|
Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:11:00 am Tên sách: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo
Triều Ân ghi theo lời kể của Thượng tá Đặng Việt Hưng Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Năm xuất bản: 2014 Số hóa: macbupda (https://i.imgur.com/OFHTeOG.jpg) (https://i.imgur.com/FeR2WXK.jpg) Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:11:45 am PHẦN THỨ NHẤT 1. Quê tôi nằm trong khu vực núi đá tai mèo phía tây tỉnh Cao Bằng. Nhìn trên bản đồ, dãy núi đá ấy khởi đầu từ xã tôi, xã Phúc Tăng, tổng Nhượng Bạn, châu Thạch Lâm, tỉnh Cao Bằng (ngày nay là xã Hồng Việt, huyện Hòa An, Cao Bằng) kéo về hướng tây bắc. Dãy núi trùng điệp, hùng vĩ gồm núi đá tai mèo chạy dài qua huyện Nguyên Bình, qua tổng Thông Nông (xưa) của huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng; qua châu Chợ Rã (nay là Ba Bể) của Bắc Kạn; qua châu Bảo Lạc (nay gồm cả huyện Bảo Lâm) của Cao Bằng; qua châu Na Hang (Tuyên Quang), rồi qua Bắc Mê, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn... của Hà Giang và rồi nối vào cao nguyên Vân Nam - Quý Châu của Trung Quốc. Vùng núi dá địa đầu Hồng Việt này vốn là căn cứ địa cách mạng từ những năm 1930, khi phong trào cách mạng có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tại Nặm Lìn (xã Hoàng Tung), chi bộ Đảng đầu tiên của Cao Bằng được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1930. Tại Thôm Luông, chi bộ thứ hai của Cao Bằng thành lập ngày 6 tháng 6 năm 1930. Trước năm 1928, hai địa danh trên đây nằm trong cùng xã Phúc Tăng. Cuộc sống nhân dân dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp thuở đó vô cùng cay cực, sưu cao, thuế nặng, phu phen tạp dịch liên miên, nghèo đói đè nặng lên người lao động tưởng chừng không thể ngóc đầu được... Khi được cách mạng phát động, xã Hồng Việt là một trong những xã căn cứ địa oai hùng, gian khổ mà anh dũng. Tôi sinh năm 1918, được đi học đàng hoàng vì dòng họ tôi vốn có truyền thống hiếu học. Cụ thủy tổ họ Hoàng lên Cao Bằng dẹp Mạc năm 1677 vốn là viên quan Lê triều Tả thị lang Hoàng Triều Hoa, quê Gia Miêu trang, Tống Sơn huyện, Thanh Hoa trấn (nay là Thanh Hóa). Tôi vốn họ Hoàng, tên khai sinh là Hoàng Thành Châu, nhưng sau này bí danh hoạt động cách mạng lại đặt là Đặng Việt Hưng. Tôi theo học trường Primaire Franco - Indigène de Nước Hai (Tiểu học Pháp - Việt Nước Hai) hết năm 1934. Năm 1936 có thầy đồ người Nam Định (thầy Trần Thế Mỹ) đến mở trường dạy chữ Nho ở trong làng. Tôi vốn có chí, noi gương cha tôi (Hoàng Đức Tô) cùng hai chú ruột (Hoàng Đức Khải, Hoàng Đức Triều) nổi tiếng học giỏi, thi tuyển ở tỉnh đều đỗ thủ khoa, nên tôi học hành tấn tới, chữ đẹp (thuở ấy gọi là văn hay chữ tốt). Một năm mà tôi đã được học trọn bộ Tân thư, học kèm thêm quyển Văn ngôn của người Tàu, bộ Mạnh Tử trọn vẹn. Năm 1936 này nổi lên phong trào cách mạng đòi tự do dân chủ, Đảng phát động yêu cầu đế quốc Pháp cho dân chúng được tham gia Đông Dương Đại hội, toàn dân ký vào đơn đề ra nguyện vọng cùng yêu sách mang lên gặp quan tuần phủ (đứng đầu tỉnh). Cha tôi đang làm chức dịch Phó tổng (tổng là đom vị hành chính trên xã, là cấp dưới châu) được tổ chức vào Nông Hội đỏ năm 1934, và làm tổ trưởng một tổ gồm cha tôi Hoàng Đức Tô (Việt Hòa) làm tổ trưởng, Hoàng Đức Hương, Hoàng Đức Ngô (Cao Manh). Đoàn thể Nông Hội đỏ ở xã cử cha tôi (Việt Hòa) đứng đầu đoàn biểu tình mang đơn lên tuần phủ trên tỉnh. Cuộc biểu tình đang tiến bước thì dọc đường bị một toán lính Tây khủng bố ở ngã ba Cây số Năm, đoàn người phải giải tán. Cha tôi cùng nhiều người như Nông Văn Chí, Đàm Nhật Phủ, Đàm Văn Xàng, Dương Trọng Đàm, Hoàng Ích Tho... bị bắt giam. Sau này đồng chí Nguyễn Văn Nhiên (Thanh Cao), là Bí thư chi bộ Mỏ Thiếc Tĩnh Túc thuở ấy cũng bị bắt giam cùng cha tôi kể lại trong một cuộc hội thảo lịch sử do Tỉnh ủy Cao Bằng tổ chức (tôi có dự) rằng, cha tôi khi ấy ở trong tù có xin được anh đưa cơm cho tù nhân mẩu than đem vẽ lên tường bức tranh tên đế quốc mũi lõ đánh đập dân ta, và cha tôi đã đề vào dưới hàng chữ “Đả đảo đế quốc” khơi dậy lòng căm thù giặc của mọi người. Sau nhiều phen tra tấn khảo đả những ngày bị giam cầm, cha tôi cùng các đồng chí không khai báo gì hại cách mạng, chúng giải về giam ở Hỏa Lò, hàng ngày tiếp tục tra tấn khảo đả nhưng cha tôi một lòng trung thành với đoàn thể, không khai gì hết. Khi đó có sự lên tiếng của báo chí tiến bộ ở Hà Nội, đế quốc không thể vô cớ bắt giam người đi biểu tình... cuối cùng chúng phải thả dần. Cha tôi được thả từ nhà tù Hỏa Lò về, đồng thời bị cách chức Phó tổng. Qua cuộc đấu tranh năm 1936 ở quê tôi và nhìn gương cha tôi, tôi càng hiểu đời sống người dân sông trong xã hội bị đế quốc ngoài đè nén áp bức cũng như những gương quần chúng phải vùng lên đòi quyền sống của mình như thế nào. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:12:25 am 2.
Sang năm 1937, một cuộc biểu tình vĩ đại của toàn tỉnh tập trung ở tam kỳ lộ Hạ Hoàng - Xuân Phách, những mấy ngàn người đón phái viên của Mặt trận Bình dân bên Pháp sang điêu tra cuộc sống dân chúng thuộc địa như thế nào, theo chủ trương của Chính phủ Bình dân do Lêông B’lum đứng đầu. Phái viên tên là Giuýttanh Gôđa đã niềm nở nhận nhiều đơn dân nguyện của các đoàn dân chúng đưa lên trước con mắt tức tối của tên quan năm công sứ tỉnh Cao Bằng. Cuộc biểu tình thắng lợi là do có Đảng Cộng sàn lãnh đạo; có các anh ở Tỉnh ủy: Lê Đoạn Chu (Nam Cao), Hoàng Đức Thạc (Nam Bang - sau gọi là Là), Đoàn Ngọc Rê (Cao Cường - Dương Công Hoạt); ở châu ủy: Hoàng Đức Triều (An Định), Đoàn Nguyên Nhật (Hồng Kỳ), Hoàng Thế Trụ (Bích Tùng)... động viên, mọi người đều hăng hái nên có khí thế. Trong cuộc mit-tinh ấy đoàn thể lại còn tổ chức chơi vui hội xuân vì chờ ngày phái đoàn đi vút qua nhanh quá bảy ngày sau, khi trở lại mới đưa được đơn dân nguyện... Tôi cùng anh em thanh niên cùng làng Phúc Tăng được vào chơi nhà bán sách báo ở tam kỳ lộ Hạ Hoàng, gặp nhiều bạn cùng trang lứa, trong đó biết anh chủ Hoàng Khắc Tiệp (bí danh Giang Từ - sau gọi Siêu Hải), biết nơi đây là một điểm quan trọng, sau này biết đấy là nơi liên lạc của Xử ủy Bắc Kỳ với Tỉnh ủy Cao Bằng. Qua cuộc gặp gỡ tôi được biết thêm tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản có anh Lê Vãn Thùy (Đại Tiến) và Nông Vãn Đê (Đại Liên) lãnh đạo; gặp và nhớ mãi câu nói chị Khuyên (sau làm cán bộ lấy tên là Hồng Đào) nói, dân Kế Nông gọi khinh thanh niên Phúc Tăng là “cái món bí đỏ” vì nghèo chuyên ăn, chuyên bán bí đỏ trồng trên núi đá tai mèo, ăn mặc rách rưới; cỗ cưới không nhiều thịt mà chủ yếu cũng là bí đỏ. Tôi còn được biết thanh niên Hạ Hoàng - Xuân Phách giúp nhau tổ chức học chữ quốc ngữ nên nhiều người đọc được báo chí. Sau cuộc mít-tinh thắng lợi, trên đường về, chú Hoàng Đức Tân xoa vào lưng tôi và nói: - Để chú xem lưng anh thế nào? Ôi thanh niên gì mà sống lưng nổi lên gầy guộc như lưng con cáng sé, còn thằng quan năm công sứ và Gôđa. anh trông thấy đấy cứ gọi là mập mạp, béo ụ, lưng thì phẳng lì như tấm phản... Bao nhiêu ấn tượng về cuộc mít-tinh năm 1937 còn mãi trong tôi. Về làng, tôi tìm đến với Đoàn thanh niên cộng sản (sau lại gọi là Thanh niên Phản đế). Anh Lê Văn Thùy đã tổ chức tôi vào đoàn thể này. Bắt đầu, tôi mang thẻ đinh từ năm 1937. lên đường theo bao nhiêu nông phu khác đi phu làm đường, bắt đầu phải nộp thuế đinh (tức là thuế đánh vào con người sống ở đời). Hôm ấy lý trưởng đến bắt phu làm đường Nước Hai lên tỉnh. Khi lên châu, mọi người đã thì thầm truyền nhau là phải đấu tranh không đi phu, vì lúc này nhà nông đang bận làm mùa, nếu không làm được sẽ đói. Và đòi lần khác nếu có đi thì phải được cấp tiền và gạo trước, để có cái ăn. Những người nói năng giỏi giang lúc ấy là anh Lê Văn Thiên (Lê Lợi), Hoàng Nguyễn Kiên (Bình Dương), Hoàng Đức Viên (Bình Nghi - Bắc Dũng) được anh em cử ra nói với tri châu Nông Ích Văn. Quan tri châu nói rằng, cái này phải thưa bẩm lên tỉnh. Đoàn dân phu lại kéo lên tỉnh. Đến bờ sông Mãng, quan tuần phủ cùng toán lính đủ súng ống trên tay cản lại. Nghe yêu cầu của đoàn biểu tình, tuần phủ hứa hẹn và yêu cầu không được kéo về tinh làm mất trật tự trị an, quan năm công sứ sẽ quở. Mọi người trở về. Sau đó quả nhiên không thấy trên châu bắt phu làm đường nữa. Học tập thanh niên Xuân Phách - Hạ Hoàng, thanh niên chúng tôi cũng dạy nhiều người chưa biết chữ quốc ngữ. Lớp học mở vào ban đêm rỗi rãi, học theo nhóm ba bốn người chứ không có lớp. Nhờ vậy nhiều anh chị em trong xóm cùng đọc được sách báo. Thời ấy, tri châu phát băng bìa (thẻ đinh) về xã là khống chi. Lý trưởng trưng dụng nhiều người chữ đẹp lên giúp viết tên họ dân đinh lên băng bìa. Viết mỏi cả tay, làm nhiều ngày mà không có thù lao gì. Kể cả nhiều việc vặt hầu hạ đi làm ở nhà lý trưởng, cũng không công. Chúng tôi thấy bất công bèn rủ nhau: Hoàng Thành Châu, Hoàng Đức Lộc, Hoàng Đức Nhị, Lương Văn Đoạn, Hoàng Vãn Gioọng cùng viết một đơn kêu, đòi phải được trả thù lao. Chúng tôi cùng kéo lên đưa đơn cho tri phủ Nông ích Văn. Quan phủ nhận đơn, khuyên chúng tôi không nên làm những việc rầy rà. Ông ta cũng không mắng nhiếc gì. Chúng tôi cũng rủ nhau đi về. Lúc này chúng tôi mới hiểu dần cách mạng vá dám đấu tranh với bất công xã hội. Việc làm gần như tự phát, khi bị chạm quyền lợi thì phàn ứng, chứ chưa hiểu biết gì về phương pháp đấu tranh. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:14:33 am 3.
Sang năm 1938, châu Thạch Lâm nổi bật lên nhiều sự kiện. Nguyên là châu Thạch Lâm từ ngày có Đảng Cộng sản lãnh đạo thường xuyên nổ ra những cuộc biểu tình chống phu, chống thuế, đình công, lãn công, treo cờ khẩu hiệu những ngày quốc tế lao động, ngày kỉ niệm Xô Viết Nghệ Tĩnh... Phong trào phát triển ngày càng rộng, ảnh hưởng đến các châu khác. Đế quốc ra sức tung mật thám dò la tìm bắt những người cầm đầu cộng sản. Nhưng chúng đều bất lực. Sang năm 1938, đế quốc không tuyển lính người Thạch Lâm vì sợ người lính Thạch Lâm đỏ sẽ là cái mầm cách mạng nẩy nở trong hàng ngũ quân đội của chúng. Đế quốc cho tay chân lập danh sách những người tình nghi phản loạn và chúng tiến hành bắt bớ tra khảo dần để tìm ra người lãnh đạo. Cuộc bắt bớ xảy ra liên tiếp ngày càng ác liệt... Tôi đã tham gia tổ chức đoàn thanh niên, tham gia các hoạt động của đoàn thể nên có thể cũng bị lộ, cũng có thể ở diện bị tình nghi. Cho nên tôi phải chủ động kiếm cớ ra khỏi khu vực Thạch Lâm. Sau khi bàn bạc và được sự đồng thuận của cha mẹ, tôi quyết định đi xa để kiếm ăn. Vốn liếng chữ nghĩa tôi có, nên tôi nghĩ sẽ đi làm hương sư, nơi nào cần thì tôi dạy học (do dân tự lập lớp học và thu học phí trả công thầy dạy). Tôi cùng Hoàng Đức Tú (cùng xóm) rủ nhau rời khỏi Thạch Lâm (Cao Bằng), sang Ngân Sơn (tinh Bắc Kạn), rồi từ Ngân Sơn, Phủ Thông lẽo đẽo vào Chợ Rã. Chúng tôi trú chân ở nhà hai chú Xịnh, Sáng ở Phya Mèo vài hôm. Hai chú vốn là nô bộc của họ Hoàng tôi, khi có tuổi trở về quê ở Chợ Rã. Sau vài hôm chúng tôi lại tiếp tục đi, ý định lần sang mạn Hà Giang mới đừng chân. Một buổi chiều hai anh em từ Bàn Thí ra đến Đầm Hồng thì may mắn gặp được ông tổng mục người Thượng Lâm, bèn hỏi đường đi Hà Giang lối nào tiện. Ông ta suy nghĩ một lúc rồi bảo, các anh đi theo tôi về Thượng Lâm rồi sẽ đi lên Lang Can, Bạch Ngọc thuộc đất Hà Giang dễ hơn. Chúng tôi nghe ông ta và tối hôm đó ngủ lại nhà ông chánh tổng thuộc xã Năng Khà (Na Hang). Bà vợ ông chánh tổng muốn cho tôi ở lại làm thư ký cho gia đình. Tôi cũng muốn chấp nhận song còn vướng ông Tú cùng đi, đành xin khất lằn khác với gia chủ. Hôm sau vào khoảng chiều thì đến nhà ông tổng mục Thượng Lâm. Ông có hai người con gái tên là Cát và Lượng. Không thấy bà nhà ở đâu, cơm nước hoàn toàn do hai chị em khoản đãi cho hai anh em chúng tôi. Hôm sau ông tổng mục đưa tôi sang thôn khác (Nà Hòa) cùng xã gặp ông thôn trưởng họ Quan. Ông ta hồ hởi cởi mở và muốn tôi thay việc dạy trẻ cho ông ta, để ông ta rảnh tay với bận rộn việc công. Tôi chấp nhận và ở nhà ông ta. Các trẻ nhỏ ở xóm Nà Hòa khá đông. Con thôn trưởng là Quan Văn Quý, học trò giỏi của tôi, sau này là cán bộ của tỉnh Tuyên Quang. Ông tổng mục cũng đưa ông Tú sang xã Khôn Hà để dạy học. Như vậy là hai chúng tôi bỏ quê ra đi đã có việc làm. Nhưng đến tết ta thì ông Tú bỏ về, tôi ở lại. Sang năm mới, sau khi hết dạy trẻ ở Nà Hỏa tôi hỏi thăm có ai người Cao Bằng sang bên này làm ăn không. Ông thôn trưởng nói, cạnh nhà em trai ông ta (tức là bố Ma Văn Hiệu) có ông Phách trước cũng sang dạy trẻ và lấy vợ cạnh đấy. Sau tết tôi xuống thăm ông Phách và ngỏ ý muốn đi cùng ông làm ăn. Ông làm gì tôi theo làm. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:16:40 am 4.
Sang tháng 6 năm 1939, tôi trở về địa phương vì thấy da bụng tự nhiên căng và đầy lên. Người địa phương cho biết đấy là bệnh sốt rét ngã nước, thường thấy ở miền núi. Tôi đành phải trở về địa phương chữa bệnh. Cuộc hành trình khá nguy hiểm, vì đi một mình lẽo đẽo từ tờ mờ sáng theo một con đường mòn vắng vẻ, mà kinh nghiêm đường rừng chỉ là vài vài sưa lài oóc t’ổng (chiều mặt trời gác núi là hổ vằn từ rừng xuống cánh đồng kiếm ăn). Tôi cũng thoáng nghĩ đến câu tục ngữ ấy nhưng chân cứ bước. Cuốc bộ mãi đến tối mịt mới tới bản Thua T’ạng (Đầu Đẳng), hỏi thăm nhà nhờ nghỉ qua đêm. Hôm sau tôi thuê đò vượt hồ nước mênh mông Ba Bể và từ đó lên bờ về Chợ Rã. Cũng ở lại nhà hai chú Xịnh, Sáng và ở đến ba hôm. Hai chú già rồi muốn tôi dạy học ở gần đấy, thậm chí muốn tìm vợ cho tôi rồi làm ăn ở đó để sớm chiều hai ông có người thân chăm sóc đỡ đần và cuối đời có làm sao thì còn có tôi lo toan thu xếp. Tôi nhận lời, chiều ý hai ông và tìm lên mạn Xuân La để tiếp tục dạy trẻ. Xuân La mở lớp không thành. Quản Mán người Dao Đỏ ở gần đấy muốn nhờ tôi vài việc. Lên ở với ông ta ít hôm thì hết việc, chơi bời thì tôi không thích nên quay về Chợ Rã và nói với hai chú Xịnh, Sáng rằng, tôi phải về quê thăm nhà đã. Quý tư năm 1939 (sau khi tôi chữa lành bệnh sốt rét ngã nước) thì có ông cai Khùy quen biết với ông lý trưởng họ Lương trong làng, đến chỗ tôi mộ phu đi làm mỏ. Tôi nhận lời và ông ta tiếp tục về xuôi mộ thêm công nhân. Gia đình tôi nhận được điện ông ta gửi từ Hà Nội lên tập trung tại nhà ông ta ở Tinh Túc. Tôi tự đi từ Bản Tấn vào Tinh Túc tìm vào nhà chị Thén (con gái ông cai Khùy) được tiếp đãi cẩn thận. Hôm sau cai Khùy dẫn một toán năm, ba người lên và đưa chúng tôi vào gặp giám đốc mỏ Renault. Chúng tôi được đi chụp ảnh (có biển số đeo ở ngực). Rồi hôm sau chúng tôi lên mỏ Phya Oắc, vào làm công việc đục đá lấy quặng. Lần đầu chúng tôi dùng búa choòng từ sáng đến chiều tối, làm phồng cả bàn tay. Cứ đều đều đến cuối ngày, anh Ca lên đốt mìn. Những ngày sau cứ thế tiếp diễn. Khí hậu trên đỉnh núi Phya Oắc khắc nghiệt. Đêm và sáng nước ở khe lạch đều đóng băng cứng, chờ đến trưa có chút nắng mờ mờ còn đỡ. Đêm đêm tôi và Nông Văn Tân (người Đông Khê) nằm chung với nhau đắp hai tấm chăn chiên (được mỏ cấp trước), tuy vậy vẫn không chịu đựng nổi, cơ thể tôi vốn yếu nay lạnh quá đâm ra ho nhiều. Tôi trốn về. Khi sắp ra khỏi khu vực, gặp thằng quản đốc Smit, nó quát hỏi: - Này anh kia, dang giờ làm việc định đi dâu? - Thưa quản đốc, rét quá lôi không chịu nổi, xin xuống khu phố Tinh Túc một buổi cho ấm người sẽ lại lên. - Đã nhận tiền vào làm rồi, rét cũng phải chịu, không đi đâu cả. Quay lại. Y không nghe và lôi tôi về nhốt ở trạm canh gác bảo vệ. Sau hai hôm, thằng Triacarh (cũng là quản đốc) mò đến nói chuyện với tôi. Cuối cùng hắn an ủi, dỗ dành: - Mày yếu hãy chịu khó làm hết tháng, tao sẽ xếp cho làm việc khác. Ý đã định nên tôi ỡm ờ cho qua. Đến khi được thả, tôi tìm cơ hội phóng tuột về nhà. Độ hai tuần sau có giấy truy nã gửi về địa phương, tôi phải lên hầu quan tri phủ Hòa An (lúc ấy là Phú Đạt) và tôi bị nhốt, hôm sau giải về tỉnh lị. Qua một đêm nhốt ở xà lim sở cẩm, sáng hôm sau tôi được gọi lên văn phòng của quan công sứ lấy cung. Trước mặt các công chức Tây, tôi vẫn đàng hoàng vì tôi không mắc nợ ai cả. Tôi khai tôi đi làm ngay từ đầu, tôi đi không nhờ một đồng tiền của cai Khùy đài thọ. Có tấm chiên mỏng tôi vẫn để lại lán tồi tàn trên đỉnh núi Phya Oắc đó. Sau khi lấy cung xong tôi được trả tự do về nhà chờ hôm xét xử phải có mặt. Một tuần sau tôi đến sớm, chờ ở cồng tòa án. Đúng 8 giờ, quan bố chính ra gọi tên tôi, rồi dẫn tôi vào hầu tòa. Trước lúc bước vào cửa tòa, bố chính dặn rằng vào gặp quan phải lạy. Tôi không nghe. Vào gặp quan công sứ và bồi thẩm là quan tư, người Pháp, tôi đứng nghiêm chắp tay cúi đầu vái chào theo lễ độ của học trò gặp trưởng giả. Tòa hỏi cung tôi cặn kẽ, sau đó tuyên bố: Hoàng Thành Châu là một người rất có lễ độ, việc đã làm không phạm pháp luật, tòa tuyên bố Hoàng Thành Châu không có tội, nay tòa tha bổng. Tôi thưa lời cám ơn và cúi chào lễ phép đi ra. Câu chuyện quá là đơn giản, ấy vậy mà sau khi được tòa xét trắng án rồi mà mấy tên công chức ở sở Cẩm còn không tin, phóng xe lên hỏi nơi lấy cung và bố chính thì thật là lạ. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:21:33 am 5.
Sang năm 1940, tôi vẫn là lao động chính của gia đình gánh vác làm ruộng rẫy, nhưng đến lúc này các em tôi cũng đã lớn, có thể làm ruộng nương được, nên tôi quyết tâm di học chữ Nho một năm nữa cho có vốn liếng, sau này ra sao hẵng hay. May cho tôi, làng bên cách chỗ tôi chừng 3 km có thầy tổng mục mở lớp dạy chữ Nho. Tôi đến xin thầy cho nhập học. Tôi và vài anh lớn tuổi như tôi cùng học với lớp trẻ, tổng cộng trên 20 đứa. Các anh lớn thường vắng mặt nhưng tôi quyết chí học. Tôi được thầy dạy qua cả bộ Đại học, Trung dung, Kinh thi... cho tôi trọn. Và thầy cũng bắt đầu ra các loại câu đối 7 chữ, 13 chữ, thậm chí nhiều hơn; thầy dạy thơ tứ tuyệt, chú yếu là Đường thi thất ngôn bát cú. Qua các câu đối thầy ra, có lúc đặt vấn đề giáo dục, có lúc lại đặt vấn đề quan hệ hôn thú. Tôi cũng biết vậy và cố gắng đối làm sao cho thấy kết quả học tập để thầy khỏi thất vọng. Thầy còn có cô con gái út chưa có nơi có chốn, thường ngày cũng ra vào nơi học hành. Bố tôi cũng thường kiểm tra các câu đối tôi làm, có lúc ông còn viết vào cạnh câu đối của thầy ra rằng: Đối cảnh gia bần chân khốn luận (Đối cảnh nhà nghèo thật khó nói) vì thấy thầy tổng mục có ghi một vế câu đối vào vở học tôi rằng: Môn đăng hộ đối khả vi lân (Cửa nhà tương xứng dễ làm thân). Công việc của tôi đối với lớp là giúp thầy dạy cho các đứa trẻ học các sách khác, tôi đều làm đủ. Viết son cho mọi đứa trẻ để chúng tập viết. Viết phóng cho từng đứa để học nét chữ của tôi. Thực ra chữ của tôi sắc nét và đẹp, có khi hơn cả thầy. Có thề nói mọi việc dạy trẻ dù là loại sách nào tôi cùng giảng dạy được hết; kể cả công việc viết lách của ông thầy phải làm cho bọn trẻ, tôi đều thay thế được hết. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:23:06 am PHẦN THỨ HAI 6. Sang năm 1941, mùa xuân về, một luồng gió cách mạng mới tràn tới bản tôi. Tôi thấy dường như những cành đào đầu ngõ cũng nở rộ đẹp hơn. Đêm đêm tôi cùng bạn bè cùng trang lứa được triệu tập đến cái động lớn Ngườm Bốc tịch mịch, xa làng để hôi họp, nghe một thanh niên đẹp trai nước da trắng trẻo giác ngộ về đời sống người dân mất nước, nói về truyền thống yêu nước của dân tộc, được nghe đọc thơ Phan Bội Châu. Hoàng Nguyễn Kiên, người thanh niên cách mạng ấy tự giới thiệu mình là cán bộ bí mật của Việt Minh. Anh nói: “Chúng ta phải cùng vào hội cách mạng, lứa tuổi nào vào hội cùng lứa tuổi ấy. Ta sẽ có các tên hội như Thanh niên cứu quốc Hội, Nông dân cứu quốc Hội, Phụ nữ cứu quốc Hội... Vào Hội phải giữ bí mật cho hội. Địch bắt bớ cũng không khai. Phái một lòng trung thành cùng đoàn thể. Đến lúc ta có lực lượng sẽ khởi nghĩa... đánh đuổi đế quốc Pháp ra khỏi bờ cõi, thu lại giang san gấm vóc của ta...”. Về tổ chức khi đó tiểu tổ Thanh niên cứu quốc Hội Bản Nưa cùng nhất trí cử Hoàng Đức Lộc làm tổ trưởng. Ai cùng có tên bí mật. Tôi có tên Việt Hưng từ đêm ấy. Cùng tiểu tổ có Hoàng Đức Lộc (Bảo An), Hoàng Đức Toán (Lưu An), Hoàng Thành Châu (Việt Hưng), Hoàng Quyết (Quốc An), Lương Văn Đoạn (Lưu Son), Hoàng Văn Gioọng (Minh An)... Chúng tôi có hỏi thêm nhiều câu hỏi, như: các nơi khác có vào hội đông không, muốn khởi nghĩa mình phải có súng ống chứ, vậy lấy đâu, bao giờ thì khởi nghĩa... Người cán bộ nói: - Đây mới là tổ chức thí điểm Việt Minh, còn những câu hỏi như vậy tôi sẽ hỏi thượng cấp, trả lời sau. Đêm chia tay, cán bộ Hoàng Nguyễn Kiên hát cho chúng tôi nghe một bài hát khó quên: Vỉ noọng ơi, ngậm nghĩ tỉnh Cao Bằng, dân boong rả, thật lầm than, khổ sở hơn t’i đai. Khau phya lẻ ăng ắc mì lai, tôm rẩy nà nọi mì... (Anh chị em ơi, ngẫm nghĩ tỉnh Cao Bằng chúng ta, dân chúng lầm than hơn nơi khác, núi non trùng trùng điệp điệp, đồng ruộng thì ít ỏi...). Một tổ chức cách mạng mới cùng bài ca gây ấn tượng và niềm tin vào một ngày mai trong tôi được nhen nhóm từ những đêm ấy. Sau này tôi biết Hoàng Nguyễn Kiên chính là anh Bình Dương, một trong số 43 thanh niên Cao Bằng trốn đế quốc truy lùng đã sang Trung Quốc vào cuối năm 1940, được dự lớp huấn luyện ở Nậm Quang do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức, cùng Lâm Bá Kiệt (anh Đồng), Dương Hoài Nam (anh Văn), Phung Chi Kiên, Cao Hồng Lãnh… lên lớp. Mồng Tám Tết, ngày hội chùa Giang Động, tôi cùng bạn bè đi hội, vào thăm thầy tống mục Ngôn, thầy dạy học của tôi, nhà ở không cách xa chùa là bao. Thầy mạnh khỏe, tươi cười tiếp người học trò quý cua thầy. Tôi chúc tết thầy. Thầy tiếp chuyện rồi một lúc sau thầy dè dặt ra câu đối: Cứu đất nước cách mạng về, bản bản hô hào vào tổ chức. Tôi xin đối lại: Giành non sông vận hội tới, nhà nhà hưởng ứng cuộc đua tranh. Thầy niềm nở nói, thế ra các con cùng đã biết một tổ chức cách mạng mới? Thầy dặn rằng, phải bí mật tuyệt đối, không thì cụt đầu. Cách mạng sẽ thắng thôi, dân ta không thể chịu mãi cuộc sống bị áp bức bóc lột thế này. Tôi thấy phán chấn trong lòng, nghĩ rằng cách mạng đã đến với mọi lớp người. Cách mạng sẽ thắng. Thầy khuyên tôi nên dùng cái trình dộ học vấn đã có để đi bảo nhiều người cùng biết chữ. Ngọc bắt trác bất thành khí/ Nhân bắt học bất tri lý. Mọi người tham gia cách mạng rất cần biết chữ. Muốn nước giàu dân mạnh thì dân tộc ta phải biết chữ. Thầy nhắc lại câu văn trong Tam tự kinh lúc này sao mà thấm thía thế! Tôi hỏi thầy “như con hiện nay làm gì được?” Thầy khuyên tôi đi dạy học, làm hương sư hoặc thầy đồ. Thầy dẫn tôi đến làng Nà Khan (quê vợ của thầy) để mở lớp học. Tôi ngồi dạy chữ Nho được hơn tháng. Nếu chỉ nghĩ có ăn hàng ngày không cần gì khác thì thấy ung dung nhàn hạ. Nhưng tôi nghĩ, bán chữ thì phải có người mua và mua bán cần với giá chấp nhận được của hai bên mua và bán. Thật ra dân chúng ở cái xóm nhỏ Nà Khan lúc này nghèo, túng quẫn, hơn nữa thời buổi chữ Nho đã không có tiền đồ, chữ Nho không thể làm ông thông phán, thầy lục sự thừa phái gì nên ai cũng không muốn bỏ tiền ra mua nữa. Vậy là lớp dạy chữ Nho ở Nà Khan không thành. Tôi trở về nhà nhưng nhớ lời thầy dạy, tôi lại đi sang phía Trà Lĩnh tìm nơi dạy học. Đến xóm Bản Pát thấy rất nhiều trẻ em lớn cở 5 đến 10-13 tuổi thất học. Ông Dương, chủ nhân có hai đứa con trai (một đứa 12, một 13 tuổi) cao lêu nghêu, muốn nhờ tôi giúp dạy dỗ. Các phụ huynh trong bản quanh vùng cùng kéo đến xin cho con theo học chữ Nho. Lớp học thu nhận được trên ba chục học trò. Nhân dân ở dây rất mộ học hành. Phụ huynh thường đến chơi lúc nghỉ ngơi, nói chuyện rất niềm nở, mến thầy dạy. Các cô gái trong bản ban đêm trăng sáng cùng đến chơi và rủ đi hát lượn thật vui. Tôi đem những điều hiểu biết về tổ chức cách mạng mới, hội Việt Minh, nói cho thanh niên địa phương nghe. Ai cũng háo hức muốn được theo làm cách mạng. Chẳng mấy chốc đã vào hè, mùa mảng bận rộn. Tôi cho lớp nghỉ, chào làng xóm hẹn hai tháng sau sẽ tiếp tục lớp học. Vẫn biết sẽ có ngày trở lại nhưng hôm chia tay là ngày chợ Trà Lĩnh, các cô gái Trà Lĩnh đội cái nón lá chóp nhọn, mặc quần áo chàm thơm phức bịn rịn đi tiễn chân tôi gần một cây số đến đỉnh đèo mới dừng lại. Những lời hát theo điệu dân ca Trà Lĩnh véo von cứ đuổi theo chân, tôi nhẹ bước trên đường về Hòa An. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:25:36 am 7.
