Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2020, 07:40:54 am



Tiêu đề: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2020, 07:40:54 am
 
        -Tên sách : Thành phố hòa bình

        - Tác giả : Ghê-o-rơ-ghi bê-re-dơ-cô

        - Đức Thuần - Hoàng Lan Dịch từ bản tiếng Nga

        - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1982

        - Nhà xuất bản Quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô Mát-xcơ-va — 1955

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:41:57 am

LỜI GIỚI THIỆU

        Tiểu thuyết Thành phố hòa bình giới thiệu với bạn đọc cuộc chiến đấu oanh liệt của quân đội và nhân dân Liên Xô anh hùng ở trước cửa ngõ thủ đô Mát-xcơ-va trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại chống bọn phát xít Đức xâm lược.

        Cuộc chiến đấu diễn ra từ đầu mùa thu đến cuối mùa đông 1941, khi toàn thể quân dân Mát-xcơ-va, từ các tưởng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ Xô-viết đến các chiến sĩ tự vệ công nhân, từ các tầng lớp trí thức đến người lao động bình thường, từ các cụ già công nhân viên chức đã về hưu đến các em thiếu nhi chưa đến tuổi cầm súng, đến các bà mẹ, những người vợ vừa tiễn con, tiễn chồng ra mặt trận đều một lòng quyết tâm, bằng mọi giá bẻ gẫy cuộc tiến công xâm lược của quân dội phát xít Đức đang hung hăng tiến về hướng Mát-xcơ-va với âm mưu chiến lược của chúng là chiếm dóng thủ đô Xô-viết vào trước ngày 7-11-1941. Phải chặn đứng quân địch lại không cho chúng bén mảng tới trước cửa ngõ thủ đô. Đó là mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh tối cao, là quyết tâm của quân đội, là lời thề của giai cấp công nhân và nhân dân Xô-viết anh hùng.

        Tác phẩm đã dựng lên được khung cảnh của cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn hết sức phong phú. Ở đây ta thấy được quyết tâm và tài nghệ chỉ huy của các tướng lĩnh quân đội Xô- viết từ đồng chí Tổng tư lệnh tối cao Xta-lin đến những cán bộ chỉ huy cấp chiến thuật như trung tá Bốt-đa-nốp.

        Qua Bốt-đa-nốp, tác giả đã xây dựng thành công một hình tượng mẫu mực về lớp sĩ quan trẻ tuổi của quân đội Xô-viết; giúp người dọc thấy rõ với một quân đội cách mạng có những sĩ quan đầy phẩm chất và tài năng như vậy thì không một sức mạnh tàn bạo nào có thể địch nổi.

        Qua hình ảnh Pa-ven và trung đoàn công nhân vũ trang, tác giả muốn nói lên vai trò to lớn và sức mạnh phi thường của giai cấp công nhan Liên Xô vừa tác chiến tại chỗ vừa sản xuất phục vụ tiền tuyến ; nói lên sự gắn bó mật thiết giữa lực lượng vũ trang tại chỗ của các đồng chí công nhân với các đơn vị chủ lực cơ động tuyến trước là quan trọng nhường nào.

        Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ủy ban quân sự do bí thư đảng bộ thành phố T. La-tô-ski và thiếu tướng Đi-a-cốp, quân dân thành phố này đã khắc phục muôn vàn khó khăn của một thành phố bị bao vây, đã huy dộng mọi lực lượng, mọi nguồn dự trữ về sức người, sức của cộng với sự chi viện từ vùng hậu phương xa xôi miền dông Liên Xô, đã làm thất bại chiến lược chiến tranh chớp nhoáng, chiến tranh tổng lực của bộ chỉ huy Hít-le.

        Thảng 12 năm 1941, cuộc chiến đấu bảo vệ Mát-xcơ-va thắng lợi. Bọn Đức bị đẩy lùi và rút chạy trong mùa đông giá rét. Các binh đoàn chủ lực cơ động của quân đội Xô-viết được trang bị những thứ vũ khí mới từ hậu phương gửi tới, tiếp tục tiến công truy kích địch. Trong đoàn quân chiến thắng đó có sư đoàn do đại tá Bốt-đa-nốp chỉ huy.

        Tiểu thuyết Thành phố hòa bình của nhà văn quân đội Bê-re-dơ-cô do Nhà xuất bản quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô xuất bản năm 1954 — 1955, sau khi ra mắt bạn đọc đã có tiếng vang lớn, được các báo chí Liên Xô Thế giới, Văn học, Sao đỏ viết nhiều bài phê bình ca ngợi. Tiếng vang rộng lớn của cuốn tiểu thuyết này đã đưa Bê-re-dơ-cô vào hàng ngũ những nhà văn đàn anh. Ngay sau đó, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Cộng hòa liên bang Nga và Liên Xò.

        Giới thiệu với bạn đọc cuốn tiều thuyết Thành phố hòa bình lần này, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân mong bạn dọc có dịp hiểu rõ thêm cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội Xô-viết quang vinh đã được phản ánh qua nhiều tác phẩm văn học xuất sắc trước đây.

        Đồng thời cuốn tiểu thuyết ra mắt bạn đọc Việt Nam trong lúc quân và dân ta không ngừng nâng cao cảnh giác, kiên quyết dập tan mọi âm mưu và hành động tội ác của bọn bành trướng Bắc Kinh trong kiểu chiến tranh phá hoại về nhiều mặt của chúng và sẵn sàng đánh bại một cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mộ lớn do chúng gây ra, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cũng mong rằng, cuốn sách sẽ góp phần cổ vũ quân dân ta xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN       


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:48:44 am

QUYỂN MỘT

PHẦN THỨ NHẤT

1

        Mùa thu 1941, bộ tham mưu phương diện quân miền T£y đóng trong một khu rừng ngoài ô Mát-xcơ-va. Trung tá Bốt-đa-nốp để xe cách đường cái không xa rồi đi bộ khá lâu theo con đường mòn xuyên khu rừng thưa phủ dày lá bồ đề vàng thẫm và lá bạch dương xám ngắt đang bay loạn xạ như tro. Sự yên tĩnh kỳ lạ trong cánh rừng thưa với những hàng cây thẳng tắp, đôi nơi được ngăn cách bằng những hàng giậu đã làm cho Bốt-đa-nốp vô tình lo lắng. Tuy chưa thật rõ ràng, nhưng hình như trong sự yên tĩnh này có ẩn giấu một sự nguy hiểm mới nào dó. ,

        Trung tá không phải là người dễ đa sầu đa cảm. Anh trở về hậu phương sau những trận chiến đấu ác liệt nhiều ngày kéo dài từ hồi tháng sáu gần Min-xcơ. Từ đó, trong vòng hơn bốn tháng, anh đã cùng với đơn vị của mình đánh trả kẻ thù xâm lược. Bị bao vây ở Me-đư-nhin, anh vẫn tiếp tục chiến đấu trong bậu phương quân địch, rồi cùng với những người còn lại của trung đoàn chọc thủng vòng vây sang phía đông, bắt theo cả tù binh. Anh đã quen với cảnh thường xuyên chờ đợi chiến đấu, người gầy hốc hác, hai mắt lõm sâu. Tất cả nhưng cái đó đã làm cho Bốt-đa-nốp tuy mới hai mươi chín tuổi nhưng già như bốn mươi. Và bây giờ, trong không khí im lặng của vùng ngoại ở này, Bốt-đa-nốp lại cảm thấy căng thẳng. Nhưng không khí tĩnh mịch này bị chấm dứt đột ngột... Bốt-đa-nốp ở trong bộ tham mưu chưa trọn một giờ thì quanh đấy vang lên tiếng súng cao xạ và những con đường trong rừng lại lởm chởm mảnh đạn từ trên không rơi xuống.

        Trung tá được gọi đến bộ tham mưu để báo cáo về cuộc hành quân của mình trong vùng hậu phương quân địch... Gần tối, đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân tiếp Bốt-da-nốp trong ngôi nhà lớn chìm khuất dưới hàng thông cao ngất. Sau cuộc nói chuyện dài, Bốt-đa-nốp không lưu lại ở phòng tiếp khách. Vẫn giữ vẻ suy nghĩ nghiêm trang trên khuôn mặt ngăm ngăm chưa mất nước da hè rám nắng, anh im lặng đi xuống cầu thang. Anh dự định đi tiếp ngay, nhưng trước hết cần phải làm thủ tục.

        Ở tầng thứ nhất, người ta yêu cầu anh ngồi đợi chút ít. Ngồi bên cửa sổ, tưởng như đang chăm chú nhìn những cây thông sần sùi mọc bên tường, nhưng Bốt-đa-nốp lại đang bị lôi cuốn bởi cuộc nói chuyện vừa qua và kể tất cả những gì anh được biết ở bộ tham mưu phương diện quân. Ngồi đối diện bên bàn là người trợ lý quân nhu. Anh ta đang hí hoáy với giấy tờ, để lộ ra cái đỉnh đầu hói, được phủ qua loa bằng mớ tóc rối bù. Trời đã về chiều và bóng tối đang xâm chiếm gian phòng.

        Chỉ đến lúc này, sau khi nói chuyện với ủy viên Hội đồng quân sự, ấn tượng riêng của Bốt-đa-nốp và những tin tức tản mạn về tình hình mặt trận mới tạo thành một bức tranh trọn vẹn trong anh. Quang cảnh thật là khốc liệt: mặt trận khổng lồ quanh Mát-xcơ-va trải rộng hàng chục nghìn cây số vuông ngày càng trở nên dữ dội. Song song với mũi tiến công ngắn nhất Vi-a-dơ-ma — Ggiát-xcơ — Mô-giai-xcơ —  Mát-xcơ-va, bọn Đức mở những cuộc tiến công bằng xe tăng theo hai sườn của cụm trung tâm. Và như vậy thủ đô đang đứng trước nguy cơ của một cú đấm tập trung, đồng thời từ ba phía. Phía bắc thủ đô, trong vùng Ca-Ii-nin — Vô-lô-cô-lam-xcơ, bọn Đức gặp phải sức chống cự quyết liệt, buộc phải sa lầy vào các cuộc chiến đấu kéo dài. Phía nam, tập đoàn quân xe tăng số hai với những binh đoàn bộ binh bổ sung dang đột phá theo hướng Ô-ri-ôn — Mát-xcơ-va. Đơn vị của Bốt-đa-nóp sau khi đã bị tồn thất, được đưa về hậu phương, đã đóng theo chính hướng này, cái hướng hơi chếch sang đông một chút so với T, một thành phố công nghiệp lớn. Anh biết khá rõ tinh hình nghiêm trọng trong vùng T. Kẻ thù bj chặn lại trên đường Ô-ri-ôn — Msen-xcơ. Nhưng giữa tháng mười, chúng đã đột phá tới Msen-xcơ và hiện nay chúng đang phát huy thắng lợi.

        —...Các chiến sĩ thiết giáp của chúng ta chiến đấu rất anh dũng, — đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự nói như vậy về những sự việc này, sau khi nghe xong báo cáo của Bốt-đa-nốp. Trên thuôn mặt sáng sủa với bộ râu đang đốm bạc, đôi mắt tinh anh, lạnh lùng của ông linh lợi hẳn lên —... Có thể nói rằng, sức kháng cự của ta đã làm đảo lộn mọi tính toán của bộ tư lệnh Hít-le. — Ông tiếp tục — Về « chiến thuật chớp nhoáng » bây giờ đã trở nên nực cười. Ảo tưởng của Hít- le đã bị chôn vùi trong các nghĩa địa xe tăng ở Xmô-len-xcơ, En- nha và Bri-an-ca. Và Hít-le sẽ sợ hãi trước tính toán sai lầm của y về thời gian. Hắn đã ném tất cả những vốn liếng hiện có vào cuộc tiến công này. Không lực của hắn đã hoàn toàn tập trung ở mặt trận phía đông, các tập đoàn quân xe tăng được bổ sung bằng nhiều loại, kiểu khác nhau. Nào là loại Con báo, nào là Scốt-da, Rê-nô, thậm chí cả những chiến lợi phẩm chúng cướp được của Anh nữa... Để đánh đòn quyết định, Hít-le đã tung ra tất cả những gì mà chủ nghĩa đế quốc quốc tế có thể có được. Nhưng, anh có thấy không, hắn đã không đủ sức để tiến công trên toàn mặt trận như dạo tháng sáu, tháng bảy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:49:17 am

        Sau buổi nói chuyện này, Bốt-đa-nốp đã thấy mối liên hệ phức tạp giữa các sự kiện trong những khu vực khác nhau trên toàn mặt trận. Dễ dàng thấy rằng các trận đánh của bọn Đức từ hướng Ô-ri- ôn và Msen-xcơ là bộ phận của ý đồ chung: bao vây và chiếm Mát- xcơ-va. Vì thế, T. trở thành pháo đài xa án ngữ phía nam thủ đô. Tất nhiên, các chiến sĩ bảo vệ Lê-nin-grát cũng như các đơn vị đang làm tê liệt một lực lượng lớn của địch ở gần Rô-xtốp đã góp phân tích cực bảo vệ Mát-xcơ-va. Và Bốt-đa-nốp lại nhớ tới đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự cuối buổi nói chuyện: Hít-le hứa với lính của y rằng chúng sẽ được nghỉ ở Mát-xcơ-va. Nếu chúng có được điều đó thì chỉ trên đất ngoại ô Mát-xcơ-va mà thôi... Nhưng cần phải khẩn trương lên đồng chí trung tá ạ. Kẻ thù vẫn chưa bị chặn đứng. Chúng đang tiến tới gần chúng ta. Hôm nay, dù bất kỳ đồng chí ở đâu, đồng chí cũng đang tham gia bảo vệ Mát-xcơ-va đấy.

        Một cảm giác mới chưa bao giờ thấy đang dâng lên trong người Bốt-đa-nốp. Cho đến lúc này, dù ở đâu: trong những trận đánh ở tuyến sau, hay khi đưa đơn vị của mình ra khỏi vòng vây, anh luôn luôn khát khao về một bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến tranh. Nếu không phải là chính anh và những chiến sĩ của anh, thì những người khác, ở những hướng khác có nhiệm vụ chặn đứng kẻ thù và sau đó tiêu diệt chúng... Trong phạm vi bé nhỏ của mình, Bốt-đa-nốp đôi lúc quá nôn nóng mong được nghe một tin chiến thắng của quân ta. Bây giờ, lần đầu tiên anh nhận thức rất rõ ràng rằng không thể tiếp tục '“chờ đợi được nữa. Chính anh và bất cứ một chiến sĩ Hồng quân nào khác, dù chiến đấu ở đâu cũng phải làm hết sức mình cho thắng lợi, chứ không chờ đợi ai khác nữa.

        Trách nhiệm mà Bốt-đa-nốp cảm thấy trong giây phút này lớn đến nỗi khiến anh có cảm giác căn phòng dường như lạnh hơn. Thình lình, anh đứng dậy và nhìn quanh « Cần phải khẩn trương, phải khẩn trương...». Anh tự nhủ với mình.

        Trên các bàn giấy kê sát nhau, công việc diễn ra lặng lẽ và bình thường. Ai đó gấp lại quyền sách mỏng và to. Giấy tờ kêu sột soạt. Trong góc phòng, ngọn nến nhỏ cháy bập bùng. Một sĩ quan nét mặt mệt mỏi đang hơ thanh xi màu nâu trên ngọn lừa. Thanh xi nóng lên, phồng ra và tỏa một mùi dễ chịu. Tiếng nói sau lưng làm Bốt-đa-nốp phải quay lại.

        .. — Bản báo cáo đã làm xong chưa, đồng chí trung úy? — Một viên thiếu tá trạc tuổi trung niên với cái đầu húi, tóc còn hơi xanh, càu nhàu hỏi. Nhả cái tẩu ra khỏi miệng, ông để sang một phía cho tàn thuốc khỏi rơi xuống giấy. — Nửa giờ nữa anh phải báo cáo tôi.

        — Đã hướng dẫn rồi, hình như gửi cả bản mẫu nữa, — người ngồi sau lưng Bốt-đa-nốp bình phẩm. — Nhưng tin tức cung cấp lại không theo mẫu, thế mới đâm ra loay hoay như vậy.

        Bốt-đa-nốp nhìn hai người với vẻ không hài lòng. Anh bước tới gần người sĩ quan và yêu cầu ông ta làm thủ tục cho mình. Nhưng người sĩ quan không nói một lời nào, thậm chí cũng không nhìn lên nữa và cứ im lặng ghi chép điều gì đó vào sổ.

        — Tôi đang nói với anh, đồng chí thiếu tá quân nhu. — Bốt-da- nốp nóng nảy nói.

        Bổp-đa-nốp không cao, và cũng như những người tầm vóc trung bình, thường vô tình rướn đôi vai khi bực tức.

        Người sĩ quan bên bàn vẫn yên lặng. Bốt-đa-nốp nới khóa ở dãy thắt lưng và bằng động tác dứt khoát của cả hai tay, dường như muốn sửa lại áo ca pốt. Cử chỉ này là thói quen từ hồi còn học sinh. Đó là bản năng tự vệ của Bốt-đa-nốp. Nhưng anh còn chưa kịp nói gì, thì người sĩ quan đã đẩy quyển sổ lại phía anh.

        — Đồng chí ký đi!

        — Cần phải trả lời khi người khác nói với anh. — Bốt-đa-nốp nói to và cầm lấy bút.

        — Không, không phải ở đây, đồng chí trung tá, xin ký dưới dòng này — Người sĩ quan chỉ cho anh những chỗ cần phải ký.

        Nhận xong giấy tờ, Bốt-đa-nốp quay ngoắt lại và đi ra cửa. Người sĩ quan vẫn đứng nguyên bên bàn, mệt mỏi trông theo dáng người thấp khỏe của trung tá. Lim dim mắt, ông đưa bàn tay xoa mặt, xoa xoa lên cái đầu hói và lại hí hoáy bên bàn.

        Trời đã tối, đầu hành lang đèn tỏa sáng mờ mờ trong các chao. Bốt-đa-nốp bực tức nhìn xung quanh và bước ra phòng đợi. Ngay hôm nay anh phải cồ mặt ở chính Mát-xcơ-va, tới bộ tham mưu quân khu thủ đô và sau đó phải trở về ngay đơn vị. Nhưng ở phòng đợi, người lính gác đã giữ anh lại. Thì ra, lại có báo động và không một ai được phép ra khỏi nhà. Khi biết vậy, Bốt-đa-nốp sầm mặt lại, nhưng anh không cự lại người lính gác.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:49:42 am

        Dần dần ở cửa ra vào ùn lại rất đông người. Một sĩ quan xe tăng bận chiếc áo bành tô da đi chậm chạp từ góc này sang góc kia, hai tay chắp sau lưng và các ngón tay đan lại với nhau. Một đại tá thân hình to cao, trong cái áo ca pốt thẳng nếp, tiến đến và dừng lại bên cột gõ. Những đường chỉ vàng bó chặt lấy bộ ngực nở nang. Cái mũ vành bằng lông cừu lấp lánh ánh bạc. Đại tá ăn mặc như thể đi duyệt binh. Nhưng điều lạ lùng này không hợp với vẻ buồn buồn hiện trên khuôn mặt xanh xao, dài và nhẵn nhụi của anh. Bốt-đa-nốp trông thấy người chỉ huy bảnh bao và anh vui hẳn lên.

        — Xe-li-vê-xtốp phải không ? Cậu ở đây à ? — Bốt-đa-nốp thốt lên. Đạj tá chậm chạp quay về phía tiếng gọi.

        — Không nhận ra mình sao ? — Bốt-đa-nóp hỏi và nhìn từ chân lên đầu với con mắt chờ đợi.

        — Cậu đấy à ? Thật không ngờ... — Xe-li-vê-xtốp trả lời khá dửng dưng và cởi chiếc tất tay nâu.

        — Nghe nói cậu ở Ca-ren-xki chiến đấu anh dũng lắm. Vẫn ở chỗ cũ à ? — Bốt-đa-nốp sôi nổi tiếp tục.

        Anh và Xe-li-vê-xtốp quen nhau từ hồi còn ở Học viện và sau đó cùng phục vụ trong chiến địch Phần Lan. Mặc dù chưa bao giờ hai người đặc biệt thân thiết, nhưng Bốt-đa-nốp thực sự vui mừng khi gặp Xe-li-vê-xtốp, một con người mà anh có thể giãi bày tâm sự của mình.

        — Không, mình không phải ở chỗ cũ... — Xe-li-vê-xtốp vừa trả lời vừa loay hoay với chiếc găng tay.

        — Không nhớ là mình được nghe ai kể về cậu. Mình tin rằng tự cậu sẽ kể cho mình nghe... — Bốt-đa-nốp mỉm cười.

        — Kể cái gì? — Đến lúc này đại tá mới cất găng tay. Bằng bàn tay to, lạnh, anh nhẹ nhàng nắm tay Bốt-đa-nốp — Cậu chiến đấu ở đâu ?

        Từ xa, tiếng súng phòng không dội vào phòng. Nhưng chỉ phút sau yên tĩnh trở lại.

        — Ôi! — Một trong đám người thốt lên — Họ còn giữ chúng ta đến đêm.

        — Chúng mình tìm chỗ nào ngồi đi. — Chắc đã quên câu hỏi của mình, Xe-li-vê-xtốp đề nghị — Hay ta đi ăn nhé? Hôm nay cậu đã ăn gì chưa ?

        Họ xuống nhà ăn ở tầng dưới. Vào giờ này, ở đây vắng người. Trong các phòng thông với hành lang, bàn ghế sạch sẽ. Trên bàn phủ khăn có bình nước lấp lánh. Trên các cửa treo những tấm. biền nhỏ với dòng chữ « Dành cho cán bộ sơ cấp», « Dành cho cán bộ trung cấp», « Dành cho cán bộ cao cấp», « Dành cho các tướng và người phụ trách các ban, vụ ». Tường hành lang trắng toát, cánh cửa sơn màu sáng, cảm giác sạch sẽ và ngăn nắp, thoải mái của một nơi an dưỡng.

        Trong phòng « Dành cho cán bộ cao cấp», các bàn đều trống không. Chắc mọi người đã ăn rồi. Người nữ phục vụ đứng tuổi, tóc tết đuôi sam, mặc áo blu trắng, thu vé của hai người. Bà mang đến bảng thực đơn đánh máy trên giấy thuốc lá .

        — Bác cho món gì còn lại cũng được! — Bốt-đa-nốp nói với bà phục vụ, sau đó anh quay lại Xe-Ii-vê-xtốp — Chúng mình chia tay ở đâu nhỉ? Ở Vư-bô-gơ hay sớm hơn? — Anh bắt đầu nói chuyện — Tưởng chừng nửa thế kỷ nay chúng mình không trông thấy nhau.

        — Cậu nói gì nhỉ? — Đại tá nhìn Bốt-đa-nốp, như không nghe rõ câu hỏi... — À, à... thời gian trôi nhanh thật.

        Chỉ đến lúc này Bốt-đa-nốp mới nhận thấy: người bạn của anh đang bị một ý nghĩ lao lung nào đó cuốn hút và rất miễn cưỡng khi phải cắt dòng suy nghĩ của mình. Nhưng Bốt-đa-nốp quá bị lôi cuốn nên không để ý đến điều này.

        — Cậu biết không, Xe-li-vê-xtốp, hôm nay mình suy nghĩ về mọi điều — anh tiếp tục— Tình hình của chúng ta diễn ra đến mức mỗi người phải rút ra cho mình những kết luận rõ ràng, dứt khoát.

        Đại tá lặng lẽ gật đầu, như ra vẻ đồng ý.

        — Chiến tranh đã bước vào thời kỳ quyết liệt, khẩn trương nhất. Chúng ta không thể rút lui về đâu được nữa.

        Bốt-đa-nốp chưa kịp nói hết câu vì trong phòng vẳng có tiếng động cơ máy bay, tuy nhỏ nhưng khá rõ. Phi đội máy bay ném bom đang bay cao trên khu rừng thông che phủ ngôi nhà. Tưởng chừng luồng gió do chúng tạo nên đang xua những đám mây tràn tới đây, tới căn phòng đầy ánh điện với những cửa sổ có rèm.

        — Bọn này bay đến Mát-xcơ-va đấy — Bốt-đa-nốp nói — Chúng lại bay đến đấy.

        Xe-li-vê-xtốp không động đậy, anh ngồi nghiêng cạnh bàn. Khuôn mặt dài, mịn của anh ánh lên khô khan.

        Bà phục vụ xuất hiện, đặt đĩa ăn cho mỗi người và cầm từ bàn bên cạnh một cuộn giấy nhỏ đề lau.

        — Xin lỗi các anh — Bà nói — Thịt băm viên hết rồi. Các anh ăn món ra-gu tạm vậy nhé.

        Không ai trả lời. Tiếng động vẳng ở xa hầu như không nghe thấy, lúc lại rộ lên rền rĩ. Máy bay bay đều đặn hết tốp này đến tốp khác.

        — Cậu nghe thấy không, bọn chúng bao nhiêu ?— Bốt-đa-nốp nói gay gắt — Mình không thể chịu được khi biết chúng đang bay đến Mát-xcơ-va.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:26:17 pm

        Anh chợt nhận ra bà phục vụ vẫn đứng bên anh chờ câu trả lời. Anh lắc mạnh đầu đề hất những sợi tóc thằng và đen trên trán.

        — Thịt băm viên hết rồi. — Bà nhắc lại — Tôi mời các anh ăn món ra-gu.

        — Biết làm thế nào hả mẹ! — Bốt-đa-nốp nói với vẻ tiếc rẻ —  Có cái gì ăn được cứ mang ra đây...

        Anh ngả hẳn người đến Xe-li-vê-xtốp:

        — Mình không hiểu cậu thế nào, — anh bắt đầu — nhưng mình suy từ bản thân thì... Cậu biết không, chúng ta rút lui quá nhiều rồi. Chúng ta có chống trả. Chúng ta có tiến công, nhưng cũng phải thừa nhận là chúng ta đã rút lui. Và ở mọi người xuất hiện ảo tưởng là không phải họ mà là những đơn vị khác sẽ xé tan quân thù ở nơi khác... Còn chính họ, cho đến lúc đó vẫn chỉ chống trả và rút lui thôi... Cần phải đánh tan cái tâm lý rút lui và thói quen chờ đợi ở người khác. Cậu nghe mình đấy chứ ?

        — Ừ ! — Xe-li-vê-xtốp trả lời.

        — Chính chúng ta phải tiêu diệt kẻ thù, — Bốt-đa-nốp sôi nổi tiếp tục. — Mỗi chiến sĩ cần phải hiểu rằng: nếu hôm nay mình không đứng vững thì không ai đứng vững nổi. Nếu họ không quật ngã kẻ thù thì không ai quật ngã nổi.

        Xe-li-vê-xtốp im lặng. Có thể nghĩ rằng, những điều Bốt-da- nốp nổi, anh đã biết từ lâu và chủng không gây cho anh hứng thú gì.

        — Từ đây cậu sẽ đi đâu? Bây giờ cậu chỉ huy đơn vị nào? — Trung tá hỏi.

        — Mình ư? — Xe-li-vê-xtốp cau mày, như để tập trung ý nghĩ —  Mình đi nhận sư đoàn. Sư đoàn trưởng cũ đã hy sinh. Chốc nữa mình di. Chỉ có điều không biết tìm sư đoàn ở đâu đây. Hôm qua sư đoàn ở gần T.— Anh gọi chính thành phố mà Bốt-đa-nốp sẽ trở về. —  Nói một cách khác, sư đoàn đang hành quân.

        — Cậu cũng về T. à? — Bốt-đa-nốp thốt lên.

        Xe-li-vê-xtốp gật đâu.

        — Chúng mình sẽ ở bên nhau, — trung tá nói và giọng anh vang lên.

        — Cậu từ đó đến... — Xe-li-vê-xtốp nói sau một lát im lặng.

        Bốt-đa-nốp chăm chú nhìn bạn mình như sẵn sàng trả lời những câu hỏi về tình hình ở T. Nhưng đại tá không nói thêm một lời nào nữa, hình như anh đã được thông báo tỉ mỉ về T.

        Máy bay lại gầm rít trên cánh rừng tưởng chừng như gió lùa cả vào phòng ăn. Lúc này, tiếng động cơ to và rền rĩ hơn. Chắc là những tốp máy bay hạng nặng.

        — Sao nhiều đến vậy? Và tại sao pháo cao xạ im bặt? — Bốt- da-nốp không ghìm nổi, thốt lên tự hỏi mình.

        Bà phục vụ bước vào, lặng lẽ đặt xúp cải đỏ và bánh mì cho hai người và đứng lại bên bàn, tay buông thõng cái khay gỗ dán.

        — Bây giờ nó bay luôn đấy. Tối nào cũng đến. — Bà nhìn lên trần nhà và bình thản nói. Nhưng ngay trong đôi mắt xám hiện ra vẻ căng thẳng.

        Cuối cùng tiếng nổ khô khan cũng vọng lại trong phòng: đơn vị phòng không đã bắn. Trong tiếng rền của cao xạ, người ta nghe thấy cả tiếng rít của máy bay ném bom.

        — À ha! — Bốt-đa-nốp thốt lên.

        Bà phục vụ thở phào nhẹ nhõm, bà đưa những ngón tay đỏ lên sửa lại mái tóc.

        Tuần trước bom rơi gần trúng vào ngôi nhà của tôi ở Mát-xcơ- va. — Bà nói như để giải thích — Chả là nhà tôi ở gần quảng trường Xmô-len-xcơ, mà bom thì rơi ngay trong ngõ nhà tôi... Thôi, xin mời các anh ăn đi.

        Bà nhìn lại một lượt để xem còn thiếu thứ gì không. Sau đó bà di vào, gót ủng bộ đội nện chững chạc xuống sàn nhà.

        — Quả thật là ta đánh mạnh, — Bốt-đa-nốp nhận xét. — Lưới lửa dày đấy chứ! Thử nhảy qua mà xem...

        Anh bắt đầu ăn, thỉnh thoảng lại ngàng cao đầu, chăm chú lắng nghe.

        Xe-li-vê-xtốp cúi xuống đĩa thức ăn, vừa bẻ bánh mì ăn một cách ngon lành. Bỗng nhiên anh nhìn chằm chằm vào Bốt-đa-nốp:

        — Thật kỳ lạ — anh nhếch mép cười, tay vẫn cầm một thìa xúp đây — Dù bất kỳ cái gì xảy ra với con người, nhưng ăn thì lúc nào cũng muốn. Mình háu ăn như chó sói ấy.

        — Ừ, nhưng cậu kể đi, cậu đã ở những đâu rồi! — Bốt-đa-nốp hỏi — Sao cậu cứ lờ đi như vậy ?

        — Mình lờ đi thật không? — Xe-li-vê-xtốp nuốt vội thìa xúp cải đỏ, lúc đó anh mới nói tiếp — Mình từ viện quân y về. Mình bị trầy da ở Lu-ga. Cùng với đại đội tiến công... — Anh thoáng cười buồn bực rồi lặng im.

        — Nào, nói nốt di — Bốt-đa-nốp giục.   

        — Nói chung thì chỉ là một chuyện thường tình, — đại tá miễn cưỡng tiếp tục. — Bọn mình đã củng cố, đã chặn đứng xe tăng địch. Nhưng xe tăng quay lại, chúng đánh tan đơn vị bạn và vượt qua tuyến bọn mình. Cả đại đội mình không còn một trung đội nào...

        — Điều đó không hiếm. — Bốt-đa-nốp khẳng định — Mình giữ trận địa tròn năm ngày. Bên trái quân ta rút lui, bên phải không có liên lạc. Con đường duy nhất vào hậu phương đã bị chiếm... Nhưng bọn mình vẫn giữ vững.

        — Biết kể cho cậu nghe chuyện gì bây giờ ? Chính cậu cũng biết đấy. — Xe-li-vê-xtốp nói, nét mặt anh giận giữ, quai hàm sệ xuống — Mặc dù có bám chắc và cả đổ máu đi nữa, nhưng cuối cùng cung chỉ còn một mình.

        — Tạm thời chúng ta đánh chưa mạnh, điều này rất đúng — Bốt-đa-nốp khẳng định. — Chính cậu đã nói là cậu dẫn đại đội xông lên. Mình nói thật, cậu thứ lỗi cho, nhưng đấy không phải là việc của cậu. Cậu là chỉ huy cao cấp, công việc của cậu là tổ chức và lãnh dạo... — Bốt-đa-nốp im lặng chờ xem Xe-li-vê-xtốp có phản ứng gì không. — Thú thật, lúc đầu mình cũng quá lăng xăng, nhưng chẳng được là bao.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:26:37 pm

        — Nó đang bóp nát chúng ta, bọn chó đẻ ấy. — Xe-li-vê-xtốp không để ý đến lời Bốt-đa-nốp, anh nói nhỏ — Ừ, thật ra chẳng có gì ngạc nhiên cả. Một máy bay của ta phải chọi với năm chiếc thập ngoặc của chúng... Thế cậu có trông thấy nhiều xe tăng của ta không?

        — Năm đánh một, đấy là cậu bốc lên — Bốt-đa-nốp nói. — Nếu vậy, sai lăm của chúng ta càng không thể tha thứ được, cần phải học, đồng chí đại tá ạ! Học trong quá trình chiến đấu, học cách hành quân, học cách phối hợp tác chiến và tạo ra lưới lửa.

        — Cậu cho là còn phải học nữa ư? — Xe-li-vê-xtốp nói với giọng binh thản.

        — Còn cách nào khác được? —Bốt-đa-nốp tự nhiên im lặng.

        Với vẻ bực bội, đại tá nhìn thẳng vào mắt anh.

        — Không thể chỉ huy bộ đội tốt được, khi không biết ti mỉ mọi chiến thuật của trận đánh — Bốt-da-nổp bắt đầu và tắc tị... — Thế có nghĩa là, khoan đã, khoan đã. Mình chưa hiểu rõ là cậu định nói gì ? — Anh hỏi lại.

        Xe-li-Vê-xtốp nhìn sang bên cạnh:

        — Liệu bây giờ học thì đã hơi muộn chưa ? — Anh nói — Nhưng lạy trời phù hộ cho cậu...

        — Thế nào là hơi muộn ? — Bốt-đa-nốp sửng sốt.

        Quyết tâm sắt đá đã hoàn toàn xâm chiếm người anh. Và, thái độ của anh về các sự kiện rõ ràng đến mức, anh không thể suy nghĩ về một điều gì khác được.

        — Cậu nói về cái gì ? — Cậu hướng về đâu ? — Anh hỏi.

        Xe-li-vê-xtốp giơ cánh tay to trắng lên như để chấm dứt những câu hỏi tiếp theo.

        — Mình là người lính, mình tuân theo mệnh lệnh. — Anh nói vẻ day dứt. — Người ta hạ lệnh: « Quyết giữ trận địa đến giọt máu cuối cùng». Thế là chúng mình quyết giữ.

        Câu chuyện của họ bị gián đoạn. Bà phục vụ mang đến món ăn chính. Lát sau, một nhóm ba người chỉ huy đi vào phòng và ngồi ở bàn bên cạnh. Một người trong họ có đôi vai to, ngực nở, tóc chải ngược ra đằng sau. Trên áo va rơi của anh lấp lánh ngôi sao Anh hùng Liên Xô. Anh oang oang chào người phục vụ, gọi bà là thím Pa-sa và tuyên bố là anh rất đói.

        Sau khi lặng lẽ ăn hết món ăn chính, Xe-li-vê-xtốp lau môi bằng giấy mền, rồi vo tròn lại ném vào đĩa.

        — Thôi — Anh nói. — Mình cần phải đi đây.

        Anh lấy từ trong túi ngực ra một tờ giấy gì đó rồi bỏ vào ví.

        — Bốt-đa-nốp, cậu chưa lấy vợ à? — Anh hỏi đột ngột.

        — Mình ư ? Chưa — trung tá trả lời. « Cậu hỏi quỷ quái gì vậy, mình thật không hiểu », anh nghĩ thầm và liếc nhanh bạn.

        Xê-li-vê-xtốp lấy trong ngăn ví ra một tấm ảnh và chìa qua bàn đưa cho Bốt-đa-nốp:

        — Cũng tốt là cậu chưa lấy vợ. Còn mình, như cậu biết đấy, hơi vội. Trong ảnh là một phụ nữ duyên dáng với nụ cười chân thật, trông gần giống đứa trẻ con. Chị mặc áo săng đan trắng và đội mũ đan điểm ngù trên chóp. Chị trẻ đến mức có thể lầm là con của Xê-li-vê-xtốp. Vì Xê-li-vê-xtốp trông như người trên bốn nhăm tuổi

        — Vợ cậu hả ? — Trong giọng nổi, Bốt-đa-nốp có vẻ không tin — Cô ấy bao nhiêu tuổi thế ?

        Xe-li-vê-xtốp chỉ vào ảnh :

        — Trông thì biết... — Anh dịu giọng trả lời với vẻ âu yếm đột ngột — Trước chiến tranh học hết lớp mười và cô ấy không còn ai cả, ngoài mình ra. Mồ côi... Cô ấy đã đến viện quân y thăm mình.

        — Có nghĩa là cô ấy yêu cậu. Nào, chúc mừng cậu. — Bốt-da- nốp nói giọng khô khan.

        — Giờ đây còn có một mình ở lại... — Xe-li-vê-xtốp nói với giọng dường như anh biết trước là sẽ không trở về nữa.

        Anh cất ảnh, bỏ ví vào túi ngực và cài cúc áo.

        — Thôi, đủ rồi, — anh nói — đã đến lúc phải lên đường.

        Một vẻ buồn rõ rệt thoáng hiện trên khuôn mặt, anh ưỡn thẳng người trên ghế nhưng không đứng lên. Anh chăm chú nhìn ánh cầu vồng của nước trong bình. Ánh điện khúc xạ trên mặt nước trong suốt tạo ra những màu sắc rực rỡ: xanh thẫm, xanh nhạt, vàng óng, đỏ thắm. Mải mê nhìn những tia sáng rực rỡ, Xe-li-vê-xtốp nhu quên di tất cả xung quanh. Bốl-đa-nốp cau có nhìn đại tá.

        — Còn món thứ ba, xin mời các anh — Giọng bà phục vụ vang lên.

        Bà đặt trên bàn hai cốc nước quả và thu đĩa ăn. Bỗng nhiên, hai

        tia chớp lóe lên kèm theo tiếng nổ đinh tai đâu đó ngay sau tường. Người dàn bà đứng lặng người di, tay ghì chặt đĩa vào người và rụt cổ xuống.

        — Thím Pa-sa, — người sĩ quan có đeo ngôi sao Anh hùng Liên Xô nói — Có tin gì không thím ? Ngôi nhà ở gần quảng trường Xmỏ- len-xcơ vẫn nguyên vẹn đấy chứ ?

        — Có người từ Mát-xcơ-va đến và nói rằng nó vẫn còn nguyên —  Bà thì thào — Chỉ có điều là lúc đó...

        — Không sao, nó sẽ đứng vững. Cháu cho rằng trẻ con đã kịp chạy hết xuống hầm tàu điện ngầm.

        — Thằng bé lớn viết thư về bảo là nó trực chiến trên mái nhà... —  Bà phục vụ nói, mắt vẫn không nhìn lên. Những chiếc đĩa kêu lanh canh trong tay bà — Nó đóng ở Pê-ven-khê-cô, trong đội...

        — Không dễ gì lọt vào được Mát-xcơ-va dâu, — Người chỉ huy nói — Thím có nghe thấy tiếng nổ không? Bọn ăn thịt thối buộc phải ném bom xuống đấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:27:04 pm

        Lại thêm một sĩ quan nữa bước nhanh vào phòng và đi lại chỗ ba người đang ăn. Anh ta cúi xuống sát bàn và báo cáo điều gì đó, giọng khẽ đủ nghe. Bốt-đa-nốp nghe lõm bõm được vài lời: «Từ Vô- lô-cô-lam-xcơ tiến thẳng tới phía Đông... », “Tư lệnh đã báo với Đại bản doanh... ». Lập tức cả ba người chỉ huy, mặc dù đang ăn dở, cùng đứng dậy và lặng lẽ di theo người sĩ quan mới tới.

        Bốt-đa-nốp cũng đứng lên, nóng lòng nhìn Xe-li-vê-xtốp. Đại tá vẫn đang uống phần nước quả của mình và thong thả lấy thìa xúc quả ra ăn.

        — Đợi tí, đợi tí, mình xong ngay bây giờ. — Anh nói — Ngay bây giờ đây...

        Nhưng chỉ khi ăn xong quả ngọt anh mới bỏ cốc xuống bàn, đứng dậy và bước đi. Vóc người cao dỏm dáng, trong bộ quân phục mới, gót giày của anh nhịp nhàng gõ theo bước chân.

        Ở cửa phòng, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy bà phục vụ đang đứng dựa lưng vào dầm cửa sơn.

        — Xin cảm ơn. — Trung tá nói. — Cảm ơn mẹ nhé! Anh muốn nói với người dàn bà này một điều gì đó để an ủi. — Mẹ cho ăn ngon lắm, như ở tiệm ăn ấy.

        — Cảm ơn anh, đồng chí trung tá. Bà trả lời với vẻ mệt mỏi và biết ơn.

        Ở phòng đợi ngay chân câu thang, một người chi huy nào đó đội mũ ca lô, mặc áo bạt dính đất bẩn đang nói chuyện với người trung úy trẻ.

        — Chính tôi từ đó tới, yêu cầu anh báo cáo khẩn cấp. — Người chi huy đội mũ ca lô nói. Ông đưa cả hai tay vội vã cởi các nút áo bạt ngay dưới cằm.

        — Xin mời đồng chí đi theo tôi. — Người trung úy nói; mắt anh đỏ quạch vì thiếu ngủ. — Đại tướng Giu-cốp đang ở bên máy điện thoại, — anh giải thích và đi lên cầu thang.

        Người thiếu tá, đầu húi cao di qua, khẽ chạm khuỷu tay vào Bốt-đa-nốp. Đấy chính là người đã giục viết bản báo cáo. Anh ta vừa đi vừa đọc những tờ giấy đầy dãy các con số được gạch ở dưới.

        “Thật vô lý, lúc nãy mình lại nổi giận với anh quân nhu», — Bốt-đa-nốp nhớ lại việc tí nữa hai người cãi nhau ngày hôm nay. Sự thật trong bộ tham mưu, người ta cảm thấy không khi căng thẳng cao độ nhưng mọi người vẫn tiến hành các công việc khác nhau của mình như không có gì dặc biệt xảy ra. Từ đây, từ cánh rừng ngoại ô Mát- xcơ-va này, người ta đang truyền đi những mệnh lệnh khác nhau cho các đơn vị tham dự vào một trong những trận đánh vĩ đại nhất của lịch sử. Phải có một sự tổ chức cực kỳ khoa học, thậm chí cả trong mọi chi tiết để có thể nắm được toàn bộ cuộc chiến đấu, để có thể liên tục bổ sung cho quân đội một khối lượng vũ khí cực lớn, quân trang, quân dụng, thực phẩm, để có thể có khả năng phân tích tình hình liên tục và tức thời phản ứng với mọi thay đổi của chiến trường. Và lúc này, Bốt-đa-nốp đang suy nghĩ về nền nếp làm việc trong bộ tham mưu ở ngoại ô Mát-xcơ-va với lòng kính trọng sâu sắc.

        Vẫn chưa báo an, nhưng trong sân trời đã sắp tối nên người lính gác không giữ Bốt-đa-nốp và Xe-li-vê-xtốp lại nữa.

        Theo con đường lớn rải sỏi mờ mờ hiện ra trong bóng tối, hai người đi đến hàng rào sât bao quanh sân.

        Dọc theo dường lớn, cây cối cao vút tạo thành bức tường đen thẫm. Dưới hàng cây thấp thoáng những cỗ xe pháo được bọc kín. Xe-li-vê-xtốp gọi lái xe của mình. Người lái cứ loay hoay mở nắp máy rồi vặn tay quay. Bốt-đa-nốp và Xe-li-vê-xtốp im lặng đứng đợi một phút, rồi hai phút. Đại tá cẩn thận xỏ dôi găng tay quá chật của mình như thể anh cố tập đi tập lại động tác này. Nhìn thấy cảnh tượng đó cùng với đôi vai gù và cái đầu cúi gục của dại tá, Bốt-đa-nốp bực minh nghĩ thầm: « Hừ nếu là mình, mình không đời nào trao cho anh ta chỉ huy sư đoàn, ngay cả tiểu đoàn cũng không. Bởi vì anh ta như đang đi đến chỗ chết, đúng thế. Đi đến chỗ chết chứ không phải đi đánh giặc...». Rồi anh lựa lời nói nhỏ thong thả, rành rọt đề người lái xe không nghe thấy.

        — Này anh Ép-ghê-nhr Ghê-ra-xi-mô-vích, nếu như tôi không quên... có thể tôi nhầm và rất tốt nếu như tôi nhầm... Nhưng với tâm trạng của anh thì không thể đi chiến đấu được đâu.

        — Thế tâm trạng của mình như thế nào ? — Xe-li-vê-xtổp lạnh lùng hỏi.

        — Anh làm sao thế? Anh đã hoàn toàn quên hết rồi sao? Xin lỗi, anh có vẻ như đang chuẩn bị đi đến nấm mồ của minh. Điều này không thể nào chấp nhận được... Anh đã từng nói « Đứng vững đến giọt máu cuối cùng ». Đó có nghĩa là đứng vững để chiến thắng...

        — Thôi đi, Bốt-da-nốp, cái điều đó mình đâ nghe nhiều rồi. — Xe-li-vê-xtốp ngát lòi. — Phải chăng cậu lo cho mình?

        — Cho anh và cả cho lính của anh nữa, — Bốt-đa-nốp nói — Anh là người dẫn họ vào trận đánh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:27:24 pm

        Một chiếc xe mui trần tắt đèn di qua, lao vào hàng cây. Cành cây khô gãy răng rắc nghe như tiếng súng tiểu liên. Xe-li-vê-xtốp quay ngoắt lại. Chiếc xe vượt qua con đường và hòa vào trong bóng tối lờ mờ. Đại tá sửa lại mũ và chìa tay ra:

        — Vĩnh biệt, Bốt-đa-nốp! Đừng quá lo lắng nhé. Mình biết nhiệm vụ của mình. — Im lặng một chút anh lại tiếp thêm với giọng ngập ngừng nhưng đột nhiên vui vẻ hẳn lên — Cũng có thể là chúng ta sẽ còn trông thấy nhau chứ ?

        — Ừ, nhất định sẽ gặp nhau, — Bốt-đa-nốp nói bực dọc. — Thôi, chúc cậu thành công...

        Và không đợi đại tá đi khỏi, anh nhanh nhẹn đi tìm chiếc « Em- ca» của mình. Ngồi trên chiếc xe đi dọc theo con đường mòn, lẳng nghe tiếng cành cây chạm vào mái xe sột soạt, Bốt-đa-nốp còn nghĩ ngợi một lúc về Xe-li-vê-xtốp.

        Cứ tưởng anh ta là một chỉ huy vững vàng... Khi ở Học viện, anh ta không phải là loại xoàng, mà còn nổi tiếng như một quân nhân mẫu mực, — anh nhớ lại. — Đề bạt cũng khá nhanh Trong các cuộc thi thường chiếm giải nhất » — Anh phẫn nộ và ngạc nhiên vì cho rằng, một con người với những phàm chất như vậy thì không thể nào suy sụp tinh thần đến mức độ như người bạn, người đồng chí của anh được.

        Chiếc « Em-ca» rẽ sang đường nhựa và hướng về phía Mát-xcơ- va. Trung tá lập tức quên ngay Xe-Ii-vê-xíốp. Trận oanh tạc thủ đô vẫn còn tiếp tục và bầu trời thành phố rực lên lớp sương mù sáng đỏ. Xe vượt qua một đoạn dốc thoai thoải và khi đi qua đỉnh đồi, Bốt- da-nốp nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng của trận kịch chiến ban dêm.

        Những ngôi nhà nhấp nhô trên nền tròi đen thẫm của thành phố. Trong đêm tối, những tia chớp luôn luôn lóe lên như ánh lửa hàn điện. Chúng chạy khắp thành phố, thỉnh thoảng hội tụ lại ở một nơi nào đó rồi lập tức tắt ngay. Những tia sáng của đèn pha chọc thủng màn đêm quét đi, quét lại, lùng sục, tìm kiếm. Đôi lúc hai ba chùm sáng thắng như lưỡi mác chụm lại với nhau. Quanh chúng lóe lên rất nhiều

        ngôi sao rực rỡ màu da cam rồi cũng lại tắt ngay. Ở một vài nơi bầu trời đỏ lựng khói lửa, đấy là dấu hiệu của những đám cháy mới bùng lên.

        Bốt-đa-nốp ra lệnh dừng xe lại và đi ra mặt đường. Con đường phía trước rất vắng vẻ và cả trên cánh đồng hai bên dường cũng vậy. Những ngôi nhà thấp như những túp lều phía bên phải, ở giữa nhô lên một cột ống khói cao, đen xì. Không khí vắng vẻ kỳ lạ trải ra xung quanh. Bốt-đa-nốp cảm thấy như chỉ có anh và đồng chí lái xe của mình là những người chứng kiến duy nhất một trận đánh quyết liệt chưa từng thấy. Bốt-đa-nốp đã từng trải qua chiến tranh, nhưng cảnh Mát-xcơ-va rực sáng dưới ánh lửa đạn pháo và những dúm cháy, cảnh thủ đô chiến đấu đã làm anh xúc động mạnh mẽ...

        — Mát-xcơ-va đang đánh trả, đồng chí trung tá ạ! — Người lái xe nói và cũng đi ra khỏi xe.

        Do tiếng nổ của đạn đại bác nên Bót-da-nốp không nghe thấy tiếng ô tô phía sau đang tiến lại gần anh. Xuất hiện ờ chỗ ngoặt bất ngờ, những chiếc xe phóng nhanh, gầm lên, ánh đèn pha được che kỹ rọi một khoảng nhỏ trên đường. Chiếc xe đầu tiên mui trần, tiếp theo sau là một chiếc xe con. Xe chỉ phóng qua, Bốt-đa-nốp cũng kịp phân biệt được người đội mũ lưỡi trai quân sự. Dáng người ngó nghiêng về phía kính chắn gió chỉ xuất hiện trong chớp mắt nhưng Bốt-đa- nốp đã nhận được... Xta-lin đang trên dường trở về thủ đô sau khi đã đi thăm mặt trận ngoại ô Mát-xcơ-va. Sau xe của Xta-lin còn một chiếc xe mui kín nữa. Cả ba chiếc từ đỉnh đồi lao xuống dốc, sau đó lại leo lên một đỉnh khác. Còn có thể trông rõ chúng một lúc nữa, rồi mới dần dần mất hút sau các quãng ngoặt xa xa...

        Bốt-đa-nốp đứng nhìn theo đoàn xe khá lâu với cảm giác khó tả. Trong cảm giác ấy có tinh thần chiến đấu vô hạn, có sự hồi hộp của người lính khi trông thấy vị Tổng tư lệnh của mình và có cả niềm hy vọng nữa... Lát sau, anh im lặng nhanh nhẹn ngồi vào xe. Con đường chạy xuôi thoai thoải. Trong chốc lát ở cửa kính trước chi còn một vệt dài, hơi sóng, của đoạn đường thẳng tắp. Nhưng đến điểm cao mới, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy Mát-xcơ-va. Lúc này có thể nhìn rõ hình các tòa nhà in trên bầu trời đỏ thẫm. Và từ trên bầu trời ấy, hai chiếc máy bay ném bom bị bốc cháy rơi cắm xuống như hai bó đuốc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:57:09 am

2

        A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích Grô-mốp với cái tên tự xưng là «Thợ tiện về hưu » ngồi trên chiếc ghế bành cũ cạnh cửa sổ. Trên đùi đặt tờ báo nhưng ông không đọc. Bà em gái của A-Iếc-xây đang thu dọn sau bữa ăn trưa. Từ bếp vọng ra tiếng nước óc ách, tiếng đĩa loảng xoảng, nhưng những tiếng động hòa bình đó không làm ông bận tâm. Tâm trí ông dồn cả vào việc theo dõi nhũng gì đang xảy ra bên cạnh, trong căn phòng của cậu con trai được ngăn riêng bởi một tấm ván mỏng. Từ đó nghe vọng ra tiếng bước chân nặng nề, tiếng ghế dịch chuyển, tiếng mở ngăn bàn. Chắc là Pa-ven, cậu con trai ông, đang xếp giấy tờ của mình vào ngăn kéo. Sau đó lại có tiếng bản vẽ can sột soạt. Ông già lo lắng động đậy trong chiếc ghế bành.

        Hôm nay thật là bất ngờ khi nghĩ đến điều này, Pa-ven sẽ đi xa, rất lảu và có thể sẽ mãi mãi. Thật là bất ngờ: tối qua còn tưởng nó sẽ đi sơ tán với nhà máy. Thế mà cũng chỉ đêm qua, khi ở ủy ban khu phố về, nó báo tin là họ chuyển nó đến trung đoàn công nhân. Và bay giờ ông A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích rất muốn gần con để giúp dỡ nó, xem xét nó đã mang đủ những thứ cần thiết chưa. Nhưng ông già vừa mới cãi nhau với Pa-ven trong bữa ăn. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu Pa-ven khuyên ông nhanh chóng đi khỏi T... Khi mặt trận đâ tiến gần thành phố thì ông chẳng làm gì mà ở lại đó. Vì A-lếc-xây không tìm được cái gì xác đáng để phản đối và thế là ông nồi cáu. Lúc này, ông đã ân hận về những lời nói nóng nảy, phi lý và cái đó càng làm tăng nỗi buồn của ông.

        Sau bức ngăn, nghe vọng ra một giọng hát trầm trẻ trung. Pa- ven đang đánh nhạc mồm bài hát cũ : « Khi ở bưu điện tôi làm người đánh xe ngựa.» Hát xong câu đó anh im bặt, nhưng chỉ phút sau lại bắt đầu. Grô-móp nghênh đâu lên nghe.

        « Trông kìa... thằng cừ khôi, quả là thằng cừ khôi! —Ông thán phục — Nó đang đi ra chiến trường chứ không đi đâu khác». Khuôn mặt tối sầm với đôi lông mày rậm của ông đã bớt vẻ giận dỗi và trở nên xúc động. Bất kể cuộc cãi nhau, ông quyết định sang phòng con. Nhưng cảnh cửa đã mở và Pa-ven bước vào, trên vai còn vướng cái rèm cửa gai. Ông già đứng dậy, thân hình to, cao với cái lưng cong tròn. Ông chăm chú nhìn đứa con trai với vẻ trìu mến, thiết tha.

        Pa-ven Grô-mốp, chàng con trai cũng to khỏe như vậy và có phần cao hơn, nhìn lại bố và mỉm cười. Anh mặc áo bành-tô đen với dây da vàng và di đôi ủng săn bằng da dê non, trên vai vắt một cái bao vải thô.

        — Thế nào, bố vẫn chưa nghĩ lại à?— Anh dịu dàng hỏi ông —  Đêm nay sẽ có đoàn tàu vận tải cuối cùng. Ở đó họ sẽ tiếp đón và thu xếp cho chúng ta. Cả gia đình Mê-scốp cũng đi nữa...

        — Nhưng đấy là công việc của họ, — Grô-mốp làu bàu. Giọng nói khoan dung của cậu con trai lại làm ông bị xúc phạm.

        Họ đứng dối diện nhau — cả hai đều to, cao và rất giống nhau. Nhưng mắt Pa-ven có màu xanh sáng, còn mắt Grô-móp đã chuyển sang màu đục mờ. Ông già cổ mái tóc hoa râm với những sợi tóc cứng dựng đứng trên đầu. Người con trai tóc hãy còn vàng sẫm mặc dù cũng dựng đứng lên. Bộ mặt Pa-ven rất giống bố. Trán rộng và dô, mũi thẳng, gò má cao, miệng hơi rộng. Tất cả những nét đó ở Grô-mốp đã bị mất đi vẻ dứt khoát của nó. Những nếp nhăn đã hằn lên da. Đứng trước con, ông già tưởng như mình đang đứng trước chiếc gương thần có khả năng làm mất hết sẹo và dấu vết của những năm tháng cuộc đời trải qua.

        — Bác I-van An-đrê-ê-vích hỏi thăm bố, — Pa-ven tiếp tục bằng giọng nói to, khỏe. — « Đối với ông già nhà cậu thì lúc nào cũng có chỗ. Chúng tôi sẽ có xe cho ông và sẽ chở cả dồ đạc ra ga nữa». Bác ấy nói với con như vậy. Thế nào bố, bố sẽ đi chứ? Sao bố cứ bướng bỉnh thế?

        Pa-ven không nói một điều là chính anh đã đề nghị với ban lãnh đạo nhà máy đưa ông bố ốm yếu của mình ra khỏi thành phố.

        — Bảo họ cứ việc mà cho xe,— Grô-mốp làu bàu.— Còn chỉ cho tao thì không cần thiết. Hãy nói lại với I-van An-drê-ê-vích như vậy. Bảo là bố xin chào và chúc họ đến nơi an toàn.

        Ông lại tức giận và cảm thấy mình bị xúc phạm. Đúng ra, trong thời gian gần dây, cảm giác bực bội gần như bám chặt lấy ông và nó là nguyên nhân chính dễ gây ra gắt gỏng. Cảm giác đó xuất hiện từ khi Grô-mốp khẳng định rằng, cuộc đời ông đã đi nhanh đến ngày tận số một cách thật vô lý. Mỗi năm qua đi, sức khỏe của ông càng kém hơn ; mặc dù cứ mỗi mùa xuân ông lại đi nghỉ ở nhà an dưỡng trên bờ biển phía Nam. Grô-mốp khong thể phàn nàn rằng người ta không chú ý đến ông. Các đồng chí ỏ nhà máy đến thăm ông luôn, cả giám đốc cũng ngồi ở nhà ông trong buổi tối Họ mời ông rất đều đặn đến dự các cuộc họp long trọng. Và khi ông già Grô-mốp xuất hiện, họ tiếp ông rất niềm nở. Nhưng tất cả những điều đó không an ủi được Grô-mốp. Ông cho rằng sự an nhàn của ông bây giờ thật là một điều đắng cay. Bất kể vô tình hay hữu ý, hễ ai nhác đến bệnh của ông là Grô-mốp lại phật lòng. Ông không muốn đi vì sợ trở thành gánh nặng cho các đồng chí trẻ khỏe của mình. Ý nghĩ này làm ông sợ hãi và cảm thấy như bị lăng nhục.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:57:34 am

        Pa-ven hờn giận nhìn bố. « Thế đấy, làm gì với bố bây. giờ, làm thế nào để thuyết phục được bố?».

        — Chúng ta đứng đây làm gì? Đằng nào thì cũng không lớn hơn được, — Grô-mốp vừa nói vừa nhếch mép cười.

        Ông ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, lập tức nó rên lên dưới sức nặng của ông. Pa-ven rút cái bao trên vai xuống, anh nhìn xem có vướng gì không rồi ngồi xuống cạnh bố. Căn phòng họ ngồi nói chuyện tuy sáng sủa, có tới bốn cửa sổ con nhưng xem ra vẫn chật chội. Ngoài chiếc bàn ăn phủ khăn vải sơn dầu, chiếc bàn tròn nhỏ dưới chiếc khăn đan, chiếc đi văng nhung, ngăn sách, tủ chè để bát đĩa và cái hòm dưới tấm thảm ra, trên tủ con, bậu cửa sổ, sàn nhà còn bày la liệt các loại cây cảnh: cây si xanh thám trong hòm gỗ, thu hải đường, thủy tiên và hoa hồng. Giờ dây Grô-mốp không còn biết làm gì hơn ngoài việc chăm sóc cây cảnh.

        Pa-ven lấy thuốc lá và ông bố cũng đưa tay về phía bao thuốc.

        — Bố phải kiêng cơ mà ? — Pa-ven nói.

        — Đó là việc của tao, — Ông già trả lời.

        Ông xoa điếu thuốc rất lâu, sau đó hít hơi thổi mạnh vào diếu thuốc rồi tiếp lửa của con trai.

        — Thế là mày đi, hả chiến sĩ A-nhi-ca, —ông lên tiếng — Nghe nói người ta thành lập đủ một trung đoàn tuyển từ các nhà máy.

        — Đúng Một trung đoàn đấy bố ạ, — Pa-ven xác định với cảm giác đau nhói, anh nhìn cánh tay to nhăn nheo đang cố giữ diếu thuốc lá của bổ, nhìn những ngón tay cứng đờ vì bệnh thấp khớp giày vò.

        — Cả một trung đoàn, — A-lếc-xây Gcô-mốp lặp lại. — Mày có biết không, đây là một lực lượng lớn... và như vậy công việc từ đây chắc sẽ được tiến triển. Cần phải chờ đợi. Các anh sẽ ngăn chặn được bọn Đức. — Ồng kết thúc với nụ cười khẩy rõ rệt.

        — Còn bố thì nghĩ thế nào? Chúng con sẽ chặn chúng lại, — Pa- ven đáp.

        Giọng giễu cợt của ông không làm cho Pa-ven tự ái và thế là A-lếc-xây Grô-mốp lại thấy bực tức.

        — Mày đã thấy bản thông báo hôm nay chưa hả cậu chiến binh ?— Ông bực tức hỏi, đưa tay lấy tờ báo trên bàn. — Đây... Hãy nghe đây ! Và để tờ báo cách khá xa tầm mắt, ông đọc nhưng không đeo kính: —  « Trong ngày hai nhăm tháng mười, quân ta đã chiến đấu ở các hướng Ma-giai-xcơ, Ma-lơ — Ia-rô-xláp, Ta-gan-rốt, — ông cao giọng. — Và Ma-ca-ép-xcơ...». Mày có hiều được điều này hay không ? — A-lếc- xày Grô-mốp gào lên. — Na-pô-lê-ông Bô-na-pác không tiến nổi tới đó, còn bọn Đức thì chúng ta đã để cho chúng đến được.

        — Đúng, bọn chúng tiến xa đấy chứ bố. — Pa-ven mỉm cười đấu dịu —Nhưng sau này càng không lợi cho chúng, Bọn Pháp năm mười hai đã chiếm được Mát-xcơ-va, nhưng không thoát thân được...

        — Thế là thế nào, chúng ta đọc tiếp...

        Ông già bắt đầu ho. Mặt ông đỏ lên và có vẻ đau đớn. Lệ ứa ra qua đôi mắt đục.

        — Có nghĩa là từ vấn đề chiến lược đến mọi việc đều đúng? —  Ông thờ nặng nề và thốt ra.

        — Thôi tự bố sẽ suy ra. — để bố yên tâm, Pa-ven cố trả lời hết sức mềm mỏng.—Chúng ta rút lui không phải là theo ý muốn của mình, đó là sự thật... Nhưng, khi rút lui, như người ta biết, chúng ta đã làm kiệt sức kẻ thù...

        — Thôi, nếu đúng theo chiến lược thì chẳng có gì để nói nữa. —  A-lếc-xây Grô-mốp bực tức ngắt lời. — Có nghĩa là chẳng giận dỗi vào đâu được. « Đừng phí sức vô ích, cứ đề nó dìm mình xuống đáy » theo chiến lược là như vậy chứ gì ?

        Trong thâm tâm ông cũng cảm thấy sự vô lý của mình nhưng, ông không dừng lại được.

        — Không phải như vậy đâu bố ạ! — Pa-ven nói nhỏ.

        — Có nghĩa là nếu đúng như chiến lược thì cứ để cho bọn phát xít thiêu trụi các thành phố của ta — Ông già gào lên — Cứ để chúng chiếm các tỉnh của ta, cứ để chúng treo cổ nhân dân ta. Tất cả đều là chuyện bình thường chứ gì?...

        Pa-ven đứng dậy. Anh đi lại trong phòng, tay sờ lá cây si bóng nhoáng rồi quay lại phía bố.

        — Không phải, không thể như vậy được bố ạ. — Anh dịu giọng

        — Không bao giờ như vậy được... Chính bố cũng biết đấy!

        «Khá lắm! Nhìn đứa con, nhìn đôi vai rộng, mái đầu với những mớ tóc xoăn trên trán nó bỗng nhiên ông nghĩ: — mọi cái đều tốt: thông minh và dũng mãnh...».

        Tự nhiên ông thấy ghen tị lạ thường với tuổi trẻ của con. Ông bổi rối im lặng. Pa-ven rất giống ông lúc trẻ. Khi đó ít ai trong khu bờ sông có thể ganh đua với ông. Và vừa yêu thương, buồn lo cho con nhưng ông cũng đồng thời vừa ganh tị với con. Hơn lúc nào hết, A-lếc-xây Grô-mốp muốn đi với Pa-ven để nếu có dịp còn dạy bảo con. Bởi vì trong những năm tháng của cuộc đời mình, ông không thích nhường thắng lợi cho ai, ngay cả với con mình cũng vậy.

        — Bố thấy không — Pa-ven tiếp tục, cố làm cho bố yên tâm. — Bọn Đức phải trả giá đắt cho mỗi bước đi. Nhưng dĩ nhiên tình hình căng thẳng... rất...

        « Chắc là hai thì sẽ quật ngã... có khi cả ba nữa, — A-lếc-xây Grô-mốp nghĩ thầm. — Dưới bốn người không thắng nổi mình».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:58:23 am

        Và ký ức xa xưa lại trở về với ông, nó rõ ràng như thể điều đó mới xảy ra hôm qua. Cứ như tận mắt ông trông thấy cánh đồng tuyết phẳng lì và ánh trăng vàng ảm đạm trên bầu trời rét buốt. Dọc theo hàng rào tuyết rơi, những bóng đèn nhấp nhô.

        «Chuyện đó xảy ra ở trên cánh đồng Pô-pốp, — A-lếc-xây Grô-mốp thì thầm với mình. — Ừ, đúng rồi... sau nhà tám. Ba thằng mình đánh lại cả tụi... Mình, Cu-dơ-nhét-xốp... và ai nữa nhỉ? — Ông cố nghĩ và nhớ ra. — Xê-ri-ô-gia với A-xê-man...».

        Tựa như từ xa xa đâu đó Grô-mốp nghe vọng lại giọng nói của con trai.

        — Một mình chúng ta chống lại cả châu Âu phát xít... Có đúng như vậy không hả bố?

        Và ông già lại như không nghe thấy gì: bức tranh sinh động và hấp dẫn lại hiện lên với ông. Trong ông sống lại cảm giác thích thú của lòng quả cảm bừng bừng khí thế khi chờ đợi kẻ thù của mình. Những kẻ tàn sát lần lượt đi qua khe hở của hàng rào trong một đêm trăng sáng. Thấp thoáng những chiếc áo bành tô trễ cúc. Những chiếc mũ lưỡi trai kim loại lạnh lùng phát sáng, vành lưỡi trai son óng ánh dưới ánh trăng đêm.

        « Ôi, đó là trận đánh nhau giữa người Nga và người Ca-bát- din!» — A-Iếc-xây Grô-mốp hồi tường và mỉm cười. Sau đó ông thấy những bóng đen chạy tán loạn trong tuyết, một tên trong bọn ngã sóng soài dưới chân ông và chiếc mũ lưỡi trai nhảy nhót cố trườn đi. Rồi ông lại nghe thấy tiếng huýt dài lảnh lót, thấy cây đậu Hà Lan phủ kín bãi trống và tiếng súng nổ rất gần. Ghé sát vào tai ông, Ra-bi-nhin nói với giọng trẻ trung: « Bây giờ những con quỷ sẽ biết đời! ».

        A-lếc-xây Grô-mốp im lặng hồi lâu, đầu hơi gục xuống ngực, mắt lim dim và khuôn mặt trở nên hiền hậu. Pa-ven cũng im lặng nhìn bố. « Ôi! Bố hoàn toàn già rồi, già lắm rồi» — Anh đau đớn nghĩ thầm.

        Đợi một lúc, Pa-ven đứng dậy và xách cái bao của mình lên. A-Iếc-xây Grô-mốp bừng tỉnh. Những kỷ niệm xa xưa làm ông nguôi giận, ông nhìn con và một cảm giác đau nhói bất ngờ xâm chiếm trái tim ông. Pa-ven đang ở đây ngay bên cạnh ông, dáng người khỏe khoắn, năng nổ. Và kỳ lạ thay A-lếc-xây Grô-mốp tồn tại trên thế giới này không chi trong chính ông mà còn ở trong dứa con trai. Cảm giác gần gũi ruột thịt đối với đứa con hoàn toàn xâm chiếm tâm hồn Grô-mốp. Và nó biến thành sự thống nhất giữa hai người. Ông vội vàng đứng, dậy và tựa lưng vào thành cửa.

        — Thôi, bố ơi, — Pa-ven nói, — con tạm biệt bố... Đã đến lúc con phải đi rồi.

        Ông già bước đến bên con và thở dồn

        — Pa-sa, — ông xúc động nói. —Pa-sa, con đừng quên...

        Ông muốn nói nhiều nữa, muốn khuyên nhủ, muốn căn dặn một cái gì đó thật cụ thể.

        Điều quan trọng nhất mà ông muốn nhẳc Pa-ven là, chính anh là người tiếp tục cuộc sống và chiến đấu của ông. Nhưng A-lếc-xây không thể nào diễn đạt nổi điều này.

        « Con đừng quên rằng bổ chỉ có mình con. Con là niềm hy vọng của bố... Bố không thể giúp con được nhưng sức mạnh của bố ở trong con ». — Những ý nghĩ rối loạn dồn đến với ông. Giọng ông lạc đi; im lặng một chút ông chỉ nói:

        — Hãy nhớ lấy, Pa-sa, những gì bố dạy... Và chúng ta không khi nào là kẻ đứng cuối cùng, không... Đã sống và chịu đựng nhưng không bao giờ chịu nhục.

        Ông hấp tấp ôm con và vụng về áp mặt vào má anh. Pa-ven buồn buồn vì bộ râu cằm lởm chởm chưa cạo của bố chạm vào mình.

        — Trời ơi, bố! — Anh kêu lên. — Làm sao con có thể quên được!

        Đến lượt anh, Pa-ven siết chặt đôi vai tròn mềm của bố. — Con nhất định sẽ tạt về nếu có dịp, — anh nói thêm. — Và bố đừng hoài nghi gì nữa! Tất cả sẽ tốt đẹp...

        — Thôi, con đi đi, đi đi..— A-lếc-xây Grô-mốp nói líu nhíu, giọng yếu đi đây vẻ dịu dàng.

        Pa-ven nghĩ chính lúc này cần phải tận dụng giây phút yếu đuối của người cha. Và anh lại đưa ra lời đề nghị của mình.

        — Còn bố, bố cũng nên đi đi, — anh vui vẻ nói. — Cô A-nhi-a sẽ thu xếp và tiễn bố...

        Vẻ dịu dàng vụt biến mất trên khuôn mặt ông già và ông quay lại.

        — Đúng vậy, bố nên đi đi, — Pa-ven kiên trì. — Bố ở lại chẳng để làm gì cả. Còn ở đó người ta sẽ đón tiếp và thu xếp cho bố.

        Ông già không nói gì, đâu hơi cúi xuống. Một phụ nữ mặc bộ áo váy sẫm chậm rãi đi từ hành lang vào phòng — đó là bà em gái A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích. Bà cũng cao như tất cả mọi người trong nhà và trẻ hơn anh trai mười tuổi. Dáng đi vẫn còn mạnh khỏe.

        — Cô A-nhi-a ạ, — Pa-ven thốt lên, — cô nói giúp với bố cháu! Và cô cũng yên tâm hơn khi đưa được bố cháu đi.

        — Cứ để A-nhi-a tự đi, nếu cô ấy muốn, — ông già nói, giọng đã có vẻ cáu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:58:45 am

        An-na Va-xi-li-ép-na ngồi xuống, đôi bàn tay da bánh mật đã lau khô dặt trên đầu gối. Mặt bà hơi gầy, gò má nhô cao như Pa- ven, trông có vẻ khắc khổ.

        — Ông ấy không nghe cháu và lâu nay cũng không chịu nghe cô. — Bà nói giọng trầm khàn khàn. — Nhưng cháu đừng sợ, cô sẽ chăm sóc bố cháu.

        — Sao lại phải trông tôi? Cô thế mà cũng suy với nghĩ! —  Ông già gào lên càng bực bội hơn.

        An-na Va-xi-li-ép-na chỉ hoi liếc sang ổng già.

        — Nhưng có thể các anh sẽ không cho bọn Đức tới đây chứ, Pa-sen-ca? — Bà hỏi to.

        — Tất nhiên, chúng cháu sẽ cố gắng... — Pa-ven nói — Ôi, bố cứ ương bướng vô ích!

        — Có thể còn qua được chứ? — Bà già vẫn tiếp tục.

        — Cần phải suy nghĩ... — Pa-ven đau khổ nhún vai. — Thôi, tạm biệt bố! — Quay lại bên cửa sổ để nhìn lần cuối cùng người cha đang giận dữ đứng bên chiếc ghế bành, rồi anh đi ra.

        Bà An-na Va-xi-li-ép-na bước những bước dài và vững chắc theo Pa-ven. Bà dẫn cháu vào phòng bếp nhỏ sạch sẽ, trần dán giấy viền rồi xếp vào túi tất cả những gì bà đã chuẩn bị cho cháu lên dường.

        — Bố cháu cứ ương bướng — Pa-ven nói vẻ không hài lòng. — Cháu và cô lo lắng cho bố cháu, còn bố cháu thì cứ ương bướng.

        Pa-ven mới bước vào đời nên thực sự không hiểu tại sao bố mình lại xử sự không đúng mức, không xứng đáng với tuổi tác của ông.

        — Già như trẻ nhỏ, mà trẻ nhỏ thì ngốc nghếch, — An-na Va- xi-li-ép-na nói, giọng như đàn ông. — Cái này thường xuất hiện khi người ta vô công rồi nghề. Nhưng cháu đừng lo... Cô không bỏ rơi ông ấy đâu...

        — Thật giống trẻ con, — Pa-ven nói.Họ đi ra bậc thềm và An-na Va-xi-li-ép-na hôn thắm thiết lên môi cháu. Bà cô thường nghèo nàn trong việc thể hiện tình cảm. Song, nếu Pa-ven không buồn phiền về sự bướng bỉnh của bố, chắc anh cũng nhận thấy mặt bà cô đã tái và nước da hơi đen trên khuôn mặt như bị phai đi. Ngoài điều đó, bà vẫn bình thản như việc Pa-ven đi làm hàng ngày chứ không phải đi ra chiến trường.

        — Cháu còn một đề nghị nữa... — Anh bỗng nói và đi chậm lại — Nếu có thư của Na-ta-sa, thì cô gửi ngay cho cháu. Cô ấy định đến đây nhưng chắc là còn lâu chúng cháu mới gặp nhau.

        — Vợ cháu có biết cháu đi chiến đấu không? — An-na Va-xi- li-ép-na hỏi.

        — Cháu đã viết cho cô ấy. Viết về tất cả, — Pa-ven trả lời vẻ ăn năn.

        Khi anh mở cổng, An-na Va-xi-li-ép-na như bừng tỉnh, liên gọi to.

        — Nếu cháu có cần giặt giũ gì thì mang về cô giặt cho.

        Anh gật dầu và bước nhanh ra cổng. Pa-ven rảo bước không quay đầu lại. Những tấm ván dưới vỉa hè oằn cong rít lên ken két. An-na Va-xi-li-ép-na tựa tay vào cổng nhìn đến khi Pa-ven ngoặt ở góc phố.

        ... Trong giây phút ấy, A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích cũng gù lưng bên cửa sổ có chậu hoa đưa mắt nhìn theo, tiễn đứa con ra đi. Một lát sau, ông đi đi lại lại quanh trong nhà như để tìm kiếm cái gì đó. Vào phòng Pa-ven thấy sách vở để bề bộn khắp nơi, ông cẩn thận đặt chúng lên giá. Những bản vẽ Pa-ven không mang đi, ông xếp gọn và cất vào tủ riêng. Ông cảm thấy cô đơn sau khi đứa con ra đi, đồng thời cũng phấn chấn lạ thường. Mặc lời khuyên giải của con, ông vẫn ở lại thành phố đầy nguy hiểm. Thật ra, cho đến lúc này, trong thâm tâm ông vẫn lưỡng lự và thấy rõ lẽ phải thuộc về Pa-ven. Và nếu còn làm việc ở nhà máy, tất nhiên ông sẽ đi sơ tán cùng với mọi người. Nhưng ông thấy thật khổ sở nếu yêu cầu cái nơi, mà cách đây không lâu ông là một trong những người dẫn dầu, giúp đỡ mình. Trong hai mươi năm dưới chính quyền Xô-viết, A-]ếc-xây Grô-mốp đã quen với địa vị của một con người, của một công nhân được cả tập thể tự hào. Và cái cảm giác của một người thấy mình hoàn toàn vô ích, sống bám vào mọi người ở nơi xa lạ đã làm Grô-mốp thấy sỉ nhục. Tuy hiểu rằng mình đã xử sự không đúng nhưng đồng thời ông cũng tự hào rằng mình không sợ hậu quả và vẫn xứng đáng với chính mình.

        Quanh quần ở bên cây si và cây phụng tiên, A-lếc-xây Grô-mốp hân hoan nghĩ: bây giờ thì những người thân thích trong gia đình và bạn bè gần gũi sẽ đối xử như thế nào trước sự kiện định của ông. «Chắc họ ngạc nhiên, — ông tưởng tượng và lẩm bẩm nói với mình. — Họ cho rằng chuyện này chắc sẽ làm cho ông già run sợ? Nhưng mình thì chẳng phải nghĩ ngợi gì. Mình biết mình phải làm gì ».

        Ông cảm thấy đứa con trai và cô em gái không thể ngờ rằng tính ngang bướng của mình lại gay gắt đến thế, nên cho đến lúc này họ vẫn tỏ lòng kính nể ông hơn trươc. Bà An-na Va-xi-li-ép-na vừa chuẩn bị đi làm vừa nhìn ông già và dặn dò mấy việc vặt ở nhà. Ồng lắng nghe bà em gái với vẻ chểnh mảng, thậm chí lộ cả vẻ giễu cợt.

        — Anh hãy chú nghe em nói đây, — bà An-na Va-xi-li-ép-na nghiêm giọng. — Kẻo lại nhịn đói cả tối.

        — Được rồi. Cứ đi đi, — ông đáp. — Tôi lại thích đi uống bia ở quán « Nê-va» cơ.

        Đấy là quán điểm tâm gần nhất mà Grô-mốp thỉnh thoảng đến. Nhưng lâu nay ông không hay đến đó mấy nên không biết rằng giờ đây tầng ngầm đã được sửa thành hầm tránh bom. Tuy ngạc nhiên trước tính gàn dở mới của anh, nhưng bà An-na Va-xHi-ép-na cũng không muốn làm ông thất vọng. Bà rất vội. Tiễn bà em đi làm và đóng cổng xong, ông già lại loanh quanh ở các phòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:06:53 pm

        Ông càng thầy kích động hơn. Trong thời gian gần đây, ông đã phục tùng hoàn cảnh quá nhiều, đã quá an phận, do đó cái việc không chịu khuất phục trước tình trạng khó khăn hôm nay đã làm ông phấn chấn hẳn lên. Tuy thắng lợi giành được hôm nay là không đáng kể, nhưng ông già cảm thấy mình có khả năng làm việc lớn hơn. « Tao đi đâu, tao cũng không biết cái gì ở đó nữa? — Ông tiếp tục tranh luận với con trai. — Nhờ trời, tao còn chưa mất trí. Tao biết phải làm gì và làm như thế nào. Điều này thì bố chẳng kém ai đâu ».

        Dừng lại bên cạnh cây thu hải dường, A-lếc-xây Grô-mốp theo thói quen sửa lại những cành bị gục xuống.

        — Còn khi sự việc trở nên nghiêm trọng thì... — quên khuấy đi, ông già bật nói thành tiếng, — thì tất cả hoặc dù chỉ còn một người cũng phải xông vào.

        Kinh ngạc trước ý nghĩ táo bạo của mình, nét mặt ông già thay đổi rõ rệt. Ông tin rằng: những năm tháng từng trải của ông, vốn sống và kinh nghiệm cuộc đời, ký ức về nhiều chiến công xa xưa không thể không giúp ích gì cho những người cùng lứa tuổi với Pa- ven của ông Bỗng nhiên ông thấy ý muốn giúp đỡ mọi người và sát cánh với họ trong một hàng ngũ cùng tham gia vào những cố gắng chung là những điều hoàn toàn hiện thực. Bỗng nhiên, A-lếc-xây Grô-mốp thấy bủn rủn chân tay đến nỗi phải ngồi xuống khi thoáng nghĩ đến một điều rất đơn giản mà bay giờ vẫn chưa nghĩ ra, là đi theo Pa-ven.

        «Cùng lắm thì người ta cho mình làm ông gác kho cũng được chứ sao? » — Ông tự hỏi. Ông cười thầm, khi cảm thấy mình có khả năng làm việc lớn lao hơn là cái công việc thầm lặng của người gác kho kia. Dù sao chăng nữa thì ông cũng không thể ngồi ở nhà trong cảnh vô công rồi nghề khi mọi người đang phải chiến đấu.

        Ỏng vội vàng chuẩn bị hành trang. Ngồi ghé vào cửa sổ bếp, ông cạo râu theo thói quen như trước khi ra mắt mọi người. Sau đó ông quẳng đôi giày nhàu nát vẫn đi trong nhà và khó nhọc cho chân vào đôi ủng. Ông thay chiếc áo vét cũ, sờn tay và mặc chiếc khác bằng da còn mới sặc mùi thuốc lá vụn. Toát mồ hôi và mệt mỏi, A-lếc-xây Grô-mốp lại phải ngồi một lát trước khi đi. Cuối cùng, ông mặc chiếc bành tô bông mùa đông, phủi phủi chiếc mũ lưỡi trai, chụp sâu nó xuống đầu và bước ra thềm.

        Ông cử động, và đi lại như rong sương mù, nhưng trong lòng lại sáng ngời một ý nghĩ, một đòi hỏi của lương tâm thôi thúc là phải cùng đứng với mọi người trong chiến hào chung.

        « Chắc là Pa-sa sẽ không tin khi biết mình cũng đi. — Cho chìa khóa vào ổ, A-lếc-xây Grô-mốp hài lòng thầm nghĩ. — Còn mình vẫn tự bảo vệ được ». Giấu chìa khóa vào nơi quy định dưới dầm cửa, ông thận trọng bước xuống thềm. Trời đã về chiều, bầu không khí xanh tươi mát như loãng ra và đầu óc ông quay cuồng. Nhưng điều này không làm ông dừng lại, ông nặng nhọc chống gậy và đi qua cửa hàng rào.

        Ông đi tới góc đường và rẽ sang một phó nhỏ dẫn thẳng đến con sông. Ở bờ bên kia là nhà máy quen thuộc. Grô-mốp tiến về chính phía đó theo con đường ngắn nhất mà ông đã đi qua hàng vạn lần. Đúng vậy, hôm nay ông còn có thể đi đâu nữa, khi mà ông đã sống chết với nhà máy này bấy nhiêu năm! Hầu như cả đời ông ở trên bờ sông kia và lúc này đến đấy ông tưởng như chỉ là sự trở lại nhà máy sau một thời gian tạm vẳng mặt không lâu.

        « Cứ thử đến dấy, nói chuyện với mọi người rồi sau đó sẽ rõ. Mình đến và ở đỏ sẽ phân giải » — A-lếc-xây Va-xi-li-ép lưỡng lự tự an ủi.

        Dù vậy, ông bước đi rất chậm. Đầu óc không còn quay cuồng nữa nhưng đôi chân tưởng như mềm nhũn không xương. Ông kéo lê không nhấc chân khỏi mặt đất. Tuy nhiên, cái sự kiện tự ông đi bộ được hôm nay đã làm ông cảm thấy như trẻ lại thực sự.

        Đến ngã tư, một nhóm chiến sĩ Hồng quân deo súng trường vượt qua cầu đã đuổi kịp Grô-mốp. Ông nhìn các chiến sĩ không phải chỉ với con mắt hoan nghênh mà còn với vẻ vui mừng của người cùng tham gia vào sự nghiệp chung.

        Vượt qua cái dốc thoai thoải, A-lếc-xây Grô-mốp dừng lại để thở. Và ở đây ông chú ý đến quang cảnh một toán học sinh đang khênh bàn ghế, giường tủ từ lớp học ra và xếp lên ô tô. Bọn trẻ rất bận rộn và ồn ào. Một em gái đội mũ đỏ chạy rối lên từ cổng chính đến ô tô rồi quay lại:

        — Va-nhiu-sa, đừng làm hỏng đấy ! Li-da có nặng không ? —  Cô bé hỏi toáng lên.

        — Nào nhanh lên, nhanh lên! — Người lái xe vừa hì hục bên máy nổ vừa thúc giục bọn trẻ. Nhanh lên kẻo chúng ta không kịp đi trước lúc báo động dâu...

        — Không sao cả, các cháu cừ lắm, đừng sợ! — A-lếc-xây Grô- mốp nói to và bất ngờ với cả chính mình. Ông giơ chiếc gậy lên vẫy vẫy. — Còn anh thì dọa nạt gì thế ? — Ông càu nhàu mắng anh lái xe. — Đáng lẽ giúp các cháu thì hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:07:21 pm

        Anh lái xe thấp béo, mặt bóng như bôi mỡ sửng sốt nhìn người qua đường kỳ lạ.

        — Ông ơi, ông tránh ra! —có tiếng nói nhỏ vội vàng sau lưng Grô-mốp. Ông già quay lại.

        Một em trai khoảng mười tuổi, mặt đỏ gay vì nặng đang kéo một chiếc ghế băng dài đến xe ô tô.

        Đừng sợ con chim sẻ nhỏ ! — Grô-mốp khích lệ nói theo sau em bé.

        — Mời bố về nhà đi! — Người lái xe bực tức nói. — Chui vào bếp hay đi dâu cũng được. Ở đây không có bố cũng đủ ồn ào lắm rồi.

        Một thanh niên trẻ mặc áo vét dính dầu mỡ, đầu đội mũ lưỡi trai, vai khoác súng trường đi qua phố còn giơ tay chào ông theo kiểu quân sự. Mặc dù Grô-mốp không nhận ra anh, nhưng anh vẫn gật đầu với ông như người quen biết từ lâu.

        « Cứ thử đụng đến chúng tao xem, chúng mày sẽ phải bỏng đấy» A-lếc-xây Grô-mốp hài lòng suy nghĩ. Và ngay cái việc ông tự bỏ nhà ra đi, hòa vào cuộc du lịch hiểm nguy này đã làm cho ông thấy hãnh diện, tự hào tựa như chính ông đã thực sự tham gia vào cuộc hành quân vĩ dại, lớn lao của cả nước vậy.

        Nhiều người quay lại nhìn Grô-mốp. Người phụ nữ mặc áo vét chít lưng kiều cổ đứng tránh sang một bên, chằm chằm nhìn ông đi qua và cứ đứng im như vậy nhìn theo ông rất lâu. Dáng người cao to, gù, mặc áo bành tô bông, ông chậm chạp lê bước trên những tấm ván oằn xuống của vỉa hè. Một em gái tóc trắng bờm xờm thò đầu ra khỏi cổng, đôi mắt xanh đầy vẻ tò mò nhìn theo tiễn ông già.

        — Chết thật, ông ấy đi đâu thế! — Người phụ nữ mặc áo vét thở dài nói.

        — Thế mà người ta nói là ông ấy bán thân bất toại đấy, — em gái nhanh nhảu nói. — Đêm rồi mà ông ấy còn đi đâu cô nhỉ?

        Cuối cùng ông cũng qua được cầu, sang bờ bên kia và còn cách nhà máy không xa lắm thì tiếng còi báo động rú lên. Tiếng còi bắt đầu từ thấp rồi cao đến mức không chịu nồi. Nó rền rĩ rất lâu trong cảnh trời chiều tháng mười. Những người đi đường rảo bước, vội ẩn nấp trong các cồng vòm. Đường phố trở nên vắng tanh bóng người, tựa như gió thổi họ bay đi đâu, mất. Cũng như mấy ngày gần đây, máy bay Đức lại tiến công thành phố vào lúc xế chiều. Ở các hướng khác nhau trong trung tâm cũng như ở Da-rê-tri-e. Còi các nhà máy họa theo còi tàu cũng rúc lên báo trước cho khu vực mình điều nguy hiểm sắp tới.

        Nhưng A-lếc-xây Grô-mốp không hề sợ.

        Hà hà... lại bay... Tốt đấy ! Rồi con sói sẽ có bướu ». — Ông thầm đe dọa kẻ thù.

        Bỗng nhiên một người khẽ nắm lấy tay ông già.

        — Bác Grô-mốp, — ông già nghe thấy một giọng cao, đứt đoạn. — Bác để cháu đưa bác về.

        Trước mắt ông là một cậu thanh niên còn rất trẻ, mặc áo bông trần có đai, đội mũ ca lô trùm tới tai, đôi mắt sáng long lanh trên khuôn mặt gần ngăm ngăm với đôi môi nứt nẻ.

        — Cậu là con nhà ai thế, người hùng? — Ông già ngạc nhiên hỏi.

        — Tất nhiên là bác không nhớ cháu đâu. Cháu là Vô-lô-đi-a, Chi-khô-nốp Vô-lô-đi-a, — cậu thanh niên nói — Còn bác là bố của anh Pa-ven A-lếch-xâv-ê-vích, cháu biết bác.

        — Tại sao cậu biết tôi? — Grô-mốp hỏi.

        — Điều này không quan trọng. Cháu đã đến nhà anh Pa-ven một lần... Anh ấy hướng dẫn tổ kỹ thuật của chúng cháu. Thế cho nên... — Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp rất vội. — Nào, bác để cháu đưa đến hầm trú ẩn.

        — Còn hầm nào nữa? — A-lếch-xây Va-xi-li-ê-vích hỏi thận trọng.

        — Ngay kia thôi... Gần khu đoàn thanh niên. Mời bác đi... Ở đó có giường và phòng dành cho các cụ già và trẻ em...

        Vô-lô-đi-a quàng tay mình vào khuỷu tay ông già định dẫn ông đi.

        — Khoan đã nào... — Ông cao giọng và tránh ra. — Người anh em, tôi không trú và sẽ chẳng cần tránh trong hầm trú ẩn của các anh đâu.

        — Thế ông đi đâu vậy? — Vô-lô-đi-a ngạc nhiên. — Nếu xa thì cháu không có thời gian.

        — Tôi đến nhà máy, ở đó sẽ rõ, — A-lếch-xây Grô-mốp nói to. —  Còn cậu, cậu đi đi, đi đi, ẩn đi... — Rút cánh tay ra, ông nặng nề lê bước.

        — Bác A-lếch-xây, tại sao bác chỉ có một mình ? — Vô-lô-đi-a nói to.

        Cậu ta hoàn toàn không muốn bỏ mặc ông già trên đường phố vắng người.

        — Bác có muốn cháu đưa bác đến cổng nhà máy không? — Vô- lô-đi-a kêu to.

        — Cậu cứ đi ẩn đi để mà sống. Chưa cần đến lượt cậu đâu, —  Grô-mốp làu bàu không quay đầu lại.

        Ông cảm thấy như ở nhà máy người ta đang chờ ông, còn ông lại đến muộn.

        Khi ông đến cổng nhà máy thì bóng tối đã dày đặc. Ông dừng lại lo lắng : một hố lớn có bờ đất cao chặn đứng trước mặt. Đường phố xung quanh cũng phù đầy đất đá. Một thanh tà vẹt tàu điện cong như vỏ đỗ khổng lồ sừng sững trên đường. Như không tin ở mắt mình, ông già đưa mắt tìm câu lạc bộ nhà máy. Ngôi nhà ba tầng mới xây xong năm ngoái có mái cột trụ và ban công nhô ra phía trước, đứng đối diện với cửa ra vào. Nhưng giờ đây chỉ còn là một núi đá sỏi, gạch vỡ, những đoạn tường nhọn như cột bia với cánh cửa hỏng. Mặc dù Grô-mốp biết bọn phát xít định ném bom hủy diệt nhà máy, song ông vẫn run lên khi tận mắt được chứng kiến cảnh này.

        Nguời gác cổng với cây súng kíp trong tay đang ngồi ở lan can nhà gỗ, có lẽ đã nhận ra Grô-mốp. Bác ta bấm đèn pin, chằm chằm nhìn ông già và để cho ông vào, không hỏi han gì.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:07:38 pm

        A-lếc-xây Grô-mốp đi vào sân nhà máy và ở đây một cảm giác kinh hoàng mới lại đến với ông. Trong bóng tối lờ mờ, ông thấy các khu nhà vẫn còn nguyên, nhưng không khí tĩnh mịch có một không hai như trong nghĩa địa bao trùm toàn nhà máy. Những chiếc hộp khổng lồ của tòa nhà tối om sựng sững đứng trên sân đá, trông như một mẫu vĩ mô. Không biết từ dâu, một con mèo trắng xuất hiện, nhẹ nhàng chạy qua bãi đá trống và bỗng nhiên như hoảng sợ vì thấy mình đơn dộc, nó quay ngoắt trở lại.

        Grô-mốp đứng nhìn hoang mang ngơ ngác, cố tìm cho được những dấu hiệu nào đó cùa cuộc sống còn lại xung quanh. Nhưng vô ích. Lát sau ông đi đến khu hành chính nhà máy. Loay hoay một hồi trong hành lang tối om của tầng một, ông lên tầng hai cũng tối như bưng và mò mẫm mở cửa phòng, rồi một cửa nữa, nhưng không gặp một ai. Thất vọng và sợ hãi, ông trở lại sân. Trong tiềm thức của mình, A-lếc-xây Grô-mốp vẫn hình dung nhà máy thân yêu của ông luôn luôn ồn ào, đông người ra vào tấp nập với những ngọn đèn sáng chói. Trên đường đến đây, dù muốn hay không ông vẫn hy vọng gặp lại nó y nguyên như khi ông từ giã nó. Nhưng chỉ có tiếng giày và tiếng gậy của ông là âm thanh duy nhất trong bâu không khí vắng lặng tối đen này. Thỉnh thoảng chân ông vướng vào những phoi bào kim loại làm phát ra những âm'thanh buồn rầu như tiếng chuông vừa rè vừa gỉ.

        Theo đường goòng nhỏ của nhà máy, Grô-mốp tiến tới xưởng rèn đồ sộ đang âm thầm trong bóng tối. Một đầu máy nhỏ với các tán ô vuông trên ống khói đơn độc đứng chết lặng trước cửa ra vào. Ngay cả xưởng rèn, với những chiếc búa nặng trịch, cũng không cỏ một tiếng sột soạt. A-lếc-xây Grô-móp bỏ xưởng rèn, vòng qua góc nhà và trước mặt ông là tòa nhà đồ sộ của xưởng cơ khí.

        Cố dồn sức nỗ lực còn lại, ông bước qua ngưỡng cửa quen thuộc. Trong xưởng tối đen, câm lặng, chi một vài nơi cao hơn mặt đất là còn nhận thấy lờ mờ trên nền trời những ô vuông cửa sổ xám xịt, không còn kính chắn. Tuy nhiên, ở đây Ạ-lếc-xây vẫn còn nhớ cặn kẽ từng gian xưởng, nhớ như in vị trí tùng cỗ máy. Loanh quanh một hồi trong bóng tối, ông thấy xưởng của ông trống rỗng, chiếc máy tiện đã cùng ông làm việc bao năm nay cũng không còn nữa. Mặc dù điều này không có gì bất ngờ đối với A-lếc-xây, song trong ông vẫn trào lên nỗi buồn u uất. Ông chống gậy đứng lặng đi rất lâu trong bóng tối với một cảm giác như đứng trước đám ma người thân. Chi có mùi vĩnh viễn của phoi kim loại và dầu máy được thấm sâu vào nền đá còn lởn vởn trong những bức tường này, nơi mà cuộc sống đã ra đi. Từ xa vọng lại tiếng súng cao xạ và sau đó tiếng nồ ầm ầm rền vang. Sững sờ và đau đớn, A-Iếc-xây Grô-mốp lê bước ra cửa.

        Ra sân, ông ngồi lên chiếc đế máy. Lát sau, hàng loạt tiếng nồ liên tiếp vang lên hầu như ngay cạnh xưởng hòa cùng với tiếng pháo cao xạ rền xa xa. Nhưng Grô-mốp vẫn không đứng dậy. Im lặng một lúc khá lâu, bầu trời trên xưởng rèn bỗng rực sáng, rõ ràng là ở đâu đây có đám cháy lớn. Nhưng ông già vẫn cứ ngồi, lòng dạ nôn nao không biết đi đâu bây giờ. Một giờ trước đây, khi đến nhà máy, trong ông háo hức ý định tuy chưa rõ ràng nhưng cương quyết và đầy tinh thần chiến đấu, còn giờ đây ông cũng không biết trả lời ra sao cho chính mình là phải làm gì, phải hỏi ai, trong khi nhà máy của ông chẳng còn ai để mà hỏi han nữa.

        Ánh lửa hồng mỗi lúc một lan rộng trong bầu trời đêm đen đặc. Đám cháy từ một nơi nào đó trong trung tâm thành phố nhanh chóng lan ra và trên sân đá in rõ hình thù xưởng rèn đo đỏ. Trên các cửa sổ xưởng cơ khí xuất hiện ánh sáng lờ mờ hồng nhạt như bên trong có thắp những ngọn đèn yếu ớt. Pháo phòng không lúc im, lúc thi trút lửa và sau hàng rào nhà máy, một chiếc xe rúc còi hối hả lao về phía đám cháy. Lần này, Grô-mốp càng cảm thấy mình quá chậm chạp. Xung quanh ông là chiến trận, mọi người đang chiến đấu, trong đó có cả học sinh cũng vội vã đi đâu đó, làm một việc gì đó. Người thì đánh trả, kẻ thì bắn súng, duy chi có mình ông là bó tay ở đây.

        — A-lô-sa! — Bỗng nhiên ông nghe thấy một tiếng gọi run run quen thuộc. — Cậu ở dâu, A-lô-sa!...

        Grô-mốp vui hẳn lên và đưa mắt tìm: thế nghĩa là trong nhà máy vẫn có một người nào đó. Phút đầu tiên, do không biết đó là tiếng gọi mình, ông không lên tiếng.

        — A-lô-sa!— Tiếng gọi yếu ớt lại vang lên và một thân hình nhỏ bé gần như là trẻ con từ trong bóng tối nhô ra chỗ ánh sáng.

        — Đây, cái gì thế? Tôi đây. — Cuối cùng A-lếc-xây Grô-mốp cũng cộc lốc lên tiếng.

        Ông nhận ra bóng người đó là thợ cả Ca-da-cốp — một người bạn già về hưu trước ông một năm.

        Ca-da-cốp tiến lại gần và im lặng một lúc. Không hiểu tại sao ông để đầu trần, những sợi tóc trắng mềm mại bao quanh chỏm hói, phất phơ trước gió.

        — A-lô-sa! Ông định chơi trò ú tim đấy à? — Ca-da-cốp nói nhỏ — Còn chúng tôi thì tìm ông mãi. Từ cổng họ gọi điện vào báo rằng ông đến...

        — Ông có trông thấy chúng nó đang làm gì không ? — Grô-mốp nói — Ông thấy không, chúng nó muốn hủy diệt chúng ta đến tận gốc rễ! — Ông thét lên giận dữ. Nhưng một nét hy vọng dâng lên trong ông. Ở nhà máy không phải chỉ có một mình ông.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:08:42 pm

3

        Chiến tranh đã buộc Na-ta-sa Grô-mô-va phải ở lại trong một thành phố lớn gần Von-ga, nơi chị và một nhóm sinh viên cùng khóa đi thực tập từ đầu mùa hè. Nhà máy nơi họ thực tập lập tức chuyển sang thực hiện các kế hoạch phục vụ quốc phòng gấp rút, nên mỗi người đều rất cần thiết. Mãi đến tháng mười. Na-ta-sa mới được cử về Mát-xcơ-va. Nhưng ở đây chị được biết là trường đại học của chị đã đi sơ tán... Mẹ Na-ta-sa và em gái dự định sơ tán tới nhà họ hàng ở U-ran. Mấy ngày sau, chị tiễn hai người ra ga và sau khi họ đã lên tàu thì tất cả những gì diễn ra xung quanh, những gì xảy đến với Na-ta-sa từ những ngày đầu chiến tranh vẫn dai dẳng bám lấy chị không rời. Cho đến nay, tất cả những gì mà Na-ta-sa đã trải qua hoặc nghe được ở người khác chỉ là những tin tức về những trận đánh đẫm máu, về những đám cháy trong thành phố, là sự chia ly với người thân, là những lần báo động kéo dài và những đêm mệt mỏi thấp thỏm dưới hầm trú ẩn. Tất cả đều là những sự khốc liệt chưa từng thấy, những điều không thể tả được, không thể tưởng tượng được. Nó làm cho người ta kinh ngạc hơn là sợ. Na-ta-sa khó khăn lắm mới hiểu và tin được rằng tất cả những gì đang xảy ra đều là sự thật. Khó có thể tin được thế giới đang ở trong thảm họa chiến tranh và cũng khó có thể tin được rằng, cuộc sống thực tại mới đây của chị cũng đã mất đi. Thậm chí những gì không thay đổi trong cái thế giới này như: đất, trời, các vì sao, cây cối, các buổi bình minh và hoàng hôn cũng chỉ gây cho người ta cái cảm giác, cái ấn tượng nghi ngờ về những gì đang xảy ra với loài người trên trái đất. Và dù vậy, không gì có thể ngăn cản nổi Na-ta-sa hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ gia đình và xã hội của mình là vừa thực tập vừa học lớp cứu thương. Ở Mát-xcơ-va, chị tham gia đội cứu thương mỗi khi có báo động. Tuy vậy, chị vẫn trách mình là kỳ quặc, đã không chịu xông vào tất cả những thử thách, đáng ra phải trải qua. Bố chị là bác sĩ quân y. Cậu em trai mới tốt nghiệp lớp mười đã đi bộ đội như bao người khác. Nó luôn luôn ở trong vòng nguy hiểm. Còn chị chẳng hiểu sao lâu nay không nhận được thư của chồng. Riêng bản thân chị hôm nay buộc phải làm một cuộc hành trình khó khăn nguy hiểm: đi về phía mặt trận. Na-ta-sa cũng quyết định ra đi. Chị sẽ đến thành phố T., nơi chồng chị hiện đang làm việc trong một nhà máy chế tạo máy lớn. Họ đã quy ước với nhau : hễ có điều kiện, chị sẽ đến T. với anh. Và trong trường hợp nhà máy đi sơ tán thì cả hai sẽ cùng đi với nhau.

        Na-ta-sa dậy từ sáng sớm và ngay lức ấy cái ỷ nghĩ; nhất định hôm nay chị sẽ đến với chồng đã thúc giục chị. Rèm cửa buồng kín nên chị đưa chân tìm giày trong bóng tối. Bằng cử chỉ quen thuộc, chị vấn lại mớ tóc xõa tung. Xung quanh vẫn yên tĩnh, cô hàng xóm đi làm chưa về. Chỉ có tiếng chuông leng keng yếu ớt của đoàn tàu điện sáng sớm vọng vào phòng. Khoác áo choàng vào người, Na-ta- sa chạy vào nhà tắm theo hành lang sáng lờ mờ. Chị đốt lò hơi rồi quay về phòng kéo rèm lên. Ngoài sân đã bắt đầu một ngày thu nhàn nhạt hơi sương. Bầu trời xanh không một gợn mây, sương giá trắng xóa phủ đầy nhà cửa, cây cối và mặt đất. Một con quạ đen đậu trên nóc nhà kho, để lại dấu chân giống như đường thêu hình thập ốc. Bầu không khí buổi sáng lành lạnh dễ chịu và Na-ta-sa tự nhiên mỉm cười chào đón một ngày đẹp trời sáng sủa bắt đầu. Khép áo choàng sâu hơn, chị vội vàng dọn phòng, xếp giường, quét nhà, mặc dù việc này giờ đây quả thật không cần thiết nữa. Nhưng lúc này chị vẫn chưa hề biết rằng; còn lâu chị mới trở lại đây, trở lại ngôi nhà nơi chị đã sinh ra và lớn lên.

        Chị nhanh nhẹn đi lại trong phòng, thu dọn đồ đạc như mọi buổi sáng thường ngày. Quả là trong thâm tâm chị hơi ngạc nhiên với chính mình và với những gì đang diễn ra với chị. Tuy đây là điều băn khoăn không rõ ràng nhưng thật kỳ lạ thay, ngay cả hôm nay chị cũng không thấy mình khốn quẫn, y như nỗi đau khổ của chị và của người khác không có chỗ trong cuộc sống hiện tại vả như vậy có nghĩa là những gì bất ngờ xảy ra nhất định sẽ kết thúc đột ngột và tốt đẹp. Rồi cuộc sống thực sự, cuộc sống chân chính và nhân đạo sẽ trở lại vị trí của nó.

        Thu dọn phòng xong, Na-ta-sa lại chạy đến nhà tắm. Tắm xong, chị mặc bộ quần áo mới giặt thoảng mùi dễ chịu. Tối hôm qua chị đã định sẽ mặc bộ com lê xám cũ thuận tiện cho việc đi lại hơn. Nhưng giờ đây do niềm phấn chấn bất ngờ, chị quyết định mặc bộ váy len mới màu xanh sẫm nồi bật chiếc cổ áo màu xanh da trời.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:01:35 pm

        « Pa-ven chưa bao giờ thấy mình mặc bộ váy áo này — chị thầm nghĩ và ý nghĩ vui vui đó lấn át tất cả những cái khác.

        Chị chăm chú ngắm mình trước tủ gương. Dáng người tầm thước khỏe mạnh, hơi béo, đôi chân cân đối tuy bắp hơi to. Hình dáng chị nổi bật trước tấm gương lớn in bóng nền trời xanh và rèm cửa trắng. Đưa ngón tay vuốt hàng lông mày cong trên đôi mắt đen dịu dàng và xoa xoa đôi má mịn ửng hồng sau khi tắm rửa xong, chị như muốn kiểm tra để xác định xem tất cả vẫn là của chị và không hề xấu đi sau một đêm trằn trọc. Miệng tuy không cân đối lắm: môi dưới mọng và hơi căng ra, nhưng điều này không làm Na-ta-sa buồn phiền mà chỉ tôn thêm tính tự chủ của chị, thậm chí đôi lúc có cảm tưởng rằng chị sắp huýt sáo... Sau đó chị lấy tay giữ mái tóc vàng óng, dày và dài, chải rồi bện chúng lại thành một búi lớn sau gáy.

        Ngay từ hôm qua. Na-ta-sa đã thu xếp xong hành trang vào chiếc va li nhỏ màu vàng mà chị vẫn mang đi thực tập. Chị xếp hai tập tra cứu kỹ thuật và thước tính tận đáy, sau đó là áo váy ấm, tư trang, tất chân, nước hoa, xà phòng, miếng bọt biển và hộp kim chỉ. Cuối cùng là chiếc áo khoác gấp cẩn thận lên tất cả những thứ đó. Chị đóng khóa lại và nhấc thử — không nặng lắm. Cần phải ăn sáng trước khi đi đường, nhưng chị lại không đù tâm trí để đun nước pha trà và ngồi vào bàn ăn nữa. Lục lọi trong tủ chè, Na-ta-sa tìm được hộp bích quy dở, rồi vừa nhai vừa mặc áo bành lô.

        Đến giờ ra đi mà tim chị vẫn cứ run lên. Chị bước ra hành lang, và nhẹ khóa cửa căn phòng từ nay sẽ trống trải của mình lại. Ý nghĩ về những điều khủng khiếp đang diễn ra làm Na-ta-sa đau đớn đến suýt khóc. Bỗng nhiên chị cảm thấy mệt mỏi, phải đứng dựa lưng vào cửa một lát và cố kìm dòng nước mắt sắp trào ra. Chỉ lát sau, khi đã làm chủ được mình, Na-ta-sa thầm nghĩ về Pa-ven, về cuộc gặp gỡ với anh hôm nay.

        Na-ta-sa hoàn toàn tin vào sự lạc quan của mình vì một lẽ đơn giản, chị không thể nào tưởng tượng nổi là bọn phát xít có thể chiếm được Mát-xcơ-va. Chị không thể giả định được một điều gì khác ngoài sự toàn thắng, vì ngoài cái đó ra. có nghĩa là thảm họa và diệt vong. Mà Na-ta-sa thì không thể nào hình dung nổi thế nào là sự diệt vong.

        Chị nhanh nhẹn xuống cầu thang tối om vì cửa sổ bịt kín bằng gỗ dán. Ra tới cửa, chị trông thấy bà quản lý khu nhà thấp lùn, mặc áo bông bộ đội đang đứng ở sân.

        Bà khập khiễng đi đến gần chị:

        — I-i-a Vla-đi-mi-rốp-na! Bác làm sao thế? — Na-ta-sa hỏi, giọng chị nhỏ nhưng thanh.

        Người phụ nữ có cái tên hơi lạ đó vừa bước tới vừa ôm một bên hông bị thương.

        — Sao cô xinh thế — bà nhăn nhó nói và nhìn lên khuôn mặt hồng hào rạng rỡ của Na-ta-sa — Cô sửa soạn xong xuôi rồi chứ ?

        — Vâng, xong rồi. Cháu đi đây. Cháu muốn gửi bác chìa khóa căn nhà này... Nhưng bác làm sao thế?

        — Đêm nào cũng vậy, chúng tôi trèo lên nóc nhà như những kẻ ăn sương... Và thế là tôi bước hụt. — Bà trả lời vẻ miễn cưỡng.

        Nghe bà so sánh như vậy, Na-ta-sa suýt bật cười, song đã kịp ghìm lại.

        — Bác có đau lắm không? — Chị sốt sắng hỏi — Trong tủ thuốc có i-ốt không, nếu không, cháu mang đến. — Và chị đặt va li xuống đất.

        — Không sao đâu, cô đừng lo — bà trả lời quấy quá. — Chân còn lê được, thôi mặc kệ. Chiến tranh xong sẽ chữa...

        Tuy vậy, bà vẫn xúc động trước sự vồn vã quan tâm của chị và nhìn Na-ta-sa với vẻ niềm nở hơn. Nhét mớ tóc hoa râm xõa trên mặt vào khăn quàng, bà tin tưởng khoe :

        — Hồi đêm họ lại dập tắt bom cháy. Bọn trẻ thạo thật, chẳng sợ gì cả.

        — Bác hiểu cho, cháu thấy bất tiện là cháu đã bỏ bác ra đi, —  Na-ta-sa thú nhận.

        — Tại sao lại bất tiện? — Người phụ nữ mỉm cười âu yếm —  Cần phải nghĩ chứ, cô sẽ không thể ngồi không được.

        Bà giúi chùm chia khóa loảng xoảng vào túi áo bông.

        — Về nhà cửa, cô cứ yên tâm, ngay hôm nay tôi sẽ niêm phong lại.

        Chia tay với bà quản lý nhà xong, Na-ta-sa rẽ sang một phố nhỏ, sương mù lạnh lẽo còn lởn vởn trên đường. Lác đác quanh nhà vẫn còn sương giá: những lớp băng mỏng đục đọng lại thành những vũng nhỏ trên vỉa hè, kêu lạo xạo dưới chân.

        Lúc này, đi nhờ xe quân sự đến T. là chắc chắn và nhanh hơn cả. Gần đó đoàn xe của một sư đoàn tự vệ nghỉ đêm trong sân trường, nơi Na-ta-sa học từ hồi còn nhỏ. Cô hàng xóm mà Na-ta-sa không kịp chia tay đã nói giúp với người chỉ huy đoàn xe cho chị đi nhờ. Thật may, đoàn xe cũng đi về hướng thành phố T. Người chỉ huy vui lòng hứa sẽ đưa Na-ta-sa đến tận thành phố.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:02:24 pm

        Khi đến sân trường, Na-ta-sa thấy đoàn xẽ đã khởi động máy kêu rì rì. Những người lái xe mặc áo ca pốt, đội mũ trùm tai đang đi lại quanh xe. Ngồi chờ trong ca bin chiếc « ZIC » màu xanh, Na- ta-sa nhìn lại ngôi nhà của mình lần cuối cùng. Lúc này cửa kính tầng trên lấp lánh ánh mặt trời. Đoàn xe nối đuôi nhau thành tốp nhỏ đi qua ngõ phố và tiến về quảng trường Trơ-bát. Hai chiến sĩ Hồng quân đeo băng đỏ và tiểu liên đứng ở góc phố. Xa xa về phía quảng trường. Xmô-len-xco lờ mờ một nhóm kỵ binh cưỡi ngựa màu nâu thẫm. Những quả khinh khí cầu từ từ bay lên trời như một đàn cá bơi trong vũng sông khổng lồ.

        Xe lao qua những chiếc tủ bày hàng được che ván mỏng, những bức tường nham nhở mảnh đạn. những chiếc cổng kín mít và những người qua đường vội vã hiếm hoi. Tất cả ở đây đối với Na-ta-sa đều đã trở nên rất quen thuộc. Từ mặt trước ngồi nhà, lối đi, đến ngọn đèn đường và biển quảng cáo. Song, lúc này chúng trở nên mới mẻ, như đây là lần đầu tiên chị nhìn thấy vậy. Trên đại lộ chị vẫn quen dạo chơi hồi ấu thơ, Gô-gôn vẫn đăm chiêu đứng đó, nhưng hôm nay ông cũng trắng ra vì sương tuyết, tưởng như nhà văn đã thay chiếc áo khoác cũ bằng đá gra-nhít của mình. Mặc dù mọi người đều bàn tán về mối nguy hiểm sắp tới, về nỗi lo lắng không nguôi, song đối với Na-ta-sa, Mát-xcơ-va thân yêu của chị vẫn hiện ra một cách đẹp đẽ lạ thường. Một cảm giác kỳ lạ chưa bao giờ thấy xâm chiếm lòng chị mỗi lúc một mãnh liệt. Chị vừa quan sát vừa quay sang nói chuyện với người lái xe đứng tuổi có bộ ria rủ lòng thòng như Ta-rát Bun- ba1. Ông ta không quay đầu lại, và chi trả lời cụt lủn, nhưng Na-ta- sa không vì vậy mà bực mình.

        Sau khi rẽ xuống phố Phrun-de và qua thư viện Lê-nin, đoàn xe tiến đến câu Dá. Từ đây, điện Crem-li nổi lên rất rõ: bức tường răng cưa uốn theo dòng sông với những ngọn, tháp hồng lên trong nắng sớm. Quả đồi dốc xanh xanh với những tòa cung điện nhiều cửa kính lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhô cao trên mặt thành hình răng cưa và các lỗ châu mai của nó. Cạnh đó là nhà thờ lớn. Ta có cảm tưởng như chính bức tường, các cửa sổ và tháp chuông Crem-li phát ra và chiếu rọi làn ánh sáng vàng nhạt xuống thành phố.

        Na-ta-sa hơi nhỏm cao đầu quan sát để không bỏ một hình ảnh nào của bức tranh đẹp đang mở ra trước mắt chi. Chưa bao giờ, chị thấy Crem-li rạng rỡ và trẻ trung như vậy dưới ánh nắng ban mai của tháng mười. Nhưng đoàn xe lao xuống dốc và cảnh đẹp không tả nổi đó nhanh chóng đi khuất sau khu nhà trên bờ sông Mát-xcơ-va.

        Đoàn xe đến cửa ô Xe-rơ-pu-khốp rồi rồ máy phóng nhanh trên đường phố rộng rãi chạy giữa những ngôi nhà gỗ với mảnh vườn trước. Thỉnh thoảng qua cửa kính ca bin, thấp thoáng những công xưởng với những tòa nhà hình lập phương nặng nề như đồn bốt. Hai lần chiếc « ZIC » của Na-ta-sa vượt qua những đoàn người hỗn độn vác xẻng đi làm, phần lớn là phụ nữ đầu trùm kín khăn vuông hoặc mũ nồi, mặc áo bành tô hoặc ào bông cũ.

        Gần đến đường ranh giới thành phố, đoàn xe tăng tốc độ và chiếc « ZIC » rung mạnh hơn. Có một chiếc xe bám sát ngay thành xe họ một lúc khá lâu. Trên xe, các cô gái mặc áo ca pốt bộ đội đứng vịn vào vai nhau. Hình như họ đang hát, nhưng không thể nghe rõ lời vì bị át đi trong tiếng máy nổ. Phút chốc chiếc xe với những cô gái kia đã tụt lại phía sau.

        «Tốt lắm, chúng ta đi rất nhanh!» — Na-ta-sa nghĩ vậy và đôi má chị ửng hồng.

        Đoàn xe dừng lại cạnh tẩm biển xám báo hiệu lối rẽ sang tuyến đường chính đại lộ Pô-dôn-xki. Đây cũng là trạm kiềm soát giấy tờ và Na-ta-sa lấy ở túi xách giấy thông hành thẻ sinh viên, giấy nghỉ phép do trường cấp để kiềm tra. Mấy phút sau, đoàn xe lại nối đuôi nhau lăn bánh trên đại lộ rải nhựa phẳng lì...

        Chưa đi tới Pôn-đôn-xki, đoàn xe lại dừng nghỉ trong một ngôi làng lớn. Ở đây chỉ huy đoàn xe gặp các quân nhân rồi cùng với họ đi đâu đấy khá lâu. Khi quay về, ông cho biết là sư đoàn mà họ cần đến đã chuyển đi nơi khác. Và thế là đoàn xe phải chuyển đi theo đường khác. Người chỉ huy bối rối khi nói điều này với Na-ta-sa, giải thích là do tình hình chiến sự không ổn định và khuyên chị tìm đi theo xe khác vậy. Người lái xe ít nói có bộ ria như Ta-rát Bun-ba xách va li của Na-ta-sa để trong thùng xe ra và chắc cảm thấy rằng mình cũng có lỗi nên ông lúng túng khuyên chị nên nhờ chính quyền địa phương giúp đỡ.

        — Chị đi đến với chồng cơ mà, như vậy họ phải thông cảm —  Ông nối và gãi râu mép. — Tất nhiên, lúc này ai cũng bận rộn và có công việc cả... thôi, chị thứ lỗi cho nhé!

        — Không sao cả, bác đừng lo. — Na-ta-sa nhã nhặn nói — Chúc bác lên đường bình an vô sự.

---------------------
        1. Ta-rát Bun-ba : một anh hùng nông dân nổi tiếng — N.D.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:02:59 pm

        Đoàn xe chuyền bánh. Chị đứng bên lề đường và còn vẫy tay chào người lái xe.

        Thật đáng tiếc: chuyến đi lúc đầu may mắn như vậy không ngờ lại bị nhỡ ở ngay chặng này, nhưng Na-ta-sa không cảm thấy quá lo lắng. Đặt va li sang bên cạnh, chị chăm chú quan sát xung quanh: những ngôi nhà gỗ im lìm, các giếng nước với đây ròng rọc và những bóng người xa xa đang lúi húi với công việc của mình. Thoáng trông thấy chiếc « Em-ca » màu đen chạy vào làng, chị liền vội xách va li lên, lòng tin chắc chiếc « Em-ca» sẽ không bỏ qua mình. Đúng vậy, chiếc xe nhỏ mui vải đã thủng lỗ chõ đột ngột phanh lại cách chị khoảng mươi, mười lăm bước. Người lái xe lao ra khỏi xe chạy đến giếng nước, chiếc xô không kêu loảng xoảng. Na-ta-sa bước vội đến bên xe.

        ... Bị giữ lại cả đêm trong bộ tham mưu quân khu thủ đô, trung tá Bốt-đa-nốp rời khỏi Mát-xcơ-va hơi muộn so với dự định. Tất cả những điều gì đã nhìn thấy, nghe và cảm thụ được từ hôm qua đến giờ đã tạo cho anh một trạng thái tỉnh táo trước trận đánh — trạng thái của tất cả sinh lực và tinh thần đều dồn vào một mục tiêu. Ngồi trong xe, Bốt-đa-nốp đang chăm chú nhìn ra xa, nơi chân trời tím nhạt, tưởng chừng như từ đây anh vẫn nhìn thấy rõ khói lửa của trận chiến đấu vùng ngoại ô Mát-xcơ-va.

        Khi nghe Na-ta-sa gọi từ bên cửa kính mở, trung tá liền quay lại vẻ không hài lòng. Ngay lập tức anh nhìn thấy một khuôn mặt phụ nữ trẻ trung, nóng bừng, hồng hào như một thiếu nữ, rất gần, ngay trước mât mình, nhưng bị bất ngờ nên anh không thể trả lời ngay được. Na-ta-sa chìa giấy thông hành và giấy nghỉ phép qua cửa xe.

        — Nếu anh đi không xa thì sau đó tôi sẽ chuyền sang xe khác —  Chị vừa mỉm cười vừa nói. Trong nét mặt, dáng điệu của chị toát ra một niềm tin vào lòng hảo tâm của mọi người đối với chị đến nỗi Bốt-đa-nốp không nỡ từ chối.

        — Mời cô lên đi, — anh nói khô khan — giấy tờ cô sẽ xuất trình ở trạm kiểm soát — anh vừa nói vừa mở cửa từ phía trong.

        Anh lái xe vừa đổ nước vào bộ tản nhiệt, vừa liếc nhanh người khách mới.

        Lúc đầu họ ngồi im lặng. Na-ta-sa rất hài lòng về việc chị lại may mắn đi nhờ được xe, chị im lặng và tò mò nhìn quanh. Chiếc xe chị đang ngồi có vẻ bí hiềm và kinh ngạc: dưới chân là một hòm sắt phẳng không biết để làm gì, bên trên là ống nhòm, cặp da, hai khẩu tiểu liên và mấy băng đạn dự trữ. Chưa bao giờ loại vũ khí kỳ quặc với ánh thép hơi xám và lạnh lẽo lại ở gần chị đến mức như vậy. Chị bất giác ngước nhìn hai người đàn ông ngồi phía trước với vẻ kính trọng và biết ơn.

        Sau đó chị nghĩ đến Pa-ven. Cũng như mỗi lần nghĩ về anh, lòng chị lại trào lên một tình cảm dịu dàng, ấm áp. Áp người vào góc xe, đây không biết là lần thứ mấy chị lại cố tưởng tượng về cuộc gặp gỡ với anh. Pa-ven sống với bố ở ngoại ô thành phố T. và như vậy chắc phải đến tối chị mới tìm được anh. Nhưng có lẽ tốt hơn là cứ chờ anh ở nhà. Na-ta-sa cố hình dung vóc dáng anh to, khỏe, hiền lành, khi nghe chị gõ cửa, anh liền ra mở cửa và thốt lên cuống quýt như thế nào; trong lúc bàng hoàng, anh lặp đi lặp lại mỗi một câu đại loại: «Hà hà, thế là em đã về» hoặc «Anh đợi em mãi, đợi em hoài!...». Sau đó anh sẽ dẫn chị vào chào bố và bà cô.

        Thật là buồn cười khi Na-ta-sa thầm nghĩ: Chị biết Pa-ven từ lâu (năm ngoái anh mới tốt nghiệp cũng trường đại học mà hiện nay chị đang học), đã viết mấy lá thư cho người thân của anh, thế mà đến lúc này vẫn chưa được gặp họ. Mùa xuân năm nay, sau khi Na- ta-sa và Pa-ven cưới nhau, chị cũng định thu xếp về thăm ông bố và bà con anh ít lâu nhưng không có dịp nào cả.

        Giờ đây, ngồi phác lên bức tranh về cuộc gặp gỡ sắp tới với Pa-ven và người thân của anh, Na-ta-sa cảm thấy có điều gì đó từa tựa như cắn rứt lương tâm. Và chị rất muốn chia sẻ niềm vui bất ngờ của mình với những người đàn ông ngồi trên chiếc ghế trước mặt chị, cả hai đang im lặng trầm tư đi ra mặt trận. Người chi huy và người lái xe của anh, đều không hề quay lại hỏi han gì như thể không hề có chị ở trong xe này.

        — Đồng chí trung tá, nếu tôi không nhầm thì đồng chí là trung tá phải không ? — Chị lên tiếng. — Xin lỗi, tôi vẫn chưa cảm ơn đồng chí.

        — Không sao cả, — Bốt-đa-nốp nói. Anh đang bận suy nghĩ: liệu đã có người bổ sung cho trung đoàn của anh chưa và họ là ai, đã có chính ủy mới chưa, đơn vị của anh đã nhận được quân phục mùa đông chưa và nhiều cái khác liên quan đến việc chuẩn bị cho đơn vị chiến đấu. Và anh rất tiếc là việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với ý muốn.

        — Nào chúng ta hãy làm quen với nhau chứ, — chị lại lẽn tiếng sau một lúc im lặng. — Tôi là Na-ta-sa...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:03:28 pm

        Bốt-đa-nốp quay lại. Khuôn mặt người phụ nữ trẻ, tươi tỉnh hồng hào đến mức tưởng như ở trong góc xe tối này sáng hẳn lên.

        — Các anh có biết không, tôi vừa chợt nghĩ tới cảnh mọi người chúng ta sẽ trở về sau chiến thắng như thế nào, — Na-ta-sa nói —  Những đoàn tàu trở về Mát-xcơ-va và những thành phố khác... còn mọi người ra ga đón người thân...

        Bốt-đa-nốp ngạc nhiên nhìn chị. Đối với anh, việc trở về sau chiến tranh còn quá xa xôi xa đến mức nếu lúc này mà nói đến thì thật kỳ cục.

        — Không ai biết bao giờ chiến tranh kết thúc, nhưng nó nhất định sẽ kết thúc, — Na-ta-sa vẫn tiếp tục làm yên tâm hai người bạn đường của mình, — Có thể còn nhanh hơn chúng ta nghĩ... và hôm ấy có lẽ là một ngày hội tuyệt vời !... Tôi có bố và em ở trong quân đội. Thật ra thì em tôi hãy còn học ở trường quân sự. Nó chỉ lo không được chiến đấu. Còn bà mẹ tôi thì đêm không ngủ được vì nó...

        — Rõ ràng là như vậy rồi, — Bót-đa-nốp nói. Anh thấy ngượng ngùng không biết phải nói thế nào với người bạn đường.

        — Không phải người mẹ nào cũng gặp lại được con đâu, —  Người lái xe góp chuyện vẫn không ngoái đầu lại. Na-ta-sa chỉ nhìn thấy cái gáy sạm nắng của anh và cánh tay đen bóng như mỡ trên vành lái.

        — Ôi, thật vậy! Không phải mọi bà mẹ, — Na-ta-sa nói sau tiếng thở dài.

        — Chị có khó chịu không ? — Bốt-đa-nốp hỏi. — Chắc vũ khí của chúng tôi không làm chị lo lắng chứ?

        — Không, không. Sao các anh lại nghĩ vậy! — Na-ta-sa vội vã trả lời.

        « Những người đáng kính, —chị nghĩ. — Những người dễ thương, đáng kính..; ». Những câu chuyện rõ không hợp và chị không muốn tiếp tục nữa.   

        Qua cửa kính của chiếc «Em-ca» thấp thoáng bóng cột điện thoại, ruộng đồng, những đám cỏ màu xanh nhạt hoặc màu xám xịt vì mục nát. Xa xa những cánh rừng xanh thẫm chậm chạp chuyển mình. Thỉnh thoảng lại có chiếc xe chạy ngược chiều. Chúng lao đến rất nhanh như sẵn sàng đâm vào chiếc «Em-ca» nhưng rồi vút qua cùng với tiếng máy rú đáng sợ. Những cột điện cao thế giống như bản vẽ lùi nhanh về phía sau và nhỏ dần đi. Ở một quãng sát ngay lề dường là khu rừng già ngổn ngang những cây thông thân đỏ và lớp thông non xanh biếc viền quanh. Cuối khu rừng thông là cánh đồng bằng phẳng, bao la, phủ mờ khói tím.

        — Ồi thật đẹp, có phải không đồng chí ?— Không ghìm được.

        — Na-ta-sa lại thốt lên. — Thật là mênh mông!

        Bốt-đa-nốp quay sang phía chị.

        — Vâng, có lẽ... — Anh ngập ngừng đáp.

        Cánh đồng nằm theo hướng tây nam vẫn còn lốm đốm sương giá, nó trông như một trận địa lớn được bố trí từ trước. Nhìn lướt qua một lượt, trung tá nhận thấy trên một chiếc gò thoai thoải chằng chịt hào giao thông. Thấp hơn một chút là hàng rào thép gai;.nhũng chiếc cột chống tăng hơi nhô lên lồm chồm như hàng chông sắt. Bốt- đa-nốp thầm nhận xét là chiến hào đó cần đào cao hơn một chút. Nói chung, theo ý anh thì trên cánh đồng này nên có chướng ngại vật chống tăng có hiệu quả hơn như: hào sâu, đầm lầy...

        Họ đi qua Pò-đốn-xcơ và không dừng lại. Thành phố nhỏ này nằm trên sườn đồi gây cho Na-ta-sa một cảm giác là nó quá chật chội vì cỏ rất nhiều xe trên đường phố cùng với bao nhiêu bộ đội vây xung quanh những chiếc ô tô hoặc tụ tập trên cầu... Họ lại qua trạm kiểm soát ở ngã ba đường và Na-ta-sa nghĩ rang tới Pô-đôn-xcơ mình phải xuống, nên chị nhìn Bốt-đa-nốp vẻ biết ơn. Còn Bót-đa- nốp không ở lại đây và cũng không rẽ sang đường khác.

        Tới lúc này, biết rằng săp gặp được chồng, chị cảm thấy sốt ruột hơn theo tưng cây số xe qua. Con đường trải qua những đoạn gấp khúc, chiếc xe lúc chồm lên dôi, lúc tắt động cơ lao xuống dốc như những đợt sóng. Na-ta-sa nhớ tới vùng Crưm, nơi chị cùng với các bạn trong trường đến nghỉ mát năm ngoái; nhớ tới những buổi tắm khi biển động, những cơn sóng ấm áp nâng lên, cuốn lấy người chị rồi dồn vào bãi cát làm chị như bị ngạt thờ. Thật kỳ lạ, lúc này, trên con đường nhấp nhô như sóng biển, cái cảm giác rờn rợn khó thở như vậy lại dồn đến với Na-ta-sa.

        Bốt-đa-nốp đột ngột quay lại.

        — Xin lỗi chị, — anh nói, đôi mắt đen nhấp nháy. — Chị đã nói về mình với tôi, còn tôi chưa tự giới thiệu với chị, —Trong giọng nói của anh có vẻ trịnh trọng.

        Na-ta-sa sửng sốt nhướng dôi lông mày, vẻ trịnh trọng này làm chị thấy buồn cười.

        — Cái gì, cái gì cơ? — Chị hỏi lại và giơ cánh tay đi tất xanh ra như để tự vệ.

        — Theo phép lịch sự phải như vậy, — anh giải thích.

        Na-ta-sa mím môi, nhưng không ghìm nổi và cười vang.

        — Anh thứ lỗi cho... — Chị nói trong tiếng cười. — Điều này... điều này thường xuyên xảy ra với tôi...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:26:48 am
   
        Ngả người vào thành đệm, chị khẽ xua tay vẻ bất lực. Trung tá bối rối ngồi im một lát, rồi như cố hết sức lực, anh nói:

        — Tôi là Bốt-đa-nốp, Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích.

        — Rất hân hạnh, — Na-ta-sa lắp bắp, mắt long lanh và sáng lên.

        Anh lái xe tò mò nhìn chị qua vai rồi nhếch mép cười. Bỗng nhiên cảm thấy thích thú trước sự vui vẻ của người phụ nữ này, Bốt- đa-nốp cũng bổi rối cười to.   

        — Tôi tỉnh ngộ hơi muộn, — anh thú nhận và lại im lặng.

        Na-ta-sa cảm thấy mình không đúng, nhưng vẫn còn cắn môi, chị thấy buồn cười trước việc anh tự giới thiệu quá muộn màng này.

        Xe chạy trong làng. Hai bên đường là những ngôi nhà sạch sẽ có rèm che cửa sổ và vườn rau. Hầu như trong sân nhà nào cũng có xe phủ kín cành lá ngụy trang đỗ ở khắp nơi: bên tường nhà và dưới các lùm cây.

        Đường làng nhộn nhịp bộ đội đi lại, có người mặc áo mưa vải bạt, tà áo phấp phới bay trên lưng những con ngựa xám đầm đìa mồ hôi.

        Giữa làng có mấy ngôi nhà bị cháy trụi — chắc là bị trúng bom. Đàn bà cũng như trẻ con đều quàng khăn chéo và cứ loay hoay trong đống tro tàn.

        Xe vừa ra khỏi làng thì Na-ta-sa lại bắt gặp một cảnh tượng đau lòng mới. Một đàn gia súc đi ngược chiều trên cánh đồng vàng nhạt loang lổ băng giá. Người chăn gia súc nìặc áo da chạy theo cái rãnh bên đường và nói cái gì đó với một người cưõi ngựa ngất nghểu giữa đám súc vật. Những con bò khoang đen, trắng đi chậm chạp, cúi đầu gặm gốc rạ khô cứng. Một số con leo lên đường và Na-ta-sa trông thấy từng chiếc xương sườn, chiếc xương cùng nhọn hoắt và bộ lông bù xù. Một con bò đực đen, trán phảng chắn ngang ngay trước dãu xe miễn cưỡng lững thững tránh sang một bên và giương to đôi mắt đầy dử lên nhìn...

        «Từ vùng địch tạm chiếm tới đây, — Na-ta-sa thầm đoán. —  Không biết chúng đi bao lâu rồi? Và điều gì sẽ xảy ra với ta?! —  Chị phẫn nộ hỏi mình. — Xung quanh đau thương như vậy mà vừa rồi ta còn cười...». Mặc dù lời tự trách hoàn toàn chân thật nhưng nó không gây ra một ấn tượng sâu sắc. Bởi vì, dù thế nào đi nữa, Na-ta-sa vẫn cảm thấy mình trẻ trung, toại nguyện lại đang trên đường tới gặp chồng nên chị không thể kiềm chế được niềm vui sướng của mình...

        Đến trưa, họ tới Xéc-pu-khốp. Chiếc «Em-ca» nhẹ nhàng lướt trên chiếc cầu lát bằng ván gõ bắc qua con sông rộng. Dưới cầu, dòng Ô-ca xanh phản chiếu bầu trời cũng xanh biếc, còn phía xa xa, dòng sông lại lạnh lùng lấp lánh như tảng băng phẳng dưới ánh mặt trời. Pháo cao xạ nhô cao cảnh giác từ những bụi cây ven hồ đề bảo vệ cầu. Người lính gác ra hiệu cho chiếc xe dừng lại và kiểm tra giấy tờ của tất cả mọi người.

        Sau đó lại là đồng bằng bất tận vợi những cánh rừng âm u, sườn đồi thoai thải, đám cây trơ lá màu nâu và những cây liễu trắng đơn độc bên suối. Na-ía-sa cho rằng đây là cảnh thu êm đềm tuyệt đẹp, còn theo trung tá thì đây lại là nơi rất thuận tiện cho xe tăng hoạt động. Thỉnh thoảng Bốt-da-nốp lại ngước nhìn bầu trời trong xanh, quang đãng đến mức cũng phải cảnh giác với máy bay Đức xuất hiện. Nhưng lúc này Bối-đa-nốp hay quay sang Na-ta-sa và chủ động bắt chuyện với chị. Chị vui vẻ trả lời. Mặc dù tính sôi nổi của chị hoàn toàn không hợp với tâm trạng căng thẳng của anh, song anh không thể nói được là điều đó làm anh không hài lòng.

        Mấy tháng chiến tranh gần đây, những trận chiến đấu liên tục diễn ra đã làm trung tá quên đi nhiều ký ức quan trọng hoặc đáng yêu trước kia. Và giờ đây anh đang sống lại với nó, hài lòng chứng kiến sự tồn tại của nó. Trong chiếc «Em-ca» lỗ chỗ mảnh đạn của anh có một người phụ nữ không những chỉ trẻ và đẹp — có thể nói chị không phải là người rất đẹp, — nhưng tất cả những gì ở chị, từ tiếng cười yêu đời đến đôi mắt sáng dịu dàng, đôi cánh tay thon thả đi tất mỏng, đều toát lên niềm vui của hòa bình và hạnh phúc.

        — Na-ta-sa, chị định ở lại T. có lâu không? — Trung tá thản nhiên hỏi. — Ở đó chị có nhiều công việc làm không?

        Anh đã bắt đầu lo lắng cho tính mạng của người bạn đường, đang đi vào một thành phố mà ngày mai có thể là mặt trận ác liệt.

        Na-ta-sa không trả lời ngay. Chị đắn đo trước khi thú nhận rằng ờ T. chị chảng có việc gì cả ngoài việc riêng.

        — Ọuả thật tôi không biết, — chị nhìn ra cửa sổ để giấu vẻ bối rối. — Còn tùy theo tình hình. Chúng ta sắp tới đó rồi phải không ?

        — Vâng, bây giờ thì sắp tới rồi, — Bốt-đa-nốp nói.

        — Tôi chịu ơn anh rất nhiều! — Na-ta-sa chân thành thốt lên và quay lại chỗ ngồi.

        — Dù lúc này nói chuyện gì đi nữa thì khi chú ý nhìn và nghe Na- ta-sa nói, Bốt-đa-nốp cũng cảm thấy như mình vừa phát hiện được một điều gì mới lạ, tưởng chừng một điều kỳ diệu đang xảy ra. Trên đường gân mặt trận, anh đã gặp một con người của những ngày hòa bình xa xưa hay của tương lai sau chiến tranh. Và anh cũng chẳng nghĩ xem người bạn gái đồng hành của anh đẹp hay xấu. Ánh sáng của ngày mai tuyệt vời nhất định sẽ đến sau bao cố gắng và hy sinh đang phát ra từ người chị và làm cho chị trở nên đẹp lạ thường.

        Chiếc « Em-ca» đi đến một thị trấn lạ hay đúng hơn là một khu làng lớn và Bốt-đa-nốp cho xe dừng lại trên bãi rộng. Na-ta-sa ra khỏi xe, khoan khoái dạo bước và chăm chú quan sát xung quanh.

        Bãi khá rộng, rải đá cuội lơ thơ cỏ mọc ở vài nơi. Một đầu là hàng rào nhà thờ, đầu kia là những ngôi nhà gỗ một, hai tầng. Ở phía góc bãi là tòa nhà thấp lè tè của một xí nghiệp với ống khói ngắn tũn. Trời về chiều, báo hiệu một ngày thu ngắn ngủi sắp hết. Bầu không khi vàng nhạt như ấm lại. Hàng dương trong sân nhà thờ nhuộm màu hồng dễ chịu. Bóng râm hơi đỏ của hàng dương mỗi lúc một dài ra và bức tường gạch của xí nghiệp rực hồng lên. Na-ta-sa bỏ mũ nồi ra để sửa lại mái tóc như bùng cháy dưới ánh mặt trời hoàng hôn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:28:47 am

        — Na-ta-sa! — Bốt-đa-nốp nói. — Chúng ta nghỉ lại đây nửa giờ.

        Để lái xe ở lại với gói thức ăn, hai người chậm chạp dạo trên vỉa hè lát gạch. Qua hiệu cắt tóc có hình người đàn ông kiêu ngạo trên cửa sổ và cái hầm nắp sắt đóng kín, họ tới ngôi nhà thềm cao bằng đá có treo tấm biền «Nhà ăn số 1 » trước cửa. Di lên theo chiếc cầu thang hẹp và dốc, tới ngưỡng cửa, Na-ta-sa vô tình dừng lại trước một căn phòng rộng rãi với những bức tường gỗ tròn, tràn đầy ánh sáng vàng của hoàng hôn chói lọi xuyên qua cửa sổ.

        Trong phòng phần lớn là bộ đội mặc áo ca pốt, thắt dây da, họ ngồi bên những chiếc bàn gỗ ván dài. Quầy hàng phủ vải sơn dầu đặt trong góc phòng, bốn cạnh là chiếc bục nhỏ và cao. Một người chơi đàn phong cầm gù người trên chiếc ghế đẩu. Đó là một người to khỏe, ngực nở nang. Ông ta đeo đôi kính đen to — chắc ông bị mù. Thõng cái đầu to, vàng sẫm, bù xù xuống ngực, đôi tay to khỏe giữ chiếc phong cầm cũ kỹ trên đầu gối, hình như nhạc sĩ đang âu sầu nghĩ về điều gì đó.

        Anh nắng xuyên qua cửa sổ rất khó chịu và chiếc bàn gần đó không có người ngồi. Na-ta-sa và Bốt-đa-nốp tiến lại bên bàn. Một cô gái khuôn mặt nhợt nhạt, tóc tết đuôi sam, mặc áo len đỏ mang đến cho hai người một đĩa sứ đựng thịt ướp, pho mát và những miếng bánh mỳ rất to. Thay cho bia mà Bốt-đa-nốp yêu cầu, cô mang ra hai cốc vại nước ngọt màu anh đào. Na ta-sa tự nhận lấy công việc về mình. Chị lanh lẹn thái thịt đặt vào đĩa, còn Bốt-đa-nốp vừa sửng sốt vừa thích thú với điều này. Đã lâu rồi anh chưa được ngồi vào bàn với một người phụ nữ rất thành thạo và diu dàng như ở nhà thế này. Bốt-đa-nốp thầm cảm ơn Na-ta-sa và sợ nói điều gì không thận trọng làm phật ý chị, nên Bốt-đa-nốp im lặng theo dõi từng động tác của chị.

        Na-ta-sa cảm thấy người quân nhân — bạn đường của chị bỗng nhiên trở nên hiền lành thuần phục tự nhận lấy địa vị người dưới trướng của mình trong bàn ăn. Và trong ánh mắt của chị lại ánh lên nụ cười.

        — Thôi, tôi thế là đủ rồi. Cảm ơn Na-ta-sa, — Bốt-đa-nốp nói với giọng rất dịu ràng khi nhận đĩa thức ăn từ tay chị.

        — Anh ăn đi, ăn nữa đi anh Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích! — Na- ta-sa khuyến khích trung tá. — Chẳng nhẽ anh không đói hay sao, còn tôi thì đói kinh khủng... Chà, sao ngon vậy cơ chứ! — Chị thành thật thú nhận.

        Bốt-đa-nốp cười dè dặt.

        — Bình thường thì trong cuộc du mục, bánh mì khô cứng cũng cảm thấy ngon, — Anh nhận xét. — Chị hãy tin rằng chỉ trong chiến tranh người ta mới bắt đầu biết quý trọng nhiều thứ.

        — Vâng, chắc là như vậy... — Na-ta-sa tán thành. — Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng trong chiến tranh các anh phải chịu dựng như thế nào !

        — Không sao cả, chúng tôi sẽ quen dần... — Bốt-đa-nốp lại cười, giọng khàn khàn: lúc này anh thấy rất thoải mái, và Na-ta-sa cũng mỉm cười.

        — Chắc phụ nữ trong quân đội thì gặp nhiều khó khăn lắm phải không? — Chị hỏi.

        — Trong quân đội không có phụ nữ, Na-ta-sa ạ! — Trung tá dịu dàng nói.

        — Tại sao lại không? Phụ nữ chẳng phục vụ là gì đấy! Và họ còn phục vụ tốt hơn nữa cơ. Thỉnh thoảng tôi lại thấy xấu hổ vì tôi ở hậu phương...

        — Chiến tranh, đây là công việc của đàn ông, — Bốt-đa-nốp giải thích. — Và quân đội, nói chung là hội đàn ông. Chị thứ lỗi cho những lời bay bướm, phụ nữ chúng ta nên ở hậu phương... Còn chiến đấu là việc của những người lính đàn ông...

        — Thôi được... — Na-ta-sa im lặng. — Có thể là anh đúng.

        Chị nhìn qua cửa sổ. Dưới sân, từng nhóm người đang tụ tập lại, cửa xí nghiệp mở toang và từng chiếc xe tải lăn lượt đi ra. Trong thùng xe phủ kín vải bạt, mập mờ nồi lên hình thù các máy móc, trên chiếc xe thứ nhất là nồi súp-de hình nón rất to. Dân thị trấn chen chúc trên vỉa hè, chăm chú nhìn đoàn xe lần lượt đi khuất.

        Na-ta-sa không hiểu ngay chuyện gì ở dưới bãi vì tất cả đều diễn ra rất thành thục và bề ngoài trông rất bình tĩnh.

        — Này đồng chí trung tá! Xem kìa, ở đây họ cũng phải ra đi... — Chị dau đớn thốt lên khi nghĩ rằng có thể cái nhà máy duy nhất trong thị trấn này cũng phải đi sơ tán.

        Bốt-đa-nốp chau mày lại, lời nói của chị đã đưa anh trở về với thực tại.

        ... Lần đầu tiên trong chuyến đi, Na-ta-sa thực sự cảm thấy sâu sắc nỗi thương xót khôn cùng. Chiến tranh đang diễn ra quyết liệt: những nơi chị đi qua hỏm nay, ngày mai có thể là bãi chiến trường, thị trấn vinh quang này ngày mai có thể biến thành tro tàn và ai có thể biết được số phận của những người đang ở quanh chị trong giờ phút này — đồng chí trung tá thấp mập, nước da ngăm ngăm, khuôn mặt nghiêm nghị với đôi mắt đen; cô phục vụ mặc áo len đỏ; những chiến sĩ trẻ trung ở bàn bên cạnh và người ca sĩ mù kia sẽ ra sao! Na-ta-sa lo lắng cho mọi người xung quanh minh không phải do luận cứ của lý trí, mà do lòng nhân ái cao độ sẵn có trong người chị. Với một lòng thông cảm sâu xa, chị lướt nhìn qua tất cả từng người quanh mình...

        Mấy anh bộ đội bàn bên đã đứng dậy và đi ra. Na-ta-sa cũng vội vàng chuẩn bị. Bốt-đa-nốp liền đứng dậy và lịch sự nhường chị đi trước. Cô gái mặc áo len đan tựa tay vào bàn nhìn bóng tối đang lan dần sau khung cửa sổ bẩn thỉu.

        Chỉ có người ca sĩ mù là vẫn hát với giọng gay gắt không thay đổi. Khuôn mặt ông ngẩng cao, hướng về bóng đêm bất tận cũng không hề biến đổi, tưởng chừng như khuôn mặt của người đã chết. Khi Na-ta-sa vội vã xuống cầu thang, chị còn nghe rõ tiếng hát đuổi theo.

        ... Phía đuôi tàu những ngọn sóng nhấp nhô.
        Và mất hẳn nơi chân trời mù mịt...



Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:30:04 am

4

        Khi Na-ta-sa tới T, trời đã tối và cũng vừa lúc thành phố rền vang còi báo động. Sau tiếng còi báo động của thành phố, còi của các nhà máy cũng rú lên. Tuy không nhìn rõ thành phố, nhưng trong bóng đêm dày dặc vẫn nghe vang dội những âm thanh của nó.

        Chiếc « Em-ca », đỗ gần cổng ra vào ngôi nhà màu xám của Bộ tư lệnh thành phố. Na-ta-sa xách va li của mình lên và ra khỏi xe.

        — Bây giờ cô đi đâu ?— Bốt-đa-nốp hỏi. — Cô cô biết thành phố không đấy, không sợ bị lạc đường đấy chứ?

        — Tôi đi đây... Cảm ơn anh nhé! — Giọng Na-ta-sa vang trong.

        Có thể là chồng chị đang đứng gần đâu đây và ý nghĩ đó làm chị không cần quan tâm gì đến mọi việc xung quanh.

        — Na-ta-sa... Bốt-đa-nốp ấp úng gọi.

        Bỗng nhiên anh thấy tiêng tiếc vì chắc sẽ không còn dịp được gặp lại người bạn đường tình cờ của mình nữa. Ngoài ra anh còn cảm thấy mình có trách nhiệm phải chăm sóc cô, — một phụ nữ đầy tự tin và mạnh dạn, có thể chưa hiểu tí nào những gì xảy ra ở xung quanh.

        — Cô đợi tôi một tí, — anh đề nghị. — Tôi không giữ cô lâu đâu...

        — Thôi, thôi, — chị vội vàng nói và tránh sang một bên đường. — Tôi không thể nào đợi được nữa.

        — Tôi chỉ vào hỏi tin tức... — Bốt-đa-nốp định thuyết phục. —  Và sau đó còn dưa cô đi nữa...

        — Ôi thôi, tôi không thể nào đợi được nữa! — Na-ta-sa nói to.

        Chị nóng lòng muốn chia tay với người trung tá thấp mập, rất lịch thiệp và tử tế đang cố giữ chị lại không đúng lúc. Chẳng hiểu sao, sự quan tâm của anh lúc này làm chị không thích. Để làm dịu bớt lại lời khước từ quá gay gắt của mình, đi thêm mấy bước, chị nói vọng lại: “

        — Cảm ơn anh nhé! Cảm ơn anh! Có thể lúc nào đó chúng ta sẽ còn gặp nhau!...

        — Tôi hy vọng như vậy! — Bốt-da-nóp thành thật kêu lên.

        Gặp người đàu tiên, Na-ta-sa dừng lại hỏi đường. Hóa ra chị còn phải đi bộ khá xa. Nhưng điều đó không làm chị bối rối. Và ở đây, trong cái thành phố xa lạ này, thỉnh thoảng lại vang lên những loạt đạn đại bác, chị cảm thấy như vẫn được che chở một cách vững chắc bởi một sức mạnh hiền lành, thân ái đối với chị. Đây không hoàn toàn là một sự nhẹ dạ, mà là lòng tin vào cuộc sống, một thứ lòng tin trong bao năm nay đã bảo vệ chị khỏi mọi hiểm nghèo.

        Trong chốc lát, trời đã tối hẳn. Từ phía xa trên bầu trời tối như bưng lập lòe những chớp lửa của đạn cao xạ, còn phía dưới là bóng đen thăm thẳm. Không gặp người đi dường nữa, ngay cả một tia sáng nhỏ từ khe hở hắt ra cũng chẳng trống thấy ở đâu và sau vài ba lần rẽ ngang, Na-ta-sa bị mất hết phương hướng không biết là minh đang ở đâu lúc này. Chị không hoảng hốt nhưng bực bội Na-ta-sa căng thẳng nhìn vào bóng đêm xung quanh và chị thấy mắt mình nhức nhối.

        « Không có bóng dáng một người nào cả, — chị bực dọc nghĩ. —  Một xứ sờ huyền bí nào chứ không phải là thành phố nữa. Ngay cả công an cũng không thấy dâu cả...».

        Chị đã định gõ cửa ngôi nhà gần nhất nhưng ngay lúc đỏ liền nghe thấy bước chân lộp cộp lien hồi ở phía bên kia đường.

        — Dồng chí gì oi, — Na-ta-sa cố gào hết hơi sức mình, — xin hãy dừng lại một tí!

        Trong khoảnh khắc những bước chân dừng lại. Sau đó như định hướng được tiếng gọi, người đó đi qua đường.

        — Anh có thể cho tôi biết tôi đang đứng ở đâu không? — Na- ta-sa nói với giọng như thể chính bóng người lạ mặt kia có lỗi trong việc chị lạc đường.

        Người đi đường vẫn hoàn toàn im lặng.

        — Tại sao anh không trả lời thế? — Chị cao giọng hỏi lại “Tôi đã luẩn quẩn ở đây mất nửa giờ rồi. Tôi cần tới xí nghiệp chế biến thức ăn, đến đó thì tôi biết dường... Anh thứ lỗi cho, vì tôi làm mất thì giờ của anh.

        — Thế chị đến nhà máy để làm gì ? — Tiếng người nào đó, hỏi vọng lên không phải ở chỗ chị ngóng đợi, mà lại thấp hơn, ngang thắt lưng chị.

        — Anh ở đâu thế? — Chị ngạc nhiên hỏi và vô tình lui lại.

        — Chị đi đâu?... Đứng lại!... Chị đến nhà máy đề làm gì? — Những câu hỏi dồn dập, rắn rỏi.

        Na-ta-sa cảm thấy một bàn tay nắm chặt tay áo chị và lờ mờ một khuôn mặt trăng trắng ngay dưới tầm mắt mình.

        — Ôi, anh..., cậu bé! — Chị thốt lên — Thế mà tôi cứ tưởng... — Chị bỗng cười vang.

        — Chị tưởng cái gì? Không, chị hãy nói đi... — Cái bóng bé nhỏ đó kiên trì nhắc lại — Chị không phải là người ở đây?

        Và chỉ sau khi Na-ta-sa đã nói rõ chị là ai, đi từ đâu đến và nhắc tên bổ chồng của mình ra, cậu bé mới yên tâm.

        — Có phải ông già sóng ở phố Bờ sông phải không? Làm ở nhà máy chế tạo máy cá! chứ gì ? — Cậu bé hỏi lại.

        — Đúng đấy, chính ông ấy đấy! - Na-ta-sa vẻ mừng rỡ — Thế em có biết con trai ông cụ không ? — Chị đã chuyển sang tiếng « em ».

        — Em biết chứ! Tại sao lại không biết nhi ? — Giọng cậu bé có vẻ ngạc nhiên — Nhưng chị là thế nào với anh ấy ?

        — Chị là vợ — Na-ta-sa mỉm cười nói.

        Cậu bé khẽ huýt sáo.

        — Chị từ Mát-xcơ-va đến phải không ?

        — Đúng, từ Mát-xcơ-va tới.

        — Có điều là chị đến không đúng lúc đấy. — Cậu bé ngắt lời — Nhưng không sao. Nào, ta đi, em cũng đi về hướng ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:27:16 am

        Và cậu bé lanh lẹ, vững bước đi trong bóng đêm. Na-ta-sa vội vàng theo cho kịp.

        — Cái gì cứ kêu lộp cộp mãi thế? — Na-ta-sa hỏi, vẻ săn sóc —  Giày hỏng hay sao ?

        — Hôm nay đế giày bung ra, — cậu bé miễn cưỡng trả lời, — đế vẫn tốt, mũi còn nguyên. Còn chị thì đi đi chứ...

        Cậu bé thoăn thoắt đi từ phố này sang phố khác, tưởng như cậu ta nhìn rất rõ đường đi trong bóng đêm còn Na-ta-sa cứ phải giơ cánh tay trái ra trước mặt, đôi mắt nheo lại như sợ xô vào đâu đó. Vất vả lắm chị mới theo kịp cậu bé. Bất ngờ, người bạn đường nhỏ tuổi bước chậm lại và đi sóng hàng bên cạnh chị.

        — Mát-xcơ-va ra sao hả chị? Tình hình có bớt căng hơn không ? — Cậu bé hỏi, vẻ chững chạc.

        — Cái gì, cái gì cơ? — Na-ta-sa hỏi lại.

        — Em hỏi là tình hình có bớt căng hơn không? Nhân dân chịu dựng thế nào hả chị ?

        — Tuyệt vời! Thật là tuyệt vời! — Chị trả lời.

        — Ở chỗ chúng em cũng chẳng sao. Thành phố sẵn sàng tinh thần chiến đấu. Tất nhiên có khó khăn, làm sao có thể tránh khỏi điều đó, — cậu ta nói, — và người ta cũng có nhiều loại người... Thế cho nên lúc đầu em nghĩ về chị không được tốt lắm.

        — Nghĩ về chị ư? Hừ, em có biết không... — Na-ta-sa nổi nóng.

        — Thế chị nghĩ thế nào thời buổi này... Chị hãy lưu ý đấy...

        Hình như họ đã tới gần trung tâm thành phố vì dưới chân đã cảm thấy đường nhựa phẳng hơn. Cậu bé lại rảo bước nhanh hơn và Na-ta-sa phải thành thật van xin:

        — Này em, đừng chạy. Chị chẳng nhìn thấy chút gì cả...

        Cậu bé nán đợi đến khi Na-ta-sa đi lên kịp mình:

        — Chị quá chậm chạp đấy, —cậu ta nói vẻ thản nhiên. — Chị hãy nghe em, tốt hơn hết bây giờ chị vào nghỉ ở khách sạn ấy. Gần đến rồi. Tạm nghỉ đêm ở đấy. Chị có đủ tiền đề trả không?

        — Cứ cho là đủ vậy, — Na-ta-sa nói.

        — Chị hãy liệu đấy! Trong khách sạn, ôi, ôi, ôi, đắt lắm nhé!

        — Em tưởng thế thật à! — Na-ta-sa vui vẻ thốt lên.

        — Chị đừng có cười đấy. Chị có biết những ai mới ở được đấy không? Chỉ có các nghệ sĩ là một này, các cầu thủ bóng đá là hai này. Khi đội bóng « Xpác-tác » đến đây họ đã ở đấy. Khách sạn thành phố em tốt lâm

        — Không, chị không việc gì phải đến khách sạn cả. — Na-ta- sa nói.

        Họ lại gặp những người đi đường hiếm hoi: một chiếc xe có đèn pha xanh mờ mờ chạy chậm chạp, vài người đi bộ giữa đường phố. Ủng của họ có cá sắt kêu lạch cạch. Bỗng nhiên tiếng súng cao xạ rộ lên xa xa, rồi nghe rõ cả tiếng nồ rất gần. Trong cái hòa âm loạn xạ ấy xuất hiện một âm thanh nhỏ nhưng nghe rõ, giống như tiếng muỗi kêu — âm thanh cao, rung rung và buồn bã.

        — Bọn Hít-le lại bay đến đấy! — Cậu bé dẫn đường cho Na-ta- sa binh tĩnh nói.

        — Tiếng kêu rất khó chịu, — chị nói theo.

        — Tiếng động cơ của bọn phát xít nó như thế đấy, — cậu bé giải thích. — Tiếng máy bay của ta nghe êm êm còn của chúng nó cứ như than vãn: « Sợ lắm, sợ lắm, sợ lắm...». Còn pháo cao xạ trả lời chúng : «Ha!Ha!Ha!».

        — Ừ, cũng giống đấy... Ở đây có hay báo động không? — Na- ta-sa hỏi.

        — Dạo này thì luôn dấy. Thế còn ở chỗ chị thì thế nào ?

        — Ở chỗ chị cũng thế, — chị nói.

        Tiếng rẻo trên trời trở nên gắt và inh tai hon: chiếc máy bay vô hình như giảm độ cao.

        — Bây giờ nó sẽ quẳng bom xuống đâu đó. — cậu bé thét lên bảo cho Na-ta-sa. — Nào, hãy bám chặt lấy! Kìa, chị xem kìa! — Cậu gào lên — Hừ, bọn sâu bọ ! Chúng lại chỉ điểm đấy!

        Một ngôi sao vàng đục lóe lên trong bóng tối, cháy lơ lửng trên trời rồi tắt dần. Tiếp theo là hai quả pháo sáng tỏa xuống mặt đất một thứ ánh sáng chết chóc. Chùm sao đáng ghét đó lơ lửng trên thành phố chỉ trong mấy giây mà tưỏng như vô tận. Thành phố bỗng lộ ra từ trong đêm tối, soi rõ bóng hình nhũng ngôi nhà cao tầng, những ống khói nhỏ hẹp. Lát sau quả pháo sáng đầu tiên tắt, để lại những tia sáng mảnh, chóng tàn, nhưng ngay lúc đỏ lại xuất hiện quả khác.

        — Đấy, chúng nó lại chỉ điểm nhà máy dấy! Chúng nó bắn từ cánh đồng đấy ! — Cậu bé căm giận thốt lên.

        — Cái gì đấy? Ai thế? Cái gì đấy? — Na-ta-sa không hiểu gì, hỏi lại.

        — Cái gì đấy ? Ai thế ? Cái gì đấy ? Ai thế ? — Cậu bé nhại lại.— Bọn chỉ điểm pháo sáng chứ còn ai nữa !

        Cậu ta đi lên phía trước, và cái dế giày lại kêu lạch cạch như có ai vỗ tay.

        — Dừng lại một tí, — Na-ta-sa kêu lên, — đợi chị với!...

        Trong chính khoảnh khắc đó, một ánh chớp đỏ nhạt lóe lên sau những ngôi nhà, rồi ba tiếng nổ liên tiếp vang lên. Sau đó lại nghe thấy tiếng muỗi kêu buồn rầu, chán nản. Đột ngột như trong ánh chớp, một màu tím nhạt vụt sáng trên bầu trời. Một sức ép khủng khiếp làm cho mọi vật rung lên tưởng như có những chiếc hộp lớn quăng vào cửa kính.

        Na-ta-sa sợ hãi né sang bên đường và sực nhớ tới người đưa đường của mình đã mất hút trong bóng đêm, chị vùng chạy đuổi theo.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:28:25 am

        Trên đường phố xuất hiện vài người, họ vội vàng đi cùng chiều với chị. Một người nào đó xô mạnh vào Na-ta-sa. Ánh sáng hồng tỏa rực bầu trời. Bỗng nhiên, Na-ta-sa nhận thấy mọi thứ đều sáng hơn: thành phố lạ với những ngôi nhà đá, hàng cây trên vỉa hè, hàng rào, đường tàu diện, cột điện thoại mà lúc nãy không nhìn thấy, bây giờ đã hiện ra trong màn sương đục màu hồng. Súng cao xạ bắn dữ dội. Trên đỉnh đầu, bầu trời vẫn đen ngòm chốc chốc lại lóe lên tia sáng của tiếng đạn nổ.

        Na-ta-sa thở hổn hển và đi chậm lại, chắc là người bạn đường ban đêm của chị đã vượt quá xa. Nếu có gặp cậu ta chị cũng không thể nhận ra được, bởi vì chị cũng chưa kịp nhìn kỹ mặt cậu.

        Càng gần đến đám cháy, đường phố càng náo động hơn. Một chiếc ô tô màu đen vừa chạy vừa bóp còi liên tục. Từ trong ngõ nhô ra hai chiếc xe cứu hỏa chở đầy những người đội mũ sắt. Chúng quay đầu rồi vừa phóng nhanh về phía trước vừa rú còi báo động liên hồi. Một tốp phụ nữ trùm khăn chạy ngược lại. Vài người khó nhọc kéo chiếc thang dài qua cầu.

        Đi tới góc ngôi nhà bốn tầng, Na-ta-sa nhìn thấy quảng trường tròn có bồn hoa ở giữa và quầy hàng. Từ những ngôi nhà phía đối diện với quảng trường tuôn ra luồng khói xăng vàng sẫm. Ở phía khác bầu trời vẫn đen ngòm, những tầng trên của tòa nhà sáng lên như trong cuốn phim.

        Ở góc phố có một đám đông đang chậm chạm lùi bước trước một người mặt đầy râu ria, mặc áo bông trần, trên vai lủng lẳng chiếc mũ chống dộc. Không hiểu điều gì xảy ra. Na-ta-sa cũng vô tình lùi lại. Người mặc áo bồng vung tay, gào lên, nhưng xung quanh ồn ào nên chị chẳng hiểu gì. Đám đông lại xô đẩy và chị chỉ nhớ được một cô gái trẻ, đôi mắt mở to kêu lên sát tai chị.

        — Anh thấy những điều sợ hãi đó ở đâu? Chúng tôi không sợ... Anh sợ thì sợ chứ chúng tôi không sợ!...

        Chắc điều này ám chỉ anh lính cứu hỏa rậm râu đang xô đẩy mọi người. Cùng với đám người nọ, Na-ta-sa bị đẩy lùi tới cửa ngôi nhà ở góc phố. Ở chỗ này, một ngọn đèn xanh lờ mờ rọi ánh sáng vào cái cửa ra vào thấp tè. Đến đây, Na-ta-sa hiểu rằng họ dồn chị và cả đám đông vào hầm trú ẩn, vì vậy, chị lưỡng lự dừng lại trước cửa.

        — Còn chị thì mơ mộng cái gì thế ? Đi đi chứ! — Cô gái nói với Na-ta-sa.

        Có ai đó xô vào lưng chị. Chị chưa kịp phản ứng gì thì đã bị xô xuống theo cái cầu thang tối om. Chị tựa khuỷu tay vào bức tường đá.

        « Thế là hỏng bét, — chị hoảng hốt nghĩ. — Biết bao giờ thì thoát khỏi đây?»

        Ở phía sau, người ta giẫm cả lên gót chân chị. Ở phía trước một người nào đó đi rất chậm, đã có lúc chị dựa vào lưng anh ta. Lúc này chị rất bực với chính mình và với tất cả những gì xung quanh, đến nỗi tí nữa chị kêu lên: « Này, anh làm sao thế ? Di nhanh lên chứ!».

        Khi bước vào tầng hầm của ngôi nhà đã trở thành chỗ trú ẩn, trước tiên chị đưa mắt nhìn con người chậm chạp kia. Người anh ta thấp, đôi vai không cân đối và to đến mức chị tưởng là người vuông. Anh ta mặc chiếc bành tô nâu, nhàu nát, đội cái mũ có lưỡi trai bành ra đến tận mang tai. Nửa mặt bị che khuất và chị chỉ nhìn thẩy cái miệng nhỏ, không có môi, với bộ râu xồm xoàm. Nhìn anh ta với vẻ ác cảm, Na-ta-sa chen lên phía trước.

        Trong tầng hầm khá rộng, xung quanh quét sơn xanh, mái trần hình vòng cung đã có khoảng bốn, năm mươi người. Vài người nằm, ngồi trên ghế gỗ, còn những người khác trải chăn nằm dưới nền nhà. Những mái tóc ngắn hoặc xoăn, những đầu gối nhọn và đôi vai yếu ớt của bọn trẻ con cựa quậy giữa những chiếc đuôi sam của các bà mẹ. Những chiếc mũ lông hoặc mũ lưỡi trai di chuyển quanh những chiếc khăn trùm đầu của các bà mẹ. Trong góc nhà, một cụ già mặt nhăn nheo tối như hạt dẻ rang đang ngủ dưới ống dẫn nước khá to ở sát bên tường. Trong hầm trú ẩn rất nóng và khô nhưng rất sáng, trên trần nhà mấy ngọn đèn chiếu ra khắp nơi. Cách cửa ra vào không xa có một thùng sắt tráng men đựng nước uống.

        Na-ta-sa đặt va li cạnh tường và ngồi lên đấy. Mặc dù rất nóng nhưng một ông già khuôn mặt hồng hào vẫn đi đôi ủng cao su, mặc áo da không cài khuy. Ông sẵn sàng dịch ra để Na-ta-sa ngồi tiện hơn.

        — Trong lúc chật chội, chị thông cảm vậy nhé, — ông nói vui vẻ.

        Na-ta-sa thở dài và cảm ơn. Ở phía khác, một người phụ nữ trẻ mặc áo lao động đen đang dỗ con ngủ: cậu bé ba, bốn tuổi đang úp mặt vào gối và một cô bé lớn hơn.

        — Mẹ ơi, mẹ! — Na-ta-sa nghe thấy giọng nói thì thào khe khẽ. —  Mai chúng ta phải đi sớm trước lúc có báo động ấy mẹ ạ. Có thế chúng ta mới được ngủ trên ghế băng. Con nói đúng chứ mẹ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:29:00 am

        Ngồi trên mảnh chăn sặc sỡ, cô bé đang tết lại mái tóc của mình. Rút cái nơ xa tanh xanh từ mái tóc, cô bé cẩn thận vuốt vuốt, rồi cuộn lại và giúi vào gối.

        — Mẹ ạ, nếu không thế thì lúc nào mình cũng bị muộn... và ghế băng chẳng còn chỗ nữa. Nếu mẹ muốn, con và Xê-ri-ô-gia sế đến từ trưa và giữ cả chỗ cho mẹ ? — Ngoảnh về phía mẹ, cô bé lại thì thào.

        Tiếng pháo cao xạ từ xa vọng lại, và ở trong hầm, mọi người im lặng: một số khe khẽ nói chuyện riêng, còn phần lớn thì ngồi yên. Họ đã chịu đựng hơn một tháng rưỡi nay những đêm lo sợ như thế này, nên mọi người cứ làm như thể ở nhà. Ai cũng cố gắng không làm ồn để khỏi phiền đến người khác. Người ăn tối thì đặt bánh mì và mứt quả ra trước mặt, người thì đọc báo.

        Ồng già có khuôn mặt hồng hào kéo lê đôi ủng trên sàn nhà và tò mò nhìn xung quanh. Rõ ràng ông muốn bắt chuyện với ai đó; và không chịu được nữa, ông quay sang Na-ta-sa:

        — Hầm ở đây khá tốt, chị không phải lo gì cả. Trên đầu chúng ta là ngôi nhà đá bốn tầng mới xây.

        — Vâng, cháu có lo sợ gì đâu, — chị nói.

        — Phải đấy, phải đấy, — ông già gật đầu. — Tôi cũng không phải là người ở đây, chị có muốn biết không... Tôi buộc phải ở lại thành phố. Người ta khuyên tôi đến đây thì sẽ yên tâm hơn. Đúng thật, tôi nói với chị: mọi thứ ở đây đều tốt cả — sạch sẽ và ấm áp. Cho nên chị đừng sợ gì cả, mọi việc rồi sẽ tốt thôi...

        — Tại sao ông nghĩ là cháu lo lắng? — Na-ta-sa nói.

        Chị buồn rầu nhìn cánh cửa thấp của tầng ngầm bị chêm một mảnh sắt có một thanh niên mặt mày cau có đang đứng gác ở đấy. Anh ta không cho ai ra khỏi hầm khi chưa có báo an. Na-ta-sa bị dày vò bởi ý nghĩ là chị có thể đã gặp Pa-ven, nếu không bị lạc một cách đáng xấu hổ vào quảng trường này.

        — Mẹ ơi , mẹ! — Một lần nữa chị lại nghe thấy cô bé thì thầm và nhìn sang em trai. — Mẹ cũng nghỉ đi chứ. Mẹ phải dậy sớm cơ mà!

        — Được rồi con cứ nằm yên, — bà mẹ trả lời cho xong chuyện.

        Đưa mắt nhìn quanh, Na-ta-sa lại trông thấy anh chàng chậm chạp đội mũ lưỡi trai quá cỡ. Anh ta đang đứng tựa lưng vào tường cách cánh cửa không xa, bên cạnh là một anh chàng khác mặc áo ca pốt bộ đội, không có phù hiệu, đội mũ chào mào. Trên khuôn mặt nhợt nhạt không có gì đặc biệt của người này, chỉ có đôi mắt tròn, sáng, quá gần nhau là đáng chú ý mà thôi. Bắt gặp cái nhìn của Na- ta-sa, người đội mũ chào mào lãnh đạm nhìn chị. Lập tức, Na-ta-sa quay đi. Nhưng sau đó, như thể vô tình, chị lại nhìn người lính này. Cái nhìn của anh ta rất kín đáo và không tự nhiên, không phải là cái nhìn của con người trung thực mà như cái nhìn của loài chim. Không hiểu tại sao Na-ta-sa linh cảm thấy anh ta và người đàn ông bên cạnh có một mối quan hệ khó hiểu nào đó và có một nét gì đặc biệt so với những người xung quanh.

        Bỗng nhiên trên đầu mọi người có tiếng nổ ngắn trâm như một cơn co giật trên mặt đất. Người đàn bà mặc áo lao động nhanh nhẹn chồm lên đưa toàn thân che cho hai đứa con. Ông già mặc áo da sợ hãi đứng lên...

        — Nó nổ ngay trên đầu chúng ta, có phải không mẹ ? — Ngồi lên chăn, cô bé hỏi to.

        — Không phải đâu, xa lắm. Con nằm xuống, ngủ đi. — Bà mẹ trả lời với giọng căng thẳng, lo lắng.

        Cánh cửa sắt tầng ngầm từ từ mờ và hai chiến sĩ Hồng quân bước vào, theo sau là một cậu bé mặc áo bông trần, đội mũ trùm tai. Lập tức, cậu bé đi tới giữa nhà, chiếc đế giày hỏng của cậu kêu cộp cộp. Vừa ngỡ ngàng, vừa vui mừng, Na-ta-sa đứng bật dậy, bước tới chỗ cậu bẻ.

        Với tất cả đặc điểm thì đây đúng là cậu bé dẫn dường cho chị vừa rồi. Lúc này, trong ánh sáng, chị có dịp nhìn rõ cậu bé. Cậu ta nhanh nhẹn, rắn chắc như một cây sồi con, có vẻ hơi thấp so với tuổi mười bốn, mười lăm của mình. Trên cái má tròn đỏ ửng có một nốt ruồi trông rất duyên. Trông cậu bé có vẻ đang bị kích động rất mạnh. Na-ta-sa chưa kịp gọi cậu thì mặt đất lại rung lên mạnh hơn so với lần trước. Trong nháy mắt, tất cả các đèn dưới tầng ngầm dềụ vụt tắt.

