Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:05:05 am



Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:05:05 am
Tên sách: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2007
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/DZNu4ot.jpg)

Tổ chức:
      đại tá KIỀU BÁCH THẤN
Biên soạn:
      đại tá TRỊNH NGỌC NGHI


LỜI NÓI ĐẦU

Thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc là thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân mang đầy đủ tính cách mạng triệt để và tính khoa học sâu sắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và lâu dài, tạo nên bước phát triển mới của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong chiến tranh giải phóng, quân dân ta đã đánh hàng ngàn trận. Trình độ và nghệ thuật tác chiến được nâng lên một tầm cao mới về chất. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự truyền thống của cha ông, vận dụng cách đánh du kích kết hợp với cách đánh chính quy, đánh tiêu hao kết hợp với đánh tiêu diệt; vận dụng nhiều cách đánh phong phú sáng tạo đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh ở trước mặt và đánh sau lưng địch, huy động mọi sức mạnh của toàn dân để giành chiến thắng.

Trong hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ đó, mỗi trận đánh không chỉ là một chiến công góp vào thắng lợi chung của cả dân tộc, mà còn làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, khẳng định nghệ thuật dám đánh, biết đánh và biết thắng của quân và dân ta. Tinh thần ấy vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân dựa trên các tài liệu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị và địa phương, tổ chức biên soạn tiếp cuốn
“Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★” gồm hơn một trăm trận đánh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nội dung cuốn sách khẳng định rằng với ý chí quyết thắng cao thi trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào, chúng ta cũng sẽ tìm ra cách đánh thích hợp và đánh thắng.

Quá trình biên soạn không tránh khỏi thiếu sót. Mong bạn đọc góp ý kiến phê bình
.


   
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:06:25 am
TRẬN ĐÁNH TÀ LÓK CỦA DU KÍCH XÃ VĨNH HIỆP
(17.3.1959)

Trận chống càn bằng vũ khí thô sơ của du kích xã Vĩnh Hiệp (12 người, có 2 nữ), trang bị ná và tên độc đã đẩy lui một đại đội bảo an càn quét vào làng Tà Lók thuộc xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

Từ 7 giờ ngày 17 tháng 3, đại đội bảo an bắt đầu cuộc hành quân càn vào hai làng Tà Lók và Tà Lék. Đến 9 giờ 30 phút, địch tiến đến cách tổ cảnh giới của ta khoảng 50m. Du kích dùng loa kêu gọi binh lính địch dừng lại, không tiến vào làng mà chết uổng mạng, sau đó lui về cùng tổ 2 sẵn sàng đánh địch. 10 giờ, địch đến gộp Nước Ló, bất ngờ bị những mũi tên tẩm thuốc độc lao thẳng vào đội hình, 2 tên chết tại chỗ (trong đó có tên trung úy chỉ huy đại đội), một số hốt hoảng chạy sang hai bên trúng vào bãi chông, bẫy đá... bị thương thêm 7 tên nữa. Bọn còn lại lui về sau củng cố đội hình tiếp tục tiến. Khi đến gộp Nước Ló, chúng bắn mạnh và xung phong. Từ các hướng, các mũi tên lẩm thuốc độc lao ra làm chết một tên, bị thương 6 tên, buộc địch phải lùi lại.

Sau khi đánh lui hai đợt tiến công của địch, du kích chuyển về trận địa cuối làng, sẵn sàng đánh địch. 15 giờ ngày 17 tháng 3, địch tiếp tục tiến công, khi đến ngã ba suối lại bị những mũi tên độc bắn chết một tên, bị thương 5 tên.

Đến 16 giờ, địch liến công lần thứ tư, lần này chúng tiến công ồ ạt hòng tiêu diệt lực lượng ta và đánh chiếm làng. Nhưng cũng như lần trước, đợt tiến công lần này cũng bị du kích đẩy lùi và diệt thêm 2 tên, bị thương 5 tên. Thấy không thể vào làng, chúng gọi máy bay đến ném bom đánh phá và lui quân về quận Vĩnh Thạnh.

Qua một ngày chiến đấu, du kích diệt 6 tên, làm 23 tên bị thương; thu một súng trường, một bản đồ và một sơ đồ dùng quân sự.

Trận đánh để lại những kinh nghiệm quý về chọn thế hiểm của địa hình, bố trí các khu vực diệt địch phù hợp, kết hợp chặt chẽ và sáng tạo các loại vũ khí thô sơ, tự tạo của du kích trong chiến tranh nhân dân địa phương đánh địch, giữ làng.

TRẬN NA THENT CỦA TIỂU ĐOÀN 929
(5-14.4.1961)

Trận phòng ngự của Tiểu đoàn 929 (Quân khu 4) được hai trung đội Quân giải phóng Lào phối hợp chiến đấu; trang bị 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu đại liên, chặn đánh tiểu đoàn 7B trung đoàn 14 quân phái hữu Lào tiến công vào trận địa ở khu vực Na Thent (bắc huyện Mường Mầy, tỉnh Bô Li Khăm Xay - Lào) nhằm tiêu diệt địch, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ hành lang vận chuyển Tây Trường Sơn.

Sau thời gian chuẩn bị gấp, tiểu đoàn hoàn thành việc xây dựng công sự trận địa sẵn sàng đánh địch.

Lúc 16 giờ 45 phút ngày 5 tháng 4, một đại đội địch bí mật tiếp cận trận địa, bất ngờ tiến công vào các vị trí chốt giữ của ta. Nhờ chuẩn bị chu đáo, ta và bạn nhanh chóng xác định được hướng tiến công chủ yếu của địch; sử dụng hỏa lực ngăn chặn, tiêu diệt một số tên, buộc chúng phải rút lui.

Ngày 7 tháng 4, ta điều chỉnh lực lượng, bổ sung phương án chiến đấu, tăng cường lực lượng, sẵn sàng đánh địch tiến công quy mô lớn hơn.

Ngày 8 tháng 4, địch cho một tiểu đoàn, lợi dụng thời tiết xấu, bí mật tiếp cận trận địa. 18 giờ, chúng nổ súng xung phong vào trận địa ta. Tiểu đoàn sử dụng lực lượng vừa ngăn chặn, vừa cơ động phản kích đánh bật địch ra khỏi xóm lẻ phía tây bản Na Thent.

Ngày 14 tháng 4, địch sử dụng một tiểu đoàn có pháo 105mm và máy bay trực thăng chi viện, từ nhiều hướng tiếp cận vào trận địa ta. Khi chúng triển khai đội hình, bị hỏa lực ta cấp tập làm thương vong một số, chúng phải lùi ra xa dùng pháo bắn vào trận địa, 16 giờ 45 phút buộc phải rút quân.

Mười ngày chiến đấu, ta đánh bại ba lần địch tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu một số tên.

Thắng lợi của trận đánh cho thấy: Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, kiên quyết bám trụ đánh địch; nắm chắc thủ đoạn, hướng tiến công chủ yếu của chúng, xây dựng phương án chiến đấu sát với diễn biến của trận đánh; thường xuyên cảnh giác, giữ bí mật, tạo bất ngờ là những yếu tố có tính quyết định đến thành công của trận phòng ngự chống địch càn quét bảo vệ vùng giải phóng.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:07:19 am
TRẬN MƯỜNG NGẠT CỦA TIỂU ĐOÀN 3 LỮ ĐOÀN 324
(10-21.5.1961)

Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 324 (có 3 đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến), được tăng cường một đại đội cối 82mm (6 khẩu), một trung đội ĐKZ 75mm (3 khẩu) và một số phương tiện đảm bảo; được hai đại đội bộ binh làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí đánh một đại đội quân phái hữu Lào (CV-14) có cố vấn quân sự nước ngoài, chiếm giữ ở Mường Ngạt, cách biên giới Lào - Việt khoảng 15km, cách thị xã Xiêng Khoảng 50km về phía đông nam; nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ an toàn biên giới và hành lang vận chuyển của ta.

Ngày 10 tháng 5, đơn vị hành quân từ vị trí tập kết vào chiếm lĩnh trận địa. Nhưng do đường xa, rừng rậm, lại chưa trinh sát nắm chắc địa hình nên đến đêm 12 tháng 5, các đơn vị mới thực hành tiếp cận sát địch.

Lúc 8 giờ ngày 13, Đại đội 2 bị lộ, địch ở H8 bắn vào đội hình. Chỉ huy tiểu đoàn lệnh các phân đội hỏa lực bắn vào các mục tiêu, kiềm chế cối 106,7mm và 12,7mm của địch, sau đó cho bộ đội xung phong. Đồng thời sử dụng hai trung đội của Đại đội 3 và một trung đội công an vũ trang tiến xuống phía nam, bao vây địch ở sân bay, không cho chúng ứng viện.

9 giờ, Đại đội 2 chiếm được H8 và dùng hỏa lực đánh vào H6.

Trên hướng Đại đội 1, do bị vướng mìn nên phát triển khó khăn. Tiểu đoàn trưởng sử dụng một trung đội dự bị đánh vào sân bay để thu hút địch.

14 giờ ngày 13, được trung đội dự bị đánh vào sân bay, phân tán hỏa lực địch nên Đại đội 1 chiếm được H6. Trong khi đó, Đại đội 7 đánh vào H5 vẫn đang trên đường vận động, Đại đội 2 dùng hỏa lực bắn vào H6 thì bị một số địch từ sau H8 bắn vào phía sau đội hình làm một số thương vong.

2 giờ 45 phút ngày 14, ta chiếm được nửa đồn, địch chống cự quyết liệt; ta tổ chức phát triển theo chiều sâu đồn; trước sức tiến công mạnh của ta, một số địch hốt hoảng bỏ chạy.

3 giờ, ta giải phóng Mường Ngạt.

Sáng 14 tháng 5, ta tổ chức truy kích, gọi hàng quân địch chạy vào rừng. Ngày 15 tháng 5, trận đánh kết thúc, tiểu đoàn được lệnh phòng ngự giữ Mường Ngạt.

Ngày 17 tháng 5, tiểu đoàn sử dụng một đại đội, tăng cường 3 đại liên, 3 ĐKZ 57mm phát triển chiến đấu đánh chiếm Tham Tạt. Nhưng vì đèo dốc, nên đến 10 giờ 20 phút ngày 21 tháng 5, ta mới nổ súng đánh Tham Tạt, ở đây chỉ có một tốp địch chống cự, còn đại bộ phận đã rút chạy.

Sau nhiều ngày đánh địch, ta diệt 26 tên, làm bị thương 9 tên, gọi hàng 203 tên, thu 158 súng các loại, chiếm một kho gạo, muối, kho dù, kho vũ khí.

Chiến thắng Mường Ngạt góp phần uy hiếp trực tiếp quân địch ở các vùng chiếm đóng lân cận và tạo được vành đai an toàn cho ta ở vùng biên giới.

TRẬN LA VI CỦA TIỂU ĐOÀN 7 TRUNG ĐOÀN 101
(29 - 30.3.1962)

Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Tiểu đoàn bộ binh 7 Trung đoàn 101 (3 đại đội bộ binh), được tăng cường một đại đội địa phương tỉnh, một đại đội địa phương huyện, một trung đội công binh; 4 khẩu cối 82mm, 2 khẩu ĐKZ 75mm, 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm vào một đại đội quân phái hữu Lào được trang bị hai khẩu cối 60mm, một khẩu bazôka 90, một khẩu đại liên, còn lại là trung liên và súng trường đóng giữ ở La Vi (gồm ba vị trí: Tà Ôi, khu lính Com-măng-đô, Tam Luật), huyện Mường Nống (Lào); nhằm tiêu diệt, đẩy lùi các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giải phóng một vùng phía Bắc của tỉnh Luông Pha-băng.

12 giờ ngày 27 tháng 3, bộ đội bắt đầu hành quân, 19 giờ ngày 28 tháng 3, quân ta vào vị trí tập kết, bộ đội bắt đầu tiềm nhập.

1 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3, ba người của ta đi lạc đường gặp vọng gác của địch ở La Vi Noi bắn ra, một người bị thương, sau đó hy sinh. Tiểu đội địch bắn một lúc rồi bỏ chạy.

5 giờ 55 phút, ta bắt đầu nổ súng. 7 giờ 15 phút. ta chiếm được La Vi Noi.

12 giờ, chỉ huy trung đoàn ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 quan sát địa hình, bố trí hỏa lực của địch, chuẩn bị để đêm 29 tháng 3 công kích.

Địch dùng máy bay đến bắn vào đội hình tiến công của ta. Ta dùng hỏa lực đánh vào Xiêng Pá, khu lính Com-măng-đô. 17 giờ, quân ta bắt đầu đột kích, đến 4 giờ 55 phút ngày 30 tháng 3, quân ta chiếm được toàn bộ đồn. Tiểu đoàn để lại một trung đội chốt giữ, lực lượng còn lại tiếp tục truy kích địch.

Sau hai ngày chiến đấu, ta diệt 21 tên địch: thu một khẩu đại liên, một khẩu trung liên, 2 khẩu cối 60mm, 5 tấn gạo và nhiều đạn dược.

Chiến thắng La Vi cho thấy: Công tác chuẩn bị chiến đấu tốt góp phần quyết định hoàn thành nhiệm vụ; giữ bí mật tốt là một trong những bí quyết thành công.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:07:59 am
TRẬN TÂN KIỀU CỦA DÂN QUÂN XÃ YÊN HÓA
(6.1.1963)

Trận vây bắt biệt kích của 200 dân quân xã Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình khi chúng nhảy dù xuống thôn Tân Kiều, xã Minh Hóa, nhằm bắt gọn địch, phá kế hoạch thu thập tin tức, bí mật phá hoại miền Bắc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

20 giờ 20 phút ngày 6 tháng 1, phát hiện máy hay địch xâm nhập và thả biệt kích xuống Tân Kiều, xã đội trưởng đã báo động lực lượng dân quân toàn xã và thông tin cho các xã bạn là có biệt kích nhảy dù xuống địa phương và báo cáo cấp trên.

Thường vụ đảng ủy xã hội ý chớp nhoáng hạ quyết tâm vây bắt, đồng thời xã đội trưởng và xã đội phó chỉ huy hai cánh quân bao vây, lùng sục vào khu vực biệt kích nhày dù xuống.

24 giờ, các cánh quân chia làm nhiều mũi vây chặt, lần theo dấu vết của địch.

5 giờ ngày 7 tháng 1, các chiến sĩ công an và một tổ dân quân phát hiện một tên địch, vì quân ta đông nên tên địch phải đầu hàng ngay. Bốn tên còn lại thấy chưa bị phát hiện trèo lên lèn đá định lẩn trốn. Nhưng chúng đã bị hai trợ lý huyện đội và năm dân quân Yên Hóa, Xuân Hóa lần theo dấu vết và bắt gọn ngay khi đang ở trên dốc lèn.

Sau 10 giờ chỉ huy chặt, kịp thời và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, dân quân xã và bộ đội, công an đã bắt gọn 5 tên biệt kích, thu một máy vô tuyến điện, 2 khẩu tiểu liên, 3 khẩu súng ngắn, 5 dao găm, 4 máy 15W, 2 máy điện, 5 bản đồ khu vực Tuyên Hóa, Minh Hóa; 4 địa bàn và một máy thông tin liên lạc với máy bay, một số nén bạc, tiền và các phương tiện phục vụ cho hoạt động của chúng.

Bắt gọn được toán biệt kích đã tạo được không khí phấn khởi trong nhân dân đẩy mạnh sản xuất, tăng cường sẵn sàng chiến đấu, củng cố an ninh biên giới phía tây của tỉnh ngày càng vững chắc.

TRẬN ĐẦM DƠI CỦA TIỂU ĐOÀN U MINH
(Đêm 9 rạng ngày 10.9.1963)

Trận vận động tập kích của Tiểu đoàn U Minh (nay là Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 Sư đoàn 330 Quân khu 9), biên chế 3 đại đội bộ binh, một đại đội đặc công, một đại đội cối 81 và 82mm, một đại đội ĐKZ 75mm và 57mm, một đại đội súng máy phòng không 12,7mm và một số đơn vị bảo đảm; mỗi đại đội bộ binh có 1 - 2 khẩu cối 60mm, 1 - 2 đại liên, còn lại là trung liên và súng trường đánh vào lực lượng ngụy quyền và đại đội bảo an 374 tiểu đoàn bảo an 37 (được trang bị 2 khẩu cối 81mm, 2 khẩu cối 60mm, một khẩu đại liên, còn lại là trung liên và súng trường) ở chi khu Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; nhằm tiêu diệt địch, phá đồn bốt trong chi khu, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược trở về ruộng vườn làm ăn.

18 giờ 30 phút ngày 9 tháng 9, gần 300 chiếc xuồng chở quân nối tiếp nhau rẽ sóng, lặng lẽ theo các kinh rạch hướng về Đầm Dơi. 0 giờ 10 phút ngày 10 tháng 10, phân đội ĐKZ tiếp cận giẫm phải mìn làm 6 người hy sinh, 5 người bị thương, hỏng 2 khẩu ĐKZ. Địch bắn cối ngay vào khu vực mìn nổ làm ta thương vong thêm một số. Do ta tiến công chi khu Cái Nước nên địch báo động các đơn vị sẵn sàng đối phó. Sau một thời gian kiên trì giữ bí mật, tình hình địch trở lại yên tĩnh, ta tiếp tục tiếp cận. 2 giờ 40 phút, vị trí chỉ huy của tiểu đoàn triển khai xong, liên lạc được nối thông với các đại đội. 4 giờ, các hướng triển khai xong, các cửa mở đã cắt được từ 2 - 3 lớp rào, nhưng không thể tiếp cận vào sâu được. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Đệ quyết định nổ súng tiến công.

Ngay những loạt đạn đầu tiên, một số lô cốt địch bị diệt, trên các hướng quân ta phá nốt những hàng rào còn lại. Từ các hướng, các mũi, bộ binh xung phong đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Được phi pháo chi viện, địch phản kích quyết liệt nhằm đẩy ta ra xa, phân tuyến để dùng pháo binh đánh phá. Trận chiến giằng co đến sáng, ta diệt một số địch, số còn lại lợi dụng công sự chống trả và dùng không quân tăng cường chi viện cho địch trong chi khu. Thấy tiếp tục chiến đấu không lợi, tiểu đoàn trưởng ra lệnh lui quân.

6 giờ 5 phút, khi 3 máy bay “đa-cô-ta” đến ném bom phốt pho cách chi khu khoảng 500m về phía nam, bom gây cháy một vùng rộng lớn, khói bụi mù mịt, ta lợi dụng khói bụi rút quân ra bờ tây sông về vị trí tập kết.

Sau khi quân ta về tạm dừng ở rạch Bàu Sen (nam chi khu 7km), địch đổ quân phản kích suốt ngày 10 tháng 9. Tiểu đoàn U Minh đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch, diệt và bắt hơn 200 tên.

Sau 2 giờ chiến đấu ở chi khu Đầm Dơi, ta loại khỏi vòng chiến đấu 110 tên, bắt 48 tên, phá hủy một khẩu cối 81mm, một khẩu cối 61mm, một khẩu đại liên; thu một khẩu cối 61mm, hơn 80 súng tiểu liên, súng trường...; phá hủy hàng chục vũ khí khác.

Chiến thắng Đầm Dơi để lại những kinh nghiệm quý về xác định quyết tâm, tạo và nắm chắc thời cơ, nổ súng tiến công kịp thời; xử trí tình huống mau lẹ và chính xác; tác phong chỉ huy sâu sát, hành động chiến đấu của các phân đội kiên quyết, hiệp đồng đánh địch chặt chẽ.

Trận đánh đã gây tiếng vang lớn trong tỉnh và lan rộng ra các chiến trường khác.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:08:46 am
TRẬN CÁI NƯỚC CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 306
(Đêm 9 rạng ngày 10.9.1963)

Trận vận động tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 306 Quân khu 9 (biên chế ba đại đội bộ binh, một đại đội ĐKZ, một đại đội cối, một đại đội 12,7mm và một số đơn vị đảm bảo, được tăng cường một trung đội trinh sát quân khu, một trung đội địa phương huyện Cái Nước, một đại đội pháo trợ chiến quân khu) vào lực lượng bảo vệ các đồn Bà Lộc, Gòn, tháp canh nam Cầu Sắt, những vị trí quan trọng bảo vệ chi khu Cái Nước, tỉnh Cà Mau; nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng ở nam Cà Mau.

16 giờ 30 phút ngày 9 tháng 9, các đơn vị bí mật đội mưa theo rạch Lung Chiêm vào vị trí tập kết giấu xuồng và cơ động vào vị trí triển khai.

0 giờ 40 phút ngày 10 tháng 9, khẩu ĐKZ 75mm số 3 bắn quả đạn đầu tiên, ra hiệu lệnh cho tiểu đoàn đồng loạt tiến công. Ngay sau đó, ở quận lỵ Cái Nước, ĐKZ và súng phóng bom bắn dồn dập vào các lô cốt, ụ súng của địch. Chớp thời cơ, các đại đội bộ binh mở cửa xung phong. Do bám sát các hướng nên chỉ huy tiểu đoàn đôn đốc các mũi tiến công nhịp nhàng, các hỏa lực của địch lần lượt bị diệt, một số địch tháo chạy bị diệt và bị bắt. Khi Đại đội 3 hoàn thành nhiệm vụ, thấy Đại đội 2 còn tiếp tục chiến đấu, tiểu đoàn đã nhanh chóng tổ chức một mũi đánh tạt sườn quân địch, làm chúng tan rã nhanh chóng.

Tại đồn lộ Gòn, Trung đội 1 vào ém sát địch, khi nổ súng dùng lựu đạn, thủ pháo ném vòa công sự. Sau 25 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 27 tên, thu 21 súng các loại làm chủ đồn.

Tại đồn xẻo Bà Lộc, địch chống cự quyết liệt, gần một giờ chiến đấu ta mới chiếm được một góc. Trung đội 2 xung phong ba lần nhưng không thành công, thương vong 7 người, phải chờ chi viện. Đến 1 giờ 30 phút, Đại đội 1 triển khai đội hình vào các vị trí đã chiếm được, điều ĐKZ 75mm diệt hỏa điểm và cho Trung đội 1 đánh chiếm lô cốt phía đông, tổ chức một mũi đánh sang hướng Trung đội 2, diệt lô cốt phía tây. 1 giờ 40 phút, ta làm chủ đồn xẻo Bà Lộc.

Ở tháp canh Cây Dương, ta vào cách địch 15m, ném lựu đạn và thủ pháo, sau 8 phút ta diệt gọn quân địch ở tháp canh.

Trên hướng trung đội địa phương huyện Cái Nước và các mũi khác, nhờ tiếp cận bí mật, tạo được bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ nên sau 20 phút nổ súng, ta đã làm chủ được trận địa.

2 giờ 45 phút ngày 10 tháng 9, tiểu đoàn để lại lực lượng địa phương cùng dân công san bằng các bốt giặc. Đến 8 giờ, ta bắt thêm được 11 tên địch lẩn trốn và thu một số vũ khí.

Trận đánh đã xóa sổ chính quyền quận, các hội đồng xã, tổng số khoảng 200 tên, diệt 92 tên, bắt 84 tên, thu 4 khẩu cối các loại, một khẩu đại liên và 81 súng các loại.

Về nghệ thuật chiến đấu, ta đã nắm vững tình hình, có quyết tâm chính xác; biết tập trung lực lượng để nhanh chóng tiêu diệt mục tiêu chủ yếu, chỉ huy các cấp xử trí tình huống mau lẹ.

TRẬN CÁI ĐUỐC - GIỒNG RIỀNG CỦA TIỂU ĐOÀN U MINH 10
(27.10.1963)

Trận phục kích của Tiểu đoàn U Minh 10 (danh nghĩa là tiểu đoàn nhưng thực tế mới có Đại đội 1 gồm 4 trung đội bộ binh và một trung đội hỏa lực), được một trung đội bộ đội địa phương huyện Giồng Riềng và một trung đội bộ đội địa phương huyện Gò Quao phối hợp chiến đấu; trang bị có 2 khẩu cối 60mm, 4 khẩu garand và 6 khẩu các bin, 12 khẩu trung liên Đức, 11 khẩu tiểu liên K50, 75 khẩu súng trường K44 mới được chuyển từ miền Bắc vào; do đại đội trưởng Bùi Tấn Phương chỉ huy đánh vào đại đội biệt kích chi khu Kiên Bình (khoảng 130 quân) trên đoạn đường từ Cái Đuốc đi Giồng Riềng thuộc xã Ngọc Hòa, huyện Giồng Riềng tỉnh Rạch Giá; nhằm tiêu diệt lực lượng biệt kích ác ôn, giải phóng nhân dân, trả thù cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng và nhân dân bị chúng giết hại.

Để kéo địch từ chi khu Kiên Bình đi giải tỏa cho đồn Cái Đuốc và đồn Thác Lác, liên tục trong hai ngày 24, 25 tháng 10 năm 1963, ta sử dụng một tiểu đội bộ đội địa phương huyện Giồng Riềng kết hợp với du kích xã Ngọc Chúc bao vây, bắn phá đồn Cái Đuốc Lớn và du kích xã Ngọc Hòa đánh phá đồn Thác Lác. Đồng thời trong hai đêm 24 và 25, ta huy động hơn 400 dân công thuộc các xã Ngọc Chúc, Ngọc Hòa và Hòa Thuận đào phá lộ, cắt đứt giao thông đoạn giữa rạch Cái Đuốc và kinh xáng Thác Lác.

Sau một ngày đêm bao vây bắn phá, đêm 26 rạng 27 tháng 10, ta sử dụng một tổ đặc công dùng bộc phá đánh đứt nhiều đoạn rào dây thép gai phía nam đồn Cái Đuốc. Tiếp đó, ta dùng ĐKZ 57mm bắn vào phía nam đồn. Để gây sức ép với địch, ta sử dụng một bộ phận bộ đội địa phương huyện Giồng Riềng kết hợp với du kích xã Ngọc Chúc siết chặt vòng vây, phát loa kêu gọi địch ra hàng.

4 giờ 30 phút, tổ trinh sát gác đầu đường phát hiện địch từ Giồng Riềng kéo vào, dưới mương ven lộ có vài chiếc thuyền đang đi về hướng trận địa ta. 5 giờ 15 phút ngày 27 tháng 10, toàn bộ đội hình địch lọt vào trận địa phục kích. Do địch bất ngờ nổ súng bắn loạn xạ nên lực lượng chặn đầu của ta cũng lập tức nổ súng. Được lệnh, các đơn vị đồng loạt nổ súng bắn vào quân địch. Bám vào lộ, địch chống cự quyết liệt, hòng chặn đứng các mũi tiến công của ta.

Phát hiện địch tập trung hỏa lực mở đường để tháo chạy, tiểu đoàn kịp thời dùng hỏa lực tiêu diệt hỏa điểm của địch và xông ra đường, dùng súng trường, tiểu liên bắn găm, bắn gần và giáp lá cà với địch, diệt một số tên.

7 giờ 40 phút ta làm chủ trận địa, lực lượng dân công được huy động từ phía sau lên cùng bộ đội chuyển thương binh, tử sĩ và chiến lợi phẩm thu được của địch.

8 giờ ngày 27 tháng 10, các trung đội được lệnh thu quân về vị trí quy định.

Sau 2 giờ chiến đấu ác liệt, ta loại khỏi vòng chiến đấu 114 quân địch, bắt 4 tên; thu 94 súng các loại.

Để giành thắng lợi, trước hết phải chú trọng làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, cán bộ phải chỉ huy sâu sát, cụ thể; lãnh đạo giải quyết tư tưởng tốt, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao cho cán bộ, chiến sĩ.

Sau trận đánh, lực lượng bảo an, dân vệ địch co lại, không dám ra hoạt động ở những khu vực xa đồn.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:10:04 am
TRẬN THỚI LAI CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 96 QUÂN KHU 9 VÀ ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 20 TỈNH CẦN THƠ
(4.2.1964)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 96 Quân khu 9 và Đại đội đặc công 20 tỉnh đội cần Thơ, được một phân đội bộ đội địa phương huyện Ô Môn cùng lực lượng của Hội Phụ nữ, Mặt trận, binh vận huy động nhân dân biểu tình, đấu tranh chính trị, tuyên truyền vận động quần chúng ở thị tứ phối hợp đánh vào lực lượng địch giữ đồn Thới Lai, tiếp đó tiêu diệt lực lượng địch đến cứu viện, làm suy yếu lực lượng của chúng, tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tiến lên Thốt Nốt nhanh hơn.

Để hoàn thành nhiệm vụ công đồn, tiểu đoàn bí mật cơ động lực lượng triển khai áp sát hàng rào, bố trí hỏa lực kiềm chế hỏa lực địch ở các lô cốt, dùng đặc công phá rào, xung lực xung phong tiêu diệt các mục tiêu được phân công.

Đồng thời, ta sử dụng phần lớn lực lượng mai phục ở nam đường 29, nam Lung Sen... hình thành thế bao vây, để địch lọt hẳn vào trận địa, bất ngờ nổ súng, đồng loạt xung phong, chia cắt địch ra từng đoạn, tiêu diệt từng bộ phận tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch.

16 giờ 30 phút ngày 4 tháng 2, bộ phận công đồn từ Cái Túc vào chiếm lĩnh trận địa. 23 giờ 35 phút, cối 60mm, ĐKZ bắn vào đồn và các lô cốt; đồng thời đặc công nổ mìn, bộc phá phá rào, mở cửa. Nhờ hiệp đồng chặt chẽ giữa hỏa lực đi cùng và bộ binh, quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu trong đồn. Đến 2 giờ ngày 5 tháng 2, ta làm chủ thị tứ Thới Lai.

Cùng thời gian ta tiến công địch trong đồn, bộ phận phục kích vào trận địa mai phục quân địch, sẵn sàng đón đánh quân ứng cứu. 8 giờ ngày 5 tháng 2, khoảng 150 tên địch lọt vào trận địa, đầu đội hình tới cổng số 2. Khi tốp đi đầu cách hai khẩu trung liên của bộ phận chặn đầu 20m, quân ta nổ súng diệt một số tên làm bộ phận đi đầu lùi lại, địch ở phía sau dồn lên làm cho đội hình ùn lại. Chớp thời cơ, cối 60mm bắn vào đội hình của chúng ở đường 29 và ở kinh Đứng tạo thời cơ cho bộ phận diệt địch chủ yếu cơ động lực lượng, hình thành thế bao vây, tiêu diệt địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng loạn, một số lợi dụng bờ ruộng bắn chặn ta, số đông nhảy xuống kinh Đứng tìm đường chạy tháo thân.

Chớp thời cơ các mũi của ta xung phong tiêu diệt nhiều địch dưới kinh Đứng.

Một bộ phận ở phía sau chạy lại, bị ta diệt gần hết và bắt hàng chục tên.

8 giờ 50 phút, địch cho máy bay trinh sát tới, bị ta bắn chúng hốt hoảng bỏ chạy. Qua 40 phút chiến đấu, ta làm chủ trận đánh, làm công tác thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm và rời khỏi trận đánh.

Địch chết 95 tên, bị thương 19 tên, bị bắt 45 tên.

Trận công đồn, diệt viện ở Thới Lai để lại nhiều kinh nghiệm quý về chủ động lập thế trận có lợi cho ta, phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong thế trận chiến tranh nhân dân ở địa hình đồng bằng sông nước; vận dụng sáng tạo các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu phù hợp với điều kiện cụ thể của trận đánh; sử dụng lực lượng hợp lý để giành thắng lợi cho trận đánh.

TRẬN HẬU MỸ CỦA TIỂU ĐOÀN 261
(4.3.1964)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 261 (quân số 1.400 người), biên chế 3 đại đội bộ binh (1, 2, 3), một đại đội trợ chiến; trang bị 1.000 khẩu súng các loại gồm ĐKZ 75mm, cối 81mm, đại liên, còn lại là súng trường vào một đại đội bảo an, một đại đội dân vệ, một đại đội thám báo bình định và tề điệp ác ôn (600 quân, có 6 cố vấn Mỹ); trang bị 9 đại liên, 15 trung liên, 2 cối 81mm, 4 cối 60mm, ngoài ra trong tiểu khu còn có 4 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu cối 106,7mm và nhiều tiểu liên, súng trường ở chi khu Hậu Mỹ (Thiên Hộ) thuộc xã Hậu Mỹ, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho; nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng, khai thông tuyến vận chuyển từ biên giới Campuchia đến chiến trường đồng bằng sông Cửu Long.

Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 3, Tiểu đoàn từ “vùng 20-7” hành quân ra phía bắc đường 4 ém quân ở xã Thạnh Phú, huyện Cai Lậy. 18 giờ cùng ngày, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

Mặc dù đã đến giờ nổ súng, nhưng tiểu đoàn vẫn chưa nhận được tin của Đại đội 1. Do điều kiện thời gian, quy mô trận đánh và diện mục tiêu rộng nên chỉ huy tiểu đoàn vẫn quyết định nổ súng, khi pháo ta bắn vào mục tiêu thì Đại đội 1 đến vị trí và bước vào chiến đấu ngay.

Ngay phút đầu, ta đã làm tê liệt vị trí chỉ huy và trận địa pháo. Các mũi của Đại đội 1 và 3 cùng nổ bộc phá diệt các lô cốt đầu cầu, mở cửa đánh vào trung tâm mục tiêu thuận lợi.

Sau 15 phút pháo ta bắn cấp tập vào mục tiêu, tiểu đoàn ra lệnh ngừng bắn pháo để bộ binh xung phong thọc sâu chia cắt, đánh địch ở tung thâm, không cho chúng tháo chạy, hoặc co cụm chống đỡ. Nhưng diễn biến thực tế không như dự kiến, lợi dụng pháo ta ngừng bắn, địch củng cố lực lượng, chống trả quyết liệt, các mũi tiến công của ta đều gặp trở ngại, việc tiếp cận diệt chỉ huy của địch thêm khó khăn.

Sau khi ổ đại liên bị diệt, địch tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt để bảo vệ chỉ huy làm cho mũi thọc sâu của Trung đội 3 không phát triển được, trong khi đó các hướng thứ yếu và quan trọng đều đã đánh chiếm và làm chủ tình hình ở khu vực được giao.

Trước tình hình hướng chủ yếu gặp khó khăn, trung đội trưởng Tua tổ chức một tổ diệt cụm địch còn lại ở sở chỉ huy, một tổ đánh chiếm khu thông tin và khẩn trương chỉ huy trung đội và hai tổ nhanh chóng diệt chỉ huy và khu thông tin của địch. Chiếm được sở chỉ huy, Trung đội 2 cử một tổ chi viện cho Trung đội 1. Với sự tiếp sức của Trung đội 2, Trung đội 1 đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở khu nhà kho.

Trận đánh kết thúc, 500 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu (chết 350, có 4 cố vấn Mỹ), bắt 25 tên; thu nhiều súng các loại.

Chiến thắng Hậu Mỹ cho thấy: Trước khi chiến đấu, các đơn vị cần tranh thủ huấn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu, có phương án đánh địch cụ thể, sát chiến trường; tổ chức thông tin liên lạc chặt chẽ giữa chỉ huy với các đơn vị thuộc quyền trên các hướng; đây là những yếu tố rất quan trọng để giành chiến thắng.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:18:33 am
TRẬN MĂNG ĐA CỦA TIỂU ĐOÀN 261
(15.5.1964)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 261 (thiếu Đại đội 1), tham gia chiến đấu có các đại đội bộ binh 2, 3, Đại đội ĐKZ (6 khẩu 75mm, 6 khẩu 57mm), đại đội phòng không (9 khẩu 12,7mm và 6 khẩu đại liên), Đại đội súng cối 9 khẩu; 4 tiểu đội đặc công vào lực lượng địch ở Măng Đa thuộc xã Vĩnh Trị, huyện Tuyên Bình, tỉnh Kiến Tường (nay là huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An); nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở địa phương lên một bước.

18 giờ ngày 14 tháng 5, các đơn vị từ Vịnh Ô Mỗi (Cả Muồn) hành quân chiếm lĩnh trận địa.

0 giờ 40 phút, quân ta tập trung hỏa lực đánh vào khu Măng Đa. Theo hiệp đồng, các mũi bộ binh nhanh chóng tiếp cận mục tiêu. Sau ít phút bị bất ngờ, đối phó lúng túng, địch dùng hỏa lực chống trả quyết liệt làm các mũi tiến công của ta không phát triển được. Ở khu B, ta nhiều lần xung phong không thành, phải dùng ĐKZ bắn lần thứ hai mới diệt được các lô cốt số 1, 2, 3. Tiếp đó, đại liên bắn, đặc công xông lên nổ bộc phá liên tục mới mở được cửa cho bộ binh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển vào bên trong. Địch ở lô cốt số 4 chống trả quyết liệt, ta điều ĐKZ lên định diệt lô cốt số 4, nhưng khi ĐKZ đến thì bộ binh đã đánh chiếm được mục tiêu.

Ở khu A, sau lần xung phong đầu tiên, Đại đội 2 phải lùi lại thu gọn đội hình, cho cối và ĐKZ bắn lần hai. Lợi dụng kết quả bắn phá của hỏa lực, Đại đội 2 xung phong, đặc công và xung kích nhanh chóng chiếm được lô cốt số 1 và 2. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch ra sức chống trả, một số chạy sang khu B chui vào ấp chiến lược. Thấy địch hoang mang, đại đội củng cố lại lực lượng, điều ĐKZ và trung liên lên kiềm chế ổ đề kháng ở lô cốt số 2 để xung kích đánh chiếm nhà lính, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu đánh chiếm lô cốt số 2 và 3.

Sau hơn 10 phút chiến đấu, ta chiếm được các lô cốt số 2, 4, địch dồn về lô cốt số 3, tập trung hỏa lực bắn vào các nhà A4, A5 và lô cốt số 1 vừa bị ta chiếm nhưng không kịp, thừa thắng Đại đội 2 chiếm toàn bộ khu A, giải phóng Măng Đa hồi 5 giờ 5 phút ngày 15 tháng 5 năm 1964. Trận chiến đấu kết thúc, ta diệt 25, bắt 26 tên địch. Thu 69 súng các loại, 26 ngàn viên đạn và nhiều đồ dùng quân sự.

Trận Măng Đa để lại nhiều kinh nghiệm quý về điều tra nắm địch; sử dụng lực lượng phù hợp để giành thắng lợi cho trận chiến đấu.

TRẬN HÒN GAI CỦA LỰC LƯỢNG PHÒNG KHÔNG VÀ HẢI QUÂN ĐÓNG TẠI ĐỊA BÀN
(5.8.1964)

Trận chiến đấu với máy bay Mỹ vào bắn phá quân cảng, các tàu: Hải quân, cảng than Hòn Gai... của Trung đoàn pháo phòng không 217, các tàu chiến thuộc khu tuần phòng 1 Hải quân và các lực lượng phòng không tỉnh Quảng Ninh; nhằm tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế.

Trước những thất bại ngày càng nặng nề của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc, mở rộng cuộc chiến xâm lược của chúng ra cả nước Việt Nam.

14 giờ 30 phút, Mỹ bất ngờ dùng máy bay cường kích của Hải quân đánh phá quân cảng, các mục tiêu chính trị, kinh tế ở Bãi Cháy, và các tàu Hải quân đậu trong vùng Cửa Lục.

Lần đầu tiên đối mặt với máy bay phản lực siêu âm của Mỹ nên các đơn vị phòng không của ta không khỏi lúng lúng trong những phút đầu. Nhưng khi máy bay địch bổ nhào lần thứ hai đánh vào sân cảng, cầu tàu và các tàu đậu ngoài, thì các loại hỏa lực 37mm, 14,5mm từ các tàu Hải quân bắn lên mãnh liệt, cùng các trận địa hỏa lực phòng không ở Bãi Cháy, Cọc 3, Hà Tu bắn lên tạo thành lưới lửa chặn các đường bay của địch.

14 giờ 50 phút, một máy bay địch bốc cháy.

14 giờ 56 phút, chiếc máy bay thứ hai bị trúng đạn. bốc lửa và lao xuống biển.

Cay cú trước thất bại địch liên tục cho các tốp máy bay vào đánh phá, các lực lượng phòng không ba thứ quân của ta đã đánh trả quyết liệt, đến 15 giờ 15 phút trận đánh kết thúc. Ba máy bay phản lực siêu âm của quân Mỹ bị bắn rơi, trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ.

Chiến thắng 5 tháng 8 năm 1964 của quân và dân ta mở đầu cho chiến công bắn rơi hàng ngàn máy bay hiện đại của Mỹ trên bầu trời, miền Bắc, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:20:46 am
TRẬN ĐƯỜNG SỐ 2 - BÀ RỊA
(9.12.1964)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 bộ đội Quân khu Miền Đông (nay là Trung đoàn 2 Sư đoàn 9) đánh vào chi đoàn 3 thiết đoàn 1 quân đội Sài Gòn giải tỏa đường số 2 lên Bình Giã, Đức Thạnh (đoạn từ bắc sông Cầu đến nam ấp chiến lược Đông Ngọc Khai) thuộc xã Bình Ba quận Đức Thạnh (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

Nhận được tin sáng 9 tháng 12, địch cho một đoàn xe từ Bà Rịa lên Đức Thạnh, theo quy luật khoảng 15 giờ chúng quay về Bà Rịa, trung đoàn quyết định cho các đơn vị tạm dừng giấu ba lô nhanh chóng vận động lên chiếm lĩnh trận địa, chặn đánh địch.

13 giờ 30 phút, đài quan sát trung đoàn báo cáo: một đoàn xe 14 chiếc đang từ Đức Thạnh về Bà Rịa, chúng đi hàng dọc trong lô cao su phía đông đường 20m, cách Đại đội 1 khoảng 400m. Trung đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 4 cho Đại đội 1 chặn đầu, các đại đội 2 và 3 vận động lên: Tiểu đoàn 6 khóa đuôi và đánh vào bên sườn, phía sau quân địch, súng máy phòng không sắn sàng bắn máy bay địch, bảo vệ bộ binh vận động.

Khi chiếc xe đi đầu lao xuống dốc, cách Đại đội 1 chừng 100m, ĐKZ 75mm bắn nhưng do thao tác chậm nên chiếc đi đầu chạy thoát, chiếc thứ hai lao xuống bị trúng đạn lập tức cả đoàn xe dạt vào lề đường dùng hỏa lực bắn vào đội hình Đại đội 1. Bộ binh địch trong xe nhảy ra ngoài, lợi dụng địa hình chống cự quyết liệt. Đại đội trưởng Đại đội 1 chỉ ĐKZ bắn cháy chiếc xe thứ hai, sau đó xông lên mặt đường chỉ huy bộ đội diệt bộ binh địch. Sau ít phút bị bất ngờ, địch tổ chức phản kích nhưng bị các đơn vị của ta hình thành nhiều mũi, từ các hướng tiếp cận địch, xung phong diệt nhiều xe.

Do việc phát triển chiến đấu của các hướng không đều nên địch co cụm về hướng đông, đông nam Đông Ngọc Khai, dùng hỏa lực trên xe chặn các mũi tiến công của ta, đồng thời tổ chức đột phá về hướng Đại đội 1, nhưng cả hai lần đều không thành và bị các đại đội 2, 3 đánh vào bên sườn buộc chúng phải co về đối phó.

Trước tình hình địch co cụm, các tiểu đoàn được lệnh bao vây, tiêu diệt từng cụm địch cả ở phía nam và phía bắc đường.

14 giờ 15 phút, hai cụm địch bị bao vây. Máy bay trực thăng và máy bay trinh sát của địch liên tục quần đảo, bắn phá vào đội hình quân ta. Súng máy phòng không, đại liên, trung liên của các tiểu đoàn tích cực đánh máy bay địch, bắn rơi một chiếc L19, một chiếc trực thăng HU-1A.

14 giờ 50 phút, quân địch bị ta bao vây, cô lập thành hai cụm, chỉ huy bị rối loạn. Các tiểu đoàn siết chặt dần vòng vây, dùng ĐKZ bắn cháy thêm một số xe. Số còn lại bị hỏng không cơ động được, bộ binh địch dựa vào xe và lợi dụng địa hình chống cự. Trung đoàn tập trung hỏa lực đánh vào hai cụm địch chi viện cho các tiểu đoàn 4 và 6 xung phong tiêu diệt chúng. Khi bộ binh địch bị diệt hoàn toàn, địch cho trực thăng bắn hỏa tiễn phá hủy một số xe còn lại. Súng máy phòng không của ta bắn rơi thêm một chiếc HU-1A.

Sau hai giờ chiến đấu, ta tiêu diệt 107 tên địch, bắn cháy và phá hủy 14 xe bọc thép M113, bắn rơi ba máy bay; phá hủy một số vũ khí của địch.

Trận đầu diệt gọn một chi đoàn thiết giáp ngụy, mở ra triển vọng mới về khả năng đánh bộ binh cơ giới của địch trên chiến trường trong những năm cuối của giai đoạn đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam.

TRẬN HƯƠNG CHỮ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 1
(13.12.1964)

Trận chống càn của Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu một đại đội), một trung đội chủ lực Thừa Thiên, một tiểu đội của thị đội đánh vào một đại đội bảo an, 4 trung đội nghĩa quân, 2 trung đội cơ động ở xã Hương Chữ nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện cho địa phương phát động quần chúng nổi dậy.

24 giờ ngày 12 tháng 12, Đại đội 3 dùng hai tiểu đội bộ binh đánh vào quân địch ở Xóm Chợ và trụ sở xã. Trận chiến đấu kéo dài 15 phút, ta diệt một số tên, số còn lại bỏ chạy. Do tình hình phát triển thuận lợi, Đại đội 3 sử dụng toàn bộ lực lượng vào chiến đấu. Trận chiến kéo dài 20 phút, do không có hỏa lực chi viện (vì ĐKZ và đại liên phối thuộc không thấy hiệp đồng chiến đấu trước nên đã tự động lui về An Bô), đại đội không tiêu diệt gọn được quân địch.

Trên hướng đánh địch của Đại đội bộ binh 1, do tốc độ tiến công chậm nên không chiếm được cầu để chặn địch và phối hợp với Đại đội 3 đánh vào trụ sở xã, vì vậy địch chạy thoát một số.

0 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12, Đại đội 3 diệt xong địch ở trận địa, để lại một tiểu đội giữ làng, lực lượng còn lại chuyển sang chống càn ở La Chữ. Đại đội 2 đánh địch ở An Cựu nhưng do đi sai đường vào Bổn Trí, trong lúc đó địch chạy về Cổ Hưu, Đại đội 2 phát triển về Cổ Hưu nhưng không gặp địch, đại đội lui về Bổn Phổ, không đánh vào Trúc Lâm, An Ninh theo kế hoạch.

7 giờ ngày 13 tháng 12, một đại đội bảo an từ rú Bắp bắt đầu tiến công vào trận địa của tiểu đội bộ binh chốt ở rú Bắp. Sau hai giờ đánh bại nhiều đợt tiến công của địch, đến 9 giờ, lực lượng ta ở đây phải rút về An Cựu, nhưng lại gặp địch ở đây, sau một trận giao chiến, tiểu đội phải chia thành hai tổ rút về Bổn Phổ và Đồng Lương.

6 giờ ngày 13, địch tăng cường một tiểu đoàn chiếm lĩnh trận địa và bắt đầu tiến công càn quét vào các trận địa của K105. Lực lượng của K105 đã tiêu diệt một trung đội địch, sau đó lui về chân núi Lâu.

Sau khi các lực lượng của ta rút lui, địch chiếm được xóm Chùa. Ta tổ chức phản kích, khôi phục trận địa của K105.

Cũng trong thời gian này, địch đột nhập vào nam bờ kênh, đánh vào phía nam (bên sườn, phía sau) đội hình phản xung phong của ta. Ta dùng đại liên, trung liên và AT diệt xe bọc thép M113, buộc địch phải chạy về.

11 giờ 35 phút ngày 13, địch dùng pháo binh, súng cối cùng máy bay trực thăng đánh phá địa bàn. Được xe bọc thép và máy bay chi viện, bộ binh và xe M113 xung phong vào trận địa của ta, nhưng chúng bị đánh lui ngay từ rìa làng.

Riêng hướng tiến công của đại đội bảo an vào Bổn Phổ, sau nhiều đợt tiến công, chúng đã chiếm được Bốn Phổ.

Từ 16 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút, được máy bay pháo binh chi viện, địch mở hai cuộc tiến công vào trận địa của ta, ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện của chúng. Nhưng do lực lượng ta thương vong nhiều nên đến 19 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12, đại bộ phận lực lượng ta phải rút lui.

Sau một ngày chiến đấu liên tục và quyết liệt với địch, ta diệt 180 tên, thu 30 súng các loại, một máy bộ đàm và một số quân trang, bắn hỏng 3 xe M113.

Chiến thắng địch càn quét ở Hương Chữ cho thấy: Để thắng địch có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, ta phải chuẩn bị thật chu đáo, nhanh chóng dự kiến hành động của địch khi bị ta tiến công. Khi chuyển vào phòng ngự phải khẩn trương củng cố công sự trận địa để hạn chế thương vong. Khi địch đột nhập trận địa phải tổ chức phản kích ngay, nhanh chóng khôi phục trận địa. Phải thực hiện đánh gần, không cho chúng phân tuyến mới bảo vệ được mình, để chiến đấu liên tục.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:21:40 am
TRẬN BA LÒNG - ĐÁ NỔI
CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 12 VÀ ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 55
(9.2.1964)

Trận tập kích của Đại đội đặc công 12 và Đại đội bộ binh 55 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị vào đại đội bảo an 912 (có 2 khẩu cối 81mm, 2 khẩu đại liên) và lực lượng cơ quan hành chính giữ quận lỵ Ba Lòng - Đá Nổi thuộc xã Triệu Nguyên, huyện Triệu Phong (nay thuộc huyện Đak Rông), tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta, tạo điều kiện đẩy mạnh đấu tranh chính trị của quần chúng, tiến lên giải phóng quận lỵ Ba Lòng.

17 giờ ngày 8 tháng 2, các đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. 19 giờ 30 phút, theo nhiệm vụ của các lực lượng tiềm nhập vào các vị trí được giao. Quá trình tiềm nhập, đại đội đặc công giữ được bí mật; bộ phận đánh địch ở thị trấn Đá Nổi có một số người bị cúm, ho nhiều; đơn vị phải dừng lại 25 phút, bố trí các đồng chí bị cảm đi sau, số còn lại vào vị trí bí mật; các tổ, mũi cắt và chui vào hàng rào thứ ba.

Khi mũi chủ yếu và thứ yếu đã áp sát mục tiêu, mũi ở tây bắc tới hàng rào thứ ba thì nghi bị lộ, mũi trưởng ra lệnh cho toàn mũi nổ súng đánh phủ đầu quân địch. Các mũi đồng loạt dùng thủ pháo, lựu đạn tiêu diệt từ mục tiêu này, đến mục tiêu khác, quân địch không kịp chống cự, vội vàng bỏ chạy tán loạn, chỉ một số lô cốt địch còn bắn được vài loạt. Ở nhà số 9, địch dùng tiểu liên bắn ra mũi hướng nam, lúc đầu gây cho ta khó khăn, chỉ ít phút sau ta đã tiêu diệt được, tạo điểu kiện cho các hướng, các mũi phát triển thuận lợi. Sau 20 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn quận lỵ Ba Lòng.

Bộ phận đánh địch ở thị trấn Đá Nổi, khi nghe tiếng súng ở Ba Lòng nổ, các bộ phận nhanh chóng vận động theo trục đường, tỏa ra lần lượt đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Một tiểu đội địch phát hiện thấy lực lượng ta, chúng hốt hoảng bỏ chạy, bọn ác ôn, chính quyền xã đang ngơ ngác chưa tìm được cách đối phó đã bị lực lượng ta bao vây và bắt tại chỗ.

Sau khi làm chủ quận lỵ Ba Lòng và thị trấn Đá Nổi, đơn vị tổ chức một bộ phận truy kích, bắt những tên ác ôn còn lẩn trốn, đồng thời tổ chức thu dọn chiến trường, cứu chữa thương binh của ta và tù binh địch, đưa chiến lợi phẩm ra ngoài.

5 giờ ngày 9 tháng 2, trận đánh kết thúc, 36 tên địch bị diệt, 18 tên bị thương, bắt 40 tên; loại khỏi vòng chiến đấu đại đội bảo an 912; phá tan cơ quan hành chính quận, xã và sở chỉ huy chi khu, hai trại lính, một chi cảnh sát, chi thông tin và trụ sở xã.

Nhờ có phương án chiến đấu sát các tình huống, nổ súng đúng thời cơ mà ta đã giành được thắng lợi giòn giã.

TRẬN LA THỌ CỦA DU KÍCH CÁC XÃ ĐIỆN HÒA VÀ ĐIỆN THỌ
(8 - 17.2.1965)

Trận tiến công của một trung đội du kích xã Điện Hòa và một trung đội du kích xã Điện Thọ, được tăng cường một tổ công binh, một tiểu đội hỏa lực vào một trung đội bảo an (30 quân), trang bị một cối 60mm, 2 đại liên, 2 máy thông tin PRC10, còn lại là tiểu liên chốt giữ cầu La Thọ nối thông đoạn đường sắt chạy qua các xã Điện Hòa và Điện Thọ thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nhằm tiêu diệt địch, bức rút chốt cầu La Thọ, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh của huyện phát triển.

Thực hiện nhiệm vụ trên giao, chỉ huy xã đội các xã Điện Hòa, Điện Thọ hạ quyết tâm sử dụng một bộ phận lực lượng cùng nhân dân bí mật phá các cầu ở hai đầu chốt La Thọ; bao vây, bức rút toàn bộ quân địch trong chốt, phá sập cầu La Thọ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đêm 7 tháng 2 năm 1965, tổ công binh cùng du kích Điện Thọ đánh sập cầu Câu Lâu, nhân dân đào phá đường xe lửa qua cầu Câu Lâu.

Sáng 8 tháng 2, ta dùng cối 60mm bắn vào chốt La Thọ. Địch gọi pháo bắn trả, sau đó dùng một tiểu đội ra lùng sục phía nam cầu. Du kích Điện Thọ chặn đánh diệt 5 tên, số còn lại rút chạy về chốt.

Sáng 9 tháng 2, đoàn tàu chở một đại đội bảo an từ Lệ Sơn phản kích ở Gò Nổi, nhưng đến chốt cầu La Thọ phải dừng lại. Nắm được thời cơ, du kích Điện Hòa vây chốt cầu Bàu Sấu. Đêm 9 tháng 2, tiểu đội địch giữ cầu Bàu Sấu vội chạy về chốt điểm La Thọ. Quân và dân xã Điện Hòa nhanh chóng phá sập cầu, phá đường ray, cô lập chốt điểm cầu La Thọ.

Những ngày tiếp theo, địch dùng pháo binh chi viện và cho quân phản kích để mở đường về Lệ Sơn và ngã tư Nông Sơn, nhưng đều bị ta chặn đánh, diệt nhiều tên. Sáng 16 tháng 2, sau nhiều ngày bị ta vây hãm, số địch còn lại trong chốt phải tháo chạy về hướng Bàu Sấu, ta truy kích diệt 20 tên, bắt 14 tên, một số liều mạng vượt sông Bàu Sấu chạy về Lệ Sơn.

Sau 10 ngày bao vây, tiến công, du kích loại khỏi vòng chiến 45 tên, bắt 14 tên, thu một cối 60mm, một đại liên, 20 súng, đánh sập 3 cầu, phá một đầu máy và 3 toa xe.

La Thọ là một trận đánh điển hình của phong trào du kích chiến tranh, của sự vận dụng sáng tạo các cách đánh của du kích, của sự kết hợp chặt chẽ giữa diệt địch với phá giao thông, phá phương tiện chiến tranh buộc địch phải liên tục ra đối phó để bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 10:22:51 am
TRẬN B’TRỘ CỦA CÁC ĐẠI ĐỘI 210, 24
(5.3.1965)

Trận tập kích của Đại đội 210 bộ đội địa phương tỉnh Lâm Đồng và Đại đội 24 Quân khu 6 vào hai trung đội dân vệ (55 quân) giữ đồn B’Trộ, được trang bị ba khẩu trung liên, còn lại là súng trường và quân địch ở ấp B’Trộ; nhằm tiêu diệt địch, phá ấp, giải phóng dân khỏi ách kìm kẹp của địch.

Để hoàn thành nhiệm vụ, chỉ huy trận đánh giao nhiệm vụ cho Đại đội 210 (4 trung đội) diệt địch trong đồn B’Trộ, Đại đội 24 diệt địch ở ấp B’Trộ.

17 giờ 20 phút ngày 5 tháng 3, quân ta nổ súng tiến công. Ngay loạt đạn đầu ta tiêu diệt địch ở chòi gác số 1, số 2; ĐKZ tiêu diệt địch ở lô cốt số 1, 2; cối 60mm chế áp vào khu chỉ huy. Không thấy địch phản ứng, đại đội trưởng lệnh hỏa lực ngừng bắn và lệnh cho bộ đội xung phong tiêu diệt địch. Hướng Trung đội 1 xung phong qua cổng chính chiếm lô cốt số 1, khu chỉ huy. Hướng Trung đội 2 tiêu diệt chòi gác số 3, dùng bộc phá mở cửa, xung phong vào đồn đánh chiếm lô cốt số 3, số 2; bắt liên lạc với Trung đội 1 ở khu chỉ huy lúc 17 giờ 28 phút.

Trên hướng Đại đội 24, hỏa lực kiềm chế địch và bộc phá mở cửa thuận lợi. Chớp thời cơ, đại đội trưởng ra lệnh cho các bộ phận xung phong tiêu diệt địch trong ấp B’Trộ bị tiến công bất ngờ, hầu hết số thanh niên chiến đấu trong ấp đầu hàng, lính dân vệ đang ăn cơm chiều trong ấp bỏ chạy về đồn. Khi địch vào trong đồn, đại đội trưởng Đại đội 210 ra lệnh: “Đồn đã bị chiếm, tất cả bỏ súng đầu hàng”. Bị bất ngờ, bọn lính trong thế bị động không kịp đối phó buộc phải bỏ súng đầu hàng.

Kết quả trận đánh, 55 tên địch bị diệt, 70 thanh niên chiến đấu bị giải giáp, giải phóng ấp B’Trộ (700 dân); thu 55 súng các loại, toàn bộ quân trang quân dụng trong đồn; hỗ trợ cho đồng bào phá ấp, phá kìm, mở rộng vùng giải phóng.

Trận đánh thắng lợi nhờ chỉ huy nắm chắc thời cơ có lợi, tinh thần địch đang hoang mang dao động; kết hợp tiến công với làm tốt công tác địch vận, buộc địch phải đầu hàng để hạn chế thương vong trong điều kiện không cần phải nổ súng.

TRẬN TÀU LST-550 CỦA ĐẶC CÔNG BIỆT ĐỘNG KHU SÔNG ĐÀ
(27.3.1965)

Trận tập kích, phá hủy bí mật của các chiến sĩ đặc công biệt động (Quế, Bé, Lung, Long) do đồng chí Quế chỉ huy, được trang bị hai khối bộc phá (mỗi khối 20kg), 8 quả lựu đạn M26, 200m dây điện, một máy điểm hỏa và hai thuyền nan; vào tàu LST-550 đang đậu tại cảng Đà Nẵng, nhằm phá hủy phương tiện chiến tranh, tiêu diệt địch, phối hợp tác chiến với chiến dịch Xuân Hè 1965 của quân khu.

20 giờ ngày 27 tháng 3, chiếc thuyền nan ngụy trang chở ba chiến sĩ cùng trang bị vũ khí từ cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) tiến ra cửa biển Đà Nẵng, nơi tàu LST-550 đang đậu.

Khi đến gần tàu địch, do có gió to, thủy triều xuống thấp, nước sông chảy mạnh, thuyền không đến sát mạn tàu được, các chiến sĩ phải cho thuyền vượt qua tàu và ghé vào bờ, cách tàu địch khoảng 150m. Một người ở lại thuyền quan sát, hai người mang bộc phá lặn ngược dòng nước, tiếp cận tàu địch. Đến mục tiêu, hai người đặt hai khối bộc phá vào các vị trí dưới khoang máy của tàu địch, đấu bộ phận gây nổ và trở về thuyền.

24 giờ ngày 27 tháng 3, đồng chí Quế điểm hỏa, hai khối bộc phá nổ làm cả thành phố rung chuyển, cả khu cảng náo loạn, 5 phút sau địch báo động, pháo sáng bắn dọc sông Hàn và đưa lực lượng đến cứu. Ba người với trang phục dân đánh cá đưa thuyền xuôi dòng về nhà cơ sở ở Nại Hiên Đông an toàn.

Tàu LST-550 bị đánh chìm, 70 xe Jeép, hàng trăm khẩu đại liên và 12,8mm bị phá hủy, 15 tên địch bị diệt.

Trận đánh thắng lợi nhờ khéo ngụy trang, nghi binh để trinh sát tiếp cận tàu địch, giữ được bí mật, bất ngờ để tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:08:14 pm
TRẬN LỆ THANH CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 952
(31.5 - 1.6.1965)

Trận tiến công quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Tiểu đoàn bộ binh 952 - Mặt trận Tây Nguyên, được tăng cường một đại đội ĐKZ 75mm và 57mm (4 khẩu), một đại đội cối 82mm (4 khẩu), nhằm vào lực lượng địch ở quận Lệ Thanh (còn gọi là Thanh An), cách ngã ba Phước Thiện khoảng 3km về phía bắc, thuộc huyện 4 (Chư Pả), nay thuộc xã Ia Kla, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

15 giờ ngày 31 tháng 5, tiểu đoàn từ vị trí giấu quân ở Đức Nghiệp vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

2 giờ 10 phút ngày 1 tháng 6, các loại hỏa lực cối, ĐKZ, B40, bộc phá đồng loạt nổ. Ngay phút đầu, đạn cối đã trùm lên sở chỉ huy, khu nhà lính và các trận địa cối địch, ĐKZ bắn vượt trên hàng rào diệt các lô cốt, hỏa điểm trên hướng được phân công.

Trên hướng chủ yếu, các chiến sĩ bộc phá đã đồng loạt mở xong lớp rào cuối cùng, rồi bắn pháo hiệu. Lập tức cối bắn vào sâu trong đồn. Chớp thời cơ, xung kích đồng loạt xung phong đánh thẳng vào các mục tiêu được phân công. Sau 10 phút tiến công, ta chiếm được các lô cốt 1, 2, nhà số 2 diệt ổ trung liên phía nam quận lỵ. 2 giờ 30 phút, ta chiếm được nhà chỉ huy chi khu, phát triển diệt các trận địa cối và các. bốt gác đồn, làm chủ hoàn toàn phía nam quận lỵ, diệt và bắt nhiều địch.

Trên hướng thứ yếu, khi bộ đội xung phong gặp cối của ta bắn chặn trước đội hình, đại đội phải dừng lại. Thừa cơ địch tổ chức hỏa lực chặn trước cửa mở và bắn vào đội hình đơn vị. Trước tình hình đó, chỉ huy đại đội đã kịp chấn chỉnh, tập trung hỏa lực diệt hỏa điểm trong lô cốt địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong, phát triển chiến đấu vào bên trong. Sau 20 phút chiến đấu, ta chiếm được lô cốt số 3 và số 4, nhà cố vấn, nhưng chưa chiếm được nhà lính bảo an và trận địa cối. Đại đội 2 phải tổ chức lực lượng, tập trung hỏa lực và xung lực tiếp tục đột kích. Sau 20 phút tiến công, ta làm chủ hoàn toàn khu vực bắc quận lỵ, diệt và bắt hoàn toàn đại đội bảo an 142.

Trong khi ta đánh địch trong quận lỵ, các phân đội đánh địch ở ngoại vi diệt các tổ cảnh giới, các trạm gác ở tây bắc, đông bắc, đông nam để bảo vệ bên sườn, phía sau đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, sau đó triển khai lực lượng sẵn sàng chặn viện binh từ các ấp và dinh điền tới.

Sau gần một giờ tiến công, 110 tên địch bị diệt, 12 tên bị bắt làm tù binh. Ta thu 2 khẩu đại liên, một khẩu cối 81 mm, 66 khẩu súng các loại khác và 47 máy vô tuyến, hữu tuyến điện; phá hủy 6 xe vận tải, ba kho đạn, một hầm xăng.

Trận Lệ Thanh để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm chắc địch, ta, địa hình, để xây dựng quyết tầm và tổ chức chỉ huy chiến đấu; về vận dụng cách đánh sáng tạo, sử dụng lực lượng thích hợp, phát huy được sở trường của đặc công và cách đánh hiệp đồng binh chủng của bộ binh để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu một cách nhanh chóng.

TRẬN THUẬN LỢI
(10-12.6.1965)

Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 1 Quân khu Miền Đông (nay thuộc Sư đoàn 9 Quân đoàn 4), được tăng cường một trung đội 12,7mm đánh vào tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 và tiểu đoàn 7 dù địch đổ bộ đường không xuống đồn điền Thuận Lợi (nay thuộc xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước).

Để tiêu diệt địch đổ bộ đường không, trung đoàn tiến hành nghiên cứu địch, địa hình, chuẩn bị nhiều phương án đánh địch.

5 giờ ngày 10 tháng 6 năm 1965, trung đoàn vào chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng đánh địch theo các phương án dự kiến.

8 giờ 40 phút, để chiếm lại chi khu Đồng Xoài, địch cho 31 lần chiếc trực thăng đổ khoảng hai đại đội xuống khu vực bãi 1, triển khai đội hình hành quân về hướng nam. Ngay lập tức Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 được lệnh cho một trung đội chặn địch lại trên tỉnh lộ 1A, toàn bộ tiểu đoàn cơ động đánh địch ở bãi 1. Tiểu đoàn 3 cho một đại đội vận động xuống cùng Tiểu đoàn 2 diệt địch ở bãi 1.

Hiệp đồng theo tiếng súng, các đại đội 7 và 6 phối hợp chặt chẽ, bao vây, chia địch thành ba cụm. lẩn lượt tiêu diệt từng cụm quân địch. Đến 9 giờ 30 phút, ta làm chủ trận địa; loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 100 quân địch, bắt 65 tên, thu 130 súng và 10.000 viên đạn. Ngay sau đó, Tiểu đoàn 2 được lệnh lui quân về khu vực chiếm lĩnh, bổ sung đạn dược, sẵn sàng đánh trận tiếp theo.

11 giờ 40 phút, sau khi trinh sát nhiều lần khu vực sân bay, địch dùng gần 30 lần chiếc trực thăng đổ quân xuống bãi 2 (giáp phía đông sân bay). Chưa kịp triển khai đội hình, chúng đã bị mìn định hướng của ta gài từ trước diệt một số tên. Đồng thời, lực lượng cảnh giới của Tiểu đoàn 1 ém sẵn diệt một số tên, chặn quân địch để tiểu đoàn bao vây địch trong khu vực đổ bộ.

Hiệp đồng chặt chẽ giữa hỏa lực và xung lực, Tiểu đoàn 1 bao vây từng cụm quân địch, lần lượt tiêu diệt địch. Đến 12 giờ, quân ta tiêu diệt và làm bị thương khoảng 60, bắt 21 quân địch; thu 45 súng các loại; sau đó nhanh chóng cơ động lực lượng về vị trí chiếm lĩnh, củng cố lực lượng, bổ sung đạn dược, sẵn sàng chờ lệnh.

Sau hai lần diệt địch, để tránh địch đánh phá vào vị trí giấu quân, trung đoàn quyết định điều chỉnh đội hình; chọn khu vực bãi 2 để tiêu diệt địch lớn hơn.

15 giờ 45 phút ngày 12 tháng 6, địch không đổ bộ đường không mà sử dụng tiểu đoàn 7 dù theo tinh lộ 1A vào làng Một. Trung đoàn quyết định tập trung toàn bộ lực lượng của trung đoàn đánh địch.

15 giờ 57 phút, khoảng một đại đội địch tiến vào Nhà Thương, tập trung hỏa lực yểm trợ cho một trung đội vượt sân bay vào làng Hai. Một cánh quân khác đến đông nam sân bay triển khai.

Được hỏa lực chi viện, các tiểu đoàn hình thành nhiều mũi, nhiều hướng bao vây, chia cắt địch, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, một số địch theo tỉnh lộ 1A chạy về hướng bắc, một số chạy về hướng nam. Tiểu đoàn 1 truy kích, diệt một số tên, còn khoảng một đại đội chạy lên chiếm điểm cao, có công sự cũ chống cự quyết liệt.

16 giờ 35 phút, các tiểu đoàn l và 2 liên lạc được với nhau, đã nhanh chóng tổ chức hỏa lực đánh địch và thành nhiều mũi tiến công. 16 giờ 55 phút, ta làm chủ chiến trường, địch chết tại chỗ khoảng một đại đội. Cùng thời gian, Tiểu đoàn 3 phát triển lên hướng bắc, đánh thẳng vào chỉ huy tiểu đoàn 7, lúc này Đại đội 1 của Tiểu đoàn 1 cũng phát triển từ Nhà Thương lên hiệp đồng với Tiểu đoàn 3.

Sau 10 phút chiến đấu, địch bị thiệt hại một số, số còn lại bỏ chạy về phía nam. Đơn vị tiếp tục truy kích địch.

Số địch bị Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đánh chạy dồn lên hướng bắc và số địch bị Tiểu đoàn 3 đánh chạy dồn xuống hướng nam, hai cánh này gặp nhau còn chừng 200 tên, một khẩu đại liên, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 60mm co cụm lại chống đỡ.

Trung đoàn cử một bộ phận vận động gấp xuống khu Vườn Chuối, Nhà Thiếc đón lõng chận địch không cho chúng chạy qua đông đường 1A, nhưng do tổ chức chậm một số địch chạy thoát.

Khi chạy xuống chỗ trũng, địch chia làm hai cụm tập trung hỏa lực chống trả ta quyết liệt. Ta tổ chức lại, tiếp tục tiến công, cả ba tiểu đoàn đồng loạt xung phong đánh mạnh vào hai cụm địch. Tiểu đoàn 3 diệt cụm chỉ huy tiểu đoàn 7 địch, còn một cụm bị Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 tiêu diệt.

17 giờ 35 phút, ta làm chủ hoàn toàn trận đánh, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 700 quân địch, bắn rơi 3 máy bay phản lực, 3 máy bay khu trục cánh quạt, 2 máy bay trực thăng HU-1A. Ta thu 337 khẩu súng các loại, 15.000 viên đạn, 36 máy vô tuyến, 2 máy 15W, 22 máy PRC10 và nhiều quân trang, quân dụng.

Chiến thắng quân địch đổ bộ đường không ở Thuận Lợi cho thấy: phải chuẩn bị chiến đấu cụ thể, tỷ mỷ, chu đáo và khẩn trương; chọn trận địa phục kích bí mật, tạo được bất ngờ; tổ chức chiến đấu hợp lý; thực hiện chặn đầu, khóa đuôi chặt, bao vây chia cắt nhanh, tạo thế có lợi tiêu diệt gọn quân địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:09:04 pm
TRẬN DIÊN AN CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(27.6.1965)

Trận tập kích của du kích xã Diên An, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (31 người), trang bị một khẩu trung liên, bốn khẩu tiểu liên, còn lại là súng trường vào một trung đội dân vệ (30 - 32 quân), hầu hết là người địa phương, trang bị chủ yếu là các bin, súng trường và lựu đạn, nhằm tiêu diệt địch, khống chế bọn tay sai, ác ôn, phá thế kìm kẹp của địch.

15 giờ 30 phút ngày 27 tháng 6, lực lượng du kích và đội công tác tập kết tại Miếu Hoang, nắm lại tình hình các mặt trước khi vào chiếm lĩnh trận địa.

16 giờ 30 phút, quân ta nổ súng tiến công. Hướng chủ yếu thành hai mũi đánh chiếm lô cốt ngoài cổng gác, khống chế cổng ra vào, dùng lựu đạn, tiểu liên, súng trường đánh vào trụ sở. Trên hướng thứ yếu, du kích từ trường tiểu học Diên An đánh vào.

Bị tiến công bất ngờ, địch trong trụ sở không kịp đối phó, hoảng hốt chạy tán loạn ra trước sân. Trung liên của ta trên hướng chủ yếu bắn mạnh vào trụ sở, uy hiếp toàn bộ quân địch. Các hướng đồng loạt xung phong đánh chiếm trụ sở, địch không dám chống cự phải bỏ súng đầu hàng, một số tên bỏ chạy, qua cánh đồng về ấp Phú An Bắc. Ta làm chủ trận đánh.

Sau 10 phút chiến đấu, du kích Diên An và đội công tác đã loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội dân vệ, tiêu diệt 8 tên, làm bị thương một tên, thu 4 súng và 8 quả lựu đạn.

Nhờ nắm chắc tình hình, chọn hướng tiến công đúng và làm tốt khâu giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng các bộ phận; triển khai lực lượng bí mật, hình thành thế bao vây chia cắt ngay từ đầu, chọn thời cơ nổ súng đúng lúc nên đã giành thắng lợi nhanh chóng.

TRẬN VẠN TƯỜNG CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HUYỆN BÌNH SƠN
(18.8.1965)

Trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 1, Đại đội 21 bộ Đội huyện Bình Sơn và du kích trên địa bàn tác chiến chống lại cuộc càn của trung đoàn 7 và trung đoàn 4 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ vào các thôn Nam Yên, Ngọc Hương, Vạn Tường, An Cường, Thanh Thủy, An Thái... thuộc các xã Bình Thông, Bình Thiệu, Bình Kỳ (nay là hai xã Bình Hải, Bình Hòa), huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt địch, giữ vững quyền chủ động đánh địch của quân và dân ta khi quân Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam.

Phát hiện Trung đoàn 1 Quân giải phóng dừng chân ở Vạn Tường, Mỹ quyết định sử dụng lữ đoàn 1 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ mới đổ bộ lên Chu Lai và từ biển đổ bộ vào mở cuộc hành quân tìm diệt mang tên “ánh sáng sao” nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta.

Nhiều năm bám trụ đánh địch ở chiến trường nên mỗi khi dừng chân, trung đoàn đều có kế hoạch tác chiến tại chỗ và tập dượt theo phương án một cách chu đáo. Ở Vạn Tường, trung đoàn dự kiến năm phương án đánh địch cả khi chúng tiến công bằng đường bộ, đổ bộ đường không, đổ bộ đường biển.

Theo dõi chặt chẽ hoạt động của địch ở gần khu vực đóng quân, trung đoàn nhận định: khu vực đóng quân đã bị lộ, địch chuẩn bị càn quét. Trung đoàn lệnh cho các đơn vị củng cố công sự, sẵn sàng chiến đấu.

12 giờ ngày 17 tháng 8, trung đoàn báo động đơn vị theo kế hoạch tác chiến. Trong khi đang chuẩn bị chiến đấu thì các loại máy bay trinh sát địch vẫn thường xuyên hoạt động, ngoài khơi tàu địch vẫn tuần tiễu; 8 tàu đổ bộ, 2 tàu khu trục vẫn di chuyển dọc bờ biển An Cường, Thanh Thủy. Pháo binh, pháo hạm bắn vào điểm cao 61 và quanh khu vực Vạn Tường, An Thái.

Trước sự hoạt động của địch, trung đoàn lệnh cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu chống địch càn quét.

4 giờ 30 phút ngày 18, máy bay phản lực, pháo hạm, pháo mặt đất đánh phá chuẩn bị vào Long Bình, An Cường, An Lộc khoảng 30 phút. 5 giờ đến 6 giờ 45 phút, địch vừa dùng máy bay phản lực oanh tạc, vừa lần lượt đổ bộ đường không, đường biển và tiến công đường bộ vào các khu vực: tiểu đoàn 3 trung đoàn 7 đổ xuống núi Phổ Tinh (khoảng 200 quân); tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 đổ xuống phía đông làng Ngọc Hương; tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 được các tàu đổ bộ đổ vào phía bắc bờ biển An Cường (đông nam Vạn Tường 2 ki-lô-mét). Tiếp đó, một đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 được phi pháo chi viện vượt sông Trà Bồng đánh chiếm Bình Giang rồi tiến xuống An Lộc chặn đường rút lui của ta.

Trước sức tiến công của địch, trung đoàn lệnh cho các đơn vị triển khai đánh địch tại chỗ.

Ngay khi địch đổ quân đường biển, đổ bộ đường không và tiến công đường bộ đã bị các đơn vị chặn đánh quyết liệt. Từ bãi biển An Cường đến các khu vực đồi phía đông thôn Ngọc Hương, tây bắc đồi Tranh, tiến đến đâu quân Mỹ cùng bị quân ta chặn đánh.

Bị đánh bất ngờ, địch lùi lại dùng đại liên, súng cối và hỏa lực trên xe tăng, xe bọc thép bắn mạnh vào đội hình của trung đoàn, đồng thời tiếp tục cho trực thăng đổ quân xuống phía đông Ngọc Hương, nơi vừa bị trung đoàn đánh thiệt hại.

Mũi tiến quân đường bộ của địch sau khi vượt sông Trà Bồng tiến vào Tân Hy, Đông Lễ bị Đại đội 21 và du kích chặn đánh. Nhiều lần tiến công nhưng đều bị đánh bại, chúng không hợp vây được với các cánh quân ở An Lộc.

Vượt qua bom đạn ác liệt của địch, các đơn vị vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu: khi thì vận động tiến công, khi thì phòng ngự, khi thì phục kích...; liên tục đánh địch khi chúng đang đổ quân, khi co cụm dừng lại, cả khi chúng đang tiến công; đánh địch trên bộ, đánh máy bay, đánh xe tăng...

Sau gần 9 giờ chiến đấu quyết liệt, ta giữ được Lộc Tự - Xóm Chuối - Nam Yên và một số nơi khác. Địch không chiếm được mục tiêu, bị loại khỏi vòng chiến đấu 919 tên. 22 xe tăng, xe thiết giáp bị phá hủy, 13 máy bay trực thăng bị bắn rơi. Ta thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Cuộc hành quân của địch vào khu vực Vạn Tường bị đánh bại hoàn toàn.

Chiến thắng Vạn Tường cho thấy:

- Xây dựng quyết tâm và lòng tin đánh thắng quân Mỹ là nhân tố quyết định thắng lợi.

- Xây dựng thế trận và chỉ đạo cách đánh sáng tạo là một trong những yếu tố đảm bảo đánh thắng.

- Khi đứng chân bất kỳ ở đâu đều phải nghiên cứu kỹ địa hình, tình hình địch, ta, chuẩn bị phương án chiến đấu toàn diện và phải lấy tiến công là chủ yếu.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:09:50 pm
TRẬN ĐƯỜNG 100 CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 1
(2.9.1965)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 - Quảng Đà (3 đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến, được tăng cường 2 trung đội càn Đại đội bộ binh 1 huyện Điện Bàn, 2 trung đội du kích các xã Điện Thọ, Điện Hồng; đánh tiểu đoàn 4 trung đoàn 51 (ngụy) trên đường 100, đoạn giữa hai xã Điện Thọ và Điện Hồng, huyện Điện Bàn; tỉnh Quảng Đà; nhằm tìm diệt, phá các cuộc hành quân càn quét, cướp phá lúa gạo của nhân dân vùng giải phóng.

Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn chọn trận địa phục kích trên đường 100, đoạn từ ki-lô-mét 6 đến ngã ba Trùm Giao và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Đại đội 1 được tăng cường một khẩu ĐKZ 75mm, một khẩu súng máy phòng không 12,7mm, làm nhiệm vụ chặn đầu và là lực lượng đối diện của trận đánh. Đại đội 2 được tăng cường một khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu cối 81mm, bố trí ở thôn Đa Hòa, Trùm Giao, tiêu diệt địch trên hướng tiến công chính diện. Đại đội 3 (thiếu một trung đội) được tăng cường một trung đội bộ đội phương huyện Điện Bàn và một khẩu ĐKZ 75mm, bố trí từ chỗ tiếp giáp Đại đội 2 đến ki-lô-mét 6 (đường sắt); sử dụng một trung đội khóa đuôi, còn đại bộ phận cùng Đại đội 2 diệt địch trên hướng chủ yếu. Trung đội còn lại của Đại đội 3 làm dự bị của tiểu đoàn. Trung đội còn lại của huyện Điện Bàn cùng du kích Điện Thọ, Điện Hồng bám đánh địch khi chúng tiến vào hai xã, buộc chúng phải đi theo đường 100.

18 giờ ngày 1 tháng 9, tiểu đoàn hành quân từ xã Lộc Quý, vượt sông Vu Gia vào chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị đánh địch.

6 giờ 30 phút đến 8 giờ 30 phút, pháo 105mm từ Vĩnh Điện bắn dọc đường 100, máy bay trinh sát quần lượn dọc hai bên đường từ Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa. Sau khi pháo bắn, một tiểu đội công binh dò mìn lên trước, tiếp đó là một đại đội bảo an, 6 xe bọc thép M113 và đến Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 51 hành quân. Khi pháo ngừng bắn, đội hình chủ yếu của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Toàn trận địa của ta nổ súng. Được lệnh xung phong, tiểu đoàn lệnh cho cối 81mm bắn vào ki-lô-mét 6, tiếp đó, các đại đội xung phong ra mặt đường tiêu diệt địch.

14 giờ 30 phút, khi ta đang tảo trừ tàn quân địch, khoảng một đại đội địch ở Thanh An lợi dụng bờ đất co cụm chống trả. Tiểu đoàn đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. Qua mạng thông tin, ta biết một bộ phận của Tiểu đoàn 4 địch cùng 4 xe bọc thép đang chạy về Vĩnh Điện. Tiểu đoàn cho một bộ phận vận động về Vĩnh Điện diệt địch, lực lượng còn lại thu dọn chiến trường, giải quyết thương binh, tử sĩ.

