Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:22:44 am



Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:22:44 am

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23125;image)

Tên sách: Kỷ niệm Cứu quốc quân
Tác giả: Thượng tướng Chu Văn Tấn
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 1971
Số hóa: macbupda

Cứu quốc quân là một trong những đội vũ trang tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ra đời sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn oanh liệt, trong những năm đen tối của nước nhà dưới ách thống trị thực dân tàn bạo của đế quốc Pháp, Nhật câu kết với bọn phong kiến phản động, Cứu quốc quân được Đảng lãnh đạo, được nhân dân che chở và nuôi dưỡng, đã tiến hành một cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng và gian khổ để «duy trì tiếng súng Bắc Sơn», để xây dựng căn cứ địa cách mạng, tiến tới khởi nghĩa toàn quốc. Từ năm 1944 Cứu quốc quân đã cùng với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chiến đấu, công tác, góp phần lập nên Khu giải phóng đầu tiên, tích cực chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Nhiều đồng chí trong đội vũ trang đó đã hy sinh anh dũng trong quá trình chiến đấu, nhiều đồng chí khác ngày nay đã trở thành những cản bộ lãnh đạo và chỉ huy xuất sắc của Đảng ta, của quân đội ta.

Đồng chí Chu Văn Tấn là một trong những người đã trực tiếp đóng góp vào những hoạt động vẻ vang của Cứu quốc quân, từ lúc nó mới ra đời. Đồng chí đã ghi lại nhiều mẩu chuyện về Cứu quốc quân được đăng rải rác trên các báo, hoặc đã in thành sách. Năm 1964, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã xuất bản cuốn «Một năm trên biên giới Việt — Trung » của đồng chí, ghi lại một chặng đường hoạt động của Cứu quốc quân, với sự giúp đỡ hết lòng của Đảng và nhân dân nước bạn.

Cùng với các quyển hồi ký khác mà Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã xuất bản, như quyển TỪ NHÂN DÂN MÀ RA của đồng chí Võ Nguyên Giáp,
DƯỚI NGỌN CỜ VINH QUANG CỦA ĐẢNG của đồng chí Song Hào, TỪ NÚI RỪNG BA TƠ của đồng chí Phạm Kiệt, quyển MỘT NĂM TRÊN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG của đồng chí Chu Văn Tấn đã giúp cho bạn đọc tìm hiểu về quá trình sinh trưởng rất gian khổ, nhung rất anh dũng, về truyền thống vẻ vang của các lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo rất tài tình và rất sáng suốt của Đảng ta.

Theo yêu cầu của bạn đọc muốn được hiểu Cứu quốc quân một cách đầy đủ hơn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã đề nghị đồng chí Chu Văn Tấn bổ sung tập hồi ký. Mặc dầu rất bận, đồng chí Chu Văn Tấn đã dành nhiều thời giờ và công sức để đáp ứng yêu cầu đó và đã trao lại cho chúng tôi quyển KỶ NIỆM CỨU QUỐC QUÂN.

Chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc, và vô cùng biết ơn đồng chí Chu Văn Tấn, cùng nhiều cơ quan, đặc biệt là Ban nghiên cửu lịch sử Đảng Trung ương, nhiều đồng chí và nhiều đồng bào ân nhân cách mạng đã góp sức, giúp chúng tôi ra tập sách này.


                                                                                                                                                                 
Tháng 11 năm 1971
NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:24:14 am
Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương, đi đôi với việc ban bố lệnh động viên, đế quốc Pháp thực hiện chính sách phát-xít, ra sức khủng bố cách mạng, thực hiện chính sách kinh tế thời chiến, vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của bọn phát-xít.

Trước tình thế biến chuyển, Đảng ta đã chỉ thị cho các cấp ủy và cán bộ, đảng viên đang hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp mau lẹ rút vào bí mật và giữ vững liên hệ với quần chúng, duy trì cơ sở và lực lượng ở thành thị, nhưng đồng thời chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôn thành căn cứ địa rộng lớn của cách mạng.

Tháng 5 năm 1940, phát-xít Đức tiến công nước Pháp. Hơn một tháng sau, bọn tư bản phản động Pháp đầu hàng phát-xít Đức. Nhân cơ hội Pháp thua Đức, bọn phát-xít Nhật liền nhảy vào Đông Dương, chiếm lấy miếng mồi béo bở mà chúng thèm khát từ lâu. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, phát-xít Nhật đem quân tiến đánh Lạng Sơn, đồng thời cho 6.000 quân đổ bộ lên Đồ Sơn (gần Hải Phòng). Sau vài trận thử sức ở vùng biên giới Việt —Trung, quân đội Pháp ươn hèn bỏ chạy. Tên toàn quyền Đờ-cu vội vã theo gương đồng bọn của chúng ở Pháp quỳ gối đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật.

Từ đây, nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù là phát-xít Pháp và phát-xít Nhật thống trị. Đứng trước tình hình đó, nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường là vùng lên đấu tranh để tự cứu mình.

Vùng Bắc Sơn — Võ Nhai, nơi có phong trào cách mạng từ lâu, cũng bị khủng bố. Một số đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Nhưng cơ sở Đảng và tổ chức cách mạng vẫn tồn tại và phát triển.

Khi quân Nhật đánh Lạng Sơn, quân Pháp rút chạy qua đường Bình Gia, Bắc Sơn, về Thái Nguyên. Hệ thống chính quyền của địch ở những vùng quân Pháp chạy qua đều lung lay dữ: tri châu Thất Khê bỏ trốn ; tri châu Na Sầm bị dân bắt; tên đại lý Pháp ở Bình Gia vứt cả súng đạn, bỏ đồn, chạy trốn. Khí thế cách mạng của quần chúng sôi sục. Nhiều người phục kích lính địch để cướp súng. Một số tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng, lính khổ xanh, khố đỏ ngả theo cách mạng. Một số đảng viên cộng sản người Bắc Sơn — Võ Nhai bị giam trong nhà tù Lạng Sơn từ năm 1939 như các đồng chí Nông Thái Long, Vương Văn Nè (tức Thánh), Ruệ, Đường Văn Thức, Đường Văn Tư, v.v. vượt ngục, thoát về. Các đồng chí này cùng với các đồng chí ở địa phương họp vào sáng ngày 27 tháng 9 năm 1940 để nhận định tình hình, quyết định phát động khởi nghĩa vũ trang, thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa, chỉ định Ban phụ trách đánh đồn Mỏ Nhài.

Ngay tối hôm đó, hơn sáu trăm người gồm đủ các dân tộc Tày, Dao, Nùng, Kinh... thuộc các xã Hương Vũ, Bắc Sơn, Tam Hoa, Chiêu Vũ, Trấn Yên, cùng một số tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng, lính khố đỏ ngả theo cách mạng, rầm rộ kéo tới nơi tập trung. Ngoài gậy gộc, giáo mác, quân khởi nghĩa có gần 30 súng trường.

Đúng 8 giờ tối, quân khởi nghĩa chia làm 3 mũi tiến công đồn Mỏ Nhài (tức châu lỵ Bắc Sơn). Cuộc khởi nghĩa bắt đầu. Sau hơn mười phút kịch chiến, tri châu và lính đồn chạy trốn, quân khởi nghĩa chiếm được châu lỵ.

Được tin chiến thắng, đồng bào các dân tộc nô nức kéo tới chân đồn Mỏ Nhài, họp thành một cuộc mít-tinh lớn. Đồng chí đại diện Ban chỉ huy khởi nghĩa báo cáo trước quần chúng kết quả trận đầu, tuyên bố xóa bỏ chính quyền đế quốc. Tức khắc, bao nhiêu sổ sách, giấy tờ, bằng, triện của địch được đem ra dốt ngay trước quần chúng. Ai nấy vô cùng sung sướng hò reo vang dậy.

Ngày 28 và 29 tháng 9, quân khởi nghĩa liên tiếp phục kích ở đèo Canh Tiếm và đèo Sập Rì, diệt hơn chục tên Pháp, trong đó có một quan ba, tước được một số súng.

Đứng trước cuộc khởi nghĩa, cả Nhật lẫn Pháp đều hoảng sợ. Do bản chất phản động của chúng, thực dân Pháp hòa hoãn với phát-xít Nhật để rảnh tay đàn áp cách mạng Việt Nam. Phát-xít Nhật cũng thấy lật đổ ngay thực dân Pháp chưa có lợi nên nhanh chóng thỏa hiệp với thực dân Pháp, dùng chúng làm công cụ đàn áp quân khởi nghĩa.

Thực dân Pháp cho quân chiếm lại đồn Bình Gia, đồn Mỏ Nhài. Quân khởi nghĩa phải rút vào rừng. Cuộc khủng bố trắng bắt đầu.

Được báo cáo về cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn trực tiếp lãnh đạo phong trào.

Trung tuần tháng 10 năm 1940, Ban chỉ huy Khu được thành lập do đồng chí Trần Đăng Ninh đứng đầu. Ban chỉ huy nêu cao khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật, tuyên bố giải tán ngụy quyền địa phương, tịch thu bằng, triện và đốt sổ sách của tổng lý, kỳ hào, thành lập đội du kích, diệt mật thám đầu sỏ, tuyên truyền giải thích chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng sẵn sàng đối phó với địch. Lực lượng du kích của ta lúc đó khá lớn, lấy vùng Đon Úy, Bó Tát, Sa Khao, Nam Nhi, Vũ Lăng... làm trung tâm khu căn cứ du kích.

Thực dân Pháp tập trung khoảng một trăm lính dõng chiếm đóng trường học Vũ Lăng, thực hiện âm mưu mở rộng khủng bố. Ngày 25 tháng 10 năm 1940, quân cách mạng chia làm hai mũi tiến đánh trường Vũ Lăng. Trước khí thế uy hiếp của quân cách mạng, lính địch bắn chỉ thiên vài phát, rồi tìm đường chạy trốn.

Ba hôm sau... Ngày 28 tháng 10 năm 1940, quần chúng cách mạng tổ chức một cuộc mít-tinh ở sân trường Vũ Lăng, chuẩn bị chiếm lại đồn Mỏ Nhài.

Sau khi nắm lại được một số lớn dõng và tổng đoàn, thực dân Pháp dùng bọn mật thám địa phương để dắt đội quân của tên Boóc-di-ê, chủ đồn điền ở Dinh Cả, và lính tập từ Mỏ Nhài đi theo đường tắt vào, đánh úp ta. Quần chúng cách mạng tản vào rừng. Đội du kích bị phân tán mỗi người một ngả.

Địch tiến vào Vũ Lăng, bắn giết quần chúng cách mạng, đốt phá làng bản. Chúng «sức» cho nhân dân phải «lập công chuộc tội», cắt đầu cán bộ nộp cho chúng. Bọn tổng, xã đoàn vác loa đi các làng, các xóm, các lân, đòi «Cộng sản» phải ra đầu thú chính phủ Pháp.

Tháng 11 năm 1940, Hội nghị lần thứ bảy của Trung ương họp. Thực tế của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn làm cho Đảng ta thấy rõ, dưới hai tầng áp bức, bóc lột của phát-xít Nhật — Pháp «một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập»(1). Tuy nước ta «chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng», nhưng trong điều kiện thế giới và trong nước hồi bấy giờ, cuộc cách mạng của nước ta có thể nổ ra bằng những cuộc khởi nghĩa địa phương ở những nơi có điều kiện (chẳng hạn như Bắc Sơn), tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Về vấn đề phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, sau khi nghe đồng chí Trần Đăng Ninh báo cáo, Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mệnh, tài sản của nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng, lấy vùng Bắc Sơn — Võ Nhai làm trung tâm, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

Đồng chí Hoàng Văn Thụ được giao trách nhiệm cùng các đồng chí ở địa phương thực hiện nghị quyết này.

*
*   *

Được sự chăm sóc của Trung ương, sau khi được tăng cường một số cán bộ ở trường quân sự Bắc Giang và ở vùng xuôi lên, đội du kích Bắc Sơn được tập họp lại. Ban chỉ huy khu du kích Bắc Sơn lúc này có anh Vân (một bí danh của đồng chí Hoàng Văn Thụ), anh Giáo (một bí danh của đồng chí Lương Văn Chi, tức Huy) và tôi; anh Vân phụ trách chung. Cơ quan Ban chỉ huy lúc đầu đóng ở Đon Úy (gần Vũ Lăng), sau rút dân dần về Vũ Lễ, Khuổi Nọi.

Thời gian này, với khẩu hiệu hoạt động bí mật, vũ trang tuyên truyền, đội du kích Bắc Sơn đã chia thành từng tổ, gây lại cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng. Phong trào luyện tập quân sự phổ biến ở khắp các xã. Giữa lúc ấy Ban chỉ huy khu du kích nhận được chỉ thị: chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới...


(1) Văn kiện Đảng (25-1-1939 – 2-9-1945) – Sự thật, Hà Nội, 1963 – Đoạn: B – Tình hình chính trị Đông Dương.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:27:26 am
I

Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, Trung ương đã nhiều lần cho cán bộ ra nước ngoài để chắp lại mối liên lạc với Quốc tế cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Việc đi ra nước ngoài lúc đó rất khó khăn. Có lần có đồng chí đã sang tới Long Châu (Trung Quốc) đợi hai tháng vẫn không gặp được liên lạc, lại phải quay về. Đi một mình đã khó, đi thành đoàn càng khó.

Sang đầu năm 1941, chúng tôi nhận được chỉ thị: tìm đường và bảo vệ Trung ương đi công tác. Mãi về sau tôi mới biết đây là một chuyến công tác hết sức quan trọng : các đồng chí đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ tám do Bác Hồ triệu tập.

Tháng 2 năm 1941, các đồng chí Sơn (Trường Chinh), Vân (Hoàng Văn Thụ), Chính (Hoàng Quốc Việt), Trần Đăng Ninh lên tới Võ Nhai. Qua làng tôi, các đồng chí nghỉ lại một thời gian. Sau, mọi người lên cơ quan của Ban chỉ huy khu du kích Bắc Sơn ở Khuổi Nọi để chuẩn bị thêm về mọi mặt.

Chính thời gian ở Khuổi Nọi, anh Vân cho biết quyết định của Trung ương : đổi tên Đội Du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân. Ý định này của Trung ương đã có từ cuối năm 1940. Đội quân khởi nghĩa đã được lọc lại qua mấy tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt nay còn lại vừa một trung đội.

Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Trung đội Cứu quốc quân I làm lễ chính thức thành lập ở khe Khuổi Nọi, bên một dòng suối nhỏ chảy giữa cánh rừng sâu của xã Vũ Lễ, giáp hai châu Võ Nhai và Bắc Sơn. Xế chiều, anh em đã tới đông đủ đứng trên nền nhà cũ của hai anh em Lô và Liêu. Từ Võ Nhai đến có Nông Thái Long, Nhì Phung và tôi, lúc đó lấy tên là Ba ; từ Bắc Sơn có các anh Bình, Quốc Vinh, Đường Văn Thức, Đường Văn Tư, Hoàng, Tần, Ruệ, Vẩn Sang, Hác Chắp, Phó Sáng ; ở xuôi lên có các anh Nguyễn Cao Đàm (tức Độ), Bình, Đắc, Bút, An (tức Hoàng Văn Thái), ông già Sính (tức Mạnh, quê ở Thái Bình), Lương Văn Chi (tức Giáo) v.v. Toàn đội gồm 24 chiến sĩ là cán bộ, đảng viên miền xuôi và miền ngược đã lớn lên trong Bắc Sơn khởi nghĩa, đã từng hoạt động trong đấu tranh sống chết với quân thù.

Suối rừng reo vui chào đón những người đi làm cách mạng từ bốn phương tụ hội ở đây. Anh Vân thay mặt Trung ương dự buổi lễ này.

Anh Vân là người dân tộc Tày ở Lạng Sơn. Anh tạng người gầy, nhưng đi núi quen, trèo đèo lội suối giỏi. Anh vẫn thường qua lại nhà tôi. Tôi coi anh như người anh trong nhà, vừa thân mật vừa rất tôn trọng, quý mến.

Với cử chỉ điềm đạm, ung dung, anh Vân bước ra trước hàng quân. Giọng sang sảng, anh nói đại ý :

— Chúng ta đang phải sống trong cảnh nước mất nhà tan. Tổ quốc chúng ta đang điêu đứng vì giặc Nhật, giặc Pháp. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tuy tạm thời thất bại, nhưng nó đã chứng tỏ tinh thần quật khởi của dân ta ngày một dâng cao, không gì dập tắt được. Cuộc khởi nghĩa đã tạo cho nhân dân ta một lực lượng vũ trang cách mạng. Chúng ta phải giữ gìn và phát triển vốn quý đó. Vì vậy Trung ương quyết định thành lập Đội Cứu quốc quân. Là Cứu quốc quân, các đồng chí phải nêu cao truyền thống của Quân du kích Bắc Sơn, chịu đựng gian khổ — Phải giữ bí mật cho tốt !

Về nhiệm vụ của Cứu quốc quân, anh Vân nêu rõ:

— Cứu quốc quân phải dùng hình thức vũ trang công tác, khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mệnh, tài sản của nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng, xây dựng căn cứ địa du kích. Cứu quốc quân sẽ là nơi để anh em các nơi khác tới học tập. Với vị trí quan trọng của Bắc Sơn, các đồng chí còn có nhiệm vụ bảo vệ các cán bộ Đảng qua lại vùng này...

Sau khi truyền đạt chỉ thị của Trung ương, anh Vân trao cho chúng tôi một lá cờ đỏ sao vàng có tua rất đẹp do phong trào của phụ nữ Hà Nội gửi tặng. Tiếp đó, anh Giáo đọc năm lời thề(1) của Cứu quốc quân. Rồi đến tôi thay mặt anh em, hứa «sẽ làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho... Cứu quốc quân không nề gian khổ, không ngại khó khăn, không sợ hy sinh, quyết tâm xây dựng phong trào lớn mạnh».

Buổi lễ xong, anh Vân và tôi trở về cơ quan. Dọc đường, anh Vân cho biết Trung ương chỉ định tôi vào Xứ ủy và nói rõ lần này các đồng chí Trung ương sẽ đi dự Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng và chúng tôi được giao phụ trách việc bảo vệ đoàn đi họp.

Tôi thuộc đường trên này như những đường chỉ trong lòng bàn tay mình. Vì cái công việc «ký ca-dát»(2) và làm gỗ để che mắt bọn mật thám địa phương đã đưa tôi đến những khu rừng sâu nhất, những con đường hẻo lánh nhất. Đồng chí Tài, cán bộ địa phương và đồng chí Lam, đội viên Cứu quốc quân người Lạng Sơn cũng được chọn đi làm nhiệm vụ này. Hai đồng chí đều là «thổ công» ở vùng các đồng chí Trung ương sắp phải đi qua.

Thật là vinh dự cho những người được chọn đi làm công tác đặc biệt này ! Chúng tôi vừa mừng vừa lo. Mừng là vì thấy được phụ trách một việc đầu tiên do Trung ương trực tiếp trao cho Cứu quốc quân: bảo vệ Trung ương đi dự một hội nghị có quan hệ đến vận mệnh cả nước. Lo vì biết trước đường đi sẽ rất gian lao nguy hiểm, phải trèo đèo lội suối, phải vượt qua nhiều đồn địch trong khi chúng đang tung hàng ngàn binh lính và mật thám bao vây. Nhất định bảo đảm an toàn cho các đồng chí Trung ương ! Tôi hứa với anh Vân :

— Chúng tôi quyết tâm bảo vệ Trung ương đi đến nơi về đến chốn.

Hạ thấp giọng, anh Vân nói :

— Đi lần này có thể gặp đại biểu quốc tế...

Trong lời nói ấy của anh tôi cảm thấy tràn đầy lòng tin tưởng và tình cảm thiết tha. Tôi bồi hồi nghĩ đến chuyến đi sắp tới. « Nhưng còn công việc ở nhà, ở đơn vị, nhất là đơn vị mới thành lập?». Như đoán biết nỗi băn khoăn ấy, anh Vân nói ngay :

— Trung ương chỉ định anh Chi ở lại phụ trách với nhiệm vụ tổ chức giữ con đường từ Bắc Sơn về Đình Cả và huấn luyện đơn vị Cứu quốc quân. Tôi đã nói chuyện với anh Chi.

Anh Chi — mà chúng tôi thường gọi là anh Giáo — đã từng cùng anh Vân ra hoạt động ở nước ngoài. Anh có học ở Học hiệu quân sự ở Trung Quốc. Chúng tôi đã được anh dìu dắt, chỉ bảo nhiều về chính trị, quân sự. Cũng vì thế chúng tôi gọi anh là anh Giáo. Anh là người Tày, mắt một mí, sống mũi cao, vóc người anh nhỏ nhắn, rõ ra dáng «văn nhân». Tuy nhiên, tác phong của anh lại rất mạnh mẽ, nhanh nhẹn, rất quân sự...

Chuyện trò, suy nghĩ dọc đường, về đến cơ quan lúc nào không hay. Ở nhà, anh em đang đan sọt để chuẩn bị lên đường...


(1) Năm lời thề là: - 1. Không phản Đảng; - 2. Tuyệt đối trung thành với Đảng; - 3. Kiên quyết chiến đấu và trả thù cho các đồng chí đã hy sinh; - 4. Không hàng giặc; - 5. Không hại dân.
(2) Làm việc đo đạc


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:28:23 am
*
*   *

Đoàn đi có chín người: bốn đồng chí Trung ương là anh Sơn (Trường Chinh), anh Vân (Hoàng Văn Thụ), anh Chính (Hoàng Quốc Việt) và anh Trần Đăng Ninh, anh em thường gọi là anh Đầu to; một đại diện Xứ ủy Trung Kỳ (đồng chí San), một đại diện Xứ ủy Nam Kỳ (đồng chí Thảo); đi dẫn đường và bảo vệ có đồng chí Tài, cán bộ địa phương ; đồng chí Lâm, đội viên Cứu quốc quân và tôi.

Hành lý là mấy đôi sọt đựng quần áo, trong để tài liệu bí mật. Lương thực là mấy đấu gạo nếp rang thật khô. Vũ khí của tôi là một loại súng đặc biệt: súng Dóp tháo báng, chỉ có ổ súng và nòng không, với một băng đạn 5 viên. Tôi chuẩn bị sẵn hai cái khăn tay để khi bắn lót tay cho khỏi nóng. Ban ngày cả súng đạn đều giấu trong cái chăn dạ cuộn tròn vào đòn gánh. Anh em chúng tôi lúc đi bí một, lúc giả dạng lải buôn đi công khai lên Thất Khê rồi đi đêm ra biên giới.

Chúng tôi khởi hành vào một buổi chiều vài hôm sau lễ thành lập Đội Cứu quốc quân. Xuyên khu rừng Vân Hạ. Đến tối mịt thì vượt qua bản Loòng, theo đường núi đá tai mèo lởm chởm xuyên qua xóm Phie Khao đến Bó Tát, một xóm đầu xã Vũ Lăng, nằm trong khu vực cơ sở của ta. Đoàn nghỉ lại ở đây mấy hôm để điều tra lại đường, nắm thêm tình hình: từ đây trở đi là vùng chưa có cơ sở cách mạng, lính địch hay đi tuần. Phải đi gấp làm sao trong một ngày đêm từ Bó Tát đến bến sông Văn Mịch. Chặng đường này dài, phải qua mấy cây số đường cái lớn Bắc Sơn — Bình Gia, lại phải qua mấy làng Bản Quế, Bản Sao, Vạn Thủy, Rạng Mông có nhiều tay sai địch hay sục sạo.

Từ Bó Tát đi qua Nà Tởu, qua Lũng Chỏn, chúng tôi ngồi nghỉ ở ven rừng, chờ cho tối thật lâu mới qua Bản Quế rồi qua quãng đường cái lớn, rẽ vào đường đi Bản Sao, Vạn Thủy. Mọi người rất mừng vì qua được một đoạn đường nguy hiểm. Nhưng ai cũng thấy mệt. Anh Ninh, người yếu sẵn, bắt đầu lên cơn sốt...

Hôm ấy trời tối đen như mực. Đồng chí Tài đi trước dò đường, còn tất cả bám sát nhau, người đi sau nắm áo người đi trước hoặc bíu vai nhau mà đi. Mấy đồng chí dưới xuôi lên không quen đường rừng, chập choạng, vấp ngã luôn. Đến mỗi ngã ba, tôi phải chạy lên chạy xuống chờ cho mọi người đi hết rồi mới bước theo sau.

Chúng tôi sẽ phải qua Rạng Mông : Đây là quãng nguy hiểm nhất, chỉ có độc một con đường qua giữa bản, hai bên là núi đá. Trong bản này có nhiều lý dịch phản động. Ở chỗ này mà lộ thì không có đường chạy. Chúng tôi phải ngủ lại trên một đỉnh núi cao nằm dọc đường đi Rạng Mông để ngày hôm sau vượt chỗ nguy hiểm này.

Hôm sau, sắp sửa vượt được Rạng Mông đã nghe có tiếng gà gáy. Tim tôi hồi hộp: sắp sáng rồi. Đồng chí Tài chắc cũng sốt ruột như tôi. Tài nói nhanh trong hơi thở gấp :

— Mau lên, các đồng chí ! Sáng thì khó khăn đấy !

Anh Ninh lúc này người nóng như hòn than hồng. Anh đang lên cơn sốt, một cơn sốt ghê gớm, nhưng anh vẫn bám theo người đi trước. Anh Chính thì đau chân, bước thấp bước cao, đi rất vất vả. Nhưng biết rằng nhanh một phút là đỡ nguy một phút nên ai nấy đều dồn hết sức xuống hai chân, cố bước cho thật mau, mắt mở to quan sát bốn phía. Một giờ sau, qua được Rạng Mông !

Sáng sớm, chúng tôi vào rừng thay quần áo vì sau một đêm làm bạn với đường trơn, dốc cao, quần áo rất bẩn. Xong lại tiếp tục đi ngay. Dọc đường có các bản xóm lẻ tẻ, gặp nhiều người qua lại: chúng tôi chia ra làm hai tốp đi cách nhau. Anh Vân, anh Tài, anh Lâm và tôi vờ nói chuyện làm ăn bằng tiếng địa phương; các đồng chí khác, nhất là hai đồng chí Trung Kỳ và Nam Kỳ thì đành im như hạt thóc. Vì đây là khu người Nùng ở. Nói tiếng Kinh bình thường đã lộ rồi, huống hồ lại nói tiếng miền Trung thì càng lộ !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:29:15 am
Chiều hôm đó, chúng tôi đến được bến Pác Cáp là ngã ba sông Văn Mịch. Đoàn vào nhà hai đồng bào Nùng làm ruộng có quen biết đồng chí Tài ít nhiều. Gia đình này vui vẻ xếp chỗ cho nghỉ rồi giúp chúng tôi làm cơm ăn. Anh Ninh đã ốm lại phải đi bộ suốt ngày đêm trong rừng núi dầm sương dãi gió, bây giờ sốt li bì, không ăn được. Chúng tôi đều rất lo ngại: đường còn dài, sợ anh Ninh bệnh càng nặng thêm...

Tài đi dò đường gặp đồng bào cho biết tụi châu đoàn thường lùng sục từ Pác Cáp đi Pò Có. Như vậy là đường bộ không thể đi được. Các đồng chí Trung ương quyết định đi đường sông để tránh nguy hiểm. Từ đây bắt đầu phải đi mảng dọc con sông Văn Mịch cho tới cầu Bản Trại (Thất Khê). Đi dọc sông có cái lợi là ít đồn địch, ít qua làng, đỡ nguy hiểm hơn đường bộ. Đồng chí Tài rất thông thuộc con sông này, nhớ từng mỏm đá, từng con thác. Đến chiều, chúng tôi kiếm được bốn cái mảng nhỏ, mỗi cái là mấy cây nứa ngộ(1), dồn lại thành hai mảng to, một cái chở bốn người, một cái năm người. Đồng chí Tài chặt ít cây xếp ngang hai lượt lên trên mảng thành một chỗ cao ráo cho anh Ninh nằm khỏi ướt.

Sâm sẩm tối, chúng tôi xuống mảng. Lại nảy ra vấn đề: Ai chở mảng? Chở giỏi chỉ có đồng chí Tài. Tôi thì không thạo lắm. Bàn tính một lúc rồi phân công: mảng trước đồng chí Tài chở, đồng chí Lâm đứng đằng đuôi. Mảng sau tôi chở, anh Vân đứng đuôi. Tôi vừa chở vừa bảo vệ. Bốn chân sào không có người thay đổi.

Là một người có nhiều kinh nghiệm trên sông nước, đồng chí Tài bảo chúng tôi :

— Nhỡ có bị lật thì cứ bám lấy mảng, không được bỏ mảng mà bơi. Bỏ mảng, nước cuốn mình đi mất!

Con sông Văn Mịch có nhiều mỏm đá, nhiều thác, nhiều ghềnh, vòng đi vòng lại quanh co. Hai cái mảng đi trong đêm tối luôn luôn bập bềnh, nghiêng ngả. Mỗi lần mảng va vào sườn núi, người ngồi trên mảng xô đi xô lại, đổ xiêu đổ vẹo. Mỗi lần qua thác là một lần thử thách. Cuộn nước réo ào ào. Dòng nước ánh mây trời đêm vẫn lang láng. Hai cái mảng tựa như hai chiếc lá trên dòng sông. Mảng tôi theo vột mảng đồng chí Tài. Đứng chở mảng, luôn tay luôn chân, căng mắt ra mà nhìn phía trước mới thấy được tài chèo chống, cưỡi sóng của đồng chí Tài: cái bóng người thâm thấp, mập, ngày thường trông không có gì đặc biệt, nay trông vững chãi, đĩnh đạc, đôi chân nhún lên nhún xuống theo sóng nước bồng bềnh. Mỗi lần sắp qua thác, anh Tài lại làm hiệu cho chúng tôi. Nhiều đồng chí phải cúi rạp xuống, níu chặt lấy cây nứa ngộ. Sóng réo ồ ồ, mảng vục xuống nước lại chồm lên. Nước xô ào ào, ào ào...

Cứ đi như thế đến nửa đêm thì tới một bến cách đồn Văn Mịch độ vài trăm thước. Để tránh đồn Văn Mịch ở ngay vệ sông, chúng tôi chuyển lên bờ đi bộ vòng qua một làng nhỏ, theo đường cái, vượt lên núi, rẽ xuống Hát Quang. Còn đồng chí Tài chống hai mảng làm một, chở anh Ninh theo dọc con sông đến Hát Quang chờ sẵn.

Đường vòng chỉ hơn một cây số mà thật là vất vả. Nửa đôm, không ai quen đường, vừa đi vừa dò dẫm theo lời đồng chí Tài dặn. Lúc qua sát làng, ai nấy nín thở, rón rén cho nhẹ bước. Gần một tiếng đồng hồ sau mới tới Hát Quang. Men xuống sông đã thấy đồng chí Tài ngồi chờ sẵn. Chúng tôi mừng quá, vừa bước chân xuống mảng vừa hỏi «Có anh Chính chưa?». Thường chúng tôi rất lo cho anh Chính : mắt anh kém, chân tập tễnh, độ này anh lại không được khỏe. Điểm lại thấy thiếu anh Chính thật. Cả đoàn đều hoảng sợ. Không khí im lặng quá, tôi nghe cả tim mình đập thình thình. Các đồng chí cử tôi và đồng chí Lâm đi tìm.

Mò mẫm một hồi lâu hết bụi này bụi khác không thấy, hai chúng tôi lại quay về mảng báo cáo. Mọi người thất vọng, nhìn nhau, cổ nghẹn như muốn khóc. Có đồng chí nêu ý kiến :

— Chờ đến sáng ở chỗ này nhất định là lộ. Sẽ hỏng toàn bộ công việc lớn. Hay là đành...

Nhưng các đồng chí Trung ương quyết định để tôi đi tìm một lần nữa. Anh Vân nhắc thêm tôi :

— Dù nguy hiểm cũng cố tìm cho được !


(1) Nứa to.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:29:54 am
Tôi coi đó là một chỉ thị. Thêm nữa cái tình giữa người cách mạng với nhau, sự giúp đỡ tận tình của anh Chính đối với phong trào ở Bắc Sơn đã đem lại cho tôi thêm sức và thêm trí minh mẫn. Tôi nhớ lắm. Từ những ngày mà bầu trời và núi rừng Bắc Sơn còn âm u tăm tối, anh Chính đã đến vùng tôi. Anh là người miền xuôi, thế mà đi vào đâu, dù nơi đó là vùng người Tày, người Nùng hay người Mán , anh vẫn đứng vững chân ở chỗ rừng núi tưởng như khó khăn hết sức ấy. Anh làm công tác quần chúng đối với các vùng dân tộc ít người còn giỏi hơn cả chúng tôi nữa. Khi phong trào ở Đình Cả được đẩy mạnh, anh còn cùng chúng tôi vào Tràng Xá rồi xuống huyện Đại Từ, đến La Bàng để xây dựng cơ sở...

Tôi quay vào con đường vòng, dò đến tận bến đằng kia, chỗ ở mảng bước lên bờ. Đến một ngã ba có lối rẽ vào làng, tôi nằm phục xuống đất nghe ngóng : có tiếng chó sủa gióng một ! Đoán là có người ở phía hàng rào, tôi bò thẳng tới. Khi còn cách rào độ dăm chục bước thấy có bóng người trong bụi cây, tôi tắc lưỡi làm hiệu. Có tiếng tắc lưỡi trả lời. Đúng rồi ! Đúng người của ta rồi !

Mừng hết chỗ nói, tôi bò nhanh tới, nắm lấy cánh tay thân thiết, khẽ kêu lên :

— Ấy, ấy! Anh Chính !... Các đồng chí chờ anh muốn nổ con mắt đấy !

Rồi để khỏi chậm và khỏi lạc lần nữa, tôi vừa xốc anh Chính lên lưng vừa nói: «Mau lên! không anh em chờ!». Tôi cõng anh chạy thẳng một mạch về phía mảng.

Anh em đang nóng lòng chờ. Thấy anh Chính và tôi về, mọi người hoạt bát hẳn lên. Có đồng chí quên cả có địch ở gần, vỗ tay hoan hô. Tiếng vỗ tay vang đi rất xa. Có tiếng xuỵt xuỵt khe khẽ, nhắc mọi người phải giữ bí mật.

Đồng chí Tài giục mọi người xuống mảng. Anh em chẳng kịp hỏi gì thêm nữa, vội vàng chèo chống đi ngay, cho mau ra khỏi khu vực đồn Văn Mịch trước khi sáng rõ.

Cả ngày hôm sau vẫn đi trên mảng. Người nào cũng mệt bã. Nhất là mấy chân sào suốt ngày suốt đêm không được nghỉ tay phút nào. Mệt thì mệt, lo thì lo, nhưng vẫn vui. Đến mỗi khúc sông vắng, đồng chí Sơn bảo ai biết bài hát nào thì hát cho vui hoặc kể chuyện. Anh Vân kể nhiều mẩu chuyện rất lý thú trong cuộc Vạn lý trường chinh và các trận Giải phóng quân Trung Quốc đánh Nhật. Hai đồng chí Trung Kỳ và Nam Kỳ hát mấy bài ca cách mạng. Tôi cũng hát mấy bài hát dân tộc. Riêng anh Ninh vẫn sốt li bì và chỉ đòi uống nước. Thỉnh thoảng anh em hỏi thì anh vẫn trả lời trong hơi thở nóng hồi: «Còn cố được, cứ đi!», hoặc: «Mệt lắm, nhưng còn đi được »... Nghe anh Ninh nói, tôi rất xúc động. Anh đang phải vật lộn với cơn sốt oái oăm và ác nghiệt. Đối với phong trào Bắc Sơn, anh Ninh cũng là một đồng chí đã góp nhiều công sức và vực được phong trào dậy, xây dựng được khu du kích vững mạnh. Giữa lúc Bắc Sơn gặp khó khăn, Đảng đã phái anh đến dìu dắt chúng tôi và đã tham gia đắc lực vào việc tổ chức đội Du kích Bắc Sơn.

Chiều hôm ấy, mảng chúng tôi ghé bờ, vào nhờ một gia đình ở ven sông nấu cơm. Hai ông bà chủ nhà rất tốt, sốt sắng giúp đỡ. Cơm xong lại xuống mảng đi ngay để kịp tới Bản Trại vào nửa đêm. Qua Bản Trại vài cây số là lối tắt lên biên giới...

Gần đến bến phà Bản Trại, trời bỗng đổ mưa to gió lớn. Mảng lao trong hai tầng nước đều lạnh giá. Gió nhiều lúc cứ như muốn bốc mảng lên khỏi mặt sông mà ném ra xa. Anh em cứ bíu chặt lấy mảng, mặc cho trời nước chụp lên đầu mình những khối nước kinh người. Mấy đồng chí yếu, rét run cầm cập.

Hai chiếc mảng cập bến hữu ngạn Bản Trại thì anh Ninh lịm hẳn: gọi không thưa, chân tay anh lạnh giá. Biết anh Ninh không thể tiếp tục đi được nữa, các đồng chí Trung ương quyết định để anh quay trở lại. Chúng tôi bày cho đồng chí Tài cõng anh Ninh vào cấp cứu ở một cái lều coi bắp trên nương ngay gần đấy rồi tìm cách đưa anh về xuôi. Chúng tôi bỏ mảng, đi bộ. Từ đây lên biên giới, anh Vân và anh Lâm đều rất thuộc đường.

Trời vừa mưa vừa gió. Phải từ biệt anh Ninh, các đồng chí đều khóc. Nước mắt tôi chảy ra, bùi ngùi thương xót anh, lo anh khó qua khỏi được. Qua bao nhiêu chặng đường gian khổ, không ngờ đến đây anh phải quay trở lại!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:31:01 am
Đồng chí Tài chở mảng đưa anh Ninh sang tả ngạn. Chúng tôi nhìn dòng sông và chiếc mảng mảnh dẻ trong mưa gió, lòng thắt lại. Nhưng chúng tôi rất tin ở tài đi trên sông nước của anh Tài. Mảng đã cập bờ. Chúng tôi trông theo từng cử động của anh: anh nhẹ nhàng xốc anh Ninh lên lưng và cõng anh đi lên nương bắp...

Đồng chí Tài cõng anh Ninh đi rồi, chúng tôi mới lên đường. (Mấy tháng sau, chúng tôi trở về Võ Nhai hỏi tin tức về đồng chí Ninh, các đồng chí ở đây cho biết là nhờ sự tận tâm của đồng chí Tài và sự săn sóc của đồng bào, anh Ninh đã khỏe hẳn và đã lên Võ Nhai tìm Trung ương mấy lần).

Qua Bản Trại độ 3 cây số là đường rẽ lên biên giới. Vượt qua bót dõng Pác Cam, độ ba giờ sáng tới Kim Lỵ, Nà Khau, Nà Kẻ là vùng cơ sở của anh Vân. Đến xóm Nà Cại, còn 10 cây số nữa thì lên đến biên giới Việt—Trung. Ông chủ nhà thấy anh Vân đến và biết chúng tôi là cán bộ của Đảng thì rất vui mừng, hỏi hết chuyện này chuyện khác. Ông lấy nước cho uống rồi mở thùng lấy mật ong mời chúng tôi ăn cho đỡ mệt. Biết đây là chỗ tin cậy được, các đồng chí Trung ương lấy tài liệu bị nước mưa làm ướt ra sấy ở bếp lửa, vừa hơ vừa nói chuyện với ông chủ nhà. Máy đồng chí mệt quá không kịp thay quần áo, cứ thế lăn ra ngủ.

Tối hôm sau chúng tôi lại đi. Đoàn rẽ vào thăm làng Kim Lỵ, một làng cơ sở tốt. Quần chúng ở đây phần lớn là dân tộc Nùng và Tày. Thấy đồng chí Vân và chúng tôi về, họ kéo đến thăm rất đông. Gia đình nào cũng muốn đồng chí Vân ở lại ít ngày. Khi biết chúng tôi có việc cần đi ngay, đồng bào rất quyến luyến, chúc chúng tôi đi được may mắn. Cuộc gặp gỡ với đồng bào ở đây làm chúng tôi cảm động và tăng thêm tinh thần hăng hái, phấn chấn.

Từ đây đi toàn là đường leo núi. Song chúng tôi chẳng coi mùi mèn gì...

Đêm khuya lờ mờ. Đồi cỏ xen lẫn với núi non trùng điệp. Quá nửa đêm thì tới một đỉnh núi cao, có cái mốc đá phân chia địa giới Việt—Trung. Thế là sau bốn ngày đêm liên tục đi bộ rồi đi mảng, qua bao nhiêu lo lắng, vất vả, đoạn đường nguy hiểm nhất đã vượt. Mọi người thấy phấn khởi hẳn lên, cười nói vang vang.

Chúng tôi đến Bản Khiếc, một làng Trung Quốc ở sát biên giới. Bà con nông dân Bản Khiếc đối với chúng tôi thật là thân thiết. Thấy anh Lý (một bí danh khác của đồng chí Hoàng Văn Thụ) và chúng tôi đến, họ tiếp đón rất ân cần, hỏi thăm tin tức cách mạng Việt Nam, chuyện trò tíu tít. Bà con tổ chức làm thịt ngay một con ngựa để thết đãi. Khi các anh tỏ ỷ không muốn để nhân dân tốn kém thì họ nói:

— Chúng tôi ăn nhiều, chứ các anh ăn được bao nhiêu mà lo!

Anh Lý có cảm tình đặc biệt với nhân dân vùng này. Ai gặp anh cũng quý mến. Anh quán xuyến mọi công việc liên lạc với địa phương, tìm cách xin được giấy thông hành đi Long Châu.

Nghỉ lại bản Khiếc mấy ngày, chúng tôi lại lên đường. Đến Long Châu, lại liên lạc với các đồng chí địa phương tìm cách xin giấy đi Tĩnh Tây. Tất cả mất 5 ngày đường ròng rã. Dọc đường có mấy điều làm tôi rất chú ý: một là đời sống nhân dân Trung Quốc rất khổ cực, tình hình khá phức tạp. Chúng tôi không dám đi đêm. Đâu đâu cũng thấy nhân dân kêu ca, oán giận bọn Quốc dân đảng áp bức bóc lột, và khao khát Đảng Cộng sản như hạn hán chờ mưa. Hai là tinh thần cách mạng của nhân dân Trung Quốc rất cao. Đi qua chỗ nào cũng gặp những quần chúng cách mạng tốt. Nhân dân những vùng này hiểu khá nhiều tình hình cách mạng Việt Nam, thấy chúng tôi thì quý mến và nhiệt tình giúp đỡ.

Đến Tĩnh Tây, chúng tôi mới biết địa điểm hội nghị không phải ở Trung Quốc mà ở xóm Pác Bó(1) thuộc Hà Quảng (Cao Bằng). Từ thị trấn Tĩnh Tây, chúng tôi đi vòng xuống phía Nam. Gần hai ngày đường qua Lục Tùng (Dường Lầu), lại tới mốc biên giới Trung—Việt.


(1) Pác: miệng; Bó: nguồn nước chảy ở hang ra.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:31:34 am
*
*   *

Gió thổi lồng lộng.

Đứng trên cao nhìn xuống khe hướng ra Pác Bó, chúng tôi thấy lố nhố có mấy người bên đất Việt Nam. Đã từng quen với hoạt động du kích, chúng tôi đoán được ngay đó là du kích đang làm nhiệm vụ đứng bảo vệ. Đúng như vậy, anh Lê (Lê Quảng Ba) và Sơn Hùng (Hoàng Sâm) đã chạy nhanh tới, tay bắt mặt mừng, dẫn chúng tôi ngoặt vào khe núi đất. Ở đây các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp đứng chờ đón. Các đồng chí đều tươi cười vui vẻ khi thấy chúng tôi... Rồi tất cả đi lên ruộng bậc thang để ngược lên cửa khe. Mới được nửa đường, chúng tôi đã thấy một ông già cao cao, xương xương, có chòm râu đen lơ thơ, dáng dấp nhanh nhẹn. Khi chúng tôi tới nơi, ông cụ vui vẻ bắt tay tất cả mọi người rồi hỏi thăm tình hình sức khỏe, tình hình đi đường của đoàn. Đến sự việc anh Trần Đăng Ninh, ông cụ thoáng vẻ buồn và lo lắng, hỏi lại cặn kẽ và dặn chúng tôi khi nào trở về thì nhớ hỏi thăm xem như thế nào. Lúc đó, tôi không hiểu ông cụ làm gì, đã có tuổi mà sao nhanh nhẹn và ân cần với mọi người làm vậy. Tôi không dám hỏi và cũng chưa hề nghĩ đấy lại là đại biểu quốc tế, nhưng hình ảnh «ông Ké lãnh đạo» từ giờ phút đó đã in sâu vào đầu óc tôi. Ông cụ vừa đi vừa chỉ đường, dẫn các đồng chí Trung ương đến cửa khe bên núi có hòn đá phẳng dùng làm chỗ ngồi, rồi qua chỗ có cái đu, mới vào tới trong nhà. Đi từ bờ ruộng vào tới nhà độ gần trăm thước.

Ông cụ mời ngồi và bảo :

— Hãy nghỉ ngơi nói chuyện thoải mải đã ! Các đồng chí đi đường xa hẳn là mệt lắm !

Nhưng các đồng chí Trung ương đã lấy bút mực, giấy má, tài liệu ra làm việc...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:32:46 am
II

Mới hôm nào tới Pác Bó, hôm nay đã sắp rời Pác Bó rồi!

Tôi được chỉ thị chuẩn bị đưa các đồng chí Trung ương và mang tài liệu, phương tiện, súng đạn trở về Chiến khu Bắc Sơn.

Lúc đi còn non nớt, nay về đã cứng cáp hơn, thêm lông thêm cánh, thêm sức bay cao. Được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ của Đảng, người mà mình hằng tôn kính, mong đợi, tin tưởng, tôi sướng vui vô hạn.

Lúc đi chúng tôi chỉ có khẩu súng Dóp 5 tháo bỏ báng cho gọn, nay về có đủ súng ngắn, súng dài, lựu đạn. Hơn nữa, chúng tôi còn có những của cải, những tài liệu vô giá : đó là NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG lần thứ tám.

Lúc đi, chúng tôi chỉ có ba anh em Cứu quốc quân, nay về có thêm nhiều cán bộ nữa bổ sung cho đội ngũ. Trong sổ cán bộ Đảng tăng cường cho Chiến khu Bác Sơn có anh Phùng Chí Kiên. Anh là ủy viên Trung ương Đảng, một đồng chí tuổi đời còn trẻ mà tài năng phát triển rất sớm. Từ lúc gặp anh ở khe núi đất hôm đầu tiên đến những ngày được tiếp xúc với anh ở lớp học, được nghe anh nói chuyện, tôi vừa thấy mến vừa kham phục anh. Dần dà tôi được biết anh Phùng Chí Kiên quê ở Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xuất ngoại đã mười mấy năm. Anh vào «Thanh niên kháng địch hậu viện hội», là một tổ chức của Đảng ta ở nước ngoài để tập họp những người thanh niên yêu nước lại. Anh đã ở khu du kích Sán Đầu, học ở trường Đại học của Hồng quân tại khu Xô Viết, quân sự giỏi, tiếng Hoa giỏi. Năm 1939, khi còn ở Trung Quốc, anh giữ chức liên trưởng Hồng quân Trung Hoa (như đại đội trưởng). Hình ảnh người chỉ huy trẻ tuổi Phùng Chí Kiên ở một khu du kích Trung Quốc làm tôi càng thêm tin tưởng.

Được anh Phùng Chí Kiên về với Bắc Sơn, với Cứu quốc quân, thật là vinh dự và càng biết ơn sự chú ý chăm sóc của Trung ương Đảng đối với chiến khu này, càng biết ơn ông cụ Thu Sơn. Nghĩ đến Ông cụ, tôi càng bồi hồi xúc động...

Bao nhiêu sự việc đã qua, bao nhiêu kỷ niệm về ông cụ Thu Sơn, về Già Thu, người có đôi mắt dịu hiền và rất sáng, có chòm râu đen lơ thơ, dáng dấp nhanh nhẹn ấy, lại như hiện ra trước mắt tôi.

Trong suốt thời gian các đồng chí Trung ương tiến hành hội nghị, tôi và mấy đồng chí Xứ ủy khác được Ông cụ thu xếp cho học tập về chủ nghĩa Mác — Lê-nin. Trình độ văn hóa của tôi còn kém lắm. Nhưng tôi cặm cụi để hết tâm trí vào tài liệu, gắng tìm hiểu những điều nói trong đó. Được gần Ông cụ, tôi vừa mừng vừa cảm động. Ông cụ đã nói cho chúng tôi nghe nhiều chuyện từ Á sang Âu. Tôi bỗng nhớ lại hồi đi học nghe bạn bè kháo nhau: «Nước ta có mấy nhà cách mạng đi ra ngoại quốc». Tôi muốn hỏi, nhưng nhớ lời anh Chính dặn dò về công tác bí mật, nghĩ mình chẳng nên tò mò...

Ngoài giờ học, Ông cụ thường đến chỗ tôi bày việc cho làm, hoặc hỏi tỉ mi về phong trào Bắc Sơn — Võ Nhai. Một lần, Ông cụ bước tới gần tôi, nhẹ nhàng hỏi:

— Chú viết được không?

— Thưa được ạ.

— Chú lấy giấy mực lại đây. Qua lời chú nói về Bắc Sơn tôi sẽ đọc cho chú viết bài thơ này.

Tôi đã ghi bài thơ đó đem về Bắc Sơn, nhưng tiếc rằng đến nay đã thất lạc, chỉ còn nhớ được đại ý là ông cụ khen phong tráo cách mạng ở địa phương.

Không phải một ngày, một buổi, mà là nhiều lần, Ông cụ đã gọi tòi đến dặn những điều chung, điều riêng cho Bắc Sơn, lấy phong trào cách mạng quốc tế động viên tôi, làm cho tòi thấy rõ và tin tưởng sức mạnh của cách mạng trong nước và thế giới, thấy rõ tầm vĩ đại của Cách mạng Nga, thấy rõ sự lớn mạnh của các chiến khu Trung Quốc kháng Nhật...

Một bữa, tôi vào khe tìm một hòn đá làm chỗ ngồi đọc sách. Lưng tựa vào cây, tôi suy nghĩ nhưng hai con mắt cứ lim dim muốn ngủ. Chợt có tiếng động; Ông cụ đã đến gần:

— Này, cố gắng chứ, mới ngồi học mà chú Ba đã muốn ngủ ư ?

Tôi bừng tinh, nhìn lại chỉ thấy lưng áo vải chàm của Ông cụ. Ông cụ nhắc thế thôi rồi đã lại quay về làm việc. Hình dáng, cử chỉ, lời nói của Ông cụ làm tôi ngẫm nghĩ mãi. Ông cụ đang bận họp mà vẫn chú ý tới tôi ngồi học bên khe này? Tôi được Ông cụ săn sóc, nhưng liệu hết thảy những anh em khác có được săn sóc như tôi không? Có lần tôi đi hỏi, các đồng chí trong đoàn đều cho biết là luôn luôn được Ông cụ đến tận nơi nhắc nhở học tập. Ông cụ chỉ nhắc khẽ mấy lời như vậy mà, trong lúc nghiên cứu, tôi không buồn ngủ nữa. Vì nghĩ Ông cụ làm việc mệt nhọc hơn mà còn luôn luôn quan tâm đến mình, phải làm sao xứng đáng với lòng thương yêu săn sóc đó.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:33:37 am
Hàng ngày, được sống gần Ông cụ, tôi thấy thoải mái, lại được Ông cụ kể cho nghe nhiều chuyện bổ ích. Tôi nhận thấy Ông cụ biết rất rộng và rất sâu. Tôi nghĩ: Mình thật là may, được lên đây học tập. Anh Giáo và anh em Cứu quốc quân ở nhà chẳng được cái may mắn như mình. Thế thì mình phải học tập cho tốt để về nói lại cho anh em những điều Ông cụ đã dạy bảo, dặn dò.

Trong những cuộc sinh hoạt chung ban đêm, có lúc Ông cụ kể cho nghe về hoạt động của Ông cụ, chuyện chỉ gồm những mẩu ngắn. Ông cụ không nói nhiều. Đồng chí Phùng Chí Kiên cũng đã được Ông cụ phân công nói cho anh em nghe về việc tham gia Bát Lộ quân, tham gia cuộc Vạn lý trường trinh, tham gia các trận đánh Nhật thắng lợi ở Trung Quốc. Ai có chuyện gì hay, thích thú cũng kể. Tôi cũng kể chuyện chiến đấu ở Bắc Sơn.

Một lần cùng đồng chí Lê ra thăm các làng ở Pác Bó tôi hỏi dò đồng chí Lê về ông cụ. Đồng chí Lê hé cho biết Ông cụ chính là Nguyễn Ái Quốc. Tôi càng kính trọng Ông cụ và tin rằng Cuộc cách mạng càng đi gần tới thắng lợi.

Một hôm trinh sát báo tin là Tây đồn Sóc Giang dẫn quân đi tuần vào vùng chúng tôi đang ở. Một số đồng chí xách súng đi. Các đồng chí Trung ương phân công nhau mang các tài liệu. Ra khỏi nhà là dọc ngược khe. Ông cụ bảo chúng tôi:

— Đến đỉnh núi có ngã ba, có ngả rẽ sang biên giới Trung Quốc. Lên đến đấy, địch không làm gì nổi.

Tôi không ngờ Ông cụ lại thông thuộc địa hình địa vật vùng này đến thế.

Ông cụ chỉ xách cái máy chữ; súng và tài liệu trao cả cho chúng tôi. Tôi nói:

— Cụ giữ tài liệu, còn máy chữ đưa tôi cầm ạ!

Ông cụ đáp:

— Thôi chú cứ giữ tài liệu và súng, để tôi cầm máy.

Tôi vừa sung sướng vừa băn khoăn thăm nghĩ: «Mình thanh niên giữ súng đã đành. Nhưng sao Ông cụ đưa mình giữ cả tài liệu quan trọng nữa! Ông cụ tin mình lắm đây. Mà sao Ông cụ chỉ giữ có cái máy chữ?».

Ông cụ với cái máy chữ thật cứ như bóng với hình. Ở gần, tôi ít khi thấy Ông cụ dùng bút mực. Chỉ có tập giấy trắng để đánh máy và Ông cụ ngồi đánh ngày này qua ngày khác. Thông thường, không thấy Ông cụ viết bản nháp, chỉ thấy Ông cụ hết đánh máy chữ lại xem, rồi lại đánh máy chữ,

Ông cụ thật là một người mẫu mực : từ việc ăn ngủ đều giữ nền nếp, giờ nào việc ấy, trừ khi tình hình thay đổi. Ông cụ nói là làm, nhắc ai thu xếp gì là chỉ dẫn cách làm ngay.

Gian nhà sàn chỉ nhỏ như cái lán. Ngay trước cửa lán có một cây Hoa Mạ, hoa vàng đang nở rộ. Sáng sáng. Ông cụ đã đánh thức anh em dậy tập thể dục. Gác đồng chí Trung ương và Ông cụ đều đi ra tràn ruộng bậc thang. Riêng Ông cụ tập nhu quyền rất đẹp. Tôi vốn thích quyền, cử ngắm mà học nhẩm, sau đó vào rừng bí mật bắt chước. Ông cụ chăm luyện thân thể, trách nào chẳng nhanh nhẹn, khỏe mạnh? Tôi để ý thấy Ông cụ ngồi xổm theo lối của đồng bào địa phương cũng được rất lâu. Lại cả khi leo núi, bước chân Ông cụ cứ thoăn thoắt. Tôi bận học tập, ít khi được dịp cùng với Ông cụ leo núi. Một buổi, chúng tôi được theo Ông cụ đi thăm hang. Hôm ấy, Hoa Mạ tháng tư nở vàng rực từng chùm. Rừng núi rộn ràng tiếng chim họa mi, chim khướu. Trời nắng ấm, cái nắng cuối xuân sang hè. Mấy bác cháu đi, bên này núi đất, bên kia núi đá, xa xa thác nước tung xuống trắng xóa như hoa bạc nở. Ông cụ chống gậy thăm rừng, rồi vào thăm hang, đến cả những nơi mà dân làng không dám vào. Đôi lúc Ông cụ quay lại nhắc chúng tôi bám sát để khỏi lạc. Theo bước Ông cụ, qua từng chỗ có địa thế, Ông cụ lại vạch ra cách đối phó với địch. Khi vào sâu trong hang, Ông cụ nói:

— Bà con ở đây còn mê tín, không dám vào đây vì sợ có ma thiêng, có hùm beo, chứ mình là người cộng sản không tin có ma quỷ gì. Trong hang sâu chỉ có khí lạnh thôi.

Ở mọi nơi, trong mọi lúc, Ông cụ đều quan tâm giáo dục chúng tôi. Chẳng bỏ phí một dịp nào, một giờ nào nếu không nói chuyện với các đồng chí Trung ương, với chúng tôi, thì Ông cụ lại đi gặp đội bảo vệ hoặc gặp nhân dân. Thanh thiếu niên ở đây được Ông cụ giáo dục kỹ càng. Các em đi thả trâu bò quanh đó. Thanh niên nam nữ thì hát si hát lượn, mới thoạt nhìn thì có vẻ nhàn nhã, nhưng chính họ, trong giờ phút đó, đang làm tai mắt cho cách mạng, bảo vệ cơ quan. Ông cụ thường bảo chúng tôi: « Làm cách mạng không thể một mình làm được, mà cần nhiều người, cần toàn dân. Muốn được toàn dân ủng hộ, cán bộ phải tranh thủ mọi nơi, mọi lúc tuyên truyền, động viên, giáo dục quần chúng». Ông cụ lại hay nhắc riêng tôi: «Đồng bào dân tộc ít người ở đâu cũng vậy, đã tin thì tin đến cùng. Chú là người dân tộc, cùng dân tộc hiểu nhau dễ, nhưng luôn luôn phải thận trọng trong công tác ».

Những lời dạy bảo ấy đối với tôi rất thấm thía. Tôi nghĩ đến anh em Cứu quốc quân ở nhà, bụng bảo dạ:

« Lần này về phải kể tỉ mỉ cho anh em nghe mới được ».


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:34:32 am
Từng điều, từng điều Ông cụ nói, tôi ghi nhớ trong lòng, cảm thấy một ngày gặp Ông cụ bằng mấy năm học tập. Trước khi gặp Ông cụ, thấy trình độ mình thấp, tôi rất lo, không biết mình gánh vác được bao nhiêu. Hy sinh xương máu tôi không sợ, nhưng bảo tôi làm cán bộ lãnh đạo thì tôi chưa tin sức mình đảm đương được. Gặp Ông cụ rồi, tôi thấy tự tin có thể làm được các việc Đảng giao cho.

Chúng tôi rất khao khát nghe Ông cụ nói chuyện, không những chỉ nghe nói kinh nghiệm công tác mà cả tình hình thế giới nữa.

Thời gian Trung ương họp hội nghị là thời gian tôi ngồi học tài liệu, cả tài liệu mới nhất là Nghị quyết Trung ương làn thứ tám và Chương trình Việt Minh. Trung ương cứ họp, chúng tôi cứ học cho tới ngày họp xong. Tôi được nghe nói lại là sau khi điểm lại các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa binh lính ở Đô Lương, hội nghị nhận định : Mặc dù sự đàn áp của giặc Pháp rất dữ dội mà dân ta vẫn không lùi. Những cuộc khởi nghĩa lại gây ra một ảnh hưởng rộng lớn toàn quốc. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương. Hội nghị đã chỉ ra «phải xây dựng nhiều đội du kích, nhiều căn cứ địa ; lúc có điều kiện thì phát động chiến tranh du kích nhưng phải duy trì các đội võ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở». Hội nghị khẳng định : Thực dân Pháp và phát-xít Nhật sẽ chết. Cuộc cách mạng Đông Dương, kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang, muốn gây cuộc khởi nghĩa bằng võ trang phải nhằm vào những điều kiện này:

1. Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc,

2. Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp —Nhật, mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.

3. Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.

4. Những điều kiện khách quan tiện cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Tàu đại thắng quân Nhật, cách mạng Pháp hay cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thẳng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh — Mỹ tràn vào Đông Dương. Và Mặt trận cứu quốc tuy Đảng ta đã huy động được nhiều cuộc tranh đấu và đã có những phong trào khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ và Đô Lương và hiện nay quân đội Bắc Sơn còn đương hoạt động, song lực lượng toàn quốc chưa được thống nhất. Muốn có một lực lượng toàn quốc đủ sức gây ra và củng cố cho một cuộc khởi nghĩa thì Đảng ta phải :

a — Mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng gây cuộc khởi nghĩa.

b — Mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền.

c — Mở rộng sự tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu ớt và dân tộc thiểu số.

d — Đoàn luyện cho các đảng viên có một tinh thần cương quyết hy sinh.

e — Đoàn luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thể.

g — Phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc. Hiện nay tuy lực lượng của Đảng ta chưa được lan rộng mạnh mẽ khắp toàn quốc, nhưng thời gian và không gian sẽ làm việc cho ta...(1)


Ông cụ và Trung ương đã hướng dẫn chúng tôi nghiên cứu tại chỗ để hiểu nhiệm vụ chống Nhật — Pháp, cứu nước. Nghiên cứu tới đâu, đầu óc chúng tôi sáng ra tới đấy. Những gì mình đang khao khát cần biết đều được giải đáp cặn kẽ. Thật như đại hạn gặp mưa rào. Tất cả những điều trên đã soi đường cho phong trào Bắc Sơn, cho riêng tôi những năm hoạt động sau này.

Trước ngày sắp trở về, Ông cụ gọi các đồng chí Xứ ủy tới, dặn riêng từng đồng chí một. Ông cụ đánh máy các nghị quyết xong đưa cho các đồng chí Trung ương và nỏi: «Các đồng chí lấy cái này, còn cái này để báo cáo quốc tế». Rồi Ông cụ đưa tài liệu cho từng người, của ai người nấy nhận vui vẻ.

Chúng tôi tập trung tiểu đội lại, phân chia súng đạn, nhẩm khẩu lệnh, nhắc lại kỷ luật «súng sẵn trong tay không bắn bậy», chuẩn bị lên đường. Số anh em đi về Bắc Sơn chia thành hai tốp, mỗi tốp đi một ngả. Một số đồng chí đưa Trung ương về đường cái, từ Pác Bó qua Tĩnh Tây qua Long Châu, Về Bó Cục, đợi ở đấy: tốp này gồm có anh Sơn, anh Chính, anh Lý, anh Phùng (Phùng Chí Kiên), anh Trương Văn Minh (Đặng Văn Cáp). Một số đồng chí khác như Lâm, Hải Tâm (Bế Sơn Cương), Phung Héc, Mã (Mã Thành Kính), v.v. do tôi cùng Sơn Hùng phụ trách, ngoài vũ khí còn mang một số tài liệu mật, từ Pác Bó về Sóc Giang, qua Đông Ngàn, qua Mỏ Sắt về Hòa An, vào Lũng Hoàng gặp các đồng chí ở Tỉnh bộ Cao Bằng để các đồng chí thu xếp cho đi từ Hòa An qua Đông Khê, Thất Khê, Nà Mạ, Pá Lầu, Tản Trang ra Bó Cục, để lại gặp tốp đồng chí Sơn, và chuẩn bị về Bắc Sơn. Trên đường cùng đoàn chúng tôi trở về có đồng chí Mạc Văn Hải quê ở Thất Khê, đã hoạt động lâu năm ở Trung Quốc, dẫn đường. Hải phụ trách con đường tắt từ Thất Khê qua Văn Mịch.

Còn các đồng chí Xứ ủy về theo các đường bí mật khác.


(1) Trích Nghị quyết Trung ương lần thứ tám.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:36:16 am
*
*   *

Ngày 6 tháng 5 âm lịch (tháng 6-1941), từ giã Pác Bó và ông cụ Thu Sơn, tất cả lên đường.

Tốp đi đường ngoài nước lên đến Tĩnh Tây thì có anh Cao Hồng Lĩnh đi theo.

Lần đi phấn khởi, lần về càng phấn khởi hơn. Trên đường về càng nhớ lại những điều mình đã học được thì càng nhớ Pác Bó, càng nhớ Ông cụ.

Về tới Hà Quảng — Dông Ngàn, chúng tôi thấy quần chúng đứng đông nghịt như ngày hội. Người si người lượn, chưa biết dân bản đang có việc vui gì, chúng tôi sinh nghi, rẽ vào bụi theo đúng quy cách quân sự, cũng nấp kỹ, cũng bò lăn lê toài, rình xem. Điệu lượn ấm áp của quê hương nghe không rõ tiếng, chỉ văng vẳng giọng đưa xa xa. Tốp đầu gặp chúng tôi, tươi cười vui vẻ cho biết là tổ chức si lượn để che mắt địch, để bảo vệ và đón đưa chúng tôi. Chúng tôi phấn khởi đi, len vào giữa đoàn người và càng thêm tin tưởng ở quần chúng cách mạng.

Về tới Bó Cục, chúng tôi đã thấy anh Sơn, anh Chính, anh Lý, anh Phùng đợi ở đây. Các anh mừng đội vũ trang chúng tôi về an toàn và tỏ ý rất hài lòng.

Về tới đây, chúng tôi có dịp thăm quê nội quê ngoại, chẳng những vì tình gia đình họ hàng mà còn thêm tình cách mạng thắm thiết, vì ở đây ảnh hưởng cách mạng đã ăn sâu vào nhân dân. Đối với tôi, người hoạt động cách mạng về thăm gia đình trong tình hình ấy, nói sao cho hết nỗi sung sướng trong lòng. Gọi là tình hai nước hai quê nhưng thực cũng là tình gia quyến nội ngoại. Ở đây, từ em bé cũng biết anh Lý. Ai nấy đều phấn khởi thấy chúng tôi đi về trót lọt, đều cùng chúc cho cách mạng Việt Nam mau thắng lợi.

Chúng tôi qua Nà Khau, Nà Kẻ, bị lộ. Xã đoàn tưởng là cướp, cho dõng ra chặn đường. Trung ương cử hai đồng chí Lâm và Mạc Văn Hải đi thuyết phục. «Chúng tôi không phải là cướp, chỉ mượn đường đi qua thôi». Hải nói vậy, đồng thời cố ý hé cho xã đoàn biết chúng tôi đông người, có nhiều súng, đụng vào sẽ bị tiêu diệt ngay ! Xã đoàn cũng hốt, phải để cho đi. Hôm đó, chúng tôi lên Khau S’lin, một quả núi cao và nhọn như ngọn măng, ngủ?

Đêm hôm sau, phải vượt Thất Khê, đi vòng theo chân núi Khau Phin. Qua sông Thất Khê, nước hơi to, chảy xiết, lội đến quá bụng. Chúng tôi khoác tay nhau, dìu nhau đi qua. Lại vòng theo chân núi, thẳng xuống đường cái Thất Khê — Pò Có, về Văn Mịch. Từ Thất Khê đến Văn Mịch dài hơn bốn chục cây số, phải cố gắng vượt hết trong một đêm.

Đi đêm, ngoài việc quan sát chung quanh đề phòng bất trắc xảy ra, còn cần phải đặc biệt chú ý giúp đỡ anh Chính ; anh Mã «béo» được đặc trách đi với anh Chính.

Đêm hôm thứ ba là chặng đường cuối cùng. Đến một xóm thuộc Bình Gia, bỗng thấy một toán người đi đâu về đốt hàng chục bó đóm. Đang đi trên ruộng bậc thang, không làm thế nào khác được, chúng tôi đành phải tránh lên đồi. Mã «béo» rẽ theo chúng tôi, còn anh Chính đi chậm, theo không kịp.

Chúng tôi ngồi lại, kiểm số người trước khi lại xuống đồi đi tiếp, thì thấy «rơi» mất anh Chính! Mã «béo» và ông Cáp đi tìm nhưng không thấy. Tôi đoán chắc anh chỉ lạc ở chỗ tràn ruộng bậc thang, liền theo đường cũ, xuống dốc. Anh Chính đang chống cây gậy, chọc chọc xuống đất để lên dốc. Thế nào mà hai người, một đi lên một đi xuống, tới gần sáp vào nhau, tôi mới thấy. Anh Chính bảo tôi:

— Tôi tưởng các anh đi xa rồi! Định lên núi ngủ, mai theo đường công khai đi vậy.

Lạc mất đến gần một tiếng đồng hồ.

Quãng 12 giờ đêm, qua eo Pác Nàng, nhìn ra được cánh đồng Bình Gia. Trăng sáng quá. Chúng tôi phải qua cầu. Nằm xuống, trông về phía cầu thấy trên cầu có bọn dõng nằm. không cựa quậy. Mắt không tinh không thấy được!

Tôi nói:

— Có người cũng phải đi! Ta thuyết phục nó thôi!