        Theo tiếng chân, Na-ta-sa đoán hình như một số người đang chạy xô ra cửa. Trong tiếng ồn ào hỗn độn, tiếng kêu thét, nghe thấy tiếng khóc sướt mướt của trẻ con và ai đó đơn điệu gào to:

        — Đồng bào hãy ngồi yên tại chỗ! Tất cả hãy giữ trật tự!

        Sau đó Na-ta-sa nghe thấy giọng kim lanh lảnh quen thuộc :

        — Cho tôi đi với! Hừ, cứ loạn xạ lên vô ích!... Cho tôi đi với!... Các đồng chí không cho ai ra khỏi cửa hầm cả!

        Khoảng ba phút sau, đèn lại sáng và người đầu tiên Na-ta-sa nhìn thấy là ông già mặc áo da. Đôi mắt nhấp nháy lo âu nhìn xung quanh, ông nói to với cả hầm trú ẩn:

        — Trẻ con đấy! Có thể giẫm lên trẻ con được hay sao? Đồng bào cần phải đi nói với người có trách nhiệm để... cho nghiêm chỉnh...

        Lúng túng không nói được gãy gọn hết cả câu, ông liền ngồi xuống chỗ của mình.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:29:18 am

        Người thì cười, người thì cố an ủi ông già, có người lăng xăng làm ầm lên và nói tếu với nhau cố làm cho bầu không khí trong hầm bớt căng thẳng. Nhưng lần này Na-ta-sa không hề cảm thấy buồn cười: một người quá lo lắng và sọ hãi đã mộc mạc nói ra sự phẫn nộ của chính chị. Trong giọng nói của ông già, chị cảm thấy lòng tin sắt đá vào sức mạnh chính nghĩa đang bảo vệ hạnh phúc cho loài người được giáo dục bởi chính quyền Xô-viết.

        Một lát sau, mọi người lại trở về vị trí cũ của mình. Không khóc nữa, người phụ nữ mặc áo lao động bế đứa nhỏ lên đùi và khẽ đung đưa nó. Chỉ có mỗi cậu bé đưa đường ban đêm cho Na-ta-sa là không bình tĩnh được: cậu bước qua chân mọi người, đi đi lại lại quanh tàng ngầm và chằm chằm nhìn họ. Các chiến sĩ Hồng quân vào cùng với cậu bé kiểm tra giấy tờ của một số người đàn ông — hình như họ đang truy lùng ai đó. Đi qua Na-ta-sa, cậu ta chỉ lướt vội đôi mắt lo âu nhìn chị. Đến lúc này Na-ta-sa mới giữ tay cậu bé lại và nhắc cho cậu biết mình.

        — À, chị đấy phải không ? — Cậu ta làu bàu hỏi và thở dài, khuôn mặt tròn trĩnh lộ rõ vẻ thất vọng — Sao, chị muốn gì ?

        Và không đợi nghe chị trả lời, cậu chạy lại chỗ mấy chiến sĩ Hồng quân đang chuẩn bị đi ra. Không tỏ vẻ bực bội gì, Na-ta-sa đi theo cậu bé.

        — Bây giờ phải tìm nó trong khắp thành phố ! — Cậu cáu kỉnh nói với hai anh bộ đội. — Nhân lúc mất điện, thế là nó chuồn ra khỏi cửa.

        — Có thể nó không ở đây cũng nên? — Một chiến sĩ nói vẻ do dự.

        — Tại sao lại không có? — Cậu ta gào lên — Tại sao lại không? Chính em đã theo dõi nó ngoài đồng Pô-pốp kia mà!...

        Và ngay lúc này Na-ta-sa mới phát hiện mảnh tường gần cửa ra vào, nơi anh chàng đội mũ lưỡi trai đứng mười lăm phút trước đây, giờ đã trống không; cả người bên cạnh mặc áo ca pốt cũng không có nốt. Chị đưa mắt nhìn nhưng chẳng thấy hai người đó ở tầng hầm.

        — Trong lúc em chạy đến cánh đồng, nó còn phóng bốn quả pháo sáng, — cậu bé nổi cáu. — Sau đó em trông thấy một người đi thẳng tới chỗ em. Em nép vào bờ giậu, còn nó chui qua hàng rào. ở đó có lỗ hổng, và đi vào sân. Sau đấy nỏ đi thẳng ra phố. Em thấy rõ nó lẻn vào hầm trú ẩn như thế nào, chỉ trong nháy mắt...

        — Thôi được, lát nữa sẽ trình bày thêm, — khi thấy mọi người đã bắt đầu nghe cậu bé, anh bộ đội không hài lòng, ngắt lời.

        Tim Na-ta-sa đập mạnh, chị nhìn vào chỗ trống bên cánh cửa với cảm giác gần như hoảng sợ. Phải chăng họ đang nói về một hai người đàn ông đứng ở đó mấy phút trước đây? Phải chăng chính mât chị trông thấy những kẻ mà người ta thường gọi là biệt kích, chỉ điểm, gián điệp phát xít ? Hơi do dự — Na-ta-sa không tin rằng mọi người sẽ không cười chị, — chị kéo cậu bé lại và thì thầm về mối nghi ngờ của mình.

        — Đấy nhé! — Cậu bé buồn rầu và tiếc rẻ kêu lên. — Chúng những hai thằng cơ... — Và đôi môi mọng của cậu rung rung.

        Sau khi hỏi Na-ta-sa xong, các chiến sĩ Hồng quân vội vã lên trên, cậu té cũng bước vào cầu thang. Na-ta-sa chạy theo họ ra khỏi tầng ngầm.

        Bên trên, phía trong cổng, chị cảm thấy mùi xăng cháy ấm áp, ngòn ngọt. Dĩ nhiên lúc này đã muộn: hai kẻ lạ mặt đáng nghi kia đã vội vã chuồn cho nhành khỏi nơi này. Và cả cậu bé lẫn hai chiến sĩ Hồng quân đều không biết tìm chúng theo hướng nào. Quảng trường có bồn hoa lúc này vắng vẻ. Luồng khói bay thẳng vào ngôi nhà ở góc phố, phần dưới thì thu hẹp lại. Luồng khói vàng   xám nhanh chóng bốc lên tầng hai, tan ra phía trên quảng trường một màn mây di động khổng lồ. Sau khi chia tay với các chiến sĩ Hồng quân, Na-ta-sa và người bạn đường của chị chạy trong đám khói dưới mái nhà thủng lỗ chỗ. Đến phía đối diện quảng trường, cậu bé lọt thỏm vào lối ngõ bỏ ngỏ và chọn đường tắt sang phố bên kia. Ở đây sáng như ban ngày... Một cảnh tượng khác thường làm Na-ta-sa chói mắt, chị nép người vào tường và tự nhiên đưa tay lên che mặt.

        Trong khu sân đối diện, ngăn bởi một hàng rào sắt, một đám đất cháy lớn dường như chính mặt đất bốc cháy: những ngọn lửa từ đám cháy ngạt thở đang lan ra trên một diện tích rất lớn. Những luồng khói lửa khổng lồ sáng rực ở phía dưới cuồn cuộn bốc lên luôn luôn biến dạng. Một ngôi nhà nằm ở chính trên bờ của biển lửa đó; bức tường bẵng những tấm sắt còn chịu đựng được, nhưng các khe hở rực sáng tưởng như bên trong có khí nê-ông cháy. Giữa sân, một ngôi nhà khác cũng bị cháy, những luồng khỏi đen đặc xịt cuộn lên.

        Mặc dù tất cả đều rất khủng khiếp và Na-ta-sa rất muốn chạy khỏi nơi đây, nhưng tính tò mò kỳ lạ đã giữ chị lại. Như bị thôi miên, chị nhìn những con rồng lửa vàng nhạt, gai góc đang nhảy múa sau hàng rào và nghe rõ tiếng lửa réo to chưa từng thấy. Bỗng nhiên chị trông thấy những bóng người thấp thoáng trong ngọn lửa rừng rực đỏ. Chị kinh hoàng đến nỗi phải thốt lên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:25:49 am

        Bộ đội cứu hỏa đội mũ sắt, đeo bình chống độc chia thành hai nhóm hoạt động khẩn trương. Nhóm thứ nhất dùng gậy dập lửa, nhóm thứ hai phun nước vào đồng đội đang dập đám cháy. Thỉnh thoảng khói và hơi nước lại trùm lên những người đang dập lửa. Lúc đó chỉ trông thấy những tia nước cong bay ra khỏi, đám khói. Các chiến sĩ chữa cháy lúc thì xuất hiện giữa đám khói và hơi nước, lúc thì mất hút trong các luồng lửa. Hình như họ là những người bất tử, không có thân thể, có thể hòa vào thế giới cuồng phong khói lửa mà họ đang chiến đấu để diệt nó. Khi có ai đó trong họ chạy ra thì người họ lóe lên ánh lửa trăng trắng.

        Vì không khí cay ngột ngạt, nên Na-ta-sa thở dốc, nước mắt trào ra. Giật mình như chợt tỉnh, cậu bé kéo tay Na-ta-sa chạy tới ngõ gần nhất. Đứng bên hàng rào, Na-ta-sa vừa thở hồn hển vừa nói:

        — Em có trông thấy không, có trông thấy họ xông vào giữa ngọn lửa không ? !...

        — Nhưng không còn cách nào khác để dập tắt nó được — cậu bé nói lanh lảnh. — Cháy mạnh thật ! Bọn Đức nhằm vào nhà máy, nhưng lại vào bến xe bên cạnh. Cũng rất tiếc.

        ... Khoảng mười lăm phút sau họ đã đến bờ sông chìm trong bóng tối dày dặc. Bờ sông bên kia cắt ngang thành phố cũng mất hút trong bóng tối.

        — Bây giờ thì chị có thể đi một mình được rồi, — cậu bé giải thích cho Na-ta-sa. — Qua cầu, chị cứ đi thẳng, hết đường và đến đấy sẽ hỏi thăm sau... Nào, bây giờ chúng ta có thể làm quen với nhau, — cậu ta chìa bàn tay nhỏ bé cứng như miếng ván con và trịnh trọng giới thiệu — Họ em là Ve-rép-kin, còn tên là Vi-chi-a.

        — Cảm ơn, cảm ơn em Vi-chi-a, — Na-ta-sa run run nói. — Nếu không có em thì chị đến lạc mất...

        — Chị à? — Rõ ràng cậu bé cảm động về lời nói của chị. — Không phải đâu, chị chả lạc đâu... — Cậu nói — Ôi, em bận rộn với cái công việc này quá! — Và cậu nhanh chóng chạy biến đi.

        Qua cầu, người lính tuần tra giữ Na-ta-sa lại và chị phải nheo mắt khi ánh đèn pin bất ngờ chiếu vào mặt. Vừa đưa giấy chứng minh, chị vừa hỏi đường một lần nữa. Sau đó, rất may là chị gặp một người phụ nữ đi cùng đường, đã đưa chị đến tận nhà Pa-ven. Mệt lả người, Na-ta-sa thở hổn hển, nhưng chị vô cùng sung sướng là mình đã đến nơi. Với tấm lòng lo lắng, hồi hộp và mê mẩn, chị nhẹ bước lên bậc thềm. Đứng nghỉ thêm một chút nữa, chị ấn nút chuông điện. Nhưng mặc cho Na-ta-sa bấm hoài, trong nhà chỉ có tiếng chuông réo trầm trầm vọng lại. Không một ai ra mở cửa, ngôi nhà hoàn toàn câm lặng. Chị đã định gõ cửa thì lập tức thấy chiếc chìa khóa treo lủng lẳng trên khung cửa.

        À, ra thế đấy! — Chị nói to với vẻ bình tĩnh khác thường —  À, ra thế đấy... Mình biết làm gì bây giờ ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:26:23 am

5

        Bốt-đa-nốp tới bộ tư lệnh thành phố không lâu; và sau khi được thông báo, bộ tham mưu tập đoàn quân đóng cách T. năm cây số về hướng đông, anh lập tức lên xe đi luôn.

        Tại bộ tham mưu mà anh phải tới, sau khi từ Mát-xcơ-va trở về, người ta trao cho anh một mệnh lệnh bất ngờ: anh cần tới gặp ngay thiếu tướng Đi-a-cốp, tư lệnh khu vực T. cũng ở đấy, Bốt-đa- nốp được biết là trung đoàn cũ của anh đã di chuyển sâu hơn về phía Ca-si-ra để tổ chức lại. Thế là Bốt-đa-nốp buộc phải chia tay vắng mặt với các đồng chí cùng trung đoàn... Không cho mình và lái xe được nghỉ, ngay trong đêm ấy anh lại tới T., tìm bộ tham mưu khu vực và trình diện với chỉ huy của mình. Thiếu tướng gặp anh ở đầu cầu thang khi ông đang ra xe chuẩn bị đi đâu đó.

        — Đây rồi, may quá. Tôi thiếu người quá, — Đi-a-cốp vừa nói vừa dưa bàn tay mềm ra bắt tay Bốt-đa-nốp. Tôi được nghe rồi, họ đã kể cho tôi về chuyện anh đã thoát khỏi vòng vây như thế nào rồi.

        Họ cũng đã biết qua về nhau: trong cuộc tập trận trước khi nổ ra chiến tranh ít lâu, Bốt-đa-nốp ở dưới quyền chỉ huy của. Đi-a-cốp mấy ngày... Với dáng người to khỏe, ngực nở, mặc áo ca pốt màu xanh để hở cúc, đầu đội mũ lưỡi trai cấp tướng viền đỏ chếch về phía gáy, hình dáng và tác phong của thiếu tướng hầu như không thay đổi so với lần gặp nhau trước đây. Thật ra đôi mắt nhỏ, thông minh trên khuôn mặt của ông có lõm sâu vì mất ngủ. Thiếu tướng nói giọng khàn khàn và giữ nguyên âm «o» trong một số từ, mà đáng ra phải dọc là « a ». Đi-a-cốp có thói quen nheo mắt nhìn người nói chuyện. Và lúc này ông như muốn nói: « Đừng có phí sức lừa tôi, anh bạn ạ, tôi đi guốc trong bụng anh».

        Vội vàng đi đến cuộc họp của ủy ban quân sự thành phố do tỉnh ủy triệu tập, thiếu tướng bảo Bốt-đa-nốp đi cùng.

        — Như vậy sẽ tốt hơn. Sẽ nắm được tình hình, đồng chí trung tá ạ, — ông nói.

        Ban đêm, chiếc xe chạy từ từ trên đường phó. Ngồi trong xe, Đi-a-cốp nói cho người trợ lý của mình về nhiệm vụ của bộ chỉ huy khu vực chiến đấu... Như Bốt-đa-nốp đã rõ, bọn Đức đang nhanh chóng tiến gần tới T. Đêm 28 tháng 10, bộ binh cơ giới và xe tăng của chúng đã chiếm vùng Sa-ki-nô — Da-kha-rốp-xca và tiếp tục tiến công dọc tuyến đường dẫn đến Mát-xcơ-va. Chúng tiến công liên tục cả ngày lẫn đêm với một lực lượng ưu thế hơn hẳn ta... Để thuận tiện cho công việc, chỉ huy tập đoàn quân bảo vệ T. đã ra lệnh sát nhập các vùng lân cận thành phố thành phân khu T. và Đi-a-cốp có nhiệm vụ xây dựng ở đây một hệ thống phòng thủ với sự phối hợp chung của các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân.

        — Đồng chí trung tá, nhiệm vụ rất rõ ràng, — Đi-a-cốp nói. — Phải giữ thành phố bằng bất cứ giá nào. Đó là mệnh lệnh của Tổng hành định.

        Sau đó ông thông báo là các đơn vị ở vùng lân cận với T. cũng . thuộc quyền chỉ huy của ông. Nhưng, theo lời thiếu tướng — cần phải nhớ rằng sau những trận chiến đấu ác liệt nhiều ngày, các trung đoàn đã bị tồn thất nặng và rất cần được bổ sung, nghỉ ngơi. Ngoài ra trong lực lượng bảo vệ thành phố còn có trung đoàn công nhân tình nguyện thành lập từ các tiểu đoàn tự vệ nhà máy và trung đoàn công an vũ trang từ trước đến nay vẫn làm nhiệm vụ bảo vệ các nhà máy. Nhưng những đơn vị này hoàn toàn chưa tham gia chiến đấu, chưa trải qua lửa đạn.

        — Cái chính là chúng ta không có nhiều thời gian. Anh xem, chúng mình sắp chiến đấu rồi đấy, — Đi-a-cốp nói và sau một lát im lặng xem người nói chuyện với mình có trả lời gì không, ông nói đùa: — thế nhưng liên lạc của chúng ta rất thuận tiện, theo điện thoại thành phố chúng mình có thể nói chuyện: « Tiểu thư, hãy cho tôi hai ba, ba bảy». Đấy là khi muốn nói chuyện với đội cảnh vệ của nhà máy gạch.

        Sau khi nhắc Bốt-đa-nốp sáng sớm ngày mai cùng đi thăm đơn vị đóng ở ranh giới thành phố, Đi-a-cốp kết luận:

        — Đẩy, như thế đấy đồng chí trung tá ạ! Nhiệm vụ của chúng ta quan trọng thế đấy. Nhưng không sao! vỏ quýt dày sẽ có móng tay nhọn... Còn anh thì đi thẳng từ đơn vị tới tôi phải không? —  Ông hỏi thêm.

        Trong bóng tối, Bốt-đa-nốp không thể nhìn rõ mặt thiếu tướng ngay bên cạnh mình. Tưởng như dù tình hình có khó khăn đến mấy cũng không thể làm cho con người trầm tư lạ thường này mất bình tĩnh. Khi nghe thiếu tướng nói, Bốt-đa-nốp cũng không hề nhận thấy sự lo lắng hay yếu đuối, thiếu tự tin vào quyết định của ông. « Kẻ thù vẫn đang thít chặt chúng ta... Cần phải khẩn trương, khẩn trương lên đồng chí trung tá ạ!». Anh nhớ lại lời đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự: « Hôm nay, dù bất kỹ đồng chí ở đâu, đồng chí cũng đang tham gia bảo vệ Mát-xcơ-va đấy!». Và kỳ lạ thay, Bốt-đa-nốp cảm thấy bình tĩnh hơn. Đây rõ ràng là sự bình tĩnh cao độ của ý chí, nó không có chỗ cho nỗi tiếc thương hay do dự xen lẫn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:26:52 am

        Xe đỗ bên cạnh cổng lớn ngôi nhà cao tầng. Bước ra vỉa hè và khép áo ca pốt lại, Đi-a-cốp nói to:

        — Cần phải bảo La-tô-skin dọn đến đâu đó bên kia sông. Sẽ tiện hơn cho anh ấy, còn chúng ta cũng yên tâm hơn... Bởi vì họ ở ngay lối vào. Từ đường cái cũng trông rõ ngôi nhà này.

        Thiếu tướng lặng lẽ đẩy cánh cửa sắt nặng nề và bên trong lờ mờ ánh sáng xanh dịu. Trong phòng đợi có khoảng sáu, bảy dân quân đang ngồi trên nhũng bậc thềm đá. Sau hàng rào, người lính gác cúi nghiêng người bên chiếc đèn bàn có chao hãng giấy sơn dầu, lặng lẽ kiểm tra giấy tờ của Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp. Lúc này đã là nửa đêm, nhưng người ta đã đi lại trong hành lang sáng lờ mờ dưới những ngọn đèn màu. Hai người lính biên phòng đeo súng trường bên hông đang đi xuống cầu thang. Ở tầng ba, nơi cỏ phòng làm việc của bí thư tỉnh ủy, một nữ công an trẻ măng lại yêu cầu xuất trình giấy tờ. Trả lại giấy tờ và giơ tay chào, chị nói nhỏ như tiết lộ bí mật:

        — Xin mời đồng chí thiếu tướng đi vào cửa thứ hai bên phải.

        Phòng tiếp khách cũng lố nhố người đứng, người ngồi. Tiếng một người nào đó đang gọi điện thoại lẫn với tiếng máy chữ lách cách vội vàng. Không chần chừ, Bốt-đa-nốp và Đi-a-cốp đi vào phòng bí thư tỉnh ủy. Rất nhiều mái đầu quay về phía họ.

        — Các đồng chí chỉ huy, chúng tôi đang đợi các đồng chí đây. Xin mời ngồi! — Người chủ tọa hội nghị vừa nói với vẻ khô khan vừa chỉ tay vào mấy chiếc ghế đang bỏ trống.

        Chắc đây là đồng chí La-tô-skin, chủ tịch Hội đồng quân sự thành phó. Nhìn bề ngoài, trước tiên, người ta chú ý đến cáỉ trán rộng trên đôi mắt sáng của anh. Trông mặt, La-tô-skin trạc ba mươi tư, ba mươi lăm tuổi. Trên khuôn mặt xương xương rất trẻ có những nét nào đó của một anh sinh viên. Anh mặc chiếc áo và rơi bảo hộ, mái tóc trải ngược lượn sống, bộ ngực to nhưng hơi lép.

        Bốt-đa-nốp ngồi bên chiếc bàn phủ vải nỉ xanh và nhìn quanh: cuộc họp đang tiến hành trong gian phòng rộng rãi, sáng sủa có diềm cửa mịn màng và nặng nề, có bộ ghế bọc da. Thẳng hướng bàn chủ tịch được đặt tách ra gần tường, trên cao có treo bức chân dung lớn của Xta-lin Bên tường đối diện là tủ sách lắp kính trong nổi bật những gáy sách in chữ vàng lấp lánh, nền nhà bằng gỗ ghép được đánh bóng lộn. Hai khẩu súng máy đặt dưới cửa sổ trông hơi lạ lùng. Một quả mìn chống tăng nằm trên tấm nỉ xanh như cỏ bên cạnh binh nước cũng gây cho ta một cảm giáo y hệt như vậy. Bên chiếc bàn dài là một số người đeo vũ khí; nhưng đây đeo của bao súng lục và túi công tác đan chéo nhau trên chiếc áo đại cán xanh của một người tóc trắng, to béo, vai rộng. Còn từ bộ comblê cộm lên của một người khác nhô ra chiếc báng súng gỗ.

        Sau khi phải dừng lại vì Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp vào, báo cáo viên lại tiếp tục nói. Lắng nghe một lúc, Bốt-đa-nốp hiểu ràng họ đang bàn về công việc chuẩn bị phòng thủ ở một khu công nhân trong thành phố.

        — ... Mọi người đòi hỏi vũ khí và vũ khí, — báo cáo viên, một người trạc tuổi trung niên, mặc chiếc sơ mi xám bên trong bộ comblé, tiếp tục nói. Ồng nghiêng đầu, lướt đôi mắt hiền từ deo kính về phía La-tô-skin — Đến hôm nay đảng ủy khu phố đã nhận được hơn tám nghìn đơn của cán hộ, nam nữ công nhân yêu cầu được tham gia tiểu đoàn tự vệ xung kích và trung đoàn công nhân.

        — Chỗ các anh đã có tám nghìn đơn? — La-tô-skin hỏi lại.

        — Vâng, hơn tám nghìn, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vich ạ. Ngoài ra ở khu phố còn có phong trào thành lập các tổ tự vệ và cứu hỏa tình nguyện, — báo cáo viên nhìn vào tờ giấy trước mặt. — Hiện nay ở chỗ chúng tôi có một trăm năm mươi tổ tự vệ phần đông là phụ nữ và hai trăm tổ cứu hỏa..,.

        — Hai trăm cơ à? — La-tô-skin nhấp Iihồm trên ghế. — Thế còn việc huấn luyện của các anh như thế nào ?

        — Việc huấn luyện của tiểu đoàn tự vệ xung kích đã hoàn thành trong bốn mươi ngày, vượt kế hoạch dự định là năm ngày, — báo cáo viên trả lời. — Tất cả các tổ tự vệ đã huấn luyện theo chương trình mười hai giờ một ngày...

        Ngọn đèn tín hiệu trên bàn La-tô-skin lập lòe sáng, anh liền quay lại bàn để điện thoại của mình và cầm lấy ống nghe.

        — Không, không, — anh gay gắt trả lời một người nào đó. Giọng anh không rắn rỏi và nhẹ nhàng như bình thường, nên khi xẵng giọng thường nổi lên những âm ngân vang. — Cái này gọi là chủ nghĩa cục bộ địa phương đấy, đồng chí Vi-nhi-cốp ạ! Chúng tôi đã quyết định là tổ trinh sát sẽ chuyển sang bộ tham mưu phân khu. Anh hãy làm như vậy đi, chúng tôi không thay đổi quyết định đâu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:27:21 am

        Đưa mắt nhìn kỹ từng người một, Bốt-đa-nốp vừa chăm chú lắng nghe. Họ là những người lạ, lần đầu tiên anh được gặp. Anh sẽ kề vai sát cánh với họ trong- cuộc chiến đấu quyết liệt, cảm tử để bảo vệ thành phố, bởi vì không thể nghĩ tới chuyện rút lui đi đâu được nữa. Anh nhìn La-tô-skin và những người khác, nhìn người báo cáo viên già mặc áo sơ mi vá trông giống như ông giáo ở trường phổ thông, và nhìn người có mái tóc trắng, mặc áo đại cán xanh với vẻ quan tâm đặc biệt. Đó là cái nhìn của người lính sau khi đến đơn vị phải làm quen với những người bạn cùng cộng sự, chưa hề quen biết bao giờ trước khi bước vào trận đánh quyết liệt. Những người này đối với anh hôm qua còn xa lạ, nhưng hôm nay sẽ tham gia vào công việc khó khăn nhất trong cuộc đời anh.

        La-tô-skin đặt ống nghe xuống, nhưng ngay lập tức chiếc máy khác lại réo lên và anh nhào người về phía nó ; chủ tịch khu phố đang báo cáo trước cuộc họp, giơ tay sửa lại kính và húng hắng ho.

        Bộ phận bổ sung cho nhà máy liên hợp đã đến chưa ? — La- tô-skin hỏi qua ống nghe. — Hãy lấy đầu mà trả lời tôi đấy nhé, các đồng chí thân mến ạ! — Anh im lặng một chút. — Ừ như vậy tốt hơn... Xin mời đồng chí tiếp tục, — vừa đặt ống nghe xuống, anh vừa nói với báo cáo viên.

        Nhìn những chiếc máy điện thoại màu đen đặt la liệt trên chiếc bàn nhỏ, ông ta vội nói nhanh hơn trước:

        — Tôi chuyển sang việc xây dựng tuyến phòng thủ. Hiện nay, hàng ngày chúng tôi chỉ có hai nghìn người đi làm, chủ yếu là phụ nữ. Trong khi làm việc, máy bay thường xuyên oanh tạc và bắn phá nên đã có người bị thương và hy sinh...

        — Tình hình của Cô-lô-mi-xê-va như thế nào ? — La-tô-skin ngắt lời báo cáo viên. — Và con cái của chị ấy các anh đưa đi đâu?

        — Bệnh tình của đồng chí Cô-lô-mi-xê-va rất trầm trọng. Một mảnh đạn vào đầu, — báo cáo viên ngập ngừng và bắt đầu lật giấy tờ của mình — Tạm thời vợ chồng tôi nhận nuôi hai đứa con trai của chị ấy, — ông nói. — Bởi vỉ chúng tôi không có con...

        — Ra thế đấy! Thôi, cám ơn anh, anh Pi-e An-đrây-ê-vích ạ! — La-tô-skin nói.

        — Các đồng chí, tôi muốn nói thêm rằng, — báo cáo viên lại cao giọng, — việc xây dựng tuyến phòng thủ không phải ngừng một giờ nào cả... Và hàng trăm người — phụ nữ và dàn ông hết tuổi nghĩa vụ cũng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu của mình. — Ông lại nhìn vào tờ giấy. — Tổ của đồng chí Sa-ra-pốp đạt một trăm năm mươi phần trăm, tổ của nữ đồng chí Rô-gô-va hai trăm... Điều này cho phép chúng tôi hoàn thành về cơ bản công việc đào đất giai đoạn một, bất kể kẻ thù phá hoại và khí hậu mùa thu không thuận lợi...

        — Đồng chí thiếu tướng! — La-tô-skin nhìn Đi-a-cốp — Hôm nay đông chí đã đến khu vực đó, đồng chí có nhận xét gì về việc này không ?

        Đi-a-cốp dáng to béo, nặng nề nhưng trông vẫn rất trẻ trung, ngồi thẳng trên ghế, tay chống cạnh sườn, thiện cảm nhìn báo cáo viên.

        — Tôi nói gì bây giờ cơ chứ? Họ làm việc rất tốt, — ông nói vẻ phấn chấn. — Duy có dụng cụ đào hơi ít... Còn họ làm việc rất nhiệt tình. Họ đã đào xong hào chống tăng, lũy trong cũng đã hoàn thành ..

        — Còn về công tác tuyên truyền trong quần chúng và đặc biệt trong những người xây dựng, — báo cáo viên nói thêm. — Hàng ngày cán bộ đảng ủy khu phố tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm với nhân dân. Những buổi đọc báo và tin tức của thông tấn xã Liên Xô được tiến hành đều đặn...

        — Đồng chí thiếu tướng, đồng chí nói là họ làm việc nhiệt tình phải không? — La-tô-skin hỏi lại vẻ như thẩm vấn. — Tất cả đều nghe rõ chứ? — Anh nhìn những người ngồi họp. Vô tình anh cảm thấy hài lòng nhưng cảm giác đó chỉ thoáng qua, vì nó lập tức bị lấn át bởi ý nghĩ khác.

        ... Ngay từ những tuần đâu của cuộc chiến tranh, một nỗi lo lắng cứ day dứt trong lòng La-tô-skin. Anh bận rộn với bao công việc quan trọng mới. « Chúng ta đã làm hết khả năng của chúng ta chưa ? Chúng ta không bỏ sót cái gì chứ ? Chúng ta không mắc phải sai lầm gì trong việc phân bố lực lượng chứ? Liệu ta có bị chậm không? Chúng ta, những người cộng sản đã làm việc với quần chúng tốt chưa?» — Anh tự hỏi mình. Nỗi băn khoăn ấy làm anh trở nên nóng nảy, đòi hỏi rất nghiêm khắc với chính mình và người khác. Cùng với việc sơ tán về phía đông những cơ sở công nghiệp lớn nhất, nổi tiếng có ở T., theo chỉ thị của tỉnh ủy, đầu tháng mười còn bắt đầu xây dựng tuyến phòng thủ trên trục đường vào thành phố. Mặc dù mưa thu lạnh lẽo, nhưng những người cộng sản đã cầm xẻng cuốc ra đồng đâu tiên, dẫn theo các đội xây dựng của mình. Biết kẻ địch oanh tạc thường xuyên ngày cũng như đêm, những đoàn xe lửa vẫn từ thành phố ra đi mang theo thiết bị và sắt thép của nhà máy cùng với cán bộ kỹ thuật và công nhân quân giới. Trong khi đó, theo chỉ thị của tỉnh ủy, để kết hợp hoạt động của các chiến sĩ và các tuyên truyền viên, những người cộng sản ở lại thành phố đã thành lập nhiều tiểu đoàn xung kích tình nguyện trong các nhà máy vắng lặng. Ở những vùng trong tỉnh mà bọn Đức đang tiến đến đã thành lập các đội dân quân; đến giữa tháng mười hơn ba mươi đội đã hoạt động trong hậu phương địch, bảy đội trong thành phố. Lãnh đạo các đội dân quân là những người cộng sản hôm qua còn là dân thường, được các tổ chúc lựa chọn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:39:20 pm

        Thanh niên thành phố, học sinh các trường học nghề, học sinh các lớp cuối cấp, những chàng trai, cô gái thường xuyên trực chiến ở những « mục tiêu» trong lúc báo động. Họ dập tắt các đám cháy, học bắn súng, ném chai thuốc nổ, thu thập quần áo ấm cho bộ đội. Và lãnh đạo thanh niên là những đoàn viên Côm-xô-môn — những người cộng sản tương lai. Các tổ chức đảng trong tỉnh đã lãnh đạo toàn bộ công việc đồ sộ và đa dạng là động viên sức người sức của để đánh trả kẻ thù xâm lược. Khi khả năng kẻ thù tiến công vào T. đã trở thành mối đe dọa thực sự, thì tất cả những người cộng sản và đoàn viên Côm-xô-môn trong thành phố sẽ là những người được tổng động viên đầu tiên. Trong cuộc họp cán bộ đảng giữa tháng mười vừa qua, La-tô-skin đã đọc báo cáo với đầu đề quen thuộc: « Về tình hình hiện nay và nhiệm vụ của các tổ chức đảng». Sau khi nghe báo cáo, nhũng người bôn-sê-vích đã quyết định: «Tất cả đảng viên và đoàn viên có khả năng cầm súng, phải đứng lên cùng với Hồng quân bảo vệ thành phố... ». Lúc này La-tô-skin có đi tới đâu chăng nữa: đến đội xây dựng tuyến phòng thủ hay vào nhà máy, đến thăm các đội tự vệ hay tới ga đường sắt, nơi mà cán bộ, công nhân hai ba ngày liền không rời vị trí của mình; anh đều thấy hơn bất cử lúc nào hết, mọi người thành một khối, kề vai sát cánh với nhau, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng. Những người tình nguyện từ khắp nơi kẻo vào thành phố: nông trang viên ở các làng lân cận, công nhân mỏ ở ngoại ô Mát-xcơ-va đã tới, bất kể đường sá lầy lội, bẩn thỉu vì mưa thu. Họ tới tỉnh ủy, khu ủy yêu cầu phát vũ khí và quyết định về đơn vị chiến đấu. Thành quả lao động vô cùng quý giá của nhũng người cộng sản được thể hiện rõ trong khối thống nhất toàn dân, trong lòng căm thù sôi sục của họ dối với kẻ thù, trong sự coi thường những mất mát hy sinh và trong quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

        ... Đèn tín hiệu lại sáng, La-tô-skin lại với tay cầm lấy ống nghe.

        — Chào Ni-cô-lai-ép! Hôm nay anh đi phải không? — Anh ngả người vào ghế. — Các anh xếp cả hai đoàn xe lửa chứ ? Thôi chúc các anh lên đường gặp nhiều may mắn. Không, tôi không thể... Vâng, tôi muốn tiễn anh nhưng không có điều kiện... Nhờ anh chuyển tới tập thể nhà máy lời chúc mừng của Hội đồng quân sự thành phố và hy vọng sẽ nhanh chóng phục hồi sản xuất ờ địa điểm mới... Cho gửi lời chào những người của I-gi-ép nhé!...

        La-tô-skin đặt ống nghe và vươn người về phía trước, tì ngực vào thành bàn.

        — Các anh đã dựng cọc chống xe tăng trên đường E-pi-phan-xri chưa ? — Anh hỏi.

        Đại diện khu phố đã ngồi xuống ghế, lại đứng dậy:

        — Tất nhiên là dựng rồi chứ, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin... Chúng tôi dựng lên những cọc đôi... — Ông trả lời.

        — Còn hồ chứa nước đào được bao nhiêu?

        — Đã được năm cái rồi.

        — Ít đấy, cái này ít đấy. Chúng tôi giao cho các anh mười bốn... và đập trên sông?... — La-tô-skin gõ gõ tay lên bàn. — Tôi muốn nhắc các anh là khi bị bao vây, các anh phải cung cấp đầy đủ nước cho khu phố... Bây giờ anh hãy cho biết mọi người được nuôi nấng như thế nào trên công trường xây dựng tuyến phòng thủ?

        Sau khi báo cáo viên trả lời tất cả các câu hỏi, La-tô-skin mới nghiêm nghị nói trước khi từ biệt ông ta:

        — Nhất định ngày mai tôi sẽ đến chỗ các anh, xem các anh thiếu những dụng cụ gì ?

        — Chúng tôi đợi đồng chí đấy, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ạ ! —  Ngước đôi mắt hiền từ đeo kính, báo cáo viên trả lời vẻ hơi tự ái.

        Sau đó La-tô-skin yêu cầu thư ký — một phụ nữ hơi gầy, tóc chải mượt — là trong nửa tiếng không được tiếp điện thoại với bất cứ ai. « Tất nhiên trừ Mát-xcơ-va», — anh nói thêm. Lúc này trong phòng chỉ còn sáu, bảy người, và Đi-a-cóp chuyển sang bàn chủ tọa. Ông mở cặp lấy bản đồ thành phố chậm rãi trải ra bàn, và dùng tay vuốt cho nó phẳng lại.

        — Các đồng chí đều đã rõ tình hình trên các tuyến đường tới thành phố, — ông bắt đầu thông báo. — Tình hình nghiêm trọng và phức tạp... — Đi-a-cốp ngước mắt như thể chờ đợi câu hỏi hoặc sự phản đối. Mọi người lại im lặng và ông tiếp tục. — Nhiệm vụ của chúng ta là không cho kẻ thù chiếm nó làm bàn đạp để tiến công Mát-xcơ- va. Cho nên trong bất cứ tình huống nào cũng không được rút khỏi thành phố. Chúng ta sẽ xây dựng nhiều tuyến phòng thủ trên tất cả các địa hình cho phép. Tuyến thứ nhất cách ranh giới thành phố hai, ba cây số... Đây, chỗ này... — Thiếu tướng cúi đầu, ấn ngón tay to vào một điểm trên bản đồ.

        — Khoan đã, đồng chí thiếu tướng, — La-tô-skin nói to. — Thế đồng chí không định giữ Làng Mới à?

        — Không phải giữ, đồng chí 1-a-cốp La-tô-skin ạ! Không thuận lợi lắm, — Đi-a-cốp nheo mắt. — Nó nhô quá xa khỏi ranh giới thành phố. Xe tăng rất dễ dàng đánh chiếm...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:40:15 pm

        La-tô-skin cúi xuống tấm bản đồ, cau mày lại. Anh biết rất rõ cái khu vực nhô ra này. Ở đó có những khu nhà ở, nhà máy, trường học, bệnh viện, sân bóng đá với những đại lộ thẳng tắp. Ở phía đông con sông uốn khúc vòng cung ngăn thành một vùng rộng lớn. Đây là một trong những khư cổ kính nhất của thành phố với gần chín trăm năm tồn tại. Một thời nó được gọi là Làng Rèn. Đến bây giờ nhiều đường phố còn giữ lại những lên gọi xa xưa như : Nòng súng, Lưỡi lê, Thuốc nổ, Cò súng, Thân súng. Trên bờ bên kia ở gần trung tâm thành phố có Crem-li cổ kính mà lịch sử đất nước thường nhắc tới...

        Bốn năm về trước, khi đến đây, lần đầu tiên La-tô-skin mở chiếc bản đồ này, trên đó còn vắng nhiều thứ mà bây giờ nó có. Thành phố phát triền nhanh chóng, xung quanh mọc lên rất nhiều khu nhà mới và trên bản đồ trước mặt La-tô-skin có đánh dấu nhiều công trình xây dựng ở phía nam, bắc và đông nam. Những đại lộ nối các khu này với trung tâm. Những bãi cỏ trống vàng úa vô ích được thay thế bằng những dải rừng cây xanh, mới trồng cách đây không lâu. Với cương vị người bí thư tỉnh ủy, anh đã họp tại đây bao đêm ròng để thảo luận với các đồng chí về việc xây dựng thành phố công nghiệp lớn này, và biết bao công sức lao động, bao lo lắng và sáng tạo của những người Xô-viết đã bỏ ra cho trên bản đồ xuất hiện những khu nhà ở mới này. Cái làng vừa nói đến mới chỉ xây xong năm ngoái. Cách đây không lâu, La-tô-skin thường đi đến công trường xây dựng ở đó. Anh theo dõi, giám sát để cho nhà ở của công nhân mỏ được sáng sủa, rộng rãi, để cho kiến trúc của toàn bộ khu vực này được hài hòa, đẹp mắt. Và anh không thể chịu được cái ý nghĩ là có thể chỉ hai, ba ngày nữa kẻ thù sẽ hoành hành ở đấy.

        — Lực lượng của chúng ta ít, — Đi-a-cốp giải thích. — Chúng ta không đủ sức với tới cái điểm quá xa này.

        La-tô-skin lặng thinh khi nhận rõ ý kiến đúng đắn của thiếu tướng.

        — Mời đồng chí tiếp tục, — im lặng một chút, anh nói vẻ khô khan.

        — Các đơn vị bộ binh sẽ bảo vệ tuyến phòng thủ thứ nhất ở phía tây thành phố, — chỉ vào bản đồ, Đi-a-cốp tiếp tục. — Trung đoàn N K V Đ1 sẽ ở bên trái họ, trên đường Ô-rlốp-xki. Hiện giờ các đơn vị Trê-ca2 đang bố trí ở đó. Còn xa hơn nữa, từ điểm cao hai trăm hai mươi lăm đến hết làng Mư-skin là trận địa của trung đoàn công nhân. Sáng sớm mai họ sẽ triển khai. Pháo chống tăng sẽ bố trí ở đây và ở đây. Nhân tiện xin hỏi thêm là có thêm súng chống tăng nữa không, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin?

        — Chúng tôi sẽ cho súng chống tăng... Chúng tôi đa thỏa thuận vấn đề này rồi.

        — Thế thì tốt. Còn ở các khu nhà ngoại ô chúng ta bố trí các đội xung kích với lựu đạn và chai xăng... Phòng tuyến thứ hai của chúng ta chạy theo phố Tuốc-ghê-nhép và phố «Thủ công nghiệp ». Tuyến thứ ba từ cầu sắt đến phố Xtơ-re-mia-nai-a. Trong thành phố. xe tăng hoạt động sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với trên đồng ruộng và tính cơ động của chúng sẽ bị hạn chế rất nhiều. Không lợi dụng điều này là một sai lầm lớn.

        Đi-a-cốp không những chỉ bình tĩnh chứng minh mà còn mỉm cười, nheo đôi mắt thông minh và hóm hỉnh nhìn người nghe. Tưởng chừng tình hình ngày càng khó khăn, con người này càng trở nên minh mẫn hơn và lúc đó như có con quỷ tháo vát, nhanh nhẹn, gan dạ nhập vào ông ta.

        — Các đơn vị bộ đội trong thành phố sẽ giữ tuyến hai và tuyến ba. Đây, và ở đây nữa, — ông giơ tay chỉ. — Trong trường hợp tuyến một bị chọc thủng, chúng ta sẽ ghìm bọn Đức ở tuyến hai và tuyến ba... Và sau đó chúng ta sẽ biến thành phố thành hệ thống phòng thủ theo một vòng cung liên hoàn. Chỉ có điều, đồng chí I-a-cốp La- tô-skin ạ, tôi yêu cầu phải khẩn trương đưa đồng bào đi sơ tán. Và cũng mong các đồng chí chuyển đi đâu đó về phía bắc thành phố. Các đồng chí đang ở mũi tiến công chính của kẻ thù, và như thường nói, thì...

        La-tô-skin không trả lời ngay. Thật ra cũng rất cần thiết phải chuyển Hội đồng quân sự đến nơi an toàn để tránh sự uy hiếp của xe tăng Đức. Nhưng La-tô-skin rất không muốn rời khỏi ngôi nhà mà mỗi người dân ở T. đều quen thuộc.

        — Hiện giờ, tôi thấy chưa thật cần thiết phải chuyển đi nơi khác, — anh nói vẻ không hài lòng.

        — Nhưng nên chuẩn bị trước thì hơn chứ, đồng chí La-tô-skin ạ! — Đi-a-cốp kiên nhẫn thuyết phục.

        Thình lình có tiếng gõ cửa và chiếc rèm tung sang một bên, rồi một đại tá cao, trẻ, mặc áo ca pốt, đội mũ lưỡi trai công an vũ trang, nhanh nhẹn bước vào phòng.

        — Kính chào đồng chí thiếu tướng! Xin lỗi đồng chí I-a-cốp La-tô-skin, tôi đến hơi chậm một tí, —anh nói giọng ngân vang. —  Đồng chí cho phép tôi ngồi được chứ?

----------------------
        1. Lực lượng công an vũ trang thuộc Bộ Nội vụ.

        2. Cơ quan công an Xô-viết.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:41:59 pm
   
        La-tô-skin gật đầu, nhìn đại tá ngồi xuống chiếc ghế đệm bên bàn vừa bỏ mũ, vừa lấy tay vuốt trán.

        — Đám cháy ở bãi xe đã được dập tât. Ở đó còn xăng trong các thùng phuy nên mới bốc cháy mạnh, — đại tá thông báo. — Cháy mất ngôi nhà số 3 đường Ti-mi-ri-a-dép-xki. Có người chết. Hai chiến sĩ cứu hỏa Xa-môi-lốp và Grô-ben-cô... bị bỏng nặng phải vào viện quân y.

        — Và một điều không tốt nữa là, — người tóc trắng mặc áo đại cán xanh, chen vào câu chuyện. — Hôm nay, bọn vô lại nào đó đã bắn tín hiệu chỉ điểm thành phố trong lúc oanh tạc, nên giải thích điều này ra sao, anh Đô-brô-vôn-xki ?

        — Tạm thời tôi chỉ có thể nói được rằng, chúng tôi đã đuổi theo dấu vết của nhóm biệt kích được tung qua mặt trận... Tôi đi từ bãi xe đến đoàn tàu chở hàng, — đại tá tiếp tục, — ở đó đoàn tàu chở thực phẩm bị ném bom... Va tôi được biết là có một số người nào đó đang lấy cắp ở các toa xe.

        — Tôi đã nói là cần phải khàn trương cho nhân dân đi sơ tán, —  Đi-a-cốp nói. — Cần phải có hậu phương tin cậy... Đây là công việc đầu tiên. Còn ở trong một thành phố lớn, bao giờ cũng có những phần tử xấu...

        — Những người mà anh được báo cáo là ai vậy? — La-tô-skin hỏi.

        — Chúng tôi đã giữ lại một số người, — đại tá trả lời. — Tôi đã nói chuyện với vài tên... Chúng nói: « Các anh để lại cho bọn Đức làm gì? Tại sao các anh không phát cho người mình? Cho chúng tôi còn hơn là cho Hít-le...». Chúng còn nói : « Có lệnh dỡ các kho hàng chia cho nhân dân».

        — Một lệnh khiêu khích trắng trợn, — người tóc trắng to béo nói. — Một tổ phao tin nhảm... Đô-brô-vôn-xki, việc này cũng thuộc các anh dấy !

        — Những người này là ai ? — La-tô-skin nhắc lại.

        — Đủ loại người khác nhau: một tên thợ cắt tóc, mụ bán vé ở cửa hàng bánh mì, xã viên tổ hợp « Sửa chữa đồ ngũ kim », và Vla- xốp-va, — đại tá cười khẩy, — một mụ già khôn ngoan, giảo hoạt...

        — Chúng ta làm việc rất tồi,— La-tô-skin nói với vẻ gay gắt bất ngờ.— Chúng ta làm việc bừa bãi... Như vậy là tôi và các anh đã cho phép bọn vô lại nào đó lừa phỉnh nhân dân. Chúng ta quá dễ dãi với những kẻ phao tin, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng! Đồng chí Đô-brô-vôn-xki ạ, hãy xem xem những ai bị giữ lại ở đây... Ở đây, tôi thấy không phải chỉ trừng trị mà còn phải giải thích nữa...

        — Anh Sa-rốp, còn cái này ở bộ phận của anh đấy, — đại tá công an nhìn người tóc trắng, mặc áo đại cán, — anh phải giải thích...

        — Đây là phần của chúng tôi, — La-tô-skin cải chính. — Đấy là trách nhiệm của Đảng...

        — Tôi hiểu rồi, đồng chí chủ tịch! Trong cả bọn, tôi không thích tên thợ cắt tóc lắm... Tạm thời sẽ giữ nó lại, — Đô-brô-vôn-xki nói.

        Một tiếng súng đơn độc nổ ở đâu đó trên đường phố và mọi người ngòi quanh bàn đều quay nhìn ra phía cửa sổ.

        — Đồng chí thiếu tướng, chúng tôi nghe đồng chí đây, —La-tô- skin nối. — Xin lỗi vì đã ngắt lời đồng chí.

        Đi-a-cốp đặt bàn tay mập mạp của mình lên tấm bản đồ.

        — Điều quan trọng lúc này là pháo binh, đồng chí I-a-cốp ạ, —  ông lại bắt đầu. — Nhưng tôi có ít pháo lắm. Tôi nghĩ không có gì sai lầm trầm trọng nếu ta dùng pháo cao xạ để chống tăng.

        — Tôi ủng hộ giải pháp của anh, — La-tô-skin nói.

        — Nhưng có điều là tôi và pháo cao xạ không được thân thiện lắm, — Đi-a-cốp tiếp tục. — Đại tá Lu-ki-a-nốp chi huy bộ đội phòng không không thuộc quyền tôi. Và tôi đã báo cáo cho đồng chí biết ông ta thuộc hệ thống nào.

        — Vâng, vâng, tôi đã mời ông ấy đến đây. — La-tô-skin ấn nút diện trên bàn, và khi người nữ thư ký vừa vào đến cửa, ông liền nói: — Đại tá Lu-ki-a-nốp đã đến phải không ? Mời đồng chí ấy vào.

        Mọi người im lặng chờ chỉ huy bộ đội phòng không. La-tô-skin lại cúi xuống tấm bân đồ thành phố. Ánh điện lấp lánh trên cái trán đô lấm tẩm mồ hôi và mái tóc mềm phờ phạc của anh.

        Tất cả hầu như không nghe thấy gì khi người sĩ quan chỉ huy mới nhẹ nhàng bước vào phòng. Thân hình ông ta gầy đét, đeo kính không gọng, bộ ria cắt gọn đốm bạc. Ông bước đều, không nhanh nhưng cũng không chậm, tới bàn chủ tịch.

        — Chào đồng chí chủ tịch Hội đồng quân sự, — ông lên tiếng vẻ nghiêm trang trịnh trọng.—Chào đồng chí thiếu tướng!

        La-tô-skin ngẩng đầu, đưa tay mời đại tá ngồi xuống chiếc ghế trống. Chờ đại tá ngồi xuống, anh mới nói, giọng nhỏ nhẹ;

        — Đồng chí Lu-ki-a-nốp, chúng tôi chỉ cần biết mọt điều là tại sao đồng chí không chịu thi hành mệnh lệnh của bộ tư lệnh khu vực chiến đấu?

        Đại tá im lặng một giây, liếc nhìn Đi-a-cốp đang vui vẻ mỉm cười với ông ta, rồi bình tĩnh trả lời:

        — Hãy cho phép tôi được giải thích : tôi chịu sự chi huy trực tiếp của bộ tư lệnh phòng không quân khu...

        — Hiện nay anh chịu sự lãnh đạo của Hội đồng quân sự thành phố, — La-tô-skin ngắt lời ông ta, giọng vẫn đều đều, — và anh sẽ nhận mệnh lệnh của thiếu tướng Đi-a-cốp.

        — Tôi yêu cầu phải có sự đồng ý của bộ tư lệnh chúng tôi đã, — Lu-ki-a-nốp dè dặt nói. — Tôi đã báo cáo rồi, nhưng chưa được trả lời.

        — Anh đừng lo, rồi sẽ có sự đồng ý.
        Đại tá im lặng, mắt kính của ông ta ánh lên lạnh lẽo.

        — Đồng chí chủ tịch, đồng chí đặt tôi vào một tình thế khó xử. — Ông ta vẫn lạnh lùng, trịnh trọng y như trước, chi có mí mắt trái của ông bắt đầu run. — Tôi và chỉ có tôi chịu trách nhiệm trước bộ tư lệnh chúng tôi về hoạt động của đơn vị mà tôi đang chỉ huy.

        La-tô-skin cau mày, chằm chằm nhìn đại tá. Trước kia đã nhiều lần gặp Lu-ki-a-nốp, ông luôn luôn nhận thấy: đây là người chỉ huy hiểu biết, thi hành nhiệm vụ một cách cầu kỳ. Hệ thống pháo cao xạ của thành phố rất xứng đáng được khen ngợi. Nhưng, chắc là người chỉ huy của nó quá thận trọng, nên không dám xả thân hành động theo yêu cầu của tình hình căng thẳng cực độ hiện nay. Và điều này làm cho La-tô-skin rất kinh ngạc. Ông chăm chú nhìn người nói chuyện với mình, nhìn mái tóc cắt tia cẩn thận, chiếc mũ lưỡi trai cầu kỳ và khuôn mặt xám nhạt của ông ta.

        — Hôm nay chúng tôi và anh chịu trách nhiệm về việc phòng thủ thành phố, chắn ngữ con đường tiến tới Mát-xcơ-va, — ông nói to hơn.

        — Tôi chịu trách nhiệm về công tác phòng không của thành phố, — Lu-ki-a-nốp sửa lại lời của La-tô-skin.— Bản chỉ thị đã ghi rõ nhiệm vụ của tôi và tôi chịu sự chỉ đạo của ai...

        — Anh cứ cho rằng anh không nhất thiết phải tuân theo chỉ thị nữa, — La-tô-skin ngất lời ông ta.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:42:27 pm

        Đại tá không động đậy, nhưng mí mắt ông rung lên mõi lúc một mạnh hơn. Chỉ một dấu hiệu này cũng cho thấy cuộc đấu tranh gay gắt đang diễn ra trong người ông ta, giữa thói quen thi hành triệt để mệnh lệnh của cấp trên với đòi hỏi thực tế, không có trong mệnh lệnh.

        — Đồng chí chủ tịch Hội đồng, — ông ta lại bắt đầu nói, — tôi chưa hoàn toàn hiểu rõ... Theo sự ủy quyền nào?...

        La-tô-skin bực bội đập tay xuống bàn.

        — Theo ủy quyền của giai cấp công nhân! — Ông gào lên, giọng ngân vang, nhưng lại tự kiềm chế ngay được, nói bình tĩnh hơn: —  tôi hành động theo chỉ thị của Hội đồng quân sự nhà nước...

        Lu-ki-a-nốp từ từ đứng lên và Bốt-đa-nốp từ nãy đến giờ vẫn chú ý lắng nghe cũng từ từ đứng dậy. Trong phòng rất im lặng... Trên khuôn mặt gầy gò với hàng ria cắt ngắn của Lu-ki-a-nốp nổi lên những chấm đỏ.

        — Đồng chí đại tá, đồng chí đã thỏa mãn chưa?—La-tô-skin hỏi.

        — Tôi nghe... — Lu-ki-a-nốp khẽ trả lời. — Đồng chí cho phép tôi được thi hành chứ!

        La-tô-skin quay sang Đi-a-cốp.

        — Đồng chí thiếu tướng, đồng chí trao đổi với đại tá đi, — ông nói. — Chúng ta tạm ngừng cuộc họp trong mười phút...

        Phong thái hung dũng, Đi-a-cốp tặng cho Lu-ki-a-nốp một nụ cười thân ái, rạng rỡ, nhưng trong đôi mắt nheo lại ánh lên vẻ giễu cợt.

        — Chúng tôi sẽ bàn bạc bây giờ, ngay bây giờ, — ông nói và đứng dậy. — Kia kìa, chúng ta ngồi xuống chiếc đi văng kia và nói chuyện. — Ông nắm khuỷu tay Lu-ki-a-nốp và dẫn tới một góc phòng. — Ở đó, ta cùng bàn bạc về súng đại bác, đồng chí đạỉ tá ạ!... Đại bác rất tốt, bắn nhanh! Và cỡ cũng vừa phải... Bốt-đa-nốp, lại đây luôn thể!

        Ba người ngồi trên đi văng. Bốt-đa-nốp nhìn chủ tịch Hội đồng quân sự với lòng biết ơn và cảm phục. Anh rất mến con người này, tất cả cử chỉ của ông đều hợp với Bốt-đa-nốp. Người thư ký đến bên La-tô-skin nói điều gì và ông gật đầu.

        Đi-a-cốp bắt đầu nói về cách sử dụng pháo cao xạ để chống tăng. Chăm chú nghe thiếu tướng nói, Bốt-đa-nốp chỉ đưa mắt nhìn đám người vừa bước vào phòng. Họ có khoảng mười lăm người, trong đó có hai hoặc ba phụ nữ. Một số đeo túi dết ở thắt lưng, một vài người có bao súng ngân mới màu vàng. Mọi người ngồi sát vào nhau. La-tô-skin rời khỏi bàn và đi đến chỗ họ. Lúc đầu ông hỏi han người này người kia, nhưng sau đó giọng nói căng thẳng của ông mõi lúc một to. Và Bốt-đa-nốp không chú ý đến câu chuyện giữa Đi-a-cốp và Lu-ki-a-nốp nữa.

        — Tất cả các đồng chí, những người cán bộ tỉnh ủy, hôm nay sẽ rời các phòng, ban của mình để xuống các đơn vị chiến đấu, — La-tô-skin nói. — Chúc các anh đạt được nhiều thành tích trong cương vị mới của những người chính trị viên và chính ủy!

        Ông đứng giữa phòng, tay trái lãng quên giữ chiếc bút chì, còn tay phải hơi vẫy vẫy. Chiếc áo va rơi dựng đứng trên lưng ông, bên hông bao súng «TT» nặng trĩu trên đây da đã sờn. Và Bốt-đa-nốp lại cảm thấy một nét gì đó rất sinh viên, rất sôi nổi trong dáng dấp con người này.

        — Trước chiến tranh khá lâu, Trung ương Đảng giao cho chúng ta nhiệm vụ: biến các nhà máy thành pháo đài kiên cố của chủ nghĩa xã hội... Pháo đài của chủ nghĩa xã hội, —La-tô-skin nhấn mạnh lại từng tiếng. — Lúc này là thời kỳ kiểm tra chính xác nhất xem chúng ta thực hiện nhiệm vụ này như thế nào... Và tất cả các đồng chí đã biết, ngày nay thành phố của chúng ta, thành phố hòa bình, cổ kính của từng người luyện kim, luyện gang, thợ rèn, công nhân mỏ, biến đổi ra sao. Mọi người thi đua với nhau để được vinh dự nhận khẩu súng trường. Hàng nghìn người xung phong đi xây dựng các tuyến phòng thủ, dựng các chướng ngại vật trên đường phố, như cha ông họ trước đây đã làm. Và mỗi đường phố của chúng ta... — La-tô-skin im lặng trong khoảnh khắc. — Các đồng chí hãy nhớ lại tên gọi của chúng: Lưỡi lê, Thuốc nổ, Nòng súng, Chốt an toàn, — mỗi đường phố của chúng ta đã trở thành phòng tuyến chiến đấu... Không thể nghi ngờ gì nữa rằng thành phố của chúng ta, thành trì vinh quang của giai cấp công nhân Nga, sẽ đứng vững trước thử thách mới, như đã đứng vững trong năm mười chín. Và những khu ngoại ô, những đường phố của chúng ta sẽ trở thành mồ chôn quân phát xít xâm lược.

        Mọi người đứng dậy và vây quanh La-tô-skin. Nghe thấy những tiếng thốt ngắn gọn, những câu hỏi, câu chào và lời chúc tụng...

        — Đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ! — Người nào đó kêu lên. — Sáu giờ sáng mai trung đoàn công nhân ra quân !

        — Nhất định tôi sẽ đến và tiễn các anh! — La-tô-skin nói.

        Nửa giờ saú, Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp cũng chuẩn bị ra về. Bí thư tỉnh ủy lại nói chuyện với nhóm kỹ sư của một nhà máy nào đó.

        Anh không tìm thấy một dấu hiệu mệt mỏi nào trong người La-tô-skin. Chỉ có mồ hôi lấm chấm trên khuôn mặt đỏ ửng của anh. Chia tay với Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp, ông nắm rất chặt tay hai người.

        Người thư ký lại xuất hiện bên cánh cửa.

        — I-a-cốp La-tô-skin,— chị nói to hơn bình thường, — có điện thoại từ Mát-xcơ-va.

        La-tô-skin nhanh nhẹn cầm ống nghe, và giơ tay trái ra hiệu cho mọi người im lặng.

        Dạo này, từ Mát-xcơ-va ngày nào cũng có người gọi điện cho ông: các bí thư Ban Chấp hành trung Đảng, ủy viên Hội đồng quân sự nhà nước, ủy viên Bộ Chính trị... La-tô-skin báo cáo về tình hình trong tỉnh và trong thành phố, nghe chỉ thị và những lời góp ý. Lúc này cầm ống nghe, ông có cảm giác của một người lính trước khi bước vào trận chiến đấu đang được sự chăm sóc của người chỉ huy —  sẵn sàng giúp đỡ bằng những lời khuyên và mệnh lệnh, trong bất kỳ giây phút nào.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:29:00 pm

6

        Tuy mới thành lập vội vàng từ những tiểu đoàn xung kích và dân quân tự vệ, trung đoàn công nhân đang tạm đóng tại tòa nhà trường trung cấp cơ khí trong thành phố, nhưng đã nhận được mệnh lệnh triển khai ra vị trí chiến đấu. Sau khi gặp tiểu đoàn trưởng, Pa-ven Grô-mốp trở về trung đội của mình, vừa luồn lách theo hành lang chất đầy bàn ghế học sinh vừa suy nghĩ: có thể ngày mai anh đã phải đưa đồng đội của minh vào trận đánh. Anh lờ mờ tưởng tượng điều này sẽ diễn ra như thế nào, cảm thấy bối rối hơn là lo sợ. Chính trận đánh đầu tiên — trận giáp mặt đầu tiên với kẻ thù —  không làm cho Pa-ven sợ hãi mà anh chi thấy nóng lòng sốt ruột chờ đợi. Nhưng hôm nay một điều họàn toàn bất ngờ làm Pa-ven bối rối, anh được chi định làm trung đội trưởng.

        Thật ra, Pa-ven cũng đã được dự một chương trình huấn luyện quân sự. Mặc dù biết sử dụng lựu đạn, bắn súng máy, học chiến thuật, nhưng Pa-ven vẫn cho rằng: tạm thời anh nên làm người lính đã.

        Nói một cách nghiêm túc thì trung đoàn thành lập vẫn chưa hoàn chỉnh, còn thiếu cán bộ chỉ huy cấp dưới có trình độ. Chỉ mới mấy giờ trước đây thôi, anh, Pa-ven Grô-mốp, một người dân thường, một kỹ sư thiết kế, đã được cử làm chỉ huy một đơn vị gồm ba mươi tám tay súng mà từ nay trở đi anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước họ.

        «Cần phải thường xuyên trao đổi với các đồng chí» — Pa-ven suy nghĩ như anh đã từng suy nghĩ trong tất cả các trường hợp khó khăn của cuộc sống. Đặc biệt phấn khởi là trong trung đội anh có hai người bạn cũ: E-go Trô-sin, kỹ sư luyện gang và I-van Bô-cốp, thợ tiện cùng nhà máy. Tuy vậy không thể nói rằng anh sợ sự phức tạp của trách nhiệm, mà bất ngờ người ta đã trao cho anh. Ngoài tâm trạng bối rối ra, từ đáy lòng anh cũng tò mò muốn biết xem mình sẽ lãnh đạo ra sao, mong muốn nhanh chóng bắt tay vào công việc để kiềm tra năng lực mà anh chưa tự đánh giá được hết.

        Trung đội Pa-ven chiếm một phòng học trên tầng hai tòa nhà lớn bốn tầng đã chật ních người. Ngay cả ở một vài nơi trong hành lang, trên sàn, trên bàn, cũng trông thấy người nằm và những khẩu súng trường dựa vào tường.

        Trở về phòng mình, Pa-ven trông thấy chính trị viên đại đội Ê-Ii-xây-ép — một người trạc tuổi dưới sáu mươi — đang nói chuyện với một nhóm chiến sĩ ngồi rải rác trên ghế và trên bàn. Từ hành lang, Pa-ven đã nghe vọng lại tiếng Ê-li-xây-ép:

        —...Mỗi người chúng ta phải chịu trách nhiệm về việc thi hành mệnh lệnh chiến đấu. Tuy vậy, điều này vẫn chưa nói hết được trách nhiệm của chúng ta. Một lời nói chân thành, một lời tâm sự với các chiến sĩ trong lúc nghỉ ngơi, trong khi đi dạo, trong trận đánh đều có một ý nghĩa rất lớn.

        Đi chậm lại, Pa-yen chú ý lắng nghe. Từ lâu anh đã biết Ê-li- xây-ép, kỹ sư làm việc ở phòng ké hoạch trong, ban lãnh dạo nhà máy, đã gặp ông trong các cuộc họp đảng, nhưng không thân nhau lắm.

        — Còn một điều nữa, các đồng chí ạ! — Ê-li-xây-ép tiếp tục —  Dù các đồng chí có là người cổ động, tuyên truyền tốt thế nào đi chăng nữa, các đồng chí cũng phải tự chứng minh bằng tấm gương gan dạ của mình.

        Bất giác, Pa-ven đảo mắt nhìn những nhân viên chính trị của các trung đội đang ngồi chật ních thành từng nhóm trước mặt Ê-li- xây-ép. Họ im lặng chăm chú nghe chính trị viên; một chiến sĩ có khuôn mặt sáng sủa, đẹp đẽ, đội mũ lưỡi trai đen, gật đầu như thể ủng hộ những điều Ê-li-xây-ép nói. Anh thợ đúc trẻ của trung đội Pa-ven, Xvét-nhi-cốp đang ghi vội bằng bút chì vào quyền vở đặt trên đầu gối. Khung cảnh rất quen thuộc bình thản như trong cuộc họp chớp nhoáng ở xưởng trước đây...

        Thấy Pa-ven dừng lại gần đấy, Ê-li-xây-ép ngừng nói chuyện và đi đến gặp anh.

        — Tôi cần phải nói chuyện với anh đấy, Grô-mốp ạ, — ông bắt đầu — nhưng, chắc là hôm nay không kịp... Tạm thời tôi chỉ muốn nói một điều là quần chúng trong trung đội anh rất tốt. Tôi biết nhiều người trong họ, từ khi còn ở tiểu đoàn xung kích. Anh hãy chú ý đến Su-kin, tiểu đội trường, Trê-kin, Mi-khai-lốp thợ luyện gang và A- nhi-xi-mốp, công nhân mỏ... Tôi thấy anh có nhiều người tốt để làm việc đấy — ông kết luận — và có lẽ đã đoán được điều gì đang làm Pa-ven lo lắng, nên nói thêm: — tất nhiên là cỏ gì khó khăn, anh cứ đến tôi, dùng ngại ngần gì cả. Chúng ta cùng nghĩ, cùng bàn cách giải quyết.

        — Cảm ơn đồng chí chính trị viên.

        — Có gì mà phải cảm ơn! — Ê-li-xây-ép nghiêm trang nói.

        Ông quay lại với các chiến sĩ, còn Pa-ven rảo bước đi theo hành lang. Đẩy mạnh cửa phòng, lập tức anh thấy ân hận, vì nghĩ rằng giờ này mọi người đã ngủ. Đã mười hai giờ đêm, một số chiến sĩ đã ngủ say, nằm trên chăn trải ra sàn và đắp mình bằng áo bành tô, còn một số khác đang nằm hút thuốc lá cuốn. I-van Bô-cốp trực ban, đang ngồi bên cửa ra vào trên chiếc ghế duy nhất trong phòng, hai tay đút vào túi quần, đầu tóc xoăn gục xuống ngực. Khi Pa-ven vào, anh ta chỉ im lặng liếc nhìn, đôi mắt ánh lên vẻ tò mò như muốn biết những điều mới lạ.

        — Sáng mai, I-van ạ, — ghé vào tai Bô-cốp, Pa-ven nói nhỏ — sáng mai chúng ta sẽ triển khai...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:30:31 pm

        Một người nằm đó nhanh nhẹn nhỏm dậy, chờ xem trung đội trưởng còn nói gì nữa không. Nhưng Pa-ven đã chậm chạp lách bước giữa những người đang ngủ đến chỗ của mình trong góc phòng, cố gắng không đề gây tiếng động. Người chiến sĩ chăm chú nhìn anh một hồi lâu.

        Pa-ven cởi bành tô, mũ lông, đưa mắt nhìn xem nên để chúng ở đâu, rồi ném xuống chân và ngồi bệt xuống, duỗi đôi chân dài ngoẵng đi ủng ra sàn. Đã tĩnh táo hơn, Bô-cốp bỗng nhiên đứng dậy khỏi ghế, vội vàng đi qua phòng và ngồi xuống bên cạnh.

        — Anh cổ biết, hôm nay tôi gặp ai không? Pi-e Ki-rin-lứt đấy nhé! — Anh ta nói.

        — Cậu nói gì thế ? — Pa-ven sửng sốt.

        — Thật mà. Ô-rê-lốp Pi-e Ki-rin-lứt, ông già sống ở ngay bên cạnh... Anh còn nhớ không, chúng ta đã đến nhà và xem xe của ông già đấy?

        — Tất nhiên, còn nhớ chứ! — Pa-ven mỉm cười, đề lộ hàm răng trắng như sữa, tuyệt đẹp. — Sau đó tôi có đến thăm ông. Tôi còn nặng ơn ông ấy lắm... Thế, tình hình của ông già ra sao?

        — Không sao cả, can đảm lắm. Cứ hỏi về anh mãi...

        — Về mình — Pa-ven hỏi lại —Cậu biết không, nếu không có Pi-e Ki-rin-lứt thì chắc là mình đã học ngành khác rồi.

        — Ông ấy khen anh lắm, đúng thế đấy...

        Và Bô-cốp bắt đầu kể lại cuộc gặp gỡ của mình với người thầy giáo cũ. Nhưng trong đôi mắt xám rất sáng luôn luôn mở to như dò hỏi, ánh lên một vẻ lạ thường, như chờ đợi. Pa-ven trả lời câu hỏi mà anh ta không dám đưa ra.

        — Khi tôi sắp chia tay ra về, — Bô-cốp nói tiếp, — Pi-e Ki-rin- lứt nói: «Hy vọng ở các anh». Ông ấy nhắc đi nhắc lại: « Hy vọng ở các anh!». — Anh im lặng nhìn Grô-mốp chờ đợi.

        — Ông ấy nói như vậy à ? — Pa-ven đặt cánh tay nặng nề xuống vai người bạn. Tuy vẫn chưa hiểu cái gì đã xảy ra với Bô-cốp nhưng Pa-ven linh cảm thấy một điều không hay nào đó.

        — Thế cậu đã trả lời thế nào? — Pa-ven hỏi.

        Vẻ ngượng ngùng, ngay lúc ấy Bô-cốp lảng chuyện.

        — Khi nào thì chúng ta phân chia các chai thuốc nổ?— Anh hỏi lảng, mắt nhìn xuống.

        — Ở vị trí. — Pa-ven trả lời. — Ở trong công sự chúng ta sẽ chia... Không có thì vỡ ngay ở trên đường ấy chứ!

        Anh vẫn ngồi nguyên, cởi áo vét tông và cởi khuy cổ chiếc áo cổ tròn. Trong phòng rất ngột ngạt, mùi thuốc lá cuộn ngòn ngọt quyện lẫn với mùi hôi hám của quần áo và súng đạn. Ngọn đèn diện hai mươi oát tỏa ánh sáng yếu ớt lờ mờ, như đang rữa ra trong không khí nóng nực... Súng trường của các chiến sĩ tình nguyện được xếp thành ba hình nón ở giữa phòng. Những lưỡi lê nhọn, tụm lại, tỏa ra những tia sáng nhỏ, lờ mờ như bị phủ lớp sương mù.

        — Thật là kỳ quặc! — Pa-ven nói — Và có vẻ giả tạo thế nào ấy. Một thời mình với cậu đã từng học ở đâu đây... Chúng mình đã nhiều lần đến chính lớp này để...

        Bô-cốp đến bên Pa-vcn và với thái độ ngỡ ngàng nhìn từ dưới sàn lên trần nhà, nói:

        — Cậu sẽ không cười đấy chứ? Mình cũng nghĩ như thế này: cần phải nhắm mắt lại và sau đó thì mở ra... Tất cả    sẽ trở lại như xưa ..

        Một gian phòng sách sẽ, sáng sủa với các chân dung trên tường. Chúng mình sẽ trẻ lại như mười hai năm trước đây.

        — Đúng rồi, họ mang các chân dung đi đâu rồi ? — Pa-ven bắt đầu chú ý — Mình còn nhớ, ảnh Cu-li-bin treo ở kia... Râu ria thế này này...

        — Và cả Lô-mô-nô-xốp nữa, — Bô-cốp nói.

        — A ha, và Lô-mô-nô-xốp nữa...

        Pa-ven nhìn kỹ Bô-cốp, mảnh khảnh, yếu ót, khuôn mặt trắng trẻo, cái đầu xoăn đến mức: những sợi tóc sáng phủ xuống trán trông như mớ lò xo. Có thể đoán được điều gì đang làm Bô-cốp Sốt ruột —  đôi mắt to đẹp của anh ta long lanh đến như vậy.

        — Va-nhi-a1 cậu đã chia tay với Ma-ri-na chưa ? — Pa-ven hạ giọng hỏi — Từ giờ chắc không được nghỉ phép nữa đâu.

        — Càng hay, khi không còn được... Càng tuyệt!... — Bô-cốp nói với vẻ nóng nảy khó hiểu. Anh lắc đầu rất nhanh và dứt khoát làm mái tóc xõa xuống mắt, rồi anh lại vuốt lên.

        — Thế là thế nào? —Pa-ven tỏ vẻ ngạc nhiên.

        — Cử mỗi lần gặp nhau rồi lại chia tay mãi mãi. Đó là điều xấu nhất... và rất tốt là mai chúng ta triển khai.

        — Cừ lắm, anh bạn tóc xoăn ạ! — Pa-ven phân vân, làu bàu nói, thoáng nghĩ đến Na-ta-sa.

        Bỗng nhiên anh rất muốn kể cho Na-ta-sa rõ, lúc này anh sống hồi hộp và trọn vẹn như thế nào. Và mặc dù hiện giờ, theo ý Pa-ven, cô ấy ở cách xa nơi đây là một điều hợp lý và có lẽ ít lâu sau, theo lời khuyên của anh, cô sẽ chuyền sâu vào vùng xa mặt trận, nhưng anh vẫn tiêng tiếc điều này. Anh ân hận không phải chỉ vì đã lâu không được gặp cô mà có phần nào đó anh lo lo như thể cô đã bị bỏ quên một cách bất công so với anh. Khuôn mặt vuông vắn của anh với những đường nét rõ ràng, hàng lông mày sâu róm, má nhăn, mũi thẳng rất để bộc lộ những xúc cảm, giờ đây như có vẻ trầm tư, hối lỗi.

        «Không, không, Na-ta-sa chuyển sâu hơn nữa vè hậu phương là điều rất tốt» — Anh thầm khẳng định với chính mình. Và đồng thời ngay lúc đó, anh cũng cảm thấy số phận của anh còn may mắn hon so với người khác, dù có hiểm nghèo hơn.

-----------------------
        1. Tên thân mật gọi Bô-cốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:31:06 pm

        Bô-cốp nóng lòng chờ Pa-ven nỏi.

        — Cậu có chuyện gì vậy? — Anh ta hỏi.

        — Không, không có gì cả, — bừng tỉnh, Pa-ven vội trả lời.

        — Thôi anh bạn, bây giờ thì hãy liệu đấy! Đánh giặc chứ không phải chuyện đùa đâu.

        — Đáng ra phải đánh từ lâu rồi cơ, — Bô-cốp đồng tình.

        — Những cuộc tiễn đưa bao giờ cũng kèm theo những giọt nước mât, đúng không nào ?

        — Đúng vậy! Chi là một việc làm bịn rịn! — Bô-cốp nói to, với một vẻ can đảm cay cú nào đó.

        Pa-ven chăm chú nhìn người bạn và Bô-cốp cũng nhìn lại với vẻ thách thức.   

        — Thôi được anh bạn tóc xoăn, cậu đừng quá lo lắng làm gì, —  Pa-ven nói. —Thôi ta bàn về công việc đi. Ê-go đã ngủ rồi à?

        — Sao ? Mình có lo lắng gì đâu, — Bô-cốp nói.

        Một cái đầu hung hung tóc cắt ngắn ngọ nguậy dưới chiếc bành tô xám, ngay gần đấy.

        — Ai mà ngủ được cơ chứ, — một giọng ú ớ vang lên — Lúc nào cũng có người đi, nói chuyện, gõ cửa.

        — Thôi, dậy đi, anh bạn, — Pa-ven gọi.

        Bỏ bành tô ra, Ê-go Trô-sin ngồi dậy và bực bội nhìn quanh. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng, sạch sẽ, để lộ ra cái cổ ngắn và mập. Trên khuôn mặt tàn nhang đỏ tấy với hàng lông mi trắng, hằn rõ dấu vết của bao dồ anh dùng làm gối.

        — Tớ đã làm hết cách này... Đã đếm nhẩm đến một trăm và nhớ lại bài hát trong phim nữa, thế mà vẫn không ngủ được. — Anh phàn nàn.

        Pa-ven lấy mẩu giấy trong túi áo vét tông ra, đặt lên đùi và lấy bàn tay to che lại:

        — Hãy nghe đây, giai cấp công nhân, — anh nói. Trô-sin đến bên chăn Pa-ven, và lúc này ba người ngồi sát bên nhau. — Đã có mệnh lệnh, — Pa-ven thầm thì nói tiếp,— mệnh lệnh chiến đấu... Sáng mai chúng ta sẽ triển khai ra tuyến phòng thủ. — Anh nhìn các bạn như muốn hỏi: «Thế nào, các cậu có thích cái này không ?».

        — Thật tuyệt là chúng ta sẽ được triển khai, — Bô-cốp nhắc lại.

        Pa-ven cầm mảnh giấy trên dùi.

        — Để cho khỏi quên, tớ đã ghi vào đây, liếc nhìn dòng chữ bút chì, anh nói.

        Trên tờ giấy xé ra từ quyền sổ tay có ghi: «1. Chọn người liên lạc với đại đội; 2. Nhận xẻng công binh ; 3. Nhận túi cứu thương ; 4. Kiểm tra vũ khí...».

        — Vũ khí của các cậu bình thường chứ? — Pa-ven hỏi.

        — Bình thường, — Bô-cốp gật đầu trả lời.

        Pa-ven đọc tiếp: «5. Nhận thêm lựu dạn; 6. Thảo luận cách đánh xe tăng... ».

        — Các cậu ơi, — anh nói, — mình chẳng phải giải thích gì cho các cậu nữa. Lúc đầu cái gì mà chả xảy ra cơ chứ. Tất cả chúng ta đều là dân sự, chưa chiến đấu bao giờ và nhiều người đã có gia đình riêng. Công tác tuyên truyền của trung đội ta đã giao cho anh chàng thợ đúc Xve-nhi-cốp đảm nhiệm.

        — Mình biết cậu ấy, một chàng trai kiên nghị đấy. — Trô-sin nói.

        — Nhưng các cậu cũng không được thờ ơ với công tác quần chúng đâu nhé! — Pa-ven đảo mắt nhìn và hạ thêm giọng — Có thể, ngay ngày mai chúng ta đã phải chiến đấu. Trên tình đồng chí, mình yêu cầu các cậu: hãy giúp đỡ nhau, không để một ai được lùi bước...

        Lúc này trong phòng lại tối hơn. Phía trên, trong bóng đèn thủy tinh, đây tóc đỏ lòm sáng cháy chi độ một phần tư công suất. Từ đấy vọng lại tiếng thở khò khò, tiếng mê sảng và tiếng ngáy. Một chàng trai trẻ với mái tóc Di-gan đen nháy, đang hai tay, chép miệng tem tép trong giấc ngủ say sưa. Nhưng không phải tất cả mọi người đã ngủ say trong đêm khuya tĩnh mịch này : trong góc tường, một người nào đó đang hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, có người tuy nằm nhưng đôi mát bất động vẫn trân trân nhìn lên trần nhà.

        — Rất tốt, nếu mà ngày mai!... Bô-cốp nói, giọng thanh thanh.

        — Cần phải làm gương cho mọi người, — Pa-ven sôi nổi thì thầm. — Và cần phải giải thích cho mỗi người hiểu rằng, khi xe tăng chúng nó tới, trong bất kỳ trường hợp nào. Cũng không được bỏ chạy. Đây là mệnh lệnh đầu tiên. Cứ bình tĩnh cầm chai xăng hoặc lựu đạn mà chờ, cứ bình tĩnh nhắm súng trường vào lỗ quan sát. Xe tăng không nguy hiểm nếu bạn không sợ nó.

        — Pa-sa, cậu rút ra điều này từ kinh nghiêm bản thân chứ? — Trô-sin dịu dàng hỏi nhỏ.

        — Sắp tới, chúng ta sẽ được kiểm nghiệm lại điều này, — Pa- ven trả lời một cách kiên quyết. Còn Trô-sin thì lắc đâu một cách lập lờ. Lúc nào anh cũng ghen với Pa-ven, ghen với nghị lực tràn trề biểu lộ một cách tự nhiên, thoải mái và tinh lạc quan yêu đời của anh. Cảm giác này đã có ở Ê-go ngay từ thời còn học phổ thông xa xôi. Trong cảm giác đó vừa có lòng yêu mến, khâm phục Pa-ven, vừa cỏ nỗi bực túc là Pa-ven bỏ phí quá nhiều. Đôi mắt xanh nhạt với hàng mi trsedng nheo lại một cách giễu cợt.

        — Pa-sa, cậu có nhớ không ? Dạo nhỏ chúng mình thả tàu lượn do cậu chế tạo trên gò Vô-dơ-dvi-gien-xki, chiếc «PG-2» nổi tiếng của cậu? — Anh nói. —Cậu còn nhớ ba đứa mình sơ suất như thế nào ở đấy không ?

        Pa-ven ngạc nhiên nhìn Trô-sin nhưng lại mỉm cười ngay. Cái trò tàu lượn mà anh quên từ lâu đã kết thúc khá thảm hại: chưa rời khỏi mặt đất, chiếc máy thô sơ của anh đã lộn nhào và vỡ tan ra.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:32:45 pm

        Nhìn Pa-ven, Trô-sin không kìm nổi, cũng mỉm cười. Mặc dù những năm sau khi tốt nghiệp trường phổ thông học nghề, họ ít được gặp nhau, — Pa-ven học tiếp đại học ở Mát-xcơ-va, Trô-sin đi đến U-ran và trở về với tấm bằng kỹ sư, còn Bô-cốp ở lại thành phố quê hương và không học tiếp đại học nữa, nhưng cả ba người đều rất gắn bó với nhau bởi tình bạn khăng khít của thời thơ ấu mà họ cùng chung sống. Điều này làm họ, những chủ nhân của niềm hạnh phúc xa xưa luôn luôn gắn gũi nhau, bất kề cuộc sống sau này của họ ra sao...

        — Dạo ấy mình cũng chơi với Ma-ri-na nữa chứ, — Bô-cốp sôi nổi. — Mình đi từ gò Vô-dơ-đvi-gien-xki về, áo rách tới rốn. Tớ nghĩ: thật khốn khổ, ông bố sẽ mắng cho một trận. Cô ấy trông thấy tớ, gọi vào tắm gội và khâu lại áo cho chứ. Sau đó lại còn thương hại...

        — Cậu tốt số thật đấy, — bỗng nhiên Trô-sin cũng dịu dàng nói. — Mình nhớ, dạo cô ấy còn theo lớp học nghề của nhà máy. Lúc đó cô ta ít nói và mảnh khảnh như cây sậy ấy.

        — Thường thường, ông cụ mình nhìn mình chỉ hỏi gọn lỏn, — Pa-ven nói vẻ hài lòng, — « Cái đâu vẫn còn nguyên chứ, anh lính A-nhi-ca?».

        Họ im lặng, hồi tưởng lại những năm tháng xa xôi đó. Mỗi người đều cảm thấy việc họ được ngồi bên nhau trong lúc này là một món quà tốt lành của số mệnh. Một điều rất tốt và hoàn toàn hiển nhiên, là cả ba người giờ đây lại được sống bên nhau cùng chung sức, chung lòng đương đầu trước một thử thách khó khăn nhất trong đời họ. Lúc này thử thách ấy tưởng như được giảm bớt đi vì khi ở bên nhau, mỗi người trong họ đều cảm thấy mình mạnh hơn.

        — Các cậu có biết không, ông già mình không muốn ra đi, —  Pa-ven phàn nàn với các bạn. — Mình không làm thế nào để ông già thay đổi ý kiến được.

        Bô-cốp nhích lại gần anh.

        — Ma-ri-na gửi lời hỏi thăm hai cậu, — anh nói. — Khi biết các cậu cũng ở đây, cô ấy yên tâm hẳn...

        — Hãy thề với cô ấy đi, — Trô-sin yêu cầu. — Và tại sao cậu không đưa cô ấy đi đâu đi?

        — Sáng nào cô ấy cũng xếp va li, đến chiều thì lại dỡ ra. Cô ấy không nỡ để tớ ở lại một minh. — Bô-cốp buồn rầu trả lòi.

        — Các cậu có thấy không — Pa-ven vuốt mái tóc dày, dựng đứng của mình. — Bọn chúng mình đều đã sống rất thơ mộng, rất đẹp, rất tuyệt vời. Hồi tưởng lại chỉ làm cho chúng ta thêm nhớ tiếc...

        — Ở trường đại học, học bòng hoàn toàn không đủ, — Trô-sin nhận xét với vẻ nghiêm nghị giả tạo thường có ở cậu ta.

        — Vì sau đó phải tính toán chi tiêu từ kỳ học bồng này đến kỳ học bổng khác.

        — Ma-ri-na của tớ chẳng thiếu cái gì cả, — Bô-cốp nói. — Tớ đưa hai, ba suất. Các cậu có biết tớ làm thêm được nhiều như thế nào không?...

        — Dù sao thì trên thế giới này cũng không có ai giàu hơn chúng ta, — Pa-ven nói tiếp. — Mỗi người chúng ta cảm thấy như trong túi minh có bạc triệu. Mà đúng vậy, đấy là sự thật. Chúng minh bàn bạc với nhau như những người phải lo nhiều khoản kinh phí lớn cho kế hoạch năm năm, công nghiệp hóa, nhà máy chế tạo máy cày Xta- lin-grát, mỏ sắt ở Ma-gơ-nhi-tô Goóc-xcơ...

        Pa-ven cảm thấy nóng nực: anh cởi hết khuy, phanh cổ áo ra, để lộ bộ ngực trắng với mớ lông ngực xoăn xoắn.

        — Kể cung bực thật, — Trô-sin nói. — Chúng tớ vừa mới định mở thí nghiệm một lò thổi bằng ô xy.

        Ba người kể chuyện về minh, về cuộc sống riêng của mình, nhưng tưởng như họ đang nói chuyện về chính một điều quan hệ đến cả ba. Điều này thường chỉ có ở những người bạn rất thân thiết và hơn thế nữa, hình như đã lâu rồi, họ chưa có buổi tâm sự nào phong phú như vậy. Mặc dù mỗi người chỉ mới kể được vài câu vụn vặt nhưng tất cả những điều họ vừa nói ra hôm nay đều là những ý nghĩ chung, tổng quát những lý tưởng, hy vọng và ước mơ của cuộc sống trong nhiều năm qua. Cho nên mỗi người đều có cảm tưởng là mình đã được nghe thấy những điều mà tự mình chưa hoặc không nổi ra được.

        — Tất cả chúng mình đã sống rất hạnh phúc, — Pa-ven lại bắt dầu. — Và các cậu có tin không, chính ngay lúc này đây, dù sao đi nữa mình vẫn cảm thấy mình rất hạnh phúc. Không, không phải từ này. Tự hào thì đúng hơn. Không, không phải, mình không thể tìm ra một từ thật chính xác.

        — Rất tiếc là cậu không kịp chế tạo chiếc máy cái của mình, —  lần này Trô-sin nói với vẻ hoàn toàn nghiêm nghị. — Sáng kiến của cậu rất đáng khen.

        — Dĩ nhiên là tiếc rồi, sáng kiến đó của mình thì đơn giản, rơ- le một mã, nhưng cấu tạo lại khá phức tạp. Mình muốn cho mọi người có thể điều khiển máy dễ dàng như gọi điện thoại tự động. — Pa-ven lắc đàu. Ừ, khỉ thật, tiếc quá!

        Một người nằm gần cửa sổ, cựa quậy tung chiếc áo bông đắp trên người, đứng dậy. Hình như chưa hoàn toàn tỉnh ngủ, anh ta loạng choạng bước ra cửa, chẳng khác gì người mù. Cánh cửa mở, một luồng không khí lạnh ùa vào mặt, vào ngực Pa-ven.

        « Sắp sáng rồi, — anh nghĩ, — buổi sáng, triển khai, trận đánh... »


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:05:34 am
   
        Và anh cảm thấy một cái gì đó nóng bỏng như đang đốt cháy và tỏa ra khắp người anh. Anh sẽ rất chán nản nếu lúc này người ta nói với anh rằng thôi, sẽ không chiến đấu nữa vì kẻ thù đã lùi, chúng không dám chạm trán với chúng ta nữa.

        Nhìn ra cánh cửa, Bô-cốp co dúm người lại, như thể bị lên cơn rét và giúi tay vào giữa hai đùi.

        Một ngươi nào đó vừa đi nhanh theo hành lang vừa mở khóa nòng súng trường. Anh thanh niên trẻ với mái tóc Di-gan ngồi dậy, làu bàu điều gì đó và lại nằm xuống sàn. Hình như một mối lo lắng đột ngột đang truyền đi theo các tầng của ngôi nhà lớn, trong đó có hai nghìn con người đang ngủ đêm cuối cùng, trước lúc ra trận. Và lại im lặng.

        — Các bạn ạ, tất cả đều theo đúng quy luật cả!... — Pa-ven nói với vẻ cương quyết, giọng trầm trầm, khuôn mặt to, kiên nghị của anh có vẻ nặng nề. — Chả lẽ chúng ta lại không biết rằng, sớm hay muộn rồi chúng ta cũng sẽ phải chiến đấu sống chết với chủ nghĩa tư bản hay sao? Bởi vì chính sự tồn tại cửa chúng ta cũng đủ làm cho chủ nghĩa tư bản khiếp sợ rồi...

        Đôi mắt sáng và sâu của Pa-ven long lanh, ánh lên đến mức tưởng chừng như chúng có vẻ to hơn trước. Anh giơ tay ra trước mặt.

        — Hòa bình và hạnh phúc cho tất cả các dân tộc! — Anh nói nhỏ, giọng trầm trầm. — Những người cộng sản chỉ mong muốn điều ẩy: hòa binh và hạnh phúc.

        Bỗng nhiên anh ôm chặt vai các bạn, ghì vào mình rồi bỏ ra.

        — Các đồng chí của tôi! Các bạn là những người của giữa thế kỷ hai mươi, những người của thế kỷ cách mạng. Có trời mà biết được hết điều này!... — Pa-ven lại mỉm cười. —Khi còn nhỏ, chúng ta đã mơ ước đi giúp cách mạng Tây Ban Nha!... Chúng ta đã lo lắng cho đất nước này. Chúng ta đã ghen tị với các chiến sĩ trong các đơn vị quốc tế vô sản và các phi công của ta chiến đấu ở đó. Chẳng bao giờ chúng ta quên Ma-đrít, và tất cả các tên gọi: A-ra-gôn, Ca-sti- li-a, A-xtu-ri-a, Gva-đa-la-kha-ra. Và không khi nào chúng ta tha thứ cho những gì mà bọn phát xít gây ra ở Tây Ban Nha. Một đất nước tuyệt đẹp có phải không ? Còn những người Phi-líp-pin — một dân tộc cũng rất tốt — còn Xác-cô và Van-xét-ti, còn những thanh niên da đen ờ Scốt-sbô-rô! Các bạn ạ, tóm lại, chủ nghĩa tư bản là tội ác đối với nhân loại!

        — Đúng đấy Pa-sa ạ! — Bô-cốp khẳng định.

        — Hừ, ngọn núi dựng đứng và không đi qua được! Bà cô cậu đã nói như thế, phải không? — Trô-sin nói, vỗ khẽ vào tay Pa-ven và dịu dàng nhìn anh. Anh thường có cử chỉ như vậy. Dù trong lòng anh có phản đối bạn mình thế nào chăng nữa, nhưng cuối cùng anh cũng không thể không tuân theo sức ép vô tư tốt bụng của bạn.

        — Đúng đấy... Không tài nào tránh khỏi được, — Pa-ven lại đưa tay vuốt tóc. — Các cậu hãy thử tính xem, các cậu hãy thử tính xem: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, một phần sáu thế giới trở thành chủ nghĩa xã hội... Ta hãy xem xem cuộc chiến tranh này kết thúc ra sao...

        Tì lên cánh tay duỗi thẳng, Bô-cốp chuyển thế ngồi, những sợi tóc xoăn xõa xuống mắt, nhưng anh làm như không nhận thấy điều này.

        — Các cậu ơi! Mình rất lo cho Ma-ri-na, — anh nói ấp úng, vội vàng. — Mình chỉ có một mình cô ấy... Mình không học tiếp được cũng vì cô ấy... Ừ, mà nói cái gì cơ chứ! Mình đưa tất cả tiền lương cho cô ấy. Phải chăng mình lo lắng cho bản thân? Chỉ có điều mình bực mình lắm, các cậu ạ ! Mình sẽ vặn răng bọn chó đẻ !...

        — Khẩu súng trường sẽ trở nên hữu hiệu hơn, — Trô-sin nói. —  Cậu hãy dựa vào kỹ thuật nhiều hơn nữa.

        — Này, Va-nhi-a, cậu nghĩ gì vậy ? Thế mà mình cứ tưởng có chuyện gì xảy ra với cậu cơ... — Pa-ven nói.

        — Mình không lo cho mình — Bô-cốp nói to như phản đối ai đó. — Còn nếu mình có làm sao... Mà thôi, Ma-ri-na không mất được. Cô ấy không ở lại một mình, không ở sa mạc Ca-ra-cum, có phải thế không ?

        Pa-ven nhìn Bô-cốp như muốn nói: « Chúng mình sợ cái gì cơ chứ. Cậu tự nghĩ xem...».

        Người chiến sĩ ra khỏi phòng lúc này đã quay lại. Ông đứng ở cửa, ngáp, và không đi đến chỗ của mình, mà đến chỗ Pa-ven.

        — Có thuốc không, đồng chí chỉ huy? — Ông hỏi. Không cần đợi Pa-ven trả lời, ông ngồi xồm xuống bên cạnh. Người ông gù, gân guốc, tay dài, râu mọc lởm chởm thành từng túm nhỏ. Trong khi ông ta vân vê diếu thuốc, Pa-ven chăm chú nhìn người chiến sĩ của mình: một người trung niên, ngoài bốn mươi tuổi, anh chưa kịp làm quen với tất cả mọi người trong trung đội.

        — Thợ mỏ à? — Pa-ven hỏi — Tên đồng chí là gì?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:06:37 am

        Người chiến sĩ châm thuốc và gật đầu:

        — A-nhi-xi-mốp Pi-e, — ông nói giọng khàn khàn, — ở bộ phận số hai phía nam...

        — Tôi đã đến đó. — Pa-ven nói.

        — Tôi không nhận ra anh. — A-nhi-xi-mốp trả lời và ho. Khói thuốc quyện lấy mặt ông ta.

        — Đồng chí đã phục vụ trong quân đội bao giờ chưa ? — Pa-ven tiếp tục hỏi.

        — Chưa. Ông nói trong khói thuốc màu xám.

        — Thế nào, lúc đầu đồng chí cảm thấy mình ra sao? Tinh thần ra sao ?

        Làn khói thuốc tan dần, tỏa lên trần nhà và khuôn mặt người công nhân mỏ đang nở nụ cười giễu cợt, một mắt lim dim còn mắt khác ánh lên một vẻ khôn ngoan, dưới hàng lông mày lởm chởm.

        — Tại sao mọi người cứ quan tâm đến tâm trạng của tôi thế nhỉ? — Ông nói — Cứ làm như tôi là mụ đàn bà non nớt ấy, có phải thế không!... Hôm nay chính trị viên tiểu đoàn đã hỏi, sau đó là nhà báo và bây giờ lại đến anh, đồng chí chỉ huy trẻ ạ! Còn tôi có thể có tâm trạng gì à ? Dửng dưng! Tôi nói như vậy...

        — Dửng dưng à? — Pa-ven hỏi lại. — Tại sao vậy?

        — Còn tại sao à? Chiến thắng hay là chết! — A-nhi-xi-mốp trả lời. — Hoặc chúng giết tôi, hoặc là tôi giết chúng. Tôi chỉ nghĩ tới một điều là làm sao nhanh nhanh lên để tôi được giết chúng...

        Pạ-ven im lặng giây lát, sâu đó anh cười phá lên. Giọng cười của anh đứt đoạn. Nhớ ra là mọi người đáng ngủ. anh kìm lại. A-nhi-xi-mốp đứng dậy.

        — Lại ngủ nữa chăng? — Ông nói — Tôi khuyên anh cũng ngủ đi, đồng chí chỉ huy ạ!

        Mười lăm phút sau, Pa-ven đã tháo ủng và cuộn mình trong chăn ngủ. Anh lấy bao đồ gói đầu, một cái gì đó như hộp xà phòng nhô ra cồm cộm, nên anh lại gối tay vậy. Bên cạnh, Trô-sin đang trằn trọc trên sàn nhà quá cứng, còn Bô-cốp lại ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa, đơn độc một mình ngồi giữa đám người đang nằm ngủ. Nhìn thấy Trô-sin chui đầu vào chiếc bành tô xám mỏng, Pa-ven nói nhỏ:

        — Này, Ê-go! Ê-go! Mai cậu lấy chiếc áo len của mình mà dùng nhé! Mình chẳng cần gì đến nó cả...

        Làm như đã ngủ, Trô-sin không trả lời. Lúc này anh ta không hài lòng với chính mình, vì đã bực bội chống lại Pa-ven, ngay khi họ mới bắt đầu nói chuyện.

        Sau khi nói chiiyện với A-nhi-xi-mốp, Pa-ven thấy lòng thanh thản không còn bị kích động nữa và anh thiêm thiếp ngủ. Tuy rất buồn ngủ, nhưng Pa-ven vẫn dành thì giờ nghĩ đến vợ. Lần này anh cỏm thấy chị ở rất xa anh, như thể trong giờ cuối cùng này khoảng cách giữa hai người đến vô hạn. Lúc này anh cũng, không thấy tiếc vì không có chị ở bên, nhưng vẫn thấy có một cảm giác dịu dàng, trìu mến dâng lên trong người anh. «Na-ta-sa, bây giờ em ở đâu? Mong sao cho em được bình an và may mắn. Rất tốt là em không đến đây. Chúc em gặp nhiều may mắn ». — Nhũng lời thì thầm đó cứ lởn vởn trong tâm trí anh. Sau đỏ như từ màn sương dày đặc, hình người cha lờ mờ xuất hiện trước mắt anh.

        «Ôi! Ông già ương bướng! Mình có thể làm gì với ông được nhỉ ?» — Pa-ven bồn chồn lo lắng.

        Một lần nữa anh lim dim mắt để kéo dài cuộc gặp gỡ tưởng tượng với bố. Anh lờ mờ phân biệt được sợi dây lửa đỏ hồng trong bóng đèn trên trần. Sợi đây nhòe ra thành đám mây tỏa sáng, màu da cam phát ra những tia sáng chập chờn và Pa-ven thiếp đi. Trên khuôn mặt anh còn đọng lại vẻ tò mò, ngây thơ.

        Năm giờ sáng, người trực ban gọi Pa-ven dậy. Lúc đó anh lại trông thấy ngọn đèn đỏ quạch trên trần. Như thể nhớ ra điều gì đó, anh nhìn lên nó, với vẻ thú vị khó hiểu. Hoặc là không khí trong phòng đã sạch hơn hoặc điện thế tăng lên, cho nên lúc này đây tóc bóng đèn thủy tinh đã tỏa ánh sáng chói lòa đều đặn hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:08:40 am

*

        Sáu giờ sáng, trung đoàn công nhân tập hợp ở sân trường. Trong ánh sáng mờ mờ của buổi sáng mùa thu ảm đạm, các tiểu đoàn xếp thành những hàng chật ních tạo ra chữ « u » khổng lồ. Trời lạnh và không có gió, tuy không mưa, nhưng hơi nước cứ đọng trên mặt các chiến sĩ, lên quần áo và lên vũ khí. Mọi người dựng cổ áo lên và thắt chặt thêm dây lưng. Trong trung đội Pa-ven chi có mình anh là để hở cổ và kéo mũ về sau gáy. Trô-sin kéo khăn quàng đến tận cằm, còn A-nhi-xi-mốp ho khùng khục... Tiếng hô « Nghiêm!» rẩt to, bất ngờ và có vẻ bực tức, làm cho Pa-ven ngạc nhiên. Nhưng khi đứng nghiêm và theo quy định phải ngẩng cao đầu, Pa-ven cảm thấy rất hài lòng vì trong nháy mắt anh đã làm việc này cùng với tất cả mọi người. Một cảm giác đặc biệt rằng mình là một phần tử của cái gì đó rất to lớn, rất vĩ đại, rất,đa dạng và thống nhất dâng lên trong lòng Pa-ven.

        Một nhóm chỉ huy đi qua sân vào cổng và họ biến mất trong màn sương mù dày đặc. Sau đó những khẩu lệnh lại vang lên và những hàng người khồng lồ bất động từ nãy đến giờ ở trong sân lại bắt đầu chuyền động. Những tiếng rập của hàng loạt đôi ủng vang lên. Sâu trong sân một hình khối vuông to, liền cạnh xuất hiện và bắt đầu di chuyển ra giữa sân. Chỉ đến khi cạnh của nó ngang hàng với Pa-ven, anh mới phân biệt được tiếng người trong đội hình.

        Tiểu đoàn một đi qua, những bóng đó lờ mờ rung rinh trên đầu những người chiến sĩ tình nguyện, trên những chiếc mũ chào mào, lưỡi trai, mũ kiểu Cu-ban, mũ trùm tai của họ — đó là những lưỡi lê đang lay động. Ở tiểu đoàn một, chủ yếu là công nhân nhà máy chế tạo máy cái và Pa-ven biết nhiều người trong họ. Đôi lúc Pa-ven tưởng như anh trông thấy hết người quen này đến người quen khác ở trong các hàng: kia kìa cậu nhân viên định mức trẻ tuổi của phân xưởng cơ khí, sau đó là người kiềm tra kỹ thuật của nhà máy xuất hiện trong giây lát với dáng người thấp, đội mũ lông tròn. Bên cạnh - anh ta, là chàng trai xưởng đúc gầy gò với đôi chân dài ngoẵng, vừa đi vừa ưỡn ngực vẻ hãnh diện. Những khẩu súng trường giống nhau lủng lẳng trên lưng tất cả mọi người và hàng trăm bộ giò nện đều xuống đá.

        Một giọng hô mới, cao, căng thẳng lanh lảnh cất lên bất ngờ từ phía cổng.

        — Giai cấp công nhân chế tạo máy muôn năm! — Từng tiếng .vang lên rành rọt — Những người thợ co khí... dội cận vệ... của giai cấp công nhân hãy tiến lên!...

        «Đội cận vệ của giai cấp công nhân...» — Như có một người nào đó nhắc lại ngay bên tai Pa-ven: và anh căng hết lồng ngực, hít đầy không khí vào người. Những tiếng hô « U-ra! » vang lên đáp lại rồi im bặt. Tiểu đoàn một tiến ra đường phố nhịp nhàng cất những bước chân nặng nề, tiếp theo là các đại đội của tiểu đoàn hai. Tiểu đoàn trưởng mặc áo kỵ binh dài thượt đi đầu, vừa đi vừa ngoái cổ lại quan sát các chiến sĩ của mình. Sau đó là các chiến sĩ diệt xe tăng đi thành hàng bốn, gồm những thanh niên khỏe mạnh được lựa chọn kỹ càng, các vận động viên điền kinh và các môn thể thao khác, Pa-ven biết một số người trong họ. Các chiến sĩ diệt tăng mặc đồng phục: áo bông bộ đội, mũ có vành che tai, một vài người khác mặc áo vải bạt. Sau đó những chiếc bành tô và blu dông lại lướt qua mặt Pa-ven.

        — Những người chiến sĩ quân khí vinh quang muôn năm! — Tiếng hô lại vang lên từ phía cổng lớn. Qua giọng hô, Pa-ven nhận ra La-tô-skin, bí thư tỉnh ủy — vì Tổ quốc Xô-viết của chúng ta, hãy tiến lên! Tiêu diệt chủ nghĩa phát xít!...

        Từ trong đoàn quân lại rền vang tiếng hô «U-ra-a a a!». Trời sáng dần, đã trông rõ nét mặt những người trong các hàng quân. Tòa nhà khổng lồ của trường học nghề tuy vẫn còn là một khối đen, nhưng đã hiện rõ dần trên bầu trời xám xịt. Từ chiếc của sổ ở tầng bốn đơn độc tỏa ra ánh sáng lờ mờ, tưởng chừng như ngôi nhà trống trải đang cố nhìn lại lần cuối cùng những người khách trọ chốc lát của mình...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:22:44 pm

        Cuối cùng theo khẩu lệnh, tiểu đoàn ba cũng tiến bước, Pa-ven đi đầu trung dội của mình.

        «Một hai, này, này...» — anh nhẩm đếm bước.

        « Một hai, này, này...» — Như có một cái gì thôi thúc trong người anh. Cảm thấy mình nhẹ nhõm lạ thường, như không có trọng lượng trong không khí, anh nhìn lên nhóm người đứng ở cổng ra vào, với nét mặt sung sướng và ngạc nhiên. Một tiếng gọi từ phía ngoài làm anh phải quay lại.

        — Pa-sa! Pa-sa! — Một người nào đó vừa chạy xuyên qua hàng người vừa gọi.

        — Pi-e Ki-rin-lứt! — Pa-ven gào to.

        Đủng là Pi-e Ki-rin-lứt Oóc-lốp, nhà cơ học kiệt xuất, người thầy giáo đầu tiên của anh và là bạn thân của bố. Ông già người cao to, râu bạc trắng, đội chiếc mũ lưỡi trai đen, thời bấy giờ người ta ít đội, đang rối rít vẫy tay.

        — Pi-e Ki-rin-lứt! — Pa-ven xúc động, gọi lại. Anh không thể dừng chân được.

        — Pa-sa, đừng... khinh suất nhé! — Ông già gào lên lanh lảnh —  Có nghe rõ không: đừng khinh suất nhé!...

        Tựa như có cái gì đó trào lên cổ, Pa-ven thở dồn, cố kìm cơn cho thắt đau nhói, bước vội qua cổng, chẳng nhìn thấy gì trước mặt

        — Những người thợ mỏ và thợ luyện kim muôn năm! Những người Xô-viết vô địch muôn năm ! — Từ phía sau vọng lại những tiếng hô vang to, kéo dài.

        Qua khỏi cổng được mấy bước, Pa-ven mới biết là trên đường phố ban mai này không phải chỉ có một mình anh và các chiến sĩ cùa anh. Dọc hai bên đường đầy người, đông nhất vẫn là các bà, các chị. Họ chạy dọc theo đoàn quân tựa như trời báo trước cho họ biết cuộc xuất quân của trung đoàn. Ra tiễn người thân đi vào trận đánh là những ông già, những bà mẹ với các gói thức ăn, những người vợ mang theo con nhỏ và những cô gái — người yêu Khi nhận ra những người thân của mình trong đoàn quân, họ vừa vội bước theo vừa gọi, vừa nói chuyện, cầu phúc và chia tay.

        — Mi-chi-a Len-nốt-sca gửi lời chào con dấy! Nó viết rằng, nó tới nơi bình yên, Mi-chi-a!— Người đàn bà đứng tuổi quàng khăn trơn trên vai nói như gào lên. Không theo kịp người con đã tiến lên phía trước, bà cố hết sức đi sát bên người Pa-ven.

        Và kỳ lạ thay, nhịp bước của trung đoàn mỗi lúc một nhanh hơn trên đường phố, Những người đàn ông rất sung sướng khi nhận ra người thân ruột thịt của mình. Họ lên tiếng gọi và khuyên răn nhau một điều gì đó. Tuy vậy, hàng trăm đôi chân vẫn nện mỗi lúc một nhanh hơn xuống mặt đường đá sỏi, như thể những người con, người chồng, người yêu này muốn vội vã thoát khỏi cái cảnh bịn rịn của tình yêu và nước mắt, đã phục kích đón chờ từ ngay phút bắt đầu lên đường.

        — Xa-sca, em quên không nói. Xa-sca dừng lại một chút đã nào! — Một giọng yếu ớt, cuồng nhiệt cất lên. Một người con gái trẻ, mặc áo vét ngắn, cố đuổi theo ai đó, huých cả vào tay Pa-ven.

        — Đứng lại đã nào... Em muốn nói với anh... Xa-sca!... Xa-sca ! —  Chị gọi người nào đó. Giọng của chị chìm hằn trong tiếng ồn ào đều đều và lạo sạo.

        Đầu hàng quân mất hút ở cuối dãy phố với những hàng giậu dài thăm thẳm, những giàn xây và các khoảng trống. Và cũng chinh ở đấy những bóng người hối hả đã mất hút trong ánh sáng lờ mờ ẩm ướt của buổi sáng mùa thu. Một phụ nữ cao, đi ủng, mặc blu dông nam bằng lông chạy ngược chiều đoàn người. Chị đứng lại trong giây phút để nhìn hàng quân, lát sau lại chạy tiếp. Từ xa đã nghe thấy tiếng gọi ú ớ của chị, và khi đến gần, Pa-ven mới nghe rõ:

        — A-nhi-xi-mốp! Anh ở đâu ? Các anh có nhìn thấy A-nhi-xi-mốp không?

        Pa-ven quay lại và đưa mắt tìm người thợ mỏ, nhưng anh ta vẫn bình thản bước đều và không hề có ý định đáp lại.

        — Vợ anh phải không? — Không kìm được, một người nào đỏ đi bên cạnh nói.

        Anh thợ mỏ không trả lời.

        — A-nhi-xi-mốp! Anh ấy ở đâu thế nhỉ?... A-nhi-xi-mốp ! —  Người phụ nữ tức giận lặp lại. Chờ đến khi chị ngang hàng với mình, anh ta mới niềm nở trả lời:

        — Anh ở đây, ngay trước mặt... Đừng gào lên như vậy, Ma-ru- xi-a !

        Người phụ nữ dừng lại và bực bội kéo chiếc khăn trùm đầu xuống.

        — Đồ quỷ, anh làm sao thế! — Chị vừa mắng vừa đi bên hàng quân. Mà anh cũng không trả lời... Còn em thì chạy suốt hàng quân.

        — Thôi, tình hình ở nhà ra sao? — A-nhi-xi-mốp hỏi. Anh đi ở hàng thử ba tính từ ngoài vào nên phải nói to gần như gào. — Đã thu hết khoai tây chưa, không bị giá rét chứ?

        — Thứ khoai tây ấy thì để làm gì cơ chứ? — Chị nói vẻ nồng nhiệt và bất ngờ lại gọi to hơn: — Pê-chi-a-sa! ... — Chị vừa gọi vừa cố chạy lên phía trước để nhìn chồng rõ hơn.

        — Thôi, im đi! Ma-ru-xi-a!— A-rìhi-xi-mốp dịu dàng nói —  Anh cũng như tất cả mọi người thôi...

        Bỗng chị khóc rất to, chẳng thẹn thùng gì cả. Khuôn mặt còn khá trẻ với những đường nét thanh tú lúc này nhăn lại và trông thật tội nghiệp.

        — Đừng làm thế nữa, đừng làm thế nữa. —A-nhi-xi-mốp khẩn khoản. — Sao, em làm sao thế? Thật là ngớ ngẩn. Anh sẽ trở về mà... Anh nói là anh sẽ trở về! Đánh xong bọn Đức sẽ về, dứt khoát dấy!

        Chắc là anh rất thương vợ và cũng ngượng ngùng với các đồng chí. Còn những người^khác thì cố làm ra vẻ không trông thấy gì...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:24:07 pm

        A-nhi-xi-mốp nhìn đồng đội và không hiểu sao anh nháy nháy mắt với mọi người. Sau đó anh ngẩng cao đầu, đề lộ cục hầu khá nhọn trên cò, cất giọng hát:

        — Bọn Đức đã đến gần.
        Tôi sợ...


        Người phụ nữ không khóc nữa và nhìn chồng bằng con mắt ngạc nhiên, rớm lệ.

        — Hãy tiễn anh đi.
        Ma-ru-xi-a yêu quý!


        Người thợ mỏ hát với giọng nam cao khàn khàn nhưng dễ nghe.

        Trong các hàng quân, mọi người bắt đầu mỉm cười, phía sau cỏ tiếng cười khuây khỏa.

        « Cừ lắm! » — Pa-ven thầm nói với vẻ biết ơn. Một người nào đó sung sướng kêu lên:

        — Đấy, thế mới là phong cách của chúng ta... Tôi yêu lòng can đảm!

        — Đừng buồn cô gái ơi! Hãy chờ tin chiến thắng! — Một người nào đó nói theo.

        Người phụ nữ chạy lên phía trước, đứng lại không rời mắt khỏi chồng. Bỗng nhiên trên khuôn mặt mới khóc hãy còn đẫm lệ ánh lên vẻ phấn chấn, tuy rụt rè nhưng không giả tạo. A-nhi-xi-mốp đi qua gật dầu với chị, bộ râu xồm xoàm của anh ta dựng đứng trên cổ bành tô.

        — Tạm biệt! Em cẩn thận nhé... — Anh chào !

        — Pê-chi-a-sa! — Người phụ nữ thốt lên giọng âu yếm, dịu dàng.

        Như chôn chân ở một chỗ, chị buông tay và không bước thêm bước nào nữa...

        Buồi sáng đến chậm chạp. Bầu trời trên các nóc nhà chỉ hơi xanh hơn một ít. Một làn gió hiu hiu hiếm hoi ít thấy trước đây tràn qua hàng quân tỏa vào mặt mọi người và như mơn trớn với các mái tóc trăn.

        ... Tiến lên chờ đón ánh bình minhy
        Các đồng chí quyết lao vào chiến đấu..,


        Tiếng hát đều và trẻ của các chiến sĩ đội diệt tăng vang lên từ đầu hàng quân,

        Ta mở đường tiến lên
        Bằng gươm và súng đạn...

        Phần cuối được hát to hơn, nhiều giọng hát mới đã hòa vào với những giọng trẻ trung.
     
        Mãi đến khuya, bà An-na-grô-mô-va mới về nhà và rất dõi ngạc nhiên khi nhìn thấy cô cháu dâu đang ngồi ở bậc thềm rét run và mệt mỏi vì phải chờ lâu.

        — Sao cháu lại ngồi ở đây thế này? — Bà già nghiêm giọng hỏi Na-ta-sa, và chị phải ấp úng giải thích sự xuất hiện đột ngột của mình.

        — Thế cháu biết làm gì cơ chứ ? — Sờ sợ trước giọng nghiêm khắc của bà cô chồng, Na-ta-sa nói — Trong nhà không có một ai. Cửa lại khóa...

        Khi thấy cửa khóa thật, bà An-na mới giật mình dẫn Na-ta-sa vào nhà và bật đèn, bà ngạc nhiên nói:

        — Ông A-li-ô-sa lại biến đi đâu mất rồi? Rõ ràng là ông ấy không chịu đến « Nê-va ». Trời ơi!

        — Cháu không hiểu gì cô ạ! — Na-ta-sa trả lời.

        Ở trong phòng ấm áp sáng sủa, Na-ta-sa vui vẻ hẳn lên và tò mò nhìn xung quanh.

        — Cô ơi, thế anh Pa-ven ở đâu? Khi nào anh ấy về hả cô? —  Chị hỏi bà An-na.

        — Pa-ven hả?...— Bà già lặng im, chăm chăm nhìn Na-ta-sa —  Nhưng cháu cứ ngồi xuống đã, sao lại đứng như vậy ? — Bà nói, giọng dịu hơn. — Pa-vcn của chúng ta còn lâu mới về.

        ... Đêm đó, hai người phụ nữ hầu như không ngủ. Sáng hôm sau, theo lời chỉ đường của bà cô, Na-ta-sa đi tìm trung đoàn tình nguyện tự vệ công nhân.

        Buổi sáng cuối tháng mười ẩm ướt và buồn thiu. Đằng tây một đám mây thấp nặng nề trôi và trên nền sẫm của nó, mập mờ hiện ra những ngôi nhà gỗ ở khu Bờ sông. Sau một đêm, mặt đất biến thành vũng bùn sền sệt phù khắp các vỉa hè, không khí ẩm ướt, buồn tẻ, chán chường. Hôm qua, nhìn thành phố chìm trong ánh pháo sáng lạnh lẽo, trong đám mây đỏ lừ bao phủ một khoảng trời, trong ánh lửa chập chờn đang nghiến ngấu mặt đất, Na-ta-sa cảm thấy sau những biến động của một đêm anh dũng, rất căng thẳng với những loạt súng rung chuyển, chị dường như rơi vào một thành phố nào đó hoàn toàn khác.

        Tin Pa-ven gia nhập trung đoàn công nhân không làm chị ngạc nhiên: ở T., nơi mà từ cậu bé cũng xung phong chiến đấu với giặc thì làm sao Pa-ven có thể đứng ngoài cuộc được. Chị chỉ tiếc rằng anh đã không đợi được. Chị chỉ tiếc rằng anh đã không đợi được chị. Sau đó, nỗi lo lắng cho Pa-ven đã xâm chiếm người chị và chị đã thương cho chính bản thân mình. Lần đâu tiên trong đời, chị cảm thấy buồn thương thực sự. Và lúc này ý muốn chóng được gặp Pa- ven thôi thúc chị bước nhanh trên đường phố. Nhưng không phải để vĩnh biệt anh — ý nghĩ này làm chị hoảng sợ — và cũng không phải để hỏi han là sau này chị sẽ sống ra sao. Điều quan trọng, là theo bản năng chị muốn tận mắt trông thấy Pa-ven không làm sao, vẫn sống mạnh khỏe và yêu chị như xưa.

        Na-ta-sa đi qua chiếc cầu bắc qua dòng sông đen ngòm. Nhớ lời dặn của bà An-na, chị rẽ theo đường tàu điện. Có lẽ, chị đã đến đúng nơi đêm qua chị đã đi, nhưng lúc này chị không nhận ra chúng nữa. Những ngôi nhà cửa kính dán giấy kín mít, những đại lộ với hàng cây trơ trụi, những quảng trường vắng lặng với những cột gang xám xịt đã gây cho chị cảm giác lạnh lùng, cô quạnh đến nỗi có thể gào lên được vì buồn tẻ. Từ trong cửa sổ vuông đầy hơi nước của hiệu thuốc trước mặt Na-ta-sa tỏa ra ánh sáng của hai ngọn đèn —  một màu xanh, một màu da cam. Trên biển quảng cáo hiệu ảnh có tấm hình em gái mặc áo đen với đuôi sam vắt trên khuỷu tay. Na- ta-sa chăm chú nhìn những tấm ảnh trên đó. Tất cả những chi tiết mà Na-ta-sa nhìn thấy trong buổi sáng sớm bình thường đến một cách chậm chạp trên thành phố này tưởng như chỉ là những điều vụn vặt, nhưng lại làm cho chị càng thêm lo lắng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:24:40 pm

        Cứ đi dọc theo đường tàu diện, cuối cùng rồi chị đã đến ngôi nhà bốn tầng màu xám của trường trung cấp cơ khí: hai đầu có hàng rào ngăn cách. Tim Na-ta-sa đập mạnh, khi chị đọc xong bảng chữ trước cửa, chị chạy đến chiếc cổng đóng kín: theo lời bà An-na thì lúc này Pa-ven đang ở đâu đây. Người lính gác cầm súng trường ngăn chị lại ờ trước cổng ra vào. Na-ta-sa vội vã nói cho anh ta biết rằng chị là ai và đi tìm người nào. Người lính định phản đối Na-ta- sa điều gì, nhưng chị hồi hộp đến nỗi không nghe hết lời anh ta.

        — Đây là giấy tờ của tôi... Tôi đến tìm gặp chồng là đồng chí Grô-mốp. Tôi từ Mát-xcơ-va tới... Anh hãy xem giấy tờ đi. — Chị khẩn khoản lặp lại và đưa giấy phép của minh ra.

        Một người phụ nữ cũng đứng trước cổng, khẽ chạm vào khuỷu tay Na-ta-sa.

        — Chị phí công mà nằn nì thôi ! — Bà nói vẻ thông cảm —  Chị sẽ chẳng tìm thấy ai ở trong này đâu...

        Na-ta-sa hoảng hốt nhìn người phụ nữ.

        — Tôi định mang đến cho con tôi chiếc áo len dài tay nhưng chậm chân. — Bà ta nói thêm.

        — Thế họ ở đâu? — Na-ta-sa hỏi, đôi mắt nâu thẫm ánh lên vẻ không hiểu và khẩn khoản.

        — Người ta đã nói với chị rồi thôi: sáng sớm nay tất cả mọi người đã ra trận địa rồi.

        — Ôi, chị nói gì thế? — Na-ta-sa không tin.

        Trận địa — đấy là một cái gì đó gắn liền với mặt trận, với những trận đánh, chị thầm nghĩ rằng từ nay đến hết chiến tranh sẽ không còn được gặp Pa-ven nữa.

        — Sáng sớm nay... Thật là rủi ro! Trời ơi, sao mà không may đến thế! — Chị thốt lên. — Thế trận địa của họ ở đâu?

        — Ôi, cái này thì chẳng ai người ta nói cho chị đâu — người phụ nữ nói.

        Trông hình dáng bên ngoài, người phụ nữ trạc độ bốn mươi. Dáng người dong dỏng, đôi mắt to, xanh lơ nổi bật trên khuôn mặt xương xương còn khá hấp dẫn, tuy đã có những nếp nhăn ở miệng. Có thể nói bà ta thuộc loại người trẻ lâu. Bà mặc áo bành tô sẫm, sạch sẽ và quàng chiếc khăn thơm tho trên cổ.

        — Thật là cứ chóng cả mặt. — Sau một vài giây im lặng, bà thú nhận, — chẳng biết nên đi về hay là chạy ra trận địa.

        — Chạy đi đâu, nếu chị không biết rõ trận địa ở chỗ nào? —  Na-ta-sa nói.

        — Cũng không khó tìm lắm đâu... Nó ở gần đường cái, không thể ở nơi khác được, có thể ở chỗ nhà máy gạch hoặc vườn hoa văn hóa...

        — Trận địa ở trong vườn hoa ư? — Na-ta-sa ngạc nhiên —  Không thể nào như thế được!

        — Rất có thể có đấy! — Người phụ nữ nói — Chúng tôi đã đào công sự ở đấy.

        — Bây giờ đi ra đấy đi, — Na-ta-sa đề nghị — Ta cùng đi đi...

        — Mười hai giờ tôi phải đi làm. Tôi e không kịp... Nhưng chả lẽ lại không đi? — Bà lầm bằm như tự hỏi mình — Cũng cần phải gửi chiếc áo len dài tay cho thằng con trai.

        — Đấy, chị thấy đấy! Tất nhiên là cần phải gửi. — Sợ người phụ nữ thông thạo mọi điều này bỏ chị một mình, Na-ta-sa vội thốt lên.

        — Nào, ta đi theo đường làng thì tốt hon. Như thế sẽ gần hơn. —  Bà nói.

        Họ vội vàng đi theo ngõ hẻm nhỏ, hay chính xác hơn là đi lối quanh co giữa các ngôi nhà. Sau đó, theo người bạn đường của mình, Na-ta-sa luồn qua khe hở ở một hàng rào.

        — Thế ra là chị đi thăm chồng hả? — Người phụ nữ lại bắt đầu nói. — Tôi có con ở trong trung đoàn ấy. Tên nó là Vô-lô-đi-a, Vô-lô-đi-ạ Chi-khô-nốp.

        — Thật may là tôi được gặp chị. Chị tên là gì ạ? — Na-ta-sa hỏi.

        — Tên tôi ư? Tôi là Chi-khô-nô-va Ôn-ga I-li-ni-na. — Chị có tin rằng tôi tự hành hạ mình, là tại sao tôi không giữ Vô-lô-đi-a của tôi lại! — Người phụ nữ nói nhỏ. — Tôi có cảm giác như mới hôm qua lần đầu tiên tôi còn dẫn nó đến trường. Thế mà giờ đây nó đã thành người chiến sĩ trinh sát rồi đấy!

        Họ đi theo bãi trống trần trụi có hàng rào bao bọc ba phía, còn phía khác là một tòa nhà gạch xây dở. Một đàn ngỗng trắng quanh quẩn cách đó không xa, giúi mỏ xuống đám cỏ nâu thẫm. Một đám mây tuyết thấp, xanh thăm phủ kín bầu trời, thấp đến nỗi tưởng như sà xuống đuổi theo hai người. Nhìn ra chung quanh, Na-ta-sa rất đỗi ngạc nhiên, bởi quang cảnh ảm đạm, buồn tênh của khu vực giáp với chính trận địa mà họ đang tìm đến.

        — Ừ, mà ai có thể giữ được Vô-lô-đi-a cơ chứ? — Bà bạn đường của chị vẫn tiếp tục nói. — Nó rất thật thà, can đảm, thẳng thắn... Làm sao nó có thể chịu được cơ chứ? — Chị như muốn tự bào chữa : — ngay từ khi chúng tôi nói về tội ác dã man của bọn phát xít, nó chỉ có một ý nghĩ : đi báo thù. « Tình hình nghiêm trọng đấy, mẹ ạ! — Nó nói với tôi như thế. — Nhưng mẹ đừng lo. Con sẽ giúp bố đánh bọn phát xít». Còn chồng tôi, anh I-van Cxc-nô-phô-to-vich cũng ở mặt trận. Ngay từ tháng sáu, người ta đã động viên anh ấy rồi. — Người phụ nữ tâm sự mà không cần biết Na-ta-sa có nghe hay không. Chắc là bà ta không thể im lặng được trước những ý nghĩ đang nung nấu trong lòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:25:39 pm

        Qua bãi trống, họ lại tới ngõ hẻm và từ đây người phụ nữ tên là Ôn-ga, dẫn Na-ta-sa tới đại lộ rộng, thoai thoải dốc. Sau chỗ ngoặt, một khẩu đại bác xanh phủ kín lưới ngụy trang, đặt ngay trên đường nhựa, bên ngôi nhà lớn với những hàng cột. Những người pháo binh đội mũ sắt đi lại quanh khẩu súng giống như con quái vật sa lưới. Chiếc cổ dài, thẳng với đầu nòng đen ngòm, nhô ra trong màn sương dày đặc trên đại lộ, như con thú dữ đang rình mồi.

        «Chả lẽ đây là trận địa?» — Na-ta-sa thoáng nghĩ. Chị bỗng rảo bước như sợ người ta bắn vào mình. Nhưng ngay lúc đó chị dừng lại chỗ người bạn đường tụt lại sau.

        — Tôi không thể leo nhanh được... — Ôn-ga ngượng ngùng nói. — Tim tôi đập mạnh quá...

        Ở phía trước, trong màn sương mù xám ngắt, hiện ra lờ mờ một vật gì kỳ lạ, khá cao với những đường gãy nét. Đến gần, Na-ta- sa mới nhận ra toa tàu điện, đặt ngang đường phố và chung quanh nó xếp đầy những thùng, hộp, cây cối, rào sắt, gạch đá.

        — Cái gì thế này ? — Chị hỏi to — Chuyện gì thế này ?

        — Chẳng có chuyện gì cả, — Ôn-ga trả lời — một chướng ngại vật bình thường. Ở ngoại ô chúng tôi đã dựng rất nhiều chướng ngại vạt thế này.

        — Chị chờ tôi một lát... Chị thứ lỗi cho nhé! — Bà ta vừa thở vừa khàn khoản.

        — Thế chị để tôi dìu tay nào, — Na-ta-sa đề nghị.

        — Không sao, tôi đi bây giờ đây, cảm ơn. — Người phụ nữ nói.

        Từ phố bên cạnh, một chiếc xe tải phủ vải bạt lao ra, rồi chạy ngược chiều. Trên nền tráng của thùng xe hiện ra một chữ thập đỏ tươi tắn. Chắc là họ mới sơn lại xe. Hai người đàn bà sợ sệt đưa mắt nhìn chiếc xe cứu thương và hầu như cùng nghĩ tới một điều kinh hoàng nào đó. Cũng may là trên xe không có người.

        — Ta đi thôi... kẻo không lại muộn mất! — Na-ta-sa nói.

        Chị cứ lo ngay ngáy trong lòng là bất cứ giây phút nào đó súng có thể nổ và sẽ không được gặp Pa-ven của mình.

        — Ừ đúng rồi, ta đi thôi! Tôi cũng còn phải đi làm cơ mà ! — Ôn-ga sực nhớ ra.

        — Cả trong bọn trẻ, giữa các đồng chí của mình, Vô-va1 cũng là đứa đầu tiên. — Cố gắng theo kịp Na-ta-sa, bà ta lại lắp bắp nói: — trong nhà tôi lúc nào cũng có cả một đơn vị bọn chúng. Tất nhiên, trước đây chúng còn là trẻ con, bây giờ đã trở thành người lớn rồi.

        Men theo lối nhỏ bên cạnh, Ôn-ga và Na-ta-sa vượt qua chướng ngại vật và họ nhìn ngay thấy nhiều người đang đào hào ở đó. Bên dải cát vàng nhạt trên bờ, những cái đầu quàng khăn, những đôi tay đeo găng lao động, những cái xẻng lố nhố khắp nơi trong lòng đường phố, đất đá bay rào rào lên không và những hòn dá nhỏ lăn đi rất xa.

        Một cô gái mái tóc rối bù đứng trên tấm gỗ bắc ngang qua hào.

        — Đắp cao lên các bạn ơi! — Cô gái nói to — Để cho Hít-le gãy chân ở đây! Để cho cái thằng đáng nguyền rủa ấy không rút ra khỏi đấy!...

        — Ta-nhi-a, ở đây có cái ống gì ấy! — Một giọng nữ vang lên. — Làm thế nào bây giờ ?

        — Lại còn ống nào nữa nhỉ? — Cô gái bực dọc hỏi.

        Một ông đeo kính, đội mũ phớt rướn thẳng người lên nhìn, tay vẫn giữ nguyên xẻng đất.

        — Tôi cho rằng đây là ống dẫn nước, — ông nói, — theo tôi, tạm thời đừng động đến nó.

        — Đúng đấy! — Cô gái gào lên. — Tạm thời đừng động đến nó, chị Phê-đô-nốp-na.

        — Cần phải biết xem người của chúng ta đi đâu rồi ? — Người bạn đường của Na-ta-sa nói. — Đợi một tí, tôi hỏi thăm ngay bây giờ,

        Bà vội vàng đến mép hào và tìm xem nên hỏi ai. Mọi người đã đào đến thắt lưng, họ làm việc rất khẩn trương và sôi nổi. Na-ta-sa chú ý đến một em bé gái khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, mặc chiếc bành tô quá rộng, chác là của mẹ. Em phải nâng cao chiếc xẻng để hất đất lên trên, tay áo bành tô tụt xuống đến khuỷu để lộ ra đôi tay nhỏ rất trắng. Môi mím chặt, mặt đỏ nhừ, nhem nhuốc, em có vẻ như đã kiệt sức. nhưng vẫn cứ tiếp tục đào.

        Nhìn em gái, Na-ta-sa thấy bối rối... « Chỉ cần thấy được Pa-ven, sau đó mình sẽ đào, làm việc như tất cả mọi người... » — chị nghĩ thầm.

        Một người phụ nữ tóc đen, thân hình cân đối với bộ ngực nở nang mặc blu dông da đã sờn, kéo lê chiếc xẻng trên mặt đất.

        — Ta-nhi-a, tớ chạy về nhà nửa tiếng nhé! — Chị nói như hát, giọng trầm trầm, ấm. — Đến giờ tớ phải cho con bú rồi!

        — Nhớ đấy, chỉ nửa tiếng thôi, — cô đội trưởng nhắc nhở.

        — Như tới hiệu thuốc thôi... Tớ không phải đi xa. — Chị vén váy lên để lộ đôi chân đẫy đà và trèo lên khỏi hào giao thông.

        Ôn-ga quay lại chỗ Na-ta-sa.

        — Chẳng ai biết rõ là họ ở đâu ? — Với vẻ lo lắng và thất vọng, chị ta báo tin. — Người ta nói, chắc chắn hơn cả là ở Vườn hoa văn hóa.

        Theo lối dường nhựa mà xà beng chưa động đến, họ đi sang bờ bên kia của hào giao thông.

        — Nhanh tay lên nào, các bạn ơi! — Giọng cô đội trưởng vang lên sau lưng hai người. — Nhin-ca, đưa tớ chiếc xẻng của cậu, còn cậu hãy ngồi nghỉ đi một lát!

------------------------
        1. Tên gọi Vô-lô-đi-a một cách trìu mến.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2020, 11:08:05 am

        Chắc là ranh giới thành phố cách đây không xa: xen kẽ với những tòa nhà đá cao, mới xây, đã bắt đầu xuất hiện những ngôi nhà gỗ một tầng.

        Tháp nước cao mái nhọn, sừng sững trong sương mù như vọng gác của thành phố. Ôn-ga rẽ sang phải, và từ đây hiện ra dãy nhà dài thấp lùn chung quanh có hàng rào gang.

        Từ đó, ở một vài ô của sổ còn tỏa ra ánh sáng vàng ệch màu hồ phách giống như ánh sáng của ngọn nến. « Bệnh viện thành phố », Na-ta-sa đọc nhanh hàng chữ nổi trên tấm biền am-pi ở sâu trong sân.

        Nhảy chồm chồm trên con đường lổn nhổn gạch đá, ba chiếc xe quân sự màu xanh, xếp dày những hòm kim loại, lao nhanh qua phố xá. Tiếp theo là một toán đàn ông mặc áo quần dân sự nhưng lại đeo súng trường cũng đuổi kịp Na-ta-sa. Từ trong hàng cây, bất ngờ hiện ra cái cổng gỗ dán có treo tấm biền màu hồng đã phai bạc vì nắng mưa. Chắc đây là cổng vào Vườn hoa thành phố. Trong Vườn hoa, những người được vũ trang giãn ra thành hàng một lẫn mình trong các bụi cây.

        — Trước kia Vô-lô-đi-a hay đến đây lắm, — người bạn đường của Na-ta-sa nói. — Mùa đông ở đây có trạm trượt tuyết, cả sân băng nữa. Cho nên ngày nào cũng vậy, cứ sau khi đi học về là nó chạy đến sân băng...

        Bà chưa kịp nói hết, thì ở ngay bên cạnh vang lên tiếng nổ đanh, chói tai, như có người nào đó đập quả tạ sắt xuống đá. — Na-ta-sa kêu lên và nắm lấy tay người bạn đường. « Đã bắt đầu rồi dấy! — Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu — Mình lại chậm rồi! ». Nhưng tiếng nổ của sắt thép im bặt một cách đột ngột như khi bắt đầu và trong bầu không khí yên lặng trở lại, chị nghe thấy tiếng xào xạc của cành cây trên đầu.

        — Phải chăng đã bắt đầu bắn nhau ? — Ôn-ga nói, giọng nhỏ nhẹ. Bỗng nhiên bà nhào người khỏi chỗ ngồi và chạy đến cổng. Na-ta-sa đuổi theo sau.

        Tiếng súng máy lại vang lên và chị vô tình nhắm mắt lại. nhưng văn cứ đi. Khi loạt súng im bặt, Na-ta-sa hé mắt và nhìn thấy phía bên trong cổng, hàng bạch dương già tuyệt đẹp chạy sâu vào vườn hoa. Những thân cây tráng, thẳng như cột nhà, mất hủt trong lớp cành trần trụi mờ mờ như khói phủ. Đi theo hàng cây là toán người đeo súng trường và ba chiếc xe xanh đã vượt hai người ở phố. Na- ta-sa nhìn rõ một cách lạ thường tất cả những cảnh này. Như vấp phải đá trong khoảnh khâc, Na-ta-sa sững lại, chị văn chưa tin vào chính mắt mình. Bên gốc cây gần đấy, Pa-ven, chồng chị đang đứng nói chuyện với một người nào đó mặc áo ca pốt. Chị nhận ra anh bởi dáng người, bởi cái đầu hơi nghiêng sang một vai, bởi chiếc mũ da hươu sần sùi đội lệch về đàng sau.

        — Páp-lích Pa-ven, anh không thấy gì sao!... — vẻ trách móc, chị gọi to, và lao nhanh giữa hàng cây.

        Pa-ven quay phắt lại, trên khuôn mặt anh hiện rõ vẻ ngạc nhiên và có vẻ như là bực bội.

        — Em đây, em đây mà! — Tưởng Pa-ven không nhận ra mình chị cố gọi thật to.

        Lao người tới Pa-ven, chị ôm ghì lấy anh và như thể theo quán tính, chị gục đầu vào ngực anh và cảm thấy mình bé bỏng, trẻ trung, yếu đuối hơn và như có phép mầu nhiệm, chị lập tức thấy lòng thanh thản lại.

        Ngỡ ngàng, Pa-ven dịu dàng đang tay trái ôm lấy cổ vợ, chằm chằm nhìn chị như thể còn nghi ngờ: chả lẽ lại là cô ấy? Mãi lát sau anh mới ngước đôi mát bối rối nhìn đại đội trưởng, người vừa mới nói chuyện với anh.

        — Vợ cậu đấy à? — Anh ta nghiêm giọng hỏi.

        — Vâng... Thế là cô ấy đã đến. — Pa-ven ấp úng trả lời,

        Cả hai người cùng im lặng nhìn người phụ nữ trẻ trung, nhỏ nhắn, mặc áo bành tô xanh, đội mũ nồi dựng đứng lên mái tóc váng óng.

        Na-ta-sa cựa minh và ngẩng đầu lên.

        — Páp-ỉích, ta đi đâu đi, — chị nói giọng rất thản nhiên.

        Người trung úy đại đội trưởng còn trẻ hơn Pa-ven nhíu đôi lông mày đen dày, nghiêm khác nhìn trung đội trưởng của mình, rồi quay ngoắt lại, đi thẳng.

        — Chúng mình đi ngay bây giờ, bây giờ, — Pa-ven nói. — Thế là em đã đến, Na-ta-sca! — Anh thốt lên — Đây thật là một điều tuyệt vời, em đã đến đây! Bây giờ anh sẽ thu xếp hết.— Nhích người sang một bên, anh nói với chị: — em đứng đây một tí. — Anh nhào người đuổi theo trung úy đại đội trưởng của mình.

        Na-ta-sa sửa lại áo và ngắm nhìn mình. Một cảm giác thoải mái dễ chịu không tài nào tả nổi choán lấy người chị. Sau khi đã tìm thấy Pa-ven, vẫn lành lặn và đối với chỉ vẫn rất yêu quý, thân thương như trước, chị không còn lo lắng gì cho mình và cho người khác nữa bời vì theo chị, không thể có gì khủng khiếp xảy ra với họ được nữa. Nhớ đến Ôn-ga, chị đưa mất tìm, nhưng không thấy đâu cả. Chị nghĩ chắc là người bạn đường của chị cũng đã tìm thấy con và cũng đã quên mất chị. Nhìn theo Pa-ven từ đằng xa, Na-ta-sa vô cùng sung sướng vì trông thấy anh vẫn to, cao, năng nổ, không hề thay đổi và vì đã nhanh chóng trút được nỗi kinh hoàng mới đây.

        Từ chỗ trung úy, Pa-ven chạy về với chị, khuôn mặt rạng rỡ.

        — Hẳn nửa tiếng, họ giải phóng... U-ra! — Vừa chạy, anh vừa reo lên.

        — Sao lại nửa tiếng? — Na-ta-sa ngạc nhiên rất chất phác.—  Chỉ có nửa tiếng thôi ư?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2020, 11:35:21 am

        Nhưng giờ đây chị cảm thấy hạnh phúc đến nỗi không cần đề ý đến những lời nói của anh nữa.

        — Rất tốt là em đã đến đây. — Pa-ven lặp lại rất to và đầy xúc động. — Làm sao em lại quyết định đến đây? Hử, cừ lắm!

        Anh nắm chặt bàn tay chị và đan lấy mấy ngón tay chị trong lòng bàn tay mình.

        — Chúng mình đã quy ước là em đến chỗ anh rồi cơ mà! —  Chị nói, giọng lạc đi.

        Cũng như mọi lần, khi họ đi bên nhau, từ phía dưới, chị chỉ nhìn thấy cái cằm, hàng lông mi và những sợi tóc bướng bỉnh trên trán. Nhận thấy tất cả đều như xưa và không hề thay đồi, Na-ta-sa cảm thấy vô cùng mãn nguyện.

        — Anh đã viết cho em về tất cả mọi điều, Na-ta-sca. — Anh nói— Em có hiểu không, tình hình biến chuyền đến nỗi anh không thể ở lại hậu phương.

        — Em chẳng nhận được gì cả, nhưng chủng mình đã giao hẹn với nhau rồi cơ mà! — Chị lặp lại.

        — Đúng, đúng rồi! — Anh xác định. — Em hiểu không, anh đã hai lần nộp đơn xin gia nhập trung đoàn.

        — Em chẳng biết gì... Chắc là thư bị lạc... — Na-ta-sa nói.

        Vì chị hân hoan đang được đi bên Pa-ven, đang được nghe giọng nói của anh, nên lời trách móc bưu điện nghe đặc biệt âm vang vui vẻ.

        — Em biết không, hôm qua anh còn tiếc là không có em ở đây, hôm qua anh còn nghĩ về điều này. — Pa-ven nói.

        Về phần mình, anh rất biết ơn chị, vì chị đã tới đây. Anh muốn kể cho Na-ta-sa nghe ngay tất cả mọi điều đang nung nấu, đang sôi động trong lòng anh.

        — Ở chỗ anh xảy ra một việc! — Anh tiếp — Chuyện này khó kể lắm. Cần phải chính mình tham gia vào việc này thì mới có thể.

        — Làm sao anh lại có thể nghĩ rằng em không đến đây nếu chúng mình đã giao ước với nhau. — Chị trách anh.

        — Ừ nhỉ... Em thứ lỗi cho anh. — Pa-ven nhận lỗi. — Em cũng biết đấy, tình hình rất căng thẳng... Nhưng má... ôi, thật tiếc là sáng nay em không đến lúc bọn anh ra quân !...

        — Em đã đến đây từ hôm qua cơ đấy! — Chị nói.

        — Em nói gì thế? Từ hôm qua cơ à?

        — Thật đấy, từ đêm qua... Em mò mẫm khắp thành phố và lạc cả vào hầm trú ẩn nữa. — Chị nghiêng đầu sang một bên để nhìn rõ Pa-ven hơn. — Như một Ô-đi-xê chính hiệu. Khi không thấy anh ở nhà, em rất sợ. Em tưởng có chuyện gì đó xảy ra với anh. Té ra anh đi chiến đấu!

        Trong trung đội anh có nhiều bạn cũ. — Pa-ven vội vã sung sướng cướp lời chị. — Va-nhi-a Bô-cốp này, Trô-sin này, anh đã kể với em rồi. Những cậu bạn tuyệt vời! Bọn anh cùng lớn lên, sau đó cùng học với nhau và...

        — Em đã làm quen với cô anh rồi, — Na-ta-sa ngắt lời Pa- ven, — với cô An-na của anh...

        — Dã làm quen rồi cơ à ? — Pa-ven nghiêng người, nhìn vào đôi mắt nâu thẫm, lòng trắng hơi xanh, dịu dàng, cái mũi nhỏ đáng yêu, trắng ra vì giá rét, cái môi dưới màu hồng hơi nhô ra và...

        — Còn ông bố thì không muốn đi khỏi thành phố. — Pa-ven nói điều này bằng giọng rất kích động và hạnh phúc. Ông già bướng bỉnh như trẻ con và không thể nào khuyên được. Bố đã già lắm... Còn bố mẹ em thế nào ?

        — Đã đi sơ tán... Cả mẹ và Ma-ri-na. Dĩ nhiên là mọi người đều ôm và hôn anh.

        Cứ như vậy họ cướp tranh lời nhau, nhảy từ điều này sang điều khác, cố nói những gì quan trọng nhất đã xảy ra, khi hai người sống xa nhau. Hai người tới một cái sân có vòi phun nước ở giữa và họ đi dạo vòng quanh nó mấy vòng.

        — Em chóng cả mặt, lạy trời, — Na-ta-sa nói. — Chúng mình ngồi xuống đâu đi, Páp-lích!

        Na-ta-sa đảo mắt nhìn chung quanh và mãi tới lúc này chị mới nhìn kỹ vòi phun nước với những giọt nước giống như nước mưa bắn ra tận bờ bức tượng một cô gái cao lớn bằng thạch cao cầm mái chèo đứng sừng sững ở đảo giữa. Những chiếc lá rụng nằm trên đôi vai trần, trắng của cô, bơi trên mặt bể nước đục ngầu, chúng phủ khắp nơi trong vườn hoa một màu nâu ẩm ướt và hầu như không còn lạo sạo dưới chân nữa. Ở đầu đường chính có hai quầy hàng, trên một quầy, Na-ta-sa đọc được tẩm bảng nhỏ đề chữ « Kem » đã phai màu bạc trắng. Dù quay đi đâu chăng nữa, ở mọi nơi họ cũng bât gặp những cây bạch dương thẳng tắp và không hiểu sao, chúng gợi cho ta một ý nghĩ về một điệu nhảy dân gian Nga nhịp nhàng. Lúc này, một đám mây thấp bay lơ lửng trên vườn hoa và trên nền phông khó chịu của nó hiện rõ những thân cây màu sáng thẳng tắp cường tráng với vô số cành con. Phía sâu trong vườn hoa có bóng người lố nhố sau những hàng cây, nhưng ở chỗ này, tại đấy không có một ai, ngoài Pa-ven và Na-ta-sa.

        — Ở chỗ các anh, toàn những bạch dương là bạch dương —  chị nói. — Và sao mà to đến thế! Chưa bao giờ em trông thấy những cây đẹp như thế này.

        — Ừ, vườn hoa tuyệt đẹp... Vườn hoa lâu đời. — Pa-ven thốt lên.

        Vẫn cầm tay Na-ta-sa, Pa-ven dẫn chị đi theo một trong những con đường mòn tỏa ra từ đài phun nước.

        — Mới rồi họ bắn ở đằng kia... rất gần. Bắn gì thế, hả anh ? — Na-ta-sa hỏi.

        — Người ta thử súng máy... Em sợ lắm hả?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2020, 06:50:20 am

        "Chị mỉm cười lắc đầu. Lúc này khi vai chị đang dựa vào lồng ngực nở nang của Pa-ven, khi bàn tay khô, rắn khỏe của anh đang nắm chặt những ngón tay nhỏ nhắn của chị, thì không thể có những điều gì đe dọa nghiêm trọng xảy ra đối với cả hai người được. Trong phút này lòng tin sẵn có của chị vào Pa-ven, vào tình yêu của anh, vào sự cao thượng của trái tim anh là vô tận, như thể trên thế giới này thực sự không có mối nguy hiểm nào mà tình yêu và lòng cao thượng không ngăn ngừa được.

        — Em vẫn chưa nhìn thấy thành phó của anh. Ở đây không chỉ có vườn hoa, — anh tiếp tục, vẻ xúc động. — Không hiểu sao chính anh trước kia cũng ít nhận thấy nó. Hừ, thành phố nào chả là thành phố, hơi bẩn nữa cơ... Và chỉ đến lúc này anh mới kịp nhận thấy thành phố thay đổi một cách khác thường trong những năm gần đây. Còn con người — con người ở đây rất bình thường — chẳng hạn ở trong trung đội anh có A-nhi-xi-mốp thợ mỏ...

        Bỗng nhiên Na-ta-sa cười to.

        — Em làm sao thế? — Anh hỏi và thích thú nghe tiếng cười trong sáng, dễ lôi cuốn của chị. — Em làm sao thế? Em cười gì vậy?

        — Em nhớ lại hôm qua tí nữa em bị lạc trong thành phố của anh, — Na-ta-sa ngả đầu vào vai chồng. — Ôi Pa-sa, nếu mà anh biết lúc đó em cảm thấy mình bất lực như thế nào!

        — Ừ, hiểu quá đi chứ, lần đầu tiên em đến đây mà! — Anh nói. — Thế đấy, A-nhi-xi-mốp... Đây quả là vàng mười, chứ không phải là con người bình thường.

        Pa-ven rất muốn cảm ơn Na-ta-sa một cách chân thành nhất, trìu mến nhất, vì chị đã tới đây, và với cả tâm tình của mình, anh muốn chia sẻ với chị những gì quan trọng nhất, quý giá nhất, mà lúc này anh đang trân trọng nghĩ tới.

        — Thế mình sẽ ngồi xuống đâu ? Na-ta-sa nói.

        Họ đến cuối đường mòn, nhưng chẳng có lấy một chiếc ghế nào cả, dù họ đã để ý tìm. Lúc này, ngay trước mặt họ có bãi cỏ nhỏ với những lùm cây ở chung quanh, trên có chiếc bục gỗ nhỏ đề cho dàn nhạc. Những cái đuôi màu vàng của tràng hoa giấy treo lơ lửng trên nền gỗ ván. Rẽ khỏi đường mòn, Pa-ven đưa Na-ta-sa vào đấy. Ở sâu trong lòng chiếc bục gỗ ngổn ngang những giá nhạc bằng kim loại, lá cây bay cả vào đây, phủ đầy nền gỗ.

        — Thật tuyệt! — Na-ta-sa thốt lên... — Lại còn khô ráo nữa...

        Pa-ven đỡ ngang lưng Na-ta-sa và nhẹ nhàng nâng chị lên bục. Sau đó, tì một tay xuống bậc, anh cũng nhẹ nhàng nâng thân hình to lớn của mình lên. Chỉ có điều là dưới sức nặng của anh những tấm ván oằn xuống và một giá nhạc trượt trên thềm, kêu leng keng.

        Phủi mấy chiếc lá trên mặt cái hòm dài ở đây, anh dịu Na-ta-sa ngồi xuống cùng với minh. Chị nhích lại gần anh và tựa vào vai anh.

        — Toàn bộ trung đoàn của anh là những người tình nguyện. — Anh nói. — Và đây chỉ là phần nhỏ những người nộp đơn tình nguyện. Đảng ủy khu phố ở đây cứ bấn lên với những tập đơn... Từ tờ mờ sáng đến tận đêm khuya, rất nhiều thanh niên mang theo bao đồ cứ ngồi lì ở khu đoàn Côm-xô-môn. Nhiều đoàn từ các nông trang đến đây và đòi gia nhập đơn vị. Em không thể tưởng tượng nổi một khí thế sôi nổi như thế nào dâng lên trong nhân dân! — Và anh lại bắt đầu kể về các chiến sĩ của trung đội do anh chỉ huy, về sáng nay người thầy giáo già của anh tiễn anh như thế nào và về chuyện A-nhi-xi-mốp chia tay với vợ ra sao.

        Na-ta-sa im lặng, mlm cười lơ đãng và hơi căng thẳng, chẳng hiểu gì về những điều Pa-ven nói, chị chỉ chờ đợi đến lúc nào anh mới ôm hòn chị.

        «Nào, nào... sao anh lại thế? Em đây đang ngay cạnh anh...» — Chị thầm nói với chồng. Đôi lúc bị lôi cuốn bởi câu chuyện, anh đặt tay lên đầu gối chị, và mặt Na-ta-sa đỏ nhừ, nín thở, ngoan ngoãn đợi chờ. Nhưng Pa-ven vẫn như không nhận ra điều đó, vẫn cứ say sưa tường thuật cho chị nghe về buổi ra quân của trung đoàn. Những ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc về buổi sáng nay vẫn xâm chiếm người Pa-ven, vẫn chưa rời anh. Và như thể anh trao cho người thân thiết nhất của mình những gì đối với anh rất to lớn và đầy hy vọng.

        Lim dim mắt, Na-ta-sa gục đầu vào tay áo ẩm bằng len của anh. Cả hai ngồi yên không nói một lời khoảng một phút.

        «Páp-lích, anh chẳng hiểu cái gì cả, — chị nghĩ với vẻ dịu dàng và trách móc. — Như trẻ con, như cậu con trai mới lớn thôi, thật thế ...»

        Anh ôm chị mỗi lúc một chặt hơn. Nhưng khuôn mặt hiền từ, hạnh phúc của Pa-ven trong chốc lát trở nên buồn rầu và lo lắng. Bỗng nhiên anh nhớ ra, anh cùng Na-ta-sa chỉ được bên nhau có nửa tiếng đồng hồ và thời gian cho hai người đã gần hết. Chỉ vài phút nữa là vợ anh phải ở lại một mình trong thành phố lạ mà ngày mai hoặc ngày kia kẻ thù sẽ tới.

        Tự nhiên Na-ta-sa mở bừng mắt và ưỡn thẳng người ra. Trong khoảnh khắc này, chị cũng nhớ ra cái thời hạn ngắn ngủi đến phì cười mà họ cho phép Pa-ven. Chị lạnh người đi khi nghĩ rằng lát nữa anh ấy sẽ đi mất. Nhưng mặt anh trông u buồn đến mức, tiếng than phiền chỉ đọng lại trên môi chị.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2020, 06:42:49 am

        Tuyết bắt đầu rơi giữa hàng cây, bông thưa và to như cây cải trắng, lững lờ bay xuống vườn hoa, chẳng khác gì một tổ ong khổng lò. Lặng lẽ bay qua bay lại, chúng đậu trên các cành cây, rơi xuống đất rồi lập tức biến mất.

        — Anh trông kìa, tuyết rơi! — Na-ta-sa nói to, cốt đề phá tan bầu không khí im lặng. — Thế là mùa đông đã đến!

        — Ừ, Tuyết rơi... — như tiếng vọng, Pa-ven đáp lại. Nhìn vợ và nghĩ đến những gì đang chờ chị, anh cảm thấy buồn thương lạ thường, là mình không thể làm gì được để thay đổi số phận của chị. Và anh cảm thấy chị có quyền đòi hỏi ở anh nhiều hơn so với những gì mà anh đã làm.

        « Anh ấy đi bây giờ, — Na-ta-sa sợ hãi thầm nghĩ. — Bây giờ anh ấy sắp đứng dậy và nói: «Thôi nhé, đến giờ rồi». Và quay đi». Vừa chờ đợi những lời nói ấy, lòng chị xốn xang, và đề xua đuổi những ý nghĩ ấy đi, chị cất tiếng:

        — Chả lẽ mùa đông đã đến rồi ư ? Sao em thích mùa đông đến thế!... Anh có nhớ chúng mình đi trượt tuyết như thế nào không?

        — Na-ta-sa... — Pa-ven thì thào, — em đừng chán nản. Em là cô gái thông minh và can đảm của anh. Hãy thận trọng, người bạn đời của anh! — Mắt anh nói lên vẻ van nài cầu mong

        Chị gật đầu như hứa với anh sẽ cẩn thận. « Anh ấy đi Bây giờ đây... Anh ấy đi bây giờ đây...» — Chị thầm nói. Và nghĩ tới gì đang chờ đợi chồng chị ở nơi mà anh ấy phải đến, Na-ta-sa bỗng thấy khiếp sợ. Phải chăng điều đó có thể so sánh được với những gì mà chị sẽ phải chịu đựng dù cho có khó khăn vất vả hơn bao nhiêu đi nữa ? Cảm phục lòng gan dạ của chồng, trước ý chí và quyết tâm của anh, chị hết sức tự kiềm chế lòng mình lại.

        — Hai bàn trượt tuyết của anh bây giờ vẫn còn ở chỗ em — chị vội vàng nói tất cả ý nghĩ vụt nảy ra trong đầu. — Thế anh có nhớ là chúng mình định đến núi Chim sẻ không ? Thế rồi cũng không có điều kiện...

        Tuyết rơi xuống dày hơn và lúc này không khí trong vườn hoa sáng sủa ra. Sau làn tuyết như một đàn ong trắng khổng lồ, những cây bạch dương xa như tự biến đâu mất.

        Pa-ven lại lặng thinh, cố tìm lời nào thật hay, làm vợ yên lòng. Chính anh rất yêu vợ, vô cùng lo lắng cho chị, nên anh chỉ có thể hứa những gì là quan trọng nhất đối với tất cả mọi người lúc này.

        — Anh hứa với em, — anh nói và ngừng lại một giây, — anh hứa... Các anh sẽ đứng vững.

        Nhưng mặt anh vẫn còn vẻ ăn năn như thể điều này hãy còn ít đối với vợ. Bỗng nhiên anh nắm chặt tay đến mức xương bàn tay trắng ra và đấm đấm vào đùi mình.

        — Nhất định không có ! — Anh gào lên. — Không có một sức mạnh nào có thể đè bẹp được chúng ta!

        Chị lại gật đầu.

        — Em trông thấy rồi, — chị nói rất âu yếm và bất ngờ nhăn mặt lại, vẻ hối hận. Trong phút này, chị yêu chồng mình mãnh liệt hơn lúc nào hết. Chị ôm choàng lấy cổ Pa-ven, rướn người lên rồi nồng nhiệt hôn vào môi anh. Sau đó, đặt bàn tay vào lồng ngực anh, chị dừng lại.

        — Em chỉ là mụ đàn bà ngu xuẩn, — chị lầm bầm.

        — Na-ta-sen-ca... — Pa-ven kêu lên và lập tức mặt tươi tỉnh hẳn... — Khi chúng mình già nua, chúng mình sẽ có cái gì để mà nhớ lại!

        «Bây giờ anh ấy sẽ đi, — chị lại nghĩ. — Anh ấy sẽ nói: « Anh phải đi rồi », và quay đi. Tất cả những điều đó cứ ám ảnh quay cuồng trong đầu chị và chị gục đầu vào ngực anh.

        — Thôi đến giờ rồi, Na-ta-sen-ca, — đúng là giọng Pa-ven, —  anh đã phải đi rồi!

        Sau đó Pa-ven nói, theo anh, tốt hơn cả là chị đi khỏi thành phố, bởi vì chị cần phải học hết đại học, rằng anh sẽ thường xuyên viết thư cho chị, nhưng Na-ta-sa chỉ hiểu lơ mơ những điều anh nói, tai chị như bị ù lên. Và khi Pa-ven đứng dậy, không hiểu sao chị cũng vội vã đứng lên. Không nhìn chồng, Na-ta-sa tất tưởi sửa lại mái tóc và nhét nó vào mũ nồi.

        Pa-ven nhảy xuống bục, đứng ở dưới đất đợi chị. Chị đi đến mép bục gỗ, mắt vẫn nhìn xuống như sợ nhìn vào anh.

        — Đi đi, mạnh dạn lên! — Pa-ven nói to.

        Dang cả hai tay, ôm lấy vợ, anh bế chị lên và cứ thế bước đi ; mấy bông tuyẽt lạnh rơi vào mặt hị và chị nheo mắt lại.

        Pa-ven đi gần như chạy. Vừa đi anh vừa vội vã hôn lên trán, lên mắt, lên má đẫm tuyết của Na-ta-sa. Anh thì thào với chị những lời căn dặn cuối cùng chỗ gần đài phun nước. Chị loáng thoáng nghe thấy những gì về bố, về bà cô và về việc có thể đi đâu trong trường hợp cấp thiết phải rút khỏi thành phố, nhưng chị không thể hiểu vả nhớ hết được.

        Bên đài phun nước, Pa-ven dừng lại. Anh nhẹ nhàng, thận trọng đặt chị xuống đất và họ im lặng đi theo đường bạch dương ra cổng. Na-ta-sa níu chặt lấy tay anh. Tuyết vẫn rơi dày như thế, trên những chiếc lá nâu xuất hiện những đảo con màu trắng. Thỉnh thoảng Pa-ven lại nhìn về phía sau làn tuyết dày đặc thấp thoáng hình các chiến sĩ.

        — Thế   là chúng mình đã trông thấv nhau, — Na-ta-sa mệt mỏi nói,   khi haingười đi đến gần cổng. Pa-ven mỉm cười, còn chị vội nhìn đi nơi khác, môi dưới run run.

        — Tạm   biệt, Páp-lích! — Chị lúng búng nói như không còn sức nữa.   — Và... và... em rất tự hào về anh. Anh đừng lo nghĩ gì về em. Bây giờ mọi người thế nào thì em thế vậy...

        Pa-ven nhớ ra là sáng nay anh cũng nghe thấy những lời tương tự như vậy. Nhưng đúng ra là lời một người đàn ông an ủi người đàn bà khác. Và anh muốn kể lại điều này với Na-ta-sa. Nhưng một người nào đó đã gọi Pa-ven và Na-ta-sa sợ hãi; ngập ngừng kiễng chân lên, hôn anh một lần nữa ..


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:09:09 pm

8

        Tờ mờ sáng, Bốt-đa-nốp đi xe đến sườn phải tuyến phòng thủ. Nơi đóng quân của các đơn vị bộ binh được chuyền sang bổ sung cho khu vực chiến đấu T... Đồng chí đại tá chỉ huy ở đây báo cho Bốt- da-nốp biết là đêm qua nhiều tổ chiến đấu bị mất liên lạc với đơn vị của mình, vẫn tiếp tục rút vào thành phổ và theo tin tình báo thì quân địch đã tiến tới vùng Núi Trăng. Sau đó tại cuộc họp của chỉ huy trưởng và chính trị viên các đơn vị trong căn nhà nhỏ trống không, đơn độc ở ngoại ô thành phố, Bốt-đa-nốp đã thông báo vắn tắt tình hình rồi giao nhiệm vụ chiến đấu cho họ. Anh nhấn mạnh là tất cả công việc xây dựng tuyến phòng thủ ngoại vi phải được hoàn thành trong mấy giờ sắp tới, bởi vì ngày hôm nay xe tăng Đức cỏ thể sẽ xuất hiện trước thành phố. Lướt nhìn những khuôn mặt mệt mỏi lấm láp của những người vừa trải qua các trận chiến đấu căng thẳng, Bốt-đa-nốp nói:

        — Các đồng chí chỉ huy hãy chấp nhận, hãy khẳng định một điều là—anh nhắc lại, giọng quyết liệt — là chúng ta sẽ không rút khỏi nơi đây. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được phép rút lui.

        Anh nhìn người thượng úy mặc áo ca pốt nhàu nát, ngồi trong góc nhà. có dáng ngồi hơi đặc biệt. Anh ta không nhúc nhích ngồi xoãi trên ghế dài và hình như chẳng cần nhìn, chẳng cần nghe xem chung quanh nói gì.

        — Ai có kiến nghị hoặc hỏi gì không? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        Các sĩ quan chỉ huy người này nối tiếp người kia, đứng dậy hỏi thêm về nhiệm vụ và báo cáo những nhu cầu của đơn vị mình. Sau những trận đánh nhiều ngày đêm, những nhu cầu này rất lớn và cấp thiết, nhưng bây giờ Bốt-đa-nốp không còn thì giờ chú ý đến điều này nữa. Vừa trả lời những câu hỏi về quân trang, về vũ khí, về lương thực, về sự hợp đồng với các đơn vị bạn, thỉnh thoảng lại nhìn người thượng úy lơ đãng và lặng thinh; trung tá không thích sự im lặng của anh ta. Hình như sau vẻ im lặng đó là cả một sự vô cùng thờ ơ không thể khắc phục được do quá mệt mỏi.

        — Đồng chí thượng úy, — Bót-da-nốp gọi — vâng, vâng, tôi gọi anh đấy! — Anh cao giọng khi người thượng úy hơi nhúc nhích —  Anh đã rõ nhiệm vụ chưa?

        Người thượng úy đứng lên hết sức uể oải. Từ cửa sổ vuông, một làn ánh sáng mờ ảo hắt vào mặt anh ta và chỉ lúc này Bốt-đa-nốp mới nhìn thấy rõ dôi mắt nâu rất sáng của con người quá ư mệt mỏi này.

        — Rõ, đúng như vậy, thưa đồng chí trung tá, tôi đã rõ, —  thượng úy trả lời giọng khàn khàn. — Tôi không có gì cần hỏi, —  Anh nghĩ trong một giây và nói thêm: — bởi vì đã nhận được một ít đạn và bánh mì. — Im lặng một lát, anh lại ngồi xuống chỗ của mình.

        Một lúc sau, khi xem xét tuyến phòng thủ, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy người chỉ huy ít nói này trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Dưới bầu trời thấp xám xịt, các chiến sĩ của đơn vị tập hợp theo vị trí của mình trên một cánh đồng, còn trước mặt họ, lá cờ đỏ của trung đoàn có tua vàng ở chung quanh phấp phới bay trong bầu không khí ảm đạm ẩm ướt.

        Bốt-đa-nốp đi đến gần và lắng nghe:

        — Các đồng chí, chúng ta không có đường về phía sau. Chúng ta đang ở sát ngay Mát-xcơ-va. Chính ngay ở đây, chúng ta sẽ đón chờ những trận đánh quyết liệt. — Người thượng úy nói nhỏ nhẹ, chậm chạp như đang trò chuyện với các chiến sĩ của anh.

        Thân hình cao, nhưng gù trong chiếc ca pốt cũ, trông anh không có dáng lắm, song trong giọng nói toát ra vẻ trầm tĩnh lạ thường, do đó lới nói của anh có trọng lượng đặc biệt.

        Sau đó chính trị viên tiểu đoàn phát biểu, và qua lời phát biểu của ông, Bốt-đa-nóp hiểu rằng đây là đơn vị các chiến sĩ đã trải qua những trận đánh ở tận biên giới và vừa thoát khỏi vòng vây tới đây.

        — Các đồng chí, lá cờ của trung đoàn vẫn còn với chúng ta! —  Chính trị viên dõng dạc nói, giọng vang vang trên cánh đồng — Nó nhắc chúng ta nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc. Chúng ta quyết cắm lá cờ này ờ đây, trên phòng tuyến ngoại ô Mát-xcơ-va thân yêu. Và từ đây, chúng ta chỉ mang nó tiến lên phía trước, các đồng chí chiến sĩ, chỉ được tiến về phía trước thôi. — Chính trị viên nói sang sảng.

        Bốt-đa-nốp nhìn về phía bộ dội. Trên cánh đồng hơi tối bởi tiết trời mùa thu u ám, họ đứng trong tư thế « Nghiêm » thành hai hàng đều nhau bên các công sự bộ binh của mình. Thượng úy quay lại người cầm cờ, ra hiệu cho anh ta và lá cờ chuyền động dọc theo hàng quân. Chỉ huy trưởng và chính trị viên giơ tay chào dưới vành mũ lưỡi trai, sau đó thượng úy đi theo cờ, người gù gù, đầu rướn lên trước như thể chống lại cơn gió mạnh. Lá cờ đỏ có thêu búa liềm bằng sợi màu rung rinh trên chiếc cán nâng cao. Một người nào đó từ hàng ngũ các chiến sĩ đến đây theo những con đường đau thương, đầy khói lửa và máu xương, tự động tiến đến gần lá cờ, một người nào đó ngẩng đầu lên nhìn theo...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:09:50 pm

        ... Đi tiếp đến khu vực bên cạnh của trung đoàn NKVĐ, Bốt- da-nốp gặp La-tô-skin cũng đang ở đây. Từ sáng sớm, ông đã đến thăm các đơn vị giữ tuyến phòng thủ ngoại vi. Và họ cùng nhau đi theo các ụ chiến đấu dọc hào giao thông sâu hoắm, xem công sự xây bằng những thanh gỗ tròn, đứng bên các hỏa điểm. Rõ ràng là ở đây, mọi người đã lao động cật lực và thấu hiểu công việc của minh. Và mặc dù không phải tất cả những trang bị cần thiết cho trận địa đã làm xong ở mọi nơi, nhưng Bốt-đa-nốp dù quen với tính khe khắt nhất của minh, vẫn phải đánh giá rất cao công việc đã làm. Anh cũng tán thành việc lựa chọn vị trí và hệ thống liên lạc thuận tiện có tính toán giũa các cụm riêng của nó.

        Phần lớn các chiến sĩ của trung đoàn NKVĐ mới đây còn phục vụ ở hậu phương đều chưa được tham gia trực tiếp chiến đấu. Họ đắp bếp, đào hố, lấy nước, làm chỗ ở tạm thời và lợp rơm lên trên một cách đặc biệt cẩn thận, thậm chí đến từng chi tiết. Theo Bốt- đa-nốp thì đây là sự cố gắng quá cầu kỳ và có vẻ của học sinh nhiều hơn. Trung đoàn trưởng Đu-bốp với mái tóc bên thái dương đã đốm- bạc, đôi má cạo sạch bóng, trả lời các câu hỏi và cho giải thích một cách ngắn gọn không thừa một chi tiết cỏn con nào. Sự dè dặt gò bó của ông, nói lên nỗi lo láng sâu sắc trong lúc chờ đợi trận đánh đầu tiên.

        Tuy bên trong là người nghiêm khắc đến khắt khe nhưng thông minh, còn bề ngoài là người nóng nảy hơi gay gắt, Bốt-đa-nốp vẫn thấy thoải mái và dịu lòng khi nhìn các chiến sĩ và cán bộ lãnh đạo trung đoàn. Thực ra họ chỉ mới đứng trước thử thách để biến anh bộ đội thành người lính chiến, biến đơn vị bộ đội thành đơn vị chiến đấu tốt. Nhưng chắc chắn đây là những người có kỷ luật và ý chí cao. Ở những nơi đã làm xong việc củng cố trận địa, các chiến sĩ đang trang điểm cho mình: cạo râu qua chiếc gương con trên bờ chiến hào, khâu lại chiếc khuy rơi và lỗ khuyết áo, và điều này cũng làm cho Bốt- da-nốp thích thú. Ngoài ra, trong trung đoàn có một số bộ đội biên phòng, những con người được trung tá đánh giá rất cao, bởi vì anh biết họ đã chiến đấu như thế nào ở biên giới trong những ngày đầu chiến tranh.

        Để La-tô-skin và Đu-bốp ở lại nói chuyện với một toán bộ đội, Bốt-đa-nốp rẽ theo hào giao thông đến hỏa điểm. Từ xa, anh đã chú ý đến những giọng nói trẻ vọng lại.

        — Nào, té nữa đi! Ôi, cứ thế! Ôi khoái quá! — Một giọng Bạch Nga nào đó mềm mại vang lên — Nào, lần nữa... — Sau đó là những tiếng cười rất to đầy khoái cảm.

        — Cậu đủ rồi dấy! —Sau một lúc im lặng, Bốt-đa-nốp nghe thấy giọng nói khác. — Ồ, xanh hết cả người rồi, như quả cà tím ấy. Cầm lấy khăn của tớ này!

        Rẽ qua một góc chiến hào, Bốt-đa-nốp nhận thấy hai chiến sĩ, bất kể trời rét, cởi áo ngoài, mỗi người cầm một đầu chiếc khăn đang lau mình. Thấy trung tá đi tới, hai chiến sĩ im lặng và đồng thời rướn thẳng người lên. Cà hai còn ướt át, bù xù bởi vừa lau mình và đều khoảng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi. Dưới chiếc áo lót vải thô lộ rõ những bắp tay cuồn cuộn và những ngón tay sạm nắng. Phía trên cổ tay là làn da trắng ngần.

        — Các đồng chí cứ tiếp tục đi, mặc áo vào, — Bốt-đa-nốp nói.

        Bốt-đa-nốp cảm thấy hai người lính này giống nhau như hai anh em, mặc dù một người cao và có đôi vai rộng hơn, còn người thứ hai có mái tóc màu lanh. Anh đến lỗ châu mai nơi đặt khẩu súng máy. Đợi một chốc cho hai thanh niên mặc quần áo, anh hỏi xem họ đã bắn chỉnh chưa.

        — Rất chính xác ạ... — Một chiến sĩ trả lời.

        — Đã bắn chỉnh rồi, thưa đồng chí trung tá! — Người thứ hai nói tiếp.

        Sau đó họ cho Bốt-đa-nốp xem thẻ xạ thủ được giữ cẩn thận.

        — Các anh là ai vậy: đồng hương hay cũng có thể là anh em nữa chứ ?

        Hai anh lính trẻ người nọ nhìn người kia, như thể trao đổi với nhau.