18 giờ, trận đánh kết thúc, 2 đại đội của Tiểu đoàn 4 và một đại đội bảo an bị diệt; 350 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu 150 khẩu súng các loại, bắn cháy 2 xe M113.

TRẬN XUÂN SƠN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 261
(30.9.1965)

Trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 261 Quân khu 8, trang bị có 11 khẩu ĐKZ 57mm, 8 khẩu 12,7mm, 2 khẩu cối 82mm, một phân đội súng phun lửa và một phân đội đặc công vào quân địch càn quét vào khu vực đông và tây sông Ba Rai, thuộc các xã Xuân Sơn và Hội Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho; nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng của địa phương.

9 giờ, địch từ Ba Dừa theo lộ Thầy Thanh tiến vào trận địa phục kích. 10 giờ, bộ phận đi đầu tới gần, bộ phận cảnh giới của Đại đội 3 nổ súng diệt một số tên. Địch phát hiện trận địa, dùng trực thăng bắn phá và máy bay ném bom bừa bãi xuống trận địa. Các chiến sĩ vừa quan sát địch, vừa lợi dụng công sự để tránh bom đạn, kiên cường bám trụ đánh địch, đẩy lùi nhiều đợt tiến công vào trận địa. 11 giờ, địch chiếm được một phần trận địa Đại đội 3 ở bắc lộ Thầy Thanh. Chúng củng cố tuyến công sự, chuẩn bị bàn đạp tiến công. 12 giờ, 10 tàu chở quân đổ bộ lên Hiệp Đức, phía tây đội hình Đại đội 1 và cùng lúc đó, cứ sau một đợt phi pháo đánh phá, bộ binh địch lại xung phong đánh chiếm trận địa ta. Tới 16 giờ, 4 lần địch tiến công đều bị đánh bại. Phối hợp với hướng tiến công trên bộ, địch cho 6 tàu chiến tiến vào trận địa Đại đội 1. Như vậy Đại đội 3 bị địch tiến công từ ba hướng. Tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 1 sử dụng 3 tiểu đội bộ binh, có 3 khẩu B40 vượt lên chặn đánh 6 tàu chiến của địch đã vượt qua trận địa Đại đội 1; bố trí lại trận địa 3 khẩu ĐKZ 57mm để đánh tàu địch vào tiếp sau và tàu địch chạy ra. Đại đội 3 sử dụng 3 khẩu B40 cùng với 2 tiểu đội bộ binh vượt lên chặn địch lại để tiêu diệt chúng trên sông. Sau một giờ chiến đấu, các đơn vị bắn cháy nhiều tàu chiến địch. 18 giờ 30 phút, tiểu đoàn nắm lại tình hình, cho đơn vị rời khỏi trận địa.

Sau một ngày chiến đấu, 500 quân ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu, 5 tàu chiến bị bắn chìm (có một tàu đầu hàng). Ta thu một cối 81mm, một súng 12,7mm, 2 đại liên, nhiều loại vũ khí khác; phá hủy một khẩu ĐKZ 57mm, một súng 12,7mm, bắn rơi 5 máy bay.

Trận chống càn thắng lợi cho thấy: Các lực lượng phải tích cực phản kích nhỏ tiêu diệt địch trước trận địa; khi di chuyển trận địa phải chú ý bảo vệ trận địa cũ, không để địch lợi dụng đánh lại ta; tổ chức trận địa đánh tàu chiến địch hợp lý để phát huy được sức mạnh tiêu diệt địch, bảo vệ mình.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:10:30 pm
TRẬN TÂN LỆ CỦA K10 ĐẶC CÔNG
(20.10.1965)

Trận tập kích của K10 đặc công Quảng Trị (32 người), được tăng cường 5 trinh sát của phân khu Trị Thiên, có lực lượng của K8 và du kích địa phương phối hợp vào 2 tiểu đoàn địch được trang bị tiểu liên, trung liên, đại liên, trong căn cứ có 2 khẩu pháo 155mm, 2 khẩu pháo 105mm, 2 xe tăng, một số xe quân sự, một kho đạn và nhiều đồ dùng quân sự khác ở Tân Lệ thuộc xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt, phá kế hoạch chốt giữ của địch, nối thông hành lang vào Nam ra Bắc.

Đêm 20 tháng 10 năm 1965, đơn vị bí mật tiếp cận địch. Khi toàn bộ đơn vị đã sẵn sàng nổ súng thì được tin có một tiểu đoàn địch mói được điều đến chi viện cho Ba Lòng. Sau khi hội ý lãnh đạo và chỉ huy, đơn vị quyết tâm tổ chức thành ba mũi tiến công căn cứ địch.

24 giờ, mũi chủ yếu vượt qua 7 lớp rào thép gai và hào sâu đột nhập vào vị trí chỉ huy, nổ súng phát lệnh tiến công. Ngay lập tức các mũi khác lao lên dùng mìn, thủ pháo, lựu đạn, tiểu liên diệt các mục tiêu được phân công. Bị đánh bất ngờ và ngay từ đầu chỉ huy bị diệt nên quân địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy.

Sau 30 phút chiến đấu, 2 tiểu đoàn địch ở Tân Lệ bị thiệt hại nặng, 360 tên bị tiêu diệt, 20 tên bị bắt; 4 khẩu pháo và 16 xe quân sự bị phá hủy; một kho đạn bị đốt cháy.

Ta thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

TRẬN ĐƯỜNG 21 CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 320
(23.10.1965)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn 320 bộ đội Mặt trận Tây Nguyên nhằm vào chiến đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 địch trên đường 21 (nay là đường 6B), đoạn từ bắc điểm cao 601 đến điểm cao 538 (nay thuộc ba xã: Ia Tô, Ia Me, Ia Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai).

Trong chiến dịch Plây Me, khi quân ta vây hãm dồn Plây Me, diệt đồn Chư Ho, địch buộc phải đưa lực lượng ra ứng cứu giải tỏa. 12 giờ ngày 23 tháng 10, quân địch từ Phú Mỹ theo đường 21 tiến về trận địa ta. Địch tiến quân khá thận trọng nên 16 giờ 52 phút, bộ phận đi đầu mới đến trận địa Đại đội 1. Ngay lập tức, ta nổ súng, chiếc xe tăng đi đầu và chiếc thứ hai trúng đạn, đội hình hành quân của địch ùn lại. Chớp thời cơ, toàn Tiểu đoàn 635 nổ súng, tiếp đó Tiểu đoàn 334 đồng loạt xả đạn vào quân địch. Đồng thời hỏa lực 12,7mm đánh máy bay trực thăng của địch. Từ các hướng, các mũi tiến công của quân ta xông ra mặt đường, liên tục diệt xe tăng, bộ binh địch.

Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt đến 18 giờ 30 phút ngày 23 tháng 10, quân địch trong trận địa cơ bản bị tiêu diệt, còn lại 6 xe tăng và một số bộ binh co cụm về đồi Cây Độc Lập, bốn xe khác cụm lại ở bắc điểm cao 538, hai đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 và một số xe khác co về bình độ 600 (gần ngã ba Ogri). Trước tình hình đó, trung đoàn hạ quyết tâm tổ chức lực lượng tiêu diệt quân địch co cụm. Nhưng do nắm địch không chắc, tổ chức chiến đấu chậm, hành động của bộ đội bị địch phát hiện và đối phó quyết liệt, trận đánh không thành. Ngày 24, địch dùng trực thăng bốc chỉ huy và cố vấn Mỹ về Plây Cu. Đêm 24 tháng 10, ta kết thúc trận đánh.

Trận phục kích đạt hiệu suất cao, 900 quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 6 tên bị bắt; 29 xe M113, 6 xe tăng, 6 xe đạn và gần 40 xe GMC, 2 khẩu pháo 105mm bị phá hủy, 3 máy bay phản lực bị bắn rơi. Ta thu nhiều súng, đạn và các quân trang, quân dụng.

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về chọn trận địa và cách đánh phục kích; về tổ chức lực lượng đánh cơ giới và đánh địch co cụm; về tổ chức hiệp đồng trong chiến đấu.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:11:13 pm
TRẬN LAI VU CỦA CÁC TIỂU ĐOÀN PHÁO PHÒNG KHÔNG 14, 1, 77
(5.11.1965)

Trận đánh máy bay Mỹ nhằm bảo vệ vững chắc cầu Lai Vu trên quốc lộ số 5, con đường huyết mạch nối cảng Hải Phòng với Thủ đô Hà Nội.

Sau khi đánh phá các tỉnh, thành phố như Quảng Ninh, Hà Bắc, Hải Phòng, Mỹ cho máy bay trinh sát tăng cường hoạt động dọc đường 5. Theo dõi mức độ hoạt động của không quân địch, ta nhận định sẽ đánh phá đường 5 mà trọng điểm là hai cầu Lai Vu và Phú Lương.

Để bảo vệ cầu Lai Vu, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân sử dụng Tiểu đoàn 14 pháo phòng không 37mm, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 77 pháo phòng không 57mm, tổ chức trận địa đánh địch ở xã Ái Quốc (Nam Sách) chủ yếu bảo vệ cầu Phú Lương và sẵn sàng đánh địch bảo vệ cầu Lai Vu. Tham gia chiến đấu còn có dân quân tự vệ của 20 xã vòng ngoài được trang bị đại liên, trung liên và súng trường đánh địch ở độ cao thấp.

9 giờ 30 phút ngày 5 tháng 11, Mỹ huy động 20 máy bay chiến thuật của Hải quân vào đánh cầu Lai Vu từ hai hướng đông nam và đông bắc.

Phát hiện máy bay địch bay thấp, nhiểu tốp bất đầu nâng độ cao đánh cầu Lai Vu theo hướng 12, Tiểu đoàn 14 chủ động chiến đấu, tập trung hỏa lực bắn về hướng 12. Đại đội 21 súng máy phòng không 14,5mm quan sát thấy hai máy bay địch bay ở độ cao 400m, dọc theo đường tản vào đánh cầu, toàn đại đội tập trung đánh vào đội hình địch.

Cùng lúc đó, từ các hướng địch lao vào cắt bom đánh phá cầu; các đại đội 18, 19, 20 cùng các lực lượng khác tập trung đánh địch theo hướng 12 tạo thành lưới đạn bọc lấy những chiếc máy bay địch.

Các tiểu đoàn 1, 77 bảo vệ cầu Phú Lương phát hiện địch đánh cầu Lai Vu đã chủ động phối hợp đánh địch. Các chốt bắn máy bay địch của dân quân tự vệ ở Lai Vu, ở Hà Thanh, ở Ngọc Châu, tiến cùng với các chốt đón lõng địch ở Đồng Xá, Đồng Gia, Kim Thành, đều tổ chức đánh địch, cùng bộ đội chủ lực liên tục chặn đánh máy bay địch trên các hướng.

Lưới lửa của bộ đội phòng không và dân quân tự vệ đã bắn rơi tại chỗ một chiếc F8U tại Công Máng, xă Hồng Lạc cách cầu Lai Vu 300m.

Trận đánh máy bay Mỹ đánh phá cầu Lai Vu cho thấy: Nghệ thuật tổ chức chiến đấu linh hoạt, sáng tạo; tinh thần chiến đấu dũng cảm, đánh gần, đánh mạnh, đánh liên tục, đánh tiêu diệt máy bay địch, tiết kiệm đạn dược, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

TRẬN TUY LAI CỦA DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(6.11.1965)

Trận phục kích máy bay Mỹ của dân quân xã Tuy Lai. huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, nhằm tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ mục tiêu, góp phần phá kế hoạch vào đánh phá Thủ đô Hà Nội.

Để đánh phá Hà Nội, máy bay Mỹ thường bay vào từ hướng nam, dọc theo dãy Trường Sơn để vừa giữ bí mật, tạo bất ngờ. Trên đường bay, chúng phải qua nhiều địa bàn, trong đó có vùng trời xã Tuy Lai.

Nắm được quy luật hoạt động của địch, Đảng ủy, ùy ban, xã đội xã Tuy Lai tổ chức lực lượng dân quân tự vệ, tổ chức thành bốn trung đội, mỗi trung đội gồm 20 người, do Nguyễn Văn Lợi chỉ huy. Vũ khí chủ yếu là súng trường K44.

Lực lượng dân quân chia thành ba tổ bố trí ở ba ngọn núi (núi Trọc, núi Cối, hang Đình) có thế chân vạc, hình thành lưới lửa dày đặc đánh máy bay địch.

8 giờ ngày 6 tháng 11 năm 1965, hàng chục máy bay địch xuất hiện trên bầu trời các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hòa. 10 giờ 20 phút, hai chiếc AD6 từ phía Tây lách qua Quèn Sem tới Cố Yếm theo Nương Ngải, qua hồ Tuy Lai. Khi qua Nương Ngải, chúng hạ thấp dộ cao tránh hỏa lực tầm trung và tầm cao của ta. Bám sát hoạt động của địch, khi chúng vòng lại lần thứ hai đúng như dự kiến, cả ba trận địa đồng loạt nổ súng, chiếc máy bay đầu đội hình bốc cháy và rơi xuống làng Quýt. Những chiếc còn lại vội vã tăng độ cao, tháo chạy về hướng đông.

Chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ của dân quân xã Tuy Lai đã được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng nhì.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:11:52 pm
TRẬN BÀU BÀNG
(12.11.1965)

Trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 (thiếu hai tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 1) đánh vào một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, một đại đội pháo và sở chỉ huy nhẹ của lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ tại Bàu Bàng, cách Lai Khê khoảng 6km về phía bắc (nay thuộc tỉnh Bình Dương).

5 giờ 3 phút, Tiểu đoàn 1 được lệnh nổ súng; đơn vị nhanh chóng phá vỡ tuyến công sự vòng ngoài của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch ở tây cụm 1. Đến 5 giờ 45 phút, tiểu đoàn bị cụm cơ giới địch bắn ngăn chặn, phải dừng lại củng cố đội hình.

Nghe tiếng súng nổ, Tiểu đoàn 5 vận động đánh chiếm tuyến 2, nhanh chóng chiếm tuyến phòng ngự của bộ binh địch, tiếp cận diệt cơ giới. Đến 5 giờ 40 phút, tiểu đoàn chiếm được mặt đường, cắt địch thành hai cụm nam và bắc, không cho chúng tăng cường lực lượng cho nhau.

5 giờ 15 phút, Tiểu đoàn 9 bắt đầu tiến công từ tây nam cụm 2 lên, chọc thủng đội hình bố trí của bộ binh địch. Bị đánh bất ngờ, lại bị chia cắt, địch lúng túng, sau ít phút chúng mới tổ chức lực lượng cơ giới ngăn chặn ta.

Pháo binh địch ở Lai Khê bị ta kiềm chế không hoạt động được, máy bay chưa đến kịp. tận dụng thời cơ, các mũi đột kích của ta tăng tốc độ tiến công tiêu diệt địch.

5 giờ 45 phút, hướng Tiểu đoàn 1 bị địch ngăn chặn, Sau khi dừng lại tổ chức lực lượng đã vòng đánh vào cạnh sườn đội hình xe tăng địch. Một trung đội của Đại đội 2 diệt một số xe tăng địch, chọc thủng ra đường gặp Đại đội 11 của Tiểu đoàn 6 từ đông bắc xuống và cùng hiệp đồng chiến đấu.

Tiểu đoàn 4 từ bắc Bàu Bàng vận động xuống, dùng ĐKZ và 12,7mm diệt cơ giới và bộ binh địch ở bắc cụm 1, nhưng không xung phong vào tung thâm hiệp đồng cùng các đơn vị bạn.

6 giờ 10 phút. Tiểu đoàn 6 từ đông bắc Bàu Bàng vận động xuống đánh thẳng vào cụm 1. Sau khi chọc thủng tuyến công sự địch vòng ngoài, Đại đội 11 vòng sườn đông đánh sang hướng tây, chia cắt địch, hiệp đồng cùng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 diệt địch, đánh vào trận địa pháo cối, sau đó phát triển diệt địch ở khu vực sở chỉ huy.

Tiểu đoàn 5. sau khi chia cắt hai cụm địch, Đại đội 7 phát triển lên phía bắc phối hợp với Tiểu đoàn 1 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 diệt địch ở cụm 1; một bộ phận nhỏ của đại đội phát triển xuống phía nam cùng Tiểu đoàn 9 chia cắt địch ở cụm 2.

Sau hơn một giờ chiến đấu, do ta phát triển không đều, số xe cơ giới địch còn lại cụm thành các cụm nhỏ, dùng hỏa lực ngăn chặn ta. Một số mũi tiến công do không nắm chắc địch, vận dụng thủ đoạn chiến đấu thiếu linh hoạt, lại đánh “vỗ mặt” nên phát triển chậm, tổn thất lực lượng.

Lúc này, trực thăng của địch lên đánh phá bừa bãi vào ấp chiến lược Bàu Bàng.

Sau khi ta điều chỉnh lại lực lượng, chia địch ở cụm 1 ra làm nhiều cụm nhỏ, các mũi phối hợp diệt các xe còn lại và bộ binh địch. Đến 8 giờ 30 phút, lực lượng địch hầu hết bị tiêu diệt, ta tổ chức lùng sục diệt nốt những tên địch lẩn trốn.

Ở cụm 2, lúc 7 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 9 sử dụng Đại đội 7 của Tiểu đoàn 8 (dự bị của tiểu đoàn) vào chiến đấu cùng các đại đội 12 và 13, đánh dọc theo đường 13 lên phía bắc, hiệp đồng với lực lượng dự bị của Tiểu đoàn 5 lần lượt tiêu diệt từng bộ phận quân địch.

7 giờ 50 phút, sư đoàn đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. 8 giờ 40 phút, quân ta cơ bản tiêu diệt địch, làm chủ trận đánh. Ta loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, một đại đội pháo thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh 1 Mỹ, gần 1.000 tên; bắn cháy và phá hủy 39 xe, 8 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu cối 106,7mm; thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân sự.

Chiến thắng Bàu Bàng là chiến thắng của quyết tâm chiến đấu cao; là nghệ thuật vận dụng cách đánh sáng tạo, tổ chức chiến đấu nhanh, xử trí các tình huống kịp thời, chính xác, tận dụng được yếu tố bất ngờ; là kết quả của quá trình xây dựng ý chí và rèn luyện kỷ luật, phát huy tinh thần chủ động hiệp đồng trong chiến đấu.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:14:41 pm
TRẬN THÀNH CÔNG
CỦA CỤM SÚNG MÁY PHÒNG KHÔNG ĐỊA PHƯƠNG
(17.11.1965)

Trận phục kích đón lõng máy bay bay thấp của hai đại đội 14,5mm và hai đại đội 12,7mm của Trung đoàn 50 và Trung đoàn 42, bố trí ngay trên cánh đồng lúa dọc hai bờ sông thuộc các xã Tiên Cường, Đại Thắng (Tiên Lãng) và Giang Biên (Vĩnh Bảo) - Hải Phòng, cắt ngang đường bay của máy bay địch từ biển theo cửa sông Văn Úc và sông Thái Bình vào đánh phá đường 5, là cụm trận địa mang tên Thành Công.

Sau những, thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc, dùng không quân và hải quân đánh phá nhiều vùng, nhiều mục tiêu trọng điểm, trong đó có quốc lộ số 5, nối cảng Hải Phòng với Thủ đô Hà Nội.

10 giờ 45 phút ngày 17 tháng 11, hai tốp gồm 8 chiếc máy bay địch ngược sông Văn Úc vào đánh phá đường 5, chúng bay theo đội hình và ở độ cao khoảng 100-300m. Khi địch bay đúng hướng trận địa phục kích của cụm Thành Công, lập tức 26 nòng súng nhả đạn và một chiếc A-4 trúng đạn bốc cháy.

10 giờ 50 phút, toán thứ hai 8 chiếc vẫn bay theo đường bay của toán trước, súng của ta lại đồng loạt nổ, một chiếc lao xuống cách trận địa khoảng 1.800m.

11 giờ, một tốp ba chiếc nữa bay vào, cả trận địa bất ngờ đồng loạt nổ súng, một chiếc rơi xuống sông Văn Úc.

Cũng trong thời điểm đó, những chiếc máy bay vào đánh phá xong, phải bay ra để trở về tàu sân bay, lại theo đường cũ. Chớp thời cơ, trận địa của ta đồng loạt nhả đạn, một chiếc A4 rơi xuống chân đảo Hòn Dấu.

Một chiếc AD-6 đang tháo chạy, phát hiện mục tiêu, cay cú lao xuống đánh phá, bị hai trung đội đại liên bắn rơi cách trận địa 4.000m.

Một tốp gồm máy bay trực thăng và hàng chục máy bay phản lực vào cứu phi công, lùng sục dọc sông Văn Úc, bắn phá các bãi ven biển và cửa sông thuộc xã Đại Hợp, Đoàn Xá, Vinh Quang. Tổ bắn máy bay của các xã Thụy Hương, Thuận Thiện gồm toàn súng trường mai phục trên núi đã bắn trúng một chiếc AD6. Đây là chiếc máy bay bị dân quân bắn rơi với 17 viên đạn súng trường.

Trận đánh diễn ra trong 45 phút, ta đã bắn rơi 6 máy bay địch. Trong đó cụm Thành Công bắn rơi 4 chiếc, dân quân xã Thụy Hoàng - Tuân Thiện bắn rơi một chiếc, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 50 bắn rơi một chiếc.

Thắng lợi của cụm phòng không Thành Công là trận thắng giòn giã trong những ngày đầu đánh máy bay Mỹ, trận đánh thể hiện ý chí quyết thắng và trí tuệ biết đánh thắng của quân dân ta.

TRẬN ĐỒNG DƯƠNG CỦA TIỂU ĐOÀN 70
(8.12.1965)
(1)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn 70 Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 vào một tiểu đoàn biệt động quân ở các xã Bình Tri, Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Sau nhiều ngày bị ta vây ép đồn Việt An, địch buộc phải tổ chức một chiến đoàn ra giải tỏa. 8 giờ 30 phút ngày 8 tháng 12, chúng hành quân đến phía đông cầu Ông Triệu. 9 giờ, chúng chia thành hai cánh đi theo đường 16, cánh bắc có tiểu đoàn 11 biệt động quân, cánh nam có một tiểu đoàn bộ binh trung đoàn 5 ngụy.

Trước phản ứng của địch, Tiểu đoàn 70 quyết định giấu quân ở khu vực Châu Đức, Châu Nho, sẵn sàng đánh địch tại chỗ, hình thành phương án phục kích hoặc vận động tiến công tiêu diệt địch ở khu vực bắc đường 16 (từ cầu Ông Triệu lên khu vực Đồng Dương).

Thực hiện quyết tâm trên, tiểu đoàn sử dụng lực lượng Đại đội 2 được tăng cường 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu đại liên; bố trí ở làng Châu Đức, làm nhiệm vụ chủ yếu, sẵn sàng xuất kích đánh vào sườn phải quân địch khi chúng đi theo bắc đường 16. Đại đội 3 được tăng cường một khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu đại liên, bố trí ở làng Châu Nho; khi xuất kích đánh vào bên trái đội hình địch. Đại đội 1 (trừ một trung đội làm dự bị của tiểu đoàn) cho một trung đội bố trí ở điểm cao 32 - Đá Biển; một trung đội bố trí trong khu vực bắc Đá Biển, làm nhiệm vụ chặn đầu và đánh vào bên phải đội hình địch. Đại đội 3 Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1 bố trí ở khu vực bắc Xuân Thái, sẵn sàng cơ động đánh vào phía sau đội hình địch ở trục đường 16. Đại đội 4 (hỏa lực), ngoài các hỏa lực tăng cường cho các đại đội, số còn lại (cối, ĐKZ và cối của trung đoàn tăng cường) bố trí ở làng Châu Đức chi viện hỏa lực cho các đơn vị chiến đấu.

9 giờ 30 phút, phía nam đường 16 có khoảng 2 đại đội địch lên Ô Vuông và dãy đồi nam đường 16, chúng dừng lại sục sạo ở điểm cao 25 và 30. Phía bắc đường có khoảng một tiểu đoàn, được phi pháo chi viện.

11 giờ 30 phút, cánh quân phía bắc đường 16 tiến đến trước trận địa của các đại đội 1, 2. Một mũi chạm vào khu vực bố trí của Trung đội 1. Đại đội 1 ở tháp Đồng Dương nổ súng chặn địch, tiểu đoàn ra lệnh xuất kích.

Đại đội 2 và Đại đội 3 nhanh chóng xuất kích đánh vào sườn phải và đã đánh trúng vào vị trí chỉ huy, diệt 3 cố vấn Mỹ.

Bị đánh bất ngờ từ nhiều hướng, địch co lại giữa cánh đồng. Tiểu đoàn tập trung hỏa lực đánh vào cụm địch, tạo điều kiện để bộ binh xung phong tiêu diệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc một quyết liệt, địch dùng phi pháo đánh phá ác liệt các làng Châu Nho, Châu Đức, Đá Biển, dùng máy bay C130 phun hơi độc xuống trận địa. Do ta đánh ở bắc đường 16 rất mạnh nên địch ở phía cầu Ông Triệu và nam đường 16 không dám tăng viện cho địch ở phía bắc đường.

Sau 2 giờ chiến đấu, ta diệt gần hết cánh quân bắc đường 16, địch còn khoảng một trung đội chạy về phía cầu Ông Triệu, một số trốn vào các ruộng mía. Bộ đội ta truy kích một đoạn rồi dừng lại làm công sự tránh phi pháo địch sát thương. Pháo địch bắn mạnh vào khu vực tây Đá Biển và bắc sông Ly Ly.

13 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc. Ta tiêu diệt tiểu đoàn 11 biệt động quân loại khỏi vòng chiến đấu 350 tên (trong đó có 3 cố vấn Mỹ), bắt 3 lính ngụy, thu 48 súng các loại.

Trận tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 11 đã mở đầu cho trận tiêu diệt chiến đoàn quân ngụy hành quân giải tỏa đồn Việt An. Đây là bước trưởng thành mới về đánh vận động trong điều kiện chuẩn bị chiến đấu gấp.


(1) Còn gọi là trận Đồng Dương I.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:15:54 pm
TRẬN ĐỒNG DƯƠNG CỦA TRUNG ĐOÀN 1
(9.12.1965)
(1)

Trận vận động tập kích của Trung đoàn 1 (gồm các tiểu đoàn 40, 60, 90) Sư đoàn 2 Quân khu 5 (được tăng cường Tiểu đoàn 70 và các đơn vị hỏa lực cối 82mm, 120mm, súng máy phòng không 12,7mm) vào quân địch ra giải tỏa cho đồn Việt An đang bị bao vây; nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Sau khi tiểu đoàn 11 biệt động quân bị tiêu diệt, từ 14 giờ ngày 8 tháng 12, địch dùng trực thăng đổ quân xuống tái chiếm Đá Biển; đến tối chúng tập trung các đơn vị còn lại về Đồng Dương, tiếp tục chiếm các điểm cao: Đá Biển, dãy đồi 30, 25. Lực lượng địch ở khu vực Đồng Dương gồm hai tiểu đoàn của trung đoàn 5, một đại đội biệt kích của tỉnh Quảng Tín. Ban chỉ huy chiến đoàn ở dãy đồi 30; một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn xe bọc thép và các trận địa hỏa lực ở phía đông cầu Ồng Triệu.

Thực hiện quyết tâm của trên, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 90 (được tăng cường 3 khẩu cối 81mm, 5 khẩu ĐKZ của trung đoàn) làm nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu từ đông làng Châu Xuân sang tây cầu Ông Triệu lên Ô Vuông. Tiểu đoàn 60 tiến công trên hướng thứ yếu đánh địch từ đồi 30 đến ô Vuông. Tiểu đoàn 40 được tăng cường 2 trung đội ĐKZ 75mm của trung đoàn, đánh địch từ Đá Biển, sau đó phát triển sang dãy đồi 30 phía nam đường, cùng Tiểu đoàn 60 diệt địch. Tiểu đoàn 70 đứng chân ở Xuân Thăng, làm dự bị cho trung đoàn.

21 giờ 30 phút ngày 8 tháng 12, các đơn vị cấp tốc hành quân vào vị trí xuất phát tiến công.

5 giờ 15 phút ngày 9 tháng 12, Tiểu đoàn 90 nổ súng làm hiệu lệnh cho các đơn vị tiến công. Từ các hướng, các tiểu đoàn được hỏa lực chi viện đồng loạt xung phong diệt địch. Bị đánh bất ngờ, địch tìm mọi cách chống cự. Các đơn vị nhanh chóng dùng hỏa lực diệt các hỏa điểm; tổ chức các mũi đánh vào bên sườn, phía sau diệt địch. Sau 20 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 60 chiếm được điểm cao 30 và bắt liên lạc được với Tiểu đoàn 40. Tiểu đoàn 90 sau khi diệt địch ở tây cầu Ông Triệu phát triển lên ô Vuông, bắt liên lạc với Tiểu đoàn 60. Phát hiện địch từ điểm cao 25 chạy về phía nam, tiểu đoàn tổ chức vây và diệt nhiều tên. Tiểu đoàn 70 ở Xuân Thăng phát hiện địch chạy về cụm lại ở điểm cao 51, trung đoàn lệnh cho một đại đội bộ binh vận động lên tiêu diệt. Tiểu đoàn lệnh cho một đại đội thì đại đội chỉ điều một trung đội, trung đội lại điều một tiểu đội lên đánh, diệt một số địch, thu vũ khí. Địch phát hiện lực lượng ta ít, chúng phản kích lại, tiểu đội phải lui về vị trí điểm cao 58. 15 giờ 30 phút, địch tiếp tục đổ quân ứng cứu cho điểm cao 51; đồng thời tiểu đoàn thủy quân lục chiến chia làm hai mũi tiến xuống Minh Huy, đến phía đông làng Hưng Lộc bị Tiểu đoàn 70 và một bộ phận của trung đoàn chặn đánh diệt một số tên, bảo vệ cho sở chỉ huy trung đoàn di chuyển.

Sau một ngày chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến hai tiểu đoàn 1 và 3 thuộc trung đoàn 5 và một số đơn vị trực thuộc; 528 tên địch chết và bị thương, 50 tên bị bắt; 4 máy bay bị bắn rơi.

Chiến thắng Đồng Dương cho thấy: Bộ đội đã chấp hành mệnh lệnh chiến đấu nghiêm, khẩn trương bôn tập, chớp thời cơ tập kích địch; nêu cao tinh thần đoàn kết hiệp đồng, quán triệt tinh thần liên tục tiến công tiêu diệt địch.

TRẬN CẦU PHÚ LƯƠNG CỦA CÁC TIỂU ĐOÀN 1, 5, TRUNG ĐOÀN 53
VÀ DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(23.12.1965)

Trận đánh máy bay, bảo vệ cầu Phú Lương, cầu nối đường số 5 qua sông Thái Bình của Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 213), Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 2), Trung đoàn 53 (Sư đoàn 350) và dân quân các xã quanh vùng nhằm tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ cầu.

Để chuẩn bị cho các cuộc đánh phá lớn vào cầu Phú Lương, trong các ngày 21, 22 tháng 12, Mỹ cho máy bay trinh sát và đánh thăm dò ta ở cầu Phú Lương. Với tinh thần cảnh giác cao, chủ động hiệp đồng chiến đấu, quân và dân ta đã bắn rơi hai máy bay địch.

Rút kinh nghiệm những trận địch thực hiện đánh nhanh, ta bố trí thêm các trạm quan sát từ xa, nhất là những hướng chủ yếu để phát hiện địch kịp thời. Chiều 21 tháng 12, ta điều chỉnh đội hình cho phù hợp với phương án tác chiến.

14 giờ 23 phút ngày 23 tháng 12, địch gây nhiễu tiêu cực ở khu vực cầu Phú Lương. 14 giờ 30 phút, chúng cho 48 máy bay đánh cầu Phú Lương dồn dập trong 18. phút.

Nhờ phát hiện được địch từ xa, chỉ huy trận đánh đã ra lệnh kịp thời cho toàn cụm giành thế chủ động ngay từ loạt đạn đầu khi địch vào đánh phá. Qua hai đợt địch vào đánh phá, ta đã bắn rơi 3 máy bay địch (có một chiếc rơi tại chỗ).

Đây là trận đánh đạt hiệu suất cao nhất từ đầu cuộc chiến tranh tới thời điểm đó trên đất Hải Dương.


(1) Còn gọi là trận Đồng Dương II.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:17:24 pm
TRẬN TÂN PHÚ CỦA DU KÍCH XÃ XUÂN SƠN
(25.12.1965)

Trận hóa trang tập kích của trung đội du kích xã Xuân Sơn (14 người) do xã đội trưởng chỉ huy, trang bị chủ yếu là súng trường vào đại đội biệt kích 268 địch đang càn quét, cướp bóc ở thôn Tân Phú, xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; nhằm bảo vệ dân, củng cố và giữ vững vùng giải phóng của ta.

Thực hiện nhiệm vụ trên giao, xã đội trưởng hạ quyết tâm hóa trang như lính biệt kích, bí mật bố trí lực lượng gần Tân Phú, Tân Long và xóm Kỳ Sơn; khi địch đến, chủ động tiếp cận, lợi dụng khi chúng mất cảnh giác, đồng loạt nổ súng diệt địch và nhanh chóng lui quân an toàn.

8 giờ ngày 25 tháng 12, các tổ có mặt ở vị trí giấu quân, đồng thời nhận được tin từ cơ sở báo: có một trung đội biệt kích từ núi Hòn Bông kéo xuống Tân Phú, đến ngã ba nhà Ông Nghiệm và đang dừng lại đó. Tổ 1 liền cơ động theo đường làng đến gần ngã ba thì gặp địch đang cười đùa ầm ĩ, đứa ngồi, đứa đứng rất lộn xộn. Hai bên hỏi nhau mấy câu, thấy có nguy cơ bị lộ, ta đồng loạt nổ súng diệt một số tên, số sống sót chạy vào nhà dân lẩn trốn. Ta diệt 7 tên, thu 3 súng và lui quân an toàn.

Trên hướng tổ 2, một trung đội biệt kích khác đang từ Tân Long tiến ra xóm Kỳ Sơn. Khi chúng vừa đi qua, tổ ra nhanh chóng bám theo phía sau, chúng tưởng là đồng bọn nên không chú ý. Khi đến đầu xóm, địch vừa dừng lại triển khai đội hình, tố 2 liền nổ súng diệt 3 tên địch, thu 1 súng các bin. Cùng lúc tổ 3 bố trí trong công sự bí mật cùng nổ súng diệt 2 tên, thu một súng. Số địch còn lại bỏ chạy tán loạn về hướng Đồng Trường - Hòa Định. Hai tổ nhanh chóng lui quân về vị trí quy định.

Trận đánh kết thúc, 12 tên địch chết, 3 tên bị thương, ta thu 5 súng các bin M2.

Trận Tân Phú để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm chắc tình hình, chủ động tiếp cận tiêu diệt địch; về hành động chiến đấu táo bạo, xử trí tình huống bình tĩnh, linh hoạt và nhạy bén của các chiến sĩ du kích xã Xuân Sơn.

TRẬN TÔNG SƠ (THƯỢNG LÀO) CỦA PHÂN ĐỘI ĐẶC CÔNG
VÀ BỘ BINH QUÂN KHU TÂY BẮC
(1.1.1966)

Trận tập kích của phân đội đặc công và bộ binh Quân khu Tây Bắc đánh vào tiểu đoàn phỉ 1901 giữ khu vực Tông Sơ (khu 19A), nhằm tiêu diệt địch, thu phục phỉ trên chiến trường Bắc Lào nói chung và Tông Sơ nói riêng.

Tông Sơ thuộc tỉnh Mường Sài (Thượng Lào), cách thị xã Mường Sài 30km về phía đông bắc. Đây là một khu vực hầu hết là núi đất, có những đỉnh nhọn với độ dốc lớn, khe sâu, rừng rậm. Cách đồn từ 50 - 3.000m, phần lớn là nương rẫy, thỉnh thoảng có rừng cây xen kẽ nên địch dễ phát hiện dấu vết hoạt động của ta.

Tiểu đoàn phỉ 1901 có khoảng 730 tên, tổ chức thành 8 đại đội (phiên hiệu từ 11 đến 18). Vũ khí có 699 khẩu súng các loại, gồm: một khẩu sơn pháo 75mm, một khẩu ĐKZ 75mm, 3 khẩu ĐKZ 57mm, 3 khẩu cối 81mm, 3 khẩu cối 60mm, một giàn phóng rốc két 105mm, 3 đại liên, 13 trung liên, 530 súng trường, 115 khẩu các bin, một máy thông tin 15W, 6 máy thông tin PRC/6 cùng nhiều lựu đạn và mìn các loại.

Ở Tông Sơ địch tổ chức phòng ngự thành các cụm: cụm một trên các điểm cao 1, 2, 3; cụm 2 ở điểm cao 4, bản Lào Ta; cụm 3 ở các điểm cao 5, 6, 7. Lực lượng ở mỗi cụm có một đại đội, trang bị cối 81mm; ĐKZ 75, 57mm; riêng cụm 2 có một khẩu sơn pháo 75mm, một dàn phóng rốc két.

Ngoài ra, ở bản Mộc Tôn và ở đồi Đá có một đại đội; ở A Nua và các bản xung quanh có một đại đội làm nhiệm vụ tiền tiêu ngăn chặn ta từ Mường Sài tới và phía bắc xuống.

Các đại đội còn lại chốt giữ ở Chắc Chăng, Sen Su Văn, án ngữ đông nam Tông Sơ.

Ở các trận địa và vị trí chỉ huy đều có giao thông hào liên hoàn với nhau, có một số hầm, hào có nắp; không có rào; mìn và lựu đạn được tăng cường trên các hướng đề phòng ta tiến công.

Phân đội trinh sát và một bộ phận của tiểu đoàn bộ binh quân khu Tây Bắc đang hoạt động ở Lào, bước vào chiến đấu được tăng cường một phân đội đặc công lần đầu tiên làm nhiệm vụ chiến đấu ở Lào.

Để hoàn thành nhiệm vụ diệt địch, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành hai bộ phận.

Bộ phận bộ binh tổ chức thành hai mũi. Mũi một gồm 2 trung đội bộ binh, trang bị một khẩu ĐKZ 75mm, một khẩu cối 60mm, còn lại là trung liên, tiểu liên, làm nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 5, phát triển sang điểm cao 6 và 7. Mũi hai gồm một trung đội bộ binh quân khu, được tăng cường 2 tiểu đội Pa-thét Lào, trang bị một khẩu cối 82mm, làm nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 4, phát triển lên các điểm cao 1, 2, 3. Lực lượng còn lại làm dự bị cho bộ binh và đặc công.

Bộ phận đặc công và trinh sát trang bị 2 khẩu B40, 2 khẩu trung liên, còn lại là tiểu liên và thủ pháo; tổ chức thành 3 mũi, tổ độc lập và đội dự bị. Mũi một lảm nhiệm vụ đánh chiếm nhà chỉ huy, nhà lính và nhà quân y. Mũi hai diệt địch ở khu nhà hành chính, nhà phục vụ, nhanh chóng phát triển sang khu nhà biệt kích, quân y, kho thuốc. Mũi ba đánh vào hai nhà của hai tên phó chỉ huy, sau đó chặn địch vút chạy. Tổ độc lập đánh chiếm trận địa pháo 75mm, đón lõng địch từ vị trí chỉ huy chạy ra. Đội dự bị do trinh sát đảm nhiệm, sẵn sàng chi viện cho lực lượng chiến đấu trên các hướng.

5 giờ 45 phút, được lệnh nổ súng, các mũi đặc công ném lựu đạn, thủ pháo diệt địch trong các vị trí được phân công. Sau 10 phút chiến đấu, ta chiếm được vị trí chỉ huy, chiếm được 2 khẩu đại liên, ngay sau đó sử dụng bắn chi viện cho bộ binh đánh địch ở các điểm cao 6 và 7.

Cùng lúc với đặc công nổ súng, bộ binh từ các hướng nhanh chóng xung phong diệt địch, lần lượt chiếm được các vị trí được giao. 13 giờ ngày 15 tháng 1 năm 1966, quân ta làm chủ hoàn toàn khu vực Tông Sơ, sau đó tiếp tục tìm diệt những tên địch chạy vào rừng. Đến ngày 20 tháng 1, ta diệt 177 tên, làm bị thương 22 tên: gọi hàng 161 và bắt 15 tên; thu một khẩu pháo 75mm, 2 khẩu ĐKZ, 2 khẩu cối và nhiều tiểu liên, súng trường cùng nhiều đạn dược, giải phóng một vùng đất đai quan trọng của Tông Sơ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:18:30 pm
TRẬN NHÀ ĐỎ
(24.2.1966)

Trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 nhằm tiêu diệt hai tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh số 1 và hai chi đoàn thiết giáp Mỹ tại Nhà Đỏ (nay thuộc xã Tân Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

16 giờ ngày 23 tháng 2, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa. Trung đoàn 1 do đường tiếp cận dễ cơ động nên đến 24 giờ các mũi, các bộ phận triển khai xong, sẵn sàng nổ súng đánh địch. Trung đoàn 3 do gặp địch nên đến 1 giờ ngày 24 các tiểu đoàn 8 và 9 mới triển khai xong.

1 giờ 2 phút, hỏa lực của sư đoàn bắn dồn dập vào sở chỉ huy hành quân và tuyến bố phòng chính của địch.

1 giờ 27 phút, từ các hướng tiểu đoàn 1, 2, 8, 7 nhanh chóng chọc thủng tuyến phòng thủ của cơ giới ở vòng ngoài, phát triển vào tung thâm đánh chiếm tuyến phòng ngự của bộ binh và cơ giới, bắn cháy nhiều xe, diệt nhiều địch. Bị đánh bất ngờ, một số xe thiết giáp cùng bộ binh bỏ chạy, quân ta nhanh chóng bám sát địch, phát triển vào tung thâm.

Bị tiến công từ nhiều hướng, tuyến phòng ngự chính của địch bị vỡ và bị tổn thất nặng, đội hình rối loạn, chỉ huy lúng túng, chúng phải dồn về phía bắc, lợi dụng địa hình phức tạp co lại thành từng cụm chống đỡ và chờ lực lượng tăng viện.

Trong thời cơ thuận lợi, các tiểu đoàn đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu, tổ chức các mũi thọc sâu phát triển vào tung thâm, hình thành thế chia cắt, bao vây lần lượt tiêu diệt từng cụm quân địch.

Trên hướng Tiểu đoàn 1, sau khi chiếm được tuyến công sự của địch, nhanh chóng vượt qua trảng trống, đánh thẳng vào khu rừng cao su chia quân địch thành hai mảng. Nhưng sau đó gặp cơ giới địch bắn chặn, Tiểu đoàn 1 phải dừng lại dùng hỏa lực sát thương địch.

Trên hướng Tiểu đoàn 2, quân ta xung phong chiếm tuyến phòng ngự chính của địch gặp khó khăn, khi lực lượng dự bị bước vào chiến đấu bên cánh phải, tiểu đoàn đã đột phá được tuyến phòng ngự của địch và phát triển vào tung thâm. Nhưng khi địch dùng hỏa lực đánh chặn từ chính diện, tiểu đoàn phải dừng lại, triển khai đội hình ở trận địa dã chiến của địch, tổ chức hỏa lực diệt xe cơ giới của chúng.

Ở hướng Tiểu đoàn 8, khi chiếm được tuyến phòng ngự chính của địch, lực lượng dự bị vào chiến đấu đã tổ chức mũi thọc sâu của tiểu đoàn phát triển về sở chỉ huy lữ đoàn địch, bị địch từ hướng tây bắn sang và hỏa lực từ khu vực sở chỉ huy bắn ra, tiểu đoàn phải dừng lại tổ chức đợt tiến công tiếp theo.

Các tiểu đoàn 3 và 4 (lực lượng dự bị của Trung đoàn 1) không vào chiến đấu vì sức chiến đấu của các tiểu đoàn 1 và 2 còn đủ mạnh, riêng hỏa lực của trung đoàn được điều lên tăng cường cho các đơn vị phía trước đánh địch.

Sau hơn 3 giờ chiến đấu, mặc dù ta đã tiêu diệt được nhiều địch, nhưng lực lượng của chúng đã co cụm thành các cụm quân chống đỡ. Thấy trời gần sáng, tiếp tục tiến công sẽ không có lợi, sư đoàn ra lệnh làm chủ chiến trường, tổ chức lui quân theo kế hoạch.

Trận đánh đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.300 tên địch, phá hủy 48 xe M113, 24 xe tăng, hai pháo tự hành và nhiều xe vận tải.

Trận đánh quân Mỹ ở Nhà Đỏ thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm thời cơ giữ bí mật, tạo bất ngờ, giành chủ động tiến công địch; tổ chức chiến đấu nhanh, tranh thủ mọi thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị cho trận tập kích; dùng hỏa lực mạnh, đột nhiên, bất ngờ đánh phủ đầu quân địch; tiến công nhanh, thọc sâu, chia cắt nhỏ địch ra để tiêu diệt; tổ chức thu dọn chiến trường và rời khỏi trận địa nhanh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Tư, 2020, 03:19:09 pm
TRẬN ĐIỂM CAO 62 CỦA TRUNG ĐOÀN 21
(4-5.3.1966)

Trận tiến công địch của Trung đoàn 21 Sư đoàn 2 Quân khu 5 vào lực lượng sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ và quân ngụy càn quét, tìm diệt chủ lực ta ở khu vực điểm cao 62 thuộc thôn Bình Bắc, xã Sơn Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện thuận lợi cho sư đoàn phát triển thế chiến dịch.

Trung đoàn 21 (do Phan Viên làm trung đoàn trưởng), có các tiểu đoàn 11, 22, 33 và các đại đội 12 (ĐKZ), 14 (cối 82mm), 17 (súng máy cao xạ 12,7mm); các đại đội thông tin, trinh sát.

Nhiệm vụ của trung đoàn là khơi ngòi ở Sơn Kim, Sơn Châu, kéo một bộ phận lực lượng cơ động giải tỏa của địch, buộc chúng phải đưa lực lượng ra phía tây Sơn Tịnh để sư đoàn tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phối hợp với các chiến trường toàn quân khu, góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, của Mỹ - ngụy trên chiến trường Khu 5.

Để khơi ngòi và đánh địch thắng lợi, trung đoàn bố trí đội hình: Tiểu đoàn 11 đứng ở Trường Thọ (xã Sơn Kim), các tiểu đoàn 22, 33 và sở chỉ huy trung đoàn đứng ở các thôn Nam Bình, Thái Hòa, Hòa Vinh (xã Sơn Châu).

Từ đêm 20 đến 31 tháng 2, Tiểu đoàn 33 đánh một số trận tiêu diệt quân địch đưa các lực lượng nhỏ ra giải tỏa sửa đường, diệt trên 100 tên Mỹ, nhằm kéo địch ra để tiêu diệt theo kế hoạch. Tuy vậy, địch không ra, không cụm lại ban đêm, nên ta không tập kích được chúng.

Trước tình hình trên, trung đoàn quyết định: “Không chờ đánh tập kích, chuyển sang vận động phục kích, diệt địch đi ra và rút về thị xã Quảng Ngãi”.

Ngày 3 tháng 3, một tiểu đoàn ngụy và 11 xe bọc thép càn quét hướng đông quốc lộ 1, không vào khu vực phục kích của trung đoàn. Chiều tối, địch cụm lại ở núi Hương, trung đoàn không đánh được, chúng rút về Quảng Ngãi. Khi địch cụm lại núi Hương, trung đoàn định chuyển từ phục lách sang tập kích, nhưng khi thảo luận thấy chưa nắm chắc địch và địa hình nên quyết định dừng trận tập kích, chuyển lực lượng về vị trí đứng chân như cũ, chuẩn bị đánh địch phản kích lớn.

8 giờ 15 phút ngày 4 tháng 3, địch từ Chu Lai đổ 2 đại đội xuống Gò Cát (cách điểm cao 62 khoảng 800m) chiếm điểm cao 62 nhằm không chế, ngăn chặn lực lượng ta từ phía tây xuống; làm bàn đạp tiến công, đánh bật lực lượng ta ra khỏi Sơn Châu, Sơn Kim. Trung đoàn quyết định dùng một bộ phận của Tiểu đoàn 22 chiếm điểm cao 62, giữ địa thế có lợi trước khi địch lên, làm bàn đạp diệt địch ở Gò Cát.

Trong khi Đại đội 14 (cối 82mm) dùng hỏa lực bắn vào quân địch ở Gò Cát và cánh đồng Bình Bắc, ngăn chặn không cho địch chiếm điểm cao 62 thì 8 giờ 30 phút, địch đổ đại đội thứ ba của tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ xuống điểm cao 62.

Trên điểm cao 62, địch phát hiện trận địa 12,7mm của ta, chúng dùng đại liên khống chế, cho quân vòng về phía tây đánh vào trận địa. Ta dùng một khẩu đội diệt ổ đại liên, ngăn chặn quân bộ; các khẩu đội khác tích cực đánh máy bay địch, chi viện cho bộ binh xuất kích.

Từ 8 giờ 20 phút, ta tiến công địch ở điểm cao 62. Trận đánh diễn ra quyết liệt, ta và địch giành giật nhau từng ụ đất, ngọn đồi. Trong khi Tiểu đoàn 22 không phát triển được thì trung đoàn lại không nắm được Tiểu đoàn 33 nên không chỉ đạo được.

13 giờ 20 phút, Tiểu đoàn 22 phải đưa lực lượng về giữ các chốt cũ.

17 giờ 30 phút, địch từ điểm cao 22 phản kích lại Đại đội 5. Bộ đội dũng cảm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, buộc chúng phải trở lại điểm cao 62.

Hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 33 cho một bộ phận lên chiếm điểm cao 62 lúc 8 giờ 15 phút (nhưng lên đồi Chùa lại tưởng là điểm cao 62), các đại đội 10, 11 chia thành hai mũi đánh lên điểm cao 62. Ta và địch giành giật nhau ở khu vực làng Hòa Vinh. Trận đánh kéo dài, súng cối hết đạn. Cánh thứ yếu thương vong nhiều phải dừng lại. Địch dùng phi pháo bắn phá quyết liệt, các đại đội hầu hết bị tiêu hao lực lượng nên phải dừng lại tổ chức phòng ngự.

Địch liên tục dùng phi pháo đánh phá và tổ chức tiến công vào trận địa của ta, nhưng chúng đều bị ta đánh bật trở ra.

16 giờ ngày 4 tháng 3, chỉ huy trung đoàn quyết định chuyển lực lượng sang tập kích quân địch trên điểm cao 62.

21 giờ 30 phút, quân ta nổ súng đánh địch, nhưng do giao nhiệm vụ không rõ, chấp hành lệnh không tốt nên chỉ có Tiểu đoàn 22 đánh lên. Tiểu đoàn 33 trên hướng chủ yếu không tiến đánh địch ở điểm cao 62 mà lại cơ động về bắc Trường Thọ.

Tiểu đoàn 22 nhiều lần tiến công lên nhưng không chiếm được điểm cao 62, thương vong nhiều nên trung đoàn quyết định các đơn vị chuyển vào phòng ngự, chuẩn bị đánh địch phản kích.

Cả ngày 5 tháng 3, địch tiếp tục đổ bộ đường không kết hợp với tiến công đường bộ vào các vị trí của quân ta. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã chiến đấu dũng cảm, giữ vững trận địa.

18 giờ ngày 5 tháng 3, trung đoàn quyết định kết thúc trận đánh, lui quân về Sơn Nam để củng cố lực lượng.

Qua ba ngày liên tục chiến đấu, trung đoàn loại khỏi vòng chiến gần 800 quân địch, bắn rơi 6 máy bay, thu một số vũ khí.

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức chỉ tuy, về sử dụng lực lượng, về tổ chức hiệp đồng, về chấp hành mệnh lệnh trong chiến đấu và về chuyển hóa thế trận, vận dụng các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu để tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:08:06 am
TRẬN HÒN BÔNG CỦA TRUNG ĐỘI DU KÍCH XÃ XUÂN SƠN
(12.3.1966)

Trận phục kích của Trung đội du kích xã Xuân Sơn (23 người), trang bị một súng trung liên, một súng phóng lựu, 4 súng tiểu liên, còn lại là súng trường do xã đội trưởng Trịnh Văn Phụng chỉ huy, đánh vào Đại đội bảo an 310 hành quân trên đoạn đường từ Hòn Bông đến Hòn Chùa, nhằm tiêu diệt địch, phá cuộc hành quân càn quét, đánh phá vùng giải phóng.

Sáng 12 tháng 3, đại đội 310 bảo an địch ở chi khu La Hai mở cuộc hành quân càn quét xuống xã Xuân Sơn. Đến đèo Xương Cá, chúng chia thành hai hướng, một hướng theo đường 6 lên Hòn Bông - Hòn Chùa và một hướng qua đồi Xương Cá lên Hòn Tháp.

5 giờ ngày 12 tháng 3, đội hình địch đến cách trận địa của ta ở Hòn Bông khoảng 20m, chúng dừng lại triển khai thành đội hình chiến đấu rồi tiếp tục tiến lên. Đợi địch đến gần, hai quả mìn Claymo nổ làm hiệu lệnh tiến công, diệt gọn tốp địch đi đầu và làm bị thương một số tên khác. Nghe mìn nổ, cả tổ đồng loạt dùng súng và lựu đạn đánh thẳng vào đội hình quân địch. Địch không kịp chống trả những tên còn sống hoảng hốt chạy dạt về phía đồi Không Tên. Tổ 1 nhanh chóng xung phong, thu vũ khí và lui quân về vị trí quy định. Cùng lúc tổ 2 ở hướng đối diện nổ súng đánh vào bên sườn phía sau đội hình địch, phối hợp chặt chẽ cùng tổ 1 tiêu diệt địch, thu vũ khí và lui quân an toàn.

Trong khi cánh quân ở Hòn Bông bị đánh, thì cánh quân cơ động đến Hòn Chùa đã bị tổ 3 của ta phục sẵn, bất ngờ nổ súng diệt gọn một tiểu đội, ta thu 4 khẩu AR15.

Bị ta chặn đánh và diệt một số địch vội vã rút về triển khai dọc đường sắt và đèo Xương Cá, dùng cối bắn mạnh vào Hòn Bông và Hòn Chùa. Lợi dụng lúc địch đang tập trung đông, tổ 4 bắn tỉa diệt thêm 3 tên và làm bị thương một số tên khác.

Ở hướng Hòn Tháp, khi địch tiến đến vướng mìn của ta gài sẵn, làm chết 3, bị thương 3 tên.

Trận đánh loại khỏi vòng chiến đấu 26, làm bị thương 12 quân địch, thu 10 khẩu AR15 và 1 khẩu M79.

TRẬN HỘI ĐỨC CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 60
(21.3.1966)

Trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 60 Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 Quân khu 5, được tăng cường một đại đội ĐKZ 75mm, 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm chống lại 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ tiến công vào làng Hội Đức, xã Hiệp Tịnh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho phong trào cách mạng địa phương phát triển.

Sau khi đồn An Hòa (Chóp Chài) bị ta đánh, từ ngày 19 đến 21 tháng 3 năm 1966, địch liên tục đổ quân xuống các khu vực Nhân Hòa, An Hòa, Hội Đức nhằm tiêu diệt lực lượng ta ở Hội Đức.

Tiểu đoàn 60 mới được củng cố, quân số có 407 người, trang bị có một khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu cối 82mm, 6 khẩu đại liên, còn lại là trung liên và súng trường. Khi địch đổ quân xuống Nhân Hòa thì đêm 20 tháng 3, tiểu đoàn được lệnh về Hội Đức, Phương Đình để chặn đánh.

Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 1, tăng cường một khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu B40, một khẩu đại liên, chiếm lĩnh trận địa ở bắc làng Hội Đức; sẵn sàng đánh địch từ Vĩnh Tuy đi Phương Đình hoặc từ Vĩnh Tuy đi Thạch An Nội. Đại đội 3, được tăng cường 2 khẩu ĐKZ 75mm. một khẩu đại liên, tổ chức phòng ngự phía tây làng Hội Đức. sẵn sàng đánh địch từ Vĩnh Tuy đi Phú Thành hoặc Vinh Tuy đi Thạch An Nội. Đại đội 2, bố trí phía nam làng Hội Đức, làm dự bị cho tiểu đoàn. Phân đội hỏa lực bố trí ở nam làng Hội Đức.

24 giờ ngày 20 tháng 3, tiểu đoàn hành quân váo chiếm lĩnh, xây dựng trận địa.

6 giờ 30 ngày 21 tháng 3, pháo địch từ An Điềm cấp tập hỏa lực vào cánh đồng nam làng Hội Đức, đông Phú Sơn, sau đó chuyển bắn vào làng Hội Đức.

7 giờ 30 phút địch dùng trực thăng đổ quân xuống Gò Rạng (tây bắc làng Hội Đức). Bị ta đánh, chúng đổ quân lùi dần về phía tây làng Hội Đức (bắc Phú Sơn).

Từ 8 giờ đến 12 giờ, địch dùng 95 lần chiếc trực thăng đổ khoảng một tiểu đoàn quân Mỹ xuống bắc đến tây, tây nam làng Hội Đức. Ngay sau khi đổ quân xuống, địch hiệp đồng với cánh quân từ Vĩnh Tuy tiến vào làng Hội Đức.

Ngay khi địch đổ quân xuống tây làng Hội Đức, Đại đội 3 đã đánh trả quân đổ bộ đường không, bắn rơi 2 trực thăng. Bị đánh, địch đổ quân lui về hướng Phú Sơn, Đại đội 1 dùng một bộ phận xuất kích diệt một số tên.

Từ 9 giờ đến 12 giờ, địch liên tục tiến công vào trận địa của các đại đội 1, 3, nhưng đều bị lực lượng của tiểu đoàn đánh bật trở lại. Mỗi lần buộc phải lùi ra, quân Mỹ dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào Hội Đức.

Sau nhiều lần đột kích vào Hội Đức không thành, quân Mỹ chia thành nhiều mũi nhỏ, cùng một lúc đột kích vào chính diện của Trung đội 3 Đại đội 1. Do địch đánh nhiều lần, một số công sự bị hỏng, địch chiếm được một phần trận địa nhưng đã bị tổ trinh sát và lực lượng tại chỗ đánh bật ra, ta khôi phục tại trận địa.

14 giờ, nhận thấy hướng Đại đội 1 mỏng, tiểu đoàn đã sử dụng Đại đội 2 tăng cường lực lượng cho Đại đội 1 để giữ vững trận địa.

Sau nhiều lần tiến công thất bại, 15 giờ 30 phút, địch phải lui dần ra xa tiếp tục dùng phi pháo bắn phá.

16 giờ, địch dùng 53 lần chiếc trực thăng tiếp tục đổ khoảng một tiểu đoàn xuống tây Xuân Hòa, nam Phú Sơn.

17 giờ, địch dùng 16 lần chiếc trực thăng đổ quân xuống bắc Phú Sơn; các cánh quân còn lại sau khi tiến công không thành ở Hội Đức, chúng lui ra gặp nhau, cụm lại cùng cánh quân ở trận đồng Sơn Phương rút lên.

19 giờ ngày 21 tháng 3, trận chiến đấu kết thúc. Ta diệt 208 quân địch, bắn rơi 3 trực thăng, thu một số vũ khí.

Trận Hội Đức cho thấy, để phòng ngự thắng lợi phải: Nhanh chóng chuyển hóa thế trận, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu, kết hợp chặt chẽ các yếu tố công sự, hỏa lực và tinh thần “còn người, còn trận địa” mới đánh bại địch tiến công. Chủ động hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ, chi viện kịp thời giữa các phân đội, tạo thế mạnh chung, liên tục đánh địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:09:03 am
TRẬN QUẢNG TƯỜNG CỦA DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(9.4.1966)

Trận tập kích của dân quân Quảng Tường vào tàu biệt kích địch ở vùng biển xã Quảng Tường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch “ngăn chặn giao thông trên biển và trên bộ; quấy rối việc làm ăn của ngư dân, bắt người, thực hiện chiến tranh tâm lý” của Mỹ - ngụy.

Trước hành động địch thường xuyên cho các tàu biệt kích của hải quân vào đánh phá phong tỏa các vùng biển gần của ta, đảng ủy và chính quyền xã Quảng Tường quyết định tổ chức lực lượng dân quân trong các hợp tác xã đánh cá thành các đội thuyền có trang bị mạnh ra khơi mai phục diệt tàu biệt kích địch.

Ngày 10 tháng 3 năm 1966, đội thuyền vũ trang của dân quân xã Quảng Tường được thành lập; đội có 6 người, trang bị 4 khẩu tiểu liên, 12 quả lựu đạn, một quả bộc phá (5kg) và một số thủ pháo.

Sau một thời gian chuẩn bị, huấn luyện, 18 giờ ngày 9 tháng 4 năm 1966, một thuyền chở đội lên đường tiến về phía nam.

21 giờ, thuyền đến khu vực Quảng Nại, Quảng Hải cách bờ 15km thì gặp 3 tàu biệt kích địch đi theo hình chữ V đang từ phía đông nam tới. Đội trưởng quy ước mục tiêu và phân công từng người làm động tác giả như đang đánh cá, sẵn sàng đánh địch. Tàu địch tới gần, chiếc thứ nhất lướt sóng đi thẳng, rồi dừng cách thuyền ta 200m; chiếc tàu thứ hai tiến sát thuyền ta rồi tắt máy, dùng loa kêu gọi, bắt thuyền ta chèo áp mạn tàu của chúng. Khi thuyền ta áp mạn, tàu địch thả phao xuống, ta buộc phao của địch vào thuyền ta.

Được lệnh, một dân quân bắn một loạt dọc theo mạn tàu, cả tổ dùng tiểu liên, lựu đạn, thủ pháo và điểm hỏa quả bộc phá 5kg làm nổ tung phía lườn tàu, gây cháy lớn. Địch bị bất ngờ không kịp đối phó.

Trước khi bộc phá nổ, cả 6 dân quân lao xuống biển, bỏ thuyền và bơi nhanh vào bờ.

Theo hiệp đồng, khi thấy quầng lửa trùm lên tàu địch thì thuyền của các đội ứng cứu đã lao ra khơi đón các dân quân lên thuyền.

4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4, toàn đội lên bờ an toàn. Một tàu biệt kích bị đánh cháy.

Bằng sự mưu trí, dân quân Quảng Tường đã nhử địch vào tròng để đánh cháy tàu biệt kích.

TRẬN ĐÁNH MÁY BAY MỸ
CỦA ĐẠI ĐỘI TỰ VỆ NHÀ MÁY XAY THÁI BÌNH
(17.4.1966)

Trận chiến đấu của đại đội tự vệ nhà máy xay Thái Bình nhằm tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ nhà máy.

Nhà máy xay là một mục tiêu quan trọng địch thường xuyên đánh phá ở thị xã Thái Bình. Mỗi lần vào đánh phá, địch thường dùng tốp nhỏ 2 - 4 chiếc, đánh nhanh, rút nhanh, luôn thay đổi độ cao, tốc độ, đường bay; lợi dụng hướng mặt trời để đánh phá.

Đại đội tự vệ nhà máy được thành lập từ tháng 8 năm 1965, gồm 200 người; trang bị 1 khẩu pháo 23mm, 1 khẩu trung liên, 5 khẩu súng trường, 1 ống nhòm và 1 máy điện thoại. Cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện kỹ cách sử dụng vũ khí và chiến thuật đánh máy bay bay thấp. Đặc biệt trung đội trực chiến được huấn luyện kỹ cách sử dụng pháo phòng không 23mm bắn máy bay phản lực.

16 giờ 40 phút ngày 17 tháng 4, trời quang mây, nắng đẹp, kíp trực năm người do Nguyễn Hoài Nam chỉ huy, người và pháo sẵn sàng trút lửa đạn vào máy bay địch.

Được thông báo có 12 máy bay địch xâm phạm vùng trời Thái Bình, mọi người tập trung quan sát địch. Từ xa hai vệt khói đen từ hướng đông nam kéo dài về tây nam, cách trận địa khoảng 3.500m, cả trận địa được lệnh đánh chiếc thứ hai. Chớp thời cơ khi chiếc thứ hai nghiêng cánh chuẩn bị nâng độ cao, lập tức số 2 đạp cò, những viên đạn nối nhau vút lên lao thẳng vào chiếc máy bay, phút chốc máy bay bốc cháy, rơi cách cửa sông Trà Lý 10km, các chiếc còn lại tháo chạy về hướng đông.

Bằng 12 viên đạn, tự vệ nhà máy xay Thái Bình đã bắn rơi một chiếc máy bay F4 của hải quân Mỹ. Chiến công của những người lính “tay búa, tay súng” chứng minh sức mạnh của lưới lửa phòng không tầm thấp khi đánh máy bay phản lực hiện đại của Mỹ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:10:07 am
TRẬN KHUÊ NGỌC ĐIỀN CỦA TỔ DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(24.4.1966)

Trận phục kích đánh máy bay trực thăng của tổ du kích 3 người, trang bị có 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, bố trí theo thế chân vạc, diễn ra trên bờ sông Krông Ana, thuộc xã Khuê Ngọc Điền, huyện 9 (nay thuộc thị trấn Krông Bông), tỉnh Đăk Lăk, nằm trong vùng căn cứ của ta.

Sáng 24 tháng 4, tổ ba người An, Để, Thiện do tổ trưởng Thiện chỉ huy dùng hình nộm giả làm người đứng, bố trí dưới một tán cây và gần đó cắm một lá cờ, cách phía đông nam trận địa của tổ khoảng 70m.

9 giờ, một chiếc trực thăng của địch từ núi Chu Yang Sin bay đến, phát hiện thấy lá cờ giải phóng của ta, liền đột ngột hạ độ cao xuống cách mặt đất khoảng 50m và bay thẳng vào hướng trận địa phục kích ta đã bố trí. Khi máy bay địch đến cách trận địa khoảng 100m, tổ trưởng ra lệnh cả tổ đồng loạt nổ súng. Chiếc trực thăng của địch bị trúng đạn, mất thăng bằng lao xuống khu vực gần buôn Tul bốc cháy.

Bằng 16 viện đạn garăng và súng trường, tổ du kích đã diệt gọn một chiếc HU-1A cùng 4 tên địch. Trận đánh thắng lợi mở ra phong trào bắn máy bay bay thấp phát triển rộng khắp trong toàn vùng căn cứ cách mạng, hạn chế được nhiều tổn thất do máy bay địch gây ra cho quân và dân ta trong vùng.

TRẬN ĐẮK CHỜ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 4 TRUNG ĐOÀN 24
(29.4.1966)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn bộ binh 24 Mặt trận Tây Nguyên (có 3 đại đội bộ binh và một đại đội hỏa lực), vào đoàn xe chở quân của địch trên đường 14A, gần ấp Đắk Chờ và ấp Đắk Tông (nay thuộc xã Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum), nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện để các đơn vị của trung đoàn tiêu diệt địch ở hướng khác.

16 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1966, tiểu đoàn hành quân vào chiếm lĩnh trận địa. 4 giờ ngày 29 tháng 4, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng đánh địch.

7 giờ ngày 29 tháng 4, địch cho máy bay trinh sát đường và cho một đại đội bảo an đi chốt đường. Quá trình sục sạo sang hai bên đường, một toán lính địch đến gần đại đội hỏa lực, nhưng ta bí mật lùi sâu về sau nên địch không phát hiện được. 8 giờ, một đoàn xe 28 chiếc chạy vào trận địa, nhưng trung đoàn chưa cho đánh. 10 giờ, có 5 xe bọc thép chạy qua trận địa, tiểu đoàn không đánh.

12 giờ 5 phút, 18 xe địch chở đầy quân tiến vào trận địa. Được lệnh trên, các đơn vị bí mật cơ động ra áp sát đường. Khi bộ phận chặn đầu của Đại đội l ra đến đường thì 3 xe đi đầu của địch đã chạy qua, ta nổ súng vào chiếc thứ tư nhưng không trúng, địch vượt qua được. Khi chiếc thứ năm vừa đến chân dốc, bị bắn cháy, cả đoàn xe ùn lại, lập tức các chiến sĩ ta dùng B40, B41, AT, thủ pháo diệt 5 xe, bắt một số tù binh. Sau 30 phút chiến đấu, chiến sĩ thông tin tự động báo cáo chính trị viên đại đội đang chỉ huy đánh địch, cho lui quân về trận địa, sự tùy tiện của 1 chiến sĩ thông tin đã làm lỡ cơ hội diệt quân địch đang chạy về hướng Nam.

Đại đội 3 làm nhiệm vụ khóa đuôi, do cơ động chậm 10 phút nên khi ra đến đường lập tức đánh tạt sườn vào đoàn xe địch đang bị ùn lại, phối hợp với hướng chặn đầu diệt nhiều xe và quân địch.

Ở hướng đối diện, ngay khi có tiếng súng, các chiến sĩ nhanh chóng nổ súng vào đội hình quân địch đang rối loạn. Mặc dù đã đánh vào giữa đội hình địch, nhưng không vận động ra nên không chặn được địch chạy về hướng Nam.

Đại đội hỏa lực, dùng cối bắn vào cụm xe địch, diệt nhiều địch, phá hủy nhiều xe.

12 giờ 35 phút, địch đổ quân ứng cứu xuống phía tây đường 14A, đại đội trưởng Đại đội 3 sử dụng một trung đội vây chặt và tiêu diệt một số địch. 12 giờ 45 phút, tiểu đoàn trưởng ra lệnh thu dọn chiến trường và lui quân về bắc điểm cao 902.

Sau 30 phút chiến đấu, 47 quân địch bị diệt, 5 tên bị bắt, 11 xe vận tải bị phá hủy, ta thu 6 súng các loại.

Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức nắm địch, về xử trí các tình huống trong phục kích, về thông tin truyền lệnh, về chủ động đánh địch của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:11:04 am
TRẬN CHÁNH AN, MỸ PHÚ CỦA TIỂU ĐOÀN 6
(7.5.1966)

Trận phòng ngự của Tiểu đoàn 6 (3 đại đội bộ binh, một đại đội trợ chiến) Trung đoàn 6, được tăng cường 4 khẩu súng máy phòng không 12,7mm, 2 tổ trinh sát, một tổ thông tin kỹ thuật; được các trung đội du kích tập trung và nhân dân các xã Phong Chương, Quảng Thái, Phong Bình, Phong Hòa phối hợp (do Huỳnh An chỉ huy): đánh trả 2 tiểu đoàn và một đại đội lính thủy đánh bộ địch tiến công vào hai làng Chánh An, Mỹ Phú thuộc các xã Phong Chương, Quảng Thái, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy phá kế hoạch “bình định” của địch,

Sau hai ngày bám trụ tại địa bàn, được các đội công tác vũ trang, các trung đội dân quân du kích tập trung và nhân dân các xã xung quanh giúp đỡ, tiểu đoàn xây dựng công sự, trận địa, làm hầm bí mật và hình thành một hệ thống giao thông hào chằng chịt, ngang dọc chạy xuyên từ làng này sang làng khác, tạo nên một thế trận chiến đấu liên hoàn giữa các làng, xã, sẵn sàng đánh bại các cuộc càn quét của địch nống ra vùng giải phóng.

Từ mờ sáng ngày 7 tháng 5, địch cho nhiều tốp máy bay trinh sát quần lượn liên tục trên vùng trời khu vực. 9 giờ, trinh sát phát hiện từ hướng biển, nhiều tốp máy bay đang tiến vào đất liền; sau đó ít phút, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đổ xuống căn cứ Lương Mai. 9 giờ 15 phút, địch dùng 80 máy bay trực thăng đổ xuống đồn Nam Giang một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ. 9 giờ 30 phút, một đại đội lính thủy đánh bộ được đổ xuống Mỹ Phú. Sau khi đổ quân, địch chia thành bốn cánh kết hợp với một cánh ở phía tây làng Mỹ Phú tiến công và hợp điểm tại Chánh An, Mỹ Phú.

Ở hướng Lương Mai (tây làng Chánh An), nhờ có cây cối rậm rạp và dãy núi đá cao, các lũy tre xanh dày đặc nên bộ đội ta vẫn giữ được bí mật. 10 giờ, cả hai cánh quân đầu của địch lọt vào trận địa của ta, do một chiến sĩ sơ suất làm lộ đội hình nên đơn vị phải nổ súng sớm. Ngay lập tức từ trong vị trí ẩn nấp, các chiến sĩ Đại đội 1 nổ súng diệt địch, những tên địch sống sót vội vã chạy ra đường kêu cứu.

Cùng thời gian trên, một mũi địch từ Tây Hoàng tiến vào Mỹ Phú, đột phá vào trận địa Đại đội 3. Do mới chiến đấu lần đầu, các chiến sĩ lúng túng trong xử trí nên có 5 chiến sĩ hy sinh; để mất một khẩu trung liên, 3 khẩu AK và một máy điện thoại.

10 giờ 30 phút, tiểu đoàn sử dụng một trung đội của Đại đội 2 cùng với Đại đội 3 phản kích chiếm lại trận địa, diệt 20 tên địch.

12 giờ 30 phút, tại cồn cát phía tây làng Mỹ Phú, địch dồn lực lượng xung phong vào làng. Đại đội 3 chờ địch vào gần mới nổ súng, bẻ gãy đợt tiến công của chúng, bắn rơi hai máy bay trực thăng.

Trong lửa đạn ác liệt, các mẹ, các chị ở Phong Chương, Quảng Thái vẫn theo chiến hào đưa từng nắm cơm, bát nước cho bộ đội, kịp thời chuyển thương binh về sau cấp cứu.

Sau các đợt tiến công thất bại, địch dừng lại củng cố, 13 giờ 30 phút, chúng tổ chức 5 mũi tiến công vào Chánh An, Mỹ Phú. Bị đánh bật ra, chúng lại tổ chức tiến công tiếp.

Rút kinh nghiệm kịp thời, tiểu đoàn sử dụng các trung đội cơ động đánh vào cạnh sườn đội hình tiến công của địch, bẻ gãy các đợt tiến công liên tiếp của chúng, diệt 160 tên. 16 giờ 30 phút, trận chiến đấu kết thúc, gần 200 tên địch bị loại khỏi vòng chiến, 2 máy bay bị bắn rơi. Ta thu 49 súng các loại, 4 máy thông tin PRC-25. Tiểu đoàn được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng nhất, nhiều cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân chương, danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

TRẬN CỒN TIÊN CỦA ĐỘI ĐẶC CÔNG TIỂU ĐOẢN 31
(10.5.1966)

Trận tập kích của Đội đặc công Tiểu đoàn 31 (30 người) Quân khu 4 vào quân địch chốt giữ Cồn Tiên (điểm cao 155) thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng, hỗ trợ cho cóng tác quân sự địa phương phát triển.

18 giờ ngày 9 tháng 5, đơn vị hành quân vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

1 giờ 15 phút ngày 10, các tổ cắt hàng rào trong cùng; 1 giờ 20 phút ở hướng Dốc Miếu đơn vị bạn nổ súng, ta tranh thủ tiếp cận mục tiêu.

1 giờ 25 phút ngày 10, tổ 1 chủ động bắn chết tên lính gác, nhanh chóng đánh chiếm lô cốt số 1, phát triển vào các ụ súng, nhà ở xung quanh lô cốt số 1 và dọc bờ tường. Nhưng khi đánh chiếm lô cốt, tổ không phát triển sang hướng đông bắc và không lùng sục kỹ nên bị địch sót lại bắn trả làm tổ trưởng và một tổ viên bị thương.

Tổ 2 nhanh chóng chiếm lô cốt số 2, phát triển sang các ụ súng, nhà ở dọc bờ tường tây nam. Địch ở lô cốt số 3 và số 4 bắn mạnh về hướng nam làm một số thương vong.

Lợi dụng kết quả của tổ 1, tổ thọc sâu vào cửa mở nhanh chóng chiếm lô cốt số 3 và 8 nhà xung quanh, sau đó hai chiến sĩ lên phối hợp với tổ trưởng diệt địch còn lại.

Tổ thọc sâu 2 vượt qua cửa mở bắt liên lạc với tổ 2 mũi 1 nhanh chóng chiếm lô cốt số 4 và các mục tiêu xung quanh, bắt liên lạc với tổ 1, nhanh chóng diệt vị trí chỉ huy và thông tin địch.

Bộ phận dự bị vì hiệp đồng không chặt, chỉ huy không nắm được lực lượng dự bị nên bộ phận này ném bộc phá nhầm vào tổ 1. Khi phát triển vào, tổ viên tự động nhảy xuống chiến hào (sai với quy ước hợp đồng) nên bị bộc phá của ta làm thương vong một người.

1 giờ 55 phút, đơn vị lùng sục, tảo trừ, giải quyết thương binh, tử sĩ và rời khỏi trận địa.

Địch bị diệt khoảng 40 tên, một số chạy thoát. Ta thu một số súng và phương tiện chiến đấu.

Chiến thắng Cồn Tiên để lại những kinh nghiệm quý báu về nắm chắc địch, về chủ động hiệp đồng thọc sâu kiên quyết, về luôn nắm chắc lực lượng dự bị trong tập kích của bộ đội đặc công.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:12:02 am
TRẬN HÀM RỒNG CỦA TỔ CÔNG BINH TỈNH ĐỘI THANH HÓA
(30.5.1966)

Trận tháo quả thủy lôi trôi của tổ công binh do Đào Xuân Nhật chỉ huy ở khu vực cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa, nhằm bảo vệ cầu nối con đường huyết mạch số 1 qua sông Mã.

Sau một thời gian dài dùng máy bay ném bom đánh phá ác liệt nhưng không quân Mỹ vẫn không phá được cầu Hàm Rồng. 0 giờ 15 phút ngày 30 tháng 5, ta phát hiện một máy bay C130 thả một vật to theo dòng sông từ phía thượng lưu, cách cầu 3km. 1 giờ, xuất hiện những tiếng nổ và tiếng nổ càng ngày càng về gần cầu.

Khi trời sáng hẳn, ta quan sát trên mặt sông cách cầu 200m có một quả thủy lôi chưa nổ đang bị kẹt lại không trôi được về phía cầu. Một tổ tháo thủy lôi làm vô hiệu hóa vũ khí của địch được thành lập.

Từ 6 giờ ngày 30 tháng 5 năm 1966, tổ tháo gõ đưa thủy lôi vào sát mép nước bờ sông. Một phương án táo bạo được quyết định: Tháo thủy lôi. Ngay lập tức, hiện trường tháo gỡ thủy lôi được khẩn trương chỉ huy chuẩn bị chu đáo.

13 giờ ngày 31 tháng 5, cuộc tháo gỡ thủy lôi được thực hiện, có sự hiệp đồng chặt chẽ và trao đổi kỹ thuật trong quá trình làm việc.

15 giờ ngày 31 tháng 5, thủy lôi được tháo xong hoàn toàn.

Sau hai giờ đồng hồ, bộ phận kỹ thuật đã tháo an toàn quả thủy lôi - một loại vũ khí hoàn toàn mới mà Mỹ dùng để phá hoại các mục tiêu trọng yếu trên sông nước ở miền Bắc nước ta; bảo đảm tuyệt đối người và các phương tiện kỹ thuật.

TRẬN ĐẮC TRÂM
(7-11.6.1966)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 24A Mặt trận Tây Nguyên, đánh vào lực lượng của lữ đoàn dù 101 Mỹ ở khu vực Đắc Trâm, nay thuộc xã Văn Lem, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum.

Đêm mùng 6, quân ta tập kích địch ở Đắc Prông. Sáng mùng 7, lữ đoàn 101 phản ứng ngay. Một mặt chúng bổ sung quân số, vũ khí, giải quyết hậu quả ở Đắc Prông, mặt khác sử dụng một đại đội lần theo dấu vết lui quân của ta và đổ bộ một lực lượng xuống Đắc Trâm nhằm đánh vào sau lưng ta.

13 giờ 30 phút ngày 7 tháng 11, bộ phận đi đầu của Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 phát hiện địch đang chia thành ba mũi tiến công vào khu vực tập kết của đơn vị. Lập tức Đại đội 7 tổ chức mai phục tiêu diệt địch. Mặc dù lực lượng ít, nhưng quân ta đã dũng cảm chiến đấu, diệt 40 tên, thu nhiều vũ khí các loại.

5 giờ 30 phút ngày 8 tháng 6, địch xuất hiện trước trận địa Đại đội 7. Bị ta bám đánh, địch bỏ chạy, ta truy kích diệt 7 tên. Tiếp đó, 10 giờ 30 phút, một đại đội địch từ Đắc Mong đến, lọt vào trận địa mai phục của Đại đội 1 Tiểu đoàn 4; bị Tiểu đoàn 4 tổ chức tiêu diệt 116 tên, thu một số quân dụng.

Trước diễn biến của tình hình, trung đoàn quyết định tập trung lực lượng đánh một trận tiêu diệt nhiều địch.

Sau khi điều chỉnh lực lượng, bố trí lại đội hình, 11 giờ 30 phút ngày 9 tháng 6, khoảng 200 quân Mỹ được phi pháo chi viện, chia thành 4 mũi tiến công vào trận địa Trung đội 3 (Đại đội 8), Đại đội 6 và Đại đội 12. Để địch đến gần, quân ta bất ngờ nổ súng, diệt một số tên và kể từ đây, địch liên tục tổ chức tiến công, nhưng chúng đã bị các đơn vị trong trung đoàn liên tục bao vây, chia cắt, tiêu diệt nhiều tên.