Bộ phận chúng tôi vào cầu trước. Hai lính dõng bị bất ngờ, đứng dậy hỏi thất thanh. Đồng chí Lâm vả tôi khóa chặt cứng chúng lại, nói cho nó hiểu ý định của ta. Một tên cựa ra được, thoát khỏi vòng tay, vùng bỏ chạy, vừa chạy vừa kêu toáng lên: «Chấu lớ!» (Cứu với!). Duy có tên thứ hai, đồng chí Lâm quàng cổ chặt quá, lại vừa đi vừa thuyết phục nên mới chịu dẫn đường cho ta. Tôi vẫy anh em ở phía sau nhanh chóng qua cầu. Cả đoàn vượt qua cánh đồng rộng Bình Gia một cách dễ dàng. Về đến Tam Canh, chớm vào địa phận Bắc Sơn, chúng tôi mới thả cho anh lính dõng về và không quên dặn cách báo với địch để tránh bị trừng phạt mà vẫn có lợi cho ta. Lính dõng tưởng mười mươi là chết, không ngờ được tha về, vội cảm ơn rối rít, hứa sẽ theo lời ta...

Vượt Tam Canh ra đến xóm Quỳnh Sơn (châu Bắc Sơn), chúng tôi lại gặp một bọn dõng khác. Biết là lộ, chúng tôi kêu gọi họ đừng bắn, nếu nổ súng, chúng tôi tiêu diệt ngay, Biết chúng tôi là người cách mạng, họ lảng tránh để chúng tôi kéo được về Lũng Pán. Đây là một khu căn cứ cách mạng có gia đình già Vân là cơ sở tốt. Già Vân sắp xếp chỗ ăn chỗ ngủ. Và chúng tôi gặp anh em Cứu quốc quân đã chờ đón ở đây : đó là số anh em ở dưới vùng Tân Lập đến, gồm có các anh Giáo, Hà Khai Lạc, Đàm (Độ) và đơn vị.

Với cương vị là người phụ trách Chiến khu Bắc Sơn, anh Giáo báo cáo tình hình Bắc Sơn về mọi mặt từ khi chúng tôi đưa các đồng chí Trung ương đi Hội nghị tới giờ: Vấn đề củng cố cơ sở, củng cố phong trào tiến hành rất tốt, do đó phong trào Bắc Sơn — Võ Nhai lên mạnh thành hành lang chính trị về xuôi; Cứu quốc quân được rèn luyện về chính trị, quân sự, có ý thức tổ chức tốt ; nhưng việc giữ bí mật của cán bộ chưa tốt ; công tác trừ gian, trừ mật thám đầu sỏ làm chưa gọn, làm mít-tinh công khai, một số cán bộ của ta xuất đầu lộ diện nên bọn mật thám và đế quốc theo dõi...

Sau đó anh Vân phổ biến Nghị quyết mới của Đảng cho toàn thể anh em Cứu quốc quân. Cán bộ và chiến sĩ đều nức lòng phấn khởi.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, chúng tôi cùng nhau thảo luận kế hoạch củng cố phong trào Bắc Sơn. Ngay sau đó Trung ương chỉ thị thành lập Ban chỉ huy mới của Chiến khu Bắc Sơn, chỉ định đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách Tổng chỉ huy, tôi làm Phó, đồng chí Giáo làm chính trị viên. Ban chỉ huy của lực lượng vũ trang Bắc Sơn đặt dưới sự lãnh đạo của Ban thường vụ Trung ương Đảng.

Chúng tôi được giao nhiệm vụ đưa Trung ương về Bó-py-a, tạm đóng lại ở đó. Trước khi về, các anh dặn lại chúng tôi phải « chống khủng bố trắng và giữ thông đường liên lạc về xuôi, đồng thời chuẩn bị một con đường bí mật thứ hai, để khi cần, Trung ương có thể về được an toàn». Dặn dò xong là chia đôi, một số đồng chí ở địa phương đưa Trung ương vào khu vực căn cứ ở Bó-py-a, còn chúng tôi về với mấy đơn vị ở Khuổi Nọi. Đội Cứu quốc quân được củng cố lại dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Phùng Chí Kiên. Sau khi được tăng cường thêm một số cán bộ, được phổ biến chính sách mới của Đảng, Cứu quốc quân đã hướng theo phương châm hoạt động mới: một mặt tổ chức huấn luyện quân sự, chính trị, tích lũy lương thực, mở rộng phong trào luyện tập quân sự của tự vệ chuẩn bị chống khủng bố ; một mặt củng cố cơ sở quần chúng, tổ chức một đường hành lang quần chúng từ căn cứ địa về xuôi.

Chúng tôi bàn nhau sẽ mở lớp huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự cho cả các cán bộ ở các tỉnh dưới xuôi lên. Ban chỉ huy phân công tôi về ở Võ Nhai để vừa chống khủng bố trắng, giữ vững phong trào, vừa chuẩn bị lương thực cho trường hợp Trung ương và Cứu quốc quân rút xuống. Bên cạnh việc củng cố các đường giao thông liên lạc đã có, phải tìm con đường bí mật để khi cần Trung ương có thể về xuôi được thuận lợi, dễ dàng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:38:33 am
III

Tôi về Võ Nhai.

Trong thời gian đưa Trung ương đi Hội nghị, tôi vẫn chưa thoát ly hẳn gia đình. Nay trở về, như thế là đã vắng nhà từ tháng 2 đến tháng 6 (1941). Hồi này, ở nhà, anh em đã trừ mật thám đầu sỏ, bị lộ. Ở Võ Nhai, một số đồng chí hoạt động công khai cũng bị lộ. Địch truy tầm gay gắt. Một số đồng chí bị sa lưới. Gia đình một số anh em cũng bị khủng bố. Một số người ở Phủ Thượng, Tràng Xá cũng chạy lên núi, không chịu để giặc bắt. Phần nữa, một bộ phận đi họp Hội nghị Trung ương lần thứ tám về bị lộ (do tên Công làm phản). Địch hoảng hốt liền tập trung quân từ Lạng Sơn sục vào Bắc Sơn, và từ Thái Nguyên tiến công vào Võ Nhai. Chúng định làm gọn hai việc trong một lúc : Một, lùng bắt các cán bộ lãnh đạo, cơ quan đầu não của Đảng để làm tan rã phong trào cộng sản ở Đông Dương mà chúng rất khiếp sợ ; hai, bóp chết phong trào đấu tranh của Bắc Sơn.

Địch tiến tới đâu đóng đồn bốt tới đó, chia từng khu rừng để càn quét. Còn chúng tôi, nhớ lời Bác dặn khi ở Pác Bó, với Chương trình Việt Minh vừa mang về, chúng tôi cũng ra sức tuyên truyền, tổ chức quần chúng làm cho mọi người cùng tin tưởng quyết tâm hoạt động, làm cho phong trào chẳng những có bề rộng mà còn có cả bề sâu.

Võ Nhai chống chọi lại với giặc.

Bấy giờ lính ở Thái Nguyên và Lạng Sơn kéo về khủng bố Bắc Sơn vì chúng nghi có đội quân ở Trung Quốc về Bắc Sơn,

Đình Cả, Tràng Xá cũng bị địch khủng bố chẳng kém Bắc Sơn. Lửa nhà cháy cứ bốc lên từng đám. Tiếng kêu khóc của cụ già, em bé, nghe sốt lòng sốt ruột. Trông cảnh xóm làng bị địch tàn phá càng căm thù địch, tôi càng lo cho Trung ương: Không hiểu Trung ương ở Bắc Sơn như thế nào và các anh Kiên, anh Giáo bảo vệ Trung ương như thế nào? Có được an toàn không? Tôi ở Tràng Xá(1) , không thể biết hết tình hình ở trên Bắc Sơn được. Quần chúng đi chợ Bắc Sơn và chợ Đình Cả nói cho biết phần nào. Còn ở đây, chỉ thấy nó lùng sục rất táo tợn. Một số quần chúng hoang mang, lo sợ.

Dạo ấy, Tràng Xá đang mùa cấy mà lại mưa nhiều, nước lũ đổ về tràn ngập cả những dòng suối trước đây khô cạn. Một đêm không trăng sao của tháng 7 (năm 1911), một số anh em Cứu quốc quân định đến làng Đồng Tác, Đồng Thẩm lấy gạo quần chúng ủng hộ. Hai làng này đã bị bọn lính và mật thám hẹn ngày đến đốt phá. Anh em chưa vào đến làng đã thấy những bóng người lố nhố phía trước mặt, liền núp lại sau những gốc cây to và sau các mô đá, theo dõi xem có phải là lính không. Mắt họ căng trong bóng tối, chuẩn bị đối phó. Trông kỹ thấy rõ hai người: Một người đi chân thấp chân cao và một người to lớn đi trước. Anh em xì xào bảo nhau: «Trông ai như là Quốc Vinh!». Lại thấy «họ» hướng về phía nhà anh Bạo là một cơ sở cách mạng. Anh em cũng định đến đấy. Thật là không hẹn mà gặp. Mừng rỡ và cảm động, anh em chạy ùa ra đón. Nhận nhau tíu tít. Người to lớn chính là Quốc Vinh, người kia là anh Chính; sau đến anh Vân và anh Sơn. Anh em thấy Trung ương về thì rất mừng, bảo nhau : « Có sự giúp đỡ rồi ! ».

Anh Chính nói :

— Các đồng chí đưa chúng tôi về cơ quan !

— Các anh từ trên ấy về, mệt thì hãy nghỉ đã — Một đồng chí Cứu quốc quân trả lời — Rôi sẽ về cơ quan, các anh à !

Thì ra các đồng chí Trung ương đã sáng suốt sớm rời Bắc Sơn, lọt qua vòng vây khép chặt của địch, về Tràng Xá lại gặp ngay được bộ phận đi lấy gạo ! Trung ương rời Bắc Sơn, song hai đồng chí Kiên và Giáo vẫn ở Khuổi Nọi để lãnh đạo quần chúng chống khủng bố.


(1) Xã Tràng Xá, nằm trong châu Võ Nhai.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:39:26 am
*
*   *

Bóng đêm chưa đi hết, và ánh sáng ban mai cũng chưa về. Núi Lèo nằm phía đông-bắc xã Tràng Xá, cao khoảng bốn trăm thước và chạy dài lên tận Quán Lũng. Chúng tôi đóng cơ quan ở trên núi, tiến và thoái đều có thế tốt...

Gần sáng, thấy một đồng chí Cứu quốc quân chạy về báo:

— Anh Chính đã về !

Nghe thấy nói «anh Chính về», tôi mừng quá, vội chạy ra ngoài lán, đón các anh. Mọi khi, anh em đi lấy gạo dưới làng về thường đi lẻ tẻ. Lần này, hôm đi thì ít, hôm về lại nhiều hơn. Trông kỹ thấy rõ cả bóng anh Sơn, anh Chính và anh Vân. Khỏi phải nói nỗi vui mừng của chúng tôi ! Trung ương về Tràng Xá thật đáp ứng với sự mong mỏi của chúng tôi. Anh Chính nói :

— Đồng chí Quốc Vinh dám đưa đường là điều đáng khen.

Quốc Vinh là người Bắc Sơn. Đây là lần đầu tiên anh về đây, nhưng đã khôn ngoan tránh được hết thảy những đội tuần tiễu và chòi gác của địch, bảo vệ các đồng chí Trung ương, đưa được tới nơi, tới chốn.

Anh Vân nắm lấy tay tôi rồi nói:

— Trên ấy nó làm dữ đấy!

Tôi rất xúc động, Có các anh về đây là có sự giúp đỡ trực tiếp của Trung ương rồi. Lòng thì muốn hiểu biết thêm tình hình, nhưng lại nghĩ ràng các anh đang mệt sau một cuộc đi khá căng thẳng, tôi mời các anh đi nghỉ.

Hôm sau chúng tôi được làm việc với Trung ương. Lúc đó chúng tôi mới biết tình hình cụ thể ở Bắc Sơn. Cơ quan Trung ương và bộ phận bảo vệ trước đóng ở Bó-py-a, sau phải chuyển về vùng Vũ Lăng. Việc tổ chức lớp học chính trị, huấn luyện cho anh em về quân sự vẫn được tiến hành đều. Song, nằm trong vòng vây của địch — ngày đêm Nhật, Pháp tung mật thám đi dò la tin tức — cơ quan Trung ương không thể ở yên một chỗ, cứ phải đi chuyển luôn. Có lần đang ngủ thì có quần chúng tới báo là địch đã vào khu vực. Nửa đêm, toàn thể cơ quan phải men theo sườn núi vào Lân Rào, một làng chung quanh toàn núi đá, chỉ có một đường vào. Cứ đinh ninh là được chỗ yên ổn để mở lớp huấn luyện ! Sáng ra, đứng trong làng mà nhìn khắp bốn chung quanh chỉ thấy cây cỏ và màu xanh mốc của núi non. Chiều hôm đó, có một tên lạ mặt vào làng. Đồng chí gác lại là người Kinh, không hiểu tiếng địa phương, thấy người lạ vào, có hỏi nhưng nó trỏ vào nhà, trả lời: «Tôi ở đây. Về xóm!». Lọt qua được trạm gác, nó đi đến đầu xóm thì ta phát hiện. (Lúc này, các đồng chí Trung ương đang họp bàn với nhau). Đồng chí Quốc Vinh bảo vệ cuộc họp nhìn chăm chú, bỗng thốt lên: «Ai vào kia? Sao lại cho thằng ấy nó vào?» Quốc Vinh nhảy xuống giàn, đuổi theo. Con chó săn thấy động, chạy mất!

Thế là lộ rồi! Cho người đi bắt lại không được, tất cả lại phải đi theo đồng chí Quảng Long là người đưa đường. Qua đường mòn, nhìn ra đã thấy lính tới. May sao lại gặp một người dân bị lính bắt dẫn đường đi đầu. Thấy người quen, anh ta hất tay ra phía sau làm hiệu cho đồng chí Quảng Long chạy thụt lại không thì sẽ đụng phải địch. Quảng Long lúng túng thụt vào bên rừng, cả đoàn dừng lại. Quảng Long báo cáo với anh Vân. Anh Kiên rút súng ra, hướng dẫn anh em bảo vệ chiến đấu. Anh quần chúng hú lên : «Các ông quyền ơi ! Mời các ông quyền đi nhanh lên thôi! Tối mất rồi!». Biết là anh ta đánh tiếng cho mình tránh đi, nhưng tránh vào đâu bây giờ? Sau khi đưa hết lính và bọn chỉ huy ra cánh đồng rồi anh bí mật quay lại chỗ đoàn ta, trách : «Sao lại đi như vậy? Không biết hướng là có ngày chết với tụi nó lố ! Đi đường này...». Nói rồi anh bày cho đồng chí Quảng Long dẫn anh em đi. Mọi người về được Bản Loỏng (thuộc Vũ Lễ) yên ổn. Nhưng rồi cũng chỉ được dăm hôm lại phải chuyển cơ quan.

Trước tình hình ấy, các đồng chí Trung ương quyết định về Tràng Xá, tìm về chỗ chúng tôi.

Thế là Bắc Sơn đang gặp khó khăn. Nhưng tôi tin rằng dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương lần thứ tám, lại có anh Kiên, anh Giáo nữa, Bắc Sơn sẽ qua cơn sóng gió này, sẽ lại được củng cố vững mạnh thêm.

— Bây giờ đến phần Tràng Xá —Anh Vân tươi cười bảo tôi — Tràng Xá của các anh báo cáo đi !

Tôi phấn khởi báo cáo với Trung ương những công việc chúng tôi đã làm được, từ việc vận động quần chúng nhân dân theo chương trình Việt Minh như thế nào đến việc trữ lương thực trong kho được đến hơn trăm nồi thóc, chống khủng bố trắng đạt được những kết quả gì, và cả việc đánh thông các đường liên lạc. Tôi kết luận :

— Đường về xuôi có hai, ba đường, Trung ương muốn đi, về lúc nào cũng được.

Anh Vân hỏi lại:

— Đường về xuôi có bảo đảm chắc chắn không?

Tôi đáp chắc nịch :

— Chúng tôi xin bảo đảm !

Cả ba anh Sơn, Chính và Vân đều gật gật đầu, nhìn tôi chăm chăm. Anh Vân bảo tôi:

— Giờ thì anh cử làm theo chương trình kế hoạch đã vạch sẵn. Chúng tôi cũng cần nghiên cứu thêm một số tình hình nữa...

Tôi biết ý, rút lui để các anh làm việc.

Từ đây trở đi Chiến khu Tràng Xá thêm một nhiệm vụ mới: bảo vệ Trung ương, đồng thời bảo đảm đường giao thông liên lạc thông suốt từ đây về xuôi và thư từ ở xuôi lên đây. Trung ương làm việc trong không khí khẩn trương và bận rộn, nhưng không quên giúp đỡ chỉ đạo cho Võ Nhai — Tràng Xá. Sau anh Vân có cho tôi biết là Trung ương sẽ về xuôi để mở rộng phong trào. Mừng cho phong trào dưới xuôi nhưng tôi cũng lại có ý tiếc là Trung ương mới ở với Tràng Xá chưa được bao ngày!

Nhìn các đồng chí làm việc đêm ngày, tôi không muốn để các đồng chí phải bận tâm đến ý kiến của tôi mà tôi cho là dù thế nào cũng là «cục bộ». Tình hình cả nước đang khẩn trương, cứ gì riêng Tràng Xá đâu, tôi nghĩ vậy...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:39:58 am
*
*   *

Hai ngày sau đó...

Một đồng chí giao thông đem từ Bắc Sơn về hai bức thư « hỏa tốc»: một để gửi cho các đồng chí Trung ương và một gửi cho tôi. Nhìn hai thư tổ sâu, tôi thấy được ngay là cả hai đều do một nơi gửi đi.

«Từ Bắc Sơn về chỉ có thư của Khuổi Nọi thôi. Cơ quan anh Kiên, anh Giáo đây! Không biết có chuyện gì xảy ra đây!». Tôi mang ngay thư vào chỗ anh Vân. Rồi tôi đứng luôn ở đấy bóc thư của mình ra xem. Đúng là thư từ Khuổi Nọỉ và nét chữ chính là của anh Phùng Chí Kiên. Tôi đọc ngấu nghiến : «Tình hình Bắc Sơn đang gặp khó khăn, anh lên ngay để bàn công tác».

Tôi nhìn anh Vân đọc thư. Đôi lông mày anh cau nhíu lại. Găn anh nhiều, tôi hiểu được rằng bức thư này làm cho anh đang phải suy nghĩ lung lắm. Anh ngẩng lên, rồi lại cúi xuống mảnh giấy. Thấy tay tôi cũng cầm thư, anh hỏi:

— Thư có nói gì nhiều?

Tôi đáp:

— Trên ấy có khó khăn. Các anh bảo tôi phải lên ngay.

Anh Vân quay vào gặp anh Sơn, anh Chính, đọc thư và bàn bạc thảo luận. Một lát sau, anh giao cho tôi bức thư của Trung ương để đem lên Khuổi Nọi cho anh Phùng Chí Kiên. Anh bảo tôi:

— Tình thế của Bắc Sơn có khó khăn thật. Trung ương đã cân nhắc rất kỹ... Trong thư, đã nói rõ cả. Nói với các anh : Nên kiên trì xây dựng cơ sở, đứng vững trên địa bàn đó mà chống khủng bố. Nếu khó khăn quá thì «hóa chính vi linh » để bảo toàn lực lượng.

Tôi cuộn thư vào lá chuối, bịt kín hai đầu, giúi nó vào mớ tóc bù xù của tôi, úp cái mũ bê-rê lên, kéo cho cái vành mũ phía trong chùm sát đến tận mang tai, rồi lên đường ngay. Từ Tràng Xá lên Khuổi Nọi, đi xuyên sơn, mất một ngày đường.

Lũ đổ ầm ầm theo các suối, nhiều chỗ nghẽn cả lối đi. Tôi mang thư trên đầu, đầu như bốc lửa và lòng cũng bốc lửa. Lúc này đây chắc anh Kiên và anh Giáo mong tôi nhiều lắm. Trung ương đã rời Bắc Sơn về Tràng Xá. Ở lại Bắc Sơn có hai phần ba lực lượng của Đội Cứu quốc quân. Bắc Sơn và Tràng Xá xa nhau, việc liên lạc khó khăn. Tình hình Bắc Sơn đang thay đổi theo chiều hướng xấu. Phải làm thế nào để vừa giữ vững được cơ sở chính trị vừa bảo toàn được lực lượng vũ trang. Bấy nhiêu ý nghĩ cứ xoắn lấy tôi.

Để tránh con mắt theo dõi của bọn mật thám, tôi lội theo suối, mặc cho nước lũ táp vào mặt vào mũi. Người tôi ướt từ đầu đến chân, chỉ có lá thư là còn khô nguyên.

Chạng vạng tối, tôi về tới Khuổi Nọi, thì anh Kiên, anh Giáo và một số anh em nữa đã đi rồi !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:40:42 am
*
*   *

Hôm sau, trên đường về Tràng Xá để báo cáo với Trung ương tình hình ở Khuổi Nọi cùng những điều được nghe một số anh em Cứu quốc quân ở lại báo cáo, tôi đi qua Đình Cả họp với các đồng chí Cứu quốc quân đang công tác ở đây, bàn kế hoạch chống khủng bố...

Anh em ở trên đỉnh núi, cách phía sau nhà bố tôi độ một cây số. Các đồng chí Nông Thái Long, Hoàng Thượng, Tiến và gần một tiểu đội đều có mặt. Không để bọn mật thám đi rình mò chung quanh đánh hơi thấy, ra báo cho bọn lính ở đồn Đình Cả biết.

Việc đã lộ, nhưng chúng tôi không biết, vẫn cứ sinh hoạt. Cuộc họp tiến hành vào buổi tối, rất khẩn trương. Tôi nói tình hình trong nước và ngoài nước cho anh em nghe, nói cả tình hình cụ thể trong chiến khu rồi mới bàn đến kế hoạch chống khủng bố. Anh em đều phát biểu ý kiến, nhất trí tán thành chủ trương của trên. Đồng chí Nông Thái Long và Hoàng Thượng nhận nhiệm vụ liên lạc với ông Vẩn Sang lúc ấy là tiểu đội trưởng Bắc Sơn, nói với ông cùng anh em trên ấy và nhân dân địa phương chống những luận điệu dối trá, xằng bậy bọn mật thám tung ra. Tôi dặn thêm Nông Thái Long: «Chú ý giữ vững cơ sở quần chúng. Nếu trên ấy khó khăn thì ông Vẩn Sang đưa anh em về dưới này ».

Tôi hỏi Hoàng Thượng về tình hình phía làng Lầm, làng Phật. Anh ta nói: «Ở đây vẫn yên tĩnh. Chưa thấy bọn chúng rục rịch...».

Chúng tôi nghỉ lại ở cơ quan.

Ngả lưng xuống giường rồi mà không sao ngủ được. Không biết mấy ngày đêm nay, anh Kiên và anh Giáo cùng những anh em khác đã đi tới đâu, nghỉ ở đâu rồi, dọc đường có gặp gì trở ngại không... Mong sao các anh ấy đi được trót lọt. Nghe nói lần này anh Giáo sẽ lên chỗ « Ông cụ », đó cũng là điều hay...

Qua một đêm đầy những mộng mị...

Trời chưa sáng rõ. Ở giữa rừng sâu này, bóng đêm chưa muốn rời cây lá. Chúng tôi chưa ai dậy. Bỗng tôi nghe thấy từ ở dưới suối lên có những tiếng rì rầm, rì rầm. Hình như có cả tiếng lên đạn. Tôi hích nhẹ vào sườn đồng chí nằm cạnh, hỏi nhỏ và nhanh :

— Có phải tiếng lên quy-lát không mày ?

Anh ta lặng đi, như để lắng nghe hết tiếng động ở phía ngoài lán, rồi bật dậy :

— Đúng đấy!

— Dậy nhanh đi! Lộ rồi! — Tôi hô anh em— Lấy hết tài liệu đi! Chuẩn bị đối phó !

Tôi vùng dậy, băng ra cửa, tay theo thói quen đã lẩy được viên đạn pạc-hoọc lên nòng. Tôi lao ra ngoài. Trời còn tối, nhưng nghe bước chân và tiếng giày đinh rậm rịch từ phía trên đỉnh đèo đổ xuống, tôi biết địch đã theo hai hướng đánh úp cơ quan. Địch chia làm hai cánh, một cánh từ dưới suối đi lên do mật thám đưa đường, một cánh từ trên kéo xuống do một thằng Tây chỉ huy. «Hai cánh hình thành hai gọng kìm, ây dà ! Định kẹp chúng tao vào giữa à? Đã thế, tương kế tựu kế!». Tôi nghĩ bụng vậy, và nhằm súng theo tiếng động của hai gọng kìm, nổ một phát vào giữa hai đám quân. Mục đích là làm cho tụi ở trên bắn xuống, tụi ở dưới bắn lên. Địch mắc mưu, hai bên đả nhau một trận kịch liệt. Nhân cơ hội đó anh em rút an toàn.

Tôi nấp vào sau một gốc cây to theo dõi trận đánh rất cân xứng giữa bọn chúng với nhau và sẵn sàng bảo vệ anh em. Tôi chỉ lo nhất cho «ông Tiến». Đồng chí ấy là người Kinh, ở xuôi lên, chưa thạo đường rừng như chúng tôi, không hiểu có theo kịp các anh em khác không.

Trời sáng rõ. Hai cánh quân địch bắn nhau một mẻ rồi rút luôn. Chúng chửi nhau loạn xị. Cánh ở dưới suối rút trước. Cánh ở trên đèo xuống thì xông vào cơ quan, lục soát, Lán trống không ! Chúng đành kéo về nhưng không dám theo hướng chính mà mở một con đường rừng mới bằng giày xăng-đá. Tôi không có ý định bắn bọn này, nếu bắn thì chết mấy thằng rồi!

Bọn lính đã đi hết.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:41:08 am
Tôi xuống khe suối, chợt thấy nắm rau muống ai ngâm ở đấy. Tôi nghĩ ra rồi: chính cái nắm rau muống này đã cứu chúng tôi đây. Trông thấy nó, bọn lính mới lên quy-lát, chúng tôi mới nghe thấy và kịp thời luồn ra khỏi nhà và thoát khỏi hai gọng kìm của địch. Không có nắm rau muống ấy, chúng cứ lẳng lặng tiến vào, bao vây và khuýp chặt thì không biết câu chuyện sẽ đi đến đâu! Đồng chí Hoàng Thượng có nói với tôi là vừa xuống xóm công tác trở về. Chắc là Thượng ta hái nắm rau ngâm xuống suối cho tươi để hôm nay làm canh ăn đây. Chuyện đã xảy ra rồi. Bây giờ phải đi tìm xem các cậu ấy đâu đã... Nghĩ vậy, tôi đến những nơi chúng tôi đã dự kiến với nhau khi có động thì chạy về đâu, nhưng không thấy tăm hơi.

Ngờ rằng Hoàng Thượng chạy về nhà ông bố, tôi xuống làng Lầm. Bố Hoàng Thượng lấy con cậu tôi, tôi là con bá. Tôi hỏi:

— Anh em có ai xuống đây khỏng ?

Bố Thượng nhìn tôi từ đầu đến chân, lo lắng đáp:

— Sáng sớm nghe tiếng súng, chắc là của các cậu. Tình hình có gì không ?

Tôi kể sơ qua sự việc xảy ra.

— Ây dà ! — Bác ấy hỏi ngay — Cái thằng Thượng nhà tao nó có làm sao không ?

— Tôi đi tìm gần hết buổi sáng mà không thấy nó ! Có lẽ nó về Tràng Xá rồi !... Hôm nay chợ Đình Cả đấy, anh đi chợ đi !

— Phiên này tao không đi đâu !

— Anh đi chợ đi, nghe ngóng xem như thế nào. Bọn lính nó đi chợ đấy !

Rồi tôi bàn với ông anh họ cách lấy tin ở ngoài chợ.

— Anh quen ai, bá nào, chị nào đi chợ Đình Cả nhờ người ta cũng được.

Lúc đó ông anh mới bằng lòng. Vì hồi này chẳng ai còn thấy cái vui đi chợ nữa. Đi đâu cũng chỉ thấy lính khố xanh và lính dõng. Tôi ăn cơm ở nhà Cắm Voòng, là một cơ sở của ta. Rồi vào vườn có cây cối um tùm ngủ lấy sức. Nhưng khốn lòng không yên thì làm sao mà nhắm mắt được !. «Mình chủ quan, sơ hở, để nó đánh úp cơ quan, anh em mình thất tán», cái băn khoăn lo lắng ấy làm tôi bật dậy. «Hay là các cậu ấy chạy lên làng Phật ?. Từ đây lên đó hơn hai cây số đường núi, biết đâu Nông Thái Long và Dường đã không nằm khểnh ở trên này rồi ! ». Thế là tôi chui ra khỏi vườn, men theo chân núi vòng vèo, rậm rạp, vượt lên làng Phật. Vào nhà chú Pinh và chị Bi Oóc. Không thấy ai hết ! Chú Pính đưa cơm ra rừng cho tôi ăn, bảo tôi về nhà ngủ. Nhưng tôi sốt ruột quá, lấy cơm xong tôi trở về làng Lầm, đợi chiều tối bố Thượng và một số anh chị em trong làng đi chợ Đình Cả lấy tin tức.

Chán rồi tôi lại vào vườn nằm. Nằm cũng chẳng yên. Chỉ mong chóng đến lúc bà con đi chợ Đình Cả về. Sốt ruột sốt gan không thể tả được ! Chiều tối, bố Thượng mới về. Ông hể hả kể lại :

— Tụi nó đang nói ran cả chợ đấy ! A lúi ! Cộng sản nó bắn làm mồi thôi. Chỉ bên mình bắn nhau. Thằng Một (quan một) hút chết ! Lão quản bị cách chức rồi !

Ông mang cái siêu ra bếp lửa đun nước uống, hút một điếu thuốc lào, phả khói ra đầy trước mặt, cười thích chí, nói tiếp:

— Bọn mật thám nó tố cáo nhau đấy. Nó bảo: Vây được bọn Cộng sản, sợ chết đi được. Vây chặt mà không bắt được thằng nào. Mình quay trở ra, đã thấy lốt chân nó đi ra rồi ! Run quá... Nó không dọp thêm cho phát nào nữa là may đấy. Về đến Đình Cả mới biết là thoát chết đấy !

Việc không bắn lính bị đẩy đi càn khi không thật cần thiết có kết quả tốt. Đó cũng là một bài học cho việc phân hóa kẻ địch sau này. Tôi đoán: Món Thái Long đi thoát ra cửa rừng về Tràng Xá rồi. Lão Tiến cũng về được rồi. Tôi bảo bố Thượng:

— Nó bắn chết ai, nó đã đem bêu đầu ngay. Như vậy là yên trí rồi !

Bố Thượng rít cố thêm chút tàn thuốc còn đỏ, lo lắng nói :

— Lính nó đã về vùng này, chắc là sắp có chuyện. Ở đây tao nấu cơm cho ăn đã, mai hãy về.

— Không được vớ! Tôi sốt ruột lắm rồi! Phải về ngay thôi !

— Ừ ! Có gặp thằng Thượng, bảo nó phải cẩn thận... Cậu cũng phải cẩn thận...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:41:45 am
*
*   *

Xem những dấu chân chung quanh nhà không có gì khả nghi, tôi mới vào nhà bố tôi. Tôi tranh thủ qua thăm ông vì nghe nói bọn địch sắp bắt giam ông ! Chúng đã nói gióng cho ông biết rồi !... Quyền hành chúng nắm trong tay. Bọn chức dịch địa phương sở dĩ chưa dám đụng đến bố tôi là vì ông có uy tín trong xóm trong làng và là vì một lẽ khác nữa : lấy bố tôi làm mồi để câu tôi về...

Thấy tôi về, bố tôi mừng lắm. Ông thịt một con vịt làm cơm cho ăn. Tợp một chén rượu, ông nói:

— Nó bảo nó bắt tao đi. Tao không sợ chết đâu!

Tôi ngẩng lên nhìn ồng: đôi mắt ông đỏ ngầu dường như còn tức giận khi nhớ lại hôm bọn mật thám đến đây hầm hầm hè hè, định bắt ông đi. Ông gắp một miếng thịt vịt to nhất và béo ngậy bỏ vào bát cho tôi rồi âu yếm:

— Ăn đi con ! Hôm nay bố con ta còn được ngồi ăn với nhau. Lần sau con về chả chắc được gặp bố nữa...

Bố tôi uống một chén nữa rồi nói:

— Mười sáu tuổi tao đã cầm cái súng chống thằng Tây. Tao ở cái đội quân của cụ Hoàng Hoa Thám. Giờ tao già. Tao không làm được thì chúng mày làm đi!

Tôi nói:

— Nhà mình nó không đốt trước cũng đốt sau thôi. Bố xem có cái gì quý cần gửi ở chỗ nào bảo đảm thì gửi đi. Không có làm mồi cho lửa thì mất hết, bố à !

Ông lắc đầu:

— Nhà mất thì thôi. Tao chả tiếc cái gì... Tao chỉ lo... Tao chỉ sợ nó cuốc mất cái mả ở trên núi.

Tôi càng thấy thương ông lạ lùng. Tôi nói:

— Không sợ đâu, bố à! Nó có đào cũng không ảnh hưởng gì. Anh Vân anh ấy chẳng nói với bố là gì! Miễn sao cách mạng thành công. Lúc đó, chẳng riêng gì nhà mình mà mọi người đều có cơm no áo ấm, không ai bắt nạt được mình, bố à !

Bố tôi rất nể anh Vân. Cái gì đã bảo «anh Vân nói» là ông nghe ra ngay. Lâu lắm mới được về thăm bổ, rồi bố con lại sắp sửa phải xa nhau vì sự khủng bố của địch. Tôi nói chuyện với ông, kể cho ông nghe những mẩu chuyện tôi thấy là có ích đối với ông, nói đến sự giãy giụa điên cuồng của kẻ thù và triển vọng của phong trào. Bố tôi bảo tôi:

— Không phải lo gì cho tao !... Tao già rồi, sống chết là chuyện thường. Bọn mật thám không chừng nó đã đánh hơi thấy mày về rồi vớ... Sáng sớm đã thấy tiếng súng nổ đì đùng phía ấy rồi đấy !... Mày đi phải cẩn thận, con ạ !

Tôi không dám nói cho bố tôi biết sự việc đã xảy ra ban sáng, vì không có ích gì.

Cơm xong, tôi chào bố tôi, về cơ quan...

Tôi đi xuyên sơn, hướng Tràng Xá thẳng tiến.

Quãng chín, mười giờ đêm về tới nơi, nhưng tôi nằm ngoài ruộng, chờ sáng sớm hôm sau mới vào cơ quan.

Các anh đều vừa trở dậy khi tôi bước vào lán. Mọi người mừng rỡ reo lên. Anh Sơn hỏi :

— Sao giờ mới về?

Hai ngày qua không thấy tôi trở về ! Có nhiều tin từ Đình Cả bay về, anh Sơn, anh Chính, anh Vân không ai là không thấy lửa đốt trong lòng. Nhất là khi thấy Nông Thái Long và số anh em từ Đình Cả đã về đến đây, chỉ còn thiếu tôi.

Ngay lúc đó, anh Vân nghiêm khắc phê bình:

— Đáng lẽ làm xong thì về ngay. Không về ngay, còn la cà để xảy ra việc không tốt.

Tôi thành khẩn nhận khuyết điểm. Và báo cáo tỉ mỉ với Trung ương tất cả những gì đã xảy ra ở Khuổi Nọi.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:24:47 am
IV

Nắng. Ánh sáng mặt trời của mùa thu lọc qua những cành lá trong khu rừng Khuôn Mánh. Những thân cây lớn vút lên. Dưới chân là nứa và những ngọn măng. Gió mát rượi, lao xao. Những nương lúa, nương ngô mơn mởn đổ thoai thoải xuống mép nước. Dòng suối mang trong lòng những hòn sỏi trắng lóng lánh. Rừng già ôm lấy hai bờ suối như hai cánh tay rộng lớn bao dong.

Chiều nay nhiều bà mẹ người Mán(1) cũng rủ nhau đứng trên bờ suối. Các bà nghe nói hôm nay có cuộc lễ quan trọng nên cũng xin tới nghe cán bộ nói chuyện. Người cán bộ này, các bà các chị đã quen lắm. Các bà các chị rất thương : cái chân anh ta làm sao mà đi tập tễnh khó nhọc, thế mà lại là người làm ăn rất mực. Anh ta nói những điều ai cũng thấy là phải. Bọn Tây đồn, bọn lính, bọn mật thám, bọn kỳ lý như những con chó săn đánh hơi khắp nơi nhưng anh ta vẫn sống với bà con được, nói cho bà con cách đối phó với việc đốt nhà, phá làng, đối phó với bọn đi làm chó săn. Các bà, các chị bảo nhau : «Cái cán bộ nó cũng đến đấy! Nghe nó nói có nhiều điều hay đấy !».

Chúng tôi đang sống những ngày tháng bị quân thù tấn công tới tấp từ bốn phía về tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế. Do tên Công(2), tên Hải(3) phản bội, đế quốc Pháp biết được tình hình hoạt động và lực lượng của ta. Khác với lần trước đánh chiếm lại đồn Mỏ Nhài với 20 tên lính khố xanh, đánh úp trường học Vũ Lăng với 40 tên vừa lính vừa dõng, lần này chúng huy động quân đông hơn gấp bội: một cánh quân từ Lạng Sơn qua Bình Gia tiến về đánh vào các xã Hương Vũ, Hữu Vĩnh, Tân Lập, Vũ Lăng, Vũ Lễ, gieo tai họa lên đầu nhân dân Bắc Sơn, Chưa ai quên được mối thù này thì một cánh quân thứ hai gồm lính khố xanh, lính dõng, mật thám, tổng đoàn, cường hào từ Thái Nguyên qua Đình Cả vào khủng bố các xã Tràng Xá, Phú Thượng, Lâu Thượng, La Hiên, Làng Mười (thuộc châu Võ Nhai). Chúng ráo riết vây lùng, càn quét liên tục trong các khu rừng, xóm bản. Chúng mặc sức đốt nhà, phá thôn, khủng bố, dồn dân vào các trại tập trung kiểu phát-xít ở Nà Pheo, Đình Cả, Làng Giữa, Đồng Ẻn thực hiện âm mưu « tát cạn nước để bắt cá», tìm cách cắt đứt dây liên lạc giữa nhân dân với Cứu quốc quân. Khó khăn chồng chất, song có sự chỉ đạo của Trung ương, chúng tôi đang cố gắng khắc phục khó khăn để đưa phong trào tiến lên.

Anh Sơn và anh Vân đã về xuôi. Riêng anh Chính còn ở lại để giúp đỡ chúng tôi kế hoạch chống khủng bố, tổ chức lực lượng đấu tranh. Chưa được một tháng, đột nhiên có thư của anh Vân yêu cầu anh Chính về ngay. Không nán lại được nữa, anh Chính đã chuẩn bị sẵn sàng chấp hành chỉ thị của Đảng. Trước khi về xuôi, anh Chính thay mặt Trung ương Đảng, quyết định thành lập Trung đội Cứu quốc quân thứ hai. (Đội Cứu quốc quân thành lập ở Khuổi Nọi chúng tôi gọi là Trung đội Cứu quốc quân 1).

Các bà, các chị nói rất đúng. Hòm nay, có anh Chính đến đây thật. Anh chị em Cứu quốc quân đã tề tựu đông đủ trên bãi nương, xếp thành hai hàng ngang. Trong giờ phút nghiêm trọng này, còn một người cầm súng chống lại quân thù là một điều mừng. Hôm nay, không phải là một người mà là cả mấy chục người — một số đồng chí còn lại của Trung đội Cứu quốc quân I đã được thử thách từ khu cãn cử Bắc Sơn và một số đồng chí mới đứng vào hàng ngũ.

Hôm nay là 15 tháng 9 năm 1941. Trung đội Cứu quốc quân II làm lễ chính thức thành lập. Anh chị em có mặt ở đây phần lớn đã tham gia hoạt động từ sau khi địch đánh úp cơ quan chỉ đạo Cứu quốc quân ở Đình Cả đầu tháng 7 (1941). Hầu hết đều là con em những gia đình bị địch lùa vào các trại giam, đều là những con người mang nặng thù sâu với đế quốc. Nhiều gia đình bị địch khủng bố gay gắt như cả gia đình đồng chí Thoòng, gia đình đồng chí Triệu Khánh Phương có sáu người bị bắt giam ở Định Hóa chết dần chết mòn vì đói khát, ốm đau ; bà mẹ của đồng chí Phúc Quyền bị đánh đến phát điên ; mả tổ nhà anh và mả tổ nhà tôi cũng bị chúng đào lên rồi tưới xăng đốt. Tại đình và chùa Cầu Rắn ở xã Phú Thượng, hai tên mật thám gian ác khét tiếng từ Hà Nội tên là Đờ-loóc và Sinh cùng bọn tay chân, ngày đêm ra sức tra tấn những người già, đàn bà, trẻ con, nhất là gia đình các anh chị em hiện đang ở trong khu căn cứ, hòng lung lạc tinh thần Cứu quốc quân và làm nhụt ý chí đấu tranh của quần chúng.


(1) Nay gọi là người Dao.
(2), (3) Hai tên tay sai của đế quốc đã chui vào hàng ngũ Đảng ta để phá hoại.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:25:35 am
Nỗi khổ của từng người góp lại thành mối thù chung. Chung thù, chung trả là ước vọng của mỗi người, của mọi người. Cũng vì thế, họ yêu thương nhau, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo. Và khi gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng xả thân cứu đồng đội.

Mặt trời đã chếch về phía tây. Nắng thu trải trên nương lúa nương ngô soãi dài theo bờ suối Khuôn Mánh.

Tôi nhìn anh Nguyễn Cao Đàm. Trông anh đã lại lại người. Viên đạn địch phóng qua bả vai ra trước ngực anh và những ngày đêm lẩn trốn trong rừng trước đây không lâu làm cho lòng căm thù địch thêm sâu sắc. Câu chuyện của anh Đàm cũng là một bài học kinh nghiệm rất bổ ích cho chúng tôi về nhiều mặt. Và câu chuyện ấy cứ như diễn lại trước mắt tôi...

Sau khi bộ phận anh Phùng Chí Kiên và anh Giáo rút khỏi Bắc Sơn, số các đồng chí còn lại tập họp thành một tiểu đội do ba anh Đàm, Tần và Ruệ chỉ huy. Anh em có nhiệm vụ giữ vững cơ sở và chống khủng bố của địch... Họ chia ra làm ba tổ, — tổ anh Đàm, tổ anh Thức và tổ anh Vẩn Sang — mỗi tổ nắm một địa phương trọng điểm. Anh Đàm cùng với Quốc Vinh, Tần, Ruệ và Thái «trấn» Phie Khao.

Hồi này lúa chín vàng cả đồng.

Mật thám địa phương mọc lên như cỏ dại. Chúng dẫn lính về khủng bố Phie Khao. Một số quần chúng sợ hai không dám chứa cán bộ trong nhà. Tổ này và cơ quan phải rút vào hang Mỏ Rẹ, lòng hang chỉ bằng cái nhà sàn tám cột . Vũ khí còn hai khẩu Dóp 3 và một khẩu Dóp 5. Hôm ấy ba đồng chí Hoàng, Thức và Dùng từ Bó Tát lên vùng Đon Úy, rồi liên lạc về vùng Hữu Vĩnh lấy gạo. Ở lại hang chỉ còn năm người.

Những đồng chí chỉ huy tổ này thấy tình hình không ổn: hang ở gần nhà tên Thái và ít lâu nay tên này có những hành động không được minh bạch. Các đồng chí đã định rút cơ quan đi nơi khác nhưng tên Thái bảo Tần và Ruệ:

— Không rút! Chưa cần ! Tao vừa xuống làng lấy gà làm cháo rồi. Không có việc gì hết!

Cơ quan đóng lại thêm một đêm. Sáng hôm sau, tên Đạo là anh tên Thái dẫn bọn lính dõng đến ngoài cửa hang, gọi tên Thái đang ở trong hang ra đầu hàng. Bọn lính cũng không dám liều lĩnh xông vào hang vì biết anh em còn có súng. Tên Thái lấm lét nhìn hai khẩu súng trên tay Tần và Ruệ, nói:

— Đừng bắn ! Lính nó đông lắm !

Thấy Tần và Ruệ còn ngần ngừ, Quốc Vinh giằng súng trong tay Tần và Ruệ định xông ra bắn nhau với bọn lính nhưng Tần và Ruệ đều ngăn lại :

— Hay để xem sao đã ! Không thể sống lấy một mình. Phải cứu cả tổ !

Quốc Vinh chỉ còn biết hậm hực nhìn ra ngoài cửa hang. Trán anh cau lại.

Không đợi phải để lính gọi lần thứ hai, tên Thái ra ngay. Mặt nó trân trân, trơ tráo :

— Lính nó bao vây cả rồi ! Không ra cũng chết. Ra thì được sống !

Đến lúc này thì Tần và Ruệ thấy mình đã « nuôi ong tay áo », bị mắc mưu tên Thái : không kiên quyết rời cơ quan đi nơi khác từ tối hôm trước ! Nay nghĩ ra thì đã muộn !

Theo gót tên Thái, Quốc Vinh cũng vọt ra! Nhưng anh không đi theo tên phản phúc gặp bọn lính, mà vừa ra tới cửa hang, anh lẩn sang ngách đường thứ hai. Bằng cái đảo mắt rất nhanh, Quốc Vinh đã nhìn thấy bọn lính chỉ chặn con đường chính. Một bóng người vạm vỡ cũng bước nhanh ra, và, như một mũi tên bắn, lao xuống núi. Tần và Ruệ chỉ kịp kêu lên : « Đồng chí Đàm ! » thì một loạt đạn nổ ran. Bọn lính bắn đuổi : một viên đạn phóng vào lưng Đàm, gần bả vai. Thấy Đàm vẫn còn chạy được, Thái bảo bọn lính :

— Nó sẽ chết. Kệ nó ! Còn thằng Tần, thằng Ruệ. Hai thằng này chỉ huy đấy! Phải bắt sống!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:26:04 am
Bọn lính vây kín lấy hang Mỏ Rẹ. Hai anh em tên Thái, Đạo và bọn lính dõng thay nhau gọi Cứu quốc quân ra hàng. Chúng gọi tên từng người, dọa «không ra sẽ xuống bắt hết ». Gào mãi chẳng ai chịu lên, bọn chúng đi lấy tạc đạn ở Chiêu Vũ thả xuống hang. Tiếng nổ ầm vang cả núi rừng.

Tần và Ruệ rút xuống dưới nữa.

Khoảng gần trưa, bọn dõng lần xuống hang, bắn vào. Cho đến lúc này, hai anh Tần, Ruệ mới chịu lên khỏi hang và bị địch bắt giải đi.

Đàm bị thương khá nặng. Máu chảy ướt đẫm cả chiếc áo anh đang mặc. Song anh cứ luồn rừng mà đi, tìm về cơ quan những đồng chí tổ khác. Đêm đã khuya. Vừa vào đến một cơ quan khác của Đường Văn Thức và Hoàng, anh đứng sững lại : trong nhà, lính đang tra tấn đồng chí Hoàng ! Thì ra Hoàng về xã Hữu Vĩnh lấy gạo, không may bị địch bắt. Rồi chúng đem về đây khảo tra hòng tìm ra Đường Văn Thức. Đàm vội trèo lên ngọn quả núi đá. Những tiếng «Thức! Thằng Thức!» và tiếng những quả thụi, cái đá của kẻ địch đánh Hoàng từ dưới thấp vọng lên chỗ trú của Đàm. Đàm cảm thấy như những quả đấm ấy thoi vào chính ngực mình. Đàm đau xót vì thấy không làm được gì để cứu đồng đội. Lính đánh mỏi tay, có lúc đứng thở hồng hộc mà Hoàng vẫn không khai một lời, chúng đành giải Hoàng đi. Còn Đàm vẫn ngồi trên đó, đinh ninh rằng Đường Văn Thức cũng đã bị lính bắt rồi!

Một lúc lâu không nghe tiếng đấm, tiếng đá và tiếng địch tra khảo nữa, biết là lính đã bỏ đi rồi, Đàm mới mò xuống. Giữa cây rừng, bấy giờ Đàm đi một mình, đau khổ suy nghĩ về những sự việc vừa xảy ra. Đàm tự phê bình mình đã mất cảnh giác với tên Thái, ân hận đã không cứu được đồng chí mình khỏi nanh vuốt của quân thù. Đàm suy nghĩ, càng suy nghĩ càng thấy đau xốt: tiểu đội mình còn lại được những ai ? Quốc Vinh đành là thoát khỏi hang lúc đó, nhưng liệu có về được nơi an toàn không ? Tần và Ruệ bị bắt rồi, có làm sao nữa không ? Đàm tự nói với mình: «Ta sẽ nhận hết khuyết điểm ! Phải đến được chỗ đồng chí mình». Nói rồi, Đàm cương quyết hướng về phía Võ Nhai — Tràng Xá, luồn rừng đi không nghỉ.

Tin này bay về chỗ chúng tôi, chúng tôi cử người đi tìm các anh trên mọi ngả đường...

Anh Đàm vốn từ Thái Bình lên, người đậm, khỏe mạnh, ngày thường trông vạm vỡ, phương phi. Sau gần chục ngày lẩn trốn trong rừng, vượt khỏi vòng vây của bọn Thái — Đạo, trông phờ phạc hẳn đi, quần áo rách nát, vết thương trên bả vai đã khô máu. Với đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ và lo lắng, phiền muộn, hai gò má hơi nhô lên. thấy tôi anh ôm chầm lấy, nắm lấy vai tôi mà nói trong hơi thở gấp:

— Gặp mày rồi, tao không chết nữa. Giờ mới biết là sống !

Anh Đàm kể lại cho tôi nghe tất cả câu chuyện ở hang Mỏ Rẹ. Rồi anh nói tiếp, giọng buồn rười rượi:

— Đường Thức nó bị bắt rồi !

Vừa nói, nước mắt anh vừa rơi lã chã. Tôi cũng ứa nước mắt khóc.

Tôi vỗ vai Đàm, nói :

— Thôi, đi nghỉ đã ! Rồi đâu sẽ có đó !

Anh Đàm cứ kể và tin rằng đồng chí Thức đã bi địch bắt rồi, mà đã rơi vào tay chúng thì chỉ có chết hoặc đi tù. Anh Đàm nói :

— Mật thám nó tra, nó bảo «Thức! Thức!» thì chắc chắn là Đường Thức rồi còn gì nữa !

Nhưng Đường Văn Thức không bị bắt. Đồng chí ấy đã về được Tràng Xá cùng với đồng chí Quảng Long, sau anh Đàm chừng vài hôm. Như vậy là bốn người sống sót của tiểu đội thứ ba đi về được bằng ba hướng khác nhau.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:26:29 am
Lần này, Nguyễn Cao Đàm là một trong ba đồng chí được Trung ương chỉ định vào Ban chỉ huy Cứu quốc quân II.

Người thứ hai là Lê Dục Tôn. Dục Tôn kém tôi vài tuổi, vẻ người hơi lạnh lùng nhưng có mối thù sâu với bọn thống trị. Dục Tôn ít khi cười, làm nhiều, nói ít.

Phần tôi, ông bố đã bị địch bắt đi, cái nhà mình sống từ nhỏ đã bị chúng đốt. Cả bên nội bên ngoại đều bị địch khủng bố, tôi lấy đơn vị là nhà, anh em Cứu quốc quân là người thân và nhân dân ở những vùng Cứu quốc quân làm lán ở là gia đình mình.

Trước lá cờ đỏ sao vàng, chúng tôi bùi ngùi nhớ lại các đồng chí đã hy sinh. Sau phút mặc niệm, đến lễ tuyên bố kết nạp một số đảng viên mới. Đây là những đồng chí xuất sắc đã được thử thách trong thời gian qua như các đồng chí Phương Cương, Chu Phóng, Hà Mạnh, Hà Kỳ, Hồng Thái, v.v. Toàn đơn vị như có một khí thế mới, phấn khởi lạ thường. Tiếng nói của anh Chính vang lên:

— Thay mặt Trung ương, tôi tuyên bố công nhận Trung đội Cứu quốc quân II! Cứu quốc quân Việt Nam có nhiệm vụ giữ vững căn cứ địa, giữ vững cơ sở, duy trì tiếng súng đấu tranh vũ trang để cổ vũ phong trào toàn quốc và thiết thực góp một phần nhỏ vào việc ủng hộ Hồng quân Liên Xô chống phát-xít xâm lược.

Anh Chính ngừng lại. Trong ánh nắng, với câu nói đầy lửa nhiệt tình của người lãnh đạo, đôi mắt anh rực sáng một cách kỳ lạ. Cả khu rừng già bao quanh chúng tôi vẫn còn âm vang: «... giữ vững căn cứ địa, giữ vững cơ sở, duy trì tiếng súng đấu tranh vũ trang... thiết thực góp một phần nhỏ vào việc ủng hộ Hồng quân Liên Xô...».

Nhiệm vụ của Trung đội Cứu quốc quân II, Trung ương đã vạch ra rõ ràng. Anh Chính trao lá cờ đỏ sao vàng cho trung đội, rồi nói tiếp:

— Trung ương chỉ định đồng chí Cư, đồng chí Lê Dục Tôn, đồng chí Nguyễn Cao Đàm, vào trong Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân II. Tất cả các đồng chí hãy triệt để thi hành mọi mệnh lệnh của Ban chỉ huy.

Lễ tuyên thệ của Cứu quốc quân II bắt đầu trong không khí trang nghiêm. Năm lời thề của Cứu quốc quân được đọc lên một cách trang trọng:

— Không phản Đảng !

— Tuyệt đối trung thành với Đảng !

— Kiên quyết phấn đấu và trả thù cho các đồng chí đã bị hy sinh !

— Không hàng giặc !

— Không hại dân !

Những tiếng «Xin thề ! Xin thề» âm vang. Ông già Mạnh vừa dứt lời thề thì Đường Thị Ân — người phụ nữ duy nhất trong Trung đội Cứu quốc quân II — bước ra khỏi hàng. Chị nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, giọng nói mạch lạc và ngắn gọn :

— Hai mươi triệu đồng bào cả nước đang rên xiết lầm than. Tôi là một phụ nữ dân tộc. Tôi xin thề dưới lá quốc kỳ hy sinh tất cả vì Đảng, vì nhân dân. Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của một đội viên Cứu quốc quân. Xin thề!

Cùng với tiếng hô « Xin thề ! », Ân giơ nắm tay ngang vai chào cờ.

Các bà, các chị người Mán nhìn Ân chăm chú, gật gật. đầu như có ý nói: «Con gái làm tốt đấy! Mày làm được thì bọn tao cũng làm được ! ».
   
Xong buổi lễ, mọi người ra về. Các ông, các bà, các chị vừa đi vừa trầm trồ và nhắc nhau giữ bí mật.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:26:55 am
*
*   *

Trên đường về cơ quan, hai chúng tôi đi bên nhau. Anh Chính sống rất tình cảm. Anh ở nhà tôi. Ngoài anh Vân, anh Chính là người được phân công trực tiếp giúp đỡ Cứu quốc quân và phong trào Bắc Sơn — Võ Nhai — Thái Nguyên.

Anh Chính đến với gia đình chúng tôi lần đầu tiên với cái áo the, quần trắng, đi giày păng-túp và vác cái ô. Cái ông người Kinh nho nhã ấy chẳng bao lâu đã đồng hóa với «cần Tày, cần Nùng» chúng tôi.

— Đồng chí thấy thế nào ? — Anh Chính chợt phá tan cái im lặng.

Tôi đang mải suy nghĩ về anh, chợt tỉnh và hỏi lại:

— Anh bảo cái gì tôi ?

Anh Chính nhắc lại :

— Đồng chí thấy thế nào, cái buổi lễ vừa rồi ?

— Tốt lắm anh ạ! —Tôi đáp —Anh chị em rất xúc động. Họ hiểu cả đấy !

Anh Chính nắm chặt lấy tay tôi, như muốn trao cho tôi cả niềm tin và sự mến thương, vừa đi vừa thủ thỉ :

— Trung ương gọi tôi về ngay. Điều cốt tử ở đây bây giờ là giữ vững phong trào. Có kinh nghiệm Bắc Sơn rồi, chớ có chủ quan. Tôi về. Anh em hầu hết là mới cả. Làm cái gì cũng nên hỏi ý kiến tập thể, vận động anh chị em cùng làm. Muốn giữ được phong trào, phải giữ bí mật... Phải luôn luôn nhắc nhở anh em vấn đề giữ bí mật...

Anh Chính như muốn gấp rút truyền lại cho tôi mọi ý nghĩ và kinh nghiệm xương máu anh đã đúc kết được từ trong cuộc đấu tranh với chính quyền thực dân cùng những mưu mô xảo quyệt và rất tàn bạo của chúng. Anh nhấn mạnh :

— Phải chú ý công tác binh vận! Vận động được binh lính địch không đánh ta hoặc họ tránh ta cũng đỡ đổ xương đổ máu vô ích. Trừ bọn mật thám và một số cố tình theo địch giết hại nhân dân, còn họ đều là những dận cày nghèo khổ bị địch bắt đi cầm súng đánh cách mạng thôi. Anh chú ý và giáo dục anh em làm tốt công tác này. Cán bộ mình còn ít. Tôi về sẽ đề nghị Thường vụ bổ sung lên. Tôi sẽ liên hệ thường xuyên với phong trào ở đây. Cam sẽ cùng đi với tôi...

Tôi cắt ngang:

— Đồng chí Cam cũng đi?

Tôi vừa hỏi vừa như có ý nhắc khéo anh Chính là nên để đồng chí Cam lại cho chúng tôi. Cam là một cán bộ đã giúp cho phong trào rất nhiều. Cam được coi như cánh tay phải của anh Chính. Năm ấy Cam độ 30 tuổi, người cao lớn, vạm vỡ, rất khỏe, vốn là một cố nông được giác ngộ cách mạng rồi trở thành cán bộ. Cam thường đi liên lạc, đi công tác với anh Chính.

Anh Chính nói tiếp:

— Cam sẽ đi cùng với tôi. Nếu sau này có cần cử người lên đây thì Cam đã biết đường, khỏi phải có thêm giao thông đưa đi.

Chúng tôi về đến lán thì anh em đang sinh hoạt.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:27:23 am
*
*   *

Dạo này, chúng tôi đã rút tất cả vào rừng, làm lán ở. Lương thực thiếu thốn lắm. Vũ khí lại rất ít và thô sơ : súng ống chỉ là những khẩu súng thập, súng kíp của đồng bào Mán, những lựu đạn tự chế, dao, tên thuốc. Sống trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, nhưng có nhân dân địa phương hết lòng trung thành với cách mạng nên anh chị em vẫn luôn luôn được đồng bào giúp đỡ, ủng hộ, không những được tiếp tế lương thực, thịt, muối, mà cả thuốc men nữa. Những cây củ có thể ăn được, bọn địch đốt phá hết. Nhưng mùa lúa chín, ở những ruộng xa bản, gần rừng, đồng bào không gặt lúa, để lại tiếp tế cho Cứu quốc quân, cho nên dù bị bao vây mọi mặt, anh chị em vẫn có lương ăn để chiến đấu.

Để triệt quân du kích tận gốc, địch quây chặt lấy ba xã Tràng Xá, Phú Thượng và làng Mười, nơi được lấy làm căn cứ. Không một xóm lảng nào, không một khoảng rừng nào chúng không sục tới.

Địch tìm mọi cách cắt đứt dây liên lạc giữa nhân dân với Cứu quốc quân. Chúng dồn dân ở các xóm lẻ lại thành một khu tập trung để kiểm soát : 8 giờ sáng nhân dân mới được đi làm đồng, bốn giờ chiều đã phải về, không được đi xa quá nơi tập trung một cây số. Mỗi khi đi chợ hoặc đi làm đồng đều có lính đi kèm để kiểm soát. Vào trong chợ, đồng bào địa phương nào chỉ được mua bán ở một khu dành riêng, không được sang khu khác. Chúng không cho đồng bào liên lạc với nhau, đưa tin cho nhau. Chúng hạn chế việc bán muối, diêm cho nhân dân, vì chúng sợ những thứ ấy đồng bào lại đem ủng hộ Cứu quốc quân.

Trong những ngày còn ở lại Chiến khu Võ Nhai, trước khi về xuôi, anh Chính đã rất chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng cho Cứu quốc quân. Lúc mới thành lập trung đội, anh em rất hăng hái. Sau rồi gian khổ nhiều, có người đã tỏ ra ngại khó ngại khổ. Anh Chính đã giúp chúng tôi tổ chức đời sống tập thể cho anh chị em Cứu quốc quân. Anh bàn với chúng tôi chia đơn vị ra làm 5 tiểu đội luân phiên nhau canh gác, chiến đấu và học tập. Anh trực tiếp chỉ bảo cho tất cả chúng tôi học tập về chính sách của Đảng và tư cách của người cách mạng. Và cũng như ý anh, chúng tôi thấy cần phải thu xếp chỗ ăn chỗ ở cho anh chị em ; dù gian khổ, khó khăn thế nào cũng phải có nền nếp. Chúng tôi thường tìm ngọn suối làm lán ở ; nấu bếp xong là giội nước ngay cho không còn vết tích gì. Lán mới đầu còn lợp bằng lá cọ tử tế, song cuộc sống của chúng tôi luôn luôn động, vừa chiến đấu vừa phải di chuyển luôn, sau đành chỉ cắt lá chuối tươi về lợp. Có khi lá chuối chưa khô đã phải bỏ đi nơi khác rồi.

Địch còn tung rất nhiều mật thám vào rừng dò la. Nếu thấy chỗ nào nghi có du kích hoạt động là chúng tập trung lực lượng đi khủng bố ngay. Có lần chúng tôi vừa rời chỗ cũ đến một khu rừng mới đã lại có tin mật thám đến rồi. Chúng tôi như những con chim luồn rừng, chuyển ngay đi nơi khác. Hôm nào đang đi trên đường mà bị mưa sập xuống thì mọi người đều ướt từ đầu đến chân. Tới địa điểm mới, dù đêm tối, dù mưa cũng phải chặt lấy cây, cắt lá chuối, dựng tạm vài cái lán mà tránh mưa đã. Rồi người thì đi mò củi, chặt nứa, người lấy lá, lấy cành trải lên đất ướt mà nằm; củi và nứa đem vào một đống, đốt lửa lên mà hơ quần áo, hơ tay nải, hơ bòng. Quần áo của anh chị em không thấy hơi nắng mặt trời bao giờ! Giặt quần áo xong là hơ lửa, khô rồi là gấp lại bỏ vào bòng : lúc nào cũng sẵn sàng, hơi «động» là đi được ngay. Vì vậy mà quần áo ai cũng chỉ thấy hôi mùi khói.

Dựng được lán lên rồi thì làm sạp giường. Chặt mấy cải cây đặt ở chân giường chỗ mình nằm ; chiều về múc đầy ống vầu nước suối, đổ nước ra rửa chân rồi mới lên sạp. (Lúc ấy anh chị em toàn đi chân đất, đâu có dép cao su lốp ô tô như bây giờ!).

Cũng ở trong rừng, nhiều lớp huấn luyện quân sự được mở. Ngoài phần lý luận, anh chị em được học những động tác cơ bản, như vác súng, đeo súng, bò, lăn, lê, toài, hành quân, trinh sát, ẩn nấp, tập đi phục kích, v.v.

Rừng núi trùng điệp là nơi giấu quân rất tốt. Trước khi địch bước được đến gần nơi chúng tôi ở thì chúng tôi đã chuyển sang khu rừng khác rồi. Đến chỗ mới, dù chỉ yên được vài ngày, chúng tôi cũng sinh hoạt, học tập.

Một ngày cuối tháng 9 năm 1941.

Anh Chính lên đường về xuôi. Cả ngày hôm đó, sau khi hội ý với Ban chỉ huy trung đội, anh tranh thủ gặp gỡ, thăm hỏi anh chị em trong đơn vị. Anh chú ý đến từng người một. Anh thường bảo tôi : « Anh em mới nhiều, nhưng đều là người tốt, quyết tâm cách mạng, ai cũng có thù với đế quốc, với bọn bóc lột. Đó là điều cơ bản để họ trung thành với sứ mệnh của Đảng, của nhân dân. Cần chú ý dìu dắt anh chị em, đưa mọi người cùng tiến lên ».

Bữa cơm chiều có thịt lợn, thịt gà quần chúng ủng hộ. Sâm sẩm tối, tôi đưa anh Chính ra khỏi cơ quan. Anh Chính nắm chặt tay tôi. Anh không nói câu nào mà như gửi cả lòng mình vào cái bắt tay đó. Chúng tôi cho một tổ gồm các đồng chí Tài, Châm, Lai đưa anh Chính và Cam đi qua Khe Mo ra đường cái Đình Cả — Thái Nguyên. Từ đấy trở về xuôi, đồng chí Cam sẽ phụ trách.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:28:17 am
V

Không còn mục tiêu ở Bắc Sơn, quân địch vẫn tiếp tục khủng bố điên cuồng và chuyển dần cuộc càn quét xuống Võ Nhai. Chúng tiến hành lùng sục cơ sở cách mạng, vây quét rất gắt gao, cố phát hiện và tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta, đồng thời dồn dân vào các trại tập trung kiểu phát-xít ở Nà Pheo, Đình Cả, làng Giữa, Đồng Ẻn, nhằm thực hiện âm mưu «tát cạn nước để bắt cá».

Mỗi người dân lúc bấy giờ chỉ còn từ một đến hai bộ quần áo rách vá, phong phanh. Trẻ em đói ăn, xanh xao vàng vọt. Tre vầu sém vàng, những mái nhà sàn, nhà đất chỉ còn lại cái nền chỏng trơ với một vài chiếc cột cháy dở. Nhà các đồng chí Lê Dục Tôn, Chu Quốc Hưng, Hoàng Thượng, Hoàng Xuân cũng đều tan hoang. Máng nước bị bổ đôi, cối giã bị đập thủng, khung cửi bị chẻ gãy, quần áo, chăn màn bị xé vụn. Còn những gì đáng giá thì đều đã bị tịch thu. Chuối, cam, mận, đào... cây to, cây nhỏ bị chặt sạch, vườn tược quạnh quẽ không còn lấy một luống cải, một luống hành. Không còn tiếng chó sủa, lợn kêu, gà gáy, mõ trâu...

Ngày đêm, Nhật — Pháp tung mật thám dò la tin tức, cho lính đón đường phục kích cán bộ đi hoạt động. Chúng lùng từng khu, chia từng ô ra để sục sạo, chúng sục vào các hang, các lán. Trên các con đường nhỏ, chúng thắt nút cỏ lại : ta đi vào, nút cỏ tuột ra, chúng theo dấu rượt bắt. Bọn mật thám địa phương có nhiều mánh khóe, lại thuộc đường đi lối lại. Chúng rắc tro ở cửa hang để phát hiện dấu chân, dấu giày của ta...

Theo kế hoạch hoạt động đã vạch sẵn, chúng tôi chia nhau đi nói chuyện cho đồng bào các dân tộc về nhiệm vụ đánh Tây, đánh Nhật, về Chương trình Việt Minh. Người Tày, người Nùng, người Cao Lan, cả đến người Mán ở tít trên những ngọn núi cao đều rất mến Cứu quốc quân và coi anh chị em như những người thân trong gia đình. Chúng tôi thu xếp cho nhân dân sơ tán vào rừng cất giấu của cải; xong, trở về đấu tranh ngay tại làng, tại bản, đồng thời tạo điều kiện cho quần chúng ở lại vừa tiếp tế, vừa làm tai mắt cho Cứu quốc quân.

Tiếng súng du kích tiếp tục nổ, bắt đầu bằng những cuộc tiễu trừ Việt gian, mật thám, tiến lên đánh quân đội Pháp, đánh lén, đánh úp địch.

Thường trong những trận phục kích, Cứu quốc quân chỉ nhằm bắn những bọn sĩ quan và binh lính ngoan cố nhất, những tên gián điệp, mật thám địa phương lợi hại đưa đường chỉ lối cho giặc.

Kết hợp với chiến đấu, chúng tôi chú trọng đẩy mạnh công tác binh vận. Các chị, các anh ở trong làng và cả anh em trong trại giam hay phải tiếp xúc với bọn lính, chúng tôi bày cho số anh chị em này gợi cảnh lính địch phải xa ruộng vườn, vợ con, phải lên rừng xanh núi đỏ, chịu sốt rét ngã nước, chết chóc... Anh chị em còn đưa truyền đơn tận tay cho họ, kêu gọi họ không đánh vào nhân dân, không đốt nương rẫy, nhà cửa...