Đã vào hè, trên đường về khi đi qua thị trấn Nước Hai, trông lên phủ lị Hòa An, tôi thấy hai bên đường dốc lên nha cũng như xung quanh công đường, hoa phượng vĩ đã nở rực đỏ sặc sỡ một màu hoa. Bên kia đồi Bản Vạn, trước sân trường tiểu học, lá cờ tam tài xanh trắng đỏ bay phấp phới trên cột cờ, nơi ấy thời thơ ấu ngày ngày tôi cắp sách đến học chữ ta chữ Tây, sáng nào lũ học trò cũng ngước mắt lên nhìn lá cờ và hát bài Marseillaisc: Allons enfants de la Patrie/ Le jour de gloire est arrivé!/ Contre nous de la tyrannie,/ L’étendard sanglant est levé! Aux armes, citoyens!/ Formez vos bataillons!/ Marchons! Marchons!/ Qu’un sang impur/ Abreuve nos sillons! (Hãy tiến lên những người con Tổ quốc/ Ngày vinh quang đã đến rồi/ Chống lại chúng ta là lũ bạo tàn/ Chúng đã giương lên lá cờ vấy máu/ Hãy cầm lấy vũ khí, hỡi những công dân!/ Hãy lập nên những đội quân/ Tiến lên! Tiến lên/ Hãy để cho dòng máu nhơ bẩn cúa quân thù/ Tưới đẫm những luống cày của chúng ta!(1) Bắt giác tôi bồi hồi nhớ các thầy, các bạn, nay đang ở dâu? Các bạn đã được gặp cán bộ bí mật Việt Minh chưa? Đã tham gia vào hội của Việt Minh chưa? Đất nước ta rồi sẽ độc lập, dân tộc ta sẽ hạnh phúc. Tôi về đến nhà, cha tôi cho biết, anh Hoàng Đức Thạc, bí danh Lã (tên trước là Nam Bang - là Phó bí thư Tỉnh ủy), người cùng quê Phúc Tăng, đã đến nói chuyện với cha cho biết đoàn thể chọn một số thanh niên khỏe mạnh, hăng hái để đưa sang Trung Quốc đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng, trong đó có Hoàng Thành Châu, cha tôi đã đồng ý, nay hỏi ý kiến con. Trong lòng tôi rạo rực một niềm vui đồng thời cũng có chút phân vân, nào bố mẹ đã già, nào nhà có một đàn em nhiều miệng ăn, chị gái thì đã đi theo nhà chồng. Tôi lại còn nhớ lớp học, các trò, các bạn gái Trà Lĩnh mến yêu. Vả lại đã hẹn hai tháng nữa tôi trở lại lớp học Bản Pát, Trà Lĩnh... Tình cảm tuổi trẻ chẳng dễ gì nhẹ gánh ra đi. Hôm sau vừa ăn cơm tối xong Hoàng Đức Lộc (Bảo An) đến gọi tôi ra chỗ cầu đá cuối cái ao làng, trong chốc lát đã thấy Hoàng Đức Thạc dẫn một đoàn người lặng lẽ đi tới. Tôi nhập đoàn. Trong nháy mát đã lại có Nguyễn Văn Càng (Thu Sơn) xuất hiện. Đoàn người hành quân lặng lê đi trong đêm tối. Đến Nà Đuốc có Nguyễn Văn Cơ (Bằng Giang) ra đón. Suốt đêm ấy, đồng chí Lã đưa chúng tôi đi thẳng tới biên giới. Trưa hôm sau có đồng chí Vũ Anh (Tổng bộ Việt Minh) đến gặp nói chuyện mục đích của đoàn thanh niên sang Trung Quốc là theo học lớp quân sự đào tạo cán bộ nhà binh cho Tổ quốc. Chuẩn bị cho khởi nghĩa, đoàn thể cần đào tạo cán bộ chỉ huy quân đội từ bây giờ. Vũ Anh yêu cầu đoàn cử cho một trưởng đoàn đế trên đường đi cũng như đến Tĩnh Tây vào gặp Biện sự sứ của Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, thay mặt đoàn khi giao dịch. Anh Sơn, bạn học tôi (lúc này đang công tác ở cơ quan Tổng bộ Việt Minh) phát biểu: - Việc cử trưởng đoàn đi sang Tĩnh Tây chỉ có anh Việt Hưng. Tôi giật mình hốt hoảng trước lời đề cử đó, tôi nói chân thật: - Tôỉ có biết nói tiếng Trung Quốc đâu ạ? Không dám nhận làm trưởng đoàn. Anh Hoàng Đức Thạc (Lã) rồi Bằng Giang cùng giải thích: - Không biết nói thi dùng bút đàm, còn ai lại không biết anh là học trò giỏi của thầy tổng mục Ma Ngọc Ngôn ở Giang Động? Anh hãy tự tin đi, ở đây chỉ có anh đảm nhận nhiệm vụ này thích hợp. (1) Bài hát này tác giả là Lisle, bài hát là bài chiến ca yêu nước do đoàn quân tình nguyện thảnh phố Mác-xây (Pháp) ngày 30/7/1792 hát vang trên đường kéo về bảo vệ thủ đô Paris. Liên quân Áo – Phổ xâm lược bị đánh bật khỏi nước Pháp sau thất bại trong trận Valmy vào ngày 20/9/1792. Đến năm 1795, Quốc hội họp thông qua quyết định lấy bài Marseillaise làm quốc ca của nước Cộng hòa Pháp. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:26:35 am Tôi bước lên khỏi hàng. Vũ Anh đưa cho tôi tờ giấy giới thiệu với Biện sự sứ. Bằng giọng nói xứ Nghệ nghe hay hay ấm cúng, Vũ Anh nói:
- Mong Việt Hưng làm tròn nhiệm vụ. Tôi nhìn vào mắt anh như hứa hẹn đang chấp hành mệnh lệnh. Lần đầu đi làm cách mạng, tôi được đứng đầu một đoàn gần hai chục người đế đi sang miền đất lạ cũng thấy lo lo. Thời gian này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về nước, đang ở Pác Bó. Trên đất Trung Hoa, ta công khai xin được đặt Biện sự sứ (trên cơ sở tổ chức của cụ Hồ Học Lãm) do đồng chí Lâm Bá Kiệt lảm chủ nhiệm. Trước hết chúng tôi phải đến nơi đó (Tĩnh Tây) liên hệ. Đi từ sáng sớm đến chiều, khoảng I5h chúng tôi gặp một trạm tiền tiêu quân đội Tưởng Giới Thạch canh giữ. Họ hỏi: - Các anh đi đâu? Tôi không trả lời (vì không biết tiếng), chỉ xuất trình giấy tờ. Có lẽ mấy tên lính không biết chữ hay sao đó vì chúng xem giấy rồi vẫn vặn hỏi linh tinh. Chúng tôi cũng không biết chủng nói với nhau cái gì. Sau cùng chúng dẫn chúng tôi đến cơ quan ban trưởng đóng. May cơ quan liên trưởng cũng ở gần, họ đưa chúng tôi lên cơ quan đoàn bộ cho ăn uống hẳn hoi và xếp chỗ ngủ yên tĩnh. Buổi tối có một anh cũng loại cán bộ liên hay doanh trưởng gì đấy đến hỏi thăm chúng tôi, giao dịch với chúng tôi bằng tiếng Tày. Sáng hôm sau chúng tôi được họ dẫn ra ngoài doanh trại và chỉ đường cho chúng tôi thẳng tiến đến Tĩnh Tây. Đến Tĩnh Tây, gặp được Biện sự sứ lúc ấy có các anh Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng - chủ nhiệm), Dương Hoài Nam (anh Văn - tức Võ Nguyên Giáp). Một lúc sau thì có Đại Liên đến và đưa chúng tôi vào xóm. Chỗ anh Đại Liên có anh Trần Văn Đức (người nói tiếng Nghệ An) thu xếp chỗ ăn ở của chúng tôi. Hôm sau cử người phụ trách đoàn, tôi lại phải đảm nhiệm. Hàng ngày ngoài thì giờ học tập ra chúng tôi phân công nhau quét dọn vệ sinh, nấu nướng và gánh nước. Tôi còn nhớ một câu chuyện được anh Văn phê bình gián tiếp. Nguyên là anh Văn chỉ thị mọi người phải lao động như nhau. Tôi liên hệ với bản thân, đầu làng có một cái giếng xây, nguồn nước cuồn cuộn chảy ra tưởng như bên dưới có gì quẫy đạp rất dữ tợn nên tôi không dám một mình đi gánh nước, phải nhờ người khác can đảm hơn. Chính vì vậy mà anh Văn nói, việc lao động là mọi người đều phải làm như nhau, là có ý phê bình tôi. Thoạt đầu huấn luyện quân sự do anh Trần Văn Đức trực tiếp huấn luyện, Khoảng tuần sau thì anh Đức có nhiệm vụ dắt dẫn chúng tôi ra thao trường huấn luyện qua loa, chờ thiếu tá Trương Trung Phụng đến dạy. Cứ mỗi lần anh Phụng ra là anh Đức hô chúng tôi đứng nghiêm và chạy lên báo cáo với thiếu tá số người tham gia thụ huấn của buổi. Anh Phụng dạy cùng các dộng tác đội ngũ trong điều lệnh thôi mà phải làm đi làm lại rất nhiều lần. Qua một thời gian huấn luyện, một hôm có giấy gọi toàn thể chúng tôi tập trung ra Biện sự sứ ngoài phố. Tề tựu tại trụ sở đầy đủ, anh Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) ra gặp và nói chuyện với chúng tôi. Anh nói: Các anh sắp lên đường đi tới trường quân sự học chính quy rồi. Vậy nay các anh hãy tự đặt bí danh và ký vào lá cờ đỏ này thề nguyện theo đoàn thể làm cách mệnh giành lại đất nước. Mỗi người cũng đã đặt tên bí danh cho nhau từ hôm trước ở trong xóm rồi, đến đây cứ thế mà ghi họ tên vào lá cờ đỏ mà thôi và sau đó đứng trang nghiêm trước lá cờ để đọc lời thề theo anh Lâm Bá Kiệt tuyên đọc. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 06:28:58 am Anh Kiệt phấn khởi nói rằng, ở trong nước vừa gửi ra một bài thơ hoan nghênh các đồng chí đi học quân sự, rồi anh đọc:
Nước ta mất đã lâu rồi Đồng bào cực khổ, suốt đời gian nan Suốt đời chịu kiếp lầm than Sưu cao thuế nặng cơ hàn xót xa Vì ai tan cửa nát nhà Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời Vì ai non nước rã rời Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này Vì giặc Nhật vì giặc Tây Thanh niên ta phải thế này gay go Học hành không được tự do Học cho mù tối, học cho ngu hèn Mấy năm cặm cụi sách đèn Học rồi cũng bỏ, tốn tiền như không Muốn làm cũng chẳng có công Ông tham “san rát”, thầy thông “bú dù” Những người không muốn si ngu, Người giam Hà Nội, kẻ tù Sơn La Nước Nam là nước Nam ta Vì ai đến nỗi xót xa thế này? * Muốn đánh Nhật, muốn đánh Táy Thanh niên ta phải ra đây học hành Một là học việc nhà binh Hai là học biết tình hình người ta Thanh niên là chủ nước nhà Phải cho oanh liệt mới là thanh niên Gan phải to, chí phải bền Không sợ khổ không sợ phiền mới nên Anh em đoàn kết vững bền Phải nghiêm kỷ luật, phải chuyên tập tành Đối đoàn thể phải trung thành Phải dũng cảm, phải hi sinh mới là Ở trong phải rất thuận hòa Ra ngoài phải nhớ mình là người Nam Phải siêng học, phải siêng làm Chớ cam thua bạn, không cam kém người Người siêng một, mình siêng mười Đừng cho thiên hạ chê cười thanh niên Mai sau học nghiệp vẹn tuyền Đánh Tây đuổi Nhật giành quyền tự do Sự nghiệp này là rất to Thanh niên ta phải gắng lo, mới thành Việt Nam độc lập đồng minh Mấy lời thành thực hoan nghênh học trò. Tháng 7 năm 1941 Anh Lâm Bá Kiệt ngừng đọc, mỉm cười, bỗng hỏi: Thế nào đồng chí trưởng đoàn, nhớ nhất câu nào? Tôi giật mình thưa, tôi nhớ nhất câu Thanh niên là chủ nước nhà, phải cho oanh liệt mới là thanh niên. Anh Kiệt cười phấn khởi và cho biết anh đã chép cả bài thơ đưa cho đoàn mang theo, lúc rỗi đọc lại cho thuộc. Hôm sau chúng tôi lên đường đi tới trường quân sự do thiếu tá Trương Trung Phụng dẫn đường. Ra khỏi thị trấn đến Đại Long Đàm thi anh Phụng tự nhiên mặt tái đi, và anh dặn: - Lát nữa khi tôi hô “đi nghiêm bước” thi tất cả hãy làm theo động tác đội ngũ trong điều lệnh hôm vừa rồi đã học. Quả nhiên sau đó xuất hiện một cái xe đang đỗ trước một dinh thự, trên xe có một vị quan đứng, mỉm cười trông ra. Anh Phụng hô khẩu lệnh cho chúng tôi đi nghiêm trước một vị trưởng quan người Tàu. Đội ngũ chúng tôi cứ thế chấp hành đi nghiêm theo khẩu lệnh, đến khi hô thôi thì mới thôi. Rồi sau này anh Trương Trung Phụng cho biết: Hôm ấy được tin báo, chúng ta phải đi nghiêm chào, vị này là đại tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân khu IV (gồm Quảng Đông và Quảng Tây) có việc đi công cán qua. Nghỉ một đêm ở dọc đường vào một hương công sở và ngày hôm sau chúng tôi sẽ tới Điền Đông (nơi trường học quân sự). Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:36:06 am 8.
Cuộc sống quân ngũ nghiêm khắc từ đây. Ở Điền Đông, tôi được gặp thêm bao nhiêu người khác từ các ngả đến học. Lúc đầu vẫn ở chung với nhau. Vài hôm sau có cuộc sơ khảo: kiểm tra văn hóa, kiểm tra lịch sử. Sau sơ khảo tôi được phân về đại đội 1 do Dương Bình Phúc trung hiệu làm đội trưởng. Đội trưởng phân đội tôi do Diệp Kiếm Thanh, Hoa kiều Nam Dương phụ trách. Qua một thời gian ngắn lại tổ chức khảo hạch. Lần này tôi sang hẳn đại đội 200 trung hiệu Diên Tình Hoàn, người Hồ Nam phụ trách. Trung đội 1 do thiếu hiệu Lý Am Cầu phụ trách. Trung đội 2 do Lý Đạt Kiện người An Huy phụ trách. Trung đội 3 do thượng úy Lưu Trầm Nhai, Hoa kiều Thái Lan phụ trách. Tiểu đội trưởng 1 do thượng úy Hoàng Trọng Sảm phụ trách, tiểu đội 2 do thiếu hiệu Lưu Từ Chân phụ trách. Tiểu đội 7 do Lý Văn Thành (trung úy) phụ trách. Tiểu đội 8 do thiếu úy Lâm Nhiêm Pháp phụ trách. Tôi ở tiểu đội nảy. Tiểu đội 9 do một thiếu úy phụ trách, anh Hoàng Văn Thái ở tiểu đội này. Nội dung huấn luyện chủ yếu các khoa mục đội ngũ, cá nhân chiến đấu qua các địa hình, huấn luyện tiểu đội chiến đấu. Tôi và Nam Long được gọi ra chi huy tiểu đội chiến đấu. Sử học họ chỉ dạy chủ yếu 2.000 năm phương bắc đô hộ Việt Nam. Tất nhiên không thể thấm vào lòng yêu nước chúng tôi. Học thêm ít cơ yếu, mật mã, giải mật mã, công tác tình báo, V.V.. Và cuối cùng khoa mục hành quân đêm, các khoa mục chiến đấu đêm trong đội hình doanh. Mấy tháng xa nhà xa nước để học tập, trong lòng vẫn canh cánh nỗi nhớ quê hương. Tôi bồi hồi nhớ nhà, nhớ cha mẹ già, nhớ nước tha thiết, ngẫu hứng làm bài thơ “Khách địa thu cảm” Khách xá u cư dĩ bán niên Dạ khai thu cảm bất thành miên Tha hương độc thảm niên hoa dịch Cố quốc đa sầu mộng chẩm triền Mạc tự cao đường thân kiện phủ Trường tư phụ mẫu hải thâm khiên Thâm kỳ sở sở tòng như nguyện Hoàn thủ Lai y bái vũ tiền. (Mùa thu đất khách/ Quê người sáu tháng chửa tròn niên/ Trăn trọc đêm thu giấc chẳng yên/ Nhiều tủi mong quê thêm tuổi tác/ Lắm sầu nhớ nước mộng triền miên/ Ông bà sức khỏe nào ai biết/ Cha mẹ biển sâu nợ thật phiền/ Đến hẹn hồi hương như nguyện ước/ Áo Lai sẽ mặc múa làm điên). Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:36:40 am * Sang năm 1942, hành quân về Liễu Châu, địa điểm Bộ tư lệnh Đệ tứ chiến khu của Trương Phát Khuê. Chúng tôi đi thuyền từ Điền Đông đến Nam Ninh và từ Nam Ninh đi bộ lên Liễu Châu. Các đại đội được trú quân tại Tân Biên dinh, một khu doanh trại nếu chỉnh quân thường thừa sức một sư đoàn đóng. Chúng tôi ở hai dãy nhà. Còn các dãy khác là nơi huấn luyện tân binh. Không sáng nào là không có lính đào ngũ. bắt được về là cả các tiểu đội trưởng đội đều thả sức tác oai bằng côn tẩn xuống lưng và mông các lính đào ngũ, nghe đến thảm thiết và trông thật rùng rợn. Nhân qua Nam Ninh, Đặng chủ nhiệm có mời hai vị chủ nhiệm chính trị của tập đoàn quân 16 đến nóí chuyện. Vì ông ta nói nhỏ quá nên mọi người hầu như uể oải, tư thế kém bề thế. Song hôm sau có Dư Hán Mưu tham mưu trưởng của tập đoàn đến nói chuyện thì khác hẳn. Toàn thể cán binh đứng nghiêm suốt trong thời gian anh ta nói chuyện, chính vì thế mà lần đầu tiên tôi được nghe một câu 100% trái với các trưởng quan mà từ trước tới nay chưa một ai dám nói. Ông ta nói rằng: “Qua đội ngũ chỉnh tề và uy phong thế này tôi tin chắc việc khôi phục lại đất nước quý quốc là sự đảm bảo thắng lợi tất yếu”. Đến bây giờ tôi suy nghĩ và liên hệ, chưa có một cơ hội nào nhìn thấy một đơn vị uy nghiêm và hùng tráng như thế. Thật chả bõ công việc ăn học suốt mấy tháng ở Điền Đông mà chúng tôi chưa được biểu thị như hôm nay. Đến Liễu Châu do không phải gấp rút lắm nên chương trình học đi vào chiều sâu hơn. Mọi khoa mục huấn luyện đội ngũ giảm đi mà thêm vào các khoa mục đào tạo tỉ mỉ của các sĩ quan sau tốt nghiệp. Tôi còn tranh thủ tự học tiếng Trung Hoa qua sách từ điển. Khoa mục trung đội chiến đấu đều được huấn luyện tỉ mỉ, đại đội chiến đấu, thể hiện và thực tập trên bản đồ, doanh chiến đấu cũng vậy. Để kết thúc khoa mục huấn luyện chiến đấu của trung đội, đại đội trưởng Diên Tình Hoàn kiểm tra một loạt học sinh xem kết quả ra sao. Tôi cũng như nhiều người khác (chủ yếu là Hoa kiều) được chỉ định ra và biết tự hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu. Ông Diên nói, anh nói tiếng Việt để phiên dịch cũng được, sống trên đất Trung Hoa ngần ấy thời gian tôi từng say sưa học thêm Trung văn và thực hành học nói đã nói gần như người Trung Quốc. Tôi nói, tôi phát lệnh bằng tiếng phổ thông Hoa ngữ có được không? Ông Diên Tình Hoàn nói, càng tốt. Tôi quay ra hướng về phía giả định là bên địch, quỳ xuống hạ đặt mệnh lệnh chiến đấu của trung đội, lưu loát, mạch lạc từ đầu chí cuối và rõ ràng không còn chê vào đâu được. * Sang năm 1943, năm tốt nghiệp. Sau tốt nghiệp, các sĩ quan (tiểu đội trưởng của trưởng) đầu tiên được phân phối đi các ngành. Học sinh trong trường cũng có vài người như Nam Long, Vũ Cương, Vĩnh Tường, Đinh Đại Toàn, Minh Thảo cũng được thả về biên giới công tác trước. Còn lại bao nhiêu đều hành quân về Nam Ninh gia nhập Công chính đội, do trung tướng Từ Quang Anh và thiếu tướng Đặng Khương Nguyên xuất lĩnh. Hành quân bộ hành từ Liễu Châu về Nam Ninh, đến ải Côn Sơn, trông thấy một tấm bia to, tôi dừng lại đọc, biết đây là tấm bia đá dựng từ thời nhà Tống, có dòng chữ Hán ghi: Nơi đây Địch Thanh đã chiến thắng Nông Trí Cao và Nông Trí Viễn. Tôi mới sực nhớ ra, thời đấy hai ông họ Nông của đất Việt đã từng đánh sang đất Bắc và chiếm cứ tại đây. Dân Tày cũng không vừa đâu. Thời trước họ cùng biết khai quốc cầu tiến lên phía Bắc, vừa đất rộng vừa là lấy lại đất mà họ đã mất. Toàn thể học sinh ở Liễu Châu và Nam Ninh được biên chế lẫn với cựu chiến binh của Tưởng Giới Thạch qua chiến đấu còn sống sót hình thành Công chính đội do Quân ủy bộ trực tiếp lãnh đạo. Riêng Từ Quang Anh vì giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên được phụ trách công tác đối ngoại với bọn phi công Đồng Minh. Còn Đặng Khương Nguyên làm công tác đối nội. Lợi dụng thời gian nhàn rỗi tôi không chơi bời lêu lổng vô ích, thường ngày ra chợ giời mua sách về đọc, quyển nào hay thì dịch. Tôi dịch ba cuốn: Cách đánh du kích của Chu Đức (Hồng quân), hai cuốn còn lại muột cuốn nói về đánh du kích của tướng Bạch Sùng Hi (tướng của Tưởng Giới Thạch), một cuốn về chiến thuật tác chiến của quân chính quy do Đệ tứ chiến khu xuất bản. Ngoài ra tìm tòi tài liệu nói về trinh sát và tổ chức trinh sát, hệ thống trinh sát trong Bộ chỉ huy đoàn để địch. Lại còn dịch Tôn Tử binh pháp (phép dùng binh của Tôn Tử).46 Lúc đầu tôi chỉ nghĩ, sau này về nước có điều kiện dùng cho cá nhân, nhưng không phải thế. các anh Vũ Lập, Bế Kim Anh, Hoàng Liên Đoàn, Đoạn Quang Long, Hoàng Liên, Trịnh Minh, Cường Thanh, Đoàn Hà đều lần lượt đến xin được mượn sao chép cho có vốn về sau. Lòng tôi phấn khởi, nghĩ rằng ít nhiều cũng giúp nhau nâng cao kiến thức chuyên môn về sau và cũng không đến nỗi lãng phí thời gian chết. Sở dĩ làm được vậy cũng phải nói thêm rang, đội trưởng Hoàng Đức Phúc đã dành cho tôi thời gian và không hề quấy rầy tôi một chút nào. Sáng nào cũng vậy, cứ tờ mờ sáng sau khi đi tập và tắm rửa xong là tôi bắt đầu ngồi vào bàn viết lách không biết mỏi mệt là gì, và tôi cũng không hề chơi bời như một số anh em khác. Chính qua việc miệt mài này mà tôi lại được biểu dương. Trái lại đội trưởng Phúc có lần phê phán sinh hoạt của Hà Đức Hạnh bị “vỡ ống khói” do buông thả chơi bời. Và có một hôm theo chỉ thị của Bộ tư lệnh công chính, Hoàng Đức Phúc, đội trưởng gọi tôi lên, ngỡ là cái gì, té ra ông ta hỏi tôi một câu: “Nhân sinh quan của anh là gì?” Tôi trả lời không suy nghĩ; “Như anh biết đấy, suốt đời tôi hoạt động chỉ vì cách mệnh thôi”. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:37:55 am PHẦN THỨ BA 9. Cuối năm 1943, tình hình trên thế giới đã có nhiều chuyển biến. Liên Xô phá vỡ vòng cung Cuốcxcơ và đang tiến về phía tây, đẩy lùi quân phát xít Đức. Có một hôm Từ Quang Anh gọi tôi (Việt Hưng), Thanh Phong, Ích Hai, Nông Đặng Thúy và Nông Thanh Hà lên nói về ý định cho chúng tôi về nước công tác. Ý của Thanh Hà là muốn vọt ngay. Nhưng Từ Quang Anh nói, các anh về chuẩn bị đi, chờ bí thư của tôi quan hệ xong với ông Quán Nhất (Tĩnh Tây) rồi sẽ giải quyết. Hai hôm sau chúng tôi được gọi lên và nhận giấy tờ của ông bí thư (đại tá) cầm về Tĩnh Tây gặp ông Quán Nhất. Chúng tôi lại ở đây chờ. Một hôm Nam Long đã tìm đến chỗ chúng tôi và nhắn chuẩn bị để sớm hôm sau lên đường về biên giới (Nam Long được phân công về trước nhập vào đội của Quán Nhất). Đến biên giới, qua một đội hình hành quân tôi nói với mấy anh cùng đi rằng, đội hình này và đội hình hành quân của một đơn vị ta ra chợ biên giới đây. Quả đúng không sai, sau ba người đi trước chửng 150m là lũ lượt có một đội hình dày đặc, xuất hiện có Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm khoác poọc hoọc chiến đấu vui vẻ chào đón chúng tôi ngay đúng cột mốc biên giới Việt - Trung. Đoàn tôi có năm người, Việt Hưng (tôi), Thanh Phong, Ích Hai, Thanh Hà, Đặng Thúy. Chiều tối về đến đất Việt Nam, vào nhà ông Đại Lâm ở Pác Bó (huyện Hà Quảng). Chị La, anh Cao Hồng Lãnh ra nói chuyện với chúng tôi. Có Dương Đại Lâm khoác poọc hoọc oai vệ đứng canh ngoài sàn. Cao Hồng Lãnh nhận đưa chúng tôi về đến địa điểm bờ sông vào lúc gần sáng hôm sau, vượt sông rồi thì trạm này đưa chúng tỏi về huyện Hòa An. Đến khu vực Nà Đuốc, có Bế Hiển Vinh cười hà hà ra đón chúng tôi đàng hoàng giữa ban ngày ban mặt. Chờ đến tối có anh Là (Phó bí thư Tỉnh ủy) đến đón tôi và Thanh Phong; còn Ích Hai đã được ở trên Hà Quảng; Thanh Hà và Đặng Thúy có lẽ do Hiển Vinh đưa đi đường khác. Đường đi ban đêm nhưng tôi vẫn nhận ra quê hương mình, dãy núi đá Phúc Tăng sừng sững hiện lên hùng vĩ trên nền trời có gắn những ngôi sao nhấp nháy lung linh. Lòng tôi chộn rộn bao nhiêu kỷ niệm về vùng núi đá tai mèo Bản Nưa, quê hương tôi. Tôi và Thanh Phong được anh Lã đưa qua cạnh nhà mà không dám xin xỏ gì hơn, cứ theo chân đồng chí Phó bí thư Tỉnh ủy đến địa điểm cái hang bí mật nhỏ ở sau làng. Và hôm sau, ông Hoàng Đức Vưu, em rể của Thanh Phong đưa cơm. Thanh Phong được em rể đương đêm bí mật đưa về thăm nhà. Còn tôi tuy đang ở ngay chân núi sau nhà mà chưa quan hệ được với gia đình, đến bữa ăn vẫn do anh Vưu đưa cơm. Khoảng giữa buổi trưa nọ tôi buồn đi giải mới lần vào một lối cụt ở khe đá; bỗng nghe có tiếng nói đẳng sau, tôi không còn lối nào thoát, tôi đành đứng đó xem ai rồi sẽ tùy cơ định liệu. Té ra chẳng ai khác lại là bà thím của tôi. Bà ta quê ở xóm Giang Động về làm dâu ở nhà này, sau nhà tôi. Được gặp bà, thấy bà vui vẻ hẳn lên, rồi bà kể, “cháu dâu nó mong anh lắm?”. Dâu nào tôi có biết? Bả nói, "con út ông thầy dạy anh mà, quên rồi sao?”. Tôi mới nhớ ra, lúc học chữ nhà thầy tổng mục Ma Ngọc Ngôn, tôi thấy có cô con gái út xinh đẹp thật, tên là Nhai, nhưng ai dám mơ vào con gái thầy kia chứ. Bà nói: “Năm anh đi bí mật, ở nhà đã cưới vắng mật. Nếu vậy thì bây giờ làm sao cháu phải gặp cô Nhai một lần thôi để cô ta yên tâm cũng được”. Bà nói tiếp: “Cháu ở đây, thím đi gọi nó đến ngay”. Chắc lúc ấy vào khoảng ba giờ chiều vậy thôi, tôi bước qua một khoảng đất trống, quay lại nhìn đã thấy cô con gái út xinh đẹp của thầy dạy học, ăn mặc áo tang đến ngồi ở chỗ tôi vừa nãy, nói chuyện với thím. Tôi hốt hoảng và thương hại cho cô ta vì sao đến nông nỗi mặc áo đế tang chồng (là tôi)? Nhai cho biết, bố mẹ khuyên cần làm như vậy để khỏi bị đế quốc bắt lên tra hỏi. Tôi cũng hỏi thêm để biết tại sao Nhai biết là tôi đi bí mật rồi còn cưới tôi làm gì kia chứ? Rồi tôi cũng hỏi thăm qua mọi người, đặc biệt ông thầy có manh giỏi không, tôi gửi lời hỏi thăm sức khỏe thầy mẹ bên nhà, và nói giùm rằng tôi rất khỏe mạnh. Đến tối tôi mò về nhà tôi, đặc biệt có con chó trắng, tôi chưa nuôi nó ngày nào mà tự nhiên tôi mò đêm về nhà nó không hề cắn sủa mà tỏ vẻ vui mừng vầy đuôi rối rít khi có mặt tôi. Tôi chỉ lén về dược vài đêm, rồi sau anh Lã nhắc tôi, phong trào tổ chức Việt Minh quê ta đã lên rất cao, là xã Việt Minh hoàn toàn. Nhưng đế quốc cũng tăng cường khủng bố trắng, ra sức lùng sục bắt bớ người lãnh đạo phong trào. Anh cần biết giữ mình khi đi công tác. Anh đưa tôi lên Lũng Hoài, trú trong một cái hang (gọi là Ngườm Mương Khao) không kín lắm, ban ngày có thể nhìn được từng người lên và xuống làng. Anh dặn: - Anh hãy ở tạm đây, tôi sẽ nhắc người nhà bí mật lo cơm nước hàng ngày cho anh. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:39:18 am Dịp tôi về nhà là lúc đế quốc và tay sai đang tiến hành lùng sục vào núi rừng để tìm ra kho thóc mà địa phương tổ chức cất giấu tiến hành vườn không nhà trống để khỏi bị đế quốc vào làng ăn cướp. Hàng ngày nhìn được từng đứa một nếu là người trong làng dắt dẫn bọn lính trên phủ đi lùng sục.
Cho nên việc tiếp tế các bữa cơm cho người đi bí mật gặp quá nhiều khó khăn. Việc ăn lúc này do nhà tôi mang đến. Cứ đến bữa là vợ tôi bí mật mang cơm lên hang nuôi chồng. Để đề phòng việc tiếp tế bị đứt đoạn khi có địch canh gác cửa rừng, cô Nhai mang cho tôi một ống ngô đã bung kỹ để ăn qua bữa. Trong khi chờ phân công đi công tác địa phương xa hơn, đồng chí Lã, Phó bí thư Tỉnh ủy giới thiệu tôi được quan hệ giúp đỡ công tác cán bộ Việt Minh địa phương quê tôi. Tôi bồi hồi xúc động khi gặp lại các đồng chí lãnh đạo phong trào bí mật bán công khai ở địa phương Phúc Tăng. Khi tôi xa quê hương là lúc các hội Việt Minh mới phát triển, nay trở về được nghe các đồng chí báo cáo biết đây là xã Việt Minh hoàn toàn, 100% các lứa tuổi đều vào tổ chức hội theo giới, Nông dân cứu quốc Hội, Phụ nữ cứu quốc Hội, thanh niên cứu quốc, nhi đồng cứu quốc. Trên các hội cứu quốc, Ban Việt Minh xã được bầu ra trong hội nghị liên tịch các ban chấp hành các giới. Lại đã có Ban Việt Minh tổng, châu, tỉnh. Phong trào vùng thấp tốt, phong trào vùng cao trên các triền núi đá cũng phát triển mạnh. Những tháng này sục sôi cất giấu thóc (làm vườn không nhà trống) để đế quốc khỏi đến cướp không. Chẳng may một kho thóc Lũng Thốc bị lộ, bọn đế quốc đang cho lính vào các khe lũng tuần tiễu gay gắt, tìm ra các kho thóc khác, giấu ở trong hang núi. Nhưng chúng thật khó tìm ra, không có mấy ai đang tâm làm tay sai phản động. Đồng chí Lã nói rằng tôi giúp cán bộ lãnh đạo địa phương công tác, nhưng thực ra khi tiếp xúc tôi dược hiểu biết phong trào và tiến bộ của nó trong mấy năm tôi đi ra nước ngoài. Tôi học tập các cán bộ lãnh đạo địa phương về tinh thần bám phong trào, về chống khủng bố, về lòng trung thành với cách mạng... Có hôm sau khi trao đổi công tác với cán bộ địa phương trên hang núi, họ ra về, lòng tôi bỗng bồi hồi thương nhớ vợ, tôi đã ngẫu hứng làm bài thơ: Tư ái thê Tạm li đồng chỉ dư hồi động Nguyệt ảnh quang phù điểm điểm sương Dạ tĩnh ái thê phương chức cẩm Tồn vong thế hữu tại tha hương? (Tiễn đưa đồng chí ta về động/ Dưới ánh trăng, sương giọt giọt rơi/ Khuya khoát liệu nàng đang dệt gấm/ Nhớ chăng lữ khách chốn xa vời?) Có một hôm đồng chí Lã đến bắt gặp tôi đang ăn ngô bung thay cơm bữa, Lã hỏi: - Anh ăn như vậy được bao lâu rồi? Tôi trả lời: - Ngót một tháng nay rồi? Tây lùng dữ, Nhai không tiếp tế cơm được. Có lẽ anh Lã thử thách tôi cũng là loại chịu được gian khổ như ai nên hôm sau anh Phạm Văn Đồng cùng Lê Thiết Hùng đến động núi gặp tôi. Tôi nhận ra anh Phạm Văn Đồng - Chủ nhiệm biện sự sứ năm 1941 ở bên Tĩnh Tây (Trung Quốc). Tôi được biết anh Đồng cùng anh Văn đã cùng về căn cứ dịa cách mạng trên vùng núi đá xã Phúc Tăng này từ năm 1942. Anh báo tôi biết tôi sắp đi nhận công tác và đến đâu đều phải làm hai việc là tổ chức hội cùng xây dựng hội viên trung kiên và chống khủng bố. Rồi anh Đồng giảng giải cách chống khủng bố. Anh Thiết Hùng giới thiệu kinh nghiệm xây dựng trung kiên cùng tổ chức đơn vị chiến đấu thoát li. Và sau cùng anh Đồng đưa tôi một bản đồ quân sự (đánh dấu nơi địch đóng ở Cao Bằng) để tôi sao (vẽ lại) và gửi sang Tàu. Tôi nói với anh: - Các anh giao tôi làm cả việc này nữa à? Anh Đồng nói: - Anh đã vậy, còn bao người đã được về đâu? Anh phải làm để cung cấp tài liệu cho những người phía sau nữa chứ? Tôi chấp nhận và vẽ y như bản đồ anh đã giao, xong tôi lại trả cho anh hai bản để anh gửi. Mấy hôm sau tôi được giao thông đưa đến một địa điểm chờ, một lúc sau có Thúy Bách cùng anh Văn đến rồi cùng theo đường rừng heo hút đến xóm T’ỉnh Dảo nhà Kim Đao. Trên đường đi anh Văn nói nhiều chuyện ở bên Tàu mấy năm trước. Đường lên bản Mông chỉ là lối mòn, chân đặt cho khéo lên các khe nhỏ trên núi đá tai mèo. Đến chỗ Kim Đao thì anh Văn đi đường khác, tôi ở lại với Kim Đao. Theo anh Lã truyền đạt thì tôi ở với Kim Đao giúp anh ấy viết lách giấy tờ. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:41:56 am 10.
Tôi ở nhà Kim Đao một thời gian ngắn thì có cuộc hội ngộ thật vui. Tô Vũ do Thúy Bách đưa đường cũng đến T’ỉnh Dảo. Hôm sau Bá Nhân lại dẫn đến một cô gái trên mặt có vài nốt ruồi điểm xuyết trông khá duyên. Tôi nhận ra đó là cô gái đã gặp ở nhả anh Hoàng Khắc Tiệp (Giang Từ - Siêu Hải) bán sách báo ở tam kỳ lộ Hạ Hoàng - Xuân Phách trong dịp đi mit-tinh đón Gôđa đầu năm 1937, đúng là cô Lò Thị Khuyên. Tôi nói đùa: - Thế nào Khuyên, từ nay cần quen ăn bí đỏ nhé. Ở đây sẵn bí đỏ đó - Khuyên mim cười. Đồng chí Lã cùng đồng chí Tống (bí danh của Phạm Vãn Đồng) cùng cán bộ tinh cũng đến họp cùng ba chúng tôi. Với giọng trầm trầm ấm áp, đồng chí Lã nói: - Tôi giới thiệu ba đồng chí, đây là Hồng Đào, cản bộ cốt cán địa phương, đây là Tô Vũ, Việt Hưng là hai đồng chí đi học trường quân sự nước ngoài vừa về, đều là cán bộ tin cậy của đoàn thể. Đây là đồng chí Tống, cán bộ trung ương. Còn đồng chí Bình Dương đây, Kim Đao đây, mọi người cũng đã biết nhau. Hôm nay ba đồng chí chính thức đến nhặn nhiệm vụ làm cản bộ của căn cứ địa trên vùng núi đá Lam Sơn, hay nói rộng hơn là khu Thiện Thuật... Chúng tôi muốn giới thiệu tóm lược một chút về tình hình cách mạng của tỉnh Cao Bằng ta mấy năm qua (khi đó hai đồng chí Việt Hưng và Tô Vũ còn học ở trường quân sự Liễu Châu bôn Tàu). Từ đầu năm 1941 tỉnh Cao Bằng có các đồng chí tạm lánh vụ khủng bố trắng của đế quốc Pháp cuối năm 1940, sang Trung Quốc được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được huấn luyện về cách mạng ở Nặm Quang (Trung Quốc) đã thực hiện chỉ thị của thượng cấp đã trở về quê hương tổ chức phát triển thí điểm tổ chức Việt Minh, hình thành theo giới tính hoặc lứa tuổi. Để hình thành ban lãnh đạo phong trào Việt Minh, đồng chí Nguyễn Ái Quốc sau lớp học Nặm Quang đã chỉ định Tỉnh ủy Cao Bằng lâm thời tỉnh Cao Bằng gồm Lê Tòng (Bí thư), Lê Quảng Ba, Lê Khương, về sau bổ sung thêm Dương Mạc Hiếu, Lã, Hoàng Sâm. Cuộc thí điểm tổ chức Việt Minh kết quả, đã được đánh giá tốt; là tư liệu thực tiễn quý báu để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu mở Hội nghị Trung ương VIII ở Khuổi Nặm (Pác Bó). Trung tuần tháng 5 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập họp Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII ở Pác Bó (Cao Bằng) quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Từ đấy phong trào Việt Minh được phát triển rộng rãi trong toàn tỉnh Cao Bằng và khắp cả nước. Giữa năm 1941, ở Hòa An đã bầu ra Ban Việt Minh châu (họp ở Kéo Oai xã Hoàng Tung) gồm Hồng Cương (bí thư), Lê Tòng, Hồng Hiệu. Hồng Lĩnh, Lê Khương. Các ban chấp hành các giới cũng được bầu ra. Phong trào phát triển mạnh ở ba châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Thi hành Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII “... mở rộng sự tố chức vào các tỉnh phong trào còn yếu ớt và dân tộc thiểu số”(1), Tỉnh ủy Cao Bằng thấy trước hết là phát triển phong trào cách mạng vào vùng đồng Bào Mông các huyện Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng, Bảo Lạc để gây nhiều cơ sở ở vùng cao núi đá tai mèo, đồng thời tạo cơ sở chuẩn bị mở con đường Tây tiến thông sang Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) liên lạc được với hải ngoại, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nhưng cũng có một thực tế là khi phong trào ở vùng đồng (thấp) bị khủng bố, đế quốc lùng bắt cán hộ lãnh đạo, khu vực núi đá (cao) vẫn là nơi an toàn ẩn giấu lực lượng cách mạng. Nên việc phát triển cũng như củng cố phong trào dân tộc Mông ở vùng núi đá là vô cùng cần thiết. Ba đồng chí lên đây công tác cũng nằm trong chủ trương củng cố vùng căn cứ địa. (1) Tác giả (T.Â) đã đối chiếu, sửa lại lời kể của anh Việt Hưng theo đúng cuốn Văn kiện Đảng thời kỳ 1939 - 1945. NXB Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.212 Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:43:53 am Đồng chí Lã mở bản đồ trước mặt và tiếp tục giới thiệu:
Tỉnh ủy Cao Bằng cử nhiều cán bộ bí mật lên hoạt động ở vùng cao núi đá dân tộc Mông. Hội Việt Minh các giới đã được phát triển nhanh chóng ở Lũng Phầy, T’ỉnh Dảo (Hòa An) sang Lũng Lừa, Lũng Kim, Lũng Luông, Thang T’ả, Lũng Đeng, Lũng Nặm, Phya Khao (vùng Nguyên Bình), một số lũng của đồng bào Dao Đỏ cũng được tổ chức vào các hội cửu quốc như Khuổi Mần, Phya Tốm, Lũng Ong, Cốc Phăng (vùng cao Nguyên Bình). Tháng 2 năm 1942, Tỉnh ủy Cao Bằng cử cán bộ về phối hợp cùng cán bộ phụ trách vùng Mông và Dao Đỏ mở lớp huấn luyện nhằm đào tạo cán bộ người dân tộc địa phương. Từ tháng 3 năm 1942 đồng chí Nguyễn Ái Quốc cùng nhiều cán bộ Trung ương như Vũ Anh (Ủy viên BCH Trung ương), đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng), đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp), Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Hoan, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lãnh... rời đại bản doanh ở Pác Bó về căn cứ địa Lam Sơn trực tiếp lãnh đạo Tỉnh ủy Cao Bằng. Tỉnh ủy tổ chức triển lãm bằng hình ảnh đi khắp vùng cao nhằm giác ngộ hiểu biết thêm về cách mạng cho quần chúng. Phong trào ngày càng được mở rộng. Tháng 5 năm 1942, Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh chính thức gồm các đồng chí Lã (Bí thư), Lê Tòng, Lê Quảng Ba, Bằng Giang, Hoàng Sâm, Bình Dương, Hoàng Tô, Dương Mạc Thạch, Lê Khương. Giữa năm 1942, lúc này ở trên vùng núi đá, một số lũng người Mông được tổ chức các hội cứu quốc như các lũng chân núi Phya Dạ (tây nam Bảo Lạc), bắc Chợ Rã (Bắc Kạn), ven Đồng Mu (Bảo Lạc). Một số lũng người Dao Đỏ như Lũng Tỳ, Lũng Van, Lũng Chùm (Bảo Lạc) đều có các hội cứu quốc. Nhiều nơi tổ chức các lớp học chữ quốc ngữ như Lũng Lừa, Lùng Dè, Phya Khao, Thôm Trù, Lũng Tao... Những tài liệu để học cũng là để tuyên truyền các hội cứu quốc Việt Minh thường viết bằng tiếng Mông như Việt Minh pinh đâu chi chử (Việt Minh ngũ tự kinh), học theo và đọc báo Việt Nam Độc lập... Ở những nơi phong trào cách mạng lên cao, tại các cuộc triển lãm về tội ác đế quốc phát xít để tăng thêm hiểu biết cũng như gây căm thù địch cho quần chúng, còn mở rộng thông tin cho cường hào lý dịch đi xem. Sơ hở đó đã làm tiết lộ cách mạng khiến bọn đế quốc nắm được, nên đã mở những cuộc khủng bố bắt bớ vào các xã Gia Bằng (Lủng Vạ), Kỳ Chỉ (Khuôn Coóc), Kim Mã, Tam Lọng, Lũng Lừa, Lũng Kim (thuộc huyện Nguyên Bình), Lũng Phầy, T’ỉnh Dảo (thuộc huyện Hòa An). Phong trào cách mạng phát triển khá rộng nhưng chất lượng không đồng đều, Ban Tỉnh ủy thấy cần phải thành lập Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng để mở rộng lãnh đạo phong trào. Ngày 22-23 tháng 11 năm 1942 Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh họp tại đỉnh núi Bó Hoài (thành nhà Mạc cũ) bầu ra Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng gồm Lã (chủ nhiệm), Lê Tòng, Bình Dương, Dương Mạc Thạch, Hồng Hiệu... Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ trước mắt như sau: Châu S.R. (tức là Sông Rộng, hiểu là Hà Quảng) tổ chức xuống châu Đ.R. (tức là Đá Rừng, hiểu là Thạch Lâm - tức Hòa An ngày nay) tổ chức lên gặp nhau. Châu L.S. (tức là Lâm Sơn - hiểu là Nguyên Bình) phải chú trọng tổ chức Mán Cóc. Ban tỉnh và Ban châu phải thêm cán bộ đi vùng Mông, phải hết sức đào tạo cán bộ người Mông, Dao. Châu S.R. phải chú ý phát triển về Bảo Lạc để thông sang Hà Giang và Tuyên Quang. Tổ chức Việt Minh đến đâu là thảnh lập đội võ trang đến đấy. Mạnh nhất mà cũng là đội võ trang chiến đấu đầu tiên được thành lập thí điểm là ở Lũng Thàng (Bỉnh Lãng, Nguyên Bình). Đội có 30 đội viên người Mông do đội trưởng là người Mông chỉ huy. Đội đã làm tốt các nhiệm vụ bảo vệ cơ quan cán bộ bí mật, bảo vệ kho tàng, các cuộc mit-tinh, làm liên lạc giao thông, chuyển vận thư từ, lương thực, vũ khí, theo sát tình hình địch hàng ngày... Sau đó ở Tắp Ná cũng theo gương Lũng Thàng xây dựng đội võ trang. Các nơi mở các lò sửa chữa vũ khí thô sơ, ở T’ỉnh Dảo (Phúc Tăng, Hòa An), ở Tà Phìn (Ca Thành, Nguyên Bình) khoan nòng súng kíp, hỏa mai, rèn dao kiếm. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:48:01 am Lực lượng vũ trang phát triển mạnh càng làm cho các tổ chức chính trị được củng cố và mở rộng. Việc thành lập Ban Việt Minh các tổng là cần thiết. Từ tháng 5 năm 1943 đã hình thành dần các xã Việt Minh hoàn toàn. Trên tình hình đó, các tổng (do Việt Minh đặt - cấp trên xã) cùng hình thành để thuận lợi cho tổ chức cũng như giữ bí mật với đế quốc.