Bị đòn đau, một mặt địch dùng phi pháo đánh phá dữ dội vào trận địa quân ta, dùng bom napan đốt cháy toàn bộ số chiến lợi phẩm ta thu được, mặt khác chúng tiếp tục tăng quân chuẩn bị tiến công tiếp. Thấy lực lượng của Đại đội 7 còn quá ít, tiểu đoàn cho đại đội lui vào gần Đại đội 10 và tiểu đoàn bộ, đồng thời dùng hỏa lực khống chế trận địa cũ không cho địch chiếm.

Không tiến lên được hướng Đại đội 7, địch tập trung quân mở nhiều đợt tiến công vào các trận địa khác của Tiểu đoàn 5 và 6. Để hủy diệt ta, địch sử dụng máy bay B52, bom napan, đạn pháo có chất độc hóa học đánh phá quyết liệt. Sau mỗi đợt đánh phá, địch tiếp tục tiến công vào trận địa - nhưng tất cả các đợt tiến công chúng đều bị các chiến sĩ Đại đội 6, 8, 10, 12, 13 có hỏa lực chi viện đánh bại. ở Đại đội 12, mặc dù chỉ còn 13 ngờòi với 3 khẩu đại liên, 2 khẩu trung liên, 6 khẩu AK nhưng đã diệt hàng chục tên địch, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng, thu nhiều vũ khí. Từ 17 giờ trở đi, địch chủ yếu dùng phi pháo đánh phá, dùng cả hom nổ chậm đánh vào trận địa ta. Đêm 10 tháng 6, địch đưa thêm một tiểu đoàn Mỹ đến triển khai cách ta khoảng 200m đế ngày hôm sau tiếp tục tiến công. Trên hướng bắc khoảng 4 ki-lô-mét, địch đổ thêm quân xuống điểm cao 986 định chặn đường rút của ta, thực hiện quyết tâm cất vó Trung đoàn 24A ở Đắc Trâm.

Trước tình hình lực lượng ta mỏng, địch lại liên tục tăng quân vào khu chiến, đêm 10 rạng 11 tháng 6, trung đoàn lui quân về hướng bắc. 3 giờ 30 phút ngày 11 tháng 6, tiểu đoàn đầu tiên bắt đầu lui quân.

Trận đánh kết thúc, 687 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng.

Chiến thắng Đắc Trâm đánh dấu bước trưởng thành của trung đoàn trên chiến trường Tây Nguyên, đồng thời để lại nhiều bài học quý trong đánh quân Mỹ xâm lược.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:13:03 am
TRẬN A VAN CỦA TIỂU ĐỘI 10 ĐẠI ĐỘI 5
(7.7.1966)

Trận phục kích của Tiểu đội 10 Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn bộ binh 50 bắn rơi một máy bay F4H của Mỹ từ nhà đèn A Van cửa sông Nam Triệu (thành phố Hải Phòng), góp vào chiến công chung bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ của quân và dân thành phố Cảng.

Từ tháng 3 năm 1966, máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá các đảo đèn, hệ thống đèn tín hiệu dẫn đường từ phao số 0 và từ Hòn Gai vào cảng Hải Phòng, đồng thời tiến công cả các đèn thuyền trên sông, ven biển nhằm uy hiếp các tàu nước ngoài ra vào cảng.

Để phục kích máy bay địch thường lợi dụng cửa sông Nam Triệu vào đánh phá Hải Phòng, Trung đoàn 50 quyết định cử một tiểu đội do trung đội trưởng Trần Bình Thịnh trực tiếp chỉ huy, được trang bị ba khẩu thượng liên, một khẩu tiểu liên, một máy thông tin P-702 ra khơi phục kích địch tại nhà đèn A Van.

Thực hiện nhiệm vụ trên giao, tiểu đội đã tập trung mấy tháng nghiên cứu nắm quy luật hoạt động, tìm địa hình thuận lợi để phục kích địch, tập luyện theo các phương án chiến đấu, chờ thời cơ địch bay qua trận địa.

9 giờ ngày 7 tháng 7 năm 1966, trong lúc tiểu đội trưởng đang chỉ huy tiểu đội tập luyện bắn máy bay, quan sát viên của Tiểu đội 10 phát hiện ba tốp máy bay địch đang bay thẳng hướng trận địa. Quan sát đội hình bay của địch, tiểu đội trưởng quyết định bắn tốp thứ ba. Khẩu lệnh bắn vừa dứt, cả ba khẩu thượng liên cùng nhả đạn, một chiếc máy bay bốc lửa, vòng trở lại, cắt thùng dầu phụ và lao ra biển. Hai tên lái máy bay nhảy dù, nhưng quá xa đất liền, lại không có phương tiện nên 20 phút sau, địch cho trực thăng đến cứu đi.

Hơn ba tháng kiên trì mai phục, ba lần di chuyển trận địa, tiểu đội đã bắn rơi một chiếc F4H của địch bằng 27 viên đạn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

TRẬN XA CÁT - MINH HÒA CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 2
(9.7.1966)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 Sư đoàn 9, được tăng cường Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 16, đại đội ĐKZ của sư đoàn, nhằm đánh vào đoàn xe quân sự của địch ở quốc lộ 13 đoạn từ Xa Cát đến ngã tư Giao Liên thuộc ấp Đồng Mơ 2, xã Minh Hòa, quận An Lộc, tỉnh Bình Long (nay thuộc huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước).

Từ ngày 30 tháng 6 năm 1966, Tiểu đoàn 6 được lệnh ra chiếm lĩnh trận địa trước, tiếp đó các tiểu đoàn 4 và 5 ra vị trí tập kết, diễn tập theo phương án tác chiến, bí mật mai phục, hàng ngày trinh sát nắm địch, bộ đội sẵn sàng đánh địch khi có thời cơ.

Từ 6 giờ 30 phút ngày 9 tháng 7, địch cho phi pháo đánh phá liên tục các trục giao thông cả đông và tây đường. Địch chuẩn bị hoả lực kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ, đồng thời chúng dùng B52 rải bom vào hậu phương của ta. Trước những động thái của địch, trung đoàn trưởng lệnh cho các đơn vị vận động dưới tầm quan sát, đánh phá của địch đến vị trí đợi địch.

9 giờ 45 phút, đoàn xe địch bắt đầu vượt cầu tiến sâu vào trận địa mai phục của ta. 10 giờ 12 phút, Đại đội 8 nổ súng chặn đầu, diệt một xe M113, các mũi xung kích xông lên mặt đường, thực hiện bao vây, chia cắt tiêu diệt địch.

Tuy gặp khó khăn trong công tác hiệp đồng, song các hướng, các mũi vẫn chủ động, tích cực chiến đấu thực hiện nhiệm vụ, phát huy tốt khả năng chiến đấu của phân đội nhỏ, chia cắt tiêu diệt từng xe, cụm xe, cố gắng không để địch co cụm lại bên đường. Do ta không đủ lực lượng bao vây tiêu diệt địch từ đầu nên chúng co cụm lại bên đường chống cự quyết liệt dưới sự chi viện của phi pháo, máy bay để chờ quân tăng viện.

Trước tình hình đó, trung đoàn nhận thấy: ta đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch, nêu địch tăng viện để giải thoát các xe còn lại thì sẽ gặp khó khăn. 11 giờ 40 phút ngày 9 tháng 7, toàn trung đoàn lui quân theo kế hoạch.

Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên địch, bắn cháy 35 xe quân sự các loại, bắn rơi 6 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác.

Trận Xa Cát - Minh Hòa thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về nắm vững quy luật hoạt động của địch, lợi dụng được chỗ sơ hở, yếu của địch để tổ chức trận đánh thắng lợi; tổ chức bố trí lực lượng bảo vệ đội hình lui quân trong điều kiện trận đánh diễn ra gần các căn cứ địch; tổ chức hiệp đồng để tạo thế và lực liên tục tiến công, kết thúc trận chiến đấu nhanh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:13:59 am
TRẬN GÒ SỎI CỦA TIỂU ĐOÀN 48
(14.7.1966)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi nhằm vào quân địch ở chốt Gò Sỏi - một vị trí quan trọng trong vành đai bảo vệ phía nam căn cứ Chu Lai (Bắc Bình Sơn) do một tiểu đoàn (thiếu) quân địch được trang bị 2 khẩu pháo 75mm, 1 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm, 4 xe thiết giáp M113 đóng giữ; xung quanh chốt có các lô cốt, ụ súng dã chiến và một số bãi mìn chống bộ binh, nhưng chưa có hàng rào dây thép gai.

Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 1 tiến công trên hướng chủ yếu từ phía tây nam vào chốt. Đại đội 2 tiến công trên hướng thứ yếu một, từ đông nam vào trận địa địch. Đại đội 3 tiến công trên hướng thứ yếu hai, từ hướng tây vào trận địa địch. Đại đội trợ chiến tăng cường một phần hỏa lực cho các đơn vị, còn lại bố trí sau Đại đội 1.

21 giờ 30 phút ngày 14 tháng 7, tiểu đoàn vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. 24 giờ 35 phút, nổ súng, Trung đội 1 Đại đội 1 đánh theo sườn đồi vào lô cốt, ụ súng, quân địch trong nhà bạt; hai trung đội còn lại đánh vào vị trí chỉ huy, trận địa hỏa lực. Hướng thứ yếu một, Đại đội 2 thành hai mũi đánh chiếm các lô cốt, trận địa cối 81mm, diệt quân địch tháo chạy. Hướng thứ yếu hai, Đại đội 3 thành hai mũi phát triển vào trung tâm, địch chống cự quyết liệt, sau nhiều lần đại đội tổ chức đột kích, địch lui về sau, Đại đội 3 xung phong đánh chiếm lô cốt Bắc đồi 1, bắt liên lạc được với Đại đội 2. Đại đội 1 sau 5 phút đánh chiếm xong các mục tiêu, do chủ quan để bộ đội leo lên xe tăng, bị địch ở hướng Đại đội 3 bắn vào đội hình làm thương vong một số. Ở Châu Ô, địch bắn pháo sáng về Gò Sỏi, các đơn vị lợi dụng pháo sáng truy lùng, tiêu diệt địch.

Sau 55 phút chiến đấu, tiểu đoàn làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu 270 tên (200 tên chết, 70 tên bị thương), phá hủy 2 khẩu pháo 75mm, 1 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm, 4 xe M113, thu một số vũ khí, trang bị.

Nét đặc sắc của trận Gò Sỏi là tận dụng thời cơ, nhanh chóng đánh địch khi chúng mới đóng quân, xây dựng trận địa chưa hoàn chỉnh; là khi thắng lợi không chủ quan thỏa mãn, phải cảnh giác theo dõi hành động của địch để tiếp tục tiến công, nhất là lúc địch thất bại tìm mọi cách đánh trả ta.

TRẬN CÙ ĐINH - BA DE CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 1
(18.7.1966)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 (trang bị 4 khẩu cối 82mm, 6 khẩu đại liên còn lại là trung liên và tiểu liên) vào tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ địch ở Cù Đinh - Ba De, thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, góp phần phá cuộc hành quân Hát-xtinh của địch.

Sáng 18 tháng 7, sư đoàn trưởng cùng trung đoàn trưởng duyệt quyết tâm của Tiểu đoàn 1. Theo dõi chặt chẽ mọi động thái của địch ở Cù Đinh, đến 12 giờ, ta phát hiện địch đang dở tăng bạt, thu dọn đồ đạc, trang bị tập trung thành từng tốp ngồi dưới gốc cây; 12 giờ 40 phút, từng tốp địch lẻ tẻ di chuyển về Ba De. Cùng lúc đó, phía Đông Hà có 25 chiếc trực thăng đang bay về Ba De.

Nhận định địch có thề rút về Ba De để lên trực thăng rút khỏi khu vực này, tiểu đoàn trưởng đề nghị trung đoàn cho tiểu đoàn đánh theo phương án đánh địch rút chạy, đồng thời lệnh cho các đại đội tiếp cận đội hình địch.

13 giờ 30 phút, trung đoàn lệnh Tiểu đoàn 1 nổ súng đánh vào đội hình địch, không cho chúng rút khỏi Cù Đinh.

13 giờ 35 phút ngày 18 tháng 7, tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng tiến công; cối bắn vào khu vực bãi đỗ trực thăng. Sau khi bắn được 39 quả thì địch phản pháo uy hiếp trận địa, đơn vị đã tự động rút lui.

Bộ binh từ hai hướng chia thành bốn mũi đồng loạt nổ súng xung phong.

Đại đội bộ binh 1 sử dụng một tiểu đội đang bám địch từ đồi Ông Tô đánh thọc xuống phía đông bãi trực thăng; một trung đội theo hướng suối Ba De đánh vào phía bắc bãi trực thăng, hiệp đồng với bộ phận của tiểu đội ở đồi Ông Tô và dùng B40 diệt hai chiếc trực thăng đang chuẩn bị cất cánh.

Đại đội bộ binh 3 sử dụng một trung đội đánh qua đồi Rẫy về phía tây bãi trực thăng, nhưng địch ở đồi Rẫy đã di chuyển, trung đội thọc thẳng vào phía tây bãi trực thăng, dùng B40 diệt một trực thăng tại chỗ. Khi trung đội vượt qua đồi Rẫy bị địch phát hiện, chúng dùng đại liên, cối cá nhân bắn quyết liệt, đội hình ta phải dừng tại chỗ, dùng hỏa lực để tiêu diệt địch.

Lúc này, Đại đội bộ binh 2 đang vận động ra hướng tây - tây nam để tiếp cận, một trung đội của Đại đội bộ binh 1 vận động phía bắc suối Ba De.

Pháo binh, không quân địch bắn mạnh phía sau đội hình ta trên các trục đường xuất kích, ở chân núi đông nam cao 333, 402, phía đông Be Leo.

14 giờ 30 phút, địch lui về nam - đông nam bãi trực thăng, dùng hỏa lực ngăn chặn các mũi tiến công của ta.

Lực lượng địch tập trung nhiều trên tuyến đường đi Ba De và xung quanh ngã ba suối. Phi pháo địch tiếp tục bắn mạnh vào các mũi tiến công của ta để chi viện trực tiếp cho quân địch ở mặt đất.

Đại đội 3 sử dụng hỏa lực khống chế, tiêu diệt địch, tổ chức một mũi đánh thẳng vào khu vực bãi trực thăng và phát triển sang đồi Rẫy, phát hiện địch ở dưới khe, lập tức đại đội sử dụng B40, lựu đạn diệt được một số tên. Một mũi của Đại đội 1 đánh vào đông nam bãi trực thăng, phát triển sang hướng Đại đội 3, nhưng bị hỏa lực địch ngăn chặn, không phát triển được.

Trước tình thế cả hai hướng đều bị địch chặn lại, tiểu đoàn trưởng hạ quyết tâm đưa một trung đội của Đại đội 2 vào chiến đấu, nhưng do truyền đạt lệnh không rõ nên cả đại đội đã vào chiến đấu.

Đến 18 giờ 30 phút, địch ở khu vực lùm cây thưa và hỏa điểm của địch ở đông nam bãi trực thăng đã bị ta tiêu diệt, số còn lại phải lui sâu vào phía trong đường đi Ba De tổ chức hỏa lực ngăn chặn mũi tiến công của Đại đội 1, đồng thời cho máy bay ném bom napan xuống bãi trực thăng để chia cắt đường vận động của quân ta.

19 giờ, trời tối, tiếng súng của bộ binh địch đã im, chỉ còn pháo bắn mạnh về phía ta để ngăn chặn các trục đường xuất kích.

Đại đội 1 và 3 chỉ huy một bộ phận giữ đồi Ông Tô, đồi Rẫy, sau đó làm công tác thương binh, tử sĩ.

Sau một ngày chiến đấu, 150 quân Mỹ bị loại khôi vòng chiến đấu, 9 máy bay trực thăng bị bắn rơi; tiêu hao nặng hai đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 thủy quân lục chiến Mỹ.

Trận đầu đơn vị ra quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thắng lợi của trận đánh cho thấy: phải bám nắm chắc địch liên tục; tổ chức chiến đấu khẩn trương chu đáo mới giành được thắng lợi, nhất là chiến đấu vào ban ngày.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:14:33 am
TRẬN ĐIỂM CAO 402 CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 6
(24.7.1966)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 Trung đoàn 2 Sư đoàn 324 (có 3 đại đội bộ binh: 1, 2, 3 và một đại đội trợ chiến) vào quân địch đổ bộ đường không, chiếm điểm cao 402 (bắc đường 9 khoảng 6 km, tây nam Cù Đinh hơn 3km) thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, giữ vững khu vực điểm cao 402.

8 giờ ngày 24 tháng 7, ta phát hiện địch dùng 8 chiếc trực thăng đổ quân xuống bãi Cháy, phối hợp với lực lượng đang ở Khe Giao lên bắc diêm cao 344, bản Tây Lan, ấp Phú Tân; tất cả lực lượng khoảng một tiểu đoàn, chia thành hai mũi: một mũi ở đông nam điểm cao 402, theo đường ta mới mở về phía đông nam Cù Đinh, một mũi tiến vào đông nam điểm cao 402.

Sau khi hạ quyết tâm diệt địch, tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 3 được tăng cường 2 khẩu cối 82mm. 2 đại liên, một máy thông tin vô tuyến, nhanh chóng chiếm điểm cao 402, tiếp cận đánh địch ở các hướng đã phát hiện: Đại đội 4 theo đường mòn từ Cù Đình vào điểm cao 402, hiệp đồng chiến đấu với Đại đội 3; Đại đội 1 sẵn sàng cơ động chiến đấu cùng các đơn vị.

Thực hiện ý định của trên, Đại đội 3 sử dụng một trung đội (thiếu một tiểu đội) nhanh chóng vận động tiếp cận địch; một trung đội vận động tiếp sau trung đội đi đầu cùng phối hợp đánh địch và cho một tiểu đội phòng phía đông điểm cao 402; một trung đội làm dự bị của đại đội. Phân đội hỏa lực (đại liên, cối) vận động ra ngã ba, bố trí sau đội hình bộ binh.

Khoảng 10 giờ, các mũi tiến công của địch xuống dốc điểm cao 402. Các đại đội 3, 4 bắt đầu cho bộ đội vận động. Đường hẹp, cây rậm nên đội hình tiến quân theo một hàng dọc. Máy bay, pháo binh địch bắn phá ác liệt buộc các phân đội phải lợi dụng sau từng đợt phi pháo ngăn chặn để vượt qua. Vừa vận động, các đại đội vừa tổ chức bắn trực thăng vũ trang của địch, bảo vệ đội hình tiến công.

Khoảng 11 giờ, Đại đội 3 và 4 gặp nhau, bộ phận đi đầu đã gặp địch, chúng nổ súng trước, ta lập tức nổ súng diệt địch. Địch thả bom cháy sau đội hình Đại đội 3, đám cháy lan ra trước đội hình đại đội, đại đội được lệnh vượt lên bám địch để hạn chế phi pháo sát thương.

12 giờ, tiểu đoàn hình thành hai mũi cách địch 100 - 200m, các phân đội hỏa lực đã triển khai chiến đấu xong. Được lệnh, hỏa lực đại liên, cối bất ngờ nhả đạn vào đội hình địch. Bị ta áp sát, phi pháo địch không chi viện được, trận chiến đấu kéo dài khoảng hai giờ, ta diệt 40 tên. Bị tổn thất, địch dồn lên đỉnh, lực lượng phía sau tiến lên chi viện cho quân phía trước vào lấy xác nhưng bị ta áp sát dùng hỏa lực tiêu diệt và xung phong đẩy địch lùi về sau điểm cao 402.

Khoảng 13 giờ, trời mưa to, máy bay và pháo binh địch không hoạt động được. Ta và địch có bộ phận cách nhau vài chục mét.

16 giờ, được bổ sung đạn cối và đại liên, Đại đội 3 bắn mạnh vào đội hình địch. 16 giờ 45 phút, trời tạnh, phi pháo địch bắn mạnh sau đội hình ta và cho 4 chiếc trực thăng vào lấy xác đồng bọn. Chờ khi địch thả thang dây xuống, ta nổ súng, một chiếc rơi tại chỗ, các chiếc còn lại vội vã bay đi.

Đề phòng địch chặn đường, bao vây Đại đội 3, tiểu đoàn tăng cường cho đại đội một trung đội dự bị, đồng thời ra lệnh cho Đại đội 1 dùng một trung đội và một khẩu súng máy ra phối hợp với Đại đội 3 đánh địch.

Khi lực lượng của Đại đội 1 gặp Đại đội 3, ta phát hiện khoảng một đại đội địch từ Trúc Khê tiến lên hướng Đại đội 3, đại đội tổ chức một bộ phận ngăn chặn địch diệt một số tên.

Trời tối dần, địch dùng phi pháo đánh phá vào các khu vực của ta, đồng thời dồn lên cao củng cố công sự.

Sau một ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 200 tên; bắn cháy 1 máy bay trực thăng; thu 2 khẩu trung liên, 1 khẩu đại liên và nhiều loại súng khác.

Trận vận động tiến công thắng lợi tiêu diệt địch để lại nhiều kinh nghiệm hay về tổ chức chiến đấu trong điều kiện địa hình rừng núi; về ý chí quyết tâm bám đánh địch vượt qua bom đạn liên tục tiến công, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch; về giữ vững liên lạc, vận chuyển của ta, không để địch chia cắt.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:15:29 am
TRẬN GŨ SÀ CỦA Đại đội 440
(17.8.1966)

Trận vận động phục kích của Đại đội 440 huyện Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận (trang bị một khẩu cối 60mm, 9 khẩu trung liên, còn lại là tiểu liên) do Trương Minh Biên chỉ huy vào lực lượng thám báo nống ra càn quét, lùng sục khu vực Gũ Sà; nhằm tiêu diệt địch, củng cố phong trào du kích chiến tranh ở địa phương.

6 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8, lực lượng nghi binh bám quốc lộ, đoạn ấp Suối Nhum đánh bọn biệt kích mở đường. Địch đánh trả quyết liệt, ta lùi dần về trận địa phục kích theo kế hoạch, đại đội biệt kích ở Suối Nhum bám theo, đồng thời một trung đội thám báo ở hướng sông Lũy cũng đến đánh vào sườn trái của bộ phận dọc địch, các chiến sĩ ta vừa tiêu diệt địch vừa lùi dần, kéo địch bám theo. 7 giờ 30 phút, địch vào cách nơi ta giấu quân khoảng 1km. Đại đội trưởng lệnh cho các đơn vị cơ động đánh địch theo kế hoạch.

8 giờ 10 phút, Trung đội 1 đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch nhiều tên chết, bị thương, số còn lại chạy tán loạn về phía sau. Hiệp đồng với Trung đội 1 Trung đội 2 nhanh chóng vận động đánh vào bên sườn địch, địch hoảng loạn chạy cả vào đội hình ta, các chiến sĩ dùng cả lưỡi lê đánh giáp lá cà diệt địch. Trong khi đó Trung đội 3 đánh vào bên sườn, phía sau trung đội thám báo, dồn chúng vào giữa vòng vây cùng với trung đội biệt kích đang phải chống đỡ. Đại đội dùng cối 60mm, trung liên bắn chế áp vào đội hình địch, tiếp đó ba trung đội thành ba mũi xung phong tiêu diệt gần hết quân địch, làm chủ trận địa. 8 giờ 55 phút, trận đánh kết thúc.

Trận đánh thắng lợi thể hiện mưu trí sáng tạo và trình độ tổ chức chỉ huy, sử dụng lực lượng thích hợp, giữ bí mật, tạo bất ngờ; nắm chắc quy luật hoạt động của địch; khéo nghi binh, lừa địch vào trận địa phục kích theo ý định của ta để bao vây dồn địch vào khu vực quyết chiến điểm; tạo và nắm chắc thời cơ, nhanh chóng xung phong tiêu diệt địch, giành thắng lợi cho trận đánh.

TRẬN ĐẦU MẦU CỦA TRUNG ĐỘI 1 ĐẠI ĐỘI 2
(17.8.1966)

Trận phòng ngự của Trung đội 1 Đại đội 2 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 Sư đoàn 324 (19 người, trang bị 2 khẩu trung liên, một khẩu B40, còn lại là tiểu liên và súng trường, lựu đạn) đánh trả nhiều đợt tiến công của một tiểu đoàn địch ở Đầu Mầu (Động Hòa) huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt, đánh bại địch tiến công từ Cam Lộ lên theo trục đường số 9, giữ vững trận địa.

Từ ngày 13 đến 16 tháng 8, trung đội chiếm lĩnh, xây dựng công sự, trận địa, đường cơ động, giữ bí mật hành động. Địch phát hiện lực lượng ta chốt giữ ở Đầu Mầu, chúng dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào trận địa phòng ngự và các điểm xung quanh Đầu Mầu, nhưng đơn vị không thiệt hại gì.

12 giờ ngày 17 tháng 8, địch dùng phi pháo đánh mạnh vào trận địa, 13 giờ, cấp trên thông báo có một tiểu đoàn và một đại đội địch có 7 xe tăng cơ động từ Cam Lộ theo đường Cùa, qua điểm cao 241 tiến vào Đầu Mầu. Khi đến đường 9, chúng chia thành hai hàng dọc, tiến theo hai bên đường 9, đi đầu là một tiểu đội cảnh giới. Phát hiện địch tiến công, trung đội ra lệnh sẵn sàng nổ súng. Khi địch đến cầu Sập, trung đội trưởng ra lệnh cho toàn bộ hỏa lực của Tiểu đội 2 ở Đầu Mầu tập trung bắn vào đội hình, nhiều tên chết, số còn lại lăn xuống rãnh thoát nước hai bên đường, dùng hỏa lực bắn vào trận địa; một số lao xuống suối cạn, chui vào cống tròn. Địch phía sau lên lấy xác đồng bọn liền bị hỏa lực của ta diệt thêm một số tên. Đợt xung phong thứ nhất của địch thất bại.

Tiếp đó, từ 14 giờ 20 phút đến 17 giờ, địch sử dụng xe tăng, được không quân và pháo binh chi viện tổ chức nhiều lần tiến công vào trận địa. Trung đội vừa chặn địch, vừa bí mật cơ động lực lượng vượt khe Gió đánh vào bên sườn, phía sau đội hình địch, buộc chúng phải rút về Bãi Gỗ.

Sau đợt tiến công thứ ba của địch thất bại, chúng lùi về dùng xe tăng bắn trúng tầng 1 lô cốt, bên ta bị hỏng một khẩu trung liên, hai người hy sinh và một chiến sĩ bị thương. Địch vội vã lấy xác những tên chết trong các đợt tiến công.

17 giờ, xe tăng và bộ binh địch buộc phải rút về xóm Bầu. Trung đội tiếp tục dùng hỏa lực bắn đuổi theo.

Trời tối, bị thiệt hại nhiều, địch dừng lại ở Bãi Gỗ để củng cố, bổ sung vũ khí, chờ tăng viện để hôm sau tiến công tiếp.

20 giờ ngày 17 tháng 8, đại đội ra lệnh cho trung đội rời khỏi trận địa. Sau một ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng một đại đội địch; phá hủy 2 khẩu đại liên, một khẩu cối 81mm.

Trận phòng ngự ở Đầu Mầu để lại lại nhiều kinh nghiệm hay về tổ chức, bố trí sử dụng lực lượng về tinh thần chiến đấu ngoan cường, tích cực cơ động lực lượng tiến công vào bên sườn, phía sau đội hình địch, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, đánh bại nhiều đợt tiến công của chúng.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 06:16:22 am
TRẬN HÒA THÀNH CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 3 VÀ ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 2 QUÂN KHU 4
(25-26.8.1966)

Trận tập kích của Đại đội đặc công 3 Tiểu đoàn 31 và Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn 6 Quân khu 4 vào 2 đại đội pháo 105mm, 1 trung đội pháo 175mm, 1 đại đội bộ binh lính đánh thuê, 2 đại đội ngụy, 2 đại đội tăng M41, 1 trung đội thiết giáp M113; 2 khẩu cối 81mm, 1 khẩu cối 106,7mm và một số súng phóng lựu M72, M79 đóng ở căn cứ Hòa Thành (tây huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) - một căn cứ được xây dựng vững chắc, có công sự, chiến hào, xung quanh có nhiều hàng rào dây thép gai, xen kẽ có các bãi mìn; nhằm tiêu diệt lực lượng, phương tiện chiến tranh của địch, tạo điều kiện cho ta hoạt động trên các hướng và đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở địa phương.

Để hoàn thành nhiệm vụ, chỉ huy đơn vị sử dụng 72 chiến sĩ, gồm 37 người của Đại đội 3 và 24 người của Đại đội 2, cùng với 5 liên lạc và 6 du kích của lực lượng vũ trang địa phương. Trong đó, sử dụng một tiểu đội của Đại đội 2 chặn viện, đón lõng ở phía đông; một trung đội bộ binh của huyện Cam Lộ bảo vệ đường lui quân ở bắc làng Quật Xá; một trung đội cối 81mm (4 khẩu) kiềm chế pháo địch ở Cam Lộ.

24 giờ ngày 25 tháng 8, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

2 giờ 32 phút ngày 26 tháng 8, tổ 1 vào đến hầm pháo, gặp một lính gác địch đi đến, buộc phải nổ súng tiêu diệt. Nghe tiếng súng nổ, cả tổ dùng thủ pháo, tiểu liên đánh vào khu để pháo 175mm tiêu diệt địch. Các tổ khác của mũi 1 và mũi 2 nhanh chóng đánh chiếm vị trí chỉ huy tiểu đoàn địch, phá hủy các khẩu pháo; dùng B40 bắn xe tăng, xe bọc thép. Mũi 3, khi đến hàng rào thì súng ở mũi 1 nổ, lập tức toàn mũi vượt rào tiếp cận mục tiêu. Vì vào gấp nên vướng mìn sáng, đội hình bị lộ. Địch dùng hỏa lực ngăn chặn, một số bộ binh bị thương phải lùi ra ngoài hàng rào. Các tổ nhanh chóng đánh địch trong các nhà, diệt xe tăng, phá các khẩu pháo cối của địch.

Sau 28 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa pháo, nhưng địch ở các dãy đồi phía bắc và tây bắc vẫn đánh trả khá mạnh vào giữa trận địa, pháo sáng địch bắn lên nhiều và cho xe tăng, xe bọc thép vòng phía nam ra phản kích. Lúc này lực lượng ta đã hết bộc phá, không đủ sức tiêu diệt tiếp lực lượng địch còn lại. Ta tổ chức lui quân. Suốt ngày 26 tháng 8, địch dùng phi pháo liên tiếp đánh phá các dãy đồi phía nam trận địa pháo và cho 32 trực thăng, 5 xe GMC chở xác chết, cho máy bay ném bom xăng đốt cháy toàn bộ căn cứ. Số địch còn sống sót di chuyển về phía tây.

Trận Hòa Thành kết thúc, 238 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; 8 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu pháo I75mm, 1 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm và 1 trạm ra đa bị phá hủy; 6 xe tăng, xe thiết giáp, 4 xe GMC, 1 xe jeép bị bắn cháy.

Lần đầu tiên trên đường 9, đặc công và bộ binh hiệp đồng chặt chẽ đánh vào một trận địa pháo của địch, với lực lượng lớn, phạm vi rộng, bố trí trong công sự có hỏa lực, vật cản và bộ binh bảo vệ chu đáo. Thắng lợi của trận đánh đã động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, nhân dân địa phương, ghi thêm truyền thống vẻ vang của đơn vị, cổ vũ phong trào chiến tranh du kích ở địa phương.

TRẬN MỸ HÒA CỦA ĐẠI ĐỘI 1
(16.9.1966)

Trận tập kích của Đại độí 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn bộ binh 2 được tăng cường một trung đội bộ đội địa phương huyện Cam Lộ vào quân địch đi càn quét tạm dừng ở khu vực điểm cao 31 cụm thành hai cụm, một ở phía tây - mỏm A và một ở phía đông - mỏm B thuộc Mỹ Hòa, huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt, góp phần bẻ gãy các trận càn của địch.

18 giờ ngày 16 tháng 9. các đơn vị vào vị trí tập kết ở tây bắc điểm cao 34. 20 giờ bắt đầu tiếp cận, Sau hai giờ triển khai lực lượng áp sát các mục tiêu cách địch 5m nhưng chúng không biết.

Khi đến nơi. ta phát hiện địch thay đổi vị trí, chúng không đóng trên đồi, mà rời xuống đóng dưới chân đồi và phân tán đóng thêm một cụm ở phía nam - mỏm C. Tuy vậy, đại đội vẫn quyết tâm đánh theo kế hoạch cũ và không xử trí gì thêm.

Mũi một bao vảy địch ở mỏm A, địch vẫn ngủ, không phát hiện được hành động của ta. Trung đội trưởng cho một tổ tiếp tục bò sát mục tiêu, khi cách địch khoảng 3m, một tên địch phát hiện bắn làm một trong tổ hy sinh. Ngay lập tức trung đội trưởng cho mũi mình nổ súng. Toàn mũi dùng lựu đạn ném vào những khu vực có tiếng động, sau đó xung phong, dùng tiểu liên bắn găm, bắn gần diệt các tốp địch. Sau một thời gian ngắn, lực lượng địch ở mỏm A cơ bản bị diệt. Chỉ huy mũi một cho lực lượng phát triển xuống phía nam, nhưng bị hỏa lực địch ngăn chặn không tiến lên được. Chỉ huy ra lệnh cho B40 diệt hỏa điểm địch, sau đó cho mũi mình rút về căn cứ theo kế hoạch.

Mũi hai chia làm hai tổ, luồn sâu áp sát gần địch. Nghe tiếng súng nổ của mũi một, chỉ huy ra lệnh nổ súng diệt địch. Toàn mũi dùng lựu đạn ném vào khu vực có tiếng động và xung phong, dùng súng tiểu liên gắn gần, bắn găm, trong một thời gian ngắn đã tiêu diệt gọn địch ở mỏm B.

2 giờ ngày 17 tháng 9, trận đánh kết thúc; 144 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về sử dụng lực lượng đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; về sử dụng lực lượng dự bị đúng thời cơ; về hiệp đồng chiến đấu nhất là trong thời kỳ đầu đánh Mỹ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:43:42 am
TRẬN ĐIỂM CAO C1
(12.11.1966)

Trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 88 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 7 Trung đoàn 66. Tiểu đoàn súng cối 32 (6 khẩu cối 120mm) của Mặt trận Tây Nguyên và đại đội súng máy phòng không 12,7mm (6 khẩu) vào tiểu đoàn bộ binh 2, đại đội pháo 105mm (6 khẩu), một trung đội cối 106,7mm của trung đoàn 8, lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh 4 Mỹ và một đại đội biệt kích ngụy tại điểm cao C1 nay thuộc xã Mô Rây. huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum; nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch vừa đổ bộ xuống các bãi C1 và C1b.

16 giờ 57 phút ngày 12 tháng 11, sau khi củng cố vị trí đứng chân, địch đưa lực lượng nống ra cả trên hai hướng của các tiểu đoàn 2 và 7. Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng tiến công. Lập tức cối 120mm bắn hiệu chỉnh, sau do bắn dồn dập vào các mục tiêu quy định. Hết thời gian bắn chuẩn bị nhưng trên hướng chủ yếu các đại đội vẫn cách vị trí xuất phát xung phong 700 - 800m. Trước tình hình đó, trung đoàn lệnh cho cối 120mm và 82mm của trung đoàn và của Tiểu đoàn 2 tiếp tục bắn chi viện cho bộ binh chiếm lĩnh. Địch phản ứng bắn ra thưa thớt. Lúc này cả hữu tuyến và vô tuyến điện liên lạc giữa trung đoàn với các tiểu đoàn đều không hoạt động được.

18 giờ, Tiểu đoàn 2 lệnh cho bộ binh xung phong. Đại đội 5 bị lạc nên Đại đội 7 được lệnh thay thế, nhưng cũng chỉ có một trung đội lên đến vị trí xuất phát xung phong. Mặc dù lực lượng ít, nhưng đại đội trưởng Đại đội 7 vẫn chỉ huy đơn vị đánh thẳng vào trận địa địch, diệt và làm bị thương một số tên ở chân điểm cao và phát triển lên đỉnh C1.

Từ hướng bắc, Đại đội 6 chiếm được ngã ba đường mòn gần đỉnh C1, nhưng lực lượng đi đầu bị tổn thất, trong khi đó máy bay địch đánh trúng đội hình nên phân đội không đủ sức phát triển tiếp.

Sau 20 phút xung phong, tiểu đoàn mới tìm thấy Đại đội 5 và điều một trung đội lên tiến công, một giờ sau mới điều được cả Đại đội 5 vào chiến đấu. Do kho đạn địch nổ dữ dội nên Đại đội 7 không phát triển qua được, một trung đội của Đại đội 5 vòng qua phía tây đánh chiếm các công sự vòng ngoài. Bị ta tiến công từ nhiều phía, nhiều tên địch chết, số còn lại lui dần lên đỉnh C1 cụm lại chống cự quyết liệt. Do tổ chức lúng túng, đại đội trưởng hy sinh, Đại đội 5 bị bom địch đánh trúng, thương vong nhiều, lại mất liên lạc với tiểu đoàn, trong khi đó phân đội cối 82mm và ĐKZ của tiểu đoàn lại “bị bỏ quên” ở phía sau không sử dụng, nên hướng tiểu đoàn không phát triển tiến công được.

21 giờ, bằng liên lạc chạy chân, Tiểu đoàn 2 đề nghị trung đoàn cho lực lượng dự bị vào chiến đấu. Nhưng do chưa nắm được tình hình của hướng chủ yếu nên trung đoàn không đồng ý và cử tham mưu phó xuống tăng cường chỉ huy cho tiểu đoàn. Đến 2 giờ 30 phút ngày 13, trước tình hình không phát triển được, trung đoàn quyết định cho dự bị vào tăng cường cho Tiểu đoàn 2. Một giờ sau đại đội dự bị mới bắt đầu xuất phát được. Trong khi đó địch trên đỉnh chỉ còn gần một đại đội vẫn tiếp tục chống cự.

Trên hướng Tiểu đoàn 7, Đại đội 1 bị lạc còn các đại đội 2 và 3 vào chiếm lĩnh đúng vị trí. Sau khi cối bắn chuẩn bị, các đại đội lên điểm cao C1b không thấy có địch, nhưng Tiểu đoàn 7 lại không nhanh chóng đưa đơn vị tiến sang điểm cao C1 như lệnh của trung đoàn, nên bị địch đánh bom bi và pháo vào ngay vị trí của tiểu đoàn. Sau khi củng cố đơn vị lần thứ ba, tiểu đoàn trưởng mới lệnh cho tiểu đoàn vượt qua khe đồi phía bắc đánh lên C1 và để tránh bom pháo. Khi cơ động vượt khe, đội hình bị bom, tiểu đoàn chỉ nắm được một đại đội, Đại đội 2 nắm được 20 người, Đại đội 3 chỉ nắm được 7 người. Phân đội ĐKZ cơ động đến nam C1, nhưng do không có dự kiến trước, triển khai trận địa xa nên lúng túng không bắn được. Lúc này súng cối cũng hết đạn.

Trước nhũng khó khăn ngày càng lớn, trung đoàn lệnh cho các đơn vị lui quân, đồng thời lệnh cho cối 120mm và cối 82mm bắn vào quân địch ở C1 để đơn vị lui quân. 4 giờ ngày 13 tháng 11, trung đoàn trưởng xuống thu quân ở Tiểu đoàn 2, trung đoàn phó xuống thu quân của Tiểu đoàn 7.

Trận đánh kết thúc, ta đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bộ binh 2 của địch, phá 6 khẩu pháo 105mm và 3 khẩu cối 106,7mm.

Trận tập kích ở điểm cao C1 giúp ta hiểu rõ hơn thủ đoạn tác chiến của địch khi chúng đổ bộ đường không sâu vào hậu phương của ta. Để đánh thắng địch, ta phải chuẩn bị tốt trận địa và bảo vệ trận địa chu đáo; chỉ huy phải nắm chắc diễn biến trận đánh, có quyết tâm cao sâu sát linh hoạt và quyết đoán.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:44:24 am
TRẬN CỒN BÔNG CỦA DU KÍCH XÃ HÒA HẢI
(14.11.1966)

Trận tập kích của du kích xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, do xã đội trưởng trực tiếp chỉ huy, trang bị chủ yếu là tiểu liên, lựu đạn và thủ pháo, vào một trung đội lính thủy đánh bộ địch đi càn dừng lại, trú quân ở Cồn Bông thuộc thôn Tân Trà, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng); nhằm tiêu diệt địch, phá cuộc càn của chúng trên địa bàn, mở ra phong trào thi đua diệt địch trong toàn xã.

20 giờ ngày 14 tháng 11, các bộ phận hành quân vào chiếm lĩnh trận địa. 22 giờ, các đơn vị áp sát mục tiêu và sẵn sàng nổ súng đánh địch ở Cồn Bông. Khi xã đội trưởng đến sát nhà bạt trung tâm, bất ngờ dùng lựu đạn đánh thẳng vào bên trong. Lập tức các tổ dùng lựu đạn, thủ pháo đánh vào các nhà bạt, hầm trú ẩn, công sự chiến đấu của địch. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp phản ứng, một số tên bị ta tiêu diệt. Hơn 10 phút sau, những tên còn lại mới nổ súng chống trả. Ta dựa vào công sự và tận dụng vũ khí vừa lấy được của địch chiến đấu hơn một giờ mới lui quân.

Biết lực lượng ở Cồn Bông bị ta tiến công, trung đội địch ở Khe Một đến chi viện. Đợi địch lọt vào trận địa, tiểu đội đồng loạt nổ súng vào đội hình của chúng, một số tên chết tại chỗ, một số chạy ra xa và bắn trả quyết liệt. Để bảo toàn lực lượng, các tổ giải quyết thương binh, tử sĩ và lui quân về vị trí quy định.

Sau hơn một giừ chiến đấu, du kích đánh thiệt hại nặng đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu 80 tên, thu 1 khẩu ĐKZ, 1 khẩu M79, 3 khẩu tiểu liên, phá 8 nhà bạt, 2 máy thông tin PRC25.

Chiến thắng Cồn Bông của du kích xã Hòa Hải cho thấy: Để đánh thắng địch phải nắm vững quy luật hoạt động, vận dụng cách đánh, chọn thời cơ tiêu diệt địch phù hợp. Phải có quyết tâm chiến đấu cao, dũng cảm tiếp cận địch, đánh đúng chỗ yếu của chúng.

TRẬN THA THƠM CỦA ĐẠI ĐỘI 24
(24.11.1966)

Trận tập kích của Đại đội trinh sát 24 Trung đoàn bộ binh 673 Quân khu Tây Bắc đánh vào sở chỉ huy binh đoàn cơ động số 17 (GM17) của địch ở thị trấn Tha Thơm, tỉnh Xiêng Khoảng (Lào); nhằm tiêu diệt chỉ huy và một bộ phận quân địch, tạo điều kiện cho các bộ phận khác đánh địch, giải phóng khu vực Tha Thơm.

Phòng ngự ở Tha Thơm, binh đoàn 17 bố trí tiểu đoàn 6 (BI6) ở các khu vực sân bay, Ta Viêng, Phu Sắc Nọi, Bản Đông và ở khu đồi Koong Le cũ, phía bắc sân bay; tiểu đoàn 12 (BI 12) bố trí ở các khu vực Nghiu Nhầy, Xiềng Than, Sao Nọi và Mường Nham, sở chỉ huy binh đoàn ở tây bắc sân bay. Trong khu vực chỉ huy, chúng xây dựng nhiều nhà, có một số đoạn hào và công sự dã chiến để bảo vệ sở chỉ huy.

Đại đội 24 tham gia chiến đấu có 36 người, phối hợp với Đại đội 15 Tiểu đoàn 2 Pathét Lào tập kích sở chỉ huy GM17 và vị trí chỉ huy của tiểu đoàn 6, trận địa pháo ở khu vực sân bay Tha Thơm; diệt chỉ huy, phá hủy súng, pháo, kho tàng của địch.

Để tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành 3 mũi: Mũi tiến công chủ yếu có 10 trinh sát của Đại đội 24 và 10 chiến sĩ Pathét Lào, có nhiệm vụ tiêu diệt chỉ huy GM17 và chỉ huy tiểu đoàn 6 ở bắc sân bay. Mũi thứ yếu gồm 5 trinh sát và 10 chiến sĩ Pathét Lào đánh vào trận địa pháo địch ở đông nam sân bay. Mũi phối hợp do một trung đội đảm nhiệm, đón lõng địch ở khu vực đồi Koong Le sẵn sàng diệt địch rút chạy, đồng thời ngăn chặn địch từ đồi Koong Le ra ứng cứu cho địch ở Tha Thơm.

17 giờ ngày 23 tháng 11, các mũi hành quân chiếm lĩnh trận địa. 2 giờ ngày 24, bộ đội vào vị trí chiếm lĩnh bí mật, sẵn sàng đánh địch.

4 giờ ngày 24, mũi chủ yếu bắn B40 vào nhà chỉ huy địch, làm 4 nhà bốc cháy. Bộ đội nhanh chóng chớp thời cơ, xung phong diệt địch, đánh chiếm sở chỉ huy GM17.

Hiệp đồng với mũi chủ yếu, mũi thứ yếu nổ súng nhanh chóng chiếm trận địa pháo, nhưng vào đến nơi chỉ có nhà và trận địa bỏ trống, địch đã di chuyển pháo đi trước ta không nắm được.

Phối hợp với Đại đội 24, Đại đội 19 Tiểu đoàn 2 Pathét Lào đã đánh vào chỉ huy tiểu đoàn 12 và đại đội 4 địch ở Paka, diệt một số tên, thu một khẩu ĐKZ 57mm.

Cùng thời điểm trên, pháo ta bắn vào đồi Koong Le, Xiềng Than, Nghiu Nhầy diệt một số địch, số còn lại chạy về Sao Nọi.

Sau 45 phút chiến đấu, trận đánh kết thúc, hơn 100 tên địch bị diệt. Ta thu 2 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 81 mm, 1 khẩu cối 60mm và một số vũ khí khác, cùng bộ đội Pathét Lào giải phóng Tha Thơm.

Nhờ trinh sát nắm chắc quy luật hoạt động của địch vận dụng cách đánh thích hợp; đánh trúng sở chỉ huy địch ngay từ đầu, làm cho chúng nhanh chóng tan rã; chỉ huy linh hoạt, mưu trí, xử trí các tình huống kịp thời; hiệp đồng chặt chẽ, thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:45:22 am
TRẬN AN LỖ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 1
VÀ ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 12 TRUNG ĐOÀN 6
(20.12.1966)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 và Đại đội đặc công 12 Trung đoàn 6 bộ binh, được tăng cường Đại đội 16 cối 82mm, Đại đội bộ binh 3 Tiểu đoàn 6, một trung đội thông tin, một tiểu đội trinh sát do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đề chỉ huy vào quân địch trong căn cứ có 8 lô cốt xây bằng tường đất dày cảnh giới cả ba phía và ba lớp rào dây thép gai dày đặc, do một đại đội bảo an chốt giữ được tăng cường một đại đội của trung đoàn 3 ngụy, trang bị đại liên, trung liên, cối 60mm, cối 81mm ở An Lỗ thuộc hai thôn Thượng An - Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quẩn chúng, mở rộng vùng giải phóng của ta.

Sau một thời gian chuẩn bị, theo kế hoạch đêm 19 tháng 12, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị tiến công. 1 giờ ngày 20 tháng 12, tiếp theo tiếng bộc phá của đại đội chủ công, hàng trăm quả thủ pháo ở các mũi của đại đội đặc công đánh vào các lô cốt, khu nhà ở, nhà kho của địch. Cùng lúc đó hàng trăm quả cối 60, 82mm đánh vào khu vực cột số 22 làm cho trận địa pháo binh của địch bị tê liệt ngay từ đầu.

Trong khi đặc công và bộ binh ta đánh địch ở trung tâm thì hai chiến sĩ đại đội đặc công lợi dụng dòng sông theo bè chở 100kg bộc phá vượt qua các trạm gác, đèn pha của địch về hạ lưu sông Bồ. Đúng lúc quân ta làm chủ trận địa thì khối bộc phá nổ, phá sập cầu An Lỗ, cắt đứt giao thông trên tuyến đường 1A. Địch ở đây hốt hoảng tháo chạy hỗn loạn, bỏ lại đồng bọn bị thương và nhiều súng đạn.

Lần đầu tiên bộ binh kết hợp với đặc công đánh địch dã ngoại có công sự vững chắc, sau 40 phút chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội bảo an được tăng cường một đại đội của trung đoàn 3 ngụy, buộc địch phải bỏ căn cứ An Lỗ, phá vỡ cuộc càn của chúng; diệt gần 100 tên địch, bắt 40 tên, thu 600 súng và phương tiện chiến đấu các loại (có hai khẩu đại liên, 2 khẩu cối 81mm, 6 khẩu cối 60mm, 3 máy thông tin PRC 25).

Phổi hợp với bộ đội chủ lực, quân và dân ba xã Phong An, Phong Sơn, Phong Điền nổi dậy phá “ấp chiến lược”, phá trại giam giải thoát 25 cán bộ của ta bị địch bắt trong các cuộc càn quét trước đó.

Thắng lợi của trận An Lỗ là kết quả của sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương, biện pháp của Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên vào hoàn cảnh cụ thể của đơn vị đứng chân trên chiến trường Trị Thiên máu lửa.

TRẬN XUÂN SƠN CỦA TRUNG ĐOÀN 22
(26-27.12.1966)

Trận tập kích của Trung đoàn 22 Sư đoàn 3 Quân khu 5 vào một tiểu đoàn bộ binh (thiếu một đại đội) một tiểu đoàn pháo binh (2 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm, 4 khẩu 75mm), một đại đội trợ chiến (2 khẩu cối 81mm, 8 khẩu đại liên) thuộc lữ đoàn 1 sư đoàn không vận số 1 Mỹ đóng ở cứ điểm Xuân Sơn (thôn Xuân Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định); nhằm phối hợp với Trung đoàn 12 tiêu diệt địch ở Ân Tường, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân phá kế hoạch bình định của địch.

Nhận nhiệm vụ chiến đấu, Trung đoàn 22 (thiếu Tiểu đoàn 7) được tăng cường một tiểu đội công binh, một tiểu đội đặc công, một tiểu đội bộ đội địa phương huyện Hoài Ân; trang bị có 3 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 7 khẩu cối 82mm, 4 khẩu đại liên.

Để tiêu diệt địch, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 8 (được tăng cường một tiểu đội công binh) tiến công trên hướng chủ yếu. Tiểu đoàn bộ binh 9 (thiếu Đại đội 93), được tăng cường một tiểu đội đặc công của huyện Hoài Ân) tiến công trên hướng thứ yếu. Đại đội 93 làm dự bị của trung đoàn. Tiểu đội bộ binh huyện Hoài Ân đón lõng địch rút chạy. Hỏa lực cối và ĐKZ bố trí trên hướng đông bắc và đông nam tập trung chi viện cho hướng chủ yếu.

Ngày 18 tháng 12, trung đoàn bắt đầu hành quân đến 22 giờ ngày 22 tháng 12 đến vị trí tập kết, cách địch 10 - 15km.

Ngày 25 tháng 12, Đảng ủy trung đoàn họp quyết định nổ súng vào đêm 26 tháng 12. Ngay trong đêm 25, trung đoàn di chuyển lên khu vực điểm cao 198, cách địch khoảng l.000m.

17 giờ 30 phút ngày 26 tháng 12, các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, triển khai đội hình chiến đấu đến 23 giờ 50 phút mới hoàn thành.

24 giờ ngày 26 tháng 12, từ các trận địa cối, ĐKZ bắn cấp tập vào trận địa địch. Ngay loạt đạn đầu, ta đã bắn trúng sở chỉ huy, trung tâm thông tin, trận địa pháo, một số nhà bạt bốc cháy dữ dội. Khi hỏa lực chuyển bắn, bộ binh đồng loạt xung phong.

Trên hướng chủ yếu, bộ đội đã ào ạt xung phong chiếm mục tiêu tiền duyên và phát triển thẳng vào trận địa pháo. Địch chống cự mạnh, chúng dùng lựu đạn ném ra, làm ta bị thương một số, trong đó có một đại đội trưởng, nhưng bộ đội vẫn xông lên tiêu diệt địch, phát triển vào bên trong chiếm trận địa pháo, đồng thời bắt liên lạc với Đại đội 82 (bên trái).

Cánh trái, Đại đội 82 phát triển thuận lợi. Cánh phải Đại đội 81 cùng các mũi khi phát triển thì bị chặn lại, ta phải dùng thượng liên quét dọc chiến hào dập tắt các ụ đại liên, bộ đội tiếp tục xung phong. Đúng lúc đó, lực lượng dự bị của tiểu đoàn bước vào chiến đấu cùng Đại đội 81 phát triển đánh địch.

Các tiểu đội thọc sâu, mũi nhọn nhanh chóng băng qua sự ngăn chặn của địch đánh chiếm sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa pháo và cắm lá cờ quyết chiến quyết thắng lên nòng pháo 155mm của địch.

Nhận được báo cáo của Tiểu đoàn 8, trung đoàn trưởng ra lệnh cho Đại đội 93 (dự bị của trung đoàn) bước vào chiến đấu. Được tăng cường lực lượng, Tiểu đoàn 8 nhanh chóng chiếm các vị trí còn lại, hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch.

Trên hướng thứ yếu, khi hỏa lực vừa dứt, các đơn vị đồng loạt xung phong tiêu diệt địch. Các mũi chính diện, vu hồi, cạnh sườn hiệp đồng chặt chẽ đánh chiếm khu thông tin, sở chỉ huy tiểu đoàn kỵ binh bay của địch, phát triển chiến đấu tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Sau khi làm chủ trận địa, 1 giờ 30 phút ngày 27 tháng 12, trung đoàn ra lệnh lui quân, để lại mỗi tiểu đoàn một đại đội do trung đoàn phó và tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 chỉ huy giải quyết các công việc còn lại, 3 giờ 30 phút phải hoàn thành và rút khỏi trận địa.

Do quá trình lui quân tổ chức không chặt nên Tiểu đoàn 8 đến 20 giờ ngày 27 tháng 12 mới về đến vị trí tạm dừng.

Lực lượng ở lại Xuân Sơn bố trí ở Gò Gai, cách trận địa l.000m. 5 giờ ngày 27 tháng 12, địch bắt đầu phản kích, chúng liên tục cho trực thăng vũ trang, máy bay phản lực đánh phá và đổ quân đánh vào trận địa nghi binh suốt ngày 27 tháng 12. Đại đội phó chì huy bộ phận này chiến đấu dũng cảm, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Đến tối, thấy lực lượng nghi binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, trung đoàn ra lệnh rút lui an toàn.

Trên đường rút về vị trí tạm dừng, đơn vị bị địch bám theo phát hiện. Từ 14 giờ 30 phút ngày 27 đến 20 giờ ngày 30 tháng 12, địch liên tục đổ quân bao vây, dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào đội hình của ta. Nhờ nắm chắc địch, dự báo được thủ đoạn của chúng, xử trí tình huống linh hoạt và khôn khéo, trung đoàn đã vượt sông An Lão về địa điểm an toàn ngày 31 tháng 12.

Trận đánh kết thúc, khoảng 700 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; 11 khẩu pháo bị phá hủy; 6 máy bay trực thăng bị bắn rơi.

Thắng lợi của trận Xuân Sơn cho thấy phải: Đánh giá đúng địch, hạ quyết tâm chính xác. Khắc phục được thời tiết, tranh thủ và tạo được thế bất ngờ. Giành được thế chủ động, vận dụng cách đánh thích hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Tổ chức chuẩn bị chiến đấu tốt, chuẩn bị chiến trường tỷ mỷ, chỉ huy chặt chẽ, sâu sát, kịp thời và linh hoạt.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:45:49 am
TRẬN SƠN QUANG CỦA TIỂU ĐOÀN 48
(1.2.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương Quảng Ngãi vào một đơn vị địch mang tên “Rồng Xanh” càn vào xã Sơn Quang, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt địch, giữ vững địa bàn, bảo vệ nhân dân.

Sau khi chiếm đóng huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; quân địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét vào các thôn, xã, tìm diệt lực lượng vũ trang địa phương.

Sau đợt chiến đấu, Tiểu đoàn 48 về đóng quân ở xã Sơn Quang để củng cố, rút kinh nghiệm, đồng thời sẵn sàng phối hợp với du kích địa phương đánh địch càn quét.

Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn bố trí Đại đội 1 ở xóm Đông Hoà; Đại đội 2 ở Xuân Thới; Đại đội 3 ở Xuân An; Đại đội 4 (hoả lực) ở Xuân Thới, sẵn sàng đánh địch theo các phương án.

8 giờ ngày 1 tháng 2, địch dùng phi pháo bắn phá các thôn Xuân An, Sơn Hải, Bình Châu. 9 giờ 30 phút, sau khi đổ quân xuống các thôn trên, địch chia làm nhiều mũi tiến vào thôn Đồng Xuân. Ta dự kiến địch sẽ hội quân ở Sơn Hải tiểu đoàn quyết định chặn địch, không cho chúng tiến vào phối hợp với cánh quân ở Sơn Hải và lệnh cho Đại đội 2 cơ động một trung đội ra chặn địch ở Gò Mè (tây nam Đồng Xuân), lực lượng còn lại bí mật vòng về phía bắc thôn Đồng Xuân đánh vào phía sau quân địch, cùng với Đại đội 3 hình thành thế bao vây diệt địch. Đại đội 3 sẵn sàng tiến sang Xuân An chặn địch, phối hợp với Đại đội 2 tiêu diệt toàn bộ quân địch.

10 giờ, địch từ Đồng Xuân tiến sang Xuân An, chúng bị Trung đội 1 chặn đánh, không vào được Xuân An, phải trở lại Đồng Xuân, dùng hoả lực bắn vào khu vực trận địa của Đại đội 1 và Đại đội 3. Trung đội 1 Đại đội 2 sau khi chiếm Gò Gà, dùng hoả lực bắn địch ở Đồng Xuân, buộc chúng quay lại đối phó.

10 giờ 10 phút, Đại đội 3 vận động sang Đồng Xuân bị địch chặn lại, đại đội để lại một tiểu đội tăng cường cho Trung đội 1 kiềm chế địch ở chính diện, đại bộ phận vòng về phía nam đường đánh vào cạnh sườn quân địch.

10 giờ 30 phút, địch cho trực thăng xuống lấy xác đồng bọn bị hoả lực đại liên của tiểu đoàn và Trung đội 1 bắn rơi một chiếc, không lấy được xác đồng bọn.

Trước việc địch dùng phi pháo đánh phá quyết liệt, tiểu đoàn động viên bộ đội, cử tham mưu trưởng xuống Đại đội 2, tiểu đoàn phó xuống Đại đội 3 tăng cường chỉ huy cho các đơn vị.

Từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ, các đại đội 2 và 3 hình thành nhiều mũi áp sát quân địch, đánh cả trước mặt, cạnh sườn và sau lưng chúng. Bị đánh bất ngờ, số địch còn lại vội tháo chạy, các mũi lần lượt chiếm các vị trí được giao, làm chủ trận địa.

14 giờ 30 phút, phát hiện địch từ Sơn Hải dùng thuyền vượt sông đánh vào sau Đại đội 3 để giải vây cho địch ở Đồng Xuân, tiểu đoàn tổ chức chặn địch ở nam Đồng Xuân và Gò Rọ. Khi Trung đội 1 vừa đến phía nam Đồng Xuân thì địch tới Nà Muối, trung đội nhanh chóng chiếm địa hình có lợi đánh bật địch trở lại Sơn Hải, nhưng khi thuyền ra giữa sông bị ĐKZ của ta bắn trúng thuyền, một số tên chết, một số bị thương.

Lúc này ở Đồng Xuân, các đại đội 2 và 3 xung phong vào làng; phối hợp với các hướng, các mũi lần lượt tiêu diệt toàn bộ quân địch. 17 giờ trận đánh kết thúc, ta diệt gọn một đại đội và một trung đội địch (khoảng 200 tên); bắn rơi một trực thăng, thu 40 súng các loại.

Trận Sơn Quang là một điển hình về đánh tiêu diệt của bộ đội địa phương tỉnh bằng chiến thuật vận động tiến công. Nhờ thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trước và trong trận đánh; nhờ xử trí kịp thời các tình huống, nắm chắc thời cơ, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu mà ta đã tiêu diệt nhiều địch trên địa hình đồng bằng ven biển.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:46:31 am
TRẬN LUÔNG PHABĂNG CỦA ĐỘI ĐẶC CÔNG QUÂN KHU TÂY BẮC
(2.2.1967)

Trận tập kích của Đội đặc công Quân khu Tây Bắc vào sân bay Luông Phabăng (Lào) nhằm phá huỷ phương tiện chiến tranh, tiêu diệt địch, không cho chúng rảnh tay đánh phá vùng giải phóng của ta.

Sân bay Luông Phabăng có đường băng dài hơn 2.000m, thời đó là đường hàng không duy nhất đi các nơi. Để chi viện cho các đơn vị lấn chiếm vùng Nậm Bạc, địch điều đến sân bay một đại đội, trên sân bay thường xuyên có khoảng 10 máy bay chiến đấu T28 và một số trực thăng. Ngoài máy bay, còn có khu chứa bom, chứa nhiên liệu. Sân bay thường xuyên có hai đại đội bảo vệ, tổ chức bố phòng rất cẩn mật.

Đội đặc công đánh sân bay có 42 người (kể cả 6 chiến sĩ công binh phối thuộc); trang bị có 1 súng B40, 1 trung liên, 30 tiểu liên, 4 cácbin, 2 súng ngắn và một số bộc phá. Để tiêu diệt địch trong sân bay, chỉ huy trận đánh tổ chức lực lượng thành hai hướng:

Hướng đánh địch trong sân bay gồm 21 người, tổ chức làm một mũi và ba tổ độc lập. Mũi đánh máy bay gồm 10 người, chia thành ba tổ, làm nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay T28 và đánh máy bay trực thăng. Các tổ độc lập có nhiệm vụ đánh khu chứa bom, dầu, khu nhà sĩ quan, khu nhà lính bảo vệ sân bay.

Hướng đánh địch ngoại tuyến gồm 15 người, chia thành bốn tổ. Một tổ làm nhiệm vụ phá cầu, phá xe cơ giới địch từ thành phố đi Đon Tro. Một tổ phục kích chặn địch ở bản Đon Tro đi sân bay, đi Phu Luông. Một tổ 3 chiến sĩ công binh chống bộ binh phục kích ở Phu Luông đi bản Đon Tro, đi sân bay. Một tổ 4 chiến sĩ công binh phục kích đoạn Cốc Van, Bố Hẹ đi Nà Tàn.

Từ ngày 28 tháng 1, Đội đặc công từ Sốp Vi theo đường triền núi tiếp cận mục tiêu. 23 giờ ngày 1 tháng 2, đơn vị tiếp cận sát mục tiêu theo kế hoạch, sẵn sàng nổ súng.

0 giờ 5 phút ngày 2 tháng 2, B40 bắn vào nơi để máy bay T28, từ các hướng, quân ta nhanh chóng tiếp cận mục tiêu, ném lựu đạn, đánh bộc phá phá huỷ các máy bay, tiêu diệt địch ở các mục tiêu được phân công, cả sân bay như một bể lửa do xăng dầu cháy, đạn nổ, đến sáng vẫn chưa hết.

9 giờ, hai ôtô chạy từ thành phố đi Đon Tro. Xe đi trước vướng mìn, mìn nổ làm đổ xe, xe đi sau không kịp phanh lao xuống đường ngầm cũng bị đổ. Địch chết và bị thương một số.

Trận đánh giành thắng lợi. Địch có 9 máy bay T28, hai máy bay trực thăng bị phá huỷ; hàng trăm tấn bom đạn và xăng dầu bị phá nổ và bị đốt cháy, 80 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; sân bay bị phá hỏng nặng (do bom nổ), địch phải sửa chữa 15 ngày sau mới hoạt động trở lại.

Lần đầu tiên địch bị ta đánh vào một trung tâm quân sự ngay giữa thành phố lớn ở Bắc Lào, làm tinh thần binh lính hoang mang, không còn nơi nào là an toàn với chúng Nhân dân phấn khởi, tin vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào bộ đội tình nguyện Việt Nam.

TRẬN NẬM SOONG CỦA TRUNG ĐỘI 3 ĐẠI ĐỘI TRINH SÁT 41
(5.2.1967)

Trận tập kích của Trung đội 3 Đại đội trinh sát 41 Sư đoàn 316 vào trận địa pháo binh địch ở Nậm Soong (Mường Sủi) nhằm phá huỷ trận địa pháo của địch, sẵn sàng đánh địch càn quét.

Để chi viện cho lực lượng của chúng giữ các điểm cao, địch bố trí ở Nậm Soong hai trận địa pháo 155mm: trận địa bắc đường 4 có 4 khẩu; trận địa ở nam đường 7 có 4 khẩu. Xung quanh trận địa địch tổ chức các chốt tiền tiêu bảo vệ. Lực lượng ở các chốt từ một trung đội (thiếu) đến một trung đội; có hoả lực cối, đại liên đi cùng.

Hai trận địa pháo có khoảng 80 tên địch. Pháo đặt trong công sự, địch ở phân tán trong công sự chiến đấu và giao thông hào, có ĐKZ và đại liên trực tiếp bảo vệ. Xung quanh trận địa có rào dầy thép gai, có mắt “thần” của chó, ngỗng hỗ trợ bảo vệ.

Trung đội trinh sát 3 được tăng cường một súng B40, một ĐKZ 57mm, một y tá, do cán bộ đại đội chỉ huy cùng một chuyên gia của mặt trận Phu Cút. Trang bị mỗi người một khẩu AK, ngoài ra còn 11 khối bộc phá từ 4 đến 8kg, khi chiến đấu được hoả lực cối 82mm của Tiểu đoàn 701 trực tiếp chi viện.

Để đánh địch, chỉ huy tổ chức lực lượng thành các bộ phận: Tiểu đội trinh sát 7 được tăng cường một B40, một chiến sĩ bộc phá và 9 quả bộc phá khối, do trung đội trưởng trinh sát chỉ huy, đánh địch trên hướng chủ yếu. Tiểu đội trinh sát 8, do trung đội phó chỉ huy, đánh địch ở hướng thứ yếu, tiêu diệt tiền tiêu 5 của địch, tiêu diệt lực lượng bảo vệ trận địa pháo. Bộ phận hoả lực gồm ĐKZ 57mm, cối 82mm, sẵn sàng tập kích hoả lực vào trận địa địch. Tiểu đội trinh sát 9 làm dự bị.

16 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1967, trung đội từ Phu Sô vào chiếm lĩnh trận địa.

2 giờ 50 phút ngày 5 tháng 2, Tiểu đội 7 trên hướng chủ yếu nổ súng đánh địch. Địch phát hiện ta, tập trung hoả lực ngăn chặn, làm hai đồng chí hy sinh. Tiểu đội 7 phải tổ chức đưa tử sĩ ra. Trên hướng Tiểu đội 8, nhờ bí mật tiếp cận địch và mở cửa thành công nên khi nổ súng đã nhanh chóng diệt lính gác và dùng B40 bắn vào nhà số 1 diệt địch. Địch tập trung hoả lực chặn Tiểu đội 8. Xạ thủ B40 hy sinh, tiểu đội phải đưa tử sĩ ra và rút về vị trí quan sát 2 của đơn vị. Bộ phận hoả lực sau khi bắn hết đạn phải lui về phía sau.

Sau hơn một giờ chiến đấu, 4 giờ ngày 5 tháng 2, địch tăng viện binh đến giải toả. Các đơn vị ta tổ chức diệt địch phản kích, diệt xe cơ giới. Chiếc xe thứ hai đổ quân xuống đã bị các chiến sĩ Tiểu đội 9 dùng hoả lực ngăn chặn quyết liệt, diệt nhiều địch, buộc chúng bỏ chạy xuống đường. Ta truy kích, dùng bộc phá diệt chiếc xe thứ hai. Đến 5 giờ, địch tăng cường 4 xe cở quân đến tiếp tục phản kích. Nhận thấy địch tăng cường ứng cứu, tiếp tục đánh địch không lợi, đại đội trưởng ra lệnh lui quân.

Ta diệt 60 tên địch, phá 2 xe chở quân. 1 khẩu trung liên, 1 khẩu đại liên, bắn cháy 2 nhà của địch.

Trận đánh thắng lợi cho thấy: Phải làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho đơn vị cả trước, trong, sau chiến đấu. Phải tổ chức chuẩn bị chiến đấu nhanh, tinh thần chiến đấu dũng cảm, cán bộ chỉ huy mưu trí, linh hoạt. Đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa đơn vị với các đơn vị đến tăng cường, phối thuộc tốt.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:47:02 am
TRẬN QUANG THẠNH CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1 SƯ ĐOÀN 2
(15.2.1967)

Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn 2 Quân khu 5, được tăng cường hai đại đội ĐKZ75mm, một tiểu đoàn súng 12,7mm (thiếu), hai khẩu cối 82mm, hai khẩu ĐKZ 57mm của Tiểu đoàn 70, và 6 khẩu súng phun lửa của sư đoàn; đánh vào tiểu đoàn 3 (thiếu) lữ đoàn Rồng xanh, một đại đội sư đoàn Mãnh hổ, một phân đội hoả lực có 3 khẩu cối 81mm, 5 khẩu cối 60mm và 7 khẩu đại liên đóng giữ ở cứ điểm Quang Thạnh thuộc xã Sơn Kim, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt đối tượng địch nổi tiếng tàn ác.

Để tiêu diệt địch, trung đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị:

- Tiểu đoàn bộ binh 40, được tăng cường 2 khẩu ĐKZ 75mm của sư đoàn, 2 khẩu ĐKZ 57mm của Tiểu đoàn 70 và 3 khẩu phun lửa, đảm nhận tiến công trên hướng chủ yếu; chiếm lĩnh phía tây (dọc chiến hào ấp chiến lược), đánh thẳng vào sở chỉ huy, trung tâm thông tin, trận địa hoả lực.

- Tiểu đoàn bộ binh 60, được tăng cường 2 khẩu ĐKZ 75mm của Trung đoàn 21, 2 khẩu phun lửa, đảm nhiệm hướng tiến công quan trọng; chiếm lĩnh ở phía bắc, tây bắc dọc theo chiến hào, nam đường mòn đánh thẳng vào khu vực phía bắc diệt địch ở khu 2, phối hợp với Tiểu đoàn 40 diệt địch ở khu 1, sau đó phát triển xuống khu 3, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

- Tiểu đoàn bộ binh 90 (thiếu một trung đội), được tăng cường 1 súng phun lửa, chiếm lĩnh phía tây làng bỏ hoang, làm nhiệm vụ lực lượng dự bị; sẵn sàng bước vào chiến đấu trên các hướng theo lệnh của trung đoàn.

- Một trung đội của Tiểu đoàn 90, được tăng cường một khẩu đại liên, chiếm lĩnh địa hình phía đông và đông nam làm nhiệm vụ dương công của trung đoàn.

- Đại đội ĐKZ 75mm của trung đoàn, chiếm lĩnh trận địa phía tây, có nhiệm vụ tiêu diệt các hoả điểm, phá hoại các lô cốt ở tiền duyên và tung thâm; chi viện cho tiểu đoàn bộ đánh chiếm tiền duyên và phát triển bên trong tiêu diệt cứ điểm.

- Đại đội cối 81 và 82mm có nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng, phá huỷ lô cốt và các hoả lực bắn thẳng, vòng cầu của địch.

- Tiểu đoàn 12,7mm, chiếm lĩnh trận địa phía tây nam có nhiệm vụ bắn máy bay yểm trợ đắc lực cho trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ.

- Đại đội 12,7mm của trung đoàn, chiếm lĩnh trận địa phía tây, có nhiệm vụ chế áp tiêu diệt địch ở tiền duyên và chi viện trong trung tâm cho Tiểu đoàn 40 chiến đấu.

17 giờ, bộ phận điều chỉnh và nắm địch tiếp tục quan sát; 18 giờ ngày 14 tháng 2, các đơn vị hành quân vào chiếm lĩnh trận địa. Nhưng do những sự cố trong quá trình hành quân Tiểu đoàn 40 bị lạc và Tiểu đoàn 60 bị lộ bí mật, nên 1 giờ 30 phút ngày 15 tháng 2, các đơn vị mới chiếm lĩnh xong, riêng Tiểu đoàn 40 trên hướng chủ yếu còn đang tiếp tục triển khai.

3 giờ 30 phút, trung đoàn nổ súng tiến công. Tất cả các trận địa hoả lực đánh phá mãnh liệt vào các mục tiêu được phân công, chi viện đắc lực cho bộ binh mở cửa và sát thương địch trong cứ điểm.

Địch phát hiện được hướng tiến công chủ yếu, dùng hoả lực ngăn chặn quyết liệt, bộ đội ta không vượt qua cửa mở được. Trước tình hình đó, trung đoàn lệnh riêng một đại đội của Tiểu đoàn 90 tăng cường cho Tiểu đoàn 40 và ra lệnh cho Tiểu đoàn 60 đánh mạnh nhanh chóng phát triển vào tung thâm, lệnh hoả lực cối chuyển lên bắn vào khu vực 3, ĐKZ tiếp tục chế áp và diệt các hoả điểm mới xuất hiện; trung đoàn phó đang đi với bộ phận dự bị vào giúp Tiểu đoàn 40 khắc phục khó khăn, đánh chiếm các mục tiêu theo kế hoạch.

4 giờ 10 phút, đội dự bị đã bắt liên lạc được với hướng chủ yếu nhưng không đánh được vì đại bộ phận của Tiểu đoàn 40 vẫn ở cuối hào, địch đánh mạnh, ta không phát triển lên được. Tiểu đoàn 60 phát triển hết khu 2, tổ chức đánh vào khu 3. Thấy hướng chủ yếu khó khăn, trung đoàn trưởng cho trưởng ban tác chiến vào chuyển một bộ phận của Tiểu đoàn 40 về hướng thứ yếu. Nhưng toàn bộ đội hình của Tiểu đoàn 40 đã nhích theo đội hình của hướng chủ yếu nên không quay lại được. Trung đoàn trưởng quyết tâm mở cửa mới và đưa thê đội 2 vào chiến đấu, lệnh cho ĐKZ chế áp khu 1 yểm hộ cho thê đội 2 vào chiến đấu.[176]

5 giờ 30 phút, quân ta đã làm chủ gần hết cứ điểm nhưng quân địch còn ngoan cố chiếm các mỏm đá lớn ở khu 3 chống cự, ta tiếp tục tiến công nhưng không đủ mạnh để dứt điểm. Trong khi đó hoả lực của địch từ các nơi bắn mãnh liệt vào khu 1 và khu 2 làm ta thương vong một số.

6 giờ 30 phút, trời sáng rõ, thấy đánh kéo dài không có lợi, trung đoàn ra lệnh làm chủ trận địa, chuyển thương binh về sau. Ta đang xốc lại đội hình thì địch dùng phi pháo định chế áp ngay vào cứ điểm. Trong cứ điểm chỉ còn một bộ phận của các tiểu đoàn 60 và 90 nên trung đoàn trưởng ra lệnh giải quyết nốt tử sĩ và lui quân theo kế hoạch.

7 giờ 10 phút, trận đánh kết thúc. Ta chưa làm chủ hoàn toàn được cứ điểm, nhưng đã loại khỏi vòng chiến đấu 420 tên địch; thu 30 súng các loại và một số quân dụng, phá huỷ nhiều vũ khí, trang bị trong cứ điểm.

Trận tiêu diệt cứ điểm Quang Thạnh tuy còn một số khuyết điểm, chưa tiêu diệt triệt để quân địch, nhưng trận đánh đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về đánh địch trong công sự vững chắc bằng phương pháp hiệp đồng binh chủng; về công tác chuẩn bị và tổ chức chiến đấu phải hết sức tỷ mỷ, chu đáo; về chỉ huy đánh địch trong công sự vững chắc phải cụ thể, sâu sát; về nắm vững các khâu then chốt, các tình huống phức tạp để xử trí kịp thời, nhất là trong quá trình phát triển chiến đấu vào trung tâm cứ điểm; về huấn luyện và vận dụng các hình thức chiến thuật trong quá trình phát triển chiến đấu đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:47:43 am
TRẬN GIỒNG CÁT CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 261
(17.2.1967)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 261, được tăng cường hai đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 516, một trung đội súng 12,7mm (4 khẩu) vào tiểu đoàn biệt động quân 32 và đại đội bảo an 994, hai trung đội dân vệ tại Giồng Cát thuộc xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện cho quần chúng đấu tranh chính trị, đòi về làng cũ làm ăn, xây dựng phong trào du kích phát triển, làm tan rã ngày càng nhiều lực lượng địch.

18 giờ 30 phút ngày 17 tháng 2, các đơn vị lần lượt vượt sông Ba Lai vào chiếm lĩnh vị trí tạm dừng. 21 giờ 30 phút, các đơn vị bí mật vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.

23 giờ 45 phút ngày 17 tháng 2, được lệnh tiến công, các đơn vị bí mật vận động sát địch. 23 giờ 55 phút, các đại đội 3 và 5 lần lượt chạm địch và nổ súng. Tiếp đó đến 24 giờ, các đại đội 4, 1 và 2 cũng gặp địch và nổ súng. Địch dựa vào công sự, bờ ấp chiến lược chống trả và xin chi viện. Với những tay súng dày dạn trận mạc, quân ta vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu, lần lượt tiêu diệt hết các ổ đề kháng, địch không kịp chống cự.

0 giờ 15 phút ngày 18 tháng 2, bị ta tiến công tiêu diệt từ nhiều hướng, số địch còn lại chạy về cố thủ ở khu vực bốt cũ, bốt mới và trường học. Chúng dựa vào công sự và vật cản thiên nhiên điên cuồng dùng hoả lực ngăn chặn xung kích của ta. Vượt qua đạn lửa, các mũi bộ binh lần lượt chiếm từng lô cốt, ụ súng, từng mét tường ấp chiến lược. Địch cho trực thăng vũ trang đến chi viện, bị ta bắn rơi hai chiếc.

Ở khu vực trường học, địch lợi dụng kiến trúc kiên cố, dùng hoả lực ngăn chặn ta trên các hướng. Các đại đội 2, 3 và 5 nhiều lần xung phong nhưng đều bị chặn lại. Thấy tiếp tục tiến công càng gặp khó khăn, lực lượng càng thương vong nhiều, tiểu đoàn quyết định dùng Đại đội 1 kiềm chế để các đại đội khác làm công tác thương binh, tử sĩ và lui quân.

Trận đánh kết thúc, tiểu đoàn 32 biệt động quân, đại đội 994 bảo an của địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 3 máy bay trực thăng và 1 chiếc C47 bị bắn rơi. Ta thu 50 súng các loại. Quá trình kiềm chế trận địa pháo, ta diệt 30 tên pháo thủ, phá hỏng một khẩu 105mm.

TRẬN MÍT DÉP CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 7 TRUNG ĐOÀN 66
(12.3.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 Trung đoàn 66 Mặt trận Tây Nguyên vào một đại đội bộ binh địch thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh 4 và các đại đội A và H thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 35 lữ đoàn 3 sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ ở khu vực Mít Dép (nay thuộc xã Mô Rây, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum).

Thực hiện cuộc “tìm diệt” chủ lực ta, ngày 10 tháng 3, Mỹ đổ bộ đường không một đại đội thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 xuống khu vực Mít Dép, bị ta chặn đánh, địch dùng trực thăng đổ tiếp các đại đội A và H xuống ứng cứu.

Phát hiện được địch, tiểu đoàn dùng phương pháp vận động tiến công lần lượt tiêu diệt quân địch. Bị bao vây, chia cắt chặn đánh liên tục, địch ở mặt đất tìm mọi cách đối phó, co cụm chờ viện binh. Trên không, chúng dùng nhiều loại máy bay (kể cả B52) đánh phá, nhưng không chặn được sức mạnh tiến công của quân ta.

16 giờ, một đại đội địch chia làm nhiều mũi tiến lên đồi 3. Khi chúng còn cách trận địa của ta khoảng 50m thì bị hoả lực 12,7mm và các loại tiểu liên tiêu diệt. Đến 6 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1967, trận đánh kết thúc; 254 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu 13 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự.

Trận Mít Dép thắng lợi cho thấy: Phải nắm chắc địch, có nhiều phương án chiến đấu, nắm vững thời cơ, cơ động lực lượng bao vây tiến công liên tục và kịp thời. Trong vận động tiến công, phải tổ chức đội hình hợp lý, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, vận dụng tốt các thủ đoạn chặn đầu, khóa đuôi, tạt sườn, bao vây, chia cắt, đánh địch co cụm và giỏi đánh gần.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:48:26 am
TRẬN CẨU SÔNG CHÙA CỦA DU KÍCH XÃ BÌNH TRUNG
(12 - 13.3.1967)

Trận tập kích của du kích xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (27 người). trang bị chủ yếu là tiểu liên và súng trường, lựu đan. thủ pháo và thuốc nổ TNT. được tăng cường một tiểu đội công binh của tỉnh; đánh vào lực lượng dân vệ và nghĩa quân chốt giữ cầu sông Chùa, nối thông quốc lộ 1A. ở giữa thôn Phú Lộc, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm têu diệt lực lượng địch, phá cầu, cắt giao thông của địch, mở rộng hành lang hoạt động và hỗ trợ phong trào quần chúng đấu tranh.