Có hôm thằng bang Trịnh ở Tràng Xá ngồi vào bàn giấy đã thấy một tờ truyền đơn của ta nằm ở giữa bàn trước mặt hắn. Nó sợ xanh mắt, không hiểu sao nhà nó tường cao, cổng kín, có lính gác đêm ngày mà « quân Cộng sản » lại có thể vào tận đây đem cái «của quốc cấm» này vào. Quan trên mà biết việc này thì đầu nó rơi khỏi cổ ngay. Nó cũng không dám làm to chuyện. Nhìn quanh không thấy ai, nó vội vã đọc rồi lẳng lặng bỏ vào ngăn kéo khóa kín. Có lần nó thọc tay vào cái túi quần Tây nó đang mặc lấy khăn xỉ mũi thì lôi ra được một tờ truyền đơn của «Cộng sản». Tóc gáy nó dựng đứng cả lên. Mồ hôi nó vã ra. Nó bắt đầu run sợ và cho là Cộng sản đã lọt vào đây làm được việc này thì có thể lấy đầu nó lúc nào cũng được nếu Cộng sản muốn. Từ đó, nó dè dặt không dám làm điều gì quá quắt nữa. Lại thêm người vợ hai của nó cũng khuyên can mỗi lần nó định đem lính đi vây lùng hoặc càn quét, nên nó đã chùn tay lại. Thật ra, «quân Cộng sản» chẳng có tài thánh như thằng bang Trịnh tưởng tượng mà vì Cứu quốc quân đã biết làm công tác vận động quần chúng một cách khôn khéo. Chả là vợ hai của thằng bang Trịnh là con gái trẻ ở Tràng Xá, con một gia đình cách mạng. Mỗi lần cô này về thăm gia đình, ta đều bố trí người gặp, giáo dục và đưa truyền đơn bảo «cứ làm như thế, như thế ».

Có những trường hợp khác chúng tôi sử dụng những gia đình có con, cháu đi lính cho địch và những người cảm tình làm nhân mối để lấy tin ở trong các trại giam. Khi địch định đi càn đâu thì họ đã tìm cách báo được tin cho ta biết trước để ta liệu cách mà tránh ; hoặc nếu ta đủ lực lượng thì phục kích, đánh úp.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:29:30 am
Truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi binh lính địch không đi càn, không ức hiếp nhân dân thì chúng tôi rải công khai, dán công khai.

Có một đêm, một tổ Cứu quốc quân đi vào cổng đồn địch, bắn mấy phát súng có tính chất quấy rối, rồi cằm cờ Việt Minh, dán áp-phích, rải truyền đơn. Địch không dám ra, cũng không bắn trả lại. Sáng ra, nó mới dám ra khỏi đồn và cho một đại đội đuổi theo. Quan thét bảo lính: «Tụi Cộng sản nhiều lắm, lốt giày đây này, chúng nó bẻ lá ngồi đầy ra đây này ! Cố lên, quan lớn cho mề-day ». Trên đường đi, đúng là có vết giày chi chít, và lá lót để ngồi cũng phải đến hàng trung đội. Chúng có biết đâu rằng anh em chúng tôi sau khi làm xong nhiệm vụ đã cố ý làm thêm nhiều vết giày, tiến lên rồi lại giật lùi, bỏ lại thật nhiều đồ nghi binh, Bọn lính từ dưới xuôi lên không quen đi đường rừng, vừa sợ ta đông, vừa mệt quá đi không nổi, chống lại bọn chỉ huy, không chịu đi nữa.

Lại có một hôm khác, khoảng hai trung đội toàn lính khố xanh vào càn ở khu vực thôn Ngọc Mỹ...

Lúa mới lên độ ba tấc. Lúc này Hà Châm và Hồng Hải đi đến chỗ gác ở trên một quả đồi. Hồng Hải, dân tộc Dao, người cao to, ngồi trên cây gỗ ngả ra ở trên nương, vừa gác vừa suy nghĩ miên man. Từ đây nhìn sang cơ quan chỉ huy ở đồi bên kia, khoảng cách chỉ trong nửa cây số. Hà Châm nhìn về phía nhà cũ mình đã bị lính về đốt cháy, bất giác kêu lên :

— Lính đấy! Vàng(1) cả kìa !

Thấy Hồng Hải định đứng dậy nhìn theo, Hà Châm nói tiếp:

— Đừng có đứng dậy !

Nhưng Hồng Hải còn cố nhô đâu lên, hỏi:

— Đâu ? Đâu ?

Bọn lính đang đứng túm tụm ở nền nhà, soi tìm dấu giày của «quân Cộng sản». Có thằng vừa ngẩng lên, nhìn thấy, kêu toáng lên :

— Có một thằng to tướng kìa !

Chúng hò nhau xông lên. Nhưng Hà Châm và Hồng Hải phá chạy lên rừng. Bọn lính đuổi theo.Chúng chạy vào khe, gặp ngay khoảng một tiểu đội của ta, người nấu cơm, người đang tắm. Bị bất ngờ, anh đang nấu cơm thì đổ gạo đi, xách nồi chạy, có anh nồi nóng quá làm bỏng cả tay. Anh đang thui chó thì xách cả chó vứt vào bụi. Anh đang tắm cũng lao lên rừng theo chân anh em nấu cơm. Địch bắn bùng bùng lên. Lúc này tôi đang ở cơ quan, cách đó độ trăm thước. Tôi vừa nói: « Đồng chí gác làm sao rồi ? » thì Hà Châm cũng vừa về báo cáo. Tôi bảo Hà Châm: « Đánh thôi !»

Chúng tôi kéo quan ra sông Đồng Bư, chọn chỗ phục kích. Tôi đã tính rồi, thế nào bọn chúng cũng phải qua đây. Tám, chín anh em ở rừng giang nhìn xuống thấy chúng tôi ở dưới này, gọi nhau :

— Anh em đi phục kích rồi! Chạy theo anh em đánh nó thôi!

Tôi hỏi:

— Chết ai không?

Một đồng chí đáp:

— Không chết ai.

— Lính nó thế nào?—Tôi hỏi gấp.

— A lúi! Nó «ối, ối! Bắt lấy nó!», nhưng bắn không chết ai vớ!


(1) Lính địch mặc quần áo màu vàng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:29:59 am
Tôi hội ý với Hà Châm và một số anh em, nhận xét về bọn lính này. Hà Châm nói:

— Bọn này chắc có nhận truyền đơn của ta.

Anh em gật đầu, tán đồng ý kiến của Hà Châm. Tôi bảo anh em:

— Thôi không đánh nữa! Bọn này tốt.

Chúng tôi đã có kinh nghiệm rồi. Công tác binh vận của chúng tôi đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến anh em binh lính. Gặp nhau gần thế, nổ một phát là trúng, nhưng họ đều bắn vọt lên trời, miệng thì kêu ầm lên để chứng tỏ cho thằng quan chỉ huy biết là có đuổi đánh Cộng sản thật.

Bọn đi càn vượt qua cánh rừng, rồi theo đường mòn ra bờ sông. Ở đây đã có một tổ Cứu quốc quân phục sẵn. Anh em đã được lệnh chỉ tiêu diệt quân thù khi chúng nổ súng, còn không thì tiết kiệm đạn dược để dành đánh những đòn chí mạng vào bọn lính Tây.

Bọn lính ùa xuống rửa mặt. Thằng kỳ cọ tay chân, thằng phủi quần, nhặt cỏ may, rồi thì ba hoa xích đế (anh em phục ở đấy nghe thấy hết):

— Mình may ! Không khéo hôm nay ngoẻo rồi !

— Mấy ông Cộng sản thịt chó cúng ma... Ma không được ăn Cộng sản không được ăn. Mình được chén !

— Cộng sản người ta tốt đấy ! Người ta không muốn bắn mình đấy thôi. Người ta ở gốc cây, mình đi trên đường như con trâu giữa đồng. Ngắm thằng nào là đổ thằng ấy thôi !

— Thằng nào đi quá mức là thằng ấy chết ! Cái món đánh ở làng Nác đấy ! Các ông ấy bắn vọt cả lên cây cho mà chạy.

Thằng cười, thằng nói, kháo nhau ran cả một khúc suối. Anh em phục ở đấy, đạn đã lên nòng, nhưng nghe thấy bọn lính này nói vậy, bèn đưa mắt nhìn nhau. Anh em biết rất rõ cái chuyện ở làng Nác đó. Chả là bọn mật thám muốn tâng công với chủ Pháp liền mang lính đi càn làng Nác. Những người lính này đã được đọc truyền đơn kêu gọi của Việt Minh nên dúi bọn mật thám vào giữa rồi bảo tụi nó : «Các ông đi vào giữa, tụi tôi che chở cho, không có bọn Cộng sản nó bắn « xuya » lắm!». Thế là lính đi đến đâu cũng gióng to lên, làm ào ào ầm ầm lên, đánh tiếng động để ta biết mà tránh.

Một tên lính thấy đồng bọn nói to quá, bèn bảo :

— Nói vừa vừa chứ! Khéo mà các ông ấy nấp đâu đây thì bỏ mẹ !

Bỗng từ trong bụi rậm bên đường liền có tiếng người nói ra như trả lời anh lính :

— Đúng đấy ! Ở đây cũng có đấy ! Bắn thì cũng chết đấy !

Thấy vậy thằng lính sợ quá run bắn người lên. Thằng phó quản phát hoảng. Nó bảo bọn lính :

— Mẹ chúng mày ! Đi về, cái mồm bép xép thằng Tây nó biết là chết cả với nhau... May mà thằng Tây đồn nó không đi. Nó đi, bắn nhau chết uổng mạng !

Rồi nó tập họp lính kéo nhau rời khỏi bờ suối. Ra đến đường cái, bọn lính lại kháo nhau :

— Tao nói có sai đâu ! Nó trả lời bằng mồm chứ nó trả lời bằng súng thì chết ráo rồi !

Ở chỗ này cũng lại có những nòng súng của anh em ta chĩa sẵn ra rồi. Anh em ngửa cổ nói ngay :

— Đúng đấy ! Chúng tôi có đây đấy ! Muốn bắn chết thì dễ thôi !

Thế là bọn lính hấp tấp, lùi lũi kéo nhau về đồn.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:30:52 am
*
*   *

Tháng 11 năm 1941.

Đồng chí Cam đưa anh Chính về xuôi hồi cuối tháng 9, lại lên Chiến khu Tràng Xá. Cùng đi với đồng chí Cam có một đồng chí cán bộ Xứ ủy. Ban chỉ huy Cứu quốc quân phân công đồng chí cán bộ mới được phái lên tăng cường cho phong trào, chuyên trách công tác binh vận.

Từ đó, những truyền đơn, biểu ngữ đủ các loại được làm ra cho mọi thứ lính địch : lính ở xuôi, lính ngược, dõng, lính Tây, rồi lính xuôi cũng chia ra các đơn vị ở Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Móng Cái, v.v., rồi lính từ các tỉnh Trung Kỳ, lính Tây Nguyên. Khi quần chúng nhân dân báo có loại lính nào là chúng tôi đã có ngay loại truyền đơn thích hợp để rải trên đường chúng đi, đưa tận tay hoặc bỏ cả vào túi quần cho chúng bằng những bàn tay bí mật. Nội dung những truyền đơn đều nói rõ cho họ hiểu : «Chúng tôi không phải là giặc cỏ; chúng tôi chống lại đế quốc Pháp và phát-xít Nhật để giải phóng nước nhà, để có cơm no áo ấm cho mọi người, để không bị ai đè nén, áp bức, bóc lột ». Chúng tôi chỉ rõ : « Nhật là bọn đã bắt cha mẹ. vợ con các anh nhổ lúa trồng đay cho chúng. Cha mẹ, vợ con các anh phải chịu đói, chịu khát. Hãy quay súng bắn lại bọn chỉ huy nếu có điều kiện. Không có điều kiện, bắt buộc phải nổ súng thì bắn chỉ thiên. Hai bên không bắn nhau !». Truyền đơn còn nhắc họ nhớ đến làng quê của họ: «Các anh đi đốt nhà, cướp phá ở đây, ức hiếp nhân dân thì ở làng xóm quê các anh, cha mẹ, vợ con các anh có thoát được cảnh tương tự không ? Gây oán thì chuốc lấy oán! Gây thù thì chuốc lấy thù! Các anh hãy ngẫm cho kỹ!».

Bọn lính ở Nam Định lên bị « Cộng sản cảm hóa », chùn tay không bắn giết thì bọn chỉ huy đổi họ đi nơi khác, rồi điều lính mới ở nơi khác đến. Truyền đơn liền bay tới kêu gọi: «Các anh nên bắt chước anh em binh lính ở Nam Định. Không ức hiếp nhân dân. Hai bên không bắn nhau...». Cứ thế, Cứu quốc quân vừa đánh vừa tuyên truyền, vận động, thuyết phục binh lính địch.

*
*   *

Trên đường Mỏ Mủng — một thung lũng nhỏ — một buổi sáng mùa đông. Một tiểu đội Cứu quốc quân gồm Hà Châm, Hà Mạnh Tài, Sơn, Hòa, Cường v.v. do Châm và Hòa chỉ huy vừa đi công tác vận động quần chúng vừa phân ra từng tổ đi lấy lương thực cho toàn đội. Nhân dân ở vùng gần đồn Nà Lẹng mất một con trâu. Họ đi tìm hai ngày nay không thấy. Bọn mật thám tung tin «Cộng sản lấy trâu đi thịt» để làm xấu Cứu quốc quân và chia rẽ giữa nhân dân và quân cách mạng.

Tổ của Hà Mạnh và Hòa nghe dân nói thế, quyết đi tìm trâu cho dân. Đến gần một cái lò vôi, hai đồng chí nghe thấy một vài tiếng «nghé... ọ...» yếu ớt. Đi đến tận nơi, nhìn thấy một con trâu tụt xuống đó. Hai người không sao lôi được trâu lên. Chung quanh đấy không có ai hết, mà vào làng lúc này, giữa ban ngày thì không được vì ở đấy có một trại tập trung có cả lính dõng và mật thám, lính khố xanh. Anh em bàn nhau viết mấy chữ vào một mảnh giấy, kẹp vào cái que cắm ở gần Nà Lẹng: «Có trâu ai rơi xuống lò vôi. Đến mà cho nó ra ». Rồi lại ra đi làm nhiệm vụ.

Địch thường đi tuần trên đường Tràng Xá— Hương Bá. Dạo này, chắc có cái gì đột biến nên lụi nó đi đông hơn và tăng cường đi luôn.

Tiểu đội Cứu quốc quân đi công tác trở về vừa qua khỏi đường cái thì chạm trán với một đại đội địch. Địch nổ súng luôn. Dù đang ở thế bất lợi, lực lượng ta ít hơn địch, anh em đã nhanh chóng vừa bắn lại vừa tim cách rút khỏi nơi nguy hiểm. Hà Mạnh nhằm bắn từng thằng, nói gằn :

— Chúng mày ăn hết ngần này đạn, tao mới chịu!

Tiếng đạn nổ rất đanh. Mỗi lần Hà Mạnh bóp cò súng là một tên địch gục xuống. Cái anh chàng thanh niên 23 tuổi, tính tình sôi nổi này rất xốc vác, được anh em trong tiểu đội rất mến. Chủ tâm của Mạnh lúc này là bắn để anh em rút an toàn. Với khẩu súng Dóp 5 và năm chục viên đạn trong túi, Hà Mạnh đã kiềm chế được cả một đại đội địch: chúng hoảng sợ khi thấy hơn chục tên đồng bọn, thằng bị bắn vỡ sọ, thằng bị đạn xuyên thủng ngực, máu me lênh láng cả trên mặt đường. Chúng định xông bừa vào bắt sống «tên giặc cỏ lợi hại». Nhưng thò thằng nào, Mạnh bắn đổ thằng ấy. Không làm gì nổi Mạnh, bọn sống sót đổ thêm một loạt đạn nữa rồi vội vã khiêng nhau rút chạy.

Tiểu đội Hà Châm lạc nhau lúc đó nhưng rồi chiếu theo hướng cơ quan vẫn về được đầy đủ, chỉ thiếu có mỗi đồng chí Hà Mạnh. Anh em đoán là Mạnh chỉ vào chỗ hẹn công tác. Chúng tôi bảo nhau : «Ở đây cách chỗ ấy có năm, sáu cây số, không có lý gì Mạnh không tìm về được. Mạnh chỉ tạt vào đâu đây thôi». Mọi người bổ đi tìm. Ra đến đường Mỏ Mủng, tìm chung quanh chỗ xảy ra trận tao ngộ chiến vừa qua, không thấy một dấu vết gì. Đi đi lại lại tới ba, bốn lần quãng đường đó, đến thuộc từng ngọn cỏ, bụi cây, nhưng không làm sao thấy được người bạn chiến đấu của mình ! Anh em đi vào xóm Mạnh hẹn đến công tác, cũng không thấy tăm hơi!

Năm, sáu ngày sau, dân đưa tin ra là có thấy một thanh niên súng khoác qua vai, hai nách kẹp hai cây, chết ở trong rừng, bà con đã chôn cốt tử tế.

Chúng tôi hình dung ra được Hà Mạnh sau trận đánh đã bị thương nặng : anh khoác súng chéo trên lưng, dùng tay bẻ cây, kẹp vào nách, lết từng bước vào sâu trong rừng tránh một cuộc bao vây mới của địch, rồi tìm đường về đơn vị. Song vết thương của anh đã ra quá nhiều máu...

Năm, sáu ngày nay vắng bóng người thanh niên xốc vác, hiếu động, anh chị em chúng tôi đã khóc nhiều, nay được tin dân báo, nước mắt lại tuôn rơi. Có anh chị em khóc nấc lên từng hồi. Chúng tôi đều thấy phải trả thù này !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:31:38 am
*
*   *

Từ sau trận tao ngộ chiến giữa đại đội địch và Cứu quốc quân II trên đường Mỏ Mủng, địch bắt đầu đóng đồn Nà Lẹng và đưa thằng đội Béo, người Cao Đằng, về làm trưởng đồn. Nó vừa là mật thám vừa là đầu sỏ của một trung đội lính khố xanh, khét tiếng đánh người, tra tấn không gớm tay !

Để cắt đứt mối dây liên lạc giữa quần chúng nhân dân và Cứu quốc quân, ngăn cấm cả việc đưa tin giữa nhân dân với nhau, thằng đội Béo có cả một kế hoạch cụ thể rất tàn bạo. Dân ở các xóm lẻ tẻ, nó dồn về Nà Lẹng, phần nhét vào các trại tập trung, phần thì đưa vào trại giam. Nó bảo : « Để chúng mày không còn là chỗ trú chân cho bọn Cộng sản ». Ruộng Nà Lẹng đang hạn hán, nó cũng mặc. Nó muốn làm dân chết đói bớt đi để không còn gì mà tiếp tế cho Cứu quốc quân nữa ! Nó cấm các chợ lẻ, chỉ cho họp chợ Đình Cả.

Ngày phiên chợ, tám giờ sáng nó tập trung những người dân đi chợ ở chân đồn Nà Lẹng, ở Đồng Ẻn. Lính dẫn dân đi chợ : đầu lính, cuối lính, giữa lính, đạn lên nòng sẵn. Đi giữa là dân và thằng đội Béo. Con đường từ Nà Lẹng đến chợ Đình Cả có đến mười cây số. Dọc đường, không ai được đi đâu hết : thẳng một mạch đến chợ, ai chạy ra khỏi hàng là nó xả súng bắn liền.

Đến chợ, nó khoanh lại một vùng. Người ở Tràng Xá chỉ được mua bán trong một ô dành sẵn cho người Tràng Xá. Người Lâu Thượng mua bán ở một ô riêng. Phú Thượng một ô riêng. Người ở ô này không được quyền sang ô khác, cũng không có phép được «lầm ô». Bọn lính và thằng đội Béo, bọn mật thám đầu sỏ ở chợ với những con mắt hằn thù và mũi súng chong sẵn, theo dõi từng bước chân đi và việc mua bán của dân. Người quen không được quyền hỏi thăm nhau vì bị chúng nghi là truyền tin, đưa thư.

Chín giờ hoặc hơn, nó lại dẫn về. Vẫn đầu lính, đuôi lính, giữa là nhân dân và thằng đội Béo. Về thì bọn lính có hơi chủ quan hơn : phần thì ra chợ được đánh chén, chớt nhả với các «noọng», phần cũng đã mệt nên họng súng tiếng là chong chong đấy nhưng không còn hầm hè như lượt đi nữa.

Đồng bào ở các trại tập trung ai cũng muốn giết tên đội Béo. Anh em trong nhà giam cũng nhận ra : « Phải khử thằng đội Béo ! Đừng để sổng nó ! ». Căn cứ vào yêu cầu khẩn thiết của quần chúng nhân dân, Ban chỉ huy Chiến khu Tràng Xá quyết định diệt tên trùm mật thám lợi hại này.

Một tiểu đội gồm mười một đồng chí được cử làm việc này. Mười một người phải chọi với một trung đội lính khố xanh, hơn nữa thằng đội Béo đã thành « tinh », rất xảo quyệt, hắn đề phòng rất dữ.

Trong số anh em đi làm nhiệm vụ có hai anh em Kỳ và Sơn là em ruột của Hà Mạnh, đồng chí đã hy sinh trong trận chiến đấu trước. Hà Kỳ mới 22 tuổi, nhỏ người, gầy gầy mà rất dai sức, bình tĩnh, gan dạ. Hà Kỳ lại là một tay thiện xạ. Hà Kỳ xin đi để trả thù cho anh và đã được Ban chỉ huy Chiến khu đồng ý.

Chúng tôi thành lập bốn tổ : một tổ vừa làm nhiệm vụ cảnh giới vừa đánh tiếp viện ; một tổ bắn thằng đội Béo và đoạt súng của nó ; một tổ đánh tạt ngang hông, vừa kiểm soát con đường đồn Tràng Xá lên ứng cứu; tôi và một đồng chí nữa kiểm soát con đường Đình Cả xuống Tràng Xá.

Một tổ do đồng chí Hà Kỳ phụ trách được giao đi trinh sát từ phiên chợ trước. Hà Kỳ sẽ chọn chỗ đánh. Phiên chợ sau mình mới ra tay. Cũng phiên chợ này, đồng bào sẽ đi mua mỡ, mắm tôm, giấy bút và diêm cho Cứu quốc quân. Chúng tôi lại có kế hoạch cho noọng A, noọng B đi kèm đội Béo, làm cho nó «tít mắt» mà ít chú ý đến chung quanh. Suối Bùn được chọn làm nơi phục kích. (Gọi là suối Bùn vì đây là con suối nước ngập ứ lại, bao nhiêu rác rưởi các nơi tụ ở đây trước khi chảy ra sông Đào). Ngoài súng đạn, chúng tôi mang đủ truyền đơn binh vận đi để khi làm xong nhiệm vụ là thả ngay trên trận địa. Lần này anh em tọng truyền đơn vào ống nứa trên rắc mấy hột muối, hoặc cuộn chặt lại bỏ vào bao diêm.

Phiên chợ : ngày trả thù cho nhân dân và anh em ở các nhà giam đã từng bị tên đội Béo tra tấn, trả thù cho đồng chí Mạnh, đã tới. Từ sáng sớm, chúng tôi kéo quân đến chỗ phục kích. Cách suối Bùn khoảng một cây số thì đóng lại, nằm ngay sát đường và cử người trinh sát lại.

Trời nắng. Trên đường cái lính lại dẫn dân đi chợ. Vẫn cái cảnh kèm dân bằng súng như những phiên chợ trước. Có điều là hôm nay tụi nó có một khẩu trung liên đi vào giữa. Anh em chúng tôi đã sẵn sàng, chờ bọn đội Béo trở về. Phút chờ đợi thật là căng thẳng.

Mặt trời lên càng cao chúng tôi càng hồi hộp. Nhưng kia rồi, bọn lính đã từ chợ Đình Cả kéo về, hàng ngũ chuệch choạc.

Mũi súng căm hờn của Hà Kỳ đã rê theo cái ngực to bè của thằng đội Béo từ xa. Nhiệm vụ phân cho các tổ đã rõ ràng. Và phát súng của Hà Kỳ sẽ là phát súng lệnh mở đầu cho trận đánh.

Như thường lệ, đến những chỗ đã quy định từ trước, bà A, cơ sở của ta, xin phép lính cho đi đái, bà B xin phép lính cho «đi đồng». Lợi dụng lúc đó, các bà đã giấu cho Cứu quốc quân những thếp giấy tráng để in truyền đơn, những bao diêm, những gói muối, rồi các bà lại đi ra xếp hàng về nhà. Còn noọng A, noọng B đến gần suối Bùn, đã tìm cách đi cách xa đội Béo.

Đội Béo đã vào đúng tầm khẩu Dóp 5 của Hà Kỳ. Hà Kỳ nheo mắt lại, bóp cò, quất đủ một băng năm viên dạn: bốn viên xuyên thủng ngực tên đội khố xanh lợi hại. Nó ngã dập xuống không kịp kêu một tiếng. Khẩu Dóp 5 của nó văng đi. Hà Sơn chạy ra đoạt lấy khẩu súng, bắn vào bọn lính địch đang tìm cách lẩn trốn. Cả bọn lính như rắn mất đầu, chạy ào cả xuống suối Bùn. Chúng bắn súng đùng đùng gọi tiếp viện hai đồn Nà Lẹng và Đình Cả.

Đồng bào đi chợ nghe tiếng súng nổ biết «các anh ấy» đánh bọn lính, nhưng vì không biết cách tránh nên có người chạy cả xuống dưới suối, lẫn với bọn lính.

— Ở đâu nằm ngay xuống đấy ! — Tôi hét to, cố át tiếng súng — Chúng tôi là Cứu quốc quân ! Chỉ đánh bọn đội Béo thôi. Đồng bào không chạy lộn xộn !

Bỗng nhiên một thằng đâm sầm xuống bờ suối định chuồn. Cứu quốc quân nổ súng. Nó ngã gục ngay xuống. Nhìn ra thấy chính là một tên mật thám địa phương khét tiếng gian ác.

Trừ khử được hai tên đầu sỏ, chúng tôi thu quân, rút hết, chỉ để lại trên trận địa những «ống muối» và «bao diêm» trong có truyền đơn, loại rải công khai, loại để chúng dút túi mang về...

Trận đánh rất gọn. Chúng tôi toàn thắng trở về, không người nào xước đến một tý da...

Trận đánh ở suối Bùn gây được ảnh hưởng khá lớn đối với bọn lính. Chúng bảo nhau : « Đúng mà ! Cộng sản chỉ bắn mấy thằng mật thám thôi mà !».

Một số mật thám trước đây hung hăng bao nhiêu thì nay sợ sệt bấy nhiêu. Chúng đổi quần áo, mặc áo lính cho đồng màu, nhưng cũng không thoát chết. Sau chúng không đi dẫn đường nữa mà đi vào giữa bọn lính. Lính lại tìm cách báo cho ta biết. Bọn mật thám báo cho chủ Tây, chúng bèn đổi lính đi nơi khác.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:32:32 am
*
*   *

Khuôn Đã là một dãy núi đất ngăn cách làng Nho và làng Nác. Trên núi, toàn một loại cây to vừa người ôm, cao chọc trời, xen lẫn là nứa. Đây là giang sơn của gấu, hươu, nai, khỉ, lợn chà. Thỉnh thoảng hùm về, dấu chân to băng cái đấu.

Cơ quan chỉ huy của chúng tôi đã phải thuyên chuyển hàng chục lần. Những đội tuần tiễu của địch tăng nhiều hơn. Các khe suối, các ngả đường đều có lính hoặc dõng canh gác.

Truyền đơn của địch dụ dỗ Cứu quốc quân bỏ súng đầu hàng tung ra khắp nơi. Bố cáo lớn dán đầu đường, ngoài chợ kêu gọi nhân dân lấy đầu cán bộ nộp quan lấy thưởng. Để đối phó với tình hình mới, Cứu quốc quân rút dân vào đóng ở chân dãy núi Cai Kinh.

Các đơn vị lính khố đỏ, khố xanh mới được điều động tới thay lính địa phương. Công tác binh vận gặp thêm khó khăn, vì có những toán lính thiểu số miền Trung mới tới: họ không hiểu gì tiếng Kinh, tiếng Nùng cả!

Ở Khuôn Đã — một xóm nhỏ khúc khuỷu theo ý nghĩa của cái tên Khuôn Đã — chúng tôi đóng hai cơ quan : một cơ quan nặng gồm toàn là phụ nữ, trẻ con, cụ già của các đồng chí Nhì Phung, Phúc Lâm, Hoàng Tài, Hà Châm, nói chung là những người không thể chiến đấu được. Phụ trách bộ phận này là ông cụ Hà Châm, Cách cơ quan nặng độ mười cây số, ở rừng Ngọc Mỹ, là cơ quan nhẹ, chỉ huy và lãnh đạo.

Quần chúng cơ sở bốn chung quanh đã báo cho biết nhiều tin tức về sự tăng cường hoạt động của địch. Biết vậy, anh em chúng tôi có chú ý canh gác thêm. Chúng tôi đang nằm trong vòng vây của địch. Song chỉ cần khôn khéo và tỉnh táo thì dù có đông quân, chúng cũng không làm gì nổi.

Nhớ lời anh Chính dặn trước khi về xuôi, trong những cuộc sinh hoạt, học tập buổi tối, mỗi chiến sĩ báo cáo phần việc của mình, của tổ mình làm trong ngày, tôi thấy mỗi người đều nói lên niềm tự hào được là Cứu quốc quân. Khi nhắc lại câu « Cuộc chiến đấu của Cứu quốc quân sẽ có tác dụng cổ vũ phong trào cách mạng cả nước ta và thiết thực góp một phần nhỏ vào việc ủng hộ Hồng quân Liên Xô chống phát-xít xâm lược», lúc đó, thật ra tôi cũng chưa thấy được đầy đủ ý nghĩa cái tiếng súng kíp nhỏ bé của Cứu quốc quân trong núi rừng Việt Bắc, giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, có thể vang xa vượt ra ngoài biên giới góp phần hưởng ứng tiếng súng của Hồng quân Liên Xô đang chống chủ nghĩa phát-xít trên thế giới.

Bấy giờ, anh em mới chỉ biết đang phải chống chọi với lính và mật thám đông hơn mình gấp bội, súng ống, đạn dược cũng hơn mình nhiều lắm. Nhưng lòng dân và núi rừng trùng điệp đều thuộc về chúng tôi. Tiếng súng kíp, súng thập của Cứu quốc quân vẫn nổ đều.

Buổi tối hôm ấy, chúng tôi có sáu, bảy người đi vào làng Nho lấy gạo. Sáng ra, đồng bào đi gặt lúa. Lính đứng gác trên một quả đồi, ngay sát cánh ruộng. Gặt và đập được chừng nào, nắng lên là tãi ra phơi ngay tại ruộng. Thóc ấy đồng bào để dành cho Cứu quốc quân. Đến giờ phải về và bọn lính thổi còi giục dăm bảy đận, đồng bào chỉ hót thóc ở trong loỏng mà thổi. Chúng tôi đã có tổ gác lính, tổ ra hót số thốc đồng bào cố ý để lại cho Cứu quốc quân.

Có anh em tìm được chỗ gần rừng, gần ruộng lại xa con mắt của bọn lính, nói chuyện với đồng bào gặt lúa. Có chị phụ nữ mách :

— Cái thằng Sáng nó trèo lên cây đấy ! Nó bảo ở trong rừng có nhiều khói. Chắc bọn Cộng sản đóng cơ quan trong ấy đấy !

Một bà già cũng bảo :

— Mấy con, mấy cháu ơi ! Thằng Sáng nó theo Tây rồi ! Nó ác lắm ! Phải cẩn thận đấy !

Mới nói được dăm ba câu chuyện, mặt trời đã đứng bóng. Từng hồi còi rúc lên. Bà già bảo tôi :

— Lính nó bắt về rồi ! Bà để cho mấy cháu thóc phơi khô ở đây đấy ! Cả đống kia nữa !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:33:00 am
Tiếng bọn lính thét lác ầm ĩ :

— Đi ! Gánh hết về ! Đứa nào để thóc lúa cho Cộng sản, cắt đầu !

— Mấy con mụ già này ! Mau lên ! Vít ! Chúng ông đói lắm rồi !

Ruộng đồng đã vắng ngắt. Tên lính cuối cùng đã quay lưng về phía chúng tôi, thúc những người gánh chậm. Chúng tôi đến những chỗ bà con giấu thóc để ủng hộ Cứu quốc quân, vừa cảm phục các mẹ, các chị, vừa thấy lòng xót xa chưa làm được gì cho các mẹ, các chị đỡ khổ. Những điều bà con mách bảo cho thấy địch đã biết chúng tôi rồi, và có thể chúng tới đánh úp lúc nào không biết. Chúng tôi họp nhau lại, và thống nhất ý kiến là tôi cùng với Khánh Phương, Phấn, Phố phải đi báo ngay cho cơ quan nặng biết tin này và giúp họ đi đi chỗ khác ngay.

Chúng tôi đi theo sườn núi để về cơ quan nặng. Trên đường, những dấu vết của loài lợn chà, hươu, nai chạy động còn nguyên. Phố nói ngay :

— Chắc có bọn nào vừa qua đây vớ !

Tôi cho nhận xét của Phố là rất đúng, nên càng chú ý quan sát hơn. Đi đến cái khe suối chảy ra ở làng Nác, chúng tôi đã thấy địch từ ba mặt kéo tới : một cánh từ khe suối lên, một cánh theo đường mòn từ làng Nác qua Khuôn Đã, một cánh từ làng Dâu và làng Vang theo triền núi vào đèo. «Được! Sẽ chơi nhau một trận! Ít cũng chơi!». Tôi nghĩ vậy. Chúng tôi chỉ có bốn người, hai súng kíp, hai pạc-hoọc.

Chúng tôi nép vào một chỗ xem cách nó bố trí quân để còn tìm cách đối phó. Nếu nó đi theo suối ngược lên thì sẽ gặp đúng cơ quan nặng, nhưng đường này khó đi, có thác dốc. Bọn đich vòng lên bên phải. Dù thế nào chúng tôi cũng phải đến với bộ phận toàn cụ già, đàn bà và trẻ con ấy.

Lên đến trên đỉnh đèo Khuôn Đã thay toàn vết giày đinh thành hẳn một con đường đi mới.

Tôi ra hiệu cho anh em đừng làm cái gì to tiếng quá. Rồi bốn người chia làm hai tốp, giấu bớt gạo đi để rảnh tay mà chiến đấu.

Bọn chúng có lẽ đã tập trung xuống đến xóm Khuôn Đã rồi. Chúng tôi ra đường mòn, nghe thấy bọn chúng giục nhau và văng tục.

— Phấn đi trước làm tiêm binh! — Tôi phân nhiệm cho từng người — Khánh Phương đi thứ hai, tôi đi thứ ba. Phố đi sau cùng.

Phấn vọt đi trước ba chúng tôi độ hai, ba chục thước. Vừa đến lưng chừng một dốc đổ xuống khe thì một trung đội địch cũng vừa ở đầu dốc đối diện. Phấn phất tay ra hiệu cho chúng tôi rồi chạy xuống khe nấp, chuẩn bị chiến đấu. Khánh Phương cũng chạy xuống theo. Tôi đi thứ ba thấy vậy lao xuống. Địch bắn theo mấy phát. Không trúng ! Đất đá đỏ tóe lên đỏ cả áo. Phố định chạy xuống cùng với tổ nhưng bị bắn rát quá, không còn đường xuống khe, liền tạt ngang vào rừng.

Xuống tới khe, ba chúng tôi mỗi người nằm cách nhau hai, ba sải tay. Chúng tôi xích lại gần nhau, nằm phục sau một thân cây đổ.

Tôi hất hàm hỏi Khánh Phương:

— Phố nó đâu rồi ?

— Nó khắc biết cách đánh, không lo —Khánh Phương đáp.

Địch phải xuống dốc. Thấy tôi đeo chăn dạ, không thấy súng (súng tôi kẹp vào đùi), hai thằng giành nhau:

— Mày bắn trước hay tao bắn trước? Nó có cái chăn đỏ ối kia kìa !

— Chóp thằng này, được tươi đấy !

Ỷ vào số đông, nhiều súng, ở phía trên chúng ào ào kéo xuống, hò hét ầm ĩ. Thằng cai hô: A-la-xô!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:34:08 am
Tôi chưa nghe rõ hỏi Khánh Phương:

— Nó hét cái gì?

Khánh Phương ngẩn ra, rồi tặc lưỡi:

— À ! Chắc là nó bảo xô xuống vớ!

Tôi cười bảo Khánh Phương và Phấn :

— Bình tĩnh ! Các cậu cứ nổ từng thằng một cho mình. Nổ phát nào ăn chắc phát ấy!

— Anh cứ tin ở chúng tôi! — Khánh Phương nói — Súng kíp của tôi bắn hùm còn đổ đấy!

Khánh Phương thường rất tự hào về khẩu súng kíp của mình. Mắt tôi nhìn về phía địch. Chúng giục nhau:

— Sợ đếch gì ?

— Đi!

Bốn thằng hung hăng xông xuống dưới khe này trước. Đã nghe rõ cả tiếng nó lên đạn và tiếng giày đinh. Tôi quay bảo khẽ Phấn :

— Chờ vào đúng tầm đã !

Phấn gật đầu. Cái nòng dài khẩu súng thập(1) của anh rê theo mục tiêu. Bỗng, đoàng ! Phấn nổ một phát nghe rất đanh ; một thằng mặc đồ vàng sập xuống như một thân cây đổ, lăn lông lốc. Phấn bắn phát thứ hai, nhưng đạn tranh nhau lên : hóc rồi !

Khánh Phương bắn súng kíp, nhưng pò mè ơi ! Cái súng bắn hùm ấy chiều nay nó lại giở quẻ! Và anh đã giã đến phát thứ ba mà chỉ nghe thấy một tiếng «tắc» lạnh nhạt !

Thằng cai thấy thế quỳ xuống ngắm. Nó rê súng nhằm vào Khánh Phương. Khánh Phương mắm môi nổ phát thứ tư. Phát súng kíp của anh nổ trước khi thằng cai bóp cò, nó đổ xuống, và khẩu súng văng đi. Bọn lính xô bừa xuống. Khánh Phương không nạp được đạn nữa, lúc đó tôi mới dùng khẩu pạc-hoọc và cứ hai, ba phát một, phát nào « ăn » phát ấy. Chúng tôi vừa bắn vừa kiểm soát cả ba mặt. Tiếng bọn chúng hò hét ầm ĩ :

— Nó ở giữa khe. Phơ !

Lính bắn một loạt ầm ầm. Cành lá rụng ào ào.

Bỗng lại có tiếng một thằng nào đấy :

— Nó ở cây gỗ mục gần suối. Bắn !

Cứ mỗi lần có thằng phát hiện một mục tiêu nào là chúng lại rầm rầm đổ đạn vào. Tôi đã đổi vị trí mà chúng không hay biết. Có tiếng một thằng, áng chừng là cai :

— Nó còn lên đạn lách cách đấy !

Địch tưởng quân ta ở dưới khe khá đông. Chúng lại vừa bị chết, bị thương thêm mấy thằng, nên ngập ngừng không dám tiến. Chúng có biết đâu rằng cái tiếng lách cách ấy là cái thông nòng của Phấn đang cố tọng cho ra cái viên đạn hóc! Chỗ tôi nấp nông quá, hở nửa người. Nhưng toàn tay súng khá nên bọn lính cũng sợ. Bọn địch có thằng trông thấy vừa nấp vừa cãi nhau ầm ĩ:

— Nó thò đầu ra kia kìa !

— Có thế mà bắn không trúng !

— Chúng mày là đồ ăn hại!


(1) Súng bắn được mười viên đạn. Pạc-hoọc cũng là nó.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:34:47 am
Nó vòng xuống khe, bắn lên loạn xạ. Tôi quay mũi súng xuống nhằm vào những thằng thò thụt sau gốc cây. Tôi nhằm một thằng dõng, nổ một phát: cái nón nó đang đội đầu bay mất. Nó ngẩng lên tí nữa thì trúng óc. Tôi còn trông thấy rõ tụi đứng núp sau cây run lên không bắn được.

— Lấy tạc đạn ném xuống! — Những thằng ở trên gào lên.

— Bắn đi!

— Mẹ mày! Mày thấy thì mày bắn đi!

Do mình bí mật được nên tụi nó cứ bắn lu bù mà chỉ hạ được cành cây và «sầy da» những mô đá.

Và mãi không thấy một quả lựu đạn nào ném tới, thì ra nó chỉ dọa anh em mình thôi. Bọn chúng đã chết sáu, bảy thằng rồi. Còn anh em chúng tôi vẫn không ai việc gì.

Đã gần một tiếng đồng hồ qua đi. Ánh nắng đã nhạt. Khánh Phương không nạp đạn được súng, nói khẽ :

— Đấy, nó đấy! Anh Cư bắn đi! — Nó thò đầu ra đấy!

Tôi định đưa súng cho Khánh Phương bắn vì anh ta trông thấy địch. Nhưng dây súng tôi quàng qua vai, lại ở dưới cái chăn, nên lằng nhàng mãi không đưa qua được.

Lúc đó, súng phóng lựu đạn của bọn tiếp viện mới bắn về phía chúng tôi. Nhìn chiều trời và cách đánh của bọn lính này, tôi biết chúng cũng không ở đây lâu. Có khi đây là một sự báo hiệu cho việc rút lui của chúng. Tiếng đạn nổ ầm ầm cả núi rừng. Nếu ở mãi một chỗ như thế này, chúng tôi khó tiến công địch. Phải nghi binh, đánh vòng ra phía sau... Tôi liền ném hòn đá làm hiệu cho Phấn và ra hiệu cho Khánh Phương rút. Hai cậu hiểu ý, gật đầu. Tôi nhằm vào bọn lính đang nhốn nháo, bắn pàng pàng hai phát : chúng nằm úp đầu xuống tránh đạn. Cả ba chúng tôi quăng người qua cây to bằng cái bàn ngả qua suối. Và chạy theo khe ngược lên, luồn rừng, chúng tôi chạy về hướng cơ quan nặng. Có đến nửa tiếng đồng hồ đi với tốc độ như vậy.

Cơ quan nặng vắng lặng.

Bóng tối vừa chụp xuống thì trời cũng đổ mưa to. Không nấu ăn được. Đành chặt lá chuối, tạm che mưa, nằm ngủ ở cơ quan Khuôn Đã.

Sáng ra, ba chúng tôi tạt qua chỗ hôm qua đánh nhau tìm vùng ra mãi xa, cũng không thấy ai hết: cái bộ phận lắm đàn bà, trẻ con, ông già này không biết giờ này ẩn náu ở đâu hay đã lạc nhau lung tung cả rồi. Còn Phố cũng không thấy bóng, không hiểu cậu ta trong lúc ta, địch bắn loạn xạ như vậy cậu ta tránh như thế nào ? (Vì trong suốt trận chiến đấu, tôi không nghe thấy tiếng súng của cậu ta). Tuy nhiên, điều lo lắng nhất của chúng tôi là bộ phận nặng. Chúng tôi xuống cả địa điểm dự bị 1 và dự bị 2 (đề phòng khi có động thì di chuyển), nhưng không thấy tăm hơi.

Suốt cả ngày chúng tôi đi tìm cơ quan nặng, xem xét các dấu vết trên các đường dẫn tới đây : không có cái gì nói rằng địch đã đặt chân tới. Chắc bà con ta đã rút đi nhưng chưa biết là đi về hướng nào thôi...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:36:58 am
*
*   *

Bộ phận do ông cụ Hà Châm chỉ huy ra sao? Thấy súng nổ vang ầm cả núi, ông cụ bảo bà con :

— Đánh nhau ở trên đầu mình rồi ! Đi thôi ! Ta về Ngọc Mỹ(1) cái đã !

Thật ra ông cụ cũng không biết chúng tôi đóng cơ quan nhẹ ở đây mà do đầu óc nhận xét, lại rất thông thạo đường đi lối lại trong mấy khu rừng này nên cụ quyết định như vậy.

Thế là các bà có con mọn, đứa lớn dắt tay, đứa nhỏ địu sau lưng, bòng, tay nải, gạo, bắp, nồi niêu đem đi hết, không để lại một cái gì nói cho quân giặc biết là ta đã ở đây.

Đoàn người ấy đi cả đêm, dưới sự chỉ huy và động viên khuyến khích của một ông già.

Sáng hôm sau, trong lúc chúng tôi nóng lòng đi tìm họ ở cả hai địa điểm dự bị, ông già dặn bà con về đến rừng Ngọc Mỹ, lại đúng ngay cơ quan nhẹ ! Phố và anh em lấy gạo ở làng Nho đã ở đây rồi. Khỏi phải nói sự vui mừng của số anh em này : họ bế những em nhỏ, đặt vào giường, đỡ các bà các chị ngồi nghỉ. Lấy nước cho uống, và chuẩn bị đi nấu cơm. Ông cụ Hà Châm vừa pụp thuốc lào vừa kể chuyện «cuộc hành trình» cho nghe. Nhưng không thấy bọn ba anh em tôi cùng về, mọi người đều thấy lòng dạ như lửa đốt, chẳng còn lòng dạ nào mà nghe cho đến đầu đến đũa nữa.

Cả ngày hôm đó, mọi người đều nhìn ra rừng trông ngóng.

Đến tối chưa thấy chúng tôi về, có người đã khóc.

Tang tảng sáng hôm sau thì ba chúng tôi về đến cơ quan. Mọi người nghe tiếng vùng cả dậy, vừa khóc vừa cười...

Sau đó quân chúng ở làng Dâu, làng Van và anh em trong trại giam ở đồn Tràng Xá báo cho anh em Cứu quốc quân biết «bọn chúng đã phải khiêng 9 khiêng về Tràng Xá. Trong 9 thằng vừa chết vừa bị thương đó có thằng cai».


(1)  Quê của ông cụ Hà Châm.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:38:51 am
*
*   *

Âm mưu tách nhân dân ra khỏi Cứu quốc quân quả là thâm độc và gây cho Cứu quốc quân những khó khăn lớn. Lương thực đã cạn dần, chỉ còn đủ ăn được ít lâu nữa. Để đề phòng bất trắc, anh em đã phải ăn độn thêm củ mài, củ dao.

Trước đây nhân dân đã tìm mọi cách tiếp tế cho chúng tôi như để lại thóc lúa đã đập xong ở ngay tại ruộng, tại nương; để muối, diêm, giấy, thức ăn tại hốc cây, hốc đá, cối nước. Để nuôi một đội quân thoát ly có lúc tới hơn 70 người, cùng với một số gia đình Cứu quốc quân bị khủng bố dữ quá cũng phải chạy theo, trong một thời gian dài, khối nhân dân thưa thớt của vùng Võ Nhai đã phải nhịn ăn, nhịn mặc. Họ đã thắt lưng buộc bụng, hy sinh quên mình đến cao độ. Nhưng đến nay khả năng tiếp tế đó đã giảm xuống rất nhiều. Chúng tôi lo vụ giáp hạt tới không có gì ăn, vì số đông nhân dân đã bị tập trung. Mùa mưa lũ cũng sắp tới. Nếu Cứu quốc quân không mau chóng xử trí cho hợp với tình thế, thì sẽ có thể lâm vào tình trạng nguy khốn.

Cuối cùng, chúng tôi còn vấp phải một khó khăn quan trọng nữa là đứt hẳn mối liên lạc với Trung ương. Đã nhiều lần chúng tôi tới các trạm liên lạc đặt ở Tam Thái(1), Long Giàng(1), Khe Mo, nhưng vẫn bặt vô âm tín; không một mảnh thư, không một bóng người.

Hoàn cảnh ngày càng cấp bách. Vòng vây của địch rải ra cả bốn mặt: Võ Nhai — Bắc Sơn, Đồng Hỷ, Yên Thế, Hữu Lũng. Chúng tôi vẫn hoạt động trong lòng địch. Trung ương dặn: Phương châm vẫn là kiên trì đánh du kích, chống khủng bố. Chúng tôi cùng nhau ôn lại những lời dặn đó, kiểm điểm lại xem mình thực hiện được đến đâu, còn gì chưa làm được.

Nắm chắc tinh thần những lời dặn dò của Trung ương trước khi anh Chính về xuôi, Ban lãnh đạo Cứu quốc quân quyết định phải chủ động tự giải quyết lấy khó khăn, tự đề ra chủ trương, mạnh dạn phát huy tinh thần sáng tạo của tập thể, kiên quyết hành động ngay... Nếu cứ giữ lấy Chiến khu đương đầu với quân thù, thì quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng không tránh khỏi hao tổn...

Vị địch khủng bố một cách rất dã man và lúc này phong trào cách mạng cả nước chưa lên mạnh, ở Bắc Sơn — Võ Nhai lại chưa phát động được quần chúng một cách mạnh mẽ để tiến hành đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, cho nên sau nhiều ngày tháng chiến đấu, Cứu quốc quân thấy cần phải « hóa chính vi linh », rút theo nhiều hướng ra khỏi vòng vây của địch.

Cứu quốc quân cũng không thể rút hết đi. Khi địch tập trung về Tràng Xá để «tát nước bắt cá», phía Bắc Sơn chúng sẽ sơ hở. Ngay từ ngày anh Chính về xuôi, anh đã có ý kiến đưa cán bộ lên củng cố Bắc Sơn, khôi phục lại phong trào. Có khôi phục lại được Bắc Sơn, sau mới có đường mà đi. Vì vậy lần này Ban lãnh đạo Cứu quốc quân đã cử cán bộ lên mạn Phú Thượng và Bắc Sơn. (Do quần chúng ở đây rất cách mạng nên chẳng bao lâu Phú Thượng — Bắc Sơn trở thành hành lang chính trị rất tốt).

Một bộ phận Cứu quốc quân đã phân tán vào trong nhân dân, làm công tác tuyên truyền vũ trang, gây cơ sở trong quần chúng. Ngày 28-11-1941 (tức 10 tháng 10 Tân Tỵ), các đồng chí Nguyễn Cao Đàm, Nhì Phung, Phương Cương, Mông Phúc Quyền, Hoàng Thị Môn, Hoàng Thị Ngoan, Đường Thị Ân vượt vòng vây sang Đại Từ liên lạc với đồng chí Đường Nhất Quý đang công tác ở đó, để mở rộng phong trào ra các vùng Đại Từ, Sơn Dương, Yên Sơn, Định Hóa. Tổ thứ hai gồm các đồng chí Hoàng Văn Tài, Dinh Chè, Tài, Hòa, Phấn, đi Phú Lương, Đồng Hỷ. Tổ thứ ba gồm các đồng chí Phan Văn Thái, Phan Văn Lai, Quảng Hiền đi Hữu Lũng, Yên Thế. (Chính bộ phận các đồng chí phân tán vào trong nhân dân đã gây được cơ sở khá rộng trong các tỉnh Thái Nguyên — Tuyên Quang, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa sau này).

Bộ phận lớn còn hơn 40 người, lúc nghi binh, lúc đánh úp, lúc rải truyền đơn, tiến công địch bằng mọi cách...

Trong khi đi làm công tác quần chúng, chúng tôi gặp nhiều người vừa đưa lương thực vừa giục chúng tôi tạm rút đi nơi khác một thời gian đã.

Chúng tôi bàn với nhau trong Ban lãnh đạo và thảo luận nhiều trong nội bộ. Nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề được đặt ra : Nên đi hay nên ở ? Đi thì đi đâu ? Ở thì đâu ? Đánh mạnh hay cứ giữ tình hình này ?... Có người bàn : « Chạy về Yên Thế là hơn cả, đất cụ Đề có tiếng kiên cường đánh Tây ngày trước». Nhưng có người trả lời ngay : «Ở Yên Thế nó cũng dồn dân, dồn làng, lính nó bao vây hết. Cả Võ Nhai, Đình Cả cũng thế !». Có đồng chí hỏi lại : «Ở như thế này, phát triển vào đâu?». Lại có ú kiến táo bạo : «Vọt sang Tàu là thằng Tây chịu chết».

Ban chỉ huy nêu ra mấy hướng để anh em trong toàn đội thảo luận. Trừ một số anh em đi gác, còn những anh em ở nhà đều sinh hoạt thảo luận : Nghị quyết Trung ương thứ 7 đã chỉ rõ : « Phải duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang Bắc Sơn để làm vốn quân sự đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa sau này». Anh em chúng tôi rất nhớ điều đó. Đây cũng là sự mất còn của căn cử địa nữa. Anh em nhất trí đi đến kết luận: Đánh, không có điều kiện đánh; chuyển sang Tuyên Quang không có liên lạc; sang Yên Thế cũng không được, địch đã đóng ở đấy. Phải đi, dứt khoát là phải đi !


(1) Cách thị xã Thái Nguyên 6 ki-lô-mét.
(2) Gần chân Đèo Khế.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:39:23 am
Đi đâu ? Ban lãnh đạo đã nghiên cứu kỹ nơi chủ lực quân của Cứu quốc quân II sẽ tới. Nơi chúng tôi sẽ đến là một vùng có cơ sở cách mạng lâu ngày. Ảnh hưởng tốt đẹp của những thời kỳ cao trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo như Long Châu đỏ, Quảng Châu đỏ (1927) còn nguyên vẹn trong lòng nhân dân địa phương. Nhiều đồng chí có tham gia phong trảo hồi đó đến nay vẫn tiếp tục hoạt động.

Đây cũng là vùng đã từng có nhiều nhà cách mạng Việt Nam luôn luôn qua lại hàng chục năm nay. Nhân dân địa phương rất hiểu biết và hết lòng giúp đỡ cách mạng ta với một tinh thần hữu nghị cao quý, vô tư. Rất nhiều gia đình đã che chở, nuôi dưỡng cán bộ. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động ở vùng này. Và riêng đồng chí Hoàng Văn Thụ thì được nhân dân ở đây vô cùng quý mến. Họ coi anh Thụ như người ruột thịt, như cán bộ địa phương, khi vắng mặt thì luôn luôn nhắc nhở, khi trở về thì từ người già đến trẻ con đều vồ vập, mời chào, hết lòng bảo vệ, chăm nom.

Đây cũng lại là con đường đi lại khá thông thuộc của nhiều anh em Cứu quốc quân. Đường đi toàn rừng núi, có hành quân cũng dễ giữ được bí mật. Suốt đường dọc Bắc Sơn, qua Bình Gia lên Văn Mịch, chúng tôi đều có cơ sở quần chúng. Tới Thất Khê thì đã là quê hương bản quán của các đồng chí Phấn, Phố, Lâm. Suốt đoạn biên giới này của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, dân tộc Nùng đã sống qua bao đời nay, có mối quan hệ họ hàng, thân thuộc, bè bạn rất khăng khít. Trong tâm hồn, tình cảm, họ hầu như không hề biết tới những cột mốc biên giới hoặc những đường phân chia địa giới trên bản dồ.

Chúng tôi chỉ cần vượt qua biên giới một hai cây số, sang tới đất nước Trung Quốc thì ở đó đã là quê hương cũ với họ hàng khá đông đúc của nhiều anh em Cứu quốc quân : họ hàng các anh Đường Văn Tư, Đường Văn Thức ở Khẻo Mèo, họ hàng tôi ở Bản Trang và họ hàng các anh Hứa Đình Khánh, Hà Châm... Gia đình đồng chí Nhì Phung vốn ở Bằng Tường cũng đã dọn về đây. Một vài gia đình đồng chí khác, để tránh địch khủng bố, cũng đã chạy lánh sang đây.

Sang tới đó, chúng tôi sẽ thoát được ra ngoài vòng kiểm soát, khủng bố của Pháp — Nhật. Nếu gặp được cơ quan ngoại giao của Việt Minh ở đó thì càng có nhiều điều kiện hoạt động. Nhược bằng không thì cơ sở quần chúng và họ hàng bà con sẽ là chỗ dựa khá vững chắc cho chúng tôi sinh sống và đối phó với bọn Quốc dân đảng và thổ phỉ.

Đó cũng là bàn đạp rất thuận lợi để chúng tôi có thể dễ dàng vượt trở về Tổ quốc hoạt động, gây cơ sở.

Người dân tộc chúng tôi phải bỏ làng, bỏ xóm, bỏ nhà mà đi là một điều rất nặng nề trong tư tưởng, trong lòng, trong dạ. Tôi nói:

— Nếu ngoại giao Việt Minh ta còn, mọi việc sẽ rất thuận lợi. Nếu không còn, ta có thể bị Tưởng nó khủng bố, anh em ta có thể bị tù, bị giam. Nhưng giam chán, nó phải thả thôi. Mình là người cách mạng. Phải tự lao động mà sống. Không thể kêu khó, kêu khổ được. Gốc gác tôi ở Bản Trang, họ hàng, anh em còn ở đó. Anh em ta cũng có họ hàng bà con ở bên kia. Tuy là bên này bên kia biên giới, nhưng tình máu mủ ruột rà sâu nặng. Đó là điều kiện rất thuận lợi. Nhưng ta không ỷ vào họ. Sang bên đó, mình dựa vào sức mình là chính, học tập, huấn luyện, tạo điều kiện rồi trở về nước hoạt động.

Tôi ngừng lại. Tính tôi không hay nói dài, không nói được dài thì đúng hơn. Nhưng hôm nay tôi cảm thấy như tôi đã nói dài. Tôi đã nói với anh em bằng tất cả lòng mình. Tôi nhớ có lần ông cụ Thu Sơn bảo tôi : « Người đảng viên khi ở cùng với công nhân hay nông dân, ở miền núi hay miền xuôi, ở trong nước hay ngoài nước, lúc nào cũng phải hoạt động cách mạng, cũng phải phát triển cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng. Chúng ta chiến đấu chẳng những vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân nước mình mà còn góp phần giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức. Có áp bức là có đấu tranh. Ở đâu người đảng viên vẫn phải tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh đó ».

Tôi lại nghĩ : Nếu như giữ được Tuyên Quang và Bắc Sơn. lại thêm cả một vùng biên giới làm thế hoạt động vững vàng cho tới ngày trở lại Pác Bó thì rất thuận lợi. Về Pác Bó, tôi sẽ xin chỉ thị của Ông cụ. Tôi cũng nóng lòng muốn biết Ông cụ có gặp khó khăn gì không ! Càng nhớ lại lời Ông cụ dạy hồi ấy, tôi càng thấy thấm thía. Áp dụng vào hoàn cảnh lúc này, những lời nói ấy càng như kim chỉ nam cho chúng tôi. Tôi nói tiếp.:

— Nhân dân ở chỗ ta sắp sang cũng khổ như dân mình thôi. Cùng một cảnh khổ thì thương nhau, giúp nhau. Nhưng mình là người cách mạng. Không thể ỷ lại vào nhân dân địa phương được. Cái tay mình phải làm đấy, phải làm nhiều đấy ! Mình sống được, hoạt động mới được.

— Phải đấy ! Đồng chí Cư nói phải đấy ! — Một số anh em hưởng ứng ngay.

Một đồng chí phân tích:

— Lần trước có người đưa ra việc trá hàng. Đó là sợ khổ, sợ khó. Bọn nó không để yên cho ta « làm ăn lương thiện » đâu ! Bọn nó dụ dỗ, đe dọa, buộc ta phải làm theo ý chúng. Thế là phản bội Tổ quốc thôi...

Lê Dục Tôn ngồi mãi chẳng nói chẳng rằng, bỗng sa sầm mặt :

— Trá hàng là xếp súng lại à ? Không có được đâu. Trung ương bảo mình «duy trì tiếng súng đấu tranh». Đừng có mà làm bậy làm bạ !

— Tình hình càng gay go nó càng tung tin xằng bậy — Nông Thái Long thêm — Nó nói anh nọ anh kia chết đói, mổ ra trong bụng toàn thấy lá cây ! Nó bắt dân làm con tin, rồi nó bảo : « Cộng sản đánh chết của nó một người, nó sẽ đem ba con tin ra bắn chết ! ». Nó phản tuyên truyền trong nhân dân: «Cộng sản không còn gì. Bị chính phủ nhà nước Đại Pháp đánh cho đại bại rồi, đang chạy trốn thôi !». Nó muốn làm cho ta ngã lòng thối chí đấy !

Tôi nói tiếp:

— Cách mạng muốn thành công phải đấu tranh bền bỉ, khéo léo. Không thể bi quan, tuyệt vọng. Cũng không thể liều lĩnh, mạo hiểm theo kiểu «không thành công thì thành nhân» được. Cứu quốc quân là tổ chức vũ trang của Đảng, đã được Trung ương giao nhiệm vụ rõ ràng. Không thể vì khó khăn nhất thời mà tùy tiện giải tán, thay đổi nhiệm vụ. Vì vậy, phải kiên quyết duy trì tổ chức Cứu quốc quân, không để địch tiêu diệt hoặc tự giải tán bằng cách này, cách khác...

Tất cả đều giơ cao nắm tay, nhất trì tán thành. Một không khí phấn khỏi, tin tưởng bao trùm.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2019, 07:39:56 am
*
*   *

Trong thời gian được gần gũi các đồng chí Trung ương và qua tin tức của các đồng chí từ dưới xuôi lên trước đây, ngoài những nhận định chính về tình hình cách mạng trong nước, chúng tôi cũng đã hiểu biết thêm về tình hình thế giới lúc đó. Thỉnh thoảng có dăm ba tờ báo Đông Pháp, Trung Bắc Tân Văn, gửi cơ sở mua từ Thái Nguyên lên. Những hiểu biết đó giúp ích thêm cho việc xác định chủ trương tạm rút lui của Cứu quốc quân II,

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, phát-xít Nhật đột nhiên đánh vào căn cứ hải quân Trân Châu Cảng của Mỹ. Sau đó, phe Đức — Ý — Nhật đều tuyên chiến với Mỹ. Mãi đến lúc này, chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc mới tuyên chiến với Nhật. Tuy nhiên, họ vẫn dồn hầu hết lực lượng để đánh vào sau lưng Hồng quân đang kháng Nhật. Quân đội Nhật đánh chiếm nhiều thuộc địa của Anh, Mỹ, Pháp, Hà Lan (như Hương Cảng, Mã Lai, Xin-ga-po, Miến Điện, Phi Luật Tân, Nam Dương quần đảo, Tân Ghi-nê...). Chúng không gặp một sức kháng cự nào đáng kể của quân đội Đồng minh. Mặt khác, quân Ý và quân Đức đang uy hiếp quân Anh ở Ai Cập.

Hồng quân Liên Xô tuy đã giải vây Mạc Tư Khoa, và đã thu được những thắng lợi đầu tiên ở Lê-nin-gơ-rát, nhưng lực lượng phát-xít Đức còn mạnh. Cách mạng Trung Quốc thì đang ở vào thời kỳ gay go nhất. Khu giải phóng phải thu hẹp lại, gặp nhiều khó khăn về kinh tế vì bị giặc Nhật và Quốc dân đảng phong tỏa.

Ngày 13 tháng 12 năm 1941, bọn quan phiệt Nhật dùng vũ lực buộc bọn Đờ-cu ký một hiệp ước nữa nhận cho Nhật được toàn quyền hành động ở Đông Dương. Quân đội Tưởng Giới Thạch đánh vào biên giới Bắc Kỳ. Vấn đề «Hoa quân nhập Việt» được đặt ra.

Trung ương Đảng chủ trương để Mặt trận Việt Minh đứng ra ngoại giao với chính phủ Trùng Khánh, cùng liên minh đánh Nhật — Pháp theo nguyên tắc bình đẳng tương trợ, đồng thời Trung ương cũng nhận định là xét chung toàn quốc, ta chưa đứng vào một tình thế trực tiếp cách mạng. Những điều kiện khởi nghĩa chưa chín muồi, nhưng ta vẫn phải gấp rút chuẩn bị lực lượng kịp thời đối phó với mọi tình thế bất ngờ xảy đến.

Trong tình hình đó, Cứu quốc quân phá vòng vây của quân Pháp, tạm rút đi để gìn giữ lực lượng. Tạm lánh thế giặc mạnh, Cứu quốc quân sẽ đánh thông đường trở về sau. Cứu quốc quân rút đi rồi, sớm muộn địch cũng sẽ rút theo. Bộ phận Cứu quốc quân ở lại bám sát cơ sở sẽ cùng đồng bào tranh thủ được thời gian bồi dưỡng và củng cố lại lực lượng.

Sau khi thống nhất chủ trương chung, mỗi chiến sĩ Cứu quốc quân khi gần nhân dân cũng đều nói câu: «Rút pay giá tèo mà», nghĩa là: «Rút đi để tạo điều kiện trở về», không phải ngon ăn ngon ở rồi đi làm rể ở bên ấy đâu.

Mọi đường giao thông từ Chiến khu ra ngoài đều bị cắt đứt. Quần chúng thì đã trải qua 8 tháng bị khủng bố cực kỳ dã man. Vòng vây của giặc ngày càng khép chặt quanh khu vực Tràng Xá — Võ Nhai. Các tổ chức Cứu quốc quân được phái đi hoạt động ở Đại Từ, Định Hóa, Sơn Dương, Phú Lương, Đồng Hỷ, Hữu Lũng, Yên Thế tuyệt nhiên không có tin tức trở về. Công tác mở rộng phong trào của anh chị em không phải dễ dàng. Cơ sở quần chúng vùng đó hẳn còn ít và chưa được vững chắc. Tóm lại, chúng tôi không thể rút về những vùng đó được.

Chúng tôi sẽ phá vòng vây của địch. Trên dọc đường tạm rút lui của chúng tôi lên biên giới chắc cũng chưa hết nguy hiểm ; nhiều sự bất trắc có thể xảy ra. Dù dự tính chu đáo đến đâu cũng vẫn không sao tránh hết được những khó khăn bất ngờ. Nhưng làm cách mạng là phải bền bỉ, bình tĩnh, vượt hết trở ngại này đến trở ngại khác, thâu góp từng thắng lợi nhỏ một, kiên quyết đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Những lúc như thế này mới càng thấy lời Ông cụ nói là đúng.

*
*   *

Tình hình liên lạc giữa chúng tôi với Trung ương ở xuôi bị gián đoạn làm chúng tôi rất băn khoăn. Tháng giêng ta (2-1942) chúng tôi cử người về xuôi báo cáo tình hình với Trung ương và xin chỉ thị. Không ngờ mới tới Phượng Liễn (Thái Nguyên), anh ấy đã bị bắt. Tin chẳng lành đó tới chỗ anh Quốc Hưng ở Đình Cả. Lập tức anh Quốc Hưng cho liên lạc chạy hỏa tốc về Tràng Xá. Đã có kinh nghiệm, một mặt cứ cho rời cơ quan, mặt khác chúng tôi vẫn tích cực chuẩn bị cho cuộc đi xa...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:40:54 am
VI

Chúng tôi chuẩn bị cuộc đi xa này mất một tháng: giã gạo, rang gạo nếp làm lương khô ; đan sọt, bện quang gánh để mang vác, đeo như thế nào cho đỡ nặng, đỡ mỏi. Tính ra mỗi người lúc đầu phải mang tới bốn chục cân, kể cả chăn màn, quần áo, lương thực và vũ khí. Chúng tôi dự định lên đến Đình Cả lấy một lần lương thực nữa rồi đi suốt.

Về đường sá, chúng tôi giao cho tiểu đội Phú Thượng và một tổ ở Bắc Sơn đi điều tra.

Đội Phú Thượng cử ông Quay hai, ba lần về tận Văn Mịch xem xét binh tình và hỏi thăm từ Văn Mịch đến Thất Khê. Đồng thời điều tra cẩn thận các trạm gác, các toán tuần tiễu của giặc đang bao vây quanh Võ Nhai, Bắc Sơn, tìm ra quy luật hoạt động của chúng.

Các tổ Cứu quốc quân ở phía dưới được lệnh hoạt động nghi binh kéo địch. Bộ phận ở Cây Thị (thuộc Đồng Hỷ, giáp giới ba huyện Đồng Hỷ — Yên Thế — Võ Nhai) cố tình đi giày ở những chỗ có bùn, để lại nhiều dấu giày hướng sang châu Hữu Lũng, đưa hướng để địch đuổi theo; trên đường lại bẻ lá cây lót ngồi dưới đất, hai, ba người thì bẻ làm bảy, tám cái lót để địch tưởng rằng đại bộ phận ta rút xuống Phú Bình, Yên Thế.

Trong một tháng chuẩn bị đó, họp hành tới ba, bốn lần. Các cơ quan đều bị địch sục tới. Nó giăng dây qua rừng, gài lựu đạn. Một lần anh Quốc Hung dẫn đường rời cơ quan đi sờ thấy dây, nghĩ là nó bẫy mìn, phải lộn lại đi đường khác.

Ngoài những đồn bót rải rác và một lực lượng vây tròn rồi địch có một đội chủ lực gồm mấy trăm đứa đuổi theo ta về phía Yên Thế. Nhưng lúc này, đại bộ phận Cứu quốc quân II đang đi lên phía bắc...

*
*   *

Ở Bù Cu — Đá Trắng ra đi, chúng tôi đi ban ngày: buổi sáng sớm, ăn cơm bình thường, ăn no rồi đi. Đội trinh sát đi trước. Tất cả chúng tôi có ba mươi người, già nhất là ông A (bí danh của ông Nhí) gần 50 tuổi, trẻ nhất là Hồng Long(1) 14, 15 tuổi. Mỗi người một khẩu súng kíp. Toàn đội chỉ có một, hai khẩu súng trường. Tôi có khẩu pạc-hoọc.