1. Tổng Hoàng Diệu, là tổng đầu tiên do hội nghị đại biểu Việt Minh các xã lập nên, họp ở Lũng Lừa. và bầu ra Ban Việt Minh tổng của các xã Mông: Lũng Lừa, Lũng Kim, Sí Liếng, Thẳm Khấư, Lũng Nặm, Lũng Dẻ, T’ỉnh Dảo, Lũng Phầy. 2. Tổng Trọng Con gồm những làng Mông và Dao Đỏ thuộc xã Bình Lãng vùng xung quanh Tắp Ná, Thang T’à. 3. Tổng Tranh đấu gồm những làng Mèo ở xung quanh chân núi Phya Dạ và bắc Chợ Rã 4. Tổng Lê Lợi có các lũng xung quanh Thôm Trù, T’ổng Sâư. 5. Tổng Hi Sinh gồm những lũng Mông và Dao ở phía đông tổng Lê Lợi. 6. Tổng Vần Dính gồm những làng lớn nhỏ ở xung quanh núi Phya Viềng (phía đông Thông Nông)... Trước tình hình phong trào trong các dân tộc thiểu số ở đây đã phát triển khá rộng vả đã được cúng cố khá vững, trước yêu cầu mới của cách mạng, với tinh thần thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Tỉnh ủy Cao Bang quyết định lấy những vùng núi đá cao của đồng bào các dân tộc Mông, Dao lập ra khu Thiện Thuật. Vùng này có địa hình hiểm trở, địch đến ta có thể đánh và giữ được an toàn. Đế tiến tới thành lập cấp Khu, việc đầu tiên là thành lập cấp châu (châu là huyện, cấp dưới châu là tổng, cấp dưới tổng là xã hoặc lũng) có cấp châu thì mới có cơ sở tổ chức đại hội toàn khu. Ta đã thành lập được hai cấp châu. 1. Châu Chí Kiên (thành lập ngày 15 tháng 9 năm 1943) họp tại hang đá Pác Á trên ngọn núi đá cao đối diện với làng Nà Ngạn, xã Trùng Khuôn, huyện Nguyên Bình, do đồng chí Tống chủ tọa. Đại hội đại biểu gồm các tổng ở Nguyên Bình, Hòa An. Hà Quảng. Đại hội có đông đủ đại biểu các xã thuộc bốn tổng Hoàng Diệu, Trọng Con, Tri Phương, Lê Lợi. Ban chấp hành châu cử ra Ban thường vụ, do đồng chí Xết làm chủ nhiệm. 2. Châu Xích Long (thành lập ngày 20 tháng 9 năm 1943) họp tại Lũng Quỹ, xã Ca Thành, huyện Bảo Lạc do đồng chí Bình Dương chủ trì. Đại hội đại biểu gồm các tổng của Bảo Lạc, Chợ Rã, một phần của Hà Quảng, cụ thể các tổng Hy Sinh, Tranh Đấu, Vần Dính. Ban Chấp hành cử ra Ban Thường vụ, đồng chí Tiến, dân tộc Mông được cử làm chủ nhiệm. Đại hội đại biểu thành lập Khu Thiện Thuật (hai ngày 24 và 25 tháng 9 năm 1943) được triệu tập tại Lũng Dẻ do đồng chí Vũ Anh (Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh) chủ trì. Ngoài thành phần đại biểu các xã, các tổng, các châu trong khu, Đại hội có mời thêm đại biểu đồng bào Dao ở Ngân Sơn (Bắc Kạn). Trước đông đủ đại biểu tham dự Đại hội, Ban Tỉnh ủy Cao Bằng (là tôi - Lã) đã nói rõ mục đích thành lập khu Thiện Thuật là để đoàn kết các dân tộc cùng nhau đứng lên đánh đế quốc Pháp, đuổi phát xít Nhật, nhằm giải phóng dân tộc. Đồng thời thành lập khu Thiện Thuật là để xây dựng chỗ đứng chân cho phong trào cách mạng, tạo điều kiện mở rộng căn cứ địa Cao Bằng. Khi vùng thấp bị khủng bố không thể đi lại hoạt động được thì phải lên vùng cao xây dựng lực lượng để chống lại kẻ địch và từ đó tấn công lại kẻ địch. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Việt Minh khu đầu tiên gồm 11 đồng chí đại diện cho các dân tộc Mông và Dao Đỏ ở các châu Chí Kiên và Xích Long. Ban chấp hành bầu ra Ban thường vụ, đồng chí Kim Đao dân tộc Mông, được bầu làm chủ nhiệm. Cơ quan lãnh đạo của Khu đặt tại Lũng Lừa, thuộc xã Trùng Khuôn (Nguyên Bình). Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:48:34 am Sau ngày Đại hội thành lập Khu Thiện Thuật có cuộc hội nghị các đảng viên cộng sản đang công tác ở trong khu do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) triệu tập. Hội nghị họp ở Lũng Dẻ lập ra chi bộ Đảng, chi bộ đầu tiên của khu, có 4 đồng chí do đồng chí Bình Dương làm Bí thư. Trong hội nghị này chi bộ kết nạp thêm Lý Văn Nó (bí danh Xinh Lý). Như vậy khu Thiện Thuật đã có chi bộ Đảng Cộng sản lãnh đạo gồm Bình Dương (Bí thư), Tống (Phạm Vãn Đồng), Kim Đao (Dàng A Páo), Cao Lý (Dương Văn Kinh), Xinh Lý (Lý Văn Nó).
Và cũng ngay tháng 9 năm 1943, đường Tây tiến khai thông từ T’ỉnh Dảo (Hòa An) lên Nặm Quét (Bảo Lạc) ra Nà Viàn (Trung Quốc). Như vậy là ở khu vực trên núi đá tai mèo có dân tộc Mông, phong trào Việt Minh đã được phát triển 100% ta gọi là vùng Việt Minh hoàn toàn, về mặt lãnh đạo ta đã củng cố tổ chức được hệ thống các cấp ủy từ cơ sở xóm lũng (hoặc xã), rồi cấp trên là tổng, châu, rồi khu Thiện Thuật, về mặt Đảng ta đã có chi bộ ban đầu là 5 đảng viên. Quần chúng đoàn kết theo Đảng và hoàn thành những công tác đoàn thể giao, về quân sự, phát triển tổ chức hội viên đến đâu, lập đội tự vệ và luyện tập đến đó. Có thể nói là ở khu Thiện Thuật đã được phát động quân sự hóa. Ta phát động phong trào “hộ lương diệt ác” thì hàng ngũ mạy mùa (mán mục), giáp trưởng đều bị phân hóa. kẻ gian ác cường hào làm hại cách mạng đều bị thủ tiêu. Vụ thu hoạch mùa thu năm 1943, để tránh những cuộc đế quốc lí dịch cường hảo cướp không thóc lúa của nhân dân, đoàn thể vận dộng nhân dân cất giấu thóc lên núi cao. Đế quốc phong kiến cũng biết là sắp đến ngày tận số của chúng, cho nên chúng chẳng để cách mạng làm gì thì làm, trong khi hệ thống chính trị quân sự của chúng khá vững vàng. Chúng tung tay sai mật thám vào các lùng nắm tình hình cách mạng, chúng bán muối bông, mỗi hộ hàng tháng chỉ được mua một bơ muối, chúng dồn dân rào làng vùng thấp không cho cán bộ trên căn cứ địa và nhân dân gặp gỡ nhau. Nhân một kho thóc của dân ở Lũng Thốc bị lộ, chúng bắt dân tập trung gánh thóc lên đồn, đồng thời tung các đội quân vào lùng sục các khe lũng tìm các kho thóc khác. Chúng cho tay sai nằm phục các cửa rừng đón bắt cán bộ xuống núi (những tên ấy càng lộ mặt phản động và bị thủ tiêu). Chúng treo giải thưởng bằng muối, vải, mề đay cho ai bắt được cán bộ cách mạng. Chúng lập các đồn bốt bao vây khu căn cứ địa núi đá như đặt đồn bang tá ở các làng Bản Dàng, Lũng Chung (Phúc Tăng), Nà Bao, Gia Bằng (Nguyên Bình), đặt đồn khổ xanh ở Vò T’ường (Kế Trang), đồn binh khố đỏ ở Cao Bình do một quan hai người Pháp chỉ huy, đặt ở Nước Hai một dồn binh gồm một đại đội lính khố xanh và một trung đội lính cúp phăng do tên giám binh Pháp tên là Picôdê ác khét tiếng chỉ huy, v.v... Tất cả các đồn binh đó đều nhàm hướng khủng bố, vây ráp, hoặc tấn công vào khu căn cứ địa Lam Sơn (chủ yếu khu Thiện Thuật). Đồng chí Lã nói tiếp. - Các đồng chí cũng thấy rõ, ở đâu phong trào cách mạng càng cao, ở đó sự chống phá cách mạng càng mãnh liệt, có lẽ đó là quy luật trong mọi cuộc đấu tranh. Trước khi các đồng chí nhận công tác ở khu Thiện Thuật, Tỉnh ủy báo cáo sơ sơ tình hình để các đồng chí nắm dược mà hòa mình vào phong trào cùng lãnh đạo công tác quần chúng. Trước mắt, ba đồng chí sẽ được đồng chi Kim Đao (chủ nhiệm Việt Minh khu Thiện Thuật) giao nhiệm vụ về các lũng cùng địa phương tổ chức trung kiên chống khủng bố, tăng cường huấn luyện các đội tự vệ chiến đấu. Có gì khó khăn các đồng chí trực tiếp báo cáo đồng chí Bình Dương, được Tỉnh ủy giao trọng trách lãnh đạo khu Thiện Thuật. Bình Dương nhìn Hồng Đào ôn tồn hỏi: - Đồng chí có thắc mắc gì không? Hồng Đào nói chân thành: - Chắc đồng chí Bình Dương nghĩ tôi là nữ giới, trong làm việc chắc không thuận lợi? Tôi đã lìa gia đình, quyết tâm đi công tác thoát ly là phải làm được việc, có gì khó khăn, như đồng chí Bí thư Tỉnh ủy vừa nói, tôi sẽ báo cáo đồng chí Bình Dương. Anh Bình Dương mỉm cười phấn khởi. Mọi người cùng vui. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2020, 07:49:23 am 11.
Hôm sau, ba chúng tôi theo Kim Đao lên Lũng Lừa, trung tâm lãnh đạo khu Thiện Thuật do đồng chí Kim Đao cùng Tán Thuật (anh) Hồng Tị (em) thường trực tiếp đón và bố trí ăn ở. Nhà cửa nhân dân Mông ở đây không khác nhả Kim Đao ở T’ỉnh Dảo, cùng tuềnh toàng tường vách, trước cửa cũng có một cối xay bằng đá, từ sáng sớm chị chủ gia đình đã ngồi lên đó xay ngô để chuẩn bị đồ “má khúa” cho bữa trưa. “Má khúa” là lương thực chính của người Mông, đồ lâu chín nên nhà nào cũng xay ngô từ sớm. Tán Thuật chào đón chúng tôi. Hồng Tị cũng vừa đưa đội võ trang chiến đấu di tập hành quân đêm về. Cuộc gặp gỡ tay bắt mặt mừng phấn khởi như đã quen nhau từ lâu. Anh Bình Dương giao tôi công tác phụ trách tổng Hoàng Diệu gồm các chòm xóm bà con Mông cư trú ở T’ỉnh Dảo, Lũng Phầy, Sí Liếng, Lũng Lừa, Nà Vài trên Tà Sa. Khu vực tôi công tác đang bị đế quốc sục sạo. Hàng ngày cánh quân từ Nà Bao tiến vào các xóm núi cao thuộc Nguyên Bình càn quét. Các đội võ trang chiến đấu túc trực trên các ngả đường quan trọng bảo vệ cán bộ, bảo vệ các kho lương thực của dân. Người Mông vẫn đàng hoàng lảm nương rẫy trên những vạt rừng quen thuộc. Tôi thấy các tổ chức đã được cán bộ địa phương người Mông làm tốt, giờ chỉ còn nâng cao trình độ chính trị nữa. Tôi bàn cùng các tổ dăm bữa nửa tháng họp nhau nghe giảng báo Việt Nam Độc lập. Kết quả là mọi người hưởng ứng, cứ đến kỳ hẹn tập hợp đông đủ. nhất là tổ thanh niên cứu quốc đến địa điểm họp tổ rất sớm vì họ còn được học những bài hát cách mạng rất hào hứng. Với các đội võ trang, về tổ chức quân ngũ đã tốt, nhưng dựa vào tập tục dân tộc, cần cho họ gắn bó chặt chẽ hơn, tôi tổ chức các hội thề trước lá cờ đỏ (như khi chúng tôi thề ở Tĩnh Tây) uống máu ăn thề hẳn hoi. Tôi tổ chức huấn luyện quân sự cho các đội võ trang bằng những bài tóm tắt tôi đã thụ huấn mấy năm ở trường quân sự Liễu Châu (Quảng Tây). Đến đâu tôi cũng chú ý lập các tổ trung kiên từng chòm xóm để làm nòng cốt mọi hoạt dộng. Trong tổng Hoàng Diệu do tôi công tác dìu dắt có nhiều đội viên võ trang hoạt dộng tốt, có triển vọng. Sau này đã xuất hiện những cán bộ tốt người Mông như Trương Liên Quản và Quang Trung. Liên Quản làm Bí thư huyện ủy Đồng Văn (Hả Giang), Quang Trung làm cán bộ chính trị mãi bên Phòng Tô (Lai Châu), Hồng Tị tham gia võ trang ở đội quân anh Văn, sau tham chiến hi sinh. Việc đi lại của cán bộ chuyên môn như tôi, qua các chòm xóm, hầu như toàn ban đêm, không đèn đóm. Có hôm tôi và Mệnh Lệnh đi qua Sí Liếng, trượt chân, tôi rơi xuống nản dá, nếu không có cây si mọc xum xuê bên dưới để tôi bám dược, thì đã tan xương. May vướng cây, tôi gọi Mệnh Lệnh chạy đên mãi mới lôi được tôi lên. Hai người lại theo nhau đi đêm về Lũng Lừa trao đổi công tác cùng Hồng Tị, ban lãnh đạo khu Thiện Thuật. Có hôm tôi về công tác T’ỉnh Dảo để gặp chủ nhiệm Việt Minh khu, tình cờ gặp Thanh Phong cùng về công tác qua đó, được biết tháng 11 năm 1943 vừa qua, Tổng bộ Việt Minh (đồng chi Vũ Anh) cùng anh Văn (Võ Nguyên Giáp) đã tổ chức xong lẽ thành lập khu Quang Trung, nhằm mở con đường Nam tiến. Ban Việt Minh khu do đồng chí Lý Văn Thượng người Dao được bầu làm chủ nhiệm. Tổng bộ trực tiếp lãnh đạo khu này là đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp). Thanh Phong trông người khỏe hơn hồi cùng về nước. Anh cho biết khu Quang Trung làm nhiệm vụ mở đường Nam tiến, khu vực này xuyên qua rừng sâu, đường đất nhiều vắt, chứ không phải vùng cao ráo núi đá như vùng người Mông Thiện Thuật (Tây tiến). Chúng tôi có dịp gặp lại cùng trao đổi công tác vùng dân tộc thiểu số. Ít hôm sau, Hoàng Sâm, Thế An dẫn một đội võ trang về qua T’ỉnh Dảo để lên công tác Tổng bộ Việt Minh. Anh Kim Đao nói tôi biết, anh Lã nhắn tin hẹn gặp Việt Hưng bàn chút việc. Kim Đao nhờ Hoàng Sâm đưa tôi về gặp anh Lã, cùng ở cơ quan bí mật Tổng bộ Việt Minh. Tôi cứ thế đi theo Hoàng Sâm. Lên đến nơi, được biết anh Lã đi vắng. Ở cơ quan Tổng bộ có đồng chí Vũ Anh. Vũ Anh hỏi giọng gay gắt: - Việt Hưng về đây làm gì? Có giấy tờ gì không? Tôi nói: - Tôi theo lệnh của anh Lã gọi về và Kim Đao giao tôi cho Hoàng Sâm, đội võ trang dẫn về luôn thể, cũng chả giấy tờ gì. Vũ Anh không bằng lòng vì đi lại quan hệ công tác trong khu vực căn cứ địa bí mật không nghiêm, không theo quy tắc. Anh còn trách tôi không bám nhiệm vụ ở khu vực được phân công. Tôi cũng nhận ra bài học về nguyên tấc đi lại trong khu căn cứ địa cách mạng trong hoàn cánh bí mật. Tôi nghĩ chắc rồi Hoàng Sâm cũng bị khiển trách. Cũng may khi đó có Hoàng Sâm thanh minh là Việt Hưng không tự tiện về đâu, Kim Đao nhờ Hoàng Sâm đưa về đề gặp anh Lã. Thái độ Vũ Anh mới dịu. Tôi trở về đến Lũng Pản thì gặp anh Tống cùng anh Nguyễn Thế Đỗ đi công tác qua, đang ở lán một quần chúng cách mạng. Tôi phàn nàn về việc không được gặp anh Lã. Anh Tống cho biết anh Lã có cuộc họp bí mật với một nhóm người Hoa ở thị trấn Nước Hai, muốn có Việt Hưng đi cùng vì Việt Hưng biết tiếng Trung Quốc, nhưng Việt Hưng đến đã muộn. Tôi lấy làm tiếc. Chập tối, tôi với anh Nguyễn Thế Đỗ đi về T’ỉnh Dảo. Khi sắp đi qua dưới một lùm cây tự nhiên thấy xuất hiện một con rắn to dài treo lủng lẳng trên cành, ngay lối chúng tôi phái bước qua bèn dưới nó. Anh Đỗ phóng vút qua, tôi rượt theo sau. Tim hồi hộp vì vượt qua một tình huống rùng rợn nguy hiểm mà con đường dưới chân lổn nhổn đá tai mèo, không dễ chạy. Tôi và anh Đỗ lên chỗ Kim Đao báo cáo việc tôi đi gặp anh Lã không kết quả, đường về suýt còn bị nạn với con rắn. Tôi lại trở về Lũng Lừa, vùng núi dá tai mèo cao tít cùng Hồng Tị, người cán bộ Mông đắc lực. Ít hôm sau, Thế An, đội trưởng đơn vị võ trang cùng Hoàng Sâm lên Lũng Lừa, đến chỗ tôi kể chuyện: - Hôm nọ bọn mình vừa đi làm một vụ ở Phya Bioóc. Rồi anh ấy kể tỷ mỉ cuộc trừng phạt lũ phản cách mạng đó cho tôi nghe từ đầu chí cuối. Thế ra tìm đúng kẻ làm tay sai trừng trị nằm trong kế hoạch của đoàn thể “hộ lương diệt ác” rất có tác dụng. Tuy vậy lũ tay sai vẫn chưa bỏ ác tâm, vẫn len lỏi dường núi để tìm giết cán bộ cách mạng lấy đầu nộp quan trên lĩnh thưởng tiền muối bạc trắng. Hôm ấy tôi cùng Hồng Tị và Thế An đang ngồi nướng ngô trên đỉnh đèo, có hội viên Nhi đồng cứu quốc hổn hà hổn hển chạy đến báo cáo tên Lùng (người Mông) đang leo dốc đi sau. Lùng là tay sai chuyên đưa lính sục sạo vào các khe núi tìm kho thóc. Hôm nay hắn đi một mình với ý đồ gì đây? Hồng Tị phân công tôi cùng em bé Mông trở lên báo tin anh Tán Thuật ở nhà biết. Sau đó khi tôi trở xuống thì thấy Hồng Tị cùng Thế An đã giải quyết xong xuôi cả. Thời gian này ngoài Hòa An, lính Tây còn dùng cả đại bác tấn công vào Lũng Hoàng, nơi Tổng bộ dùng làm tổng hành dinh. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:42:13 am 12.
Sang tháng 6 năm 1944, anh Phạm Văn Đồng cùng anh Bình Dương tới nơi tôi đang công tác ở với dân, gọi tôi cùng đi họp. Trông ra đã có mặt Tô Vũ, Hồng Đào, Kim Đao và nhiều cán bộ khác. Trên dường xa, có một chỗ dừng chân nghỉ. Anh Bình Dương đã xuống xóm. Lân la câu chuyện, anh Tống bảo Tô Vũ xuống bản công tác dân vận đi. Tô Vũ có vẻ ngại song cũng phải biến để khỏi phiền lòng. Tôi ngại quá, cũng may anh Tống không đòi hỏi tôi. Khi các anh trở lại, anh Tống nói: - Các đồng chí phải chú ý, đi đến đâu cùng làm công tác dân vận, lấy được lòng dân, để họ ủng hộ ta. Ví dụ hôm nay đi công tác qua đường, ta cần đến thảm các cốt cán cách mạng để biết tình hình hoạt động của địch hôm nay, biết để lát nữa tiếp tục hành trình được an toàn, ít nhất không bị “chó săn” chúng đuổi theo. Đường về Thôm Trù (vùng Tắp Ná, Nguyên Bình) cheo leo hết chỗ nói. Từ đường núi trên cao nhìn xuống lòng thung lũng, thấy đàn bò chỉ còn to bằng đàn chó. ở đầu làng, lác đác trông thấy những bóng người bé nhỏ cử động, vẫn trông ra họ đi hái củi về. Con người thì bé tí, bó củi to gấp đôi chủ nó... Trông thì gần mà đường đi mãi ngoằn nghèo chưa tới. Có lối đi phải men theo vách núi cheo leo, có chỗ người ta cắm cọc vào vách đá kê những đoạn cây để qua. Mặt trời đã gác núi phía tây, thung lũng râm mát một màu. Các triền núi phía đông còn rải những vạt nắng vàng thơ mộng và gợi cảnh cô liêu, tịch mịch. Những đàn quạ bay về tổ... Khi đoàn cán bộ đến, chủ nhà là chủ nhiệm Việt Minh tổng tiếp đón niềm nở và cũng là lúc chuẩn bị ăn bữa chiều. Bữa cơm có rượu, thịt nhưng không dềnh dàng vì đêm nay còn có cuộc mit-tinh toàn dân. Chừng dập bã trầu, sau đó các ngọn đuốc từ các sườn non chân núi kéo về nơi họp. Có đủ các dân tộc trong vùng, có nam nữ, già trẻ. Khai mạc cuộc họp là anh Bình Dương, và sau có anh Tống đại biểu Tổng bộ Việt Minh phát biểu. Đại ý nói: Tích cực chuẩn bị mọi việc đầy đủ đế chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Phiên dịch đầu tiên có anh Binh Dương, sau anh Bá Nhân xin phiên dịch giúp dược nhanh hơn. Trong cuộc mit-tinh, nhiều đại biểu các giới phát biếu ý kiến tin tưởng ở cách mạng rất xúc động. Một tốp nữ thanh niên Mông ở Ban ca hát còn lên hát những bài Ngũ tự kinh, Thùng dè mùa Việt Minh... Thùng dè mùa Việt Minh Thùng dè cư tì pê Trế mua trế mua xia Trế mua cư tì pê Tố Nhè, tố Phá Ký Trế mua cư tì pê. (Đồng lòng vào Việt Minh/ Một lòng bà con ơi/ Đứng lên đứng lên đi/ Đứng lên bà con ơi/ Đánh Nhật và đánh Pháp/ Đứng lên bà con ơi...). Cả cuộc mít-tinh vỗ tay theo. Nhiều người cùng hát. Vui quá. Bài hát ai đặt mà được mọi người hưởng ứng? Tôi hỏi Kim Đao ngồi bên cạnh. Anh nói: “Đồng chí Văn đấy. Anh ấy nói giỏi tiếng Mông như người Mông”. Tôi thật khâm phục anh Võ Nguyên Giáp. Anh học nói giỏi tiếng Mông lại còn sáng tác bài hát cho người Mông hát rất say sưa. Thế ra người cán bộ dân tộc cần phải học nói tiếng của dân tộc. Đó là một yếu tố dân vận quan trọng. Trên đường rừng tôi cứ nhẩm hát mãi bài hát dễ thuộc dễ nhớ “Thùng dè mùa Việt Minh...”. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:43:05 am Cuộc họp Thôm Trù để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. Trước hết là thấy được phong trào ở một vùng dân tộc Mông, Nùng, Tày, Dao Đỏ đoàn kết theo Việt Minh, khiến tôi càng tin tưởng tiền đồ cách mạng; thứ nữa khiến tôi băn khoăn là các đồng chí phát động thế nào để khơi dậy lòng yêu nước của đồng bào dân tộc thiểu số khi trình độ ván hóa thấp và chính trị chưa cao? Thứ ba nữa, các cán bộ hôm nay chủ trì mít-tinh là các anh Tống (người Kinh) Bình Dương (Tày), Kim Đao (Mông), Bá Nhân (Tày)... Bình Dương và Bá Nhân học nói bao lâu đều nói được tiếng Mông thế? Anh Văn học tiếng Mông trong bao lâu? Nội dung phát biểu ở mít-tinh hôm nay các anh lấy ở tài liệu nào?... Bao nhiêu thắc mắc, băn khoăn trong tôi chưa được giải tỏa.
Tan mít-tinh, đêm ấy Bình Dương mời ba cán bộ Hồng Đào, Tô Vũ, Việt Hưng họp giao nhiệm vụ. Dưới ánh đèn dầu lai của gia đình chủ nhiệm Việt Minh tổng ở Thôm Trù, Bình Dương tuyên bố lí do cuộc họp. Đồng chí Tống nói: - Ba đồng chỉ đã công tác ở khu Thiện Thuật vùng núi đá tai mèo một thời gian qua nhưng mới là vùng núi Hòa An, Nguyên Bình quen người, quen việc, đã biết phát động quần chúng theo cách mệnh. Nay đoàn thể yêu cầu ba đồng chí bắt tay vào việc mở một tuyến đường liên lạc về xuôi gặp quốc lộ II (Hà Giang - Tuyên Quang - Phú Thọ) đề phòng khi các tuyến khác trên này bị đứt đoạn. Công tác các đồng chí nằm trong kế hoạch Tây tiến của đoàn thể. Các đồng chí chuẩn bị sáng mai lên đường. Xin các đồng chí nhớ, đây là cuộc đấu tranh giành lại đất nước, đối lập với cách mệnh là bè lũ dế quốc phong kiến, tay sai... Chúc các đồng chí luôn luôn tỉnh táo giành thắng lợi. Các đồng chí có thể nêu ý kiến về chuyến đi công tác dài ngày này. Chúng tôi được dịp nêu những thắc mắc lúc này như tài liệu tuyên truyền cách mệnh, như vấn đề lộ phí, như quan hệ lãnh đạo báo cáo thỉnh thị với ban lãnh đạo khu Thiện Thuật... Đồng chí Kim Đao chủ nhiệm Việt Minh khu, cười vô tư nói: - Chúng mày biết làm công tác vận động quần chúng cả rồi còn đòi tài liệu làm gì. Tài liệu ở đâu? Lâu nay ở trong đầu chúng mày cả rồi. Cả bải thơ dài để tuyên truyền và hướng dẫn làm cách mạng Việt Minh pinh đâư chi chử (Việt Minh ngũ tự kinh) chúng mày cũng đã thuộc làu cả rồi. Đồng chí Tống cười nắc nẻ chắc không chỉ vì Kim Đao nói với cán bộ là mày tao, mà còn vì Kim Đao nói đúng quá. Anh Tống nói: - Đồng chí chủ nhiệm Kim Đao nói đúng. Tài liệu là ở trái tim yêu nước ấy. Cái đích cách mệnh là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Phương châm công tác lúc này là Toàn dân đoàn kết, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, đánh Pháp đuổi Nhật, Việt Nam độc lập. Chắc các đồng chí thuộc cả rồi. Chúng ta không mang theo sách vở để giữ bí mật. Còn được quần chúng đón mời các đồng chí không là ở sự khôn khéo công tác dân vận. Hồng Đào dè dặt hỏi: - Thưa đồng chí, Điều lệ hội của từng giới thì cấp trên cung cấp ạ? - Các đồng chí cũng nhập tâm cả rồi chứ? Tên giới Nông dân cứu quốc Hội (hay phụ nữ, thanh niên, nhi đồng...), tôn chỉ mục đích của hội, điều kiện kết nạp hội, nhiệm vụ hội viên, định kỳ sinh hoạt vân vân, có thể sáng tạo thêm tùy tình hình nơi đó. Mọi người vui vẻ chuẩn bị tư thế mai chia tay lên đường đi xa. Sáng hôm sau, chủ nhà mời mọi người cùng đồng chí giao thông liên lạc ăn xôi sáng và còn gói cho mỗi người một gói mang theo ăn đường. Bình Dương theo Châu Tiến (người Mông) lên mạn Đồng Mu, Bảo Lạc quyến luyến chia tay chúng tôi. Tôi (Việt Hưng) cùng Tô Vũ, Hồng Đào đã có giao thông người Mông dẫn sang Phya Dạ, anh ta được đoàn thể thông tri đến dự mit-tinh từ hôm qua. Đường đi xa lắc, vượt đèo lội suối, vắt xanh kiến đỏ... rồi cũng đến được nơi cần đến, đó là nhà đồng chí Giống (người Mông) ở chân núi Phya Dạ. Đến đây chúng tôi nghỉ lại một ngày vì còn chờ giao thông các nơi đến đón. Sau đó ba chúng tôi lại có cuộc chia tay mỗi người đi một ngả. Tô Vũ lộ trình về phía Côn Lôn (Tuyên Quang), Hồng Đào về hướng Chợ Rã (bắc tỉnh Bắc Kạn), Việt Hưng tốc sang phía tây nam Phya Dạ (Nhiêu Lai, Hà Giang). Anh Bệ người Mông ở Nhiêu Lai đã sang đón tôi từ nhà anh Giống. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:44:30 am PHẦN THỨ TƯ 13. Tôi đi công tác lần này khác với khi ở Tỉnh Dảo - Lũng Lừa vì các anh người Mông ở Hà Giang (nghe anh Bệ nói) hầu hết không biết nói tiếng Tày nên tôi xin Cả Lánh (người Chợ Rã) ít tuổi hơn tôi đi theo làm phiên dịch. Việt Hưng, anh Bệ, Cả Lánh, ba người cùng đi vừa nói chuyện vừa tìm hiểu đời sống nông dân các dân tộc ở Hà Giang cũng như sự giác ngộ của họ về cách mệnh. Đi trên đường tôi lại nghĩ đến việc ăn ở với dân mà có nhiều miệng ăn như thế này thật không tiện nên cho anh Cả Lánh quay về Chợ Rã. Bám vào Nhiêu Lai nơi đã có ảnh hưởng của phong trào cách mạng các nơi cùng thuận lợi, nhưng tôi nghĩ đến đây nên có danh chính ngôn thuận để che mắt nhiều người, ít nhất là bọn lí dịch tay sai kẻ thù. Tôi chia tay anh Bệ hẹn ngày gặp lại. Tôi về Phya Liềng, xã Ngọc Long (Yên Minh), giáp với châu Bảo Lạc (Cao Bằng), nơi đó nhiều người Tày, mà hồi trẻ khi đi tìm nơi làm hương sư đã có lần tôi nghĩ đến. Từ năm 1938 hồi ấy tôi hỏi đường về Hà Giang đã được nghe những tên làng Lang Can, Bạch Ngọc... Tôi vào nhà lý trưởng xin anh giúp đỡ tổ chức cho một lớp học chữ quốc ngữ hay chữ Nho đều được. Nghe có thầy giáo đến mở trường, nhiều phụ huynh đến xin cho con theo học và tự nguyện bàn nhau đóng góp lương thực thực phẩm đưa cho chủ nhà nuôi thầy giáo. Mấy hôm sau lại có nhiều anh ở mạn phía bắc thuộc Mèo Vạc đến xin học chữ Hán vì các anh này là người Dao Đỏ. Tôi đều nhận cả. Hóa ra việc thông tin trong nông thôn miền núi cũng không mấy khó khăn, nghe đồn có thầy giáo mở trường là đã loan ra cả một vùng. Thầy ]ý trưởng chủ nhà rất vui mừng vì nhà thầy từ nay đông vui, nhiều người đi lại. Hỏi ra mới biết thầy ]ý này đã từng bỏ tiền ra mua chức lý trưởng để khỏi bị thổ ti cùng tòng thuộc tổng giáp mã phải hoạnh họe, chứ không ác cảm gì với nông dân. Hàng ngày ngoài lúc dạy học, tôi coi mình như người gia đình, cũng bổ củi, cũng gánh nước, cũng nấu cơm cho cả nhà, cũng đi lên rừng hái rau dã hiến, thau ca, mác nhùng, phiắc bón co... hoặc phiắc âu, phiắc dèn, nhả ngải... ở khe suối bờ ruộng. Lân la tôi nói đến cuộc sống người dân bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột, nói đến một ngày nào đó mọi người đoàn kết sẽ vùng lên đánh đuổi đế quốc ra ngoài cõi, dân ta sẽ sung sướng tự do. Hàng ngày tôi sống trong không khí gia đình rồi trở thành người quen thân của cả vùng. Những ngày chợ, tôi cũng đi chơi cùng học trò. Từ Phya Liềng (Ngọc Long) tôi lần lượt hiếu thêm đất Tè Sung (Bảo Lạc), Phya Mèng (Ngọc Long - Yên Minh) sang Cù Lùng (Yên Phú, Bắc Mê) và Lủng Cống (Yên Định), Lũng Vì (Tùng Bá, Vị Xuyên). Riêng Lũng Vì có cả người Dao Đỏ. Tôi tích cực học nói tiếng Mông. Bỗng một hôm chủ nhà hỏi tôi: - Anh đến Bắc Mê bao giờ chưa? - Chưa. Nhưng anh hỏi tôi như vậy là thế nào? -Tôi hỏi lại. - Chẳng giấu gì thầy giáo, từ ngày thầy giáo tới đây tôi để ý thấy thầy giống như nhiều anh trốn khỏi nhà lao Bắc Mê về đây, đã từng ở nhà tôi ẩn náu một thời gian, cách ăn ở nói năng, làm lao động, cũng như thái độ tình cảm đối với nhau, rất giống tác phong thầy giáo. Tôi hỏi dò: - Xin hỏi thật, anh đã ở tổ chức đoàn thể nào của cách mạng chưa? - Tôi có nghe các anh trốn tù nói tổ chức này nọ đánh Pháp nhưng ở đây chưa có. Tôi nghĩ trong bụng, có thể dựa vào thầy lý trưởng vận dộng cách mạng được không? Anh ta dầu sao vẫn là hàng ngũ phong kiến? Tôi lại nhớ đến lời anh Tống (Phạm Văn Đồng) dặn phương châm công tác lúc này là “Toàn dân đoàn kết - Chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa - Đánh Pháp đuổi Nhật - Việt Nam độc lập”. Phải đoàn kết rộng rãi. Phải đoàn kết, phát động lòng yêu nước của họ, kéo họ vào tổ chức. Tôi đề nghị ngay đêm nay nhờ thầy lý mời giúp các ông chủ nhà trong xóm đến gặp thầy giáo nói chuyện. Thầy lý vui vẻ, chuẩn bị cho một hũ rượu. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:44:49 am Đêm ấy cuộc họp thành công ngoài sức tưởng tượng bởi sự hiểu biết về cách mạng của đồng bào đã có từ khi dế quốc lập nhà tù Bắc Mê, từ khi có anh Lã, Bá Nhân đến đây tuyên truyền giác ngộ, từ khi nhân dân từng dược bảo vệ che giấu nuôi các tù nhân trốn khỏi nhà lao đế quốc...