18 giờ ngày 12 tháng 3, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa. 19 giờ, đội hình cách đường sắt 150m, dừng lại bắt liên lạc với bộ phận trinh sát đi trước. Lúc này tổ trinh sát phát hiện một trung đội địch đang tiến về đường xe lửa đã nổ súng diệt một lên, làm bị thương một tên khác. Số địch còn lại hốt hoảng lấy xác và vội vàng rút về trụ sở hội đồng xã. Mặc dù gặp địch và nổ súng nhưng địch chưa phái hiện được ý định của ta, nên xã đội trưởng vẫn cho du kích thực hiện theo kế hoạch.

24 giờ, đội hình cách cầu 200m, dừng lại và được cơ sở cho biết thêm: chiều ngày 12 tháng 3, địch mới tăng thêm một trung đội bảo an ra cầu sông Chùa. Do địch mới tăng quân, chưa ổn định đội hình và công sự còn thiếu, nên đơn vị vẫn quyết tâm tiến công theo ý định.

1 giờ ngày 13 tháng 3, các mũi đã áp sát địch, khi còn cách chúng khoảng 20m, mũi thứ yếu 2 bị địch phát hiện và nổ súng. Ngay lập tức xã đội trưởng cho trung liên nổ súng kiềm chế địch ở lô cốt phía bắc cầu, đồng thời chỉ huy lực lượng đồng loạt nổ súng diệt địch, đánh chiếm các lô cốt. Địch quá bất ngờ không kịp chổng trả và nhanh chóng bị ta tiêu diệt. Chiếm được lô cốt, công binh dùng thuốc nổ phá cầu.

Sau 20 phút chiến đấu, ta diệt và làm bị thương 32 tên địch, thu một khẩu trung liên, một khẩu tiểu liên, 4 thùng đạn; phá sập một cầu, 3 lô cốt và 3 nhà ở của địch.

Nét nổi bật của trận cầu sông Chùa là chỉ huy đã nhận định chính xác tình hình địch, giữ vững quyết tâm cơ động lực lượng vào triển khai tiến công địch; chỉ huy bình tĩnh, kiên quyết, xử trí tình huống sáng tạo, linh hoạt, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

TRẬN HANG ĐÁ CỦA TIỂU ĐOÀN 5
(21.3.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 5 Mặt trận Tây Nguyên đánh vào các đại đội A và C của tiểu đoàn 2 trung đoàn 35 lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh 4 Mỹ hành quân càn quét ở khu vực tây bắc Hang Đá, nay thuộc xã Mô Rây, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum; nhằm tiêu diệt địch, buộc chúng phải tăng cường lực lượng lên Tây Nguyên, ta chia lửa với quân và dân miền Đông Nam Bộ đang đánh mạnh khi địch thực hiện cuộc hành quân Gianxơn - Xity.

14 giờ ngày 21 tháng 3, vọng gác xa của Đại đội 8 báo cáo phát hiện dấu hiệu có địch. Tiểu đoàn trưởng chỉ thị đại đội trưởng Đại đội 8 và tham mưu trưởng tiểu đoàn đưa thêm trinh sát nắm địch và lệnh toàn đơn bị sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch.

14 giờ 30 phút, trinh sát báo cáo có khoảng hai trung đội đến một đại đội từ hướng bắc tiến xuống giữa vị trí trú quân của các đại đội 7 và 8. Chúng tiến bằng hai đường, cách nhau khoảng 50m, mỗi đường khoảng một trung đội, đang ở cách Đại đội 8 khoảng 300 đến 400m về phía tây nam.

Trước tình hình rất khẩn trương, tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 6 nhanh chóng vận động ra hướng Đại đội 8 chặn đầu, Đại đội 7 làm nhiệm vụ khoá đuôi, Đại đội 8 sử dụng phân đội đại liên cơ động theo Đại đội 6, lực lượng súng cối chuẩn bị bắn vào đội hình địch, Đại đội 5 làm dự bị, sẵn sàng tiến công trên hướng chủ yếu khi địch xuất hiện hai đại đội. Vừa triển khai bộ đội sẵn sàng đánh địch theo phương án, tiểu đoàn trưởng vừa báo cáo quyết tâm chiến đấu với trung đoàn.

14 giờ 40 phút, thấy địch đến gần, tiểu đoàn ra lệnh tiến công. Các đại đội 6, 7 và 8 xuất kích đánh địch, Đại đội 5 cơ động lên vị trí của tiểu đoàn bộ, đợi lệnh.

Trong khi triển khai tiếp cận địch, phát hiện thấy địch khá nhiều, tiểu đoàn trưởng quyết định đưa Đại đội 5 vào chiến đấu trên đoạn tiếp giáp giữa Đại đội 6 và Đại đội 1.

15 giờ 40 phút, cối ngừng bắn, từ các hướng quân ta xung phong đánh vào quân địch. Đại đội 5 chia cắt đại đội C của địch ra nhiều khối nhỏ. Đại đội 6 hình thành hai mũi vu hồi quân địch, tạo điều kiện cho Đại đội 5 diệt địch trong vòng vây.

Đại đội 7 chia làm hai mũi. Một mũi đánh thẳng lên đồi phía tây Đại đội 8, bắt liên lạc với Đại đội 6, phát hiện phía sau có địch, quay lại bất ngờ nổ súng, dồn địch xuống thung lũng, tạo điều kiện cho Đại đội 5 diệt gọn. Một mũi tiến công lên đồi nhưng bị thương vong phải lùi lại. Cùng lúc đó, thấy địch dùng trực thăng đổ quân xuống phía tây nam. Không kịp lấy tử sĩ, mũi 2 quay lại tiến công địch đang đổ bộ, để địch ở trên đồi dùng hoả lực uy hiếp cạnh sườn Đại đội 5 và sau lưng Đại đội 6.

16 giờ 5 phút, ta cơ bản diệt được đại đội C của địch. Nhưng lúc này, địch cho đại đội A từ phía tây tiến sang chiếm được đồi phía tây Đại đội 8, uy hiếp Đại đội 6 và chặn được Đại đội 5, sau đó xung phong đánh lui Đại đội 7. Trong khi đó phi pháo địch bắn mạnh và Đại đội 5 và Đại đội 6. Trước tình hình đó, tiểu đoàn trưởng quyết định dùng hỏa lực đánh vào đội hình Đại đội A của địch và giải quyết thương binh, tử sĩ để lui quân.

17 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc, khoảng 200 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, hai máy bay trực thăng bị bắn rơi, ta thu một số súng các loại.

Thắng lợi của trận Hang Đá cho thấy, Tiểu đoàn 5 đã tổ chức nắm địch nhanh, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, chấp hành mệnh lệnh nghiêm; hình thành thế trận thọc sâu, chia cắt, vu hồi, bao vây tương đối chặt chẽ, nhịp nhàng. Nhờ vậy, tiểu đoàn đã phát huy được sức mạnh chiến đấu của cả bộ binh và hỏa lực, từng tổ, tiểu đội, trung đội và đại đội. chính sức mạnh đó mà hơn hai giờ chiến đấu liên tục, tiểu đoàn đã diệt nhiều địch, bắn rơi nhiều máy bay, buộc quân địch phải rút khỏi khu vực về phòng thủ trên tuyến đường 15.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:49:25 am
TRẬN ĐỒNG RÙM CỦA SƯ ĐOÀN 9
(21.3.1967)

Trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 (thiếu Trung đoàn 1) nhằm đánh vào một tiểu đoàn của lữ đoàn 3 sư đoàn 1 bộ binh, một tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173. một tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp; một tiểu đoàn pháo hỗn hợp (pháo 105mm và cối 106,7mm), sở chỉ huy nhẹ của lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh 4 tại Đồng Rùm, thuộc xã Thanh Đông, huyện Dương Minh Châu (nay là huyện Tân Biên), tỉnh Tây Ninh.

Sau khi trinh sát địch và tiến hành chiếm lĩnh trận địa, sư đoàn trưởng quyết định giờ nổ súng lùi lại 40 phút so với quyết tâm.

5 giờ 38 phút. Trung đoàn 2 đảm nhiệm trên hướng tiến công chủ yếu chiếm lĩnh xong, Trung đoàn 16, Tiểu đoàn 9 đang chiếm lĩnh; các tiểu đoàn 7, 8 còn cách trận địa của địch khoảng 600m, sư đoàn trưởng ra lệnh cho Trung đoàn 2 nổ súng đúng giờ quy định.

5 giờ 40 phút, Trung đoàn 2 nổ súng tiến công địch. Lợi dụng cối và ĐKZ bắn cấp tập vào trận địa địch, các tiểu đoàn 4, 6 từ mép rừng vận động ra trảng. Mũi Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 gặp các chốt tiền tiêu của địch, nhanh chóng nổ súng tiêu diệt và phát triển chiến đấu diệt một số xe tăng địch bố trí ở vòng ngoài. Đại đội 2 thọc sâu đánh trúng sở chỉ huy địch. Hiệp đồng với Tiểu đoàn 4, cối của Tiểu đoàn 6 chuyển bắn sâu vào tung thâm; các đại đội 13, 11 diệt được 5 xe tăng, phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài của chúng. Khi tuyến bộ binh cơ giới vòng ngoài của địch bị phá vỡ, các mũi đang phát triển thì Đại đội bộ binh 13 bị bộ binh địch từ phía trong phản kích đánh vào sườn trái. Trước tình hình đó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 đề nghị cho đội dự bị của tiểu đoàn vào chiến đấu giữa hai đại đội 11 và 13. Lúc 5 giờ 55 phút, các mũi của Trung đoàn 2 chiếm được tuyến công sự vòng ngoài, phát triển vào tung thâm.

Trên hướng thứ yếu, các tiểu đoàn 7 và 9 Trung đoàn 16 đang tiếp cận, nghe tiếng súng nổ nhanh chóng vận động để kịp phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 2.

Bị đánh bất ngờ, 20 phút sau khi ta nổ súng, trận địa pháo địch ở cầu Lộc Ninh được máy bay trinh sát L19 chỉ mục tiêu bắn xung quanh trảng chi viện cho cụm chốt, nhưng bộ đội ta đã tiến sâu vào trận địa địch, nên tránh được thương vong.

Trung đoàn 2, nhất là Tiểu đoàn 6 phát triển chiến đấu nhanh, diệt nhiều ụ súng và thu được một số súng địch và các đại đội đã bắt được liên lạc với nhau trong trận địa địch. 6 giờ 10 phút, khoảng một đại đội địch phản kích vào bên phải Đại đội 13, tiểu đoàn trưởng cho Đại đội 13 ngăn chặn địch và đề nghị trung đoàn trưởng cho lực lượng dự bị vào chiến đấu. Đại đội 13 đẩy lùi phản kích của địch, phát triển về hướng trận địa pháo. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 6 nhanh chóng chiếm trận địa pháo địch, tạo điều kiện cho đội dự bị của trung đoàn bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn 5 được lệnh đưa một đại đội vào chiến đấu bên phải Đại đội 11 Tiểu đoàn 6, do Đại đội 11 dẫn đường và chỉ mục tiêu.

6 giờ 14 phút, Tiểu đoàn 4 đang phát triển bị khoảng một đại đội địch phản kích vào bên phải của Đại đội 2, tiểu đoàn phải đưa Đại đội 3 vào chiến đấu bên phải Đại đội 2 để ngăn chặn địch phản kích và án ngữ bắc tiểu đoàn, diệt sở chỉ huy và trận địa pháo địch, nhưng do Đại đội 3 không vào cánh phải Đại đội 2 mà vào giữa hai Đại đội 1 và Đại đội 2 nên không ngăn được địch, Đại đội 2 bị hoả lực ngăn chặn phải dừng lại.

Trên hướng Trung đoàn 16, lúc 6 giờ 5 phút, do hoả lực chi viện không hiệu quả, nên Tiểu đoàn 7 không triển khai được. 6 giờ 15 phút Tiểu đoàn 9 xung phong chiếm mục tiêu ở tiền duyên địch. Hiệp đồng chiến đấu với Tiểu đoàn 9, Đại đội 3 và một trung đội của Đại đội 2 cùng Tiểu đoàn 7 đánh chiếm tiền duyên địch.

6 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 4 cơ bản đã chiếm được sở chỉ huy, diệt một số xe tăng địch, bắt liên lạc được với Tiểu đoàn 6, nhưng bị hoả lực địch ngăn chặn không lên được. Tiểu đoàn 4 dùng hoả lực chi viện và cho các mũi tiếp tục tiến công phối hợp với Tiểu đoàn 6. Đến 6 giờ 59 phút, Tiểu đoàn 6 chiếm được toàn bộ lô cốt và trận địa pháo ở khu vực phía nam, phát hiện địch phản kích, tiểu đoàn dùng hoả lực chi viện, đồng thời sẵn sàng lực lượng đánh địch phản kích trên hướng tiểu đoàn đảm nhiệm. Lúc này trời đã sáng rõ, máy bay địch đánh mạnh vào khu vực bắc và nam trảng. Nhiều tốp máy bay phản lực, trực thăng vũ trang rà thấp ném bom, bắn phá vào các vạt rừng xung quanh trảng, ngăn chặn không cho ta phát triển.

Hướng Trung đoàn 16, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 chiếm được tuyến chiến hào 1, tiếp tục phát triển vào tuyến 2 thi phát hiện địch đang bỏ chạy. Tiểu đoàn 9 nhanh chóng chiếm tuyến 2, Tiểu đoàn 7 phát triển chiến đấu phối hợp với Tiểu đoàn 9 diệt địch; 5 phút sau hai tiểu đoàn chiếm được tuyến 2, tiếp tục phát triển vào tuyến 3, nhưng bị các cụm bộ binh và xe tăng địch ngăn chặn, Tiểu đoàn 9 không phát triển được, Tiểu đoàn 7 trong quá trình phát triển bị lạc hướng. Lúc này khoảng một đại đội xe tăng địch từ Hương Hào. Địch bất ngờ đánh vào sườn Tiểu đoàn 7. Cả hai đại đội của Trung đoàn 16 đã chiến đấu quyết liệt với lực lượng địch phản kích và lực lượng trong trận địa.

6 giờ 55 phút, Trung đoàn 2 chiếm được sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa pháo địch. Nhưng Trung đoàn 16 gặp khó khăn, lực lượng địch từ ngoài chốt vào phản kích cứu nguy cho lực lượng còn lại trong trận địa. Sư đoàn trưởng lệnh cho Trung đoàn 2 tiếp tục phát triển lên hướng bắc chi viện cho Trung đoàn 16 diệt địch.

Phi pháo địch bắn mạnh vào khu vực trận địa đã mất nhằm ngăn chặn và sát thương ta, đồng thời đánh phá xung quanh trận địa; trực thăng vũ trang rà sát phóng rốc két, bắn phá chi viện cho xe tăng từ ngoài phản kích vào cứu nguy cho lực lượng trong trận địa.

7 giờ, Trung đoàn 2 đã diệt hết địch trong khu vực được giao nhưng đơn vị không còn đủ sức phát triển lên phía bắc và đề nghị cho lui quân. Trước tình hình đó, sư đoàn trưởng đồng ý cho trung đoàn đưa thương binh, tử sĩ ra và lui quân.

Cũng thời điểm này, trên hướng Trung đoàn 16, bộ binh và xe tăng địch chia làm hai mũi đánh vào Tiểu đoàn 7. Do lực lượng địch đông, hoả lực xe tăng mạnh, nên tiểu đoàn không phát triển được. Tiểu đoàn đề nghị đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu nhưng lực lượng dự bị cũng bị địch chặn lại không vào được.

7 giờ 40 phút, trung đoàn trưởng ra lệnh cho các tiểu đoàn 7 và 9 lui quân. Nhưng Tiểu đoàn 9 còn hai đại đội đang chiến đấu trong tung thâm. Trung đoàn và tiểu đoàn phải tập trung hoả lực chi viện, đẩy lùi các đợt phản kích của địch, đến 8 giờ hai đại đội của Tiểu đoàn 9 mới rút ra và rời khỏi trận địa.

Sau gần ba giờ chiến đấu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch; phá huỷ 18 khẩu pháo 105mm và cối 106,7mm; bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép(1); bắn rơi 12 máy bay, thu nhiều vũ khí, đạn dược.

Trận Đồng Rùm là trận tập kích cấp sư đoàn (thiếu) trong chiến dịch phản công, tuy ta không diệt gọn được toàn bộ quân địch, nhưng có giá trị lớn về vận dụng chiến thuật tập kích với thời gian chuẩn bị ngắn, bằng lối đánh gần, bí mật tiếp cận, đột kích nhanh, bất ngờ thọc sâu vào tung thâm, ngay từ đầu đánh trúng các mục tiêu quan trọng như sở chỉ huy, khu trung tâm, trận địa hỏa lực, góp phần bẻ gãy cánh quân phía Nam, buộc địch phải rút quân khỏi vùng căn cứ Bắc Tây Ninh, chấm dứt cuộc hành quân Gianxơn - Xity.


(1) Theo báo cáo trận tập kích Đồng Rùm của Sư đoàn 9 ngày 21 tháng 3 năm 1967, ta bắn cháy, bắn hỏng 84 xe tăng, xe bọc thép.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:50:12 am
TRẬN ĐỒNG VINH CỦA TRUNG ĐOÀN 1 SƯ ĐOÀN 9
(1.4.1967)

Trận vận động tập kích của Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 16, một đại đội cối 120mm, một đại đội súng máy phòng không 12,7mm và được 8 khẩu cối 82mm chi viện, nhăm đánh vào một tiểu đoàn bộ binh thuộc sư đoàn 1 địch ở Đồng Vinh (còn gọi là Bầy Ra Vũng), nay thuộc ấp Cù, xã Tân Hội, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

4 giờ 10 phút, các hoả lực của trung đoàn tiến hành bắn trước, các đơn vị bộ binh vận động vào vị trí triển khai. 4 giờ 16 phút, cối của các tiểu đoàn bắn trước trên chính diện các mũi tiến công, chi viện cho bộ binh xung phong. 4 giờ 20 phút, Tiểu đoàn 7 đánh vào trận địa cảnh giới của địch. Các tiểu đoàn 1, 2 được lệnh tăng tốc độ tiến công. 4 giờ 22 phút, pháo binh địch từ sóc Con Trăng và ngã ba Bà Chiêm bắn vào đội hình Tiểu đoàn 2; cùng thời gian này, các đại đội 1 và 3 của tiểu đoàn nổ súng đánh chiếm trận địa tiền duyên của địch.

Trên hướng chủ yếu, địch ở tiền duyên chống cự quyết liệt, các tiểu đoàn 1 và 2 giành giật với địch từng mục tiêu, bộ đội ta tổ chức hoả lực diệt từng hỏa điểm, từng ụ súng của địch, tiến chắc từng bước. Pháo binh địch từ các trận địa lân cận bắn trùm lên đội hình của các tiểu đoàn 1 và 2.

Trên hướng thứ yếu, địch ít chú ý hơn, trung đoàn trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 tăng tốc độ tiến công, đánh vào sườn và tổ chức một mũi vu hồi về hướng tây đánh vào sau lưng địch, hỗ trợ cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2. Hoả lực của các tiểu đoàn chế áp vào trung tâm và địch ở tây bắc trảng.

4 giờ 40 phút, các tiểu đoàn 1 và 2 đánh chiếm được tiền duyên phía đông, tiêu diệt nhiều địch, số địch sống sót bỏ công sự chạy về trung tâm ngăn chặn ta quyết liệt. Trên hướng Tiểu đoàn 7, ta mới chiếm được các trận địa cảnh giới.

Quá trình xung phong, các tiểu đoàn không liên lạc được với nhau nên bỏ sót một số mục tiêu nơi tiếp giáp giữa Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2. Riêng Tiểu đoàn 7, đại đội trưởng hoả lực bị thương, ĐKZ không diệt được hoả điểm địch, nên các mũi tiến công bị chặn lại, không hiệp đồng được với các tiểu đoàn trên hướng chủ yếu, gây khó khăn cho trận đánh.

Sau khi chiếm được tuyến công sự thứ hai, các tiểu đoàn 1 và 2 phát triển chiến đấu vào bên trong, nhưng thông tin bị gián đoạn nên các tiểu đoàn không nắm được các đại đội của mình. Trong khi đó, pháo binh địch bắn như vãi đạn vào đội hình các tiểu đoàn và có lúc chúng bắn trùm lên cả khu trú quân của chúng.

5 giờ, Tiểu đoàn 2 bị địch ngăn chặn không tiến lên được, trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 1 đánh chếch sang sườn phải chi viện cho Tiểu đoàn 2, đồng thời cho dự bị của Tiểu đoàn 1 chuẩn bị vào chiến đấu.

Tiểu đoàn 1 phát triển về sườn phải của Tiểu đoàn 2 diệt từng hoả điểm, từng trận địa cối, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Đại đội 3 phát triển lên bắt liên lạc được với tiểu đoàn và Đại đội 1, hiệp đồng đánh vào tung thâm của địch. Tranh thủ khi địch phải đối phó với Tiểu đoàn l, Tiểu đoàn 2 đánh mạnh về hướng sở chỉ huy địch và hướng nam diệt một số mục tiêu còn sót lại.

Địch trong sở chỉ huy sống sót chạy về phía tây trảng hợp lực với cụm địch đang ở tây bắc dùng hoả lực đánh vào đội hình tiểu đoàn 1 và 2. Hai tiểu đoàn chiến đấu đến hết đạn, chỉ còn các loại hoả lực bắn trả. Tiểu đoàn 3 không còn đạn cối kiềm chế địch ở tây bắc trảng.

5 giờ 30 phút, một bộ phận địch phản kích vào sườn Tiểu đoàn 1, Đại đội 3 kịp thời đẩy chúng về vị trí, giữ vững khu vực chiếm được.

Lúc này, bom đạn địch đánh phá ác liệt, đường dây điện thoại đứt, chỉ huy các cấp của các đơn vị hầu hết không liên lạc được với nhau. Trước tình hình không thể phát triển chiến đấu hoặc trụ lại đối đầu với địch ban ngày, trung đoàn chủ động ra lệnh cho các tiểu đoàn tổ chức lui quân.

Sau một ngày đánh địch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, thu 20 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự.

Nét nổi bật của trận vận động tập kích cấp trung đoàn ở Đồng Vinh là chỉ huy các cấp đã tìm hiểu nắm được quy luật hành động của địch khi chúng dùng trực thăng đố quân chốt giữ, ngăn chặn, yểm trợ cho lực lượng hành quân; tổ chức, sử dụng lực lượng chặt chẽ, phát huy được tinh thần chủ động tiến công, nhất là khi đánh địch ban đêm để nhanh chóng tiêu diệt địch, làm chủ trận đánh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Tư, 2020, 09:51:06 am
TRẬN KHĂM ĐENG CỦA TIỂU ĐOÀN 23 TRUNG ĐOÀN 8
(20.4.1967)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 23 Trung đoàn bộ binh 8 Quân khu Tây Bắc vào quân địch phòng ngự trên điểm cao Khăm Đeng, nhằm phá vỡ kế hoạch của địch gây phỉ lâu dài trong hậu phương của cách mạng Lào, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện cho bạn xây dựng cơ sở kháng chiến.

Khăm Đeng là một điểm cao án ngữ một khu vực rộng lớn về phía đông nam Nậm Bạc thuộc tỉnh Luông Phabăng. Địch giữ Khăm Đeng có khoảng 60 tên; trang bị một khẩu ĐKZ 75mm, một khẩu B90, một khẩu cối 61mm, một khẩu đại liên, 3 khẩu trung liên còn lại là súng trường, tiểu liên.

Tiểu đoàn 23 vào chiến đấu được tổ chức trang bị theo biên chế. Thực hiện trận đánh, chỉ huy tổ chức thành hai hướng. Hướng tiến công chủ yếu sử dụng hai trung đội bộ binh từ phía bắc điểm cao đánh vào. Hướng thứ yếu dùng một trung đội bộ binh (thiếu một tiểu đội) từ phía nam điểm cao đánh vào. Một trung đội Pathét Lào và một trung đội dân quân du kích đánh vào bản, một trung đội làm nhiệm vụ phục kích đánh địch rút chạy theo hướng bản Sẻ.

Ngày 17 tháng 4, tiểu đoàn bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết. 4 giờ ngày 20 tháng 4, đơn vị chiếm lĩnh và xây dựng xong trận địa xuất phát tiến công, sẵn sàng nổ súng tiến công.

4 giờ 5 phút, B40 phát hoả làm hiệu lệnh tiến công. Từ các hướng, quân ta xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Bị đánh bất ngờ, sau ít phút địch mới kịp phản ứng, liên tục dùng hoả lực chống trả quyết liệt, bắn mỗi lúc một dày đặc. Trận chiến đấu trở nên giằng co, quyết liệt. Ta buộc phải lệnh cho tiểu đội 1 lùi ra 200m để pháo cối bắn chế áp vào trận địa.

5 giờ 45 phút, hoả lực ta bắt đầu bắn vào trận địa. Ngay từ đầu, đạn pháo của ta đã trùm lên toàn bộ trận địa địch.

6 giờ 5 phút, đại đội lệnh cho Trung đội 7 xung phong. Khi các hướng xung phong vào trận địa địch thì đại bộ phận địch đã chạy theo hướng bản Sẻ về phía đông, bỏ lại những xác chết ngổn ngang trên trận địa. Tiểu đội 7 phục kích đánh địch bỏ chạy theo hướng bản sẻ, mờ sáng ngày 20 tháng 4, phát hiện địch rút chạy đã nổ súng diệt 4 tên, thu 2 súng.

Tiểu đội 2 Trung đội 7 truy kích địch theo hướng bản Sẻ diệt được 8 tên, thu 1 súng trung liên, 4 súng trường.

Sau hai giờ đánh địch, ta diệt 27 tên, bắt 1 tên, thu 1 súng cối 60mm, 2 trung liên, 20 súng trường, 1 máy vô tuyến 15W, 1 kho đạn, 1 tấn gạo, muối và nhiều quân trang, quân dụng khác.

Trận đầu ra quân trên chiến trường Lào thắng lợi, tạo niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn trong các trận đánh tiếp theo.

TRẬN SƠN TRUNG CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 31
(10.5.1967)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 31 Sư đoàn 2 Quân khu 5 vào một bộ phận của trung đoàn 1 sư đoàn 1 thuỷ quân lục chiến địch ở xã Sơn Trung, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; nhằm tiêu diệt địch, góp phần giành thắng lợi trong đợt tác chiến chống lại cuộc hành quân “Liên kết 102” của địch.

Ngày 7 tháng 5 năm 1967, một bộ phận quân địch đang càn quét ở khu vực Phú Thứ, chúng chuyển hướng càn vào khu vực Sơn Trung.

Trong các ngày 7 đến 9, Trung đoàn 31 đánh nhỏ lẻ diệt 147 tên địch, bắn rơi 2 máy bay H34, phá huỷ 1 khẩu cối, 1 khẩu đại liên.

Phát hiện địch đang từ Lộc Đại, đèo Đá Trắng theo bờ sông Lộc tiến về Nghi Trung, sư đoàn giao nhiệm vụ cho trung đoàn tổ chức tiêu diệt.

Thực hiện nhiệm vụ trên giao, trung đoàn chọn đoạn phục kích từ điểm cao 110 (gò Đôi) đến Nghi Hạ. Trận địa chặn đầu ở phía tây xóm Le, tây gò Mít. Khu vực tập trung diệt địch ở đông bắc gò Đôi đến tây xóm Le. Trận địa khoá đuôi ở bắc điểm cao 110. Tiểu đoàn 8 (được tăng cường một trung đội ĐKZ, một đại đội cối 82mm, một trung đội súng máy phòng không 12,7mm) đảm nhiệm hướng chủ yếu. Tiểu đoàn bộ binh 7 (được tăng cường một trung đội ĐKZ. một trung đội súng máy phòng không 12,8mm) làm nhiệm vụ tiến công ở hướng thứ yếu.

19 giờ ngày 9, trung đoàn từ Vạn Tân vào chiếm lĩnh trận địa.

5 giờ 30 phút ngày 10 tháng 5, địch từ dốc Đá Trắng hành quân theo hai hướng. Một hướng (khoảng một đại đội) từ Lộc Đại đi về Nghi Sơn. 7 giờ, bộ phận đi đầu hướng thứ nhất đến đoạn phục kích của Đại đội 7, địch lọt gần hết vào trận địa phục kích của ta, bộ binh địch chia làm 3 mũi tiến sát vào trận địa Đại đội 5. Sợ bị lộ, chiến sĩ Đại đội 5 dùng súng trường bắn lẻ tẻ, địch phát hiện lực lượng ta và bắn trả, cả đội hình dừng lại.

7 giờ 20 phút, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm cho Tiểu đoàn 8 nổ súng đánh địch.

7 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 8 được hoả lực chi viện, chia thành nhiều mũi đánh địch, diệt một số tên, thu nhiều vũ khí. Số địch còn lại co cụm ở ven suối, nhưng do lực lượng Đại đội 5 và 7 ít nên không đột phá được.

Từ 8 giờ 40 phút đến 16 giờ, địch liên tục đổ quân tăng viện nhằm tiêu diệt quân ta. Quân ta đã chiến đấu dũng cảm, liên tục chuyển hoá thế trận; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu để tiêu diệt địch, đánh lui nhiều đợt tiến công của chúng.

Sau khi lực lượng địch tiến theo bờ sông Lộc bị đánh, chúng phản ứng rất nhanh, huy động 5 tiểu đoàn bộ binh bao vây, mở nhiều đợt xung phong nhằm tiêu diệt lực lượng ta nhưng đều thất bại.

Đến 19 giờ, trung đoàn thu dọn chiến trường, lợi dụng đêm tối bí mật rời khỏi trận địa.

Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, có 618 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 12 máy bay bị bắn rơi. Ta thu nhiều vũ khí và trang bị.

Trận phục kích Sơn Trung của Trung đoàn 31 (thiếu) trong chiến dịch phản công Hè 1967 tại chiến trường tây Quảng Nam là trận đánh tốt do biết phân tích, đánh giá địch chính xác, kịp thời chuyển phương án phục kích đánh địch; với quyết tâm cao, khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, triển khai chiếm lĩnh trận địa, tích cực chủ động đánh địch, tinh thần dũng cảm, ngoan cường trụ bám; vận dụng linh hoạt các phương pháp chiến đấu phục kích, phòng ngự, tiến công tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:23:34 am
TRẬN TÂN ĐỊNH CỦA CỤM PHÁO BINH TỈNH ĐỘI QUẢNG BÌNH
(17.5.1967)

Trận đánh của cụm pháo binh tỉnh đội Quảng Bình (8 khẩu 85mm) do Nguyễn Tiếng chỉ huy, được 8 khẩu pháo phòng không 37mm, 12 khẩu súng máy phòng không 12,7mm bảo vệ và dân quân địa phương giúp đỡ; tiến công vào ba tàu khu trục của Mỹ - ngụy xâm phạm vùng biển thôn Tân Định, xã Gia Ninh (nay là xã Hải Ninh), huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; nhằm tiêu diệt, đẩy lùi địch ra xa bờ, giữ vững quyền làm chủ trên vùng biển gần.

Sau một thời gian nghiên cứu quy luật hoạt động của địch, chuẩn bị trận địa, 19 giờ ngày 15 tháng 5, các đơn vị pháo binh và súng, pháo phòng không hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, làm công sự chiến đấu. 15 giờ ngày 16 tháng 5, các đơn vị sẵn sàng đánh địch.

7 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5, đài quan sát Đại đội 9 pháo binh báo cáo: Có ba tàu khu trục đang chạy theo hướng Nam - Bắc. Chiếc đi phía trong (gần bờ) có số hiệu 029, tiếp đó, chiếc khu trục số 029 đi chậm lại, từ từ tiến vào khu quyết chiến.

7 giờ 50 phút, tàu 020 đã vào hướng chuẩn dự kiến. Được lệnh, 8 khẩu pháo 85mm đồng loạt nhả đạn. Bị đánh bất ngờ, chiếc 029 quay hướng tháo chạy ra khơi nhưng không kịp, nó trúng nhiều loạt đạn, khói lửa bốc lên mù mịt. Hai chiếc đi bên ngoài bắt đầu phản pháo vào tràn địa của ta. Máy bay Mỹ kéo đến ném hom vào thôn Tân Định, Hiển Trung và khu vực trận địa. Các trận địa phòng không bắn máy bay địch, bảo vệ trận địa pháo binh. Chiếc khu trục 029 cố lết ra khỏi tầm pháo của ta rồi dừng lại chờ máy bay trực thăng đến ứng cứu.

Tàu khu trục 029 bị trúng 24 viên đạn pháo và bốc cháy, biên đội tàu địch phải rút khỏi khu vực xảy ra trận đánh.

Bài học xuyên suốt cũng là ưu điểm nổi bật của trận Tân Định là sự vận dụng quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn trận đánh. Tỉnh đã huy động gần 2.000 dân quân và tự vệ ngành giao thông với vật liệu chủ yếu chuẩn bị từ trước, tại chỗ để bảo đảm cho lực lượng chiến đấu cơ động giành thắng lợi ở Tân Định. Nhân dân các xã quyên góp thực phẩm, chăm sóc bộ đội ngay từ vị trí tập kết đến khi chiếm lĩnh trận địa. Đây là nguồn cổ vũ to lớn để các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ có chất lượng cao hơn.

TRẬN ĐIỂM CAO 521 CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 4 TRUNG ĐOÀN 320
(18.5.1967)

Trận tao ngộ chiến của Tiểu đoàn bộ binh 4 Trung đoàn 320 nhằm đánh vào các đại đội B và C thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 địch ở điểm cao 521 ở tây bắc dãy núi Chư Yam, nay thuộc xã Ia Don huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai.

Đêm 17 tháng 5 năm 1967, Tiểu đoàn 4 được lệnh vượt sông Xê Xan, hành quân liên tục về suối Ya Tram tây nam dãy Chư Yam, độc lập chiến đấu ở khu vực này.

9 giờ ngày 18 tháng 5, tiểu đoàn vượt sông an toàn, bí mật hành quân về suối Ya Tram.

10 giờ 30 phút, tiểu đoàn phát hiện có khoảng một trung đội địch ở đồi cao, còn khu vực suối cạn có tiếng lính địch nhưng không rõ số lượng bao nhiêu. Lập tức tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho các đại đội 1 và 2 triển khai đội hình đánh địch. Do vận động không giữ được bí mật nên địch ở suối cạn phát hiện được và bắn dữ dội vào Đại đội 2. Ta phán đoán lực lượng địch có khoảng hai đại đội, chia làm hai mũi: mũi bên trái đang lên chiếm đồi cao, mũi bên phải đang vu hồi đánh vào đội hình ta. Tiểu đoàn quyết định tập trung lực lượng diệt mũi địch bên phải, sau đó phát triển tiêu diệt mũi bên trái.

12 giờ, Đại đội 1 chặn địch lên đồi cao và đánh địch ở bắc suối cạn. 12 giờ 30 phút, Đại đội 2 nổ súng đánh địch. Sau 20 phút đánh địch, thấy ta chưa đủ sức dứt điểm tiểu đoàn đề nghị trung đoàn cho Đại đội 3 vào chiến đấu. Trận chiến đấu kéo dài đến 14 giờ thì tiểu đoàn mất liên lạc với các đại đội 2 và 3. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho thông tin tìm cách liên lạc với các đại đội 2 và 3, đồng thời đề nghị trung đoàn tăng viện một đại đội bộ binh.

Trong khi chiến sự đang giằng co giữa ta và địch thi địch cho 12 trực thăng đổ quân xuống nam suối cạn 1km. Trước tình hình đó, tiểu đoàn quyết định tập trung lực lượng diệt địch ở suối cạn. Khi ta đang đánh địch ở suối cạn, địch dùng trực thăng đổ thêm quân xuống nam đồi Tròn, dùng không quân, pháo binh đánh phá ác liệt vào đội hình tiểu đoàn.

Trong khi địch tiếp tục tăng quân mà lực lượng tăng cường của ta lại chưa đến nên tiểu đoàn quyết định giải quyết chiến trường, đưa thương binh, tử sĩ về phía sau và lui quân để bảo toàn lực lượng.

Sau 7 giờ liên tục chiến đấu, tiểu đoàn đã đánh thiệt hại nặng đại đội B và tiêu hao đại đội C; diệt hơn 100 tên địch; thu 30 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự; bắn rơi hai máy bay trực thăng.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:24:07 am
TRẬN PHONG CHƯƠNG CỦA TIỂU ĐOÀN 1 TRUNG ĐOÀN 6
(20.5.1967)

Trận đánh quân đổ bộ đường không của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh 6 Quân khu Trị Thiên gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội cối 82mm (6 khẩu), một đại đội súng máy phòng không 12,7mm (4 khẩu), một trung đội ĐKZ 75mm (hai khẩu); còn có Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 810 của tỉnh, hai trung đội du kích xã Phong Chương, hai trung đội du kích xã Quảng Thái và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 6 ở Phong Bình sẵn sàng phối hợp khi có lệnh; nhằm vào lực lượng của lữ đoàn dù địch đổ bộ xuống xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

9 giờ ngày 20 tháng 5, được tin địch sẽ đổ quân xuống xã Phong Chương, tiểu đoàn lập tức triển khai các đơn vị về vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Khoảng 9 giờ 50 phút, máy bay địch đánh bom vào các thôn Đại Phú, Trung Thạch, Mỹ Phú, xóm Rú của xã Phong Chương; tiếp đó pháo địch từ căn cứ Đồng Lâm cũng bắn vào các vị trí trên. Sau 30 phút đánh phá, từng tốp trực thăng H21 bay về hướng đơn vị.

10 giờ 25 phút, địch đổ khoảng hai đại đội xuống cồn Giàng của thôn Đại Phú. 10 giờ 35 phút, địch đổ quân xuống Mỹ Phú. Phát hiện có lực lượng ta, chúng chuyển sang đổ khoảng một tiểu đoàn xuống xóm Đồng, cách Mỹ Phú l,5km.

Ở cồn Giàng thôn Đại Phú, khi địch vừa tiếp đất liền bị các trung đội cối 82mm của Tiểu đoàn 1 và 2 bắn vào đội hình làm cháy 4 máy bay trực thăng.

Trong khi các phân đội hoả lực tập kích vào khu vực địch đổ quân thì bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh công sự có sẵn chuẩn bị đánh địch.

Sau khi đổ quân, địch chia thành nhiều mũi tiến vào làng Trung Thạnh để hội quân với các cánh từ Mỹ Phú và xóm Đồng sang.

Trên đường tiến quân, địch bị Đại đội 1 chặn đánh ở chính diện, hai trung đội du kích xã Phong Chương đánh tạt sườn, buộc chúng phải co cụm và yêu cầu không quân đến chi viện.

Tại xóm Đồng, khi địch đổ quân bị cối 82mm, súng máy phòng không 12,7mm của tiểu đoàn và súng cối 60mm của đại đội cấp tập bắn cháy 4 máy bay, một số địch bị diệt. Nhờ có hoả lực phi pháo mạnh yểm trợ, địch tiếp tục triển khai đội hình tiến vào làng Mỹ Phú và một phần xóm Rú.

Đại đội 23 Tiểu đoàn 1 lợi dụng công sự và địa hình có lợi chặn địch, tổ chức các mũi đánh vào cạnh sườn, cùng lúc đó Đại đội 2 thuộc K10 và hai trung đội xã Quảng Thái nhanh chóng vận động đánh học sườn và phía sau đội hình địch, diệt gần hai trung đội, bắt hai tên, thu 18 súng buộc địch phải rút về xóm và co cụm. Lúc này tại xóm Đồng, được hai trung đội của Đại đội 3 chặn đầu, một trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 vận động lên đánh tạt sườn diệt hơn một trung đội địch, buộc chúng lui về cụm ở xóm Đồng cùng cánh quân thứ nhất.

Sau nhiều lần phản kích, cả hai điểm đổ bộ không hội quân được với nhau, địch yêu cầu máy bay liên tục bắn phá. 15 giờ, chúng tiếp tục đổ quân xuống bãi cát xóm Rú để kéo lực lượng ta ở các hướng ra gần chỗ chúng đã đổ hai đại đội xuống, ở đây ta đã sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 và một bộ phận của Đại đội 3 Sư đoàn 1 vượt qua đường G8B phối hợp với Đại đội 2 của K10 đánh tạt sang và cối 82mm của tiểu đoàn bao vây tiêu diệt chúng. Ngay khi địch đổ quân, ta bắn rơi hai máy bay, diệt một số địch, chúng phải ném bom napan xuống các làng Đại Phú, Mỹ Phú, xóm Rú, khói lửa cháy ngút trời. Lợi dụng lúc khói lửa mù mịt, địch cho trực thăng bốc quân ở cả ba điểm về căn cứ Tử Hạ huyện Hương Trà.

Sau 6 giờ đánh địch đổ bộ đường không, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, bắt 2 tên; bắn rơi 10 trực thăng; thu 3 máy thông tin, 42 khẩu tiểu liên, 4 khẩu phóng lựu M79 và một số quân dụng.

Trận Phong Chương thắng lợi nhờ: Đánh giá tình hình, dự kiến tình huống chính xác, tích cực chủ động tổ chức đội hình thích hợp với quyết tâm chiến đấu. Tổ chức chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch. Vận dụng phương pháp tác chiến linh hoạt, hạn chế thương vong của ta, không ngừng nâng cao chất lượng hiệu suất tiêu diệt quân địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:24:56 am
TRẬN NẬM THUẬN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 4
(10.3 - 22.6.1967)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 4 quân tình nguyện Việt Nam (thiếu một đại đội), được tăng cường Đại đội địa phương Nậm Bạc và Đại đội 13 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 335 bộ đội chủ lực Việt Nam, nhằm đánh vào tiểu đoàn 35 binh đoàn cơ động 15, được tăng cường hai đại đội của tiểu đoàn 36 quân ngụy Lào ở Nậm Thuận, cách Nậm Bạc 15km về phía đông nam.

Để giữ Nậm Thuận, địch tổ chức thành cụm phòng ngự dã chiến gồm 8 điểm bao quanh sân bay dã chiến, có các công sự sâu l,2m, hầm chỉ huy và các ụ súng đại liên, trung liên đều có nắp, có hệ thống giao thông hào nối các khu vực với nhau, khi bị đánh được máy bay từ Mường Luông tới chi viện.

Tiểu đoàn 4 quân tình nguyện Việt Nam có hai đại đội tham gia chiến đấu; trang bị có 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm và 1 khẩu cối 60mm; vào chiến đấu được tăng cường 2 khẩu cối 82mm và 2 khẩu ĐKZ 82mm của Đại đội 24 Trung đoàn 335, 2 khẩu đại liên, 1 khẩu cối 60mm.

Thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, tiểu đoàn tổ chức lực lượng thành bốn bộ phận: Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu do hai đại đội Tiểu đoàn 4 đảm nhiệm đánh vào sở chỉ huy và trận địa hoả lực của tiểu đoàn 35 địch ở đồi đá A5. Bộ phận tiến công trên hướng thứ yếu do Đại đội địa phương Nậm Bạc đảm nhiệm, đánh địch ở đồi đá A8. Lực lượng dự bị do Đại đội 13 được tăng cường một tiểu đội công binh đảm nhiệm. Bộ phận hoả lực gồm 4 cụm hỗn hợp: cụm 1 có hai cối 82mm và ĐKZ 82mm; cụm 2 có hai cối 82mm, hai ĐKZ 57mm và một đại liên; cụm 3 có một ĐKZ 82mm và một cối 60mm; cụm 4 có một cối 60mm. một ĐKZ 57mm, một đại liên và một trung liên.

Từ ngày 10 tháng 3 đn 16 tháng 6, ta sử dụng Đại đội địa phương Nậm Bạc và một phân đội hoả lực thực hiện vây hãm, triệt tiếp tế, phá huỷ một số công sự, đánh nhỏ tiêu hao một bộ phận quân địch, làm địch căng thẳng, dao động, tạo điều kiện tiến tới dứt điểm.

Ngày 18 và 19 tháng 6, bộ binh và hoả lực điều chỉnh thế trận chuẩn bị tiến công. 12 giờ ngày 21, các cụm hoả lực chuẩn bị chiến đấu xong, sẵn sàng nổ súng đánh địch.

Do tiếp cận nhầm hướng nên 24 giờ ngày 21, hướng chủ yếu đánh địch ở A5 còn cách địch khoảng 70m, trong khi đó hướng thứ yếu đã vào sát địch. Bị địch phát hiện nên hướng thứ yếu phải nổ súng trước. Sau 15 phút chiến đấu, ta chiếm được A8. Địch ở A5 triển khai chiến đấu nên hướng chủ yếu gặp khó khăn. Trước tình hình đó, chỉ huy trận đánh ra lệnh tập trung hoả lực chi viện cho hướng chủ yếu, dùng hoả lực ở cụm 4 kiềm chế địch ở A2 và A5 đang bắn vào đội hình tiến công của ta.

0 giờ 40 phút ngày 22, hoả lực chi viện cho A5 chuyển mục tiêu, hộ binh xung phong. Địch lợi dụng các hốc đá cao ném lựu đạn xuống làm ta thương vong một số, ta phải dừng lại củng cố. Trước tình hình đó chì huy ra lệnh chuyển hướng tiến công thứ yếu sang hướng chủ yếu nhanh chóng tổ chức để mờ sáng tiến công tiếp.

7 giờ 15 phút ngày 22. ta tập trung cả 4 cụm hoẢ lực đánh vào A5. Sau 5 phút bắn phá, bộ binh xung phong chiếm được A5. Địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy về hướng bắc, lẩn vào rừng. Ta dùng hoả lực bắn chặn địch rút chạy và chi viện cho các mũi đón lõng diệt địch.

8 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc, 89 tên địch bị diệt, hai tên bị bắt. Ta thu hơn 10 tấn đạn và nhiều đồ dùng quân sự.

Trận đánh thắng lợi, để lại nhiều kinh nghiệm quý về sử dụng hoả lực, về thực hành bao vây, tiến công và đánh địch khi chúng rút chạy.

TRẬN NẬM BẠC CỦA PHÂN ĐỘI 4 ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 31
(25.6.1967)

Trận tập kích của Phân đội 4 Đại đội đặc công 31 của Quân khu Tây Bắc đánh vào sở chỉ huy cuộc hành quân của hai binh đoàn 11 và 15 quân ngụy Lào ở Nậm Bạc, tỉnh Luông Phabăng, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não, thu được tài liệu, phương tiện vũ khí của địch.

Sau khi chiếm được thung lũng Nậm Bạc, địch chốt giữ các điểm cao, tạo thế phòng ngự để bảo vệ an toàn cho khu vực phía nam. Tại sở chỉ huy ở Nậm Bạc có các cơ quan tham mưu, hậu cần của các binh đoàn 11 và 15. Ngoài ra còn có hai đội vũ trang ngầm tại địa phương và một đại đội chiếm giữ các điểm cao xung quanh bảo vệ sở chỉ huy và một đại đội gác sở chỉ huy. Bên trong có một sân bay dài 1.000m, rộng 100m, máy bay địch thường lên xuống. Các nhà chỉ huy, kho tàng, bộ phận bảo vệ và nhân viên phục vụ đều ở quanh sân bay. Tất cả các nhà đều ở trên mặt đất. Có một số chiến hào chạy quanh sân bay và nhà ngủ để đề phòng ta tập kích.

Phân đội 4 có 23 người. Vũ khí có 3 khẩu B40, 19 khẩu AK, 1 súng ngắn, 12 quả thủ pháo và 90 quả lựu đạn.

Để tiêu diệt địch, phân đội tổ chức thành các tổ. Tổ 1 gồm tám người do trung đội trưởng phụ trách, có 3 B40, có nhiệm vụ đánh vào khu nhà chỉ huy, khu cơ quan, nhà thông tin vô tuyến diện lỏm. Tổ 2, bốn người do trung đội phó phụ trách, có nhiệm vụ đánh vào các nhà ngủ của lính bảo vệ sân bay, đồng thời sẵn sàng làm dự bị cho tổ 1 khi tổ 1 gặp khó khĂn. Tổ 3, năm người do trung đội phó chỉ huy có nhiệm vụ đánh vào hai trung đội bảo vệ và nhân viên phục vụ cơ quan ở phía bắc sân bay. Tổ 4, bốn người có nhiệm vụ chặn đường không cho quân địch chi viện và chặn đường rút của địch; bảo vệ đường rút của ta.

17 giờ ngày 22 tháng 6, phân đội xuất kích. Đến 22 giờ 15 phút ngày 25 tháng 6, các tổ áp sát mục tiêu. Tổ 1 được lệnh nổ súng báo hiệu toàn bộ lực lượng tiến công. B40 bắn trúng nhà chỉ huy, nhà ở của sĩ quan. Tiếp đó, toàn phân đội nhanh chóng xông lên dùng thủ pháo, lựu đạn ném vào các mục tiêu và di tiểu liên tiêu diệt các tên địch. Trận đánh kéo dài 6 phút, ta tiêu diệt khoảng 130 tên địch (đại đa số là sĩ quan), làm tê liệt toàn bộ chỉ huy của địch, phải 12 giờ sau địch mới khôi phục được chỉ huy của chúng ở Nậm Bạc.

Trận Nậm Bạc đạt hiệu suất chiến đấu cao có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yêu là: đơn vị đã quán triệt đến từng người nghị quyết chỉ thị, mệnh lệnh và nhiệm vụ của cấp trên giao cho; công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ; công tác chuẩn bị chiến đấu thực hiện Đầy đủ, chính xác, có kiểm tra, xác minh chặt chẽ; thực hiện tốt dân chủ để mọi người được biết, được tham gia ý kiến về cách đánh, trinh sát điều tra địch, lấy tinh thần xung phong của mọi người đi làm nhiệm vụ chủ yếu; cán bộ đảng viên kiên định vững vàng, nhất là trong khó khăn ác liệt.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:25:29 am
TRẬN ĐIỂM CAO 82 CỦA ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 8
(2.7.1967)

Trận vận động tiến công của Đại đội bộ binh 1 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 (được tăng cường hai khẩu cối 82mm, một khẩu đại liên, 3 khẩu phun lửa, hai khẩu B41, được hoả lực cấp trên chi viện); đánh vào quân địch ở điểm cao 82 thuộc xã Gio Bình, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Ngày 29 tháng 6, đại đội cơ động vào bắc làng An Nha xây dựng công sự ẩn nấp, sẵn sàng xuất kích tiêu diệt địch.

6 giờ 45 phút ngày 2 tháng 7, tiểu đoàn thông báo cho Đại đội 1: có khoảng một đại đội địch đang trên đường 75 tiến về An Nha.

8 giờ, đại đội sử dụng một tiểu đội ra chặn địch ở cổng sắt An Nha và khu cống Sập. 8 giờ 20 phút, Tiểu đội 1 báo cáo có khoảng hai trung đội địch, chia làm hai mũi đang tiến đến ngã ba cống Sập. Được lệnh, tiểu đội nổ súng diệt 5 tên trong toán đi đầu.

8 giờ 35 phút, đại đội xuất kích. Trung đội 1 dựa vào bàn đạp của Tiểu đội 1 tạo ra chiếm cổng sắt An Nha và ngã ba cống Sập. Trung đội 3 nhanh chóng đánh chiếm điểm cao 82. Các tiểu đội 7 và 8 chiếm khu y tế, tại đây ta và địch giành giật nhau từng đoạn chiến hào, từng ụ đất, bờ tre. Phát hiện một trung đội địch dùng hoả lực ngàn chặn huống phát triển của các tiểu đội 7 và 8, trung đội sử dụng một tổ của Tiểu đội 7 vượt đường 75, đánh vào bên sườn, phía sau địch, kết hợp với hướng chính diện diệt địch ở khu y tế.

Sau 45 phút chiến đấu, lực lượng địch trong khu vực cơ bản bị tiêu diệt.

9 giờ 10 phút, địch cho một lực lượng cơ động theo đường 76 vào ứng cứu. Máy bay ném bom, pháo binh bắn xuống các khu vực giếng Vuông, cống Sập, cổng sắt An Nha, đồi Tranh. Đồng thời 4 chiếc trực thăng bắn chặn vào đội hình của Đại đội 1.

Các tiểu đội 1, 3, 7 chiến đấu giằng co với địch ở khu y tế, đường 75, 76. Tiểu đội 9 chiếm giữ ở điểm cao.

Trước tình hình địch tăng cường lực lượng ứng cứu, đại đội trưởng ra lệnh Trung đội 2 vào chiến đấu; sử dụng Tiểu đội 6 đánh thẳng lên điểm cao 82 hỗ trợ cho các tiểu đội 4 và 5 tham gia đánh địch ở khu y tế, cùng với lực lượng của các trung đội 1 và 3 diệt địch.

Để hạn chế thương vong do phi pháo địch, đại đội lệnh cho các bộ phận áp sát địch ở khu y tế, đường 76. Thấy không thể chống cự được, số địch còn lại chạy vào khu hội đồng. Các tiểu đội 4 và 5 đồng loạt xung phong diệt một số tên. Khi phát triển gần đến khu hội đồng, gặp một hoả điểm đại liên địch bắn vào đội hình, làm thương vong một số, trung đội nhanh chóng đưa khẩu B41 lên diệt hoả điểm địch. Các tiểu đội 4 va 5 phải lợi dụng công sự, bờ tre chặn địch để đưa thương binh, tử sĩ về phía sau.

15 giờ 30 phút, địch cho một đại đội và 4 xe tăng theo đường 76 phản kích vào khu hội đồng, sau đó phát triển về khu y tế ứng cứu cho lực lượng của chúng còn lại.

Nắm được ý đồ của địch, đại đội trưởng điều chỉnh lại lực lượng để tiến công địch ra phản kích. Từ đồi tranh An Nha, Trung đội 1 diệt hai xe tăng, bắn đứt xích một chiếc khác, diệt một số địch. Ở điểm cao 82, Trung đội 3 bắn cháy một xe tăng, một số địch còn lại bỏ chạy về cứ điểm Cồn Tiên.

18 giờ, ta làm chủ trận đánh. Sau một ngày tiến công, 160 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; ta thu 40 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác.

Trận vận động tiến công địch ở điểm cao 82 là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao, tiêu diệt được nhiều địch ra lùng sục, nống lấn mở rộng vành đai an toàn quanh các cứ điểm của chúng. Trận đánh thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng, tư tưởng liên tục tiến công, vận dụng linh hoạt phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh” của lực lượng vũ trang ta ở miền Nam.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:26:30 am
TRẬN NÔNG SƠN CỦA LIỀN ĐỘI ĐẶC CÔNG SƯ ĐOÀN 2
(3.7.1967)

Trận tập kích của Liên đội đặc công Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (được tăng cường 4 khẩu súng phun lửa, 2 trung đội vận tải và một số phương tiện đảm bảo khác); đánh vào một ban chỉ huy tiểu đoàn, một đại đội bộ binh, một đại đội hoả lực; trang bị 2 cối 106,7mm, 2 cối 81mm và ĐKZ, 3 khẩu đại liên đóng giữ cứ điểm Nông Sơn (xã Sơn Ninh, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam); nhằm tiêu diệt địch, giữ thế hoạt động liên tục của chiến trường, hỗ trợ, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở địa phương.

Địch lập căn cứ Nông Sơn trên điểm cao 298 nhằm không chế vùng tranh chấp; dùng pháo, cối, đại liên đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng, ngăn chặn các hoạt động tác chiến của du kích và bộ đội ta; làm bàn đạp càn quét vào các xã Sơn Ninh, Sơn Thuận, Sơn Lợi, Sơn Phúc và Sơn Thọ.

Thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch trong căn cứ, liên đội sử dụng: Đội 5 (24 người), trang bị hai khẩu B40, còn lại là tiểu liên, 290 quả lựu đạn, thủ pháo, được tăng cường một súng phun lửa; tổ chức thành 4 mũi tiến công địch trên hướng chủ yếu, diệt sở chỉ huy tiểu đoàn, khu thông tin trận địa pháo. Đội 1 (26 người, có 8 người của Đội 3 làm dự bị) trang bị 12 khẩu tiểu liên, hai khẩu B40, 280 lựu đạn thủ pháo, được tăng cường một khẩu súng phun lửa, tổ chức thành 3 mũi đánh địch trên hướng thứ yếu 1 (diệt địch ở khu vực bộ binh). Đội 4 (24 người), trang bị 5 súng B40, tám tiểu liên, 170 lựu đạn, thủ pháo; đảm nhiệm tiến công địch trên hướng thứ yếu 2; diệt địch ở khu sân bay, chiếm giừ để bảo vệ đường cho đơn vị lui quân. Đội 3 (24 người) có 8 tiểu liên, 160 quả lựu đạn, thủ pháo, được tăng cường hai súng phun lửa, làm dự bị. Đội 2 làm nhiệm vụ bảo đảm hành lang từ vị trí tập kết cuối cùng đến bờ chiến hào.

3 giờ ngày 3 tháng 7, đơn vị đến vị trí tạm dừng. 12 giờ, hướng chủ yếu từ vị trí tạm dừng vòng lên phía bắc cứ điểm, 17 giờ khắc phục vật cản, đến 22 giờ đột nhập vào sát bờ hào chờ lệnh.

22 giờ 30 phút ngày 3 tháng 7, tổ thọc sâu của các mũi vào sát từng mục tiêu. Được lệnh, các hướng, các mũi nhanh chóng ném lựu đạn, thủ pháo diệt địch. Sau 15 phút, 3 mũi phát triển thuận lợi, đánh chiếm được các mục tiêu quy định. Riêng mũi 4 không phát triển được, chỉ huy phải sử dụng dự bị dựa vào chiến hào, dùng súng phun lửa chế áp mục tiêu nhưng bắn không trúng nên không lên được; bộ đội phải vòng bên trái dùng thủ pháo diệt khẩu đại liên của chúng, tạo điều kiện cho đơn vị phát triển diệt địch. Sau 28 phút chiến đấu, các hướng giải quyết xong các mục tiêu và tổ chức lui quân. Khi lực lượng ta rút khỏi trận địa, địch lùng sục cách đồn 200m, bộ phận dự bị hướng thứ yếu phát hiện địch, cử 6 đồng chí có súng phun lửa chiếm địa hình có lợi, dùng hoả lực và lựu đạn đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt một số tên, sau đó về hậu cứ an toàn.

Sau một ngày chiến đấu, ta diệt một tiểu đoàn (thiếu) của trung đoàn 2 thuỷ quân lục chiến, phá huỷ 2 khẩu pháo 155mm. 2 ôtô, 2 cối 81mm, một số pháo 75mm. 2 xe kéo pháo, 10 đại liên. 2 kho đạn; thu 3 dại liên, 7 trung liên. 6 khẩu M72, một cối 81 mm và nhiều đồ dùng quân sự.

Trận Nông Sơn thắng lợi thể hiện quyết tâm cao suốt quá trình chiến đấu, từ lãnh dạo. chỉ huy đến người thực hiện, qua các bước chuẩn bị về địch, chuẩn bị về ta làm cơ sở cho giành thắng lợi. Ta vận dụng thủ đoạn chiến đấu đúng với cách đánh của đặc công, giữ bí mật, ém sát, luồn sâu bất ngờ, đồng loạt tiến công, đánh đúng nơi hiểm yếu. mục tiêu chủ yếu ngay từ đầu; tiến công địch từ nhiều hướng, nhiều mũi để nhanh chóng phá vỡ trận địa, làm chủ khu vực đánh chiếm; xử trí linh hoạt, điều động lực lượng giải quyết kịp thời các tình huống khó khăn, tạo điều kiện giành thắng lợi nhanh; kế hoạch đảm bảo các mặt chu đáo với các biện pháp cụ thể qua các giai đoạn chiến đấu.

TRẬN NAM ĐỨC CƠ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 7 TRUNG ĐOÀN 66
(12.7.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 Trung đoàn 66 nhằm đánh vào đại đội A tiểu đoàn 1 trung đoàn 22 và đại đội B tiểu đoàn 1 trung đoàn 12 lữ đoàn 2 sư đoàn 4 bộ binh địch ở ấp Đức Vinh, nay thuộc xã Ia Pnon, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

Ngày 9 tháng 7 năm 1967, tiểu đoàn đang hành quân về bắc Đức Vinh thì địch chiếm ngã ba Ya Bo. Tiểu đoàn được lệnh dừng lại đánh địch ở tây nam Đức Vinh.

9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 7, toán đi đầu của đại đội B từ phía nam lên chiếm đồi A. Trung đội 1 Đại đội 3 nổ súng diệt một số tên, buộc chúng phải lùi lại. Ngay sau đó, hai đại đội địch từ phía sau cơ động lên, chia làm hai mũi tiến lên đồi A. Địch tập trung hoả lực bắn mạnh vào trận địa của Trung đội 1, làm một số chiến sĩ thương vong, nhưng trung đội vẫn kiên quyết đánh địch, giữ vững trận địa.

Trong khi Trung đội 1 chiến đấu chặn địch ở chân đồi A, Đại đội 1 dùng toàn bộ lực lượng cơ động thành nhiều mũi, tiếp cận địch cùng Trung đội 1 đồng loạt xung phong hai lần, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đồi A.

Cùng thời gian trên, Trung đội 2 Đại đội 3 tiến đến chân đồi B thì thấy địch đã chiếm đỉnh đồi. Trung đội nhanh chóng dùng hoả lực bắn mạnh vào đội hình địch rồi dùng hai tiểu đội vòng sang tiêu diệt 8 tên địch, số địch còn lại chạy về suối cạn và sang đồi C. Sau khi chiếm đồi B, Trung đội 2 truy kích địch ở suối cạn giữa đồi A và B phối hợp với Trung đội 2 Đại đội 1 diệt tại trận 70 tên.

Nghe tiếng súng nổ ở đồi A, tiểu đoàn trưởng đã cho các đại đội 2 và 4 xuất kích. Để bảo đảm cho các lực lượng cơ động, tiểu đoàn lệnh cho cối 82mm bắn mạnh vào đội hình địch. Lợi dụng kết quả của hoả lực, các phân đội tiếp cận, xung phong tiêu diệt địch. 11 giờ 30 phút, quân địch ở đồi C bị tiêu diệt gần hết; một số tên dựa vào mỏm đá ngoan cố chống cự. Tiểu đoàn tổ chức hoả lực B40, B41 bắn nhiều đợt mới tiêu diệt được bộ phận địch này.

12 giờ trận đánh kết thúc, 170 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; ba máy bay bị bắn rơi. Ta thu 53 súng các loại và nhiều quân dụng khác.

Chiến thắng Nam Đức Cơ cho thấy: Phải xây dựng quyết tâm và lòng tin đánh thắng địch cao. Cán bộ chỉ huy các cấp phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh cấp trên, tác phong chỉ huy sâu sát, gương mẫu, kiên quyết, dũng cảm chủ động hiệp đồng chiến đấu, phát huy tốt các thủ đoạn đánh địch như: chặn đầu, vu hồi, thọc sâu, chia cắt địch, đánh gần, đánh bằng thủ pháo, lựu đạn, làm hạn chế chi viện của phi pháo địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:27:36 am
TRẬN NA LUÔNG CỦA ĐẠI ĐỘI 23 TRINH SÁT TRUNG ĐOÀN 148
(17.7.1967)

Trận tập kích của Đại đội 23 trinh sát Trung đoàn 148, được phối thuộc với Mặt trận 866, đánh vào trận địa pháo của địch ở Na Luông cách Mường Sủi khoảng 7km về phía bắc; nhằm tiêu diệt lực lượng địch, phá huỷ vũ khí, ngăn chặn kế hoạch của chúng lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Trận địa pháo Na Luông có 4 khẩu 105mm, quân số khoảng 70 tên. Ngoài ra còn được trang bị 2 khẩu cối 81mm, 1 khẩu ĐKZ 57mm và 5 khẩu đại liên.

Để hoàn thành nhiệm vụ, đại đội tổ chức thành các mũi. Mũi 1, gồm 8 người, trang bị 1 khẩu B40, 6 khẩu AK, 1 khẩu cácbin, 2 quả bộc phá loại 2kg, 6 thủ pháo và 24 quả lựu đạn. Mũi 2, gồm 5 người, trang bị 1 khẩu B40, 4 khẩu AK, 1 quả bộc phá 2kg, 3 quả thủ pháo và 14 quả lựu đạn. Mũi 3, quân số 6 người, trang bị 1 khẩu B40, 5 khẩu AK, 2 quả bộc phá loại 2kg, 3 quả thủ pháo và 22 qua lựu đạn. Lực lượng dự bị gồm 8 người, có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch trên các hướng khi có lệnh.

17 giờ ngày 14 tháng 7, đại đội hành quân; 24 giờ ngày 16 tháng 7 chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công.

1 giờ 5 phút, đang tiếp cận địch, mũi 1 vướng mìn, làm nổ mìn sáng. Địch trong công sự bắn ra dữ dội, ta phân tán đội hình, vướng mìn tiếp. Địch tập trung hỏa lực bắn vào mũi 1, làm một người hy sinh. Mũi trưởng cùng đồng đội tìm mọi cách tiếp cận, khi cách đích khoảng 60m, địch phát hiện, ta nổ súng đánh địch, nhưng do địa hình trống trải nên không tiến lên được. Tiếp đó, mũi trưởng hy sinh và một tổ trưởng bị thương nặng, số còn lại buộc phải đưa mũi trưởng ra ngoài. Ở mũi 2, khi đang cắt rào mở cửa, thấy mũi 1 bị lộ đã ra lệnh nổ súng đánh địch ở nhà số 2, diệt 10 tên địch, ta tổ chức phát triển về khu nhà pháo. Địch phát hiện ta đột nhập, chúng tập trung hoả lực ngăn chặn, một chiến sĩ bị thương nặng. Trong khi địch bắn mãnh liệt, mũi 2 không tiến lên được, tổ trưởng lệnh lui quân, đưa thương binh ra. Mũi 3 vào cách hàng rào 50m thì mũi 1 bị lộ, đã nổ súng xung phong, nhưng địch bắn mạnh, xạ thủ B40 hy sinh, một chiến sĩ khác bị thương nặng, mũi trưởng ra lệnh rút. Tổ dự bị nghe súng nổ, vận động vào cách trận địa khoảng 60m, gặp mũi 2 rút ra. Tổ dự bị không tiến vào nữa.

4 giờ ngày 17, trận đánh kết thúc. Ta diệt được 20 tên địch, đốt cháy một số nhà lính, phá huỷ một số vật cản của địch.

Trận Na Luông nhắc chúng ta phải giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội liên tục, cụ thể phù hợp với từng trận đánh. Công tác nắm địch phải hết sức cụ thể, tỷ mỷ, phải “mắt thấy, tay sờ”. Phải bí mật vượt qua mọi trở ngại, biết vượt qua các mục tiêu thứ yếu để nhanh chóng đến mục tiêu quan trọng cần tiêu diệt trước. Phải dự kiết mọi khó khăn, quán triệt tư tưởng “lấy ít địch nhiều”, tác chiến độc lập, mỗi tổ, mỗi cá nhân là một mũi xung phong.

TRẬN KỲ PHƯƠNG CỦA ĐỘI DÂN QUÂN GÁI ĐỊA PHƯƠNG
(14.5 - 6.8.1968)

Trận phục kích đánh máy bay Mỹ của đội dân quân gái Kỳ Phương (9 người, tuổi từ 17 đến 19) do Tưởng Thị Diên chỉ huy; trang bị ba khẩu trung liên, tổ chức trận địa trên dải đồi thoải ven biển xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, nhằm bắn rơi máy bay Mỹ vào đánh phá, bảo vệ vững chắc mục tiêu được phân công.

Qua một thời gian huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, làm nhiệm vụ trực chiến; ngày 14 tháng 5 năm 1968, đội nổ súng đánh địch trận đầu, cùng dân quân xã bắn cháy một chiếc F4H, rơi xuống biển cách trận địa khoảng 1km.

Sau trận thắng đó, khí thế toàn đội sôi nổi hẳn lên, mọi mặc cảm, tự ty về khả năng chiến đấu của nữ dân quân trong đánh máy bay Mỹ bằng súng bộ binh được giải toả.

6 giờ 35 phút ngày 6 tháng 8, sáu chiếc phản lực thành hàng dọc từ biển bay vào, lướt qua trận địa và bay về phía tây. Phát hiện mục tiêu, chúng vòng lại và bổ nhào đánh vào đoàn thuyền. Được lệnh của đội trưởng, ba khẩu trung liên đồng loạt nhả đạn. Chiếc F4H bổ nhào chưa kịp cắt bom, bị trúng đạn lao thẳng xuống biển ngay trước trận địa. Những chiếc còn lại phát hiện được trận địa ta, chúng lao vào đánh; ngoài khơi hai chiếc máy bay lên thẳng và 4 chiếc F4H bay vào khu vực chiếc F4H vừa rơi để cứu giặc lái.

Đội trưởng ra lệnh cho khẩu đội 1 ở lại chiến đấu, còn hai khẩu đội cơ động ra cồn cát sẵn sàng bắn máy bay trực thăng vào cứu giặc lái.

7 giờ 30 phút, khi số phận những tên giặc lái đã được định đoạt, máy bay trực thăng địch kéo nhau chuồn khỏi khu vực tác chiến. Từ đó máy bay phản lực và tàu chiến thay nhau đánh phá vào ven biển và các mục tiêu của ta. 7 giờ 40 phút, toàn đội trở về trận địa chính để đánh máy bay địch.

Đây là chiến công của một đơn vị dân quân gái độc lập bắn rơi máy bay Mỹ trên địa bàn Quân khu 4.

Trận Kỳ Phương có nhiều ưu điểm về tổ chức huấn luyện, chuẩn bị các mặt chu đáo, cụ thể, tỷ mỷ; đoàn kết tốt, quyết tâm cao, động tác chiến đấu của từng người thành thạo, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ; mưu trí, dũng cảm, táo bạo, đánh trực tiếp, đánh hiểm, bắn rơi tại chỗ được máy bay Mỹ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:28:25 am
TRẬN ĐIỂM CAO 864 - 736 CỦA TIỂU ĐOÀN 22 TRUNG ĐOÀN 8
(3.8.1967)

Trận phòng ngự của Tiểu đoàn 22 Trung đoàn bộ binh 8 bộ đội tình nguyện Quân khu Tây Bắc tại các điểm cao 864 - 736 (tây nam Mốc Lắc, bắc Nậm Thuận, Nậm Bạc - Lào), nhằm chống lại cuộc tiến công của tiểu đoàn dù 11, được các tiểu đoàn cơ động 35 và 2, cùng hoả lực pháo 105mm, 75mm ở Phu Viêng, Mốc Lắc và máy bay chi viện.

Nhận nhiệm vụ phòng ngự trên các điểm cao 864 - 736, Tiểu đoàn 22 được các tiểu đoàn 11, 14 và 23 phối hợp tác chiến; được 4 khẩu cối 82mm, hai khẩu ĐKZ 82mm và hai khẩu ĐKZ 57mm chi viện.

Trước ngày 29 tháng 7, Tiểu đoàn 22 phòng ngự ở các điểm cao 864 và 736. Tiểu đoàn 11 phối thuộc làm dự bị bố trí cách điểm cao 736 khoảng l.000m. Tiểu đoàn 23 bố trí tây nam điểm cao 808. Sở chỉ huy Trung đoàn 8 và sở chỉ huy tiền phương bố trí trong khu vực Tiểu đoàn 11.   .

Ngày 29 tháng 7, Tiểu đoàn 11 cơ động tập kích đại đội 1, 4 của tiểu đoàn 11 ngụy Lào; diệt 9 tên, làm bị thương 26 tên. Sau đó chỉ huy trận đánh điều chỉnh lực lượng của Tiểu đoàn 23, đưa một bộ phận nhỏ bám điểm cao 808 lực lượng còn lại lùi ra giữ điểm cao 766. Tiểu đoàn 11 để lại hoả lực ở điểm cao 864 và 736, lực lượng còn lại về làm nhiệm vụ tiếp tế lương thực, đạn dược.

Ngày 2 tháng 8, được phi pháo chi viện, địch từ hai hướng tiến công vào trận địa phòng ngự của ta.

Trên hướng điểm cao 736, địch cho tiểu đoàn 11 tiếp cận các mỏm 1, 3; tối ngày 2 tháng 8, địch đã tiến sát các vị trí phòng ngự tiền tuyến của ta khoảng 100m.

Trên hướng điểm cao 864, một đại đội của tiểu đoàn 1 ngụy Lào từ điểm cao 756 tiếp cận vào mỏm bắc 864.

Ngày 3 tháng 8, khoảng 8 giờ 30 phút, địch chia làm nhiều mũi đánh chiếm trận địa phòng ngự của ta ở 736. Phát hiện kịp thời hướng tiến công chủ yếu của địch, một mặt ta ngăn chặn chính diện, mặt khác cho một bộ phận cơ động đánh vào cạnh sườn diệt một số tên, buộc chúng phải lùi ra xa. 9 giờ, địch tổ chức hai mũi tiến công vào mỏm 1 và mỏm 3. Bị ta đánh trả, tiêu diệt một số tên, địch phải rút ra củng cố lực lượng.

Ở hướng điểm cao 864, lúc 3 giờ 30 phút ngày 3 tháng 8, địch vào cách trận địa 10m, chúng nổ súng trước, bị ta đánh trả phải lùi ra xa dùng súng cối và ĐKZ bắn cấp tập vào trận địa, ta cho một tiểu đội vòng sườn phải đánh vào đội hình địch. Do hành động không giữ được bí mật, bị địch tổ chức đánh trả, ta bị thương 3 người, phải quay lại, địch tiếp tục ném lựu đạn làm bị thương thêm một người nữa.

Do bị thương vong nhiều, nên lực lượng chốt giữ còn ít. Địch liên tục tiến công, ta quyết giữ trận địa, trận chiến đấu ngày càng gay go, ta hy sinh 1 người, bị thương 9 người. Đến 1 giờ trên trận địa còn lại 4 người chỉ huy trận đánh tăng cường lực lượng, nhưng địch vẫn tiếp tục tiến công. Đến 14 giờ, trung đội còn lại 7 người. 18 giờ 15 phút, tiểu đoàn đưa trung đội dự bị vào chiến đấu đồng thời dùng hoả lực chi viện cho trung đội đánh vào cạnh sườn đội hình địch. Bị đánh bất ngờ và bị tiêu hao một số, địch phải rút chạy. 18 giờ 45 phút, địch cho trực thăng hạ cánh xuống điểm cao 712, ta dùng cối, ĐKZ bắn cháy trực thăng, diệt một số địch.

Sau 10 ngày chiến đấu (chủ yếu là ngày 3 tháng 8), ta diệt 51 tên địch, làm bị thương 138 tên; bắn rơi một máy bay trực thăng; thu 7 khẩu trung liên, 15 khẩu tiểu liên, 20 khẩu súng trường.

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về chốt vững chắc kết hợp với xuất kích đánh địch từ nhiều hướng để giữ vững trận địa.

TRẬN TRIỆU PHONG CỦA ĐẠI ĐỘI 3 ĐẶC CÔNG
(12.8.1967)

Trận tập kích của Đại đội 3 đặc công, được Đại đội 1 của K8, Đại đội 10 của tỉnh và Đại đội 4 đặc công hiệp đồng chiến đấu đánh vào các đoàn bình định và cố vấn Mỹ (khoảng 100 tên) và khoảng 280 tên ngụy ở quận lỵ Triệu Phong và căn cứ biệt kích, nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho quần chúng ở Triệu Phong, Triệu Hải tỉnh Quảng Trị nổi dậy đấu tranh.

14 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8, các đơn vị xuất phát tiếp cận địch. 23 giờ, các mũi đánh địch trong khu vực quận lỵ bắt đầu cắt hàng rào thứ nhất.

1 giờ 15 phút ngày 12 tháng 8, quân ta nổ súng tiến công.

Ở mũi 1, ta diệt những tên lính gác trên thành, bắn B40 vào lô cốt góc trái, tổ đi đầu ném thủ pháo vào thành, toàn mũi lần lượt đánh hết các mục tiêu. Thấy thuận lợi, mũi 1 phát triển sang phía đông của tổ độc lập. Sau 30 phút chiến đấu quyết liệt, phát hiện còn một khẩu đại liên và một khẩu cối ở góc đông nam, nhưng vì mũi trưởng hy sinh, hết thủ pháo nên bộ đội phải rút ra ngoài.

Khi nghe tiếng súng của mũi 1, mũi 2 lệnh cho bộ đội diệt lính gác, B40 bắn vào lô cốt phía bắc và lần lượt diệt hết các mục tiêu được giao. Ta tổ chức đánh khẩu đại liên ở hướng đông nam nhưng không thành công, cuối cùng phải tìm được đường vào sát ném thủ pháo mới diệt được

Mũi 3 khi lọt vào trường học, đã tiến đánh căn phòng quận lỵ.

Tổ độc lập, 30 phút đầu của ngày 12 tháng 8 đã vào được ba hàng rào, nhưng sợ lộ nên quay ra. Khi nghe tiếng súng nổ, tổ trưởng lệnh cho B40 bắn, nhưng không trúng. Tổ trưởng đến thành nhưng do dự và quay ra, cùng đi có một người xông vào cùng mũi 1 tiến đánh địch.

Ở khu vực tiến công tiêu diệt lính biệt kích: Các mũi 4 5, 6 khi nghe tiếng súng ở khu vực quận lỵ, quân ta vượt qua hàng rào đánh vào các mục tiêu được phân công nhanh chóng làm chủ trận địa.

Trận đánh kết thúc, 270 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, nhiều vũ khí và trang bị kỹ thuật bị phá huỷ.

Chiến thắng Triệu Phong cho thấy: Phải thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ tin tưởng vào thắng lợi, sẵn sàng chịu đựng khó khăn, gian khổ, xả thân vì sự nghiệp cách mạng, chọn hướng, chọn mục tiêu đúng đắn, sử dụng lực lượng phù hợp. Phải giữ bí mật, tạo bất ngờ, đánh nhanh, giải quyết nhanh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:29:21 am
TRẬN ẤP BÌNH CỦA TIỂU ĐOÀN 11 TRUNG ĐOÀN 21
(18.8.1967)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 21 Sư đoàn 2 Quân khu 5 vào một đại đội quân Mỹ đang thực hiện cuộc hành quân “Liên kết 112” ở ấp Bình thôn 1, xã Phước Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch đánh phá khu vực Phước Hiệp của địch.

Sáng 14 tháng 8 năm 1967, địch đổ một đại đội pháo binh, một đại đội bộ binh, tiểu đoàn bộ xuống Gò Gai thuộc thôn 2, xã Phước Hiệp.

Được tin địch đổ quân, Trung đoàn 21 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 11 chuẩn bị phương án chiến đấu và diễn tập thử, đồng thời phái các bộ phận nhỏ cảnh giới, đánh địch từ xa; khi gặp địch, tạo mọi điều kiện để đánh nhỏ, giữ chúng lại nhằm tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch tại ấp Bình.

Thực hiện nhiệm vụ của trên, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 3 (được tăng cường một trung đội bộ binh, một trung đội côi 82mm, một trọng liên 12,8mm) tổ chức phục kích tại ấp Bình thôn 1.

12 giờ ngày 18, sau nhiều lần cho các tốp nhỏ ra thăm dò bị ta tiêu diệt, địch cho hai trung đội theo đường thôn 2 (Phước Hiệp) xuống cầu Tre thôn 1 (Phước Hiệp).

Được lệnh, tất cả các bộ phận nổ súng, ném lựu đạn và xung phong, pháo của trung đoàn bắn chế áp pháo địch ở Gò Gai, không để chúng chi viện cho lực lượng đang bị đánh ở ấp Bình. Bị đánh bất ngờ, địch cho trực thăng vũ trang đến chi viện, nhưng bị bộ đội ta đánh mạnh nên chúng phải giãn ra xa. 17 giờ 5 phút, tiểu đoàn ra lệnh kết thúc chiến đấu. Địch bị loại khỏi vòng chiến đấu 115 tên, 2 máy bay HU-1A bị bắn rơi. Trung đoàn pháo kích vào Gò Gai diệt 50 tên, phá 3 khẩu cối 106,7mm và 2 khẩu pháo 105mm. Ta thu 7 súng trường, 1 đại liên.

Trận ấp Bình thắng lợi để lại một số kinh nghiệm về nắm địch, tổ chức chỉ huy, bố trí sử dụng lực lượng, thực hành chiến đấu phục kích diệt địch ở địa hình rừng núi.

TRẬN TRÂU QUỲ CỦA TRUNG ĐỘI DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(21.8.1967)

Trận phục kích của trung đội dân quân xã Trâu Quỳ (trang bị hai khẩu 12,7mm) do xã đội phó Lê Văn Nhượng làm trung đội trưởng, nhằm đánh máy bay Mỹ tại trận địa phía bắc thôn Kiên Thành thuộc xã Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Cùng với việc tập trung máy bay đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ, 12 giờ 5 phút ngày 21 tháng 8, địch đánh phá cầu Đuống, các mục tiêu ở khu vực Yên Viên như ga xe lửa, các nhà máy trong thị trấn và các xã Yên Thường, Long Biên, Thượng Thanh, khu kho Đức Giang, sân bay Gia Lâm...

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, trung đội phát hiện một tốp 6 chiếc F105 sau khi đánh phá các mục tiêu, hay ra qua vị trí trung đội đón lõng. Khi máy bay vào đến cự ly 1.200m, được lệnh các khẩu đội đồng loạt nổ súng. Một máy bay địch bốc cháy, rơi cách trận địa khoảng l.000m.