Xuyên rừng một ngày thì tới xã Lâu Thượng. Đợi đến khuya mới xuống cánh đồng Lâu Thượng, đi vòng chữ chi qua các bốt gác, về đến núi Con Gấu (Đồng Trong, xã Phù Thượng) đã gần sáng. Bộ phận Cứu quốc quân gồm có các đồng chí Quốc Hưng, Thái Long, Bình, Quốc Vinh đã từ Bắc Sơn về tới đây, đón chúng tôi, tay bắt mặt mừng không sao kể xiết.

Quần chúng bị địch tập trung ở Nà Pheo. Nhờ có sự lãnh đạo của các đồng chí còn giữ được bí mật và được giao ở lại gìn giữ phong trào của địa phương như anh Lục Văn Dù (tức Phú), bà Sáng, chị Pính, cô Thu, cô Sám, v.v. họ đã đấu tranh buộc địch phải để cho họ đi làm nương, làm rẫy. Sáng rõ được một lúc, các bà mang dao đi phát nương, đem cho chúng tôi xôi và một hai ống gạo nữa.

Chúng tôi ở đây một hôm. Hôm sau gặp mấy chị cơ sở để bàn thêm về công tác. Hai bên quy định những tín hiệu và địa điểm bí mật để Cứu quốc quân bắt liên lạc sau này với địa phương, như chém dao thành vết riêng trên thân cây, đặt các «hòm thư» giấu trong khe đá, hốc cây. Chúng tôi dặn các đồng chí ở lại là sau khi Cứu quốc quân rút đi rồi, bọn địch sẽ mất mục tiêu trực tiếp để càn quét, binh lính của chúng cũng đã mệt mỏi, nếu ta biết đẩy mạnh công tác binh vận thì có thể bọn địch cũng sẽ rút hết. Lúc đó, việc trước tiên là phải tổ chức đồng bào làm ngay nương rẫy kẻo đói. Ruộng đất bỏ hoang nhiều quá rồi, không có gạo thì không làm cách mạng được lâu bền. Sau nữa là vận động từng gia đình hoặc họp nhau lại mà làm đơn gửi lên các đồn Đình Cả, Chợ Chu đấu tranh đòi thả người nhà bị bắt giam. Chúng tôi cũng dặn các đồng chí ở lại phải cố tìm cách bắt liên lạc với các tổ hoạt động ở Đại Từ, Sơn Dương, Định Hóa, Yên Thế, Hữu Lũng.


(1) Hiện nay là cán bộ của huyện Võ Nhai.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:41:53 am
Người đi buổi sáng, người đến buổi chiều. Đồng bào đến thăm chúng tôi khá đông, mỗi người đến đều mang cho quà. Chúng tôi hẹn nhau đến mùa ít mưa, cuối tháng tám, đầu tháng chín âm lịch mới về được. Chúng tôi dặn các đồng chí cơ sở:

— Làm cách mạng là phải bền lòng. Từ nay đến lúc thành công còn trải qua nhiều khó khăn. Cho nên phải gìn giữ cho được tinh thần cách mạng của đồng bào bàng cách luôn luôn tổ chức đấu tranh từ dễ đến khó...

Sáng sớm ngày 18 tháng 3 năm 1942, 42 đội viên Cứu quốc quân tiếp tục lên đường. Lương ăn được chuẩn bị đầy đủ. Từ đây tới biên giới, không cần tiếp tế ở dọc đường. Các bà, các chị mang xôi, gạo nếp, bánh dày, cốc mò(1) đến cho chúng tôi. Trước khi đi phát nương rẫy, nhiều người còn ra tận nơi tiễn đưa. Tôi thay mặt anh em nói:

— Làm cách mạng là chống đế quốc. Đế quốc nó khủng bố như thế này là dĩ nhiên thôi. Nhưng đừng thấy nó khủng bố như thế mà lo, mà sợ hãi, đi đến chỗ chịu ép một bề, không dám tranh đấu nữa. Bọn xấu thường lung lạc mình, mua chuộc mình, dụ dỗ mình. Phải vạch mặt bọn chúng ! Còn mình với nhau phải kết lại với nhau thành một khối, phải thương yêu nhau. Các con, các em đi rồi thì các mẹ, các chị nhớ liên lạc với trại giam ở Đình Cả. Chú ý nắm tình hình liên lạc với Tràng Xá... Không nên xuất đầu lộ diện hết...

Bà con hiểu được lòng chúng tôi, những lời tâm huyết của chúng tôi. Trong giờ phút chia tay, nhiều người không cầm được nước mắt. Đó là những giọt nước mắt thương yêu và tin cậy nhau.

Chúng tôi nối gót nhau kéo lên dãy núi cao chót vót của làng Phật. Tình cảm lưu luyến quê hương và những suy nghĩ về con đường gian nan trước mắt có lẽ còn nặng trĩu trong lòng mỗi chiến sĩ hơn cả hành lý và vũ khí trên người...

Có tiếng súng từ đồn giặc vọng về. Chúng tôi nhằm hướng Bắc Sơn đi tới, vượt qua dốc cao, khe sâu. Gần đến chiều, xuống tới khe Khuổi Nọi. Nghỉ ngơi một lúc, lại xuyên rừng, vượt suối Ngã Hai, Van Hạ, tới thôn Bản Loòng. Trước kia Bản Loòng là trạm giao thông từ Võ Nhai lên Bắc Sơn, nhưng nay hoàn toàn hoang vu; đồng ruộng bỏ hoang, đất mọc rêu, không một bóng người qua lại. Đi được một quãng nữa, đêm đã khuya, chúng tôi dừng lại ở chân núi Bản Loòng.

Nương quang. Anh em bẻ lá, ngủ ngay đấy. Vắt ngửi thấy hơi người, sấn sổ bò quanh, có con chui cả vào tai, vào quần, vào cổ. Máu chảy đầy người. Sương xuống lạnh.

Sáng ngày 19 tháng 3, chúng tôi lại tiếp tục xuyên qua núi rừng để đi tới khu Bó Tát (Vũ Lăng). Bó Tát là một nơi xa làng xóm, xa đường giao thông, nương rẫy cũ đã biến thành rừng hoang, giữa rừng có một hang sâu nhiều nước. Hang nước này đã quen thuộc với chúng tôi từ lâu. Mọi người dừng chân lại.

Trong lúc nghỉ ngơi, chúng tôi phân công nhau người trinh sát đường đi, người canh gác, người nấu cơm ; còn thì nghỉ.

Mấy ngày đầu tuy trải qua khá nhiều vất vả, gian nan, nhưng tất cả ai cũng tươi cười vui vẻ. Nhiều anh em hát những bài ca cách mạng : một niềm lạc quan tin tưởng và phấn chấn dâng lên trong lòng mọi người, khác hẳn hôm bước chân ra đi, rời làng, xa bản.

Đồng chí Thái Long phát huy sáng kiến để cải thiện bữa ăn, lấy đanh ghim uốn lưỡi câu, tìm mồi câu cá ở ngay giếng nước.

Bữa cơm hôm ấy ngoài muối với mắm tôm, còn điểm vài con cá nheo do Thái Long câu được. Anh em nhường nhau:

— Cái lão Phố gánh nặng thì cho nó ăn !

— Thái Long đi câu, để cho nó !

— Dành cho mấy cậu sốt rét, ăn cá khỏi ngay !


(1) Kiểu bánh chưng của người Tày – Nùng, gói hình phễu, không có muối.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:42:42 am
Cuối cùng, mỗi người chỉ ăn một ít, còn phần nhiều hơn là dành cho mấy đồng chí yếu mệt, đồng chí gánh nặng.

Ăn xong, lại gấp rút chuẩn bị lên đường.

Trong lúc còn sáng, chúng tôi tranh thủ đi gấp ra các thung lũng, đợi tối khuya mới tiếp tục đi theo đường mòn.

Đêm càng về khuya, sương rơi càng lạnh buốt. Đoàn người lặng lẽ tiến bước, vượt qua Bó Tát, Nà Tởu, Cầu Hin, rồi tiến đến khu Nà Yêu. Khi trời tang tảng sáng thì đến Lũng Pán. Mọi người dừng chân lại. Quang cảnh Lũng Pán tan hoang bày ra trước mắt : nhà cửa, cây cối bị đốt phá sạch, chỉ còn trơ trọi mấy cột nhà đen thui, không một bóng người qua lại.

Đồng chí Vinh, đồng chí Thái Long và tôi bước ra tận nền nhà cũ của ông già Vân : từ khi khởi nghĩa Bắc Sơn, gia đình ông đã là nơi đi lại của cán bộ cách mạng. Khi giặc Pháp đến khủng bố, chúng đã dồn cả gia đình đi và bắt ông già Vân đi tù. Lòng căm thù giặc Pháp càng bùng cháy trong lòng mỗi đội viên Cứu quốc quân.

Mặt trời mọc. Sương tan dần. Đơn vị cấp tốc rút vào rừng nghỉ, phân tán ra từng tổ gần nhau, hết sức giữ bí mật đề phòng con đường này có thể có bọn mật thám đi lùng sục. Vì trước đây chúng vẫn thường qua lại hàng ngày và có đêm chúng phục kích hoặc đi tuần để dò la dấu vết hoạt động của cán bộ ta. Ngoài số anh em làm nhiệm vụ trinh sát và canh gác, các anh em khác, người xem sách đọc tài liệu, người lau súng.

Anh Quốc Hưng, anh Dục Tôn và tôi tranh thủ kiểm điểm việc tổ chức lãnh đạo hành quân những ngày qua và bàn bạc công việc sắp tới. Chúng tôi sắp phải vượt qua một khu vực nguy hiểm : đó là cánh đồng rộng mênh mông Hữu Vĩnh, Tràng Lang, một nơi địch tập trung rất nhiều binh lính và mật thám. Bốt gác bố trí chi chít bao vây khắp chổn, không có chỗ nào đi thẳng được một cây số mà không đâm vào bốt gác của địch.

Trời vừa sập tối. Chúng tôi không đi đường mòn mà lần theo đường khe đá quanh co, rậm rạp. Eo núi Lũng Pán thông ra đèo Canh Cướm, thường có tụi mật thám và dõng gác. Trong vòng vây này chỉ cần chúng tôi gây ra một tiếng động lạ là các bốt gác gần đó sẽ lập tức nổi mõ, trống, thanh la... báo động. Và chỉ chốc lát, bọn lính ở các đồn bốt cùng bọn tổng, xã đoàn sẽ ra bao vây chặt lại, lúc đó thì thật khó mà thoát được một cách êm thấm.

Nhưng chúng tôi vẫn bình tĩnh đi. Men theo đường độc đạo ra khỏi đèo Canh Cướm, thì gặp con đường cái chính từ Đình Cả lên Bắc Sơn. Quãng này không biết đâu nó gác, đâu nó không gác ! Con đường chạy giữa một cái eo núi. (Sau này tôi mới biết chính trên quãng đường ấy, một dõng phát hiện thấy chúng tôi, báo cho xã đoàn: «Nó đi đen cả thế kia, làm thế nào, ông?». Xã đoàn gạt phắt : «Kệ cho người ta đi ! ». Rồi dẫn dõng lủi đi cho chúng tôi qua. Sau khi chúng tôi đi khỏi rồi, anh xã đoàn này bị Tây bắt. Tây hỏi : «Mày gác ở đây tại sao mày không biết?». Anh xã đoàn lắc đầu: «Rõ ràng tôi không thấy mà!». Tây giam anh vào căng Bá Vân. Khi cách mạng thành công, anh được ra khỏi căng. Và gặp lại tôi, anh mới kể lại chuyện này).

Từ Long Đống đi qua mấy đèo và mấy lần lũng thì gà đã gáy dồn, chúng tôi bỗng thấy có tiếng động : có tiếng chân rậm rịch và cành gãy, cây rào rào. Té ra một đàn sơn dương đi ăn đêm đụng phải đơn vị, bỏ chạy. Có đồng chí thấy thế tiếc của muốn bắn một phát, nhất là Quốc Vinh cứ tiếc mãi : anh mong có thịt sơn dương thêm vào món mắm tôm mỡ. Nhưng một tiếng súng nổ ở đây là tự dẫn vào vòng vây, cho nên tiếc thì tiếc, anh em bảo nhau cứ im hơi lặng tiếng qua đèo.

Qua Lũng Luông đã gần sáng : làng mạc, bản xóm thức dậy. Đơn vị nhanh chóng vượt sang bên kia Tam Canh. Như thế là chúng tôi đã qua được vòng vây dày đặc của đế quốc từ Bắc Sơn tới Võ Nhai. Trên dãy núi Tam Canh này nhìn xuống Kéo Ái đã thấy rõ cánh đồng Bình Gia và đồn đại lý lù lù trước mắt. Tôi vẫy anh em đi mau vào chỗ rậm rạp có nhiều bóng cây. Trao đổi với anh Quốc Hưng, anh Dục Tôn, chúng tôi nhận thấy khu núi này rất nguy hiểm : trước mặt là đồn Bình Gia, đằng sau đầy những lính và mật thám của đế quốc. Dãy núi đá hiểm trở này tương đối rậm nhưng nó hầu như một cái túi. Địch lại bít mất đường lên xuống thì không có lối thoát. Nhưng chúng tôi cũng không có biện pháp nào khác hơn là đưa đơn vị lên lưng chừng núi nằm nghỉ.

Suốt ngày hôm ấy, trên lưng chừng núi, mỗi người nằm một khe đá. Sao một ngày nằm ở khe núi này lại dài đến thế! Đúng là một ngày lo lắng bằng cả năm thảnh thơi!

Mặt trời sắp lặn. Ánh nắng tắt dần. Chúng tôi ăn cơm tới, rồi dần dần xuống đường cái.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:43:21 am
Từ giữa cánh đồng Bình Gia — một bên là núi, một bên là đồn, huyện, phố, làng — chúng tôi nhằm đi vào hướng Lũng Nọi. Vừa lúc đó trời mưa lo gió lớn. Đêm tối đen như mực. Chỉ một lát nước đã chảy tràn bờ. Quần áo ướt đẫm. Chúng tôi vẫn dấn bước. Vừa tối vừa mưa thế này chắc bọn nó không dám đi tuần.

Đêm càng về khuya, trời càng mưa tầm tã. Anh Quốc Hưng và tôi bàn nhau đưa đơn vị vào dãy núi Lũng Nọi cử hai đồng chí vào làng liên lạc với người quen. Chiều hôm sau —ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch (1942) —là ngày chợ sẽ tổ chức cho một số đội Viên Cứu quốc quân gặp anh em bà con ở Pá Niêm, Lũng Nọi, Háng Cáu, nhờ họ điều tra tình hình đường đi Văn Mịch, Bình Gia.

Chúng tôi kéo nhau vào núi Lũng Nọi. Cây cối ở đây không rậm lắm nhưng trời mới mưa, ẩm ướt nên chúng tôi chỉ ngồi chứ không làm sao ngủ được, dù lúc đó trời chưa sáng.

Hai đồng chí Hồng Thái và Hòa được cử đi gặp anh Lầu, người Nùng ở Lũng Nọi. Anh Lầu ra gặp chúng tôi. Chúng tôi nói chuyện với anh hồi lâu. Sau cuộc nói chuyện, anh Lầu hỏi, ngay bây giờ anh có thể giúp đỡ Cứu quốc quân những việc gì ? Chúng tôi nhờ anh chuẩn bị cho bữa cơm chiều, mua hộ hai cân cá mắm, hai đôi pin và thăm dò tình hình... Anh Lầu sốt sắng nhận lời.

Ngay trên đường vượt vòng vây của địch, Cứu quốc quân đã gây dựng được cơ sở chính trị ở một nơi chỉ cách đồn Bình Gia chừng hai cây số theo đường chim bay. Thắng lợi đó làm chúng tôi rất vui mừng.

Đơn vị trèo lên lưng chừng núi và phân tán ra từng tổ, nấp vào các mô đá lởm chởm và cây lèo tèo. Khi trời sáng rõ, nhìn ra đường cái độ một cây số, thấy nhân dân đi chợ tấp nập, lát sau có một đoàn lính đến vài trăm tên đủ súng ống nghênh ngang đi về phía Lạng Sơn. Anh Lầu đã cho biết là bọn lính ấy đi tuần phòng theo thường lệ. Chúng tôi yên trí vẫn giữ được bí mật.

Có đồng chí tinh nghịch gác súng qua khe đá ngắm về phía tụi lính, nói : « Nổ một phát, ngã thằng thứ mấy ? »... Song, nói thế thôi, ai nào dám bắn ! Ngay cả đến những cây con lèo tèo, anh em còn hết sức tránh không động mạnh, tránh con mắt nghi ngờ của địch.

Buổi chợ vãn dần. Giờ hẹn gặp bà con ở địa phương đã đến. Các tổ trinh sát về báo là giữa cánh đồng Lũng Nọi có nhiều người đi quanh quẩn thăm ruộng rồi vòng lên núi hướng về chỗ đơn vị đóng.

Đám người ấy đến gần. Trông rõ mặt mới biết toàn là người quen thuộc cả, có cả già, trẻ, gái, trai...

Cảnh gặp gỡ tay bắt mặt mừng, vô cùng cảm động. Một cụ già ở Pá Niêm nói:

— Bao nhiêu năm không thấy, nay trời cho mới được gặp nhau !

Lúc đó đã gần trưa. Thì ra bà con đi cày về rồi lên chỗ mình. Tôi nói :

— Đừng đi tập trung như vậy, thằng địch dễ thấy, dễ đoán. Đi một, hai người thôi. Như ta đi lấy cây thôi.

Mọi người gật đầu khen phải.

— Cháu nói dúng đấy ! Tao dại rồi !

Bà Bá — chị dâu anh Lầu — cũng có mặt. Bà đưa cho chúng tôi đủ thứ chúng tôi nhờ anh mua, rồi bảo :

— Chả thấy nói gì đâu. Lính nó đi rồi.

Thấy một ông đã đứng tuổi mặc nhiều áo, mồ hôi đẫm trên mặt, trên cổ, tôi hỏi:

— Sốt rét à? Tôi có thuốc ký ninh đây !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:43:36 am
Lúc đó ông ta mới cởi bớt khuy, phanh áo ra, trả lời :

— Tưởng là cái thằng cháu không thôi! Lên đây mới biết là đông như thế. Thấy nói anh em vào rừng bảy, tám tháng rách hết, mang thêm vài cái áo, anh em chia nhau mặc tạm.

Ông cụ đứng cạnh công đưa ra cái kéo, nói:

— A lúi! Bảo các cháu vào rừng tám tháng trời mà! Tóc dài như con gấu. Mang kéo vào cho các cháu cắt tóc ngắn bớt đi!

Nhân đấy, mấy bà lấy trong tay nải ra máy cái bánh, tiếp luôn:

— Lo các cháu phải ở rừng cả ngày cả đêm, ăn cái lá sao mà sống được! Nay nghe tin các cháu về, mua vài cái bánh để các cháu ăn tạm thôi.

Thì ra bà con chẳng ai bảo ai, nhận được tin con cháu về, qua chợ người mua vài tấm bánh, người vào hàng phở mua mấy cái còng gà, còng vịt đem theo. Bà con đã không hiểu đầy đủ về sự hoạt động cũng như về đời sống của Cứu quốc quân. Thế mới biết bọn đế quốc và bọn phản động ác độc đến thế nào, chúng định tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng đồng thời gây hoang mang, mất tin tưởng trong nhân dân !

Chúng tôi giải thích cho bà con rõ tình hình nhiệm vụ của Cứu quốc quân, của nhân dân các dân tộc trong giai đoạn lịch sử này. Trong khi nói chuyện, anh em còn đưa bà con xem sách báo cách mạng, và tặng truyền đơn, tặng Chương trình Việt Minh.

Chúng tôi nói cho bà con rõ là chúng tôi không đến nỗi thiếu thốn quần áo, chăn màn. Súng ống tuy không nhiều nhưng cũng tương đối đủ dùng.

— Bây giờ tao mới biết đấy! Tao tưởng nhà cửa thằng Tây, thằng đồn nó đốt hết! — Ông cụ già nhất nói, xót xa — Mưa nắng, các cháu ở vào đâu? Thành gấu à?

Nước mắt ông cụ chảy ròng ròng:

— Nghe tụi mật thám nói, tưởng các cháu chết hết rồi!

Chúng tôi bày cho bà con cách gây cơ sở. Họ bảo chúng tôi:

— Lúc nào ít mưa thì về. Ít người thôi, tao giấu vào hang cho. Về dạy chúng tao, giúp chúng tao làm cách mạng.

Bà con chia tay với chúng tôi. Lời không nói được nhiều mà nước mắt cứ tuôn rơi.

Nhá nhem tối, chúng tôi cùng anh Lầu xuống nhà xã đoàn Phủng ăn cơm, vừa ăn vừa tranh thủ nói chuyện cách mạng. Phủng đã cho người thân tín đi hỏi đường sá cho ta. Từ Bình Gia qua Pác Nàng, chỉ còn đồn Văn Mịch là có lính gác.

Cơm xong, chuẩn bị lên đường. Cả anh Lầu và cháu là Phủng thân chinh đưa chúng tôi đi tắt qua đường cái gần Bình Gia, qua Pác Nàng.

Qua Pác Nàng, hai bên là núi cao, giữa là đường cái. Đến đây, gặp anh em trinh sát đường sá đã đợi sẵn và báo tin cho biết «tình hình yên tĩnh cả». Chúng tôi và hai anh Lầu, Phủng chia tay nhau. Tôi cầm tay anh Lầu, dặn thêm :

— Anh về, bọn nó biết, hỏi thì cứ bảo : «Không biết». Nó có đánh cũng phải chịu đòn, nhất định không khai một lời nào có hại cho cách mạng. Làm cách mạng phải không sợ khó khăn, vững tin ở thắng lợi cuối cùng... Có điều kiện chúng tôi sẽ cử cán bộ về giúp anh.

Anh Lầu nhìn tôi, gật đầu...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:44:34 am
*
*   *

Đơn vị tiến thẳng theo đường cái Bình Gia —Văn Mịch. Đường cái thênh thang, nhưng khi qua các làng ven đường, chúng tôi vẫn giữ được hoàn toàn bí mật. Ai hơi động vào đá dù chỉ có tiếng lịch kịch rất khẽ, cũng bị những cặp mắt của đồng đội nhìn lại nghiêm khắc.

Cách Văn Mịch chừng năm cây số, có một con đường rõ xuống tay phải. Tất cả rẽ xuống theo đường đồi. Đi được một quãng lại theo một con mương nước nho nhỏ, lòng mương chỉ vừa đặt một bàn chân, một bên là núi cao, một bên là những hũm thấp, lỡ chân một chút là có thể rơi xuống hai, ba sải. Đi lại phải bảo đảm làm sao không vỡ bờ mương để khỏi lộ bí mật. Mất khá nhiều thời gian mới qua được quãng đường này.

Hết mương nước đến mấy xóm nhỏ có một số ruộng bậc thang, chúng tôi mò theo hướng tiến xuống thác nước Hát Quang. Đây là lần thứ hai tôi đi qua thác nước này.

Trời tang tảng sáng. Từ thác nước Hát Quang nhìn lên bên trái, đã thấy đồn Văn Mịch trắng xóa, cách chỉ khoảng tám trăm thước. Còn trước mặt là dãy núi trùng điệp cao ngất. Mọi người lại giục nhau đi cho mau, vì gần đồn, lộ thì rất nguy hiểm. (Đồn Văn Mịch có hàng trăm lính và dõng). Tất cả vội vã lội qua thác nước, và động viên nhau tranh thủ thời gian leo thẳng lên núi trước mặt.

Sương mù từng đợt, từng đợt ùa vào mắt, cay cay. Nhiều lúc người trước với người sau không nhìn thấy nhau. Rồi mây tan dần. Trời sáng. Ban chỉ huy quyết định tìm nơi nghỉ vì nếu đi nữa rất dễ lộ. Lúc này sương mù chưa tan hẳn, nhìn chưa rõ đường, chúng tôi bàn nhau lên nghỉ trên đồi. Nhưng khi lên tới nơi thì thấy trên đồi toàn một thứ cỏ gianh cao quá ngực và vị trí quả đồi lại chẳng tốt gì. Sương tan. Trời nắng như đổ lửa trên đầu, trên lưng. Tất cả dành phải ngồi rúc dưới cỏ gianh, lấy chăn che nắng.

Tôi lo quá. Chúng tôi «tùm hum» ở đây, đứng dưới đường trông lên rõ mồn một: người trong làng đi ra, người chăn trâu, người cày ở các đồi bên cạnh cũng đều thấy rõ cả.

Quãng mười giờ, nắng càng gay gắt, nước uống đem theo đã hết. Ai cũng khát và mệt. Thái Long, Thánh, Hồng Thái đi qua đường mòn xuống khe lấy nước uống, bị xã đoàn hỏi thẻ. Thái Long nhanh trí trả lời:

— Chúng tôi đi mua trâu. Còn mấy người nữa đi sau. Thẻ tôi đưa một người giữ. Nó đeo pa-pục(1) đi sau. Rồi nó đến nó đưa thẻ cho mà xem!

Bọn xã đoàn thấy lạ quay về thẳng.

Anh em cũng vội vã lấy được ít nước, rồi chạy ngay về chỗ tập trung kể lại sự việc xảy ra.

Ban chỉ huy liền họp, bàn cách đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra. Trong khi đó, bọn xã đoàn cũng vừa về thay quần áo và ra Văn Mịch. Có đứa vừa đi vừa ngoảnh nhìn lên chỗ chúng tôi ở, có đứa đứng hẳn lại, quan sát theo dõi. Mọi hành động của chúng không lọt qua được con mắt của đồng chí gác cũng như của nhân dân chung quanh đấy.

«Trăm phần trăm là lộ rồi!» — Ai cũng có ý nghĩ ấy. Một số đề nghị rút lui, đi tắt vào rừng mà thoát. Nhưng đường sá không thuộc.

— Lên phía trước mặt phục kích. Đánh nó ! — Một đồng chí dằn từng tiếng.

Có người vặn lại :

— Đánh rồi đi đâu?

Tôi chậm rãi nói :

— Từ Văn Mịch đi Thất Khê không có làng đâu. Thấy đông người, bọn nó phải đi báo thôi. Nó báo tin cho đồn Văn Mịch cũng phải đi năm, sáu cây số, kể cả qua sông. Mất hơn một tiếng đồng hồ. Báo đồn xong rồi, chúng còn chuẩn bị vượt sông, phải mất ít ra hai tiếng nữa. Như vậy nếu chúng có đuổi theo sau cũng rất khó mà theo kịp. Nhất là lúc ấy trời đã gần tối. Đó là một trở ngại cho chúng. Nếu chúng đến gần, chúng cũng phải gờm. Nếu cùng lắm chúng ngoan cố thì ta sẽ phục kích diệt chúng một bộ phận, rồi ta sẽ vượt... Bây giờ mới sắp trưa, đi ngay thì mười một giờ đêm nay nhất định qua được Thất Khê. Đi khỏi Thất Khê là tương đối an toàn.

Nhiều anh em gật đầu tán thành. Sau một hồi bàn bạc, chúng tôi quyết định « phải vượt qua Thất Khê mười một giờ đêm nay ». Hoàng Thịnh và một đồng chí được lệnh mặc quần áo Nùng, đeo pạc-hoọc đi trinh sát.

Hai đồng chí vội vã băng đi luôn.


(1) Khăn gói.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:26 am
*
*   *

Khau Tập Păng là một cái dốc cao ngất, ngoằn ngoèo chữ chi. Đơn vị tới lưng chừng dốc lúc ba, bốn giờ chiều. Tổ trinh sát cải trang đi đầu ở đỉnh núi vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi biết là « ở đằng sau có một toán đông chừng một đại đội đang đuổi theo ta ».

Tôi nghĩ bụng: «Trời gần tối rồi. Bọn nó thấy mình đông chưa chắc đã dám đánh».

Đơn vị lập tức được lệnh :

— Tất cả sắp hàng hai mà đi!

Cả đoàn quân không đi theo mép đường bên trong nữa mà đi thẳng mép đường bên trái dãy núi, xếp hàng hai, mục đích cố ý phô trương lực lượng cho địch thấy.

Mấy tên đi đầu toán lính thấy chúng tôi đi một dãy đông nên dừng lại, đứng nhìn. Anh Quốc Hưng nắm được thóp địch, bình tĩnh bảo anh em:

— Cứ thong thả mà đi !

Cả đoàn quân thản nhiên đi như không có việc gì xảy ra. Năm, sáu phút sau, anh em quan sát ở đỉnh đồi báo về : Bọn địch đang tập họp và quay về Văn Mịch. Đúng là chúng chỉ đuổi lấy lệ, và sợ chết, chúng đã phải quay lại.

Anh em chúng tôi phấn khởi tiếp tục cuộc hành trình, hết đèo này qua đèo khác. Đến Pò Có(1) vào quãng tám giờ tối. Đúng 11 giờ thì vượt qua Thất Khê. Tờ mờ sáng, đến gần bốt Pác Cam, trông rõ cái bốt ba tầng có nhiều lỗ châu mai. Đến gần bốt, đơn vị tạt qua vườn của nhân dân, kéo cành tre lấy lối đi rồi lại kéo rào trả lại cẩn thận.

Sáng ngày 24 tháng 3, đơn vị tới bản Nà Cại, xã Đại Đồng. Vượt thêm một cây số nữa, chúng tôi rẽ lên rừng phía trái ngủ... Đây là một khu rừng già có nhiều cây gỗ quý : vàng tâm, dẻ, đặc biệt là cây kháo, cây nào nhỏ cũng bằng cột nhà, cao đến hàng hai chục thước. Đơn vị nghỉ cả ngày ở đó.

Hai đồng chí Phố và Đàm được cử xuống liên lạc với gia đình cụ Phù Ngan. Đây là một cơ sở của anh Vân từ hồi ba mươi tư; các đồng chí Trung ương đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng vào đấy ngủ. Quê đồng chí Phố cũng ở đấy nên biết rõ đường đi lối lại. Phố đưa con cụ Phù Ngan tới thăm chúng tôi. Chúng tôi hỏi về bốt Pác Cam. Anh nói;

— Có mấy thằng xã đoàn ra đại lý Thất Khê tập rồi. Yên trí. Nó đi tập chưa về đâu.

Sau đó, anh về mua giúp cho hai con gà sống thiến, làm cơm trưa. Phố gánh cơm lên rừng cho đơn vị ăn.

Con cụ Phù Ngan biết tôi lần đi trước. Tôi với anh ấy cùng một lứa tuổi nên thân nhau từ buổi ấy. Gặp lại «tri kỷ », sâm sẩm tối hôm ấy, anh cố tình đưa anh em Cứu quốc quân qua nhà, mục đích là mời tôi uống một chén rượu rồi mới đi. Tôi nhất định từ chối. Anh hẹn tối ngày trở về sẽ «đánh một bữa say túy lúy».

Lần này đưa đường cho chúng tôi có một anh cố nông hơn 30 tuổi, người tầm thước, nhanh nhẹn, chuyên đi vào rừng kiếm lâm thổ sản bán. Biết cách mạng, anh mừng lắm, tự nguyện bỏ công việc để dẫn đường cho chúng tôi lên biên giới. Được người tin cẩn, tính đến biên giới chỉ còn vài cây số nữa thôi, chúng tôi tin chắc chắn rằng cuộc đi sẽ an toàn, chẳng có việc gì xảy ra nữa.

Từ nhà ông cụ Phù Ngan ra đến đường rẽ, trước mặt là những đám ruộng đã cày, rất quang đãng. Chúng tôi ung dung đi. Qua ngã ba đường Pác Cam — Kim Lỵ — biên giới, một nửa số người đang đi con đường mòn hướng ra biên giới, còn một nửa thì đang đi trên bờ ruộng. Bỗng nghe thấy có nhiều tiếng lên đạn.

Phố và hai đồng chí nữa được lệnh dừng lại, nấp ở bờ ruộng. «Dõng tốt thì nói chuyện, thuyết phục họ. Lính thì bắn cho nó chết ba thằng rồi đi. Độ hai, ba mươi phút sau, không thấy gì thì rút theo luôn».

Đi được thêm một cây số nữa mà vẫn chưa nghe thấy một tiếng súng nào. Tới Kim Lỵ, tổ ba người phục kích đuổi kịp đơn vị.

Kim Lỵ là nơi có cơ sở rất tốt. Năm 1941, anh Vân đã đưa chúng tôi vào đây nghỉ. Anh cố nông dẫn đường chỉ vào mấy nhà quần chúng, bảo tôi :

— Vào đây nghỉ !

— Đông lắm. Đi thôi ! — Rồi tôi nắm lấy tay anh — Cảm ơn anh đã đưa đường cho chúng tôi. Tới đây chúng tôi đã có nhiều người biết đường. Anh vào làng mà ngủ đã. Mai hãy quay lại, đêm nay địch có thể phục kích đường anh về.

— Không sợ! — Anh cố nông lắc đầu nói — Tôi về Nà Cại thôi !

Tôi nhắc anh một lần nữa. Nhiều anh em trong đơn vị cũng nói vào, nhưng anh ta đã quyết rồi :

— Địa phương tôi quen cả... Không có sợ gì hết vớ !

Anh về đến đúng chỗ lần đi có động thì bị bọn tổng, xã đoàn phục sẵn, xông ra bắt ngay. Chúng đánh đập, tra khảo thế nào anh cũng không khai nửa lời. Chúng đã bắn chết anh tại chỗ. (Chuyện này, sau anh em mới báo ra cho biết : Phong trào ở địa phương định diệt luôn mấy thằng khốn kiếp này. Bàn đi bàn lại mãi, rồi thôi vì sợ địch khủng bố đồng bào, mất cơ sở. Vì vậy mà mấy tên này còn sống sót đến ngày 9 tháng 3 năm 1945. Khi cao trào lên, tụi nó đã phải đền tội).


(1) Pò : đồi; Có : cây dẻ. Pò Có, thuộc Thất Khê.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:47:07 am
*
*   *

Vượt qua Kim Lỵ, qua Nà Khau, Nà Kẻ là xóm cuối cùng của đất nước. Lên đồi cỏ gianh và đến những đỉnh đồi biên giới. Leo lên đồi càng cao càng nghe rõ tiếng chó sủa từ đằng xa dội lại. Hình như có một số người nào đuổi theo sau và tiếng chó sủa cũng từ thôn nọ lan sang thôn kia, sau lưng chúng tôi.

Đỉnh đồi phân chia biên giới đây rồi ! Quãng mười giờ đêm. Anh em bàn nhau nên ngủ ở đỉnh đồi, không xuống làng Trung Quốc vội, vì đêm tối thế này, nhân dân rất dễ hiểu lầm ta là phỉ. Chúng tôi tăng cường canh gác hai vọng, đề phòng địch đuổi theo.

Trong đêm khuya thanh vắng, bỗng có tiếng hô khẩu lệnh của đồng chí gác, đồng thời có tiếng đạn lên nòng. Tiếp đó văng vẳng nghe có tiếng trả lời bằng tiếng Nùng của một người nào từ dưới dốc lên :

— Nhác(1)... pay… pay công tác mà !(2)

Đúng tiếng người quen, tiếng Nhác nói lắp, tôi chạy vội ra.

Nhác chính là đồng chí Mạc Văn Hải đã ra Trung Quốc hoạt động từ lâu, gần đây lại trở về liên hệ với tổ chức và gây cơ sở ở mấy xóm Việt Nam sát biên giới. Mạc Văn Hải mừng rỡ nắm lấy tay tôi :

— Các anh mạnh khỏe cả chứ ? Có thiếu anh nào không ? Tôi tới Nà Cại công tác, vào ông Phù Ngan. Được con ông Phù Ngan cho biết tình hình các anh vừa đi khỏi. Ôi là mừng! Tôi lập tức ba chân bốn cẳng...

Tôi đã hiểu vì sao có tiếng chó sủa đuổi theo bọn chúng tôi. Tôi hỏi:

— Đuổi theo chúng tôi làm gì mà vội thế?

Anh em ở bốn chung quanh đã vây lấy Nhác. Nhác cho biết tình hình ở đây đã trở nên gay go. Bọn Quốc dân đảng lại bắt đầu giở mặt. Có tin là ở Tĩnh Tây, chúng nó đang khủng bố Đoàn ngoại giao Việt Minh. Chắc có cả bàn tuy bọn Việt Nam quốc dân đảng, bọn Việt Nam cách mệnh đồng minh hội. Anh Lý Quang Hoa (tức là đồng chí Hoàng Văn Hoan) phải về Cao Bằng rồi!

Vẻ đầy lo lắng, Nhác càng nói lắp tợn :

— Các anh... anh sang đông thế này... sợ... sợ không đủ chỗ ở mất...

Dưới ánh trăng mờ, các tổ thì thào bàn tán :

— Thật tránh hổ lại gặp phải sói!

— Ta có súng ống trong tay, cứ lập ngay chiến khu ở biên giới này hoạt động cũng được!

Có tiếng một đồng chí cắt ngang, giọng hơi gắt:

— Hãy đợi Ban lãnh đạo bàn bạc đã. Có cách đối phó vớ!


(1) Họ “Mạc” tiếng Nùng là “Nhác”. Ở biên giới người ta gọi nhau bằng họ ít gọi bằng tên.
(1) Nhác đi công tác về!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:47:35 am
Mạc Văn Hải nói khẽ:

— Quần chúng sợ khủng bố.

Tôi hỏi:

— Anh em ở đây còn bao nhiêu người ?

— Ở đây có tôi và Khai Lạc thôi! — Hải đáp.

— Khai Lạc nào?

— Khai Lạc—Bắc Sơn đấy !

Nghe Mạc Văn Hải nói rõ về Khai Lạc, lòng tôi phút nao nao, Khai Lạc đã cùng với một số anh em của Trung đội Cứu quốc quân l hành quân lên Cao Bằng trong bộ phận của anh Phùng Chí Kiên và anh Giáo đây. Từ bấy đến nay chưa có một tin tức gì cụ thể về các anh! Tôi tự nhủ: « Lúc nào xong việc hỏi xem sao mới được. Bây giờ thì chưa nên...». Tôi trao đổi với hai đồng chí Quốc Hưng và Lê Dục Tôn. Hoạt động của Cứu quốc quân sẽ vô cùng khó khăn. Song ở đây họ Chu có hàng trăm gia đình, họ Đường có mấy xóm. Quần chúng ở đây rất đông, rất tốt. Dựa chắc vào quần chúng nhân dân lao khổ thì mọi việc dù khó đến đâu cũng giải quyết được. Và đây cũng là một dịp giúp thêm cho phong trào cách mạng của bạn ở địa phương đang lúc khó khăn.

Rồi tôi quay lại nói với Mạc Văn Hải, nhưng cũng là gián tiếp nói với anh em Cứu quốc quân :

— Đồng chí đã cho biết tin tức kịp thời. Như vậy là tốt rồi. Trước khi sang đây, chúng tôi cũng đã dự tính có thể xảy ra trường hợp như thế này nên cũng đã có cách đối phó. Chỉ cần anh em bình tĩnh, có kỷ luật, giữ được bí mật và biết dựa vào quần chúng. Đồng chí sẽ cùng đồng chí Pính Chi và đồng chí Khai Lạc sáng sớm ngày mai đón tôi ở lưng chừng đồi, ở sau làng.

Mạc Văn Hải về rồi, Lê Dục Tôn, Chu Quốc Hưng, Nông Thái Long và tôi hội ý nhận định tình hình mới và bàn cách đối phó với những bất trắc có thể xảy xa.

Đêm khuya tĩnh mịch. Trăng đã lặn từ lâu. Sương xuống ướt dẫm hai vai. Cái rét ở biên giới hình như giá lạnh gấp bội cái rét ở quê nhà. Ai cũng trằn trọc, suy tính và lo nghĩ đến tương lai, đến nhiệm vụ cách mạng.

Đàn mảng đi ăn đêm cất tiếng co... oọc..., co... oọc gọi nhau về tổ. Một tiếng gà bỗng gáy lên. Rồi dồn dập nhiều tiếng gáy gấp theo. Một ánh lửa bùng sáng trong một căn nhà ngang sườn đồi phía trước từ nãy vẫn im lìm tối sẫm...

Mệt bã mà ngủ cũng chẳng say nữa. Tôi nằm suy nghĩ về những điều sẽ bàn với Pính Chi và Khai Lạc ngày mai. Pính Chi là người Trung Quốc, quê ở ngay Bản Khiếc, bản chúng tôi sẽ tới ngày mai đây. Pính Chi là người rất thân thiết với anh Vân. Trước đây Pính Chi đã ủng hộ ta một khẩu súng pạc-hoọc bắn liên thanh 10 viên; anh Phùng Chí Kiên được trao giữ khẩu súng này.

Trời rạng sáng. Một đám mây hồng bay lơ lửng trên đỉnh núi xa. Rừng nhấp nhô một màu xanh ngắt. Sương mù ẩm ướt. Rồi nắng lên chiếu sáng cả đồi cỏ gianh hoe hoe vàng. Đàn gà gô gọi nhau từ đồi gianh này sang đồi gianh kia. Chúng kêu «tắc tà là...tà!» nghe như «Cái đất nhà ta» «Nhớ cái đất nhà ta». Dưới thung lũng, dọc khe suối sương mù nõn xốp như bông. Một con cầy hương chạy vụt qua, lao vào bụi mua bên đồi. Tiếng cối nước đều đều từ xa vọng lại. Từng đàn chim từ cửa rừng bay tới, sà xuống nương rẫy, líu lo, líu lo.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:47:50 am
Bản Khiếc hiện lên trước mặt với gần hai chục nóc nhà sàn chênh vênh dựa lưng trên sườn núi, cái cao cái thấp với những con đường hẻm quanh co uốn khúc, những rặng cây ăn quả um tùm. Mỗi nhà đều có hàng rào, sân phơi. Khói bếp đã bắt đầu bốc lên từ những mái gianh mái ngói cũ kỹ. Trước làng là ruộng bậc thang, từng mảnh nhỏ ôm vòng về sau, với những luống khoai lang, đỗ, lạc...

Chúng tôi rẽ gianh vạch cỏ theo con đường hẻm vừa ướt vừa trơn, lặng lẽ đi xuống làng. Người đi đầu phải lấy gậy đập cho sương rơi xuống hết để đỡ ướt quần áo. Từ đây nhìn rõ thấy hai ngả đường đi Nà Sliềng và Bản Nạc. Một con đường khác vắt qua ngọn đồi sau làng đi tới Khẻo Mèo. Cảnh vật ở đây cũng không khác gì quê nhà, vẫn chung một vẻ quen thuộc của dân tộc Nùng. Lòng mỗi người lại thấy hăng hái, tin tưởng vào khả năng công tác quần chúng, kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của mình. Nhất định chúng tôi có thể dừng chân được ở đây.

Từ xa xa đã nhìn thấy hai đồng chí Pính Chi và Khai Lạc đang ra đón. Nét mặt hai người đều hiện vẻ lo âu, khác hẳn không khí vui vẻ trong chuyến đưa Trung ương đi họp ở Pác Bó năm trước. Khai Lạc thấy đông, cũng tỏ ra rất lo lắng.

Tôi kéo hai anh Pính Chi và Khai Lạc ra một chỗ, hỏi nhỏ:

— Dân làng biết chưa ?

Khai Lạc và Pính Chi cùng nói:

— Nhác nó xì xào, dân nó biết rồi đấy!

Chúng tôi trao đổi với nhau : Hãy đưa anh em vào làng, để ở ngoài đồi ban ngày không tiện. Mọi việc sẽ tiếp tục bàn, giải quyết sau.

Trên đường vào làng, tôi hỏi Khai Lạc:

— Thái độ của nhân dân thế nào?

Khai Lạc đáp:

— Bà con được tin anh em sang đây cũng mừng, nhưng cũng có phần lo bọn Tưởng nó biết nó khủng bố. Đối với tôi, dân làng vẫn tốt lắm, trước sau như một. Họ vẫn luôn luôn nhắc đến các đồng chí ta, nhất là anh Vân.

Tôi nói thêm với Pính Chi:

— Giặc Pháp khủng bố phong trào Võ Nhai dữ quá, chúng tôi phải tạm lánh sang đây ở nhờ đất các đồng chí ít ngày, rồi sẽ liệu trở về hoạt động sau...

Pính Chi sốt sắng ngắt lời:

— Chúng ta là bà con quen thuộc cả. Các đồng chí cứ coi ở đây như ở Tràng Xá, cần giúp đỡ gì cứ bảo chúng tôi.

Vừa bước tới ngõ đã thấy nhà nào nhà nấy kéo nhau ra đứng ở cửa đón chúng tôi, con mắt nhìn nửa mừng nửa lo. Theo sự hướng dẫn của Pính Chi, Cứu quốc quân chia thành từng tổ vào ở từng gia đình. Anh em vừa trò chuyện vừa bắt tay ngay vào giúp đỡ việc trong nhà. Tuy mới gặp gỡ lần đầu, nhưng vốn đã nghe tiếng nhau từ lâu nên người dân biên giới sẵn lòng hiếu khách, hào hiệp, càng dễ kết thân với những người cùng chí hướng, cùng tâm tình. Thấy Nông Thái Long có cây sáo trúc, cánh thanh niên và thiếu nhi bu ngay lấy, mở những đôi mắt thật to, giục Nông Thái Long dạo một bài Lưu thủy cho vui... Cái không khí hồ hởi của tuổi trẻ đã át được nỗi lo âu của một số đồng chí. Chỉ cần Cứu quốc quân biết tuyên truyền, gìn giữ bí mật và thiết thực giúp dân làm ăn thì chắc chắn có thể đứng chân ở đây một thời gian để hoạt động; hơn nữa, còn có thể giúp phần nào cho phong trào địa phương lúc này.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:49:06 am
*
*   *

Tại vùng Bó Cục này, phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo vẫn duy trì được tốt, qua các cơ sở hoạt động bí mật như Pính Chi ở Bản Khiếc, Phan Sèn Chân ở Nà Sliềng, Nông Kỳ Chẩn (tức Tài Thầu) ở Nà Trảo, Khim Dỉ, Quai Dính ở Bản Trang và Hẻn Máy, Lão Giám, v.v.

Đồng chí Hẻn Máy bị mù nhưng rất có uy tín trong nhân dân. Hồi đó, ở biên giới, có rất nhiều phe phái linh tinh. Bọn nào cũng muốn gây ảnh hưởng trong nhân dân. Nhưng hễ chúng đến vùng Bỏ Cục này mà tuyên truyền thì người dân chỉ cần hỏi lại bọn đó một câu :« Hẻn Máy nó có theo chúng mày không ? ». — «Không, Hẻn Máy nó theo Cộng sản kia!».—«Thế thì tao cũng không theo bọn mày. Hẻn Máy nó theo ai, tao theo người đó !». Thật là dứt khoát. Sự tín nhiệm này không phải một ngày mà cỏ. Nhân dân đã biết rõ Hẻn Máy ảnh hưởng cách mạng Long Châu đỏ. Và đã hơn chục năm nay, Hẻn Máy tuy đã mù rồi nhưng vẫn là người sáng suốt, trung thành bảo vệ quyền lợi của nhân dân(1).

Sau đó, chúng tôi họp cán bộ đội. Các đồng chí bạn như Pính Chi, Hẻn Máy, Lão Giám, Phan Sèn Chân cũng tới dự họp. Tôi báo cáo tình hình cách mạng trong nước. Lê Dục Tôn kể lại tám tháng đấu tranh vũ trang. Khai Lạc nói sơ qua về vài đầu mối cơ sở của ta ở bên Trung Quốc mà đồng chí đó mới nắm được. Các đồng chí bạn giới thiệu tình hình chung của địa phương, từ tinh thần cách mạng của nhân dân, những chính sách, luật lệ của Quốc dân đảng, đến cách thức làm ăn, sinh sống, tín ngưỡng, phong tục của vùng này.

Nhờ vụ mùa vừa qua thu hoạch khá, đời sống dân làng tạm dư dật. Nhưng cũng phải có thêm hoa màu mới đủ ăn đến vụ gặt cuối năm. Đặc vụ Tưởng, tình báo Pháp đôi khi cũng lảng vảng qua đây. Nạn thổ phỉ thì vẫn không giảm đi được chút nào, mặc dầu việc tuyên truyền kháng Nhật gần đây có khá hơn.

Hội nghị nhận định là tuy ở hai nước khác nhau, nhưng sẵn tình cảm cùng dân tộc, ngôn ngữ, cùng họ hàng thân thuộc, nhất là cùng giai cấp, cùng chí hướng cách mạng, nên hầu hết nhân dân đều một lòng sẵn sàng nuôi dưỡng, che chở cho Cứu quốc quân. Nhưng thế lực của chính quyền Quốc dân đảng đang mạnh, chính sách của chúng đối với cách mạng Việt Nam lại xảo quyệt, phản trắc, liên kết đấy mà tiêu diệt ngay đấy, nên nhân dân cũng có phần lo sợ bị đàn áp, khủng bố lây.

Quần chúng đang lo lắng. Các đồng chí Trung Quốc đã hứa phối hợp cùng Cứu quốc quân, giải thích tình hình, giáo dục thêm ý thức đấu tranh cho bà con. Chúng tôi cũng hứa sẽ chịu đựng hết mọi khó khăn, nguy hiểm, gánh tất cả trách nhiệm về mình, tìm mọi cách không để liên lụy đến dân làng và cố gắng làm hết sức mình để góp phần xây dựng và phát triển phong trào cách mạng địa phương. Hội nghị quyết định một kế hoạch hành động cụ thể, từ dự kiến đối phó với địch, cách thức vận động quần chúng, ổn định sinh hoạt vật chất của toàn đội đến kỷ luật phòng gian, giữ bí mật, dân vận...

Sau cuộc họp, có được phương hướng và kế hoạch rõ ràng rồi. tất cả anh em đều hăng hái, tin tưởng bắt tay vào việc. Cứu quốc quân được biên chế thành từng tổ nhỏ, đảng viên lẫn với quần chúng, có khả năng độc lập công tác và chiến đấu.

Một số anh em có bà con họ hàng làm trưởng thôn thì lấy giấy thông hành và có thể công khai đi Long Châu, Bằng Tường hoạt động.

Một bộ phận chừng một tiểu đội thì tổ chức làm lán ở rừng núi giáp biên giới. Tất cả trang bị, súng đạn, nồi niêu, vật dụng để hẳn trong kho ở rừng. Ngày làm việc ở rừng, chăn trâu bò cho nhân dân, phát nương, phát rẫy, tối lại xuống làng ăn cơm. Ăn xong lại lên ngủ ở lán.

Sang đến ngày thứ ba, tất cả Cứu quốc quân đã có thể phân tán thành từng tổ ba người trở lên đi dần vào từng bản sau khi đã có điều tra và bàn bạc với các đồng chí ở bản đó. Bản nào thuận tiện thì đi trước ; bản nào ít thuận tiện thì đi sau. Phân tán nhưng vẫn giữ bí mật, chỉ có dân ở xóm nào biết xóm ấy thôi. Những xóm như Bản Khiếc, Bản Trang. Khẻo Mèo. Nà Sliềng, Bản Nạc, Hò Tọ, Ái Kèng, Nà Trảo, Hạ Đống đều có các tổ Cứu quốc quân tới. Sau đó, có tổ về tận Đoỏng Hình, gần Long Châu.

Anh em cùng dân lên rừng đốn cây, lấy củi, ngắt nấm, hoặc phát nương rẫy, tỉa hoa màu, chăn trâu bò... Chiều về lại giúp đỡ việc nhà, bếp nước, quét dọn, đan rổ rá, sửa nông cụ. Có nhiều việc anh em lại tỏ ra khéo tay hơn cả dân làng. Họ vừa làm vừa trò chuyện : trao đổi kinh nghiệm trồng trọt, cày cấy, săn bắn, chuyên gia đình quê hương, chuyện chiến đấu cách mạng... Người già, trẻ con, thanh niên, phụ nữ, ai cũng ham nghe chuyện. Nhân đó, anh em lựa lời mà tuyên truyền cách mạng, nâng cao ý thức giác ngộ dân tộc và giai cấp, tình hữu nghị quốc tế, phổ biến cách phòng gian, giữ bí mật... Phong tục tập quán của địa phương được hết sức tôn trọng, giữ gìn.

Vốn đã sẵn lòng ủng hộ cách mạng, hâm mộ Cứu quốc quân, nay lại nhìn thấy tận mắt anh em đều là những người đứng đắn, biết làm ăn, biết giữ bí mật, một lòng giúp dân, nên tất cả dân làng đều yêu mến, tin cậy. Trong tuần lễ đầu, trừ vài anh em gác kho phải xuống làng ăn cơm, tối lại về lán ngủ, còn tất cả Cứu quốc quân đều đã về hẳn nhà họ hàng hoặc nhà dân ăn ở, hoạt động. Chẳng bao lâu tất cả mọi nhà, mọi xóm đều đã hết hẳn lo sợ kẻ địch khủng bố, tranh nhau mời anh em về nhà mình ở, coi như người trong gia đình. Nhất là thanh niên thì một bước không rời anh em.

Cứu quốc quân đã hòa mình hẳn vào trong nhân dân từ cách ăn mặc, nói năng đến cách làm ăn, sinh sống, anh em đã giống hệt người địa phương, kẻ ở xa tới khó mà phân biệt. Đã dừng chân được ở một nhà, một xóm, được nhân dân nuôi dưỡng, che chở, anh em lập tức mở rộng cơ sở, loang ra mọi nhà trong xóm, phát triển ra toàn hương, tạo thành một chỗ dựa vững chắc cho toàn đội.

Hương(2) Bó Cục, giáp Đông Khê và Thất Khê của Việt Nam, có hàng vạn dân, lại hẻo lánh xa xôi. Bó Cục nhiều rừng, nhiều núi, có những cánh đồng tương đối rộng như cánh đồng Tồng Phờu, cánh đồng Ái Kèng. Bản Trang có gần 200 nóc nhà. Ở đây toàn là người Nùng. Nhân dân tương đối hiểu cách mạng, có cơ sở từ năm 1930. Đại bộ phận cán bộ cách mạng của ta đi ra nước ngoài đều đã ở đấy. Dân phần lớn tốt nhưng cũng có số ít «nghịch» đi làm thổ phỉ.

Hương trưởng Bó Cục lúc đó là cháu tôi. Thấy nhân dân tín nhiệm và che chở Cứu quốc quân, hắn cũng nể sợ. Một hôm tôi ra chỗ hắn, hỏi thử:

— Tao ra đây mày có bảo đảm được không?

Hắn bô bô:

— Chú ra đây thì lo cái gì ! Chú muốn đi Long Châu cháu cho giấy ngay.

Sau hôm đó hắn cấp giấy thông hành cho anh Chu Quốc Hưng và tôi được công khai đi lại suốt một vùng Hạ Đống — Long Châu — Bằng Tường.

Như cá gặp nước, Cứu quốc quân lại bắt đầu vẫy vùng hoạt động, mở đầu cho thời kỳ tập hợp lực lượng cách mạng, chuẩn bị gây cơ sở đánh thông đường về nước.


(1) Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hẻn Máy có sang Việt Nam. Trong quá trình chiến đấu, có lúc phải rút sang ta, cùng đánh Pháp, đánh Quốc dân đảng. Năm 1949, Hẻn Máy và các đồng chí ở địa phương cùng nhân dân nổi lên cướp chính quyền, đánh Tưởng ở vùng Long Châu—Bằng Tường. Rồi toàn nước Trung Hoa được giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đồng chí Mao Trạch Đông kính mến. Khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi biên giới nước ta, Hẻn Máy và các đồng chí khác có ở lại bên Việt Nam một thời gian, sau đó trở về Bản Khiếc. Hẻn Máy bị ốm rồi mất tại đó.
(2) Hương: tổng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:51:46 am
*
*   *

Một hôm, nhân lúc hai anh em hàn huyên với nhau về chuyện cũ chuyên mới, hỏi đồng chí Khai Lạc về chuyến đi lên Cao Bằng của Cứu quốc quân I, tôi mới được nghe kể lại cụ thể và tỉ mi về sự tích anh hùng của anh Phùng Chí Kiên và anh Giáo.

Hà Khai Lạc biết rất tường tận con đường xuyên núi xuyên rừng từ Khuổi Nọi đi lên biên giới : trước khi tham gia cách mạng, anh đã từng đi làm vàng ở Kim Hỷ thuộc châu Na Rì, tỉnh Bắc Cạn. Anh Kiên giao cho Khai Lạc nhiệm vụ dẫn đường. Hà Khai Lạc dẫn anh em nhằm Khau Pi(1) đi tới. Đây là một dãy núi rất vắng vẻ, chỉ có thú rừng và bọn buôn thuốc phiện thường lui tới. Các anh sẽ qua Khau Pi rồi xuyên rừng lên Ngân Sơn. Không dè sắp tới Khau Pi thì sa vào ổ phục kích của một bọn dõng do thằng chánh Phượng, chánh tổng thuộc châu Na Rì chỉ huy.

Anh Phùng Chí Kiên lấy chính nghĩa của những người làm cách mạng tìm cách thuyết phục tên này. Nhưng thằng chánh Phượng đã tối mắt vì món tiền thưởng hậu hĩ và cái mề đay do «nhà nước Đại Pháp» ban thưởng: nó thét bọn lính dõng bắt trói anh lại. Anh Kiên không hề núng chí. Anh nhìn thẳng vào bọn lính đang bao quanh, rất độ lượng và rất hiên ngang, thuyết phục họ bằng những lời lẽ có tình, có lý. Anh kêu gọi họ không bắn vào những người cách mạng, quay súng bắn vào bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Bọn lính không dám làm gì anh Kiên, một số lấm lét nhìn thằng chánh Phượng... Thấy người trai trẻ đứng phía trước chỉ có dùng lời lẽ mà làm cho bọn lính dưới quyền đứng im như phỗng, chánh Phượng gầm lên:

— Bắt lấy nó ! Đứa nào để nó chạy thoát, đứa ấy mất đầu !

Thấy tình hình không dịu đi mà lại găng lên vì sự hung hăng của thằng chánh tổng, có anh em đã đề nghị «mở đường máu, bắn chết mấy thằng mà đi !». Nhưng ngờ đâu, ngoài bọn lính dõng còn có bọn mật thám đã theo dấu chân các anh đến đây. Trong lúc xuất kỳ bất ý, bọn này đã đồng loạt bắn vào anh Kiên. Súng nổ. Bọn lính bàng hoàng, nhốn nháo. Anh Kiên gục xuống, khẩu pạc-hoọc rơi xuống đất. Anh em Cứu quốc quân lập tức bắn trả. Đồng chí Lâm rút súng vẩy một phát đạn rất chính xác trúng thằng chánh tổng, bắt nó phải nằm sấp tại chỗ. Lâm xông lên định cứu anh Kiên. Song địch bắn rất rát. Chúng đông gấp bội, bắn như vãi đạn và đang khép chặt vòng vây. Anh Giáo phải ra lệnh cho anh em mở đường máu...

Bọn địch ở các vùng chung quanh được báo động. Thằng giám binh Pông-tích ở đồn Bắc Cạn đánh dây thép đi các nơi trong tỉnh chặn đường. Thằng đồn trưởng đồn Ngân Sơn và tên tri châu Ngân Sơn cho lính khố xanh và lính dõng bịt các ngả đường giáp giới với Cao Bằng...

Anh Phùng Chí Kiên bi thương nặng, nằm lại. Bọn mật thám xông vào đánh đập anh rất tàn nhẫn cho đến gần chết rồi khiêng về đồn Bằng Đức (thuộc châu Ngân Sơn) lấy thưởng.

Phần bị thương nặng máu ra nhiều, lại bị bỏ nằm mưa cả đêm ở sân đồn, phần bị tên châu ủy Vi Văn Bảo(2) tra khảo dã man, anh Kiên đã trút hơi thở cuối cùng !

Anh Giáo đã tạp họp anh em lại và đưa đi. Chẳng may giữa đường anh Giáo bị một cơn sốt ác tính. Nhưng anh vẫn gắng gượng, luôn luôn động viên đơn vị đi tới đích. Hôm đi không nổi nữa, anh họp anh em lại, nói :

— Anh Phùng Chí Kiên mất rồi ! Không nên vì tôi mà mất hết cả đơn vị. Các đồng chí cứ đi trước, mặc tôi ở đây. Tôi sẽ lên sau.

Anh Giáo, trong những năm hoạt động ở Trung Quốc, đã từng làm đình trưởng (tức là tiểu đoàn trưởng), nói tiếng Quan hỏa rất giỏi. Anh nghĩ đến đơn vị nên đã tự quyết định cách giải quyết như vậy. Anh em không đồng ý. Nhưng anh Giáo nói :

— Tôi là chỉ huy, các đồng chí phải theo lệnh tôi ! Các đồng chí lên Chiến khu Cao Bằng trước. Tôi khỏi sốt sẽ theo sau. Tôi biết đường này, không phải lo cho tôi.

Thấy anh em còn dùng dằng chưa quyết tâm, anh Giáo tiếp :

— Tôi đã nói : tôi là người chỉ huy ở đây. Các đồng chí phải phục tùng mệnh lệnh của người chỉ huy ! Thôi các đồng chí đi đi! Phải rắn rỏi lên!... Tôi nói được tiếng Quan hỏa, tôi sẽ có cách đối phó...

Nói rồi, anh nằm lại ở một lò ngói. Anh em gạt nước mắt, từ giã người đồng chí, người chỉ huy thân yêu của mình.

Tất cả số anh em này đều lên được Cao Bằng. Sau đó, các anh Mã «béo» (Mã Thành Kính), Lam, Hải Tâm và Hà Khai Lạc vượt sang đất nước Trung Hoa.

Anh Giáo ốm sốt mê man, bị địch bắt được, giam ở nhà lao Cao Bằng. Anh đã bị cơn sốt rất nặng và qua đời! (Sau này, đồng chí Lã trong tinh ủy Cao Bằng có kể cho tôi nghe về anh Giáo và nói: «Chúng tôi định tổ chức cho anh Giáo vượt ngục. Chỉ ba ngày nữa là ra. Nhưng không may anh Giáo bị một trận sốt rét ác liệt mà chết! Tiếc quá!»).

Nghe hết câu chuyện, lòng tôi đau xót khôn cùng. Thương tiếc anh Kiên, anh Giáo, những người chỉ huy quân sự có tài được cả Bắc Sơn yêu mến! Căm thù đến tận xương tủy bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai đã giết hại các anh!

Càng nghĩ tới cái chết anh hùng của anh Phùng Chí Kiên và tinh thần vì đồng chí, vì Đảng, vì cách mạng hy sinh quên mình của anh Lương Văn Chi, tôi càng thấy trách nhiệm của mình nặng thêm lên. Chúng tôi không phải sẽ chỉ ở mãi đây « ngon ăn ngon ở rồi làm rể ở đây » mà còn phải trở về nước. Liệu trên đường trở về có được an toàn như khi ra đi không ? Ai mà đoán biết trước được! Từ đây đến ngày ấy, ngày lại được đặt chân lên mảnh đất quê hương, đánh địch trên mảnh đất của mình, nếu để xảy ra việc gì chẳng lành thì thật là có tội với những người đã hy sinh và cả với những người còn sống.

Tôi nói với Khai Lạc bằng tất cả lòng quý mến đồng chí:

— Cứu quốc quân còn sống được đến ngày hôm nay là nhờ có sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Ông cụ, nhờ có nhân dân hết lòng đùm bọc và che chở. Tình hình trong nước mà yên yên là ta phải trở về thôi. Mình còn nợ đồng bào nhiều lắm. Hết đời mình cũng chưa trả hết nợ ấy đâu!

Khai Lạc gật đầu đáp:

— Về chứ! Lúc nào anh cần, anh gọi một tiếng là tôi đi ngay thôi mà !


(1) Khau : núi; Pi : hoa chuối.
(1) Năm 1954, tên Vi Văn Bảo đã phải đền tội.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:52:37 am
*
*   *

Ngoài việc tiếp tục đi sâu vào cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân Trung Quốc thuộc các xóm của hương Bó Cục, thường xuyên tuyên truyền cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam đo hai Đảng Cộng sản hai nước lãnh đạo, giáo dục tinh thần quốc tế vô sản, hữu nghị dân tộc, để củng cố căn cứ địa mới của Cứu quốc quân, Ban lãnh đạo chúng tôi đề ra nhiệm vụ trước tiên là phải góp phần tập hợp được các lực lượng cách mạng Việt Nam hiện còn đang rải rác trên suốt dọc biên giới này. Chúng tôi thấy cần nhanh chóng thống nhất sự chỉ dạo, phối hợp hành động chung, theo đúng tinh thần các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng ta và Tổng bộ Việt Minh mà chúng tôi đã được biết hồi còn ở trong nước. Lảm được việc này sẽ góp phẩn đẩy cách mạng ta tiến lên, tăng cường được đội ngũ Cứu quốc quân.

Những cơ sở cách mạng Việt Nam trên biên giới Việt — Trung lúc đó không thuần nhất. Có khá nhiều cơ sở vững vàng được tổ chức từ ngót chục năm nay do cụ Thu Sơn, anh Lý Quang Hoa, anh Vân, anh Phùng Chí Kiên... gây dựng lên. Cũng còn có những đồng chí vốn hoạt động trong nước, bị địch khủng bố phải bỏ chạy sang đây, người tiếp tục hoạt động, người lúng túng đợi chờ bắt liên lạc với tổ chức. Lẻ tẻ có người vì cầu an hoặc hết kế sinh nhai nên buộc phải đi làm việc cho chính quyền Quốc dân đảng. Lại có người có lòng yêu nước, nhưng lức đầu đi theo đường lối chính trị sai lầm, nay tỉnh ngộ muốn tìm đến Đảng ta. Có cả những phần tử can án hình sự, trốn ra ngoài nước, thấy cách mạng là tốt đẹp, đã tự hối cải, cũng muốn tham gia hoạt động. Đó là chưa kể một số rất ít những tên cơ hội, những tên phản bội vẫn bí mật đội lốt cách mạng.

Hà Khai Lạc và tôi đã xin được giấy thông hành để đi bắt mối ở các nơi. Các đồng chí chỉ huy như Chu Quốc Hưng, Lê Dục Tôn, Nông Thái Long thì ở lại Bản Trang, Bản Khiếc, Nà Sliềng liên hệ với các tổ Cứu quốc quân, duy trì sinh hoạt, kỷ luật, đẩy mạnh công tác quần chúng, củng cố các cơ sở đã có và phát triển thêm cơ sở mới, mở rộng khu căn cứ địa. Các đồng chí trên cũng lại thường luân phiên thay nhau đi công tác xa.

Hồi 1941, tôi qua Long Châu. Chính cụ Bùi Ngọc Thành, một đồng chí lão thành xuất dương đã lâu, hiểu rõ tình hình các cơ sở cách mạng của ta, đã lên tìm chúng tôi và nói cho biết tình hình các nơi. Do đó, chúng tôi thấy được nhiều mối lẻ tẻ, chưa được tập trung.

Tháng 4 năm 1942, tôi được gặp cụ Bùi Ngọc Thành lần thứ hai. Ngoài ra tôi còn gặp các ông Hồ Đức Thành, Lâm Phủ Thình, Nông Nhì Cố, Âu Đường Tất và Dùng Pin Sìn. Đó là những người mà tôi đã được anh Vân giới thiệu hoặc quen biết từ năm ngoái.

Sau cuộc gặp gỡ với các đồng chí và quần chúng kể trên, chúng tôi đã nắm được tình hình như sau : Nhìn chung, anh em ở đây chưa có một phương hướng rõ ràng và đúng đắn để hoạt động. Mỗi người ở rải rác mỗi nơi, mạnh ai người ấy làm. Sự liên lạc chưa xuyên suốt, chưa chặt chẽ. Tất cả chưa hợp lại thành một tổ chức nhất định, có sinh hoạt thường kỳ, có lãnh đạo tập trung. Suốt một dải Hạ Đống, Long Châu, Bằng Tường bên này biên giới, hoặc Tràng Định, Thoát Lãng, Văn Uyên bên đất nước ta, ai ở đâu vẫn chỉ loay hoay ở đó.

Có vài nhóm, vài tổ như ở Nà Hình, Na Sầm, liên lạc được chặt chẽ với nhau thì cũng gặp việc gì làm việc nấy, không có kế hoạch lâu dài, không có rút kinh nghiệm, nên rút cục vẫn chỉ là vài người loay hoay hoạt động lẻ loi, không gây được thành một phong trào rộng rãi, lớn mạnh.

Trước tình hình ấy, toàn thể Cứu quốc quân đã họp, đề ra chủ trương : phải nhanh chóng thống nhất lực lượng, mở rộng cơ sở quần chúng, liên lạc với trong nước. Phải bắt đầu tạo những hành lang an toàn để đánh thông đường trở về các Chiến khu Bắc Sơn—Võ Nhai, nối liền với các cánh quân ở Đại Từ, Sơn Dương, Định Hóa, Phú Bình, Yên Thế, Hữu Lũng...

