trận phía bắc Sài Gòn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:47:54 pm TRẬN TRƯƠNG ĐỊNH (18.5.1965), trận chống càn của du kích và nhân dân xã Sơn Mĩ (h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi) đánh 2 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn càn quét tại thôn Trương Định. 5 giờ 40 phút ngày 18.5 địch có pháo binh yểm trợ định bất ngờ đánh chiếm xóm Bắc, bị ta phát hiện đẩy lùi. Từ 7 giờ địch tập trung lực lượng, chia thành nhiều mũi tiến công trên cả ba hướng vào xóm Giữa, xóm Bắc và xóm Nam. Ta tổ chức thành các tổ nhỏ, dựa vào hệ thống công sự, địa đạo, chông mìn và các ổ chiến đấu bí mật, bất ngờ đánh địch ở mọi ngõ xóm. kết hợp đánh phía trước, phía sau, tạt sườn, tập kích, bẻ gãy nhiều đợt tiến công và gây cho địch nhiều thiệt hại, đến 12 giờ buộc địch phải rút lui. Trận chống càn thắng lợi (diệt 74 địch, thu 3 súng), phát huy tốt thế trận làng xã chiến đấu và cách đánh du kích, góp phần giữ vững địa bàn giải phóng, làm thất bại âm mưu càn quét, dồn dân lập ấp chiến lược của địch trong KCCM. TRẬN TRƯỜNG KE (7.2.1947), trận phòng ngự của Đại đội 16 (Tiểu đoàn 103, Trung đoàn Thủ Đô) chặn đánh quân Pháp tại khu vực Trường Ke (ở phố Ke Clémăngxô, nay là Trường tiểu học Trần Nhật Duật. phố Trần Nhật Duật, q. Hoàn Kiếm, Hà Nội) trong đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946-18.2.1947). Sau thất bại trận nhà Xôva (6.2.1947) Pháp tập trung lực lượng tiến đánh Trường Ke nhằm cắt đứt đường liên lạc từ phía bắc thành phố vào Liên khu 1; dùng xe tăng, thiết giáp chặn các ngả đường ta có thể tiếp viện rồi tổ chức tiến công. Bộ đội ta kiên cường chiến đấu đánh lui 8 đợt xung phong của địch, giữ vững trận địa suốt ngày 7.2. TTK góp phần ngăn chặn cuộc tiến công của địch vào Liên khu 1, tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ Đô hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu giam chân địch ở thủ đó Hà Nội trong những ngày đầu KCCP. TRẬN TRƯỜNG XUÂN (2.5.1972), trận chiến đấu của trung đội tên lửa phòng không A-72 thuộc Đại đội 2 (Tiểu đoàn 24, Trung đoàn 241), bảo vệ đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 324) ở khu vực Trường Xuân (h. Hải Lăng, t. Quảng Trị) trong chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Từ 6 giờ đến 13 giờ ngày 2.5, trung đội sử dụng 4 quả đạn liên tiếp bắn rơi tại chỗ 4 máy bay địch (1 F-4, 2 AD-6. 1 UH-1A). Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần bảo đảm cho bộ binh truy kích tiêu diệt địch, giải phóng tỉnh Quảng Trị. TRẬN TU VŨ (10-11.12.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 36 và 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội trọng liên 12,7mm, diệt cứ điểm Tu Vũ (bắc tx Hòa Bình 20km, nay thuộc h. Thanh Thủy, t. Phú Thọ), một trong những cứ điểm quan trọng trên tuyến phòng ngự Sông Đà của Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951- 25.2.1952). Cứ điểm do 1 tiểu đoàn Âu - Phi, 1 đại đội người Mường đóng giữ, tổ chức thành 3 khu (A, B, C) với 3 xe tăng, có công sự gỗ đất, 4 hàng rào kẽm gai, được lực lượng pháo binh ở Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp yểm trợ. Tối 10.12 các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa bị địch phát hiện và dùng pháo binh bắn chặn dữ dội, đến 23 giờ chỉ có 1 tiểu đoàn ở hướng nam nổ súng đúng kế hoạch, sau 2 giờ chiến đấu chiếm được khu c. 1 giờ 45 phút ngày 11.12 ta tập trung hỏa lực pháo binh chế áp, đồng thời tổ chức các mũi đột phá mãnh liệt vào khu A và B, đến 4 giờ làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt 170 địch, phá hủy 3 xe tăng, thu nhiều vũ khí, trang bị, làm rạn vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Sau trận đánh, Trung đoàn 88 được tặng danh hiệu “Trung đoàn Tu Vũ”. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68262205_465819394147946_4582829095238238208_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFHT5HRsmvHePjUUYjzqU_AsVNR8G-QmbihDa1rNJimr_9TiOGKeSSG4LKT2wDoKodz15Lkm-LRselP7IN8_iDk-xBaJOHRO97f6uxRWT5m9Q&_nc_oc=AQmVK1RIa4Jyr8DMX9dAKiDCtEJziQJeSMe3NCyOPWcxEwA5wVqRjloZjUsXbhkhntw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=194ca5e6ff0fe8c92007d9a840f845fb&oe=5DD98803) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:48:56 pm TRẬN TUA HAI (26.1.1960), trận tập kích của 3 đại đội bộ binh (59, 70 và 80), Đại đội đặc công 60 thuộc Ban QS Miền và 3 tiểu đội vũ trang tỉnh Tây Ninh đánh căn cứ Tua Hai của Trung đoàn 32 (Sư đoàn 21) QĐ Sài Gòn (tây bác tx Tây Ninh 7km, nay thuộc xã Thái Bình, h. (Thâu Thành, t. Tây Ninh). Căn cứ gồm 4 khu do 3 tiểu đoàn bộ binh đóng giữ, xung quanh có 14 tháp canh và hệ thống phòng thủ cẩn mật, là bàn đạp mở các cuộc hành quân của địch. Đêm 25 rạng 26.1 (tức 28 Tết âm lịch), dưới sự chỉ huy của trưởng ban QS Đông Nam Bộ, các đơn vị bí mật tiếp cận phối hợp với lực lượng nội ứng bên trong, bất ngờ tập kích đánh SCH, kho vũ khí, nhà để xe và khu nhà lính. Sau 20 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ, diệt 76, bắt giáo dục và thả tại chỗ 400 địch, thu 1.500 súng các loại. Một trong những trận đánh tiêu diệt lớn đầu tiên của LLVT CM miền Nam, mở đầu thời kì đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang ở miền Đông Nam Bộ trong KCCM; góp phần hỗ trợ cho phong trào đồng khởi ở Tây Ninh, giải phóng 2/3 số xã trong tỉnh. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67769359_465819407481278_7677904965368545280_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeG_sNPbBpld9Pf4MZZaMefvvBW2TamMBpCkFPlPRtDcFzRNPWIewS2IDbGASzBxNgjG-qByJATzw1ukCRO1WWAj72fP-1_VGx6o4LlTlbOn3Q&_nc_oc=AQkVXS-tAJznYZWPleXmAOfrmrenbxoKabb5cYQBqLylGlObwswTzIRUTf3X_OWxEdE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cc9adbb36ceb9af41cc260efa7f77918&oe=5DDA8989) TRẬN TUMƠRÔNG 25.6.1965, trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 101A (Sư đoàn 325) đánh chi khu QS Tumơrông (bắc tx Kon Tum 55km, nay thuộc h. Đắc T6, t. Kon Tum), do Đại đội bảo an 746 và 2 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105mm QĐ Sài Gòn đóng giữ và tổ chức phòng ngự công sự vững chắc. 20 giờ 30 phút ta triển khai lực lượng đột phá từ hướng đông nam (hướng chủ yếu) và nam; sau gần 4 giờ chiến đấu, làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt 50 địch, thu hơn 100 súng, phá hủy 2 pháo 105mm, 13 xe QS, buộc địch phải rút chạy khỏi căn cứ. Trận đánh gây tác động mạnh đến tinh thần binh lính địch ở Kon Tum, góp phần thúc đẩy phong trào du kích, mở rộng vùng giải phóng. TRẬN TUMƠRÔNG 21.5-10.6.1966, trận vây điểm diệt viện của Trung đoàn bộ binh 24 Mặt trận Tây Nguyên tại khu vực Tumơrông (bắc tx Kon Tum 55km, nay thuộc h. Đắc Tô, t. Kon Tum). 21.5 Trung đoàn 24 sử dụng 1 tiểu đoàn được tăng cường hỏa lực bao vây cứ điểm Tumơrông, buộc địch phải điều Trung đoàn bộ binh 42, Tiểu đoàn biệt động quân 21 QĐ Sài Gòn và Lữ đoàn dù 1 Mĩ từ Cam Ranh lên ứng cứu. Dựa vào trận địa chuẩn bị trước, 3-10.6 lực lượng chính của Trung đoàn 24 tổ chức chạn đánh quân viện, kết hợp tập kích, phục kích, loại khỏi chiến đấu hon 1.000 địch, trong đó đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn quân Mĩ. TT thực hiện được nhiệm vụ thu hút một bộ phận lực lượng địch lên bắc Kon Tum, phối hợp chiến trường với đồng bằng Khu 5, tạo điều kiện đẩy mạnh chiến tranh du kích. TRẬN TUY HÒA (1.4.1975), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 320 (Quán đoàn 3) được tăng cường Trung đoàn pháo phòng không 593 (thiếu), Tiểu đoàn xe tăng 1 (Trung đoàn 203), 1 đại đội pháo lựu 122mm thuộc Trung đoàn pháo binh 675, 8 cơ cấu phóng A72 đánh 11 tiểu đoàn bảo an, biệt động cùng tàn binh Quân đoàn 2 - Quân khu 2 QĐ Sài Gòn, nhân viên chính quyền, cảnh sát tinh Phú Yên rút về phòng thủ tx Tuy Hòa và vùng phụ cận. Trận đánh diễn ra từ 5 giờ 30 phút đến 11 giờ. Sư đoàn 320 phối hợp với LLVT tỉnh và nhân dân địa phương tiến hành ngăn chặn, bao vây, chia cắt, kết hợp với thọc sâu diệt mục tiêu then chốt, làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực và địa phương QĐ Sài Gòn ở Phú Yên, làm chủ thị xã, quận Tuy Hòa 1, Tuy An và từ quận Hiếu Xương đến Đèo Cả; loại khỏi chiến đấu 3.490 dịch. TTH là trận tiêu biểu về trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng cấp sư đoàn trong điều kiện gấp rút, phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lục cơ động và lực lượng tại chỗ, kết hợp tiến công và nổi dậy, góp phần tạo thế cho chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:49:52 pm TRẬN TỪ HẠ (6.4.1967), trận tập kích của 3 đại đội đặc công phối hợp với 2 đại đội và 1 trung đội bộ binh thuộc Trung đoàn 6 (Mặt trận Trị Thiên) vào căn cứ của Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn tại Từ Hạ (tây bắc tp Huế 12km, nay thuộc h. Hương Trà, t. Thừa Thiên - Huế). Tại căn cứ, địch có hơn 780 quân, 18 xe tăng, 120 ô tô, 4 khẩu pháo, cối. 23 giờ 55 phút ngày 6.4 trận đánh bắt dầu. Lực lượng đặc công chia làm nhiều mũi đánh chiếm các mục tiêu bên trong, bộ binh chặn viện ở bên ngoài, sau gần 3 giờ chiến đấu, làm chủ căn cứ, tiêu diệt phần lớn quân địch. Chiến thắng Từ Hạ góp phần làm thất bại kế hoạch bình định của Mĩ và chính quyền Sài Gòn năm 1967 ở Trị Thiên. TRẬN TỨC MẶC (279tcn), trận quyết chiến của quân Tề chống quân Yên thời Chiến Quốc (TQ) tiến tới giải phóng toàn bộ nước Tề. 284tcn, danh tướng Nhạc Nghị chỉ huy quân Yên chiếm hơn 70 thành của nước Tề (x. trận Nhạc Nghị đánh Tề, 284tcn). Hai thành còn lại là cứ và Tức Mặc bị bao vây hơn một năm. Điền Đan chỉ huy phòng thủ Tức Mặc (nay thuộc t. Sơn Đông), nắm được mâu thuẫn nội bộ nước Yên, dùng kế li gián làm cho vua Yên triệt hổi Nhạc Nghị và cử Kị Khiếp, một tướng bất tài sang thay; sau lại dùng cách xúi Kị Khiếp cắt mũi tù binh, đào mả người Tề khiến dân Tề căm giận, thề quyết tử chiến. Điền Đan động viên binh lính và nhân dân tăng cường phòng thủ, đồng thời bí mật chuẩn bị phản công. 279tcn, khi thời cơ chín muồi, Điền Đan cho chuẩn bị 1.000 con trâu, buộc giáo nhọn vào sừng, buộc bó lau tẩm dầu vào đuôi, đưa xuống các đường hầm ở chân thành; đang đêm châm lửa các bó lau ở đuôi trâu, thúc đàn trâu xông vào trại quân Yên, có 5.000 dũng sĩ theo sau. Dân trong thành nhất tề đánh chiêng trông, hò reo trợ chiến. Quân Yên kinh hoàng tan chạy, Kị Khiếp chết trong đám loạn quân. Quân Tề thừa thắng truy .kích, nhân dân các thành khác cũng nổi dậy, thu lại toàn bộ hơn 70 thành. Trận nổi tiếng trong lịch sử QS cổ đại TQ về biết xoay chuyển tình thế, đoàn kết nhân dân, dùng kê li gián và mê hoặc địch, sáng tạo cách đánh có hiệu quả. TRẬN UM (1805), trận quân Pháp của Napôlêông I (220.000 người) bao vây quân Áo của nguyên soái C. Macơ (trên 80.000 người) gần tp Um bên sông Đanuyp (nay là một thành phố ở Đức), trong thời gian đầu chiến tranh Napôlêông (1799-1815) giữa Pháp với liên minh chống Pháp thứ ba. Trong khi đóng quân ở thượng lưu sông Đanuyp để chờ quân Nga của Cutudôp ở hạ lưu kéo lên cùng phối hợp hai mũi đánh Bayaria (Muynich ở Đức ngày nay), quân Áo bị quân Pháp cơ động khôn khéo bao vây từ phía sau, cắt đứt liên lạc với nước Áo và bị ngăn cách với quân Nga. 7-20.10 quân Áo một mình chống đỡ với quân Pháp trong vòng vây, nhiều quân lính bỏ chạy, nguyên soái C. Macơ buộc phải đầu hàng với 20.000 quân trong tay. Thất bại của quân Áo trong TU khiến quân Nga lâm vào tình trạng khó khăn, bị quân Pháp đón đánh ở vùng Sông In. TRẬN UNG KHÂM LIÊM (10.1075-3.1076), trận tiến công của quân Đại Việt vào các căn cứ QS của nhà Tống (TQ) ở các châu Ung (Quảng Tây), Khâm, Liêm (Quảng Đông) và các đồn trại sát biên giới đông bắc Đại Việt, trong kháng chiến chống Tống lần II (1075-77). Thực hiện chủ trương tiến công trước để tự vệ (tiên phát chế nhân), 27.10.1075 Lí Thường Kiệt huy động hơn 100.000 quân, chia thành hai đạo tiến công sang đất Tống: đạo quân bộ do các tù trưởng Tông Đản, Lưu Kỉ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An chỉ huy đánh các trại biên giới; đạo quân thủy do Lí Thường Kiệt chỉ huy, vượt biển đánh Khâm Châu, Liêm Châu rồi cùng phối hợp tiến đánh Ung Châu. Trên đường tiến quân, Lí Thường Kiệt cho phân phát "Phạt Tông lộ bố văn”, kể tội vua quan nhà Tống, kêu gọi nhân dân TQ ủng hộ hành động tự vệ chính đáng của quân dân Đại Việt. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, quân Đại Việt lần lượt đánh chiếm Khâm Cháu (31.12.1075), Liêm Châu (2.1.1076), Ung Châu (1.3.1076), phá hủy toàn bộ căn cứ kho tàng, diệt và bắt hàng trăm nghìn quân Tống, sau đó chủ động rút quân về nước, gấp rút chuẩn bị kháng chiến. TUKL thắng lợi, góp phần đánh bại âm mưu xâm lược của nhà Tống. TRẬN UÔNG BÍ - BÍ CHỢ (1.7.1945), trận tập kích của 2 tiểu đội giải phóng quân và du kích Chiến khu Trần Hưng Đạo đánh đồn Uông Bí và trại huấn luyện Bí Chợ của quân Nhật trên đường 18, tây bắc t. Quảng Yên (nay thuộc tx Uông Bí, t. Quảng Ninh), thời kì chuẩn bị tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Lực lượng địch: đồn Uông Bí có 80 lính bảo an; trại huấn luyện Bí Chợ thường có khoảng 70 học viên do sĩ quan Nhật chỉ huy. Được sự phối hợp của lực lượng tự vệ công nhân và binh lính giác ngộ, rạng sáng 1.7 ta bí mật đột nhập diệt chỉ huy và nhanh chóng làm chủ các vị trí. Kết quả diệt 6 địch, giải tán hơn 100 lính bảo an và học viên, thu gần 200 súng các loại và nhiều quân trang, lương thực, thuốc men, tạo điều kiện cho chiến khu phát triển thêm LLVT tập trung, mở rộng địa bàn hoạt động vùng duyên hải Đông Bắc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:51:11 pm TRẬN VAGRAM (5-6.7.1809), trận quân Pháp (170.000 người, 584 pháo) của Napôlêông I diệt tan quân Áo (110.000 người, 452 pháo) của công tước Saclơ tại khu vực làng Vagram, đóng bắc Viên (Áo) 16km, trong thời gian đầu chiến tranh Napôlêông (1799-1815). Bị thất bại trong TY, Áo phải ngừng bắn, kí hòa ước Sônbrun (hòa ước Viên) 14.10.1809, buộc phải giảm quân số, cắt nhiều đất đai cho Pháp và bồi thường chiến phí. TRẬN VÀM CỎ ĐÔNG nh TRẬN NHẬT TẢO (10 12.1861) TRẬN VẠN KIẾP (2.1285), trận phòng ngự của quân Trần (Đại Việt) do Trần Quốc Tuấn chỉ huy chống quân Nguyên - Mông (TQ), trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần 11 (1285). Ngày 11.2 hơn 300.000 quân Nguyên - Mông do Thoát Hoan chỉ huy (có cả đội binh thuyền của ô Mã Nhi), từ nhiều hướng tiến công Vạn Kiếp (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương), nhằm diệt chủ lực quân Trần. Với khoảng 200.000 quân và hơn 1.000 chiến thuyền, quân Trần sử dụng ưu thế thủy binh, tác chiến cơ động trên địa hình sông nước, gây nhiều tổn thất cho quân Nguyên - Móng, bảo toàn được lực lượng. 14.2 Trần Quốc Tuấn rút quân khỏi Vạn Kiếp về bắc Sông Hồng tiếp tục tổ chức phòng ngự. TRẬN VẠN TƯỜNG (18-19.8.1965), trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 1 (Quân khu 5) phối hợp với Đại đội 21 tinh Quảng Ngãi và dân quân du kích địa phương đánh trả cuộc hành quân Ánh sáng sao (18-19.8.1965) của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn tại thôn Vạn Tường (xã Bình Hải, h. Bình Sơn, t. Quảng Ngãi, đông nam căn cứ QS Chu Lai 17km). Sau khi dùng pháo hạm bắn phá ác liệt, sáng 18.8 địch huy động khoảng 8.000 quân, gồm 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn bộ binh QĐ Sài Gòn, được sự chi viện của 170 máy bay, từ bốn hướng tiến công vào Vạn Tường. Dựa vào thế trận làng xã chiến đấu, bộ đội và du kích Vạn Tương nhanh chóng giành quyền chủ động, phối hợp đánh địch trên các hướng: hướng đổ bộ từ tàu chiến vào bãi biển An Cường, hướng đổ bộ đường không xuống cánh đồng Lộc An, phục kích cánh quân bộ từ Chu Lai sang... Sau hơn một ngày kiên cường bám đánh gây cho địch nhiều thiệt hại, rạng sáng 19.8 ta rút khỏi Vạn Tường an toàn. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 900 địch, bắn rơi 13 máy bay trực thăng, phá hủy 22 xe tăng, xe thiết giáp. Trận đọ sức quyết liệt đầu tiên giữa lực lượng chủ lực QGPMN VN với quân viễn chinh Mĩ, chỉ ra khả năng đánh thắng Mĩ trong chiến lược chiến tranh cục bộ. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67801106_465819450814607_4518006622718525440_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeE_koR1A89-ZOGC1O7ZbvFK0NclLBCx0XG3v_dF9yH7D87B_q5wmwHNDfrz_LThTH9xdwAlhDJHp5p_IsFPNV8_Gx7Q__7-VWkPSiu2k27pBA&_nc_oc=AQnqUVDrxdnsG1U6BHvfcmeD46hwc2iR-nZoiE-DOD2cE8vMkC85EDzUHatI-BJn5to&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=475ecd4c937d345abc14cbd16a4c9ca1&oe=5DC7F7A8) TRẬN VANMI (1792), trận đánh giữa quân CM Pháp với quân Áo - Phổ của liên minh chống Pháp lần thứ nhất tại địa phận vùng Vanmi, phía đông Pari 100km. Ngày 20.9 sau nhiều giờ đấu pháo giữa hai bên ở cự li trên 1 km trong sương mù, mỗi bên thiệt hại vài trăm người, quân liên minh phải ngừng tác chiến và 10 ngày sau rút về bên kia biên giới. Đây là lần đầu tiên quân CM Pháp đánh đuổi được quân can thiệp nước ngoài. Chiến thắng trong TV đã bảo vệ được CM Pháp, góp phần cho sự ra đời của nền cộng hòa đệ nhất (22.9.1792), thành quả của Đại CM Pháp 1789. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:52:06 pm TRẬN VÀN LAI (20.12.1952), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 418 (Trung đoàn 57, Đại đoàn 304) đánh đồn Văn Lai do 1 đại đội quân Pháp đóng giữ tại xã Yên Vân, h. Yên Mô (nay là xã Khánh Vân, h. Yên Khánh), t. Ninh Bình. Đồn được cấu trúc vững chắc, gồm hệ thống lô cốt 2 tầng, có 5 lớp rào thép gai xen kẽ chông mìn bảo vệ. Tiểu đoàn được hỏa lực chi viện triển khai tiến công từ ba hướng, 0 giờ 15 phút tiến hành mở cửa và đánh các mục tiêu, đến 1 giờ 40 phút chiếm được nửa đồn, sau đó tổ chức bao vây, kết hợp tiến công và dùng tù binh kêu gọi địch ra hàng, đến 2 giờ 45 phút chiếm toàn bộ đồn. Kết quả diệt 28, bắt 64 địch, thu 49 súng các loại, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. TRẬN VĂN LÍ - XƯƠNG ĐIỂN (18.10.1953), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 46 (thiếu 1 tiểu đoàn) bộ đội chủ lực Liên khu 3 và LLVT địa phương tỉnh Nam Định (Tiểu đoàn 66 tỉnh, 2 trung đội h. Hải Hậu, 2 trung đội h. Nghĩa Hưng, 200 du kích) đánh 2 tiểu đoàn 703 và 707 (khoảng 800 quân) thuộc Trung đoàn 2 của Pháp đóng ở 2 làng Văn Lí - Xương Điền (xã Hải Lí, h. Hải Hậu, t. Nam Định). Dựa vào luỹ tre, hào giao thông xung quanh làng làm vị trí trú quân, 21 giờ 30 phút bộ đội ta bí mật tiếp cận từ nhiều hướng, mũi, bất ngờ đột kích thọc sâu, nhanh chóng hình thành thế bao vây chia cắt đánh chiếm mục tiêu. Sau 2 giờ tiến công kết hợp với địch vận, ta đã loại khỏi chiến đấu 664 địch (bắt 564), thu 333 súng các loại, giải phóng cơ sở làm muối lớn nhất Bắc Bộ, tạo thế trận liên hoàn cho bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động, góp phần đánh bại một bước chính sách bình định của địch ở đồng bằng Bắc Bô. TRẬN VÂN ĐỒN - CỬA LỤC (1.1288), trận phục kích đường biển của quân Trần (Đại Việt), do Trần Khánh Dư chỉ huy diệt thuyền lương quân Nguyên - Mông (TQ) trong kháng chiến chống Nguyên - \Ịông lần III (1287-88). Đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy (gồm 70 chiếc thuyền chở 170.000 thạch lương), được đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi đi trước hộ tống, từ Khâm Châu (Quảng Đông, TQ) theo ven biển đông bắc tiến vào Đại Việt. Nắm thời cơ đoàn thuyền chiến ô Mã Nhi sau khi đánh thắng quân Trần ở cửa An Bang (Quảng Yên) đã chủ quan vượt trước vào sông Bạch Đằng về Vạn Kiếp (Hải Dương) hội quân với Thoát Hoan, Trần Khánh Dư kịp thời tổ chức trận địa phục kích tại Vân Đồn (Cẩm Phả) và Cửa Lục (Hòn Gai). Bằng cách bố trí lực lượng mạnh dần về phía Cửa Lục, chặn đánh bất ngờ, kết hợp dùng thủy binh truy kích mãnh liệt, quân Trần đã nhanh chóng tiêu diệt và bắt hầu hết đoàn thuyền lương của địch. Trương Văn Hổ cùng số ít tàn quân chạy thoát về đảo Quỳnh Châu (Hải Nam, TQ). TVĐ-CL góp phần quan trọng làm thất bại cuộc xâm lược của nhà Nguyên. TRẬN VECĐOONG (21.2-18.12.1916), trận tiến công của quân Đức vào khu vực phòng ngự kiên cố sâu 15-18km của Pháp ở Vecđoong (Bắc Pháp) trong CTTG-I. Với lực lượng ưu thế gấp 3-4 lần, nhưng vấp phải sự kháng cự ngoan cường, sau sáu tháng rưỡi quân Đức cũng chỉ tiến được 7-10km, đến đầu 9.1916 phải lui về phòng ngự. Quân Pháp chuyển sang phản công, đến 12.1916 về cơ bản khôi phục dược hình thái cũ. Kế hoạch chiến lược của Đức định loại Pháp ra khỏi vòng chiến bị phá sản. Cả hai phía đều bị tổn thất nặng (Đức mất 600.000 người, Pháp 358.000) nên TV còn được gọi là “cối xay thịt Vecđoong”. Trong TV, lần đầu tiên các phương tiện ô tô được sử dụng rộng rãi để vận chuyển binh lực. TRẬN VĨNH THUẬN (12.4.1964), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 96 (Trung đoàn 1, Quân khu 9) phối hợp với bộ đội và du kích địa phương diệt chi khu QS Vĩnh Thuận (t. Rạch Giá, nay là thị trấn Vĩnh Thuận, h. Vĩnh Thuận, t. Kiên Giang), do QĐ Sài Gòn đóng giữ. 0 giờ ngày 12.4 ta đồng loạt nổ súng, sau 30 phút chiến đấu làm chủ chi khu, diệt hơn 100 địch (có trung tá quận trưởng), phá hủy 2 pháo 105mm, thu nhiều vũ khí. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, đạt hiệu quả cao, tạo thuận lợi cho đơn vị bạn phối hợp diệt lực lượng ứng cứu của địch, góp phần đánh bại ý đồ tập trung lực lượng phòng ngự thành cụm lớn của QĐ Sài Gòn. TRẬN VŨ DƯƠNG (17.6.1950), trận chống càn của trung đội du kích thôn Vũ Dương (xã Yên Dương, h. Ý Yên, t. Nam Định) và 1 tiểu đội của Đại đội 61 bộ đội địa phương huyện Ý Yên đánh trả cuộc càn của một tiểu đoàn quân Pháp. Du kích và nhân dân thôn Vũ Dương đã huy động gần 100 nghìn cây tre, đào hàng chục nghìn mét hào và hầm giao thông, xây dựng làng chiến đấu liên hoàn, vũng chắc. Sáng 17.6 địch huy động quân cơ động và lực lượng từ các bốt Cầu Tào, Cát Đằng, Phố Cháy,... tiến hành càn quét xã Yên Dương. Khi địch vào lùng sục thôn Vũ Dương, du kích và bộ đội ta dựa vào hệ thống trận địa và chông mìn, cạm bẫy, kiên quyết đánh trả, sau 2 giờ loại khỏi chiến đấu hơn 100 quân, buộc địch phải rút chạy. Thắng lợi của TVD gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân trong vùng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:52:59 pm TRẬN VỤ QUANG (26.10.1894), trận phục kích của nghĩa quân Phan Đình Phùng chống lại cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Vụ Quang (Hà Tĩnh), trong khởi nghĩa Hương Khê (1885-95). Biết trước âm mưu của địch, Phan Đình Phùng tổ chức trận địa phục kích trên sông Vụ Quang bằng cách đắp kè ngăn nước phía thượng nguồn để tạo áp lực dòng chảy lớn và thả nhiều khúc gỗ to, kết hợp với phục binh hai bên bờ. Khi quân Pháp vượt đến giữa sông, nghĩa quân phá kè cho nước chảy xiết kéo theo những khúc gỗ chặt sẵn lao vào đội hình dịch. Bị đánh bất ngờ, do nước cuốn, gỗ đâm và hỏa lực trên bờ bắn xuống, hàng trăm quân Pháp (có 3 sĩ quan) bị diệt. Trận đánh độc đáo dùng sức nước đánh giặc, có tác dụng cổ vũ nghĩa quân và nhân dân Trung Kì đánh Pháp. TRẬN XA CÁT - MINH HÒA (9.7.1966), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9), được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 16) và 1 đại đội hỏa lực ĐKZ, chạn đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 hành quân giải tỏa đường 13, tại khu vực Xa Cát, ngã tư Giao Liên (xã Minh Hoà, q. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc h. Bình Long, t. Bình Phước). Sáng 9.7 quân Mĩ triển khai lực lượng hành quân gồm 52 xe tăng, xe bọc thép và 1 tiểu đoàn bộ binh, có máy bay, pháo binh yểm trợ. 10 giờ 12 phút đội hình chủ yếu của địch lọt vào trận địa, ta đồng loạt nổ súng, kết hợp các lực lượng chặn đầu, khóa đuôi và tập trung đánh chính diện, bao vây chia cắt, cơ động đánh địch trên suốt đoạn đường 2,5km. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch, phá hủy 35 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 6 máy bay... Trong TXC-MH ta bị thương vong lớn, chủ yếu do tổ chức rút lui chưa tốt. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm tác chiến với lực lượng bộ binh cơ giới Mĩ. TRẬN XÃ A9 (13-16.12.1965), trận chống càn của du kích xã A9 trong vành đai diệt Mĩ An Khê (t. Gia Lai), đánh 1 tiểu đoàn quân Mĩ đổ bộ đường không. Lực lượng ta gồm 1 trung đội du kích cơ động của xã và du kích các thôn 1, 2, 4 và 6 (khoảng 38 người). 8 giờ ngày 13.12, sau 3 ngày dùng máy bay bán phá, địch bất ngờ đổ quân đánh chiếm các điểm cao A, B; sau đó trong các ngày 14 và 15.12 tiếp tục đổ quân chiếm các điểm cao C, D, E. Dựa vào các ổ chiến đấu bí mật, ta tổ chức đánh địch tại các bãi đổ quân, đồng thời bố trí lực lượng thành các tổ nhỏ, cơ động bám đánh liên tục, dùng chông, mìn, cạm bẫy, kết hợp phục kích, tập kích, bẻ gãy các đợt tiến công, gây cho địch nhiều thiệt hại. Sáng 16.12 địch huy động máy bay trực thăng truy lùng quân ta, kết hợp pháo binh đánh phá ác liệt nhưng không kết quả, đến 13 giờ buộc phải rút quân. Sau 4 ngày chiến đấu ta diệt và làm bị thương 120 địch, bắn rơi 2 máy bay, bảo vệ an toàn lực lượng, góp phần phát triển cách đánh du kích chống địch đổ bộ đường không trong KCCM. TRẬN XÃ ĐỐC (27.3.1971), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 409 (bộ đội chủ lực Quân khu 5) vào căn cứ Xã Đốc (h. Trà Mi, t. Quảng Nam) do Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ đoàn 196, Sư đoàn bộ binh 1 của Mĩ đóng giữ. Đêm 26.3 Tiểu đoàn 409 tổ chức lực lượng thành 4 mũi, bí mật đột nhập căn cứ; 0 giờ 45 phút ngày 27.3 đồng loạt nổ súng đánh chiếm SCH, trung tâm thông tin, trận địa pháo, khu nhà ở, kho xăng dầu. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, luồn sâu, chia cắt khiến địch không kịp đối phó, sau 35 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 350 địch, phá hủy 24 khẩu pháo và cối (có 4 pháo 105mm),... Trận đánh tiêu diệt gọn một đơn vị quân Mĩ trên chiến trường Khu 5, buộc địch phải rút bỏ căn cứ. TRẬN XALAMIN (27.9.480tcn), trận hải chiến diễn ra ở gần đảo Xalamin, trong vịnh Xarônic (tây Aten, thủ đô Hi Lạp), giữa hạm đội Hi Lạp (350-380 tàu) và hạm đội Ba Tư (trên 1.000 tàu), trong chiến tranh Hi Lạp - Ba Tư (500-449tcn). Mặc dù số lượng tàu kém hơn đối phương, hạm đội Hi Lạp đã giành được thắng lợi quyết định. Quân Hi Lạp chủ trương rút khỏi Aten để đánh bại quân Ba Tư trên biển bàng cách nghi binh rút chạy, kéo hạm đội Ba Tư vào eo biển nhỏ hẹp giữa đảo và lục địa, lợi dụng lợi thế địa hình để tiêu diệt số lớn tàu đối phương. Hạm đội Hi Lạp sử dụng các tàu nhẹ và cơ động, áp dụng có hiệu quả cách đánh đâm vào tàu đối phương và đánh áp mạn. Ba Tư bị mất 200 tàu, Hi Lạp: 40 tàu. Thắng lợi của TX đã làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho Hi Lạp. TRẬN XANH MIÊN (12-15.9.1918), trận tiến công của quân Mĩ với sự phối hợp của quân Pháp đánh quân Đức trong giai đoạn cuối CTTG-I ở khu vực tp Xanh Miên (thuộc Mơdơ. đông bắc Pháp). Với ưu thế lực lượng hơn gấp đôi đối phương, phía Mĩ - Pháp (17 sư đoàn) định tiến công hợp điểm rồi bao vây tiêu diệt quân Đức (7 sư đoàn), nhưng do trinh sát và chỉ huy không tốt, nên để đối phương rút chủ lực sang hướng khác từ bốn ngày trước. Đối với quân Mĩ, đây là trận đánh lớn nhất kể từ thời nội chiến ở Mĩ (1861-65). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:54:08 pm TRẬN XARICAMIT (22.12.1914-18.1.1915), trận tiến công dầu tiên của quân Thổ Nhĩ Kì vào quân Nga ở gần vùng Xaricamit (Thổ Nhĩ Kì) sau khi Thổ Nhĩ Kì tham chiến (29.10.1914) về phía Đức trong CTTG-1. Tập đoàn quân Capca của Nga (72 tiểu đoàn) đã chặn được cuộc tiến công của Tập đoàn quân 3 Thổ Nhĩ Kì (87 tiểu đoàn) trên vùng núi Capca rồi chuyển sang phản công, hợp vây và bắt làm tù binh hầu hết quân chủ lực của Thổ Nhĩ Kì. Số quân Thổ Nhĩ Kì còn lại (chừng 18.000) phải rút về Ecdêrum. Trận tuyến Nga - Thổ Nhĩ Kì trên vùng núi Capca được đẩy lùi về phía nam. Nga chiếm được gần hết phần núi Capca của Thổ Nhĩ Kì. TRẬN XENLAC nh TRẬN HAXTINH (14.10.1066) TRẬN XÍCH BÍCH (208), trận quyết chiến của 5 vạn quân liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị đánh bại 50 vạn quân Tào Tháo, quyết định cục diện chia ba TQ ở cuối thời Đông Hán. Sau khi thống nhất phương Bắc (về cơ bản) Tào Tháo đưa quân xuống phía Nam muốn diệt Lưu Biểu trước, rồi theo sông Trường Giang đánh Tôn Quyền (Đông Ngô) để thống nhất thiên hạ. Trong khi đó, Tôn Quyền liên minh với Lưu Bị cùng chống Tào Tháo. Năm 208 Tào Tháo đến Xích Bích (nay thuộc Hồ Bắc) lập thủy trại ở bờ bắc sông. Do là người phương Bắc không quen chịu sóng nước và khí hậu, sức chiến đấu suy giảm, lại mắc mưu của liên quân, dùng xích sắt kết thuyền lại với nhau nên khó cơ động, quân Tào Tháo bị liên quân sử dụng hỏa công đốt cháy toàn bộ chiến thuyền, làm chết cháy và chết chìm quá nửa, buộc phải rút chạy. Liên quân thừa thắng truy kích, đuổi tàn quân Tào Tháo lên miền Bắc. Sau trận này hình thành thế chân vạc Ngụy, Ngô, Thục ở TQ. Trận nổi tiếng về lấy ít thắng nhiều; liên quân biết phát huy sở trường của thủy quân, khéo dùng hỏa công, biết tận dụng điều kiện thiên thời, địa lợi để đánh thắng. TRẬN XIỂNG KHỌ (2.11.1949), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ 910 (Trung đoàn 148) bộ đội chủ lực Liên khu 10 và một đơn vị QĐ Lào Itxala đánh cứ điểm Xiềng Khọ (nay thuộc h. Sông Mã, t. Sơn La) trên phòng tuyến Sông Mã của Pháp. Bằng cách đánh bất ngờ, bộ đội Việt - Lào nhanh chóng làm chủ cứ điểm, diệt 1 đại đội địch (bắt 35), buộc địch ở 9 cứ điểm khác trong khu vực phải rút chạy. Chiến thắng Xiềng Khọ góp phần phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Mã, đoạn Mường Lầu - Sốp Hao (dài hàng trăm kilômét), mở thông biên giới Việt - Lào, tạo điều kiện cho các đội vũ trang tuyên truyền mở rộng hoạt động gây dựng cơ sở. làm tan rã chính quyền địch ở vùng Bắc Lào. TRẬN XOM (1.7-18.11.1916), trận tiến công của liên quân Anh - Pháp đánh quân Đức đang phòng ngự tại khu vực Sông Xom (Bắc Pháp) trong CTTG-1. Tuy có ưu thế lực lượng nhưng quân Anh - Pháp không phá được tuyến phòng ngự trận địa của quân Đức, chỉ tiến được khoảng 14km. Tổn thất của cả hai bên là hơn 1.300.000 người. Thất bại của quân Anh - Pháp chứng tỏ không thể chọc thủng phòng ngự trận địa bằng cách đột phá trên một đoạn chính diện hẹp. Trong TX, lán đầu tiên trong lịch sử chiến tranh (15.9.1916) xe tăng đã được sử dụng (32 chiếc của Anh). Tuy không giành thắng lợi, TX góp phần giảm bớt sức ép của quân Đức ở trận Vecđoong (21.2-18.12.1916). TRẬN XÓM CHÙA (29-30.11.1968), trận chống càn của du kích xã An Nhơn Tây (h. Củ Chi, tp Sài Gòn - Gia Định, nay là tp Hồ Chí Minh) đánh 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đội thiết giáp quân Mĩ càn quét tại khu vực xóm Chùa. Sáng 29.11 dịch có máy bay, pháo binh yểm trợ, dùng xe tăng, xe bọc thép và xe ủi mờ đường cho bộ binh tiến công, nhằm triệt phá căn cứ của cơ quan lãnh đạo kháng chiến Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng du kích có 46 người, dựa vào hệ thống công sự. địa đạo và các ổ chiến đấu liên hoàn, tích cực bám đánh, diệt xe tăng và xe bọc thép, đồng thời tiến hành nghi binh nhử địch vào các trận địa chông mìn để tiều diệt. Kết quả sau 2 ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch, phá hủy 9 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, thu 56 súng các loại, buộc địch phải rút quân, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta. TRẬN XÓM ĐÁ - ĐỔNG XUÂN (28.4.1972), trận tập kích của Tiểu đoàn 460 bộ đội địa phương tỉnh Khánh Hòa vào khu vực xóm Đá và ấp Đồng Xuân (xã Ninh Thượng, h. Ninh Hoà, t. Khánh Hoà), do Đại đội bảo an 216 QĐ Sài Gòn đóng giữ. Lực lượng địch tập trung phần lớn ở ấp Đồng Xuân gồm SCH và 2 trung đội, ở xóm Đá có 1 trung đội bảo an, ngoài ra ở ấp Tân Lâm còn 1 trung đội dân vệ. Ta bí mật áp sát mục tiêu, khắc phục vật cản, 4 giờ 45 phút nổ súng đến 6 giờ 30 phút diệt toàn bộ địch ở ấp Đồng Xuân (hướng chủ yếu), tiếp đó hình thành ba mũi vận động tiến công vào xóm Đá, dồn số địch sống sót về khu vực ruộng nước ở nam xóm Đá để bộ phận đón lõng tiêu diệt. Sau gần 3 giờ chiến đấu. ta làm chủ trận địa, diệt gọn đại đội địch (diệt 95, bắt 3), phá hủy 2 xe QS, thu 26 súng các loại... Là trận đầu đơn vị vận dụng thành công chiến thuật tập kích sau đó chuyển sang vận động tiến công địch ban ngày, góp phần đẩy mạnh phong trào du kích ở địa phương trong KCCM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:55:10 pm TRẬN XÓM MỚI - LIÊU TRÌ (14.7.1966), trận phục kích của 1 đại đội (thiếu) thuộc Xưởng 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam phối hợp với trung đội bộ đội địa phương huyện Thăng Bình (V15) và du kích các xã Bình Giang, Bình Dương, đánh Đại đội bảo an 745 và 2 trung đội biệt kích QĐ Sài Gòn tại xã Bình Nguyên (h. Thăng Bình. t. Quảng Nam). Ta tổ chức lực lượng thành 6 bộ phận, bố trí trận địa phục kích ở hai bên QL 1 (cách đường 100-500m), đoạn xóm Mới đi Liêu Trì (dài 600-700m). Sáng 14.7 địch dùng Đại đội bảo an 745 tuần tra QL 1, đồng thời đưa 2 trung đội biệt kích càn quét vào xã Bình Phục (phía sau trận địa ta), phối hợp lùng bắt dân ra sửa đường. Khoảng 7 giờ 25 phút khi Đại đội bảo an 745 lọt vào trận địa, ta nhanh chóng vận động tiếp cận, tập trung lực lượng diệt gọn, tiếp đó triển khai đánh 2 trung đội biệt kích địch rút chạy. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt, bắt và làm bị thương hơn 100 địch (có 17 lính biệt kích), thu 39 súng các loại. Trận đánh đạt hiệu suất cao, phối hợp chiến đấu tốt giữa bộ đội và du kích địa phương, góp phần đẩy mạnh hoạt động tác chiến tập trung của ta ở vùng sau lưng địch. TRẬN XUÂN SƠN - TẦM BÓ (11.4.1966), trận vận động tiến công của một bộ phận Sư đoàn bộ binh 5 QGP miền Đông Nam Bộ đánh trả cuộc càn quét của Lữ đoàn dù 173 và Lữ đoàn bộ binh 1 Mĩ, có một số tiểu đoàn quân Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên phối hợp tại khu vực Xuân Sơn - Tầm Bó (h. Xuyên Mộc, t. Bà Rịa, nay thuộc xã Xuân Sơn, h. Châu Đức, t. Bà Rịa - Vũng Tàu). Trận đánh diễn ra chiều 11.4 khi quân địch càn từ Xuân Sơn về Tầm Bó. Bằng cách đánh gần, bao vây chia cắt, tiến công liên tục... QGP đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mĩ, thu nhiều súng (có 4 đại liên, 41 trung liên). TRẬN XUYÊN THANH (26.1.1967), trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà được bộ đội và du kích huyện Duy Xuyên phối hợp đánh tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ ở xã Xuyên Thanh (nay là xã Duy Thành, h. Duy Xuyên, t. Quảng Nam). Ta dùng bộ phận nhỏ ngăn chặn địch từ căn cứ An Hòa càn quét sang Gò Nổi (h. Điện Bàn), bộ phận còn lại bí mật tới xã Xuyên Thanh phục kích. Sáng 26.1 quân Mĩ đi càn về lọt vào trận địa; ta bất ngờ chặn đánh gây cho địch nhiều thiệt hại, sau đó để lại 1 đại đội bí mật ém quân trong làng, chờ đến gần tối tiếp tục tập kích vào số quân còn lại khi địch chủ quan chuẩn bị rút lui. Lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5, bộ đội và du kích địa phương đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn quân Mĩ. TRẬN XƯƠNG GIANG (9.1427), trận tiến công của nghĩa quân Lam Sơn diệt quân Minh (TQ) ở thành Xương Giang (nay thuộc Bắc Giang), trong giai đoạn phản công của khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418- 27). Thành do đô đốc Lí Nhậm cùng các tướng Kim Dận, Cố Phúc... chỉ huy với khoảng 2.000 quân, có thành cao, hào sâu, súng thần cơ cỡ lớn và nhiều lương thực dự trữ; là vị trí phòng ngự trọng yếu của quân Minh bảo vệ trục đường huyết mạch từ Quảng Táy (TQ) sang Đông Quan (nay là Hà Nội). Thực hiện chủ trương vây thành diệt viện, từ cuối 1426 một cánh quân Lam Sơn do Lê Sát, Lê Thụ chỉ huy, tổ chức vây thành, giao chiến hơn 30 trận, đồng thời Nguyễn Trãi cũng nhiều lần gửi thư dụ hàng, cảnh cáo, nhưng quân Minh vẫn cố giữ thành để chờ viện binh. 8.1427 bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định điều thêm lực lượng tiếp ứng do Trần Nguyên Hãn chỉ huy, quyết tâm hạ thành trước khi viện binh địch kéo sang. Sau khi dùng pháo đặt trên các ụ đất cao khống chế địch, đồng thời đào đường ngầm đột phá vào thành, đêm 28.9 nghĩa quân tổ chức tổng công kích từ bốn mặt, sau gần một giờ chiến đấu chiếm được thành, các tướng Minh cùng kế buộc phải tự vẫn. TXG đánh dấu bước trưởng thành của nghĩa quân về chiến thuật công thành, kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho bộ chỉ huy nghĩa quân thực hiện thành công kế hoạch diệt viện trong trận Chi Lăng - Xương Giang (8.10-3.11.1427). TRẬN XƯỞNG THỦ BIÊN (21-23.7.1951), trận chống càn của các chiến sĩ quân giới xưởng Thủ Biên (Thủ Dầu Một - Biên Hòa nay thuộc t. Đồng Nai) ở Chiến khu Đ thời kì KCCP. 6.1951 Pháp huy động khoảng 3.000 quân mở cuộc càn lớn vào Chiến khu Đ, 21.7 sử dụng một cánh quân đánh vào xưởng Thủ Biên nhằm triệt phá căn cứ hậu cần và chế tạo vũ khí của ta. Lực lượng bảo vệ xưởng có 4 chiến sĩ, dựa vào vành đai mìn bố trí sẵn (gồm 3 lớp với hơn 400 quả mìn do xưởng sản xuất), kiên cường bám trụ, phối hợp với các lực lượng trong căn cứ đánh trả quyết liệt, sau 3 ngày chiến đấu diệt và làm bị thương khoảng 300 địch, góp phần đánh bại cuộc càn quét, bảo vệ xưởng an toàn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:56:20 pm TRẬN YÊN LÃNG (5.2.1892), trận tập kích của khoảng 300 nghĩa quân Đốc Ngữ diệt quân Phấp và lính khố đỏ tại dồn Yên Lãng (nay thuộc h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ). Lợi dụng lúc binh lính địch đang ăn tối, có nhiều sơ hở, nghĩa quân bí mật đột nhập từ bốn hướng, giết lính gác và nhanh chóng làm chủ các vị trí. Không kịp kháng cự, đồn trưởng và phần lớn binh lính, sĩ quan trong đồn bị diệt ngay tại bàn ăn. Sau khi đốt cháy đồn và thu nhiều vũ khí trang bị, nghĩa quân rút về căn cứ an toàn. Chớp đúng thời cơ, bí mật bất ngờ là yếu tố tạo nên thắng lợi nhanh gọn của TYL. TRẬN YÊN LƯƠNG - PHÚ LAM (29-30.10.1948), trận chống càn của du kích xã Quyết Thắng (nay là xã Phú Lương, h. Lạc Sơn, t. Hòa Bình) đánh quân Pháp càn quét các thôn Yên Lương, Phú Lảm. Lực lượng ta có 28 du kích, được tăng cường 7 bộ đội tỉnh, trang bị 25 súng và hàng trăm mìn, lựu đạn... 10 giờ ngày 29.10, địch đưa 1 trung đội vào do thám, bị ta phục kích diệt 1 sĩ quan chỉ huy và 2 lính. Sáng 30.10 dịch huy động 1 tiểu đoàn (thiếu) chia hai cánh tiến công, bị ta phục kích, tập kích, kết hợp nghi binh, dùng chông, mìn, bẫy đá, rượu độc,... đánh thiệt hại nặng, buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 200 địch, góp phần làm thất bại âm mưu càn quét, lạp “xứ Mường tự trị” của dịch. TRẬN YÊN NHÂN (17-18.10.1953), trận chống càn của du kích xã Tiền Phong (h. Mê Linh, t. Vĩnh Phúc) và bộ đội địa phương huyện, đánh 1 tiểu đoàn quân Pháp và 1 đại đội quân ngụy có 8 xe tăng yểm trợ càn quét tại thôn Yên Nhân. Lực lượng ta gồm du kích thôn Yên Nhân (56 người), bộ đội huyện (14 người) và du kích các thôn Trung Hậu, Do Nhân cùng phối hợp chiến đấu. Sáng 17.10 địch có pháo binh yểm trợ, chia ba cánh tiến công, bị ta chặn đánh quyết liệt gây thiệt hại nặng. Địch chiếm được xóm cổng Chùa và một phần xóm cổng Cầu nhưng không dám chốt lại, phải rút ra đóng tại chùa Yên Nhân, thôn Trung Hậu và đường 23. Lợi dụng sơ hở, 3 giờ ngày 18.10, ta bất ngờ tập kích vào SCH, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn sau khi dùng máy bay đánh phá ác liệt thôn Yên Nhân. Kết quả ta diệt và làm bị thương 131 địch, bắn cháy 2 xe tăng và 1 máy bay, góp phấn bảo vệ vùng giải phóng và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI, trạng thái xã hội phát triển ổn định, có kỉ cương, trong đó mọi công dân được sống an toàn, quyền lợi cá nhân được bảo vệ trên cơ sở hệ thống quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội đã xác định. Nội dung đảm bảo TTATXH: dấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; giữ gìn trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông; bảo vệ môi trường... Giữ gìn TTATXH là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, trong đó công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, phối hợp với các LLVTND và các lực lượng khác thực hiện theo chức năng, quyền hạn. TRÊN ĐE DƯỚI BÚA, thủ đoạn tác chiến tiến công của QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn trong chiến tranh xám lược Nam VN (1954-75). Dùng một lực lượng đủ mạnh bí mật chiếm giữ địa hình có lợi sau vị trí bố trí của đối phương, đồng thời dùng lực lượng chủ yếu tiến công từ chính diện dồn ép đối phương vào khu vực đã bị chặn phía sau để tiêu diệt. TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, gọi chung các thiết bị tự động có khả năng suy luận và giải quyết vấn đề tương tự như các quá trình xảy ra trong bộ não con người. Những nghiên cứu khởi đầu về TTNT được tiến hành từ cuối những năm 50 tk 20. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học về TTNT ngày càng phát triển mạnh mẽ với nhiều ứng dụng đa dạng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Ba hướng tiếp cận trí thông minh trong TTNT: dựa trên hệ thống kí hiệu (symbolism) theo đó trí thông minh có thể biểu diễn qua một hệ thống kí hiệu; dựa trên việc mô phỏng hoạt động của mạng nơron trong não người (connectionism); kết hợp hai hướng trên thành các hệ lai (hibrid systems). TRIỂN KHAI ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU, tổng thể các hoạt động bố trí lực lượng của phân đội, binh đội, binh đoàn thành đội hỉnh chiến đấu trên thực địa (trên biển và trên không). TKĐHCĐ của bộ đội binh chủng hợp thành có thể tiến hành từ đội hình trước chiến đấu, đội hình hành quân... TRIỂN KHAI LỰC LƯỢNG CHIẾN DỊCH, tổng thể các hoạt động tổ chức cơ động và bố trí lực lượng, hình thành bố trí chiến dịch để đánh địch theo ý định tác chiến. Yêu cầu TKLLCD: chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian, đúng vị trí, sẵn sàng chiến đấu cao; giữ bí mật ý định chiến dịch và bảo đảm an toàn. Để đạt được các yêu cầu trên phải có kế hoạch chu đáo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, chỉ huy sâu sát và nhạy bén. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:57:20 pm TRlỀU TIÊN* (Chosun, A. Korea), đất nước trên bán đảo Triều Tiên ở Đông Bắc Á, từ 1948 bị chia cắt bời vĩ tuyến 38 thành hai quốc gia riêng biệt; CHDC nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) ở phía bắc và Đại Hàn dân quốc (Hàn Quốc) ở phía nam. Dt 219.806 km2; ds 69,5 triệu người (2001). Địa hình phần lớn là núi. Phía bắc là dãy núi Bắc Triều Tiên, đỉnh cao nhất 2.750m, phía đông là dãy Đông Triều Tiên. Nam và tây nam có các dãy Nam Triều Tiên. Đồng bằng chiếm 25% lãnh thổ. Nhà nước phong kiến tập quyền hình thành trên bán đảo TT từ tk 10. Tk 13-14 lệ thuộc Mông cổ. Cuối tk 16 bị Nhật xâm chiếm. 1876 Nhật buộc TT kí các hiệp định bất bình đẳng, 1905 biến TT thành lãnh thổ bảo hộ, 1910 thành thuộc địa của Nhật. 1945 QĐ LX giải phóng TI khỏi ách thống trị của Nhật. Theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh, TT tạm thời bị chia thành hai miền dưới sự quản lí của LX (bắc vĩ tuyến 38) và Mĩ (nam vĩ tuyến 38). Tháng 12.1945 hội nghị các bộ trưởng ngoại giao LX, Mĩ, Anh ở Maxcơva quyết định khôi phục TT thành một nước độc lập dân chủ, nhưng Mĩ đã không thực hiện nghị quyết này. 5.1948 miền Nam tổ chức bầu cử riêng rẽ, 15.8.1948 thành lập Đại Hàn dân quốc (Hàn Quốc). 8.1948 các lực lượng tiến bộ ở cả hai miền Nam, Bắc TT tổ chức bầu cử Hội nghị nhân dân tối cao, 9.9.1948 tuyên bố thành lập nước CH DC nhân dân Triều Tiên. Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53) để lại hậu quả nặng nề cho cả hai miền TT. Sau nhiều năm ở trạng thái đối địch, những năm gần đây quan hệ giữa hai miền TT dần dần được cải thiện, phát triển theo hướng tăng cường hợp tác, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. TRlỂU TIÊN** (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên; Chosun Inmin Minchuchuyi Kunghuaguk, A. Democratic People’S Republic of Korea), quốc gia ở bắc bán đảo Triều Tiên, bắc vĩ tuyến 38. Dt 120.538km2; ds 22,47 triệu người (2003); 99% người Triều Tiên. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Triều Tiên. Tôn giáo: đạo Phật, đạo Saman. Thủ đô: Bình Nhưỡng. Chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân. Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan lập pháp duy nhất: Hội nghị nhân dân tối cao (quốc hội). Chủ tịch ủy ban thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao đồng thời đại diện nhà nước về phương diện ngoại giao. Cơ quan lãnh đạo quân sự tối cao: Hội đồng quốc phòng, đứng đầu là người lãnh đạo tối cao. Cơ quan hành pháp: Chính vụ viện UBND trung ương (nội các chính phủ) do thủ tướng đứng đầu. Trên 75% lãnh thổ là núi, đông bắc có núi lửa Pêchtu cao 2.750m. Bờ biển cao, vách đứng, ít bị chia cắt. Khí hậu ôn đới, ẩm. Nước công nông nghiệp. Các ngành công nghiệp chính: khai thác mỏ. luyện kim, chế tạo máy, điện năng, hóa chất, dệt... Sản phẩm nông nghiệp chính: gạo, ngô, lúa mì, bông, lanh, thuốc lá, rau quả...; chăn nuôi gia súc, đánh cá. GDP 16,752 tỉ USD (2000), bình quân đầu người 839 USD. Thành viên LHQ (17.9.1991). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 31.5.1950. LLVT: lực lượng thường trực 1.082.000 (lục quân 950.000, hải quân 46.000, không quân 86.000), lực lượng dự bị 4.700.000. Tuyển quân theo lệnh động viên. Trang bị: 3.500 xe tăng chủ lực, 560 xe tăng hạng nhẹ, 2.500 xe thiết giáp chở quân, 3.500 pháo mặt đất xe kéo, 4.400 pháo tự hành, 2.500 pháo phản lực, 7.500 súng cối, 30 tên lửa chiến dịch, 24 tên lửa hành trình, 30 tên lửa Scut, 11.000 pháo phòng không. 10.000 tên lửa phòng không, 26 tàu ngầm, 3 tàu frigat, 6 tàu khu trục, 43 tàu tên lửa, 103 tàu phóng lôi, 158 tàu tuần tiễu, 23 tàu quét mìn, 10 tàu đổ bộ, 7 tàu hộ tống, 621 máy bay chiến đau (MiG-17, 19, 21, 23, 29, Su-7, Su-25), 300 máy bay vận tải quân sự, 306 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 1,4 ti USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68360824_465819427481276_5541924906234544128_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHrMC9dnivi0Um3TouOtHY46gMSg17dHrdGPFxMK0xXriNH6pPsDKibAj0oY_XKRm9UOvCidMe74goFDkWUBPyvdf7_-hc3dX-ENxBpZVaSZA&_nc_oc=AQkWAHZpPn44BZIN34dZZh-yhWspze-dlT0szv1lU59v27Zvgrbcb8PWF-82mkntCck&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=70a4dbe2154f3279dcc8d618dda689d3&oe=5DCD5571) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 03:59:02 pm TRIỆU QUANG PHỤC (Triệu Việt Vương; 7-571), danh tướng của Lí Bí, người kế tục thắng lợi cuộc kháng chiến chống nhà Lương (TQ). Quê Chu Diên (nay thuộc tp Hà Nội). 541 cùng cha là thái phó Triệu Túc theo Lí Bí đánh quân Lương, được phong tả tướng quân. 546 được Lí Bí ủy quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến. 548 Lí Bí mất, TQP tự xưng là Triệu Việt Vương, lập căn cứ ở Đầm Dạ Trạch (cg Dạ Trạch Vương), ban ngày giữ kín lực lượng, ban đêm kéo thuyền ra đánh úp trại giặc. 550 nhân lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, TQP đánh bại quân Lương, giết tướng chỉ huy Dương Sàn, giải phóng đất nước, về đóng đô ở Long Biên (Hà Nội). 557 bị Lí Phật Tử đem quân đánh ở Thái Bình nhằm khôi phục nhà Lí. Không thắng nổi, Lí Phật Tử xin giảng hòa, rồi lập thông gia. TQP nể tình Lí Nam Đế, chia đôi nước, lấy bãi Quân Thần (vùng Thượng Cát, Hạ Cát, thuộc h. Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới, để Lí Phật Tử đóng đô ở ô Diên (thuộc Đại Mỗ, h. Từ Liêm, Hà Nội). Năm 571 Lí Phật Tử đánh úp Long Biên, TQP không chống nổi, phải rút chạy và nhảy xuống biển Đại Nha (nay là Cửa Liêu, Sông Đáy, thuộc h. Nghĩa Hưng, t. Nam Định) tự vẫn. Hiện còn đền thờ ở làng Độc Bộ, t. Nam Định. TRIỆU THỊ TRINH nh BÀ TRIỆU TRIỆU TIẾN XUÂN (S. 1947), Ah LLVTND (1971). Dân tộc Dao, quê xã Đại Xuân, h. Na Hang, t. Tuyên Quang; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là hạ sĩ, pháo thủ số 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 204, BTL pháo binh. 1967-68 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Trong trận tập kích vị trí Hạ Thôn (6.3.1968), TTX vừa làm pháo thủ số 1 vừa làm pháo thủ số 3, khi được lệnh bắn gấp, đã nạp liên tục 34 quả đạn pháo 130mm. Trong trận tập kích hỏa lực căn cứ Đông Hà (20.6.1968), một mình tự thao tác pháo 130mm, bắn 4 quả đạn trúng mục tiêu góp phần cùng đại đội diệt hàng trăm địch, phá hỏng 8 khẩu pháo, bắn cháy 7 máy bay, 12 kho đạn và xăng dầu của địch. Huân chương: Chiến công hạng ba. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68411334_465819434147942_6873898052608851968_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeFszaEzNIwNznMPK1NaSnVKdweleGVnXEFbV2Gz9BLS8TsxLhHqwp6oZKlv39c6BPf8yxASRrW5oXP6jMuQ4pVkKA-Al7mXXNBife8Fp-ni1Q&_nc_oc=AQnrbJxnuEDkWVl_5zQtJsbb97CROmNS5jomx3RaU5K55dWej6mJW_VrIHYfxZasjyA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=6a1a3f7adf9d622eb4bc24812239d15f&oe=5DCF78AB) TRIỆU VĂN BÁO (1932-94), Ah LLVTND (1956). Dân tộc Tày, quê xã Chí Viễn, h. Trùng Khánh, t. Cao Băng; nhập ngũ 1950, đại tá (1982); đv ĐCS VN (1954); khi tuyên dương Ah là đại đội phó thông tin, Sư đoàn 316. Trong KCCP, chiến sĩ thõng tin Đại đoàn 316, tham gia chiến đấu nhiều trận, luôn khắc phục khó khăn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, nêu gương cho đơn vị học tập. Trận diệt đồn Larive (Phù Lỗ, 6.12.1951), làm tổ trường thông tin. nhận được lệnh tiến công của tiểu đoàn, TVB đã chủ động phát lệnh cho đại đội nổ súng (khi đại đội trường hi sinh), ba lần nối đường dây bị pháo bán đứt; TVB đã dùng tay giữ chặt hai đầu dây, bào đảm liên lạc thông suốt. Trận Cầu Ngà (Bắc Ninh. 1952), khi liên lạc qua đường dây bị gián đoạn, TVB 7 lần chạy bộ chuyển lệnh dưới làn đạn pháo, bảo đảm liên lạc thông suốt giữa tiểu đoàn và đại đội. Trận Vận Tải (Hải Dương), 2 trung đội vào sát đồn địch thì bị lộ, địch bắn ra ác liệt, TVB đeo máy trên lưng, bò qua đầm lầy đưa máy vào trước, mở đường cho lực lượng phía sau vào nổ súng kịp thời diệt đồn địch. Huân chương: Quàn công hạng ba, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì)... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67884082_465819467481272_7462658852513644544_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFFxDDXEMe0qE2u2Z6pHcWc-ik3aGp3k61WpLvtmya3vD5lkOHMyb_BV6KNxnI3WbBy-GFD1nXn98uDbq_GSW6TzGdiXbhvmKEkDwHcoZkUFg&_nc_oc=AQkDrK1B-1x_1iyUbLEXd5Q2JZI69a6j3xnFngrxPlxxtkyiZsQogqMyitIxA7RSnXc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=924da26941a913e04a44e24963990cb6&oe=5DDF421E) TRIỆU VIỆT VƯƠNG X. TRIỆU QUANG PHỤC TRINH SÁT X. TRINH SÁT QUÂN SỰ TRINH SÁT CHỤP ẢNH HÀNG KHÔNG, trinh sát quang học dùng khí tài đặt trên khí cụ bay chụp ảnh tình hình địch, địa hình rồi đoán đọc phim ảnh để thu được tình báo. TSCAHK có ưu điểm: khách quan, chi tiết, nhiều tư liệu, chính xác; có khả năng trinh sát cả vùng lãnh thổ rộng lớn và nhận được một lượng thông tin lớn trong một thời gian ngắn; có khả năng phát hiện các mục tiêu kích thước nhỏ và những thay đổi nhỏ trên địa hình trong thời gian giữa hai lần bay chụp. Dùng ảnh hàng không có thể phát hiện được nhiều vật không được biểu thị trên bản đồ, nhưng lại dễ nhận ra trên thực địa (như hố bom, công sự lẻ...). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:00:27 pm TRINH SÁT ẢNH VŨ TRỤ, trinh sát quân sự dùng các phương tiện kĩ thuật chụp ảnh đặt trên các khí cụ bay vũ trụ (tàu vũ trụ, vệ tinh nhân tạo...). Hình ảnh được truyền trực tiếp về căn cứ để phân tích đánh giá (ảnh quét, ảnh vô tuyến, ảnh rađa), hoặc được đưa về mặt đất để in tráng sau đó giải đoán để tìm các thông tin cần thiết (ảnh quang học). Đối với các cường quốc QS, TSAVT là phương pháp không thể thay thế trong việc kiểm soát các vụ nổ hạt nhân, theo dõi hoạt động của tên lửa đạn đạo, trinh sát các mục tiêu QS của đối phương... TRINH SÁT ÁNH SÁNG MỜ, trinh sát quang học dùng khí tài khuếch đại ánh sáng mờ (trăng, sao) hoặc dùng người có khả năng nhìn đêm. Kết quả trinh sát được chuyển phát qua ảnh, vô tuyến truyền hình. TSASM phụ thuộc chủ yếu vào độ phản quang, độ tương phản của mục tiêu, điều kiện địa hình, thời tiết, tính năng và trình độ sử dụng khí tài. Từ đầu tk 20, TSASM xuất hiện và ngày càng phát triển, hoàn thiện. Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã tiến hành TSASM bằng các khí tài MPAK, AN/PVS-2, AN/TVS-2, AN/TVS-4... TRINH SÁT ÂM THANH, trinh sát điện từ dùng thiết bị đo âm, phát hiện tiếng động dựa vào hiện tượng truyển âm trong khí quyển. Ở pháo binh, dùng TSÂT để xác định vị trí, số lượng pháo, cối, giàn hỏa tiễn của đối phương đang bắn, nhưng không quan sát được. Xác định vị trí vũ khí pháo binh được tiến hành bằng phương pháp giao hội. TSÂT không phụ thuộc tầm nhìn (mây, mù, mưa...), có thể tiến hành bất cứ lúc nào trong ngày, đém. TSÂT xuất hiện vào đầu tk 20. Trong CTTG-II được vận dụng rộng rãi và ngày càng phát triển trong một số quân chủng, binh chủng. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSÂT bằng các phương tiện phát hiện tiếng động như tiếng người nói, tiếng xe cơ giới chạy (các loại cây nhiệt đới ACCUBOY, MINISID, PSID...) để xác định vị trí bố trí và hành quân của LLVTND VN. TRINH SÁT BẰNG TRẬN CHIẾN ĐẤU, thủ đoạn trinh sát do các phân đội bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, phân đội trinh sát tiến hành bằng hành động tiến công khi các phương pháp trinh sát khác ít có hiệu quả. TRINH SÁT BIÊN PHÒNG, trinh sát quân sự sử dụng lực lượng trinh sát biên phòng và các thủ đoạn nghiệp vụ biên phòng để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc phục vụ cho việc truy tố trước pháp luật, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo. Phương thức hoạt động của TSBP: trinh sát điệp báo, trinh sát phản gián, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát vô tuyến điện, trinh sát quân báo và hoạt động điều tra hình sự. Ngoài ra theo yêu cầu nhiệm vụ TSBP còn hoạt động với một số phương thức khác như: trinh sát quân báo, điều tra xét hỏi. TRINH SÁT BỘ ĐỘI BINH CHỦNG HỢP THÀNH, trinh sát quân sự do các phân đội trinh sát (bộ binh, cơ giới, xe tăng, đổ bộ đường không...) thuộc các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội, binh chủng hợp thành tiến hành. Thường dùng các biện pháp: trinh sát sục sạo, trinh sát vũ trang, trinh sát luồn sâu, hỏi tin nhân dân, bắt tù binh... Để tiến hành TSBĐBCHT phải tổ chức: đài (vọng) quan sát, đội trinh sát tuần tiễu, toán trinh sát tuần tiễu độc lập, toán trinh sát cảnh giới chiến đấu, toán trinh sát luồn sâu, toán trinh sát tiềm nhập điều ưa vị trí, toán trinh sát địch hậu, toán trinh sát cơ động, toán trinh sát bắt tù binh, toán trinh sát đặc nhiệm, toán trinh sát sĩ quan... Phạm vi trinh sát phụ thuộc phạm vi tác chiến của liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội binh chủng hợp thành. TRINH SÁT CẢI TRANG, trinh sát quân sự tiến hành bằng thay đổi cách ăn mặc và dáng điệu giả thành người dân, binh lính, sĩ quan địch,... cho phù hợp với địa bàn, địa hình, địa vật để tiếp cận, xâm nhập vào mục tiêu. TRINH SÁT CHIẾN DỊCH, trinh sát quân sự phục vụ cho việc chuẩn bị và thực hành chiến dịch; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến lược và trinh sát chiến thuật. Nhiệm vụ của TSCD: thu thập tình hình đối phương, địa hình toàn bộ khu vực chiến dịch và địa hình, địa phương cổ liên quan. Phạm vi TSCD phụ thuộc vào tính chất, quy mô, nhiệm vụ chiến dịch, tình hình đối phương, quyết tâm chiến dịch và chỉ lệnh trinh sát của cấp trên. TRINH SÁT CHIẾN LƯỢC, trinh sát quân sự phục vụ cho kế hoạch chiến lược, kế hoạch sử dụng LLVT trong chiến tranh và các chiến dịch chiến lược; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến thuật. Nhiệm vụ của TSCL: điều tra tình hình chính trị, QS, LLVT, tiềm lực QS, kinh tế quốc phòng, tình hình chính trị - xã hội, khả năng động viên, chiến trường... TSCL do cơ quan tham mưu chiến lược tổ chức và chỉ đạo; được thực hiện bằng điệp báo chiến lược, trinh sát vô tuyến điện, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát đường không... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:01:52 pm TRINH SÁT CHIẾN THUẬT, trinh sát quân sự phục vụ cho việc chuẩn bị và thực hành trận chiến đấu; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến lược. Nhiệm vụ TSCT: thu thập, nghiên cứu về lực lượng, khả năng chiến đấu, ý định và hành động của đối phương; phát hiên và xác định vị trí các phương tiện hỏa lực, vô tuyến điện tử, SCH của đối phương; tính chất địa hình, chướng ngại tự nhiên, các địa vật, số lượng và tình trạng đường sá, hệ thống công trình, vật cản... Phạm vi TSCT phụ thuộc vào tính chất và quy mô trận chiến đấu, khu vực bố trí lực lượng, phương tiện của đối phương liên quan đến trận chiến đấu, tính chất của địa hình, chỉ lệnh trinh sát của cấp trên... TRINH SÁT CÔNG BINH, trinh sát quân sự để bảo dám công binh (địa hình, khí hậu, thời tiết, thủy văn, tình hình nhân lực, vật lực tại chỗ có thể huy động, tình hình công trình và hành động của công binh địch). TSCB do các cơ quan và đơn vị công binh tiến hành độc lập hoặc trong đội hình trinh sát của bộ đội binh chủng hợp thành. TRINH SÁT CỦA NGƯỜI CHỈ HUY, trinh sát quân sự do người chỉ huy trực tiếp tiến hành nhằm kết luận tình hình địch, địa hình, thời tiết và các yếu tố liên quan khác phục vụ cho công tác chỉ huy tác chiến. TSC.NCH thường tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị và trong quá trình tác chiến. Một dạng của TSCNCH là trinh sát thực địa. TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM, trinh sát quân sự tiến hành nhằm điều ưa và phá hoại các tiềm lực QS, kinh tế, chính trị của đối phương. Nhiệm vụ chủ yếu của TSĐN: khai thác tin tức tình báo về các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS của đối phương; phá hủy (tiêu diệt) các mục tiêu quan trọng; xây dựng và giúp đỡ quần chúng tổ chức các đội quân ngầm (biệt động, biệt kích); tổ chức các hoạt động lật đổ, phá hoại, gây rối; tiến hành trừng phạt các lực lượng đối địch. TSĐN do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến lược hoặc chiến dịch tổ chức và chỉ đạo tiến hành bằng lực lượng trinh sát đặc nhiệm. Trong thời chiến để TSĐN chủ yếu dùng các đơn vị trinh sát phá hoại, biệt kích, thám báo (vd: ở Mĩ gọi là đội đặc nhiệm. Anh gọi là đội trinh sát phá hoại, CHLB Đức gọi là phân đội trinh sát sâu). Ngoài ra, còn có các binh đội. phân đội đặc nhiệm của không quân và hải quân. Trước CTTG-II nhiệm vụ TSĐN do lực lượng tình báo gián điệp thực hiện. Trong CTTG-II Mĩ, Anh, các nước thuộc khối phát xít và một số nước khác đã xây dựng lực lượng TSĐN. Sau CTTG-II Mĩ và một số nước khác tiến hành TSĐN trên quy mô lớn. TRINH SÁT ĐỊA HÌNH, trinh sát quân sự về địa hình trong khu vực sẽ hoạt động tác chiến; dáng đất, chất đất, thảm thực vật, chướng ngại nước, hệ thống cầu đường, điểm dân cư, công trình thủy lợi... và những yếu tố khác của địa hình ảnh hưởng đến hoạt động tác chiến của bộ đội. TRINH SÁT ĐỊCH HẬU, trinh sát quân sự bằng cách phái lực lượng trinh sát vào sâu khu vực địch chiếm đóng để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng như: điều ưa vũ khí hạt nhân, điều tra lực lượng dự bị của địch, các mục tiêu quan trọng,... do người chỉ huy từ binh đoàn trở lên quyết định. Thủ đoạn trinh sát chủ yếu: quan sát, điều tra, bắt tù binh, cải trang... TRINH SÁT ĐIỆN TỬ, trinh sát quân .sự dùng phương tiện điện tử được tiến hành từ mặt đất, trên không, trên vũ trụ, trên và dưới mặt nước. TSĐT gồm: trinh sát vô tuyến điện, trinh sát vô tuyến truyền hình, trinh sát nhiệt vô tuyến điện, trinh sát rada, trinh sát âm thanh, trinh sát thủy âm. TSĐT xuất hiện từ CTTG-I, phát triển nhanh trong CTTG-II, ngày càng hoàn thiện theo hướng tự động hóa và được sử dụng rộng rãi trong QĐ nhiều nước (nhất là trong tác chiến điện tử). ở VN, trong KCCM. TSĐT được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả. TRINH SÁT ĐƯỜNG BIỂN, trinh sát quân sự tiến hành ở mặt biển, dưới nước và vùng trời trên biển bằng tàu thuyền, máy bay và các phương tiện trinh sát khác để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến và những nhiệm vụ bảo đảm khác trên biển. TSĐB thường do lực lượng hải quân tổ chức và thực hiện. TRINH SÁT ĐƯỜNG KHÔNG, trinh sát quân sự bằng các chuyến bay để phục vụ cho nhiều mục đích QS khác nhau. Có: trinh sát bằng mắt và trinh sát bằng các thiết bị kĩ thuật chuyên dùng (điện tử, chụp ảnh, truyền hình) trên máy bay; trinh sát chiến thuật, trinh sát chiến dịch, trinh sát chiến lược. TRINH SÁT HẬU CẦN, trinh sát quân sự nhằm nghiên cứu, khảo sát tại chỗ những điều kiện thực tế có liên quan đến công tác hậu cần trên một địa bàn hoặc một khu vực nhất định. Nội dung của TSHC gồm: khảo sát địa hình, mạng đường giao thông, nghiên cứu điều kiện khí hậu, thời tiết, thúy văn... để xác định các khu vực dự kiến triển khai lực lượng hậu cần khảo sát môi trường sống, tình hình vệ sinh dịch tễ khu vực; nghiên cứu khả năng động viên tại chỗ lực lượng hậu cần để phục vụ nhiệm vụ tác chiến; những điểm dự kiến địch đánh phá và khả năng khắc phục tại chỗ... TSHC do người chỉ huy hậu cần và cơ quan tham mưu hậu cần tổ chức, cơ quan (cán bộ, nhân viên) các ngành hậu cần trực tiếp thực hiện. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:03:00 pm TRINH SÁT HÓA HỌC - PHÓNG XẠ, trinh sát quân sự bằng các khí tài trinh sát chuyên dụng, cung cấp các yếu tố cần thiết về hóa học, phóng xạ cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy để xử trí các tình huống hóa học, phóng xạ. Có TSHH-PX trên không, mặt đất và nước. TSHH-PX ở mặt đất, có: trinh sát đường cơ động (hành quân, đường vòng, vượt khu vực nhiẻm...); trinh sát các khu vực (dự kiến bố trí quân, triển khai lực lượng, khu vực bị tập kích vũ khí hủy diệt lớn và khu vực trên hướng truyền lan của đám mây nhiễm độc, nhiễm xạ...): trinh sát lương thực, thực phẩm bị nhiễm... TSHH-PX chủ yếu do phân đội TSHH-PX đảm nhiệm. TRINH SÁT HỒNG NGOẠI, trinh sát quang học dùng khí tài hồng ngoại đế xác định tọa độ, tự động bám sát, theo dõi mọi hoạt động và chụp ảnh toàn cảnh mục tiêu, chụp ảnh địa hình và dẫn phương tiện sát thương đến mục tiêu. TSHN có loại chủ động và bị động. TSHN chủ động là dùng khí tài chiếu tia hồng ngoại vào mục tiêu để trinh sát mục tiêu. TSHN bị động là dùng khí tài thu bức xạ nhiệt của mục tiêu để trinh sát mục tiêu. TSHN xuất hiện từ CTTG-II. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSHN bằng các khí tài AAD-4, A AS-14, AAS-18, AAS-24... TRINH SÁT KHÍ TƯỢNG MẬT ĐẤT của pháo binh, quan sát và đo các yếu tố khí tượng ở khu vực xác định để đảm bảo khí tượng cho các phân đội pháo binh; bộ phận của công tác bảo đảm tác chiến của pháo binh. TSKTMĐ có thể bằng khí tài chuyên dùng (bộ đồ khí tượng) hoặc bằng mắt và ước đoán. TSKTMĐ bằng khí tài có thể xác định chính xác các yếu tố khí tượng mặt đất như: nhiệt độ, áp suất khí quyển, tốc độ gió, hướng gió...; TSKTMĐ bằng mắt và ước đoán phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của trinh sát viên. TRINH SÁT KHÍ TƯỢNG - THỦY VĂN, trinh sát quân sự bằng mắt hoặc khí tài nhằm khai thác tin tức về các thành phần khí tượng - thủy văn và tình hình các vùng nước (biển, sông, hồ...) trong một thời gian ở một khu vực nhất định để đảm bảo khí tượng - thủy văn cho hoạt động của bộ đội. Được tiến hành để xác định vùng mây, mưa, hiện tượng giông bão, tốc độ gió, hướng di chuyển của chúng và các hiện tượng thời tiết ảnh hưởng đến hoạt động của bộ đội. Theo phương tiện thu nhận số liệu, TSKT-TV được chia ra: TSKT-TV bằng rađa, vệ tinh, máy bay, tàu thủy và TSKT-TV chuyên môn (do các phân đội trinh sát khí tượng - thủy văn tiến hành). TRINH SÁT KĨ THUẬT, 1) trinh sát quân sự phục vụ cho công tác kĩ thuật trong hoạt động tác chiến. TSKT bao gồm: xác định vị trí, số lượng, nguyên nhân, mức độ hư hòng vũ khí, trang bị kĩ thuật; tình hình hoạt động của các phân đội bảo đảm kĩ thuật; điều kiện và khả năng tiến hành các hoạt động sửa chữa, cứu kéo; khả năng huy động các nguồn lực, phương tiện, vật tư kĩ thuật tại chỗ; đề xuất các biện pháp xử trí; 2) nh trinh sát kĩ thuật vô tuyến điện. TRINH SÁT KĨ THUẬT VÔ TUYÊN ĐIỆN, trinh sát vô tuyến điện để thu thập tin tức về các phương tiện vô tuyến điện tử của đối phương. Có nhiệm vụ phát hiện kiểu loại, công dụng, nội dung tín hiệu và vị trí của phương tiện điện tử của đối phương. Việc phát hiện kiểu loại và công dụng của chúng được tiến hành theo tham số tín hiệu do chúng phát ra, còn vị trí của chúng được xác định bằng phương pháp giao hội và bằng các phương pháp khác. TSKTVTĐ gồm: trinh sát tín hiệu thông tin vô tuyến điện (vô tuyến điện thoại, vô tuyến điện báo) và những tín hiệu không thuộc thông tin vô tuyến điện (tín hiệu nhiễu vô tuyến điện, tín hiệu rađa, tín hiệu điều khiển tên lửa, dẫn đường máy bay...). TSKTVTĐ có ưu điểm: cự li trinh sát xa, phạm vi rộng, thu tình báo tương đối kịp thời, chính xác, an toàn, địch khó phát hiện, tiến hành liên tục trong thời bình, thời chiến. Nhưng dễ bị nhiễu, bị lừa (điện báo giả) và bị hạn chế bởi điều kiện truyền lan sóng vô tuyến điện, mmi TSKTVTĐ xuất hiện từ CTTG-I, lúc đầu mới chi là trinh sát thông tin vô tuyến điện; sau khi xuất hiện vũ khí có điều khiển HMBI và rađa, đã có thêm trinh sát tín hiệu không thuộc thông tin vô tuyến điện. Trong CTTG-II, TSKTVTĐ không ngùng phát triển và sau đó ngày càng được hoàn thiện theo hướng tự động hóa. Trong QĐ một số nước đã có bộ đội TSKTVTĐ chuyên môn. Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã dùng các phương tiện TSKTVTĐ đặt trên các phương tiện bay. TRINH SÁT LADE, trinh sát quang học dùng khí tài lade để thu thập tin tức về đối phương. TSL có thể phát hiện, phân biệt, xác định tọa độ mục tiêu (đo cự li), chi thị mục tiêu, chụp ảnh và truyền hình ở cự li xa với tốc độ cao. Trên thế giới, TSL xuất hiện từ những năm 50 của tk 20 và ngày càng phát triển, hoàn thiện. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSL bằng các khí tài: AN/AVD.2, AN/AVD.3, AN/ASQ.127. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:03:59 pm TRINH SÁT LUỒN SÂU, trinh sát quân sư được tiến hành trong khu vực của địch hoặc vùng địch tạm chiếm, bằng cách bí mật vượt hoặc vòng qua các khoảng cách, chỗ sơ hở trong đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của địch, nhằm thu thập tình hình địch, địa hình, địa phương... và thực hiện một số nhiệm vụ trinh sát quan trọng. TSLS thường được tổ chức, trang bị tinh gọn và được giao khu vực hoạt động, nhiệm vụ (mục tiêu) trinh sát cụ thể. TSLS thường vận dụng các thủ đoạn trinh sát: quan sát, cải trang, tiềm nhập, chụp ảnh; tập kích, phục kích bắt tù binh, đoạt tài liệu... TRINH SÁT PHÁO BINH, tổng thể các hoạt động thu thập tin tức về địch, địa hình, thời tiết để đảm bảo cho nhiệm vụ hỏa lực và cơ động của pháo binh trong tác chiến; bộ phận của trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành. Nhiệm vụ của TSPB là: phát hiện trận địa hỏa lực (pháo binh, súng cối và các phương tiện hỏa lực khác), xe tăng (xe bọc thép), các SCH, các phương tiện tác chiến điện tử và những đối tượng (mục tiêu) quan trọng khác của địch trên trận địa, ở khu vực tập kết hay đang hành quân; các cứ điểm (cụm cứ điểm), hệ thống công trình phòng ngự, vật cản; tiến hành đo đạc, xác định tọa độ các mục tiêu dự kiến tiến hành hỏa lực pháo binh; trinh sát địa hình, trinh sát khí tượng - thủy văn trong khu vực tác chiến; theo dõi diễn biến tác chiến (địch, ta); phục vụ bắn và sửa bắn, nắm kết quả bắn của pháo binh. TSPB do người chỉ huy và cơ quan tham mưu pháo binh tổ chức. Các phân đội TSPB tiến hành trinh sát bằng khí tài quang học, quang - điện tử, rađa, đo âm thanh và bằng giác quan..., sử dụng các thủ đoạn, phương pháp trinh sát thích hợp. Yêu cầu của TSPB: liên tục, tích cực, có mục đích, kịp thời, tin cậy và chính xác. TRINH SÁT PHỤC KÍCH, trinh sát quân sự dùng hành động tiến công của phân đội trinh sát để bắt tù binh, thu tài liệu, vũ khí, mẫu vật,... của đối phương. Yêu cầu của TSPK: thông thạo địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của đối phương, chọn nơi buộc chúng phải đi qua để phục kích. TSPK có thể tiến hành bằng cách bố trí lực lượng chờ sẵn (cg trinh sát phục kích tại chỗ) hoặc lực lượng trinh sát từ một khoảng cách nhất định cơ động đến (cg trinh sát vận động phục kích). TSPK thường vận dụng cách đánh bí mật bằng trang bị chuyên dùng là chủ yếu, khi thật cần thiết mới nổ súng. Muốn TSPK thắng lợi phải có lực lượng chặn đầu, khóa đuôi và lực lượng đánh chủ yếu, bất ngờ đồng loạt xung phong bao vây, chia cắt để đánh bắt địch. TRINH SÁT QUANG HỌC, trinh sát quân sự dùng khí tài quang học, quang điện tử để trinh sát đối phương. TSQH bao gồm: trinh sát ảnh hàng không, trinh sát ảnh vũ trụ, trinh sát lade, trinh sát hồng ngoại, trinh sát ánh sáng mờ và trinh sát bằng khí tài quang học thông dụng khác. TSQH còn có thể xác định kết quả bắn, ném bom, phóng tên lửa. TSQH có thể tiến hành trên bộ, trên mặt nước, trên không và trên vũ trụ. TSQH phụ thuộc vào điều kiộn thời tiết, thời gian (ngày, đêm) và khả năng ngụy trang của đối phương, điều kiện địa hình trong khu vực tiến hành trinh sát. TSQH xuất hiện vào cuối tk 16 đầu tk 17, ngày càng phát triển và hoàn thiện. Trong KCCM (1954-75), ở VN đã tiến hành TSQH bằng ống nhòm các loại, kính nhìn ngầm, kính kinh vĩ, máy đo xa lade, các khí tài khuếch đại ánh sáng mờ. TRINH SÁT QUÂN SỰ, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động nhằm thu thập, nghiên cứu các tin tức và tài liệu về địch và chiến trường (thực tế hoặc dự kiến), do người chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp tổ chức, chỉ đạo và tiến hành. Theo quy mô, có: trinh sát chiến lược, trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến thuộc, theo nhiệm vụ, có: trinh sát tình hình địch, trinh sát tình hình xã hội, trinh sát địa hình..., theo lực lượng và phương tiện, có: điệp báo, trinh sát điện tử, trinh sát đặc nhiệm, quân báo nhân dân, trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành, trinh sát của các binh chủng (bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ...); theo môi trường tác chiến, có: trinh sát mặt đất, trinh sát đường không, trinh sát đường biển. Các thủ đoạn TSQS: quan sát, sục sạo, tiềm nhập, luồn sâu, phục kích, tập kích, bằng trận chiến đấu, cải trang, định hướng vô tuyến, thu nghe vô tuyến điện, hữu tuyến điện, chụp ảnh, quay phim, hỏi tin nhân dân, hỏi cung tù - hàng binh, đoạt tài liệu, nghiên cứu tài liệu... Yêu cầu cơ bản của TSQS: liên tục, tích cực, kịp thời, chính xác. TRINH SÁT QUÂN Y, trinh sát quân sự nhằm điều tra, thu thập tình hình có liên quan đến bảo đảm quân y giúp người chỉ huy có cơ sở để tổ chức đảm bảo quân y trong tác chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của TSQY là điều tra: tình hình vệ sinh, các bệnh dịch, điều kiện có liên quan đến tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh, bệnh binh và bố trí triển khai các tuyến quân y; tình hình y tế nhân dân, hậu cần tại chỗ; tình hình vệ sinh, các bệnh dịch quân y trong QĐ địch. TSQY có các loại: trinh sát chiến thuật quân y, trinh sát vệ sinh dịch tễ, trinh sát vi trùng... Tổ chức TSQY là nhiệm vụ của tất cả các tuyến, các cấp quân y. TSQY cần được tiến hành theo một trình tự chật chẽ, bằng nhiều biện pháp trong đó trinh sát thực địa là biện pháp quan trọng, đáng tin cậy nhất. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:05:18 pm TRINH SÁT RAĐA, trinh sát điện tử dùng khí tài rada để xác định tọa độ, các tham số chuyển động, tính chất hoạt động của máy bay, tên lửa, tàu chiến,... trận địa pháo, trận địa tên lửa, căn cứ hải quân, tâm nổ hạt nhân trên không, trên mặt đất, mặt nước trong mọi điểu kiện thời tiết, ngày đêm. TSR xuất hiện từ những năm 40 của tk 20, phát triển nhanh trong CTTG-II, sau đó phát triển theo hướng tăng cự li phát hiện, khả năng cơ động, chống nhiễu, tự động hóa quá trình phát hiện và thông báo mục tiêu. Ở VN, TSR phòng không xuất hiện 1.3.1959. Trong KCCM (1954-75), đã bảo đảm tác chiến cho Quân chủng phòng không - không quân, các lực lượng phòng không nhân dân và phòng không khác. TRINH SÁT TÀU NGẨM, trinh sát quân sự đối với môi trương biển bằng các lực lượng chống ngầm nhằm phát hiện, bám sát các hoạt động của tàu ngầm đối phương hoặc kịp thời công kích tiêu diệt chúng. TRINH SÁT TẬP KÍCH, trinh sát quân lự dùng hành động tiến công để bắt tù binh, cướp tài liệu, mẫu vật... Yêu cầu TSTK: triệt để lợi dụng địa hình địa vật, sơ hở của địch,... bí mật áp sát đối tượng, hình thành thế bao vây chia cắt, nắm chắc thời cơ có lợi, bất ngờ đánh bắt tù binh... nhanh chóng rút quân an toàn. Khi TSTK thường sử dụng phân đội trinh sát dược trang bị vũ khí, phương tiện chuyên dùng; vận dụng cách đánh bí mật là chủ yếu, khi thật cần thiết mới nổ súng. Muốn TSTK đạt hiệu quả cao, thường tổ chức lực lượng thành các tổ: đánh bắt tù binh; tổ xung lực - yểm trợ và tổ hỏa lực. Ngoài ra, căn cứ vào tình hình cụ thể có thể tổ chức thêm các tổ: ngăn chặn, phối hợp nghi binh, dự bị. TRINH SÁT THỦY ÂM, trinh sát điện tủ dùng các khí tài thủy âm để phát hiện các mục tiêu trên và dưới mặt nước bằng cách thu, ghi, phân tích dao động thủy âm phát ra hoặc phản hồi từ tàu thủy, thủy lôi và những mục tiêu khác. Nguồn thông tin để thu thập và xử lí là các trường âm thanh sơ cấp của mục tiêu (tiếng động chân vịt, động cơ tàu...), tín hiệu của khí tài thủy âm tích cực (trạm liên lạc thủy âm, rađa thủy âm, máy thủy định vị, thiết bị nhận dạng, điều khiển vũ khí...). Các khí tài thủy âm thu và phân tích tham số những tín hiệu đó, xác minh vị trí, kiểu loại và tính chất hoạt động của mục tiêu. TRINH SÁT THỰC ĐỊA, trinh sát quân sự bằng cách nghiên cứu tận mắt tình hình địch, địa hình ngay tại khu vực hoạt động; được tiến hành khi chuẩn bị tác chiến, chuyển quân, bố trí bộ đội, chọn địa điểm bố trí SCH, chuẩn bị diễn tập... Mục đích TSTĐ giúp người chỉ huy hạ quyết tâm hoặc xác minh quyết tâm đã hạ trên bản đồ. TSTĐ do người chỉ huy đích thân tiến hành cùng với người phó chỉ huy (tham mưu trưởng), người chỉ huy các đơn vị trực thuộc, phối thuộc, chi viện, chủ nhiệm các binh chủng, bộ đội chuyên môn, các ngành nghiệp vụ, các sĩ quan tham mưu. Khi không đủ thời gian, người chỉ huy có thể tiến hành TSTĐ trên hướng chủ yếu, còn trên các hướng khác giao cho những người phó chỉ huy đảm nhiệm. Trước khi tiến hành TSTĐ. cơ quan tham mưu phải lập kế hoạch trinh sát; gồm: mục đích, nhiệm vụ, thành phần đi TSTĐ, đường hành quân và phương tiện đi lại, các điểm dừng để làm việc, những vấn đề chủ yếu phải giải quyết ở từng điểm, phân chia thời gian cho từng việc, thời gian bắt đầu và kết thúc, công tác bảo đảm. TRINH SÁT TlỂM NHẬP, trinh sát quân sự được tiến hành bằng cách triệt để lợi dụng các yếu tố địa hình, địa vật, thời tiết,... kết hợp vận dụng nhuần nhuyễn kĩ thuật, chiến thuật chuyên ngành để bí mật tiếp cận, luồn lách vào mục tiêu quy định nhằm điều tra, thu thập tin tức theo yêu cầu nhiệm vụ. Các thủ đoạn trinh sát chủ yếu: quan sát, cải trang, tiếp cận, điều tra... TRINH SÁT TÌNH HÌNH ĐỊCH, trinh sát quân sự để nắm tình hình địch, cung cấp cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy chuẩn bị hạ quyết tâm và xử trí tình huống tác chiến. Nhiệm vụ TSTHĐ: xác đinh phiên hiệu đơn vị, biên chế trang bị, bố trí lực lượng, ý đồ hành động, đặc điểm tác chiến, bố trí trận địa, hệ thống hỏa lực, cấu trúc công sự, bố trí chướng ngại vật, bảo đảm hậu cần kĩ thuật, đặc điểm và trình độ sĩ quan chỉ huy, tinh thần, bản lĩnh chiến đấu của binh lính địch... TSTHĐ được tiến hành trước, trong và sau chiến đấu theo yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến. TSTHĐ do lực lượng trinh sát và bộ đội các đơn vị tác chiến thực hiện. TRINH SÁT TÌNH HÌNH XÃ HỘI, trinh sát quân sự được tiến hành để nắm tình hình xã hội trong khu vực đang thực hành tác chiến hoặc chuẩn bị thực hành tác chiến phục vụ cho lãnh đạo và chỉ huy tác chiến. Nhiệm vụ TSTHXH: điều tra, xác minh tình hình dân cư, phong tục tập quân, đặc điểm dân tộc, đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa trong khu vực tác chiến. Các thủ đoạn TSTHXH: quan sát, phỏng văn, điều tra, sưu tầm tài liệu... Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:07:07 pm TRINH SÁT VI TRÙNG, trinh sát quân y nhằm xác định địch sử dụng vũ khí vi trùng, phương tiện và phương pháp sử dụng, loại vi trùng gây bệnh, phạm vi các vùng nhiễm (vùng truyền lan), mức độ và thời hạn nguy hiểm trong các khu vực nhiễm. TSVT do lực lượng chuyên môn của quân y và bộ đội hóa học tiến hành. TRINH SÁT VIÊN, cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện nghiệp vụ quân báo - trinh sát; được biên chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm trong các đơn vị của quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn thuộc ba thứ quân. TSV có nhiệm vụ trực tiếp điểu tra, thu thập tin tức về địch, địa hình, thời tiết và những tình hình có liên quan để phục vụ cho chỉ huy và mọi hành động tác chiến của bộ đội. TRINH SÁT VÔ TUYẾN ĐIỆN, trinh sát điện tử dùng phương tiện vô tuyến điện để tìm hiểu ý đồ, thành phần và bố trí lực lượng của đối phương. TSVTĐ do lực lượng chuyên trách được trang bị máy thu, máy định vị vô tuyến diện để thu, phân tích tổng hợp tin và định vị các máy vô tuyến điện đối phương. TSVTĐ có thể tiến hành ở mặt đất, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Khả năng TSVTĐ phụ thuộc vào tính năng máy thu, máy định vị vô tuyến điện, kĩ năng sử dụng máy và vị trí đặt máy của đối phương, điều kiện truyền lan sóng điện từ... TSVTĐ xuất hiện từ CTTG-I; ở VN, từ KCCP và sử dụng rộng rãi trong KCCM. TRINH SÁT VÔ TUYẾN TRUYỂN HÌNH, trinh sát điện tử dùng phương tiện vô tuyến truyền hình để năm tình hình đối phương; dược tiến hành bằng camera phát vô tuyến truyền hình đặt trên phương tiện vũ trụ, máy bay, xe cơ giới, tàu biển và có thể mang xách hoặc đặt ngay tại trận địa. TSVTTH xuất hiện từ đầu những năm 60 của tk 20 và ngay càng phát triển, hoàn thiện. Đặc biệt TSVTTH từ vũ trụ có thể thu các số liệu địa - vật lí, khí tượng toàn cầu và các số liệu khắc. TRINH SÁT VŨ TRANG, trinh sát quân sự dùng hành động chiến đấu để xác minh bố trí lực lượng, trận địa. hệ thống hỏa lực, chướng ngại,... của đối phương. Gồm: trinh sát bằng trận chiến đấu, trinh sát hỏa lực, phục kích, bắt tù binh... Trinh sát hỏa lực là dựa vào tập kích hỏa lực buộc đối phương bắn trả làm bộc lộ hệ thống hỏa lực, từ đó xác minh bố trí binh lực hỏa lực của đối phương. TSVT có thể được tiến hành trong hậu phương địch (bắt tù binh, lấy tài liệu...). TSVT dược vận dụng cả trong trận chiến đấu và cả trong chiến dịch. TSVT xuất hiện trước công nguyên, trong CTTG- II được sử dụng rộng rãi và đến nay vẫn được coi trọng. Ở VN, trong KCCP và KCCM, TSVT đã được vận dụng có hiệu quả. Vd: 27.12.1950, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 đã dùng hỏa lực của 18 khẩu trung liên, xác định đúng vị trí bố trí của 1 tiểu đoàn quân Pháp ở Xuân Trạch (bắc Vĩnh Yên), đảm bảo cho bố đội tiến công tiêu diệt gọn tiểu đoàn này. TRINH SÁT VŨ TRỤ, trinh sát quân sự bằng cách dùng phương tiện vũ trụ để thu thập, khai thác tin tức về đối phương và chiến trường. TSVT có thể trong một thời gian ngắn kiểm soát vùng đất, vùng biển, vùng trời rộng lớn, cung cấp tin tức với độ chính xác cao. Nội dung chính của TSVT là: chụp ảnh tổng thể và chi tiết, trinh sát tổng hợp, phát hiện sớm việc phóng tên lừa, kiểm soát các vụ nổ hạt nhân... Trong chiến tranh Vùng Vịnh (17.1-28.2.1991) Mĩ đã sử dụng nhiều loại vệ tinh cùng với các phương tiện trinh sát khác đặt trên mặt đất, trên biển để tiến hành trinh sát tình hình các mặt của Irắc, theo dõi các hoạt động trên chiến trường... TRÌNH ĐỘ SẴN SÀNG ĐỘNG VIÊN, mức độ dạt được về kết quả chuẩn bị động viên của địa phương, đơn vị QĐ, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có nhiệm vụ động viên theo định mức sẵn sàng động viên. Gồm: (đã) sẵn sàng động viên, sẵn sàng dộng viên hạn chế, chưa sẵn sàng động viên. TRỊNH ĐÌNH CỬU (1906-90), người đứng đầu BCHTƯ lâm thời ĐCS VN (2-7.1930). Quê xã Định Công, h. Thanh Trì, tp Hà Nội; tham gia CM 1926; đv ĐCS VN (1930). Năm 1927 bí mật sang TQ, gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), dự lóp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. 3.1929 tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở VN (tại số 5D phô' Hàm Long, tp Hà Nội); 6.1929 tham gia sáng lập Đông Dương cộng sản đảng. 2.1930 cùng Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu cho Đông Dương cộng sản đảng) dự hội nghị thành lập DCS VN tại Hương Cảng (TQ); về nước dược cử đứng đầu BCHTƯ lâm thời của DCS VN. Đầu 1931 bị thực dân Pháp bắt và đày ra Còn Đảo. 1936 được trả tự do, tiếp tục hoạt động CM. Sau CM tháng Tám (1945), xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kì, được .cử giữ chức chính trị ủy viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (1947). Cuối 1954 phó giám đốc Trưòng đảng Nguyễn Ái Quốc. 1960 nghỉ công tác, tiếp tục nghiên cứu lí luận và lịch sử Đảng. Huân chương: Hồ Chí Minh. (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/69001504_465819460814606_7488613434372653056_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHAJ2hqgWOVdPBY1LWIIJdE93OZ8StmIzEjnx3gby1U5AQwhuHsyETWgIHU1hyQ4bUwNPt_lHI8oR9nez7bXB7nBLAIcsc5M4dhhjLD3wvgxQ&_nc_oc=AQlJJEjS2hY3U1JXjWuxOAhHarIonRth2db8EcORpxWY4D47ou7J5g7o8ChM0orFo0Y&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=7688706c91c680a6db665c6759a2b3db&oe=5DD53016) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:08:09 pm TRỊNH KHẢ (Lê Khả; 7-1451), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê Kim Bôi, h. Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Vĩnh Hoà, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Sau khi cha bị quân Minh giết, ж theo Lê Lợi khởi nghĩa. 1416 dự hội thề Lũng Nhãi. 1419 làm sứ giả của nghĩa quân, sang Lào nhờ giúp đỡ binh lương, được vua Lào ủng hộ. Trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh ( 1418- 27), tham gia chỉ huy đánh thắng quân Minh trong các trận: Ninh Kiều (Chương Mĩ, Hà Tây), cầu Xa Lộc và thành Tam Giang (Phong Châu, Phú Thọ); cùng Phạm Văn Xảo chỉ huy đánh bại quân Mộc Thạnh ở Lãnh Cầu và Đan Xá (gần ải Lê Hoa, Hà Giang), diệt hơn 10.000, bắt sống hơn 1.000 quân Minh. Sau giải phóng, coi việc quân ở kinh đô: 1433 kiêm coi việc quân thuộc đạo Hải Tây (từ Thanh Hóa đến Quảng Nam); sau làm tổng quản Lạng Sơn. 1446 cùng Lê Thụ đem quân đánh bại quân Chiêm Thành vào quấy phà vùng đất phía nam, được thăng bình chương quân quốc trọng sự, thượng trụ quốc, mang họ vua. 1451 bị nghi oan và bị giết. 1484 được Lê Thánh Tông minh oan, truy phong thiếu phó, tước Liệt Quốc Công. Hiện có miếu thờ ở quê. TRỊNH KIỂM (1502-70), danh tướng, đại thần dưới ba đời vua thời Lê Trung Hưng (Trang Tông, Trung Tông và Anh Tông). Quê Sóc Sơn, Vĩnh Phước (nay thuộc h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Có tài mưu lược, lập nhiéu chiến công, được Hưng Quốc Công Nguyền Kim trọng dụng, cho làm rê, được vua phong đại tướng quân, tước Dực Quận Công. 1543 đánh dẹp Trịnh Công Năng. 1545 được phong thái sư, tước Lượng Quốc Công, nắm giữ toàn bộ binh quyền. 1546-57 dẹp yên các vùng từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi và đánh thắng hai cuộc tiến công lớn của quân Mạc vào Thanh Hóa do Mạc Kính Điển chỉ huy. 1556 lập Lê Duy Bang kế vị Trung Tông (gọi là Anh Tông). 1557-64 đem quân ra các trấn ngoài Bắc. đánh đâu thắng đấy, song không chiếm được Thăng Long do nhà Mạc chiếm giữ (xt nội chiến Lê - Mạc. 1527-92). Năm 1569 được vua phong thượng tướng, Thái Quốc Công, tôn làm thượng phụ. Được truy phong Thái Vương. TRINIĐAT VÀ TÔBAGÔ (Cộng hòa Triniđat và Tôbagô: A. Republic of Trinidad and Tobago), quốc gia ở cháu Mĩ Latinh, trong vùng biển Caribê. Dt 5.130km2; ds 1,1 triệu người (2003); chủ yếu người da màu. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hổi, Ân Độ giáo. Thủ đô: Pot ôp Xpên. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thú tướng đứng đầu. Lãnh thổ gồm 2 dảo lớn Triniđat (4.8(X)km2), Tôbagô (300km2) và 5 đảo nhỏ khác (tổng diện tích khoảng 30km2) ở nam quần đảo Ăngti. Địa hình bằng phẳng, thấp. Núi ở phía bắc đảo Triniđat, đỉnh cao nhất 940m, đông bắc đảo Tôbagô có núi, đỉnh cao nhất 576m. Khí hậu cận xích đạo. Rừng nhiệt đới. Kinh tế phát triển so với các nưóe ở vùng Caribê. Trữ lượng dầu mỏ và khí tụ nhiên lớn. Khai thác dầu mỏ và hóa dầu là hai ngành chính của nền kinh tế. Du lịch quốc tế phát triển, thu nhiều ngoại tệ. Săn bay quốc tế: Piarơcô; cảng biển: Xpên. GDP 8,842 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 6.750 USD. Thành viên LHQ ( 18.9.1962), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ, Cộng đồng Caribê, Khối liên hiệp Anh. LLVT: lực lượng thường trực 2.700 người (lục quản 2.000, hải quân 700). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 46 súng cối, 14 pháo phản lực, ìo tàu tuần tiễu, 7 máy bay các loại. Ngân sách quốc phòng 67 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67959591_465819487481270_3389871172513431552_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEVw9MHgEb6MAO3l58EP9-LLugXVgaGu5cqNv_xwY1ueMAImvT6krp1bB9I_CBazheoY1FhnHYRs66TZ9qxMNP82cHTKszhUO3oshNntXx7pg&_nc_oc=AQmCnC3KPncVh5M8EwQShLucRCkW0cDPFfRZdGVUEGgZN92O5B1VLGiZq13G4hR8ewM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=41b74fb97145b93b00610fe0cc97b67f&oe=5DDE3DEC) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:10:31 pm TRỌNG ĐIỂM, khu vực địa hình tương đối hẹp nhưng giữ vai trò quan trọng hoặc có ảnh hưởng quyết định đối với các hoạt động QS, nơi địch thường tập trung nỗ lực đánh phá, ngăn chặn các hoạt động của ta. TĐ thường là đầu mối giao thông quan trọng, đoạn đường, đèo độc dạo, bến vượt (ngầm), sân bay, bên cảng... Trong KCCM, trên đường Hồ Chí Minh có hàng trăm TĐ bị địch đánh phá, ngăn chặn cơ động, vận chuyển của ta; điển hình là TĐ ATP (cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Pulanhich). TRỌNG LIÊN, súng máy cỡ lớn chủ yếu dùng diệt mục tiêu trên không, trên mặt đất, mật nước có bọc giáp mỏng. Cỡ nòng 9-14,5mm, khối lượng 28-47,5kg, tốc độ bắn lí thuyết 550-1.000 phát/ phút, tốc độ bắn thực tế 70-150 phát/ phút, tầm bắn hiệu quả đến 2.000m. TL có thể lắp đặt trên xe tăng, xe thiết giáp, tàu thuyền, máy bay nhờ các giá chuyên dụng. Các loại TL hiện sử dụng phổ biến là: ĐSK-M 12,7mm, KPV 14,5mm (LX), M-85 12/7mm (Mĩ). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67957724_465819500814602_2749765906895732736_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeEmqqZlSDSfilMXHh4GqOUX6P_IiPIuLKx5ZGS3NLmf13Ri7S5z0bIGiHm68wWZlNOJKFFeOGi90lAg9pmiqruOXgLKqxRbEV1bLXRr73wTgQ&_nc_oc=AQnQl-P5izWg2rjy2uEIrqFj3SVGza7NOkNgGe0PDObkEBig_WMIf6N1pFK4Q4aeAEQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8c96d2b24347fa0e7b42fec68264d247&oe=5DE7CDE2) TRỌNG PHÁO (pháo cỡ lớn, pháo hạng nặng), gọi chung các loại pháo có uy lực lớn, thường có cỡ nòng từ 130mm trở lên. TRỌNG TẢI của tàu (sức chở), khối lượng hàng hóa tính bằng tấn mà một tàu có thể chở được đến giới hạn quy định theo thiết kế; một đặc tính quan trọng của tàu vận tải. Có: TT toàn phần Mtp (bằng hiệu giữa lượng giãn nước chở đẩy và lượng giãn nước không tải) và TT có ích (TT tinh là khối lượng hàng hóa, hành khách cùng với hành lí mà tàu chuyên chở). Ngoài ra, đối với các tàu vận tải còn xác định TT đăng kí tính theo thể tích (mét/khối) hoặc tấn đăng kí (1 tấn bằng 2,83m2); TT đăng kí tinh VNT là thể tích tất cả các khoang tàu dùng để chuyên chở hàng hóa và hành khách; TT đăng kí thô (toàn phần) VBR là thể tích tất cả các khoang tàu. Quan hệ gần đúng giữa TT đăng kí, TT toàn phần và lượng giãn nước đầy tải M được xác định theo hệ thức: (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67809824_465819494147936_511573120834863104_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeG_uUBL_82RdsHrduJL2mdJ-mTrU6Ig4mUiaKOcfFGLK5ZNESywBpCHoPg6-hFg8Z6jEgluzHYk5P1plmbxoVdWrW1vpm7ui67936Wee1Aqfg&_nc_oc=AQnOPckayVPkxKMAwcPRS27rAAYagBGCgAcBNmwQEmZw1-1ZmOgcJJLlwZ2E9lqvkVg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=eb4c9ebb12de126ffecd108cb59aa683&oe=5DDF05CF) TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC, vấn để chủ yếu, quan trọng nhất giữ vai trò chi phối sự phát triển của từng giai đoạn chiến lược, đòi hỏi tập trung chỉ đạo để tạo chuyển biến chiến lược. TTCL thường thay đổi, phát triển trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Xác định đúng và nắm vững TTCL là nội dung quan trọng nhất của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. TRỢ LÍ, 1) chức danh của người trực tiếp giúp việc người chỉ huy từ cấp tiểu đoàn và tương đương trở lên, trong một lĩnh vực chuyên môn (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật...); 2) chức danh của người đảm nhiệm một lĩnh vực chuyên môn trong cơ quan QS. Cơ quan tham mưu có TL: tác chiến, huấn luyện, điều lệnh, quân lực...; cơ quan chính trị có TL: cán bộ, tuyên huấn, chính sách...; cơ quan hậu cần có TL: quân nhu, quân trang, doanh trại, xăng xe... Chức trách nhiệm vụ của TL được quy định trong tiêu chuẩn chức danh cán bộ QĐ. TRÚ QUÂN, bố trí bộ đội ở ngoài doanh trại trong thời gian ngắn tại khu vực tập kết, nơi nghỉ lâu trong hành quân... TQ được thực hiện theo quyết định của người chỉ huy cấp trên. Khu vực TQ phải bảo đảm bố trí lực lượng bí mật, phân tán. thuận tiện cho bộ đội nghỉ ngơi, nhanh chóng tập trung cơ động khi cần và điều kiện vệ sinh phòng dịch. Trước khi bộ đội vào khu vực TQ, phải tiến hành trinh sát (xác định khu vực bố trí của từng đơn vị, cơ quan,... đường vào nguồn nước, tình hình nhân dân và những vấn đề cần thiết khác). Khi vào khu vực TQ, phải có kế hoạch sẵn sàng đối phó với quân địch (tổ chức phòng không, phòng tránh vũ khí hủy diệt lớn, tuần tra canh gác, ngụy trang và các biện pháp khác). TRỤ, trang bị che đỡ phần đầu, cổ của chiến binh, được làm bằng chất liệu bền chắc để tránh sát thương do vũ khí lạnh {cung, nỏ, mâu, kích, đao...). T thường là dây leo bện tết, làm bằng da thú hoặc kim loại. T thường ghép liền với giáp thành giáp trụ. Đến thời cận đại, T phát triển thành mũ sắt chống đạn. (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67795979_465819524147933_5924815549841276928_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGR1GSr-SoVTwP6uTj--lN7Hx2LWlTa2XBhPKpDGNGQcnKMriVSWfYILoOLmNe-v6iurblOASK8rP_bxM8wLt318ZM2_ejUau8FtEgKzcVU0w&_nc_oc=AQlH2fvTFKuWicyU_8j9p4MTHwCnkaFJC8FgY2f9Pd8GCnJrhLzxZhu-A0T3WYKw6lI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=eaf58a7f4f95b6b30fc02cf787481bd8&oe=5DE42998) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:11:35 pm TRỤ BẾN. hình thức chiến thuật bảo đảm vượt sông trong đó bộ đội công binh bám ở bến vượt trong thời gian dài để đảm bảo cho lực lượng vượt sông hoặc ứng cứu bảo đảm giao thông tạm thời khi địch đánh hỏng cầu. Nơi TB thường là các trọng điểm thường xuyên bị đánh phá ác liệt trên các tuyến đường cơ động, vận chuyển chiến lược, khó mở được đường, bến vòng tránh do địa hình phức tạp nhưng có điều kiện để tổ chức trú ẩn cho bộ đội, cất giấu phương tiện vượt sông, đàm bảo cho bộ đội hoạt động lâu dài. Tùy thuộc vào yêu cầu cơ động, vận chuyển, lực lượng TB thường từ 1 trung đội đến 1 đại đội được trang bị khí tài vượt sông tự hành hoặc vượt sông cơ giới. Ở VN, trong KCCM bộ đội công binh đã TB ở nhiều trọng điểm trên các trục đường vận chuyển chiến lược ở miền Bắc và tuyến đường Trường Sơn như: Bến Thủy, Xuân Sơn, Long Đại, Linh Cảm, ngầm Ta Lê... TRỤC PHÁT XÍT, liên minh QS - chính trị giữa ba nước phát xít Đức - Ý - Nhật trong CTTG-II. Thành lập 27.9.1940 trên cơ sở hiệp ước Beclin nhằm mở rộng LTTG-II và phân chia khu vực ảnh hường: Nhật ở châu Á, Đức và Ý ở châu Âu. Do thắng lợi của Đồng minh chống phát xít, kế hoạch xâm lược để phân chia lại thế giới của TPX bị phá sản. TPX bất đầu tan vỡ khi chế độ Mutxôlini ở Ý sụp đổ 25.7.1943 và đầu hàng 3.9.1943, chính phủ mới ở Ý tuyên chiến với Đức 13.9.1943 và tan rã hoàn toàn sau khi Đức và Nhật buộc phải đầu hàng vô điều kiện trong CTTG-II (9.1945). Cg phe trục. TRUMAN (A. Harry S. Truman: 1884-1972), tổng thống Mĩ thứ 33 (1945-53), người hạ lệnh ném bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagaxaki cuối CTTG-II; thuộc ĐDC Mĩ. Sinh ở Lama, bang Mixuơri (Mĩ). 1922 hoạt động chính trị, thượng nghị sĩ (1935-45), chủ nhiệm ủy ban của thượng nghị viện đầu tư cho các chương trình quốc phòng. 3-4.1945 phó tổng thống. 4.1945 Rudơven chết, lên làm tổng thống, về đối nội, đàn áp ĐCS và phong trào đấu tranh của công nhân, sinh viên và những người da màu. Về đối ngoại, là một trong những người khởi xướng chiến tranh lạnh, học thuyết Truman, thuyết Đôminô, thành lập NATO..., ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương, cung cấp viện trợ kinh tế, QS cho Pháp, thuyết phục quốc hội Mĩ dành quỹ cho cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương nhằm ngăn chặn “sự bành trướng” của CNCS, coi cuộc KCCP của nhân dân VN là sự “đe dọa” của cộng sản đối với phương Tây và Mĩ. 1950 điều quân xâm lược Triều Tiên (x. chiến tranh Triều Tiên, 1950-53). TRUNG BỘ, phần lãnh thổ miền Trung VN từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. 1834 triều Nguyễn chia vùng này (trừ phủ Thừa Thiên và kinh thành Huế) thành bốn khu vực nhỏ là Bắc Trực (Quảng Bình, Quảng Trị), Nam Trực (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Hữu Kì (cg Hữu Trực hay Hữu Trực Kì, từ Hà Tĩnh đến Thanh Hóa) và Tả Kì (cg Tả Trực hay Tả Trực Kì, từ Bình Định đến Bình Thuận). Theo hiệp ước Quý Mùi (25.8.1883), từ Bắc Trực đến Tả Kì (trừ Bình Thuận) gộp lại thành Trung Kì và hưởng quy chế tự trị. Hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884) trả các tỉnh Hữu Trực cũ và Bình Thuận về Trung Kì. Từ 1887 trở thành một xứ thuộc địa trong Liên hiệp Đông Dương (Đông Dương thuộc Pháp). 