        — Không phải, thưa đồng chí trung tá, — người chiến sĩ có mái tóc hung thẫm trả lời, chiếc phù hiệu xanh trên áo va rơi của anh lấp lánh ba sao trung sĩ.

        — Gần như anh em, chả là cùng phục vụ trong một đồn. — Người lính thứ hai có mái tóc màu lanh nói thêm.

        — Có nghĩa là bạn bè ! — Bốt-đa-nốp nói.

        Khòng hiểu sao, lần này cả hai đều im lặng, hình như không ai muốn là người đầu tiên thú nhận tình cảm thân thiết như vậy.

        Đi qua công sự của trung đoàn, La-tô-skin và Bốt-đa-nốp bước lên đường cái và dừng lại ngắm nhìn bình nguyên trải rộng chung quanh. Con đường lớn thẳng tắp một vệt chạy về phía nam và mất hút trong bầu không khí lờ mờ àm ướt và hai bên đường là những làng ngoại ô thấp thoáng dưới màn sương mù dày đặc. Có những tiếng động nhỏ, đứt đoạn vọng lên từ màn sương mù ảm đạm làm hạn chế tầm nhìn.

        — Đấy là phía A-rxê-nhi-ép, — La-tô-skin nói, — còn trên Núi Trắng thì yên tĩnh.



Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:10:17 pm

        Hơi ngẩng đầu lên, ông lắng nghe vẻ căng thẳng.

        — Đúng như vậy, thưa đồng chí chủ tịch Hội đồng quân sự — Đu-bốp nói — Tình báo đi theo hướng A-rxê-nhi-ép.

        Bốt-đa-nốp mở cặp đựng tấm bản đồ. Nếu trận đánh thực sự diễn ra ở A-rxê-nhi-ép thì quả là điều bất ngờ và đáng ngại.

        — Hè năm ngoái, chúng tôi đã đưa vào hoạt động hai khu mỏ mới ở A-rxê-nhi-ép.— La-tô-skin nói, — đây là những mỏ tốt nhất trong vùng chúng tôi.

        Du-bốp im lặng lắng nghe và cố gắng xác định đây lả tiếng động gì và từ đâu tới với trung đoàn của ông.

        Quay lưng lại hướng gió, Bốt-đarnốp nghiêng mình bên tấm bản dồ. Ba bốn bông tuyết xôm xốp lần lượt theo nhau rơi xuống tấm bản đồ và biến thành những giọt nước lóng lánh. Trung tá ngước mắt nhìn về hướng A-rxê-nhi-épnhững cánh tuyết to chậm chạp bay trong không trung và tầm nhìn càng trở nên tồi hơn. Sau một hai phút, những hình bóng xa xôi phía chân trời biến mất sau màn tuyết trắng dày đặc. Nhưng ngay cả khi không có tuyết, thì từ đây, trong buổi sáng này, Bốt-đa-nốp cũng không thể quan sát được những gì xảy ra ở A-rxê-nhi-ép. Nấp sau màn tuyết dày đặc, kẻ thù tiếp tục tiến công. Thế chủ động tạm thời trong tay địch và không ai ở đây biết chính xác hướng triền khai cùng lực lượng của chúng. Một lần nữa — đây đã là lần thứ bao nhiêu trong mấy tháng gần đây — trung tá cảm thấy bực bội vì mình không biết, vì thiếu tin tức.

        — Đồng chí thiếu tá! — Bốt-đa-nốp xẵng giọng. — Hãy liên tục trinh sát. Cho lính diệt tăng với lựu đạn đi trước tới đường cái. Hãy liên tục báo cáo những gì phát hiện được. Và kết thúc việc củng cố trận địa... Khẩn trương lên! Khẩn trương lên!

        La-tô-skin chậm chạp quay về phía các sĩ quan, tuyết phủ trắng vành mũ lưỡi trai, vương trên vai, rơi vào mặt và tan ra, những giọt nước long lanh đọng trên lông mày.

        — Hãy nhớ lấy, đồng chí thiếu tá! —Ông nói. — Không khi nào anh nhận được lệnh rút lui. — Ông chăm chú nhìn Đu-bốp. — Tôi biết: nhân viên Trê-ca không bao giờ rút lui!

        — Rõ! — Thiếu tá trả lời dè dặt.

        Mười lăm phút sau, La-tô-skin và Bốt-đa-nốp đã tới vị trí của trung đoàn công nhân ở phía bên kia đường cái. Một phần trận địa trải ra ở chỗ trống, phần khác bao trùm làng Mư-skin và cánh rừng giáp giới với nó, hai đại đội lực lượng dự bị của trung đoàn đóng ở vườn hoa thành phố.

        Tuyết tạm ngớt, nhưng một lát sau lại rơi xuống nhiều. Trên bờ công sự có nước và đôi chân chìm sâu trong đất bùn lạnh ngắt, nhưng điều này không cản trở những người mặc quần áo dân sự hỗn độn trong khu vực trung đoàn đang lao động với vẻ phấn chấn vội vàng. Ở đây, công việc củng cố trận địa mới chỉ bắt đầu, mọi người vội vã đào đất, từng toán người chuyển rơm, kéo gỗ tròn để làm thành công sự và đặt súng máy.

        Những chiến sĩ — người thì mặc áo bành tô mùa thu, đội mũ lưỡi trai hoặc mũ trùm tai, người thì đi cả giày cao su, một số khác trùm những chiếc khăn quàng đan sặc sỡ, hành động không được thành thạo lắm, bận rộn và quá ầm ĩ.

        — Anh em ơi, hãy nhìn xem anh kế toán của chúng ta. Kìa! — Một người mặc áo bìu dông da kêu lên, — đồng chí Gu-pri-a-nốp, thế nào, đã ấm lên chưa ? Có phải là nợ tín dụng đâu mà anh đòi!

        Người có tên là Cu-pri-a-nốp có thân hình nhỏ nhân, đầu hói, mặc áo vải cộc tay. Vừa thở hồng hộc, anh ta vừa vung rìu bồ cây bạch dương.

        — Đây là bài thể dục rất tốt, các bạn ạ! — Một người nào đó sung sướng gào to lạc cả giọng.

        La-tô-skin thường hay dừng lại nói chuyện với hết chiến sĩ này đến chiến sĩ khác. Họ nhận ra ông, có người chào hỏi ông rất niềm nở.

        — Đến tối rồi sẽ biết, hôm nay là một ngày như thế nào, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ạ!—Một người đứng tuổi có bộ ria vàng ám khói thuốc lá, nói như thể để gây lòng tin cho bí thư tỉnh ủy. — Chỉ cần chặn bọn chó đẻ đó ở đây, rồi sau sẽ đuổi chúng quay trở lại.

        — Đấy đồ đểu cáng, bọn tham lam, bọn ăn cắp đã xuất hiện. Đứa chui vào bếp lò, đứa chui dưới bếp lò... — Một thanh niên chụp chiếc mũ lưỡi trai nhung thành hình cầu ở trên đầu, xen vào câu chuyện. — Đã đến lúc phải cho nó bài học, đồng chí La-tô-skin ạ!

        Tuy vậy, Bốt-đa-nốp cảm thấy rằng những người tự vệ chưa được chiến đấu đang đứng trước mặt anh, chỉ có thể phấn chấn trong khi chờ đợi trận đánh sắp tới. Anh đã nhiều lần chứng kiến các chiến sĩ mới đã mất hết sự hào hứng thái quá lúc ban đầu một cách nhanh chóng như thế nào. Ngoài ra, hơn bất cứ ai ở đây, Bốt-đa-nốp biết rõ cái sức mạnh cố thủ trong thiết giáp được huấn luyện thành thạo về kỹ thuật hủy diệt, đang nhanh chóng tiến tới đây, nơi có những con người rất tốt, nhưng tạm thời chưa được tổ chức chặt chẽ này. Anh chăm chú và nghiêm nghị nhìn những khuôn mặt quanh mình, như thể hỏi từng người : « Liệu trạng thái này có còn lâu với anh không? Liệu anh có vượt qua được không?».

        Sau đó, Bốt-đa-nốp quay lại phía đại úy Tra-skin, trung đoàn trưởng, một chàng trai trẻ, đẹp, có mái tóc vàng óng. Anh nghiêm khắc và khô khan hỏi trung đoàn trưởng xem mọi người đã được học tập như thế nào, đã được phát bao nhiêu đạn, chỉ huy cấp dưới là những ai, các chiến sĩ ăn trưa vào lúc nào...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:15:58 am

        Bốt-đa-nốp lúc thì nhảy xuống công sự và thăm ổ súng máy, lúc thì bước lên thành công sự để quan sát vị trí, lúc thì mở xà cột lấy bản đồ chăm chú xem đi xem lại, lúc thì lại vượt nhanh lên trước những người cùng đi với mình. Một trong những đặc điểm chính của bản chất con người Bốt-đa-nốp là khả năng tập trung ý chí, cái đó đã làm cho anh trở nên sắc sảo, dẻo dai và hoạt bát. Lúc này mà tranh luận với Bốt-đa-nốp rất khó vì anh biết chắc: anh muốn gì và sẽ làm cách nào để đạt được ý muốn ấy một cách nhanh nhất, ngắn gọn nhất do yêu cầu từ sự cần thiết chung.

        — Đồng chí đại úy, giữa tiểu đoàn một và tiểu đoàn hai của anh chưa được bảo đảm lắm, — anh nhận xét với trung đoàn trưởng. —  Ở tiểu đoàn hai, các khẩu súng máy đặt sâu trong rừng quá. Đây là một sai lầm. — Thường thường trong những trường hợp tương tự như vậy, các nhận xét của Bốt-đa-nốp rất ngắn gọn, dứt khoát. — Cây cối ở phía trước hạn chế tầm bắn chéo cánh sẻ. Nếu pháo binh địch phát hiện và tiêu diệt được chúng thì cả hệ thống phòng thủ của các anh sẽ bị tê liệt. Tiếp theo hãy chuẩn bị tuyến trận địa phụ, không nên coi thường nó...

        Đại úy chăm chú lâng nghe và cho gọi các chi huy đơn vị tới để truyền đạt mệnh lệnh. Tuy vậy, khuôn mặt trẻ trung, cởi mở với túm tóc vàng lòa xòa dưới trán, đôi lúc ửng lên vẻ bối rối và cũng có thể là bực bội bởi cái giọng bề trên của người trung tá nhỏ nhắn, kiên nghị kia đưa ra hàng loạt những chỉ thị và đòi hỏi, chắc đã làm Tra-skin phật ý...

        Cùng lúc ấy, nhiều cuộc mít tinh ngắn gọn, chớp nhoáng đang diễn ra trên nhiều địa điểm của trung đoàn. Các chiến sĩ vây quanh lấy La-tô-skin và Tri-phô-nốp, chính ủy trung đoàn, cán bộ tổ chức của tỉnh ủy. La-tô-skin đứng trên một mô đất cao ở sườn đồi và nói chuyện với họ. Đây đó những công sự chưa được ngụy trang loang lổ khắp nơi, trên sườn đồi, bên mép rừng dương trụi lá, gió thổi vù vù, trên đường làng Mư-skin đầy tuyết.

        —... Lúc chiến tranh mới xảy ra, đồng chí Xta-lin đã nói: « Trong mỗi thành phố mà kẻ thù đe dọa tiến công, chúng ta phải... động viên toàn thể nhân dân lao động đứng lên lấy thân mình bảo vệ tự do và danh dự của Tổ quổc. Và ờ đây, các đồng chí đã đứng lên, vai sát vai với các chiến sĩ Hồng quân bảo vệ thành phổ thân yêu của chúng ta... Các đồng chí, kẻ thù của chúng ta đang mạnh, ta không tự giấu mình điều đó, chúng ta không sợ sự thật. Nhưng chúng ta, những người Xô-viết còn mạnh hơn chúng nó, và các đồng chí không được quên điều này...».

        Khi La-tô-skin với những người cùng đi dạo vòng quanh một vòng trận địa và trở về ban tham mưu trung đoàn thì đã gần giữa trưa. Ở rìa làng, khi vừa trông thấy các chỉ huy, có hai thiếu niên lớn chạy tới chỗ họ: một cậu trạc mười lăm tuổi, mặc áo blu dông bám đầy bùn đất, vừa đi khập khiễng vừa nhăn mặt lại và một cô gái lớn hơn khoảng hai tuổi.

        — Ai là trung đoàn trưởng? — Từ xa, cậu bé đã kêu lên với giọng dứt đoạn. —Chúng tôi cần phải vào thành phố! Trung đoàn trưởng ở đâu ? Hãy nói để họ cho chúng tôi vào thành phố!

        Một người khoác súng trường cũng vừa chạy theo hai thiếu niên đến, cho biết là anh giữ họ ở khu vực quân sự, và bây giờ anh đưa cả hai tới ban tham mưu.

        — Chúng tôi thì vội, mà họ thì cứ gây phiền phức, — cậu bé nói to than phiền. Khuôn mặt đỏ ửng sưng vù của cậu ta lộ rõ vẻ đau khổ, buồn rầu và bực bội.

        — Nào, hãy nói tuần tự, Pê-chi-a! — Cô gái nói, bình tĩnh hơn và cũng rất chững chạc. Cô mặc chiếc áo da ngắn màu vàng, xứng quanh khâu bởi sợi đây, màu và đội chiếc mũ len đan sặc sỡ. Những sợi tóc sáng lờm xờm phủ trên khuôn mặt sạch sẽ, tươi tắn như là vừa mới rửa xong.

        — Thì mình nói theo thứ tự đấy chứ! Len-ca, cậu làm sao thế ? — Cậu bé lại bực bội gào lên. — Đêm qua bọn Đức đã bắt chú Va-xi-li Pê-tô-rô-vích... Đấy! Thế mà họ còn gây phiền phức, không cho vào! Theo các chú, điều này có đúng không? — Nheo mày một cách đau khổ, cậu ta nhảy chồm lên.

        — Có thể các chú không tin chúng cháu! — Cô gái kiêu hãnh nói. — Đoàn thanh niên Côm-xô-môn cử chúng cháu tới đây.

        — Thế Va-xi-li Pê-tơ-rô-vích, chủ tịch của các cháu ở đâu vậy ? — La-tô-skin dịu dàng hỏi.

        — Ở đâu là thế nào? — Cậu bé ngạc nhiên. — Ở làng Một tháng Năm...

        — Các trinh sát của tôi cũng cho tôi biết là làng Một tháng Năm đã bị chiếm. —Tra-skin nói — Bọn Đức xuất hiện ở chỗ các em lúc nào? — Ông hỏi.

        — Lúc đêm... cháu đã nói với các chú là lúc đêm.—Cậu bé gào lên.

        — Thôi, để tớ nói cho rõ ràng hơn, — cô gái nói tranh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:16:18 am

        Và bằng một giọng thanh thanh, trong trẻo, cô gái kể lại một cách hoạt bát việc xe tăng Đúc bất ngờ ập đến làng họ vào lúc mờ sáng. Lúc đó trời còn tối nên không ai có thể xác định chính xác được bao nhiêu xe: người này thì nói đếm được mười chiếc, người kia : chỉ có ba!

        — Mẹ cháu thức cháu dậy, — cô gái giải thích — Lát sau cháu nghe thấy tiếng súng ở cuối làng, Mẹ cháu khóc òa lên và sau đó Tô-li-a Ba-bu-skin bí thư đoàn của chúng cháu chạy đến nhà cháu. Anh ấy bảo là, điện thoại hỏng mà phải báo tin ngay vào thành phố. Mẹ cháu vẫn cứ khóc và anh ấy nói là không được để mất phút nào, rằng trinh sát xe tăng đã rẽ vào làng cháu...

        Vừa kể, cô gái vừa giương tròn đôi mắt xanh nhạt rất sáng như thể chính cô cũng ngạc nhiên về những điều mình vừa nói.

        — Tất nhiên là cháu đi ngay lúc đó, còn anh Tô-li-a chạy đi tìm các bạn khác. Chúng cháu đã quyết định là nếu bọn Đức đến thì chúng cháu sẽ tìm mọi cách nhanh chóng báo tin cho các chú biết. Khi chạy qua vườn sau, chính cháu nghe thấy tiếng xe tăng gầm rú như thế nào. Một lát sau, cháu gặp cậu Pê-chi-a Pô-ta-tốp này, — cô gái hất đầu sang phía cậu bé, — cũng là đoàn viên, và chúng cháu cùng nhau đi...

        Đôi mắt đầy ngạc nhiên, cô nhìn các sĩ quan đang nghe cô, như muốn nói thêm: « Các chú thử tưởng tượng xem, chính cháu cũng không hiểu là tất cả mọi việc lại xảy ra nhanh chóng và bất ngờ đến như vậy!».

        — À... đây là thẻ đoàn của cháu, — cô gái lấy tấm thẻ nhỏ trong túi bành tô ra và nói thêm — Cháu, Lê-na Gô-le-nhi-cô-va!

        Bốt-đa-nốp lại mở xà cột và nhìn vào tấm bản đồ làng Một tháng Năm nằm trên con đường mòn về phía A-rxê-nhi-ép-xcơ, nhưng gần thành phố hơn.

        — Cảm ơn các cháu nhé! — Bốt-đa-rtốp nghe La-tô-skin nói — Rất tốt là các cháu đã kịp thời đến báo... Còn cháu, tại sao lại khập khiễng thế kia? — La-tô-skin quay lại cậu bé.

        — Cháu bị bong da thôi mà, — cậu bé buồn rầu trả lời.

        — Chắc là bạn ấy bị sốt, — cô gái nói — Chú xem xem người bạn ấy đỏ rực lên kìa. Cháu muốn đưa bạn ấy vào bệnh viện. Rồi còn chạy về nhà chứ! Mẹ và em gái đang ở nhà. Cháu chỉ cần từ biệt hai người, rồi sẽ đi vào rừng cùng với các bạn.

        — Đi bây giờ là mạo hiểm, — La-tô-skin nói, — phải đợi đến tối thôi. Tạm thời, hai cháu hãy cứ vào thành phố đã, câm giấy này mà đi.

        Cô gái cầm lấy mảnh giấy La-tô-skin vừa ghi cho và cảm ơn một cách lịch sự. Khi cô và cậu bạn vừa đi được một đoạn, La-tô- skin im lặng ngước nhìn trung đoàn trưởng với đôi mắt dò hỏi, rồi lại quay sang nhìn Bốt-đa-nốp.

        — Tất cả đều đã rõ ràng, thưa đồng chí chủ tịch ủy ban, — Tra-skin nói to và hất mớ tóc vàng trên trán. — Chà, giá được thêm hai, ba ngày chuẩn bị nữa! Nếu củng cố trận địa như ý muốn và huấn luyện mọi người thêm đôi chút những động tác chiến đấu thì hay hơn...

        — Đồng chí đại úy, tôi yếu cầu đồng chí chú ý, — Bốt-đa-nốp ngắt lời anh. — Bọn Đức, có thể tiến công các anh vào sườn theo hai hướng từ A-rxê-nhi-ép-xcơ và làng Một tháng Năm. — Anh vừa nói vừa chỉ bản đồ. — Bố trí một tuyến bảo vệ ở đây, ở Khle-bnhi-cốp, điều một đại dội dự bị của anh vào đây... Trong trường hợp quân Đức xuất hiện ờ Khle-bnhi-cốp, các anh phải cố gắng ghìm chúng lại, dùng trận đánh này để phân tán kẻ thù, sau đó đại đội cố thể rút.

        Anh cài khóa xà cột và kéo lại thắt lưng, rồi nhìn từ chân đến đầu người đại úy cao lênh khênh :

        — Hãy củng cố, kết thúc nhanh đi, đồng chí trung đoàn trưởng ! Khẩn trương lên! Có thể các anh chỉ còn vài giờ nữa thôi.

        Ở sở chi huy trung đoàn, Bốt-đa-nốp gọi điện cho chỉ huy trưởng khu vực chiến đấu, thiếu tướng Đi-a-cốp. Thiếu tướng đã được biết những tin tức mới nhất về việc kẻ thù đang tiến tới thành phố và ông tán thành những mệnh lệnh của Bốt-đa-nốp. Nghe xong, ông ra lệnh cho anh tạm thời ở lại các trung đoàn tuyến một để trực tiếp chỉ đạo chiến đấu.

        Trời vừa sáng, ông già Grô-mốp liền từ nhà máy trở về để lấy vài thứ dụng cụ cần thiết. Ở nhà máy, A-lếc-xây Grô-mốp gặp lại nhiều bạn bè quen thuộc cũ và dần dà được biết thêm là họ được gọi tới đây bàn việc khôi phục lại các xưởng máy đã trống rỗng để sửa chữa và chế tạo vũ khí cho bộ đội bảo vệ thành phố. Trong số những người được nhắc tới, các bạn cũ của ông có nhớ tới Grô-mốp, nhưng họ quyết định không nên mời ông già vì được biết ông đang ốm. Nếu vào thời gian khác thì có lẽ ông Grô-mốp đã rất giận, nhưng buổi tối đó ông quá xúc động và hồi hộp về tất cả những gì xảy ra nên cũng không để bụng làm gì. Ngồi họp trong phòng thiết kế cũ của nhà máy, ông già cảm thấy lâng lâng, sung sướng là đã được cùng đứng trong hàng ngũ với mọi người, nhưng ông cố kìm lại, không thể hiện ra bên ngoài.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:16:38 am

        Kỹ sư Ti-mô-phê-ép, đảng ủy viên nhà máy, hướng dẫn cuộc họp, bên cạnh ông là Pê-tơ Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp, nhà cơ học và phát minh nồi tiếng một thời, mới về hưu. Ở đây còn có Ni-cô-lai- ép-xki, thợ chạm khắc cự phách, người cùng tuổi với A-lếc-xây và người thợ tiện tóc bạc hay cau có An-ma-dốp, mà Grô-mốp nhớ từ khi còn là học trò và tất nhiên là còn có những người khác trẻ hơn và xa lạ đối với ông.

        Cuộc họp đang bàn xem phải làm thế nào để bắt tay vào công việc sớm hơn và tốt hơn. Bởi vì trong nhà máy không còn thiết bị nào, cho nên cuộc họp quyết định một là, phải nhanh chóng đưa vào sử dụng những chiếc máy hỏng trong kho, hai là tìm kiếm những cỗ máy cái của các xí nghiệp thủ công nhỏ ở rải rác trong thành phố. Cũng ngay tại cuộc họp này, đã thành lập các đội sản xuất và cử các đội trưởng cũng như quy định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể. Sắt thép hầu như đã được chuyển hết khỏi nhà máy nên phải bàn xem sẽ tìm kiếm nguyên liệu ở đâu đây. Đối với dụng cụ đồ nghề thì đơn giản hơn cả vì mỗi người có mặt ở đây đều có các bộ đồ nghề riêng rất phong phú được tích lũy từ nhiều năm nay. Cũng chính vì bộ đồ nghề mà ông Grô-mốp phải về nhà nhân tiện lấy thêm khăn mặt, xà phòng để ở hẳn lại nhà máy như cuộc họp đã quy định. Lúc trở về ông đi nhanh hơn, thoải mái hơn như thể tối qua Ông thực sự trẻ lại tới mười tuổi.

        Song ông buộc phải ở lại nhà lâu hơn. Bà em gái An-na Va- xi-li-ép-na không cãi lộn với anh trai về việc ông tự bỏ nhà ra đi mặc dù trong thâm tâm rất lo lắng và bối rối cho ông anh bướng bỉnh. Bà chỉ hỏi ông việc ngủ đêm trong nhà máy ra sao, và hứa ngày mai sẽ mang thức ăn tới cho ông. Khi nghe tin con dâu, vợ Pa-ven đã đến đây rất bất ngờ, ông mới quan tâm hỏi kỹ hơn. Na- ta-sa đã ở trong nhà. Cả đêm qua chị cảm thấy mệt mỏi, rã rời sau khi chia tay với Pa-ven, về đến nhà, chị thiu ngủ lúc nào không biết trong phòng của anh. Và giờ đây, ông già đang nóng lòng chờ con dâu tỉnh dậy: dù có vội trở lại nhà máy thế nào đi chăng nữa, ông cũng không thể ra đi khi chưa được gặp cô ấy.

        Trong lúc đó, bà An-na chuẩn bị bàn ăn. Nhân dịp Na-ta-sa đến, bà trải lên bàn chiếc khăn sạch sẽ và lấy bộ cốc đĩa đẹp nhất vẫn cất trong tủ ra, cẩn thận lau bộ đĩa với những đường viền mạ vàng đã sờn. Để khỏi phải ngồi không, ông nhận lấy việc nhóm lò. Gò người trên chiếc ghế cong trước cửa lò, ông vừa phồng mồm thổi vừa xếp củi cho bén lửa.

        — A-nhiu-ta ! A-nhiu-ta!... — Chốc chốc ông lại gọi khẽ bà em gái đến chỗ mình.

        An-na đến gần, và ông ngước đôi mát long lanh ánh lửa lên nhìn bà.

        — Thế có nghĩa là tiểu thư đã đến phải không ? Và đã đến cả chỗ Pa-ven rồi cơ à? — Ông hỏi rất khẽ để cho con dâu khỏi nghe thấy.

        — Đến đấy rồi, gặp nó rồi... Chúng nó ở trong Vườn hoa văn hóa. TÔI đã nói với ông rồi cơ mà! — An-na trả lời.

        — Bà có nói rồi nhưng tôi muốn nghe kỹ hơn! Thế là cuối cùng nó cũng đã đến đây. — Quay lưng lại, ông làu bàu.

        Không hiểu sao việc con dâu làn đầu tiên xuất hiện trong nhà đã gây cho ông một phản ứng mơ hồ. Vừa hài lòng về Pa-ven, đồng thời ông cũng có cảm giác giống như bực tức.

        — A-nhiu-ta! — Sau một vài phút im lặng, ông lại gọi bà em —  Theo bà, nó có thương Pa-ven hay không ?

        — Nếu cô ấy đã lặn lội đến đây, chắc là cô ấy thương nó. —  Nhìn vào cánh cửa buồng đóng kín, An-na thì thầm — Cô ấy là vợ của nó, chứ có phải là người dưng nước lã đâu mà...

        — Nhưng điều này đối với các cô gái ngày nay thì chẳng có ý nghĩa gì lắm đâu. — Ông già làu bàu rồi im lặng.

        Bỗng nhiên trước mặt ông xuất hiện hình ảnh sinh động và tuyệt đẹp của một người đàn bà duy nhất mà ông đã từng yêu mến. Cũng có thể  chính vì vậy, mà hôm nay ông trẻ lại một cách kỳ lạ và xúc động mạnh mẽ khi ông nhớ lại hình ảnh người vợ quá cố của minh. Giờ đây, sau nhiều năm đã qua, ông như lại cảm giác được sự mất mát riêng tư không thể bù đáp nổi đối với cả cuộc đời còn lại của mình. Và tất nhiên là theo ông thì không một người phụ nữ khác nào từ thời xa xưa đến cả thời bây giờ có thể so sánh được với mẹ Pa-ven.

        — Không phải vậy đâu, anh A-li-ô-sa, tôi cảm thấy cô ấy là người thật thà, tốt bụng. — An-na phản đối.

        — Bà nói cái gì thế! Cái gì thế? — Như bừng tỉnh, ông già hỏi lại.

        — Ông nỏi điều này bẵng thừa, cô ấy còn trẻ và quả là có thể còn chưa tự chủ được mình.   

        Grô-mốp ngước nhìn em gái dưới hàng lông mày rậm, vẻ không tán đồng.

        — Pa-ven nó không lấy bà già, không lấy người bạn nào của cô đâu, — ông già nói to, vẻ giễu cợt.

        Bà An-na liếc nhìn về phía cửa ra vào : liệu Na-ta-sa đã dậy chưa ? Nếu mà là hôm qua thì bà đã không ngần ngại chỉnh cho ông già một trận, nhưng sau khi ông ở nhà máy về thì thái độ của bà với ống có vẻ ân cần và thận trọng hơn.

        — Nói khẽ thôi, A-li-ô-sa! — Bà khẽ nhắc ông anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:17:08 am

        Một phút sau, A-lếc-xây lại lầm rầm nói. Củi trong lò đã cháy; ánh lửa hồng bập bùng nhấp nháy trên khuôn mặt to hằn những nếp nhăn của ông già.

        — Thế nào, nó ra sao? Trong người thế nào? — Ông hỏi một cách khó khăn. — Trông mặt mũi nó có khá không ?

        Bà già đã bày xong bát đĩa liền kéo ghế ngồi xuống cạnh A-lếc-xây, đặt đôi tay rất to lên đùi.

        — Nói thế nào với ông được nhỉ ? — Nhìn vào ngọn lửa, bà nói một cách nghiêm trang. — Theo tôi thì không sao cả. Ông biết không, tóc tết đuôi sam quá thắt lưng, và khá khỏe mạnh.

        Ông nh:n em gái, vẻ nghi ngờ:

        — Tôi chẳng hiểu nổi các bà...

        Trong lò có tiếng củi nổ tí tách, hai ba hòn than hồng bắn ra và rơi xuống tấm sắt trên sàn. Ông lấy ngón tay nhón chúng lên và quẳng vào ngọn lửa.

        Hai con người già cả đó ngồi im không nói thêm một lời nào nữa và trong nhà chỉ còn nghe thấy tiếng củi cháy xèo xèo cùng tiếng nổ lép bép. Lát sau bà già đứng dậy đi vào bếp. Trong phòng Pa-ven có tiếng lò xo giường kêu kèn kẹt và có như không nghe thấy gì cả... Trước mặt ông lại xuất hiện hình ảnh người phụ nữ thân yêu, dịu dàng, trẻ trung với nụ cười khó quên chi dành cho mình ông, một hình ảnh từ bao lâu nay vẫn day dứt lòng ông. Những bức tranh dứt đoạn, những nét chấm phá tỉ mỉ của những buổi gặp gỡ, những phút ấm cúng của cuộc sống chung — xuất hiện và rồi lại nhanh chóng trôi đi trong ký ức của ông và hình như trong tâm hồn sâu đậm của người phụ nữ ấy có một vài cái gì đó thỉnh thoảng lại lóe lên, lúc rọi sáng cái này, lúc rọi sáng cái kia. Ông già từ ngạc nhiên đến tự hào và không tin rằng tất cả những điều ấy đã thực sự xảy ra với ông.

        Sau tấm vách ngăn bằng gỗ dán có tiếng ghế dịch chuyển và sàn nhà kêu cọt kẹt : ông già vẫn không quay lại. Không hiểu sao, bao năm tháng đã trôi qua mà trí nhớ của ông vẫn hiện rõ những hình ảnh của một quá trình ngược chiều với thời gian, nhiều biến cố đã bị lãng quên từ lâu bỗng lại tái hiện với vẻ sinh động kỳ lạ, trong khi đó nhiều sự kiện mới đây, phải khó nhọc lắm ông mới nhớ lại được. Và kỳ lạ thay, những điều làm cho A-lếch-xây nhớ lại nhiều hơn không phải là những nỗi bực tức, cực nhọc và bất công đầy dãy trong cuộc sống trước đây của ông mà là những gì đã dẫn đến cuộc đấu tranh liên tục với nỗi căm giận những bất công ấy, đó là tuổi trẻ, lòng dũng cảm, tình đồng chí, tính kiên trì trong lao động, sự thủy chung với tình bạn, hạnh phúc trong tình yêu... Chẳng hạn như chính lúc này đây khi đưa đôi mắt cay xè vì khói nhìn những thanh củi đang cháy xèo xèo và nổ lách tách, ông như thấy lại thật rõ rệt một đêm tháng tám xa xưa, nghe thấy lá cây lạo xạo và bài hát rất quen thuộc nào đó từ phố xa vọng lại, thế là tim ông lại thổn thức vì một niềm hạnh phúc lớn lao cách đây hơn bốn mươi năm. Sau khi nhảy phốc qua dãy hàng rào cọc vót nhọn ở phía trên, ông đã ở trong một mảnh vườn con tối lờ mờ, chật chội và hơi ngột ngạt, nhưng ngay trong bóng tối lờ mờ ấy, ông bỗng bắt gặp một khuôn mặt con gái trẻ trung, trắng trẻo. Và cũng như trong cái đêm xa xôi đó, lúc này ông lại cảm thấy trong tay mình có một bàn tay khác, nhỏ nhắn, cứng rắn và nóng hổi...

        Còn đây hình ảnh một chiều thu thứ bảy, khi những người khác mới chỉ bắt đầu đi vào các tiệm thì đôi trai gái đó đã từ nhà thờ trở về, và chàng trai Grô-mốp lúc ấy đã trình diện trước mặt bố mẹ cô gái, xin được cầu hôn với cô. Lúc đó ông mặc chiếc sơ mi xa tanh màu xanh dành cho ngày lễ và bộ. com blê mới, mượn tạm của bạn... Và ông bố cô Ôn-ga, một ông thợ lắp ráp khá giả với bộ râu hẹp và mái tóc bôi dầu nhà thờ, một con người mê tín, keo kiệt, ham quyền hành đa giễu cợt anh rồi đuổi anh ra... Hôm nay khi nghĩ đến điều này, Grô-mốp vẫn mỉm cười mai mỉa nhưng không hề bực bội. Sau đó không lâu, người vợ chưa cưới của anh đã tự động đến với anh, và làm sao có thể quên được, không tài nào cỏ thể quên được: khuôn mặt cô lúc ấy, ngượng ngùng đỏ nhừ, mắt cắm xuống đất, cô gái đặt lên chiếc ghế đầu một gói trắng — tất cả những gì gọi là của hồi môn của mình...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:46:22 pm

        Một cảm giác đau nhói vì xúc động và biết ơn trào lên mãnh liệt đến nỗi làm cho Grô-mốp phải rên lên một tiếng. Sau đó ông nhớ lại là ông đang đi giữa thành phố với những hàng rào san sát ở hai bên, có kỵ binh bảo vệ. Đó là một ngày mùa đông nắng đẹp, tuyết phủ trắng khắp nơi, những ngọn tháp dát vàng của nhà thờ lấp lánh. Cố gắng theo kịp đoàn diễu hành cầu Chúa, Ôn-ga vội vàng đi theo những người đàn bà khác trên vỉa hè. Người chị cân đối, cao, trên vai quàng chiếc khăn thơm phức. Ôn-ga nói với ông một điều gì đó, nhưng do quá ồn ào, nên ông không thể nghe rõ. Và ông chỉ cười, vẫy tay để động viên chị. Vì phải đi nhanh và quá xúc động nên người chị đỏ rực. Khuôn mặt trẻ trung với đôi mắt to và hàng lông mày đen huyền dựng đứng của chị đẹp một cách lạ thường... Bỗng nhiên ông trông thấy chính khuôn mặt ấy, nhưng nó bị biến dạng bởi nỗi đau thương và sợ hãi. Từ nhà máy, các đồng chí đưa ông về, trên người đầy những vết thương do thỏi đúc bằng gang quệt vào. Từ trong nhà, Ôn-ga chạy tới chỗ ông, chân đi đất, tóc rối tung, chị cuống quít lau đôi tay sẫm nước vào chiếc tạp dề. Mặc dù toàn thân bị đau ê ẩm, ông vẫn ngẩng đâu lên, cười và nói với chị : « Anh vẫn còn sống em ạ, còn sống...».

        Na-ta-sa dãy cửa, vén chiếc rèm vải lanh lên, rồi bước qua ngưỡng cửa. Ngồi quay lưng về phía chị, trên chiếc ghế con bên bếp lò là một ông già to, cao với đôi vai hơi thẳng. Ngọn lửa reo, củi nổ lách tách lúc nhỏ lúc to, những vết sáng hiện ra trên chiếc sàn gỗ dán. Na-ta-sa đứng im chờ đợi ông già sẽ quay lại, nhưng hình như ông đang thiu thiu ngủ bên lò sưởi ấm áp, đầu hơi gục xuống. Lúng túng một lúc bên ngưỡng cửa, Na-ta-sa quyết định lên tiếng trước.

        — Con xin chào... — Chị ngập ngừng cất tiếng.

        Grô-mốp thực sự như vừa tỉnh giấc, ông vội vàng cố sức đứng bật dậy. Đứng trước phòng con trai là một cô gái rất trẻ, gần như là trẻ con, đang nhìn ông. Cô mặc chiếc váy ngắn hơi nhàu, mái tóc chải hơi lệch về một bên.

        Ngay lúc đó, vô hình so sánh Na-ta-sa Với vợ mình, ông cảm thấy thỏa mãn hoàn toàn. Theo ông thì Na-ta-sa không thể so sánh nổi với bà Ôn-ga lúc trẻ. Mặc dầu ông mong cho con trai có người bạn đời tốt nhất, nhưng ông vẫn hài lòng với ấn tượng đầu tiên về vợ Pa-ven...

        — Rất hân hạnh mời chị vào. Chị đã đến... Thật là quý hóa, —  ông nói.

        Na-ta-sa nhút nhát đi đến bên ông. Và không biết phải làm những gì trong buổi gặp mặt đầu tiên với con dâu, ông ngượng ngập, nhẹ nhàng xoa đầu chị, như thể xoa đầu một cô bé gái.

        — À, há... Rất tốt là chị đã đến, nhà tôi có đủ chỗ... Rất hân hạnh mời chị. Ồng nhắc lại.

        — Pa-ven đã kể cho con nghe nhiều về bố, —Na-ta-sa lễ phép nói.

        — Nó đã kể rồi cơ à ? Nó là như vậy đấy!... Nó kể cho chị cái gì vậy ? À, mời chị ngồi xuống...

        Trong khi nói chuyện, A-lếc-xây tò mò nhìn Na-ta-sa, cố hiểu xem, tại sao Pa-ven lại chọn người phụ nữ này trong số tất cả những người khác mà anh thân quen. Và ông hoàn toàn không tìm thấy ở chị có cái gì đó xứng đáng được đặc biệt hâm mộ.

        — Chị ngồi xuống... ngồi xuống đây này... Không có sự thật khi người ta đứng, — ông già vui vẻ nói.

        — Cảm ơn bố. — Na-ta-sa cảm tạ và ngồi xuống — Tên bố là A-ỉếc-xây, con được biết...

        Ồng già gật mái đâu to, đốm bạc.

        — Đúng rồi, A-lếch-xây Va-xi-lê-vích, — ông nói với nụ cười khó hiểu với Na-ta-sa.

        — Còn con là Na-ta-sa. Chắc bố đã biết. — Và chị bỗng mỉm cười.  Ông già ngồi đối diện bên bàn, sẵn sàng nghe tiếp câu chuyện, song Na-ta-sa lại im lặng, cố nghĩ xem nên nói những gì với bố chồng trong buổi đầu làm quen.

        — Chị nói rằng, Pa-ven kể nhiều về tôi phải không? — Sau một lúc im lặng, A-lếc-xây lên tiếng trước, giọng trầm trầm. — Tôi muốn biết, nó kề về cái gì thế?   

        — Nhiều lắm ạ... Về việc bố sống như thế nào và đại loại như vậy... — Na-ta-sa khẽ nhích người. — Hôm nay đây, anh ấy cung kề về bố!

        — Chị cứ nói đi! Cả hôm nay nữa cơ à? Nó nói cái gì thế, ví dụ xem nào ? Ông già có vẻ thích thú hơn.

        — Chà, nhiều chuyện lắm ạ,— Na-ta-sa nhớ lại việc hôm nay Pa-ven gọi bố minh là bướng bỉnh như trẻ con. — Anh ấy lo lắng cho bố...   

        An-na bước vào phòng, tay bê đĩa khoai tây luộc đang bốc khói. Trên bàn đã bày dủ thứ thức ăn: nào cá hộp, cá trích rán với hành sống, ba tê hộp, dưa bắp cải và cả một khay kẹo hồng không giấy. Cuối cùng, bà già mang ra một chai rượu anh đào màu thẫm được buộc kỹ càng bằng mảnh vải trắng. Nhìn thấy chai rượu, ông già nó đùa rất to:

        — Lâu lắm rồi tôi không chịu rước lễ, còn hôm nay tôi sẽ nếm thử thứ thuốc độc của mình, cô A-nhiu-ta nhé! Mấy khi có dịp như thế này...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:46:55 pm

        Bà An-na đưa đôi mắt nghiêm nghị nhìn đồ ăn thức uống. Đã nhiều năm, bà là người quản gia của ông anh trai góa vợ và bà hoàn toàn cảm thấy mình có trách nhiệm trước danh dự của gia đình. Dĩ nhiên là nếu như trước chiến tranh thì bà sẽ đón vợ thằng cháu tốt hơn nhiều, nhưng bà đã làm hết khả năng của mình và lúc này bà thấy bàn ăn nhìn cũng khá hấp dẫn. Lúc này dù thế nào đi chăng nữa thì cô cháu dâu, người vợ trẻ của Pa-ven cũng không có cớ gì để nói rằng: nhà bố chồng đón chị không tốt.

        — Đừng giận nhé, Na-ta-sen-ca ! — Bà An-na nói. — Chúng tôi chỉ giản dị thế này thôi...

        Dĩ nhiên Na-ta-sa không thể nhận ra và đánh giá được sự cố gắng của bà chủ nhà. Chị ăn ít và thỉnh thoảng lại ngẩn người ra bên đĩa ăn, đáp lại một cách dè dặt những câu hỏi và trông dáng điệu thật nhút nhát. Nhưng không phải là do chị đôi khi đã bắt được những cái liếc nhìn quan sát kín dáo của hai ông bà già: cái nhìn chăm chú không rành rọt của bà An-na và cái nhìn vui vẻ, hơi giễu cợt của bố chồng. Như đã biết trước những người thân sẽ chăm chú nhìn chị, và nếu vào lúc khác thì Na-ta-sa đã cảm thấy buồn cười hơn là ngượng nghịu. Nhưng Na-ta-sa không lúc nào không nghĩ đến Pa- ven và chị cảm thấy lạ lùng là không có anh, chị vẫn ngồi được ở đây với những người thân thương nhưng vẫn còn xa lạ mà chị chỉ được biết ít nhiều qua miêu tả của anh trước đây. Khi nghĩ đến nỗi nguy hiểm đang de dọa chồng, chị chỉ muổn đứng ngay dậy khỏi bàn và lại chạy lao tới vườn hoa phủ đây lá cây ẩm ướt, nơi sáng nay chị đã chia tay với Pa-ven.

        Bà An-na cũng là người ít nói, bà chỉ chăm chú tiếp thật nhiều thức ăn cho khách thôi. Và nếu chỉ nhìn vẻ bên ngoài khắc nghiệt của bà thì không ai có thể nhận ra là bà đau lòng như thế nào khi trông thấy vợ Pa-ven — mà lúc này đây còn là người phụ nữ hầu như xa lạ dối với bà — ngồi đây, trong khi anh vắng mặt và cũng có thể không khi nào trở lại đây nữa. ,

        Chỉ có một mình ông già A-Iếch-xây nói chuyện bên bàn ăn. Ông hỏi Na-ta-sa về Mát-xcơ-va vỀ gia đình chị, đùa vui trước ý định trở thành kỹ sư của chị và nói chung ông nói chuyện như thể không có gì làm ông bận tâm. Sau hai ba câu, ông chuyển sang gọi con dâu là « con » và gọi theo tên chị.

        — Trước kia bố có một con trai duy nhất, còn bây giờ có thêm con gái nữa. Sắp tới, bố không tránh khỏi trở thành ông nội, — ông pha trò. — Sao con ăn ít thế, Na-ta-li-a. Không tốt, con gái ạ! Phải ăn nhiều vào... Có thể con còn lớn thêm nữa chứ !

        Và dưới hàng lông mày rậm, đôi mắt ông ánh lên vẻ hoàn toàn trẻ trung, vui vẻ. Bà An-na chăm chú nhìn anh trai, chưa bao giờ bà thấy ông già sôi nổi và cởi mở bằng hôm nay. Thậm chí bà còn nghĩ là, sau một thời gian dài kiêng kị, liệu rượu có quá tác động anh ấy không ?

        Uống cạn thêm một ly nữa, ly cuối cùng, A-lếc-xây đứng dậy khỏi bàn.   

        — Thôi, những con bồ câu của tôi ơi, tôi đi đây, — ông báo tin. — Đã đến lúc rồi!...

        Khi ông nói điều này, Na-ta-sa nhận thấy một cái gì đó rất quen thuộc. Nụ cười ông già nở rộng nhã nhặn, hiền từ, và qua những nếp nhăn của ông, bỗng nhiên xuất hiện những nét khác rất đáng yêu của Pa-ven.

        — Cẩn thận đấy, hai cô cháu đừng có cãi nhau nhé! — Ổng nói đùa và mặc áo rét. — Theo như tôi nghiệm thì khi hai bà chủ cùng nhà thường có những cuộc cãi nhau chí tử. Có thể sau hai, ba ngày tôi sẽ về qua và kiểm tra xem hai người dàn giải với nhau như thế nào.

        Dụng cụ và một số tư trang của ông đã được xếp gọn trong các túi vải sơn dầu. Chụp vội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu, ông ra cửa và quay lại gật đầu chào Na-ta-sa.

        Bà An-na đi ra bậc thềm tiễn ông anh. Khi quay vào, bà giật mình vì tiếng súng cao xạ vang lên bất ngờ, làm cho những tấm kính trên khung cửa cũ kỹ rung ỉên cành cạch. Nhưng vẫn không nghe thấy tiếng máy bay.

        — Thế nào, Na-ta-sen-ca, chúng ta sẽ cùng rửa bát đĩa nhé! — Bà già nói.

        Theo con đường tới A-rxê-nhi-ép-xcơ, đại đội dự bị của trung đoàn công nhân nhanh chóng tiến vào làng, nơi mà họ phải phòng ngự ở đó. Các chiến sĩ khẩn trương đào chiến hào ở cổng làng phía nam và dọc theo con đường bọn Đức có thể xuất hiện từ phía A-rxê-nhi-ép-xcơ tới. Pa-ven Grô-mốp nhận được lệnh của đại đội trưởng cho trung đội anh chiếm lĩnh trên một gò cao ở cánh đồng nông trang.

        — Anh đã rõ nhiệm vụ chưa ? — Đại đội trường hỏi Grô-mốp. — Tôi nhắc lại: các anh che chở phía sườn cho chúng tôi. Nếu quân địch bị chặn lại trên đường cái, chúng sẽ đánh tạt vào sườn trận địa chúng ta. Nhiệm vụ các anh là hãy chặn chúng lại bằng hỏa lực của mình và tiêu diệt chúng. Anh đã rõ chưa?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:47:45 pm

        Đại đội trưởng, dáng người xương xương, nhỏ nhắn, rất trẻ, chỉ độ hai mươi hai, hai ba tuổi. Anh mặc chiếc áo ca pốt da, đội mũ lưỡi trai, viền đỏ ở vành chỏm hơi vênh lên. Vừa nói anh vừa hất đầu về phía sau. Hàng lông mạy đen, rậm mọc sát tới gốc mũi tạo cho anh một vẻ cau có.

        — Rõ... Tôi hiểu đầy đủ. — Nghiêng người Về phía chỉ huy của mình, Pa-ven vội vàng trả lời.

        Các anh sẽ bắt đầu trận đánh khi bọn Đức quay về phía các anh. Và lúc đó các anh hãy tự đứng vững dù cho cả một tiểu đoàn địch có tiến công các anh đi chăng nữa!

        — Hoàn toàn đúng! — Pa-ven đáp với vẻ sẵn sàng hoàn thành mệnh lệnh.

        — Anh hãy nhắc lại nhiệm vụ. — Đại đội trưởng nói.

        — Nói chung tất cả đều đã rõ... — Pa-ven bắt đầu.

        — Anh hãy nhắc lại nhiệm vụ. — Trung úy lắc đầu ngắt lời.

        Khi Grô-mốp nói, anh ta không rời đôi mắt đen cáu kỉnh khỏi người trung đội trưởng của mình.

        — Lần này là lần đầu và cũng là lần cuối cùng anh hãy nhớ lấy là không khi nào được tranh cãi với chỉ huy. — Anh nói khi Pa-ven kết thúc.

        — Rõ. — Pa-ven trả lời không hè tỏ vẻ bực bội.

        Sau đó trung úy chỉ dẫn chỗ nào nên đặt ụ súng, chỗ nào nên đặt súng máy. Anh cho thời hạn hoàn thành tất cả những công việc đó là hai giờ. Buông một câu ngắn gọn: « Đồng chí hãy thi hành đi! », và trung úy vội vã sang trung đội bên cạnh. Trông anh có vẻ rất căng thẳng và trực tính. Trung úy đi chậm chạp, khó nhọc lôi đôi ủng bằng vải không thấm nước cực to ra khỏi đất bùn nhầy nhụa.

        Grô-mốp nhìn theo anh với vẻ kính nề và biết ơn. Dù tuổi đời còn trẻ, người thanh niên nghiêm nghị và dứt khoát, am hiểu và biết làm nhiều việc hơn so với Pa-ven và chắc là, so với tất cả những ai ở đây. Cánh đồng lặng gió, không khí tươi mát và yên tĩnh. Trời đầy mây, những tia nâng yếu ớt tỏa xuống cánh đồng. Pa-ven cũng cầm xẻng, nhìn gương trung đội trưởng, các chiến sĩ cùng khẩn trương, vội vã đào đất. Đất mềm và sũng nước. Sau lớp đất màu bên trên là tầng đất sét đỏ thẫm. Trông thấy đất sét đỏ trên mặt hào, Pa-ven ra lệnh mang đến mấy bó lúa mạch dùng ngụy trang công sự. Người nóng bừng, mồ hôi lấm chấm, Pa-ven nhảy lên mặt công sự. Lấy tay áo lau mặt, anh quan sát xung quanh.

        Các vị trí phòng ngự của trung đội anh hình thành một góc tù, một hướng quay về cánh rừng xa xa tạo thành một dải sương mù, còn hướng khác về phương nam, nơi có con đường trơ trụi uốn khúc. Sườn đồi nơi Pa-ven đứng dốc thoai thoải xuống tận đường. Ở phía dưới, các công sự của trung đội bạn bên cạnh loáng thoáng ngay bên lề đường cày thẳng tắp, chạy dài tận chân trời. Lớp đất đen màu mỡ đang ấp ủ trong nó những hạt giống của vụ xuân năm tới. Từ chính đường cái, một con mương thẳng tắp với dòng nước đục lờ mờ cắt ngang cánh đồng. Mấy cây bạch dương mảnh khảnh trên nền đất cày đen thẫm. Bên trái làng là một rừng thông xanh, rậm rạp,

        — Họ chọn chỗ không đến nỗi tồi. Cậu nghĩ thế nào, Ê-go? —  Pa-ven hỏi với một giọng trầm, to khỏe đến nỗi mọi người xung quanh đều nghe rõ. — Không nhận ra thì đừng có mà đến gần chúng ta. Vị trí rất tốt,

        « Đây là ý trời! » Trô-sin nghĩ.

        Anh ta đứng dưới công sự, đầu ngẩng cao, người tựa vào chiếc xẻng. Pa-ven cởi cúc ngực áo bành tô, đi giày sàn, thô, bê bết đất sét đỏ quạch. Nhìn thấy Pa-ven đứng trên bờ công sự, Ê-go tưởng đó là một người khổng lồ.

        — Ở đó chúng ta sẽ thấy, cái gì sẽ xảy ra. — Anh ta nói lấp lửng. — Ở đó chúng ta sẽ thấy...

        — Không phải vị trí tô điểm con người, mà con người tô điểm cho vị trí. Tôi cho là như vậy, đồng chí chỉ huy ạ ! — Giọng nói khàn khan của A-nhi-xi-mốp vang lên.

        Và trên bờ chiến hào nhô lên khuôn mặt hồ hởi sẫm mồ hôi với bộ râu lởm chởm của ông.

        — Đúng vậy, ông bạn ạ! — Pa-ven nói to — Bây giờ thì mọi thứ sẽ phụ thuộc vào chính chúng ta.

        «... Và thế là họ tìm ra một cánh đồng rộng » — anh nhớ lại một bài thơ nổi tiếng: « Có nơi dạo chơi và họ dựng pháo đài»...

        — Đồng chí chỉ huy ơi! — một người nào đó bên cạnh nói to. — Nếu có gì thì chỉ giọng nói của anh cũng làm bọn Đức khiếp sợ!...

        Tiếng cười nổi lên và Pa-ven cũng cười to, đứt đoạn, để lộ hàm răng đều đặn, trắng muốt.

        — Theo tôi thì chính xác hơn là bằng lựu đạn,— Trô-sin nói, giọng khô đặc.

        Ngâm nghía người bạn của mình, anh lại hậm hực với sức lực dư thừa cùng sự vui vẻ, mà theo anh nó không có cơ sở. Ngay dáng vẻ bề ngoài của Pa-ven đã khêu gợi trong anh một ý muốn chống đối, bảo vệ mình, cố gắng chiến thắng trong một điều gì đó. Và với lòng căm giận đã trở thành tàn nhẫn, anh cúi xuống đào, mặc dù đã khá mệt.

        — Cậu nói đúng đấy bằng lựu đạn thì sẽ chắc chắn hơn. — Pa- ven độ lượng tán thành, rồi lại cười và im bặt khi nhìn xuống con đường ờ dưới.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:48:23 pm

        Đại đội trưởng cùng với chính trị viên thong thả leo lên sườn đồi. Trung úy xem xét công sự và ra lệnh đào sâu thêm ở một số nơi. Khuôn mặt trẻ với hàng lông mày rậm của anh ta vẫn giữ nguyên vẻ không bằng lòng, thậm chí còn tức giận nữa. Mải nói chuyện với các chiến sĩ, chính trị viên không theo kịp đại đội trưởng. Trong khi chờ đợi chỉ thị, Pa-ven niềm nở nhìn anh từ đầu đến chân.

        — Tiếp theo đây, anh định làm gì, đồng chí trung đội trưởng? — Trung úy hỏi Pa-ven.

        — Tiếp theo à ? — Pa-ven hơi ngạc nhiên. — chiến đấu, thưa đồng chí đại đội trưởng!

        — Quan trọng là anh định đánh như thế nào cơ chứ? Điểm quan sát của anh ở đâu ? — Hất đầu về phía sau, trung úy hỏi.

        — À, vâng! Xin lỗi... — Pa-ven ngớ ra. — Tôi vẫn chưa nghĩ đến điều này...

        — Thế anh nghĩ về điều gì vậy?... — Trung úy gào lên, nhưng ngay lúc đó anh ngừng bặt.

        Pa-ven hiểu rằng, chàng sĩ quan quá trẻ này chắc chắn là mới rời khỏi trường quân sự, phải cố gắng lắm để kiềm chế cơn phẫn nộ của mình. Và không hề bực bội, anh rất thông cảm với người chỉ huy

        « Quả thật là anh chàng khốn khổ này sẽ còn rất vất vả với chúng ta, — anh nghĩ. — Nhưng không sao, chúng mình sẽ giải quyết ngay bây giờ ».

        — Từ điểm quan sát của mình, — trung úy căn dặn, — người trung đội trưởng phải cố gắng nhìn thấy tất cả các tiểu đội trực thuộc cùng các hỏa lực. Anh đã rõ chưa ?

        — Tất nhiên, — Pa-ven nói.

        — Trong trường hợp này, nếu tôi ở cương vị của anh, tôi đã chọn chỗ gần cái đống kia kìa! — Trung úy giơ bàn tay đi tất sợi xám chỉ về một trong những túp lều rơm.

        — Vâng, chỗ ấy sẽ rất tiện lợi. — Pa-ven tán thành.

        — Sau đó, cũng rất nhanh chóng quan sát trận địa và không trung. Kẻ thù có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Hãy xác định tầm bắn cho mỗi tiểu đội và hãy bắn thử mục tiêu. Anh đã rõ tất cả chưa? Nhắc lại đi.

        Lần này Pa-ven rất muốn nhắc lại mệnh lệnh. Lật tay áo ca pốt, trung úy nhìn đồng hồ, chiếc đồng hồ quả quít rất to, trong bao da, to hơn cổ tay nhỏ nhân của anh ta.

        — Đúng mười sáu giờ, anh hãy báo cáo tôi về việc chấp hành mệnh lệnh ! — Trung úy ra lệnh.

        — Rõ, đúng mười sáu giờ phải báo cáo về việc thi hành mệnh lệnh. — Pa-ven nói với vẻ hài lòng.

        Không thèm nhìn thêm Pa-ven, đại đội trưởng sửa lại chiếc mũ lưỡi trai mới cứng trên đầu, rồi quay lại và đi vào làng.

        . ... Không khí sạch hơn và một mảng trời xanh xuất hiện. Pa- ven đi báo cáo với đại đội trưởng. Lúc này ở phía nam từ hướng A-rê-nhi-ép-xcơ lại vọng lên tiếng súng — trong tiếng nổ hỗn loạn thỉnh thoảng lại nồi lên tiếng rền mạnh hơn, giống như tiếng thở dài nặng nề. Nhưng xung quanh vẫn yên lặng, vắng vẻ tưởng như chiến sự diễn ra ở một nơi nào đó rất xa.

        Theo khả năng của mình, Pa-ven đã thực hiện đầy đủ mệnh lệnh của đại đội trưởng. Khó hơn cả là việc xác định khoảng cách trên cánh đồng quang đãng, phẳng lì này. Và ngay lúc đó Pa-ven nảy ra ý nghĩ: anh quyết định đặt mốc — những cái gậy có túm rơm ờ trên đầu — ở khoảng cách bốn trăm và hai trăm mét cách chiến hào. Pa- ven không chịu ngồi yên phút nào, anh tự đo và cắm mốc các khoảng cách. Lòng tin của anh vào việc anh cùng các chiến sĩ sẽ đứng vững trước sức tiến công mãnh liệt của kẻ thù, càng tăng và vững chắc thêm khi đã có những cơ sở thực tế.

        Từ điểm cao của mình, Pa-ven đi xuống cổng làng, đề lại trên đất những vệt chân dài sâu hoắm. Ban chỉ huy đại đội đóng ở ngôi nhà gỗ thứ hai kể từ rìa làng. Ngôi nhà bằng gỗ ván chắc mới được lợp lại bằng những tấm sắt sơn xanh, trông sáng sủa và đẹp đẽ hơn so với những ngôi nhà bên cạnh. Trong vườn rau, mấy bụi cây trơ trụi, nhợt nhạt đứng bên cửa sổ sơn màu xanh biếc. Người liên lạc đang ngồi hút thuốc trên chiếc ghế dài màu xanh dặt cạnh cổng hàng rào.

        Bước nhanh qua mấy vũng nước bùn trong sân, Pa-ven chạy đến những bậc thềm dựng đứng. Một bà già lưng gù im lặng đứng bên đống cỏ khô xám xịt chỉ hơi gật đầu khi Pa-ven cất tiếng chào. Gỡ chiếc móc sắt đính vào cánh cửa bằng nỉ và không gõ cửa, Pa- ven bước vào phòng.

        Tay vén chiếc rèm trắng bâng vải băng, đại đội trưởng, đang đứng bêa cửa sổ và nhìn xuống đường. Anh không mặc ca pốt, vai hẹp, lưng nhỏ, trong chiếc va rơi vặn vỏ dỗ ở đằng sau nên lúc này trông càng trẻ hơn.

        — Xin phép đồng chí trung úy, — Pa-ven nói to.

        Trung úy rời khỏi cửa sổ, ngượng đỏ mặt vì cái vẻ lo lắng bồn chồn của mình.

        — Anh đấy à? Báo cáo đi. — Trung úy nói đứt đoạn.

        Tuy vậy anh đã nhanh chóng thoát khỏi tâm trạng bối rối và khi Pa-ven báo cáo xong, trung úy đã nói với vẻ gay gắt quen thuộc của anh.

        — Hãy tăng cường quan sát hơn nữa. Nếu anh phát hiện hoặc nghe thấy điều gì khả nghi, báo cáo ngay tức khắc cho tôi.

        — Báo cáo ngay tức khắc... Rõ! — Pa-ven nói.

        — Hãy kiểm tra lại vũ khí lần nữa...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:36:40 am

        Anh buộc phải im lặng vì một bà cụ đội khăn, khuôn mặt choắt lại như khuôn mặt trong thánh giá, bước vào phòng. Bà cụ cầm trên tay cái liễn sành.

        — Sữa nóng... Uống sữa đi các con! — Bà nói với giọng mệt mỏi, yếu ớt ở cuối câu.

        — Cảm ơn bà, bà cứ quá lo lắng. — Trung úy nói và không hiểu sao lại đỏ mặt.

        — Sữa của chúng tôi rất tốt... Sữa ngọt. — Không để ý đến lời nói của trung úy, bà chủ nhà nói thêm.

        — Nhưng bà để sữa làm gì?,.. — Người trung úy trẻ cảm thấy rất khó xử. — Và cháu đã khuyên bà nên đi đâu một lát.

        — Tôi với đứa cháu gái sẽ xuống hầm chứa đồ. Chúng tôi có hầm chứa đồ ở trong vườn... Chúng tôi sẽ ngồi ở đó.

        Bà già đặt lên bàn mấy cốc vại tráng men và rót sữa ra. Bà giữ thành liễn màu nâu bằng cái thìa con. Bà đi lại và hành động một cách chậm chạp. Pa-ven nhận thấy tay bà run run. Mấy giọt sữa đặc màu vàng rơi xuống chiếc bàn gỗ ván bào nhẵn và bà lấy bàn tay lau chúng.

        — Mẹ đi đâu được hả con? Con hãy tự suy nghĩ xem trước chiến tranh, nông trang cho mẹ ngôi nhà gỗ này. — Bà lại bắt đầu với giọng nói nhỏ đến mức thì thầm ở cuối câu. — Thôi mặc kệ nó, mặc kệ cái nhà gỗ ! Chúng tôi đi đâu cơ chứ, cái thân già yếu ớt này ? Ở đâu cũng ngần này miệng ăn.

        Bà nhìn gian nhà sáng sủa, sạch sẽ với bếp lò đang nghi ngút cháy. Những bức tường gỗ tròn dán giấy màu sặc sỡ được đục đẽo cẩn thận ở bốn góc. Những cái chậu rửa mặt bằng đồng sáng loáng bên các cửa ra vào. Một chiếc giường sắt phủ khăn trải giường có các hình cây bài Pích ở giữa. Căn phòng ấm áp và rộng rãi thoảng mùi thơm dễ chịu của nhựa cây, sàn nhà rửa sạch và mùi bánh mì đang nướng thơm phức.

        — Chúng tôi không thể bỏ đi... Còn các con uống đi, uống đi! — Bà già tiếp tục. — Sữa ở đây nổi tiếng cả vùng này. Khi còn hòa bình, chúng tôi mang vào bán ở thành phố, bán cho các nhà trẻ...

        — Vâng ạ, cảm ơn mẹ.— Trung úy nói và nhìn Pa-ven.

        — Nào, các con cứ tự nhiên, đừng ngượng gì cả! Lạy trời cho các con sống lâu!

        Bà già cúi thấp người xuống và đi ra cửa. Nhân tiện bà lấy mũi giày sửa lại chiếc thảm lau chân.

        Trung úy đợi cho đến khi những bước chân chậm chạp của bà im bặt trong đám cỏ khô, anh chau mày và hàng lông mày rậm tạo thành một đường dựng đứng lên.

        — Anh hãy nhớ rằng,—trung úy nói, — nếu không có mệnh lệnh mà anh rút lui thì tôi sẽ bắn đấy!

        Không kiềm chế nổi, Grô-mốp mỉm cười: anh rất thích người chỉ huy mới mẻ này. « Con gà trống con cừ đấy! » — anh hài lòng nghĩ.

        — Đồng chí trung úy, tôi hiểu rồi! — Pa-ven nói rõ— Nhất định là thế!

        Anh muốn bày tỏ vẻ đồng tình, cởi mở của mình một cách rõ ràng hơn, nhưng trung úy quá nghiêm khắc và khó tiếp xúc.

        — Anh cũng nhớ rằng, — trung úy tiếp tục — chúng tôi đã gài mìn trên đường rồi. Con mương và cánh rừng che chở cho chúng tôi ở sườn bên trái. Và chắc chắn là kẻ thù sẽ tiến công chúng ta từ sườn bên phải ở vị trí của các anh. Trong trường hợp này tôi sẽ hỗ trợ cho các anh.

        — Cảm ơn đồng chí trung úy! — Pa-ven cảm động nói.

        — Trong trường hợp nếu kẻ thù vẫn cứ tiến công vào chính diện

        thì các anh chỉ nổ súng khi được lệnh của tôi. Các anh không được tự xuất hiện trước thời cơ. Có điều gì anh chưa rõ không ? Cử hỏi đi!

        — Không có gì cả,— Pa-ven vui vẻ trả lời. — Tất cả đều rõ ràng.

        — Xong rồi. Anh có thể đi. — Trung úy liếc nhanh sang cốc sữa. — Hãy uống cái này đi, nếu như anh muốn...

        Pa-ven cầm một cốc và uống hết một hơi ngon lành.

        — Còn anh làm sao thế? Hay là anh không thích? — Vừa lau miệng, Pa-ven vừa hỏi.

        — Tôi à ? —Trung úy như thể ngạc nhiên. Và tôi cũng có thể... —  Anh nhún vai, nói.

        Uống một hơi hết cốc vại sữa, anh hơi do dự và lại rót thêm.

        — Thật vậy, sữa ngon tuyệt vời !—Anh nói như thể để thanh minh. — Thú thực, tôi rất thích sữa nóng...

        — Tất nhiên là như vậy! — Pa-ven đồng tình và cũng bước tới liễn sữa.

        Cứ đứng vậy, họ nống cốc vại thứ hai.

        — Khoái thật! — Pa-ven xác nhận.

        — Này, này đồng chí Pa-ven — Trung úy nói với giọng dịu dàng hơn, — trong trung đội anh có người nào có kinh nghiệm chiến đấu không ?

        — Có ba người đã tham gia nội chiến, còn phần đông là thanh niên...

        « Nhưng anh đừng lo, chúng tôi không phụ lòng anh đâu » — Suýt nữa thì Pa-ven thêm vào.

        — Như vậy đấy... Thôi, làm sao được, — trung úy lại trở nên nghiêm khắc.

        Đặt cốc vại lên bàn, đút tay vào túi quần, anh đi đi lại lại quanh phòng, sau đó dừng chân trước mặt Pa-ven.

        — Và anh hãy nhở lấy một điều này nữa: chủng ta không để cho bọn phát xít tới đây. Tất cả có ngã xuống đây chăng nữa, nhưng chúng ta nhất thiết không cho chúng lọt vào. — Anh nói với giọng cương quyết nhất.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:37:04 am

        Khi trở về, Pa-ven lại nhìn thấy bà chủ nhà ở ngoài sân. Bà đang dùng xẻng khoắng cái gỉ đó trong thùng gỗ. Bên cạnh bà là một cô gái quàng khăn bông đỏ, mặc áo da ngắn đang đổ từ xô vào thùng. Cả hai đều nhìn Pa-ven nhưng vẫn không ngừng làm việc. Trên khuôn mặt ửng hồng của cô gái, Pa-ven nhận ra vẻ tò mò nhút nhát. Từ gian phụ xây thêm dưới mái gỗ kéo dài đến tận tường sau của ngôi nhà, vọng lại tiếng rống rền rĩ kẻo dài.

        Hoàng hồn đang buông xuống. Đấy là những phút ngắn ngủi trước khi trời tối, là lúc mà cả những vật xa xôi cũng hiện lên đặc biệt rõ ràng. Bầu trời nhuộm màu xanh, xa xa phía chân trời, cánh rừng hiện ra rõ hơn. Và trên cánh đồng màu đen sau đường cái, một vệt nước thẳng, sáng lấp lánh trong ánh hoàng hôn.

        Pa-ven đi thăm trung đội một lượt, nói chuyên với các tiểu đội trưởng và trở về lều của minh. Tất cả những gì mà anh và các chiến sĩ của anh có thể làm được trước cuộc chạm trán với kẻ thù, họ đã làm và lúc này họ chỉ còn mỗi một việc ngồi chờ. Một vẻ im lặng kỳ lạ bỗng nhiên xuất hiện sau một ngày huyên náo đầy những công việc. Pa-ven cảm thấy như anh bất ngờ dừng lại sau cuộc chạy đường dài và chỉ có lúc này mới có khả năng nhìn lại. Anh cởi mũ lông và phó mặc mái tóc rối, đầy mồ hôi cho bâu không khí lạnh lẽo. Người liên lạc của anh mặc áo ca pốt quân sự. Anh ta đi lại gần đó và xếp cành cây cùng rơm rạ thành chỗ ngủ ban đêm.

        — Này, I-gna-chi-ép, cậu đã xây cả một cung điện đấy à? — Pa-ven nói với anh ta.

        — Tôi sợ rằng đến đêm sẽ có mưa. — Người liên lạc miễn cưỡng trả lời.

        Pa-ven không tiếp tục nói chuyện nữa. Anh ngạc nhiên trước sự yên tĩnh bao quanh : tiếng súng đã ngừng, chỉ nghe thấy tiếng lép nhép của đất dưới chân các chiến sĩ và tiếng xích sắt loảng xoảng bên giếng nước.

        Một tiếng rền rất nhỏ vọng lại từ đâu đó, tiếp theo là tiếng thứ hai to hơn. Pa-ven quay lại và nhìn về phương bắc: ở đấy trong bầu không khí lờ mờ như trong tấm ảnh phai màu, nhấp nhô những ngôi nhà cao thấp, những ống khói nhà máy nhỏ dài như những chiếc kim khâu. Ở giữa đường đến thành phố là một cánh rừng nhỏ hình tròn giống như một đám mây xám rơi xuống mặt đất. Tiếng nổ thứ hai đã. vọng lại, nhưng tiếng thứ nhất vẫn còn đơn điệu rền rĩ.

        Một trạng thái rất đỗi ngạc nhiên dâng lên trong Pa-ven. Và nếu có thể so sánh được với cái gì thì, trước hết, nó giống cảm giác lúc bay với vận tốc giới hạn mà ta nhìn thấy. Cách đấy không xa —  chỉ trong tầm tay thôi, là thành phố thân yêu, nơi anh — Pa-ven Grô-mốp đã sinh ra, lớn lẻn và làm việc. Ở đó, anh có người vợ yêu thương, người bố kính mến và cũng ở đó, nơi ngoại ô thành phố, các đồng chí cùng nhà máy, các bạn cùng tuổi của anh đang cầm súng trong tay, hoặc đang đào công sự, hoặc đang đi trinh sát. Cũng ở nơi hướng bắc đó, xa xa là Mát-xcơ-va, thủ đô thân yêu, nơi anh đã học, đã yêu và đã vào Đảng... Và xa hơn, dù Pa-ven có nhìn thấy hay không nhìn thấy chăng nữa, là đất nước bao la của anh đẹp nhất trên thế giới này đang trải ra ở xung quanh. Lúc này, trên các bình nguyên, hàng nghìn người như anh đang đi vào trận chiến hoặc đứng bên cỗ máy của mình để sản xuất vũ khí. Tất cả những cái đó hình như anh đã nhìn thấy với cảm giác và hình ảnh sâu đậm nhất, nhớ tới nó trong những giây phút hiếm hoi này. Một điều gì đó hé nở trong tim Pa-ven trước cảnh trời chiều thoảng màu hồng ở phía tây, với khu công nghiệp xa xa và đám rừng thu như một đám mây tròn. Và như trước đây anh chưa bao giờ hiểu được một cách đầy đủ thân yêu trìu mến đến như vậy cái điều cao quý hơn cả chính cuộc sống của anh và lớn hơn rất nhiều so với cuộc sống riêng của mỗi người, là Tổ quốc, Tổ quốc của anh.

        Anh ưỡn thẳng người ra, cởi khuy trên cùng của chiếc áo cúc lệch, chậm rãi đưa bàn tay xoa xoa chiếc cổ hở, ướt át và thở dài thành tiếng.

        — Đang nghĩ gì thế, đồng chí Grô-mốp? — Bỗng anh nghe thấy giọng nổi ở ngay sau lưng.

        Ê-li-xây-ép, chính trị viên và Ê-go Trô-sin đang ở phía sau đi tới. Chắc Ê-go vẫn lạnh tuy đã mặc chiếc áo ấm của Pa-ven từ sáng, anh ta đứng gù gù cho tay vào tay áo chiếc-bành tô của mình. Hỏi xong, chính trị viên ngồi xuống một bó rơm.

        — Thở dài vì chuyện gì đó thế, đồng chí trung đội trưởng?  — Chính trị viên nhắc lại câu hỏi.

        — Vâng, đang suy nghĩ, hồi tưởng. — Pa-ven bối rối trả lời. Quanh quẩn rồi anh cũng ngồi xuống rơm.

        — Thực lòng mà nói, thở dài vì cảm thấy sung sướng đấy ! — Anh thú nhận.

        — À, ra thế đấy! — Ê-li-xây-ép liếc nhìn anh. — Nhưng điều gì làm anh vui sướng thế ?

        — Pa-sa, cậu đang tường tượng! Và tưởng tượng để làm gì cơ chứ? — Trô-sin nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:37:54 am

        Anh ta vẫn cứ đứng, từ chiếc cổ áo bành tô dựng đứng nhô lên đôi má và hàng lông mi trắng lấp lánh.

        — Tôi e rằng tôi không thể giải thích được cho các anh. — Pa-ven cảm thấy khó nói bởi vì anh phải diễn đạt những suy nghĩ rất thân thiết nhưng mơ hồ. — Các anh có biết không, tôi... bỗng nhiên cảm thấy một tình cảm mãnh liệt, một tình yêu đối với Tô quốc trào dâng trong tôi...

        Và anh lại nhìn về phía thành phố. Trời đã bắt đầu tối và dáng hình gãy góc của những tòa nhà hầu như đã mất đi.

        — Rất khó thú nhận trong một tình yêu lớn. — Anh nói tiếp vẻ vô tư, bình thản. — Không hiểu sao chúng ta lại im lặng không dám nói về điều này. Quả thực... chưa bao giờ tôi cảm thấy tôi yêu nó như lúc này...

        — À, à... — Ê-li-xây-ép kéo dài giọng và gật đầu.

        Trong ánh hoàng hôn nhờ nhờ, khuôn mặt với bộ râu như lưỡi dao hẹp của ông trở nên có vẻ nhợt nhạt hơn. Mải suy nghĩ, ông vô tình cầm lên một cọng rơm và lấy móng tay xé nó ra thành từng mảnh nhỏ.

        — Có những phút như thế đấy! — Ông nói sau một lát im lặng. —  Chẳng hạn như năm mười chín, lúc tôi may mắn được trông thấy đồng chí Lê-nin.

        — Đồng chí đã trông thấy Lê-nin à ? — Pa-ven hỏi.

        — Hôm ấy là mười sáu, tháng Mười, năm mười chín. — Vứt cọng rơm, chính trị viên nói —Cũng là một ngày mùa thu như bây giờ. Vla-đi-mia I-lích đến với chúng tôi trên ban công tòa nhà Xô-viết Mát-xcơ-va...

        — Đúng vào lúc Đê-nhi-kin1 chiếm được Ô-ri-ôn, — Trô-sin chen vào câu chuyện — và đang nhằm vào Mát-xcơ-va.

        — Ừ, đúng rồi! Tình hình lúc ấy thật nguy hiểm. Những người công nhân được động viên tập trung ở quảng trường trước trụ sở Xô-viết Mát-xcơ-va. Và đồng chí Lê-nin đến với chúng tôi trên ban công.

        — Thế chính anh cỏ nghe thấy Người nói không?—Pa-ven hỏi và nhấn mạnh vào chữ « chính anh ».

        — Tôi còn trẻ, trạc tuổi anh ấy. — Chính trị viên tiếp tục — Và có thể nói một phần tư thế kỷ đã qua, kể từ mùa thu ấy... Thế mà tôi vẫn nhớ tất cả y như thể điều đó mới xảy ra hôm qua. Và tôi nhớ cả nỗi hồi hộp của mình.

        — Hừ, đấy là điều dễ hiểu thôi. — Trô-sin nhận xét. — Làm sao quên được những phút như vậy.

        — Lê-nin nói chuyện với chúng tôi. — Ngẩng đầu lên, chính trị viên nhìn thẳng về phía trước. — Người nói «tình hình cực kỳ nghiêm trọng. Nhưng chúng ta không thất vọng, bởi vì chúng ta hiểu rằng, mỗi khi nước Cộng hòa Xô-viết gặp khó khăn thì trong những người công nhân chúng ta đều biểu hiện tinh thần dũng cảm tuyệt vời và bằng tấm gương của mình, họ động viên quân đội, dẫn dắt quân đội đến những thắng lợi mới».

        Ê-li-xây-ép im lặng, trầm ngâm hết giây này sang giây khác. Người chiến sĩ liên lạc tiến đến cạnh ông, bước lệt sệt trên đất dính rồi dừng lại chờ đợi. Từ cổng làng lại vang lên tiếng xích sắt ở giếng nước, từ các công sự vang lên tiếng nói chuyện ồn ào, hỗn loạn và mùi thuốc lá cuộn bốc lên.

        — Lê-nin còn nói, — Chính trị viên lại tiếp tục, — « Dù nước Nga có bị hy sinh và thiệt hại nặng nề như thế nào chăng nữa, nhưng nước Nga vẫn kiên cường chiến đấu cho sự nghiệp của tất cả mọi người công nhân. Bọn đế quốc có thể đè bẹp được một, hai nước Cộng hòa nữa nhưng chúng khổng thể cứu vãn nổi chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Bởi vì nó không tránh khỏi...».

        — Rất đúng... — Người chiến sĩ liên lạc nghiêm trang nói.

        — Và, «... chúng ta biết rằng... — Chính trị viên nói tiếp. Ông đang say sưa và lúc này ông nói như thể những ý nghĩ của Lê-nin chính là ý nghĩ của ông vừa mới nảy ra, — chúng ta biết rằng phong trào cách mạng trên toàn thế giới, — ông cao giọng — ở tất cả các nước, không trừ một nước nào đang... phát triển không ngừng. Và chúng ta cũng biết rằng, giai cấp công nhân toàn thế giới nhất định sẽ chiến thắng ».

        Với vẻ phấn hứng bất ngờ, ông bật đứng dậy, hai tay chắp sau lưng, im lặng đứng đó. Từ phía dưới, Pa-ven chỉ nhìn thấy bộ râu đốm bạc và những ngón tay đan lại với nhau.

        «Một con người tốt thế! — Pa-ven thầm nghĩ. — Bao nhiêu lần gặp nhau, thế mà mình cũng không thấy được đây là một con người tuyệt diệu!».

        — Đồng chí chính trị viên, thế Lê-nin trông như thế nào? Chắc là mặc áo bành tô và đội mũ lưỡi trai phải không? — Trô-sin thích thú hỏi.

        — Mặc bành tô à? Ừ, chắc vậy... Tôi không nhớ được chính xác. — Giọng Ê-li-xây-ép có vẻ ân hận. — Tôi nhớ khuôn mặt, nhớ giọng nói thế mà quên mất điều này...

        Pa-ven chăm chú lắng nghe, mỉm cười đề lộ hàm răng trắng toát trong bóng hoàng hôn lờ mờ. Anh cảm thấy yên tâm, thoải mái, nhẹ nhàng một cách lạ thường y như trong những phút tươi sáng trọn vẹn nhất của cuộc đời và khi đạt được ý nghĩa cao cả nhất của nó.

        Tất cả mọi điều nhỏ nhặt, tất cả những lo lắng hàng ngày đã biến đi và trong anh chỉ còn lại một điều cực kỳ đơn giản nhưng quan trọng nhất — chiến đấu vì hạnh phúc của nhân loại trên trái đất, chiến đấu vì chủ nghĩa cộng sản.

---------------------
        1. Tướng bạch vệ phản cách mạng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:38:18 am

        ... Thoáng sau, chính trị viên đi chỗ khác. Pa-ven đứng dậy và đưa mắt tiễn theo ông, anh liền nhận thấy cánh rừng như một đám mây đã biến đi tựa như bị tan ra và hòa vào không trung mất rồi. Vùng ngoại ô cũng mất đi và trong màn đêm, cánh đồng sau con dường trở nên tối sẫm. Cây thông cổ thụ cạnh làng cũng có màu xám y hệt như vậy và lúc này cũng hòa vào với đất. Song một điều kỳ lạ là bầu trời ả phía tây không hề nhạt đi, vẫn cứ ửng hồng và vệt nước chia cắt cánh đồng vẫn còn lấp lánh.

        Pa -ven lại ngồi xuống bó rơm và cuối cùng thì Ê-go cũng ngồi xuống bên cạnh. Họ im lặng một lúc lâu, sau đó Ê-go nói nhỏ:

        — Pa-sa, mình muốn yêu cầu cậu một điều. Cậu làm ơn...

        — Cái gì thế, cậu? — Pa-ven buột miệng hỏi, đầu óc vẫn không rời bỏ những ý nghĩ lớn lao của mình.

        — Cậu đừng nghĩ minh là một thằng đồi bại hoặc ở trong tớ có mọi điều linh cảm xấu xa. — Ê-go nói.

        Xung quanh tất cả đều tối sầm lại, nhưng ánh sáng ở phía chân trời không những không tắt mà ngược lại, bừng sáng hơn. Mặt nước trên mương về phía đường cái đã bắt đầu đỏ tía và Pa-ven vừa sống với những ý nghĩ của mình vừa đợi xem đến khi nào thì nó tối lại.

        — Pa-sa này, mình muốn nói gọn là... — Ê-go nhỏ nhẹ tiếp tục, —  nếu có chuyện xảy ra với mình. — Anh ta im lặng. — Sao mà lạnh thế ? Thế này, nếu mình... làm sao... ừ, cậu cũng biết đấy... còn cậu thì may mẳn... Nói chung trong bọn mình thì cậu là người may mắn...— Anh ta nói líu nhíu và khó nhọc hé đôi môi lạnh buốt, — cậu hãy viết mấy dòng về Xve-rlốp-xcơ. Ở đó mình có một người quen, mình chưa kể cho cậu. Và cậu viết cho cô ấy: Ê-go Trô-sin đã đi công tác dài hạn, tuyệt đối không được khóc lâu. Tớ đã chuẩn bị địa chỉ, đây này. — Và anh ta giúi cho Pa-ven mẩu giấy.

        Pa-ven ngạc nhiên nhìn bạn vì lời đề nghị này là rất bất ngờ và quá khắc nghiệt đối với Pa-ven.

        — Thôi được, Ê-go, mình cứ giữ địa chỉ của cậu. — Pa-ven cố nói bình thản. — Nhưng cậu không được nghĩ về điều này. Và tại sao cậu cứ nhất định phải hy sinh cơ chứ?

        — Thế đấy, Pa-sa ạ! — Trô-sin lại bắt đầu nói.—Tất nhiên là sự việc không phải ở trong linh cảm. Cũng như cậu, mình hiểu rõ: không kẻ nào có thể dè bẹp được chúng ta. Nhưng với chính tớ, chính Trô-sin này thì có thể xảy ra điều không may. Mình chỉ lo xa một cách hợp lý. . — Mấy lời cuối Cling của anh ta hoàn toàn líu lại.

        — Ê, anh bạn, cậu đã lạnh lâm rồi! — Pa-ven ân cần nói. — Tốt hơn là cậu hãy chạy đi.

        — Không sao, tí nữa tất cả sẽ nóng lên! Xem kìa, chỗ này này... — Anh ta huých khuỷu tay vào người Pa-ven.

        Quay lại hướng tây, Pa-ven trông thấy cảnh hoàng hôn màu hồng lúc nãy đã biến thành màu đỏ thẫm đầy khói lửa.

        — Đấy là hướng A-rxê-nhi-ép-xcơ!— Trô-sin nói. — Còn kia là Một tháng Năm đang cháy...

        Thực ra ở phía tây nam, trên cánh rừng xa nhấp nhô như răng cưa còn một đám cháy đỏ thẫm nữa. Và chếch về bên trái một chút, một lò lửa mới tuy còn nhỏ cũng đang nghi ngút cháy, hình như kẻ thù đi đến đâu thi ngọn lửa theo chúng từ nơi này đến nơi khác. Lúc này ở nhiều nơi đã xuất hiện các đám cháy mỗi lúc một to, rõ hơn khi bóng tối mỗi lúc một dày hơn. Còn trên cánh đồng đen thẫm mà lúc này không khác gì bầu trời, dần dần hiện ra vệt nước dài, thẳng như lưỡi giáo.

        Mọi người ngồi yên trong công sự. Không khí im lặng bao trùm và trôi qua hết phút này đến phút khác. Sau đó Pa-ven và tất cả mọi người bên anh đều nghe thấy một tiếng rền, ban đầu còn nhỏ nhưng dần dần vang to hơn. Rõ ràng tiếng rền đó đang tiến gần tới và qua đó đã nghe rõ được tiếng máy nổ: xe tăng từ A-rxê-nhi-ẻp- xcơ đang tiến về hướng này...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:52:08 am

PHẦN THỨ HAI

1

        Trước tối, bộ tham mưu bộ chỉ huy khu vực được biết chính xác quân địch đã chiếm được A-rxê-nhi-ép-xcơ, vượt qua các đơn vị của ta ở khu vực núi trắng và chiếm làng mới trên con đường dẫn tới T. Nhưng muốn nắm thật chính xác tin tức về ý đồ và lực lượng của địch, cần phải tổ chức trinh sát liên tục bằng nhiều biện pháp và từ nhiều hướng khác nhau...

        Việc trinh sát quân sự được sự giúp đỡ to lớn của nhiều đoàn viên Côm-xô-môn ở T. Và trong trường hợp này cũng như trong nhiều trường hợp khác, đó là kết quả của công tác chuẩn bị mà các cơ sở Đảng và Đoàn đã làm... Khi mới nghe tin kẻ thù đang tiến gần đến thành phố và người ta đang lập trung đoàn công nhân để bảo vệ thành phố, hàng trăm thanh niên — gồm công nhân trẻ, sinh viên, học sinh các lớp cuối cấp — đã mang theo bao đồ, có khi chỉ giúi vào túi áo bành tô một gói nhỏ xà phòng cùng khăn mặt rồi đi đến trụ sở khu đoàn Côm-xô-môn. Các cô gái xin nhập vào trung đoàn cứu thương. Từ các thôn làng, các đoàn viên Côm-xô-môn đi thành từng toán hoặc từng người riêng biệt để vào thành phố, có người mang theo cả súng săn... Trong những ngày cuối tháng mười này, trụ sở đoàn Côm-xô-môn ở T. giống như ban tham mưu của các đơn vị chiến đấu: ngày cũng như đêm, trong các hành lang, trên cầu thang cũng như phòng làm việc luôn chật ních người, những tiếng yêu cầu vọng lên rất to, điện thoại réo liên hồi và những chiến sĩ liên lạc đi lại vội vàng. Trong lúc chờ đợi được bí thư đoàn tiếp, những người thanh niên công nhân trở thành các xạ thủ súng máy đã làm quen với những chàng trai nông thôn đến đây để được cầm vũ khí, những cậu bé mới lớn chuyển báo chí cho các đơn vị chiến đấu, dán các bản tin của thông tấn xã Liên Xô trên đường phố, hoặc trao đổi ý kiến với những cậu bé thu lượm quần áo ấm cho bộ dội. Ở đây, ngày cũng như đêm rất ồn ào ; ở đây, họ thảo luận, tranh cãi, chứng minh về những công việc đã làm, về những nhiệm vụ mới và thậm chí đôi khi còn hát hò, đọc thơ nữa. Và từ đây, những con người tình nguyện mới mười tám tuổi đời ấy, vừa vội vã đi, có lúc phải nhảy qua hai ba bậc thang, vừa chia tay các bạn bè, đồng chí ra mặt trận và chạy vội dưới làn mưa thu rét buốt, chi kịp giấu trên ngực tờ công lệnh nhập ngũ vừa mới nhận xong. Trong các tiểu đoàn của trung đoàn công nhân T, già một nửa chiến sĩ — già một nửa nhé —  là thanh niên được các khu đoàn và tỉnh đoàn giới thiệu tới.

        Những người kiên nghị đáng tin cậy nhất được chọn vào các tổ diệt tăng và trinh sát. Họ được học qua lớp huấn luyện đặc biệt gấp rút. Khi các sư đoàn quân Đức tiến tới thành phố thì những tổ này theo quyết định của Hội đồng quân sự thành phố, được bàn giao cho ban chỉ huy quân sự.

        ... Buỏi sáng hôm ấy, Ôn-ga Chi-khô-nốp-na vẫn không gặp được con trai. Vô-lô-đi-a không ở trong vườn hoa, anh được phái đến bộ tham mưu khu vực chiến đấu cùng với tổ trinh sát của mình. Ngay chiều hôm đó, Vô-lô-đi-a được gọi tới gặp đại úy chỉ huy. Chỉ huy mới tuy chưa già nhưng lại để bộ râu hình lưỡi xẻng màu hạt dẻ Scing. Theo Vô-lô-đi-a, bộ râu này làm cho anh ta không có vẻ gì là nhà quân sự mà trông như người chủ nhà bình dị. Anh đã kịp làm quen với Vô-lô-đi-a từ sáng sớm. Lúc ấy họ nói chuyện với nhau tỉ mỉ: đại úy hỏi Vô-lô-đi-a đủ mọi chuyện về bó mẹ cậu là ai, cậu học ở đâu, đã vào đoàn lâu chưa và yêu cầu kề về các bạn trinh sát cùng tổ. Anh vừa lắng nghe, vừa luôn mỉm cười dường như không tin Vô- lô-đi-a lắm, do đó làm cho cậu ta lo lắng: phải chăng chi huy đối xử với cậu ta không được nghiêm túc ?

           — Anh quyết định trở thành trinh sát như thế nào? Tất cả điều đó diễn ra như thế nào? — Đại úy hỏi.

        — Rất đơn giản thôi. — Vô-lô-đi-a trả lời với giọng đứt đoạn — Từ mùa hè, khi chiến tranh bùng nổ, chúng tôi đã đến ban quân sự khu phố... Tôi và Vi-chi-a Vê-rép-kin... Chúng tôi đã đến đấy mấy lần nhưng đều không ăn thua gì...

        — Họ không nhận các anh vào quân đội à ? — Đại úy hỏi.

        — Không. — Vô-lô-đi-a đứng trước, chỉ huy, ưỡn thẳng người, hai tay buông thõng, nhưng các ngón tay cứ cuống lên và vò vạt ngoài của chiếc áo bông trần — Tất nhiên là chúng tôi chưa đến tuổi nghĩa vụ. Nhưng đó chi là hình thức. Tôi cho là như vậy...

        — Về sau ra sao ?

        — Tiếp theo thì anh biết dấy, tình hình chiến trường mỗi ngày trở nên nghiêm trọng và chúng tôi lại tới tỉnh đoàn Thanh niên Cộng sản... Tôi, Vi-chi-a Vê-rép-kin và còn một bạn nữa cùng phố là Xê- rô-gia Xam-bơ-nốp. Ở tỉnh đoàn, chúng tôi nói thẳng là chúng tôi không chịu khoanh tay ngồi chờ. Lúc này mà khoanh tay ngồi chờ là một điều đáng xấu hổ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:52:42 am

        Khuôn mặt xương xương ngăm đen của Vô-lô-đi-a với hàng lông tơ sẫm màu trên đôi môi mấp máy chai sạn vì nắng mưa — một khuôn mặt trẻ hiện rõ vẻ thông minh và chân thật — trở nên nghiêm nghị.

        — Và lời nói của anh tác động đến họ à? — Đại úy hỏi có vẻ ngạc nhiên.

        — Thật lòng mà nói thì không phải. — Vô-lô-đi-a nhún vai. — Trong tỉnh đoàn còn nhiều bạn khác từ các nơi nhưng họ chỉ lấy những ai đủ mười tám tuổi. May là họ nhận ra chúng tôi qua công tác thanh niên.

        — Họ đã huấn luyện các anh như thế nào về cái nghề này? —  Đại úy lại hỏi tiếp.

        — Lúc đầu họ phân công chúng tôi vào tiểu đoàn xung kích. Ở đó, chúng tôi học bắn súng trường, ném lựu đạn. Sau đó họ huấn luyện riêng cho chúng tôi. Còn khi họ chuyển chúng tôi về trung đoàn thì không còn thì giờ mà học nữa.

        Cuối buổi nói chuyện, đại úy nhoài người qua chiếc bàn và chống một tay lên cằm, hỏi nhỏ như thể chuyện bí mật:

        — Hiện nay tinh thần các bạn thế nào? Tâm trạng ra sao?

        Vô-lô-đi-a im lặng để suy nghĩ câu trả lời, thầm nhớ lại từng đồng chí của mình.

        — Tất cả mọi người đều nóng lòng được tham gia chiến đấu. — Cậu ta nghiêm nghị nói. — Tinh thần mọi người đều rất tuyệt vời!

        Buổi chiều đại úy tiếp Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp khô khan hơn. Ông đang bận, lặng lẽ đo bản đồ một lúc khá lâu chẳng nói năng gỉ, sau đó mới ngước mắt nhìn Vô-lô-đi-a và trong đôi mắt đã biến đi vẻ cười cợt, chỉ còn đọng nỗi lo âu. Đại úy hỏi Vô-lô-đi-a đã tới làng Một tháng Năm chưa? Sau khi được biết đã có lần Vô-lô-đi-a đi săn cùng với bố gần làng này, đã bán vịt trời trên con sông con chảy qua đó, đại úy nói:

        — Nếu vậy, hãy nhớ đây. — Và vừa lấy com pa đo bản đồ ông vừa ra lệnh — ngay tối nay, hay chính xác hơn là vào đúng hai mươi hai giờ, Vô-lô-đi-a phải đi trinh sát làng Một tháng Năm.

        Ngoài người dẫn dường mà họ sẽ cử tới, Vô-lô-đi-a có thể lấy đi theo một chiến sĩ nữa tùy anh ta lựa chọn. Cần phải đi tới tận làng để xác định chính xác xem lúc này bọn địch có đóng ở đó không và lực lượng bao nhiêu. Ngoài ra nếu có điều kiện thì gặp người dân địa phương để điều tra xem hôm nay các đơn vị quân Đức có đi qua làng không?... Khi về các trinh sát phải báo cáo tỉ mỉ tất cả những gì họ trông thấy trên đường. Sau đó đại úy bảo họ cởi quân phục và ăn vận như những thanh niên nông thôn. Vũ khí gồm súng ngắn, lựu đạn, phải giấu kín và chỉ được dùng trong trường hợp thật cần thiết, khi không còn lối thoát nào khác.

        — Các anh không được tiến công trước. —Đại úy nói. — Nhiệm vụ các anh là tìm hiểu mọi thứ một cách tốt nhất và nhanh chóng trở về.

        — Tạm thời tránh giáp mặt với bọn Đức, tất nhiên là thế, rõ rồi ! — Vô-lô-đi-a nói.

        — Các anh trông thấy bọn xâm lược, tay cứ ngứa ngáy, tôi đi guốc trong bụng các anh... Nếu vậy, các anh cứ liệu hồn với tôi! — Đại úy đe trước.

        Nghe xong, Vô-lô-đi-a cảm thấy hơi thất vọng: theo cậu ta thì công việc này quá đơn giản. Dù sao nó cũng là nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên nên cậu ta nóng lòng muốn nhanh chóng bắt tay vào việc. Cuối buổi nói chuyện, cậu ta chỉ biết gật đầu một cách vội vã khi chỉ huy đưa ra những lời khuyên nhủ, phải xử lý ra sao trong những tinh huống khác nhau.

        « Vâng, tất cả đều rõ rồi, như hai lần hai » —Cậu ta muốn kêu lên và không cần nghe hết, chạy ra cửa, nhưng... Chỉ thị xong, đại úy rời khỏi bàn, đến bên Vô-Iô-đi-a và đặt tay lên vai cậu ta.

        — Không cần hỏi gì à? — Ông hỏi nghiêm nghị, không cười, đầu hơi cúi xuống để bộ râu lờm xờm trên ngực.

        — Không, thưa đồng chí đại úy. — Vô-lô-đi-a nói vội.

        — Và không có gì thắc mắc chứ? Hãy suy nghĩ kỹ, đừng vội trả lời ngay. Đừng hấp tấp.

        Vô-lô-đi-a im lặng nhìn đại úy. Trong đôi mắt xám của cậu ta hiện rõ vẻ băn khoăn thực sự, cho nên đại úy đã không chờ đợi câu trả lời.

        — Thôi,... đi đi. — Ông nói nhưng lần này lại mỉm cười. — Nhớ kỹ là chúng ta rất cần biết những gì đang xảy ra ở làng Một tháng Năm.

        Vô-lô-đi-a chào theo kiểu quân sự và làm động tác « đằng sau quay», rồi chạy ra cửa.

        Đối với cậu thì vấn đề chọn người cùng đi trinh sát đã được giải quyết ngay. Cậu không do dự chọn ngay Vi-chi-a Vê-rép-kin, người trẻ nhất trong tổ. Thứ nhất là do cậu và Vi-chi-a thăm giao ước rằng cả hai sẽ đi trinh sát. Thứ hai là tuy Vi-chi-a người hơi thấp so với tuổi nhưng to, khỏe, kiên trì, cực kỳ tháo vát và trong trường hợp này rất hợp với Vô-lô-đi-a.

        Sau khi trao đổi với nhau vài lời, cả hai cùng rời khỏi nhà cơ quan tham mưu. Cần phải có quần áo thích hợp cho nên Vô-lô-đi-a được phép quay về nhà. Hãy còn những hai giờ nữa, vì thế họ có thể quay trở lại đúng giờ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:53:12 am

        Hai đứa đi rất nhanh và ít nói chuyện trên đường. Thỉnh thoảng Vô-lô-đi-a mới thốt ra vài lời về công việc tối nay. Vi-chi-a cũng trả lời ngắn gọn như vậy.

        — Đại úy hỏi tớ có thắc mắc gì không ? — Vừa đi Vô-lô-đi-a vừa báo tin. — Tớ không hiểu ông ấy định nói gì?...

        — Nghi ngờ? Nghi ngờ cái gì cơ chứ? — Vê-rép-kin ngạc nhiên. Giọng cậu ta khàn khàn như bị cảm lạnh.

        — Ai mà biết được!

        Đi bên nhau, vai sát vai có lúc hai đứa cùng im lặng.

        — Có thể chính đại úy nghi ngờ gì chăng? — Vi-chi-a phỏng đoán vẻ do dự.

        — Ông ấy nghi ngờ điều gì cơ chứ ?

        — Liệu chúng mình có hoàn thành hay không ?-

        — Tớ đã nói với ông ấy là chúng mình sẽ hoàn thành cơ mà! — Vô-lô-đi-a phản đối.

        Khi hai đứa đến gần nhà, Vô-lô-đi-a hơi đi chậm lại.

        — Cũng không nên nói chúng mình đi đâu, làm gì nhé. Điều quan trọng là đừng ba hoa với mẹ đấy! — Cậu ta nhắc nhở.

        — Cậu cho tớ là trẻ con hay sao? — Vê-rép-kin nói giọng khàn khàn.

        Lúc này trời đã tối. ở phía trước, ngôi nhà đá một tầng rất thấp với tiền sảnh phẳng lì kiểu doanh trại, lờ mờ hiện ra. Khác với những ngôi nhà mới xây cùng phố, ngôi nhà cũ kỹ này có ở đây đã lâu lắm rồi. Người ta nói rằng nó có từ trước cách mạng tức là từ thuở xa xưa.

        Cúi đâu đi qua cổng hẹp của bức tường dày một mét, Vô-lô-đi-a chạy theo cầu thang dựng đứng. Từ chiếc hành lang dài như hầm ngầm thoảng ra một mùi quen thuộc của bụi và dá.

        — Vi-chi-a, nhanh lên nhé!—Cậu ta kêu lên và nện gót giày xuống nền đá. Vô-lô-đi-a lấy hết sức mình chạy nhanh tới cánh cửa ở cuối hành lang.

        Một phụ nữ mặc váy đen, tay cầm xoong đi ngược chiều, nép người vào tường.

        — Vô-va!— Bà gọi cậu bé. — Cho tôi nhìn cậu cái nào!

        — Chào bác A-glai-a Ti-mô-phi-ép-na! Cháu rất vội! — Không dừng lại, cậu kêu lên. —Bác thứ lỗi cho cháu!

        Cánh cửa số bảy ở giữa hành lang hé mở và một cái đầu hói đốm bạc nhô ra. Vô-lô-đi-a nhận ra người hàng xóm—họa sĩ— một ông già cô đơn hơi kỳ quặc, chắc ông ta đã sống ở đây từ cái thời « những gian nhà có bày đồ mộc».

        — Xin chào bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích! — Vừa chạy cậu ta vừa chào.

        — À, đây là cậu... Ông già lẩm bẩm — Đứng lại đi!   

        — Cháu không thể, bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích ạ! Lúc khác cháu sẽ... — Vô-lô-đi-a kêu lên.
        Chăm chắm nhìn theo Vô-lô-đi-a, nhà họa sĩ già đưa đôi mắt mí đỏ không có lông mi, lấy móng tay gãi cằm, lát sau ông ta lui vào phòng và đóng chặt cửa lại.

        Một tiếng gọi lanh lảnh ở dằng sau buộc Vô-lô-đi-a phải ngoảnh lại. Trên hành lang, một em trai trạc mười tuổi, gầy gò ốm yếu đang đu trên đôi nạng, nhảy lò cò tới chỗ Vô-lô-đi-a, một chân kia ngăn hơn rất nhiều cứ lủng lẳng dưới người.

        Cậu bé đi nạng giống như con châu chấu đang nhảy. Chú bé nhảy tới, gần như ngã người vào bám chặt lấy tay áo Vô-lô-đi-a.

        — Tại sao thế? — Giọng trẻ con thanh thanh của em vang lên. —  Tại sao lâu nay không về... Đã hứa rồi cơ mà!

        Khuôn mặt trái xoan với nước da xám ngắt của em lộ rõ vẻ xúc động đến nỗi Vô-lô-đi-a cảm thấy đau lòng. Quả thật trong những ngày vừa qua. Vô-lô-đi-a không còn lúc nào để nghĩ tới Gô-ga, đứa con trai ốm yếu của người hàng xóm, mà cách đây không lâu, cậu vẫn là người góp một vai trò quan trọng trong cuộc sống của nó.

        — Anh rất bận, Gô-ga ạ! — Vô-lô-đi-a ân hận trả lời. — Họ không cho phép chúng mình về nhà...

        — Đã hứa rồi mà, đã hứa!... — Không bỏ tay áo Vô-lô-đi-a ra, cậu bé nhắc lại. — Còn em thì ngày nào cũng đợi...

        — Mọi người sống ra sao? Bình thường cả chứ? — Vô-lô- đi-a hỏi.

        — Ừ bình thường... Anh Mi-chi-a ở phòng số năm đi từ dạo hè đã gửi thư về: anh ấy bị thương — Gô-ga vội vàng khoe. — Thực ra không nặng lắm. Anh ấy viết rằng sắp tới lại đi... Còn em không đi học nữa! Bây giờ thì học cái gì cơ chứ?

        — Nhưng em phải tự học ở nhà đấy ! — Vô-lô-đi-a nói. — Không có thì quên hết.

        Vê-rép-kin đã đến, cũng có quen biết Gô-ga, hai người bắt tay chào nhau.

        — Cuối cùng thì các anh cũng xuất hiện! — Gô-ga kêu lên. —  Không có thì lúc nào em cũng chỉ lủi thủi một mình... Mẹ thì đã bắt đầu hay gắt gỏng không cho đi đâu cả... chỉ cho quanh quẩn trong sân...

        Cả ba túm tụm đến trước cánh cửa ngoài cùng bọc vải sơn màu đen.

        — Mẹ anh không có ở nhà đâu, vẫn chưa về đâu. — Gô-ga báo tin. — Đi từ sáng đến giờ vẫn chưa về. Em phải coi nhà cho tất cả mọi người ở đây!

        — Mẹ không ở nhà à? Tiếc thật... — Vô-Iô-đi-a nói. Cậu muốn làm cho mẹ sung sướng về sự xuất hiện đột ngột của mình, nhưng lúc này Vô-lô-đi-a cảm thấy cụt hứng, bực bội vì không thực hiện được ý đồ ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:54:23 am

        Cửa khóa chặt như thường lệ, nhưng vô hình trong túi Vô-lô- đi-a vẫn còn chiếc chìa khóa cửa ra vào. Cậu mở cửa, nhanh nhẹn bước vào đầu tiên. Trong bóng đêm, cậu mò mẫm buông rèm, bật điện và vội vàng nhìn ngắm chung quanh... Tất cả mọi thứ có vẻ như mới hơn: mấy cái ghế kê sát bên bàn ăn, hai cái gói mới cứng đặt đối xứng trên chiếc đi văng, hai chồng sách giáo khoa được xếp cẩn thận trên bàn Vô-lô-đi-a. Trong căn phòng có vẻ ngăn nắp không tự nhiên, hơi buồn tẻ như thể căn hộ không người ở hoặc được cố tình xếp đặt trước khi đón khách. Ở gian giữa cũng được xếp dặt rất cẩn thận, chỉ trên chiếc tủ con gần giường mẹ có lăn lóc cuộn len đan dở và cũng không hiểu sao chiếc lược nhựa màu đỏ với tay cầm dài lại nằm trên tấm vải che đăng ten. Song Vô-lô-đi-a không có thời gian để ngẫm nghĩ về ấn tượng hơi buồn trong ngôi nhà trống trải này. Và chính ấn tượng cũng rất hời hợt thoảng qua chốc lát, không để lại dấu tích gì...

        Cậu ta vội vàng bắt tay vào công việc và chỉ một lát sau đã biến Vi-chi-a Vê-rép-kin thành một chàng trai nông thôn.

        — Được không nào? Được không? — Lúc thì đến gần lúc lại lùi xa, vừa ngắm bạn, Vô-lô-đi-a vừa hỏi.—Theo tớ, được rồi đấy chứ?

        Ngồi trên chiếc gối dài ở đi văng, Gô-ga không kìm nổi, đứng bật dậy, tựa người vào nạng. Em không hiểu tại sao các bạn em lại ăn mặc kỳ quặc như thế này, để làm gì...

        — Gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki1! — Nhìn Vê-rép-kin, em khoái chí kêu lên. — Gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki!

        Vô-lô-đi-a mỉm cười, đến lúc này đôi mắt lo âu của cậu ta mới nheo lại, sáng lên.

        — Mà đúng thật! — Cậu công nhận.

        Từ chiếc mũ trùm tai bằng lông thỏ lờm xờm chỉ nhìn thấy cái mũi ngắn và một nốt ruồi trên má Vê-rép-kin, chiếc áo da lông dài đến đùi dúm lại do từng nếp nhăn ở thắt lưng. Vê-rép-kin rất giống một người nông dân nhỏ con trong thơ Nê-cra-xốp:

       
... Vào một ngày mùa đông tuyết phủ,
        Tôi ra khỏi rừng, băng giá buốt xương.

        Vô-lô-đi-a bắt đầu đọc và mỉm cười. Sau đó thay đổi nét mặt và chau mày về điều gì đó, cậu ta cố tình hỏi bằng giọng trầm :

        — Củi ở đâu thế ?

        — Chuyển từ rừng về...

        — Anh không biết bổ thì đốn, còn tôi mang về... — Vê-rép-kin trả lời cậu ta với giọng khàn khàn như vậy. Và sau đó Vê-rép-kin xuýt xoa vỗ vỗ vào sườn, y như thể cậu ta bị rét thực sự.

        — Ôi, các anh ơi! Các anh làm gì thế này ? Gô-ga kêu thất thanh.

        Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a đưa mắt nhìn nhau.

        — Để khỏi hại trang phục quân đội phát. — Vê-rép-kin nghiêm nghị trả lời.

        — Thôi đi...i... — Gô-ga dài giọng. — Thế mặc của mình thì không tiếc à ?

        Vô-lô-đi-a chọn cho mình chiếc áo lông cừu màu nâu kiểu Cuban và chiếc blu dông cũ cậu vẫn thường mặc vào mùa đông. Chiếc áo Cu-ban mua từ mấy năm về trước, giờ đã hơi chật, nhưng Vô- lô-đi-a rất thích và cậu không do dự gì khi chọn nó mang đi. Cũng như Vi-chi-a cậu ta phải đi ủng thay cho giày bộ đội và xà cạp.

        — À, em biết các anh đi đâu rồi! — Gô-ga bỗng nói. — Các anh vào dân quân.

        — Cậu kỳ thật, dân quân họ lại cần bọn mình hay sao? — Vê- rép-kin bình tĩnh phản đối. — Tất cả họ đều đã có râu ria, hay là em không nhìn thấy?

        — Toàn là chuyện bịa... Các anh đi dân quân! — Gô-ga kiên trì lặp lại.

        — Tốt hơn là em hãy im đi, — Vê-rép-kin khuyên một cách nghiêm chinh. — Em là người của mình, phải hiểu chứ!

        Vô-lô-đi-a mặc xong quần áo và đã có thể ra đi, nhưng cậu lại nghĩ đến mẹ. Cậu ta quyết định phải viết cho mẹ vài lời nên liền cởi blu dông và ngồi vào bàn viết.

        ... Chiều tối, Ôn-ga từ nhà máy trở vè và cảm thấy rất mệt. Thậm chí khi đến trước cửa phòng, chị còn đứng lại chút ít như không muốn vào căn nhà trổng trải của mình. Bỗng nhiên, từ sau cánh cửa vọng lại giọng nói thanh thanh — cái giọng thân thương duy nhất: giọng của Vô-lô-đi-a con chị! Nó đang ở trong nhà! Không hiểu sao Ôn-ga lại vô cùng lo sợ mà không hề vui sướng trong cái khoảnh khắc đầu tiên này và trái tim như thât lại, chị chạy lao vào...

        Vô-lô-đi-a đang ở góc phòng bên chiếc bàn quen thuộc của mình, cậu ta ngoảnh lại mỉm cười. Và chỉ nhìn thấy một mình nó, chị tái người đi vì sợ hãi, bước vội đến bên Vô-lô-đi-a, còn cậu ta cũng đứng lên đón mẹ... Chỉ đến khi ôm chặt đứa con trai vào lòng, nắm chặt những ngón tay của nó, xoa cái đầu tròn quen thuộc của nó, chị mới cảm thấy nhẹ nhem: Vô-lô-đi-a chưa việc gì cả. Cậu con trai nhoài ra khỏi vòng tay của mẹ, làm chị ngơ ngác bối rối nhìn quanh.

        — Các con về đây lâu chưa? — Chị nói giọng nhỏ nhẹ. — Vi- chi-a, cả cháu cũng đến!

-----------------
        1. Nô-gốt-ki là một loại cây vườn có hoa màu vàng thẫm khi mùa hè.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:06:20 pm

        Múa đôi nạng, Gô-ga nhảy đến bên chị.

        — Chúng cháu đợi cô mãi! Đợi mãi! — Cậu lanh lảnh nói. — Vô-Iô-đi-a về nhà mà cô thì chẳng thấy đâu, chẳng thấy đâu? Còn chúng cháu... — Và cậu ta im lặng nhìn Vê-rép-kin.

        — Trời ơi! Nếu mà bác biết, — chị ân hận kêu lên. — Thế mà bác cứ lững thững đi, chẳng vội vàng, chẳng chờ đợi cái gì cả... Và tại sao trái tim bác nó không mách bảo điều này cho bác!

        — Tưởng mẹ làm ca đêm nên con đã viết cho mẹ lá thư. — Vô-lô-đi-a nói.

        — Bức thư nào? Để làm gì? — Ôn-ga lại lo lắng. Trong những ngày gần đây chị sống trong cảnh thường xuyên lo sợ cho con, trong sự chờ đợi một điều không may khủng khiếp cho nên mỗi tin tức liên quan tới nó đều làm chị hồi hộp lo âu.

        — Con đi không lâu mẹ ạ! — Vô-lô-đi-a âu yếm trả lời.

        — À thôi được! ... — Đứng lặng một lát, chị mới ậm ừ được ra lời và không dám hỏi thêm thời hạn người ta cho phép nó về với chị được bao lâu!

        — Chúng con cần mấy thứ này mẹ ạ. — Vô-lô-đi-a hất hàm về chiếc blu dông trên đi văng. — Mùa đông sắp tới và chúng con muốn mặc ấm hơn... Tất nhiên là muốn trông thấy mẹ... Thế nào, mẹ sống ra sao?

        Ôn-ga nhìn cậu con trai như thể không hiểu nó. Hình như có một cái gì đó,mới mẻ và xa lạ xuất hiện trong người nó, thậm chí câu hỏi theo kiểu người lớn của Vô-lô-đi-a, càng làm chị ngạc nhiên Chị kinh ngạc nhớ lại những ngày đã qua mà không thể nào quên được, khi lần đầu tiên nó cất tiếng bập bẹ gọi chị: «Máma!». Và một thời gian sau bỗng nhiên nỏ tự đi được mà không cần sự giúp đỡ của mẹ. Nhưng khi đó thì những biến đổi khó trông thấy ngay của con làm chị vô cùng sung sướng, còn bây giờ lại làm chị lo lắng.

        — Vô-vô-sca, rất tốt là con mang theo áo ấm. — Chị nói vẻ sợ hãi.

        Vô-lô-đi-a im lặng và chau mày.

        — Mẹ làm sao thế hả mẹ? — Cậu nghiêm nghị hỏi. — Mẹ gầy đi nhiều...

        Lúc này cậu ta quá hồi hộp hơn so với bình thường. Và một điều lo lắng bất ngờ khó hiểu dâng len trong lòng Vô-lô-đi-a khi cậu ta chăm chú nhìn mẹ. Thực ra chị cũng có gầy hơn, hơi gù và có thể vì thế mà theo Vô-lô-đi-a trông chị có vẻ trẻ lại. Dù đã có vài nếp nhăn, nhưng trên khuôn mặt thanh tú, ngăm ngăm đen của chị vẫn lộ rõ vẻ yếu đuối, nhút nhát của trẻ con mà trước đây chưa bao giờ chị có. Từ trước đến nay Vô-lô-đi-a vẫn luôn cảm thấy mẹ cậu tuyệt đối là một « người lớn» thì bỗng nhiên hôm nay cậu khám phá ra rằng mẹ cậu cũng không hoàn toàn là « người lớn » như cậu thường nghĩ.

        — Có phải mẹ ốm không? — Cậu tiếp tục, giọng trách móc.

        — Gì hả con, Vô-va, con nói gì thế? — Ôn-ga thảng thốt, thậm chí xua xua tay để phản đối ý định của con trai cứ chăm chú hỏi chị, trong khi chị còn nhiều điều quan trọng hơn liên quan tới nó. — Con làm sao vậy? Mẹ vẫn khỏe...

        — Có tin gì về bố không hả mẹ? — Vô-lô-đi-a hỏi tiếp.

        — Hôm qua mẹ có nhận... chỉ tội thư lâu rồi, viết trước đây những một tháng... Mẹ cho con xem bây giờ, ngay bây giờ...

        Chị vội vàng lấy khăn mùi xoa lau mặt, cởi bành tô và chạy đến mắc áo. Trong chiếc áo lao động xanh nhạt bằng vải gai và chiếc váy phằng màu sẫm, trông Ôn-ga quả có vẻ yếu đuối và mảnh khảnh như một cô gái.

        — Vô-vô-sca, hôm nay mẹ đến chỗ con đấy! — Vừa treo áo chị vừa khoe.— Mẹ đến trận địa của con ở Vườn hoa văn hóa...

        — Lại còn như vậy nữa! — Vô-lô-đỉ-a làu bàu không hài lòng. — Và họ để cho mẹ vào à ? Sao họ lại cho mẹ vào nhỉ ?

        — Bởi vì không phải tự dưng mẹ đến đấy, mẹ đi có việc. Mẹ mang áo len và bít tất đến cho con...

        Ôn-ga dừng lại ở giữa phòng, không biết nên làm cái gì trước: đưa thư cho con hay dọn cho nó và các bạn nó cùng ăn tối.

        — Vô-va, trong vườn hoa các con ở rất ẩm ướt. — Chị khẽ nói. — Có thể con cầm thêm giày cao su và áo đi mưa...

        Từ nãy đến giờ vẫn im lặng, đến phút này Vê-rép-kin mới nói giọng khàn khàn:

        — Đúng vậy, thưa thím Ôn-ga, giày cao-su đối với chiến sĩ, đó là việc cần thiết đầu tiên.

        — Mẹ ơi, giày cao su gì cơ chứ ? — Vô-lô-đi-a bật cười theo. —  Mẹ cho con xem thư bố viết gì nào?

        Ôn-ga chạy vào gian trong.

        — Bố con viết rằng bó vẫn khỏe. Bố hỏi nhiều về con... — Từ trong phòng vọng lại giọng chị — Bố hứa sẽ viết thường xuyên hơn. Trời ơi, bố vẫn chưa hề biết gì về con!

        Quay ra đưa lá thư cho Vô-lô-đi-a, chị kéo dịch ghế ngồi đối diện và nhoài người về phía trước, chăm chú theo dõi nét mặt con trai khi cậu ta đọc thư.

        Mấy sợi tóc ngắn dựng đứng như lông nhím trên cái đầu tròn tròn, một vệt hồng lờ mờ của chiếc áo Cu-ban ngoằn ngoèo trên trán, Vô-lô-đi-a nghiêng người và chau mày lại khi gặp phải chữ khó đọc, hoặc rướn mày lên khi ngạc nhiên một điều gì đó, môi cậu ta luôn luôn mấp máy: khi chúm tròn như một cái ống con, lúc mím lại, lúc lại mấp máy nói thầm điều gì đó. Còn Ôn-ga tựa như quên hết chung quanh, hoàn toàn thả mình cho việc quan sát vô tư đầy khoái cảm. Chị không hề biết rằng chính chị cũng nheo mày khi con nheo mày và mỉm cười khi con trai mỉm cười.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:07:12 pm

        Vô-lô-đi-a vừa đọc vừa nói:

        — Chắc là bố chiến đấu ở phương Nam... Bố viết rằng chung quanh đơn vị bố là những cánh đồng lúa mì chưa gặt. Bố viết rằng vụ mùa năm nay thật tuyệt vời...

        Nghe con nói, Ôn-ga lại cảm thấy lo sợ. Mới cách đây thôi, mỗi biến đổi của nó đều được chị giám sát sít sao và chính chị cũng say mê tham gia vào sự lớn khôn của con từ lúc mới sinh đến tuổi ấu thơ, từ tuổi ấu thơ đến tuổi thiếu niên. Bây giờ nó sống độc lập không cần sự chăm sóc của chị và rồi sẽ mãi mãi thoát ra khỏi vòng kiểm soát của chị. Hốt hoảng trước việc chị không thể tác động đến số phận của con trai, On-ga lạnh toát người vì lo sợ cho nó. Mới một thời gian ngắn không trông thấy nó, thế mà người nó đã thay đổi khá nhiều, tuy đôi má có lõm xuống, nhưng Vô-lô-đi-a đã trưởng thành lên, đôi tay hơi thô thô, với những vết xước còn mới cũng có vẻ đen hơn.

        — Vô-vô-sca, kể cho mẹ nghe với: con ở đó ra sao? — Chị khẩn khoản nói. — Họ nuôi con như thế nào? Ăn có no không?

        — Khoan đã, mẹ! — Vô-lô-đi-a đọc xong, cho thư vào phong bì và quay ngoắt lại phía Vê-rép-kin. — Ôi! Nếu được phục vụ cùng với bố trong một đơn vị thì tốt biết mấy nhi! — Cậu ta nói to. —  Tuyệt biết mấy phải không? Và không cần phải báo cáo gì với ai, chẳng cần phải xưng hô với nhau bằng những câu khô khan: «Xin phép được báo cáo...», « Anh có thể tự do. .». Cùng tất cả... Tuyệt diệu phải không?

        Ôn-ga nhích lại gần con.

        — Các con ăn có no không? — Chị lặp lại.

        — Mẹ lẩn thẩn thế! Thậm chí còn thừa nữa cơ! Thật đấy mà!... — Vô-lô-đi-a trả lời và lại quay sang Vê-rép-kin, đôi mắt xanh của cậu ánh lên. — Ở tiểu đoàn hai chúng mình ấy có bố con Cô-trét-cốp cùng phục vụ một nơi đây! Bố là trung dội trưởng, còn con, xạ thủ súng máy... Thật là thú vị! Còn cậu có nhớ không Vi- chi-a? — Vô-lô-đi-a thốt lên. — Mình cùng đi săn với bố như thế nào không? Đi từ tờ mờ sáng và săn liền mấy ngày... Cậu có nhớ ông bố mình cho hai đứa khẩu súng săn của ông không ? Và sau đó chính chúng mình đốt củi sưởi và nướng khoai tây...

        Ôn-ga kéo tay áo con

        — Này, ban đêm họ có chuyẩn các con đi chỗ khác không ? —  Chị hỏi. — Hay lại ngủ trên đóng đất ẩm ướt ấy?

        — Cái gì hả mẹ? — Vô-lô-đi-a ngước đôi mắt ngạc nhiên và cười cợt nhìn mẹ, nhưng im lặng và dịu dàng nói: — mẹ đừng lo cho con, hoàn toàn không phải lo cho con gì cả. Thực ra không phải chỉ có một minh con ở đó!...

        — Phải rồi, phải rồi... — Chị gật đầu như thể những câu nói cuối cùng của con quả thật làm chị yên tâm, nhưng thực ra chị tránh không phải cãi nhau với con.

        — Ôi, sao mẹ lại ngồi thế này nhỉ? — Chị như bừng tỉnh. — Chắc các con đói lắm rồi...

        Chị vội vàng đứng dậy, chạy vào bếp. « Thật khổ là bánh chưa kịp mua ! ». Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu chị.

        Nhìn mẹ, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng chưa khi nào mẹ cậu lại trẻ như hôm nay và nét mặt cậu bỗng sầm lại...

        — Mẹ đừng lo, chúng con không ăn đâu... Chúng con đã phải đi rồi ! — Cậu nghiêm nghị nói.

        Đứng bên tủ, chị nhìn con trân trân.

        — Đi ngay bây giờ à? — Cuối cùng chị khẽ thốt lên. —Sao nhanh vậy ?

        — Đã đến lúc chúng con.. — Vô-lô-đi-a lại sa sầm mặt. Trước kia, khi về tới nhà, cậu đã quen với sự săn sóc thường xuyên của mẹ và chẳng phải suy nghĩ gì, muốn mang cái gì đi thì mang, còn lúc này cậu phải lo nghĩ đến mẹ.

        — Mẹ ơi, ai bổ củi cho mẹ? — Cậu quan tâm hỏi.

        — Cái gì thế hở Vô-lô-đi-a ? — Không nghe rõ con nói gì, chị hỏi lại.

        — Mẹ đừng bổ! — Vô-lô-đi-a nghiêm nghị nói. — Và mẹ cũng dừng khuân... Trong nhà này có nhiều trẻ con, chúng nó phải giúp mẹ.

        Làn đầu tiên cảm giác tự hào về trách nhiệm của người con trai xuất hiện trong Vô-lô-đi-a, nhưng chính điều đó lại làm cậu khổ tâm vì lúc này cậu chả giúp gì được mẹ nữa.

        — Mẹ ạ, mẹ cũng đừng lau sàn, — biết rằng ngoài mẹ ra chẳng còn ai lau sàn cả, nên cậu ta nói có phần kém tin tưởng hơn. — Mặc kệ nó!   

        Với lòng thương xót bất ngờ, Vô-lô-đi-a đến bên mẹ và chạm vào khuỷu tay chị.

        — Nói chung mẹ đừng buồn gì cả... Chúng ta nhất định đánh thắng bọn Đức... Bố cũng viết như vậy... — Cậu nói. — Khi nào có điều kiện con lại về thăm mẹ.

        — Sao các con đi vội vậy? — Ôn-ga lầm bầm. Khuôn mặt chị như mất hết máu, thậm chí đôi môi trắng nhợt ra.

        — Chúng con chỉ được đi một lúc thôi... — Bộ đội mà, mẹ cũng hiểu đấy... — Vô-lô-đi-a trả lời và rướn tới hôn nhẹ vào má mẹ.

        Chị quay lại và đang hai tay ghìm con vào lòng.

        — Sao, mẹ làm sao thế? Mẹ làm sao thế? — Nhoài người ra, cậu nói. — Nào, Vi-chi-a ! Đi thôi! — Cố kìm nỗi xúc động của mình, Vô-lô-đi-a nói to.

        Nhìn xuống sàn và chụp chiếc mũ ba tai bờm xờm lên đầu, Vê-rép-kin cau có nói:

        — Cô Ôn -ga, cô buồn làm gì. Thế nào sắp tới người ta cũng cho phép Vô-lô-đi-a về...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:07:40 pm

        Gô-ga vẫn im lặng không rời mắt khỏi Vô-lô-đi-a. Và chỉ khi Vô-lô-đi-a — trong chiếc blu dông và chiếc Cu-ban còn lệch về một bên sườn — quay lại để chia tay với em thì một nỗi xúc động mãnh liệt lại dâng lên trong người em. Em nhấc chân lên lao đến bên bạn và tí nữa thì ngã khi chiếc nạng quệt vào tấm thảm chùi chân. Vô- lô-đi-a kịp đỡ lấy em.

        — Anh đã nói, em ngã đấy! — Vô-lô-đi-a trách — Thôi, đừng buồn nhé... Hàng ngày học đi...

        — Chúc các anh may mắn nhé! — Gô-ga kêu lên rồi im bặt: em cảm thấy ngượng ngùng khi có mặt Ôn-ga ở đây.

        Giúi vào túi cái bọc mẹ vừa đưa cho, Vô-lô-đi-a đi ra cửa và Gô-ga cũng nhảy theo sau.

        — Thôi chúc các,anh gặp nhiều may mắn! — Em nới. — Còn em không nói cho ai biết một tí gì đâu. Em hiểu...

        — Vô-va! Vô-vô-sca! — Ôn-ga gọi, long như bừng tỉnh.

        Trong giây phút này chị cảm thấy mình hoàn toàn bất lực —  bao mối hiểm họa đang chờ đợi Vô-lô-đi-a, thế mà chị không thể giúp gì cho con được. Muốn gào lên vì lo sợ cho con trai, nhưng chính nỗi lo sợ ấy ghìm chị lại. Điều duy nhất lúc này chị có thể làm được —  cố giảm bớt nỗi buồn chia ly; động viên, làm cho nó vững tâm trước những gì đang chờ đợi nó. Và cố mỉm cười, chị đến bên con, trong thâm tâm hơi ngạc nhiên với chính mình, với nghị lực của mình không hiểu từ đâu tới.

        Vô-lô-đi-a đứng ở cửa, tay cầm lấy nắm dấm, nhìn mẹ vẻ dò hỏi.

        Cảm thấy như đi trên một vật gì đó rất mềm, đôi chân chị trở nên yếu đuối, nhưng nụ cười của chị mỗi lúc một tươi hơn, bình thản hơn. Tới bên con, chị mệt nhọc tựa vào khung cửa và nói nhỏ nhưng lưu loát một cách bất ngờ.

        — Vô-va, con viết thư cho bố nhe! — Chị nói. — Con hãy viết về việc con tham gia bảo vệ Tổ quốc như thế nào? Còn mẹ thì chẳng phải lo nghĩ gì cả nhé!

        — Tạm biệt mẹ! — Vô-lô-đi-a trả lời tuy không đúng chỗ nhưng với giọng biết ơn.

        — Hãy cần thận đấy... — Chị lại khàn khoản. — Nếu họ không cho con đi đâu thì con đừng có tự ý đi, phải đề phòng... Con chưa được học quân sự nhiều.

        — Rõ.. Xin chấp hành đúng!—Vô-lô-đi-a nói, giọng vui hẳn lên.

        Ôn-ga muốn ôm lấy nó một lần nữa, nhưng chị sợ không làm chủ được mình rồi lại òa lên khóc. Bước qua,ngưỡng cửa, chị nhìn theo Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a đang nhanh nhẹn đi trên hành lang. Gô-ga nhảy nhót trên đôi nạng, đi theo tiễn hai bạn. Đến cầu thang, Vô-lô-đi-a quay lại và vẫy tay chào mẹ. Nhưng những giọt nước mát cố nén từ lâu đã trào ra làm chị chẳng nhìn thấy gì cả...

        Qua cổng, Vô-lô-đi-a nói với Vê-rép-kin:

        — Mẹ mình xử sự đúng tinh thần chiến đấu đấy chứ! Thậm chí tớ không ngờ...

        Vi-chi-a — mồ côi cả cha lẫn mẹ, vốn được nuôi nấng trong nhà trẻ — không trả lời ngay.

        — Đúng đấy, phải người khác thì đã khóc nhiều rồi.— Chẳng hiểu vì sao cậu ta nói vẻ bực bội sau một vài giây im lặng. — Nhưng nếu nghĩ lại cũng thương họ: nuôi con lớn, chăm sóc bao lâu nay, thế mà...

        — Nào, nhanh chân lên, chúng mình ở nhà hơi lâu rồi! — Vô- lô-đi-a nói.

        Vô-!ô-đi-a cảm thấy nhẹ nhõm: cuộc chia tay với mẹ đã qua, và điều cơ bản là chính mẹ đã giúp cậu dễ dàng giải thoát khỏi những lo lắng về bà...   

        Hai cậu bé rảo bước trên đường. Gió lạnh thổi tạt vào mặt chúng. Trên đường phố tối vắng người, thậm thịch những bước chân đều đặn của họ. Những ý nghĩ của Vô-Iô-đi-a tập trung vào việc cần phải làm gì đêm nay. Và chẳng bao lâu, cảm giác quen thuộc dễ chịu, sôi nổi, tự tin, sức lực có thừa lại trở về với cậu.

        « Con hãy viết về việc con tham gia bảo vệ Tổ quốc như thế nào ? » - Vô-lô-đi-a nhớ tới lời mẹ và thích thú nhẩm lại. Lòng biết ơn mẹ lại trỗi dậy trong trái tim Vô-lô-đi-a, vừa đi cậu vừa thót lên:

        — Nếu có điều kiện, chúng mình tạt qua, chẻ củi cho mẹ...

        — Tất nhiên, nếu có điều kiện ta sẽ tạt qua. — Vê-rép-kin tán thành.

        Tiễn bạn tới cầu thang, Gô-ga ở lại hành lang. Em không muốn trở về phòng mình và nhân lúc không có mẹ ở nhà — mẹ làm ca ba — muốn một mình đi trên chiếc hầm ngầm bằng đá : đi tới đi lui, đi lên rồi quay lại... Ở đây còn thoảng hơn căn phòng đầy đồ đạc của em. Ngồi im một chỗ lúc này em không chịu nổi.

        Đi ngang qua bếp công cộng, em ngó vào. Đây là một gian nhà rộng hình vòm, có chiếc hỏa lò cực to bịt sắt chưa bao giờ được đốt nóng lên. Dọc theo bức tường là tủ con, bàn con của các chủ nhà. Vào giờ này trong bếp vắng người. Chỉ có hai bếp dầu đang cháy sau chiếc cửa sổ con bàng kính mi ca ám khói. Những người phụ nữ ít lời đang bận rộn ở đây không hề để ý tới Gô-ga. Đứng đây một lát chẳng ra vẻ chờ đợi gì, Gô-ga lắng nghe những giọt nước rơi đều đặn từ vòi xuống chậu rửa mặt, rồi lại quay ra hành lang.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:08:11 pm

        Tuy không ghen tị với các anh bạn khỏe mạnh vừa mới từ giã mình, nhưng em vẫn muốn được tiếp xúc với mọi người. Tất cả tâm trí em đang hướng theo hai bạn. Hơn ai hết, Gô-ga cảm thấy thiếu không gian và trong mấy tuần gần đây khi mẹ cấm em ra khỏi nhà thì nó lại càng thu hẹp lại quá nhiều : những bức tường dày hàng mét cản đường em trong mỗi bước đi. Và bây giờ em đành phải bằng lòng với cái hành lang chung, nơi cần phải đi lại nhẹ nhàng để khỏi phiền đến hàng xóm. Song, ngay trong hoàn cảnh này cũng không có gì ngăn cản nổi Gô-ga đang hồi hộp theo dõi những biến cố bên ngoài, tuy em không tích cực tham gia vào những biến cố ấy. Dù khả năng cho phép so với những người khác có ít ỏi thế nào đi chăng nữa, nhưng đối với Gô-ga, nó vẫn còn nhiều đến mức em không cảm thấy mình bất hạnh. Chỉ đôi khi như hôm nay chẳng hạn, sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a, một tâm trạng bị kích động vu vơ không kìm nổi đang xâm chiếm lòng em...

        Gô-ga lại đến bên cửa lớn, mở ra và nhìn ra ngoài.

        « Hai người đã đi xa rồi. — Em nghĩ về bạn mình. — Có thể đã ra khỏi thành phố rồi... ».

        Và em tưởng tượng ban đêm họ đi trên dường như thế nào. Vô-lô-đi-a trong chiếc áo Cu-ban lông cừu và « gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki» — Vi-chi-a Vê-rép-kin. Chắc là ở ngoại ô cũng tới như ở đây. Không kìm nổi sự quyến rũ đột ngột, Gô-ga đưa nạng ra khỏi ngưỡng cửa và trong đêm tới, tự mình nhảy ra chỗ trống. Bầu không khi lạnh thấm vào người em làm Gô,-ga co toàn thân lại, không phải chỉ vì rét mà còn vì một cảm giác thích thú lạ lùng.

        Ở phía dưới, cánh cửa kêu cót két. Sau đó nghe thấy những bước chân nặng nề — một người nào đó chậm chạp đi trên cầu thang và Gô-ga lùi lại, dựa lưng vào tường.

        — Có ai ở đó không ? — Giọng một bà già từ dưới vọng lên —  Không va phải...

        Gô-ga nhận ra giọng bà hàng xóm, người chấm công ở nhà máy bánh mì, nhưng không muốn để ai trông thấy mình nên em không đáp lời.

        Chẳng nói chẳng rằng người đàn bà nặng nề đi qua Gô-ga, mùi hôi hám ở áo quần thoảng qua như một làn gió.

        « Lăn đi, lăn đi bà già ơi!... Di đi... » — Gô-ga thì thầm nói theo bà già. Em thích thú về ý nghĩ ranh mãnh của mình đã thành công. Và em lại hướng về Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a. « Ban đêm bọn Đức có thánh cũng chẳng trông thấy họ !... Hai người chỉ nép ở đâu đó dưới gốc cây, thế là xong... ». Gô-ga sung sướng thay cho bạn. Em mặc chiếc blu dông mỏng nên rét run cầm cập. Song Gô-ga thích đứng trong bóng tối, em chưa vội đi vào ngay. Tiếng còi báo động quen thuộc vọng tới tai em. Đây là lần thứ ba trong ngày, tiếng rú dài đơn điệu ấy lại vang lên. Sau một, hai phút, cánh cửa hành lang mở và trong ánh sáng lóe ra, các chủ hộ đang kéo xuống tầng ngầm vào hầm trú ẩn. Những người phụ nữ mang theo chăn gối, cậu học trò xưởng in mà Gô-ga quen biết vừa đi vừa huýt sáo. Bóng tối ùa đến khi cánh cửa khép vào, một người nào đó bật diêm. Sau đo, cánh cửa lại mở rộng để mọi người đi qua. Người cuối cùng là bà già ở nhà máy bánh mì, tay giơ cao cái đèn lồng to đốt ngọn nến đang cháy dở để soi những bậc thang bằng đá đã hỏng.

        Còi báo động im bặt từ lâu. Một sự im lặng nặng nề bao trùm đến mức Gô-ga cảm thấy hơi bối rối Cùng lúc đó, em cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Ẩn ở đó, Gô-ga chẳng có một mục đích nào, nhưng hình như trong cái bóng đêm đổ có chứa đựng một sự bí ẩn hấp dẫn đang bao trùm lấy hai bạn em. Và mặc dù Gô-ga đã bị rét thực sự, hai hàm răng run lên cầm cập, nhưng em vẫn chưa vội trở lại hành lang ấm áp.

        Cậu muốn đi đâu trong bóng tối cực kỳ như thế này... Đi qua ngay mặt bọn Đức... Thế mới khéo... » — Em khâm phục Vô- lô-đi-a, Vi-chi-a và bản thân mình như thể em cùng đi với họ...

        Gô-ga không nhớ là mình đã ở hành lang được bao lâu, em bị lạnh đến tận xương nhưng cũng bị kích động một cách lạ thường.

        « Có thể chui vào bụi rậm và theo dõi tất cả những gì bọn Đức đang làm... Và sau đó trên cánh đồng... Và hồi tưởng lại chúng nó nói gì! — Em khoái chí thầm tưởng tượng. — Có thể tới tận cửa sổ Bọn Đức đang ngủ và ta rút súng ngắn tặc, tặc! Thế là chúng bỏ chạy lung tung! Còn chúng ta trở về rừng, thử tìm ta xem! ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:03 am

        Gô-ga chẳng biết mình chuyển từ « họ » sang «ta » từ bao giờ và lúc này em cảm thấy ràng em là người cùng tham gia bình đẳng trong chiến công của hai bạn. Ngọn đèn duy nhất treo trên trần tỏa sáng mờ mờ xuống hành lang và khi cậu bé đến gần thì cái bóng đen nhảy theo sau ngắn lại một cách nhanh chóng. Dưới ngọn đèn, cái bóng đen đó thu ngọn nhỏ lại và sau đấy lại được kéo dài thêm ra... Chuẩn bị đôi nạng cho bước nhảy tiếp theo, Gô-ga vung chúng sang hai bên như đang đôi cánh và sự đi lại của em như một cuộc tập bay liên tục. Như một con châu chấu khổng lồ, Gô-ga lập lại ý định này lần nữa và lần nữa trên cái hành lang lờ mờ sáng. Em nhảy từ đầu này tới đầu kia, lên phía trước rồi quay lại phía sau. «Hay là vào ban tham mưu của chúng, tại sao lại không được cơ chứ ? » — Những bức tranh tưởng tượng lại được vẽ ra.

        « Bắt lấy tên tướng của chúng khi chúng ra sân. Lấy đây trói lại, nhét giẻ vào mồm và mang theo về đơn vị. — Bắt lấy, ta thử xem... ».

        Em cảm thấy lúc này em đang vội vã thực hiện một nhiệm vụ du kích kiên cường, giáng cho kẻ thù những cú đấm bất ngờ rồi rút lui khi bị truy lùng. Em như một con người táo bạo và không thể bắt được.   

        Bỗng nhiên Gô-ga bất ngờ dừng lại, nhấc dôi nạng lên và lảo đảo, đờ người ra : em trông thấy hai người đang đi trên cầu thang. Họ nhìn quanh rồi chầm chậm đi theo hành lang, nhin số phòng. Chắc những người này lần đầu tiên đến đây. Di trước là một. người mặc áo ca pốt khá đẹp, đội mũ chào mào, người thứ hai — trong chiếc bành tô dài màu nâu và chiếc mũ có lưỡi trai rất to, vai rộng và thấp, trống hắn gần như người vuông. Khi cả hai đến dưới ánh sáng ngọn đèn, Gô-ga nhìn thấy trên khuôn mặt choắt lại của người thứ nhất, đôi mắt tròn, căng thẳng rất gần nhau, còn mặt người thứ hai bị che bởi chiếc lưỡi trai quá to.

        Bị bắt gặp bất ngờ, Gô-ga bối rối mỉm cười. Mặc dù sự xuất hiện đột ngột của hai người này làm đứt đoạn giấc mơ của Gô-ga, nhưng ngay lúc đó em sẵn sàng giúp hai người lạ mặt tìm người cần gặp. Song những người khách không hỏi em. Dừng lại trước phòng số bảy, người mặc áo ca pốt gõ cửa. Cậu bé hơi tiếc rằng trong trường hợp này sự giúp đỡ của cậu là không cần biết. Người họa sĩ già — Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích Bu-kha-xép ló ra ngưỡng cửa và cà hai người khách bước vội vào phòng ông ta. Người họa sĩ đã định đóng cửa, nhưng ngay lúc đó ông ta trông thấy Gô-ga. Trong đôi mắt dưới hàng mi trần hiện rõ vẻ dò xét : hình như ông ta muốn yêu cầu cậu bé một điều gì đó. Song chi một giây sau ông ta đã bực bội một cách vô cớ.

        — Mày cứ luẩn quẩn ở đây làm gì ? Đi ngay khỏi đây đi! — Ông ta giận dữ gắt rồi chui tụt ngay vào phòng, đóng chặt cửa lại.

        Gô-ga ngơ ngác nhìn theo cánh cửa sần sùi được quét sơn xanh đã tróc một nửa, Mi-kha-in, người họa sĩ già thường ngày rất chín chắn, trầm tĩnh cho nên thái độ gay gắt bực bội của ông ta,vừa rồi làm cậu bé rất đỗi ngạc nhiên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:37 am

2

        Pa-ven Grô-mốp đang đứng trong công sự. sẵn sàng bước vào trận. Tiếng rít của động cơ xe tăng, tiếng ầm ầm loảng xoảng mỗi lúc một gần và mạnh. Vô tình, Pa-ven nhăn mặt lại. « Đường vào làng đã được gài min, và bọn Đức sẽ cố vượt qua chúng ta — Pa- ven nhẩm lại mệnh lệnh cửa đại đội trưởng. — Các anh hãy đón đánh và không cho bọn chúng vượt qua”.

        Xa xa đã có thể trông thấy đoàn xe tăng dàn thành một hàng dọc cách xa nhau, lừ đừ chuyển động trên đường, tiến về phía làng. Hình như tiếng động từ dưới ấy vọng lại không liên quan gì với chúng, và kỳ quặc thay là những cái bóng xe nhỏ bé lờ mờ đang đi chuyền dưới kia lại có thể gây bấy nhiêu âm thanh. Pa-ven vừa mới đi kiểm tra các chiến sĩ của mình: anh thấy họ đang đứng bên chiến hào, hai chiến sĩ ôm hôn nhau trước trận đánh, một người nào đó uống bi đông nước ừng ực. A-nhi-xi-mốp bông đùa để động viên những người bên cạnh. Còn Va-nhi-a Bô-cốp người nhợt nhạt, trầm lặng, đang cố mỉm cười. Trở lại vị trí quan sát của mình, Pa-ven lòng đây quyết tâm chấp hành mệnh lệnh một cách tốt nhất, chính xác nhất.

        Chỉ có tiếng động xa xa, tiếng động của sắt thép, động cơ nổi lên ở dưới cánh đồng kia làm anh bực bội. Chung quanh tất cả đều im phăng phắc, không hề có một vật gì chuyền động ở trước cổng làng, cũng như ở trên đồi, nơi trung đội Pa-ven đang chiếm lĩnh. Ở nhiều nơi trên mặt đất nổi lên những ánh lửa hồng và dường như có một màn sương đỏ lừ đang trôi từ phương nam tới nơi các chiến sĩ ẩn nấp trong công sự. Những phút chờ đợi cuối cùng trôi đi chậm chạp không sao tả nổi, bởi vì phút nào cũng có thể trở thành phút đầu tiên của trận đánh. Chiếc tăng đầu của bọn Đức lượn theo chỗ đường ngoặt và hướng mũi chạy thẳng vào làng. Ánh sáng màu hồng nhạt xuất hiện trên vỏ xe tăng đã giúp Pa-vẹn nhìn thấy, hay nói chính xác hơn là đoán được những đặc thù của nó: vỏ xe cong, tháp súng tròn...

        « Thôi đã đến lúc! — Pa-ven nói thầm. — Tại sao chúng không bắn nhỉ ?... ».

        Pa-ven dưa mắt nhìn về phía làng, nơi lúc này phải có mặt trung úy đại đội trưởng, nhìn sang bên cạnh và anh ngạc nhiên thấy người chiến sĩ liên lạc đang há mồm ngáp dài như thể buồn ngủ. Pa-ven nghĩ rằng cần phải động viên người chiến sĩ, nhưng ngay sau đó quên mất anh ta.

        Khi xe tăng tiến tới gần làng thì thể tích và hình dạng nó mỗi lúc một rõ hơn, những đám cháy nơi chúng xuất hiện soi sáng chứng. Đã có thể đếm được gần mười chiếc. Chúng đi thành một hàng, đuôi của nó mất đi trong đêm tối. Trong khi chiếc xe đầu đã ở rất gần hỏa điểm của đại đội thì những chiếc khác mới chỉ lờ mờ trong bóng tối dày đặc.

        « Cần phải bắn ! Bắn đi ! Đã đến lúc rồi! » — Pa-ven lầm rầm như niệm thần chú.

        Dường như được tạo ra từ ý nghĩ tập trung nôn nóng của Pa- ven, ở phía dưới lóe lên một luồng lửa thẳng tắp.

        Trong khoảnh khắc, luồng lửa đó soi sáng cả một đoạn đường, một đám ruộng đã cày đen sẫm, một cây bạch dương đơn độc ven dường và cái thành xe tăng phẳng lì. Sau đó tất cả đều mờ đi; một tiếng nổ gọn vang lên và trên mặt đường xuất hiện một đám khói.

        Không hiểu sao, chiếc tăng đầu không bị trúng mìn, nó tiếp tục bò tới làng, còn chiếc thứ hai thì bị. Những chiếc đi sau liền rẽ xuống đường, quay ngoắt sang trái hoặc sang phải. Ở phía dưới vẫn vang lên những tràng súng liên hồi loạn xạ, những loạt đạn súng trường lóe lên. Ở còng làng, súng máy đã nhả đạn. Thêm một chiếc tăng nữa bốc lửa, nó dừng lại và khói cuộn chặt lấy con thú vật.

        Pa-ven cầm lựu đạn đặt trên bờ công sự, tay trái mở nắp và đặt kíp nổ rất dễ cháy lan vào ống giữa. Anh không nghi ngờ rằng trong phút này xe tăng phải lao đến chỗ anh để tránh sa vào bãi mìn trên dường như đại đội trưởng đã phán đoán.

        Một lần nữa Pa-ven lại nhớ tới người trung úy nghiêm khắc của mình với lòng biết ơn vì anh ấy đã trông thấy trước tất cả... Pa-ven vô cùng sốt ruột, dường như một cái gì đó đẩy anh lên phía trước, nhấc anh khỏi mặt đất và anh hoàn toàn không cảm thấy mình cùng cơ thể mình. Còn quả lựu đạn nặng trình trịch mà anh đang nắm trong tay dường như đang tiếp cho anh một sức mạnh mới lạ thường. LÚC này, điều duy nhất gây cho anh một nỗi bực tức nhói lên trong tim là tiếng động hỗn loạn khủng khiếp — tiếng nổ đùng đùng, ầm ầm, tiếng rít inh tai của đạn, của động cơ xe tăng...

        Tuy vậy, trận đánh ở cổng làng và trên đường diễn ra rất quyết liệt: chiếc xe tăng đi đầu khạc ra một luồng lửa dài xé tan màn đêm. Một tiếng nổ rất to vọng lên và ngay lập tức ngọn lửa chập chờn vàng nhạt bốc lên từ ngôi nhà ở rìa làng. Những chiếc xe khác cũng nổ súng, chúng không hề dừng lại, vừa tiến vừa phụt ra những chùm đạn, chói lòa xuyên thủng bầu không khí đầy khói lửa. Tiếng súng và tiếng nổ hợp lại thành một thứ tiếng hỗn loạn liên tục và chân đồi nơi Pa-ven đang đứng giống như một nấm mồ màu xám nhạt.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:58 am

        Nhưng xe tăng không có ý định tràn lên đồi, chúng vừa bắn, vừa chạy dọc theo đường cái tiến thẳng tới trận địa bộ binh của đại đội , trong ánh chớp vàng thẫm, ánh lửa chập chờn có thể trông thấy đất đá bay tứ tung, những bóng người đang ngã xuống, đang nhảy hoặc đang bò ném lựu đạn. Giữa những đám khói ở khắp đó đây, trong chớp mắt xuất hiện những tháp súng xe tăng và vỏ sắt của chúng cũng ánh lên trong ánh lửa. Ánh lửa súng máy màu trắng như một làn gió hung dữ nhấp nháy trên mặt thép lúc tắt, lúc lại lóe sáng. Bỗng nhiên, ở một chỗ, có cái gì đó lóe lên ánh lửa xanh như ánh hàn điện và nhìn vào đó, Pa-ven trông thấy chiếc tăng thứ ba bị diệt. Từ chiếc xe tăng, một bóng đen chui ra và lom khom chạy. Chẳng bao lâu, mấy chiếc tăng đã đột phá tới tận cổng làng trong trận địa của đại đội và chúng vừa bắn vừa tản theo những hướng khác nhau. Ngôi nhà gỗ cạnh làng trong hầm có đặt khẩu đại liên, cháy hừng hực như đống lửa được đốt bằng thuốc nổ. Pa-ven nhoài người khỏi công sự, leo lên bờ chiến hào và không biết mình đang làm gì, anh đứng thẳng người dậy. Anh rất đỗi ngạc nhiên: xe tăng không quay vào chỗ anh để tránh bãi mìn. Chúng không tiến công quả đồi và thế là anh cùng với trung đội của mình ở ngoài trận đánh. Thật là một điều hoàn toàn bất ngờ. Bị trụ lại đây, anh không thể hỗ trợ được các đồng đội của mình bằng lựu đạn hoặc vũ khí, trong khi mệnh lệnh của đại đội trưởng không cho phép anh tự tiện quyết định một hành động nào khác.

        « Không được tự xuất hiện trước thời cơ », trong đầu anh vang lên lời trung úy. Pa-ven nhìn xuống chân đồi, hy vọng sẽ thấy một người nào đó lao tới chuyển cho anh lệnh về việc tiếp viện cấp bách. Anh đã cử liên lạc tới gặp chỉ huy. Hình như trong giây phút hiềm nghèo, anh ta quên mất cả Pa-ven lẫn trung đội của anh đang mai phục trên đỉnh đồi. Họ đành phải khoanh tay ngồi đây, còn trong khi các đồng chí của họ đang chiến đấu nguy kịch.

        Bỗng Pa-ven thấy Su-kin, thợ luyện gang, tiểu đội trưởng đứng bên anh từ lúc nào, đôi mắt giương to mệt mỏi và dường như sợ sệt nhìn Pa-ven, sau đó ghé sát vào tai anh:

        — Hay là ta đánh vào lưng, hả ?... Đứng thế này làm gì cơ chứ ?...

        Pa-ven nghe rõ mấy lời ấy nhưng không thể trả lời ngay được. Bất thần Pa-ven cảm thấy ngạt thở, miệng bỗng khô cháy. Từ trạng thái hừng hực sẵn sàng chiến đấu, từ lòng tự tin vào lực lượng của mình chuyển sang trạng thái bất động, cưỡng chế nhanh chóng đến mức làm Pa-ven cảm thấy bối rối hoang mang. Rồi tiếng ào ào, ầm ầm của địa ngục làm anh choáng váng đầu óc; những ánh chớp điên rồ hung hãn màu trắng, vàng, đỏ thẫm làm Pa-ven vô cùng sửng sốt.

        Trong khi đỏ các đồng chí cùng đại đội của anh đang chiến đấu hết sức mình ở đầu làng. Dù không trông thấy được những điều diễn biến ở đấy, nhưng Pa-ven không khó khăn gì không đoán ra được. Một đơn vị xe tăng đang nổ súng trên đường làng, sâu ở phía sau đại đội. Lúc này trận đánh đang diễn ra ở đó. Thêm mấy ngôi nhà nữa bốc cháy, còn ngay trên đường lớn, nơi bắt dầu trận pháo kích, trời lại tối đen. Chắc là ở đó mọi việc đã xong xuôi. Các hỏa điểm đã bị diệt, còn người thì bị giết hoặc tan tác hết. Hơn nữa, những điều kinh khủng này lại diễn ra nhanh chóng đến đáng sợ, theo Pa- ven chỉ trong vòng vài phút thôi.

        Pa-ven không nhớ là đã lọt vào công sự của các chiến sĩ như thế nào. Anh tới đây theo phản xạ tự nhiên để có sự che chở của họ... Mãi đến khi thấy nhiều người ở quanh mình: I-van Bô-cốp đang áp người bên tường đất, Su-kin, A-nhi-xi-mốp ngay cạnh, Pa-ven mới nhận ra ràng thật là vọ nghĩa ở lại đây khi xe tăng đã đột phá vào làng và trận đánh đã lướt qua trước mắt họ. Dù chưa bị lộ, nhưng anh đã bỏ lỡ cơ hội cuối cùng hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ tuyến phong thủ, lúc này vẫn còn phải đánh trả quyết liệt ở sâu trong làng. Pa- ven quyết định không thể khoanh tay ngồi đợi mệnh lệnh nữa, anh hạ lệnh trung đội lao đi tiếp viện cho họ. Nhưng ngay trong khoảnh khắc đó, Pa-ven thoáng nghe thấy tiếng người gọi tên anh rất to, và người chiến sĩ được cử đến gặp đại đồi trưởng đã xuất hiện. Anh ta vừa thở hồn hèn vừa truyền đạt mệnh lệnh líu lưỡi vội vàng tới mửc Pa-ven không hiểu anh ta nói gì.

        — Rút về đâu và đề làm gì? — Anh hét lên hỏi lại.

        Mãi đến lúc người liên lạc mặt tái nhợt trắng bệch một cách lạ thường, thậm chí trong bóng tối cũng nhận thấy, bình tĩnh nhắc lại rành rọt mệnh lệnh, Pa-ven mới hiểu rõ trung úy ra lệnh cho anh dẫn trung đội đến cuối làng và từ đó, từ các vườn rau chặn đánh và tiêu diệt lũ xe tăng địch bằng lựu đạn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:13:28 am

        Nhoài người khỏi công sự, loạng choạng vì vấp phải đất đồ lởm chởm, cố lấy lại thăng bằng, Pa-ven vung lựu đạn lên quá đầu, hô lớn:

        — Đi thôi... Ôi! — Quên mất khẩu lệnh, anh dài giọng gào to. — Theo tôi, các bạn ơ... ơi!

        Pa-ven trông thấy các chiến sĩ của anh cầm súng leo lên bờ công sự. Thấp thoáng thân hình lom khom với khẩu súng trường trước mặt là Trô-sin, rồi đến người chiến sĩ cầm trung liên xông lên. Chính Pa-ven cũng đang lao xuống dưới như thể lặn ngụp vào một không gian thoai thoải tối mò... Anh lao đi những bước dài và chẳng mấy chốc đã bỏ xa các chiến sĩ chạy theo sau. Bầu không khí nồng nặc khét lẹt đến nôn mửa phả vào ngực, vào mặt và cái mùi khó chịu đó mỗi lúc một tăng. Thở hổn hển, Pa-ven chỉ cảm thấy anh chạy vất vả lạ thường và rất lo mình không kịp tới chi viện. Quả lựu đạn anh vung đều trong tay dường như lúc này hoàn toàn không có trọng lượng. Từ rìa làng còn vọng lại những tràng súng máy, những loạt đạn đại bác từ trên xe tăng nổ rất to, song không trông thấy xe tăng đâu cả. Ngọn lửa chập chờn mau lẹ đang liếm cái góc gỗ tròn của ngôi nhà rìa làng; nhiều đám khói bốc lên nghi ngút ở những ngôi nhà bên cạnh. Pa-ven quay lại — thấp thoáng bóng các chiến sĩ đang lao xuống đồi thành từng nhóm một. Chờ họ tới gần, anh vung tay chỉ hướng rồi tiếp tục chạy. Nhảy qua một hàng rào thấp, Pa-ven roi vào mảnh vườn khoai tây vuông vắn; ở phía trước, trong bầu thán khí màu đỏ nhạt thấp thoáng ngôi nhà gỗ có cửa trước quay ra mặt đường. Ngập ngụa trong đám đất màu, Pa-ven chạy vội tới đó, nhưng anh bỗng dừng sững lại, thậm chí còn lùi thêm một bước. Trước mặt anh, một người mặc bành tô đầu trần đang nắm sóng soài trên đám cây héo quắt, hai tay đang ra hai bên, Ngực vả phía dưới mặt người đó bê bết đất cát nhưng trán vẫn còn sạch, Pa-ven đã cui xuống định đỡ người đó đứng dậy, nhưng lại đứng thẳng lên. Anh căng thẳng nhìn vào đôi mắt người chết đang lim dim như sắp mở ra, vào hai mí mắt, vào đôi vai bất động, nhưng nhô lên như đang cử động một cách chậm chạp, vào cái thái dương hồng hào như của người đang sống khỏe mạnh.

        Phút sau, Pa-ven dồn hết sức lao về phía trước. Nỗi đau đớn xót xa cho một con người anh chưa hề quen biết đã bị kẻ thù giết hại, nỗi đau đớn cho chính mình, cho các đồng chí của mình lớn lao đến mức anh không kìm nổi tiếng kêu ngắn gọn như tiếng nấc. Quả lựu đạn trong tay tuy không có trọng lượng nhưng lúc này làm anh vô cùng vất vả.

        Theo Pa-ven thì ngôi nhà bên vườn khoai tây không có người ở, chủ nhà đã bỏ đi. Khi vượt qua ngôi nhà, Pa-ven đá phải cái xô không, làm nó lăn loảng xoảng mấy vòng. Pa-ven chạy qua sân con, nhìn qua hàng rào ra đường. Mặt đường sáng rực các đám cháy và hoàn toàn vắng vẻ, cả tiếng súng cũng không còn nữa. Những cọng rơm đỏ lừ lởn vởn trong không trung. Ngọn lửa ở cổng làng chảy giần giật và từ đấy bốc lại mùi khét lẹt của cao su và sơn cháy. Chăm chú nhìn, Pa-ven mới trông thấy ở trong đám khói có người: người đang đi, người đang bò lồm ngồm. Ngôi nhà xinh xắn có khung viền dăng ten của đại đội tạm thời chưa bị bén lửa, nhưng mái đã bị thủng một chỗ.

        Vung lựu đạn về phía sau chuẩn bị ném, Pa-ven nhìn chung quanh, nhưng anh lại từ từ hạ tay xuống: kẻ thù đã gây ra tất cả những gì trước mắt anh không còn ở đây nữa. Một ý nghĩ làm anh nhức nhối là những chiếc xe tăng đột phá được qua làng đang chạy về phía bắc vào thành phố; lúc này tiếng gầm của chúng đã yếu đi, chỉ vọng lại từ đầu đường làng tối om.

        Pa-ven thoáng nghĩ tới vợ, tới bố, — đây là lần đầu tiên trong suốt cả thời gian này — và chạy ra khỏi cổng...

        Ngay bây giờ, không đề phí một phứt nào, phải tập trung tất cả những ai lành lặn, rồi nhanh chóng kéo về thành phố, cần phải chạy để khỏi muộn thêm lần nữa. Bỗng nhiên có người gọi Pa-ven, anh nghe rõ tiếng gọi cả họ tên mình liền quay lại.

        Trong mảnh vườn bên cạnh có một người ngồi, đúng hơn là nửa nằm nửa ngồi nghiêng trên luống rau gồ ghề, một tay tì xuống đất, bóng tối của hàng giậu trùm lên chiếc ca pốt màu xám của anh ta.

        — Đồng chí trung úy! Đồng chí trung úy! — Pa-ven thốt lên khi trông thấy đại đội trưởng.

        Đại đội trưởng ngồi thẳng dậy, người chiến sĩ đứng sau cổ giữ lấy lưng anh. Pa-ven chạy vào mảnh vườn và cũng ngồi xuống luống rau.

        — Anh bị thương phải không? — Pa-ven kêu lên.

        — Người của anh... ở đâu? — Trung úy hỏi ngắt quãng. Khuôn mặt trẻ xương xương của anh đã vàng xám lại và hàng lông mày như được tô qua loa bằng than.

        — Họ ở đây... lát nữa họ sẽ tới đây... Nào, để tôi giúp anh. —  Pa-ven nói.

        — Không cần... Tôi đã ra lệnh chuẩn bị... chiến đấu... — Trung úy nói tựa như có đưa ra từng lời — Anh hãy theo dõi để họ mang theo... tất cả thương binh. Chính trị viên ở đâu? Anh không biết à? Nếu bị giết rồi thì phải mang xác đồng chí ấy đi... Anh đã rõ tất cả chưa ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:06:38 pm

        Trung úy cố ngồi thẳng người lại và thậm chí định đứng lên, một chân anh như cắm xuống đất, nhưng chân kia phủ kín dưới tà áo ca pốt vẫn thẳng đờ, không động đậy. Hình. như anh vẫn còn giận Pa-ven.

        — Vãng, vâng, vâng. — Pa-ven trả lời.

        — Anh hãy nhắc lại!... — Trung úy cúi đầu, tì cằm vào ngực và rùng mình.   

        — Mang theo tất cả những người bị thương! — Pa-ven nói.— Mang xác chính trị viên...

        — Đúng vậy... Cử trinh sát... vào làng Mới! Xe tăng đã quay về hướng đó... Tôi đã gửi báo cáo vào thành phố. Lực lượng tiến công vào chúng ta gồm hai mươi ba xe tăng và hai xe bọc thép... Chúng ta đã diệt được năm xe tăng...

        Cánh tay trung úy khuỵu lại và nếu không có người thiến sĩ đỡ dằng sau, anh đã ngã nghiêng xuống rồi. Chiếc mũ lưỡi trai còn mới rời khỏi đầu, đè lộ mái tóc ngắn lởm chởm như lông nhím. Song ngay lúc đó trung úy lại chống thẳng tay lên và ngực anh gập lại.

        — Lúc này chúng ta có thể rút. Anh hãy dẫn đoàn người, —  trung úy tiếp tục trao mệnh lệnh — anh hãy cho người... đi đầu bảo vệ... Chúng ta đi tắt qua rừng...

        Một đám tia lửa bay trên đường làng soi sáng một khoảng trời và Pa-ven nhận thấy người trung úy đầm đìa mồ hôi.

        — Anh hãy cho thương binh đi vào giữa đoàn người. Tôi sẽ đi cùng các anh... — Trung úy lấy tay khác nhặt chiếc mũ lưỡi trai và đội lện đầu — Chúng ta sẽ tiến công... quân chó đẻ này từ sau lưng chúng.

        — Ta tiến công quân chó đẻ này từ sau lưng chúng. — Pa-ven nhắc lại.

        Ý chí chiến đấu và chiến thắng đáng kinh ngạc của người thanh niên chỉ huy này làm anh xao xuyến.

        — Hết rồi! Hãy hành động đi! — Chàng trai chỉ huy ra lệnh.

        — Nào để tôi cõng anh. — Pa-ven nói. — Chúng tôi đưa anh tới viện quân y.

        — Anh đi ngay đi! — Trung úy cau có nói. — Hừ! Không kìm nổi cơn giận, anh thở hồng hộc và nhắm mắt lại, hàng lông mày rậm lạ thường tạo thành một vệt than dày.

        Một cô gái đeo túi cứu thương từ đường làng chạy vào sân và một người nào đó nữa chạy sau cô.

        — Thi hành đi! Thi hành đi! — Không mở mắt, trung úy nhắc lại.

        Pa-ven loanh quanh, sau đó chạy ra đường làng. Ở đấy có nhiều người đang chạy đi chạy lại lộn xộn mang theo thương binh, nhiều giọng nói vang lên khắp nẻo, các chiến sĩ trung đội anh đang đi ngược chiều anh theo từng tổ một.

        Bu-kha-xép khóa hai vòng cửa và trở lại với những người khách của mình. Họ đã ngồi yên bên bàn. Người khách trẻ cỏ khuôn mặt dài choắt, bỏ mũ chào mào và lấy tay vuốt ngược mái tóc thẳng màu vàng ra sau gáy, còn người cùng đi với hắn cứ để mũ lưỡi trai trùm xuống hàng lông mày. Từ cửa ra vào đến mọi nơi trong phòng, những vết chân sũng nước còn hằn rõ trên chiếc, sàn ván ghép cu kỹ.

        — Rất vui sướng, chào ông, ông Bô-rít Ni-cô-ỉai-ê-vích! Rất hân hạnh được các ông tới thăm. — Cúi người liếc nhìn vị khách dội mũ lưỡi trai, Bu-kha-xép nói.

        Đây là lần đầu tiên người họa sĩ già này gặp hắn và ngay cả với E-vê-min-gơ, người khách trẻ, mái tóc vàng có tên là Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích, ông ta mới chỉ được quen biết cách đây không lâu. Người họa sĩ già này chỉ mới tạm biết rằng y được người ta vất qua trận tuyến tới đây và chắc không phải chỉ một mình mà với cả nhóm: bây giờ ở trong thành phó đã xuất hiện bọn chỉ điểm bằng pháo sáng và xảy ra nhiều vụ tiến công những người gác đêm.

        — Ông không đợi ai chứ? Không một ai nghe thấy chúng ta chứ? — E-vê-min-gơ hỏi.

        Đúng là y nói tiếng Nga, nhưng phát âm từng từ rất cứng và quá rõ ràng.

        — Tường thế nào? Trần nhà ra sao? Tường nhà ông là tường gì ? — Y vừa lắp bắp hỏi vừa quay nhìn quanh phòng.

        — Pháo đài thực sự... Đại bác không xuyên được đâu, vững như boong ke ấy ! — Bu-kha-xép hấp tấp trả lời.

        — Ngôi nhà cũ, tôi hiểu. — E-vê-min-gơ quay sang gã đồng hành của mình. — Ni-ki-tin, anh thấy thế nào? Hình như được bà gọi về... Nói theo tiếng Nga là như vậy phải không?

        — Nắm tay thì to mà vai lại hẹp, người ta cũng nói như thế. — Người khách thứ hai đáp lại, giọng to và lè nhè. — Hôm qua, một ôn con đã theo dõi tôi từ bãi trống. Bây giờ thì họ đã vây kín cả vùng này.

        E-vê-min-gơ lặng lẽ tựa vào lưng ghế bành. Hắn nghĩ là hắn đã không thận trọng khi hắn đi đến một ngôi nhà quá đông đúc và với một người không được tin tưởng cho lắm. Song không còn cách nào khác được, hai ngày gần đây hắn và Ni-ki-tin đã phải chạy từ đầu này tới đầu kia thành phố đề đánh lạc hướng truy tìm. Và E-vê-min-gơ nhất định phải thoát khỏi người đồng hành nguy hiểm đang bị truy lùng của mình. Mặc dù dẫn Ni-ki-tin tới đây, hứa với y một đêm ngủ ngon lành, nhưng chính E-vê-min-gơ lại không định ở đây lâu.

        — Và thế là ông... — Ngước mắt nhìn chủ nhà, E-vê-min-gơ nói, sau một lát im lặng. — Và thế là ông đã sống trong ngôi nhà này hai mươi năm ròng phải không?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:07:11 pm

        Bu-kha-xép— một người gầy gò, bộ ngực lép xẹp, mặc bộ com blê loang lổ thuốc vẽ, chiếc sơ-mi nhàu nát, cái quần đã cũ, buông thõng đôi tay dài thượt đứng thẳng trước mặt hai người khách. Dù lão mặc bộ com blê, dù dáng lão gù gù vì tuổi già, người ta vẫn nhận ra vẻ quân nhân trên thận hình gầy đét của lão.

        — Đúng như vậy, hai mươi mốt năm tại đây, ông Bô-rít Ni-cô- lai-ê-vích ạ ! — Ông ta đáp, tư thế như người đang báo cáo.

        Gian nhà rộng rãi, vuông vẫn, có mái trần nham nhở với tháng năm và thành gờ nổi, trông gần như trống rỗng. Qua bóng tối lờ mờ ở góc trong, có chiếc giường sắt với những cái bướu mạ kền, chiếc bàn vuông chân nhỏ kê sát vào cửa sổ được che bằng chiếc chăn cũ làm rèm. Từ những ngày xa xưa, khi nơi đây còn là khách sạn loại hai, những lái buôn Mát-xcơ-va hạng trung, các công chức của Bộ công nghiệp, những vị quý tộc bị phá sản làm nghề bảo trợ, những người chủ gánh các tỉnh lẻ đã tới trọ tại ngôi nhà này. Đến giờ, trong các phòng vẫn còn giữ lại cái tủ to thấp với nóc trên uốn cong như sóng nước cùng chiếc ghế bành gỗ đỏ bên chiếc bàn. Song, cả những cái đó nữa cũng không làm thay đổi ấn tượng chung. Dường như người chủ căn phòng này như sống trong trại lính dựng tạm, trên cái sa mạc ghép gỗ ván được ngăn bởi những bức tường trần trụi bàn màu xanh.

        — Ô hố, hai mươi mốt năm! — E-vê-min-gơ thốt lên. Hắn suồng sã nhìn chủ nhà bằng đôi mắt tròn quá gần nhau bên sổng mũi của mình. Tuy phút vừa qua hắn còn vẻ lo lắng nhưng lúc này giọng đã có vẻ giễu cợt.

        — Còn đây là bộ sưu tập của ông phải không ? Đây là nghệ thuật của ông chứ gì ? — Giơ ngón tay chỉ trỏ, hắn tò mò hỏi.

        Trên sàn nhà, những bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh giống nhau trên bìa các tông đang được phơi khô dọc chân tường: một đầm nước hình bầu dục, những con thiên nga trắng như bông trên mặt nước trong xanh, cây cối xanh biếc với cành đối xứng và mặt trời tròn như năm cô-pếch bằng đồng. Một bức tranh khác, y như vậy nhưng còn nằm dở trên giá gỗ cọng, xung quanh là những hộp thuốc màu và bút vẽ.

        — Sản phẩm của tôi... hay nói theo cách khác là nguồn sống của tôi đấy! — Bu-kha-xép báo cáo. — Tôi mang ra chợ bán vào các ngày chủ nhật. Tất nhiên là bây giờ chẳng còn ai quan tâm tới tranh tới ảnh nữa.

        — Ở đây chỉ có một lối ra ở hành lang chung. — Người khách thứ hai bỗng lẩm bẩm, giọng cứng đờ khô như củi. — Chà, bất tiện quá đấy !

        — Cứ yên tâm, Ni-ki-tin! Chúng ta chỉ còn đêm nay nữa thôi. Cho tôi xin ngụm nước! — E-vê-min-gơ nói như ra lệnh cho chủ nhà. — Tôi xin cốc nước! Họng khô khốc rồi...

        Quay ngoắt lại theo kiểu quân sự, Bu-kha-xép lê giày tới xô nước ở cửa ra vào.

        — Tôi không biết mời khách quý cái gì đây. — Ọuay lại với cốc nước trong tay, lão ta nói. — Chỉ có trà thôi, có được không? Trong nhà này việc gì cũng đến tay tôi.

        — Hẳn là trà màu cà rốt, ông có trà không? — Người có tên Ni-ki-tin hỏi. — Hay là trà vụn. Hẳn là trà vụn chứ gí?

        Hắn đội lệch chiếc mũ lưỡi trai vuông che đến nửa khuôn mặt với cái cằm phảng, tay luôn thọc sâu trong túi áo bành tô.

        — Trong hoàn cảnh này, ai tim được trà hảo hạng? — Bu-kha- xẻp nói.

        Lê dôi giày, ông ta vội vã tới cửa sổ thứ hai, nơi đặt bếp điện và ấm đun nước. Trong lúc Bu-kha-xép đang lúi húi sửa soạn thì những người khách của lão nói chuyện khá sôi nổi, lão nghe được vài tên phố, tên người; Bô-rít nói một điều gì đó về kho quân nhu, hỏi xem người ta đã dưa phạm nhân trong tủ ra khỏi thành phố chưa, Song Bu-kha-xép không nắm được nội dung câu chuyện. Đã lâu quá rồi lão ta — đại úy, cựu sĩ quan từ thuở xa xưa, tham mưu trưởng chiến binh của tướng Cô-nhi-lốp, người tham gia « cuộc hành quân băng giá » — âm thầm chờ đợi sự thay đổi số phận mình trong cái thành phố này. Mỗi năm lão thêm già nhưng khả năng đổi đời ngày một ít đi. Và những biến cố đột ngột trong mấy tháng gần đây: sự tiến công nhanh chóng của các tập đoàn quân phát xít vào đất Nga, sự xuất hiện của các nhân viên tình báo Đức mà đã một thời lão ta có liên lạc, đã gieo vào lòng Bu-kha-xẻp một tác động kinh hoàng. Từ hành lang, tiếng gõ nhỏ nhẹ của dầu nặng bịt cao su vọng vào trong phòng và lão ta chú ý lắng nghe.

        « Cái thằng què ấy cứ chạy lăng xăng! — Với vẻ hằn học, lão ta thầm rủa Gô-ga. — Vẫn không chịu ngồi yên cho ! ».