Đồng chí Lê Dục Tôn được phân công đi vào Thất Khê cùng các đồng chí ở địa phương để chuẩn bị cơ sở. Anh Quốc Hưng đi về Thủy Khẩu, Na Lạn, Đông Khê và giữ mối liên lạc với cụ Bùi Ngọc Thành. Hà Khai Lạc và tôi đi Bằng Tường gặp Lão Chương, Lý Mùng Sàng; rồi đến Lũng Nghịu gặp Mã Khánh Phương đẩy phong trào vùng này lên; sau tới Bản Quyến, Kéo Ái (thuộc Trung Quốc) gặp Bế Chấn Hưng, Voòng Tài (tức Hoàng Kiều), Voòng Nhì, Mùng, Tô...

Trên đây chỉ là đợt liên lạc gây cơ sở đầu tiên, sau đó các đồng chí Lê Dục Tôn, Chu Quốc Hưng, Hà Khai Lạc, tôi và nhiều anh em Cứu quốc quân khác còn thay phiên nhau đi lại các vùng này nhiều lần nữa.

Quê đồng chỉ Bế Chấn Hưng ở Nà Hình, giáp biên giới; quê các đồng chí Voòng Taì, Voòng Nhì, Mùng, Tô ở Hội Hoan (huyện Thoát Lãng, tỉnh Lạng Sơn). Sau khi bàn bạc thảo luận trong Ban lãnh đạo, anh em Voòng Tài được phân công về Hội Hoan hoạt động. «Cửa ngõ» đã mở tốt, cái cầu bắc về nước cũng tốt. Đồng chí Bế Chấn Hưng thì về Nà Hình. Tôi cũng về đó, «cắm cọc». Tôi sẽ nằm với Bế Chấn Hưng, hoạt động, tuyên truyền cách mạng, mớ lớp huấn luyện Việt Minh, thành lập các tổ chức cứu quốc. Từ Nà Hình đi Hội Hoan 30 cây số, nối liền được hai cơ sở này thì tốt lắm. Các đồng chí đó đã hoạt động rất hăng hái và chỉ trong thời gian ngắn, Voòng Tài và một số anh em Cứu quốc quân như Chu Phóng, Hồng Thái đã có cơ sở vững chắc thâm nhập sâu vào nội địa. Có được bàn đạp mới an toàn rồi, Cứu quốc quân càng dễ dấn bước tiến nhanh...

Chúng tôi đi tới đâu cũng được đa số anh em mừng đón, đồng tình với chủ trương tập hợp lực lượng, thống nhất chỉ đạo, đẩy mạnh hoạt động. Đó cũng là nguyện vọng của anh em từng ấp ủ lâu nay, nhưng chưa có điều kiện thực hiện được. Anh em đều thừa nhận là làm cách mạng không thể ngồi chờ một cách thụ động, mà phải tạo thời cơ, tạo điều kiện không ngừng phát triển công tác. Sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ thêm vững mạnh. Mọi người tổ chức nghiên cứu thêm tài liệu, chương trình hoạt động của Tổng bộ Việt Minh, học tập kinh nghiệm về tám tháng đấu tranh vũ trang của Tràng Xá, trao đổi những phương pháp vận động quần chúng. Số anh em hoạt động lẻ tẻ ở biên giới được tập hợp lại. Đội ngũ của Cứu quốc quân càng thêm đông đảo, mạnh mẽ. Cơ sở vững vàng, hoạt động tập trung, thống nhất.

Việc gây dựng cơ sở quần chúng ở hai bên biên giới đang tiến hành được thuận lợi. Sau bước đầu bắt mối tuyên truyền, đồng chí Lê Dục Tôn đã trao nhiệm vụ tiếp tục củng cố, huấn luyện các cơ sở ở Thất Khê cho các đồng chí ở địa phương và trở lại Hạ Đống họp Ban lãnh đạo nhận định tình hình, đề ra kế hoạch công tác mới. Tháng 6 năm 1942, anh lại đến Bản Sản, kiểm tra phong trào ở Thất Khê, Tràng Định, rồi trở về Long Châu tham gia công tác ngoại giao với chính quyền Tưởng.

Hà Khai Lạc và tôi cũng thường qua lại để tuyên truyền, huấn luyện, giác ngộ quần chúng cho các cơ sở thuộc vùng Nà Pùng, Tẩu Ái (Trung Quốc) và Nà Hình, Phiêng Phần, Nà Ngòa, Bản Tải (Việt Nam)...

Các đồng chí Voòng Tài, Voòng Nhì, Bế Chấn Hưng, Mùng, Tô, Hà Châm, Thái Long... cũng đang hoạt động mạnh ở vùng Hội Hoan, Thoát Lãng. Vài tổ khác cũng thường qua lại bên này bên kia biên giới.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2019, 07:53:13 am
*
*   *

Cuộc sống của cán bộ gây cơ sở lúc đó thật gian khổ. Lý dịch, xã đoàn đều nắm được danh sách cán bộ cần truy nã. Bọn lưu manh, phản bội chỉ chờ cán bộ sơ hở là lấy đầu đem nộp để lĩnh thưởng gạo, muối, tiền bạc.

Nhưng đêm đêm chúng tôi vẫn vượt biên giới hoặc từ nơi ẩn nấp trên rừng len lỏi xuống bản. Đầu tiên còn gặp nhân mối ở bìa rừng, ven làng. Nhiều khi lỡ hẹn, đi không, về không. Có khi luẩn quẩn lạc đường ; có khi chạm trán với tuần đinh. Còn mưa gió, thú dữ, đói rét, ốm đau... là chuyện hàng ngày. Dần dà bà con đã mời vào nhà, ngồi trong xó buồng cùng gợi nghèo, gợi khổ. Đã bắt rễ được vào một nhà thì chẳng bao lâu cán bộ đã có thể làm quen khắp xóm. Nhưng vẫn phải dè chừng con mắt mật thám, chỉ điểm.

Hàng ngày, cứ sớm tinh mơ, chúng tôi đã trà trộn theo dân làng ra đồng hoặc lên nương, tùy theo từng mùa mà cày cấy, phát bờ, giẫy cỏ, gặt hái. Trước khi tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, anh em cũng phải thực sự lao động mới có đủ lương mà ăn. Buổi trưa, dân trở về làng, chúng tôi lại lên ngồi ở một cái chòi canh của dõng bỏ không. Nếu không có động tĩnh gì thì sau khi ăn cơm xong, dân sẽ đem cơm ra cho chúng tôi. Nếu có hiện tượng khả nghi là địch theo dõi thì đành phải nhịn đói. Thường thường có cơm muộn, ăn xong cũng đã một, hai giờ chiều. Lúc đó, vừa tầm dân làng tiếp tục ra đồng hoặc lên rừng, chúng tôi lại theo làm đến hết buổi. Đến chiều, cùng về làng, chúng tôi đi len vào giữa, chung quanh có dân che chở. Cơm nước xong, trời tối mịt, anh em chia nhau đi họp từng nhóm với quần chúng.

Ban ngày, cán bộ thường vừa làm vừa tranh thủ giác ngộ nhân dân. Nhưng chính buổi tối mới là lúc tuyên truyền cách mạng đông vui, sâu sắc nhất. Bà con rất ham hiểu biết, ham học hỏi. Cán bộ vạch tội ác của đế quốc, phong kiến, nguyên nhân mọi nỗi nghèo khổ và sự cần thiết phải làm cách mạng ; rồi nói về Mặt trận Việt Minh, điều lệ của hội, chương trình đấu tranh, hình thức tổ chức, hoạt động, công tác tuyên truyền, giữ bí mật, v.v.

Nhiều cuộc họp rất sôi nổi, bàn cãi đến nửa đêm không dứt. Chúng tôi phải dốc hết cả vốn liếng hiểu biết ra mới thỏa mãn được yêu cầu của quần chúng. Bản thân chúng tôi cũng học tập được rất nhiều ở nhân dân về mọi mặt: từ lòng yêu nước, tinh thần hy sinh vì cách mạng, đến cách làm ăn, sinh sống. Càng lăn lộn với cơ sở, khả năng độc lập công tác của anh em càng được nâng cao, so với thời kỳ ở Võ Nhai, đã tiến bộ nhiều.

Sau những buổi họp bàn công khai như vậy, muốn tránh cho dân làng khỏi liên lụy, tôi thường lên chòi canh của dõng ở giữa đồi biên giới để ngủ. Nhiều đêm chỉ có một mình, trằn trọc thâu canh. Muỗi rừng vo vo, nhiều như trấu, lăn xả vào hút máu. Mùi rêu, lá ải ẩm mốc; tiếng cú nấc lên từng hồi. Đầu óc suy nghĩ miên man. Con đường đánh thông về nước đã vạch ra, nhưng từ nay còn bao nhiêu công việc phải làm! Công việc củng cố các cơ sở còn quá chậm, mặc dù việc phát triển cũng chẳng phải là nhanh chóng. Vài người trong anh em chúng tôi đã có tư tưởng nôn nóng, ngại khó, vừa nghe tin địch rút khỏi Võ Nhai đã muốn kéo quân trở về! Đến nay vẫn chưa nghĩ ra được cách nào liên lạc với Trung ương: nửa năm đã trôi qua mà tin đi tin về đều không có, chẳng hiểu tình hình cách mạng trong cả nước ra sao.

Một đêm, khí trời oi bức. Mây đen đùn lên kín một góc trời. Rồi gió lạnh nổi lên. Mưa ầm ầm trút xuống. Mưa hắt cả vào đất nền chòi. Ngồi trong chòi, quần xắn lên đến gối, bị ướt và gió lạnh, tôi nghĩ không biết nhà cửa, mùa màng của đồng bào đã gây dựng lại được đến đâu; bà Sáng, anh Đủ vừa nhắn về là có thể cho cán bộ về Tràng Xá — Phú Thượng được rồi. Phải bàn ngay với Ban lanh đạo chuẩn bị sẵn người mới được !

Rồi mưa tạnh. Có tiếng sột soạt như chân người bước sau chòi. Tôi nghiêng người nhỏm dậy, nép mình vào bóng tối, nắm lấy khẩu pạc-hoọc. Nhưng không có ai cả! Có lẽ đó chỉ là một con hoẵng đi ăn tha thẩn, thấy động đã phá chạy. Nhớ lại một lần về Bình Nhi công tác với Khai Lạc và Nhác, vừa bước vào nhà hương trưởng, tôi đã thấy trên vách có dán một bản danh sách cán bộ cách mạng Việt Nam đang bị truy nã, trong đó có cả tên mình. Thấy khách vào, chủ nhà đi nấu nước, nấu cơm mời khách. Dọn cơm ra, rót rượu ra chén, chủ nhà mời chúng tôi uống. Hỏi tên họ Khai Lạc xong, chủ nhà nhìn tôi, hỏi:

— Quý danh là gì, bao nhiêu tuổi, ở đâu ?

Tôi đáp:

— Tôi là Chu Hữu Quang, 33 tuổi ở Bản Trang.

Chủ nhà uống cạn chén rượu, cười khà khà :

— Hân hạnh ! Hân hạnh ! Như vậy tôi còn hơn tuổi Chu tiên sinh đấy ! Giờ chúng ta nhận nhau là anh em nhé! Chúc các vị nhất bản vạn lợi này !

Bốn người chúng tôi ăn cơm, uống rượu, cùng nhau trò chuyện rất thân mật...

Lúc ra khỏi cửa, Khai Lạc trách tôi:

— Mày còn tiếc họ Chu lắm à ?

Tôi cười, đáp:

— Thiếu gì người họ Chu! Nó lấy đầu Chu Văn Tấn ở Việt Nam. Tao là Chu Hữu Quang ở Bản Trang. Có gì mà phải sợ?

Đêm khuya, ngồi ở đây, một mình một khẩu súng, nghĩ ngợi rất nhiều. Bao nhiêu anh em hoạt động ở trong nước, hiện nay như thế nào rồi?...

Trời hửng sáng. Tiếng gà gáy ran ran dưới bản. Một đêm mất ngủ đã qua. Ráng mây đỏ hồng báo hiệu một ngày nắng to. Con đường cách mạng còn dài, cứ bền bỉ tiến bước, nhất định phải đi tới đích. Trên biên giới của hai nước đây, vẫn có một khối nông dân lao động hết lòng che chở cách mạng, cưu mang cán bộ. Lực lượng to lớn đó được giác ngộ thì trời đất sẽ thay đổi, người nghèo sẽ hết khổ.

Tiếng mõ trâu lộc cộc. Đồng bào đã lũ lượt kéo nhau ra đồng. Tôi chạy xuống, hòa vào đám đông. Lại bắt đầu một ngày lao động sản xuất và hoạt động cách mạng hăng say. Con đường về nước lại rút ngắn thêm được một ngày.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:02:08 am
VII

Cứu quốc quân rời nước đã được hơn hai tháng. Trong thời gian đó, những gì đã xảy ra ở Võ Nhai ? Giặc còn tiếp tục bao vây, khủng bố nữa không ? Phong trào còn hay mất, ai sống ai chết, các đồng chí Cứu quốc quân phải đi Đại Từ, Sơn Dương, Yên Thế... ra sao? Bao nhiêu câu hỏi đặt ra. Chúng tôi ngày đêm nóng lòng nóng ruột muốn biết tình hình trong nước, nhưng tuyệt nhiên không có một tin tức nào cả.

Ai có thể đảm nhiệm việc đi liên lạc được bay giờ? Bất cứ một đồng chí Cứu quốc quân nào về cũng rất dễ bị lộ và sẽ bị bắt ngay. Người phái đi phải là người tin cẩn, biết đường, quen thuộc, lại đảm bảo không thể bị bắt. Một người có đủ điều kiện như vậy, không phải là dễ kiếm. Anh Quốc Hưng gợi ý:

— Hay ta tìm đến nhờ cô Sao vậy?

Tôi suy nghĩ và thấy không còn có ai hơn được nữa.

— Nhờ cô ấy thì khó đấy. Nhưng ta cứ thử xem sao, may ra cô ấy nhận lời thì tốt...

Bà Sao là em con chú con bác với bố tôi. Vài năm trước bà đã một hai lần sang Võ Nhai thăm người chị ruột lấy ông Sảng Khì, tôi gọi là chú dượng, làm ăn ở Phú Thượng. Lần này, định nhờ bà mượn cớ đi thăm họ hàng mà liệu đường dò la tin tức. Anh Chu Quốc Hưng và tôi đến thăm bà ở tận Lùng Slương (hương Bó Cục).

Thấy chúng tôi vừa bước chân vào sân, bà Sao bảo:

— Hai cháu về à! Vào nhà đi!

Anh Chu Quốc Hưng nói đỡ cho tôi:

— Chúng cháu về khá lâu rồi! Hôm nay mới tới thăm cô và thăm chú...

Chúng tôi vào nhà. Ông chú đang hí húi làm cái gì, bỏ việc đó, đi đun nước.

Sau khi rót nước trà mời uống, ông mới bảo chúng tôi:

— Ấy, có gặp hai cháu ở giữa đường, chú cũng chả nhận họ nhận hàng được đâu...

Lâu ngày xa cách, bà cô tôi hỏi han cặn kẽ mọi tình hình làng xóm, gia đình. Tôi kể rõ chuyện địch khủng bố, làng mạc tan hoang, họ hàng ly tán cho bà nghe. Càng kể lại càng thấy đau lòng vì nỗi nước mất nhà tan, oán thù uất ức nghẹn lên tận cổ. Còn bà Sao thì lại càng xót thương tình máu mủ, nghe đến đâu nước mắt chảy đến đó. Ông chú dượng cũng phải nghẹn ngào quay mặt đi. Nỗi đau khổ, căm thù đã làm cho tình ruột thịt càng thêm thân thiết. Thấy cô tôi xúc động nhiều, sụt sùi khóc lóc, tôi bèn lựa lời an ủi và khuyên giải:

— Cô chú thương xót cho cảnh gia đình nhà cháu, nhưng bây giờ có khóc lóc, đau buồn cũng chẳng lợi gì. Chúng cháu đi làm cách mạng là đã tính trước thấy nhất định phải trải qua thiệt hại, mất mát. Ngay bố cháu đấy, tuy già rồi, thương con thương cháu, nhưng cũng biết là không làm cách mạng thì cũng đến chết đói chết rét, sẽ mãi mãi phải chịu kiếp ngựa trâu, nên đã khuyến khích chúng cháu hăng hái hoạt động và bố cháu cũng chẳng sợ tra tấn, tù đày...

Bà Sao hỏi:

— Nhưng các cháu có vài chục người, súng ống ít ỏi, thì đánh lại làm sao được chúng nó?

Tôi trả lời:

— Hiện nay chúng cháu còn ít người, ít súng nhưng mỗi ngày sẽ nhất định nhiều lên. Hiện nay cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đâu đâu cũng có người nghèo nổi đậy, nhất định đánh đổ được chúng nỏ. Cô không thấy bà con họ hàng dân xóm ở vùng này cũng hết lòng giúp đỡ chúng cháu đấy ư? Ngay cả cô chú cũng có thể giúp chúng cháu được...

Bà Sao nói :

— Cô chủ nghèo lại già rồi giúp gì được cho các cháu ?

Tôi nói :

— Giúp cách mạng có phải là chỉ cần nhiều tiền đâu. Chính bọn giàu có nó lại chẳng bao giờ giúp đỡ mà còn làm hại cách mạng nữa. Còn ta thì người già làm việc nhẹ, việc dễ, miễn có lòng là được. Cháu đến đây hôm nay cũng là có một việc cần muốn nhờ cô giúp cho...

Ông chú dượng hỏi :

— Việc gì, cháu cứ nói ra xem nào... Để chú làm giúp cũng được chứ gì?...

Bà cô tôi thì đắn đo :

— Việc của các cháu toàn là nguy hiểm, làm không quen, sợ hỏng việc cùa các cháu. Ngộ nhỡ lại bị bắt bớ thì khổ...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:02:29 am
Tôi nói :

— Việc này chỉ vất vả thôi, chứ khéo một chút thì cũng không sợ nguy hiểm lắm đâu. Chúng cháu định nhờ cô sang Võ Nhai nghe ngóng hộ tin tức, xem địch còn khủng bố nữa không, nhân dân đã trở về làm ăn như cũ chưa, có điều, chú đi việc này thì không tiện, cô làm dễ trót lọt hơn vì cô đã quen đường, quen người, và nhất là ít bị địch để ý theo dõi như đàn ông.

Cô tôi suy nghĩ rồi hỏi :

— Thế gia đình bác Sảng Khì hiện nay ra sao?

— Lúc chúng cháu ra đi thì gia đình cô chú ấy vẫn mạnh khỏe, làm ăn yên ổn vì không bị khủng bố. Nay cô cứ mượn cớ sang thăm đó thì tiện lắm...

Ông chú dượng nói:

— Được đấy, bà nó cứ đi đi. Việc nhà đã có tôi trông nom cho, có vắng dăm bữa nửa tháng cũng không sao. Nhưng cháu phải bày vẽ rõ ràng cho bà ấy nghe ngóng những gì mới được.

Cuối cùng bà Sao công vui vẻ nhận lời. Hai cô cháu liền bàn bạc cách ra đi. Đồ cải trang, bà Sao vẫn có thể mặc quần áo Nùng Trung Quốc nhưng chỉ cần bỏ búi tóc, rồi chít khăn vấn, ngoài trùm khăn vuông, theo đúng kiểu của phụ nữ giáp biên giới Việt Nam. Dọc đường có ai hỏi thì nhận là người vùng Háng Cáu, Thất Khê, sát biên giới Trung Quốc, nay đi thăm bà chị và họ hàng ở Nà Pài, Phú Thượng. Chỉ nên đem theo một tay nải với hai bộ quần áo, không cần giấy tờ gì hết. Khi đến nơi, chưa nên dò hỏi gì cả, mà cứ đi chơi nhà bà con quen thuộc, thăm sức khỏe một cách bình thường, tự khắc ai biết gì họ sẽ kể cho nghe. Lúc đầu chỉ cần biết tình hình chung chung, xem địch còn khủng bố không, canh phòng tuần tiễu ra sao, dân làng ai còn ai mất, ai bị bắt, ai được tha, ruộng nương nhà cửa thế nào, tai nghe mắt thấy những gì thì nhớ lấy. Dần dà, lựa xem lúc nào thuận lợi nhất, nhân anh Lục Văn Đủ (người chịu trách nhiệm ở lại gìn giữ cơ sở Võ Nhai) ghé lại chỗ nhà ông Sảng Khì, nhân đó lấy tin tức tỉ mỉ hơn.

Bà Sao đi rồi.

Chúng tôi ngày đêm vừa mong tin vừa lo; không hiểu bà đi có trót lọt không? Bà Sao không biết nói tiếng Kinh, gặp tình huống phức tạp sẽ xử trí ra sao ; ra ngoài, lại đi xa, một thân một mình. Lo canh cánh bên lòng, nhưng chúng tôi vẫn cứ hoạt động như thường. Vẫn đi các nơi. Ở cơ sở nào cũng lao động cùng nhân dân địa phương, tuyên truyền cách mạng Việt Nam.

Nửa tháng sau được tin bà Sao trở về. Chúng tôi thở phào sung sướng như trút được gánh nặng. Anh Quốc Hưng và tôi vội sang gặp. Cô cháu đều mừng rỡ vì công việc trót lọt.

Bà Sao kể lại là Cứu quốc quân rút đi được vài hôm thì lính lê-dương, khố đỏ cũng rút đi, chỉ còn lại lính khố xanh và phần lớn là dõng. Chúng tuyên truyền là Cứu quốc quân đã tan rã, trốn lên núi thành người rừng cả rồi. Hiện nay, chúng chỉ đóng vài bốt lẻ, việc càn quét cũng giảm nhiều. Dân làng chỉ còn tập trung ở Nà Pheo, nhưng cũng đã lục tục được về làng cũ làm ăn. Cả những gia đình bị giam vì tình nghi hoặc có người nhà thoát ly làm cách mạng cũng đã được về làng cũ làm ruộng làm nương, nhưng chiều vẫn phải về trại tập trung. Các đồng chí ở lại đã bí mật lãnh đạo bà con đấu tranh, kéo nhau lên châu, lên đồn xin cho các gia đình bị giam đó về hẳn nhà cày cấy cho kịp thời vụ. Giặc đã phải nhượng bộ. Cả bác Khăm, chị gái tôi, và vợ anh Quốc Hưng cũng đã được trở về làng. Tuy mật thám vẫn còn lùng sục, cường hào tổng lý trở lại phá hoại, nhưng tình hình nói chung là dịu hơn. Ông bố tôi thì đã chết ở trại giam Chợ Chu. Việc bắt mối liên lạc với các đồng chí Cứu quốc quân ở Đại Từ, Sơn Dương, Phú Bình, Hữu Lũng... mới đang bắt đầu.

Tin bổ chết ở trại giam của địch làm tôi xúc động và đăm chiêu. Tôi nhớ lại những ngày thơ ấu: tôi là con út nên bố tôi rất thương... Tôi đi rồi, ở quê nhà ông bị thằng trưởng đồn bắt. Nó đánh ông, tra khảo ông, bắt ông gọi con về. Ông chửi lại nó. Gặp người có thể gửi gắm lòng ông được, ông nói : « Nói cho con tôi nó biết là bố nó không sợ đau. Tôi chỉ lo ngoài ấy các con làm không ra gì. Tôi không lo gì cho tôi hết ! Chỉ lo cho các con thôi, lo cho cách mạng nhiều ! ».

Tôi càng nghĩ lời cha dặn lại, càng thấy tội ác của đế quốc chồng chất thêm. « Chúng nó sẽ phải đền tội ». Nhất định là như vậy.

Cuối cùng bà Sao nói:

- Anh Đủ, cô Thu, bà Sáng có nhắn là các cháu có thể cho cán bộ trở về ít được rồi đấy. Và có về thì cũng phải đợi hết mùa mưa lũ. Gặt xong lúa sớm mới có lương ăn.

Nghe lời bà Sao kể lại, chúng tôi càng thấy phấn khởi, càng tin tưởng ở lực lượng cách mạng.

Chúng tôi phổ biến tình hình quê nhà cho anh em Cứu quốc quân. Ai cũng vui vẻ, muốn chắp cánh bay về ngay. Nhưng từ nay đến lúc về được, còn phải nỗ lực làm nhiều việc nữa, không thể nôn nóng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:03:17 am
*
*   *

Cuộc đấu tranh của cán bộ cách mạng Việt Nam với chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc lúc đó khá phức tạp. Chính sách của bọn Tưởng Giới Thạch đối với cách mạng Việt Nam là chính sách hai mặt. Khi thì thẳng tay đàn áp, khủng bố, thậm chí có lúc cấu kết cả với Pháp để cùng phá hoại; khi thì liên kết, ủng hộ, hòng mua chuộc, lôi kéo để thực hiện những mưu đồ riêng đen tối của chúng.

Nhìn chung, về bản chất, chính quyền đó trước sau chỉ muốn tiêu diệt cách mạng, tiêu diệt Cộng sản. Nhưng hoàn cảnh thực tế bắt buộc chúng phải có những mánh khóe kín đáo, xảo quyệt hơn, không thể trắng trợn được. Trước áp lực của nhân dân, chính phủ Trùng Khánh cuối cùng đã phải tuyên chiến với Nhật, do đó cũng buộc phải thừa nhận khẩu hiệu đúng đắn của Đảng ta là «Việt, Hoa liên hiệp đánh đổ Pháp, Nhật». Hơn nữa, cách mạng Việt Nam đã thành một lực lượng lớn mạnh đáng kể, không thể coi thường.

Vấn đề qua lại giữa nhân dân hai nước có biên giới chung là một chuyện không thường mà cũng lại rất bình thường. Đây là biên giới của hai nước; dân hai bên sang với nhau là không hợp pháp vì bọn thống trị của chế độ đó không cho phép làm tự do. Nhưng lại bình thường ở chỗ bên này bên kia biên giới đều có họ hàng, thông gia với nhau hoặc quen thuộc nhau: núi này sang núi kia có khi chỉ cách một quả đồi, ông em bên này gọi ông anh bên kia cũng nghe thấy tiếng nhau...

Cứu quốc quân sang bên đó, được anh em bên đó giúp đỡ. Cứu quốc quân làm công tác quần chúng, giúp đỡ nhân dân làm nhà làm cửa, đi cày đi bừa, nhổ mạ gánh phân rất thạo v.v. nên được sự yêu thương của nhân dân Trung Quốc. Quần chúng bàn bạc về cách mạng Việt Nam, về chế độ của Tưởng và cách mạng Trung Quốc. Quần chúng hiểu Cứu quốc quân làm gì, sự thông cảm với nhau càng tăng lên và sự tin tưởng của họ đối với cách mạng Trung Quốc càng bền chặt... Địch không dễ gì mà tranh giành ảnh hưởng với ta được. Tuy vậy chúng còn hy vọng, trong quá trình liên hiệp với ta, chúng có thể lôi kéo được cán bộ, tách quần chúng ra khỏi Đảng. Chúng muốn cuối cùng ta sẽ dẫn đường cho chúng thay chân Pháp, Nhật vào làm chủ Đông Dương, như bọn Việt-quốc, Việt-cách, Phục-quốc... Những biện pháp cụ thể để thực hiện những chủ trương trên của chúng cũng lại tùy nơi, tùy lúc, tùy người mà đổi khác, nhiều khi trái ngược lẫn nhau, trên dưới mâu thuẫn. Cho nên, về mặt sách lược, ta cũng cố gắng tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của chúng đến một mức nhất định. Và trong những hoàn cảnh cụ thể, nếu khéo biết lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ chúng, thì ta cũng có thể làm được nhiều việc có lợi cho cách mạng Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn của bọn Quốc dân đảng đối với cán bộ ta lúc đó là gây khó khăn về đời sống. Chúng muốn đẩy anh em ta vào thế cùng quẫn, cuối cùng phải đi làm việc cho chúng. Trừ những học sinh quân của ta được bố trí đi học ở Nam Ninh có đời sống tạm gọi là ổn định, tuy rằng mức sống cũng rất thấp, còn tất cả những anh em hoạt động lẻ tẻ ở biên giới thì khá lúng túng về kinh tế. Những đồng chí có nghị lực, có kinh nghiệm hoạt động thì vẫn lăn lộn với phong trào. Họ vừa làm lụng kiếm ăn vừa tuyên truyền tổ chức quần chúng. Cuối cùng chính những cơ sở quần chúng lại giúp đỡ các đồng chí đó sinh sống được dễ dàng. Nhưng cũng có vài anh em vì thiếu khả năng độc lập công tác hoặc cầu an đã đi làm việc cho chính quyền Quốc dân đảng. Số người phản bội thì rất ít. Phần nhiều là để kiếm miếng ăn qua ngày, chờ thời hoặc hoạt động cầm chừng.

Khoảng gần cuối tháng 5 năm 1942, bỗng nhiên hai anh Khoa và Hãn Sinh về Bó Cục để tìm gặp chúng tôi.

Hãn Sinh là người ở biên giới hoạt động từ lâu. Khoa là Cứu quốc quân I, đã từng tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn, sau theo tiểu đội của ông Cáp và anh An rút sang Bằng Tường hồi tháng 7 năm 1941 khi địch khủng bố Bắc Sơn. Hà Khai Lạc cho tôi biết là cả hai anh hiện đều làm việc cho chính quyền Quốc dân đảng ở Tĩnh Tây, có lẽ cũng chỉ là một cách mưu sinh tạm bợ chứ không có ý định gì phản trắc. Nhưng từ lâu không gặp hai anh, biết đâu họ đã chẳng có những thay đổi ? Mục đích của họ đến gặp Cứu quốc quân để làm gì? Chúng tôi cần có dự kiến trước để chủ động đối phó.

Nhân có chuyện hai anh Khoa và Hãn Sinh đến tìm gặp chúng tôi, tôi vụt nhớ đến câu chuyện Hà Khai Lạc kể cho tôi nghe. Chuyện đã xảy ra ngót một năm trời...

Tốp thứ nhất do anh Phùng Chí Kiên và anh Giáo chỉ huy đi rồi thì tốp thứ hai do đồng chí Đặng Văn Cáp dẫn đầu cũng lên đường.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:03:58 am
Theo sự phân công của Ban chỉ huy Chiến khu Bắc Sơn, đồng chí Cáp (lúc này đã 48 tuổi) đưa một số đồng chí đi học nước ngoài. Tốp này có anh An (Hoàng Văn Thái), anh Minh (tức Bình), anh Khoa, anh Lạng (tức Hoàng Như Ý) và anh X. (Anh X. bị bắt đi lính khố xanh ở Thất Khê đã đi theo cách mạng). Tất cả định qua Lũng Nghịu (Mục Nam Quan, rồi sang Long Châu, chờ một số học sinh ở trong nước giới thiệu ra. Trừ anh X. và anh Lạng là người mới, còn hầu hết đều là cán bộ Bắc Sơn.

Anh Bình là người thuộc đường, dẫn anh em đi xuyên rừng. Hơn một chục ngày đêm leo dốc vượt đèo, mỗi người chỉ có một túi lương khô. Mưa ướt cả ngày, cả đêm : quần áo ướt, lương khô cũng ướt. Một hôm, vào khoảng chín mười giờ đêm, qua châu Điềm He, anh em định đi lén qua cầu Khánh Khê, không may gặp bọn buôn thuốc phiện lậu ở giữa cầu. Chúng kêu toáng lên. Sợ lộ, anh em phải chạy trở lại, không dám qua cầu nữa. Con sông chắn lối rồi, phải vượt nó mới tiếp tục đi được. Lần mò mãi mới tìm được chỗ người ta ngăn sông để đơm cá. Theo đường ngắn mà đi, đoạn lội, đoạn bơi. Đêm đó, lớp ngóp, lên tới nhà một người quen của anh Binh. Nhà này trước cũng buôn thuốc phiện : người ta làm cho một bữa cơm, thức ăn chỉ có đu đủ muối. Anh em đều mệt và đói nên ăn rất ngon lành. Ăn xong, lên một quả đồi ở trong rừng mà ngủ, không dám ngủ trong nhà dù là người quen. Lúc này tên tuổi và hình ảnh của những người Cộng sản đã được yết bảng ở mọi nơi rồi. Họ bị lính khố xanh, khố đỏ và dõng săn đuổi ; ngay cả đến bọn buôn thuốc phiện lậu cũng đồng tình với bọn lính, tiếp tay cho chúng lùng bắt khi cần thiết. Rời khỏi cái nôi của mình là cơ sở nhân dân, cơ sở quần chúng, anh em cảm thấy bơ vơ.

Tối hôm sau, anh em đi lên Đồng Đăng. Đến gần Đồng Đăng thì bị lính đuổi. Anh em chạy vào rừng, đi thành hai tốp : Một tốp gồm đồng chí Đặng Vãn Cáp, anh Lạng và anh X., có một khẩu súng Mút và một quả lựu đạn Ý ; tốp kia chỉ có mấy con dao. Tốp ông Cáp tới Lũng Nghịu trước. Còn các anh kia, tối hôm sau mới sang được.

Sau đó, một số lên trường quân sự ở Điền Đông, còn bao nhiêu ở lại Tĩnh Tây để học bộc phá. Còn sau đó Khoa ra sao, đi làm cho chính quyền Tưởng như thế nào thì tôi không rõ. Hãn Sinh cũng là người chúng tôi quen biết. Tin vào bản chất của hai anh căn bản là tốt, ban lãnh đạo bàn nhau cần thuyết phục hai anh, khêu gợi lại ngọn lửa cách mạng, kéo các anh trở về phục vụ Cứu quốc quân. Cán bộ của ta còn rất thiếu, có thêm một người là quý. Chúng tôi đã có tiến hành điều tra nghiên cứu từng người hoạt động ở vùng biên giới. Qua lần tiếp xúc này, nếu họ tỏ ra là những người hư hỏng, thì chúng tôi đành phải giữ họ lại. Cứu quốc quân lúc đó đã có thế đứng vững chắc rồi, khi cần thiết có thể dùng vũ lực để đối phó với địch.

Tôi ra tiếp Hãn Sinh và Khoa. Hai anh có vẻ lúng túng, thiếu tự nhiên. Nhất là Khoa càng dè dặt, ít nói. Tôi vui vẻ hỏi thăm các anh về sức khỏe, gợi chuyện gia đình. Khi nhắc đến những kỷ niệm vui buồn của thời kỳ đấu tranh sôi nổi quyết liệt ở Bắc Sơn, không khí chuyện trò đã trở nên thân mật. Tôi kể lại tám tháng đấu tranh vũ trang ở Võ Nhai. Hai anh lâng nghe, vẻ suy nghĩ, xúc động. Tôi nói :

— Kẻ địch tuy khủng bố rất dã man nhân dân Bắc Sơn — Võ Nhai nhưng phong trào không thể mất được đâu. Trái lại, cả cán bộ lẫn quần chúng đều được rèn luyện dày dạn thêm. Tất nhiên, nếu ta làm ăn vụng, không nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, thì phong trào có thể tạm thời thất bại. Nhưng không nên vì gặp phải một số khó khăn trước mắt mà đâm ra chán nản...

Anh Khoa nói:

— Gia đình tôi hiện nay cũng đang còn ở cả trong nước. Thực tâm tôi cũng không bao giờ quên các anh, quên Tổ quốc, quên cách mạng. Có điều chấp kinh thì phải tòng quyền. Vì khó khăn về sinh sống, tôi cũng phải đi làm việc cho chính quyền ở đây... Kể ra đến nay tôi cũng chưa làm việc gì.

Đã đến lúc có thể nói thẳng với nhau, tôi liền hỏi :

— Các anh vô đây, tôi cũng chưa rõ mục đích để làm gì. Tốt hơn hết là ta nên nói thật với nhau. Nếu các anh còn coi Cứu quốc quân là đồng chí thì không nên giấu giếm gì cả, nếu có khó khăn ta sẽ giúp nhau cùng giải quyết.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:04:09 am
Hãn Sinh đưa mắt nhìn Khoa như giục nói. Tôi rót nước mời hai anh. Sau một phút suy nghĩ, Khoa ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt tôi, thong thả nói:

— Ngay từ khi các anh mới sang đây, bọn chỉ điểm, đặc vụ đã theo dõi và báo tin cho các cơ quan chỉ huy của Đệ tứ phương diện quân. Nghe nói cả tên đại tướng Trương Phát Khuê cũng ra lệnh cho chủ nhiệm Trần Bảo Xương phải đích thân tìm hiểu các anh để chuẩn bị cho kế hoạch tràn vào Việt Nam. Bọn chúng phái chúng tôi đến đây chính là để tìm hiểu Việt Minh, nhất là tìm hiểu xu hướng chính trị, nòng cốt lãnh dạo. Tóm lại, chúng muốn biết các anh có phải là Cộng sân hay không, thái độ đối với Pháp, Nhật và cả Hoa quân nữa như thế nào. Sau đó, căn cứ vào tài liệu đã thu lượm được, chúng sẽ có chủ trương cụ thể đối với các anh.

Tôi thầm nghĩ: bọn Trần Bảo Xương mới nắm được đại khái một vài tình hình về chúng tôi. Chắc chúng còn nhiều điều nghi hoặc. Chính vì thế nên chúng mới phái anh Khoa vốn là Cứu quốc quân đã am hiểu quen biết chúng tôi nhiều về điều tra thêm. Bọn Quốc dân đảng vốn hay quay quắt, nên chúng tôi vẫn cần giữ kín lực lượng của mình, càng bí mật về mọi mặt càng tốt.

Trước lời lẽ thành thực của anh Khoa, tôi cũng đáp lại với một thái độ tin cẩn:

— Anh tham gia phong trào đã khá lâu, đã từng trải qua chiến đấu, nay lại có kinh nghiệm tiếp xúc với bọn Quốc dân đảng, vậy theo ý anh thì ta nên đối phó như thế nào đối với cuộc điều tra này của chúng ?

Anh Khoa có lẽ một phần xúc động vì nhớ đến trách nhiệm của người cách mạng, một phần lúng túng vì chưa hề nghĩ tới cách đối phó lại cuộc điều tra, nên trả lời :

— Các đồng chí bảo làm thế nào thì tôi sẽ làm như thế thôi... Ý định của chúng nó là như vậy, tùy các đồng chí định liệu... Thú thực là khi Trần Bảo Xương sai tôi về đây, tôi cũng rất phân vân, không biết đối xử thế nào cho phải. Nhưng nay thấy các đồng chí hiểu rõ hoàn cảnh của chúng tôi, tình cảm trước sau như một, thì tôi yên lâm, biết minh phải làm gì rồi. Tôi đã về đây với Đảng, mọi việc xin Ban lãnh đạo cứ quyết định, tôi sẵn sàng làm đến nơi đến chốn...

Hãn Sinh cũng nói:

— Bụng dạ anh Khoa thế nào thì bụng dạ tôi cũng vậy. Dọc đường đi, hai anh em vẫn bàn với nhau là, nếu gặp được đúng tổ chức của ta thì có hy vọng trở lại hoạt động như cũ. Vậy xin các anh cứ giao công tác cho chúng tôi, khó khăn mấy cũng không quản ngại.

Tôi nói:

— Hai đồng chí nghĩ như vậy là rất phải. Anh em ta không bao giờ bỏ nhau được. Còn việc đối phó cụ thể với bọn Trần Bảo Xương như thế nào thì Ban lãnh đạo sẽ họp và quyết định tỉ mỉ sau. Theo tôi nghĩ thì các đồng chí không thể báo cáo sự thật cho nó biết, mà tùy theo nó đã biết đến đâu thì liệu lời nói đến đó, còn cái gì nó chưa biết thì phải báo cáo sai lạc đi. Nếu nó biết rõ đường lối chủ trương, thành phần tổ chức của ta thì khó mà tránh khỏi bị khủng bố. Chỉ cần nhấn mạnh mục đích đánh Pháp, đánh Nhật và khẩu hiệu «Hoa Việt liên hiệp» của ta. Về danh nghĩa, sẽ tùy theo hoàn cảnh mà lấy tên Việt Minh của minh hoặc một tên tổ chức mới nào đó.

Anh Khoa cắt ngang:

— Những việc đại loại như trên, tôi sẽ làm được cả. Nhưng muốn cho nó tin thì ít nhất cũng phải có một vài bằng chứng về sự hợp tác của ta.

— Cái đó anh không lo. Anh cứ về nói với nó là đã liên hệ được với cán bộ Việt Nam quen biết từ trước, nên đã lấy được một số học sinh quân người Việt tình nguyện đi học để rồi giúp nó vào Đông Dương đánh Nhật. Chúng tôi sẽ chọn số anh em, cử đi học, coi như người của anh đã tuyển được cho nó. Nắm được số «con tin» đó rồi, nhất định nó sẽ ủng hộ chúng tôi, mà công việc của các anh thì cũng thuận lợi.

Khoa nói :

— Chúng tôi đề nghị với Ban lãnh đạo là để chúng tôi được trở về Cứu quốc quân công tác, làm việc lâu với bọn chúng e rằng không có lợi...

— Về phần công tác của các anh, chứng tôi sẽ bàn kỹ sau. Tôi chắc Ban lãnh đạo cũng sẽ gắng thu xếp cho các anh trở về càng sớm càng hay. Nhưng bây giở, các anh nên làm cho thật tốt công việc trước mắt đã. Khi nào cần thiết, chúng tôi sẽ gọi các anh về ngay.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:04:35 am
Hãn Sinh và Khoa đi thăm một vài anh em Cứu quốc quân quen biết cũ. Mọi người đều niềm nở hỏi han, tay bắt mặt mừng. Trải qua những ngày lưu vong ò nước ngoài, nay trở về với người thân, vẫn được yêu thương, tin cậy, hai anh càng cảm thấy lòng mình ấm áp, hăng hái.

Ban lãnh đạo đã họp bàn với Khoa và Hãn Sinh kế hoạch cụ thể đối phó với bọn Quốc dân đảng. Sáu đồng chí Cứu quốc quân là Quốc Vinh, Liêm, An, Quảng, Đông, Bộ, đã được lựa chọn để đi Tĩnh Tây theo học lớp quân sự của Tưởng. Họ đều được giải thích kỹ về mục đích, ý nghĩa việc đi học này. Đây là một cách che mắt địch, bề ngoài hợp tác với nó để kéo dài thời gian hoạt động, tạo điều kiện đánh thông đường về nước. Anh em ra đi là tuân theo mệnh lệnh của Đảng, chứ thực tâm chẳng ai muốn đi học kiểu này. Đó quả là một nhiệm vụ khá gay go, nó thử thách lòng trung thành của người cách mạng, sống «gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ». Tôi dặn anh em lần cuối :

— Nhà trường dạy gì, ta đều nên học cả. Học kỹ thuật của nó để phục vụ chính trị của ta. Học nó để biết rõ nó, sau này mới có cách đối phó lại. Nhưng phải luôn luôn nhớ đến Tổ quốc, nhớ đến Đảng. Anh em cần gần gũi, giúp đỡ lẫn nhau. Và nhớ tìm cách viết thư «khéo» gửi tin tức về. Học xong, chúng tôi sẽ tìm cách gọi các đồng chí trở về.

Anh Chu Quốc Hưng được cử làm đại biểu dẫn anh em lên đường. Anh em đi bộ bốn ngày thì tới Tĩnh Tây, vượt qua một chặng đường núi non hiểm trở, làng bản thưa thớt, thổ phỉ nhan nhản. Tới đâu cũng chỉ thấy cảnh nhân dân thiếu ăn, rách rưới, trẻ con gầy yếu, không khác gì cảnh nô lệ của làng bản bên ta.

Vào tới hành dinh của tướng Trần Bảo Xương, chúng bắt đợi ba ngày ở ngoài nhà khách. Trong thời gian này, chúng cho các loại đặc vụ tới trò chuyện để dò xét. Sau đó, Trần Bảo Xương đã gặp anh Hưng ba lần, dò hỏi xem lực lượng của ta thuộc tổ chức gì, xu hướng chính trị thế nào, từ đâu đến và đi bằng đường nào, v.v. Anh Hưng đã dựa vào cuộc họp bàn ở nhà trả lời ăn khớp với bản báo cáo của các anh Khoa, Hãn Sinh nhưng còn chung chung và ngắn gọn hơn. Nó còn hỏi về tình hình trong nước, như mâu thuẫn Nhật, Pháp, hoạt động của các đảng phái, nguồn lợi kinh tế, mùa màng lương thực, tâm lý nhân dân đối với chiến tranh... Để trả lời, anh Hưng chỉ nặng về tố cáo các hành vi đàn áp, bóc lột của Nhật, Pháp như thuế khóa, phu phen tạp dịch, nỗi khổ của nhân dân, nguyện vọng đánh đổ đế quốc xâm lược...

Ở đây, anh Quốc Hưng đã gặp Vi Đức Minh và Dương Công Bình. Hai đồng chí này cũng ở vào một hoàn cảnh như anh Khoa, vì sinh kế nên phải tạm làm việc cho chính quyền địa phương để chờ bắt liên lạc quay về hoạt động. Hai anh đã giúp đỡ anh Hưng nhiều kinh nghiệm tốt trong việc tiếp xúc, đối phó với bọn Quốc dân đảng.

Khi tiếp nhận sáu học sinh quân của ta, Trần Bảo Xương đã cho tổ chức một tối liên hoan, gồm tất cả học sinh Việt Nam trong trường. Anh Chu Quốc Hưng thấy tình hình thuận lọi, đã công khai đứng ra nói chuyện, kể lại tình hình trong nước, vạch rõ tội của Nhật, Pháp, cảm ơn sự giúp đỡ của Trung Quốc. Trần Bảo Xương cũng phát biểu ý kiến, hô hào đoàn kết đánh Nhật.

Vài tháng sau, lớp huấn luyện quân sự ở Tĩnh Tây mãn khóa, cả sáu người theo học đã yên ổn trở về hàng ngũ ở Bó Cục. Họ đã có thêm một số kiến thức kỹ thuật quân sự cơ bản, đáng quý so với trình độ hiểu biết ít ỏi của chúng tôi hồi đó, giúp ích cho việc mở rộng huấn luyện các cơ quần chúng đang thiếu cán bộ.

Trước hôm ra về, trong lần gặp gỡ cuối cùng, anh Hưng đã yêu cầu với Trần Bảo Xương bốn điểm :

1. Cấp giấy thông hành cho cán bộ Việt Nam được đi lại hoạt động dễ dàng trên đất Trung Quốc, dọc biên giới từ Tĩnh Tây đến Long Châu, Bằng Tường...

2. Giúp đỡ thành lập một cơ quan công khai để làm trạm liên lạc nội bộ, và ngoại giao với chính quyền Trung Quốc.

3. Giúp đỡ vũ khí để đánh Nhật, đánh Pháp.

4. Giúp đỡ mở những lớp huấn luyện quân chính cho các cơ sở của ta ở vùng biên giới.

Trần Bảo Xương nhận giúp điều 1, hứa sẽ trả lời điều 2 sau, còn điều 3, điều 4 thì hắn lựa lời từ chối khéo. Sau đó, hắn còn mời anh Hưng đi thăm trường, thăm phố và cấp cho 500 đồng Trung Quốc làm tiền lộ phí.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:05:43 am
*
*   *

Dưới ách thống trị của bọn Quốc dân đảng, nhân dân Trung Quốc ở vùng Bó Cục, nơi địa đầu biên cương hẻo lánh này, sống cực khổ vô cùng. Trăm thứ tai ương thảm họa đổ lên đầu họ. Chính mắt được trông thấy những cảnh đau lòng đó, chúng tôi luôn luôn liên tưởng đến kiếp sống nô lệ của dân ta. Trong cảnh cùng hội cùng thuyền, anh em càng căm thù tất cả mọi bọn áp bức bóc lột Pháp, Nhật, Tưởng, thấy cần đoàn kết với nhân dân địa phương chống kẻ thù chung.

Trung Quốc đang bị đế quốc Nhật Bản xâm lăng. Chính quyền Tưởng không hề thực tâm nghĩ đến chuyện kháng Nhật nên chúng cũng không bao giờ quan tâm đến đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng mạnh mẽ đông đảo nhất đó để đoàn kết kháng chiến. Địa chủ, cường hào, ác bá hoành hành. Bất kể mùa màng luôn luôn thất bát vì các thứ thiên tai, chúng vẫn tha hồ vơ vét tô tức. Chúng còn lợi dụng danh nghĩa ủng hộ kháng chiến, nay quyên mai cúng, bắt bớ lính tráng, phu phen, luôn luôn dặt ra các thứ thuế mới. Bên cạnh các hình thức bóc lột đó là những việc cướp bóc trắng trợn thường xảy ra hàng ngày: bọn lính tráng mua chằng mượn quỵt, bọn thổ phỉ giết người lấy của. Lòng oán thù của nhân dân chồng chất cao như núi.

Ở khu vực Bó Cục, chính quyền Tưởng có cho đóng một số bốt tiền tiêu, kiểm soát đường biên giới. Bọn lính này thông thuộc đường lối, dân tình địa phương. Nhiều khi, chúng đi sục sạo khá xa. Đây là những cái gai cắm vào lưng Cứu quốc quân, chưa dễ mà nhổ ngay ra được. Chúng án ngữ các đường đi lối lại, làm chúng tôi rất lao đao trên suốt một đường dây liên lạc tới Hạ Đống, Long Châu. Mới chỉ vài người có giấy thông hành, còn phần đông anh em khác mỗi khi đi công tác vẫn phải né tránh chúng, luồn lối qua những con đường rừng núi rất vất vả, nguy hiểm.

Nhờ các cụ lão thành, chúng tôi đã tìm ra được một con đường hẻm bí mật từ khu căn cứ Bản Khiếc, Nà Sliềng qua Đông Chiu, Pò Mục, Pá Mác, Nà Nộc, Bản Vạ, Bản Đán, Nà Trảo, Bản Séng, Tà Man, sang sông tới Đoỏng Hình, Sằng Kheo, Bản Càng, Nà Lạng (tức Cúc Khau Kheo) tới Kiều Tấm rồi Long Châu. Con đường này rất hiểm trở, là nơi ẩn náu trốn tránh của bọn giặc cướp. Có một cụ già đã nói: «Tao ở cái đất này ba đời, chưa dám một mình qua vùng Khau Kheo. Thế mà anh em cách mạng Việt Nam nhiều khi tay không, vẫn đi qua đi lại trót lọt được, quả là to gan... ». Đi được như vậy, vì không những chúng tôi biết dựa vào dân mà còn nắm được cả những tên trùm thổ phỉ khiến bọn lục lâm cũng đều « kiềng » mặt.

Một hôm, năm sáu thanh niên Trung Quốc ở Ái Kèng, Bản Trang, Nà Sliềng kéo đến. Tiếng họ oang oang từ ngoài cửa:

— Anh Quang đâu?... Anh Quang có nhà không?

— Tôi đây! Quang đây! — Tôi mau mắn trả lời và từ trong nhà chạy ra.

Anh em thanh niên rất quen tôi, thường ra chợ vẫn gặp nhau. Nét mặt mấy chàng thanh niên còn hăm hăm :

— Các anh phải giúp bọn tôi một tay... Đánh ! Không đánh bỏ xác chúng nó đi thì không hả được cái giận này...

— Chúng nó nhũng nhiễu quá lắm rồi... Cứ nện một trận cho chúng biết tay trai vùng này.

Chúng tôi mời anh em ngồi, hỏi han đầu đuôi sự tình. Thì ra chuyện lính bốt Tồng Phờu làm tình làm tội dân ba làng này. Bốt Tồng Phờu là một đồn tiền tiêu của địch ở một nhánh đồng cụt, có đường thông vào Việt Nam. Từ lâu chúng vẫn cậy thế súng ống vào hạch sách, quấy nhiễu dân, khi mua rẻ con gà, xin khéo mớ rau, hút chạc bữa thuốc phiện, mượn chằng cái áo, lúc lừa gạt, dọa dẫm làm tiền. Chúng còn ăn càn, ngủ bậy, gieo rắc bệnh tật. Cánh thanh niên thì căm nhất là chúng hay phá hội si hội lượn, trêu ghẹo gái làng. Đã có lần họ phục trong rừng đánh cho một hai thằng lính đi ăn lẻ bò lê bò càng, nhưng chúng vẫn chứng nào tật ấy. Cánh thanh niên ngấm ngầm bảo nhau phải làm một mẻ to thì chúng mới khiếp.

Họ bảo chúng tôi :

— Chỉ có tiêu diệt cái bọn lính ở bốt Tồng Phờu này đi thì chúng tôi mới đỡ khổ, các anh cũng mới dễ đi lại hoạt động được. Lần này phải làm gọn cả đồn.

— Làm cách nào ? Chúng nó đầy đủ súng đạn, cộng sự... — Một đồng chí Cứu quốc quân nói.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:06:19 am
Một thanh niên người vạm vỡ, ý chừng là đứng đầu cả đám, sắn tay áo lên, nối bô bô :

— Chúng mày không sợ né. Đây chúng tao quen rồi né. Súng nó nhiều nhưng đánh chúng nó dễ thôi. Cổng ngõ chúng tao biết hết rồi. Gần nó cũng dễ thôi. Chúng tao đi chợ còn vào bốt nó đánh bạc đấy.

Một thanh niên khác kéo tay bạn, nói nhẹ nhàng hơn:

— Bàn với các anh, rồi chúng tôi đánh thôi. Được súng sẽ lại ủng hộ cách mạng Việt Nam.

Anh em ở đây có tính đã nói là làm. Họ cũng lại quen với công việc súng đạn, như hàng ngày lên rừng săn con sói, con gấu. Vì tin cậy, vì nể Cứu quốc quân nên họ mới tới hỏi ý kiến chúng tôi. Nhưng không thể để họ manh động như vậy được. Tôi hỏi:

— Các anh đã hỏi ý kiến anh Phan chưa ?

Anh Phan tức là đồng chí Phan Sèn Chân, một cán bộ Trung Quốc lúc bấy giờ. Đồng chí độ 40 tuổi, người thấp nhưng vạm vỡ, đầu to, cằm nhọn, rất hiền từ và bình tĩnh. Đồng chí đã tham gia Hồng quân (Long Châu đỏ) năm 1927, có uy tín lớn trong sổ các anh em ở đây, đồng thời cũng là người giúp cách mạng Việt Nam nhiều nhất. Nhà đồng chí lúc nào cũng có khách, lúc nào cũng có một mâm ăn. Tôi coi Phan Sèn Chân như anh. Phan Sèn Chân cũng rất tin Cứu quốc quân vì chúng tôi cũng đã góp một phần đắc lực vào việc đẩy phong trào địa phương. Phan Sèn Chân và các đồng chí Trung Quốc còn tỏ ra rất quý mến, gắn bó với Cứu quốc quân. Lúc đó Tân Tứ quân và Bát Lộ quân chưa về liên lạc được.

— Anh Phan đi vắng, chúng tôi chưa kịp gặp, — Một thanh niên trả lời.

Tôi nói:

— Kể ra diệt được cái bốt Tồng Phờu này thì các anh cũng trả được thù, chúng tôi cũng nhổ được một cái gai và có thêm hơn chục khẩu súng. Nhưng gây hại cho chúng ta, đâu phải có mình bốt Tồng Phờu, mà còn nhiều bốt khác nữa. Vậy sau đó, các anh có định tiếp tục đánh nốt các bốt khác không?

— Chúng tôi làm gì có đủ sức đánh nhiều bốt thế?

— Nếu không diệt được tất cả, nó kéo nhau về đây khủng bố dân làng thì tính sao?

Anh em thanh niên im lặng. Một anh vẫn hăng hái:

— Thế chả lẽ chịu chúng nó à ? Đến đâu hay đến đó, cứ diệt cái bọn này đi đã...

Tôi nghiêm nét mặt, nói:

 — Nếu anh Phan có ở nhà thì anh ấy cũng không bằng lòng để các anh làm như vậy đâu.

Chúng tôi thong thả phân tích cho anh em rõ là nếu chỉ vì tức khí nhất thời mà tiêu diệt cái bốt Tồng Phờu, tuy có trả được thù cho dân làng, thêm vài khẩu súng cho Cứu quốc quân, nhưng nhất định bọn Tưởng ở Long Châu sẽ kéo quân về khủng bố. Cứ nguyên một việc phải cung cấp lương thực cho binh lính nó cũng đã đủ chết dân rồi. Vả lại lực lượng ta còn yếu, chưa thể đánh lại chúng được. Cái khổ, cái nhục của ta không phải chỉ do mấy tên lính ở cái bốt tiền tiêu này gây nên. Cái thân chúng nó cũng khổ nhục chẳng kém gì con chó giữ nhà. Chính bọn to đầu ở mãi Long Châu, mãi Trùng Khánh, cái bọn địa chủ, tư bản quan liêu đó mới là thủ phạm gây nên mọi nỗi khổ. Muốn đánh đổ bọn đó phải làm cách mạng, nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Mà muốn làm cách mạng thì không thể làm liều, hám lợi nhỏ trước mắt, bỏ lợi lớn lâu dài. Chúng tôi khuyên anh em hãy nên nén tâm, nuôi dưỡng ngọn lửa căm thù để xây dựng lực lượng cách mạng chờ ngày đánh đổ nó từ trên xuống dưới.

Anh em bắt đầu nghe ra, về lý thì đã chịu, nhưng xem ra vẫn còn có vẻ ấm ức. Sau đó, chúng tôi có gặp đồng chí Phan Sèn Chân, bàn cách giải thích thêm cho họ, Tuổi trẻ vốn hăng hái nhưng nông nổi, nếu được hướng dẫn tốt thì có thể làm nên việc lớn.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:07:14 am
*
*   *

Chính quyền Quốc dân Đảng ở địa phương Bó Cục vả Long Châu, Bằng Tường đã đánh hơi thấy những hoạt động của Cứu quốc quân trên đất nước Trung Quốc không hẳn là có lợi cho chúng. Bọn chúng muốn ta kháng Nhật — Pháp thì ít mà muốn ta phụ thuộc vào đường lối chính trị của chúng thì nhiều. Tuy chưa có bằng chứng cụ thể, chúng vẫn cảm thấy có một sợi dây vô hình nhưng chắc chắn gắn bó Cứu quốc quân với nhân dân địa phương. Chúng muốn điều tra, theo dõi ta nhưng luôn luôn vấp phải bức tường che chở vô hình của nhân dân.

Lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, đường lối quần chúng, lối sống giản dị... những đức tính đó của Cứu quốc quân đã nêu được gương tốt cho nhân dân địa phương, tăng thêm lòng tin tưởng cách mạng và giúp cả những kinh nghiệm đấu tranh cho họ. Mối liên hệ tương trợ giữa chúng tôi và các đồng chí Trung Quốc như Pính Chi, Phan Sèn Chân, Nông Kỳ Chấn, Hẻn Máy, Lão Giám, Khím Di... ngày càng mật thiết và có lợi cho nhau. Bọn Quốc dân đảng biết vậy và thấy cần phải đối phó lại.

Các đồng chí Thái Long, Thánh... đã bị bắt giam vì thiếu giấy tờ cư trú, đi lại. Rồi lần lượt đến các đồng chí ở Đoỏng Hình như anh em Hà Châm, Hà Kỳ... có người bị giam dăm bảy ngày. Có người bị giam hàng tháng. Hứa Đình Khánh đã tưởng là mất tích vì bị bắt đến hàng tháng, sau chúng tôi mới được biết.

Những anh em đã nếm mùi nhà giam họ Tưởng mỗi lần nhớ lại còn rùng mình ghê tởm. Bùn lầy, rác rưởi, cứt đái ngập ngụa ; ruồi nhặng bay vo vo, rận rệp bò lổm ngổm. Cơm nước sặc mùi vôi, cá mục lẫn giòi. Chỉ ở vài ngày là mình mẩy, chân tay đều ghẻ lở. Roi vọt, báng súng của lính và cai ngục tha hồ nện xuống đầu tù nhân, nhất là khi không có tí tiền dút lót cho chúng. Tù nhân thì đủ loại người, từ chính trị phạm, nông dân thiếu nợ đến con buôn lừa đảo, lậu thuế, trộm cướp, cờ bạc, gái đĩ... Suốt ngày hỗn loạn, bọn lưu manh đánh nhau, chửi nhau, thậm chí giết nhau. Nhiều người chưa thành án đã ngắc ngoải. Có kẻ được tha về thì đã thành tàn phế. Trong điều kiện nhà tù dã man như vậy, người cách mạng giữ được thân mình cho toàn vẹn để trở về hoạt động cũng là một cuộc đấu tranh đầy nghị lực và mưu trí.

Khi anh Chu Quốc Hưng ở Tĩnh Tây trở về, nhờ có giấy tờ của Trần Bảo Xương cấp phát, anh đã đứng ra nhận cho một số anh em được ra khỏi nhà giam trước. Sau đó, chúng tôi lại vận động các bà con họ hàng hoặc thôn trưởng, hương trưởng quen thuộc đứng ra bảo lĩnh nên số anh em còn lại cũng lần lượt được tha hết. Có thể là lúc này, chính sách của bọn Quốc dân đảng đối với cách mạng Việt Nam bắt đầu mềm mỏng hơn và bọn ở Tĩnh Tây đã chỉ thị cho bọn ở Long Châu phải thả chúng tôi ra. Ban lãnh đạo phán đoán như vậy và thấy cần kịp thời nắm thời cơ, đẩy mạnh công tác ngoại giao.

Trần Bảo Xương đã nhận lời với anh Chu Quốc Hưng là sẽ cấp giấy thông hành cho Cứu quốc quân đi lại hoạt động dễ dàng và nghiên cứu việc cho chúng tôi thành lập một cơ quan thường trực để tiện việc tiếp xúc giao dịch với họ. Có được sự thỏa thuận đó rồi, chúng tôi thúc bọn cấp dưới ở Long Châu thực hiện càng sớm càng tốt. Ông Hồ Đức Thành vốn quen biết tên sư trưởng Long Châu là Hải Cạnh Cương. Ông Thành đã giới thiệu chúng tôi đến gặp hắn không lấy gì làm khó khăn lắm. Hải Cạnh Cương đã cấp giấy thông hành cho Cứu quốc quân đi lại suốt từ Tĩnh Tây qua Long Châu đến Bằng Tường.

Khoảng tháng 9 năm 1942. Hải Cạnh Cương lai báo cho chúng tôi được biết là tên đại tướng tư lệnh Đệ Tứ phương diện quan Trương Phát Khuê đã đồng ý cho chúng tôi thành lập Biện sự xứ ở Long Châu, đại diện cho cách mạng Việt Nam hoạt động ở vùng này.

Đây là một thắng lợi ngoại giao có ý nghĩa quan trọng đối với chúng tôi lúc đó. Đem một lực lượng cách mạng thoát vòng vây sang nước ngoài hoạt động, sống dưới chính quyền về cơ bản đối lập với đường lối chính trị của mình, chúng tôi đã tránh được những chủ trương cơ hội chủ nghĩa, không đầu hàng hoặc thỏa hiệp vô nguyên tắc với đối phương, cũng không theo đuôi quần chúng manh động làm liều, Cứu quốc quân làm dúng tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ tám của Đảng, biết dựa vào quần chúng cơ bản, tranh thủ ngoại giao, giữ vững được đường lối chính trị độc lập của mình. Cuối cùng, đã buộc đối phương phải coi chúng tôi như một lực lượng đồng minh không thể coi thường.

Sau khi được chính quyền Quốc dân đảng công khai thừa nhận, uy tín của Cứu quốc quân càng lên cao. Sẵn danh chính ngôn thuận, các thôn trưởng, hương trưởng, vốn có cảm tinh với chúng tôi, càng nhiệt liệt giúp đỡ thêm về mọi mặt tin tức, giấy tờ... Đặc vụ, chỉ điểm bớt nhòm ngó. Nhân dân không còn phải giấu giếm, mỗi kỳ hội họp, giỗ tết, tha hồ mời mọc Cứu quốc quân về nhà. Nhiều anh em từ xa tự động tìm đến bắt liên lạc.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:08:07 am
Bản thân chúng tôi cũng vui mừng, thấy đây là một dịp tốt để đẩy mạnh công tác, nên càng hăng hái gấp rút làm việc không để phí thời gian. Mặt khác chúng tôi cũng đề phòng chính sách hai mặt của Quốc dân đảng: chúng có thể vừa ra mặt thừa nhận, vừa ngấm ngầm giăng lưới phá hoại. Thời gian hoạt động công khai chưa chắc gì đã đài lâu, biết tranh thủ lúc này thì khi chúng trở mặt, chúng tôi cũng đã làm được những việc cần thiết nhất.

Cần có một số tiền để làm lễ thành lập Biện sự xứ. Sư đoàn bộ của Hải Cạnh Cương Long Châu đã giúp bốn nghìn đồng(1) nhưng số tiền quá ít ỏi đó không sao đủ được. Học sinh ta ở Nam Ninh biết tin cũng gửi ít tiền về. Chúng tôi đang lúng túng xoay xở thêm thì bà con ở Bó Cục, mặc dầu sống rất thiếu thốn, đã nhanh chóng hiểu nỗi khó khăn của chúng tôi, vận động nhau đem đến ủng hộ đủ mọi thứ : thuốc lá, kẹo bánh, trà, đường... Lại còn cho mượn cả một vài bộ cánh khá tươm tất để cho các «chính khách ngoại giao » tạm thời đi « công cán » nữa ! Quả thực, nhân dân Trung Quốc ở đó đã coi mỗi thắng lợi nhỏ của cách mạng Việt Nam như thắng lợi của mình. Một miếng khi đói bằng gói khi no, mỗi lần nhớ đến những ngày gian truân thiếu thốn đã qua, tôi lại bồi hồi xúc động.

Chúng tôi khắc sẵn con dấu vuông to có chữ : « Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh hội — Hải ngoại đệ nhất Biện sự xứ». Lúc đó, thái độ của bọn Quốc dân đảng đối với Mặt trận Việt Minh còn rất lập lờ, phần nghi ngờ nhiều hơn là ủng hộ. Nếu thẳng thắn lấy danh nghĩa « Việt Nam độc lập đồng minh hội » thì e rằng sẽ gặp khó khăn. Chúng tôi nghĩ: thôi bước đầu cứ tạm lấy danh nghĩa đó làm cái vỏ, còn cái ruột để tuyên truyền giác ngộ quần chúng thì vẫn hoàn toàn là Chương trình Việt Minh. Chờ khi nào bắt liên lạc được với Trung ương xin chỉ thị xong, nếu cần sẽ đổi tên cũng chưa muộn. Các cơ sở tổ chức được trước sau vẫn cứ là của mình.

Lễ ra mắt làm ở một cơ quan hành chính Quốc dân đảng tại Long Châu. Về phía chủ có: Bùi Ngọc Thành, Hồ Đức Thành, Chu Quốc Hưng, Triệu Khánh Phương, Lâm Phú Thình, Hà Khai Lạc và tôi. Về phía khách có các đại diện của tên sư trưởng Hải Cạnh Cương và của hơn 20 cơ quan hành chính, đoàn thể địa phương. Tiệc trà cũng gọi là tươm tất.

Sau khi giới thiệu chủ khách, Chu Quốc Hưng, Triệu Khánh Phương và tôi lần lượt đứng lên nói chuyện. Chúng tôi không nói «lý luận », mà cứ nôm na kể lại đời sống khổ cực của nhân dân Việt Nam dưới quyền đô hộ của Pháp — Nhật. Chúng tôi kể rành rọt mọi tội ác của chúng như tô tức, sưu thuế, phạt nhà đoan, phạt kiểm lâm, bắt phu bát lính, tù đày, giam cầm, gây nên nạn vỡ đê, trộm cướp, cờ bạc, gái đĩ, thuốc phiện, mê tín, bệnh tật, kiện tụng... toàn những chuyện có thực mắt thấy tai nghe. Giặc Nhật mới sang cũng đã tỏ ra không kém phần độc ác; chúng chiếm đất làm trại lính, lùa hàng đàn lừa ngựa ra đồng ăn lúa chín, nhét người vào bụng ngựa chôn sống và đang bắt dân phá màu trồng đay... Do đó chúng tôi phải làm cách mạng đánh đổ chúng. Trung Quốc cũng đang kháng Nhật, nhân dân hai nước cần liên hiệp đánh bại kẻ thù chung. Cuối cùng, chúng tôi hô hào nhân dân Trung Quốc và chính quyền Quốc dân đảng thiết thực giúp đỡ chúng tôi nhiều hơn nữa và tỏ lời cảm ơn họ.

Các vị khách cũng lần lượt tỏ ý hoan nghênh và chúc mừng cách mạng Việt Nam thắng lợi.

Chúng tôi đánh điện đi báo tin cho các nơi và đều nhận được điện chào mừng đáp lễ. Có gửi cả điện cho Tưởng Giới Thạch, Trương Phát Khuê và Trần Bảo Xương. Thấy chúng tôi làm được tốt việc này, học sinh quân của ta ở Nam Ninh cũng định vận động thành lập Biện sự xứ ở đó, nhưng sau xét thấy chưa cần thiết nên anh em lại thôi.

Từ đó, cơ quan chúng tôi giao dịch rất đường hoàng. Nhiều mối liên lạc cách mạng được nối liền nhanh chống. Cơ quan đoàn thể Trung Quốc thường đi lại bàn bạc công việc với chúng tôi, Chương trình Việt Minh được dịch ra chữ Trung Quốc, in rất nhiều và phân phát đi toàn khu vực đó. Ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam chỉ trong thời gian ngắn đã lan đi khá sâu rộng.