3.1945 thống sứ Nhật Nisimura đổi Trung Kì thành TB. TRUNG ĐOÀN, binh đội chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn. Thường gồm 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế sư đoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh hoặc dược tổ chức độc lập trong quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyển môn... để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác. Có TĐ chiến đấu (TĐ bộ binh, TĐ bộ binh cơ giới, TĐ xe tăng, TĐ pháo binh, TĐ đặc công, TĐ không quân, TĐ hải quân đánh bộ...), TĐ bảo đảm hoặc phục vụ (TĐ công binh, TĐ thông tin, TĐ hóa học, TĐ vận tải...). Trong QĐND VN, TĐ được quy định về tổ chức lần đầu tiên theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946, biên chế chi tiết (TĐ bộ binh) theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946 của chủ tịch nước VN DCCH và các văn bản tiếp sau của BQP, BTTM. TRUNG ĐOÀN 1 (Sư đoàn 2, Quân khu 5), trung đoàn bộ binh chủ lực; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1972, 1976 và 1979). Thành lập 20.11.1963, trực thuộc Quân khu 5. Tiền thân là “Công trường I - kiêm tỉnh đội Quảng Nam” ra đời 11.1962; tháng 10.1965 thuộc biên chế Sư đoàn 2. Liên tục chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc, nổi bật là: trận Kì Sanh mùa Thu 1964, trận đầu đánh bại chiến thuật thiết xa vận trên chiến trường đồng bằng Khu 5; Xuân 1965 tiêu diệt cứ điểm Việt An, phá vỡ phòng tuyến Sông Khang; Hè 1965 phối hợp với LLVT tinh Quảng Ngãi mở chiến dịch Ba Gia, trận đầu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy, giải phóng 27 xã và 20 vạn dán, với chiến thắng nảy trung đoàn được mang danh hiệu “Trung đoàn Ba Gia”. 18.8.1965 đánh bại 8.000 lính thủy đánh bộ Mĩ ở Vạn Tường, trận thắng Mĩ đầu tiên của bộ đội chủ lực miền Nam. Tham gia tổng tiến công Mậu Thân (1968) ở t. Quảng Ngãi, t. Quảng Nam; chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1970-71); chiến dịch bắc Tây Nguyên (1972); chiến dịch Huế - Đà Nẵng (1975), giải phóng tp Đà Nẵng, chiến đấu ở mật trận biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia (1978-88). Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Phạm Duy Minh và Nguyễn Đình Trọng. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:12:32 pm TRUNG ĐOÀN 1 (Sư đoàn 330, Quân khu 9), trung đoàn bộ binh chủ lực; đơn vị ba lẩn Ah LLVT (1973, 1975 và 1989). Thành lập 23.9.1963 tại căn cứ u Minh (t. Cà Mau), mang tên Trung đoàn U Minh, tiền thân là Tiểu đoàn U Minh 1; tháng 9.1976 thuộc biên chế Sư đoàn 330 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh (309, 307 và 303). Trong KCCM chiến đấu trên địa bàn các tỉnh: Cà Mau, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long lập nhiều chiến công xuất sắc. Nổi bật là trận Chà Là (9.1963) diệt hàng trăm địch, bắn rơi hàng chục máy bay trực thăng, góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận của Mĩ. 1968 đã 3 lần thọc sâu vào tx Cần Thơ, đánh sân bay Lộ Tẻ, phá 29 máy bay, diệt hàng trăm phi công, diệt gọn 3 tiểu đoàn (1 tiểu đoàn Mĩ), 1 chi đoàn xe bọc thép. 11.1969 phối hợp với h. An Biên (t. Kiên Giang) loại khỏi chiến đấu 4 tiểu đoàn, 1 SCH trung đoàn, bắn chìm, bắn cháy 5 tàu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. 1970-72 diệt 7.000, bắt 212 địch. Xuân 1975 diệt 11 chi khu, 112 dồn, bốt. 6.1975 từ đảo Phú Quốc cùng với hải quân, không quân giải phóng Đảo Ông, Đảo Bà. 1977-78 đánh địch ở biên giới Tây Nam. 1979-89 làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tham gia giải phóng Phnôm Pênh. Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Nguyền Thành Kính (Ba Kính) và Trần Minh Đức (Tư Đức). TRUNG ĐOÀN 7, trung đoàn công binh công trình của QĐND VN; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1970, 1979 và 2003). Thành lập theo quyết định số 203/QĐ-QP 12.11.1965 của BQP với tên gọi Công trường 7, chính thức tổ chức 13.12.1965 tại Hà Nội, quân số 2.773 người; chuyển thành TĐ7 10.1967. Trực thuộc BTL công binh (12.1965-3.1968), Đoàn 559 (1968-71), Mặt trận Tây Nguyên (1972-3.1975), Quân đoàn 3 (từ 3.1975). Tham gia bảo đảm công binh và trực tiếp chiến đấu trong các chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh (1968), bắc Tây Nguyên (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1965-67), Campuchia (1979). Trung đoàn trường và chính ủy đầu tiên: Lê Văn Sương, Bùi Khắc Doãn. TRUNG ĐOÀN 26, trung đoàn thông tin tổng hợp thuộc Quân chủng phòng không - không quân, đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 3.7.1965, tiền thân là Tiểu đoàn thông tin 92 (Cục không quân) và Tiểu đoàn thông tin 26 (BTL phòng không). Từ 10.1999 hợp nhất với Trung đoàn thông tin 252 thành Lữ đoàn thông tin 26. Trong KCCM, thu và phát hàng chục triệu bức điện cơ yếu, chỉ huy, tình báo rađa...; bảo đảm thông tin thường xuyên thông suốt từ SCH quân chủng đến: cơ quan cấp trên, binh chủng, quân chủng, cơ quan, đơn vị... với gần 700 đầu mối; phục vụ bộ đội phòng không - không quân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bác VN; tham gia chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972). Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972), có nhiều sáng kiến và biện pháp khắc phục nhiễu, bảo đảm thông tin cho các đơn vị tên lửa phòng không, không quân tiêm kích bắn rơi nhiều máy bay Mĩ. Huân chương: 3 Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Trần Phiên, Nguyễn Văn Thâm. Cg Đoàn Sóng Điện. TRUNG ĐOÀN 40, trung đoàn pháo binh chủ lực đầu tiên của Mật trận Tây Nguyên; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 5.2.1967. Tháng 10.1967, TĐ40 tách đôi, một nửa chi viện cho chiến trường Nam Bộ, một nứa ở lại B3 gọi là TĐ40. Tháng 6.1968 trung đoàn có 10 tiểu đoàn và 4 đại đội trực thuộc. 8.1968 tách thành: Trung đoàn 40A, Trung đoàn 40B. Đầu 1974 trở thành trung đoàn pháo binh cơ giới của binh đoàn chủ lực cơ động. Trong KCCM, 1967-75 chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên; đánh 2.814 trận (trận đầu tập kích căn cứ Sùng Thiện, 1967), tiêu diệt 11.380 địch, phá hủy, phá hỏng 532 khẩu pháo, 28 súng cối, 4 đại liên, 576 xe (có 104 xe tăng, xe bọc thép), 227 kho (đạn, xăng dầu, hàng hóa), bắn rơi, phá hủy 562 máy bay, phá sập 344 lô cốt, hầm ngầm, thu 103 xe, 22 pháo và trên 12.000 viên đạn pháo các loại cùng nhiều phương tiện chiến tranh. Huân chương: 2 Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất. 139 lượt đơn vị, 251 cá nhân dược thưởng huân chương các loại, 1 tiểu đoàn được thưởng huân chương Quân công hạng ba. Trung đoàn trưởng đầu tiên: Nguyễn Đức Giá. TRUNG ĐOÀN 48(A), trung đoàn bộ binh thuộc biên chế Sư đoàn 320, đơn vị hai lần Ah LLVTND (1975 và 1979). Thành lập 27.2.1947 (phiên hiệu ban đầu là Trung đoàn 80), gồm các đơn vị Vệ quốc đoàn và tự vệ chiến đấu ở các cửa ô của Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Trực thuộc Liên khu 3 (1947-50), Sư đoàn 320 (từ 1951). Trong KCCP, chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà Nội, được BQP - Tổng chỉ huy tặng danh hiệu "Trung đoàn Thăng Long”; hoạt động chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Trong KCCM, tham gia chiến đấu ở mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến trường Tây Nguyên (1972- 74), chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Sau 1975, chiến đấu ở mặt trận biên giới Tây Nam (1978) và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (1979). TĐ48(A) đánh nhiều trận, lập nhiều thành tích. Trung đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Phùng ThếTài, Trương Công cẩn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:13:48 pm TRƯNG ĐOÀN 102 X. TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ TRUNG ĐOÀN 113, trung đoàn đặc công trực thuộc Bộ chỉ huy Miền; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1975, 1979 và 2000). Thành lập 3.6.1972 tại Biên Hoà. Trong KCCM, hoạt động tác chiến trên địa bàn Biên Hoà, Long Bình. Đã đánh 32 trận vào các căn cứ, hậu cứ của đối phương. 4.1975 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh góp phần giải phóng Sài Gòn. Từ 2.1976 thuộc BTL Binh chủng đặc công. 1978-79 chiến đấu tại mặt trận biên giới Tây Nam. 7.1991 đổi tên thành Đoàn đặc công 113. Có 4 tiểu đoàn, 1 đại đội và 8 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công (1 hạng nhất, 3 hạng ba), Chiến công (2 hạng nhất, 2 hạng nhì, 6 hạng ba). Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thanh Tùng, Mai Văn Thoạn. TRUNG ĐOÀN 134, trung đoàn thông tin hữu tuyến điện thuộc Binh chủng thông tin liên lạc, đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 8.8.1966. Tiền thân là Tiểu đoàn thông tin 134 (tiểu đoàn chuyên trách bảo vệ và khai thác hệ thống thông tin hữu tuyến điện đường dài), thành lập 15.8.1954, thuộc Cục thông tin liên lạc, phát triển thành Lữ đoàn thông tin 134 (2.1.1985); đổi thành TĐ134 (29.10.1990). TĐ134 gồm 6 đại đội thông tin, 1 trung đội thông tin cơ động và các bộ phận phục vụ. Trong KCCM, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc hữu tuyến điện đường dài (đường trục dây trần) từ BQP (BTTM) đến các đơn vị trên chiến trường... Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Đoàn Đình Đạm, Phạm Ngọc Thăng. TRUNG ĐOÀN 174, trung đoàn bộ binh chủ lực nổi tiếng của QĐND VN; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1976 và 1979). Thành lập 19.8.1949 tại Đức Long (h. Hòa An, t. Cao Bằng) trên cơ sở hợp nhất lực lượng Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 (Cao Bằng), Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 (Bắc Cạn), Tiểu đoàn 386 Trung đoàn 28 (Lạng Sơn), quân số gần 5.000 người. Trực thuộc Bộ tổng tư lệnh (1949-51), Sư đoàn 316 (5.1951-66), Mặt trận Tây Nguyên (1967-68), Sư đoàn 5 (1968-89)... TĐ174 lập chiến công đầu diệt 97 xe QS (có 1 đại đội xe tăng) và 1 tiểu đoàn quân Pháp trong trận phục kích tại đoạn đèo Bông Lau - Lũng Phầy trên QL 4 (3.9.1949). Cuối 1949 đánh dẹp và truy kích quân Tưởng tới Nam Ninh (TQ), được nhân dân t. Quảng Tây (TQ) tặng bức trướng “Chiến thắng quân Tưởng”. Sau đó, tham gia các chiến dịch: Biên Giới, Trung Du. Đường 18, Tây Bắc, Điện Biên Phủ (trong KCCP); tổng tiến công Xuân Mậu Thân; phản công giải phóng đông bắc Campuchia, Nguyễn Huệ, tổng tiến công Xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) (trong KCCM). Sau 1975, TĐ174 chiến đấu tại mặt trận biên giới Tây Nam (1977-78), tham gia giải phóng nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pôn Pốt và làm nhiệm vụ quốc tế ở nước này (1979-89). Cg Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng. Ngày truyền thống 19.8.1949. Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Đặng Văn Việt, Chu Huy Mân. TRUNG ĐOÀN 202, trung đoàn xe tăng đầu tiên của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1989). Thành lập 5.10.1959, trực thuộc Bộ tổng tư lệnh. 6.1965-10.1973 thuộc Binh chủng Thiết giáp, từ 10.1973 thuộc Quân đoàn 1. Chuyển thành trung đoàn bộ binh cơ giới (18.11.1971), Lữ đoàn tăng 202 (25.10.1973), Trung đoàn tăng 202 (31.5.1991). Tham gia các chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh (1968), Mường Sủi (Lào, 1969), Cánh Đồng Chum (Lào, 1970), Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972) và chiến dịch Hồ Chí Minh... Cùng đơn vị bạn đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn (30.4.1975). Ngày truyền thống 5.10.1959. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Đào Huy Vũ, Đặng Quang Long. TRUNG ĐOÀN 230. trung đoàn pháo phòng không 57mm dầu tiên của Quân chủng phòng không - không quân thuộc Sư đoàn phòng không 367; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 22.6.1958, thuộc biên chế: BTL phòng không (6.1958- 10.1963); Quân chủng phòng không - không quân (10.1963- 2.1965); BTL Quân khu 4 (2.1965-6.1966); Sư đoàn phòng không 367 (6.1966-3.1979 và 8.1991); Sư đoàn phòng không 377 (3-10.Ĩ979); Sư đoàn phòng không 369 (10.1979- 8.1991). Trong KCCM, chiên đấu trên 17 tỉnh, thành phố miền Bắc, tham gia ba chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị Thiên (1972); Hồ Chí Minh (1975). Bắn rơi 152 máy bay (gồm 17 kiểu loại, có chiếc thứ 3.000 bị bắn rơi trên miền Bắc. 39 chiếc rơi tại chỗ). 1 tiểu đoàn, 1 đại đội, 1 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng ba. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Ninh Hữu Trác, Lê Hùng Tâm. Cg Đoàn Thống Nhất. TRUNG ĐOÀN 236, trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của QĐND VN thuộc Sư đoàn 361, đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 7.1.1965, đổi thành Lữ đoàn tên lửa phòng không 236 (4.1982-91). Thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (1.1965-6.1966); BTL binh chủng tên lửa (3.1967-2.1968). Sư đoàn phòng không 361 (6.1966-3.1967, tháng 2.1968- cuối 1971 và từ 3.1973), Sư đoàn phòng không 365 (cuối 1971 - cuối 1972), Sư đoàn phòng không 367 (cuối 1972-3.1973). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc và tỉnh Quàng Trị. Đánh hơn 600 trận, bắn rơi 169 máy bay, gồm 20 kiểu loại (có 9 chiếc B-52 và F-111A); 100 chiếc rơi tại chỗ. 24.7.1965 ở Hà Tây đánh thắng trận đầu, bắn rơi cả tốp 3 F-4 (có chiếc thứ 400 bị bắn rơi trên miền Bắc). 7.3.1966 ở Nghệ An bằng 1 quả tên lửa bắn rơi 2 máy bay trinh sát RF-101; ngày 12.8.1967 ở Hà Nội lần đầu đánh bằng phương pháp ba điểm, bắn rơi tại chỗ RF-4C. Ngày 13.4.1972 tại Ái Sơn bắn rơi B-52. Có 2 tiểu đoàn, 4 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công và nhiều Chiến công. Trung đoàn trường, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Quang Tuyến, Phạm Đăng Ty. Cg Đoàn Sông Đà. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:14:40 pm TRUNG ĐOÀN 238, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 363; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 22.4.1965, thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (4.1965-7.1966, 5.1968-2.1969), BTL Quân khu 4 (7.1966-5.1968), Sư đoàn phòng không 367 (2.1969- 8.1971), Sư đoàn phòng không 363 (từ 8.1971). Trong KCCM, đánh gần 300 trận, bắn rơi 157 máy bay, gồm 16 kiểu, loại (có 9 B-52), 55 chiếc rơi tại chỗ. 20.9.1965 tại Bắc Giang đánh thắng trận đầu bắn rơi 2 F-105. Ngày 5.10.1965 tại La Khê, Quảng Ninh đánh 2 trận, bắn rơi 4 A-4. Ngày 17.9.1967 tại Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh bắn rơi 2 B-52 (những chiếc B-52 đầu tiên do tên lửa phòng không VN bắn rơi). 6.8.1972 tại Hải Phòng bắn rơi tại chỗ chiếc A-7 (chiếc thứ 3.800 bị bắn rơi trên miền Bắc). Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972) bắn rơi 3 B-52. Có 1 tiểu đoàn, 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 2 Quân công và nhiều Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Văn Hội, Lê Sĩ Bích. Cg Đoàn Hạ Long. TRUNG ĐOÀN 257, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1985). Thành lập 13.11.1965, trực thuộc Quân chủng phòng không - không quân (11.1965-3.1967). Binh chủng tên lửa (3.1967-2.1968), Sư đoàn phòng không 363 (1.1976-10.1979), Sư đoàn phòng không 369 (10.1979-10.1991), Sư đoàn phòng không 361 (2.1968-1.1976; từ 10.1991). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc, đánh 450 trận, bán rơi 74 máy bay Mĩ, gồm 8 kiểu, loại, có 11 B-52 (6 B-52 rơi tại chỗ). Đặc biệt 7.8.1966 tại Việt Yên, t. Bắc Giang bắn rơi tại chỗ F-105 (chiếc thứ 1.300 bị bắn rơi trên miền Bắc); 17.9.1967 tại Hiệp Hoà, t. Bắc Giang, bắn rơi máy bay trinh sát RF-4C (chiếc thứ 2.300 bị bắn rơi trên miền Bắc); 19.12.1972 tại Chèm, Hà Nội bắn rơi tại chỗ B-52; ngày 26.12.1972 tại Hà Nội 3 tiểu đoàn của trung đoàn bắn rơi tại chỗ 3 B-52, có 1 tiểu đoàn Ah LLVT- ND. Huân chương: Quân công, Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Hoàng Hoa Nam, Hàn Nghị. Cg Đoàn Cờ Đỏ. TRUNG ĐOÀN 261, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 367; đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 30.5.1966, thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (5.1966-4.1968), Sư đoàn 365 (4.1965-7.1968; 3.1969-9.1970), Sư đoàn 361 (7.1968-3.1969; 9.1970- 6.1986), Sư đoàn 367 (từ 7.1986). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc, đánh 183 trận, bắn rơi 55 máy bay Mĩ (21 chiếc rơi tại chỗ). 2.1.1969 tại Bắc Ninh đánh thắng trận đầu bắn rơi máy bay trinh sát không người lái J-147; ngày 27.6.1972 tại Hà Nội bắn rơi máy bay F-4 là chiếc thứ 3.700 bị bắn rơi trên miền Bắc. Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (12.1972) bắn rơi 12 máy bay B-52 (có 8 rơi tại chỗ). Đêm 18.12.1972 bấn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên ở Hà Nội, là chiếc thứ 4.100 bị bắn rơi trên miền Bắc, là trung đoàn tên lửa phòng không bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay B-52 của bộ đội tên lửa phòng không VN. Một cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Đỗ Thế Nhân, Lăng Khánh Văn. Cg Đoàn Thành Loa. TRUNG ĐOÀN 273, trung đoàn tăng thuộc Quân đoàn 3; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1976 và 1979). Thành lập 3.2.1973 tại bắc Kon Tum trên cơ sở hợp nhất Tiểu đoàn tăng 297 (Trung đoàn tăng 203) với Tiểu đoàn tăng 177 (Trung đoàn tăng 202) và Tiểu đoàn tăng 3 (Trung đoàn tăng 201); được biên chế thành 3 tiểu đoàn tăng 1, 2, 3. Đã chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, tham gia chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), dẫn đầu đội hình đột kích từ nhiều hướng, cùng lực lượng chiến dịch tiêu diệt SCH Sư đoàn 23, làm tan rã các trung đoàn 45, 53 QĐ Sài Gòn, giải phóng tx Buôn Ma Thuột (10-11.3.1975): tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975); một trong những đơn vị đầu tiên đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất (30.4.1975). Sau 1975 chiến đấu ở mặt trận biên giới Tây Nam (1978) và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia; phát triển thành Lữ đoàn tăng 273 (9.1975); đổi thành TĐ273 (5.1991). Ngày truyền thống 3.2.1973. Trung đoàn trường và chính ủy đầu tiên: Lê Ngọ, Mai Xuân Giá. TRUNG ĐOÀN 280. trung đoàn pháo phòng không thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1969). Thành lập 25.4.1959; thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (9.1959-2.1965), BTL Quân khu 4 (2.1965-cuối 1967), Tổng cục tiền phương (cuối 1967-4.1968), Sư đoàn phòng không 367 (4-11.1968 và 5.1969-5.1978), BTL 500 (11.1968-5.1969), Sư đoàn phòng không 361 (từ 5.1978). Trong KCCM, bắn rơi 307 máy bay Mĩ. 5.8.1964 (tại Vinh, Nghệ An) bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay Mĩ đầu tiên trên miền Bắc (A-4). Đánh bộ binh địch diệt 200 lính ngụy trong chiến dịch Trị Thiên (1972). Bám sát đội hình bộ binh, dùng pháo phòng không bắn thẳng, diệt nhiều hỏa điểm địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Có 1 tiểu đoàn, 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 1 Quân công, 1 Chiến công. Quyền trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Lê Huy Vinh, Hoàng Văn Ngữ. Cg Đoàn Hồng Lĩnh. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:16:04 pm TRUNG ĐOÀN 291, trung đoàn rađa cảnh giới, dẫn đường thuộc Sư đoàn phòng không 365, trung đoàn rađa đầu tiên của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lặp 21.3.1958, tiền thân là Trung đoàn đối không cần vụ 260 (3.1958-9.1960). Trung đoàn rađa tình báo 300 (9.1960-5.1961), TĐ291 (từ 5.1961). Thuộc biên chế: BTL phòng không (3.1958-10.1963), Quân chủng phòng không - không quân (10.1963-3.1967), BTL binh chủng rađa (3.1967-1.1979), Sư đoàn 365 (từ 1.1979). Trong KCCM, triển khai đội hình trên nhiều tỉnh, thành phố miền Bắc, phát hiện kịp thời hàng chục vạn tốp máy bay địch, thông báo chính xác tình báo rađa phục vụ phòng tránh và đánh trả, dẫn đường cho không quân đánh máy bay và tàu chiến địch. 1.3.1959 phát sóng quản lí vùng trời quốc gia. 3.3.1959 phát hiện chiếc máy bay đầu tiên (C-47) xâm phạm vùng trời miền Bắc. 5.8.1964 phát hiện địch từ xa bảo đảm tình báo rađa cho bộ đội phòng không đánh thắng; 3-4.4.1965 dùng rađa 402 dẫn đường cho không quân ta đánh thắng trận đầu ở Hàm Rồng, Thanh Hóa. Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972) phát hiện B-52 từ xa bảo đảm tình báo cho bộ đội tên lửa và dẫn đường cho không quân bắn rơi nhiều B-52. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng nhất. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Lương Hữu Sắt. Lê Đình Truy. Cg Đoàn Ba Bể. TRUNG ĐOÀN 921, trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên của QĐND VN, thuộc Sư đoàn 371; đơn vị Ah LLVTND (1969). Thành lập 3.2.1964, theo quyết định 18/QĐ của BQP. trang bị MiG-17. Tháng 7.1965 chuyển sang sử dụng MiG- 21. Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ (1965-68) đã xuất kích 1.877 lần chiếc, gặp 221 lần tốp máy bay địch, nổ súng 177 lần, bắn rơi 105 máy bay các loại của không quân Mĩ (41 F-105, 4 F-8, 2 A-6A, 1 F-102, 1 A-4, 19 máy bay không người lái, 3 F-4C, 3 F-101, 2 RB- 66, 1 AD-5, 1 RF-4C và một số loại máy bay khác). 1969-71 cơ động vào chiến trường Quân khu 4, tham gia bảo vệ tuyến giao thông vận tải chiến lược. Từ 2.1972 đến 1.1973, đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ 2 của Mĩ. Có 3 đơn vị hai lần Ah LLVTND và 13 cá nhân Ah LLVTND. Ngày truyền thống 3.2.1964. Trung đoàn trưởng đầu tiên: Đào Đình Luyện. TRUNG ĐOÀN 923, trung đoàn không quân tiêm kích thuộc Sư đoàn 372; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 4.8.1965, được trang bị máy bay MiG-17, gồm 2 đại đội với 17 phi công và các thành phần bảo đảm bay. Trong chiến tranh phá hoại của Mĩ ở Bắc VN, từ 4.3.1966 đến 11.1969, TĐ923 đã xuất kích gần 2.000 lần chiếc, đánh 92 trận, bắn rơi 93 máy bay Mĩ các loại. Từ 11.1969, cơ động trên chiến trường Quân khu 4, biên đội Lê Xuân Dị - Nguyễn Văn Bảy bắn cháy tàu khu trục Mĩ trên vùng biển tỉnh Quảng Bình (19.4.1972). TĐ923 đã cơ động trên nhiều sân bay, bắn rơi 14 máy bay Mĩ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Biên đội Quyết Thắng tập kích vào sán bay Tân Sơn Nhất bằng máy bay A-37, phá hủy 24 máy bay, góp phần làm sụp đổ chế độ Sài Gòn. Từ 1979, TĐ923 được trang bị máy bay tiêm kích bom Su-22. Có: Đại đội 4 (3 lần), Đại đội 2 (2 lần) và 10 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 12 Quân công, 145 Chiến công, 93 huy hiệu Bác Hồ. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Phúc Trạch, Nguyễn Ngọc Phiếu. TRƯNG ĐOÀN BA GIA nh TRUNG ĐOÀN 1 Sư đoàn 2 TRUNG ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, trung đoàn được trang bị xe chiến đấu bộ binh (xe thiết giáp) và xe tăng (pháo tự hành); thường được biên chế 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, 1 tiểu đoàn tăng (pháo tự hành), đại đội pháo phòng không, các phân đội trực thuộc: trinh sát, thông tin, công binh, sửa chữa, vận tải, quân y và một số phân đội bảo đảm khác. Thuộc biên chế của sư đoàn bộ binh cơ giới hoặc được tổ chức độc lập trực thuộc quân đoàn, quân khu... TĐBBCG hoạt động tác chiến trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. TRUNG ĐOÀN CAO - BẮC - LẠNG nh TRUNG ĐOÀN 174 TRUNG ĐOÀN CÔNG BINH, trung đoàn thuộc công binh chủ lực, biên chế trong quân khu. quân đoàn, quân chủng và binh chủng công binh; gồm từ 3 đến 4 tiểu đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị cơ giới và một số đại đội chuyên môn khác để thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm công binh ương tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược hoặc chuyên trách xây dựng các công trình quốc phòng có quy mô lớn. Thường có TĐCB hỗn hợp trực thuộc quân đoàn, quân khu, quân chủng và TĐCB chuyên trách trực thuộc Binh chủng công binh và có thể tổ chức lâm thời ở quân khu. TRUNG ĐOÀN ĐẶC CÔNG, đơn vị chiến thuật lốn nhất của đặc công, trực thuộc Bộ. quân khu, mặt trận. TĐĐC gồm một số liên đội, phân đội trực thuộc và cơ quan; có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên các chiến trường, tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược. Thường tác chiến bằng hình thức trận chiến đấu của các phân đội đánh vào các mục tiêu trong hậu phương và phía sau đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của đối phương. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:17:18 pm TRUNG ĐOÀN HẢI QUÂN, trung đoàn thuộc biên chế của vùng hải quân hoặc trực thuộc BTL hải quân, làm nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm chiến đấu của hải quân, có thể hành động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Tổ chức thường gồm 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc. Có TĐHQ chiến đấu (tên lửa bờ, bảo vệ đảo...), TĐHQ bảo đảm phục vụ (công binh, thông tin...). TRUNG ĐOÀN HÓA HOC, trung đoàn bảo đảm chiến đấu trực thuộc Binh chủng hóa học. Thường gồm: chỉ huy và các cơ quan trung đoàn, 3-4 tiểu đoàn hóa học và một số đại đội trực thuộc; các tiểu đoàn hóa học được tổ chức theo chuyên ngành: tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn tiêu tẩy, tiểu đoàn khói lửa hoặc tiểu đoàn hỗn hợp. Có nhiệm vụ: bảo đảm hóa học trên các hướng tác chiến của Bộ; khắc phục sự cố hóa chất độc, phóng xạ và làm nhiệm vụ khác (chiến đấu bằng vũ khí lửa. ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng bằng màn khói...). TĐHH đầu tiên của QĐNDVN là TĐHH 86, thành lập theo quyết định số 284/QĐ-QP ngày 31.12.1977. trên cơ sở ba tiểu đoàn hóa học (901, 902 và 903). TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân, được trang bị máy bay tiêm kích, có tốc độ lớn, khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, tiểu đoàn thông tin - rađa. TĐKQTK có nhiệm vụ: sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trên một hướng được phân công; phối hợp với các lực lượng phòng không khác bảo vệ vùng trời, vùng biển, tiêu diệt các khí cụ bay, đánh chặn các cuộc tiến công đường không của địch; bay tuần tiễu, bay trinh sát, bay bảo vệ hộ tống cho cường kích, vận tải, bay chiến đấu hiệp đồng quân chủng, binh chủng, bảo vệ đội hình hành quân; làm nhiệm vụ cường kích đánh mục tiêu mặt đất, mặt nước. Có thể cơ động chiến đấu trên nhiều sân bay. TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH - BOM, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân, được trang bị máy bay tiêm kích - bom, có khả năng cơ động chiến đấu cao, hỏa lực mạnh, sức công phá lớn, tầm bay xa. Gồm: 2-3 phi đội (mỗi phi đội có 2 hoặc 3 trung đội, mỗi trung đội có 2 hoặc 3 biên đội), tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, tiểu đoàn thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn, đóng quân trên một sân bay chính, có thể cơ động trên nhiều sân bay khác. TĐKQTK-B chủ yếu làm nhiệm vụ cường kích và có khả năng làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không, chiến đấu hiệp đồng chi viện chiến trường, tập kích vào hậu phương địch, đánh phá các mục tiêu QS, có thể tác chiến trên các địa hình vùng núi, vùng đồng bằng, vùng biển và hải đảo, trong mọi điều kiện khí tượng, ngày, đêm. TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TRỰC THĂNG, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân hoặc độc lập, được trang bị các loại máy bay trực thăng QS, có khả năng cơ động cao; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, đại đội (tiểu đoàn) thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn; đóng quân trên 1 sân bay chính, có thể cơ động trên nhiều sân bay khác. TĐKQTT có nhiệm vụ: trực tiếp chiến đấu, yểm trợ, chi viện hỏa lực cho bộ binh trong chiến đấu hiệp đồng, đánh tiền duyên, tập kích vào đội hình địch; bay đổ quân tập kích, thả dù, trinh sát, quan sát, tìm cứu, chỉ thị mục tiêu; bay tải thương, cứu hộ, chuyển tiếp thông tin (chỉ huy trên không hoặc tổng đài điện thoại trên không); bay chuyên cơ, bay dịch vụ. TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN VẬN TẢI, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân hoặc độc lập, được trang bị một hoặc nhiều loại máy bay vận tái QS trọng tải lớn, tầm bay xa; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tiểu đoàn (hoặc đại đội) thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn. Nhiệm vụ chủ yếu: vận chuyển người, vũ khí trang bị, hàng hóa hoặc bay ném bom, trinh sát, chụp ảnh, quan sát, tìm cứu, tiếp tế, thả dù, thả hàng, chuyển tiếp thông tin (SCH cơ động trên không), bay chuyên cơ vừa trực tiếp chiến đấu vừa phục vụ chiến đấu. TRUNG ĐOÀN PHÁO BINH, trung đoàn thuộc lực lượng pháo binh dự bị chiến lược và một số quân đoàn, sư đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), thường gồm 3 tiểu đoàn pháo và các phân đội chỉ huy, bảo đảm. Tùy theo nhiệm vụ và đặc điểm chiến trường, TĐPB có thể được trang bị một loại pháo hoặc hỗn hợp. Trong tác chiến, TĐPB làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực trực tiếp hoặc chi viện chung cho bộ đội binh chủng hợp thành. TĐPB đầu tiên của QĐND VN là Trung đoàn 95, thành lập 9.1950, gồm 3 tiểu đoàn sơn pháo 75mm (21 khẩu), nay là Lữ đoàn pháo binh 675. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:22:46 pm TRUNG ĐOÀN PHÁO PHÒNG KHÔNG, trung đoàn trong biên chế sư đoàn phòng không hoặc độc lập có nhiệm vụ: tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của địch ở độ cao thấp và trung bình, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS quan trọng của quốc gia. Có khả năng tác chiến độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Gồm các phân đội hỏa lực, phân đội chuyên môn và bảo đảm. Được trang bị pháo phòng không, súng máy phòng không, tên lửa phòng không tầm thấp, máy chỉ huy, rađa chỉ thị mục tiêu, rađa điều khiển hỏa lực. TĐPPK đầu tiên của QĐND VN thành lập 1.4.1953 mang tên Trung đoàn pháo cao xạ 367. TRUNG ĐOÀN RAĐA PHÒNG KHÔNG, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn phòng không có nhiệm vụ tạo trường rađa trinh sát, quản lí vùng trời trên một khu vực, thông báo tình hình trên không, dẫn đường cho không quân. Gồm các trạm rađa cảnh giới, dẫn đường hoặc cảnh giới kiêm dẫn đường, các phân đội chuyên môn, bảo đảm, vọng quan sát mắt. Được trang bị đài rađa các loại. TĐRPK đầu tiên của QĐND VN thành lập 3.1958 mang tên Trung đoàn rađa 260 (5.1961 đổi thành Trung đoàn 291). TRUNG ĐOÀN TĂNG, trung đoàn chiến đấu được trang bị chủ yếu xe tăng thiết giáp; thường biên chế 2 tiểu đoàn tăng, 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới (thiết giáp), kíp xe tăng của trung đoàn trưởng và một số phân đội bảo đảm khác. TĐT thường biên chế trong BTL tăng thiết giáp, quân đoàn, quân khu, quân chủng... TĐT có thể tác chiến độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Trong QĐND VN, TĐT đầu tiên được thành lập 5.10.1959. TRUNG ĐOÀN TẤT THẮNG, trung đoàn nổi tiếng của Liên khu 3, thành lập 22.8.1945 tại Nam Định với phiên hiệu Trung đoàn 19 (do Hà Kế Tấn làm trung đoàn trưởng kiêm chính trị ủy viên), sau đổi thành Trung đoàn 33 (cg Trung đoàn 15). Trung đoàn 33 lập nhiều chiến công trong đợt bao vây, tiến công quân Pháp, tiêu biểu là trận đánh thắng khoảng 1 trung đoàn Pháp đến giải vây cho Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 6 tại tp Nam Định (đầu 1947), được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu TĐTT. Từ 5.1947 đổi thành Trung đoàn 34. Đến 3.1951, thuộc biên chế Đại đoàn 351, được xây dựng thành trung đoàn pháo binh cơ giới đầu tiên của QĐND VN và đổi, thành Trung đoàn 45. Tham gia chiến dịch Điện Biên Phù (13.3-7.5.1954). Sau này Lữ đoàn 364, Lữ đoàn 45 kế tục truyền thống của TĐTT (xt Đoàn pháo binh Tất Thắng). TRUNG ĐOÀN TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, trung đoàn thuộc biên chế sư đoàn phòng không có nhiệm vụ: tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của dịch, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS quan trọng của quốc gia, tác chiến trong đội hình sư đoàn phòng không hoặc độc lập trong đội hình binh chủng hợp thành. Gồm các tiểu đoàn hỏa lực, tiểu đoàn kĩ thuật, các phân đội chuyên môn và bảo đảm. Được trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không có điều khiển. TĐTLPK đầu tiên của QĐND VN thành lập 7.1.1965 mang tên Trung đoàn 236. TRUNG ĐOÀN THĂNG LONG nh TRUNG ĐOÀN 48(A) TRUNG ĐOÀN THÔNG TIN. trung đoàn thuộc biên chế BTL Binh chùng thông tin liên lạc hoặc độc lập trong các quân chủng, quân khu để bảo đảm liên lạc trong tác chiến và các nhiệm vụ khác. TĐTT gồm 3 tiểu đoàn thông tin và các đơn vị phục vụ. Theo chức năng và nhiệm vụ, có: TĐTT hỗn hợp, TĐTT chuyên ngành hữu tuyến điện, quân bưu...). TĐTT đầu tiên của QĐND VN là TĐTT 205, thành lập 23.10.1958. TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ, trung đoàn thuộc Liên khu 1 (của Hà Nội thời kì đầu chống Pháp), trung đoàn nổi tiếng của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 6.1.1947, tên gọi TĐTĐ do hội nghị QS lần thứ nhất đặt. TĐTĐ gồm khoảng 2.000 người, biên chế thành 3 tiểu đoàn (101, 102 và 103). Tiến hành nhiều trận chiến đấu bảo vệ Liên khu 1 (gồm phần lớn q. Hoàn Kiếm, tp Hà Nội hiện nay), tiêu biểu là trận chiến đấu ở khu vực chợ Đồng Xuân, đánh giáp lá cà diệt gần 200 quân Pháp (2.1947). Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt và kìm giữ một lực lượng lớn quân Pháp tại Hà Nội trong gần 2 tháng đầu toàn quốc kháng chiến. Bí mật vượt Sông Hồng, rút lui an toàn về Phúc Yên (nay thuộc Vĩnh Phúc) đêm 17.2.1947. Thuộc Đại đoàn 308 (từ 1949) với phiên hiệu Trung đoàn 102. Tham gia các chiến dịch: Biên Giới, Trung Du, Đường 18, Hà - Nam - Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ (trong KCCP), Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Trị Thiên (trong KCCM). Trung đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Hoàng Siêu Hải, Lê Trung Toàn. TRUNG ĐOÀN VẬN TẢI HẢI QUÂN 125 nh ĐOÀN 125 TRUNG ĐỘI, phân đội liền trên tiểu đội (khẩu đội, kíp xe...), thường gồm 2-4 tiểu đội, thuộc biên chế đại đội hoặc được tổ chức độc lập trong thành phần của đơn vị cấp tiểu đoàn (hay cao hơn) và một số cơ quan. TĐ có trong các quản chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn và các ngành trong quân đội. Trong QĐND VN, TĐ lần đầu tiên được ấn định cụ thể về tổ chức biên chế theo sắc lệnh 71/sL ngày 22.5.1946 của chủ tịch nước VN DCCH và theo những văn bản tiếp sau của BQP. BTTM. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:24:33 pm TRUNG ĐỘI LÃO DÂN QUÂN HOẰNG TRƯỜNG, trung đội dân quân nổi tiếng trong cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở miền Bắc VN; đơn vị Ah LLVTND (1972). Thanh lập 8.8.1967 tại xã Hoằng Trường (h. Hoằng Hóa, t. Thanh Hóa), gồm 20 người (trong đó có 18 lão dân quân). Trung đội trưởng: cụ Lê Văn Hợp, trung đội phó: cụ Nguyễn Đăng Tề. 14.10.1967, với 92 viên đạn súng bộ binh, bắn rơi một máy bay phản lực F-4 Mĩ (chiếc thứ 2.400 bị bắn rơi trên miền Bắc). Huân chương: Quân công hạng ba và Chiến công hạng nhất. Được chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen “tuổi cao chí càng cao”, nêu gương sáng cho đồng bào cả nước. TRUNG ĐÔNG, khu vực ở Tây Á và Đông Bắc Phi, địa bàn cư trú chủ yếu của người Arập và một số dân tộc theo đạo Hối. thường gồm các nước: Ai Cập, Xúi, Palextin, Ixraen, Libăng, Thổ Nhĩ Kì, Gi00cđani, Arập Xêut, Yêmen, Côoet, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Cata, Baren, Irắc, Iran... Có khi tính cả Libi, Xuđăng và Pakixtan. Trước đây phần TĐ tiếp giáp với Địa Trung Hải thường gọi là Cận Đông, do đó TĐ cg Trung Cận Đông. Do có vị trí địa lí thuận lợi (nằm ở vùng tiếp giáp giữa ba châu), tài nguyên giàu có (chiếm 2/3 trữ lượng dầu mỏ của các nước tư bản và các nước đang phát triển), TĐ trở thành vùng có vị trí chiến lược quan trọng. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68416921_465819530814599_6128803217678532608_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGdCZblEJ-ZaAN6d-EG8yaCGNg7oS628ptmJ9L6iX-9AYPtezdvfQBuBfil_iSBQbiS9LMC5VHgYJ6RXRyzNstvh8IpHy8wM0hIrt6WlTMfOA&_nc_oc=AQnnnWVGsrUCUUbTjuXk1NvlThm9RAI_glLEhrcai5mEE1Gd9TWQKBgDgqsLY4Tgwmg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7769d98d985b4c99a1ea2d4ef89fe13d&oe=5DCDF1B1) TRUNG LIÊN, súng máy khi bắn có hai chân đỡ phía trước và tì báng vào vai để diệt sinh lực hoặc mục tiêu khác; là phương tiện hỏa lực manh của phân đội bộ binh và bộ binh cơ giới. Cỡ nòng 5,45-8mm, khối lượng 5-10kg; tầm bắn hiệu quả 800m, tầm bán (trên thước ngắm) đến 1.500m; tự động theo nguyên lí trích khí; tiếp đạn bằng hộp hoặc băng; tốc độ bắn lí thuyết đến 750 phát/phút, tốc độ bắn chiến đấu 150- 250 phát/phút. TL do hai người sử dụng (xạ thủ và nạp đạn), khi cần chỉ một người có thể sử dụng. Những mẫu TL phổ biến hiện nay: 7,62mm RPK, 5,45mm RPK-74 (LX); 5,56mm MK-23 (Mĩ); 5,56mm; XL-73E2 (Anh)... (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68482510_465819537481265_8285861893969543168_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeFvgpsBvV6oKA4KSY28-rZ7fTyVwMHQbvcfvaI6AWb2BHkONdImcfM8xAfP-zc5Uzn5I-qqq7w80erA4dxRCQgJhpo0QShP0BFevKm2ClQQJw&_nc_oc=AQnlzPHbCECPa4n-gHNmzAqJVUxl7MbkCIwyKLkwGi3ArzKuIAiqHJC1iZ9k6-CHsM4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a66930f2c7f67b1ab471c22acfd620f9&oe=5DD1DA7C) TRUNG PHI (Cộng hòa Trung Phi; République Centrafricaine, A. Central African Republic), quốc gia ở Trung Phi. Dt 622.984km2; ds 3,68 triệu người (2003); gồm người các bộ tộc người Phi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: 71% theo Bái vật giáo, 25% đạo Cơ Đốc, 4% đạo Hồi. Thủ đô: Banghi. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình núi, cao 600-900m. Khí hậu cận xích đạo, gió mùa. Sông nhỏ chảy xiết. Phía nam là rừng xích đạo. Nước nông nghiệp lạc hậu. Khai thác kim cương do các công ti nước ngoài quản lí. GDP 967 triệu USD (2002), bình quân đầu người 260 USD. Thành viên LHQ (20.9.1960), Phong trào khống liên kết, Liên minh châu Phi. Tinh hình chính trị luôn mất ổn định. LLVT: 2.550 người (lục quân 1.400. không quân 150, hiến binh 1.000). Tuyển quân theo chế độ động viên, thời hạn phục vụ 24 tháng. Nguồn động viên 718.500. Trang bị: 3 xe tăng, 8 xe thiết giáp trinh sát, 39 xe thiết giáp chở quân, 9 tàu tuần tiêu đường sông, 12 súng cối 120mm, 14 máy bay vận tải. Ngân sách quốc phòng 21 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68484356_465819557481263_4668460104486486016_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHElxSoqaGVP8lb-SAjTfjPaiVDzjxdcw3Es-zc4LTRsaU91tKHn0wSeIMvlU3Z3kPfvaS-npIxAwlyQPEh42xLfwH7ej_ZiCzklG5lkJ0-2g&_nc_oc=AQnwvuALKxHQXQf873y56-kgtcHB8mk2CPUqdidb9_wJoHsNFHTDGEJ_ATHIjPSZ1JI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b9c75f18ba1d850392578a3d3c689d5a&oe=5DE019D0) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:26:23 pm TRUNG QUÂN, 1) đơn vị trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Xuất hiện từ thời Hồ (1400-07) với biên chế 360 người gồm 20 đội, mỗi đội 18 người. Thời Hậu Lê. TQ là một trong năm đơn vị lớn (trung, tiền, hậu, tả, hữu) được tổ chức ra trên cơ sở quân Thiết đột trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27), về sau thuộc Quân ngự tiền. Thời Nguyễn (1802-1945), TQ là một trong năm đơn vị thuộc Ngũ quân, biên chế 2 vệ và một số cơ lệ thuộc; 2) đạo quân ở giữa (trong huấn luyện, tác chiến) theo cách tổ chức, sử dụng lực lượng QĐ thời cổ. TRUNG QUỐC (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Zhongguo, Zhonghua Renmin Gongheguo; A. People’S Republic of China), quốc gia ở miền trung và miền đông châu Á. Dt 9.596.961km2; ds 1.287 triệu người (2003); 93% người Hán, 7% người Choang, Uygua, Mông cổ, Tây Tạng, Hồi, Mãn Châu, Triều Tiên. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Trung Quốc. Tôn giáo: đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão, 2% đạo Hồi, 1% đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Bắc Kinh. Chính thể cộng hòa nhân dân, đứng đầu nhà nước là chủ tịch. Cơ quan lập pháp tối cao: đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (quốc hội). Cơ quan hành pháp: quốc vụ viện (chính phú) do thủ tướng đứng đầu. Địa hình đa dạng. Núi, cao nguyên, sa mạc chiếm gần 80% lãnh thổ. Chia thành ba vùng địa hình. Phía tây nam là cao nguyên Tây Tạng. Phía bắc và đông Tây Tạng là trung du và đồng bằng Trung Á. Phía đông là miền đồng bằng đất thấp, hạ lưu của hai sông lớn: Hoàng Hà, Trường Giang. Các dãy núi cao: Đại Hưng, An Lĩnh ở đông bắc, Thiên Sơn ở tây bắc, Himalaya ở tây nam. Các sa mạc lớn: Gôbi ở phía bắc, Tân Cương ở phía tây. Các cao nguyên lớn: Tây Tạng, Ván Nam. Giàu tài nguyên thiên nhiên: than đá, sắt, kim loại màu, dầu khí, uran, bôxít, ăngtimoan, thiếc. Tiềm năng thủy điện lớn. Các ngành công nghiệp: luyện kim (đen, mầu), dầu khí, xi mãng, dệt, may mặc, điện máy, ô tô, máy kéo, đóng tàu, hóa chất, điện tử, công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, thực phẩm... Công nghiệp QS giữ vai trò quan trọng, sản xuất tên lửa, vũ khí hạt nhân, vũ khí bộ binh, pháo binh, phương tiện thông tin liên lạc, vũ khí trang bị cho không quân, hải quân. Tiềm năng nông nghiệp lớn, đứng đầu thế giới về sản xuất gạo, thứ 2 về ngô, thứ 3 về lúa mì, chè, đường. Chăn nuôi, đánh cá chiếm vị trí quan trọng. Tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn đạt mức cao (8%-10%). GDP 1.159,03 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 910 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), ủy viên thường trực Hội đồng báo an LHQ (chính quyền Đài Loan chiếm giữ vị trí này từ 24.10.1945 đến 25.10.1971). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 18.1.1950. LLVT: lực lượng thường trực 2.450.000 người, lực lượng dự bị 500.000-600.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Lục quân 1.700.000. trang bị: 9.660 xe tăng, 5.000 xe chiến đấu bộ binh và xe thiết giáp chở quân, 14.000 pháo mặt đất, 1.700 pháo tự hành, 2.400 pháo phản lực bắn loạt, 7.700 pháo phòng không, 100 tên lửa phòng không, 321 máy bay trực thăng. Hải quân 250.000, tổ chức thành 3 hạm đội: Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải, trang bị: 69 tàu ngầm, 21 tàu khu trục, 42 tàu frigat, 368 tàu tuần tiễu, 39 tàu quét mìn, 56 tàu đổ bộ, 163 tàu phục vụ và các loại khác, không quân hải quân trang bị 700 máy bay chiến đấu, 45 máy bay trực thăng vũ trang. Không quân 400.000, trang bị: 1.900 máy bay chiến đấu (MiG-19, MiG-21, Su-27, J-6, J-7 J-8, HZ-5, JZ-5, JZ-6...), 390 máy bay trực thăng vũ trang, tên lửa không đối không, không đối đất, 16.000 pháo phòng không, 100 bệ tên lửa phòng không với trên 600 tên lửa. Lực lượng tên lửa chiến lược 100.000, trang bị: 24 tên lửa DF-5A (tầm xa 5.000km). 20 tên lửa DF-4, 38 tên lửa DF-3, 8 tên lửa DF-31, 12 tên lửa trên tàu ngầm, 15 tên lửa DF-15 (tầm xa 600km). Ngân sách quốc phòng 20 tỉ USD (2002). (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67890534_465819574147928_8742518231517888512_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeGfQU2nAjxBS2hnTcewzatvlHuzMvvI6GBmGvXbLFB6oEOqFUstubOm00WpTkmoKbR6N7-odXGRawXly4EECtCHjfyXLhcRPJK9jNgN4QJXGw&_nc_oc=AQlEEkKjkOkKtdWlA0TJzx-IAT6sxPn4sK4CmMIOttXODLCyu12FIIUKB0NVRu5ciHY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=65d1b034323d2c04e519ca9e38a22dd3&oe=5DE398D3) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:27:50 pm TRUNG SĨ, bậc quân hàm liền trên hạ sĩ, dưới thượng sĩ. Trong QĐND VN, TS được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH; được trao cho quân nhân giữ chức vụ tiểu đội trưởng và tương đương. TRUNG TÁ, bậc quân hàm sĩ quan liền trên thiếu tá, dưới thượng tá trong QĐND VN và một số nước (hoặc dưới đại tá trong LLVT nhiều nước). Trong QĐND VN, TT được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), TT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ trung đoàn trưởng, huyện đội trưởng và tương đương. TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN, đơn vị huấn luyện cùng toàn bộ các công trình thiết bị phục vụ huấn luyện chiến đấu cho sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chuyên môn kĩ thuật và cho phân đội, binh đội. Tùy theo tác dụng TTHL có thể có: trường bắn, thao trường, bãi tập, khu vực diễn tập, giảng đường chuyên dùng, nhà ở, nhà kho, xưởng sửa chữa... TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN QUÂN TĂNG CƯỜNG nh TRUNG TÂM HUÂN LUYỆN TÂN BINH TRUNG TÂM HUÂN LUYỆN TÂN BINH, khung đơn vị (trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn) chuyên huấn luyện tân binh, chủ yếu để bổ sung cho lực lượng tác chiến. Được tổ chức ở quân khu (1959-90), chịu sự lãnh đạo, chỉ huy của BTL quân khu và sự chỉ đạo của BTTM về chi tiêu, kế hoạch tuyển quân, về nội dung, chương trình huấn luyện QS và kế hoạch điều động quân số. Trong KCCM, cg trung tâm huấn luyện quân tăng cường. TRUNG TÂM KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ, cơ quan nghiên cứu khoa học kĩ thuật, công nghệ QS hàng đầu của QĐ, một trung tâm khoa học kĩ thuật và công nghệ mạnh của quốc gia, do BQP trực tiếp quản lí. Thành lập theo quyết định số 184/1999/QĐ-TTg ngày 10.9.1999 của thủ tướng chính phủ trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại Viện KTQS và các viện: KTQS 2 (BQP), tự động hóa KTQS (BTTM), kĩ thuật thông tin (BTL thông tin liên lạc), hóa học QS (BTL hóa học), kĩ thuật công binh (BTL công binh), thiết kế vũ khí (TCKT) và bộ phận T03, HT1 (TCCN- QP). Có nhiệm vụ: tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến phục vụ QS và quốc phòng, đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ khoa học kĩ thuật, đào tạo nguồn lực khoa học cho các học viện, nhà trường trong QĐ, tham gia hoạch định chính sách phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ của BQP. Tổ chức gồm: Ban giám đốc, các cơ quan chức năng, các viện nghiên cứu, Liên hiệp khoa học - sản xuất, các công ti ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và hệ thống các phòng thí nghiệm. Ngày truyền thống 12.10.1960 (ngày thành lập Cục nghiên cứu kĩ thuật BQP). Giám đốc đầu tiên: Trương Khánh Châu. TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA, cơ quan hợp tác nghiên cứu khoa học, công nghệ đa ngành giữa CHXHCN VN và Liên bang Nga. Thành lập 7.3.1988 theo hiệp định 7.3.1987 giữa CHXHCN VN và LX, nghị định 25/HĐBT 7.3 1987 của HĐBT nước CHXHCN VN, mang tên Trung tâm nhiệt đới Việt - Xô. Đến 11.11.1993 đổi thành TTNĐV-N. Chức năng: nghiên cứu khoa học, công nghệ và phối hợp về công tác khoa học, công nghệ với các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ ở VN và Liên bang Nga. Các hướng nghiên cứu: độ bền nhiệt đới, nhiệt đới hóa vũ khí, trang bị kĩ thuật và vật liệu, sinh thái nhiệt đới, y sinh nhiệt đới. Ngoài ra còn nghiên cứu sản xuất, chuyển giao công nghệ phục vụ cho quốc phòng và kinh tế. Lãnh đạo chung về mọi mặt là ủy ban phối hợp gồm: Phân ban VN và Phân ban Nga. Lãnh đạo điều hành các hoạt động trực tiếp hàng ngày là đồng tổng giám đốc. Tổ chức gồm: Ban đồng tổng giám đốc, Hội đồng khoa học cơ sở chính tại Hà Nội, chi nhánh tại tp Hồ Chí Minh, tp Nha Trang và Công ti Thái Sơn (thuộc phía VN). Cơ sở chính và các chi nhánh có các phòng, ban chức năng, cơ sở chính còn cổ các phân viện. Đồng tổng giám đốc đầu tiên: Trần Xuân Thu, L. P. Korzun. TRUNG TÂM THỂ DỤC THỂ THAO QUÂN ĐỘI, cơ sở thể dục thể thao thành tích cao của QĐND VN, trực thuộc Cục quân huấn, BTTM. Thành lập 10.12.1996 theo quyết định số 2245/QĐ-QP của BQP, trên cơ sở hợp nhất Đoàn thể công và Câu lạc bộ QĐ. Nhiệm vụ: tổ chức, quản lí, huấn luyện, đào tạo, nuôi dưỡng và tập huấn các đội thể thao thành tích cao và các vận động viên năng khiếu, nghiệp dư để bổ sung cho các đội, tham gia thi đấu quốc gia và quốc tế. Tổ chức các hoạt động thi đấu thể thao; phục vụ việc tập luyện thường xuyên của cán bộ QĐ tại khu vực Hà Nội và các nhiệm vụ khác. Tổ chức gồm: Ban giám đốc; các ban nghiệp vụ: kế hoạch, chính trị, hậu cần, tài chính; các môn thể thao thành tích cao: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bắn súng, điền kinh, thể dục dụng cụ, vật tự do...; các đội thể thao nghiệp dư: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bắn súng, điền kinh, thể dục dụng cụ, vật tự do, võ karate, têcồnđô, cờ vua. cờ tướng, quần vợt... Giám đốc đầu tiên: Hà Quang Liêm. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:29:18 pm TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRUỜNG, Cơ quan đầu ngành về công tác thông tin khoa học, công nghệ và môi trường của QĐND VN, trực thuộc BQP. làm tham mưu cho bộ trưởng BQP về quản lí các hoạt động thông tin khoa học, công nghệ và môi trường; tổ chức khai thác, quản lí, phân tích xử lí, tổng hợp và bảo đảm cung cấp thông tin khoa học, công nghệ và môi trường cho mọi hoạt động của QĐ. Tiền thân là Trung tâm thông tin khoa học và KTQS, trực thuộc BTTM (quyết định số 445/QĐ-QP của BQP), thành lập 8.4.1982; ngày 8.12.1988 tách thành Trung tâm khoa học QS, trực thuộc Cục khoa học QS và Trung tâm thông tin KTQS, trực thuộc Viện KTQS, sau thuộc TCKT; 29.12.1994 thành lập TTTTKHCNVMT (quyết định số 921/QĐ-QP) trực thuộc BQP. Tổ chức gồm: Ban giám đốc; các phòng: kế hoạch nghiệp vụ, tư liệu, thông tin khoa học; các ban: biên tập và phục vụ. Giám đốc đầu tiên: Trần Minh Bắc (1982). TRUNG TÂM (TRẠM) TÍNH TOÁN PHÂN TÍCH HÓA HỌC - PHÓNG XẠ, đơn vị bộ đội hóa học làm nhiệm vụ thu thập, xử lí tin, thông báo tin tức về việc đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, tính toán những số liệu cần thiết để dự báo tình hình hóa học - phóng xạ, giúp người chỉ huy hạ quyết tâm và quyết định những biện pháp phòng chống thích hợp. TT(T)TI PTHH-PX được bố trí cố định hoặc cơ động gần SCH các cấp chiến dịch, chiến lược. Thời bình, trung tâm (trạm) này tham gia xử lí các sự cố hóa chất độc, phóng xạ có thể xảy ra. TRUNG TƯỚNG, bậc quân hàm liền trên thiếu tướng trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999). TT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ: chủ nhiệm tổng cục; tư lệnh quân khu, quân chủng và tương dương. Quân nhân được phong quân hàm TT đầu tiên trong QĐND VN: Nguyễn Bình (1948). TRUNG ÚY, bậc quân hàm sĩ quan liền trên thiếu úy, dưới thượng úy trong QĐND VN và một số nước (hoặc dưới đại úy trong LLVT nhiều nước). Trong QĐND VN, TU được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. TRUNG UƠNG CỤC MIỂN NAM trong kháng chiến chống Mĩ, bộ phận của BCHTƯ ĐLĐ VN (ĐCS VN), được BCHTƯ cử ra và ủy nhiệm tổ chức, chỉ đạo toàn bộ công tác đảng ở miền Nam trong KCCM (dưới sự lãnh đạo của BCHTƯ, do BCT trực tiếp chỉ đạo) nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CM miền Nam. Thành lập 23.1.1961 theo nghị quyết hội nghị BCHTƯ ĐLĐ VN lần thứ ba (khóa III). Có nhiệm vụ: đề ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác, chỉ đạo thực hiện cụ thể sát với tình hình CM miền Nam; tổ chức đảng bộ các cấp và lãnh đạo các đảng bộ đó hoạt động; phân phối cán bộ, thành lập các đảng, đoàn; quản lí tài chính đảng ở miền Nam. Gồm: bí thư, một hoặc hai phó bí thư (do BCHTƯ chỉ định), Ban thường vụ (do hội nghị toàn thể bầụ), cơ quan giúp việc (Ban QS, Ban an ninh, Ban hành chính, Ban hậu cần)... TƯCMN ra đời đáp ứng yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến đang chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng và trở thành trung tâm đầu não chỉ đạo thắng lợi chiến tranh nhân dân Việt Nam phát triển đến đỉnh cao ở miền Nam trong KCCM. Căn cứ địa cách mạng của TƯCMN gọi là R. 1961 75 TƯCMN đã tiến hành 15 hội nghị toàn thể với hàng tràm chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chỉ đạo CM miền Nam. Sau KCCM thắng lợi, đất nước thống nhất, 7.7.1976 BCHTƯ đã quyết định giải thể TƯCMN. Các bí thư TƯCMN: Nguyễn Văn Linh (1961-64), Nguyễn Chí Thanh (1965-67), Phạm Hùng (1967-75). TRÙNG KHÁNH, thành phố ở miền Nam TQ, đơn vị hành chính trực thuộc trung ương. Nằm trên ngã ba sông Trường Giang và sông Gia Lăng; ds khoảng 3,47 triệu người. Cảng sông Trường Giang, đầu mối giao thông thủy bộ, trung tâm văn hóa, chính trị miền Tây Nam TQ. Công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, hóa dầu, thực phẩm, công nghiệp nhẹ, khai thác than đá. Nhà máy nhiệt diện, thủy điện. Trường đại học tổng hợp. TK hình thành cách đây 3.000 năm. 11.1937-46 là thủ đô lâm thời của Trung Hoa dân quốc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:30:04 pm TRUY KÍCH, hình thức chiến thuật đánh quân địch rút chạy. TK thường xảy ra khi đối phương phòng ngự hay tiến công bị thất bại, hoặc khi bị uy hiếp mạnh phải rút chạy. Để thực hiện TK có kết quả cần tiến hành các đòn đột kích hỏa lực, cơ động bộ đội vượt lên trước chặn đường rút chạy, thực hiện bao vây, chia cắt và tiêu diệt chúng. Khi phát hiện địch rút chạy, bộ đội đang chiến đấu lập tức chuyển sang TK. Để đánh chiếm các đầu mối giao thông, bến vượt, địa hình khống chế và những mục tiêu quan trọng trên đường quân địch rút chạy, có thể phái đội phái đi trước, sử dụng bộ đội đổ bộ đường không... Theo quy mô, có TK: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật; theo phương pháp, có: TK song song, TK bám sát hoặc kết hợp. TK chiến lược, giai đoạn quan trọng nhất của tác chiến chiến lược nhằm tiêu diệt quân địch rút lui chiến lược, buộc địch vào thế bị động, không kịp điều chỉnh thế bố trí chiến lược, củng cố lực lượng; tạo điều kiện giành thắng lợi trên chiến trường (cuộc chiến tranh). Cân cứ vào tình hình cụ thể để chọn thời cơ, tổ chức lực lượng và phương pháp TK cho phù hợp. TK chiến dịch, nhằm tiêu diệt quân địch rút lui chiến dịch, giành thắng lợi triệt để cho chiến dịch, tạo thời cơ và điều kiện cho chiến dịch kế tiếp. Căn cứ tình hình cụ thể diễn biến tác chiến để vận dụng phương pháp TK phù hợp. TK chiến thuật, nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân địch rút chạy trong trận chiến đấu, giành thắng lợi trọn vẹn cho trận chiến đấu, tạo điều kiện cho các hoạt động tác chiến tiếp theo. Căn cứ vào tình huống chiến đấu để chọn thời cơ và phương pháp TK cho phù hợp. Trong tác chiến người chỉ huy phải nắm chắc tình hình đối phương, kịp thời phát hiện dấu hiệu địch rút chạy, để hạ quyết tâm TK. TRUY LÙNG BIÊN PHÒNG, hình thức chiến thuật của bộ đội biên phòng, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, phương pháp thực hành trận chiến đấu theo một kế hoạch thống nhất nhằm truy tìm, truy bắt thám báo, phản động, tội phạm có vũ trang xâm nhập, lẩn trốn hoạt động trong khu vực biên giới. Khi tiến hành TLBP phải kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động vũ trang với các biện pháp nghiệp'’ vụ trong đó hoạt động vũ trang là chủ yếu, với sự tham gia của các lực lượng: bộ đội biên phòng, các đơn vị QĐ, công an, dân quân tự vệ do bộ đội biên phòng chủ trì. TLBP thường diễn ra trên một phạm vi rộng, tình huống diễn biến nhanh, phức tạp, thời gian có thể kéo dài, phải phong tỏa, ngăn chặn biên giới không cho đối tượng chạy qua. Để hoàn thành nhiệm vụ của cuộc truy lùng phải nắm chắc tình hình về địch và đối tượng, địa hình, địa bàn, tổ chức chiến đấu kịp thời, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia truy lùng, có kế hoạch bảo đảm vũ khí, trang bị, thông tin liên lạc. lương thực thực phẩm, thuốc men,... để cơ động chiến đấu liên tục nhiều ngày. Khi TLBP thường vận dụng các hình thức bao vây, ngăn chặn, lùng sục,... để bắt sống, gọi hàng, sát thương đối tượng. TRUYỀN HÌNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, chương trình truyền hình của QĐND VN, phát trên sóng của Đài truyền hình VN, do Ban biên tập QĐ thực hiện, TCCT chỉ đạo, Cục tư tưởng - văn hóa quản lí, Đài truyền hình VN giúp đỡ về nghiệp vụ. Thành lập 20.9.1975 (buổi phát hình đầu tiên). Thời lượng phát sóng hiện nay là 100 phút mỗi tuần, gồm các chương trình: tổng hợp (trên VTV1); khoa học giáo dục quốc phòng (trên VTV2); văn hóa thể thao (trên VTV3); nhắn tìm đồng đội (VTV2). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì). Trụ sở: số 2 Lí Nam Đế, Hà Nội. Trưởng ban biên tập đầu tiên: Phạm Hồng Lân. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:31:19 pm TRUYỂN THỐNG QUÂN SỰ VIỆT NAM. tổng thể di sản tinh thần, tư tưởng và nghệ thuật QS được tích luỹ, phát triển và lưu truyền trong lịch sử chống giặc ngoại xâm để dựng nước và giữ nước của dân tộc VN. Gồm: một là, truyền thống yêu nước nồng nàn, quật cường, bất khuất, quyết đánh quyết thắng. Với ý chí “sông núi nước Nam vua Nam ở” (Lí Thưởng Kiệt), “thẻ không chung sống với giặc thù” (Nguyễn Trãi)..., nhân dân VN không bao giờ chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào, cho dù chúng có lớn mạnh và hung bạo đến đâu cũng quyết đánh và đánh thắng “đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Nguyễn Huệ). Hai là, truyền thống cố kết dân tộc để giữ nước, “cả nước chung sức đánh giặc”. Mỗi khi có giặc ngoại xâm thì cả nước cùng đứng lên chống giặc “tràm họ là binh”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, với LLVT làm nòng cốt gồm nhiều thứ quân, có quân của triều đình (cấm quân, sương quân), quân các lộ (tỉnh) phủ, châu và hương binh, dân binh ở các làng xã, động, bản,... cả dân tộc “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn... nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh): khi hết giặc thì "ngụ binh ư nông’’, kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, làm cho “quốc phú binh cường”. Ba là, truyền thống “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, khéo léo kết hợp đánh địch bằng QS với ngoại giao và binh vận, giương cao ngọn cờ đại nghĩa để thức tỉnh lương tri, cảm hóa lòng người, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân và binh sĩ nước dối địch; sẵn lòng “hòa hiếu”, mở rộng bang giao nếu họ lui quân và chấm dứt xám lược; đối xử nhân đạo, khoan dung “mở đường hiếu sinh” khi họ đầu hàng... Bốn là, truyền thống nghệ thuật QS độc đáo của một dân tộc nhỏ thường xuyên chông lại chiến tranh xâm lược của những nước lớn, có đạo quân xâm lược đông; đó là nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”, “dĩ đoán chế trường”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông", mưu trí, sáng tạo “lực dùng một nữa mà công được gấp đôi”... TTQSVN là một di sản quân sự quý giá, một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự VN. Dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN và chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân VN đã kế thừa và phát triển truyền thống đó trong thời đại mới lên một trình độ mới, một chất lượng mới trong quá trình tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh CM để giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiến hành chiến tranh nhân dân để bảo vệ tổ quốc VN XHCN chổng lại những kẻ thù xâm lược có nền kinh tế phát triển và trang bị vũ khí, kĩ thuật hiện đại (xt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam). TRỪ VĂN THỐ (1936 - 63), Ah LLVTND (truy tặng 1965). Quê xã Thanh Hoà, h. Cai Lậy, t. Tiền Giang; nhập ngũ 1962; khi hi sinh là chiến sĩ trinh sát đạc công, Trung đoàn 2, Sư đoàn 9. Ngày 18.10.1963 trận đánh đồn Cây Trường nằm án ngữ đường 13, h. Bến Cát, t. Bình Dương, bị thương vào đùi, TVT vẫn dùng bộc phá và thủ pháo đánh lô cốt cố thủ của địch; súng từ bên trong vẫn bắn ra liên tục, gây thương vong và cản đường tiến của bộ đội. TVT đã lao người lấp lỗ châu mai và anh dũng hi sinh, tạo thời cơ cho đồng đội diệt địch. Huân chương: Quân công hạng ba. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67949840_465819567481262_2268931905653047296_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGuIx-BnOUW5o7F3jRE5CE-g9PWmj1lvfVmM1WCZcHpyYtskh1gV38Ql6_cve-F2XnwZ1eOZGInibNko3-unVs-Lcq0jvTnMwdPtIXrYgiYlw&_nc_oc=AQmP6uR4qY-fd0s7N-I-Ai149Re30rY7orFydFQg0OdPNgkDz-bPLwjdTtDpJ7y20NY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=235b59e9b2a7a1bdd52fbf0e69feae69&oe=5DD662CF) TRỮ LƯỢNG BAY, số lần chiếc máy bay, lần cất cánh phân đội, binh đội, binh đoàn không quân được quy định để thực hiện nhiệm vụ tác chiến. TLB được xác định theo nhiệm vụ, thành phần chiến đấu của phân đội, binh đội, binh đoàn, khả năng tiêu diệt mục tiêu, cường độ chiến đấu cho phép, chất lượng chuẩn bị, thành phần bay, khả năng cung cấp xăng dầu, đạn dược và phương tiện vật chất khác. TRỰC BAN, thường trực ở SCH, cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ hoặc giúp người chỉ huy giải quyết công việc theo chức trách, nhiệm vụ và thời gian quy định. Có hai loại TB: TB tác chiến và TB nội vụ. TB tác chiến là TB ở SCH để theo dõi, nắm tình hình sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của đơn vị; được tổ chức theo điều lệnh chiến đấu. TB nội vụ được tổ chức từ cấp đại đội trở lên để giúp người chỉ huy duy trì kỉ luật, trật tự nội vụ, vệ sinh, thời gian làm việc trong đơn vị; được tổ chức theo quy định của điều lệnh quản lí bộ đội. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:33:22 pm TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU, trực ban do một hoặc một số phân đội được phái ra để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất khác, trong thời bình và thời chiến; lực lượng không quân còn có TBCĐ trên không. Đơn vị TBCĐ phải hiểu rõ nhiệm vụ, luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu; phải tổ chức phiên ban, kíp ban chiến đấu ở SCH và các kíp chiến đấu của các phân đội. Khi thay đổi đơn vị TBCĐ, phải bàn giao chu đáo, báo cáo người chỉ huy cấp trên. Cg trực chiến. TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU không quân, trực ban chiến đấu trong đó lực lượng không quân thường xuyên ở trạng thái sẵn sàng đưa máy bay vào chiến đấu và đảm bào chiến đấu. Lực lượng TBCĐkq được tổ chức thành kíp, phiên trực ban, theo các vị trí trực ban. Đối với máy bay, phi công, tổ bay có TBCĐ trên sân bay và TBCĐ trên không. TBCĐ trên sân bay được phân thành ba cấp (x, cấp trực ban chiến đấu không quân). TBCĐ trên không: máy bay bay trong khu vực trực ban, sẵn sàng đánh địch theo lệnh của người chỉ huy. Đối với người và phương tiện phục vụ bảo đảm chiến đấu, TBCĐ theo hệ thống SCH không quân và tại các vị trí trực ban khác nhau. TBCĐ của SCH được phân thành hai cấp. TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU Ở SÂN BAY, trực ban chiến đấu không quân trong đó phi công, nhân viên kĩ thuật máy bay và các phương tiện bảo đảm ở khu trực ban chiến đấu, sẵn sàng cho máy bay xuất kích làm nhiệm vụ. TBCĐƠSB có ba cấp: cấp 1- phi công, tổ bay ở trong buồng lái chờ lệnh mở máy, cất cánh chiến đấu; cấp 2- phi công, tổ bay ở trong phòng chờ, sẵn sàng nhận lệnh vào cấp 1, công tác chuẩn bị đã hoàn tất; cấp 3- phi công, tổ bay (ở vị trí do trung đoàn trưởng quy định) và máy bay ở trạng thái sẵn sàng nhận lệnh vào cấp 2, công tác chuẩn bị chiến đấu dã được kiểm tra theo từng bước quy định. TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU TRÊN KHÔNG, trực ban chiến đấu không quân trong đó máy bay bay trong khu vực trực ban, sẵn sàng đánh địch theo lệnh. Khu vực TBCĐTK được quy định để đưa máy bay vào chiến đấu nhanh nhất và ở cự li xa nhất. TBCĐTK thường dùng phân đội nhỏ bay chế độ bay tiết kiệm nhiên liệu với thời gian thường dùng để khi thay phiên trực ban còn đủ nhiên liệu để hạ cánh an toàn. TBCĐTK phù hợp để tiêu diệt (chế áp) các mục tiêu khi tình hình khẩn trương mà trực ban chiến đấu trên sân bay không giải quyết được. TRỰC CHIẾN nh TRỰC BAN CHIÊN ĐÂU TRỰC NHẬT, chế độ thường trực hàng ngày tại tiểu đội, trung đội và tương đương. Do trung đội trưởng hoặc tiểu đội trưởng cắt cử chiến sĩ luân phiên đảm nhiệm từng ngày. Chức trách TN: làm vệ sinh nơi công cộng, lấy nước uống, chăm sóc người ốm đau trong trung đội, tiểu đội (vào giờ thể dục, thể thao); nhắc nhở mọi người trong trung đội, tiểu đội chấp hành các quy định về: trật tự nội vụ, vệ sinh, trang phục, râu tóc; giữ gìn vũ khí trang bị và các tài sản khác; thời gian sinh hoạt, học tập, công tác và nghỉ ngơi. TRỰC THĂNG nh MÁY BAY TRỰC THANG TRỰC THĂNG VẬN, chiến thuật tác chiến của QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn trong chiến tranh xâm lược Nam VN (1954-75), dùng máy bay trực thăng cơ động lực lượng và tiến hành các hoạt động tác chiến càn quét, đánh phá vùng giải phóng, giải vây, ứng cứu... TRỰC TIẾP TIẾP XÚC, trạng thái bố trí lực lượng mà các đơn vị phía trước hoặc thể đội 1 của hai bên đối địch đối mặt nhau với khoảng cách trong tầm bắn của vũ khí bộ binh. Khi TTTX, lực lượng hai bên có thể tiến hành các hoạt động tác chiến để giữ vững hoặc cải thiện thế trận, chuẩn bị cho những hoạt động tác chiến sắp diễn ra. TRƯNG BINH, 1) chiêu tập dân đinh trong độ tuổi quân dịch vào QĐ hoặc trưng tập quân lính các lộ đi làm nhiệm vụ theo lệnh triều đình phong kiến: 2) gọi nam công dân độ tuổi quân dịch đến kiểm tra, đãng kí tại xã, phường dưới chế độ Sài Gòn. TRƯNG NHỊ X. TRƯNG TRẮC TRUNG TRẮC (?-43), Ah dân tộc, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (3.40). Quê Mê Linh (nay thuộc t. Vĩnh Phúc). TT và em là Trưng Nhị đều giỏi võ nghệ, cùng Thi Sách (chồng TT) chủ trương chống chế độ cai trị hà khác của nhà Đông Hán (TQ), nhanh chóng tập hợp được lực lượng (do hai vợ chồng đều là con lạc tướng). Năm 39 chồng bị thái thú Tô Định giết; nợ nước, thù nhà càng thôi thúc TT và Trưng Nhị nổi dậy. Từ Mê Linh, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan khắp các vùng, đập tan ách đô hộ của nhà Đông Hán, giải phóng 65 thành, ấp. TT được các lạc tướng và toàn dân suy tôn làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh (năm 40). Xá thuế cho dân. phong quan tước cho thủ lĩnh, tướng sĩ. Năm 43 hi sinh cùng Trưng Nhị trong trận chiến đấu chống quân xâm lược nhà Đông Hán do Mã Viện cầm đầu ở Cấm Khê (x. kháng chiến chống Đông Hán, 42-43). Hiện có đền thờ Hai Bà ở Mê Linh (h. Mê Linh, Vĩnh Phúc), Đồng Nhân (Hà Nội) và Hát Môn (h. Phúc Thọ, Hà Tây). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:37:20 pm TRUƠNG CÔNG CẨN (1923-93), chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Tây Bắc (1974-77). Quê xã Phong Hiền, h. Phong Điền, t. Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ 1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1946). Đầu 1943 tham gia Việt Minh, xây dựng cơ sở trong học sinh và công nhân ở Đà Nẵng; bị thực dân Pháp bắt giam ở Vĩnh Điện (Quảng Nam) và Hỏa Lò (Hà Nội). 3.1945 được trả tự do, tham gia công nhân xung phong Hà Nội. Trong KCCP, chính ủy trung đoàn, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 304. Năm 1961 cục phó Cục tổ chức TCCT. 1963-65 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy rồi chính ủy BTL pháo binh. 5.1965 chính ủy Sư đoàn 304, phó chính ủy Quân khu 4. Tháng 3.1967-68 chính ủy Binh chủng tên lửa phòng không, phó chính ủy Quân chủng phòng không - không quân. 5.1969 phó chính ủy Học viện QS. 1974 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Tây Bắc. 2.1977 hiệu trưởng Trường sĩ quan chính trị. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68606693_465819584147927_860572095904481280_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFPap3a3l6OpBpjDgaVKkQyyFK075SX7D-Yoeb1Y7caV1Rl5ZfpiBAT_-X7sNrr4_b9wwER5xizPz7Azb5EbYcMlNyYI-d4XtKPim_L9lry1w&_nc_oc=AQm3JXtztlJNIkgXizmaMYkOSVAAZvWScAtR9VGoqLyXlTu4AiAOGQiVix2QItl3q84&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=75f00d5d06c50dc44ccab3da00e9f991&oe=5DDF5DE9) TRUƠNG ĐỊNH (Trương Công Định; 1821-64), người lãnh đạo kháng Pháp ở Định Tường, Gia Định. Quê h. Bình Sơn, t. Quảng Ngãi. 1850 có công thực hiện chính sách khẩn hoang lập ấp của Nguyễn Tri Phương, được phong chức quản cơ. 1859-82 khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, TĐ mộ nghĩa binh đánh Pháp ở gò Cây Mai, Thị Nghè; xây dựng căn cứ chống Pháp ở Tân Hòa (Gò Công), tổ chức nhiều trận phục kích ở Gò Công, Tân An, Mĩ Tho. Chợ Lớn... tiêu hao nhiều lực lượng địch; được triều đình Huế phong chức phó lãnh binh Gia Định, chỉ huy đội quân hơn 6.000 người. Phong trào kháng Pháp do TĐ chỉ huy ngày càng lớn mạnh buộc Pháp phải rút khỏi Gò Công, Tân An, Chợ Gạo. 1862 bất chấp lệnh bãi binh và chuyển đi An Giang, Phú Yên của triều đình, TĐ vẫn ở lại lãnh đạo phong trào chống Pháp, bị triều đình cách chức; được nhân dân và nghĩa quân vùng Gò Công, Tân An (t. Mĩ Tho) tên là “Bình Tây đại nguyên soái”. 17.12.1862 TĐ chỉ huy tiến đánh ở Biên Hoà, Gia Định, Mĩ Tho, chiếm được một số huyện và gây cho địch nhiều tổn thất. 25.2.1863 tướng Bôna đưa lực lượng thủy bộ. trong đó có nhiều chiến hạm lớn và 30 thuyền bọc sắt tiến công vào Gò Công, chiếm được căn cứ Tân Hoà; nghĩa quân TĐ vẫn tiếp tục hoạt động ở 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ. 20.8.1864 do Huỳnh Công Tấn phản bội chỉ điểm, quân Pháp bất ngờ đánh vào Tân Phước, TĐ bị thương nặng và hi sinh (xt khởi nghĩa Trương Định, 1861-64). TRƯƠNG HỮU DEM (S. 1932), Ah LLVTND (1979). Dân tộc Tày, quê xã Minh Tâm, h. Nguyên Bình, t. Cao Bằng; nhập ngũ 1954. trung úy; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là dân quân xã Minh Tâm. 1960 THD phục viên. 1.1966 tái ngũ, chiến đấu và công tác trên tuyến đường Trường Sơn. 12.1977 nghỉ hưu. Khi quân TQ xâm lược VN (1979), THD vừa vận động nhân dân chiến đấu, vừa bám đánh địch. 19-21.2.1979 THD diệt và làm bị thương 125 địch, thu 1 súng cối, 1 đại liên, 4 hòm đạn. 22.2.1979 cùng em ruột dùng súng cối bắn hàng chục quả đạn vào đội hình địch, gây cho địch nhiều thương vong. Huân chương: Quân công hạng ba; danh hiệu Dũng sĩ giữ nước. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68827200_465925277470691_600798416414441472_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHEitTweO64Wdhd8cAxWk5yG_Qt9bkHnPoXrBl10WN7AzhVtYOJ0k2U7EdDyXkHhjTvdJD9ZgpA6G8ZyN7XYIF4VxL6sJt0krkFqbOJdszKLg&_nc_oc=AQlVFJ7JrUQ4XsaqeHTXY4X9wgzXgcaAmlQkqy3sZ6e3jQ5Y3DF8RXpi6bHnzT2oECc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8f9d862649c3006a1feb6d05df5ef866&oe=5E163507) TRƯƠNG KHÁNH CHÂU (Trương Minh Trinh; S. 1934), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1996-2002), Ah LLVTND (1973). Quê xã Khánh Hoà, h. Châu Phú, t. An Giang; nhập ngũ 1950, trung tướng (1992), phó giáo sư (1984); tiến sĩ kĩ thuật hàng không (1976); đv ĐCS VN (1958). Trong KCCP, 1949-50 thư kí văn phòng tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc Long Châu Hà. 5.1950 chiến sĩ, thư kí bộ đội tỉnh Hà Tiên. 1952 học viên Trường kĩ thuật Nam Bộ. 9.1952 thợ nguội Công binh xưởng 141 miền Tây Nam Bộ. 3.1955 chuyển ngành, học lớp cơ giới đặc thiết tại chức về kĩ thuật đồng hồ máy bay của Cục không quân. 8.1961 tái ngũ, học đại học kĩ thuật tại LX. 4.1965 học viên Học viện Cáp Nhĩ Tân (TQ). 8.1966 trợ lí huấn luyện Ban tham mưu, Trường kĩ thuật Quân chủng phòng không - không quân. 12.1967 trợ lí kĩ thuật Phòng kĩ thuật BTL không quân. 12.1972 nghiên cứu sinh tại Học viện kĩ thuật không quân Giucôpxki (LX). 1977 trưởng phòng kĩ thuật máy bay, Cục kĩ thuật Quân chủng không quân. 8.1979 viện trưởng Viện kĩ thuật Quân chủng không quán. 7.1980 phó tư lệnh về trang bị kĩ thuật, chủ nhiệm kĩ thuật Quân chủng không quân. 8.1990 phó chủ nhiệm thứ nhất TCKT. 9.1991 chủ nhiệm TCKT. 11.1996-2002 thứ trưởng BQP, kiêm giám đốc Trung tâm khoa học kĩ thuật và công nghệ QS - BQP (12.1999). Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhì, hạng ba). (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68249987_465925290804023_799902740795883520_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeH0OXp7W8_plhm7VLCHsqn9arDBmPUSBnYHnl9vnkqAoJXxAFsWd_4ysbtuXOH944VCjZRwGFtD6VDBUZdGgubkOgxstRDyRqHVOG9yTYPcuw&_nc_oc=AQkVhPb-9aixkqRlZ0_Bm8lK0_F62OlspyJIUyLrz5xNoB6N3kwWpvDxR9wbS2kpp9s&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=15aeca6d3ab51c8106147d12df510441&oe=5DE3CB9E) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:39:10 pm TRƯƠNG QUANG THỌ (1948-78), Ah LLVTND (1973). Quê xã Gio Hải, h. Gio Linh, t. Quàng Trị; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là xã đội trưởng xã Gio Hải. 1965-73 tham gia xây dựng lực lượng du kích xã, chỉ huy chiến đấu 23 trận, diệt hàng trăm địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. TQT đánh chìm, đánh hỏng 7 tàu chiến, bắn cháy 14 xe tăng, xe bọc thép, diệt 65 địch, bắt 1 trung úy tình báo. Trận đánh cảng Cửa Việt, Quảng Trị (12.3.1970), TQT cùng 3 đồng đội vượt 15km, qua nhiều tuyến phòng thu của địch tới địa điểm phục kích, bắn 2 quả B-41 làm chìm 1 tàu vận tải và 1 tàu tuần tiễu của địch. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 3 hạng ba), 6 lần Dũng sĩ. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67892918_465925284137357_4634544379837546496_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEQiToRG2kGk_-PNdmAaRjytH7x9VcufN8b65A5y0-lGlOGvh3S5rAPbYYCL5wHqyl_CNCITKnlOW7Y7qzxKIjsuf1LJwCHL7HeaI4Jd4cDhg&_nc_oc=AQmbCvDLAluEj_LQCwzXg-m9OgfVdgUuZHQNd0TQFeNxSg5Ec658z-NBLMJnCmV7Xgc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7818cf9cfa0bdc2b5f118ca5643bcce2&oe=5DCBDB20) TRƯƠNG QUYỂN (Trương Huệ; 1844-?), người kế tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cha là Trương Định. Quê h. Bình Sơn t. Quảng Ngãi. Khi Trương Định khởi nghĩa, TQ chỉ huy “đội quân anh hai”. 1864 TQ đưa lực lượng về xây dựng căn cứ ở Tây Ninh, hợp tác với nghĩa quân Pucom Bô (Campuchia) đánh Pháp. 1866 liên quân TQ - Pucom Bô đánh các trận: đồn An Cả (diệt 1 trung đội và 2 đại úy Pháp); 7.6.1866 giết chủ tỉnh Tây Ninh; 14.6.1866 giết đại tá Macsedơ; 2.7.1866 đánh đồn Trà Vang (bắc Tây Ninh)... chỉ huy nghĩa quân đánh đồn Thuận Kiều (vùng Bà Điểm, 24.6.1866), Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng (7.7) và Long Trì (Tân An 8.7.1866). Hi sinh trong chiến đấu. TRƯỜNG BẮN, khu vực địa hình được cấu trúc, thiết bị chuyên dùng để huấn luyện bắn kiểm tra kết quả huấn luyện bắn (bắn đạn thật, bắn chiến đấu) hoặc để thử nghiệm vũ khí. Có: TB bộ binh, TB tăng thiết giáp. TB pháo binh. TB pháo (tên lửa) phòng không, và TB thể thao... TB thường gồm: đài chỉ huy, khu vực bắn. phóng (bao gồm cả khu vực bố trí mục tiêu); vị trí (đài, vọng) cảnh giới: doanh trại đơn vị quân lí và bảo đảm TB. TB bộ binh còn cấu trúc khu vực ôn luyện, khu vực chờ, tuyến xuất phát, tuyến bắt đầu bắn (ném lựu đạn, thủ pháo...), tuyến ngừng bắn. Chọn địa hình, cấu trúc và thiết bị TB phải đúng quy cách, bảo đảm yêu cầu chiến - kĩ thuật, bảo đảm an toàn và các yêu cầu khác. TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI, trường đào tạo cán bộ văn hóa nghệ thuật và diễn viên có trình độ cử nhân cao đảng; bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho diễn viên các đoàn nghệ thuật QĐ và cán bộ văn hóa nghệ thuật quần chúng trong toàn quân; sưu tầm. nghiên cứu các loại hình văn hóa dân tộc; kết hợp đào tạo với tham gia hoạt động văn hóa nghệ thuật; trực thuộc TCCT. Hiện có 9 khoa: âm nhạc, thanh nhạc, múa, nghệ thuật dân tộc, quân nhạc, văn hóa cơ sở, khoa học xã hội nhân văn QS, văn hóa phổ thông. Ngày thành lập 23.9.1955. Qua các tên gọi: lớp bổ túc văn công QĐ (1955), Trường nghệ thuật QĐ (1957), Trường văn hóa nghệ thuật QĐ (1992), TCĐVHNTQĐ (1995). Trụ sở: số 8 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội. Huân chương: Chiến công hạng nhất (1995), Độc lập. Hiệu trưởng đầu tiên: Trần Du. TRƯỜNG CHINH* (Đặng Xuân Khu; 1907-88), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN (1941-56 và 7-12.1986). Quê xã Xuân Hồng, h. Xuân Trường, t. Nam Định; tham gia CM 1925; đv ĐCS VN (1930). Năm 1927 gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). 1929 tham gia vận động thành lập ĐCS Đông Dương tại Bắc Kì. Cuối 1930 bị thực dân Pháp bắt. kết án 12 năm tù cấm cố, đày đi Sơn La. Cuối 1936 được trả tự do, hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp tại Hà Nội; ủy viên Xứ ủy Bắc Kì, đại biểu của ĐCS Đông Dương trong ủy ban mặt trận dân chủ Bắc Kì. 1940 ủy viên BCHTƯ Đảng; tnrởng ban tuyên huấn. 5.1941-56 tổng bí thư BCHTU ĐCS VN, kiêm chủ bút báo “Cờ giải phóng” và tạp chí Cộng sản, bị tòa án binh của thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt (1943), chủ trì hội nghị Thường vụ trung ương mở rộng (9.3.1945), ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"(12.3.1945). Tháng 8.1945 phụ trách ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. 1958 phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban khoa học nhà nước. 1960-81 chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội. 1981-87 chủ tịch HĐNN, chủ tịch Hội đồng quốc phòng nước CHXHCN VN. 7-12.1986 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN. 12.1986-10.1988, cố ván BCHTƯ Đảng, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN (1940) và khóa II-V, ủy viên BCT (5.1941) và khóa II-V. Đại biểu Quốc hội khóa II-vn. Tác giả nhiều tác phấm QS quan trọng: “Kháng chiến nhất định thắng lợi", “Hồ chủ tịch và những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam"... Huân chương: Sao vàng... (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67882413_465925307470688_3832961495080108032_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEh22qPSPBnlwk_kZ9T5Ch7BhJNc_pZVZSCE2t2tbu0W75U8RRvCJculAP22_eJDsNBY7oOxzmFWl8yRSNfVOMJB-UtrlgWkpCX4D5HU-21mQ&_nc_oc=AQl3sfoG4kxnBxkbI9-ed4x2Ac_VRYIH3f303o3csFfkiDA-5mwijYk0RihKWKHV_g0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d2678a710c35c20bdf5b302a538ec386&oe=5DE8A74F) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:40:51 pm TRƯỜNG CHINH**, tên lửa đẩy nhiều tầng của TQ, được nghiên cứu chế tạo từ 1965. TC có nhiều biến thể khác nhau, sử dụng động cơ phản lực nhiên liệu rắn và lỏng, sức đẩy lớn (1.100-5.800 kN), khối lượng tải có ích đưa lên quỹ đạo quanh Trái Đất từ 300-9.200kg. TC-1 (3 tầng, dài 29,46m, nặng 81,5t) phóng thành công 24.4.1970 (đưa vệ tinh đầu tiên của TQ nặng 173kg vào vũ trụ). TC-2 (2 tầng, dài 32m, nặng 190t) phóng 11.1975 và TC-3 (3 tầng, dài 44,56m, nặng 240t) phóng 4.1984. Từ 1990 TQ đã dùng TC phóng nhiều vệ tinh thương mại của nước ngoài vào vũ trụ. 15.10.2003 TC đã phóng thành công tàu vũ trụ có người lái đầu tiên Thần Châu - 5 của TQ. (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68548881_465925320804020_5877345930608377856_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeF0CBuFH0iQ0gevUfJHSk1jHaJ71VwbozFMpZeMLRTSS8cuUSeLOYShrMHDNgbxugQ56ErZhYelwASo1k4YxsgOOZT5OAMNL0-mVHLXY43Bhw&_nc_oc=AQnRQnLRX8S-8aU6OMCfjZ43GNMT_bDYzKWf_aE0M2lf6juHr7GtclQsIXQskxUgrko&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=6d930915d45e3f2cbf76ee6a7f933310&oe=5DE64FE8) TRƯỜNG CHUYÊN MÔN KĨ THUẬT, trường đào tạo cán bộ trung cấp kĩ thuật và chuyên môn nghiệp vụ, nhân viên chuyên môn kĩ thuật sơ cấp trong QĐND VN. Được tổ chức ở quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng và các ngành trong quản đội. Có: TCMKT trung cấp, TCMKT sơ cấp, trường kĩ thuật (đào tạo cả trình độ trung cấp, sơ cấp). Từ 1991, ở một số quân khu, quân đoàn, TCMKT được sáp nhập với trường quân chính và trường hạ sĩ quan chỉ huy thành trường QS quân khu (quân đoàn). TRƯỜNG GIANG, sông ở TQ, dài 5.800km (dài nhất lục địa Á - Âu); diện tích lưu vực 1.808.500km2, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua lòng chảo Tứ Xuyên và miền Hoa Trung, đổ ra biển Hoa Đông tạo thành châu thố dt 80.000km2. ở thượng lưu lòng sông rộng 300-500m, sâu 2-5m, tốc độ nước 2-7m/s. Ở hạ lưu rộng 2km, sâu 7-12m, tốc độ nước 1 m/s. Lưu lượng nước 34.000m3/s. Nước sông được tưới cho nhiều đồng bằng lớn. Có nhiều tiềm nâng thủy điện. Mùa hèthường gây ra lụt. Hệ thống đê dài 2.700km. Là con đường thủy thuận lợi, tàu có thể đi lại được trên tuyến dài 2.850km. tàu biển đến được Vũ Hán. Các nhánh sông chính: Nhã Long Giang, Mân Giang, Gia Lăng, Hán Thủy, ô Giang... Dọc TG có các thành phố lớn: Vũ Hán, Nam Kinh. Gần cửa sông là thành phố cảng lớn: Thượng Hải. Cg Dương Tử. TRƯỜNG HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY, trường đào tạo cán bộ chỉ huy tiểu đội (kíp xe, khẩu đội, đài điện báo...). Được tổ chức ở quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng. Từ 1991 ở một số quân khu, quân đoàn, THSQCH được sáp nhập với trường quân chính, trường chuyên môn kĩ thuật thành trường QS quân khu (quân đoàn). TRƯỜNG LỤC QUÂN TRUNG HỌC QUẢNG NGÃI, trường đào tạo cán bộ QS sơ cấp; một trong những trường QS đầu tiên của QĐND VN. Do ủy ban kháng chiến miền Nam VN tổ chức 6.1946 tại tỉnh lị Quảng Ngãi và ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ trực tiếp quản lí, tỉnh Quảng Ngãi giúp đỡ. Học viên được tuyển chọn từ cán bộ, chiến sĩ Vệ quốc đoàn (kể cả các đơn vị Nam tiến) và cán bộ, thanh niên, học sinh,... do đảng bộ. đoàn thể, chính quyền CM các địa phương cử. Tổ chức thành tổng đội, gồm 3 ban và 4 đại đội huấn luyện. Đến 11.1946 TLQTHQN đào tạo được 1 khóa (khoảng 400 người) và chấm dứt hoạt động vào cuối 1946. Cán bộ, giáo viên và học viên tốt nghiệp được bổ sung về các cơ quan và đơn vị trong toàn quân vào thời kì đầu KCCP. Hiệu trưởng: Nguyễn Sơn; tổng đội trưởng, chính trị viên tổng đội đầu tiên: Trần Thùy, Nguyễn Chính Cầu. TRƯỜNG LỤC QUẢN TRUNG HỌC TRẲN QUỐC TUẤN X. TRƯỜNG Sĩ QUAN LỤC QUÂN 1, TRƯỜNG VÒ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN TRƯỜNG QUÂN CHÍNH, trường đào tạo ngắn hạn và bổ túc cán bộ chỉ huy phân đội của QĐND VN. Được tổ chức ở trung ương (trước CM tháng Tám, X. Trường quân chính kháng Nhật); ở các liên khu, mặt trận và một số đại đoàn, trung đoàn (trong KCCP); ở quân khu, quân đoàn (trong KCCM và sau 1975). Từ 1991 TQC sáp nhập với trường đào tạo hạ sĩ quan chỉ huy, trường đào tạo nhân viên chuyên môn kĩ thuật sơ cấp (ở cùng cấp tổ chức) và thống nhất gọi là: trường QS quân khu, trường QS quân đoàn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:42:05 pm TRƯỜNG QUÂN CHÍNH BẮC SƠN, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ QS tiểu đội, trung đội, đại đội và chính trị viên trung đội, đại đội; một trong những trường QS đầu tiên của QĐND VN. Do Khu 1 tổ chức 3.1946 dưới sự chỉ đạo của BTTM. Học viên gồm cán bộ, chiến sĩ Vệ quốc đoàn và đảng viên, hội viên cứu quốc do đảng bộ, chính quyền CM địa phương chọn, cử đi học. Đến 12.1946 đào tạo được 2 khóa và chấm dứt hoạt động. TRƯỜNG QUÂN CHÍNH KHÁNG NHẬT, trường đào tạo cán bộ trung đội (trung đội trưởng, chính trị viên trung đội) đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân. Thành lập theo nghị quyết Hội nghị QS CM Bắc Kì (15-20.4.1945), tại xã Tân Trào, châu Tự Do (nay là h. Sơn Dương, t. Tuyên Quang). Khóa học đầu tiên (82 người), khai giảng 25.6.1945. Đổi tên thành: Trường quân chính VN (9.1945), Trường cán bộ VN (10.1945), Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (4.1946), Trường lục quân trung học Trần Quốc Tuấn (2.1948), Trường lục quân VN (12.1950), Trường sĩ quan lục quân VN (1.1956), Trường sĩ quan lục quân 1 (từ 1976). Giám đốc đầu tiên: Hoàng Văn Thái*. TRƯỜNG QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG, trường đào tạo, bổ túc cán bộ làm công tác quân sự địa phương: cán bộ cơ quan QS địa phương (tỉnh, huyện, xã), giáo viên QS ở các trường dân sự và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ thuộc ban. ngành, đoàn thể của địa phương và sĩ quan dự bị; có thời kì còn đào tạo hạ sĩ quan cho bộ đội địa phương. Được tổ chức ở cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), do BQP, BTLquân khu lãnh đạo, chỉ đạo; tỉnh (thành) ủy, UBND và bộ chỉ huy QS tinh (thành phố) chỉ huy trực tiếp. TQSĐP hoạt động theo quy chế trường sĩ quan; trong KCCP với tên gọi: trường đào tạo cán bộ dân quân (trường Lê Bình thành lập 2.1949 theo nghị định 590/ NĐ của BQP, 1950 sáp nhập vào Trường lục quân VN); trường du kích chiến tranh (thành lập 1952 thuộc BQP. từ 1953 tổ chức ở các liên khu). Trong KCCM. tổ chức ở cấp tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương với tên gọi: trường QS, trường quân chính tỉnh (thành phố), từ 1982 là TQSĐP. Tổ chức hiện nay gồm: ban giám hiệu, khối cơ quan nhà trường, các bộ môn giáo viên, các đơn vị quản lí học viên. TRƯỜNG RAĐA. khoảng không gian trong đó các đài rađa của một hoặc nhiều binh đội rađa phòng không phát hiện, bám sát, xác định tọa độ và tính chất mục tiêu trên không với xác suất không nhỏ hơn xác suất cho hước (thường là 0,5). TR có thể liên tục hoặc đứt đoạn, một tầng hoặc nhiều tầng. Kích thước và cấu trúc của TR phụ thuộc trận địa, tính năng chiến - kĩ thuật của các đài rađa và cách thức bố trí đội hình. Có TR tích cực và TR thụ động. Ở VN, TR được thiết lập từ 1.3.1959. TRƯỜNG SA, huyện đảo thuộc t. Khánh Hòa, đông nam Cam Ranh khoảng 460km. Là một quần đảo lớn, gồm trên 100 đảo, bãi đá ngầm, bãi san hô,... nằm rải rác trên một vùng biển rộng, từ tây sang đông dài khoảng 650km, từ bắc xuống nam khoảng 620km. Tổng diện tích phần nổi của các đảo khoảng 10km2. Độ cao trung bình các đảo 3- 5m. Các đảo đều có một vành đai san hô bao quanh; khí hậu hai mùa gió: gió tây nam từ tháng 5 đến 10, gió đông bắc từ tháng 11 đến 4, là vùng có nhiều bão, nên có tên “Quần đảo bão tố”. Có nhiều phốt phát canxi, dầu mỏ, khí đốt; hải sản: hải sâm, đồi mồi, cá, chim... Trước 1956 thuộc t. Bà Rịa, từ 1956 thuộc t. Phước Tuy, từ 9.12.1982 là huyện đảo thuộc t. Đồng Nai, từ 28.12.1982 thuộc t. Phú Khánh, nay thuộc t. Khánh Hòa. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67920369_465925337470685_576618575171682304_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeG8w2NiWQAq_I4hiJMAUSVgiPo7sw2l3UmL8AQ-Hq5SNe57FIJubxw7o48uiEyYoM6vRhWNWjjqjFBqFT42ecO0OmYlV7gmJ-5svKDF4Y0ocQ&_nc_oc=AQnY2JkYqdafLoyt83EMcRKFjdNhmYhtXpt1YqhKghAxvq1EESIzRqmja0C7g3TYVw0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=eee445ec39ae23278f72b1fcf72641df&oe=5DE42C1A) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:43:21 pm TRƯỜNG SĨ QUAN, trường đào tạo, bổ túc sĩ quan cấp phân đội (và tương đương) của QĐND VN. Theo chuyên ngành đào tạo, có: TSQ chỉ huy (TSQ lục quân, TSQ chính trị - QS, TSQ phòng hóa, TSQ pháo binh. TSQ đặc công...), TSQ chỉ huy - kĩ thuật (TSQ chỉ huy - kĩ thuật không quân. TSQ chỉ huy - kĩ thuật hải quân, TSQ chỉ huy - kĩ thuật tên lửa - rađa, TSQ chỉ huy - kĩ thuật xe tăng...), TSQ kĩ thuật (TSQ vũ khí đạn...), TSQ chuyên môn nghiệp vụ (TSQ HC, TSQ bản đồ...). Một số TSQ còn có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan chỉ huy và nhân viên chuyên món kĩ thuật sơ cấp. trung cấp (TSQ phòng hóa, TSQHC...). Từ 1994 theo quy hoạch hệ thống nhà trường, một số TSQ sáp nhập với các cơ sở đào tạo khác cùng chuyên ngành thành các học viện (Học viện hải quân, Học viện phòng không - không quân...). TRƯỜNG SĨ QUAN CHỈ HUY KĨ THUẬT THÔNG TIN. trường đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội thông tin; đào tạo cán bộ trung, lữ đoàn thông tin; nhân viên kĩ thuật sơ cấp, trung cấp và các nhiệm vụ khác: trực thuộc thuộc BTL binh chủng thông tin liên lạc; đơn vị Ah LLVTND (11.2001). Thành lập 21.5.1965, tiền thân là Trường thông tin (11.1951- 7.1958), Khoa thông tin Trường sĩ quan lục quân (7.1958- 5.1965), Trường sĩ quan thông tin thuộc Cục thông tin liên lạc (5.1965-1.1968); ngày 24.3.1967, tách hệ đào tạo nhân viên kĩ thuật thông tin thành Trường kĩ thuật thông tin. Trường sĩ quan thông tin tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ huy tham mưu thông tin, thuộc BTL binh chủng thông tin liên lạc (1.1968-82); TSQCHKTTT thuộc BTL binh chủng thông tin liên lạc (1982 đến nay); 14.10.1997, Trường kĩ thuật thông tin sáp nhập với TSQCHKTTT thành TSQCHKTTT. 21.9.1998 TSQCHKTTT được giao nhiệm vụ đào tạo sĩ quan thông tin bậc đại học. Ngày truyền thống 11.11.1951. Hiệu trưởng và chính úy đầu tiên: Hoàng Niệm, Nguyễn Hằng. TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ, trường đào tạo cán bộ chính trị cấp đại đội, bồi dưỡng giáo viên chính trị và biên soạn tài liệu giáo khoa về CTĐ,CTCT cho cán bộ sơ cấp trong QĐND VN. Thành lập 14.1.1976 trên cơ sở hệ chính trị sơ cấp của Học viện chính trị tách ra, với tên gọi Trường sĩ quan chính trị. Đổi thành TSQCT-QS 16.12.1981. Từ 1995 sáp nhập vào Học viện chính trị - quân sự. Ngày truyền thống 14.1.1976. Hiệu trưởng đầu tiên: Lê Văn Nhiêu. TRƯỜNG SĨ QUAN CÔNG BINH, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội công binh có trình độ đại học, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, đào tạo hạ sĩ quan và nhân viên chuyên môn kĩ thuật công binh, trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành công binh; trực thuộc BTL công binh. Tiền thân là các lớp đào tạo cán bộ công binh của Cục công binh và Trường sĩ quan lục quân (1947-54), phát triển thành TSQCB 27.6.1955. Từ 9.1998 đào tạo sĩ quan bậc đại học. Huân chương: 3 Chiến công hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng ba), Bảo vệ tổ quốc hạng nhì (Campuchia). Ngày truyền thống 26.12.1955. Hiệu trưởng và chính ủy đầu tiên: Nguyễn Đình Năm, Phạm Ngọc Lê. TRƯỜNG SĨ QUAN ĐẶC CÔNG, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu, bổ túc cán bộ cấp phân đội và nghiên cứu khoa học chuyên ngành đặc công, trực thuộc BTL đặc công. Tiền thân là Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 426 thuộc Cục nghiên cứu, BTTM. Phát triển qua các giai đoạn: Trường bổ túc cán bộ đặc công (20.7.1967), TSQĐC (13.2.1974), được công nhận đào tạo chương trình cao đẳng (11.9.1995) và đào tạo bậc đại học (21.9.1998). Đã đào tạo được hàng trăm cán bộ đặc công cho toàn quân và một số nước anh em. Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học QS đặc công. Ngày truyền thống 20.7.1967. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba); Chiến công hạng nhất; Itxala (CHDCND Lào); Antonio Maceo (Cộng hòa Cuba). Hiệu trưởng và chính ủy đầu tiên: Nguyễn Chí Dũng, Phạm Huy. TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội binh chủng hợp thành (trình độ đại học) và huấn luyện một số nội dung QS cơ bản của sĩ quan cấp phân đội cho học viên các học viện và trường sĩ quan khác; đơn vị Ah LLVTND (1985). Thành lập 15.4.1945, trực thuộc BQR với tên gọi Trường quân chính kháng Nhật (giám đốc: Hoàng Văn Thái*), đổi thành Trường quân chính VN (7.9.1945), Trường huấn luyện cán bộ VN (15.10.1945), Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (17.4.1946), Trường lục quân trung học Trần Quốc Tuấn (2.1948), Trường lục quân VN (12.1950), Trường sĩ quan lục quân VN (1.1956). Từ 1976 là TSQLQ1 (hiệu trướng: Thái Dũng). Ngày truyền thống 15.4.1945. TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội binh chủng hợp thành, cán bộ chính trị - QS cấp phân đội, trình độ đại học (từ 9.1998) và huấn luyện một số nội dung QS cơ bản của sĩ quan cấp phân đội cho học viên Trường sĩ quan công binh, Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật thông tin; đơn vị Ah LLVTND (1996). Thành lập 10.10.1975 theo quyết định số 218/QĐ-QP của BQP, trực thuộc BQP. Tiền thân là Trường quân chính sơ cấp QGPMN (thành lập 27.8.1961, hiệu trưởng: Đỗ Phong); Trường lục quân tổng hợp (5.3.1975); từ 10.10.1975 làTSQLQ2 (hiệu trưởng: Tăng Thiên Kim). Ngày truyền thống 27.8.1961. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:44:29 pm TRƯỜNG SĨ QUAN PHÁO BINH, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội pháo binh có trình độ đại học, đào tạo ngắn hạn sĩ quan chỉ huy tham mưu trung (lữ) đoàn pháo binh; chuyển loại sĩ quan chính trị, đào tạo hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kĩ thuật pháo binh và đào tạo sĩ quan dự bị cho BTL pháo binh; trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành pháo binh; trực thuộc BTL pháo binh. Thành lập 18.2.1957. Tiền thân là Phân khoa pháo binh Trường sĩ quan lục quân VN và lớp tập huấn pháo binh của BTL pháo binh. Thời kì đầu đào tạo trung đội trưởng pháo binh mặt đất và cao xạ. 1964 tách hệ cao xạ ra khỏi TSQPB. Từ 1961 thêm nhiệm vụ bổ túc, đào tạo sĩ quan trung cấp chỉ huy, chính trị pháo binh; bổ túc văn hóa, đào tạo sĩ quan dự bị cho một số trường đại học ngoài QĐ; đào tạo bồi dưỡng cán bộ pháo binh QĐ Lào, Campuchia; đào tạo hạ sĩ quan pháo binh (1991), đào tạo lái xe, thợ xe. pháo, thợ quang học (1996), đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kĩ thuật tên lửa (2000). Từ 1984 đào tạo sĩ quan bậc cao đẳng; 9.1998 đào tạo sĩ quan bậc đại học. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), 6 Chiến công (2 hạng nhất, 3 hạng nhì, 1 hạrtg ba), Tự do hạng nhất (Lào), Bảo vệ tổ quốc hạng nhất (Campuchia). Hiệu trường đầu tiên: Lê Thiết Hùng. TRƯỜNG SĨ QUAN PHÒNG HÓA, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội hóa học; đào tạo hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn, kĩ thuật hóa học sơ cấp và trung cấp; đào tạo ngắn hạn sĩ quan chỉ huy tham mưu; trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành hóa học; trực thuộc BTL hóa học. Thành lập 21.9.1976 theo quyết định số 213/QĐ-TM trên cơ sở Đoàn huấn luyện 902, với tên gọi Trường sĩ quan hóa học; đổi thành TSQPH 10.1979. Được Bộ giáo dục và đào tạo công nhận đào tạo bậc cao đẳng (10.1994); thủ tướng chính phủ kí quyết định giao nhiệm vụ đào tạo sĩ quan bậc đại học (9.1998). Hiệu trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Xuân Tấn, Ngô Văn Quyền. TRƯỜNG SĨ QUAN TĂNG THIẾT GIÁP, trường đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu, kĩ thuật cấp phân đội tảng thiết giáp có trình độ đại học, đào tạo ngắn hạn sĩ quan chỉ huy tham mưu trung (lữ) đoàn tăng; chuyển loại sĩ quan chính trị; đào tạo nhân viên chuyên môn kĩ thuật tăng thiết giáp, đào tạo sĩ quan dự bị tăng thiết giáp; trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành tăng thiết giáp; trực thuộc BTL tăng thiết giáp. Thành lập 10.4.1973 với tên gọi Trường sĩ quan thiết giáp. Tiền thân là Đoàn huấn luyện 10 (thành lập 74.1972); đổi thành Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật tăng (23.10.1980); TSQTTG (1.1.1997). Từ 1993 đào tạo sĩ quan bậc cao đẳng; 9.1998 đào tạo sĩ quan bậc đại học. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng ba), Độc lập hạng nhất (Lào). Ngày truyền thống 10.4.1973. Hiệu trưởng đầu tiên: Dương Đằng Giang. TRƯỜNG SƠN. dãy núi ở phía tây Trung Bộ VN, dài 1.200km từ tây bắc tỉnh Nghệ An đến cực Nam Trung Bộ, theo hình vòng cung lồi về phía Biển Đông. Chia làm hai phần: bắc TS và nam TS, ranh giới là núi Bạch Mã. Bắc TS có các đỉnh cao: Phulaileng 2.711m, A Tuất 2.500m, Rào Cỏ 2.235m... sườn phía đông dốc hẹp, có nhiều nhánh núi ngang chạy ra sát biển (Hoành Sơn, Bạch Mã...), sườn phía tây thoai thoải. Nam TS là các núi cao xen kẽ với nhiều cao nguyên có các đỉnh cao: Ngọc Lĩnh 2.598m, Ngọc Phan 2.25 lm, Chư Yang Sin 2.405m, phía tây các núi cao này là những cao nguyên ở độ cao 1.000m, độ cao giảm dần thành từng bậc, tạo thành vùng Tây Nguyên màu mỡ. TS là nơi bắt nguồn của nhiều sông suối ở Trung Bộ, Đông Nam Bộ, và một số nhánh của sông Mê Công. Cắt ngang các tuyến đường bộ: 7, 8, 9, 14, 19, 20, 26... Hai bên sườn TS phủ rừng cây nhiệt đới, cây lá nhọn, cây bụi. Có các khu rừng nguyên sinh rất phong phú về động thực vật; nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc: Giarai, Êđê, Xơđăng, Mơ Nông, Cơ Tu, Bana. Tà Ôi, Bru. Thái, Mường, Thổ... Trong KCCM. đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh), chạy dọc dãy TS, con đương tiếp tế chủ yếu cho chiến trường miền Nam VN. TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN, trường dạy văn hóa, rèn luyện sức khỏe, bồi dưỡng kiến thức QS và hướng nghiệp QS cho thiếu niên chuẩn bị vào học tập trong các trường QS. Có trong QĐ một số nước; thường thu nhận học viên theo quy định (về lứa tuổi, trình độ văn hóa, sức khỏe...). Ở VN. TTSQ co trong KCCP: TTSQ VN (1949-53). TTSQ Liên khu 4 (1948-52)... Từ 1991 được thành lập ở Quân khu 1 (TTSQ Việt Bắc), Binh chủng đặc công (hệ thiếu sinh quân thuộc Trường sĩ quan đặc công)... TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN, trường đào tạo cán bộ chỉ huy QS sơ cấp của Vệ quốc đoàn. Thành lập 17.4.1946; khai giảng khóa 1 (có 288 học viên) 25.5.1946; giám đốc: Hoàng Đạo Thúy, chính trị ủy viên: Trấn Tử Bình. Tiền thân là Trường quân chính kháng Nhật. 2.1948 đổi tên thành Trường lục quân trung học Trần Quốc Tuấn. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:46:00 pm TRƯỞNG ĐÀI ĐIỆN BÁO, người chỉ huy trực tiếp, đồng thời là thành viên của một đài điện báo, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của đài điện báo trong huấn luyện, chiến đấu và bảo đảm thông tin liên lạc. TĐĐB tốt nghiệp trường đào tạo hạ sĩ quan chỉ huy, sử dụng thành thạo trang thiết bị của đài, thành thạo việc chỉ huy, biết tổ chức khai thác, triển khai thực hiện các chế độ: công tác, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, bảo mật tin tức... TRƯỞNG PHÒNG, chức vụ đứng đầu cơ quan chuyên môn cấp phòng, chịu trách nhiệm trước người chỉ huy, cấp ủy cấp mình và thủ trưởng ngành chuyên môn cấp trên về quản lí, điều hành công việc của phòng. Trong QĐND VN cấp phòng được tổ chức, biên chế từ cấp lữ đoàn, tinh (thành) đội và tương đương trở lên; các nhà trường, học viện, viện nghiên cứu, cơ quan cấp cục, tổng cục; các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng. Chức trách TP được quy định trong tiêu chuẩn chức vụ cán bộ QĐ. TP một số ngành nghiệp vụ còn gọi là chú nhiệm (vd: chủ nhiệm quân y). TRƯỞNG XE TĂNG (THIẾT GIÁP), chức vụ đứng đầu một kíp xe tăng (thiết giáp)-, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của kíp xe trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. TXT(TG) tốt nghiệp trường đào tạo kíp xe tăng (thiết giáp), sử dụng thành thạo thiết bị thông tin, vũ khí trên xe, biết lái xe, thành thạo việc chỉ huy một xe chiến đấu, biết tổ chức bảo quản, bảo dưỡng kĩ thuật theo chức trách. Khi thực hành chiến đấu, TXT(TG) tự quan sát địch, ra lệnh bắn hoặc trực tiếp bắn, sửa bắn cho chiến sĩ, giữ vững liên lạc, hướng và vị trí của xe trong đội hình. TRƯƠNG (cổ), vũ khí lạnh cầm tay có dạng một cái gậy thẳng, đường kính xác định, để sát thương đối phương bằng đập (vụt), cũng dùng đỡ khi bị đối phương công kích. T có nhiều dạng, đường kính và chiều dài khác nhau, thường được làm từ kim loại hoặc gỗ (tre). Tu, họ máy bay của LX do Viện thiết kế - thử nghiệm hàng không mang tên tổng công trình sư hàng không A. N. Tupôlep thiết kế và chế tạo. Tu gồm nhiều loại với hơn 100 kiểu (70 kiểu được sản xuất hàng loạt) được dùng cả trong QS và hàng không dân dụng. Vd: trong QS có Tu-2 (máy bay chiến đấu. CTTG-II). Tu-12, 16 (ném bom phản lực, từ 1947), Tu-95 (ném bom - trinh sát, từ 1954), Tu-114 (chỉ huy báo động sớm, từ 1957), Tu-22 (ném bom - trinh sát, từ 1961), Tu-160 (bay thử lần đầu 1981), trong dân sự có các máy bay chở khách Tu 104 (từ 1952), Tu-124 (từ 1960), Tu-134-(từ 1960), Tu-154 (từ 1966), Tu-144 (phản lực đường dài, từ 1968), Tu-204 (từ 1981). Dự kiến sẽ nghiên cứu thiết kế kiểu Tu-334 vào những năm tới. T đã lập 78 kỉ lục thế giới. VN đã và đang sử dụng máy bay chở khách Tu-134. Tu-160. máy bay ném bom chiến lược siêu âm có góc cánh thay đổi, họ Tu do Tổ hợp khoa học - kĩ thuật hàng không mang tên Tupôlep (Nga) thiết kế và chế tạo. Nguyên mẫu ra đời 1980. Bay thử lần dầu 1981. Sản xuất hàng loạt từ 1986. Trang bị cho không quân LX từ 1987 (40 chiếc). Tính năng chiến - kĩ thuật chính: dài 54,1m; cao 13,lm; sải cánh lớn nhất 55,7m, nhỏ nhất 35,6m; khối lượng rỗng 118.000kg; khối lượng cất cánh lớn nhất 275.000kg. Lắp 4 động cơ HK- 32; tốc độ bay lớn nhất 2.367km/h; tầm bay 14.600km; bán kính hoạt động 7.300km. Kíp bay 4 người. Có thể mang 45t bom, hoặc 12 tên lửa có cánh (tên lửa hành trình), hoặc 24 tên lửa tầm gần. Về kết cấu, Tu-160 gần giống máy bay ném bom chiến lược B-l của Mĩ, nhưng bom, đạn,... đều được chứa bên trong máy bay để giảm diện tích phản xạ hiệu dụng. Được trang bị tổ hợp dẫn đường hiện đại bao gồm hệ thống dẫn đường thiên văn, hệ thống dẫn đường quân tính; tổ hợp ngắm bắn - dẫn đường; đài rađa phát hiện các mục tiêu trên biển, đất liền từ cự li xa; hệ thống máy ngắm ném bom quang - điện tử; hệ thống tác chiến điện tử... Tu-160 trang bị trên 100 máy tính điện tử để tự động hóa quá trình điều khiển máy bay và vũ khí; hệ thống tiếp nhiên liệu trên không. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68337707_465925350804017_9081428534567632896_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeH6j6ExSoUK4bqMsmB7lqfOshS9Dar9ULCU0T9JbyF2Z5ffuknx7qhf-3F-1byH7iJnczZqj1YkGcQt417WroUNDe-KCUU6w2UOI5JiVIIYiw&_nc_oc=AQl5j0Mp02zJHh4tkLwt0j8pGRUC1jbEI7wq57uvcPSrplllDYEEsC2kGX5vmmaMAH8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=404cb7f365930ceb933ce22748a32adc&oe=5DD1EBB6) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:47:36 pm TU VŨ, xã thuộc h. Thanh Thủy, t. Phú Thọ. Nằm ở chán điểm cao 209, bên tả ngạn Sông Đà, bắc tx Hòa Bình 20km. Cuối 11.1951 quân Pháp xây dựng tại đây một cứ điểm phòng ngự vững chắc do một tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ, được tăng cường xe tăng và một đại đội ngụy quân người Mường đóng giữ. Đêm 10 rạng 11.12.1951 Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đã tiến công cứ điểm, mở đầu chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951- 25.2.1952), cắt đứt đường giao thông thủy của quân Pháp trên Sông Đà (xt trận Tu Vũ, 10-11.12.1951). Sau trận TV, Trung đoàn 88 được mang danh hiệu “Trung đoàn Tu Vũ”. TÙ BINH, người của một bên tham chiến bị đối phương bắt giữ, bao gồm: người thuộc LLVT, tình nguyện quân, dân quân, người tham gia phong trào kháng chiến có tổ chức, dân chúng tự cầm súng, người không phải là quân nhân nhưng được phép đi theo LLVT (phóng viên, nhân viên dân sự...). Nhân viên y tế dân sự và người hoạt động tôn giáo bị lưu giữ để giúp đỡ TB, không bị coi là TB nhưng được hưởng mọi quyền lợi và sự bảo vệ của công ước về đối xử với TB. Chế độ đối xử với TB được công ước Giơnevơ 1949 về tù binh và các điều ước quốc tế khác quy định (xt chính sách tù binh và hàng binh). TUẦN DƯƠNG HẠM nh TÀU TUẦN DƯƠNG TUẦN LÊ VÀNG, tuần lễ nhân dân cả nước tự nguyện đóng góp tiền, của để phụng sự đất nước, bảo đảm nhu cầu chi tiêu của nhà nước (17- 24.9.1945). Do chính phủ lâm thời VN DCCH phát động với thư kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình nền tài chính đang gặp nhiều khó khăn (ngân khố trung ương do Nhật, Pháp để lại chỉ còn hơn 1 triệu đồng Đông Dương trong đó một nửa là tiền rách sắp hủy). TLV được đông đảo nhân dân cả nước hưởng ứng, đã quyên góp được 370kg vàng và 20 triệu đồng cho Quỹ độc lập. TUẦN TIỄU, hoạt động lưu động của tổ, phân đội nhỏ bộ binh, bộ binh cơ giới, tàu hải quân, máy bay quanh một khu vực, mục tiêu (ở cự li quy định) nhằm kịp thời phát hiện những dấu hiệu hoạt động của đối phương và xử lí khi chúng xâm nhập, tập kích. Có TT trên bộ, TT trên không và TT trên biển. TUẦN TIỄU TRÊN BIỂN, tuần tiễu thực hiện bằng hoạt động của tàu mặt nước, tàu ngẩm hoặc máy bay (máy bay trực thăng) trên tuyến hoặc vùng biển xác định; một hình thức cảnh giới trên biển. Được tổ chức theo cự li (gần hay xa), theo nhiệm vụ phòng thủ (chống ngầm, chống tàu mặt nước, chống thủy lôi, phòng không), bảo vệ các lực lượng khi trú đậu và hoạt động trên biển, trong thời chiến và thời bình. Ngoài lực lượng tuần tiễu cần có lực lượng chi viện tuần tiễu để xử lí những tình huống vượt quá khả năng của lực lượng tuần tiễu. TUẦN TIỄU TRÊN KHÔNG, tuần tiểu được tiến hành bằng các chuyến bay theo các đường bay, trong các khu vực nhất định, vào các thời gian quy định, nhằm phát hiện những dấu hiệu hoạt động của địch, những hiện tượng khác thường cần quan tâm để kịp thời ngăn chặn, đối phó. Khi bay tuần tiễu phải bí mật, phát hiện mục tiêu phải báo cáo ngay về SCH không quân. TUẦN TRA, hoạt động lưu động của tổ, phân đội nhỏ được trang bị vũ khí bộ binh để kiểm tra việc giữ gìn trật tự, kỉ luật của các quân nhân ở nơi trú quân và ở nơi công cộng. TUẦN TRA BIÊN GIỚI, tuần tra do cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng thực hiện để bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Nhiệm vụ TTBG: kiểm tra. bảo vệ đường biên giới và mốc quốc giới, công trình kĩ thuật bảo vệ biên giới quốc gia; kiểm tra, phát hiện, xác minh dấu vết, hiện tượng, vụ việc xâm phạm, vi phạm quy chế biên giới quốc gia; duy trì, kiểm tra việc thực hiện quy chế khu vực biên giới, vành đai biên giới và chấp hành pháp luật; ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng vượt biên, vượt biển, các bọn tội phạm qua lại biên giới; chiến đấu đánh địch xâm nhập và những hành động phá hoại an ninh biên giới. Có hình thức TTBG công khai và bí mật. TTBG công khai thường áp dụng khi kiểm tra, bảo vệ mốc quốc giới, duy trì, kiểm tra việc thực hiện hiệp định về quy chế biên giới và quy chế khu vực biên giới quốc gia, vành đai biên giới. TTBG thường áp dụng khi: truy bắt bọn vượt biên, xâm nhập và các loại tội phạm khác. Khi TTBG có thể kết hợp với các lực lượng khác như: công an, hải quan, kiểm lâm, dân quân tự vệ... TÚI HỎA LỰC, khu vực địa hình ở trước tiền duyên hoặc trong chiều sâu phòng ngự, ở đó phân đội (binh đội) dùng toàn bộ hoặc phần lớn phương tiện hỏa lực của mình từ chính diện và hai bên sườn, tạo ra hỏa lực có mật độ cao, nhầm gây cho quân địch nhiều tổn thất. THL được tổ chức trong phòng ngự của các phân đội và binh đội bộ binh (bộ binh cơ giới, xe tăng) phải căn cứ vào ý định sử dụng hỏa lực sát thương địch và lợi dụng hình thái bố trí các trận địa phòng ngự, địa hình, chướng ngại thiên nhiên, vật cản. Trong quá trình chiến đấu THL có thể được tạo ra bằng cách cơ động hỏa lực và hỏa khí. THL phải đảm bảo thực hiện được hỏa lực lướt sườn, hỏa lực chéo và hỏa lực chính diện của tất cả vũ khí bộ binh, vũ khí trên xe tăng, các phương tiện chống tăng, và hỏa lực của pháo binh, kết họp với các loại vật cản. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:48:54 pm TULÔNG, thành phố cảng, trung tâm đóng tàu, căn cứ hải quân của Pháp trên bờ Địa Trung Hải. Là căn cứ thường xuyên của các tàu chiến, tàu ngầm thuộc Hải đoàn Địa Trung Hải của Pháp. Tổng chiều dài các cầu cảng gần 14km, sâu 12m. Có các nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu, có 10 đốc cạn bảo đảm đóng và sửa chữa dược các loại tàu chiến. Nam T 17km là trung tâm huấn luyện hải quân Pháp. Từ thời cổ, T là thuộc địa của Hi Lạp, sau đó của La Mã. Từ cuối tk 17 đến đầu tk 18, là pháo đài bờ biển. 11.1942 ở T các thủy thủ Pháp đã đánh chìm phần lớn hạm đội Pháp để quân phát xít Đức không chiếm dược. TUÔCMÊNIXTAN (Cộng hòa Tuôcmênixtan; TypMemtCTOH Pecrr6yjiHKacbi, A. Republic of Turkmenistan), quốc gia ở Trung Á, tây giáp biển Caxpi. bắc và đông bắc giáp Cadắcxtan, Udơbêkixtan, nam và đông nam giáp Iran, Apganixtan. Dt 488.100km2; ds 4,78 triệu người (2003); 69% người Tuôcmen, 13% người Nga, 9% người Udơbêch... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tuôcmen. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni. Thủ đô: Askhabat. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: Megiơlit (quốc hội). Phần lớn lãnh thổ là bình nguyên thấp, thuộc sa mạc Caracum. Nam và tây nam là các dãy núi Côpetđaga và Parônamiđa. Khí hậu lục địa khô. Nước công - nông nghiệp. Công nghiệp chế tạo máy, điện nàng, hóa chất, khai thác dầu khí... GDP 5,962 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 1.100 USD. Thành viên LHQ (2.3.1992), Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 29.7.1992. LLVT: lực lượng thường trực 17.500 người (lục quân 14.500, không quân 3.000). Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS. Trang bị: 702 xe tăng, 930 xe chiến đấu bộ binh, 170 xe thiết giáp chở quân, 829 xe thiết giáp chở quân, 269 pháo mặt đất xe kéo, 40 pháo tự hành, 64 pháo phản lực, 97 súng cối, 100 tên lửa chống tăng, 70 pháo phòng không, 289 máy bay chiến đấu các loại, tên lửa phòng không SA-7, 40 SA-8, 13 SA-13, 50 SA-2/-3/-5. Ngân sách quốc phòng 163 triệu USD (2001). (https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/69112840_465925364137349_475767945583132672_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeEZ23rR5Yd6zKYqsISxt6p16K5N6s_oDlesdWIKND_xhDZd47OCr7n4Eu6YGaCg0Hm6SyQwgX40YWnfzufm0Hi5cNu6PEnp41XvvltOrjVFpQ&_nc_oc=AQkh0HOmhlrAlOwhsRRUscTrVTDZXdN-w1VU7ufDK156pjX7nzhybLde8HDjwxRDREg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=df59231ce3ded63f5c9f4235098b3936&oe=5DE907F2) TUỔI QUÂN, thời gian quân nhân phục vụ tại ngũ trong QĐND VN, tính từ ngày được công nhận là quân nhân và chịu sự quản lí về mọi mặt của QĐ, đến ngày thôi phục vụ tại ngũ hoặc bị hi sinh, từ trần. TQ cao nhất tính từ 22.12.1944. TUỔI THỌ KĨ THUẬT, đại lượng đặc trưng cho độ bền lâu của trang bị (hoặc bộ phận chủ yếu của nó) từ thời điểm xuất xưởng (bắt đầu đưa vào khai thác) tới thời điểm đạt trạng thái tới hạn (không đảm bảo chất lượng hoặc loại bỏ), theo quy định trong tài liệu kĩ thuật. Được tính bằng: số giờ hoạt động (đèn điện tử, động cơ đốt trong...), số lần làm việc (vd: số phát bắn của nòng pháo, nòng súng...), số kilômét chạy (phương tiện cơ động)... Phân biệt TTKT toàn bộ (từ thời điểm sử dụng đầu tiên đến thời điểm loại bỏ) và TTKT giữa hai kì bảo dưỡng hoặc sửa chữa. TTKT phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng trang bị, điều kiện và chế độ làm việc của trang bị, khả năng bảo dưỡng, sửa chữa trang bị... TUỔI TRẺ GIỮ NƯỚC, phong trào hành động CM của thanh niên VN trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, do BCHTƯ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phát động 2.1993 với nội dung: giáo dục, động viên tuổi trẻ VN kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, đi đầu trong nhiệm vụ báo vệ tổ quốc, công tác quốc phòng và an ninh, làm tốt nghĩa vụ QS và chính sách hậu phương QĐ. Hàng triệu thanh niên đã hăng hái tham gia phong trào TTGN thông qua các chương trình hành động với chủ để: “vì các chiến sĩ biên giới, hái đảo”, “vì Trường Sa thân yêu”, “vì người bạn tòng quân”, “kết nghĩa quân dân”, “đoàn kết ba lực lượng”, “xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “đền CM đáp nghĩa”... Cùng với phong trào “thanh niên lập nghiệp”, TTGN đã góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:50:08 pm TUVALU (Tuvalu; A. Tuvalu), quốc gia trong quần đảo Pôlinêdi ở tây Thái Bình Dương. Dt 26km2: ds 11,3 nghìn người (2003). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tuvalu, tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Tin Lành. Thủ đô: Phunaphuti. Chính thể quân chủ nghị viện trong Khối liên hiệp Anh, đứng đầu nhà nước là nữ hoàng Anh, do một toàn quyền đại diện. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Lãnh thổ phần lớn là các đảo đá và đảo san hô cao 4-5m so với mực nước biển, trải dài 676km theo hướng tây bắc - đông nam. Khí hậu nóng, nhiệt độ trung bình trong năm 30°C, lượng mưa lớn. Nứớc nông nghiệp, nhập khẩu lương thực. Xuất khẩu: cùi dừa, chuối. Có ngành đánh cá và chế biến hải sản. GDP 14 triệu USD (2000). Thành viên LHQ (5.9.2000). Không có LLVT. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67827634_465925377470681_2752311546896973824_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeH5e_9-nrS1ePnk9Mac7QLEc0hwQmVd2MbveG_D0TWM2IUgbh22BhL2Ax6NCDDgkK3o4OMO8FeQAlAAaVgW0QaXMIQGgNGNwmUysodtdFNO7A&_nc_oc=AQmU3rUTm8UCBWjPk8_Uip7N4iwi0atwic-f5D528G-coNkUKAQm7TLaXWn-79OQoN8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2604b76ea0a3ee06e3efb390bdd51d3d&oe=5DD3EE7B) TÙY VIÊN QUÂN SỰ, người đại diện BQP trong đại sứ quân của một nước ở nước ngoài, giữ mối quan hệ đối ngoại về QS với BQP nước sở tại, hoạt động dưới sự chỉ đạo của BQP và đại sứ quân theo các nguyên tắc, tiêu chuẩn ngoại giao quốc tế. Có: TVQS lục quân, TVQS hải quân, TVQS khống quân. TVQS có cấp hàm ngoại giao tương dương tham tán sứ quân và được hưởng quyền ngoại giao và miễn trừ theo luật pháp quốc tế. Ở VN, theo Cịuyết định số 2522/2000/QĐ - BQP, từ 2000 TVQS gọi là tuỳ viên quốc phòng. TÙY VIÊN QUỐC PHÒNG nh TÙY VIÊN QUÂN SỰ TỤY ĐỘNG X. TỐT ĐỘNG TUYÊN CHIẾN, tuyên bố tiến hành chiến tranh của một nước (một tổ chức hay một liên minh) chống một nước (một tổ chức hay một liên minh) khác. Việc TC thường do cơ quan quyển lực tối cao của nhà nước quyết định và do người đứng đầu nhà nước công bố. Ngày nay do ràng buộc của luật pháp quốc tế, của phong trào đấu tranh bảo vệ hòa bình, sự phát triển của khoa học công nghệ và KTQS, các cuộc chiến tranh nổ ra thường không có TC. Các thế lực đế quốc, bành trướng thường phải lợi dụng danh nghĩa “thực hiện nghĩa vụ với liên minh”, “phản ứng tự vệ”... để tiến hành chiến tranh xâm lược. “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”, văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trình bày những nguyên lí cơ bản nhất của CNXH khoa học, do Các Mác và Ăngghen viết, được công bố 2.1848. Gồm 4 chương. Chương 1, “Tư sản và vô sản”: luận giải về sự diệt vong của CNTB và thắng lợi của CNXH đều là tất yếu lịch sử; giai cấp có sứ mệnh lịch sử thực hiện quá trình đó là giai cấp công nhân hiện đại. Chương 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” luận giải: về vai trò của ĐCS, tư tưởng về chuyên chính vô sản và thái độ của những người cộng sản trong tiến trình đấu tranh giai cấp để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chương 3, “Văn học XHCN và CSCN”: phê phán sâu sắc các trào lưu XHCN phi vô sản và bày tỏ thái độ đối với chủ nghĩa xã hội không tường. Chương 4, “Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập”: trình bày những vấn đề chiến lược, sách lược của những người cộng sản đối với các đảng đối lập khác. “TNCĐCS” kết thúc bằng khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Những luận điểm của “TNCĐCS” đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tinh thần của nó vẫn đang cổ vũ và thúc đẩy cuộc đấu tranh CM của giai cấp công nhân. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:51:10 pm “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” (2.9.1945), bản tuyên ngôn của nước VN chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể DCCH trước toàn thế giới, do chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và thay mặt Chính phủ lâm thời của nước VN DCCH tuyên đọc trong buổi lễ trọng thể tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, 2.9.1945. “TNĐL” nêu rõ: mọi người, mọi dân tộc đều sinh ra bình đẳng, đều có những quyền cơ bản không ai được xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Song thực dân Pháp (sau lại thêm phát xít Nhật) đã chiếm VN thành thuộc địa, chà đạp và tước bỏ những quyền cơ bản ấy của nhân dân VN, gây nên biết bao tội ác. Trải qua hơn 80 năm đấu tranh gan góc, bền bì, nhân dân VN đã giành lại được tự do, độc lập cho Tổ quốc mình, chấm dứt chế độ thực dân gần 100 năm, chấm dứt chế độ quân chủ hàng nghìn năm, lập nên chế độ DCCH, thực hiện quyền cơ bản của dân tộc một cách xứng đáng. "TNĐL” kết thúc bằng lời tuyên bố trịnh trọng của Chính phủ lâm thời nước VN DCCH với thế giới: “Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. TUYÊN PHỦ SỨ, chức quan được triều đình phái đến giám sát một khu vực (địa phương) mới được bình định hoặc mới thành lập sau những xáo động chính trị, chức quan cai trị một lộ (tương đương tỉnh ngày nay). Ở TQ, TPS có từ đời Đường Huyền Tông, năm Khai Nguyên 16 (728), duy trì trong các thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ở VN, có ở thời Trần, Nguyễn. TUYÊN QUANG, tỉnh miền núi ở đông bắc Bắc Bộ: bác giáp Hà Giang, Cao Bằng, đông giáp Bắc Kạn, Thái Nguyên, nam giáp Vĩnh Phúc, tây và tây nam giáp Yên Bái, Phú Thọ. Dt 7.868km2; ds 0,7 triệu người (2003); dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Mông... Thành lập 1831. Năm 1891 tách các hạt Hà Giang và Bắc Quang thành lập t. Hà Giang. Từ 7.1956 thuộc Khu tự trị Việt Bắc. 12.1975 hợp nhất với Hà Giang thành t. Hà Tuyên. 8.1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 5 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Tuyên Quang. Địa hình: rừng núi tập trung chủ yếu ở phía bắc, thuộc các huyện: Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, các núi cao: Cao Quang (1.587m), Núi Lịch (933m), Núi Phân (65 lm). Núi Láng (533m); ở giữa và phía nam là đồi núi thấp. Đất lâm nghiệp chiếm 73% diện tích tự nhiên. Khoáng sản: vàng, bạc. chỉ, thiếc... Các sông chính: Sông Lô, Sông Gâm, Sông Chảy... Khí hậu nhiệt đới; nhiệt độ trung bình hàng năm 21,5°C, lượng mưa 1.600mm/năm. Tỉnh nông - lâm nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 270,4 nghìn tấn (lúa 220,5 nghìn tấn); khai thác gỗ 89,9 nghìn m3. Công nghiệp: vặt liệu xây dựng, thủy tinh, chế biến lâm sản, thực phẩm. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 431,5 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 2, 176, 279, 379. Là ưung tâm của Chiến khu Việt Bác, nơi Trung ương Đảng và chính phủ lãnh đạo cuộc KCCP (1941-45). Các địa danh lịch sử: đình Hồng Thái; An toàn khu Kim Quan, Yên Son: đình Tân Trào, nơi họp Quốc dân đại hội (13-16.8.1945) thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc (chính phủ lâm thời); khu rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của QĐND VN... (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67736962_465925387470680_5845693078198812672_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFEVpH994-yeDa318kzt3wXI-i7TVECHVbQ84zwP6Bg3hOub5h7hIR6n-finKu9h3LpplDspOVSpJuYNtSlXikT1HWAsspiFd_hjgACGHaY9g&_nc_oc=AQlCwcOB5cYuYaLjb3djTC0UFiqjP4SxuWHjAMdNMZ65yp4vNELy3u8njdQjN70J5mI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=70ca2c6f23e2c0b1e811ae10b042ff5a&oe=5DDEC320) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:52:15 pm TUYÊN TRUYỀN QUA BIÊN GIỚI, tuyên truyền được thực hiện trên lãnh thổ một nước nhưng gây tác động tới nước láng giềng; thường diễn ra trên biên giới đối địch, với nội dung thù địch. TTQBG là vi phạm hiệp định về quy chế biên giới và phá hoại an ninh biên giới quốc gia của nước láng giềng. Được tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp, bí mật hoặc công khai tác động qua nghe, nhìn hoặc bằng phương tiện vật chất; sử dụng các hình thức như: nói qua biên giới, thả truyền đơn, tranh ảnh (bằng máy bay, thả nổi trên sông suối), viết (vẽ) tranh (ảnh, khấu hiệu) sát đường biên giới quốc gia, thả hàng tâm lí chiến... TUYỂN QUÂN, lựa chọn những công dân trong diện được gọi nhập ngũ, có đủ tiêu chuẩn (về chính trị, đạo đức, sức khỏe, trình độ văn hóa...) vào phục vụ tại ngũ theo luật định. Thời bình, TQ định kì (mỗi năm 1-2 đợt) theo quyết định của chính phủ; thời chiến, kết hợp TQ với gọi nhập ngũ theo lệnh động viên. Khi TQ cần hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ giữa địa phương giao quân với đơn vị nhận quân; kết hợp nghiên cứu trên hồ sơ với gặp gỡ gia đình, chính quyền địa phương và trực tiếp từng người đổ đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đúng thời gian và đúng pháp lệnh. “TUYỂN TẬP LUẬN VĂN QUÂN SỰ”, sách (gồm 6 tập) tập họp những bài viết và đoạn trích bàn về QS từ các tác phẩm của Ăngghen, do Nhà xuất bản BQP LX tuyển chọn và xuất bản lần đầu 1936, bản Trung văn của Nhà xuất bản nhân dân Bắc Kinh phát hành 1957, Nhà xuất bản QĐND dịch ra tiếng Việt và xuất bản 1961, 1974, 1978. Nội dung trình bày những vấn đề lí luận cơ bản của chủ nghĩa Mác về chiến tranh và QĐ theo quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử như: nguồn gốc, bản chất của chiến tranh và QĐ; mối quan hệ và sự phụ thuộc của chiến tranh. QĐ vào kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, giữa chiến tranh, QĐ và chính trị; vai trò của quần chúng nhân dân và tướng lĩnh, của chế độ chính trị - xã hội, tinh thần binh lính và trình độ trang bị kĩ thuật của QĐ. Trên cơ sở tổng kết lịch sử tư tưởng quân sự và kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh, Ăngghen đã vạch ra các nguyên tắc khởi nghĩa vũ trang của giai cấp vô sản và bàn về nhiều vấn đề QS quan trọng khác như cơ cấu tổ chức, trang bị, huấn luyện và giáo dục của QĐ... “TTLVQS” đã trang bị cho giai cấp vô sản lí luận nghệ thuật QS sắc bén trong cuộc đấu tranh giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng, đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của khoa học QS Mác - Lênin. TUYẾN BÁO ĐỘNG PHÒNG KHÔNG, giới hạn quy ước, khi mục tiêu địch bay tới đó, bắt đầu báo động (thông báo) cho bộ đội (nhân dân) và các mục tiêu phải bảo vệ, kịp thời đánh trả và phòng tránh tiến công đường không của địch. Khoảng cách từ TBĐPK đến chỗ bộ đội (nhân dân) và các mục tiêu phải bảo vệ, phụ thuộc vào cự li phát hiện mục tiêu trên không, thời gian giữ chậm tình báo rađa, hướng bay, tốc độ bay của mục tiêu và cách truyền đạt báo động (thông báo), thời gian cần để thực hiện các biện pháp chuẩn bị chiến đấu và phòng tránh. TUYẾN BẮN của pháo binh. dải địa hình triển khai các phân đội (binh đội) pháo binh làm nhiệm vụ bắn ngắm trực tiếp tiêu diệt xe tăng (bộ binh) địch công kích (phản kích). Trẽn TB có thể chuẩn bị sẵn các trận địa bắn, SCH, vị trí quan sát (thông báo)... TB được chọn trên hướng dự kiến địch có thể công kích (phản kích) ở nơi các phân đội nhanh chóng và bí mật triển khai đội hình chiến đấu. TB được chiếm lĩnh theo lệnh của người chỉ huy. TUYẾN BẮT ĐẦU BẮN của xe tăng, 1) đường quy ước trên địa hình triển khai xe (phân đội) tăng để bắt đầu bắn... TBĐB thường chọn trên các hướng, mũi tiến công hoặc hướng địch có thể phản kích; nơi xe (phân đội) tăng có thể cơ động bí mật, nhanh chóng chiếm lĩnh và triển khai đội hình chiến đấu, đồng thời đảm bảo phạm vi quan sát và bắn cần thiết. Bề rộng, chiều sâu TBĐB phụ thuộc vào nhiệm vụ bắn và quy mô lực lượng phân đội bắn. Trên TBĐB có thể chuẩn bị sẵn các hầm bắn, phát quang xạ giới, tổ chức đài (tổ) quan sát, chỉ thị mục tiêu. Chiếm lĩnh TBĐB theo lệnh của người chỉ huy xe tăng (binh chủng hợp thành); 2) đường quy ước trên trường bắn (bãi tập) khi xe tăng tới đó mới được bắn để đảm bảo an toàn. TUYẾN CHUYỂN SANG CÔNG KÍCH của bộ đội binh chủng hợp thành, tuyến (dải) địa hình từ đó bộ đội binh chủng hợp thành chuyển sang đội hình chiến đấu để công kích địch. Có TCSCK của bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng. TCSCK do người chỉ huy cao nhất trong chiến đấu xác định, căn cứ vào ý định chiến đấu, địa hình, thời tiết, trạng thái hoạt động của địch và trang bị của bộ đội. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:53:33 pm TUYẾN ĐÁNH CHẶN mục tiêu trên không, tuyến quy ước trên không tương ứng với bề mặt địa hình (trên bản đồ), tại đó máy bay tiêm kích phải đánh chặn được mục tiêu quy định bay vảo tuyến đó. TĐC được xác định tùy theo yêu cầu bảo vệ mục tiêu mặt đất của ta, vùng hỏa lực phòng không trong chiến đấu hiệp đồng; vị trí trực ban chiến đấu, lượng nhiên liệu của máy bay tiêm kích; cự li phát hiện mục tiêu địch của rađa mặt đất và khả năng chỉ huy đánh chặn. TUYẾN ĐIỀU CHỈNH, đường quy ước trên địa hình nối liền các trạm điểu chỉnh đặt trên đường để kiểm tra, đôn đốc và chấn chỉnh việc chấp hành các quy định khi bộ đội qua đó. Có TĐC trong hành quân, TĐC vượt chướng ngại nước. TĐC còn là tuyến triển khai tiểu đoàn, đại đội, trung đội thành hàng dọc khi tiến công trong hành tiến. TĐC thường được bố trí sau 3-4 giờ hành quân ở đầu mối giao thông, các trọng điểm mà đối phương hay đánh phá, nơi ranh giứi các khu vực đường hành quân có quy định tốc độ khác nhau... Nhiệm vụ của các trạm trên TĐC: hướng dẫn cho bộ đội cơ động đúng đường, đúng hướng, đúng thời gian quy định, tránh ùn tắc; kiểm tra việc chấp hành các quy định khác (như ánh sáng, ngụy trang, tốc độ cơ động...). TĐC vượt chướng ngại nước thường được bố trí trên các đường nhánh hoặc đường ngang với cự li thích hợp để tránh hỏa lực bắn thẳng của đối phương, có nhiệm vụ hướng dẫn cho bộ đội xuống đúng bến vượt theo kế hoạch. TĐC thường do cán bộ tham mưu và phân đội cảnh vệ được trang bị các phương tiện cần thiết (máy thông tin, cờ, còi, đèn, loa. biển chỉ dẫn...) điều hành. TUYẾN ĐIỂU CHỈNH VẬN ĐỘNG, đường quy ước trên địa hình, nối liền các trạm điểu chinh đầu đường rẽ (ngã ba, ngã tư...), trước các trọng điểm đối phương hay đánh phá trên các đường dẫn đến khu vực tập kết hay triển khai chiến đấu để điều chỉnh đội hình vận động (đúng theo đường, hướng, tốc độ, thời gian) tránh ùn tắc; kiểm tra việc chấp hành các quy định trong vận động, truyền đạt các chỉ thị mệnh lệnh đến các đơn vị cơ động; chỉ dẫn những điểm cần thiết trên chặng đường sắp tới... Các trạm điều chỉnh vận động thường do cán bộ tham mưu và phân đội cảnh bị điều hành; được trang bị phương tiện thông tin và các loại biển chỉ dẫn. TUYẾN ĐIỂU CHỈNH VƯỢT SÔNG, đường quy ước trên địa hình, nối liền các trạm điều chỉnh trên các đường dẫn đến khu vực vượt sông để điều chỉnh việc cơ động bộ đội và phương tiện kĩ thuật đến sông theo kế hoạch. Trong TĐCVS có các trạm (vọng) điều chỉnh vận động đặt trên các đường nhánh hoặc đường ngang để điều chỉnh từng đơn vị xuống đúng bến, đúng đường. TĐCVS do cán bộ tham mưu và phân đội cảnh bị phụ trách, được trang bị các phương tiện thông tin và biển chỉ dẫn. TUYẾN ĐƯA VÀO TÁC CHIẾN, đường quy ước trên địa hình để lực lượng dự bị triển khai và bắt đầu tác chiến. TĐVTC do người chỉ huy xác định trong quyết tâm và được điều chỉnh trong quá trình tác chiến. TUYẾN ĐƯỜNG ỐNG XĂNG DẦU, hệ thống thiết bị dùng để vận chuyển xăng dầu trên cự li xa trong vận tải đường ống quân sự. Bao gồm các bể chứa xăng dầu, trạm máy bơm, đường ống dẫn và các phụ kiện (van hai chiều, van một chiều, van điều chỉnh áp suất, gioăng cao su, ngàm, ốp ngàm, ốp ống...) nối liên hoàn với nhau. Trên TĐÔXD có thể có nhiều trạm máy hoặc có kho trung gian. Thời bình để bảo đảm an toàn, đường ống xăng dầu thường dược hàn liền, chôn sâu; các trạm máy, kho đầu nguồn, kho cuối nguồn được xây dựng cố định. Trong điều kiện tác chiến, có thể sử dụng các bộ đường ống dã chiến (MT-100, MT-150) để triển khai các TĐÔXD bảo đảm cho từng hướng chiến dịch hoặc một số trận đánh trong một thời gian nhất định. Việc khảo sát, thiết kế, thi công một tuyến đường ống dã chiến (ị) 100, dài 100km có thể hoàn thành trong 7 tới 10 ngày. TUYẾN GIAO THÔNG TRÊN BIỂN, tuyến đi trên biển của tàu thuyền, được thiết lập giữa các cảng của một hay các quốc gia. Thành phần TGTTB gồm: các cảng, các tuyến đường biển nối chúng với nhau và hệ thống trang thiết bị hàng hải - thủy văn bảo đảm an toàn hành trình. Trong thời gian chiến tranh, bảo vệ các TGTTB của mình và phá hoại các TGTTB của đối phương là nhiệm vụ quan trọng của hải quân. TUYẾN HỎA LỰC pháo binh, đoạn địa hình mà hỏa lực pháo binh sát thương (phá hủy) mục tiêu địch theo nhiệm vụ được giao. Với các dạng hỏa lực đơn lẻ, hỏa lực tập trung, chặn, pháo binh có khả năng tạo ra các THL tương úng nhằm chi viện cho bộ đội binh chủng hợp thành trong chiến đấu. TUYẾN KHÓI. đoạn địa hình triển khai, bố trí các điểm khói theo một đường nhất định để khi thả khói hình thành dải khói nhằm ngụy trang, nghi binh các mục tiêu theo yêu cầu tác chiến. TK dược tạo thành từ các khí tài phát khói cô định, cơ động hoặc phóng (thả) từ máy bay, pháo binh; có thể là đường thẳng hoặc đường cong. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:54:52 pm TUYẾN NÉM BOM, tuyến quy ước trên không tương ứng với bề mặt địa hình, tại đó máy bay phải ném để bom rơi vào mục tiêu quy định. TNB được xác định tùy theo độ cao, tốc độ ném bom; phương pháp ném bom (bổ nhào, bay bằng, vọt cao, ném từng quả, ném loạt); đặc tính đường rơi, sức công phá, chế độ ngòi nổ của bom; đặc điểm của mục tiêu (diện, điểm, di động...) và khả năng tự bảo vệ của nó. Dự tính được TNB của đối phương sẽ đưa ra được những biện pháp đối phó cụ thể. TUYẾN PHÒNG NGỰ, dải địa hình do liên binh đoàn chiến dịch phòng ngự. TPN thường gồm một số dải phòng ngự: dải phòng ngự cơ bản (dải 1), dải phòng ngự phía sau (dải 2), ngoài ra có thể có dải (khu vực) tác chiến phía trước và các trận địa trung gian. Trên mỗi hướng chiến lược có thể có một số TPN. TUYẾN PHÓNG TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, giới hạn quy ước phải phóng tên lửa để tiêu diệt mục tiêu trong vùng sát thương. TPTLPK được thể hiện trên bản đồ hỏa lực và màn hình đài điều khiển tên lửa do máy tính tự động liên tục xác định, căn cứ vào tham số vận động của mục tiêu để phóng tên lửa. TPTLPK phụ thuộc vị trí trận địa hỏa lực, tầm bay của tên lửa, hệ thống điều khiển tên lửa, độ cao máy bay và các yếu tố ảnh hướng đến đường bay của tên lửa. TUYẾN QUÂN Y, tổ chức cứu chữa nằm trong hệ thống tổ chức cứu chữa, vận chuyển thương binh, bệnh binh. Mỗi TQY được giao những nhiệm vụ và phạm vi cứu chữa nhất định nhằm đàm bảo tính thống nhất, liên tục và kế tiếp trong việc thực hiện các biện pháp điều trị. Có các TQY: đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn... TUYẾN TRIỂN KHAI, dải địa hình mà các binh đội (phân đội) chuyển từ đội hình hành quân sang đội hình trước chiến đấu hoặc từ đội hình trước chiến đấu sang đội hình chiến đấu. TTK thường do người chỉ huy trung đoàn (sư đoàn) vạch ra và được người chỉ huy tiểu đoàn (đại đội) cụ thể hóa trên địa hình. TTK được xác định khi bộ đội tiến công trong hành tiến, trong chiến đấu tao ngộ, khi đưa lực lượng tiếp theo (lực lượng dự bị) bước vào tác chiến; trong phòng ngự, khi thể đội 2 (đội dự bị) tiến hành phản kích (phản đột kích), khi đội dự bị chống tăng, đội cơ động vật cản triển khai chiến đấu. TUYẾN TRIỂN KHAI ĐỔ BỘ, tuyến quy ước trên biển mà từ đó lực lượng đổ bộ bắt đầu chuyển từ đội hình hành quân sang đội hình đổ bộ. TTKĐB thường nằm ngoài tầm bắn hiệu quả của pháo bờ biển đối phương; cách tuyến xuất phát đổ bộ một cự li không nhỏ hơn chiều sâu đội hình đổ bộ. TUYẾN (VỊ TRÍ) XUẤT PHÁT XUNG PHONG, đường quy ước trên địa hình (hoặc khu vực) mà từ đó bộ đội bắt dầu tiến lên xung phong. T(VT)XPXP được chọn càng gần dịch càng tốt, đảm bảo cho bộ đội xung phong đồng loạt vào tiền duyên phòng ngự của đối phương đúng giờ quy định. TUYẾN XUẤT PHÁT, đường quy ước trên địa hình mà từ đó các đơn vị bộ đội bắt đầu cùng xuất phát thực hiện nhiệm vụ được giao. Có TXP hành quân, TXP vượt chướng ngại nước. TXP hành quân được xác định cách khu vực bố trí (tập kết) với cự li bảo đảm cho các phân đội (binh đội) đi đầu dàn đội hình và bắt buộc đầu đội hình của lực lượng chủ yếu qua tuyến đó đúng thời gian quy định. Khi vượt sông, TXP được chọn cách chướng ngại nước với cự li đảm bảo cho bộ đội triển khai đội hình vượt sông ở ngoài tầm hỏa lực bắn thẳng của đối phương từ bờ đối diện. TUYẾN XUẤT PHÁT ĐỔ BỘ, tuyến quy ước trên biển, để từ đó bắt đầu các đợt (sóng) đổ bộ xung phong vào bờ đổ quân và phương tiện chiến đấu. TXPĐB thường nằm ngoài tầm hỏa lực súng cối, súng máy và pháo bắn thẳng của lực lượng phòng ngự trên bờ. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:56:04 pm TUYNIDI (Cộng hòa Tuynidi; al-Jumhuriya at-Tunisiya, A. Republic of Tunisia), quốc gia ở Bác Phi. Dt 163.610km2; ds 9,92 triệu người (2003); phần lớn người Arập. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Arập, tiếng Pháp. Tôn giáo: đạo Hồi dòng Sunni. Thủ đô: Tuynit. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Lãnh thổ có nhiều núi, đỉnh cao nhất 1.544m, bắc là đồng bằng, trung tâm là cao nguyên, nam là sa mạc Xahara. Khí hậu cận nhiệt đới Địa Trung Hải, ở phía nam khí hậu sa mạc. Nước nông nghiệp, có ngành khai khoáng phát triển. Xuất khẩu dầu lửa. Du lịch thu nhiều ngoại tệ. GDP 19,99 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.070 USD. Thành viên LHQ (12.12.1956), Phong trào không liên kết, Liên đoàn các nước Arập, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 15.12.1972. LLVT: lực lượng thường trực 35.000 người (lục quân 27.000, không quân 3.500, hải quân 4.500), lực lượng bán vũ trang 12.000. Tuyển quân theo chế độ động viên, thời hạn phục vụ 12 tháng. Trang bị: 84 xe tăng chủ lực, 54 xe tăng hạng nhẹ, 69 xe thiết giáp trinh sát, 268 xe thiết giáp chở quân, 117 pháo mặt đất, súng cối các loại, 115 pháo phòng không, 73 tên lửa phòng không, 29 máy bay chiến đấu. 15 máy bay trực thăng vũ trang, 6 tàu tên lửa, 13 tàu tuần tiễu, 2 tàu đổ bộ... Ngân sách quốc phòng 429 triệu USD (2002). (https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67834433_465925397470679_3572956119284318208_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeEaqXQZoSvCUn4LDFHDzgmkQvrRWbAB36o3gIKfWdHCv2NU8i0JOUMVQ987lNhSOf6dlZ_tSpETEIfglewAONrRN1fqnWA5EX9BK56dtEf_ZA&_nc_oc=AQknz740gGzdiEpkTvrcCUHCKhP8E0Q1Nwjv3efuuULrNX2VZQBVugKuwVSG6HYddD4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ef4c9b5547c1ef0c60a051205c657e25&oe=5DD1BC8E) TƯ LỆNH, chức danh chỉ huy đơn vị (lực lượng) cấp chiến dịch và tương đương trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, được quy định tại sắc lệnh 14-SL ngày 12.3.1949 của chủ tịch nước VN DCCH (có hiệu lực từ 22.12.1948). TL là chức danh của người chỉ huy quân chủng, binh chủng, quân khu, quân đoàn và tương đương. Trước 1980 TL còn được dùng ở cấp sư đoàn. “TƯ MÃ PHÁP”, tác phẩm QS nổi tiếng thời cổ TQ, một trong “Vũ kinh thất thứ', ra đời khoảng giữa thời Chiến Quốc; tập hợp bài viết của các tướng lĩnh, trong đó có Tư Mã Nhương Thư. Hiện còn năm thiên: nhân bản, thiên tử chi nghĩa, định tước, nghiêm vi, dụng chúng. “TMP” gồm hai nội dung lớn: truy thuật binh pháp cổ, có giá trị sử liệu; phát triển tư tưởng học thuật QS về quan điểm chiến tranh (chiến tranh là nhằm mục đích chính trị, có chính nghĩa và phi nghĩa; năm yếu tố quyết định thắng bại của chiến tranh là thời cơ, lực lượng, sĩ khí, địa hình, vũ khí), về phép trị nước (gồm “sáu đức”: lễ, nhân, tín, nghĩa, dũng, trí, trong đó nhấn mạnh lấy nhân làm gốc, lấy lễ làm then chốt), về tư tưởng chiến lược, chiến thuật (biết sáng tạo giành chủ động và dựa trên so sánh lực lượng mà vận dụng chiến pháp)... Vì thất lạc nhiều, nên tác phẩm chưa thành hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN, quan điểm cơ bản chỉ đạo hoạt động tác chiến của LLVT. Những TTCĐTC cơ bản của LLVTND VN; tích cực tiến công, chủ động đánh địch, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta; mưu tri, sáng tạo, bí mật, bất ngờ; phối hợp ba thứ quân: tạo thế, tạo thời cơ, đánh chắc thắng; kết hợp tiêu diệt từng bộ phận với sát thương rộng rãi lực lượng địch; phát huy ưu thế chính trị tinh thần, chiến đấu anh dũng chiến thắng quân địch có vũ khí trang bị mạnh hơn; tập trung lực lượng hợp lí đồng thời phát triển cách đánh lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, tiêu diệt quân địch. TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ, hệ thống quan điểm, luận điểm của cá nhân, giai cấp, chính đảng về quân sự và các vấn để liên quan đến QS như: quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, chiến tranh và hòa bình, chính trị với QS, xảy dựng LLVT, xây dựng quốc phòng và tiến hành chiến tranh, nghệ thuật QS.„; một bộ phận của hệ tư tưởng, cơ sở tư tưởng của học thuyết quân sự. TTQS có tính giai cấp, chịu ảnh hưởng sâu sác của những điều kiện lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa của dân tộc và thời đại; đồng thời kế thừa tinh hoa TTQS của dân tộc và nhân loại; khi dược giai cấp, chính đảng chấp nhận sẽ trở thành một bộ phận cấu thành của đường lối quân sự, chính sách quân sự (xt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh). Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:56:35 pm TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH, tư tưởng của Hồ Chí Minh về những vấn đề có tính quy luật của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh CM, về quốc phòng và QĐ (LLVT) ở VN trong thời đại mới nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH ở VN; bộ phận quan trọng của tư tưởng CM Hồ Chí Minh, sản phẩm tổng hợp của quá trình vận dụng đúng đắn, sáng tạo lí luận QS của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn CM và chiến tranh CM VN, kế thừa và phát triển truyền thống QS của dân tộc VN, tiếp thu tinh hoa QS cổ, kim, đông, tây của nhân loại. “Dân là gốc” và “Dân làm chủ” là cốt lõi của tư tưởng CM và TTQSHơn; QS lấy chính trị làm gốc là quan điểm cơ bản trong TTQSHơn. Điều đó dược thể hiện trong các nội dung cơ bản sau: Một là, tư tưởng lấy bạo lực CM chống lại bạo lực phản CM, vì “chế độ thực dân tự bản thân nó là hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, nên nhân dân VN không còn cách nào khác là phải “dùng bạo lực CM chống lại bạo lực phản CM, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”; bạo lực CM VN là bạo lực của quẩn chúng nhân dân giác ngộ CM và dựa vào sức mạnh tổng hợp của quá trình kết hợp hai lực lượng (lực lượng QS và lực lượng chính trị), hai hình thức đấu tranh (đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị), kết hợp khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh CM... Hai là, tư tưởng về khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh toàn dân và quốc phòng toàn dân là nội dung cơ bản trong TTQSHCM. “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. “Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân”, “bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người VN thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu tổ quốc”, “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền... phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mĩ, cứu nước”. Toàn dân đánh giặc một cách toàn diện bằng mọi thứ vũ khí, trên mọi mặt trận, “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc...”, “mọi người dân VN... phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận QS, chính trị, kinh tế, văn hóa”. “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc”, phải chống cả “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, kết hợp xây dựng với bảo vệ, kết hợp giữa quốc phòng với an ninh và đối ngoại... để bảo vệ tổ quốc. Ba là, tư tưởng về xây dựng LLVTND, nét nổi bật là quan điểm “người trước súng sau”, phải trên cơ sở phong trào CM của quần chúng mà tổ chức và phát triển LLVT CM gồm nhiều thứ quân, lấy bộ đội chủ lực làm nòng cốt; QĐ phải “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, gắn bó với dân “như cá với nước”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “QĐ ta phải là một QĐND, một QĐ CM, tiến lên chính quy và hiện đại”; sức mạnh chiến đấu của LLVT là sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu tố tạo nên: chính trị, QS, trang bị, tổ chức, chỉ huy... trong đó chính trị được đặt lên hàng đầu; “cán bộ là quyết định”, đội ngũ cán bộ phải có phẩm chất CM “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Bốn lả, tư tưởng về cách đánh giặc mưu trí, linh hoạt, sáng tạo, xuyên suốt là tư tưởng tiến công. “Quân dân ta phải luôn gắng sức, luôn tiến công địch. Chỉ có tiến không có thoái”, “kiên quyết không ngừng thế tiến công”; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự “tấn công, phòng ngự không sơ hở”; ngay khi buộc phải phòng ngự thì cũng phải “là phòng ngự thế công”. Nét đặc sắc nữa là tư tưởng về nghệ thuật tạo lực, lập thế, tạo và chớp thời cơ; về quan hệ giữa lực, thế và thời, trong đó lực rất quan trọng, nhưng thế thắng lực, còn thời cơ là hệ quả vận động của thế và lực (cả chủ quan và khách quan), tạo được thời cơ và chớp được thời cơ thì giành thắng lợi “lạc nước hai xe đành bỏ phí. gặp thời một tốt cũng thành công”... Năm là, tư tưởng dựa vào dân để xây dựng căn cứ địa cách mạng và hậu phương của chiến tranh, “phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể diệt được ta”; coi trọng việc xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền CM; phải dựa vào các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, nhưng “nhân hòa” là quan trọng hàng đầu... TTQSHCM là cơ sở tư tưởng, lí luận trực tiếp của đường lối quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam và của nền khoa học QS VN hiện đại. TTQSHCM đã góp phần phát triển truyền thống quân sự Việt Nam lên một trình độ mới, một chất lượng mới và làm phong phú thêm lí luận QS của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:57:40 pm TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA QUÂN SỰ, từ điển quân sự tập hợp các khái niệm QS (biểu đạt bằng thuật ngữ) và tên riêng (tên sự kiện, tên người, tên đất...) để phục vụ người tra cứu hiểu rõ từng khái niệm, phạm trù, sự vật, hiện tượng, nhân vật. Nội dung mục từ ngắn gọn. thường gồm một định nghĩa (hoặc định tính, đối với tên riêng) và những giải thích nhằm làm rõ về khái niệm, phạm trù, sự vật, hiện tượng, nhân vật đó. Khác với từ điển ngôn ngữ là từ điển thu thập và giải thích về từ ngữ theo quan niệm thông thường, TĐBKQS (nói riêng về phần khái niệm thuật ngữ) là từ điển khái niệm chuyên ngành QS, tập hợp các tri thức QS và tri thức của các ngành khoa học có liên quan; các mục từ được lí giải theo đúng hệ thống các khái niệm, phạm trù của khoa học QS. Trong QĐND VN. “Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam” đầu tiên được xuất bản 1996 và cuốn này là cuốn thứ hai. Trên thế giới đã có: “Từ điển bách khoa quân sự Liên Xô” (1983, 1986), “Từ điển bách khoa quân sự Trung Quốc” (1991), “Đại từ điển giáo dục quốc phòng” TQ (1992)... TỪ ĐIỂN QUÂN SỰ, sách tra cứu cung cấp thông tin về các từ ngữ, thuật ngữ (khái niệm) QS. thường sắp xếp theo vần chữ cái hoặc theo chú đề. Theo phạm vi, có: TĐQS chung, TĐQS chuyên để và TĐQS chuyên ngành (từ điển chiến thuật, từ điển pháo binh, từ điển KTQS...); theo công dụng, có: TĐQS phổ thông, TĐQS dùng cho phiên dịch. TĐQS giáo khoa...; theo tính chất thông tin được cung cấp, có các loại: giải thích (tường giải), bách khoa, đối chiếu (dịch); theo ngôn ngữ, có các loại: một thứ tiếng, nhiều thứ tiếng. TĐQS đầu tiên của QĐND VN là cuốn “Từ điển giáo khoa quân sự Nga - Việt” (1982). Trong những năm 80 và 90 tk 20 QĐND VN đã xuất bản một số TĐQS như: “Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự” (1985), “Từ điển kĩ thuật quân sự” (1990), “Từ điển quân sự Trung - Việt” (1991), "Từ điển Việt - Lào quân sự” (1992), "Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam” (1996). Hiện nay TĐQS các loại đang được biên soạn ở một số cơ quan BQP, tổng cục, quân chủng, binh chủng của QĐND VN. TỪ HƯỚNG TIỀN (XU Xiangqian; 1901-90), nguyên soái (1955), bộ trưởng BQP nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1978-80). Người h. Neũ Đài, t. Sơn Tây (TQ); đv ĐCS TQ (1927). Năm 1924 tốt nghiệp khóa I, Trường QS Hoàng Phố. tham gia quân CM quốc dân. 1927 tham gia khởi nghĩa Quảng Châu. 1928-34 quân đoàn trưởng Quân đoàn 4; tư lệnh Phương diện quân 4, Hồng quân công nông Trung Quốc; chỉ huy các chiến dịch: Hoàng An, Thương Hoàng, Tô Gia Phụ... 1934-36 tham gia Vạn lí trường chinh, phó chủ tịch ủy ban QS Tây lộ quân. Trong chiến tranh chống Nhật, lãnh đạo phong trào du kích; xây dựng các căn cứ kháng chiến: Sơn Đông, Đắc Tô, Hoàn Bắc; quyền hiệu trưởng Trường quân chính kháng Nhật. Trong chiến tranh giải phóng, phó tư lệnh các quân khu: Tấn - Kí - Lỗ - Dự, Hoa Bắc; tư lệnh kiêm chính ủy mặt ưận Thái Nguyên, chỉ huy chiến dịch Giám Phần. Tấn Trung. 1949-54 tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Từ 1954 phó chủ tịch: Hội đồng quốc phòng khóa I-III, ủy ban thường vụ quốc hội. 1978-80 bộ trưởng BQP. 1966-87 phó chủ tịch: Quận ủy trung ương ĐCS TQ. Quân ủy trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khóa VI, phó thủ tướng Quốc vụ viện, ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa VII-VIII ủy viên BCT khóa VIII, XI và XII. Tác phẩm chính: “Nhìn lại lịch sử”. TỪ VĂN PHƯỚC (1936-73), Ah LLVTND (1967). Quê xã Tân Phước Thành, h. Tân Uyên, t. Bình Dương; nhập ngũ 1963; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là trung đội trưởng trinh sát đặc công bộ đội địa phương huyện Lái Thiêu, t. Bình Dương. 1963- 67 chiến sĩ đặc công, hoạt động ở miền Đông Nam Bộ. TVP xây dựng được nhiều cơ sở CM, vận động quần chúng nổi dậy đấu tranh diệt trừ ác ôn, phá ấp chiến lược ở nhiều xã thuộc vùng Lái Thiêu; chiến đấu 37 trận, diệt 266 địch (hơn 100 lính MT và Nam Triều Tiên), phá hủy 14 xe QS, đánh sập 2 cầu. 4 công sở của chính quyền Sài Gòn. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công (hạng nhát, hạng ba), 17 lần Dũng sĩ diệt Mĩ, diệt cơ giới. (https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67818743_465925407470678_5324103449384583168_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFgKR7dI3x0yWYoTsaP-Nb9hHKS9kjT9O4Ku_JOWz51rKwGNwN-hIHaF8rzup8LlB_5tdIRoedA9Rr1-OkKahiqxXGdVvcSaebHOZ9eYXkNTA&_nc_oc=AQmhUARwqtYs5Gpv_bm3dpVDq1inGEy7h3Vv0k2ER4YLGKZen_FrxrXaldrKG0XIbRU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0d035539965523edca2ccaeb7bcd13bc&oe=5DD05564) Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 04:58:53 pm TỬ GIÁC, khu vực địa hình nằm trong tầm hỏa lực của một vũ khí nào đó nhưng nó không thể bắn được vào khu vực đó vì vướng khối chắn. TG lớn hay nhỏ phụ thuộc vào kích thước của khối chắn và đặc tính đường đạn. Khối chắn càng lớn. đường đạn càng căng, thì TG càng lớn. Cg góc chết. TỬ SĨ, người đang phục vụ trong LLVT chết do ốm đau, tai nạn, công tác, chiến đấu,... chưa đủ điều kiện để xác nhận là liệt sĩ. TỨ GIÁC LONG XUYÊN, vùng đất ở phần tây bắc của đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa bốn thị xã: Châu Đốc, Long Xuyên (t. An Giang), Rạch Giá, Hà Tiên (t. Kiên Giang); dt 4.920km2 (10% diện tích đồng bằng sông Cửu Long). Thuộc ba tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ. 60% diện tích TGLX là đất phèn, mặn, chua mặn, 25% đất phủ sa, 140.000ha đất hoang hóa, 168.000ha cấy một vụ lúa nổi. TGLX có tiềm năng lớn về sản xuất lúa gạo, trở thành một trong ba vùng được nhà nước tập trung đầu tư cải tạo ở đồng bằng sông Cửu Long. Sản lượng lúa tăng từ 570.140t/năm (1987) lên 897.240t/năm (1989). TỰ ĐỘNG HÓA CHỈ HUY BỘ ĐỘI, quá trình tạo ra và sử dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ thông tin và các thiết bị tự động vào mọi khâu chỉ huy bộ đội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả chỉ huy. TĐHCHBĐ gồm: tự động hóa quá trình điều khiển vũ khí và tự động hóa chỉ huy tác chiến phù hợp với yêu cầu chiến tranh hiện đại. TĐHCHBĐ dựa trên những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, trong đó toán học và công nghệ thông tin là chủ yếu. TĐHCHBĐ đòi hỏi người chỉ huy và cán bộ tham mưu phải được huấn luyện chu đáo và tác phong công tác khoa học. TỰ ĐỘNG HÓA trong quân sự, hoạt động nghiên cứu ứng dụng các phương tiện kĩ thuật, thuật toán - kinh tế QS và hệ thống điều khiển nhằm tự động hóa từng phần hoặc toàn bộ việc chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí. Cấu trúc, tính năng, thành phần và mức độ tự động của hệ thống TĐH phụ thuộc vào chức năng của phương tiện chiến đấu và các phương pháp sử dụng chúng. Thành phần cơ bản hệ thống TĐH: máy tính chuyên dụng, hệ thống thiết bị thu nhận, phân tích, đánh giá, hạ quyết tâm, lập kế hoạch, giao và truyền dữ liệu. Lượng thông tin của các phương tiện giao tiếp phải phù hợp với khả năng con người và các phương tiện kĩ thuật. TỰ ĐỨC (Nguyễn Phúc Hổng Nhậm; 1829-83), vua thứ tư triều Nguyễn (1847-83), niên hiệu Tự Đức, miếu hiệu Dực Tông, con thứ hai vua Thiệu Trị. Lúc nhỏ được phong tước Phúc Tuy Công. 1847 lên ngôi vua lúc triều Nguyễn suy tàn. Bên ngoài, thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược. Bên trong, kinh tế đình đốn, tài chính kiệt quệ, quân lính bạc nhược, nông dân nhiều nơi nổi dậy chống triều đình. TĐ cho đàn ấp nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân tại Hải Dương và Sơn Tây; thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, cấm buôn bán, không thực hiện cải cách, canh tân đất nước. Khi thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng (1858), mở đầu xâm lược VN. TĐ và triều đình không đề ra được phương sách giữ nước có hiệu quả, chủ trương cầu hòa, kí thỏa ước nhương bộ cho Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Bộ. Có một số tác phẩm về thơ ca và tôn giáo. TỰ LỰC CÁNH SINH, phương châm chỉ đạo chiến lược chung trong KCCP, mà nội dung là "dựa vào sức mình là chính”, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Nắm vững phương châm TLCS. nhân dân VN đã vượt qua nhiều khó khàn đưa sự nghiệp CM và kháng chiến tới thắng lợi, đặc biệt là trong thời kì bị cách biệt với các nước anh em và phong trào CM thế giới. TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH, nguyên tắc sinh hoạt và quy luật phát triển của ĐCS VN nhằm: củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tăng cường đoàn kết thống nhất, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; ngăn ngừa sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, trình độ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên: chống chú nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lối sống vị kỉ... Tiến hành TPBVPB bằng cách: cấp ủy hay đảng viên tự kiểm điểm, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phân tích nguyên nhân, đề ra phương hướng về tư tưởng và hành động; tập thể góp ý, nhận xét giúp đảng viên và tổ chức Đảng nhận thấy ưu điểm để phát huy, kiên quyết sửa chữa sai lẩm, khuyết điểm. Nội dung TPB- VPB: đối với tổ chức đảng chủ yếu về quan điểm, đường lối, chính sách, chủ trương công tác; đối với cấp ủy và đảng viên là việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, trình độ nâng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. TPBVPB chỉ đạt kết quả tích cực khi được thực hiện thường xuyên với thái độ đúng đắn và phương pháp, hình thức phù hợp. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2019, 05:00:41 pm TỰ VỆ, bộ phận của dân quân tự vệ được tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (theo Pháp lệnh dân quân tự vệ, 2004). Có nhiệm vụ: bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản nhà nước và nhân dân ở cơ sở mình; chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giữ gìn trật tự trị an trên địa bàn. TV gồm những người có đủ tiêu chuẩn chính trị, sức khỏe, nam 18-45 tuổi, nữ 18-40 tuổi có nghĩa vụ tham gia TV. Lực lượng TV được tổ chức thành các phân đội chiến đấu và phân đội phục vụ với quy mô thích hợp; gồm lực lượng nòng cốt và lực lượng rộng rãi (xt dân quân). TỰ VỆ ĐỎ, lực lượng được tổ chức để bảo vệ, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chống áp bức, khủng bố của đế quốc Pháp và phong kiến Nam Triều, giữ gìn trật tự, trị an. bảo vệ chính quyền CM. Ra đời trong cao trào CM 1930-31, là LLVT ban đầu của Xô viết Nghệ Tĩnh, mầm mống của LLVT CM VN sau này. Đội viên TVĐ do đảng bộ địa phương lựa chọn từ các tổ chức quần chúng (công hội đỏ, nông hội đỏ, phụ nữ giải phóng, đoàn thanh niên cộng sản...). Tổ chức thành nhiều tiểu đội, trung đội, do các cấp ủy Đảng trực tiếp phụ trách. Số lượng đội viên lên tới hàng vạn (có hàng trăm đội viên nữ). Được trang bị búa, liềm, giáo, mác... (riêng đội tự vệ cảm tử huyện Can Lộc được trang bị một số súng). TỰ VỆ SAO VUÔNG X. “VIỆT MINH CARÊ” TƯỚC DANH HIỆU QUÂN NHÂN, hình thức xử phạt đối với quân nhân vi phạm kỉ luật quân đội nghiêm trọng, mất phẩm chất, đạo đức người quân nhân CM, không cho hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ gắn với tư cách quân nhân. Được quy định trong Điều lệnh quản lí bộ đội QĐND VN. Trung đoàn trưởng và chức vụ tương đương có quyền TDHQN đến binh nhất; sư đoàn trưởng và chức vụ tương đương có quyền TDHQN đến tiểu đội trường và đến thượng sĩ; bộ trưởng BQP có quyền TDHQN từ thiếu úy đến đại tá và quân nhân chuyên nghiệp có mức lương tương dương. Cg tước quân tịch. TƯỚC QUÂN HÀM SĨ QUAN. hình thức xử phạt sĩ quan vi phạm kỉ luật quân đội hoặc vi phạm pháp luật, không cho sĩ quan hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ gắn với cấp bậc quân hàm đó; trên mức giáng cấp bậc quân hàm, dưới mức tước danh hiệu quân nhân. Thẩm quyền TQHSQ thực hiện theo quy định của Luật sĩ quan QĐND VN. Tuỳ tình hình cụ thể sau khi hết hạn tù hoặc đã sửa chữa, có tiến bộ có thể được tiếp tục phục vụ trong QĐ và được xét phong quân hàm sĩ quan tương ứng với chức vụ được giao. TƯỜNG VI (Trương Tường Vi; S. 1938), nữ Nghệ sĩ nhân dân. nhạc sĩ. Quê tx Tam Kì, t. Quảng Nam; nhập ngũ 1954, trung tá (1984); đv ĐCSVN (1962). Nam 1954-56 y ta quân y. 1956- 92 diễn viên đơn ca Đoàn ca múa QĐ, biểu diễn thành công nhiều ca khúc: “Xa khơi”, “Cô gái vót chông”, ‘Tiếng đàn Ta Lư”, “Người lái đò trên sông Pô Cô”... Đã biểu diễn trên các sân khấu VN và quốc tế như: Lào, Campuchia, TQ, LX và một số nước Đông Âu, Mĩ Latinh... Huy chương vàng tại liên hoan giọng hát hay toàn quốc (1962). Huy chương vàng tại liên hoan ca nhạc quốc tế Xôphia (1968), liên hoan âm nhạc quốc tế Beclin (1973). Tác giả các ca khúc: “Phi đội ta xuất kích” (1969, giải nhì toàn quốc), “Quê hương anh là biển cả” (giải ba toàn quốc), ủy viên BCH Hội nhạc sĩ VN (1962-82), ủy viên BCH trung ương Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN (1962-82). Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhì, Lao động hạng ba, Kháng chiến hạng nhất... (https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68772323_465925420804010_4300681672677916672_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEdleuRiwadGHLxkrzOvIJvqvHGj5gklIloobYWxBZ-JgSfEnTk6uZyINoY3-JMCrGeLmMmqsghSIzFu58iQp1LOC3QF1rjXGT54Pi5FdcXFQ&_nc_oc=AQmtZAuHDZpvV797zVsciFdTdfRvn7Dslc6iVDBrXA6LSjy5CfF22nzvVOZMjhNrJww&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0d420e2f4951d1263d2c79b9cd2b1c4d&oe=5DEC3085) TƯỞNG ĐỊNH, văn kiện quân sự thế hiện hình thái ban đầu, ý định tác chiến, các tình huống phát triển tác chiến của h?; bên (ta và đối phương), để hướng dẫn hành động của người tập. Có TĐ dùng để diễn tập, TĐ dùng để tập bài. Căn cứ làm TĐ: đề mục, mục đích yêu cầu huấn luyện, biên chế, đặc diểm địch, ta, địa hình và các tình hình khác. Nội dung TĐ thường gồm: tình hình chung (nêu vắn tắt vị trí và tính chất hoạt động của bộ đội ta trên một cấp của đơn vị tập và các tin tức chung về đối phương); tình hình riêng (nêu tình hình cụ thể của hai bên); tình hình khác (hóa học, phóng xạ, trên không, trên biển, hậu cần...); nhiệm vụ của đơn vị tập và các đơn vị bạn có liên quan; các phụ lục (tài liệu) để tra cứu (phiên hiệu biên chế các bên, tình hình thiệt hại, các chỉ thị, thông báo của các binh chủng, quân chủng, các ngành chuyên môn, bảo đảm...). TĐ thường là văn bản, kèm theo bản đồ có chú thích. TƯỚNG GIỚI THẠCH (Jiang Jieshi, Chiang Kai-shek; 1887-1975), tổng tư lệnh (1926), đại nguyên soái QĐ Quốc dân đảng (1943). Người h. Phụng Hóa, t. Chiết Giang (TQ). 1907 tốt nghiệp Trường sĩ quan lục quân Bảo Định. 1908 học Trường QS Trấn Vũ (Nhật Bản). 1923-24 tham mưu trưởng QĐ Quốc dân đảng, hiệu trưởng Trường QS Hoàng Phố. 1925-26 Tôn Trung Sơn qua đời, TGT giữ chức chủ tịch Ban thường vụ BCHTƯ Quốc dân đảng, tổng tư lệnh QĐ Quốc dân đảng, chỉ huy chiến tranh Bắc Phạt, mở rộng thế lực và câu kết với CNĐQ. 12.4.1927 tổ chức đảo chính ở Thượng Hải, phá hoại hợp tác Quốc-Cộng lần thứ nhất, thành lập chính phủ Quốc dân đảng ở Nam Kinh. 1930-33 năm lần tiến hành “vây quét” vào căn cứ địa của ĐCS TQ, buộc Hồng quân công nông Trung Quốc phải tiến hành cuộc Vạn lí trường chinh (1934-36), rút về căn cứ Thiểm Tây. 1935-36 QĐ Nhật đẩy mạnh hoạt động xâm lược TQ, ĐCS TQ lại chủ trương Quốc-Cộng hợp tác, TGT không chấp nhận; sau sự biến Tây An (12.12.1936), TGT chấp nhận ngừng nội chiến và hợp tác với ĐCS để chống Nhật. Sau vụ Lư Câu Kiều (7.7.1937), TGT chỉ huy các chiến dịch: Tùng Lô, Thái Nguyên, Từ Châu, Vũ Hán. 10.1938 Vũ Hán thất thủ, TGT tham gia đánh một số trận với quân Nhật ở Nam Xương. 10.1943 chủ tịch chính phủ Quốc dân đảng. 6.1946 được Mĩ ủng hộ, TGT đưa 160 vạn quân tiến công toàn diện vào vùng giải phóng của ĐCS TQ. 1948 tổng thống Trung Hoa dân quốc. 1949 Quân giới phóng nhân dân Trung Quốc phản công giải phóng toàn bộ Đại lục. TGT rút chạy ra Đài Loan, tiếp tục làm tổng thống Trung Hoa dân quốc và tổng tài Quốc dân đảng đến 1975. Tác phẩm chính: ‘Toàn tập tướng công tiên tổng thống”. TƯỚNG LĨNH, gọi chung những sĩ quan có quân hàm cấp tướng và tương đương. Trong QĐND VN, TL bao gồm các cấp tướng của lục quân, hải quân, phòng không - không quân, bộ đội biên phòng và cảnh sát biển. Tiêu đề: Re: T Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 06:56:41 pm HẾT T |