        Sự có mặt của cậu bé sau bức tường làm cho Bu-kha-xép lo sợ, dù chẳng có lý do chính đáng nào cả. Hơn nữa, nỗi lo sợ lẫn bực tức của lão ta cứ tăng lên ngày này qua ngày khác và càng ngày lão càng khó kiềm chế chúng. Trải qua nhiều năm, nhiều giai đoạn và sắc thái, lòng căm giận sâu sắc xa xưa thông thường hay tập trung vào chính những con người mà hàng ngày chung sống. Dạo này lão ta lờ mờ nhớ tới cái thời lão buộc phải an phận và náu mình trong thành phố này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:07:45 pm

        Lê từ cửa sổ tới bàn, Bu-kha-xép vội vã thu xếp chai lọ bột màu để có chỗ uống trà.

        — Như các ông thấy đấy, tôi sống độc thân, — lão nói. — Tôi tự nấu ăn trên cái bếp kia... Theo kiểu bộ đội, không cầu kỳ. Các ông thông cảm nhé... Liệu có tiện cởi áo ra không, ông đưa tôi chiếc ca pốt của ông. — Lão ta nói với Bô-rít, rồi im lặng.

        E-vê-min-gơ lại im lặng ngắm nghía Bu-kha-xép: lão già luộm thuộm bận bịu keo kiệt với những người khách đột ngột của mình; khó có thể tin được là một thời nào đó lão ta đã mang quân phục sĩ quan. Chắc là trong tương lai cũng không thể mong đợi một lợi ích to lớn gì ở Bu-kha-xép. Lúc này E-vê-min-gơ nghĩ rằng, nếu đêm nay những người truy lùng Ni-ki-tin thình lình ập tới đây thì sự mất mát đối với những ai ngày mai tới thành phố này cũng không lớn lắm.

        — Nghe đây, ngài đại úy tham mưu trưởng! — Hắn gọi một cách vô lễ.

        Bu-kha-xép sợ hãi nhìn ra cánh cửa. Trong phòng này chưa có một ai gọi lão như vậy và câu nói bất ngờ kia làm lão choáng váng.

        — Ni-ki-tin sẽ ở lại nhà ông. Tôi cho rằng, các ông không buồn đâu. — Người khách của lão tiếp tục. — Tôi chỉ khuyên ông không cho hàng xóm của mình biết có Ni-ki-tin ở đây... Điều này có thể kết thúc không tốt cho chính ông.

        — Vâng, rất vui sướng, rất hân hạnh! — Bu-kha-xép nói.

        — Tôi đã đoán ràng ông sẽ không phản đối... Vả lại, cũng chỉ cần một đêm nay nữa thôi... Ngày mai, tôi cho rằng không chậm quá ngày mai đâu, quân đội Đức sẽ tiến vào thành phố của ông ..

        Sôi nổi hẳn lên, E-vê-min-gơ ưỡn thẳng người lên trên chiếc ghế bành và úp bàn tay vỗ vỗ thành ghế:

        — Ông sẽ không phải vẽ những bức tranh sơn thủy này nữa, —  hắn tiếp tục phát âm rất cứng cuối từ — ông sẽ hoạt động theo chỉ thị của bộ chỉ huy Đức.

        — Vâng, đúng thế, — Bu-kha-xép lẩm bẩm.

        — Ông chỉ còn ngủ một đêm cuối cùng trong cái boong ke này nữa thôi. Hai mươi mốt năm chờ đợi không phải là quá dài đối với ông, có phải thế không?

        — Rất đúng, hoàn toàn đúng, — Bu-kha-xép líu nhíu nói. Lão luẩn quẩn ở một chỗ, vô tình xoa tay lên áo vét như thể tìm cái gì đó trong túi ngực mình.

        — Ở đây có được an toàn không, ngài đại úy tham mưu trưởng ? Những ai ở bên cạnh đây? — E-vê-min-gơ hỏi.

        Nghĩ về những người hàng xóm của mình, Bu-kha-xép không trả lời ngay. Thật là kỳ lạ: lúc này không phải những xung đột nhỏ nhặt giữa lão với họ mà chính là vì phần lớn sự giúp đỡ đa dạng từ trước đến nay của những người này đối với lão làm lão ngột ngạt không chịu nổi... Đã không có gì có thể hòa giải giữa viên cựu đại úy tham mưu trưởng xưa kia với những người này chỉ vì theo một nguyên nhân đơn giản là lão phụ thuộc vào họ quá lâu và ghen tị với họ quá nhiều.

        — Những ai ở đây ? — E-vê-min-gơ nhắc lại câu hỏi. — Có đảng viên không ?

        — Làm sao lại không có được... Có đấy...

        Và Bu-kha-xép lại liếc nhìn cánh cửa. Tiếng dôi nạng nhẹ nhàng lộc cộc sau cửa rồi tiếp theo là tiếng gót giày.

        — Có thằng bé què kia nữa, tên nó là Gô-ga. Nó cứ quanh đi quẩn lại ở đây như thằng điên, — lão nói giọng gắt gay hẳn lên —  Và thằng bạn nó, Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp, lớn hơn một chút, kẻ đầu têu chính của chúng. Hôm nay nó chạy về nhà, ngôi sao đỏ trên trán. « Xin chào, — nó nói, — bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích !». Ừ mày, tôi nghĩ!... — Đại úy tham mưu trưởng cởi cúc ngực áo vét. — Mẹ nó, Ôn-ga Chi-khô-nốp-va, chi ủy viên phân xưởng. Cả thợ vô tuyến điện, đồng chí Gút-cốp, đảng viên, đặt tạp chí...

        — Chắc là ông biết rõ không phải chỉ những người sống trong nhà này, — E-vê-min-gơ nói, — và ông sẽ giúp chúng tôi làm sạch thành phố này. Ông sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng, được phụ cấp và được cả thuốc lá nữa.

        « Còn phải nói về bảng thành tích nữa. Con quỷ sống quá lâu ! » —  Bu-kha-xép thầm nghĩ.

        — Không phải cho tôi, không phải cho riêng tôi... — Lão lẩm bẩm, lùi lại chiếc ghế đầu và nặng nhọc ngồi xuống.

        E-vê-min-gơ kéo cổ tay áo ca pốt, nhìn đồng hồ và với lấy chiếc mũ chào mào. Cần phải ra đi, mặc dù hắn không muốn rời khỏi căn phòng ấm áp này để mò mẫn trong đêm tối lạnh lẽo. Song ở nơi mà hắn định đến không một ai biết mặt hắn, còn giấy tờ và phiếu đi đêm đều rất hợp pháp. Ngủ lại đây, liều mạng trong giờ phút cuối cùng này, đối với hắn là quá nông nổi.

        — Tôi thấy anh ngồi không yên, — với cái nhìn dò xét từ dưới chiếc lưỡi trai, Ni-ki-tin càu nhàu nói to, không phải việc anh tới đó.

        — Nếu có điều kiện tôi rất vui lòng để anh đi cùng, — E-vê- min-gơ bình tĩnh trả lời, — nhưng ở đó, nơi tôi đến, anh không thể đến được. Còn ở đây không có điều gì đe dọa anh cả, có phải thế không, hả ngài Bu-kha-xép ?

        Hắn rời khỏi ghế bành, đội mũ chào mào và lấy hai ngón tay trỏ vuốt mái tóc vàng màu trứng gà của mình.

        — Xin đừng tiễn tôi, — hắn nói. — Những chi thị của tôi, ngày mai Ni-ki-tin sẽ nói cho ông biết. Mai là ngày chiến thẳng của chúng ta. Thường thường những ngày này có bận rộn hơn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:08:33 pm

        Hắn đi ra cửa, chẳng ngoái cổ lại. Bu-kha-xép bước theo hắn, lòng đầy kinh hoàng, sau khi mở cửa để khách, ra, lão họa sĩ già bỗng nhiên lùi lại vì sợ gặp phải Gô-ga — rất có thể là lúc này vẫn còn ở trong hành lang.

        E-vê-min-gơ vừa ra khỏi, Bu-kha-xép liền khóa trái hai vòng cửa lại.

        — Thưa ông, ấm chè đã sôi! — Từ sau lưng hắn, giọng Ni-ki-tin ồm ồm vang tới. — Còn gì nữa, uống trà được rồi chứ?

        Bư-kha-xép vội vàng tới cửa sổ và tắt bếp. Đặt ấm chè lên bàn, lão chạy lại mở tủ, lấy đĩa bánh mì, hộp bơ và lọ mứt quả. Sau đó lão pha trà, lấy tay áo phủi những màu giấy các tông trên mặt bàn, rót trà vào cốc cho khách và cho mình, rồi ngồi xuống bên bàn nhưng chưa uổng vội.

        Lúc này viên cựu đại úy tham mưu trưởng có tâm trạng như của người ngà ngà say; khi thì nheo đôi mắt sâu hoắm, mí đỏ nhìn ánh đèn và cười bí ẩn, khi thì bật dậy định đi. đâu đó, hết đứng lên lại ngồi xuống. Lúc này trong tâm trí lão hiện ra những khuôn mặt khác nhau: ông quản trị nhà ở thỉnh thoảng có tối ngó đến lão ta, người công an ông gặp ở chợ vào chủ nhật vừa qua, chị mậu địch viên ở quầy bánh mì và ông già quét sân... Và một lần nữa, không phải lão ta nhớ đến những oán hận hoặc cảnh nghèo túng của mình, — nghĩ cho cùng thì lão sống không đến nỗi tồi so với nhiều người khác, thậm chí còn có tiền gửi tiết kiệm, — mà là nhớ tới những việc tử tế của người khác đối với lão. Tưởng tượng ra nỗi ngạc nhiên của tất cả những người này vào ngày mai và sau đó là nỗi khiếp sợ của họ, lão ta như say sưa và mất hết lý trí. Ông lão định báo thù không phải vì những việc ác độc, điều này ít ỏi đối với lòng căm thù của lão. Chính những việc tử tế này đã hun đúc nên lòng căm thù sâu sắc của lão ta.

        — Thưa ông, trà của ông là trà mồ côi! — Bu-kha-xép thoáng, nghe giọng buồn râu lè nhè của Ni-ki-tim — Được mỗi cái nóng, chứ không phải là trà.

        Hơ đôi bàn tay to béo trên tách trà còn bốc hơi, Ni-ki-tin vừa thổi vừa uống xì xụp, nước mắt tràn ra trên đôi mắt ốc nhồi, con ngươi màu xanh nhạt. Cuối cùng hấn cũng bỏ mũ lưỡi trai ra để lộ cái đầu cắt tóc ngắn với một mảng hói trên đỉnh hơi nhợt nhạt được tóc phủ qua loa.

        — Có nhiều loại trà, — vừa rót thêm vào tách cho mình, hắn vừa nói. — Có loại chè đen, chè tàu, chè mạn. Nhưng không có chè nào ngon hơn chè vàng cả, đúng là loại thượng hạng.

        Ni-ki-tin đưa bàn tay xoa trán lẩm tấm mồ hôi.

        — Ông bố tôi khi ngồi uống trà thường mang theo khăn mặt, —  hắn kể tiếp. — Chiếc ấm lò của chúng tôi loại đặc biệt có hai tầng. Có thể nói đây là loại ấm lò của giám mục. Thế mà đối với nhà tôi, nó vẫn còn thiếu, phải đổ thêm nước. Những người thích trà đến vậy đấy, thưa ông...

        — Càng giàu... càng giàu... — Bu-kha-xép lẩm bẩm. — Xin đừng .làm khách. Tôi sống theo kiểu độc thân.

        — Người ta bắt anh tôi uống trà từ ấm, — Ni-ki-tin lại lè nhè. —  Người ta nói chúng tôi là địa chủ phú nông. Thôi... Nhưng ai là địa chủ chính cống người đó không xòe năm ngón tay ra.

        Lại trầm ngâm với những mơ tưởng không thể tin được của mình, Bu-kha-xép không nghe hắn nói gì nữa. Tuy vậy, suy tưởng của lão không đi quá xa, chỉ giới hạn trong ngôi nhà lão đang ở và mấy đường phố lão thường hay quá lại, tới cửa hàng bánh mì, cửa hàng tạp phẩm để mua thuốc vẽ. Về bản chất, lúc này viên cựu đại úy tham mưu trưởng ấy chỉ mong muốn một điều — nỗi bất hạnh và chết chóc đến với những người hàng xóm của mình. Bởi vì họ có tất cả những gì mà lão ta không có, đó là tính tự chủ, tâm hồn trong sạch, cao thượng, trẻ trung. Họ tốt bụng ngay khi lão ta mệt lử người vì những ý nghĩ ác độc, họ hào phóng và nhiệt tình khi lão ta chẳng thích một ai. Hạ mình trước họ và ghen tị với họ, lão ta không hề mong muốn có được tất cả những điều này mà trái lại, lão muốn cướp đi của người khác những phẩm chất cao quý mà không bao giờ lão có thể có được.

        Cuối cùng Ni-ki-tin cũng đã uống xong trà, đặt tách xuống cởi cúc áo bành tô. Hắn lôi khẩu súng bắn pháo sáng giấu ở trong túi và đặt lên bàn. Người đỏ ửng mồ hôi lấy khẩu súng ngắn và băng đạn, hắn chậm rãi xem xét lại.

        — Chỉ có điều là tôi không có đường về! — Hắn buồn rầu nói. — Thưa ông, tôi đã say mê với việc làm của mình, hình như tôi đã thành thằng nghiện rượu mặc dù không biết uống. Tôi không thích rượu... — Hắn im lặng một phút. — Ông đã được uống chè Can-mứt chưa? — Hắn hỏi sau một lúc im lặng. — Khi ngồi tù ở đó tôi đã được nếm. Có thể nói tên gọi là chè nhưng lại giống nước xúp.

        Bu-kha-xép không trả lời: ngoài cửa có tiếng chân người cùng những giọng nói không phân biệt được.

        Lão đứng phắt dậy và kiễng chân đi ra cánh cửa. Nhũng bước chân xa dần theo hành lang : chắc là ai đó từ nhà máy trở về và cũng có thể từ hàm trú ẩn lên.

        — Chúng đi đấy, chúng đi... Tất cả đều là người ở đây. — Bu- kha-xép khẽ nói, môi hơi mấp máy.

        Khi ngoài hành lang, tất cả đã im ắng và lão ta đang nhìn quanh thì Ni-ki-tin vẫn mặc nguyên cả áo bành tô chân vẫn đi ủng, nắm quay ra trên chiếc giường của lão, hai tay khư khư đút trong túi áo.

        — Ông hãy quan sát để một việc đều êm đẹp trong khi tôi ngủ, — từ góc phòng hắn làu bàu. — Nếu xảy ra điều gì thì viên đạn đầu tiên sẽ dành cho ngài đấy! — Và sau một lúc lâu im lặng, hắn vừa ngáp, vừa nói líu nhíu: — thưa ông, chỗ ở của ông tồi lắm! Tuy rộng nhưng rất hôi hám!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:49:21 am

3

        Dọn rửa và xếp xong bát đĩa, bà An-na vội vã đi làm, còn Na- ta-sa ờ nhà một mình. Trời sắp tối, Na-ta-sa vào phòng Pa-ven. Tất cả khung cảnh ở đây đều như gợi đến việc anh mới ra đi: chiếc blu dông treo trên thành ghế; trên mặt bàn, một chiếc khăn mềm phủ lên mấy cái cặp gì đó, bảng vẽ nằm nghiêng ở gần đầu giường, những mẩu giấy trắng ở góc...

        Bóng tối chạng vạng; chậu hoa đơn độc, thân cây thấp, lá to đã in hình đen sì lên cửa kính đẫm nước màu xanh sữa... Từ phòng bên cạnh vang lên tiếng chuông báo đều đặn của chiếc đồng hồ báo thức và sau đó trong nhà im ắng. Na-ta-sa nhíu mày lại, cố kìm những giọt nước mắt cứ chực trào ra; nỗi lo sợ cho Pa-ven và có nghĩa là cho chính mình, nỗi lo sợ đơn chiếc xâm chiếm lòng chị mãnh liệt chưa từng thấy.

        Song chỉ một phút sau, Na-ta-sa đã thầm đấu tranh kịch liệt với những gì đang đe dọa mình, chị như ráng sức cố xua đuổi mọi nỗi bất hạnh, không cam chịu bị khuất phục.

        Chị nhanh nhẹn đi trên sàn nhà kêu cót két, bước vội tới bàn, ngồi xuống rồi lại đứng phắt dậy. Quanh quẩn trong phòng vẫn chưa biết phải làm gì, nhưng chị không muốn mất thêm thì giờ nữa. Như một cái máy, chị vội vàng bắt tay vào việc dọn dẹp phòng Pa-ven, vắt khăn lên mắc áo, thu dọn bàn viết lại. Theo bản năng, Na-ta-sa muốn xua tan tất cả những gì gợi nhớ sự chia ly và nỗi bất hạnh. Ngay lúc đó, ý nghĩ bất chợt thoáng hiện trong đầu Na-ta-sa là, chị có thể không phải xa chồng, nếu chị có đủ can đảm. Kinh ngạc với ý nghĩ này, Na-ta-sa ngồi xuống ghế, hai tay ôm đầu và cứ ngồi yên như vậy rất lâu. Chị hồi hộp sợ hãi, cố gắng suy nghĩ thật sâu tất cả mọi điều... Lát sau trời đã tối hẳn, khung cửa sổ vuông vắn như tan ra và biến đi trong bóng đêm. Na-ta-sa cảm thấy tĩnh mịch trong ngôi nhà sâu lắng và dày đặc đến nỗi làm chị sợ hãi.

        Sau khi mò mẫm che cửa sổ, Na-ta-sa bật đèn, đi sang phòng bên cạnh và ở đó chị cũng làm như vậy. Chị như lên cơn sốt, mặt nóng, bừng. đồng thời, lần đầu tiên trong ngày, Na-ta-sa cảm thấy thoải mái sau khi đã lựa chọn và quyết định. Đây là lúc Na-ta-sa cần đến những kiến thức của lớp cứu thương mà chị đã được học từ dạo hè! Và nếu những người phụ nữ khác có đủ khả năng phục vụ trong quân đội, với những công việc như cứu thương, hộ lý, liên lạc, trinh sát, xạ thủ, thì theo chị, tất nhiên chị cũng hoàn toàn đảm nhiệm được nhiệm vụ của mình. Toàn thân Na-ta-sa run lên khi chị cố tưởng tượng cho mình những thử thách và gian truân mà người lính phải chịu đựng... Nhưng tại sao chị lại phải tránh xa những, thử thách này, trong khi tất cả những người xung quanh ngay cả như ông A-lếc-xây Grô-mốp, tuy đã già vẫn trở lại nhà máy, đã trở thành những chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ hạnh phúc của chị... Với tất cả lòng thành thật và nhiệt tình của mình, lúc này, Na-ta-sa muốn làm một người có ích cho mọi người, muốn làm một điều gì đồ giảm nhẹ bớt số phận quá khó khăn của họ. Đồng thời, Na-ta-sa muốn tìm cách nào đó để chuộc lại một cách nhanh nhất những gì mà chị đã mất. Được đứng cạnh Pa-ven, được luôn luôn trông thấy anh, được cùng làm một việc với anh thì dù khó khăn gian khò đến mấy chăng nữa, đối với chị vẫn là một điều sung sướng, là niềm hạnh phúc lớn lao trong nỗi bất hạnh. Nghĩ vậy, Na-ta-sa nóng lòng chờ đợi bà An-na đi làm về để báo cho bà biết quyết định của mình. Cũng cần phải biết xem nộp đơn xin gia nhập trung đoàn cổng nhân ở đâu và nói chung cần phải làm thế nào để đạt được điều này càng nhanh càng tốt. Quanh quẩn trong nhà, Na-ta-sa lúc thì ngồi yên độ một vài phút, lúc lại đứng dậy lượn quanh các phòng. Và chị có cảm giác hình như không hiểu sao đôi giàv cao gót của chị lúc này nện xuống sàn ngôi nhà trống trải lại có vẻ to hơn và đầy vẻ lo âu

        Dừng lại trước tủ gương giữa hai cửa sổ, Na-ta-sa cúi gần sát gương và soi mình với vẻ kỳ lạ hơn. Đôi má đỏ hây nhưng văng trán trắng trẻo với mớ tóc vuốt ngược ra sau lại có vẻ nhợt nhạt hơn, còn đôi mắt màu nâu thẫm long lanh đầy vẻ tò mò, ánh lên những tia lửa vàng. Lúc này, Na-ta-sa cảm thấy mình đẹp hẳn ra. Bằng những cử chỉ thành thạo, chị vuốt mái tóc, cuộn lại búi nặng ở sau gáy, áp mu bàn tay vào má như muộn xoa xoa nó. Hơi thở làm mờ mặt kính. Na-ta-sa lúi húi với cái gương, quan sát phản xạ của người phụ nữ trẻ, tuy eo lưng hơi béo một chút, nhưng người chị vẫn đẹp...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:49:40 am

        Để làm một việc gì đó trong lúc đợi bà An-na về, Na-ta-sa lấy tập an bom ảnh nặng trịch, gáy bọc vải nhung trên giá sách xuống và giở ra xem. Ngay trang đầu là ảnh một cụ già đang mỉm cười hiền hậu với bộ ria chải ra hai bên theo kiểu Xcô-be-lép-xki đang nhìn qua khung giấy hình chữ nhật, như nhìn qua cửa sổ con. Tấm ảnh lâu đời đã phai màu, úa vàng vì năm tháng, và bỗng nhiên Na-ta-sa chợt nghĩ rằng ông cụ tổ từ thời xa xưa của nhà chồng đang mỉm cười và khuyến khích chị. Vô tình, Na-ta-sa cũng mỉm cười dù chị đã có quyết tâm với ý định của mình, nhưng lúc này vẫn rất cần sự ủng hộ và tán thành của người khác.

        Na-ta-sa thận trọng mở những tờ giấy dày mép đã úa vàng và trước mặt chị lần lượt hiện ra hình ảnh những người thợ thủ công râu ria, mặc áo gài cúc bên áo vét màu sẫm và những người phụ nữ mặc áo cánh bay bướm, váy dài, những chàng trai trẻ đội mũ lưỡi trai cứng màu đen và những bà cụ trùm khăn. Trên một tấm ảnh có nhóm đàn ông, một số mặc áo dài ngày lễ cổ cồn xếp hàng bên chiếc máy gì đó có vô lăng, A-Iếc-xây Grô-mốp trông trẻ hơn hiện nay khoảng ba mươi tuổi, nổi bật hơn hẳn những người khác. Trong một tấm ảnh khác đã phai màu, một người vai rộng, tóc bù xù, mặc tạp dề, tay áo xắn cao, đứng chống tay vào chiếc búa rèn cán dài. Thinh thoảng Na-ta-sa nhận ra nét giống nhau rõ rệt giữa những người to cao này với Pa-ven, nhưng trong nhiều trường hợp chị chỉ đoán được mức độ giống nhau huyết thống của họ. Những tấm ảnh của chính Pa-ven mà chị chưa được xem bắt đầu xuất hiện ở cuối an bom. Tim thắt lại, vui buồn lẫn lộn, Na-ta-sa ngắm kỹ tấm ảnh một thiếu niên tóc cắt ngắn, lưỡng quyền cao, môi dày, đeo huy hiệu Đoàn trên áo sơ mi kẻ ô và cái nhìn cởi mở hiền từ mà chị yêu quý đến như vậy. Sau đó chị nhận ra chồng mình, Pa-ven, trong đám thanh niên trẻ mặc may ô quần đùi chụp trên nền lưới bóng đá cao hơn hẳn giữa đội, hai tay ôm quả bóng trước ngực. Tất cả các chàng trai này đang cười vui vẻ và Na-ta-sa chợt có ý nghĩ rằng hôm nay các đồng chí xa xưa của chồng sẽ vui mừng đón chị vào hàng ngũ của họ. Nhiều tấm ảnh nhỏ, thư từ và biên lai được giữ lại ở cuối an bom giữa trang cuối cùng và bìa. Và ở đây, Na-ta-sa nhìn thẵy một ảnh chân dung của bố chồng, ông A-lếc-xây Grô-mốp cắt từ báo ra với hàng chữ đậm « Anh hùng lao động A.V. Grô-mốp».

        ...Bà An-na về nhà rất muộn: xí nghiệp may quần áo trẻ em, nơi bà làm việc đang khẩn trương sản xuất mặt hàng mới — áo ca pốt bộ đội và ngoài ra, đêm nay bà còn nhiều công việc khác. Ban ngày đã có nhiều người từ các thôn làng, và các khu công nhân chạy vào thành phố T. Theo đó là những tin tức đáng lo ngại nhanh chóng lan truyền;

        Từ xí nghiệp, An-na Grô-mô-va đi thẳng tới ủy ban đường phố của mình (như tên gọi cho thấy, lúc này những ủy ban như vậy đều được thành lập ở mỗi dường phó). Ở đây, những người phụ nữ hàng xóm đang sốt ruột đợi An-na tới và bà liền trao đồi những công việc khác nhau với họ.

        Theo quyết định của Hội đồng quân sự thành phố, nhân dân ngoại ô phía nam sẽ được chuyển tới khu Bờ sông và cần phải khẩn trương chuẩn bị việc tiếp nhận họ; sau đó là những việc quyên góp quà cho các chiến sĩ Hồng quân, phân công vá, giặt quần áo cho bộ đội... Thông thường, bà An-na luôn luôn bận rộn. Tuy bề ngoài có vẻ nghiêm khắc, khô khan nhưng dường như bà lúc nào cũng biết tạo nên một không khí tự tin với mọi người trong lúc này... Mãi gần nửa đêm bà mới ấn chuông ở thềm cửa nhà mình.

        Mệt nhoài vì đợi bà An-na quá lâu, Na-ta-sa vội vàng nói ngay cho bà biết quyết định của chị. Và chị rất ngạc nhiên khi thấy bà già vẫn lặng lẽ trước quyết định rất quan trọng của mình. Bà chẳng nói ra sự đồng tình mà Na-ta-sa chờ đợi và cũng chẳng tỏ vẻ phản đối gì, mà chi nói một cách chung chung.

        — Ở đây có nhiều phụ nữ xin gia nhập trung đoàn. Na-ta-sen- ca, cháu đã được học công tác hộ lý chưa?

        — Cháu đã học chút ít rồi... Và cháu sẵn sàng làm bất cứ công việc gì! — Na-ta-sa nồng nhiệt nói.

        — Thế còn gì nữa, cháu còn trẻ, sống tự lập... — Bà An-na tiếp lời và dường như cho rằng, ý định của cháu dâu mình chẳng có gì quan trọng lắm nên bà liền nói sang chuyện khác.

        Theo lời bà, trong thành phố vẫn còn yên tĩnh, mặc dù bọn Đức đã chiếm được làng Mới. Ở rạp chiếu bóng trên phố Xô-viết vẫn còn chiếu bộ phim «Sốt-xơ», các cửa hàng vẫn đóng cửa đúng giờ quy định và khi đi làm về qua nhà máy chế biến bánh mì, bà thấy ca đêm vẫn làm việc. Thật ra, ở khu bãi trống Pô-pốp, cạnh mấy nhà tắm cũ đã có tiếng súng nổ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:50:12 am

        Bà An-na chỉ nói qua về những điều này trong vài câu ngắn gọn bẵng một giọng trầm thấp. Vừa kể bà vừa bước những bước dài, nhưng không vội vã vào trong phòng để chuẩn bị cốc chén uống trà. Thân hình cao, thẳng, bà mặc áo cánh xa tanh đen rất phẳng làm nhô lên đôi vai xương xẩu. Khuôn mặt đàn ông với lưỡng quyền cao của bà vẫn giữ nguyên vẻ, kín đáo thường ngày. Na-ta-sa đứng bên bếp, chắp tay sau lưng, vẫn nghe với vẻ chểnh mảng. Chị đang bực mình trước thái độ thờ ơ của bà An-na đối với một việc theo chị rất quan trọng, gần như là anh hùng. « Giọng nói gì mà cứ như ra-đi-ô hỏng ấy!—Nhìn bà cô già nua, Na-ta-sa bực dọc thầm nghĩ. — Và sao mà kể về mọi chuyện bình thản đến thế, như thể chẳng có một tí gì là sự thông cảm cả!».

        Bà An-na đi vào bếp, đặt ấm lên đun rồi quay trở lại và chỉ lúc này mới ngồi nghỉ bên bàn.

        — Nào Na-ta-se, chúng ta sẽ uống trà và sẽ thảo luận tất cả mọi điều. — Bà nói.

        — Cảm ơn cô, cháu không uống đâu. — Na-ta-sa nói.

        Chị ngồi xuống chiếc ghế dài thấp bên bếp lò, hai tay ôm chân và tì cằm lên đâu gối.

        — Thật không may cho cháu, — chị phàn nàn. — Cháu đã tới đây mà chỉ được gặp Pa-ven có nửa giờ.

        — Na-ta-sen-ca, sao cháu nôn nóng vậy. Tuồi trẻ nên tự tôi luyện, sau này có lợi đấy. — Bà già nói và im lặng một lát, bà báo tin. — Lại có tàu đi Mát-xcơ-va. Người ta nói đường bị hỏng nhưng bây giờ đã chữa được rồi. Và tôi còn nghe được nhiều người nói điều này, hình như đã có lệnh,..

        — Cháu rất thèm được như cô, cô An-na Va-xi-li-ép-na ạ! — Na-ta-sa ngắt lời bà. — Sao mà cô bình tĩnh đến thế, chẳng cái gì làm cô lo lắng cả!

        — Tôi ư ? — Bà già lại im lặng ngẫm nghĩ lời cô cháu dâu. — Na- ta-sen-ca, tôi luyện cho mình tính bình tĩnh từ khi còn con gái. Còn sau đó chủ yếu tôi luôn sống trong nỗi lo sợ.

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn bà An-na như thể hoài nghi tự hỏi rằng người đàn bà sáu mươi tuổi giống đàn ông từ vóc dáng đến giọng nói trầm trầm này một thời gian nào đó cũng đã từng là con gái ư ?

        — Cô... — Chị thốt lên với vẻ nghi ngờ dù đã vụng về cố giấu. —  Cô cũng lấy chồng à?

        Bà già khẽ nhếch mép cười.

        — Tôi có phải là người con gái cuối cùng đâu. — Bà chậm rãi trả lời. — Thể lực cũng như sức khỏe của tôi phải bằng ba người. Tôi rất dẻo dai, có khả năng làm mọi việc: nào nấu ăn, giặt giũ, khâu vá. Như vậy đấy! Bố tôi, nói theo cách khác là ông nội Pa-ven vẫn là thợ tiện. Thế là tôi theo ông học nghề. Và mặt mũi tôi trông cũng trắng trẻo, sạch sẽ...

        — Không phải vậy đâu, cô An-na Va-xi-li-ép-na ạ, cô không hiểu ý cháu. — Na-ta-sa vội nói, mặt đỏ nhừ và để làm dịu vẻ bối rối của mình, chị hỏi: — Thế chồng cô là ai?

        — Là công nhân chứ còn là ai nữa?... — Hình như bà già bỗng chăm chú nhìn đôi bàn tay nâu nâu khá to, đã gầy hơn trước với những khớp xương nhô lên đang đặt trên bàn và trầm ngâm nói. —  Ông ấy với A-li-ô*sa, bố Pa-ven là bạn cùng tuổi.

        — Chắc là anh trai giới thiệu hai người phải không? — Na-ta- sa hỏi.

        — Đúng là anh A-li-ô-sa. — Bà già thú nhận. — Hai người cùng làm việc ở một phân xưởng

        Nhanh nhẹn rời ghế dài Na-ta-sa ngồi vào bàn — câu chuyện đã làm cho chị hứng thú,

        — Và mọi việc xảy ra như thế nào? Cô kể đi, cô An-na Va-xi- li-ép-na ! — Chị khẩn khoản nài nỉ.

        — Tôi kể cho chị cái gì được nhỉ?... Tất cả mọi việc của chúng tôi đều là chuyện thường tình. — Bà già trả lời.

        — Thường tình như thế nào cơ ? Nhưng cháu yêu cầu cô đấy! —  Na-ta-sa nói và vô tình mỉm cười với ưu thế của tuổi trẻ trước tuổi già.

        Lần này bà ỉm, lặng khá lâu, khuôn mặt với lưỡng quyền cao bị khuất bóng chao đèn treo trên bàn trở nên kín đáo không sao hiểu nổi.

        — Mọi việc xảy ra như thế này, Na-ta-sen-ca ạ! — Cuối cùng bà nói. — An-đriu-sa của cô thương cô, còn cô thì không bông đùa với lòng thương và sự âu yếm. Mẹ cô mất đi khi cô và A-li-ô-sa chưa đầy mười tuổi và cô chỉ nhớ hình ảnh bà một cách láng máng như nhìn qua sương mù. Ông bố lại là người cau có và ít nói. Cứ mỗi lần về nhà, ông vứt mũ cát-két xuống bàn và nhìn cô — một đứa trẻ con nhút nhát — thế là tay chân cô như rụng rời cả ra. Thế đấy... ông là một người to lớn, có thể nói là một lực sĩ nhưng cung hay phung phí sức lực của mình. Nếu cháu biết được là: dạo đó người ta phải làm việc ở nhà máy mười bốn tiếng đồng hồ liền, còn sau khi về nhà lại gia công tiện vòi nước. Thế là trong một thời gian ngắn, cô và A-li-ô-sa chỉ có một mình. Nghĩa là cô thì trông coi việc nhà, còn ông ấy nhận lấy địa vị của người bố...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:50:35 am

        Giọng nói đàn ông ồm ồm của bà vang lên đều đặn đến nỗi có cảm giác như thể bà không nói về mình, mà về một người đàn bà xa lạ nào đó và số phận của người ấy ít được bà quan tâm.

        — Về, A-li-ô-sa, về ông anh trai ấy thì cô không có một điều gì chê trách cả, — bà tiếp tục. — Cô nhớ lần nhận kỳ lương đầu tiên của mình, ông ấy mua cho cô chiếc lược sừng, một đôi giày cài khuy; bây giờ thì người ta không đi giày ấy nữa. Về sau, bao giờ ông ấy cũng chăm nom để cho quần áo, giày dép của cô được đàng hoàng. Dĩ nhiên chỉ có điều cô hay nghe thấy ở ông ấy những lời ít ỏi: « Đưa đây », « íMang lại đây », « Xúp cải đỏ của cô không muối...». A-li-ô-sa hơn cô tám tuổi và tính tình giống bố hoàn toàn. Thế đấy! Còn với anh An-đriu-sa, chồng cô ấy, có thể đây là lần đầu tiên trong đời cô nói chuyện với cháu đấy... Và hình như lập tức cô thấy ấm lòng hẳn lên. Đúng vậy, ông ấy thương cô. — Bà An-na ngừng nói, đầy vẻ tin yêu.

        — Thế cô sống với chồng có được lâu không? — Na-ta-sa hỏi nhỏ.

        — Lâu không à? Không, không lâu... Tất cả chỉ có một năm hai tháng. — Bà An-na nói.

        Na-ta-sa im lặng, không muốn hỏi thêm nữa.

        — Vào năm một ngàn chín trăm linh năm, khi ở đấy nổ ra cuộc bãi công lớn, bọn hiến binh đã bắt An-đrây và A-li-ô-sa đi. — Ngẫm nghĩ một lát, bà An-na bình tĩnh nói. — Sau một thời gian ngắn chúng nó thả A-li-ô-sa ra, còn chồng cô, ông ấy là ủy viên hội đồng công nhân, chúng nó đưa ông ấy đi... Thế đấy!

        Ngồi thẳng lên, hai tay để trên đầu gối, Na-ta-sa kinh ngạc nhìn bà già.

        — Chắc là ấm nước của cô sôi rồi! — Bà nói.

        — Cô cứ ngồi đi. Cháu xem cho. — Na-ta-sa thốt lên và nhanh nhẹn đứng dậy.

        Na-ta-sa cầm ấm nước sôi quay lại và đặt lên chiếc vòng sắt. Một hồi sau, chị lại chăm chú nhìn bà già rót trà vào chén. Người đàn bà nghiêm khắc này, tính tình lạnh như đá, vẫn còn là một bí ẩn đối với chị.

        — Và từ đấy về sau, cô không được gặp chồng nữa ạ? —Na- ta-sa không kìm nổi, lại hỏi.

        — Cả một năm trời cô chạy vạy ở sở cảnh sát và may quá có người làm văn thư, đúng là một tấm lòng vàng, chỉ nhận có ba rúp để nói cho cô biết là chúng nó đưa An-đrây đi đâu. — Bà An-na nói. — Sau đó nhận được thư của ông ấy: hãy chờ đến khi tôi ra khỏi tù. Ừ, thôi được! Cô đợi tám năm... Trong khi đó, một nỗi bất hạnh đến với A-li-ô-sa là, vợ ông ấy, chị Ô-len-ca một người đàn bà đẹp có, một không hai, một tâm hồn trong sạch đã nằm xuống và không bao giờ sống lại. A-li-ô-sa buồn bã trở nên rượu chè, chẳng thèm đoái hoài đến thằng nhỏ nữa. Pa-sa lại đến tay cô. Trong chính thời kỳ này, chúng tôi rất cùng cực, nghĩ lại mà phát sợ lên được! A-li- ô-sa khục khặc với chủ và lập tức nó cho thôi việc. Còn lúc đó mà thất nghiệp, chắc cháu đã đọc sách biết về chuyện này, nếu anh đã mất việc thì dù có ra đi với một số tiền chăng nữa cũng không làm sao sống nổi. Dù sao cũng không thể sống phè phỡn bằng nỗi đau khổ của người khác được — ai cũng biết điều này. Thời kỳ ấy cô đến làm thuê cho các gia đình kỹ sư: giặt quần áo, lau sàn nhà và bằng cách đó nuôi cả ba người. Và khi A-li-ô-sa hoàn hồn lại, cô lại nhận được giấy báo từ Xi-bia...

        Bà già im lặng, đôi môi nhợt nhạt của bà mím lại.

        — Chồng cô mất phải không?—Hạ thấp giọng, Na-ta-sa hỏi.

        — Chúng tôi không gặp được nhau. Chúng giết ông ấy ở đó. —

        An-na trả lời, giọng khản đặc. — Ông ấy nghiêm khắc, không biết sợ trước chân lý...

        Lần này Na-ta-sa đã nhìn bà với một vẻ sợ sệt pha lẫn nỗi thông cảm, lòng biết ơn và sự khâm phục của mình. Trước đây, chị đã nghe Pa-ven nói anh chịu ơn bà cô rất nhiều, nhưng cụ thể về bà thì anh còn kể quá ít! Na-ta-sa nghĩ, không hiểu sao trong an bom gia đình, chị không tìm thấy một tấm ảnh nào của bà An-na. Tuy vậy, người đàn bà ngồi trước mặt chị hình như đã chuyền sang mình tất cả ý chí kiên cường hiếm có của dòng họ công nhân và là linh hồn chính của cái gia đình này.

        — Na-ta-sen-ca, chè của cháu nguội mất kìa! — Bà già nói. — Cho đường vào!

        Ngoài cửa có tiếng gõ khẽ, yếu ớt và bà ngầng đầu nhìn, tiếng gõ lặp lại: có ai đó đang gõ cửa sổ che rèm quay ra phố. Bà già đặt tách xuống và đứng lên mở cửa.

        Phút sau, một bà béo phị bước vào hay đúng hơn là thình thịch ùa vào. Đầu choàng khăn, mặc áo vét len đan có túi chéo.

        — Bác An-na, bác nghe thấy không, — bà ta cao giọng hỏi và thở dài. Cái miệng nhỏ, chúm lại như miệng trẻ con để hít không khí. — Bác có nghe thấy không? Bọn Đức đã đến làng Mới! Bây giờ bác nói được gì nào : chúng ta sẽ chết hay sống?

        — Trước hết bà cứ ngồi xuống và thở đã. — Bà An-na nghiêm giọng nói. — Hãy làm quen với nhau đã, đây là...

        Bà khách, sau khi đã chào hỏi Na-ta-sa và mặc dù có vẻ chưa hết lo nhưng dù sao cũng tạm quên đi một lúc.

        — Thế ra là chị đấy !...— Vừa nhìn Na-ta-sa. bà vừa kéo dài giọng. — Chúng tôi cứ nghĩ là Pa-ven sẽ chọn cho mình cô vợ ở Mát- xcơ-va để làm cho các cô gái ở đây bực mình đấy ! Chúng tôi ở gần đây, hàng xóm láng giềng với nhau...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:07 am

        Bà lại tỏ vẻ lo lắng buồn phiền, lắc đầu vẻ đau khổ và nặng nè chuyển sang chiếc ghế bên cạnh. Chiếc khăn vuông tuột xuống bả vai để lộ mái tóc chải mượt được búi lại cẩn thận ở ngay đỉnh đầu.

        — Chân tôi không đứng nổi, bà An-na à! — Bà phân trần như để bào chữa.— Ban ngày tôi đi đứng không đến nỗi nào, nhưng ban đêm sao mà đau nhức thế, không thể nào ngủ được. Nước mắt ngắn, nước mắt dài nhưng vẫn cứ nhỏ giọt. Tôi vừa nằm vừa khóc, còn tim thì cứ như bị ai siết chặt lấy, xoắn lại và kéo bật nó ra. Tôi ngẫm nghĩ mãi, làm sao đủ nuôi bốn miệng ăn nếu cứ càng ngày càng yếu đi như thế này.

        — Ông An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích có khỏe không? Lâu nay cỏ gặp ông ấy không? — Bà An-na lên tiếng hỏi.

        — Sớm nay vừa tiễn ông ấy ra trận địa... Ông ấy nổi cáu nói: thà cứ nói rằng bọn Đức như thế kia, còn chúng ta thì như thế này, bà cứ quẩn lấy chân tôi, cứ như bức tường án ngữ lấy tôi! Chính bà cũng biết đấy, ông ấy là người ham mê...

        — Này chị Vác-va-ra. thế còn chị cũng định chết đấy phải không ? —  Bà An-na hỏi. — Bà có người che chở như vậy mà cứ mất ngủ...

        — Nhưng mỗi năm ông ấy lại mệt yếu đi trông thấy! — Bà ta than vẫn.

        Cái đầu nhỏ nhắn của bà không cân xứng với cái cằm lưỡi câu, ngẩng lên và ngửa về sau, tạo cho bà một vẻ kiêu căng không hợp chút nào với giọng nói của bà. Như một cái máy, những ngón tay mập mạp vân vê góc khăn vuông.

        — Ông ấy là thợ hiệu chỉnh bậc nhất đấy, ai cũng công nhận như vậy. — Bà tiếp tục khoe, còn nếu làm người lính thì sẽ ra sao? Được cái can đảm và chỉ sợ một điều là, nhỡ ra ông ấy đánh vỡ mất cặp kính cận rồi vấp ngã và chẳng trông thấy thằng Đức xông tới mình, thế là bỏ mạng như chơi.

        — Nhưng mà ở đó không phải chỉ có một mình ông ấy... Các đồng chí phải có trách nhiệm giúp đỡ ông, chỉ bảo cho ông ấy biết cần phải làm gì và làm như thế nào...— Bà An-na thong thả giải thích. — Còn bà, nếu quá lo xa thì mua cho ông ấy đôi mắt kính khác, đề phòng bất trắc xảy ra...

        — Tôi cũng đã nghĩ như vậy... — Người đàn bà đáp nhưng chưa nói hết câu.

        Bỗng nhiên ở phòng ngoài có tiếng chuông réo dồn dập, có ai đó đang ấn vội nút chuông.

        — Ái chà, sao mà nóng vội thế! — Bà An-na nói, vẻ không bằng lòng nhưng cũng lanh lẹn ra mở cửa.

        Then cửa kêu lên, từ hành lang vọng lại những bước chân vội vã và một giọng gay gát như cãi nhau:

        — Ôi, ở ngoài phố tối thế, như ở trong rừng ấy! Chúng cháu chỉ phiền bác một phút thôi, bác An-na Va-xi-li-ép-na ạ! Có một việc nhờ bác...

        Một phụ nữ trẻ, khuôn mặt tròn, đôi má ửng hồng, tóc buộc đuôi sam đứng bên ngưỡng cửa. Chị lướt nhìn căn phòng, đôi mắt nheo lại vì ánh sáng. Người khách mới mặc chiếc váy bó ở đầu gối, đi ủng cao su, bộ ngực nở nang lộ rõ qua chiếc áo bông quân phục chỉ cài có hai khuy dưới.

        — Mọi người đang uống trà đấy phải không? — Chị nói với giọng tựa như nhìn thấy trong việc làm này một điều gì đó đáng chê trách. — Thôi cháu không vào nữa đâu, không có cháu lại phải tháo ủng ra, đây là cả một vấn dè...

        Chị đứng sang một bên và thêm một cô gái nữa khẽ bước vào phòng. Na-ta-sa ngạc nhiên, say đắm nhìn thân hình thon thả, mặc dù vóc người khá cao nhưng cô gái này đẹp một cách hiếm có. Khuôn mặt trái xoan, với những đường nét cân đối của cô dường như hơi tái xanh bởi chiếc khăn lụa đen trên đâu, hàng lông mày gần như thẳng tắp cao tới tận thái dương và hơi lượn xuống ở phía dưới. Song Na-ta-sa đặc biệt ngạc nhiên trước đôi mắt cách nhau hơi dài với màu xanh da trời trong trẻo, với vẻ hoài nghi pha nét buồn rầu của cô gái đang nhìn chị...

        Bà An-na giới thiệu cháu đâu mình với những người khách và chị phụ nữ tóc buộc đuôi sam đang quan sát Na-ia-sa từ đầu đến chân.

        — Chị đến với chúng tôi thật không đúng lúc. — Na-ta-sa nói. —  Ai xui chị làm việc này thế?

        — Tồi là Bô-cô-va, — chị ta nói rất nhỏ. — Chồng tôi là Bô- cốp, chắc chị đã nghe nói rồi phải không? Bây giờ anh ấy đang ờ cùng với Pa-sa.

        — Tất nhiên là tôi được nghe rồi!... Như vậy chị là Ma-ri-na Bô-cô-va! — Na-ta-sa thốt lên. Chị thực sự vui mừng mặc dù hầu như chẳng biết gì về Ma-ri-na Bô-cô-va lẫn chồng chị ta. Song anh ấy đang ở cùng một trung đội với Pa-ven nên Na-ta-sa cảm thấy chỉ cần một điều này thôi cũng đủ đề chị và Ma-ri-na coi nhau như những người bạn gần gũi.

        — Thật là may chúng ta lại gặp nhau! Thật tuyệt! — Chị nói to.

        Song Bô-cô-va im lặng, cố mỉm cười và vẫn chưa hiểu cuộc gặp gỡ của họ có gì là may mắn.

        — Ma-rin-ca, lâu rồi bác không nhìn thấy cháu đấy nhé! — Bà

        An-na nói và nhìn khách với vẻ hài lòng. — Nào, ngồi xuống đây, cô vợ bộ đội, hãy kể đi... xem nào... Một mình cháu bây giờ xoay xở ra sao ?

        Giữ mép khăn lụa sát cằm, Bô-cô-va ngoan ngoãn ngồi xuống ghế.

        — Như thế là cháu lại đi làm ở xưởng. Na-xchi-a nhận cháu về đấy... Chỉ tội cháu làm không được nhiều...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:41 am

        Hình như chị cố kìm nước mắt; hàng lông mày thanh tú nhíu lại và cảm giác run sợ của chị mỗi lúc một mạnh hơn.

        — Tại sao lại thế ? Hay là không quen nai lưng ra làm phải không? — Bà An-na hỏi.

        Song trên khuôn mặt bướng bỉnh của bà lộ vẻ hơi ngạc nhiên, giống như khi người ta quan sát một cái gì đó thực sự thú vị: hoặc ngâm nghía một cây non vừa mọc, hoặc con bồ câu đang bay lượn trên bầu trời, hay là nghe chim hót.

        — Các chị uống trà nhé, vẫn chưa nguội đâu! — Nữ chủ nhân mời — Thế các chị có việc gì cần tôi nào?

        — Đấy là do Ma-ri-na mách cháu. — Người khách tóc buộc đuôi sam nói. — Cô ấy nói: chúng mình chạy đến nhà Grô-mốp đi, bà An-na sẽ không từ chối đâu.

        Chị ta vẫn còn đứng nguyên ở cửa, nhưng bỗng nhiên lại kẻo ghế đến cạnh mình, ngồi phắt xuống và định tháo ủng ra

        — Thật đúng là một cực hình với nó! — Chị bực bội nói. —  Cả ngày cứ phải chú ý đến nó: nào xỏ vào rồi lại tháo ra.

        Hơi cúi người xuống, hai tay chị nắm lấy ống ủng, vẫn không hết giọng bực bội, chị báo tin rằng nhiều người đang rời khỏi thành phố và ngày mai bọn Đức sẽ tới đây.

        — Xe tăng bọn Đức lúc thấy, lúc không, — chị lanh lảnh nói, đôi mắt cứ ánh lên. — Người ta nói, đứng trên tháp ở nghĩa địa có thể  nhìn thấy chúng. Thế là cháu và Ma-rin-ca... — Chị đưa mắt nhìn Na-ta-sa. — Tóm lại, chúng cháu cũng sẽ không ở lại.

        Chị đứng lên, người đỏ rực, một mớ tóc rơi ra từ đuôi sam. Chị vứt đôi giày vừa tháo của mình ra cửa.

        — Một việc rất hệ trọng muốn nhờ bác, bác An-na Va-xi-li-ép- na ạ! — Chị nói tiếp, tay xoa xoa gót giày đi trong nhà. — Cháu đã nhét đầy cả một tầng ngầm khoai tây cho ông bà cháu đủ để hai người dùng trong suốt mùa dông này. Nếu có điều kiện nhờ bác thỉnh thoảng lại thăm hai cụ, xem các cụ cần phải làm gì và làm như thế nào...

        — Chị cũng đi đấy à? — Bà An-na hỏi lại. — Thôi, biết làm sao được... Nếu chị không bận công tác gì ở thành phố thì cứ đi đi.

        Kéo ghế ngồi sát vào bàn, chị vội vàng vừa uống trà vừa cắn đường nhai rào rạo...

        Từ nãy đến giờ vẫn im lặng, người khách đầu tiên bất ngờ òa khóc. Những giọt nước mắt tràn đầy đôi mắt nhỏ màu xanh, từ từ lăn xuống tạo nên những đường ngoằn ngoèo, trên đôi má mập của bà, cái miệng chúm chím, mấp máy như môi trẻ con.

        — Thôi đi! Vác-va-ra! — Bà An-na gât.

        — Chúng tôi biết làm sao bây giờ "... — Người đàn bà nức nở nói. — Một mình tôi trông những bốn đứa... Tôi biết đưa chúng đi đâu được cơ chứ?...

        Đàn bà cử lấy nước mắt là xong tất, còn đàn ông thì lấy máu, — người khách có tên gọi là Na-xchi-a bực bội nói. — Nhà tôi viết cho tôi, tôi biết .. Ở đấy chúng nó chém họ như lưới hái chém cỏ...

        — Tôi rất lo cho Va-nhi-a. — Tuy giật mình nhưng không ngước mắt lên, Ma-ri-na nhỏ nhẹ thú nhận. — Khi chia tay, trông anh ấy mà không nhận ra nữa... Chẳng nói được một lời nào...

        — Anh ấy thương yêu cậu vô cùng, thậm chí như người mất trí ấy! — Na-xchi-a chê trách chồng Ma-ri-na.

        — Tôi cũng chẳng biết làm thế nào để yên lòng anh ấy... Tôi chỉ biết nói: em sẽ chờ anh, Va-nhi-a, mắt em sẽ luôn hướng về nơi anh chiến đấu...».

        Dường như ngượng ngùng về sự cởi mở của mình, Ma-ri-na cúi đầu và thắt chặt hơn chiếc khăn quàng trên vai.

        — An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích của tối đã ngoài năm mươi. —  Người khách đầu tiên than vẫn. — Ông ấy thừa can đảm, nhưng sức lực thì đã cạn rồi.

        — Va-nhi-a của chị thì hơi nóng nảy đấy! — Na-xchi-a nói. — Nhà tôi cũng vậy: tính tình nóng nảy, ít biết kiềm chế.

        Lúc này họ nói với nhau như thể không phải nói về các ông chồng của mình mà tựa như nói về những đứa trẻ lớn nhưng không được sáng ý cho lắm. Hình như Na-xchi-a biết cặn kẽ tất cả những gì quan trọng mà các ông chồng của họ tuy đã già dặn rồi nhưng vẫn tối dạ, không tài nào nắm chắc được.

        Uống hết chén trà, chị đẩy nhanh cái tách ra xa, làm chiếc thìa kêu lẻng xoẻng.

        — Cảm ơn bác đã cho uống chè rất ngon. Chúng ta đi thôi, chị Ma-ri-na!... Kẻo những người đi tuần tra trên phố trông thấy họ lại hạch sách. — Bỗng nhiên, chị ta bực tức và kêu lên. — Dù sao tôi cũng giận đàn ông lắm... Đặc biệt là những người lính. Nào, ngày mai tôi biết chạy đi đâu, đi đâu cùng với Ma-ri-na, với bà chị ngớ ngẩn này? Khắp nơi đều vắng tanh như thế này! — Đôi mắt chị ta ánh lên long lanh trên khuôn mặt đỏ hồng. — Chúng ta là những người không biết giận lâu, đấy mới là điều bất hạnh! Còn bây giờ nếu có một anh lính nào cứ thử đến với tôi dù là vị thiếu tướng đi nữa, tôi cũng nói toạc móng heo với họ tất cả! Thôi vĩnh biệt An-na Va-xi-li-ép-na! Có thể bác cháu ta không gặp nhau nữa đâu. Ôi, cuộc sống đã qua rồi!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:50:10 am

        Đứng phắt dậy khỏi ghế khi Na-xchi-a gọi mình, Ma-ri-na bối rối nhìn bà An-na Grô-mô-va. Đôi bàn tay bọc trong tấm khăn lụa đen hơi cử động và vẫn cứ nắm chặt đường viền chiếc khăn quàng.

        — Cô nói gì lạ vậy! Sao lại không còn gặp nhau nữa! — Chị lẩm bẩm nói.

        — Na-xchi-a, cô bỏ cái giọng ấy đi! — Bà An-na nói, giọng trầm trầm vang khắp phòng. — Cô là ai vậy, tôi không hiểu nổi?

        — Ai là thế nào? — Na-xchi-a ngạc nhiên. — Bác không nhận ra cháu phải không?

        — Tôi không thể nào nhận ra cô nữa đấy! Cô là một nữ công nhân mà!

        An-na không thay đổi tư thế của mình: bà ngồi thẳng, hai tay khoanh trên bàn, khuôn mặt xương xương khuất sau bóng chao đèn trông, vẵn nghiêm khắc bình tĩnh.

        — Tôi không được cái may mắn là sinh con đẻ cái. — Đúng như vậy. — Bà nói to, chậm rãi. — Nhưng tôi cũng đã chăm sóc nuôi nấng một con người... với đôi bàn tay này... — Bà xòe lòng bàn tay chai sạn màu vàng nhạt của mình ra. — Tôi đã tắm rửa cho thằng bé, bón cho nó từng thìa xúp... Và lúc còn nhỏ, nếu có gì không may xảy ra với nó, nó chạy tới ai ? Tới tôi... Có thể, tôi hiểu Pa-sa rõ hơn là nó hiểu nó, dù cho ngày nay nó đã lớn và đã trở thành kỹ sư đi chăng nữa! Tôi thay mẹ nó và chính tôi cũng nương nhờ nó. Tôi cũng là người đàn bà giống như tất cả các chị. Chỉ có điều là trông tôi nghiêm nghị hơn. Thế mà chính tôi đã nói với Pa-sa : « Không thể khác được, cháu phải ra đi thôi! ».

        Quay về phía Na-xchi-a, bà như gập người xuống bàn, khuôn mặt bà sáng lên dưới ánh đèn. Đôi má hóp lại, những nếp nhăn dọc theo đôi môi hiện rõ trên khuôn mặt xương xương của bà. Hàng cúc thủy tinh trên áo xa tanh đen cũng ánh lên dưới đèn.

        — Na-xchi-a, bác nghe cháu và bác cho cháu là một diễn viên nổi tiếng. Cháu làm sao vậy, sợ quá hóa rồ rồi phải không? Cháu hỏi ai vậy? Cháu hãy tự hỏi mình ấy! Phải chăng chúng ta, giai cấp công nhân, có thể để cho chúng nó tiêu diệt cuộc sống Xô-viết này hay sao ? Vì nó mà nhiều người của giai cấp chúng ta đã phải lao động khổ sai ở Vla-đi-mi-ca, chịu nỗi đày dọa chết chóc... Ngày này qua ngày khác, bằng mồ hôi và cả máu của mình, chúng ta đặt từng viên gạch để xây nên nó. Chỉ có lúc này chúng ta mới thấm thìa một cách toàn vẹn cuộc sống đó là như thế nào! Chính bác đây suốt bốn mươi năm ròng hầu như mù chữ chẳng hiểu biết một tí gì, thế mà đến tuổi già cũng đọc được sách. Bác đã nhìn thấy ánh hào quang !

        Bà An-na duỗi thẳng đôi bàn tay thô với những ngón dài gầy guộc, đang rộng trên khăn bàn.

        — Trong nhân dân cũng như trong đám mây đen, khi có sấm thì tất cả sẽ bị phanh phui ra ngoài. — Hạ thấp giọng nhưng với vẻ cứng rắn đặc biệt, bà nói tiếp. — Nếu chúng nó muốn đốt nhà tôi thì tôi sẽ thúc giục con tôi và chính tôi cũng đứng dậy. Cả cô Na-xchi-a, tất cả các cô nữa... Và cháu hãy nhớ ràng: trên trái đất này không có một sức mạnh tàn bạo nào lại không bị tan rã khi tất cả phụ nữ, tất cả những người phụ nữ lao động chúng ta quyết đạp lên nó...

        — Nhưng bác thử nhìn quân đội này xem. — Na-xchi-a nói.

        Chị ta đưa tay ra sau gáy, vì thế ngực chị vươn ra, và tết đuôi sam lại bằng những động tác dứt khoát.

        Bà An-na Grô-mô-va lắc đầu.

        — Cô là người đần độn, nếu không muốn nói nặng hơn nữa. — Bà trả lời. — Nhân dân ta mới chỉ bắt đầu chiến đấu. Cô cần phải hiểu điều này. Và tôi còn có thể báo cho cô biết : hôm nay nhiều người nói với tôi là họ quyết không để cho thành phố lọt vào tay bọn Đức. Đã có mệnh lệnh kiên quyết và dứt khoát như vậy đó.

        — Đã có mệnh lệnh rồi à ? Nào đã thấy chưa ? — Na-ta-sa nói to.

        Lòng tin của chị vào những lời lẽ của bà già lúc này quả không có giới hạn.   

        — Vị tướng nào nói cho bà mệnh lệnh này vậy? — Na-xchi-a hỏi.

        Ma-ri-na liếc nhìn An-na, chiếc khăn trên người chị rơi ra đề lộ cánh tay trắng trẻo nhỏ nhắn đang tì vào ngực.

        Bà già nhìn Bô-cô-va từ chân lên đầu.

        — Họ quyết không để mất thành phố chúng ta, Ma-rin-ca ạ! —  Bà dịu giọng lặp lại.

        — Đúng là anh An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích của tôi cũng bảo: chúng ta quyết không để mất thành phố. — Người khách đâu tiên nói chen vào. — Cứ đè chúng nó như lũ sói trong rọ.   

        Bà ta không khóc nữa, nhưng đôi má đầy đặn của bà vẫn còn bóng lên vì nước mắt chưa khô hẳn. Na-xchi-a đứng dậy, cười gượng gạo :

        — Thôi ông An-tôn của bà mà nói như vậy thì đúng là bọn Đức đã đến ngày tận số. — Chị ta chọc tức.

        — Nhưng cô đừng cười vội. — Bà An-na nói. — Tốt hơn là cô thử tính xem chúng ta có bao nhiêu An-tôn như vậy ?

        Tựa vai vào thành cửa, Na-xchi-a lại loay hoay với đôi giày của mình.

        — Sao người ta lại nghĩ ra cái trò hành hạ quỷ quái này cơ chứ! — Na-xchi-a vừa cúi lom khom một chân co, chân kia giơ lên để xỏ giày, và làu bàu nói:

        — Ma-rin-ca này, tùy cô đấy! Nếu cô không tiếc thì cứ ở lại! —  Và bất ngờ cô gắt toáng lên. — Còn tôi, tôi cứ đi, chừng nào vẫn còn có thể đi được.

        Tròn đôi mắt xanh trong lạ thường, Ma-ri-na sợ sệt nhìn người bạn gái của mình, rồi quay sang bà An-na.

        — Cháu ở lại đây làm gì, Ma-ri-na ? — Bà già nói. — Đàng nào cháu cũng không bận trong công tác phòng thủ. Tốt hơn hết, cháu cũng nên đi đi...

        — Vĩnh biệt, bác An-na Va-xi-li-ép-na! — Bô-cô-va ấp úng nói.

        Đôi tay chị buông ra khỏi chiếc khăn vuông và Ma-ri-na ngập ngừng vươn tay ra dường như muốn ôm lấy bà già nhưng lại không dám.

        — Tạm biệt! — Bà già cứng rắn nói. — Còn bác sẽ đến thăm bố mẹ cháu, Na-xchi-a ạ... Nhất định bác sẽ ghé qua.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:51:20 am

4

        Sau khi trở về bộ tham mưu, Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp và Va-chi-a Vê-rép-kin cảm thấy khó chịu băn khoăn; té ra người đưa đường của họ là một cô gái xinh xắn trạc mười sáu tuổi có đôi mẵt màu xanh lam và khuôn mặt hồng hào sáng sủa mịn màng lạ thường. Cô mặc chiếc áo da ngắn chít lại ở thắt lưng, đi giày cao gót và Vô-lô- đi-a thấy rằng cô có vẻ là một cô gái thực sự, cả trong cách cư xử cũng cớ vẻ người lớn. Cô nói chuyện một cách nghiêm nghị đầy lo âu với đại úy chỉ huy đội trinh sát, thỉnh thoảng lại đưa tay sửa qua mớ tóc vàng xõa ra từ chiếc khăn vuông xuống vầng trán tròn tròn. Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a nhăn nhó nhìn nhau khi đại úy giới thiệu với họ người đưa đường này. Sau khi nghe xong những điều căn dặn cuối cùng của chỉ huy và rời khỏi phòng ông, cả ba đều im lặng chẳng biết nên bắt đầu câu chuyện như thế nào và Vô-lô-đi-a lúng túng nhìn quanh.

        — Đi thôi! Các bạn ơi. Chỉ có điều là đừng tụt lại sau! Kẻo các bạn lại lạc đấy. — Cô gái lên tiếng trươc.

        Như người chị cả, cô ta nói với hai cậu bằng một giọng tự hào thầm kín nào đó mà theo Vô-lô-dỉ-à, nó là đặc trưng của các cô gái muốn làm ra vẻ người lớn.

        — Chúng tôi không lạc đâu, đồng chí Cô-lê-xnhi-cô-va ạ... Đừng sợ! — Cậu ta trả lời khô khan.

        — Có thể cứ gọi mình đơn giản là Lê-na. Tất cả mọi người đều gọi mình là Lê-na. — Cô gái nói.

        Và đôi mắt sáng màu xanh da trời của cô tròn ra, đôi lông mày nhỏ cong lên như chính cô cũng ngạc nhiên về điều này.

        Vô-lô-đi-a mặt sắt lại và quay đi. Cậu cảm thấy hơi ngượng nghịu vì đây cũng là cái cảm giác luôn luôn xuất hiện trong cậu khi đứng trước các cô gái cùng tuổi. Công việc khó khăn của họ đã làm cậu khoái chí một cách mơ hồ, song chính điều này lại làm cậu bối rối.

        Còn Vê-rép-kin thì có vẻ như không thích tham gia vào câu chuyện. Cậu không khoái lắm nhưng do nguyên nhân khác: theo cậu, người đưa đường bất ngờ này của họ không những chỉ không có lợi mà còn làm vất vả thêm nhiệm vụ chiến đấu của họ, nghĩa là cái công việc chỉ dành riêng cho đàn ông.

        Cố tình đi chậm lại ở lối ra, Vi-chi-a giật tay áo Vô-lô-đi-a:

        — Thế là đã không phải buồn rồi... Bây giờ cậu cứ đùa với con búp bê này đi.

        — Nói nhỏ thôi... cô ấy nghe thấy! — Vô-lô-đi-a ngắt lời cậu ta. — Và tại sao lại là búp bê? Bất ngờ đối với cả chính mình. — Vô-lô-đi-a bênh vực cô gái.

        — Các bạn ơi! Các bạn ở đâu vậy? Chưa chi đã tụt lại rồi... —  Từ trong bóng tối ở ngoài sân vọng vào giọng nói thanh thanh giục giã của cô gái.

        — Thấy không, đã lên mặt chỉ huy rồi đấy ! — Vi-chi-a lẩm bẩm.

        Từ bộ tham mưu khu, các trinh sát viên đi thẳng đến ban tham mưu trung đbàn NKVĐ và từ đấy người ta dẫn họ đến tuyến phòng thủ tại đây. Ngay ngoại ô thành phố, trong một ngôi nhà không chủ, người ta bảo họ ngồi chờ một lúc. Trong gian nhà rộng rãi, tối lờ mờ, bàn ghế gọn gàng, tuy trời đã khuya, nhưng vẫn rất nhộn nhịp và ồn ào. Thỉnh thoảng từ phòng bên cạnh lại vọng sang tiếng sè sè của máy bộ đàm đang hoạt động và các liên lạc viên vai đeo súng trường vội vã đi qua. Cánh cửa quay ra phố luôn luôn mở ra khép vào, những tiếng hô của lính gác vọng tới gian nhà, từ mấy phòng bên cạnh, những ánh đèn pin màu xanh lóe lên lục lọi trên các bức tường dán giấy.

        Vô-lô-đi-a và hai người đồng hành im lặng ngồi trên chiếc đi văng lớn ở góc phòng. Tháo chiếc khăn ra khỏi đầu, Lê-na Cô-lê- xnhi-cô-va ngả lưng vào thành đi văng, ngồi tựa vào chiếc gối dài, Vi-chi-a khẽ thở phì phì. Cậu cảm thấy nóng bức trong cái áo da lông nặng trịch của mình.

        Cách họ không xa, cạnh chiếc bàn có ngọn đèn Hoa Kỳ chập chờn ánh lửa, một trung sĩ đội mũ cát-két biên phòng, đang mải mê nạp đạn vảo băng tiểu liên. Khuôn mặt đứng tuổi hơi rỗ của trung sĩ có hàng ria dựng đứng được rọi sáng từ dưới lên trên, gây cho ta cảm giác là trung sĩ đang bực bội, thậm chí trông có vè dữ tợn.

        Trên đường tới đây, Lê-na đã kịp kể lại một cách chi tiết chuyện đêm qua cô đến thành phố báo tin xe tăng Đức đã xuất hiện. Bây giờ cô rất vội quay lại với mẹ và em hiện còn ở lại làng Một tháng Năm, quê hương của cô. Lo lắng cho mẹ và em, ngay từ sáng, cô đã muốn trở về nhà, nhưng người ta khuyên cô nên đợi đến tối và giao cho cô nhiệm vụ dẫn hai trinh sát tới làng. Câu chuyện của Lê-na không gây cho Vê-rép-kin một ấn tượng gì dặc biệt, — cậu ta không thể thắng nổi nỗi buồn bực của mình, — trên cả đoạn đường, cậu ta hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Song Vô-lô-đi-a với tính tình chín chắn bẩm sinh của mình, đã hỏi han cặn kẽ và thành thực thông cảm với cô bạn đường mới mẻ này.

        — Bạn nghĩ gì lạ vậy ? — Cuối cùng cậu ta nghiêm nghị hỏi. —  Theo mình thì tất cả các bạn phải nhanh chóng rút khỏi làng Một tháng Năm chứ?

        — Vấn đề là ở chỗ ấy đấy! — Cô gái thốt lên. — Tôi muốn dẫn mẹ hoặc là tới đây, hoặc là vào rừng. Hiện giờ tất cả các bạn tôi đều đang ở đấy.

        — Nhưng bạn nói là em gái còn nhỏ mới học lớp năm cơ mà. — Vô-lô-đi-a nhận xét.—Làm sao mà dẫn vào rừng được? Theo mình thì...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:45:13 pm

        Chưa nghe hết câu, Lê-na đã nói vẻ không hài lòng:

        — Hừ, một đồng chí biết điều thật! Thế còn bạn học lớp mấy vậy?

        Cảm thấy bị xúc phạm, Vô-lô-đi-a im lặng. Ngồi im một lát trên đi văng, Lê-na lại bắt đầu nói, rõ ràng là cô đang sốt ruột nghĩ về làng Một tháng Năm của mình. Sau khi cho biết bố là hiệu trưởng trường trung học, hiện đang ở mặt trận, cô than vãn:

        — Thực tình tôi không biết nên viết gì cho bố cả!

        Và chắc là để nén nỗi lo lắng buồn phiền của mình, cô chuyển sang kể về trường học ở làng Một tháng Năm, về việc cô được lên lớp mười và học thêm ở nhóm nhạc. Sau đó cô đột ngột hỏi:

        — Các bạn giấu vũ khí của mình ở đâu ? Súng ngắn mà đại úy đưa cho mình, mình bỏ túi đề cho tiện tay.

        — Tốt hơn là nên giấu ở đâu đó kín hơn. — Vô-lô-đi-a nói. — Lúc cần vẫn kịp lôi ra cơ mà!

        Họ nói một hồi nữa về đoạn đường mà họ sẽ đi qua. Sau đó Lê-na nhún vai theo một kiểu đặc biệt, áp má vào người Vô-lô-đi-a, im lặng trầm ngâm suy nghĩ.

        Có tiếng gõ cửa, từ phòng bên cạnh, một chiến sĩ mặc áo bạt vội vàng đi vào, nên va phải chiếc ghế.

        — Via-xốp, tình hình của các cậu đó ra sao, im ắng chứ ? —  Người trung sĩ biên phòng đang mải mê với băng đạn gọi anh ta, nhưng người chiến sĩ chỉ lặng lẽ giơ tay chào, không dừng lại. Lúc thì chống tay lên chiếc gối dài, lúc thì duỗi thẳng người ra, Vô- lô-đi-a tò mò quan sát, cậu sẵn sàng nhỏm dậy trong bất cứ phút nào, cậu không ngồi ở một chỗ được. Đợi xem Lê-na có kể gì nữa không, Vô-Iô-đi-a an ủi cô:

        — Đừng lo lắng gì cả, lát nữa là bạn sẽ được gặp mẹ rồi.

        — Bạn không hình dung nổi là mẹ lo lắng cho mình như thế nào! — Cô gái thốt lên. — Thậm chí mình chẳng kịp nói với bà một điều gì nên hồn. Anh Tô-Ii-a, bí thư đoàn chỗ chúng mình, đang đêm chạy đến nhà mình và nói: « Đừng hoang mang Lê-na ạ, cần phải khẩn cấp báo về thành phố». Thế là mình chạy ngay đi lập tức.

        Từ phòng bên cạnh, anh chiến sĩ có tên Ịà Vla-xốp chạy xổ ra, vừa chạy vừa khoác súng trường lên vai, vội vàng tiến ra cửa phòng,

        — Đến bao giờ họ mới dẫn mình đi cơ chứ?— Cô gái hỏi to, có vẻ đã nổi nóng thực sự. — Có thể họ đã quên chúng mình đang ngồi đây.

        — Không, họ không thể quên được. Chắc là lát nữa thôi. — Vô- lô-đi-a lại an ủi cô.

        — Này, cậu học lớp mấv đấy? — Im lặng một lát, cô gái hỏi.

        — Minh ấy à, — cậu rất muốn trả lời lớp mười, nhưng nói thật. — Vừa lên lớp chín.

        — Mới chỉ lớp chín thôi à ? — Cô gái ngơ ngác hỏi lại và dường như mất hết mọi quan tâm đến cậu, cô quay sang hỏi Vê-rép-kin:

        Còn cậu, cậu bé ? Cậu học ở đâu ?

        Vi-chi-a bướng bỉnh nhìn sang hướng khác như thăm bảo rằng cậu ta không thích dính dáng vào câu chuyện này, thậm chí cậu còn không quay sang phía cô gái nữa.

        — Tại sao lúc nào cậu cũng im lặng ? Tên cậu là gì vậy? — Cô gái vẫn không chịu thua.

        — Tên là Vi-chi-a. — Cậu miễn cưỡng trả lời. Hỏi làm gì?

        — Không sao cả. Vích-to, tên hay dấy! Ở trong đoàn thanh niên của chúng mình cũng có hai cậu Vích-to.

        — Đoàn của cậu có đông không? —Vô-lô-đi-a tỏ vẻ quan tâm.

        — Đông. Nông trang chúng mình là nông trang tiên tiến, tốt nhất trong vùng. Cậu đã nghe nói gì về các vườn quả của chứng mình chưa? Còn câu lạc bộ thì như thế nào, cỏ biết không, như ở trong thành phố ấy!

        — Đến chủ nghĩa cộng sản thì hoàn toàn không có một sự khác biệt nào giữa thành thị và nông thôn nữa. — Vô-lô-đi-a nói.

        — Cô gái gật đầu, làm những sợi tóc sáng xõa xuống đầu gối của cô khẽ rung lên.

        — Ở chỗ chúng mình, cũng có hầu hết những gì ở thành phố có. — Cô nói. — Trường học mười năm này, trạm phát điện này, trạm truyền thanh .. — Cô im lặng và thở dài. — Nghĩa là đã có tất cả nhưng bây giờ thì...

        — Rồi sau này sẽ có lại. — Vô-lô-đi-a nói vẻ tin tưởng. — Điều này không cần phải nghi ngờ gì. Và ở chỗ bạn và ở mọi nơi...

        Cố làm cho cô gái khuây khỏa và cũng cảm thấy thích thú với chính đề tài câu chuyện, cậu lại tiếp tục:

        — Trong mỗi nông trang sẽ có điện, rạp chiếu bóng, cung văn hóa. Điều này quá rõ ràng! Và nông thôn sẽ giống thành thị.

        — Cậu phẫn nộ khi nghĩ rằng tai họa mà chiến tranh mang đến cho cả thành phố lẫn nông thôn của Tổ quốc cậu là không sao kể xiết. Song, phải chăng các đồng chí của cậu và cả cậu nữa lại không biết rằng chiến tranh là một thử thách, rồi sẽ qua đi... Và phải chăng trên thế giới này liệu có một cái gì đó có thể ngăn cản được thăng lợi cuối cùng của trí tuệ và lòng nhân dạo trước sự cuồng đại và bạo tàn, tuy giờ đây tạm thời chưa có sự thắng lợi này.

        — Còn trong các trung tâm công nghiệp sẽ có nhiều các loại cây xanh — Vô-lô-đi-a cao giọng.— Chả là chúng hút thán khí mà.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:45:51 pm

        Bạn có biết kế hoạch làm xanh thành phố của chúng mình như thế nào không? Mùa xuân năm nay ở đấy sẽ phát động một đợt toàn dân trồng các loại cây phong, bạch dương, bồ đề. Sau chiến tranh thi bạn sẽ không nhận ra thành phố chúng mình đâu. Đến chủ nghĩa cộng sản thì nông thôn sẽ cơ giới hóa hoàn toàn. Về vấn đề này, ban chấp hành đoàn chúng mình đã làm một báo cáo đặc biệt. Và chúng ta sẽ phấn đấu sao cho tất cả công việc đồng áng được thực hiện bằng máy.

        — Chỉ cần được nhìn, dù là một mắt thôi, xem xã hội đến chủ nghĩa cộng sản thì như thế nào! — Lê-na khẽ nói.

        — Tất cả sẽ là như vậy. — Vô-lô-đi-a đứng phắt dậy, khuôn mặt xương xương với hàng lông tơ trên .môi, sáng lờ mờ dưới ngọn đèn Hoa Kỳ lộ vẻ quyết liệt cao độ. — Kỹ thuật mới, máy móc tự động sẽ nâng cao năng suất lao động lên rất nhiều. Ngày làm việc giảm xuống đến sáu giờ, sau đỏ đến năm... Điều này là rõ ràng! Mọi người sẽ được học, được đọc nhiều hơn! — Khuôn mặt Vô-lô-đi-a rạng rỡ nụ cười, cậu ta không thể kìm nỗi say sưa lớn lao của mình. — Hiện nay, những hủ tục cũ còn khá nặng ở một số người. Và thỉnh thoảng họ chỉ nghĩ về một mình mình thôi. Điều này sẽ được chôn vùi mãi mãi...

        Cánh tay phải đen nhẻm bôi dầu súng của Vô-lô-đi-a vung lên rồi hạ xuống sau mỗi câu nói.

        Tuy lúc này vẫn tiếp tục nhìn sang hướng khác, nhưng Vê-rép- kin đã chăm chú lắng nghe. Lúc đầu, Vê-rép-kin không tán thành với bạn mình, vì theo cậu, anh ta đang cố gây cho Lê-na một ấn tượng có lợi. Song những suy luận của Vô-]ô-đi-a về tương lai làm cậu thích thú và chính cậu cũng muốn chen vào câu chuyện.

        — Bệnh tật hiểm nghèo cũng sẽ không có nữa. — Vô-lô-đi-a say sưa. — Lúc đó chỉ trong một tuần, các bác sĩ sẽ chữa khỏi bệnh lao hay ung thư. Điều này cũng là rõ ràng! Còn sau đó các bác học Xô-viết sẽ tìm ra biện pháp kéo dài cuộc sống con người. Mình đã đọc một cuốn sách nói rằng năm mươi tuổi chưa phải là giới hạn cuộc sống con người — rồi cậu nhìn Lê-na và Vê-rép-kin như thể hỏi rằng họ có nghi ngờ là họ có thè sóng đến một trăm năm mươi tuổi không. — Các nhà vật lý và các nhà hóa học sẽ tìm ra những nguồn năng lượng mới.

        — Nếu muốn, ai cũng có thể có mô tô riêng của mình, — Vê- rép-kin bất ngờ thêm vào.

        — Mô tô... và tất cả những gì họ muốn. — Vô-Iô-đi-a lại vung tay lên, người trung sĩ với khuôn mặt rỗ cau có, tuy vẫn luôn tay lắp đạn nhưng đã ngẩng đầu lên nhìn các chiến sĩ trinh sát.

        — Chỉ có một điều mình không hiểu nổi. — Vi-chi-a nói với cái giọng khàn khàn của mình. — Thế nếu một người nào đó đòi hai hoặc ba xe thì sao ?

        Vô-lô-đi-a khoát tay, nhãn trán lại suy nghĩ liền mấy giây, cân cắn móng tay.

        — Nếu anh ta cần hai xe, anh ta sẽ nhận được hai xe, — cậu tin tường nói. — Có nghĩa là theo nhu cầu...

        — Nhưng cậu biết không... như vậy rất dễ dự tính sai — Vê- rép-kin tỏ vẻ hoài nghi.

        — Sao lại dự tính sai được cơ chứ?

        — Rất đơn giản, thế này này. Tất cả mọi người đều tức thời đổ xô vào mặt hàng nào đó, thế là nó không đủ cung cấp cho họ.

        — Ngớ ngẩn! — Lê-na nói to. — Vi-chi-a, cậu lôi ở đâu ra những ý nghĩ như vậy đấy?

        — Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa thì không một ai lại đòi hỏi thứ gì mà người đó không cần, — Vô-lô-đi-a nói.

        — Nhưng bỗng nhiên có một người như vậy thì sao? — Vê- rép-kin vẵn bướng bỉnh vặn lại. — Không phải là kẻ đầu cơ thực sự, mà là gần như thế... Anh ta tham lam và lấy thừa ra để dự trữ. Tóm lại là phải nhìn người một cách kỹ hơn.

        Vô-lô-đi-a không trả lời ngay lập tức, dường như những ý kiến mà Vê-rẻp-kin nói ra làm cậu tác tị, nhưng lần này cậu ta cũng không cần phải suy nghĩ lâu.

        — Cậu kỳ quặc thật. Đây sẽ là những người giác ngộ trong sạch như thạch anh.— Vô-lô-đi-a trịnh trọng nói — Họ lấy thừa đề dự trữ làm gì cơ chứ? Đấy, kỳ quặc là ở chỗ ấy đấy! Vấn đề là ở chỗ, đây sẽ là những con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa!

        Cánh cửa ở phòng bên cạnh mở ra, một làn không khí lạnh ùa vào gian nhà làm lung lay ngọn đèn dầu. Trong phòng sặc mùi thuốc lá cuộn, mùi hôi của quần áo bị ngấm nước mưa thu, tất cả các mùi của cuộc sống lưu động, không ồn định đầy ỉo âu. Sau cánh cửa, một người nào đó đang bực bội gào vào máy điện thoại:

        — Nhắc lại di, trông thấy xe tăng ở dâu? Tôi hỏi: xe tăng ở đâu và bao nhiêu chiếc? Cái gì, cái gì...?

        Hai người chỉ huy vừa cài cúc áo ca pốt vừa bước vội ra cửa. Từ phòng bên cạnh, một chiến sĩ đội mu trùm tai di ngược lại phía họ và ghé vào tai thì thầm điều gì đó với người trung sĩ biên phòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:46:19 pm

        Vì quá bị lôi cuốn vào cuộc tranh luận, nên Vô-lô-đi-a không để ý đến xung quanh. Trong những phút này, tương lai huy hoàng vô cùng hấp dẫn do ba người vẽ nên có vẻ như thực hơn, và dù cho cuộc sống trước mặt ra sao đi nữa, thì lúc này ba người vẫn cảm thấy nó quan trọng hơn. Cái cảm giác thanh thản làm Vô-lô-đi-a quên di khung cảnh xung quanh này hoàn toàn không nói lên tính viển vông của cậu. Ngược lại, chính điều này cho thấy đầu óc thực dụng tuyệt vời của tuổi xuân. Dù cuộc sống hiện tại của cậu có lớn lao hay gian khổ đến mấy đi chăng nữa thì nó cũng chỉ là sự khởi đâu của ngày mai mà thôi. Và đồng thời, sự khởi dầu này hiển nhiên là ngắn ngủi, có giới hạn. Như vậy có nghĩa là nó không quan trọng lắm, và tương lai của cậu dường như là vô tận.

        — Thế nào, các bạn đã nói hết mọi điều rồi phải không ? —  Một giọng mới lạ đột ngột vang lên.

        Vô-lô-đi-a quay lại, người trung sĩ biên phòng đã đeo tiểu liên đứng ngay cạnh họ.

        — Nếu nói hết rồi thì chuẩn bị đi. Lát nữa sẽ có người dẫn các bạn đi đấy, — trung sĩ dịu dàng nói.

        Giờ đây, khi bước ra khỏi bóng ngọn đèn, khuôn mặt râu ria của ông đã mất di những đường nét dữ dội và trông cỏ vẻ hiền lành, dễ dãi hơn.   

        — Có thế chứ! — Lê-na thốt lên, nhảy phắt dậy khỏi đi văng và vội vàng quàng khăn ra sau gáy. — Nào nhanh lên! Vích-to, thắt chặt thắt lưng vào! Và cậu mặc như vậy để làm gì cơ chứ? —  Cô lo lắng nhìn dáng người thâm thấp của cậu ta trong chiếc áo da lông dài thượt, vai rộng thùng thình của người khác. — Cậu sẽ nặng đấy. Vô-lô-đi-a, minh đi đầu, Vi-chi-a đi sau rồi đến cậu — Cô phân công rành mạch. — Các cậu ạ, chúng ta không phải đi xa đâu. Độ một giờ rưỡi là sẽ tới địa điểm.

        Vê-rép-kin muốn trả lời cô gái một câu gì đỏ đại loại: « Chúng tôi không hỏi cô, nên mặc cái gì » nhưng đã kịp ghìm lại được. Vô- lô-đi-a cũng im lặng, chắc là chẳng cần đến tất cả những lời nói của cậu, cô gái vẫn tự cảm thấy mình là người lớn nhất ở đây và cậu đành phải cam chịu điều này. Ngoài ra cậu chẳng có lý do gì chính đáng để phản đối cô: khi đi trinh sát, người dẫn dường bao giờ cũng phải đi dầu.

        Cả ba người lần lượt theo thứ tự quy định của Lê-na đi ra cửa sau người lính dẫn đường đội mũ trùm tai.

        ... Chia tay với người hộ tống của mình và bỏ lại tuyến phòng thủ ở phía sau, các chiến sĩ trinh sát men theo lề đường cái vắng vẻ . Phía trước, những quả pháo sáng lóe lên và lạnh lẽo soi rọi làng Mới đã bị bọn Đức chiếm đóng. Như vậy, tuyến dường thẳng đã bị chặn lại và Lê-na rẽ sang trái, theo đường làng. Ở đây đi có khó hơn: chân cứ giẫm phải những vết xe đầv nước và các chiến sĩ trinh sát phải đi rất chậm, cố gắng không gây ra tiếng động. Khi một người nào đó vấp ngã trong bóng tối hoặc tiếng nện chân quá to thì cả ba đều dừng lại nghe ngóng.

        Trời ẩm thấp lạnh và nhiều gió, từ cánh đồng thoảng tới mùi hôi hôi của cỏ thối và đất ẩm. Song, cả Vô-Iô-đi-a lẫn hai người đồng hành của cậu vẫn chưa cảm thấy lạnh. Trong màn đêm dày đặc sâu thẳm bao quanh họ, có một điều gì đó khác thường và khủng khiếp đã diễn ra. Ở phương Nam, nơi họ sẽ đến, ánh lửa hồng của các đám cháy đang nghi ngút ở chân trời đen thẫm. Từ đâu đó ở phía Tây thinh thoảng lại vọng lại tiếng súng yếu ớt, xa xa và trên bầu trời đen thẫm có tiếng máy bay gầm gừ, nặng nề, đúng là tiếng gầm của máy bay ta. Và cách con đường khoảng một cây số ở - rìa làng Mới thỉnh thoảng lại lóe lên một thứ ánh sáng màu xanh lạnh lẽo. Những bức tường vôi trắng bao quanh các ngôi nhà, mặt đất trắng nhợt nhạt, vẻ chết chóc, những hàng rào thẳng như cắt từ giấy vụt hiện lên trong phút chốc rồi lại chìm sâu trong ‘bóng tối. Sau cái bóng đêm này, nghĩa là cách đây hoàn toàn không xa, kẻ thù đang ở đó và Vô-đô-đi-a nhìn quang cảnh lạnh lùng ghê rợn này tựa như không có sự sống với một vẻ tò mò nhức nhói. Trước đây, cậu đã nhiều lần đến làng Mới, biết rất rõ vùng xung quanh nó, thế mà giờ đây, thật là khó hiểu, khi đến đây cậu phải trốn tránh, ẩn nấp. Thậm chí, đôi lúc cậu thấy khó tin là kẻ thù đang ở gần ngay đây thôi. Song chính cuộc hành trình bí mật trong một đêm đầy những tiếng ồn ào, ầm ĩ của chiến tranh và những ngọn lửa hung dữ, đã gợi nên một tinh thần sôi nổi, một cảm giác tuy mệt mỏi nhưng nóng bỏng trong tim.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:46:44 pm

        Đi vòng qua làng Mới một lượt, Lê-na lại rẽ về đường cái. Lúc này các chiến sĩ trinh sát đi thẳng theo cánh đồng. Trong bóng đêm sâu dày, tối đen thỉnh thoảng lại xuất hiện một bụi cây hoặc cột điện tín và thế là cả ba cứ lần lượt né sang một bên, đôi lúc lại trượt chân vì một con mương không nhìn thấy. Vê-rép-kin vấp ngã sóng soài xuống đất. Vô-lô-đi-a và Lê-na vội lao đến chỗ cậu... Cứ lùng nhùng trong chiếc áo da lông dài thượt, Vi-chi-a không thể dậy ngay được.

        — Mình đã nói mà. — Lê-na thì thào. — Mình đã biết mà.

        — Hừ, thì có cái gì mà đã nói, đã biết nào. Chả có nghĩa lý gì cả! — Vê-rép-kin càu nhàu, giọng khàn khàn và cuối cùng rồi cậu ta cũng đứng dậy được, đưa đôi tay bê bết đất chùi chiếc áo lông cừu.

        Bỗng nhiên Vô-lô-đi-a cảm thấy những điều đó diễn ra thật ngộ nghĩnh nên cậu ta bật cười, và cậu hiểu rất rõ rằng tiếng cười lúc này quả là không đúng lúc nhưng không sao kiềm chế nổi.

        Sau sự việc này, các chiến sĩ trinh sát đã mạnh dạn hơn, giục nhau rảo bước và chẳng bao lâu đã tới đường cái, bỏ lại làng Mới ở dằng sau họ. Họ không đi lên đường cái mà đi dọc cách khoảng mười mét, nhưng vừa đi được vài trăm mét, họ lại phải dừng lại vì thoáng nghe trong bóng đêm dày đặc. tiếng bước chân người đi ngược lại. Lê-na nhìn hai bạn, Vô-lô-đi-a lập tức chạy lại chỗ cô.

        — Hãy tránh đi, — không chần chừ suy nghĩ, cậu ra lệnh. —  theo tôi, lại đây...

        Chạy được mấy bước cậu ta va phải một bụi cây ven đường, cậu thì thào ra lệnh:

        — Nằm xuống, nhanh lên... — Khi các bạn đã nằm xuống, cậu nói thêm. — Không được gây ra tiếng động.

        Nhớ lời căn dặn của đại úy khi cử họ đi trinh sát, cậu thi hành chính xác tất cả những gì ông đã dặn phải làm. Trong trường hợp này cần phải xác định chính xác xem kẻ nào đi trên đường trong đêm khuya này để về còn báo cáo.

        Một phút, hai phút rồi ba phút trôi qua, tiếng bước chân rậm rịch, rời rạc vang lên và trên đường cái lờ mờ hiện ra một vết loang màu xám nhạt. Khi vết loang đó tới gần, Vô-lô-đi-a nhận ra, chính xác hơn là ước đoán một nhóm khoảng năm đến bảy người đang đi về làng Mới. Song, lúc này còn khó xác định chính xác những người này là ai, có thể là người mình. Những người chạy giặc hoặc bị bao vây. Quay sang trái, Vô-lô-đi-a thấy Lê-na đang chống tay nhỏm dậy nhìn, khuôn mặt trăng trắng.

        Tiếng bước chân hỗn độn mỗi lúc một to và dồn dập hơn. Một nhóm từ làng Một tháng Năm đi tới. Bỗng các chiến sĩ trinh sát nghe vọng lại tiếng nói xì xồ gì đó giọng nước ngoài và sau đó lại nghe một tiếng la rất to không phải tiếng Nga. Không còn nghi ngờ gì nữa: bọn Đức. Song thật kỳ lạ thay, trong giây phút này, Vô-lô-đi-a vẫn không hoàn toàn ý thức được rằng kẻ thù, những kẻ mà cậu rất căm thù và đang tìm cách tiêu diệt lại đang ở ngay trước mặt mình. Mãi một lúc sau, cậu mới hết sức ngạc nhiên hiểu rằng bọn Đức đang ở đây, ngay trước mặt cậu và cậu đang nhìn thấy chúng bước đi, nghe rõ tiếng chúng nói...

        Anh đèn pin lóe sáng ở giữa toán người rồi quét đi quét lại vũng bùn lầy lội, soi vào cái lưng gù của tên lính đi trước và cái đầu đội mũ sắt giống như cái bô dựng ngược của nó. Sau đó qua dải ánh sáng lờ mờ hiện ra cả một chuỗi dài hình quái gở y như vậy sùm sụp trong những chiếc mũ sắt rất to và áo ca pốt, những lưỡi gươm lấp loáng trong màn đêm dày dặc. Đèn pin phụt tắt, trời trở nên tới hơn lúc trước.

        Vô-lô-đi-a cảm thấy tay Lê-na bíu chặt lấy chiếc blu dông của cậu: cô gái không tỏ vẻ yêu cầu gì ở cậu và cũng chẳng có vẻ muốn giữ cậu nằm im tại chỗ. Bỗng nhiên Vô-lô-đi-a thấy tim mình đập mạnh và người cậu rạo rực như muốn nhảy bật lên.

        «À, chúng nó đây, chúng nó như vậy đấy! ». Một tiểng nói vang lên trong đầu cậu. Và, không hề sợ hãi mà trong lòng như sôi lên bởi một sự ghê tởm bất thần, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng không những có thể đếm được mà còn có thể quăng lựu đạn vào chúng nữa. Lựu đạn đè ở dưới ngực cậu và suốt chặng đường lúc nào cậu cũng cảm thấy sức nặng của nó trên ngực, trong túi quần và cậu có thể tức thời xông vào trận đánh. Song ngay lúc đó, cậu nhớ tới mệnh lệnh nghiêm khắc của đại đội trưởng : cấm nổ súng khi không có sự căn thiết đặc biệt.

        Trong khi đó, những bóng người lúc ẩn lúc hiện trong màn đêm — không phải là những con người như cậu và các bạn của cậu mà là quân thù, những kẻ áp bức và xâm lược đang nện giày ủng xuống đường, bì bõm trong các vũng nước. Và sao mà cám dỗ đến thế, và thật là quá ư dễ dàng khi từ màn đêm này trút ngọn lửa sấm sét để trừng phạt đích đáng bọn chúng. Vô-lô-đi-a cảm thấy người nóng bừng, khó chịu, gò bó một cách khổ sở đến nỗi phủi cựa quậy luôn. Cậu đưa mắt nhìn sang bên phải, bóng hình Vi-chi-a nằm chếch bên vai cậu, mắt cậu bé hơi ánh lên. Đoán được những ý nghĩ đang giày vò Vi-chi-a và để chia sẻ nỗi khổ sở với bạn, Vô-lô-đi-a dặt tay lên vai cậu ta.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:01 am

        Trên đường cái, ánh đèn pin lại xuất hiện, lướt qua đầu những tốp lính đội mũ sắt sùm sụp đang chậm chạp bước đi trong màn sương mù xám ngắt. Ánh đèn lại tắt một cách bất ngờ y như khi nó lóe lên.

        « Cả một đại đội đã đi qua. — Vô-lô-đi-a khẽ nói. — Bây giờ đến đại đội thứ hai. Mong sao chúng đi nhanh nhanh lên ».

        Tiếng bánh xe lăn đã ầm ầm trên dường nhựa xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp. Vô-lô-đi-a mấp máy môi, lặng lẽ thầm đếm những chiếc xe tải đi qua: « ba, bốn, năm... ». Những ngón tay Lê-na vẫn ấn chặt xuống vai cậu, song Vô-lô-đi-a vẫn không quay lại vì sợ bỏ lỡ một điều quan trọng nào đó có thể bất chợt xảy ra trong hàng quân kia. Và cậu chỉ hơi né vai cố thoát khỏi những ngón tay ấy.

        Khi chiếc xe tải cuối cùng đi qua và tiếng chân bước trên đường đã nhỏ dần, Vô-ỉô-đi-a mới thấy bàn tay nhỏ nhắn tự động đẩy cậu ra.

        Vê-rép-kin thở phào nhẹ nhõm. Lê-na chẳng nói một lời và như để phân trần trước cô, Vô-lô-đi-a nói:

        — Đại úy cấm chủng ta không được giao chiến trong lúc này, cô hiểu không ?

        — Chúng đi gần đến thế ! — Lê-na thì thào.

        ...Từ đây tới làng Một tháng Năm không xa nữa. Chỉ cần vượt qua một quãng đồi dốc thoai thoải và sau đó đi thẳng độ một cây số rưởi nữa là tới khu làng rộng lớn này. Các chiến sĩ trinh sát lặng lẽ lên đồi, đất dưới chân họ rất mềm và trơn như đất sét. Vô-lô-đi-a đi giữa và nghe rõ Vê-rép-kin thở phì phì sau lưng mình. Dường như không cảm thấy đang lên dốc, Lê-na bước nhanh như chạy. Qua đỉnh dốc, cô dừng lại. Phía trước, những ngọn lửa đỏ hồng ánh lên ở nhiều nơi trên cánh đồng chìm ngập trong bóng đêm.

        Vê-rép-kin đi sau, vội bước sánh ngang với Vô-lô-đi-a.

        — Đấy, làng Một tháng Năm đấy. Chả lẽ chúng nó thiêu hủy rồi hay sao ? — Cậu ta sững sờ nói.

        Lê-na, ngay trong giây phút đó, chẳng nói chẳng rằng, từ trên đồi lao nhanh xuống dưới. Hoảng sợ cho cô gái, Vô-lô-đi-a liền lao theo, đuổi kịp và nắm chặt lấy tay cô.

        — Buông ra! — Cô kêu lên và cố giằng tay ra.

        — Bạn đừng lo, đừng lo...—Vô-lô-đi-a vội nói.

        — Mẹ!... và Li-dơ-ca ở đấy... Thôi buông ra! — Lê-na lại cố hết sức định vùng ra. — Sao bạn cứ giữ tôi thế?

        — Khẽ thôi! Điên rồi à!... Có thể bọn Đức ở đó thì sao? Rõ chưa? — Vô-lô-đi-a thì thào, hổn hển.

        Tuy không nhìn rõ mặt cô gái, song giọng nói của cô vang lên vừa căm giận vừa cầu khẩn. Mặc, Vô-lô-đi-a văn không buông tay cô, cố dìu cô đi tránh theo con đường vòng vào làng Một tháng Năm.

        Vì phải đi nhanh nên người nào người nấy thở hổn hển và chẳng mấy chốc họ đã tới hàng rào một thửa vườn. Ở đây, Vô-Iô-đi-a không phải hoài nghi gì nữa là phần lớn làng này đã bị thiêu hủy: những ngôi nhà ở mạn Bắc và dọc theo cả dãy đã chìm ngập trong bãi tro tàn đầy khói lửa. Ba chiến sĩ trinh sát vượt hàng rào, chui qua vườn quả, qua hết đống tro này đến đống tro khác. Lê-na lúc thì vượt lên phía trước, lúc đi chậm lại, quay ngang quay dọc.

        — Đây này, ở đây là trụ sở Xô-viết làng, — hất hàm về đám khói trắng cuộn thành thớ giữa những cây táo, cô thốt lên. — Ôi cả phòng thí nghiệm cũng không còn nữa! Và cả nhà bác Cu-đi-nốp cũng cháy mất rồi! — Cô đau đớn thốt lên và chạy tiếp lên trước.

        Vê-rép-kin chạy lên ngang với Vô-lô-đi-a và nói nhỏ để cô bạn gái không nghe thấy :

        — Tất cả biến đi đâu hết rồi? Không thấy một bóng người nào cả.

        — Chắc là họ đã rút đi đâu rồi. — Vô-lô-đi-a cau có trả lời, vẻ lưỡng lự.

        Cứ thế, họ đi theo Lê-na tới ngôi trường học ở đầu làng nhưng vẫn không gặp một ai. Ở đây, tất cả cũng đều bị thiêu hủy: ngôi nhà hai tầng có cái mái hiên tỏa rộng bốn phía chỉ còn lại những bức tường đen ám khói. Những ngôi nhà phụ ở bên cạnh không còn nữa, chỉ có đống tro tàn và cột khói ngoằn ngoèo là gợi lại ờ những nơi này mới đây còn là những ngôi nhà to, rộng. Mùi hôi thối cũng khó chịu, nồng nặc hơn và những bông tuyết hình như cũng đen hơn đang lặng lẽ xoay tròn và rơi xuống trong bầu không khí ấm áp như những tảng mây dày.

        — Sao nhiều bồ hóng bay thế, — giọng mệt mỏi, — Lê-na bất ngờ lên tiếng.

        Cô buông tay đúng trước hai cậu bạn trai mặc cho chiếc khăn tuột ra khỏi đầu chỉ còn vương bờ trên vai. Vô-lô-đi-a không biết an ủi cô gái như thế nào chỉ còn biết nhìn quanh, thở dài khổ sở chưa thể nào biết được là dân chúng tự rời khỏi làng đây khói lửa này hay bị bọn Đức đuổi đi. Và ai có thể đoán được điều gì đang chở họ.

        Một tiếng rền to, ầm ầm vang lên, chắc là cái gì đó trong nhà sụp đổ tiếp, và từ các cửa sổ hửng sáng, những chùm ánh sáng vàng chói lọi lại lóe sáng cả ngoài sân. Ngay lúc đó, ba người trông thấy rõ dãy cây con trồng ở xung quanh trường hai năm về trước đã mọc cao ngang đầu người, giờ cũng đã bị cháy trụi thành than.

        — Ôi, cái gì kia? —Lê-na kêu lên và chạy tới tận ngôi nhà.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:23 am

        Kiễng chân lên, Lê-na cố nhìn vào cửa sổ nóng hừng hực, vội lùi lại và chiếc khăn rơi khỏi vai cô. Vô-lô-đi-a nhặt chiếc khăn lên, phủi sạch nhưng không kịp trả lại. Lê-na mê mải chạy dọc theo tường, dừng lại ở cửa sổ khác, cô nhìn xem cái gì đang cháy ở nhà cô. Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a mệt nhoài chậm chạp theo cô.

        — Thật là bất hạnh... thật là bất hạnh!—Vi-chi-a nói, giọng hoàn toàn theo kiểu người lớn.

        Vô-lô-đi-a chỉ gật đầu: thật quả rất khó nói được điều gì lúc này.

        — Này có thể tạm thời để Lê-na sống với mẹ cậu được không ? —  Vê-rép-kin hỏi.

        — Tất nhiên rồi, — Vô-lô-đi-a trả lời ngay. Chưa bao giờ cậu cảm thấy mình bị xúc phạm đến như vậy, một nổi căm giận không cùng vằn lên trong dôi mắt cậu, và cậu không thể quên đi hoặc có xua đuổi nó được trong lúc này. Cậu cảm thấy bất lực trước nỗi bất hạnh ghê gớm của cô bạn gái và có thể cô đã bị mồ côi.

        Lê-na quay lại đợi hai bạn đi tới. vẻ ngạc nhiên trách móc hiện rõ trên khuôn mặt mịn màng một cách lạ thường với đôi mắt đẫm lệ vì lo lắng và nóng nực đang ánh lên trước ngọn lửa. Những mớ tóc rối bời rơi xuống đôi má ửng hồng thành những vong tròn.

        —Mẹ và Li-do-ca ở đâu rồi? — Cô hỏi nhỏ, Vô-lô-đi-a không biết trả lời ra sao, giả vờ dưa mắt nhìn sang nơi khác.

        — Hai người phải đợi tôi, — cô tiếp tục. — Nhưng bây giờ thì tôi không biết...

        — Thế này này,... bạn đừng lo...—Vô-lô-đi-a cố nói rồi im bặt.

        Một tiếng ầm âm chói tai từ xa rền lên như từ trên bầu trời đêm không sao cao tít vọng lại, nó giống như khi đoàn tàu hỏa mở hết tốc lực tới gần nhưng rời rạc và nặng nề hơn. Vô-lô-đi-a nhin quanh chăm chú lắng nghe và cậu thò tay vào chỗ ngực dưới áo blu dông sờ quả lựu đạn giấu ở đó.

        — Hai người ở đâu nhỉ ? — Lê-na hỏi to hơn như thể cố bắt cậu phải trả lời.

        — Hừ, tớ không biết nghĩ ra sao!

        Cô kéo chiếc tất tay ra và lau trán như một cái máy.

        — Chúng mình sẽ tìm thấy mẹ, bạn đừng sợ... chúng mình sẽ tìm ra! — Vô-lô-đi-a vội nói.

        Song lúc này không phải lúc họ đi tìm bà. Tiếng động ầm ầm khó hiểu mỗi lúc nghe một rõ hơn. Tựa như một khối đá lớn chảy nhanh trong bóng tối và trút xuống ống sắt được bịt chặt ở hai đâu.

        Vô-lô-đi-a lại nắm tay Lê-na và dìu cô từ sân trường vào trong bóng tối. Họ vội vàng len qua các bụi cây gì đó rồi chạy theo các hàng cây và men theo rãnh thoát nước. Tới một bụi liễu, Vô-lô-đi-a ra hiệu cho các bạn nằm xuống. Từ đây chỉ trông thấy một đoạn ngắn đường làng giữa trường học và lùm cây, nhưng vì vội vã nên Vô-lô-đi-a không tìm được điểm quan sát nào thuận tiện hơn. Lửa trong các cửa sổ trường học hầu như đã tắt, song ở phía đối diện hơi chếch với trường học, một dãy nhà dài vẫn đang le lói ánh lửa soi sáng cổng làng. Đám cháy đỏ hồng tỏa ra trên đường làng và thấy rõ các tay vịn của cây cột buộc ngựa cùng cột điện tín hiện ra qua màu xám lờ mờ.

        Lúc này tiếng rú chói tai và tiếng sắt thép ken két vang lên ngay đâu đó ở bên cạnh, nhưng Vô-lô-đi-a vẫn chưa đoán ra đấy là tiếng gì. Vi-chi-a rụt đâu vào cổ áo da và luôn luôn chớp mắt có vẻ như rất vất vả trong việc quan sát. Lê-na nằm sấp, áp mặt vào hai cánh tay, phủ kín dưới mái tóc vàng sáng xõa xuống.

        Bỗng nhiên từ khung trường học đen sẫm có một cái gi đó giống như chiếc bàn là khổng lồ to chưa từng thấy, nhảy xổ ra sừng sững ngay trước mắt họ.

        — Xe tăng!... Xe tăng! — Không kìm nổi, Vô-lô-đi-a khẽ thót lên, nhưng chính cậu cũng không nghe được tiếng mình. — Hai, ba, năm... — Chợt nhớ ra, cậu vội đếm.

        Đúng vậy, trong màn sương khói đỏ hồng, những chiếc xe tăng phát xít xuất hiện chạy dọc theo làng, dáng lắc lư tròng trành. Vói tóc độ lớn, chiếc nọ sau chiếc kia nối đuôi nhau theo hàng dọc, chạy phóng qua khoảng trống và biến mất sau các lùm cây. Một số lính tăng mở nắp tháp xe nhô hẳn đầu ra ngoài, những nòng súng lớn ngắn ngủi nhấp nhô đơn điệu.

        Vô-lô-đi-a đếm được mười rồi mười lăm, hai mươi lăm chiếc, nhưng đoàn xe vẫn ùn ùn kéo đi chưa hết.

        Xe tăng lao tới làng Mới có nghĩa là lao tới thành phố, cùng hướng với đoàn bộ binh mà khoảng một giờ trước đây các chiến sĩ trinh sát đã phát hiện thấy. Chỉ đến lúc này, khi theo dõi những chiếc tăng đang vùn vụt tiến trước mặt mình, Vô-lô-đi-a mới bắt đầu thấu hiểu được mối nguy cơ thực sự đang đe dọa thành phố của cậu. Những khối sắt khổng lồ xuất hiện trong bóng tối, rồi hầu như lại biến mất ngay, song chính trong sự chuyền động đơn điệu nhanh chóng của chúng có một cái gì đó thật nặng nề, một cái gì đó tuy không hiểu nổi nhưng vẫn làm cho Vô-lô-đi-a sợ hãi.

        Ép sát người xuống đất và với một hành động vô tình mà chính mình cũng không nhận thấy, Vô-lô-đi-a lùi lại một chút về phía các bạn mình. Cành liễu dài bung ra và rung rinh ngay trước mặt cậu, theo phân xạ tự nhiên, Vô-lô-đi-a lấy tay che mặt.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:53 am

         Còn xe tăng vẫn cứ kéo đến, vượt qua chỗ sáng rồi tiếp tục biến đi, và qua làn khói có thể thấy những chữ thập màu trắng trên thành xe. Từ ngôi nhà đang cháy bên đường, những tàn lửa bay lên theo chiều gió và bất ngờ cột điện tín rực sáng như một cây đuốc. Bỗng nhiên, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng sẽ như thế nào nếu những cái bàn là khồng lồ tự động và kêu rú inh tai này xông đến những người bảo vệ thành phố quê hương của cậu. Trong giây phút này, Vô-lô đi-a tưởng tượng thành phố của mình không phải chỉ là một quần thể của những ngôi nhà, mà cậu còn biết rằng đấy là mọi sự tốt lành, là lý trí, là hạnh phúc và vẻ đẹp của đời cậu. Và, Vô-lô-đi-a cảm thấy rõ ràng sự khủng khiếp có thể xảy ra khi kẻ thù tiến vào được thành phó của cậu. Bởi vì, phải chăng con người sống và có cảm giác, yếu đuối đến vậy, không được che chở đến vậy, lại có thể chống chọi được với sức mạnh vô nhân đạo, lạnh lùng của sắt thép được liên kết bằng những đinh ri-vê này ư?!

        « Bốn hai, bốn ba, bốn tư...» — Vô-lô-đi-a cố tập trung hết nghị lực đề đếm đủ từng chiếc xe tăng Đức; chỉ đến chiếc thứ bốn bảy, đoàn xe mới đứt đoạn và cũng chẳng được bao lâu tiếng rú ầm ầm của khối sắt đã yếu đi trong một hai phút, lại bắt đầu rộ lên. Còn ở sau làng, trong bóng đêm, nơi có con đường bộ chạy qua những, làn ánh sáng màu trắng đục như đèn pha lấp loáng lóe lên rồi lại mất đi, chắc là những đơn vị quân Đức khác tập trung cho cuộc tiến công đang hành quân trên dường.

        Vô-lô-đi-a cảm thấy một người nào đó tì vào vai mình và tuy không quay lại, nhưng cậu cũng hiểu rằng Lê-na đang tìm sự che chở của cậu. Lúc này, cả ba người cùng nằm sát lại bên nhau như những đứa trẻ nhỏ. Song, chính việc Lê-na tì tay vào vai cậu, chính cái cử chỉ yêu cầu được che chở này đã làm cậu thêm vững tâm một cách lạ thường. Và lần đầu tiên trong đời, cậu cảm thấy một cách đầy đủ cảm giác khó khăn đến lạnh cả lòng, tựa như một sự kích thích về trách nhiệm của người nam giới, ý thức của người lính trước số phận của cô gái đang nằm bên cậu và người bạn ít tuổi hơn mình, cùng với số phận của họ là số phận chung của cả loài người.

        Lê-na rung rung và im lặng ngay, cố ghì chặt tay hơn vào vai Vô-lô-đi-a như thể phó thác vào lòng dũng cảm của cậu. Vô-lô-đi-a nhìn lại: cô đang khóc. Chẳng nức nở và chẳng mếu máo, nhưng đôi mắt đầm đìa nước của cô ánh lên, long lanh lạ thường, còn đôi má ướt mũm mĩm lấp lánh dưới ánh lửa làm khuôn mặt cô có vẻ yếu đuối hơn nhưng lại đẹp hơn. Một cảm giác nhức nhối, đau xót, thương cảm trào dâng trong lòng Vô-lô-đi-a, cậu khẽ cất tiếng nói ngập ngừng, nhưng hơi thô của người hơn tuổi:

        — Đừng khóc, nào... Tôi đã bảo, chúng ta sẽ tìm được mẹ.

        Trong tiếng ầm ầm của dòng sắt thép, giọng cậu hầu như không nghe thấy gì, song qua hàng nước mắt, Lê-na vẫn nhìn Vô-lô-đi-a với vẻ tin tưởng. Mãi đến lúc này cậu mới nhìn thấy chiếc khăn trong tay mình và liền trả cho cô gái:

        — À, đây này, quàng vào, — cậu ra lệnh. — Và chẳng việc gì phải khóc.

        Cô cầm lấy chiếc khăn và ngoan ngoãn trùm lên đầu. Vô-lô-đi-a quay lại và dán mắt vào những chiếc xe tăng Đức đang lao dọc đường làng trong màn đêm dày đặc, cái nọ nối cái kia, kéo dài theo hàng một.

        Đến tận khuya, các chiến sĩ trinh sát mới về tới thành phố và ngay lập tức được đưa lên xe chở tới bộ tham mưu khu vực chiến đấu . Sau khi nghe báo cáo xong, đại úy chỉ huy mặt đầy râu liền gọi ngay điện thoại yêu cầu được nói chuyện với thiếu tướng chỉ huy thành phổ đề báo cáo về những tin tức mới nhất của tổ trinh sát.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:18:14 am

5

        Đến đêm, Bốt-đa-nốp từ tuyến phòng thủ tiền tiêu trở về tỉnh ủy theo lệnh gọi của Đi-a-cốp Chiếc «Em-ca» của anh phải dừng lại luôn và bật đèn pha để lính gác kiểm tra giấy ra vào. Trong bóng tối, vang lên tiếng động cơ của các xe khác nổ giòn, văng vẳng tiếng người tuy không trông rõ ai, tiếng vũ khí va vào nhau; những chiếc xe tải cứ ầm ầm phóng qua và tuy đường phố tới mù mịt vẫn sôi động như ban ngày, dường như chẳng ai ngủ cả. Ngay Bốt-đa-nốp cũng vậy, tuy đã hai đêm nay không chợp mắt nhưng có lẽ không thể ngủ được. Trong trí tưởng lượng của Bốt-đa-nốp hiện lên một bức tranh rõ mồn một như ảnh nổi, luôn luôn ám ảnh anh: các tuyến phòng thủ ở ngoại ô thành phố nơi anh vừa ra đi, những quả đồi thấp nhẵng nhịt các hào giao thông, con đường lớn nơi các chiến sĩ diệt tăng mai phục, cánh rừng nhỏ nơi ẩn náu của lính súng máy cùng các loại pháo binh Bốt-đa-nốp cố nhớ lại những chỉ thị, những mệnh lệnh cùng những đề nghị của anh hôm nay và có cảm giác dù đã rất cố gắng, nỗ lực, song anh vẫn cảm thấy còn một việc quan trọng nào đó trong kế hoạch phòng thủ thành phố chưa được nhắc tới. Nói cụ thể ra thì tâm trạng này giống như tâm trạng của người chỉ huy nghiêm khắc trước trận đánh. Khi đó anh ta thường nhớ lại những mệnh lệnh, chỉ thị đã ban ra và một ý nghĩ nôn nóng muốn tìm ra những sai sót, mà trước đây chưa nhận thấy được. Nổi bật lên sau những suy nghĩ này là ý thức trách nhiệm lớn lao trước nhiệm vụ cần phải kiên tâm giải quyết, nhiệm vụ mà lúc này hiện ra với tất cả khó khăn to lớn của nó.

        Kẻ thù đang tiến tới T. với một sức mạnh ưu thế hơn các lực lượng bảo vệ thành phố cả về số lượng lẫn trang bị kỹ thuật, xe tăng, máy bay. Và nỗi lo lắng của Bốt-đa-nốp về kết quả trận đánh ngày mai thể hiện ra ở chính dạng này, đó là sự không hài lòng với bản thân mình và cảm giác đã bỏ lỡ một điều quan trọng nào đó chưa nhìn thấy. « Cần phải lo lắng điều gì nữa nhỉ ? Cần phải nhớ lại, tìm ra, chuẩn bị cái gì nữa nhỉ?». Những câu hỏi dai dẳng cứ ám ảnh tâm trí người trung tá trẻ tuổi như thể chính Bốt-đa-nốp thực sự đã quên mất một điều gì đó rất quan trọng. Cả ngày anh lăn lộn trong các công sự dưới làn gió lạnh hôi hám bị rét cóng, bị mệt đói, song những ỷ nghĩ ấy vẫn cứ luôn luôn thôi thúc trong anh. Bốt-đa-nốp lúc thì nhẩm tính lực lượng bảo vệ thành phố, lúc thì nghĩ về vấn đề chỉ đạo chiến thuật được áp dụng cách đây không lâu trong các trận đánh chớp nhoáng đẫm máu ở gần Min-xcơ mà anh trực tiếp tham gia hoặc trong trận chiến đấu gay go nhiều ngày ở Xmô-len-xcơ, hoặc trong những cuộc tiến công kiên quyết mà chính anh là người quyết định để vượt khỏi hậu phương quân thù. Trong đầu anh thoáng hiện ra tên bao làng mạc anh đã đi qua, những tấm bản đồ quân sự mà anh nghiền ngẫm, những chỗ ngoặt của bao con đường mà các chiến sĩ của anh bảo vệ, những cánh rừng bốc lửa cháy thành than, những sơ đồ vẽ vội, những thành công và sai lầm của mình, những thất bại và thắng lợi của những người chỉ huy khác...

        Xuống xe ngay cạnh tòa nhà tinh ủy, Bốt-da-nốp nhảy qua hai bậc thang, chạy vội lên tầng ba. Hội đồng quân sự đang họp và trung tá yêu cầu báo cho thiếu tướng biết mình đã đến. Cũng như hôm qua, trong phòng đợi, nơi anh ngồi chờ, chật ních người, mặc đủ các kiểu áo bành tô, ca pốt quân sự, đang thì thăm nói chuyện, hút thuốc...

        Thắt dây lưng chặt lại, Bát-đa-nốp thong thả đi từ góc này sang góc khác trong phòng đợi. Đôi má ửng đỏ trên khuôn mặt rám nắng lạnh cóng của anh, cái miệng hơi nghiêm mím chặt.

        Cánh cửa phòng họp chợt mở, và qua đó Bốt-đa-nốp nhìn thấy nhiều người đang ngồi bên bàn phủ dạ xanh. Khuôn mặt dầy dặn của Sa-rốp, chủ tịch ủy ban nhân dân tinh, thấp thoáng qua khe hở và vọng ra giọng nói của ông.

        — Chúng tôi sẽ ghi cho anh như thế này: « Một nghìn áo ca pốt và hai nghìn bộ quần áo ». Sáng mai các anh sẽ nhận dạ...

        Từ phòng họp, một phụ nữ mặc bộ com blê đen đi ra, im lặng một lát như nhớ xem mình ra đây đề làm gì, sau đó bà nói nhỏ:

        — Ai ở nhà máy chế tạo máy cái? Mời vào... Các đồng chí ở đường sắt cũng vào đi...

        Trông dáng bà mệt mỏi như đang ngái ngủ. Mọi người đứng dậy bước vào phòng họp và phòng đợi bỗng chốc vắng tanh; bà thư ký cũng trở vào phòng, đóng cửa lại. Bốt-đa-nốp có lẽ đã bị bỏ quên cũng đứng dậy định đi vào trong đó, song anh bỗng nghe thấy tiếng giày bước sau lưng liền quay lại.

        — Xe-li-vê-xtốp! — Anh ngạc nhiên gọi to. — Làm sao cậu cũng đến đây?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:45:52 pm
     
        Từ cánh cừa mở ra đường hành lang tối, người đại tá mà anh mới chia tay ở bộ tham mưu phương diện quân hôm kia đang đi qua gian nhà đến chỗ anh. Vóc người to, cân đối trong chiếc ca pốt may rất hoàn hảo với những đây nẹp màu vàng, đầu đội chiếc mũ trùm tai bằng lông cừu non, Xe-li-vê-xtốp gợi cho anh cảm giác là ông ít thay đổi. Song, dường như có một lớp tro phủ lên khuôn mặt chưa cạo râu, giãn ra ở phía dưới của anh ta, đôi mắt đỏ lừ, còn trong khóe mắt có váng bọt trăng trắng.

        — Chào Bốt-đa-nốp! Thế là chúng mình lại gặp nhau... Như người ta nói, núi với núi không bao giờ gặp nhau... — Xe-li-vê-xtốp nói, vẻ gượng gạo không tự nhiên.

        Anh ta siết chặt tay Bốt-đa-nốp trong bàn tay lành lạnh của mình ; dường như khác hẳn khi ở bộ tham mưu phương diện quân, anh ta-cảm thấy rất sung sướng được gặp lại người đồng nghiệp cũ.

        Xe-li-vê-xtốp đến đây không phải có một mình, còn một đại úy má bụ bẫm, đội mũ sắt, mặc áo bạt, ngực đeo tiểu liên chiến lợi phẩm không hiểu sao không vào, đang đứng lại ở ngưỡng cửa phòng đợi.

        Bốt-đa-nốp sửng sốt hết nhìn người này lại nhìn người kia. Anh đã biết là Xe-li-vê-xtốp đã nhận sư đoàn ở vùng A-rxê-nhi-ép-xcơ và các đơn vị của ta ở đó đã bị bọn Đức vượt qua.

        Bốt-đa-nốp nghĩ rằng lúc này họ đang lao vào những trận đánh nặng nề, cho nên sự xuất hiện của người chỉ huy của họ ở đây là không giải thích nổi...

        — Ừ, gặp nhau. Mình ở trong bộ tham mưu khu vực chiến đấu. Hãy kề đi, chỗ các anh ra sao? Anh có biết bọn Đức đã ở làng Mới không? Chúng tiến công với lực lượng như thế nào? — Lập tức Bốt- đa-nốp hỏi han những gì mà lúc này anh quan tâm hơn cả.

        — Mình đi báo cáo với tư lệnh tập đoàn quân, — Xe-li-vê-xtốp trả lời. — Bô tham mưu còn có Đê-mi-dốp, cậu có biết không?

        — Sáng nay tôi vừa ở đấy... Nhưng chỗ các anh đã xảy ra chuyện gì vậy? — Bót-đa-nốp hỏi lại.

        — Điều gì ở chỗ chúng tôi ư? Nhũng điều đã từng phải chờ đợi... — Đại tá nói khá tươi tỉnh. — Cũng chính là những điều mà, anh bạn ạ, anh đang chuẩn bị đón chúng. — Anh nhún vai, trên khuôn mặt thoáng hiện vẻ bực bội như thể muốn nói : « Làm gì mà anh cứ tra hỏi tôi mãi thế? Hãy để tôi yên...». Và bỗng nhiên vẻ sôi nổi vờ vĩnh ban đâu của Xe-lí-vê-xtốp biến mất, nét mặt anh lại trở nên thiểu não chán chường...

        Thấy chiếc ghế bành ngay cạnh, anh mệt mỏi ngồi xuống và bỏ mũ lông ra khỏi đầu.

        — Đồng chí đại tá, chúng ta đang vội, người đại úy đội mũ sắt đứng bên ngưỡng cửa nói.

        — Vâng, cần phải đi... Bốt-đa-nốp, cậu có biết chỗ cậu có thể kiếm được ít xăng cho xe không ? — Xe-li-vê-xtốp hỏi với giọng khổ sở. — Xe chúng mình hết xăng rồi...

        — Được thôi, chúng tôi sẽ lo cho. Nhưng tại sao anh lại ở đây? — Không kìm nổi, Bốt-đa-nốp lại hỏi. — Anh thứ lỗi cho tôi, Ép-ghê-nhi Ghê-ra-xi-mô-vích ạ!

        Xe-li-vê-xtốp ngả lưng vào thành ghế bành. « Anh muốn cái gì ở tôi? Hãy để tôi... ».— Trong vẻ mệt mỏi của anh dường như đang nói ra điều này.

        — Cứ lặp đi lặp lại «Tại sao? Cái gì ? » — Anh bực bội mở đầu. — Mình nhận sư đoàn ngay trong chiến đấu, cậu cũng hiểu điều này rồi... Song đây không phải là tất cả, — anh khoát cánh tay to trắng của mình. — trong bộ tham mưu người ta phố biến tình huống cách khác, nhưng khi đến nhận thì đơn vị bạn ở bên phải đã rút đi từ bao giờ, một bức tranh quen thuộc... Trong lúc đó thì hàng trăm xe tăng Đức... Anh xòe bàn tay ra và vung vung ngay trước mặt mình, — hàng trăm xe tăng lao vào lỗ hổng...

        — Làm sao anh lại có thể ?... — Bốt-đa-nốp gào lên, nhưng ngay lúc đó kiềm chế được. — Làm sao anh lại có thể bỏ sư đoàn của mình được? — Anh hỏi nhẹ nhàng. — Và bây giờ nó ở đâu?

        Đôi mắt anh tối sầm lại nhưng vẫn giương to, tròn xoe, chằm chằm nhìn người nói chuyện với mình.

        — Ngày trong giờ đầu tiên của trận đánh, hai tiểu đoàn đã bị đè bẹp... chắc là trung đoàn số hai của tôi không nhận được lệnh rút lui... Và mình cũng không hiểu được hiện giờ nó ở đâu nữa... — Xe-li-vê-xtóp trả lời mệt mỏi. — Cậu không tưởng tượng nổi điều gì đã xảy ra... Xe tăng tràn lên hết đợt này đợt khác như sóng dồn. Chúng nó đồ đạn không ngớt vào bọn mình, đài quan sát của mình bị trúng đạn. Chính ủy sư đoàn bị tử thương... — Anh vừa nói vừa ưỡn thẳng người lên, tì hẳn người vào tay vịn ghế bành và trong giọng nói của anh có vẻ khẩn cầu. — Mình không phóng đại một tí gì đâu... Hãy tin mình. Mình thấy rõ là với một lực lượng như vậy thì làm sao có thể bảo vệ được tuyến phòng thủ.

        Bốt-đa-nốp nghe với một ấn tượng là Xe-li-vê-xtốp đang nói những chữ gì đó thật là xa lạ. Dĩ nhiên trung tá cố nắm được ý nghĩa của từng lời nói, song cảm giác này vẫn mỗi lúc một nặng nề hơn. Hình như giữa anh và Xe-li-vê-xtóp có một khoảng trống không thể che lấp nổi và trong đó có những câu nói tuy dễ hiểu nhưng không có tác dụng gì cả. Tựa như đây là lần đầu tiên Bốt-đa-nốp mới gặp người đàn ông bốn nhăm tuổi này với mái tóc rối bù trên đỉnh đầu, mặc ca pốt có những chiếc khuy đồng lấp lánh, đang ngồi trong chiếc ghế bành chật hẹp. Thân hình anh ta to lớn, rắn chắc. Và trong con người này, anh không hề nhận ra những nét gì của người đồng chí xa xưa của mình nữa. Nhìn đôi tay trắng trẻo đẹp đẽ đang tì vào tay vịn ghế bành, Bốt-đa-nốp cảm thấy đặc biệt ghê tởm con người 4iày.

        — Đồng chí đại tá! — Người đại úy đội mũ sắt lại nhắc Xe-li- vê-xtốp. — Xin lỗi là tôi lại phải nhắc đồng chí... Nhưng chúng ta có rất ít thời gian.

        — À, còn xăng thì giải quyết như thế nào ? Bốt-đa-nốp, cậu giúp mình chứ? — Đại tá hỏi.

        Bốt-đa-nốp không trả lời, như thể không nghe rồ câu hỏi.

        — Thế đấy, anh bạn ạ! Bây giờ mình bị ghép tội rút lui không có mệnh lệnh... Cấp trên cho gọi mình lên, — Xe-li-vê-xtốp nói tiếp. — Nhưng mình còn có thể làm được gì nữa cơ chứ! Chỉ trong mấy tiếng, sư đoàn đã tan rã, còn lại chẳng bao nhiêu...

        — Thế nhưng anh là người chỉ huy của nó lại đang và vẫn sống nguyên lành, — Bốt-đa-nốp bật nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:46:14 pm

        Đại tá nhúc nhích trên chiếc ghế bành, như định đứng dậy.

        — Cậu nói gì vậy? Cậu nghĩ gì thế? — Anh vội nói. — Cậu nói cái gì vậy ? — Và vẫn không đứng dậy, anh ta chồm cả người về phía trước. — Nếu cái chết của tôi có thể giúp được việc gì đó thì tôi không do dự. Cậu cũng biết mình đấy...

        Tựa như một người lạ, Bốt-đa-nốp nhìn Xe-đi-vê-xtốp với vẻ căm giận mõi lúc một tăng.

        — Cậu không tin ? Đấy là việc của cậu... Nhưng giả sử mình có yếu đuối, mình có lỗi, — đại tá nói to hơn như cảm thấy rằng khoảng trống chia cách anh và Bốt-đa-nốp đang mở rộng hơn ra. —  Mình có lỗi là đã không dám cho một viên đạn vào trán mình... Phải chăng một cái gì đó có thể thay đổi sau việc làm này? Thêm một đại tá chết ngoẻo và chỉ... Phải chăng lỗi là ở mình ? Anh lại cao giọng, cố nói sao cho rõ ràng và dễ hiểu. — Chẳng lẽ cậu không thấy, chẳng lẽ cậu không thấy rằng chúng ta... rằng tất cả...

        Xe-li-vê-xtốp đang rộng bàn tay, xòe cả năm ngón tay về phía Bốt-đa-nóp như muốn túm lấy kéo anh vào lòng.

        «Giá chặt được cái tay của anh ta vất đi đâu được nhỉ!» — Bốt-đa-nốp kinh tởm thầm nghĩ. — Song ngay lúc đó, người ta gọi anh vào cuộc họp. Chẳng kịp chào Xe-li-vê-xtốp, anh chỉ nói ngắn gọn về việc lấy xăng cho xe, rồi vội bước vào phòng họp.

        « Đến đấy như đến chỗ chết, như một kẻ bị phán xét...». — Anh nhớ lại cuộc gặp mặt với Xe-li-vê-xtốp trong bộ tham mưu phương diện quân. — « Nhưng tại sao anh ta lại suy sụp tinh thần đến thế? — Anh tự hỏi.

        Song anh không có thời gian để phân tích kỹ câu hỏi này. Đi-a- cốp yêu cầu anh báo cáo tình hình các đơn vị trên tuyến phòng thủ. Sau khi nghe báo cáo ngắn gọn của anh, Đi-a-cốp bắt đầu phân tích.

        Qua tin tức của thiếu tướng, Bốt-đa-nốp biết được một vài điều mới mẻ. Theo số liệu của bộ tham mưu tập đoàn quân, mà lúc này Đi-a-cốp chịu sự chỉ đạo, có ít nhất ba sư đoàn thiết giáp, hai sư đoàn bộ binh và trung đoàn « Nước Đức vĩ đại» tiến công vào T. Sau khi đã vượt qua các đơn vị quân ta ở vùng A-rxê-nhi-ép-xcơ, Núi Trắng và dọc theo đường cái tiến tới thành phố, lúc này kẻ thù đang tập trung lực lượng ở làng Mới, ngay trước cửa ô phía Nam...

        — Chúng muốn chiếm thành phố chúng ta bằng một cuộc tiến công chớp nhoáng bất ngờ. — Đi-a-cốp nói.   

        Ông mở cặp lấy tấm bản đồ do các chiến sĩ trinh sát vừa lấy được của một tên sĩ quan Đức bị bắt, mở ra trước mặt mọi người. Vòng tròn đen trên bản đồ chi T. được vạch một cung tròn đậm nét màu đỏ từ phía Tây Nam, cạnh đó có ghi ngày « 30 — X ». Cao hơn là mũi tên cong tô đậm nét chĩa thẳng vào Mát-xcơ-va được khoanh một vòng to đậm hơn. Ở đó cũng có chữ số «7 — XI»: bọn Đức tính toán thời hạn chúng sẽ chiếm được thủ đô Xô-viết.

        — Chúng ghi tất cả đều chính xác! — Đi-a-cốp cười. — Những đồ đệ của Sli-phen... Đám người rất cẩn thận!

        Ông rút thuốc lá vê vê trong mấy ngón tay mập mạp rồi châm hút. Những đám khói quyện quanh đầu, ông nheo mắt lại nhìn mọi người đang ngồi bên bàn. Ngoài ông và Bốt-đa-nốp ra, trong phòng còn có La-tô-skin, Sa-rổp và Tê-rê-khốp, trong ban quân sự tỉnh ủy, một người béo đậm dưới năm mươi tuổi, đeo tấm huân chương Cờ Đỏ trên chiếc « nơ » lụa như người ta thường đeo trong những năm Nội chiến.

        — Chỉ là một trò hề ! — Nhìn tấm bản đồ, Tê-rê-khốp nói, nhưng không mỉm cười.

        Bốt-đa-nốp im lặng... Lúc này không còn nghi ngờ gì nữa là kẻ thù mưu toan bẻ gãy tuyến phòng thủ thành phố bằng một trận tiến công mãnh liệt vào tung thâm phòng tuyến của ta với lực lượng xe tăng, cái chiến thuật quen thuộc của bọn Đức vẫn không thay đổi. Và mặc dù trong mấy ngày qua đã làm được nhiều việc: hoàn thành tuyến phòng thủ, pháo binh trong đó có cao xạ đã chiếm lĩnh các hỏa điểm: nhiều con đường tiến tới thành phổ được gài mìn và Đi- a-cốp đã có lực lượng bộ binh dự trữ thành lập từ các đơn vị rút về T. — Song tất cả những điều này chẳng làm yên lòng được là bao. Thậm chí nếu các sư đoàn tiến công thành phố không đủ quân số đi chăng nữa thì như Đi-a-cốp đã chỉ rõ, dù tập đoàn quân số 2 của Đức đã bị đánh kiệt quệ, thì tương quan lực lượng vẫn còn chênh lệch rất lớn đến mức kỳ quặc, vẻ đăm chiêu suy nghĩ, La-tô-skin cầm chiếc đồng hồ bỏ túi ở trên bàn, nhìn mặt số và lên dây cót một cách hững hờ rồi lại đặt xuống chỗ cũ. Phòng họp im lặng... vài ba phút. Ánh sáng gay gắt chiếu từ trên trần xuống soi rõ tấm bản đồ nhàu nát treo ở góc phòng.

        — Thôi, thế này, chúng ta sẽ quyết chống trả lại trận đánh tung thâm của quân Đức bằng chiến thuật phòng ngự chiều sâu của chúng ta, — như trả lời cho những ý nghĩ của Bốt-đa-nốp, Đi-a-cốp lại bắt đầu nói. — Và xe tăng chúng nhất định sẽ bị sa lầy trong đó, phải sa lầy... Ba giờ trước đây, từ bộ tham mưu phương diện quân, tôi được biết là các đơn vị bộ binh và pháo chống tăng sẽ đến chi viện cho chúng ta. Chúng ta sẽ làm rối tung mọi ý đồ trong tờ lịch này của bọn Đức. — Đi-a-cốp chỉ tay vào tấm bản đồ. — Anh có nhận được tin gì của đại đội trưởng đại đội được điều đến Khlép- nhi-cốp không? — Quay sang Bốt-đa-nốp, ông hỏi.

        — Không không nhận được gì cả. Tôi chỉ biết là ở đấy đang đánh nhau. — Bốt-đa-nốp trả lời.

        — Vâng, trung đoàn công nhân đã bắt đầu vào trận, — La-tô- skin nói.

        Ông lại nhìn đồng hồ và đứng dậy, người xương xương, rất nghiêm nghị. Ông đưa tay khẽ sửa lại chiếc va rơi thắt dây da nhỏ của mình.

        — Mựời phút nữa, — ông nhỏ nhẹ bắt đầu. — tôi phải báo cáo với Hội đồng quân sự Nhà nước về tất cả những gì mà chúng ta đang làm để bảo vệ thành phố. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ thể hiện được ý kiến chung của chúng ta, nếu tôi nói: «Ngày mai, ba mươi tháng Mười, bọn phát xít sẽ không vào được thành phố, ngày kia cũng vậy và sau này chúng cũng không khi nào vào được Mát-xcơ-va của chúng ta ! — La-tô-skin nói điều này một cách đơn giản và bình thản.

        Bốt-đa-nốp nín thở, ngẩng đầu... Trong giọng nói bình thản đó của La-tô-skin, anh cảm thấy một niềm tin không thể nào lay chuyển được.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:48:24 pm

6

        Trước lúc rạng đông, một cơn mưa nhỏ lạnh buốt bất ngờ đổ xuống, mãi đến gần tám giờ mới tạnh. Trời lập tức sáng ra và Bốt- đa-nốp trông thấy hàng đàn xe tăng Đức đang tiến về thành phố. Trung tá đứng trên sân thượng một tòa nhà 4 tầng và từ đẩy một không gian rộng lớn mờ đục như bị che phủ bởi màn sương dẫm nước, mở rộng trước mặt anh. Không gian ẩm ướt như lung linh trong ánh kim loại đang tỏa ra trên mặt đất nham nhở vì đạn pháo trên đoạn đường thẳng cắt ngang cánh đồng, trên góc của những tòa nhà đá rải rác ở ngoại ô. Tựa như một màng thủy ngân mỏng phủ lên mặt đất trần trụi, quét lên đó màu đùng đục của mình, thậm chí hình như mái nhà gạch, nơi xe tăng Đức đang tiến đến cũng phát ra một thứ ánh sáng lạnh lẽo.

        Hỏa lực mà bọn Đức bắn từ mười lăm phút trước đây trên toàn tuyến phòng thủ đã hơi yếu đi và đã chuyển đến gần thành phố hơn. Lúc này ở xa, về bên phải đã trông thấy đạn pháo và lựu đạn nổ trên vị trí của các phân đội bộ binh, giữa những ngôi nhà của nông trường quốc doanh ngoại ô, nơi đặt sở chỉ huy của Đu-bốp, trung đoàn trưởng trung đoàn NKVĐ, ở ngay cổng vào trên trạm gác, bên cạnh những ngôi nhà thấp với mảnh vườn trước cửa. Bên trái họ là đám khói dày màu lam hầu như đứng im trong bầu không khí ẩm ướt và không chịu tan ra, đám bụi cứ treo lơ lửng trên làng Mư-skin trên trận địa của trung đoàn công nhân và giữa những lùm cây trong nghĩa trang thành phố. Túp lều bên đường, nơi hôm qua Bốt-đa-nốp nói chuyện với đại úy Tra-skin đang bốc lửa.

        Trong sương mù mới chỉ trông thấy hai thê đội xe tăng triển khai dọc theo hai bên đường. Bốt-đa-nốp đếm được trong thế đội một gần ba mươi chiếc, chủ yếu là cỡ trung bình và thế đội hai cũng số lượng ấy. Gió thổi từ sau lưng nên tiếng động cơ vọng lại một cách yếu ớt. Song trung tá có thể trông rõ xe tăng đang tiến rất nhanh, nên thời điểm các chiến sĩ bảo vệ thành phố giáp mặt với chúng chỉ còn tính từng phút. Chỉ một lát sau, qua ống nhòm đã có thể phân biệt rõ, không những vỏ xe tăng màu xanh lá cây sáng hơn màu cánh đồng mà còn có thể trông thấy cả bọn mô tô đi theo nữa. Chúng luôn luôn mất đi, biến vào thành ống kính và ở chõ chúng những chiếc khác lại bất ngờ xuất hiện như chui từ dưới đất lên. Tất cả, cho đến lúc này vẫn diễn ra rất trật tự như đang thao diễn vậy...

        Bốt-đa-nốp bỏ ống nhòm xuống và nhìn Đi-a-cốp. Thiếu tướng đi sát tới hàng cọc sắt dọc theo máng nước ở rìa sân thượng. Trên sân thượng, gió thổi mạnh hơn, suýt hất chiếc mũ cấp tướng viền đỏ quai vàng làm thiếu tướng phải giữ lấy lưỡi trai.

        — Nó mà hất đi thì không bắt được đâu, có phải thế không ?

        Anh nghĩ thế nào ? — Ông mỉm cười nói với Bốt-đa-nốp và ấn mũ sâu hơn. Sau đó ông quay lại người lính thông tin. Anh ta đang co ro trước cửa trần thượng, chiếc mũ ca lô mềm đẫm nước trùm đến tận hai tai.

        — Cho tôi mười bảy. — Đi-a-cốp nói với giọng Bạch Nga của mình. — Và làm sao anh cứ phải phục xuống sát đất thế! Có lẽ gió không thổi bay được anh đâu! — Bót-đa-nốp rất ngạc nhiên trước thái độ bình tĩnh của người chỉ huy tuyến phòng thủ, nếu như đây không phải là thái độ giả tạo. Song quả thực Đi-a-cốp không hề có tâm trạng lo lắng vì quá đa cảm hoặc không tin tưởng vào quyết định của mình. Tát cả các mệnh lệnh cần thiết đã được chuyển đi và lúc này đứng ở đây ông chỉ còn chờ những phát súng đầu tiên, những tin tức đầu tiên và đến lúc đó sẽ hành động theo tình huống cụ thể. Thực ra thiếu tướng cũng thấy rõ không kém gì Bốt-đa-nốp: kẻ thù đã chuẩn bị cú đấm ác liệt và cũng thấy rõ lực lượng bảo vệ thành phố khá mỏng. Song qua kinh nghiệm chiến đấu lâu năm, Đi-a-cốp cũng biết rằng không phải lúc nào tương quan lực lượng cũng giữ vai trò quyết định. Thường thường khi vào trận chiến, chính Đi-a- cốp như được tiếp thêm một sức mạnh kiên cường và bướng bỉnh làm khuôn mặt to mập của ông linh hoạt hẳn lên, làm cho đôi mắt dài thông minh của ông vừa tươi cười lại vừa giận dữ. Cái đặc điểm may mắn của ông là khả năng đánh giá nhanh chóng và tỉnh táo tình hình vẫn không hề giảm sút ngay khi quân địch đang xuất hiện trước mặt ông. Và Đi-a-cốp đã nghĩ là nếu bọn Đức chọc thủng tuyến phòng thủ ngoại ô, trường hợp này cũng đã được chuẩn bị đối phố, thì ông sẽ chiến đấu bảo vệ từng ngã tư, từng ô phố, sử dụng từng ngõ, từng sân và thậm chí cả hệ thống đường ngầm nữa đề vận động đánh địch. Thỉnh thoảng Đi-a-cốp lại nhìn bầu trời đã hửng sáng và chờ đợi máy bay Đức xuất hiện bất cứ lúc nào. Có điện thoại gọi thiếu tướng. Trong ống nghe là tiếng nói của người chỉ huy đơn vị không quân, ông nghiêng người bên máy, tay trái giữ chiếc cát-két để khỏi rơi, Đi-a-cốp gào vào ống nghe.

        — Số một nói! Đồng chí thiếu tá, hãy tung những con đại bàng oai hùng lên... Đã đến lúc rồi, khách đã đến... Vâng, thời tiết thuận tiện... — Đưa ống nghe cho chiến sĩ thông tin, Đi-a-cốp ra lệnh bắt liên lạc với số hai, người phụ trách bộ tham mưu của mình.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:49:00 pm

        Đồng chí trung tá, đồng chí đã phải chiến đấu trên đường phố trong thành phố chưa ? — Ông quay lại hỏi Bốt-đa-nốp.

        — Đã! — Bốt-đa-nốp trả lời rất gọn.

        Lúc này qua ống nhòm, anh đã nhìn thấy the đội xe tăng thứ ba xuất hiện trên nền vàng nhạt của dải đất còn gốc rạ. Chúng như những con bọ hung màu tối sẫm đang xếp thành hàng thẳng tắp. Những chấm đen dày đặc lờ mờ di chuyển giữa chúng — lính bộ binh. Như vậy địch đã ném vào cuộc tiến công vào tung thâm dầu tiên này gần một trăm xe quân sự, một đơn vị lớn bộ binh và lính mô tô.

        «Chúng nó tiến công đúng như sách! ...». — Bốt-đa-nốp nghĩ và bực tức chửi thầm. Anh nhớ đến việc trung đoàn Đu-bốp thiết bị công sự của mình với một sự cố gắng có vẻ sách vở như thế nào, nhớ đến những người lính tình nguyện của trung đoàn công nhân còn hoàn toàn chưa ngửi thấy mùi thuốc súng và anh nghiến răng lại, trên đôi má rắn dưới lớp da sạm nắng của anh nổi lên những đường gân.

        — Thế anh đã chiến đấu trên đường phố ở đâu vậy ? — Một giọng ấm vang vọng đến tận tai anh.

        — Gì cơ ạ ? — Không hiểu ngay, Bốt-đa-nổp hỏi lại. — À, ở Xmô-Ien-xcơ, thưa đồng chí thiếu tướng! — Anh chậm chạp trả lời, nhìn Đi-a-cốp vẻ khó hiểu.   

        — Có nghĩa là đã có kinh nghiệm... Tốt! — Đi-a-cốp nói.

        Ông đi tới máy điện thoại, dáng điệu vẫn không vội vàng, ông nói to vào ống nghe.

        — Anh Xéc-gây Xéc-ghê-vích đấy phải không?. Tôi nhắc lại là trong bất kỳ trường hop nào cũng không được động đến lực lượng dự bị. Nếu người ta khẩn khoản, anh gọi cho tôi. — Đi-a-cốp im lặng nghe.

        — Vâng, bây giờ sẽ bắt đầu... Tôi yêu cầu anh không rút một người lính nào khỏi đơn vị dự bị, không một người nào khỏi đơn vị nông trang...

        Khoảng cách giữa xe tăng và phòng tuyến của cả hai trung đoàn — NKVĐ và công nhân — rút ngắn lại. Xe tăng vẫn chưa nổ súng nhưng đội hình của chúng đã bị rối loạn, tốp đi đầu của thế đội một tạt sang phải định thọc sườn, song ở đó đã có đơn vị bộ đội chờ sẵn, còn nhóm thứ hai đã vượt qua được nhà máy gạch. Bỗng đám đất cách không xa nhà máy phụt lên một đám khói nhỏ, tiếp sau một tiếng nổ yếu ớt vọng lại. Một đám khói nhỏ xíu thứ hai vụt ra khỏi chiếc xe dẫn đầu trên đường cái. Đây là dấu hiệu đầu tiên của trận đánh do những người lính ném lựu dạn dũng cảm nấp trong các ổ phục kích, các hố cá nhân mà Bốt-đa-nốp không nhìn thấy được phát ra. Chiếc xe đầu tiên quay ngoặt lại nhưng thấy không việc gì, lại tiếp tục tiến.

        — Chà! — Không kìm nổi, trung tá tiếc rẻ kêu lên.

        Đúng lúc này, ngay phía dưới ở gần đâu đó vang lên tiếng đạn pháo: súng của ta nấp trong các sân, trong vườn nhà từ lâu vẫn im lặng đã bắt đầu tham gia trận đánh. Một chiếc xe màu xanh nhạt hớ hênh phơi sườn ra trước tầm bắn của pháo, nhả ra luồng khói đen  sẫm và ứ lại. Một vài phút sau, chiến sự trước thành phố lập tức diễn ra căng thẳng. Từ các công sự phía trước của các trung đoàn rộ lên hàng tràng súng máy và súng bộ binh. Xe tăng địch phóng hết quả đạn này đến quả đạn khác vào các chiến sĩ bảo vệ phòng tuyến như thể muốn ghìm họ dưới ngọn lửa vàng trắng. Đám khói màu lam của đạn pháo và màu xanh của những tràng súng nhỏ trôi chằm chậm trên cánh đồng, bị gió thổi tan ra... Bốt-đa-nốp cũng chẳng biết mình đến tận hàng rào và đứng bên cạnh Đi-a-cốp từ lúc nào, khuôn mặt ngăm ngăm của anh đỏ ửng lên... Thêm hai chiếc xe tăng nữa bốc cháy và một chiếc trong đó chạy lồng lên như thể tên lái xe bị diên, nó chạy vòng vèo, lồng lộn, đâm ngang, nhả ra trên đường đi điên loạn của mình vệt khói đặc xịt.

        — Chà, lính cao xạ cừ thật! — Trung tá nghe Đi-a-cốp thốt lên giọng khâm phục. — Bắn thế mới là bán chứ, hả ?

        Bốt-đa-nốp quay sang, La-tô-skin và Tê-rê-khốp cũng đang đứng cạnh Đi-a-cốp. Lúc này, trung tá đặc biệt thấy rõ là chiếc mũ lưỡi trai đen của bí thư tỉnh ủy bị nhàu nát, chiếc bành tô ướt đẫm lấp lánh như thể được quét một lớp sơn mỏng và khuôn mặt xương xương với vầng trán dô cao lộ vẻ vô cùng căng thẳng. Lên tới đây, Tê-rê-khốp vẫn chưa hết hổn hển, mái tóc hoa râm của ông lòi ra dưới vành mũ bảo vệ.

        — Thì ra có thể dùng cao xạ bắn các mục tiêu dưới đất. Các anh có nhớ là họ đã tỏ ý hoài nghi như thế nào không? — Đi-a- cốp kêu lên.

        — Vâng! — La-tô-skin đáp ngắn gọn.

        — Họ thận trọng như thế nào hả ? Các anh có nhớ không ? — Đi-a-cốp khoái chí nhắc lại.

        Giữa lúc ấy tình hình chiến trường thay đổi nhanh chóng. Xe tăng của các thê đội hai và ba vừa tiến vừa bắn từ xa vào các công sự, trong khi đó những chiếc xe đi đầu chỉ còn cách các chiến sĩ bảo vệ tuyến một khoảng bảy mươi, một trăm mét và lầm lì xả súng máy không ngớt vào họ. Bằng cách đó bọn địch mưu toan ghìm người của ta xuống đất và đè bẹp sức kháng cự của họ, nhưng lúc này biện pháp ấy chưa có hiệu lực — những đám khói nhỏ của đạn súng trường vẫn xuất hiện từ các thành công sự. Và ở một vài nơi, bọn bộ binh đi theo xe tăng đã phải nằm xuống... Từ xa, trong bầu trời đầy mây, máy bay Đức đã xuất hiện, sau mỗi giây chúng lại hiện ra rõ hơn, vừa bay chúng vừa thay đổi đội hình để chuẩn bị tiến công...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:03 pm

        Cũng đúng ngay lúc ấy, Bốt-đa-nốp bỗng nghe thấy tiếng gầm mỗi lúc một to trên cao sau lưng mình và anh quay lại. Trên bầu trời thành phó, trên những mái nhà, trên cơ man nào là ống khói nhấp nhô trên các nóc nhọn, cũng như trên những mái vòm, trên những ống khói nhà máy, những chiếc tiêm kích màu xanh nhạt của ta đang lao nhanh vào lũ xâm lược. Chỉ có hai phi đội, ít hơn gần ba lần số máy bay Đức... Song những chiếc máy bay đó đã vút lên lấy độ cao, mang theo trên mình những ngôi sao đỏ năm cánh, tiếng động cơ rít inh tai mọi người và chỉ khoảnh khắc sau đã lao vào đội hình quân địch. Qua hành động tiến công thẳng vào kẻ thù mạnh gấp ba lần, Bốt-đa-nốp cảm thấy trái tim người lính của mình ớn lạnh vì khâm phục. Cuộc không chiến lập tức chia thành những nhóm đánh riêng biệt: một toán máy bay ném bom Đức bị én bạc đuổi theo, địch sang một    bên, những chiếc khác    bay tản lên rất cao. Dần dần ở dưới đất đã thấy rõ ràng là bọn Đức nhằm cú đấm quyết định của mình vào trung đoàn NKVD. Một số xe tăng của chúng tiến công theo    sườn trái con đường vào trung đoàn công nhân và đã gặp hào chống tăng ở đó, nên bọn này buộc phải chuyển sang phải. Lúc này xe tăng chạy thành từng nhóm ba bốn chiếc và vừa cơ động chúng vừa bắn liên tục vào trận địa đơn vị công an đặc biệt.

        Giọng nói sảng khoái của thiếu tướng lại vọng tới Bốt-đa-nốp.

        — Thiếu tá Đu-bốp, anh có nghe tiếng tôi không ? — Đi-a-cốp gào vào ống nói. — Không được để xe tăng lọt qua... Anh có nghe thấy không? Không, không. Chết thì người nào cũng có thể chết được cả, chết chỉ là một việc đơn giản! Một việc đơn giản, tôi nói, nhưng cần phải thi hành mệnh lệnh... Bây giờ tôi sẽ tăng cường thêm hỏa lực cho anh.

        Bốt-đa-nốp nhìn không rõ những gì đang diễn ra ở khu vực trung đoàn NKVD: những ngọn cây cao quanh khu vực nông trường quốc doanh đã hạn chế tầm nhìn, ngoài ra những đám khói xanh tím cũng tạo ra ở đó một bức màn che nhiều tầng. Song anh hiểu rằng Đu-bốp gặp rất nhiều khó khăn... — Và Bốt-đa-nốp tiếc rằng trong trận chiến đấu này anh không được chỉ huy một đơn vị cụ thể nào cả. Anh là phụ tá của tư lệnh khu vực chiến đấu, người giúp việc số một của ông ta, nhưng trong cái giờ phút căng thẳng nhất này, Bốt-đa-nốp cảm thấy vai trò này quả không rõ ràng và thụ động, anh phải chờ mệnh lệnh của Đi-a-cốp.

        — Đồng chí thiếu tướng, cần phải giúp đỡ cho Đu-bốp.

        — Bây giờ chúng ta sẽ tăng cường hỏa lực và anh ta sẽ đứng vững. — Đi-a-cốp đáp. — Riêng tôi thì không thể lấy được một người nào ở thành phố nữa! Cho tôi nói chuyện với chi huy pháo binh! — Ông bảo chiến sĩ thông tin.

        — Vâng, anh cứ giúp cho Đu-bốp. — La-tô-skin nói và vẫn nhìn thiếu tướng với con mắt hết sức ngạc nhiên, dường như ông hình dung trận đánh theo kiểu khác.

        — Thưa đồng chí thiếu tướng, — đưa lưỡi liếm đôi môi khô cháy, Bốt-đa-nốp bắt đầu lên tiếng đề nghị. Cho tôi tới đấy tìm hiểu tình hình.

        Và không đợi trả lời, anh vội vàng xếp ống nhòm vào bao deo trên ngực. Theo anh, trung đoàn Đu-bốp xuất hiện lần đầu, cho nên có thể không chiu nổi một cuộc tiến công như vậy, và lúc này vị trí của Bốt-đa-nốp phải là ở nơi có tình hình trầm trọng nhất. Đi-a-cốp nhìn người trung tá nhỏ nhắn gật đầu.

        — Được, được, anh đi đi! Phải biết xem ở đấy họ đang làm gì, — ông nheo mắt lại. — Hãy động viên họ, tiếp thêm tinh thần phấn khởi cho họ. Đối với họ, những hộp diêm Đức kia còn quá mới mẻ.

        Bốt-đa-nốp giơ tay chào và vội vã bước đi, đôi ủng nện thình thịch xuống những tấm sắt lát trên sân thượng.

        « Chết, ai cũng có thể làm được việc này, nhưng cái chính là phải thi hành mệnh lệnh... ». Vừa đi anh vừa nhớ lại lời của thiếu tướng. Những điều này không chỉ liên quan tới một mình Đu-bốp mà còn liến quan tới tất cả những ai đang đứng trong chiến hào chống lại kẻ thù.

        Và với một sự thấu hiếu sâu sắc, anh nghĩ rằng, chính anh cùng với những người khác trong ngày hôm nay, phải, chỉ hôm nay thôi, bởi vì ngày mai có thể đã muộn rồi, có nhiệm vụ làm nên tất cả những gì mà Tổ quốc bấy lâu mong đợi. « Chết — đây là một việc đơn giản ». Bốt-đa-nốp thầm nhắc lại với mình tựa như đang tranh luận với một người nào đó... Về thực chất, tâm trạng anh không giống cảm xúc bình thường, thậm chí cũng không giống cảm xúc lúc mãnh liệt nhất. Đây là sự căng thẳng nhất về tâm hồn và sức lực khi con người cảm thấy mình hoàn toàn tự do, tự do đáng kinh ngạc đối với cả chính mình, không cần lo lắng gì cho bản thân nữa.

        ... Bõt-đa-nốp tìm thấy thiếu tá Đu-bốp tại đài quan sát của anh trong gác xép ngôi nhà hai tầng. Leo lên cầu thang đục qua trần nhà, trung tá đứng sát tới nóc của ngôi nhà hai mái. Qua cửa sổ tò vò hình bán nguyệt đã vỡ kính, có thể trông thấy bức tường gạch với những cọc sắt ở đầu trụ cách đấy không xa. Sau bức tường, toàn cảnh trận đánh diễn ra trong khói lửa khét lẹt với những tiếng rú rít gặm gừ của xe tăng, tiếng nổ của đạn pháo, có thể nói chưa có trận nào được quan sát gần đến thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:27 pm

        Đu-bốp tiếp Bốt-đa-nốp một cách trầm lặng và nghiêm nghị. Vẻ bề ngoài vẫn như hôm qua: quần áo thẳng nếp, trang phục cẩn thận, râu ria cạo sạch. Ông đi lại chậm chạp gần như là nghiêm trang. Thật ra, ông phải gào lên thì mới nghe thấy được. Có cái gì đó mới lạ trên khuôn mặt già nua của ông: hình như nó sáng sủa và dịu dàng hơn... Ghé vào tận tai Bốt-đa-nốp, thiếu tá vừa vung cánh tay đi tất vải vừa gào lên như quát để báo cáo tình hình. Cách tường khoảng bốn trăm mét, thấp thoáng chiếc xe tăng đang bốc khói. Qua ống nhòm, trung tá thấy rất rõ chữ thập ngoặc màu trắng trên vỏ xe xanh thẫm...

        Theo lời Đu-bốp, những chiếc xe tăng lớn của Đức định chọc thủng sườn trái tuyến phòng thủ đánh vào tiểu đoàn của đại úy Chiu-rin. Tạm thời Chiu-rin còn giữ được, nhưng tình hình ở đó cực kỳ nghiêm trọng. Đu-bốp cho biết thêm rằng mấy phút trước khi Bốt-đa-nốp đến, để tăng cường cho tiểu đoàn này ông đã phái tới đó lực lượng dự bị của trung đoàn — hai trung đội xạ thủ tiểu liên.

        — Đấy là tất cả phải không ? Anh không còn gì hơn nữa à ? —  Bốt-đa-nốp hỏi.

        Anh nghĩ rằng kết quả của trận đánh và có thể cả số phận thành phố nữa sẽ được quyết định ở khu vực của tiểu đoàn cánh trái ngay trong lúc này. Nếu bọn Đức bẻ gãy được điểm này thì tất cả tuyến đầu, giống như cái xích đã quá căng có thể sẽ bị đứt tung và lập tức quân thù sẽ tràn vào thành phố.

        — Đúng vậy, đấy là tất cả lực lượng dự bị của tôi, — Đu- bốp nói.

        — Cho tôi một người dẫn đường. Tôi đến thẳng tiểu đoàn. —  Bốt-đa-nốp nói.

        Dường như chỉ đợi có điều này, Đu-bốp nhanh nhẹn quay lại các chiến sĩ liên lạc của mình và gọi một người nào đó.

        Khi chui qua cửa trên trần gác xép đề xuống thang, Bốt-đa-nốp còn kịp nhìn thấy những tay đòn đầy bụi bậm trên đầu, những đoạn dây ngổn ngang dưới chân và vô số những chậu hoa sành được xếp thẳng hàng cái nọ sau cái kia ở sâu trong mái thượng... Thậm chí những điều vụn vặt chung quanh không đáng kể này đã lọt vào mắt Bốt-đa-nốp và trong phút giây này cũng gợi lên và in sâu vào trí nhớ của anh. Bốt-đa-nốp nhìn người dẫn đường của mình khi hai người đi tới bức tường trước mặt. Chiến sĩ liên lạc có nhiệm vụ dẫn đường cho Bốt-đa-nốp mặc chiếc áo ca pốt quá rộng: cổ lót trắng sạch sẽ không bó sát lấy cái cổ gầy gò của anh, vừa đi vừa quay lại, anh chiến sĩ lo lắng nhìn trung tá như thể trông xem người chỉ huy được anh bảo vệ còn ở đây không. Bốt-đa-nốp phải đứng đợi ở ngay bức tường cạnh lỗ thủng do đạn pháo bắn vào. Những xạ thủ tiểu liên còn túm tụm ở đó. Chắc đây là những người của lực lượng dự bị được tung ra để yểm hộ cho tiểu đoàn bị tiến công. Phần lớn là lính biên phòng, những chiếc cát-két xanh rất đẹp của họ hiện rõ trên nền tường đỏ nhạt, giữa bầu không khí ngột ngạt bão hòa hơi nước. Lỗ thủng quá hẹp nên các xạ thủ tiểu liên phải theo thứ tự chui người nọ sau người kia, đạp lên gạch vữa ngôn ngang dưới chân.

        Nheo mắt lại, Bốt-đa-nốp tò mò nhìn những người lính. Thấp thoáng trước mặt anh là những khuôn mặt gò má cao hoặc phẳng lì, hồng hào hay xám lại vì gió rét. Một số trong họ, những người đang đi vào trận đánh này, nét mặt đăm chiêu tập trung, những người khác trông có vẻ ngơ ngác bối rối, có những người đôi mắt lại rực lửa long lanh, còn những người khác nhóm thứ tư dường như chỉ tò mò thích thú. Song — điều này trung tá nhận ra ngay — là tất cả họ đều khẩn trương, tất cả đều ăn mặc gọn. gàng, thậm chí còn hơi sang trọng là khác. Những chiếc ca pốt dạ xám rất dày của họ đều được thắt đai cẩn thận, ủng được đánh sạch, còn cổ lót trắng tinh như cổ lót của người dẫn đường cho anh... Chắc là ban đêm trước khi trời sáng, những người lính biên phòng này đã biết rằng họ sẽ ra trận và thế là họ chuẩn bị đón nó như chuẩn bị cho cuộc duyệt binh. Đoán được điều này, trong Bốt-đa-nốp thoáng trào lên một cảm giác tốt đẹp trìu mến. Song lúc này chỉ có một điều quan trọng là những người này có đứng vững được ở địa ngục bên kia nơi họ đang vội vã chui vào hay không.

        Khi người xạ thù tiểu liên cuối cùng, một trung sĩ cao lớn với mớ tóc vàng sẫm xòa trước lưỡi trai, biến mất thì lập tức người dẫn dường cho Bốt-đa-nốp xuất hiện bên lỗ thủng bức tường.

        — Đứng cho khéo kẻo ngã, thưa trung tá! Xin phép đồng chí. —  Anh ta kêu lên và chìa tay ra.

        — Anh cứ đi đi! — Dịch người ra, Bốt-đa-nốp nói. — Cậu định làm gì thế?...

        Anh nhẹ nhàng đi trên đống gạch và nhảy sang phía bên kia.

        — Tên anh là gì ? — Bốt-đa-nổp còn kịp hỏi người dẫn đường của mình.

        — Binh nhãt Mô-lô-cốp, thưa đồng chí trung tá! — Anh lính kêu lên.

        — Bây giờ đi đâu hả Mô-lô-cốp ? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        Binh nhất chỉ khua tay và cúi người chạy sang bên trái. Bốt- đa-nốp chạy theo anh... Từ phút này anh khó giữ được khái niệm về những gì xảy ra một cách toàn cục có hệ thống và mật thiết, như khi anh quan sát trận đánh từ xa. Lúc này, tất cả mọi vật hiện ra trước mắt anh với một vẻ rõ rệt lạ thường và tim anh nhức nhối. Ấn tượng này chưa hình thành, lập tức ấn tượng khác rõ rệt hơn lấn tới tách biệt với ấn tượng trước, tựa như bức tranh này đến bức tranh khác hiện ra trong nháy mắt và lấn át lẫn nhau.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:48 pm

        Theo Mô-lô-cốp, Bốt-đa-nốp nhảy xuống hào giao thông, tuy sâu nhưng hẹp và dưới đáy rải rơm, đất cát nhầy nhụa bẩn thỉu. Từ góc hào, một nữ y tá cõng thương binh trên lưng đang đi ngược lại với trung tá. Còng lưng xuống dưới sức nặng của người bị thương, thỉnh thoảng chị lại tì tay vào thành đất, khuôn mặt cô gái đỏ nhừ vì quá mệt hiện rõ dưới đôi vai bê bết đất cát của người thương binh...

        Bốt-đa-nốp áp người vào thành hào nhường đường cho ho. Tiếng ầm vang của trận đánh, trong đó đặc biệt những phát đại bác xe tăng giống như tiếng búa gõ vào sắt làm cho mọi người như vừa câm vừa điếc. Trong tiếng ầm vang ấy, mọi người trao đổi với nhau bằng cử chỉ; người dẫn đường của trung tá vừa đi trước vừa quay lại khoát tay liên hồi. Bốt-đa-nốp bỗng nghĩ là có thể anh sẽ không đến kịp sở chỉ huy tiểu đoàn và bọn Đức có thể sẽ tới trước anh. Bốt-đa-nốp chạy vội đề đuổi kịp Mô-lô-cốp nhưng anh lại phải dừng lại: hai người bị thương đi ngược lại,

        Một người bước khập khiễng nặng nề và cứ mỗi bước đi, đôi môi run rầy của anh lại mím chặt lại, tay anh treo vào cuộn dây băng; còn người thứ hai đang dìu đồng đội đi cũng luôn luôn hất tóc như thể người rũ ra cổ gượng dậy. Những vệt máu đen phủ kín khuôn mặt anh... Khi đi ngang qua Bốt-đa-nốp, anh ta nhìn chằm chằm vào người trung tá bằng con mắt duy nhất của mình, con mắt thứ hai là một vệt đen sưng phồng lên, con ngươi nâu nguyên vẹn dường như bổc lửa. Hé đôi môi bê bết máu, người chiến sĩ bị thương gào lên:

        — Có thuốc lá không, đồng chí trung tá?

        Bốt-đa-nốp vội vã rút thuốc và đưa cho họ. Sau đó quay lưng che gió, anh bật diêm, que diêm gãy, anh rủa và bật que thứ hai, nhưng nó lại tắt ngay. Mặc dù chì cần đánh diêm thôi, song Bốt-đa- nốp phải cố kìm cơn giận để khỏi ném bao diêm đi. Mãi đến lần thứ tư mới bật được, lấy tay che lại, Bốt-đa-nốp lần lượt châm lửa cho hai chiến sĩ hút. Không bỏ thuốc ra khỏi miệng, người thương binh với khuôn mặt bê bết máu há hốc miệng ra gào :

        — Chúng tôi bắn trả! Nhưng vô ích!...

        Không nghe anh ta nói hết, Bốt-đa-nốp chạy tiếp. Mùi khét lẹt của khói lửa và thuốc nổ bốc lên mỗi lúc một mạnh hơn. Bốt-đa-nốp nhăn mặt lại, cò họng ngứa ngứa. Lúc này đạn nổ rất gần công sự và đất đá bay tung lên trời. Một lần nữa Bốt-đa-nốp tránh nhau với một chiến sĩ, chắc là chiến sĩ liên lạc, sau đó lại gặp thương binh. Bỗng nhiên hào giao thông bị tác, một đống cát vụn bị phủ đăy bồ hóng phía trên chặn giữa đường hào.

        Mô-lô-cốp đã nằm ở đấy, đang quay lại nhìn Bốt-đa-nốp và giơ tay ra hiệu. Cách chỗ anh đứng khoảng tám mươi, một trăm mét xiên chéo về phía trước, ba chiếc xe tăng đang tiến nhanh theo hình bậc thang. Những khẩu súng lớn ngắn nòng phun ra từng chùm lửa hẹp. Và âm thanh của những phát súng giống như quả cầu thủy tinh nổ sát bên tai. Nhìn quanh, Bốt-đa-nốp thấy Mô-lô-cốp đang vùng dậy khỏi mặt đất.

        — Nằm xuống. — Anh gào lên đến rát cổ.

        Nhưng có lẽ người binh nhất cho rằng mình không tiện nằm xuống trong khi trung tá vẫn đứng, anh đứng dậy và đi đến Bốt-đa- nốp. Trung tá vội đảo mắt nhìn quanh tìm xem có người nào đó có thể  chặn được ba chiếc tăng đã thọc sâu đến thế này không, nhưng không trông thấy ai. Mặt đất giữa anh và xe tăng bị cày xới bởi đạn pháo được ánh lửa soi sáng. Một bụi cây cằn cỗi với những chiếc lá hiếm hoi thấp thoáng trước mắt anh, còn dưới gốc nó, một xác người bất động trong chiếc ca pốt, nằm úp sấp xuống đất. Dường như gần đây không còn một ai, không còn thêm một ai nữa ngoài Bốt-đa-nốp và Mô-lô-cốp ra... Sau mấy giây nữa, nhất định xe tăng sẽ trườn qua đây, bụi bay ra như một cái quạt dưới xích sắt. Và Bốt-đa-nốp thoáng nghĩ rằng ngay cả lựu đạn anh cũng không có, nếu có, anh đã ném vào sườn xe tăng... Tại sao lại không mang lựu đạn đi theo cơ chứ ! Anh biết, nếu kẻ thù không bị chặn lại ở chính nơi đây, trên miếng đất cháy sém nham nhở này, thì sẽ không ai có thể chặn chúng được nữa. Chẳng nghĩ tới mình nữa, anh vô tình rút súng ngắn... Song ngay lúc đó, qua làn khói mỏng lờn vờn bay, anh trông thấy bên trái mình một chiến sĩ đội cát-két xanh đã chồm dậy khỏi mặt đất. Sau người thứ nhất, người thứ hai xuất hiện luôn và bằng một bước nhảy, anh ta đã vượt lên người thứ nhất, dường như muốn che chở cho đồng chí mình, hai người chạy bên nhau mấy bước và Bốt-đa- nốp kịp nhận ra những người lính biên phòng mà hôm qua anh đã nói chuyện với họ — hai người bạn cùng phục vụ trong một đồn. Người thứ nhất cao to hơn, nhảy lên và nằm soài xuống, người thứ hai chậm chạp hơn một chút và cũng nắm xuống. Lúc này Bốt-da- nốp chỉ nhìn thấy chỏm mũ lưỡi trai hình tròn màu lục tươi của họ mà thôi. Còn những chiếc xe tăng vẫn không đổi hướng cứ trườn thẳng tới hai vết xanh màu mùa xuân này.

        — Ném đi, ném đi chứ! — Trung tá gào lên mặc dù hai người lính biên phòng khó có thể nghe được.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 09:00:21 pm

        Một người chồm dậy, vung tay và nằm xuống; người thứ hai cũng lặp lại y như vậy, nhưng vẫn có vẻ chậm chạp hơn trước khi nằm xuống đất. Khi những chiếc xe đồ sộ đang lắc lư kia chỉ cách họ có mười bước thì hai tiếng nổ lần lượt vang lên. Những chiếc xe tăng chạy vút qua người hai chiến sĩ ném lựu đạn, nhưng chiếc xe giữa đã bị quay tròn tại chỗ, dáng nghiêng nghiêng. Súng máy trên xe nhả đạn liên hồi tựa như định tạo cho mình một vòng lửa bảo vệ. Từ đâu đó trong các công sự kín đáo, mấy quả lựu đạn nữa bay tiếp lên và mặc dù chúng rơi không trúng vào xe, song hai chiếc còn nguyên vẹn kia liền vội quay lại chuồn thẳng.

        Không nghĩ gì đến mình, Bốt-đa-nốp bước vội lên, lòng rộn ràng muốn biết xem hai người anh hùng có việc gì không. Trong giây phút này anh cảm thấy một cảm giác khó tả vừa thất vọng vừa hân hoan, vừa vô cùng khâm phục, và cũng vừa đau khổ. Mặc dù những người lính biên phòng đã chặn được bước tiến của quân thù, nhưng anh thấy xe tăng Đức đã tràn vào được đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, như vậy không thể chậm trễ một phút giây nào nữa. Từ các công sự bên trái, mọi người cũng chạy lại chỗ đánh nhau và như sực tỉnh, Bốt-đa-nốp quay lại gọi Mô-lô-cốp.

        — Cậu làm sao thế! — Bốt-đa-nốp nói. — Đi thôi!

        Chiếc xe tăng bị diệt không bắn nữa, nó đang nằm đè lên con lăn mắt xích, chậm chạp quều quào quay vòng tại chỗ như thể bị đóng xoáy xuống mảnh đất mà nỏ không thể đi qua được.