Chúng tôi còn lấy cớ là cơ quan đông người, phải đi lại luôn mà giấy tờ của chính quyền Quốc dân đảng cấp cho chỉ có hạn và chậm trễ, nên xin tự cấp giấy đi lại, cho họ đỡ phiền phức. Sư trưởng Long Châu Hải Cạnh Cương đồng ý. Từ đó, chúng tôi tha hồ mà đi lại trong phạm vi hai huyện Long Châu — Bằng Tường, mặc sức tuyên truyền, tổ chức cách mạng. Nghĩ lại việc này kể cũng thấy buồn cười cho bọn cầm quyền Quốc dân đảng. Chúng chẳng có ý thức gì về chủ quyền quốc gia, chỉ vì ngại phiền phức mà sẵn sàng trao cho người nước ngoài quyền ký giấy tự do đi lại trên đất nước mình !

Tuy có trụ sở thường trực và điều kiện hoạt động công khai, chúng tôi vẫn gắng giữ gìn bí mật lực lượng nằm ở Bó Cục, tiếp tục đi sâu gây cơ sở trong quần chúng cơ bản. Chỉ có một mình đồng chí Chu Quốc Hưng được cử ra phụ trách Biện sự xứ cùng với cụ Bùi Ngọc Thành, ông Hồ Đức Thành. (Cơ quan hoạt động được hơn một năm, đến tháng 12 năm 1943 thì có ý kiến của Trần Bảo Xương mượn cớ thống nhất các lực lượng cách mạng Việt Nam, đề nghị sát nhập Biện sự xứ của ta ở Long Châu với Biện sự xứ của bọn Phục Quốc quân và Cách mạng đồng minh hội ở Tĩnh Tây làm một. Chúng muốn nhân dịp này len chân vào lũng đoạn các tổ chức của ta. Nhưng Cứu quốc quân đã trở về nước từ lâu chấm dứt giai đoạn hoạt động ở nước ngoài. Đến tháng 3 năm 1944, Quốc dân đảng lại yêu cầu thống nhất các Biện sự xứ lên Nam Ninh. Ông Hồ Đức Thành đã đi dự cuộc họp thống nhất đó. Còn anh Chu Quốc Hưng liền lên đường về nước hoạt động. Công tác ngoại giao của chúng tôi đến đó là đã làm xong nhiệm vụ).


(1) Tiền Tưởng, ăn một bát phở đã phải trả năm trăm đồng !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:09:28 am
*
*   *

Cứu quốc quân đứng chân được ở biên giới là vì biết dựa vào nhân dân và tranh thủ được chính quyền Quốc dân đảng. Ngoài ra còn phải kể đến một lực lượng thứ ba nữa, sẵn sàng phá hoại ta nếu không chinh phục nổi thì khó mà sống yên ổn, ai đã từng hoạt động ở biên giới hẳn đã nhiều phen đụng đầu với bọn chúng : đó là bọn thổ phỉ.

Đã bao nhiêu đời nay, người dân biên giới Việt - Trung phải chịu đựng cái tai họa ghê gớm này. Họ nơm nớp sống trong lo âu, sợ hãi, khó bề làm ăn yên ổn, Nhà cửa có thể bị đốt, đồ đạc, quần áo, tiền của bị cướp phá, Một vài con trâu bò bị dắt đi là hết đường cày bừa, đành nhìn vợ con nhịn đói. Một người con gái bất cứ lúc nào cũng có thể bị bịt mắt, bịt miệng, bắt đi bán làm nàng hầu, con ở, mãi tít một xứ sở xa lạ. Một mạng người chỉ đáng giá vàí đồng, rẻ hơn một con gà, con chó. Có khi cả một xóm bị đốt, cả một bản bị cướp. đường giao thông đi lại bị cản trở, mùa màng sản xuất bị phá hoại. Cả chính quyền Tưởng lẫn thực dân Pháp đều tỏ ra bất lực, đánh chác vài lần bị hao binh tổn tướng, thế là chúng mặc cho thổ phỉ hoành hành. Chỉ sau này cách mạng thành công, trải qua cải cách dân chủ, thì cái nạn xã hội đó mới mong triệt đến tận gốc được.

Lực lượng của thổ phỉ thường khá đông, khá mạnh. Mỗi bọn chiếm cứ một vùng, thông tỏ đường ngang lối tắt. Súng đạn đầy đủ, không dễ gì mỗi lúc mà tiêu diệt được chúng. Bọn này tan đi, bọn khác lại nổi lên, vì cái nạn thổ phỉ có nguồn gốc sấu xa trong chế độ xã hội thối nát, kết quả của những áp bức bất công, nghèo khổ, trụy lạc mà bọn thống trị đã đem lại cho nhân dân lao động. Chúng thường là những tên đầu trộm đuôi cướp tập họp lại. Có khi cả bọn địa chủ cường hào có thân thế đứng ra làm trùm sỏ, Một số nông dân lao động vì nghèo đói hoặc bị cưỡng bức cũng theo chúng. Nhiều thanh niên mới lớn lên, ưa chơi bời lêu lổng thiếu tiền đánh sóc đĩa hoặc tiền chơi gái, đàn đúm bạn bè, cũng trở thành lưu manh, thổ phỉ.

Nguy hiểm nhất là thổ phỉ thường khống chế được nhân dân. Nhiều tên hàng ngày vẫn sống binh thường, lẫn lộn trong dân làng, thỉnh thoảng mới họp nhau đi cướp một phen. Vì sợ bị trả thù, vì những quan hệ phức tạp này nọ, những người dân lương thiện nhiều khi không dám chống lại chúng, thậm chí có khi còn che chở cho chúng thoát khỏi sự truy nã của quan quân. Cũng có bọn tụ tập thành đội ngũ thường xuyên, ví như ở vùng Khau Kheo. Khau Kheo là một quả núi đất cao, rất cao, quanh năm mây phủ xanh. Núi cao, rừng rậm trở thành sào huyệt của bọn phỉ. Chúng lại canh gác cẩn mật, tổ chức khá chặt chẽ nên kiểm soát cả một vùng. Có lần mấy vạn quân Tưởng tới đánh mà không vào được. Tải lương cho quân lính ăn, mệt mà phải bỏ Khau Kheo rút về!

Cứu quốc quân luôn luôn phải chạm trán với chúng. Đối với bọn phỉ, tiền, gái, rượu, thuốc phiện là trên hết. Bản thân Cứu quốc quân thì nghèo nhưng cái đầu lại được đế quốc đặt giá khá cao. Bọn thổ phỉ sẵn sàng cắt lấy, vượt sang biên giới, nộp cho đại lý Thất Khê lĩnh thưởng. Bản tính chúng vốn hung hăng, lỗ mãng. Có khi chỉ một chuyện không đâu, hoặc hiểu lầm, tức tối, hoặc nghi ngờ này nọ, chúng cũng có thể giết hại mình. Có tên chẳng hiểu cách mạng là gì, lại cho chúng tôi cũng là một thứ « phỉ» có thể đánh bạn hoặc cần hất cẳng để giành đất làm ăn.

Cứu quốc quân sống nhờ dân. Nhưng đời sống của dân không được yên ổn, luôn luôn bị phỉ cướp phá, tất nhiên Cứu quốc quân có nhiệm vụ giúp dân chống phỉ.

Có nơi phỉ thường sống lẫn với dân, uy hiếp tinh thần nhân dân. Cho nên muốn đến với dân, gần gũi họ để giáo dục, phát động họ, thì không thể không tiếp xúc với bọn phỉ, thông qua chúng mà bắc cầu tìm xuống quần chúng xung quanh khu vực chúng khống chế. Chưa qua được cái cầu này thì dân chưa dám gần mình mà cán bộ cũng dễ gặp nguy hiểm. Nhưng sau khi dân và cán bộ đã gần được nhau rồi thì bọn phỉ liền bị cô lập.

Để ngăn cản bớt tai họa cướp phá, giết người, để tránh những va chạm vô ích giữa nó với mình, Cứu quốc quân đã chủ động tìm cách gặp gỡ, thuyết phục, kìm hãm chúng trên con đường bất lương, dã man. Việc này hoàn toàn có thể làm được tốt vì chúng tôi đã nắm được tâm địa và cả một số nhược điểm của thổ phỉ. Chúng tuy liều lĩnh, hung hăng nhưng rất tham sống sợ chết, như cú sợ ánh sáng, vì bất cứ chính quyền nào, cả Pháp lẫn Tưởng, cũng đều truy nã chúng. Giữa bọn này bọn khác lại thường xảy ra những chuyện tranh ăn, phản phúc, trả thù lẫn nhau. Nhân dân tuy bị chúng uy hiếp tinh thần nhưng không phải bao giờ cũng cam chịu, mà có dịp là đánh trả lại những đòn đích đáng, nhiều nơi có tổ chức tự vệ hẳn hoi.

Bọn phỉ sống trong lo âu, sợ hai, đầu óc tối tăm, không có chủ định, dễ bị lôi kéo. Chúng thấy Cứu quốc quân cũng bị đế quốc Pháp — Nhật truy lùng, chính quyền Tưởng bắt bớ, lại không trực tiếp làm hại chúng nên cứ tự tiện xếp ta vào loại bạn « cùng hội cùng thuyền ». Chúng lầm tưởng có thể bắt tay ta để đánh lại chính quyền, giúp đỡ chúng cách «làm ăn». Và biết đâu sau này cách mạng thành công, Cứu quốc quân thành «quan to» rồi lại chẳng nhớ tới chúng là những «ông bạn thuở hàn vi» ! Cho nên chúng cũng muốn nhập nhằng dựa vào chúng ta. Vả lại thấy Cứu quốc quân cũng chẳng non gan gì, lại được dân làng yêu mến, nên chúng cũng gờm. Có đứa nói: «Đầu cách mạng nó đắt đấy nhưng cao quá, chưa kịp với tới thì sờ đến đầu mình có khi đã mất rồi !».

Ở ngay Bản Trang, có một tên trùm phỉ rất nổi tiếng. Thủ hạ của nó rải từ đó lên tới Thủy Khẩu. Nó cũng đã một đôi lần ngồi uống trà, nhắm rượu vói tôi, Nông Thái Long và vài ba anh em nữa ở nhà dân. Dân ở đây có cái lệ là hễ làm nhà, hay sinh nhật người trong nhà là có ăn uống. Hoặc đổi công vụ mùa, cày, cấy, gánh phân là có uống rượu. Chúng tôi đi làm giúp dân thề nào cũng được mời tới. Tên trùm phỉ này có nhà có cửa, có vợ, con, có súng. Nhưng không giàu bằng Máy Sền, một tên phỉ ở Bằng Tường, vì Máy Sền cướp được nhiều hơn, có đông bộ hạ hơn. Trùm phỉ Bản Trang có ba anh em đều làm mo(1), làm tào(2). Năm ấy nó gần bốn mươi tuổi, khỏe và có võ, một tay súng bắn trăm phát trăm trúng.


(1), (2) Thầy cúng – Phù thủy.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:09:50 am
Một lần chúng tôi khuyên nó không nên làm phỉ nữa. Nó đáp:

— Chúng mày vì nghèo khổ mà phải đi làm cách mạng. Tao cũng vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Mày đánh đổ nhà giàu. Tao cũng đi cướp nhà giàu. Có khác gì đâu...

Chúng tôi nói:

— Khác chứ ! Mày đi ăn cướp, làm khổ bao nhiêu người, ai cũng thù ghét. Cuối cùng cái thân mày khổ vẫn hoàn khổ. Chỉ có làm cách mạng, khiến mọi người cùng sung sướng, thì lúc đó cái sướng, mới bền.

Rượu vào ngà ngà say, nó bảo :

— Tao chưa thấy chúng mày sướng đâu cả, chỉ thấy chúng mày đi làm Cộng sản, suốt năm chẳng kiềm được đồng xu, bát phở nào. Còn tao giết người, vừa sướng tay, vừa có ngay tiền tiêu.

Lý lẽ của bọn phỉ trắng trợn là như vậy. Không dễ mỗi lúc mà cải tạo được bọn chúng. Dù sao vẫn phải bền gan mà giảng giải, ngăn cản chúng. Chúng tôi tỏ ra không sợ hãi mà cũng không bộc lộ sự khinh bỉ chúng, nói rõ lợi hại giữa làm cách mạng và làm thổ phỉ. Rồi vận động cả bà con dân làng cùng can ngăn. Dần dần chúng cũng nghe ra ít nhiều, giảm bớt cướp bóc. Tất nhiên, kết quả cũng chỉ tới một mức nhất định, vì muốn chúng hoàn toàn cải tà quy chính phải có những điều kiện xã hội mới.

Ngoài việc giáo dục thuyết phục, chúng tôi còn phải dùng những cách khác để kiềm chế chúng. Một lần lên trùm phỉ họp vây cánh để sắp đi cướp, dân làng biết trước, bí mật báo cho đồng chí Thái Long.

Thái Long lập tức đến can ngăn. Mới đầu lên trùm phỉ nói:

— Tao đi cướp lấy tiền tiêu. Chúng mày cũng cần tiền tiêu.

Bọn phỉ thường cướp các chợ vì chợ nào cũng có sòng đánh phán thán, sóc đĩa, mạt chược, bọn Tưởng vẫn thu tiền hồ.

Cái cằm nhọn của Nông Thái Long như dài thêm ra, thách thức tên tướng phỉ:

— Chúng lao không cần tiền tiêu theo kiểu của mày. Mày không nên đi cướp nữa!

Nó phát khùng lên, gạt đi.

Biết can nữa cũng vô ích, Thái Long nói:

— Thế chuyến này, bọn mày định đi cướp ở đâu ?

— Cướp bản Nà Tèng.

— Cướp cái xóm lèo tèo chỉ có vài nhà nghèo khổ đó thì kiếm chác được gì? Với lại, cái bản đó gần quá, nếu lính tráng nó về điều tra thì có khi rầy rà cả cho chúng tao. Ở đấy, tao lại có nhà người quen. Mày cũng phải nể mặt chúng tao chứ !

— Thế mày bảo tao đi cướp đâu bây giờ?

— Không nên đi cướp đâu cả. Nhưng nếu chúng mày đã nhất định đi thì cướp tụi nhà đoan, tụi kiểm lâm, tụi địa chủ, tụi nhà giàu. Chúng cướp của dân đấy thôi...

— Bọn này khó cướp đấy, nó có súng...

— Nếu mày đã sợ thế thì thôi. Muốn ăn cướp được nhiều tiền thì chỉ có vào những chỗ đó. Còn đụng vào nông dân, không nên.

Chúng nghe thấy xuôi tai, cộng với lòng tham ăn lo nổi dậy, nên đã hoãn chuyến đi đó để sửa soạn cướp một nhà địa chủ. Lần đó trót lọt, chúng quen mui cứ thế mà làm. Nhưng cũng nhiều vố bị quan quân đánh cho tơi bời. Lần nào chúng định đi cướp dân, mà can ngăn hoặc lái hành động của chúng vào mục tiêu khác ngoài nhân dân lao động không được, chúng tôi lại bí mật báo cho quần chúng nơi đó biết đề phòng, nổi hiệu báo động khắp trong làng ngoài xóm. Gặp vài lần thất bại như vậy, chúng cũng nản. Hoặc có khi chúng tôi lại khéo léo tổ chức cho người bị cướp chuộc lại của cải, trâu bò đã mất với một giá rẻ.

Trước cách xử sự như vậy, bọn phỉ không dám oán giận mà còn e sợ, vì nể chúng tôi. Thái độ hào hiệp, tư cách đúng đắn của Cứu quốc quân và nhiệt tình lôi kéo chúng ra khỏi con đường tội lỗi còn làm cho một số xúc động, dần dần được cảm hóa. Bọn cầm đầu thì cũng thán phục, vì những lần chúng đi cướp bị thất bại đều được chúng tôi căn cứ vào kinh nghiệm quân sự báo trước cho biết, có bọn thổ phỉ mời anh em Cứu quốc quân làm « tham mưu » vì ta có nhiều kế hoạch. Anh em liền lợi dụng đưa ra những kế hoạch có vẻ khoa học, với những yêu cầu điều tra mất thời giờ, những khó khăn nguy hiểm đáng sợ, cốt dọa cho chúng nhụt chí ăn cướp.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:10:49 am
Cuối cùng, chúng tôi đã điều khiển được hành động của chúng, nhằm giảm bớt tai họa cho nhân dân. Uy danh của Cứu quốc quân bắt đầu vang dội trong bọn phỉ. Chúng tôi đã tay không vào tận sào huyệt của nhiều nhóm một cách dễ dàng.

Một lần, toán thổ phỉ ở gần Bản Bây (Bằng Tường) nhờ Lý Mùng Sàng là một quần chúng tốt của ta, mời Cứu quốc quân đến thăm sào huyệt của chúng.

Chúng tôi được biết bọn này khá lớn : chúng vừa làm phỉ vừa buôn thuốc phiện lậu, có đầy đủ súng ống. Chúng muốn tìm đường vào Việt Nam cướp một mẻ to theo đường Cao Lộc (Lạng Sơn). Chúng tôi định tìm đường nên cũng muốn gặp tên trùm phỉ. Tôi bàn với Hà Khai Lạc quyên tiền quần chúng, mua lấy ít súng của tụi này. Mục đích của chúng tôi là tìm đường vào Cao Lộc, mua súng ; và nếu nó có gì trắc trở thì ta có thể nhờ đường ấy tránh địch khủng bố một thời gian, nhưng cái đó không phải là chính.

Hà Khai Lạc và tôi theo một liên lạc dẫn đường ra đi. Tới trạm gác, nó giao cho một tên khác dẫn đường rồi quay lại. Mỗi tên gác cũng chỉ được biết khu vực mình không được đi vào quá phía trong, để giữ bí mật cho sào huyệt của trùm phỉ. Chúng tôi qua liền bốn trạm gác như vậy. Chợt trên núi vang lên một tiếng súng báo động cho ở trong biết.

Tên trùm phỉ người to béo, vạm vỡ, đẹp trai ra đón chúng tôi. Nó nói:

— Tôi mời các anh đến đây chính là để làm quen. Sau này có gặp giữa đường, ta khỏi bắn lầm phải nhau. Còn tụi «ngàu quắt»(1) đừng có hòng bén mảng tới đây. Chúng nó có vào thì sẽ không có ra.

Trong câu chuyện, chúng tôi giảng giải cho nó hiểu thế nào là làm cách mạng. Nó cũng tỏ ra hiểu biết chút ít. Nhất là khi nói đến vì sao, tại ai mà nhân dân đói khổ, nó rất tán thành mình làm cách mạng đánh đổ thực dân Pháp, nhưng nó lại muốn thằng Nhật vào. Cái thằng thuộc phái Uông Tinh Vệ này khi nghe nói đến «phải làm cách mạng, đoàn kết đánh đổ bọn thống trị» thì nó ậm à ậm ừ. Nó nói :

— Làm việc khác thì tôi làm. Làm cách mạng khó lắm. Lúc nào các anh cần súng, tôi ủng hộ — Nó cười khề khề — Cách mạng Việt Nam thành công thì chẳng nhẽ các anh bỏ tôi à ?

Bọn lâu la đã bưng rượu thịt lên. Tên trùm phỉ rót một chén rượu đầy, mời đon đả :

— Thôi ta nhận nhau làm anh em.

Dần dần nó thấy mình hiểu rộng về chính trị, quân sự, nói năng có tình có lý, nên nó mời chúng tôi làm tham mưu cho nó. Nó vồn vã :

— Mời các anh vào với chúng tôi.

Tôi bảo :

— Chúng tôi đang cần súng. Anh có mua giúp hộ được không ?

Nó vui vẻ nhận lời :

— Cái đó thì dễ thôi. Các anh cứ sắp sẵn tiền đi. Hoặc khi nào các anh cần, tôi sẽ cho mượn. Nhiều chắc là không có, chứ dăm ba khẩu thì lúc nào cũng sẵn.

Qua câu chuyện, nó hiểu mình hơn. Từ đầu đến cuối, nó vẫn chưa có gì tỏ vẻ khác ý. Ăn uống hai, ba tiếng đồng hồ, giới thiệu người này người khác, hỏi họ tên, ai trùng họ trùng tên còn nhận nhau làm anh em.

Tiệc tàn, tên trùm phỉ đưa tiễn chúng tôi còn thì thì thào theo đường như còn muốn nói điều gì không tiện nói giữa chỗ đông người. Và nó đi với chúng tôi ra đến tận bốt gác cuối cùng mới quay lại, một hành động mà nó chưa bao giờ làm với ai.

Thế là chúng tôi đã chinh phục được bọn trùm phỉ ở hai huyện Long Châu, Bằng Tường. Có cả một số binh lính Tưởng đào ngũ trốn lên núi ở, được chúng tôi tuyên truyền, cũng dần dần được giác ngộ và cũng đã giúp đỡ Cứu quốc quân được một số việc. Nạn cướp bóc giảm bớt, nhân dân cũng đỡ khổ và càng tin tưởng vào chúng tôi. Từ đó, Cứu quốc quân tha hồ đi lại hoạt động một cách an toàn. Sự khống chế của thổ phỉ đối với nhân dân trong khu vực này cũng yếu dần.


(1) Chỉ bọn binh sĩ Tưởng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:12:28 am
*
*   *

Thư của Hà Châm, Voòng Tài, Thái Long từ trong nước ra hàng loạt làm chúng tôi vô cùng vui sướng, tin tưởng. Chủ trương Cứu quốc quân «hóa chính vi linh», bộ phận lớn rút lên biên giới, còn một bộ phận phân tán trong nhân dân, làm công tác tuyên truyền vũ trang, gây cơ sở trong quần chúng, là đúng. Lúc ấy là vào khoảng tháng 9 năm 1942. Tổ chức đường dây Đoỏng Hình — Hội Hoan — Bình Gia — Bắc Sơn — Võ Nhai, các đồng chí ở trong khu vực đều có báo cáo ra cả. Anh em thống nhất nhận định « phong trào Võ Nhai đang phục hồi nhanh chóng, yêu cầu Cứu quốc quân phải gấp rút cử cán bộ về».

«Tình hình đã tương đối ổn định, đường liên lạc đã mở», chúng tôi càng thấy phấn khởi. Những lúc như thế này cảm thấy không ăn cũng no, làm việc bao nhiêu cũng không biết mệt. Lúc này Ban lãnh đạo Cứu quốc quân (gồm có các đồng chí Chu Quốc Hưng, Nông Thái Long, Lê Dục Tôn và tôi) còn nằm tại Bó Cục. Tình hình đang cần có một quyết tâm kịp thời và chính xác tức là làm sao có ngay một cái cầu nối liền phong trào hai nơi ở Bình Gia. Vì vậy anh em Hồng Thái, Như Hòa là người Bình Gia được cử về đây.

Kế hoạch của chúng tôi là từng đợt đi vào, rồi báo cáo ra bằng giao thông đặc biệt. Người giao thông sẽ phải đi suốt từ Tràng Xá — Võ Nhai ra. Muốn tiến hành công việc này được dễ dàng, phải rải quân từ biên giới trở vào thành một hành lang : bắt đầu từ Nà Hình đi Hội Hoan rồi đi Bình Gia, đồng thời phải xây dựng cơ sở ở Bình Gia. Chúng tôi sẽ tuyển số anh em ở Bắc Sơn về tại Bắc Sơn, một số khác về Võ Nhai, riêng anh em quê ở Phú Thượng thì bắt mối với Lâu Thượng và La Hiên; một số về Tràng Xá với nhiệm vụ xây dựng và phát triển cơ sở, và bắt mối với phong trào Làng Mười; một số về Cây Thị ra Phú Bình và sang Yên Thế (Bắc Giang). Một số cán bộ khác đi ra ngoài Bắc Sơn tìm bắt liên lạc; đi đến đâu là xây dựng cơ sở ở đó, tuyên truyền, củng cố tổ chức đến đấy, giữ bí một, mở lớp huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu, phổ biến Chương trình Việt Minh...

Tôi trở lại Bó Cục báo cho tất cả các anh em Cứu quốc quân ở các tổ hoạt động tại Bản Trang, Khẻo Mèo, Thẳm Th’lẩng, Bản Khiếc, Nà Sliềng, Bản Nạc, Đoỏng Hình biết tình hình mới.

Các tổ thường cách nhau trên dưới một cây số theo đường chim bay, đôi khi chỉ cách nhau một quả đồi. Nghe tin này, anh nào cũng như thấy mở cờ trong bụng. Tổ nào cũng bàn cãi «tao về trước, mày về sau». Xa Tổ quốc đã ngót một năm ai cũng nhớ quê nhà. Phần thì lo cho gia đình vợ con, phần thì lo cho phong trào đang thiếu cán bộ. Nhớ nương rẫy, ruộng vườn, rừng núi, con suối sau nhà... Có đồng chí thao thức, trằn trọc suốt đêm.

Anh em tới tấp đến gặp Ban lãnh đạo đòi về ngay chuyến thứ nhất. Không phải anh em không biết những gian khổ, nguy hiểm đang chờ đợi mình ở quê nhà. Nhưng anh em cũng biết rằng tình cảm quê hương sẽ truyền cho mình một sức chiến đấu mới, mạnh mẽ gấp bội. Chỉ những ai đã từng phải sống ở nước ngoài mới hiểu nổi cái sức mạnh của tình cảm đó.

Chúng tôi họp toàn thề để xác định kế hoạch bao nhiêu đội về, ai ở đâu ở đâu. Ai về trước ai về sau còn tùy thuộc vào tính chất công tác và khả năng cán bộ. Lý là như vậy, nhưng để cho tình cũng được thông, Ban lãnh đạo quả cũng phải vất vả giải thích, động viên để anh em ở lại yên tâm làm việc. Còn người được ra về thì đúng là cảnh ngựa hồi tàu... Ban lãnh đạo dặn anh em về, cần điều tra nghiên cứu kỹ nơi mình đến công tác... Anh em nhất nhất nghe theo (Vì thế mà tất cả số anh em về đều được an toàn không mất mát ai).

Tháng 11 năm 1942, các đồng chí Voòng Tài, Dương Công Bình, Hà Kỳ, Hồng Hải, Quốc Vinh, Hồng Thái, Khoa, Doanh... qua Hội Hoan, gặp các đồng chí Nông Thái Long, Hà Châm. Chu Phóng bàn bạc công tác củng cố thêm vùng đó, rồi kéo thẳng đường vào sâu trong nước.

Các đồng chí Doanh, Hồng Thái dừng lại xây dựng thêm các cơ sở ở Bình Gia.

Các đồng chí Quốc Vinh, Bình, Khoa được phân công củng cố căn cứ địa Bắc Sơn.

Lê Dục Tôn cùng các đồng chí còn lại thì về Võ Nhai. Tôi thì đi đi lại lại giữa Nà Hình và Long Châu, khi cần ở Bó Cục, Bằng Tường. Đâu cần thì tôi tới...

Trải qua bao đợt khủng bố, cảnh quê nhà vẫn còn nhiều hoang tàn, đổ nát. Trên nền nhà cũ cháy đen mới chỉ dựng tạm những túp lều che mưa che nắng. Nhưng đáng mừng là lúa đã chín, nặng bồng, mẩy hạt. Dân làng đang đập lúa ngoài đồng, trên những cái loỏng(1) gỗ cũ cháy sém hoặc mới đóng vội còn nham nhở vết dao đẽo, cạnh những bó rạ chất đống bỏ lại. Buổi tối, bà con kéo đến. Đồng chí gặp đồng chí, mẹ con, anh em, vợ chồng gặp nhau. Những cô gái có người yêu là Cứu quốc quân đã loan báo cho nhau nhanh hơn điện, tìm đến hỏi thăm người đã về, người chưa về. Cả những bà, những chị có chồng con bị tù đày, phát vãng nơi xa cũng đến, lấy cái vui gặp đồng chí thay cho cái buồn xa chồng con. Nhiều cụ già, em nhỏ bị tra tấn, đánh đập nay đã thành tàn phế, trông mà sót ruột đau lòng.


(1) Một thứ dụng cụ giống như cái thuyền, có liếp che ở hai bên sườn, để đập lúa ở giữa ruộng của đồng bào Nùng.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:13:31 am
Anh em nói chuyện với quần chúng. Trước đây có những người lo chúng tôi chạy lên rừng không có gì ăn hoặc ăn lá mà sống, nay lại thấy chúng tôi về, không những khuấy lên được phong trào ở biên giới mà ở quê nhà phong trào lại rộng và sâu, nên càng phấn khởi.

Câu chuyện thường kéo dài tới đêm khuya...

Anh em bắt tay ngay vào việc. Anh Đủ, bà Sáng, chị Quản, chị Thu, chị Pính... các đồng chí được phân công ở lại hoạt động trong điều kiện vô cùng gian khổ đã giữ gìn phong trào, xây dựng cơ sở, vẫn còn nguyên vẹn, báo cáo tình hình địa phương. Tất cả họp nhau quyết định kế hoạch công tác mới. Liên lạc được cử ra biên giới yêu cầu Cứu quốc quân còn lại tiếp tục lên đường về ngay. Liên lạc được cử đi chắp mối với Trung ương, với các cánh quân ở Đại Từ, Sơn Dương. Cán bộ chia tay nhau đi các ngả. Một không khí náo nức thúc đẩy mọi người mạnh dạn hoạt động.

Cũng trong tháng 11 năm 1942 này, ở Khẻo Mèo, chúng tôi rất vui mừng được gặp lại hai đồng chí Đường Nhất Quý và Phương Cương. Được đơn vị ở Tuyên Quang. Thái Nguyên cử đi liên lạc, hai đồng chí đã lấy thẻ, công khai ngồi xe ô-tô lên Thất Khê, rồi bí mật vượt biên giới, lặn lội tới Bó Cục. Hai anh cho biết các cơ sở cách mạng của vùng Đại Từ, Định Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương, Chợ Đồn đã xây dựng được nhiều hơn và vững chắc. Nhưng cán bộ ít quá. không đủ theo kịp phong trào mở rộng. Quần chúng rất mong Cứu quốc quân về thêm. Anh chị em ở đó đều khỏe mạnh, không bị tổn thất gì. Thế là tình hình bốn tỉnh Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, một phần Bắc Cạn (Chợ Đồn) chúng tôi đã nắm được khá đầy đủ, rõ ràng.

Tháng 1 năm 1943, toán thứ hai gồm các đồng chí Hòa, Triệu Khánh Phương, Voòng Nhì, Hoàng Xuân, Hoàng Thượng, Coóng, Mùng, Tô... lên đường về nước.

Chúng tôi sẽ không bao giờ quên được những ngày chung sống đã qua với nhân dân địa phương. Ngay từ những ngày đầu gian khổ đó, mối tình cá nước đã vô cùng đẹp đẽ. Bắt đầu có quân đội cách mạng do Đảng ta lãnh đạo lù cũng bắt đầu có mới quan hệ mới mẻ giữa quân và dân, với bao nhiêu chuyện xúc động, trở thành phổ biến trong kháng chiến sau này.

Lần nào tôi đến Long Châu công tác cũng đến ăn, ở tại gia đình Nùng Nhì Sảo, một cơ sở tốt vẫn hết lòng giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Một lần đến Long Châu, tôi qua gia đình Nùng Nhì Sảo rồi sang nhà bà Ấu(1) đón Hoàng Thượng đang chữa bệnh quáng gà ở đó để cùng đi công tác. Hai người tới vùng tả ngọn sông Bình Nhi, vòng xuống Áp-chảy-thán. Suốt một ngày trèo đèo lội suối, đá tai mèo khía rách gan bàn chân. Trời xẩm tối, đồng chí Thượng bắt đầu rờ lần, tôi đành phải dắt đi. Đồng chí dẫn đường người địa phương liền dẫn chúng tôi vào làng Lảm Coọc lọt thỏm dưới một thung lũng nhỏ.

Những dãy núi đá xám sừng sững bao quanh. Các nương lúa, bắp, đỗ dàn thành bậc thang. Năm ấy được mùa trám lớn, Sau vụ hái quả, những cây trám to cao đã xơ xác lá cành. Chúng tôi bước vào một ngôi nhà tường trình, mái ngói, vững chãi như một tòa miếu cổ. Một cây nến nhựa trám chảy đỏ trên bàn, thoảng mùi khói khét.

Bà cụ chủ nhà, trạc ngoài năm mươi tuổi, người bé nhỏ nhưng còn khỏe mạnh, mặc quần áo Nùng chàm xanh Trung Quốc, mái tóc còn đen vấn khăn theo kiểu Việt Nam. Thấy đồng chí dẫn đường giới thiệu chúng tôi là người cách mạng Việt Nam, bà cụ bỗng nắm chặt lấy tay chúng tôi, nước mắt trào ra. Thì ra bà cụ vốn người Việt, quê quán ở mãi vùng Bắc Ninh. Từ khi mới lớn bà đã bị mẹ mìn dỗ đi đem bán sang đây. Trải qua nhiều phen lưu lạc, cuối cùng bà ta đã về lấy chồng ở đây. Trong nhà còn có người con trai cả ; anh niềm nở tiếp chuyện chúng tôi. Bà cụ nhất định bắt ép chúng tôi phải ở lại vài ngày, gọi là cho nó thỏa cái tình đồng hương. Bà cụ nỏi tiếng Nùng pha Kinh:

— Cháu đi làm cách mạng nên mới có dịp về đây...

Anh con trai cả va mấy người nhà nữa đi ra ngoài. Chỉ một giờ sau đã thấy xách về hai con cá trắm lo tưởng, mỗi con đã đến năm, sáu cân ta. Hỏi ra mới biết là cá ao nhà.

Ba chúng tôi cũng xúm vào làm giúp một tay. Anh con cả lại vội vã chạy đi, ngoải cổ lại bảo:

— Đi kiếm rượu!...

Bà cụ đi xuống vườn lấy đủ các vị rau mùi, trở về tươi cười nói:

— Lúc nữa anh em ở làng cũng sẽ về đây nói chuyện...


(1) Bà Ấu, người Việt, có chồng người Trung Quốc. Anh Lâm Phủ Thình nhận bà Ấu là mẹ nuôi và có giới thiệu tôi với bà. Khi đi, khi về, tôi đều có qua thăm... Hoàng Thượng đi lao động, bị quáng gà. Bà Ấu mua gan lợn, gan gà cho ăn hàng tháng và chấm thuốc cho (CVT).


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:13:57 am
Sau mấy ngày đường vất vả, chân tay chúng tôi đều rã rời. Thức ăn ngon sắp làm xong, chợt có tiếng bước chân rầm rập ngoài ngõ, rồi có tiếng nói vọng vào nhà hối hả bảo bà cụ:

— Thôn trưởng báo có lính ở Long Châu về khám làng... Chúng tôi giật mình, suy tính. Lính về làm gì ? Bắt chúng tôi ư ? Không phải, chúng tôi đã có đủ giấy tờ hợp pháp, không lo. Bà cụ nhìn chúng tôi có phần e ngại. Anh con cả xách rượu trở về, theo sau là mấy người hàng xóm, nói cho biết là «lính ở Long Châu về vây bắt lính đào ngũ ».

Chúng tôi vẫn cảm thấy không yên tâm. Tuy có giấy thông hành đầy đủ, nhưng bọn lính vào đây thấy chúng tôi lạ mặt, rồi chữ tác đánh chữ tộ, rất có thể chúng sẽ làm phiền, tra hỏi lôi thôi. Vả lại bọn lính cũng hay làm tiền, chúng có thể dọa dẫm bắt bớ chúng tôi mà quấy rầy nhà chủ. Tôi bàn với Thượng :

— Bây giờ chưa biết thế nào. Việc nọ nó sọ ra việc kia, nó cứ bảo mình tạm về Long Châu là lôi thôi to. Mình đã đành, lại còn nhân dân nữa... Thôi thì tránh đi cái đã... Nó bắt lính đào ngũ, nó cũng không ở lâu đâu. Mình ở đây nó tóm đi thì dại. Tránh đi rồi sẽ hay...

Và tôi bảo anh con cả dẫn đường đưa chúng tôi trốn trên núi. Tôi dắt Thượng «quáng gà » dò dẫm theo sau.

Trời đã tối lắm rồi. Đợi lâu, hai chúng tôi đã ngủ gà ngủ gật. Chợt có tiếng động ở đầu dốc. Chúng tôi trả lời đúng như đã quy định. Anh con cả đi lên, tay xách theo một cái làn khá nặng. Mở ra, có liễn cơm, liễn canh còn nóng; và cả một đĩa to gỏi cá, đầy đủ gia vị, kèm theo một bình rượu đầy.

Anh trở xuống bản. Một lát sau, anh lại lên, báo là bọn lính đã rút hết về Long Châu rồi. Chúng tôi kéo về nhà, cùng một số dân làng trò chuyện tới khuya. Nhiều người đã hứa khi nào chúng tôi về hoạt động ở đây sẽ dẫn chúng tôi đi gây cơ sở ở những nhà quen biết quanh vùng. Họ tỏ ra rất mong nhớ Hồng quân Trung Hoa và thực lòng ủng hộ cách mạng Việt Nam.

Sau ngót một năm chung sống với nhân dân hương Bó Cục, bao nhiêu tình nghĩa thắm thiết nặng trĩu trong lòng anh em Cứu quốc quân. Chúng tôi nhớ lại những lần đi công tác về, bất cứ đầu hôm hay nửa đêm, sau khi lặn lội ngoài trời mưa gió và len lỏi vượt qua mũi súng của các đồn canh, chúng tôi vừa bước chân vào nhà là đã cảm thấy ấm hẳn người lên. Cả nhà săn đón hỏi han. Em nhỏ mừng rỡ níu lấy quần, mách chuyện. Câu hỏi đầu tiên bao giờ cũng là : «Anh ăn cơm chưa ? ». Nếu chưa ăn thì bà mẹ dọn cơm ngay ra, bác thêm quả trứng còn nóng hổi vừa lấy trong ổ. Anh em cũng chẳng nề hà, có gì ăn nấy, gặp việc là làm, từ việc trong nhà ra việc ngoài đồng. Anh em hơi rảnh rang một chút là giúp đỡ, khi đan cái rò, cái rá, lúc sửa chữa mương phai... Mình ở mãi nên họ coi như người nhà. Mình đi vắng là họ thấy buồn.

Đi công tác về, người nhà bận đi làm đồng vắng cả, anh em cứ việc quét dọn, gánh nước, thổi cơm. Gạo hết thì tự xay giã lấy. Rau ngoài vườn, cá dưới ao, bà con yêu cầu anh em cứ việc hái việc câu mà nấu nướng. Ngày giỗ, ngày tết, cả nhà cứ ngong ngóng chờ cho kỳ được anh em về đủ mặt mới cầm đũa, cầm bát. Không thì miếng ngon, miếng lành lại dành để phần cho anh em. Nếu chúng tôi bận việc, phải vắng mặt trong những dịp giỗ tết, ăn uống đó thì bà con rất lấy làm ân hận, tiếc mãi về sau.

Nhiều gia đình Trung Quốc đã khóc khi Cứu quốc quân lên đường về nước. Thời gian qua, anh em đã trở thành những người thân thiết gắn liền với đời sống, với tình cảm của các gia đình đã nuôi dưỡng anh em, của cả bản làng đã che chở anh em. Ngay từ khi Cứu quốc quân mới dặt chân tới đây, nhân dân đã chân thành coi chúng tôi là bạn cùng cảnh ngộ, là đồng chí cùng mục đích đấu tranh. Dần dần càng sống lâu ngày càng quen hơi bén tiếng, hiểu tính hiểu nết, anh em đã trở thành ruột thịt như con cháu, anh em một nhà.

Nay Cứu quốc quân ra về, nhân dân bỗng ngơ ngác luyến tiếc, xóm nhà vắng vẻ hẳn đi. Các bà, các cụ thiếu người hỏi han việc làng việc xóm. Các em nhỏ thiếu các chú dễ tính, hay đùa. Nhất là cánh thanh niên thì càng nhớ tiếc những người anh, người bạn đã giúp họ nhìn thấy mục đích cuộc sống, lý tưởng đấu tranh cách mạng. Vài cô gái chót thầm yêu trộm nhớ Cứu quốc quân, ra vào ngẩn ngơ.

Có đến gần chục gia đình đã đánh tiếng muốn xin anh em về làm rể. Những chàng trai « tốt số, đào hoa » đó đã phải lựa lời từ chối, nói rõ công việc cách mạng còn nặng nề, luôn luôn nay đây mai đó, chưa thể nghĩ đến chuyện riêng tư được. Nhưng có cụ nói thẳng:

— Thì có ai bắt anh em phải gửi rể đâu, chúng tôi là bậc cha mẹ, có con gái lớn thì phải lo dựng vợ gả chồng. Các anh cứ cưới xong cho nó yên một bề. Rồi muốn đi đâu, muốn đi đến bao giờ cũng được. Con gái nó cũng giác ngộ rồi, nó chẳng giữ chân đâu...

Anh em bí quá, cuối cùng đành khất lần :

— Việc này còn phải xin ý kiến Ban lãnh đạo mới được.

Tấm lòng của bà con thật chí tình. Chúng tôi chỉ còn biết hết lời cảm ơn và khéo léo nói thêm cho bà con hiểu rõ nhiệm vụ lâu dài của anh em trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, nên quả thực chưa dám nghĩ đến chuyện gây dựng gia đình.

Chúng tôi không bao giờ quên được tình nghĩa, công ơn của bà con dân bản. Để trả ơn nhân dân, các đồng chí Cứu quốc quân nguyện suốt đời làm người đầy tớ trung thành của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:15:41 am
VIII

Việc bắt liên lạc với Trung ương ở trong nước vẫn chưa làm được. Hơn một năm nay, tuy xa Trung ương, nhưng dựa vào tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ tám, làm theo những lời dạy bảo của Ông cụ hồi ở Pác Bó, làm theo những chỉ thị, những ý kiến chỉ đạo của các đồng chí Trung ương khi các đồng chí ở Bắc Sơn, chúng tôi vẫn tự động công tác, nói chung thuận lợi, nhưng chưa thể đánh giá kết quả việc làm của mình một cách thật chính xác, vì không hiểu rõ tình hình cách mạng chung của cả nước hiện nay ra sao.

Cứu quốc quân đã lục tục kéo về nước được già nửa. Một thời kỳ hoạt động mới bắt đầu. Nếu không hiểu tình hình trong nước, ngoài nước, không trao đổi kinh nghiệm với phong trào của các nơi khác, thì khó mà đề ra được những chủ trương thật sáng suốt, kế hoạch thật cụ thể trong công tác.

Tôi nhớ có lần tại Pác Bó, sau khi hỏi tôi về phong trào Bắc Sơn — Võ Nhai và tình hình đế quốc khủng bố như thế nào, Ông cụ có nói đại ý như sau : Muốn củng cố, phát triển được phong trào, mọi hoạt động không thể dừng ở một địa phương. Phải giữ được mối liên lạc thông suốt từ trên xuống dưới. Có làm được như vậy, việc lãnh đạo cách mạng mới quy chung vào một mối, không rời rạc, lung tung, việc sắp xếp cán bộ mới đúng với nơi yếu, nơi mạnh. Việc giao thông liên lạc có tốt, cách mạng mới thắng lợi.

Chúng tôi có về Võ Nhai cũng chưa phải là dễ dàng bắt được liên lạc với Trung ương ở dưới xuôi. Trong lúc đó, ở Cao Bằng hiện đang có một bộ phận của Trung ương, của Tổng bộ Việt Minh, có Ông cụ. Ban lãnh đạo Cứu quốc quân liền quyết định cử đồng chí Hà Khai Lạc và tôi gấp rút lên để báo cáo công tác đã làm được, học tập kinh nghiệm của phong trào Cao Bằng, xin tài liệu, và xin chỉ thị hoạt động mới.

Tôi bàn giao công việc chỉ huy Cứu quốc quân và thường trực Biện sự xứ ở Long Châu cho đồng chí Chu Quốc Hưng. Giấy thông hành đi qua Tĩnh Tây về tới biên giới Cao Bàng đã xoay được. Chuyến đi này nhiều nguy hiểm. Gần đây, đặc vụ Tưởng theo dõi Cứu quốc quân có phần ráo riết hơn, vì chúng cảm thấy ảnh hưởng Cộng sản đã ăn sâu vào một bộ phận nhân dân biên giới. Từ nay đến lúc tất cả Cứu quốc quân về được hết trong nước, có thể bọn Quốc dân đảng sẽ giở trò phá hoại gì đó. Dạo này, năm hết tết đến, đúng vào «tháng củ mật», nên đường sá đi lại nguy hiểm, giữa ban ngày ban mặt cũng luôn luôn xảy ra chuyện cướp của, giết người. Đến Tĩnh Tày còn phải lo cái nạn Việt-quốc, Việt-cách đang ỷ vào thế Tưởng, bắt cóc, giết hại cán bộ Việt Minh. Qua biên giới, vào đến trong nước, phải dè chừng bọn tay sai mật thám Pháp — Nhật, nhất là chúng tôi không quen thuộc đường sá, dân tình cho lắm... Chúng tôi hẹn nhau nếu qua Tết không thấy về thì các đồng chí còn lại ở nhà cứ tự động rút hết về nước hoạt động, đưa phong trào tiến lên.

Khoảng gần giữa tháng chạp ta (tháng 1 năm 1943), hai người từ Long Châu ra đi. Con đường hun hút, leo đèo, vượt khe giữa bốn bề rừng núi trùng điệp. Mưa phùn giăng giăng, gió rú trong hốc núi. Qua Pảo Hí, Sảng Cắm rồi đến Sẹc Lùng. Dừng lại ở một ngã ba. Trước mặt là hai lối đi: một đường đi tắt ngang qua một vùng đất của Việt Nam nhô ra, tới Tĩnh Tây sẽ gần hơn, nhưng cũng dễ dàng bị tổng, xã đoàn, dõng bắt bớ; một đường trên đất Trung Quốc, phải vòng qua khá xa và cũng không hẳn là an toàn. Suy đi tính lại cuối cùng muốn đỡ lo ngại hơn, chúng tôi đành đi theo con đường vòng Xập Cẩu Cáng (mười chín đèo) và Xám Xập Léng (ba mươi eo), xa hơn khoảng hai mươi cây số đường đèo, dốc.

Sau ba ngày đường ròng rã, chúng tôi đến thị trấn Tĩnh Tây khi trời sẩm tối. Vừa mệt mỏi, vừa đói. Quần áo thì lấm lem bụi đường, phố xá còn bỡ ngỡ, rõ là cái cảnh người từ phương xa tới. Cứ đi lang thang thế này rất không lợi. Nếu chẳng may chúng tôi lại chạm trán với bọn Trần Báo, đàn em của Nguyễn Hải Thần, thì khó thoát khỏi những hành động độc ác của chúng. Giữa nơi đồng đất xứ người, chốn quen thuộc của chúng tôi vừa ít, vừa không chắc chắn. Tôi nghĩ : « Tìm cách hỏi cho được nhà Vi Đức Minh. Hỏi được nhanh, đỡ phải lang thang ngoài phố, không lợi. Vào cũng phải vào cho bí mật. Đồng chí này người Nùng, nguyên có quen anh Hoàng Văn Thụ và cũng đã giúp anh Chu Quốc Hưng một vài việc nhỏ kỳ vừa qua. Nhưng anh ấy lại đang làm việc cho Quốc dân đảng.

Thấy tôi, Minh mừng, nhưng cũng vừa lo, hỏi :

— Ở đâu về?

Tôi đáp :

— Ở dưới ấy lên đấy !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:16:21 am
Nhận thấy vẻ mặt và đôi mắt trông trước trông sau của Vi Đức Minh tôi hỏi luôn :

— Ở đây không tiện. Anh có cách gì không ?

Vừa lúc đó chị ấy ở nhà bếp ra. Thấy người lạ, chị bỗng trở nên luống cuống, nét lo lắng hiện rõ trên đôi mắt. Vi Đức Minh góp ý :

— Vào nhà trọ ở Tĩnh Tây.

Chị vợ thấy chồng nói vậy, biết chúng tôi là người thế nào rồi, hỏi lại chồng :

— Nó lục khám giấy thì sao ?

Tôi gật đầu nói :

— Tôi có giấy.

Minh bảo vợ:

— Còn cơm không ?

— Cơm còn nhưng không còn thức ăn ! — Người vợ đáp, áy náy.

Minh liền đi rán cho chúng tôi quả trứng để ăn với cơm nguội. Anh nói :

— Dạo này, bọn Trần Báo, Nguyễn Hải Thần nó lùng sục, bắt bớ anh em mình ghê lắm. Chúng nêu khẩu hiệu là «có Việt Minh không có mình, có mình không có Việt Minh ». Chúng cũng thường lảng vảng đến nhà tôi để dò xét...

Chúng tôi hiểu được hoàn cảnh của anh. Một mình anh ta làm, nuôi vợ. Giấy bạc Trung Quốc không ra gì. Anh cho ăn cơm nguội với trứng rán cũng là quý rồi. Vả lại chúng tôi vào đây cũng chỉ cần để biết tin.

Anh Minh dẫn đến một nhà trọ ở đầu thị trấn. Tiền vé trọ mất đúng hai phần ba số tiền có ở trong túi. Cả đêm không ngủ được, ngay ngáy lo có điều bất trắc xảy ra.

Sáng hôm sau, bảnh mắt đã vội dậy lên đường. Trời rét cắt da, cắt thịt, hai anh em chỉ có vài tấm áo mỏng manh, phải rảo bước cho nóng người lên. Dốc túi chỉ còn đủ tiền mua cho mỗi người ba chiếc bánh. Đó là tất cả lương ăn để vượt hơn ngày đường nữa tới Pác Bó. Nhưng hy vọng sắp được gặp Ông cụ, gặp Tổng bộ Việt Minh, đã đánh tan mọi ngại ngùng, khó khăn. Năm ngoái, chỉ gần Ông cụ vài tháng, được Ông cụ chú ý bồi dưỡng, dạy bảo, tôi đã thấy trình độ hiểu biết của mình được nâng lên nhiều. Vầng trán cao, đôi mắt sáng, bước đi nhanh nhẹn, bộ quần áo Nùng cũ nhưng sạch và chiếc gậy tre, hình ảnh « Ông Ké thượng cấp» như đã hiện lên trước mắt, vẫy gọi tôi.

Không hiểu năm nay Ông cụ có khỏe mạnh hơn không? Tuy đã có tuổi và sức yếu, nhưng Ông cụ làm việc còn vất vả hơn chúng tôi nhiều, «Ông cụ như vậy, mình còn trẻ, mình phải làm việc như thế nào?». Tôi cứ tự hỏi tôi như vậy. Và vừa đi tôi vừa sắp sẵn những việc cần báo cáo cùng những vấn đề khó khăn cần hỏi để Ông cụ chỉ bảo cho cách giải quyết. Tôi đi không biết mệt mỏi là gì, bước chân càng khỏe khoắn, càng thấy sung sức.

Qua Lục Tùng. Gần tới biên giới vào Pác Bó rồi. Lòng càng hồi hộp vui mừng, như người con đi xa lâu ngày nay về thăm quê mẹ. Con đường này tôi đã đi một lần. Vừa tới ngã ba đường mòn thì gặp một người xồng xộc đi tới. Tưởng ai, hóa ra đồng chí Phung Héc(1). Thật là may mắn ! Đồng chí này ở chỗ đồng chí Lê(2) năm 1941 đã từng cùng chúng tôi. từ Pác Bó qua Cao Bằng, xuống Thất Khê, ra Bó Cục... Phung Héc đưa chúng tôi vào ngủ nhà quen tại một xóm nhỏ Trung Quốc. Đêm ấy, chủ nhà xay bắp nấu cháo và có cả mấy chén rượu nữa để mời khách. Mọi người trò chuyện tới khuya.

Sáng hôm sau Phung Héc dẫn chúng tôi về Pác Bó. Vượt qua một đỉnh núi, sang tới sườn dốc bên này Việt Nam thì thấy một bóng người lùn béo từ xa đi tới. Tôi quay lại bảo Phung Héc :

— Ai trông như đồng chí Lê, phải không?

— Đúng nó rồi !


(1) Phung Héc, nghĩa đen là người đi vá chảo. Từ đó người ta quen đi, gọi luôn là Phung Héc, không gọi bằng tên thật nữa.
(2) Tức là đồng chí Lê Quảng Ba, lúc đó là Bí thư huyện Sóc Giang (Cao Bằng).


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:18:44 am
Thế là Phung Héc loa tay gọi ầm lên. Đồng chí Lê chạy lao tới, nắm tay tôi, tươi cười nổi :

— Từ xa thấy cái dáng người xương xương, cái cồ thẳng đơ, tao đã đoán ra là chỉ có mày. Đi đâu mò đến đây?

Tôi trả lời ngay :

— Tao về tìm Ông Ké, xin chỉ thị.

— Ông Ké đi công tác xa rồi — Anh Lê đáp.

— Đi bao giờ về? — Tôi hỏi.

— Đi xa lắm. Chưa biết bao giờ về.

Hà Khai Lạc và tôi cùng sững sờ phân vân suy nghĩ. Tôi đưa mắt nhìn đồng chí Lê, thấy anh cũng nhìn chúng tôi đăm đăm, vẻ thông cảm. Tôi hỏi luôn :

— Thế hiện nay có ai phụ trách cao nhất ở đây không?

— Chỉ có mình tao ở đây thôi!

Tôi hỏi tiếp:

— Các đồng chí Trung ương và Tổng bộ Việt Minh còn ai ở vùng này không ?

— Có, nhưng ở cách đây hai ngày đường nữa — Đáp vậy rồi đồng chí Lê hỏi lại tôi — Hai ngày đường nữa, có đi không?

— Đi chứ! — Tôi nói dứt khoát — Xa nữa cũng phải đi ! Lúc này đồng chí Lê mới hồ hởi :

— Xuống làng đã ! Ăn cơm đã ! Nghỉ một tí đã. Lấy giao thông đã. Tối mới đi được.

Tất cả chúng tôi năm người — đồng chí Lê, Phung Héc, Hà Khai Lạc, một đồng chí bảo vệ cho anh Lê và tôi — men theo khe suối về xóm Pác Bó, vào nhà tổ trưởng giao thông là đồng chí La Thanh. Anh Lê nói nhỏ với tôi là ta vừa mới khử tên tổng đoàn Quyền, một tên gian ác khét tiếng ở Hà Quảng đã từng giết hại nhiều cán bộ. Anh cho biết đây mới chỉ là một trong những bản án cảnh cáo đầu tiên đối với bọn mật thám tay sai...

Hai anh em mới líu tíu hỏi han được vài điều công tác, chứ còn những chuyện gia đình, riêng tư đã kịp nói gi với nhau đâu! Kể ra còn muốn nằm gác chân lên nhau, tâm sự vài đêm nữa.

Khi Khai Lạc và tôi ăn cơm xong thì đồng chí giao thông đến. Ra tới đồng thì sâm sẩm tối. Chúng tôi trao đổi về khẩu lệnh đi đường. Anh Lê bắt tay tôi:

— Thôi, các đồng chí đi cho sớm, kẻo nhỡ chặng đường... Ồng Ké về, mình sẽ báo cáo lại.

Suốt đêm đó, chúng tôi lặn lội qua bản Hoàng, bản Nà Mạ, Đào Ngạn, rồi Bó Lếch. qua mấy quả gò thì đến một trạm giao thông. Chúng tôi ở mấy nhà hẻo lánh, có tự vệ gác trong gác ngoài. Các đồng chí ở địa phương chú ý săn sóc nên anh em được ăn ngủ ngon lành. Cả ngày chúng tôi nghỉ ở đấy.

Trời hửng nắng ấm áp. Cảnh vật ở đây đẹp, có rừng cây xanh thẳm, có đồi cỏ trâu ăn, có hoa mai, hoa mận, hoa đào. Không khí ở đây rất nhẹ nên người nào cũng cảm thấy khỏe khoắn lạ thường. Thanh niên nam nữ đi chợ Nước Hai, hát si hát lượn.

Buổi tối chúng tôi lại lên đường. Sáng hôm sau tới Lam Sơn, thuộc huyện Hòa An. Chung quanh là những đồi cỏ gianh, cỏ guột và một dãy núi màu đá hơi đỏ. Giao thông dẫn vào nghỉ ở nhà đồng chí Quốc Vuông trong bản. Những vườn mía tươi tốt, um tùm; hai con trâu mộng nặng nề kéo chiếc cối ép mía bên cạnh cái chảo mật lớn đang sôi sùng sục. Sáng hôm sau chúng tôi theo liên lạc lên một cái hang đá.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:19:08 am
Tối hôm đỏ, đồng chí Vũ Anh mới về gặp chúng tôi. Trông anh không khác gì ngày ở Pác Bó, vẫn cái vóc người đậm, thấp, đôi lông mày rậm, dài và giọng nói oang oang. Thấy tôi, anh nhận ra ngay. Anh bắt tay tất cả chúng tôi rất vui vẻ. Và hỏi chúng tôi yêu cầu những gì. Tôi báo cáo lại tình hình từ lúc đánh du kích tám tháng ở Tràng Xá và nêu rõ mục đích của việc chúng tôi đến đây. Nghe xong, đồng chí Vũ Anh nói:

— Đồng chí cứ yên trí ở địa phương đây. Mai, kia sẽ có người ra làm việc với các đồng chí!

Hai hôm sau, bốn anh từ hang Lũng Hoàng tới gặp chúng tôi. Có hai người quen và hai người chưa lần nào gặp mặt. Hai người quen là anh Tống và anh Hoa. Anh Tống có lần đã giảng chủ nghĩa Mác-Lê-nin cho tôi hồi ở Pác Bó.

Anh Hoa siết chặt tay tôi, nói:

— Khá lâu rồi không được gặp nhau !... Các đồng chí có khỏe không?

Bên trong cái hang không sáng lắm. Các anh mời chúng tôi ngồi và bắt đầu giới thiệu từng người. Lúc đó tôi mới biết thêm hai anh chưa từng gặp trước đó là anh Văn và anh Lã.

Cuộc họp thật vô cùng bổ ích và hứng thú.

Tôi báo cáo trước. Tôi trình bày về quá trình thành lập của Cứu quốc quân I và II, sự khủng bố của Pháp Nhật, về tám tháng đấu tranh vũ trang ở Tràng Xá — Võ Nhai, việc tạm rút lui của Cứu quốc quân sang biên giới Việt — Trung... Tôi nói rõ từ chủ trương chung về chính trị, quân sự đến các biện pháp, hành động cụ thể. Cuối cùng tôi nêu lên những khó khăn, nhất là hiện nay Cứu quốc quân đang trên đường về nước : trong giai đoạn hoại động mới này chúng tôi rất cần hiểu biết tình hình trong nước, ngoài nước, chắp được mối liên lạc với phong trào các nơi, để có chủ trương, hành động dúng, kế hoạch phối hợp sát.

Trong lúc nghe báo cáo, các anh nhìn chúng tôi, rồi lại nhìn nhau. Khi nghe địch dốt nhà phá làng, cuộc sống trong thời gian tám tháng đánh du kích, vấn đề ăn, ở, rời cơ quan, phát triển cơ sở quần chúng, có đồng chí ứa nước mắt khóc.

Các anh hỏi rất kỹ về các kinh nghiệm chống khủng bố, đánh du kích, làm binh vận, gìn giữ và củng cố cơ quần chúng... Cả kinh nghiệm về ngoại giao với chính quyền Tưởng, đối phó với phỉ...

Sau đó, anh La báo cáo. Anh giới thiệu tình hình phong trào Cao Bằng. Phong trào Việt Minh từ mấy vùng thí điểm đều đã phát triển rộng khắp và mau lẹ. Các đội tự vệ hoạt động mạnh, các công tác giao thông, bảo vệ trừ gian... đều được tiến hành tốt, Các đội cứu quốc với đủ mọi giới phụ lão, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng... đã phát triển khắp tỉnh kể cả những vùng rẻo cao của đồng bào Mèo, Mán. Có những «xã hoàn toàn», những «châu hoàn toàn», ở đó toàn dân đã vào Việt Minh. Một chính quyền «hai mang» đã thành hình : lý trưởng, chánh tổng vẫn đi họp châu, họp tỉnh nhưng lại làm việc theo đường lối. chính sách của cách mạng. Có nơi Ban Việt Minh xã phải trực tiếp đứng ra giải quyết công việc, vì nhân dân chỉ tín nhiệm nó. Việc chuẩn bị khởi nghĩa đang được tiến hành gấp rút.

Anh Hoa, anh Tống, anh Văn đã bổ sung nhiều vấn đề rất quan trọng. Nghe đến đâu tôi thấy sáng ra đến đấy và mình tự bảo mình: «Cứu quốc quân còn phải học tập nhiều ở các đồng chí».

Cuộc họp cũng bàn thêm về tình hình trong nước, ngoài nước. Tình hình chung có nhiều thuận lợi. Chúng tôi rất tin tưởng, phấn khởi vì cuộc trao đổi ý kiến đã giúp nhau nhìn nhận tình hình sáng rõ hơn. Những thành tích của Cứu quốc quân cũng như của phong trào Cao Bằng đã động viên, cổ vũ lẫn nhau. Tôi đã nhận thức được sâu sắc rằng: các đội vũ trang cách mạng với vũ khí thô sơ, biết dựa chắc vào nhân dân, biết áp dụng linh hoạt chiến thuật du kích hoàn toàn có khả năng lập được căn cứ địa ở vùng nông thôn, rừng núi, giữ vững và phát triển lực lượng để từng bước tiến lên đánh tiêu hao, tiêu diệt được quân đội đế quốc có trang bị vũ khí tối tân. Các đội tự vệ Cao Bằng và Cứu quốc quân đã chứng thực cụ thể điều đó. Muốn giữ vững và mở rộng căn cứ địa cách mạng, phải phát động được quần chúng một cách mạnh mẽ, trên cơ sở đó kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Những kinh nghiệm trên đây rất bổ ích cho đợt hoạt động trước mắt, đồng thời càng khuyến khích động viên chúng tôi mạnh dạn mở rộng phong trào, mở đường về xuôi.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:20:37 am
Qua trao đổi, cuộc họp đã căn cứ vào tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ tám quyết định làm bốn việc lớn :

1. Giữ vững cơ sở vùng biên giới, đánh thông đường từ đó về Bình Gia, Bắc Sơn, Võ Nhai.

2. Gây dựng các cơ sở mới ở Cao — Bắc — Lạng. Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, củng cố các cơ sở cũ và nối liền các đường liên lạc với nhau.

3. Xúc tiến việc thành lập đội xung phong Nam tiến do đồng chí Văn trực tiếp chỉ huy, Cứu quốc quân sẽ phái một tiểu đội lên Cao Bằng để cùng các đồng chí ở Cao Bằng đánh thông đường về xuôi. Từ Chiến khu Bắc Sơn — Võ Nhai, Cứu quốc quân sẽ mở bốn con đường lên đón các mũi Nam tiến thọc xuống, là :

a) từ Thất Khê, Đông Khê lên Cao Bằng.

b) từ Hội Hoan, Bình Gia lên Văn Mịch, Na Rì.

c) từ Võ Nhai lên Na Rì.

d) từ Chợ Chu lên Chợ Đồn, Chợ Rã.

4. Tìm bắt liên lạc với Trung ương ở dưới xuôi.

Có được phương hướng hoạt động cụ thể, chúng tôi thấy vững tâm và hăng hái hẳn lên. Cần phải bắt tay vào việc ngay. Ngày hăm ba tháng Chạp, ông Táo lên chầu trời, đã qua rồi. Không thể về kịp Long Châu trước Tết được. Nhưng chúng tôi cũng nhất định phải lên đường. Anh em ở đơn vị đang mong. Lúc này một ngày là rất quý.

Trước khi ra về, anh Lý Quang Hoa trao cho chúng tôi nhiều tài liệu chính trị, quân sự và vật kỷ niệm như: tranh ảnh, sách báo, cờ của Trương Phát Khuê và của các tổ chức Quốc dân đảng tặng Đoàn ngoại giao Việt Minh ở Trung Quốc(1). Những thứ này giúp ích rất nhiều cho Cứu quốc quân làm triển lãm lưu động trong khi đi vũ trang tuyên truyền sau này. Các anh còn trao cho chúng tôi một trăm đồng Đông Dương làm hoạt động phí và bốn mươi đồng để úy lạo Cứu quốc quân. Nhưng về sau chúng tôi cũng không dùng tới số tiền úy lạo đó, mà đem nộp cả vào tiền hoạt động phí. Anh Văn hỏi :

— Các đồng chí còn cần giúp đỡ gì nữa không?

Tôi nói :

— Trong khi tuyên truyền, huấn luyện, chúng tôi rất cần một tấm bản đồ để đi nói chuyện về tình hình thế giới. Tấm bản đồ đó phải dễ xem, dễ hiểu, dễ mang mà lại đầy đủ cả các châu trên thế giới. Đến nay vẫn chưa kiếm đâu ra. Nếu các anh có, cho xin.

Anh Tống nói :

— Ở đây cũng chẳng có đâu... Nhưng nếu cần thì vẽ thôi.

Anh Tống lấy bút chì xanh đỏ vẽ luôn lên một tờ giấy trắng. Tôi mới học đến lớp nhì tiểu học nên thấy anh Tống vẽ tài quá, vừa theo dõi tay anh đưa nét bút rất mạch lạc vừa nhìn anh rất thích thú. Anh Tống tô màu đỏ lên đất nước Xô-viết. « Mình nói trước quần chúng mà có cái này thì có tác dụng lớn đây. Họ mới thấy được rằng đất nước mình ở đâu, vị trí của đất nước này như thế nào», tôi nghĩ như vậy thôi chứ không nói ra lời. Còn Khai Lạc cứ trầm trồ nói với tôi :

— Không hiểu ông này học đến đâu mà tài nhớ thế! Cầm bút là vẽ liền, chẳng giập xóa gì cả !

Anh Tống vẽ xong, giơ ra xa ngâm rồi đưa cho tôi, gật đầu :

— Đồng chí dùng tạm !

Tôi mỉm cười như muốn nói : «Tốt chán ! Tôi có mong gì hơn đâu». (Tấm bản đồ đó sau được vẽ thành nhiều bản, phát cho các tổ tuyên truyền, dùng rất tiện lợi). Chúng tôi nghỉ ngơi thoải mái. Đôi lúc, chợt nảy ra một ý gì mới, chúng tôi lại cùng trao đổi với nhau. Tình đồng chí càng thêm nồng đượm.


(1) Chính quyền của Tưởng trao tặng phẩm trong lúc Việt Minh còn có Đoàn ngoại giao ở Tĩnh Tây.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:21:34 am
Công việc xong xuôi, chúng tôi chuẩn bị lên đường. Sâm sẩm tối, các anh thết chúng tôi một bữa cơm ở ngay cơ quan. Gọi là bữa tiệc thì đúng hơn vì nó có đủ thịt gà, chân giò ninh măng, cá rán, bánh dày, cơm nếp, bánh cuốn.

Đã đến lúc phải chia tay nhau. Các anh lần lượt siết chặt tay chúng tôi. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi lời nói của các anh đều đầy tình quyến luyến.

Chúng tôi đi từng trạm, cách nhau khoảng năm, mười cây số thì tới một trạm giao thông. Dọc đường cứ từng chặng, từng xóm đều có người mời chúng tôi vào nghỉ. «Chỗ nghỉ» nào cũng mời ăn, nơi thì mời rượu, nơi thì xôi vò chè đường, nơi thì bánh trôi. Thì ra nhân dân địa phương đã được báo trước là «sẽ có hai đồng chí Bắc Sơn đi qua ». Thành thử cứ khoảng hai, ba cây số là y như có một «Trạm giao thông đặc biệt». Mời các đồng chí vào : lại có một bữa cỗ chờ sẵn. Trước tấm lòng quý hóa của đồng bào và các đồng chí ở địa phương, mình từ chối không được. Không ăn nhiều thì cũng phải ăn qua loa chút ít. Chỉ thế thôi cũng đã đủ bội thực rồi. Có nơi không thể nào lại ăn luôn được, đồng chí giao thông phải xách đi... Đến bản của đồng chí Nông Công Dũng thì gặp một cán bộ ở đấy hỏi cách chữa cho một đồng chí bị thương ở chân. Hỏi ra mới biết các đồng chí tự vệ ở đó thử súng bắn phải chân một cán bộ địa phương. Không thể đưa người bị thương đi «nhà thương» được, sẽ lộ mất! Tôi hỏi qua vết thương, nói cho các đồng chí ấy đi tìm co Slẩm ca, một thứ cây thuốc nam mọc ở rừng: co Slẩm ca sẽ hút chất thuốc súng ra và vết thương sẽ khỏi.

Đến chặng cuối cùng, không thể mang đi hết tất cả « tặng phẩm» của đồng bào, chúng tôi đành phải để lại. Vả lại đây đã hết vùng có cơ sở của ta, phải để cho đồng chí giao thông rảnh tay đi dò đường.