Nhờ chuẩn bị chiến đấu chu đáo, duy trì trực ban chiến đấu nghiêm; tổ chức quan sát máy bay địch chặt chẽ để chuyển báo động kịp thời, hiệp đồng tốt, nổ súng thời cơ; đánh tập trung, nên trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Bằng 9 viên đạn 12,7mm, trung đội dân quân đã bắn rơi một “Thần sấm” của Mỹ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:30:28 am
TRẬN CÂU LẠC BỘ SĨ QUAN MỸ (NCO) CỦA BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ NHA TRANG
(3.9.1967)

Trận tập kích của tổ biệt động thành phố Nha Trang (5 người), trang bị 5 mìn Claymo và 8 kíp nổ hẹn giờ do Hoài Phong chỉ huy vào câu lạc bộ sĩ quan Mỹ (NCO) trên đường Duy Tân (nay là khách sạn số 38 - Trần Phú) thành phố Nha Trang, được một tiểu đội địch bảo vệ, thường xuyên có 400 đến 500 sĩ quan sinh hoạt vào các buổi tối; nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực cao cấp của địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng.

20 giờ ngày 30 tháng 8, năm chiến sĩ biệt động dùng xe đạp chở theo 5 quả mìn bí mật vượt qua cổng tiến vào hàng rào phía bắc câu lạc bộ, dùng móc lưỡi câu móc 4 quả mìn Claymo vào lưới chống đạn B40 (mỗi quả cách nhau 10m, cao l,2m), rút chốt hẹn giờ, rồi nhanh chóng trở ra ngoài an toàn. Cùng thời gian, Lê Thị Ngọc Mai vào góc rào đông bắc và cài xong quả mìn vào nơi quy định.

20 giờ 30 phút, cả 5 quả mìn đã bố trí xong, cả tổ chuẩn bị lui quân thì phát hiện bên ngoài nhà Võ Đình Dung, gần chỗ các quả mìn ta vừa bố trí có mấy cháu nhỏ chạy ra sân chơi đùa, nếu mìn nổ thì rất khó bảo toàn được tính mạng cho các cháu, nên Hoài Phong quyết định gỡ các quả mìn và lùi trận đánh vào một ngày khác.

20 giờ 30 phút ngày 3 tháng 9, vẫn theo phương án đã chuẩn bị, tổ bí mật tiếp cận mục tiêu, bố trí các quả mìn vào vị trí quy định. Lần này ta chỉ sử dụng ba qua mìn Claymo, hai quả (một quả 3,2kg, một quả 2kg) bố trí ở hàng rào phía bắc và một quả (2kg) bố trí ở hàng rào phía đông bắc. Bố trí xong mọi người về vị trí đã định.

21 giờ 2 phút, bất ngờ ba tiếng nổ bùng lên từ câu lạc bộ sĩ quan Mỹ, tiêu diệt và làm bị thương 216 tên (chủ yếu là sĩ quan).

Thắng lợi của trận đánh cho thấy: phải chuẩn bị chiến đấu chu đáo, chặt chẽ, tỷ mỷ. Chính làm tốt những điều trên mà ta đã giữ được bí mật, bất ngờ và an toàn tuyệt đối, đánh địch với hiệu suất chiến đấu cao.

TRẬN HỔNG THANH CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(18.9.1967)

Trận phục kích bắn máy bay trực thăng địch của du kích xã Hồng Thanh (8 người), huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận do Trần Tấn Tiễn chỉ huy, trang bị một khẩu Mas 36, một khẩu K44, một khẩu súng trường Mỹ và 60 viên đạn; nhằm chống địch càn quét, đánh phá và hạn chế khả năng bắn phá của máy bay địch vào căn cứ, bảo vệ nhân dân.

6 giờ ngày 18 tháng 9, tổ trực chiến Trần Tấn Tiễn, Nguyễn Thanh Bình, Trần Thanh Hiền và Nguyễn Lộc ở trận địa phục kích, sẵn sàng chiến đấu theo đúng kế hoạch.

7 giờ 15 phút, một chiếc HU-1A của địch xuất hiện và bay thẳng về phía công sự của Trần Thanh Hiền, anh ngắm ngay đầu máy bay bắn liền hai phát. Chiếc HU-1A vội vọt lên cao, dùng đại liên và M79 bắn xuống.

Lợi dụng lúc máy bay địch đang rà, lượn, bắn phá hầm của Hiền, Tiễn bình tĩnh giương súng ngắm chính xác, bắn liền 4 viên đạn vào máy bay địch. Chiếc HU-1A bốc cháy và rơi cách trận địa khoảng 1km.

Sau khi chiếc HU-1A của địch bị bắn cháy và lao xuống biển, một chiếc “cán gáo” của địch ở phía nam lao tới tìm mục tiêu. Khi chiếc “cán gáo” sà xuống gần hầm của Bình và Lộc, Bình chớp thời cơ bắn hai phát đạn. Chiếc “cán gáo’’ trúng đạn, lao xuống cách trận địa khoảng 500m về phía bắc.

Sau khi bắn rơi hai chiếc trực thăng của địch du kích lui quân về vị trí quy định, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Trận Hồng Thanh thắng lợi nhờ biết tổ chức xây dựng trận địa phục kích bắn máy bay bay thấp; nhờ nắm vững thời cơ, bất ngờ nổ súng tiêu diệt máy bay địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Tư, 2020, 07:31:23 am
TRẬN AN TRƯỜNG CỦA ĐẠI ĐỘI 6 TIỂU ĐOÀN 8
(27.9.1967)

Trận phòng ngự của Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (43 người), trang bị 5 khẩu B40, một khẩu đại liên, một khẩu cối 60mm, còn lại là súng trường, tiểu hên, trung liên, được tăng cường một trung đội 12,7mm; chống lại lữ đoàn 2 sư đoàn 25 ở khu vực Tuần Dưỡng đánh vào trận địa chốt tại khu vực An Trường (Gia Hội); nhằm giữ vững trận địa, tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng.

10 giờ ngày 27 tháng 9, trinh sát tiểu đoàn báo cáo có 57 xe thiết giáp địch từ Tuần Dưỡng về hướng Gia Hội. Đại đội quyết định điều chỉnh lực lượng, bố trí lại thế trận, động viên bộ đội đánh xe tăng, xe bọc thép địch bằng trang bị hiện có, giữ vững trận địa.

10 giờ 45 phút, xe tăng địch qua Gia Hội đến gần trận địa trung đội 12,7mm, trung đội tổ chức lùi về sau, địch phát hiện sử dụng một mũi vu hồi hướng điểm cao 59 chặn đường và dùng lực lượng đánh vào đội hình trung đội.

11 giờ 30 phút, địch tổ chức hai mũi tiến công vào trận địa Đại đội 6. Trên hướng đông nam, Trung đội 3 bắn cháy hai chiếc đi đầu, địch hoảng sợ lùi ra xa dùng pháo, đại liên trên xe bắn rồi lợi dụng hoả lực đánh mạnh, chúng cho xe bí mật theo sườn nam, một mũi theo sườn đông đánh vào trận địa của Trung đội 2; Trung đội 2 bắn hỏng một chiếc. Địch tiếp tục dùng pháo trên xe, pháo ở Tuần Dưỡng, máy bay phản lực ném bom bắn phá ác liệt.

Từ 9 giờ ngày 27, Đại đội 6 không liên lạc được với tiểu đoàn và trung đoàn, khi trung đội 12,7mm về sở chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình Đại đội 6, trung đoàn lập tức cho người bắt liên lạc với Đại đội 6 và lệnh cho Tiểu đoàn 8 sử dụng một trung đội bộ binh trang bị B40, B41 do tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy ra chi viện cho Đại đội 6.

13 giờ 40 phút, địch tổ chức hai mũi tiếp tục tiến công vào trận địa. Ở hướng nam, Trung đội 1 bắn cháy hai chiếc, nhưng lực lượng địch còn mạnh nên khi mũi hướng bắc của ta đánh vào đã cắt đội hình địch thành hai cụm phía đông và phía tây. 14 giờ 30 phút, trung đoàn sử dụng Đại đội ĐKZ (6 khẩu) do chủ nhiệm pháo binh vận động đến chi viện cho Đại đội 6. Địch tập trung 8 xe đột phá vào trận địa Trung đội 2, bị bắn cháy một chiếc, các chiếc còn lại không dám tiến công vào nữa.

Trung đội bộ binh của tiểu đoàn và Đại đội ĐKZ của trung đoàn đến chi viện cho Đại đội 6 nhưng không tiếp cận được mục tiêu, bỏ lỡ thời cơ diệt địch.

Sau một ngày chiến đấu kiên cường, đại đội diệt 5 xe bọc thép, bắn bị thương một chiếc khác; loại khỏi vòng chiến đấu 45 tên địch.

Trận An Trường, một trận đánh không cân sức, quân ta ít hơn, vũ khí kém hơn so với bộ binh cơ giới của địch, nhưng ta đã đẩy lui các đợt tiến công của chúng, giữ vững trận địa. Điều đó cho thấy: “Một phân đội quân ta với vũ khí mang vác, được tổ chức chỉ huy tốt có thể đánh bại cỡ tiểu đoàn bộ binh cơ giới của địch tiến công, giữ vững trận địa”.

TRẬN GÒ ĐU CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 90
(8.10.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn 90 Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn 2 Quân khu 5 (được tăng cường một đại đội súng máy phòng không 12,8mm, hai khẩu cối 82mm); nhằm đánh vào một đại đội lính dù địch thuộc sư đoàn 101 đang càn quét và trụ lại ở gò Đu thuộc thôn Hoá Trung, xã Sơn Tú, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Sau khi nhận nhiệm vụ, tiểu đoàn xây dựng các phương án chiến đấu và tổ chức đội hình sẵn sàng đánh địch.

Theo kế hoạch, Đại đội 1 đứng chân ở đông Bàn Cờ, dựa vào rừng rậm và ruộng bậc thang để triển khai; Đại đội 2 triển khai đội hình ở tây gò Đu, nam Bàn Cờ, hướng về đường 16; Đại đội 3 bố trí ở đông thôn Bàn Cờ; Đại đội 4 bố trí ở luỹ tre trước làng. Các đại đội súng máy phòng không 12,8mm, cối 82mm do tiểu đoàn chỉ huy, bố trí ở đông Bàn Cờ, gần làng.

Quá trình chiến đấu, tiểu đoàn được cối của trung đoàn chi viện, có Đại đội 2 Tiểu đoàn 40 ở bắc sông Trầu sẵn sàng vận động qua cầu Tây An Tây hiệp đồng với Tiểu đoàn 90 đánh địch ra phía bắc gò Đu.

23 giờ ngày 7 tháng 10, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

8 giờ ngày 8 tháng 10, phát hiện địch đốt nhà dân ở đông bắc gò Đu, tiếp đó chúng đốt nhà, cướp phá khu vực Nhà máy xay, sau đó chia làm hai cánh, một cánh theo sườn gò Đu xuống, một cánh theo phía đông bắc gò Đu 10 giờ 30 phút, địch trở lại gò Đu.

11 giờ 30 phút, tiểu đoàn lệnh cho các đơn vị xuất kích chặn đánh cánh quân ở đông bắc gò Đu. Lúc này Đại đội 1 lên hướng đông bắc Bàn Cờ, Đại đội 2 ra hướng chính diện, Đại đội 3 thay vị trí Đại đội 1 (làm dự bị). Được tin một đại đội địch đang tới gần gò Đu, tiểu đoàn được lệnh dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị đánh địch. Sau khi điều chỉnh quyết tâm, tiểu đoàn sử dụng một bộ phận của Đại đội 1 ngăn chặn địch, dùng một trung đội của Đại đội 2 đánh địch chính diện, còn hai trung đội vòng bên phải đánh tạt sườn.

Bị đánh bất ngò, địch quay sang chống đỡ hướng tiến công của Đại đội 2.

Nghe tiếng súng Đại đội 1 nhanh chóng cơ động bao vây địch ở gò Đu, hiệp đồng với Đại đội 2 diệt địch. Khi hoả lực bắn vào gò Đu, tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 3 vu hồi theo sườn nam gò Đu đánh vào sau lưng địch.

Lợi dụng địch đang tập trung hoả lực chống đỡ với đại đội 1 và 2, Đại đội 3 bí mật tiếp cận sát địch, dùng hoả lực bất ngờ diệt ngay khẩu đại liên; sau đó chia thành từng mũi nhỏ, dùng lựu đạn, thủ pháo, bắn gần diệt từng ụ súng, hoả điểm của địch.

Cùng lúc Tiểu đoàn 90 đánh địch, trung đoàn lệnh cho cối của Tiểu đoàn 40 bắn vào quân địch đang ở Tranh - An Tây.

14 giờ 15 phút một bộ phận địch ở làng phía đông gò Đu chạy lên khu vực hòn đá cao, trung đoàn lệnh cho Đa đội 2 Tiểu đoàn 40 xuất kích diệt địch.

Sau 40 phút chiến đấu, 196 tên địch bị diệt. Ta thu 54 súng các loại.

Trận đánh thắng lợi đã nâng cao trình độ tổ chức vân dụng hình thức chiến thuật vận động tiến công của đơn vi.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:04:18 am
TRẬN HOẰNG TRƯỜNG CỦA TRUNG ĐỘI LÃO DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(14.10.1967)

Trận phục kích của Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường (18 người) do cụ Hợp làm trung đội trưởng, trang bị 3 khẩu 12,7mm, biên chế thành ba khẩu đội, trận địa đặt ở bắc điểm cao 201 thuộc xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, nhằm bắn rơi máy bay Mỹ, cùng con cháu bảo vệ quê hương.

Sau một thời gian tập luyện sử dụng vũ khí và phương án đánh địch, xã tổ chức lễ xuất quân trang trọng, ba khẩu đội được bố trí ở khu vực điểm cao 201, các cụ vừa trực chiến vừa luyện tập thêm.

12 giờ ngày 14 tháng 10 năm 1967, một tốp máy bay F4H từ biển bay vào vòng qua trận địa, chiếc thứ nhất bổ nhào cắt bom ở độ cao lớn hơn so với tầm bắn, các cụ chưa nổ súng. Không thấy hoả lực bắn lên, chiếc thứ hai bổ nhào thấp và gần hơn. Đúng phần tử bắn, cả ba khẩu 12,7mm đồng loạt nhả đạn, chiếc F4H trúng đạn bốc cháy lao ra biển rơi cách bờ khoảng 1 hải lý.

Không đầy 5 phút từ lúc máy bay xuất hiện, các cụ đã hạ một chiếc F4H. Đây là chiếc máy bay thứ 2.400 của Mỹ bị quân và dân miền Bắc bắn rơi. Chiến công của các cụ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen: “Tuổi cao chí càng cao” và tặng Huy hiệu của Người cho các cụ vào ngày 25 tháng 8 năm 1970, Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường đã được Quốc hội, Chính phủ tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

TRẬN HÀ RE CỦA PHÂN ĐỘI DÂN QUÂN GÁI VÕ NINH
(10.11.1967)

Trận phục kích của phân đội dân quân gái (26 người), trang bị ba khẩu súng máy phòng không 12,7mm, do xã đội phó Phạm Thị Phú chỉ huy (ở Hà Re thuộc xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) nhằm đánh máy bay Mỹ, bảo vệ phà Quán Hàu và các đoàn xe qua xã chi viện cho miền Nam ruột thịt.

14 giờ ngày 10 tháng 11 năm 1967, ba chiếc F4H từ ngoài biển bay vào, cả phân đội sẵn sàng nổ súng. Ba máy bay bay thấp lướt qua phà Quán Hàu, vòng về phà Trúc Ly (phà 2). Bất ngờ chiếc đi đầu chuyển hướng bay về khe Đình Thuỷ rồi vòng trở lại, hai chiếc tiếp sau theo sông Nhật Lệ bay về hướng Long Đại. Một chiếc F4H chiếm độ cao nhằm phà Quán Hàu bổ nhào, cắt bom rồi lướt qua trận địa. Cả 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm đồng loạt nhả đạn, chiếc máy bay bốc cháy và lao xuống xã Gia Ninh.

Bằng 34 viên đạn, phân đội dân quân gái Võ Ninh bắn rơi một máy bay F4H của không quân Mỹ. Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm về huấn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật; xây dựng niềm tin vào khả năng bắn rơi máy bay phản lực Mỹ; nghiên cứu nắm chắc quy luật hoạt động của địch, tổ chức xây dựng lực lượng và bố trí trận địa phù hợp để phát huy sức mạnh đánh thắng địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:04:49 am
TRẬN AN SƠN CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(8-9.1.1968)

Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh l Sư đoàn 2 Quán khu 5 vào quân địch ở khu vực An Sơn, An Cường, Cẩm Tú thuộc xã Sơn An, huyện Quế Tiên (nay là xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam); nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Sau khi chiếm điểm cao Liệt Kiểm, lữ đoàn 196 địch xây dựng thành căn cứ; tại đây có sở chí huy lữ đoàn, một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội pháo 105mm và một số tiểu đoàn được bố trí cơ động vòng ngoài. Hàng ngày, chúng tổ chức từng đại đội càn quét xung quanh để bảo đảm an toàn.

Trung đoàn bộ binh 1 có 3 tiểu đoàn (40, 60, 90), một đại đội cối 82mm, một đại đội 12,7mm. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt quân địch, trung đoàn hạ quyết tâm liên tục tiến công tiêu diệt từ một vài đại đội tiến tới đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn của chúng.

Thực hiện quyết tâm trên, trung đoàn bố trí đoàn 40 ở An Cường và nam đèo Rập Cu; Tiểu đoàn 60 ở Phước Tuy, tây bắc Liệt Kiểm; Tiểu đoàn 90 ở Cẩm Tú và khu vực Nhà máy xay; hoả lực 12,7mm ở núi Trắp và ở núi Trắp và ở Rập Cu, đèo Răm; hoả lực cối 82mm ở An Cường để chi viện chung.

Tai khu vực đứng chân, trung đoàn xây dựng nhiều phơng án đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật khác nhau như vận động tiến công, phục kích, tập kích khi quân địch dừng lại…

7 giờ 30 phút ngày 8 tháng 1, địch cho nhiều đại đội nống ra các khu vực nhưng không đúng dự kiến của ta nên không đánh được.

Theo dõi quy luật hoạt động của địch, trung đoàn ra lệnh các tiểu đoàn sẵn sàng vận động tiến công tiêu diệt chúng.

12 giờ 20 phút, trung đoàn lệnh cho cối 82mm của trung đoàn và của Tiểu đoàn 90 tập trung hoả lực đánh vào quân địch ở trước làng cẩm Tú.

Các tiểu đoàn 40, 90 nhanh chóng xuất kích diệt một số địch. Bị đánh bất ngờ, địch chống cự không nổi phải bỏ chạy. 16 giờ, trung đoàn phát hiện một số địch còn lại ở khu quyết chiến điểm, đã ra lệnh cho các bộ phận trinh sát, vệ binh tổ chức thành hai mũi đánh dọc sông Trầu cùng các tiểu đoàn diệt địch.

16 giờ 40 phút, trung đoàn lệnh Tiểu đoàn 60 vận động xuống khu vực Tiểu đoàn 90 đang tác chiến phối hợp đánh địch. Nhưng 18 giờ, Tiểu đoàn 60 mới đến; lúc đó địch đã co cụm nên trung đoàn lệnh không tập kích, vì địch ở trong công sự dùng hoả lực chống cự mạnh.

Một ngày liên tục đánh địch, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, thu nhiều vũ khí.

Ngày 9 tháng 1, trung đoàn quyết định tổ chức đánh địch ra lấy xác đồng bọn.

Từ 8 giờ 20 phút, được phi pháo chi viện, địch chia thành 3 mũi tiến vào khu vực Nhà máy xay và trận địa của các tiểu đoàn 40, 60. Trung đoàn dùng hoả lực chi viện để các tiểu đoàn vận động tiêu diệt địch. Trận đánh kéo dài đến 19 giờ, ta diệt một đại đội, tiêu hao hai đại đội khác và ban chỉ huy tiểu đoàn địch, bắn rơi 3 máy bay; thu nhiều vũ khí.

Sau hai ngày liên tục vận động tiến công, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 500 tên, bắt một số tên; bắn rơi 4 máy bay; thu nhiều vũ khí, trang bị.

Trận An Sơn thắng lợi cho thấy sâu sắc hơn, để thắng địch giòn giã, hạn chế thương vong phải: Có chủ trương, kế hoạch phù hợp, mạnh dạn đưa đội hình lót sẵn vào vùng địch, tạo ưu thế bất ngờ với chúng. Đánh có tập trung, có trọng điểm, tiến công kiên quyết, táo bạo, mạnh dạn sử dụng toàn bộ lực lượng khi cần, kể cả vệ binh trinh sát và chỉ huy, cơ quan xuống trực tiếp giải quyết những tình huống then chốt. Nắm chắc khả năng phản ứng của địch, nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, sẵn sàng trụ lại đánh bồi, đánh nhồi tiêu diệt nhiều địch. Kết hợp chặt chẽ việc động viên tinh thần bộ đội với việc tổ chức chiến đấu sáng tạo, hiệp đồng chặt chẽ của cán bộ.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:05:40 am
TRẬN NÚI TRƯỜNG CỦA DÂN QUÂN CÁC XÃ HOẰNG HẢI VÀ HOẰNG TRƯỜNG
(16.1.1968)

Trận đánh máy bay Mỹ của dân quân các xã Hoằng Hải và Hoằng Trường (trang bị 4 khẩu súng máy phòng không 12,7mm) ở núi Trường (điểm cao 201), nhằm bảo vệ tàu, thuyền của ta trú tại cửa Lạch Trường thuộc xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Từ khi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc (5 tháng 8 năm 1964), chúng thường dùng máy bay trinh sát cửa lạch và dọc bờ biển từ Lạch Trường đến Hòn Mê, tập trung nhất vẫn là cửa Lạch Trường để phát hiện tàu hải quân, các đoàn thuyền vận tải của ta ra vào lạch. Nhất là từ sau những ngày 14 và 24 tháng 10 năm 1967, Trung đội lão dân quân bắn rơi hai máy bay, không quân Mỹ càng tăng cường trinh sát và đánh phá cửa lạch.

Trước tình hình địch tăng cường đánh phá, Đảng uỷ và uỷ ban các xã Hoằng Trường và Hoằng Hải quyết định thành lập hai đội nữ dân quân để bảo vệ cửa lạch, bảo vệ các tàu, thuyền vận tải của ta tại cửa lạch, kiên quyết bắn rơi máy bay Mỹ.

Để bắn máy bay Mỹ, mỗi xã tổ chức một trận địa chiến đấu độc lập trên dãy núi Trường (Trung đội dân quân xã Hoằng Trường bố trí ngay trên trận địa cũ của trung đội lão dân quân; trận địa của xã Hoằng Hải bố trí phía tây Yên Ngựa, điểm cao 201, gần trận địa của xã Hoằng Trường).

13 giờ 5 phút ngày 16 tháng 1, hai chiếc máy bay AD6 từ biển bay vào, lượn vòng quanh trở lại trinh sát, cả 4 khẩu 12,7mm bám sát đường bay, chờ cho địch vào đúng cự ly nổ súng. Phát hiện tàu thuyền ta ở cửa Lạch Trường máy bay địch bất ngờ hạ độ cao tiến công. Chờ cho máy bay địch vào cự ly hiệu quả, cả hai trận địa đồng loạt nổ súng, hai máy bay địch trúng đạn, bốc cháy. Như vậy từ 5 tháng 8 năm 1964 đến 16 tháng 1 năm 1968, tám máy bay Mỹ đã phải đền tội tại cửa Lạch Trường.

Thực tiễn chiến đấu của dân quân Hoằng Hải, Hoằng Trường cho thấy, để bắn rơi được máy bay Mỹ phải: Có phương án chiến đấu cụ thể, tổ chức huấn luyện nghiêm, trong đó coi trọng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật giỏi, hiệp đồng chặt chẽ. Kiên trì phục kích, bí mật, bất ngờ, phán đoán chính xác, chớp thời cơ nổ súng tiêu diệt địch.

TRẬN MANG CÁ CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 12 VÀ TIỂU ĐOÀN 1 TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 6
(31.1.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 12 hiệp đồng với Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu một đại đội) Trung đoàn 6 Quân khu Trị Thiên; đánh vào bộ tư lệnh sư đoàn 1, một đại đội tổng hành dinh, một đại đội quân nhu, một đại đội quân y, một đại đội bảo vệ của địch (được trang bị trung liên, đại liên và ĐKZ, thường xuyên có 3 xe M113 của trung đoàn thiết giáp 7 đóng ở Tam Thai vào thường trực chiến đấu); nhằm tiêu diệt địch, chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội thành, tạo bàn đạp cho các lực lượng vào đánh chiếm toàn bộ thành phố Huế.

Thực hiện nhiệm vụ của trên giao, Tiểu đoàn 12 hạ quyết tâm dùng một bộ phận nhỏ bí mật đánh chiếm thành phía bắc, từ cửa An Hòa đến cửa Hậu, thọc sâu đánh chiếm một phần sở chỉ huy sư đoàn 1, sau đó đánh chiếm toàn bộ Sở chỉ huy sư đoàn ở Mang Cá Lớn, chiếm và giữ cho được cửa An Hoà, làm bàn đạp cho bộ binh tiến vào thành.

Để tiêu diệt địch, Tiểu đoàn 12 tổ chức 4 mũi, mỗi mũi 8 người, trang bị B40, B41, tiểu liên và thủ pháo bí mật áp sát các mục tiêu được phân công. Tiểu đoàn bộ binh 1 sử dụng các đại đội 2, 3; có nhiệm vụ: sau khi đặc công chiếm được các mục tiêu đầu cầu, bộ binh nhanh chóng tiếp sức phát triển đánh chiếm quận Hương Trà, Bảo Vinh, Mang Cá.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968, các đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa, các mũi tiềm nhập áp sát mục tiêu được giao.

2 giờ 33 phút ngày 31 tháng 1 năm 1968, đội trưởng ra lệnh nổ súng, ĐKZ bắn vào khu vực tam giác, cối bắn vào Mang Cá. Hết thời gian chuẩn bị, đội trưởng ra lệnh các mũi xung phong.

Được lệnh, các mũi xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Khi ta chiếm được cổng, địch dùng 3 xe M113 cùng bộ binh ra phản kích, đồng thời từ các khu nhà cao tầng đại liên, trung liên bắn ra rất mạnh làm cho mũi 2 không phát triển vào được. Đội trưởng tổ chức hoả lực B40, B41 diệt xe M113 và các hoả điểm để đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 1.

Khi mũi 1 tiến về cổng chính thì mũi 3 và 4 cường tập, vượt qua các lớp rào vào đến chân thành trong Mang Cá, nhanh chóng dùng thủ pháo đánh các nhà dọc theo tường và chiếm lô cốt số 1. Mũi phó mũi 3 và mũi 4 không bắt được liên lạc với mũi trưởng mũi 3, chạy doc theo đường thành nên bị vấp mìn, 6 người bị thương vong, số còn lại vượt rào ra cổng chính gặp đội trưởng.

Cùng thời gian trên, 12 người của mũi 3 và 4 đặc công và một số mũi của Đại đội 3 bộ binh từ trong cổng chính tây cũng vận động đến. Đặc công và bộ binh đánh chiếm cổng chính, dùng hoả lực kiềm chế địch, tạo điều kiện cho đặc công và bộ binh đánh chiếm sở chỉ huy địch. Nhưng khi xung phong bộ binh không vào được, bị thương thêm một số. 4 giờ 5 phút, đội trưởng đặc công giao cổng chính lại cho một bộ phận của Đại đội 3 giữ và đánh thu hút hoả lực địch, đội trưởng dẫn lực lượng còn lại quay lại lô cốt số 3 để tổ chức đánh. Khi đến gần lô cốt số 3, ta bắn một quả B40; lúc này một người của mũi 3 ở trong khu Mang Cá nghe tiếng súng nổ đến bắt liên lạc. Đội trưởng đặc công chỉ huy bộ đội đột nhập vào thành. Lực lượng đặc công vào thành có 14 người, chia thành hai mũi, một mũi đánh chiếm khu vực nhà quân y, đại đội bảo vệ, một mũi chiếm nhà cải huấn và làm chủ khu vực này. Đại đội bộ binh 2 vào được 12 người, đánh chiếm được 3 nhà gần lô cốt, không phát triển tiếp, còn gần một trung đội bố trí ngoài hàng rào để ngăn chặn địch ở bên ngoài đề phòng chúng tập kích sau lưng ta.

Trong lúc trời còn tối đã có một số địch ra hàng, vì địch nhiều nên ta bố trí chúng ngồi dồn vào góc thành đông nam; trời sáng, thấy lực lượng ta ít chúng bỏ chạy vào các nhà và chống cự lại.

9 giờ, địch phản kích ra chiếm lại cổng chính, đẩy được lực lượng ta ra. Và khoảng 6 giờ 30 phút, Đại đội bộ binh 3 sau khi xung phong không vào được phải bố trí giữ cổng chính. Địch dùng súng cối và súng phóng lựu bắn vào đội hình, đại đội phải lui ra xa.

Địch dùng hoả lực mạnh không chế liên tục, ép lực lượng đặc công vào một góc lô cốt, do quá trình chiến đấu chờ lực lượng bộ binh đến bị thương vong nhiều mà vẫn không bắt được liên lạc, trung đoàn phải lệnh cho đặc công rút ra ngoài Mang Cá. Ta diệt 100 tên, bắt 19 tên, thu hai cối cá nhân...

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về chuẩn bị tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trước khi vào chiến đấu; về tổ chức huấn luyện bổ sung cho đơn vị sát phương án chiến đấu; về xác định mũi hướng tiến công phù hợp, tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chặt chẽ tạo sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:06:09 am
TRẬN NGÔ XÁ ĐÔNG CỦA TIỂU ĐOÀN 5
(5.2.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 5 (thiếu Đại đội 3) Trung đoàn 812 Sư đoàn 324 (trang bị 5 khẩu B40, 50 khẩu tiểu liên, 22 khẩu súng trường, 3 khẩu B41, 2 khẩu cối 82mm; được tăng cường một đại đội của Tiểu đoàn 8, một tổ trinh sát, một tổ đặc công) vào một đại đội kỵ binh bay ở Ngô Xá Đông thuộc xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, làm chủ trận địa, chốt giữ, sẵn sàng đánh địch phản kích.

20 giờ ngày 4 tháng 2, các đơn vị xuất phát bám địch, 5 giờ ngày 5 tháng 2, các mũi tiềm nhập vào được một phần ba làng nhưng vẫn chưa gặp địch. 6 giờ, Đại đội 1, Tiểu đoàn bộ, Đại đội 4 vào đến ngang nhà thờ, Đại đội 2 vào bắc làng thì gặp địch vừa ngủ dậy. Lợi dụng còn sương mù, đại đội trưởng triển khai hoả lực B40, B41 cách địch khoảng 70m, các mũi bộ binh cách địch khoảng 30m.

Được lệnh, Đại đội 2 bất ngờ dùng hoả lực bắn mạnh vào đội hình địch, Trung đội 2 nhanh chóng thọc vào gia đội hình của chúng; các trung đội 1, 3 chia thành hai mũi phát triển sang hai bên hỗ trợ cho Trung đội 2.

Ở khu nhà thờ, tiểu đoàn trưởng quan sát được diễn biến chiến đấu của Đại đội 2, lệnh cho cối 82mm bắn vào phía đông làng, đồng thời lệnh cho Đại đội 1 đánh vào sườn phải quân địch ở phía nam làng chi viện cho Đại đội 2, nhưng vướng hàng rào dây thép gai phải khắc phục nên bị chậm.

6 giờ 10 phút, địch ở phía nam làng bắn vào đội hình Đại đội 2 làm đại đội phát triển chậm lại. Cùng lúc đó, Đại đội 1 tiếp cận gần địch, xung phong diệt một số tên, số địch còn lại chạy ra hướng Cồn Mả, co cụm chờ máy bay đến chi viện.

6 giờ 20 phút, ta đánh bật địch ra khỏi làng. Địch bị cô lập, lực lượng còn lại cố giữ bãi tha ma để yêu cầu phi pháo chi viện. Tại thời điểm này, một tiểu đội của Trung đội 2 lợi dụng địa hình nhanh chóng đánh vào giữa đội hình địch ở bãi tha ma.

Sau khi diệt được một số địch, Đại đội 2 nhanh chóng phối hợp với tiểu đội của Trung đội 2 diệt địch ở bãi tha ma. Khi thấy Đại đội 2 đánh địch ở bãi tha ma, Đại đội 1 nhanh chóng vận động xuống phía nam đường, nhưng địa hình trống trải, đại đội phải dừng lại dùng hoả lực chi viện cho Đại đội 2 chiến đấu.

Tại vị trí chỉ huy tiểu đoàn, một bộ phận chốt giữ nhà thờ, tiểu đoàn trưởng chỉ huy phân đội cối chế áp địch ở bãi tha ma chi viện cho Đại đội 2. Đến 7 giờ, nhiều tên địch bị diệt, số còn lại chạy về điểm cao phía bắc lợi dụng công sự cố thủ, dùng hoả lực ngăn chặn ta xung phong.

Pháo địch ở mộ Ông Chưởng, La Vang bắn vào làng, 4 chiếc trực thăng vũ trang quần lượn và bắn đạn rốc két vào Đại đội 2 ở bãi tha ma. Lợi dụng sự chi viện của phi pháo, một toán khoảng 20 quân địch nấp trong làng phản kích tạt sườn vào vị trí chỉ huy của tiểu đoàn ở trong nhà thờ. Bị địch đánh bất ngờ, chính trị viên tiểu đoàn và tham mưu phó trung đoàn đã chiến đấu và anh dũng hy sinh.

Sau khi chiếm được bãi tha ma, sức chiến đấu của Đại đội 2 giảm, lại bị trực thăng đánh vào đội hình, đại đội trưởng vừa chỉ huy hoả lực kiềm chế địch ở điểm cao, vừa tổ chức rút từng tổ nhỏ ra khỏi khu vực bãi tha ma.

8 giờ 30 phút, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 tổ chức cán bộ trinh sát cùng với du kích dẫn đường chia từng bộ phận nhỏ tìm kiếm thương binh, tử sĩ chuyển về tuyến sau. Lực lượng còn lại chia thành từng bộ phận nhỏ, ngụy trang, rút về hướng Ngô Xá Tây, tập kết ở Thâm Triều, sau đó di chuyển sang vị trí mới.

Sau nhiều giờ chiến đấu, ta diệt 110 tên địch, bắn rơi một máy bay trực thăng vũ trang, phá hai đại liên, thu hai khẩu AR15, một khẩu M79.

Trận đánh thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch trong mọi điều kiện, diệt được nhiều địch, đánh thiệt hại nặng đại đội kỵ binh bay Mỹ, phá được kế hoạch bảo vệ vòng ngoài Thành Quảng Trị, gây tâm lý hoang mang trong hàng ngũ quân ngụy.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:08:12 am
TRẬN LỖ GIÁNG CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(8.2.1968)

Trận đánh điểm diệt viện của Trung đoàn bộ binh 1 (thiếu Tiểu đoàn 2) thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5, nhằm tiêu diệt địch ở khu vực thôn Lỗ Giáng và thôn Cổ Mận thuộc xã Hòa Đa (nay là xã Hòa Xuân), huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng).

Đồn Lỗ Giáng được xây dựng ở Hòa Đa do một trung đội hỗn hợp Mỹ - ngụy (12 quân Mỹ, 19 dân vệ) chiếm giữ. Trang bị gồm 1 khẩu đại liên, 1 khẩu cối 61mm, 1 khẩu ĐKZ 57mm. Xung quanh có ba lớp rào dây thép gai; có công sự, lô cốt xây bằng bao cát.

Sau khi nhận lệnh tiến vào Đà Nẵng để tăng sức đột kích, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng, có thời cơ thì phát triển vào Đà Nẵng, Trung đoàn bộ binh 1 sử dụng các tiểu đoàn 1, 3 và các lực lượng trực thuộc, trang bị vũ khí đầy đủ, lương thực, thực phẩm gọn nhẹ bí mật cơ động vào mục tiêu được bí mật.

Để tiêu diệt địch, trung đoàn sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 được tăng cường một khẩu ĐKZ diệt đồn Lỗ Giáng. Tiểu đoàn 3 được tăng cường hai khẩu ĐKZ làm nhiệm vụ diệt viện. Tiểu đoàn 1 làm lực lượng dự bị. Phân đội cối 82mm chi viện cho Đại đội 2 đánh địch ở Lỗ Giáng và chi viện cho Tiểu đoàn 3 đánh viện. Đại đội súng 12,7mm đánh máy bay bay thấp và bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn.

16 giờ 30 phút ngày 7 tháng 2, bộ đội vượt dòng sông Vĩnh Điện vào chiếm lĩnh vị trí tiến công. Riêng Tiểu đoàn 3 do phải ưu tiên cho Đại đội 2 đánh điểm nên 0 giờ ngày 8 tháng 2, tiểu đoàn mối vào chiếm lĩnh làm công sự.

0 giờ ngày 8 tháng 2, Đại đội 2 nổ súng tiến công. Lúc đầu cối và ĐKZ của ta bắn mạnh làm địch bị tê liệt. Ta đánh bộc phá phá rào, nhưng bên trong rào còn một hàng rào nữa nên phải cho mở nốt. Địch phát hiện bắn chặn, các bộc phá viên thương vong hết, tiểu đoàn phái trinh sát đánh để mở cửa cho các lực lượng ta vào đánh địch trong đồn. Lúc này địch đã phục hồi chống cự nên hàng rào mở xong mà bộ đội không xung phong được. Một mũi khác thấy vậy cũng nằm im không đột phá, yêu cầu chi viện.

Gần sáng ta vẫn chưa giải quyết xong, địch còn giữ được một số lô cốt, dùng đại liên, 12,7mm bắn ra. Đến 6 giờ 30 phút, trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn đưa thêm B40 vào chi viện cho lực lượng xung phong đánh địch.

14 giờ 30 phút, thừa thắng trung đoàn lệnh cho ĐKZ 75mm triển khai cùng với Đại đội 2 diệt hai lô cốt còn lại, địch chạy về Cồn Dầu - Trung Lương và được một đại đội bộ binh lên đón.

15 giờ trở đi, toàn bộ cứ điểm và trận địa từ Lỗ Giáng trở vào ta làm chủ, thu dọn chiến trường, tiếp tục tảo trừ địch.

23 giờ trận đánh kết thúc, ta tiêu diệt cứ điểm Lỗ Giáng, loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên, bắt 2 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắn cháy một xe M113; thu 13 khẩu pháo các loại, nhiều vũ khí, trang bị.

Trận đánh thắng lợi cho thấy: Tác chiến ở đồng bằng phải dự kiến nhiều tình huống đánh địch trên các hướng. Hoạt động ở vùng sâu phải chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo.

TRẬN BÚNG CỦA TIỂU ĐOÀN 6
(4.3.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 bộ đội miền Đông Nam Bộ, được lực lượng vũ trang địa phương phối hợp nhằm đánh quỵ tiểu đoàn 2 trung đoàn 8 và một đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 7 sư đoàn 5 địch tại thị trấn Búng (nay là xã An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Thực hiện nhiệm vụ trung đoàn giao, Tiểu đoàn 6 chuẩn bị phương án tiêu diệt một đại đội địch ở vườn cây và trung đội dân vệ cùng cảnh sát ở bốt Nhà Làng. Nhưng khi hành quân đến ấp Thanh Bình, cán bộ ta vào nắm tình hình thì cơ sở cho biết: địch mới đưa về khu tiểu đoàn 2 (thiếu) trung đoàn 8 và một đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 7. Chỉ huy tiểu đoàn hạ quyết tâm chuyển sang tiêu diệt lực lượng địch vừa đến.

Từ 21 giờ 40 phút đến 23 giờ 26 phút, được du kích dẫn đường, các đơn vị vào vị trí chiến đấu theo kế hoạch.

23 giờ 28 phút, từ các hướng hoả lực của tiểu đoàn bắn vào các mục tiêu quy định. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta và địch giành giật với nhau từng căn nhà. Địch cho trực thăng lên bắn chặn các mũi tiến công của ta. Đại đội súng máy phòng không 12,7mm bắn rơi một chiếc. Mặc dù một số chiến sĩ thương vong, nhưng cán bộ các cấp động viên, hướng dẫn bộ đội diệt từng mục tiêu, từng đơn vị địch. Trận chiến đấu kéo dài, quân ta các loại đạn hoả lực hết, thấy tiếp tục đánh địch sẽ không thuận lợi, tiểu đoàn 1 quyết định cho đơn vị lui quân trước lúc trời sáng. 5 giờ ngày 5 tháng 3, các đơn vị rời khỏi khu vực chiến đấu. Ta diệt khoảng 500 quân địch, phá huỷ 2 xe bọc thép, 2 xe Jeép, 2 khẩu cối 61mm.

Thực tế trận Búng cho thấy: Phải dựa vào lực lượng tại chỗ để tiến hành chuẩn bị chiến đấu và giải quyết hậu quả của trận đánh. Phải xử trí các tình huống chiến đấu linh hoạt để giành thế chủ động, tạo bất ngờ, gây cho địch thiệt hại và lúng túng ngay từ đầu.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:09:32 am
TRẬN TRUNG NGHĨA CỦA TIỂU ĐOÀN 304
(11.3.1968)

Trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn 304 - Kon Tum (4 đại đội), được tăng cường 40kg bộc phá, sáu khẩu B40, hai khẩu M79, đánh vào đại đội bảo an (120 quân), trang bị cối 81mm, 61mm, hai khẩu đại liên chiếm giữ đồn Trung Nghĩa nằm án ngữ, khống chế trục đường từ thị xã Kon Tum đi Krông, nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện đánh viện.

Sau khi nghiên cứu địch, địa hình, tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 2 và Đại đội 3 (75 người), được tăng cường sáu khẩu B40, 40kg thuốc nổ, hai khẩu M79, tiến công tiêu diệt địch giữ đồn Trung Nghĩa. Đại đội 1 và Đại đội 4 làm dự bị, sẵn sàng đánh địch tăng viện. Ngày 10 tháng 3, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

1 giờ ngày 11, tiểu đoàn nổ súng tiến công. Đại đội 2 thành 3 mũi nhanh chóng dùng bộc phá, B40 đánh các lô cốt, nhà chỉ huy và trận địa cối. Đại đội 3 thành hai mũi đánh vào lô cốt, trận địa cối, khẩu đại liên địch. Đến 4 giờ, địch co cụm, lợi dụng các lô cốt và công sự ở tây bắc cứ điểm chống cự quyết liệt làm các mũi tiến công của ta chậm lại. Tiểu đoàn sử dụng bộ phận trinh sát tăng sức đột kích cho Đại đội 2. Đến 5 giờ, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt. Ta giải quyết thương binh, tử sĩ, thu vũ khí, trang bị; sau đó sử dụng một trung đội của Đại đội 3 chốt lại sẵn sàng đánh địch ra phản kích.

8 giờ ngày 11, địch dùng máy bay đánh phá thẳng vào đồn Trung Nghĩa. Đại đội 3 được lệnh rời khỏi trận địa. Khi Đại đội 3 di chuyển, địch phát hiện, chúng đưa khoảng một đại đội từ thị xã đến ấp Đắc Đe, tiến công chiếm lại đồn Trung Nghĩa. 10 giờ ngày 11, Đại đội 1 được lệnh vận động phục kích địch trên đoạn đường từ ấp Đắc Đe đi Trung Nghĩa để tiêu diệt địch ra phản kích. 11 giờ 30 phút, đội hình địch lọt vào trận địa, đại đội nổ súng; bị đánh bất ngờ, địch lúng túng; đại đội xung phong, bao vây, chia cắt tiêu diệt nhiều địch, số địch còn lại chạy về hướng thị xã, ta truy kích diệt thêm một số.

Sau một ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 304 diệt gọn đại đội bảo an ở đồn Trung Nghĩa; đánh thiệt hại đại đội “Cọp đen” ra phản kích, diệt 25 tên, thu 25 súng, một máy thông tin PRC25.

Nét đặc sắc của trận Trung Nghĩa là chỉ huy tiểu đoàn đã xử trí kịp thời các tình huống chiến đấu; vận dụng khôn khéo các hình thức chiến thuật để đánh điểm, diệt viện.

TRẬN “TA CAN” PA THÍ CỦA PHÂN ĐỘI ĐẶC CÔNG QUÂN KHU TÂY BẮC
(11.3.1968)

Trận tập kích của phân đội đặc công Quân khu Tây Bắc vào quân địch ở “Ta Can” trên núi Pa Thí (Sầm Nưa, Lào) nhằm tiêu diệt địch, phá phương tiện chiến tranh của địch.

Từ tháng 3 năm 1967, Mỹ xây dựng trên đỉnh núi Pa Thí một trạm chỉ huy dẫn đường bay “Ta Can” để phát hiện máy bay ta, gây nhiễu và chỉ huy toàn bộ máy bay phản lực Mỹ ở các căn cứ Thái Lan vào đánh phá vùng giải phóng Lào và một số nơi như Hà Nội, Thái Nguyên, Việt Trì thuộc miền Bắc Việt Nam.

Trung tâm trên đỉnh núi Pa Thí địch tổ chức thành các khu: Khu nhân viên kỹ thuật do quân đánh thuê phụ trách có hai trung đội đặc biệt, được tăng cường hoả lực bảo vệ. Khu “Ta Can” có 20 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ cùng hai tiểu đội đặc biệt bảo vệ. Khu trung tâm kỹ thuật, thông tin của Mỹ có một trung đội đặc biệt bảo vệ. Khu trận địa pháo 105mm và sở chỉ huy. Sân bay trực thăng, trận địa pháo 85mm và khu bảo vệ tiền tiêu (phía đông). Khu tiền tiêu phía nam (trên điểm cao 1687) do một trung đội đặc biệt bảo vệ. Khu vực đồi 5 mỏm có một tiểu đoàn bảo vệ khu “Ta Can” của Mỹ và giữ Pa Thí.

Ngoài ra, để bảo vệ vòng ngoài trên các hướng bắc. đông bắc, đông - đông nam, nam - tây nam, tây - tây bắc mỗi khu vực có từ hai đại đội đến hai tiểu đoàn đóng giữ, bọc “Ta Can” trong một cái vỏ khá vững chắc.

Phân đội đặc công làm nhiệm vụ đánh địch ở “Ta Can” do Trương Mực chỉ huy gồm 33 người; trang bị 3 súng B40, 23 khẩu tiểu liên, 4 khẩu súng trường, 2 khẩu súng ngắn; vào chiến đấu được tăng cường một tiểu đội đặc công (9 người), trang bị 1 khẩu B40, 7 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 57 quả lựu đạn và thủ pháo, một tiểu đội thông tin (có một máy 15W, hai máy 71B).

Để chuẩn bị chiến đấu, chỉ huy trận đánh tổ chức thành hai mũi và bộ phận dự bị.

Mũi 1, do Trương Mực trực tiếp chỉ huy, chia làm 5 tổ: Tổ 1 có ba người; trang bị 1 khẩu B40, 1 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 19 quả lựu đạn và thủ pháo; làm nhiệm vụ đánh chiếm khu trung tâm thông tin Mỹ. Tổ 2 có ba người; trang bị 3 khẩu tiểu liên, 21 lựu đạn và thủ pháo, phối hợp với tổ 1 đánh chiếm khu. thông tin Mỹ, sau đó phát triển vào phía đông sân bay, hiệp đồng với tổ 4 đánh máy bay. Tổ 3 có năm người; trang bị 1 khẩu B40, 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 1 khẩu súng ngắn, 26 quả lựu đạn, thủ pháo và 2 khối bộc phá 2kg; làm nhiệm vụ đánh chiếm khu “Ta Can”, tiêu diệt quân Mỹ, phá huỷ phương tiện kỹ thuật của địch. Tổ 4 có bốn người trang bị 4 tiểu liên, 28 lựu đạn, thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt địch ở đầu phía tây sân bay trực thăng, sau đó phát triển về phía đông, sẵn sàng đánh địch phản kích lên khu trung tâm thông tin và khu “Ta Can”. Tổ 5 có ba người; trang bị 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 18 lựu đạn và thủ pháo, làm dự bị cho mũi 1.

Mũi 2, do Nguyễn Việt Hưng chỉ huy, được tăng cường một máy thông tin 71B chia làm 4 tổ: Tổ 1 có ba người; trang bị 1 khẩu B40, 1 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng ngắn, 12 lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ đánh chiếm đài khí tượng và trận địa súng trọng liên 12,7mm. Tổ 2 có ba người; trang bị 4 khẩu tiểu liên, 21 quả lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đội canh gác phía tây nam đài khí tượng. Tổ 3 có hai người; trang bị 2 khẩu tiểu liên, 14 quả lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ diệt bộ phận quân Thái Lan trong hai lều bạt. Tổ 4 có bốn người; trang bị 4 tiểu liên, 28 lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt trung đội canh gác phía đông nam đài khí tượng.

Bộ phận dự bị do tiểu đội đặc công của tiểu đoàn bộ binh đảm nhiệm.

18 giờ ngày 1 tháng 3, từ căn cứ Mường Câu, phân đội hành quân vào vị trí tập kết. 17 giờ ngày 7 tháng 3, phân đội thành hai mũi tiến vào chân núi Pa Thí. 1 giờ ngày 11 tháng 3, các tổ theo kế hoạch bí mật tiếp cận các mục tiêu được phân công.

3 giờ 45 phút, tổ 1 mũi 1 gặp vọng gác bí mật của địch, ta nhanh chóng cướp được súng của tên đang gác, nhưng địch kịp ném lựu đạn rồi bỏ chạy. Lập tức, ta cho B40 bắn vào nhà có ăngten, sau 15 phút chiến đấu, tổ 1 và tổ 2 chiếm được khu thông tin, một tên Mỹ bị diệt và một số bị thương. Cùng lúc, mũi 3 bắn B40 vào máy phát điện; các chiến sĩ ta dùng lựu đạn, thủ pháo, B40 đánh vào khu rađa. Bị đánh bất ngờ, địch chạy tán loạn ra ngoài, chỉ một ít kịp chống cự. 4 giờ 15 phút, tổ 5 được lệnh vào chiến đấu chi viện cho tổ 3. 4 giờ 45 phút, ta chiếm được “Ta Can”. Trong lúc các tổ đánh địch ở “Ta Can” và khu thông tin, tổ 4 đánh chiếm khu nhà địch ở đông sân bay trực thăng nhưng bị hoả lực địch bắn chặn và cắt đội hình của tổ. Trong tình huống rất khẩn trương, tổ trưởng Lê Bá Chòm đã xung phong diệt 5 tên địch và bắn bị thương một số tên khác. Phát hiện lực lượng ta ít, địch định bắt Lê Bá Chòm, nhưng đồng chí đã khôn khéo lợi dụng địa hình vừa chống trả, vừa về bắt liên lạc được với lực lượng ta đánh chiếm “Ta Can”.

6 giờ, địch dùng hoả lực đánh phá và cho bộ binh phản kích, nhưng bị tổ 2 chặn đánh diệt 4 tên, buộc chúng phải lui ra. Tiếp đó, địch liên tục cho phi pháo đánh phá và nhiều lần cho bộ binh phản kích định chiếm lại “Ta Can”. Quân ta lợi dụng địa hình mũi đá liên tiếp đánh lại các cuộc tiến công của địch, giữ “Ta Can” đến hết ngày 18, sau đó được lệnh lui quân về vị trí tập kết.

Sau 7 ngày chiến đấu, ta diệt 42 tên, làm bị thương một số tên khác; buộc địch rút bỏ căn cứ ở núi đá với 1 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu pháo 85mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm, 4 khẩu ĐKZ 57mm, 6 khẩu cối 61mm, 9 khẩu đại liên cùng nhiều quân trang, quân dụng; phá huỷ trung tâm điều khiển máy bay của địch chỉ huy đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Chiến thắng “Ta Can” đã đập tan một trong hai sào huyệt lớn của lực lượng đặc biệt Mẹo ở Bắc Lào, phá huỷ nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, giáng một đòn mạnh vào lực lượng chiến lược trong chiến tranh đặc biệt của địch ở Bắc Lào.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:10:13 am
TRẬN CẨM ĐIỀN CỦA PHÂN ĐỘI DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(12.3.1968)

Trận phục kích của phân đội dân quân xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương do trung đội trưởng Nguyễn Văn Đổng chỉ huy đánh máy bay Mỹ ban đêm bằng súng bộ binh.

Phân đội dân quân trực chiến có 10 người, 6 nam, 4 nữ; trang bị 4 khẩu đại liên và một khẩu súng trường, ngày đêm trực chiến tại Đông Con Gà, thôn Mậu Tài.

2 giờ 50 phút ngày 12 tháng 3, một tốp máy bay A6A của hải quân Mỹ từ biển bay vào Thái Bình, qua sông Giang, Gia Lộc, thị xã Hải Dương lên Hà Bắc đánh phá rồi bay vòng lại qua Cẩm Giàng. Nghe tiếng máy bay địch, cả 4 khẩu súng của phân đội đều đón đánh địch từ hướng tây nam. Mặc dù trời mưa phùn, tối mù mịt, khi nghe rõ tiếng máy bay, phán đoán hướng bay của địch và đã vào đúng tầm bắn, cả 4 khẩu đại liên đồng loạt nhả đạn. Trên bầu trời đen đặc, một tia chớp loé sáng, máy bay địch bốc cháy, kéo theo một luồng lửa lao xuống biển. Một máy bay A6A của giặc Mỹ bị bắn rơi bằng 46 viên đạn đại liên. Chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ bằng súng bộ binh ban đêm đã được Nhà nước tặng “Huân chương Chiến công hạng nhì”.

TRẬN AN TỊNH CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(25.3.1968)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn 9, được tăng cường một đại đội ĐKZ 75mm, một đại đội đại liên, đánh vào đoàn xe chiến đấu của quân Mỹ ở quốc lộ 22 (đoạn từ ấp Giao Huỳnh đến bốt Biện Sen) thuộc xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

18 giờ ngày 24 tháng 3, trung đoàn vào vị trí triển khai chiến đấu chờ địch. 8 giờ 20 phút ngày 25 tháng 3, trinh sát phát hiện địch từ hướng Suối Sâu lên Trảng Bàng. Các đơn vị được lệnh sẵn sàng cơ động.

Từ 8 giờ 55 phút, các đơn vị chặn đầu, đối diện được lệnh vận động ra đường chặn địch.

9 giờ 2 phút, Đại đội 1 hoàn thành nhiệm vụ chặn đứng đội hình của quân địch, Tiểu đoàn 1 đánh mạnh, chia cắt địch ra làm nhiều cụm để tiêu diệt, không cho chúng co cụm. Các đơn vị trên các hướng vận động ra, hình thành nhiều mũi đánh địch trên hướng được phân công. 9 giờ 50 phút, các đại đội bắt đầu liên lạc được với nhau, tiếp tục diệt địch và phát triển về hướng Trường Chùa, nơi địch co cụm và chống cự quyết liệt. Tiểu đoàn 1 phải tổ chức, củng cố lại lực lượng, chuẩn bị phương án đánh địch co cụm.

10 giờ 25 phút, được tin địch xin đổ bộ đường không bằng trực thăng xuống ấp An Bình, trung đoàn trưởng quyết định đưa Tiểu đoàn 3 lui về vị trí chiếm lĩnh ban đầu, chuẩn bị đánh quân đổ bộ đường không.

Từ 12 giờ 10 phút, địch đưa quân đến chi khu Trảng Bàng. Đài quan sát của ta phát hiện được cánh quân khoảng 30 xe tiến theo quốc lộ, ta chặn đánh; nhiều xe tăng, xe bọc thép, xe chở quân bị tiêu diệt, những chiếc còn lại phải lùi ra xa; ta dùng hoả lực diệt địch, giữ vững trận địa.

Tiến công không thành, địch lui ra xa và dùng hoả lực đánh mạnh vào đội hình của ta. 13 giờ 30 phút, địch lại tiến công trận địa ta. Các đơn vị ta kiên quyết ngăn chặn địch, đồng thời tổ chức phản kích, đẩy lùi quân địch.

17 giờ, địch lùi ra xa và cụm lại hai hướng. Trung đoàn trưởng ra lệnh cho bộ đội lui quân.

Qua một ngày chiến đấu, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên địch, phá hủy 52 xe quân sự, bắn rơi 10 máy bay trực thăng, thu nhiều đồ dùng quân sự.

Chiến thắng An Tịnh cho thấy: Đánh địch ở đồng bằng, gần dân, gần các căn cứ địch phải làm tốt công tác bảo đảm bí mật, tạo bất ngờ. Đánh địch ở đồng bằng, nơi chúng chiếm đóng, kiểm soát, cần dự kiến nhiều phương án đánh địch tiếp theo. Phục kích giao thông trên đường có đồn bốt, cần kết hợp chặt chẽ đánh địch đang cơ động trên đường với tiêu diệt lực lượng chốt giữ để vận động tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:11:06 am
TRẬN TRÁNG LIỆT CỦA TRUNG ĐỘI NỮ DÂN QUÂN XÃ
(31.3.1968)

Trận phục kích bắn rơi một máy bay A6A của trung đội nữ dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đêm 31 tháng 3 năm 1968 tại thị trấn Ninh Giang là một trận chiến đấu đạt hiệu suất cao.

Thị trấn Ninh Giang, một giao điểm của các tuyến đường bộ, đường thuỷ. Đường bộ từ Hà Nội đi cửa Diêm Điền, Thụy Anh; từ Hà Nội đi Kiến An, Hải Phòng. Đường thuỷ từ Hải Phòng về Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định theo sông Hồng lên Hà Nội. Vì vậy, không quân Mỹ coi đây là một trọng điểm cần đánh phá. Khi đánh phá, chúng thường từ cửa sông Thái Bình bay vào, chia làm nhiều tầng, nhiều hướng; nhiều khi chúng dùng tốp nhỏ bay theo triền sông Luộc đánh các mục tiêu di động. Để tạo bất ngờ gây thiệt hại cho ta, chúng thường đánh từ 22 giờ đêm hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau.

Trung đội nữ dân quân Tráng Liệt được biên chế 22 người, do Đặng Thị Minh làm trung đội trưởng; trang bị bốn khẩu 12,7mm. Cùng chiến đấu bảo vệ thị trấn Ninh Giang còn có trung đội tự vệ thị trấn Ninh Giang, trung đội nữ dân quân Tráng Liệt, trung đội nữ dân quân Long Xuyên (Bình Giang), trung đội trực chiến xã Hiệp Lực (Ninh Giang) và trung đội trực chiến Hà Kỳ (Tứ Kỳ). Các trung đội được bố trí thành cụm chiến đấu ở bãi giáp sông Luộc. Riêng trung đội Tráng Liệt làm nhiệm vụ cơ động đánh địch, bố trí trận địa ở bãi giáp sông Luộc, gần bến đò Tranh thuộc đất Phụ Dực (Thái Bình).

23 giờ ngày 31 tháng 3 năm 1968, máy bay địch vào đánh phá Nho Lân, Phường Kỳ (Tứ Kỳ) rồi vòng qua thị trấn Ninh Giang. Nghe tiếng máy bay và tiếng bom nổ, trung đội Tráng Liệt chuẩn bị sẵn sàng nhả đạn khi địch bay qua.

Đúng như dự đoán, tốp máy bay địch sau khi đánh phá, chúng bay ra qua Ninh Giang. Khi máy bay địch vào đúng cự ly bắn, trung đội trưởng ra lệnh nổ súng, tất cả bốn khẩu đều bắn vào một mục tiêu. Trong trời đêm bỗng có đám lửa từ thân máy bay, vệt lửa kéo dài ra đến biển. 23 giờ 10 phút, chiếc máy bay A6A của Mỹ lao đầu xuống biển khơi.

Bằng 57 viên đạn, trung đội nữ dân quân Tráng Liệt đã vít cổ một máy bay A6A của giặc Mỹ xuống đất, ghi chiến công bằng trí tuệ Việt Nam và ý chí “Giặc đến nhà dàn bà cũng đánh”.

TRẬN HỮU ĐỊNH CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẾN TRE
(7.5.1968)

Trận chống càn của các tiểu đoàn 1, 2, Đại đội ĐKZ 75mm (4 khẩu), Đại đội súng máy phòng không 12,7mm (4 khẩu), Đại đội đặc công, Đại đội thông tin, Trung đội cối 82mm (3 khẩu), Trung đội ĐKZ 57mm (3 khẩu); hai trung đội công an vũ trang, hai trung đội trinh sát bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ huy, đánh vào lực lượng địch gồm tiểu đoàn bộ binh 1 trung đoàn 10, tiểu đoàn 3, lực lượng bảo an, dân vệ càn quét xã Hữu Định (cách thị xã Bến Tre 4km về phía đông bắc); nhằm tiêu diệt địch, phá kìm, bảo vệ cơ quan đầu não của tỉnh, tạo thuận lợi cho quần chúng nổi dậy.

Để chống càn thắng lợi, tỉnh đội quyết định tập trung toàn bộ lực lượng của tỉnh xây dựng trận địa phòng ngự chống càn liên hoàn, vững chắc với nhiều tình huống diễn biến khác nhau: tiêu diệt địch càn quét đánh phá khu vực xã Hữu Định và xã Phước Thành; giữ vững căn cứ kháng chiến của tỉnh đội.

Thực hiện kế hoạch đã định, chỉ huy trận đánh sử dụng công binh tỉnh đánh cầu Bắc rạch Miễu, tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu, làm nghẽn giao thông trên đường 6, buộc trung đoàn 10 (bộ binh) địch phải đi giải toả.

2 giờ ngày 7 tháng 5, công binh đánh sập cầu Bắc rạch Miều, tiêu diệt gọn trung đội địch bảo vệ cầu, cắt giao thông trên đường số 6.

6 giờ 30 phút cùng ngày, trung đoàn 10 địch đưa lực lượng ra giải toả và đánh phá khu vực Hữu Định như dự đoán của ta.

6 giờ 55 phút, địch tới Hữu Định. Tiểu đoàn 1 sử dụng một tiểu đội ra nhử địch vào vị trí trận địa bố trí sẵn của ta. Ngay lập tức, tiểu đoàn 3 của địch cho quân đánh vào sườn của bộ phận ta đang nhử địch, đồng thời cho đại bộ phận tiểu đoàn vượt qua lộ đất, hòng bao vây lực lượng ta.

Đợi địch vào gần, Tiểu đoàn 1 đồng loạt nổ súng. Trong thời gian ngắn, hơn một đại đội địch bị diệt, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3. Bị đòn đau, địch cho phi pháo đánh vào trận địa ta; đồng thời gom tàn quân của tiểu đoàn 3 lại chuẩn bị cho trận tiếp theo.

8 giờ 20 phút, tiểu đoàn 3 của địch được tăng cường đại đội thám báo 10 mở đợt tiến công tiếp theo hướng cũ, đồng thời trung đoàn 10 cho tiểu đoàn 1 theo đường trong vườn và lộ đất ngoài kênh Chẹt Sậy lên cầu Biện Phan hiệp đồng với tiểu đoàn 3.

10 giờ ngày 7 tháng 3, tiểu đoàn 3 và đại đội 10 của địch tới điểm hẹn, lập tức bị Tiểu đoàn 1 của ta nổ súng diệt khoảng 80 tên, buộc chúng phải cụm lại chống đỡ và yêu cầu tiểu đoàn 1 đến cứu nguy.

11 giờ 20 phút, tiểu đoàn 1 của địch đánh vào vị trí phòng ngự của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1. Đại đội 2 chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng và tổ chức ba lần xuất kích nhỏ, diệt 60 tên địch. Địch dùng phi pháo đánh phá mạnh vào trận địa, Đại đội 2 rút khỏi tuyến công sự thứ nhất. 19 giờ, tiểu đoàn phó chỉ huy Đại đội 2 cùng Đại đội đặc công phản kích khôi phục trận địa, diệt khoảng 100 tên địch.

Trước khí thế diệt địch của đơn vị, chỉ huy trận đánh quyết định tập trung toàn bộ lực lượng tiêu diệt gọn quân địch ở trước trận địa Tiểu đoàn 1.

Sau khi chỉ huy các tiểu đoàn 1, 2 triển khai thế trận đúng kế hoạch, 16 giờ 15 phút, quân ta nổ súng tiến công. Từ các hướng, quân ta liên tục bao vây, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận quân địch; đến 17 giờ 30 phút, ta làm chủ chiến trường từ cầu Biện Phan đến cầu Hội.

Trận đánh kết thúc, 550 tên địch chết và bị thương, 34 tên bị bắt. Ta thu 112 súng các loại, 11 máy vô tuyến điện, bắn cháy một xe GMC; bắn rơi một máy bay trực thăng.

Thắng lợi của trận chống càn Hữu Định cho thấy: Muốn đánh bại địch tiến công phải tạo thế có lợi, buộc địch phải bị động triển khai lực lượng đối phó, ta chủ động nắm thời cơ tiêu diệt chúng; sử dụng lực lượng dự bị kịp thời, chính xác, tạo sức mạnh quyết định kết thúc trận đánh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:12:01 am
TRẬN NGỌC CUNG GIAO CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CỒNG 20
(10.5.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 20 Sư đoàn bộ binh 6 Mặt trận Tây Nguyên (ba đại đội 56, 58, 60), vũ khí có B40, AK, thủ pháo, lựu đạn và bộc phá; đánh vào hai đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 địch, được trang bị 4 khẩu cối 106,7mm, M79, tiểu liên M16-H, mìn định hướng; có hai xe tăng yểm trợ giữ cứ điểm Ngọc Cung Giao, một vị trí quan trọng án ngữ trên đường 18 từ Tân Cảnh đi ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia (nay thuộc thị trấn Plây cần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum); nhằm tiêu diệt địch, thu hút và giam chân địch ở các cứ điểm khác, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn giành thắng lợi lớn hơn trong đợt hai của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân.

15 giờ 30 phút ngày 9 tháng 5, tiểu đoàn từ vị trí tập kết hành quân chiếm lĩnh trận địa. 3 giờ 45 phút ngày 10 tháng 5, các mũi, các hướng chiếm lĩnh xong. Đại đội 58 được lệnh nổ súng làm hiệu lệnh tiến công. Từ các mũi, quân ta liên tục đánh bộc phá, ném thủ pháo và bắn vào các lô cốt, nhà bạt tiêu diệt các hoả điểm của địch, nhanh chóng phát triển sâu vào bên trong cứ điểm.

Trên hướng chủ yếu và hướng thứ yếu 1, các tổ phát triển nhanh, diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Sau 7 phút chiến đấu, các đại đội 60 và 58 diệt địch ở 20 lô cốt, hàng chục nhà bạt, hoả điểm, chiếm khu chỉ huy, thông tin, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch, làm chủ trận địa phía tây và đông bắc cứ điểm.

Trên hướng thứ yếu 2, mũi 2 chiếm được ba lô cốt và hơn 10 nhà bạt thì bị địch bắn chặn phải tạm dừng lại. Mũi 1 đi lạc, khi nghe súng nổ tìm đường vào cứ điểm theo cửa mở của mũi 2 Đại đội 60, rồi đánh chồng vào một số mục tiêu của đơn vị bạn. Khi phát hiện đánh nhầm mục tiêu, mũi 1 Đại đội 56 lợi dụng bàn đạp phía đông bắc, đánh dọc theo chiến hào xuống phía nam, sau hơn một giờ chiến đấu chiếm được 5 lô cốt, hơn 10 nhà bạt phía đông nam cứ điểm. Do phát triển chậm, địch chiếm một số lô cốt, dùng hai xe tăng và súng cối chống trả quyết liệt, ta không phát triển tiếp được.

Thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Đại đội 60 dùng hai tổ xuống chi viện cho Đại đội 56. Được tăng cường sức mạnh, quân ta mở đợt tiến công xuống phía nam, chiếm được một số lô cốt, bắn cháy xe tăng, nhưng cũng phải dừng lại củng cố. Lúc này, pháo lớn của địch từ các nơi bắn trùm lên trận địa ta mới chiếm được, làm một số chiến sĩ thương vong. Do không nắm được tình hình, thiếu chỉ huy kịp thời, nên các chiến sĩ của các đại đội 56 và 60 tự động rút khỏi cứ điểm. Trong khi đó một bộ phận của Đại đội 56 và hai tổ của Đại đội 60 vẫn đánh địch. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 8 giờ, máy bay địch đánh phá bừa bãi vào các công sự ta chiếm được. Thấy khả năng diệt địch co cụm không còn, 8 giờ 30 phút, quân ta rút khỏi cứ điểm. Địch dùng phi pháo đánh phá vào đội hình lui quân. Do không có hoả lực đánh máy bay cán bộ không nắm được quân, các chiến sĩ phải phân tán thành từng tốp nhỏ, rút theo nhiều hướng về vị trí tập kết.

Sau gần 5 giờ chiến đấu, 170 tên địch bị diệt, một xe tăng bị bắn cháy, hai khẩu cối 106,7mm và ba khẩu đại liên bị phá huỷ.

Mặc dù còn những hạn chế như thời gian chiến đấu kéo dài, tiêu diệt địch chưa gọn..., nhưng trận tập kích Ngọc Cung Giao cho thấy: Để giành thắng lợi phải giữ được bí mật, tạo được bất ngờ, bộ đội phải thành thạo động tác tiếp cận mục tiêu, giỏi đánh gần, đánh đồng loạt, hiệp đồng chặt chẽ, đánh nhanh, giải quyết nhanh.

TRẬN NGỌC TA VÁT CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(10.5.1968)

Trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (do Nguyễn Chơn chỉ huy, được tăng cường 4 khẩu súng phun lửa loại nhẹ); đánh vào đại đội 11 biệt kích ngụy, một trung đội pháo 105mm, một trung đội quân Mỹ và một số biệt kích ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc, trang bị hai khẩu pháo 105mm, một khẩu cối 106,7mm, 3 khẩu cối 61mm, 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm, 9 đại liên và 8 trung liên; nhằm tiêu diệt địch và triển khai lực lượng chốt lại dọc phía tây đường 14 để đánh viện nhỏ, sẵn sàng phát triển vào Khâm Đức theo nhiệm vụ được giao.

Cứ điểm Ngọc Ta Vát là tiền đồn của Khâm Đức, cấu trúc thành 3 khu. Khu A ở điểm cao 540; có hai trung đội biệt kích ngụy, một trung đội lính Mỹ, một trung đội pháo, cối và ban chỉ huy. Khu B ở bắc khu A, địch ở đây có một trung đội, một cối 61mm, một đại liên. Khu C (khu gia binh) có khoảng một trung đội biệt kích ngụy.

Thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, trung đoàn sử dụng Đại đội đặc công trung đoàn, được tăng cường 3 khẩu B41, bốn khẩu súng phun lửa, phối hợp với Đại đội 2 Tiểu đoàn bộ binh 2 đột phá trên 3 hướng đánh chiếm toàn bộ cứ điểm; Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu) có nhiệm vụ sẵn sàng đột phá tiếp sau, tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn cứ điểm, sau đó sử dụng một đại đội bộ binh chốt lại cùng với các lực lượng trung đoàn đánh viện. Tiểu đoàn bộ binh 3 làm nhiệm vụ dự bị của trung đoàn. Các phân đội hỏa lực cối, ĐKZ, súng máy phòng không 12,8mm bố trí ở đồi tây nam sẵn sàng chi viện cho các lực lượng đánh địch trong cứ điểm.

Đêm 8 tháng 5, đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. 2 giờ ngày 10 tháng 5, hành quân chiếm lĩnh trận địa tiến công. 2 giờ 5 phút, do mũi 1 vấp mìn sáng, bị lộ, địch bắn ra, quân ta đồng loạt nổ súng đánh địch. Mũi điểm, khi nổ súng chiếm ngay lô cốt góc đông nam, diệt hai hoả điểm đại liên. Sau 5 phút chiến đấu, ta đánh vào khu thông tin và phát triển về hướng bắc. Một bộ phận chiếm trận địa pháo 105mm và cối 106,7mm. Sau 8 phút, mũi điểm của đặc công làm chủ khu A, chiếm trận địa pháo. Nhưng do không đánh tảo trừ kỹ nên địch ở bắc đường và khu B dùng cối, đại liên bắn vào khu A gây thương vong lớn, không đủ sức phát triển tiếp.

Mũi 1, sau khi vấp mìn, do thiếu chủ động nên bị địch dùng hoả lực chặn ở cửa mở, thương vong nhiều, phải lùi ra chiếm dưới chân đồi. Mũi 2 do chưa vào được nên khi mũi phó bị thương, mũi trưởng không nắm được bộ đội, cuối cùng tự động lui ra.

2 giờ 55 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 được lệnh vào tảo trừ địch và chốt giữ khu vực chiếm được. Khi vận động vào bị hoả lực địch phục bắn ra, cán bộ đại đội bị thương không có người thay thế nên bộ đội tự động lui ra (chỉ còn năm sáu người). Trước tình hình trên, tiểu đoàn tổ chức bộ phận còn lại chốt giữ trận địa ban ngày.

7 giờ, địch dùng pháo, cối đánh vào trận địa, do công sự sơ sài nên thương vong một số. 8 giờ 5 phút, địch cho trực thăng CH47 đến, khi máy bay hạ cánh bị ĐKZ của ta phục sẵn bắn cháy một chiếc, chiếc thứ ba hạ cánh cũng bị ta bắn cháy.

14 giờ, trước nguy cơ bị tiêu diệt, số địch còn lại vội và tháo chạy. Ta vào chốt giữ khu A, thu chiến lợi phẩm. Sau một ngày chiến đấu, ta diệt một đại đội biệt kích; loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội biệt kích ngụy, một trung đội biệt kích ở Khâm Đức, một trung đội pháo 105mm; loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên, bắt sống 4 tên, bắn cháy hai trực thăng, thu hai pháo 105mm, một cối 106,7mm, 3 cối 61mm, 3 súng máy phòng không 12,7mm và nhiều vũ khí, đạn dược.

Ngọc Ta Vát là trận đánh kết hợp lực lượng đặc công với bộ binh để tiêu diệt địch trong cứ điểm có công sự vững chắc nên phải hiệp đồng chặt chẽ và khôn khéo vận dụng các thủ đoạn chiến đấu trong tung thâm; phải tổ chức lực lượng thích hợp, tư tưởng chiến thuật rõ ràng; dự kiến nhiều tình huống và có phương án xử trí thích hợp; quyết tâm chiến đấu cao, thực hiện bằng được mệnh lệnh của cấp trên.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Tư, 2020, 08:12:37 am
TRẬN NÚI NGANG CỦA TRUNG ĐOÀN 31 SƯ ĐOÀN 2
(5 - 25.5.1968)

Trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 31 Sư đoàn 2 Quân khu 5, được tăng cường một tiểu đoàn Đặc công (thiếu một đại đội), một đại đội súng máy phòng không 12,7mm, một đại đội cối 82mm; đánh vào các đơn vị của lữ đoàn 196 và 198 địch ở núi Ngang và ở các xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà huyện Tiên Phước (nay là Hiệp Đức) tỉnh Quảng Nam; nhằm tiêu diệt địch, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của chúng.

Để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 9 được tăng cường một khẩu cối 82mm, một khẩu ĐKZ 75mm, 4 khẩu 12,7mm; tổ chức thành ba chốt (mỗi đại đội một chốt), lấy đèo Cây Trâm làm trung tâm, bao gồm các thôn 1, 3, 5, 6 xã Phước Sơn. Tiểu đoàn 7 được tăng cường một khẩu cối 82mm và 3 khẩu 12,7mm; tổ chức thành ba điểm chốt, lấy đèo Đá Trắng làm trung tâm, bao gồm thôn 1 Phước Hà, thôn 3 Phước Cẩm và thôn 3 Phước Sơn. Tiểu đoàn 8 được tăng cường một khẩu cối 82mm, bố trí ở thôn Cẩm Hà, sẵn sàng hoả lực chi viện cho các đơn vị đánh diệt. Lực lượng đặc công của trung đoàn và đặc công được tăng cường diệt địch ở núi Vú, sau đó chốt lại và chuyển sang đánh địch giải toả. Lực lượng bộ đội địa phương huyện Thăng Bình chốt ở núi Gia, ở Dương Châu và Đồng Tiến, kiềm chế địch từ Việt An lên núi Gia.

Đêm 2 tháng 5, lực lượng cơ động vào chiếm lĩnh trận địa xây dựng các chốt; tổ chức cho các lực lượng ở chốt học tập, chuẩn bị các mặt cho trận đánh.

Đêm 4 tháng 5, đặc công Sư đoàn 2 tập kích quân địch ở núi Ngang nhưng không thành phải lui ra. Ngày 5 tháng 5, ta dùng ĐKZ và cối của Tiểu đoàn 4 khống chế địch ở núi Ngang, phá một số lô cốt và nhà cửa của địch. Địch dùng trực thăng đánh chốt dốc Xoài, ta bắn rơi hai chiếc. 16 giờ cùng ngày, khi địch bốc quân về núi Quế, ta bắn rơi một trực thăng.

Các ngày tiếp theo địch liên tục đổ quân, dùng phi pháo chi viện cho bộ binh liên tục tiến công vào các chốt của ta. Kết hợp chặn địch của chốt, lực lượng cơ động xuất kích, vận dụng nhiều hình thức chiến thuật tập kích, đánh máy bay, đánh quân đổ bộ đường không, đánh vào bên sườn, phía quân địch, tích cực dùng hoả lực cối, ĐKZ khống chế địch ở các căn cứ của chúng.

Sau 19 ngày liên tục chiến đấu, trung đoàn đã đánh thiệt hại 10 đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 800 tên; bắn rơi 37 máy bay các loại, có 7 máy bay phản lực; thu 30 súng các loại, diệt 16 xe tăng, phá huỷ 6 khẩu pháo và bắn cháy một kho xăng, một kho đạn.

Chiến thắng Núi Ngang để lại nhiều kinh nghiệm quý về công tác chuẩn bị mọi mặt chu đáo; nắm chắc địa hình bố trí các chốt thích hợp, đánh được địch, bảo vệ được ta; phương pháp khêu ngòi tốt, buộc địch ra theo ý định của ta, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động diệt địch; điều chỉnh thế trận, khôi phục sức chiến đấu kịp thời để liên tục chiến đấu.

TRẬN SỞ HỘI CỦA TRUNG ĐOÀN 141 SƯ ĐOÀN BỘ BINH 7
(Lần 2, 16.5.1968)

Trận vận động tập kích của Trung đoàn 141 Sư đoàn bộ binh 7, được tăng cường Đại đội 1 bộ đội địa phương và Đại đội H12 của sư đoàn, đánh vào một tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn 1 địch ở Sở Hội, nay thuộc xã Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

1 giờ 30 phút ngày 16 tháng 5 năm 1968, các hoả lực của trung đoàn bắn cấp tập vào các mục tiêu được phân công, địch hoàn toàn bị bất ngờ không kịp phản ứng. Khi pháo cối của ta vừa dừng thì B40, B41 ở các mũi, hướng đồng loạt bắn vào các mục tiêu, bộ đội tiến hành mở cửa xung phong đánh chiếm tiền duyên địch.

Sau 20 phút chiến đấu, hầu hết các mũi của các tiểu đoàn phát triển thuận lợi, các tiểu đoàn chỉ huy bộ đội đánh chiếm tiền duyên, hình thành nhiều mũi thọc sâu, vòng bên sườn đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Trên các hướng, bộ binh hiệp đồng với hoả lực diệt nhiều hoả điểm, xe tăng địch.

2 giờ 15 phút, các tiểu đoàn 1 và 2 phát triển thuận lợi, riêng Tiểu đoàn 3 và hướng đại đội địa phương gặp khó khăn hơn, trước tình hình đó, trung đoàn trưởng quyết định đua lực lượng dự bị của Tiểu đoàn 3 vào chiến đấu, đồng thời chỉ thị cho Tiểu đoàn 3 tăng cường cán bộ xuống giúp đại đội địa phương khắc phục khó khăn.

Tù’ 2 giờ 15 phút đến 2 giờ 37 phút, trên các hướng của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2, các đại đội đánh chiếm trận địa pháo, nhanh chóng thọc sâu vào sở chỉ huy của địch. Trên đường tiến công, các mũi diệt nhiều xe tăng, bắn cháy kho đạn và nhiều bộ binh địch. Để nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch, trung đoàn trưởng lệnh cho các tiểu đoàn 1 và 2 nhanh chóng bao vây không cho địch chạy thoát. Tiểu đoàn 3 đưa Đại đội dự bị vào chiến đấu. Tiểu đoàn 1 cùng Tiểu đoàn 2 khẩn trương đánh chiếm sở chỉ huy, chi viện cho đại đội địa phương phát triển chiến đấu.

Từ 2 giờ 37 phút đến 2 giờ 50 phút ngày 16, các đại đội của Tiểu đoàn 2 đã đánh chiếm được sở chỉ huy, tiếp tục truy lùng địch lẩn trốn.

Hướng Tiểu đoàn 1, Đại đội 1 cùng Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 chiếm được sở chỉ huy, phát triển sang trái cùng Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 diệt địch. Tiểu đoàn đã làm chủ các mục tiêu được phân công. Trong khi pháo binh địch đang bắn vào trận địa, bộ đội khẩn trương chuyển thương binh, tử sĩ ra ngoài.

Hướng Tiểu đoàn 3, Đại đội 1 địa phương bị thương vong nhiều phải tổ chức đưa anh em ra ngoài. Đại đội 11 đang phát triển sang trái diệt nốt số địch bỏ chạy. Đại đội 13 vào chiến đấu trên hướng đại đội địa phương nhưng bị pháo bắn chặn mạnh phải nằm lại cửa mở, khi thấy đưa thương binh ra cũng rút lui.