        Đi theo Mô-lô-cốp một đoạn, chẳng bao lâu, Bốt-đa-nốp đã tới chiến hào đào dọc theo vườn nông trường quốc doanh. Hào sâu với những lỗ châu mai ghép bằng gỗ ván, hai bên thành được ghép cành cây bảo vệ, nó được dùng làm phòng tuyến thứ hai của tiểu đoàn. Một trong những hầm trú ẩn ở đây là hầm súng đạn. Bỏ qua nó, Bốt- đa-nốp và Mô-lô-cốp lại rơi vào hào giao thông hẹp hơn. Tiếng búa nện vào đe vang lên khắp nơi, lúc xa lúc gần. Dường như đã bị mất đi độ bền chắc của mình, thỉnh thoảng mặt đất lại rung lên khá mạnh và trên các chiến hào ánh sáng cứ lóe lên, theo đó là những đám khói thuốc súng màu xanh tỏa ra, hình thù luôn thay đổi. Tuy trung tá không biết chính xác tình hình tiểu đoàn như thế nào để có thể đề ra những biện pháp giải quyết, song anh bỗng cảm thấy sâu sắc niềm tin vào kết quả khả quan của trận đánh. Nỗi xúc động của Bốt-đa- nốp khi trông thấy chiến công của hai chiến sĩ biên phòng làm tiêu tan tất cả những lo lắng băn khoăn của anh. Hình như trong cái thế giới mà lúc này anh đang sống, nơi mà chính mặt đất cũng mất đi độ bền chắc của nó, còn không gian thì lẫn lộn với đất và mất đi sự trong sạch của mình, chỉ còn lại có con người đã trở nên cứng rắn, khỏe mạnh hơn. Những gì mà lúc này họ có thể tạo nên đã vượt xa khả năng thông thường trong con người họ.

        Cãn hầm của Chiu-rin, nơi Bốt-đa-nốp vừa tới, khá rộng rãi và khô ráo, mùi nhựa cây bốc lên dễ chịu đã làm cho trung tá hài lòng.

        «Thiết kế khá đấy! Đàng hoàng lắm!» — Theo thói quen, anh thầm nhận xét và mỉm cười. Chiu-rin đứng quay nghiêng lại lỗ quan sát, cho nên nửa mặt anh trong bóng tối dày đặc, còn nửa mặt kia quay lại phía cửa sổ nhỏ ánh lên bóng loáng. Lắng nghe Chiu- rin báo cáo tinh hình, trung tá nhìn ông ta với vẻ thông cảm.

        — Đồng chí đại úy, xe tăng đã lọt vào hậu phương các anh! Anh có biết điều này không? — Anh gào to ngắt lời Chiu-rin.

        — Chúng tôi đã bẻ gãy đợt tiến công thứ tư! Nhưng đây, mời anh nhìn xem! — Dịch sang một bên lỗ châu mai, Chiu-rin cũng gào lên.

        Bốt-đa-nốp áp mặt vào lỗ châu mai. Cánh đồng mịt mù khói lửa trải ra trước hầm phòng thủ. Những đám mây xanh đùng đục bao phủ khắp nơi, khi tụm lại ở chỗ này, khi tan ra ở chỗ khác theo chiều gió thổi. Tuy vậy, Bốt-đa-nổp vẫn nhìn thấy xe tăng Đức. Khoảng hai chục chiếc đang tụm lại trên mảnh đất không rộng, các họng súng không ngớt phun lửa. Thấp thoáng sau đấy là từng tốp đội mũ sắt di chuyển trong đám khói: bộ binh Đức đang xông tới công sự.

        Bót-đa-nốp quay sang Chiu-rin. Anh ta cũng nhìn qua lõ châu mai và lúc này trung tá thấy rõ đôi mắt xanh, khuôn mặt với những nét nhăn trên trán cùng hàng mi hơi sưng.

        — Mực tiêu như thế nào, hả ? Anh có trông thấy không ? Căn phải tìm được những mục tiêu như vậy! — Bốt-đa-nốp kêu lên.

        Đại úy nghiêm nghị nhìn trung tá dò hỏi.

        — Thông tin liên lạc của anh có hoạt động được không ? — Người trung tá thấp mập ngước nhìn Chiu-rin dáng cao lớn. — Hãy liên lạc ngay với trung đoàn trưởng. Trước mặt các anh có cả xe tăng lẫn bộ binh. Và tất cả như nằm gọn trong bàn tay. Gọi ngay pháo binh, họ có thể cho được bao nhiêu, xin hết!

        — Bắn ngay vào chỗ mình đây, — thoáng nghe tiếng rít, Chiu- rin vội kêu lên.

        Bốt-đa-nốp không nghe rõ nhưng anh đoán được, trái pháo nổ ngay bên cạnh và đất đá từ các thành công sự rơi xuống.

        — Gọi pháo binh tới chỗ mình! — Anh lặp lại và nhấn mạnh « tới chỗ mình».

        — Đúng như vậy, không còn cách lựa chọn nào khác —Đại úy nói dứt khoát. Họ cùng nhau bước tới bàn gỗ ván, nơi đặt máy điện thoại.

        — Tiểu đoàn rút về phòng tuyến thứ hai. — Bốt-đa-nốp tiếp tục nói to. — Còn ở đây đại bác sẽ nện vào.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:22:23 am

        Sau khi đã truyền mệnh lệnh cho chiến sĩ thông tin, Chiu-rin chăm chú nhìn trung tá.

        — Sau khí pháo ngừng bắn, các anh phải phản kích ngay. —  Bốt-đa-nốp tiếp tục chỉ thị. Khi nghe Chiu-rin nói chuyện với Đu- bốp, anh mỉm cười một cách lạ lùng, tựa như bỗng nhiên cảm thấy choáng váng vì hơi rượu.

        — Yêu cầu pháo binh có bao nhiêu xin hết! — Tay cầm ống nghe, đại úy gào lên. — Cả xe tăng lẫn bộ binh ở đây... Yêu cầu biển lửa!

        Hình như Đu-bốp hỏi lại gì đó nên anh phải nhắc lại:

        — Đúng như vậy, tất cả hỏa lực giội lên tôi...

        Nghe xong câu trả lời, đại úy nhún vai.

        — Không lựa chọn gì cả! — Anh gào lên. — Tôi đợi hỏa lực! Rõ ! Cảm ơn !

        Chiu-rin đặt ông nghe xuống, rút chiếc khăn mùi soa trong túi quần ra và lau trán. Các chiến sĩ liên lạc, họ có bốn người, đang đứng quanh đại úy, nên đã nghe và hiểu rõ tất cả... Bốt-đa-nốp không nhìn rõ mặt người chiến sĩ đã lặng lẽ tới bên tiểu đoàn trưởng. Ánh mắt họ long lanh trong bóng tối. Chiu-rin ra lệnh cho các đại đội rút người của mình về phòng tuyến thứ hai và các chiến sĩ liên lạc đều biến mất ngay sau cửa hầm.

        — Anh đưa máy tới sở chỉ huy dự bị nhé. — Chiu-rin nhắc chiến sĩ thông tin. — Khi có liên lạc với các đại đội trưởng, báo ngay cho tôi.

        Song cả anh lẫn chiến sĩ thông tin cùng Bốp-đa-cốp không kịp ra khỏi hâm: những chiếc xe tăng thọc sâu vào trận địa tiểu đoàn đã chặn mất đường rút của họ, đang nổ súng dọc theo chiến hào, Chiu-rin gào to điều gì đó với Bốt-đa-nốp nhưng trung tá không nghe thấy gì cả. Thật ra, tất cả tình hình đã rõ ràng rồi...

        Bốt-đa-nốp nhìn đồng hồ đeo tay, quay lại và tiến tới lỗ châu mai. Thấy có người tì vào vai nên anh ,nhích người ra để Chiu-rin cũng có thể quan sát được những gì đang diễn ra.

        Cứ áp sát nhau như vậy, đầu kề đầu, họ chờ mất mấy phút. Hỏa lực bộ binh yếu đi và ở phía trước trong đám khói thuốc, bọn lính bộ binh Đức xuất hiện mỗi lúc một nhiều. Đưa mắt nhìn sang bên cạnh, Bốt-đa-nốp nhận thấy mí mắt màu nâu thẫm hơi sưng của đại úy rung rung, còn trên thái dương đầm đìa mồ hôi, mạch máu căng lên giần giật. Một phút rồi lại phút nữa trôi qua rất chậm, hai chiếc xe tăng xuất hiện từ bên sườn chạy theo đường chéo thẳng tới hầm. Trườn qua hố đạn, mũi chúng hếch lên như chuẩn bị nhảy: khi mũi xe hạ thấp và phần thân đã lên bờ thì chiếc tăng giống như một con rùa khồng lồ đang giũi đất...

        Bót-đa-nốp lại nghĩ đến lựu đạn, song anh chưa kịp hỏi xin "Chiu-rin thì một luồng lửa sáng lóe lên đập vào mắt anh và luồng khí nóng cuộn tròn trên nóc hầm khiến Bốt-đa-nốp phải nheo mai lại : một tiếng sấm kinh hoàng làm rung chuyền mọi vật chung quanh.

        Loạt súng đầu tiên của pháo binh ta rơi rất gần hầm chỉ huy. Khói chui vào đầy 15 châu mai hình phễu và Bốt-đa-nốp chẳng nhìn thấy gì ở đó nữa. Đạn pháo rơi rất chụm, nổ ầm ầm liên tục và dường như không thở được dưới sức ép cực mạnh của chúng. Gỗ vách hãm chỉ huy rung lên và một cây ở hàng dưới trệch ra để lộ mép sườn màu sáng của mình.

        — Hà hà... hà hà!... — Bốt-đa-nốp đều đều lặp đi lặp lại khá to.

        Nghếch đầu sang một bên, Chiu-rin nhìn trung tá với con mắt chờ đợi.

        Bốt-đa-nốp bắt đầu thở dốc — khói đầy trong hầm — nhưng lòng anh lại rất hoan hỉ... Bão tố của đạn pháo đang ập tới theo yêu cầu của anh, giờ đây có thể giập nát cả anh nữa, đang nổi lên ở bốn chung quanh, làm kẻ thù tan ra trong khói lửa. Chưa bao giờ anh cảm thấy mình toại nguyện và sung sướng như trong phút này, dù cho có thể  là giây phút chót của đời anh. Bởi vì đây là giây phút chiến thắng mà anh hằng mong đợi. Chiến tháng có ý nghĩa là sự xác nhận cao nhất của cuộc đời! Nóc hầm trên đầu Bốt-đa-nốp đã sụp, thêm mấv cây gỗ nữa bị bật ra và rơi xuống đất. Sau đó, lỗ châu mai cũng sập đổ nốt và trong hầm tối mù mịt như ban đêm... Vấp phải các cây gỗ và chẳng biết lối ra ở đâu, Bốt-đa-nốp định mò mẫm chui ra khỏi hầm. Một người nào đó đã túm lấy lưng áo anh, ghì vào người rồi cố lôi lên trên. Mãi đến khi đã ra tới bậc đất và trông thấy người dẫn đường của mình trên đầu, trung tá mới hiểu rằng Mô-lô-cốp đã giúp anh. Mô-lô-cốp, con người mà anh đã quên khuấy đi, vẫn luôn luôn bám sát anh. Đại úy Chiu-rin tay cầm súng ngắn, đứng ép người vào bờ chiến hào. Điếc đặc và lảo đảo, Bốt-đa-nốp cũng nhào ra chỗ đó.

        Lúc này màn khói xanh đã biến thành màu đen, cuộn lại thành từng khối lớn phủ kín bầu trời. Ở nhiều chỗ, ngọn lửa đỏ trên những chiếc tăng đang cháy, bốc lên ngùn ngụt như những bếp lửa trong bóng đêm mịt mù. Một số xe còn chuyển động, bò lê, khói nghi ngút bay lên. Không còn trông thấy một tên lính bộ binh nào cả.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:22:40 am

        Chiu-rin ra lệnh rút. Các chiến sĩ không theo kịp đại đội của mình, vác súng máy khênh thương binh chạy theo các hào giao thông... Một người lính nào đó xô vào Bốt-đa-nốp và làm anh quay lại. Anh thấy khuôn mặt hơi rỗ với bộ ria dựng đứng ướt đẫm như thể vừa giội nước. Và cúi đầu xuống, trung tá đi lảo đảo... Đến chõ ngoặt hào giao thông, Bốt-đa-nổp rất muốn dừng lại để nhìn thêm lần nữa những gì xảy ra ở sau lưng. Song Mô-lô-cốp đã xô phải Bốt-đa-nốp : như đã quy định, lúc này người binh nhất đi sau để che đường rút quân. Anh rung người lên vì ho không thành tiếng, nước mắt trào ra trong đôi mất nâu sẫm, chắc là anh hít phải khói.

        Khi Bốt-đa-nốp đã tới chiến hào tuyến hai thì một vật gì đó bất ngờ ập vào lưng anh giữa hai bả vai. Anh ngã sấp xuống bùn và tưởng rằng mình bị thương, nên anh chăm chú lắng nghe. Chẳng thấy mình làm sao, ngoài cảm giác đau do đè lên chiếc bao ống nhòm rất cứng, Bốt-đa-nốp định đứng dậy nhưng không nhắc người lên được. Một người nào đó đè anh xuống vũng nước dưới đáy chiến hào. Chống khuỷu tay xuống đất, Bốt-đa-nốp vùng dậy và người đè lên anh từ từ trượt sang một bên. Khi đã đứng lên được. Bốt-đa- nốp trông thấy Mô-lô-cốp ngay cạnh mình, nhưng đang nằm với dáng bất động Một tay anh gập vào sườn không tự nhiên, đầu ngửa ra và cục hầu nhọn nhô cao khỏi chiếc cổ lót màu trắng. Bốt-đa-nốp vội vàng ngồi xuống ôm lấy đầu người chiến sĩ đã nhận về mình cú đánh mà nếu không nhất định người chỉ huy phải chịu, Mô-lô-cốp chắc là tim bị chấn động nên tắt thở ngay lập tức. Khuôn mặt với cái miệng trễ xuống dưới vẫn giữ nguyên vẻ không hài lòng của mình.

        Đặt đầu Mô-lô-cốp xuống đất, Bốt-đa-nốp nhìn quanh như thể mời mọi người đến chứng kiến sự hy sinh này. Mắt trung tá vẫn khô, nhưng cổ họng cứ ứ lên.

        ... Gần nửa giờ sau, Chiu-rin cùng với tiểu đoàn của mình phản kích. Họ đã dễ dàng giành lại tuyến một: lực lượng còn lại của bộ binh Đức chống trả một cách yếu ớt vì thật ra công sự ở đó gần như phải đào lại hoàn toàn. Sau khi đã bị những tổn thất bất ngờ to lớn, bọn Đức không còn xông xáo tiến công trên toàn tuyến của trung đoàn NKVĐ nữa; và nhận thấy chắc chắn điều này, Bốt-đa- nốp đi tới chỗ Đu-bốp. Từ xa, anh đã trông thấy thiếu tá đang đứng trên bậc bên sở chỉ huy của mình và nói chuyện với một nhóm chi huy. Bốt-đa-nốp rảo bước tới họ. Anh sốt ruột định nói với thiếu tá rằng dưới sự chỉ huy của ông là các anh hùng. Song Đu-bốp đã chặn trước anh, bước mấy bước về phía anh rồi nói luôn:

        — Đề nghị đồng chí trung tá cho chỉ thị! — Nghiêm nghị nhìn Bốt-đa-nốp và nói thêm. — Anh bạn cánh trái của tôi đã rút...

        Tiếp theo, ông cho biết là ở khu vực của trung đoàn công nhân, quân địch đã tiến thêm lên được, một bộ phận nào đó không đứng vững nổi, và lúc này ông biết bọn Đức đã đột phá được vào làng Mư-skin. Không kịp nói cho Đu-bốp những điều anh định nói, Bốt- da-nốp đề nghị liên lạc ngay với thiếu tướng Đi-a-cốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:23:42 am

7

        Mới hửng sáng, Na-ta-sa và bà An-na Va-xi-li-ép-na đã rời khỏi nhà. Ban đêm, Na-ta-sa không ngủ được nhiều, giấc ngủ cứ chập chờn. Cuối cùng chị ngồi dậy kéo rèm cửa và t ỏng thấy kính cửa sổ ướt đẫm. Và một điều rõ rệt nhất là cái ngày khủng khiếp đối với chị đã bắt đầu song chị không do dự trước quyết định cửa mình. Gói tư trang và khăn mặt vào giấy báo, chị chuẩn bị đi tìm ban tham mưu trung đoàn công nhân. Bà An-na ít lời, cau có, cả đêm không ngủ được đã quyết định đi tiễn cô cháu đâu một đoạn đường.

        Không khí ẩm ướt lạnh buốt trong sân lập tức quyện lấy Na- ta-sa, người chị đã bắt đầu run. Gió cuốn làn mưa phùn dày hạt và từng lớp sương trắng dày dặc như những đợt sóng tràn vào đường phố. Lúc này, chung quanh vẫn rất im ắng: hình như mọi người vẫn còn ngủ trong những ngôi nhà ẩm thấp, cửa sổ bịt kín, lờ mờ xuất hiện trong buổi sáng tinh mơ. Thậm chí Na-ta-sa nghĩ rằng, chỉ có chị và An-na mới dậy sớm như vậy trong cái buổi sáng ẩm ướt xấu trời và đáng sợ này. Song, đi được mấy bước qua hàng rào gỗ ván, chị trông thấy lờ mờ bóng một phụ nữ choàng khăn, đứng im trước cổng nhà bên cạnh.

        — Vác-va-ra! — Bà An-na nghiêm nghị gọi người phụ nữ. —  Chốc nữa chị đến chỗ ủy ban chúng tôi... Cần phải ghi cho mấy đứa cháu của chị đi sơ tán.

        — Còn bà đi đâu vậy ? — Người phụ líu ríu nói, chiếc khăn trùm kín đến tận mắt bà.

        — Lát nữa tôi sẽ về. Tôi sẽ đến ủy ban. — Bà An-na nói.

        Đi được một quãng, ở phía trước chỗ bờ sông cũng thấy thấp thoáng những bóng người lố nhố, nhưng lại biến ngay, hòa tan vào màn sương đùng dục... Bỗng nhiên ở phía sau con sông vang lên tiếng nổ ầm ầm hỗn loạn — trận đánh đã bắt đầu ở đâu đó về phía ấy. Thoáng cái, cơn mưa đã hết, dường như loạt đạn đã xua đuổi bắt nó phải dừng lại và qua màn hơi nước đã loãng hơn, hiện ra những tòa nhà dài dằng dặc của nhà máy bên kia bờ sông... Đám mâv trôi về phương Nam, trời lập tức sáng hơn và Na-ta-sa thấy rất nhiều người dân rời thành phố: đàn ông, đàn bà, trẻ con, cả gỉa đình — từ lớn đến nhỏ — dã ra đi trong buổi mai sớm sủa này...

        Một đoàn người cầm xẻng đi theo bờ sông và rẽ sang cầu, chắc là nhân dân khu Bờ sông đi xây dựng phòng tuyến mới ở khu Nam và khu tây T. Quầy hàng bánh mì ở góc phố đã sáng, nhìn qua cửa sổ rộng thấy có nhiều người đứng mua. Nhiều thiếu niên và phụ nữ cũng đang vội vã đi cùng chiều với Na-ta-sa. Hai cô gái rất trẻ mặc áo mưa vải bạt cao su đi sát bên nhau rồi đuổi kịp và vượt Na-ta- sa sau khi sang cầu. Cả hai đều quàng khăn trắng, người cao như nhau và ai cũng đeo bên sườn chiếc túi cứu thương rất to. Trông thấy hai cô gái này, tự nhiên Na-ta-sa rảo bước nhanh hơn như muốn nhập bọn với họ — trông họ rất tự tin và khẩn trương... Đút tay vào túi bành tô, chị nắm chặt bàn tay lại cố thắng cơn rét run người đang tràn vào thân thể... Nhiều người xách làn, túi đi ngược chiều với chị, một người nào đó đày chiếc xe hai bánh với hành lý của gia đình : gối, ấm chè, bọc sách, một cụ già đội mũ phớt ướt đẫm nước mưa, dắt em bé đi bên cạnh — chắc là những người này vội vàng rút khỏi thành phố hoặc chuyển từ khu vực phía Nam sang khu vực phía Bắc...

        Qua cầu, bà An-na muốn chia tay với Na-ta-sa nhưng nhìn chị, bà ngẫm nghĩ và lại lặng lẽ đi tiếp. Loạt đạn đại bác vọng lại từ phương Nam bỗng nổi lên mạnh hơn và trong đó nghe rõ tiếng nổ ầm ầm rất to, tựa như hàng loạt chiếc búa hỗn loạn gõ xuống đâu đó sau những ngôi nhà...

        Hình như trận đánh đã lan đến gần thành phố, nhưng trên đường phố vẫn đông người. Đến gần trung tâm, —Na-ta-sa phải qua đó thì mới tới được Vườn hoa thành phố — chị trông thấy chỗ này người ta đang chất lên xe những cuộn dây thép gai khổng lồ; chỗ kia — cạnh mấy cây dương trụi lá — người ta đào công sự, xa hơn một chút nữa mọi người đang dựng vật cản ngoài đường phố bằng cây cối, đá hộc và các dầm sắt... Rõ ràng thành phố đang xây dựng nhiều phòng tuyến mới, thành phố T. đã trở thành một pháo đài dày đặc các lớp phòng tuyến và người dân thành phố đang sẵn sàng chờ trận đánh tới phố mình, tới nhà mình ngay trong sân và tầng nhà của họ...

        Dừng lại để chia tay với bà An-na, Na-ta-sa bỗng trông thấy Na-xchi-a và Ma-ri-na Bô-cô-va bên lối vào quảng trường. Hai người bạn gái đứng đơn dộc dưới chiếc cổng khá thấp, hình như đang đợi ai đó sau cái cổng vòm, hoặc cũng có thể đang lưỡng lự không muốn đi tiếp...

        — Đứng làm gì ở đây thế này? — Không chào gì cả, bà An-na hỏi cộc lốc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:24:42 am

        Na-xchi-a đưa đôi mắt sáng giận dỗi nhìn người bạn đường của mình, y như câu hỏi chi liên quan tới một mình Ma-ri-na. Hai người phụ nữ hơi còng lưng xuống dưới sức nặng của túi hành lý; ngoài ra, Na-xchi-a còn cặp nách chiếc ghi ta buộc dây nơ xanh trên tay đàn. Ma-ri-na choàng khăn lụa tới tận lông mày, thắt chặt mép khăn dưới cằm và lúc này trông chị còn đẹp hơn cả tối qua nhiều. Dưới ánh sáng ban ngày, đôi mắt xanh biếc của chị long lanh hẳn lên. Ma-ri-na nhìn Na-xchi-a với nụ cười hối hận:

        — Tôi có thè làm gì được với cái cô ngớ ngẩn đần độn này hả? — Na-xchi-a tức giận nói. — Đã quyết định ra đi dứt khoát rồi thế mà bây giờ lại ngập ngừng... Cô ấy thương Va-nhi-a của mình...

        — Cứ như chính chị cũng không do dự ấy. — Ma-ri-na cũng nói lại ngắn gọn. — Chính trị đã bảo với mình là: cả tập thể chiến đấu, một cây trong bụi cháy...

        Bà An-na im lặng nhếch mép cười, gió lay động chiếc khăn quàng đen trên vầng trán xương xương của bà và lúc này trông bà còn nghiêm nghị hơn.

        — Định đi đâu thế này hả ? Cô nữ công dân kia ? — Bỗng nhiên, Na-xchi-a gắt gỏng hỏi Na-ta-sa. — Chị có hai đầu phải không?

        Na-ta-sa chưa biết trả lời thế nào thì bà An-na đã nói:

        — Thật đấy! Hay là cháu đợi thêm thì tốt hơn... Bây giờ ở ban tham mưu, người ta không có thì giờ nói chuyện với cháu đâu...

        — Ôi! Cô nói gì vậy! — Na-ta-sa thốt lên và trong đối mắt nâu rực sáng của chị hiện rõ vẻ bối rối.

        Chị nhất quyết đi bằng được tới Vườn hoa, nơi hôm qua chị gặp Pa-ven, chắc là ban tham mưu trung đoàn đóng ở đâu đó trong khu vực ấy. Và lúc này Na-ta-sa đã không thể dừng lại giữa đường được.

        Chị vừa sợ hãi, vừa cảm thấy có một quyết tâm táo bạo không hiểu từ đâu ra.

        — Lúc này họ cũng không cho cháu tới trận địa đâu, Na-ta-sen- ca ạ. — Bà An-na, nói.

        — Không sao cả cô ạ... Bằng cách nào đó, cháu sẽ... — Cố kìm cơn rét, Na-ta-sa nói. — Thôi nhé, cháu đi! Tạm biệt cô An-na, cảm ơn cô... Tạm biệt Ma-ri-na! — Vừa vội vàng rảo bước, chị vừa líu ríu nói.

        — Hãy thong thả đã nào, cháu đi đâu một mình vậy? Thong thả nào. — Rảo bước theo chị, bà già lại gọi.

        Na-xchi-a sửa lại đây đeo bao đồ của mình, xốc lên lưng và hằn học nhận xét

        — Mọi người đều trở nên không bình thường thế nào ấy... Cô đúng đấy nhé, Ma-rin-ca... — Chị bất ngờ đề nghị.—Tôi chạy tới góc phố xem xem cái gì đằng ấy. Còn cô đừng đi đâu cả, rõ chưa nào!

        Ma-ri-na ngoan ngoãn gật đầu. Nhưng khi Na-xchi-a vừa mới chạy được khoảng hai mươi bước qua quảng trường, thì Ma-ri-na đã lao người đuổi theo người bạn gái.

        ...Tuy vậy Na-ta-sa vẫn phải dừng lại ở một góc đại lộ Công xã, một đại lộ dài rộng, thoai thoải dốc lên núi và chạy tới tận đầu cửa ô thành phổ. Tại đây, khá đông người xúm lại chỗ ngã tư, trẻ con chạy từ nhà nọ sang nhà kia, đàn bà thì lấp ló trong cổng nhà, còn những ai can đảm hơn thì đứng tán loạn trên vỉa hè và nhìn về phía cửa ô. Dưới tấm bảng xanh với háng chữ vàng « Cửa hàng thực phẩm», các mậu địch viên mặc blu trắng đứng tựa bên cửa và cũng nhìn ra đại lộ. Ở đó, một chướng ngại vật xây bằng bao cát và hộp đất chắn ngữ ngang đường. Những người lính mặc ca pốt xám đi lại dọc theo nó và có vẻ bận rộn công việc gì đó. Như mình, lối đi lên theo đại lộ đã bị chân và thậm chí người ta còn không cho phép bất cứ ai tới gần chướng ngại vật.

        Chỗ ngã tư, nơi mọi người tụ tập, một anh bộ đội cầm súng trường, ngồi gác trên bậc thềm đá và ngăn không cho những người tò mò tới gần; một phụ nữ vóc người cao, mặc blu dông lông, trùm khăn vuông màu vàng, đang nói to như cãi nhau với anh:

        — Cậu đừng đánh nhau với tôi, nếu như vậy thì đi mà đánh nhau với bọn Đức. Tôi không đến tìm ai xa lạ, mà đến với chồng tôi, đến với chồng chứ không phải đến với người khác... Ông ấy là A-nhi-xi-mốp, thợ mỏ, tôi đã nói với cậu rồi. Làm sao mà cậu nỡ lòng cản tôi!

        — Lại hai mươi lăm.— Anh lính trẻ tuổi, khuôn mặt nhẵn nhụi trả lời chẳng hề tỏ vẻ bực dọc. Chiếc lưỡi lê cắm trên nòng súng trường mà anh kẹp giữa hai đầu gối ánh lên ướt át cạnh chiếc mũ trùm tai sũng nước của anh. — Bà có nghe thấy tiếng ầm ầm đó không ? Đang đánh nhau quyệt liệt, thế mà bà thì cứ như một người khách lao qua ngưỡng cửa.

        — Tôi không làm cản trở công việc chiến đấu của các anh đâu. —  Người đàn bà cướp lời anh. — Tôi hỏi: anh có biết thông cảm không dấy? Và đừng đe dọa, không dọa được tôi đâu! — Chị phát khùng. —  Có thể lúc này A-nhi-xi-mốp đã nắm bất tỉnh...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:03 pm

        Thêm một bà nữa tóc bạc trắng, lưỡng lự bước đến bậc thềm và chẳng nói chẳng rằng, tựa như vụng trộm, giúi vào tay anh bộ đội một gói quà nhỏ.

        — Cái gì vậy? — Anh kia hỏi, vẻ hơi sửng sốt. Người đàn bà tóc bạc lùi lại một bước.

        — Nhờ anh chuyền giùm, nếu anh trông thấy... — Bà dịu dàng nói. — Tôi làm bánh mì dẹt, bánh mì dẹt thôi mà... cái khăn đã giặt sạch... Tôi là Rứp-skin, còn thằng con tôi tên là. I-gnát...

        — Trời ơi, bà làm sao thế này! Chà, làm sao tìm được I-gnát của bà cơ chứ? — vẻ bối rối, anh bộ đội cao giọng.—Cháu đã nói: lúc này đang đánh nhau quyết liệt! Thôi, bác mang bánh mì về đi, bác cầm lấy đi. Kìa đứng lại, đứng lại đã! — Bỗng nhiên anh ta kêu lên, khi thấy bà già tóc bạc hình như cho rằng giải thích thêm là thừa nên quay vội đi về phía chướng ngại vật. — Quay lại, mẹ ơi! Đứng lại.

        Song, thậm chí bà kia cũng không thèm nhìn lại nữa... Anh bộ đội đứng dậy sửa lại mũ của mình, sau đó nói với vẻ kính trọng.

        — Vẫn cứ đi vào hỏa ngục... Thế là đã đột phá được rồi.

        Na-ta-sa và một người nào đó nữa cũng định theo gương người vợ thợ mỏ, song anh bộ đội đã nhảy xuống bậc thềm và đứng chân trước mặt họ.

        — Không được, chị ơi, không thể được đâu! Các chị không đến được người nhà mình đâu ! — Chính anh ta cũng xúc động mạnh. — Các chị phải đợi đã...

        Bỗng tiếng nói của anh bị át đi trong tiếng nổ ầm ầm: khẩu đại bác ở chướng ngại vật đã bắn và chỉ lúc này Na-ta-sa mới nhận thấy nó. Ba phát súng nữa lần lượt gầm lên, lao vào màn sương mù phía trước, và như bị thôi miên, Na-ta-sa đứng nhìn: mỗi khi ánh lửa từ khẩu pháo lóe lên thì cửa trước các ngôi nhà gần chướng ngại vật lại lóe sáng màu hồng, còn các cửa sổ dán giấy rực sáng lên trong chốc lát.

        Những người phụ nữ đứng ở ngã tư vội chạy đến bên các bức tường và cổng ra vào. Từ nãy tới giờ, trận đánh ầm ầm diễn ra cách đó khá xa, thế mà chỉ một bước đã nhảy gần tới họ. Và lập tức đường phố vẳng hẳn, mọi người xô nhau chui vào các cổng nhà, rồi đứng chật ních ở đó. Hai cậu bé khoảng chín, mười tuổi chạy theo đại lộ, phóng về phía khẩu pháo đang bắn. Chiếc blu dông lông dê màu trắng của một trong hai cậu thấp thoáng trên nền tường xanh thăm của « Cửa hàng thực phẩm ». Người lính đội mũ trùm tai, vội vàng bước lên bậc thềm trên cùng.

        — Đồng bào hãy về nhà đi! — Anh ta tuyệt vọng gào lên. —  Và đưa trẻ con đi nữa... Trận đánh sắp lan tới đây! — Mặt anh đỏ ửng vì phải gào to.

        — Va-xca! — Một tiếng la hoảng hốt vang lên sát tai Na-ta- sa. — Va-xca, tao giết chết đấy!

        Và một phụ nữ nào đó, huých mạnh vào sườn Na-ta-sa chạy lao theo hai đứa bé.

        — Ôi, sao mà hư hỏng thế kia, — Na-ta-sa nói, giọng cao hẳn lên, như thể không phải giọng của mình nữa.

        Một người nào đó cầm chặt lấy cổ tay chị và quay lại, chị trông thấy bà An-na Va-xi-li-ép-na.

        — Hừ, đi đâu mà chúng nó lại lao thắng vào ngọn lửa thế kia? Hừ đi đâu? — Na-ta-sa hét lên, tựa như bà An-na có lỗi trong việc này.

        Dường như cô đã quên hết tất cả, cứ giương tròn mắt nhìn theo những người phụ nữ đang đuổi theo hai đứa nhỏ. Khi họ đã đuổi được và lôi chúng quay lại, Na-ta-sa thở phào nhẹ nhõm. Súng lại nổ như tiếng sấm rền và người phụ nữ đang dắt cậu bé mặc chiếc blu dông lông ngồi sụp xuống giữa phố trong một giây. Sau đó chị bế xốc con lên cổ và chạy sang vỉa hè bên kia.

        Một đoàn người mới đột ngột xuất hiện trên quãng giữa đại lộ và chướng ngại vật. Họ từ ngõ phố bên trái rẽ ra từng tốp hai ba người một, rồi đi xuống ngã tư. Một số người chạy vẻ nặng nề chậm chạp, một số người khác, chắc đã kiệt sức, cố lê bước... Tất cả họ đều có súng trường, nhưng mỗi người mang theo một kiều: người thì cầm súng, người cầm dây, còn một nhóm khác lại kéo lê trên mặt dường...

        Na-ta-sa ngơ ngác sợ hãi, nhìn bà An-na như chờ bà giải thích. Bà già chăm chú nhìn những người đàn ông đang đi về phía trên, gió thổi làm lung lay chiếc đăng ten đen trên đôi mắt nghiêm nghị sâu thẳm của bà.

        Quăn áo của những người đang tiến đến gần, bành tô, blu dông, áo quần, áo khoác bê bết đất cát, y như họ trở về sau một cuộc ẩu đả. Có người không đội mũ, thỉnh thoảng lại nhìn quanh, còn anh thanh niên đi bên cạnh, áo rách hở cả ngực. Chạy đầu là một ông hơi thấp, mặc chiếc blu dông không đai cùng chiếc áo ma-la-khai1 rộng thùng thinh với những chiếc đuôi tua tủa. Di sau cùng là một người tay trái bó băng trắng mặc áo bành tô lông. Một người nào đó khập khễnh lảo đảo trong chiếc quần rách tả tơi.

---------------------
        1. Một loại áo dài rộng không có đai của nông dân Nga.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:28 pm

        Những người phụ nữ túm tụm ở ngã tư im thin thít. Họ, cũng như Na-ta-sa có lẽ không nhận ra được những người này. Và chỉ trông dáng dấp bên ngoài của những người đàn ông này cũng đủ làm cho họ khiếp sợ. Song cảnh im lặng như vậy chẳng được bao lâu: một tiếng kêu dài kinh ngạc và thương cảm cất lên trên đường phố.

        — Các co... on! Yêu quý... ý!

        Một người dàn bà tóc bạc mặc chiếc áo bành tô đã sờn, trong túi lòi ra gói bọc giấy báo chạy ngang qua Na-ta-sa: khuôn mặt bà hiện rõ vẻ đau khổ xót xa.

        « Đúng, chính là các chiến sĩ tự vệ! Họ vừa mới chiến đấu xong, họ từ trận đánh trở về... — Na-ta-sa thoáng nghĩ. — Có thể Pa-ven cũng ở đây! ».

        Rút tay ra khỏi tay bà An-na, Na-ta-sa chạy tới chỗ các chiến sĩ. Một phụ nữ lạ mặt, quàng chiếc khăn dài tới đầu gối giống như áo đi mưa quay người lại, nhìn thẳng vào mắt chị, nói:

        — Đây là người thành phố chúng ta! — Chị sung sướng báo tin.

        — Các con yêu quý... ý! — Người đàn bà tóc bạc lại đau khổ và dịu dàng kêu lên một cách đơn điệu.

        Những người đi xuống ngã tư đã bắt đầu dừng lại, một số khác vừa đi chậm vừa kêu la điều gì đó, nhưng trong tiếng ồn ào chung chẳng nghe rõ được họ nói gì.

        Hình như các chiến sĩ cảm thấy ngượng nghịu — một số dừng lại, số khác nhìn xung quanh. Một người mặc bành tô lông rẽ hẳn sang một bên như muốn tránh mặt đám đàn bà. Một chiến sĩ người hơi thấp, mặc áo lông cừu, đang thở hổn hển và mặt mày đỏ rực lên vì chạy mệt, thậm chí còn kịp lùi lại mấy bước.

        — Các bà ơi! — Anh ta kêu thét lên, giọng cao run run vì thế không thành « các bà » mà thành « các ba » — các ba đứng đây làm gì? Chạy... đi chứ!

        Song những người phụ nữ đã vây quanh lấy anh chiến sĩ này. Họ nhìn anh với vẻ biết ơn và khâm phục đến nỗi, anh ta phải đưa tay về phía trước như để tự vệ trước lòng ân ái của các bà, các chị đối với mình. Một người nào đó định vuốt vai anh khiến anh trố mắt nhìn, sợ hãi lùi bước.

        — Các bà ơi, xe tăng đến đấy! — Anh líu ríu. — Chạy đi các bà ơi, nó sẽ xéo nát các bà đấy...

        Bị kích động không kém những người khác, Na-ta-sa nghển cổ, kiễng chân mặc cho chiếc mũ nồi tụt ra gáy, đảo mắt tìm chồng.

        « Có thể Pa-ven cũng sẽ đến ». — Chị tự an ủi và chẳng nghĩ xem tại sao những người được vũ trang này giờ đây lại bỏ chạy, không chiến đấu, chắc là phải có sự cần thiết nào đó nên họ mới đến đây, mà không ở lại nơi đang có tiếng súng ầm ầm không ngớt dằng kia.

        Còn mấy người đàn ông nữa đang cúi đầu chạy ở phía trên; Na-ta-sa liền chạy tới chỗ họ, nhưng ngay lúc đó chị liền buồn bã dừng bước — Pa-ven không có trong đám này.

        Người đàn bà tóc bạc mặc bành tô với gói giấy báo trong túi đã đuổi kịp chị.

        — I-gna-sa-a ! — Bà cuống quít gọi. — I-gna-sét-ca-a ! Con ơi!

        Thậm chí Na-ta-sa phát ghen lên với bà — sao mà may thế — bà đã gặp được con, chạy xô vào lồng ngực đứa con — một chàng trai đội mũ lưỡi trai nhung chụp tùm hụp lên hai cái tai vểnh, người mẹ già lảo đảo, hai tay buông thõng. Và người thanh niên buộc phải đưa tay trái ôm lấy bà, còn tay phải anh căm quai da súng trường, lưỡi lê chúc xuống đất.

        — I-gna-sét-ca! Người bảo vệ bé bỏng của mẹ! — Bà vừa thở hổn hển vừa nói. — Ôi, mẹ có linh cảm trước là sẽ gặp con!

        — Anh thanh niên thản nhiên nhìn bà mẹ từ đầu đến chân, mồ hôi mẹ vã trên khuôn mặt màu củ cải đỏ với đôi má cao, nước bọt sùi ra hai bên mép.

        — Mẹ! — Cuối cùng anh mới thốt lên. — Mẹ thế nào...?... Mẹ...

        Không kịp nói hết, anh đưa mắt nhìn qua vai bà và bất ngờ, bước lên phía trước.

        — Mẹ... ẹ... ẹ, mẹ đi... i!... — Anh giục giã.

        — Ôi, trái tim của mẹ ! Ôi I-gna-sa, I-gna-sa !... — Người mẹ líu ríu như mất trí.

        Như một người mù, bà xoa tay lên lồng ngực nở nang, lên đôi vai và vòng cồ rắn chẵc của con trai.

        — Mẹ ơi, xem đi đi !... Mẹ...! — Anh con trai cũng gào lên, như quẫn trí, từng giây, từng giây định chạy đi song vẫn không đẩy mẹ ra.

        — Tôi làm sao thế này ? — Bà chợt nhớ ra. — Ôi, mẹ đã quên khuấy mất...

        Bà luống cuống, rút gói giấy báo trong túi áo bành tô rồi vội. vàng giúi vào tay con trai.

        — Của con đây, I-gna-sa, cho con... Nhà còn nhiều... — Bà giải thích. — Cầm lấy, I-gna-sa !

        Cảm thấy được tụ do, chàng trai né tránh khỏi bà, nhưng bà mẹ sợ anh ta không cầm gói quà, nên nắm vội lấy tay áo anh.

        — Đây, bánh mì dẹt, bánh mì dẹt làm cho con đấy... Khăn đã giặt sạch rồi! — Bà vội vàng nói.

        Đẩy gói quà ra, anh chiến sĩ lắc đầu quầy quậy như thể cái gì đó vướng ở cổ họng, chiếc mũ lưỡi trai tròn như quả bóng lắc lư.

        — Đây là bánh con thích mà... có đường đấy. — Bà lẩm bẩm. —  Con đi đâu vậy, I-gnát.

        — Bánh — mì — dẹt! —Anh thanh niên dằn từng tiếng.—Bánh mì dẹt cái gì cơ chứ?... Mẹ ơi, mẹ đi đi.

        — Bánh mì tầm đường mà, mẹ đã nói rồi.

        Và bỗng như bừng tỉnh, người con không vùng vằng nữa, lặng thinh, song vẫn đẩy gói quà ra.

        Na-ta-sa nhìn quanh, chẳng hiểu gì trong màn kịch này. Một cô gái đội khăn trắng, hai tay khệ lệ xách xô nước, đi sau chị.

        — Ai khát nước ? Các đồng chí !... — Chị gọi, giọng không mạnh bạo lắm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:59 pm

        Một chiến sĩ ngồi bên cột đá ở vỉa hè và bà An-na đang nghiêng người băng đâu cho anh ta. Na-ta-sa chạy vội tới chỗ bà già.

        — Hừ, chúng cháu nằm bắn, chẳng sao cả... — Người bị thương ở đầu kể chuyện. — Thật ra lúc đấu cũng hơi sờ sợ, chưa quen với tiếng súng. Cảm ơn mẹ, được rồi.

        — Anh cứ ngồi yên, ngồi yên! — Bà An-na nói, giọng ồm ồm. — Không có bông, tiếc thật.

        Gởi gạc nhỏ mà bà mang theo đặt trên đầu gối người chiến sĩ, bà già lấy chiếc khăn mặt dành cho Pa-ven ở trong bọc ra.

        — ... Chính trị viên của chúng cháu bị giết. — Người chiến sĩ tiếp tục. Cánh tay to bẩn, đất cát dính đầy ở móng, cứ run lên bàn bật trên thân khẩu súng trường. — Thế mà ở đây có tin đồn là... Và cháu cũng chẳng biết rằng ai là người tung tin dầu tiên, cứ như thể xe tăng địch đã vào được thành phố, còn chúng cháu thì tránh né chúng... Hừ, một kẻ nhảy xồ ra... — Người kể chuyện đưa mắt tìm. — Hắn là tên trồng rau, kẻ bẻm mép có đuôi... Hắn gào lên, bị cắt đứt rồi... chúng cháu nghe không rõ. Cảm ơn mẹ, vết thương của cháu không phải là vết thương do chiến đấu mà... Đây là cháu bị xô vào tường nhà khi chạy...

        Bà An-na chìa khăn mùi soa cho anh chiến sĩ:

        — Cháu lau đi! — Bà bảo. — Không có mồ hôi chảy ra ướt như chuột lột.

        Bà ngẩng đầu nhìn những người đàn ông đứng xung quanh.

        — Nào, còn ai có những vết thương danh dự nữa không nào? Đi lại đây, mẹ băng cho. — Bà cao giọng hỏi.

        Người mặc chiếc quần tả tơi nhếch mép cười khảy, còn một người khác đội chiếc mũ lỏng cao, đã đứng tuổi, hé đôi môi mỏng dính cười ngượng nghịu.

        — Các anh sẽ làm gì bây giờ, hả những bậc trượng phu ? — Bà An-na nói. — Các anh sẽ nhìn vào mắt đồng chí của mình đang chiến đấu như thế nào ? — Hầu như cả phố nghe rõ giọng trầm trầm của bà. — Ôi, tôi nghĩ, thật tiếc cho các anh đấy... Bây giờ ai sẽ cho phép các anh có chỗ ẩn náu nương thân?

        Bà im bặt vì ở gần đấy và có thể là ở ngay phố bên cạnh, vang lên mấy tiếng động nặng nề. Đám đông nháo nhác, phụ nữ né sang vỉa hè, do đó giữa họ và mấy người đàn ông kia có khoảng trống. Lúc này Na-ta-sa nhìn các chiến sĩ với vẻ gần như là khiếp sợ, như khi người ta nhìn những bệnh nhân vô phương cứu chữa hoặc những người rất bất hạnh.

        Bỗng nhiên người thanh niên mặt tái nhợt, mặc chiếc blu dỏng để hở ngực, có mái tóc xoăn đen xanh dưới mủ lưỡi trai, đứng dậy giơ cao khẩu súng trường lên trời.

        — Hừ, các bạn ơi. — Anh bực tức kêu lên. — Thế này là thế nào ? Các bạn ơi, chúng ta làm gì! Hừ!—Anh ta nhăn mặt, quay nhìn xung quanh. — Nào các bạn ơi, quay lại. — Và anh chen qua đám người xúm quanh, đi ngược lại đường phố.

        Phía trên chướng ngại vật, một người chỉ huy mặc ca pốt, đeo túi da bên hông đang vội vã đi lại. Lại một người nữa chạy từ ngõ phố ra, tay cầm súng ngắn buông thõng và từ xa đã ra lệnh:

        — Dừng lại! Dừng lại!

        — Cảm ơn mẹ hết lòng! — Người chiến sĩ bị thương ở đầu lặp lại. — Chúng con có khuyết điểm, xin lỗi!...

        Khẩu pháo bên chương ngại vật lại gầm lên. Người ta trông thấy các chiến sĩ pháo binh đội mũ sắt đang lố nhố ở đó, những vỏ đạn xì khói rơi xuống đất.

        Bà An-na nắm chặt tay Na-ta-sa và kéo chị sang vỉa hè. Xung quanh ồn ào đủ giọng nói, song sửng sốt với tất cả những gì đang diễn ra, Na-ta-sa hầu như chẳng hiểu gì cả.

        — Đại đội! Nghiêm! Đại đội... — Một người chỉ huy tay câm khẩu súng ngắn đang hết sức gào rất to. Cái giọng khàn khàn của anh chẳng giống giọng người chút nào. — Hãy nghe mệnh lệnh của tôi!

        Đứng trong cổng bên cạnh bà An-na Va-xi-li-ép-na, Na-ta-sa thờ ơ nhìn các chiến sĩ đang mau lẹ chạy ngược lại phía trên đường phố. Trong một giây, chiếc mũ lưỡi trai tròn như quả bóng của I-gnát Rứp-kin thấp thoáng trong đám người đông nghịt, những chiếc lưỡi lê tua tủa thấp thoáng trên đoàn người. Đi cuối cùng và hơi chậm so với những người khác là anh chiến sĩ mặc chiếc ma-lai-khai. Bước chân anh ta khá ngắn. Pháo ở chướng ngại vật vẫn tiếp tục bắn và ở đâu đó rất gần, bất ngờ nổi lên những tiếng súng lẻ tẻ, nhỏ hơn.

        Hình như trận đánh đã lan ra khắp thành phố, từ phố này đến phố khác... Bỗng nhiên một trái đạn nổ ngay bên cạnh và đất đá cùng những mảnh đạn bay lên với một sức mạnh khủng khiếp, luồng khi nóng tỏa ra tạt vào mặt Na-ta-sa. Và chị trông thấy người lính gác đang bò lê trên đường phổ... Anh nằm ngửa và không hiểu sao chỉ giơ khuỷu tay lên, cái đầu tràn lắc lư, gió thổi làm chiếc mũ có tai tròn trĩnh của anh rơi trên đường phố, anh bộ đội định bò vào vỉa hè. Bỗng anh kêu lên vì đau và theo phản xạ đầu tiên, chẳng nghĩ ngợi gì, Na-ta-sa ra khỏi chỗ nấp, chạy nhanh tới người bị thương.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:12:18 pm
   
        Lúc này, pháo bắn không ngớt, ánh lửa đạn lấp loáng trên cửa những ngôi nhà, trên mặt đường ướt át — dường như cơn dông tố cùng ánh chớp giận dữ chụp xuống hai bên, lùa mọi người đang ở đường phố chật hẹp kia vào bẫy. Lại một trái đạn nữa của kẻ thù nổ ở đâu đó đàng sau Na-ta-sa... Song đang nghiêng người bên chiến sĩ bị thương, trong những phút này Na-ta-sa hoàn toàn quên mất những gì đang đe dọa chính chị. Người chiến sĩ bị trúng đạn ở bắp chân dưới đầu gối, từ chiếc quần rách bê bết máu, một dòng máu đỏ thẫm chảy xuống mặt đường, hòa lẫn vào nước mưa. Anh ta ngẩng đầu nhìn chị với đôi mắt dò hỏi, van lơn, vô cùng tin cậy của những người bị nạn nhìn những người có thể cứu sống mình. Cảm thấy cái nhìn đó đối với mình, Na-ta-sa lập tức nhớ ra là phải làm thế nào trong những trường hợp bị thương như vậy. Nỗi thương xót của chị quá lớn lao và đã làm chị can đảm hơn... Quỳ xuống cạnh, chị lấy ra một gói nhỏ trong xắc và nhanh chóng lấy khăn làm ga-rô. Sau đó, để giữ ga-rô, chị phải nhấc chân người chiến sĩ lên và anh ta lại rên lên, toàn thân run run.

        — Cố chịu nhé, anh bạn thân mến ạ! — Na-ta-sa năn nỉ.

        Một người nào đó đứng cạnh chị và ngẩng đầu nhìn, Na-ta-sa nhận ra một trong hai cô cứu thương chị vừa gặp sáng nay.

        — A! Ga-rô... tốt lắm... chị băng tiếp đi, — cô gái nói nhát gừng và cũng quỳ xuống.

        Một luồng khí nóng của trái đạn lại tràn qua. Khẽ hắt vào lưng chị, song Na-ta-sa hầu như không cảm thấy điều này...

        — Chị... chị... — Anh bộ đội nói giọng khàn khàn, khuôn mặt không có lông mày của anh dường như đã lạnh cóng cứng đờ. — Vô tình tôi lại trúng đạn... — Anh cảm thấy như mình có lỗi gì đó.

        Trong cổng vòm ngôi nhà ở ngã tư, nơi Na-ta-sa, cô cứu thương và bà An-na đưa anh bộ đội tới, những người ẩn náu ở đó lập tức vây quanh lấy họ. Mệt nhoài, Na-ta-sa tựa vào cánh cửa: chị thấy chóng mặt và mùi máu tanh nhàn nhạt làm chị buồn nôn...

        Trên đường phố, một đám khói đen quyện lại nhanh chóng, bị cuốn theo chiều gió. Lát sau Na-ta-sa nhìn thấy Na-xchi-a và Ma- ri-na Bô-cô-va chạy qua cửa hàng, ngược trở lại phía quảng trường và một thoáng đã rẽ sang góc phố... Bỗng một ánh lửa vàng nhạt lóe lên cạnh Ma-ri-na, tiếp theo là tiếng nổ vang. Nhựa đường cùng đất đá bắn tung tóe, kèm theo là những tiếng gì đó phần phật như nhiều đây đàn cùng bị đứt một lúc, khói trùm lên tất cả...

        Khi Na-ta-sa vượt qua dám đất đá chạy tới góc phố thì khói đã tan... Ma-ri-na đang nằm ngửa trên vỉa hè, lưng đeo bao đồ nên không nắm thẳng ra được, thân bị ưỡn lên, cong lại một cách rất khó chịu. Dán đôi mắt xanh tươi lạ thường của mình vào Na-ta-sa, chị ta nói rành rọt.

        — Chị đừng cho Va-nhi-a... cho Va-nhi-a biết... Lạy trời đừng để anh ấy biết... Tôi rất mong chị...

        Chị đưa tay phải thận trọng sờ vào cạnh sườn  phía dưới, lồng ngực ưỡn lên dưới áo bành tô. Bỗng chị có vẻ hốt hoảng, cựa quậy định nhỏm dậy và còn nói môt điều gì nữa, song tiếng đại bác đã át lời chị đi.

        — Na-xchi-a!— Chị gọi. — Xem bộ tôi bị thương ở đâu? Nhìn hộ xem, Na-xchi-a...

        Chỉ đến lúc này Na-ta-sa mới nhớ tới người bạn gái của Ma-ri-na. Chị ta đang quỳ gục xuống, người cúi thấp về phía trước, song khuỷu tay vẫn ghì chặt cây đàn ghi ta buộc đây nơ xanh. Khuôn mặt tròn của Na-xchi-a đỏ nhừ, hiện rõ vẻ căng thẳng sợ sệt thường có ở những người nặng tai. Song cô vẫn nghe, được Ma-ri-na gọi và định trả lời, nhưng đôi môi run rày không nói được.

        Pháo ở chướng ngại vặt lại bắn. Na-xchi-a khom lung xuống, mặt chị méo xệch đi như khóc... Song ngay lúc đó, cô gái cứu thương chạy tới, luồn tay vào lưng và đỡ Ma-ri-na lên.

        — Các chị làm gì thế hả? Nào ôrụ lấy!’— Cô gái cửu thương ra lệnh.

        Ba người bế Ma-ri-na lên, vội vàng và lảo đảo mang chị đi.

        Tất cả những người bị thương đã được đưa lên xe: anh lính gác, Ma-ri-na, một cô ở đội xây dựng và cậu bé chừng tám tuổi bả vai bị giập nát đang quằn quại trên tay cô cứu thương thứ hai. Na- ta-sa lại phải đi với họ tới bệnh viện vì pháo binh vẫn tiếp tục bắn phá và trong bất kỳ giây phút nào đội cứu thương cũng rất cần thiết ở đây, trên những đường phố này...

        — Tên chị là gì? — Cô gái thứ nhất hỏi Na-ta-sa, giọng nhát gừng, bờm tóc vàng lòa xòa trên khuôn mặt trẻ trung. — Còn tôi là Vê-ra... — Chị ta nắm chặt tay Na-ta-sa và nói thêm giọng có vẻ mệnh lệnh. — Tôi nghĩ rằng chị đã hoàn thành...

        ... Khi Na-ta-sa từ bệnh viện đi bộ trở về thì đã giữa trưa. Trên suốt đoạn dường, chị phải an ủi cậu bé đã mệt lử vì nước mắt, đau đón và sợ hãi, Ma-ri-na rên rỉ cùng với những người bị thương khác, nên bây giờ chính chị rất khao khát được an ủi. Tưởng như nếu ngay hôm nay nỗi đau khổ của những người này được báo thù và bọn xâm lược là thủ phạm của những giọt nước mắt này lập tức bị trừng phạt thì Na-ta-sa sẽ dễ chịu hơn. Vì còn bị xúc động sâu sắc bởi những ấn tượng về những điều trông thấy và trải qua trong ngày hôm nay, nên chị không để ý đến sự biến chuyền tình hình trên dường phố.
     
        Chung quanh bỗng vang len những giọng nói hân hoan:

        — Hồng quân đến rồi!...

        Lại những cậu bé tung tăng và những người phụ nữ vội vàng tất tưởi chạy đi đâu đó. Một ông già lưng gù chạy lon ton cản đường trước Na-ta-sa, ông giơ cao cánh tay vẫy vẫy như chào đón, như gieo hạt gì vào trong không trung... Qua quãng trống giữa các ngôi nhà, Na-ta-sa trông thấy từ xa một đoàn bộ binh đen sẫm, đông nghịt đang đi tới... Đoàn quân diễu qua trước mắt chị rất lâu, hết đại đội này đến đại đội khác và rẽ sang đường phố đến ngoại ô phía Nam thành phố. Có thể các chiến sĩ đã hành quân cả đêm: những chiếc mũ trùm tai của họ ướt sũng, giày bám đầy bùn đất, áo bạt sẫm lại vì mưa nhưng vũ khí của họ vẫn sạch và bóng loáng.

        Khoảng mười lăm phút sau, Na-ta-sa lại thấy những chiếc xe tăng sơn ngôi sao đỏ trên thành, từ phía Bắc, phía Mát-xcơ-va, đang ầm ầm chạy nhanh xuống phía Nam nơi kẻ thù đang tiến công với tốc độ rất nhanh. Đường phố rộn lên những tiếng sắt thép âm ầm và đoàn xe tăng nhanh chóng biến mất, chỉ đề lại ấn tượng của một cơn dông tố vừa qua...

        Những đơn vị Hồng quân mới đã đi đến T. và lập tức tham gia vào trận đánh ngay trên đường hành quân...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 11:58:59 am

        Đến trận địa của trung đoàn công nhân theo sự ủy nhiệm của Đi-a-cốp nhằm tìm hiểu tình hình và có biện pháp chặn đứng quân địch lại, trên đường đi, Bốt-đa-nốp rẽ vào trận địa pháo cao xạ, vào sở chỉ huy của tiểu đoàn trưởng, và gặp đại tá Lu-ki-a-nốp cũng đang ở đây. Mặc dù bây giờ ít có cái gì có thể làm cho Bốt-đa-nốp ngạc nhiên nhưng những hành động của các chiến sĩ cao xạ đã thu hút được sự chú ý của anh. Gần hầm chỉ huy, những khẩu pháo của tiểu đoàn đặt rải rác trên các nhà kho bằng đá bị sập, trên các bãi đất trống, trên các rìa vườn, đang trút lửa lên những chiếc tăng lúc này mon men tới làng Mư-skin. Năm, sáu chiếc xe tăng trúng đạn — vài chiếc còn đang cháy — quằn quại ở cánh đồng trước mặt. Bọn Đức bắn trả đũa các chiến sĩ pháo binh. Ở các khẩu đội, chốc chốc mảnh đạn lại bay vèo vèo, bụi vôi bốc lên như đám mây trắng, hồ nước sôi lên sùng sục như dưới trận mưa rào, mặt hồ sáng lên.

        Lúc này, ngoài công việc nặng nhọc và vất vả ra, có lẽ không còn điều gì khác làm cho các chiến sĩ, những người đang phục vụ những cỗ máy quân sự phức tạp này chú ý đến nữa. Các pháo thủ giống như những người thợ đang rèn những thanh sắt nung đỏ trong gian xưởng nóng nực hoặc những thủy thủ làm việc trên boong tàu trần trụi giữa trận bão biển. Mỗi người đều rất linh hoạt tập trung tư tưởng, hợp đồng chính xác với những người khác. Khẩu cao xạ lớn nặng nề như vậy, nhưng vẫn nhẹ nhàng quay, những luồng lửa phụt ra, những nòng súng giật lại, sấm gầm lên. Những con người ướt đẫm mồ hôi, tai ù đặc vẫn kiên nhẫn lặp lại các động tác không thay đổi theo một thứ tự nhất quán. Còn vị đại tá đã đứng tuổi, trong chiếc ca pốt cũ nhưng là phẳng phiu đang đi dọc công sự, chăm chú quan sát chung quanh sau cặp kính không gọng giống như người kỹ sư đang làm công việc kiểm tra thường xuyên ở gian xưởng quá ầm ĩ của mình.

        Nhưng dầu sao Bốt-đa-nốp cũng nhận thấy ngay tình hình đặc biệt hiểm nghèo của các chiến sĩ cao xạ. Đại tá không phát hiện ra bọn bộ binh đang ẩn trước trận địa pháo và bọn Đức này có thể tiến công trận địa pháo trong bất cứ phút nào. Vì vậy, hoặc là phải đẩy lùi chúng về phía sau, hoặc là nhanh chóng yểm hộ cho các chiến sĩ cao xạ.

        — Tỏi đã ra lệnh chuẩn bị tuyến phòng ngự vòng cung — nghiêng người về phía Bốt-đa-nốp, Lu-ki-a-nốp thông báo vắn tắt. — Anh có chỉ thị gì không?

        Ồng đứng lại, rút trong tui quần hộp thuốc mạ bạc chạm trổ cầu kỳ, mở nắp và lịch sự mời Bốt-đa-nốp.

        — Anh có hút thuốc không? Xin mời...

        Vừa lúc đó, tiếng ầm ầm của đạn pháo phụt lên ngay bên cạnh đã ngắt lời ông. Đất đá rơi rào rào vào đoạn hào họ đứng. Bên cạnh có tiếng kêu: « Cứu thương lại đây! ». Lu-ki-a-nốp cởi mũ lưỡi trai xuống phủi đất dính lên trên và hủt thuốc. Sau khi gọi điện thoại cho chỉ huy đơn vị gần nhất và yêu cầu cho bộ binh yểm hộ, ông lại chậm chạp đi tiếp. Bốt-đa-nốp nhìn theo người chỉ huy pháo binh luống tuổi, mà cuộc gặp gỡ đầu tiên đã cho anh thấy là một người cầu kỳ, hình thức, nhưng rất kiên quyết, anh nhẹ nhõm nghĩ rằng chắc không có một sức mạnh nào trên đời có thể đẩy Lu-ki-a-nốp ra khỏi vị trí của ông, vì ông đã nhận được lệnh đứng vững đến cùng.

        Ngay tại hầm chỉ huy đại đội, Bốt-đa-nốp cho gọi trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân đến máy điện thoại. Sau khi nghe báo cáo ngắn gọn rằng trung đoàn bị thiệt hại nghiêm trọng, còn người chỉ huy thì đang rất lo lắng, Bốt-đa-nốp ra lệnh cho anh ta phải phản kích ngay theo hướng làng Mư-skin — đường Ô-rlốp để cứu vãn tình hình. Anh chờ Tra-skin viện cớ lúc này không có khả năng tổ chức phản kích được, nhưng đại úy trả lời không do dự: « Rõ! ». « Tôi đã nói hết!». — Bốt-đa-nốp nói. — Tôi sẽ đến chỗ các anh.

        Đến tận phút chót, trước lúc Bốt-đa-nốp chuẩn bị đi, Lu-ki-a- nốp mới bảo rằng bộ binh Đức đang tập trung ở khe hẻm bên phải làng Mư-skin. Và đại tá ra lệnh cho những pháo thủ, tất cả những ai không trực tiếp phục vụ pháo, chiếm giữ công sự trước trận địa ; và riêng mình, ông cũng cầm một quả lựu đạn.

        — Cần giữ vững trong nửa giờ, đồng chí đại tá ạ. — Bốt-đa-nốp kêu lên từ biệt. — Chúng tôi sẽ yểm hộ cho các đồng chí...

        Lu-ki-a-nốp đứng trên đống đá nấp sau bức tường đổ dở đến ngực. Bỏ kính ra, ông lấy tay trái giơ ống nhòm quan sát trận địa.

        Chung quanh Lu-ki-a-rnốp, dông tố đang ập đến ; trong cái xưởng khủng khiếp của ông có cả sấm lẫn chớp, hơi ngạt cuộn lên, nhưng trên đôi má khô héo nhợt nhạt chỉ xuất hiện một chấm đỏ. Ở đây, khó nói chuyện được và quay về phía Bốt-đa-nốp, đeo kính lên ông mới hơi gật dầu từ biệt, đôi mắt kính tròn không gọng lạnh lùng lấp lánh.

        Bót-đa-nốp nhảy từ đống đá xuống dưới và rảo bước dọc theo hào giao thông. Dù sở chỉ huy của đại úy Tra-skin có gần đến mấy nhưng đến chỗ đó không phải là dễ dàng gì. Những loạt đạn cối dữ dội cứ đuổi theo Bốt-đa-nốp nên anh đành phải nắm lại một lúc trong hố đạn nông choèn và nguyền rủa sự chậm trễ này. Không chờ dứt tiểng nổ, Bốt-đa-nốp đành trườn đi, ngã vào rãnh nước lạnh cóng, rồi lại chạy lom khom, tới gần đám cháy anh mới bò tiếp. Khi cảm thấy sắp tới cửa ô thành phố, dừng lại thở lấy sức, trung tá nhìn thấy các chiến sĩ của trung đoàn công nhân đang phản kích.

        Đi trước, gần Bốt-đa-nốp là chính ủy trung đoàn, cán bộ tỉnh ủy Tơ-ri-phô-nốp, thinh thoảng lại quay nhìn các chiến sĩ của mình và lúc đó mới trông rõ nét mặt căng thẳng tập trung của ông y như nét mặt của những người leo núi.

        Từ sau những ngôi nhà thấp, rải rác ở ngoại ô, các chiến sĩ xuất hiện, tiến thành những hàng không đều nhau, tay lăm lăm súng trường cắm lưỡi lê sáng loáng. Gió tạt vào lưng mọi người, thổi bay tà áo bành tô và ca pốt của họ. Trên đầu một thanh niên nào đỏ chiếc mũ cát-két nhung phồng lên như quả bóng chuẩn bị bay. Một người mặc áo bành tô lông đi gần Bốt-đa-nốp dường như đã dùng hết mình ghì chặt khẩu súng trường vào sườn. Có người nghiêng hẳn về phía trước. Mặc dù mọi người đi trên cánh đồng bằng phẳng, song dường như họ đang leo trên sườn dốc dựng đứng đầy khó khăn.

        Tơ-ri-phô-nốp nhanh chóng quay lại, giơ tay, gào lên tiếng gì đó rồi tiếp tục chạy. Bốt-đa-nốp chỉ nghe vọng đến chỗ mình một từ « Nhân dân » và sau đó các chiến sĩ chạy theo người chính ủy của mình trong không gian đặc khói, đầy tiếng súng cực kỳ nguy hiềm, nặng mùi hôi thối và bị đạn chì xé rách...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:00:51 pm

8

        Sau trận chiến đấu ban đêm với xe tăng địch, chi còn lại một mình Pa-ven Grô-mốp trong số các cán bộ đại đội của trung đoàn công nhân : chẳng biết số phận của chính trị viên ra sao, xác ông vẫn chưa tìm thấy, hai trung đội trưởng khác cũng đã hy sinh. Suốt nửa đêm đó, Pa-ven dẫn đại đội về thành phố để bắt liên lạc với trung đoàn của mình. Con đường thẳng qua làng Mới đã bị bọn Đức chiếm và họ đành phải đi vòng về phía đông qua cánh đồng với nhiều cánh rừng và khe suối. Sau nửa đêm, mưa trút xuống, những vũng nước không trông thấy bì bõm dưới chân, chỉ lát sau, tất cả đều ướt đến tận xương. Mọi người chậm chạp mò mẫm trong bóng tối mù mịt, phải mang theo thương binh và lách qua cây đổ, vượt qua những dòng suối nước dâng lên vì mưa thu. Ánh sáng rất nhạt xa xa phía chân trời tắt dần vì mưa và những phát pháo hiệu đủ màu sắc dường như bị phai mờ, mất đi vẻ rạng rỡ của chúng trong đêm tối dày đặc. Thỉnh thoảng từ bóng đêm vọng lại tiếng xe tăng rú ga và pháo sáng bay gần đến nỗi dễ dàng nhìn thấy nét gạch trăng trắng của trận mưa trong bầu không khí bừng sáng rực lên trong chốc lát. Lúc đó, họ lại phải ẩn vào bóng tối. Có tám người bị thương nặng, các chiến sĩ thay phiên nhau cáng họ trên những chiếc chăn và áo bạt được buộc vào cành cây. Mấy lần Pa-ven đến chỗ thương binh để thăm trung úy đại đội trưởng và trao đổi ý kiến với anh, nhưng có lẽ do bị mất nhiều máu nên trung úy đang bị ngất lịm. Khi các chiến sĩ mang cáng tự tạo vấp phải cái gì đó, Pa-ven cúi xuống và nghe thấy tiếng thở mạnh dồn dập lẫn với tiếng rên. Bất ngờ, một giọng nói gay gắt nghiêm khắc quen thuộc nhưng rất yếu của người chỉ huy vọng tới tai Pa-ven.

        — Phải nhanh chóng lao qua làn dạn — trung úy nói rành mạch. — Trong những trường hợp này cần phải sử dụng — anh thở một cách mệt nhọc và lẩm nhẩm thêm điều gì đó không rõ.

        Pa-ven bấm đèn pin, trong tia sáng xanh nhạt hiện rõ mái đầu bồng bềnh như sóng của trung úy, khuôn mặt nhợt nhạt cứng đờ của anh với đôi mắt nhắm nghiền ướt nước mưa trông như những giọt nước mắt.

        — Hỏa lực, lá chắn tốt nhất của bộ binh khi tiến công... — Anh lại nói rành rọt, mắt vẫn nhắm nghiền — Mở cuộc tiến công chớp nhoáng vào hào giao thông của địch... Hãy cho phép tôi, đồng chí giảng viên... Cho phép tôi nói...

        Pa-ven đưa tay gạt những đám nước mưa đọng lại trong nếp gấp của chiếc áo bạt đắp trên người trung úy. Ngoài việc đó ra, trong những phút này, anh không thể làm điều gì hơn nữa cho người chỉ huy của mình. Đầu trung úy lắc lư, đôi lông mày rậm làm anh mất đi vẻ hiền từ nhíu lại và dựng dứng lên.

        — Vẫn cứ chỉ huy, vẫn cứ tiến công, tiến lên phía trước — chiến sĩ giữ cáng thầm thì nói trong bóng tối. — Lúc này thì không sao cả, cứ nằm yên.

        Sau cuộc chạm trán đầu tiên với kẻ thù, cũng giống như người trung úy bị thương và có thể là đang hấp hối này, chính Pa-ven rất khao khát trả thù. Anh cảm thấy bị đau xót, bị dằn vặt, điều này thường nảy sinh ở những người có lương tâm và tốt bụng — bởi lòng căm thù và xấu hồ suốt ngày hôm nay đang cắn rứt anh. Anh cảm thấy vô cùng đau khổ và không thể tha thứ cho mình về sự thất bại mà anh cho là thảm hại của trận đánh, trong đó anh đã tham gia, và cái chết của dồng chí mình. Anh lại thúc giục mình, thúc giục các bạn mình, anh bị giày vò bởi nỗi khiếp sợ không đến kịp thời gian...

        Đội quân ít người đó đã tốn khá nhiều thời gian mới vượt qua được khe suối rất rộng trong rừng. Dưới đáy khe, nước đen ngòm chảy ào ào và chẳng nhìn thấy bờ bên kia ở đâu nên các chiến sĩ không thể liều lĩnh đi tiếp được dành chùn lại bên các bụi cây trên bờ. Pa-ven vượt lên đoàn người. Lúc này anh có một tinh thần sẵn sàng làm gương cho các đồng chí nên không do dự, vịn cây xuống nước đầu tiên. Nước ở giữa dòng sâu quá đầu gối, mùi lá thối thum thủm bốc lên, nhưng anh vốn đã ướt sũng rồi nên không cảm thấy rét lạnh nữa. Một cành cây cong bật vào tay làm anh bị xước da. Sang tới bờ bên kia, Pa-ven quay lại và cư đứng ở giữa dòng nước ra ỉệnh chuyền thương binh sang. Nâng súng trường và cáng lên cao, các chiến sĩ thận trọng vượt qua suối.

        Một số người bị ngập xuống dòng nước đen tới thắt lưng, tới ngực, còn Pa-ven thì chạy sang chạy lại, luôn miệng nhắc:

        — Can đảm lên, bước ngắn thôi!... Nào các bạn, bước ngắn thôi, bước khẽ thôi...

        Những con người vừa mệt vừa rét im lặng và giọng nói của anh tắt dần trong tiếng nước chảy ào ào cùng tiếng mưa rơi róc rách. Leo lên bờ cuối cùng, Pa-ven lại vội vàng chạy lên phỉa trước, xô phải mấy người đang giũ giầy tất. Bỗng anh nghe thấy giọng Trô-sin cạnh mình.

        — Xo... ong rồi,, đầy... ày ủng nước... Cảnh ngộ thật... là, mẹ kiếp... — Anh kia đang cau có văng tục.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:01:17 pm

        Chắc Trô-sin đã mệt lử và Pa-ven cảm thấy rất thương người bạn cũ của mình.

        — Ê-go! Anh gọi — Cậu cảm thấy thế nào?

        Trô-sin không trả lời và Pa-ven hú họa đi tới chỗ anh, nói vẻ thông cảm.

        — Thế này, này, cậu... Cậu hãy vận động, vận động... Cởi ủng ra dốc nước...

        — Thôi được... Thì... ì cậu cứ vận động đi... — Ê-go bực dọc lẩm bẩm. Anh thực sự đã rét tận xương, song Trô-sin bực tức vì dường như lúc này anh chàng Pa-ven khỏe mạnh vẫn chẳng làm sao. — Mình không ganh tị, phàn nàn gì về cậu đâu.

        — Pa-sa ! — Giọng của Bô-cốp bỗng vang lên bên cạnh — Pa-sa, mình cứ nghĩ liệu quân ta ở trong thành phố có đẩy được bọn Đức đi hay không? Ở đấy hãy còn nhiều người chưa kịp đi sơ tán. — Bô- cốp tiến lại gần đến mức Pa-ven lờ mờ trông thấy mặt anh.

        — Tóc xoăn, cậu đấy hả? Anh kêu lên. — Quân ta sẽ đẩy được chúng, nhất định sẽ đẩy được... và chúng mình sẽ tới...

        — Vậy thì nhanh nhanh lên chứ. — Bô-cốp nói, giọng anh như trôi đi theo tiếng nước chảy, — Mình cứ luôn nghĩ về những người dân thường, mối nguy hiềm của họ rất lớn.

        «Cậu nghĩ về Ma-ri-na thì có » — Pa-ven thầm sửa lại lời Bô- cốp. Anh cũng nghĩ tới những người thân của mình, tới Na-ta-sa, tới bố, tới bà cô, anh hình dung những đường phố quê hương như dường phố của cái thời ấu thơ, rất nhộn nhịp đông vui. Và anh cất giọng to, vang:

        — Các bạn ơi, cố gắng lên!... Tất cả những gi đã qua không phải là những gì khó khăn nhất... Cần phải cố gắng để không kẻ thù nào đè bẹp được chúng ta... Cần phải cứng rắn như sắt thép. — Chính Pa-ven cũng ngạc nhiên là tại sao mình lại có thể nói bay bướm đến thế, song chính những lời nói này đã biểu hiện chính xác ý nghĩ của anh.

        — Thôi đừng tuyên truyền nữa... Hiểu rồi — Ê-go nói.

        Nỗi bực tức trong lòng bỗng nhiên như truyền thêm cho anh sức mạnh.

        — Nào, nhanh lên nào... — Bô-cốp lặp lại.

        Cuối cùng trời cũng hửng sáng, bầu không khí xám lại tựa như một vài giọt sữa tan vào trong đó. Trong bóng tối lờ mờ hiện ra những bụi cây, cành cây và thân cây, còn giữa chúng thấp thoáng những bóng người như đang bơi trong sương mù. Tới thành phố, còn phải đi bộ hơn tiếng rưỡi nữa. Lúc đêm, khi đi qua rừng, Pa-ven đã rẽ sang hướng khác nên bây giờ phải quay ngoặt lại. Chẳng mấy chốc đã nghe thấy tiếng súng liên hồi và tiếng pháo ầm ầm. Chắc là bọn Đức đã bắt đấu nã pháo chuẩn bị cho cuộc tiến công. Pa-ven vội rảo bước. Chỉ đến khi đại đội đã tới cánh rừng ngoại ô quen thuộc mà mùa hè phần lớn các chiến sĩ ở đây thường đưa gia đình đi nghỉ vào những ngày chủ nhật, anh mới cho mọi người dừng lại và kiểm điểm quân sổ. Cả thảy có sáu mươi hai người, kể cả số bị thương nhẹ sau trận chiến đấu và cuộc hành quân đêm qua. Vũ khí gồm một đại liên, hai trung liên, súng trường và lựu đạn đều còn đầy đủ cả. Pa-ven đứng đầu đoàn quân nhỏ và định tiếp tục hành quân thì bỗng nhiên có lệnh, đại đội trưởng gọi anh tới.

        Trung úy bị thương tinh dậy lúc rạng đông. Có thể nghĩ rằng tiếng vang của trận đánh gần đây đã làm anh thức giấc. Ngồi trên chiếc cáng đặt dưới đất, trung úy gặng người phụ tá của mình với câu nói tuy nhỏ nhưng nghiêm khắc: «Báo cáo đi, đồng chí trung đội trưởng!». Sau khi nghe Pa-ven báo cáo về cuộc hành quân ban đêm, trung úy ra lệnh đưa anh ra mép rừng.

        Dưới làn mưa xối xả, từ sau những bụi cây non rậm rạp có thể trông rõ ngoại ô thành phố, dãy hàng rào dài của sân vận động, những đống gạch chuẩn bị xây, những vườn rau, mái nhà, ống khói nhà máy, về phía tay trái ở hướng nghĩa trang thinh thoảng lại bốc lên những cuộn khói xanh lam. Khung cảnh trông không có vẻ gì đáng sợ lắm, song bầu không khí ẩm ướt như bị rung chuyển bởi tiếng súng và hình như có một đám cháy sau quả đồi trọc, nay đang tỏa ra từng đám khói vàng trước làng Mư-skin.

        — Đồng chí trung úy — Pa-ven khàn khoản nói. — Chúng ta còn đợi gì nữa? — Toàn thân anh run run, lúc này anh cũng cảm thấy lạnh. — Đồng chí thứ lỗi, nhưng hình như chúng ta không nên đề mất thời gian.

        — Hình như, hình như... — Trung úy ngắt lời Pa-ven. — Đến bao giờ thì anh học được cách nói bình thường?

        Vịn vai các chiến sĩ, anh đứng một chân bên cáng của mình, còn chân kia bị băng từ mẵt cá tới quá đầu gối co lên. Bất chấp đến vết thương, đến sự mệt nhọc và cơn đau đang phải chịu đựng, vừa tỉnh dậy là anh lại nắm quyền chỉ huy ngay. Thậm chí Pa-ven cũng không cảm thấy ngạc nhiên về điều này: bao nhiêu là sức lực chứa đựng trong từng lời nói, trong nét mặt nhợt nhạt đẫm nước mưa với đôi mẵt lõm sâu của anh.

        — Anh có thấy không? Chúng ta đã tới sườn của bọn Đức, —  co một chân bị thương lên và nhìn nhanh ra các hướng, trung úy nói tiếp. — Bọn Đức tiến công dọc theo đường cái và điều này không có gì lạ. Quân ta đang ở trong thành phố... — Vì sơ ý quệt chân đau xuống đất, anh nhăn mặt. — Quân ta đang đánh trả cuộc tiến công của chúng! — Anh kêu lên, cố nén cơn đau của mình.

        — Quân ta đang chiến đấu! — Pa-ven vô tình thốt lên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:01:47 pm

        Lúc này, nỗi bực tức và xấu hổ giày vò anh suốt đêm đã biến thành cảm giác nặng nề không sao chịu nổi và bằng bất kỳ giá nào cũng phải thoát khỏi nó. Anh vươn vai, thân hình to lớn, lồng ngực nở nang như muốn bung ra trong chiếc bành tô ướt đẫm và chiếc mũ lông ướt sũng bám chặt lấy đầu, người anh run lên như muốn giữ khỏi mình một vật nặng vô hình đang đè lên anh. Đôi mắt dưới vầng trán dô cao sáng lên đến nỗi con ngươi hầu như lẫn vào với lòng trắng làm cho khuôn mặt anh trở nên sắc sảo lạ thường.

        — Cái gì ở kia? — Trung úy hỏi. — Sông phải không?

        Tay trung úy bị vướng và anh hất hàm chỉ về bên phải, nơi khoảng giữa đoạn đường từ mép rừng tới hàng rào sân vận động có hàng liễu trụi lá thẳng tắp.

        — À, phía ấy à? — Pa-ven hỏi lại — Đấy là khe hẻm Ni-cô- lin. Một thời nào đó, đấy là con sông nhỏ, còn bây giờ chỉ là một cái khe cạn.

        — Có dễ dàng vượt qua được không? Chắc là bây giờ đang có nước phải không? — Trung úy hỏi.

        — Cần phải rẽ xa hơn về phía trái. Gần nghĩa trang thì hoàn toàn nông. —. Pa-ven trả lời.

        — Anh dẫn mọi người tới đó đi. Bây giờ ta đi. —Trung úy ra lệnh. — Còn bây giờ để tôi nằm một lát, cho tôi xuống đi. — Anh nói với các chiến sĩ.

        Xuyên qua các lùm cây, Pa-ven chạy vào giữa rừng. Tiếng pháo gầm vẫn không ngớt và Pa-ven vừa chạy vừa ra lệnh, Song không phải thúc giục mọi người, họ đã tỉnh táo ngay từ khi hửng sáng và sôi nổi hẳn lên... Mặc dầu mọi người rất mệt mỏi, nhưng đã xảy ra một điều là tất cả những gì mà con người phải chịu đựng trong đêm qua đã làm họ dày dạn, coi thường những thử thách mới, nặng nề nhất. Thậm chí một chiến sĩ bị thương ở đầu, với lớp băng dày đẫm nước ở trán còn vui vẻ huýt sáo theo tiếng chim hót. Tuy vậy, một số chiến sĩ bị rét cóng tới mức chấp hành mệnh lệnh một cách máy móc như nửa tỉnh nửa mơ. Trô-sin lảo đảo đứng vào vị trí của mình, đấu rụt vào cổ áo bành tô dựng đứng. Chắc là thông cảm với bạn chiến đấu, một thanh niên đứng cạnh anh với khuôn mặt Di-gan da bánh mật — Pa-ven đã biết tên anh ta là Ni-cô-lai Ô-khốt-nhi- cốp — chìa túi thuốc lá cho Trô-sin.

        — Xin mời đồng chí kỹ sư! Thuốc lá cuộn làm cho con người rất dễ chịu. — Anh nói.

        — Nà... ào thử xem. Trô-sin lắp bắp. — Nói chung tôi không hút thuốc lá.

        Thợ mỏ A-nhi-xi-mốp có bộ râu ướt sẫm nước bị vón lại thành từng túm nhỏ, nói mỉa với anh bạn thợ đốt lò cao kều gù lưng Đru- giơ-nhi-cốp :

        — Làm gì mà nhăn nhó vậy, hả chàng trai? Nhớ cà phê phải không? — Anh hỏi, giọng vang vang.

        — Thế anh không nhớ à? — Dru-giơ-nhi-cốp trả lời.

        — Buổi sáng mình không uống cà phê, mình thích rượu cơ. — A-nhi-xi-mốp đối đáp.

        « Thật là vàng chứ không phải là người » — nghe thấy điều này, Pa-ven thầm nghĩ. Những giọt nước to lạnh buốt trên các cành cây rơi xuống làm anh ướt từ đầu tới chân, song người anh đã nóng rực vì cử động nhiều, đôi má cao của anh ửng hồng và thậm chí anh có vẻ khoái chí tựa như được tắm dưới vòi hoa sen này. Đại đội nhanh nhẹn vừa tiến tới mép rừng thì người liên lạc do trung úy cử tới truyền lệnh: tạm thời không ra khỏi cánh rừng. Không hiểu nguyên nhân của việc trì hoãn này, Pa-ven chạy tới gặp đại đội trưởng.

        Trung úy đang ngồi, tay vịn vào thành cáng, hai má hóp lại. Anh lặng lẽ hất hàm về phía trái chỉ cho người trung đội trưởng của mình, song Pa-ven chẳng nhìn thấy gì mới lạ cả. Cánh đồng cỏ trải rộng trước mặt anh vẫn ắng lặng, ở một số chỗ trũng, nước lấp lánh như muối, xen lẫn những đám cỏ màu nâu. Ở phía tay trái, từng đám khói vàng vẫn ùn ùn cuộn lên trên làng Mư-skin, còn chếch nữa về phía tay trái gần như trên một đường thẳng với cánh rừng mà đại đội đang ẩn nấp, có một đám sương mù màu trắng đang phủ lên trên rìa cánh rừng khác. Và sau một lát nhìn rất chăm chú, Pa-ven mới phát hiện ra bóng người trong đám sương mù.

        — Chuẩn bị chiến đấu! — Không quay lại phía Pa-ven, trung úy nói nhỏ. — Đại đội mai phục ở đây, ở rìa rừng... Cho đại liên tới chỗ tôi! Phải thật nhẹ nhàng, bí mật! Thi hành đi!

        « Hừ, té ra là!...» Suýt nữa Pa-ven thốt lên. Các chiến sĩ vội   vàng lặng lẽ nắm xuống, trườn qua cây cối, chuẩn bị tư thế, lên đạn, để sẵn lựu đạn cạnh mình. Pa-ven cầm súng trường chạy lom khom tới cây bạch dương. Lúc này, anh có thể nhìn rõ kẻ thù của mình. Qua cánh rừng, chúng rẽ sang hướng trái đi theo đường chéo của một bãi trống tới khe hẻm Ni-cô-lin. Bọn Đức đi thành từng dãy dài lộn xộn. Chúng mặc ca pốt xanh sẫm, đội mũ sắt, đi ủng ngắn, còn những khẩu súng ngắn tự động mà chúng để ở giữa bụng trông từ xa giống như những con côn trùng lớn màu đen. Pa-ven đã mất đi cảm giác nặng nề và lúc này như được tiếp thêm sức mạnh, anh cảm thấy căng thẳng. Đảo mắt nhìn quanh, Pa-ven thấy nằm bên những bụi cây, dưới những cây thông, câv bạch dương là các chiến sĩ: Su-kin, Đru-giơ-nhi-cốp, ô-khốt-nhi-cốp, Bô-cốp và một số người nào đó nữa, với những lưỡi lê tuốt trần, những chiếc ủng dẫm nước. Mặt người nào người nấy đều rất căng thẳng và theo Pa-ven, chúng giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ có O-khốt-nhi-cốp tuy mắt vẫn không rời bọn Đức, song mỉm cười ngượng nghịu y như thể cậu ta đang nhìn một cái gì đó đáng xấu hổ mà lẽ ra không nên nhìn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:05:34 pm

        Trung úy ngồi trên chiếc cáng bên trái Pa-ven, đăm đăm nhìn thẳng về phía trước. Đôi tay anh phải chống giữa thân hình yếu đuối đã quá mệt mỏi nên lúc thì gập xuống, lúc lại run rẩy duỗi ra và có lúc anh hơi cúi xuống, lúc thì ưỡn ngực nhỏm đầu lên.

        « — Còn chờ gì nữa! Nào! Bắt đầu thôi!... » — Pa-ven khẩn khoản nhìn anh, nhưng trung úy vẫn không quay lại.

        Trong khi đó bọn Đức đã tới khe hẻm Ni-cô-lin. Đúng là ở đó đã ngập nước nên bọn chúng ùn lại trên bờ và giãn ra hai bên. Từ cánh rừng, mẩy chục tên mang súng máy cùng những hòm kim loại vuông đang đi tới. Lúc này Pa-ven chỉ cách đám người mặc ca pốt xanh đục này — có tới khoảng hơn hai trăm, cả mội tiểu đoàn không đây trăm rưởi mét. Những mệnh lệnh nghe không rõ vì đạn pháo át đi vọng tới tai Pa-ven: chắc là bọn Đức quyết định vượt qua khe hẻm. Anh lại đưa mắt nhìn đại đội trưởng, lúc này anh đang nhoài cả người tới chỗ anh. Pa-ven nhanh nhẹn nghiêng người tới và tuy không nghe rõ, nhưng anh hiểu được qua đôi môi mấp máy:

        — Nổ súng !

        Anh lùi lại một bước, hít mạnh một hơi đày không khí, nhìn sang những cây thông xanh, cây bạch dương trụi lá và gào lên:

        — Bắn! Bắn!

        Nhiều loại đạn nổ cùng lúc, khẩu súng máy rền lên một tràng rất dài, còn Pa-ven giơ khẩu súng trường lên, chân bước cả vào vũng nước bẩn ở phía trước, vội vàng lên đạn, bán hết trọn cả băng. Khi thay băng, Pa-ven nhìn thấy kẻ thù chạy tán loạn tứ tung, chen chúc, xô đẩy nhau và điều này làm anh vô cùng sung sướng, chác rằng, chưa kịp hiểu là bị tiến công từ hướng nào, bên bọn Đức lùi khỏi rãnh nước. Kẻ thì ngã xuống, xác chồng chất lên nhau, kẻ thì bò, gió thổi tung những tà áo ca pốt. Những đám khói xanh chập chờn cùng ánh lửa lóe lên giữa những cây thông giống như những túp lều xanh và những thân cây bạch dương khỏe mạnh bóng loáng. Pa-ven bóp cò, lúc này anh chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài việc làm sao bắn được nhiều hơn, bắn, bắn, bắn...

        Mỗi phát súng đều giật vào vai anh, mỗi viên đạn bay ra như một phần của cơ thể anh, làm cho kẻ thù khiếp đảm trong khoảnh khắc này. Một cái gì đó xào xạc ở xung quanh và một cành cây nhỏ bị mảnh chì tiện đứt rơi xuống đầu Pa-ven: ở một vài chỗ, bọn Đức đã bắt đầu bắn trả, nhưng anh hoàn toàn không nhận thấy điều này. Đôi mắt rực sáng lạ thường của anh dường như không nhìn thấy gì...

        Do bị tiến công chính diện bất ngờ, bọn Đức bị thiệt hại khá nặng. Ngay trong những phút đầu tiên của trận đánh, gần một phần ba tiểu đoàn của chúng bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tuy vậy, chúng vẫn còn ưu thế về số lượng và chúng đã chống trả mỗi lúc một mạnh hơn, Và điều đó có nghĩa là không được cho chúng trấn tĩnh, lách vào khe hẻm và tổ chức phản kích... Song chỉ sau này, khi trận đánh đã kết thúc, Pa-ven mới hiểu được nhiều điều xảy ra lúc này và anh nhớ lại người trung úy của mình với tấm lòng biết ơn và cảm phục.

        Khi thay băng đạn thứ hai, bỗng nhiên Pa-ven trông thấy trung úy đứng cạnh anh, chẳng vịn vào ai cả, tựa như có một sức mạnh diệu kỳ nâng anh dậy. Vung tay lên phía trước như định bắt một vật gì đó, khuôn mặt trắng trẻo với đôi mắt rực sáng long lanh hướng về phía Pa-ven, người thanh niên ấy gào lên. Và khi lắp băng đạn mới vào súng trường, qua những tiếng súng liên hồi, Pa-ven mới nghe được:

        — Tiến lên đi! Xông lên đi! — Trung úy hô.

        — Tiến lên! — Pa-ven gào to đến nỗi mọi người đều nghe thấy tiếng anh. — Tiến lên!

        Anh lao ra khỏi cây bạch dương và chẳng thèm cúi người xuống, chạy như bay dẫn dầu toàn đội. Một cảm giác khao khát nóng bỏng dâng lên trong người Pa-ven, y như những ngày hè nóng rực mỡ được nhảy vào bề nước lạnh. Bên trái và bên phải anh, mọi người vừa hò hét vừa chạy theo một hướng với anh, đất bắn bắn lên dưới chân họ, và một người nào đó ngã sóng soài trên bãi cỏ ướt. Song sự say mê của Pa-ven mỗi lúc một tăng... Chỉ có điều là không hiểu sao anh đã bắt đâu nhìn kém đi, một giọt gì đó từ hàng lông mày nhỏ xuống mắt anh và Pa-ven vừa chạy vừa lắc đầu.

        — Tiến lên! — Anh hô, từ trên  trán, máu chảy xuống khuôn mặt to, hiền từ, say sưa và hạnh phúc của anh.

        Không kịp ẩn nấp, bọn Đức lao tới cánh rừng nơi chúng xuất phát, sau đó một số lại quay trở lại khe hẻm. Theo mệnh lệnh của trung úy, các xạ thủ súng máy lao ra khỏi những cây thông và những khẩu súng máy đã chặn đứng con đường rút lui vào rừng. Lọt vào góc bắn nhỏ của hỏa lực không ngớt, những kẻ mịc áo ca pốt xanh đục lại bắt đầu ngã xuống.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:06:56 pm

        Còn lại một mình ở mép rừng, trung úy kịp nhìn thấy sự thất bại và cuộc tháo chạy của quân thù. Trên một mảnh đất bằng phẳng, xác chúng nằm ngồn ngang, những tên bị thương khẽ cựa quậy ở phía tay trái, một số tên chưa bị đạn chạy ẩn vào đám sương mù màu trắng ở bên phải. Chỗ khe hẻm Ni-cô-lm lẻ tẻ vang lên tiếng súng và lựu đạn. Tại đấy, một tốp lính Đức còn chống trả lại... Khi niềm say mê thắng lợi đã nguôi đi , người sĩ quan trẻ cảm thấy vô cùng đau đớn, anh ôm lấy thân cây bạch dương và đôi bàn tay cào vào những cành con, anh quỳ xuống đất.

        — A-a-a-a-a! — Vung khâu sủng trường quá đầu như vung quả chùy, Pa-ven gào lên tuy chẳng nghe thấy tiếng mình. Máu đã ứ lại, chập chờn trên hàng lông mi của anh và anh cỏ cảm giác tất cả xung quanh như đang bay lơ lửng trong màn sương hồng... Một khuôn mặt tròn với hàng ria con kiến, méo xệch vì khiếp đảm của tên lính đội mũ sắt, bất ngờ xuất hiện trước mặt anh, anh vội nện vào đấy một báng súng và bộ mặt với hàng ria mất đi... Pa-ven lấy tay áo lau trán như vẫn lau mồ hôi; bóng tối chập chờn mất đi và anh liền trông thấy Ê-go Trô-sin đang quần nhau vợi hai tên lính đội mũ sắt cách anh mấy bước. Trô-sin bận chiếc bành tô xám, dựa lưng vào thân cây, hai tay lia lịa đâm súng trường tuy không thành thạo nhưng rất nhanh. Một tên Đức mặc ca pốt đứt đây nịt, vung báng súng xông tới chỗ anh. Còn tên thứ hai vừa mới chạy đến và hắn vội vàng lên đạn súng ngắn.

        — Ê-go! — Pa-ven kêu lên và lao tới giúp bạn.

        — Pa-sca! — Giọng nói đứt đoạn ,của Trô-sin vọng tới tai anh. —  Để mặc-mình với nó...

        — Mình tới đây... Ê-go! — Vừa lao tới, Pa-ven vừa gào lên.

        Song chính trong khoảnh khác đó, Trô-sin cong hẳn người lại như bị bẻ gãy toàn thân và anh ngã gục xuống gốc cây: thằng Đức thứ hai đã bắn súng ngắn trúng anh. Tên lính với chiếc nịt bị đứt nhìn Pa-ven, thét lên và quẳng súng chạy. Pa-ven lao tới thằng Đức đã bẳn chết Trô-sin, những viên đạn bay vút qua mặt anh, sượt qua mũ lông. Anh đâm lê với một sức mạnh phi thường, đến nỗi chính anh cũng không đứng vững nữa và ngã khuỵu xuống. Máu từ trán lại chảy xuống mắt Pa-ven và bỗng tất cả lại chìm trong bóng tối.

        — Mình tới đây! — Lắc đầu đè rũ khỏi mắt cái quầng tối này, Pa-ven lại điên cuồng gào lên.

        Khi anh đứng dậy được và nhìn quanh thì chẳng còn mội ai sống sót ở gần đó cả. Ở phía trước, trên bờ khe hẻm Ni-cô-lin, các chiến sĩ đang chạy và ở nhiều chỗ, từng tốp, từng tốp người đội mũ sắt, mặc ca pốt xanh đang giơ tay lên khỏi dầu. Dưới gốc cây, Trô- sin không hề động đậy, dúm người lại chân co lên tận bụng...

        Mười lăm phút sau, những người còn lại của đại đội vừa áp tải tù binh vừa dìu những người bị thương và mang theo những người hy sinh vượt qua khe hẻm, trở về thành phố. Trung úy lại bất tỉnh, im lặng nằm trên cáng. Vừa đi, Pa-ven vừa nhìn những người đồng chí của mình. Có vẻ như làn đầu tiên anh mới gặp anh bạn thợ mỏ tập sự Ô-khốt-nhi-cốp mắt đen — Pa-ven cảm thấy khuôn mặt xám lại của anh ta rất mới lạ và dị thường ; như mới thấy người thợ mỏ A-nhi-xi-máp đang giải tù binh, Trê-kin và Mi-khai-lốp đang cười nói đầy vẻ kích động; nhìn anh thợ tiện Bô-cốp với biệt hiệu Va-nhi-a tóc xoăn, rồi đến anh thợ lò Su-kin với cánh lay quấn băng loang máu. Giờ này đây, tất cả những gì trước anh, cả từ những người công nhân chiến sĩ vừa đánh thẳng kẻ thù mạnh gấp tới bốn lần mình, đến bầu trời đùng đục như sà thấp xuống cái nơi họ vừa mới chiến đấu xong, nào mặt đất mềm sũng ướt đẫm nước mưa, mảnh đất mà họ đã giữ vững được cùng những cây liễu với cành tán lả lướt như những mái tóc buông xoã. Trong giờ phút này, tất cả đều như mơi lạ, như thể lần đầu anh mới được trông thấy chúng, hay nói một cách chính xác hơn là lại tìm thấy chúng. Lấy khăn lau trán, Pa-ven cười rất to, gào lên, vẫy tay...

        Đôi lúc như tỉnh giấc, Pa-ven chợt nhớ tới Trô-sin. Bên tai anh lại vọng lên tiếng kêu: « Pa-sca! Để tự mình giết nó...» — và vô tình anh rảo bước, như thể muốn thoát khỏi tiếng kêu này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:07:28 pm

        ... Khi Bốt-đa-nóp đến được trung đoàn công nhân thì tình hình ở đó thực sự rất căng thẳng. Làng Mư-skin đã bị bọn Đức chiếm, một số xe tăng đã thọc tới tận cửa ô. Song, tuy đã rút quân khỏi làng, trung đoàn vẫn tiếp tục đánh trả. Và từ những công sự đào vội, từ những hố đạn, từ những con mương, từ những hàng rào, họ vẫn nổ súng, vẫn giành với bọn Đức từng tấc đất quê hương thân yêu. Một đại đội của trung đoàn đã mất sức chiến đấu ngay từ giờ chiến đấu đầu tiên, bỏ chạy vào phố bị những người dân — phụ nữ và ông già — ngăn lại trên quảng trường, sau khi quay lại trận địa, liền xông vào trận đánh. Một đại đội khác bị bao vây ở ngay trong làng vẫn kiên trì chống cự trong những công sự bằng đá ở đó. Xe tăng Đức đã đến được ngoại ô T. gặp phải hỏa lực pháo binh ngăn chặn và không thể nhích thêm được nữa. Song lúc này, sườn phải của trung đoàn có nguy cơ bị chọc thủng... Đài quan sát mà Bốt-đa-nốp và đại úy Tra-skin đặt trên tầng thượng gác chuông nghĩa trang mái vòm chạm tới những cành cây dương cổ thụ khổng lồ mọc ở chung quanh. Tra-skin là một thanh niên cường tráng, thân hình to khỏe như người khổng lồ, mái tóc sáng và bộ ngực rắn rỏi nở nang, đeo súng ngắn và xà cột ngang hông, luôn luôn đi đi lại lại, lúc thì quan sát qua cửa sổ hình bán nguyệt, lúc thì quay lại phía các chiến sĩ liên lạc lúc thì đi tới máy diện thoại và phải luôn luôn cúi đầu để khỏi va vào quả chuông. Khi đã gọi điện xong, hay nói một cách chính xác hơn là hét lên để ra lệnh, Tra-skin đưa vội ống nghe cho chiến sĩ thông tin và hất mái tóc vàng óng phủ trên trán cho gọn, nhìn sang Bốt- đa-nốp. Có thể nói rằng, dù đầu óc đang phải tập trung rất căng thẳng vào trận đánh, đại úy vẫn lo lắng trước sự có mặt của người đại diện cấp trên cực kỳ nghiêm khắc mà hôm qua anh đã được nếm mùi.

        Đạn cũng nổ ngay trong địa phận nghĩa trang thành phố, đất đá bắn tứ tung, khói tỏa ra khắp nơi quyện vào những cây cổ thụ phải ba người ôm mới xuể, những chiếc lá bị cuốn lên rất cao. Sau đỏ khói bay ra khỏi hàng rào, song những chiếc lá vẫn còn lững lờ ở trên nghĩa trang và cảnh này thật giống cảnh rụng lá muộn màng đang bị gió cuốn đi.

        Bốt-đa-nốp đứng im lặng trước cửa sổ, thọc những ngón tay mập mạp vào dây da và ghì chặt lại. Dĩ nhiên là đứng trên sở chỉ huy của trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân, Bốt-đa-nốp chỉ thấy một phần nhỏ của trận đánh... Anh vẫn chưa biết rằng ở ngoại ô phía Tây, nơi các đơn vị chủ lực đang chốt giữ những cuộc tiến công của bọn Đức đã hoàn toàn bị đẩy lùi, còn ở phía Đông thành phố, nơi cả một binh đoàn bộ binh chiếm giữ tuyến phòng thủ, kẻ thù cũng bị chặn đứng lại, chịu tổn thất rất nặng và các đơn vị sung sức của ta đã được chuyển tới thành phố cùng với xe tăng Hồng quân đang lao tới ngoại ô phía Nam. Đối với Bốt-đa-nốp, thông thường hình như tất cả sự căng thẳng của trận đánh đều tập trung vào nơi anh đang đứng. Và anh cảm thấy rằng lúc này mũi tiến công chính của kẻ thù đang nhằm vào trung đoàn công nhân và có thể là ở nơi đây sẽ quyết định sự thành bại của trận đánh, tương tự như những gì đã xảy ra với trung đoàn NKVĐ ba giờ trước đây... Đứng lặng yên nghe đại úy Tra-skin ra lệnh, chuyển các chiến sĩ diệt tăng tử vị trí này sang vị trí kia, nghe anh gọi pháo binh và chỉ chính xác mục tiêu, nghe anh động viên người này, cảnh cáo người kia, Bốt- đa-nốp thầm đồng tình với tất cả mệnh lệnh anh đã ra. Song, quân địch vẫn nhích lên được theo hưởng chính diện và sườn bên phải, bất chấp tồn thất, bọn Đức vẫn chiếm hết điểm nọ tới điểm kia: con mương, công sự, khu hẻm, sân nhà, vườn rau; cứ như gặm dần từng miếng hệ thống phòng thủ của ta.

        Tra-skin đã khản cổ tuy vẫn gào thét nói qua điện thoại hoặc phái các chiến sĩ liên lạc đi làm nhiệm vụ. Nhưng anh vẫn luôn liếc nhìn Bốt-đa-nốp, có vẻ như thái độ lặng thinh nặng nề của người trung tá thấp lùn này đã gây cho Tra-skin một ấn tượng là cấp trên hoàn toàn không hài lòng. Và người đại úy trẻ quay đi, hất mở tóc lòa xòa trên trán, như thể nói rằng : « Tôi chỉ huy theo ý định của tôi và tôi không quan tâm đến việc những người khác nghĩ về điều này như thế nào ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:08:22 pm

        Tình hình ở sườn bên phải trung đoàn nơi bọn Đức đã thọc được một mũi vào hệ thống phòng thủ của ta gần đường cái, đặc biệt nghiêm trọng. Bọn xạ thủ tiểu liên đi theo xe tăng của chúng đã đến được cửa ô và xộc vào các ngôi nhà. Tra-skin ra lệnh phải diệt ngay bọn xạ thủ tiểu liên và mấy phút sau, anh được báo ràng Tơ- ri-phô-nốp, chính ủy trung đoàn, cán bộ tỉnh ủy đã hy sinh trong lúc dẫn mọi người lao vào cuộc tiến công mới.

        — Hãy trả thù cho chính ủy! — Tra-skin gào vào ống nghe. —  Hãy tống cồ bọn đê tiện ra khỏi ngoại ô... Tôi sẽ cho anh hỏa lực! — Và giúi ống nghe cho chiến sĩ thông tin, anh đảo ánh mắt nảy lửa sang Bốt-đa-nốp. Bốt-đa-nốp gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Anh nghĩ rằng lúc này người đại úy kiên nghị không cần đến những chỉ thị của anh và cần phải yêu cầu Đi-a-cốp tiếp viện cho trung đoàn. Song ngay lúc đó trung tá liền chú ý đến tình hình mới xảy ra: bọn Đức tập trung một lực lượng lớn đánh vào những vị trí phía Đông Nam và như vậy chúng sẽ uy hiếp sườn trái trung đoàn. Ở đó, sau những ngôi nhà và các hàng cây thấp thoáng hiện ra sân vận động hình bầu dục và xa hơn nữa là những cánh rừng nhỏ xen lẫn với đồng cỏ ngoằn ngoèo, nước lấp lánh trong những vũng sâu, đây đó vẫn còn rải rác những đám sương mù giống như những đám mây nhỏ. Qua ống nhòm có thể nhìn thấy từ trong đám sương mù kia, bọn Đức đang lố nhố kéo đến thành phố, đến sân vận động...

        — Đồng chí trung tá! — Tra-skin nói to như thể quở trách. —  Cần phải đánh trả chúng, nếu không chúng ta không đứng vững được đâu. Tất cả các lực lượng của tôi đã tung ra hết rồi.

        Đi-a-cốp vừa nói chuyện qua điện thoại với Bốt-đa-nốp, liền tung ngay một tiểu đoàn dự bị tới đó đề đập tan mối hiểm họa mới. Có thể trước đây thiếu tướng chưa đụng đến lực lượng dự bị của mình là để dành cho trường hợp này. Ngoài ra, quân tiếp viện đã đến thành phố... Song chẳng bao lâu, mọi người thấy rõ là chính những tên lính Đức đang định vượt qua trung đoàn công nhân lại bị tiến công bởi một đơn vị nào đó ở ngay sau lưng chúng.

        — Chắc là Grát tiến công chứ không còn ai nữa — Bỏ ống nhòm xuống, đại úy Tra-skin phỏng doán.

        — Grát là ai vậy? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        — Xin lỗi, là Gra-trép, — Tra-skin nói — trung úy Gra-trép, đại đội trưởng đại đội rút ở đơn vị Khlép-nhi-cốp. Tất cả chúng tôi đều gọi cậu ta là Grát.

        Anh lắc đầu hất mớ tóc lòa xòa trước trán và nhìn Bốt-đa-nốp như thể muốn thêm vào : « Thế mà anh đã không hài lòng với chúng tôi...» — Trung tá nhìn ống nhòm rất lâu, sau đó quay sang Tra-skin.

        — Rất tốt. — Anh nói — Thật tuyệt vời! Hãy đề nghị tặng thưởng huân, chương cho đại đội trưởng Grát,— và trung tá lặng lẽ uể oải tựa như khó nhọc lắm mới mỉm cười được. — Grát đúng là con én xuân ! — Anh lẩm bẩm nói thêm.

        Mối hiểm họa từ sườn trái đã được loại trừ và Bốt-đa-nốp chuyển tiểu đoàn do Đi-a-cốp phái đến, sang phản kích ở cửa ô.

        Đển mười hai giờ trưa, tình hình ở những khu vực khác của tuyến phòng thủ thành phố, nói chung không thay đổi. Các đơn vị chủ lực ở phòng tuyến phía Tây vẫn không lùi một bước. Trung đoàn NKVĐ tiếp tục chiến đấu trên những vị trí cũ. Sau đó, các đơn vị mới đến cũng tham gia vào trận đánh và tình hình của những người bảo vệ phòng luyến lập tức tốt hơn. Sau này, Bốt-đa-nốp được biết là xe tăng của ta đã phản kích ở khu vực nhà máy gạch. Cùng lúc đó, pháo chống tăng cũng được chuyển tới tận cửa ô và những chiếc tăng Đức thọc được tới đó, đã bị tiêu diệt...

        Bộ binh địch vội vàng rút lui khỏi làng Mư-skin, các chiến sĩ Hồng quân đã đẩy lùi kẻ thù ra khỏi những vị trí mà chúng vừa chiếm được. Những trận đánh giáp lá cà, những ánh lửa lựu đạn màu trắng bùng lên ở khắp mọi nơi và bọn Đức đã không chịu nổi — những người lính mặc áo bạt thâm sũng vì mưa, đang bám đuổi sát chúng. Như vậy, là tình hình trên trận địa của trung đoàn công nhân đã được phục hồi và chỉ làng Mư-skin là còn ở trong tay quân thù. Đến hai giờ chiều, bọn Đức phải ngừng hoàn toàn các cuộc tiến công của chúng — trận tiến công thứ nhất vào thành phố đã bị đẩy lùi.

        Bốt-đa-nốp cho óng nhòm vào bao, chia tay với Tra-skin và đi xuống sâu theo chiếc cầu thang sắt hình xoáy ốc để đến gặp Đi-a-cốp. Anh đi ra cổng, chậm chạp bước như đi trên bãi cát dày... Chung quanh đều im lặng, im lặng một cách lạ thường... Bốt-đa-nốp khát cháy cổ họng và đưa mắt tìm xem ở đâu có nước uống. Những con chim lạ màu xám, ríu rít nhảy nhót trên các tảng đá trong sân con và nhớ ra rằng đấy là chim sẻ, trung tá lại mỉm cười ngượng nghịu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:20:38 pm

PHẦN THỨ BA

1

        Suốt chiều, mưa tuyết lại rơi, không thấy bóng dáng chiếc máy bay Đức nào xuất hiện. Các khẩu pháo phòng không nghếch nòng lên trời im lặng, và không khí yên tĩnh đã bao trùm lên toàn thành phố từ lúc hai giờ trưa chưa bị khuấy động.

        La-tô-skin từ bộ tham mưu quân khu trở về Da-rê-tri-e, nơi Ủy ban bảo vệ thành phố đã chuyển đến đây sáng hôm nay và hiện đang đóng tại một ngôi trường học. Những người đến gặp chủ tịch ủy ban bảo vệ đã ra về từ lâu, người thì trở lại khu phố mình, người xuống nhà in, người vào nhà máy hoặc về các đơn vị bộ đội. Riêng Sa-rốp vẫn ngồi ngủ thiếp đi trên chiếc đi văng và La-tô-skin vẫn còn cặm cụi bên bàn làm việc, vai khoác hờ chiếc bành tô. Sau cánh cửa vẫn vang lên tiếng máy chữ lách cách. Bà thư ký đang đánh máy lại tài liệu gì đó, và người ta có cảm giác hình như suốt đêm bà không ngủ. Thỉnh thoảng vẫn nghe thấy tiếng chân người lính gác bước đều đều ở hành lang. Một tập tài liệu dày vẫn nằm trước mặt La-tô-skin, ông đang liệt kê những công việc phải làm, những điều mà chủ tịch ủy ban bảo vệ phải quan tâm tới. Một điều lạ lùng là mới chiều nay ông chưa hình dung được việc gì cả, thế mà giờ đây, trước mắt đã thấy bao nhiêu việc phải làm. Cầm lấy bút chì, ông vội ghi những công việc mới « Việc sản xuất xe lửa bọc thép. Liệu có kịp thời hạn không?», «Sáng mai phải đến thăm các viện quân y», « Phải hỏi thêm về gia đình Tơ-ri-phô-nốp. Phải giúp đỡ Họ» «Phải bào đảm việc sản xuất súng cối!». Ghi xong tất cả các việc ấy, La-tô-skin quay điện thoại. Đầu tiên, ông gọi đây nói cho xưởng đóng toa xe và ông đã nhận được những tin tốt lành: việc sản xuất đoàn, tàu bọc thép đã xong, đầu máy và các toa xe đã được bịt thép. Khoảng hai ngày nữa là có thể giao cho bộ tư lệnh.

        — Các đồng chí thân mến, có thế chứ! Nơi nào không đủ vật liệu thì đã có trí thông mình giải quyết. — Lấy tay che miệng để không làm Sa-rốp thức giấc, ông khe khẽ reo lên.—Có nghĩa là nếu các đồng chí không phản đối: ngày mồng hai chúng tôi sẽ đến nhận đoàn tàu bọc thép đó...

        Tiếp đó, ông quay số điện thoại gọi tới nhà máy chế tạo công cụ và đề nghị gọi hộ Pi-ốt Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp. Đặt ống nghe xuống, ông ngồi đợi trả lời và khép chặt chiếc bành lô vào người. Ông cảm thấy ấm áp dễ chịu hơn tuy trong phòng không đến nỗi lạnh lắm.   
        Từ phòng bên, bà thư ký bước vào phòng, tay cầm ấm chè, tay ôm tập công văn mới nhận trong ngày.

        — Chị Ma-ri-a A-lếc-xây-ép-na!— Quay về phía bà, ông thì thào nói. — Chị đi ngủ ngay đi! Chị vẫn không thấy mệt à?

        Bà thư ký đặt ấm chè và chiếc cặp lên bàn rồi nhìn ông như hỏi lại:

        — Tôi cũng đi ngủ bây giờ đây. — Ông trả lời cái nhìn của bà. —  Chị phải đi nghỉ thôi...

        Ông nhìn khuôn mặt mệt mỏi xanh xao, không còn trẻ trung, nhìn mái tóc chải mượt mà, bộ trang phục đen là phẳng phiu của bà, và muốn nói với người cộng tác gần gũi nhất của mình một lời tốt đẹp nào đó.

        — Chúng ta đã mở đợt tiến công đầu tiên rồi, chị Ma-ri-a A- lếc-xây-ép-na ạ... Tất nhiên không phải là không có khó khăn, nhưng chúng ta sẽ khắc phục được.

        — Đúng thế, mọi việc sẽ tốt dẹp, anh I-a-cốp La-tô-skin.— Bà thư ký trả lời. — Thôi, nếu anh không cần gì nữa thì tôi ra đây.

        — Vâng, chị đi nghi đi!... À, chỉ còn việc này nữa thôi... Chị có biết về gia đình Tơ-ri-phố-nốp không? Chị vợ anh ấy bây giờ ở đâu nhỉ?

        — Chị vợ và đứa con trai đang ở đây. Còn bố mẹ anh ấy đang sống ở Ô-rê-khô-vô Du-ép... Tôi mới hỏi thăm được có thế thôi!

        Cả hai đều im lặng một phút rồi La-tô-skin khẽ nói:

        — Tơ-ri-phô-nốp của chúng ta đã hy sinh như một người anh hùng.

        Ông ngôi xuống ghế, kéo cặp hồ sơ giấy tờ về phía mình. Bà thư ký vẫn đứng nguyên, đăm chiêu suy nghĩ một lúc, rồi lặng lẽ đi ra. La-tô-skin mở cặp giấy, nhìn thấy chiếc phong bì nằm ngay ở trên, ông liền bóc luôn. Đây là thư của giám đốc nhà máy đã đi sơ tản khỏi T. từ đầu mùa thu. Khi đọc đến những dòng cuối cùng, La- tô-skin ngước mắt nhìn Sa-rốp đang ngủ say và do dự, có nên đánh thức anh ta dậy để cùng chia sẻ những tin tức quan trọng này hay không ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:21:04 pm

        Thật phấn khởi, ở địa điểm mới, một trong những nhà máy lớn ở T. đã cho ra sản phẩm, mặc dầu các phân xưởng, như giám đốc nhà máy cho biết, chưa được xây dựng xong hoàn toàn. Ông giám đốc còn nói là những khó khăn gian khổ ở chỗ ông không thấm gì so với những vất vả mà các bạn ông trong thành phố bị bao vây đang phải chịu đựng. Tóm lại, bức thư viết là ở nhà máy đang làm những gì cần thiết cho quân đội và công cuộc bảo vệ thành phố, còn sắp tới sẽ phải làm gì nữa! « Nói chung, cần phải hiểu rằng, những gì khó khăn chủ yếu, nặng nề nhất đã bị đày lùi, — ông giám đốc viết. — Chúng tôi đã làm ăn một cách khẩn trương nhưng không hấp tấp và sẽ không để xảy ra các sự cố đặc biệt nào cả... Chúng tôi phải bắt đầu, tôi không giám giấu, hoàn toàn từ tay trắng. Thậm chí khí hậu ở đây, nói một cách đúng đắn, là rất khắc nghiệt, không hợp với chúng tôi...», sau đó bức thư kể tiếp: mọi người đã phải chuyền các máy móc thiết bị dưới những cơn gió bấc hung dữ như thế nào, bám máy suốt ngày đêm ra sao, các kỹ sư đã thức trắng bao đêm ròng để lắp đặt các cỗ máy phức tạp như thế nào, cuối cùng là đám thanh niên nhà máy đã làm việc hăng say ra sao...

        La-tô-skin đã đặt bức thư xuống bàn, nhưng ngay sau đó ông lại cầm lên đọc lần nữa. Đúng, việc sơ tán di chuyển các ngành công nghiệp ra khỏi T. đã được hoàn thành trong một thời gian ngắn. Có lẽ từ thế kỷ XVI đến nay, nếu không nói trước nữa, các nhà máy ở T. đã ghi vào lịch sử của mình bằng một sức mạnh diệu kỳ, các nhà máy đã được chuyển đến chỗ khác và ở đó chúng lại tiếp tục nhả khói.

        Các nhà máy lớn này chưa bao giờ được xây dựng ở vùng trung tâm nước Nga, thế mà giờ đây, khắc phục mọi khó khăn, chứng đã trở thành những nhà máy sản xuất loại một nằm xa mặt trận đang phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Quả thật, chỉ có một phương án quan trọng nhất nằm trong kế hoạch là phải chuyền các cơ sở công nghiệp từ phía Tây sang phía Đông. Trong khi có hàng nghìn đoàn tàu tiến ra mặt trận chở các loại vũ khí — như đại bác, xe tăng, súng cối, các loại đạn khác nhau — thì đồng thời cũng có hàng nghìn đoàn tàu khác từ mặt trận chạy ngược lại chở theo hàng triệu tấn thiết bị vô giá của các nhà máy: máy cái, ống dẫn, mô tơ, máy cán ép... và hàng trăm nghìn con người biết sản xuất vũ khí.

        Đọc đi đọc lại bức thư từ phương xa gửi tới, Lá-tô-skin vừa sung sướng, vừa xúc động thực sự vì ông cảm thấy đối với Đảng, mà ông là một tế bào nhỏ bé, thì không có việc gì là không thể làm được, không có khó khăn nào là không thể vượt qua được... Và ông, người bí thư tỉnh ủy, từ lâu là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Bôn-sê-vích, lại một lần nữa cảm thấy rõ rệt sức mạnh tổ chức lớn lao của Đảng.

        Đặt bức thư xuống bàn, ông vươn vai đứng dậy, cảm thấy người hơi sốt, mặt hơi nóng, có lẽ do những đêm mất ngủ gần đây gây nên.

        Chuông điện thoại reo, ông cầm lấy ống nói:

        — Vâng, vâng, tôi đây, chào anh Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, — ông nói khẽ. — Công việc ở chỗ anh như thế nào rồi ? Mọi người đã tập hợp đầy đủ chưa? Bây giờ chúng tôi có thể giúp các anh gì nào? Anh hãy kể cho tôi nghe công việc ở đấy, và những thử các anh cần.

        Tại nhà máy chế tạo công cụ, các thiết bị đã được chuyền hết về phía Đông, không còn một cái máy, một mẩu thép nào để lại ở nhà máy cả. La-tô-skin không thể tin được rằng việc sản xuất súng cối lại được tiến hành ở đó.

        Ông vừa lắng nghe chăm chú, không ngắt lời người nói, vừa kéo lại chiếc bành tô cho ngay ngắn. Một lát sau mới hỏi tiếp:

        — Ô, thế ra ông già Grô-mốp cũng ở chỗ các anh à ?... Cả Ca- da-cốp nữa ư?... Ừ, đó mới thật là một đội sản xuất cự phách.

        — Vâng, họ đang ở đây — ông nghe thấy trong ống nói — một đội sản xuất gồm các thợ bậc thầy, không thể phong cho họ bậc nào thấp hơn được, giá như có thể thì phải gọi họ là những người thợ chuyên gia, thợ hàn lâm...

        La-tô-skin còn hỏi một vấn đề mà ông đang quan tâm: theo lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố, người ta đã chở một số ống đến nhà máy này để làm nòng súng cối, vậy ở đó đã làm thử chưa ? Sau một lúc lâu im lặng, ông mới nghe thấy tiếng trả lời của người thợ chế tạo già:

        — Tôi nghĩ ràng nhất định chúng ta sẽ thành công...

        — Như thế nhé, Pi-ốt Oóc-lốp, chúng ta sẽ thành công. — Ông cao giọng, nhưng ngay lập tức lại nói se sẽ dù nghe, khi thấy Sa-rốp cựa quậy. — Chúng ta sẽ có súng cối của mình nhé?...

        — Sẽ có, nhất định sẽ có, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vích —  Oóc-lốp trả lời.

        La-tô-skin thầm nghĩ, tuy các nhà máy ở T. phải chuyển khỏi thành phố nhưng hình như vẫn tiếp tục sản xuất ngay tại chỗ cũ của mình. Ngồi thêm mấy phút để sắp xếp lại những tờ giấy trên bàn, sau đó thốt nhiên ông gục đầu xuống, mái tóc xoăn rủ xuống trán và trong giây lát, ông thiếp đi ngay trên bàn làm việc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:21:35 pm

        Bà thư ký nằm ở phòng bên cạnh trên chiếc đi văng nhỏ bọc ni lông, người đắp chiếc bành tô, nhưng vẫn không tài nào ngủ được. Vừa đánh máy sao lại bản lý lịch Tơ-ri-phô-nốp, bà được biết là Tơ-ri-phô-nốp đã vào Đoàn từ năm 1919, cha làm thợ đá, mẹ là công nhân. Tơ-ri-phô-nốp đã bị thương trong Nội chiến, trên mặt trận phía Đông: và từ năm 1933 cho đến ngày hy sinh, ông làm công tác Đảng. Ý nghĩ về con người vừa xa lạ vừa quen thuộc đối với bà không dứt khỏi tâm trí bà. Con người đó đã sống một cuộc đời trong sạch, cao quí, dường như được tạo ra từ loại thép qui.

        Công việc trong các xí nghiệp ở thành phố, hay đúng hơn là trong các tòa nhà trống trải đã được phục hồi nhanh chóng ngay từ những ngày bị bao vây đầu tiên. Ở nơi này, người thì sửa chữa những khẩu pháo bị hư hỏng trong các trận đánh. Ở nơi khác các chị phụ nữ đang làm lựu dạn, và ở chỗ khác nữa, người ta đang làm ngòi nổ cho các chai cháy. Ở xưởng toa xe, nơi đóng các toa bọc thép, công việc không ngừng một phút, còn ở xưởng cơ khí, một nhóm công nhân và kỹ sư đang bàn bạc chuẩn bị cho việc ra đời các loại súng cối.

        Bằng một vài cỗ máy từ thế kỷ trước đã hết thời gian sử dụng tìm thấy ở kho nhà máy và cần được sửa chữa lại, cùng các thứ phụ tùng linh tinh lặt vặt khác tìm thấy ờ các xưởng thủ công, chi vài ba ngày sau, người ta đã tạo nên ở đây, ngay trong tòa nhà của nhà máy đã sơ tán này, một phân xưởng sửa chữa mới, nhỏ bé.

        A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vich Grô-mốp thấy cái «díp» này khác hẳn những cái trước, nó không đến nỗi bị mòn lắm, còn có thể sử dụng được tốt, nên chăm chú theo dõi sự hoạt động của nó và thấy hài lòng. Nhưng thực ra trong thâm tâm, người thợ tiện già này đang có điều lo lắng gì đó và ông đã khéo giấu không cho mọi người thấy. Không phải ông sợ những kinh nghiệm và hiểu biết của mình đã tích lũy được trong nửa thế kỷ qua bị mai một đi, mà sợ là liệu mình có thể đứng vững được bên cỗ máy với đôi chân bị bệnh khớp này không? Lúc nãy, khi đi về nhà lấy dụng cụ và bất ngờ gặp cô con dâu giữa đường trở về nhà máy, ông thấy mình rất mệt. Đôi chân ông như đeo cùm, cứ mỗi một bước đi cơn đau ờ các khớp xương đầu gối lại hành hạ, ông phải khó nhọc lắm mới lê được đến nhà máy. Hình như tất cả sức lực mà dột nhiên ông cảm thấy như được hồi phục lại trong những ngày vừa qua, đã biến đi đàng nào hết, đã phản bội lại ông đúng vào cái thời điểm quan trọng này, đúng vào lúc ông đang cần đến nó.

        Sau khi đã thu dọn chỗ làm, sắp xếp lại dụng cụ, đồ nghề, chuẩn bị lại các loại dao tiện cho buổi làm ngày mai, ông khập khiễng đi từ phân xưởng tạm thời về ngôi hầm trú ẩn của nhà máy nay đã thành chỗ ở tập thể thì trời đã tối mịt.

        Ngồi xuống cái giường sắt, trải chiếc áo khoác xám làm đệm, ông im lặng từ từ kẻo chiếc ủng ra, phải nghiến chặt răng để không bật lên tiếng rên. Và nỗi buồn tuổi già, nỗi buồn cay đắng vì không làm việc được nữa lại day dứt, dằn vặt ông.

        Bên bàn, dưới chiếc đèn được chụp bàng sắt tây, ông già Oóc- lốp Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, râu bạc phơ, mắt đeo kính lão, những ngón tay thuôn dài giơ cao tờ báo, đang đọc to cho mọi người nghe. Năm sáu người ngồi chật cả các giường xung quanh, chăm chú lắng nghe.

        — « Các đơn vị của ta đang chiến đấu ở các hướng Môrgiai-xcơ, Ma-Iai-a Rô-sláp, Khác-cốp và Ta-gan-rô. — Giọng “của Oóc-lốp vọng đến giường Grô-mốp nhỏ nhẹ. — Ở mặt trận phía Tây trên các hướng khác nhau, bọn Đức đã mở hàng loạt cuộc tiến công ác liệt vào các trận địa của ta. Tất cả các cuộc tiến công của bọn phát xít Đức đều bị đẩy lùi với những thiệt hại nặng nề...

        — «Sau nhiều ngày chiến đấu, — Oóc-lốp đọc tiếp, — quân ta đã tiêu diệt và làm bị thương khoảng năm mươi nghìn tên địch, phá hơn hai trăm năm mươi xe tăng, một trăm bảy mươi đại bác, gần một nghìn hai trăm xe vận tải. Các đơn vị bộ đội ta đã rút khỏi thành phố Xta-lin-nô...».

        — A... ha... Đánh thế mới gọi là đánh chứ... — Không im lặng được nữa, một giọng làm bàm kéo dài.

        — Con đường đến với tội lỗi lúc đầu đều mở rộng, sau mới dần thắt hẹp lại, — giọng nói nhỏ nhẹ nhưng vui nhộn của Ca-da- cốp vang lên. — Các anh cứ chờ xem, sẽ đến lúc bọn Đức bị giáng trả lại, lúc đó chúng ta sẽ nói được những câu chuyện hay hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:22:17 pm

        A-Iếc-xây Grô-móp khó khăn lắm mới nhắc được đôi chân lên giường, sau đó ông xoải chân ra và thấy người dễ chịu hẳn, nhưng đồng thời chưa bao giờ lại cảm thấy tâm hồn nặng trĩu, buồn bực như những giây phút này.

        — « Phong trào thi đua chào mừng Cách mạng tháng Mười sắp tới đang dấy lên ở các xí nghiệp, nhà máy, các nông trường, nông trang tập thể, nhằm thực hiện tốt nhất các nhu cầu của mặt trận. Tiến độ sản xuất hàng quân sự của nhà máy chế tạo En-ski ở Lê- nin-grát tăng nhanh hàng ngày... Trong mỗi ca sản xuất, thợ tiện Pô-lu-bôi A-ri-mốp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch của bốn ngày... ». Khi đọc đến chỗ này, Oóc-lốp đưa mắt nhìn những người xung quanh.

        — Trước chỗ tôi cũng có cậu học sinh Mi-sa Pô-lu-bôi A-ri- mốp, không biết có phải đúng cậu này không? — Ồng nói. — Nếu là cậu này... Nhưng thôi. «Thợ tiện Mô-sca-lép và Cu-đri-a-sép, thợ cùng ca, trong một ca sản xuất đã làm được hai mươi chi tiết máy so với bảy chiếc theo định mức. Thợ tiện Bru-xnhi-kin đã tăng tốc độ cắt gọt lên gấp hai lần và hoàn thành nhiệm vụ sản xuất vượt bốn trăm phần trăm...».

        «Giờ ngủ rồi mà họ còn đọc to những cái này làm gì nhi?» —  Ông già A-lếc-xây Grô-mốp thầm nghĩ và ghen tị với những kết quả cao mà những anh chàng Pô-lu-bôi A-ri-mốp, Mô-sca-lép, Bru- xnhi-kin không quen biết nào đó đã đạt được. Cần phải cho mọi người đi ngủ chứ.

        ... Oóc-lốp sau đó phải đi luôn đến xưởng, còn Ca-da-cốp nằm xuống cạnh A-lếc-xây Grô-mốp. Người dong dỏng, nhỏ nhắn, cái đầu hói của ông chi còn lơ thơ mấy sợi tóc bạc, trông ông già hơn Grô- mốp đến một hai tuổi. — Nhưng đây lại là một con người hạnh phúc — ông già Grô-mốp bực bội thầm nghĩ — ông ta vẫn giữ được dáng đi nhanh nhẹn mà mình vẫn thèm muốn. Ca-da-cốp chỉ cần vài bước là mình đã phải đuổi tóe khói ra rồi.

        — Bác lại khó chịu không ngủ được à, A-li-ô-sa? — Ca-da- cốp hỏi, giọng nho nhỏ. — Thôi, tốt nhất là cố gắng ngủ đi, ông bạn già ạ... Sáng mai chúng ta phải làm sớm mà.

        — Thế sao chính ông cũng không ngủ? — A-lếc-xây Grô-mốp bực bội hỏi lại.

        — Ồ người anh em ạ, tôi hầu như không thể ngủ được. Buồn cười thật đấy, không hiểu bây giờ cái ý thức tổ chức của tôi nó đi đàng nào rồi — vẫn hóm hỉnh hào hứng như mọi khi, Ca-da-cốp trả lời. — Cứ cố thiếp đi một chập rồi lại cố thêm một giờ nhưng mắt vẫn cứ tỉnh như vừa tắm ở suối lên.

        A-lếc-xây Grô-mốp khẽ động đậy đôi chân tê buốt dưới chăn, hình như cơn đau đã bớt được phần nào.

        — Bác vẫn hoàn toàn như thế, phải bỏ hẳn cái kiều nhai đi nhai lại đi. — Không nhìn lên người bạn, ông nói tiếp. — Bác có vẻ như những tiên ông trên trời...

        — Đấy... đấy... chính tôi cũng đang phòng ngừa cho mình điều đó. — Ca-da-cốp vui vẻ trả lời. — Tôi chỉ còn băn khoăn có điều đó là bởi vì tôi đã gày mòn, khô héo dường như người bị bốc hơi hết rồi. Giờ đây, thế có nghĩa là không thể đòi hỏi tôi như đòi hỏi mọi người khác mà phải đòi hỏi nhiều hơn, gấp ba gấp bốn lần...

        Đặt cổ tay phải vào bàn tay trái để do xem béo hay gầy, ông muốn chứng tỏ rằng bây giờ chính ông cần cái gì.

        — Đúng là chuyện hoang đường, mà không chỉ thế thôi. — ông vẫn tiếp tục vui vẻ nói. — Bác A-li-ô-sa ạ, tôi thấy bác đang đau yếu già nua đi đấy, còn loại tôi, ông bạn già ạ, ngày càng hiếm trên trái đất này đấy. Bác vừa nói đấy, thời gian qua đi, bác thì thấy bản thân nhiều chuyện bực mình, cỏn tôi tất cả đều dễ chịu.

        A-lếc-xây Grô-mốp lặng thinh, bực mình vì những lời nói đùa có vẻ không đúng lúc của Ca-da-cốp.

        Ở giường bên, ông già thợ tiện An-ma-dốp cựa mình. Mái tóc bạc với bộ râu dài trắng phau, trông ông giống như ống già Nô-en, những đường gân nhỏ hồng hồng trên má. làm mặt ông thêm đỏ tía. Từ nãy đến giờ, ông vẫn ngồi im cúi đầu xuống đầu gối đang kẹp chặt hai bàn tay, im lặng không tham gia cuộc tranh luận của hai người.

        — Bác thấy đấy, bao nhiêu là công việc. — Bây giờ ông mới nói. — Nếu chúng ta tính thử xem người nào có những bệnh gì thì đến sáng chúng ta cũng không tính hết được. Lúc này là phải quên hết bệnh tật đi.

        — Bác nói rất đúng, — Ca-da-cốp thốt lên sung sướng. —  Bọn trẻ bây giờ ở mặt trận đang cần đến chúng ta. Như vậy, một lần nữa, có thể là lần cuối cùng, chúng ta lại được đứng lên bảo vệ chính quyền Xô-viết.

        — Khe khẽ một tí, bác Cu-dơ-ma! — Ông già Grô-mốp nói. —  Mọi người đã ngủ rồi đấy.

        An-ma-dốp cúi chiếc đầu bạc trắng như tuyết, chìm đắm trong đăm chiêu suy nghĩ.

        Ca-da-cốp nhìn xung quanh, vòm cửa hầm được xây cao, mái hầm hình vòm. Ở tít góc trong, nơi để những chiếc ghế, là chỗ dành riêng cho «giới trẻ», là những người chưa vượt quá cái tuổi năm mươi; tiếng ngáy đều đặn của ai đó đang vang lên.

        — Prô-ta-xốp đã ngủ rồi, — Ca-da-cốp lẩm bẩm ngạc nhiên. —  Đúng là quỷ chứ không phải người, đặt mình xuống là ngáy được rồi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:23:56 am

        Cách đấy một quãng là bộ tóc bù xù con nhím của Ni-cô-lai- ép, thợ khắc chạm, thò ra dưới gối. Ông cũng là bạn cũ của Grô- mốp, một con người tế nhị, dịu dàng và năng nổ.

        — Bác có công nhận không, hả bác Cu-dơ-ma ? — Quay sang Ca-da-cốp, Grô-mốp hỏi với giọng yếu ớt, dường như bị nghẹn. —  Thói quen lao động, đây là liều thuốc quý giá nhất. Chỉ sau một đợt lao động, anh có thể ăn ngon ngủ yên như bọn trẻ ngay.

        Nói xong, ông lim dim đôi mắt tỏ vẻ muốn ngủ... Đối với Ni- cô-la-ép, một ông già còn khá khỏe mạnh, thì sự dễ chịu, thoải mái, nói về phương diện nghề nghiệp, là được đứng làm việc, được nói chuyện về công việc trong tuần tới.

        Trong thâm tâm ông già Grô-mốp cảm thấy lo sợ vì có thể làm việc kém hcn mọi người, phần thể xác của ông không chịu quyền điều khiển của ông nữa, nó đã già yếu đi rất nhanh chóng so với khả năng muốn hoạt động, nghị lực của ông. Bởi vậy nhiều lúc ông cảm thấy mình không phải là đã già, nhưng thực tế lại phải sống với cơ thể yếu ớt của mình và ông cảm thấy nặng nề khó chịu vì mọi người xung quanh đã hiểu ông rất cặn kẽ và do đó, trong công việc họ nhường nhịn ông, ông không được đứng ngang hàng với họ. Còn đối với ông, lòng mong ước được làm việc như mọi người đã trở thành thói quen trong những năm qua, bây giờ ông không muốn ai đụng đến bệnh tật của mình cả. Ông cảm thấy xấu hổ và thầm nghĩ một khi nỗi bất hạnh đã đến thì tự bản thân ông sẽ vượt qua được mà không cần đến bất kỳ sự giúp đỡ của ai.

        Grô-mốp thức giấc khi trời chưa sáng hẳn. Ông hơ ấm chân rồi lấy xà cạp quấn lại một cách cẩn thận hơn và chặt hơn mọi khi, sau đó đi tất ra ngoài. Mặc xong quần áo, ông chậm chạp đi dần ra phía cửa buồn rầu nhưng kiên quyết như một đấu thủ quyết chiến đấu đến cùng trong cuộc đấu không cân sức. Ông đã tự nhủ thầm chỉ chịu rời khỏi xưởng chừng nào ông không còn đứng được nữa và người ta phải khênh ông ra khỏi xưởng mới thôi.

        Trong phân xưởng của ông, trước đây là phòng thiết kế rộng lớn, ấm hơn hẳn tất cả các phân xưởng khác của nhà máy. Những chiếc máy tiện, máy phay, máy khoan cũ kỹ, han gỉ được lắp ráp trong một thời gian ngắn đã sẵn sàng làm việc. Những lúc khác nhìn thấy chúng thì Grô-mốp thường nở nụ cười bao dung, độ lượng. Nhưng giờ đây chúng chỉ làm cho ông thấy khó chịu, nặng nề vì cái vẻ già nua cũ kỹ của chính chúng.

        Mười lăm phút, rồi nửa tiếng trôi qua, máy vẫn chạy tốt, tiếng reo đều đặn, nhịp nhàng, những thoi kim loại trắng lấp lánh bị nguội lạnh khi qua chất dịch rơi xuống dưới chân người thợ tiện già kêu lanh canh nghe rất vui tai, làm cho Grô-mốp cảm thấy tâm trí thanh thản dễ chịu hơn. Có thể là không đúng, nếu nói rằng, được trở về bên chiếc máy thân yêu sau thời gian xa vắng nó, giờ đây ông cảm thấy một niềm phấn chấn rất long trọng và căng thẳng. Được làm những công việc mà mình vẫn yêu thích, ông lại cảm thấy tự do, thoải mái hơn nhiều. Cũng giống như một người đi xa mệt mỏi khi trở về nhà lại được mặc bộ quần áo ưa thích, mát mẻ hàng ngày của mình. A-lếc-xây Grô-mốp lắp thỏi thép vào gá ngoàm rồi mở máy, đưa dao tiện vào thỏi thép, điều chỉnh tốc độ vòng quay lúc tăng lúc giảm và công việc cuốn hút tài năng lão luyện chính xác đến kinh ngạc cửa ông. Qua nhiều năm làm việc đã tạo cho ông một sự nhạy cảm rất tinh tế, nhạy bén với máy móc và dụng cụ của mình, kể cả những máy khó sử dụng. Ông coi máy như một người ngang hàng với mình, ông thường thủ thỉ nói chuyện, tâm sự với nó, sửa đi sửa lại các bộ phận của nó và ngược lại nó cũng không phụ lòng ông, nó luôn làm việc tốt. Từ lâu rồi, đối với ông, lao động sáng tạo là một cái gì đó rất huyền bí diệu kỳ, mà chỉ có những người thợ lão luyện, lành nghề mới khám phá ra nó. A-lếc-xây Grô-mốp như một chuyên gia thực thụ, các thao tác của ông chính xác, nhanh nhẹn, hơn nữa, trong ông còn có một đặc điểm rất đáng quý mà người ta thường gọi là sự linh cảm với máy móc.

        Nhưng cái bản năng cảm thụ, thậm chí hình như là đoán trước được những điều mà người khác không thấy trong công việc, làm mọi người ngạc nhiên chẳng phải là cái gì xa lạ thần bí ngoài việc biết tích lũy các kinh nghiệm lâu năm. Và giờ đây, ông lại có dịp vui thú với tài năng của mình, cái tài năng đã trở thành nguồn gốc của lòng tự hào, nhưng đứng ngoài nhìn vào thì có vẻ như không cần cố gắng gì lớn lao lắm. Ngắm nghía sản phẩm vừa làm xong đang âm ấm và nặng trịch, bóng loáng như một vật báu nằm trên lòng bàn tay dính dầy dầu mỡ, người thợ già lãng quên ngay tất cả những điều ấm ức vừa qua.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:24:16 am

        Ít giờ sau, toàn nhà máy đã biết tin là trận chiến đấu chặn bọn Đức tiến công đã bắt đầu diễn ra trên đường Oóc-lốp ở phía Nam thành phố. Nhà máy cách các vị trí tiền tiêu khoảng một ki-lô-mét rưỡi nên nghé rất rõ tiếng đại bác, pháo nổ và cả liên thanh nữa. Các cánh cửa kính đều bị rạn, các cửa thông hơi bị nửt nẻ. A-lếc- xâv Grô-mốp và các bạn già của ông vẫn tiếp tục làm việc coi như không có gì xảy ra, nhưng họ vẫn thấp thỏm chờ đợi từng phút lệnh rời khỏi nhà máy. Họ biết rõ tòa nhà phân xưởng đã được đặt mìn và nếu quân thù tràn được vào đây, họ sẽ cho mìn nổ. Những người được phân công phá nổ từ hôm qua đến giờ không lúc nào rời vị trí, sẵn sàng chờ đợi hiệu lệnh là bấm điện. Bởi vậy, A-lếc-xây Grô-mốp cũng như tất cả mọi người trong nhà máy đều hết sức khẩn trương tranh thủ tính toán từng phút, để khi chưa có lệnh cuối cùng phát ra, họ vẫn có thể làm những gì cần thiết. Khuôn mặt nhăn nheo già nua của ông đã lấm tấm mồ hôi, mái tóc bạc hoa râm xõa lòa xòa xuống trán. Chính cái ý nghĩ cho là trong buổi sáng nay con trai mình, Pa-ven của ông, đang chống trả quyết liệt kẻ thù đã làm cho ông vừa lo lắng nhưng đồng thời cũng tiếp thêm cho ông một sức mạnh mới. A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy chính Pa-ven, chứ không phải ai khác, đang nóng lòng đợi những khẩu súng mà người cha thân yêu của nó đang làm. Ngoài sự lo lắng khi nghĩ đến những nguy hiểm đang đe dọa Pa-ven, ông còn lo sợ khi thình lình nhận được lệnh rút ra khỏi nhà máy, rồi nhà máy sẽ bị phá và hy vọng vào chiến thẳng của đứa con trai cũng sụp đổ theo. Khoảng hai giờ chiều, tiếng súng đã thưa thớt hơn, và lúc đó A-lếc-xây Grô-mốp mới ngạc nhiên thấy mình đã đứng bên máy hơn bảy giờ liền, quên hết cả bệnh tật, ông đã tiện xong gấp hai lần số chi tiết được giao. Lúc này ông mới cảm thấy chân đau ê ẩm. Nhưng thật may cho ông, người ta gọi ông đi họp ở chỗ Oóc-lóp, do đó có thể được ngồi và nghi ngơi đôi chút. Và đến tối, ông cũng không phản đối khi bí thư đảng ủy bắt ông cùng An-ma-dốp và Ni-cô-la-ép đi ngủ.

        Sáng hôm sau, bí thư đảng ủy mang đến cho ông đôi ủng, ông đã cám ơn, định nhận nhưng khi ông ngờ ngợ là bệnh tật của mình đã bị phát hiện thì ông liền từ chối, nhất định không chịu nhận nữa. Ông viện lẽ đã quen đi giày và như thế làm việc sẽ thuận tiện hơn. Ngày thứ hai đứng máy ông thấy khó khăn hơn so với ngày qua. Trước bữa ăn trưa một lúc, cái giờ phút mà ông không thể chịu đựng được nữa đã đến: chân ông cứng đờ, nặng trình trịch không chịu tuân theo ông. Tắt máy, ngẩn người ra, A-lếc-xây Grô-mốp đứng đờ tại chỗ không dám nhúc nhích vì sợ bị ngã... Nhưng ông cũng không gọi người lại đỡ mà chỉ nheo mắt lại như không muốn nhìn thấy tình cảnh thất vọng đáng sợ của chính mình.

        — Bác làm sao thế, bác A-li-ô-sa?— Ông nghe thấy một giọng nói nhỏ nhẹ của Ca-da-cốp thoảng lên sau lưng. A-lếc-xây Grô-mốp mở bừng mắt, ngửa đâu lên, cười một cách yếu ớt và lạ lùng, cố thu hết sức lực còn lại để có thể nhấc chân lên được, ông ưỡn thẳng người dậy, dường như lao về phía trước, rút bổng chân phải lên rồi đặt xuống, rồi lại nhấc chân trái lên và đặt xuống. Lấy hộp thiếc nhỏ cùng chiếc tàu ở trong túi ra, ông làm như đang định hút thuốc và bảo với Ca-da-cốp:

        — Sức lực đã cạn hết rồi, bác Cu-dơ-ma ạ! Giá như bác cố hộ cho...

        Chậm rãi, từ tốn, ông đi ra phía cửa, đôi chân đau nhói. Ca- da-cốp lo lắng nhìn theo, và khi cánh cửa đã khép sau lưng A-lếc- xây Grô-mốp, ông mới thốt lẻn:

        — Bác vẫn là chàng trai A-li-ô-sa Grô-mốp ngày xưa, bác A- Iếc-xây Va-xi-li-ê-vích ạ. Thật là một con người độc đáo!

        A-lếc-xây Grô-mốp ngồi phịch xuống chiếc ghế ngoài hành lang, chìm đắm trong suy nghĩ, hai tay bóp bóp đầu gối, thở dài khe khẽ, trở vào xưởng.

        Vào ngày thứ ba, Oóc-lốp giao cho Grô-mốp tiện nòng súng cối, một công việc đòi hỏi sự tinh tế, chính xác rất cao. A-lếc-xây Grô-mốp đã làm xong nòng súng đầu tiên, nhưng thật ra, nói cho thật chính xác —đó là một cái ống, ở đoạn trên đươc một bàn tay diêu luyện chế tạo ra hình dáng nòng súng, có rãnh, có đường xoắn ốc... tuy có như vậy thôi, nhưng cái nòng súng đầu tiên này đã làm cho ông già hết sức dễ chịu, thích thú.

        Trong những tháng qua, ông đã lo lắng, không yên tâm khi nghĩ đến công việc, cả những lúc vui hay lúc buồn ông đều bị dằn vặt vì nó. Bề ngoài ông bình thản, nhưng trong lòng ông không yên chút nào, còn giờ đây ông đã thỏa mãn và ý thức được sự có ích của mình. Chỉ có lao động thôi và không một cái gì khác có thể thay đổi được nó, mới mang đến cho ông sự bình thản, thoải mái trong tâm hồn, thiếu nó sao ông cảm thấy nặng nề, khó thở đến thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:24:37 am

        ...Trong nhà máy cũng như khắp mọi nơi trong thành phố bị bao vây này, mọi người đang nhanh chóng thích nghi với những điều kiện sống và làm việc mới... Chiến sự vẫn diễn ra ở vùng ngoại vi, lúc im ắng, lúc lại rộ lên, còi báo động thường rú lên lúc gần tối, còn ban ngày bọn Đức không ngừng pháo kích vào thành phố. Trong các bệnh viện, bên cạnh thương binh từ tiền tuyến về, còn cỏ nhiều phụ nữ, trẻ em bị thương vì bom đạn Đức. Có những người sáng dậy đi làm nhưng bản thân họ cũng không biết được chiều nay còn sống không. Các bà mẹ bước ra khỏi nhà cũng lo sợ khi nghĩ có thể họ sẽ không được gặp lại những đứa con thân yêu nữa. Nhưng bất chấp tất cả, hay nói đúng hơn là đấu tranh với những điều đó, mọi người càng hiểu rõ hơn họ phải làm và làm tốt nhất tất cả mọi việc vì cuộc sống và chiến thắng. Các cửa hàng vẫn mở cửa như thường lệ và những người bán hàng đeo mặt nạ phòng độc sau lưng vẫn điềm lĩnh đứng ở quầy hàng. Nhà tắm hơi, hiệu cắt tóc, cửa hàng ăn uống vẫn tiếp tục làm việc và cách đây không lâu, một xưởng ăn uống đã được khai trương ở trung tâm thành phố để phục vụ bữa ăn trưa nóng sốt cho các chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Trong các hợp tác xã của những người mất sức, tàn phế, mọi người đang vá chữa giày, ủng cho chiến sĩ, - còn ở nhà máy may, các chị khẩn trương may áo khoác bộ đội.

        Đêm đêm, ngoài giờ làm việc, trong các ngôi nhà, mọi người dân đều nhận giặt là quần áo của chiến sĩ. Và cùng hòa nhịp với cuộc sống sôi động này, trong các nhà hộ sinh của thành phố, khi các nhóm tự vệ áo trắng trực trên tầng thượng thì ở dưới, trong các gian phòng sáng sủa, những công dân trẻ nhất thành phố cũng cất tiếng khóc chào đời; và trận đánh đang diễn ra cách đấy không xa cũng là vì cuộc sống và hạnh phúc của những đứa trẻ này...

        Vào ngày thứ tư của cuộc bao vây, hai quả bom hai trăm năm mươi cân rơi trúng khu nhà máy cơ khí, một phần phân xưởng máy bị đổ, còn phân xưởng đúc thì bị nặng hơn. Trận oanh tạc ngừng từ lâu rồi mà tiếng kính vỡ vẫn còn kêu răng rắc, và qua các khung cửa sổ trống hoác đã lác đác thấy các bông tuyết đầu mùa bay qua. Nhưng công việc ở phòng thiết kế cũ vẫn không ngừng chút nào: ai được ngủ ban ngày thì ban đêm đứng máy. Những người thợ nguội đã bắt đầu lắp khẩu cối đầu tiên, còn ở các khu vực khác trong nhà máy, các đội tình nguyện đang lao động ngày đêm.

        Khu vực rèn cao rộng nhưng vắng ngắt vì công nhân đã chuyền sang làm ở ga-ra xe. Công việc rèn ở đây hoàn toàn thủ công, cả đốc công lãn thư ký công đoàn phân xưởng cũng ra đứng búa rèn bệ súng cối. Trong phân xưởng đúc bé nhỏ đang tiến hành sửa chữa các loại vũ khí nhẹ tự động mà người ta tìm thấy ở vườn hoa thành phố và ở các cứ điểm trước làng Mư-skin.

        Cái nhà máy rộng lớn này bây giờ chỉ căn thoáng đưa mắt là có thể bao quát được toàn bộ sự hoạt động của nó. Bởi vì, chỉ có một nhóm người còn làm việc ở đây và như có cảm tưởng rằng cảnh hoang tàn, đổ nát của nhà máy rộng lớn này đã hút mất họ, những cơn gió rít gầm gừ thổi qua, những cửa sổ bỏ ngỏ trong các tòa nhà thênh thang. Những tia lửa hàn xanh xanh lóe lên, trong bóng sương mù dày đặc trông cũng mờ ảo xa xôi như các ngồi sao trên trời. Song những con người ở đây không cảm thấy đơn độc vì con số ít ỏi của họ. Lòng nhiệt tình hăng hái đã sưởi ấm họ, tăng thêm sức chịu đựng những cơn gió tháng mười quái ác đang hoành hành trong các ngôi nhà không có cửa sổ. Trời lạnh buốt và để rèn được nhanh, có chất lượng, người thợ phải luôn luôn ngâm tay vào nước ấm. Do đó những ngón tay bị nứt nẻ, rỉ máu, nhưng việc rèn lại tiến hành tốt hơn. Những thợ rèn chỉ hơi nhăn mặt khi phải ráng kìm chặt các thỏi sắt vì bàn tay đau nhức nhối.

        Giờ đây A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy ngày một khỏe hơn, tuy được nghỉ rất ít như những người khác, còn việc ăn, ngủ lại thất thường. Bệnh tật vẫn hoành hành, nhưng có vẻ cũng đã phải chịu thua trước sự gan bướng của ông già và ông không cần lưu tâm đến nó nhiều như trước nữa. Vả lại, khi nhìn những người bạn cùng tuổi, theo như cách gọi của Ca-da-cốp đang cùng làm việc với ông ở nhà máy, ông có cảm tưởng như họ đang trẻ lại. Mọi người thân ái, đoàn kết hơn, vui yẻ, nhanh nhẹn hơn; họ thường trêu chọc, cười đùa với nhau như thời tuổi trẻ xa xôi; có thể nghĩ là hoàn cảnh khó khăn gian khổ đã làm họ xích lại gần nhau. Chính vì thế họ thấy mình lạc quan, trẻ trung ra. Ngay cả An-ma-dốp, một ông già ít nói, tư lự, trâm ngâm cũng làm cho Grô-mốp ngạc nhiên vì ông ấy đã bắt đầu bắt chuyện hồ hởi, vui vẻ với những người xung quanh. Có một lần, trong bữa ăn, bên chiếc bàn đầy bụi sắt đặt ở góc xưởng, An-ma-dốp đã thổ lộ:

        — Ông có thấy không, tất cả cánh mình vẫn còn khỏe ra phết! Không có lúc nào nghĩ đến mình nữa, đúng thế không? Người này nghĩ đến người khác, và cứ như vậy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:25:14 am

        Trong đôi mắt xanh trong của ông, dưới hàng lông mày rậm bạc trắng, lộ vẻ ngây thơ, hiền từ.

        — Sở dĩ như vậy là do chúng mình sống và làm việc chung cùng nhau, — Ca-da-cốp nói. — Tình đoàn kết của chúng ta lớn lao lắm.

        — Thằng con trai cứ khuyên can tôi mãi. — Grô-mốp vừa nói vừa cười. — « Bố phải rời khỏi đây ngay, — hắn khuyên — bố ở lại đây chẳng đề làm gì cả; còn ở đấy người ta đón tiếp bó với tất cả sự kính trọng và thu xếp cho bố...». Tôi rất giận nó nên nhất quyết không đi đâu cả.

        — Bọn thanh niên thường hay coi chúng mình như vậy đấy. —  Ca-da-cốp nói tiếp. — Nhưng thực tế, thế hệ chúng ta chưa phải là đã vô dụng. Các cụ già ấy còn ở đây làm gì, chúng nó nghĩ, ở đấy có than ấm, được kính nè. Tuồi già sức yếu, như loại gà già, còn chúng ta đây đang trẻ như loại gà giò.

        — Nhưng thằng Pa-ven nhà tôi thì nó không nghĩ thế đâu. —  A-lếc-xây Grô-mốp hơi cau mày nói.

        — Thằng Pa-ven nhà bác... — Ca-da-cốp cười độ lượng. — Có bà

        đỡ từ Da-mô-ri-a tới, mang theo bình sức khỏe, đối với người khác bà ta cho từng nắm một, nhưng thằng Pa-sa nhà bác thì mụ ta dành cả bình. Bác A-li-ô-sa, lạy trời, đừng có giận con mình làm gì. Đúng thế đấy.

        Trên danh nghĩa là tổ trưởng tổ tiện, Ca-da-cốp không chịu ngồi yên một chỗ. Lúc nào cũng nhìn thấy cái đầu hói của ông loanh quanh trong xưởng và cái giọng khe khẽ luôn luôn nghe vang lúc ở đây, lúc ở kia.

        — Không được đâu, người anh em ạ, chỗ này cần phải làm lại. —  Ông nói với một công nhân làm sai một chi tiết nào đấy. — Phải tháo ra làm lại thôi, nếu không thì phải tiện cái khác. Cậu ăn cháo hay sao mà không hiểu được điều này!

        Ông cười ha hả và A-lếc-xây Grô-mốp cũng phải cất tiếng cười theo. Trong thời trai trẻ của hai ông, bề dày của những đồng tiền lẻ là đơn vị đo lường chính xác nhất trong nhà máy. Bây giờ, A-lếc- xây Grô-mốp, Cu-dơ-ma vui vẻ thực sự khi nhớ lại lúc đó họ đã từng làm việc như thế nào.

        Đôi lúc, trước khi đi ngủ, ngồi hút thuốc trên giường trong hầm trú ẩn, họ kể lại cho nhau những chuyện quá khứ của mình.

        Họ nhớ lại những năm đầu của thế kỷ này, năm 1903, 1904, 1905: cuộc biểu tình tuần hành đầu tiên của công nhân thành phố, những cuộc bãi công,đụng độ với cảnh sát, những vết khắc kỷ niệm trên thân cây trong rừng; rồi nơi họ hội họp để nghe những người Bôn-sê-vích nói chuyện. Nhưng những câu chuyện của năm linh năm họ lướt qua để nói về năm mười bảy lịch sử. Họ sôi nổi khi nhớ lại cảnh họ đi tước vũ khí của bọn lính chính phủ lâm thời, về cuộc tiến công kho vũ khí vào một đêm thu lạnh lẽo, về những ủy viên nhân dân đầu tiên được bầu vào Xô-viết thành phố. Nhưng họ cùng thấy những gì ý nghĩa nhất trong cuộc đời riêng của họ đều không đáng kể, so với những người anh hùng, những sự kiện lịch sử vĩ đại. Trong những buổi tối như thế, A-lếc-xây Grô-mốp vừa ngồi nghe, vừa góp chuyện và cảm thấy hình như ông đã trải qua những cuộc đời như vậy.

        Trong phân xưởng ông làm việc sau tấm vách ngăn bằng gỗ giữa hai phòng, ông thường nghe thấy giọng nam cao rè rè của Ni-cô-la-ép. Ông thợ khắc chạm già ngồi dưới ô cửa sổ hình vuông đề làm thước ngắm súng cối.

        Trong ngôi nhà gỗ cao... cao.
        Đội ngũ ta vẫn cò... òn...

        Ni-cô-la-ép hát toáng cả nhà, quên cả mọi người xung quanh, mắt ông nheo nheo, chỉnh đi chỉnh lại các số đo trên thước ngắm súng cối.

        Mỗi làn nghe giọng hát đó, Ca-da-cốp lại đưa mắt nhìn A-lếc-xây Grô-mốp như muốn nói « Đấy, ông xem, chúng ta còn có thể như thế đó».

        Nhưng dĩ nhiên, các ông già thường bàn luận với nhau về tình hình chiến sự, về tin tức ngoài mặt trận, hơn tất cả mọi chuyện. Mà mặt trận thì đã ở ngay sát thành phố này, và từng giờ, từng phút trong nhà máy đã cảm thấy không khí đó. Không phải chỉ mình A-lếc-xây Grô-mốp có người thân ngoài mặt trận, những tin tức về sự mất mát đầu tiên của trung đoàn công nhân đã bay về nhà máy, nó liên quan đến những người bạn của ông. Người em trai của bác thợ nguội Prô-ta-cổp đã hy sinh, An-ma-dốp vừa đi thăm thằng cháu bị thương nặng nằm ở bệnh viện. Đồng thời về phần mình, mọi người dân thành phố đều hân hoan vui mừng với mỗi chiến thắng của trung đoàn, họ cùng chia sẻ với nhau và coi đó như là niềm vui của chính gia đình mình.

        Chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phổ La-tô-skin cũng đã đến thăm nhà máy một vài lần. Ông thăm các phân xưởng, hỏi chuyện mọi người và trả lời các câu hỏi của họ.

        Hàng ngày cũng có các chiến sĩ của trung đoàn đi xe tải chở đến nhà máy những vũ khí hỏng cần sửa chữa và nhận những khẩu súng đã được chữa lại hoàn hảo. Những chiến sĩ này chẳng xa lạ gì, họ chính là những công nhân của các nhà máy lân cận: nhà máy luyện kim, nhà máy sản xuất vũ khí, sản xuất ấm đun nước Sa-mô-va, nhà máy đồ gỗ, nhà máy liên hợp, đoạn đầu máy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:08:19 am

        Hàng ngày, A-lếc-xây Grô-mốp đều ngóng Pa-ven đến nhà máy, dù chỉ vài phút thôi. Ồng rất muốn gặp con trai, ông thấy mình bây giờ đã đứng ngang hàng với nó, và ông muốn nói với nó rằng ông không phải là người tàn phế bỏ đi. Trong công việc chung này, ông quyết không chịu thua đứa con trai yêu quý, mà ông vẫn thầm ganh đua với nó. Nhưng vẫn không thấy bóng dáng tăm hơi Pa-ven đâu, chỉ có một lần anh nhờ một chiến sĩ trong đại đội mang về cho bố mình bức thư ngắn:

        « Bố của con, bố đã làm con ngạc nhiên. — Bức thư bắt đầu như thế, A-lếc-xây Grô-mốp xúc động, hôi hộp đến nỗi những dòng chữ đó ông phải đọc ba lần mới hiểu nổi ý của nó. — Khi mọi người nói với con là bố lại đi làm ở nhà máy, con phải thú thực với bố lúc đầu con không tin chuyện đó. Nhưng bố và tuổi già của bố đã thắng... và con cám ơn bố vô cùng! Bố và các bác hãy gửi cho chúng con thật nhiều vũ khí và chúng con quyết không để cho bọn phát xít tự do hoành hành, coi thành phố chúng ta như mảnh đất của chúng ».

        A-lếc-xây Grô-mốp mím chặt môi đưa tay xoa xoa lên cổ, ông đang xúc động mạnh. Pa-ven đã coi ông như người chiến sĩ ngang hàng, như một công nhân thực thụ và điều đó làm cho ông già hài lòng hơn cả.

        « Bố vẫn thường về nhà đấy chứ? — Pa-ven hỏi trong thư. —  Na-ta-sa thế nào, bố có gặp cô ấy không ? Rất mong bố chăm sóc cô ấy hộ con. Đó là mong muốn duy nhất của con đối với bố từ trước đến nay, bố nhớ nhé (chữ chăm sóc cô ấy được Pa-ven gạch dưới). Cho con gửi lời hỏi thăm cô An-na. Bố tha lỗi cho con vì bức thư quá ngắn này, nhưng bố ạ, bọn Đức lại đang quấy rầy chúng con đây... Ôm hôn tất cả mọi người chỗ bố ».

        Rõ ràng Pa-ven vẫn không hay biết là Na-ta-sa hiện giờ đã và đang làm việc ở nhà máy. Cô ấy đến nhà máy vào ngày thứ hai của cuộc bao vây, trông cô thật buồn bã, phiền muộn. CÔ định tìm đến trung đoàn của Pa-ven nhưng không được. Ở ủy ban quận, nơi cô đến nhờ họ giúp đỡ, người ta lại đưa cô sinh viên năm thứ tư này đến nhà máy chứ không phải đến trung đoàn công nhân. Còn ông, Grô-mộp, khi được cô kể cho nghe tất cả những điều này, đã ngồi nghe với vẻ mặt lạnh lùng, thờ ơ — một cô con gái bé nhỏ, yếu đuối. Tóm lại, cảm tưởng cuối cùng của ông là cô đã không làm cho ông thích lắm. Không, bà Ôn-ga tuyệt vời thời trẻ của ông không như thế này, ông thầm so sánh.

        Giá như ông có thể chọn vợ cho con trai thì ông sẽ không chọn cô gái này. Nhưng trong chuyện này, không phải lúc nào cũng theo ý muốn của mình được và A-lếc-xây Grô.-mốp nén tiếng thở dài, cố dịu giọng bảo cô gái:

        — Thôi đành phải thế! Con ạ. Hãy làm việc và phục tùng các ông già ở đây...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:08:50 am

2

        Người phụ nữ đầu tiên mà Na-ta-sa gặp ở nhà máy là Pra-xcô-via Ni-ki-tri-na Cu-dơ-nhê-sô-va, thợ cán thép. Qua câu chuyện, cô đã cho Na-ta-sa biết là cô ở có một mình trong ngôi nhà bỏ trống của Ban giám đốc nhà máy trước đây và cô mời Na-ta-sa đến ở cùng.

        — Chị đến ở đây đi, ở đó toàn những người độc thân. Pra- xcô-via nói, cô còn trẻ, nhanh nhẹn, có đôi mắt thông mình hóm hỉnh. — Chi sẽ thấy thích và thuận tiện lắm, mà em thì có bạn và vui hơn...

        Na-ta-sa thấy tin ngay người bạn mới này, liền cám ơn và nhận lời:

        — Vả lại, tôi ở đây cũng không lâu đâu. — Na-ta-sa giải thích thêm. — Dẫu sao chăng nữa, tôi cũng không làm việc ở nhà máy được.

        — Có sao đâu chị. Chúng em sẽ ghi tên chị vào hộ khẩu những người tạm trú. — Pra-xcô-via nói đùa. — Em chỉ muốn nói với chị là sự phục vụ ở đâu cũng đều cần thiết và có ích cả.

        Khi đến nhà máy, Na-ta-sa đã tự an ủi mình, dù sao chăng nữa, cuối cùng cô cũng phải đạt cho được nguyện vọng mong ước của mình là đến chỗ Pa-ven. Nhưng ngay từ buổi đầu đến nhà máy, cô đã hơi thất vọng. Ờ đây chỉ có vài ba chục người, chẳng còn trẻ trung gì, phần lớn là những ông già làm việc trong một nhà, khu nhà máy rộng lớn nhưng vâng ngắt, gần như chết lặng, khó lòng vực nó sóng lại. Nhưng rồi những con người này đã làm cho Na-ta-sa ngạc nhiên khi cô thấy họ biết cách tổ chức làm việc và thực sự thông cảm khi thấy họ không nhiều người nhưng vẫn quyết tâm khôi phục lại nhà máy và càng khâm phục hơn khi được biết lòng dũng cảm làm việc quên mình của họ đã trở thành một cái gì rất bình thường như thói quen hàng ngày. Công việc của Na-ta-sa ở nhà máy ngay từ hôm đầu tiên đã rất nhiều. Lúc mới đến, các bản vẽ kỹ thuật, những tài liệu cần thiết cho việc sản xuất súng cối vẫn chưa xong và Pi-ốt Ki-rin- lô-vích Oóc-lốp, người phụ trách của cô đưa ngay cho cô các bản vẽ chi tiết đó. Cô phải giúp ông hoàn chỉnh nốt các tính toán và một số công việc khác nữa. Ngoài ra, công việc nội trợ bếp núc bỗng nhiên cũng chiếm của cô một thời gian đáng kể. Lúc đầu, mọi người trở lại làm việc ở nhà máy đều chẳng chú ý gì lắm những nhu cầu thiết thân, ăn uống thất thường, thậm chí đôi lúc quên cả ăn nữa. Không thể kéo dài tình ỉrạng đó mãi được. Một hôm, một công nhân dẫn đến nhà máy hai người phụ nữ, những người láng giềng, đồng ý nhận làm cấp dưỡng.

        Ở nhà máy, ủy ban bảo vệ thành phố cũng đã gửi lương thực thực phẩm đến. Còn Na-ta-sa được mọi người đề nghị trông coi hộ việc giữ gìn vệ sinh, trật tự ở nhà bếp. Nhưng chính bản thân cô cũng nhận thấy những công việc bận bịu liên quan đến « phân xưởng ăn uống» bé nhỏ mới mẻ này đã hấp dẫn và lôi cuốn cô rất nhanh. Những lúc này tuy bị mệt mỏi vì công việc ở nhà bếp hay lúc ở trong văn phòng của Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, người nóng rực vì chiếc lò sưởi sắt tạm thời, hay những khi các ngón tay cầm bút chì lạnh cóng, hoặc trong căn buồng ở của cô và Pra-xcô-via, ống nước bị đóng băng vào các buổi sáng, Na-ta-sa vẫn không cảm thấy buồn rầu chán nản. Cô thấy sung sướng, vui thích với mọi biểu hiện cửa cuộc sống thân ái, chân tình ở đây: nụ cười đáp lại nụ cười, những câu đùa vui, tiếng cười trong trẻo.

        Bản thân Na-ta-sa phải công nhận rằng cô biết quan tâm đến những điều làm vừa lòng mọi người, mà điều chủ yếu là cô có một tấm lòng tốt. Cô quan tâm chu đáo đến những người chung quanh, tự cô đã gây được thiện cảm với họ. Chính điều này trong nhiều trường hop đã giúp cô biết làm những việc hoặc nói lên những suy nghĩ đúng đắn rất cần thiết trong giờ phút nào đó.

        Vào các buổi chiều, ngồi trong bếp nhà ăn ầm cúng, tâm thần thoải mái, dễ chịu, Na-ta-sa thường hay bàn luận với các chị nấu bếp về công việc nội trợ này. Củi khô cháy lép bép thinh thoảng lại bắn ra những tàn lửa nhỏ, tiếng nước chảy vào chậu róc rách, đôi lúc cháu bé, con một chị nấu bếp nằm mê, cựa mình trên chiếc ghế dài rồi lại ngủ thiếp ngay. Còn mẹ của chú lúc này đang rửa bát đĩa, khuôn mặt tròn trĩnh hồng hào. Chị đang phàn nàn với Na-ta-sa: nào đồ ăn thức đựng không đủ, nào là kiều mạch sắp hết, rồi thì củi ẩm quá khó cháy, dù bản thân chị đã chạy vạy long đong, và bỗng lại quay sang chuyện ông chồng ở mặt trận ít gửi thư về. Na-ta-sa không nói gì, chỉ gật đầu đồng tình: quả thật, bát đĩa, xoong nổi đồ đựng thức ăn thiếu nhiều quá, căn phải chú ý ngay đến vấn đề đó. Nhưng Na-ta-sa cũng cảm thấy thương thương người phụ nữ này. Chị ta hay than vẫn, kể lể và chẳng cái gì làm cho chị vừa lòng cả, nhưng chị không chịu ngồi rỗi bao giờ. Có lẽ do quá nhiều lo lắng và công việc bận rộn nên đã làm tính nết chị không được dịu dàng. Na-ta-sa hỏi thăm cuộc sống, hỏi chuyện chồng, con của chị ta, và hứa sẽ xin cho con chị vào nhà trẻ, lại còn đề nghị chị cho xem bức thư gần đây nhất của chồng vừa gửi về...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:09:24 am

        Vừa ngồi nhìn Na-ta-sa chăm chú đọc lá thư của chồng mình, chị vừa thở dài thườn thượt, vừa lẩm bẩm khe khẽ, chẳng ra nói với mình, cũng chẳng ra nói với Na-ta-sa:

        — Mấy người đàn ông thì lại hay đòi hỏi, dù nửa đêm về sáng hay dù trong hầm trú ẩn, lúc nào cũng đòi phải được ăn nóng, sưởi ấm!

        ...A-lếc-xây Grô-mốp được sống gần con dâu, dần dần đã có thiện cảm với cô, đã bắt đầu ngẫm nghĩ ràng con trai ông có lẽ không nhầm khi yêu cô gái chim chích này. Na-ta-sa đến nhà máy chưa đầy một tuần mà trông cách làm việc, có thể nghĩ là cô ấy đã ở đây từ làu rồi. Nhưng điều ngạc nhiên nhất là cô đã chiếm được cảm tình của nhiều người lớn tuổi nghiêm khắc, cầu toàn như những người bạn của ông, bằng một sức mạnh bên trong nào đó. Ông nhận thấy rằng việc cô đến xưởng đã làm cho các ông già hài lòng. An-ma-dốp giương đôi lông mày bạc trắng mỉm cười với cô như người ta cười với con trẻ; Ca-da-cốp thì bắt đầu thao thao bất tuyệt những chuyện vui của mình làm cho cô ta phải cười theo; còn ông già Ni-cô-la-ép, một con người lịch sự tuyệt vời, lúc nào cũng đặc biệt ân cần niềm nở với cô. Có một lần, thấy Na-ta-sa dáng khỏe mạnh, mềm mại, dịu dàng chạy vào phân xưởng, An-ma-dốp đã giãi bầy ý kiến của mình:

        — Thằng con trai bác đã không nhầm — ông ta nói. — Nó chọn được cô vợ khép léo, dịu dàng này. Tóc bó gọn gàng, tính tình dễ chịu vui vẻ. Trong cuộc sống gia đình chung, đó là những điều đầu tiên cần phải có đấy...

        — Điều kiện của gia đình hạnh phúc chứ, có thể nói như thế đấy. — Ông già Ni-cô-Ia-ép khẳng định thêm.

        Ca-da-cốp tình cờ nghe được câu chuyện, nhìn các bạn mình, không giấu vẻ mỉa mai:

        — Thôi đi các bác ơi! — Ông kéo dài giọng. — Cái chuyện này đối với cánh mình bây giờ chỉ là chuyện lý luận mà thôi.

        — Tính tình vui vẻ của người vợ, ta không thể mua được đâu. —  Sau một lúc im lặng. A-lếc-xây Grô-mốp đồng tình.

        Ông cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vì dù sao thì giờ đây Na-ta-sa đã mang họ Grô-mốp, là vợ của con trai ông và những lời khen ngợi của mọi người về cô ta, đã an ủi vỗ về ông già.

        Việc lắp ráp khẩu súng cối đầu tiên đã xong. Nó được đặt ở chính giữa xưởng trông mới mẻ, tinh tươm, hai chân xoài ra đỡ lấy thân ống, nòng ngẩng cao, đặt trên đế sắt tròn. Mọi người mệt mỏi, râu ria chưa cạo, trong những bộ quần áo lấm lem dầu mỡ, đứng xúm xít quanh khẩu súng, chăm chú, tò mò, xét nét nhìn sản phẩm của mình. Sép-kin, tổ trưởng tổ lắp ráp đang nghiêng nghiêng mình, tay chùi vào miếng giẻ, soát lại lần cuối khẩu súng. Trên khuôn mặt già nhãn nheo thiếu máu nhợt nhạt của Ca-da-cốp hiện lên những nét kinh ngạc, hình như người thợ tiện già này vẫn còn chưa dám tin là chỉ có mấy ngày mà họ đã làm được một khẩu súng như thế.