Qua sự tiếp đón của quần chúng cơ sở trên những chặng đường chúng tôi đã đi, chúng tôi thấy trình độ giác ngộ của đồng bào ở đấy khá cao : ở các « xã hoàn toàn », « châu hoàn toàn» này, phong trào Việt Minh với các Hội cứu quốc đủ mọi giới phát triển rất sâu rộng ; công tác lãnh đạo tổ chức cơ sở quần chúng của các đồng chí Cao Bằng rất giỏi. Chúng tôi thấy cần phải học tập nhiều nữa, để khi về, cùng anh em đưa phong trào cách mạng Võ Nhai — Bắc Sơn tiến mạnh hơn nữa.

Tới Pác Bó, nghỉ ăn cơm với anh Lê, nói với anh Lê thêm những chuyện mà lượt đi chưa kể hết được, nhất là những chuyện về Ông Ké. Từ biệt anh Lê, trèo qua núi sang đất Trung Quốc, đến Lục Tùng ngủ.

Hôm sau, chúng tôi vượt qua Tĩnh Tây độ chục cây số mới nghĩ lại. Rút kinh nghiệm lúc đi, lúc về không cẩn thận để rơi vào tay bọn Trần Báo thì thật là nguy hiểm.

Ngày thứ ba, đi đến quá chiều, tới gàn Pảo Hí (trên đường Tĩnh Tây — Pảo Hí) thì gặp một toán lính Quốc dân đảng cùng hành quân một chiều. Chúng tôi liền nhập bọn theo sau, hy vọng sẽ tránh được cướp bóc, thổ phỉ trong những ngày cuối năm này. Ai ngờ khi kéo vào một thị trấn thì thấy nhà nào nhà nấy vội vàng đóng sập cửa lại. Đối với nhân dân, bọn lính Tưởng này cũng chỉ là một lũ cướp ngày còn trắng trợn hơn thổ phỉ. Chúng cáu quá, chửi rủa om sòm, đập phá lung tung. Chúng tôi cũng vội tách ra khỏi bọn lính, không nhỡ bị dân nghi là đặc vụ Tưởng thì có khi mất mạng oan !

Đúng chiều ba mươi Tết thì chúng tôi tới một vùng thuộc huyện Thượng Kim. Qua xóm, qua làng, phố xá, thị trấn, đâu đâu cũng thấy nhộn nhịp, ồn ào. Trẻ con mặc áo đẹp, cười đùa hớn hở. Những cặp vợ chồng gánh gà, tay dắt con cái, đến nhà ông vãi(1) ăn Tết. Trông cảnh người sum họp gia đình ngày Tết, lại nhớ đến anh em Cứu quốc quân ở hương Bó Cục chắc cũng đang chờ minh về. Vừa đi tôi vừa bảo Khai Lạc:

— Mấy thằng đoán mình làm sao rồi vớ !

Khai Lạc gật đầu, nói :

— Quần chúng ở vùng xóm Nà Sliềng, Khẻo Mèo, Bản Trang cũng mong lắm đấy !

Chúng tôi lại nhắc đến ông Nông Nhì Có ở Long Châu, vợ là người Nùng. Đây là một gia đình tốt, từ anh Vân đến các anh khác qua Long Châu đều vào nhà ông Nông ăn, ở. Khi chúng tôi đi, ông Nông bảo « Đi đâu thì đi ! Tết, phải về ! ».


(1) Bố vợ.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:22:17 am
Chúng tôi đi giữa những câu đối bằng giấy hồng điều điểm kim nhũ với nét chữ còn tươi màu mực tàu đen nhánh dán ở khắp cửa mọi nhà, giữa những ngọn đèn lồng đủ kiểu thắp sáng tưng bừng. Nhưng hai anh em vừa đói vừa rét... Phải già một buổi nữa mới tới được Long Châu ! Phải cố tìm chỗ ngủ ! Chúng tôi đã hỏi tới năm, sáu nhà nhưng không một ai cho nghỉ nhờ. Chúng tôi biết, ngủ ba mươi Tết, mồng một đi, tức là «mang tài đi», người ta kiêng, do đó mà không cho ngủ.

Đi qua cửa một ngôi nhà một gian hai chái. Trời chưa tối hẳn. Nhìn vào nhà, thấy có một bà cụ, một chị con gái, một anh con trai và một đứa cháu nhỏ. Sau một phút chần chừ tôi bước lên hè, nói :

— Chúng cháu ở Long Châu. Về Tết, không kịp. Không có chỗ ngủ. Bà cho chúng cháu ngủ nhờ một đêm. Ngồi ngoài hè cũng được. Có cái nhà mà dựa. Mai sẽ đi Long Châu.

Bà cụ không ngảnh ra. Tiếng nói buông từ trong nhà :

— Cẳm dắp làu làu cần hơn hử lan tò thêm ! (Đêm ba mươi ai cho các cháu trọ nữa!) — Bà cụ nói bằng tiếng Nùng.

Tôi mạnh dạn :

— Cháu cũng biết thế rồi ! Nhưng đứng mãi ở ngoài đường không tốt đâu. Người ta cho là phỉ, không hay đâu ! — Tôi trỏ tay xuống chỗ mình đang đứng, nổi tiếp — Bà cho nghỉ ở đây cũng được...

Lúc đó bà cụ mới ngảnh mặt ra nói:

— Nếu khó khăn như thế thì cháu vào nhà.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi cùng Khai Lạc bước vào. Ngoài mấy cái buồng ngủ, nhà chỉ có một cái chõng và cái bàn thờ. Trên bàn thờ, khói hương nghi ngút, có thịt gà, bánh chưng, bánh gio...

Chúng tôi vào ngồi được một lúc, không khí trong nhả vẫn lặng lẽ. « Họ » không nói gì đến chúng tôi cả, kể cả chị con gái và anh con trai. Chúng tôi hiểu biết phong tục ở đây nên cũng không lấy thế làm điều oán thán... Chị con gái đứng dậy, đi thắp hương. Trông lên bàn thờ, tôi thấy hai họ. Tôi hiểu vì sao anh con trai không nói. Tôi bụng bảo dạ: «Đây là ồng rể về trông nom nhà thay con trai đây !».

Tôi phá tan cái im lặng nặng nề :

— Bà có bánh trái gì bán cho cháu vài cái. Cháu có mấy nắm cơm, ăn hết rồi !

Bà cụ nói chậm rãi :

— Bánh bà không có nhiều đâu ! Nhưng nếu cháu đói, bà lấy mấy cái cho cháu ăn thôi.

Tôi đỡ lấy cái bánh, mùi nếp thơm phức. Cả nhà chỉ có mỗi cái đèn trên bàn thờ. Hai chúng tôi bóc bánh ra ăn trong lúc cả gia đình bà cụ ăn cơm ở gian sau.

Có chất gạo vào, bụng ấm hẳn lên. Hai chúng tôi đợi khuya mới đi ngủ, nằm trên cối chõng.

Ngoài kia, gió thòi ào ào. Hai anh em nằm úp thìa cho đỡ rét : chõng hẹp vậy mà hai người ngủ còn hơi rộng ! Nếu trở mình cả hai cùng phải trở.

Người tuy mệt mỏi, nhưng không sao ngủ được. Sắp giao thừa rồi. Tôi nhớ đến nhà, đến quê hương. Tôi nhớ lại những cái Tết năm xưa ở Phú Thượng, Bó Tát. Rồi cái Tết ở Tràng Xá năm ngoải, tuy đời sống có thiếu thốn, đấu tranh có gay go, nhưng lúc vui lúc buồn đều có đoàn, có đội bên nhau. Tết năm nay, còn nằm ở đây. Nửa ngày đường nữa mới đến được Long Châu ! Không biết còn xảy ra chuyện gì nữa không?

Mùng một Tết. Chúng tôi dậy thật sớm. Để phần nào trả ơn tấm lòng nhân đức của bà cụ đã cho ăn, cho ngủ, chúng tôi gửi bà cụ hai đồng. Đối với chúng tôi, số tiền này lúc đó là khá to. Bà cụ từ chối, nhưng chúng tôi cứ để lại và chào ra đi.

Đường sá vắng ngắt. Gió thổi heo hút.

Quần áo đầy bụi đất, chúng tôi vẫn rảo bước, lòng náo nức nghĩ đến công việc sắp bắt tay vào làm...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Hai, 2019, 08:23:20 am
Quá trưa thì tới Long Châu. Chúng tôi vào nghỉ chân nhà ông Nông. Vừa thấy chúng tôi, ông Nông đã trách:

— Đi gì mà cứ biền biệt mãi thế ! Đi suốt cả đời rồi, năm hết Tết đến cũng phải liều liệu về sớm một chút chứ !

Hà Khai Lạc cười nói:

— Ấy thế còn là sớm đấy. Qua Tĩnh Tây mà không bị ăn đất là may, chứ còn nghĩ gì đến chuyện ăn Tết nữa.

Trên bàn thờ, hai con gà thiến béo vàng, mỏ ngậm đóa hoa hồng. Dưới bếp, mùi xào nấu thơm lừng. Ông Nông bưng hai dĩa bánh ra, bảo :

— Ăn tạm một vài miếng thôi, còn để dành bụng mà ăn cơm.

Tôi nói nhỏ với Khai Lạc :

— Cứ chén thật no vào, ăn xong ta đi ngay, không chờ cơm nữa.

Khai Lạc gật đầu.

Ăn xong tôi nối với ông Nông :

— Thôi năm mới, xin chúc cả nhà khỏe mạnh, gặp mọi sự may mắn, làm ăn tấn tới. Chúng tôi phải đi đây !

Ông Nông tức quá, nói gần như quát :

— Không đi đâu cả. Vừa mới về, ngồi chưa kịp nóng chỗ đã nhấp nhổm định chạy là thế nào? Làm cách mạng còn lâu dài, chứ đâu phải sớm chậm một hai ngày. Phải ở đây ăn Tết, ít nhất xong ngày mùng hai rồi muốn đi đâu thì đi...

Bà Nông đang mở hòm ở trong buồng, chùm chìa khóa rung lẻng xẻng, cũng hớt hơ hớt hải chạy lên, khóa chặt cửa lại, nhất định không cho đi.

Cuối cùng, chúng tôi đành phải nói thực là vừa đi họp xa về, đã trót hẹn anh em về trước Tết, nếu về muộn anh em đi công tác mất, không kịp phổ biến nhiệm vụ mới thì hỏng công việc.

Tôi an ủi thêm :

— Thôi, gia đình thấy chúng tôi đi về mạnh khỏe, chân cứng đá mềm thế này, lại thấy phong trào mở rộng, thì cũng đủ mừng cho chúng tôi rồi.

Bà Nông đưa bánh cho chúng tôi đem đi ăn đường. Chúng tôi nể quá đành phải cầm lấy một chiếc mang theo. Cả hai vợ chồng miễn cưỡng phải thả chúng tôi ra nhưng vẫn còn nhìn theo, luyến tiếc.

*
*   *

Ngựa hồi tàu càng đi càng nhanh. Tám giờ tối về tới Bản Khiếc(1), vào nhà Pính Chi. Cả gia đình đang cùng với anh em Cứu quốc quân uống rượu, ăn cơm. Thấy chúng tôi về, cả nhà reo lên mừng rỡ. Chị Pính Chi lập tức dọn ngay mâm bát đi. Theo tục lệ địa phương, khi có khách quý đến giữa bữa ăn gia đình phải dọn ngay mâm bát đang ăn dở đó đi dù chỉ là mới nhấm nháp, để dọn mâm bát mới ra mời khách. Tiệc vui «sai mạ» (vừa đánh đố vừa uống rượu) kéo dài mãi tới đêm khuya.

Mùng hai Tết Quý Mùi (6 tháng 2 năm 1943) tất cả Cứu quốc quân còn lại ở Bó Cục họp nghe phổ biến nghị quyết của cuộc họp ở hang Lũng Hoàng và đặt kế hoạch công tác, phân công nhau thực hiện.

Mùng ba Tết, tất cả chia tay lên đường làm nhiệm vụ mới.


(1) Bản Khiếc, nơi dừng chân của Cứu quốc quân trên đất nước bạn, nay đã biến thành một hồ nước mênh mông của một công trình thủy lợi quy mô lớn. Những vết tích của nghèo đói, lạc hậu cũng đã chìm sâu dưới đáy hồ. Dân làng Bản Khiếc đã chuyển đi dựng làng mới, sống một cuộc đời no ấm, sung sướng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Mao Chủ tịch kính mến. Sau Cách mạng tháng Tám thành công và những năm trước 1964, tôi cũng đã có dịp trở lại thăm Bó Cục. Dân làng quen biết bên đó cũng đôi lần qua thăm chúng tôi. Gặp nhau vui mừng khôn kể. « Hết cơn bĩ cực tới tuần thái lai ». Tinh thần quốc tế vô sản tốt đẹp giữa hai Đảng, hai nước Việt, Trung lại càng gắn bó chặt chẽ mối tình hữu nghị đó (CVT).


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:06:13 am
IX

Nghị quyết cuộc họp ở Lũng Hoàng đặt trách nhiệm cho Cứu quốc quân bắt liên lạc với Trung ương ở xuôi và xây dựng khu căn cứ, đánh thông đường từ Thái Nguyên lên Cao Bằng, Thái Nguyên về xuôi.

Để thực hiện nghị quyết nói trên, Ban lãnh đạo Cứu quốc quân đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn tới là : lập khu căn cứ mới ở Định Hóa. Căn cứ vào tình hình phong trào lúc này có chiều hướng phát triển thuận lợi và địa thế tốt, dựa vào núi Hồng — một dãy núi rất rộng — chúng tôi thấy có thể thành lập một khu căn cứ rộng lớn.

Từ Hội nghị Lũng Hoàng trở về, tôi đã nghĩ nhiều đến anh Hai Cao, một đồng chí cùng hoạt động ở tỉnh Thái Nguyên với tôi trước đây bị địch bắt và giam ở căng Bá Vân. Đồng chí hoạt động ở Ninh Bình trong những năm 37, 38, 39. Vợ đồng chí ấy ở Làng Mới là nơi vợ tôi đang «làm lẽ» cho một người tên là Triều để tiện hoạt động cách mạng, che mắt bọn mật thám. Tôi có ý định vô Làng Mới làm hai việc : một, xem tình hình cơ sở ở vùng này ; hai, tìm chị Hai Cao để chắp mối liên lạc với Trung ương ; ngoài ra, nhân tiện thăm nhà tôi, xem tình hình như thế nào. Tôi báo cáo ý định ấy với Ban lãnh đạo Cứu quốc quân. Các đồng chí tán thành.

Con đường từ hương Bó Cục về đến Đại Từ, tôi thuộc như lòng bàn tay. Sau Tết nguyên đán Quý Mùi (tháng 2 năm 1943) tôi rời Bó Cục về nước. Qua những nơi nào Ban lãnh đạo Cứu quốc quân đã điều cán bộ tới «đóng cọc» làm công tác củng cố cơ sở, mở rộng phong trào từ sau khi có Nghị quyết Lam Sơn, tôi cũng tổ chức các cuộc họp để nắm tình hình và cùng bàn phương hướng làm việc cho các địa phương rồi mới lại tiếp tục đi. Đến Bình Gia tôi bàn thêm với đồng chí Hồng Thái nhiệm vụ đánh thông hành lang Bắc Sơn — Võ Nhai lên Na Rì (Bắc Cạn) và kiểm tra xem vấn đề chắp mối giữa Tràng Xá và Yên Thế như thế nào.

Vấn đề mở lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho từng địa phương lúc này thật gấp thiết. Đâu cũng kêu thiếu cán bộ.

Cuối tháng 2 năm 1943, tôi đặt chân lên đất Võ Nhai. Hai triền núi xanh rì ôm lấy những mảnh ruộng màu mỡ. Mới xa nó có một năm trời mà tưởng như xa đã lâu lắm ! Và giờ đây, trở lại mảnh đất đã sinh ra trung đội Cứu quốc quân II, đã anh dũng đấu tranh với kẻ địch mạnh hơn mình gấp bội, tôi muốn nhìn cho thỏa lòng cái màu xanh của rừng cây, những ruộng, những nương và những con người đã hy sinh cả thân mình, nhà mình để bảo vệ cách mạng. Là người con của Võ Nhai, tôi muốn nói lên hết tình cảm của mình, tấm lòng của mình đối với nhân dân các dân tộc ở đây. Song tất cả những điều gì mình muốn nói, cũng không ngoài việc động viên nhân dân giành lấy chính quyền. Có chính quyền cách mạng thì nhân dân các dân tộc mới có cơm no áo ấm, mới không bị đàn áp bóc lột. Muốn đi tới cái đích đó, bây giờ phải chịu đựng gian khổ, phải làm cách mạng, vì kẻ địch vẫn còn kia !

Về đến Võ Nhai, họp với anh em trên hang Thẩm Phie Khao ở Nà Kháo. Rồi tổ chức mít-tinh, gặp quần chúng. Rồi vào La Hiên, đi qua Đồng Hỷ chắp mối liên lạc. Xong, lên Phú Lương mở lớp huấn luyện, rồi đi Đại Từ, giao nhiệm vụ, đồng thời nắm chắc tình hình Định Hóa để định ngày lên Định Hóa.

Mấy ngày đêm ròng ra thiếu ăn thiếu ngủ, vượt núi, xuyên rừng, lọt qua những chặng kiểm soát của địch, tôi về đến Đại Từ vào một ngày cuối tháng ba âm lịch Quý Mùi (4-1943).

Đại Từ là vùng cơ sở của ta. Anh Đường Nhất Quý, anh Thượng, anh Hòa, anh Tài và tôi đi suốt đêm gần đến Làng Mới thì trăng đã chếch ngang đầu. Làng Mới có đường cái lớn xuyên qua. Sáng ra sẽ có nhiều người qua lại. Nếu để họ trông thấy đoàn chúng tôi ăn mặc toàn đồ đen, bọc đồ và súng ống đầy đủ, sẽ không có lợi, nên chúng tôi bảo nhau rảo bước chân hơn nữa.

Từ lâu rồi, từ ngày hai vợ chồng phải xa nhau vì địch tăng cường khủng bố, tòi vẫn mong có ngày hôm nay. Giờ đây, nhân một chuyến đi công tác, được phép qua đây gặp vợ, lòng tôi càng bồn chồn, nôn nao khó tả. Tính tuần trăng, đã mười bảy trăng tròn xa cách rồi !...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:06:52 am
Đến làng lúc nào không hay. Anh Nhất Quý ra hiệu cho chúng tôi dừng lại. Tôi trông lên trời đêm. Mảnh trăng khuyết sáng lạnh vẫn còn. Chúng tôi đã đứng trước một cái cổng gỗ đóng kín bưng. Một, hai con chó gừ gừ đâu đây nhưng chưa cắn thành tiếng. Anh Nhất Quý gõ vào cánh cửa cổng theo mật hiệu. Tiếng gừ gừ biến thành những tiếng ẳng ẳng, inh ỏi từ bốn ngả chõ vào. Có tiếng người ở trong nhà đi ra. Nghe tiếng chân bước, tôi biết có hai người đang tiến lại cổng. Những con chó quái ác vẫn sủa. Có tiếng một chị phụ nữ quát chó. Tôi giật mình: «Tiếng ai như tiếng Ân !». Vừa lúc cánh cổng hé ra rồi mở rộng : một người đàn ông đã hiện ra trước mặt anh Nhất Quý và chênh chếch sau lưng người đó là một chị phụ nữ. Trong ánh trăng nhạt, nhìn người đàn ông mặc bộ quần áo nâu cũ kỹ, tôi nhận thấy ngay anh là người Kinh. Tôi nghĩ : «Đây phải chăng là cái anh Triều, người nhận vợ tôi làm lẽ? ». Tôi đã từng được anh Nhất Quỷ kể cho nghe đôi nét về gia đình anh Triều. Đây là một cơ sở tốt của ta ở Làng Mới này. Hai vợ chồng không có con nên đã nuôi hai em nhỏ — một trai, một gái — làm con nuôi.

Người đàn ông đã nhận ra anh Nhất Quý. Nhưng khi thấy lố nhố phía sau anh nhiều người toàn mặc quần áo đen, khăn gói, bọc đồ gọn gàng, súng bên mình thì anh ta có vẻ ngạc nhiên. Con chó vẫn còn gừ gừ đâu đấy ở một xó tối. Tôi lại nghe thấy tiếng nạt chó. Tôi muốn kêu lên : «Ân ! Ân có nhận ra tôi không?» nhưng kịp ghim lại. « Bây giờ chưa phải lúc ». Một giọng nói vùng đồng chiêm trũng cất lên, nhanh, nhưng thấp :

— Anh Nhất Quý ! Mời anh vào !... Mời các đồng chí vào!

Rồi người đó quay gót. Anh Nhất Quý và chúng tôi theo sau.

Gian nhà tối om. Một đốm lửa nhỏ bằng hạt đỗ lóe lên.

Tôi đã trông rõ người vừa đốt đèn rồi. Mắt tôi dán theo từng cử chỉ của người đó.

Tất cả chúng tôi đứng túm tụm với nhau trong bóng tối. Tôi quên cả mệt khi nhìn rõ vợ tôi trong chiếc áo cánh nâu của người Kinh. Tôi thấy nhà tôi thì thào với anh Nhất Quý : « Ở đâu về ? ». Anh Nhất Quý nói khẽ, giọng trở nên khò khè, khàn khàn : «Ở Đại Từ về !». Nhà tôi lại thì thào: «Có ăn cơm không?». Anh Nhất Quý gật đầu và cũng thì thào nói cho biết số người đi cùng.

Sau khi giới thiệu chúng tôi với anh Triều — lúc này tôi mới thật biết tên người chủ nhà — anh Nhất Quý nói qua tình hình công tác của chúng tôi. Anh Triều thì hình như rất quen với những chuyện người đến đêm hôm như thế. Anh ta làm cái gì cũng nhẹ nhàng, khi thật cần thiết mới nói, mà nói thì khe khẽ, như sợ mọi tiếng động dù nhỏ cũng có thể lọt ra ngoài được.

Chỉ một loáng đã thấy cơm dọn ra. Chỉ có một món : thịt gà nấu với măng chua. Có tiếng nhỏ nhẹ bằng tiếng Kinh nhưng phát âm còn pha tiếng miền núi :

— Các anh đi ăn cơm cho nóng sốt !

Chúng tôi thoáng nhìn nhau mà không nói nên lời. Lặng thầm thôi mà cảm thông với nhau hết sức. Nhà tôi vẫn nhớ là tôi ưa món măng chua, một món ăn mang tình cảm quê hương rất mặn nồng.

Cơm xong thì vừa tờ mờ sáng. Anh Triều nói qua tình hình ở đây cho mọi người biết. Và anh hất hàm ra phía ngoài, tiếp :

— Đây gần đường cái, bọn nó luôn luôn nhòm ngó. Nhưng chưa xảy ra chuyện gì. Mấy nhà chung quanh giác ngộ cả. Các đồng chí không phải lo. Ngày mai, tôi đi gặp các đồng chí, rồi ta sẽ bàn sau.

Tôi hỏi :

— Bây giờ chúng tôi ở đâu cho tiện? Liên lạc thế nào?


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:07:23 am
Anh Triều đáp:

— Cẩn tắc vô ưu ! Các đồng chí tránh lên bãi nương sau nhà. Chúng tôi sẽ cử người nghe ngóng tình hình chung quanh, bảo đảm an toàn.

Rồi anh Triều dẫn chúng tôi qua bãi nương, lên núi đá có cây, sau nhà. Chúng tôi tìm chỗ bằng phẳng định ngủ một giấc, nhưng rồi cũng chẳng ngủ được. Anh Nhất Quý và một số đồng chí nhìn ra chung quanh xem xét. Tôi giở bản đồ ra nghiên cứu...

Tối hôm đó, chúng tôi gặp các đồng chí Mùa, Đương, Triều, Vũ, Điện là các đảng viên ở Làng Mới để trao đổi tình hình. Chúng tôi rất mừng khi thấy anh em ở cơ sở hoạt động tốt và khẩn trương. Rồi chúng tôi đến nhà anh Nhì, chị Lẻn. Nhà này ở vào chỗ vắng hơn, gặp đồng chí mình và quần chúng cũng tiện, nhưng phải đi qua cánh đồng. Chúng tôi thấy ở lân, ở hang thì tương đối an toàn, song không tiện khi cần gặp quần chúng. Lúc bấy giờ, thấy có ông Chén, nhà ở cầu Tà Ma đi vào, có cái lợi là không phải qua đường cái, không phải qua cánh đồng — những nơi đông người, dễ bị người ta thấy — xuyên núi, xuống dốc là đến nhà ông ấy ngay, vừa giữ được bí mật, vừa tạo được thế bất ngờ khi có động.

Chúng tôi tổ chức nhiều cuộc họp, vạch ra nhiều phương án. củng cố các cơ sở cũ, điều tra nghiên cứu cơ sở mới, phát triển xuống Nà Khao hướng vào Cốc Lùng, Bãi Hội, đi dần vào dãy núi Hồng. Về phương án tìm bắt liên lạc với Trung ương, chúng tôi bàn đến chị Hai Cao.

Anh em ít chú ý đến chị này. Chị vốn là người miền xuôi, theo chồng lên Làng Mới làm ăn. Chị cũng là người giác ngộ. Chính anh Hai Cao là người đã đưa mấy đồng chí hiện nay là đảng viên ở Làng Mới vào Đảng. Sau khi chồng bị địch bắt, chị Hai Cao làm lụng vất vả để nuôi hai con. Tôi hỏi:

— Chị ấy là người thế nào? Có phải đảng viên không?

— Chưa phải đảng viên đâu ! Nhưng chị ấy tốt, chỉ biết làm ăn thôi mà ! — Đồng chí Đương đáp.

— Chị có hay đi thăm chồng không? — Tôi hỏi thêm.

— Không thấy chị ấy đi lần nào cả.

Tôi nghĩ bụng : «Thế là có đầu mối rồi!». Và tôi bày kế hoạch để anh em vận động chị Hai Cao đi thăm chồng và giúp đỡ chị cả tiền nữa để chị có thể đi được.

Anh em đã trình bày hết lẽ mà chị Hai Cao cũng không dám đi. Thật là gay go ! Nhưng dù thế nào cũng phải làm bằng được công việc này. Trước hết giải quyết tư tưởng cho chị Hai Cao; sau là tìm một người nữa đi cùng với chị.

Anh em gợi ý, giới thiệu người, có nhắc đến lên chị Mễ. Chị này góa chồng, buôn bán thạo, ăn nói lưu loát, nhanh nhẹn. Có đồng chí dáng suy nghĩ, gật gật đầu, nói: «Nhất túm mà lưỡng lợi đấy!» Ý nói: Dùng chị Mễ thì được hai cái lợi: một, chị Mễ sẽ đi với chị Hai Cao ; hai, chị Mễ thường hay đi lại nhà ông Tư ở Bãi Hội. Ông Tư sẽ trở thành một cơ sở rất tốt cho ta. (Về sau này, ông Tư là người đã đưa đường cho số anh em vượt ngục ở Chợ Chu về tới khu căn cứ an toàn).

Chúng tôi giao việc giác ngộ chị Mễ cho anh Đương, chị Đương, anh Triều.

Sau khi tuyên truyền giáo dục, động viên khuyến khích chị Mễ và thấy tương đối đã có kết quả, anh Đương đến báo cho chúng tôi biết.

Vào một buổi tối, tôi tới gặp chị Mễ ở nhà anh chị Đương. Không để chị kịp ngạc nhiên tôi thăm hỏi về tình hình buôn bán lời lãi và đời sống. Tôi cũng không quên nói tôi là người thân của anh chị Đương và anh Triều. Chị Mễ nhìn tôi chăm chăm. Rồi cái dáng người dong dỏng cao của chị hơi cúi xuống, chị bùi ngùi nói :

— Em đi chợ, nó chẹn đầu chẹn đuôi, có còn được bao nhiêu đâu !


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:09:08 am
Tôi khêu gợi cảnh nước mất nhà tan, gia đình mỗi người một nơi. Tôi cũng nêu ra để chị Mễ thấy chỉ có tham gia cứu nước mới là con đường sống.

Chị Mễ chép miệng :

— Đàn bà chúng tôi dù có muốn cứu nước, nhưng anh bảo làm gì được?

— Không phải thế đâu chị ạ ! Toàn dân, đàn ông, đàn bà, đều có thể cứu nước được cả. Mỗi người làm mỗi việc, dù việc nhỏ như giúp cán bộ hoạt động, cũng là cứu nước. Truyền cho một cái tin, đưa hộ cho một cái thư, cũng là cứu nước.

Chị Mễ trở nên bạo dạn hơn :

— Thế anh bảo tôi làm gì ?

Tôi nhìn chị đăm dăm, gật gật đầu, nói :

— Làm gì cũng có thể được. Cốt có quyết tâm hay không ! Có quyết tâm thì đẻ ra mưu trí ! Thiếu quyết tâm sinh ra vụng.

Chị Mễ ngồi im lặng, lắng nghe, vẻ mặt xúc động. Tôi nói tiếp:

— Làm cách mạng thì phải chịu khổ. Khổ trước, sướng sau. Hạnh phúc lúc đó mới lâu bền.

Đến đây, mắt chị Mễ sáng long lanh. Chị sôi nổi:

— Anh giao cho tôi việc gì nào?

— Chị có thể về Thái Nguyên được không? — Tôi hỏi.

Chị Mễ trả lời không trù trừ:

— Được!

Tôi bảo chị:

— Tốt lắm! Để dịp nào chị nhé !

Sau buổi ấy, tôi lại giao cho anh chị Đương theo dõi chị Mễ. Chị Mễ đứng không yên, ngồi không yên, khác hẳn mọi khi. Chị khoe với anh chị Đương : « Anh Tân Hồng chỉ bảo rõ lắm ». Số anh em theo dõi chị Mễ báo cáo : « Chị Mễ muốn được giao công tác lắm rồi ».

Còn chị Hai Cao thì anh em đã tốn công vận động chị đi thăm chồng mà chị ấy còn ngần ngại. Chị sợ mình lại bị bắt thì hai con bơ vơ không nơi nương tựa. Cuối cùng, nghe ra, chị cũng muốn đi nhưng lại sợ không dám đi một mình. Tôi đưa ý kiến để chị Mễ cùng đi với chị Hai Cao. Anh em tán thành và chị Hai Cao cũng bằng lòng.

Một hôm khác, tôi lại tới gặp chị Mễ ở nhà ông Chan, Tôi nói cho chị Mễ biết về chị Hai Cao. Chị Mễ rơm rớm nước mắt nói : «Cảnh ngộ chị Hai còn éo le hơn cảnh ngộ của em nhiều. Em thương chị ấy lắm».

Việc tìm giao thông đưa thư về căng Bá Vân như vậy đã tạm ổn. Bây giờ cần phải tiến hành gấp một công tác mới là điều tra nghiên cứu xem anh Hai Cao từ khi bị địch bắt đến giờ còn giữ được tinh thần bất khuất của người đảng viên Cộng sản hay không. Hoặc ít nhất cũng cần biết xem thái độ của anh Hai Cao trong căng Bá Vân ra sao. Công việc này cũng đòi hỏi thời gian và sự khôn khéo. Không phải mình mình làm được nên phải nhờ các đồng chí đảng viên ở địa phương giúp đỡ. Không làm tốt khâu công tác này thì hai chị giao thông của chúng tôi có thể bị bắt, bị tra tấn, công việc không những xôi hỏng bỏng không mà còn đi đến chỗ nguy hiểm nữa.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:11:33 am
Tôi tự đặt cho mình một kế hoạch công tác mới và nhờ tổ Đảng ở đây giúp một tay.

Mấy ngày sau đó, các đồng chí địa phương đã điều tra được thái độ của anh Hai Cao theo yêu cầu của tôi. Anh vẫn tốt.

Tôi viết thư cho anh Hai Cao.

Anh Hai Cao,

Tôi với anh xa nhau khá lâu nay, chúng tôi đi công tác xa về. Phong trào hiện nay mạnh và rộng, đang tốt. Chúng tôi cần tìm lạc với anh Vân. Nhờ anh chuyển thư này qua đường dây lạc cho anh Vân.


Ba

Tôi viết tiếp một cái thư thứ hai gửi Trung ương. Cả hai thư đều viết trên giấy mỏng, chữ nhỏ, bện chặt lại như hai tổ sâu, dán kín lại.

Buổi tối hôm đó, chị Mễ tới chỗ tôi hẹn gặp. Mục đích của tôi lần này là giáo dục bồi dưỡng thêm và giao công tác cho chị. Gặp chị, lúc đầu tôi chỉ nói chuyện làm ăn, sức khỏe... Một lúc lâu, không thấy tôi đả động gì đến chuyện trước, chị Mễ gặng hỏi :

— Anh bảo tôi làm gì cơ anh?

Tôi nhìn chị, nghiêm trang nói :

— Đoàn thể hôm nay giao cho chị một công tác. Chị đi cùng với chị Hai Cao đến căng Bá Vân thăm anh Hai Cao, và đưa cho anh ấy cái thư này — Tôi giơ bức thư trước mắt chị và nhắc lại rành rọt từng tiếng một, vì e rằng trong những phút xúc động này chị ấy chưa nghe ra — Chị cùng với chị Hai Cao đến căng Bá Vân thăm anh Hai Cao, rồi đưa cho anh ấy hai cái thư này. Chị nhận là em dì họ chị Hai Cao. Gặp anh Hai Cao, chị cứ nói chuyện bình thường, không phải nói gì khác. Đưa được thư là thành công.

Rất nhanh nhẹn và thông minh, chị Mễ lận cái thư gửi anh Hai Cao vào trong vành khăn, còn cái tổ sâu thứ hai thì đút vào gấu áo cánh nâu của minh. Tôi tả cho chị nghe về hình dạng của người sẽ nhận thư để chị đỡ ngạc nhiên khi tới gặp hoặc để khỏi lầm với người khác.

Trước khi chị lên đường, tôi dặn dò thêm về công lác bí mật, rồi nói:

— Bí mật được là thành công!

Anh em chúng tôi giúp đỡ hai chị mọi thứ cần thiết để đi được thuận lợi. Và chúng tôi coi như việc đã trót lọt, «chỉ còn chờ kết quả tốt».

Một tuần lễ qua đi.

Vào một đêm, được tin cơ sở báo cho biết chị Mễ và chị Hai Cao đã về, tôi vội đến ngay. Chị Mễ trả lại tôi một cái tổ sâu ! Tôi cầm lấy : dấu tôi dán vẫn còn nguyên! Chưa có ai đụng tới nó ! Thế là thế nào nhỉ? «Tại sao anh Hai Cao lại không nhận?». Trong đầu óc tôi, dồn dập bao nhiêu câu hỏi. Kết quả trái ngược hẳn với điều mong đợi của chúng tôi.

Chị Mễ nói:

— Anh Hai Cao nhận cái của anh ấy thôi. Xem xong, anh ấy hỏi em là «ai bảo đưa, người như thế nào, bao nhiêu tuổi, tại sao lại quen». Em biết thế nào thì nói thế thôi. Anh ấy nhìn em lâu lắm mà không nói. Rồi anh ấy bảo chúng em chờ vài hôm. Anh ấy không nhận cái này đâu — chị Mễ chỉ vào cái tổ sâu tôi cầm — em chờ mất hai ngày đấy. Gớm cái anh Hai Cao ! Em thấy thật đúng như lời anh Tân Hồng nói, người đâu mà nóng tính. Em vừa hỏi tại sao anh không nhận thì anh ấy đã xua em như xua tù và mặt đỏ lên : «Thôi cứ mang về ! Chưa biết thế nào !» Trông anh ấy sợ sợ là. Em không dám hỏi thêm.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:12:14 am
Tôi nhờ chị Hai Cao đi là để lấy đó làm chỗ dựa để chị Mễ đưa được cái thư cho anh Hai Cao. Và tôi tin rằng hai chị không nói sai. Tôi ôn lại từng động tác và lời nói của anh Hai Cao mà chị Mễ vừa nói cho tôi nghe. Tuy tôi không trực tiếp có mặt ở đấy, tôi cũng có thể đoán được tâm trạng của anh Hai Cao khi nhận thư tôi viết cho anh. Mới có tên «Ba» và «đi công tác về» thì có gì đủ bảo đảm để anh Hai Cao tin rằng đây không phải là của giả mạo? Đặt giả thiết tôi là Hai Cao, với bức thư và người đưa thư như vậy, tôi cũng phải suy nghĩ, chứ chưa nói là đặt thành vấn đề nghi ngờ ! Nghĩ đến đây, tôi rất đồng tình với tinh thần cảnh giác cách mạng của Hai Cao : trong tù, không thể dễ dãi quá được. Quá dễ dãi thì sai nguyên tắc, có hại cho Đảng. Phải làm thế nào cho anh em trong ấy đù tin thì « họ mới nhận giúp mình ».

Thấy tôi đứng lặng người, chị Hai Cao như sắp khóc:

— Em được gặp mặt nhà em. Công việc Đoàn thể giao cho, em lại không làm được. Em áy náy quá, mà cũng không dám hỏi nhà em vì sao nữa !

Tôi nói:

— Cảm ơn hai chị. Thôi được ! Giờ thì hai chị cứ về nghỉ đã. Không cần nói với ai cả, hai chị nhé !

(Tôi đoán quả không sai ! Sau này khi ra tù, anh Hai Cao mới kể lại cho tôi nghe ngọn ngành câu chuyện này. Thì ra lúc nhận thư tôi, anh Hai Cao cũng nửa tin nửa ngờ. Nhất là khi thấy chị Mễ. Hồi anh còn công tác ở Làng Mới, chưa bị bắt, tuy anh là người tuyên truyền và đưa anh Đương, chị Đương, anh Triều vào Đảng, anh vẫn không ưa chị Mễ vì cho chị là con người buôn bán, không chân chất như những chị em khác làm ruộng làm nương. Anh Hai Cao mang bức thư tôi viết đến báo cáo với đồng chí Trần Huy Liệu lúc đó ở trong Ban lãnh đạo nhà tù. Đồng chí Liệu xem thư xong, bảo Hai Cao : «Không khéo vớ phải thằng mật thám thì bỏ mẹ!».— Anh em ta trong các nhà giam của phát-xít Nhật — Pháp đã có kinh nghiệm xương máu rồi).

Mấy hôm sau nữa, sau khi chuẩn bị tư tưởng cho hai chị chu đáo hơn, dặn dò kỹ anh chị Đương hết sức giúp đỡ hai giao thông mới này, tôi hỏi chị Mễ :

— Lần sau chị có dám đi nữa không ?

Nghĩ một lát, chị đáp:

— Em đi được ! Anh bày cho em là em làm được.

Tôi hỏi lại chị Hai Cao :

— Còn chị thế nào?

— Được anh ạ ! Lần này em sẽ hỏi kỹ nhà em !

Tôi lắc đầu :

— Chỉ cần chị đến đấy thôi ! Chị không phải hỏi gì thêm. Chị cứ tự nhiên như lần trước. Có gì đã có chị Mễ... Mấy lại, lần này sẽ không có gì trở ngại nữa đâu...

Tôi nói cốt để cho các chị yên tâm mà đi. Thế là tốt rồi, tôi nghĩ, hai chị đi còn tốt hơn là đi tìm chọn người khác : công việc sẽ phải làm lại từ đầu, vừa mất công sức, vừa mất nhiều thời gian. Tôi về trao đổi với anh em trong chi bộ địa phương xem anh em có kế gì hay không. Tôi cố nhớ lại những gì mình biết ở đồng chí Hai Cao, dù là những việc rất nhỏ dường như không có ý nghĩa gì lúc thường ngày, rồi viết một thư riêng cho đồng chí Hai Cao ngoài cái thư gửi cho Trung ương :

Anh Hai Cao!

Hồi tháng 8-1939 ổi đang chín rộ. Anh đến gặp tôi. Đi qua nhà Mít ở Đình Cả lên nhà nhưng nhà tôi đông người phải bố trí ở nhà Dục Tôn. Tôi với anh đi từ nhà Dục Tôn theo đường mòn lên sau nhà. Đến gốc tre xung quanh có nhiều cây tôi cùng anh dừng lại trao đổi công tác. Vừa nói chuyện tôi vừa vít cành hái ổi đưa anh. Anh còn nhớ không ?

Tình hình bây giờ sáng sủa rồi. Tôi mới công tác ở ngoài về, có nhiệm vụ liên lạc với Trung ương. Nhờ các anh chuyển giúp thư này ngay. Việc có ý nghĩa quyết định vận mệnh phong trào địa phương, mong anh hết sức giúp.


Ký tên Ba


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:13:07 am
Tôi giao thư dán kín cho chị Mễ để đưa cho anh Hai Cao. Hai chị đi rồi, mấy ngày sau là mấy ngày chờ đợi căng thẳng hết sức. Tôi tin rằng anh Hai Cao còn một lòng với Đảng ắt sẽ làm theo yêu cầu của tôi. Thời gian lúc này sao chạy chậm rì! Tuy biết hai chị còn phải đi trên đường, phải gặp được anh Hai Cao, nếu không gặp điều gì trắc trở cũng còn lâu mới trở về được nhưng chiều chiều, đêm đêm, tôi vẫn cứ ngóng đợi, ngay từ sau hôm hai chị đi khỏi Làng Mới.

Mấy ngày sau, hai chị về. Tôi lại ngay nhà chị Mễ. Chị lần trong vành khăn, đưa cho tôi một cái thư tổ sâu, hớn hở nói :

— Anh Hai Cao nhận thư rồi, anh ạ ! Có thư trả lời anh đấy !

Tôi sướng quá muốn reo lên cho hả. Tuy đã cố trấn tĩnh lòng mình mà tay tôi cầm bức thư tổ sâu của anh Hai Cao cứ run lên vì xúc động. Tôi lần giở ra nhẹ nhàng. Một mảnh giấy nhỏ thế này thôi nhưng anh Hai Cao chắc đã phải tìm mãi mới được. Đến cả cây bút chì anh dùng để ghi những dòng chữ này cũng không dễ gì kiếm được ở trong một trại giam như căng Bá Vân.

Anh Ba

Đã nhận được thư anh. Tôi đã chuyển thư anh dặn. Chúc anh khỏe.


Ký tên: Hai Cao.

Thư chỉ vẻn vẹn có bấy nhiêu chữ mà sao tôi thấy ấm áp trong dạ, trong tim một cách lạ lùng. Như vậy là anh Hai Cao đã «thấy» được tôi, đã nhận ra tôi.

Tin đi rồi, nhưng tin trở lại vẫn chưa tới. Đêm ngày chúng tôi mong ngóng liên lạc dưới xuôi lên như hạn hán mong mưa.

Cơ sở Đảng và phong trào quần chúng mỗi ngày một rộng và được củng cố. Lúc này từ Bãi Hội, trung tâm của căn cứ đến Cốc Lùng, Nà Khao, v.v. đều thành những cơ sở vững vàng. Anh em chúng tôi đi đến đâu cũng tuyên truyền, tổ chức quân chúng đến đấy.

Tại Cốc Lùng, mùa lúa đang xanh. Chúng tôi đang say sưa công tác. Một buổi chiều mưa, anh Đương quần sắn đến quá gối, tay chống chiếc gậy tre, mặt mày hớn hở đến tìm tôi. Tôi hỏi :

— Có việc gì?

— Có cái... thư —anh đáp trong tiếng thở gấp —và có người tìm anh.

— Nam hay nữ ? — Tôi hỏi ngay.

— Nữ!

— Nữ xuôi hay nữ ngược?

— Nữ xuôi — Anh Đương vừa nói vừa dỗ dỗ một cái thư tổ sâu ra, rồi đưa cho tôi.

Tôi giở ra. Đó là một bức thư viết từ Làng Mới, chữ viết mảnh dẻ, ngoằn ngoèo.

«Có việc cần, mời anh về ngay !».

Anh Đương trông ra ngoài, kêu lên sung sướng :

— Tạnh mưa rồi! Ta đi thôi !

Chỉ một loáng là chúng tôi đã về đến Làng Mới. Và chỉ ba bước tôi đã vào nhà anh Đương rồi.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:13:33 am
Lúc này vào khoảng bảy, tám giờ tối. Nhà chỉ có một ngọn đèn con. Trong cái ánh sáng vàng đỏ đó, một chị phụ nữ trẻ, đầu đội khăn vuông, mặc chiếc áo cổ thìa nhuộm nâu non đang ngồi bên cạnh cái bàn chõng tre. Tôi chủ động chào trước :

— Chị mới lên à?

Chị nhìn tôi rồi đáp :

— Em vừa mới lên chiều—và chị hỏi ngay —Anh có phải anh Ba không?

— Vâng, tôi là Ba !

Chị nhìn tôi, đầu nghiêng nghiêng như lắng nghe giọng nỏi của tôi. Còn tôi thấy chị đến, mừng có mừng nhưng cũng đề phòng. Tôi hỏi :

— Các anh có khỏe không?

— Khỏe thôi ! — Chị nhìn tôi từ cái tóc đến cái áo tôi mặc trên người, cắn cắn môi rồi hỏi tôi rất đột ngột — Anh có biết anh Vân không ?

— Có biết qua !— Tôi trả lời khiêm tốn.

Đôi mắt chị càng như xoáy vào và chị lại hỏi :

— Anh Vân người thế nào?

Lần này thì tôi trả lời rành mạch, giọng nói dứt khoát :

— Anh Vân ở nhà tôi luôn. Hồi anh hoạt động ở nước ngoài, thử chất nổ, nó bắn vào mí mắt thành cái sẹo con. Người anh tầm thước, gò má xương xương, tóc đen và dựng ngược, lông mày đậm...

Trước khi đi công tác, chắc là chị đã được anh Vân tả hình tôi ra sao, giọng nói như thế nào. Lúc này nét mặt chị càng rạng rỡ, đôi mắt chị chớp chớp nhìn tôi, tin cẩn và thân mật hơn. Chị liếc nhìn về phía gia đình anh Đương ngồi ở góc nhà, rồi để ra bàn hai bao thuốc lá « Bát-tô », một bao nguyên, một bao dở, nói :

— Các anh gửi thuốc lá cho anh đấy !

Tôi biết ý, nhẹ dốc bao thuốc ngỏ ra, rút lấy một điếu. Tôi nắn diếu thuốc. Điếu thuốc không có gì. Tôi rút điếu thứ hai, thấy cưng cứng. Tôi bẻ điếu thuốc. Một cái tăm bằng giấy cuộn nhô ra. Lòng tôi trào lên một niềm vui sướng khôn cùng. Thư viết trên giấy cuốn thuốc lá. Nét chữ của anh Vân đây. Và tên anh Vân ký đây ! Tôi ngẩng lên, thấy chị giao thông mím một nụ cười hoan hỉ. Chị cũng vui sướng như tôi. Tôi đọc đến mấy lần bức thư này:

Anh Ba

[/i]Thư anh tôi đã nhận được. Như thế là tốt. Tình hình phong trào ở dưới này tốt, đang phát triển. Binh vận cũng tiến bộ. Các anh về như thế là rất thuận lợi.

Chúng tôi chưa lên được. Bao giờ thu xếp được sẽ lên gặp nhau.

Bây giờ phải phát triển phong trào, phải kín đáo, bí mật. Đang thời tập trung lực lượng đánh thông con đường Bắc tiến. Cơ sở trong nhà tù Chợ Chu có mối. Bây giờ chưa giao. Sau này sẽ giao cho các anh. Việc này phải thật bí mật. Chỉ mình anh biết thôi.

Mong sao phong trào phát triển lên. Thư sau sẽ giới thiệu mối.[/i]

Vân


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:13:57 am
Mắt tôi mờ đi vì quá xúc động hay cây đèn nhỏ xuống ngọn? Đây là những lời chỉ bảo của Trung ương mà anh Vân là người thay mặt viết cho tôi. Tôi lặng đi một lúc lâu rồi mới hỏi chị giao thông một câu mà khi nói xong tôi mới thấy là thừa:

— Phong trào ở dưới ấy có khá không, đồng chí ?

Chị giao thông lại mỉm cười nói:

— Trong thư chắc viết cả rồi!

Tôi cũng cười vui. Từ lúc ấy, chúng tôi mới thổ lộ thật sự tình đồng chí. Tôi lại hỏi:

— Anh Vân khỏe chứ ? Đồng chí có ở gần anh ấy không ?

— Anh Vân khỏe, đồng chí ạ !... Tôi là giao thông nên lúc ở gần lúc ở xa.

— Anh Sơn, anh Chính, anh Ninh khỏe cả chứ ?

— Khỏe cả, đồng chí ạ!

Tôi nghĩ đến các anh giờ ở xuôi, ở giữa một nơi mà kẻ thù đóng dày đặc hơn, các anh lại không có nhiều vũ khí tự vệ, không có núi, có rừng như chúng tôi ở đây. Ở miền xuôi lúc này các anh chỉ có tránh, chứ chúng tôi ở đây, lúc nào cần thiết chúng tôi có thể chặn đánh bọn mật thám đi lùng sục hoặc tổ chức phục kích bọn lính đi khủng bố: chúng tôi đã có vũ khí trong tay mà lòng dân thì hướng tất cả về cách mạng. Tôi hỏi chị giao thông với một giọng lo lắng :

— Bọn chó lùng có riết lắm không ?

— Cũng khá đấy, đồng chí ạ!... Được cái nhân dân rất tốt, có động là báo cho biết ngay để tránh.

Chị giao thông đáp với một vẻ đầy tự hào. Tôi nhìn chị, vừa mến yêu vừa cảm phục: một người con gái thông minh, dũng cảm dám đi hiên ngang giữa bầy sói có súng ống đầy đủ, tìm được đến chỗ tôi. Hình ảnh của chị và công tác chị đang làm nhắc tôi nhớ đến lời dặn của Ông cụ Thu Sơn khi tôi rời Pác Bó: «Nắm chắc giao thông, quyết định nhanh chóng, truyền đạt kịp thời ». Đêm đã khuya mà chuyện vẫn còn muốn nói mãi. Nhưng sáng sớm mai chị giao thông đã phải trở về. Tôi mời chị đi nghỉ. Tôi cũng sang nhà khác, nằm nghỉ một tị rồi ngồi dậy viết lá thư thứ hai cho anh Vân.

Lòng tôi theo từng nét chữ, từng câu viết cho anh :

Anh Vân

Chung quanh thị trấn Chợ Chu có cơ sở tương đối rộng. Vùng người Dao có nhiều cơ sở tốt lắm. Đại Từ đã khôi phục. Bên Võ Nhai, phong trào mạnh hơn, rộng hơn, lan cả sang Yên Thế, Đồng Hỷ. Anh cho liên lạc lên bắt mối, nắm trực tiếp đi. Đường thông đi Cao Bằng chúng tôi đã lên Chợ Đồn. bây giờ tiến lên Chợ Rã. Phong trào lên rộng quá. Cán bộ thiếu quá. Các anh giúp cho.

Đề nghị các anh lên khu căn cứ. Chúng tôi có đủ lực lượng bảo đảm an toàn.


Ba

Tôi đọc lại lá thư lần nữa. Giá có anh Vân ở liền, báo cáo của tôi sẽ tỉ mỉ, chi tiết hơn. Với một mẩu giấy mỏng như giấy cuốn thuốc lá, dù chữ viết có nhỏ lí ti, lời văn ngắn gọn để tiện cho chị giao thông mang đi qua vòng vây của kẻ thù, sao có thể nói hết được nỗi lòng mong nhớ các anh ! Tôi vê thư lại, đút vào giữa một điếu thuốc lá rồi bỏ vào bao nguyên, niêm tem lại như cũ.

Vừa ngả lưng xuống giường thì gà đã gáy rộ...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:14:34 am
*
*   *

Làng Mới một buổi sáng mùa Thu năm 1943.

Đồng chí nữ giao thông xuôi, mang theo thư của chúng tôi. Tôi nhìn bóng dáng người con gái nhanh nhẹn và dũng cảm ấy cho đến khi khuất hẳn. Nhớ lại cả một quá trình công tác và đấu tranh của Cứu quốc quân và nhân dân địa phương chống thực dân Pháp, phát-xít Nhật và tay sai của chúng, tôi thấy tự hào và càng thấy lời Ông cụ Thu Sơn dúng quá: «Làm cách mạng có nguy hiểm. Các mánh khóe của địch tàn bạo, xảo quyệt vô kể. Ta phải tỉnh táo, phải kiên trì, gan dạ, không khuất phục trước uy vũ ; đầu đội trời, chân đạp đất, đứng vững vàng mới kéo được dân. Lại phải giữ bí mật, biết bảo vệ mình, nâng cao giác ngộ cho quần chúng». Làng Mới trước đây trống trải, nay đã trở thành nơi liên lạc đầu mối nằm lọt vào giữa những cơ sở dày đặc của ta. Phong trào quần chúng, cơ sở Đảng lúc này đã khá mạnh. Vùng Định Hóa trở thành trung tâm của khu căn cứ. Cứu quốc quân lớn lên trong đấu tranh, trở thành một lực lượng vũ trang nòng cốt của phong trào quần chúng. Từ khu căn cứ, cơ sở đã mở rộng ra khắp nơi.

Tôi càng nghĩ càng thấy phấn khởi lạ lùng...

Một thời gian khá lâu sau, một chị giao thông khác lên Làng Mới tìm gặp tôi để đưa cho tôi bức thư thứ hai của anh Vân. Anh Vân viết:

Anh Ba

Nhà giam Chợ Chu đã có liên lạc. Cơ sở binh vận đã có. Các đồng chí liên lạc kết hợp đẩy mạnh phong trào. Cán bộ ở trong nhà tù Chợ Chu ấy.

Kiên quyết đánh thông đường Bắc Sơn — Cao Bằng càng sớm càng tốt.

Một ngày gần đây, tôi sẽ lên khu căn cứ.


Vân

Tôi như nhìn thấy đôi mắt trong sáng với đôi lông mày đậm của anh Vân đang nhìn tôi. Từ nay, được Trung ương trực tiếp chỉ đạo, phong trào lại đang lên, lòng càng phấn khởi bội phần...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:15:14 am
X

Cuối năm 1943, tôi nhận được một bức thư của anh Văn đưa đến bằng đường giao thông đặc biệt.

Thư chỉ có mấy dòng :

Anh Tân Hồng,

Độ hạ tuần tháng 11 ta, xuống gặp anh. Sẽ trao đổi tình hình công tác sau.


Ký tên Văn

Để tiện đường cho anh Văn đi lại, tôi hẹn gặp anh ở Khuổi Tà. Anh Văn sẽ từ Bản Pình, Bản Pài xuống. Tôi sẽ từ Khuổi Phát qua đồn Cóc lên. Trước đây, muốn đi lên Cao Bằng hay từ Cao Bằng xuống, chúng tôi phải đi vọt sang nước bạn rồi mới vòng lại, phí mất bao nhiêu là thời gian và sức lực. Sau Hội nghị Lũng Hoàng, nhờ các mũi Bắc tiến và Nam tiến nay đã đi được bằng đường ở trong nước. Một hành lang chính trị đã được đánh thông nối liền hai căn cứ địa Cao Bằng và Bắc Sơn — Võ Nhai, tạo điều kiện cho việc ra đời của khu Giải phóng sau này.

Đoàn chúng tôi gồm có các đồng chí Hòa, Thánh, Hồng Thái và mấy đồng chí vừa đi đánh thông đường từ phía bắc trở về là các anh Nhất Quý, Hoàng Thượng và Hà Châm. Tất cả đều mang súng, người súng kíp, kẻ Dóp 3, khai hậu, còn tôi vẫn dùng khẩu pạc-hoọc có từ lâu. Suốt mấy giờ đi trong đêm tối, toàn ngược suối. Suối nhỏ nhưng đá lởm chởm khó đi, thinh thoảng có thác phải đi vòng qua. Đi theo suối ngược lên độ tám, chín cây số, rồi đi thoai thoải lên một ngọn núi trên toàn những cây dẻ, cây hồng dắc. Trên đỉnh núi, có một xóm người Mèo. Đó là Khuổi Tà, được chọn làm nơi gặp gỡ giữa đoàn anh Văn và chúng tôi.

Chúng tôi tới Khuổi Tà trước để chuẩn bị cho cuộc họp mặt này. Nhà chúng tôi ở là một gia đình nghèo, một gian hai chái, có mấy cái giường. Chủ nhà là hai vợ chồng ngoài ba mươi tuổi và mấy đứa con còn nhỏ cả.

Dạo này, khắp nơi nhộn nhịp không khí chuẩn bị khởi nghĩa.

Buổi trưa hôm ấy, tôi cũng không nhớ đích xác là ngày nào, chỉ nhớ là đồng lúa vừa gặt xong, gốc rạ vẫn còn tươi. Nhìn ra ngoài, các cây hồng sắc khỏe khoắn đầy ánh nắng. Tôi đang ngồi làm việc thì có một đội viên Cứu quốc quân vào báo: «Anh Văn đến!». Tôi mừng quá, vội vàng cùng anh em ra đón.

Anh Văn kia rồi ! Trông anh vẫn như hồi tôi gặp ở hội nghị Lũng Hoàng. Đồng bào địa phương thấy nói có khách đến, người từ cửa sổ ngó đầu ra, người ra bờ rào đứng nhìn, kẻ đứng ở sân trông ra.

Hai chúng tôi niềm nở bắt tay nhau. Chúng tôi cùng hỏi nhau một lượt: «Có khỏe không, đồng chí ?». Và cả hai cùng nhìn nhau chằm chắm, rất lâu, rồi cùng cả cười, sung sướng.

Sau cái phút ấy, tôi bỗng nghe thấy một tiếng kêu mừng rỡ :

— Cậu!

Và một bóng người vồ lấy tôi. Tôi ngoảnh lại và reo lên:

— Cháu Hiền ! Kín tiếng thế ?

— Còn chờ hai Ban chỉ huy bắt tay nhau đã chứ ! — Hiền vừa cười vừa nói —Trông thấy cậu từ đằng xa, cháu đã nhận ra cậu ngay rồi, muốn vồ lấy cậu ngay rồi đấy !

Hiền là một trong những đồng chí Cứu quốc quân được chúng tôi để lại sau hội nghị ở hang Lũng Hoàng, giúp anh Văn trong vấn đề Nam tiến. Nay Hiền đi cùng với anh Văn về đây. Sau hơn một năm trời đi công tác, Hiền rắn rỏi thêm ra. Tôi cũng mừng là được sự dìu dắt của anh Văn, Hiền trưởng thành thêm một bước.

Các đồng chí trong đoàn anh Văn kể chuyện trèo đèo lội suối từ Bản Pình, Bản Pài đến đây. Các anh đi qua đường Bạch Thông, rồi đi khoảng hai, ba đêm qua những vùng đồng bào Mán Tiền và chặng đường đêm cuối cùng là qua làng Cóc.

Tôi đưa các anh vào nhà. Ông chủ nhà đang ngồi trên giường. Anh Văn chào bằng tiếng Mán :

— Ông dâm pieo la ? (Ông ở nhà à ?).

Chủ nhà thấy người khách mới đến ăn mặc khác anh em ở đây lại nói được tiếng dân tộc thì nhìn chằm chằm rồi đáp :

— Pieo nhe ! Cá tài chải nai à ? (Ở nhà thôi ! Anh vừa đến đây à ?).

— Coòng hà mình giả hào à ? (Trẻ con nó đi chơi à ?)

Chủ nhà gật đầu :

— Mình giả lìu à. (Trẻ con đi chơi rồi).

Tôi giới thiệu với ông chủ nhà :

— Đây là đồng chí ở Cao Bằng về !

— Ừ ! Ngồi chơi. Uống nước ! Đói thì ăn cơm !

Anh Văn cười hiền lành :

— Bọn tôi vừa ăn xong. Lúc nào đói thì xin ăn !...

— Ừ!—Chủ nhà đáp.

Rồi hai người bàn đến chuyện làm nương, chuyện săn bắn, có vẻ ý hợp tâm đầu lắm.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:15:45 am
*
*   *

Sáng hôm sau, ăn cơm xong, độ tám, chín giờ, chúng tôi mới kéo nhau ra bai nương họp. Tuy chủ nhà là quần chúng tốt nhưng không thể bàn những vấn đề quan trọng trong nhà dân được.

Trên nương có một cái lán nhỏ đồng bào để ít thóc và đặt con nhỏ tránh nắng khi phải đi làm nương, nhưng lán nhỏ không đủ chỗ ngồi. Chúng tôi xuống gần khe, họp trong bóng râm của những cây lớn có cành lá sum sê. Chúng tôi chặt lá cọ rải xuống bờ suối. Về phía chúng tôi có các đồng chí Nhất Quý, Châm, Thượng, Hòa.

Anh Văn về đây là để nắm được tình hình mọi mặt của chúng tôi ở dưới này. Rồi anh sẽ về xuôi báo cáo với Trung ương tình hình hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn — Võ Nhai.

Mở đầu cuộc họp, tôi báo cáo tình hình ở dưới này, nhất là vấn đề tiếp tục đánh thông đường lên Cao Bằng, vấn đề Bắc tiến, vấn đề cán bộ...

Anh Văn nghe rất chăm chú và hỏi thêm vấn đề giao thông về xuôi, vấn đề liên lạc với Trung ương.

Dưới ánh sáng tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ tám về vấn đề «duy trì và phát triển cơ sở du kích ở Bắc Sơn — Võ Nhai, đồng thời ra sức củng cố và mở rộng cơ sở Cao Bằng, xây dựng hai nơi đó làm trung tâm của công tác chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc», chúng tôi trao đổi nhiều vấn đề quan trọng liên quan tới hoạt động của hai khu căn cứ.

Anh Văn nói:

— Tình hình chung rất tốt. Phong trào Bắc Sơn — Võ Nhai và Cao Bằng đã phát triển rộng. Chúng ta nên tiếp tục củng cố khu vực Chợ Đồn — Yên Sơn — Đại Từ — Phú Lương thành hành lang sang Võ Nhai, vừa hướng đường hoạt động về xuôi, vừa chú ý củng cố đường liên lạc về Cao Bằng; phía nam cũng tổ chức từng mũi đánh xuống. Hai khu căn cứ được nối liền và Chiến khu sẽ rộng tới Tam Đảo... Đặc biệt đường liên lạc về Ban Thường vụ Trung ương làm sao cho thật thông suốt lúc nào về cũng được, đi cũng được, để có thể kết hợp chặt chẽ với phong trào cả nước.

Anh dừng lại, suy nghĩ một chút, rồi nhìn tôi, sôi nổi nói tiếp:

— Tôi quay lên Cao Bằng, bàn giao nhiệm vụ rồi trở lại đây ngay. Rồi ta cùng đi gặp Thường vụ báo cáo.

Anh còn đề nghị lúc đó sẽ cùng chúng tôi tổng kết một số vẩn đề quan trọng như chuẩn bị khởi nghĩa, đánh thông đường, nhất là giao thông về xuôi, huấn luyện đào tạo cán bộ...

Bóng chúng tôi ngả dài trên bãi nương thì cuộc họp cũng vừa kết thúc. Từ bãi nương về nhà, hai chúng tôi đi bên nhau. Anh Văn vui lắm, nét mặt anh rạng rỡ. Lòng tôi cũng rộn vui một nỗi vui và một niềm tin tưởng đặc biệt. Phong trào lớn lên vượt bậc. Lại bắt được liên lạc với Trung ương rồi. Cái thế chân kiềng của ba trung tâm Cao Bằng, Định Hóa — Sơn Dương và Bắc Sơn — Võ Nhai, hoạt động có liên quan với nhau, và từ cả ba trung tâm ấy đều về Trung ương ở dưới xuôi được, như bày ra trước mắt chúng tôi.

Chúng tôi chia tay nhau, hẹn một ngày gần đây gặp lại. Nhưng ngay sau đó diễn ra cuộc khủng bố lớn của địch vào Cao Bằng — Bắc Cạn. Con đường Nam tiến bị đứt nhiều quãng. Điều anh Văn và tôi hẹn gặp lại nhau ở Khuổi Tà không thực hiện được!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:16:18 am
*
*   *

Công tác vận động quần chúng ở khu vực Bắc Sơn—Đình Cả được đẩy mạnh, có kết quả tốt. Các đoàn thể cứu quốc và Ủy ban Việt Minh được tổ chức khắp các xã, thay thế dần chính quyền của địch, Nhân dân cung cấp cho quân du kích khá đầy đủ về mọi mặt, giúp cho lực lượng vũ trang cách mạng không ngừng lớn mạnh.

Song song với Cứu quốc quân đang ngày một phát triển, các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu được thành lập ở khắp căn cứ địa và được huấn luyện quân sự một cách ráo riết. Tháng 2 năm 1944, anh Chính tới Khuổi Phát (huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang). Cùng đi với anh có đồng chí Cam.

Trông anh Chính vẫn như hồi hai năm trước đây, chỉ khác là lần này anh đội chiếc mũ lưỡi trai, mặc quần áo nâu, chân đi đôi giày păng-túp. Anh vui hơn những ngày trước vì không khí những ngày này vui và phấn khởi hết sức: phong trào cách mạng đang phát triển mạnh và đều khắp. Nhiều cơ sở trong nhà tù đã bắt được liên lạc với cơ sở bên ngoài. Cứu quốc quân phát triển mạnh, nối liền Tuyên Quang—Thái Nguyên với Cao Bằng, hình thành khu giải phóng. Mùa xuân lại về. Cái Tết cổ truyền đã đến.

Bắt được liên lạc với Trung ương ở dưới xuôi chỉ bằng thư từ lần trước sau hơn hai năm mất liên lạc, nay Trung ương lên thật rồi! Lại được những lời chỉ bảo của Trung ương. Chúng tôi thấy như núi rừng cũng khoác một tấm áo choàng màu xanh tươi đẹp, bầu trời và mặt đất cũng tươi vui lên với các cây hồng sắc, cây dẻ, dằm đeng (gỗ lát), cây lim chắc, khỏe vươn mình dậy chào đón.

Tại Khuổi Phát, Ban lãnh đạo Cứu quốc quân báo cáo với anh Chính về tình hình chung, về những sự việc lớn sau khi anh Chính về xuôi, những ưu điểm và những khuyết điểm, những bài học rút ra từ những công việc Cứu quốc quân đã làm. Việc nắm tình hình các cơ sở từ cả hai vạt dãy núi Hồng rất là khó. Đã vậy Bắc Sơn —Võ Nhai, Đại Từ — Định Hóa —Sơn Dương —Yên Sơn cũng cần đến sự chỉ đạo sát sao mà người chúng tôi ít, trình độ, năng lực bị hạn chế. Đường lên Cao Bằng bị tắc, Cứu quốc quân đang cố gắng nối lại... Nghe đến đây, anh Chính gật đầu, cắt ngang :

— Trung ương cũng cần bộ phận ở trên đó lắm !

Tôi bổ sung thêm:

— Khu vực Tuyên Quang đã có cơ sở rộng rãi. Số anh em Cứu quốc quân cũng tăng nhiều. Địa bàn hoạt động cũng sẽ rất rộng. Chúng tôi tính, ngoài số anh em từ trung đội Cứu quốc quân II còn có hơn một tiểu đội mới ở Cao Bằng về, bên Tuyên Quang này có các đồng chí Hà Châm, Thánh, Phương Cương, Chu Phóng, Ân, La, Lê, Tài, Bạo, Tiến và một số nữa khoảng ba tiểu đội. Bên này phát triển, bên Tràng Xá — Võ Nhai cũng sẽ phát triển. Theo chúng tôi, với tình hình mới, ta nên thành lập trung đội Cứu quốc quân thứ ba. Xin ý kiến của Trung ương!

Anh Chính nói:

— Lên thăm các đồng chí lần này, chúng tôi thấy phấn khởi lắm. Tôi rất đồng ý với nhận định cũng như chương trình kế hoạch phát triển phong trào của các đồng chí. Địa bàn hoạt động của ta rất rộng, nhiệm vụ rất nặng. Tôi tán thành việc thành lập một trung đội Cứu quốc quân nữa. Nhiệm vụ của nó có những gì ? Chúng tôi thấy như thế này: Một, tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng, biến vùng này thành khu trung tâm thứ ba, mở rộng phong trào, mở đường Bắc tiến, đồng thời đánh thông xuống Đại Từ để đường liên lạc với Trung ương được gần hơn, thông đường xuống Lập Thạch (phía nam Tuyên Quang), bảo vệ căn cứ địa, tổ chức giao thông đặc biệt bảo vệ các đồng chí lãnh đạo đi, về... Hai, nhiệm vụ này khá quan trọng đây, đó là chống khủng bố. Như các đồng chí báo cáo, ở Định Hóa, đồn Cóc, địch đã bắt của ta mấy người rồi. Ta đã có kinh nghiệm Bắc Sơn... Nhiệm vụ thứ ba Trung ương giao cho các đồng chí là liên lạc với trong nhà tù và các trại giam đưa anh em cán bộ mình ra.

Anh Chính dừng lại giây lát, rồi tiếp:

— Có một việc báo để đồng chí rõ là : Xứ ủy có chủ trương đưa nữ đồng chí Vinh ra khỏi nhà lao Tuyên Quang. Vinh là một cán bộ giao thông liên lạc của Đảng, chắc đồng chí chưa gặp lần nào. Trung ương có liên lạc với cơ sở binh vận ở Tuyên Quang rồi. Xứ ủy giao riêng cho Cam việc này: làm sao đưa được chị Vinh về Chiến khu ta.