Trước tình hình trận địa cơ bản đã bị ta tiêu diệt địch dùng phi pháo đánh mạnh vào trận địa và đường lui quân của ta. Trung đoàn quyết định cho các tiểu đoàn tổ chức cảnh giổi, bắn máy bay địch và tổ chức cho đơn vị rời khỏi trận địa.

Hơn một giờ chiến đấu, trung đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn địch, có hai đại đội pháo hỗn hợp, diệt hàng trăm tên, phá huỷ 4 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu cối 106,7mm, bắn cháy 6 xe tăng, 4 máy bay trực thăng...

Chiến thắng Sở Hội cho thấy: Cán bộ chiến sĩ trung đoàn có quyết tâm chiến đấu cao, công tác chuẩn bị chiến đấu tốt. Chọn hướng tiến công phù hợp với đặc điểm địa hình, địch và đơn vị. Chỉ huy kiên quyết, linh hoạt nhất là chỉ huy của các phân đội nhỏ trên từng hướng, từng mũi. Vận dụng các thủ đoạn chiến đấu linh hoạt, sáng tạo. Làm tốt các chính sách trong chiến đấu.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:17:44 pm
TRẬN NGẦM THÁC CÓC CỦA TIỂU ĐOÀN 10
(10.8.1968)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 10 Trung đoàn phòng không 282 (3 đại đội pháo phòng không 37mm) bố trí phía nam ngầm Thác Cóc, bảo vệ đoạn đường có ngầm Thác Cóc nối đường (15A) qua sông Đại Giang, thuộc địa phận xã Trường Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, nhằm bắn rơi máy bay trinh sát chỉ điểm OV10 của địch, bảo vệ an toàn ngầm Thác Cóc và tuyến đường 15 trong phạm vi xã Trường Thuỷ.

8 giờ 35 phút ngày 9 tháng 8 năm 1968, hai chiếc máy bay trinh sát OV10 vào trinh sát khu vực Thác Cóc, các trận địa phát hiện mục tiêu bay thấp, tốc độ chậm, đề nghị được đánh. Chỉ huy tiểu đoàn hạ lệnh đánh, nhưng khi nổ súng ta không tiêu diệt được mục tiêu, lập tức máy bay địch bay ra xa và dùng lựu đạn khói chỉ điểm mục tiêu. Từ 8 giờ 50 phút đến 17 giờ 15 phút, địch dùng nhiều tốp máy tay F105, F4C F100 vào ném gần 100 quả bom phá, 28 quả bom sát thương, 19 quả bom bi mẹ, bắn một quả tên lửa, 6 loạt đạn 20mm và 4 loạt rốc két vào trận địa và khu vực ngầm Thác Cóc.

Trước tình hình trên, chỉ huy tiểu đoàn quyết định chuyển sang đánh máy bay địch phản ứng. Trận chiến đấu kéo dài tối 17 giờ 15 phút, tiểu đoàn bắn rơi 3 máy bay địch, có một chiếc F105 rơi tại chỗ, còn lại là máy bay F4C.

Trận đánh đã bảo vệ được mục tiêu, giữ vững mạch máu giao thông chi viện cho tiền tuyến lớn.

TRẬN LÈN BẢNG (ĐIỂM CAO 180) CỦA TRUNG ĐỘI NỮ DÂN QUÂN XÃ TIẾN HOÁ
(14.8.1968)

Trận phục kích đánh máy bay Mỹ của Trung đội nữ dân quân xã Tiên Hoá (trang bị 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm) ở lèn Bảng (điểm cao 180) thuộc xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình do Nguyễn Thị Bích Hội chỉ huy, nhằm bảo vệ an toàn thuyền vận chuyển và trú đậu dọc hai bờ sông, bảo vệ hang Thâu và xóm làng.

5 giờ ngày 14 tháng 8 năm 1968, bốn chiếc F4H lợi dụng dòng sông Gianh bay thấp, bất ngờ vào đánh phá. Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, cả trung đội nhả đạn vào chiếc máy bay thứ ba. Bị đánh bất ngờ, chiếc máy bay trúng đạn bốc cháy lao xuống Xuân Mai (giáp ranh giữa xã Tiến Hoá và xã Mai Hoá).

Bằng 56 viên đạn súng máy phòng không 12,7mm, trung đội dân quân gái xã Tiên Hoá đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F4H của Mỹ; ghi thêm chiến công vào sổ vàng truyền thống “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu” của dân quân tự vệ Việt Nam.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:18:37 pm
TRẬN TRÀ PHÍ CỦA TRUNG ĐOÀN 3 SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9
(18 - 22.8.1968)

Trận tập kích của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 (thiếu Tiểu đoàn 7), được tăng cường Đại đội súng máy phòng không 12,7mm, một tiểu đoàn hoả tiễn H12 (hai dàn, 72 quả); đánh vào tiểu đoàn 3 (thiếu hai đại đội), một đại đội cơ giới và một đại đội pháo hỗn hợp (155mm và 105mm) 6 khẩu của địch giữ vị trí Trà Phí (phía bắc thị xã Tây Ninh 5km), nay thuộc xã Ninh Sơn, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

22 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8, đơn vị vào chiếm lĩnh xong, sẵn sàng nổ súng đánh địch. 0 giờ 35 phút ngày 18 tháng 8, hoả tiễn H12 bắn cấp tập vào các mục tiêu quy định, tiếp đó các loại cối của ta bắn cấp tập vào tung thâm chi viện cho bộ binh đánh chiếm tiền duyên. Bị đánh bất ngờ, những phút đầu địch chống trả lúng túng. Chớp thời cơ, các tiểu đoàn ra lệnh cho bộ đội nâng đội hình, tiếp cận gần địch.

Trên hướng Tiểu đoàn 8, khi H12 bắn xong, các loại B40, B41, ĐKZ 75mm tiêu diệt cơ giới, lô cốt trước tiền duyên. Cối 82mm bắn chế áp chi viện cho các phân đội mở cửa, đánh chiếm đầu cầu. Sau ít phút chiến đấu, quân ta chiếm được tiền duyên, diệt một số xe địch.

Trên hướng Tiểu đoàn 9, khi H12 bắn, tiểu đoàn trưởng ra lệnh nâng đội hình tiếp cận địch, nhưng một số quả H12 tản mát lớn làm thương vong một số cán bộ, chiến sĩ, đội hình tiếp cận phải dừng lại. Khi cối 82mm chế áp, tiểu đoàn tiếp tục vận động, tổ chức hoả lực diệt một số xe tăng, lô cốt trước tiền duyên. Sau ít phút lúng túng, địch dùng hoả lực trên xe bắn chặn quyết liệt bộ phận mở cửa. Tiểu đoàn dùng hỏa lực đánh trả và tổ chức nhiều đợt xung phong nhưng không thành công.

Từ 1 giờ 10 phút, sau khi phát triển thuận lợi, Tiểu đoàn 8 tổ chức Trung đội 1 nhanh chóng thọc sâu vào sở chỉ huy địch, các đại đội khác hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, thực hành chia cắt địch, đánh chiếm các trận địa pháo, cối, diệt xe tăng, xe bọc thép. Sau một giờ chiến đấu, tiểu đoàn đã đánh chiếm được khu vực sở chỉ huy, trận địa pháo, thực hành chia cắt tiêu diệt từng bộ phận địch. Hướng Tiểu đoàn 9, bộ binh địch chống cự mạnh, đội hình tiến công của tiểu đoàn ùn lại, cán bộ không nắm được đơn vị, nhiều lần xung phong đánh chiếm tiền duyên nhưng không thành công, phải triển khai hoả lực diệt từng mục tiêu.

1 giờ 50 phút, Tiểu đoàn 8 tiếp tục truy diệt số địch còn sót lại và phát triển lên phía bắc cùng với Tiểu đoàn 9, đánh chiếm công sự chính diện, diệt thêm một số xe. Bộ binh địch còn sống sót chạy về hướng tây bắc cụm lại cùng xe tăng và một số lô cốt chống cự quyết liệt.

2 giờ 3 phút, Tiểu đoàn 8 làm chủ trận địa, nhưng đạn đã hết cán bộ đại đội, trung đội thương vong nhiều, khả năng chiến đấu tiếp gặp nhiều khó khan, trước tình hình đó trung đoàn trưởng lệnh Tiểu đoàn 8 lui quân. Tiểu đoàn 9 tổ chức hoả lực kiềm chế địch co cụm, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 8 lui quân, sau đó cho bộ đội ròi khỏi trận địa.

Sau gần hai giờ chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 3 trung đoàn 22 địch; loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 400 tên; bắn và đánh cháy 33 xe tăng, xe thiết giáp, phá huỷ 6 khẩu pháo 155mm, hai khẩu cối 106,7mm.

Sau khi ta lui quân, ngay trong ngày 18 tháng 8, địch đưa hai đại đội còn lại của tiểu đoàn 3 trung đoàn 22, một đại đội cơ giới của tiểu đoàn 4 trung đoàn 22, một bộ phận xe thiết giáp, hai đại đội pháo binh (10 khẩu 105mm, hai khẩu 155mm, hai khẩu cối 106,7mm). Tiếp đó, ngày 21 tháng 8, địch đổ xuống Trà Phí một đại đội cơ giới, hai đại đội bộ binh cơ giới, một đại đội tăng - thiết giáp, hai đại đội pháo giữ Trà Phí.

Để tăng cường sức phòng thủ của Trà Phí, địch bố trí vật cản nổ và không nổ dày đặc xen kẽ lẫn nhau.

Nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Trà Phí lần thứ hai được giao cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 9, được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174, một Đại đội H12.

0 giờ 15 phút, hoá lực H12 và cối 82mm bắn vào các mục tiêu quy định 10 phút, tiếp đó cối 82mm bắn cấp tập 5 phút cùng hoả lực bắn thẳng vào các hướng tiêu diệt các mục tiêu ở tiền duyên trên hướng tiến công của mình.

Bị hỏa lực tập kích bất ngờ vào khu trung tâm căn cứ gây thiệt hại nặng, trong những phút đầu địch không kịp đối phó, đội hình rối loạn. Chớp thời cơ bộ đội trên các hướng nhanh chóng tiếp cận địch. Riêng Tiểu đoàn 2, do chiếm lĩnh quá xa, lại vận động chậm nên không lợi dụng được hiệu quả hoả lực chuẩn bị, khi đến gần tiền duyên thì địch đã phục hồi; các loại hoả lực trên xe, ở lô cốt bắn dữ dội chặn ta mở cửa, các phân đội đột kích một số thương vong, đội hình ùn tắc, trong khi đó cán bộ không kịp thời tập trung các loại hoả lực để tiêu diệt hoả điểm.

Cùng thời gian này, các tiểu đoàn 8 và 9 nhanh chóng lợi dụng kết quả của hoả lực bắn trước để mở cửa, tổ chức hoả lực diệt cơ giới, lô cốt chi viện cho bộ binh mở cửa và xung phong chiếm tiền duyên của địch, diệt thêm một số xe, lô cốt, nhà ngủ của bộ binh.

Khoảng một giờ chiến đấu, máy bay địch đã quần lượn đánh phá phía sau đội hình ta, phân đội súng máy phòng không 12,7mm bắn rơi hai chiếc trực thăng và một máy bay phản lực.

Tiểu đoàn 8 nhanh chóng phát triển trong tung thâm, các đại đội 6, 7, 8 lần lượt tiêu diệt các mục tiêu được giao. Đến 2 giờ 40 phút, tiểu đoàn cơ bản làm chủ khu trung tâm.

Đại đội 13 Tiểu đoàn 9, sau khi đánh chiếm được tiền duyên phát triển xuống đông nam trận địa, nhanh chóng đánh vào trung tâm nhưng bị một bộ phận địch chặn, không tiến lên được. Tiểu đoàn 2 tổ chức nhiều đợt xung phong đánh chiếm tiền duyên, nhưng vì sử dụng lực lượng không tập trung, mặt khác bị phi pháo đánh vào đội hình, làm giảm sức chiến đấu, phải dùng hoả lực đánh địch. Trước tình hình khó khăn của Tiểu đoàn 2 trung đoàn trưởng phải đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. Được chỉ đạo tốt, đại đội hoàn thành nhiệm vụ, bắt liên lạc với Tiểu đoàn 8, đánh chiếm toàn bộ khu vực bắc trận địa. Lúc này, pháo binh, máy bay địch bắn chi viện cho địch, đồng thời tập trung ngăn chặn đường lui quân của ta. 3 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8, trung đoàn rời trận địa về vị trí tập kết.

Sau ba giờ chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn hỗn hợp thuộc lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh cơ giới địch; loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 600 tên, bắn cháy và phá huỷ 82 xe cơ giới, 10 khẩu pháo 155mm và 105mm, 4 khẩu cối 106,7mm, bắn rơi 4 máy bay.

Hai lần tập kích vào căn cứ của lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh cơ giới 25 của địch, ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.000 tên, bắn cháy và phá huỷ 129 xe tăng, xe cơ giới, 16 khẩu pháo 105mm và 155mm, 6 khẩu cối 106,7mm, bắn rơi 4 máy bay; thu nhiều đồ dùng quân sự.

Hai lần tập kích vào lực lượng phòng ngự vòng ngoài của địch cho thấy: Phải nắm vững quy luật bố trí cụm yểm trợ hành quân hỗn hợp của địch, tổ chức tập kích nhiều mũi, nhiều hướng. Đánh chiếm tung thâm địch phòng ngự cần hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng thọc sâu với lực lượng tiến công chính diện, thực hiện bao vây, chia cắt tiêu diệt địch. Sử dụng lực lượng thích hợp, chỉ huy sâu sát, nắm chắc hướng chủ yếu, nơi tập trung lực lượng, nhanh chóng có mặt nơi khó khăn, phức tạp.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:19:27 pm
TRẬN BÌNH THUỶ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 309
(21.8.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 309 Quân khu 9, đánh vào trận địa pháo binh (hai khẩu pháo 155mm, 3 khẩu 105mm) và một trung đội bảo an địch bảo vệ (khoảng 100 quân) căn cứ Bình Thuỷ cách cầu Bình Thuỷ (Cần Thơ) khoảng 200m; nhằm tiêu diệt địch, phá huỷ phương tiện chiến tranh.

Để tiêu diệt địch, tiểu đoàn xây dựng quyết tâm bí mật luồn lách qua các tuyến bảo vệ vòng ngoài của địch, đưa lực lượng vào tiếp cận, triển khai, cắt rào, hình thành thế bao vây cả ba hướng đông, nam, tây nam ngay từ đầu, bất ngờ nổ súng, nhanh chóng thọc sâu tiêu diệt địch, đánh chiếm các ụ súng, phá huỷ pháo, xe..., làm chủ trận đánh.

17 giờ ngày 20 tháng 8, đơn vị từ Tà Niền - Cả Lang, chia thành nhiều toán, được du kích dẫn đường vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

1 giờ ngày 21 tháng 8, các mũi bắt đầu cắt rào; đến 2 giờ 10 phút, các mũi cơ bản luồn vào trong trận địa địch. Được lệnh, mũi 1 của hướng chủ yếu nổ súng diệt địch ở lô cốt số 1 làm hiệu lệnh tiến công cho toàn đơn vị.

Ngay từ phút đầu nổ súng, ta làm chủ được hai lô cốt và bờ tường phía đông nam. Các tổ lọt vào nằm sẵn ở các ụ pháo địch đã tiêu diệt những tên trực chiến bên mâm pháo và pháo thủ chạy từ nhà ra hầm pháo.

Từ các hướng, các đại đội nhanh chóng thọc thẳng vào nhà chỉ huy, trận địa pháo, dùng thủ pháo diệt địch, phá huỷ các khẩu pháo, nhà chứa đạn.

Sau một thời gian lúng túng, địch tổ chức một số mũi từ 5 đến 7 tên phản kích nhưng bị tiêu diệt ngay.

2 giờ 20 phút, chỉ huy tiểu đoàn vào trong trận địa thấy 3 khẩu pháo còn nguyên vẹn liền ra lệnh cho pháo quay nòng bắn vào khu vực văn phòng bộ tư lệnh vùng 4 chiến thuật, nghe tiếng pháo nổ, một số tên còn lẩn trốn chạy ra trận địa và bị ta bắt.

2 giờ 30 phút, ta làm chủ trận địa, diệt 85 tên, phá huỷ 5 khẩu pháo, 40 súng các loại, gần 40 xe vận tải và hàng ngàn viên đạn, cùng nhiều đồ dùng quân dụng khác.

Trận tập kích tiêu diệt căn cứ pháo binh Bình Thủy đã quán triệt sâu sắc tư tưởng tiến công, khắc phục mọi khó khăn thực hiện phương châm lấy ít thắng nhiều; đánh đúng chỗ sơ hở của địch, mạnh dạn luồn sâu, cán bộ dẫn đầu, tiến công kiên quyết; gắn bó máu thịt với dân, góp vào thành công của trận đánh.

TRẬN ĐỨC LẬP CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 20
(22 - 23.8.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 20 Sư đoàn 1, được tăng cường Đại đội 5; nhằm đánh vào đại đội bảo an 497, một đại đội bảo an mới thành lập (chưa có phiên hiệu), một trung đội cảnh sát dã chiến, một trung đội dân vệ, có một khẩu cối 106,7mm, hai khẩu cối 81mm, còn lại là đại liên, tiểu liên, súng trường và thường xuyên có 3 xe bọc thép M113 túc trực, giữ quận lỵ Đức Lập một vị trí án ngữ ngã tư đường 14 và đường số 6, nay thuộc xã Đức Minh, huyện Đắc Min, tỉnh Đắc Lắc.

6 giờ ngày 22 tháng 8, tiểu đoàn từ vị trí tập kết vào chiếm lĩnh trận địa. 22 giờ 40 phút, các mũi chiếm lĩnh xong, bắt đầu chui rào vào căn cứ.

0 giờ 10 phút ngày 23 tháng 8, khi 12 người của mũi luồn sâu lọt vào bên trong tung thâm thì gặp lính gác, bị lộ. Lập tức cả ba tổ của mũi thọc sâu đánh vào các mục tiêu được phân công. Quả bộc phá đầu tiên đánh vào nhà máy điện là hiệu lệnh tiến công, sau đó ta đánh chiếm khu cảnh sát.

Trên hướng chủ yếu, đội 60 mới có 10 người vào trong, còn đại bộ phận vẫn nằm từ hàng rào thứ ba trở vào. Phát hiện ta, một khẩu đại liên từ lô cốt phía nam bắn chặn xối| xả, một số chiến sĩ bị thương. Chỉ huy, tổ dự bị và ba chiến sĩ súng phun lửa kẹt giữa các hàng rào không vào được.

Cùng lúc đó, trên hướng thứ yếu, đội 54 có 5 người vào được cứ điểm. Nghe bộc phá nổ, các chiến sĩ B40 bắn hai phát diệt lô cốt ở hai bên và sau 3 phút toàn đội vượt hết qua tường rào xông lên đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Sau 7 phút ta chiếm được nhà quận trưởng, khu thông tin, lô cốt mẹ và trận địa súng cối. Mũi dương công hướng tây bắc cũng đánh chiếm lô cốt mẹ và trận địa súng cối, phát triển vào bên trong. Tổ thọc sâu chiếm xong nhà quận trưởng tiếp tục đánh vào khu xe thiết giáp, bắn cháy hai chiếc M113, thu một chiếc và dùng trọng liên trên xe bắn quân địch và bắn rơi một trực thăng.

Đến 0 giờ 30 phút, thấy mũi chủ yếu không vào được, đội trưởng xin tiểu đoàn chi viện. Tiểu đoàn trưởng điều một trung đội của đội 56 vào tiếp sức cho đội 60. Nhưng khi trung đội tiến vào cửa mở bị địch bắn chặn, có 7 người vào được bên trong, còn lại ở ngoài hàng rào. Thấy mũi chủ yếu gặp khó khăn, mũi thọc sâu sau khi chiếm được khu cảnh sát liền phát triển xuống phía nam hỗ trợ.

Do trời tối ta không phát hiện được hầm ngầm, nên đánh lướt qua. Tiểu đoàn trưởng thấy mũi thọc sâu phát triển thuận lợi, điều 12 người của đội dự bị vào tiếp sức. Khi phân đội vào gần cửa mở thì kho xăng bốc cháy to, kho đạn nổ phải dừng lại.

1 giờ 25 phút, ta làm chủ quận lỵ, nhưng không phát hiện còn địch dưới hầm ngầm, trong một vài lô cốt địch thỉnh thoảng vẫn bắn ra. Ta thu một kho súng, một kho đạn cối 81mm, và nhiều súng khác, cùng 22 chiếc ôtô. Tiểu đoàn trưởng cho xếp vũ khí lên xe GMC và chờ người vào lái ra. Trong khi số lái xe vẫn ở vị trí tiểu đoàn lúc tiềm nhập không nhận được lệnh. Do không quán triệt tốt nhiệm vụ và tổ chức chặt chẽ nên các chiến sĩ đánh xong thiếu phòng bị, chờ bộ binh vào giữ và chờ lái xe vào đưa ôtô ra.

3 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8, tiểu đoàn cử 2 tổ ra tìm Đại đội 5 nhưng không thấy trở lại. Trong khi đó, Đại đội 5 chuyển sang bố trí cách ngã tư đường 20m vì bị máy bay đánh trúng đội hình.

4 giờ, máy bay đến thả pháo sáng, ném đạn cối làm một số chiến sĩ thương vong. 5 giờ, thấy Đại đội 5 không vào, lái xe không có, tiểu đoàn trưởng cho phá huỷ kho súng, đạn cối, 7 chiếc xe (có hai xe M113), rồi cho tiểu đoàn rút ra ngoài.

6 giờ, Trung đoàn 2 lệnh cho Tiểu đoàn 20 quay lại giữ quận lỵ. Tiểu đoàn trưởng thu thập được 20 người quay lại. Nhưng khi vào tới hàng rào bị trực thăng bắn chặn, tiểu đoàn trưởng hy sinh, số chiến sĩ còn lại dần dần rút hết ra ngoài. Ba ngày sau, địch đổ quân chiếm lại quận lỵ.

Trận đánh kết thúc, địch thú nhận bị diệt 35, bị thương 15 tên. Ta bắt 27 tên, phá huỷ hai xe tăng, 5 xe GMC, một kho đạn, phá 15 xe ôtô, bắn rơi một trực thăng, thu một số vũ khí.

Trận Đức Lập đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về vận chiến thuật, về sử dụng đội dự bị, về tảo trừ các mục tiêu đã chiếm được, về giữ mục tiêu, về thu chiến lợi phẩm, nhất là về hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng...


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:20:45 pm
TRẬN NÚI ĐỘC CỦA ĐẠI ĐỘI PHÁO PHÒNG KHÔNG 14
(20.10.1968)

Trận phục kích của Đại đội pháo phòng không 14 Trung đoàn 50 ở núi Độc (Đồ Sơn - Hải Phòng), nhằm đánh máy bay không người lái, phá kế hoạch trinh sát của địch.

Sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, Mỹ buộc phải dùng biện pháp ném bom hạn chế, nhưng chúng vẫn thường xuyên dùng máy bay trinh sát cả không người lái và có người lái vào trinh sát các khu vực Đồ Sơn, Hải Phòng. Thông thường chúng bay vào từ cửa sông Thái Bình đến cửa sông Văn Úc, từ Đồ Sơn đến cửa sông Nam Triệu.

Nhận nhiệm vụ đánh máy bay không người lái của địch, Trung đoàn 50 quyết tâm đưa lực lượng đi phục kích. Đại đội 14 của trung đoàn kết hợp với Tiểu đoàn 14 Bộ tư lệnh 350 trong cụm “Thành công” bố trí trận địa ở cánh đồng xóm Dương, xã Đại Hợp, huyện An Thụy. Cụm “Quyết thắng” của Trung đoàn 50 phục kích tại Đồ Sơn bố trí Đại đội pháo phòng không 14 ở núi Độc, súng máy phòng không 14,5mm bố trí tại sân bay sát bờ biển. Đại đội 21: một trung đội ở điểm cao 86 (bốn khẩu), một trung đội ở điểm cao 66 (bốn khẩu).

Trong thời gian kiên trì mai phục, đơn vị chú trọng rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật đánh địch, theo dõi quy luật hoạt động của chúng.

11 giờ 15 phút ngày 20 tháng 10, các chiến sĩ trinh sát,. pháo thủ đều báo cáo có máy bay địch. Tiếp đó các khẩu đội đều báo cáo bắt được mục tiêu. Chỉ huy ra lệnh bắn. Tất cả các phân đội 37mm đều nổ súng đánh địch. Máy bay trúng đạn, cố bay ra nhưng không chạy thoát, rơi cách cầu Rào 2km.

Với quyết tâm kiên trì mai phục, đón đánh địch và tinh thần chịu đựng gian khổ trực chiến dài ngày, Đại đội 14 đã bắn rơi máy bay không người lái của địch với 19 viên đạn pháo 37mm và 33 viên đạn 14,5mm trong 20 giây.

TRẬN NGÂN SƠN CỦA DU KÍCH XÃ AN THẠCH
(6.11.1968)

Trận hoá trang tập kích của du kích xã An Thạch huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên được tăng cường 3 bộ đội địa phương huyện, đánh vào đại đội bảo an 735 chốt giữ nam cầu Ngân Sơn (xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nhằm tiêu diệt địch.

15 giờ 20 phút ngày 16 tháng 11, cơ sở báo địch ở nam cầu vào làng chơi chỉ còn một số ít ở chốt. Chớp thời cơ, các mũi xuất kích, dọc đường gặp một số địch. Ta diệt một số tên, nhanh chóng đánh chiếm lô cốt, công sự triển khai đội hình đánh địch. Nghe tiếng súng nổ, địch từ trong làng chạy về chốt, mỗi tốp 2 đến 3 tên xông vào. Ta ở lô cốt, công sự dùng tiểu liên tiêu diệt từng tên, từng tốp địch. Một số tên chưa tới mép hào đã bị tiêu diệt. Địch ở phía bắc cầu, không rõ tình hình ra sao nên tập trung lực lượng giữ cầu, không dám cho lực lượng đến ứng cứu.

Sau 30 phút chiến đấu táo bạo, ta diệt gọn một trung đội bảo an (20 tên chết, 5 tên bị thương), thu chiến lợi phẩm và nhanh chóng lui quân.

Trận hoá trang diệt địch ở nam cầu Ngân Sơn là một trận đánh hay, đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:23:45 pm
TRẬN NGÂN SƠN CỦA DU KÍCH XÃ AN THẠCH
(6.11.1968)

Trận hoá trang tập kích của du kích xã An Thạch huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên được tăng cường 3 bộ đội địa phương huyện, đánh vào đại đội bảo an 735 chốt giữ nam cầu Ngân Sơn (xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nhằm tiêu diệt địch.

15 giờ 20 phút ngày 16 tháng 11, cơ sở báo địch ở nam cầu vào làng chơi chỉ còn một số ít ở chốt. Chớp thời cơ, các mũi xuất kích, dọc đường gặp một số địch. Ta diệt một số tên, nhanh chóng đánh chiếm lô cốt, công sự triển khai đội hình đánh địch. Nghe tiếng súng nổ, địch từ trong làng chạy về chốt, mỗi tốp 2 đến 3 tên xông vào. Ta ở lô cốt, công sự dùng tiểu liên tiêu diệt từng tên, từng tốp địch. Một số tên chưa tới mép hào đã bị tiêu diệt. Địch ở phía bắc cầu, không rõ tình hình ra sao nên tập trung lực lượng giữ cầu, không dám cho lực lượng đến ứng cứu.

Sau 30 phút chiến đấu táo bạo, ta diệt gọn một trung đội bảo an (20 tên chết, 5 tên bị thương), thu chiến lợi phẩm và nhanh chóng lui quân.

Trận hoá trang diệt địch ở nam cầu Ngân Sơn là một trận đánh hay, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

TRẬN GIỒNG LỚN CỦA TIỂU ĐOÀN 6 TRUNG ĐOÀN 2
(9.5.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 Sư đoàn 9, được tăng cường một trung đội ĐKZ 75mm (hai khẩu), một đại đội cối 82mm (3 khẩu), một đại đội súng máy phòng không 12,7mm (5 khẩu) và một trung đội bộ đội địa phương huyện Đức Hòa; đánh vào cụm xe cơ giới Mỹ ở Giồng Lớn thuộc xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An; nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

20 giờ ngày 8 tháng 5, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa; 0 giờ 30 phút ngày 9, các đơn vị triển khai đội hình chiến đấu xong. Được lệnh, cối 82mm, ĐKZ 75mm cùng các loại hoả lực khác đồng loạt nổ súng diệt các cụm xe, hoả điểm của địch trên tiền duyên của từng hướng tiến công.

Sau 7 phút nổ súng, các đại đội cả trên hướng chủ yếu và hướng thứ yếu vượt qua hàng rào, đánh chiếm được tiền duyên. Đại đội 12 thành hai mũi thọc sâu vào sở chỉ tuy, trận địa cối 106,7mm của địch, Đại đội 13 thọc sâu vào trung tâm chia cắt địch. Sau 30 phút chiến đấu, hai đại đội bắt liên lạc được với nhau, hiệp đồng diệt địch ở trung lâm, tổ chức nhiều tổ, tiểu đội phát triển ra xung quanh, dùng thủ pháo, lựu đạn đánh vào sau lưng cụm xe cơ giới của địch. Bị đánh bất ngờ, địch đối phó lúng túng phải co về hướng đông chống cự. Lúc này, Đại đội 12 bị hoả lực chặn lại không phát triển được, phải báo cáo tiểu đoàn xin tăng viện.

Đại đội 11 (dự bị) được lệnh vào chiến đấu bên phải Đại đội 12. Khi đại đội đang đánh chiếm tiền duyên thì bị hoả lực chặn lại, đại đội trưởng lệnh các trung đội dùng B40, B41 diệt xe tăng, xe thiết giáp địch, đánh rộng ra hai bên, tạo thời cơ cho Đại đội 12 và 13 phát triển chiến đấu.

Chớp thời cơ địch tập trung hoả lực chặn Đại đội 11, các đại đội 12, 13 đánh chiếm từng xe, tạo thế xen kẽ hình thành thế bao vây tiêu diệt từng bộ phận địch. 2 giờ ngày 9 tháng 5, tiểu đoàn tiêu diệt phần lớn địch, làm chủ chiến trường.

Do trung đội địa phương Đức Hòa khi nổ súng không đánh vào trung tâm, nên địch chạy về hướng đông co cụm, trung đội tổ chức truy kích rồi lui quân.

Khoảng 30 xe địch tháo chạy về ngã ba Mỹ Hạnh bị mìn chống tăng của du kích bố trí ở nam xóm Trầm Lạc, cháy hai xe. Số còn lại chạy về hướng Bà Quẹo, bị lực lượng của Tiểu đoàn 5 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh vào hôm sau diệt 30 xe, loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh 25 địch.

Trận đánh kết thúc, 300 tên địch bị diệt. Ta bắn cháy và phá huỷ 60 xe tăng, xe thiết giáp, 12 khẩu cối 106,7mm, làm cháy một kho đạn, bắn rơi 7 máy bay trực thăng.

Chiến đấu ở đồng bằng trống trải, nhưng biết dựa vào dân. hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, ta vẫn đảm bảo được bí mật, tạo được bất ngờ.

Khi tập kích các cụm cơ giới, phải vận dụng sáng tạo các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu, kết hợp đánh chính diện, bên sườn, phía sau xe tăng địch để tiêu diệt chúng và nhanh chóng giải quyết chiến trường.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:25:21 pm
TRẬN CÔ CA CA VA CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 3
(17.2.1969)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 3 Quân khu Trị Thiên: đánh vào sở chỉ huy trung đoàn lính thuỷ đánh bộ số 9 địch (có các đại đội chỉ huy, thông tin, ra đa, một đại đội bảo vệ, một tiểu đoàn pháo binh có 6 khẩu 155mm, 12 khẩu 105mm, 4 khẩu cối 106,7mm...) đóng giữ Cô Ca Va (điểm cao 672) thuộc xã Hồng Thuỷ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên - Huế); nhằm tiêu diệt địch, phối hợp chiến trường, rút kinh nghiệm đánh địch trên điểm cao của đặc công quân khu.

Sau một thời gian trinh sát nắm địch, địa hình, 16 giờ 30 phút, ngày 15 tháng 2 năm 1969, đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. 17 giờ 10 phút ngày 16 tháng 2, trinh sát dẫn các tổ tiềm nhập theo kế hoạch.

2 giờ 45 phút ngày 17 tháng 2, mũi 2 bị địch phát hiện, ta diệt ngay hai tên gác. Lập tức các mũi khác nhanh chóng dùng thủ pháo đánh dồn dập vào các mục tiêu được phân công.

Mũi 1: Tổ 1 nhanh chóng đánh bộc phá vào nhà chỉ huy, sau đó phái triển ra xung quanh. Tổ 2 diệt lô cốt mẹ, khu trung tâm thông tin và phát triển sang hướng tây bắc.

Tổ 3 diệt địch phía tây nam khu vực chỉ huy sở. Tổ dự bị chưa có lệnh, song thấy các tổ đánh thủ pháo giòn giã đã tự đông đánh địch ở các nhà bạt trong hàng rào, phát triển lên gặp tổ 3 mũi 1. Sau 17 phút chiến đấu, mũi 1 diệt hết quân địch ở khu vực được phân công.

Mũi 2: Sau khi diệt hai tên lính gác, chỉ phát triển hai bên tuyến nhà bạt ở bãi bằng 1 và bắc bãi bằng 2. Địch dùng cối cá nhân bắn trả làm bị thương một số người. Diệt xong địch, khi có pháo hiệu lui quân chỉ huy đã cho bộ đội rút mặc dù chưa đánh chiếm khu vực ra đa theo nhiệm vụ phân công.

Mũi 3: Tổ 1 đánh vào các nhà ở của pháo thủ ở trận địa pháo số 1, phá 4 khẩu pháo. Tổ 2 phá khẩu pháo số 5 và nhà chỉ huy pháo binh. Tổ 3 phá hai khẩu cối 106,7mm và đánh địch ở nam bãi bằng 2.

Mũi 4: Khi nghe thủ pháo nổ diệt lính gác, cả mũi xông vào đánh địch ở khu nhà bạt và phát triển lên đỉnh điểm cao. Thấy mũi 2 chưa đánh khu ra đa nên mũi 4 cho tổ 1 đánh qua lô cốt số 1, phá huỷ trạm ra đa và diệt quân địch xung quanh; tổ 2 đánh sang trận địa pháo, phá huỷ 5 khẩu pháo và diệt địch ở khu vực mũi 3 đảm nhiệm còn sót lại.

Bị đánh bất ngờ, địch không kịp đối phó, sau 20 phút, một số tên địch sống sót dùng trung liên và tiểu liên bắn vào đội hình của mũi 1 và mũi 3, gây cho ta một số thương vong.

15 phút sau khi ta tiến công, pháo địch ở điểm cao 400 mới bắn vào xung quanh Cô Ca Va.

Sau hơn 20 phút đánh địch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch, phá 6 khẩu pháo 105mm, hai khẩu cối 106,7mm, hai khẩu trọng liên 20mm, một trạm ra đa và một số khí tài trong khu trung tâm thông tin.

Trận đầu đánh thắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với đơn vị, đặc biệt là trong vận dụng cách đánh mật tập và đánh địch ở điểm cao, tận dụng yếu tố bí mật, luồn sâu, lót sẵn, đánh nhanh, diệt gọn quân địch.

TRẬN BẾN TRANH CỦA TIỂU ĐOÀN 1 TRUNG ĐOÀN 141
(25.2.1969)
(1)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 141 Sư đoàn 7 được tăng cường Đại đội 6 Tiểu đoàn 2, năm khẩu cối 82mm, 3 khẩu 12,7mm, 3 khẩu ĐKZ 75mm, 9 người dẫn đường; đánh vào hai đại đội địch, hai đại đội pháo 105mm và cối 106,7mm và một số phương tiện chiến tranh của lữ đoàn 3 sư đoàn 25 mới đổ xuống Bến Tranh (xã Thanh An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

21 giờ ngày 24 tháng 2, các đơn vị từ vị trí tập kết vào chiếm lĩnh trận địa. 24 giờ, các hướng bắt đầu cắt gỡ rào thép gai, đặt mìn định hướng, bộc phá vào hàng rào.

2 giờ 24 phút ngày 25 tháng 2, cối 82mm, ĐKZ 75mm, cối 60mm và B40, B41 đồng loạt bắn vào các mục tiêu trên tường cũ và trong vị trí địch. 2 giờ 30 phút, các hoả lực bắn tập trung vào vị trí chỉ huy của địch. Lợi dụng kết quả bắn của các loại hoả lực, các hướng tiến hành mở cửa mở, đánh chiếm đầu cầu.

Hướng chủ yếu và hướng thứ yếu 1, các đại đội phát triển chiến đấu thuận lợi. Nhưng ở hướng thứ yếu 2, khi quân ta đánh vào trận địa cối thì bị địch chặn lại, Đại đội 6 gặp khó khăn. Để nhanh chóng tiêu diệt quân địch tiểu đoàn trưởng quyết định đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu bên phải hướng chủ yếu, chi viện cho Đại đội 6. Được lực lượng chi viện, Đại đội 6 phát triển thuận lợi về khu vực chỉ huy, bắt liên lạc được với Trung đội 6 Đại đội 2. Nhờ hiệp đồng chặt chẽ giữa hoả lực và xung lực, quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu được phân công.

3 giờ 23 phút, các đại đội cơ bản làm chủ khu vực chiến đấu được phân công, bắt liên lạc với nhau; thu dọn chiến trường, làm công tác thương binh, tử sĩ và lui quân.

Trận đánh thắng lợi, khoảng 400 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; 5 khẩu pháo 105mm, hai khẩu cối 106,7mm, 6 xe quân sự bị phá huỷ, một trực thăng bị bắn rơi.

Trận đánh thể hiện được tư tưởng tiến công, tích cực đánh bồi, đánh nhồi của Đảng ủy, chỉ huy các cấp; vận dụng linh hoạt, sáng tạo bước chuẩn bị chiến đấu trong điều kiện thời gian gấp; đặc biệt là việc tổ chức lui quân nắm vững quy luật địch sử dụng không quân, pháo binh ngăn chặn, sát thương ta.


(1) Ta đánh lần thứ hai.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:26:16 pm
TRẬN BÌNH MỸ CỦA TRUNG ĐỘI 2 ĐẠI ĐỘI 2
(3.3.1969)

Trận vận động phục kích của Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 3 (12 người), trang bị một B40, hai trung liên, còn lại là tiểu liên, được tăng cường một khẩu cối 60mm, một B41; đánh vào quân địch ở thôn Bình Mỹ (nam núi Xương Rồng, bắc sông Trà Câu) thuộc huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt địch, buộc chúng đưa quân ứng cứu, tạo điều kiện để tiểu đoàn tiêu diệt địch.

11 giờ ngày 3 tháng 3 năm 1969, một trung đội địch từ hướng An Ninh theo bờ sông lên thôn Bình Mỹ, toàn bộ đội hình địch lọt vào trận địa, ta nổ súng và nhanh chóng xuất kích. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn, chống đỡ yếu ớt Sau bốn phút, ta diệt gần hết trung đội địch, ba tên địch sống sót chạy về Gò Lôi. 12 giờ 30 phút, địch dùng ba trực thăng đổ 15 tên xuống bãi cát nam sông, địch vừa xuống trực thăng, bị tổ trinh sát diệt 5 tên, ba trực thăng phải lấy xác bay đi. 13 giờ, địch dùng máy bay phản lực và trực thăng đánh phá vào trận địa. 14 giở, trực thăng đổ hai trung đội địch xuống nam Bình Mỹ, phối hợp với hai đại đội từ núi Xương Rồng xuống phản kích. Trời tối ta giải quyết thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm, lui quân về vị trí quy định.

Trận đánh kết thúc, 37 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ta thu 9 trung liên, 6 lựu đạn.

Quy mô trận đánh không lớn, lực lượng ít nhưng đã sử dụng lực lượng, bố trí đội hình phù hợp, có chặn đầu, chính diện, khóa đuôi; hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, đánh nhanh, diệt gọn quân địch.

TRẬN CHƯ RƠ BANG CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 66 TIỂU ĐOÀN 8
(4.3.1969)

Trận tập kích của Đại đội bộ binh 66 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 bộ đội Tây Nguyên được tăng cường một khẩu cối 82mm, hai khẩu B41, một tổ thông tin, một tổ trinh sát; nhằm đánh vào đại đội A và chỉ huy tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 địch ở tây nam dãy Chư Rơ Bang nay thuộc xã Mô Rây, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

8 giờ 15 phút ngày 4 tháng 3, các loại hoả lực B40, B41, cối 82mm bắn dồn dập vào vị trí chỉ huy của tiểu đoàn địch, trận địa hoả lực và các mục tiêu khác. Trong thời gian ngắn, hoả lực của ta đã chế áp được trận địa cối, đại liên và diệt được một số địch.

8 giờ 20 phút, hoả lực tạm dừng, bộ binh đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu.

Bộ đội vừa xung phong được vài chục mét thì cả hướng chủ yếu và hướng thứ yếu đều bị hoả lực chặn lại.

Phát hiện thấy phía bắc địch có sơ hở, đại đội phó chỉ huy tổ dự bị vòng bên phải đánh vào sau đội hình địch; đồng thời lệnh cho cối 82mm bắn dồn dập vào trận địa địch.

Khi cối ngừng bắn, các mũi đồng loạt xung phong đánh vào các mục tiêu được phân công.

Mũi chủ yếu diệt được khẩu đại liên, phát triển vào trung tâm chia cắt đội hình địch, đánh chiếm vị trí chỉ huy tiểu đoàn và đại đội A, bộ phận thông tin, làm tê liệt chỉ huy của địch.

Cùng lúc đó các mũi phía nam và phía bắc nhanh chóng đánh chiếm được các mục tiêu.

9 giờ ngày 4 tháng 3, đại đội làm chủ hoàn toàn trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu 75 tên địch, thu 22 khẩu súng (có 3 khẩu đại liên), 7 máy thông tin PRC25.

Trận tập kích ban ngày đạt hiệu suất chiến đấu cao. Để giành thắng lợi, đại đội đã nắm chắc thời cơ, kiên quyết tiến công địch; bí mật tiếp cận mục tiêu, giỏi đánh gần, đánh đồng loạt, hiệp đồng chặt chẽ, hành động nhanh chóng, chỉ huy dũng cảm, linh hoạt, quyết đoán.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:27:26 pm
TRẬN KON HƠ NÔNG CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 5 TRUNG ĐOÀN 24
(5.3.1969)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 đại đội) Trung đoàn 24 bộ đội Mặt trận Tây Nguyên; nhằm đánh vào một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ và một đội bình định ác ôn của địch ở ấp chiến lược Kon Hơ Nông (nay thuộc xã Đak Hrinh, huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum).

Sau một thời gian chuẩn bị chiến đấu, 21 giờ ngày 4 tháng 3, đơn vị từ vị trí tạm dừng vào chiếm lĩnh trận địa.

1 giờ 30 phút ngày 5 tháng 3, tiểu đoàn nổ súng tiến công quân địch.

Trên hướng Đại đội 6, Trung đội 2 dùng B40, B41 diệt ngay lô cốt ở khu cô vấn, đồng thời hai tổ bộ binh đánh thẳng vào vị trí chỉ huy địch. Tổ bộc phá đánh vào hầm cố thủ; các tổ thọc sâu diệt các mục tiêu bên trong. Trung đội 1 đánh vào khu C, sau khi diệt lô cốt ngoài cùng, các chiến sĩ đánh thẳng vào khu nhà lính, làm chủ khu C, có tổ phát triển sang khu cố vấn và một tổ phát triển lên hướng bắc.

Ở hướng Đại đội 7, các mũi phát triển thuận lợi, nên trong 30 phút, đại đội chiếm toàn bộ khu A và B, phát triển sang khu cố vấn.

Quá trình chiến đấu do tảo trừ không kỹ nên một số ác ôn trà trộn vào dân chạy trốn; việc thu vũ khí không được nhiều, nhất là trong các hầm.

Hoàn thành nhiệm vụ, Đại đội 6 bám trụ lại ấp và chuẩn bị đánh địch phản kích. Đại đội 7 cơ động lên phía bắc xây dựng trận địa bên đường 14 đánh viện binh địch. Các ngày 5 và 7 tháng 3, Đại đội 7 đã chặn đánh địch từ Tân Cảnh xuống, diệt một trung đội bộ binh, tiêu hao một trung đội khác, bắn cháy 5 xe tăng và xe M113, bắn rơi một máy bay trực thăng.

Trận đánh thắng lợi, ta loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội bảo an, hai trung đội, một đội bình định và nhiều dân vệ; diệt 38 tên, bắt 3 tên, bắn cháy 5 xe tăng, xe thiết giáp; bắn rơi một máy bay trực thăng; thu một đại liên, 6 khẩu súng khác; giải phóng được hơn 300 dân trong ấp chiến lược.

Trận tập kích địch ở Kon Hơ Nông và đánh địch phản kích đã góp phần phân tán lực lượng địch, tích cực phối hợp với hướng tiến công lớn của ta ở tây Kleng.

TRẬN CHƯ ĐÔ CỦA ĐẠI ĐỘI 2 TIỂU ĐOÀN 1
(5.3.1969)

Trận tập kích của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28; đánh vào đại đội C tiểu đoàn 1 trung đoàn 12 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 địch ở núi Chư Đô (nay thuộc xã Plei Khok Klong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum); nhằm đánh địch ra giải toả, vây hãm, cùng các đơn vị tiêu diệt một số mục tiêu vòng trong của địch trên hướng Kleng.

Ngày 3 tháng 3, đại đội đưa một bộ phận vào chiếm lĩnh xây dựng trận địa vây ép địch ở nam - đông nam Chư Đô, còn đại bộ phận ở vị trí lập kết chuẩn bị vào tập kích.

7 giờ 30 phút ngày 4 tháng 3, ta làm được công sự cá nhân cách hàng rào địch 50m. Lúc này, một trung đội địch đi tuần, bộ phận vây ép diệt 8 tên, số địch còn lại chạy về chốt. Chúng dùng pháo từ Tăng Kra bắn mạnh về phía nam Chư Đô và cho quân ra lấy xác, ta nổ súng diệt 10 tên. 15 giờ 30 phút, địch cho một bộ phận nống ra, ta diệt thêm 7 tên. Địch ở Chu Đô tăng cường củng cố công sự trận địa.

Được lệnh trên phải kích quân địch ở Chư Đô, 18 giờ 30 phút ngày 4 tháng 3, đại đội vào chiếm lĩnh trận địa. 23 giờ, các mũi cách địch khoảng 30m, tổ chức luồn qua rào thép gai, áp sát các mục tiêu.

1 giờ ngày 5 tháng 3, mũi đông bắc dùng thủ pháo ném vào ba hầm ngủ phía ngoài của địch làm hiệu lộ tiến công cho toàn đại đội. Dựa vào bàn đạp đã chiếm, các mũi nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm hầm chỉ huy và các hầm còn lại của địch. Bị đánh bất ngờ và bị các loại hoả lực B40, B41 của ta diệt các hoả điểm đại liên, nên địch đối phó lúng túng.

Hiệp đồng với mũi đông bắc, các mũi ở phía tây, tây nam nhanh chóng dùng thủ pháo, lựu đạn đánh vào các hầm của địch.

Trong khi mũi tây nam đang gặp khó khăn, các mũi khác phát triển xuống phối hợp diệt địch thì bị pháo địch ở Chư Tăng Kra bắn trùm lên trận địa.

Do thiếu kinh nghiệm, lúng túng chưa xử trí kịp, cán bộ đại đội không nắm được cúc mũi, nên bộ đội tự động đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài, không tiêu diệt hoàn toàn được quân địch ở Chư Dô.

Vừa vây ép, vừa tập kích, ta đã tiêu diệt nhiều địch, loại khỏi vòng chiến đấu đại đội C của địch ở Chơ Dô. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về tổ chức chỉ huy chiến đấu trong trận địa địch của chỉ huy đại đội.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:28:33 pm
TRẬN TRÀ BÌNH CỦA ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 9
(9.3.1969)

Trận vận động phục kích của Đại đội 1 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 22 Sư đoàn 3 Quân khu 5; đánh vào một đại đội bộ binh địch được xe tăng yểm hộ ra giải toả ở khu vực Trà Bình thuộc xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; nhằm tiêu diệt địch, phá thế bao vây, kìm kẹp của chúng, tạo ra khu chiến liên hoàn với nội thị.

Sau khi cho một tiểu đoàn bộ binh (có xe tăng và pháo binh) chiếm núi Đất (điểm cao 97), hàng ngày địch cho từ một trung đội đến một đại đội ra giải toả các khu vực xung quanh, nhất là các thôn Khánh Mỹ, Mỹ Danh, Trà Bình, Thạch Nội ở phía bắc.

Đại đội 1 có các trung đội bộ binh 1, 2, 3; trang bị súng chống tăng B40, B41, trung liên, tiểu liên, lựu đạn và thủ pháo. Sau 13 ngày liên tục chiến đấu, đại đội được lệnh để lại Trung đội 3 làm nhiệm vụ đánh phá giao thông trên đường số 1, lực lượng còn lại về Trà Bình củng cố, chuẩn bị nhặn nhiệm vụ tiếp theo.

Thực hiện nhiệm vụ của tiểu đoàn, đại đội quyết tâm tổ chức trận phục kích tại thôn Trà Bình, diệt quân địch cùng xe tăng từ núi Đất ra giải toả các thôn xung quanh.

Để tiêu diệt địch, đại đội sử dụng Trung đội 1 (18 người), trang bị hai khẩu B41, một khẩu B40, một khẩu trung liên, còn lại là tiểu liên, lựu đạn và thủ pháo, bố trí thành hai tuyến: tuyến trước ở Bình Nam đánh xe tăng, tuyến sau ở Bình Trung diệt bộ binh. Trung đội 2 (17 người), trang bị một khẩu B40, một khẩu B41, một khẩu trung liên, còn lại là tiểu liên và lựu đạn, thủ pháo; bố trí ở Bình Bắc, chặn đánh quân ngụy từ An Điềm xuống, phối hợp với Trung đội 1 diệt bộ binh, xe tăng địch dọc đường đi An Điềm.

6 giờ ngày 9 tháng 3, pháo địch từ núi Đất bắn dọn đường về hướng Trà Bình, lành đạo và chỉ huy đại đội hạ quyết tâm tổ chức phục kích diệt địch tại thôn Trà Bình.

12 giờ, một đại đội bộ binh có 5 xe tăng, được trực thăng chi viện tiến về hướng thôn Trà Bình. Khi cách Trà Bình khoảng 500m, địch chia làm hai mũi tiến vào, xe tăng ở ngoài đường chi viện cho bộ binh sục vào thôn. 12 giờ 55 phút, hai xe tăng M48 cách tổ B40, B41 của ta khoảng 15m. Trong thôn, bộ binh địch cách bộ phận phục kích khoảng chục mét. Được lệnh nổ súng, B40, B41 bắn cháy hai xe tăng địch, 3 chiếc còn lại vội vàng tháo chạy. Từ các vị trí bộ đội ta nổ súng, xung phong diệt địch.

Sau ít phút, xe tăng, pháo binh địch từ núi Đất bắt đầu bắn vào đội hình ta, đại đội phải lui về công sự, chuẩn bị đánh địch phản kích.

15 giờ 15 phút, địch dùng phi pháo bắn cấp tập vào trận địa ta, sau đó chia thành hai mũi tiến vào. Bộ đội cùng du kích diệt một số tên. Địch không lấy được xác đồng bọn phải lui ra xa dùng pháo bắn vào trận địa.

16 giờ 45 phút, trận chiến đấu tạm dừng, đại đội lui quân khỏi trận địa.

Qua 4 giờ chiến đấu, 34 tên địch bị diệt, hai xe tăng bị bắn cháy. Ta thu một số vũ khí của địch.

Trận Trà Bình là một trận đánh đơn vị quán triệt tốt nhiệm vụ trên giao, có quyết tâm cao; mọi công tác chuẩn bị chu đáo, cụ thể, tổ chức chỉ huy tương đối chặt chẽ; trong chiến đấu các đơn vị hiệp đồng tốt, chi viện kịp thời giữa các bộ phận; cán bộ, chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, nhất là các phân đội nhỏ đánh gần, táo bạo chia cắt địch để tiêu diệt.

TRẬN CƯ CEPAK CỦA TIỂU ĐOÀN 8
(11.3.1969)

Trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn 8 (thiếu một đại đội) Trung đoàn bộ binh 66 Mặt trận Tây Nguyên; nhằm đánh vào tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 địch ở Cư Cepak (đông nam Chư Mơ Nú 1km) nay là xã Mô Rây, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Ngày 6 tháng 3 năm 1969, địch dùng 39 lần chiếc trực thăng đổ quân xuống Chư Mơ Nú và một đại đội từ Ya Bruh - đông bắc Cư Cepak 6km tiến về Chư Mơ Nú nhằm chiếm dãy núi Cư Cepak, Cư Dơn, Chư K.Tan.

Ngày 8 tháng 3 năm 1969, tiểu đoàn sử dụng một tiểu đội của Đại đội 6 chốt ở Cư Cepak; dùng một khẩu cối 82mm chốt ở mỏm đồi đông Cư Cepak kiềm chế địch ở Chư Mơ Nú. Lực lượng còn lại bố trí ở sườn đông và tây Cư Cepak sẵn sàng vận động tiến công tiêu diệt quân địch. Cùng ngày 8 tháng 3, ta dùng cối bắn cháy một trực thăng ở Chư Mơ Nú.

8 giờ ngày 11 tháng 3, một đại đội địch từ Chư Mơ Nú hành quân càn quét. 13 giờ địch tiến vào Cư Cepak, đợi địch đến gần, bộ phận chốt nổ súng và dùng hai quả mìn định hướng, diệt 20 tên, địch lùi lại. Cùng lúc Đại đội 6 sử dụng Trung đội 2 và khẩu cối 60mm xuất kích thành hai mũi đánh vào cạnh sườn đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch rối loạn, sau 30 phút chiến đấu, đại đội này cơ bản bị tiêu diệt. Bị mất liên lạc ngay từ đầu nên địch không chi viện cho nhau được.

14 giờ, nghe súng nổ ở Cư Cepak, địch ở Chư Mơ Nú cho một đại đội xuống ứng cứu. Khi đến Cư Cepak, chúng tiến công vào sau Trung đội 2 Đại đội 6. Đại đội trưởng lệnh Trung đội 2 quay lại chặn địch và cho Trung đội 1 xuất kích nhưng bị ngăn chặn. Tiểu đoàn dùng hoả lực chi viện và Trung đội 1 chia thành hai mũi đánh vào sau đội hình địch, chúng tạt sang sườn đông cụm lại đối phó. 18 giờ, chốt Đại đội 5 tổ chức lực lượng cùng Đại đội 6 đánh địch co cụm diệt thêm một số, những tên sống sót chạy về Chư Mơ Nú, ta làm chủ trận địa.

Một ngày chiến đấu, ta diệt 140 tên địch; thu 110 súng các loại, 3 máy thông tin PRC25.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Tư, 2020, 05:29:29 pm
TRẬN ĐỒI TRANH CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 1
(12 - 13.3.1969)

Trận vận động tiến công kết hợp chốt của Đại đội bộ binh 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28, được tăng cường phân đội cối, đại liên; đánh vào quân địch thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 ở khu vực Đồi Tranh, thuộc núi phía tây dãy Ngọc Ta Lum (nay thuộc xã Plei Khok Klong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum).

20 giờ 30 phút ngày 7 tháng 3, đại đội và ban chỉ huy Tiểu đoàn 1 vào chiếm lĩnh vị trí Đồi Tranh xây dựng trận địa. 21 giờ 30 phút, bộ đội đang làm công sự thì bị B52 đánh trúng đội hình, một số thương vong. Trước tình hình đó, đại đội hạ quyết tâm vừa giải quyết hậu quả bom địch, vừa giữ vững quyết tâm chiến đấu của bộ đội, tiếp tục làm công sự trận địa, chuẩn bị tốt mọi mặt để đánh địch thắng lợi.

Từ 11 tháng 3, địch thường xuyên cho máy bay trinh sát sục sạo; pháo địch ở Ngọc Tô Ba thường xuyên bắn phá. Sáng 12 tháng 3, pháo binh địch ngừng bắn. Đại đội nhận định: địch có thể đổ quân nên các phân đội sẵn sàng chiến đấu cao.

11 giờ 30 phút, lực lượng đi trước của đại đội C từ điểm cao 467 luồn xuống tiến vào chốt mỏm B của đại đội. Do các chiến sĩ gác xuống hầm hút thuốc nên không phát hiện được địch tới. Địch thả lựu đạn xuống lỗ thông khói, ta phát hiện đẩy được ra, rồi lao lên đánh địch. Nghe tiếng súng nổ, các chiến sĩ ở hầm khác ra đánh địch.

Cùng lúc đó, một mũi khác của địch thọc vào chốt mỏm A. Đại liên, trung liên của ta bắn mạnh vào đội hình địch. Sau ít phút chiến đấu, cả hai mũi tiến công của chúng lùi lại khu Yên Ngựa chống trả.

Theo hiệp đồng, tiểu đội cơ động của Trung đội 3 vượt qua phía tây chốt A, Trung đội 2 sử dụng một tiểu đội vòng sau chốt B, đánh thẳng vào quân địch co cụm ở Yên Ngựa. Sau 20 phút chiến đấu, ta tiêu diệt gọn quân địch đi trước của đại đội C.

Để lấy xác đồng bọn, địch dùng hoả lực bắn mạnh vào Yên Ngựa, 12 giờ 30 phút địch lên lấy xác. Cả hai chốt A và B đồng loạt nổ súng ngăn chặn, đồng thời Trung đội 2 và một tiểu đội của Trung đội 3 cơ động theo đường chuẩn bị đánh vào đội hình địch. Sau 45 phút chiến đấu, quân ta tiêu diệt gần hết đại đội C. Máy bay trực thăng bay rất thấp bắn vào chốt, ta không thu được súng của địch.

Trong khi đại đội C đánh vào chốt ở Đồi Tranh 2, thì đại đội A đánh vào chốt ở Đồi Tranh 1, nơi ta bố trí sở chỉ huy pháo binh. Tiểu đoàn trưởng pháo binh yêu cầu Tiểu đoàn 1 bộ binh chi viện. Theo lệnh của đại đội, Trung đội 1 xuất kích đánh vào quân địch ở chốt A, buộc chúng bỏ chạy về phía sau. Trung đội 1 truy kích diệt một số tên.

Đại đội A bị đánh co về tây Đồi Tranh 1. Lúc 15 giờ chúng vượt Đồi Tranh đánh vào vị trí Đại đội 1. Theo lệnh của tiểu đoàn, đại đội cơ động lực lượng tiêu diệt. Trong ngày 12 tháng 3, đại đội đã bẻ gãy các đợt tiến công của địch, giữ vững chốt, diệt hầu hết đại đội C, tiêu hao một phần đại đội A địch, bắn rơi ba trực thăng, thu 4 tiểu liên.

Ngày 13 tháng 3, đại đội A địch từ phía tây chia làm hai mũi tiến theo hướng đại đội C đánh vào chốt A và B. Các chiến sĩ giữ chốt đã chiến đấu dũng cảm, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch trong suốt 3 giờ 30 phút. Nhưng lực lượng cơ động phía sau không xuất kích đánh địch, bộ phận chốt chiến đấu đơn độc và bị thương vong gần hết nên địch chiếm được cả hai chốt A và B.

Trước tình hình đó, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho đại đội phản kích chiếm lại chốt. Sau khi tổ chức, 10 giờ 30 phút, đại đội bắt đầu phản kích. Sau 30 phút đánh địch, ta chiếm lại cả hai chốt A và B.

Bị ta đánh mạnh, địch lui về Khe Cạn. Các mũi của ta truy kích diệt chúng.

Hai ngày chiến đấu, ta diệt hơn 100 tên, bắn rơi ba máy bay trực thăng, thu một khẩu AR15, mười mìn định hướng.

Trận Đồi Tranh đánh dấu bước trưởng thành của Đại đội 1 trong vận dụng chiến thuật vận động tiến công, nó cũng đánh dấu sự phát triển chiến thuật trong kháng chiến.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:09:59 pm
TRẬN KON HƠ RINH CỦA TIỂU ĐOÀN 5 TRUNG ĐOÀN 24
(21.3.1969)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 bộ đội Mặt trận Tây Nguyên nhằm đánh vào trận địa pháo 105mm của địch ở ấp Kon Hơ Rinh (nay thuộc xã Diên Bình, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum).

Nhận lệnh tiêu diệt lực lượng bảo an, bình định và dân vệ ở ấp Kon Hơ Rinh, nhưng khi trinh sát, tiểu đoàn phát hiện trận địa pháo 105mm của địch. Được trung đoàn cho phép, tiểu đoàn đã chuyển sang diệt đơn vị pháo.

1 giờ 30 phút ngày 21, được lệnh các hoả lực ĐKZ, cối, B41, B40, 12,7mm, đại liên đồng loạt bắn vào các mục tiêu. Cối 82mm bắn dồn dập vào khu trung tâm phía bắc ấp, sau đó chuyển làn về phía nam - đông nam.

Trên hướng chủ yếu, các hoả lực ĐKZ, B40, B41... diệt các mục tiêu ở tiền duyên ngay từ phút đầu, làm nhiều nhà cháy. Tiếp đó Đại đội 6 nhanh chóng thọc sâu vào trận địa pháo. Quá trình phát triển ta đã diệt xe tăng, ôtô, dùng bộc phá phá huỷ hoàn toàn 3 khẩu pháo 105mm; dùng AK, thủ pháo diệt địch đang nằm trên võng và trong nhà bạt.

Trên hướng Đại đội 7, các loại hoả lực đồng loạt diệt các mục tiêu phía tây làm nhiều nhà bốc cháy. Sau đó Đại đội 7 chia thành hai mũi đánh vào khu nhà lính. Mũi 1 tiến về phía đông nam bị địch ngăn chặn nên tốc độ chậm lại. Mũi 2 đánh lên phía đông bắc, dùng B40 phá hủy một khẩu pháo 105mm, nhưng bị địch ở khu vục nhà thờ chống cự nên không phát triển được. Đến 2 giờ ngày 21 tháng 3, Đại đội 7 thấy phía trận địa phía bắc đã im tiếng súng, thông tin bị đứt nên cũng tự cho bộ đội lui quân.

Hướng Đại đội 5, do bị hai khẩu đại liên ở các lô cốt phía đông bắn mạnh vào đội hình làm một số cán bộ, chiến sĩ thương vong ngay từ phút đầu. Thấy Đại đội 5 gặp khó khăn, trung đoàn cho phép tiểu đoàn đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. Nhưng do tổ chức thiếu chu đáo, nên bộ đội đột phá yếu, không qua được hàng rào. Trong khi đó hướng bắc và hướng tây đã im tiếng súng, địch cơ động và tập trung lực lượng ngăn chặn Đại đội 5.

Trước tình hình đó, tiểu đoàn lệnh cho cối 82mm, 12.7mm và đại liên bắn chặn và bắn chia cắt địch ở phía nam lên phản kích. Nhưng đạn súng cối hết, đại liên và 12,7mm bắn chặn nhưng kém hiệu quả. Đại đội 6 được lệnh quay lại mở mội mũi lừ phía tây đánh vào nhưng đại đội đã lui ra xa. Tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 7 đánh vào phía sau, nhưng đường dây liên lạc bị dứt nên Đại đội 7 không nhận được lệnh.

Thấy không còn khả năng đột phá nữa, tiểu đoàn ra lệnh cho các phân đội lui quân.

Trận đánh kết thúc, hàng chục quân địch bị diệt, 4 khẩu pháo 105mm bị phá huỷ, 2 xe tăng và 3 xe M113 bị bắn cháy, nhiều đồ dùng quân sự bị phá huỷ.

Trán đánh thắng lợi đánh dấu bước trưởng thành của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 5 trong vận dụng chiến thuật tập kích.

TRẬN ĐIỂM CAO 467 CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 21 TRUNG ĐOÀN 28
(25.3.1969)

Trận tập kích của Đại đội đặc công 21 Trung đoàn 28 được tăng cường một khẩu cối 60mm, nhằm đánh vào đại đội B của địch ở khu đồi cao tây nam điểm cao 467 (nay thuộc xã Mô Rây, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum).

Ngày 19 tháng 3, đại đội nhận lệnh về tây nam điểm cao 467 đánh địch.

12 giờ ngày 25 tháng 3, tiểu đội cơ động của Đại đội 21 và hai trung đội thuộc Đại đội 6 nổ súng đánh vào đội hình đại đội B địch. Bị đánh bất ngờ, một số tên chết, còn đại bộ phận địch vượt qua suối lên chiếm đồi cao phía tây điểm cao 467 khoảng 1.000m, hạ cây làm vật cản và công sự phòng ngự. Quân ta truy kích đến bờ suối Đak Rơ Koy thì bị một bộ phận địch bên bờ tây suối bắn chặn, phải dừng lại. Các chiến sĩ Đại đội 6 quay về phía nam, chỉ còn tiểu đội cơ động của Đại đội 21.

Từ 13 giờ đến 15 giờ, ta và địch nổ súng giằng co ở khu vực Suối Đak Rơ Koy.

15 giờ 5 phút, các mũi cơ động tiếp cận theo phương án. Khẩu cối 60mm triển khai trận địa phía bắc - tây bắc phía sau mũi giữa khoảng 100m. Tổ trinh sát và tổ cơ động chặn đánh địch ở phía đông nam suối. 15 giờ 25 phút các mũi chiếm lĩnh xong trận địa. Đại đội trưởng cho 60mm bắn vào mục tiêu đã định.

Khi cối 60mm vừa dứt, các mũi xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Mũi giữa đánh dọc theo sống núi thọc thẳng vào giữa trận địa địch, diệt khẩu đại liên, bộ phận thông tin và diệt được tên thiếu tá cùng toàn bộ chỉ huy đại đội B địch, sau đó đánh toả ra các mục tiêu xung quanh. Phối hợp với mũi giữa, hai mũi bên phải và bên trái cũng đánh mạnh vào hai bên sườn chia cắt đội hình địch, diệt nhiều tên.

Bị đánh bất ngờ, mãnh liệt nên địch chống đỡ yếu ớt, bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại hốt hoảng bỏ trận địa pháo chạy về phía nam và phía tây. Nhưng khi chạy đến bờ suối Đak Rơ Koy, chúng bị lực lượng trinh sát và tổ cơ động đánh chặn quyết liệt, phải chạy về đồi cao. Các mũi của ta khép chặt đội hình bao vây diệt gọn quân địch.

Sau 30 phút chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu đại đội B địch, diệt 80 tên, thu 17 súng các loại.

Đây là trận tập kích với quyết tam rất cao, rất táo bạo, tổ chức chiến đấu nhanh, sáng tạo, hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch ban ngày nên hiệu suất chiến đấu cao.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:10:38 pm
TRẬN KINH SÁU NGÀN RƯỠI CỦA DU KÍCH XÃ TÂN HÒA VÀ CÔNG AN HUYỆN CHÂU THÀNH
(26.3.1969)

Trận phục kích của du kích xã Tân Hòa và công an huyện Châu Thành (30 du kích và 14 công an); đánh một trung đội thám báo và đại đội bảo an 649 ở trục kinh Sáu Ngàn Rưỡi (đoạn giữa kinh Bờ Xoài và kinh Sáu Thước) thuộc xã Tân Hoà, quận Thuận Nhơn (nay là huyện Châu Thành), tỉnh Phong Dinh (nay là tỉnh Cần Thơ); nhằm tiêu diệt địch, hạ uy thế của chúng, giữ vững địa bàn, bảo vệ cán bộ và cơ sở cách mạng, giải phóng nhân dân, phá thế kìm kẹp, làm thất bại kế hoạch bình định của địch.

18 giờ ngày 26 tháng 3, du kích và công an hành quân vào vị trí chiến đấu, đào công sự, sẵn sàng đánh địch.

23 giờ 30 phút, toàn bộ lực lượng địch đã lọt vào trận địa, khi bộ phận đi đầu cách bộ phận chặn đầu khoảng 20m, phân đội 1 bất ngờ đồng loạt nổ súng tiêu diệt địch trên bờ kinh và bắn quét dưới lòng kinh không cho chúng lợi dụng ẩn nấp chống cự. Phân đội 3 khi nổ súng đã nhanh chóng vận động lên diệt địch đi sau đội hình, đồng thời triển khai lực lượng chốt chặn không cho địch rút chạy trở lại. Phân đội 2 đồng loạt xung phong đánh thẳng vào đội hình địch. Sau 25 phút chiến đấu, ta diệt khoảng 40 tên địch, số địch còn lại chia thành từng tốp lợi dụng bờ kinh co cụm chống cự quyết liệt.

23 giờ 45 phút, ta dùng một trung liên bắn quét dưới lòng kinh chế áp địch; đồng thời tổ chức các tổ lợi dụng bờ kinh, bí mật tiếp cận, dùng hoả lực cá nhân kết hợp với thủ pháo, lựu đạn diệt địch trên bờ kinh.

Sau gần 40 phút chiến đấu, 70 tên địch bị diệt, 20 tên khác bị thương. Ta thu 25 súng các loại, hai máy thông tin PRC25 và nhiều đồ dùng quân sự. Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, loại khỏi vòng chiến đấu một đơn vị ác ôn khét tiếng gian ác, có nhiều nợ máu với nhân dân, giữ vững địa bàn, làm thất bại kế hoạch bình định các xã Tân Hòa, Trường Long của địch.

TRẬN THANH LÂM - LỘ BÀN CỦA ĐẠI ĐỘI 3 TIỂU ĐOÀN 2
(29.3.1969)

Trận vận động phục kích của Đại đội 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5 (25 người của Trung đội 1 và Trung đội 2), trang bị một khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu B41, hai khẩu trung liên; nhằm đánh vào lực lượng địch đi lùng sục trong khu vực, ngăn chặn hành lang của ta từ hướng tây xuống ở khu vực Thanh Lâm - Lộ Bàn (chân dãy núi Đá Cộ, Giồng Cộ) thuộc huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi.

6 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1969, trinh sát phát hiện một trung đội địch ở Gò Chùa. 10 giờ, địch từ Gò Chùa đi về hướng Đại đội 3, năm tên vào làng bắn nghi binh vào phía đông Xóm 20, cùng lúc trinh sát báo có địch men theo suối vào trận địa phục kích của ta. Đại đội lệnh trung đội 1 để địch vào thật gần nổ súng, hai tổ bố trí ở Xóm 20 xuất kích đánh vào giữa đội hình địch và khoá đuôi, không cho chúng chạy về phía sau. Quân địch rối loạn, chống đỡ lúng túng. Sau 4 phút chiến đấu, ta diệt gọn trung đội địch.

Theo hiệp đồng, trung đội 2 vừa xuất kích thì phát hiện một trung đội địch từ Gò Chùa đang tiến vào trận địa đồng thời cho pháo bắn mạnh vào trận địa của Trung đội 1 để cho quân vào lấy xác. Để địch lọt vào trận địa, trung đội nổ súng, tổ khoá đuôi dùng trung liên quét dọc đội hình địch, tổ 2 xuất kích đánh vào giữa đội hình làm nhiều tên chết và bị thương; số địch còn lại chạy về hướng Trung đội 1. Trung đội 1 cho các tổ xuất kích, hiệp đồng với Trung đội 2 diệt số địch còn lại.

12 giờ, hai chiếc HU-1A đánh vào trận địa. 13 giờ 30 phút, tám xe bọc thép đi vào bắc Xóm 20. Tiểu đoàn lệnh cho đại đội dùng ĐKZ và B41 diệt xe bọc thép; ba chiếc bị bắn cháy, số còn lại chạy về Gò Hội. Ta truy kích diệt thêm một chiếc. Máy bay HU-1A đến bắn phá vào trận địa; ta bắn rơi một chiếc.

Một ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu 65 tên địch; bắn cháy 4 xe bọc thép, một máy bay trực thăng HU-1A; thu 15 súng các loại, ba máy thông tin PRC25 và một số quân dụng.

Nhờ phán đoán địch chính xác, bố trí trận địa phục kích bí mật, sử dụng lực lượng phù hợp; vận dụng tốt hành động, thủ đoạn chiến đấu, thực hiện đánh gần, chớp thời cơ xuất kích tiêu diệt địch nên trận đánh kết thúc nhanh, giành thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:11:17 pm
TRẬN ĐIỂM CAO 600 CỦA TIỂU ĐOÀN 4
(9.5.1969)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Mặt trận Tây Nguyên nhằm tiêu diệt tiểu đoàn hỗn hợp địch tại điểm cao 600 Làng Giả, góp phần phá kế hoạch “bình định” của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

Điểm cao 600 thuộc khu vực Ia Phí, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai, cách tây bắc thị xã Plây Cu khoảng 27km về hướng bắc - tây bắc, khống chế được khu vực rộng lớn ở tây đường 14.

Chiếm giữ điểm cao 600 là một tiểu đoàn hỗn hợp địch có hai đại đội bộ binh, một đại đội pháo 105mm, một đại đối cối 106,7mm, ba xe tăng, một ban chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội chỉ huy. Toàn bộ cứ điểm có khoảng 200 công sự các loại bằng gỗ đất và bao cát, làm nửa chìm, nửa nổi; hệ thống lô cốt kiên cố, bố trí xen kẽ giữa các công sự chiến đấu. Xung quanh cứ điểm có ba lớp hàng rào kẽm gai bảo vệ.

Tiểu đoàn bộ binh 4 có ba đại đội bộ binh, một đại đội hoả lực và các phân đội phục vụ. Quân số tham gia trận đánh có 94 người, ngoài ra còn có hoả lực của trung đoàn gồm: một đại đội cối 82mm, một đại đội ĐKZ 75mm, một đại đội 12 7mm. Tiểu đoàn tổ chức thành bốn bộ phận: Đại đội 1 tiến công trên hướng chủ yếu; Đại đội 3 tiến công trên hướng thứ yếu; Đại đội 2 làm lực lượng dự bị; bộ phận hoả lực chi viện chung.

Sau khi các hướng, mũi triển khai đội hình, bí mật cắt gỗ hàng rào tiếp cận áp sát mục tiêu, mũi 1 bò vào sát lô cốt thì bị địch phát hiện buộc ta phải nổ súng. Nghe tiếng súng nổ, trên các hướng quân ta đạp rào xông lên, ngay từ đầu ta đã dùng B40, B41 diệt được lô cốt đầu cầu, nhà chỉ huy, khu thông tin, trận địa pháo cối địch... Bị đánh bất ngờ, địch không kịp phản ứng, thông tin chỉ huy bị tê liệt. Trên hướng chủ yếu, đại đội trưởng chỉ huy bộ đội đánh thẳng vào khu chỉ huy sở, dùng thủ pháo, lựu đạn diệt các cụm lô cốt và công sự chiến đấu. Khi phát triển đến gần sở chỉ huy địch thì bị hoả lực địch ngăn chặn. Trên hướng thứ yếu, địch sống sót bắt đầu chống trả quyết liệt. Máy bay và pháo binh địch bắn phá dữ dội vào trận địa, quân ta bị thương vong một số, không phát triển được, phải dừng lại.

Nhận thấy không có khả năng dứt điểm trước khi trời sáng, quân ta chủ động kết thúc trận đánh.

Sau 45 phút chiến đấu, ta diệt 250 tên địch, phá huỷ bốn khẩu pháo 105mm và cối 106,7mm. Chiến thắng ở điểm cao 600 Làng Giả hỗ trợ cho chiến dịch Đắc Tô 2 giành thắng lợi, đồng thời sáng tạo ra một cách đánh mới có hiệu suất cao - “đánh theo chiến thuật đặc công” cho các đơn vị bộ binh trên chiến trường vận dụng.

TRẬN GÒ CHÙA CỦA ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 18
(12.5.1969)

Trận tập kích chuyển sang lâm thời phòng ngự của Đại đội 1 Tiểu đoàn 18 Trung đoàn 38 Mặt trận Quảng Đà, trang bị hai khẩu cối 60mm, bốn khẩu B41, bốn khẩu B40, còn lại là trung liên và tiểu liên; đánh vào một đại đội địch đóng quân dã ngoại tại Gò Chùa, Phú Nhuận, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà (nay là Quảng Nam); nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch của địch hành quân càn quét, đánh phá phong trào cách mạng địa phương.

2 giờ ngày 12 tháng 5, đại đội hành quân vào vị trí xuất phát tiến công. 4 giờ 30 phút các mũi đang triển khai đội hình tiếp cận mục tiêu, mũi đi giữa hướng chủ yếu nổ súng, cối 60mm bắn vào đội hình địch; tiếp đó, những mũi đã tiếp cận xung phong đánh địch. Nhưng còn một số mũi cách địch 100 đến 150m, thấy trời gần sáng, do tư tưởng ngại chiến đấu ban ngày nên tự động lui ra không hiệp đồng đánh địch theo dự kiến. Mũi đi giữa hướng chủ yếu sau khi nổ súng diệt địch không thấy các mũi khác tiến công cũng lui ra.

5 giờ ngày 12 tháng 5, tại trận địa ban chỉ huy đại đội nắm được 29 người và một khẩu cối 60mm, hai khẩu B41, thực hiện quyết tâm của tiểu đoàn, động viên bộ đội bám đánh địch ban ngày; triển khai đội hình chiếm một đoạn hào phía tây trận địa. 5 giờ 30 phút, một trung đội địch ở hướng bên trái đánh vào. Ta dùng cối 60mm đánh vào đội hình quân địch, diệt một số tên, những tên còn lại chạy về phía sau. Địch dùng cối, đại liên, phóng lựu, trực thăng vũ trang và pháo bắn vào trận địa ta, làm hai người bị thương. 6 giờ 30 phút, địch cho một trung đội đánh vào bên phải đội hình. 7 giờ, địch phát hiện vị trí bố phòng của ta, chúng dùng phi pháo bắn phá làm một số công sự bị sập. 7 giờ 20 phút, hai trung đội địch chia làm hai mũi đánh vào trận địa. Chỉ huy đại đội động viên bộ đội kiên quyết chiến đấu, để địch vào thật gần dùng tiểu liên, lựu đạn diệt địch, làm nhiều tên chết và bị thương, chúng phải lùi ra xa. 9 giờ, địch dùng một trung đội tiến công vào, chiến sĩ ta bắn tỉa diệt một số, địch co về. 10 giờ, một trung đội địch vào thôn lấy nước bị Đại đội 2 diệt 15 tên, số còn lại chạy ra cánh đồng. 11 giờ, một trung đội địch từ Gò Sét thành 3 mũi đánh vào sau lưng. Đại đội để hai tổ chặn địch phía trước, lực lượng còn lại tập trung đánh địch vu hồi, diệt một số tên, số địch còn lại vội chạy ra cánh đồng. Đến 15 giờ, địch cho một trung đội đánh vào hướng bên phải, lúc này số thương vong của ta lên đến 10 người. Đại đội điều một tổ vòng sang đánh vào bên sườn phải buộc địch phải rút về Gò Chùa co cụm. Ta giải quyết thương binh, tử sĩ và lui quân.

Sau một ngày vừa tập kích, vừa lâm thời phòng ngự, ta diệt 162 tên địch, thu một khẩu súng ngắn, một khẩu phóng lựu, một khẩu đại liên, 11 tiểu liên.

Trận đánh để lại kinh nghiệm quý về chuyển hóa cách đánh từ “tập kích không thành, sang phòng ngự lâm thời” để thực hiện bằng được nhiệm vụ trên giao; về kịp thời xử trí các tình huống, dũng cảm đánh gần để tiêu diệt địch, hạn chế thương vong, tiết kiệm đạn dược.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:12:02 pm
TRẬN PHƯỚC AN CỦA TIỂU ĐOÀN 9 TRUNG ĐOÀN 31
(13 - 14.5.1969)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 31 (thiếu Đại đội 11); đánh vào một đại đội địch đang càn quét ở xã Phước An, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; nhằm tiêu diệt quân địch, tạo điều kiện để trung đoàn phát triển chiến đấu thuận lợi.

Thực hiện kế hoạch càn quét vào khu vực Phước An, Phước Hiệp, 8 giờ ngày 13 tháng 5, quân địch chia làm hai hướng, một hướng vượt qua bắc điểm cao 388 hướng về cầu Nước Sôi; một hướng đi theo sườn đông sông Tràm. Đến 10 giờ, cánh thứ hai lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn, tổ mai phục của Đại đội 10 nổ súng diệt một số tên. Được súng cối và đại liên chi viện, đại đội cho 3 tổ xuất kích đánh mạnh vào bên sườn, phía sau diệt khoảng 20 tên địch, buộc chúng phải co lại gọi phi pháo đánh vào trận địa của ta.

16 giờ, địch chia làm hai mũi tiến công. Các chốt để địch tiến vào gần mới nổ súng tiêu diệt nhiều tên, địch lui ra gọi phi pháo đánh phá chuẩn bị, rồi tổ chức xung phong tiếp để lấy xác, nhưng đều bị các chốt của ta chặn đánh, tiêu diệt thêm một số, chúng phải bỏ về phía sau. Đồng thời tiểu đoàn cho lực lượng xuất kích bao vây tiêu diệt địch ở ven suối. Các đại đội 9, 10 cho các tổ xuất kích diệt hơn 10 tên. Địch cho máy bay trực thăng đến ngăn chặn nên các mũi xuất kích phải quay về trận địa. Khoảng 17 giờ 15 phút, địch tập trung hoả lực đánh phá vào các trận địa, cho trực thăng hạ cánh lấy xác. Cối 82mm và súng máy cao xạ bắn cháy, bắn rơi hai chiếc. Trời tối, địch lui ra phía đông sông Tràm, khoảng 70 tên địch bị diệt, 3 máy bay trực thăng bị bắn rơi. Do không nắm chắc địch nên ta không tổ chức tập kích được chúng.