        A-lếc-xây Grô-mốp vẫn cau có vì một số chi tiết trong khẩu súng không làm ông hài lòng lâm: bộ đế sắt tròn chưa được gia công kỹ, các vết đục vẫn lộ ra ngoài, nhìn rất thô, theo ý ông, hai chân chống cũng chưa đẹp lắm. Ông không thể không xét nét những cái nhỏ nhặt theo bản năng nghề nghiệp và con mắt lành nghề của mình.

        — Hình dáng khẩu súng trông còn thô, chưa có sự chau chuốt, sửa sang thích dáng, — ông nói với An-ma-dốp những nhận xét của mình.

        — Bệ đế tròn, bác trông kìa, nó làm xấu cả vẻ đẹp của khẩu súng. — An-ma-dốp thêm vào. — Bây giờ chỉ còn một việc là bắn thử và để tiện một công đôi việc, có ích cho sự nghiệp chung, thì nơi thử súng có lẽ không đâu tốt bằng ở trung đoàn công nhân. Địa điểm đó không xa nhà máy và những loạt đạn thử đầu tiện có thể hướng ngay về phía kẻ thù.

        — Sẽ lấy mục tiêu là bọn nó, — Vla-xốp, giám đốc mới của nhà máy quyết định. — Việc gì phải phí hoài bắn đạn đi đâu khác hả?

        — Tôi đã thỏa thuận rồi. — Bí thư đảng ủy nói. — Hôm qua đã gọi đây nói cho họ. Họ hứa chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện cho việc thử vũ khí này.

        Và mọi người khuân khẩu cối lên ô tô để chuẩn bị chở thẳng ra « bãi chiến trường ». Cùng đi với những người có nhiệm vụ trong việc thử súng này, còn có bốn ông già: A-lếc-xây Grô-mốp, Ca-da- cốp, An-ma-dốp, Ni-cô-la-ép đã ngồi trong thùng xe từ bao giờ. Tuy ho không cần có mặt trong cuộc thử này, nhưng không ai nỡ từ chối khi họ xin đi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:09:58 am

        Thoáng có hy vọng sẽ được gặp Pa-ven, biết đâu khẩu cối này được thử ở ngay đại đội của Pa-ven, nên Na-ta-sa đã khẩn khoản đề nghị ông già Pi-ốt Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp cho cô đi theo. Miễn cưỡng và vì mọi người chung quanh nói thêm vào, Oóc-lốp nhượng bộ Na-ta-sa. Cụ Oóc-lốp cao lớn, gầy gò, râu bạc phơ, hôm nay trông đăm chiêu và khô khan hơn mọi ngày. Khác với mọi người, ông chịu trách nhiệm cao nhất trong việc thử vũ khí mới và trong những phút này, ông vẫn nghi ngờ vào sự thành công của việc thử. Nói rõ hơn, tự bản thân ông cũng không hình dung được rõ rệt nguyên nhân sự lo lắng hồi hộp của mình, trong bất kỳ trường hợp nào, ông sẽ liệu dùng những phương pháp thích hợp và không chở khẩu cối đến trung đoắn nữa. Khẩu cối này được làm ra trong một hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt, với một tốc độ nhanh chóng kỳ lạ đã làm ông băn khoăn. Tuy mọi việc, mọi chi tiết đều được thực hiện đúng như yêu cầu, bất chấp những điều kiện làm việc khó khăn, nhưng Oóc-lốp vẫn sợ rằng: ông nghỉ việc đã lâu nên có thể bị nhầm lẫn một chỗ nào đó mà ông không nhìn thấy trước được trong việc làm nhanh chóng vội vã này.

        Chuyến đi thử súng đứng trước một khó khăn, kỹ thuật làm súng còn thô sơ, chất lượng thép còn kém, tất cả những cái đó có thể dẫn đến hậu quả chết người. Thí dụ như vì không có một nguyên liệu đặc biệt nào tốt hơn để làm nòng súng nên đành phải lấy những đoạn ống máy bơm ở thành phố ra để thay thế, điều đó làm cho ông không tin tưởng. Theo sự tính toán của ông: kích thước thích hợp, dùng được, vả lại không có gì hơn để mà lựa chọn cả. Nhưng dù sao đi nữa thì chưa bao giờ và không có một ai lại dung những ống thép làm máy bơm để chế tạo ra nòng súng cả.

        Mọi người khác trong xe vẫn vui vẻ cười đùa. Trời vừa hửng sáng, những làn gió lạnh buốt xoa vào da mặt làm khuôn mặt giá lạnh của họ hơi ửng hồng. Ca-da-cốp nhoài người qua thành xe, hét anh tài xế trong ca bin:

        — Nghe thấy không, anh bạn vàng, con gián trong lò sưởi, dận hết ga vào nhé!

        Chiếc xe vừa lao ra khỏi cổng, gặp luôn phải ổ gà, mọi người trên thùng xe xô vào nhau làm cho không khí càng sôi nổi phấn khởi hơn.

        — Còn sống đấy chứ ? Bác Grô-mốp ? — Ca-da-cốp thét lên, tay nắm chặt tấm vải bạt phủ khẩu súng.

        — Bác hãy giữ cho chắc nữa vào, kẻo lại bay lên như các thiên thần đấy. — A-lếc-xây Grô-mốp vui vẻ trả miếng.

        Ni-cô-la-ép muốn nhường ngồi cạnh ca bin cho Na-ta-sa, ông đến gần A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích.

        — Này công chúa, lại đây cho đỡ xóc. — Ông nha nhặn mời Na-ta-sa.

        — Không cần đâu bác ạ, bác cứ ngồi đi... Mà cháu là công chúa nào thế hở bác? — Na-ta-sa nói. Hai tay bám chặt thành xe, cô thử ngồi ghé cạnh ông, nhưng không được. Khi cô quay người lại, đầu cúi xuống, gió phần phật thổi mạnh vào mặt cô như muốn cuốn theo cả chiếc mũ nổi trên đầu.

        — Thôi cháu đừng phật ý nhé, lại chỗ bác đây này. — Ni-cô- la-ép nói lại, ông bị chảy nước mắt vì gió lạnh, sau đôi kính, mắt ông cứ nhấp nháy. — Các bác vẫn có phong tục nhường chỗ tốt nhất cho phụ nữ.

        — Này, bác Grô-mốp, nhìn thử xem ! — Ca-da-cốp huých khuỷu tay vào sườn A-lếc-xây Grô-mốp. — Ông I-van đang dụ dỗ vợ thằng Pa-ven nhà ông kia kìa...

        A-lếc-xây Va-xi-h-ê-vích nhướng lông mày đưa mắt nhìn Na-ta-sa. Lúc này, vẻ ngoài của cô làm ông rất thích : trán và chiếc mũi dọc dừa của cô bị giá lạnh hơi tai tái, đôi má đầy đặn ửng hồng như quả táo.

        — Chuyển ra chõ này mà ngồi, Na-ta-sa ạ. — Ông lên tiếng bảo Na-ta-sa. — Sao mặt con tái như gà mái thế kia?

        Ô tô đã chạy vào đường phố chính và lao vút qua bức tượng đồng Lê-nin, qua tòa nhà khách sạn hai tầng, rồi qua một vườn hoa nhỏ vắng ngắt với những hàng cây trụi lá... Na-ta-sa nhớ lại trong đêm đầu tiên đến thành phố đã lang thang ở đây và cô thấy như ngày đó trôi qua đã lâu, biết bao sự kiện xảy ra từ hôm đó đến nay. Tất cả đều đã biến đổi, trông có vẻ mới lạ hơn. Đấy là cái khách sạn mà cậu bé dẫn dường dũng cảm Vi-chi-a Vê-rép-kin tối đó đã khuyên cô nghỉ lại. Giờ đây đã biến thành bệnh viện, và ở lối vào treo lá cờ chữ thập đỏ bay phần phật. Trên mặt dường phía trước, một hố bom mới, chung quanh lổn nhổn những mảng băng tuyết vụn tung tóe làm thành một lớp tinh thể mỏng ở trên mặt đất. Ô tô vẫn tiếp tục lao nhanh. Trước mắt Na-ta-sa lấp loáng những tủ kính của cửa hàng tổng hợp đã được bịt ván đến một nửa, các mệnh lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố dán trên bảng tin, những hàng rào kiểu « con nhím sắt» được hàn nối lại từ các màu sắt thừa vụn, nắm rải rác ở các ngã ba ngã tư. Gió đuổi theo ô tô, thổi tung những hạt tuyết nhỏ và bị cuốn hút theo thành hình lò xo màu ám khói bay tỏa trên đường nhựa.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:40:13 am

        Trên vỉa hè, rất ít người qua lại. Các dãy phố thẳng tắp vắng ngắt. Tất cả đang nằm im, bất động trong cảnh ban mai rét buốt, đã gây cho người ta một ấn tượng hãi hùng, lạnh ngắt, khó chịu. Chỉ có các đội tuần tiễu từ hai đến ba chiến sĩ vai khoác súng luôn luôn xuất hiện. Xa xa, tiếng đại bác vọng về, Na-ta-sa lại có cảm giác như những tiếng búa thợ rèn nặng nề đang đập một cách chậm rãi, không đồng đều ở ngoại ô thành phố.

        — Cô hãy chú ý nhìn đây này. — Ni-cô-la-ép quay sang Na-ta-sa, nói. — Kia là viện bảo tàng địa phương chúng tôi, — ông chỉ ngôi nhà hai tầng có mái. — Giờ đây, tất nhiên nó đóng cửa và thậm chí người ta đã chở tất cả vật trưng bày đi sơ tán rồi. Đến khi nào nó mở cửa lại, tôi khuyên cô nên đến thăm.

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn Ni-cô-la-ép, ông già lịch thiệp này hình như cho là mình phải có nghĩa vụ giúp cô khuây khỏa trong chuyến đi này. Ngồi nghiêng người về phía cô, ông mỉm cười nhẹ nhàng, mặc cho nước mắt tràn lên mi.

        — Ở đây có cả những vật trưng bày có tính chất giáo dục nữa, ông giảng giải thêm.—Cặp ngà voi ma mút, vũ khí bằng đá các loại, các mũi lao nhọn để bắn... có cả những khẩu súng khắc, chạm nổi từ thời xa xưa... Những đồ vật bằng đồng rất tinh xảo. Cũng có cả áo giáp lưới sắt, bình tưới bằng thiếc cổ xưa. Đặc biệt người ta còn trưng bày cả những đồ vật tượng trưng cho lịch sử của thành phố chúng ta. Lúc nào đó có dịp, tôi sẽ giới thiệu cho cô xem.

        Na-ta-sa rất muốn nói với ông: «Bác I-van Ni-cô-laị-ép, bây giờ cháu hoàn toàn không muốn để ý đến cặp ngà voi ma mút của bác đâu», nhưng ông đang hào hứng hăng say nên cô không nỡ.

        — Chín trăm năm, cô có biết không ? Thành phố ta vẫn đứng vững! — Ngừng lại một lúc, ông già Ni-cô-la-ép lại nói tiếp. — Trải qua bao nhiêu biến đổi, nhiều sự có... nhiều kỷ vật, tượng đài cũ, thánh vật cồ đều được giữ gìn đến ngày nay.

        Na-ta-sa cắn môi, đưa mắt nhìn về phía khác, cô đang hồi hộp nghĩ đến lúc gặp Pa-ven, cô bắt đầu không nhịn được cười.

        — Bác nói là, tất cả đã được cất giữ, bảo quản ạ? Nhất định cháu sẽ đến xem... — Giọng rung rung, Na-ta-sa nói, cổ giữ không bật tiếng cười.

        — Đấy, tôi cũng bảo thế mà... — Ô tô lại bị xóc, Ni-cô-la-ép va phải thành xe. — Cháu không làm sao chứ? — Ông quan tâm hỏi Na-ta-sa. — Ừ, bảo tàng thành phố phong phú lắm... Còn nhà máy mà cháu đang làm hiện nay, — ông say sưa tiếp tục — đã được xây dựng từ thời Pi-e đệ nhất cơ đấy! Cháu vẫn nghe rõ đấy chứ!

        — Nhà máy của các bác thật cừ khôi. — Na-ta-sa nói. — Bác chắc là biết rõ ngọn nguồn lịch sử của nó chứ ạ?

        — Ồ, sao lại không? Chúng tôi, họ hàng gia đình tôi đã sống ở đây rất lâu rồi. Dưới triều Đê-mi-đốp, vẫn là thời Pi-e đó, đã có họ Ni-cô-Ia-ẻp-xki, làm thợ rèn rồi... Ông tổ tôi Đa-nhi-la Tê-ren- trê-vích đã từng đứng bên đe quai búa suốt cả đời. Còn ông nội tôi Vla-đi-mi-rô-vích làm thợ khắc chạm... Ông ngoại, Các-pơ A-lếc- xây-ê-vích là thợ chuyên về các loại vũ khí.

        — Tôi nhớ ra ông ấy rồi. — Grô-mốp chen vào — Ông ta biết trau chuốt, tu sửa nòng súng rất tốt!

        — Hoàn toàn có thể nói ông đã trở thành con người nổi tiếng. —  Ni-cô-ia-ép khẳng định thêm và rút một cách rất cẩn thận chiếc khăn mùi soa vuông trong túi áo bành tô ra, ông lau đôi má bị ướt.

        Chiếc ô tô ngoặt vào phố bên cạnh có một ụ chiến đấu chắn ngang, và những người lính gác ra hiệu cho xe đỗ lại. Khi Vla-xốp ngồi trong ca bin đang nói chuyện với người chỉ huy thì có hai chiến sĩ mặc áo lông ngắn cầm súng trường đi lại phía thành xe.

        — Chào các bạn trẻ.—Ca-da-cốp chào họ. — Vẫn sống như mong ước chứ? Các cậu đánh bọn chó đẻ như thế nào rồi?

        Người lính có khuôn mặt trẻ, dài, với đôi mắt sâu mở to cười láu lỉnh nhìn vào thùng xe.

        — Ông bố già ạ, mọi người đang chờ đợi bố, — anh ta nói giọng khàn khàn. — Họ đã đi đến nơi tận cùng ác liệt mà thiếu bố!

        — Cậu đừng có nhe răng, đừng nhăn nhở nữa! — Ca-da-cốp kêu lên. — Bây giờ cậu sẽ được nghe thấy pháo của chúng tôi nổ! — Và ông chỉ lên khẩu cối được phủ bạt kín mít.

        — Các bác chở cái gì đến đấy, hả các bác ? — Anh bộ đội thứ hai cũng rất trẻ cất tiếng hỏi.

        — A, chính cái ấy đấy... — Ca-da-cốp trả lời vẻ bí mật, ông cười, các nếp nhăn trên mặt giãn ra, tỏ rõ sự hài 1òng.

        — Nhưng đó là cái gì cơ chứ ạ? — Anh lính vẫn hỏi.

        — Đó chính là cái các cậu vẫn thiếu đó, các chàng trai ạ! —  Ca-da-cốp hào hứng thét lên.

        — Thôi đi cậu... — Anh lính thứ nhất lắc đầu nghi ngờ. — Bác có lẽ từ nhà máy đến phải không ? Bác làm việc ờ đó thì nguy hiểm lắm!

        Ca-da-cốp thích chí võ tay lên đùi đen đét.

        — Chúng tôi đã làm cái gì? — Ông cười mỉm. — Vắt sữa chim, dìm cá măng và tán chuyện gẫu!...

        Vừa lúc ô tô rồ máy chồm lên, Ca-da-cốp ngã ngồi xuống, vội nhỏm người dậy, thét lớn :

        — Chúc các cậu nghỉ ngơi, sung sướng nhé, các bạn trẻ, còn chúng tôi thì bận túi bụi lên!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:40:38 am

        Sau khi phóng ngang qua ụ chiến đấu, xe chạy dọc qua một ngõ hẻm dẫn ra ngoại ô thành phố: Thỉnh thoảng mọi người ngồi trong xe lại nghe thấy tiếng đạn đại bác rít lên trong không trung qua đầu họ. Pháo binh ta từ các trận địa ngầm đang nã vào bọn Đức.

        — Chà, bây giờ được độ một trăm gam chất cay nhỉ? — Ông già An-ma-dốp bỗng lên tiếng. — Rất đúng lúc đấy.

        Những đường gân đỏ hằn rõ trên mặt ông làm cho má thêm hồng, ông tì tay chóng xuống sàn xe, tay kia rút đôi ủng ra khỏi chân.

        — Có lẽ đúng đấy, bác Xa-sa ạ. — Ca-da-cốp đồng tình ngay. — Trời lạnh thế này có nó thật là tuyệt.

        — Đấy bác xem! — An-ma-dốp hào hứng nói tiếp — Bác phải phục đấy nhé. Mười năm nay tôi không sờ đến nó... Các bác sĩ bảo với tôi là không nên, tôi cũng ngài ngại, sờ sợ và tôi đã bỏ được ý thích này. Tôi nghĩ rằng đó là chất độc hại không hơn không kém. Còn bây giờ tinh thần đang đòi hỏi.

        Có lẽ sắp đến nơi. Ồ tô đang đi vào vùng ngoại ô, Ca-da-cốp và An-ma-dốp bắt đầu nói chuyện sôi nổi hơn. Trong xe, một số người trẻ thì im lặng, hồi hộp, hoặc vì mệt mỏi, người khác thì thiu thiu ngủ, đầu gục xuống, lưng dựa vào thành xe. Các ông già khác đang tràn ngập một niềm vui kỳ lạ, không hợp thời, họ cười đùa với nhau trông giống như những đứa trẻ do hoàn cảnh thay đổi làm phấn chấn, kích thích chúng.

        — Nổi nóng cái gì đó hả, các bạn yêu quý? — A-lếc-xây Grô- mốp dịu dàng hỏi. — Chưa uống rượu mà đã ngà ngà say rồi.

        Nhưng chính ông cũng phải kìm mình cho nghiêm chinh, đứng đắn hơn và điều này không đúng với bản chất chan hòa cời mở của ông. Cũng như những người bạn già của mình, giờ đây, ông cảm thấy rất dễ chịu, sảng khoái khi được ngồi trên chiếc xe đi ra tiền tuyến... Cách đây không lâu, ông và các bạn mình còn bất lực ngồi nhìn cơn bão tố tàn ác đang lan tràn khắp nơi, nó động tới tất cả cái gì mà họ yêu quý trong cuộc sống; mới hôm qua thôi, họ chỉ là những kẻ như đã chết ở cuộc chiến tranh này, thế mà hôm nay, tự họ đã đứng dậy, đấu tranh giành lại quyền sống. Trong chuyến đi này, họ cảm thấy sâu sắc: họ là những người lính của một đội quân vĩ đại, và họ được quyền nhận danh hiệu này. Hình như không phải là những cơn gió lạnh mùa thu, mà là những ngọn gió ấm áp, hạnh phúc của tuổi trẻ, từ lâu họ chưa được hưởng, đang thổi vào mặt họ ngày hôm nay. Mặc dù trời rét lạnh, nhưng họ vẫn thấy mình như những tân binh đang đi vào cuộc chiến đấu.

        Cuối cùng, xe ô tô đã đến nghĩa trang thành phố, chậm chạp leo lên ngọn đồi dọc theo bờ tường nghĩa trang. Đi chưa hết bờ tường, nó đã dừng lại, khẩu cối được khênh cẩn thận xuống đất, đến chỗ này phải đi bộ. Nắm tay A-lếc-xây Grô-mốp, mọi người giúp nhau nhảy xuống. Ni-cô-la-ép xuống trước Na-ta-sa và cẩn thận chìa tay ra cho cô nắm.

        — Cẩn thận đấy, chỗ này hơi cao ! — Ông báo trước. Nhưng Na-ta-sa đã tự nhảy xuống một mình.

        Cô đưa mắt nhìn nhanh mọi phía với ý nghĩ là Pa-ven sẽ xuất hiện ở một nơi nào đó gần đây, cô không nhận thấy họ đã đi vòng qua bức tường nghĩa trang như thế nào và bây giờ họ đang đứng trong một khu rừng nhỏ, không rậm lắm. Những cây sồi, cây phong non mọc một cách lộn xộn dọc theo sườn đồi khá dốc, vươn cao lên bầu trời đầy mây. Một vài chỗ cỏ cây bị đổ, những cành gai rậm rạp bị đứt đang đung đưa, còn mặt đất bị xới đen bao chung quanh các gốc cây.

        Tại đây, các chiến sĩ trung đoàn công nhân vây quanh Na-ta-sa và mọi người cùng đi. Họ chào hỏi nhau vui vẻ, ầm ĩ; Na-ta-sa dường như bị cuốn hút vào không khí phấn khởi chung của buổi gặp gỡ này. Nhưng mắt cô vẫn không ngừng tìm kiếm Pa-ven. Cuối cùng, khi không thấy anh, cô quyết định hỏi một người lính tuổi trung niên, đứng ở vòng ngoàn xem chỗ Pa-ven ở đâu. Nhưng một anh lính trẻ khác, thân hình hơi to, dáng lăng xăng có đôi mắt tò mò, ngẫu nhiên nghe được, câu hỏi của cô liền kêu lên là anh ta biết chỗ Pa-ven ở.

        — Đại đội của họ không xa đây mấy... Nhưng chị là người như thế nào với anh ấy! — Anh ta tò mò hỏi. — Là vợ phải không? — Anh vung tay một cách tuyệt vọng. — Biết bao nhiêu các cô gái như chị đến đây, lúc hỏi người này, khi hỏi người khác.

        — Tôi xin đồng chí. — Na-ta-sa kêu lên. — Đồng chí chỉ cần chỉ hướng cho tôi đi thôi.

        Anh lính lắc dầu:

        — Không thể được, bất cứ ai cũng không được phép! Đã có lệnh cấm của chỉ huy... — Nhưng nhìn thấy dáng điệu cầu khẩn van nài của Na-ta-sa, anh ta động lòng — lẽ chị nên gọi điện thoại cho đồng chí Pa-ven là tốt nhất — Anh ta khuyên Na-ta-sa.

        — Tôi có thể gọi điện cho anh ấy ở đâu? — Na-ta-sa hỏi.

        — Ở hầm của chúng tôi, còn gì tốt hơn nữa, phải không chị ? Hầm kia kìa, sau lùm cây nhỏ đó...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:41:09 am

        Khi đưa Na-ta-sa đến hầm, anh lính lúc sải bước về phía trước, lúc dừng lại, dáng trầm ngâm suy nghĩ về khả năng gặp gỡ của Na- ta-sa với Pa-ven.

        — Anh ấy không thể tự ý ra đây được là một này. Còn đợi phép, thì phải chờ một thời gian dài này... Có lẽ, chị ạ, chưa chắc được gặp anh ấy đâu.

        — Tự tôi sẽ đi đến chỗ anh ấy. — Na-ta-sa nói một cách dứt khoát. — Một mình tôi sẽ đi.

        — Điều đó cũng không được đâu! Tôi đã nói với chị rồi mà. —  Anh lính kêu lên. — Đa có lệnh cấm của chỉ huy! Doanh trại của chúng tôi đã tổ chức chấn chỉnh lại rồi... Chính vì hàng ngày đều có người đến thăm, lúc thì người này có vợ đến, người khác có mẹ... Họ có thể vượt qua tuyến lửa mà chẳng sợ gì cả... Vì cái tình cảm gia đình mà họ liều mạng như thế!

        Song anh lính trẻ lại là người có tấm lòng trắc ẩn, vị tha, hay giúp đỡ người khác. Vào trong hầm, anh ngồi luôn xuống hòm điện thoại và yêu cầu cho xin « Hoa tử đinh hương ». Na-ta-sa thấp thỏm chờ anh ta đưa cho cô ống nghe, cô vén mái tóc lòa xòa vào chiếc mũ nổi...

        Nhưng lần này cô cũng không gặp may, hóa ra Pa-ven không ở chỗ cấp chỉ huy của anh ấy. Và anh lính trẻ chỉ yêu cầu người trực điện thoại của bên « Hoa tử đinh hương » nhắn lại cho đồng chí chi huy bên đó rằng có vợ và bố đang chờ ở đơn vị « Mộc thảo hương », lúc nào đó đồng chí sẽ sang.

        Lúc này, bên sườn dốc, trước bức tường nghĩa trang, bộ đội và công nhân nhà máy đang dựng khẩu cối. Để bàn đế được kín, người ta phải đào trên mặt đất đóng băng một hố nhỏ. Đại úy chỉ huy tiểu đoàn chịu trách nhiệm việc thử vũ khí này ra lệnh lấy đích bắn là chỗ trũng bên kia sườn đồi, hướng vào làng Mư-skin, nơi các đơn vị bộ binh Đức đang trú quân. Khi Na-ta-sa quay lại, cô thấy trên sườn đồi, trong bụi cây, một người mặc áo ca pốt quỳ chân và đang phẩy tay như đày cái gì đó ra khỏi mình.

        Một vài chiến sĩ xúm xít quanh khẩu cối, xoay vặn nòng của nó. Gần hơn một chút, đúng chung quanh là mọi người của nhà máy. Họ im lặng nhìn các chiến sĩ làm việc. Người mặc áo ca pốt bỗng nhiên hạ tay xuống một cách dứt khoát và quay lại các chiến sĩ, ông hét lên:

        — Chú ý đấy!

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn quanh: ở đây không thấy một dấu hiệu gì chứng tỏ có địch, cô thấy mọi cái đều rất bình thường, yên tĩnh, không có một không khí chiến đấu thực sự gì cả.

        Nhưng ngay lúc đó, giọng nói xúc động, rất to của Pi-ốt Oóc- lốp vang đến chỗ cô:

        — Tôi yêu cầu tất cả mọi người nhanh chóng lùi ra xa chỗ này! Các đồng chí bộ đội nữa, xin mời lùi ra nữa.

        Sau đó đồng chí đại úy chỉ huy tiểu đoàn, và Pi-ốt Ki-rin-lô-vích bắt đầu thảo luận cái gì đó làm mọi người chung quanh im lặng đứng nghe. Na-ta-sa chỉ nghe thấy vài tiếng rời rạc của Pi-ổt Oóc-lốp: « Chỉ khẳng định được riêng chất lượng máy móc...», «Tôi không có quyền, không hình thức, không...».

        Còn người đại úy, cứ nhìn điệu bộ cử chỉ mạnh mẽ dứt khoát của anh ta cũng biết là anh ta không đồng ý với ông già Oóc-lốp.

        «Chuyện gì đằng ấy nhỉ ? » — Na-ta-sa lo lắng. Cô đi nhanh tới chỗ A-lếc-xây Grô-mốp Nhưng cô chưa kịp hỏi thì đã nghe tiếng đại úy ra lệnh cho các chiến sĩ của mình lùi xa khẩu cối. Vla-xốp đi sau đại úy, bảo mọi người đứng vào sau bức tường nghĩa trang. Một số người nghe lệnh đã đi xuống sườn dốc cùng với các chiến sĩ. Nhưng các, ông già đứng tách ra thành một nhóm vẫn không chịu đi.

        — Hãy đi đi, các ông bạn già ơi, đi đi... — Ông già Oóc-lốp giục họ.— Bác A-lếc-xây Grô-mốp, I-van Ca-da-cốp, Cu-dơ-ma Da-nhi-lức, hãy lùi vào đi!

        Ồng vẫy tay, vội vàng tháo kính ra, dùng những ngón tay thuôn dài lau mặt kính và lại đeo vào. Chòm râu dài bạc trắng của ông phất phơ trước gió làm tăng thêm vẻ quả quyết, quan trọng mà ông đang cố tạo ra trong lúc này. Ông kéo ngược vành mũ lên nhưng không buộc lại, chúng lại duỗi thẳng xuống vẫy vẫy như hai cái cánh chuồn chuồn.

        — Bác không có quyền đặc biệt gì mà được ở lại một mình, bác Pi-ốt Oóc-lốp ạ! — Ca-da-cốp phản đối và vẻ xúc động nên giọng ông lại thành thì thầm. — Không thể để bác một mình với khẩu súng này được!

        — Có gì đâu nhỉ? Bây giờ chỉ việc bỏ đạn vào nòng thôi. —  Oóc-lốp trả lời. — Một mình tôi cũng làm được, không cần ai phụ đâu... Tôi đề nghị mọi người lui ra xa đi, — ông thét lên.

        — Tất nhiên rồi, bây giờ thì có thể làm một mình được, công, việc thật đơn giản. — A-lếc-xây Grô-mốp nói, giọng khàn khàn. —  Bác Pi-ốt Oóc-lốp không công bằng gì cả. Đã vậy thì một mình tôi sẽ thử khẩu súng của chúng ta.

        — Bác? Nhưng tại sao lại là bác nhi? Chúng ta không đôi co nhau nữa đâu, bác A-lếc-xây ạ. — Pi-ốt Oóc-lốp nói.

        — Đúng, điều đó không hợp với chúng ta. — A-lếc-xây Grô-mốp khẳng định. — Vì tôi hiểu bác đang bị dằn vặt, tôi hiểu bác muốn ở lại một mình để tính toán lại tất cả. Sẽ xảy ra điều bất hạnh nào đó, bác nghĩ, nòng súng bị nổ vỡ hay cái gì đó... Bất kỳ, tất nhiên sẽ có một cái. Chính tôi là người tiện cái nòng sủng này chứ không phải người khác, tất nhiên tôi tin tưởng vào nó. Điều đó, như hai với hai là bốn vậy, bác Pi-ốt Oóc-lốp ạ.

        Grô-mốp cong ngón tay trỏ xoa xoa lên bộ râu hoa râm của mình, một nét gì đó vừa vui vẻ lẫn ác ý hiện lên trên khuôn mặt nặng nề to lớn của ông.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:41:46 am

        Lúc này, trước Na-ta-sa, ông già không muốn mình thành người vô tích sự.

        — Bác căn cứ vào đâu mà nói rằng tôi sợ nòng súng vỡ ? —  Pi-ốt Oóc-lốp không chịu được, hỏi. — Nòng súng vẫn chắc chắn...

        — Ừ, nếu vậy thì bác đuổi chúng tôi đi làm gì? Làm nòng súng là việc của ai? Của tôi! Vậy chính tôi phải thử nó chứ! Người nào làm người ấy thử, bác Pi-ốt ạ. Còn bác, tốt nhất là ngồi sang một phía và quan sát. Bác là người lãnh đạo chúng tôi, bác không thể không tin tưởng...

        Giờ đây, dường như A-lếc-xây Grô-mốp đang trêu ngươi Pi-ốt Oóc-lốp và cười nhạo cả chính bản thân mình. Dôi mắt sáng dưới cặp lông mày rậm của ông nhíu lại vì nụ cười.

        — Vậy tôi sẽ ở lại. Ồng lớn tiếng kết thúc tựa như họ đã có quyết định dứt khoát.

        Bâng một cử chi hiên ngang quả cảm làm Na-ta-sa đầy kinh ngạc sửng sốt, ông ấn sâu chiếc mũ trên đầu cho thật chặt, chiếc mũ cũng có nhiều lông ấm áp và đang hiên ngang giống y như Pa-ven.

        Pi-ốt Oóc-lốp im lặng nhìn Grô-mốp.

        — Ông quả vẫn còn là một tráng sĩ dũng cảm đó. — Pi-ốt Oóc- lốp nói, hình như cảnh này đang như trêu tức ông, — Được rồi, tôi không tranh luận với ông nữa... Quả thực, một người sẽ khó khăn, Thôi tôi đề nghị tất cả lui ra!

        Ca-da-cốp, Ni-cô-la-ép, An-ma-dốp đồng thanh phản đối, nói cướp lời nhau. Sự e ngại của Oóc-lốp trong việc thử súng này đối với mọi người thật bất ngờ và nó không thể không gây ra sự lo lắng... Lúc này Vla-xốp phải can thiệp vào mới bắt các ông già yên lặng được.

        — Bác Grô-mốp, sao lại như thế nhỉ? Tại sao lại là bác, hả bác A-lếc-xây ? — Ca-da-cốp kêu lên, vội ngoảnh lại đằng sau.— Việc này phải công bằng... Tại sao lại không phải là tôi được quyền thử ?

        — Thôi làm đi, làm đi, bác Cu-dơ-ma! — A-lếc-xây Grô-mốp cười, cợt nói. — Bác hãy xem, bây giờ chúng tôi sẽ chiến đấu như thế nào... nhưng đặt xa xa một chút! — Quay lại đằng sau, ông thấy Na- ta-sa vẫn còn đứng cạnh ông. — Còn đứng làm gì ở đây ? Na-ta-li-a? —  Ông cao giọng. — Đi khỏi chỗ này ngay đi!

        Ông khoát tay đuổi cô, dưới lông mày, đôi mắt ông quắc lên trồng đến sợ... Na-ta-sa ngạc nhiên bởi sự thay đổi bất chợt này của ông, nhưng cô không bực và cũng không dám trái lời. Cô đi lui lại cùng với các bạn ông...

        Ở phía dưới, nơi mọi người đứng tụ tập bên bức tường nghĩa trang, có thể nhìn thấy rất rõ, bên sườn đồi trọc, giữa những đám cây trụi lá có hai ông già đang loay hoay gần khẩu cối: Pi-ốt Ki-rin- lô-vích Oóc-lốp, thân hình cao gầy mặc áo bành tô ngắn, tà áo phanh ra trông giống một con chim núi lớn và A-lếc-xây Grô-mốp vai rộng, dáng điệu chậm rãi. Chỉ lúc này bình tâm lại, Na-ta-sa mới hiểu hai ông già có thể bị nguy hiểm đến tính mạng nếu khẩu cối vỡ, không chịu đựng nổi cuộc thử lửa này. Cô sợ hãi, lo lắng ngoái nhìn lại... Vla-xốp đầu cúi xuống, tay xoa xoa bộ râu đen, còn Ca-da-cốp thì nhăn mặt khó chịu, những nếp hằn trên trán ông nhíu lại. Ni-cô-la-ép đang cầm khăn mùi soa lau những giọt nước mắt đang ứa ra. Mọi người đều lặng thinh. Trong bầu không khí yên tĩnh này chỉ còn nghe thấy tiếng đạn nổ xa xa, làm Na-ta-sa cảm thấy nó giống như tiếng còi cấp báo rền rĩ, lo âu, buồn bã. Lúc này, bên khẩu súng cối, hai ông già vẫn tiếp tục làm cái gì đó, lúc thì lui đi lui lại, lúc thì ngồi xồm, đầu chụm vào nhau, chắc là đang thảo luận.

        Từ trên cao, trong bụi cây vang lên giọng người chỉ huy đơn vị súng cối, tiếng nói tách bạch rõ ràng:

        — Mục tiêu, hướng quân thù, chuẩn bị! Phát thứ nhất... hướng chính... bên trái một — hai mươi, đường ngắm sáu — hai mươi...

        Na-ta-sa bỗng nín thở. Cô không nhìn thấy người chỉ huy bị bụi cây phía sườn đồi che khuất mất và dường như chỉ có lời nói vọng ra từ đấy. A-lếc-xây Grô-mốp đang cố ưỡn thẳng người, nắm chặt vật gi đó giơ cao trên nòng súng.

        — Ôi, đừng có làm tuột đấy nhé, bác A-li-ô-sa! Đừng có phung phí! — Ca-da-cốp lẩm bẩm ngay bên tai Na-ta-sa.

        Và ở phía trên lại đột ngột vang lên giọng nói đứt quãng của người chỉ huy:

        — Một quả... Bắn!

        Ngay giây phút đó, A-lếc-xây Grô-mốp giật tay, thả quả đạn rất nhanh vào nòng súng, suýt nữa ông bị ngã giúi xuống dưới.

        Phát đạn vừa nổ, Na-ta-sa kêu lên và nhắm mát lại. Khi cô mở mắt ra, giữa rừng cây, một đám khói xám bốc lên, viên đạn đã bay về phía trước. Nhưng điều chủ yếu là cả hai ông già đứng bắn và khẩu cối vẫn nguyên vẹn. Mọi người chung quanh Na-ta-sa lập tức sôi nổi hẳn lên, chạy đi chạy lại tranh nhau nói:

        — Phải như thế chứ, bác A-li-ô-sa! — Ca-da-cốp kêu lên giọng nghẹn ngào.

        Trong bụi cây lại thấy vang lên:

        — Bên trái không — mười chín... Một quả... Bắn!.

        Lần này không thấy đạn bắn ra ngay sau khẩu lệnh : các ông già vì sao đó còn lần chần, họ ngồi xuống bên khẩu cối và chăm chú xem lại cái gì đó.

        — Đúng rồi, rõ ràng là cần phải xem xét cho thật cẩn thận... Đây có phải là làm bánh xèo tiễn mùa đông trên bếp lò đâu. — Ca- da-cốp giảng giải cho Na-ta-sa nguyên nhân của việc chậm trễ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:35:41 am

        Rồi lại thấy A-lếc-xây Grô-mốp đứng thẳng người lên, giơ cao tay trên khẩu súng. Tiếng nổ thứ hai vang lên, quả đạn bay vút sang bên kia đồi. Pi-ốt Oóc-lốp ngàng đầu nhìn theo hướng đạn bay, còn A-lếc-xây Grô-mốp thì cởi áo bông ra và ném xuống đất.

        — Rõ ràng là ồng ta đã phát sốt lên rồi! — Ca-da-cốp nói, khuôn mặt bé nhỏ của ông luôn luôn thay đòi theo từng giây, lúc thì nhăn lại, lúc thì hân hoan phấn khởi.

        Một người nào đó, không đứng yên được nữa, chạy nhanh lên hướng các ông già, nhưng giọng nói nghiêm khắc của Vla-xốp đã bắt anh ta phải dừng lại.

        — Chạy đi đâu đấy hử?... Tất cả đứng nguyên tại chỗ.

        Sau đó tiếp theo khẩu lệnh chỉ khoảng nửa phút, hoặc ít hơn, đã nghe thấy tiếng đạn nổ. Trong suốt thời gian đó, người chỉ huy chỉ thay đồi đường ngắm, còn giữ nguyên hướng cũ : « Đường ngắm sáu - tám năm », « Đường ngắm sáu - năm mươi », « Đường ngắm sáu- bốn hai »... Chỉ có mình anh ẩn trong lùm cây phía trên là nhìn thấy được kết quả của việc bắn, còn bản thân những người bắn, những khán giả đang đứng ở đằng sau bên bức tường nghĩa trang là không biết được những gì xảy ra ở dưới chân đồi bên kia. Na-ta-sa nóng ruột và hào hứng như tất cả mọi người ở đây, chờ đợi kết quả việc bắn của họ. Khi thay đổi đường ngắm, rõ ràng là người chi huy đã thấy các viên đạn đi gần trúng đích mà anh muốn.

        — Đường ngắm sáu-bốn hai... — Vặn vang lên khẩu lệnh cũ — Hai quả... mỗi quả mười giây... Bắn!

        Quả thứ nhất, rồi quả thứ hai lao vút đi, chi vài giây sau, gió lại đưa lại giọng nói ngắt quãng của người chỉ huy;

        — Đúng rồi!... Trúng lắm!... Bốn quả... Bắn!

        Ca-da-cốp huých mạnh vào khuỷu tay Na-ta-sa:

        — Đấy, ông già A-li-ô-sa của cháu đang bắn đấy! Ông hoan hỉ reo to.

        Hầu như không có sự cách quang giữa bốn quả mới, chủng nổ rất đều và người chi huy lại ra lệnh:

        — Bốn quả!... Đường ngắm cũ... Bắn!

        Bốn tiếng nổ lại vạng lên, rồi nghe thấy tiếng vọng từ trên cao:

        — Trúng lắm!... Rất cám ơn những viên đạn chuẩn xác !

        Tới lúc này, ông già Ca-da-cốp không chịu được nữa, chạy ra khỏi chỗ ẩn, lao lên phía trước rất nhẹ nhàng, dường như lướt trên mặt đất. Na-ta-sa cố bám theo sau ông. Sau đó, mọi người cũng chạy ùa theo...

        — Bắn tất cả là hai mươi quả rồi đấy! Tôi đã đếm được như thế! Các bác có biết không ? — Một người nào đó thích thú nói to.

        Mọi người đứng vây chặt lấy hai ông già pháo thủ súng cối. Na-ta-sa phải khó khăn lắm mới lách vào được gần A-lếc-xây Grô- mốp. Ông đứng trong tư thế hai chân đang rộng, hai tay cầm viên đạn cối nhỏ nhắn trông như một thứ đồ chơi trẻ con trong đôi bàn tay to lớn nhăn nheo của ông. Còn Oóc-lốp thì đang ngồi xổm chăm chú xem xét nòng súng cối.

        — Đồng chí Oóc-lốp, đồng chí Grô-mốp! Xin chúc mừng thành tích chiến đấu rực rỡ đầu tiên. — Vla-xốp đến gần nói to. — Chúc  mừng sản phẩm của các đồng chí nữa!...

        — Này bác Pi-ốt, có thể thêm vài phát nữa chứ?! — Grô-mốp ngước hỏi.

        Oóc-lốp lắc đầu phản đối, vành mũ lại bay lất phãt. Tương phản với Grô-mốp, khuôn mặt ông trông nhợt nhạt hơn, bộ râu dài của ông rối bù lòa xòa trên cổ áo và ngực ông.

        — Các bộ phận tốt không hả bác Pi-ốt Oóc-lốp? — Vla-xốp hỏi. — Không có gì đáng phàn nàn chứ ?

        — Chi phải sửa lại một vài chi tiết nhỏ. — Oóc-lốp đứng thẳng lên, rút trong túi ra chiếc thước đo. — Cân phải quay sang phải, cần điều chỉnh lại cho tốt hơn. — Ông thở phào nhẹ nhõm, miệng thoáng cười. — Dù sao thì chúng ta đã thử xong. Bây giờ công việc sẽ rõ ràng hơn...

        — Chỉ bị nóng thôi... — Grô-mốp nói, giọng tiếc rẻ.

        Hất đầu ngoảnh lại phía sau, ông nhìn về hướng kẻ thù đang khuất đâu đó. Ông vẫn chưa muốn rời quả đạn, đặt nó lên lòng bàn tay trái, tháo kíp nổ, đưa mắt ước lượng, dường như đang do dự có nên quăng nó đi hay không. Ông vung tay ném rất nhẹ nhàng, quả đạn bay dưới bàu trời xám và cao quá ngọn sồi non.

        — Các khẩu cối của chúng ta sẽ được lên tiếng. — Oóc-lốp hài lòng nói.

        Mọi người đứng quây chặt hai ông già hơn, còn Na-ta-sa, cô rất muốn ôm hôn cả hai ông.

        — Bác A-li-ô-sa ạ, trước bác là chàng trai dũng cảm như thế nào thì bây giờ bác vẫn thế. — Ca-da-cốp thét lên và ôm lấy Grô-mốp.

        Còn Oóc-lốp thì không kịp thở, không kịp trả lời những câu hỏi của mọi người đang vây quanh.

        — Máy ngắm thế nào? Có phù hợp với thước kẻ của chúng ta không? — Ni-cô-la-ép hỏi.

        — Máy giảm rung tốt chứ? Tôi đã làm chỗ này đấy, bác Oóc-lốp ạ ! — Một người khác chêm vào.

        — Hôm nay chúng ta dừng lại ở đây chứ, các đồng chí ? —  Vla-xốp hỏi. — Hôm nay cần phải tổ chức ăn mừng để kỷ niệm ngày này... Chúng ta vẫn thường có truyền thống như vậy.

        Người chỉ huy cuộc thử súng từ trên đi xuống, siết chặt hai tay ông già pháo thủ. Tiếp theo là đại úy tiểu đoàn trường đi tới, Vla- xốp trông thấy ông liền kêu lên:

        — Mọi việc đều tốt cả, đồng chí có thể báo cáo lên trên như thế, đồng chí đại úy ạ! Trong thời gian tới, chúng tôi có thể cung cấp cho đồng'chí bao nhiêu khẩu cổi cũng được. Hãy dùng nó đề giáng vào bọn xâm lược suốt cả ngày lẫn đêm! Như chúng tôi đã bắn trong ngày hôm nay ấy! Thôi các bạn ạ, chúng ta chuẩn bị về chứ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:36:10 am

        Khi quay lại chỗ ô tô đậu mang theo cả khẩu cối, mọi người vẫn tiếp tục bàn tán sôi nổi cảm tưởng của mình. Thậm chí có lúc đạn pháo lớn của bọn Đức thình lình lao tới cũng không làm cho những con người đang hăng say với những kết quả bước đầu của việc thử súng này mất hứng đi. Thật ra, đạn của bọn Đức nổ hãy còn xa trên bãi bằng trước ngọn đồi, và cũng không nhiều. Từ con đường ô tô nhà máy đang đứng đợi, có thể nhìn rõ như đang đứng trên cao, những màn khói cuộn lại len qua các bụi cây trần trụi lá, bốc lên cao. Sau đó các loạt đạn lại chuyền làn sang một nơi nào đó phía đối diện với nghĩa trang rộng lớn.

        Cùng với mọi người bước tới chiếc xe, Na-ta-sa nghĩ là không còn cơ hội được gặp Pa-ven nữa. Cô buồn bã ngoái lại đằng sau. Và ngay lúc đó, từ sau bức tường nghĩa trang cuối đường, một người cao lớn mặc ca pốt Hồng quân nhưng lại đội cái mũ lông xù rất quen thuộc, đang rảo bước đi đến chỗ ô tô.

        Na-ta-sa không kêu lên được, chỉ im lặng chạy ngược lại đón Pa-ven, hai tay vươn về phía anh và lúc đó ở ngoài người ta có thể nghĩ là cô đang kêu cứu. Khuôn mặt Pa-ven thoáng hiện niềm vui rạng rỡ bỗng biến thành nỗi lo âu.

        — Na-ta-sa, Na-ta-sca! Em làm sao vậy? Sao vậy? — Anh kêu lên.

        Không trả lời, cô ôm chặt lấy anh, một mùi đất xa lạ ẩm ướt từ áo anh bốc lên, làm cô theo bản năng lùi lại và thốt lên:

        — Chúng em đã đi dự bắn súng ở chỗ các anh đấy... À, mà không phải là tất cả, chi có bố và bác Pi-ốt Oóc-lốp thôi.

        — Có chuyện gì hả? Chuyện gì hả em? — Pa-ven vừa hỏi vừa kéo Na-ta-sa vào sát người và nhìn thẳng vào mắt cô.

        Trước mắt anh, trông cô vừa hốt hoảng nhưng thật đáng yêu đến nỗi vì lo lắng và vì quý yêu cô mãnh liệt nên anh không hiểu cô đang nói gì nữa.

        — Không, không có chuyện gì đâu. — Na-ta-sa thảng thốt hôn vội lên môi Pa-ven rồi lại lùi ra, ôm chặt cánh tay anh. —Tất cả đều bình an vô sự, thậm chí họ đã bắn vào bọn Đức hai mươi phát cơ... Ôi, em cứ nghĩ là sẽ không được gặp anh nữa.

        — Ai bắn vào bọn Đức ? — Pa-ven vừa hỏi lại vừa khao khát ngắm nhìn cô, và mãi lúc này anh mới thực tin rằng anh đang thực sự gặp và ôm cô trong vòng tay của mình.

        — Em đã nói cho anh rồi, bố và bác Pi-ốt Oóc-lốp. Họ đi thử súng cối... — Cô lùi lại nhanh rồi lại dựa vào ngực anh. — Anh bị làm sao thế này? — Cô hỏi bằng một giọng nhẹ nhàng khác hẳn.

        Cô đưa ngón tay út thận trọng sờ lên vết xước đã khô máu trên trán Pa-ven.

        — Lành rồi em ạ, chuyện vặt thôi! — Pa-ven nói và mỉm cười yếu ớt. — Bố đã đi bắn súng đấy à? Không có lẽ. Bố ở đây à? Tuyệt thật!

        A-lếc-xây Grô-mốp đã ngồi trong xe, chợt thấy Pa-ven, liền nhảy ra gặp anh.

        — Nào, nào cho tôi ngắm cậu một tí nào, chú lính A-nhi-ca của tôi! — Ông nói với anh băng một giọng khoan dung, cười cợt như trước kia. Hình như ông lại đối xử với con trai mình một chút gì đó hơi chua chát, nhưng đâu sao ông vẫn ôm Pa-ven và hôn liền ba cái.

        — Ôi, bố và anh Pa-ven cao thật đấy! — Na-ta-sa nói hồn nhiên rồi cười phá lên.

        — Pa-ven này, công việc của các con ở đằng ấy vẫn tốt chứ, hả? — A-Iếc-xây Grô-mốp hỏi, giọng đã thủn mật hơn.

        — Vâng, bây giờ mọi việc đã vào nền nếp. — Pa-ven sung sướng khi nhìn thấy những thay đổi trên nét mặt của bố. — Người ta đồn rằng ở nhà máy ta có những người bắn cối chuẩn xác lắm!

        Ông già bây giờ thực sự khác hẳn trước và điều ngạc nhiên nhất không phải là ông đã đứng thẳng, đứng vững được, mà là ở sự âu yếm trìu mến vẻ bề trên mà ông vừa nói với con trai.

        — Thế nào, con thấy các ông già vẫn còn sống được đấy chứ ? Ngày tháng trôi đi, chúng tôi đang nhìn thế hệ trẻ lớn lên, — ông lại nói đùa, — và chúng tôi cũng phải nghĩ cách để thi đua với các anh chứ!

        Từ trong ô tô vang lên tiếng chào:

        — Thế là dù sao cậu cũng đã đến kịp, Pa-ven ạ.

        — Nào, lại đây cho xem mặt tí nào!

        — Chào Pa-ven thân mến!

        Ở nhà máy, mọi người đều biết anh nên anh buộc phải đi vòng quanh xe bắt những bàn tay đang chìa ra và trả lời các câu hỏi. Pi-ốt Oóc-lốp nhảy qua thành xe, cũng ôm hôn anh.

        — Thật tuyệt là chúng ta lại gặp nhau! — Ông nói giọng xúc động. — Anh có biết là bác luôn nhắc đến anh không ?...

        — Pa-ven này, trước ông cụ, anh chỉ là một cậu bé thôi, không hơn được đâu. — Ca-da-cốp kêu lên. — Còn lâu anh mới bằng ông ấy được...

        — Bác rất vui mừng khi thấy cháu còn khỏe mạnh như thế này, — Ni-cô-la-ép nói.

        Pa-ven cười vui vừa trả lời vừa thỉnh thoảng quay lại nhìn Na-ta-sa. Đôi má cô hồng hào, còn cặp mắt ấm áp đen sẫm của cô long lanh hơn bao giờ hết.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:36:38 am

        Trong câu chuyện, lúc cô kể về công việc, lúc lại chuyển sang việc thử vũ khí, còn Pa-ven hầu như không để ý nghe xem cô nói gì mà chỉ say sưa ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của cô. Anh vừa mới rời khỏi chiến hào và tưởng như đang thấy trong cô tất cả mọi hạnh phúc của con người, mọi vẻ đẹp sinh động tuyệt diệu trên thế gian này. Anh không nhìn thấy chiếc bành tô nhàu nát, đôi ủng phù dãy bụi của cô, không thấy tóc cô rối bù đang lòa xòa ra ngoài chiếc mũ nổi. Bỗng nhiên, như bị một hòn đá nặng ném trúng vào tấm sắt, trên khoảng không có thể nhìn thấy được sau ngọn đồi, vang lên một tiếng nổ đanh, rồi một đám khói lẫn bụi đất, cỏ cây bốc lên cao. Ngay lúc ấy, chiếc ô tô bắt đầu nổ máy và những người chưa kịp lên vội va leo vào thùng xe. Pa-ven ôm lấy vai Na-ta-sa kéo về phía mình rồi vội vàng dắt cô chạy lại ô tô.

        — Đừng sợ! Em sẽ kịp đi... Đừng sợ! — Anh nhắc lại. — Anh đi rồi anh sẽ trở về...

        Anh xốc nách cô như một em bé, nhấc bổng cô lên rồi đặt vào thùng xe.

        — Pa-sa, hẹn gặp lại vào ngày gần đây nhé! Khi nào có dịp thì rẽ vào nhà máy... Gửi lời chào đến tất cả anh em mình! Hỏi thăm cả Bô-cốp nữa nhé! — Một giọng trong xe vang ra.

        — Tôi sẽ nói lại! Sẽ nói lại tất cả! Đi nhé! Anh sẽ trở về, sẽ về! — Pa-ven kêu lên và nhìn Na-ta-sa, lúc này anh không chỉ hứa với Na-ta-sa mà còn tự hứa với ngay chính mình nữa, và cảm thấy lo lắng sợ hãi khi phải từ biệt cô. — Anh nhất định sẽ về thăm em!

        Khi nhớ là mình còn phải tạm biệt bố nữa, anh ngoái lại. Ông A-lếc-xây Grô-mốp đang chậm rãi đi lại gần anh. Dáng ông không còn vẻ cười đùa nữa mà với vẻ âu yếm vụng về, ông trìu mến xoa xoa ngực con trai.

        — Mặc áo này không bị lạnh chứ ? — Ông hỏi, giọng thấp xuống, thì thầm vẻ bí mật. — Ồ, không đâu bố ạ! Bố về nhé! Cảm ơn bố về những khẩu súng này, — Pa-ven nói.

        — Nếu lúc nào có thể được, con hãy đến chỗ bố nhé... — A-lếc- xây Grô-móp thì thầm khe khẽ và ông đi lên xe.

        Pa-ven giúp bố trèo lên rồi anh kéo thành xe, đóng chặt lại.

        — Páp-lích ! Tha lỗi cho em... — Na-ta-sa kêu lên khi sực nhớ ra.

        Chỉ đến lúc này, khi phải từ biệt Pa-ven, cô mới nhìn kỹ, thấy anh thay đổi rất nhiều : áo ca pốt hơi chật và ngắn, cô cảm thấy anh có một cái gì đó không được bình thường. Mặt anh đen sạm lại như bị khói hun, còn vết xước mới dưới mắt làm thành một nét hằn trông đến thương. Na-ta-sa không chịu nổi khi phải tạm biệt anh lúc này.

        — Em nói sao ? Thôi em cứ về đi! — Không hiểu sao, Pa-ven lại bực tức nói như vậy.

        Chiếc xe rồ máy lên chuyển bánh, dường như người lái chỉ còn đợi mệnh lệnh này của anh thôi.

        Na-ta-sa còn nhìn thấy bóng dáng đơn độc của người chồng đang đứng ở giữ đường một lúc lâu nữa. Đúng vào lúc chiếc xe vừa rẽ sang ngang thì một tiếng nổ vang lên rất gần làm chiếc đài phun nước bằng đất rung lên sau bức tường nghĩa trang.

        — Bọn quỷ đó tức giận với khẩu súng của ta đấy! — An-ma- dốp nói.

        Lê-na Cô-lê-xnhi-cô-va quyết định ở lại đội trinh sát và Vi- chi-a Vê-rép-kin bây giờ cũng chẳng phản đối gì điều này; cả Vô-lô- đi-a Ti-khô-nốp tuy đề nghị cô gái vào thành phố ở tạm với mẹ mình, nhưng trong thâm tâm lại tán thành quyết định của cô bạn gái. Từ cái đêm trinh sát đầu tiên đáng ghi nhớ đó, cả ba người — Lê-na, Vô-lô-đi-a, Vi-chi-a — đều không rời nhau nửa bước, cả trong lúc nghỉ ngơi cũng như trong khi làm nhiệm vụ. Thật ra, mõi khi phải đi vào vùng địch chiếm, Vô-lô-đi-a đều không muốn nhận Lê-na đi theo, cậu ta lo cho cô bạn, nhưng điều trước tiên phải nhận là cô đã vật nài bằng được để tham gia vào các cuộc trinh sát và hơn nữa, « chính Vô-lô-đi-a cũng nghĩ rằng cô không thể hành động khác thế được. Trong cuộc sống cũng như trong quan hệ đối xử với mọi người cậu ta thích mọi sự đều rõ ràng, mình bạch, công bằng và hợp lý. Cậu không tìm lý do gì để buộc Lê-na phải hưởng quyền ưu tiên đặc biệt so với những chiến sĩ trinh sát khác. Sự thông thạo địa dư phong thổ, biết bắn súng khá do cô học tập được trong các buổi tập đã giúp cho Lê-na trở thành một người bạn đường có ích. Theo con mắt của Vô-lô-đi-a, Lê-na có vẻ đẹp kỳ lạ: điệu bộ duyên dáng, giọng nói, nụ cười, mái tóc xoăn nghiêng nghiêng, cặp lông mày khẽ nhướng lên một cách ngây thơ như cậu ta đang tưởng tượng lúc này, tất nhiên đã giúp họ thoát khỏi bao nhiêu khó khăn hiểm nghèo trong các cuộc trinh sát. Hơn thế nữa, giờ đây, đối với cậu, tất cả mối nguy hiểm và nỗi khó khăn đều là điều tự nhiên đối với mỗi người và né tránh nó là điều si nhục.

        Từ sau hôm ở làng Một tháng Năm bị bọn Đức thiêu hủy trở về, Vô-lô-đi-a dường như lớn hẳn lên và thực tế hơn. Từ lúc này cậu đã quyết định dứt khoát, điều đầu tiên là không nhân nhượng bản thân bất cứ một điều gì và đối với người khác cũng thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:37:40 am

        Bây giờ cậu đang lúi húi với khẩu súng của mình, tập tháo lắp, lau sạch sẽ; còn trong các bài học của những người trinh sát lão luyện, cậu đã luyện cho mình đức tính kiên quyết cần thiết.

        Nhóm ít người của họ cách đây không lâu được bổ sung, biên chế lại và có chỉ huy mới là một trung úy do ban tham mưu khu vực cử về. Chỉ huy mới trước là vận động viên và huấn luyện viên thể dục, anh đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện thể lực của người trinh sát và Vô-lô-đi-a đã cố gắng chạy, nhảy, bò nhiều đến nỗi đầu gối cậu ta luôn bị đau nhức vì bị trầy da và chấn thương. Vài ngày sau, cậu ta gầy đi trông thấy, đôi mắt xanh, sắc bén trên khuôn mặt gây gò của cậu như to hơn... Được bầu làm phân đoàn trưởng, Vô-ỉô-đi-a cũng thẳng thắn đòi hỏi các bạn mình phải có sự hăng hái nhiệt tình quên mình như vậy và đã ngạc nhiên thực sự, nếu đôi khi họ không bằng lòng với cậu. Chính vì điều này mà một lần giữa cậu với Lê-na đã xảy ra va chạm, suýt nữa cãi nhau. Hôm đó, khi thấy một vệt bẩn trên nòng súng ngắn của Lê-na, cậu nhã nhặn và nghiêm túc nhắc Lê-na những quy tác giữ gìn vũ khí cá nhân, sau đó cậu đã bối rối và lúng túng khi thấy Lê-na, chẳng rõ vì sao, lại thét lên, trả lời những câu khuyên bảo đầy tình bạn của cậu ta:

        — Anh là một cậu bé chán ngắt, anh là người như vậy đấy! Anh là một người hay bắt bẻ kiếm chuyện điển hình đẩy!... Là người khô khan lạnh nhạt... không hơn không kém... Xin anh làm ơn tránh xa tôi, cùng với những nhận xét công thức ấy đi! Và nói chung không phải việc của anh xin đừng nhúng vào...

        Cuối cùng, đôi mắt cô tràn đầy những giọt nước mắt lăn dài trên hàng mi khép kín.

        — Hãy nghe đã nào, Lê-na!... Vì mỗi một phút Lê-na đều cần đến nó... mà nó sẽ bị hỏng mất vì bẩn, điều đó thật rõ ràng... — Cố giấu những cảm xúc thật của mình, Vô-lô-đi_a -nói với giọng càng dứt khoát hơn. — Tôi nói đây là có lợi cho Lê-na...

        — Không ai bắt anh phải lo lắng hộ cả! — Lê-na rầu rĩ thét lên, nước mắt vẫn chảy trên đôi má bầu bầu của cô. — Tôi chán anh một cách ghê gớm rồi. Tôi thi mệt mỏi, bị dằn vặt, có lẽ anh đã hiểu được điều này.

        Vô-lô-đi-a ngạc nhiên sửng sốt và ủ rũ đến nỗi không biết giải thích điều gì hơn nữa cho cô bạn gái. Lúc này, vì không hiểu được cô, không hiểu được bản thân mình, cậu lắp bắp một cách vội vàng, sợ hãi:

        — Sao vậy Lê-na?... Lê-na... Làm sao thế? Không được nói nữa!... Lê-na làm sao vậy? — Thấy Lê-na khóc, cậu nhăn nhỏ, dằn vặt, băn khoăn. — Thôi tôi sẽ lau khẩu súng của Lê-na thật sạch. Lena có nghe thấy không, chỉ có điều đừng khóc nữa! — Cậu hạ giọng và đỏ mặt. — Tôi sẽ luôn luôn lau sạch súng cho, được không?

        Điều đó rõ ràng là không đúng và anh rất băn khoăn ngượng ngùng khi tỏ ý muốn giúp đỡ Lê-na. Nhưng sự việc thật lạ lùng là sao cô gái lại cáu bực với cậu chỉ vỉ đã lo lắng thúc giục cô. Ngày hôm sau, sau buổi tập bắn, khi cậu lau sạch khẩu súng ngắn của cô, thì cô lại không cáu giận với cậu một chút nào cả. Nếu như có một người nào khác bảo cậu làm chính cái việc này thi dĩ nhiên cậu sẽ nổi giận, phẫn nộ ngay. Nhưng nói chung, cậu hiểu Lê-na còn ít, lúc thì cô tỏ ra lơ là với vũ khí của mình, lúc thì lại khoe tài thiện xạ, lúc cô buồn không nguôi khi nhớ đến mẹ và em gái, rồi bỗng nhiên lại cười đùa một cách vô cớ, hoặc trong giờ học cỏ lại mở mắt thao láo nhìn từ tấm bản đồ đến cái la bàn... Tất cả những hành động mâu thuẫn đó đã làm Vô-lô-đi-a thất vọng vì cậu không chịu ngả theo sự giải thích lý tính.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:09:24 am

        Bản thân cậu lúc này, với lòng tận tâm hết sức đã chuẩn bị cho mình và các bạn mình đi vào cuộc chiến đấu khốc liệt hiện còn đang ở phía trước, và cậu mong muốn nhanh chóng được nhìn thấy tất cả họ sẽ trở thành những người lính thực sự, những chiến sĩ trường thành đã được tôi luyện và rất dũng cảm, điều này thật cần thiết biết nhường nào cho chiến thắng... Nhưng đáng tiếc là sự rèn luyện của một vài bạn anh trong cuộc sống cần thiết sinh động này lại quá chậm so với thực tế đang đòi hỏi, kể cả cậu bạn vừa đôi phải lứa Vi-chi-a Vê-rép-kin của cậu nữa, tuy đã được thử thách rồi. Trong hoàn cảnh mới, cậu ấy cũng nói về bản thân mình như vậy, — nhưng chính cậu cũng làm cho Vô-lô-đi-a lo lắng. Vi-chi-a bò rất khéo và nhanh, nắm vững, thành thạo cách ném lựu đạn, cải trang, trá hình rất tài, không bao giờ bị mất bình tĩnh, nhưng đôi lúc trong giờ học lại tỏ ra hơi đãng trí, và cũng như Lê-nà không thích đi trực, thoái thác các việc sinh hoạt, ngoài ra lại còn hay ngủ. Sáng nào Vô-lô-đi-a cũng phải dùng hết sức để lay anh bạn đang ngủ say như chết trên sàn, trong đống rơm có lót tấm áo mưa bạt. Rồi sau đó tự nhiên cậu lại phát hiện thấy trong sinh hoạt hàng ngày, Vi-chi-a có những lúc biểu hiện khó hiểu. Gần đây, các trinh sát viên bắt đầu đè ý đến chiếc ba lô của Vi-chi-a — nó có vẻ quá nặng — và được Vi-chi-a cất giữ rất cẩn thận đề giấu những con mắt tò mò. Trả lời các câu hỏi của mọi người là giấu gi trong đó, thì Vi-chi-a chỉ miễn cưỡng: «Ba lô của tôi, tôi muốn để cái gì thì để». Nhưng một hôm khi chỉ một mình ở nhà với Vô-lô-đi-a, cậu ta vì hiếu danh, đã lôi ba lô ra, đặt trên sàn tất cả những đồ vật trong đó. Và Vô-lô-đi-a cực kỳ ngạc nhiên, hóa ra đây là bộ sưu tầm đạn các loại thật phong phú: đạn súng ngắn, tiểu liên, súng trường, đại liên chiến lợi phẩm thu được của bọn Đức. Trên mỗi đầu nhọn viên đạn lại có một vạch tròn màu đỏ, đạn sáng thì viền xanh, những viên nặng hơn — đè bắn cự ly ngắn được đánh dấu vàng, còn đạn bắn thiết giáp thì vạch màu đen. Trời mà biết được cậu ta đã làm cách nào để gom góp tích lũy cả một kho báu thế này, một kho báu thật là quý vô giá.

        — Giỏi quá, Vi-chi-a ạ! Thật tuyệt! —Vô-lô-đi-a ngồi xồm, tay lật đi lật lại các viên đạn, miệng reo lên đầy hân hoan phấn khởi.— Bây giờ, trong trường hợp nào chúng ta cũng có thể làm quy ước và chỉ được mục tiêu. Cậu đã hỗ trợ giúp đỡ tốt quá. Bây giờ chúng ta có thể bắn được cả tăng nữa!

        — Thôi, thế là đủ rồi nhé! — Vi-chi-a nói hơi cáu kỉnh, không hiểu vì sao cậu ta lo lắng và bắt đầu thu dọn bộ sưu tầm của mình vào ba lô. — Liệu đấy, không được kể cho chúng nó đấy, — cậu nói giọng răn đe. — Dù sao thì mình cũng không đưa cho ai đâu.

        — Cậu không cho là thế nào? — Vô-lô-đi-a hỏi lại.

        — Không cho là không cho, thế thôi! Ai cần thì phải tự lo kiếm lấy...

        Vô-lô-đi-a chậm rãi đứng lên, đôi mắt ngạc nhiên của cậu chăm chăm nhìn bạn mình.

        — Cậu phải đưa, nếu tôi ra lệnh... Một ông chủ bắt đầu xuất hiện, ngài Gốp-xếch. — Vô-lô-đi-a tức giận. — Cậu phải đưa cho ai cần, cậu phải chia cho tất cả mọi người. Rõ chưa?

        — Thôi đủ rồi... Mọi người phải tự lo liệu lấy cho mình chứ, —  « Ngài Gốp-xếch» cáu kỉnh trả lời. Khuôn mặt gầy, dài, có một nốt ruồi trên má của cậu ta buồn thiu. — Mọi người đều muốn ăn sẵn như thế... Cậu thật là con người thông minh. « Phải chia cho tất cả mọi người»... Thế tôi sẽ còn lại cái gì ?

        — Không phải một mình cậu chiến đấu mà mọi người đều chiến đấu cả... Cậu hiểu không? Và đừng có nghĩ đến sự vinh quang của bản thân, hãy nghĩ đến mọi người khác nữa, rõ chưa? — Vô-Iô-đi-a nói.

        — Tôi không phải vì cái vinh quang... mặc dù ai chả muốn có vinh dự... — Vi-chi-a làu bàu. — Tôi muốn bắn những con bạch tuộc Đức...

        — Cậu hãy nghĩ lại, xem xét lại chút nào... Mọi người cũng muốn bắn chúng. — Vô-Iô-đi-a thuyết phục. Vi-chi-a ngồi xổm, xem đi xem lại chiếc ba lô của mình một hồi lâu, xếp ra xếp vào một vài thứ gì đó, sau đấy cậu hỏi bằng một giọng uề oải.

        — Có thể để lại cho mình một ít không ?

        Nhưng cũng có những giờ phút mà Vô-lô-đi-a thấy rất xúc động bồi hồi khi nhìn thấy người bạn chiến đấu của mình. Đấy là những buổi chiều tới họ quây quần trong gian nhà gỗ lớn, nơi trú quân của cả đội ở ngoại ô thành phố và cùng nhau hát vang những bài ca. Thường Lê-na hay hái bè với Giê-nhi-a Xi-nhi-xư-na, cô học sinh trường trung cấp dạy nghề, cả hai đều có giọng tốt và những người khác hòa theo. Các bài hát gợi lại hình ảnh những người du kích trên dòng sông A-mua, cô con gái xứ Ca-khốp rực cháy, anh lính thủy Giê-lê-nhi-ắc và về Xtê-pan Ra-din, Sốp-sơ và Vô-rô-si-Iốp. Trong những giờ phút đó, một điều thật kỳ lạ, nhưng dễ chịu, thích thú tưởng như những số phận quang vinh, những chiến công huyền thoại mà các bài hát ngợi ca có một phần liên quan đến chính những con người đang ngồi hát ở đây. Tất cả những cái gì đang cháy bỏng trong trái tim họ — sự gan dạ và cao thượng, lòng nhiệt tình hăng hái sôi nổi và tính vô tư hào hiệp — như đang hiện rõ trên những gương mặt sáng sủa linh lợi của các chiến sĩ trinh sát đang hát. Lê-na hất mái tóc xõa trên trán lên, đôi má ửng hồng, đôi mắt nâu sẫm của Vi- chi-a sáng long lanh, đôi lúc không kìm được, cậu lại gào lên, giọng thật khó nghe.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:09:59 am

        Xi-nhi-xư-na vẻ đăm,chiêu, thể hiện một vẻ kiên quyết, còn anh bạn Va-li-a Lu-ca-sê-vich thích ngước mắt mơ màng nhìn lên không gian mông lung. Giọng hát của họ cao, đanh hơn. Bài hát vang xa rất to và đều. Có người thích chí quá, đánh nhịp lên đầu gối mình, có người nào đó đặt tay lên vai Vô-lô-đi-a và cậu cũng quàng tay thân thiết khoác vai người bên cạnh. Cậu hát to hơn mọi người khác và lúc này cậu cảm thấy thật hạnh phúc, tất cả dường như kết lại sẵn sàng lao vào bất cứ cuộc chiến đấu và thử thách nào. Và thật ra, nói một cách nghiêm túc thì trong công việc, trong những nhiệm vụ được giao, các bạn của anh chưa có gì đáng quở trách. Tất cả đều đã trải qua những công việc nguy hiểm, còn Xi-nhi-xư~na và Lu-ca-sê-vích đã có lần tài tinh tránh được cuộc săn đuổi của bọn Đức. Sau đêm ở làng Một tháng Năm, Vô-lô-đi-a cùng Vi-chi-a và Lê-ra lại được cùng nhau đi trinh sát, một lần nữa đã hoàn thành nhiệm vụ trở về an toàn, đúng thời hạn. Ông đại úy có râu, trong ban tham mưu khu vực rất hài lòng với những kết quả lần trinh sát thứ hai này, vì nhóm Vô-lô-đi-a đã bắt được liên lạc với một trong những đội du kích đang hoạt động ở vùng phụ cận thành phố. Nhưng chính Vô-lô- đi-a lại không thỏa mãn vì các bạn cũ của cậu, ở các vị trí phòng ngự thì hầu như được chiến đấu liên tục, còn cậu và các bạn khác, cho đến giờ theo ý cậu, vẫn chỉ làm những việc không đáng kể.

        Tuy nhiên, xuyên qua được vùng bọn Đức kiểm soát là một việc ngày càng khó khăn, phức tạp hơn và Vô-Iô-đi-a đã thấy được điều này khi cậu đi trinh sát đợt mới, lần thứ ba.

        Những ngày đâu tiên đi trinh sát, bọn Đức đóng quân ở những khu dân cư, không có những căn cứ dầy đặc, và có thể đi vòng qua sườn nó, hoặc rẽ vào rừng, băng qua đồng ruộng không có gì khó khăn lắm. Nhưng càng về sau, tuy các đường chiến hào không xuất hiện nhưng quãng cách giữa các đơn vị quân địch dần dần bị thu hẹp lại. Pháo binh Đức được đặt trong những cánh rừng gần ngoại vi và đã vươn tới được thành phố, còn quanh làng luôn có những đội tuần tiễu Đức cạnh gác.

        Vô-lô-đi-a, Vi-chi-a và Lê-na rất hài lòng vì luôn luôn được đi với nhau, một lần nữa lại phải gặp các đại diện của du kích, để trao cho họ bản chỉ thị của ủy ban bảo vệ thành phố và nhận những tin tức về quân Đức. Chập choạng tối, rời thành phổ và ngồi tại tuyến phòng thủ đến tối hẳn, các trinh sát viên mới ra đi và chẳng bao lâu đã tới một làng quen thuộc, nơi trước đây ba hôm họ đã tới thẳng chỗ hẹn đã định trước ở Ni-ca một cách trót lọt.

        Tuy vậy, lần này suýt nữa họ vấp phải đội tuần tiễu địch và nếu như không có một tên trong bọn hút thuốc lá để lộ sự có mặt của chúng thi có lẽ các trinh sát viên đã không tránh khỏi sự đụng độ. Nằm chờ trong lùm cây nhỏ đợi bọn tuần tiễu đi xa, Vô-lô-đi-a rẽ vào con đường nhỏ, dẫn hai bạn vào ven rừng thông. Chếch bên phải họ, dọc theo đường chân trời thình thoảng lại lóe lên những loạt pháo hiệu xanh lấp lánh, chập chờn từ làng Mư-skin, nơi đã bị bọn Đức biến thành căn cứ bàn đạp, còn trải dài bên trái và đằng trước họ là bóng tối dày đặc. Bỗng ngay gần cạnh họ, tiếng máy ô tô rộ lên và Vô-lô-đi-a vội rẽ ngoặt ngay sang trái, luồn sâu hơn vào rừng. Sau khi phải đi quãng đường vòng khá rộng như vậy, cuối cùng, nhóm trinh sát cũng đến được nơi hẹn khá muộn. Họ tìm mãi cây bạch dương bị nứt thân ở cửa rừng và từ đấy đi thẳng về hướng tây, sau đó còn phải cẩn thận bò qua đám cây gai rậm rạp cứ níu lấy chân họ. Để khỏi bị lạc hướng, thỉnh thoảng Vô-lô-đi-a cứ phải nhìn chiếc địa bàn mới trong tay. Kim la bàn hình thoi dài lấp lánh ánh sáng lân tinh xanh biếc như bị một làn hơi huyền bí nào đó thổi vào cứ nhảy nhốt rung rinh sau mặt kính và chỉ thẳng một hướng nhất định.

        — Tối mò mò thế này! — Lê-na khẽ phàn nàn, mắt căng lên nhìn, thậm chí nhức cả đầu mà vẫn chẳng thấy gì.

        Vô-Iô-đi-a suýt nữa định nhắc cô bạn là người trinh sát phải có đôi mắt tinh tường trong bóng đêm nữa, nhưng cậu ta đã kịp kìm lại được. Vài phút sau, từ trong rừng sâu khẽ vọng tới giọng nói nghiêm nghị.:

        — Đứng im!... Các anh là ai?

        — Người mình! — Lê-na hấp tấp đáp nhưng ngay lúc đố cô nghe thấy tiếng Vi-chi-a càu nhàu không hài lòng.

        — Lê-na, sao lần nào cũng lên tiếng trước thế? Sao cậu đoảng thế.

        — Khẩu lệnh ? — Người trong bóng tối lại hỏi.

        — Thuốc súng. — Vô-lô-đi-a nói. — Đáp lại?

        — Bi-cốt... đúng là các cậu rồi phải không? Tôi bị rét cóng lên vì đợi các cậu đây này!

        — Chúng tôi, chúng tôi đây! — Lê-na sung sướng reo lên và chạy lên trước.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:10:33 am

        Họ còn phải xuyên rừng đi theo người du kích liên lạc độ mười phút nữa và sau đó bước xuống căn hăm nằm sâu trong lòng đất. Ở đây ấm áp và sặc mùi thuốc lá. Chiếc đèn dầu xung quanh đan « dây thép », không hiểu sao lại gọi là đèn «tổ dơi», tỏa ánh sáng khá rõ. Một người tuổi trung niên, mặc áo lông cộc tay, râu xoăn ngắn đúng như Vô-lô-đi-a tưởng tượng, đang ngồi chống tay lên trán trên chiếc bàn ghép bàng những tấm ván thô. Bước lên trước một bước, Vô-lô- đi-a đứng nghiêm như điều lệnh đã quy định báo cáo về sự có mặt của tổ. Nhưng bỗng nhiên ông ta lại nheo mắt nhấp nháy Vô-lô-đi-a một cách tinh quái làm cậu ta hơi luống cuống, nói đúng hơn là làm cậu ta hơi phật lòng.

        — Là tổ trưỏrng hả? — Người chỉ huy du kích thân mật hỏi. — Tên cậu là gì nhỉ? Vô-lô-đi-a hả? — Ông đứng dậy và lần lưụt bắt tay tất cả ba người. — Còn cậu tên gì? — Ông quay sang Vê- rép-kin, — Vi-chi-a à? Tốt... còn cô? Lê-na hả? Cũng là một cái tên dịu hiền đấy... Như thế chúng ta đã quen nhau,.., Còn chú là Ni- ki-ta Đa-nhi-lứt... Thôi, ngồi xuống đi các bạn trẻ.

        Ông hỏi các trinh sát viên đã đến được đây như thế nào. Vô-lô- đi-a trả lời vắn tắt rồi rút trong túi áo blu dông ra một tập báo và một phong bì bản mệnh lệnh từ trong túi ngực. Chỉ huy du kích xé ngay phong bì và chăm chú dọc, tay gãi gãi bộ râu mới để, rõ ràng là chưa quen với nó.

        Vô-lô-đi-a ngoái cổ lại khi nghe thấy giọng nói như bị nén lại của Lê-na

        — Thật xấu hổ Vích-to ạ! Sao lại không hỏi để nhận luôn tin tức. — Lê-na nói thì thào vì xúc động. — Cậu ấy không biết hỏi.

        — Trao đổi là phải thế. Mình đưa cho họ cái họ cần và họ sẽ phải đưa lại cho mình cái mình cần... Chẳng có gì phải tranh luận cả, — Vi-chi-a làu bàu. — Đây là sự trao đổi lẫn nhau mà, thế thôi...

        Vô-lô-đi-a nghĩ là các bạn đang nói đến quả lựu đạn nằm trên bàn người chỉ huy du kích. Cậu chưa nhìn thấy quả lựu đạn nào như thế bao giờ. Nó tròn trĩnh như quả bóng con, màu xanh biêng biếc, tay cầm màu đỏ có gắn sắt cẩn thận. Nhưng dĩ nhiên Lê-na có vẻ đúng khi định khuyên Vi-chi-a.

        — Sự trao đổi lẫn nhau ! Cô đỏ mặt lên vì bực tức. — Cậu đã trao gì cho họ nào? Tôi biết, cậu chỉ biết năn nỉ và bắt đầu vòi vĩnh thôi. Nhưng tất nhiên người ta sẽ thương xót và sẽ cho...

        — Các bạn! — Vô-lô-đi-a nghiêm khắc nhắc và họ liền im lặng.

        Đọc xong, người chỉ huy gập mảnh giấy lại, rồi cất vào trong túi ngực, cầm cuộn báo lên, nhưng liền đặt xuống, nói:

        — Bây giờ thế này nhé, cậu tổ trưởng ạ, hãy truyền đạt lại hộ cho chỉ huy trường của cậu...

        Ông cúi người và cầm chiếc cặp ở dưới đất đặt lên bàn, Vô-lô- đi-a có vẻ lạ lùng khi thấy chiếc cặp giả da bị sờn rách, các góc đệm bẵng sắt vàng khè lại nằm không đúng chỗ ở đây, trong chiếc hầm đất này. Ông lấy tấm bản đồ trong cặp trải lên bàn và bắt đầu chỉ nơi đóng quân của bọn Đức.

        — Cậu ghi nhớ nhé. cậu tổ trưởng ạ, có nhớ được không? — Ông hỏi lại. — Nhắc xem nào... Tốt nhất là cậu hãy ghi lại đi... chỉ có một điều là mảnh giấy này phải...

        — Chú cứ yên tâm, cháu sẽ thủ tiêu ngay nếu... — Vô-lô-đi-a nói.

        — Thế, thế đấy. Trông cậu biết ngay là chàng trai thông minh, cậu đã biết cầm thìa đằng nào? — Chỉ huy du kích nói và không rõ tại sao lại nháy nháy mắt tiếp.

        Vô-lô-đi-a hơi nhăn mặt... Song những tin tức mà cậu đang nhận được, quả thật rất quan trọng: hóa ra quân địch đã đưa các đơn vị lớn chiếm đóng hầu hết các khu dân cư quanh đây. Người chỉ huy du kích báo rõ tên đơn vị, quân số và trang bị vũ khí của chúng. Qua thông báo của ông, có thể thấy rõ ràng đây là những đơn vị mới được điều về đây. Bọn chúng đang tập trung lực lượng chuẩn bị cho những cuộc tiến công mới. Vô-lô-đi-a vừa lắng nghe vừa suy nghĩ là trong tay người chỉ huy du kích hơi lạ lùng và có vẻ xởi lởi này có một đội trinh sát không phải là tồi.

        Đồng thời, ông ta còn cho biết là trong khu rừng mà tổ Vô-lô- đi-a vừa vượt qua để đến đây có rất nhiều xe tăng Đức, do đó, khi quay lại phải hết sức thận trọng.

        Sau khi trao cho Vô-lô-đi-a một phong bì dán kín đựng bản báo cáo của đơn vị, ông lại cầm lấy tập báo, có lẽ ông rất muốn giờ nó ra để đọc nhưng rồi lại chậm rãi nói:

        — Còn điều nữa nhớ báo cáo lên trên hộ là đồng chí Vôn-cốp đa hy sinh rồi, — ông nói. — Do bị thương quá nặng và bất tỉnh. Tình hình là thế đấy... — vẻ rất bực bội, khó chịu, ông rứt rứt bộ râu của mình. Giá được thì nhổ quách đi cho xong.

        — Thế đồng chí Vôn-cốp là ai thế ?—Vô-lô-đi-a hỏi vẻ thương xót.

        — Một con người rất tốt, — người chỉ huy nói. — Là kế toán nông trường Xo-viết chúng tôi, chính ủy của tôi đấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:11:04 am

        Ngả người dựa vào vách hầm, tì tay vào mép bàn, ông ngước nhìn các chiển sĩ trinh sát.

        — Định bao giờ quay về hả, các bạn trẻ. Có lẽ nên nghỉ một chút thì tốt hơn... Chà, chà chẳng có gì thết các bạn cả... — Ông phàn nàn.

        — Thôi ạ, cám ơi chú, chúng cháu sẽ đi ngay bây giờ. Chúng cháu phải trở về trước khi trời sáng. — Vô-Iô-đi-a nói.

        — Vậy thì phải lên đường thôi. Thôi nhé, tạm biệt các bạn trẻ! —  Ông đứng dậy từ biệt và lại nheo măt một cách tinh nghịch.

        «Sao chú cứ nháy mắt với chúng tôi suốt thế? — Suýt nữa thì Vô-lô-đi-a nói thành lời. — Chú vẫn coi chứng cháu còn là trẻ con hay sao ? ».

        — Chúc lên dường mạnh khỏe, may mắn nhé, Vô-lô-đi-a, cả cậu nữa, Vi-chi-a... Các cậu quả là những người khôn ngoan, láu lỉnh lắm! — Ông giữ bàn tay Lê-na trong lòng bàn tay mình lâu hơn và hỏi. — Cháu nói tên cháu là Lê-na Cô-lê-xnhi-cô-va phải không ? Khoan đã nào, — ông xoa xoa cằm, — thế cháu có phải là con gái Pi-e A-pha- rê-xê-vích không?

        — Vâng, đúng dấy ạ, — Lê-na trả lời.

        — Chà, chà cháu lớn quá rồi dấy, — ông thốt lên sung sướng. —  Bây giờ không nhận được ra cháu nữa. Chà, cháu đã thành một cô gái đẹp thực sự đấy! Thôi, nói gì với cháu ở đây được nào, — chăm chú nhìn Lê-na, ông ngoẹo đầu từ vai này sang vai kia. — Chính vì chú chỉ biết cháu khi cháu còn là cô gái bé tẹo thôi.

        — Cháu ư ? — Lê-na nhướng lông mày mỉm cười. Nụ cười thật đặc biệt, nó chỉ thoáng qua, nhưng Vô-lô-đi-a hiểu chỉ khi nào thật hài lòng, thích thú điều gì đó, Lê-na mới cười như vậy.

        — Ừ chính cháu! Vậy mà bây giờ cháu thấy đấy! — Người chỉ huy không kìm được nữa, — chú có dự một khóa huấn luyện ở làng Một tháng Năm và ở tại nhà cháu mà! Thật ra đã lâu lắm rồi, lúc đó cháu còn mặc bộ quăn áo ngắn cũn cỡn. Cháu hãy nói cho bác biết bây giờ mọi người ra sao rồi nào. Hình như bố cháu đã nhập ngũ, chú nghe nói thế, có đúng không nào? Bây giờ bố cháu thế nào? Bố cháu ở đâu?

        — Cháu cũng không rõ nữa! — Lê-na nói khẽ.

        — Khoan đã nào, khoan đa... — Ông chằm châm nhìn Lê-na. — Mọi người trong nhà cháu có kịp rời nông trang Một tháng Năm không ?

        Nụ cười tắt trên khuôn mặt cô gái, cô chỉ lắc đầu, không trả lời:

        — Không kịp à? Như thế đấy: — ông nói vẻ buồn bực. — Nhưng thôi, không sao, đừng lo lắng gì cả. — Im lặng một lát, rồi cố cao giọng. — Chúng ta sẽ giết sạch bọn Đức, đuổi cổ chúng đi, lúc đó mọi người nhà cháu sẽ tìm thấy nhau.

        — Nhưng ở đâu cơ ạ ? Chú có biết tin tức gì về họ không ? — Lê-na hỏi thì thào.

        Vô-lô-đi-a đứng dịch lại gần cô gái, như thể để bảo vệ cho cô tránh những tin dữ, và anh bực tức nhìn người chủ nhà, tuy đã lớn tuổi nhưng chẳng tế nhị và khéo léo chút nào cả.

        — Những tin chính xác thì không biết được đâu, cháu Lê-na bẻ bỏng ạ! — Ông trả lời không mạnh bạo lắm.—Sao họ lại không kịp chạy nhỉ? — Ông lại hỏi, giọng trách giận.

        — Có nghĩa là họ không thể đi được, điều đó có thể xảy ra lắm chứ sao! Có gì cản trở họ hoặc lúc định đi thì đã muộn ròi... — Vô- lô-đi-a bực tức nói.

        Không chú ý đến giọng của cậu ta, người chỉ huy lại nhìn Lê-na, ông nói vẻ khẳng định, nhưng giọng buồn buồn.

        — Mọi cái đều có thể xảy ra, có thể lắm... Biết làm gì bây giờ? Lê-na bé bỏng ạ, chúng ta hy vọng sẽ có những điều tốt đẹp hơn.

        — Vâng, nhưng chú đã biết được những gì rồi, những gì rồi ạ? —  Cô sợ hãi kêu lên.

        Người chỉ huy quay mặt đi, tay rứt mạnh những sợi râu ở cằm, có thể thấy ông đang lưỡng lự có nên nói sự thật ra không. Còn Lê-na mặt tái đi, hai tay ôm ngực, khuôn mặt cô trông đờ đại và đầy sợ hãi.

        — Bọn chúng đã đuổi mọi người ra khỏi làng Một tháng Năm và dẫn đi, — cuối cùng người chỉ huy rồi cũng phải nói. — Bọn súc vật, quỷ bắt chúng nó đi, — ông vung nắm tay đấm xuống bàn, mạnh đến nỗi ánh đèn chao đảo và bóng của mọi người cứ ngả nghiêng lay động trên vách hầm, trên những khúc gỗ tròn lát hầm, làm cho đàn dơi bất ngờ bay loạn xạ. — Bọn chúng cũng đuổi cả dân làng Đu-bi-nhi-tra đi nữa, — ông tức giận nói tiếp. — Ai đang mặc quần áo gì, cứ thế chúng cũng đuổi đi hết, còn làng thì chủng đốt trụi.

        Ông dặt tay lên vai Lê-na, khẽ lay cô:

        — Đừng buồn, con bồ câu nhỏ ạ! Chúng ta sẽ bắt bọn ác độc ấy phải đền nợ tất cả... Còn sau đó thì chưa có tin gì cả. Một số người đã chạy thoát được đấy, ví dụ như...

        — Đúng, tất nhiên rồi, nhiều người đã thoát được... Điêu đó thật rõ ràng! — Vô-lô-đi-a lập tức tiếp lời ông ngay. — Dù chúng có dẫn họ đến biên giới thì họ vẫn có tới hàng trăm khả năng chạy được...

        Nhưng Lê-na vẫn im lặng, thẫn thờ nhìn, môi run run, và Vô- lô-đi-a thấy nếu không chấm dứt câu chuyện này thì cô nhất định sẽ khóc, khóc rất to là đàng khác, cậu liền nghiêm trang hỏi:

        — Thưa đồng chí chỉ huy, cho phép chúng tôi lên đường?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:55:14 am

        Ông ta hơi ngạc nhiên nhìn Vô-lô-đi-a và gật đâu. Ông bước ra khỏi hầm cùng với các chiến sĩ trinh sát, tiễn họ một quăng. Đi bên cạnh Lê-na, thỉnh thoảng ông lại nhấc đi nhắc lại: « Đừng sốt ruột, con bồ câu nhỏ ạ, đừng lo lắng gì cả...». Rõ ràng ông thông cảm với cô gái thực sự. Nhưng Vô-lô-đi-a rất sung sướng khi ông dừng lại và chia tay với từng người. Trong khi họ ngồi trong hàm thì khu rừng già với cái tên gọi ít hấp dẫn là khu đất sét đã thay hình đổi dạng hầu như khó nhận ra. Bầu trời quang đang, mặt trăng tròn trịa chiếu sáng không trung, ánh sáng xanh nhạt của nó rải khắp, xuyên qua lá rừng. Trời không lạnh lắm như cả tuần gần đây, tuyết rơi ít, ban ngày nó tan thành nước và mặt đất trở nên mềm mại, ẩm ướt hơn, còn buổi tối thì nó lại phủ một lớp băng mỏng. Giờ đây mặt đất được đúc từ những mảnh kim loại hỗn hợp nhấp nháy, lấp loáng, cánh rừng biến thành một cảnh tượng diệu kỳ, cây cối bị tuyết phủ, trông như những tấm kính, những vệt sương sáng long lanh.

        Dáng cao cao của người chỉ huy du kích khuất đi rất nhanh trong khung cảnh lộn xộn đầy ánh trăng này. Vô-lô-đi-a dừng lại chờ Lê-na.

        — Mình muốn nói với Lê-na điều này, — cậu bắt đầu bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng cứng rắn. — Bạn không phải là một cô gái đơn dộc, đúng không?

        Lê-na không trả lời, đôi mắt mở to nhìn màn đêm sâu thẳm nhợt nhạt xung quanh, hơi thở nhẹ nhàng thoát ra từ đôi môi hé mở.

        — Tôi biết chú ấy đã làm cho Lê-na phải suy nghĩ lo buồn. — Vô-lô-đi-a nói giọng nhỏ hơn. — Ông ta cứ lặp đi lặp lại: « Đừng nóng ruột, đừng nóng ruột...». Nóng ruột cái gì chứ, chúng ta sẽ trả thù! Nhất định là thế. Già rồi mà chẳng hiểu gì cả...

        — Già là thế nào? — Lê-na mệt mỏi nói. — Chú ấy khoảng ba mươi tuổi thôi, không hơn đâu...

        — Ba mươi? Chả lẽ ít tuổi vậy sao? — Vô-lô-đi-a nói. — Thôi cũng được... Lúc nào chú ấy cũng nháy mắt, cứ như là chúng mình đang đùa với chú ấy không bằng!

        — Ôi, Vô-va! Tất cả những người lớn tuổi cậu đều cho là cụ già cả!... Cậu thật tuyệt làm sao, bạn thân mến của tôi! — Cô thốt lên, giọng buồn bã.

        Vô-lô-đi-a chưa kịp trả lời gì thì Lê-na đã bất thần đang tay ôm lấy cổ cậu ta kéo về mình. Những sợi lông ở chiếc khăn quàng của cô chạm vào môi cậu và như sợ điều gì, theo bản năng, cậu ta định lùi lại nhưng ngay lức đó, cậu cảm thấy đôi môi cô và chiếc mũi nhỏ nhắn lạnh ngât của cô áp vào má anh. Cô hôn ba lần như là cắn vào má cậu và nấc lên, úp mặt vào cổ áo lông. Chiếc khăn quàng bị tuột xuống vai như vẫn thường thấy, mái tóc của cô như một đám mây vàng trong suốt lấp lánh bay lòa xòa tỏa lên mặt cậu. Trong chốc lát, Vô-đô-đi-a đứng im không nhúc nhích thậm chí cũng không dám thở mạnh, nhưng tim thì đập dồn dập. Còn mái tóc vàng trong suốt như đám mây vàng mơn trớn lớp da trên khuôn mặt, như tỏa nhanh ra phủ khắp người và không cho cậu ta nhúc nhích, cựa quậy gì được nữa.

        — Anh bạn của tôi, anh bạn... — Lê-na thì thào nhắc đi nhắc lại qua hàng nước mắt, giọng run lên vì nghẹn ngào, mũi sụt sịt. — Anh đừng giận vì có lúc tôi đã mắng anh. Thần kinh thường hay xúc động... Cả mẹ cũng có lần bảo thế... Ôi! Mẹ thân yêu của con! “Cô nấc lên và bỏ Vô-lô-đi-a ra, hai tay ôm lấy mặt.

        Vô-lô-đi-a cũng vội vàng lùi lại một bước và thở hổn hển.

        — Bây giờ bạn lại... quỵ mất thôi. — Cậu nói điều suy nghĩ vừa thoáng qua. Lê-na lấy tay quệt những giọt nước mắt trên má.

        — Quỵ cái gì cơ? — Cô hỏi.

        — Cái gì à ? Đầu sẽ bị nhức đau. — Vô-lô-đi-a nói và biết ngay là mình đã nói một điều ngu xuẩn nên liền lặng thinh, bối rối.

        Cảm giác làm cậu nghẹt thở là Lê-na, chính cô Lê-na đang đứng ờ đây đa ôm hôn cậu. Cô là người đầu tiên ôm và đã hôn trước! Và tựa như có một làn hơi gì ấm áp dịu dàng bỗng nhiên trùm lấy người Vô-lô-đi-a. Đó chính là sự lo âu lẫn niềm hạnh phúc.

        — Ôi! Cái khăn rơi tại anh đây này! — Lê-na nhanh nhẹn trùm lại khăn quàng. — Anh có hiểu tôi bị dằn vặt bởi điều gì không? —  Cô nói giọng thì thào yếu ớt và xích lại gần Vô-lô-đi-a. — Anh có hiểu không, giá như lúc đó tôi đừng vào thành phố thì có lẽ tôi, mẹ và Li-ca đã chạy thoát rồi. Có thể tôi đã cứu được mẹ và Li-ca, có lẽ thế...

        Vô-iô-đi-a không biết đáp lại như thế nào.

        «Cô ấy, Lê-na và mình... bây giờ cô ấy là của mình... ý nghĩ đó thoáng nhanh qua. Tất cả điều đó xảy ra rồi sao?... Lê-na đẹp xinh quá!... Cả cánh rừng này nữa... cả Lê-na nữa».

        Cậu hít một hơi và muốn chạy, muốn nhảy nếu có thể sẽ trèo lên cây, trồng cây chuối hoặc thét to lên một câu nào đó.

        — Nhưng mình cần phải đi, cần phải thế. — Lê-na nói dường như cô đang thầm khẳng định với chính mình. — Còn bây giờ họ đã bị lùa đi... Mình không biết sẽ đi đâu bây giờ và để làm gì... Li-ca mới có mười hai tuổi. Mẹ mình tuy hiền lành, tốt bụng nhưng lại chậm chạp, vụng về lắm, cậu có biết không...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:55:46 am

        Những giọt nước mắt vừa khô bây giờ lại tuôn ra. Nhưng Vô- lô-đi-a chỉ thấy đôi mắt lấp lánh đang khao khát nhìn mình, như thấy từ đôi mắt ấy trào ra một ánh hào quang rực rỡ, khác thường tràn đầy rừng và tỏa khắp cả bầu trời... Lê-na vò nát đôi bạo tay rồi lau những giọt nước mắt chung quanh chiếc cằm tròn tròn.

        — Lê-na, tôi muốn nói với Lê-na lời này! — Cuối cùng, Vô-lô- đi-a mới thốt lên được, nhưng giọng anh lại lạnh lùng xa lạ.

        Cậu muốn bày tỏ nỗi lòng vui sướng hân hoan của mình, muốn nói với cô tất cả những tình cảm, suy nghĩ, những hy vọng tốt đẹp nhất của mình:   

        — Lê-na ơi! — Vô-lô-đi-a nhắc lại.

        — Gì cơ! — Cô hỏi.

        — Chứng ta sẽ cùng chiến đấu bên nhau, Lê-na nhé, bạn có nghe thấy không? Đừng khóc nữa... Chúng ta, Lê-na có biết không, chúng ta sẽ chiến đấu! Tôi... mình bây giờ có thể... đánh bộn chúng ngay được... và mình sẽ trả thù cho Lê-na... Cả Lê-na nữa... Chúng mình sẽ không chịu lùi bước trước bất cứ điều gì...

        Trong giây phút này, tuy đã cố suy nghĩ, cố tìm kiếm nhưng vẫn không có được những lời nói cần thiết mạnh mẽ, có sức thuyết phục, nhưng cậu đã tự thể với cô bạn gái của mình tà sẽ xứng đáng với cô trong bất cử hoàn cảnh nào. Vô-lô-đi-a không nhận thấy Lê-na đang nhẹ nhàng đứng nhích ra. nhăn nhăn chiếc mũi nhỏ nhẵn một cách lo lắng và cô nở nụ cười yếu ớt. Hai tiếng huýt sáo khẽ từ bìa rừng vẳng lại. Vi-chi-a đứng chờ hai bạn đã thấy cần phải nhắc họ. Vô-lô-đi-a lúc này mới nhớ ra, liền im lặng, bối rối, vẫy tay bảo Lê-na cùng chạy lên... Chờ hai người đến gần, Vi-chi-a quay lại với thái độ lịch thiệp khác thường.

        Đối với Vô-lô-đi-a, tất cả những gì vừa xảy ra trong cái đêm đáng nhớ này, đều tuyệt dẹp như anh đang sống trong một thế giới diệu kỳ, ở đó. mọi vật đều biến đổi khác lạ, những cái bình thường đều trở thành huyền diệu. Lúc vừa đi trước, dọc theo bìa rừng. Vô- lô-đi-a vừa lắng nghe bước chân Lê-na đằng sau, và cảm thấy lúc này, sự có mặt của cô và mọi vật chung quanh sao thật vừa mới mẻ, vừa xa lạ và dị thường đến thế... Những đám mây bồng bềnh trên bầu trời dưới ánh trăng vằng vặc giống như những cánh buồm căng phồng dày sức gió trên con thuyền đang vượt qua màn sương mù. Và cũng giống như những đợt sóng lay gờn gợn ở phía dưới; bên trái họ là những ngọn đồi thấp, sườn đồi cong cong, phủ đầy tuyết, long lanh dưới ánh trăng. Cành bạch dương trắng trên con đường mòn hay những gốc cây còn sót lại đều như có những ngọn lửa nhỏ nhấp nhánh sưởi ấm trời đêm và con đường mòn phủ bóng đêm chạy thẳng về phía trước cứ hun hút thăm thẳm như bờ vực. Tất cả, chung quanh như tròng trành, chao đảo, như long lanh tỏa sáng chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh khác; mặt đất như những hạt bụi lấp lánh, còn hạt bụi lại là ánh sáng huyền ảo. Tất cả tựa như âm nhạc hay nói đúng hơn, Vô-lô-đi-a có cảm giác như chính mình đang hòa vào thế giới âm thanh và tan theo nó cùng với hàng ngàn nhạc cụ vô hình. Thỉnh thoảng ngoái lại sau, cậu ngạc nhiên khi thấy bóng hình nhỏ nhắn, thanh mảnh, nhẹ nhàng như lướt đi của cô nữ chúa, của mọi biến ảo bất ngờ và tuyệt vời kia. Lê-na vẫn lùi lũi bước đều, tay đút vào túi áo ngoài, cẩn thận tránh những bụi gai nhỏ và cành cây khô trên đường. Trông cô vẫn thế, vẫn như mọi khi, thậm chí có phăn đăm chiêu hơn, nhưng tất cả những gì kỳ diệu xảy ra trong buổi tối này, hình như đều loát ra từ cô tất cả, bầu trời, lẫn mặt đất đều phục tùng, tuân theo cô.

        Họ an toàn vượt qua quãng trũng dẫn tới khu rừng thông, trên con đường dọc theo bìa rừng, họ nghe thấy tiếng ô tô ầm ĩ và một lát sau đã tới được khu rừng thông. Đến đây, Vô-lô-đi-a đi chậm hơn, luôn luôn dừng lại, nghe ngóng, quan sát và hai người đằng sau cũng làm theo như vậy. Nhớ kỹ lời dặn của chi huy, cậu cố nhón chân đi thật nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. Những cây thông thẳng tắp, lấp lánh tuyết cứ giãn ra trước họ. rồi sau đó tựa như quây tròn, khép kín lại dằng sau họ. Một cảm giác khác thường táo bạo tràn ngập trong lòng Vô-lô-đi-a, thực chất đó là cảm giác hoàn toàn không có gì đáng sợ hãi cả khi cùng với những người bạn mình đi ngang qua trước mũi kẻ địch, mà vẫn cảm thấy mình khéo léo nhanh nhẹn, dũng cảm và điều chủ yếu là để dạt được một ngày mỹ mãn tốt như hôm nay. Và như để xác nhận cho thành công bất thường này của họ, lần thứ hai vượt qua cánh rừng này, họ không gặp một ai, không gặp một trở ngại nào khác. Nhưng trước khi họ đi được khoảng hai trăm mét trên con dường làng nhỏ, chếch bên phải ngăn họ với thành phố, thì phía trước hiện ra một khoảng đất trống rộng — đó chính là cánh đồng — giới hạn từ cánh rừng này sang cánh rừng khác mờ mờ sau màn sương. Tuy vậy, đi qua con đường phân rừng này rất nguy hiểm: bọn lính Đức thường hay đi tuần và dưới ánh trăng sáng, nhóm trinh sát khó có thể bí mật vượt qua. Cúi người xuống, đẩy cái mũ trùm đâu khá chật ra sau gáy, Vô-lô-đi-a chăm chủ quan sát... Từ đây sẽ phải bò qua chỗ đó và lợi dựng khe rãnh, bụi cây, các hố để ẩn, nhưng tốt nhất là phải chờ cho trăng lặn đã. Suy nghĩ một lát, Vô-lô-đi-a ra lệnh cho các bạn mình nắm đợi ngay ở ven rừng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:56:10 am

        Lê-na liền ngoan ngoãn xoài người ngay ra đất, nằm luôn trên tuyết, duỗi thẳng chân, phủ tấm áo khoác lên và khẽ thở dài. Vô-lô- đi-a thấy vậy rất buồn, vì thực ra Lê-na đã quá mệt. Cậu cũng nằm xuống nhưng nỗi khát khao được hoạt động đang thúc giục cậu và cậu hiểu rằng không một sự hiểm nghèo nào, không một nguy cơ nào trong buổi tối này có thể bắt cậu chùn bước được. Mọi ý nghĩ bất ngờ vụt lóe ra trong đầu: phải chờ đến một tiếng rưỡi đồng hồ nữa mới tối. Trăng chỉ lặn vào lúc trước rạng đông một chút và trong thời gian đó, anh có thể đi điều tra để biết một cách chắc chắn xem trong rừng này có nhiều xe tăng không. Vô-lô-đi-a nói ý định đó cho Vi-chi-a và được cậu ta tán thành, nhưng lại đề nghị nên đi cả hai người và cho Lê-na ờ lại một mình. Sau một lúc tranh cãi giằng co và chỉ khi Vô-lô-đi-a lấy quyền hạn của người chỉ huy ra lệnh thì Vi- chi-a mới miễn cưỡng đồng ý ở lại, còn Lê-na lại làm cho Vô-lô-đi-a ngạc nhiên hơn: cô không tham gia, không nói một lời nào trong suốt thời gian cậu ta và Vi-chi-a tranh cãi nhau, mà cứ nằm im nghĩ ngợi điều gì đó của riêng mình.

        Sau khi nhắc nhở các bạn mình không được tự ý hành động làm bất cứ điều gì, Vô-lô-đi-a ra đi, lát sau cậu phải bò, cố gắng không vượt quá xa bìa rừng. Nếu có xe tăng Đức ở đây thì có lẽ chúng sẽ dỗ ở một chỗ nào đó không quá xa con đường phân rừng, bởi vì chỗ đó có thể lấp kín được dưới hàng cây... Vừa bò, Vô-lô-đi-a vừa lẩm bẩm nhẩm lại những qui tắc mà cậu đã học được cách đây không lâu.

        «Co chân phải lên ngực, đồng thời tay trái vươn tới trước... trung úy đã dạy các chiến sĩ trinh sát như vậy. Vô-lô-đi-a đặt tay và chân đúng như lời dạy. «Chuyển người dịch lên phía trước cho đến khi chân phải duỗi thẳng ra, sau đó chân trái co lên, cứ tiếp tục làm tuần tự như thế ». Vô-lô-đi-a nhớ lại là lần lượt co chân lại để tay lên phía trước, bò đi, thân người hầu như không nhô khỏi mặt đất, cậu rất sung sướng vì làm điều này thật dễ dàng và nhanh nhẹn. «Tiếp tục chuyển động, làm lần lượt như thế! Tiếp tục chuyển động... lần lượt... như thế!...». Cậu nhẩm từng lời và đếm mỗi động tác nhịp nhàng của chân và tay như bước đi : « Một hai, ba, bốn! ». Toàn thân chuyền động lên xuống nhịp nhàng đều đặn, cậu bò mỗi lúc một nhanh trên nền lá rừng phủ tuyết ẩm uớt... Đầu gối vấp phải một mô đất cứng như đá đau diếng. Vô-lô-đi-a phải cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng kêu, rồi anh lại nói thầm với mình: «Tiếp tục chuyển động, lần lượt như thế» và tiếp tục bò lên phía trước. Người nóng rực, cậu nhấp nhấp ở môi có vị mặn của mồ hôi, mặt cũng nhễ nhại mồ hôi, cậu nằm ép ngực xuống đất thở hổn hển. Đằng trước, trong bầu không khí lạnh đẫm hơi sương, những cành thông phủ đây tuyết. Bỗng nhiên Vô-lô-đi-a nhận thấy có một cái gì lù lù đen ngòm như ngôi nhà nhỏ. Nhìn kỹ, Vô-lô-đi-a nhận ra hình thù một chiếc xe tăng... Lát sau, bỗng cậu nghe thấy có tiếng chân bước lạo xạo của ai đó. Đưa mắt quan sát. Vô-lô-đi-a nhìn thấy, cách không xa xe tăng, một bóng xanh xanh, cao lêu đêu, lúc ẩn sau thân cây, lúc lấp sau đám rễ trồi lên mặt tuyết. Sắp đến gần Vô-lô-đi-a, nó lại quay lại và vài phút sau lại bước đến. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là thằng gác, song Vô-ỉô-đi-a quan sát nó rất khó khăn vì thỉnh thoảng cái gì đó màu xanh xám ẩn hiện trong bóng trăng mờ mờ.

        Đợi lúc tên lính gác quay đi ra xa, Vô-lô-đi-a mội thận trọng tì tay lên ngực và bò lên trước, vòng qua chiếc xe tăng. «Tiếp tục chuyền động, lần lượt như thế... ». Cậu thầm nhắc lại.

        Đàng sau chiếc xe tăng thứ nhất là chiếc thứ hai, tiếp theo sau là chiếc thứ bà, thứ tư. Tiếp tục bò ngang qua chứng và khi nhận thấy là đã tới rất sát chúng giờ đây cậu có thồ nhìn rất rõ bề mặt tăng, sờ những bánh xích nằm trên con lăn, tháp tròn, nòng pháo có thể xoay bắn ở các hướng khác nhau. Đây là lần thứ hai, cậu nhìn thấy con quái vật bằng sắt này, nhưng bây giờ chúng chẳng gây cho cậu ấn tượng gì mạnh mẽ cả. Ngược lại, Vô-lô-đi-a cảm thấy mình lại có ưu thế tuyệt đối đối với chúng, bọn chúng thì nằm im bị phủ đầy tuyết như đang thiêm thiếp ngủ, còn cậu thì lại tỉnh táo và hăng say — quan sát chúng và đường hoàng đếm từng chiếc môt. Ở một chỗ anh nhìn thấy trên tuyết, một cái gì đó không rõ tựa như hình người đang choàng áo kín, cạnh nó là một hình nữa đang tựa lưng vào thùng sắt, còn ở chỗ khác, những ống hình trụ bằng kim loại nào đó ánh bạc thấp thoáng dưới trăng. Phát hiện thấy tên lính Đức cách khoảng hai mươi bước đang co rúm người bên góc cây dồ, Vô- lô-đi-a vội bò lùi Ịại sau, vặ vô tình chạm phải một vật gì đó gây ra tiếng động. Tên lính Đưc chợt tỉnh, ngoái nhìn; dưới tà áo khoác dựng đứng, hiện rõ đôi mắt thao láo, hoảng sợ. Nhưng rồi nó lại quay về tư thế cũ, co người lại, dầu ngoẹo xuống, chắc là nó nghĩ nó bị ảo giác...   


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:56:49 am

        Chiếc xe tăng cuối hàng mở toang cửa nắp, ánh trăng chiếu vào, làm nó sáng hẳn lên... Vò-lô-đi-a bò dịch sang phía bên một chút, nắm nghỉ và nhớ lại kết quả quan sát được. Chung quanh đều yên tĩnh, cơn buồn ngủ kéo đến. khó cưỡng được, hình như bày quái vật bằng thép đang tụ tập ở khu rừng chật hẹp này như bị một phép lạ làm mê hồn đi, chúng đứng lặng câm bên bìa rừng phủ tuyết, mất hết cả sức mạnh phi thường của mình... Vô-lô-đi-a xem lại chiếc địa bàn và áng chừng địa điểm trước cửa rừng. Cậu thầm vạch trên bản đồ con đường phân rừng và vị trí của từng dãy xe tăng địch. Hơn hai chục chiếc tăng đang phục kín ở đây. Có lẽ đây sẽ là vị trí xuất phát của chúng trong cuộc tiến công ngày mai. Cần nhớ một cách chính xác địa điểm tập kết của chúng và cả vị trí ban đêm nữa...

        Thầm tưởng tượng cảnh đoàn xe này bị bắn phá tan tành sau mấy loạt súng rót rất trúng đích, và rất hài lòng với kết quả trinh sát của mình, Vô-lô-đi-a lặng lẽ bò trở về chỗ cũ.

        Khi cậu quay lại chỗ các bạn đang chờ, vầng trăng đã ngả màu vàng đang lặn thấp xuống gần chân trời, bình mình sắp rạng, khu rừng trở nên tối hơn. Lúc gần tới nơi, Vô-lô-đi-a nghe thấy phía rừng đói diện với bãi đỗ xe tăng Đức có những tiếng ồn ào đứt quãng, không xác định được đó là tiếng động gì. Có lẽ ở đấy cũng đã có quân Đức... Khi nhìn thấy Vô-lô-đi-a, Vi-chi-a liền bò ngay lại và vội vàng báo rằng, khoảng mười phút trước đây, dọc ven rừng cỏ ba tên Đức đi về phía đường làng.

        — Một tên to béo như hộ pháp, cồ nó quàng khăn... Còn trước đó, từ khu rừng mà chúng ta vừa qua, đằng kia kìa, có xe kéo pháo đi qua cánh đồng... — Vi-chi-a vừa nói vừa phà hơi thở ấm áp vào Vô-lô-đi-a.

        Quả thật, chung quanh vùng này giờ đầy lính Đức. Nhưng Vô-lô- đi-a lại cảm thấy cậu vẫn vượt trên đầu chúng vì kết quả cuộc trinh sát đã đạt được và cậu rất hài lòng. Đấy thật rõ ràng cậu cùng các bạn mình đã hai lần vượt qua được khu rừng đầy lính Đức này một cách an toàn, và còn quan sát được bao nhiêu điều nữa, vậy tại sao cỏ thể nghĩ khác được?...

        Giữa các hàng cây, nơi có tiếng ồn ào không rõ ràng đó, lại lập lòe ánh lửa, có lẽ bọn nấu bếp đang chuẩn bị bữa ăn sáng. Thế có nghĩa là chỗ đó cũng có bọn Đức... Vô-lô-đi-a suy nghĩ ngay ngày hôm nay cần phải báo cáo về tình hình của bọn chúng. Tuy nhiên, giờ mà cứ chần chừ ở lại lâu hơn nữa thì rõ ràng là ngu ngốc vì đêm đã gần tàn. Bây giờ chỉ còn nhìn thấy những ánh trăng mờ mờ bị che khuất sau các đám mây mỏng và bóng tối trước rạng đông rất ngắn ngủi, nên phải lợi dụng gấp. Vừa nói chuyện với Vi-chi-a, Vô-lô-đi-a thỉnh thoảng lại nhìn sang Lê-na. Cô vẫn nằm ở chỗ cũ, không nhúc nhích, dưới gốc cây thông già, hơi ngà về phía bìa rừng. Nhưng khi Vô-lô-đi-a nhìn thấy cô gái trong lòng cậu lại dâng lên sự biết ơn, vì chính nhờ có cô mà cậu đã đạt được những két quả trong ngày hôm nay lớn lao như vậy. Cậu ngồi xuống cạnh chân cô và vẫn nghĩ là cô đang ngủ. Đây là điều thật bất ngờ với câu, vì trong một thoáng giây khi ra đi, cậu đã chợt kinh hãi khi nghĩ đến một điều gì do có thể xảy ra với cô. Trên đôi má đầy đặn của Lê-na vẫn còn rọi ánh trăng cuối cùng yếu ớt, những giọt sương đọng trên vạt áo khoác ngoài của cô.

        — Vi-chi-a này, Lê-na vẫn ngủ say sưa... — Vô-lô-đi-a bối rối thì thầm.

        — Bạn ấy đã tranh thủ đúng lúc: — Vi-chi-a nói. — Cứ để cho bạn ấy ngủ. Sẽ đánh thức ngay được thôi. — Anh ta đề nghị.

        Nhưng bỗng nhiên Lê-na bật ngồi dậy và khoác chiếc áo lên người:

        — Ôi! Mình đã hoàn toàn tỉnh rồi, — cô thì thầm và ngồi co ro.

        — Còn mình thì chưa bao giờ lại ngủ trong khi đi trinh sát cả. — Vi-chi-a nói một cách cáu kỉnh.

        — Tôi không ngủ đâu. Tôi chỉ nằm suy nghĩ thôi mà... — Lê-na nói. — Các anh đừng lo, tôi còn tỉnh táo, nhìn rõ mọi vật lắm.

        Vô-Iô-đi-a giơ tay ra hiệu im lặng, xa xa trong bóng đêm, lại có tiếng chân người bước trên cánh đồng. Đầu tiên cậu nghĩ có lẽ đây là tổ tuần tiễu mà Vi-chi-a đã báo cáo, được thay thế đang trở lại. Nhưng bước chân mỗi lúc một to, nặng nề hơn và ở phía ấy, cũng theo lời Vi-chi-a, có bọn Đức đang kéo pháo.

        Đợi một lát, Vô-lô-đi-a lôi lựu dạn trong túi ra, Vi-chi-a nhìn theo và cũng rút quả lựu dạn giấu trong túi ngực.

        Lê-na cầm súng ngấn, còn lựu dạn như Vô-lô-đi-a đoán, có lẽ cô hơi sợ, tuy không hao giờ cô tự nhận điều này. Tiếng chân bước lạo xạo, đều đều, dần dần to hơn, nghe rõ cả tiếng nói lao xao. Nấp sau hàng cây, Vô-lô-đi-a mắt nhìn phỏng doán, cuối cùng, một toán bộ binh hiện ra trên khoảng trống trong bóng tối mờ mờ.

        Bọn Đức không đi về phía nhóm trinh sát mà rẽ ngoặt sang phải bìa rừng, để vượt qua đồng, đi tiếp tới cánh rùng mờ mờ phía chân trời. Nhưng lát sau chúng bỗng dừng lại và lập tức nghe thấy nhiều giọng nói lộn xộn vang lên...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2020, 06:52:51 am
   
        Vô-lô-đi-a ra hiệu cho các bạn đi theo sau mình, người cúi gập, tay sẵn sàng lựu đạn và đi rất thận trọng về phia bìa rừng. Khi những tiếng nổi đã thoảng xa đằng sau, Vô-lô-đi-a mới bất giác mỉm cười.

        «Tiép tục chuyển động tuần tự như thế » — Vô-lô-đi-a lại nhớ lại câu đó và cậu bỗng sững người trong khoảnh khắc: trước mặt họ có tiếng cành cây gãy vì chân của ai giẫm vào. Thoáng mấy giây, Vô-ỉô-đi-a khẳng định ngay là bọn Đức ở rừng đang đi lại phía họ; có lẽ bọn này đi đổi phiên tuân tra cho nhóm lúc nãy xuất hiện ở bìa rừng.

        Vô-lô-đi-a im lặng ra hiệu các bạn mình đứng nấp sau hàng cây, còn cậu cất lựu đạn, rút súng ngắn ra và đứng sát hơn che khuất cho Lê-na: trong bóng đêm vẫn thấy đôi mắt cậu long lanh. Cậu đang trong trạng thải khi gặp phút hiểm nghèo không những không thấy kinh hoàng, mà trái lại, có phản ứng nhanh và khi đó tất cả các phản xạ của thân mình, tay chân đều phải nhạy bén, chính xác, mọi suy nghĩ đều phải thật nhanh chóng, rõ ràng. Lê-na đưa súng lên ngang tầm ngực và chăm chú nhìn Vô-lô-đi-a. Cậu ta ngoái cổ lại, gật gật đâu động viên cô.

        Bọn Đức đi chậm chạp, còn Vô-lô-đi-a thì vã mồ hôi trán vì sốt ruột và má cậu cứ ngọ nguậy mãi trong cồ áo long xù...

        Bọn chung đột ngột hiện ra trước mặt Vô-lô-đi-a rất gần, tên nọ sát ngay sau tên kia, và cậu đưa nòng súng rất nhanh ngắm tên đi đâu. Bọn Đức cách họ khống quá tám chín bước chân. Có thể nhìn thấy rõ hai tay thằng lính đi đấu xỏ chéo vào hai ống tay áo, tiểu liên kẹp nách, nòng súng thò ra, còn thằng thứ hai, vành mũ trùm xuống tận mang tai. Xo vai, đầu cúi gằm, bọn Đức âm thầm bước đi, mỗi lúc một xa và Vô-lô-đi-a khẽ bò lên trước. Nhô ra khỏi thân cây, cậu nhìn quanh và ra hiệu cho các bạn đi theo mình.

        Cách con đường phân rừng một quãng, theo lệnh của Vô-lô-đi-a, họ nằm ẩn vào một cái hố không sâu lắm. Bây giờ họ chỉ việc vượt qua đường lớn, chạy khoảng năm mươi mét nữa qua cánh đồng là đến một con mương chạy vòng qua xưởng sửa chữa ô tô bị đạn pháo phá sập là có thể đến được vị trí tiền tiêu của quân ta. Nhưng trời đã rạng, chân trời đàng đông, những tia sáng hồng nhạt mờ hơi sương đã ửng lên, không khí hơi loãng ra, hửng sáng và qua đó có thể phân biệt được các vật rõ ràng hơn: những bụi rậm, hàng cây, các cột điện báo. Xa xa, trên con đường phân rừng thấp thoáng có ba bóng đen mờ mờ xám xịt. Nhanh chóng đưa mắt nhìn chung quanh, Vô-lô-đi-a đánh giá tình hình mà cậu và các bạn gặp phải. Người đồng mình trung thành của họ — bóng đêm ? đã bỏ họ rồi, mà từ trước mặt, trên con đường phân rừng một tổ tuần tiễu Đức gồm ba tên lính có vũ trang đang đi lại phía họ; còn phía sau, bọn Đức có thể bất thần xuẩt hiện bất cứ giây phút nào vì bọn chúng đã nhan nhản khắp nơi...

        Trốn tránh bây giờ đã quá muộn — Vô-lô-đi-a thầm nghĩ với một vẻ thoải mái lạ thường. Vừa rút lựu đạn trong túi ra, vừa khoát tay gọi Vi-chi-a và Lê-na. Vi-chi-a khuỳnh tay bỏ lại, còn Lê-na nhích lại gần, khuôn mặt cô trong ánh sáng mờ mờ của buổi bình mình trông như tái lại, như bị xanh đi. Với đôi mắt mở to rạng rỡ, Vô-lô- đi-a nhìn thẳng tào Lê-na, thì thầm vừa đủ nghe:

        — Các cậu ơi! Minh quyết định thế này, chúng ta sẽ chiến đấu để vượt qua con đường. — Đôi môi khô nứt nẻ của cậu mấp máy rất nhanh. — Phải bắn theo lệnh, điều đó rõ rồi. Sau đấy, chạy men theo con mương. Rồi từ đây chạy tiếp theo, tuần tự như quy định. — Không thể kìm được, cậu bỗng nói to thành tiếng.

        — Rõ! — Vi-chi-a đáp.

        Khuôn mặt tròn tròn có một chấm nốt ruồi trên má của cậu xám hẳn đi, nhưng đôi tai cậu ta hơi vểnh lên dưới chiếc mũ rộng vành trong ánh bình mình đỏ hồng trông như củ cà rốt. Lê-na nói thầm với Vô-lô-đi-a :

        — Phải nhớ ra lệnh đúng lúc đấy, anh nghe rõ chưa?

        Họ im lặng, vội vàng chuẩn bị chiến đấu. Tìm chỗ thích hợp thuận tiện để chống tay, Vô-lô-đi-a sửa lại mũ theo thói quen, sau đó tay trái cầm lựu đạn, tay phải cầm súng... Hình dáng ba tên lính Đức mỗi lúc một hiện rõ trên đường. Chúng đi hàng một, tên đi giữa dáng lắc lư, còn thằng cuối thật to béo và cao lớn.

        Vô-lô-đi-a dự định ra lệnh nổ súng khi đội tuần tra hiện ra ngay trước mặt nhóm trinh sát ở khoảng cách ngắn nhất để diệt chúng ngay từ loạt đạn đầu. Nhưng bọn Đức đột nhiên dừng lại, tên có dáng lắc lư chỉ tay về hướng các chiến sĩ trinh sát. Không thể chần chừ hơn được nữa, anh thét lên, giọng lạc hẳn đi:

        — Nhằm bọn phát xít, bắn!

        Cậu thường nhẩm đi nhẩm lại khẩu lệnh này, cậu thích nó đến nỗi hô lại lần nữa to hơn. Nhưng phát đạn súng ngán của Lê-na đã át hẳn mất và tiếp theo khẩu súng của Vi-chi-a cũng vang lên. Vô-lô- đi-a vừa quỳ vừa nổ liền một loạt ba viên. Tên to lớn nằm bắt động ở mép đường, thân hình phì nộn của nó nổi lên in thành một màu xám trên nền tuyết, tên thứ hai đang bò lại gần chỗ thằng béo đã chết để nấp tránh dạn, còn tên thứ ba ngồi xồm, tay lia khẩu tiểu liên bắn tứ phía. Bỗng nhiên, một ánh lửa vàng trắng bùng lên ở ngay tay súng nó... Vô-lô-đi-a chuyển lựu đạn từ tay trái sang tay phải xong liền vung mạnh ra sâu, ném vào tên đang bắn tiểu liên. Ném xong, cậu liền nằm ngay xuống đất, đụng phải Lê-na, không biết cô có bị làm sao không?

        Trên đoạn đường vang lên một tiếng nổ đanh, các mảnh đạn bay rào rào, tiếng tiểu liên của đich im hẳn và Vô-lô-đi-a liền xông lên.

        — Lê-na, lẹ lên!... Vi-chi-a nữa! — Anh gào to.

        Hai người nhất loạt nhỏm dậy và lao lên trước anh... Vô-lô-đi-a không còn kịp nhìn kỹ kết quả của quả lựu đạn ném ra sao, nhưng qua đám sương mù dày đặc quyện phủ trên đường, không vọng lại một tiếng gì khác. Chi có một loạt dạn khô khốc vọng lại từ dải rừng xa xa.

        Đúng vào lúc các chiến sĩ trinh sát vừa nhảy xuống đường hào, thì sau họ, từ bên kia đường, một loạt trung liên bắn theo và ở khu rừng mà họ đã vượt qua được một cách rất may mắn đó, những pháo hiệu màu xanh, vàng bắn tóe lên tứ phía — bọn Đức đã báo động.

        Tiếng súng mỗi lúc một to hơn, từng loạt tiểu liên xối xả ở ngay trên con đường phân rừng, còn bên phải và bên trái các chiến sĩ trinh sát bắt đầu vang lên tiếng mìn, tiếng đạn cối.

        « Chúng ta đã vượt được rồi!» — Vô-lô-đi-a sung sướng nghĩ. Vượt qua hết đoạn hào, tổ trinh sát ráng hết sức chạy thật nhanh dọc theo bức tường gạch đã bị đổ một nửa, rồi rẽ ngoặt và dừng lại trước nhà kho bằng gỗ. Trời đã sáng khá rõ, đằng đông, bầu trời được tô điểm bởi một màu đỏ tinh khiết. Vi-chi-a dặt ngón tay lên mồm, huýt một hồi dài và lập tức đằng sau nhà kho cũng có tiếng huýt như thế đáp lại. Chi phút sau, các chiến sĩ trinh sát đã bị quây giữa vòng người đang nóng lòng đợi họ.

        Vô-Iô-đi-a quay nhìn lại, bọn Đức đang điên cuồng bắn trả, súng máy, súng cối nổ loạn xạ và, trên đầu họ, những phát pháo hiệu nhợt nhạt mờ mờ vẫn không ngừng vút lên không trung.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2020, 06:54:08 am

4

        Đầu tháng mười một, Bốl-đa-nốp rời khỏi thành phố T. Anh được đề bạt lên đại tá, đồng thời nhận chức sư đoàn trưởng và như anh vẫn thường nghĩ, việc gọi anh lên bộ tham mưu mặt trận cách đây không lâu cũng liên quan đến việc bổ nhiệm này. Nhận chức vụ mới cũng như nhiệm vụ mới làm cho Bốt-đa-nốp phấn khởi, nhưng khi chuẩn bị ra đi, anh lại cảm thấy bùi ngùi bâng khuâng. Hình như anh đã bắt đầu thấy yêu cái thành phố nhỏ tuy không thân thuộc vì mới sống với nó một thời gian ngắn, nhưng anh rất thích những con người đã cùng anh chiến đầu ở đây. Vì con người ta, khi sống ở đâu, thường có thói quen là lòng quyến luyến đối với những gì quen thuộc càng nhiều bao nhiêu thì sự quan tâm, nhiệt tình đối với nó càng lớn bấy nhiêu. Anh đã biểu lộ tình cảm của mình đối với nó bằng tất cả sự cố gắng, nỗ lực hy sinh của bản thân mình. Tóm lại, những gì liên quan đến những ngày anh đã sống ở T., cũng như mọi người ở đây đều để lại trong anh lòng biết ơn và kính phục. Sau khi đánh tan cuộc tiến công thọc sâu bằng xe tăng của bọn Đức trong ngày đầu tiên, những người bảo vệ T. trong những ngày tiếp theo cũng đã đẩy lùi các trận tiến công khác của kẻ thù một cách thắng lợi. Trận đánh bắt đầu từ buổi sáng mưa dầm dề ở phía Nam ngoại ô thành phố, kéo dài suốt ba ngày đêm, chi ngừng lại một thời gian ngắn rồi lan từ tuyến phòng thủ này sang tuyến khác. Sau khoảng thời gian ngắn ngủi yên tĩnh, bọn Đức đã tổ chức cụm lại, điều thêm lực lượng dự bị và trận đánh lại rộ lên. Xe tăng và lính bộ binh của địch bao vây T. cố gắng đánh vào những chỗ yếu của tuyến phòng thủ. của thành phố, định phá vỡ vị trí này, vị trí khác. Các đơn vị bộ đội bảo vệ thành phố đã anh dũng đẩy lùi các cuộc tiến công lì lợm liên tục của bọn Đức làm phá sản âm mưu của chúng định chọc thủng tiếp phòng tuyến phía bắc.

        Theo lệnh của bộ chỉ huy mặt trận, các đơn vị bộ binh, xe tăng, kỵ binh đã được gửi đến T. và các vùng lân cận đó ngay từ những ngày chiến đấu đầu tiên. Công việc phòng thủ thành phố được củng cố và hoàn thiện dần. Còn các vị trí trước thành phố bây giờ chủ yếu do những đơn vị bộ đội chính quy đảm nhiệm. Họ đã đóng vai trò chủ yếu trong việc đẩy lùi cuộc tiến công thứ nhất vào T., và sau đấy tự hứng chịu tất cả những gì khó khăn khốc liệt nhất trong các trận đánh tiếp theo. Nhưng, lẽ dĩ nhiên, những điều đó không làm giảm mất lòng dũng cảm tuyệt vời của các chiến sĩ trung đoàn công nhân vũ trang (NKVĐ) và các pháo thủ cao xạ là những người trước đây chưa bao giờ tham gia các trận đánh trên bộ. Đó cũng là chiến công của toàn thể nhân dân thành phố. Bằng cách này hay cách khác, dù ở đâu, trên các công trình xây dựng bảo vệ, trong các đội cứu hỏa, trong các bệnh viện nay đã thành trạm quân y, hay ở nhà máy điện, trên đường sắt, các trạm điện thoại, trong các xưởng may hay các tổ sửa chữa vũ khí, đều tham gia vào việc phòng thủ thành phố. Bốt- đa-nốp lưu luyến tạm biệt những con người mà qua họ, anh đã thấy rõ một sức mạnh tinh thần, một vẻ đẹp cao quý của con người, vẫn được gọi là chủ nghĩa yêu nước.

        Tuy vậy, chiến thắng cuối cùng chưa phải là đã gần. Và ngay ở đây, vùng T. này nữa, các trận đánh vẫn diễn ra ác liệt. Lẽ dĩ nhiên, trong những ngày gần đây nhất, sức tiến công của bọn Đức, như Bốt- da-nốp cảm thấy, đã bắt đầu yếu dần. Tuy nhiên, Bốt-đa-nốp cũng không hoài nghi gì khi nghĩ rằng, ở khu vực này, sắp tới đây sẽ có những cuộc tiến công mới của bọn Đức với mục đích chính là chọc thủng phòng tuyến T.

        ... Sáng sớm ngày sáu tháng mười một, đã đến lúc anh phải ra đi. Anh mặc trang phục đầy đủ, chỉnh tề để đến tạm biệt Đi-a-cốp. Thiếu tướng vẫn chưa ngủ, ông đang ngồi cùng với các sĩ quan của bộ tham mưu — những người hôm qua còn là bạn đồng ngũ của anh.

        — A, chào anh. Nhi-cô-Iai Phê-đo-rô-vích! — Đi-a-cốp nói bằng một giọng trầm vang.— Đã sửa soạn xong rồi phải không? Ngồi xuống đây, chúng tôi đang bàn bạc dở. Nói tiếp đi, đồng chí đại tá!

        Bốt-da-nốp ngồi xuống một góc để khỏi cản trở, làm phiền ai. Chỉ huy đơn vị pháo binh mới được điều đến chỗ Đi-a-cốp, đang báo cáo về trận pháo kích vào bọn Đức sáng sớm ngày hôm nay của đơn vị anh. Trận pháo kích đạt được kết quả tốt: khu rừng nơi bọn Đức tập trung xe tăng theo như tổ trinh sát báo cáo đã bốc cháy, cuộn lên từng cột khói và nghe rõ từng loạt tiếng nổ mạnh, rõ ràng là đạn của ta đã bắn trúng vào kho đạn địch.

        — ... Bây giờ vẫn còn bốc khói. — Chỉ huy pháo binh hướng về phía đại úy rậm râu, chỉ huy đội trinh sát nói tiếp. — Rất cám ơn những cậu bé tuyệt diệu của anh, họ đã chỉ cho chúng tôi những mục tiêu chính xác...

        — Trong tổ có một cô gái cùng đi, cô Cô-lê-xnhi-cô-va. Quả là những đứa trẻ thông mình, nhiệt tình ! — Đại úy khẳng định thêm.

        — Đúng là những thiếu niên tốt. — Đi-a-cốp nói. — Đáng lẽ các em phải được học, được đọc sách, được đi xem chiếu bóng... Thế mà giờ đây, chúng lại phỏi bò dưới làn đạn... — Ông im lặng một lát. — Đúng là các thiếu niên anh hùng!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2020, 06:54:41 am

        Trước đây Bốt-đa-nốp đã được nghe nhiều về các chú bé trinh sát của anh chàng đại úy rậm râu này nhưng anh chưa được gặp họ và rất tiếc là không cỏ dịp nữa. Tiếp đó. Đi-a-cốp bắt đầu nói những dự định của chiến địch trong những ngày tới, trận phản công của những người bảo vệ thành phố, tuy chỉ trong phạm vi hẹp nhưng thực chất lại có ý nghĩa lớn. Khi chiếm được làng Mư-skin, ngay trong ngày đầu tiên, bọn Đức đã biến làng thành vị trí phòng thủ tiền tiêu của chúng và Đi-a-cốp dự định đánh bật chúng ra khỏi chỗ này.

        — ... Tôi đã báo cáo lên cấp trên. Kế hoạch của chúng ta đã được thông qua, — ông nói với các trợ thủ của mình. — Nhưng pháo binh thì chúng ta không được bổ sung thêm nữa đâu. Đồng chí trung tưởng nói với tôi: « Chỗ các anh bây giờ đã có khá đủ rồi, bộ binh lẫn pháo binh... Các anh phải biết sử dụng thật tốt tất cả những gì các anh đang có...

        Hôm qua, chính Bốt-đa-nốp cũng tham gia vào việc thảo kế hoạch chiến địch, thế mà bây giờ, anh rất buồn vì không được thực hiện nó.

        Cho các sĩ quan nghi, Đi-a-cốp nói với đại úy chỉ huy đội trinh sát:   

        — Rất tuyệt vời là các anh đã bắt đầu liên lạc được với đội du kích. Tốt lắm!... Hãy đưa tên Phi-se lại cho tôi ngay trong ngày hôm nay, tôi sẽ đích thân hỏi cung nó. — Ông quay lại phía Bốt-đa-nốp. —  Đội trinh sát kỵ binh đã mang về được một cái lưỡi. Tuyệt nhất là họ bắt nó mà không phải nổ súng.

        — Lính SS, nhưng sẵn sàng khai hết... Thằng này nhát gan nhưng lại hay ba hoa, bẻm mép. Thực tế mọi người đã bắt nó phải can đảm lên... — Anh đại úy vân vê những sợi râu rối bù, đôi mắt xanh hấp háy cười láu lỉnh, rõ ràng là anh ta đang rất khoái.

        Các chỉ huy vội vã đi ra. Tạm biệt Bốt-đa-nốp, vài người chỉ im lặng bắt tay anh thật chặt, người khác thì chúc anh đạt thành tích mới, cổ người còn nhờ anh chuyển hộ lời chào Mát-xcơ-va. Mọi người rất bận, tất cả đều bị công việc thu hút. Khi mọi người đã về hết, Đi-a-cốp mới ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Bốt-đa-nốp.

        — Đồng chí đại tá, như thế là anh phải ra đi! — Ồng nói, có nhấn mạnh hai tiếng « đại tá» — Anh sẽ nhận sư đoàn của mình. Rồi anh sẽ trở thành chỉ huy cao cấp hơn... chà... chà...

        Theo thói quen, ông nheo nheo mắt đến nỗi một mắt như biến mất sau nếp da nhăn.

        — Sẽ có lúc tôi lại phải phục tùng dưới quyền anh, chắc anh sẽ không lấn át chứ! — Ông nói tiếp. — Còn phải nhớ đến tình bạn cũ chứ, phải không ?

        — Biết đâu điều đó sẽ chóng xảy ra thôi. — Bốt-đa-nốp vừa cười vừa trả lời, cũng với giọng đùa như vậy. —Tôi vẫn rất muốn được làm việc dưới sự chỉ huy của đồng chí đấy, thưa thiếu tướng.

        — Dưới quyền tôi ấy à ? Ôi! chẳng lẽ thế sao ? — Đi-a-cốp lắc lắc đầu, cố tỏ ý nghi ngờ. — Thế anh không thấy sung sướng hoan hỉ khi thoát khỏi tôi à?

        Cứ như thế, họ vui vẻ nói chuyện đua cợt với nhau một lúc nữa và chính với cách nói năng như vậy, họ đã biểu lộ sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau. Đi-a-cốp không nháy nháy mắt nữa, đó là lúc ông cảm thấy không hài lòng hoặc buồn phiền điều gì. Khuôn mặt to đỏ au của ông tối sầm lại.

        — Chúng ta chia tay nhau đúng trước ngày lễ, Nhi-cô-lai Phê- đô-rô-vích ạ! Đi-a-cốp cất cao giọng nói. — Chúng ta kỷ niệm ngày lễ như thế đấy!... Mồng bảy tháng mười một năm ngoái tôi vẫn cùng với học viên hạ sĩ quan duyệt binh trên Hồng trường.

        — Hàng năm, Viộn hàn lâm quân sự vẫn được tham dự lễ duyệt binh. — Bốt-da-nốp nói. — Tôi còn nhớ rõ, hôm trước ngày lễ, chúng tôi hồi hộp và sốt ruột biết bao! Đội ngũ chúng tôi tập trung rất cao độ.

        — Làm sao có thể khác được ? — Đi-a-cốp như rướn dậy, nói. —  Lúc bấy giờ phải lập trung hết sức, toàn thể nhân dân, các vị lãnh đạo chính phủ đang ngắm nhìn anh... Ngày lễ này đã trở thành ngày lễ truyền thống thiêng liêng lớn nhất của chúng ta. Lễ duyệt binh tháng mười một hàng năm. Anh có hiểu không, điều này... — Ông im lặng một lát. — Này, tôi không hình dung được năm nay sẽ như thế nào.

        Bốt-đa-nốp nghĩ rằng quân phát xít chỉ còn cách Mát-xcơ-va khoảng hai ngày đường, trong tâm trí anh lại hiện lên những trận ném bom xuống thủ đô, những đám cháy âm ỉ, bầu trời ban đêm sáng chói bởi đạn súng phòng không. Anh nói:

        — Tổ chức duyệt binh ở Mát-xcơ-vạ bây giờ là một công việc phức tạp, việc chuẩn bị phải thật bí mật, phải hoàn toàn khống chế được bầu trời...

        — Đúng, đúng, — Đi-a-cốp gật đầu đồng ý. — Lễ duyệt binh là việc hết sức lớn lao.

        — Biết làm sao được, cuối cùng rồi có thể sẽ không có ngày lễ này. Theo lô gích thì quả thật không cần thiết phải tổ chức trong tình hình chiến tranh như thế này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2020, 06:55:16 am

        « Nhưng chả lẽ lần đâu tiên, kề từ năm mười tám đến nay, chúng ta lại không có cuộc duyệt binh hàng năm hay sao ? » — Bốt-đa-nốp tự hỏi mình. Trong thâm tâm, anh không đồng ý với những điều anh vừa nghĩ và anh lại tự tranh cãi với lập luận của cái lô gích đáng xấu hổ kia, rồi tự giải thích:

        — Chúng ta sẽ đón chào ngày lễ trong các trận đánh vậy, đồng chí thiếu tướng ạ. Rất tiếc là phải chia tay với đồng chí.

        Những lời nói đó đã làm Đi-a-cốp xúc động, ông gật đầu nói:

        — Đúng rồi, chủng ta sẽ bắn pháo hoa chào mừng trận tiến công của mình... Tôi đang chờ đợi, chẳng lâu la gì đâu, không sáng mai thì ngày kia, bọn Đức thế nào cũng sẽ tiến công chúng tôi với tất cả nỗi tuyệt vọng điên cuồng của chúng, Những đơn vị xe tăng mới đã xuất hiện thêm trong khu vực chủng ta, như anh đã rõ dấy... Các đội du kích cũng thông báo về các binh đoàn bộ binh hoàn chỉnh và được bổ sung. « Cái lưỡi» mà đội kỵ binh vừa bắt được cũng khai là Gu-đê- ri-an đã đến thăm trung đoàn của chúng. Phải khẳng định rằng đây là chuyến thanh tra các đơn vị trước khi tiến công.

        Đi-a-cốp đứng dậy.

        — Thôi, chúc lên đường may mắn, anh Nhi-cô-lai Phê-đo-rô- vich, — ông nói, những ngón tay thuôn dài ấm áp của ông siết chặt tay Bốt-đa-nốp. — Cám ơn anh đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong thời gian ở đây.

        Bốt-đa-nốp đưa tay lên chào và đi ra cửa, nhưng thiếu tướng gọi giật anh lại:

        — Anh còn đủ xăng để đến Mát-xcơ-va chứ? Có săm dự trữ chưa?... Và còn điều này nữa: hãy hỏi lại đường đi cho cẩn thận. —  Đi-a-cốp với tay cầm chiếc máy diện thoại và nói thêm, giọng nhỏ hơn. — Tối qua chúng ta rút khỏi N., bọn Đức đang tiến tới trên con đường này.

        Ông gọi tên một làng lớn nằm ở Đông Bắc thành phổ... Tin tức truyền về không được tốt lắm, nên Bốt-đa-nốp dừng lại bên cửa chờ thông báo thêm. Nhưng thiếu tướng đặt tay lên ống nói, vẻ như không định tiếp tục nghe nữa. Bỗng nhiên, thân hình to béo nặng nề của ông quay sang phía Bốt-đa-nốp.

        — Khi nào cho sư đoàn vào trận chiến đấu, đồng chí đại tá ạ, hãy nhớ lấy một điều: sự thất bại sẽ không có, mặc dầu tạm thời anh chưa công nhận mình là người chiến thắng... Tôi nói với anh điều này với tư cách là một người chỉ huy cũ, thôi đã đến lúc... — và thiếu tướng lại cười, nheo nheo mắt. — Anh chàng Xe-li-vê-xtốp đỏm dáng trước kia ở chỗ chúng tôi là thế dấy...   — Xe-li-vê-xtốp ? —Bốt-đa-nốp kêu lên.— Anh ta có chuyện gì vậy... Thưa đồng chí thiếu tướng, hãy bỏ quá cho sự tò mò của tôi.

        — Thế ra anh cũng quen với Xe-li-vê-xtốp à? — Đi-a-cốp hỏi.

        — Còn hơn thế nữa kia. Chúng tôi cùng học với nhau ở học viện mà.

        — Tôi cũng gặp anh ta vừa rồi... Đúng là một vị chỉ huy rất oai vệ. — Đi-a-cốp nói vẻ giễu cợt. — Tôi không biết tỉ mỉ lắm, chỉ nghe kể lại thôi... Anh ta khéo xoay xở, nhưng lại nhát gan, luôn nghĩ đến thất bại trước khi nó xảy ra trong thực tế...

        Bốt-đa-nốp im lặng và nhớ lại lân gặp Xe-li-vê-xtốp vừa rôi với ấn tượng rất nặng nề khó chịu.

        ... Sau khi tạm biệt Đi-a-cốp, đại tá đi đến ủy ban bảo vệ thành phố. Anh cần phải gặp La-tô-skin lần nữa. Nhưng bí thư tinh ủy không có mặt ở Da-rê-tre, nơi ủy ban đặt trụ sở. Ông đã đi xuống thăm một nhà máy nào đó trong thành phố và sau khi nói chuyện xong với Sa-rốp, người đa trao cho Bốt-đa-nốp các tài liệu để chuyền về Mát-xcơ-va và tạm biệt chủ tịch Ban chấp hành Xô-viết tỉnh, Bốt- da-nốp lại ngồi vào chiếc «Em-ca» của mình. Bây giờ không có gì giữ anh lại trong thành phố này nữa.

        Ngoài sân, trời đã sáng rõ. Trời lạnh khoảng năm, sáu độ, trên đường phố không có tuyết. Chỉ có làn sương mỏng rơi trong đêm là còn "đọng lại trên nền đất đông cứng nhấp nhô. Ô tô Bốt-đa-nốp rời đường nhựa lao nhanh nhảy chồm chồm, in hằn những vệt lốp xám xịt trên con đường đá giăm trắng. Bốt-đa-nốp lơ dăng nhìn qua tấm kính chắn gió. Một cảm giác xốn xang, bồi hồi đang xâm chiếm lòng anh, nó chỉ có khi ta phải tạm biệt mãi mãi những cái gì đã in sâu trong cuộc đời mình. Tuy chỉ sống với thành phố này vẻn vẹn khoảng mười ngày thôi nhưng anh cảm thấy như đã để lại đây một phần cuộc đời mình, tâm hồn mình. Anh nhớ lại mình đã từ Mál-xcơ-va đến đây như thế nào, nhớ tới cô gái trẻ trung vui vẻ, đầy tự tin mà anh đã gặp trên đường và anh chợt nhìn xung quanh với một ước muốn không có cơ sở, biết đâu sẽ còn được gặp cô lần nữa. Anh nghĩ cô ta có lẽ đã bị mắc kẹt trong thành phố rồi và anh hơi buồn. Ở đây, tình hình rất khốc liệt, mà lúc này lòng anh lại muốn cô gái ấy vẫn bình yên vô sự, vẫn vô tư như lúc cô chia tay anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2020, 07:04:03 am
          
        Sau lần ấy, nhiều lúc anh vẫn chợt nghĩ đến cô bạn đường tình cờ này, nhưng anh không biết làm thế nào để tìm được cô cả, và mỗi lần như vậy anh đều cảm thấy hài lòng khi nghĩ đến cô... Cần phải nói rằng với tuổi hai mươi chín, Bốt-da- nốp không những chưa có vợ, mà nói một cách thành thật ra thì tất cả mối quan hệ của anh chi bó hẹp trong tình cảm gia đình, anh chỉ hay viết thư thăm bà mẹ ở làng quê bé nhỏ bên bờ sông Vôn-ga hoặc những anh chị em cùng một vài người bạn trong quân ngũ mà thôi. Dĩ nhiên, anh còn có thể nhớ được vài ba cuộc gặp gỡ đáng nhớ, đã để lại trong anh những tình cảm sung suớng êm đềm mà một số quyển sách hay đã từng viết. Đôi lúc anh thoáng chút ghen tị, pha lẫn sự tò  mò khi nghĩ đến những người bạn đã thành công hơn anh trong chuyện gia đình với tất cả ý nghĩa của cái từ này. Nhưng cho đến lúc này, cái tình cảm lớn đó vẫn chưa buồn đến với anh, mà hơn nữa, Bốt- đa-nốp cũng như nhiều người ưa hoạt động khác từ lâu đã quên đi cuộc sống giản đơn, dễ dãi, khác với cuộc sống anh đang trải qua này... Điều kiện phục vụ công tác của anh phần lớn lại trôi qua ở vùng gần biên giới phía Bắc, cũng đã tạo cho anh cái đức tính ấy. Cần phải thú nhận rằng, chính cô bạn đường hôm nào đã biến đi không để lại dấu vết gì đã gây cho anh cái cảm giác nhức nhối sâu sắc hơn bao giờ hết của một con người độc thân. Và mặc dù Bốt-đa-nốp không có lấy một chút cơ sở nào để chứng mình rằng người phụ nữ này có một cái gì đó liên hệ tới anh, nhưng hình ảnh đáng nhớ của cô vẫn tồn tại một cách kỳ lạ trong anh. Và người đại tá trẻ tuổi cảm thấy ràng cô gái ấy đang ở một nơi xa xôi nào đó, đang sống trong một thế giới hạnh phúc diệu kỳ và anh nhất định sẽ tìm thấy cô ở nơi ấy, không phải hôm nay, cũng không phải ngày mai, mà là sau ngày chiến thắng.

        Tuy vậy, chỉ một lát sau anh lại tập trung suy nghĩ về những tình hình và sự kiện mới xảy ra gần đây trên đường anh đang đi tới. Điều đó giống như khi đi trên con đường này, ta gặp các trạm liên lạc rải khắp nơi nối liền với nhau trong không gian; đúng hơn, nó đã đưa chúng ta từ quá khứ sang tương lai; và ngày hôm qua, bằng một bước nhảy vọt, trong khoảnh khắc đã bị đẩy lùi lại. Cuộc chiến đấu khốc liệt không chỉ có cuộc sống, còn có cả cái chết nữa mà Bốt- đa-nốp tham gia đang bước vào một giai đoạn đầy thử thách mới. Những gì đã xảy ra hôm nay, dù nó có đòi hỏi một sự căng thẳng nỗ lực nào, giờ đây đổi với anh cũng chỉ là những điều quá dễ dàng và chẳng có nghĩa gì so với những điều đang đặt trước mắt anh hôm nay và ngày mai.

        Xe chưa ra khỏi thành phố, anh đã cảm thấy ngay khung cảnh và những điều kiện mới rất sinh động đang đợi anh ở phía trước.

        — Đồng chí đại tá, đồng chí hãy thử nhìn xem một chút này... — Anh lái xe khẽ nói. — Ở đây, người ta sống thú vị làm sao. Họ có những ngôi nhà gỗ tháp cao khác thường, như trong chuyện «Vua Xan-tan» ấy. Tất nhiên, nơi dân sống cũng có dạng khác hơn.

        Các khu phố mà xe anh đang chạy qua giống nhau cùng một vẻ, đường phố dài, rộng, đan lấy nhau bởi những góc thẳng, cứ sau mỗi chỗ rẽ ngoặt mới, chúng lại lặp lại như thế. Dọc hai bên đường phố là hàng loạt những ngôi nhà nhỏ một tầng cao tựa như nhau. Đôi chỗ có một vài nhà trang trí lộng lẫy nổi bật lên hơn các nhà khác với những mái nhọn hoắt, có khung cửa và ống lò sưởi cao còn lấp lánh những hạt sương đêm; cánh cửa gỗ trạm trổ một cách tuyệt mĩ; những con gà trống và cá bằng sắt tây đậu trên ông khói. Còn phần lớn đều là những ngôi nhà giản dị làm bằng gỗ tròn, vài ba khung cửa được viền bằng gỗ mỏng và hôm nay tất cả đều trắng ra bởi tuyết phủ. Những cây liễu, thùy dương, bạch dương, cây phong còn non nớt trơ trụi lá trồng trong các mảnh sân nhỏ được rào cẩn thận chiếm một khoảng đất đáng kể. Tuy nhiên, ở dãy người ta cũng thường gặp những công trình bằng đá như tháp cứu hỏa gạch nung trông giống như những ngọn đèn biển, những ngôi nhà dân dụng nhiều cửa sổ mới được xây dựng, những tòa nhà câu lạc bộ hình lập phương có cửa kính sang trọng. Đường phố vắng người và yên tĩnh. Đôi lúc từ phía Đông vọng lại những tiếng nổ, nhưng trong thành phố bị phong tỏa này chẳng ai chú ý đến những tiếng nổ ở nơi xa xôi nào đó.

        — Tôi thấy dân ta tự chủ thật, — người lái xe tiếp tục nói bằng một giọng tự hào. — Có thể nói là mọi người sống ở tuyến đấu mà không thấy một nét sợ hãi nào cả... Đồng chí đại tá kìa... mọi người đang chuẩn bị cho ngày lễ dường hoàng chưa!

        Thật vậy, trước họ, một phụ nữ mặc áo bành tô nam đã cũ, tay xách hộp sơn cùng một thiếu nữ đang sơn lại hàng rào bằng một lớp sơn mới màu xanh sáng rực. Xa hơn một chút, Bốt-đa-nốp nhìn thấy một ông già đội mũ đang quét dọn lại chiếc sân nhỏ chật hẹp của mình.

        « À, hóa ra mọi người đang chuẩn bị đón mừng ngày lễ đấy». Anh nghĩ, trong lòng cảm thấy xúc động và biết ơn những người phụ nữ và ông già cầm chồi không quen biết này, phía xa hơn nữa, trước ngôi nhà gạch hai tầng, có lẽ là trường học, một phụ nữ trung niên, mắt đeo kính, chắc là cô giáo đang nói gì đó với cô gái quàng khăn trắng trèo lên thang. Cô gái đóng lên bức tường cửa sổ tầng hai một băng khẩu hiệu dài nổi bật hàng chữ in hoa: LỄ KỶ NIỆM LẦN THỨ XXIV CÁCH MẠNGTHÁNG MƯỜI MUÔN NĂM!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2020, 07:04:47 am

        Đứng trên chiếc ghế đầu đặt ở ngoài phố, một người nữa đang lau lại bên ngoài cánh cửa sổ của nhà mình. Có thể thấy bà ta làm công việc này hơi muộn, bởi vì bên nhà hàng xóm, cửa kính đã long lanh phản chiếu những ánh hồng của buổi sáng mờ sương này. Còn trên ban công có thể thấy rõ những cây mọc nhấp nhô trong các thùng gỗ, trông như các tảo rong mọc ở các bể nuôi cá bị xanh đi trong căn phòng tranh tối tranh sáng... Ở mỗi ô cửa sổ các cây mọc chen chúc, thân và lá quấn bện lấy nhau, những tấm màn tuyn được vén lên, vài chỗ còn thấy cả hoa nữa: những bông hoa màu vàng da cam, xanh sẫm tròn trĩnh như quả cầu nhỏ. Trước kia, Bốt-đa-nốp chưa bao giờ ngắm vùng này ban ngày cả, nhưng do đã xem bản đồ toàn bộ quy hoạch thành phố, anh biết rằng xe đang đi qua khu phố Vô sản trước đây... Chính nơi đây, bên kia con sông, những con người từ thế hệ này tới thế hệ khác đã dọn đến sinh cơ lập nghiệp và sau đó bằng mồ hôi và công sức lao động, họ đã xây dựng nên bao nhà máy có tiếng tăm, mang lại niềm vinh quang cho mình. Trong thời gian sống ở thành phố, Bốt-đa-nốp đã biết nhiều về những con người đó và cũng có thể nói anh đã biết họ từ lâu, khi còn ở tuổi thiếu thời, lần đầu tiên anh nghe nói đến họ. Trong trí tưởng tượng của anh về đất nước thân yêu, bao la và giàu có như đất nước này, nổi tiếng bởi những sự nghiệp lớn lao và chiến tích vĩ đại trong lao động và đấu tranh, vẫn còn dành một chỗ riêng biệt cho những ký ức về cái thành phố cổ kính, nơi nổi tiếng về các nghệ nhân lành nghề, các thợ nguội, thợ máy, thợ tiện, thợ sản xuất vũ khí, thợ chạm trổ... Giờ đây, Bốt-đa-nóp cảm thấy đặc biệt thích thú xen lẫn sự kính trọng khi nhìn thấy những đường phố yên tĩnh, hoà bình, trang hoàng rực rỡ, rộn ràng không khí ngày lễ mà ô tô đang chạy qua... Anh nghĩ tại đây, hai mươi tư năm trước, vào tháng mười, năm mười bảy, hàng đoàn công nhân do những người Bôn-sê-vích dẫn dầu đã tiến đến trung tâm thành phố, lao vào cuộc chiến đấu quyết định cuối cùng. Rồi đến hôm nay, một phần tư thế kỷ đã trôi qua, những người con của các chiến sĩ cận vệ đỏ thần kỳ năm xưa, một lần nữa lại đứng lên chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa, cho tất cả mọi người có thể sống trong hạnh phúc mà cha ông họ đã giành được trước đây. Tấm biển xanh tráng men nhỏ treo trên góc phố đã cho Bốt-da-nốp biết là anh đang đi qua phố Stư-cốp, tiếp theo chỗ ngoặt, cũng tấm biển như thế đóng vào bức tường hoa, anh biết đây là phố Pô-rô- khô-vôi... Một không khí thân ái hòa bình, ấm cúng bao trùm lên những khu phố công nhân trang hoàng lộng lẫy hơi diêm dúa này. Những tên gọi cũ kỹ của các nhà máy được giữ nguyên từ bao thế kỷ nay giờ đây vẫn vang lên như một lời cảnh cáo kẻ thù.

        Chiếc «Em-ca» đi ra phía bờ sông cắt ngang thành phố và bắt đầu lao nhanh qua cầu. Gần những tượng đài kỷ niệm bằng gang ở đầu cầu, các nam nữ đoàn viên Côm-xô-môn đang ồn ào náo nhiệt quấn những tấm băng đỏ viền quanh các bức chân dung. Một bức ảnh toàn thân Lê-nin đang đứng ở sân điện Crem-li, — bức khác, Xta-lin trong bộ quân phục. Dọc suốt lan can cầu, những lá cờ phần phật trước gió...

        Trời đã sáng hơn, màn sương lạnh buốt phủ khắp nơi đang tan dần và ánh mặt trời vàng óng ả xuyên qua... Xe ô tô vẫn chạy trên cầu và trước mặt Bốt-đa-nốp hiện rõ một khu nhà máy lớn nổi bật trải dài ở phía dưới bên kia bờ sông. Phía bên phải, chỗ uốn khúc của dòng sông trên thành phố, nổi lên những ống khói đồ sộ của các nhà máy. Dòng sông thấp dần xuống và hình như hai bên bờ của nó vẫn chưa bị đóng băng đã bắt đâu bốc hơi. Bên trái cầu, có thể nhìn thấy rõ những bức tường nhấp nhô lởm chởm giống như lưỡi cưa, chỉ còn ba mặt, còn một mặt bị bom Đức hất đổ ngay xuống gần mép sông. Thẳng hướng Tây có đám khói xám hơi đỏ đang bốc lên — có cái gì đó bị cháy ở vùng giáp ranh. Nhưng không nhìn thấy cảnh đổ vỡ hoang tàn nào hơn, mà chỉ thấy những dám khói trắng hòa bình đang thanh thản tỏa ra trên các mái nhà.

        Không khí lạnh như có ngàn tia buốt thấu xương xuyên qua người, nhưng giờ đây cũng trở nên mềm mại vàng ra. Một màu vàng dễ chịu trải khắp hai bờ sông, còn những lá cờ đỏ treo hai bên thành cầu dường như cũng ấm áp hơn bởi màu sắc của nó. Bốt-đa-nốp nhổm hẳn lên ghế để nhìn rõ hơn một cảnh mới đầy hấp dẫn: trên khu nhà máy bên sông, lá cờ đỏ thẫm to rộng đang từ từ được kéo lên trên một cột cờ cao to nhất, toàn thành phố đều có thể nhìn thấy. Những cơn gió lộng khắp vùng đang như ve vuốt lá cờ khẽ xòe ra lay động giống như một cánh chim khổng lồ đang vỗ dập trên bầu trời tự do...Thành phố tuy bị bao vây, nhưng vẫn đón chờ ngày lễ tháng Mười của mình như những năm tháng hòa bình trước đây và mặc dù ở những vùng ngoại ô vẫn còn cháy và cảnh hoang tàn, chết chóc đổ nát, nặng nề đang vây quanh thành phố, những lá cờ đỏ chiến thắng vẫn lung bay phấp phới trên khu pháo đài cổ của giai cấp công nhân Nga vĩ đại và vô địch này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2020, 07:05:48 am

5

        Hôm nay Ôn-ga I-li-nhi-na Chi-khô-nô-va có hai niềm vui: sáng sớm chị vừa nhận được thư chồng, anh vẫn sống khỏe mạnh và liền sau đó có người ở văn phòng đến phân xưởng may cho biết Vô-Iô- đi-a, con trai chị gọi dây nói cho chị. Thật ra, lúc đầu chị rất sợ khi nghe tin này vì nỗi lo lắng khôn nguôi về đứa con luôn làm chị bối rối hoảng sợ mỗi khi nhận được tin nó. Nhưng lần này rất vui, Vô- lô-đi-a chỉ yêu cầu báo lại cho mẹ biết hôm nay cậu cùng các bạn mình sẽ về thăm mẹ. Và sau khi xin phép quản đốc phân xưởng, chị liền lao ngay về nhà, lòng thanh thản nhẹ nhàng vì giờ đây chị sẽ được giải thoát khỏi nỗi dằn vặt đáng sợ khi phải thấp thỏm chờ đợi sự bất hạnh của mình, dù chỉ là vài giờ ngắn ngủ. « Khi gặp nó, chỉ cần cố giữ đừng khóc... — Chị tự nhủ thầm trước khi gặp con. — Khi nó được về nhà thì tại sao lại bắt nó phải bối rối lúng túng? Hãy để cho nó được thanh thản vui vẻ... Nó còn bé lắm, có lẽ nó hay nhớ nhà...»

        Vừa thở, Ôn-ga vừa cố chạy lên phòng. Suốt tuần qua, chị hầu như không rời khỏi nhà máy nên bây giờ chị muốn tranh thủ dọn dẹp lại căn phòng bừa bộn như bị bỏ hoang này khi con về. Ngoài ra, chị phải chuẩn bị đãi tất cả chúng nó bữa trưa nữa và nếu chị hàng xóm chưa kịp mua hộ bánh mì như đã hứa thì chị còn kịp thì giờ chạy ra cửa hàng bánh. Rất may, chị gặp cậu bé Gô-ga ở hành lang vì thật ra hầu như cả    ngày nó cứ tha thẩn chơi ở đây một mình.

        Khi biết Vô-lô-đi-a sẳp về, nó liền hăng hái giúp đỡ chị. Khá khéo leo tuy phải chống nạng để cầm chổi, Gô- ga cũng lau được sàn nhà trong khi Ôn-ga I-li-nhi-na gọt khoai tây và bày bàn ăn. Sau đó Gô-ga cầm phiếu nhảy chân sáo đi ra hiệu bánh cách nhà không xa. Trong thành phố bị địch bao vây này, mọi người đã cảm thấy lương thực thực phẩm bắt đâu khan hiếm, bơ chỉ bán theo phiếu trẻ em, thịt cung cấp được một nửa tiêu chuẩn quy định còn đường kính thì hoàn toàn không có. On-ga thở dài khi nhìn bữa ăn nghèo nàn mà hôm nay chị đã cố xoay xở được. Không biết đón tiếp con như thế nào cho tốt nhất, chị lưỡng lự một lúc rồi lôi trong tủ ra chai rượu vốt-ca đặt lên bàn. Chai rượu nguyên này vẫn nằm trong tủ từ lâu rồi, từ dạo tháng sáu nóng nực khi chị tiễn chồng ra mặt trận, và dù chị rất muốn để dành đến giờ phút sung sướng nhất khi chồng chị trở về, nhưng hôm nay chị đành phải dùng nó để mừng con trai. Vừa nhìn đồng hồ, chị vừa vội vã thay quần áo và chải lại đầu tóc. Ngồi trước gương, chị cảm thấy vụng về. Nhưng đón con và khách của nó cũng chỉ trong chốc lát thôi, nên lẽ dĩ nhiên chị phải ăn mặc và trang điểm đôi chút cho xứng với ngày lễ chứ... Khi Gô-ga mua bánh trở về, vừa thở hổn hển vừa hãnh diện tuyên bố: « Cháu mua được cả một khối bánh mì trắng, còn nóng hổi đây này!... Người ta bán cho mọi người nhân ngày lễ tháng Mười đấy ! ». Ôn-ga bắt Gô-ga rửa mặt và mặc lại quần áo. Chiếc áo sơ mi trắng có cổ xanh lính thủy và chiếc quần dài hồi bé của Vô-lô-đi-a lại rất hợp với Gô-ga. Gô-ga ngồi im trên đi văng, ngắm nhìn bộ «lễ phục» của mình với vẻ trịnh trọng và đợi chờ căng thẳng, đôi nạng đặt sát bên mình.

        — Vô-lô-đi-a nói có thể anh sẽ về hay là nhất định sẽ về ạ? —  Cậu ta hỏi sau một phút im lặng.

        Ôn-ga đã làm xong mọi việc bận bịu, liền ngồi ghé xuống chiếc ghế đẩu đối diện với Gô-ga. Chị cũng bắt đầu lo lo vì đã gần bốn rưỡi mà Vô-lô-đi-a vẫn chưa về.

        — Nó chỉ nói là cấp chỉ huy cho phép nó và các bạn nó về thăm nhà mà. — Chị trả lời lớn tiếng tựa như để nén sự hồi hộp của mình.

        Gô-ga trầm ngâm một chút:

        — Vô-lô-đi-a không phải là người thất hứa đâu, — cậu ta lẩm bẩm nói vẻ tin chắc. — Nếu Vô-lô-đi-a đã nói về thì nhất định anh ấy sẽ về.

        — Chắc là như thế, trời ạ!... Nó yêu cầu nhắc lại cho cô là chúng được phép về và nhất định sẽ về mà! Nó, Vi-chi-a và một người bạn của nó nữa. — Ôn-ga giải thích.

        Gô-ga lại ngồi đăm chiêu suy nghĩ, khuôn mặt đầy băn khoăn.

        — Lại còn người bạn nào nữa nhỉ ? — Cậu ta lại hỏi sau một lát im lặng.

        — Cô không biết... Nó chỉ nói là nhất định chúng nó sẽ về mà. — Ôn-ga nhắc lại một cách tự tin, dường như để phản đối lại vẻ hoài nghi của Gô-ga. Sau đó cả hai im lặng ngồi lắng nghe và không hiểu vì sao lại tránh nhìn nhau.

        Bỗng nhiên, ngoài hành lang vang lên tiếng chân bước vội vã. Gô-ga từ đi văng lao xuống và chỉ hai bước nhảy cậu ta đã đến sát cửa, đồng thời lúc đó một hồi chuông dài réo lên gấp gáp, giục giã. Ôn-ga luống cuống đến nỗi vẫn ngồi yên tại chỗ bên chiếc bàn đặt giữa nhà. Phút sau, khi nhìn thấy thân hình thon thả cân đối của Vô- lô-đi-a trong chiếc áo vét lông, dáng nghiêng nghiêng xuất hiện ở khung cửa, chị nhăn mặt một cách khổ sở như bị đòn đau bất ngờ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2020, 07:06:33 am

        «Nó bị làm sao rồi? Sao lại gầy và đen như thế kia?». Chị thoáng nghĩ, lòng bối rối lúng túng, chị nhảy bổ đến đứa con.

        Nhưng dột nhiên Vô-lô-đi-a lùi ra hành lang.

        — Mẹ, mẹ ơi! Mẹ đón khách đi! — Cậu ta hét lên và nhường cho một cô gái trẻ măng mặc áo lông ngắn đi lên trước.

        ... Vô-lô-đi-a ở đội trinh sát trở về, suốt ngày cậu sống trong trạng thái hưng phấn đặc biệt. Cậu và các bạn mình lần đâu tiên đã được tham gia vào một trận đánh thực sự, và cuối cùng họ không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà còn tiến công bọn địch, rút khỏi vòng vây một cách thắng lợi. Nhớ lại những giây phút xảy ra trong buổi tối đó, sau khi báo cáo cho chỉ huy tất cả các sự kiện và kể cho các bạn những lời khen ngợi không tiếc lời của đội trưởng, Vô-lô-đi-a thầm ngạc nhiên bởi vì tất cả mọi cái đều xảy ra thật tuyệt vời và anh rất hân hoan sung sướng. Sau buổi tối này, một điều cực kỳ quan trọng chỉ liên quan đến anh và Lê-na đã xảy ra. Cậu cảm thấy có niềm vui bất tận và phần nào lo lắng khi nhận thức được rằng giữa cậu và Lê-na, cô gái đã chủ động ôm hôn cậu tối hôm qua, đã có một mối dây quan hệ mà từ trước đến nay đã ràng buộc, liên kết con người suốt đời bên nhau. Dù thế nào chăng nữa, trong chừng mực mà Vô-ỉô-đi-a hiểu được thì đây là những mối quan hệ hết sức nghiêm chỉnh, nhiều người thường bắt đầu chính từ đó... Và cậu ta sau khi suy nghĩ kỹ về những cử chỉ của Lê-na trong rừng, đã rút ra một kết luận rất hạnh phúc là trong tương lai, khi cậu và Lê-na đã hoàn toàn trưởng thành thì nhất định họ sẽ cưới nhau. Vô-lô-đi-a thấy không cần phải vội bày tỏ với Lê-na suy nghĩ này; nhưng biết đâu dù đã hôn cậu, bấy giờ cô ta có thể đã nghĩ khác đi và chả lẽ cái điều bí mật, thẹn thùng và rất mê ly kia đã diễn ra giữa hai người, lại bị buộc như một trách nhiệm của niềm tin hay sao ?

        — Cháu chào cô ạ! — Lê-na chào Ôn-ga một cách tự chủ khi đến gần chị.

        Ôn -ga vừa gật đầu, vừa vội nhét mớ tóc xoăn màu sáng xõa ra ngoài khăn và như những người đàn ông, chị chủ động đưa cánh tay nhỏ bé của mình ra bắt tay Lê-na. Hình như một điều gì đó mới mẻ, không bình thường, thậm chí hơi vô tâm đa xảy ra trong chị kể từ khi trở về thành phố sau tất cả các sự kiện của đêm qua.

        — Mẹ, con xin giới thiệu với mẹ, đây là Lê-na! Bạn ấy là chiến sĩ của đội đấy! — Vô-lô-đi-a nói như la lên.

        Ôn-ga mỉm cười niềm nở nhìn khách. Khi cảm thấy niềm hân hoan không bình thường của con trai và chị cũng tha thiết mong muốn làm hài lòng con trong ngày hôm nay, nên chị ôm lấy Lê-na và hôn cô:

        — Mẹ của con! — Vô-lô-đi-a kêu lên, tỏ rõ sự biết ơn của mình khi thấy mẹ biểu lộ tình cảm với cô bạn gái mà cậu đã coi như người yêu mình. — Ôi, con nhớ mẹ quá!

        Anh bước lại gần mẹ và ôm hôn mẹ chun chút, còn Ôn-ga cũng ôm chăm láy con trai ghì chặt cậu vào lòng. Rồi tất cả mọi người, Vô-lô-đi-a, Ôn-ga, Lê-na, Vi-chi-a và Gô-ga cùng tranh nhau nói, không ai chịu nghe ai như vẫn thường thấy ở các cuộc gặp gỡ vội vã.

        — Chiến sĩ cận vệ đỏ xin kính chào cô. — Vi-chi-a cất giọng khàn khàn trịnh trọng.

        Trong ba người, chi có mình Vi-chi-a là kiềm chế được mình và hơi nhăn mặt rất đáng buồn cười khi On-ga hôn lên mớ tóc cắt ngắn mượt như nhung của cậu ta.

        Gô-ga khao khát được chào Vô-lô-đi-a, không kìm được nữa đã nhảy lên lưng bạn và kêu toáng lên:

        — Thế em? Còn em thì làm sao?... Còn em, anh quên rồi à?

        — Gô-ga, cậu đã thành một chú lính thủy chính cống rồi! Ôi! Xem cậu em tí nào! — Bây giờ Vô-Iô-đi-a mới kịp để ý đến cậu bạn bé bỏng.

        Khi ngồi xuống bàn ăn và nhìn thấy chai vốt-ca, Vô-lô-đi-a không đoán được ngay là rượu để dành cho cậu và các bạn mình. Nhưng khi nhìn thấy mấy chiếc cốc ở bàn-ăn, cậu ngạc nhiên nhìn mẹ...

        — Uống chút cho ấm người, con ạ!... —Ôn-ga nói, mặt hơi ửng đỏ. — Có thể nhấp một chút, chỗ này mẹ định để dành cho bố con đấy mà.

        Vô-lô-đi-a chau mày nhưng sau đó cậu lại thấy bình thường khi nghĩ rằng các chiến sĩ khi về thăm nhà hay được tiếp bằng vốt-ca mừng nhau. Cậu đứng dậy và tự tay rót vào từng cốc cho tất cả mọi người, ngay Gô-ga cũng được một cốc đày.

        — Ôi! Rượu vốt-ca có hại lắm! — Lê-na nói, nhăn mặt vẻ ghê sợ, nhưng cô mạnh dạn ngay, tay vuốt mớ tóc lòa xòa trước trán, kêu lên: —thôi, biết sao được, chúng ta cùng nâng cốc vậy!