Cho nên tôi chỉ cần bàn về tổ chức các hội cứu quốc của từng giới nông dân, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng. Và cũng từ đêm ấy tôi liên hệ chắp nối lại tình hình, được nghe bên Nhiêu Lai do anh Bệ trao đổi trên đường về đây, tình hình chắc cũng ở trình độ như Ngọc Long này. Mấy ngày sau tôi tới Nhiêu Lai đồng thời tiến hành hoạt động rộng rãi hơn trong một địa bàn rộng lớn hơn, tự nhiên tạo thành một tuyến đường dài vươn từ bờ sông Gâm phía dông đến khu vực Vị Xuyên quốc lộ II phía tây. Đến lúc thấy tình hình Việt Minh một số xã đã ổn, tôi thấy cần tiến hành lập Việt Minh cấp tổng (cấp tổng là trên cấp xã). Tôi triệu tập Đại hội đại biểu các giới tổng Nhiêu Lai bầu ra Ban Việt Minh. Tổng gồm đồng chí Tậu (người Mông ở Nhiêu Lai) làm chủ nhiệm, Hồng Tu (người Mông ở Cù Lùng), trước ở bên Tàu từng làm phài tráng (trung đội trưởng) làm phó chủ nhiệm, đồng chí Bệ (cũng là người Nhiêu Lai) phụ trách quân sự kiêm giao thông sang bên Phya Dạ. Các Ban Việt Minh xóm, xã do Ban Việt Minh tổng xác định. Tôi không muốn lấn hết quyền hạn nội bộ của Ban Việt Minh tổng. Liền đấy tôi cũng tự tổ chức lấy một đội võ trang gồm 14 thanh niên Mông, thường đi theo tôi công tác, giao đồng chí Bệ làm tiểu đội trưởng xuất lĩnh. Phát huy những bài học thu nhận được khi học ở Trường quân sự Liễu Châu, tôi mời họ mang theo lương thực thực phẩm tới một khu rừng kín đáo huấn luyện quân sự, chủ yếu bài mục về trinh sát, về phục kích chiến đấu, kể cả tập kích quân địch. Thời gian huấn luyện trong bảy ngày. Ai cũng phấn khởi thấy mình đã trưởng thành đĩnh đạc, là đội quân cách mạng có bản lĩnh. Tiếp sau, theo yêu cầu của đại diện dân Mông phía Niêm Sơn nghe tin phong trào bên Nhiêu Lai đang lên mạnh, đã đến mời tôi lên đó giúp tổ chức. Tôi và đồng chí Phá lên Phiêng Pi (bắc Niêm Sơn) một xóm Mông để tổ chức họp các giới và tổ chức ra các hội cứu quốc của giới (Nông dân cứu quốc Hội, Phụ nữ cứu quốc Hội, Thanh niên cứu quốc Hội, Nhi đồng cứu quốc Hội). Từ các hội cứu quốc bầu ra Ban Việt Minh xã. Trên các triền núi cao, một khí thế cách mạng đang dâng lên hơn lúc nào hết. Tôi bàn với Việt Minh xã Niêm Sơn với kế hoạch phát triển hội lên phía xã Mèo Vạc ở phía bắc. Tôi đi xuống Yên Phú (Bắc Mê) nghiên cứu tình hình, biết các cán bộ địa phương đã củng cố xong các hội cứu quốc. Tôi tiếp tục sang cùng địa phương phát triển mới hoặc củng cố tổ chức (nơi đã có) ở Tùng Bá, Phong Quang, Thanh Thủy (Vị Xuyên). Vậy là coi như trong ba tháng, từ tháng 6 năm 1944 đến tháng 9 năm 1944 tôi hoàn thành một hành lang (tuyến đường) liên lạc từ bờ sông Gâm (Yên Minh - Bắc Mê) sang giáp sông Lô (Vị Xuyên - quốc lộ II). Giờ chỉ cần chờ sự phối hợp của Tô Vũ từ mạn Côn Lôn, Hồng Đào ở mạn Chợ Rã, nam Phya Dạ lên nữa thì gọi là xong việc tổ chức một tuyến đường do Khu bộ Việt Minh khu Thiện Thuật trao nhiệm vụ. Tôi viết báo cáo giao anh Bệ trực tiếp về Lũng Lừa, đưa lên trung tâm lãnh đạo Khu Thiện Thuật. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:45:48 am 14.
Tháng 10 năm 1944 tôi nhận được một chỉ thị của Ban lãnh đạo khu Thiện Thuật. Đồng chí Bình Dương truyền đạt chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh đến tôi rất cụ thể: “Việt Hưng giao lại toàn bộ cơ sở đã tổ chức được, và gồm cả đội võ trang 14 người cho đồng chí Lưu Ngọc (sẽ lên sau) và triển khai ngay theo kế hoạch phát triển một tuyền đường liên lạc sang hướng Tùng Cản (biên thùỵ) để liên lạc được với cơ sở cách mạng Việt kiều của đòng chí Tống Minh Phương ở Vân Nam, để tiếp nhận vũ khí cũng như các cán bộ, chiến sĩ từ nước ngoài về”. Tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tác Tây tiến lúc này là cần liên lạc thuận lợi với quốc tế. Tôi tức tốc lên chợ Phya Mèng (Ngọc Long) gặp đồng chí Ca (người Mông) để trao đổi về yêu cầu của cấp trên. Không cần suy nghĩ lâu vì đã nắm được tình hình phát triển cách mạng địa phương, đồng chí Ca trình bày kế hoạch thực hiện. Đồng chí Ca nói: - Con đường ra Tùng Cản là con đường quen thuộc, nhân dân vẫn hay đi chợ. Từ Phya Mòng (Ngọc Long) sẽ tiến lên hướng bắc Nặm Ban, di tiếp sang hướng tây bắc Lùng Phìn, từ đây có đường ra biên giới Tùng Cản. Tôi hỏi về tình hình phát triển cách mạng những vùng sẽ di qua như thế nào? Đồng chí Ca cho biết, tình hình phát triển khá tốt, duy có một vài xóm còn hạn chế bởi mấy anh séo phải là tay chân của thổ ti Đồng Văn. Nhưng suy nghĩ giây lát rồi Ca khẳng định: - Được. Em sẽ lên tổ chức vì mấy anh này đều là bạn chơi thân nhau cả thôi mà. Tôi thầm phục người cán bộ dàn lộc khi đã tin tưởng ở cách mạng, có đầy đủ nghị lực công tác đoàn thể. Sau đó Ca bí mật lên Lũng Phìn tổ chức được hai hộ cách phố Lũng Phìn 2 km, lại âm thầm từng bước thực hiện kế hoạch đã bàn định. Nửa tháng sau. Ca báo cáo về Nhiêu Lai cho tôi biết, anh đã hoàn thành đường Ngọc Long đến Tùng Cản an toàn. Tôi lên gặp Ca và cùng đi chợ biên giới (nhằm xem xét thực địa) theo con đường Phya Mèng - Tùng Càn. Khi quay trở về an toàn, tôi viết thư báo cáo về trung tâm lãnh đạo khu Thiện Thuật, đồng thời tôi báo cáo thỉnh thị thượng cấp về một dự kiến mở con đường Tây tiến ra Phan Chi Hoa, ít vượt nhiều núi non cao sừng sững hiểm trở hơn. Ban Việt Minh khu Thiện Thuật có thư chấp nhận dự kiến kế hoạch mở con đường quốc tế ra Phan Chi Hoa. Khu còn gửi thêm lời động viên. Tôi tiến từ Lũng Vì, Tùng Bá lên Du Già, Đường Thượng, xuống tây nam về Seo Lủng. Từ đây tôi phát triển và củng cố hội tiến lên Cán Tỷ ở phía tây bắc. Phát triển đoạn đường này khá vất vả vì chịu ảnh hưởng thế lực thổ ty địa phương. Tôi vẫn phải kiên trì tuyên truyền vận động theo phương châm anh Tống dặn: Toàn dân đoàn kết - Chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa - Đánh Pháp đuổi Nhật - Việt Nam độc lập. Các séo phải đều nhận ra và cùng vào tổ chức hội. Đứng trên mảnh đất Cán Tỷ, tôi lại tính mở con đường đi qua giáp ranh giữa Quản Bạ và Vị Xuyên có cái hay của nó, nên tôi phát triển xuống phía nam vào xã Quản Bạ. Từ đây mở lên hướng tây bắc tới Na Chô Cai (bên ta) đi ra Phan Chi Hoa (bên Tàu) tương đối thuận lợi. Vậy là cuối năm 1944, tôi đã mở thêm được con đường nữa cho quốc tế từ điểm Na Chô Cai (Quản Bạ, Hà Giang) đi lại an toàn, đón các đồng chí từ nước ngoài về nước cũng như đón nhận vũ khí từ Vân Nam (bên Tàu) về tới căn cứ khu Thiện Thuật ở Lũng Lừa (Nguyên Bình, Cao Bằng)... Tuyến đường liên lạc về mặt nào đấy mà suy, dùng nơi tiếp giáp hai huyện vẫn bảo đảm nhanh và dễ hơn, đồng thời cũng lạo tiền đề cho việc thiết lập một căn cứ dù to dù nhỏ cũng là nơi trú chân khi phải chống giặc. * Tôi đến Seo Lủng vài hôm, chứng kiến đồng bào Mông các nơi xuống gặp tôi xin vào hội Việt Minh. Thời cơ phát triển Việt Minh đang lên, tôi vô cùng phấn khởi. Tôi bàn cùng các Ban Việt Minh địa phương cử cán bộ người Mông cùng tới các nơi lên làm lễ công nhận kết nạp. Nếu họ yêu cầu cũng có thể làm lễ ăn thề với nhau. Họ mời nằng nặc đòi tôi cùng đi. Đến các nơi tôi đều để cán bộ Mông bàn tổ chức với nhau, tôi chỉ làm vai cố vấn. Mọi việc đều suôn sẻ. Cuối lễ kết nạp nào cũng có bữa uống rượu ăn thề trung thành với Việt Minh. Tôi dự bữa cơm vì công tác dân vận phải thế. Tôi tiến hành giải thích cho rõ vào hội cứu quốc phải làm gì, phải đoàn kết, đánh Tây đuổi Nhật, để địa phương được giải phóng, không phải đến ăn thề với nhau rồi chờ đoàn thể đưa độc lập và quyền lợi sinh sống cho đâu, phải tự tay chúng ta làm lấy. Tôi còn nhớ một câu đến nay đồng bào Mông vẫn nhớ và gặp tôi đã khoe câu nói ấy rằng: “Dân yêu cầu đoàn thể lên giải phóng cho người Mông khổ quá rồi, nghèo quá rồi. Nhưng Việt Hưng nói đoàn thể ở đâu? Ở mọi nơi trên ngược dưới xuôi đều đang đánh Tây đuổi Nhật, ở đây ta họp nhau lại tự nhiên thành đoàn thể chứ. Và mọi người đều bị đế quốc phát xít thống trị, đè nén, ai cũng phải góp công sức vào mới chóng tiêu diệt được kẻ địch”. Tôi nhớ hôm ấy họ nói: - Chúng tôi có lòng yêu quê hương đất nước nhưng kế hoạch đánh đuổi Nhật - Tây cần có sự chỉ bảo của cán bộ Việt Hưng chứ? Làm như thế nào nữa chúng tôi chưa biết đâu. Tôi cười và nói: - Đúng rồi, ngày khởi nghĩa khi nào là ta còn có lãnh đạo chung khắp đất nước, mọi bản mường chòm xóm. Còn sau đây chúng ta làm gì nữa thì sẽ có hướng dẫn của Ban Việt Minh địa phương. Nghe rồi mọi người cười, cùng nâng bát rượu, nói ồn ào “hậu chấư hậu chấư (uống rượu) vui vẻ. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:46:43 am 15.
Đang là mùa đông, sắp hết năm 1944, nhiều bản làng Hà Giang chìm trong tuyết trắng. Một giao thông viên quen thân đi từ Lũng Lừa (khu bộ Việt Minh Thiện Thuật) đến. Vì lội sương tuyết mấy ngày đêm, quần áo ướt sũng. Mặt mày tím tái nhưng đôi mắt sáng, nở nụ cười chào: - Anh Việt Hưng ơi, có tin vui nhé. Ở Nguyên Bình và Hòa An (Cao Bằng) cách mạng sắp khởi nghĩa thành công lố. Nghe giao thông viên như con thoi qua lại bấy lâu nay nói vậy tôi hồi hộp quá. - Cao Sĩ ơi, nghe lạ quá, có tin vui gì đột ngột? Đừng lạc quan tếu nhé. - Đây, anh đọc báo Việt Nam Độc lập khác biết ne. Tôi đón nhận bó tài liệu Cao Sĩ đưa. Tôi chăm chú đọc: Số 201. Ngày 5 tháng 1 năm 1945. VIỆT NAM ĐỘC LẬP cơ quan tuyên truyền Việt Minh Cao Bắc Lạng (Trang 1) Chào mừng năm 1945, Đội tuyên truyền Việt Nam giải phỏng quân xuất hiện. Ngó lại năm cũ. Trông tới năm mới... Tôi chăm chú đọc to bài Đội tuyên truyền của Việt Nam giải phóng quân. Năm 1945 sẽ đem lại cơ hội tốt cho quân Giải phóng Việt Nam tiến lên đánh đế quốc phát xít Nhật và phát xít Tây. Muốn nắm lấy cơ hội ấy, chúng ta phải tuyên truyền cổ động một mặt cho đồng bào Việt Nam ta hăng hái chuẩn bị, một mặt cho các nước Đồng minh chú ý đến chúng ta mà giúp sức cho chủng ta. Đội tuyên truyền của VNGP chính đương dùng vũ trang hành động để làm công việc tuyên truyền cổ động ấy.Dưới đây nhà báo xin đăng hai bản thông cáo do Đội Tuyên truyền của VNGPQ vừa gửi đến. Thông cáo số 1. Ngày 11 tháng 11 ta là ngày 25 tháng 12 tây, một bộ đội lạ, ở đâu đến không rõ, bộ đội gì không rõ, kéo đến đồn Phay Khắt, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình. Sau đó người cai tây và tất cả 17 người lính dõng mang toàn bộ khí giới trong đồn và tuyên bố với dân làng là cùng cách mệnh đi đánh Nhật, rồi cùng bộ đội lạ kéo đi đâu mất. Cùng ngày ấy tên Việt gian hoạt động nhát ở tổng Kim Mã là xã Bồi biến đâu mất. Thông cáo số 2. Sáng ngày 12 tháng 11 ta là ngày 26 tháng 12 tây, lúc 7 giờ 14 phút, đội Tuyên truyền của Việt Nam Giải phóng quân kéo đến đồn Nà Ngần xã Cẩm Lý, gần Ben Le. Họ kéo cờ đỏ sao năm cạnh lên, xưng rõ là quân cách mệnh, đến lấy súng đạn của Tây phát xít, tuyên bố quân cách mạng Việt Nam không bắn binh lính Việt Nam. Kêu gọi anh em binh lính Việt Nam giơ tay lên đầu hàng. Người đội và ba người lính muốn chống cự bị súng trường và súng mảy cách mệnh bắn chết ngay tại trận, một người nữa bị thương. Đội tuyên truyền Giải phóng quân thu thập toàn bộ súng đạn trong đòn, rồi tập hợp anh em binh lính tất cả 15 người khố xanh (trừ 2 người chạy thoát). Khai hội nghị liên hoan giữa binh lính và cách mệnh. Đồng thời, đội phái người phát truyền đơn và dán biểu ngữ khắp đồn. Một số đông chị nữ vũ trang cũng tham gia giúp dọn dẹp chiến trường và tuyên truyền cổ động nhàn dân cùng binh lính. Đên 8 giờ đội Tuyên truyền rút khỏi đồn, vừa đi vừa hát bài Giải phóng quân ca. Đọc chưa hết các trang báo, tôi dừng lại mường tượng... Đội tuyên truyền Việt Nam Giải phóng quân! Là Quân đội cách mệnh rồi. Chắc hẳn có anh em bạn cùng sang học Trường quân sự Liễu Châu nhưng năm 1941 - 1943 chuẩn bị cho ngày hôm nay đây! Tôi mời Cao Sĩ cùng lên nhà và cùng bàn những công việc sắp tới... * Tôi đang bám địa phương Lũng Vì (Tùng Bá). Một hôm có séo phải bên Du Già tên là Hoàng A Váng đến gặp tôi và phát biểu với tôi: - Ở đất Lũng Vì này không phải đất dụng võ xây dựng cơ nghiệp, anh nên sang bên Đường Thượng, dân đông, có ăn có mặc, có súng, có người mới có thể đánh giặc được. Tôi thầm khen A Váng chạc trên tôi vài ba tuổi mà phát biểu chí lý, thật đáng một anh hào. Tôi hỏi: - Từ Đường Thượng có đường liên lạc sang biên giới không? A Váng nói: - Theo đường to thì lên Phó Bảng, phía bắc. Còn theo đường nhỏ thì lên Quản Bạ, Ngài Chồ, ở phía tây bắc rồi sang Phan Chi Hoa. Tôi phấn khởi, từ Lũng Vì (Tùng Bá) theo A Váng sang thăm đất Du Già. Nơi đây có người Tày làm lý trưởng, làm xã đoàn coi lính dõng... Tôi hỏi thăm biết là họ mua các chức ấy cũng nhằm cai trị người Mông ở trên núi cao mà thôi. Tôi tuyên truyền cách mạng. Họ nói đã biết có cách mạng đến các nơi gần đây rồi, nay muốn được vào tổ chức thôi. Vậy là Hoàng A Váng cùng lại tiếp tục kết nạp các hội viên mới của đất Du Già. Tin cách mạng đã đến Du Già, thế là bên Đường Thượng kéo nhau sang rất đông xin nhập Hội Cứu quốc. Tôi hứa mai sẽ sang Đường Thượng trực tiếp. Hôm ấy có mặt Sùng Lìa Phụng thôn Sảng Dả cùng khuyên tôi nên sang Đường Thượng trung tâm hơn. Tôi xem lại những lời góp ý của Hoàng A Váng và Sùng Lìa Phụng nên sang Đường Thượng trung tâm. Tôi thấy lời góp ý đó nói trong hoàn cảnh phong trào Việt Minh dang lên khắp nơi, có khí thế, lời góp ý đó là chân thành cách mạng. Tôi sang Đường Thượng. Nhưng còn đắn đo chưa nên xuống thung lũng vội, nên tạm trú trên nhà Súa Chứ (lính dõng Dường Thượng) là cốt cán Việt Minh. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:48:06 am 16.
Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945. Tin hỏa tốc từ Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật đưa tới, đó là một sự chuyển biến to lớn ở Đông Dương. Nhật hất cẳng Pháp để nắm toàn quyền cai trị ở Đông Dương. Như vậy đoàn thể Việt Minh và dân chúng Đông Dương chỉ còn một kẻ thù là quân phát xít Nhật. Tất cả lực lượng và mũi tên của người ái quốc Việt Nam hoàn toàn chĩa vào kẻ thù duy nhất ấy là quân phát xít Nhật. Quân Pháp ở các đồn đều cuốn gói chạy tán loạn Bang tá Đèo Văn Ất bỏ đồn Đường Thượng chạy trốn. Tôi hô hào mọi người tiến ra đồn, một truyền mười, mười truyền trăm, dân chúng các ngả kéo về. Xông vào nơi làm việc của bang tá đốt các giấy tờ văn bản. Nhân dân cùng phá kho thóc chia cho mọi người. Tôi tiến hành lập ngay một Ban Việt Minh tổng Đường Thượng thay thế quản trị của bang tá. Tôi gấp rút triệu tập một cuộc họp đại biểu Việt Minh các xã khu vực tổng Đường Thượng như Đường Thượng, Du Già, Ngam La bầu ra người lãnh đạo. Kết quả là Ban Việt Minh tổng do Lò Vạn Quả chủ nhiệm, Hoàng A Váng phó chủ nhiệm, Vừ Sè Lự ủy viên quân sự, Nguyễn Văn Tiến (người Tày, lý trưởng Du Già) ủy viên, và một ủy viên người Dao ở Ngam La. Xã đoàn ở Đường Thượng thu súng của lính dõng đem về giao cho Vừ Sè Lự. Mọi việc khác thuộc phần chính quyền cũ, họ tự bàn giao lại cho Ban Việt Minh tổng. Chánh tổng ở bên Lũng Giao cũng tự tìm đến tôi để giao nộp triện đồng. Đó là tổng thứ hai tôi đã lập được. Quân đội của Vừ Sè Lự xuất lĩnh một đội ở Đường Thượng. Phó chủ tịch Hoàng A Váng cũng tự xây dựng lấy một tiểu đội người Mông Súa đi theo hàng ngày bảo vệ. * Tình hình Hà Giang lúc này rất phức tạp. Khi Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp ở các đồn binh và ở thị xã bỏ chạy. Nhật chiếm Hà Giang. Một toán Quốc dân Đảng Tàu ở Phan Chi Hoa (một đồn lẻ ở bên kia biên giới Việt - Trung) do Liêu Quốc Thụy chỉ huy đã tràn vào xã Nghĩa Thuận chiếm đóng Na Chô Cai (nay thuộc huyện Quản Bạ). Ở đây chúng thẳng tay bóc lột, trắng trợn cướp thuốc phiện và bạc trắng của nhân dân. Thổ ti Mông ở Sà Phìn đã xưng hùng xưng bá ở Đồng Văn, không chịu hàng phục Việt Minh. Bọn phản động cấu kết với thổ ti ở Bảo Lạc đứng lên phá hoại cách mạng. Các đảng phái phản động như Phục Quốc, Đại Việt được Nhật dung túng vào gây cơ sở của chúng hòng bóp nghẹt phong trào Việt Minh. Bọn thổ phỉ biên giới cũng nổi lên cướp bóc nhân dân... Trước tình hình có nhiều kẻ thù cần đối phó, tôi triệu tập Ban Việt Minh tổng Đường Thượng, trong đó có Lò Vạn Quả, Hoàng A Váng, Vừ Sè Lự... họp hội nghị cán bộ bàn bạc và nhất trí trước tiên phải đánh kẻ thù chính là quân phát xít Nhật. Tôi phái trinh sát tiến hành nghiên cứu tình hình phố Tráng Kìm đang có Nhật đóng, đánh một trận để lấy khí thế. Sau khi nắm tình hình địch, tôi tổ chức lực lượng và kiên quyết dùng lực lượng lớn tập kích vào phố Tráng Kìm tiêu diệt Nhật cùng bè lũ tay sai bảo an. Chỉ huy trận đánh có Dàng Sè Pao, Cù Tờ Dinh, Dàng Bli Pao, là những người chỉ huy cốt cán người Mông rất đáng tin cậy, tổ chức xuất lĩnh lực lượng lớn. Biện pháp lúc đó bàn rằng, dân quân thật bí mật không ngờ với Nhật, khi tới gần sẽ hạ lệnh lập tức nổ súng hàng loạt đánh liên tục đến khi tiêu diệt quân địch mới thôi. Thời gian chọn vào đêm 30 tháng 4 năm 1945 để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động mồng 1 tháng 5. Trận này nhằm mục đích chính với quân Tàu, cho chúng biết rằng đó là lực lượng công nông lao động nổi dậy, không lẻ tẻ mà coi thường, và qua đó đồng thời làm công tác tranh thủ tầng lớp thổ ti phía Đồng Văn. Tôi truyền đạt mệnh lệnh: Dù hoàn cảnh nào cũng phải chiến thắng. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:51:06 am Tôi trở về Đường Thượng và tiến hành huy động các lực lượng từ Lũng Khuy, Cán Tỷ, Seo Lùng và cả Đường Thượng nữa tập trung khoảng gần 400 tay súng thực hành tham chiến tiêu diệt địch.
Khi đến Đường Thượng, vào nhà Sùng Lìa Phụng đã có một đơn vị do Bế Sơn Lộ, Hà Đức Hạnh (quê Cao Bằng) xuất lĩnh tới chờ tôi. Sau khi gặp nhau, Hà Đức Hạnh nói với tôi: - Chúng tôi theo lệnh của anh Văn lên đây để giúp anh tổ chức quân đội đánh Nhật, và nếu anh đã tự tổ chức rồi thì chúng tôi phải rút ngay để về Hà Nội vì Hà Nội cần hơn. Tôi vốn nghiêm chỉnh thi hành chi thị trên và cũng không tùy tiện đùa được. Tôi nói: - Nếu gọi là tổ chức quân đội đánh Nhật thì tôi sẽ đánh một trận tập kích lớn vào phố Tráng Kìm tối 30/4 này. Nếu các anh không tin thì hãy cùng chúng tôi tham chiến cũng hay. Vỉ các anh cho rằng về Hà Nội gấp hơn thì tôi không có quyền ngăn giữ. Song tôi chỉ yêu cầu anh cho tôi hai chiến sĩ giải phóng quân là Hoàng Long, Hoàng Thượng để giúp chúng tôi là được rồi. Hạnh và Lộ mừng ra mặt, giao Hoàng Long và Hoàng Thượng cho tôi rồi tìm cách rút ngay. Sau khi đàm đạo, tôi cân nhắc và tin tưởng Hoàng Long là cán bộ Việt Nam giải phóng quân ở Cao Bằng gửi sang, tôi gấp rút cùng Hoàng Long về ngay phía Quản Bạ gặp Thào Vạn Dinh, người Mông, tập hợp mọi lực lượng để chuẩn bị tập kích đồn Tráng Kìm. Hai anh sẽ là chỉ huy chính. Nguyên Thào Vạn Dinh từng làm phài tráng ở bên Tàu chạy sang Việt Nam làm ăn, đã giác ngộ theo Việt Minh, nay có Hoàng Long nữa ắt phát huy tác dụng nhất định trong trận đánh. Kế hoạch tập kích Nhật ở Tráng Kìm đã định. Nửa đêm, quân ta nổ súng. Bị đánh bất ngờ, quân Nhật hốt hoảng bắn từ đồn ra dữ dội. Đến gần sáng, tàn quân Nhật còn lại phải bỏ Tráng Kìm lặng lẽ trốn chạy về thị xã Hà Giang. Tin chiến thắng báo cáo về Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật. Các anh Tống, Bình Dương gửi thư cho Cao Sĩ mang tới khen ngợi và động viên chúng tôi. Các anh đánh giá, đánh thắng quân Nhật ở trận Tráng Kìm có một ý nghĩa chính trị lớn lao. Bấy lâu chiến sĩ người Mông đều biết quân đội Nhật rất hung hãn. Lần này là lần đầu tiên ta ra trận mà lại chiến thắng oanh liệt quân Nhật nên anh em sẽ vô cùng tự hào, do đó càng tin ở khả năng chiến đấu của mình. Mặt khác lực lượng vũ trang của người Mông lớn mạnh làm cho quân Quốc dân Đảng Tàu đóng ở Na Chô Cai không dám đi sâu vào nội địa của ta ăn cướp. Bọn thổ ti Sà Phìn cũng phải khiếp sợ quân đội của Việt Minh. Tôi đọc thư của Khu bộ cho toàn quân nghe, ai cũng thấy tự hào và vững tin hơn. Liền đó tôi tức tốc tổ chức một tiểu đội do Trương Vĩnh Kiên, người Nùng, chỉ huy tổ chức đón đánh lính bảo an Nhật ở Hó Lò, Mã Lồng, cách Quản Bạ 2 km và cách Tàu khoảng 8 km. Vì biết hành trình của bọn Mã Lồng đến Quản Bạ vào lúc nào, đội bố trí chờ sẵn chừng nửa tiếng đã bắn chết một tên cưỡi ngựa từ Mã Lồng về. Ta thu được ngựa, súng và quân trang của y. Sau đó mấy tiếng đồng hồ, quân Nhật từ Quản Bạ tiến công vào hai nơi, một phía Lũng cống và một hướng tiến vào Mỏ Sài. Phía Lũng Cống tôi viết truyền đơn bằng chữ Tàu rải trên đường tiến quân, thì cánh này chỉ đến đỉnh dốc vào Lũng cống bắn loạn xạ một lúc rồi rút về ngay. Hướng Mỏ Sài không có truyền đơn (vì chỉ có một mình tôi viết không kịp, vả lại cũng không có giấy viết nữa) nên cánh quân này lọt được vào Mỏ Sài, lùng sục đốt nhà phó lý họ Vàng rồi cũng rút ngay. Trận thắng quân Nhật ở Quản Bạ tuy nhỏ nhưng ít nhiều gây được cho dân chúng lòng tin ta có thể đánh thắng quân Nhật, đồng thời thức tỉnh bọn lính bảo an Nhật ở Quản Bạ và nhất là đối với quân Tàu Tưởng ngoài Mã Lồng kia cũng phải dè chừng. Riêng tôi chưa hài lòng lắm nên tôi quyết định dùng lực lượng của Trương Vĩnh Kiên tiếp tục tiến ra mặt sau Quản Bạ (đoạn Lũng Dáo, Pác Sum) cũng dùng cách đánh trên, chặn địch từ xa. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:52:26 am * Tôi về đến Đường Thượng, các cán bộ xã Ngọc Long (người Tày) vượt qua xã Lũng Hồ tìm đến xin cho Ngọc Long nhập vào tổng Đường Thượng. Việc này cũng dễ chấp nhận. Tôi nhớ hồi tháng 10 năm 1944, Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật đã có lần chỉ thị cho tôi giao toàn bộ công việc cũng như tiểu đội quân của tôi cho Lưu Ngọc để tôi chuyên làm việc phát triển mở con đường Tây tiến ra liên lạc quốc tế. Nhưng mãi gần đây mới có tin Lưu Ngọc (cán bộ từ Cao Bằng) được Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật phái lên Hà Giang. Tôi muốn gặp được Lưu Ngọc (như trên đã nói) để dặn dò và bàn giao cơ sở cho anh ta, Sáng hôm ấy, tôi muốn dùng một đơn vị mới, tôi vừa tổ chức được ở Đường Thượng, thực hành tuần thị để củng cố lòng tin với cơ sở cũ và mới, mà cũng là làm yên tâm thêm cho Lưu Ngọc mới đến nhận nhiệm vụ. Tôi dùng lực lượng của tiểu đội Vừ Sè Lự hành quân từ Du Già về qua Lũng Cống (Yên Định), Cù Lùng, Tè Sung và Phya Liềng, Nhiêu Lai. Gặp được Lưu Ngọc, tôi bàn giao cho anh ta các cơ sở của tổng Nhiêu Lai, các người phụ trách, và tiểu đội 14 người do tôi thành lập giao đồng chí Bệ xuất lĩnh. Đêm hôm đó gần như không ngủ, chúng tôi trao đổi kinh nghiệm công tác. * Sau đó tôi lại tiếp tục tiến lên phía Cán Tỷ, Quản Bạ. Cù Tờ Dình ở Lũng Khuy đến đón tôi từ Seo Lùng sang. Anh dẫn tôi qua cầu Cán Tỷ ban ngày làm như đây là đất đã giải phóng thuộc ta, hầu như không sợ một ai. Hai bên đầu cầu đều có người Mông ở khá đông. Tôi lại được gặp anh séo phải người Mông, qua nói chuyện biết anh này cũng gan dạ gớm. Anh ta giữ tôi ở lại dùng cơm chiều. Lúc chưa ăn tôi đi dạo cùng ngắm quang cảnh cây cầu, cũng có một anh tại đó là người Tày hay Hoa gì đó cứ ngắm tôi mãi nhưng không nói gì với tôi câu nào, tôi biết vậy cũng không hỏi han, nhưng tôi cũng cần cảnh giác vì đang ở nơi đất lạ.. Sau khi cơm nước xong, séo phải giao tôi cho Cù Tờ Dình đưa tôi đi về đến Lũng Cống mới nghỉ ở nhà Giàng Tờ Di. Dân cư ở đây đông đúc, tuy gọi là lũng nhưng nhà san sát, xóm này cách xóm kia chỉ khoảng một cây số trở lại. Đến đây tôi mới biết dân đã vào hội 100% từ trước, giờ họ nghe tin tôi đến, đã rủ nhau xuống gặp một người đại diện đoàn thể là tôi, cho có đầu có cuối mà thôi. Họ thưa trình với tôi mọi công việc nội ngoại. * Một hôm Sùng Dua Hầư, người tận Ngài Chồ đến báo cáo với tôi rằng, khi Nhật đảo chính, người Pháp cùng bè lũ chạy hết, quân Nhật vào chiếm Quản Bạ, tổ chức lính bảo an. Một mặt quân Tàu Tưởng tràn sang, đào vác cả mốc biên thùy đặt cắm lại ăn sâu vào bên đất Việt Nam. Chúng bắt dân trong vùng mỗi nhà phải nộp 3.600 đồng bạc già, 360 kg thuốc phiện, ngoài ra chúng bắt dân hàng ngày nộp lợn bò cho quân Tàu ăn uống. Tôi căm tức quá bèn viết đơn phản kháng việc quân Tàu Tưởng lấn đất và việc bắt dân nộp mọi phí tổn bất công. Thư được gửi đến Bộ Tư lệnh biên thùy Liêu Quốc Thụy của Tàu Tưởng. * Vừa khi đó tôi được tin Sơn Tùng và Bá Nhân mang một đại dội Mông từ Bảo Lạc sang, đang ở Mậu Ruệ và muốn được gặp tôi. Vì vậy tôi lại phải tức tốc xuống Mậu Ruệ tìm gặp các anh. Khi tôi đến Mậu Ruệ thì hai anh và đơn vị đã hành quân lên Lũng Phìn và theo đường Niêm Sơn xuôi rồi. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:53:15 am * Một tin khác từ Mậu Ruệ báo lên, phó tổng Thành có hành động chống đối cách mạng, Thanh Dắc và vài người nữa mới đi chiến đấu ở Đồng Mu về muốn tìm cách xử lý cho yên địa phương. Tôi tức tốc viết thư cho Kim Sơn không được tùy tiện hành động, cần điều tra cụ thể chính xác và mức độ. Lại có thư của Hùng Quốc gửi tới cho biết, đơn vị do hai anh Hùng Quốc và Mệnh Lệnh đã tiến từ Bắc Mê ra Nà Sài, Yên Định (Bắc Mê), yêu cầu Việt Hưng ra liên lạc. Thư do Hoàng A Váng, Phó chủ tịch khu Đường Thượng đưa tới. Tôi bận nhiều việc phải ứng phó mặt Tráng Kìm, Quản Bạ hơn nên tôi nhờ anh Hoàng A Váng ra liên lạc để vừa tìm hiểu đơn vị có đúng Hùng Quốc không, vừa quan sát mọi mặt trên dưới xem như thế nào, để về báo cáo. Hoàng A Váng đến tìm hiểu thấy đơn vị của Hùng Quốc có nhiều kẽ hở: Quân binh lộn xộn; Tày, Mông khinh rẻ nhau; binh sĩ giơ súng ngắm bắn chỉ huy (mà Hùng Quốc vẫn cho là đồ trẻ con nghịch đùa không quan tâm). Tôi có nhiều suy nghĩ về đơn vị của Hùng Quốc và Mệnh Lệnh, song chẳng có cách nào hơn, nếu là đơn vị thuộc quyền thì tôi đã có cách khác ứng xử. Sau này từ đơn vị Hùng Quốc bị tiêu diệt, rồi lần lượt Sơn Lộ, Đức Hạnh, Bế Minh Ngọc cả cơ quan tiền chiến bộ bị tiêu diệt. Thật đáng tiếc. Khu vực Bắc Mê rộng lớn nối liền với mạn Tuyên Quang, Hà Giang bền vững có phải tạo thành một khu giải phóng thuận lợi biết bao. * Tôi đang có mặt ở Lũng Cống thì có Sùng Dua Hầư đến tìm và nói với tôi: - Liêu Quốc Thụy, tư lệnh tiền tiêu Tàu muốn gặp anh Việt Hưng. Tôi ngại quá. Song Dua Hầư nói: - Liêu bảo đảm không có chuyện ngại ngùng gì, cứ đến giao dịch. Từ Nà Tanh tôi lên nhà Dua Hầư, đường đi khoảng 800 mét chi vòng qua một quả núi con là tới. Khi ấy khoảng 4 giờ chiều, Dua Hầư ra mời Liêu đến gặp tôi. Liêu dẫn theo hai người, một phài tráng và một ban tráng. Y đeo lon thượng úy. Dua Hầư giới thiệu hai bên. Sau thủ tục xã giao, Liêu hỏi tôi: - Xin cho biết quan anh ở đoàn thể nào? Tôi lấy quyển Việt Nam Độc lập Đồng minh in từ Tĩnh Tây bằng chữ Hán cho y xem thay cho câu trả lời. Y xem qua bìa và hỏi tôi ngay: - Ở đây có đặc vụ không? Tôi nói: - Tôi mới lên đến đây, chưa biết kẻ nào là đặc vụ. Liêu nói với tôi: - Tốt nhất các việc chúng tôi làm ở đây đừng báo cáo đến tai Quân ủy Trung ương của chúng tôi. Tôi nói: - Dĩ nhiên ở đây không ai báo cáo đến tai Quân ủy Trung ương, song mọi việc dân kêu với tôi thì ông nên lưu ý. Lúc chia tay, phài tráng (thanh niên như tôi) vui vẻ nói với tôi: - Anh năng đến chơi với tôi vì bên Phan Chi Hoa nhiều anh cách mạng Việt Nam đang có mặt bên này. Tôi cảm ơn và suy nghĩ, tại sao các anh cách mạng ở Phan Chi Hoa không vào liên lạc với chúng tôi nhỉ? Tôi ở qua đêm nhà Sùng Dua Hầư trước chiến hào của Liêu. Sớm dậy, cơm nước xong tôi về Nà Tanh. Sáng nay Liêu cũng mặc thường phục (Mông) dẫn vài người lính đi trước tôi ra chợ Mã Lồng. Tôi đi cạnh Liêu không ngại ngùng vì chúng tôi có quần chúng đưa đón. Liêu tránh sang vệ đường nhường tôi bước trước. Đến Nà Tanh, đang chuyện trò vui vẻ có một tên lính Tàu cầm một quả lựu đạn đến bắt một người dân bản địa để đem làm người dẫn đường đi Mã Lồng. Tôi biết đó là đặc tính của lính Tàu Tưởng nên cũng mách cho dân đỡ sợ. Tôi về đến Seo Lùng, tôi gọi Hoàng Long giao anh lên nắm lấy cánh quân ở mặt Thanh Vân để xem xét và canh chừng bọn Tàu Tưởng tiến vào. Hoàng Long lên tổ chức tập trận dàn thành đội hình chiến đấu trước mũi Liêu. Mặc dầu vậy bọn Liêu vẫn tập kích Mã Lồng mà Hoàng Long không biết. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:55:15 am * Tôi về Phó Bảng có tin, quân của ông Vương thổ ti Sa Phìn do Hầu Vạn Quả, Mã Chí Nguyên, Mã Học Văn đã xuất lĩnh xuống Đường Thượng để trừng phạt cách mạng. Họ yêu cầu gặp mặt Việt Hưng. Tôi hỏi Sùng Lìa Phụng: - Bọn Vương xuống đây có hạch sách dân không? Hiện họ đóng ở đâu? Phụng trả lời: - Họ đóng ngoài cổng Trời, không vào trong Đường Thượng, không hạch sách, dân chúng tôi vẫn sống bình thường, và họ chỉ muốn gặp cán bộ Việt Minh. Tôi hỏi để tham khảo ý kiến Phụng: - Theo anh, tôi có nên ra gặp họ không? Phụng nói: - Không nên, và chỉ nên viết thư cho họ là đủ. Toi nghe Phụng, viết bức thư với nội dung đại ý: Tôi (Việt Hưng) một thành viên của đoàn thể Việt Minh đến đây kêu gọi nhân dân đứng lên đánh Nhật, giành độc lập cho nước nhà (bao gồm các dân tộc trong cả nước) không phải loại người đi lừa gạt nhân dân lấy tiền của, mà là chỉ bảo nhân dân đánh giặc và làm ăn sung túc. Nếu các ông muốn đánh nhau thì tìm Nhật và bọn cướp đất, cướp nước ta mà đánh. Tôi nói rõ ràng minh bạch như vậy. Hiện nay cảnh sống của dân Đường Thượng đã khác với dân Sa Phìn. Tôi có viết thêm cho rõ: Ở Đường Thượng được Việt Minh đến tổ chức, cây ngô phủ xanh nương rẫy, còn Sa Phìn vẫn để đất không. Có súng ống đấy nhưng Sa Phìn anh nào cũng sợ thổ phỉ không dám sản xuất thì làm sao bằng được Đường Thượng. Chính vì đời sống sung túc nhãn tiền của Đường Thượng tác động vào tâm lý của Mã Học Văn, Hầu Vạn Quả nên khi họ nhận được thư, đã gửi lời qua người đưa thư, họ tự thốt ra những lời chân thành: - Các anh ở Đường Thượng có người tốt đến dạy bảo cách làm ăn, đời sống khá giả nhiều lắm, và chúng tôi đóng quân ở đây lâu có thể làm cho cán bộ Việt Minh các anh nghi ngại. Vậy chúng tôi rút lui về để tỏ cho cán bộ biết rằng chúng tôi không phải xuống tìm cách mạng để đánh nhau đâu. Sau vài hôm nữa chúng tôi nhờ các người già ở đây mời cán bộ lên chỗ tôi chơi. Phân tích những lời lẽ của đám thổ ty Sa Phìn, đến ngày 25 tháng 5, tôi với hai ông phó lý cao tuổi người Mông đi lên Sa Phìn vào Lú Seo Tổng nhà Hầu Vạn Quả. Tôi và hai ông phó lý được mời nghỉ qua đêm. Mọi việc tôi đã dặn để hai bên Mông ăn nói với nhau. Tôi lắng nghe chứ không bộc bạch gì tuy rằng mọi người đều biết tôi nghe và nói tiếng Mông đã rất thành thạo. Sáng hôm sau trên đường về (đến ngã ba Sa Phìn - Đồng Văn) chúng tôi thấy một thanh niên trẻ ở vai chỉ huy chừng ba chục người Mông, súng ống nai nịt gọn gàng, ngồi bên đường, tôi hỏi hai ông phó lý người Mông. Phó lý nói: - Ấy là Vương Quỳnh Sơn, cháu ông Vương thổ ty đấy. Sau đó gặp Quỳnh Sơn tôi hỏi bằng giọng thân mật: - Các anh đang làm gì ở đây? Vương Quỳnh Sơn nói: - Thưa ông, ở gần đây đang có thổ phỉ đến quấy rối, chúng em phải canh phòng. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:55:47 am Tôi thấy Vương Quỳnh Sơn còn non trẻ, chắc chưa có kinh nghiệm chiến trận bao nhiêu nên tôi chân thành góp ý kiến. Tôi nói với Vương:
- Các anh chỉ cần mang một ít quân mai phục chẹn lối phỉ ắt đi qua mà đón đánh, theo phép “dĩ dật đãi lao” của Tôn Tử. Còn các đỉnh núi cứ kéo cờ đỏ lên để uy hiếp tinh thần chúng, là vận dụng phép dùng binh Tôn Tử “hư trương thanh thế” đó... Còn bao nhiêu người thì ra mà sản xuất lấy lương ăn. Nếu để đất không cày cấy như hiện nay ở Sà Phìn thì dân đói. Vương Quỳnh Sơn cám ơn rối rít, tỏ lời cảm tạ. Câu nói của tôi đơn giản song cũng đủ làm phương châm cho Vương, là chống giặc vẫn phải sản xuất, không nên tập trung mọi người chuyên việc canh phòng thổ phỉ mà không chú ý việc sản xuất lấy lương thực thì nguy hiểm vô cùng. Sơn suy nghĩ chốc lát, hỏi tôi: - Xin hỏi, có phải ông là ông Việt Hưng không ạ? Tôi nói: - Phải đấy. Làm sao hả Quỳnh Sơn? - Thưa ông, em đi đến đâu người Mông khắp nơi đều nói cán bộ Việt Hưng nói cái gì cũng tốt, ông hô hào mọi người đoàn kết một bụng để đánh Nhật lấy lại nước, lại còn biết hát bài hát tiếng Mông Thùng dè mùa Việt Minh cho mọi người nghe rồi hát theo. Hôm nay ông dạy chúng em đánh giặc cũng phải sản xuất, lại còn dạy về binh pháp Tôn Tử. Ông tốt quá ạ. Tôi mỉm cười cùng hai thầy lý chia tay. Tôi cũng nhận ra một điều, để bảo đảm cuộc sống yên lành cho mọi người thì người cán bộ cũng không ngại ngùng đi tìm hiểu vào sào huyệt của thổ ty. * Tôi nhận được tin một toán Nhật từ Yên Minh đang chuẩn bị rút về thị xã Hà Giang. Tôi lệnh cho Hoàng Long tập trung quân Cán Tỷ, Seo Lùng, Lũng Khuy tiến hành phục kích ở cầu Cán Tỷ để tiêu diệt địch. Bọn Nhật bị đánh nhiều lần nên lần này chuẩn bị hành quân, chúng tổ chức khá chu đáo. Chúng lợi dụng lúc đêm tối lặng lẽ rút quân cho yên ổn. Nhưng lần này chúng không ngờ lại bị phục kích ở khu vực cầu Cán Tỷ. Lợi dụng nước chảy xiết gần mặt cầu, Dàng Sư Dè bàn với Hoàng Long, cho Thào Vạn Dình gỡ ván trong lòng cầu mà che lót ngụy trang bằng lá chuối. Tôi nghĩ ngụy trang mặt đường kiểu này trong Tôn Tử binh pháp không có, đây là diệu kế sáng tạo trong thực địa chiến trận. Tôi góp ý cùng các anh Hoàng Long, Dàng Sư Dè: - Đó là diệu kế. Nhưng muốn đại thắng ta phải gây cho chúng hoang mang đột ngột mà tranh nhau phi ngựa qua cầu, chứ chúng đi đủng đỉnh thì không ăn. Đêm ấy khi bọn Nhật hành quân sắp tới khu vực cầu, chúng bị đánh phục kích bất ngờ và chỗ nào cũng nghe nổ súng nên chúng chạy thục mạng, ngựa nghẽo phi qua cầu cùng người đều lộn nhào xuống sông chết không biết bao nhiêu mà kể. Cầm cự cho tới sáng quân Nhật chỉ còn 12 tên (trong đó có một tên trung úy) còn sống sót và xin đầu hàng. Ta thu 8 ngựa chiến, quân trang 80 chăn len, súng phóng lựu đạn Nhật chính cống, có cả quần áo phụ nữ. Số lính Nhật cùng ngựa lao xuống sông không tính được. Sau chiến thắng tôi từ Đường Thượng ra bãi chiến trường thăm anh em chiến thắng. Hoàng Long và Thào Vạn Dình báo cáo trận đánh oanh liệt và đưa tặng tôi một khẩu Vanter của Nhật. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:57:04 am 17.