Ngày 14 tháng 5, từ 6 giờ 30 phút địch cho máy bay đánh phá vào các xóm 3, 4, 5 và thả lương thực cho lực lượng còn lại, bị hoả lực phòng không của ta bắn rơi một máy bay trực thăng.

8 giờ, địch từ đông nam suối tiến về thôn 5, các chốt để địch đến gần đồng loạt nổ súng diệt một số tên. Địch lùi lại dùng cối, đại liên bắn vào chốt, hoả lực các loại máy bay, pháo binh đánh quyết liệt vào trận địa ta tới 11 giờ. Đơn vị súng máy phòng không 12,7mm bắn cháy liên tiếp hai máy bay trực thăng HU-1A.

Qua nhiều đợt tiến công không thành, địch dạt sang sườn bắc suối chiếm nơi tiếp giáp giữa thôn 4 và 5 tạo ưu thế tiến công. Đại đội 9 cho 3 tổ xuất kích nổ súng diệt một số tên. Địch bị bất ngờ, tháo chạy lẩn vào các bụi cây ven suối, các tổ xuất kích bám theo truy lùng địch, chúng gọi phi pháo chi viện, đánh phá vào các xóm để ngăn chặn lực lượng ta. Tới 17 giờ, chúng tập trung hoả lực lần cuối, dùng đạn khói bắn vào các trận địa, để che tầm quan sát của ta. Cánh quân của địch ở hướng Gò Gai đến chi viện theo đường 531 bị Đại đội 11 và Đại đội 9 ngăn chặn, bọn địch bên trong lợi dụng thời cơ luồn qua nơi tiếp giáp giữa thôn 4 và 5 nhưng bị chốt Đại đội 10 đánh chặn, chúng phải quay vòng ra phía nam đường 531 về Gò Gai.

Trong ngày 14, tiểu đoàn bao vây đánh địch bên trong, ngăn chặn địch chi viện, diệt khoảng 40 tên, bắn cháy ba máy bay HU-1A, ta thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng.

Qua hai ngày chiến đấu, ta diệt khoảng 110 tên địch, bắn rơi 6 máy bay, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

Nhờ nắm được quy luật hành quân càn quét của địch nên ta chuẩn bị được phương án thích hợp; chọn và xây dựng được các điểm chốt chặn hợp lý, diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí.

TRẬN LÀNG NĂM CỦA TIỂU ĐOÀN 3 TRUNG ĐOÀN 14
(23.5.1969)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14 Sư đoàn 7, đánh vào đoàn xe tăng địch có bộ binh đi cùng trên đoạn đường đất đỏ từ Làng Bốn đến Làng Sáu (nay thuộc xã Thanh Bình, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước); nhằm tiêu diệt địch, phá huỷ phương tiện chiến tranh của chúng.

7 giờ 15 phút, một đoàn xe tăng của trung đoàn 2 sư đoàn 1 địch đi cùng hướng Sở Tư chạm đội hình của Đại đội 25 đặc công bị ta bắn cháy một xe, địch vòng xuống nam Sở Tư.

8 giờ, địch chia làm bốn mũi tiến vào trận địa phục kích của tiểu đoàn. Đợi địch vào thật gần ta mới nổ súng, tiếp đó các đại đội tổ chức từng tổ, mũi nhỏ chặn đầu, đánh vào bên sườn và chính diện đội hình quân địch. Sau một giờ chiến đấu, tiểu đoàn diệt được 11 xe tăng địch. Bị đánh thiệt hại nặng, địch lùi về phía sau củng cố đội hình, chúng dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào trận địa của tiểu đoàn.

10 giờ 30 phút, sau khi dùng không quân đánh phá ác liệt vào trận địa của các đơn vị, địch tiếp tục tiến theo trục đường đến trước trận địa của các đại đội 13 và 11. Đồng thời 28 xe tăng địch từ Xa Cam chia thành 3 mũi tiến công vào trận địa của Đại đội 12. Được lệnh, các đại đội chia thành nhiều mũi ngăn chặn và đánh vào bên sườn, phía sau, diệt thêm nhiều xe địch. Bị đánh mạnh, địch lui ra dùng phi pháo đánh phá vào trận địa ta. Để tạo thế đánh mới, tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 12 di chuyển trận địa lên phía bắc khoảng 300 đến 400m, Đại đội 13 cơ động sang đông đường triển khai bờ nam suối Ma, Đại đội 11 diệt đội hình lên Làng Năm.

Sau 50 phút bắn phá ác liệt vào trận địa ta, 12 giờ 4 phút, địch tiếp tục sử dụng xe tăng, bộ binh chia thành nhiều mũi tiến công vào các trận địa của các đại đội. Chờ địch đến thật gần, các đại đội xuất kích, tổ chức nhiều mũi đánh vào bên sườn, kết hợp chính diện để tiêu diệt chúng. Sau 25 phút chiến đấu, quân ta bắn cháy 6 xe tăng địch, buộc chúng phải lùi ra dùng phi pháo đánh phá vào trận địa ta.

Nhận thấy mục tiêu chiến đấu đã hoàn thành, hơn nữa quân số, trang bị của ta đã giảm, địch có thể tăng cường lực lượng tiếp tục tiến công, tiểu đoàn trưởng lệnh các đơn vị thu quân, rời khỏi trận địa.

Một ngày chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt 280 tên địch, bắn cháy 30 xe tăng, thu một số vũ khí.

Trận Làng Năm thắng lợi nhờ giữ vững được bí mật bất ngờ, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, xuất kích đúng thời cơ, áp sát tiêu diệt địch; khéo lừa địch, kết thúc trận đánh đúng lúc; tổ chức lui quân nhanh, gọn, hạn chế được thương vong do bom pháo địch ngăn chặn.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:12:45 pm
TRẬN IA TÔ VE CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 6 TRUNG ĐOÀN 24
(28.5.1969)

Trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 Trung đoàn 24 Mặt trận Tây Nguyên, nhằm đánh vào hai đoàn xe chiến đấu của địch, trên đường 14A đoạn từ cầu Ia Tô Ve đến nam Tà Uẩn (nay thuộc xã Ia Khươi, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai).

Sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, đêm 27 tháng 5, tiểu đoàn vào chiếm lĩnh trận địa.

6 giờ ngày 28 tháng 5, các đại đội 10, 11 và các phân đội hoả lực sẵn sàng nổ súng đánh địch.

Từ 7 giờ đến 8 giờ ngày 28 tháng 5, pháo địch từ Hreng bắn mạnh về phía sau trận địa, cùng lúc 18 xe tăng từ Kon Tum xuống chốt đường gần cầu Ia Tô Ve, phía trước trận địa ta.

Từ 9 giờ 30 phút đến 10 giờ 45 phút, có ba đoàn xe vận tải chạy qua trận địa, nhưng tiểu đoàn quyết định đánh các đoàn xe chiến đấu của địch, nên động viên bộ đội giữ bí mật chờ địch.

10 giờ 45 phút ngày 28 tháng 5, đoàn xe thứ tư gồm 45 chiếc tiến vào trận địa, lập tức đơn vị chặn đầu nổ súng. Từ các hướng, các mũi bộ binh đồng loạt nổ súng, các tổ diệt tăng đánh vào các cụm xe diệt nhiều chiếc, cối 60mm bắn dồn dập vào đoàn xe trên đường, cùng lúc cối 82mm bắn vào chốt Ia Tô Ve. Chớp thời cơ, các mũi chính diện, chặn đầu, khoá đuôi đồng loạt xung phong, dùng lựu đạn, thủ pháo, B40, B41 diệt hết chiếc này đến chiếc khác. Trong 30 phút chiến đấu, các đại đội 10, 11 đã diệt gọn đoàn xe địch trên đường và các cụm xe tăng chốt trước mặt, nhiều tên địch bỏ xác tại trận, chỉ còn một số ít liều mạng chạy thoát về hướng đông.

Trên hướng Đại đội 9, mặc dù đã triển khai đội hình sát đường 14, nhưng đoàn xe địch dừng lại ở nam chốt 738 đến Hreng nên không đánh được.

11 giờ 45 phút, tiểu đoàn lệnh các đại đội 10, 11 lui về triển khai theo kế hoạch. Kết quả trận thứ nhất ta diệt 21 xe tăng và xe M113, 13 xe vận tải và hơn 100 tên địch.

Ngay sau khi trận thứ nhất kết thúc, Tiểu đoàn 6 không theo quy luật các trận khác là cho bộ đội lui quân, mà đưa Đại đội 11 về trận địa sẵn sàng đánh trận tiếp theo. Đại đội 10 và Đại đội 9 về phía tây vị trí chỉ huy tiểu đoàn triển khai đội hình sẵn sàng đánh địch ứng cứu từ Chư Thoi, điểm cao 865, làng Ó, làng Ốp và phía tây nam. Hoả lực cối, phòng không lui về trận địa dự bị.

13 giờ 10 phút, một đoàn xe 20 chiếc, tiếp đó đoàn xe thứ hai gồm 30 chiếc từ Kon Tum đi về trận địa ta. 13 giờ 30 phút, Đại đội 11 xuất kích.

14 giờ 15 phút, bộ đội tiếp cận sát đường, ngay sau đó, một đoàn xe tải 12 chiếc chở đầy lính từ Plây Cu lên lọt vào trận địa ta. Do hiệp đồng không kỹ nên bộ đội không đánh. 14 giờ 50 phút, đoàn xe thứ ba từ Kon Tum tiến vào trận địa. Đi đầu gồm 5 chiếc M113 chở đầy lính, tiếp đó là xe tải. Theo hiệp đồng, bộ phận chặn đầu đã nổ súng diệt chiếc xe thiết giáp ngay từ quả đạn đầu. Sau khi dùng B40, B41 diệt các xe tăng và xe thiết giáp tiếp theo, bộ đội đồng loạt xung phong, đánh vào đoàn xe địch ùn tắc, diệt 9 xe tăng và M113, 7 xe GMC, hai xe chở xăng, bắn rơi hai trực thăng và diệt hàng chục quân địch.

Nắm chắc quy luật của địch, Tiểu đoàn 6 đã tổ chức liên tiếp hai trận phục kích ở một địa điểm, phá huỷ 52 xe quân sự (có 30 xe tăng và xe M113), bắn rơi hai trực thăng, loại khỏi vòng chiến đấu 170 tên địch.

Chiến thắng Ia Tô Ve cho thấy: Khi tổ chức phục kích trên đoạn đường địch đã bị đánh nhiều lần, phải nắm vững quy luật hoạt động của địch, triệt để lợi dụng sơ hở của chúng, vận dụng cách đánh táo bạo, linh hoạt, tạo được bất ngờ và chủ động tiến công địch. Đánh giao thông trong vùng địch hậu, phải tổ chức lực lượng tinh gọn, trang bị hợp lý, bảo đảm đánh liên tục đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:13:46 pm
TRẬN THÔN 10 CỦA TIỂU ĐOÀN 2
(2-9.6.1969)

Trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (được tăng cường một đại đội súng máy phòng không 12,8mm); đánh vào tiểu đoàn 1 trung đoàn 501 sư đoàn dù 101 địch ở thôn 10 - xã Phước Tiên, huyện Tiên Phước và một phần thôn 7 - xã Kỳ Quế, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nhằm kìm chân tiêu diệt, đánh bại các cuộc tiến công của địch, giữ bàn đạp, tạo điều kiện cho trung đoàn đưa lực lượng vào chiến đấu.

Ngày 2 tháng 6 năm 1969, địch dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào thôn 10 - xã Phước Tiên và thôn 7 - xã Kỳ Quế, chúng dùng trực thăng đổ tiểu đoàn 1 trung đoàn 501 sư đoàn dù 101 xuống các khu vực Bàn Quân, Sủng Mè, từ đây chúng nống ra vùng giải phóng, giải toả cho lực lượng đang bị ta vây hãm ở Tam Kỳ, Tiên Phước.

Nhận nhiệm vụ tiêu diệt địch, Tiểu đoàn 2 sử dụng Đại đội bộ binh 1 tổ chức một chốt ở đồi C, lực lượng còn lại triển khai ở sườn nam đồi C, sẵn sàng cơ động đánh địch ở đồi Ông Hà, Sủng Mè, Bàn Quân tiến công lên. Đại đội bộ binh 2 bố trí ở đông nam đồi C, đánh địch từ Sủng Mè, Bàn Quân xuống và từ thôn 7 - xã Kỳ Quế lên. Đại đội bộ binh 3 triển khai sau đội hình các đại đội 1 và 2 làm lực lượng cơ động của tiểu đoàn, sẵn sàng đánh địch từ thôn 8 - xã Kỳ Sơn lên. Các phân đội hoả lực bố trí gần các đại đội 1, 2, trực tiếp chi viện chiến đấu.

7 giờ ngày 2 tháng 6, trực thăng vũ trang bắn phá khu vực thôn 10 - xã Phước Tiên, khu vực Đồi Tranh, Sủng Mè, Bàn Quân. 12 giờ địch đổ quân xuống Bàn Quân, lực lượng phòng không bắn rơi 4 máy bay.

8 giờ 30 phút ngày 3 tháng 6, một cánh quân (khoảng 1 trung đội địch) từ Bàn Quân tiến vào khu vực trận địa của Đại đội 2. Bị ta đánh bất ngờ, một số tên chết, số địch còn lại chạy ra xa yêu cầu phi pháo đánh phá, sau đó chúng vào lấy xác đồng bọn.

12 giờ cùng ngày, một bộ phận địch đi về phía bắc Sủng Mè bị ta chặn đánh diệt 10 tên, địch lùi ra xa, dùng hoả lực bắn vào trận địa cho tối tối. Từ ngày 4 đến ngày 6, địch dùng phi pháo đánh phá, dùng lực lượng nhỏ đánh vào các chốt. Mặc dù lực lượng còn mỏng nhưng quân ta vẫn kiên cường bám trụ, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, kết hợp với các lực lượng cơ động giữ vững chốt. Dùng lực lượng nhỏ không kết quả, từ ngày 6 tháng 6, địch tăng cường hoả lực đánh phá, đồng thời dùng nhiều mũi tiến công vào trận địa chốt của ta. Kết hợp với lực lượng chốt giữ chặn đánh địch tiến công vào trận địa, Tiểu đoàn 2 tổ chức lực lượng cơ động đánh vào bên sườn, phía sau đội hình địch tiến công, diệt nhiều tên.

Đêm ngày 9 tháng 6, một đại đội của Tiểu đoàn 1 vào thay, Tiểu đoàn 2 lui về sau củng cố.

Sau 8 ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 2 đã diệt đại đội D, tiêu hao nặng đại đội C; loại khỏi vòng chiến đấu 165 tên, thu 19 súng các loại, bắn rơi 5 máy bay.

Trong điều kiện địch đổ quân bất ngờ, tiểu đoàn đã nhanh chóng xây dựng phương án chiến đấu, điều chỉnh lực lượng đánh địch kịp thời; đã nghiên cứu tổ chức chốt và lực lượng cơ động phù hợp, hiệp đồng chặt chẽ; sau mỗi đợt chiến đấu nhanh chóng rút kinh nghiệm, xốc lại lực lượng, củng cố trận địa tiếp tục chiến đấu; lợi dụng địa hình, bí mật, đánh gần, xuất kích lực lượng ít, diệt địch nhiều; cán bộ chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, kiên cường bám trụ, vượt qua khó khăn ác liệt, liên tục đánh địch.

TRẬN SỞ TƯ CỦA TIỂU ĐOÀN 3 TRUNG ĐOÀN 1
(12.8.1969)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, được tăng cường một khẩu ĐKZ 75mm. 4 khẩu súng máy phòng không 12,8mm, 10 cán bộ chiến sĩ công binh, nhằm đánh vào đoàn xe quân sự địch có bộ binh đi cùng giải toả cho quân địch ở Sở Tư nằm trong đồn điền cao su Xa Cát, thuộc xã Minh Đức, quận An Lộc, tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước).

1 giờ 30 phút ngày 12 tháng 8, các đơn vị chiếm lĩnh chuẩn bị xong, riêng Đại đội 11 đến 2 giờ 30 phút mới sẵn sàng chiến đấu được.

5 giờ, Đại đội 11 bắn hai quả H12 vào đồn bảo an, loại khỏi vòng chiến đấu một số địch. 6 giờ 30 phút, hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 địch chia thành hai mũi ra phản kích. Bị lực lượng ta đánh bật trở lại, địch dùng pháo bắn mạnh vào các ngã tư đường trong Sở và bìa lừng làng Năm, máy bay các loại quần đảo trên bầu trời khu vực.

7 giờ 17 phút, một đoàn xe địch khoảng 20 chiếc từ cua chữ S tiến vào làng Năm. Các đại đội 12, 13 được lệnh vận động ra đánh. Nhưng khi đến gần đường, 17 chiếc xe vượt qua, quân ta được lệnh bí mật trận địa. Đại đội 11 khóa đuôi bắn cháy một xe, sau đó được lệnh lui về vị trí giấu quân, giữ bí mật chuẩn bị đánh tiếp.

8 giờ, một đoàn xe khoảng 20 chiếc từ làng Năm chạy xuống làng Bốn. Đại đội 11 được lệnh cơ động ra mai phục tai dọc suối Xa Cam, đợi địch lên nổ súng chặn đầu, tạo điều kiện cho các đại đội diệt địch.

Khi tốp xe đi đầu vượt suối Xa Cam lên dốc, Đại đội 11 diệt một chiếc, tiếp đó nổ súng diệt bộ binh địch. Bị diệt chiếc đi đầu, đoàn xe dừng lại trước trận địa của các đại đội 12, 13. Lập tức hai đại đội nổ súng và xung phong thành nhiều mũi đánh vào bên sườn, chính diện diệt nhiều xe tăng, xe bọc thép và bộ binh địch.

Máy bay trực thăng địch bắn mạnh vào trận địa của tiều đoàn đoạn gần làng Năm. Trinh sát báo cáo có tiếng xe địch ở bắc làng Năm. Tiểu đoàn trưởng lệnh: các đại đội nhanh chóng thu dọn chiến trường, trở về công sự, chuẩn bị đánh địch tiếp.

Các đơn vị vừa về công sự được 15 phút, địch từ hai hướng thành nhiều mũi đánh vào trận địa các đại đội. Quân ta lợi dụng công sự đã chuẩn bị, kết hợp với xuất kích đánh vào bên sườn, phía sau diệt nhiều xe tăng, xe bọc thép, bộ binh địch.

15 giờ 30 phút, phi pháo địch đánh mạnh vào trận địa của tiểu đoàn. Được lệnh của trung đoàn, tiểu đoàn thu dọn chiến trường về vị trí tập kết.

Sau một ngày chiến đấu liên tục, hơn 400 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 50 xe tăng, xe bọc thép bị bắn cháy (chủ yếu là xe thiết giáp M113). Ta thu 28 khẩu súng các loại, giải phóng 4.000 dân trong ấp Sở Tư khỏi sự kìm kẹp của địch.

Trận Sở Tư là một trong những trận tiêu biểu về nghiên cứu chuẩn bị chiến trường tỷ mỷ, dự kiến các tình huống sát thực tế chiến đấu, hạ quyết tâm và sử dụng lực lượng chính xác, bố trí đội hình thành thế chân kiềng là phù hợp; giáo dục, động viên, giải quyết tư tưởng cho bộ đội trước và trong chiến đấu kịp thời, chủ động hiệp đồng phân đội nhỏ đánh địch; các cán bộ trung đội, đại đội gương mẫu, luôn đi đầu vượt mọi tình huống khó khăn.

Nét tiêu biểu của trận Sở Tư là tiêu diệt nhiều địch, phá nhiều xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự của địch; giải quyết thương binh, tử sĩ, thu dọn chiến trường nhanh, trong điều kiện phi pháo địch bắn mạnh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:14:25 pm
TRẬN CUA CHỮ S - XA CÁT CỦA TIỂU ĐOÀN 2 TRUNG ĐOÀN 1
(12.8.1969)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, được tăng cường sáu khẩu súng máy phòng không 12,8mm, một khẩu ĐKZ 57mm, nhằm đánh vào một chi Đoàn xe thiết giáp địch được tăng cường một đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn bộ binh 9, một đại đội vận tải. một trung đội pháo 105mm (3 khẩu), một trung đội cối 81mm, sở chỉ huy tiểu đoàn 1 và trung đoàn 15 thiết giáp ở căn cứ cua chữ S - Xa Cát thuộc Sở Tư - Xa Cát, huyện An Lộc, tỉnh Bình Long (nay là xã Minh Đức, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước).

Sau khi bám nắm được địch, 1 giờ ngày 12 tháng 8, các đại đội 7 và 8 bố trí xong, riêng Đại đội 6 và hoả lực cối 82mm đi lạc không tìm được (do Đại đội 6 bố trí sai vị trí quy định) nên tiểu đoàn trưởng quyết định không tiến hành hoả lực bắn trước; các đại đội được lệnh tiếp cận gần địch hơn, khi ĐB20 và H12 nổ, thực hành xung phong không chờ Đại đội 6 và phân đội cối 82mm.

1 giờ 5 phút ngày 12, ĐB20 và H12 bắn trúng sở chỉ huy địch ngay từ đầu. Lửa bốc cháy sáng rực cả trận địa. Lợi dụng kết quả tiến công, trên hướng các đại đội 7 và 8 mìn ĐH10 nổ phá rào, các hoả lực B40, B41, ĐKZ bắn dồn dập vào tiền duyên địch; bộ đội xung phong đánh chiếm các mục tiêu.

Sau 8 phút chiến đấu, các đại đội 7 và 8 chiếm được tường cũ, diệt nhiều xe thiết giáp. Lúc này, hướng Đại đội 8 địch chống cự mạnh hơn. Tiểu đoàn trưởng chỉ thị ngay cho các hướng phải lợi dụng bờ tường cũ, dùng hoả lực chống tăng, thủ pháo, lựu đạn diệt các xe trên hướng phát triển, nhanh chóng thọc sâu chiếm sở chỉ huy địch, đồng thời cử cán bộ xuống Đại đội 6 truyền lệnh của tiểu đoàn trưởng. Đến 1 giờ 16 phút Đại đội 6 báo cáo chiếm được tường cũ, địch chống cự mạnh, đơn vị đang tổ chức tiêu diệt.

Trước sức mạnh tiến công của ta, hầu hết bộ binh địch chui vào gầm xe chống cự lại ta. Để các hướng phát triển thuận lợi, tiểu đoàn lệnh cho các đại đội thọc sâu đánh nhanh, giải quyết trận đánh nhanh.

Từ các hướng, các đại đội thành nhiều mũi phát triển chiến đấu vào trung tâm. Địch cho hai trực thăng lên bắn vào hướng tiến công của Đại đội 6, pháo binh địch bắn rải rác bên ngoài. Tiểu đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 8 vòng trái, Đại đội 6 vòng bên phải, Đại đội 7 đánh thẳng hướng đông, động viên bộ đội đánh thật mạnh để dứt điểm nhanh. Trước sức tiến công mạnh của quân ta, nhiều xe tăng, xe thiết giáp địch bị diệt. Một số xe địch tháo chạy về hướng Tân Khai, Đại đội 6 vận động lên chặn đầu, diệt một số xe, số còn lại không dám tiến mà dùng hoả lực bắn vào trận địa.

2 giờ 40 phút, địch trong căn cứ cơ bản bị diệt, các đại đội bắt liên lạc được với nhau. Cùng thời gian này, tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh của trung đoàn tổ chức thu dọn chiến trường và lui quân.

Hơn một giờ chiến đấu, ta diệt 60 xe các loại (có 30 xe bọc thép), phá 3 khẩu pháo, bắn cháy 5 trực thăng; loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 450 tên, bắt 6 quân địch.

Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về vận dụng chiến thuật tập kích đánh vào cụm bộ binh và xe cơ giới của địch, nhất là những kinh nghiệm về nghiên cứu chuẩn bị chiến trường tỷ mỷ, tổ chức giáo dục, động viên bộ đội quán triệt nhiệm vụ sâu sắc, công tác bảo đảm chiến đấu tốt; giữ được bí mật, tạo được bất ngờ, chủ động hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ; các phân đội thực hiện các thủ đoạn chiến đấu (thọc sâu, bao vây, chia cắt), đánh vào vị trí chỉ huy và các mục tiêu quan trọng ngay từ đầu làm địch rối loạn, bị động đối phó, tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch, dứt điểm trận đánh nhanh.

TRẬN BÌNH PHÚ CỦA TIỂU ĐOÀN 6 TRUNG ĐOÀN 2
(12.8.1969)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 Sư đoàn 9, được tăng cường hai khẩu ĐKZ 75mm, ba khẩu 12,7mm, một tiểu đội công binh và 6 quả mìn chống tăng, nhằm đánh vào đoàn xe tăng có bộ binh đi cùng ứng cứu, giải toả cho quân địch ở ấp Bình Phú nằm trong sở cao su Bình Long, thuộc xã Thanh Bình, huyện An Lộc, tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước).

6 giờ 30 phút ngày 12 tháng 8, trinh sát phát hiện xe tăng địch từ An Lộc xuống nhưng không đi đúng phương án dự kiến của tiểu đoàn. Trước tình huống như vậy, tiểu đoàn nhanh chóng điều chỉnh đội hình các đại đội 11 và 13 đón đánh địch.

6 giờ 45 phút, đoàn xe địch lọt vào trận địa. ĐKZ 75mm nổ súng diệt được hai xe thì bị hỏng. Đại đội 13 vừa tổ chức đánh địch trước trận địa, vừa tổ chức những tổ đánh vào sườn phải của chúng. Hiệp đồng với Đại đội 13, các tổ đánh tăng của Đại đội 11 xuất kích đánh vào sườn trái của địch. Toàn bộ số xe đi đầu đội hình của địch nhanh chóng bị tiêu diệt.

7 giờ 20 phút, những xe còn lại phía sau tiếp tục dùng hoả lực bắn dữ dội vào trận địa, đồng thời chuyển hướng đánh vào cánh trái Đại đội 13.

Do hầu hết hoả lực chống tăng của Đại đội 13 đang tập trung bên cánh phải, nên địch lợi dụng sơ hở dàn hàng ngang tiến vào trận địa. Trước khó khăn, phức tạp của Đại đội 13, tiểu đoàn trưởng trực tiếp tập trung lực lượng thông tin, trinh sát tổ chức thành hai tổ diệt xe tăng cùng với Đại đội 13, Đại đội 11 bao vây, diệt 4 xe tăng địch.

Sau 45 phút chiến đấu, tiểu đoàn diệt và phá huỷ 15 xe tăng địch.

Tiếp đó từ 8 giờ 10 phút đến 12 giờ, được pháo binh và máy bay trực thăng chi viện, địch dùng xe tăng và bộ binh tiến công vào trận địa của tiểu đoàn. Nhờ hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, kết hợp bố trí lực lượng tại chỗ diệt địch với xuất kích đánh vào bên sườn, phía sau đội hình tiến công của chúng, tiểu đoàn đã đánh bại hai đợt tiến công của địch, diệt nhiều xe tăng và bộ binh của chúng, buộc lực lượng còn lại của địch tháo chạy về Hớn Quản.

18 giờ, bộ đội được lệnh lui quân về vị trí tập kết. Sau một ngày liên tục đánh địch, tiểu đoàn đã diệt gọn một chi đoàn và đánh thiệt hại nặng một chi đoàn khác của trung đoàn thiết giáp 11 của địch; loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên; thu 130 súng các loại.

Phục kích địch ở địa hình rừng bằng, địch có nhiều cách đối phó nhanh, nên phải chuẩn bị nhiều phương án chiến đấu, tập trung vào phương án chính, nhưng chuẩn bị đầy đủ tỷ mỷ cả các phương án có thể để sẵn sàng đánh địch có hiệu quả, thực hiện đánh địch liên tục trong một thời gian, trên một khu vực diệt gọn hoặc đánh bại địch buộc chúng phải thay đổi ý định, tạo thế làm chủ chiến trường, giành thắng lợi trọn vẹn. Kiên quyết bám sát đánh gần, đánh trúng các mục tiêu quan trọng (xe tăng địch), phát huy tinh thần chủ động hiệp đồng, nắm vững thời cơ xuất kích, hình thành thế bao vây, chia cắt làm rối loạn đội hình địch, tạo thế có lợi nhanh chóng tiêu diệt địch, làm chủ chiến trường.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:15:11 pm
TRẬN ĐƯỜNG 19 CỦA TIỂU ĐOÀN 5 TRUNG ĐOÀN 12
(23.8.1969)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 Quân khu 5 vào đoàn xe vận chuyển của địch trên đường 19 (đoạn từ cầu Đakra đến cầu Đakpơ), nhằm tiêu diệt địch, phá huỷ phường tiện chiến tranh của chúng.

Để đảm bảo hoạt động cho lực lượng quân sự ở Tây Nguyên, hàng ngày địch dùng nhiều đoàn xe vận tải chuyển vật chất, vũ khí đạn dược lên Plây Cu.

Khi các đoàn xe vận chuyển hoạt động, địch thường sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá hai bên đường, cho các toán an ninh lộ trình thăm dò trước khi đoàn xe vận chuyển đi qua.

Thực hiện nhiệm vụ trên giao, tiểu đoàn sử dụng Đại đội bộ binh 51 làm nhiệm vụ diệt địch ở khu vực chủ yếu, bố trí ở điểm cao 564, đánh địch từ phía đông suối Đakbengam đến phía tây suối Đakpơ; Đại đội bộ binh 52 nhiệm vụ chính diện 2, bố trí ở đông điểm cao 540, diệt địch từ phía tây suối Đakbengam đến phía đông suối Đakra. Các đơn vị cối 82mm của trung đoàn bố trí ở phía đông và tây nam điểm cao 564, làm nhiệm vụ kiềm chế trận địa pháo địch ở Kà Tum và bắn chặn địch từ dưới lên. Các trung đội ĐKZ, súng máy phòng không 12,7mm bố trí ở sườn nam điểm cao 564, có nhiệm vụ tiêu diệt xe tăng và bắn máy bay địch.

Từ 5 giờ ngày 23 tháng 8, địch tăng cường tuần tra bảo đảm an toàn cho các đoàn xe vận chuyển.

8 giờ 35 phút, đài quan sát phát hiện một đoàn xe 28 chiếc từ An Khê chạy lên hướng Plây Cu. Khi đoàn xe lọt vào trận địa, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Đại đội 52 xuất kích. Nhưng do lệnh không rõ, đến 8 giờ 50 phút, bộ phận chặn đầu mói xuất kích nên đoàn xe địch đã vượt ra ngoài trận địa 10 chiếc, tiểu đoàn ra lệnh dừng trận đánh, bí mật chờ đánh đoàn xe sau.

9 giờ 10 phút, một đoàn xe 26 chiếc từ An Khê lên và một đoàn xe 25 chiếc từ Plây Cu xuống.

9 giờ 20 phút, đoàn xe dưới lên lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu được lệnh nổ súng. Nhưng do xạ thủ B41 lúng túng nên không bắn được chiếc đi đầu, để 4 chiếc tiếp sau vượt qua trận địa. Cùng lúc đó, đoàn xe từ Plây Cu xuống cũng vừa đến trận địa ta. Hai đoàn xe gặp nhau, do đường cua gấp, dốc cao nên đội hình bị dồn lại. Xạ thủ B41 bắn liên tiếp hai quả, diệt hai xe bọc thép đi hộ tống và một xe vận tải. Đoàn xe ùn lại trên đoạn đường hiểm trở, quân ta dùng hoả lực, nhanh chóng xung phong ra mặt đường đánh địch.

18 giờ, trận đánh kết thúc, ta phá hủy 21 xe vận tải, 3 xe bọc thép M113, một khẩu pháo 105mm, một khẩu súng trọng liên, 7 xe GMC; loại khỏi vòng chiến đấu 50 tên địch.

Trận đánh thắng lợi, Tiểu đoàn 5 đã thực hiện được nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, phá giao thông, ngăn chặn địch tiếp tế từ đồng bằng lên Tây Nguyên, trên con đường huyết mạch 19, buộc địch tập trung lực lượng ứng cứu, giải tỏa, tạo điều kiện cho các nơi đẩy mạnh hoạt động, phát triển chiến dịch.

TRẬN TÂY CẦU SÊ RÊ PỐC CỦA TRUNG ĐỘI 3 ĐẠI ĐỘI 1
(2.11.1969)

Trận phục kích của Trung đội 3 Đại đội 1 Tiểu đoàn 25 Mặt trận Tây Nguyên, (trang bị ba khẩu B40, một khẩu B41, ba mìn chống tăng, một mìn ĐH10, còn lại là trung liên và tiểu liên), nhằm đánh vào đoàn xe địch chở quân trên đường 14 cách Sê Rê Pốc 10km về phía tây, thuộc huyện Đức Lập tỉnh Đắc Lắc.

12 giờ ngày 31 tháng 10 năm 1969, trung đội hành quân chiếm lĩnh, chuẩn bị trận địa, chờ địch.

12 giờ ngày 2 tháng 11, một đoàn xe chở quân từ Buôn Ma Thuột về Đức Lập. Khi 10 xe lọt vào trận địa, tổ chặn đầu nổ súng diệt chiếc GMC đi đầu, tổ khoá đuôi nổ súng chặn các xe sau, bộ phận chính diện đồng loạt nổ súng diệt địch và hai xe tăng. Hai xe bọc thép đi sau cùng lên chi viện bị tổ khoá đuôi tiêu diệt. Địch dùng xe tăng phun lửa vào tổ khoá đuôi để mở đường thoát; đồng thời hai trung đội ngụy bảo vệ an ninh lộ trình phục phía sau đội hình của ta nằm tại chỗ bắn loạn xạ. Tổ khoá đuôi nhanh chóng vượt qua khu vực cháy đánh vào sườn hai trung đội địch, một số tên bị tiêu diệt, một số bỏ chạy, một xe tăng tiến vào trận địa bị lựu đạn chống tăng của ta tiêu diệt.

Sau 20 phút chiến đấu, 43 tên địch bị diệt, 16 xe quân sự (trong đó có 5 xe tăng, xe bọc thép, 9 xe chở đầy vũ khí), hai khẩu pháo 37mm bị phá. Ta thu nhiều vũ khí, đạn được.

Trận đánh thắng lợi làm gián đoạn giao thông, tiếp tế trên đoạn đường 14 một thời gian, địch phải tăng cường tuần tra bảo vệ đường hơn trước.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:16:11 pm
TRẬN THỨ MƯỜI MỘT (XẺO RÔ) CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1 VÀ TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 2 QUÂN KHU 9
(5 - 6.11.1969)

Trận vận động tập kích của Trung đoàn bộ binh 1 (gồm các tiểu đoàn 303, 307, 309) và Trung đoàn bộ binh 2 (thiếu Tiểu đoàn 9), được tăng cường Tiểu đoàn pháo binh 2311 và đại đội công binh Quân khu 9 do Nguyễn Đệ chỉ huy; đánh vào sở chỉ huy lữ đoàn B thuỷ quân lục chiến và 3 đại đội trực thuộc, tiểu đoàn 4 lữ đoàn B, giang đoàn 74 hải quân (10 tàu sắt) và pháo đội C (3 khẩu 105mm, 3 khẩu 155mm) ỏ Thứ Mười Một cách thị xã Rạch Giá 46km về phía nam - tây nam; nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng.

Để tiêu diệt địch, chỉ huy trận đánh quyết định tập trung lực lượng từ nhiều hướng áp sát mục tiêu, bao vây địch ngay từ đầu, luồn sâu, lót sẵn, đồng loạt nổ súng tiêu diệt địch.

17 giờ ngày 5 tháng 11, các đơn vị theo nhiều kênh, rạch khác nhau luồn qua đội hình địch tiếp cận các mục tiêu được giao.

Do phải luồn sâu vao hậu phương địch, lại hành quân trên nhiều hướng nên chỉ huy trận đánh không nắm hết được tình hình các đơn vị. Lúc 0 giờ 30 phút ngày 6 tháng 11 theo hiệp đồng, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10 đặc công ra lênh nổ súng đánh vào trận địa pháo binh của địch.

Sau hai phút nổ súng, tiểu đoàn đặc công đã phá huỷ 4 khẩu pháo, địch bắt đầu đối phó với tiểu đoàn đặc công. Hơn 10 phút đánh địch, thấy chưa có đơn vị bộ binh nào nổ súng, chỉ huy tiểu đoàn đặc công của Trung đoàn 2 cho bộ đội lui ra vị trí xuất phát chờ lệnh.

Sau những phút lúng túng vì bị đánh bất ngờ, địch bắt đầu tổ chức đối phó, nhất là hướng Trung đoàn 2. Trong khi đó, ở tất cả các hướng bộ binh lợi dụng địa hình, giữ bí mật vì Trung đoàn 1 chưa vào được vị trí.

1 giờ 50 phút ngày 6 tháng 11, sau tiếng nổ của quả bộc phá 8kg do đặc công đặt vào hầm tên chỉ huy lữ đoàn B, các loại hoả lực của ta trút bão lửa vào các vị trí địch. Từ các hướng, các mũi bộ binh được hoả lực chi viện xung phong đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Sau 40 phút chiến đấu, trận địa địch bị xé ra từng mảng, chỉ huy và pháo binh bị diệt, lực lượng còn lại bị bao vây, cô lập, không chi viện được cho nhau và lần lượt bị tiêu diệt, nhiều tên bỏ cả vũ khí chạy tháo thân; ba tàu hải quân bị bắn chìm, một tàu bị cháy, những chiếc còn lại chống cự trong thế bất lợi vì ta đã áp sát, pháo trên tàu không phát huy được tác dụng.

Sau gần hai giờ nổ súng, ta cơ bản làm chu trận địa, chỉ huy trận đánh chỉ thị cho các đơn vị tổ chức lùng sục tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí và cho bộ đội lui quân, mỗi đơn vị để lại một bộ phận bố trí xung quanh Thứ Mười Một để đánh địch đến lấy xác đồng bọn.

Trận đánh kết thúc, 680 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu (có 4 cố vấn Mỹ của giang đoàn 74), bị bắt 21 tên, 8 tàu sắt, 6 khẩu pháo, 11 khẩu cối, 3 khẩu ĐKZ và 7 đại liên bị phá huỷ.

TRẬN BÀ ĐIẾT CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 9
(29.3.1970)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 9 Trung đoàn 3 Sư đoàn 9, được tăng cường Đại đội 7 Tiểu đoàn bộ binh 8, một đại đội ĐB20 có 30 quả đạn, một đại đội ĐKZ 75mm (3 khẩu) được đại đội cối 120mm và tiểu đoàn súng máy phòng không chi viện; nhằm đánh vào tiểu đoàn 2 chiến đoàn 7 kỵ binh không vận địch tại trảng Bà Điết nay thuộc xã Phước An, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

18 giờ ngày 27 tháng 3, các đơn vị vào vị trí tập kết, tiếp tục nắm địch, tổ chức tiếp cận và chuẩn bị trận địa cho các đơn vị hoả lực.

3 giờ 5 phút ngày 29 tháng 3, cối bắn hiệu chỉnh, 5 phút sau toàn đơn vị nổ súng đánh địch. Từ các hướng, bộ binh nhanh chóng cơ động lực lượng, tham gia hoả lực chế áp, tổ chức mở cửa.

Chi viện cho bộ binh, ở hướng chủ yếu, ĐKZ bắn cháy 5 xe tăng, phá huỷ hai lô cốt, một hoả điểm địch tạo điều kiện cho đội mở cửa hoàn thành nhiệm vụ, đánh chiếm đầu cầu.

Hướng thứ yếu, Đại đội 7 dùng mìn ĐH10 mở cửa xong thi hoả lực chế áp dừng, đại đội trưởng lệnh cho các trung đội vượt đường mở đánh chiếm các mục tiêu bên trong.

Được lệnh xung phong, các mũi hiệp đồng chặt chẽ lần lượt đánh chiếm các mục tiêu. Được các hoả lực diệt tăng nhanh chóng bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, các chiến sĩ tiếp cận dùng lựu đạn, thủ pháo diệt thêm 3 xe tăng xe thiết giáp, phá các nhà bạt và các phương tiện chiến tranh của địch.

Sau 25 phút chiến đấu, tiểu đoàn vẫn chỉ nắm được tình hình của một số mũi. Chính trị viên và tiểu đoàn phó được lệnh vào trong trận địa trực tiếp nắm tình hình, nhưng pháo binh và trực thăng địch đánh phá ác liệt xung quanh vị trí nên không vào được. Trước tình hình đạn của các hoả lực đã gần hết, tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh của trung đoàn cho tiểu đoàn lui quân.

Tiểu đoàn trưởng phải cử cán bộ, trinh sát, liên lạc xuống các mũi truyền lệnh cho các đơn vị tổ chức đưa hết thương binh, tử sĩ ra; súng máy phòng không 12,7mm tích cực bắn máy bay trực thăng bảo vệ tiểu đoàn lui quân.

Trước sự tiến công mãnh liệt của ta, địch bị bất ngờ chống cự lúng túng, nhưng 25 phút sau chúng cho trực thăng chi viện, phóng rốc két, đạn 20mm vào chốt và các khu vực xung quanh, đồng thời thả pháo sáng liên tục; 30 phút sau pháo từ các căn cứ lân cận bắn liên tục xung quanh cứ điểm từ 100 đến 1.000m. Từ 5 giờ trở đi, nhiều máy bay đến ném bom đào, bom bi, bom xăng, bắn rốc két xung quanh trận địa và chặn các đường ta có thể lui quân. Mặc dù phân đội 12,7mm đánh địch quyết liệt, bắn rơi 6 trực thăng, nhưng đội hình lui quân của tiểu đoàn và nhiệm vụ giải quyết chiến trường trong điều kiên đánh phá ác liệt, vẫn gặp rất nhiều khó khăn.

Hơn một giờ chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng một đại đội bộ binh tăng cường, đại đội chỉ huy của ban chỉ huy căn cứ yểm trợ hành quân, hai đại đội pháo binh (6 khẩu 155mm 6 khẩu 105mm, 3 khẩu cối 106,7mm) và một đại đội cơ giới (7 xe ô tô, 14 xe tăng, xe bọc thép); bắn rơi 9 máy bay trực thăng; loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 400 quân Mỹ. Sau thất bại này, địch phải bỏ vị trí Bà Điết.

Nhờ quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, huấn luyện bộ đội sát với yêu cầu của trận đánh, bảo đảm cơ sở vật chất tốt, xác định phương án tác chiến rõ ràng, cụ thể, tỷ mỷ; đoàn kết hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh tốt nên đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Tư, 2020, 06:16:44 pm
TRẬN SUỐI NGÔ CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 6
(13.4.1970)

Trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 Trung đoàn 165 Sư đoàn 7, nhằm đánh vào tiểu đoàn 2 trung đoàn thiết giáp 11 địch tại bắc suối Ngô (đoạn từ sóc Dốc Tâm đến ấp Gù), nay thuộc xã Tân Đông, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

15 giờ ngày 12 tháng 4, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa. 4 giờ 50 phút ngày 13, tiểu đoàn chiếm lĩnh xong và xây dựng trận địa.

Từ 7 giờ 15 phút, máy bay trinh sát liên tục quần lượn dọc trục đường trong khu vực. Pháo binh từ các căn cứ bắn phá dọc hai bên đường, những khu vực chúng nghi quân ta có thể giấu quân.

9 giờ 55 phút ngày 13 tháng 4, các đại đội 12, 13 thấy xe tăng địch từ hướng nam lên, đang ra lộ ủi. 10 giờ, có 12 xe tiến vào chính diện Đại đội 13, triển khai đội hình hàng dọc theo lộ ủi tiến về Đại đội 12.

10 giờ 2 phút, một xe tăng địch đến cách chiến sĩ B40 của ta chừng 40m, ta lập tức bắn cháy. Tiếp đó các hoả khí B40, B41, ĐKZ của các đại đội 12 và 13 liên tiếp nhả đạn vào xe địch. Sau 20 phút chiến đấu, ta diệt 12 xe và một số địch. Số xe còn lại lùi ra xa và bắn vào trận địa ta

Từ 11 giờ 45 phút đến 14 giờ 10 phút, địch chia làm hai mũi đánh vào trận địa của các đại đội 12 và 13. Hai đại đội nổ súng diệt 7 xe. Bị đòn đau, địch lùi ra xa dùng hoả lực đánh vào trận địa.

Nhận định địch sẽ tăng cường lực lượng đánh vào trận địa ta, tiểu đoàn quyết định tăng cường hai khẩu B41 của Đại đội 15 cho Đại đội 12.

Việc địch dùng các loại máy bay trực thăng, phản lực ném bom, bắn phá vào trận địa (cả bom xăng), làm cả một khu vực khói lửa mù mịt, dây điện thoại bị cháy khá nhiều. Để giữ bí mật, tiểu đoàn trưởng lệnh cho các đại đội lui về trận địa dự bị 1, đồng thời điều chỉnh lại lực lượng, hoả lực sẵn sàng đánh địch.

14 giờ 8 phút, máy bay trực thăng bắt đầu quần đảo trên khu vực trận địa. Tiểu đoàn trưởng nhận thấy địch sẽ tiến công nên ra lệnh cho các đại đội bộ binh xuất kích.

14 giờ 10 phút, các đại đội xuất kích, trong khi đó các hoả lực B40, B41, ĐKZ diệt nhiều xe. Đạn ta bắn, đạn trong xe địch nổ dậy đất. Các chiến sĩ của các tổ đánh xe luồn lách, bám sát, chia cắt đội hình địch, diệt từng xe. Bị ta áp sát đánh gần đội hình địch rối loạn, không yểm trợ được cho nhau, số lọt vào trận địa lần lượt bi tiêu diệt, số còn lại phía sau không dám tiến lên. 15 giờ 30 phút, địch không tiến lên được, chúng tháo chạy về phía sau và dùng pháo (có cả chất độc hoá học) đánh vào trận địa ta. Bộ đội phải dùng khí tài đơn giản và khăn ướt để phòng hoá.

16 giờ, trận địa vơi dần tiếng súng. Tiểu đoàn lệnh cho các đơn vị thu chiến lợi phẩm, nhanh chóng đưa thương binh, tử sĩ rời khỏi trận địa.

Sau 6 giờ chiến đấu, ta diệt 130 tên địch; bắn cháy 36 xe tăng, xe bọc thép M113; thu 7 khẩu 12,8mm, 5 khẩu đại liên và nhiều loại súng đạn khác.

Chiến đấu trong điều kiện thời gian hạn chế, tiểu đoàn đã khéo kết hợp vừa trinh sát địch, địa hình, vừa chuẩn bị bộ đội và các mặt bảo đảm đánh thắng.

Đối với địch có ưu thế cả về xung lực và hỏa lực (nhất là lực lượng cơ động), ta phải đánh địch liên tục, kết hợp thọc sâu, chia cắt, bám sát không cho địch phân tuyến; hạn chế địch phát huy sức mạnh của các loại vũ khí hiện đại của chúng.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:34:54 am
TRẬN PHU XENG NAM CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ BINH 2 TIỂU ĐOÀN 4
(16 - 19.4.1970)

Trận tập kích của Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn 4 Quân khu Tây Bắc vào cụm phỉ ở bản Phu Xeng Nam thuộc xã Xủng Nậm Phuân, huyện Mường Lùm, tỉnh Mường Sài (Lào), nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng.

Căn cứ Phu Xeng Nam do ba tiểu đoàn địch (có 3 cố vấn Thái Lan) chiếm giữ. Địch lợi dụng điểm cao khống chế để xây dựng căn cứ đóng quân, với hệ thống giao thông hào liên hoàn, có công sự kiên cố, các nhà ở đều nửa chìm, nửa nổi. Ở mỏm N1 có hơn 100 lán, mỗi lán có từ 3 đến 4 tên; mỏm N14 có 50 lán, các mỏm còn lại có từ 15 đến 20 lán; sở chỉ huy của chúng ở mỏm N1.

Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn 4 biên chế 4 trung đội và một tiểu đội hoả lực (66 người); trang bị một khẩu cối 60mm, một khẩu ĐKZ 75mm, ngoài ra còn có B40, B41, trung liên, tiểu liên, vào chiến đấu được tăng cường hai trung đội lực lượng vũ trang cách mạng Lào (30 người).

Chuẩn bị chiến đấu, chỉ huy trận đánh tổ chức đội hình một thê đội và đội dự bị. Thê đội 1 có Đại đội 2 và một trung đội lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Đội dự bị là một trung đội còn lại.

Sau khi trinh sát địch, địa hình, đại đội hạ quyết tâm: Hướng chù yếu đánh vào quân địch ở mỏm N1, lực lượng 46 người, do đại đội trưởng chỉ huy. Hướng thứ yếu đánh địch ở mỏm N4. Hướng phụ đánh vào quân địch ở các mỏm N2, N3; do một trung đội lực lượng vũ trang cách mạng Lào đảm nhiệm.

3 giờ 30 phút ngày 16 tháng 4, quân ta nổ súng đánh địch. Từ các hướng, bộ đội ta dùng lựu đạn ném vào các lô cốt, nhà ngầm,... Bị đánh bất ngờ, nhiều tên bị tiêu diệt, địch hoảng loạn bỏ lại toàn bộ vũ khí chạy vào rừng. Sau 15 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn mỏm N1. Ở mỏm N4, ta bí mật áp sát mục tiêu, bất ngờ nổ súng diệt một số tên, số địch còn lại bỏ chạy. Sau 15 phút đánh địch, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, thu dọn chiến trường và rút về vị trí quy định, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Trên các mỏm N2, N3, diễn biến chiến đấu khó khăn hơn. Sau hai lần xung phong, ta chưa chiếm được các vị trí của địch. Chỉ huy trận đánh đề nghị lui ra củng cố và tăng cường một bộ phận (14 người), tổ chức lại đội hình, dùng hoả lực chế áp địch ở các mỏm N5, N6; đồng thời chế áp mạnh vào N2, N3, chuẩn bị trước khi bộ binh xung phong. 8 giờ 15 phút ngày 18 tháng 4, ta làm chủ các mỏm N2, N3.

Sau khi chiếm được dãy đồi phía đông, 3 giờ 45 phút ngày 19 tháng 4, ta nổ súng tiến công đánh chiếm các mỏm N5, N6, sân bay và mỏm N7. Sau 12 phút hoả lực chế áp, các mũi xung phong chiếm các mục tiêu được phân công.

7 giờ 10 phút ngày 19 tháng 4, ta làm chủ Phu Xeng Nam. Ta tiêu diệt 72 tên địch, làm bị thương 60 tên; thu 1 khẩu cối 81mm, 7 khẩu B40, 6 khẩu ĐKZ 57mm, 11 khẩu và nhiều súng bộ binh, đạn dược các loại.

Trận đánh thắng lợi càng củng cố mối tình đoàn kết keo sơn giữa quân tình nguyện Việt Nam với Pathét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào. Việc đập tan cụm phỉ Phu Xeng Nam đã tạo thuận lợi cho nhân dân Bạn phát triển sản xuất, ổn định đời sống, củng cố lòng tin của nhân dân với cách mạng Lào; đồng thời nâng cao trình độ chỉ huy khả năng tác chiến của quân giải phóng Lào.

TRẬN NÚI EK CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 66
(23 - 26.4.1970)

Trận vận động tiến công quân địch lâm thời phòng ngự trong công sự dã chiến của Trung đoàn bộ binh 66 Mặt trận Tây Nguyên, được tăng cường 6 khẩu 12,7mm, một khẩu cối 120mm, một khẩu ĐKZ 75mm; nhằm đánh vào tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 địch đang giữ các điểm cao 925, 923 thuộc núi EK (nay thuộc xã Đắc Siêng, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum).

Ngày 19 tháng 4 năm 1970, tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 địch chiếm núi EK, nhưng bị các lực lượng tại chỗ của ta chặn đánh buộc chúng phải co cụm lại phía đông nam. Trung đoàn 66 tổ chức lực lượng bám địch, kết hợp với các lực lượng chốt giữ diệt một số tên, địch lợi dụng các công sự cũ chống trả. Tiểu đoàn 7 tổ chức lực lượng đột phá nhưng không thành. Các ngày tiếp sau, địch luôn di chuyển vị trí, ta bám sát địch, dùng hoả lực cối tập kích, địch bỏ công sự di chuyển. Tiểu đoàn 7 tổ chức lực lượng bám địch, 17 giờ ngày 21 tháng 4, phát hiện địch dừng lại, ta tổ chức hai mũi tiến công, sau 10 phút dùng hoả lực bắn vào cụm địch, các đại đội 2 và 3 đồng loạt xung phong. Địch chống cự quyết liệt, ta chiếm được một phần trận địa địch. 20 giờ, ta tổ chức tiếp công tiếp, địch dùng hoả lực bắn vào đội hình, ta phải lui ra đào công sự vây địch ở phía đông.

Trước tình hình địch bị ta vây chặt, không được tiếp tế, trung đoàn hạ quyết tâm: sáng 23 tháng 4 dùng hoả lực đánh mạnh vào đội hình địch, bộ binh ta vây ép sát mở một hướng ở đông nam để địch ra, ta đón lõng tiêu diệt địch ngoài công sự.

7 giờ 45 phút ngày 23 tháng 4, trung đoàn dùng cối bắn vào trận địa, dùng hoả lực phòng không diệt máy bay địch. Các hướng bộ binh tiến công chiếm được một số công sự tuyến 1. Địch dựa vào công sự chống cự quyết liệt, ta không phát triển được nên các hướng lại phải lùi ra.

Trong các ngày 24 và 25 tháng 4, ta dùng cối bắn vào cụm địch, bộ binh xung phong nhưng không thành công. Trung đoàn quyết định, tập trung lực lượng đột phá mạnh hơn. 11 giờ, ta tiến công, địch lợi dụng các công sự chống trả quyết liệt. Ta nhiều lần xung phong nhưng không đột phá được. 19 giờ, trung đoàn ra lệnh tạm dừng tiến công, củng cố đội hình, áp sát địch.

Ngày 26 tháng 4, ta phát hiện địch có thể rút lui, trung đoàn ra lệnh các đơn vị tiếp tục tiến công. Đúng 5 giờ 40 phút, ta dùng hoả lực đánh phá, sau đó bộ binh xung phong. Từ các hướng quân ta đột phá đánh chiếm trận địa. Các đại đội 2, 3, 5, 11 lần lượt chiếm công sự của Đến 7 giờ 30 phút, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Sau 4 ngày chiến đấu liên tục bao vây tiến công, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 với 200 tên chết, 84 tên bị bắt; thu 112 súng các loại, bắn rơi 17 máy bay.

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về vận dụng sáng tạo cách đánh vận động, bao vây kết hợp với đột phá để tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch ở khu vực núi EK.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:35:30 am
TRẬN TÀ LƯA CỦA DU KÍCH XÃ SƠN TRUNG
(1 - 7.6.1970)

Trận phục kích bằng mìn tự tạo của 4 du kích xã Sơn Trung do xã đội trưởng Bo Bo Tới chỉ huy đánh máy bay trực thăng địch ở núi Tà Lưa, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng tự do, hạn chế thiệt hại do địch chiếm giữ Tà Lưa gây ra.

Sau nhiều ngày nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch, sáng 30 tháng 5 năm 1970, Bo Bo Tới cùng hai du kích lên đỉnh Tà Lưa bố trí mìn đánh máy bay địch. 11 giờ cùng ngày, mìn bố trí xong, ngụy trang kín đáo.

7 giờ ngày 1 tháng 6, máy bay địch đến ném bom, bắn phá dọn bãi chuẩn bị đổ quân như thường lệ. Khoảng 8 giờ 30 phút, máy bay trực thăng đến đổ quân. Khi chiếc trực thăng đầu tiên vừa chạm đất thì mìn nổ, máy bay bốc cháy, toàn bộ quân địch trong máy bay thiệt mạng. Những chiếc còn lại vội vã nâng đô cao bắn phá vào khu vực đổ bộ, sau đó cho công binh dò lại mìn và cho hai máy bay xuống lấy xác đồng bọn và rút quân; đồng thời cho phi pháo đánh phá ác liệt xuống Tà Lưa và các khu vực xung quanh.

Ngày 6 tháng 6, lợi dụng khoảng thời gian giữa hai đợt địch dành phá, Bo Bo Tới một mình lên bố trí một quả mìn ĐH10, sẵn sàng đánh địch theo dự kiến.

7 giờ 30 phút ngày 7 tháng 6, địch bắt đầu đổ quân, 6 chiếc đầu xuống an toàn, đổ quân trót lọt, nhưng khi chiếc thứ bảy xuống đến đất thì mìn nổ. Máy bay bốc cháy, toàn bộ quân địch trên máy bay thiệt mạng. Số còn lại hốt hoảng chạy dạt xuống phía bắc gọi máy bay, pháo binh bắn phá, ứng cứu đồng bọn. Đến 11 giờ, chúng rút hết quân khỏi Tà Lưa và từ đó không dám đổ quân xuống nữa.

Kiên trì và sáng tạo, du kích đã đánh cháy hai máy bay trực thăng, loại khỏi vòng chiến đấu 42 tên địch; giữ vững đước vùng tự do, căn cứ kháng chiến của ta.

TRẬN LỘC BẮC CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(7 - 8.7.1970)

Trận phục kích đánh máy bay bằng súng bộ binh của du kích xã Lộc Bắc, huyện 1, tỉnh Lâm Đồng do K’Vét và K’Ché chỉ huy (trang bị hai súng trung liên Mỹ, tám súng trường CKC và sáu khẩu K44); đánh vào máy bay trực thăng địch ở khu vực xã Lộc Bắc; nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng và hành lang khu căn cứ cách mạng.

7 giờ 20 phút ngày 7 tháng 7, tổ du kích do K’Vét chỉ huy đi tuần tra phát hiện hai máy bay trực thăng địch bay tới, Tổ nhanh chóng chọn địa hình có lợi bố trí trận địa, bắn rơi một máy bay trực thăng xuống chân dãy núi Đan Trĩnh. Nhận được tin trên, xã đội nhanh chóng tổ chức lực lượng đánh máy bay địch đến lấy xác đồng bọn. 12 giờ, hàng chục máy bay trực thăng ầm ầm bay tới, bắn phá dọn bãi để hạ cánh, sau nhiều vòng quần lượn, một chiếc sà xuống tháp và bị bắn cháy. Sau trận đầu thắng lợi, các tổ di chuyển vị trí. 14 giờ 45 phút, máy bay địch kéo tới đánh phá; sau đó một chiếc hạ thấp dần, ba tổ đồng loạt nổ súng, chiếc máy bay bốc cháy.

Sáng 8 tháng 7, địch lại huy động nhiều đợt, nhiều máy bay lên ném bom, bắn phá rộng hơn. Tiếp đó, cứ mỗi lần máy bay bay xuống thấp, ba tổ lại đồng loạt nổ súng diệt một máy bay, địch vẫn không lấy được xác đồng bọn.

Sáng 9 tháng 7, địch huy động trực thăng và trinh sát phản lực đánh phá và đổ quân xuống chân núi Đan Trĩnh, dùng hoả lực chi viện, lùng sục tìm kiếm bằng được xác đồng bọn mang về.

Sau hai ngày chiến đấu, đội du kích xã Lộc Bắc đã bắn rơi 7 máy bay trực thăng, diệt 7 tên địch; thu 7 súng ngắn và một đại liên. Du kích xã Lộc Bắc được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:36:48 am
TRẬN PHÚ HẢI CỦA TRUNG ĐỘI BỘ BINH 31 - HÒA ĐA
(7.8.1970)

Trận phục kích của Trung đội bộ binh 31 - Hòa Đa (26 người) do Nguyễn Văn Mạnh chỉ huy, đánh vào trung đội dân vệ giữ ấp Phú Hải thuộc chi khu Hòa Đa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ quần chúng phá ấp, phá kìm của chúng.

1 giờ ngày 6 tháng 8, Trung đội 31 và đội công tác xuất phát hành quân, dọc đường gặp địch phục kích, đơn vị quay về. 1 giờ ngày 7 tháng 8, đơn vị tiếp tục hành quân, chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Đội công tác nhanh chóng treo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên tháp nước và rải truyền đơn. Trung đội 31 đặt mìn, bố trí lực lượng và ngụy trang xong trước 5 giờ.

7 giờ, trung đội dân vệ kéo ra, ba tên đi đầu vội nhặt truyền đơn, mấy tên đi sau tiến thẳng đến tháp nước chuẩn bị tháo cờ, lúc này trung đội địch đã qua hết cầu, vào đúng vị trí đặt mìn. Được lệnh, hai quả mìn ĐH10 nổ cắt ngang đội hình địch, đồng thời tiểu liên, trung liên, lựu đạn, thủ pháo đánh dồn dập vào quân địch, nhiều tên chết ngay tại chỗ, số còn lại chạy về phía sau bị tổ 2 khoá đuôi chặn đánh tiêu diệt một số, một số chạy thoát về ấp.

Sau 10 phút chiến đấu, ta diệt 20 tên địch; thu 3 súng tiểu liên AR15, hai súng phóng lựu M79, một máy thông tin PRC25.

Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm quý về khôn khéo điều địch ra khỏi ấp để tiêu diệt; về chuẩn bị vũ khí trang bị cho từng tổ; về bố trí trận địa phục kích bí mật, tạo bất ngờ; về chọn thời cơ nổ mìn tiêu diệt nhiều địch...

TRẬN CỔ CÒ CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG MỸ THO
(11 - 12.8.1970)

Trận tập kích của Đại đội đặc công tỉnh Mỹ Tho, đánh vào một trung đội bảo an (24 tên) giữ đồn Cổ Cò (còn gọi là đồn Bưng Bồn Bồn) xã Tân Hội, huyện Cai Lậy Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Theo kế hoạch chiến đấu, 21 giờ ngày 11 tháng 8, hai mũi đến điểm tập kết cuối cùng, mũi trưởng dẫn tổ cắt rào vào làm nhiệm vụ. 0 giờ ngày 12 tháng 8, khi ta bắt đầu đưa lực lượng vào thì ở Kiến Tường đơn vị bạn nổ súng tiến công địch, chúng bắn pháo sáng liên tục, ta phải nằm tại chỗ. 1 giờ, cả hai cửa đã mở thông; 1 giờ 15 phút, đại đội ra lệnh nổ súng. Các mũi nhanh chóng vượt qua cửa mở vào đồn. Khi đang bí mật vận động, đuôi quả đạn B40 bung ra gây tiếng động làm địch phát hiện gọi nhau mang lựu đạn ra thả xuống. Vừa lúc đó, đơn vị bạn nổ súng diệt địch ở đồn Cầu Dừa và các đồn dọc kênh 12.

Đến 1 giờ 45 phút ngày 12, khi biết địch chuẩn bị ném lựu đạn, đại đội trưởng ra lệnh bắn, đồng thời diệt ngay hai lính gác. Tiếp đó các loại hoả lực của ta diệt lô cốt số 1 và 3. Bị đánh bất ngờ, địch chui vào các công sự chống cự, nhưng đã bị ta dùng lựu đạn, thủ pháo kết hợp bắn găm, bắn gần lần lượt tiêu diệt.

2 giờ, trận đánh kết thúc, địch bị diệt 18 tên, bị thương 3 và bị bắt 3 tên. Ta thu 22 súng các loại.

Chiến thắng địch ở Cổ Cò cho thấy, để giành thắng lợi phải: Hành động chiến đấu phải dũng cảm, táo bạo; hiệp đồng chặt chẽ, mạnh dạn thọc sâu; thực hiện đánh nhanh, diệt gọn quân địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:37:22 am
TRẬN HÀ NỪNG CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(4.9.1970)

Trận tập kích của du kích xã Hà Nừng, huyện KBang, tỉnh Gia Lai (7 người), trang bị một súng ngắn, 6 tiểu liên do xã đội trưởng Krăng chỉ huy, đánh vào toán biệt kích địch (12 tên), dừng lại nghỉ trưa ở đường hành lang thuộc xã Hà Nừng, huyện KBang, tỉnh Gia Lai, nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ đường giao liên, kho tàng, giữ vững căn cứ của ta.

Sáng 3 tháng 9 năm 1970, ba chiếc HU-1A chở quân từ An Khê đổ biệt kích xuống khu rẫy cũ của đồng bào làng Đăk Mái và đóng lại ở đó một trung đội. Sáng 4 tháng 9, địch chia làm 3 toán tiến vào các hướng lùng sục.

13 giờ ngày 4 tháng 9, toán địch trên hướng đông gồm 12 tên bám theo đường hành lang của ta, khi cách đường 30m chúng dừng lại, triển khai đội hình phục kích, 2 tên cảnh giới vòng ngoài, 10 tên còn lại bố trí mìn Claymo xung quanh, sau đó trải tăng võng nằm nghỉ.

14 giờ 15 phút, hai tổ du kích của ta tiếp cận địch khoảng 15m. Xã đội trưởng Krăng bắn một loạt diệt những tên địch ở gần, cả hai tổ nổ súng, lần lượt diệt từng tên địch. Hai tên cành giới vội chạy về hướng tây.

Sau ít phút chiến đấu, du kích diệt 10 tên địch, thu 8 mìn Claymo, 6 súng các loại, 1.500 viên đạn, 3 súng pháo hiệu và một máy vô tuyến điện.

Nhờ bám sát và nắm chắc hoạt động, tiếp cận bí mật, áp sát địch, bất ngờ nổ súng tiêu diệt và chủ động hiệp đồng chặt chẽ mà ta đã nhanh chóng tiêu diệt gọn toán địch, giành thắng lợi với hiệu suất chiến đấu cao.

TRẬN ĐỒI SIM CỦA ĐỘI TRINH SÁT TIỂU ĐOÀN TRINH SÁT 32
(12.12.1970)

Trận tập kích của Đội trinh sát Tiểu đoàn trinh sát 32 Quân khu 5 (7 người, trang bị một trung liên, ba tiểu liên 10 mìn Claymo) đánh vào một trung đội “Mỹ lết” (35 tên, trang bị một đại liên, còn lại là tiểu liên và mìn Claymo) ở đồi Sim thuộc xã Sơn Phúc, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch hoạt động sâu vào vùng giáp ranh, phá hậu cứ, ngăn chặn lực lượng ta xuống đồng bằng của địch.

Sau khi nắm chắc tình hình địch, đội trưởng quyết định “dùng mìn địch đánh địch” và cử ba trinh sát giỏi, từ 1 giờ đến 3 giờ ngày 5 tháng 12, bí mật xoay toàn bộ mìn Claymo của địch bố trí vào hướng địch.

5 giờ ngày 12 tháng 12, tổ 1 đánh lựu đạn vào khẩu đại liên, các tổ khác đồng loạt ném lựu đạn vào các tốp địch. Bị đánh bất ngờ, địch hốt hoảng gây nổ mìn. Tiếp đó các tổ đồng loạt xung phong. Bị lựu đạn của ta và mìn của chúng đánh vào đội hình, hầu hết địch thương vong. Hai tên có máy vô tuyến điện chạy được xuống triền đồi về căn cứ xin chi viện. Các tổ nhanh chóng tảo trừ, giải quyết thương binh về vị trí quy định. Đội trưởng quyết định cử một trinh sát cùng mình ở lại sử dụng một trung liên và một tiểu liên phục máy bay địch đến lấy xác đồng bọn.

Sau 10 phút pháo từ căn cứ Bàn Thàng bắn vào trận địa, 30 phút sau máy bay trực thăng vũ trang lên bắn phá và lấy xác đồng bọn, tổ phục kích của ta bắn rơi một chiếc.

Trận đánh thắng lợi, trung đội “Mỹ lết” bị tiêu diệt và một máy bay bị bắn rơi. Với chiến công trên, đội trinh sát được thưởng bảy Huân chương Chiến công (nhất, nhì, ba); để lại nhiều kinh nghiệm quý về đánh quân “Mỹ lết” ở chiến trường Khu 5.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:38:15 am
TRẬN ĐIỂM CAO 935 CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 7 TRUNG ĐOÀN 66
(1.3.1971)

Trận bao vây tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 Trung đoàn 66 Mặt trận Tây Nguyên, được tăng cường hai khẩu 12,7mm của Đại đội 49, hai khẩu ĐKZ của Đại đội 8 (Trung đoàn pháo binh 40), một trung đội súng phun lửa (4 khẩu), đánh vào tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 địch ở điểm cao 935 thuộc xã Rơ Kơi, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Sau nhiều ngày ta vận động bám địch, bao vây và liên tục tiến công tiêu diệt địch ở các vị trí trên điểm cao 842, địch buộc phải co cụm về giữ điểm cao 935.

Ngày 1 tháng 3 năm 1971, tiểu đoàn đã bao vây địch ở điểm cao 935, nhận được tin địch xin trực thăng di chuyển khỏi điểm cao, tiểu đoàn quyết định tiến công địch sớm hơn, nhưng chuẩn bị và điều chỉnh lực lượng không kịp nên phải lùi lại 12 giờ.

Từ 12 giờ 4 phút đến 12 giờ 10 phút, các loại hoả lực cối, ĐKZ, 12,7mm và súng phun lửa tập trung chế áp vào đội địch, phá huỷ nhiều công sự. Khi hoả lực vừa dứt, từ các mũi, các hướng bộ binh đồng loạt xung phong, thọc sâu chia cắt, tiêu diệt địch. 12 giờ 26 phút, Đại đội 3 chiếm được công sự tuyến 1. 12 giờ 33 phút, Đại đội 2 chiếm được nhiều công sự tuyến 2, địch chống trả quyết liệt. Trung đội 3 lợi dụng công sự kiềm chế địch, tạo điều kiện cho Trung đội 2 đánh chiếm vị trí chỉ huy địch. Sau đợt hoả lực B40, B41, súng phun lửa bắn, Trung đội 2 nhanh chóng chiếm vị trí chỉ huy, Trung đội 3 chiếm sườn phải, phát triển sang bắt liên lạc với Đại đội 5 ở công sự tuyến 1. 12 giờ 36 phút, Đại đội 2 chiếm được vị trí chỉ huy, phát triển thuận lợi, đại đội cho một trung đội phát triển sang bắt liên lạc được với Đại đội 5.

Đại đội 3, liên tục đánh chiếm các công sự, đến 12 giờ 57 phút tiêu diệt một số địch, số địch còn lại tháo chạy, đại đội tổ chức truy kích địch chạy về hướng sườn đông.

Đại đội 5, sau khi đột phá chiếm được công sự tuyến 1, đang đánh lên tuyến 2 thì bắt liên lạc với Đại đội 2. 12 giờ 40 phút, một bộ phận địch chạy về sườn tây, đại đội tiêu diệt một số tên, bắt 24 tên.

Trên hướng Đại đội 1, 12 giờ 55 phút, địch chạy và la ó nên các vọng cảnh giới phát hiện được, đại đội tổ chức bao vây, diệt một số, bắt một số tên.

15 giờ, được lệnh của trung đoàn, tiểu đoàn đưa Đại đội 1 vào chiến đấu trên hướng Đại đội 2 để tiêu diệt gọn địch ở điểm cao 935. 17 giờ, Tiểu đoàn 7 làm chủ hoàn toàn trận địa. Sau một ngày liên tục tiến công, ta loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 300 tên địch; thu nhiều vũ khí. Trận đánh thắng lợi đã góp phần vào thắng lợi của đợt 1 chiến dịch, phá vỡ kế hoạch chuẩn bị tiến công ra đường 18 của địch.

TRẬN ĐIỂM CAO 723 CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 2
(13 -18.3.1971)

Trận vận động bao vây tiến công liên tục của Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào), đánh vào trung đoàn bộ binh 1 sư đoàn 1 địch ở khu vực điểm cao 723 (Phu Rệp), nhằm phá vỡ đội hình tiến công của địch khi chúng chuyển hướng đột phá vào Bản Đông.

Trên hướng tiến công của Sư đoàn 2, lực lượng quân địch trên điểm cao 723 có sở chỉ huy trung đoàn 1, một tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp (5 khẩu 105mm, 4 khẩu 155mm, 1 đại đội chỉ huy, 3 khẩu cối 81mm), một đại đội thám báo, một đại đội công binh, một đại đội quân y. Sau khi được trực thăng đổ xuống điểm cao 723, địch xây dựng công sự dã chiến, xung quanh có chiến hào, giao thông hào dứt quãng, hầm cá nhân chiến đấu có nắp, có 2 đến 3 hàng rào dây thép gai bùng nhùng bao quanh, kết hợp với cây cối ngả xuống tạo thành vật cản.

Tham gia trận đánh có Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141 cùng các đơn vị trực thuộc.

Từ ngày 4 đến 12 tháng 3, sư đoàn bàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị bạn và đưa lực lượng vào triển khai chiếm lĩnh trận địa.

Từ ngày 13 đến 15 tháng 3, các đơn vị vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. Địch dùng máy bay ném bom, máy bay trực thăng vũ trang đánh phá liên tục; cho bộ binh lùng sục ra xung quanh để phát hiện lực lượng ta, ngăn chặn không cho ta hình thành thế vây ép. Bom đạn của địch làm ta thương vong một số. Đến ngày 15 tháng 3, quân ta đã hình thành thế bao vây chặt, liên tục áp sát các vị trí, từng bước cắt đứt tiếp tế của địch cả đường bộ và đường không, diệt nhiều địch, bắn rơi nhiều máy bay.

Xem xét thế trận và tương quan lực lượng giữa ta và địch, bộ tư lệnh sư đoàn quyết định: “Chậm nhất tối 16 rạng ngày 17 tháng 3 phải dứt điểm”, và lệnh cho các tiểu đoàn 15 (thiếu), 10 (thiếu) về bố trí chặn địch dọc đường giao liên đến dốc Nguyễn Chí Thanh, điều Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 từ Tà Khống lên làm lực lượng vận động tiến công chủ yếu.

Khi Tiểu đoàn 15 và Tiểu đoàn 1 triển khai xong, lực lượng phòng không kiên quyết không cho trực thăng địch hạ cánh bốc quân, pháo binh đánh mạnh bên trong, bộ binh thắt chặt vòng vây, dùng lực lượng nhỏ đột phá, chiếm toàn bộ trận địa và chốt giữ, buộc bộ binh địch phải tháo chạy ra ngoài công sự về phía đông điểm cao 723. sau đó đưa lực lượng từ phía tây và tây nam xuống tiêu diệt.

Lúc 3 giờ ngày 16 tháng 3, ta phát hiện địch có triệu chứng rút chạy. 6 giờ 30 phút, địch rút, các chiến sĩ ở đài quan sát và Tiểu đoàn 15 nhanh chóng chặn địch, dồn chúng vào thung lũng phía đông điểm cao 723. Trong lúc đó Trung đoàn 141 tiếp cận dùng hoả lực đi cùng đánh mạnh vào đội hình địch, chúng hoảng hốt bỏ chạy tiếp về phía đông, ta nhanh chóng xung phong chiếm toàn bộ cứ điểm 723. Địch bỏ lại một số xác chết và 5 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu pháo 155mm, 3 khẩu cối 81mm, 3 xe ủi đất, 2 máy nổ và nhiều đạn dược.

7 giờ, địch dùng máy bay B52 và phản lực đánh vào cứ điểm, lực lượng ta ở các hướng đã bao vây chặt quân địch. Sư đoàn dùng hoả lực bắn mạnh vào tiểu đoàn 1 của địch; cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 dùng lực lượng thọc sâu chia cắt đội hình địch; dùng Tiểu đoàn 5 và 6 Trung đoàn 141 đánh vào phía sau, phối hợp với Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 tiêu diệt tiểu đoàn 1 địch. Đến 11 giờ, ta tiêu diệt toàn bộ quân địch ở phía đông điểm cao 723.

Địch dùng máy bay B52 và phản lực đánh vào xung quanh cứ điểm, ta nhanh chóng điều chỉnh thế trận. Từ 14 giờ đến 16 giờ ngày 16 tháng 3, ta tiêu diệt tiểu đoàn 3, tàn quân của tiểu đoàn 2 và sở chỉ huy trung đoàn 1; tiếp đó lần lượt điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận, tiêu diệt quân địch còn lại.

12 giờ ngày 18 tháng 3, trận đánh kết thúc. Ta tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn 1 sư đoàn 1 địch, loại khỏi vòng chiến đấu 1.670 tên, bắt 80 tên, thu 332 súng các loại, gồm 4 khẩu pháo 155mm, 5 khẩu pháo 105mm, 5 khẩu cối 81mm, 14 khẩu cối 60mm, 9 đại liên, 26 khẩu M79, còn lại là AR15, hai máy nổ, 3 xe ủi đất.

Trận vận động tiến công địch ở điểm cao 723 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:38:54 am
TRẬN MƯỜNG NHAM CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 43 NGHỆ AN,
ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 20 VÀ CÁC ĐẠI ĐỘI 51, 125 QUÂN GIẢI PHÓNG LÀO
(2.4.1971)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 43 Nghệ An, Đại đội đặc công 20 thuộc Tiểu đoàn 31 Quân khu 4 và các đại đội 51, 125, một trung đội quân giải phóng nhân dân Lào, đánh vào tiểu đoàn 226 quân đội phái hữu Lào ở căn cứ Mường Nham, huyện Mường Mộc, tính Xiêng Khoảng (Lào), nhằm tiêu diệt địch, triệt phá căn cứ phỉ của tiểu đoàn địch, khôi phục lại vùng giải phóng của bạn và phối hợp với chiến trường trên toàn nước Lào.

Sáng 27 tháng 3, các bộ phận hành quân chiếm lĩnh trận địa.

Trên hướng chủ yếu, 1 giờ 7 phút ngày 2 tháng 4 năm 1971, B40 bắn vào chỉ huy địch làm hiệu lệnh tiến công cho toàn trận đánh. Được lệnh, các chiến sĩ đặc công đồng loạt dùng thủ pháo đánh dồn dập, hướng tổ 1 và tổ 3 địch không kịp phản ứng; hướng tổ 2 địch có phản ứng nhưng yếu.

Hướng thứ yếu, được lệnh nổ súng, các tổ vượt chiến hào lên đánh chiếm mục tiêu. 1 giờ 15 phút, phát hiện địch từ hướng tây nam vào phản kích (khoảng 40 tên), ta chặn đánh, diệt một số tên, số địch còn lại chạy về bản Thà Xà Là.

Ở các điểm B3, B1, B2 và hướng tây bản Bun Hương; ở bản Thà Xà Là và Na Lương, ở bản Xi Bun Hương, các đơn vị anh dũng chiến đấu, diệt nhiều địch.

Sau khi đặc công đánh, bộ binh tiếp tục vào và tảo trừ quân địch.

Trận đánh kết thúc, 83 tên địch bị tiêu diệt, nhiều tên bị thương, ba tên bị bắt, hai tên đầu hàng; ta phá huỷ nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

Trận đánh thể hiện được quyết tâm chiến đấu cao, triệt để chấp hành mệnh lệnh chiến đấu; tích cực khắc phục khó khăn trong mọi hoàn cảnh; hành động chỉ huy chiến đấu mau lẹ, kiên quyết táo bạo, bất ngờ; đánh chính xác, hiệp đồng chi viện cho nhau tốt, đặc biệt sự phối hợp giữa ta và bạn đoàn kết gắn bó tin tưởng vào nhau cùng chiến đấu.

TRẬN ĐỒI ÔNG NGỘ CỦA DU KÍCH XÃ KHUÊ NGỌC ĐIỀN
(14.4.1971)

Trận phục kích bằng vũ khí tự tạo của du kích xã Khuê Ngọc Điền (16 người), trang bị hai súng B40, 14 súng trường và tiểu liên, lựu đạn và 32 mìn tự tạo (8 quả bom bi, 12 quả côi 81mm, 12 quả thủ pháo), 3.000 cây chông, đánh vào đại đội thám kích địch ở đồi Ông Ngộ thuộc xã Khuê Ngọc Điền, huyện 9, tỉnh Đắc Lắc (nay là thị trấn huyện Krông - Bông, Đắc Lắc), nhằm tiêu diệt địch đến giải cứu tù binh đang bị ta giam giữ.

8 giờ ngày 13 tháng 4, các bộ phận bố trí, triển khai xong trận địa, ngụy trang kín đáo, sẵn sàng nổ súng diệt địch.

7 giờ ngày 14 tháng 4, máy bay trinh sát lượn vòng quanh khu vực dinh điền 2 rồi lượn về hướng Phước An.

10 giờ, bộ phận cảnh giới phát hiện đại đội thám kích của địch hành quân về hướng trại An Ninh. Khoảng 10 phút sau, toàn đại đội địch lọt vào bãi mìn của ta. Bất ngờ hai quả bom bị chặn đầu nổ, tiếp sau là hàng loạt tiếng nổ của các loại mìn xen lẫn tiếng kêu la từ trong bãi mìn phát ra. Ít phút sau, trận địa trở lại im lặng, ba chiến sĩ cảnh giới vận động đến gần bãi mìn và bắn một quả B40 và mấy loạt AK vào bên trong. Lúc này có hai trực thăng đến bắn phá xung quanh trận địa; tiếp đó các trận địa pháo ở Giang Sôn và Phước An bắn dồn dập vào khu dinh điền... Xã đội trưởng lệnh cho du kích lui quân để bảo toàn lực lượng.