        Ôn -ga nâng cốc đầu tiên.

        — Nào, các chiến sĩ của tôi, mong cho cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa này do bọn phát xít gây ra chóng kết thúc! — Chị nói. —  Cầu mong tất cả các con luôn mạnh khỏe... — Giọng chị như nghẹn lại.

        Vi-chi-a nghiêm mặt, nói một cách lịch thiệp:

        — Chúc chúng ta sẽ không bị muộn, các bạn ạ!

        Cậu ta mạnh dạn uống luôn một hơi cạn cốc và ho xù xụ. Vô-lô- đi-a dũng cảm uống hết chén rượu của mình mà không cảm thấy gì ngoài sự ghê ghê. Cổ họng như bốc lửa, nước mắt trào ra và vội quay mặt đi để Lê-na khỏi nhìn thấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2020, 09:42:19 am

        Sau đó, suốt cả bữa ăn không ai dụng đến chai rượu nữa. Khi Ôn-ga đặt lên bàn lọ mứt dâu duy nhất còn lại từ hồi trước chiến tranh thì Vi-chi--a đưa mắt nhìn lọ mứt và huých tay Gô-ga, còn Lena thốt lên sung sướng và tự nhiên:

        — Mứt dâu tây hả cô? Đó là loại mứt cháu thích nhất đấy ạ!

        Quả thật, bữa ăn rất vui vẻ và ồn ào, Vi-chi-a kể lại những chuyến đi đây mạo hiểm của các chiến sĩ trinh sát và theo thói quen, cậu cũng hơi phóng đại thêm vài chi tiết thú vị khác nữa. Còn Lê-na và Vô-lô-đi-a hơi chếnh choáng vì chén rượu, lúc thì cười thoải mái, lúc lại ngăn Vi-chi-a bắt cậu ta kể lại cho đúng sự thật.

        — Lê-na, tất nhiên là người ngủ ghê nhất rồi — Vi-chi-a tiếp câu chuyện, giọng vẫn khàn khàn. — Bọn Đức đi lại chung quanh thế mà bạn ấy vẫn ngủ được. Cháu không hiểu có lẽ Lê-na mắc bệnh ngủ chăng. Bạn ấy có thể đặt lưng ngủ ở bất cứ chỗ nào cung được.

        — Này, đừng có mà nói điêu, đừng nói điêu. — Lê-na phản đối quyết liệt. — Chính cậu cũng ngủ say đến nỗi không thể đánh thức dậy được.

        — Nhưng dù sao đi nữa tôi không bao giờ lại ngủ khi đi trinh sát cả. — Vi-chi-a vẫn kiên trì giữ ý kiến mình. — Thôi được, thế là chúng cháu cứ đi tiếp, lọt qua được con đường... Ở đấy cùng có bọn quỷ Đức, cả một trung đội, có lẽ ít hơn một tí... Thế là Vô-lô-đi-a thét lên : « Bắn ».

        Vô-lô-đi-a đứng bật dậy vì sửng sốt, sau đó cậu cười phá lên, ngả lưng ra sau thành ghế:

        — Không phải một trung đội đâu, tất cả chỉ có ba tên lính thôi... —  Cậu vừa nói vừa cười.

        Khi nghe câu chuyện này, tim Ôn-ga đập liên hồi... Chị không hỏi nữa vì sợ phải nghe tiếp những chi tiết kinh khủng hơn, đáng sợ hơn mà con trai chị đã trải qua. Chưa bao giờ chị thấy yêu nó, thích thú ngắm khuôn mặt sạm đen thông mình, đôi mắt xanh biếc đầy tự tin, tiếng cười giòn giã, những cử chỉ nhanh nhẹn của nó như trong lúc này. Chị hình như hơi rụt rè trước con trai, thỉnh thoảng chị mới nói khe khẽ :

        — Ăn đi chứ, Vô-lô-sca của mẹ, ăn đi chứ... Mẹ tiếp cho con nào... Vi-chi-a, cả cháu nữa, sao vậy? Còn Lê-na, cứ tự nhiên nhé, đừng ngượng đấy!... — Và chị tiếp cho những đứa trẻ hiếu động bỗng chốc đã trở thành người lính này, rất nhiều thức ăn vào đĩa chúng.

        Nhìn Vô-lô-đi-a và Lê-na, chị không thể không nhận thấy con trai chị đối xử với cô gái này rất đặc biệt, sẵn sàng phục tùng cô ấy tất cả. Tuy giữa Vô-lô-đi-a và Lê-na dĩ nhiên chưa có cái gì có thể gọi là nghiêm chỉnh được, nhưng chị vẫn nhìn cô gái thoáng chút ghen tị... Vô-lô-đi-a ngồi giữa mẹ và Lê-na cũng cảm thấy sẽ có một cái gì đó hoàn toàn không bình thường đến với cậu, cậu chưa bao giờ có tâm trạng khổ sở và mất bình tĩnh như lúc này... Ngọn đèn treo cao trên bàn vẫn tỏa ánh sáng dịu mát dưới cái chao đèn bằng lông mịn màng, một ngọn đèn khác thấp hơn, chiếu sáng chiếc bàn học của Vô-Iô-đi-a kê trong góc phòng đầy vết mực, có giấy bóng xanh phủ lên. Trên tường treo những bức tranh người đi săn đang dừng chân nghỉ và những đàn quạ bay lượn mà cậu rất thích ngắm nghía ngay từ hồi nhỏ. Con mèo bằng thạch cao tô màu lòe loẹt có chiếc nơ ở cổ vẫn ngồi nguyên chỗ cũ trên chiếc đi văng. Mô hình tàu lượn bằng vải thô mà Vô-lô-đi-a chưa làm xong, trông giống như con bướm, bị phủ đầy bụi nằm trên sàn giữa bàn con và tủ. Nhưng cậu chỉ lướt nhìn qua những vật thân quen yêu quý của mình. Và khi nhìn đôi má ửng hồng của Lê-na, nhìn khuôn mặt trẻ trung đến kỳ lạ của mẹ thỉnh thoảng lại ngắm cậu, nhìn Gô-ga đang chăm chú theo dõi từng cử chỉ của mình, nhìn vẻ sôi nổi, nghe các câu nói của Vi-chi-a, Vô-lô-đi-a hình như vẫn còn chờ đợi một điều gì đó... Có lẽ một sự tuyệt diệu, tuyệt đỉnh cao quý của hạnh phúc con người sẽ phải đến: những bông hoa huệ, hoa hồng nở trên chiếc khăn trải bàn, trên trần nhà những ngôi sao đang nhấp nháy tỏa sáng... Vô-lô-đi-a chẳng thấy ngạc nhiên nếu như bây giờ bỗng nhiên bố anh hiện lên ở cửa, bố sẽ nắm lấy vai anh, nhẹ nhàng đưa bàn tay ra hỏi: « Nào, hãy báo cáo cho bố, đồng chí đoàn viên Côm-xô-môn, đồng chí đã làm được những gì khi vắng bố ? ». Dù biết điều đó rõ ràng không thể xảy ra bây giờ được, nhưng Vô-lô- đi-a vẫn nghiêng mặt ra phía cửa chờ tiếng gõ...

        ... Cuối bữa ăn, những người hàng xóm cùng dãy, nghe tin có người ở mặt trận về, lần lượt kéo sang nhà Ôn-ga thăm hỏi. Bà già chấm công ở nhà máy bánh mì gõ cửa đầu tiên, tiếp theo sau là hai bà nữa, một bà là A-glai-a Ti-mô-phép-na Bư-cô-va, kế toán Văn phòng «Cửa hàng thực phẩm», bà kia làm cùng chỗ với Ôn-ga ở nhà máy may. Pô-trê-lin-xép, thợ nguội của nhà máy xe diện chỉ xuất hiện có khoảng một phút, vừa đủ ôm hôn Vô-lô-đi-a, rồi vội vã đi làm ngay. Sau đó là bà già quét sân bế đứa cháu nhỏ mặc chiếc áo hồng, ngồi ghé vào góc phòng, và người gõ cửa cuối cùng, ông già họa sĩ Bu-kha-xép.

        — Bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích, sao bác lại thế!— Vô-lô- đi-a kêu lên. — Mời bác vào chơi! Độ này bác có được khỏe không ạ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2020, 09:42:51 am
   
        Bu-kha-xrép gầy gò, cao lớn, mặc chiếc áo ngủ màu lông tôm nhàu bẩn, ống quần dài nhàu nát và đầu gối đang đứng ngần ngừ ở ngưỡng cửa. Mí mắt bị sưng lên, lông mi chảy dài, bộ mặt hơi nhắn nhó thể hiện sự ngượng nghịu nài nỉ...
 
— Cháu không đuổi ông già này chứ? — Lão ta hỏi khẽ. — Hãy khoan dung độ lượng cho tôi, tôi không thể ngồi yên ở nhà được. Tôi muốn được nhìn mặt người anh hùng của chúng ta một chút thôi.

        — Bác nói gì vậy, bác làm sao đấy! Bác Mi-kha-in! — Ôn-ga nói. — Mời bác ngồi xuống đây uống trà đã.

        Bu-kha-xép xua tay như thể từ chối, nhưng mắt lại đảo nhanh nhìn xung quanh bàn, lão liền rón rén ngồi xuống.

        Mọi người tranh nhau, người này cắt ngang lời người kia hỏi Vô-lô-đi-a về công việc chiến đấu của cậu, tò mò hỏi khẩu phần thức ăn được bao nhiêu, có bị cảm lạnh không và cấp chỉ huy đơn vị đối xử với anh như thế nào. Bà già chấm công thở dài nặng nề, nhìn các chiến sĩ trinh sát, còn bà A-glai-a Ti-mô-phép-na khuyên họ không nên liều mạng khi không cần thiết và đừng có đùa nghịch với vũ khí, làm họ cười phá lên vui vẻ.

        — Một thằng bé đã bị mảnh đạn rồi dấy. — Bà già chấm công nói vẻ hờn dỗi. — Nó chạy ra sân lúc mảnh đạn rơi tứ tung... Rõ thật là đồ trẻ con... Nó bị khâu ở đầu, bây giờ vẫn nằm ở bệnh viện...

        — Thế nào, cháu Vô-lô-đi-a. Lúc nào thì chúng ta mới đuổi được bọn quái vật Đức cút về nước chúng ? — Nhẹ nhàng ru thằng bé trên tay, chị lao công hỏi.

        — Cháu nghĩ là sắp rồi đấy ạ. — Vô-lô-đi-a khẳng định. — Chúng ta đã cho nó ăn đạn đến nỗi chúng không biết đằng nào mà chạy nữa...

        — Cầu trời! — A-glai-a Ti-mô-phép-na nói.

        — Lạy Chúa! — Bu-kha-xép nói và đưa tay lên che miệng, ho khan hai lần. — Thế các cháu có được sự chi viện của thành phố không ?

        — Cháu không biết bác ạ. Nhưng bác đừng lo, bác Mi-kha-in Bu-kha-xép ạ. Vô-Iô-đi-a nói kiên quyết — Chúng cháu nhất định sẽ đánh đuổi được bọn Đức mà...

        — Ôi! Các cậu thật là những tráng sĩ của chúng tôi! — Bà chấm công xúc động thì thào.

        — Nghe thì sướng tai thật đấy. — Bu-kha-xép nhận xét. — Nhưng

        rồi chỉ có chúng tôi giơ đâu ra chịu bom thôi.

        — Bọn Đức cũng được ăn khá bom đạn của chúng ta. — Vô-lô- đi-a nói. — Bác không cần phải hoài nghi gì điều này cả...

        — Vào thời gian này năm ngoái, trước ngày lễ, khắp nơi đều sung sướng, sạch sẽ quang đãng như thế. — Chị lao công lại nói. — Còn bây giờ chúng tôi đi quét dọn đổ rác mà lòng cứ nặng trĩu như đeo đá ấy.

        — Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng bây giờ ở Mát-xcơ-va như thế nào nhỉ ? — Bà A-glai-a Ti-mô-phép-na nói. — Các chị, các bác cứ nhớ lại coi, cứ vào tới ngày lễ này, chúng ta được nghe bài diễn văn quan trọng ở Mát-xcơ-va.

        — Đúng đấy, có lẽ năm nay không có duyệt binh đâu, chị A- glai-a Ti-mô-phép-na ạ! Bọn Đức đã chiếm được Clim-ca và Pô- crốp, Xtre-sơ-nhê-vô rồi... — Bu-kha-xép nói chen vào nhưng lão lại im lặng ngay.

        — Làm sao mà bác biết được Clim-ca, Pô-crốp, Xtre-sơ-nhê-vô bị chiếm rồi? — Vô-lô-đi-a hỏi to.

        — Ồ, một vài ông bộ đội kể lại cho tôi, có lẽ điều đó cũng không đúng đâu. — Bu-kha-xép vội trả lời.

        — Điều đó là hoàn toàn sai rồi, bác Mi-kha-in ạ, bác đừng tin vào những lời đồn nhảm nhí ấy...

        Vô-lô-đi-a đưa mắt rất nhanh nhìn những người trong phòng. Hình như mẹ luôn nhìn cậu bằng đôi mắt yêu thương và cả những người phụ nữ khác nữa, đang buồn nhớ, đang chờ đợi những lời nói động viên tin tưởng đúng đắn của cậu. Và ờ đây chỉ mình anh có thể an ủi họ... Cảm thấy như có một làn sóng ấm áp trào dâng trong người, cậu đứng bật dậy và nói to gần như la lên:

        — Các bác, các cô có biết toàn thể thanh niên đều đã sẵn sàng chiến đấu không ? Vì Tổ quốc, chúng cháu sẵn sàng, dù phải xông vào lửa hay nhảy xuống nước !... Đối với người đoàn viên Côm-xô- môn, không có gì quý hơn Tổ quốc mình. Mỗi người trong chúng cháu thề dâng cả cuộc đời mình cho Tổ quốc.

        Ôn-ga cảm thấy đau nhói ở tim, mặt chị hơi tái đi... Quả thật, bây giờ con trai chị sôi nổi, hăng hái đáng yêu thế, dáng đứng đường hoàng, đây lưng thát chặt, mái tóc rối bù, nổi bật hẳn trên làn da sạm đen. Ngắm nhìn con trai, nhưng Ôn-ga I-li-nhi-na cũng không biết là mình đang mỉm cười và gật gật đâu tỏ ý khuyến khích.

        — Thế cháu không thương mẹ cháu à, con bồ câu nhỏ của bác! — Bà già chấm công hỏi, mắt long lanh rưng rưng, mí mắt sưng phồng lên.

        Gô-ga không chịu được nữa, nâng đôi nạng và nhảy đến chỗ Vô-lô-đi-a. Cậu ta muốn đứng cạnh anh bạn lớn tuổi hơn trong một lúc, chỉ đứng thôi, không cần gì hơn nữa...

        — Chị thật hạnh phúc, chị Ôn-ga ạ. — Bà già chấm công nhỏ nhẹ nói. — Muốn điều gì thì được điều đó, chị sướng thật!...

        Đứa bé trong tay chị lao công cựa quậy, và trong phòng nghe tiếng bú sữa tóp tép khe khẽ. Chị lao công đung đưa thằng con ru nhè nhẹ.

        — Còn một người anh hùng nữa đang khoe mình đây. — Chị nói nghiêm trang.
 
        Lê-na bật cười, đứng dậy khỏi bàn tới gần chị lao công.

        Bu-kha-xép không nói thêm lời nào, chỉ ngồi uống nốt cốc nước chè của mình, tay xoa xoa bộ ria mép. Lão không nghe thêm được điều gì mới mẻ ở đây cả, thế mà tình cảnh lão có vẻ càng ngày càng nguy hiểm hơn. Cách đây không lâu, Nhi-ki-tin đã bị bắt quả tang khi còn cầm pháo hiệu đúng vào lúc máy bay đang ném bom. Và ai có thể bảo đảm được trong cuộc hỏi cung, tên khách trọ này lại không khai ra lão, Bu-kha-xép cựu tham mưu trưởng, điệp viên nằm vùng... Tên điệp viên Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích, người báo tin cho lão việc Nhi-ki-tin bị bắt, vẫn tin tưởng là thành phố này sắp thất thủ. Nhưng cũng có thể xảy ra cái điều đáng sợ là Bu-kha-xép không thể chờ đợi được đến cái giờ phút đáng mong chờ ấy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2020, 09:43:09 am

        Lão già nhìn Vô-lô-đi-a lúc này đang đứng xây lưng về phía lăo và nói chuyện gì đó với Vi-chi-a. «Giá như được nhìn thấy cả hai đứa mày lủng lẳng trên giá treo cổ nhi ?» — Bu-kha-xép chợt nghĩ và sợ hãi đưa mắt nhìn chung quanh, dường như sợ có ai đó có thể  đọc được ý nghĩ của lão.

        — Bác không được khỏe hả bác Mi-khai-in Mi-khai-lô-vích ? —  Ôn-ga hỏi. — Đưa tôi rót thêm chè cho bác nào...

        — Thôi cám ơn. — Lão già thì thầm, chợt như tỉnh ra. — Đủ rồi, chị chủ nhà đáng kính ạ. Đa tạ chị hết lòng...

        Nhưng lão còn trùng trình chưa muốn về ngay, lão sợ phải trở về căn phòng trống rỗng, sặc mùi dầu gai, đầy bụi bậm và mùi quần áo cáu bẩn của mình, về cái nơi bây giờ chỉ có sự hoài nghi khủng khiếp luôn rình mò. Hôm nay lão đến đây không những vì lão có nghĩa vụ phải đến gieo rắc tin đồn đại và lắng nghe mọi thứ, mà điều chủ yếu lão muốn tránh sự cô đơn không chịu đựng nổi. Và chừng nào những con người đang tụ tập ở đây chưa phải là vật hy sinh của lão như điều lão từng mơ ước thì lão còn rất cần phải hòa chung vào cái xã hội của họ... Chỉ khi chị lao công bế con đứng dậy và những người phụ nữ khác bắt đầu chào nhau ra về thì lão mới đứng lên vẻ luyến tiếc.

        Vi-chi-a đã thiu thiu ngủ trên đi văng, Vô-lô-đi-a cũng sửa soạn, chỗ gần cậu ta, nằm nghiêng lên chiếc gối... Cậu cảm thấy mệt rã rời, dù sao thì đã hai đêm nay không được ngủ. Nhưng vẫn còn băn khoăn chờ đợi điều gì đó : có lẽ cái ngày hạnh phúc nhất này của cậu. phải kết thúc khác hẳn những ngày bình thường trước đây. Gô- ga nằm trên chiếc ghế đối diện, định nói chuyện gì đó, nhưng Vô-lô- đi-a chỉ gật đầu cười mệt mỏi... còn Ôn-ga và Lê-na vẫn ngồi bên bàn, nói chuyện khe khẽ với nhau, đúng hơn là Lê-na nói nhiều hơn, thỉnh thoảng cô lại sửa mái tóc bạch kim loăn xoăn của mình, còn bà mẹ vừa tráng đĩa bát, vừa hỏi chuyện cô gái. Ngắm nhìn hai người, Vô-đô-đi-a thầm nghĩ họ giống nhau như hai chị em — một chị cả và cô em út. — Nhưng nhìn kỹ thì lại có những nét khác nhau: đôi mắt của Lê-na màu xanh lam, còn mắt mẹ xanh biếc, lấp lánh những tia vàng. Một người má hóp, hơi tái, còn người kia má tròn trịa, đều đặn như quả táo. Trán mẹ có nếp nhãn thẳng, còn Lena có chiếc trán dô bướng bỉnh. Nhưng có điều gì đó không rõ làm đã làm cho họ gần gụi thân thiết với nhau, và đã làm Vô-lô-đi-a rất thú vị. Nhưng cũng không thể kết luận đó chính là cái gì, cậu chỉ mỉm cười với cả hai người trong cơn buồn ngủ vừa chợt đến và thiếp đi.

        Gô-ga buồn rầu khi thấy Vô-lô-đi-a đã ngủ. Cậu ta có rất nhiều tin tức mới mẻ định chia sẻ cùng Vô-lô-đi-a và đã tưởng tượng ra cảnh ấy. Trước tiên, cậu ta sẽ kể là đã giải được bài tập ra sao, đã chép tiếng Nga từ một quyển sách vào vở, mặc dù không được đến trường như trước nữa. Sau đó, dĩ nhiên Vô-lô-đi-a sẽ không kém phàn thú vị khi được biết là Côn-ca Dvan-xép được nhận vào học nghề tại nhà máy, I-go Pê-rê-vô-tri-cốp đã trúng tuyển vào đội máy bay khu trục của đoàn Côm-xô-môn, còn Prô-khô-rốp đã cùng với gia đình sơ tán về quê và cuối cùng là có những người rất lạ, chưa hề quen biết. Không phải dân thường, cũng không phải bộ đội, chính cậu ta cũng không phân biệt được, thường đến thăm ông già Bu-kha- xép. Còn bản thân ông già Bu-kha-xép thời gian gần đây trở nên độc ác, cáu kỉnh và thậm chí có lúc đã mắng Gô-ga là đồ không có chân nữa... Nằm trên gối, sắp xếp các chi tiết cẩn thận, tỉ mỉ hơn, Gô-ga đành phải kìm lòng sốt ruột chờ người bạn lớn tuổi của mình dậy. Nhưng cô Ôn-ga quyết định chỉ gọi Vô-lô-đi-a dậy trước lúc phải ra đi có ít phút và do đó ý định của Gô-ga nói chuyện với Vô- lô-đi-a thế là không thành.

        ... Xuống hết cầu thang ra đến sân, Vô-Iô-đi-a thoáng rùng mình: tuyết đập vào mặt chảy cả nước vào mắt anh. Một cơn bão tuyết bất ngờ ập đến, thành phố bị chìm trong bóng tối lạnh buốt, mờ ảo. Tuyết rơi lúc dày đặc, lúc lại thưa dần. Nhưng hôm nay ngoài đường người qua lại đông hơn. Trên gác tư ở góc phố Thợ luyện kim, quảng trường Lao động, ba người nhìn thấy một đám đông người qua màn sương trắng tuyết mờ mờ.

        Khi họ đến ngã tư thì nghe thấy có tiếng nói của ai đó không rõ đang phát ra từ chiếc loa phóng thanh treo trên cao. Sau đấy, tiếng loa im lặng một lát và trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, nghe rõ tiếng gió rít trên mái nhà, cảm thấy cả đám đông im lặng nín thở như thế nào. Rồi bỗng nhiên một giọng nói khỏe, đĩnh đạc và bình tĩnh vang lên, tỏa ra trên đám người đang đứng bất động, im lìm bên nhau trong cơn bão tuyết:

        «Các đồng chí, hai mươi bốn năm đã trôi qua kể từ ngày Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười thắng lợi và chính quyền Xô- viết được thành lập trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang bước sang ngưỡng cửa của năm mới, năm thứ hai mươi lăm của chế độ Xô-viết...».

        «Xta-lin!... Xta-lin đang nói!» — Vô-lô-đi-a suýt hét lên. Cậu ngoái lại tìm Lê-na, nhìn thấy cô qua hàng tuyết dày dặc, cặp lông mày trên mặt cô nhíu lại, cậu vội nắm lấy tay cô kéo lên phía trước.

        «Thế có nghĩa là tất cả vẫn như cũ, như những năm trước đây, — cậu thầm nghĩ, — vẫn có lễ kỷ niệm trọng thể và diễn văn ở Mát-xcơ-va. Chà... thật tuyệt!».

        « Năm vừa qua không chỉ là một năm của công cuộc xây dựng hòa bình, — giọng nói vẫn vang lên, đám đông im lặng, chỉ dám thở khe khẽ, — mà đồng thời còn là một năm đấu tranh chống lại bọn xâm lược Đức đã phản bội, giày xéo lên đất nước yêu chuộng hòa bình của chúng ta... ».

        Vô-lô-đi-a đứng sững lại, cố không nói lời nào, lòng rộn lên niềm vui sướng hân hoan. Đúng vậy, cậu đã không uổng công chờ đợi một điều gì đó có ý nghĩa quan trọng nhất trong suốt buổi tối này.

        « Chiến tranh đã ngăn cản và trong một số ngành đã làm đình trệ hoàn toàn công cuộc xây dựng hòa bình của chúng ta. — Xta-lin nói tiếp. — Nó đã buộc chúng ta phải chuyển tất cả các công việc thời bình sang thời chiến. Nó đã biến đất nước ta thành một hậu phương bao la và thống nhất để phục vụ Hồng quân và Hạm đội của chúng ta».

        Tuyết vẫn rơi, bay giỡn với gió, phủ kín mái nhà, vương trên những thân cây trắng lốp, dính trên người, vương trên ống tay áo, phả vào mặt mọi người...   

        Nhưng trên quảng trường, không một ai nhúc nhích: mọi người đang chăm chú lắng nghe Xta-lin đọc diễn văn, và càng nghe đồng chí nói, phân tích, cổ vũ, kêu gọi thì hầu như mọi lo lắng lớn lao đang dằn vặt lòng người vào cuối mùa thu năm 1941 này đã biến thành lòng tin tưởng và quyết tâm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2020, 06:38:40 am

6

        Ngày sáu tháng mười một, ở các vị trí bao quanh thành phố thành một vòng cung rộng lớn, tình hình tương đối yên tĩnh. Bọn Đức chỉ thỉnh thoảng bắn đại bác và đến chiều thì hoàn toàn yên hẳn: rõ ràng là bọn chúng đang tập trung quân và đang điều những lực lượng mới. Nhất định là đến mai: ngày bảy tháng mười một, ngày kỷ niệm lần thứ hai mươi tư Nhà nước Xô-viết, bọn chúng sẽ tổ chức những cuộc tiến công đặc biệt ác liệt. Về phần mình, những người bảo vệ thành phố cũng đã lợi dụng thời gian yên tĩnh ngắn ngủi này để củng cố lại tuyến phòng thủ. Pa-ven Grô-mốp thay trung úy bị thương đã chỉ huy đại đội được một tuần nay, ra lệnh sửa chữa lại tất cả những đoạn bị phá vỡ, sửa lại, đào sâu thêm hào giao thông, phân phối lựu đạn chống tăng kiểu mới, trang bị thêm cho đài quan sát dự bị và làm nhiều công việc lặt vặt khác nữa. Đến tối anh và chính trị viên Ê-li-xây-ép lại bắt tay vào phân phối các món quà của nhân dân thành phố gửi tặng các chiến sĩ. Sau trận đánh ở khe núi, Nhi-cô-li-na Ê-li-xây-ép đã trở về ngay ngày hôm sau. Anh bị thương trong trận đánh đêm với xe tăng địch, phải nằm lại và ngất đi trong một rãnh nước cạnh đường cho đến khi các nông trang viên tình cờ tìm thấy. Họ đã đưạ Ê-li-xây-ép trở lại thành phố.

        Rất tiếc là không thể tập họp toàn đại đội được, dù chỉ là một lúc để chúc mừng anh em nhân dịp ngày lễ. Do đó Pa-ven quyết định: anh và chính trị viên tranh thủ buổi tối đi thăm suốt lượt anh em, chúc mừng từng người ngay trên vị trí chiến đấu của họ, và trao quà đã được gói, buộc cẩn thận trong các túi gồm: thuốc lá điếu hoặc thuốc lá sợi, tất chân, tất tay, mỡ ướp bọc trong túi khô sạch hoặc là xúc xích khô. Các chiến sĩ bắn giỏi có thể còn được nhận thêm chai Vốt- ca hoặc chai rượu còn thơm mùi hoa lá bồn tử. Và đặc biệt là trong các túi quà đều có thư của nhân dân thành phố gửi đến, đôi khi có ; cả ảnh của người tặng quà: các nữ sinh lớp chín B trường trung học nào đó hoặc là các cô công nhân xưởng may, nhà máy xe lửa hoặc cửa hàng ăn uống.

        Buổi tối, Pa-ven ngồi ở tầng hầm ban chỉ huy, lòng đặc biệt thỏa mãn vui sướng chuẩn bị đón mừng ngày lễ sắp đến cho đại đội. Sau bảy ngày đêm chiến đấu ác liệt, thần kinh căng thẳng nặng nề, bây giờ anh thấy thoải mái hân hoan, tíu tít làm công việc sẽ đem đến cho mọi người niềm vui sướng.

        Ba chiến sĩ, đại diện cho các trung đội, đang cất vào ba lô các món quà của trung đội mình, Pa-ven vui vẻ ra lệnh:

        — Đừng có sờ nắn các gói quà như thế... Ôi chao, các cậu thật đoảng quá. Nhẹ tay nào, nhẹ thôi, đừng tung như thế! Chỗ đó có đồ dễ vỡ đấy... Biết chưa nào ?

        — Trung đội tôi hầu như không có những thứ đồ thủy tinh đó. —  Một chiến sĩ phàn nàn. — Toàn là khăn quàng cổ và cả thuốc đánh răng nữa...

        — A, người anh em, cái đó mới là vận may đấy... — Pa-ven phá lên cười, tiếng cười sang sảng thoải mải.

        Ở lối đi xuống tầng hầm ban chỉ huy đặt trong ngôi nhà đã bị đạn đại bác làm sụt lở mái, nghe rõ tiếng gió rít trên đầu. Thỉnh thoảng cái gì đó kêu loạt soạt vang to, có lẽ những tấm tôn bị bong đang lăn đi lăn lại trên mái ngói bị tuyết phủ. Nhưng trong lối đi chật hẹp này, không khí tù túng và tối tăm vẫn ngưng đọng lại tựa như nước đầm lầy. Ánh sáng vàng nhợt yếu ớt từ những ngọn đèn dầu: hai chiếc đặt trên hòm gỗ Pa-ven dùng làm bàn, một chiếc đặt ở góc chiếc máy điện thoại — dường như đang cố xuyên thủng làn không khí dày đặc đó.

        — Cậu có nghe thấy thời tiết đang đi dạo không? — Ê-li-xây-ép nói, mắt nhìn lên trên tràn nhà đổ bê tông bị che sáng. — Tôi còn nhớ năm mười bảy, cũng vào đêm này, tuyết thổi rất mạnh...

        — Quên, cháu chưa kịp nói với chú... Pa-ven chợt nói. — Hôm qua bố cháu cùng bác Oóc-lốp đi bắn thử súng cối ở trung đoàn ta... Chú có tưởng tượng được không ? Nhà máy không còn một cái gì cả, tất cả máy móc đã chở đi... Thế mà họ sửa chữa lại hết những gì tìm được ở bãi thải...

        Ê-Ii-xây-ép mỉm cười, tư lự nhìn ngọn lửa đang cháy chập chờn từ ngọn nến mới thắp lên.

        — Tôi còn nhớ, khi đó chúng tôi cố ngồi đợi đoàn quân từ Pa- rê-tria tới, người rét cóng. — Ông nói khẽ. — Vừa hửng sáng, tôi đã phải lao vào chiến đấu từ ba phía.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2020, 06:39:13 am

        Rõ ràng là những ký ức này đã làm cho Ê-li-xây-ép hài lòng tự hào. Tuy nhiên, trông ông vẫn co ro, vai-xo lại.

        — Còn thước ngắm súng cối. — Pa-ven lại nói, đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu. — Đấy là một bộ phận phức tạp nhất, đòi hỏi độ chính xác cao, phải có máy móc đặc biệt... Thế mà họ đã làm được nó, thật không làm sao hiểu nổi.

        — Tôi còn nhớ, hôm ấy chúng tôi bước đi, hát vang bài Quốc tế ca. — Ê-Ii-xây-ép mỉm miệng cười không cần nghe xem Pà-ven nói gì. — Chúng tôi chiếm được Ác-xe-nan và ngay lập tức phân phát vũ khí cho mọi người. — Ông im lặng, nhìn lên trần. Lúc ấy có cái gì đó còn ngỡ ngàng... Cậu lắng nghe xem nào: không một phát súng, không một tiếng nổ, tựa như không có chiến tranh!

        — Quả thật bọn cháu đã quên mất rồi. — Pa-ven nói, đầu anh gần như chạm trần nhà, trong bóng đêm không nhìn rõ gì hơn ngoài đôi mắt phản chiếu những ánh đèn vàng lung linh. — Sáng sớm ngày mai, chúng ta sẽ đón khách, bác Ê-li-xây-ép nhé! — Anh nói.

        — Được rồi, sáng mai, — Ê-li-xây-ép nhắc lại.

        — Nào các đồng chí xong chưa nào! — Anh giục các chiến sĩ và quay sang Ê-li-xây-ép. — Chúng cháu cũng đã chở hết cả ống thép đi... Bác biết đấy... Thế mà các ông già ở nhà lại lấy những ống máy bơm để chế thành nòng súng cối... Thật là những con người tuyệt diệu!

        Ê-li-xây-ép nhìn chằm chằm vào Pa-ven và mãi đến lúc này ông mới nhận ra là Pa-ven đang nói gì.

        — Còn phải nói, họ là những người có bàn tay vàng mà. — Ông trả lời. — Có lúc Lép-sa của chúng tôi đóng móng sắt cho bọ chét đấy.

        — Cháu không phục Lép-sa của chú đâu. — Pa-ven nói bằng giọng sôi nổi không ngờ. — Ông ấy yêu thích tất cả những cái gì ? Chú tha lỗi cho cháu, chú Pô-rphi-ri I-a-cô-lê-vích ạ, nói chung cháu không thích Lép-sa... Ồng ta có điệu bộ lập lờ nước đôi lắm. Bác còn nhớ con bọ chét được làm bằng tay của người Anh, ông ta đã đóng móng cho nó, và từ đó nó không nhảy nữa... Rất đơn giản. Lép-sa của bác chỉ chữa được đồ chơi mỹ thuật thôi... Xong chưa hả các đồng chí. — Pa-ven hỏi các chiến sĩ, tiếng nói của anh vang vọng cả dưới các vòm cửa bằng bê tông. — Ê, ê này đừng nhìn vào các túi như thế, chúng tôi đã quy ước rồi, ai may mắn sẽ được...

        — Cậu có biết không, Lép-sa đã viết văn. — Ê-li-xi-ép nhận xét, — ngôn ngữ anh ta phong phú, chải chuốt... Đó là con người am hiểu ngôn ngữ lắm.

        — Theo cháu, không có nghệ thuật gì lớn hơn được tình yêu đối với con người, hơn được những việc làm có ích cho con người. — Pa -ven nói.

        Các chiến sĩ đã đứng dậy, khoác ba lô lên vai, Pa-ven với tay cầm lựu đạn trên hòm gỗ và nhét vào túi áo ca pốt.

        — Lép-sa đã mô tả những nghệ nhân Nga như những người cô độc mọi rợ nào đó, — anh bực bội nói tiếp. — Đấy là điều không đúng... Và cháu có cảm giác Lép-sa muốn cười nhạo những kỹ xảo tuyệt diệu của nghệ nhân chúng ta như là những vật không có giá trị, bỏ đi vậy.

        Nhìn lên Ê-li-xây-ép, anh hạ thấp giọng nghẹn lời:

        — Chú Pô-rphi-ri I-a-cô-lê-vích ạ, rét cóng mất. Giờ chú cứ nghỉ, chờ gió lặng rồi hãy!.. Cháu sẽ đi một mình cũng được. — Anh thành thật đề nghị.

         Pa-ỵen thấy người khỏe, sức lực còn đồi dào và chỉ muốn sử dụng hết cái sức dư thừa này đi. Hiểu rõ trách nhiệm lớn lao trong chuyến đi quan trọng này, anh thấy mình có nghĩa vụ vinh dự trước các chiến sĩ.

        — Không, không, sao lại thế?? — Chính trị viên Ê-li-xây-ép sợ hãi càu nhàu, và vội vã khoác chiếc áo bông cổ bằng lông cừu đen. —  Cậu nói gì vậy, Pa-ven Grô-mốp! Hôm nay mà tôi lại không đi hả?

        Pa-ven bấm đèn pin, rụt đầu lại và bước ra khỏi hầm đầu tiên. Ê-li-xây-ép vừa đi vừa dựng cổ áo lên, kéo lại bao súng ngắn ở thắt lưng. Các chiến sĩ lần lượt đi sau họ. Một vòng tròn nhỏ ánh đèn xanh nhạt lấp lóe đằng trước, lúc thì soi rõ trong bóng tối, chiếc cột tường vuông đỡ vòm trần, lúc thì soi vào đống rơm chất ở nền hầm. Đi trên chiếc cầu thang nhỏ dẫn lên trên, Pa-ven ngoái cổ lại đàng sau.

        — Hôm nay chúng ta như ông già Tuyết đi phát quà năm mới. —  Anh nói với Ê-li-xây-ép. — Chỉ khác là đeo súng ngắn ở hông.

        Ê-li-xây-ép im lặng, còn Pa-ven đang lâng lâng niềm vui trẻ thơ trước kiểu phát quà này.

        — Tiện thể chúng ta đi thăm luôn các trạm gác, — anh nói thêm.

        Phía trên mặt đất, gió lạnh buốt phả vào mặt họ đến nỗi họ phải đứng chụm lại gần, giẫm chân tại chỗ. Dường như có những con ngựa trắng đang phi lướt qua mạt họ, chân không chạm đất nhưng tuyết vẫn bốc lên. Sau đó họ rẽ ngoặt sang thì tất cả đàn ngựa hư ảo này lại lao nhanh hướng ngược lại, chìm trong màn tuyết lạnh... Không thể nhìn thấy gì trong đêm bão tuyết này, chỉ thấy phía bọn Đức lấp lóe những quầng sáng mờ nhạt, lúc thì bị tắt, lúc lại sáng rực, khi trong khoảng không gian giá lạnh ẩm ướt kia thỉnh thoảng có những pháo hiệu đủ màu bắn lên. Một ống khói bếp bị phủ tuyết tráng, nhô lên giữa đống đồ nát nằm chỏng gọng cách Pa-ven khoảng hai bước chân. Gió luồn qua nó và hình như có những làn khói lạnh ngắt từ ống bay tỏa ra.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2020, 06:39:54 am

        Pa-ven và mọi người đến gần trung đội một của Su-kin thì tuyết đã bay lọt cả vào người, mắt bị quáng. Su-kin đang đứng gù người bên lối đi vào hầm của trung đội chờ mọi người.

        — Chúc mừng đồng chí nhân dịp ngày lễ Cách mạng vô sản của chúng ta. — Ê-li-xây-ép chúc trung đội trưởng trung đội một.

        — Cám ơn đồng chí, tôi cũng xin chúc lại đồng chí chính trị viên như vậy. — Su-kin trả lời, giọng đã bị lạnh cóng.

        Ánh đèn pin nhỏ hẹp, đỏ quạch, chiếu xuyên qua màn bụi tuyết soi khuôn mặt Su-kin khắc khổ như ông già và đôi lông mày rậm, trắng nhợt với hàng lông mi thưa hiện rõ qua ánh đèn thấp thoáng.

        — Đồng chí trung đội trưởng ạ, không phải chúng tôi đến thăm đồng chí với hai bàn tay không đâu, có quà tặng đấy, — Pa-ven nói.

        Mọi người theo Su-kin đi dọc hào. Gió thổi ập mạnh vào gờ chiến hào, những hạt tuyết tung bay lả tả. Đèn pin lại lóe lên, trong ánh sáng dài dài diệu kỳ của nó, hiện rõ lên dãy tường đất với lối đi, tuyết dồn từng đống và hình dáng cao lêu đêu của người lính gác. Chính trị viên Ê-li-xây-ép đến trước người lính và nói to, rõ ràng, tách bạch từng lời.

        — Xin chúc mừng đồng chí vào đêm trước lễ kỷ niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại!

        — Cám ơn đồng chí, xin chúc mừng lại đồng chí chính trị viên ! —  Một giọng trả lời lí nhí, lúng búng trong miệng, phát âm không rõ.

        — Đồng chí chiến sĩ, xin chuyển đồng chí món quà ngày lễ của nhân dân thành phố hòa bình gửi tặng. — Pa-ven nói và đưa cho anh lính gác gói quà. — Lúc nào đồi phiên gác, hãy mở ra xem.

        Họ đi tiếp, mặt ngoại lại để tránh những cơn tuyết lạnh. khô.

        — Chúc mừng đồng chí nhân dịp sắp tới ngày lễ! Sang năm chúng ta sẽ kỷ niệm vui vẻ trọng thể hơn bằng một chiến thắng... — Giong nói to khỏe của Ê-li-xây-ệp lại vang lên.

        — Nhất định phải như vậy, đồng chí chính trị viên ạ! — Một chiến sĩ, mắt nheo lại vì ánh đèn đang chiếu vào anh, dõng dạc trả lời.

        Bão tuyết vẫn hoành hành đúng theo kiểu của nó, trong chiến hào cũng như ở các chỗ khác, tuyết đã ngập đến đầu gối, Ê-li-xây-ép đến gần các chiến sĩ, bẻ cổ áo xuống, tay xoa xoa bộ râu lởm chỏm.

        — Xin chúc mừng các đồng chí nhân dịp ngày lễ!... — Giọng ông vang lên trong tiếng gầm gào của bão tuyết.

        — Chúng tôi cũng xin chúc mừng đồng chí chính trị viên. —  Nghe vang tiếng trả lời. — Cám ơn đồng chí đại đội trưởng.

        Cúi người xuống, Pa-ven chui vào hầm ngủ của toàn trung đội. Cãn hầm chật người, chỉ có một ngọn lửa đốt lên ở chiếc lò sắt tỏa sáng hầm. Lúc này, khuôn mặt những chiến sĩ ngồi trước lò sưởi cũ trông khác hẳn với những người ngồi trong bóng tối đầy mùi khói và khí than. Ê-li-xây-ép vuốt lại cho cổ áo thật phẳng, ông ho sù sụ.

        — Các đồng chí chiến sĩ trung đội một, đại đội năm, trung đoàn công nhân! — Ông bắt đầu nói chậm rãi.

        Pa-ven ngồi xuống giữa các chiến sĩ, anh chăm chú ngắm nhìn họ. Anh biết rõ hầu hết tên họ của từng chiến sĩ trong đại đội. Bây giờ họ không giống những con người bình thường hồn nhiên, hay bị hưng phấn như mới ngày nào cùng anh ra chiến tuyến. Không phải là tất cả những ai đã ra đi cùng anh đều còn lại trong đội ngũ. Và, không phải chỉ mình Ê-go Trô-sin, mỗi lần nghĩ đến anh ta, Pa-ven vẫn thấy mình có lỗi là được các đồng chí mang ra để sau bức tường nghĩa trang. Nhưng tất cả những người còn sống bây giờ đây đối với Pa- ven là những chiến sĩ thực thụ... Không phải vì họ còn sợ những loạt bắn gần, đã học được cách ngủ trên mặt đất gồ ghề dưới trời mưa, trên băng tuyết giá lạnh, không hoảng sợ khi rút kíp lựu đạn như trước đây có lần xảy ra, hoặc để trượt kẻ địch ngay trong cự ly bắn gần. Mọi chiến sĩ trong trung đoàn không phải là đã quen ngay với chết chóc, nguy hiểm luôn kề bên, nhưng họ không chịu cúi đầu trước nó, họ đã thay đổi khác, đã rèn luyện mình để có một sức chịu dựng dẻo dai, cao nhất mà trước đây không thể mong muốn được. Ở mỗi người đều thể hiện sự rèn luyện, chịu đựng đó theo những cách khác nhau. Kia là I-van Đru-giơ-nhi-cốp, thợ lò hơi, trông dáng rõ là đang buồn rầu ỉu xìu, gắng chịu đựng những nỗi dằn vặt nội tâm; còn kia, Cô-li-a Ô-khốt-nhi-cốp, thợ mỏ và là nhà thơ của trung đoàn, một con người trông có cái gì đó ngang tàng, thích đùa giỡn với mọi nguy hiểm ; và kia nữa, Tréc-kin và Mi-khai-lốp cùng là thợ xây, Xvét-nhi- cốp, thợ đúc, mà niềm tin và đức tính điềm tĩnh ngày càng trưởng thành hơn trong những ngày chiến đấu ở chiến hào này... Thật ra, Pa-ven biết khá rõ họ đã mệt mỏi, hốc hác, đen sạm đi, gò má nhô lên, nhiều người mắt cứ nhíu lại. Dường như trong trận đánh đợt đầu vừa qua tuy mọi người đã vượt qua được mọi thứ ác liệt, song hậu quả của nó vẫn còn hằn in trên nét mặt của mỗi người, những dấu vết thử thách căng thẳng đó.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2020, 06:40:24 am

        — Các anh em công nhân, tất cả chúng ta ở đây đều cùng một gia đình , — Ê-li-xây-ép nói tiếp. Qua giọng nói chầm chậm vốn ít có ở ông, Pa-ven đoán là chính trị viên đang xúc động. — Chúng ta hãy cùng nhau nhớ lại sự nghiệp của chúng ta hai mươi ba, hai mươi tư năm trước đây ra sao. Tôi còn nhớ khá rõ điều này... Nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi hầu như đã đơn độc chiến đấu trong vòng vây lửa chống lại chủ nghĩa tư bản toàn thế giới. Và rồi như thế nào? Như các đồng chí đã biết, nó đã đánh tan hoàn toàn các loại kẻ thù...

        Trong gian hầm chật đến nỗi đám thính giả vừa ngồi vừa đứng sát sạt, khuỷu tay chạm vào nhau. Ê-li-xây-ép bị chảy nước mắt vì khói than cay xè đang tỏa ra từ chiếc bếp lò, và trong góc tối, một người nào đó, có chịu đựng phải thở khò khè, và luôn ho sù sụ... Thật là khó thở trong bầu không khí nóng đầy mùi khỏi, nhưng chân lại bị lạnh cóng phải luôn cử động.

        — ... Và hôm nay, chủ nghĩa đế quốc quốc tế lại tiến đánh chúng la thông qua bộ mặt ác độc của chủ nghĩa phát xít Đức.— Chính trị viên nói tiếp, — và không còn nghi ngờ gì nữa, chúng cũng sẽ bị tiêu diệt đến tận gốc rễ. Bởi vì, cũng như năm Mười bảy, chúng ta cũng được sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích đã từng dày dạn thử thách qua các cuộc đấu tranh giai cấp... Các đồng chí chiến sĩ trung đội một, đại đội năm, trung đoàn công nhân! — Ê-li-xây-ép im lặng thở mạnh. — Xin chúc mừng các đồng chí nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ hai mươi tư cuộc đấu tranh đầy thắng lợi của giai cấp vô sản, vì sự nghiệp của toàn thể nhân dân lao động và hạnh phúc nhân dân...

        — Đúng như trong bài hát ấy, đồng chí chính trị viên ạ. — Xvét- nhi-cốp, thợ đúc, dáng gày gò, khuôn mặt dài, mớ tóc trước trán cứ lòa xòa, cất tiếng nói. — « Đoàn chiến sĩ công nhân chiến đấu vì sự nghiệp nhân dân ».

        Một ánh lửa hồng từ chiếc lò sưởi hắt một vệt dài lên chiếc áo bông của Đru-giơ-nhi-cốp trông như dải băng huân chương, vầng trán cao cao và cặp lông mày của anh cũng nhuốm một màu hồng, trên nòng của những khâu súng trường lấp lóe tia sáng.

        —... Các đồng chí chiến sĩ, để tỏ lòng biết ơn sâu sắc, — chính trị viên kết luận, — nhân dân thành phố đã gửi tặng các đồng chí những món quà giản dị.

        Đám thính giả ồn ào, sôi nổi hẳn lên, thoảng có tiếng kêu, câu hỏi, tiếng cười náo nhiệt... Pa-ven thích thú quan sát các chiến sĩ, Su-kin và các chiến sĩ của anh ta đều là những người lớn cả, thế mà vẫn tò mò thích thú ra sao khi nhận những gói quà này.

        — À này cậu, nhìn xem này, cô nào đấy còn gửi cho tôi cả ảnh nữa. — Mi-khai-lốp, thợ mỏ, khoảng chừng năm mươi tuổi, râu đã đốm bạc là người của một gia đình đông con, thốt lên.

        Ngồi bên chiếc lò sưởi, Mi-khai-lốp thú vị nhìn chiếc ảnh một thiếu phụ không quen biết đã gửi cho bác ta gói quà.

        — Trông chị ta nghịch ngợm đấy chứ hả ? — Bác tỏ vẻ ngạc nhiên!

        — «Chú bộ đội yêu quý! — Cúi xuống thấp gần bếp lửa, Su-kin đọc to bức thư anh nhận được. — Đầu tiên, cháu xin kính chào chú và gửi lời thăm của cháu và của bà nội cháu, Cláp-đin Gri-gô-ri-ép-na tới chú. Bà cháu hiện nay đã bị mù hoàn toàn, nên không thể tự mình viết thư được. Năm nay cháu đã mười tuổi, cháu và bà nội muốn rằng các chú, các chú bộ đội yêu quý hãy đánh tơi bời bọn phát xít đáng nguyền rủa kia, đừng thương tiếc gì chúng cả».

        Su-kin rất xúc động. Người đội trưởng này còn trẻ lắm, lông mày rậm, còn hàng lông mi thì uốn cong như lông mi con gái. Ô-khốt- nhi-cốp nháy mắt với người bên cạnh, mở chiếc khăn quàng bông anh vừa nhận được trong gói quà, các chiến sĩ đều vui vẻ cười đùa, huých nhau, nhận xét bình phẩm. Đru-giơ-nhi-cốp mở gói quà thấy đôi tất tay thêu chỉ sặc sỡ ở mặt sau, anh phá lên cười và xỏ thử... Điều chủ yếu của mọi việc không phải là ở những món quà tặng này, thực ra chúng cũng không cần thiết lắm đối với các chiến sĩ. Trong trung đoàn, mọi người đều được phát đủ quần áo ấm và ăn no. Nhưng hôm nay, mỗi người trong các chiến sĩ đều thấy mình như thành người khác. Và dù cho hoàn cảnh sống; chiến đấu của các chiến sĩ ở đây ác liệt, khỏ khăn, song chừng nào trái tim họ còn đập, thì họ vẫn tràn đầy niềm lạc quan vui vẻ. Bác Mi-khai-lốp đưa chiếc ảnh ra trước mặt và lo lắng nói:

        — Tôi biết làm gì với chiếc ảnh này bây giờ, các bạn ơi! — Bác giải thích cho mọi người. — Nếu An-nhiu-ta của tôi mà biết được nó thì tôi không sống nổi trên trái đất này nữa đâu... — Bác cười láu lỉnh, đôi lông mày nhướng lên, rõ là bác đang rất khoái vì biến cố khác thường này, một thiếu phụ chú ý và gửi lời chào đến bác.

        — Không có gì đâu, bà vợ sẽ hiểu và không cáu bực đâu! — Pa-ven cười, nói với bác.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2020, 05:50:37 am

        Lúc này anh thấy thật dễ chịu thoải mái, vì được thực sự nghỉ ngơi và sống giữa những con người rất vui vẻ.

        — Cậu mừng hụt rồi, Cô-li-a ạ! — Anh nói to và nhìn Ô-khốt- nhi-cốp đang quấn tròn chiếc khăn bông trên mái đầu đi gan như phụ nữ. — Những chiếc khăn như thế, các chị thường chỉ tặng người yêu thôi... Còn anh thì đã có gì nhỉ? Thử đưa xem nào, đưa đi... — Anh quay lại phía Xvét-nhi-cốp ngắm nhìn — Chiếc túi đẹp thật, các đường khâu, thêu rất kỹ xảo lành nghề. Đây là vật quý, có giá trị đấy. —  Pa-ven nói, giọng khâm phục.

        Anh muốn hôm nay tất cả các chiến sĩ đều được thỏa mãn, hài lòng. Anh hài lòng nhận thấy họ xứng đáng được nhận những chiếc tất len ấm áp và các tặng phẩm khác, như thế lòng nhiệt tình của họ càng cao.

        — Báo cáo đồng chí đại đội trưởng. — Đru-giơ-nhi-cốp dò hỏi. — Khi nào chúng ta tiến công được, chưa có tin gì hay sao?

        Anh lửa hồng từ bếp lò chiếu vào khuôn mặt nghiêng nghiêng của anh: vầng trán cao, sống mũi hơi gãy và chiếc cằm bè nhọn. Giá như biết được trước giờ phút trọng đại đó...

        Pa-ven suýt nữa thì trả lời: « Sáng ngày mai, đồng chí Đru-giơ- nhi-cốp ạ, sáng mai chúng ta sẽ cùng nhau tiến công ». Tất nhiên, anh không thể hứa trước điều gì mà bản thân anh chưa tin tưởng. Anh nói to bằng cái giọng trầm trầm của mình để át đi tất cả những tiếng ồn ào khác:

        — Ngày mai chúng ta sẽ kỷ niệm ngày lễ tháng. Mười sao cho lũ phát xít phải nhớ đời! Và giờ phút trọng đại đó không còn xa nữa đâu. Chính chúng ta sẽ giáng lên đầu chúng những đòn đích đáng.

        Anh đứng dậy, tựa đầu vào vách hầm.

        — Nhất định sáng mai bọn quỷ sẽ bò sang ta, — anh nói. — Được rồi, cứ để chúng sang lần nữa nếu chúng cảm thấy bị thua như thế là ít. Đúng không các đồng chí? Cứ để chúng thử một lần nữa.

        Ô-khốt-nhi-cốp bỗng lột chiếc khăn ra khỏi đâu, rồi đứng dậy, dáng linh hoạt nhanh nhẹn, đôi mắt ánh lên vẻ vừa ngây thơ vừa dũng cảm và cất giọng ngâm nga:

        Hãy siết chặt đội ngũ, không lùi bước
        Vì hòa bình tự do, vì hạnh phúc trẻ thơ
        Trái tim ta còn đập, ta còn chiến đấu
        Tiêu diệt loài phát xít sói lang !

        —Từ trung đội một, Pa-ven và Ê-li-xây-ép đi đến trung đội ba, trung tâm tuyến phòng ngự của đại đội. Ở đây, trong ngôi nhà đá nhỏ bé, hiếm hoi còn nguyên vẹn, có khoảng một nửa các chiến sĩ đang ngồi quây quần quanh chiếc bàn, trên bày đầy ca men và cốc chén, hình như họ vừa ăn tối xong. Căn buồng vuông vắn có chiếc lò sưởi kiểu Nga, chiếc đèn dầu tỏa ánh sáng yếu ớt, hất lên trên bức tường trắng những bóng dài cao lêu đêu. Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-rốp- na — nữ chủ nhân — một phụ nữ đẫy dà, mặt mũm mĩm, lông mày thưa, tóc búi gọn sau gáy, đang đứng cạnh bếp lửa hồng, hai bàn tay mập mạp đặt trên bụng.

        — Chào chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-rốp-na, chị còn tiếp khách chứ ? — Pa-ven vui vẻ hỏi, rũ rũ tuyết ở người và ủng xuống.

        — Ôi chao! Mời các anh vào đi... — Chị trả lời, giọng bao dung, thân mật.— Lạnh cóng cả rồi, mời các anh vào đi.

        Pa-ven cũng như mọi người trong đại đội đều biết chị có hai con trai đang chiến đấu, một ở Lê-nin-grát, một ở miền nam, còn bản thân không thể đi khỏi đây được vì không có chị thì mọi việc còn khó khăn hơn. Những lúc trận đánh tạm dừng, các chiến sĩ thường chạy đến chỗ chị để hơ quần áo, sưởi ấm, uống nước chè, quấn lại xà cạp. Và chị không phân biệt một ai, quan tâm đến mọi người, thường thết họ khoai tây, thu dọn, rửa bộ bát đĩa, dính hộ cúc áo và những trường hợp căn thiết, chị có thể làm cả công tác cứu thương nữa. Trong hoàn cảnh nào chị cũng luôn giữ vẻ đàng hoàng, chững chạc, vui tươi, nhẹ nhàng; đây quả thực là một đức tính, một thái độ hết sức quan trọng trong cái vành đai lửa đạn và đổ nát này.

        — Giá như chị đi sơ tán khỏi thành phố trước đây thì hay quá. —  Đôi khi mọi người khuyên chị. — Hầm trú ẩn chỗ chị không tốt lắm đâu...

        — Tôi đã nói rồi mà... — Chị mỉm cười trả lời. — Các bạn yêu quý ạ, tôi chỉ sợ mấy con gián thôi...

        Mọi người thôi không khuyên can chị chủ nhà nữa, vì họ cũng sợ là nếu chị đi thì cái câu lạc bộ chiến sĩ này sẽ không còn tồn tại.

        — Chào anh Ê-Ii-xây-ép ! — Chì nhìn chính trị viên. —Đã lâu không thấy anh đến thăm. Anh vẫn mạnh khỏe đấy chứ? — Ê-Ii-xây- ép lúc đó hơi ngượng. — Mời anh ngồi uống nước cho ấm người đã...

        Chinh trị viên chỉ gật đầu, không nói lời nào... Sau đó mọi việc lại diễn ra như ở trung đội một. Ê-li-xây-ẻp nói chuyện và chúc mừng ngắn gọn các chiến sĩ nhân ngày lễ và bắt đầu trao quà tặng... Pa-ven nhìn thấy I-van Bô-cốp ngồi ở bàn, anh rất mừng và vội đến ngồi cạnh anh bạn. Mấy ngày hôm nay bận rộn với nhiệm vụ mới nên anh và Bô-cốp ít gặp nhau hơn.

        — Thế nào Va-nhi-a, công việc ra sao rồi? Tình hình Ma-ri-a như thế nào ? Mình nghe nói không có gì nguy hiểm lắm phải không ? —  Anh hỏi dồn dập. Bô-cốp đang tư lự, nhìn lại bạn với vẻ không hài lòng. Mặt anh còn lấm lem, râu mọc tua tủa ở cằm.

        — Đã phải mổ lần thứ hai rồi. — Anh trả lời như miễn cưỡng. —  Phải tiếp máu. Cô ấy bị mất nhiều máu lắm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2020, 05:51:14 am

        Chung quanh vẫn ồn ào. Không ai chú ý đến họ. Pa-ven đặt tay lên vai Bô-cốp. Anh rất muốn được an ủi vỗ về bạn, làm cho anh ta vui vẻ phấn khởi như tất cả mọi người trong buổi tối trước ngày lễ này.

        — Va-nhi-a ạ, hãy tin mình. — Anh cố giữ giọng nói đầy tin tưởng. — Mình đã hỏi bệnh viện và được biết rõ là Ma-ri-a nhất định sẽ khỏi... Mình không việc gì phải nói dối cậu đâu.

        Bô-cốp né mình tránh Pa-ven, hình như anh không thích sự an ủi, thông cảm.

        — Hôm nay, trước khi trời tối, tôi đã đạt được thằng thứ chín. —  Anh nói, giọng lạnh lùng. — Còn thiếu một thằng nữa là đủ mười...

        Pa-ven ngạc nhiên nhìn bạn.

        — Cậu đã giết được chín thằng Đức cơ à? — Anh hỏi lại. — Thế cơ đấy! Va-nhi-a, cậu cừ quá! Còn việc Ma-ri-a, cậu đừng lo. Các bác sĩ đã hứa danh dự là cô ấy sẽ bình phục.

        — Rõ ràng thằng quan sát nó biết. — Bô-cốp vẫn nói tiếp, tựa như bỏ ngoài tai những lời của Pa-ven. — Từ lâu tôi đã để ý tìm chỗ nó đứng, thằng hèn hạ khốn kiếp, tôi đã phải dành cho nó tới hai viên đạn.

        — Bô-cốp đâu, quà náy! — Một người gọi to và đưa cho anh gói quà.

         Nhưng không chú ý đến gói quà, anh cẩu thả vứt lên bàn.

        — Nếu như tôi có kính ngắm quang học! Giá cậu đề nghị được với ban tham mưu chuyện này thì hay quá. — Anh nhìn Pa-ven, đôi mắt mở to ánh lên niềm khao khát của người xạ thủ.

        — Mình đã nói với tiểu đoàn rồi. Cậu sẽ là người được ưu tiên số một. — Pa-ven nói. — Dù sao chăng nữa thì cậu cũng nên xem mọi người gửi cho cậu những gì chứ? — Anh nhắc đến gói quà.

        — Đấy là chuyện vặt... — Anh nói, cố gượng cười rồi im lặng, những sợi tóc xoăn của anh rối bù rủ xuống trán và lông mày.

        — Sao lại là chuyện vặt ? Pa-ven hơi bực. — Mọi người đi quyên góp chuẩn bị, còn cậu lại bảo là chuyện vặt... Xin cậu hãy nghe tôi, đồ bướng bỉnh ạ. — Anh đập bàn tay xuống đầu gối vì nóng lòng muốn cho Bô-cốp yên tâm. — Người ta khẳng định với tôi là Ma-ri-a sẽ khỏi, cậu không tin tôi điều gì nào?

        — Họ cho tôi vào thăm cô ấy. — Bô-cốp nói, mắt chớp chớp. —  Cô ấy gọi tôi rất khẽ như thế này «Va-nhi-a, em sắp ngồi dậy được rồi». Mặt không còn hột máu, còn mấy ngón tay thì run run. Giá như tôi bị đánh mười lần còn hơn là để cô ấy phải chịu đựng như thế.

        Pa-ven cười buồn rầu nhìn bạn, day dứt khi thấy mình bất lực trong việc giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, lúc này trong ngôi nhà ồn ào náo nhiệt hơn.

        — Chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-rốp-na, người chủ nhà đầy vinh dự của chúng ta! — Một chiến sĩ thân hình to khỏe, đâu hói trọc lốc cất tiếng nói. — Chúng tôi xin chân thành tặng lại chị vì sự chăm nom, vì sự vất vả của chị đối với chúng tôi. Sao chị nỡ từ chối chúng tôi ?

        — Họ tặng các anh, thì các anh cứ để mà dùng. Còn tôi đã có đầy dủ mọi thứ rồi. — Chị trả lời, giọng có vẻ hơi khinh khỉnh.

        Các chiến sĩ vây quanh chị, truyền nhau đưa biếu lại chị tất cả những gì tốt nhất trong gói quà họ nhận được. Một người đặt vào tay chị đôi bít tất khâu bằng vải, người khác thì tập phong bì, người nữa đôi tất tay, có người đãi chị những chiếc kẹo. Các chiến sĩ đều cố gắng biếu tặng chị chủ của ngôi nhà nương náu tuyệt diệu này đến mức nào đó. Nhưng sự hào phóng của họ chỉ ở phạm vi những đồ vật mà họ có được. Chị chủ nhà chỉ mỉm cười, đứng nguyên tại chỗ, tay khoanh trước ngực và một mực gạt ra ngoài tất cả những món quà các chiến sĩ đem đến.

        — Chị cũng là một chiến sĩ của chủng tôi. — Ip-lép, tiểu đội trưởng, một thanh niên còn trẻ, tóc đen, mũi khoằm, thuyết phục chị. — Tóm lại, chị là chỉ huy của đại đội hậu cần. Có nghĩa là chị cũng được công nhận là chiến sĩ.

        Điều đó chưa đủ đâu. — Chị bình tĩnh nói. — Không, các anh có vị trí của mình, thì ngược lại tôi cũng có chỗ đứng của tôi. Tôi chỉ lo lắng như thế thôi.

        — Chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-róp-na! — Một chàng trai cao, đeo kính, nói khẩn khoản. — Tất cả mọi người đều yêu mến, kính phục chị! Chị đối với chúng tôi như người mẹ thân thương.

        — Cậu nói gì vậy, chàng trai nhỏ dịu hiền! — Chị chế nhạo. —  Cậu làm tôi nhớ đến những đứa con trai! Tôi đang đau lòng thương nhớ đến hai đứa con đây! Còn cậu nữa.

        Nhưng một cái gì đó mới mẻ thoáng qua khuôn mặt đẫy đà của chị, dường như một nỗi sợ hãi huyền bí nào đó đang đe dọa chị... Chị im lặng quay phắt người lại, rồi kêu lên, giọng kiên quyết.:

        — Tôi không lấy đâu, thế thôi! Tôi sẽ không nhận một thứ gì của các anh đâu! — Chị cau mày. — Những chàng trai yêu quý của tôi! Những đứa trẻ! Đúng, tôi... sẵn sàng hiến máu cho các anh nữa nếu cần... — Chị vung tay vẻ bực tức cao độ và quay đi. — Các anh ạ! Đừng làm tôi buồn! — Chị lẩm bẩm và nấc lên.

        Các chiến sĩ liền im lặng, họ sợ hãi nhìn nhau. Mọi người đều không ngờ đến điều này. Pa-ven đứng dậy đi lại gần các chiến sĩ. Chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-rốp-na đứng quay lưng về phía anh, mớ tóc dày, mượt mà xõa xuống, chị lấy ống tay áo lau nước mắt. Bóng dáng cao lớn của chị in sẫm một vệt trên tường im lặng và Pa-ven có cảm tưởng đó là hình một người khổng lồ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2020, 05:52:30 am

        ... Khi Pa-ven và Ê-li-xây-ép đến trung đội hai, tuyết rơi đã yếu hơn. Bầu trời ẩm ướt đầy mây đen tương phản với mặt đất màu trắng phủ tuyết dày. Những phát pháo hiệu đủ màu được bắn lên liên tục ở làng Mư-skin trông cao và rõ hơn trước. Nhưng gió vẫn không giảm, vẫn lướt nhanh trên mặt đất và có cảm giác như từ những kẽ nứt vô hình nào đó trên kia đã phun lên những làn hơi lạnh buốt, thổi tung các đám bụi tuyết lúc thì xanh sẫm, lúc thì hồng tuy thuộc ở ánh pháo sáng phía xa xa phản chiếu lại.

        — Một đêm đẹp trời, — Pa-ven nói vẻ hài lòng. — Phải nói là tuyệt diệu nữa.

        — Nhưng trời vẫn còn lạnh lắm. — Ê-li-xây-ép tiếp lời, — Mình như đoán được ý Pa-ven định nói gì khi khen cái buổi tối này, — ông nói thêm, giọng trầm tư, dìu dịu hơn, khác hẳn câu trước. — Ừ, chúng ta có những con người tốt thật! Họ đã làm được bao nhiêu việc, vượt qua biết bao khó khăn... Hôm nay họ nhớ lại tất cả...

        — Chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ-rốp-na là một phụ nữ tuyệt vời! — Pa-ven nói to, — Nếu có thể thì "tôi sẽ đề nghị tặng thưởng cho chị huân chương vì lòng đôn hậu!

        — Số phận mỗi con người chúng ta đều có một lịch sử lớn lao riêng, — Ê-li-xây-ép nói tiếp. — Nhưng tất nhiên, điều chủ yếu không phải là ở số phận... Mà chủ yếu sứ mệnh lớn lao của chúng ta là giải phóng toàn thể loài người. Và chính nó đã nâng mỗi con người chúng ta lên tầm cao chưa từng thấy. Hinh như tôi diễn đạt còn mơ hồ lắm phải không ?

        — Không đâu, nói chung mọi người hiểu được, — Pa-ven nói. Anh cởi khuy cổ áo ca pốt, đưa đôi má ra hứng làn không khí lạnh mùa đông.

        — Một phần tư thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi chúng ta bắt đầu cuộc hành quân tới chủ nghĩa cộng sản. — Ê-li-xây-ép vẫn lầm rầm nói, — Tôi vào Đảng từ năm chín trăm mười bốn. Nhưng lúc bấy giờ thì mới chỉ hiểu chủ nghĩa cộng sản qua lời nói thôi. Tôi muốn nói rằng mọi người chúng ta giờ đây đã trưởng thành và thay đổi rất nhanh. Tôi đã nhận ra điều này rất rõ rệt.

        — Đồng chí là người hạnh phúc, đồng chí Ê-li-xây-ép ạ! — Pa- ven nói, giọng biểu lộ vẻ kính trọng.

        — Tôi, như người ta vẫn thường nói, chi là người làm công tác đảng cơ sở. — Ê-li-xây-ép suy nghĩ một chút — Nhung tất nhiên, tôi đã trải qua một cuộc sống rất thú vị.

        Trung đội hai phòng thủ ở chính ngay khu làng cửa ô, dóng trong các ngôi nhà đổ và cháy dở.

        Cuối lối đi vào hầm trung đội, hai chiến sĩ súng máy A-nhi-xi- mốp và Bua-la-tren-cô đều là thợ mỏ ở trung đội một chuyển sang đang đứng gác trước ngôi nhà gỗ bị cháy trụi. Pa-ven thoáng ngạc nhiên khi nhìn thấy ở đay còn người thứ ba nữa, vợ của A-nhi-xi-mốp. Pa-ven nhớ rất rõ người phụ nữ đầy nghị lực và bướng bỉnh này hôm trung đoàn tiến quân ra tuyến phòng thù.

        Có trời mới biết được chị ta làm cách nào để vượt qua được tất cả các trạm gác đến đây hôm nay. Nhưng dù thế nào đi nữa, chị vẫn được cùng chồng đón mừng ngày lễ. Điều này làm cho Pa-ven thích thú, mặc dù tất nhiên là vô kỷ luật.

        Một chiếc chăn phơi dài trên dây, che một góc hầm kho, chung quanh xếp thùng tô nô tròn làm thành bàn và toàn trung đội đang ngồi vây quanh. Pa-ven nhận xét thầm sự phòng ngừa trước như thế cũng không thừa bởi vì ánh sáng từ ngọn đèn treo đang cháy ở góc phòng có thể hắt qua lỗ bắn súng máy...

        Nhưng dù sao thì sự xuất hiện của một người lạ ở nơi tiền tiêu này cũng là vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Pa-ven làm như không nhìn thấy người phụ nữ: anh rất không muốn trong những buổi tối như đêm nay lại đối xử gay gắt với các chiến sĩ của mình. Nhưng trung đội trường trung đội hai, thượng sĩ Xi-nhe-nhi-cốp — một người đã đứng tuổi hay cáu gắt, — lại rất bực khi nhìn thấy vị khách không mời này trong lúc Ê-li-xây-ép đang chúc mừng các chiến sĩ. Đợi chính trị viên nói xong, thượng sĩ cáu kinh hỏi:

        — Ai cho chị lại đến đây, nữ công dân A-nhi-xi-mốp-va! Tôi đã ra lệnh nghiêm cấm chị là...

        Chị phụ nữ mặc chiếc blu dông bằng lông thú, quàng chiếc khăn vàng, chị lướt mắt nhìn anh ta.

        — Anh hãy cấm vợ anh ấy, còn vợ người khác thì đừng có đụng vào. — Chi trả lời khá chanh chua.

        — Ma-ru-xi-a! — A-nhi-xi-mốp nghiêm khắc giật giọng gọi,— Em đang nói chuyện với ai mà có giọng thế hả?

        — Thứ lỗi cho em, anh Pê-chi-a! — Giọng chỉ thay đổi hẳn, khẽ khẽ ngậm ngùi. — Mọi người đều đuổi em đi, đều không cho phép... Khi nào anh thử đi xem, chịu biết bao nỗi vất vả... Đến đây rồi lại bắt đầu nói tràng giang đại hải... Hình như em là kẻ xa lạ với anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2020, 07:50:15 am

        Mặt chị khuất trong bóng tối, nên không nhìn rõ, nhưng Pa-ven mỉm cười nghĩ lúc người phụ nữ này nói chuyện với chồng thì tất cả sự tự chủ hiên ngang của chị biến mất ngay.

        — Đừng chấp cô ấy, đồng chí trung đội trưởng ạ! — A-nhi-xi- mốp nói. — Các bà vợ họ không hiểu điều lệnh quân đội đâu. Máu du kích trong người họ hãy còn nhiều lắm, có lẽ chính đồng chí cũng biết, chẳng cần cáu giận họ làm gì.

        — Đây là lần cuối cùng đấy. —Xi-nhe-nhi-cốp làm lành. — Nếu trái lại, anh sẽ phải chịu trách nhiệm trước tôi đấy, A-nhi-xi-mốp ạ, nghe rõ chưa?

        — Thế là thế nào? — Ma-ri-a phản đối. — Tôi thì dĩ nhiên là không thuộc quyền đồng chí rồi, còn vì tôi mà một người khác vô tội lại phải chịu trách nhiệm? Điều lệnh nào quy định như vậy thế? Được, tôi sẽ đến tận ông thiếu tướng chỉ huy anh tôi hỏi xem...

        — Ma-ru-xi-a, đừng có vượt qua giới hạn! — A-nhi-xi-mốp lại ngăn vợ. — Em im ngay.

        — Em sẽ im lặng... Ôi! Bà con ơi! — Chị ta lại kêu lên vẻ không hài lòng.

        Và chị lại vui vẻ tươi tỉnh ngay khi A-nhi-xi-mốp đặt lên gối mình gói quà được tặng.

        — Chà Pê-chi-a-sa, đôi này vừa chân anh đấy! — Chị ta nói khi nhìn thấy dôi tất chân ấm áp nằm giữa gói quà.— Chỉ tiếc là gót không dài lắm... Em đi chật hơn này.

        Chị cúi xuống gần ánh đèn và lúc ấy Pa-ven mới nhìn thấy khuôn mặt bóng nhẵn tròn trĩnh cùng chiếc mũi dọc dừa với đôi môi đều dặn đẹp tươi của chị.

        Bên cạnh chị là A-nhi-xi-mốp vai hẹp, người hơi gù, râu ria lởm chởm, trông già hơn vợ nhiều. Nhưng như Pa-ven thấy rõ, những điều đó không làm giảm bớt tình cảm của đôi vợ chồng này. A-nhi-xi-mốp giở gói giấy và lôi ra từ trong chiếc khăn mùi soa một lọ nước hoa hình lục lăng. Vặn nút nhựa, anh hít hít cái chất lỏng trong suốt màu vàng nhạt ấy và hài lòng gật đầu.

        — «Hoa cẩm chướng ».—A-nhi-xi-mốp đọc nhãn hiệu lọ nước hoa. — Nước hoa chính phẩm đấy, của nhà máy « Bình Minh mới». Chà! Như thế...

        Anh đưa lọ nước hoa cho vợ:

        — Đây tặng em, Ma-ri-a Nhi-ki-tri-na! Không nhiều lắm nhưng để dùng những lúc cần thiết. — Anh nói.

        — Anh nói gì vậy, Pê-chi-a! — Chị vợ cau mặt, dưới ánh đèn, mặt chị ửng lên. — Giờ đây em còn dùng nước hoa để cho ai thưởng thức mới được chứ ?...

        — Cứ cầm lấy, cầm lấy... Đây là loại « Hoa cẩm chướng» em vẫn thích cơ mà.

        « Thật đúng là một chàng kỵ sĩ» — Pa-ven hài lòng thâm khen anh chiến sĩ bắn súng máy này.

        Chị vợ cầm lãy lọ nước hoa. A-nhi-xi-mốp lục tìm dưới chân mình và lôi ra một chai vốt-ca đã dở, có lẽ do vợ mang đến và vội vã giấu đi khi thấy đại đội trưởng.

        — Báo cáo các đồng chí chỉ huy, xin các đồng chí cho phép, nhân ngày lễ. — Anh nói to. — Ma-ru-xi-a bày bàn ra!

        Và không đợi đồng ý, anh rót nót chỗ rượu vốt-ca còn lại vào hai cốc con, chiếc ca nhôm, cốc vại và một chiếc chén bị gãy quai. Xi-nhe-nhi-cốp nhìn đại đội trưởng dò hỏi, hơi có vẻ nghi ngại.

        — Gì thế này các bạn! Trong buổi du ngoạn tuyệt trần như thế này, không uống mừng nhau là có tội đấy. — Pa-ven nói.

        — Cầu cho bọn phát xít bị tiêu diệt sạch, còn chúng ta sẽ khỏe mạnh, tốt đẹp mãi. — A-nhi-xi-mốp cất giọng khàn khàn, — Tóm lại, mọi việc sẽ như vậy, — Anh đưa đôi mắt chủ nhà xem mọi người đã cầm lấy phần của mình chưa ?

        — Còn em, Ma-ru-xi-a, sao lại không uống?

        — Em đã hoàn toàn bị say rồi, Pê-chi-a ạ! — Chị vợ trả lời, giọng nhỏ nhẹ pha lẫn chút diệu bộ.

        — Không, chị phải uống cùng chúng tôi đã... Không uống, không được đâu. — Pa-ven nói và đưa cho chị chiếc cốc vai —  Nào, chúc mừng chiến thắng sắp tới của chúng ta. chúc mọi người mạnh khỏe.

        — Chúc mừng ngày kỷ niệm tháng Mười. — Ê-li-xây-ép nói khi nâng cốc. — Chúc ngày lễ vĩ đại của chúng ta!

        Tất cả mọi người đứng dậy chạm cốc nhau. Tuy họ chỉ có một nhóm trong tầng hầm tranh tối tranh sáng trên vị trí tiền tiêu xa nhất của tuyến phòng thủ, nhưng tất cả đều cảm thấy mình bây giờ như là những bức tường vững chắc không thể phá vỡ nổi. Gió luồn qua lỗ cửa, phả hơi lạnh lên mắt mọi người, thổi phồng chiếc chăn vắt trên dây. Những hạt tuyết nhỏ cũng bay vào, phủ lên nền trắng muốt. Chung quanh vị trí của họ là cánh đồng bao la trải dài bị những đường hào chằng chịt cắt ngang đọc. những hố đạn đào nát, lửa vẫn âm ỉ cháy: cánh đồng của những trận chiến đấu ác liệt đẫm máu... Nhưng vượt lên trên, mạnh hơn cả những gì kinh khủng tàn ác của chiến tranh là lòng dũng cảm lạc quan của con người, mà mỗi người trong số họ đều nhận mình chỉ là một phần nhỏ bé của cả một sức mạnh lớn lao của toàn thể nhân dân đang chiến đấu.

        Khi chạm cốc với Xi-nhe-nhi-cốp, vợ A-nhi-xi-mốp đã nói như chẳng có gì xảy ra.

        — Không hợp lắm, đồng chí trung đội trưởng ạ, đồ nhắm ở đây còn đạm bạc lắm. Khi nào chiến thắng, đồng chí tới chỗ chúng tôi chơi, tôi sẽ đãi đồng chí bánh nhân thịt.

        Tất cả đàn ông đều nhanh chóng uống hết chỗ rượu của mình, khoái trá kêu khà khà, mời nhau đồ nhắm. Còn vợ A-nhi-xi-mốp thì nhấm nháp từng ngụm nhỏ, cạn cốc rượu và với vẻ hài lòng thỏa mãn lấy góc chiếc khăn chấm miệng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2020, 07:50:35 am

        Lần này, chị tam biệt chồng không cố một giọt nước mắt. Chị khẽ ôm và hôn anh ba lần.

        — Tạm biệt anh nhé, Pê-chi-a, cám ơn anh lắm. — Chị nói khẽ. — Anh đừng lo lắng về bọn em... Em sẽ đến thăm anh nữa. — Chị quay về phía Xi-nhi-nhi-cốp, nói to hơn. — Tốt nhất là đồng chí dừng ngăn cản chúng tôi, đồng chí trung đội trưởng ạ, thứ lỗi cho tôi nhé!

        ... Trên đường trở lại hầm chi huy, Pa-ven tiếc rẻ khi nghĩ tới Na-ta-sa không có mặt ở đây cùng anh và không biết ở nhà bố anh và Na-ta-sa đón mừng buổi tối này như thế nào. Sau này, khi nhớ lại tất cả, anh phải thú thật với mình là anh rốt mong nhớ cô... Sáng hôm sau, trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của họ, Pa-ven đã phải ghìm mình rất nhiều khi ngắm nhìn vợ, tất cả mọi vẻ của cô, đều gợi nén sự âu yếm dịu dàng nồng thắm. Khi nhìn theo chiếc xe ô tô chở Na-ta-sa đang lao nhanh, lần đầu tiên trong dời, anh cảm thấy một cách da diết là cô đang xa anh rất nhiều!...

        «Có lẽ tốt nhất là cô ấy không đến, không xuất hiện ở đây». Pa-ven bỗng nói thành tiếng khi nhớ đến chuyến đi của Na-ta-sa. Nhưng ngay lập tức anh lại thấy mình tự lừa dối: chính anh đã biết ơn cô vô hạn trong chuyến đi thử súng cối này. Và mọi suy nghĩ của anh lẽ dĩ nhiên, lại quay về với những tưởng tượng lúc anh được gặp lại cô, nhưng không phải chỉ có mấy phút như hôm qua, mà là phải hàng tháng, hàng năm, hàng chục năm sung sướng sống bên nhau. Anh đang thử hình dung con đường dài anh còn phải đi qua trong cuộc chiến tranh này để trở về nhà, thì bỗng nhiên anh ý thức được một cách rõ rệt khác thường là, thực ra anh mới chỉ bắt đầu bước những bước đầu tiên trên con đường đó mà thôi... Lễ kỷ niệm ngắn ngủi của người lính được tổ chức trong đêm chiến tuyến này sắp kết thúc, một ngày mới của cuộc chiến đấu gian khổ lại bắt đầu. Và như thường lệ, sau những phút tâm hồn được nghỉ ngơi thoải mái, thì những giờ phút ác liệt nhất sẽ lại đến, Pa-ven thấy rõ điều đó trong lúc này.. Anh không sợ điều gì cả, nhưng không khí đêm nay dường như lạnh hơn, gió thổi mạnh và tất cả chung quanh trở nên khác lạ, ác liệt hơn.

        Hình như những người cùng đi với anh lúc này cũng có vẻ khác thường. Không ai trong họ nói câu nào cả. Vợ A-nhi-xi-mốp vượt lên trước các cán bộ chỉ huy, một mình bước đi giữa cảnh đổ nát và nhanh chóng khuất sau cánh cổng. Đến ngay trước lối cửa hầm, Pa- ven cảm thấy trong bóng đêm bao quanh anh, thực sự có cái gì đó đang thay đổi. Quay nhìn lại sau, anh thấy phía nam, nơi bọn Đức đang chiếm đóng, các pháo hiệu phóng lên sáng rực chao đảo lúc vút lên, lúc bay xuống, tạo thành những vết ngoằn ngoèo và chìm vào bóng tối đen trên làng Mư-skin. Điều đó thật khác thường, vì theo lệ, tối nào bọn Đức cũng rất cần mẫn chiếu sáng tất cả những con đường dẫn đến vị .trí bọn chúng.

        — Có cái gì mới mẻ phải không? Suốt đêm nay chúng ta không chợp mắt, đồng chí Ê-ỉi-xây-ép nhỉ? — Pa-ven nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2020, 07:51:13 am

7

        Sau khi trở về vị trí chỉ huy, Pa-ven gọi ngạy điện thoại liên lạc với tiểu đoàn trưởng và anh chỉ vừa kịp thông báo tinh hình thì trong tầng hầm đã nghe tiếng gầm của xe tăng ở xa xa. Cùng với chính trị viên, anh vội vã chạy lên trên... Mấy phút đầu, không thể nhìn thấy gì ở phía bọn Đức cả, nhưng căn cứ theo tiếng máy ầm ì vang lên trong bóng tối thì phải có tới hàng chục chiếc tăng đang hoạt động. Rồi bỗng nhiên trong màn đêm thăm thẳm, hầu như cùng một lúc, hàng loạt ngọn đèn pha bật sáng, xuyên thủng bóng đêm náo động những tiếng gầm rú. Xe tăng Đức song song tiến vào các vị trí phòng thủ của ta, cố rọi các ngọn đèn pha sáng chói vào giữa trận địa hòng làm cho các chiến sĩ bảo vệ thành phố bị bất ngờ vì sự xuất hiện đột ngột của chúng.

        — Kiểu này là đòn tâm lý đây ! — Anh liên lạc đứng cạnh Pa-ven kêu lên. — Đồng chí đại đội trường ạ, đây là đòn tiến công tâm lý đấy. Chúng muốn làm ta hốt hoảng...

        Ánh đèn pha từ xa chiếu thẳng vào trận địa đại đội. Những vệt sáng dài quệt đi quệt lại trước mắt họ, lúc chiếu hắt lên trên, lúc chúc xuống dưới đất, lúc lại mất đi khi những chiếc tăng chúi mũi hoặc nghếch lên. Nhưng điều đó chỉ có thể phỏng đoán thôi, có lẽ những vệt trắng tròn đó bản thân chúng cũng bị trượt và nhấp nhồm trên mặt tuyết lộn xộn như gọn sóng.

        — Chú có nhìn thấy cái gì rõ hơn không? — Pa-ven thét lên hỏi Ê-li-xây-ép. — Bọn chúng đã quyết định thử bật đèn sáng đấy mà... Theo tôi, bọn chúng đã hoảng hốt mất trí rồi!

        Và ngay sau đó, phía sau anh vang lên những loạt đạn pháo... Pháo ta đã lên tiếng.

        Đòn tâm lý! Lũ khốn kiếp nghĩ ra cái gì nữa. — Pa-ven nghĩ thầm khi anh ra mệnh lệnh và phái các liên lạc đi. — Trò chơi đèn này không dọa được tinh thần mình đâu. Chúng muốn dọa ai cơ chứ! », Anh chợt nghĩ đến các chiến sĩ của đại đội A-nhi-xi-mốp, Xve-nhi- cốp, Mi-khai-lốp, Ô-khốt-nhi-cốp, Đru-giơ-nhi-cốp, Bô-cốp và một sự tức giận, cáu bực không chịu được dâng lên trong lòng Pa-ven: « Ngay bây giờ chúng tao sẽ cho bọn mày biết thế nào là đòn tâm lý». Đúng là những thằng ngu đần! Anh rủa thầm, lòng dãy khinh bi nhìn về phía kẻ thù. Không tìm thấy mục tiêu nào tốt hơn là bắn thẳng vào những ngọn đèn pha của bọn mày...

        ... Cuộc chiến đấu khốc liệt tiếp tục diễn ra suốt nửa đêm về sáng. Bọn Đức tuy bị thiệt hại vì pháo binh của ta, song vẫn ngoan cố tiến lên trước. Lúc bật đèn, lúc tắt đèn, bọn chúng hòng làm chói mắt các chiến sĩ bảo vệ tuyến, súng lớn ở xe tăng vẫn nổ không ngừng. Đã hai lần bọn Đức cố xông đến gần các vị trí của đại đội Pa-ven nhưng chúng đã vấp phải lựu đạn và chai xăng chống tăng nên không tiến được. Mãi đến gần sáng, bọn Đức mới chịu ngừng tiến cổng, những chiếc tăng còn nguyên vẹn trườn về vị trí xuất phát. Khi bầu trời phía đông ửng hồng, Pa-ven nhìn thấy trước mặt mình một cánh đồng tuyết phủ trắng xóa nhưng không sạch đẹp như trước nữa mà rất bừa bãi, bẩn thỉu, lấm tấm những hồ đạn đen ngòm, đất bị xới lên lổn nhổn. Những khung xe tăng trơ trụi cháy sém đang bốc khói âm ỉ, những hố đạn sâu hoắm làm tung tóe đất cát như nói lén sự ác liệt của trận giao tranh vừa rồi... Bước đi bị vấp loạng choạng không phải vì mệt mà vì một sự lạ lùng khó tả nào đó tựa như là sự nôn nao khó chịu, Pa-ven quỳ xuống trên bờ hào. Anh đưa tay nẳm một nắm tuyết xám xịt, đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, và xoa xoa vào mặt mình.

        Trời đã sáng hẳn. Ngày bảy tháng mười một đã đến...

        Xta-Iin thong thả bước lên lễ đài lăng Lê-nin và đến trước máy phóng thanh. Chỉ còn vài phút nữa là đúng tám giờ sáng. Tuyết đã ngừng rơi, nhưng trong bầu không khí, những hạt băng trắng lấp lánh vẫn không ngừng tung bay. Mát-xcơ-va vẫn trầm tĩnh sáng mờ mờ, hình như sau một đêm bước vào mùa đông, xung quanh tất cả đều sáng sủa hơn lên. Tuyết phủ kín quảng trường rơi trên mái tròn của tháp Va-xi-li Bla-gie-nưi, trên các tháp nhỏ của Viện bảo tàng lịch sử, trải dài trên lan can và những thành gờ. Và cũng như những buổi sáng mùa đông đầu tiên, màu trắng mịn màng của tuyết nhẹ luôn gợi nhớ tới phong cảnh quen thuộc nhưng có vẻ đẹp mới mẻ, nhẹ nhàng.

        Theo sau Xta-lin là các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước... Gió thổi và quay tròn trên quảng trường, những dải cờ đỏ treo trước các tòa nhà tung bay phần phật trước gió.

        Tiếng vỗ tay chào mừng vang lên trên lễ đài và hàng nghìn tiếng hô «U-ra» trải dài từ cầu Mát-xcơ-va đến tận phố Goóc-ki. Dường như những tiếng hô trang trọng, hùng mạnh đã làm những ngọn thông xanh đung đưa và vang động đến tận chân tường điện Crem-li...

        Đại tá Bốt-đa-nốp đứng trong nhóm các sĩ quan Bộ tham mưu phương diện quân miền Tây, cách lăng Lê-nin không xa lắm. Trên lễ đài vang lên những tiếng chào mừng rất to,mọi người đứng sát nhau vẫy tay hân hoan. Một vị thiếu tướng gầy, râu đốm bạc trong bộ lễ phục tướng kỵ binh huých khuỷu tay vào Bốt-đa-nốp, giữ đúng cự ly như trong hàng quân. Bốt-đa-nốp không cao nên anh phải đứng kiễng chân lên để nhìn cho rõ hơn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2020, 08:59:20 am

        Tổng tư lệnh mặc quân phục màu xám và đội mũ sĩ quan lưỡi trai... Đồng chí im lặng đưa mắt lướt nhìn đoàn quân đứng tề chỉnh trên quảng trường chuẩn bị lễ duyệt binh truyền thống tháng Mười. Họ xếp hàng theo khối, dọc theo cửa hàng Gum và trải dài đến tận bờ sông Mát-xcơ-va. Hơi thở nóng ấm của mọi người tỏa ra hòa lẫn với tuyết, phủ một lớp mỏng trên các mũ lưỡi trai và hàng lưỡi lê thẳng tắp trong hàng quân. Xta-lin từ từ lướt mắt nhìn các khối vuông từng tiểu đoàn một. Bỗng nhiên, đồng chí mỉm cười thân mật hiền từ như khi gặp gỡ những người thân mật nhất và giơ tay vẫy chào, chúc mừng các chiến sĩ. Tiếng« U-ra », tiếng hoan hô lại vang dội kéo dài khắp nơi.

        Bốt-đa-nốp đứng ưỡn người khi vừa nghe tiếng hô « Nghiêm !». Trong phút này, anh cảm thấy trong mình có một cái gì đó rất xúc động, trang nghiêm...

        Anh lướt mắt nhìn lên trời: bầu trời vẫn trong trẻo yên tĩnh, chỉ có ở hướng đông, ánh bình mình hồng nhạt hơn vì bị những đám mây sà thấp trên thành phố che khuất... Những bờ tường nhấp nhô hình răng cưa và các tháp nhọn điện Crem-li hình như sẫm màu hơn trên nền tuyết trắng, những nắm tuyết quay tròn trong gió, thốc ra từ các lỗ châu mai nhỏ hẹp, cũ kỹ, tựa như khói thuốc súng bốc lên...

        Một tiếng chuông đồng hồ gióng giả ngân vang lên không trung và chưa kịp lắng đi thì tiếng thứ hai đã tiếp. Tiếng chuông đồng hồ điện Crem-li cuối cùng vừa dứt, từ trong cửa vòm của tháp Xpa-xki, một kỵ sĩ đội mũ lông bạc phi ngựa ra quảng trường.

        Bốt-đa-nốp nhận ra ngay nguyên soái Bu-đi-on-nưi. Trung tướng chỉ huy cuộc duyệt binh cũng phi ngựa tới đón nguyên soái. Khi hai kỵ mã đến đối diện nhau, Bu-đi-on-nưi khẽ ghìm cương con tuấn mã của mình lại. Con ngựa cào tung tuyết dưới chân.

        — Báo cáo đồng chí nguyên soái Liên Xô! — Trung tướng đứng nghiêm trên bàn đạp, báo cáo, — Bộ đội quân khu Mát-xcơ-va đã sẵn sàng tiến hành lễ duyệt binh kỷ niệm lần thứ hai mươi tư Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại.

        Tiếp nhận lời báo cáo ngắn gọn của Tư lệnh bộ dội duyệt binh, nguyên soái Bu-đi-on-nưi giật cương phi cho ngựa phóng lên và vị chỉ huy lễ duyệt binh cũng phóng ngựa theo sau ông; Tất cả diễn ra rất đúng với các nghi thức truyền thống, đều hòa nhịp như một bản hòa tấu. Hôm nay, Bốt-đa-nốp cảm thấy tất cả những gì ở Mát-xcơ- va,- thành phố đã trở thành pháo đài chiến đấu nằm gọn trong các hàng rào chướng ngại vật, những ụ chống tăng vững chắc, đều tuyệt đẹp cả...

        Như bị mê hoặc, anh nhìn theo hai vị tướng đang phóng ngựa duyệt hàng quân, và nở nụ cười sung sướng, khi vị nguyên soái đã duyệt xong các đơn vị đang quay lại lăng và nhẹ nhàng nhảy xuống đất.

        Khi Bu-đi-on-nưi đi lên lễ đài, toàn quảng trường im lặng một lúc.

        — Đồng chí nhảy ngựa gọn quá! — Một giọng nói khe khẽ nào đó vẻ thỏa man, thốt lên sau lưng Bổt-da-nóp.

        Bỗng nhiên, có tiếng ầm ầm trên bầu trời làm Bốt-đa-nốp chú ý và hình như ở nơi xa nào đó, tiếng cao xạ bắt đầu vang lên... Anh lo lắng nhìn bầu trời... Nhưng rồi tiếng ầm ầm không còn nữa và bầu trời vẫn quang đãng, ánh hồng trên các đám mây đã mất đi...

        Xta-lin bước đến máy phóng thanh và ngay lúc ấy, không khí lặng ngắt bao trùm lên toàn quảng trường.

        — Các đồng chí chiến sĩ Hồng quân và Hải quân! — Giọng Xta-lin trầm tĩnh và hơi vang. — Các đồng chí chỉ huy và chính trị viên, các nam nữ công nhân, nông trang viên, các đồng chí lao động trí óc và các anh chị em trong vùng địch hậu đang tạm thời sống dưới ách phát xít Đức, các anh chị em nam nữ du kích quang vinh của chúng ta đang chiến đấu ở vùng địch hậu.

        Xta-lin kêu gọi mỗi con người Xô-viết. Lời kêu gọi của đồng chí được hệ thống phóng thanh truyền đi khắp Mát-xcơ-va, và ở khắp nơi, trong các căn hầm, trên đường phố, ở các phân xưởng nhà máy, ở vùng ngoại ô Mát-xcơ-va tuyết phủ, trên các trận địa sạm đen khói súng, nơi những người bảo vệ thủ đô đang đứng giáp mặt với cái chết, tất cả đều lắng nghe tiếng nói của đồng chí... Tiếng nói đó còn vang lên xa đến tận miền U-ran, Cáp-ca-dơ, đến Lê-nin-grát đang bị phong tỏa, vọng xuống những hầm sâu ám khói của các đội du kích trong rừng...

        — Thay mặt Chính phủ Xô-viết và Đảng Bôn-sê-vích của chúng ta, tôi xin nhiệt liệt chào mừng và chúc các đồng chí nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai mươi tư Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại!

        Các đồng chí! Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày lễ lần thứ hai mươi tư Cách mạng tháng Mười trong những điều kiện ác liệt nhất. Cuộc tiến công phản bội của bè lũ phát xít Đức và cuộc chiến tranh bắt buộc đã gây mối nguy cơ cho đất nước chúng ta. Nhiều vùng đất " đai của Tổ quốc đã tạm thời bị chiếm đóng, kẻ thù đã đến sát cửa ngõ Lê-nin-grát và Mát-xcơ-va.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2020, 08:59:57 am

        Xta-lin im lặng giây lát. Trên quảng trường yên lặng đến nỗi nghe thấy cả tiếng gió rít vờn trên tuyết.

        — Kẻ thù tính toán rằng chỉ ngay sau đòn đánh thứ nhất, quân đội của chúng ta sẽ bị tan rã, đất nước ta sẽ phải quỳ gối quy phục —  Xta-lin nói tiếp, — Nhưng kẻ thù đã hết sức sai lầm. Mặc dù bị tồn thất tạm thời, quân đội và các hạm đội của chúng ta đã bẻ gãy những đợt tiến công của kẻ địch trên toàn tuyến mặt trận, giáng trả chúng những đòn nặng nề, và đất nước ta, toàn thể đất nước ta, — Xta-lin nhấn mạnh, — đã được tổ chức thành một mặt trận thống nhất để cùng với quân đội, hạm đội của ta quyết đánh tan bọn Đức xâm lược.

        Gió thổi từng cơn mạnh. Tuyết rơi dày hơn trên các mái tháp tường điện Crem-li, và có cảm giác như những đợt khói thuốc súng tôn thêm các bức tường vững chắc cổ kính. Lá cờ đỏ tươi trải rộng bay phần phật trên mái vòm tháp cổ phủ tuyết trắng xóa của điện

        Crem-li nổi bật ỉên sau dãv tường cồ kính. Bốt-đa-nốp lại thấy người gai gai giống như bị lạnh bất thình lình. Hình như bản thân lịch sử, lịch sử vĩ đại của nhân dân Xô-viết đã được sáng tạo và tiếp tục phát triển ở đây, bên lăng của Lê-nin bất diệt, trên quảng trường thiêng liêng của Mát-xcơ-va.

        — Chả lẽ còn phải hoài nghi là chúng ta cỏ thể chiến thắng được bọn Đức xâm lược không? Ai có thể phủ định rằng Hồng quân của chúng ta đã nhiều lần đuổi các quân đoàn Đức được tán dương đến mây xanh phải tháo chạy hốt hoảng? Nếu đánh giá thực chất của chúng không phải qua những lời tuyên bố huyênh hoang, khoác lác của bọn tuyên truyền Đức, mà căn cứ vào tình hình thực tế của nước Đức, thì có thể dễ dàng thấy rằng bọn xâm lược phát xít đang đứng trước những thảm họa.

        Xta-lin cao giọng, nói tỉếp:

        — Các đồng chí chiến sĩ Hồng quân và Hải quân, các đồng chí chỉ huy và chính trị viên, các nam nữ du kích! Toàn thế giới đang nhìn vào các đồng chí, là những người có thể tiêu diệt đạo quân ăn cướp của bọn phát xít xâm lược. Các dân tộc châu Âu bị nô dịch dưới ách bọn xâm lược Đức đang nhìn vào các đồng chí như nhìn vào những người sẽ giải phóng cho họ. Sứ mệnh giải phóng loài người vĩ đại đang đặt ra trước các đồng chí. Hãy tỏ ra xứng đáng với sứ mệnh này!   '

        Các khối tiểu đoàn quân vuông vắn vẫn đúng im thẳng tắp dưới tuvết phủ trắng xóa trên người tựa như tạc bằng đá trắng. Những dãy lưỡi lê tuốt trần to hơn lên vì tuyết phủ, và dãy tiểu liên vẫn đều hàng thẳng tắp

        — Cuộc chiến tranh mà các đồng chí đang tiến hành là cuộc chiến tranh giải phóng, cuộc chiến tranh chính nghĩa. — Xta-lin nói với khí thế đặc biệt. — Những tấm gương dũng cảm của tổ tiên vĩ đại chúng ta như A-lếch-xan-đrơ Nép-xki, Đi-mi-tơ-ri Đôn-xki, Cu- dơ-ma Mi-nhin, Đi-mi-tri-a Pô-gia-rơ-xki, A-lếc-xan-đrơ Xu-vô- rốp, Mi-khai-in Cu-tu-dóp sẽ cổ vũ các đồng chí trong cuộc chiến đấu này! Lá cờ tất thắng của Lê-nin vĩ đại luôn luôn vẫy gọi các đồng chí!

        Bốt-đa-nốp vẫn đứng nguyên không cựa quậy suốt từ đầu đến giờ mới thở dài nhẹ nhõm. Giờ đây, một tinh thần sẵn sàng xông vào chiến đấu, vươn tới chiến công, trung thành tuyệt đối với Đảng đang dâng lên trong lòng anh và tình cảm đó không có gì khác biệt với tình cảm của những người lính trẻ nhất trong hàng quân với vị nguyên soái đây quang vinh đứng cạnh Xta-lin trên lễ đài.

        Hàng nghìn trái tim như cùng đập một nhịp và Bốt-đa-nốp cũng cảm thấy nhịp tim mình đang hòa vào trong đó.

        — Dưới lá cờ của Lê-nin, hãy tiến lên giành những thắng lợi mới! — Xta-lin kết thúc bài nói chuyện và lời kêu gọi này được tỏa ra ở hàng nghìn chiếc loa phóng thanh trên toàn đất nước Xô-viết.

        Trong các hàng quân vang lên tiếng «U-ra» và khi tiếng hô đã lẳng xuống dần thì những loạt đạn pháo chào mừng bắt đầu vang lên. Hình như nỗi xúc động trong lòng mọi người đang trào ra ngoài không kìm giữ được... Sau đấy, nhạc vang lên rộn rã bài « Quốc tế ca »:

        «... Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành
        Toàn nô lệ vùng đứng lên đi
        Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa
        Bao nhiêu lợi quyền, ắt qua tay mình...


        tiếng kèn đồng và cả trái tim con người cũng hòa lời ca.

        Các khối bộ đội bắt đầu chuyển động, các học viên Trường sĩ quan pháo binh đi trên cùng, mở đầu lễ duyệt binh trọng thể...

        Đã mấy lần được đi dự lễ duyệt binh, Bốt-đa-nốp thường vẫn, say sưa ngắm nhìn những khối người chuyển động, phức tạp, hài hòa, nhưng rất nhịp nhàng như một dàn giao hưởng của hàng nghìn con người đại diện của các lực lượng vũ trang này. Bản thân anh đã nhiều lần dẫn đầu đơn vị dự lễ duyệt binh và đã được nghe sau lưng mình vang lên những nhịp đi đều dặn, mạnh mẽ đồng loạt của đoàn người tiến bước. Anh là người cán bộ chỉ huy rất yêu nghề nghiệp của mình và tính thống nhất của bộ đội, biết phục tùng nhanh nhẹn và đoàn kết thể hiện bằng nhiều hình ảnh khác nhau. Nhưng những gì đang diễn ra hôm nay ở đây không giống hoàn toàn với những gì trước đây Bốt- đa-nốp đã nhìn thấy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2020, 09:00:35 am

        Các đơn vị bộ binh xếp hàng ngang dài theo từng tiểu đoàn tiến qua lăng, được trang bị đầy đủ để tiến thẳng ra mặt trận. Các chiến sĩ đều đeo ba lô, quấn chăn dạ, thắt lưng đeo bao đạn và xẻng công binh... Trong bất cứ lúc nào, những đơn vị này đều có thể sẵn sàng chiến đấu, chiếm vị trí phòng thủ hay xông lên tiến công. Và thực tế, sau khi duyệt binh ở đây, họ sẽ tiến thẳng từ quảng trường Đỏ ra mặt trận gần nhất, đồng thời, đây cũng là một cuộc hành quân trọng thể...

        Dàn quân nhạc vẫn tiếp tục bài hành khúc, tiếng trống to nghe vang xa như tiếng chuông... Những giai điệu ra đời trong những năm Nội chiến, giờ đây lại vang lên tiễn đưa các đoàn quân ra tiền tuyến. Những người lính giữ đúng cự ly, hàng ngang thẳng tắp, khối này tiếp khối kia trùng trùng tiến bước, mặt hướng về lãng Lê-nin. Nhịp bước của họ đồng đều vững chắc. Các khối học viên sĩ quan, các tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị NKVĐ lần lượt diễu qua lễ đài... Tiến qua lăng, họ đi về phía sông Mát-xcơ-va phủ mờ hơi sương. Những hàng súng trường tự động với lưỡi lê ngắn, sáng loáng hơi chao đảo theo nhịp bước đều đặn của đoàn quân. Màu áo đen của chiến sĩ lính thủy đánh bộ, thủy binh đỏ, được điều về bảo vệ Mát-xcơ-va bắt đầu xuất hiện và tiến dần đến lễ đài theo hàng ngang, mặt hướng về lăng Lê-nin.

        Tiếp theo sau các đơn vị bộ đội là những đơn vị chiến sĩ công nhân — đó là những người con từ Pre-xnhin đỏ, từ Tri-ô-goóc-xki, từ khu I-lích và từ chiến hào Lê-nin tới. Gió thổi mạnh làm tung những tà áo khoác còn thẳng nếp được thắt bằng dây lưng bộ đội, làm lay động lớp tuyết mỏng phủ trắng trên các mũ cát-két, lưỡi trai. Có thể nghĩ là những đội cận vệ đỏ đã chiến đấu bảo vệ Mát-xcơ-va tháng Mười một năm 1917 cũng đang hòa vào đội ngũ chiến đấu hôm nay và những cơn gió quái ác muộn mằn cuối thu cũng đang rít lên vây quanh họ... Những công nhân ở các nhà máy gần thành phố được vũ trang súng trường, tiểu liên, súng máy, lớp con cháu của các chiến sĩ cận vệ đỏ năm xưa, đang bước vào cuộc chiến đấu mới...

        Đội kỵ binh đi nước kiệu xuất hiện làm tuyết tung lên. Các kỵ binh trên những con ngựa trắng, ngựa ô, ngựa nâu, đỏ tươi như nhuốm lửa, lớp lớp phóng qua lễ đài và khuất dần về phía bờ sông. Đại đội kỵ binh tay giơ kiếm sáng loáng, lấp lánh chào mừng Tổng tư lệnh.

        Tuyết dường như bị cuốn tròn lại khi đơn vị bộ binh mô tô và theo sau là các xe kéo pháo đi qua. Những nòng súng dài, tròn, hướng lên bầu trời; những binh đoàn thép bảo vệ Mát-xcơ-va đi thành hàng dài trên quảng trường... Chuông đồng hồ điểm chín tiếng, nhưng các loại pháo chống tăng hạng nặng, vẫn còn diễu qua.

        Bốt-đa-nốp bất giác mỉm cười rạng rỡ. Anh cảm thấy tựa như chính hôm nay, chính lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười đã tạo nên bước ngoặt trên chiến trường... Cuộc hành quân khác thường đáng ghi nhớ bắt đầu một cách trọng thể ở đây, trong ngày bảy tháng Mười một này, sẽ còn tiếp tục diễn ra cho đến khi đánh tan hoàn toàn kẻ thù. Các đơn vị quân đội ra đời trong cách mạng, các đội quân mà hôm nay cả thế giới, toàn châu Âu bị chinh phục đang nhìn vào, giờ đây đang tạm biệt Mát-xcơ-va và chỉ có thể dừng lại ở Béc-lin của chủ nghĩa phát xít đã bị đánh tan.

        Khát khao chia sẻ nỗi hân hoan của mình với một người nào đó, Bốt-đa-nốp ngoảnh lại sau và bắt gặp ánh mắt của một thiếu tướng không quen biết.

        — Anh thấy thế nào hả? Hùng dũng đấy chứ! —Thiếu tướng kêu lên xúc động.— Anh phải biết rằng các chỉ huy đơn vị chỉ được thông báo về việc tham gia duyệt binh mới trước đêm qua thôi đấy! ..

        Từ phía Viện bảo tàng lịch sử nghe thấy tiếng nghiến của xích xe và tiếng gầm gừ của động cơ. Các đơn vị xe tăng xuất hiện, tuyết bị xới tung lên. Chỉ một lát, những thân hình kim loại to lớn nặng nề đã làm rung chuyền cả quảng trường, vết xích hằn rõ trên tuyết, và làm bắn tung lên tựa như lại sắp có bão tuyết. Chi riêng việc tập trung một số lớn xe tăng, loại vũ khí lợi hại và vô cùng cần thiết trong lúc này tại đây, đã làm cho Bốt-đa-nốp sửng sốt, khâm phục...

        Tổng tư lệnh vẫn rất chăm chú, rất nghiêm trang và điềm tĩnh. Đồng chí giơ tay lên vành mũ chào. Đồng chí tiếp nhận cuộc duyệt binh này như là biểu tượng của sức mạnh và lòng dũng cảm Xô-viết, biểu tượng của lòng quyết tâm và tinh thần yêu nước, cuộc biểu dương của lòng trung thành với Tổ quốc và Đảng với lời thề của con người Xô-viết.

        Bốt-đa-nốp thầm nghĩ: năm tháng sẽ trôi qua, loài người sẽ còn phải chịu đựng rất nhiều nỗi hiềm nguy cũng như sẽ được hưởng những niềm vui lớn, mặt trời của chủ nghĩa cộng sản sẽ tỏa sáng trên toàn trái đất từ cực này sang cực kia, nhưng ngày duyệt binh của tháng Mười này, ngày mà đoàn quân Xô-viết bắt đầu tiến bước đến chiến thắng hoàn toàn, sẽ không bao giờ có thể quên được.

        Các xe tăng Xô-viết vẫn rền vang về phía trước như cơn lốc. Trên nóc điện Crem-li, ngọn cờ đỏ vẫn hiên ngang trải rộng rực rỡ, tung bay mãi mãi trước gió tuyết đầu đông...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2020, 09:02:13 am

QUYỀN HAI

PHẦN THỨ NHẤT

1

        Buổi chiều, trước ngày tiến công vào làng Mư-skin, sau những công việc bận bịu vất và chuẩn bị cho trận đánh, các chiến sĩ được lệnh nghỉ ngơi. Pa-ven Grô-mốp đi kiểm tra các trung đội một lần nữa. Tại đây, trước giờ chiến đấu, mọi người thường làm những việc lặt vặt, riêng tư của mình; người viết thư hoặc đọc lại những lá thư nhà nhận được từ trước; người thì xếp đi xếp lại cái gia tài ít ỏi của người lính đựng trong ba lô — miếng xà phòng, chiếc khăn mặt, túi bi-cốt, mấy hộp thức ăn; có người cạo râu thoải mái trên tấm ván bàn, có người đang thay bộ quân áo mới. Đru-giơ- nhi-cốp vẻ bận rộn và hồi hộp đang gài lựu đạn vào thắt lưng. Khi nhìn thấy Pa-ven bước vào hầm, không hiểu tại sao Bô-cốp lại quay mặt vào vách, giả vờ ngủ... Trong góc ngôi nhà nhỏ của Xê-ra-phi-ma Xe-li-vê-xtơ-rốp-na, cho đến giờ vẫn còn giữ được nguyên vẹn là « câu lạc bộ chiến sĩ », chính trị viên Ê-li-xây-ép đang viết giấy giới thiệu vào Đảng cho Tréc-kin, Ô-khốt-nhi-cốp, người thợ mỏ cũ và là nhà thơ của đại đội cũng đang ngồi ở đây, khe khẽ huýt sáo bài hành khúc: « Dọc theo những thung lũng và khe núi...». Khuôn mặt Di-gan rám nắng của anh có vẻ đăm chiêu khác thường.

        Xê-ra-phi-ma Xe-li-vê-xtơ-rốp-na từ sau tấm màn gió hoa đi ra mời Pa-ven uống chè và bánh mì dẹt bột đại mạch, món quà chị làm sẵn để thết đãi tất cả những ai ghé thăm nhà chị ngày hôm nay.

        Bên cánh trái trung đoàn công nhân, nơi đại đội Pa-ven chiếm lĩnh, các đơn vị bộ binh của bộ đội chủ lực cũng đã tập trung chuẩn bị tiến công.

        Buổi chiều, tư lệnh khu T. Đi-a-cốp cũng đến đây kiểm tra. Pa-ven nhìn thấy thiếu tướng bận chiếc áo ca pốt màu gio, đầu đội mũ lông, đang chậm chạp bước đi trong tuyết dày ngập bàn chân, tới chỗ ban chỉ huy đại đội, và theo sau ông có hai sĩ quan nữa... Buổi tối, các đơn vị xe tăng đã vào đến vị trí xuất phát, các đại đội pháo được đặt ở những điểm khác nhau, dựng thành một vòng đai lửa; và gần sáng, ở phía sau các đơn vị bộ binh, vọng lại tiếng ầm ì các loại ô tô khởi động máy.

        Các đơn vị đang tập trung cho cuộc tiến công này chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phải chiếm lại được làng Mư-skin đang nằm sâu trong khu vực phòng thủ của ta, và đuổi bọn địch ra khỏi vị trí thuận lợi này; đồng thời ngăn chặn những âm mưu mới của bọn chúng, định từ làng này thọc sâu vào thành phố. Tại buổi họp cán bộ chỉ huy các đơn vị, tướng Đi-a-cốp đã xác định mục tiêu chính của cuộc chiến đầu sắp tới là như vậy. Tuy phạm vi trận đánh lớn này không vượt ra ngoài cái giới hạn mà bên quân sự thường gọi là «trận đánh giới hạn khu vực», nhưng điều đó không làm cho nó giảm bớt ý nghĩa hoặc sẽ dễ dàng hơn đối với những đơn vị được trực tiếp tham gia. Từ làng này, bọn Đức đã pháo kích vào vùng ngoại ô phía Nam thành phố T. Ở làng, bọn Đức đã củng cố rất vững chắc một hệ thống hỏa lực dày đặc liên hoàn; quanh làng có mạng lưới hàng rào dây thép gai bao bọc, và để đánh bật chúng, Đi-a-cốp đã tập trung những lực lượng khá lớn. Sau nữa, đây là trận tiến công đầu tiên của những người bảo vệ thành phố T. và là đòn giáng trả vào kẻ thù, có lẽ nó là dấu hiệu báo trước những trận tiến công lớn hơn nữa, mà mọi người đang nóng lòng chờ đợi trong năm bốn muơi mốt này.

        Khi Pa-ven và Ê-li-xây-ép ra khỏi hầm để đưa đại đội ra chiến đấu thì trời hãy còn rất tối. Pa-ven hơi rùng mình không phải vì rét mà cũng không phải vì cảm giác quá căng thẳng.

        — Nào, chú Ê-li-xây-ẻp, chúng ta hôn tạm biệt nhau đi. — Anh nói. — Trận tiến công sắp bắt đầu rồi...

        Họ hôn nhau thẹn thùng, ngượng ngập và nhanh chóng trở về vị trí của mình.

        Trời vừa rạng sáng, các khẩu pháo của ta đã gầm lên nhằm vào các ụ súng, đài quan sát, hầm cố thủ, trận địa cối của bọn Đức mà nhả đạn; sau đó những pháo hiệu xanh, trông như những ngôi sao lấp lánh trong buổi sáng mờ sương, bay vút lên bầu trời và bộ binh bắt đầu xông lên... Sau bốn giờ chiến đấu ác liệt, các chiến sĩ Hồng quân đã chiếm được tuyến ngoài của hệ thống phòng thủ kiên cố và bọn Đức bắt đầu rút lui vội vã. Nói thật đúng là mọi người đều chờ đợi một sự chống trả quyết liệt, nhưng trái với dự đoán, cuộc tiến công chớp nhoáng được chuẩn bị cẩn thận đã đạt được kết quả bất ngờ. Khi hai tiểu đoàn công nhân tiến công ở phía sườn tiến về làng Mư-skin thì bọn Đức đã bỏ chạy cả, chỉ có một vài nơi những toán quân lẻ tẻ không kịp tập hợp lại là còn chống cự yếu ớt. Các đơn vị Hồng quân không dừng lại ở làng vừa chiến đấu, mà tiến ngay ra khu ngoại vi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2020, 06:04:06 am

        Đại đội Pa-ven được lệnh quét sạch bọn Đức ở một đường làng. Các chiến sĩ dùng báng súng mở cửa vào nhà, lục soát sân vườn, tay lăm lăm lựu đạn, sẵn sàng diệt các ổ phục kích hoặc những tên bắn lén ở góc phố. Nhưng họ chi gặp có sự chống trả của một khẩu tiểu liên từ trong căn nhà gạch đổ nát bắn ra; và Tréc-kin vừa tiến lên vừa quẳng luôn một quả lựu đạn, khẩu tiểu liên câm bặt. Phía bên kia đường, các chiến sĩ tìm thấy bốn tên lính Đức bị thương nằm ở hàng rào và Pa-ven ra lệnh gọi y tá đến băng bó cho chúng. Trời sáng hẳn, gió buốt lạnh thổi mạnh. Ở những căn nhà cháy dở, khói chỉ còn âm ỉ, những hạt tuyết nhỏ thưa thớt cùng với tro bay lơ lửng trong không khí ban mai. Trên đường phố các chiến sĩ vừa chiếm được, những vết xích xe tăng bị đóng băng cũng còn hằn rõ. Vỏ đạn pháo xe tăng nắm ngổn ngang trên mặt đường. Một dãy hàng rào dài bị xe tăng húc đổ nằm gục trên tuyết. Những chiếc xe tăng địch từ lâu vẫn ẩn núp ở đây đã bỏ chạy hết và đường phố đầu tiên mà đại đội Pa-ven giành được không tốn sức mấy, bây giờ trở nên trống rỗng, vắng lặng lạ thường. Pa-ven háo hức, tò mò ngắm đường phố, ngắm những ngôi nhà đồ sộ ám khói giờ đây chỉ còn những khung cửa sổ cháy đen với mái nhà bị đổ vỡ.

        Chân bị vướng vào đoạn đây cáp đứt, anh dừng lại, gỡ ra và cao giọng gọi liên lạc đi báo cáo ngay cho ban chỉ huy tiểu đoàn biết mệnh lệnh đã được thực hiện.

        — Bọn Hít-le đã tháo chạy rồi... Đối với chúng, phải đả mạnh hơn nữa mới thỏa! — Anh liên lạc I-gna-chi-ép cay cú nói.

        Pa-ven cười giòn giã. Lòng anh nhẹ nhõm, kết quả quá lớn của trận đánh đã gợi lên niềm vui sướng đến lạ lùng.

        — Không được dềnh dàng ở đấy lâu nhẻ!—Khi truyền lệnh cho I-gna-chi-ép, Pa-ven nói thêm. — Nếu có gặp anh em thông tin thì giục họ nhanh nhanh lên.

        Anh nghĩ rằng, ngay bây giờ, đại đội anh sẽ tiếp tục tiến về phía trước, giải phóng nốt các phố và làng xóm khác. Các chiến sĩ từng tốp hai, ba người một, súng ngang hông, đang đi tới sau anh. Tất cả đều sung sướng, hồ hởi vì thắng lợi nhanh gọn, giòn giã. Đòi mắt tinh nghịch vui tươi của Ô-khốt-nhi-cốp ánh lên trên khuôn mặt tròn rám nắng, lấm tấm mồ hôi.

        — Chẳng có một mống nào cả, đồng chí chỉ huy ạ. Cứ như bị gió cuốn đi ấy. — Từ đàng xa, anh ta đã la lên.

        Đru-giơ-nhi-cốp chạy bị vấp ngã, anh nhặt khẩu súng, lên và đứng nghiêm.

        — Cám ơn đồng chí đại đội trưởng, — không hiểu sao anh ta lại nói với Pa-ven như thế, — tất cả còn nguyên vẹn.

        Có thể đọc thấy rõ trên khuôn mặt nhợt nhạt, hốc hác gầy nhom của anh ý nghĩ: « Chúng ta đã chiến thắng và tôi còn sống ».

        Su-kin đi tới, mũ đội lệch bên tai, miệng cười rạng rỡ, báo cáo trung đội anh không bị thiệt hại gì...

        Tất cả hình như cũng trở nên sáng sủa, quang đãng hơn. Những đám mây xám phủ kín bầu trời, đang bay từ từ lên cao và được nhuộm một màu phơn phớt hồng. Giờ đây có thể phóng tầm mắt lên toàn bộ vùng đất này: những miếng sát cong queo han gỉ, những đôi giày lính mòn vẹt bị bẹp dúm, mặt đất dường như đang từ trong bỏng tối được hồi sinh lại, trở về với cuộc sống... Chỉ có một điều đáng lo ngại là không có một bóng người dân nào trên phố, không có ai ra đón các chiến sĩ, không có aỉ từ các hầm chạy ra với họ.

        Pa-ven vẫn đưa mắt nhìn mọi phía mong tìm thấy bất kỳ một người dân nào đã sống ở đây từ trước, tuy anh đã nghĩ khó mà thấy được họ còn ở lại trong cái làng đã trở thành căn cứ được phòng thủ vững chắc này của kẻ địch.

        — Dường như có cơn bão, cơn dịch hạch tràn qua đây hay sao ấy... — Trong nhóm chiến sĩ có người thốt lên, anh nghe thấy hình như đó là giọng cáu kỉnh của Tréc-kin. — Nhìn xem kìa, không một bóng người, vắng tanh vắng ngắt.

        Và quả thật như vậy: bọn địch sau khi đuổi mọi người ra khỏi làng đã đập phá tất cả nhà cửa của họ. Khắp nơi trên đường phổ, trong các sân, ngồn ngang đồ đạc bị méo mó vứt tung ra khỏi nhà. Thật kinh khủng khi nhìn thấy trên mặt tuyết, một chiếc mặt đồng hồ để bàn hay những chiếc đệm bằng vải thổ bị «đông» lại, những mảnh vải tuyn cứng ngắc trên cánh cửa hoặc chiếc áo phụ nữ bị xé tan nằm dưới chân. Hình như ở đây không phải là sự độc ác dã man bình thường mà là sự điên rồ, cuồng đại của những con dã thú đã hoành hành. Cần phải nhanh chóng đuổi kịp chúng, phải nhanh lên đề cứu những gí còn có thể cứu được...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2020, 06:04:23 am

        Các chiến sĩ đang đứng tụm lại trên phố, nhìn Pa-ven chờ đợi, lòng hăng say chưa được thỏa mãn của mọi người đang đòi hỏi một lối thoát, Ô-khốt-nhi-cốp bỗng nhiên vớ lấy khẩu súng trường, cúi người và bắn lên không hai phát. Pa-ven quay ngoắt lại.

        — Ngừng bắn ngay. — Anh thét lên.

        — Đừng phí đạn vào chỗ đó, Cô-li-a ạ. — Chiến sĩ súng máy A-nhi-xi-mốp nghiêm nghị nói thêm. — Thôi, nghỉ hút thuốc đã, anh em ơi, việc đã thế thì...

        Anh ngồi xuống khúc gỗ cháy sém, dùng mũ lau mồ hôi trên mặt và lấy ra cái túi đựng thuốc màu đỏ thẫm bẵng xa tanh bóng mượt do vợ anh thêu tặng. Một lát sau, liên lạc từ ban chỉ huy tiểu đoàn trở về, truyền lệnh cho đại đội rút ra ngoại ô. Khi đi ngang qua quảng trường khu làng, Pa-ven và đại đội của anh nhìn thấy nó đã biến thành nghĩa địa. Bọn Đức chôn binh lính chết trận của chúng dưới những cây thánh giá bẵng bạch dương thấp lè tè. Ở một vài nơi, đạn đại bác đã lật tung những nấm mồ nông choèn; những chiếc mũ sắt bẹp dúm, các loại giẻ rách quần áo đen, xanh rơi tung tóe quanh hố đạn.

        ... Tướng Đi-a-cốp ra lệnh cho các đơn vị chiến đấu dừng lại ở các vị trí đã chiếm được và củng cố trận địa.

        — Hãy đào ngay các công sự, hào giao thông tại vị trí của đơn vị mình. — Ông hạ lệnh qua điện thoại cho trung đoàn bộ binh cơ giới, khi anh ta xin phép cho đơn vị mình được tiếp lục tiến lên. — Chú ý phải đào cho cẩn thận, chắc chắn đấy. Tôi sẽ trực tiếp đi kiểm tra việc này...

        Tuy kết quả trận đánh ngày hôm nay đạt được ngoài dự kiến, nhưng tư lệnh vẫn cảm thấy chưa hài lòng. Ồng đứng ở bia rừng, nơi có thể quan sát được trận đánh, đầu hơi cúi, dưới cặp lông mày bạc trắng lạnh như băng là đôi mắt sáng, sắc sảo. Vừa chăm chú nhìn, ông vừa ra những mệnh lệnh...

        Xung quanh sở chỉ huy của ông rộn lên bầu không khí tươi vui phấn khởi: các sĩ quan vẻ mặt hồ hởi đang khe khẽ .bàn tán về những tin tức tốt lành.

        Thiếu úy sĩ quan liên lạc, khuôn mặt tươi sáng vừa từ làng Mư-skin về vẫn ngồi nguyên trên ngựa đang báo cáo với trưởng phòng tác chiến.

        Chỉ có một mình Đi-a-cốp đang trầm ngâm, chau mày, cố tình làm ra vẻ không biết đến tâm trạng chung này.

        Hơn một tuần nay, trên mặt trận trước thành phố T. khá yên tĩnh: quân địch không thấy xuất hiện, thậm chí những trận oanh tác bằng máy bay cũng ngừng hẳn trong những ngày cuối, nhưng điều đó không đánh lừa được thiếu tướng. Ông biết rằng bọn địch đã chuẩn bị xong một cuộc tiến công mới và ông cũng biết, lần này chúng sẽ sử dụng một lực lượng khá lớn, có lẽ vào khoảng cuối tháng mười, đầu tháng mười một.

        Tự nhiên ông nghĩ, chính làng Mư-skin này, cái cửa ngõ, bàn đạp vững chắc đối với bọn Đức sẽ có giá trị chiến lược đặc biệt. Tiến công vào hướng khu làng, Đi-a-cốp tính trước, đây là đòn cảnh cáo bọn Đức... Nhưng buổi sáng hôm nay ông cảm thấy như đã đánh vào chỗ trống — bọn Đức đã dễ dàng rời bỏ căn cứ bàn đạp này của chúng vì những khu vực gần đây đều không có lực lượng dự trữ lớn nào cả.

        Té ra, bọn chúng đã tập trung quân ở hướng khác và bộ chi huy Đức đã thành công trong việc bí mật tập trung quân này.

        Đi-a-cốp ở lại sở chỉ huy đến gần trưa, chờ bọn Đức quay lại chiếm vị trí đầy lợi thế này. Ông nặng nề đi đi lại lại ở cửa rừng, , tuyết dưới chân kêu ken két, chắp tay sau lưng, nhíu mày nhìn những quả thông bị ướt đẫm sương muối. Rồi ông lại đi, chậm chạp, bực bội. Mặt trời ló lên trong khoảng trưa ngắn ngủi, cánh đồng trước làng Mư-skin bừng lên bởi những ánh nắng chói lòa và trên cành thông hình như có hàng nghìn tia sáng lấp lánh... Trời rét hơn, gió thổi buốt mặt, cái không khí náo nhiệt của mọi người ở sở chỉ huy hình như cũng tan đi. Người sĩ quan liên lạc trẻ ra sức xát tuyết lên khuôn mặt lạnh tái của mình.

        Bầu không khí hoàn toàn yên tĩnh đang ngự trị trên vùng đất này, và hàng loạt báo cáo từ các đơn vị gửi về đều chung một nội dung là: bọn địch không có ý định phản công. Đi-a-cốp bực bội, không nhìn một ai, đi thẳng ra ô tô. Sau buổi sáng này, một lần nữa, một nguy cơ nghiêm trọng thực sự đang đe dọa thành phố, hình như lại lớn hơn vì nó được ngụy trang khéo léo hơn là ông tưởng. Và cái chính là ông không thể nhanh chóng đối phó với những nguy cơ mới vì ông không biết nó sẽ từ đâu đến. Cũng như tất cả những con người hoạt bát khác, Đi-a-cốp thích những cái gì rõ ràng, rành mạch dù nó có khó khăn gian khổ hơn. Và ông lại càng không thể chịu được là, như trước đây, ưu thế vẫn thuộc về kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2020, 06:05:01 am

*

        Trung đoàn công nhân rút ra khỏi Mư-skin muộn hơn — khu vực ấy được giao cho các đơn vị bộ đội chủ lực giữ, còn trung đoàn phòng thủ bên trái làng, gần đường sắt. Trước khi trời tối, đại đội Pa-ven đã chiếm lĩnh xong trận địa mới. Hơn thế nữa, chỗ này lại cách nhà máy chế tạo máy công cụ không xa, nơi đã chữa các vũ khí của trung đoàn bị hỏng trong các trận đánh. Thiếu tá Tra-skin (chức vụ này vừa được trao cho trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân một vài ngày trước đây) gọi Pa-ven lên và lệnh cho anh sang bên nhà máy đôn đốc việc sửa chữa vũ khí được nhanh chóng.

        — Bản thân anh đã từng làm việc ở đó, đã quen biết tất cả mọi người. — Tra-skin nhấn mạnh từ «bản thân» với nhiều ý nghĩa. — Tôi nghĩ là mọi người cũng không quên anh.

        Tra-rkin Trẻ và cung cao lớn như Pa-ven, vóc người vạm vỡ bộ ngực nở nang người đỏ au vì lạnh, cười độ lượng và thân ái vì biết rõ vợ và bố Pa-ven đang làm việc ở nhà máy. Anh cũng muốn coi chuyến đi như một phăn thưởng xứng đáng dành cho người đại đội trưởng gan dạ, xuất sắc này.

        — Hay lấy thêm hai chiến sĩ nữa, dùng xe tải con mà đi. Nhanh lên, đừng để mất thì giờ nữa. — Trung đoàn trường kết thúc.

        Pa-ven không tin, hỏi lại:

        — Tôi được đi ạ, đồng chí thiếu tá?

        Khuôn mặt có lưỡng quyền cao với đôi mắt sâu lõm của anh sẫm lại vì máu dồn và để giấu nỗi xúc động của mình, anh thọc tay vào túi lấy thuốc lá.

        — Tôi sợ họ dềnh dàng kéo dài việc sửa chữa súng, ở đó, họ còn giữ của ta hai khẩu đại liên, ba khẩu súng cối... Cậu đã có đây đủ kiến thức về việc này rồi. — Và Tra-skin có vẻ tự hào là với quyền lực của mình, anh ta có thể tạo hạnh phúc cho người khác, anh nói tiếp, vẻ rộng lượng, hào phóng: — tối nay cậu có thể ngủ lại thành phố, sáng mai sẽ trở về đơn vị.

        — Rõ, thưa đồng chí thiếu tá! Cho phép tôi đi! — Pa-ven vội vã nói.

        — Thi hành đi! — Thiếu tá trả lời, mỉm cười hài lòng.

        Nửa giờ sau, Pa-ven đa ngồi trong ô tô lao nhanh trên những đường phố quen thuộc. Trong thùng xe sau là A-nhi-xi-mốp và Bô-cốp (Pa -ven lấy hai người bạn đi theo để Bô-cốp tiện thể ghé thăm vợ đang nằm bệnh viện vì theo những tin mới nhất, tình hình sức khỏe của chị ngày càng xấu hơn). Trời vừa nhá nhem tối, các buổi tối thường đến sớm hơn vào mùa này, ô tô đã đỗ trước cổng nhà máy. Pa-ven nhảy khỏi ca bin, hấp tấp, vội vã, không cần nói gì nhiều, chỉ hét gọi các bạn anh là sáng sớm mai phải có mặt ở nhà máy để về đơn vị. Nhưng khi đến gần phòng thưởng trực, anh phải bước chậm lại, hít thở thật sâu để lấy lại tinh thần.

        Một ông già cầm súng trường, trông giống như Pu-ga-dốp, đang ngồi trên chiếc ghế đâu vội đứng dậy đón anh ở cửa ra vào. Và Pa- ven hết sức vui sướng khi nhận ra ông già gác cổng quen thuộc mà hàng bao năm nay khi đi làm qua đây anh chỉ im lăng gật đầu chào, —  Ông già là người nghiêm khắc và bay bắt bẻ nhất trong đội bảo vệ lúc nào cũng cau có này.

        — Chẳng lẽ... đây là con trai của Pa-ven Va-xi-li-ê-vích ư? —  Ông già ngờ ngợ tự hỏi và bỗng nhiên giọng nói yếu ớt của ông run lên. — Pa-ven A-lếc-xây-ê-vích, chào cháu! Chà, cháu đã trở về bình an...

        Đặt khẩu súng vào tường, ông giờ cao cánh tay ôm chầm lấy người khách và từ phút ấy Pa-ven luôn cảm thấy mình như đang sống ở một thế giới khác, ở một thời đại khác, trên hành tinh khác, một nơi hạnh phúc sung sướng có những điều kỳ diệu chưa từng thấy. Ở đấy, nơi trận địa anh vừa ra đi để tới đây, bạn bè, đồng chí của anh đang phải sống trong cảnh hết sức căng thẳng, thời tiết xấu hoành hành, những trái tim tràn đầy căm giận; còn ở đây, trong căn phòng bằng gỗ chật hẹp này, anh đang sống những phút giây thực sự hạnh phúc, sống giữa tình yêu và cái đẹp... Và ông già gác cổng trong chiếc áo lông da ấm áp trông giống như người gác cửa ở thiên đường.

        Sự xuất hiện của Pa-ven tại nhà máy đã tạo nên sự vui mừng chung vì mọi người đều biết rõ anh. Hơn nữa, bây giờ anh không phải là cậu Pa-ven Grô-mốp như hồi còn học nghề ở đây, mà là một trong những người chỉ huy trong trung đoàn đang bảo vệ thành phố. Khi A-lếch-xây Va-xi-lí-ê-vích nhìn thấy con trai, ông phải kìm lòng lại, vội chùi tay vào mảnh giẻ lau và nói: « Nào, nào, để bố ngắm xem, anh lính A-nhi-ca của bố» thì mọi người trong xưởng đã quây tròn lấy anh. Đồng chí bí thư đảng ủy, sau khi hỏi thăm Pa-ven đã mời anh xuóng thăm xưởng rèn vừa được xây dựng lại trong nhà máy. Pa-ven cùng với Na-ta-sa và bố đi ra nhà để xe, bây giờ là xưởng rèn. Trong xưởng rèn, mọi người chỉ cho anh hai lò rèn mới, những chiếc máy dập mới tinh vừa được làm ra từ những bộ phận cũ thu nhặt ở bãi thải, hai chiếc búa hơi vừa được sửa lại và sau đó anh được mời đến thăm phân xưởng đúc bé hơn cũng vừa mới được khôi phục lại.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2020, 06:05:35 am

        Đi đến đâu, anh cũng được mọi người, mà quần áo, chân tay, mặt mũi đen nhẻm vì bụi sắt, tuy mệt mỏi nhưng vẫn vui mừng, tíu tít chào đón, dành cho anh những lời âu yếm nhất, vì anh là người chiến sĩ vừa ở mặt trận về. Lúc quay lại phân xưởng súng cối, I-van Ti-mô-phê-ê-vích, Nhi-cô-lai-ép-xki thay mặt «tổ thợ giáo sư» tặng anh món quà quý: khẩu súng ngắn cấu tạo đặc biệt ở ổ đạn mười hai viên, được chính bố anh và A-ma-dốp tiện, thầy giáo Pi-ốt Ki-rin- lô-vích của anh lắp ghép, còn báng được khắc trổ, trang trí một cành lá sồi. Khẩu súng ngắn mới này được đút vừa vặn vào bao da khẩu Pa-ra-ben-Iom cũ. Pa-ven lòng đầy xúc động chen lẫn tự hào, lúng túng đến nỗi phải nhờ Na-ta-sa luồn nó vào thắt lưng da.

        ... Bị bất ngờ trước cuộc gặp gỡ này, mấy phút đầu, Na-ta-sa có vẻ như bàng hoàng chỉ im lặng. Đôi má chị đỏ như hai quả táo, còn đôi mắt đen, ấm áp ánh lên trìu mến, trông chị bỗng nhiên đẹp hẳn lên, ngay cả bà cấp dưỡng khó tính Ca-pi-tô-li-na Côn-xtan-ti- nổp-na khi nhìn thấy Na-ta-sa chạy xuống bếp đề chuẩn bị bữa ăn tối cho Pa-ven, đã mắng yêu chị:

        — Cô cứ như là cô dâu ấy, trông rực sáng khắp mọi nơi. — Bà nói giọng kẻ cả, — Thôi đi đi, lên với anh ấy... Không có cô, chúng tôi cũng làm được.

        Còn cô bạn cùng phòng với Na-ta-sa là Pra-xcô-va Cu-dơ-nhe- xô-va đón gặp cô ở hành lang, thì thầm:

        — Mình không biết cậu hay anh ta, ai hơn ai. Chà, Pa-ven của cô cũng đẹp trai đấy chứ. Thân hình thật nở nang, khỏe mạnh.

        Và cúi sát tận tai, chị nói thêm là đêm nay chị sẽ làm việc tại xưởng. Na-ta-sa không nói lời nào, ôm chầm lấy và hôn cô bạn gái thông mình, tế nhị.

        Na-ta-sa đi đến nhà ăn và thấy chồng cũng đang ăn tối với đám đàn ông, xung quanh họ có một đám đông đang vây quanh. Ca-da- cốp vỗ vỗ tay lên đôi vai cường tráng, khỏe mạnh của Pa-ven một cách khích lệ, huých vào hông anh và bông đùa vui vẻ. A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích chồm người qua bàn, hỏi về những tin tức mới nhất ở mặt trận, về việc chiếm làng Mư-skin như thế nào. Pa-ven thấy người hưng phấn khác thường vì cái không khí đầy ấm cúng, đầy tình cảm này, tất cả đều làm anh xúc động. Khăn giải bàn sạch sẽ, những miếng bánh mì được cắt càn thận đều nhau để trên chiếc giỏ mây. Và, mỗi lần quay về phía Na-ta-sa, anh đều cảm thấy lâng lâng hạnh phúc vì cô thực sự đã ở đây, ngay bên cạnh anh, trong lúc này...

        — Như vậy có phải là, khi các anh tiến vào làng, bọn Đức ờ đó đã mất hút, các anh phải khẩn trương thu dọn, sắp xếp lại trật tự. —  A-Iếc-xây Va-xi-li-ê-vích hỏi tiếp, ông muốn biết rõ thêm về trận đánh ngày hôm nay. — Không theo ý thích được, tất cả đều buộc phải...

        — À, à, vâng... — Pa-ven lúng túng nói. — Chúng nó thậm chí còn vứt cả vũ khí lại...

        Na-ta-sa đi lại gần bàn, tạm ngồi yên một chút, sau chị lại lần xuống bếp... Khi thấy tự nhiên Na-ỉa-sa biến mất, Pa-ven cảm thấy lo lo, không yên tâm và anh thầm đưa mắt tìm cô.

        — Cái bọn súc vật ấy đã khôn ra một ít đấy, chúng đã được mở mắt mà. — Ca-da-cốp hét toáng khắp phòng.

        — Thế, thế đấy, cái bọn Đức ấy, lũ phát xít, chiến thuật của chúng là như thế nào? Chi biết cướp sạch, phá sạch, hỗn xược. Chúng khoe khoang, khoác lác, vỗ ngực dương oai, muốn mọi người phải sợ chúng. — A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích nói tiếp. — Nhưng khi bị một đòn đích đáng thì mọi cái yếu hèn của chúng lộ rõ ra ngay...

        — Đúng đấy bác A-li-ô-sa ạ, bác nòi đúng quá. — Ca-da-cốp khầng định.

        A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích xoa xoa bộ ria mép vàng nhạt của mình. Ông thấy rất hài lòng là con trai của ông chứ không phải ai khác, đã chỉ huy một trận thắng lớn, mà giờ đây mọi người đang sôi nổi bình luận.

        — Pa-sa này, đại đội của con đã chiến đấu ở đâu, có phải ở phía bãi hoang Pô-pốp không ?

        Hỏi câu này ông chỉ nhằm mục đích một lần nữa nhắc mọi người đang ngồi ở đây là họ cần phải biết ơn ai đã làm nên chiến tháng hôm nay. Nhưng câu trả lời của con trai làm ông già cụt hứng :

        — Thực ra, có thể nói chúng con làm được không đáng là bao... — Na-ta-sa vào mang một đĩa thức ăn, Pa-ven nhìn cô vẻ không hài lòng. — Hồng quân đã đánh đuổi bọn Đức, đến nỗi bọn con chẳng còn gì mà làm nữa.

        — Con nói thế là... — A-lếc-xây ngờ vực hỏi lại.

        — Có lẽ làng này bị phá hủy ghê lắm phải không? — Thợ nguội Sép-kin hỏi. — Tôi có một nhà bà con ở phố Vô-lu-bốp-xki, ông em vợ, nhà số bốn.

        — Tôi chưa đến phố đó, — Pa-ven đang nói, thốt nhiên ngừng bặt, tựa như sợi chỉ giữa chừng bị dứt. Trong trí nhớ anh hiện rõ những hình ảnh buổi sáng anh từng chứng kiến: những đường làng hoang vắng cháy âm ỉ, những ngôi nhà không chủ bị cướp phá, tàn tro bay trong gió; những vung máu trên tuyết và những ý nghĩ lướt nhanh tới các chiến hào ở ngoại ô thành phố, nơi các chiến sĩ của anh đêm nay sẽ lạnh cóng, hầm của họ không được ấm áp như ở đây, không được gần ngồi nhà nhỏ của chị Xê-ra-phi-ma Xê-li-vê-xtơ- rốp-na. Anh nghĩ đến Bô-cốp bây giờ chắc đang đứng lặng bên chiếc giường của Ma-ri-a đã chết... Và, do một phản xạ tự nhiên, anh nghĩ đến Ê-go Trô-sin đang yên nghỉ dưới gốc cây bên bờ lạch Nhi-cô-lin. Rồi, như chợt tỉnh, anh nhắc lại, giọng khác hẳn:

        — Chúng tôi chưa đến phố Gô-lu-bốp-xki... Nói chung có rất nhiều nhà bị phá hỏng. Đúng thế, hư hại, đồ nát. — Anh như nổi với mình — Một nửa làng bị cháy sạch, những chiếc ống khói trơ trụi nhô trên mặt đất. Còn dân làng thì đi đâu hết, không một bóng nào cả.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2020, 05:22:27 am

        Nhà ăn im lặng. Sép-kin lo lắng nhìn Pa-ven. Còn Pa-ven thì trầm ngâm, hình như đang tập trung suy tư điều gì đó, đôi mắt anh nhíu lại. Lúc này Pa-ven cảm thấy một cách rõ rệt, sâu sắc ràng trong cái thế giới này, cái thế giới rộng lớn lạnh lẽo được bao quanh trong bốn bức tường của căn phòng đầy hạnh phúc này, mọi sự đều không thay đổi. Trong thời gian ngắn ngủi, chỉ có anh — người lính — đang bị cảm giác lừa dối là đã tìm thấy ở đây nơi trú ẩn cho riêng mình.

        — Các anh đã đuổi bọn Đức như thế nào ? — A-lếch-xây Grô- mốp lại hỏi. — Nếu như bọn quỷ đó đã bỏ chạy rồi thì cần phải truy chúng đến cùng chứ. — Ông đưa chéo bàn tay lên bàn để chỉ cần phải làm như thế nào, — Và sau đó, ta từ hai phía ập lại, trong gọng kìm.

        — Đúng đó, bác A-li-ô-sa ạ ! — Ông Ca-da-cốp thốt lên hưởng ứng. — Cần phải hành động không chậm trễ, không cho bọn địch kịp thở chứ, quây vòng chúng nó lại. Cháu có nghe thấy bố nói gì không? — Ông nói to với Pa-ven. — Hãy thọc sâu nữa vào, tiến lên trước chúng nó.

        Gần đây ông hay phụ họa theo A-lếch-xây Grô-mốp và một điều dễ nhận thấy là sau khi A-lếc-xây Grô-mốp nổi bật bên trong cuộc thử súng cối thì Ca-da-cốp rất tự hào về sự gần gũi thân thiết của mình với A-lếch-xây Grô-mốp.

        Pa-ven ngẩng đầu lên nhìn.

        — Ở đâu cháu cũng không tránh khỏi các cẩp trên, — anh nói đùa. — Ở trung đoàn đã không yên tĩnh rồi, còn ở đây cứ bị lục vấn hoài.

        — A, cậu nghĩ là chúng tôi tha tội cho cậu phỏng? I xì, cậu cũng giống như anh chàng Ê-ru-xlan La-da-rê-vích! Không đâu, đừng có chờ mong, cháu ạ. — Ca-da-cốp vung cánh tay khẳng khiu ra. —  Cần phải đánh tơi bời bọn Đức ra, đánh như tướng Xu-vô-rốp đã nổi: « Hãy đánh, hãy quật, hãy đuổi, hãy diệt sạch sành sanh ». Ê hề, chàng trai trẻ, cây xanh non ạ, các cậu để sổng mất thời cơ thuận lợi rồi.

        — Không có lệnh thì đánh tiếp thế nào được, phải không ? — A-lếc-xây Grô-mốp nhăn mặt hỏi, không đợi Pa-ven trả lời, ông quay sang Ca-da-cốp. — Trong quân đội, không thể đi đâu được, nếu không có lệnh... Kỷ luật, ông bạn ạ, đỏ là ý thức đầu tiên của bọn chúng đấy.

        A-lếc-xây Grô-măp vẫn cho mình phải có nghĩa vụ dạy dỗ con trai, nên ông không thích khi có người khác làm công việc này.

        — Bác cứ bắt bẻ mãi anh Pa-ven, bác Cu-dơ-ma Đa-nhi-lô-vích ạ! — Na-ta-sa nói. — Bác để cho anh ấy ăn uống chút ít đã.

        Chị hơi bực mình với chồng... Tất cả những điều Pa-ven nói chỉ thoảng qua trong đâu chị rồi biến mất và chị chỉ mới nghĩ đến những điều mà anh phải chịu đựng, tim chị đã thấy đau nhói.

        — Anh ăn đi, ăn đi đã, không thì nguội mất, — chị nhắc lại, giọng nhấn mạnh. — Chị Ca-pi-tô-li-na Côn-xtan-ti-nốp-na đã dốc hết cả kho dự trữ để đãi anh đấy. Anh hay ăn rồi kề chuyện sau.

        — Lạ nhi, sao con không bảo cho thêm món khác? — A-lếc- xây Grô-mốp kêu lên. — Nhưng đừng bực với các bà chủ nhà ta, Pa- ven ạ. — Ông nhìn Na-ta-sa, động viên, khuyến khích.

        Pa-ven không nói gì, anh đang suy nghĩ. Tự nhiên anh thay mình không có quyền được hưởng không khí ấm cúng, sự chăm sóc dịu hiền của mọi người đối với mình anh. Anh được sưởi ấm trong bầu không khí quý giá này, hình như anh đã lấy cả phần của người khác và anh đang hưởng phần thưởng mà nhiều người không bao giờ có được. Trước mặt anh lại hiện lên hình ảnh một buổi chiều yên tĩnh cách đây không lâu: chân trời đã phủ sương màu đỏ thẫm, kẻ một vạch thẳng như thanh kiếm; những vệt nước dài, cắt ngang mặt đất; khuôn mặt tái nhợt của Trô-sin nhòa trong cánh chiều chập choạng tới... «Nói chung trong chúng ta, cậu là con người hạnh phúc, — Pa-ven như còn thấy vang bên tai mình những lời nói thều thào của người bạn. — Cậu hay báo cáo là Ê-go Trô-sin đã đứng vững ở vị trí chỉ huy, đẩy lùi được các cuộc tiến công... ». Hình như có một sự trách móc nhẹ nhàng và lên án gay gắt trong câu nói của Ê-go đáng thương khi gọi Pa-ven là con người hạnh phúc.

        Xung quanh hàn ăn, mọi người vẫn yên lặng nhìn Pa-ven. Sau đó giọng nói giễu cợt, nhưng nhẹ nhàng pha chút sự ra lệnh của A-lếc-xây Grô-mốp phá tan bãu không khí yên tĩnh.

        — Con có vẻ mệt lắm phải không?

        Pa -ven bừng tỉnh, hiểu rõ đúng mình là con người hạnh phúc, anh nhìn mọi người vẻ nhận lỗi?

        — Pa-sca, tôi đi guốc trong bụng cậu ! — Ca-da-cốp huých khuỷu tay vào anh. — Tôi biết lúc này cậu đang nghĩ gì: « Khi nào các ông già quỷ sứ này mới chịu đi ra cho để hai vợ chồng mình ngồi với nhau? ». Đấy, cậu đang nghĩ như thế. A hà, cậu đã đỏ mặt rồi nhé, nhìn mắt kia...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2020, 05:24:02 am

        Ông lại cười khà khà thoải mái, người nào đó cũng cười theo và mọi người lục tục đứng dậy khỏi bàn. Sép-kin kéo sụp mũ xuống trán và nói là khoảng sáng mai vũ khí của trung đoàn sẽ sửa chữa xong và Pa-ven cứ việc nghỉ ngơi, đừng lo lắng gì cả. A-lếc-xây Grô-móp cũng đứng lên. Cửa xuống bếp mở toang và từ đấy ló ra khuôn mặt đỏ như gấc, béo mập của bà cấp dưỡng ; sau lưng bà, một người cũng đang ló đầu nhìn. Ca-da-cốp bỗng nhiên đứng lên và chạy ra giữa phòng, cúi cái đầu hói của mình xuống chào mọi người và cất giọng hát khe khẽ:

                                     Như ánh mặt trời sáng chói,
                                     Ánh mặt trời long lanh đỏ thẫm !
                                     Mái tóc xoăn, vàng sẫm
                                     Mái tóc xoăn từ lúc bẩm sinh
                                     Ôi, Pa-ven, chàng trai tóc xoăn vàng sẫm,
                                     Ôi Na-ta-sa, cô gái hiền lành
                                     Đã yêu nhau như thuở lọt lòng.


        Ồng vỗ tay đánh nhịp. Các bàn bên cạnh, mọi người cũng vỗ tay theo. Tất cả những người có mặt đều nhìn Pa-ven và Na-ta-sa trìu mến, thiện cảm, tuy nhiên vẫn không giấu được vẻ tò mò, háo hức như thường xảy rá trong các cuộc tiễn đưa đôi vợ chồng mới sau bữa tiệc cưới. Pa-ven nhìn vợ — chị đang cười ngỡ ngàng, mặt đỏ bừng, thậm chí tai cũng đỏ, mái tóc vàng rực dưới ánh đèn, đôi bím tóc tết hất ra trước.

        Ca-da-cốp giậm giậm đôi chân, nện vang đôi ủng, lắc lắc đôi vai và bắt đầu nhảy:

        — Hấp! Hấp! Ù hây! — Ông hét vang. — Hấp ! Hấp ! Ù hây !

        Pa-ven bất giác đứng dậy đi ra cửa, anh lắc đầu, tay gia cao... Nhưng xung quanh tiếng cười đùa vui vẻ vẫn không ngớt. Có lẽ mọi người đã bàn trước với nhau, tổ chức cuộc vui, đón chuyến về thăm nhà ngắn ngủi của Pa-ven. Pa-ven thấy tức ngực, có cái gì đó nghẹn nghẹn ở cổ. Lòng biết ơn lẫn nỗi buồn, sự xúc động và thẹn thùng đang hòa vào nhau làm anh bối rối, ngượng nghịu. Nhưng rồi những cảm giác đó vụt biến mất, nó hòa với tình cảm chung mãnh liệt, hòa với sự gần gũi thân thương đối với những con người rộng lượng và thoải mái, hòa với mối quan hệ vĩnh viễn của anh và tinh thần sẵn sàng phục vụ họ.

        — Hãy nhìn con chim le le này, Pa-sca! — Ca-da-cốp vẫn chưa chịu buông tha. — Hây! Hây! A, nhảy theo vòng vào.

        Pa-ven bị quây giữa vòng người sôi nổi, giữa tình cảm nồng thắm của mọi người. Anh cúi đầu, nhắm mắt lại...,

        ... Khi cùng chồng về phòng. Na-ta-sa thấy căn phòng chị đang ở cùng Cu-dơ-nhe-xô-va (một trong những căn phòng bỏ trống của văn phòng nhà máy) đã được dọn dẹp cẩn thận. Sàn nhà lau bóng, chiếc tủ sát nhỏ kê ở góc phòng đã biến thành chiếc bàn con, có giải chiếc khàn hình tròn sạch sẽ; chiếc bếp lò đã cháy đỏ rực. «Tất cả do cô bạn đáng yêu Pra-xcô-vi-a Nhi-ki-tri-na sắp đặt đây mà ». Na-ta-sa chỉ thoáng nghĩ được như vậy... Chị đã nghe thấy tiếng chân bước của Pa-ven ở ngay sau lưng chị, chị không thể nghĩ gì hơn được, trong cái phút giây này khi anh đang bước đến sau chị.

        Pa-ven khép cánh cửa ra vào, Na-ta-sa quay lại và họ đa đứng trước mặt nhau. Cuối cùng, sau bao nỗi lo lắng và những điều không may, sau thời gian xa cách dài dằng dặc, giờ đây họ hoàn toàn tự do bên nhau. Nhưng có lẽ chính vì họ phải tìm nhau lâu như thế, thường xuyên nghĩ đến cuộc gặp gỡ này, đã chờ đợi biết bao lâu, nên lúc này, họ thấy có vẻ ngượng ngùng, kỳ lạ như vậy. Nhưng đáng lẽ Na- ta-sa phải lao đến ôm chầm lấy chồng, nhưng chị vẫn hình dung hàng nghìn lần trước đây thì giờ đây, chị lại thấy thèn thẹn và vẫn đứng im, buông tay xuống. Pa-ven hình như cũng chỉ mỉm cười gượng gạo.

        — Hóa ra em lại ở đây... — Anh nói thì thào, hồi hộp, — Đây trước là phòng của chủ tịch công đoàn Ô-xi-pốp.

        — Bác Ô-xi-pốp à? Vâng... Chả lẽ thế chăng?... — Na-ta-sa nói.

        — Ở đây tốt quá chứ... — Anh nói. — Phòng rộng có thể sống đàng hoàng được.

        Họ lại im lặng... Na-ta-sa đến bên lò sưởi mở cửa. Nhưng hình như chị lại không biết làm việc đó để làm gì. Pa-ven đến bên chị và họ im lặng sung sướng đứng cạnh nhau bên lò sưởi. Lửa đã sắp tàn. Những ánh lửa xanh nhấp nháy tỏa ánh sáng lên mấy mảng tường quanh phòng. Pa-ven ngồi xuống, cúi người bẻ tiếp vài cành bạch dương bỏ vào lò. Khói lại bốc lên, ngoằn ngoèo thoát ra khỏi ống thông hơi và tiếng củi nổ lách tách, lửa cháy bừng và căn phòng ấm áp hẳn.

        — Trước bữa tối, em đã gọi điện cho cô An-na Va-xi-lép-na ở nhà máy, —  Na-ta-sa nói khẽ. — Nhưng cô không có ở đấy và người ta hứa với em nhất định sẽ báo cho cô biết...

        — Em đa gọi rồi à ?... Người ta hứa sẽ báo lại cho cô à ?... —  Pa-ven hỏi lại.

        Anh không lạ gì điều này ở Na-ta-sa cả, chị không bao giờ quên nghĩa vụ của mình đối với mọi người. Thậm chí chị nhớ cả ngày sinh của từng người thân thích, ngày đáng ghi nhớ của gia đình như ngày cưới, ngày tang và những ngày kỷ niệm khác. Trong việc làm đáng yêu và cách cư xử dịu dàng này của chị, anh thấy ít có ở những người bình thường khác.

        — Cám ơn em lắm! Nếu không có em, có lẽ anh đã quên hết rồi. — Pa-ven thành thật thú nhận với vợ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2020, 05:24:24 am

        Anh đứng bật dậy, quàng tay ôm ngang vai Na-ta-sa, còn cô ngước lên, nhìn xoáy vào khuôn mặt nghiêm nghị, hơi tái với đôi mắt đen, mệt mỏi của chồng.

        ... Pa-ven mở mất, lắng nghe và tinh hẳn giấc ngủ. Những tiếng nổ liên hồi ầm ĩ, nặng nề vọng vào căn phòng tối đen và anh biết ngay có trận đánh lớn đang diễn ra ở nơi nào đó trước thành phố. Pa-ven nằm nán một phút để đoán xem tiếng đại bác từ vừng nào vọng tới. Nhưng trong bóng đêm dày đặc của căn phòng, anh không thể nhớ được đâu là cửa sổ, đâu là cửa ra vào... Lò sưởi có lẽ đã tắt từ lâu rồi. Pa-ven co người, rút tay ra khỏi chăn. Anh sờ soạng tìm bao diêm trên bàn, rồi ngồi dậy, có thật nhẹ nhàng để vợ khỏi thức giẩc và đánh diêm, Ánh diêm yếu ớt lóe lên soi bím tóc xoăn dày của Na-ta-sa xõa trên gối, khuôn mặt nắm nghiêng, đôi môi hé mở, chiếc trán cao cao của chị. Diêm tắt, Pa-ven vừa mò mẫm mặc quần áo, vừa run lên vì rét và vội. Trong tiếng ầm ầm của trận đánh, anh nghe rõ cả tiếng súng máy và đoán chắc mặt trận cách đây không xa.

        Cố nhón đôi ủng có cá sắt nặng trịch thật nhẹ nhàng, anh đi lại cửa sổ, kéo chiếc mành lên. Ngoài sân, bóng đêm dày đặc màu tím sẫm, đã đến giờ phút mặt đất lẫn bâu trời hòa vào nhau thành một màu mờ mờ trước lúc rạng đông. Và ở những đám máy thấp lơ lửng trên thành phố, những làn ánh sáng yếu ớt nhấp nháy như ánh chớp hoặc lửa đạn. Tuy vậy, khó mà xác định được trận đánh này đang diễn ra ở khu vực nào của mặt trận và Pa-ven thấy hình như tiếng súng có ở khắp mọi nơi...

        — Anh đã dậy rồi ư... Páp-lích! —Tiếng nói vang lên trong góc phòng. — Hãy còn sớm lắm...

        — Em cứ ngủ đi, ngủ đi. — Anh nói và vội vã thắt chặt dây lưng. — Không có gì đáng ngại đâu...

        — Em cũng dậy đây, chờ em một tí... Để em chuẩn bị bữa ăn điểm tâm cho anh, — Na-ta-sa nói, giọng vẫn còn ngái ngủ. — Em dậy ngay đây... Chả lẽ anh phải đi sớm thế.

        — Nằm xuống, em ngủ đi. — Pa-ven nhắc lại, — Có thể chỉ là trận pháo kích bình thường thôi.

        Kéo lại bao súng trên thắt lưng để rút khâu súng ngắn mười hai viên vừa được tặng chiều qua cho thuận tiện hơn, anh đi về phía Na-ta-sa, cúi xuống hôn cô và anh cảm thấy hơi ấm thơm dịu từ cô tỏa ra.

        — Nhưng anh chưa ăn sáng... Em dậy bây giờ đây, anh chờ em một tí thôi. — Na-ta-sa nằn nì.

        — Em ngủ đi, ngủ đi. Không có việc gì đặc biệt đâu... Chi là trận pháo kích thôi. — Anh khẳng định, ôm hôn cô, lúc ghì đâu cô vào lòng, lúc lại đẩy ra.

        — Anh còn trở lại nữa không ? — Na-ta-sa nhìn theo anh hỏi lại. — Anh đi đâu mà vội thế... Chả lẽ không ăn sáng...

        — Được rồi, được rồi, anh sẽ quay lại. — Pa-ven nói. — Nhất djnh, nhất định sẽ quay lại.

        Tiếng sắt thép xoang xoảng vang lên ở noi nào đó ngay sau bức tường... Từ biệt Na-ta-sa, Pa-ven đi ra cửa, giơ tay về phía trước sờ soạng để không động phải đồ vật trong căn phòng vẫn còn tối đen.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2020, 05:25:01 am

       
2

        Đầu tháng mười một, mặt trận ở ngoại ô Mát-xcơ-va tạm thời yên tĩnh, ở các vùng lẻ tẻ, những trận đánh ác liệt vẫn diễn ra. Nhưng nhìn chung, như các giới quân sự thường nói, đây chỉ là sự yên tĩnh ngắn ngủi tạm thời giữa hai đợt của những trận đánh lớn.

        Mùa thu ở ngoại ô Mát-xcơ-va sắp tàn, ban đêm trời khá rét, những bông tuyết đầu mùa đã rơi trên mặt đất cứng nham nhở, những đường hào ngang dọc, những trận gió tuyết đầu tiên đã trải ra trên các cánh đồng gài đầy mìn, phủ lên những hàng rào dây thép gai, và ở các bờ sông mà từ lâu biến thành tuyến phòng thủ vững chắc, đã thấy xuất hiện những tảng băng đầu tiên. Để cố đạt được thắng lợi quyết định trước khi mùa đông đến, Hít-le và các tướng lĩnh của y đã hết sức vội vã chấm dứt thời gian nghỉ bắt buộc trong cuộc tiến công của chúng. Bộ chỉ huy cụm tập đoàn quân «Trung tâm » vội vã tập trung chấn chỉnh, bổ sung thêm quân số cho những đơn vị đã bị tổn thất hoặc kiệt sức. Vào giữa tháng mười một, chúng đã tập trung được tới năm mươi mốt sư đoàn chỉ để chống lại một phương diện quân miền Tây của ta. Một lần nữa, bọn tướng tá Hít- le lại vạch kế hoạch « Can-nơ » tức là kế hoạch vây hãm và tiêu diệt hoàn toàn các đơn vị đối phương... Nhiệm vụ tiến công chính lần này được giao cho các cụm tập đoàn quân xe tăng mạnh, bố trí ở hai cảnh: cánh trái do tập đoàn quân ba và bốn của tướng Gô-ốt và Khíp- nhét đảm nhiệm, còn tập đoàn quân xe tăng số hai của tướng Hu-đê- ri-an ở cánh phải. Kế hoạch của bộ chỉ huy Đức dự tính với hai mũi tăng thọc sâu này, sau khi đã chia cắt các đơn vị quân đội Xô-viết ra, sẽ gặp nhau ở đăng sau Mát-xcơ-va và như vậy là hoàn thành việc bao vây thành phố này. Còn cụm tập đoàn quân bộ binh chính gồm các quân đoàn chín, hai mươi, mười hai, mười ba phải làm tê liệt các đơn vị ta, giáng đòn quyết định vào các hướng ngoại vi Phô-nin và Xe-ru-pu-khốp. Nhưng tư tưởng chiến lược của kế hoạch «Can-nơ» không làm cho bọn tướng lĩnh Hít-le yên tâm.

        Và các đơn vị kỵ binh mạnh ở hai sườn mặt trận trước đây đã quyết định sự tiến triển của những trận đánh ở «Can-nơ», thì hiện giờ, hai nghìn năm sau, được thay thế bằng các đơn vị xe tăng cơ động...

        Kế hoạch « Tổng tiến công » lần thứ hai vào Mát-xcơ-va lặp lại những nét chủ yếu về ý đồ chiến dịch của cuộc tiến công ngày một tháng mười; xét về toàn bộ nó cũng không kém gì (và cũng không hơn gì) những kế hoạch khác do những học trò cần mẫn của Sli-phen và Liu-ghen-dơ-pha soạn thảo ra. Cũng cần phải nhớ ràng, nó vẫn dựa vào lý luận quân sự mà trước mùa đông năm 1941 vẫn được các nhà chiến lược khác ở châu Âu và bên kia đại dương đánh giá cao. Những thắng lợi chớp nhoáng trước đây của quân đội Đức ở Hà Lan, Pháp, Ba Lan cũng là do sự phối hợp của các chiến thuật dùng tăng thọc sâu và vu hồi tạo nên. Còn bây giờ, lực lượng và phương tiện được bộ chỉ huy Hít-le sử dụng trên mặt trận ngoại ô Mát-xcơ-va là hàng trăm nghìn binh lính tập trung cách Mát-xcơ-va từ bảy mươi đến tám mươi ki-lô-mét, hàng chục nghìn xe cơ giới chỉ chờ lệnh là sẵn sàng xuất phát — những lực lượng và phương tiện đó vượt xa rất nhiều so với lực lượng đã được sử dụng tiến công vào Pa-ri, Đu- két, đồng bằng sông Vít-la, vùng bờ biển Bắc. Thế nhưng, ngay trên đất Xô-viết, trên các ngả đường dẫn đến thủ đô Xô-viết, lý luận quân sự của bọn phát xít Đức đã bị phá sản nặng nề.

        Đến giữa tháng mười một, quân địch đã chuẩn bị xong cuộc tiến công mới vào Mát-xcơ-va và ngày mười lăm, các xe tăng Đức đa mở cuộc tiến công ở vùng ngoại vi phía tây Mát-xcơ-va. Ngày hôm sau, cuộc tiến công lan xuống phía nam và hướng tiến đã thọc sâu vào vòng cung Clin-xcơ — Vô-lô-cô-lam-xcơ. Khi bình mình vừa rạng, một số lượng rất lớn xe tăng và máy bay đã cùng một lúc xuất hiện trên mặt đất và bầu trời, hướng vào trận địa của quân đội Xô-viết.

        Nhưng một màn lưới lửa, cả ở dưới đất lẫn trên trời đã chờ đón chúng...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2020, 06:09:45 am

        Bộ tổng Tư lệnh tối cao quân đội Xô-viết đã dự đoán kịp thời kế hoạch tác chiến của quân địch. Khoảng giữa tháng mười một, các đơn vị đóng ở những vị trí xung yếu ở ngoại vi Mát-xcơ-va được bổ sung thêm quân số và các phương tiện kỹ thuật... Gần nửa triệu người Mát-xcơ-va, chủ yếu là phụ nữ, vì đàn ông phần lớn đã vào quân đội, tay xẻng, tay cuốc đi ra vùng ngoại ô, biến những nơi thanh bình trước đây thành tuyến phòng thủ vững chắc. Những tuyến phòng thủ dài, sâu, hiểm trở được xây dựng trong một thời gian rất ngắn đã ngăn cản bước tiến của các sư đoàn xe tăng Đức... Chúng ta cũng đã biết rằng, những đòn giáng trả của quân đội Xô-viết vào tháng mười một năm 1941 ở Ti-khơ-vin và Rô-xtốp trên sông Đông không chỉ phá vỡ kế hoạch của các nhà chiến lược Đức đối với Lê-nin-grát và Cáp-ca-dơ, mà còn ngăn cản không cho chúng đưa các đơn vị quân Đức ở vùng này đến Mát-xcơ-va. Đồng thời, từ hậu phương xa xôi của Tổ quốc, từ miền Xi-bia, Da-cáp-ca-dơ, từ Trung Á đến Pô-bôn- gia, trong cả tháng mười một có tới hàng nghìn chuyến xe lửa chở người, vũ khí tới Mát-xcơ-va, cách nhau một giờ, rồi nửa giờ và càng về sau càng nhiều hơn. Ít người biết hàng hóa được bốc dỡ ở ga nào; hàng chục sư đoàn được thành lập ở vùng U-ran, Von-ga đã biến mất hút ở đâu và khối lượng lớn vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự như: xe tăng, pháo, máy bay được chuyền đến nơi nào. Các khu rừng ở Đi-mi-tơ-róp và Ri-a-la hình như đã nuốt chửng mất tất cả; và cũng chỉ đến bây giờ, tất cả chúng ta mới biết rõ, chính ở đây, các lực lượng dự trữ rất lớn đã tập trung hết sức bí mật, ngoài phạm vi vòng vây xe tăng của bọn Đức. Kế hoạch tiêu diệt kẻ thù ở ngoại vi Mát-xcơ-va được coi như là sự chuyển tiếp bất ngờ từ phòng thủ sang phản công trên một phạm vi chiến lược rộng lớn, trong một chiến dịch khó khăn nhất, đạt tới đỉnh cao nghệ thuật quân sự. Chiến lược đòi hỏi tập trung một số lượng nhân lực chưa từng thấy, gồm hàng triệu người trong quân đội và ở hậu phương để thực hiện kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao. Lòng dũng cảm, sự nhất trí, sự hy sinh và tính kiên trì của họ đã được thể hiện bằng chiến thắng giành được ở ngoại vi Mát-xcơ-va.

        Các chiến sĩ bộ binh của tướng Pan-phi-lốp, kỵ binh của tướng Đô-ba-tốp, các chiến sĩ xe tăng của tướng Cu-tu-dốp, sau khi đã chiếm lĩnh các khu vực hỗn hợp, là những người đầu tiên đón những đòn phủ đầu kinh khủng nhất của quân thù trên hướng Vô-lô-cô-lam- xcơ. Những thử thách nặng nề nhất đặt trước số phận của các chiến sĩ trong cuộc chiến đấu một chọi bốn này. Và «khi bọn Hít-le lợi dụng ưu thế lực lượng của mình chọc thủng phòng tuyến, tiến lên trước, thì điều thường thấy là rất ít các chiến sĩ trong số những người bảo vệ phòng tuyến còn sống sót. Không thể lùi được nữa vì, như chính trị viên Cla-cốp — một trong hai mươi tám chiến sĩ còn lại của tướng Pan-phi-lốp, chiến đấu ở tuyến Đô-bô-xê-cốp đã nói với các chiến sĩ của mình vào chiều mười sáu tháng mười một, ngày tiến công của bọn Đức là:

        — « ... Nước Nga vĩ đại, bao la, nhưng không thể lùi được nữa rồi... Đàng sau là Mát-xcơ-va».

        Những lời nói giản dị và đầy sức mạnh của Cla-cốp trong cuộc chiến đấu không cân sức trước khi hy sinh, mà ngày nay chúng ta được nghe, đã nhanh chóng lan đến các đại đội bộ binh, kỵ binh, pháo binh và các phi đội không quân bảo vệ thủ đô.

        Vào những ngày hai mươi của tháng mười một, các cuộc chiến đấu  ở ngoại ô Mát-xcơ-va diễn ra hết sức căng thẳng, đặc biệt ác liệt nhất là ở vùng Clin và hồ chứa nước I-xtrin-ki. Những mảnh sắt vụn cháy, những xác người mặc quần áo xanh lá cây bẩn thỉu, áo choàng phụ nữ chất đầy trên những đống tuyết đổng băng, trên những con đường dẫn đến Mát-xcơ-va; mùi cao su khét lẹt bốc ra từ những chiếc tăng bị phá hủy, cứ ngưng đọng mãi trong bầu không khí lạnh lẽo, ẩm ướt... Bọn Đức vẫn cứ tiến, dù rất chậm vì bị tổn thất nặng nề. Vào cuối tháng mười một, khi các xe tăng địch chỉ còn cách thủ đô khoảng hai mươi nhăm ki-lô-mét, ở Khim-ca đã nghe thấy rổ tiếng súng máy quân thù. Nhưng trong những ngày này, những ngày khó khăn và nặng nề nhất này, Bộ Tổng tư lệnh tối cao vẫn chưa vội tung vào trận đánh những lực lượng dự bị chiến lược mới của mình. Việc tập trung các đơn vị này vừa thực hiện xong. Các cánh rừng ở Đi- mi-tơ-rốp và Khim-ca lúc này trở nên chật hẹp bởi quá đông người mặc những bộ quần áo mới nửa quân sự, bởi vô số xe tải cắm đầy cành ngụy trang...

        Chính sự kiên cường và lòng quả cảm, anh hùng của người lính biểu hiện trong những đơn vị này đã làm cả loài người biết ơn và kính trọng...

        Hầu như cùng lúc với cuộc tiến công vào phía Tây Bắc thủ đô, bọn Đức cũng mở đợt tiến công vào phía nam thành phố. Trong tay viên tướng tư lệnh quân đoàn xe tăng số hai, Gie-đê-xi-an có gần 600 xe tăng. 1.000 pháo lớn, 80.000 tay lê và 300 máy bay. Cuộc chiến đấu bắt đầu trên một mặt trận tương đối chật hẹp. Các đơn vị củả ta đã giữ vững được trận địa, chống lại lực lượng ưu thế của địch trong suốt ba ngày đêm và đến ngày thứ tư — bọn chúng phải rút lui.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2020, 06:10:28 am

*

        Tướng Đi-a-cốp được gọi lên báo cáo gấp với tư lệnh quân đoàn. Bộ tham mưu quân đoàn vẫn đóng ở chỗ cũ cách T. năm ki-lô-mét, trong một làng nhỏ. Nhưng Đi-a-cốp không thể đi xe đến ngay đấy được. Máy bay Đức vừa mới oanh tạc ở đường lớn, phía trước, một xe tải ba tấn bị trúng bom, lật nghiêng, hai cái khác nằm sa lầy dưới rãnh, hàng đoàn xe đằng sau đang bị ùn lại, do đó thiếu tướng phải bước ra khỏi xe. Tập hợp một số lái xe, ra lệnh cho một nhóm bộ binh đang đi vào thành phố dựng lại, thiếu tướng chỉ huy họ dọn sạch con đường... Đến khi các xe chuẩn bị đi tiếp thì trên trời nhợt nhạt và quang mây lại xuất hiện máy bay Đức. Tất cả các chiến sĩ khoảng hai mươi lăm người nhanh chóng ẩn nấp vào các khe rãnh hai bên đường và cánh đồng.