Với ba nhiệm vụ Trung ương giao cho trung đội Cứu quốc quân mới, chúng tôi cùng nhau nghiên cứu để chấp hành một cách nghiêm túc. Chúng tôi báo cho anh em Cứu quốc quân về Khuổi Kịch để dự lễ thành lập Trung đội Cứu quốc quân III. Trong khi chở đoàn công tác ở Tuyên Quang về, các đội viên Cứu quốc quân ở các nơi về đây tập trung sẽ qua huấn luyện quân sự rồi mới ra mắt Trung ương.

Được biết trước ý nghĩa của việc tập luyện lần này, lại nghe nói có Trung ương về dự, anh chị em cũ cũng như mới đều phấn khởi lạ lùng...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:18:09 am
*
*   *

Anh Chính cùng Ban chỉ huy Cứu quốc quân bàn công tác mới. Chúng tôi chia nhau hoạt động suốt từ Khuổi Phát đến Khuổi Kịch để chuẩn bị cho lễ thành lập Trung đội Cứu quốc quân III.

Mọi người đều thấy tự hào, càng phấp phỏng đón chờ ngày lịch sử đó. Chỉ còn mấy ngày nữa là hàng trăm đại biểu nhân dân vung Sơn Dương về dự lễ. Ở đây không sợ địch phá hoại, chỉ lo làm sao nhân dân trong buổi ấy thấy rõ được khí thế của Cứu quốc quân, tăng thêm lòng tin tưởng vào cách mạng.

Khuổi Kịch là một xóm nhỏ ở sâu trong rừng, toàn người Dao. Từ Sơn Dương đến Khuổi Kịch phải qua hai mươi cây số mới đến Kim Long (tức Tân Trào), và mất hai, ha cây số nữa toàn rừng mới tới nơi. Phong trào ở đây đang lên nhưng thiếu cán bộ.

Một con suối chảy qua xóm. Bên bờ suối, anh em phát thành một bãi đất khá rộng, có bố trí bảo vệ chu đáo. Được tin, nhân dân quanh vùng rất vui mừng, ủng hộ cả một nương sắn, hàng gánh bí đỏ bí xanh, hàng chục con lợn, gà, lương thực đầy đủ.

Tốn công phu chuẩn bị nhất là môn động tác quân sự. Người mới tham gia Cứu quốc quân cũng có nhiều anh em đã qua chiến đấu gian khổ, chịu đựng và vượt khó khăn ; người còn lại từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ; người từ cuộc chiến đấu tám tháng du kích ở Tràng Xá. Số đông đã học qua những động tác cơ bản, song không phải ai cũng thuần thục cả.

Tôi nói với anh em:

— Đồng bào sẽ thấy chúng mình. Chúng mình là đội quân cách mạng. Ra diễn tập mà chân bước không đều, vác súng không đúng kiểu thì không nên đâu. Tôi cũng chẳng được học ở trường quân sự nào đâu. Nhưng những năm trước học anh Giáo, anh Kiên thế nào, tôi lại tập cho các đồng chí như tôi đã tập thôi.

Hà Châm gật đầu nói:

— Được thôi! Anh Tân Hồng dạy là tốt rồi vớ !

Anh em cũng đồng tình. Ai nấy đều cố gắng : cá nhân tập, tập thể tập, chỉ huy tập, đội viên tập, nghỉ cũng luyện gác cũng ôn, để mau đạt tới trình độ biểu diễn đồng đều và đẹp mắt. Có đồng chí ngày nào cũng xung phong nhận gác. Anh em ngạc nhiên, khống hiểu cậu ta có ý định gì, mới đi rình xem. Hóa ra có đi gác mới được đem súng tốt đi, mà có súng tốt thì cậu ta tập những động tác đã học mới thấy khoái.

Mọi việc đã đâu vào đấy kịp ngày ấn định...

Khu rừng Khuổi Kịch bấy lâu sâu kín, bí mật, ít người lui tới, nay ào ào những tiếng dân tộc khác nhau, những tiếng gọi «đồng chí», tiếng cười hoan hỉ và sảng khoái. Hàng chục lá cờ đỏ thắm rực lên dưới ánh nắng lọc qua những lá cây. Nét mặt mọi người hớn hở, tươi tắn.

Lúc ấy vào khoảng ba, bốn giờ chiều.

— Tất cả chú ý! Tập họp ba hàng ngang... Tập họp!

Tiếng hô dõng dạc cắt đứt mọi thứ tiếng ồn ào.

Cứu quốc quân răm rắp thành ba hàng ngang đứng trước, nhân dân cũng hàng ngũ chỉnh tề đứng sau. Tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng lớn nhất : trong từng đôi mắt cũng rực lên ánh cờ, mọi con tim như rộn lên một niềm xúc động và tự hào lớn lao. Bài hát chào cờ nổi lên, rung chuyển cả núi rừng :

            Đoàn quân Việt Minh đi
            Chung lòng cứu quốc
            Bước chân dồn vang
            Trên đường gập ghềnh xa...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:18:48 am
Giọng cao, giọng thấp, giọng nam, giọng nữ, giọng khàn, giọng thanh, tất cả sao hôm nay hài hòa với nhau một cách kỳ lạ : đó là giọng ca cứu nước, chung một lòng sắt son.

Đội quân có dân sát cánh nhiệt tình giúp đỡ ấy, trông thật hùng dũng, đầy sức mạnh. Những con người sao mà đáng yêu đáng quý vô ngần ! Hôm nay, có mặt những anh em ở Trung đội Cứu quốc quân I, Trung đội Cứu quốc quân II, những anh em từ Cao Bằng về, cả những anh em vừa rời những cơ sở làng xóm khác nhau đến với đội ngũ... Hôm nay họ có mặt khá đông đủ để ra mắt với Đảng, với các đại biểu nhân dân.

Lễ chào cờ vừa dứt, anh Chính thay mặt Trung ương, với giọng nói sang sảng, nhắc tới công lao của hai Trung đội Cứu quốc quân, của nhân dân địa phương đã đùm bọc, bảo vệ lực lượng vũ trang con em của minh, tỏ lòng thương tiếc những anh em đã bỏ mình trong khi làm nhiệm vụ từ phong trào Bắc Sơn đến nay. Lời anh Chính bỗng như nghẹn lại :

— Đồng chí Hoàng Văn Thụ là một đồng chí lãnh đạo của Đảng ta. Bọn đế quốc đã bắt được đồng chí. Chúng tra tấn đồng chí vô cùng dã man. Đồng chí không khai một lời nào. Chúng lợi dụng cả tình cảm gia đình, tình cảm cha con, để lung lạc tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng chí nhưng tinh thần đồng chí vẫn rắn như sắt thép, tấm lòng đồng chí đối với Đảng, với nhân dân vẫn trong sáng như gương. Vũ lực, tra tấn không lay chuyển nổi, đế quốc hèn nhát đã tuyên án tử hình đồng chí... Chúng ta thề không đội trời chung với đế quốc ! Hãy noi gương anh dũng bất khuất của đồng chí Hoàng Văn Thụ ! Chúng ta quyết trả thù cho đồng chí !

Giọng anh Chính rắn chắc và đanh lại. Một không khí trang nghiêm, trầm hùng tỏa khắp. Tuy đã được anh Chính nói cho biết trước tin và anh Chính còn nói thêm : « Nó kết án như thế, nhưng có thể không đến nỗi. Mình cố tìm cách cứu được anh... » nhưng lòng tôi vẫn cứ trào lên một nỗi đau khôn cùng. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi không muốn tin đó là một sự thật, một sự thật hết sức phũ phàng. Tôi không tin là đế quốc lại buông tha một đồng chí lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương ưu tú như «anh Vân». Nhưng tôi vẫn cứ mong và tin sự cố gắng đến mức cao nhất của những đồng chí ở dưới xuôi có thể đổi cái án tử hình ấy. (Sau này, tôi được anh em kể lại cho biết tên chánh mật thám thực dân khét tiếng gian ác La-néc đã nói: Không giết Hoàng Văn Thụ thì cách mạng Đông Dương sẽ thành công mất !).

Tôi nhớ lại thư anh Vân ngày ấy còn viết: «Một ngày gần đây, tôi sẽ lên khu căn cứ». Lá thư ấy, tôi có ngờ đâu lại có thể là những lời cuối cùng anh Vân nói với chúng tôi. Anh Vân đã từng sống với chúng tôi những ngày tháng bị địch bao vây bốn bề, lực lượng vũ trang của ta còn mỏng manh và chưa có nhiều kinh nghiệm đấu tranh, khi Chiến khu còn nhỏ hẹp. Được sự chỉ dạo của Trung ương, nhờ tinh thần cố gắng vượt bậc của nhân dân các dân tộc khu căn cử, lực lượng vũ trang của Đảng hình thành và lớn dần lên, đã có khu căn cứ vững mạnh đủ sức bảo đảm an toàn cho các anh thì anh không còn lên với chúng tôi được nữa...

Anh Chính gạt nước mắt. Đúng như lời anh nói, đau thương ngày hôm nay nhất định sẽ biến thành sức mạnh và căm thù trút lên đầu kẻ thù thực dân đế quốc. Nhất định là như vậy. Cứu quốc quân đã sẵn sàng.

Thay mặt Trung ương, anh Chính công nhận Trung đội Cứu quốc quân III. Nhiệm vụ của nó đã rõ ràng. Anh nói:

— Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân III là ba đồng chí: Triệu Khánh Phương, Chu Phóng và Phương Cương. Các đồng chí hãy tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Hãy dũng cảm trước quân thù ! Phải kiên quyết, nhưng thận trọng, hết sức tránh độc đoán và liều lĩnh. Phải gần gũi, săn sóc anh em trong đơn vị. Phải đoàn kết với nhân dân các dân tộc ở đây !

Anh Chính ngừng lại, nhìn một lượt tất cả chúng tôi. Anh động viên anh em cũ, khuyến khích anh em mới:

— Trên thế giới, kẻ thù đang thất bại. Trong nước, phong trào cách mạng đang lan rộng. Vùng ngược cũng như vung xuôi nổ ra đấu tranh liên tiếp. Sức mạnh chúng ta có khắp nơi, nhất định quân thù sẽ bị tiêu diệt!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:19:16 am
Lời nói của Đảng thấm vào từng người. Ai cũng thấy mình có vinh dự, có trách nhiệm lớn lao, tin tưởng lời chỉ dẫn của Đảng sẽ thành sự thật.

— Cứu quốc quân đoàn kết với nhau, đoàn kết với nhân dân thành một khối rắn như thép, dũng cảm làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho.

Tôi đã hứa với Đảng, với nhân dân như vậy.

Nữ đồng chí Vinh, cán bộ giao thông liên lạc của Trung ương được cứu thoát từ nhà lao Tuyên Quang, sống ở Chiến khu mấy ngày đã thấy được cái gian khổ, khó khăn, thiếu thốn của miền núi; địa hình, địa thế rất hiểm trở, mỗi bước đi là một bước trèo đèo, lội suối, xuyên rừng, chưa kể còn gặp ác thú... Chị xúc động, phát biểu:

— Sống ở Chiến khu mới thấy lực lượng ở Chiến khu thật là to lớn. Lần nay về đến dưới kia, chúng tôi sẽ hết lòng hết sức vận động phong trào chị em phụ nữ dưới xuôi ủng hộ nhiều hơn nữa cho Chiến khu...

Sau chị Vinh, đến lượt đồng bào nói những ý kiến của mình. Bà con hứa sẽ sát cánh cùng với Cứu quốc quân đi theo ngọn cờ cách mạng, giành lấy độc lập.

Lời nói của Đảng, của dân, của quân, tất cả đều khắc sâu vào tâm trí mọi người. Kết thúc buổi lễ là cuộc diễn tập của Cứu quốc quân. Những tiếng hô dõng dạc vang lên.

Cả trung đội nhanh chóng nghe theo lệnh của người chỉ huy, khẩn trương xếp hàng có cự ly gián cách rõ ràng.

Thoắt một cái, Cứu quốc quân triển khai đội hình, súng ống đầy đủ, bước chân rập, rập — tuy chỉ là đi chân đất cả — động tác mạnh mẽ, không chút ngượng ngập.

— Thành ba tư thế ! Ngồi bắn, quỳ bắn, đứng bắn !

Miệng tuy hô, nhưng lòng tôi vẫn cứ lo ngay ngáy anh chị em làm chuệch choạc. Nhưng tất cả đều cố gắng làm đúng nhiều điều đã học được. Hàng ngũ nghiêm chỉnh, họ đã dàn đúng đội hình thành ba hàng ngồi bắn, quỳ bắn, đứng bắn. Mắt đồng chí nào dường như cũng nảy lửa hướng về một điểm nhất định tượng trưng cho quân thù.

Đứng cương vị là người chỉ huy quân sự lúc bấy giờ, tôi thấy tự hào về đơn vị của mình, về những đồng chí của mình. Tôi chắc anh chị em cũng cùng một ý nghĩ như tôi.

Tôi quay mặt về phía đồng chí đại diện Trung ương và nhân dân tới dự, đưa tay lên ngang lông mày chào theo kiểu quân sự.

Quần chúng xem biểu diễn động tác, mắt nhìn chăm chú, tay chỉ trỏ, miệng xuýt xoa, ca ngợi, tán thưởng, môi nở nụ cười phấn chấn. (Lúc ấy đang là thời kỳ hoạt động bí mật nên không có vỗ tay, hoan hô ầm ĩ). Ngày nay, nhớ lại hình ảnh đội quân ngày hôm ấy, thấy đơn giản, du kích, ấu trĩ, nhưng lúc đó nhân dân các dân tộc và chúng tôi đều lấy làm kiêu hãnh vì đội quân cách mạng của ta trông rất hùng dũng, uy nghi.

Xong lễ, Cứu quốc quân với nhân dân cùng nhau hát mấy bài, rồi ăn cơm đoàn kết. Có đến một trăm người dự. Các bàn ăn làm bằng cây và sàn nứa đơn sơ mộc mạc nối nhau thành hàng, đều nhau. Mọi người đều đứng, nhưng vui vô cùng : dân tiếp thức ăn cho Cứu quốc quân, đơm cho nhau những bát cơm đầy có ngọn, chúc sức khỏe, diệt được nhiều địch. Tiếng cười tiếng nói ran ran.

Ăn xong lại tập họp ở bai, liên hoan bằng tiếng hát lời ca. Những bài « Cùng nhau đi Hồng binh », « Anh em trong đoàn quân du kích », « Cách mạng hiện thời đang nổi khắp năm châu», «Tuốt gươm trường ba thước, ta cùng nhau bước » được hát đi hát lại nhiều lần bằng các thứ tiếng.

Cuộc vui kéo dài mãi tới khuya, không ai tự động bỏ ra về trước. Nhưng đã đến lúc phải tạm chia tay. Quân, dân cùng lưu luyến. Người lấy đuốc, kẻ chào nhau, từng tốp tíu tít: tiếng Tày, Nùng nhanh và vang động tựa núi đá, tiếng Dao ấm áp thong thả, tiếng Kinh như chim hót. Du kích quân và nhân dân các dân tộc tới dự mít-tinh hẹn ngày gặp nhau sau sẽ được vui chơi lâu hơn và ăn bữa cơm đoàn kết quân dân to hơn...

Những bó đuốc nối tiếp nhau sáng rực các ngả đường uốn khúc theo bờ suối đưa các đoàn người về lại những bản sâu xa tít để lại mở rộng phong trào. Rừng Khuổi Kịch như còn vang đọng mãi lời hứa quyết tâm của Cứu quốc quân...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:20:39 am
*
*   *

Trung đội Cứu quốc quân III bắt tay ngay vào việc học tập và bàn bạc công tác. Anh Chính giáo dục cho Cứu quốc quân tư tưởng, tinh thần cách mạng của Đảng, góp những ý kiến có ý nghĩa quyết định cho công tác của chúng tôi. Chúng tôi phân công nhau đi Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên để làm nhiệm vụ mới. Riêng tôi sẽ phụ trách hai tiểu đội đi dần sang phía tây-bắc Thái Nguyên tức là vùng Đại Từ — Phú Lương và bên Tuyên Quang làm mấy nhiệm vụ sau đây: một, phát triển và xây dựng phong trào mới làm cho căn cứ địa thêm vững mạnh ; hai, xây dựng lực lượng quân sự và chính trị đi đôi ; ba, Bắc tiến tiếp tục đánh thông đường hành lang lên Cao Bằng đón đơn vị Nam tiến.

Hai ngày sau lễ thành lập Trung đội Cứu quốc quân III, các đồng chí Chính, Hòa, Châm, Vinh, Ân, Thánh và tôi từ Khuổi Kịch về Làng Cam để kịp ngày khai hội bàn công tác của hai phân khu A và B. (Phân khu A là vùng đất đai nằm bên này sông Cầu gồm có Bình Gia, Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), Võ Nhai, Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên), Hữu Lũng, Yên Thế (tỉnh Bắc Giang). Phân khu B ở bên kia sông Cầu gồm có Phú Lương, Đại Từ, Chợ Chu (tỉnh Thái Nguyên), Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã (tỉnh Bắc Cạn), Sơn Dương, Yên Sơn (tinh Tuyên Quang).

Làng Cam ở trên đỉnh núi Chúa chỉ là một xóm bé nhỏ có năm gia đình thôi mà lại rộng hơn nhiều nơi khác. Chính nhờ đây mà chúng tôi có chỗ nương thân, thường xuyên hàng chục, có khi hai chục cán bộ về hội họp, ăn uống. Chính đây cũng là nơi đón anh em chúng tôi sau bao lần vượt khó khăn gian khổ. Cứu quốc quân đã lấy Làng Cam làm bàn đạp để phát triển phong trào rộng ra khắp vùng.

Hội nghị lần này cũng tổ chức ở Làng Cam. Hội nghị rất đông. Có đủ các đồng chỉ châu Võ Nhai, do anh Quốc Hưng dẫn đầu sang dự. Phong trào đòi hỏi chúng tôi bàn những vẩn đề khó khăn và phức tạp hơn. Công tác của hai phân khu A và B, củng cố hành lang liên lạc giữa hai phân khu, đường liên lạc từ Chiến khu với Trung ương ở xuôi, tiếp tục đánh thông đường lên Cao Bang, củng cố và phát triển cơ sở, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, công tác bí mật, toàn là những vấn đề lớn, cấp thiết chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chính trị và vũ trang tiến lên giành chính quyền.

Sau Hội nghị này, một số anh chị em Cứu quốc quân được phân công ở lại Làng Cam công tác. Thực hiện nghị quyết của Hội nghị, trừ một số đồng chí đưa anh Chính vả chị Vinh về xuôi, còn tất cả lại lên đường làm nhiệm vụ.

Chúng tôi đưa hai người về tận Võ Nhai. Đến đây, anh Chính, chị Vinh và tôi gặp một số bà con, nói chuyện về tình hình sáng sủa và phấn khởi của phong trào các nơi, động viên, khuyến khích bà con tiếp tục đấu tranh chống địch. Sau đó, chúng tôi cùng chia tay trong mối tình quyến luyến : anh Chính, chị Vinh về xuôi ; bà con Võ Nhai ở lại Chiến khu ; tôi cùng một vài anh em nữa đi công tác...

Phấn khởi với nhiệm vụ mới, anh em mong chóng về đến nơi công tác, nhưng cũng lưu luyến với những người đồng chí ruột thịt, với tình thương yêu của các bà, các mẹ, các chị. các anh ở Làng Cam hẻo lánh mà vô cùng đầm ấm này. Cũng từ Làng Cam này, ai có thể ngờ rằng mối tình giữa anh Chính và nữ đồng chí Vinh bắt đầu, phát triển và keo sơn cho đến ngày nay...

Rừng giang, rừng nứa trên núi Chúa vươn những cánh tay dài vẫy gọi tất cả chúng tôi đang xuống núi, đi về những hướng khác nhau nhưng cùng mang theo niềm tin chắc chắn cách mạng nhất định thành công.

*
*   *

Trung đội Cứu quốc quân III được phân đi từng tiểu đội một, mỗi tiểu đội phụ trách một khu vực. Mỗi đồng chí trong Ban chỉ huy trung đội nắm trực tiếp lấy một tiểu đội.

Đồng chí Lê Dục Tôn, một trong ba đồng chí chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân II, được cử phụ trách tiếp Định Hóa. Thời gian này, Định Hóa đã trở thành trung tâm về binh vận, là mối dây liên lạc với Ban lãnh dạo trong nhà tù, đồng thời phong trào quần chúng cũng rộng hơn. Ở Định Hóa một thời gian, tôi đi xuống Bản Pình, Bản Pài, rồi lên Chợ Chu. Hồi này, Hoàng Thượng và anh Nhất Quý vẫn phụ trách con đường Bắc tiến.

Tháng 5 năm 1944, tôi về Xứ họp. Kỳ họp này là kỳ họp bất thường ở huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang) để nghe các nơi báo cáo tình hình của phong trảo. Song vì có một số đồng chí Xứ ủy không tới kịp, nên kỳ họp chính thức của Xứ định vào tháng tám. Trước khi đi họp Xứ ủy, tôi bảo Lê Dục Tôn : «Cứ cho ra, độ mươi, mười lăm người cũng được». Dục Tôn hiểu rất rõ ý tôi nói, gật đầu đáp : «Cậu cứ yên trí mà đi họp. Mình cũng đang thiếu cán bộ ! Được các anh ấy ra giúp đỡ thì còn gì bằng !». Từ ngày anh Văn viết thư và cho giao thông đặc biệt đưa thư lên khu căn cứ, nói «cán bộ ở trong nhả tù Chợ Chu ấy», chúng tôi rất chú ý đến khu vực Chợ Chu. Và chị giao thông đã cầm thư của Trung ương lên cho chúng tôi chính là đồng chí phụ trách binh vận trung ương. Chúng tôi hy vọng được số cán bộ mà Trung ương đã dự định tăng cường cho khu chúng tôi. Cho nên khi đi họp Xứ ủy lần này, cái vui mừng được thấy phong trào càng lớn mạnh làm cho cái chân đi không biết mỏi là gì.

Cuộc họp Xứ tháng 8 năm 1944 vẫn được tổ chức ở Hiệp Hòa, tôi thấy có cả anh Sơn (Trường Chinh), anh Văn Tiến Dũng, v.v. Xứ chính thức quyết nghị chia hai phân khu A và B, phân công phụ trách và chủ trương cho cán bộ vượt ngục ở hai nơi Bá Vân và Định Hóa.

Tôi khấp khởi mừng thầm trong bụng, chỉ mong cho xong hội nghị ra về để tổ chức thực hiện nghị quyết quan trọng này của Xứ. Cuộc họp gần xong thì có một đồng chí nói : «Đêm mai căng Bá Vân vượt ngục». Tôi sửng sốt nhìn đồng chí ấy và nghĩ bụng : Bá Vân và Định Hóa thì ra cùng chứ, Bá Vân đêm mai ra thì tài thánh mình cũng không làm kịp cho Định Hóa được. Như muốn nhấn mạnh điều nay cho anh em phụ trách Bá Vân nhớ, đồng chí đó nhắc lại : «Đêm mai căng Bá Vân vượt ngục». Lúc ấy tôi cùng hiểu được rằng đưa anh em mình ở trong nhà giam đế quốc ra là cả một công trình nghiên cứu, điều tra và sáng tạo cách đưa êm thấm nhất, không những giải phóng cho những người được vượt ngục mà còn giữ được bí mật cho những anh em mình còn ở lại và nhân mối. Nhưng không hiểu sao hôm đó tôi còn kỳ kèo: «Bá Vân vượt ra trước. Về không khéo thì tắc đường... Không đợi nhau ! Chúng tôi không có cán bộ...» Song Xứ đã «quyết» rồi, các nơi cứ thế mà thi hành.

Họp xong, tôi về đến Cây Thị, đã thấy không khí khang khác. Tới La Hiên, thấy lính đã gác cả, tôi nhờ một cơ sở tên là Ba làm dõng sang điều tra tình hình đường cái Phú Lương. Tôi chỉ nằm cách huyện lỵ có trăm thước, đợi tin. Anh Ba về, nói cho biết là các thứ lính và dõng canh gác rất nghiêm ngặt. Dò hỏi, có đứa không nói, có đứa thì nói là « tù căng Bá Vân trốn ». Tôi thừa biết là anh em ta ở Bá Vân đã thành công và bọn địch đang cuống cuồng đối phó từ «sau đêm hôm ấy». Mừng cho các đồng chí mình mà cũng lo cho khu mình, cho Dục Tôn «ở nhà». Không biết có nhanh nhạy chớp đúng thời cơ mà làm hay không. Đứt dây động rừng ! Bá Vân rồi, ở Chợ Chu, bọn chó sói sẽ canh phòng cẩn mật hơn. «Nhưng không sợ! Tôi nghĩ — Cứu quốc quân không sợ khó khăn, không nề gian khổ, quyết chí hy sinh, dũng cảm làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho». Những ý nghĩ của tôi rất phù hợp với lời ca của một bài hát mà bất cứ một đội viên Cứu quốc quân nào, dù là nam hay nữ, rất thích hát: bài hát «Cùng nhau đi Hồng binh».

Đó lại cũng là lời thề của Cứu quốc quân mà...

Sau đó vài ngày, lính tráng rút đi hết, tôi mới về chỗ Lê Dục Tôn. Thấy mặt là tôi hỏi ngay cái chuyện nói từ trước khi đi họp Xứ. Dục Tôn, vẻ mặt không đổi khác — tôi cũng không hiểu nó vui hay nó buồn nữa—bảo tôi:« Chờ cậu về. Rồi mới làm». Hắn vẫn cứ cộc lốc như thế, nhưng nói câu nào chắc câu ấy, người mới nghe, mới tiếp xúc cứ tưởng như nó là đứa khinh người! Cá tính Dục Tôn thế thôi, chứ đã làm cái gì là làm bằng được. Tôi cũng hiểu được rằng Dục Tôn «chờ tôi về rồi mới làm» có cái lý của nó : tình hình đã thay đổi, không thể làm bừa, làm ẩu. Tôi gật đầu bảo Dục Tôn: «Ừ! Bàn rồi làm!» Dục Tôn cũng không nói gì hơn. Tính « ông » cháu tôi vẫn thế!


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:22:30 am
*
*   *

Ngày 2 tháng 10 năm 1944 mới tổ chức cho anh em ta ở nhà tù Chợ Chu ra. Tất cả là mười hai người: đồng chí Song Hào, đồng chí Hiến Mai, đồng chí Tạ Xuân Thu, đồng chí Trung Đình, đồng chí Chì, đồng chí Phong đen, đồng chí Nhị Quý, đồng chí Khang, đồng chí Môn, đồng chí Sơn, đồng chí Chu Nhữ và đồng chí Tùng, toàn là những cán bộ xuất sắc của Đảng cả. Chiến khu chúng tôi « được các anh » thì « bằng trời cho của », tôi nghĩ thế. Lúc bấy giờ, sự thật ra trời cho của cũng không bằng được các anh! Chuẩn bị rất chu đáo và giải quyết cũng nhanh chóng và gọn. Các đồng chí vượt ngục có cả chi ủy và bí thư là đồng chí Song Hào. Chúng tôi đã bố trí ông Tư già ở Bãi Hội chờ đón các đồng chí ở một con suối chảy ngang qua đường, cách Khuôn Lình dăm cây số. Ông Tư già đưa anh em vào sâu nữa: ở đây đã có Lê Dục Tôn(1) đứng đợi bên một gốc cây lớn. Dục Tôn phát cho mỗi người một quả lựu đạn, phổ biến kế hoạch hành quân. Tất cả lên đường ngay vì chỗ này chưa phải là đất an toàn. Dục Tôn và ông Tư bỏ các đường mòn đưa anh em vào các khu rừng rậm, hướng về mục tiêu đã định.

Gần nửa đêm, tới bờ sông Đáy. Trời không trăng không sao, đen sẫm. Bỗng dưới sông có ánh đuốc. Dục Tôn ra hiệu cho anh em dừng lại, còn ông Tư cầm ngang khẩu súng kíp tiến lên trinh sát. Được một lúc, ông Tư quay lại nói:

— Hồng Hải(2) nó đi bắt cá đấy!

Thì ra Hồng Hải chờ dẫn đường tiếp, lâu quá, đã tranh thủ chặt nứa — bờ sông là rừng nứa rất dày — làm bó đuốc đi dọc sông chém cá! Hồng Hải, một đội viên Cứu quốc quân II, người Dao cao to, cái anh chàng gác mà suy nghĩ miên man ngày ấy nay đã trở thành một cán bộ có uy tín trong vùng. Từ đây Hồng Hải sẽ thay thế ông Tư dẫn đường. Đêm thứ ba về đến Bản Pài.

Bọn địch đã phát hiện được «tù Cộng sản trốn». Lính khố xanh đã kéo tới Bản Pài cùng với hàng trăm lính dõng tập trung về. Tất cả các đường mòn đều đã bị canh gác. Địch chăng dây để phát hiện dấu vết của những người đi trốn. Cơ sở báo cho biết «lính của Chợ Chu đang đuổi gần tới nơi, dân Bản Pài đang bị tra khảo rất gắt».

Cả đoàn phải dừng lại để tìm cách đối phó. Cùng lúc đó một tiểu đội Nam tiến ở trên kéo xuống, bị tắc đường. Trước tình hình khó khăn phức tạp này, tất cả nhất trí «tạm lánh vào nương thật xa, kiên trì đợi cho đến khi quân địch rút đi, mới có thể đi tiếp được». Hồng Hải dẫn anh em lên một đỉnh núi xa tít, rậm rạp. Chân người Dao quen leo núi, người Kinh chỉ quen đi đường bằng, lần đi này quả là vất vả đối với các đồng chí.

Qua bao nhiêu gian khổ, đói khát, nhưng nhờ nhân dân Bản Pài hết lòng che chở và giúp đỡ nên các đồng chí đã về tới được Chiến khu. (Cho đến ngày thứ bảy, không tìm thấy được một dấu vết nào của đoàn mà cũng không khai thác được một tí tài liệu nào trong dân chúng, bọn địch đành phải hậm hực kéo nhau trở về Đại Từ, Chợ Chu, Sơn Dương).

Lúc này tôi đang ở xã Văn Minh, gần Vân Lãng. Đến gần chục ngày, từ sau khi cử Dục Tôn, Hồng Hải và ông Tư đi đón anh em mình, đêm tôi không ngủ được trọn giấc. Nhất là khi nghe tin lính địch từ các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang được lệnh của Hà Nội «phải bắt lại cho được bọn tù Cộng sản này lên vùng Chợ Chu». Khi nghe tin địch đã rút đi thì đêm nào tôi cũng ngồi chờ bên bếp lửa. Tôi cứ mong được nghe cái giọng cộc lốc của Lê Dục Tôn: «Cậu! Mang các đồng chí ấy về rồi đấy!».

Đêm ấy cũng như những đêm khác, tôi ngồi chờ bên bếp lửa. Bỗng có tiếng nói ở chân cầu thang :

— Tới nơi rồi, các đồng chí à !

Đúng Dục Tôn rồi ! Đúng anh em mình về đến đây rồi. Tôi vùng dậy, tiến lại phía anh em. Cái nhà sàn nhỏ rung rinh. Ánh lửa trong bếp soi tỏ từng bộ mặt thân yêu. Mắt tôi thấy đủ mười hai đồng chí. Cảm động quá, tôi nói mà không nén được xúc động :

— Các đồng chí đã ra. Phong trào đang cần các đồng chí lắm !

Cơ sở đã nấu sẵn cháo gà thết khách. Chúng tôi ngồi quây quần bên bếp lửa, sì sụp ăn cháo gà nóng, chuyện trò, tâm sự...

Ngày hôm sau Xứ ủy phân công một số sang hoạt động ở phân khu Quang Trung (còn gọi là phân khu A) và một số khác hoạt động ở phân khu Nguyễn Huệ (tức là phân khu B). Các đồng chí Song Hào, Hiến Mai, Tạ Xuân Thu. Trung Đình, Chì, Tùng, Môn, Phong về phân khu Nguyễn Huệ. Đồng chí Song Hào làm Bí thư, phụ trách chung tất cả các mặt của phân khu. Cùng đi có cả Dục Tôn : Dục Tôn đang công tác gây cơ sở phía đó cùng với đồng chí Triệu Khánh Phương.


(1) Hiện nay là Thường Vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc.
(2) Hiện nay ở Mặt trận Tổ quốc Khu tự trị Việt Bắc.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:23:38 am
*
*   *

Chúng tôi vẫn hoạt động chung quanh dãy núi Hồng.

Sau khi anh em ta vượt ngục rồi, thực dân Pháp cho quân lính và bọn tay sai phản động bắt bớ, tra tấn người ở vùng Chợ Chu. Chúng vu cho là «đã đồng lõa với bọn tù Cộng sản, giúp cho đi thoát mà không báo cho nhà chức trách biết». Làng Cóc cũng nằm trong sự khủng bố của địch, có người bị địch bắn giết. Sự điên cuồng giãy giụa của địch ở đây cũng là sự giãy giụa điên cuồng của địch ở nơi nào phong trào cách mạng lên mạnh: cuộc khủng bố lan rất nhanh ra khắp các nơi, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn...

Chúng tôi phân tán vào các cơ sở hoạt động. Lúc đó, lực lượng cán bộ trong Chiến khu là một lực lượng đáng kể. Lại thêm Cứu quốc quân III hầu hết là những đồng chí đã trải qua chiến đấu trong những hoàn cảnh phức tạp, khó khăn, có nhiều kinh nghiệm, thì địch làm gì nổi ? Trong khi phân công đồng chí Trung Đình ở lại Đại Từ, Xứ ủy điều một vài anh em khác về vùng Kim Long (Tân Trào) cùng đồng chí Lê Dục Tôn xây dựng cơ sở và thành lập chính quyền cách mạng; anh Tạ Xuân Thu, tôi và một số anh em nữa vào Đội võ trang tuyên truyền tập trung, vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục quần chúng, vừa tổ chức triển lãm để nhân dân thấy được sự lớn mạnh của phong trào cách mạng cả nước cũng như uy tín ngày càng cao của Việt Minh.

Từ tháng 5 năm 1944, dựa vào chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh đã ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa, thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng lực lượng để khởi nghĩa giành chính quyền.

Cuối tháng 5 năm 1944, trong không khí háo hức của việc thi hành chỉ thị mới của Tổng bộ Việt Minh, tin đồng chí Hoàng Văn Thụ bị đế quốc Pháp xử bắn ở Bạch Mai làm cả Chiến khu tiếc thương vô hạn, càng bầm gan tím ruột đối với bọn Pháp thực dân và tay sai. Đồng chí Hoàng Văn Thụ đã hy sinh nhưng gương bất khuất của đồng chí trước kẻ thù tàn bạo mãi mãi để chúng tôi soi mà chiến đấu quên mình vì Đảng, vì nhân dân.

Ngày 10 tháng 8 năm 1944, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi sắm vũ khí đuổi thù chung. Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng, Cứu quốc quân càng đẩy mạnh việc chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa vũ trang. Ở căn cứ địa cách mạng, quần chúng đã sẵn sàng nổi dậy. Tuy vậy lúc này vẫn là thời kỳ tích trữ lực lượng, chuẩn bị phát động khởi nghĩa.

Tháng 10 năm 1944, dưới sự thúc ép của phát-xít Nhật, phát-xít Pháp mở một cuộc càn quét lớn vào vùng Võ Nhai. Đây là cuộc khủng bố lớn lần thứ ba vào vùng này. Đầy lòng căm thù giặc, Cứu quốc quân và quần chúng cách mạng đã sẵn sàng chiến đấu. Song đáng lẽ trong tình hình ấy, phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu để chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân thì Ban lãnh đạo phân khu lại đưa quần chúng vào rừng, phát động đấu tranh vũ trang, tiến hành trừ gian hàng loạt, liên tục phục kích, đánh đồn, cắt đứt đường giao thông của địch v.v. Cuộc đấu tranh chống khủng bố đó mang tính chất một cuộc khởi nghĩa. Ban Thường vụ Trung ương đã biểu dương tinh thần cách mạng của quần chúng, nhưng mặt khác, đã phê bình những thiếu sót và khuyết điểm. Trung ương kịp thời cử cán bộ về giúp đỡ, khắc phục tư tưởng cục bộ, nóng vội, cho nên nói chung đã duy trì được cơ sở cách mạng và giữ gìn được lực lượng để chờ thời cơ thuận lợi hơn.

(Sau này tôi được nghe kể lại: ở căn cứ địa Cao — Bắc — Lạng, từ tháng 7 năm 1944, Liên tinh ủy Cao — Bắc — Lạng đã nhận định là các điều kiện để phát động khởi nghĩa vũ trang đã chín muồi. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa được xúc tiến rất khẩn trương. Liên tỉnh ủy dự định triệu tập một cuộc họp cuối cùng quyết định ngày giờ phát động khởi nghĩa. Đúng lúc ấy, đồng chí Hồ Chí Minh ở Trung Quốc về, đã kịp thời ra lệnh đình lại. Người cho rằng chủ trương phát động khởi nghĩa của liên tỉnh Cao — Bắc — Lạng mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Người nói: « Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếụ bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động khởi nghĩa vũ trang, ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cư vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không để địch bắt, hại những người hoạt động...». Rồi Người đề ra một cách giải quyết: «Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập họp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở phát triển lực lượng vũ trang, Chúng ta sẽ lập đội Quân giải phóng».

Nhận định sáng suốt đó của Người đã tránh cho Cao — Bắc — Lạng những tổn thất lớn...).


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:26:39 am
*
*   *

Mùa đông năm 1944...

Tiếng súng diệt đồn Phai Khắt, Nà Ngần vang vọng về. Bọn lính khố xanh, khố đỏ «đi trận mạc» về kháo với nhau : «Các ông Cộng sản làm loạn ở Cao Bằng, giết Tây đồn, còn tha lính người an-nam». Đồng bào đi chợ, nghe nói thế, về báo cho cán bộ biết. Tôi nghĩ ngay đến những đồng chí ở Cao Bằng: anh Lã, anh Tống, anh Hoa, anh Vũ Anh và nhiều anh khác nữa. Và nhớ nhất là anh Văn. Từ sau cuộc gặp gỡ lịch sử ở Khuổi Tà, bặt tin trong lúc đế quốc Pháp coi Cao Bằng là trọng điểm khủng bố để đánh phá cách mạng, đồng thời tạo một thứ hậu phương khi chúng thấy cần phải rút lui, đến nay lại nghe tiếng súng Cao Bằng diệt địch, tôi đoán chắc cánh anh Văn «đã làm nên chuyện rồi». Những người anh em ở trên ấy đã lên tiếng! Nghe thấy tiếng súng của nhau, lòng mừng náo nức. Một, hai đồng chí ở phía trên về cũng nói «Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân» đã được thành lập do chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh. Lễ thành lập Đội đã được cử hành trong một khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám ngày 22 tháng 12 năm 1944. Đội có cả nam và nữ. Có cả chi bộ Đảng. Nghe nói có cả anh Văn, anh Sơn Hùng, anh An. Tôi vụt nhớ lại hình dáng những người đồng chí thân yêu ấy: Sơn Hùng và An năm xưa được chọn đi học nước ngoài nay chắc đã xong và lại tham gia vào đội ngũ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Và anh Văn, chắc anh hãy còn nhớ những nơi, những bản anh đã đi qua, những Bản Pình, Bản Pài, Bản Bằng, và cái tên xã Thắng Lợi anh đặt cho xã Nghĩa Tá...

Đồng chí Hồ Chí Minh! Ông cụ Thu Sơn! Đồng chí đại biểu Quốc tế Cộng sản ! Như vậy là « Ông cụ đi công tác xa chưa biết bao giờ về » ấy chấc là đã về Cao Bằng rồi. Phấn khởi quá! Hồi được đến Pác Bó, lúc nào cũng muốn thấy Ông cụ. Lúc nào cũng muốn gặp; không thấy Ông cụ thì cứ y như có cái gì thiêu thiếu, lúc nào tâm trí cũng nhớ. Những lúc nào làm việc thì thôi, lúc ngồi suy nghĩ là nhớ đến Người. Tình hình thế giới đang chuyển biến mạnh có lợi cho cách mạng. Phong trào trong nước lại mở rộng. Nay Ông cụ về Cao Bằng. Ông cụ lo cho quần chúng, lo cho cán bộ, cho phong trào cả nước. Cách mạng nhất định thành công!

Lúc ấỵ thật chỉ muốn có đôi cánh tay dài muôn dặm để vượt qua rừng thẳm, núi cao, mà ôm chặt lấy anh em đồng chí để tỏ nỗi mừng vui và phấn, khởi lạ lùng này. « Khi nào gặp lại anh Văn, nhớ bảo anh kể lại cho nghe về Ông cụ Thu Sơn về nước mới được ». Tôi tự nhủ mình như vậy.



Đúng như dự đoán của Đảng ta, những mâu thuẫn gay gắt giữa Nhật và Pháp ở Đông Dương và tình hình ngày càng nguy ngập của Nhật ở Thái Bình Dương đã bắt buộc bọn đế quốc phát-xít Nhật phải làm đảo chính để lật đổ Pháp, độc chiếm Đông Dương.

Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật nổ súng đánh Pháp cùng một lúc trên toàn Đông Dương, Pháp chống cự yếu ớt ở Hà Nội, Lạng Sơn, Huế, Hà Giang... thường dân Pháp bị Nhật bắt. Binh sĩ Pháp đầu hàng nhanh chóng, tan rã hoặc chạy trốn sang Hoa Nam. Tàn quân Pháp chạy qua đâu là bắt nhân dân phục dịch và cướp phá của nhân dân ở đấy. Trước khi rút chạy, bọn Pháp ở Cao Bằng đã ném lựu đạn vào nhà tù, giết hơn trăm tù chính trị Việt Nam.

Lúc Nhật nổ súng lật Pháp ở Hà Nội thì cũng chính là lúc Hội nghị Ban thường vụ Trung ương mở rộng bắt đầu họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn — Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng chủ trì. Hội nghị họp từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 3. Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân tất yếu buộc Nhật phải truất quyền của Pháp để độc chiếm Đông Dương. Hội nghị nhận định rằng : cuộc đảo chính đã tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện của cuộc khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi đang đi đến chín muồi nhanh chóng... Đó là «thời kỳ tiền khởi nghĩa» và nhiệm vụ của Đảng ta là phát động cao trào chống Nhật, cứu nước, lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Hội nghị quyết định thay đổi mọi hình thức tuyên truyền cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, nhất là phải cổ động quần chúng mạnh dạn ra đường đấu tranh, phá kho thóc của bọn đế quốc để giải quyết nạn đói, nhằm «phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thể bao gồm từ những hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị, phá phách, cho đến những hình thức cao hơn như biểu tình thị uy vũ trang, du kích». Hội nghị nhận định rằng: phát động chiến tranh, du kích giải phóng từng vùng, mở rộng các căn cứ địa, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích phải là phương pháp đấu tranh của dân tộc ta «để đóng vai chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước».


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:26:59 am
Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta.

Cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã kết thúc nhanh chóng bằng sự sụp đổ thảm hại của chính quyền thực dân Pháp, nhưng bọn phát-xít quân phiệt Nhật chưa xây dựng được ngay bộ máy thống trị của chúng một cách hoàn chỉnh. Tình hình đó đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho việc chuẩn bị tổng khởi nghĩa của nhân dân ta.

Tại phân khu B, được tin phát-xít Nhật đánh Pháp, Ban lãnh đạo quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở các thôn xã và tiến đánh châu Sơn Dương lần thứ nhất (13 tháng 3). Ngay sau đó, Cứu quốc quân đã tiến đánh Chợ Chu và phối hợp với quần chúng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Chợ Chu (25 tháng 3), Đại Từ (29 tháng 3), Yên Sơn (1 tháng 4), Yên Bình (18 tháng 5). Tại Chợ Chu, Cứu quốc quân đã giải phóng khoảng 30 cán bộ cách mạng bị giam giữ ở đó. Đồng thời Cứu quốc quân còn tước vũ khí của tàn quân Pháp trên đường rút chạy qua Thái Nguyên và Tuyên Quang để sang Trung Quốc. Đáng kể nhất là những trận Cứu quốc quân phục kích quân Nhật ở Đèo Khế, thu được nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.

Khí thế cách mạng của quân chúng trong phân khu B lên rất cao. Các Hội cứu quốc và các đội tự vệ phát triển rất nhanh và được củng cố. Phân khu vừa có địa thế thuận lợi, lại vừa dễ liên lạc với Ban thường vụ Trung ương đóng ở gần Hà Nội.

Tại phân khu A, Cứu quốc quân đã tiến công và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi thuộc Thái Nguyên và Lạng Sơn như: La Hiên, tức châu lỵ Võ Nhai (19 tháng 3), Tràng Xá (23 tháng 3), Đình Cả (10 tháng 4), Mỏ Gà (15 tháng 4), Vũ Lễ (16 tháng 4), Nam Nhi (17 tháng 4), Bắc Sơn (18 tháng 4), Bình Gia (29 tháng 4), Bằng Mạc (2 tháng 5). Cứu quốc quân đã phối hợp với Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân từ Cao Bằng tiến xuống, giải phóng Tràng Định, Điềm He, Thoát Lãng. Cứu quốc quân còn cho một bộ phận phối hợp với Tự vệ chiến đấu của Bắc Giang đánh Yên Thế lần thứ nhất (1 tháng 4), Hữu Lũng (15 tháng 4), Bố Hạ (18 tháng 4), Mỏ Sắt (19 tháng 4), Lục Ngạn (30 tháng 5) và Phổ Yên (3 tháng 6). Tri huyện Hữu Lũng, Lục Ngạn đầu hàng Việt Minh. Ở nhiều nơi, Cứu quốc quân đã phá kho thóc chia cho nhân dân...

Thế của ta như chẻ tre. Các ủy ban Việt Minh đã được thành lập ở nhiều châu, huyện từ bờ sông Lô đến quốc lộ số 3 và về phía nam tới gần tỉnh lỵ Vĩnh Yên.

Tại Chiến khu Lê Lợi, Ban thường vụ liên tỉnh Cao — Bắc — Lạng họp vào ngày 10 tháng 3 năm 1945 đã quyết định:

1. Lập tức đánh đổ chế độ thống trị của Pháp ở nông thôn, rồi tùy nơi thành lập chính quyền nhân dân cấp xã, châu, huyện, phủ hay đến cấp tỉnh.

2. Phân phối cán bộ của Đội tuyên truyền về cùng với các đội vũ trang của địa phương tổ chức thêm những đơn vị Giải phóng quân, chuẩn bị trực tiếp đánh Nhật.

3. Đối với quân đội Pháp, chủ trương không tập kích lúc họ rút lui, trái lại, tích cực kêu gọi họ cùng nhau tổ chức chống Nhật.

Thực hiện chủ trương đó, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chia làm nhiều bộ phận, tỏa đi các nơi lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Một bộ phận sang chiến đấu ở Bảo Lạc (Cao Bằng) rồi tiến về mạn Thất Khê, Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn), phối hợp hành động với Cứu quốc quân. Một bộ phận ngược lên biên giới Việt—Trung, đánh đồn Sóc Giang, giải phóng châu Hà Quảng. Sau đó, tiếp tục tiến công về phía Bắc Quang (Hà Giang). Còn bộ phận lớn do anh Văn chỉ huy tiến xuống châu Ngân Sơn, bao vây đồn Ngân Sơn và kêu gọi địch ra hàng. Tên đồn trưởng Pháp kéo toàn bộ binh sĩ ra hàng Việt Minh. Sau đó, tiến về giải phóng Chợ Rã, huyện Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Chiêm Hóa (Tuyên Quang). Tới đâu Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quần cũng được quần chúng mang theo cờ đỏ sao vàng và vũ khí thô sơ hoan nghênh nhiệt liệt và cùng phối hợp tước vũ khí của bọn lính dõng, thu bằng triện của bọn tổng lý, trừng trị Việt gian, lập chính quyền cách mạng. Tại các địa phương, Đội đều chú ý phát triển và củng cố các Hội cứu quốc, đặc biệt chú trọng xây dựng các đội tự vệ chiến đấu và du kích để bảo vệ chính quyền nhân dân mới được thành lập.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:27:31 am
*
*   *

Tôi không bao giờ quên được cái ngày cuốí tháng 3 năm 1945 đáng ghi nhớ ấy!

Một cánh quân của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do anh Văn chỉ huy về đến Chợ Chu.

Hơn một năm trước, anh Văn và tôi gặp nhau trên đỉnh núi cao, ở một xóm nhỏ người Mèo, trong một hoàn cảnh còn phải giữ bí mật.

Lần này, trong khí thế mới, chúng tôi gặp nhau trên đất Chợ Chu vừa được giải phóng, không phải chỉ có hai người và một vài cán bộ đi cùng mà là cuộc gặp nhau của hai đội quân. Vui mừng xiết bao khi tôi gặp lại anh Văn, giữa ban ngày, giữa phố chợ đông đúc. Bao nhiêu chuyện muốn nói với nhau!

Ai có thể ngờ cái điều tôi mong ước cuối mùa đông năm trước mà mới chỉ có ba tháng sau đã được thực hiện! Thế là hai cánh quân Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân đã gặp nhau. Và hai người đồng chí quen nhau và mến nhau từ sau Hội nghị Lũng Hoàng, đã từng lo lắng cho nhau trong thời gian địa phương bị địch khủng bố, nay lại thấy mặt nhau, khỏe khoắn hơn trước, phấn khỏi hơn trước. Chúng tôi bứt tay nhau thật chặt, cười sung sướng và nhìn nhau bằng đôi mắt sáng ngời.

Cuối năm ngoái, nghe phong thanh tin thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đến lúc này, gặp anh Văn ở Chợ Chu tôi mới được biết cụ thể những chỉ thị cụ thể của đồng chí Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 12 năm 1944 và quá trình xây dựng, chiến đấu của Đội trong mấy tháng qua.

Tôi mừng lắm. Mừng vì gặp lại anh Văn. Mừng vì phong trào Bắc Sơn, phong trào Cao Bằng, phong trào cả nước phát triển rất nhanh. Mừng vì sự lớn mạnh của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, của Cứu quốc quân. Tôi tin tưởng chắc chắn là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phỏng quân sẽ làm được đúng như Bác Hồ đã dạy; «... Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta ».

Những chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh về việc thành lập Đội Vịệt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân làm cho tôi suy nghĩ nhiều đến tình hình, nhiệm vụ của Cứu quốc quân từ trước đến nay và từ nay về sau. Phương châm hoạt động vũ trang tuyên truyền, chính tri trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, dùng hoạt động vũ trang mà bảo vệ, củng cố và phát triển cơ sở chính trị mà tiến tới một bước củng cố và phát triển lực lượng vũ trang và nửa vũ trang không những đúng với Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân mà còn là ánh sáng soi rọi cho mọi hoạt động của Cứu quốc quân.

Nhớ lại hồi đồng chí Lê Quảng Ba nói là «Ông Ké thượng cấp đi công tác xa chưa biết bao giờ về», tôi liền hỏi anh Văn về chuyện ấy. Anh Văn gật đầu cười vui vẻ, nhưng ở ngay giữa phố chợ không tiện nói nhiều, anh hẹn lúc nào đó sẽ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ từ khi Bác trở lại Cao Bằng.

Trên một bãi cỏ ở Tổng Quằng, chúng tôi tiến hành một cuộc hội nghị giữa hai cánh quân để nghe phổ biến về tình hình thế giới, trong nước, đồng thời nhận định và thảo luận về thời cơ khởi nghĩa. Tất cả đều ngồi vòng tròn. Dự hội nghị có các anh Văn, Tống, Song Hào, Khang (bí danh lúc bấy giờ của anh Hoàng Văn Thái), Trung Đình và tôi. Nữ thì có các chị Thanh, Cầm, Loan và Ngọc. Anh Văn chủ trì cuộc họp này, đề nghị tôi phát biểu trước. Anh em khác cũng phát biểu tập trung vào tình hình thế giới và thời cơ. Sau đó hai cánh quân sát nhập với nhau và cùng nhau bố trí đánh bọn Nhật lên cây số 31 Bắc Cạn, sau đó chia nhau đi làm công tác dân vận...

Trên đường làm nhiệm vụ, tôi nhận được thư triệu tập họp của Ban thường vụ Trung ương Đảng...

Ban thường vụ Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự Cách mạng Bắc Kỳ ở Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang), do đồng chí Trường Chinh tổng bí thư của Đảng chủ trì. Hội nghị tiến hành trong sáu ngày từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945. Đây là hội nghị quân sự quan trọng đầu tiên của Đảng ta.

Anh Trường Chinh điều khiển cuộc họp này.

Anh Văn báo cáo tình hình phong trào Cao Bằng — Bắc Cạn và những hoạt động của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại đây. Tôi báo cáo tình hình phong trào và những hoạt động của Cứu quốc quân tại Thái Nguyên — Tuyên Quang. Hội nghị cho tôi cái nhìn bao quát khắp nơi. Lúc đó tôi mới hiểu được rằng một cao trào kháng Nhật đang lên mạnh từ Bắc chí Nam: Nhiều cuộc biểu tình vũ trang hàng hai, ba ngàn người kéo đi đánh chiếm kho thóc trong các đồn điền Tây phản động và các kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thái Nguyên v.v. Nhiều vùng ở Trung du đã có ủy ban giải phóng dân tộc. Anh em tù chính trị Nghĩa Lộ (Yên Bái) nổi dậy phá ngục. Ngoài những lực lượng vũ trang của Đảng tại Việt Bắc, còn rất nhiều những đội tự vệ và tự vệ chiến đấu ở Trung du, ở miền xuôi và cả ở trong các thành phố lớn. Ở Quảng Ngãi, du kích cũng nổi dậy, đó là đội du kích Ba Tơ. Ở Nam Kỳ, Việt Minh hoạt động ở Mỹ Tho và Hậu Giang...

Hội nghị nêu ra những ưu điểm và khuyết điểm của phong trào kháng Nhật, cứu nước của nhân dân Đông Dương. Hội nghị nhận định : Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Phải tích cực phát triển chiến tranh du kích gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ. Trong nhiệm vụ quân sự, chúng tôi đều thấy cần phải vạch rõ và định nhiệm vụ các Chiến khu ; đánh thông liên lạc giữa các Chiến khu Bắc Kỳ và Trung, Nam Kỳ ; gây dựng những căn cứ địa kháng Nhật; thống nhất, củng cố và phát triển các lực lượng vũ trang, thống nhất chỉ huy quân sự, tổ chức các đội quân đặc biệt v.v. Theo nghị quyết tháng 4 năm 1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất lại. Hội nghị cử ra Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ để chỉ huy các Chiến khu miền Bắc Đông Dương (Chiến khu Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo), đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ về mặt quân sự cho cả nước. Trung ương chỉ định các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn... tham gia ủy ban này. Về vấn đề cán bộ, sẽ chọn trong các lực lượng vũ trang một số đội viên khá, huấn luyện thành đội trưởng và chính trị viên ; mở trường quân chính kháng Nhật; thu dụng nhân tài; lấy học sinh lên Chiến khu học quân sự; cán bộ phải quân sự hóa.

Một không khí mới, tràn đầy phấn khởi và tin tưởng bao trùm mọi nơi. Bao nhiêu công việc phải làm. Chúng tôi có cảm giác thời gian cứ chạy vùn vụt...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:28:09 am
*
*   *

Sau khi dự Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, anh Văn về đến Chợ Chu (Định Hóa) đúng vào ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5. Chấp hành Nghị quyết tháng 4-1945, anh triệu tập hội nghị ở Định Biên thượng tuyên bố chính thức việc thống nhất các lực lượng vũ trang, xác định lại tư tưởng cho anh em về nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Ngoài anh Văn, về phía cán bộ chủ chốt có các đồng chí Hiến Mai, Môn, Khánh Phương...

Sau đó, được tin Bác Hồ sẽ từ Cao Bằng về xuôi, anh Văn đã phóng ngựa lên phía Đèo Re để đón Bác.

Chúng tôi vẫn công tác ở vùng Chợ Chu. Được ít ngày, anh Văn có thư về nói «chuẩn bị đón Ông cụ». Chúng tôi và anh Quang Trung kéo quân lên bố trí ở Đèo Só để bảo vệ con đường Bác về, mừng đón Bác. Sau lại có thư của anh Văn báo lại là «Bác đi đường trong rồi. Bác sẽ về Sơn Dương ». Anh em chúng tôi lại quay trở lại, qua Đèo Re, xuống Định Hóa, đi vào Thanh Điều, Lục Rã, ra đình Hồng Thái đón Bác.

Bác ở lại ít ngày tại một gia đình cơ sở xóm Kim Long (Tân Trào) rồi chuyển lên một lán nhỏ làm trên sườn đồi. Thời gian này đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở xuôi lên và đồng chí Hoàng Quốc Việt ở nước ngoài mới về, cũng đến Tân Trào.

Bác đã chọn Tân Trào làm chỗ ở và làm việc để chỉ đạo phong trào cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân.

Sau khi nghe báo cáo tình hình chung cả nước về Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Người chỉ thị: Vùng giải phóng miền núi Bắc Bộ đã bao gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng bên ngoài các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên, địa thế nổi liền nhau, cho nên cần thành lập một khu căn cứ cách mạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng. (Tân Trào được chọn làm thủ đô của Khu giải phóng). Thống nhất các lực lượng vũ trang lại do Trung ương trực tiếp lãnh đạo là rất đúng. Nên đặt tên là Giải phóng quân vì chữ Giải phóng nó vừa giản đơn, dễ hiểu, vừa rõ ràng, sâu sắc, nó chỉ rõ mục đích đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng đất nước, mưu cầu độc lập.

Chấp hành chỉ thị đó, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị tuyên bố chính thức thành lập Khu giải phóng, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời và phải được xây dựng vững chắc về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa, để làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng cả nước.

Lúc bấy giờ, tình hình cụ thể của các Chiến khu, các địa phương trong Khu giải phóng rất khẩn trương. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Thường trực của ủy ban, một mặt giữ liên lạc với bộ phận Trung ương ở dưới xuôi, với các đồng chí Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh tại Bắc Giang, một mặt giữ liên lạc với Cao Bằng, Bắc Sơn.

Trong Khu giải phỏng, các Ủy ban nhân dân cách mạng do nhân dân cử lên đã thi hành 10 chính sách lớn. Mười chính sách đó là :

1. Thủ tiêu lực lượng của Nhật, trừ khử Việt gian, trừng trị lưu manh.

2. Tịch thu tài sản của lũ giặc nước và của Việt gian, tùy trường hợp để làm của chung toàn dân hoặc chia cho dân nghèo.

3. Thực hiện phổ thông tuyển cử và các quyền tự do dân chủ khác.

4. Vũ trang quần chúng, động viên nhân dân ủng hộ du kích và tham gia Giải phóng quân chống Nhật.

5. Tổ chức khai hoang, khuyến khích sản xuất, thực hiện kính tế tự túc cho Khu giải phóng.

6. Hạn chế ngày lao động, thi hành luật bảo hiểm xã hội, cứu tế nạn dân.

7. Chia lại ruộng công, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ.

8. Bỏ thuế khóa và phục dịch, dự định đặt thuế lũy tiến lợi tức duy nhất và nhẹ.

9. Chống nạn mù chữ và huấn luyện quân sự, chính trị phổ thông cho nhân dân.

10. Dân tộc bình đẳng, gái trai ngang quyền.

Nước Việt Nam mới ra đời. Một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng. Hơn một triệu đồng bào đã bắt đầu được hưởng một cuộc sống mới do cách mạng đem lại...

Với sự thống nhất các lực lượng vũ trang, Giải phóng quân lúc này khá đông đảo đã tổ chức thành những chi đội. Hầu hết các đội viên cũ của những đơn vị Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân trước đây bây giờ đều trở thành những cán bộ chỉ huy.

Vấn đề đào tạo. huấn luyện cán bộ trở nên rất khẩn thiết. Đầu tháng 7-1945, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Trường quân chính kháng Nhật ra đời do anh Hoàng Văn Thái phụ trách, nhằm đào tạo các trung đội trưởng và chính tri viên trung đội. Nhà trường được dựng lên ở Khuổi Kịch, bên bờ một con suối, nơi các bà các chị người Dao đã chứng kiến lễ thành lập Trung đội Cứu quốc quân III. Học sinh được tuyển lựa trong hàng ngũ Giải phóng quân và những thanh niên ở miền xuôi được các đoàn thể cứu quốc giới thiệu.

Chính quyền nhân dân trong toàn Khu giải phóng được chỉnh đốn lại bằng bầu cử, theo phổ thông đầu phiếu. Mỗi xã đều có một nhà Hội đồng cứu quốc, nhân dân thường đến họp để nghe tình hình và bàn bạc những việc chung...


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:29:02 am
*
*   *

Vừa được tin giặc Nhật hoàn toàn tan rã và đã xin đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh, ngày 12 tháng 8 năm 1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ lệnh khởi nghĩa cho Giải phóng quân, các đội tự vệ các ủy ban nhân dân cách mạng và toàn thề nhân dân trong khu.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc ở Tân Trào. Tham dự Hội nghị có đủ đại biểu các Đảng bộ Bắc, Trung, Nam và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài

Trong tình hình vô cùng khẩn trương, Hội nghị đã làm việc trong ba ngày. Để đảm bảo lãnh đạo tổng khởi nghĩa thắng lợi, Hội nghị đề ra 3 nguyên tắc :

1. Tập trung: tập trung lực tượng vào những việc chính,

2. Thống nhất: thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, lãnh đạo và chỉ huy.

3. Kịp thời: kịp thời hành động, không bở lỡ cơ hội.

Hội nghị nhấn mạnh «phải tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh», «đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng không kể thành phố hay thôn quê».

Ngay đêm 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập, ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa.

Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc thì Đại hội quốc dân cũng họp ngay ở Tân Trào vào ngày 16 tháng 8. Đại hội quyết định quốc kỳ, quốc thiều và cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Chấp hành lệnh của Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng phát ra từ ngày 12 tháng 8 và của ủy ban khởi nghĩa, các Đội Giải phóng quân đã liên tiếp hạ các đồn Nhật còn lại thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn. Thái Nguyên, Yên Bái v.v. rồi tiến lên giải phóng các thị xã.

Ngày 16 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. xuất phát từ Tân Trào, tiến đánh thị xã Thái Nguyên để mở đường tiến về Hà Nội.

Ngày 17 tháng 8, Giải phóng quân tiến đánh tỉnh lỵ Tuyên Quang. Phát-xít Nhặt bắn lại, nhưng trước khí thế của quân cách mạng, chúng phải xin điều đình và ngày 21 tháng 8, chính quyền tỉnh đã về tay Việt Minh...

Giải phóng quân đi trong bão táp cách mạng đang cuồn cuộn dâng lên. Toàn thể đảng viên Cộng sản, chiến sĩ Việt Minh và nhân dân cả nước tỏ rõ ý chí quyết tâm và tinh thần dũng cảm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đúng như lời căn dặn của Hồ Chủ tịch :

«Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập».



Từ những ngày ấy đến hôm nay, thấm thoắt 24 năm đã qua đi. Việt Bắc — cái nôi của các lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của Đảng — đã thay da đổi thịt nhiều lắm. Nhớ lại những năm tháng sống ở khe Khuổi Nọi, trong khu rừng Khuôn Mánh, trên bờ suối Khuổi Kịch, những nơi đã được chứng kiến lễ thành lập của các Trung đội Cứu quốc quân I, II và III, tôi vẫn còn thấy bồi hồi xúc động. Hình ảnh những người đồng chí thân yêu đã khuất, tôi vẫn còn giữ mãi trong tim: anh Vân, anh Trần Đăng Ninh, anh Phùng Chí Kiên, anh Lương Văn Chi. Các anh là những người lãnh đạo và chỉ huy đầu tiên của Cứu quốc quân, những người được nhân dân các dân tộc Việt Bắc hết mực yêu thương, đùm bọc và kẻ thù rất đỗi khiếp sợ.

Là con đẻ của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, quá trình phát triển của Cứu quốc quân gắn liền với phong trào Bắc Sơn. Cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân là những thanh niên trai và gái thuộc các dân tộc cùng chịu chung một số phận của đất nước Việt Nam bị áp bức, đè nén, nhưng đã được ánh sáng của Đảng soi rọi tới, thức tỉnh, giáo dục, rèn luyện, tổ chức và bồi dưỡng, họ đã cầm vũ khí, hướng theo mục đích cách mạng của Đảng mà tiến lên.


Tiêu đề: Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2019, 08:32:23 am
Được Đảng sinh ra và nuôi dưỡng, qua quá trình hoạt động thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở Khu giải phóng, Cứu quốc quân đã tận tụy hy sinh, đã tỏ ra hết sức trung thành với Đảng, đi sâu vào quảng đại quần chúng của nhân dân các dân tộc.

Cứu quốc quân đã làm tròn vai trò lịch sử của nó. Qua từng thời kỳ hoạt động, nó đã đạt được một số thành tích nhất định. Sở dĩ được như vậy là do Cứu quốc quân đã được sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt của Trung ương Đảng và đã dựa chắc vào nhân dân các dân tộc.

Ngay từ khi mới được thành lập, Cứu quốc quân đã được sự đặc biệt quan tâm chăm sóc về mọi mặt của Trung ương Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển thắng lợi của Cứu quốc quân. Dưới ánh sáng của các nghị quyết, các chỉ thị của Đảng, Cứu quốc quân đã vượt qua muôn ngàn khó khăn, từng bước tiến lên. Chính nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, mà Cứu quốc quân, ngay từ đầu và mãi mãi sau này đã có được, đã giữ vững và ngày càng phát triển phẩm chất chính trị tốt đẹp của một lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng vũ trang của nhân dân, vì nhân dân.

Được sự đùm bọc của nhân dân các dân tộc, đứng vững trên miếng đất, trên cơ sở chính trị đã sinh ra mình, Cứu quốc quân đã thực sự trở thành một lực lượng mà bất cứ kẻ địch tàn bạo, xảo quyệt nào cũng phải khiếp sợ.

Mọi thắng lợi của Cứu quốc quân từ nhỏ tới lớn đều bắt nguồn từ nhân dân, nhờ nhân dân mà có. Chấp hành chỉ thị của Đảng, Cứu quốc quân ngày càng chú ý kết hợp chặt chẽ giữa phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị với việc xây dựng, chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Sự trưởng thành của Cứu quốc quân còn gắn liền với sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước, với phong trào cách mạng và các lực lượng vũ trang ở căn cứ địa Cao Bằng, nhất là với Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Những Nghị quyết của Hội nghị ở Lũng Hoàng đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Cứu quốc quân. Sau tháng 6 năm 1945, Cứu quốc quân sát nhập với Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Hoạt động của Việt Nam Giải phóng quân đã vượt ra ngoài phạm vi căn cứ địa Việt Bắc, thực, hiện đúng chỉ thị của Hồ Chủ tịch «... đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta».

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân ta, các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã tiến từ thắng lợi này tới thắng lợi khác lo lớn hơn, đã làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Nhìn những lá cờ đỏ sao vàng năm cánh rực rỡ tung bay hiên ngang khắp nơi, từ rừng núi đến miền xuôi, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ tiếc những đồng chí Cứu quốc quân và quần chúng nhân dân đã bỏ mình vì nước. Tuy không được tận mắt nhìn thấy cái thế đứng uy nghi, lẫm liệt của Việt Nam ngày hôm nay trên bờ Biển Đông, tiền đồn chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ xâm lược và đang đánh thắng đế quốc Mỹ, từ những ngày trong tay chỉ có vũ khí thô sơ, súng kíp và giáo mác, họ đã trông thấy được tương lai tươi sáng của đất hước mà chiến đấu quên mình.

Khi kể lại những việc đã qua, tôi luôn luôn nhớ đến các đồng chí đó, mong thay mặt các đồng chí mà giới thiệu lại một vài giai đoạn tranh đấu, giúp các bạn trẻ hiểu thêm những ngày sơ khai của quân đội ta.

Tôi không có tham vọng nói lên ở đây những bài học của Cứu quốc quân, đúc kết kinh nghiệm này nọ. Đó có thể là nội dung của một cuốn sách khác. Ở đây chỉ là một số kỷ niệm sâu sắc không thể quên của tôi mà thôi.

Có nhiều việc lâu ngày quên đi không nhớ hết được, nên có thể có nhiều thiếu sót. Vả lại, đây cũng chỉ là những phần chính mà tôi được biết, còn bao nhiêu công việc khác của các đồng chí Cứu quốc quân hoạt động trong điều kiện phân tán lúc đó, tôi cũng không nắm hết được. Nếu có điều gì sai sót, mong các đồng chí khác bổ sung.

Mùa thu 1969
                                                                                                                                                                           
     
NGỌC TỰ ghi