Trận đánh kết thúc, 62 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; kế hoạch tập kích của địch vào trại An Ninh để cứu đồng bọn bị phá sản.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:40:07 am
TRẬN ĐẤT CHÁY CỦA ĐẠI ĐỘI PHÒNG KHÔNG 18
(23.4.1971)

Trận chống càn của Đại đội súng máy phòng không 18 Trung đoàn bộ binh 10 (biên chế ba trung đội 1, 2, 3), trang bị 6 khẩu 12,7mm, 3 khẩu B40, hai khẩu M79, còn lại là tiểu liên, súng ngắn, do Hà Đức Tạo chỉ huy; đánh vào đại đội trinh sát, thám báo 967 thuộc tiểu khu An Xuyên đổ quân xuống khu vực Đất Cháy bằng trực thăng (thuộc xã Phong Lạc, huyện Mười Tế, nay là huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải); nhằm diệt trực thăng trước và trong khi địch đổ quân, cùng các đơn vị khác bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn.

11 giờ 15 phút ngày 23 tháng 4, pháo địch từ căn cứ Rạch Ráng dồn dập dọn bãi ở Đất Cháy. Sau đợt bắn phá của pháo binh, trực thăng vũ trang quần đảo, bắn phá các khu vườn ven đầm và dọc bờ kênh Ba, kênh Tư.

12 giờ 10 phút, trực thăng từ hai hướng Rạch Ráng và Rạch Bần tiếp tục lao tối bắn phá dọc kênh Ba, kênh Tư và ven đầm, tiếp đó địch ném một quả khói màu da cam vào khu vực trận địa của Trung đội 3.

Theo kế hoạch, Trung đội 2 và 3 bám sát các máy bay chở quân, Trung đội 1 bám chiếc máy bay chỉ huy, khi được lệnh, cả 5 khẩu 12,7mm cùng nhả đạn vào 5 chiếc trực thăng chở quân. Trong giây lát cả 5 chiếc trúng đạn, 4 chiếc rơi tại chỗ, một chiếc lết ra rơi xuống đầm Giữa. Cùng lúc đó Trung đội 1 cũng bắn vào trực thăng vũ trang và chiếc máy bay chỉ huy. Không kịp nâng độ cao, hai chiếc trúng đạn, cố quay về Rạch Ráng nhưng không nổi. Những chiếc còn lại vội vã bay về hướng Cà Mau.

Số bộ binh địch xuống đất tổ chức chống cự, nhưng không nổi, đến 13 giờ ta diệt 6, bắt 11 tên, thu 15 súng các loại.

Trận đánh diễn ra nhanh, 63 tên địch chết và bị thương, 23 tên bị bắt; 7 máy bay trực thăng bị bắn rơi, ta thu 20 súng và một số đồ dùng quân sự.

Thắng lợi của trận Đất Cháy để lại nhiều kinh nghiệm quý về dự báo chính xác tình hình địch, bố trí lực lượng đánh địch thích hợp; về nổ súng đúng thời cơ, kiên quyết, dũng mãnh; về chỉ huy bình tĩnh, sâu sát, liên tục tiến công tiêu diệt địch.

TRẬN CÀNG LONG CỦA TIỂU ĐOÀN 306 TRUNG ĐOÀN 3 QUÂN KHU 9
(23 - 24.4.1971)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 306, được tăng cường Đại đội đặc công 114, đánh vào quân địch giữ chi khu Càng Long và sở chỉ trung đoàn 14 sư đoàn 9 địch ở chi khu Càng Long thuộc tiểu khu Vĩnh Bình (nay là tỉnh Trà Vinh), nhằm tiêu diệt địch, làm chủ chi khu Càng Long.

21 giờ ngày 23 tháng 4, các đơn vị hành quân đến kênh Ngang, cách chi khu Càng Long 700m về phía tây.

21 giờ 15 phút, đột nhiên hệ thống chiếu sáng trong chi khu tắt. Khoảng 2 phút sau, địch ở lô cốt bắn ra hướng tây và nam chi khu, đồng thời liên tiếp dùng đạn cối chiếu sáng bắn lên đảm bảo quan sát; 5 phút sau đó, ta phát hiện địch trong chi khu bò ra gần hướng mũi 7.

Trong lúc trung đoàn và tiểu đoàn đang tìm nguyên nhân và biện pháp xử trí thì được tin: do máy phát điện hỏng, quận trưởng Càng Long lệnh cho các đơn vị tăng cường tuần tra, canh gác.

22 giờ, ta tiếp tục cho các mũi tiếp cận và bí mật mở cửa.

Địch vẫn bắn ra xung quanh làm mũi trưởng mũi 3 bị thương vào đầu, trong khi mê sảng la to làm địch càng bắn ra dữ dội.

Để giữ bí mật cho hướng chủ yếu (Tiểu đoàn 306), đến 22 giờ 30 phút, Đại đội 114 mới được lệnh vào tiếp cận, đột nhập vào hậu cứ của trung đoàn 14 từ nam chi khu.

Mặc dù địch vẫn bắn ra, nhưng nhờ đêm tối các mũi của ta đã tiếp cận thuận lợi.

0 giờ ngày 24, các hướng, các mũi đã luồn vào đúng vị trí quy định. 0 giờ 15 phút, tổ luồn sâu của Tiểu đoàn 306 được lệnh đánh thủ pháo vào trung tâm truyền tin, tiếp theo là khu lính bảo an, sở cảnh sát, dinh quận trưởng bị tiến công.

Lợi dụng khi địch chưa kịp đối phó, các hướng, các mũi của Tiểu đoàn 306 kết hợp chặt chẽ “nội công, ngoại kích” nhanh chóng chiếm các vị trí được phân công. Đến 0 giờ 30 phút, ta làm chủ được khu bảo an, sở cảnh sát và một nửa khu truyền tin. Hướng Đại đội 59 đánh vào dinh quận trưởng đã chiếm được các lô cốt 9, 10, 11, 12, tiêu diệt địch và làm chủ toàn bộ bờ thành phía nam và phía tây, phát trển sang trận địa cối và nhà quận trưởng, nhưng bị địch cố thủ ở các lỏ cốt 14, 15 và các công sự ở bờ thành phía đông chặn các mũi 10, 12 từ hướng nam đánh lên và mũi 8 từ hướng tây đánh sang.

Hướng Đại đội 114 đánh vào trận địa pháo và hậu cứ trung đoàn 14 phát triển thuận lợi, diệt và chiếm được hầu hết các mục tiêu đã định.

Phối hợp với Tiểu đoàn 306 và Đại đội 114, Đại đội 108 dùng cối 82mm tập kích vào trận địa pháo Phú Bình, dùng ĐKZ 75mm bắn vào Lộ Mới diệt địch.

0 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 306 làm chủ từ khu vực 1 đến khu vực 4. 0 giờ 45 phút, trung đoàn phó và tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306 vào lô cốt số 7 nắm tình hình và chỉ huy bộ đội đánh địch ở khu dinh quận trưởng.

Trước tình hình địch chống trả quyết liệt; được trung đoàn đồng ý, tiểu đoàn trưởng đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu.

Lợi dụng kết quả của mũi 7, lực lượng dự bị vào chiến đấu thuận lợi, đã diệt được các lô cốt, chiếm được dinh quận trưởng. Đại đội 114 sau nhiều đợt đánh địch phản kích, phát triển sang phối hợp chiến đấu với lực lượng của Tiểu đoàn 306 chiếm dinh quận trưởng.

1 giờ 25 phút, quận trưởng Càng Long yêu cầu chi viện khẩn cấp. Biết địch xuống hầm ngầm trốn, ta tiếp tục bao vây, lục soát từng công sự, lô cốt nhưng không phát hiện được hầm ngầm. Trong khi đó, một chiến sĩ ta sơ suất dùng thủ pháo đánh vào kho đạn, nhà cháy, đạn nổ làm một số chiến sĩ ta bị thương, đám cháy lan nhanh ra các nhà xung quanh trong khi ta chưa thu được chiến lợi phẩm.

Cùng lúc, địch cho tiểu đoàn 2 trung đoàn 14 vào ứng cứu, đến gần chi khu thấy đạn nổ, lửa cháy, lại không liên lạc được với bọn trong chi khu nên không dám vào chi khu Càng Long.

2 giờ ngày 24 tháng 4, địch cho máy bay đến ném bom, bắn pháo xuống phía tây chi khu.

Sau gần nửa giờ lùng sục không phát hiện được hầm ngầm, ta phải dùng súng phun lửa thiêu huỷ dinh quận trưởng trước khi lui quân.

Sau gần hai giờ đánh địch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, bắt 6 tên, thu 42 súng; phá huỷ hai khẩu pháo 155mm, 3 khẩu 105mm, hàng trăm súng các loại, một kho đạn và 14 xe quân sự.

Chiến thắng Càng Long cho thấy, muốn giành thắng lợi phải: Vận dụng cách đánh mưu trí, sáng tạo; hiệp đồng chặt chẽ các hướng, các mũi, đồng loạt tiến công, nhanh chóng thọc sâu, chia cắt, bao vây quân địch từng khu vực để tiêu diệt; khi tiến công vào các chi khu, căn cứ cấp tiểu đoàn địch trở lên, người chỉ huy cần nắm chắc tính chất mục tiêu để sử dụng lực lượng và tổ chức đội hình chiến đấu cho phù hợp.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:40:34 am
TRẬN ÔNG CỦNG CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 3 QUÂN KHU 8
(30.4.1971)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 3 Quân khu 8 (thiếu một tiểu đoàn), được tăng cường một đại đội bộ binh địa phương do Nguyễn Văn Ty chỉ huy; đánh vào hên đoàn bảo an 28 địch ở rạch Ông Củng thuộc xã Long Hiệp, huyện Kiến Văn, tỉnh Kiến Phong (nay là huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp); nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho lực lượng địa phương tiêu diệt, bức hàng, bức rút một số đồn bốt địch, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ.

19 giờ ngày 28 tháng 4, đơn vị hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, xây dựng công sự, sẵn sàng đánh địch.

Ngày 29 tháng 4, địch hành quân với lực lượng nhỏ, đơn vị không đánh, quyết tâm chờ liên đoàn 28 ra ứng cứu cho đồng bọn đang bị các đơn vị địa phương tiến công.

Ngày 30 tháng 4, trinh sát cho biết liên đoàn 28 bảo an tổ chức hành quân thành hai bộ phận: các đại đội 184, 195 và một trung đội thám báo được trực thăng đổ xuống phía bắc trận địa, kết hợp với đại đội 136 và đại đội 191 cơ động bằng ô tô đổ xuống rạch Cần, tiến công từ hướng nam lên để giải toả cho đồn Xẻo Quýt đang bị lực lượng địa phương tiến công.

Trước diễn biến mau lẹ của địch, trung đoàn trưởng quyết định: Tổ chức một bộ phận thích hợp, kết hợp với hoả lực tiêu hao, ngăn chặn địch tiến công từ hướng nam lên, kiên quyết tập trung lực lượng tiêu diệt gọn cánh quân phía bắc.

12 giờ 10 phút, địch với khoảng một phần ba cánh quân phía bắc lọt vào trận địa. Ở phía nam, bộ phận đi đầu của đại đội 191 đang cách rạch Bà Sao 300m. Các đơn vị được lệnh giữ bí mật, tăng cường quan sát, sẵn sàng chờ lệnh.

12 giờ 20 phút, khi cánh quân phía bắc lọt vào trận địa, trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Sau 3 phút chế áp vào cánh quân phía bắc, hoả lực được lệnh chuyển bắn vào cánh quân phía nam và bộ binh xung phong.

Phát hiện bị phục kích, địch dùng hoả lực bắn xối xả ra hai bên, đồng thời yêu cầu pháo 105mm bắn ngòi nổ trên không chụp vào đội hình bộ đội ta đang xung phong.

Hướng Tiểu đoàn 8, bộ đội vượt qua hoả lực địch, dùng B40, B41 diệt các ổ đề kháng, chi viện cho nhau diệt địch trên hướng chính diện.

Hướng Tiểu đoàn 7 do đồng trống nên bị hoả lực địch khống chế, ta cách địch khoảng 200m phải dừng lại.

Lợi dụng địch đang tập trung đối phó ở hướng chính, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 8) đã nhanh chóng đánh chiếm rạch Bà Sao. Phát hiện lực lượng ta ở hai đầu rạch Bà Sao và rạch Ông Củng đang vận động lên, quân địch ở phía nam rạch Bà Sao lập tức nổ súng đánh tạt sườn quân ta, đồng thời cánh quân hướng bắc cũng triển khai đối phó làm các lực lượng của ta gặp khó khăn.

Cuộc chiến đấu khẩn trương, quyết liệt. Từ hai bên rạch Ông Củng và Xẻo Quýt, các tiểu đoàn 7 và 8 hình thành thế bao vây và liên tiếp tổ chức nhiều đợt tiến công tiêu diệt, tiêu hao từng bộ phận quân địch, từng bước đẩy địch vào thế bị động hoàn toàn. Sau gần 20 phút chiến đấu, liên đoàn 28 bảo an đã bị đánh thiệt hại nặng và đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt.

13 giờ 45 phút, tỉnh trưởng Kiến Phong lên máy bay quan sát, trực tiếp chỉ huy trực thăng vũ trang và pháo binh bắn phá chi viện cho liên đoàn 28 bảo an rút chạy ra đường 30. Lúc này được cối 60mm, 82mm chi viện tích cực, Đại đội 3 và Đại đội 6 dũng cảm chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch từ hướng nam rạch Bà Sao lên, đồng thời liên tiếp nổ súng chặn đứng cánh quân từ phía bắc, không cho chúng vượt vòng vây.

14 giờ, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 đã diệt toàn bộ cánh quân địch ở phía bắc.

Sau khi cánh quân phía bắc bị diệt, quân địch ở phía nam rạch Bà Sao vừa bắn vừa lui dần ra đường 30. Không cho địch rút chạy, trung đoàn trưởng lệnh cho cối, ĐKZ và 12,7mm bắn cấp tập vào đội hình địch, hỗ trợ cho Đại đội 3 và Đại đội 6 truy kích địch, tiêu diệt đại đội 136 của địch.

Chưa đầy 10 phút sau khi liên đoàn bảo an 28 bị diệt, địch cho máy bay đánh phá huỷ diệt trận địa từ 14 giờ đến 17 giờ.

Sau gần một giờ đánh địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 211 tên, bắt 30 tên; thu 62 súng, bắn rơi hai máy bay trực thăng và một máy bay phản lực F105.

Nhờ nhận định đúng về địch, dự kiến nhiều phương án đánh địch trong mọi tình huống; hiệp đồng chặt chẽ, tiến công kiên quyết, liên tục nên ta đã giành được thắng lợi giòn giã. Tuy vậy, do thiếu lực lượng dự bị và tổ hoả lực kiềm pháo địch nên hạn chế thắng lợi của trận đánh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:41:28 am
TRẬN Y TU - BẢN NHÍK CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 2
(9 - 12.6.1971)

Trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5, đánh vào hai tiểu đoàn và BV44, B46, một đại đội Com măng đô, một đại đội pháo binh 105mm và một đại đội bộ binh địch tại Y Tu - Bản Nhík, nhằm phá vỡ bàn đạp tiến công, đập tan ý đồ tái chiếm Pắc Soòng trong mùa mưa năm 1971 của địch.

Với ý định chiếm tuyến Y Tu - bản Nhík làm bàn đạp tiến công, từ 18 đến cuối tháng 5, quân ngụy Lào có quân đánh thuê phối hợp liên tục tiến ra bản Kiền, Phác Cụt. Bị Tiểu đoàn 1 bộ đội tình nguyện Việt Nam và Tiểu đoàn 14 Sư đoàn 2 đánh chặn, diệt khoảng 200 tên, chúng buộc phài lui về tuyến Y Tu - Bản Nhík cụm lại và đưa lực lượng về phía sau củng cố.

Sau khi giải phóng Pắc Soòng, Sư đoàn 2 được lệnh giao lại khu vực Pắc Soòng cho đơn vị bạn. Nhận nhiệm vụ trên giao, sư đoàn quyết định dùng một bộ phận hoả lực và xung lực nghiên cứu địa hình, cắt đường về phía tây Bản Nhík, diệt 1 đến 2 tiểu đoàn địch từ Bản Nhík đến Y Tu, chốt giữ Bản Nhík, làm mất bàn đạp tiến công, đập tan ý dinh tái chiếm Pắc Soòng của địch.

Thực hiện quyết tâm trên, sư đoàn sử dụng Tiểu đoàn 3; Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1; Tiểu đoàn công binh 15 (thiếu); hai khẩu cối 120mm, hai khẩu cối 81mm, Tiểu đoàn phòng không 14, ba xe tăng; Tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam tham gia tiến công, sau đó sẵn sàng tiếp thu khu vực Y Tu - Bản Nhík.

Từ ngày 7 tháng 6, các đơn vị bộ binh và hoả lực vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công.

8 giờ 20 phút ngày 9 tháng 6, địch cho đại đội Com măng đô tiến công vào chốt của Tiểu đoàn quân tình nguyện (chỉ có 4 người); nhưng tiểu đoàn đã đánh lui 4 đợt tiến công, diệt 42 tên, loại khỏi vòng chiến đấu đại đội Com măng đô.

Ngày 10 tháng 6, ta dùng cối 120mm bắn vào các mục tiêu, nhưng do nền đất yếu phải di chuyển trận địa bắn.

Được lệnh nổ súng (có xe tăng yểm trợ), các đơn vị nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu được phân công. 21 giờ, ta giải quyết xong mục tiêu 1, 21 giờ 30 phút đến 22 giờ 30 phút đánh chiếm mục tiêu 2. Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 15, Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 quay về tảo trừ địch ở nam, bắc đường (từ phía đông mục tiêu 2 về mục tiêu 1); Đại đội 9 Tiểu đoàn 3 tảo trừ địch xung quanh mục tiêu 2.

Ở hướng nam, lúc 7 giờ ngày 11 tháng 6, Tiểu đoàn 3 sau khi chiếm lĩnh trận địa, bất ngờ dùng hoả lực tiến công địch. 7 giờ 30 phút, một đại đội lính đánh thuê từ phía Lào Ngăm đến chi viện cho Bản Nhík, một trung đội của Đại đội 10 chặn đánh, diệt 15 tên, chúng vội vàng mang xác đồng bọn rút lui. 11 giờ các đại đội của Tiểu đoàn 3 hoàn thành nhiệm vụ diệt địch ở Bản Nhík.

Từ 11 giờ đến 17 giờ, các tiểu đoàn 3, 15, Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 tiếp tục tảo trừ địch.

Máy bay địch liên tục đánh phá khu vực Bản Nhík - Y Tu, chúng bị Tiểu đoàn phòng không 14 bắn rơi 4 chiếc.

10 giờ ngày 12 tháng 6, trận đánh kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu 615 tên; thu trên 170 súng các loại, có hai khẩu cối 81mm, 4 khẩu ĐKZ, 8 khẩu trọng liên, 5 đại liên và các súng khác; bắn rơi 4 máy bay, phá huỷ 3 khẩu pháo 105mm, một khẩu cối 106,7mm, hai khẩu pháo 75mm, 3 khẩu ĐKZ 57mm, một đại liên, 4 cối 81mm; 12 xe quân sự.

Trận Y Tu - Bản Nhík thể hiện tinh thần đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, linh hoạt, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn để giữ vững ý chí chiến đấu, chủ động diệt địch, kết quả trận đánh đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của bạn giữ vững vùng giải phóng tốt hơn.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:42:24 am
TRẬN NÚI NGANG CỦA ĐẠI ĐỘI 71
(16.8.1971)

Trận tập kích của Đại đội 71 huyện Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (15 người), được tăng cường 10 du kích một khẩu cối 60mm, ba đại liên, một máy thông tin PRC25; đánh vào đại đội 1 (thiếu một trung đội) tiểu đoàn bâo an 125 (khoảng 55 đến 60 quân), có một khẩu cối 60mm, một đại liên, còn lại là súng tiểu liên; nhằm tiêu diệt địch, phá kế hoạch lấn chiếm của chúng, củng cố và giữ vững vùng giải phóng.

4 giờ 30 phút ngày 16 tháng 8, các mũi vào đến hàng rào thứ tư, chờ lệnh nổ súng. 5 giờ, trời hửng sáng, địch trong hầm đi ra; cối 60mm, B40, B41, đại liên của ta đồng loạt bắn vào khu trung tâm và các lô cốt, địch không kịp phàn ứng; chớp thời cơ, bộ binh ta nhanh chóng vượt rào, xung phong diệt địch. Hướng chủ yếu, tổ 1 thọc sâu đánh vào hầm chỉ huy, khu trung tâm; tổ 2 phát triển chiếm lô cốt, hầm kèo phía tây. Hướng thứ yếu, quân ta vượt qua hàng rào, bị địch phát hiện, chúng gây nổ hai quả mìn Claymo nhưng mìn nổ ngoài rào. Lợi dụng chỗ sơ hở của địch, tổ 1 phát triển sang cánh trái đánh chiếm lô cốt, phối hợp với tổ thọc sâu mũi chú yếu đánh vào hầm chỉ huy. Tổ 2 phát triển chiếm hầm kèo, lô cốt phía đông. Bị đánh bất ngờ và bị tiến công áp đảo trên các hướng, địch rối loạn và chống cự yếu ớt, số còn lại chạy lên hướng bắc gặp bộ phận đón lõng của ta mai phục, để địch đến gần nổ súng diệt một số tên, những tên sống sót chạy về Tăng Long.

Sau 10 phút chiến đấu, 37 tên địch bị diệt, 6 tên bị thương; ta thu 19 súng các loại, hai máy thông tin PRC25, một số quân trang, quân dụng. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về giữ bí mật, tạo bất ngờ; về vận dụng cách đánh...

TRẬN HÒN SẶC CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 25
(Đêm 23 rạng 24.8.1971)

Trận tập kích của Đại đội đặc công 25 tỉnh Phú Yên (28 người, trang bị ba khẩu B40, một khẩu B41) do Hồ Tiến Tích chỉ huy, nhằm đánh vào đại đội bảo an 202 phòng ngự trong công sự vững chắc ở cứ điểm Hòn Sặc (xã Hòa Phong, huyện Tuy Hòa 1, tỉnh Phú Yên). Đây là một cứ điểm có chiến hào, giao thông hào nối liền các lô cốt, hầm ngầm, ụ súng, xung quanh có ba tầng chiến hào nổi; ngoài cùng, phía nam có 7 lớp, các phía còn lại có 12 lớp rào; xen kẽ có các bãi mìn, lựu đạn và hệ thống đèn chiếu sáng.

20 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1971, đơn vị hành quân vượt đường 5. 22 giờ 30 phút, các mũi bí mật khắc phục vật cản, vượt qua các lớp rào. 24 giờ, còn hai lớp rào trong cùng, địch nghi ngờ báo động và bắn ra các hướng, ta giữ bí mật, 15 phút sau địch ngừng bắn, các mũi tiếp tục tiến vào. 2 giờ ngày 24, mũi 1 và mũi 3 áp sát được các mục tiêu quy định. Mũi 2 địch gác dày đặc, không tiếp cận được, phải triển khai tại chỗ. 2 giờ 10 phút, địch phát hiện mũi 3, ta bắn một phát B40 vào lô cốt làm hiệu lệnh cho các mũi diệt các mục tiêu theo quy định. Các tổ nhanh chóng tiêu diệt khu thông tin trận địa cối, hoả điểm đại liên, tảo trừ và cảnh giới cho các mũi phát triển. Mũi 2, bắn chốt lính gác nhanh chóng xung phong vào diệt địch dưới hầm ngầm. Mũi 3, diệt lính gác, diệt địch trong lô cốt lớn, phát triển đánh các lô cốt, hầm ngầm, hoả điểm địch làm chúng rối loạn, ta dùng tiểu liên, thủ pháo tiêu diệt địch.

Sau 30 phút chiến đấu, đơn vị làm chủ trận địa. Ở hướng mũi 2, địch sống sót trong hầm ngầm ném lựu đạn ra, ta tổ chức tiêu diệt tàn quân, làm chủ trận địa và lui quân. Ta diệt 57, làm bị thương 18 tên địch; thu 7 súng các loại, phá một khẩu cối, một kho đạn và một số phương tiện khác.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:44:01 am
TRẬN GIO LINH CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 31
(26.8.1971)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 31 Sư đoàn 305 (được tăng cường Đại đội 9 cối 120mm của mặt trận, Đại đội bộ binh 10, Đại đội đặc công 11 và Đội 3 biệt động lực lượng an ninh của huyện đội Gio Linh, được pháo binh cấp trên chi viện); đánh vào ban chỉ huy quận, cố vấn, tình báo phượng hoàng và khu thông tin, một trung đội cảnh sát dã chiến, một trung đội bảo an, một trung đội cối 81mm (3 khẩu) và bọn ác ôn đầu sỏ, cùng nhân viên phục vụ, quân số khoảng 150 người ở quận lỵ và chi khu quân sự Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương diệt ác, phá kìm, giải phóng nhân dân về quê cũ, làm thất bại âm mưu tập trung dân vào ấp chiến lược của địch.

3 giờ ngày 26 tháng 8, các đơn vị cơ động vào vị trí tập kết, đến 23 giờ tiếp cận đến các vị trí sẵn sàng nổ súng diệt địch.

23 giờ 10 phút mũi 1 của Đại đội 4 gặp địch, buộc phải nổ súng (do địch nhảy vào hầm của ta).

Từ các hướng, các chiến sĩ ta dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch. Sau 20 phút chiến đấu, Đại đội 3 đánh chiếm và làm chủ khu chợ, trường học và phát triển vào khu trung tâm. Đến 24 giờ, hướng Đại đội 3 đang phát triển để bắt liên lạc với Đại đội 4 thì gặp địch co cụm chống trả quyết liệt. Đại đội 3 buộc phải dừng lại tổ chức tiêu diệt lực lượng địch co cụm. Sau 10 phút chiến đấu, Đại đội 3 và Đại đội 10 làm chủ được khu vực địch co cụm và bắt được liên lạc với Đại đội 4.

Sau gần 40 phút chiến đấu, toàn bộ lực lượng trong quận lỵ và chi khu quân sự bị tê liệt, tận dụng thời cơ các mũi tiếp tục phát triển tiến công.

Sau 2 giờ chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên (gồm các loại ác ôn, cảnh sát, ngụy quyền, bảo an); bắt 3 tù binh; thu nhiều súng các loại, phá huỷ một trực thăng, một kho đạn, một nhà máy điện.

Trận Gio Linh thể hiện cách đánh, tổ chức đội hình chiến đấu linh hoạt, sáng tạo, tính bất ngờ cao; chỉ huy sâu sát, xử trí tình huống kịp thời; kết hợp chặt chẽ giữa hỏa lực và xung lực tiêu diệt địch.

TRẬN XA MÁT CỦA TIỂU ĐOÀN 8
(7.10.1971)

Trận phục kích của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 209 Sư đoàn 7, được tăng cường một đại đội ĐKZ 75mm một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,8mm; đánh vào tiểu đoàn 3 chiến đoàn 50 địch ở nam Xa Mát (tỉnh Tây Ninh); nhằm tiêu diệt địch, không cho chúng ứng viện giải toả, tạo điều kiện để Trung đoàn 141 tiêu diệt địch ở Thiện Ngôn.

Sau nhiều ngày mai phục, diệt lực lượng trinh sát, tuần đường, Tiểu đoàn 8 đã khống chế đoạn đường từ Xa Mát đi Thiện Ngôn, buộc chiến đoàn 50 phải dùng tiểu đoàn 3 hành quân giải toả.

8 giờ 30 phút, tiểu đoàn được tin khoảng một đại đội địch từ Xa Mát theo đường 22 đi xuống. Các đơn vị được lệnh giữ bí mật, để địch vào hết trận địa mới nổ súng.

9 giờ 3 phút, hoả lực cối 82mm, 60mm, ĐKZ 75mm và B40, B41 được lệnh nổ súng. Các đại đội 7 và 8 hiệp đồng chặt chẽ bao vây, chia cắt đội hình địch. Ngay từ đầu bị hoả lực đánh vào đội hình chủ yếu, đồng thời bị lực lượng ta đánh từ nhiều hướng, đội hình địch rối loạn, phần lớn chỉ huy và lực lượng bị tiêu diệt. Trước diễn biến nhanh của trận đánh, tiểu đoàn trưởng ra lệnh các đại đội 7 và 8 nhanh chóng xung phong tiêu diệt gọn quân địch, đồng thời lệnh cho Đại đội 6 bí mật, sẵn sàng đánh địch từ Thiện Ngôn lên.

Sau 15 phút chiến đấu, đại đội 2 tiểu đoàn 3 của địch cơ bản bị diệt, bị bắt, một số đang tháo chạy. Tiểu đoàn tổ chức truy lùng diệt hết quân địch.

9 giờ 30 phút, tiểu đoàn 3 địch phái khoảng một đại đội từ Xa Mát xuống ứng cứu cho đại đội 2 đang bị xoá sổ. Ta dùng cối 82mm, 60mm đánh vào đội hình địch. Địch bị chặn lại bên ngoài, một số bị chết, đại bộ phận địch phải rút về Xa Mát để tránh bị tiêu diệt.

Trận đánh kết thúc, 75 tên địch bị diệt, 15 tên bị bắt, ta thu 30 súng các loại. Trận đánh đã góp phần thực hiện được ý định tiêu diệt địch ở Thiện Ngôn, phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới của địch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:45:05 am
TRẬN GÒ THỦ CỦA DU KÍCH XÃ MỸ ĐỨC
(Đêm 10 rạng 11.11.1971)

Trận tiến công bằng vũ khí tự tạo của du kích xã Mỹ Đức thực hiện, trang bị một súng ngắn, một tiểu liên và bộc phá; đánh vào một đại đội bảo an (120 tên), trang bị hai cối 60mm, 4 khẩu đại hên, còn lại là M72, M79 và tiểu liên AR15; nhằm tiêu diệt địch, đánh phá, hỗ trợ đồng bào nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp của địch.

Tối ngày 10 tháng 11 năm 1971, xã đội được mật báo có một đại đội bảo an của địch lên thay cho quân Gò Cớ, dừng lại ngủ đêm ở chốt Gò Thủ, làm cho lực lượng địch ở đây lên đến hai đại đội, quân số khoảng 250 tên.

21 giờ ngày 10, hai du kích bắt đầu tiếp cận vào chốt điểm. 23 giờ, hai người vào đến hàng rào ngoài cùng của chốt điểm, một người ở ngoài cảnh giới và sẵn sàng yểm trợ để một người đột nhập vào bên trong bố trí một quả mìn Claymo, hai quả đạn cối 81mm, cùng với thuốc nổ TNT.

1 giờ ngày 11 tháng 11, khi vào đến hàng rào cuối cùng ta lợi dụng công sự bố trí các quả mìn theo kế hoạch đã định.

4 giờ ngày 11 tháng 11, địch trong chốt dậy chuẩn bị hành quân càn quét. 4 giờ 45 phút, chớp thời cơ địch tập họp đông đủ để phổ biến mệnh lệnh hành quân, cùng một lúc du kích khai hoả cả mìn, cối, thuốc nổ vào quân địch. Khoảng 10 phút sau, chúng mới dùng cối và đại liên bắn bừa bãi ra xung quanh thì hai du kích đã cơ động về đến thôn Vạn Thiết an toàn.

Trận đánh đã loại khỏi vòng chiến đấu 78 tên địch. Sau đó một thời gian, chúng phải rút khỏi chốt Gò Thủ.

TRẬN HÒA LỢI CỦA DU KÍCH XÃ XUÂN HÒA
(11.1.1972)

Trận phục kích của du kích xã Xuân Hoà, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (gồm 26 người, trang bị một khẩu trung liên, hai khẩu M79, còn lại là súng trường M16 của Mỹ); đánh vào lực lượng của đại đội 384 liên đoàn bảo an 84 càn quét dọc tuyến rạch Cái Cau trở về đồn ở ấp Hòa Lợi thuộc xã Xuân Hoà; nhằm tiêu diệt địch, củng cố lòng tin cho du kích xã, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương.

14 giờ 30 phút ngày 11 tháng 1, từ hậu cứ rạch Ba Huyện, các tiểu đội vào vị trí triển khai chiến đấu.

Như thường lệ, 17 giờ một bộ phận của đại đội bảo an 384 từ đầu kênh Ba Vàng hành quân về đồn.

17 giờ 30 phút, đầu đội hình địch đến mép vườn ấp Hòa cách bộ phận chặn đầu của ta khoảng 7m. Theo hiệp đồng, Tiểu đội 1 đồng loạt nổ súng diệt hai tên. Lực lượng địch đi sau vội triển khai bắn trả vào ấp. Cùng lúc đó, Tiểu đội 2 do xã đội trưởng trực tiếp chỉ huy từ rạch Công Điền nổ súng và thành 3 mũi đánh thẳng vào đội hình địch, diệt và bắt nhiều tên. Trong lúc địch đang lúng túng thì Tiểu đội 3 nổ súng diệt gọn 1 tên đi cuối đội hình, một tổ do xã đội phó chỉ huy nhanh chóng vòng xuống hướng nam diệt những tên địch đang tháo chạy. Lực lượng còn lại đánh từ phía sau tới, kết hợp với Tiểu đội 1 và Tiểu đội 2 bao vây, tiêu diệt nốt lực lượng địch. 17 giờ 40 phút, những tên địch cuối cùng không còn lối thoát đã ra đầu hàng, ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

18 giờ, du kích được lệnh rút về hậu cứ. Trước khi rời trận địa, ta giáo dục và thả tại chỗ 10 tên bị bắt.

Trận phục kích thắng lợi, địch chết tại chỗ 12, bị bắt 10 tên. Ta thu 15 súng các loại, một máy thông tin PRC25 và nhiều đạn dược.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:46:20 am
TRẬN ÔNG LA CỦA ĐẠI ĐỘI 3 TIỂU ĐOÀN 96
(14.1.1972)

Trận tập kích của Đại đội 3 Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên; đánh vào sở chỉ huy hành quân của trung đoàn địch ở núi Ông La, cách thị xã Tuy Hòa 16km về phía tây bắc; nhằm tiêu diệt địch, làm thất bại cuộc hành quân của chúng vào vùng giải phóng Sơn Long.

Thực hiện kế hoạch bình định “cấp tốc” vùng nông thôn ven thị, ngày 9 tháng 1, địch dùng trực thăng đổ xuống núi Ông La một trung đoàn. Tại đây chúng bố trí sở chỉ huy trung đoàn, một tiểu đoàn pháo 105mm, một đại đội bộ binh, một trung đội cối 106,7mm và một số phương tiện kỹ thuật, quân số khoảng 350 tên. Đề phòng ta tiến công, địch làm công sự, hầm dã chiến, hào giao thông liên hoàn ở khu trung tâm chỉ huy, tiểu đoàn pháo; xung quanh có rào dây thép gai, xen kẽ có mìn vướng nổ, mìn chiếu sáng.

Đại đội 3 Tiểu đoàn 96 nguyên là bộ binh được đặc công hoá. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, đại đội tổ chức thành 3 mũi: Mũi chủ yếu do đại đội trưởng Trịnh Văn Phụng trực tiếp chỉ huy (10 người), tiến công theo hướng đông bắc vào. Mũi thứ yếu 1 do đại đội phó Nguyễn Phúc chỉ huy (8 người), tiến công từ hướng tây nam vào. Hướng thứ yếu 2 do trung đội trưởng Nguyễn Trung Chính chỉ huy (6 người), đánh theo hướng đông nam vào.

0 giờ 30 phút ngày 14 tháng 1, các mũi bí mật tiềm nhập trận địa. 1 giờ 30 phút, các mũi áp sát các mục tiêu được giao, sẵn sàng nổ súng.

2 giờ ngày 14 tháng 1, đại đội trưởng ra lệnh cho B40 bắn vào nhà sở chỉ huy địch, lập tức các hướng, các mũi đồng loạt ném lựu đạn, thủ pháo vào quân địch ở sở chỉ huy, trận địa pháo và các vị trí khác làm nhiều tên chết và bị thương, nhiều vũ khí bị phá huỷ.

Sau 25 phút đánh địch, 98 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, ta thu một số vũ khí, khí tài quân dụng.

TRẬN ĐIỂM CAO 902 CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 28
(23 - 28.3.1972)

Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 28 bộ đội Mặt trận Tây Nguyên; đánh vào tiểu đoàn 23 biệt động quân ở khu vực điểm cao 902, nay thuộc xã Đắc Hring, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum; nhằm tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng.

Phát hiện thấy Tiểu đoàn bộ binh 2 và hoả lực của Trung đoàn 28 hoạt động trên đường 14 (đoạn Diên Bình - Võ Định), địch phán đoán ta còn lực lượng ở phía đông đường. Từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 3, chúng dùng máy bay B52 và nhiều loại máy bay khác đánh phá khu vực điểm cao 902, dọc suối Đắc Hring, bản Kon Tay. Từ 9 giờ 30 phút ngày 23, địch dùng trực thăng đổ bộ tiểu đoàn 23 biệt động quân xuống đông bắc điểm cao 902, sau đó chiếm điểm cao, hình thành các cụm chốt trên các khu vực: điểm cao 902, bình độ 900 và bình độ 800.

13 giờ, Đại đội 42 bắn rơi 4 máy bay HU-1A. 17 giờ, trinh sát của trung đoàn báo cáo nắm được địch. 19 giờ, Tiểu đoàn 1 cơ động vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.

7 giờ 20 phút ngày 24, địch di chuyển đội hình. Chớp thời cơ, trung đoàn ra lệnh nổ súng tiêu diệt địch. Từ 7 giờ 30 phút, trên các hướng quân ta liên tục tiến công, bao vây chia cắt, tiêu diệt quân địch. 9 giờ 50 phút, sau hai đợt xung phong, ta vẫn chưa chiếm được trận địa địch. Nghiên cứu tình hình, trung đoàn thấy các đại đội mới đánh vào các chốt tiền tiêu, vị trí xung phong còn xa địch nên khi hoả lực chuyển bắn, địch có thời gian chuẩn bị đối phó.

13 giờ 25 phút, ta tiến công đợt 3. Lúc này, địch sử dụng máy bay ném bom xuống sườn núi tây bắc điểm cao 920, đồng thời bộ binh của chúng từ 902 luồn lách xuống phía tây nam, nhưng bị lực lượng vây của ta chặn đánh. 14 giờ 30 phút, Đại đội 2 đánh bật địch khỏi chốt 304, tiếp tục phát triển tiến công về phía chỉ huy tiểu đoàn địch, đồng thời dùng cối 82mm bắn vào điểm cao 902.

Sau một ngày tiến công, kết quả rất hạn chế. 17 giờ, chỉ huy trung đoàn quyết định dùng Đại đội 1 mở một mũi tiến công mới từ hướng tây bắc vào quân địch ở bình độ 900, đồng thời cho Tiểu đoàn 1 dừng tiến công, xốc lại đội hình, chuẩn bị cho đợt tiến công ngày hôm sau.

Từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3, được hoả lực đi cùng chi viện, quân ta liên tục bao vây, vận động tiến công tiêu diệt hết cụm địch này đến cụm địch khác.

Sau 5 ngày liên tục chiến đấu, trung đoàn đã tiêu diệt 168 tên địch, bắt 2 tên, bắn rơi 19 máy bay các loại của địch, thu nhiều vũ khí. Trận đánh góp phần bảo vệ hậu phương, tạo thuận lợi cho trung đoàn chuẩn bị bước vào chiến dịch Xuân Hè 1972.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:46:58 am
TRẬN KÊNH BÙI CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 25
(28.3 - 5.4.1972)

Trận vây lấn của Đại đội đặc công 25 Trung đoàn bộ binh 88; đánh vào đại đội bảo an 86 tiểu khu Kiến Tường giữ đồn Kênh Bùi, xã Tân Ninh, vùng 4 Kiến Tường (nay là huyện Tháp Mười, tỉnh Long An); nhằm tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thuận lợi cho hành lang vận chuyển từ biên giới Campuchia xuống đồng bằng sông Cửu Long, giúp lực lượng vũ trang tại chỗ phát triển.

19 giờ ngày 28 tháng 3, đại đội hành quân chiếm lĩnh trận địa, làm công sự vây lấn. 3 giờ ngày 29, một phát đạn B41 bắn vào đồn chính ra hiệu lệnh tiến công. Tiếp đó B40, lựu đạn, thủ pháo đánh cả ba phía đồn Kênh Bùi. Địch trong đồn tưởng ta đang tiếp cận nên cho toàn bộ mìn Claymo nổ ra phía các hàng rào để chặn ta tiến công. Chúng không ngờ đây là kế nghi binh của ta vì hôm sau nếu chúng ra bố trí mìn sẽ bị ta tiêu diệt vì quân ta đã ở trong hàng rào thứ hai của chúng.

Từ ngày 29 tháng 3 trờ đi, lực lượng vây lấn thường xuyên dùng lựu đạn, B40, B41 bắn vào đồn gây cho địch căng thẳng và tổn thất, nhưng chúng không ra hàng. Trước sự ngoan cố của địch, trung đoàn quyết định tăng cường cho Đại đội 25 một khẩu ĐKZ 75mm. 19 giờ ngày 3 tháng 4, ĐKZ bắn vào lô cốt địch; những phát đạn ĐKZ đã gây chấn động mạnh đến tinh thần quân lính trong đồn, chúng gọi loa xin cho chạy khỏi đồn, chỉ huy trận đánh ra lệnh cho địch ra khỏi đồn không được mang vũ khí, đồng thời chỉ thị cho lực lượng vây lấn khi địch ra khỏi đồn phải nhanh chóng vào chiếm đồn, bộ phận phục kích sẵn sàng đánh địch, không cho chúng chạy thoát.

6 giờ ngày 5 tháng 4, ta phát hiện địch bắt đầu rút ra khỏi đồn về hướng nam, chúng mang theo toàn bộ trang bị, vũ khí. Một bộ phận quân ta đã chặn địch ở ngoài công sự, buộc chúng phải lợi dụng các bờ ruộng chống trả. Trong quá trình chiến đấu, ta đã bắt được tên đại uý đồn trưởng, ta buộc tên đồn trưởng phải ra lệnh cho quân lính ra hàng.

Sau nhiều ngày chiến đấu, ta diệt 6 tên, bắt 74 tên; thu 1 khẩu Cối 81mm, 1 khẩu cối 60mm, 6 khẩu đại liên, 9 khẩu M79, 72 khẩu M16, 8 máy thông tin PRC25 và nhiều đạn dược.

Trận Kênh Bùi để lại những kinh nghiệm tốt về chấp hành chính sách tù hàng binh; về liên tục chiến đấu mở vùng, mở mảng; về khen thưởng, kỷ luật kịp thời sau mỗi trận chiến đấu.

TRẬN ĐIỂM CAO 1049 CỦA TRUNG ĐOÀN 52 SƯ ĐOÀN 320
(30.3 - 3.4.1972)

Trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 52 Sư đoàn 320, diệt tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 2 địch ở điểm cao 1049; thực hành bước 1 chiến dịch Xuân Hè (1972) nhằm khêu ngòi, kéo chủ lực địch ra để tiêu diệt.

Điểm cao 1049 nằm trên dãy cao điểm ở phía tây bắc thị xã Kon Tum, nay thuộc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, gồm có bốn mỏm: A, B, C và đồi Không tên.

Chiếm giữ điểm cao có một tiểu đoàn dù địch, quân số khoảng 300 tên. Địch tổ chức phòng ngự hình vòng khép kín với các tuyến hào có nắp; các bãi mìn chống bộ binh được bố trí xen kẽ giữa các hàng rào dây thép gai. Ngoài hoả lực pháo binh và máy bay trực tiếp chi viện, địch ở điểm cao 1049 còn được lực lượng của các tiểu đoàn dù 2, 3 sẵn sàng ứng cứu chi viện kịp thời.

Khi bước vào chiến đấu, Trung đoàn 52 có ba tiểu đoàn bộ binh và các phân đội hoả lực, ngoài ra được tăng cường một đại đội 12,7mm, một đại đội 14,5mm; một đại đội cối 120mm, một trung đội ĐKZ 75mm. Sau khi nghiên cứu tình hình địch ta và địa hình, trung đoàn hạ quyết tâm chia thành bốn hướng tiến công địch.

6 giờ ngày 30 tháng 3, quân ta nổ súng thực hành vây lấn, do trận địa hoả lực bố trí xa địch nên kết quả bắn phá không cao, đạn ít trúng mục tiêu, các trận địa hoả lực bị lộ. Địch phản ứng quyết liệt, máy bay, pháo binh đánh phá dữ dội vào trận địa ta, đồng thời địch trong trận địa tổ chức bốn đợt phản kích, lực lượng mỗi đợt khoảng một trung đội vào các hướng tiến công của ta. Đại đội súng máy phòng không 12,7mm đã dũng cảm đánh trả quyết liệt hàng chục lần tiến công của máy bay địch, bắn rơi bốn chiếc, bẻ gãy bảy đợt tiến công của bộ binh địch vào trận địa. 12 giờ, hệ thống đường dây thông tin chỉ huy của trung đoàn bị đứt, vị trí chỉ huy của các tiểu đoàn bị đánh phá, các trận địa 12,7mm bị khống chế mạnh, ở tất cả các mũi hướng quân ta đều có thương vong.

Rút kinh nghiệm, đêm 30 rạng sáng ngày 31 tháng 3, tất cả các hướng đều tổ chức đánh địch, tăng cường vây lấn, áp sát hàng rào của chúng. Trên hướng tây nam, quân ta chiếm được mỏm đồi C, diệt 23 tên địch. Trên hướng đông bắc và tây bắc, ta bí mật cắt gỡ hàng rào và xung phong đánh chiếm được một số tuyến hào của địch, có nơi cách đỉnh đồi 200m.

Ngày 1 tháng 4, ta tiến hành nhiều đợt hoả lực bắn phá trận địa địch, diệt 35 mục tiêu, địch ở đồi Không tên phải rút vào đồi B cố thủ. Quân ta trên các hướng vây ép áp sát hơn. Địch điều hai đại đội từ các điểm cao lân cận đến giải toả bị quân ta chặn đánh, diệt và bắt 39 tên. Kế hoạch ứng cứu chi viện của địch bị đánh bại.

Ngày 2 tháng 4, địch điều chỉnh lại đội hình phòng ngự, tổ chức lực lượng, giải toả cho điểm cao 1049 nhưng không thành. Quân ta hạ quyết tâm tiến công đánh chiếm điểm cao.

3 giờ 30 phút, ngày 3 tháng 4, ta bất ngờ đồng loạt nổ súng bắn phá sở chỉ huy và trận địa địch ở đồi A, B. 4 giờ, quân ta mở thông cửa mở đánh chiếm đầu cầu. 6 giờ, ta chiếm khu đông bắc và tây bắc đồi A. Mất trận địa, địch điên cuồng dùng máy bay và pháo binh oanh tạc dữ dội điểm cao 1049, đồng thời bộ binh địch phản kích chiếm lại đồi A và B. Bom đạn trùm lên khắp đội hình, ta lui về trận địa vây ép, tổ chức lực lượng chốt giữ đồi Không tên, đồi C để tạo thế sẵn sàng tiến công tiếp.

Kết quả ta đã diệt 190 tên địch, bắn rơi 12 máy bay, thu nhiều vũ khí trang bị, thực hiện được ý định kéo địch ra để diệt và giam chân địch lại, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiến công giành thắng lợi lớn hơn.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:47:47 am
TRẬN LỘC TẤN CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 3
(5 - 6.4.1972)

Trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 3 Sư đoàn 9, được tăng cường một đại đội cối 120mm, nhằm đánh vào trung đoàn thiết giáp số 1 (thiếu chi đoàn 2), tiểu đoàn 74 biệt động quân và tiểu đoàn 2 chiến đoàn 9 sư đoàn 5 địch ở xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Long (nay là tĩnh Bình Phước).

Để tiêu diệt địch, trung đoàn sử dụng Đại đội 3 tăng cường hai khẩu ĐKZ 75mm và một số mìn chống tăng xây dựng trận địa chốt chặn ở phía đông đồi Lộc Tấn, cách Làng 5 khoảng 600m làm nhiệm vụ ngăn chặn địch, tạo thời cơ cho trung đoàn vận động tiến công địch trên quốc lộ 13.

3 giờ ngày 5 tháng 4, Đại đội 3 cùng công binh chiếm lĩnh trận địa xong, xây dựng công sự, chuẩn bị đánh địch theo kế hoạch chiến đấu.

5 giờ 30 phút, các đơn vị đã chiếm lĩnh và cơ bản làm xong công sự chiến đấu.

9 giờ 55 phút, địch cho ba xe theo trục quốc lộ 13 từ Làng 5 chạy xuống, bị ta bắn cháy hai xe, một xe quay lại dùng hoả lực bắn vào trận địa Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8. Bộ đội ta một mặt tăng cường nắm địch, mặt khác sử dụng công binh ngả cây làm vật cản chặn địch trên đoạn đường 200m sau các đại đội 1 và 2.

12 giờ, xe tăng địch tiếp tục tiến công theo đường 13, bị ta bắn cháy một chiếc, các xe phía sau dừng lại bắn vào trận địa Đại đội 3 và đại đội ĐKZ.

12 giờ 45 phút, pháo cối địch từ Làng 9 và Hoa Lư bắn mạnh về tây Làng 5, tiếp đó 10 xe tăng địch cùng bộ binh tiến công vào trận địa Đại đội 3. Để địch đến gần, Tiểu đoàn 7 cùng đại đội ĐKZ nổ súng ngăn chặn, Tiểu đoàn 8 được lệnh dùng các đại đội 5 và 7 vận động thành hai mũi lên tây bắc Tiểu đoàn 7 đánh vào cạnh sườn địch. Sau 30 phút chiến đấu, ta bắn cháy 6 xe và diệt một số bộ binh. Địch còn lại bỏ chạy về Làng 5 dựa vào đồn bảo an kháng cự và tổ chức đợt tiến công tiếp. 14 giờ 30 phút, địch dùng 20 xe tăng, xe thiết giáp và bộ binh địch tiến xuống cánh trái đội hình Tiểu đoàn 7, các đại đội của Tiểu đoàn 7 nổ súng đánh địch. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 8 xuất kích hai mũi đánh vào sườn, Tiểu đoàn 9 sử dụng các đại đội 10, 11 khoá đuôi, cối của tiểu đoàn và trung đoàn đánh địch chi viện cho bộ binh xung phong. Trận đánh kéo dài đến 17 giờ 30 phút mới kết thúc. Địch bị thiệt hại nặng phải quay về Làng 5 co cụm, củng cố để chuẩn bị cho ngày hôm sau phá vây tháo chạy.

Phát hiện địch co cụm, trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 9 tổ chức bộ phận hoả lực gồm cối 60mm, B40, B41 tập kích cụm địch ở bắc Làng 5. 22 giờ, bộ phận tập kích nổ súng diệt địch. Để bảo đảm cho trận chiến đấu ngày hôm sau, trung đoàn điều chỉnh lực lượng hoả lực tăng cường cho Tiểu đoàn 9 bố trí sát ngoài đường cùng với bộ bình chiến đấu.

Ngày 6 tháng 4, địch tập trung sức mạnh của toàn bộ xe tăng, xe thiết giáp còn lại tiến công trên hướng đường 13 để đẩy ta ra xa, tiếp tục đưa lực lượng về ứng cứu cho Lộc Ninh.

8 giờ, pháo cối địch bắn phá ác liệt, tiếp đó khoảng một đại đội bộ binh và xe tăng đi về hướng đông Đại đội 3. Nắm được ý đồ của địch, trung đoàn chỉ thị Tiểu đoàn 7 sử dụng Đại đội 2 vận động ra ngăn chặn, không cho chúng thoát về Lộc Ninh. Tiếp đó, các lực lượng của các tiểu đoàn 7, 9 hình thành nhiều mũi bao vây, tiêu diệt và bắt nhiều địch. Đến 11 giờ 30 phút, địch cơ bản bị tiêu diệt, số còn lại chạy trốn vào rừng.

Chớp thời cơ địch đang dao động, 15 giờ trung đoàn tổ chức lực lượng bao vây phá ấp chiến lược Làng 5, kêu gọi địch ra hàng. Ta thu nhiều vũ khí, lương thực và quân dụng.

Qua hai ngày chiến đấu, ta diệt và bắt 950 tên địch (bắt 490 tên), bắn cháy và thu 104 xe các loại (trong đó có 71 xe tăng, xe thiết giáp), thu 399 khẩu súng (có 4 khẩu pháo).

Chiến thắng Lộc Tấn để lại nhiều kinh nghiệm quý về vận dụng chiến thuật vận động tiến công, trong đó nổi bật lên những nội dung chính: Nghiên cứu kỹ địa hình, chọn khu vực tập trung diệt địch chính xác, tổ chức thế trận đánh địch cơ động; xác định cách đánh vận động tiến công kết hợp chốt ở Lộc Tấn là phù hợp và sáng tạo; tổ chức trang bị cho bộ đội phải phù hợp với đặc điểm chiến đấu của mỗi trận đánh để tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ; làm tốt. công tác đảng, công tác chính trị sẽ giải quyết được khó khăn, tạo thêm sức mạnh tinh thần, giành thắng lợi trọn vẹn cho trận đánh.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:49:58 am
TRẬN KÔNG TRĂNG LĂNG LOI CỦA ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 19
(7.4.1972)

Trận tập kích của Đại đội đặc công 19 Trung đoàn bộ binh 28, được tăng cường một tổ trinh sát, một tiểu đội vận tải, một tổ phẫu; nhằm đánh vào trận địa pháo (4 khẩu 155mm của lữ đoàn dù 2 và 5 khẩu 105mm của quân đoàn 2, một khẩu cối 106,7mm, hai khẩu cối 81mm, một đại đội lính dù làm nhiệm vụ bảo vệ, ba kho đạn, một kho xăng, cùng một số xe bọc thép, xe kéo pháo) của địch ở Kông Trăng Lăng Loi, nay thuộc xã Hà Mòn, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum.

13 giờ ngày 6 tháng 4, đại đội rời vị trí tập kết vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

0 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4, các mũi vượt qua hàng rào trong cùng. 20 phút sau tổ luồn sâu của mũi chủ yếu bám được tuyến công sự địch mới làm, cách mục tiêu chừng 5 đến 7m. Khi còn 10 phút mới đến giờ nổ súng, mũi thứ yếu 1 vấp mìn sáng. Lập tức đại đội trưởng lệnh cho tổ luồn sâu chuyển thành thọc sâu, các tổ khác nhanh chóng vượt rào đánh vào các mục tiêu được phân công. Ngay phút đầu ta đã diệt quân địch ở khu truyền tin và các mục tiêu xung quanh. Tố 2 đánh tràn qua các vị trí bảo vệ vòng ngoài vào diệt các pháo thủ của pháo 155mm. Địch trong căn cứ tưởng ta pháo kích nên chủ yếu tránh vào các hầm cố thủ, chỉ một số chống cự lại. Sau 20 phút chiến đấu, mũi chủ yếu làm chủ hai phần ba trận địa về phía bắc và đông bắc, tiếp đó phát triển về phía tây nam, đánh vào kho đạn.

Ở hướng thứ yếu 1, sau khi vấp mìn chiếu sáng, đại đội phó ở phía sau lùi ra, một số chiến sĩ thấy vậy cũng lùi ra theo. Trung đội trưởng cùng một tổ phía trước đạp rào đánh chiếm được 5 công sự, nhưng bị thương nên cả tổ rút ra.

Ở hướng thứ yếu 2, khi mũi chủ yếu nổ súng, các chiến sĩ vượt rào đánh vào các mục tiêu theo nhiệm vụ, nhưng bị một khẩu đại liên của địch ở tuyến công sự vòng ngoài bắn chặn. Lập tức chiến sĩ B40 nổ súng tiêu diệt hoả điểm địch. Tiếp đó, ta phát triển chiến đấu, chiếm được một số công sự. Đang đánh vào bên trong thì hoả lực của địch bắn chặn làm hai người bị thương, hai chiến sĩ còn lại không đánh tiếp mà đưa thương binh ra ngoài.

Ở mũi chủ yếu, ta đánh chiếm cả trận địa pháo 155mm và 105mm, khu truyền tin, vị trí chỉ huy, diệt một số xe thiết giáp, phá huỷ pháo và xe cộ. Trước sức tiến công mạnh và bất ngờ của ta, một số địch bị diệt, một số hốt hoảng bỏ chạy. Mũi chủ yếu phát triển xuống tây nam và đông nam, đánh vào kho đạn, kho xăng; đạn nổ; xăng cháy diệt thêm một số địch.

2 giờ 15 phút, ta làm chủ hầu hết trận địa, phá huỷ toàn bộ pháo đạn và xe quân sự; đạn nổ, xăng cháy suốt 5 giờ liền. Khi địch đến cứu chữa, khẩu đội cối 82mm tiếp tục tập kích vào Kông Trăng Lăng Loi diệt thêm một số tên, phá huỷ một xe ô tô.

Trận đánh thắng lợi đã hỗ trợ tích cực cho các đơn vị bạn tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở bờ tây sông Pô Cô trong giai đoạn 1 chiến dịch Tây Nguyên năm 1972.

TRẬN TÂY NAM ĐIỂM CAO 1015 CỦA TRUNG ĐOÀN 64 SƯ ĐOÀN 320
(11 - 15.4.1972)

Trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 Sư đoàn 320, diệt tiểu đoàn 11 lữ đoàn dù 3 địch ở tây nam điểm cao 1015, góp phần quan trọng tạo thế phát triển cho chiến dịch Xuân Hè 1972 ở Tây Nguyên.

Khu vực điểm cao 1015 nằm trong dãy núi chạy dài theo hướng bắc - nam, cách thị xã Kon Tum 34km về phía tây nam thuộc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Ngày 2 tháng 4, địch dùng trực thăng đổ tiểu đoàn 11 lữ đoàn dù 3 xuống tây nam điểm cao 1015 chiếm giữ các mỏm M1, D2, D3, quân số khoảng 433 tên, được trang bị ĐKZ 57mm, cối 81mm, còn lại là tiểu liên AR15. Địch xây dựng công sự, vật cản dày đặc, tổ chức hỏa lực nhiều tầng, ngoài ra được pháo binh, máy bay chi viện đắc lực.

Lũ đoàn dù 3 đã từng đọ sức với Trung đoàn 64 lần đầu trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Vào giai đoạn đỉnh cao của chiến dịch, Trung đoàn 64 đã diệt hai tiểu đoàn của lữ đoàn dù 3, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ đoàn trưởng. Lần này, địch tuyên bố sẽ “nghiền nát Sư đoàn 320 Bắc Việt tại Tây Nguyên” để rửa hận, đặc biệt sau trận ta đánh ở điểm cao 1049 không thành, địch càng hung hăng.

Lực lượng của Trung đoàn 64 tham gia trận đánh có hai tiểu đoàn bộ binh (8, 9) và các đơn vị trực thuộc, được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 Trung đoàn 48, một đại đội súng máy phòng không 12,7mm, một đại đội cối 120mm, hai khẩu cối 82mm, hai khẩu ĐKZ 75mm, ngoài ra còn được hai đại đội pháo của Trung đoàn pháo binh 675 chi viện. Trung đoàn quyết tâm tổ chức tiến công địch trên ba hướng. Hướng chủ yếu gồm một tiểu đoàn bộ binh được tăng cường một đại đội 12,7mm, một đại đội ĐKZ 75mm; được pháo cối của cấp trên và trung đoàn chi viện, có nhiệm vụ đột kích từ hướng nam - tây nam vào mỏm M1. Hướng thứ yếu gồm một tiểu đoàn (thiếu một đại đội), được tăng cường hai khẩu 12,7mm, hai khẩu ĐKZ 75mm và hỏa lực cấp trên chi viện, bất ngờ tiến công trên hướng tây - tây bắc vào các mỏm D2, D3. Hướng bao vây gồm một tiểu đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt và ngăn chặn không cho địch đánh chiếm mỏm D1 và dãy đồi K.

Ngày 11 tháng 4, trên các hướng quân ta triển khai đội hình chiếm lĩnh trận địa.

10 giờ ngày 12 tháng 4, pháo binh ta tiến hãnh hỏa lực chuẩn bị, ngay từ những loạt đạn đầu, đạn pháo của ta đã bắn trúng vào vị trí chỉ huy tiểu đoàn địch. Bộ đội hình thành nhiều mũi đồng loạt xung phong. Trên hướng chủ yếu, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, kéo dài, ta và địch giành đi giật lại từng đoạn hào, mô đất. Địch dùng máy bay oanh tạc vòng ngoài, sử dụng trực thăng bắn phá vòng trong yểm trợ cho lực lượng đang bị ta tiến công. Quân ta phát triển gặp khó khăn, đại bộ phận bị địch ngăn chặn phải nằm bên ngoài hàng rào. Trên hướng thứ yếu, trận đánh kéo dài đến đêm, sau khi chiếm được mỏm D3, quân ta phát triển sang M1, địch chiếm địa hình có lợi chống trả ác liệt, không quân địch đánh phá dữ dội vào đội hình của ta. Vị trí chỉ huy tiểu đoàn bị trúng bom, tiểu đoàn trưởng và chính trị viên hy sinh. Quân ta phải dừng lại củng cố lực lượng.

Ngày 13 tháng 4, ta đánh bại các đợt phản kích của địch, riêng mỏm D3 bị địch chiếm lại. Ngày 14 tháng 4, sau đòn tập kích hỏa lực chính xác vào trận địa địch; trên các hướng, quân ta dùng mìn định hướng ĐH10 và bộc phá mở thông cửa mở đánh thẳng lên mỏm M2. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, ta đưa đội dự bị vào chiến đấu, sau gần 1 giờ bộ đội chiếm được mỏm M2, địch cụm lại ở mỏm M1 dùng máy bay và trực thăng bắn phá dữ dội vào đội hình ta. Bằng cách đánh mưu trí, dũng cảm, trong 15 phút chiến đấu, đại đội phòng không của trung đoàn đã bắn rơi 5 máy bay địch. Sáng sớm ngày 15 tháng 4, trước sức tiến công liên tiếp của ta, địch hoảng sợ bỏ chạy, quân ta truy kích tiêu diệt và bắt hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí trang bị.

Kết quả từ ngày 11 đến 15 tháng 4, ta tiêu diệt gọn tiểu đoàn 11 lữ đoàn 3 dù, loại khỏi vòng chiến đấu 426 tên địch; bắn rơi 20 máy bay, thu 160 súng các loại.

Mất điểm cao 1015 địch phải co về giữ tuyến phòng thủ cơ bản từ Võ Định đến thị xã Kon Tum. Trận đánh tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi trong chiến dịch Xuân Hè 1972, mở rộng vùng giải phóng, hình thành căn cứ địa lớn, vững mạnh ở Tây Nguyên.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:51:07 am
TRẬN NÚI MỘT CỦA ĐẠI ĐỘI 30
(13.4.1972)

Trận tập kích của Đại đội 30 đặc công thị đội Quy Nhơn (45 người trang bị chủ yếu là tiểu liên, thủ pháo và ba khẩu B41), nhằm đánh vào một đại đội và ban chỉ huy tiểu đoàn bảo an (khoảng 150 tên) giữ cứ điểm Núi Một trong thị xã Quy Nhơn (có hầm ngầm, giao thông hào, lô cốt và một khẩu ĐKZ 75mm, hai khẩu đại liên, ba khẩu cối 81mm; xung quanh có 5 lớp rào dây thép gai xen kẽ chông, mìn các loại).

15 giờ ngày 12 tháng 4 năm 1972, đại đội hành quân chiếm lĩnh trận địa. 22 giờ, vượt sông Hà Thành bí mật vượt qua cổng chính, chia thành hai mũi vào các mục tiêu. 1 giờ ngày 13 tháng 4, trên, hướng chủ yếu, đội trưởng dùng thủ pháo đánh vào nhà chỉ huy địch, làm hiệu lệnh nổ súng. Tiếp đó, cả đơn vị dùng thủ pháo, lựu đạn, B41 diệt các khẩu đội đại liên, cối; đánh địch trong các lô cốt. Bị đánh bất ngờ, địch lúng túng không kịp đối phó, những tên sống sót chạy xuống hầm ngầm, ta dùng bộc phá 10kg đánh vào, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong hầm. Cùng thời gian, đơn vị bạn đánh địch ở cảng Quy Nhơn, ngã ba Đống Đa - Đường 19 nên địch các nơi không đưa lực lượng ra ứng cứu được.

Sau 15 phút chiến đấu, 120 tên địch bị diệt; một khẩu ĐKZ 75mm, một khẩu cối 81mm, một máy 15W, một máy phát diện bị phá hủy. Ta íhu 30 súng tiểu liên AR15, hai khẩu cối 81mm, hai khẩu dại liên, ba khẩu súng M79. Đơn vị lui quân an toàn.

Thắng lợi của trận đánh cho thấy: Công tác chuẩn bị chiến trường phải chu đáo, tỷ mỷ, đặc biệt là công tác trinh sát, tổ chức cán bộ từ đại đội, đến trung đội đột nhập vào điều tra cụ thể từng lô cốt, nhà chỉ huy, tổ điện đài, trận địa cối...; chuẩn bị tốt về lực lượng, vũ khí đảm bảo tiêu diệt các mục tiêu; vận dụng cách đánh phù hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các tổ, mũi, đồng loạt tiến công các vị trí quán địch, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

TRẬN CĂN CỨ 42 TÂN CẢNH CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 66
(24.4.1972)

Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của Trung đoàn bộ binh 66 Mặt trận Tây Nguyên được tăng cường Tiểu đoàn đặc công 37, Đại đội 7 xe tăng, Đại đội 53 pháo phòng không tự hành, Đại đội 2 tên lửa chống tăng, các đại đội 46, 49 súng máy phòng không 12,7mm, một đại đội cối 120mm, một đại đội ĐKZ 75mm, quá trình chiến đấu được hỏa lực của cụm pháo binh Sư đoàn 2, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn pháo binh 65 và pháo của Trung đoàn 40 chi viện; đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 22, các sở chỉ huy của trung đoàn 42, trung đoàn 14 thiết giáp và các vị trí chỉ huy của các tiểu đoàn 1, 2, 4, trung đoàn 42, sở chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum và các đại đội bảo vệ, trinh sát, công binh, một thiết đoàn (41 xe tăng, xe bọc thép), một tiểu đoàn pháo binh giữ căn cứ 42 - Tân Cảnh (khoảng 1.500 quân) thuộc thị trấn Tân Cảnh, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum; nhằm tiêu diệt quân địch, cùng các lực lượng khác giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh.

Từ ngày 20 tháng 4 năm 1972, trung đoàn tiến hành tiêu diệt các vị trí địch chốt giữ ngoại vi Tân Cảnh, tạo điều kiện cho các lực lượng vào chiếm lĩnh trận địa được bí mật và an toàn.

Ngày 23 tháng 4, hỏa lực pháo binh bắn phá hoại công sự. trận địa địch: các hướng cắt rào, mở cửa để bộ binh và xe tăng đánh chiếm các mục tiêu bên trong.

Phát hiện các lực lượng ta chuẩn bị tiến công, địch cho bộ binh, xe tăng ra chặn các cửa mở, phản kích liên tục không cho ta cắt rào, gổ mìn; dùng không quân đánh phá ngăn chặn ta cơ động vào vị trí xuất phát tiến công.

Trên đường tiến vào vị trí xuất phát tiến công, các lực lượng của ta tiếp tục diệt các vị trí ngoại vi, đánh bại các lực lượng cơ động của địch ra phản kích.

4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, các hỏa lực của trung đoàn bắt đầu bắn phá hoại và tiêu diệt địch trên hướng cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh đột kích đánh chiếm đầu cầu.

Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, trên các hướng được hỏa lực pháo binh và xe tăng chi viện, bộ đội ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu bên ngoài Tân Cảnh, nhanh chóng vượt qua cửa mở, đánh chiếm các mục tiêu bên trong căn cứ. Trận chiến đấu kéo dài đến 17 giờ ngày 24 tháng 4 năm 1972.

Sau hơn 6 giờ liên tục đánh địch, ta chiếm được căn cứ 42 và thị trấn Tân Cảnh; loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch; bắt 429 tên (có đại tá sư đoàn trưởng); bắn rơi 8 máy bay; thu và phá gần 100 xe các loại, 10 khẩu pháo lớn (4 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm), 9 xe tăng, xe bọc thép, hàng vạn viên đạn các loại.

Tiêu diệt căn cứ 42 - Tân Cảnh, ta đã phá vỡ căn cứ chỉ huy của Mỹ - ngụy ở phía bắc tỉnh Kon Tum, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Đắc Tô -Tân Cảnh, hoàn thành trận then chốt của giai đoạn 1 chiến dịch tiến công Tây Nguyên, tạo thuận lợi để ta chuyển sang giai đoạn 2 tiêu diệt toàn bộ quân địch, hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch.


Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2020, 09:52:40 am
TRẬN XÓM ĐÁ - ĐỒNG XUÂN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 460
(28.4.1972)

Trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 460 tỉnh Khánh Hòa, nhằm đánh vào đại đội bảo an 216 tại xóm Đá - Đồng Xuân thuộc xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại đội bảo an 216 có khoảng 100 tên, trang bị một khẩu cối 61mm, hai khẩu đại liên, còn lại là súng trường và tiểu liên. Để ngăn chặn lực lượng ta xâm nhập xuống vùng Ninh Phụng, Ninh Trung, quận lỵ Ninh Hòa và bắc Dục Mỹ, địch sử dụng đại đội 216 chốt ở xóm Đá - Đồng Xuân, ban ngày chúng cho 7 đến 10 tên lùng sục ở Tân Tứ, dọc sông Đá, tối co về ấp Đồng Xuân.

Tiểu đoàn 460 có các đại đội bộ binh 71, 94, 95, Đại đội trợ chiến 97. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt địch, tiểu đoàn tổ chức lực lượng tiến công trên ba hướng. Hướng chủ yếu tiến công theo hướng tây bắc đánh thẳng vào ban chỉ huy đại đội và hai trung đội bảo an đóng tại ấp Đồng Xuân. Hướng tiến công thứ yếu 1 từ phía tây ấp Đồng Xuân đánh vào ấp Đồng Xuân. Hướng tiến công thứ yếu 2 từ đông bắc đánh vào Tân Lâm diệt trung đội nghĩa quân.

0 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công.

4 giờ 45 phút, trận đánh mở đầu bằng hỏa lực của tiểu đoàn và các đại đội chế áp trung tâm ấp. Đồng Xuân. Cùng lúc đó, các mũi tiến công, của các đại đội 95, 71 thực hành đánh chiếm một số nhà vòng ngoài ấp Đồng Xuân, Đại đội 94 đánh thẳng vào trung đội nghĩa quân ở ấp Tân Lâm.

Sau 20 phút chiến đấu, trên các hướng tiến công, ta diệt một số địch; đến 6 giờ 30 phút, cơ bản diệt xong cụm địch ở ấp Đồng Xuân, một số tên sống sót chạy về xóm Đá. Tiểu đoàn tổ chức 3 mũi: Đại đội 95 đánh thẳng từ Đồng Xuân xuống xóm Đá, Đại đội 71 đánh phía tây xóm Đá, Đại đội 94 đánh phía đông xóm Đá. Đến 7 giờ 40 phút, ta làm chủ trận đánh, 95 tên địch bị diệt, 3 tên bị bắt. Ta thu một khẩu cối 61mm, một khẩu đại liên, nhiều tiểu liên, súng trường và nhiều trang bị quân sự khác.

Đây là lần đầu tiên tiểu đoàn vận dụng thành công chiến thuật tập kích và vận động tiến công địch ban ngày. Thắng lợi của trận đánh cho thấy: Phải xây dựng quyết tâm chiến đấu cao; có kế hoạch chiến đấu chính xác, sáng tạo; chỉ huy linh hoạt, sâu sát, kịp thời.

TRẬN LAM SƠN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 1 TRUNG ĐOÀN 48
(1.5.1972)

Trận tiến công địch phòng ngự trong công sự dã chiến của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh 48, được tăng cường 2 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu 12,7mm, 2 khẩu cối 82mm, quá trình chiến đấu được hỏa lực cối 120mm của trung đoàn chi viện; nhằm đánh vào cụm bộ binh và xe tăng thuộc tiểu đoàn 34 biệt động quân của địch ở căn cứ Lam Sơn (điểm cao 601 bắc), nay thuộc xã Đak La, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum.

18 giờ ngày 29 tháng 4, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa. Do có thay đổi kế hoạch tác chiến của trên, đến 0 giờ 30 phút ngày 1 tháng 5, bộ đội mới vào chiếm lĩnh trận địa. 2 giờ 30 phút tiểu đoàn chiếm lĩnh xong.

3 giờ 10 phút ngày 1 tháng 5, cối 82mm bắn dồn dập vào đồi B. Trên các hướng ĐKZ, B40, B41 và các loại hỏa lực khác bắn vào các mục tiêu được phân công. Các đại đội 3 và 2 đều báo cáo bắn cháy xe tăng địch.

3 giờ 30 phút, địch dùng máy bay B52 ném bom sát trận địa phía tây căn cứ Lam Sơn, dọc suối và vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn 1. Đường dây thông tin liên lạc giữa tiểu đoàn và trung đoàn bị đứt, trung đoàn phải liên lạc bằng vô tuyến điện.

4 giờ 20 phút, quân địch ở đồi B bị diệt một số và co cụm lên đỉnh đồi và yên ngựa giữa đồi A và B. Sau nhiều lần xung phong, đến 5 giờ 30 phút, Đại đội 2 và Đại đội 3 làm chủ được đồi B, diệt phần lớn quân địch, một số sống sót và lính xe tăng chạy sang đồi A và đường 14, hai xe tăng bị bắn cháy. Ta thu được 3 xe tăng.

Ngay sau khi chiếm được đồi B, tiểu đoàn quyết định tổ chức lực lượng đánh chiếm đồi A. Theo lệnh của tiểu đoàn trưởng, các loại hỏa lực tập trung bắn vào đồi A, khi cối tạm dừng, bộ binh từ đồi B xung phong đánh chiếm đồi A. Do chỉ huy không chặt, thiếu cụ thể, không trực tiếp, hỏa lực chuẩn bị và chi viện cho bộ binh không chế áp được địch, lực lượng địch trụ bám ở đồi B quá đông, lực lượng ta xung phong ít nên cả ba lần xung phong điều bị địch chặn lại. Chúng tập trung hỏa lực bắn vào đồi B làm nhiều chiến sĩ thương vong. Trước tình hình đó, tiểu đoàn tạm dừng tiến công, tổ chức bám trụ đồi B để tiến công địch vào ban đêm.

Trước khó khăn của Tiểu đoàn 1, trung đoàn trưởng và một số cán bộ trung đoàn xuống kiểm tra, giúp tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ, tăng cường Đại đội 11 cho Tiểu đoàn 1 làm lực lượng dự bị. 18 giờ, trung đoàn trưởng cùng tiểu đoàn trưởng xuống tận các hướng, các mũi hướng dẫn bộ đội áp sát mục tiêu.

21 giờ 30 phút, ta phát hiện địch rút khỏi đồi A. Tiểu đoàn được lệnh sử dụng lực lượng lùng sục tiêu diệt và bắt tù binh địch, thu chiến lợi phẩm. Khi ta vào đồi A thấy 15 xác chết và 3 quân địch bị thương, chúng khai toàn bộ quân địch đã rút khỏi đồi A lúc 17 giờ sau khi chúng bắn dữ dội vào đồi B và xung quanh đồi A.

Trận đánh kết thúc, ta diệt 59 tên địch, bắt 4 tên, bắn cháy 5 xe tăng; thu hai khẩu ĐKZ 57mm, nhiều súng bộ binh, 5 khẩu pháo 105mm, một khẩu 106,7mm, 7 xe vận tải.

Trận tiến công cụm bộ binh, xe tăng của địch ở căn cứ Lam Sơn là trận đánh đầu tiên của Tiểu đoàn bộ binh 1 trên chiến trường Tây Nguyên. Trận đánh thắng lợi đã góp phần cùng đơn vị bạn phá vỡ một mắt xích trong tuyến phòng thủ vòng ngoài phía bắc thị xã Kon Tum của địch trong chiến dịch Xuân Hè 1972.

Qua trận đánh, tiểu đoàn đã rút được nhiều kinh nghiệm chiến đấu trên địa bàn mới với đối tượng tác chiến được hỏa lực chi viện manh, để vận dụng sáng tạo vào các trận sau.

TRẬN MỸ THUẬN CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 2009B
(2.5.1972)

Trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 2009B(1), được tăng cường 30 du kích xã; đánh vào liên đội 19 bảo an quân đội Sài Gòn ở Mỹ Thuận, xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho; nhằm tiêu diệt quân địch, rèn luyện bộ đội quen dần với chiến trường, nâng cao trình độ chỉ huy chiến đấu của cán bộ các cấp.

Sau khi nhận nhiệm vụ, tiểu đoàn hạ quyết tâm sử dụng lực lượng du kích xã Long Tiên vây ép đồn Đìa Đung, buộc địch phải đến giải toả để diệt địch ngoài công sự.

17 giờ ngày 30 tháng 4, tiểu đoàn từ phía bắc vượt qua lộ 4 vào chiếm lĩnh trận địa phục kích. Sáng ngày 1 tháng 5, Đại đội 3 sử dụng một tiểu đội cùng du kích bắn phá đồn Đìa Đung, diệt một số địch, chỉ huy đồn Đìa Đung phải liên tục xin ứng viện, giải toả.

6 giờ ngày 2 tháng 5, liên đội 19 bảo an địch phối hợp với dân vệ ở đồn xóm Chiếu, hành quân ứng viện cho đồn Đìa Đung. Chúng chia làm hai mũi: Mũi 1 từ Cầu Ván theo kinh Ba Dầu vào ấp 9, dọc đường tiến quân bị du kích chặn đánh, chúng phải dừng lại yêu cầu phi pháo đánh phá vào đội hình của ta. Mũi 2 từ xóm Chiếu vào rạch Xẻo Lá. Trung đội chặn đầu chưa được lệnh nổ súng, khi địch đến sát phát hiện trận địa ta, chúng nổ súng trước làm hai người của Đại đội 1 hy sinh. Địch đến gần công sự của trung đội phó, bị chặn đánh, chúng chống trả rồi chạy ra cánh đồng, xin pháo bắn mạnh vào rạch Xẻo Lá, sau đó rút về đồn xóm Chiếu.

8 giờ 10 phút cùng ngày, địch từ cánh đồng bí mật tiến dọc theo kinh Kháng Chiến vào đồn Đìa Đung. Khi 3 tên đi đầu vượt qua bộ phận chặn đầu ta mới phát hiện được và ra lệnh cho bộ phận chặn đầu nổ súng. Ngay loạt đạn đầu ta diệt 7 tên, địch lợi dụng bờ ruộng, bờ đìa chống trả quyết liệt. Cùng lúc, bộ phận khoá đuôi nổ súng, đạn cối bắn trúng đội hình địch làm chúng rối loạn. Các đại đội 2, 3 đồng loạt xung phong đánh vào đội hình địch. Trên hướng Đại đội 3, địch lợi dụng gò mả chống cự; Đại đội 3 không phát triển được. Đại đội 1 xin nổ súng nhưng được lệnh chờ cho Đại đội 2 đánh địch dạt dần sang thật gần mới nổ súng. Được hoả lực chi viện, các đại đội 2, 3 và trinh sát tiểu đoàn tích cực phát triển đánh vào quân địch, làm chúng không co cụm được mà chạy về hướng rạch Xẻo Lá. Khi địch còn cách công sự của Đại đội 1 khoảng 30m, đại đội trưởng Đại đội 1 lệnh cho toàn đơn vị nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy ra xa, một số bị diệt, một số bị thương; Đại đội 1 sử dụng một trung đội nhanh chóng kết hợp với Đại đội 3 khoá chặt địch, tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Do bộ phận khoá đuôi vận động chậm nên địch dồn về khu vực mả xây chống cự quyết liệt, ta dùng cối đánh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện để bộ binh diệt toàn bộ quân địch ở khu mả xây, nhưng bộ đội chưa vận động tới nơi thì địch đã chạy tán loạn ra lộ 20, pháo địch bắn nhiều vào trận địa gây nhiều khó khăn cho đơn vị.

Chỉ huy nhận định, liên đội 19 bị thiệt hại nặng, xác địch còn trong trận địa nên chúng phải đưa quân ứng cứu. Tiểu đoàn quyết định điều chỉnh thế trận sẵn sàng đánh địch ứng cứu.

Được phi pháo yểm trợ, quân địch đưa tiểu đoàn 402 bảo an tổ chức thành các mũi, các hướng vào giải vây, nhưng bị lực lượng vũ trang ta tiêu diệt, không dám tiến lên.

16 giờ, trận đánh kết thúc, 60 tên địch bị diệt, 9 tên bị bắt. Ta thu 51 súng các loại.

Tiểu đoàn 2009B là một đơn vị mới hành quân từ miền Bắc vào, chiến đấu trận đầu đạt hiệu suất cao. Có được chiến công như vậy là nhờ công tác nắm địch, trinh sát thực địa tốt; có phương án phù hợp với điều kiện địch, địa hình cụ thể; cán bộ sâu sát, xử trí kịp thời các tình huống xảy ra; có biện pháp đảm bảo chiến đấu hợp lý để giành thắng lợi.[


(1) Là tiểu đoàn gồm con em nhân dân tỉnh Nam Hà gửi vào chiến đấu cùng nhân dân tỉnh Mỹ Tho kết nghĩa, tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn đến chiến trường.