Đã vào tháng 6 năm 1945. Lúc này Bình Dương cử về bổ sung thêm 4 cán bộ cho Hà Giang. Đó là anh Thất Tinh, hồi nhỏ học lớp trên tôi (nhưng bỏ học ở nhà), đồng chí Phong trẻ; đồng chí Đức cùng tuổi với Phong; đồng chí Nhật còn trẻ lắm, tuổi học trò. Tôi phân công ngay. Thất Tinh nhận với tôi một đồng hồ quả quýt và một súng ngắn lát pét lên mặt Quản Bạ tăng cường với Hoàng Long và còn để ngoại giao với bọn cách mạng ở Phan Chi Hoa. Tôi biết sau khi tôi gặp Liêu Quốc Thụy và anh phài tráng trẻ kia (có nói bên Phan Chi Hoa có nhiều người cách mạng Việt Nam) thì thể nào bọn cách mạng Việt Nam ấy cũng lần vào tìm chúng tôi. Cần có Thất Tinh giao dịch. Đồng chí Phong thì cho xuống Ngọc Long xã người Tày. Đồng chí Đức lên mạn Lao Vù Chải (vùng Mông). Anh Đức từ hôm lên cho đến ngày giải phóng thị xã mới xuống và được trở về địa phương vì sốt rét ngã nước (ốm nặng đến mức không chết là may). Cậu Nhật, tôi giao cho giữ sổ sách, nhận tiền của do nhân dân ủng hộ và gửi lên đoàn thể, còn thì giờ thì dạy cho dân học chữ. Không hiểu tính tình cậu Nhật ra sao, nhận việc rồi vẫn không yên tâm, tôi đi công tác thì ở nhà chạy trốn. Chạy lần một ra Du Già thì dân giữ lại, dẫn đến trao trả tôi. Lần sau tôi giải thích rồi mà vẫn tiếp tục chạy lần hai đi ra hướng Mậu Ruệ, cũng bị giữ lại và dẫn trả tôi. Tôi hỏi sao phải chạy? Nhật nói, sợ người Mông ăn thịt. Tôi nói, nếu họ ăn thịt thì tôi to lớn nhiều thịt hơn sao họ không thịt lại thịt anh làm gì. Thấy cậu Nhật đã an tâm và bắt đầu làm việc, tôi hướng dẫn tỉ mỉ việc ghi chép sổ sách cho cẩn thận. Thấy không nghi ngờ nữa và tôi lại đi công tác. Anh ta lợi dụng tôi đi vắng lại chạy tuột về Hà Giang, cuỗm luôn cả tiền dân ủng hộ đoàn thể. Nhật đã lầm đường theo Việt Nam Quốc dân Đảng. * Nhiều thanh niên mạn Đồng Văn, Lũng Phìn đến gặp tôi, xin đi thoát li, theo làm cách mạng. Các anh đến khá đông như Lạc, Vạn, Đào, Thế, Bài... Tôi thấy vui, biết rằng trình độ thanh niên ở Hà Giang đã cao hom trước, muốn được cống hiến, chứ không chịu ru rú ở nhà nữa. Anh Lạc thì sau khi tuyên bố cho vào đơn vị võ trang rồi thì được tôi giải thích cho về Lũng Phìn phụ trách xã Sủng Tỷ, vì ở đấy dân đông và có phố phường buôn bán. Còn các anh: Vạn, Đào đều tiến ra chợ Quản Bạ nhập vào đội quân Hoàng Long để tác chiến. Anh Thế ở với tôi làm thư ký. Anh Bài cử ra Tráng Kìm công tác nằm vùng thì chuồn luôn về thị xã Hà Giang, sau giải phóng vẫn không gặp lại anh ta. Tôi xuống Mậu Ruệ xác lập Hoàng Kim Sơn làm chủ nhiệm Việt Minh huyện Đồng Văn, để anh Bắc làm Chủ nhiệm Việt Minh huyện Vị Xuyên. * Sau khi đã cử anh Lạc lên Lũng Phìn, tôi muốn có dịp tới đó xem xét tình hình để định ra phương hướng Phố Lũng Phìn là chỗ trung tâm buôn bán, bên đông là Mèo Vạc, phía bắc là Sa Phìn. Thuế chợ là mồi ngon của hai thổ ti họ Dương và họ Vương. Phía ta có quần chúng. Dù sao hai phía đông và bắc cũng gờm ta vì sợ mất nguồn lợi. Tôi bàn cùng anh Lạc hoạt động theo cách nắm dân là chính, không cần tranh chấp nguồn lợi gì vẫn tốt hơn. Không ngờ khi đi đến đoạn đường còn cách phố Lũng Phìn chừng một cây số, tôi nghỉ chân ở cơ sở quần chúng lắng nghe tình hình, thì ra Lũng Phìn có một đại đội Tàu Tưởng từ Phó Bảng tiến vào từ chiều. Tôi định quay về thì vừa lúc anh Lạc đến gặp báo cáo công việc, đồng thời anh Lạc đề xuất Việt Hưng đã đến đây nên nhân cơ hội này họp mặt với dân để phát biểu động viên họ yên tâm trước sự cố mới. Tôi đã ngại vì chưa nắm được đại đội quân Tàu này đang lấy danh nghĩa gì tràn vào phố Lũng Phìn? Lại nghĩ không phải bọn Tàu nào cũng tốt đâu. Nhưng anh Lạc tha thiết giữ tôi ở lại cố vấn. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 07:58:08 am Tôi theo anh Lạc đến nhà Cam Tông Giáp (nơi anh Lạc làm thư ký). Nhân dân nghe có Việt Hưng đến, họ đón tiếp tôi rất niềm nở, hồ hởi, cẩn thận. Nhân dịp này tôi động viên quần chúng, chì nói thời cơ đã đến, nhân cơ hội này nhân dân ta cần đoàn kết trăm người như một, khi có tổ chức kêu gọi hãy vùng lên giành lại độc lập cho đất nước. Trong lời nói chắc có chỗ nào đó để sơ xuất chạm đến uy tín cá nhân thổ ti Dương Mí Phùng (nguyên là người dân Tàu đang có bề thế ở Mèo Vạc). Y xúc xiểm bọn Tàu.
Hôm sau hắn dẫn đại đội quân Tàu Tưởng đến bắt tôi cùng anh Lạc. Từ phố Lũng Phìn, chúng dẫn chúng tôi lên Phó Bảng giao cho dinh trưởng Thịnh Hùng Phi. Thế là tôi cùng anh Lạc bị nhốt ở nhà tạm của ông Vương ở Phó Bảng. Qua hai ngày hai đêm bị nhốt, tôi nghĩ tới vai trò của Công chính đội ở Quảng Tây năm 1943 tôi từng được sinh hoạt, tôi biên thư phản kháng việc bắt bớ vô lý và nói rõ rằng tôi là một thành viên Công chính đội do trung tướng Từ Quang Anh phụ trách phái về làm công tác bên đất Việt Nam, nếu mà gây ra trắc trở công việc của tôi thì tôi không chịu trách nhiệm. Lần hai này Thịnh Hùng Phi phải đấu dịu chứ không như lần trước. Tôi nói đến việc Công chính đội thì Thịnh không trả lời. Buổi chiều ngày thứ hai bị nhốt thì Thịnh không cho lính đưa cơm nữa mà mời hai chúng tôi lên gặp Thịnh và ăn com với y. Khoảng năm giờ chiều, chúng tôi được thả và được mời lên gặp Thịnh Hùng Phi. Lúc đầu Thịnh nói lằng nhằng dài dòng những chuyện tận đâu đâu, rồi cuối cùng hắn hỏi: - Ông thấy quan hệ Trung Hoa và Việt Nam thế nào? Tôi trả lời qua loa bằng câu tục ngữ ngắn gọn muôn thuở nhạt nhẽo ai cũng biết: - Tôi thường nghe người ta nói có câu “môi hở răng lạnh”. Thịnh còn hỏi: - Quan hệ ấy có từ bao giờ? Tôi trả lời gọn: - Đã lâu. Y nhấn mạnh: - Hai nghìn năm về trước. Tôi đành trả lời ậm ừ: - Phải. Thịnh nghe rồi ra chiều bằng lòng, nói: - Ông hiểu như vậy thì ông được giải phóng. Sau đó hắn mời bữa cơm thịnh soạn. Cơm nước nghỉ ngơi rồi tôi nói: - Bây giờ tối rồi, ngủ ở đây không tiện, anh thu xếp cho tôi một chỗ ở phố Phó Bảng để ngủ nhờ đêm nay. Và đề nghị anh cho một giấy đi lại để tiện lợi dọc đường khỏi bị rầy rà. Thịnh Hùng Phi cho liên lạc đưa hai chúng tôi đến nhà riêng của Thịnh làm thợ may ở phố Lũng Phìn nghỉ đêm. Sáng hôm sau dậy sớm, hai anh em chúng tôi về thẳng Mậu Ruệ. Thực ra Thịnh Hùng Phi thả tôi cũng vì sự phản kháng bởi bức thư kiến nghị từ Mậu Ruệ chúng tôi gửi hắn trước đây rất đàng hoàng thẳng thắn chính nghĩa. Nói về quân của Thịnh Hùng Phỉ quen thói hà hiếp dân, sau này khi Thịnh dẫn quân đến Hải Phòng thì Thịnh bị quân pháp trung ương của Tàu Tưởng lôi ra bắn để giữ nghiêm phép tắc (ông Vương Chí Sình sau này kể chuyện lại với tôi). Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:05:44 am 18.
Tháng 7 năm 1945. Lúc này bộ đội chúng tôi còn đóng ở Yên Minh một trung đội. Tôi đang ở Đường Thượng thì nhận được thư của anh Bình Dương từ Khu bộ Khu Thiện Thuật gửi tới. Anh thông tri chúng tôi chuẩn bị đi họp liên châu và đi dự đại hội ở Tân Trào. Đại biểu Hà Giang có tôi (Việt Hưng), Kim Sơn đại diện Đồng Văn (vì anh là chủ nhiệm), anh Thanh Bắc thay mặt Vị Xuyên. Gần tới Mường Bang, tôi nhận được thư của Lưu Ngọc cho biết đang gặp khó khăn trong công tác. Tôi chờ anh ta vài hôm nữa rồi mới đi vì tôi muốn chờ kết quả việc tuần trước giao anh ấy cử đội áp tải chuyến chuyên chở vũ khí nước ngoài về Khu bộ Thiện Thuật ở Lũng Lừa (Nguyên Bình, Cao Bằng), đã thực hiện đến đâu? Chúng tôi đi xuống đèo đến nhà lý trưởng Ma Thế Lương. Vừa gặp y đã nói kháy: - Việt Minh giỏi sao không ra Bắc Mê mà đánh Nhật. Nhật đã đến đấy rồi mà. Qua lời nói, lòng tôi tự nhiên thấy thấp thỏm như có linh tính báo một điều gì bất ổn. Tôi không vào nhà, giao trách nhiệm cho Kim Sơn vào gặp nói chuyện vói anh lý trưởng theo cách mạng này xem sao. Tôi cùng Bắc xuống nhà phó lý Quảng, em trai phó tổng Khoan, vì Khoan có một thằng con theo bộ đội Lưu Ngọc. Ở được hai hôm cũng không thấy phó lý Quảng có lời nói gì phản ứng, nỏi khích bác kiểu như Ma Thế Lương, anh ta thâm trầm, kín đáo, không niềm nở mà cũng không cau có. Qua những câu chuyện thường ngày, chúng tôi phân tích thấy có gì ẩn chứa bên trong tâm địa thâm kín của phó lý Quảng cùng quan hệ của hắn với anh trai là phó tổng Khoan. Chúng tôi cố chờ tin Lưu Ngọc về việc cử chuyến đi công cán. Mãi cũng không có tin tức gì. Lòng tôi như có lửa đốt. Tôi phân tích thấy có điều chẳng lành. Tôi quyết định ngay, không đi dự hội nghị Liên châu hay Tân Trào gì nữa, quay về Đường Thượng củng cố hậu phương. Tôi tức tốc viết thư báo cáo anh Bình Dương trên Khu bộ Thiện Thuật biết việc không đi họp, giao Cao Sĩ mang thư lên đường ngay. Đồng thòi tôi cho giao thông theo đường dây bí mật lên Mường Bang xem tình hình Lưu Ngọc và chuyển một lá thư cấp tốc cho Lưu Ngọc gợi ý rút quân ngay lên vùng Mông củng cố và giữ gìn bộ đội, vì chứng tôi thấy lóe ra điều bất ổn ở Mường Bang. Hai ngày sau tôi nhận được tin gở từ mạn Mường Bang báo rằng, toàn thể bộ đội Lưu Ngọc đã bị tiêu diệt ở nơi châu đoàn Chài (Bản Bang) hiện chỉ còn sót một người tên là Giàng A Tả thôi. Tôi cho người tìm gặp Giàng A Tả thì anh ta kể: Hôm ấy trên đường hành quân, Lưu Ngọc cho bộ đội vào trong ngôi nhà rộng rãi nọ nấu cơm ăn, nhà ấy bỏ trống không thấy chủ nhân đâu. Một lúc sau bếp lửa đã cháy, khói bay lên, nồi cơm to tướng vừa bắc chưa sôi thì nghe thấy một tiếng súng hiệu, tiếp theo súng ở tứ phía bắn tới tấp đan chéo vào nhà cho đến khi không còn một người nào sống sót nữa mới thôi. Giàng A Tả không bị hi sinh vì chui dưới gầm chuồng lợn, đến tối trốn thoát mà về. Tôi đau xót thương nhớ Lưu Ngọc. Ôi Lưu Ngọc ơi, anh đã mắc vào Không thành kế trong binh pháp Tôn Tử rồi! Thật may cho ba anh em chúng tôi, nếu chậm vài tiếng đồng hồ nữa, cứ lân la nán lại ở nhà phó lý Quảng có lẽ cũng bị tiêu diệt nốt, vì thằng con phó tổng Khoan chui vào hàng ngũ Lưu Ngọc để tìm cách giết Lưu Ngọc và các cán bộ cách mạng. Sau đó Hồng Tu, Phó chủ nhiệm Việt Minh tổng Nhiêu Lai, xuất lĩnh một cánh quân đi đòi nợ máu. Khi họ trờ về cũng chỉ báo cáo cho tôi biết là đã trả thù xong. Đúng là đơn vị Lưu Ngọc do tôi bàn giao lại, là đơn vị tự tay tôi tổ chức huấn luyện lấy từng người, chưa được chỉ huy họ đi đánh nhau lần nào nhưng vẫn tiếc công gây dựng và huấn luyện, tôi thương từng chiến sĩ. Và cũng thật mừng cho Giàng A Tả còn sống sót. Vì tình cảm và trách nhiệm với chiến sĩ cũ, tôi sẽ phải đi đến từng gia đình một để an ủi động viên. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:07:04 am 19.
Tháng 8 năm 1945. Ở Đường Thượng tôi đang viết báo cáo gửi Khu bộ Thiện Thuật về tình hình trên thì có tin báo do Thanh Bắc đưa lên: - Anh Bế Ru hiện đang ở Mậu Ruệ nóng lòng chờ gặp Việt Hưng có một việc quan trọng. Tôi hỏi Thanh Bắc: - Bế Ru là ai? Thanh Bắc nói: - Anh ta là y sĩ ở Đồng Văn. - Mấy tháng nay anh ta ở đâu mà không tìm đến chúng ta? Thanh Bắc nói: - Mấy tháng nay chúng tôi đóng ở đồn Yên Minh. Bế Ru còn cầm cờ scout đi qua đi lại không cần biết chúng tôi là gì. Tôi nói: - Vậy thì anh xuống báo cho Bế Ru trưa ngày mai gặp nhau ở Ngam La. Như vậy tôi đi mấy cây số và anh ta cũng đi mấy cây số, gặp nhau giữa đường tốt hon là đưa anh ta vào trung tâm cơ sở cách mạng, không hay. Hôm sau, đúng hẹn, tôi có mặt ở Ngam La, nhà ông trưởng bản. Bế Ru cũng tới đó gặp tôi. Khách chủ phân vị xong, Bế Ru nói: - Tôi xin báo anh một tin quan trọng. - Tin gì đó? - Phát xít Nhật ở chính quốc đầu hàng quân Đồng Minh rồi. - Tin này anh lấy ở đâu? Ru nói: - Theo một nguồn tin có thể tin cậy được, là bọn Tàu ở Đồng Văn báo vậy. * Sáng hôm sau, giao thông viên của Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật lội sương phơi nắng mấy ngày mang đến tin sôi sục: Cuộc nghĩa đã đến. Cao Sĩ là vệ sĩ của các anh Kim Đao, Bình Dương, đồng chí Tống. Anh đưa đến tay tôi số báo Việt Nam Độc lập 226 ra ngày 20 tháng 8 năm 1945. Mặt báo có nhiều bài hấp dẫn: Cuộc khởi nghĩa đã đến, Tiếng súng nổ giết giặc cứu nước, Thế giới ngày qua, Phong trào cứu quốc tại Lạng Sơn... Đặc biệt trang báo có dòng chữ lớn: Cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trên lịch sử loài người giữa phe dân chủ và lũ phát xâm lăng dã man đã kết thúc. Phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện ngày 15 tháng 8 tây, tức là ngày 8 tháng 7 Ất Dậu. Chúng tôi cùng các đồng chí túm tụm đọc những dòng chữ: Hỡi hết thảy Đồng bào! Hỡi những ai biết yêu nước thương nòi! Hãy mau hưởng ứng Việt Minh dưới ngọn cờ đỏ chỉ đạo sao vàng năm cánh, mau đứng lên cướp chính quyền thành lập một Chính phủ lâm thời Nhân dân hết sức rộng rãi trên nền tự do Tân Dân chủ. Tôi nín thở, suy nghĩ mông lung. Ở Hà Giang xa xôi này ta phải làm gì đây? Theo tin chính xác, ngày 29 tháng 8 năm 1945 phát xít Nhật rút khỏi Hà Giang, bọn tay sai bị bỏ rơi vô cùng hoàng sợ. Các tỉnh trong cả nước nhiều nơi đã lập được chính quyền. Riêng Hà Giang có khó khăn phức tạp riêng nên cách mạng chưa giành được thắng lợi. Chiều 30 tháng 8 năm 1945 toán quân Tàu Tưởng đầu tiên thuộc quân đoàn 52 (do Triệu Công Vũ chỉ huy) theo đường Thanh Thủy vào chiếm đóng Hà Giang. Các đường từ Na Chô Cai vào Quản Bạ, từ Bạch Đích vào Yên Minh, Đồng Văn, Hoàng Su Phì đều có quân Tưởng đi qua. Đi đến đâu quân Tưởng đều tuyên truyền “Hoa quân nhập Việt vĩnh viễn”, ca ngợi Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách), nói xấu Việt Minh, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Tôi nhớ lại, sau đó, theo gót quân Tưởng, Hoàng Quốc Chính - ủy viên trung ương của Việt Nam Quốc dân Đảng cầm đầu một toán quân chiếm đồn Quản Bạ giữa tháng 9 năm 1945. Cuối tháng 9 chúng chiếm thị xã Hà Giang và lập ra Tỉnh đảng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng do Hoàng Quốc Chính làm chủ nhiệm. Chúng tập hợp lực lượng dựng lên chính quyền phản dộng. Một toán quân chiếm đồn Quản Bạ. Quân dội chúng có khoảng 200 tên do Bùi Nguyên Phách chỉ huy. Sau đó chúng tung quân đi chiếm đồn bốt lẻ ở các châu lị dựng chính quyền ở các địa phương do địa chủ cường hào thổ ti nắm giữ. Ở thị xã Hà Giang, Hoàng Quốc Chính lập ra tổ chức “Thanh niên chiến đấu” rồi lại còn mở “Quán Thanh niên” do một xứ ủy viên Việt Quốc phụ trách. Nhằm âm mưu đầu độc lớp thanh niên chúng bày trò “hội chợ”, mít-tinh, lễ tế cờ để tuyên truyền cái gọi là Cương lĩnh cách mạng. Hoàng Quốc Chính tự xưng là “Nhà ái quốc” ở hải ngoại về để “giành độc lập giải phóng dân tộc”, lại còn “dựng cờ Nam tiến” lừa bịp, lôi kéo dân chúng. Lực lượng Hoàng Quốc Chính chiếm giữ thị xã Hà Giang, tỏa ra chiếm giữ một phần ở Vị Xuyên, Bắc Quang, Quản Bạ. Quân Tưởng và Việt Nam Quốc dân Đảng ra sức dụ dỗ mua chuộc thế lực thổ ti câu kết với Việt Quốc chống phá cách mạng, duy trì quyền lực trong vùng. Chúng lại còn kéo thêm 500 quân của Vũ Phụng Tường từ Trung Hoa tràn vào Đồng Văn cấu kết với thổ ti Nguyễn Chấn Quý ở Niêm Sơn (Mèo Vạc) với lực lượng Biệt động quân đệ tứ chiến khu. Địa bàn Hà Giang lúc này còn có 200 quân phỉ do Lâm Phát Dì cầm đầu từ Trung Hoa sang cướp phá vùng Mèo Vạc, Niêm Sơn, Bắc Mê... Ở mạn nam tỉnh, quân Tàu Tưởng cấu kết với bọn Triệu Quốc Lộc ở Bắc Quang để chống phá cách mạng... Tình hình Hà Giang lúc này hết sức phức tạp khó khăn. Cách mạng đang tìm đủ mưu lược phát triển giành lại non sông của tỉnh phía bắc của Tổ quốc này không thể là ngày một ngày hai... Mãi về sau này tôi được biết hoạt động ở phía nam tỉnh có các anh Thanh Phong, Mai Trung Lâm và đơn vị võ trang do anh Trương Thi xuất lĩnh... cũng gặp không ít khó khăn. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:07:46 am * Sau khi gặp Bế Ru cho thông tin phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng Minh, và đọc báo thấy tin chính xác, tôi bàn với Bế Ru: - Anh hãy trở về Đồng Văn huy động người xuông đây cùng chúng tôi tiến ra thị xã Hà Giang lập chính quyền cách mạng. Tôi trở về Đường Thượng họp cán bộ gấp rút chuẩn bị đón thời cơ đồng thời viết báo cáo tình hình ở Hà Giang gửi về Khu bộ Việt Minh Thiện Thuật cho các anh Bình Dương, Tống, Kim Đao... Tự tôi ra chợ Quản Bạ nắm tình hình và quyết định triệu tập một cuộc họp các chỉ huy quân đội. Khi tôi đến Lũng Cống (Quản Bạ) thì nhận được một thư của đồn trưởng Quản Bạ là Phạm Lân gửi vắn tắt vài dòng: “Kính gửi ông Việt Hưng. Tôi không muốn ở một cái đồn xung quanh không có dân ủng hộ và bị bọn Tàu biên giới luôn lấn át. Vậy mời ông xuống thương lượng”. Té ra là bọn Việt Nam Quốc dân Đảng đã nhanh chân hơn vào chiếm đồn Quản Bạ rồi nhưng bị cô lập luôn nơm nớp lo âu. Đồng thời tôi cũng nhận được thư của Bế Ru gửi cho tôi góp ý “anh nên xuống gặp Lân”. Tôi đồng ý và dẫn một tiểu đội do Giàng Ble Pao xuất lĩnh cùng đi. Đến nơi, tôi cùng Bế San vào, còn Bế Ru ở ngoài đề phòng có gì bất trắc còn truyền đạt sự việc với mọi người phía sau. Tôi không nói gì. Lân cũng vậy. Mọi vấn đề do Bế San và Rĩnh (đồn phó) nói với nhau. Chung quy cũng chỉ một vấn đề: yêu cầu phía Việt Minh giao toàn quyền và quân đội cho Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ huy. Bế San đáp thẳng cánh: - Theo lý cũng như tình, không khi nào chúng tôi là lực lượng tổ chức ra đánh Nhật đã thắng lợi, nay lại giao cho bên Quốc dân Đảng không biết đến cách mạng là gì. Sao được. Cuộc thương thuyết không đi đến đâu. Tôi và San trở ra gặp Viên Văn Rưỡng (cũng là đồn phó) có ý đứng đợi tôi, ở cuối sân, tôi nói: - Anh đồn phó ơi, anh lạc đường rồi đấy. Viên Văn Rưỡng muốn nói với tôi nhiều song mắt trước mắt sau vẫn sợ hai tên trong đồn theo dõi, nên tôi cũng tạm biệt và chỉ nhắc thầm, nếu muốn trao đổi gỉ thì biên thư cho tôi hay. Về sau quả nhiên đồn phó Viên Văn Rưỡng bỏ Việt Nam Quốc dân Đảng trốn về theo cách mạng, có bí danh là Việt Bằng. Bọn Bế Ru lần này kéo từ Đồng Văn xuống khá đông, tôi còn nhớ hai người, một là anh Đài, hai là giáo Dùng. Còn năm bảy anh nữa đến nay lâu rồi đã quên tên. Thâm tâm tôi nghĩ, cách mạng Việt Minh đánh nhau với Nhật từ mấy tháng trước không thấy mặt mũi các anh đâu cả, sao bây giờ báo xuống Hà Giang lập chính quyền cách mạng thì ở đâu ra lắm thế. Đoàn anh Bế Ru có yêu cầu cho đoàn xuống Hà Giang để mục kích cách mạng chân giả làm sao? Tôi nói: - Nếu các anh xuống cứ gặp hẳn Hoàng Quốc Chính thì mới rõ, đấy là cách mạng giả hiệu. Các anh cứ đi. Nhân đây tôi nói thêm các anh biết tin: Vừa rồi anh Thất Tinh được chỉ thị của tôi đã tiếp xúc với bọn Việt Nam Quốc dân Đảng ở Lũng Cống. Chính Bùi Nguyên Phách Việt Nam Quốc dân Đảng gặp Hoàng Long, Thất Tinh cũng nói một giọng điệu như bọn Nguyễn Lân và Rĩnh bên Quản Bạ. Bên ta cũng đã trả lời dứt khoát như anh Bế San nói với Rĩnh. Đoàn Bế Ru xuống thị xã Hà Giang vào bái kiến Hoàng Quốc Chính chủ nhiệm, do Bùi Nguyên Phách dẫn vào. Chủ nhiệm hớn hở mời đoàn anh Bế Ru tham gia vào tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng và qua đó nhờ nhắn mời tôi (Việt Hưng) vào nốt để yên tâm mọi chuyện. Có lẽ khó chịu với nội dung câu chuyện và phong thái của chủ nhiệm, bọn Bế Ru ngược lên Đồng Văn tới báo cáo chúng tôi. Để chuẩn bị cho trận chiến mới, tôi tiến hành xác minh cụ thể ý thức kỷ luật của bộ đội. Tôi trực tiếp đến từng tiểu đội từ Lũng Cang, Lũng Cống, Lũng Khuy, Ngải Chồ. Riêng Yên Minh 30 chiến sĩ, cộng ngót 100 binh sĩ có các chỉ huy kiên cường: Thào Vạn Dình, Cù Tờ Dình, Giàng Ble Pao, Lù Khái Thình, Minh Hùng (Yên Minh), số còn lại đo Hoàng Long xuất lĩnh trấn thủ Yên Minh. * Được tin bọn Việt Nam Quốc dân Đảng tiến vào trung tâm Đường Thượng, tôi lệnh A Váng bên Du Già xuất lĩnh bộ đội tiến ra phục kích ở đoạn đường Du Già - Đường Thượng. Hoàng Long xuất lĩnh quân tiến lên Đường Thượng hợp lực với đơn vị tôi. Tôi xuất kích chủ lực từ Seo Lùng tiến thẳng tới Lũng Hù (nơi Quốc dân Đảng đóng). Vừa tới nơi tập kết để chuẩn bị giao nhau thì bộ đội tôi đã nhanh chân hơn ào lên chiếm lĩnh thế cao để khổng chế địch. Tôi cùng Thào Vạn Dình quan sát trận địa đang im ắng. Sau vài phút, chúng tôi trông thấy có hai người tay không (không mang súng) đi tới. Thào Vạn Dinh nói: - Tổng đoàn Tùng Bá và thủ bạ Nặm Kỳ đấy. Khi chúng đến gần, tôi hỏi ngay: - Các anh ra đây làm gì? Hai ông kia cúi lạy và nói: - Chúng tôi ra đây cầu xin hàng, tùy các ông quyết định. Tôi nói ngay: - Đoàn thể Việt Minh mà trong bọn các anh đã có kẻ phản bội nay đã lập chính phủ ở Hà Nội. Cả nước hướng về một chính phủ. Các anh theo Hoàng Quốc Chính chủ nhiệm là chống lại cách mạng, chống lại chính phủ và chỉ muốn gây ra chuyện đổ máu với nhau, tìm giết cách mạng là tội cả ngàn đời nguyền rủa, và cả đời các anh ăn không ngon ngủ không yên đâu - Tôi nói dõng dạc hon - Hiện nay các anh đã nằm trong tầm súng của chúng tôi. Tôi chỉ cần hô một tiếng “bắn” thì các anh không thoát một tên. Nhưng thôi, các anh đã xin hàng tôi cho hai anh trở lại đơn vị nói với mọi người biết như tôi đã nói với hai anh ở đây. Và đã hàng phục phải tuân thủ mọi điều động và chỉ huy của tôi, chỉ có tôi ra lệnh thì phải chấp hành triệt để, không được tráo trở. Vì các anh là loại ngoan cố ngu ngốc không phân biệt phải trái, tôi vạch cho biết mà sửa sai. Tôi cũng không nỡ tiêu diệt các anh và phóng thích trả về nơi tập kết chờ tôi sai khiến. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:09:42 am 20.
Khu Giải phóng được thành lập gồm 6 tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà. Nhân dân các dân tộc khu Thiện Thuật đã hòa vào khối đoàn kết lớn các dân tộc vùng cao, vùng thấp tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, cùng nhau ra sức xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân lần lượt được thành lập từ sau ngày đảo chính Pháp. Sứ mệnh của Khu Thiện Thuật có thể coi như hoàn thành. Khu bộ Việt Minh khu Thiện Thuật mà anh Bình Dương là Bí thư Đảng đã thông báo: Các cán bộ Cao - Bắc - Lạng có thể trở về Cao - Bắc - Lạng. Song tình hình đặc điểm Hà Giang còn nhiều phức tạp, nặng nề, cũng như theo yêu cầu của cán bộ địa phương, chúng tôi chưa nghĩ đến chuyện tạm biệt nơi đây. Tôi cùng Hoàng Long xuất lĩnh quân tiến xuống Mường Bang, Nhiêu Lai nhằm mở một con đường liên lạc về liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng để báo cáo tình hình mọi nhẽ, xin chỉ thị cụ thể hơn... Qua đó an ủi các gia đình có chồng con đã chết lúc đi theo bộ đội Lưu Ngọc, vì đơn vị này tôi tổ chức chứ không ai khác, tôi phải có trách nhiệm. Đồng thời tôi giao nhiệm vụ cho Ban Tổng ở đây phải tiếp tục làm những công việc cụ thể. Gần tới Bản Bang, nơi có lực lượng phản động chống lại Việt Nam giải phóng quân, vừa tới đầu khu vực, bộ đội thấy có một trạm gác với hai tên đứng canh. Minh Hùng xông lên bắn chết một tên, còn một tên chạy bán sống bán chết. Bộ đội ùa theo sau, tiến vào bản, dàn hàng ngang vừa đi vừa bắn thị uy, khuyếch trương thanh thế. Khi vào bàn không thấy bọn phản động và cũng không thấy còn dân nữa, tôi cho bộ đội nửa canh chừng bên ngoài, nửa tiến vào làng tìm gạo nấu cơm ăn; đồng thời bố trí lực lượng cảnh giới đề phòng âm mưu chúng dùng kế bỏ trống nhà để đánh úp ta. Gạo nước tôi cho cân lên nghiêm chỉnh, sau khi cơm xong tôi viết thư để lại gia đình là ăn hết bao nhiêu gạo và trả lại tiền, tiền để ở đâu cụ thể, gia chủ quay về và nhận lấy số tiền tôi gửi. Bộ đội Giải phóng có một bài ca ai cũng thuộc: Kỷ luật đội ngũ chúng ta rất là nghiêm/ Đồng chí chúng ta cần chú ý/ Một là không lấy cái kim sợi chi của dân/ Hai là mua bản phải công bình... thế mà một vài chiến sĩ vào một số nhà giầu vơ vét chăn màn, vải vóc... Qua cuộc hành quân ngắn này tôi thấy anh Hoàng Long buông lỏng kỷ luật quân đội với dân. Nhất là dân ở đây đang là chỗ tranh chấp giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng. Tôi góp ý kiến chân thành và yêu cầu Hoàng Long xử lý. Hoàng Long đã cho gom tất cả vật phẩm kia lại, kiểm kê và viết thư cho các gia chủ, của ai người ấy nhận (coi như bộ đội mượn dùng tạm đã xong và cảm ơn). Qua một hành động nhỏ này, tiếng lành đồn xa, dân Lãng Cá Phủ cử các đại diện đến gặp Việt Nam Giải phóng quân và xin bái phục một lòng theo cách mạng. * Tôi yên tâm xuất lĩnh bộ đội trở về Yên Minh. Lúc này ở Yên Minh đã có một đoàn quân khoảng 60 người từ hải ngoại do anh Hoàng Quang Bình động viên và Lý Đào dẫn vào. Các anh đã tự động may một lá cờ đỏ sao vàng to tướng cắm trên nóc đồn Yên Minh. Đoàn quân hải ngoại xin cùng hòa nhập với bộ đội Hoàng Long cho thêm đông đúc và khí thế. Tôi thấy lúc này có thể tiến quân ra Hà Giang dược. Tôi đề xuất với anh Hoàng Quang Bình, Lý Đào. - Chúng ta nên tổ chức cuộc họp cán bộ bàn về tiến quân ra Hà Giang. Hai nữa là chuẩn bị tiến lên trước cũng phải nghĩ đến sự yên ổn mặt sau vì là đất biên thùy. Cụ thể là chúng ta cần củng cố chính quyền cách mạng ở đây, phát triển thêm lực lượng quân đội, đồng thời thống nhất chỉ huy. Các anh đều nhất trí. Chúng tôi phân công: Anh Hoàng Quang Bình lãnh đạo chung, ở lại Yên Minh lập Ủy ban tổng Đông Minh, tập hợp cán bộ địa phương để huấn luyện biết cách làm việc của ủy ban, lựa tuyển thanh niên tham gia quân đội. Còn việc huấn luyện quân đội do hai anh Phúc, Phạm Vi đảm nhiệm. Tôi xuất lĩnh một lực lượng chiến đấu, anh Lý Đào làm chính ủy. Sau đó hai anh em chúng tôi phải lên Phó Bảng gặp gia đình ông Vương giao quyền quản lý giữ gìn biên cương, để chúng tôi yên tâm tiến ra thị xã Hà Giang. Và hai chúng tôi lên Đường Thượng sang Seo Lủng (không qua cổng Trời vì sợ nguy biến); đêm tiến ra mặt Quản Bạ. Mới tới Seo Lủng đã có thư của Viên Văn Rưỡng, đồn phó Quản Bạ viết thư ngỏ ý muốn gặp tôi để thương lượng. Một mặt anh Đào viết thư trả lời Rưỡng nên quay về với Chính phủ. Tôi nhận định chắc chắn rằng, cách mạng chúng ta đã thắng vì lí do đơn giản: quân Việt Nam Quốc dân Đảng không có dân ủng hộ, lại bị bọn Tàu lấn át, không dám làm gì thì sống sao nổi? Mặt khác gọi ngay tổng đoàn Quần đến giao nhiệm vụ, sang gặp đồn phó Rưỡng cho Quản Bạ khởi nghĩa. Hôm trước anh Quần đi, hôm sau tức tốc đã có báo cáo với tôi: Quản Bạ đã khởi nghĩa xong và bắt giam đồn trưởng Phạm Lân rồi. Tôi định xuất quân ngay không kể ngày đêm lên tiếp quản Quản Bạ vì tôi đã dự tính sẽ phải đối phó với bọn Tàu ở biên giới vào và Việt Quốc ở Hà Giang lên. Anh Đào nói, để anh sang Quản Bạ trước. Phần tôi cũng còn bận vì có tin anh Lê Sơn và Lê Sáu bên Liên Tỉnh cử sang gặp tôi, nên anh Đào đi trước. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:11:26 am * Tôi còn nhớ đại khái rằng, tối 21 tháng 11 năm 1945 Quản Bạ khởi nghĩa thì 22 chúng tôi có mặt. Và chiều hôm đó (22) đã phải đánh nhau với bọn Tàu Tưởng Quốc dân Đảng tiến vào. Trước lúc anh Đào tiến ra phía Quản Bạ, tôi đã dặn anh Phúc dẫn quân bản bộ và Hoàng Long sang đối phó với mặt biên giới này ngay. Còn đối phó mặt Hà Giang lên thì hai anh Bế Ru, Việt Bằng (Viên Văn Rưỡng) chịu trách nhiệm. Quả nhiên tình hình nằm trong phương án tác chiến của chúng tôi đã bàn, khi đơn vị hai anh Lý Đào và Phúc vừa mới tới Quản Bạ đã được tin báo: Bọn Tàu đang tiến vào Quản Bạ. Chiều hôm đó đơn vị tức tốc hành quân ngay lên đến chợ Tổng Vài thì gặp địch. Bất thình lình ta đồng loạt nổ súng hư trương thanh thế, quân ta dàn quân vừa đi vừa bắn uy hiếp địch. Địch bị đánh bất ngờ, vội vàng chạy lấy thân, bỏ lại ngựa và quân trang hành lý. Ta thu được một khẩu Phai Long và ngựa. Đây là một trận giáp chiến tao ngộ thật hay. Sáng 23 tháng 11 năm 1945 tôi không chờ ai nữa, sốt ruột phải ra Quản Bạ thôi. Tôi đến từ trưa, đúng phiên chợ, các anh đang tổ chức mit-tinh. Sau đó có cuộc họp, các anh mời tôi phát biểu xác lập chính quyền cách mạng Quản Bạ. Qua những ngày hoạt động ở vùng này, tôi đã thấy dự kiến của địa phương gần giống ý của tôi, chỉ cần điều chỉnh chút ít và bổ sung. Kết quả, Ủy ban địa phương Quản Bạ gồm có: Ông Chánh Tả làm chủ tịch, Giàng Tờ Dì làm phó chủ tịch, Lãnh Quốc Tường làm thư ký huyện, Sùng Dua Hầư (Ngải Chồ) làm ủy viên, anh Bế San tôi cử ra làm công tác đối ngoại mặt Phan Chi Hoa, anh Thu trong đoàn của anh Lý Đào được cử ra làm chính trị phân đội Quản Bạ, anh Nhàn được cử ra làm chính trị phân đội Bạch Đích. Ai nấy đều về vị trí nhận nhiệm vụ. * Khoảng chiều 15 giờ thì có một giao thông người Mông ở Tồng Vài đưa tôi một công hàm. Nội dung yêu cầu quân đội Việt Minh đang đóng ở Quản Bạ rút ra khỏi đồn để quân Đồng Minh tiến vào chiếm đóng. Ngoài bì thư đề Phan Chi Hoa cùng triện áp của huyện Ma Li Phô, cuối công hàm đóng một con dấu vuông kích thước nhỏ mỗi bề một phân. Xem xong tôi hỏi: - Bọn chúng đi ngựa hay đi bộ?. Giao thông nói: - Toàn đi ngựa, chỉ có ba tên thiếu niên đi bộ. Tôi hỏi anh Đào: - Theo anh nên xử trí thế nào? Anh Đào nói: - Việc này gấp, Việt Hưng xử trí đi! Tôi quyết định, “tương kế tựu kế”, và phát lệnh ngay: Lãnh Bá Nguyên xuất lĩnh một tiểu dội ra đầu phố Quản Bạ (đường lên Mã Hồng) tiến hành bồng súng chào, buộc bọn này xuống ngựa đáp lễ. Anh Việt Bằng chỉ huy một tiểu đội, súng cắm lưỡi lê, chờ khi bọn chúng xuống ngựa đáp lễ thì xông ra xốc nách chúng đưa vào nhà lao. Và khi đấy đơn vị Lãnh Bá Nguyên đi sau bảo hộ, Hoàng Long chỉ huy đơn vị Mông tiến ra Hó Lù khống chế nội bất xuất ngoại bất nhập. Sau 15 phút kể từ khi ra lệnh thì Việt Bằng, Lãnh Bá Nguyên đã dắt một bọn 21 tên vào nhà lao đã được quét tước sẵn. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:11:50 am Xử lí bọn này như thế nào? Đêm ấy tôi xem lại các văn bản giấy tờ bắt được, đều bằng chữ Hán, nội dung kêu gọi nhân dân ủng hộ quân Đồng Minh (tức là nhóm Quốc dân Đảng này), hợp lực với quân nội ứng trong đồn để chống lại Việt Minh, v.v... Triện đóng là một con dấu vuông mỗi bề một phân. Khắc Việt Nam Quốc dân Đảng...
Tôi gọi mấy tên cần vụ nhỏ tuổi lên hỏi lai lịch: - Tại sao các xẻo quày (tiểu quỷ) còn ít tuổi đã phải đi công sai? Chúng đều thốt lên giống nhau: - Thưa trưởng quan, nếu chúng cháu không đi thi gia đình bố mẹ khổ sở, buộc phải đi để cầu lấy sự yên ổn cho gia đình. Tôi quyết định tha ba tên nhỏ tuổi và nói với chúng: - Tha cho lũ tiểu quỷ về. Đến sáng mai chúng mày phải về tới Phan Chi Hoa, nếu còn lảng vảng trong đất Việt, tao bắt được thì bắn tất. Ba tên rối rít lạy tôi mỗi đứa ba lạy cảm ơn tôi đã phóng thích chúng. Chúng chạy đi trong đêm tối. Sáng hôm sau tôi triệu tập toàn thể cán bộ ở hải ngoại và cán bộ trong nước họp ngay trong đồn. Tôi yêu cầu tập thể cho chủ trương đối xử với bọn này? Hội nghị thảo luận rôm rả. Ý kiến đều thống nhất là thả chúng trở về bên kia biên giới, tuy trong phân tích mỗi người nói một khía cạnh khác nhau chút ít. Như bọn Bế Ru thì nói, trả cho nó về theo hướng Phan Chi Hoa. Anh còn nói thêm, cho chúng nó khổ một chút, phải đi qua Pác Sum vòng lên Bạch Đích. Anh Thành cùng anh em đoàn hải ngoại hiến kế, nên giao lên ông Vương Chí Sình xử trí. Tôi bác ngay ý kiến anh Thành rằng, ở đây chỉ có Việt Minh lãnh đạo nhân dân, không phải ông Vương lãnh đạo Việt Minh. Tóm lại mọi ý kiến anh em đều cho thả để chúng trở về bên Tàu. Bấy giờ tôi mới phát biểu: - Ý kiến của tôi ngược lại ý kiến các đồng chí 180 độ. Theo tôi “phải bắn không chừa một tên” vi những lý do sau: 1. Bọn này lợi dụng thế Đồng Minh để vào chiếm đất, hà hiếp dân, quen thói cậy thế quân đội đóng ở đây ngang nhiên bắt dân nộp mọi phí tổn vô lí. 2. Bọn này tiếp tay cho Việt Nam Quốc dân Đảng ở thị xã Hà Giang, cũng thế, sắp tới đây sẽ có quân của Việt Quốc lên tiếp quản ngay. Trong khi chờ Việt Quốc lên chúng sử dụng con dấu vuông khắc sẵn để định đoạt mọi nhẽ với dân địa phương. Vậy tính chất bọn này là phỉ đội lốt quan cách của Tàu Tưởng Giới Thạch. 3. Về tư thế nếu là quân Đồng Minh tiến vào một khu dân cư nào dù trong hay ngoài nước phải có công hàm cấp Quân thông báo. Nếu là đoàn độc lập cũng phải có con dấu cấp Đoàn đóng. Công hàm này, ngoài bì là huyện Ma Li Phô, bên trong chữ ký của công hàm thì lại đóng một con dấu vuông nhỏ mỗi bề một phân. Dấu này ai đã là quân của lính Tưởng đều phải có, vì để lĩnh lương mà thôi. Bọn này thực chất là phỉ. Phân tích lý lẽ xong, tôi hỏi hội nghị: - Xin hội nghị cho ý kiến tôi vừa phát biểu như vậy có đúng không? Nếu tán đồng thì xin vỗ tay để quyết tâm của tôi thêm vững. Thế là anh em cùng vỗ tay nhất trí. Vậy là chủ trương tôi đã xin được mọi ý kiến, bây giờ đến xử lý. Đó là biện pháp, tôi chịu trách nhiệm và quyết định ngay, không qua bàn bạc nữa. Nội đêm nay vào lúc 1 giờ sáng, anh Phúc xuất lĩnh một trung đội, đi vào nhà lao xích từng tên một dắt xuống thác Thái An bắn hết trước lúc trời sáng. Không ngờ khi ta vừa dắt bọn này tới Tráng Kìm thì chúng thấy con sông, biết là dòng nước chảy từ Trung Hoa sang, chúng phá chạy ngược theo sông lên Bạch Đích để sang Tàu. Trung đội anh Phúc không còn cách nào khác xả súng bắn cho kỳ hết, ở cầu Cán Tỷ. Đến trưa, dân Mông ở Cán Tỷ lặn xuống đáy sông lột quần áo, tư trang của bọn này trần như nhộng. Đó là ngày 25 Âm lịch, ngày chợ Tráng Kìm. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2020, 08:12:55 am * Buổi sáng hôm sau có tin Trương Vu Thức, cố vấn ông Vương Chí Sình từ Hà Giang lên Phó Bảng. Vu Thức mang quân hàm thiếu hiệu (thiếu tá) Tàu Tưởng đến Quản Bạ, tôi phát giác có thể y lấy danh nghĩa trở về Phó Bảng (vì lúc này ông Vương về Hà Nội). Tôi cho mời vào đồn. Gặp y, tôi nói ngay: - Hôm nọ tôi có bắt được một toán người vô cớ muốn tôi phải giao lại đồn Quản Bạ cho họ, tôi bắt giữ định đưa lên cho anh tìm cách giải quyết. Song không ngờ họ đến bờ sông Tráng Kìm ù té chạy tán loạn, lính của tôi buộc phải bắn. Vì vậy tôi mời ông vào đây báo cho ông rõ sự việc. Ý ông như thế nào? Cách xử trí của tôi được chứ? Trương Vu Thức ngồi nghĩ một lúc, trời rét mà toát mồ hôi trán, thốt ra với tôi một câu: - Kể ra quan Đặng (tức là tôi - Việt Hưng) xử sự rất phải, nếu địa vị tôi cũng vậy thôi. Tôi thở phào và chia tay. * Ngày 26 tháng 11 năm 1945. Một cánh quân ở thị xã Hà Giang do Nguyễn Duy Viên (Ba Viên), Một Hải chỉ huy 60 tên lính tiến lên Pác Sum với ý đồ lên chiếm lại đồn Quản Bạ. Nguyên cánh quân này là tàn quân lính khố đỏ Pháp chạy trốn sau ngày Nhật đảo chính, ẩn náu ăn nhờ bên Tàu Quốc dân Đảng, đến nay mới trở lại thị xã Hà Giang. Bọn Việt Quốc Hoàng Quốc Chính tìm mọi cách lợi dụng, mua chuộc những người đứng đầu cánh quân Ba Viên khố đỏ, phong tỏa giam chân bọn này ở trong thị xã. Đến hôm nay bọn Quốc dân Đảng Hoàng Quốc Chính thử dùng bọn này mang một đơn vị nhỏ quân lính khố đỏ cho Ba Viên lên tấn công chiếm giữ Quản Bạ. Tôi đã có tính toán, dùng lực lượng đồn Quản Bạ do Viên Văn Rưỡng (Việt Bằng) tiến ra khống chế trên núi cao Pác Sum không để quân Ba Viên, Một Hải tiến lên được một tên lính. Để làm hậu thuẫn chắc chắn cho Việt Bằng và Bế Ru, tôi cắt cử Viên Văn Rặng sẽ tiếp kiến và nói trực diện với Ba Viên, Một Hải rõ là đội quân cách mạng đang giữ đồn Quản Bạ, yêu cầu họ phải lui quân và họ biết điều hãy chấp nhận điều kiện của Việt Minh đề ra là các anh hãy quay về thị xã khởi nghĩa, lật Hoàng Quốc Chính, Bùi Nguyên Phách để về với Chính phủ. Nghe ra thế cách mạng đang mạnh nên Ba Viên, Một Hải rút quân. Quân đội tôi (Việt Hưng) cũng tiến đến Bản Mịch án binh bất động. Ba anh em Bế Ru, Việt Bằng, Viên Văn Rặng điểm binh trực tiếp vào thị xã theo dõi hành động của quân Ba Viên. Các anh cử đội trinh sát tản vào các ngả. Cánh quân Ba Viên là quân khổ đỏ do Nguyễn Duy Viên cầm đầu (hồi Tây Viên đóng đến chức quan ba nên ta thường gọi Ba Viên). Cánh quân có 4 đại đội, khoảng 400 binh lính. Trong đám đứng đầu còn có Một Hải và một người quê Cao Bình (Cao Bằng) là Chu Phương Đới. Hàng ngày Đới thường lân la tới các bản xung quanh thị xã, được gặp cán bộ Việt Minh giác ngộ tình hình thời cuộc, khêu gợi lòng yêu nước và chỉ rõ quân Việt Nam Quốc dân Đảng đang âm mưu sát hại chính cánh quân khố đỏ. Ba Viên, Một Hải, Chu Phương Đới đã có đủ lòng yêu nước và tìm ra con đường chính nghĩa. Bế Ru, Việt Bằng, Viên Văn Rặng đang đêm gặp những người cầm đầu lính khố đỏ bàn kể hoạch khởi nghĩa bắt bọn Việt Nam Quốc dân Đảng vào một ngày gần nhất. Đêm ngày 7 tháng 12 năm 1945, Nguyễn Duy Viên mật lệnh cho các sĩ quan và binh lính các đơn vị khố đỏ thực hiện kế hoạch nổi dậy chống Hoàng Quốc Chính cùng bè lũ. Kế hoạch binh biến thực hiện gọn trong ngày 8 tháng 12 năm 1945. Đại đội 4 do một thiếu úy chỉ huy, lợi dung “giấy ủy nhiệm” của Hoàng Quốc Chính cấp từ trước, sáng sớm đã hành quân xuống cầu Má (cây số 15 trên đường Hà Giang - Bắc Quang) bắt hoặc dụ hàng bọn Quốc dân Đảng ở trạm tiền tiêu này. Còn ba đại đội sáng sớm vẫn ra bãi tập như thường lệ; khi vào giờ nghỉ giữa buổi tập, các sĩ quan nhóm họp để chuẩn bị tư tưởng, phân công tổ chức, bố trí lực lượng chuẩn bị hạ đồn quân Quốc dân Đảng. Khi kèn ăn trưa trại lính nổi lên hai đại đội 1 và 2 nhanh chóng bí mật vào vị trí chuẩn bị khởi sự. Đại đội 3 cử một bộ phận nhỏ đóng giả trói một “tên” lính đêm qua ăn cắp súng đạn định trốn ra ngoài thì bị bắt, giải nộp chủ nhiệm Hoàng Quốc Chính xử lý. Đại đội này ùa vào cổng, bao vây sở chỉ huy Quốc dân Đảng. Quá bất ngờ Hoàng Quốc Chính bị buộc đầu hàng và chịu quản thúc không ra khỏi khu vực. Lính Quốc dân Đảng đi vào nhà ăn, mấy phút sau, đại đội 1 và 2 đột nhập bắt tất cả hạ bát xuống, giơ tay đầu hàng. Đại đội 1 tiếp tục lùng bắt Bùi Nguyên Phách cùng danh sách bọn sĩ quan ác ôn, đều bị quản thúc, ở đâu thì ở đấy không ra khỏi khu vực. Lính Quốc dân Đảng trong nhà ăn được nghe giải thích đều đầu hàng và tự nguyện theo lính khởi nghĩa khố đỏ. Trên nóc đồn, Bế Ru đã cho người trèo lên hạ cờ Quốc dân Đảng xuống, thay vào đó là lá cờ đỏ sao năm cánh bay phần phật trong gió. Bàn dân thiên hạ nhìn lá cờ bay mà phấn khởi đến rơi nước mắt. Thị xã Hà Giang giải phóng ngày 8 tháng 12 năm 1945. Chiều hôm đó Viên Văn Rặng theo thư tôi dặn tức tốc về Quản Bạ báo cáo tường tận việc Ba Viên, Một Hải khởi nghĩa bằng cuộc binh biến tại thị xã đã thành công. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:12:56 am * Bỗng nhiên tôi có ấn tượng cách mạng sắp thành công, đi trên đường núi đá tai mèo mà lòng cứ phơi phới nhớ vợ ở đất căn cứ địa Phúc Tăng, Cao Bằng xa xôi. Tôi ngẫu hứng làm bài thơ: Sơn đồ Sơn đồ đào nhụy chính hương thì Cảm ý tư thê thậm khát ki (cơ) Cước đạp cức kinh tiềm cận đích Tương lai tịnh bộ khải tinh kỳ. (Đường rừng bất chợt gặp hoa đào/ Nhớ vợ bồn chồn lắm khát khao/ Chân đạp chông gai gần tới đích/ Mai mình sánh bước dưới cờ sao). * Hôm sau tôi với anh Lý Đào tiến vào thị xã. Tôi đến một lúc thì Bế Ru, Việt Bằng đến báo cáo sự việc Ba Viên, Một Hải .khởi nghĩa và đang chờ quân đội cách mạng. Ba Viên cùng các sĩ quan (gồm nhiều thiếu úy tập hợp lại), biết tin chúng tôi vào thị xã, đã mời tôi đến đơn vị dự buổi quân khố đỏ của họ ra mắt với người phụ trách bộ đội Chính phủ vào thị xã đầu tiên (tức là tôi - Đặng Việt Hưng cùng Lý Đào). Họ báo cáo mọi hành động khởi nghĩa từng đơn vị cho tôi biết. Anh Lý Đào ngỏ lời cám ơn các vị đã vì chính nghĩa mà về với Chính phủ. Lý Đào nói thêm cho họ biết, sẽ có lãnh đạo Việt Minh đến tiếp nhận và tưởng lệ các anh làm binh biến khởi nghĩa thành công. * Và hôm ấy anh Thanh Phong (cùng Mai Trung Lâm) hoạt động ở mạn nam Hà Giang - Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, cũng vừa mới lên thị xã Hà Giang và đang tìm gặp Việt Hưng. Anh tìm đến chỗ Nguyễn Duy Viên gặp tôi, anh phấn khởi được nghe về cuộc binh biển hôm qua. Thanh Phong (quê Bản Sẩy) nhận ra Chu Phương Đới (quê Cao Bình), thời mặt trận dân chủ với tuổi trẻ khí thế, đã cùng nhau tham gia các đội bóng đá của cách mạng ở quê hương Hòa An (Cao Bằng) đã từng gặp nhau tại sân bóng đá terrain de football Cao Bình để nghe tuyên truyền và giác ngộ cách mạng. Bấy lâu xa cách nay mới lại gặp nhau sau ngày thị xã Hà Giang giải phóng. * Khi gặp đoàn anh Thanh Phong, chúng tôi báo cáo lại tình hình mọi mặt ở các vùng miền bắc tỉnh Hả Giang. Anh Thanh Phong rất phấn khởi nói: - Việt Hưng ơi, vậy là hầu khắp Hà Giang khởi nghĩa. Tôi đã dự kiến lập bộ máy chính quyền tỉnh Hà Giang rồi. Tồi hỏi: - Còn thị xã thì sao? Anh Thanh Phong nói: - Tôi cùng Mai Trung Lâm đã có tính toán. - Thành phần chính quyền tinh có những ai? Anh Thanh Phong nói: - Hiện nay dự kiến Thanh Phong là Chủ tịch ủy ban và theo nguyện vọng của Ba Viên cho anh Lê Thọ Huề làm Phó chủ tịch vì Huề có công trong việc tiếp đón Ba Viên (quân đội Pháp chạy khi đảo chính) từ nước ngoài trở về Hà Giang. Theo danh sách dự kiến của anh Thanh Phong thì chính quyền cách mạng mới ở Hà Giang không có đại diện phía bắc tỉnh. Tôi biết vậy song vẫn đề nghị hiện nay hai bên bắc và nam tỉnh cần tổ chức thống nhất mọi mặt với nhau để có sự chỉ đạo duy nhẩt. Lúc ấy có anh Khải Ca cũng là cán bộ cấp trên xuống nên tôi nói,] hai bên bắc nam không thống nhất lãnh đạo đã lâu, đến lúc này cần chấn chỉnh. Anh Khải Ca nói, nếu vậy thỉ Hà Giang lập ra Ban cán sự sẽ có Thanh Phong, Việt Hưng, Bế Ru. Anh Thanh Phong đề xuất với tôi: - Vùng hoạt động cách mạng của Việt Hung ở miền bắc tỉnh quá rộng, anh nên nghiên cứu lập thành các huyện riêng cho Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn. Đó là việc khẩn cấp đề nghị anh Việt Hung phân định xử lý kịp thời.(1) Trong thâm tâm tôi nghĩ, ý kiến anh Thanh Phong có tầm chiến lược. Nhưng tôi lại nghĩ về mạn bắc Hà Giang hiện nay, thổ ti Vương Chí Sình đang còn có ảnh hưởng lớn. Ông ta đang ở Hà Nội, lại được Chính phủ trọng vọng, việc phân chia các huyện mạn bắc là việc lớn, chắc Trung ương sẽ có ý kiến với ông ta. Hơn nữa việc đảm bảo an ninh phía sau còn có ông Vương Chính Đức (thân sinh Vương Chí Sình) tạm thời nắm giữ, vì thế việc chia huyện tiến hành ngay sẽ gặp trở ngại. (1) Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, các huyện ở Hà Giang rất rộng, mãi sau năm 1954, tỉnh Hà Giang vẫn chi có tỉnh lị là thị xã Hà Giang và bốn huyện là Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Đồng Văn. Cuối năm 1962 chia tách dần các huyện. Đến năm 1991 Hà Giang mới có 10 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thị xã Hà Giang (tịnh lị) và chín huyện: Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Bắc Mê, Xín Mần. Đến năm 2003 có thêm huyện Quang Bình (tách một sô xã từ Bắc Quang. Hoàng Su Phì, Xín Mần). Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:14:55 am * Hôm sau tôi về Quản Bạ xử lý cho quân của anh Lý Đào, Phạm Minh Sinh, Hoàng Quang Bình về xuôi. Trên đường về gặp Sùng Dua Hầư, tôi hỏi: - Anh xuống thị xã Hà Giang làm gì cho mệt? Hầư nói thật thà: - Các anh quên chúng tôi rồi sao? - Sao lại nói quên các anh là thế nào? Hầư nói: - Trước đây anh hứa sau giải phóng thị xã Hà Giang sẽ tổ chức lấy lại đất đai Na Chô Cai của ta, chưa thấy các anh lên nên tôi phải xuống bàn với các anh để lấy lại đất cho dân ta và hưởng nền độc lập của đất nước chứ? Tôi nói: - Lần này tôi ngược Quản Bạ cũng vì việc đó đấy. Vậy bây giờ trên đường đi không ai hiểu tiếng Mông đâu, hai ta cùng bàn cách lấy lại đất như thế nào nhé? Hầư nói: - Hiện nay thế địch ít, ta nhân buổi chợ mang súng ống cờ quạt xuống, tiến thẳng vào chiếm đồn Na Chô Cai, có gì khó, ào ạt đuổi chúng đi và trả lại mốc về chỗ cũ, thế thôi? Tôi nói: - Nếu làm thế, quân đội bên Phan Chi Hoa ào ạt tiến sang nữa thì ta đối phó không ổn. Vậy thì thế này -Tôi nói - Anh đi sang bên kia gặp anh Lý là Hồng quân Trung Quốc nằm vùng ở cơ sở gần Phan Chi Hoa, nói với anh Lý rằng: Tôi nhờ các anh tập trung quân và súng ống, lại đung ban tối đến bắn vào đồn Phan Chi Hoa Tàu Tưởng, buộc bọn đóng ở đồn Na Chô Cai (phía ta) phải chạy về ứng cứu. Chúng rất sợ nếu để mất Phan Chi Hoa thì chúng mất đầu. Việc đánh đồn sẽ do Hồng quân Trung Quốc. Còn phía quân ta lợi dụng khi quân anh Lý bắn vào đồn bên kia thì bên này ta cùng nhau khiêng mốc biên giới trả về chỗ cũ. Như vậy là theo kế sấn hỏa đả kiếp (theo lửa mà hành động) của Tôn Tử vậy. Ta không mất mấy sức, không bị thiệt hại một ai mà lấy lại trọn vẹn đất đai và dân chúng được giải phóng, tốt hơn. Tôi hỏi lại Hầư: - Kế hoạch như vậy có được không? Hầư nói: - Hay! Nhất trí! Tôi dặn: - Nếu nhất trí thì tối hôm lấy lại biên giới là do anh cùng anh Lý định đoạt. Và kế hoạch không được làm sai một chút, kể cả đến khi ở Hà Nội lên hỏi (vì có thể Tàu vu là ta đánh vào đồn Tàu Phan Chi Hoa) ta cũng phải báo cáo thực như tôi và anh đã bàn với nhau. Ta lấy lại Na Chô Cai là một diệu kế. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:15:39 am * Tôi từ Hà Giang lên Quản Bạ nắm thêm tình hình. Tôi gặp hai anh Lê Sáu và Lê Sơn được Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng cử lên. Với lãnh đạo Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, tôi đã mong chờ mãi bấy lâu, bây giờ được gặp thì tiện thể báo cáo vấn đề giải phóng thị xã và khu vực chúng tôi hoạt động xem các anh có ý kiến gì tham góp. Tôi báo cáo với anh Sáu một việc có liên quan đến gia đình anh. Chú ruột anh trước là lý trưởng ở bên Cao Bằng, vì quịt thuế của nhà nước phải trốn sang Yên Định làm ăn. Tháng 5 vừa rồi ông ta kịch liệt đả kích cách mạng ở đây nên dân Mông đã xử trí, anh thông cảm. Hai anh cho biết, sắp tới sẽ có một đoàn cán bộ từ Cao Bằng sang tăng cường. Tôi cùng hai anh ở lại Quản Bạ chờ hai hôm thì có đoàn gồm trên chục người 3 nữ, 8 nam, trong đó có Đoàn Kim Mỹ, Nghiêm Sạy... (vì chưa quen nên quên tên nhiều người khác). Sau đó chủng tôi cùng xuống thị xã gặp anh Thanh Phong báo cáo tình hình đoàn cán bộ tăng cường và yêu cầu phân bố. Anh Thanh Phong giao quyền cho tôi phân bổ số cán bộ trên do Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng đưa tới, và tôi giới thiệu họ tới các xã phía nam Hà Giang. Hai anh Lê Sáu cùng Lê Sơn trở về Cao Bằng, tôi nhờ hai anh đưa gấp hai túi tiền do dân ủng hộ Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng trên dưới khoảng 10.000 đồng Đông Dương, còn vải vóc thì giao cho địa phương do anh Khải Ca nhận từ tôi. * Tôi về đến thị xã Hà Giang, anh Thanh Phong mời sang bàn việc bắt giam bọn Việt Nam Quốc dân Đảng, vì đến lúc này với bọn chúng, ta chỉ mới có lệnh quản thúc, không cho chúng được đi lại tự do. Anh Thanh Phong nói: - Ta phải lập tòa án đàng hoàng xử lý bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động và giao cho Việt Hưng sử dụng lực lượng bộ đội phía bắc làm bảo vệ, bắt và tống giam bọn chúng. Tham dự phiên tòa có Công Thành làm chủ tọa, Việt Hưng và Thanh Phong làm dự thẩm. Bọn Quốc dân Đảng Việt Nam Hoàng Quốc Chính, Bùi Nguyên Phách cùng đồng bọn cần phải tống giam, vì lúc này thực dân Pháp đã trở lại miền Nam, đã có nhiều chứng cứ cụ thể bắt được quả tang chúng liên hệ làm tay sai cho Pháp. Những tên phạm tội được bộ đội áp tải từ nơi quản thúc về tới nơi mở phiên tòa. Trước tòa, anh Công Thành tuyên bố tội trạng từng tên và tuyên bố bắt giam giữ, Hoàng Quốc Chính cảm thấy đột ngột, phản ứng không gay gắt lắm, Bùi Nguyên Phách phản ứng gay gắt hơn, ông ta cãi lý gần như bào chữa cho Việt Nam Quốc dân Đảng. Vũ Quang Phẩm cãi lại rằng, chúng tôi vẫn về với Chính phủ đấy chứ... Còn bao tên ác ôn khác đều cúi đâu nhận tội. Tôi nói thêm để bọn tội nhân khỏi ấm ức: - Nếu nói các anh đã về với Chính phủ sao lại đã có mật lệnh bắt hoặc thủ tiêu ngầm tôi cùng các cán bộ lãnh đạo cách mạng? May mà chúng tôi bắt được quả tang mật lệnh phản bội. Bộ mặt Việt Quốc đã lộ rõ là phản quốc. Khi tôi nói đến câu này, chúng câm họng. Cuộc xét xử đã im lặng và kết thúc. Lúc ấy anh Thành tuyên bố: - Đất nước ta lại bị xâm lăng từ miền Nam. Hành động chống đối của các anh không khác gì tiếp tay và trông chờ bọn để quốc thực dân phản động. Vì vậy tôi tuyên bố các anh bị giam giữ. Lập tức tôi ra lệnh cho đơn vị quân đội bảo vệ ùa tới tống giam những tên Việt Nam Quốc dân Đảng đã bị tuyên án vào nhà tù. Ngày hôm sau đó lại có tin bọn Tàu có ý định lên phá lô cốt ở thị xã Hà Giang và chúng đã gửi yêu cầu ta phải thả bọn Việt Nam Quốc dân Đảng vừa bị tống giam, do vậy anh Thanh Phong bàn với tôi phải đem bắn ngay lũ tù nhân Việt Nam Quốc dân Đảng mới ổn. Đơn vị phía tôi lãnh trách nhiệm việc đó. Với mọi đứa khác thì suôn sẻ, dễ dàng không xảy ra chuyện gì, nhung khi anh Bắc vào bắt Hoàng Quốc Chính thì bị y chống cự và dùng con dao 8 lưỡi y giấu trong người đâm vào vai Bắc. Tuy vậy mọi việc rồi cũng kết thúc. Và hôm sau Bùi Nguyên Phách chưa chết, hắn chạy trốn theo đường sang Thanh Thủy, lại bị Bế Cừu bắt được, bắn chết. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:16:24 am * Hà Giang được giải phóng ngày 25 tháng 12 năm 1945. UBND tỉnh Hà Giang làm lễ tuyên bố thành lập. Anh Tuyên phụ trách Ban tổ chức cuộc mít-tinh. Anh Thanh Phong lên nói về ý nghĩa thành lập chính quyền mới. Hồng Quân nói về Việt Minh lãnh đạo cách mạng. Tôi (Việt Hưng) nói về cách mạng Hà Giang khởi sự từ đâu. Anh Tuyên muốn tôi nói bàng tiếng Mông vì đa số dân chúng là người Mông. Anh Thất Tinh nói về người Tày ở Hà Giang đóng góp công sức vào cách mạng. Không ai nói về thành lập quân đội mà Ban tổ chức cũng không giao ai chuẩn bị trước. Liên trưởng Tàu phát biểu nhiệm vụ của họ trở lại Hà Giang chỉ có một mục đích là phá các công sự kiên cố có thép xây dựng lên để đánh Nhật, không có ý gì khác cả. Thành lập chính quyền là việc cần kíp. Sau mit-tinh, UBND tỉnh họp phiên đầu tiên gồm thành phần: - Thanh Phong, Chủ tịch tỉnh Hà Giang. - Lê Thọ Huề, Phó chủ tịch - Quán Văn Công, Phó chủ tịch - Trần Thiên Tân, Ủy viên, Trưởng ty Liêm phóng. - Chu Đức Tung, Ủy viên thư ký. - Mai Trung Lâm, Ủy viên quân sự - Vương Chí Sình, Ủy viên, kiêm chủ tịch huyện Đồng Văn. - Phó Ngạn, Ủy viên. * Còn một việc khá quan trọng là làm sao ta thu hồi kho vũ khí hiện nay còn ở trong tay Tàu Tưởng? Anh Thanh Phong đem bàn cùng tôi và anh Tuyên. Anh Tuyên nói: - Cứ phải thông qua đồng tiền là đơn giản. Thương lượng với nó và cho nó ít tiền. Anh Thanh Phong cũng đang băn khoăn vì tiền lúc này chưa có một xu. Tôi nói ý kiến tôi: - Hiện nay ta đã có chính quyền trong tay, có quân đội cùng mọi thứ. Bàn dân thiên hạ, kể cả liên trưởng (đại đội trưởng) Tàu Tưởng đang giữ kho, đều biết. Ta lấy tư thế là chủ nhân mời nó đến trao đổi hay thương lượng còn tùy tư thế của nó. Còn tiền thì không nói đến. Súng đạn này là của ta. Anh Thanh Phong nở nụ cười tin tưởng và nói: - Nghe Việt Hưng nói có lý. Ủy ban nhân dân tinh sẽ mời nó đến, giao cho Việt Hưng dùng tiếng Tàu nói chuyện với nó. Tôi, Việt Hưng, Mai Trung Lâm năm 1942 - 1943 cùng học Trường quân sự Liễu Châu nhưng anh chăm tập nói hơn nên anh thành thạo tiếng Tàu. Chỗ nào cần trao đổi thì Việt Hưng phiên dịch cho tôi cùng biết. Sáng hôm sau, bên ta có các anh Thanh Phong, anh Tuyên, Trần Thiên Tân, Mai Trung Lâm, Việt Hưng. Ai cũng ăn mặc chỉnh tề. Cơ quan sắp xếp uy nghi bề thế. Bộ đội bảo vệ ta có một trung đội đứng canh, oai vệ, đĩnh đạc. Bên kia, Liên trưởng cùng hai cán binh đến. Ngay từ đầu họ đã tỏ ra lễ độ, kính trọng. Tôi đứng ra giới thiệu từng người, họ đứng dậy chắp tay. Mở đầu anh ta nói: - Tôi được chính quyền Hà Giang mời đến tiếp chuyện rất lấy làm cảm kích. Biết là trước sau tôi phải rút về vì chúng tôi không có quyền ở lại đây nhưng chúng tôi cho người mang thư về hỏi thượng cấp đến nay chưa có hồi âm. Tôi dịch lại cho mọi người cùng nghe, vẻ mặt ai cũng vui vẻ rạng rỡ hẳn. Trước khi vào hội kiến ai cũng cho là khó, lúc này câu chuyện trở nên bình thường. Tôi nói chuyện xa chuyện gần xã giao rồi xoáy vào trọng tâm xin tiếp nhận kho súng đạn của hắn. Hắn đắn đo một lúc rồi nói: - Vâng xin được hiến tặng các ngài. Nếu hắn đã nói vậy tôi thấy cần phải có giấy tờ làm căn cứ. Tôi ngỏ ý lập một biên bản cuộc họp chẳng hạn. Hắn suy tính khá lâu, không trả lời. Vẻ mặt nhiều người tỏ ra lúng túng, sốt ruột. Một lát, tôi hỏi: - Sao anh suy tính lâu vậy? Ít nhất ta cũng có một giấy tờ ký kết hai bên chẳng hạn chứ? Hắn trả lời: - Không nên ép chúng tôi ký vào một văn bản gì hết là tốt hơn cả. Danh nghĩa chính quyền các anh có quyền xuất lệnh lấy kho vũ khí ấy. Để khi chúng tôi trở về nước còn có cách ăn nói với cấp trên của chúng tôi. Mọi người thở phào và cho rằng anh ta nghĩ chín chắn tự lo thân phận anh ta khi về nước là phải. Sau đó tất cả mọi người cùng bước bộ đi tới kho vũ khí để kiểm tra. Cùng đếm có trên ba chục hòm còn nguyên đai. Hôm sau tôi ra lệnh cho Hoàng Long dẫn bộ đội vào chuyên chở vũ khí về chỗ khác. Tôi đã viết sẵn một tờ thông báo bằng chữ Hán về việc tịch thu kho vũ khí để bộ đội cầm theo khi ra vào kho. Mỗi lần làm chuyến ra vào đều có bộ đội vác vũ khi đi áp tải bảo vệ. Mọi việc đều suôn sẻ. Liên trưởng (đại đội trưởng) đơn vị quân Tàu Tưởng cuối cùng đến chào Chủ tịch tỉnh và xin giấy thông hành cho bảo đàm an toàn trên đường họ rút về nước. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:17:33 am * Ít hôm sau hai anh Tạ Xuân Thu và Hồng Quân lên Hà Giang theo lời giới thiệu của anh Thanh Phong, anh Hồng Quân là Bí thư Tỉnh ủy. Anh Hồng Quân gặp tôi, biết tôi nắm được tình hình Hà Giang nên đề nghị tôi thảo một kế hoạch củng cố lại mọi tổ chức, xây dựng mọi hệ thống công tác của tinh cho đến huyện. Vấn đề này tôi đã chuẩn bị từ lâu nhưng chưa có dịp trình lên các anh lãnh đạo Tỉnh ủy mà thôi. Tôi lấy trong cặp tập văn bản đưa anh Hồng Quân. Khi xem bản phác thảo của tôi, hai anh Tạ Xuân Thu và Hồng Quân đều nói “khá lắm”. Hồng Quân nói chân thành: - Ý kiến Việt Hưng đề xuất hay quá, chúng tôi cũng đang lúng túng. Anh Tạ Xuân Thu nói tiếp: - Việt Hưng hoạt động ở Hà Giang từ những ngày đầu phong trào còn bí mật gian khổ, lăn lộn cùng cán bộ địa phương và nhân dân nên bản kế hoạch rất sát thực tế và có giá trị cũng như khả năng thực hiện. Tôi nghe nói vậy biết là anh Tạ Xuân Thu là con người biết người và biết việc, phong thái cởi mở dễ chịu. Qua lời khen tôi biết anh chín chắn trong việc đánh giá con người, tôi có thiện cảm với anh Tạ Xuân Thu cũng như ấn tượng lâu dài về anh từ đó. * Sự việc quả đúng như tôi dự đoán, trước sau thế nào Trung ương ở Hà Nội cũng lên kiểm tra những việc làm của Hà Giang. Anh Phạm Ngọc Thuần từ Bộ Nội vụ, chỗ anh Võ Nguyên Giáp mang một giấy giới thiệu đến tìm đúng tên tôi ở Hà Giang, nói: - Giấy giới thiệu thì do Bộ Nội vụ cấp nhưng nội dung công việc do Hồ Chủ tịch trực tiếp chi thị. Đề nghị anh tường thuật sự việc khách quan để tôi về Hà Nội báo cáo lại với Hồ Chủ tịch để trả lời quân Tàu. Nội dung Hồ Chủ tịch hôi tôi: 1. Tại sao cho quân đánh vào Phan Chi Hoa (bên Tàu)? 2. Tại sao cho quân đánh và đốt phố Tráng Kìm? Tôi trả lời vấn đề 1. Tại sao bộ đội ta đánh vào Phan Chi Hoa (trên đất Trung Quốc)? Theo yêu cầu của dân muốn được sum họp hưởng tết độc lập đầu tiên của đất nước, tôi và dân muốn có sự bình yên biên giới nên đã nhờ qua bên Hồng quân Tàu cắm cơ sở đang hoạt động ở đấy, bắn vào Phan Chi Hoa để quân Tàu ở Na Chô Cai (đất ta) phải chạy về ứng cứu, lúc đó ta lợi dụng thời cơ khiêng trả lại cột mốc biên giới về chỗ cũ, giải phóng Na Chô Cai, không mất người, mất sức, không mang tiếng đánh Tàu. Nếu anh không tin tôi báo cáo, xin cứ đến Ngải Chồ gặp Sùng Dua Hầư hỏi xem có đúng vậy không. Vấn đề 2. Sao bộ đội đốt phố Tráng Kìm? Tôi biết Vương Chí Sình về Hà Nội, tôi đã lo ông báo cáo lên Hồ Chủ tịch về việc đó, vì vụ này cửa hàng của Vương ở Tráng Kìm cũng bị cháy. Sự việc như sau, nếu gọi là đánh vào phố thì từ tháng 3 năm 1945, nông dân Cán Tỷ, Seo Lủng đã yêu cầu tôi cho đánh, với lý do, dân ở phố bóc lột nông dân nhiều quá (bán nông sản cho phố, nông dân bị ép giá quá rẻ). Khi đó tôi đã trả lời, chủ trương của Việt Minh là đoàn kết toàn dân để đánh Nhật, sao người trong nước lại đi đánh nhau, chỉ trừ họ đến đánh ta thì ta mới đánh lại mà thôi. Công bằng mà nói, nếu vài người dân phố Tráng Kìm không dẫn Nhật đến đốt làng người Mông ở đầu cầu Cán Tỷ thì sao lại có chuyện trả đũa này. Tháng 7- 8 năm 1945 nhân lúc tôi đi vắng, nhân dân đã trút căm thù vào mấy nhà đón Nhật lên. Tôi chắc Hoàng Long chỉ trả đũa vài tên ở phố Tráng Kìm vì đã dẫn Nhật đến đốt làng Cán Tỷ thôi; nhưng mùa hanh khô, phố toàn nhà tranh, đám cháy đã bén một nhà thì các nhà khác tránh sao khỏi, thậm chí cả cửa hàng ông Vương ở đấy cũng bị vạ lây. Anh Thuần ghi nhận và về Hà Nội báo cáo. Trả lời xong những câu hỏi của anh Phạm Ngọc Thuần, tôi thấy như trút được gánh nặng ám ảnh bấy lâu nay, bởi những hiện tượng xảy ra ở biên giới tôi rất thận trọng, nhưng chưa được nói ra, tôi vẫn áy náy không yên. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:18:13 am * Một hôm anh Mai Trung Lâm và anh Đắc lên đến Hà Giang. Anh Đắc từ Bộ Quốc phòng lên mang chứng minh thư quân đội và mang theo một hộp quân hàm, hỏi ý kiến tôi là người tổ chức ra quân đội từ ngày đầu ở đây, nên trao quân hàm như thế nào cho tương xứng. Tôi giao anh Mai Trung Lâm đeo quân hàm thiểu tá, một sao hai vạch, chức vụ đại đội trưởng. Viên Văn Rưỡng (Việt Bằng) tôi giao cho phù hiệu ba sao một gạch, hàm đại úy. Tôi cũng phải giải thích tên ta gọi hàm thiếu tá là đại đội trưởng là không phù hợp với mọi quy định của trên, nhưng nay tạm thế đã. Tôi đề nghị sắp xếp với các anh khác còn lại cũng là tương đối. Ta cứ tạm hiểu như thế. Mọi người cũng vui lòng. * Được thư của anh Bình Dương từ Hà Nội gửi lên cho biết, nay đã hình thành khu vực Hà - Tuyên - Thái, vậy cán bộ người Cao Bằng phải rút về liên tỉnh Cao -Bắc - Lạng. Khu Thiện Thuật đã hoàn thành sứ mệnh... Tôi hơi đột ngột vì hình như bấy lâu nay công tác với các đồng chí và đồng bào Hà Giang, quen mùi mồ hôi nhau rồi, không muốn rời nhau. Nhớ những ngày cùng cán bộ người Mông lặn lội bao đường rừng suối khe, quen cả tiếng chim hót, để đi tới các bản làng hẻo lánh tổ chức họ vào Hội Việt Minh. Bàn chân tôi đã biết đặt cho khéo trên những nẻo đường núi đá tai mèo để tránh những con vắt đói ngoi ngoi lên tìm chờ mồi đi qua là lặng lẽ bám vào chân, hoặc là bí mật nhảy từ cành cây cao vào gáy mau lẹ chui vào trong áo hút máu... Từ hôm chia tay các anh lãnh đạo từ trung tâm Khu ủy Thiện Thuật (Lũng Lừa Kim Đao) tiến qua triền núi phía tây, say sưa với công việc, nào có nhớ thời gian xa cách? Lao vào cuộc chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo, tiến tới cách mạng giải phóng dân tộc, các nơi đã khởi nghĩa, mừng ngày quốc khánh, nhưng với Hà Giang còn gặp quá nhiều khó khăn đối phó với kẻ thù. Giải phóng Hà Giang đã về sau muộn hơn so với mọi nơi trên đất nước. Nay đến lúc tạm chia tay... Tôi triệu tập toàn thể cán bộ Cao - Bắc - Lạng để phổ biến chỉ thị của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng. Cuộc họp có cả một số cán bộ người địa phương từ Đồng Văn xuống. Trong cuộc họp ai cũng phát biểu, ý kiến phong phú. Ai cũng muốn ở lại Hà Giang, không có ý kiến gì thổ lộ vì quyền lợi ích kỷ nào, mà cái chính là tình cảm cách mạng, vì quen dân đã cùng nhau đồng cam cộng khổ từ ngày giác ngộ cách mạng đến khi cùng chiến đấu gan góc bảo vệ quê hương, bảo vệ cuộc sống. Hội nghị rất tự hào nghĩ rằng cán bộ nơi khác đến tiếp chân không dễ gì nắm được lòng dân như anh em đã từng công tác nơi đây. Hội nghị quyết định cử Việt Hưng về Hà Nội gặp Bình Dương, gặp Tổng bộ Việt Minh phản ánh nguyện vọng ở lại. Tôi lên đường đi Hà Nội phản ánh cuộc họp cán bộ Cao Bắc Lạng, đề nghị hoãn việc điều động cán bộ Cao - Bắc - Lạng trở về Cao - Bắc - Lạng. Khi đến Bắc Quang, tôi gặp anh Hồng Quân, Bí thư Tỉnh ủy đi công tác Hà Nội về. Anh cho biết có anh Song Hào, Trung ương cùng lên Hà Giang. Trong cuộc gặp mặt, Hồng Quân giới thiệu tôi. Anh Song Hào hỏi, biết tôi đi Hà Nội có việc. Anh nói, không cần đi đâu cả, ở đây tôi giải quyết được. Song Hào không thay đổi ý kiến của Bình Dương. Tôi trở về thị xã Hà Giang công bố ý kiến của Trung ương. Tuy vậy tôi vẫn xót xa với địa phương, chỉ định một số người ở lại với cơ sở của mình. Anh Hoàng Long sống chết với dân lâu rồi. Anh Phong (cháu anh Thanh Phong) cho ở lại. Bế Ru, Thanh Bắc, Kim Sơn vốn sinh sống bên Hà Giang đương nhiên ở lại. Hoàng Hương, Đoàn Kim Mỹ theo yêu cầu của anh Lý Đào khi mở rộng quân đội cần có cán bộ chính trị, nên đều ở lại. Anh Hùng Cường đang công tác ở Đường Thượng tôi bố trí ở lại với dân Đường Thượng. Còn một số anh em Cao-Bắc-Lạng khác chuẩn bị cùng tôi trở về Cao-Bắc-Lạng. Cũng vừa khi đó anh Thanh Phong, chủ tịch tỉnh, đi họp hội nghị ở Tuyên Quang về, anh có đưa cho tôi một lệnh do ông Nguyễn Khang ký, nội dung như sau, vì liên tỉnh Hà - Tuyên - Thái đã hình thành, do vậy các cán bộ thuộc liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng rút khỏi Hà - Tuyên - Thái để cán bộ địa phương tự đảm nhiệm. Tháng 3 năm 1946 tôi chia tay Hà - Tuyên - Thái, được điều về Quân khu I. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:19:08 am PHẦN THỨ NĂM 21. Tháng 3 năm 1946 tôi về Quân khu I (cơ quan ở Kép Le - Thái Nguyên). Lúc đó ông Chu Văn Tấn được cử vào làm Khu trưởng Khu IV. Ông Lê Quảng Ba là Tư lệnh Quân khu I. Đồng chí Chỉnh là Tham mưu trưởng, Việt Hưng (tôi) và ông Lục (Tàu) làm Quân huấn. Sau đó không đầy một tháng tôi được điều về làm Tiểu đoàn phó thuộc Trung đoàn 176. Đầu tháng 4 năm 1946 tôi được điều về Bắc Ninh làm Tiểu đoàn trưởng thay Chu Nhất Thành. Ở đây tôi được gặp ông Bạch Di - Chủ tịch tỉnh. Ông có phàn nàn về Chu Nhất Thành trong việc giao dịch với người Tàu (Tô Chiêm Ngao). Ông giao việc đó cho tôi. Tôi nói vói ông Bạch Di rằng tôi sẽ làm tốt không tốn một xu. Sau đó Ngao vì mất quyền lợi nên đòi thay tôi cho Chu Nhất Thành trở lại. Tôi trực tiếp nói với Vũ Đình Đại (là phiên dịch) chuyển lời tôi tới Tô Chiêm Ngao rằng, tôi đến đây là do Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân phái đến, không phải do người Tàu điều động (nhờ ông phiên dịch lại như vậy). Ngao đành phải chịu và không làm gì được. Năm 1954 tôi được Bộ chỉ huy tiền tuyến ở Điện Biên giao cho chỉ huy hai trung đoàn 146 và 148(1) để đánh Phong Xa Lỳ, Nặm Pắc Luông, Nặm Thà và Mường Xinh (Lào) nhằm chặn đường không cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ rút về phía Lào... Tôi cùng các đơn vị đã chiến đấu và giải phóng toàn bộ các tình Phong Xa Lỳ, Nặm Pác Luông, Nặm Thà và Mường Xinh. Nhân dân các bộ tộc Lào nơi chúng tôi giải phóng rất phấn khởi và tin tưởng vào bộ đội Việt Nam. Sau đó tôi cùng đơn vị còn đi tiễu phỉ ở Mường Tè, Phòng Tô, Lai Châu, Lào Cai. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:21:10 am PHẦN THỨ SÁU 22. Năm 1959, lực lượng vũ trang Quân khu lại phải lo đối phó với âm mưu và hành động gây phỉ của bọn đế quốc cùng các thế lực phản động nổi lên ở Hà Giang và một số nơi của Cao Bằng. Quân khu thành lập một “Ban chỉ huy tiễu phỉ” do đồng chí Lê Đình Thiệp, Phó chính ủy Quân khu trực tiếp làm trưởng ban. Thành phần trong Ban còn có các đồng chí Đinh Long Xuyên, Mai Trung Lâm, Phạm Văn Tịnh (Tỉnh ủy Hà Giang) và một số cán bộ chỉ huy, lãnh đạo của từng đom vị tham gia tiễu phỉ. Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc cử đồng chí Hoàng Văn Kiểu (thường vụ Khu ủy) sang tăng cường lãnh đạo. Riêng mặt trận Đồng Văn Khu ủy và Quân khu giao cho Đặng Việt Hưng trực tiếp chỉ đạo.(1) Khi ấy Việt Hưng (tôi) đang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 246. Sau năm 1957, lực lượng phỉ ở Lào Cai về cơ bản được giải quyết xong, các đơn vị của Trung đoàn 246 lại tiếp tục huấn luyện và hoàn thành những khâu cuối của nhiệm vụ chỉnh biên. Trung đoàn 246 về lập doanh trại ở vùng Lang Quán cây số 2 - bắc thị xã Tuyên Quang (thuộc huyện Yên Sơn). Đầu tháng 12 năm 1959, đồng chí Lê Đình Thiệp thay mặt Bộ tư lệnh Quân khu về Tuyên Quang giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 246 là lực lượng chủ công trong đội hình “Ban chỉ huy tiễu phi” của Quân khu. Trung đoàn đang lúc chia nhau đi các ngả khai thác nguyên vật liệu xây dựng lại doanh trại, chuẩn bị cho khóa huấn luyện diễn tập mới. Việc điều quân lên Hà Giang lúc này lại là khẩn trương. Có Tiểu đoàn 1 (với 4 đại đội) đang khai thác gỗ ở núi Quạt là gần, tôi điều về chuẩn bị nửa ngày và một đêm, cấp tốc hành quân lên Đồng Văn; riêng đại đội 1 giao đồng chí Quang Hùng đi tiễu phỉ phía Hoàng Su Phì. Cùng tham gia chiến đấu còn có 2 đại đội của Tiểu đoàn 55 Tỉnh đội Cao Bằng, 1 đại đội của Tiểu đoàn 54 Lạng Sơn, 3 đại đội công an vũ trang và đại đội 10 của tỉnh Hà Giang. Tôi xuất lĩnh Tiểu đoàn 1 gồm 3 đại đội lên Hà Giang nghiên cứu tình hình thổ phỉ Đồng Văn. Sáng 17 tháng 12 năm 1959, tôi (Việt Hưng) cùng anh Tiến Minh (trưởng ban trinh sát) và một số cán bộ tiểu đoàn dự cuộc họp với “Ban chỉ huy tiễu phỉ” tại văn phòng Tỉnh ủy Hà Giang. Anh Mạnh Đức, Trưởng ty công an Hà Giang báo cáo tình hình hoạt động của phỉ ở Đồng Văn và Hoàng Su Phì. Hôm sau đồng chí Hoàng Văn Kiểu (Khu ủy) cùng một số đồng chí trong Ban chỉ huy tiễu phỉ và Trung đoàn 246, các đơn vị tham chiến cùng hành quân lên Quản Bạ chuẩn bị tác chiến. Trở lại nơi đây, hồi tưởng lại một thời hoạt động gian khổ cách đây 15 năm (từ năm 1944), lòng tôi xao xuyến. Tôi nhớ lại các đồng chí cán bộ người Mông hoạt bát dũng cảm lãnh đạo nhân dân cùng giác ngộ chiến đấu anh dũng đánh Nhật, đánh quân Việt Nam Quốc dân Đảng phản động, đánh đuổi quân Tàu Tưởng... nay ở đâu, sức khỏe thế nào, 15 năm gần một thế hệ rồi, ai còn ai mất? Tôi nhớ Hoàng A Váng ở Du Già có con mắt nhìn chiến lược; nhớ Sùng Dua Hầư đầy nhiệt tình yêu nước, nhiều mưu trí... Các anh cùng ân nhân cách mạng người Mông sẽ là những cố vấn, ít nhất là tham mưu cho trận chiến này. Tôi tìm cách gặp gỡ các anh ấy. Mà một đặc điểm cũng là kinh nghiệm đi tiễu phỉ có cái khó của nó, nếu dàn trận đánh nhau là một nhẽ, nhưng quân phỉ hàng ngày có thể ở ngay cạnh ta, lúc này là công dân trông hiền lành, ngày mai đã thấy cầm súng ở bên kia chiến tuyến... Tôi tìm hiểu nghiên cứu đối phương để tìm ra ai chủ mưu, nguyên do gì chúng tập hợp được lực lượng phỉ, luận điệu chúng ra sao, điểm xuất phát của lực lượng phản động nổi lên là từ đâu, là kinh tế hay là chính trị?... Ngày thì có việc ban ngày, ban đêm có việc ban đêm, đã bao nhiêu đêm tôi thao thức để tìm ra kế hoạch tác chiến hoặc đi tìm gặp các cơ sở cách mạng cũ... (1) Đã xem lại theo cuốn Trung đoàn 246 (của Bộ Tư lệnh Quân khu I) Tài liệu Lưu trữ tại Thư viện Quân đội. Ký hiệu 355 V (09) / LC 3112) Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:21:34 am Thời gian ấy, bọn phỉ ở Hà Giang nổi lên cướp bóc, giết hại người lương thiện, quấy phá cuộc sổng yên lành của nhân dân. Chúng nổi dậy với danh nghĩa công khai chống lại chính sách cộng sản. Nghĩa là chúng có tổ chức rộng lớn, có người chủ mưu, bọn đặc vụ lẻn lút bám sát vùng Đồng Văn rất lợi hại.
Vào những năm từ 1958 đến 1960, tình hình đất nước còn chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, có hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng chủ trương: Để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, miền Bắc càng phải tiến nhanh vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Tháng 11 năm 1958, Trung ương Đảng khóa II, họp Hội nghị lần thứ 14 đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của miền Bắc là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể trong nông nghiệp, thợ thủ công và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời phải ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu quan trọng cần đạt được trong ba năm từ 1958 đến 1960 là nhằm xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự áp bức bóc lột và các tàn dư chế độ xã hội thực dân phong kiến để lại, tạo sức mạnh vật chất và tinh thần cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, đối với nông nghiệp, Đảng ta chủ trương thay thế các hình thức sở hữu cá thể bằng hình thức tập thể, nhằm mục đích phát triển kinh tế, ổn định đời sổng nhân dân lao động, thực hiện từng bước từ tổ đổi công với hình thức từ thấp lên cao rồi chuyển sang xây dựng Hợp tác xã bậc thấp theo nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi và quản lý dân chủ. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Đồng Văn đang tiến hành thì vấp ngay sự phản ứng của các tầng lớp trên như thổ ty, tổng giáp, mã phài... Xuất phát từ chính sách đại đoàn kết dân tộc, ta kiên trì thuyết phục, vận động họ theo đường lối cách mạng của Chính phủ. Nhưng không ít người trong số họ bị tước đoạt dần về quyền lợi áp bức bóc lột, không chịu cải tà quy chính; họ khôn khéo ăn ở hai lòng, vừa làm việc cho cách mạng vừa ngấm ngầm liên lạc với đế quốc và các thế lực đặc vụ phản động bên ngoài, đợi thời cơ nổi dậy cướp chính quyền cách mạng. Tháng 3 năm 1959, ta đang tiến hành bầu cử củng cố lại hội đồng nhân dân cấp huyện và xã, đang tiến hành cải tạo nông nghiệp thủ công nghiệp ở Đồng Văn thì vấp phải sự phản ứng mãnh liệt của bè lũ phản động. Tầng lớp trên đã tụ họp với bọn đặc vụ Quốc dân Đảng, vạch kế hoạch nổi loạn, triển khai lực lượng vũ khí, phân công người phụ trách từng khu vực. Chúng kích động quần chúng, xuyên tạc chính sách, đe dọa cán bộ vừa mới trúng cử, thủ tiêu cán bộ, đốt trụ sở xã... Tháng 5 năm 1959 bọn phỉ bắt đầu nổi dậy ở Đồng Văn. Lực lượng chúng có hàng trăm tên, được trang bị vũ khí. Những tên trục tiếp chỉ huy là Vàng Chúng Dình, Dàng Vạn Sùng, Vàng Chỉn Cáo, Lý Nhè Lùng, Dàng Sàng Rấn, Dàng Vạn Li... Chúng có tổ chức, phân công trách nhiệm, tổng phụ trách quân phỉ là Vàng Chúng Dình. Vàng Sè Na phụ trách vũ khí. Sùng Mí Chiu phụ trách lương thực tài chính. Cuộc nổi loạn của chúng ngày càng mãnh liệt. Chúng tung các khẩu hiệu chống lên hợp tác xã, chống chính quyền mới vừa bầu cử xong, chống giảm trồng cây thuốc phiện, không đi làm đường, không nộp thuế, không nộp súng cho cách mạng... Chúng chống phá nhiều nơi, bắt giữ hàng hóa của hai đoàn ngựa thồ của tỉnh lên Đồng Văn; đào đắp công sự, lập bẫy đá ở các ngả đường, bắn chết một công an, bắn bị thương một cán bộ Huyện đội, ngăn chặn dân đi nộp thuế, đi họp, kích động, đe dọa, lôi kéo dân theo chúng... Ngày 9 tháng 12 năm 1959 đoàn cán bộ Khu và Tỉnh lên Đồng Văn, chúng bắn vào trụ sở huyện gây thương vong nhiều cán bộ lãnh đạo (như anh Bế Ngọc Bảo, Khu ủy viên, Giám đốc Sở giáo dục khu tự trị Việt Bắc); anh Nông Văn Quang, Thường vụ Khu ủy chạy thoát. Sau này mới biết là anh chạy qua biên giới sang Trung Quốc rồi tìm đường vào Bảo Lạc (Cao Bằng). Sau khi xảy ra bạo động phản cách mạng ở Đồng Văn, từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 12 năm 1959 Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp kiểm điểm và nhận định tình hình, vạch ra chủ trương, phương châm chi đạo, tô chức tiến hành giải quyết vụ bạo loạn. Phương châm chung là: Dùng vận động chính trị , nắm quần chúng, tranh thủ tầng lớp trên để giải quyết vấn đề, hết sức tránh sa vào bẫy khiêu khích, hết sức tránh nổ súng. Từ Quản Bạ, các lực lượng chiến dịch của ta triển khai phương án tác chiến và khoanh vùng có địch. Anh Hoàng Văn Kiểu gặp anh em giao nhiệm vụ, động viên và tỏ rõ niềm tin tưởng thắng lợi. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:22:17 am * Bọn phỉ ngày càng hung hãn hơn. Ngày 12 tháng 12 năm 1959, Vàng Chúng Dình tập trung 200 quân, chia làm ba mũi tấn công thị trấn Đồng Văn. Chúng siết chặt vòng vây quanh thị trấn và cắt đứt hết mọi đường giao thông ra vào. Thị trấn Đồng Văn như một lòng chảo bị cô lập. Chúng quyết chiếm lĩnh thị trấn. Quân ta chống trả ác liệt. Để tránh thương vong, cán bộ đã vận động nhân dân đào hầm trong nhà để ẩn thân. Cũng từ đó nây ra sáng kiến đào giao thông hào giữa các nhà, xuyên suốt thị trấn để di chuyển tác chiến. Trước tình hình ừong ngoài liên lạc khó khăn, tỉnh đã điều một tiểu đội công an vũ trang 9 chiến sĩ do Mai Xuân Hùng chỉ huy, từ đồn Săm Pun vượt sông Nho Quế đoạn chảy xiết nhất, bờ sông cao dựng đứng khiến địch bất ngờ, đến chi viện và tiếp tế cho thị trấn Đồng Văn chổng phỉ. Các cánh quân khác cùng kéo về hướng Đồng Văn. Trùm phỉ Vàng Chúng Dình biết ta bổ sung lực lượng nên ngày 16 tháng 12 năm 1959 điều thêm 100 tên phỉ nữa mở đợt tấn công quyết liệt vào thị trấn. Vòng vây ngày càng thu hẹp. Lúc này một đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 246 vẫn đang đánh địch ở Mèo Vạc và Sơn Vĩ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các đại đội của Tiểu đoàn 1 hành quân cấp tốc về giải vây thị trấn Đồng Văn. Trong khi quân ta ở thị trấn đánh mạnh, quân phỉ tập trung kháng cự một mực tấn công, bị bất ngờ do quân Tiểu đoàn 1 đánh vào sau lưng, chúng bị kẹp vào giữa, bị diệt tại chỗ 15 tên và nhiều tên bị thương. Vàng Chúng Dình cùng đồng bọn tháo chạy vào Hàn Chả Lủng (giáp giới Hà Giang của Việt Nam và Vân Nam của Trung Quốc). Ấy là ngày 23 tháng 12 năm 1959. Cuộc chiến đã kéo dài hơn 10 ngày mới kết thúc. * Cùng ngày 23 tháng 12 năm 1959, một cánh quân 200 phỉ từ Lao Và Chải, Cán Tỷ kéo xuống, do trùm Vàng Quáng Ly cầm đầu, tấn công vào phố Yên Minh, ở đó đồng chí Tiến Minh, Trưởng ban trinh sát Trung đoàn 246 đang đóng giữ. Được tin ấy, tôi tức tốc từ Đồng Văn về Yên Minh. Đến nơi tôi thấy 2 đại đội của Tiểu đoàn 1 đã đào xong công sự, xây dựng một cụm chiến đấu bảo vệ đầu cầu sông Nhiêm, một cụm bảo vệ đồn Yên Minh. Vàng Quáng Ly chia cánh phỉ làm hai mũi, đi đầu mũi nào cũng có những tên đặc vụ đã từng gây tội ác, một mũi theo đường mòn, một mũi xuyên rừng về hướng đông rồi cùng đánh ập xuống. Quân ta chờ chúng đến thật gần mới nổ súng. Chúng chết 9 tên trước chiến hào. Những tên còn lại chen nhau chạy tháo thân. Khá lâu sau đó, Váng Quáng Ly thúc ép quân phỉ tổ chức tấn công lần 2 vào trận địa. Quân phỉ lần này đông đúc hom, hóa ra là lúc nãy chúng đi tìm dân lùa ra mặt trận. Chúng thật xảo quyệt, phỉ bắt nhân dân (đa số là cụ già, phụ nữ và trẻ em) tiến lên trước, chúng lợi dụng đi sau hoặc trà trộn hành quân. Quân ta nhìn nhau băn khoăn do dự. Tiến Minh hô truyền lệnh: - Những xạ thủ Trung đoàn 246 hãy bắn tỉa cho chính xác vào quân thù. Chỉ bắn tỉa. Sau đó tiếng súng nổ ròn rã. Tôi biết chắc dân chúng ở đây chưa quên Việt Hưng, người cán bộ 15 năm trước lăn lộn công tác tổ chức nhân dân đánh Nhật ở Yên Minh, tôi kêu gọi: - Cư tì pê chỉ say! (Bà con ơi đừng sợ). Việt Hưng đây. Quân Việt Hưng không bắn vào nhân dân đâu. Chỉ say! (Đừng sợ). Việt Hưng đây... Mấy cụ già đứng lại, giơ tay chới với, kêu Việt Hưng... Việt Hưng... Tôi nói thêm bàng tiếng Mông kêu gọi họ: - Cư tì pê quay về đi! Không đi theo bọn cầm súng, ra nơi chiến trận đạn lạc đấy. Đạn lạc thì tủa lớ. Mùa chế mùa chế lớ. (Chết đấy. Quay về nhà thôi). Đám đông dân chúng xao xác, rủ nhau chạy tán loạn. Mẹ dắt con, cháu dắt ông... quay về. Bọn trùm phỉ kêu gọi, dọa nạt họ cũng không quay lại. Những tên phỉ hiện lồ lộ kia rồi. Tiến Minh hô: - Tập trung hỏa lực, bắn! Chúng bỏ mạng 5 tên tức khắc. Lũ phỉ sống sót chạy thục mạng. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:23:02 am * Những ngày đầu tháng 1 năm 1960 (âm lịch là cuối năm), tôi (Việt Hưng, Trung đoàn trưởng 246) giao nhiệm vụ cho 2 đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 246 (do 2 đồng chí Bảy và Hương xuất lĩnh) đánh lên Cán Tỷ. Vùng này có vị trí Cổng Trời là yết hầu của tuyến đường độc đạo từ Quản Bạ đi Yên Minh, lên Đồng Văn, do Vàng Chỉn Cáo và Giàng Séo Mỉ chiếm giữ. Cứ điểm này thật bền vững. Nơi có địa thế hiểm trở, có vị trí đặc biệt về chiến thuật. Nếu ai chiếm được thì đối phương không thể vượt qua. Sau khi bị thua hàng loạt vị trí ở Mèo Vạc, Sơn Vĩ, Quản Bạ, Đường Thượng, Du Già, Bạch Đích, Mậu Ruệ, Niêm Sơn, Yên Minh, bọn phỉ rút về vùng Cán Tỷ, Cổng Trời. Chúng dựng từng cụm cứ điểm trên dọc đường đèo cao núi thẳm. Ban chỉ huy tiễu phỉ lệnh cho Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 246 phải giải phóng Cổng Trời trước Tết nguyên đán Canh Tý, giúp Tỉnh đưa lương thực, hàng hóa lên ổn định đời sống, chuẩn bị vui xuân cho Đồng Văn. Tôi bàn cùng Phó chủ tịch tỉnh Hà Giang Vương Quỳnh Anh cùng một số cán bộ huyện Đồng Văn chủ động lên Cổng Trời gặp trực diện Vàng Chỉn Cáo, Giàng Séo Mỉ, thương lượng thuyết phục chúng mở Cổng Trời để nhân dân đi lại làm ăn. Nếu thuyết phục được, rõ ràng là hai bên đỡ tốn xương máu. Cuộc thương thuyết không xong. Khi ta quay về, chúng bắn lén theo, ta hi sinh một chiến sĩ công an vũ trang. Bây giờ chỉ còn mỗi cách dùng lực lượng chủ công trong đội hình tiễu phỉ là Trung đoàn 246 do Trung đoàn trưởng Việt Hưng xuất lĩnh. Mà lực lượng này hiện chỉ có 3 đại đội của Tiểu đoàn 1. Tôi mở bản đồ trước mặt đông đù các đồng chỉ cán bộ chiến dịch. Băn khoăn nhất lúc này là ta chưa nắm chắc bố phòng của quân địch. Với địa hình núi non hiểm trở đầy bí ẩn, ta thật sự lúng túng. Theo gợi ý của tôi, chủ tịch huyện Đồng Văn Vừ Mi Khả thống nhất cùng tôi chọn cử một nam y tá tên là Lương Huy Đỉnh thường lên Cán Tỷ chữa bệnh cho dân, nay tiếp tục đi qua Cổng Trời lên làm hai nhiệm vụ: chữa bệnh và điều tra tình hình địch. Mặt khác, tôi bàn cùng Tiến Minh, Trưởng ban trinh sát trung đoàn cử tổ trinh sát do anh Hồ Văn Lịch phụ trách có anh Phan Chí Sài, người Mông địa phương cùng đi dẫn đường. Tổ trinh sát vượt qua các đoạn đường trăm phần gian nan. Trên đường lên, các anh phải vượt hàng chục trạm gác. Thứ nữa phải bám vào vách đá cheo leo để lên đỉnh cao quan sát các vị trí co cụm của chúng. Trời thì mưa tuyết buốt xương. Thời gian đội đi làm nhiệm vụ những năm ngày, ăn toàn lương khô là ngô rang và uống dè xẻn nước bi đông. Nhưng các anh từ đỉnh núi cao đã vẽ được các vị trí khi đêm đến chúng đốt lửa sưởi ở các cụm cứ điểm. Khi hai ngả quay về, đem so sánh tài liệu đội trinh sát khớp với tài liệu y tá Lương Huy Đỉnh thu thập, tôi thật sự vui mừng vì thấy khớp nhau gần được 100%. Hoàn cảnh không có vật liệu đắp sa bàn, đội trinh sát đã huy động bột ngô để đắp. Địa hình hiện dần lên trước mặt các sĩ quan. Con đường đèo độc đạo đi lên cổng trời từ nam lên bắc, phía đông là sườn núi thoải, chúng lập đồn trại chi chít. Con đường độc đạo đi lên Cổng Trời đen ngòm hai bên đường là lỗ châu mai. Chênh vênh trên đường là những dàn đá sẵn sàng lăn xuống bất cứ lúc nào. Tấn công Cổng Trời chủ yếu là Trung đoàn chủ công 246, cụ thể là Tiểu đoàn 1. Tiến Minh đề xuất cách đánh. Muốn đánh không thể tiến từ nam lên theo trục đường mà phải đánh từ cao xuống. Tôi nhất trí và quyết định phương án tác chiến, chia tiểu đoàn làm ba mũi tấn công. Mũi thứ nhất nhằm hướng cửa bắc. Mũi thứ hai nhằm hướng cửa nam. Mũi thứ ba gồm quân tinh nhuệ và trinh sát lên đỉnh núi cao đánh tập hậu. Với trận đánh này, cánh quân thứ ba có vai trò quyết định. Tôi động viên anh em, cánh quân này sẽ như con đại bàng bay lượn trên đỉnh núi cao thấy con rắn ở dưới cánh đồng xa tít tắp nó thu cánh lại ở tư thế lao xuống, cánh xé gió nghe khủng khiếp, vồ con mồi rồi bay lơ lửng lên trời cao. Anh em sẽ như con chim đại bàng vồ mồi. Mọi người cười tin tưởng và lao vào đêm mưa tuyết. Hành quân của mũi thứ ba thật gian nan, phải dùng bao tải nối lại làm dây chắc chắn đu mình qua từng vách đá thẳng đứng. Sườn núi chênh vênh ít người qua lại, đá tai mèo sắc nhọn đâm vào bàn chân chảy máu, rách cả giầy. Trời rét căm căm mà người thì toát mồ hôi lưng. Cuộc hành quân này theo binh pháp Tôn Tử gọi là ám độ trần sương (đi con đường mà không ai nghĩ đến). Giờ tấn công đã hẹn trước, mũi thứ ba phải hành quân cấp tốc đảm bảo giờ vào vị trí. Mười giờ trưa. Tôi phát lệnh. Như kế hoạch, hai mũi tấn công cổng bắc và tấn công cổng nam nổ súng ròn rã. Tất cả luồng đạn phỉ dồn về hai hướng tấn công của ta. Các dàn đá lăn ào ào xuống đường, lấp đường, hoặc lăn tiếp xuống vực thẳm. Để tranh thủ những ai bị cưỡng bức hoặc lầm đường theo phỉ, tôi cùng vài anh em biết tiếng Mông đã được phân công trước, dùng loa kêu gọi chúng hãy ngừng bắn và đầu hàng. Ta dùng hỏa lực cối 82 bắn lên các ổ đề kháng. Bất ngờ lực lượng tinh nhuệ và trinh sát của ta đánh từ đỉnh núi cao xuống, đánh vào sau lưng chúng, theo binh pháp với diệu kế đại bàng vồ mồi. Bị đánh quá bất ngờ phía sau lưng, chúng hốt hoảng luồn theo sườn núi đá chạy tháo thân. Những tên bị thương buộc phải đầu hàng. Cuối tháng Chạp năm đó Cổng Trời sạch bóng phỉ, mở toang cánh cửa đón Tết Canh Tý. Cùng ngày đó ta đã tổ chức lực lượng đánh Bạch Đích, tiến lên truy lùng địch ở Nà Kinh, Nà Quang, Lũng Vài, Lùng Phong, thu nhiều thắng lợi. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:24:15 am * Ngày hôm sau, một chiến sĩ canh phòng dẫn một người dân gầy guộc yêu cầu gặp Việt Hưng. Người ấy đến đứng trước mặt tôi nhưng không nói không rằng. Tôi phải lên tiếng hỏi trước: - Anh cần gặp Việt Hưng có việc gì đó? Người ấy mặt nhăn nhở muốn khóc. Nước mắt đã rưng rưng. Tôi cầm tay hỏi vì sao? Anh ấy nói: - Việt Hưng. Mày quên tao là Hoàng A Váng rồi sao? Tôi ngó lại cho kỹ. Ôi A Váng, anh hơn tôi dăm tuổi, từng làm seo phải Du Già, khi được giác ngộ anh đã trung thành với Việt Minh, góp ý tôi nên từ Du Già sang Đường Thượng đông dân, đất rộng mới xứng là trung tâm lãnh đạo đánh Nhật, anh từng là Phó chủ tịch khu Đường Thượng... Còn Sùng Lìa Phụng đâu? Cũng khuyên tôi nên sang Đường Thượng. Anh Sua Chứ đâu, người lính dõng, nhưng là hội viên trung kiên cơ sở của cách mạng, nhà ở sườn núi. Cán bộ quân sự nhiều mưu lược Sùng Dua Hầư nữa?... Bao nhiêu kỉ niệm hiện về. Anh A Váng ơi, anh già đi và gầy guộc hơn xưa nhiều quá, khó nhận ra, thầm xin anh thông cảm. Tôi hỏi: - Hiện nay anh đang làm gì ở xã không? - Việt Hưng ơi, cái đám già đã bị loại hết rồi. Nghe Việt Hưng đến Đồng Văn, lũ phỉ bất tôi phải đi mời bằng được Việt Hưng về nói chuyện. Nghe ra chúng có ý muốn kể tội Việt Hưng. - Nên đi không anh? Đi thì bố trí ở nhà nào cho tiện? - Chọn nhà giáo Sình. Giáo Sình vừa giác ngộ cách mạng vừa giầu có. Anh ấy có uy tín. Tôi cho A Váng thông tin mời các trùm phỉ tới nơi hẹn. Tôi cùng một trung đội trang bị gọn gàng cùng về địa điểm. Biết mình đang bước vào vùng kiềm chế của chúng, là vào hang hùm đây, nhưng tôi phải tạo thế vững vàng như Tôn Tử binh pháp nói phản khách vi chủ (đổi vị trí người khách thành vị trí người chủ). Nghe nói Việt Hưng đến, các trùm phỉ kéo tới. Tôi mời thêm các ân nhân đã giúp đỡ cách mạng và cùng tôi hoạt dộng trước đây cùng đến nhà giáo Sình họp mặt và nói anh giáo chuẩn bị cho một bữa ăn trưa. Trong cuộc họp, tôi liếc mắt thấy hai tên trùm phỉ cao tuổi, mặt mũi dữ tợn gớm ghiếc đang rỉ tai nhau. Tôi nghiêm sắc mặt, chỉ tay, hỏi rắn rỏi, giọng vang như sấm, không chút nhân nhượng: - Hai anh kia nói gì, nói to lên để mọi người cùng nghe? Cả hai xanh mắt, đứng lên: - Thưa chỉ huy, chúng em vừa nói với nhau “Tướng quân bắn súng bóp cò tay trái đã lại lên Đồng Văn ạ”. - Bắn súng bóp cò tay trái thì làm sao? - Trăm phát trăm trúng ạ, con sóc bay (tua báng) lao nhanh như mũi tên mà đã có lần tướng quân cho nó rụng như quả đu đủ bị bắn rụng ạ. Tôi nói: - Được rồi, hôm nay chúng ta không nói chuyện bắn súng. Ta nói chuyện anh em thôi, cư tì pê thôi. Hai anh kia cười: - Vâng ạ, xin tướng quân nói bằng tiếng Mông ạ. Sau khi nghe tôi giải thích về tình hình cũng như vị thế cách mạng Việt Nam, con đường no ấm ngày nay và mai sau, về nghĩa vụ người dân đối với đất nước... trông vẻ mặt chúng nghe chừng có chiều bớt căng thẳng, vui vui, chúng có thể nghe ra sẽ tình nguyện không đánh lại bộ đội Việt Minh nữa. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:24:45 am Có hai tên trùm phỉ khác trông già dặn, mặt hằm hằm dữ tợn hơn, ra chiều chống đối không giấu diếm, nói rầm rầm mất trật tự. Bộ đội bảo vệ gọi ra hỏi riêng. Chúng vẫn cố tình không hiểu. Anh em phải xử lý cho miếng võ khiến đối phương ngã gục thảm hại, đoạn trói cả hai nằm dưới đất, ý là để xử lý sau. Binh pháp Tôn Tử có nói Tiên phát chế nhân (Ra tay trước làm gương để chế phục đối phương) là đây.
Một tên trùm phỉ già dặn chững chạc, tôi trông mặt quen quen, đứng lên nói rắn rỏi: - Này Việt Hưng, chắc mày không nhớ tao, nhưng tao nhớ mày cách đây hơn 15 năm gặp mày ở Đường Thượng. Sao hồi ấy mày tốt thế, hôm nay mày lại nỡ đánh và trói người Mông? Người Mông không sợ tiếng súng đâu mà. Tao chỉ sợ lời nói đúng thôi, mày còn nhớ chứ? Bọn tao theo mày đánh đuổi Nhật là vì lời mày nói lúc ấy đủng cái bụng bọn tao cùng nghĩ vậy. Bây giờ sao mày lại trói hai người cư tì pê (anh em mình) như trói hai con lợn sắp đem mổ thịt vậy? Tôi thoáng chột dạ vì lời thẳng thắn trách móc thuộc hạ tôi đã xử lý rất cứng rắn với hai trùm phỉ vào lứa tuổi hồi tôi công tác vận động đánh Nhật ở vùng này. Ngay lúc đó tôi chợt nghĩ, dân tộc Tày tôi có câu tục ngữ hay lắm “mèng vần thai đuổi pát nặm thương/ bấu tua t’ầư thai sương nặm t’ả” (con ruồi chết chìm với bát nước đường/ không con nào chết vì bát nước sông). Tôi đang im lặng suy tư về việc trói gô hai tên trùm thổ phỉ già nọ, tôi bần thần trầm tư đắn đo ít phút mà cũng nghĩ về cổ nhân để lại lời răn dạy. Phải xin lỗi thôi, nghĩ rằng tôi đã phạm sai lầm về công tác địch vận. Một hành động sai dù nhỏ có thể dẫn cuộc họp mặt này sang tình huống khác thất bại. Tôi nói: - Cư tì pê ơi, cho tôi xin lỗi nhé. Anh em bộ đội ấy hơi nóng nẩy. Để tôi cởi trói hai anh em nhé. Rồi ta lấy rượu xoa bóp một lúc chỗ đau thâm tím sẽ tan ngay thôi mà. Nói đoạn tôi đứng dậy tới cởi trói hai trùm phỉ nọ. Được thể trùm phỉ hỏi tiếp tôi: - Ngày xưa mày chỉ nói đoàn kết đánh đuổi Nhật, Tây. Mày có nói Chủ nghĩa xã hội đâu? Sao bây giờ lại bắt bọn tao vào hợp tác xã? Ngày chợ cũng không cho đi chợ, mà phải đi làm công? Lại không được trồng nhiều cây thuốc phiện để làm giàu, thế lấy tiền ở đâu? Anh em Mông cùng cười như đắc thắng. Tôi chậm trả lời, anh em càng cười thêm tưởng rằng tôi tắc họng không trả lời nổi. Cái khó với tôi là làm sao nói họ hiểu khi trình độ hiểu biết về cách mạng họ chưa cao. Cũng lúng túng nhưng tôi chân thành nói với họ: - Thế này thôi, chúng ta cùng suy nghĩ nhé. Đánh Pháp đuổi Nhật xong chúng ta được độc lập tự do hạnh phúc, phải không? Nước nhà độc lập, bản mường không bị ai đến đè nén, bắt thuế cao, ai cũng phải làm việc để nuôi miệng, nuôi gia đình mình. Quan hệ giữa các gia đình là xã hội thì ta có pháp luật, tập tục ràng buộc nhau, cùng sống trong bản làng. Pháp luật không cho ai có quyền đi hà hiếp, cướp của người khác. Cư tì pê cùng nghĩ xem, cuộc sống bình đẳng như vậy có đẹp không? - Nói thế thì đẹp rồi - Một trùm phỉ già nói - và chúng ta đang được sống đẹp như thế. Nhưng chúng tao muốn hỏi sao lại có hợp tác xã cơ mà? - Hợp tác xã là thể hiện cuộc sống như thế đây. Ai cũng có đất cùng góp vào với nhau để cùng làm, xưa kia nhà neo người không có người làm nương khỏe, lúc ốm đau, bệnh tật còn không có người giúp cáng lên bệnh viện, có nương không làm được thì đói. Bây giờ có hợp tác xã thì nếu mình không làm được, đã có người khỏe làm, phần nương mình góp vào có hoa lợi, phần công mình làm cũng có hoa lợi, công nhiều hưởng nhiều, công ít hưởng ít, đi chợ nhiều chỉ để uống rượu thôi thì ít công lao động, thu hoạch lương thực về sẽ ít, nên hợp tác xã khuyên nên ít đi chợ, có cấm đâu? Công bằng mà. - Không công bằng đâu - Một người khác nói - Ở chỗ tao muốn cho ai nhiều hay ít là do chủ nhiệm thôi. Anh này xưa làm mã phài, giờ nó làm chủ nhiệm nên quyền nó vẫn to lắm, xã viên không nói được đâu, nhiều thiệt thòi lắm. - Nói như vậy thì chúng mình cùng suy nghĩ thêm. Bầu ai làm chủ nhiệm là quyền mọi người. Nó làm chủ nhiệm một năm hống hách bóc lột người khác, ai cũng thấy, năm sau không bầu nó nữa. Như thế là dân chủ bàn bạc mà. Kể cả bầu ra thôn trưởng cũng thế, ai tốt thì ta bầu. Quyền ở ta. Bầu ra ủy ban xã cũng là do ta cân nhắc nó tốt không, liệu nó có làm việc vì mọi người không thì ta bầu. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:25:47 am Mọi người cười. Ai đó nói xen: “Việt Hưng nói dễ nghe thế”, ra vẻ khen mà cũng ra vẻ dè bỉu. Mọi người lại ồ cười vui vẻ. Tôi quay sang nhìn bắt gặp ánh mắt của một trùm phỉ còn khá trẻ cười cười. Với ánh mắt hồn nhiên, anh ta nói:
- Xin chỉ huy cứ nói tiếp ạ. Tôi chợt trở lại thực tế. Tôi nhìn tên trùm phỉ đó, hỏi: - Quê anh ở đâu? - Xa lắm lố, chỉ huy à. Có một tốp người lạ đến gọi, bắt ép đi theo, bắt phải mang theo súng, thế là đi mãi thôi. - Anh có vợ chưa? - Có. Lúc đi vợ còn khóc theo mà. - Vợ anh tốt không? - Ôi tốt lắm. Khi ấy nó vừa đẻ, con còn đỏ đỏ lớ. - Thế anh đi, anh nghĩ là ai ở nhà hàng ngày sẽ mổ gà cho vợ anh ăn đang ở cữ? - Không biết lố. Bố thì đầu gối đau không lên nương được. Mẹ thì ho nhiều hơn nói chuyện. Có khi vợ khác dậy khác làm lấy ăn thôi. Khi ra đi em nhớ thương nó lắm nhưng không làm sao được. Tôi đế thêm bằng giọng nói trầm trầm, kèm một tiếng thở dài: - Ôi, thương tâm quá nhỉ? Giá có chồng ở nhà những lúc vợ đẻ con, quý biết mấy? Tên phỉ nói: - Khi về nhập vào đội ngũ rồi đêm đêm em còn nghe văng vẳng tiếng khóc oe oe là em thức, nhỏm dậy. Mãi rồi mới nguôi quên. Mọi người im lặng nghe cuộc nói chuyện tay đôi. Tôi hỏi: - Anh đi theo người ta thì lấy cái ăn, cái mặc ở đâu? Hắn nói cười vô tư: - Cả bọn đi cướp mà ăn lớ. Vào mậu dịch mà lấy áo, lấy chăn len. Ai không cho thì giết cho chết một người làm gương, khiến mọi người khác phát sợ phải lạy mà cho lớ. Cần ăn thì vào nhà dân bắt nấu cơm hầu hạ. Cần đàn bà thì con nào trông hay hay là cứ vén váy nó. Nghe đến đấy tôi thấy hiện lên cảnh bọn phỉ hèn mạt hà hiếp dân lành, tôi tức giận, không chịu nổi. Mặt tôi cau lại. Chắc đôi mắt tôi lúc đó đỏ rực như lửa. Tôi tỉnh cơn uất hận, chợt nhớ mình đang đánh vào lòng hướng thiện của chúng mà? Tôi đang mưu phạt tâm công (đánh vào lòng đối phương) như cổ nhân dạy. Tôi lấy lại giọng dịu dàng hỏi: - Anh hãy nghĩ xem, nếu ở lũng anh ở, trong đó có nhà anh, bố mẹ già yếu, vợ vừa đẻ con còn đỏ hon hỏn... có bọn người lạ với đầy đủ súng ống đến cướp ăn, đến hiếp đàn bà con gái... thì làm sao? Tên thổ phỉ bỗng mặt tái xanh, lệ ứa. Những tên trùm phỉ khác gục đầu xuống không dám nhìn ai. Những ân nhân cách mạng có mặt đều lộ rõ phấn khởi. Có ông già Mông nói: - Việt Hưng ơi, mày vẫn nói đúng như mọi khi mày đến nói với tao, với bản làng đánh Nhật đánh Tây. Cái gì mày cũng biết. Nghe mày nói như vậy ai trót làm thổ phỉ cũng phải bỏ đồng bọn mà về thôi. Ai nỡ sống cuộc đời chuyên đi cướp bóc, bắt nạt người khác mà ăn? Một ân nhân cách mạng khác nói: - Mình đi ăn cướp hà hiếp bản làng khác, toán phỉ khác lại đến lũng mình dí súng vào cha mẹ mình, vợ mình thì làm sao? Làm người nên biết suy nghĩ. Ân nhân cách mạng khác nói: - Về mà trồng ngô, nuôi lợn, trồng bí, trồng gừng mà ăn thôi. Đến ngày chợ thì cùng ra chợ ngồi quanh chảo thắng cố uống rượu từng bát. Sống như vậy con người đối với con người tốt hơn. Vậy là người Mông tự nói với người Mông hiểu đạo lý làm người. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:26:12 am Tôi nhìn sang phía trùm phỉ hỏi:
- Vậy các anh nghĩ thế nào? Tất cả im lặng. Không khí lại căng thẳng? Một lát, một trùm phỉ có bộ mặt gân guốc, râu ria xồm xoàm đứng lên, nói một câu không tử tế gì: - Tao hỏi Việt Hưng, sao mày, cả bọn chúng mày gọi tao là phỉ? Phỉ là gì? Khinh chúng tao thì gọi thế phải không? Tôi cười. Nhiều người trong bọn chúng cũng cười, ý chừng cho là câu hỏi hóc búa. Tôi bình tĩnh liệu nói sao cho thật dễ hiểu: - Này nhé - Tôi giơ nắm tay lên - Chúng mình cùng là người dân một nước, như nắm tay này. Ta nắm chặt tay gọi là đoàn kết, ta có sức mạnh, ai làm gì được nắm tay này. Bây giờ, giả dụ ta mờ tay ra, năm ngón, khác ngón khác ở, ai bẻ ngón nào mà chẳng gẫy. Thằng Mỹ muốn thay thằng Phá kỷ (Pháp) trước đây trở lại cướp nước ta lần nữa; kẻ gian, đặc vụ Quốc dân Đảng nước ngoài lén lút ở biên giới đến xui giục chia rẽ ta, nếu ta nắm chặt tay, không ai phá ta được. Ta phải kết, chúng ta là cứ tỳ pê (anh em bà con) cả. Lúc nãy tôi có nói, hôm nay không nói chuyện bắn súng, nói chuyện cư tỳ pê thôi - Tôi lại mở bàn tay, xòe hai ngón trỏ và giữa - Đây, ta cùng là bàn tay, có hai con đường như hai ngón tay này. Ngón này ta đi theo lời kêu gọi của Tổ quốc, theo cán bộ, đoàn kết giữ đất nước, làm lao động mà ăn, sống cùng bản làng, là người công dân của nước ta. Ngón này ta đi theo lời xúi giục của tay sai Mỹ ở miền Nam ra hay kẻ xấu đặc vụ, rủ nhau vào rừng ăn ở, cướp bóc nhân dân mà sống, trong khi đó bọn khác lại đến cướp bóc bàn làng mình, đi theo con đường ấy, ta gọi là phỉ. Cư tỳ pê có muốn làm công dân không, hay muốn làm phỉ? Các trùm phỉ hãy giải tán đội phỉ của mình để mọi người mùa chế với bản làng mới tốt thôi. Thế nào? Mùa chế chứ? Một trùm phỉ ấy nói: - Vậy thì mùa chế làm công dân tốt hơn. Cả bọn trùm phỉ khác nói nhao nhao: - Mùa chể. Mùa chế lố. (Về nhà thôi). Cả bọn cùng nói một lời. Tôi thấy vui thật sự, nhưng nghĩ, đây là vấn đề tư tưởng, sự việc không hề đơn giản, tôi cho họ trao đổi thoải mái thêm. Những câu hỏi, những câu trả lời đan xen. Nhiều băn khoăn bộc lộ. Sao Việt Hưng nói mùa chế dễ dàng vậy? Nếu chúng tôi mùa chế liệu khi về như vậy vợ ở nhà có nhận làm chồng nữa không, bởi mình đã sống như con hổ con beo trên rừng rồi, quần áo hôi hám? Liệu bộ đội, cán bộ có ai đến bắt tội đem đi bắn chết không? Khi trở về có cần mang giấy của chính phủ cho trở về làng bản không? Nếu khi về, dọc đường có trùm phỉ giỏi hơn, đến cản trở không cho về thì làm thế nào? Đi đường chợ mà gặp bạn phỉ lẩn trốn, nhảy ra chặn đường thì ta làm thế nào? v.v.. Những băn khoăn đều được giải đáp, đến khi êm cái bụng của mọi người mới thôi. Qua cuộc gặp mặt, tất cả bọn trùm phỉ đều nhận ra chân lý. Tôi nói thêm về chính sách khoan hồng của Chính phủ. Mọi người đều gật gù nói Giống a. Giống giống lố (Tốt. Tốt lắm!). Nhà giáo Sình đã làm xong cơm nước, tổ chức rất khéo bởi có cả một chảo thắng cố ở giữa sân. Mọi người ngồi vào ăn uống vui vẻ, thêm lời nói đi lời nói lại om sòm. Những bát rượu chuyền nhau. Mọi người đều nâng bát mời tướng quân hậu chấu (uống rượu) thật hồ hởi vui mừng... Tôi tin rằng cuộc gặp mặt tuy ở trong phạm vi nhỏ hẹp nhưng chỉ một ngày mai tin đó cùng nội dung cuộc họp mặt sẽ truyền đi nhanh chóng đến các bản Mông cùng các trùm phỉ và phỉ. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:27:18 am * Nhớ lại tội ác của phỉ từ ngày gây bạo loạn, ai cũng căm tức, phải quyết tâm dẹp, mang lại cuộc sống thanh bình ở vùng xa xôi này. Ngày 14 tháng 12 năm 1959, phỉ đánh chiếm Lũng Phìn, phá trụ sở UBHC, cướp kho lương thực và mậu dịch, bắt 2 cán bộ thương nghiệp, chúng mổ bụng moi gan, bắn chết hai người Mông vì không theo chúng làm phỉ. Ngày 19 tháng 12 năm 1959, Vàng Dùng Mí chỉ huy đánh chiếm xã Mèo Vạc, cướp phá cửa hàng mậu dịch xã Mèo Vạc, lấy dầu muối vải vóc chia nhau. Ngày 20 tháng 12 năm 1959, chúng đánh Nà Khê. Ngày hôm sau Lý Thìn Quáng chỉ huy tiến vào Bạch Đích bắt 2 cán bộ Huyện ủy Đồng Văn. Chúng treo 2 đồng chí lên cây gạo làm bia cho chúng tập bắn. Cùng ngày 21 tháng 12 năm 1959, Vàng Chỉn Cáo chỉ huy đánh Tráng Kìm, Cán Tỷ. Chúng giết một đôi vợ chồng trẻ, ném con của họ xuống sông. Ở Phú Lũng, Dàng Sè Páo tập hợp 300 tên phỉ nổi lên canh gác các ngả đường, chờ quân Vàng Chỉn Cáo đến sẽ phối hợp lên đánh chiếm Phó Bảng. Dàng Vạn Li tập trung thanh niên dân quân chia thành từng nhóm canh gác con đường từ Yên Minh lên Phó Bảng, xếp dàn đá lớn ở dốc Thẩm Mã chờ bộ đội đến sẽ lăn đá bịt đường... * Tôi không thể nhớ hết và kể hết các trận đánh mà đơn vị Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 246 do tôi xuất lĩnh, cũng như các trận đánh, tập kích, du kích, truy kích, dụ hàng... của các đơn vị bạn tham gia chiến dịch tiễu phỉ Đồng Văn. Tôi nhớ ngày 29 tháng 01 năm 1960 (tức ngày mồng Hai Tết năm Canh Tý) ta mở đợt công kích vào cụm cứ điểm cuối cùng của địch ở Mã Sồ. Huyện ủy Đồng Văn động viên các mẹ, các chị mang bánh chưng lên trận địa tặng từng chiến sĩ. Khi vòng vây khép lại, ta bắn truyền đơn, kêu gọi địch ra hàng, cho người thân vào thuyết phục phỉ, nhiều tên trốn ra hàng nhưng bị bọn phỉ bắn chết. Vậy là đúng ngày mồng Hai Tết, vị trí cuối cùng của phỉ bị tiêu diệt. Mà số được giải phóng, chiến dịch tiễu phỉ giành thắng lợi, vụ bạo loạn cơ bản được dập tất. Ngày 30 tháng 01 năm 1960 (là mồng Ba Tết Canh Tý) huyện Đồng Văn mờ hội tưng bừng đón Tết hòa bình. Sau lễ mừng thắng lợi tổ chức tại tỉnh Hà Giang, Tiều đoàn 1 thuộc Trung đoàn 246, là lực lượng chủ công trong đội hình “Ban chỉ huy tiễu phi” của Quán khu I trở về tiếp tục xây dựng doanh trại ở Tuyên Quang... Dù năm tháng đã qua đi nhưng trong lòng tôi vẫn nhớ ít nhiều và muốn kể lại những ngày chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo suốt từ Cao Bằng sang Hà Giang... với nhiều kỷ niệm không bao giờ quên. Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:28:59 am * Những năm tháng ấy Trung ương có chủ trương điều một số cán bộ quân đội sang đảm trách những vị trí nhiệm vụ ở các cơ quan dân sự. Tôi được điều về Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên, được cử làm Chủ nhiệm Bảo tàng Cách mạng khu, trực thuộc Khu ủy. Tôi nghĩ, chắc Đảng muốn rằng, xây dựng Bảo tàng Cách mạng phải chọn người đã từng cống hiến tham gia trực tiếp cách mạng từ nhửng ngày đầu gian khổ trong vòng hoạt động bí mật. Tôi phấn khởi nhận nhiệm vụ, thờ phào nhẹ nhõm vì sự cống hiến của mình cho quân đội nay tạm ngơi. Tôi rũ chiến bào, xếp gọn gàng vào tù áo thơm mùi băng phiến cao sang, mặc vào mình bộ áo đại cán dàn sự ngồi trước bàn giấy từ đây. Chân tôi hàng ngày bước lên những bậc thềm dài nhiều bậc dẫn tới văn phòng Bảo tàng Cách mạng ở Thái Nguyên. Một thời gian sau, Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc bố trí tôi đến nhận chức Phó ban Tổ chức Dân chính Khu tự trị Việt Bắc từ năm 1965 đến năm 1974. Một sáng mùa thu năm 1974, đứng trước gương soi tôi thấy mái tóc, lông mày đã bạc từng sợi. Tôi chải tóc, tóc rụng bám đầy chiếc lược sừng. Tôi mỉm cười lên cơ quan nhận quyết định nghỉ hưu trí. Chắc lần này được “lão giả an chi” đây, người già thì nghỉ vậy. Tôi về đến nhà, Hồng Điệp (vợ tôi) chạy ra đón, xúc động ôm lấy tôi ở cửa, nói thầm thì: Anh đã về! Em cùng các con gái đã bày mâm cơm thịnh soạn chờ anh, mừng ngày anh được nghỉ công tác về vởi gia đình! Tôi hiểu nỗi lòng sung sướng của người phụ nữ có chồng đi biền biệt, ít thời gian ở nhà, nay được nghỉ hưu về củng cố gia đình. Lời nói của vợ tôi là nỗi lòng của một cô gái sống trong nhung lụa quê Đáp Cầu, Bắc Ninh; lứa tuổi thiếu nữ thời ấy nhiều mơ ước, đầu đội lệch mũ ca lô, vai đeo túi chữ thập đỏ, thoăn thoắt lên chiến trường trong tư thế nữ cứu thương của Vệ Quốc Đoàn đánh Pháp. Rồi mải miết theo một cán bộ quân đội đeo súng ngắn côn bát bên hông, đã góa vợ, nên đã tự nguyện bỏ lại sắc đẹp của tuổi xuân ở chiến trường cùng chồng. Hôm nay Hồng Điệp mới 43 tuổi mà người đã gầy quắt, vì công tác cũng có, lại còn vì vừa công tác vừa nuôi một đàn con gái đều học giòi, chăm ngoan. Tôi rất quý các con nên đã bàn cùng Hồng Điệp đật tên các con gái thật đẹp: Ngọc Bích, Anh Thư, Thanh Hà, Bích Hiền, Thanh Hương, Thanh Huyền, Thanh Hồng, Thanh Hoàn, Ngọc Linh. Nhưng rồi tôi cũng nghĩ, trai thời loạn, gái thời chiến đều chịu nhiều thiệt thòi, biết bao người phụ nữ ở miền Nam những ngày này đang sống gian khổ và chiến đấu anh hùng... Tôi tâm sự cùng vợ con. Tôi lại thấy sự đóng góp của mình và gia đình mình cho cách mạng chưa phải là nhiều. * Qua thời gian dài hoạt động cách mạng như vậy, đến nay đã nghỉ hưu, nhìn lại cuộc đời mình tôi thấy có chút tự hào, một chút thôi, đã từng chinh chiến trên những vùng núi đá tai mèo phức tạp, vùng cao xa xôi hẻo lánh. Tôi luôn phải tự mình nhiệt tình xây dựng cơ sở bằng uy tín của bản thân để giác ngộ nhân dân vùng đồng bào Mông ở Cao Bằng, Hà Giang; xây dựng quân đội, chỉ huy quân đội đánh Pháp, đánh Nhật, đánh Quốc dân Đảng, đánh phỉ... để trên những vùng đất ấy chỉ còn một ngọn cờ chói lọi với ngôi sao vàng 5 cánh cùng bay phấp phới theo lá cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh...
Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:31:05 am LỜI BẠT Trong trào lưu văn học Việt Nam, hồi ký có vai trò vị trí đặc biệt. Nó có sức cuốn hút riêng bởi nó là lời kể chân thành, người thật việc thật... Một trong những cuốn hồi ký gây nhiều ấn tượng trong độc giả phải kể đến Sống như anh (Chị Quyên kể, nhà văn Trần Đình Vân ghi). Nhiều cuốn hồi ký do tác giả nhớ lại đời hoạt động của mình, tự mình viết ra như Sống để hoạt động của Nguyễn Tạo, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, Nhớ nguồn của Bích Tùng - Lý Đào, Đấu tranh trong nhà tù đế quốc của Dương Công Hoạt, Sống và hoạt động trên quê hương Cao Bằng của Hoàng Nghiệp... Nhưng phần lớn các cuốn hồi ký cách mạng đều do nhà văn ghi lại theo lời kể của cản bộ chiến sĩ cách mạng. Ví dụ như để tổ chức xuất bản tập hồi ký Đầu nguồn viết về Bác Hồ (NXB Văn học, H, 1975) đã có sự tham gia của các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Hữu Mai, Bàng Sĩ Nguyên, Hà Minh Tuân, Lại Giang, Đỗ Đức Thuật, Lữ Huy Nguyên, Triều Ấn, Nguyễn Đại... ghi chép. Thể loại hồi ký ngày nay vẫn phát triển, do những người tham gia cuộc đấu tranh kể lại, tái hiện lại cuộc đau tranh quyết liệt của dân tộc qua các giai đoạn lịch sử. * “Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo” là cuốn hồi ký viết về cuộc đời hoạt động cách mạng của Thượng tá Đặng Việt Hưng - Hoàng Thành Châu (1918 - 2001). Ồng sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, học giỏi, chăm đọc sách, hiểu biết khá rộng. Khi vào đời ông đã phải trải qua cuộc sống lận đận nhưng cái chí phấn đấu của ông đã để lại nhiều bài học cho lứa tuổi thanh niên ngày nay. Ông tham gia tổ chức Việt Minh từ năm 1941 sau đó được đoàn thể chọn cử đi ra nước ngoài đào tạo cán bộ quân đội cách mạng. Khi trở về nước, đoàn thể đang cần cán bộ lên khu Thiện Thuật - vùng núi đá tai mèo vận động phong trào cách mạng, ông đã trở thành người cán bộ quần chúng đắc lực, ông tổ chức đội võ trang 14 người (1944). Có lẽ cuộc đời binh nghiệp của ông là từ đây. Ông chỉ huy đánh Nhật ở Hà Giang, đánh Quốc dân Đảng Tàu Tưởng tràn vào đất ta (vác cả cột mốc biên giới cắm vào sâu đất ta), đánh bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động. Khi trở về Quân khu I (1946), ông làm Tiểu đoàn trưởng rồi Trung đoàn trưởng tham gia chiến dịch Điện Biên (1954), trực tiếp cầm quân tiễu phỉ qua nhiều nơi. Mãi sau này, năm 1959 ông lại mang một tiều đoàn (quân của Trung đoàn 246 mà ông là Trung đoàn trưởng) lên dẹp vụ đặc vụ và phỉ gây phản loạn ở Đồng Văn. Cuối năm 1960 ông được chuyển ngành về công tác ở Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc. Năm 1974 ông được nghỉ hưu. Những chặng đường ông trải qua đều để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp để lớp người ngày hôm nay suy ngẫm, học tập. * Tỏi biết Đặng Việt Hưng nổi tiếng từ lâu nhưng tôi chỉ thực sự biết ỏng từ năm 1963. Năm ấy tôi đang học ở Đại học Sư phạm Cầu Giấy - Hà Nội. Ngày chủ nhật tôi thường đến chơi nhà số 17 Thụy Khuê, bên bờ Hồ Tây, nhà anh vợ tôi, là anh Bình Dương, đang công tác ở Ban Dân tộc Trung ương, từng là lãnh đạo phong trào Việt Minh trên chiến khu cách mạng Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn; Ủy viên thường vụ BCH Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng. Cuối tháng 9 năm 1943. khi thành lập Khu Thiện Thuật. Bình Dương là người lãnh đạo Khu. Chi bộ Đảng của Khu gồm 5 đồng chí, Bình Dương (làm Bí thư), đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng), Kim Đao (Giè Trứ Sào - Giàng Văn Páo), Cao Lý (Dương Văn Kinh), Xinh Lý (Lý Văn Nó). Ban chấp hành Việt Minh khu có 11 đồng chí do Đại hội đại biểu bầu ra. Kim Đao dân tộc Mông được bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh. Cơ quan lãnh đạo Khu được bí mật đặt tại Lũng Lừa (khi đó thuộc xã Trùng Khuôn - Nguyên Bình). Ôn lại chuyện 20 năm về trước ở chiến khu, Bình Dương hào hứng kể không hết chuyện. Thấy tôi muốn nghe và ghi chép phong trào cách mạng hồi trước, sau nhiều buổi trò chuyện Bình Dương có đưa cho tôi mượn một tập hồi ký cách mạng viết tay 57 trang A4 của đồng chí Hoàng Thành Châu, bí danh là Đặng Việt Hưng (cùng nhiều tài liệu khác). Tôi đem phô tô moi thứ lấy một bản. Sau này về Cao Bằng công tác, có những dịp về họp Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Khu tự trị Việt Bấc, tôi được gặp ông Việt Hưng, khi ấy công tác ở Bảo tàng Cách mạng trực thuộc Khu ủy đặt ở Thái Nguyên. Tôi lại được nghe ông kể về đoạn đường hoạt động 1959 - 1960 lên Hà Giang tiễu phỉ. Chuyện nghe thì hay, nhiều cảnh huống ly kỳ tôi nghĩ giá viết được cuốn hồi ký do ông kể lại thì quý biết bao. Tôi đã dựa theo bản hồi ký viết tay (nói trên đây) cũng như tư liệu ghi chép thêm sau này, năm 1974 tôi viết xong cuốn hồi ký “Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo”. Tôi đưa ông Việt Hưng xem lại và tu chỉnh. Nhưng việc xuất bản hồi ký trong thời buổi kinh tế thị trường quả là khó khăn cho nên không có dịp được công bố. Mãi gần đây tôi có đọc tin trên Internet, biết có Quyết định sổ 844/QĐ - TTg ngày 1 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án khuyến khích sáng tác và công bố tác phẩm vân học nghệ thuật có giá trị giai đoạn 1930 - 1975; Quyết định của Chỉnh phủ đề ra mục tiêu: “giai đoạn 2011 - 2015 có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật, chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 40 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vào năm 2015, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.” Tôi đem bản thảo hồi ký “Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo” đọc lại và tu sửa. Sao lại phải tu sửa? Bởi lẽ lời kể của ông Việt Hưng rất chân thành, chấm dứt ở năm 1974. Nhưng sau đỏ có nhiều cuốn sách được công bố, nhiều chi tiết bản thảo cuốn hồi ký cần sửa lại (tuy không nhiều nhưng theo sử sách chính quy vẫn là cần thiết). Những cuốn sách tôi tham khảo để tu chình lại bản thào gồm có: 1- Văn kiện Đảng thời kỳ 1939 - 1945, NXB Sự thật, 1963. 2- Tổng tập văn học Việt Nam, tập 36 (Văn thơ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh), NXB Khoa học xã hội, 1980. 3- Khu Thiện Thuật trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám ở Việt Bắc, NXB Việt Bắc, 1972. 4- Báo Việt Nam Độc lập 1941 - 1945, NXB Công an Nhân dân, 2005. 5- Trung đoàn 246, Bộ tư lệnh Quân khu I, Tài liệu lưu trữ tại Thư viện Quân đội, Ký hiệu K 355 V (09)/ LC 3112. 6- Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn - Hà Giang 1943 - 1975, NXB Chính trị Quốc gia, 1999. 7- Lịch sử Đảng bộ Thị xã Hà Giang 1945 - 1995, xuất bản năm 1999 8- Lịch sử Đảng bộ xã Hồng Việt (Hòa An, Cao Bằng), BCH Đảng bộ xã Hồng Việt, 2013. 9- Lịch sử Đảng bộ huyện Na Hang, tập I (1941 -1954), BCH Đảng bộ huyện Nà Hang (Tuyên Quang) xuất bản tháng 5 -1998. Đến nay bản thảo cuốn “Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo” đã hoàn chỉnh, nếu như được xuất bản, chắc không chi thỏa mãn riêng nguyện vọng của nhà văn (là tôi) cũng như gia đình ông Đặng Việt Hưng mà là nguyện vọng nhân dân các dân tộc, bởi lẽ cuốn hồi ký góp phần tải hiện lại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc; góp phần nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:36:14 am MỘT SỐ TÁC PHẨM LƯU DANH ĐỒNG CHÍ ĐẶNG VIỆT HƯNG 1. Cuốn Lịch sử Khu Thiệt Thuật có viết: Với chủ trương củng cố các cơ sở cũ và gây dựng thêm cơ sở mới vào các lũng còn bỏ trắng, Ban liên tỉnh điều thêm cán bộ lên Thiện Thuật với nhiệm vụ vừa củng cố vừa phát triển phong trào sang Hà Giang và Tuyên Quang. Ban Việt Minh khu phân công một đồng chí sang tổng Côn Lôn, Tuyên Quang (Tô Vũ - TÂ chú thích) một đồng chí lên Nhiêu Lai chuẩn bị vào khu vực Đường Thượng, Hà Giang (Việt Hưng. TÂ), một đồng chí về tổng Tranh Đấu, Bấc Chợ Rã, Bắc Kạn (Hồng Đào. TÂ) (...). Ngày 26 tháng 3 năm 1945 đại đội vũ trang chiến đấu của tổng Tranh Đấu do nữ đồng chí Hồng Đào trực tiếp phụ trách sang thuyết phục bang tá và đồn binh Bắc Mê (...). Đại đội vũ trang ta đã tước súng bọn lính mở kho thóc, kho muối phát cho dân, củng cố các cơ sở quần chúng, lựa chọn đại biểu nhân dân để chuẩn bị bầu Ủy ban nhân dân lâm thời hai xã Yên Phú, Yên Định (...). Cũng thời gian này đội vũ trang tổng Thành Công (Côn Lôn, Tuyên Quang) do đồng chí Tô Vũ trực tiếp chỉ huy cũng được thành lập. Đội đã đi sâu vào các lũng để củng cố cơ sở quần chúng, tước súng lính dõng và thành lập các xã mới, bầu ra Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời cấp xã (...). Trước tình hình có nhiều kẻ thù cần phải đối phó, Ban Việt Minh tổng Đường Thượng họp hội nghị cán bộ bàn bạc và nhất trí trước tiên phải đánh kẻ thù chính là quân phát xít Nhật. Thi hành nghị quyết trên đêm 30/4/1945 lực lượng vũ trang và nhân dân các xã Thanh Vân, Cán Tỷ, Seo Lùng, Đường Thượng do đồng chí Việt Hưng trực tiếp chỉ huy tiến đánh một toán lính Nhật đóng ở Tráng Kìm. Từ nửa dêm quân ta nổ súng. Bị đánh bất ngờ quân Nhật hốt hoảng bắn ra dữ đội. Đến gần sáng chúng phái bỏ Tráng Kìm rút chạy về thị xã Hà Giang (...).(1) 2. Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn, Hà Giang (1943-1975) viết: Thực hiện Nghị quyết lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Liên Tỉnh ủy Cao Bắc Lạng, nhiều cán bộ Việt Minh từ Cao Bằng mở rộng địa bàn vận động cách mạng, xây dựng phong trào cách mạng ở Hà Giang và khai thông đường liên lạc Hà Giang - Tuyên Quang về Vĩnh Phú. Giữa năm 1944, một tổ chức cán bộ Việt Minh gồm các đồng chí Đặng Việt Hưng, Hồng Đào từ Cao Bằng, Bắc Kạn, đến củng cố cơ sở cách mạng đã được xây dựng từ 1943 và chuẩn bị phát triển ở cơ sở đồng bào Tày, Mông, Dao trong đó có Phya Liềng, Ngọc Long (Yên Minh). Đồng chí Đặng Việt Hưng tổ chức đội du kích gồm 14 chiến sĩ làm hạt nhân cho phong trào. Cuối năm 1944, đồng chí chỉ huy đánh thông con đường liên lạc từ Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc) để đón cán bộ từ nước ngoài trở về và chuyển vũ khí về nước. Đồng chí đã tới Lũng Hồ, Đường Thượng gây dựng cơ sở, lấy Đường Thượng làm căn cứ triển khai đi Đồng Khu, Yên Minh - Đồng Văn. Cán bộ Việt Minh đi đến đâu cũng được đồng bào tin tưởng phấn khởi chào đón, hưởng ứng tích cực hăng hái quyết tâm đi theo cách mạng, hưởng ứng phong trào cách mạng của Việt Minh với chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật.(2) 3. Cuốn Lịch sử Trung đoàn 246 viết: Một “Ban chỉ huy tiễu phỉ” được thành lập do đồng chí Lê Đình Thiệp, Phó chính ủy Quân khu trực tiếp làm trưởng ban. Thành phần trong Ban chỉ huy còn có các đồng chí Đinh Long Xuyên, Mai Trung Lâm, Phạm Văn Tịch (Tỉnh ủy Hà Giang) và một số cán bộ chi huy, lãnh đạo của từng đơn vị tham gia tiễu phỉ. Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc còn cừ đồng chí Hoàng Văn Kiều - Thường vụ Khu ủy sang tăng cường lãnh đạo. Riêng mặt trận Đồng Văn, Khu ủy và Quân khu giao cho đồng chí Hoàng Việt Hưng trực tiếp chỉ đạo…(3) (1) Trích Lịch sử Khu Thiện Thuật, NXB Việt Bắc, 1972, tr. 41,57,58,60. (2) Trích Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn, Hà Giang (1943-1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 (3) Trích cuốn Lịch sư Trung đoàn 246 – Bộ tư lệnh Quân khu I, Tài liệu lưu trữ tại Thư viện Quân đội, K 355 v/LC 3112, tr.123-124 Tiêu đề: Chinh chiến trên vùng núi đá tai mèo Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Ba, 2020, 08:43:22 am (https://i.imgur.com/2VAVX9m.jpg) Đặng Việt Hưng (ảnh chụp năm 1948) (https://i.imgur.com/xvREsnI.jpg) Đặng Việt Hưng (ảnh chụp năm 1985) (https://i.imgur.com/LkF4KUZ.jpg) Bác Hồ thăm Bảo tàng Cách mạng Khu tự trị Việt Bắc (Người mặc áo đen là Việt Hưng - Chủ nhiệm Bảo tàng Cách mạng Khu tự trị Việt Bắc) (https://i.imgur.com/CHAfb0V.jpg) Ông bà Việt Hưng - Hồng Điệp cùng hai con gái đầu lòng (Bích - Thư) (https://i.imgur.com/j9CCoxz.jpg) Các con gái của ông Đặng Việt Hưng (https://i.imgur.com/ZaDCR5U.jpg) Bút tích hồi ký của ông Việt Hưng |