        — Tránh đi, đồng chí thiếu tướng! — Một chiến sĩ râu xồm, mặc chiếc áo lông cộc tay, sau vai lủng lẳng khẩu súng trường chạy về phía Đi-a-cốp, và lăn xuống rãnh, co người lại, nhìn lên trên.

        — Nhanh lên, nhanh lên, đồng chí thiếu tướng! — Anh thét gọi, vẫy vẫy tay.

        Đi-a-cốp nhìn xung quanh và hình như không tìm thấy chỗ mà ông, — một vị tướng — có thể nằm ẩn được, ông vẫn đứng nguyên. Người cao lớn, đẫy đà, bước chậm chậm, áo ca pốt xanh phanh ra để lộ bộ ngực nở nang... Ba chiếc máy bay từ sau cánh rừng xa vòng ra bay dọc theo đường cái, rồi nhanh chóng mở rộng vòng lượn.

        Đi-a-cốp xác định rõ chúng là loại khu trục Mét-xê-mít. Ông nhìn lại lân nữa cánh đồng phụ đầy tuyết, hoàn toàn trống trải, những chiếc xe im lìm đứng nối nhau trên đường, những bóng người thấp thoáng ẩn hiện trên tuyết.

        — Hãy chuẩn bị bắn vào những con chim ăn xác thối! — Ông hét lên với tất cả giọng âm vang của mình. — Lên đạn!

        Tháo chiếc găng ở cánh tay phải, ông rút súng ngắn ra khỏi bao. Lập tức ở một vài chỗ sau thùng xe, dưới các rãnh nghe thấy tiếng lách cách lên đạn. Tuy dáng người đẫy đà, ông bước lên trước vài bước rất nhẹ nhàng — lòng căm giận bọn Đức đã thu hút ông đến nỗi ông quyết định đối đầu với chúng.

        — Ngắm chiếc thứ ba, hướng vào đầu. — Ồng ra lệnh, giọng sôi lên, — Bắn! Năm loạt!

        Tiếng rú của động cơ biến thành tiếng gầm gừ điên cuồng, ba chiếc máy bay đang lao xuống. Đi-a-cốp đứng thẳng người lên, giơ khẩu súng ngang tầm mắt, bắn. Trong khoảnh khắc, ông cảm thấy không phải những chiếc Mét-xê-mít đang lao thẳng xuống ông mà chính ông đang lao thẳng vào nó.

        Một người lính mặc áo bông chẽn, nhìn thiếu tướng như bị thôi miên, khi hồi tâm lại, anh hất súng khỏi vai và bắn vào chiếc máy bay dẫn dầu... Bỗng nhỉên trên bầu trời vang lên những tiếng nổ dữ dội, từ máy bay địch, những loạt đại liên cũng bắt đầu nhả dạn. Những con quái vật khổng lồ hạ thấp xuống, lấp lánh ánh lửa, đôi cánh đen ngòm của nó phủ kín khoảng đất trống trải và người lính bỗng cảm thấy như trời tối sập xuống. Nhưng để chống trả lại một cách tuyệt vọng, anh vẫn liên tiếp bắn hàng loạt đạn vào cái bóng tối đó và tiếp theo anh, hàng loạt đạn của các đồng chí quanh anh cũng đồng thời vang lên. Sau đó, đột nhiên trời lại bừng sáng, tiếng súng cũng im bặt, những con quái vật bằng sắt đã cút hẳn...

        Giơ tay che ánh mặt trời, Đi-a-cốp nhìn xung quanh — khuôn mặt to, đỏ hồng của ông vẫn còn những nét giận dữ, nhưng rồi dịu lại, ông thoáng nở nụ cười. Máy bay không vòng lại nữa... Người linh râu xồm, ngồi trong chiếc rãnh cách ông không xa đang vội vã kéo khóa nòng, cố gắng một cách vô ích để làm bật đạn ra...

        — Anh đang làm gì đấy? — Ông hỏi to. — Anh đang làm trò gì đấy hả ?

        — Nó bị hóc... Tôi đang cố gắng đẩy nó ra! — Anh lính làu bàu nói, mắt sợ hãi nhìn xuống rồi lại nhìn lên.

        — Khi đạn hóc phải làm gì ? Quên hết cả cách tháo đạn hóc rồi phải không? — Đi-a-cốp nói. — Đưa tôi xem nào...

        Bước lại gần người lính, ông cầm lấy khẩu súng, mở khóa nòng, dùng ngón tay đẩy viên đạn và nhẹ nhàng cho vào bầu nòng.

        — Súng đề lâu không lau. — Đi-a-cốp nói. — Chửi rủa nó làm gì. Vũ khí phải giữ cẩn thận chứ. Tay anh sao run thế? Anh mới được bổ sung đến đây phải không ?

        — Tôi ở trong đoàn vận tải... — Anh lính trả lời lí nhí.

        Đi-a-cốp lại ngàng đầu lên — máy bay đã khuất hẳn sau đám mây xám nhạt.

        — Chúng cút rồi, — ông nói và quay lại nhìn người lính. —  Này, anh thấy không, bọn Đức nó sợ anh đấy, đồng chí lái xe ạ...

        Ông cúi xuống, bốc nắm tuyết xoa xoa vào kẽ ngón tay, rồi chậm rãi bước những bước chắc nịch về xe của mình. Người lính râu xồm ngượng nghịu nhìn theo tầm lưng to bè của ông... Các chiến sĩ gọi nhau í ới, bò ra khỏi rãnh. Người lái xe chạy đến chỗ Đi-a-cốp.

        — Đồng chí thiếu tướng! Đồng chí thiếu tướng! — Anh gọi vẻ trách móc hờn dỗi.

        Một chiến sĩ bộ binh bị thương nặng, Đi-a-cốp ra lệnh đưa anh vào xe của mình. Sau đó ông cảm ơn các chiến sĩ đã bắn hiệp đồng tốt và tạm biệt họ... Lên xe, Đi-a-cốp rút thuốc lá đưa cho chiến sĩ bị thương, rồi châm lửa hút và trầm ngâm suy nghĩ. — đôi mắt nhỏ nheo lại, tựa như biến đi trong nếp nhăn. Mắt ông nhìn thấy những đoàn ô tô nặng nề, chờ đầy hàng quân nhu không đi về phía mặt trận mà ngược trở lại, lên phía Bắc, về Mát-xcơ-va. Qua đó có thể thấy được rằng, hậu phương đã lui lại đằng sau...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2020, 06:10:52 am
           
        ... Sĩ quan liên lạc vừa từ tuyến trước về đang đứng trước tư lệnh quân đoàn, trung tướng Vôn-ghin. Trung tướng ló nửa người ra cửa sổ, phía ánh sáng để đọc báo cáo. Ông mời Đi-a-cốp ngồi chờ ông ở ghế...

        Trong ngôi nhà mọi người vẫn im lặng đợi chờ; hai sĩ quan tham mưu làm việc bên chiếc bàn gỗ mộc, trải đầy bản đồ, vừa chăm chú vừa thỉnh thoảng ngước nhìn Vô-ghin, còn viên sĩ quan liên lạc vừa mang báo cáo tới văn không rời mắt khỏi tư lệnh quân đoàn...

        Ông từ từ quay lại, lưng che kín cả cửa sổ, trong phòng tối hẳn.

        — Trung tá Bê-rê-cốp báo cáo là bọn địch đã chiếm được Mô- lô-cô-vô. — Giọng khàn khàn, ông thông báo cho các sĩ quan của mình. — Bê-rê-cóp đã phản kích hồi bảy giờ mười lăm.

        Viên sĩ quan liên lạc thỉnh thoảng lại đổi chân, chiếc áo choàng của anh có tuyết đóng băng lạnh cứng, phủ kín ở dưới kêu lạo xạo.

        — Đúng như vậy... thưa đồng chí trung tướng. — Anh nói ngắc ngứ, đôi môi mấp máy khó nhọc, — Khi tôi đến đây, quân ta đã đánh bật được... bọn địch... rồi. Mọi người đều tham gia tiến công, cả văn thư lẫn những người bị thương nhẹ.

        Anh không nói thêm được nữa, cựa quậy đôi vai và rùng mình, bộ quần áo đóng băng kêu lạo xạo.

        — Sao anh đi lâu thế? — Vôn-ghin hỏi.

        — Tôi ở lại đó không lâu Ở đó là đầm lầy... Tôi bị sa xuống bùn... — Và vẫn giọng nói khó nhọc, trầm vang, tựa như lãnh đạm, anh tiếp. — Trong một đêm, trung đoàn đã đánh lui hai mươi đợt tiến công... Đại đội bốn vẫn giữ vững trận tuyến.

        Tư lệnh quân đoàn không nói gì, ông đứng quay lưng về phía ánh sáng, do đó, không thể thấy được những thay đổi trên nét mặt khuất bóng của ông. Một trong hai người sĩ quan tham mưu đứng dậy vẻ lo lắng về những tin tức này, và người thứ hai cũng đứng lên theo...

        — Tôi đã ở trung đoàn này... Ở đây phần lớn là người A-khan- ghen, — cuối cùng trung tướng lên tiếng, giọng bực dọc. — Họ là thợ rừng, và ngư dân, những người đáng tin cậy.

        — Đúng như vậy, thưa đồng chí trung tướng, — người sĩ quan liên lạc khẳng định. — Đại đội Bốn đã cầm cự đến người cuối cùng.

        Đi-a-cốp bất giác cũng đứng dậy vì bị kích động, và mọi người trong phòng cũng đều đứng dậy, tựa như tưởng niệm đến đại đội anh hùng.

        Tư lệnh quân đoàn cúi xuống bàn lấy bút chì gạch vài nét lên báo cáo... Trông dáng dấp bên ngoài, trông thân hình vạm vỡ, trông những nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt kiên nghị và mái tóc cắt ngẩn của Vôn-ghin, có một nét gì đó gợi nhớ đến những người lính già năm xưa, đến một thượng sĩ nghiêm khắc của đại đội. Qua vẻ hết sức tự tin của ông, ta thấy toát lên sự kiên nhẫn, tính bền bỉ của người lính...

        — Xin máy điện thoại tư lệnh sư đoàn Một trăm mười hai, —  ông nói với sĩ quan trợ lý. — Cho biết ngay tình hình ở khu vực lữ đoàn Xa-phô-nốp. Còn anh, —ông quay sang sĩ quan liên lạc, — hãy chuẩn bị trở lại ngay địa điểm cũ, mang theo mệnh lệnh.

        — Xin tuân lệnh, thưa đồng chí trung tướng!

        Anh thắt lại áo bạt thật chặt, đi lại đôi ủng da và bước ra cửa.

        Sau khi ra lệnh gọi tham mưu trưởng đến, ông ngồi xuống tiếp Đi-a-cóp.

        — Anh đến không bị rủi ro chứ gì? — Ông hỏi, — Từ sáng, bọn Đức bay quần ở đường cái rồi. — Và không đợi trả lời, ông đi ngay vào công việc. — Thế này nhé, tôi đề nghị phải có những biện pháp đề phòng trường hợp khu vực T. có thể bị bao vây. Tôi cho rằng điều đó không thể xảy ra được, nhưng phải dự kiến trước đến cả những tình huống xấu nhất.

        Ồng nhìn thẳng vào Đi-a-cốp.

        — Chúng tôi không để phí thời gian đâu, thưa đồng chí trung tướng. — Đi-a-cốp nói.

        — Tôi cho rằng không thể có việc bao vây hoàn toàn được, — Vòn-ghin nhắc lại. — Nhưng vẫn phải chuẩn bị đến trường hợp xấu,

        Đi-a-cốp đứng dậy, điểm tĩnh, tự tin, hiên ngang quả cảm, chờ thêm lời giải thích.

        — Bọn địch đã ném một số lượng kỹ thuật rất lớn để chống lại chúng ta. — Tư lệnh nói tiếp. — Chịu những thất bại trong cuộc tiến công vỗ mặt bọn Đức sẽ cố gắng trong thời gian ngắn, bao vây thành phố từ hướng Đông. Tiếp theo, nếu như thực hiện được điều đó, chúng sẽ cắt hoặc thẳng lên Ca-sưa và Mát-xcơ-va, hoặc tùy thuộc vào hoàn cảnh sẽ quay về phía Tây... Trong trường hợp sau, chúng sẽ ở phía sau lưng các anh, và chiếm các tuyến giao thông quan trọng nhất. Chúng dự định quây thành phố vào giữa vòng tròn và bóp nghẹt nó trong vòng vây.

        — Tôi không dám yêu cầu nhiều, thưa trung tướng, — Đi-a-cốp nói, ho sặc sụa.

        — Bây giờ đồng chí hãy báo cáo đi! Nhưng tôi nói trước, chỉ tính chủ yếu vào lực lượng của mình thôi. Anh đang có các đơn vị bộ binh, mô tô, pháo chống tăng, pháo cao xạ...

        Vôn-ghin im lặng, tựa như một ý nghĩ mới thoáng qua làm ông quên lãng .

        — Trung đoàn Bê-rê-cốp thật xuất sắc, — ông bỗng trầm ngâm, lẩm bẩm nói. — Một trung đoàn vững chắc.

        Ông với tay lấy chiếc túi thuốc lá trên bàn, vấn một điếu, những ngón tay nhăn nheo, đen đen của ông giống như bàn tay của những người lao động nhiều ở ngoài trời — như nông dân, thủy thủ, bộ đội — cuốn điếu thuốc một cách thành thạo.

        — Đồng chí thiếu tướng ạ, lực lượng của anh thế là đủ rồi đấy, — ông nói sau một lúc im lặng. — Tôi muốn biết xem các vùng phía Đông và Bắc của các anh đã được củng cố như thế nào rồi ? Nếu cần xây dựng thêm thì phải nhanh chóng đặt vấn đề này với ủy ban bảo vệ thành phố. Tôi đã nói việc này với đồng chí La-tô-skin rồi... Tiếp theo, tôi muốn biết các anh đã đảm bảo dự trữ đạn dược, lương thực, thuốc men, và các thứ khác đến đâu? Tình hình điện, nước trong thành phố như thế nào ?

        Chuông điện thoại vang lên, tư lệnh cầm ống nghe. Nhìn nét mặt thay đổi của ông và những câu ngắn ngủi: « Đúng, đúng .. cứ tiếp tục... Hãy nói    to hơn một chút!», khó có thể đoán được lúc này người ta báo cho ông những tin tức tốt lành hay rủi ro. Nhưng thấy ông tập trung lắng nghe, Đi-a-cốp bất giác hơi nghẹn thở... « Đến chỗ tôi ngay lập tức, đồng chí đại tá ạ! Nửa giờ nữa tôi sẽ xuống đơn vị Xa-phô-nốp ». Ông kết thúc cuộc nói chuyện bằng giọng khô khan của mình.

        Đặt   ống nghe xuống, trung tướng im lặng hút thuốc, tất cả sự suy nghĩ của   ông giờ đây đặt cả vào nơi mà quận đoàn ông đang chiến đấu suốt ba ngày đêm nay với một kẻ thù có số quân và kỹ thuật hơn hẳn.

        — Tôi nghe anh đây, thiếu tướng! — Cuối cùng ông nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2020, 06:12:27 am

       
*

        Sau khi báo cáo với tư lệnh quân đoàn và họp cùng tham mưu trưởng, Đi-a-cốp tạm biệt họ, nhìn thiếu tướng có thể thấy rằng ông biết rõ là không có hy vọng gì lớn lao cả.

        Bước dọc theo đường làng đến chỗ xe đỗ sau cổng, Đi-a-cốp cười hiền hậu chào những người ông gặp: một chiến sĩ đang vội vã thúc cương ngựa, người lính gác ở cổng vườn luôn nghển cồ theo dõi bầu trời, cô con gái có bộ áo gi lê lông thú, chân đi ủng vừa chạy vụt qua đường, người liên lạc đang tháo dây điện khỏi cột. Và với cảm giác hài lòng, ông bước đi chậm rãi, giơ tay, chào đáp lại các binh lính... Căn cứ theo nhiều dấu hiệu xung quanh có thể đoán nhận thấy một không khí lo lắng — mội vài phòng ban của Bộ tham mưu quân đoàn đã chuẩn bị rời khỏi đây. Nhưng hình như chính điều đó lại khích lệ Đi-a-cốp, nhìn vẻ ông như muốn nói: «Tôi chưa thấy một cơ sở nào đáng phải lo lắng cả — hãy noi gương tôi đây này. Cuộc chiến đấu ở T. đã bước sang giai đoạn quyết định và điều này xác định rõ ràng với tự lệnh quân khu T. là ý đồ của bọn địch đã lộ rõ. Thậm chí Đi-a-cốp còn cảm thấy dễ chịu vì thời gian chờ đợi trận chiến đấu quyết định đã chấm dứt.

        Máy bay Đức lại lượn vòng trên đường cái... Bước ra khỏi rìa làng, thiếu tướng thấy một tốp năm chiếc đang lao vào mục tiêu bị khuất sau đoạn đường vòng. Năm tiếng nổ lớn lần lượt vang lên phía ấy và trong đám khói lẫn bụi tuyết trắng bốc lên, năm chấm đen lại tiếp tục bay vòng xa dần, khuất sau cánh rừng thưa ven đường cái.

        — Cần phải đợi một lát, đồng chí thiếu tướng ạ, — người lái xe nói với Đi-a-cốp.

        Họ đứng trong vườn cây của nông trường, giấu xe dưới những cây táo to, cành lá nghiêng ngả. Tuyết bay loạn xạ trong không trung lên các cành cây, phả vào họ.

        — Nên sưởi nóng động cơ một chút... Nó có bị đóng băng không ? — Đi-a-cốp hỏi.

        Đường vắng ngắt. Chỉ có một con ngựa màu hung sáng, điểm vệt trắng trên trán đang rướn cổ kéo chiếc xe phóng qua chỗ họ đứng, càng xe cứ nảy lên, đánh vào mông, vào chân, nhưng nó vẫn cố lao nhanh về phía trước.

        Đột nhiên từ sau đường rẽ, một người mặc quần áo bộ đội xuất hiện. Anh ta đi sát vệ đường, thong thả bước những bước đều dặn của người lính bộ binh đã quen đi không ít đường trường, lưng hơi còng xuống dưới chiếc ba lô nặng trĩu. Khi anh đến gần cổng làng, lũ máy bay sau khi bỏ bom xuống vẫn bay dọc theo đường như đuổi theo người lính. Nhưng anh ta thậm chí cũng không thèm quay lên nhìn bọn chúng.

        — Thật là coi thường cuộc sống... — Người lái xe của Đi-a-cốp bực bội nói. — Cần phải lên án sự coi thường này...

        — Một kiểu anh hùng rơm, — thiếu tướng đồng tình.

        Khi thấy cái nhìn dò hỏi của người lái xe, ông lắc đầu, nhăn mặt.

        — Này người anh em ạ, khoan đã, đừng nhìn tôi như thế... Thực ra, một thiếu tướng mà phải nấp dưới rãnh thật không tiện chút nào. Hơn nữa, lúc nào mọi người cũng đang nhìn vào ông ta — ông khoát khoát tay như đành phải bàng lòng trước điều tất yếu này... — Thôi, thôi...

        Lũ máy bay lượn lên cao rồi quay ngược lại, biến vào một đám mây nhẹ phía chân trời.

        Người lính đơn độc đó cung đã bước gần đến chỗ Đi-a-cốp, ông bèn gọi to.

        — Đồng chí chiến sĩ Hồng quân, lại gặp tôi!

        Ảnh lính dừng lại. Tuy nhìn thấy ngay thiếu tướng đang từ dưới rặng cây đi ra, nhưng hình như anh do dự, suy nghĩ có nên chấp hành mệnh lệnh hay không... Đi-a-cốp thú vị ngắm người lính Hồng quân mặc áo sĩ quan không gắn quân hàm, đi ủng và đội mũ vải bộ đội. Người chiến sĩ ăn mặc lạ lùng này lưỡng lự, e ngại bước tới chỗ thiếu tướng. Và Đi-a-cốp sửng sốt ngạc nhiên khi nhận ra đó chính là Xe-li-vê-xtốp — đại tá, mới đây còn là sư đoàn trưởng.

        — A ha... Hóa ra chứng ta có biết nhau. Chúng ta đã gặp nhau, hả ? — Đi-a-cốp lịch thiệp nói.

        Khuôn mặt Xe-li-vê-xtốp dài, trắng nhợt vì lạnh, cằm sệ xuống tỏ vẻ bực bội. Anh ta xấu hổ trước thiếu tướng, người mà anh khi còn là sĩ quan đã từng gặp, và như muốn trút hết nỗi xấu hổ, giận dữ vào ông ta. Đây chính là vị sư trưởng không may mắn như Đi-a-cốp đã được nghe. Anh ta đã bị cách chức vì một hành động nghiêm trọng gì đó và sau đấy phải ra tòa, giờ đây có lẽ anh ta đã lãnh án của tòa án quân sự.

        — Chúc đồng chí mạnh khỏe... — Xe-li-vê-xtốp khô khan nói, cố ghìm sự bực dọc và đưa tay lên mũ.

        — Chào đồng chí... Chà, chà... như thế đấy... — Đi-a-cốp nói kéo dài từng chữ, vẻ ngập ngừng.

        Ông thầm nhận xét Xe-Ii-vê-xtốp, tuy gặp điều không may, nhưng anh ta vẫn giữ được vẻ đàng hoàng, chững chạc, râu cạo nhẵn nhụi, quần áo chỉnh tề, chỉ có chiếc mũ là làm mất đi ấn tượng chung. Nó xờn rách, dùng đã lâu, đội sụp đến tận lông mày, có lẽ nó quá rộng đối với người chủ mới.

        — Nếu không phải là bí mật quân sự thì anh có thể cho biết, anh từ đâu đến và định đi đâu bây giờ? — Đi-a-cốp hỏi.

        — Từ trạm chuyển tiếp đến đơn vị mới được phân công. — Xe-li-vê-xtốp báo cáo.   

        — Với cương vị gì ?

        — Lính trơn, thưa thiếu tướng !


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2020, 06:10:44 am

        Rõ ràng là cuộc nói chuyện rất nặng nề đối với người đại tá bị giáng chức này và anh ta đã phải nóng lòng chịu đựng không biết bao giờ người ta buông tha anh. Nhưng Đi-a-cốp vẫn lịch thiệp, thậm chí rất thân tình hỏi tiếp:

        — Họ điều anh đến đơn vị nào đấy?

        — Trung đoàn mô tô bộ binh hai trăm mười hai.

        — À, như vậy là thuộc đơn vị tôi đấy... Tôi có thể chở anh đi vào thành phố được, — Đi-a-cốp nói tiếp.

        — Xin cảm ơn... Tôi không dám phiền đồng chí.

        — Sao anh lại làm phiền tôi hả? Thôi lại đây, lên xe đi.

        Thiếu tướng bước trước vào xe, ngồi ở ghế sau, và khi thấy anh bạn dường vẫn còn đứng im liền ra lệnh:

        — Lên xe đi! Khẩn trương nào!

        Xe-li-vê-xtốp cúi đầu, chậm chạp bước lên, miễn cưỡng tháo ba lô xuống.

        — Ngồi đây, ngồi vào đây.,. — Thiếu tướng nói và chỉ vào chỗ cạnh mình.

        Ngồi trong xe, Đí-a-cốp liếc nhìn anh bạn đường của mình nhưng anh ta cố quay mặt đi, nhìn ra nơi khác.

        — Bọn Đức ném bom cái gì trên đường cái đấy ? — Đi-a-cốp hỏi.

        — Chúng bắn đoàn xe ngựa trượt tuyết chở các văn công đi biểu diễn — Xe-li-vê-xtốp trả lời ngắn gọn.

        — Anh cứ ra vẻ hiên ngang dưới bom đạn làm gì cơ chứ, hả? — Đi-a-cốp cao giọng hỏi — Hay anh định đi tìm cái chết đấy? Điều đó hoàn toàn xấu đấy nhé...

        Xe-li-vê-xtốp quay hẳn sang, đôi mắt lúc ấy đang long lên giận dữ, vội dịu lại dưới hàng lông mày hơi cụp xuống, kiềm chế mình, anh chỉ nói:

        — Không phải như vậy!

        — Tốt! Vậy anh hãy nói sự thật xem, chuyện gì đã xảy ra với anh ở đấy, báo cáo đi! — Đi-a-cốp dịu dàng hỏi.

        — Thưa thiếu tướng, xin lỗi đồng chí... Nhưng nếu như đồng chí cho phép tôi muốn được...

        — Không, tôi không đồng ý... — Đi-a-cốp cắt ngang. — Anh sẽ phục vụ một trong những đơn vị của tôi, tôi cần phải biết...

        Chiếc ô tô của họ vượt qua con ngựa màu hung đang phóng nhanh trên đường... Con ngựa phi nước đại hốt hoảng hất cao chiếc càng xe bóng nhẫy vì mồ hôi thấm ra từ bộ lông đen sì. Nghe tiếng máy ô tô đằng sau, con ngựa giạt sang vệ dường, ngẩng đầu lên, để lộ hàng lợi mềm mại màu hồng, nó hí vang, dường như để than vãn và cầu xin sự giúp đỡ; tửng đám bọt sùi ra ở mõm. Rồi nó nhảy qua cái rãnh, chạy lồng lên trên bãi đất hoang, đôi càng xe bên sườn nó như tung ra, đập, quất vào đầu gối, khuỷu chân nó liên hồi.

        — Tôi cần phải biết, con bồ câu ạ. — Đi-a-cốp nhắc lại. — Anh đừng bực bội làm gì.

        — Trong hoàn cảnh này, tôi không được bàn cãi nữa, — Xe-li- vê-xtốp nói.

        Anh rút trong túi áo ngực ra một tờ giấy gập bốn, mở ra và đưa cho thiếu tướng.

        — Xin mời đồng chí đọc... Trong này đã ghi tất cả mọi điều, —  Xe-li-vê-xtốp nói thêm, giọng khô lạnh, thậm chí có vẻ kiêu hãnh.

        Hai tay giữ nhẹ lấy tờ giấy để khỏi bay, Đi-a-cốp đọc lướt qua bản sao cách chức người cựu sư đoàn trưởng, đến câu cuối cùng, ông lại đọc lại từ đầu và nhìn kỹ chữ ký, dấu đóng.

        — Tất cả những điều viết ở đây đều đúng chứ? — Đi-a-cốp hỏi nhỏ.

        — Tất nhiên là không đầy đủ. Nhưng nói chung... — Xe-li-vê-xtốp không nhìn ông. Anh gặp may đấy, — thiếu tướng nói, trả lại tờ giấy cho anh. — Tiếc cho anh đã bị xử phạt không xứng đáng. Anh lại gặp tôi, nằm trong tay... — Ông không nói hết.

        Và mặc dù nụ cười lơ đãng chưa tẳt hẳn trên môi, nhưng rõ ràng có thể biết được ông định nói gì...

        Xe-li-vê-xtốp nhún vai, nhưng anh ta không ngờ lại có câu kết luận đáng tiếc thế, có lẽ, chính anh cũng đang sợ bản thân mình. Đút tờ giấy vào túi, anh lấy chiếc khăn mùi soa, vò nhàu, nắm tròn trong tay — chiếc khăn lau mặt đã bị bẩn.

        — Tôi chỉ huy sư đoàn lao vào cuộc chiến đấu, đồng chí thiếu tướng ạ !... — Xe-li-vê-xtốp nói đứt quãng, nét mặt giận dữ, bực bội. —  Tôi không biết được những người do tôi chỉ huy và họ cũng không biết rõ tôi. Nhưng sự việc không phải ở chỗ đó... Ở bộ tham mưu quân đoàn, họ đã để tôi rơi vào một hoàn cảnh là khi tôi đến nhận đơn vị thì người láng giềng bên cánh phải của tôi đã biến mất. Một khung cảnh quen thuộc nhưng dầu sao chúng tôi đều đứng vững. Điều đó cao hơn sức mạnh con người... Chúng tôi giữ vững trận địa đến tối... Bọn chúng ném bom xuống chúng tôi không ngớt, liên lạc với các đơn vị bị đứt... — Vành mũ sụp xuống dưới lông mày, anh đẩy nó ra đằng sau. — Còn điều chủ yếu, điều chủ yếu là không thể có một mảy may hy vọng đẩy lùi được đợt tiến công ồ ạt đỏ.

        Lúc này Đi-a-cốp lắng nghe với cảm giác hình như Xe-li-vê- xtốp đang nói với một ngôn ngữ xa lạ của người khác. Lẽ dĩ nhiên thiếu tướng nắm được ý nghĩa của mỗi lời nói rời rạc, nhưng cảm giác này không lâu... Xe-li-vê-xtốp, như trong bản án đã ghi, không hoàn thành mệnh lệnh chiến đấu: chưa nhận được lệnh rút lui, anh đã tự động cho các đơn vị rời khỏi vị trí chiến đấu để bọn Đức chiếm được một vài trận địa quan trọng... Và bây giờ, dù người sư trưởng yếu đuối, hèn nhát bị kẻ địch đánh bại này có cố nói điều gì trong những lời thanh minh của mình, dù cho anh ta vin cớ, viện lẽ gì đi nữa cũng không làm cho Đi-a-cốp động lòng. Những hoàn cảnh mà chính ông đã gặp không dễ gì hơn những hoàn cảnh mà Xe-Ii-vê- xtốp phải chiến đấu, và giờ đây lại còn khó khăn, ác liệt hơn nhiều.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2020, 06:11:05 am

        Sự yếu đuối xa lạ đối với Đi-a-cốp, khống chi đơn giản là điều xót thương mà còn là cái gì đó khó hiểu.

        — Xe tăng và bọn bộ binh cơ giới Đức ùn ùn kéo lên hết lớp này đến lớp kia; với số lượng nhiều như thế; — Xe-li-vê-xtốp tiếp tục thanh minh. — ở các đơn vị, số người hy sinh tăng lên rất nhanh. Ngay giờ đầu tiên, hai tiểu đoàn của tôi đã bị loại khỏi vòng chiến. Tôi nhìn thấy rất rõ. Tôi không thể giữ vững được trận địa với một lực lượng mỏng như tôi đã có... Đài quan sát của tôi rơi vào tâm hỏa lực của súng máy, chính ủy sư đoàn bị thương nặng — Bỗng nhiên anh ta mỉm cười ngạc nhiên, châm biếm, — Còn tôi vẫn lành lặn, không mội viên đạn nào của địch chạm vào tôi cả.

        Nhưng hình như thấy đã có khoảng cách giữa mình và Đi-a-cốp, nên Xe-li-vê-xtốp liền chấm dứt ngay những lời nói văn hoa sáo rỗng. Thiếu tướng không nói gì, ông nhăn mặt nhìn người ngồi cạnh mình như từ một nơi rất xa xôi nào đến.

        — Tôi có lỗi cho bộ đội rút lui khi chưa có lệnh — vì cảm thấy khoảng cách giữa anh và Đi-a-cốp tăng lên, anh ta có nói to, mạch lạc. — Nhưng trong đời tôi, tôi đã học được điều gi đó rồi, và không phải lần đâu tiên tôi biết mùi chiến tranh. Chống trả lại xe tăng mà chi có một loạt mệnh lệnh thì chưa đủ, cần phải có phương tiện, những phương tiện cần thiết... và số quân lớn... Chả lẽ đồng chí không biết được điều này, thưa đồng chí thiếu tướng !... Bọn quỷ đó đã đánh tan chúng tôi! — Xe-li-vê-xtốp thất vọng nói và bực bội đưa mắt nhìn người nói chuyện với mình. Dù anh có thanh minh, dù anh có biện bạch, kết quả vẫn là một thôi...

        — Tôi cũng đã nghe tất cả những điều đó khi hỏi những kẻ đào ngũ, — Đi-a-cốp bình thản nói.

        Xe-li-vê-xtốp hoang mang, im lặng, trên khuôn mặt không còn trẻ trung hơi tái của anh ta thoáng đỏ ửng, thể hiện sự bất lực. Anh ta lại như cái máy, kéo sụp chiếc mũ của mình xuống.

        Một lát sau, chiếc xe đã chạy qua tuyến phòng thủ ở ngoại ô thành phố, đã thấy hiện ra những đường hào, những cọc sắt thép chống tăng cắm nghiêng nghiêng ở các vị trí cố thủ kiên cố khác nhau đang nhô lên trên mặt tuyết... Ở đây, vùng ngoại ô này, các trận chiến đấu chưa xảy ra, nhưng thành phố nổi bật lên ở phía trước, nằm trải dài trên một phạm vi lớn, ống khói nhiều nhà máy nhô lên trông giống các nòng súng cao xạ khổng lồ đang vươn cao lên trời, im lìm, đen sẫm như đang bị phủ dưới làn khói một con tàu lớn, thành phố cũng đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu chống cuộc bao vây. Tiếp theo là những đường phố dài bị cắt bởi các chướng ngại vật. Đường phố vắng người, ngập tuyết, các hầm trú ẩn đã xới tung bề mặt quảng trường, các sân nhà đã thành những ụ pháo phòng không.

        Ô tô đỗ cạnh tòa nhà Bộ tham mưu quân khu.

        — Anh đã biết trung đoàn bộ binh mô tô ở đâu chưa? — Đi-a-cốp hỏi. — Anh hãy đến phố Người Vô sản... Cách đây không xa lắm đâu...

        — Cám ơn đồng chí thiếu tướng, tôi sẽ tìm được... — Xe-li-vê- xtốp nói, chui ra khỏi xe và xốc ba lô lên vai.

        — Dừng lại chút nào.. — Đi-a-cốp nói chậm rãi. trong lòng ông cảm thấy một sự thương xót không rõ rệt. — Tôi có thể giữ anh lại ở Bộ tham mưu... Anh có muốn làm sĩ quan trợ lý không?

        — Không, không... không bao giờ... — Xe-li-vê-xtốp hình như hơi sợ hãi. — Xin đồng chí thứ lỗi, thưa đồng chí thiếu tướng... Tôi chỉ huy tồi lắm. Tôi sẽ cầm súng trường thôi... — Anh giơ tay lên mũ chào. — Xin phép đồng chí tôi đi...

        — Được, anh đi đi... — Thiếu tướng nghiêm trang nói. — Hãy cố gắng sửa chữa khuyết điểm, khuyết điểm trầm trọng nhất của anh là thiếu lòng tin vào chiến thắng. Anh có khả năng nhiều, hãy biết dùng nó cho đúng... Anh là người có uy tín... Thôi, anh đi đi.

        Xe-li-vê-xtốp quay người như một cái máy và bước đi, chiếc ba lô người lính như đè trĩu lưng anh. « Một con người đã bị thương tổn, anh ta không nghe thấy gì lời tiễn biệt của mình cả... Đi-a-cốp vừa bước lên cầu thang vừa suy nghĩ. Xe-li-vê-xtốp đã để lại trong ông một ấn tượng tốt sau khi anh ta từ chối không ở lại Bộ tham mưu. « Như thế là đầu sao anh ta cũng còn có một ý thức về mình, và sẽ tốt đẹp hơn nếu vẫn sống, nếu không cố tình đề cho một viên đạn nào đó cướp đi».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2020, 06:11:46 am

       
3

        Những ngày hai mươi của tháng mười một, các trận đánh xung quanh T. vẫn không giảm mức ác liệt. Ở phía Bắc Mát-xcơ-va, bọn Đức định phá vỡ tuyến phòng thủ và cùng một lúc bất ngờ thọc vào thành phố T. từ hướng Đông Bắc, nhưng chúng đã bị đày lùi. Sau đó một lân nữa, chúng lại dùng một lực lượng lớn tiến công từ hướng Đông Nam và lần này các đơn vị SS đã được tung vào trận đánh... Vào những ngày này, hàng loạt đạn đại bác không ngừng rền vang trong thành phố. Trên những đường phố ngập tuyết vì lâu không được quét dọn, nham nhở những hố đạn đại bác tầm xa của Đức. Chỉ khoảng quá nửa đêm thỉnh thoảng những người bảo vệ T. mới được nghỉ ngơi chốc lát.

        Trời gần tối, ánh hoàng hôn nhập nhoạng, những chiếc máy bay lao xuống ném bom vào trận địa trung đoàn công nhân rồi vội vã tăng tốc, vọt lên, khuất sau bầu trời mờ hơi sương. Pa-ven Grô-mốp đang lê từng bước dọc theo chiến hào, anh bị vấp luôn vì phải bế Bô-cốp đang rũ ra trên tay anh. Đến hầm trú ẩn của các chiến sĩ súng máy, anh đặt Bô-cốp nằm ngay trên mặt tuyết và thấy Bô-cốp đã hơi mở mắt ra như tỉnh lại.

        — Va-nhi-a! Cậu làm sao thế!... — Pa-ven thét lên.— Cậu tỉnh chưa?... Ôi thật là quỷ tha ma bắt cậu đi!

        Anh tựa lưng vào thành hào, đầu vẫn quay cuồng nặng trịch vì trận bom vừa rồi, anh cảm thấy miệng vẫn còn lợm lợm, buồn nôn. Nhưng khuôn mặt đẫm mồ hôi của anh đã thoáng cười rạng rỡ. Mười lăm phút trước, Pa-ven nhìn thấy Bô-cốp đang luồn lách qua đường hào thông tin, bỗng nhiên anh ta nảy người lên rồi ngã nhào xuống sau một tiếng nổ bất ngờ, đất tung tóe trùm lên người anh; hình như anh đã bị giết và bị chôn vùi ngay tại chỗ.

        Bế anh lên, Pa-ven sợ hãi tưởng như đang nâng một xác chết. Nhưng những diễn biến vừa rồi làm Pa-ven cảm thấy bạn anh lúc này đang dần dần tỉnh lại.

        Nằm trên tuyết, chân Bô-cốp động đậy, tay anh nhấc lên, rồi nghền cò nhìn Pa-ven như muốn hỏi: «Tôi bị làm sao thế này? ».

        — Chúng mình sẽ đưa cậu đến trạm cẩp cứu ngay bây giờ đây. — Pa-ven nói.

        — Tôi không nhìn thấy gì ở đằng ấy cả, — bất ngờ, Bô-cốp nói to như đang nói chuyện với người điếc và nhổ nước bọt, miệng anh còn dầy đất. — Xung quanh bị bao vây...

        — Thế đó, quỷ bắt cậu đi! — Pa-ven sung sướng nhắc lại.

        Bô-cốp dường như hơi ngạc nhiên.

        — Cậu nhìn kia, như chưa có việc gì xảy ra cả, — anh ta lại nói. — Mà mọi việc đang diễn ra ác liệt.

        Tì vào bờ đất, anh đứng dậy và thận trọng ưỡn thẳng người lên. Pa-ven tụt khẩu súng trường thiện xạ ra khỏi vai mình và đưa cho Bô-cốp.

        — Cầm lấy... Cậu còn bắn được đấy, anh bạn tóc xoăn ạ.

        — A hà — Bô-cốp reo lên. — Thật tuyệt vời là vẫn còn khẩu súng.

        Họ im lặng một lát. Trên khuôn mặt tái xám vì lạnh của Bô-cốp thoáng vẻ trầm tư.

        — Cậu lại làm sao thế ? — Pa-ven hỏi.

        — Không, không sao đâu... Mình đang nghĩ đến Ma-ri-a, cô ta rất hài lòng khi biết chúng mình ở cùng đại đội .. Thôi được... Đi đi, Pa-sa, chúng mình đi đi. Bây giờ thì để mình tự đi.

        Pa-ven đứng lên và nhìn qua khe quan sát. Sườn đồi dốc đứng mở ra trước mắt anh đã phủ đầy đất đen và còn sót lại đây đó một vài chiếc cọc trơ trọi của hàng rào chướng ngại vật. Chỉ có ở đỉnh đồi mới lộ màu đất xám đen đang bốc hơi phơi mình trong bầu không khí ẩm ướt và bãi chiến trường vẫn đang âm ỉ bốc khối. Tiếng âm thanh nương nhẹ như bật ra từ đây đàn nốt cao làm Pa-ven chú ý; anh dưa mắt tim mãi mới nhận ra đó là tiếng xào xạc của một nhành liễu mọc gần bên hầm, đang đung đưa phát ra những tiếng rền rĩ buồn bã trong gió. Không nghe thấy tiếng gì hơn nữa... Lúc này trong tâm trí Pa-ven chỉ hoàn toàn biết rõ là tiếng súng đã ngừng, thêm một ngày đã trôi qua và đại đội anh một lần nữa vẫn giữ vững đươc trận địa — hai dãy hào đã bị bom đào nát, cắt làm đôi, khói vẫn bốc âm ỉ trên ngọn đồi bên bờ sông nhỏ có tên gọi rất dịu dàng «Ru-sa-lô- sca»... Ạnh thầm đoán hơn là nhìn thấy trong bìa rừng tối sẫm, cứ dọc theo chiến hào hết khu rừng này là đến vị trí phòng thủ tiền tiêu của bọn Đức. Nhìn lại đằng sau, khó mà nhận ra được bên bờ đối diện là những công trình của nhà ga; cũng không nhìn rõ ngoại ô thành phố cách đây không xa — bóng tối tím sẫm đã che mất nó... Pa-ven rất muốn ngồi ngay xuống nơi anh đang đứng, chỉ nửa tiếng hoặc mười phút thôi, ngồi thoải mái và không phải lo lắng băn khoăn điều gì. Nhưng anh đã ghìm mình lại — còn phải gửi báo cáo lên tiểu đoàn, lo cho thương binh, chú ý sửa chữa lại những đoạn hào, công sự bị sụt lở và nhiều việc khác nữa...

        — Dù sao chăng nữa anh bạn cũng phải đi đến trạm quân y, tóc xoăn ạ, — anh nói với Bô-cốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2020, 06:12:08 am

        A-nhi-xi-nốp, chiến sĩ súng máy vừa bò từ hầm ra, ngồi lên khúc gỗ, lấy túi thuốc và tờ báo rồi cẩn thận xé một góc nhỏ, phải tằn tiện từng xăng-ti-mét giấy. Anh có cảm giác như lại được ngồi ở nơi nào đó trong bầu không khí trong lành — mêt mỏi và bình thản — như khi ra “khỏi hầm lò sau ca làm việc. Những ngón tay anh run run lóng ngóng, vụng về vấn thuốc, những sợi thuóc lá rơi trên tuyết.

        — Cậu đừng có tiếc đạn với bọn Hít-le, hôm nay tôi xả vào chúng mười băng trọn vẹn. — A-nhi-xi-mốp nói giọng khàn khàn rồi đưa túi thuốc cho Bô-cốp. — Đãi cậu dấy, chàng thiện xạ ạ... Hôm nay thành tích cậu thế nào ?

        Nghe hết câu chuyện của chàng thiện xạ kể bị sức ép như thế nào, A-nhi-xi-mốp thích thú.

        — Khẩu súng của cậu không bị vùi à? Thước ngắm vẫn tốt chứ?

        — Được thế phải cám ơn Pa-sa. — Bô-cốp khẽ nói.

        — Anh ấy là người tốt bụng. Dù bực dọc thế nào cũng không cáu giận bao giờ cả, — anh thợ mỏ nói, mắt ánh lên những tia sáng tươi vui.

        — Cậu ấy là người thật thà, chất phác. Người gì mà cả tin, chẳng bao giờ cáu bực, — Bô-cốp nói, giọng trách móc thân tình. —  Tôi biết cậu ấy đã lâu. Bọn mình là người cùng phố Pô-rô-khô-va với nhau. Pa-ven luôn luôn đối xử rất tốt với mọi người có trách nhiệm, lương tâm.

        — Tôi cũng đã nói, — anh ấy là người tốt bụng — A-nhi-xi- mốp tự nhiên nhìn hai bàn tay và nói chẳng liên quan gì đến câu chuyện vừa qua. — Tại sao lại thế nhỉ: cùng một ngón tay, khi cầm khẩu trung liên thì cứng như thép, thế mà cứ ngừng bắn là run lên.

        Bô-cốp khoác súng lên vai.

        — Thôi nhé, chúc cậu sống lâu. — anh từ biệt. — Đại đội trưởng ra lệnh cho tôi phải đi trạm xá, — anh nháy mắt với A-nhi-xi-mốp rồi đột nhiên nói nhanh. — Đúng, quả là một con người tốt bụng

        Đang đi về hầm của mình nắm ở sườn đồi đằng sau, bỗng nhìn thấy Ê-li-xây-ép từ đàng xa, Pa-ven rảo bước hơn. Chính trị viên khoác chiếc áo bành tô phủ dầy tuyết đội mũ lông cừu kiểu «bánh ga- tô» đang đứng trước hầm nói chuyện với một chuẩn úy.

        — Không làm sao đến sớm hơn được. — Pa-ven nghe thấy tiếng nói chuyện. — Đồng chí có biết hỏa lực dồn dập như thế nào không? Mọi người phải nằm cúi xuống không thể ngóc đầu lên được, — chuẩn úy đang biện bạch.

        Chú Pô-rphi-ri I-a-cô-lê-vích! — Pa-ven kêu lên và anh ghìm lại được để không nói thêm: « Chú còn sống! Hay quá!».

        — Thế là vẫn còn gặp cậu ! — Ê-li-xây-ép nói. — Tiểu đoàn trưởng vừa gọi đây nói xuống hỏi về tổn thất. Ông ấy báo trước là có thể đêm nay bọn Đức lại tiến công nữa.

        Áph mắt họ nhìn nhau rất nhanh, hiện rõ vẻ hài lòng (vì cả hai đều khỏe mạnh, lành lặn) pha lẫn sự lo lắng và thông cảm.

        — Sau-bữa ăn trưa, chúng ta sẽ đào lại công sự, — Pa-ven nói, khi cả hai người cùng bước vào hầm. — Ở trung đội hai, đường hào thông tin bị lấp rồi, hầm chính bị phá vỡ. Trừ những người có nhiệm vụ quan sát, còn tất cả đều đi đào hào hết. — anh ngắc ngứ, nhớ ra là các chiến sĩ của mình (cho đến chiều nay chỉ còn không quá bốn chục người) đang khao khát được ngủ một giấc. — Cần phải đào sâu hơn nữa, sâu nữa, — anh hạ thấp giọng như để nhắc mình. —  Tình hình Đru-giơ-nhi-cốp thế nào? Chú có nhìn thấy anh ấy không, hả chú Pô-rphi-ri I-a-cô-lê-vích ?

        — Không mang kịp Đru-giơ-nhi-cốp về đến trạm xá... — Ê-li- xây-ép nói, đi vượt lên trước cầm chiếc đèn dầu. — Cậu ấy vẫn tỉnh táo cho đến phút cuối cùng, vẫn giục các anh em tải thương: « Các đồng chí nhanh lên, tôi cần phải mổ ngay...».

        Chiếc đèn dầu cháy leo lét, tỏa khói khét nồng. Ngọn lửa vàng lúc thì heo hắt lúc lại bùng lên, và trong bóng tối, chiếc bàn gỗ mộc không bào, mặt bàn xù xì hiện ra phía trên; còn trên tường hầm đen bóng như than, lấp loáng một làn sương muối mỏng.

        — A, quỷ thật!... Còn cái buốt chó má này nữa! — Pa-ven lầm bầm, kéo dài giọng qua hàm răng rít chặt.

        Anh đang hình dung thấy rất rõ Đru-giơ-nhi-cốp nằm trên tấm vải bạt được khiêng từ trận địa về phía sau và đang thúc giục các chiến sĩ tải thương như thế nào.

        Ê-li-xây-ép chỉnh lại ánh sáng ngọn đèn rồi ngồi xuống chiếc bệ nằm bằng đất phủ cành thông, rút tờ báo trong chiếc áo bành tô.

        — Cậu có muốn xem qua tí không, Pa-ven Grô-mốp? — Ông hỏi. — Báo Mát-xcơ-va mới tinh đấy... Ở đấy có viết về trung đoàn chúng ta.

        Ê-li-xây-ép chỉ vào một bài báo với đâu đề: «Cuộc chiến đấu giành giật từng thước đất».

        — Đúng như vậy đấy. từng thước đất, — Pa-ven nói, cúi nhìn tờ báo, lát sau anh đọc tiếp.

        « ... Sau một thời gian tạm ngừng ngắn ngủi, các cuộc chiến đấu trên những con đường dẫn tới vùng T. lại bắt đầu rộ lên với một sức mạnh mới. Bây giờ khó nói trước được kết quả của nó, bởi vì tình hình vẫn còn căng thằng và ở một vài điểm tại ngoại ô thành phố đang diễn ra cảnh tranh chấp giành giật nhau...».

        Cuối bài báo, Pa-ven bắt gặp một câu: «Các chiến sĩ của trung đoàn công nhân đang kề vai sát cánh cùng với Hồng quân chiến đấu rất dũng cảm và anh hùng...».   

        « Dũng cảm và anh hùng», — anh nhắc lại. — « Đây là chúng ta, đây là viết về chứng ta ư? ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2020, 07:25:16 am

        Anh suy nghĩ, tựa như nghi ngờ những sự thật mà anh vừa đọc được. Đã hơn tuần nay anh cùng với đại đội của mình chiến đấu, sống dưới mưa đạn, chỉ đôi khi tạm ngừng lúc chiều tối. Anh không quen với sự yên tĩnh và quên cả việc thay quần áo buổi tối. Nhiều khi anh như mụ người vì mất ngủ, vì những trận bom nổ và những loạt đạn cối inh tai hàng giờ liền. Anh không nhớ được số trận đánh mà đại đội anh đã đẩy lùi địch, hàng ngày anh đã phải chôn cất bao nhiêu đồng chí hy sinh ở trên bờ con suối Ru-sa-lô-sca và đã phải đào biết bao nhiêu huyệt trên những miếng đất cứng như sắt này. Tất cả những điều này đã trở thành cuộc sống hàng ngày của anh, khó mà diễn tả được. Nhưng cuộc sống hàng ngày đó đã được kêu bằng những từ trang trọng — cuộc sống anh hùng. Anh ngẩng nhìn Ê-li-xây-ép: chính trị viên trông già đi sau một ngày, ông ngồi co ro vì lạnh, đầu ngoẹo xuống, đang thiếp đi, giấu chiếc cằm vào trong áo bành tô.

        « Quả thật, tờ báo đã viết đúng», — Pa-ven khẳng định và lại nhìn người đồng chí. Nhưng ý nghĩ cho rằng ở đây họ đã chiến đấu anh hùng không làm anh thoải mái, và rồi anh cũng quên ngay đi.

        ... Buổi tối trôi qua yên tĩnh — bọn Đức đã vứt bỏ mọi dự tính tỏ ra không tích cực lắm. Cuối cùng, các chiến sĩ cũng được lệnh tạm nghỉ ngơi và đến khuya cùng với bữa ăn tối muộn mằn, người ta mang cả thư đến cho toàn đại đội... Pa-ven là người sung sướng đầu tiên vì nhận được một lúc ba lá thư — hai của Na-ta-sa, một của nhà máy, nơi anh làm việc trước đây, nay đã đi sơ tán ở hậu phương xa xôi. Anh háo hức đọc, tất nhiên là hai lá thư của vợ trước ; anh cảm thấy xúc động, khó mà giấu được. Thư của Na-ta-sa dài, viết rất tỉ mỉ, tràn đầy tình cảm âu yếm, dịu hiền và vẫn như trước đây. Na-ta- sa viết rất dí dỏm, vui vẻ vì cô cố làm cho anh yên tâm, thoải mái, hài lòng. Chính sự ân cần, chăm sóc của Na-ta-sa, điều quý giá vô ngần trong ngày hôm nay, làm cho tâm trí Pa-ven bị xáo động bất ngờ. Thời gian gần đây, Pa-ven ít nghĩ tới nhà và người thân; đúng hơn là anh cố không nghĩ tới, cố gạt ra ngoài sự suy nghĩ về tất cả những gì có thể làm anh yếu mềm, nhụt trí. Một sự hờ hững vô ý thức đang diễn ra trong hoàn cảnh sống đặc biệt; trong lúc anh đang làm một công việc đòi hỏi phải tập trung cao độ ý chí, nghị lực. Anh không bao giờ nghĩ rằng mình nhất định phải hy sinh, nhưng anh đã nhìn thấy nhiều cái chết của bạn bè, đồng chí. Hôm qua trong đại đội của anh thấy thiếu bốn người; hôm kia hai chiến sĩ chết ở khe núi; hôm nay cũng có bốn đồng chí vắng mặt. Những tiếng nói dịu dàng, âu yếm vui vẻ từ bên kia bờ sông Lu-sa-lô-sca vọng đến với Pa-ven lúc này tựa như một hành tinh khác — những tiếng nói từ thành phố Hòa Bình xa xôi, cần phải quên nó đi vì nó gợi cho anh nhớ tới tất cả những gì anh đang cố bắt bản thân không được nghĩ đến: đó là những quyến rũ của cuộc sống. Người bạn cùng làm trong nhà máy, một kỹ sư trẻ viết cho Pa-ven về công việc của mình, về những thành tích sản xuất; ngoài những tin tức khác, trong thư còn nói ở nhà máy đang thiết kế loại máy tự động với số lượng lớn. Bản thân là một chuyên gia trong việc chế tạo máy tự động, lúc này Pa-ven cảm thấy bực bội, bùi ngùi tiếc cho số phận mình vì công việc đặc biệt của anh — vẽ thiết kế máy — vẫn chưa hoàn thành. Những chi tiết bàn vẽ chiếc máy này đã được cuộn tròn để trong cặp nằm ở ngăn nào đó trong tủ của bố. Và ai đó có thể nói, chúng sẽ được ra đời, xuống xưởng máy, trong khi chính chủ nhân của nó lại không bao giờ sờ đến chúng nữa... Những bức thư đã đọc nằm trước mặt anh... Ê-li-xây-ép ngồi đổi diện, lúc thì nhìn lá thư, lúc thì nhìn Pa-ven, người đại đội trưởng đang buồn rầu, đăm chiêu (thư vợ anh đã cất rồi). Trong hầm lại lạnh — chiếc bếp lò bằng sắt tây nhóm vội trước bữa ăn tới đã tàn đi nhanh chóng. Từ trận địa tiểu đoàn bạn, thỉnh thoảng lại vang lên từng loạt đạn súng máy năm sáu viên một và như để phụ họa theo chúng, Pa-ven nắm chặt những ngón tay thô rám của mình cũng đấm đấm xuống bàn, nhưng chính anh lại không nhận thấy điều này.

        — Pa-ven Grô-mốp ! — Chính trị viên gọi anh. — Này Pa-ven, bây giờ chúng ta đi đào hầm lò.

        Pa-ven ngẩng nhìn chính trị viên không nhúc nhích.

        — Hãy tưởng tượng xem, họ sống không có ánh lửa. — Pa-ven nói. — Các rạp chiếu bóng, tủ kính đều trong khói lửa... Họ đi lại không phải cúi người...

        — Tôi xin nhắc lại: đi đào hầm lò thôi, — Ê-li-xây-ép nói. —  Mọi việc rồi sẽ vui vẻ hơn. .

        — Biết sao được, ừ thì làm... — Pa-ven đồng ý. — Còn công việc của nhà máy đang tiến triển thuận lợi. Chỉ có cán bộ chuyên nghiệp là vẫn còn thiếu.

        — Cậu có biết tôi nghĩ gì trong lúc này không ? — Ê-li-xây-ép ngừng lại một lát, rõ ràng ông đang nén sự mệt mỏi của mình một cách khó khăn, trên khuôn mặt đứng tuổi, có bộ râu bạc như cước của ông thoáng có nét nhăn. — Cậu hãy nghe này ! Nếu cậu có chai rượu, nhớ đấy, còn trong túi tôi có gói quà. Chúng mình phải giữ nó làm gì nhỉ?— Đang nằm, ông đột nhiên ngồi dậy, dưa tay ra như đề nghị  và mời Pa-ven với một thái độ rất kính nể, lôi cuốn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2020, 07:25:54 am

        Chúng ta sẽ mở nút chai nhân dịp... —  Ê-li-xây-ép ngắc ngứ. —  nhân dịp một buổi tối yên tĩnh... Tuy nhiên, cậu có thể uống chúc sức khỏe tôi, còn tôi chúc sức khỏe cậu... Cậu thấy thế nào? Không phản đối chứ?

        Ê-li-xây-ép còn nháy mắt: thường ông vẫn có tiếng là nghiêm khắc, hơi khô khan và ông cố tỏ ra là một người sôi nổi và như người ta thường nói là một người « cởi mở ».

        Pa-ven nhíu lông mày, nghi ngờ nhìn ông

        — Chú nhận được tin vui ở nhà ? — Anh hỏi.

        — Đúng đấy... A-gri-pi-na Xê-mê-nốp-na gửi lời hỏi thăm cậu đấy... Bà ấy viết là đã đan cho cậu chiếc áo len. Nào, như vậy hôm nay chúng ta uống được chứ? Vì sự kinh hoàng của quân thù nữa chứ?

        Pa-ven như sực tỉnh vội gấp lá thư trên bàn lại. « Tất cả điều này đã giành cho mình đấy mà, — anh đoán. — Ê-li-xây-ép muốn làm mình vui vẻ, « an ủi»... Ôi con người kỳ quặc!».

        Bực bội, anh lúng túng nói trong miệng:

        — Ừ thì uống... Nếu như chú muốn.

        — Khẩn trương, khẩn trương lên một tí! — Ê-li-xây-ép giục. Có thể nghĩ là ông đang sốt ruột để chóng uống rượu. — Lau sạch bàn đi, trải khăn lên... Ê, cậu là một con gấu chậm chạp! Hãy linh hoạt lên, tôi bỏ thêm củi vào lò.

        — Cháu xong ngay đây, một phút thôi... — Pa-ven vội vã cất thư vào xà cột. — Thực ra chúng ta uống rượu mừng một tối yên tĩnh. — Anh nói với chính trị viên, giọng hào hứng, phấn khởi. — Chú uống mừng cháu, còn cháu uống mừng chú. Mọi lần chúng ta đều làm như thế... Chú có biết không, cháu nhằm chai rượu của chú đã lâu rồi, — anh hơi luống cuống, ngượng nghịu. — Mọi người đều chờ một cái cớ chính đáng...

        Khi chai rượu đã được mở và rót vào các cốc, Pa-ven nhắc lại:

        — Chúc chú mạnh khỏe, chú Prô-xô-phi I-a-cô-xMê-vích, người đồng chí thân thiết của cháu!

        « Tâm trí để ở đâu thế này? — Anh nhìn người chính trị viên đã luống tuổi của mình. — Một con người dẻo dai, bền bỉ quý giá...».

        Pa-ven nghĩ, giờ đây, không có gì gần gũi, thân quý hơn những đồng chí chiến đấu đang cùng sống với anh ở đây như: Ê-li-xây-ép, Bô-cốp, Su-kin, A-nhi-xi-mốp, v.v. Họ chỉ là một nhóm nhỏ trên mảnh đất trơ trụi, hoang tàn, đầy súng đạn, chết chóc này. Họ đều dựa vào nhau, sẵn sàng giúp đỡ bạn khi bị thương, hoặc bỗng nhiên lại buồn nhớ nhà; trong trường hợp lâm nguy, họ sẽ hy sinh cả tính mạng mình để cứu bạn, còn nếu nhớ nhà, họ sẽ chia sẻ cùng bạn nắm thuốc lá cuối cùng... và có lẽ ngay cả người cha thân yêu cũng không thể chăm sóc anh như Ê-li-xây-ép — đang cố an ủi anh một cách vụng về và hơi ngớ ngẩn như hôm nay.

        Hiểu được trách nhiệm của mình đối với Ê-li-xây-ép, Pa-ven thú thật:

        — Những lá thư nhà quả thật làm cháu xao xuyến. Chưa lúc nào như vậy cả... Những lá thư nhà thật tuyệt...

        Sau đó anh kể lại cho chinh trị viên những điều anh bị dằn vặt khi đọc lá thư của người bạn ở nhà máy, anh kể với tất cả sự cởi mở, chân thật của những con người sống, chiến đấu ở tiền tuyến, không cần phải giấu giếm nhau một điều gì cả.

        — Cháu đã suy bì, tị nạnh, chú Ê-li-xây-ép ạ, — anh nói, — không phải vì mọi người được đi xem phim dưới ánh điện trên đường phố, họ không phải cúi người lom khom như chúng ta ở đâv... Không bao giờ cháu ghen tị với họ như vậy, xin lấy danh dự mà nói... Nhưng đồng thời cháu lại bực tức đến chảy nước mắt vì cậu ấy đang làm những công việc mà cháu đã từng làm...

        Anh nói về chiếc máy tự động, Pa-ven không nhận thấy chính anh đang bị lôi cuốn vào câu chuyện. Xé một tờ giấy trắng trong quyển sổ tác chiến ra, anh bắt đầu vẽ sơ đồ.

        — Điều đầu tiên, một cái gì đó rất to lớn sẽ hình thành, hoặc nói chung sẽ không có cái gì cả, thất bại hoàn toàn, — trong tầng hầm thấp, giọng anh rì rầm, nhỏ nhẹ. — Về sau không hiểu sao, cháu ngủ thiếp đi cho đến sáng sớm hôm sau, cháu nhớ đó là một ngày nghỉ. Rồi đột nhiên, cháu tưởng tượng mình đang điều khiển chiếc máy đó. Cháu nhìn thấy rất rõ.

        — Đó là tâm lý sáng tạo, không phải chuyện đùa đâu. — Ê-li- xởy-ép nói vẻ khâm phục.

        — Tâm lý ạ? Cũng có thể... — Pa-ven không rời mắt khỏi tờ giấy.

        Sau một thời gian dài, lần đầu tiên anh mới cảm thấy mình vẫn là người kỹ sư, người sáng chế, một con người có nghề nghiệp. Và thật ra cái ước mơ thoáng qua này chỉ có thể thực hiện được khi anh trở về ngôi nhà thân thương... Phác thảo qua sơ đồ chiếc máy, Pa-ven bất giác mỉm cười, cố gắng thể hiện nó trên tờ giấy...

        ... Một cơn gió lạnh buốt ùa vào hầm, ngọn đèn dầu lập lòe, lay động tựa như muốn rời khỏi ngọn bấc mỏng manh để bay lên. Su-kin, trung đội trưởng trung đội Một lách qua cửa hầm chật hẹp.

        — Ô, Giê-nhi-a, cậu đến thật đúng lúc! Ngồi xuống đây, rót rượu ra, — Pa-ven mời.—Ở đấy có cái gì mới không?

        Su-kin giậm giậm chân rũ tuyết bám trên đôi ủng dạ, tháo găng tay phủi phủi tuyết trên áo khoác.

        — Bên cánh trái, chỗ A-nhi-xi-mốp có tiếng ồn ào khả nghi lắm, — anh báo cáo. — Có lẽ, chúng đang tập trung quân.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2020, 07:26:17 am

        Anh ngồi cạnh mép bệ đất, mắt nhìn xuống nền, có vẻ như đang lo lắng vì điều gì khó khăn.

        — Ngoài trời có tuyết không, Giê-nhi-a? — Pa-ven hỏi.

        — Có. Tuyết đang rơi... Trời không được ấm lắm. — Và cặp mất có bộ lông mày dài thanh như lông mày con gái của anh vẫn không

        ngẩng lên. Su-kin kliẽ nói. —Trung đội tôi có việc đột xuất, đồng chí đại đội trường ạ.

        — Chuyện gì vậy? Đột xuất gì? — Pa-ven rót thêm rượu cho Su-kin.

        — Giá được tự tay tôi bẳn chết thằng đểu cáng ấy. — Su-kin gào lên. khuôn mặt lạnh tái của anh bỗng đỏ au vì giận dữ, giống như những lúc anh lao vào trận đánh. — Tôi nói về Bô-cốp, đồng chí đại đội trưởng ạ

        — Cái gì? Anh nói gì? — Pa-ven vội hỏi lại.

        — Thật nhục nhã cho toàn trung đoàn, cái thằng Va-nhi-a, tức là I-van Bô-cốp đã bỏ trốn.

        Su-kin lại cúi gằm xuống và lúng túng báo cáo: chiến sĩ trung đội anh, thiện xạ Bô-cốp tưởng là đến trạm quân y theo lệnh của đại đội trưởng, nhưng hóa ra không đến đấy... Và sự hoài nghi cuối cùng về việc Bô-cốp đào ngũ đã thành sự thật khi Su-kin được người liên lạc tiểu đoàn kể rành rọt là anh ta đã tình cờ gặp Bô-cốp ở ngoại ô thành phố ra sao.

        — Khoan đã nào... Chính anh đã trực tiếp nói chuyện với cậu liên lạc à ? — Pa-ven hỏi.

        — Chính tôi, tôi đích thân hỏi mà! — Su-kin đáp, giọng anh vẻ tiếc rẻ. Cậu liên lạc tiểu đoàn chào ầm lên : « A, Va-nhi-a, khỏe chứ ! Nhưng hắn ta chỉ vẫy tay đáp lại thôi. Hắn ta đứng sau thùng chiếc xe tải chạy vào thành phố.

        — Cậu liên lạc gặp hắn bao giờ? — Ê-li-xây-ép khẽ hỏi.

        — Cậu ta bảo lúc ấy trời đã tối rồi, khoảng bảy giờ, không, hình như là tám giờ thì phải...

        — Thế là cậu ta nhìn lầm rồi, vì trời tối thế mà lại... — Pa-ven giận dữ ngắt lời. — Tôi biết rõ Bô-cốp, biết cậu ta từ lâu rồi...

        Lời thuyết phục này không làm cho người bạn già của anh nguôi giận mà từ bỏ lời buộc tội nặng nề.

        — Hãy hỏi lại trạm quân y xem, — anh hạ lệnh và chẳng muốn nghe thêm điều gì xấu hơn nữa về Bô-cốp. — Cử ngay mấy người cứu thương và bảo họ tìm sục ngay khu rừng Ru-sa-lô-sca. Chiều nay đã có mấy người vướng phải mìn ở đấy rồi...

        — Đúng đấy! Có thể cậu Va-nhi-a cũng bị vấp phái mìn ở bờ bên kia. — Su-kin sôi nổi hẳn lên. — Cũng có thể cậu liên lạc tiểu đoàn trông nhầm. Trong đêm tối ai mà chả có lúc như vậy.

        Lát sau anh đi ra và Pa-ven vừa quay sang chính trị viên vừa vội vàng nói to, như muốn chặn trước điều mà chính trị viên định nói:

        — Thật là nhảm nhí, nhảm nhí quá chừng... Không bao giờ tôi có thể  tin được là Bô-cốp đào ngũ. Tôi chơi thân với cậu ta cũng như với Trô-sin Chúng tôi ở cùng một đường phố. Tôi biết cậu ta như chính bản thân mình, chúng tôi cùng lớn lên...

        Ê-li-xây-ép im lặng cài khuy áo bành tô cẩn thận, kéo đứng cổ áo lên và quấn thêm chiếc khăn quàng ra ngoài, khoác khẩu tiểu liên chiến lợi phẩm lên vai.

        — Tôi ra ngoài xem, cần phải làm gì đây, — ông buồn rầu nói. —  Đêm tối mịt lại gió tuyết thế này.. — Ông đi đến cửa hầm và dừng lại. — Thật là tồi tệ, hết sức tồi tệ. Chúng ta không nhìn thấy trước, tôi không nhìn thấy trước vấn đề...

        Ọua giọng nói đầy đau khổ của ông, Pa-ven hiểu rõ rằng, chinh trị viên quả đã thật tin là Bô-cốp lừa dối họ.

        — Va-nhi-a đang tự dẫn mình đến tòa án quân sự, — Pa-ven bất giác thốt lên.

        — Nhất định người ta sẽ truy nã ra hắn. Có phải chiếc kim trong đống cỏ đâu... — Ê-li-xây-ép nói thêm.

        Pa-ven bỗng thấy bối rối, luống cuống khi thầm tưởng tượng đến cảnh tượng Bô-cốp, cậu Bô-cốp tóc xoăn của anh đứng trước vành móng ngựa tòa án quân sự ; khi nghĩ đến Ma-ri-na... Anh không thể tin được rằng I-van Bô-cốp, người thiện xạ ưu tú của tiểu đoàn đã từng hạ thủ trên ba chục tên lính Hít-le bỗng nhiên đổ đốn, nhát gan và anh nhất định loại trừ điều này ra, nhưng nếu cái điều bất hạnh này lại có thực thì sẽ ra sạo?

        Pa-ven nhớ lại lúc ba người — anh, Bô-cốp và Ê-go Trô-sin ngồi nói chuyện với nhau trong đêm trước lúc ra trận, đã làm họ hiểu nhau thêm, đến cảnh suốt đêm họ thao thức không ngủ được, hỏi chuyện, trao đổi với nhau và, nhớ lại trận đánh đầu tiên của họ đúng ngày hôm sau.

        Giờ đây Trô-sin không còn nữa, còn Va-nhi-a Bô-cốp đã bỏ trốn !...

        — Chúng ta cố chờ đến sáng mai, đồng chí Ê-li-xây-ép ạ, — Pa- ven khẩn khoản nói, — Lúc ấy sẽ báo cáo lên trung đoàn. Đầu óc tôi không thể nào tin được là cậu I-van Bô-cốp lại đào ngũ... Và hơn nữa, lại đào ngũ trong thời kỳ chiến tranh...

        Anh chưa nói hết câu và bỗng cảm thấy như tim mình thắt lại, nên cố nói chậm rãi để nén bớt hồi hộp:

        — Nếu đến sáng mai mà... Bô-cốp không trở về thì...

        — Chúng ta đã để hỏng mất một con người... Thật không có gì tệ hại hơn vậy được, — Ê-li-xây-ép nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2020, 07:27:01 am

        Pa-ven dậy sớm trước rạng đông, lắp đầy đạn khẩu súng ngân, nhét lựu đạn vào túi quần, đánh thức chiến sĩ liên lạc I-gna-chi-ép đang ngủ say sưa sau tấm vách gỗ-dậy và hạ lệnh cùng đi theo anh, cần phải kiềm tra các vị trí và nhận báo cáo của các chiến sĩ quan sát... Làn không khí lạnh ngắt xoáy động vì những cơn gió lạnh dưới mười lăm độ phả vào mặt anh tê buốt. Từ hướng bắc vọng lại những tiếng gâm vang của đại bác và ở chận trời lóe lên những ánh lửa tựa như các tia chớp. Phía đông, bầu trời đã hơi hửng, và những ngôi sao le lói sau làn mây mỏng bắt đâu mờ nhạt dăn. Tuyết rơi đêm qua đọng lại lấp lánh trong cảnh mở ảo của buổi rạng đông... Pa-ven cúi gập người tránh gió, rảo bước trong hào giao thông. Và anh có cảm giác tựa như những buồĩ sáng mùa đông trước đây, anh cũng ra khỏi nhà từ lúc chạng vạng thế này đề đến nhà máy. Khi đó anh cũng run lên trong cái rét ban mai, cũng bước đi vội vã và cũng đút tay sâu hơn vào túi như lúc này. Cười thăm trong lòng, Pa-ven nghĩ rằng, giờ đây đúng là anh cũng đang đi tới nơi làm việc — bất cứ phút nào trận đánh cũng có thể ập tới — một công việc vồ cùng khó khăn, cần cố gắng đến kiệt sức nhưng lại đòi hỏi phải hoàn thành làm sao cho tốt nhất.

        Từ đường hào bên cạnh vang lên tiếng bước chôn gấp gấp, Pa- ven dừng lại.

        — Ai ? — Anh hô lên. — Đứng lại!

        — Pa-sa, cậu phải không ? — Một giọng nói quen thuộc từ trong bóng tối vọng lại.

        Từ đường hào rẽ, dáng người thâm thấp của anh chàng Bô-cốp tóc xoăn mờ mờ hiện ra ngay trước mặt Pa-ven.

        — Chà, cậu đấy à? Thế chứ! Đồ quỷ sứ, cậu biến đi đâu đấy, hả ? — Pa-ven như reo lên.

        Trong cái giây phút đấu tiên này, anh định nhào tới ôm choàng lấy người bạn thân vừa trở về.

        — Bọn mình nghĩ nát óc nhưng có trời mà biết được... Chà, cậu, con quỷ tóc xoăn ạ! Cậu biến đi đâu, nói đi chứ! —Anh hét lên, giận dỗi thực sự vì Bô-cốp đã gây nên bao nỗi lo âu cho mọi người. Bệnh xá cho cậu ra, hay là bị thương lần nữa ?

        — Mình chạy về nhà... Mình cần gặp Lê-na một lát... Cô ấy vừa ở bệnh viện về...— Bô-cốp vui sướng báo tin.

        — Về nhà? — Pa-ven hỏi lại. — Về đâu, về thành phố, về phố Đô-rô-khô-va ấy à ?

        — Còn về đâu nữa. Khu vực bọn mình yên tĩnh, mình đánh liều một lát... Mình bị giày vò, dằn vặt, Pa-sa ạ. Lòng dạ chẳng yên chút nào...— Bô-cốp vẫn nói, giọng thì thào, run run. — Ma-ri-na nhờ mình chuyên lời chào cậu, cô ấy đã ngồi dậy, đi lại được rồi. Hôm qua vừa được ra viện.

        Còn Pa-ven, hình như vui lây bởi lòng nồng nhiệt của Bô-cốp, cũng nhắc lại:

        — Đi lại được... Lạy trời!

        — Cô ấy đã khỏe, — anh chàng xúc động lẩm bẩm. — Cô ấy nói là đã hoàn toàn bình phục... Phổi cái còn yếu lâm, đi lại được mấy bước lại phải ngồi nghỉ, phải vịn vào bàn, vào ghế. Còn đôi mắt thì to ơi là to, như chiếm nửa khuôn mặt ấy, — anh ta vội vã, lập bập cố nói thật nhanh những gì đang dâng trào trong trái tim mình. —  Cũng may cho mình là được gặp chiếc xe tải cùng chiều vào thành phố.

        — Như vậy là cậu không đến trạm quân y ? — Pa-ven hỏi lại.

        — Mình thấy chẳng cần thiết, — Bô-cốp thú nhận một cách tự nhiên. — Nếu như mình cứ thật lòng mà nói rằng mình cần phải về thăm vợ chốc lát thì liệu có ai cho mình đi không? Và mình đã lợi dụng hoàn cảnh chứ, tức là chạy vù về nhà thay cho việc đến trạm quân y. Liều thật đấy, tất nhiên rồi... Nhưng vắng mình thì ở đây cũng chẳng có gì đáng sợ xảy ra cả.

        — Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra thì lúc đó sẽ ra sao? — Pa- ven nói, giọng buồn rầu. — Cả đại đội không còn đầy một nửa số người, phải đếm từng tay súng một...

        — Nhưng đã có gì xảy ra đâu nào? — Bô-cốp chống chế và qua giọng nói có thể đoán được là anh ta đang cười.

        — Nhưng nếu có chuyện thì sao? — Pa-ven vẫn kiên trì hỏi. —  Khi cậu quvết định về nhà thì cậu đã nghĩ gì?

        — Mình nghĩ rằng, Pa-sa là bạn mình, cậu ấy sẽ tha thứ. — Bô- cốp thì thầm. — Mình nghĩ vậy đấy, nhất định Pa-sa sẽ không phạt đâu...

        Pa-ven không biết trả lời ra sao, anh đút tay vào cổ áo khoác và bóp chặt nắm tay.

        — Ma-ri-na nhờ chuyển lời cảm ơn cậu, — Bô-cốp nói, như cảm thấy có điều chẳng lành. — Khi cô ấy biết rằng cậu đã cứu sống mình, cô ấy khóc nức nở và nói: « Đúng là anh ấy, tức là cậu, có trái tim vàng ».

        Cuối cùng Pa-ven cũng bình tĩnh trở lại.

        — Va-nhi-a, cậu có biết cậu đã làm bậy bạ thế nào không? — Anh lẩm bẩm. — «Trái tim vàng», — ra vẻ không nghe rõ gì, anh chàng lại nói tiếp. — «Không tiếc thân mình vì đồng đội», còn mình thì hỏi lại cô ấy: «Còn ai là người không biết Pa-sa? ».

        — Va-nhi-a, cậu bỏ súng xuống, — Pa-ven cũng thì thầm.

        — Để làm gì ? — Bô-cốp cũng hỏi lại, giọng thoáng đủ nghe.

        — Bỏ súng xuống, đưa cho tôi...

        Và thật kỳ lạ, chính tình yêu nồng nhiệt của Bô-cốp đối với Ma- ri-na mà trước kia Pa-ven thường tự hào, giờ đây lại làm cho anh cảm thấy đấy chỉ là thứ tình yêu mù quáng vì nó làm cho bạn anh phải dối trá, xảo quyệt. Và với một thái độ tàn nhẫn vốn đôi khi thường thấy ở những con người nhân ái khi họ cảm thấy danh dự mình bị tổn thương, lòng tin mình bị lừa dối, Pa-ven nói với bạn sau khi đã tước súng của anh ta:

        — Va-nhi-a, về báo cáo với trung đội trường là tôi bắt giam cậu...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2020, 08:19:33 pm

        Nói xong, anh gọi chién sĩ liên lạc I-gna-chi-ép giải người bị bắt lên trung đoàn.

        Đến gần sáng trời đã trong hơn, ánh hồng nhạt ban mai tỏa trong không khí, những bãi tuyết rơi đọng từ đêm đang tan dần. Trận đánh tạm ngừng trước tối hôm qua, giờ lại rộ lên. Lần này bọn Đức có bắn chuẩn bị trước, đạn pháo tới tấp rót xuống trận địa trung đoàn công nhân khoảng hai mươi phút liền và sau đấy là máy bay... Lớp băng trên con sông nhỏ mà đại đội Pa-ven phòng ngự bên bờ phải, bị bom đạn phá vỡ và từ những lỗ băng vỡ, từng làn hơi nước đen quánh bốc lên dựng thành bức tường hơi. Ánh mặt trời trắng bệch xuyên qua nó trông mờ mờ như ánh trăng bị mây mù che phủ.

        Chẳng mấy chốc liên lạc giữa các đơn vị bị cắt đứt; và mệnh lệnh cuối cùng của tiểu đoàn trưởng truyền qua điện thoại cho Pa-ven là:

        — Grô-mốp, cậu vẫn thở được đấy chứ? Hãy đứng vững tại chỗ, tôi hết sức yêu cầu anh! Phải tống bọn bộ binh khỏi xe tăng... Dù với giá nào anh vẫn phải giữ vững trận địa... Tôi hết sức yêu cầu anh...

        Rồi tiếng nói của tiểu đoàn trưởng chìm đi trong tiếng ùng oàng đáng sợ của sắt thép và làm cho Pa-ven ù tai đến một lúc.

        Một viên đạn pháo lớn rơi ngay cạnh hầm chỉ huy của anh và tựa như bầu không khí chết chóc bỗng tuôn lên tất cả chung quanh. Lối ra hầm bị đất và đá vụn phủ kín, phải san hết đi. Họ vừa làm vừa hít thở làn khói đặc sệt, hai bàn tay xước đầy máu. Thoát được ra ngoài, Pa-ven và I-gna-chi-ép tụt ngay vào hố đạn vừa được tạo nên, một làn khói mỏng tựa mây bốc lên từ đáy hố, trùm lên đầu họ. Một viên đạn nữa rơi gần đấy, và đất, đá vụn lại tung lên như muốn chuyền cả sức nặng đè ập vào họ.

        Pa-ven đầm đìa mồ hôi, vội trườn lên miệng hố mặc cho gió lạnh thốc vào mặt. Anh thấy ngay phía trước mặt khoảng sáu bảy chục mét, hàng toán lính Đức từ trong cánh rừng, đang ùn ùn kéo đến. Phía trái, dọc theo chiến hào tiểu đoàn bạn là bọn xe tăng sơn màu trắng ngụy trang, đang phóng tới, lao xuống hõm thấp rồi đột nhiên nhô lên trên nền đường sắt. Pa-ven nhìn chung quanh, nhìn vào những hố đất đen ngòm đang bốc khói, vào những đống gỗ tròn lăn lóc, những tấm ván ngổn ngang, và ngay phút ấy, anh có cảm giác như chỉ còn anh và I-gna-chi-ép sống sót thôi; nhưng nhìn kỹ anh thấy lấp ló sau bờ hào nổi lên một chiếc mũ trùm tai của ai đó, và xa hơn một chút, trên mặt đất trắng là Su-kin và Ê-li-xây-ép đang nửa nằm, nửa ngồi... Pa-ven trườn ra khỏi miệng hố.

        — I-gna-chi-ép, theo tôi! — Anh hạ lệnh.

        Ở phía dưới, trong đường hào giao thông chính còn thấp thoáng mấy người nữa, các chiến sĩ đang chạy ra khỏi chỗ nấp và toàn trận địa vừa câm lặng như chết này giờ đây lại náo động hẳn lên.

        ...I-van Bô-cốp (cho đến trước rạng đông vẫn không kịp giải về ban tham mưu trung đoàn) chui ra khỏi hầm Su-kin— nơi anh nấp có một mình. Ngay cửa hầm, một chiến sĩ đã hy sinh, ở tư thế nửa nằm nửa ngồi trên tuyết, lưng hơi tựa vào thành hào, một chân đang co lại. Mặt anh đọng đầy máu khô dặc, và Bô-cốp liền cúi nhặt khẩu súng trường chẳng biết của ai nằm lăn lóc cạnh đấy. Anh xem lại cẩn thận khóa nòng, đi dọc theo chiến hào, bò qua miệng hố đạn chắn ngang đường. Khi thấy Ô-khốt-nhi-cốp đang bắn, anh liền đến đứng cạnh anh ta. Ở phía dưới bãi trống, bọn lính SS bận áo chẽn đen. sau khi chiếm lĩnh chân đồi liền nằm nấp sau những bụi cây trăn thưa thớt. Chúng đang tập hợp để tiến công. Bô-cốp bình tĩnh ngẳm bắn chúng rất chuẩn xác và sau mỗi phát đạn anh lại lim dim nhắm đôi mắt xạ thủ đã hơi bị sưng lên vì làm việc căng thẳng, để nghỉ một vài giây ngắn ngủi.

        Ô-khốt-nhi-cốp quay nhìn anh bạn mới. Và khi thấy anh chàng xạ thủ xuất sắc này, chỉ một phát đạn đã hạ ngay tên SS mặc quân phục sĩ quan đang đứng đơn độc tận phía bìa rừng kia, Ồ-khốt-nhi- cốp kêu lên với giọng khản dặc.

        — Gút-then-mô-rơ-ghen1, Va-nhi-a! Giết hết bọn Đức đi, việc của chúng mình đấy!

        Trông anh có vẻ như hơi ngà ngà say: khuôn mặt Di-gan tròn trĩnh của anh hừng hực sức sống, trông đầy vẻ táo bạo và phẫn nộ...

        Bô-cốp lại lim dim mắt, lẩm bẩm.

        — Thằng thứ băm tám...

        — Mình không đuổi kịp được... Va-nhi-a nhận mình làm học trò đi! — Ô-khốt-nhi-cốp lại kêu lên.

        — Chiến tranh sẽ dạy tất cả, — Bô-cốp đáp lại.

        ...Ít phút sau, toàn tuyến phòng ngự của đại đội được khôi phục lại. Sau khi khẩu chống tăng của A-nhi-xi-mốp lên tiếng, hai tay súng trung liên còn lại của đại đội cũng tham gia phản kích thì cuộc tiến công của bọn Đức chững lại, bọn SS vội rút vào rừng. Để tiết kiệm đạn, A-nhi-xi-mốp chuyền sang bắn từng loạt ngắn. Còn Bô-cốp —  sau khi đã ngắm kỹ một cái bóng nhỏ xíu, thấp thoáng như hòa vào làn ánh sáng hồng nhạt ban mai — liền nhả chỉ một viên. Tin chác ràng đã trúng đích, anh quay lại, lim dim đôi mắt đỏ quạch như mắt thỏ, nghỉ chốc lát.

-----------------------
        1. Chào buổi sáng (tiếng Đức).


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2020, 08:20:02 pm

        Pa-ven đi kiểm tra trận địa đại đội, hay đúng hơn là bò từ mô đất này sang mô đất khác...

        — Nhanh tay lên, khẩn trương lên! Hãy cầm lấy xẻng... Sao không cầm xẻng lên, ai làm thay cho các anh? I-gna-chi-ép, lại đây! Hãy truyền lệnh cho A-nhi-xi-mốp: bắn mạnh vào mục tiêu số bảy. Quàng lên, I-gna-chi-ép! Các đồng chí chiến sĩ, sao trông rầu rĩ thế!

        Tuy nói vậy; anh vẫn lo lắng nhìn những khuôn mặt mệt mỏi da tái xám đi vì rét. Tại đường hào chính, Pa-ven đánh thức một chiến sĩ đang ngủ gật dậy. Quả thật là điều lạ lùng — bọn Đức vừa rút chạy chưa đầy nửa tiếng, thế mà ông thợ nề Mi-khai-lốp đã ngáy ngay được, dựa lưng ghé vào hòm lựu dạn, mũi phập phồng gục trong bộ râu bạc trắng như phủ hơi sương sáng lên dưới ánh nắng hồng nhạt. Mặc dù rất ái ngại khi phải đánh thức người chiến sĩ già, tuổi đã ngoài năm mươi này, anh vẫn lay mạnh vai Mi-khai-lốp và hạ lệnh cho ông ta cầm xẻng sửa lại chiến hào... Anh rất lo cho những chiến sĩ của mình, hết sức quý mến họ nên đành nén lòng thương hại nguy hiểm đối với họ trong lúc này.

        Đi đến đoạn chiến hào của Bô-cốp và Ô-khốt-nhi-cốp đang trấn giữ, Pa-ven buộc phải nghĩ đến việc tước vũ khí của Bô-cốp lần nữa, vì anh ta đang là người bị bắt giữ.

        Nhưng để tránh khỏi làm cái việc trách nhiệm «tàn bạo» này, lúc đầu anh làm ra vẻ như không nhìn thấy anh bạn bất hạnh của mình cũng như khẩu súng trên tay anh ta.

        — Sao, Ô-khốt-nhi-cốp ? — Anh hỏi. — Không bị tồn thất gì chứ ?

        — Chẳng sao cả, như mọi người thôi, — chàng thanh niên đáp. —  Bọn Đức bị tổn thất nhiều dấy.

        Pa-ven dừng lại — trên thân hình anh to lớn, cao hơn người khác một đầu, áo khoác mở phanh ra, chiếc mũ trùm tai kéo ngược lên —  anh vươn người nhìn xuống chân đồi. Tại đây, trên mặt tuyết trắng, rải rác đó đây những chấm đen bắt động — những xác chết chưa được thu dọn. Pa-ven thăm nói với mình: « Trông như đàn ruồi trong chậu sữa, đúng là những con ruồi chết... »

        — Bô-cốp đã cho bọn phát xít sống như vậy đấy. — Ô-khốt-nhi- cốp giải thích.— Đồng chí chỉ huy ạ, chính mắt tôi đã từng thấy cậu ấy đóng đinh hơn chục thắng.

        Pa-ven bỗng quay ngoắt sang phía Bô-cốp:

        — Này, Va-nhi-a. biết sao được. — anh nói. — Đành ở tạm lại đây thôi... Tôi không thể giải anh lên trung đoàn trước khi trời tối được.

        — Pa-sa, chân thành cảm ơn cậu, xin cảm ơn đồng chí chỉ huy! —  Bô-cốp vội vàng chữa lại câu nói.

        — Còn cậu thì... — Pa-ven thấy nhẹ nhõm khi nghe thành tích của bạn. — Cậu đừng tuyệt vọng... Mình sẽ báo cáo với trung đoàn trưởng, sẽ trao đổi thêm với chính ủy về cậu. Sẽ liên lạc với Đảng ủy khu phố và nếu cần...

        — Mình, mình sẽ lập công chuộc tội cho mình, Pa-sa ạ. Mình sẽ trả nợ cho mình tới mức hai trăm phần trăm. Mình sẽ làm gấp dôi... Mình đã hiểu rõ... — Bô-cốp nói giọng hồi hộp. — Mình chẳng việc gì phải tuyệt vọng cả. Vì Ma-ri-na đã về nhà... Tựa như cất được tảng đá đè nặng tim mình mấy hôm nay. — Trên khuôn mặt mệt mỏi nhưng vẫn rất hiền lành của Bô-cốp thoáng nở nụ cười.—Cậu cứ thử nghĩ xem, chẳng còn gì nguy hiểm đối với Ma-ri-na nữa, cô ấy đã được ra viện Mình nói có đúng không nào? Mà đã ra viện thì việc gì mình phải lo lắng, tuyệt vọng nữa... Giờ đây, chỉ cần tăng phân bồi dưỡng ăn uống cho Ma-ri-na nữa thôi. Việc này thì tự cô ấy làm được.

        — Cậu quá yêu cô ấy, nhưng... — Pa-ven nói với vẻ không hài lòng pha lẫn trách móc.

        — Đúng như vậy chứ sao, — Bô-cốp khẳng định. — Mình không hề giấu là mình rất yêu cô ấy.

        Mặt trời đã đứng bóng, từng chùm ánh sáng tỏa ra từ trên bầu trời xanh thắm, không một gợn mây; mặt đất ngập trong ánh nắng lạnh buốt, từng đám tuyết vẫn rơi như những đám mây lạnh.

        Pa-ven đi khỏi, Ô-khốt-nhi-cốp liền lấy hai miếng bi-cốt trong túi áo khoác, thổi thổi cho bay hết vun thuốc lá bám vào và đưa mời anh chàng thiện xạ một miếng. Không rời khỏi thành hào, hai chiến sĩ vừa quan sát vừa nhai bi-cốt lạo xạo... Toàn bộ sự căng thẳng của trận đánh đã dồn sang phía trái họ. — nơi trận địa của đơn vị bạn. Từ đấy, từ sau nền đường xe lửa vọng lại hàng loạt đại bác xe tăng, nghe tựa như có ai đang gõ vào những chiếc chuông thủy tinh. Còn ở đây, chỉ cách nơi ấy có một ki-lô-mét bán kính thì hầu như không có sự hoạt động nào cả. Cả Bô-cốp lẫn Ô-khốt-nhi-cốp vốn là những chiến sĩ từng trải trận mạc, đã biết quý giá từng phút yên tĩnh, đều cảm thấy cái khoảng thời gian ngắn ngủi này như là đang ở hậu phương vậy.

        — Vợ anh đẹp lắm phải không, nếu không thì anh chẳng yêu đến thế? — Vừa nhai, Ô-khốt-nhi-cốp vừa hỏi.

        — Ma-ri-na ấy à! — Bô-cốp thốt lên. — Cô-li-a, biết nói với cậu thế nào được nhỉ? Trong đời mình chưa thấy người nào đẹp hơn. Nhưng biết tả thế nào cho cậu rõ được, cô ấy đẹp ra sao!...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2020, 08:20:44 pm

        Ô-khốt-nhi-cốp nhìn chàng thiện xạ vẻ chế giễu.

        — Pu-skin đã nói như thế này: «...Ôi thiên thần tuyệt đẹp làm sao...» Cô ấy xứng thế chứ? — Anh hỏi lại với cái giọng vỡ tiếng của mình.

        Còn sao nữa, xứng quá đi chứ, — Bô-cốp tán đồng. — Có thể nói với cậu là, mình sẵn sàng quên cả cuộc sống của mình vì cô ấy. Lại còn phải nói thêm: cảm ơn em! Vì cô ấy, mình cũng chả cần phải tiếp tục đi học nữa, — anh ta lại vui sướng thốt lên. — Cô-li-a, cậu hãy chú ý đến một điều là, ở đây mình có thể từ giã cuộc sống này bất cứ giờ phút nào; và mình sẽ ra trước tòa án quân sự, Pa- ven sẽ không vì tình bạn mà thương xót mình đâu... Nhưng tâm hồn mình vẫn trong sáng, tinh thần mình vẫn phấn chấn.

        — Sao lại không tiếp tục học tập nữa ? Như vậy là không được. —  Ô-khốt-nhi-cốp nói, nhưng trong đôi mắt luôn luôn nhấp nháy rất nhanh của anh thoáng vẻ tò mò lạ lùng.

        — Mình cũng cho như vậy là không được, — Bô-cốp thú nhận một cách khó hiểu. — Nhất định hành động của mình cũng cần phải xét xử. Điều này rõ ràng như hai lần hai là bốn vậy. Ra tòa án binh, mình sẽ nói: hãy xét xử tôi, nhưng xin các đồng chí hãy có lòng bao

        dung một chút, tôi không phải là kẻ đào ngũ... Cứ để cho ở đấy họ kết án mình ra sao thì mặc, mình đã gặp, đã thấy và đã nói chuyện được với Ma-ri-na, đã tận mắt thấy cô ta ra sao rồi...

        Anh im lặng và ngay tức khắc tươi tinh hẳn ỉên.

        — Chàng Cô-Ii-a ! Mình không thể nói, thể tả được cô ấy, Ma- ri-na, như thế nào... Chỉ biết rằng ngay ở đây, cô ấy cũng đang sống trong tôi! — Bô-cốp đặt nắm tay lên ngực, cái dáng điệu đầy vẻ kịch đó thật quả là bất ngờ đối với một con người đang bận chiếc áo khoác lấm đầy tuyết, vạt dưới đã bị rách, nhưng trông thật tha thiết và chân thành. — Dù mình ở bất cứ đâu, kể cả trong chiến hào ầm vang tiếng súng như thế nào nữa, vẫn thấy cô ấy luôn luôn bên mình... Vừa mới thoáng trông thấy thân hình mảnh dẻ, vẻ mặt gầy gò, thầm lặng của cô ấy là mình đã muốn khóc rống lên rồi. Đúng là thiên thần của sắc đẹp. Vì cô ấy, vì sự đau đớn của cô ấy đã vì mình mà chịu đựng, thì dù có giết được bốn chục tên Hít-le rồi, mình vẫn chưa thỏa mãn đâu, chưa buông tha chúng đâu.

        Hình như sự thanh thản, nhẹ nhàng mà anh vừa có được, sau bao tuần lễ lo lắng về tính mạng của vợ đã làm cho anh thờ ơ, xem thường ngay cả vận mệnh của mình.

        — Đối với bọn Đức thì anh không bị lỗ đâu. — Ô-khốt-nhi-cốp nói với vẻ say sưa thú vị. — Nhưng dầu sao thì không phải đối với ai cũng đều phải có một tình yêu mãnh liệt như vậy. Nhiều người chẳng cần phải yêu đương gì thắm thiết lắm vẫn đi chơi với các cô gái được. Lúc đầu thì đi xem phim, xein hát và sau đấy cưới nhau.

        — Này, cậu năm nay bao nhiêu tuổi ? — Bô-cốp bỗng hỏi.

        — Tháng mười hai này tròn mười chín, — Ô-khốt-nhi-cốp tỏ vẻ nghiêm túc tựa như sẵn sàng lắng nghe một điều gì đó quan trọng đổi với mình.

        — Này, thế thì hãy chuẩn bị đi, chú em ạ. Rồi cậu sẽ hiểu nó là thế nào, cái gọi là tình yêu ấy, — Bô-cốp nói với vẻ rất trịnh trọng. — Nó sẽ làm cậu quay cuồng và lúc nào cậu cũng như người ốm ấv.

        — Nhưng giả thử, tôi không bị quay cuồng thì sao? — Ô-khốt- nhi-cốp cười khùng khục, ngắt quãng tựa như tiếng ho của người già. — Có lẽ người con gái đẹp đến mức có thể làm đầu óc tôi quay cuồng như vậy chưa kịp sinh ra đâu...

        — Cậu còn trẻ con lắm, — Bô-cốp hét lên - Và cái loại cậu thì làm sao mà biết yêu được.

        — Đúng, tình yêu không làm tôi hư hỏng được đâu, — chàng trai vui vẻ phản đối.

        Nhưng qua nét mặt thì thấy rõ là, lời tiên đoán của người bạn lớn tuổi, giàu kinh nghiệm này đã làm cho anh ta bị kích động, cám dỗ hơn là sợ. Và từ trong long khao khát sâu xa đối với cuộc sống, từ trong tâm hồn rộng mở, Ô-khốt-nhi-cốp cảm thấy thực sự ghen tị không phải vì tài thiện xạ của Bô-cốp mà là sự nồng nhiệt khác thường của anh ta.

        ... Đến giữa trưa, tình hình ở tuyến trước đột nhiên ác liệt hơn: từ khu vực tiểu đoàn bạn, bọn Đức đã thọc sâu vào vành đai phòng thủ của trung đoàn công nhân; đại đội Pa-ven nhô lên trước bên bờ phải con sông nhỏ, bị cắt hẳn với trung đoàn và toàn bộ sườn trái. Liên lạc điện thoại lại bị cắt đứt lần nữa, mấy chiến sĩ liên lạc phái đến trung đoàn trưởng đều chưa về. Cuối cùng, Pa-ven đã hình dung rõ rệt hơn những gì đang xảy ra với đơn vị anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2020, 08:22:21 pm

        Tiếng sắt rít lên, vang trước mặt bên phải, bên trái và cả phía sau anh; mặt sau đại đội dồn dập tiếng mìn; khói, đất, bụi cuồn cuộn bốc, phủ kín không gian... Đã đến lúc tình hình chung càng trở nên khó nắm hơn, do đó càng tồi tệ hơn. Hình như xe tăng Đức hoạt động cả phía sau lưng trận địa đại đội, trong khu ga đường sắt. Vì từ đấy, từ sau bức màn khói dày đặc nghe vang lên không ngớt tiếng loảng xoảng quen thuộc. Nhưng có một điều Pa-ven biết chắc là, chừng nào anh còn trấn giữ được các ngọn đồi trên bờ sông này thì bọn bộ binh địch chưa thể tràn qua sông được để phát huy thắng lợi của lũ xe tăng. Bọn Đức cũng biết được đà tiến của chúng đã bị hỏa lực trên mấy ngọn đồi bờ trái con sông cản lại. Vì vậy, các đợt tiến công của chúng lên mấy ngọn đồi này sẽ được tổ chức liên tiếp, xen kẽ với các đợt bắn phá của pháo lớn.

        Chẳng mấy chốc, trong các chiến sĩ đại đội truyền nhau một tin đáng sợ là đơn vị bảo vệ tuyến đối diện bên cạnh phải bờ sông Ru-sa-lô- sca đã rút lui. Tin này do các chiến sĩ cứu thương kể lại là các chiến hào bên bờ phải không còn bóng người nào cả. Sau khi nghe tin ấy, ngay cả Su-kin, trung dội trường trung đội một, một con người đã từng được thử thách gay gắt trong những ngày vừa qua, cũng thấy hoang mang và lập tức chạy đến gặp Pa-ven. Vừa lăn xuống một hố đạn, anh vừa gào ngay bên tai Pa-ven, giọng run lên vì giận dữ:

        — Đồng chí đại đội trưởng! Tốt nhất và thuận lợi nhất là chúng ta nên rút sang đường rẽ số mười bảy đi... Chúng ta vượt qua con sông quỷ quái này từ phía phải chừng nào còn kịp.

        Nắm trên đám đất lở, Pa-ven nhìn sang bờ đối diện, nhưng khó có thể trông rõ được bên ấy đang diễn ra những gì. Những cột hơi nước từ, các hố băng vỡ trên mặt nước cuồn cuộn bốc lên dày đặc và chỉ có thể thấy mờ mờ các hàng liễu trắng thấp thoáng.

        — Thuận lợi nhất là chúng ta cứ trụ tại đây, đứng như mệnh lệnh, — Pa-ven nói vui, nhưng không cười.   

        — Chẳng còn ai để mà trụ nữa đâu. trung đội tôi chỉ còn mười một người cầm súng được. — Su-kin nói, hai tai mũ của anh rũ xuống như chống đỡ đôi má đỏ nâu màu gạch, làm cho vẻ mặt trung đội trưởng trông như mặt trẻ con. — Tôi chỉ còn có mười một người.

        Nét mặt anh lúc này như muốn nói rằng: « Chúng ta ở lại đây một mình, thật là điều vô lý...».

        Pa-ven không nói gì, anh chỉ nghĩ rằng, thậm chí nếu các đơn vị bạn bên bờ phải đã rút đi thì, nhiệm vụ của đại đội anh là kìm chân bọn bộ binh Đức lại. Trong bất cứ trường hợp nào, bây giờ ngoài những người của anh ra, không còn ai có thể ghìm chúng lại ở đây được nữa.

        — ... Trong số mười một người còn lại đã có hai bị thương là Trê-kin và Xve-nhi-cốp. — Su-kin vẫn cứ cố trình bày. — Đồng chí chỉ huy ạ, nhìn họ mà dở cười, dở khóc. Người thì nạp đạn, người thì bắn... số chiến sĩ còn lại ở trung đội ba cũng không hơn gì của tôi...

        Trong đâu Pa-ven bỗng thoáng một ý nghĩ, anh tiếp tục thầm thì với mình: số phận tất cả những con người này — Trê-kin, Xve- nhi-cốp, của Bô-cốp với mối tình rồ đại của anh ta, của Ô-khốt- nhi-cốp với vẻ táo bạo còn trẻ con, cũng như anh xạ thủ súng máy A-nhi-xi.-mốp, người thợ mỏ và anh liên lạc I-gna-chi-ép, người thợ máy của nhà hát, của chính trị viên Ê-li-xây-ép, của trung đội trưởng Su-kin — đã được quyết định ngay bây giờ, ngay trong những phút giây này. Số phận họ cũng chỉ phụ thuộc vào một điều, họ sẽ ở lại đây, trên những ngọn đồi đang bị quân địch bao vây, hay sẽ rút lui như những người khác — có nghĩa là họ sẽ sống hay sẽ chết... Thực ra, giờ chỉ cần Pa-ven nói hai tiếng « Rút lui...» như vậy là họ thoát chết, hoặc cái mệnh lệnh ngắn ngủi «Ở lại... » như vậy là họ sẽ chết. Cái bản chất thực sự của Pa-ven hiền lành và chung thủy, trung thực — đang quay cuồng trong lúc này. Anh đang cảm thấy một cách thực sự — máu trong người như sôi trào lên, tim anh đập mạnh — toàn bộ sức nặng của cái mệnh lệnh dứt khoát, khắc nghiệt, duy nhất của người chỉ huy trong lúc này. Anh không còn thì giờ để suy nghĩ riêng tư cho bản thân mình, anh không đủ sức. Quay sang Su-kin, anh dằn giọng:

        — Với những chiếc xe tăng kia, bọn súc sinh không làm gì nổi. Bộ binh chúng cũng sẽ không tràn qua được đây, nếu chúng ta bắn cản...

        Su-kin nhíu đôi lông mày dài, rậm chòng chọc và hờn giận nhìn Pa-ven.

        — Đạn dự trữ của tôi sắp hết rồi... Mỗi người chỉ còn chưa đầy năm chục viên, — anh rền rĩ, giọng đau xót.

        Trong giọng nói đó, Pa-ven như nghe thấy: «Tại sao lại là chúng ta chứ không phải là những người khác? Tại sao lại là chúng ta? Không công bằng tí nào, đồng chí chỉ huy ạ!».

        — Năm chục viên đạn, nhiều đấy chứ. Còn lựu đạn nữa... Này Giê-nhi-a. hãy lấy hai hòm về cho trung đội anh. — Pa-ven nói, như không thể nén chịu hơn nữa nỗi bực tức đối với Su-kin, đối với chính mình và đối với cả cái trách nhiệm đã buộc anh trở nên tàn nhẫn, khắc nghiệt; anh gầm lên: — Còn, nếu mà bỏ chạy, tôi sẽ bắn ngay tại chỗ! Nhớ lấy!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2020, 04:12:46 am

        Anh bỗng cảm thấy hình như không phải là anh mà là một người nào khác, bật lên điều này... Anh bỗng nhớ đến người chỉ huy đầu tiên của mình — trung úy đại đội trưởng có bộ ria đen bóng, nghiêm khắc mà có lần anh cũng đã phải chịu cơn phẫn nộ như thế này. Anh cảm thấy bình tĩnh hơn, tựa như trung úy đã trở lại đại đội và đã nắm lấy quyền chỉ huy.

        Hết sức kinh ngạc, Su-kin lặng lẽ bò lui trở về trung đội.

        Khoảng nửa giờ sau, một tình huống hết sức nguy hiểm lại diễn ra ngay trước chiến hào trung đội một của Su-kin.

        Một toán đông lính SS đã chọc thủng được tuyến phòng thủ và lao về phía trung đội anh ta, vừa tiến vừa ném lựu đạn như mưa vào hào Cũng may mà họ đã diệt được cả toán lính này, nhưng không phải với cái giá rẻ gì: thêm ba chiến sĩ nữa bị thương và một người —  Ni-cô-Iai Ồ-khốt-nhi-cốp, chiến sĩ trẻ nhất, nhà thơ của trung đoàn, người được mọi người yêu mến nhất, bị hy sinh... Khi Pa-ven cùng với chiến sĩ liên lạc I-gna-chi-ép và chiến sĩ thông tin, lực lượng dự trữ cuối cùng của anh — lao tới trận địa thì mọi việc đã kết thúc. Ô-khốt-nhi-cốp, dưới chiếc áo bạt phủ kín đến cằm, nằm bất động trên sườn dốc thoai thoải của hố đạn đại bác lớn, đất pha lẫn mảnh đạn. Cạnh anh là chính trị viên Ê-li-xây-ép đầu cúi gục lặng im, còn Bô-cốp và Su-kin thì đang đứng nhìn, hai má quấn băng trắng.

        Chẳng còn thì giờ để hỏi han tình hình vì quân địch lại đã chuẩn bị đợt tiến công mới. Khi bò đến đây, Pa-ven đã phát hiện thấy ở phía cửa rừng xa xa có những chuyển động không rõ lâm và sau khi nhảy xuống hố đạn, việc đầu tiên là anh hạ lệnh:

        — I-gna-chi-ép, chạy ngay đến chỗ A-nhi-xi-mốp! Mục tiêu số hai, chếch sang trái một chút... Một trăm phát!

        Sau khi hạ lệnh xong, anh mới chăm chăm nhìn Ô-khốt-nhi-cốp và bỗng nhiên nấc lên — anh nhớ lại đề nghị khẩn khoản của Su- kin cho rút lui. Còn Su-kin bị một mảnh dạn vào má, thì quay hẳn người lại, định nói với Pa-ven điều gì đó. Nhưng khi nhìn thấy ánh mắt mở to, đau khổ và như điên đại của Pa-ven, anh lại thôi, quay về chỗ của mình.

        Ê-li-xây-ép đứng dậy, hai tay cầm bọc giấy tờ vừa lấy trong túi áo Ô-khốt-nhi-cốp gồm những bức thư, thẻ đoàn viên Côm-xô-môn và một quyền vở bìa màu hồng in hình Pu-skin... Chính trị viên tham dự trận đánh từ đầu đến cuối, đã bắn tiểu liên. Chiếc mũ lông của ông rơi đâu mất, mái tóc bạc hoa râm của ông dính đầy đất vụn. Vừa thở, ông vừa nói:

        — Phải báo cáo về trung đoàn cho mọi người biết! Chính Bô- cốp và Ô-khốt-nhi-cốp đã đày lùi đợt tiến công này.

        — Cậu Cô-li-a đã sử dụng lựu dạn chống tăng kiểu năm bốn mươi. — Bô-cốp nói và ngừng tay moi đạn trong bao đạn Ô-khốt- nhi-cốp bỏ vào túi mình. — Cậu ấy đã tung quả lựu đạn đúng vào ngay tên cướp đi đầu. Đúng lúc đó thì cậu ấy bị trúng đạn...

        Đôi má bụ bẫm và vầng trán Ô-khốt-nhi-cổp còn hơi hồng hồng, đôi lông mi chưa khép hẳn trông tựa như anh đang lim dim ngủ và vẫn lắng nghe xem người ta nói gì về mình.

        Pa-ven định cúi xuống gọi, đánh thức anh dậy, nhưng như chợt nhớ ra, anh quay đi... Mặt trời đã đứng bóng. Trước mắt anh. cánh đồng trải ra rộng mênh mông những gò đống, những khu rừng phủ tuyết trăng xóa, chói chang, và lạnh lẽo. Gần hơn, cách chiến hào Bô-cốp và Ô-khốt-nhi-cốp chiến đấu khoảng trên hai chục bước, ngồn ngang những đống quần áo màu đen, lăn lóc những đôi ủng cao su, những xác lính đầu đội mũ ca rô mép dày chụp xuống tận tai. Có một tên Đức đeo kính trắng gọng sừng và nhiều tên khác nằm lăn lóc. sóng soài trên tuyết. Gần hơn nữa, trên các tảng đất bị xới tung lên, lạnh cứng đang lập lòe tàn lửa vàng, xanh chưa bị tắt hẳn.

        — Bọn phát xít bỏ chạy thục mạng, vứt lại cả súng ống đây. —  Bô-cốp nói tiếp. — Giờ thì tôi đã đạt được con số bốn chín rồi: Tôi không đoán chác là đã tính hết, thế nào cũng còn sót.

        Anh ta bình thản lạ thường, tựa như chẳng hề có cảm giác gì về mọi việc xung quanh, trừ những tia nắng đang chiếu thẳng vào mắt khiến anh phải lấy tay che lại.

        — Cảm ơn cậu, Va-nhi-a. Mình đã biết rõ là cậu... — Pa-ven la lên, giọng khàn khàn. — Mình tin, cậu sẽ...

        Trong giờ phút này, anh sẵn sàng tha thứ cho Bô-cốp, anh tự hào và yêu mến anh ta hơn... Nhưng, tựa như không nghe thấy gì hết, Bô-cốp vẫn vừa thản nhiên dốc hết túi đạn của người bạn hy sinh vừa nói oang oang.

        — Cậu Cô-li-a này sẽ không giận tôi đâu, cậu sẽ hài lòng về tôi...

        Trên đâu họ bỗng vang lên tiếng đại liên của A-nhi-xi-mốp từ trong hầm bắn ra. Và sau đấy, ngay gần bên họ, vang lên tiếng nổ rít chói tai của đạn pháo xe tăng, át hết mọi tiếng động khác. Pa-ven vội vàng đưa mắt nhìn vĩnh biệt lần cuối cùng Ô-khốt-nhi-cốp đang nằm yên tĩnh trên mặt đất đã bị lửa đạn nung chín, rắn như thép...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2020, 04:13:06 am

        Cuộc tiến công tiếp theo của bọn Đức đã được báo trước và ngay lúc ấy nguy cơ mới lại diễn ra ở tuyến khác trên trận địa đại đội. Từ đường sắt, bọn xe tăng bắt đầu tiến công: bốn chiếc cùng xuất hiện một lúc ngay phía cầu cạn đã bị phá hỏng, vừa tiến vừa bắn liên hồi. Các chiến sĩ còn lại của trung dội hai và ba cùng tập hợp lại theo lệnh của Pa-ven, đang đón đánh chúng. Chiếc đi đầu bị trúng chai xăng cháy, khựng lại tại chỗ ngay trên vũng nước tuyết vừa tan, còn chiếc thứ hai bị vấp mìn. Thấy thế, hai chiếc khác vội quay lại ù chạy lồng lên như lúc chúng bắt đầu tiến công. Nhưng ngay ở đây, Pa-ven lại mất thêm ba người nữa. Anh tự tay bế bổng người chiến sĩ liên lạc của mình bị thủng ngực, mang đến lưng đồi phía sau và đặt nằm ngay trên mặt tuyết bị giẫm nát, lấm lấm vết máu trước cửa vào hầm cứu thương rồi vội trở về hầm chi huy của mình,

        Trận đánh khốc liệt đến mức mà sự chịu đựng, sự đau khổ của cả hai bên — quân ta và quân địch — đã không thể làm cho các chiến sĩ xúc động được nữa... Những con người ở đây vẫn là những người có thể bị chết trong bất cứ khoảnh khắc nào, bây giờ đã kiệt sức, hầu như đã coi thường tất cả, khinh miệt mọi hiểm nghèo... Dầu sao thì Pa-ven cũng hiểu rằng không thể nào kéo dài hơn nữa tình hình đại đội đã tan rã, đã yếu đi, liên lạc với trung đoàn và các đơn vị bạn không làm sao nối lại được. Quân địch thì hầu như phát điên lên vì tổn thất nên đã liều xông lên hết đợt này đến đợt khác, đợt trước bị gục, đợt sau tăng gấp hai. Tình hình chiến đấu ở đây giống như cuộc đánh nhau với con quái vật trong thần thoại, khi bị chặt đầu thì lại mọc ngay thêm hai ba cái khác...

        Hơn ai hết, giờ đây Pa-ven khao khát mong trời chóng tối, vì bóng đêm mới có thể làm cho trận đánh liên hồi này ngừng lại. Nhưng cái thời gian vẫn cứ thong dong, lững lờ này mới chỉ là quá trưa thôi. Anh cũng chả nhớ là đã bao lần ngước nhìn bầu trời trong xanh không một gợn mây nhỏ, nhìn những đầu lưỡi lê nhọn hoắt long lanh ánh thép đến nhức mắt, nhìn những làn hơi trắng tỏa ra từ nòng súng liên thanh nóng bỏng, những làn tuyết đỏ sẫm thấm máu lỗ chỗ khắp nơi.

        Khi mặt trời vừa ngả về phía chân trời, thì bọn Đức đã quyết định phải kết liễu các chiến sĩ bảo vệ tuyến phòng thủ này bằng một đòn phối hợp mạnh từ cánh rừng đối diện sườn phải đại đội, một chuỗi dài bộ binh địch luôn ra. Bên trái, chếch về phía đường sắt, lần lượt tám chiếc xe tăng, tức là gấp đôi lần trước, xông ra theo đội hình chiến đấu. Những chiếc xe sơn trắng nên trông chúng chỉ thấp thoáng mờ mờ ảo ảo từ xa, nhưng cũng may, chúng chạy tới đâu đều kéo theo những vệt bóng dài nổi bật trên mặt tuyết trắng phau.

        Pa-ven đang tập trung theo dõi những vệt đen sẫm đi động trên cánh đồng phủ tuyết đó, bỗng cười khảy. Số phận đối xử với anh và đồng đội của anh thật tàn bạo, độc ác, chẳng chiếu cố gì đến lòng kiên trì, dũng cảm và hy sinh của họ. Anh nghĩ rằng, chỉ sau mười lăm phút hoặc nửa giờ kháng cự nữa là các đồng đội của anh sẽ bị đánh bại, sẽ không còn nữa. Anh hầu như đã hình dung rõ những chiếc xe tăng kia sẽ xông đến đây ra sao, sẽ bò qua các ngọn đồi này rồi tiếp tục xông lên, nghiến nát các chiến sĩ bị thương dưới vành xích của chúng như thế nào và sau đấy là bọn bô binh Đức ùa theo... Cũng trong nháy mắt đó, một cơn thịnh nộ vì trước cái tình cảnh quá ư tàn nhẫn, bất công mà anh đang phải chịu dựng, trào lên và làm anh tối sầm mặt mày lại.

        — I-gna-chi-ép, theo tôi! — Quên bẵng, anh lên tiếng gọi và một lát vẫn không thấy người liên lạc xuất hiện, anh lại lấy hết hơi gọi to hơn. —Igna... chi ép! Thằng quỷ, lại biến đâu rồi!...

        Vẫn không hiểu liên lạc viên của mình biến đi đâu, anh liền chạy dọc theo chiến hào, lên tiếng gọi các chiến sĩ:

        — Mi-khai-lốp! Trê-kin! Ca-xư-mốp! Xve-nhi-cốp!

        Lần lượt có hai ba người còn đứng được, ngoảnh nhìn anh...

        — Lựu đạn! Buộc chụm lại! — Anh hạ lệnh khi chạy qua họ.— Ném vào dưới ổ máy ! Ném vào vòng xích của nó!

        Phía dưới, trong chiến hào trung tâm, Pa-ven không gặp thêm người nào sống sót nữa. Cạnh tường hào bị phá sụt, anh gặp hai xác người nằm sóng đôi cạnh nhau và nhận ra một người trong đó là Mi-khai-lốp, qua bộ râu hoa râm của ông — người thợ mỏ đã yên nghỉ vĩnh viễn. Nhưng bất chấp cái chết, với hy vọng có ai đó sẽ nghe thấy mệnh lệnh của mình, anh vẫn có gào lên trong chiến hào vắng lặng:

        — Chuẩn bị lựu đạn! Ném vào vòng xích! Lu-cốp! Xve-nhi- cốp! Ghin-bua!

        Sau đoạn rẽ còn độc một người — Xve-nhi-cốp, cán bộ chính trị trung đội đứng dậy khi nghe tiếng gọi của anh, tuy lảo đảo nhưng vẫn cố đứng vững. Tay phải anh bị bó gạc, thẫm đen vì thấm máu. Anh dùng tay trái rút lựu đạn ở thắt lưng, kẹp vào nách và rút kíp. Tình hình cánh trái có vẻ tốt hơn đôi chút vì ở đấy còn một số chiến sĩ và chính trị viên Ê-li-xây-ép, người thì cởi áo khoác đề cử động'tiện hơn, người thì buộc lựu đạn lại thành chùm...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2020, 04:13:45 am

        Khi chạy tới chỗ các chiến sĩ, anh nghe thấy tiếng nói dõng dạc:

        — Vì từng giọt máu của các đồng chí chúng ta đã ngã xuống trên trận địa này, — chính trị viên đang nói, — vì những thành phố làng mạc bị đốt phá, vì sự xúc phạm man rợ tới ngôi mộ của Li-ép Tôn-xtôi vĩ đại..,

        Ông đang đứng trên bậc ụ súng — mặt tái nhợt, đầu để trần, dáng hiên ngang, hai tay giữ khẩu tiểu liên ngang ngực.

        Tiếng xích xe tăng rin rít nghe đã gần hơn, ông cao giọng :

        — Vì những dòng nước mắt của trẻ em, quyết bắt bọn phát xít xâm lược phải đền tội!...

        Tựa như ông đang hô hào mọi người xông lên tiến công chứ không phải là kêu gọi họ phòng thủ.

        Người chiến sĩ đã buộc xong chùm lựu đạn, đặt lên bờ thành hào. Anh quay lại nói gì đó với người bạn bên cạnh và anh này, một lính trẻ, cười vang lên, đề lộ hàm răng trắng muốt trên khuôn mặt rám nắng, đỏ hồng. Tuy vậy, lúc này chẳng có gì làm cho Pa-ven ngạc nhiên cả. Trong chiến hào ngưng đọng cái giây phút khôn tả của lòng dũng cảm tuyệt đối, làm cho con người không còn biết đến sợ hãi, làm cho sức mạnh của họ được nhân lên gấp mười lần, làm cho con người hầu như bất tử. Nó tựa như một sự đền bù. Sự chịu đựng lâu dài đó đã được thay thế bằng lòng dũng cảm vô song khi không còn biết chờ mong sự giúp đỡ từ đâu đến nữa. Dừng lại đây, Pa-ven hít thở một cách khoan khoái và khát khao, anh cảm thấy như đang ở trên tầng cao đến chóng mặt, nơi không khí hầu như quá tinh khiết và đang loãng ra.

        Lũ xe tăng vẫn ở khá xa và vẫn chưa chịu nổ súng, chỉ nghe thấy tiếng sắt thép nghiến rin rít phía dưới.

        Qua tiếng sắt thép đó, chỉ còn nghe được tiếng hò la đơn điệu, man rợ như không phải tiếng người. — Tiếng hô ào ào của bọn lính SS đang từ phía trước lao vào cuộc tiến công.

        — Ô... ô... ô... ô... ! — Tiếng hò la vọng tới đây mỗi lúc một rõ hơn.

        « Tại sao A-nhi-xi-mốp vẫn im lặng ? — Pa-ven bỗng nhớ ra. —  Còn sợ, còn chờ gì nữa ? ».

        — I-gna-chi-ép, lại gặp tôi! — Anh lại gọi chiến sĩ liên lạc một lần nữa — I... ga... na... chi... ép!

        Nhưng vẫn không thấy anh ta xuất hiện như mọi lần. Pa-ven đành phải tự xoay xở, đánh giá toàn bộ tình hình trên sườn phải trận địa mình.

        Vừa quay lại theo chiến hào trung tâm, anh phát hiện thấy bọn SS vẫn đang táo bạo chạy thành từng cụm lớn xông lên lộ liễu, không cần ẩn tránh, miệng hò la, tay vung vung vũ khí. Những phát súng lẻ lẻ của mấy chiến sĩ trung đội một không thể ngăn cản được chúng, còn đại liên của A-nhi-xi-mốp vẫn im lặng. Pa-ven cô hết sức chạy lên. Nhảy qua một ụ đất, đầu gối đập vào ụ đau điếng, anh khập khiễng chạy tới hầm các chiến sĩ súng máy. Trông bề ngoài nó vẫn có vẻ còn nguyên vẹn chưa bị hư hỏng gì, nhưng khi vừa nhảy xuống, hay đúng hơn là, vừa ngã lăn xuống, Pa-ven bị nghẹt thở ngay, ho sặc sụa, hình như căn hầm vừa trúng lựu đạn, nước mắt anh trào ra.

        Trong làn khói dày đặc phủ đầy trong hầm, chỉ còn có thể phân biệt được lỗ châu mai thấp thoáng và nòng súng đại liên mờ mờ, đen đen chĩa ra ngoài. Pa-ven cúi chạy tới lỗ châu mai đang ún ùn tỏa khói và nhìn ra ngoài. Lập tức nhận ra tình hình trước mặt. Trong màn khói mờ mờ, anh thấy những bóng đen sẫm, đông đặc đang đi động, lay chuyển, chủng tỏa ra, rồi chụm lại và dần dần hiệp rõ bóng người. Nâng băng đạn lên, rất may là nó vẫn còn gắn vào ổ, Pa-ven nắm chặt lấy tay cầm đang ấm hơi người.

        — Đỡ tôi dậy với... Ôi, mẹ mày!... ô... ô!... Giúp một tay anh bạn, có nghe không? — Có tiếng nói yếu ớt sau lưng anh.

        Không ngoảnh lại, anh dùng cả hai ngón trỏ bóp mạnh cò súng và khẩu đại liên rung lên tuột khỏi tay anh. Pa-ven có cảm giác tiếng nổ của khẩu đại liên không phải vang lên trong anh, mà trái lại, chính sự phẫn nộ của anh đã biến thành những tiếng thép.

        Màn khói mù bao phủ trước lỗ châu mai vảng ửng và lập tức tan biến đi. Hàng loạt vỏ dạn long lanh bắn ra chung quanh, bầu không khí nóng nực, hơi sắt thép tỏa ra quanh Pa-ven. Anh hướng nòng súng từ bên này sang bên kia, hạ thấp xuống và nâng lên... Một cảm giác căm giận, kinh hoàng, xen lẫn tự hào đọng lại trên khuôn mặt đầm đìa nước mắt của anh.

        Bỗng nhiên Pa-ven nhận thấy trước mắt anh không còn một tên địch nào cả, tựa như chúng đã bị ngọn lửa liếm đi khỏi mặt đất và anh ngừng bắn.

        — Đồng chí chỉ huy! — Một giọng khàn khàn khản đặc yếu ớt lại thốt lên cạnh anh. — Đồng chí không tiết kiệm đạn gì cả.

        Pa-ven dằn giọng hỏi:

        — A-nhi-xi-mốp! Đồ quỷ, ở đâu thế này?... Bị thương hả? Cậu biến đi đâu ?

        — Đây là băng đạn cuối cùng của tôi, thế mà đồng chí đã bắn liền một loạt... — Người chiến sĩ súng máy nằm dưới đất lầm rầm nói. — Đồng chí nổi nóng rồi đấy! — Anh cựa quậy, thốt lên, chửi tục rồi nói tiếp. — Tôi bị thương ở chân, tôi đã dùng băng gạc buộc lại... Còn Bu-la-tren-cô không thấy đâu cả.

        — Hãy gượm... chịu khó nằm đến tối, chúng tôi sẽ đưa các cậu ra. — Pa-ven nói và lau nước mắt đang ứa đầy mặt. — Băng cuối cùng à, có phải không?

        — Còn, còn cái khác... Đồng chí chỉ huy, giá đồng chí cho tôi một quả lựu đạn, để phòng trường hợp nóng bỏng... Tôi không sống nổi đâu...

        — Thôi được, chúng ta sẽ cùng rút! — Pa-ven la lên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2020, 04:14:09 am

        Dầu sao anh vẫn mò mẫm trao lại quả lựu đạn cho người đội viên bị thương. Sau đó anh cẩn thận mò mẫm để khỏi giẫm phải người bị thương, và bước ra khỏi hầm đại liên.

        Lên mặt đất, Pa-ven nhìn bầu trời lúc này đã dìu dịu ánh nắng về chiều, nhưng phải một giờ nữa trời mới tối. Một giờ nữa! Đây quả là quãng thời gian dài đằng đẵng, không thể chịu nổi!...

        ... Tuy nhiên, trận đánh đã kết thúc sớm trước khi trời tối hẳn. Khi Pa-ven leo lên chỗ cao hơn một chút để nhìn cho rõ xem Ê-li- xây-ép và các chiến sĩ đã chiến đấu ra sao thì trước mắt anh mở ra một khung cảnh khác thường. Bên trái, theo đường sắt là những bóng người khác thường đang đi động: trông giống như những con người khổng lồ trên nền trời ửng màu đồng vàng thau của buổi hoàng hôn, những bộ quần áo rộng thùng thình nhuộm vàng ánh nắng chiều tà. Từ nền đường sắt, họ tụt xuống đường viền màu tím thẫm, rồi biến mất một lúc trong cái bóng đó. Lát sau lại xuất hiện ở chân đồi còn vương ánh nắng. Một bộ phận những cái bóng đó nằm soài trên tuyết, nổ súng vào ven rừng, nơi các nhóm lẻ tẻ bộ binh SS đang ẩn náu và một nhóm khác đang chạy lao lên mặt đồi về phía Ê-li-xây-ép. Trên cánh đồng rộng nhuộm đỏ ánh nắng chiều tà. đã thấy rõ hơn mũ trùm dầu, có khoác ngụy trang của các chiến sĩ Hồng quân thấp thoáng... MỘT lát sau Pa-ven hiểu rõ là trung đoàn bộ binh mô tô cơ giới đã đến chi viện cho trung đoàn công nhân, phản công đánh bật bọn địch trên tất cả các khu vực. Trong cảnh khói lửa trên chiếc cầu cạn, một đơn vị chống tăng đã chiếm được vị trí hỏa lực thuận lợi và đang dồn bọn Đức ra khỏi khu ga xe lửa.

        Pa-ven thở dài và ngồi xuống phiến đá bị đạn pháo lật lên khỏi mặt đất. Anh ngồi vậy rất lâu trong cảnh hoang tàn, vắng vẻ. Anh cảm thấy những giây phút thật trống trải và lắng lắng, đồng thời, cũng thấy gần như đã kiệt sức. Hơn lúc nào hết, giờ đây anh muốn được ngồi như thế này, không phải làm gì, không phải lo lắng gì để tận hưởng sự khoan khoái, nhẹ nhàng đang bao trùm trong anh. Nhưng cuộc sống mà một lần nữa đã được bảo vệ, cuộc sống với mọi nhu cầu, đòi hỏi và sự chăm nom cần thiết, lại như thúc giục anh. Trong tiềm thức nặng nề của Pa-ven lại thoáng hiện lên những suy nghĩ, những công việc cấp bách như cần chăm sóc ngay thương binh, khác phục lại sự liên lạc với tiểu đoàn, nhận đạn dược mới và viết báo cáo... Cố dồn hết sức còn lại, Pa-ven đứng dậy.

        Các chiến sĩ Hồng quân đã chiếm được điểm cao ngọn đồi bên trái, chiếm luôn các đồi lân cận và những người bảo vệ ít ỏi của tuyến này từ trong các hố đạn, đường hào chạy ra đón họ. Các chiến sĩ vui sướng chào nhau, hỏi chuyện, mời nhau hút thuốc; một số lại còn ôm chầm lấy nhau. Nhưng có một số thậm chí không còn đủ sức đứng dậy để đón những người vừa đến cứu họ... Gặp chỉ huy đơn vị Hồng quân, điều đầu tiên Pa-ven đề nghị giúp cho ít đạn và sau đó, di chuyển các thương binh về tuyến sau. Người đại úy Hồng quân đang nói chuyện giữa chừng bỗng nhiên ôm chầm lấy Pa-ven ghì chặt vào mình. Sau khi nghe Pa-ven đề nghị, anh liền hạ lệnh điều ngay mấy chiến sĩ tải thương đến giúp. Cuối cùng thương binh đã được chuyển đi. A-nhi-xi-mốp được lôi từ trong hầm cố thủ ra, người đầy đất, nhuốm thuốc súng đen ngòm, nắm trên cáng khi thì rên rỉ vì đau, khi thì cố hỏi chuyện hai chiến sĩ tải thương đang khênh anh.

        — Đơn vị nào đấy hả? Trung đoàn bộ binh mô tô Hai trăm mười hai à? Các cậu đến đúng lúc lắm!... Tôi cứ nghĩ rằng,thế là bọn này đã rơi xuống địa ngục... Đạn hết, mà bọn Đức thì nhằm vào tôi rất đông, chúng cứ nhè lỗ châu mai mà bắn... Bu-la-tren-cô, xạ thủ phụ của tôi, bị chết ngay từ dầu...

        Anh cựa mình trở nghiêng, chao đảo đôi mắt trắng đã trên khuôn mặt đen nhẻm.

        — Ồ, các cậu, những con đại bàng đã đuổi hết bọn Đức! — Anh thốt lên, tự hào. — Các cậu đã đến đúng lúc căng thẳng nhất...

        Xuống khỏi sườn đồi, các chiến sĩ đặt cáng lên tuyết và một anh lính trẻ rút chiếc bi đông trong túi da ra, mở nắp nhôm:

        — Bố già, nhấm nháp một tí để tăng thêm sức khỏe. — Anh lính mời, anh ta còn rất trẻ, hai má phúng phình, hây hây đỏ.

        Anh ngồi xồm, đỡ lưng A-nhi-xi-mốp khi ông nhỏm dậy uống rượu.   

        — Chà, chà! — Ông già thợ mỏ thở phào. — Chả cần phải thức nhắm gì nữa. Thế là có thể nói, chúng ta đã quen nhau... Các cậu tên là gì, hở những con đại bàng này, ở đâu ta? Còn tôi là A-nhi-xi-mốp, thợ đi lò, gia đình sống ở phố Một tháng Năm.

        Anh lính trẻ vui tính, người đã mời ông thợ mỏ già thương binh này uống rượu, tự xưng tên và nói thêm.

        — Bố già có nghe thấy nói đến người săn chồn đen không ? Đấy, quê cháu đấy. Chúng cháu là dân vùng Mu-rôm-xép, và hàng thế kỷ nay đã quen với cái tên lóng là: dân săn chồn đen.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2020, 02:28:15 pm

        Người lính thứ hai đã đứng tuổi hơn, khoảng bốn nhăm, cao, mập, trông hiền lành, chả hiểu sao có vẻ ngập ngừng không muốn bắt chuyện. Nhưng khi thấy A-nhi-xi-mốp nhìn mình có vẻ như muốn hỏi thì anh ta ngập ngừng nói:

        — Tôi là Xe-li-vê-xtốp. Cần gì phải...

        — Tôi muốn hỏi rõ để còn kề cho tụi trẻ nhà tôi biết ai đã cứu tôi trong trận đánh này. Tôi có bốn đứa, lại toàn con trai cả... —  A-nhi-xi-mốp nói, giọng ngắt quãng, rất mệt; ông quay mình và hỏi tiếp người chiến sĩ đứng tuổi. — Hình như anh là đơn vị dự bị... Trước đây làm việc ở đâu, trong ngành sản xuất hay cơ quan phục vụ...

        — Không, tôi không phải ở đơn vị dự bị... — Người lính đứng tuổi đáp và cúi xuống nắm lấy tay cáng.

        A-nhi-xi-mốp được mang đến bờ sông Ru-sa-lô-sca, và thật kỳ lạ: ông có cảm giác ngượng ngùng vì phải về tuyến sau trong khi các đồng chí của ông, những người còn chiến đấu được, lại ở lại đây. Gặp các chiến sĩ cùng đại đội, người thợ mỏ già gắng sức nói với họ:

        — Prô-khô-rốp, chúc cậu mạnh khỏe nhé! Chúc may mắn nhé! Đê-min! Như cậu thấy đấy, mình đã không may mắn !... Đừng giận mình, nhất định chúng mình sẽ cùng nhau đuổi bọn Hít-le ra khỏi đất nước. Nhất định ở đây sẽ còn xuất hiện nhiều con đại bàng anh dũng...

        Ông xoay người tìm cách ngồi lên, hai tay nắm chặt tay cáng, nghiến răng chịu đau, chòm râu đen nhẻm của ông ngọ nguậy trên bộ ngực nở nang.

        — Bô-cốp thiện xạ, hẹn gặp nhau nhé!... Tôi sẽ không nằm lâu đâu, tôi sẽ đề nghị các ủy ban, các trạm quân y, tôi không chịu được cảnh nằm viện đâu... Đồng chí chỉ huy, — ông gọi to khi thấy Grô- mốp. — Xin phép đề nghị là tôi chỉ tạm điều trị thôi đấy nhé.. Các cậu, cho tôi nói vài lời với đại đội trưởng một lát. — A-nhi-xi-mốp đề nghị các chiến sĩ tải thương. — Anh ấy là người địa phương, công nhân chính cống đấy... Pa-ven, nếu các anh đã vượt được lên trước thì tôi cũng sẽ đuổi theo đấy, ông già thợ mỏ hét lên. — Đừng xóa tên tôi khỏi đại đội đấy nhé!

        Và ông chìa bàn tay nóng ấm cứng như thép, bắt tay Pa-ven.

        Trời đã tối hơn. Quả cầu lửa đỏ rói to vành vạnh đã lặn xuống sau nền đường sắt; một tảng mây mỏng nhẹ trông tựa cánh chim khổng lồ nhuộm vàng đang bay chậm chạp tới chân trời hoàng hôn muộn,

        A-nhi-xi-mốp vẫn ngoái nhìn lại sau tựa như luyến tiếc cái vùng đất bị xới tưng, bị nung đốt thành than này, lớn tiếng chào tạm biệt các bạn chiến đấu cùng đơn vị mà ông gặp.

        — Cậu thấy dấy, mình đã sai lầm... Nhưng chóng thôi, nhất định sẽ gặp nhau!... — Ồng nhắc lại với ai đó.

        Bô-cốp đi lại chỗ Pa-ven:

        — Giao súng cho ai, đồng chí chỉ huy ? — Chàng thiện xạ hỏi.

        Họ im lặng nhìn nhau một giây và ngay sau đấy. nét mặt cả hai cùng lộ vẻ ngượng ngập như nhau. Pa-ven bước lên, ôm Bô-cốp, kéo anh ta vào sát mình và hôn lên đôi môi mềm mềm, âm ấm hơi run run của anh.

        — Anh chàng tóc xoăn, thế là cậu còn sống! — Anh thì thào.

        — Pa-sa, — Bô-cốp nói. — Cậu đừng lo cho mình. Mình hiểu, đây là trách nhiệm mà. Minh sẽ tự tìm đến chỗ tạm giữ, mình gửi lại khẩu súng của người khác mà mình đã nhặt được.

        Sau khi đã cẩn thận treo khẩu súng lên bờ chiến hào, anh lùi ra và dừng lại, chờ lệnh...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2020, 02:28:55 pm

       
5

        Các chiến sĩ trinh sát — Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp, Lê-na Cô-lê- xnhi-cô-va và Vi-chi-a Vê-rép-kin — lại được phái đến gặp đội du kích Nhi-ki-ta Đa-ni-lô-vích. Họ đã đến được chỗ trú quân của đội thuận lợi và sau khi gặp tham mưu trưởng (Nhi-ki-ta còn bận đi đâu đó, chưa tiếp họ được) nhận những báo cáo mới nhất để đưa về thành phố, ba người được lệnh nghỉ đến sáng mai. Lê-na được các cô bạn gái trong đội cứu thương đưa về hầm, còn Vô-lô-đi-a và Vê-rép-kin xuống nghỉ ở trung đội hậu cần.

        Ở đây, tuy đã khuya, nhưng chưa ai đi ngủ cả. Đội du kích Nhi-ki- ta được lệnh rời địa điểm này đi nơi khác nên các chiến sĩ hậu cần đang bận rộn chuẩn bị cho cuộc chuyển quân... Trong hầm có nhiều người: người thì báo cáo với trung đội trưởng là không đủ bao bì đựng lương thực, người thì phàn nàn là yên ngựa đã bị hỏng — nói chung là về mọi chuyện thường thấy trong những lúc như thế này... Khoảng vài phút sau, một chiến sĩ trẻ, dáng tâm thước, có khuôn mặt trắng trẻo, mặc chiếc áo bludông kỵ binh, chạy ùa vào hầm. Vô-lô- đi-a nhận ngay ra đấy là chiến sĩ du kích đánh mìn nổi tiếng toàn tỉnh — một con người đang được nhắc đến với nhiều huyền thoại. Ờ những nơi anh hoạt động, các đoàn tàu thường bị trật bánh, hàng trăm lính Hít-le đã bị chết, cả những đoàn xe chở tướng tá cũng bị nổ tung.. Vô-lô-đi-a với vẻ hết sức tò mò và thán phục nhìn như dán mắt vào chàng trai tráng trẻo gàn như xanh xao, lưng hơi gù.

        Người anh hùng du kích có vẻ rất vội. Khi chờ người ta mang áo ngụy trang ra, — ngay trong đêm nay anh phải đi làm nhiệm vụ gì đó — chàng trai như đứng ngồi không yên hết nhìn ra cửa lại nhìn lên trần, cố tránh ánh mắt tò mò của những người xung quanh, mặc dù anh đã quen với cách nhìn như vậy. Anh ta chỉ liếc đôi mắt xanh, nhìn lướt qua Vô-lô-đi-a với vẻ thờ ơ làm cho cậu cảm thấy lạc lõng và bực mình ; mặc dầu trong thâm tâm rất tự hào về chiến công của chàng thanh niên du kích. Hình như cả Vê-rép-kin cũng cảm thấy một cái gì đó như lòng tự trọng bị xúc phạm. Khi chàng trai vừa mặc xong bộ quần áo ngụy trang trắng và chào trung đội trưởng hậu cần một cách vội vã, cẩu thả rồi đi ra, Vi-chi-a Vê-rép-kin bèn làu bàu:

        — Lên mặt gớm...

        Vô-lô-đi-a ngẫm nghĩ và với bản chất thật thà vốn có, cậu phải thú nhận là cả hai người đều thầm ghen với người du kích anh hùng. Thật ra những gì họ đã làm được từ trước tới nay trong chiến tranh đều không thể nào so sánh được với những hành động tuyệt vời của chàng thanh niên này. Và, sau làn chạm trán với bọn tuần tiễu Đức, họ cũng đã nhiều lần vượt qua mặt trận nhưng không còn gặp những pha mạo hiểm nào vang dội nữa. Giờ thì họ đã nắm được kỹ càng địa điểm, hiểu rõ, thông thạo các vị trí đóng quân của bọn Đức để có thể chọn lựa cho mình một lối đi an toàn trong khi làm nhiệm vụ. Những chuyến đi ban đêm của họ ra khỏi thành phố đến khu du kích rồi lại trở về, giờ đây đối với Vô-Iô-đi-a chả khác gi những buổi đi liên lạc thông thường. « Đúng như là mấy anh nhân viên đưa thư... », đôi khi cậu thầm nghĩ như vậy.

        — Không phải lên mặt đâu, anh ấy quá bận rộn thôi. — Im lặng một lúc, Vô-lô-đi-a nói với Vê-rép-kin; cậu ta rất tự hào là đã kìm được lòng ghen tị. — Còn nếu cậu mà ở địa vị như anh ấy thì có lẽ mũi cậu đã hếch lên rồi.

        Ba chiến sĩ trinh sát ăn ngon lành, uống nước chè nóng và còn được ngủ đôi chút, cho đến khi Vô-lô-đi-a được gọi lên gặp đội trưởng đội du kích... Nhi-ki-ta Đa-ni-lô-vích vừa mới về trại, đang đứng sưởi bên bếp lửa rực hồng trong hầm tham mưu, hai tay xoa xoa, hơ lên ngọn lửa ấm áp.

        — A, chào đồng chí tổ trưởng!... Lại đây, lại đây, — anh la lên và ngoảnh nhìn Vô-lô-đi-a. — Chà, chú em, sắp cao bằng anh rồi, trông chững chạc lắm rồi! Chà, chà, trông khá lắm.

        Đội trưởng đội du kích cũng không thay đổi mấy so với lần gặp gỡ trước đây ở khu Gni-la Da-xe-ca. Chỉ có điều bộ râu rậm, đen nháy của anh có vẻ đen hơn và chiếc áo lông ngắn vốn rất mới và sạch sẽ trước đây giờ đã tàng hơn; dáng dấp của Nhi-ki-ta không còn vẻ gì là con người chỉ huy cả, bề ngoài vẫn có vẻ vui đùa, lại hay nháy mắt... Tuy nhièn, Vô-lô-đi-a rất thầm thán phục người cựu kỹ sư nông nghiệp này và cậu cho rằng, Nhi-ki-ta thật xứng dáng với trách nhiệm của mình. Anh có một đội trinh sát hoạt động rất tuyệt, và mọi mệnh lệnh của anh đưa ra, mặc dù đôi khi không đúng quy định lắm, cũng đều được thi hành nghiêm chỉnh.

        — Lê -na cùng đến với em chứ ? — Người chỉ huy hỏi. — Cô ấy thế nào, không sao cả chứ ? Có gì khó khăn không ? Có nhận xét gì về cô ấy không?

        — Không ạ, tất nhiên là không ạ. — Vô-lô-đi-a trả lời giọng khô khan.

        — Chà, thật tội cho cô bé! Các cậu phải chú ý giữ gìn, bảo vệ cô ấy... Còn cậu, phải có tỏ ra lịch thiệp, chăm sóc nó, nhẹ nhàng với nó... — Nhi-ki-ta khuyên nhủ

        Chẳng đáp lại, Vô-lô-đi-a nhún vai — đối với cậu, quả là thừa khi đưa ra những đề nghị thế này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2020, 02:29:27 pm

        Lúc đó, bên bàn cũng đang có cuộc họp giữa tham mưu trưởng với hai cán bộ chỉ huy của ông. Cả ba người đang cúi nhìn tấm bản đồ trải trên bàn và qua những câu trao đổi ngắn gọn của họ cũng có thể  biết được đội du kích đang chuẩn bị chiến dịch mới. Một người trên má còn một vết sẹo đỏ, khẽ nhắc lại:

        — ... Đấy là tiểu đoàn bọn thợ săn nhà nghề... Còn đây là đại đội hiến binh... Tiểu đoàn công binh ở đây... Cả một doanh trại không phải là nhỏ...

        Cuối cùng rồi Nhi-ki-ta cũng vào việc. Mời Vô-lô-đi-a ngồi, anh thông báo những tin tức trinh sát thu lượm được cần phải chuyển về thành phố, rồi nói thêm:

        — Cần phải chuyển nguyên văn .như sau: « Đội du kích « Búa liềm» sẽ có mặt ở điểm xuất phát... — Anh nhoài qua bàn, ghé sát vào tai Vô-lô-đi-a, hạ giọng, — đúng như mệnh lệnh quy định. Tín hiệu: hai pháo hiệu đỏ, một pháo xanh». Nhớ chưa, tổ trưởng? Nào, nhắc lại đi.

        Vô-lô-đi-a bật dậy, ưỡn thẳng người đứng nghiêm đúng như quy định khi nhận mệnh lệnh chiến đấu.

        — Phải truyền đúng nguyên văn: « Đội du kích « Búa liềm» sẽ đến địa điểm xuất phát đúng như mệnh lệnh quy định, — trong hầm vang lên giọng cao thanh đã vỡ của cậu. — Tín hiệu : hai pháo hiệu đỏ, một pháo xanh».

        — Đúng! — Nhi-ki-ta nói, tựa như đọc lại. — Hai đỏ, một xanh. Nhớ đừng có lẫn đấy, tổ trưởng ạ. — Đôi mắt đen lánh, nghiêm nghị nhưng đượm vẻ khoan dung nhìn thẳng vào đôi mắt mở to, trong sáng của Vô-lô-đi-a. — Phải làm sao để trong thành phố biết được tín hiệu này trước trời sáng ngày kia... Lạy trời, nếu cậu về muộn hay lẫn lộn thì sẽ có trục trặc lớn đấy...

        Tham mưu trưởng cũng nhấc thêm Vô-lô-đi-a:

        — Đúng đấy, Vô-lô-đi-a ạ. Kết quả của chiến dịch quan trọng này phụ thuộc vào chỗ các anh có mang báo cáo về kịp không...

        Vô-lô-đi-a im lặng lần lượt nhìn Nhi-ki-ta, tham mưu trưởng và các chi huy khác... Những người này cũng đang chăm chú nhìn cậu, người có sẹo ở má hơi nhăn mặt lại. Vô-lô-đi-a suýt nữa buột nói là không cần thiết phải nhác cậu ta sự cấp thiết mang báo cáo về đúng hạn. Cho dù đây chỉ là một chiến dịch không quan trọng lắm thì mệnh lệnh chiến đấu bao giờ cũng là mệnh lệnh quan trọng — cậu vẫn phải thi hành chính xác và kịp thời.

        — Các chú không cần dặn gì thêm? Xin phép đi được chưa ạ? —  Hơi cau mày, Vô-lô-đi-a hỏi.

        — Chúng tôi tin ở cậu, đồng chí tổ trưởng ạ! Chúng tôi hy vọng nhiều ở cậu, — Nhi-ki-ta động viên, thay cho câu trả lời.

        Chiếc đèn «con dơi» tỏa ánh sáng trong căn hầm chiếu vào thân hình dong dỏng của Vô-lô-đi-a đang đứng nghiêm đợi lệnh cho đi ra.

        — Đây cũng không phải là chuyến đầu tiên cậu và các bạn tới đây... Các cậu đã biết rõ khu rừng như biết rõ đường phố quen thuộc của mình, biết rõ chỗ nào không đi được, chỗ nào phải bò qua... Cũng không cần phải bày vẽ cho các cậu cách dùng mưu trí, — Và Nhi-ki-ta lại nháy mát. — Vậy thì không có gì phải ngờ vực các cậu. Cậu sẽ không làm chúng tôi thất vọng.

        Đội trưởng muốn động viên người chiến sĩ trinh sát hay nói đúng hơn, người chiến sĩ liên lạc này. Vô-lô-đi-a vẫn đứng nghiêm, lắng nghe, không phải là không bực mình; vì, đây hoàn toàn là những lời dặn dò không cần thiết. Thật đáng tiếc cho cậu, nhiệm vụ mới này cũng chả khác gí những nhiệm vụ trước đây, cậu đã nhiều lần thực hiện một cách dễ dàng.

        ...Sáng sớm, đội du kích chuyền địa điểm. Sau khi đã thu xếp xong thương binh, lương thực, đạn dược, họ luồn sâu vào rừng. Theo sát tổ trinh sát bảo vệ đi trước là đại đội mà phần lớn là thợ mỏ và công nhân nông trường quốc doanh. Đây là đại đội hạt nhân của đội du kích. Tiếp theo là đoàn xe ngựa rồi đến đại đội hai đi sau cùng. Vô-lô-đi-a và hai bạn cùng đi với những người du kích một chặng cho đến lúc mặt trời đã lên cao, khi đoàn quân bắt đầu đến chỗ hồ đóng băng thì họ chia tay nhau. Họ đúng lên, nhìn theo bóng những chiếc áo choàng, áo lông của các chiến sĩ thấp thoárg giữa các bụi sậy lạnh ngắt để vượt qua hồ, lắng nghe tiếng bánh xe ngựa rít rít trên băng, tiếng hô của những người đánh xe xa dần cho đến khi im lặng hẳn. Vô-lô-đi-a quyết định đến xóm trại Vư-xen-ki— một xóm nhỏ có khoảng mươi, mười hai ngồi nhà cách rừng không xa và dự định nghỉ lại đấy chờ đến tối như đã được Nhi-ki-ta đồng ý.

        Buổi sáng ấm trời hơn chút ít, bầu trời trong xanh, cơn gió hoành hành suốt đêm qua đã lặng hẳn vả khu rừng có vẻ tươi tắn hơn. Ánh nắng long lanh, rực rỡ xuyên qua bầu không khí trong suốt, bất động như pha lê. Những hàng bạch dương đẫm sương muối đứng im phăng phác, giống như vòi phun nước khổng lồ, trắng xóa; những cây thông tựa như mái tháp nhà thờ phủ tuyết nhô hẳn lên bầu trời trong xanh. Vô-lô-đi-a chống đôi gậy trượt tuyết, ngoảnh nhìn Lê-na và Va-rép-kin đang đi ở phía sau, lòng bỗng cảm thấy một niềm vui dịu dàng. Tất cả mọi vật xung quanh — từ màu trắng lạnh ngắt đến những cái bóng tím sẫm in trên nền đường mòn, và làn hơi lành lạnh của băng tuyết giống như hơi lạnh trong căn hầm du kích, đều gợi nhớ đến những ngày nghỉ đông, những cuộc trượt tuyết đi chơi trong rừng, đến những ngày nghỉ tuyệt vời đầy tự do sau các kỳ thi căng thẳng... Vô-lô-đi-a bất giác có cảm tưởng như đây là một ngày chủ nhật và cậu được thoát ra khỏi những lo toan công việc nặng nề của mình, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Trong bộ áo len vàng điểm hoa các màu, trong đôi tất tay len màu huyết dụ, đầu trùm chiếc khăn len mịn, Lê-na trông dỏm dáng như trong cuộc đi chơi ngày chủ nhật; ánh nắng chiếu thẳng vào mặt, cô hơi nheo mắt lại, hướng khuôn mặt xinh tươi đón ánh sáng và nắng ấm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2020, 02:29:51 pm

        Ở những nơi này bọn Đức chưa bao giờ xuất hiện. Xóm Vư- xen-ki nằm gọn trong khu rừng cấm cũng không có bọn chúng nên trên đường tới đấy, các bạn trẻ có thể không phải lo lắng gì cả. Cảnh yên tĩnh bao trùm xung quanh cũng sâu lắng, tinh khiết đến mức tựa như trong cuộc chiến tranh này, cũng có một ngày nghỉ như vậy. Nhưng dầu sao, khi những hàng cây phía trước đã thưa dần đi, do thói quen thận trọng, Vô-lô-đi-a cũng bước chậm lại... Ra đến bìa rừng, bất giác cậu mỉm cười khi thấy trước mặt mình một cánh đồng hình bầu dục trải rộng đến tận bờ sông, ánh nắng chan hòa trên mặt dốc thoai thoải óng ánh như trên chiếc khay bạc khổng lồ. Một con thỏ như một chấm sáng không nhận thấy được trên cánh đồng sáng lóa này, sợ hãi phóng như bay xuống phía dưới, và Vô-lô-đi-a vui hẳn lên đến nỗi suýt đuổi theo nó. Quay lại các bạn để chỉ con thỏ, cậu ấp úng suýt la lên nhưng vội im bặt... Lê-na im lặng đến đứng bên, sát đến nỗi cậu nhìn rõ từng chiếc lông mi trên đôi mắt lim dim và từng đường nét li ti trên đôi môi đỏ thâm, khô nẻ của cô. Vô-lô- đi-a có cảm giác như, từ khuôn mặt đỏ gay, nhưng khô và dịu dàng của cô cũng toát lên làn hơi ấm khác thường.

        — Trông kìa, trông kìa, con thỏ trắng... — Từ phía sau, Vê-rép- kin la lên. — Kia, nó biến mất rồi.

        Vô-lô-đi-a chằm chằm nhìn Lê-na một cách kỳ lạ, trong lòng cậu trào lên một sự trìu mến khó tả nhưng đồng thời cũng đầy nặng nề và lo lắng, muốn ôm lấy cô, muốn xoa vuốt cô... Như sực tỉnh lại, như cố nén một cái gì đó trong lòng, cậu trượt phóng nhanh xuống dưới, mong bứt xa khỏi cô bạn gái. Phóng đến mặt bằng trên sông, cậu mới quay nhìn lại. Lê-na co đầu gối, vươn toàn thân tới trước cũng phóng theo cậu với một tốc độ nhanh tưởng như đang bay lướt trong không trung. Một tảng mây rực nắng như đang ôm ấp, phủ quanh người cô. Quay ngoắt lại một cách khéo léo, chống đôi gậy trượt xuống tuyết, cô dừng lại, đứng thẳng người lên, và đám mây tuyết tỏa ra dưới chân cô... Vô-lô-đi-a thở dốc vì vui sướng, lim dim mắt.

        — Bạn hơi thận trọng quá đấy, — cậu nói ngượng ngùng.

        Cô gái tháo tất tay và khẽ dùng đầu ngón tay gãi gãi má như sợ làm xước da.

        — Thì cứ nói thật là mình trượt tồi lắm, — vừa thở gấp, cô vừa thốt lên. — Nói đi, nói đi... Nếu cậu còn đủ can đảm.

        — Không, tất nhiên, bạn trượt tốt lắm... Nhưng trông chân cứ như bị long ra ấy. — Vô-lô-đi-a đáp.

        — Còn cậu, có muốn tôi sẽ nói cho cậu biết là, cậu như thế nào không? — Cô nói thong thả. vừa nhìn cậu ta với vẻ như định chế nhạo điều gì đó. — Sao lại im lặng thế? Muốn không, tôi sẽ nói cho mà biết?

        Đôi mắt xanh trong của cô mở to long lanh, tựa như chính cô cũng sợ cái điều mình định nói ra; những hạt tuyết nhỏ trên đôi lông mày thanh thanh, lấp lánh, và trên chiếc khăn mịn như nhung của cô.

        — Nói đi... — Vô-lô-đi-a thốt lên khô khan.

        Mặt cậu trắng ra, tựa như kẻ có lỗi muốn được tha thứ... Còn Lê-na thì như đang ham chơi, đang mải mê với trò đùa nghịch trêu chọc gì đó, lại cứ im lặng. Cô rất ngạc nhiên trước vẻ ngoan ngoãn, khó hiểu hiện rõ trong giọng nói, biểu lộ hoàn toàn vẻ bất lực trước cô. Và như cảm thấy sự hồi hộp mới lạ đầy vẻ trẻ con này, cô đâm ra bối rối.

        — Sao, nói đi chứ... — Cậu nhắc lại.

        — Nhất định sẽ nói... — Cô gượng nói.

        Hai người quay lưng lại với nhau, làm thinh chẳng nói gì hơn, tựa như đang giận nhau và chẳng biết sẽ đứng như vậy đến bao giờ nếu Vê-rép-kin không đi tới.

        — Lê-na, mình đã thấy... đằng ấy trượt tuyết lẹ lắm, — cậu động viên cô bạn gái.

        Chẳng đáp lại, cô cầm hai cây gậy trúc vào tuyết nhún mình và phóng đi. Vô-lô-đi-a tránh nhìn Vê-rép-kin, giả vờ cúi xuống buộc lại đây giày cho chặt.

        — Vốp-ca, cậu biết không, — Vê-rép-kin khẽ nói ngay bên tai cậu ta. — Lê-na không còn trẻ con nữa đâu... Trước đây mình cứ nghĩ rằng bạn ấy chỉ là con búp bê và thế thôi. Nhưng bạn ấy, giờ đây đúng là nữ chiến sĩ rồi đấy!

        Vô-Iô-đi-a không đứng lên, vừa cúi vừa liếc mắt nhìn theo — cô gái vẫn nhịp nhàng bước đi trong tuyết, hai tay vung vẩy đều đều; những bụi lau sậy nhô lên từ trong tuyết trắng che khuất đến thắt lưng cô... Đôi tất tay của cô vung vẩy trên đám lau sậy, trong màu trắng mênh mông đó giống như đôi chim cánh đỏ đang chập chờn bay.

        — Lê-na! — Vô-lô-đi-a chợt thốt lên. — Dĩ nhiên, là nữ chiến sĩ rồi!

        Cố giữ điềm tĩnh, cố giữ thái độ tự nhiên với cô, cậu nói thêm:

        — Phải cái hơi nóng nảy, bướng bỉnh, như cái hạt cứng ấy.

        — Bạn ấy còn trẻ mà,— Vê-rép-kin nói, vẻ tin tưởng. — Có lẽ ở nhà được chiều lắm đấy... Họ sống có lẽ đầy đủ, đường hoàng lắm, nói chung là khá giả...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2020, 08:54:19 am

        Cậu xích lại cạnh Vô-lô-đi-a và hỏi với vẻ người lớn nhưng hơi thô bạo:

        — Này, thế cậu đã thỏa thuận với bạn ấy chưa? Bạn ấy có đồng ý chờ cậu không ?

        — Chờ gì? — Vô-lô-đi-a hỏi lại, vẻ không hiểu.

        — Chờ gì nữa, chờ đến khi chúng mình đuổi được lũ phát xít đi, chờ đến khi cậu học xong xuôi, và bạn ấy cũng cần phải xong lớp mười đã chứ...

        Vô-lô-đi-a giậm giậm chân làm ra vẻ như thử xem giày trượt đã chắc chưa, một lát sau mới nói, vẻ ngập ngừng:

        — Mình không biết... Nói chung, có lẽ, cái đó đã rõ ràng rồi.

        — Thế chứ lỵ — Vê-rép-kin tán thành. — Bạn ấy đẹp xinh thế mà lại, cậu sẽ ăn đứt các bạn trai khác. Hơn nữa, lại là bạn chiến đấu! Lại còn biết bắn súng ngắn cừ nữa chứ!

        Vô-lô-đi-a lắng nghe, tràn đầy biết ơn đối với Vi-chi-a.

        — Đúng, bạn ấy bắn không đến nỗi tồi. — Vô-lô-đi-a tán thường với vẻ kiềm chế.

        — Sao lại không đến nỗi tồi ?! Hai mươi bảy phát trúng đích trong số ba mươi viên .. — Vô-rép-kin như thét lên. — Không, bạn ấy là cô gái có bản lĩnh đây...

        Bỗng như sực tỉnh, Vô-lô-đi-a thò tay vào túi áo ngực, sờ sờ vào bản báo cáo giấu trong đó. Tin chắc rằng nó còn nằm ở đấy, cậu thở dài nhẹ nhõm.

        — Chẳng còn thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện nàv... Chúng ta còn những việc quan trọng hơn... Nào, tiến lên đi!

        Vừa chạy để đuổi kịp Lê-na, cậu vừa nhẩm nhớ lại:

        «... Đội du kích « Búa liềm» sẽ đến địa điểm xuất phát đúng như mệnh lệnh quy định. Tín hiệu quy ươc: Hai pháo hiệu đỏ, một xanh».

        Cậu thầm nhắc lại lần nữa để truyền đạt thật đúng từng chữ...

        Khi Vô-ỉô-đi-a, Lê-na và Vê-rép-kin đi đến làng Vư-xen-lốc thì đa giữa trưa. Họ tạt vào ngôi nhà gỗ ven làng. Trong một chuyến đi trước đây tổ trinh sát đã nghỉ ở dấy một lần và chủ nhân ngôi nhà gỗ rộng rãi, sáng sủa này là cụ A-đrây I-la-ri-ô-nô-vích vô cùng vui mừng được gặp lại ba khách quý.

        — Thật may mắn, lạy trời, thật may mắn... — Cụ vừa làm dấu thánh vừa đón khách. — Cầu Chúa, phù hộ cho con cháu. Nào, mời vào đi, vào sưởi cho ấm...

        Cụ cảm động nhìn chằm chằm từng người một như nhìn đứa trẻ mới sinh, với đôi mắt hiền lành, đùng đục. Cụ An-drây đã quá già yếu: đầu cụ có vẻ như quá nặng so voi thân hình còng còng, gần như gục hẳn vào ngực và trong cử động chậm chạp của cụ đã có vẻ không được chính xác, vững vàng — cũng giống như cử động của đứa trẻ mới lớn vậy.

        — Có tin túc gì trong thành phố không, sắp đuổi bọn chúng về nước Đức chứ? — Cụ hỏi khi các chiến sĩ trinh sát đã ngồi trên ghế dài bên bàn. — Mát-xcơ-va thế nào? Mát-xcơ-va vẫn đứng vững chứ?

        — Hàng ngày đài phát thanh vẫn truyền tin từ Hồng trường. —  Vê-rep-kin nói. — Chẳng có gì phải nghi ngờ cả, ông nội ạ...

        Đến lượt mình, Vô-ỉô-đi-a cũng an ủi cụ An-drây, cụ liền đứng dậy trước các tấm ảnh thánh — đên bóng màu mật, treo khắp góc nhà và thong thả, thành kính làm dấu thánh.

        Ngồi lại với nhóm khách trẻ, cụ bắt đầu kể những tin tức ở địa phương : trước chiều qua, tại làng Vi-xen-ki xuất hiện một số người mà theo lời cụ, trốn từ nhà tù bọn Đức ở A-rxê-nhi-ép ra... Tin này làm Vô-lô-đi-a chú ý vì, như cậu hiểu, người chiến sĩ trinh sát không được bỏ qua bất cứ nguồn tin nào: hơn thế nữa những người chạy trốn có thể đang cần sự giúp đỡ. Sau khi được biết là họ đang trốn ở đâu đó tại nhà con dâu cụ An-đrây, Vô-lô-đi-a liền yêu cầu cụ dẫn tới đấy.

        — Các bạn ở nhà đun nước đi, — cậu nói với các bạn cũng đang sửa soạn đi theo. — Mình đi một lát thôi. Khi trở về, chúng mình cùng uống chè vậy. Cần phải lau chùi súng đạn, — cậu liếc nhìn Lê- na. — Sau khi uống chè nóng, sẽ nghỉ độ hai tiếng và đúng mươi tám giờ chiều ta lên đường. Rõ chửa?

        Lê-na bất ngờ mỉm cười hết sức dịu dàng với cậu. Trên bục cửa sổ gần nơi cô ngồi có những bông hoa lạ mắt, mấy cành cây với những chiếc lá bóng loáng trĩu cong xuống, ánh nắng chiếu sáng rực rỡ. Lê-na uể oải dựa vào tường, bỏ đôi tất tay xuỏng sàn và có vẻ như đã thoải mái hơn trong căn phòng ấm áp rực ánh nắng vàng.

        — Đi nhanh lên nhé... Bạn cũng đã mệt rồi. — Cô nói.

        Vô-lô-đi-a không biết trả lời ra sao. Sự quan tâm của Lê-na quả là hiện lượng hiếm hoi và quý giá đối với cậu. Hơi bối rối, cậu vội đi ra, không chờ cụ An-đrây cũng đang luống cuống mặc chiếc áo bông...

        Vừa bước đến ngưỡng cửa căn nhà phía cuồi làng, nơi cụ An- đrây dẫn tới, Vô-lô-đi-a đã cảm thấy không khí khác thường của một tai họa lớn — các cửa sổ đều che rèm kín mít, những bóng người mập mờ trong cảnh tranh tối tranh sáng, khẽ thì thầm với nhau và, có cả tiếng người nào đó nấc lên. Ngay từ phút đầu tiên, Vô-lô-đi-a cảm thấy một người ốm nặng đang nằm giữa nhà, cũng có thể là một người chết; tiếng thì thầm trong góc, tiếng khóc yếu ớt mới buồn làm sao... Những người chạy trốn từ A-rxê-nhi-ép tới không còn ở đây nữa, họ đã đi từ lúc rạng đông. Giờ đây, tại Vư-xen-lốc, người ta đang từng phút từng giây lo lắng chờ đợi bọn Đức sục đến vì từ A-rxê-nhi-ép đã có lệnh truy nã những người chạy trốn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2020, 08:54:48 am

        Những tiếng nói thì thầm, đều đều đó là của cô con dâu cụ An- đrây — một phụ nữ khá trẻ — mới ra. Vô-lô-đi-a có vẻ ngạc nhiên trước sự bình tĩnh của chị ta; nhưng khi mắt đã quen với bóng tối, cậu mới nhìn thấy rõ khuôn mặt gầy gò, mệt mỏi, đầy nước mắt của chị. Vừa nói chuyện, chị vừa vạch vú nở căng dãy sữa cho con bú và chú bé nhỏ xíu, đâu nhẵn thín đang vục vào mút chùn chụt, đạp đạp trên đôi cánh tay mẹ.

        — ... Bọn Đức ấy, chúng nó bắt mọi người phải ra đào hào chống Hồng quân, — chị nói. — Nhưng vợ chồng người chị của tôi bận con mọn không chịu đi... Thế là chúng bắt cả hai người vào nhà giam, và ở đấy, chúng đánh họ đến gần chết, thật kinh khủng, đồng chí chỉ huy ạ.

        — Em không phải là chỉ huy đâu... — Vô-lô-đi-a vội nói.

        — Ở làng Đô-rô-khốp, bọn chúng hành hạ, đầy dọa một cô giáo còn rất trẻ. Thật tội nghiệp, cô ấy tên là A-nhi-u-ca, — chằng cần nghe cậu, chị phụ nữ vẫn cứ tiếp tục câu chuyện. — Cô ấy là người làng Vư-xe-lốc chúng tôi nhưng dạy học bên Đô-rô-khốp; người yêu của cô ấy đi du kích... Thế là bọn ác ôn lúc đầu còn hành hạ, làm nhục cô ấy, sau đó đã bắn chết cô ấy.

        Sau bếp lò cạnh cửa vào buồng bên lại thấy thấp thoáng bóng hai phụ nữ nữa.

        — Không cần bỏ chiếc áo vét nào, còn tất cả gói lại, — từ đấy vọng ra tiếng nói. — Đôi giày nâu nhạt của tôi đâu ? Cô để đôi giày nâu mới của tôi đâu rồi ?

        — Ôi trời đất ơi, sao lại khổ sở thế này? ! — Vẫn cái giọng bà già rên rỉ ấy thốt lên. Ở đây họ đã thu xếp vội vã để giấu cậu ta tránh khỏi bọn địch.

        — Chúng nó thật bẩn thỉu, hôi thối và hung ác. — Cô con dâu An-đrây lại lầm rầm nói. — Chúng đánh số người ta như súc vật... Ai không mang thẻ số sẽ bị đánh... Ôi!... — Chị thốt lên và áp sát vào chú bé. — Sao con cắn vú mẹ đau thế? Con không thương mẹ à, không thương, không thương à ? — Nước mắt chị lại trào ra.

        — Chị ạ, buồn rầu cũng chả làm được gì. — Vô-lô-đi-a cau có nói. — Và các chị đừng nghĩ rằng đã bị bỏ quên... Tất nhiên, tình hình hiện nay rất nặng nề và phải cố sức chịu đựng, nhưng em có thể bảo đảm với chị là, các chị không phải chờ đợi lâu nữa đâu.

        Ở đây cũng như các nơi khác, Vô-lô-đi-a cảm thấy mình là người đại diện của quân đội vĩ đại — một đội quân cố trách nhiệm giải phóng tất cả những ai đang bị áp bức, sẽ trừng phạt bọn giặc tàn ác giết người, bảo vệ những người bị đày đọa, yếu đuối. Và cậu cảm thấy đau khổ là cậu không thể an ủi được người phụ nữ bất hạnh này bằng một tin tức chiến thắng lớn lao nào đó...

        — Chị hãy tin tưởng ở Hồng quân, hãy giúp đỡ họ bằng những cách có thể được và đó là điều đúng nhất.

        Vô-lô-đi-a đứng lên — đã đến lúc cần phải về với Lê-na và Vi-chi-a rồi sau đấy dời khỏi Vư-xen-lốc... Nhưng ngay lúc ấy, cửa phòng ngoài bật mở và một cô gái trùm khăn chạy xộc vào cùng với làn không khí lạnh ngắt.

        — Cô... cô Ma-sa! — Mới đến ngưỡng cửa, cô bé gái đã vội kêu lên, lanh lảnh như chuông. — Bọn Đức ở ấp Xéc-ghi-ẻp đang đến đây. Ba xe ngựa đầy và đứa nào cũng có súng cả!

        Trong nhà im ắng hẳn (ấp Xéc-ghi-ép chỉ cách làng này hơn cây số thôi). Trong cảnh im lặng nặng nề này, chỉ còn nghe tiếng chụt chụt của cậu bé đang khát khao bú sữa. Gió lạnh lan khắp phòng và người phụ nữ đang cho con bú vội la lên:

        — Đóng cửa lại kẻo cảm lạnh bây giờ. Đóng lại ngay đi...

        — Đấy, bây giờ đến lượt chúng ta đấy. Không thoát khỏi đâu. — Cụ An-đrây khẽ nci.

        Cụ cũng đứng dậy, hai tay chống chiếc gậy.

        Vô-Iô-đi-a vội cài áo bludông lại, ấn gói giấy vào sâu hơn nữa nhưng chưa vội chia tay ngay... Bản thân cậu, một chiến sĩ trinh sát đã trải qua nhiều phen nguy hiểm, đã chịu đựng nhiều phen căng thẳng tưởng không chịu nổi; nhưng cậu cảm thấy thật luyến tiếc, thật bất lịch sự, nếu giờ đây lại từ giã những người phụ nữ, cậu bé đang bú mẹ kia và cụ An-drây ốm yếu này. Và, mặc dầu Vô-lô-đi-a không có quyền ngay với chính mình và cậu hiểu rõ rằng bản báo cáo quan trọng này không cho phép mình dềnh dàng ở đây, cậu vẫn cảm thấy xấu hổ vì sự vội vã của mình,

        — Đi nhanh lên, đồng chí chỉ huy. — Chị chủ nhà giục, tựa như đoán được sự lúng túng của cậu. — Một mình cậu thì dầu sao cũng chẳng làm được gì cả...

        — Em không phải là chỉ huy đâu, — Vô-Iô-đi-a lại lầu bầu. —  Ông An-đrây ơi, cháu chạy về đây... ít hôm nữa bọn cháu lại tới... Tạm biệt chị chủ nhà, chị tha lỗi cho nhé. — Cậu la lên rồi mở cửa chạy ra, một làn hơi đặc sệt ùa vào phòng.

        Cậu dừng lại giây lát trong sân nghĩ xem làm thế nào thoát khỏi đây một cách tốt nhất, nhưng bỗng vẳng nghe có mấy tiếng súng ngắn nổ yếu ớt. Sau đó, lừ phía cổng làng, cách ngôi nhà cụ An-đrây không xa, vang lên mấy tiếng súng trường, một đàn quạ nháo nhác bay lên, kêu quang quác. Vô-lô-đi-a định chạy thẳng ra đường, nhưng chợt nhớ, cậu vội rút khẩu súng ngắn cầm tay và quay vào vườn. Vượt qua một kho củi, cậu cố sức chạy thật nhanh dọc theo hàng rào đường cái. Khi đã bình tĩnh trở lại, cậu mới phán đoán là, có thể, mấy phát súng bất ngờ kia không quan hệ trực tiếp gì tới hai bạn của cậu, nhưng nó cũng báo hiệu trước mối nguy cơ đang đến gần.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2020, 08:55:22 am

        Vô-lô-đi-a tự nghiêm khắc trách mình đã không chỉ dẫn các bạn cách xử lý khi có bao động bất thần... Cuối cùng, giữa các ngọn thông đã thấy thấp thoáng hiện ra mái nhà rực nắng; trong đó, Lê- na và Vi-chi-a đang đợi cậu về. Cậu chậm bước để thở, nhưng ngay lúc ấy liền vội nhìn lại, sau hàng cây sát ngay bên; vang lên tiếng kêu the thé, — có một kẻ nào đó đang liến láu chửi mắng bằng tiếng Đức. Vô-lô-đi-a vội nắm bẹp ngay trên tuyết... Lặng lẽ bò dưới cây thông cành lá tỏa rộng như chiếc tăng và sau khi đã nấp kín đáo, cậu thận trọng đứng lên. Qua hàng lá che ngay trước mặt, nhìn ra cái sân khá rộng của nhà cụ An-đrây cậu thấy một tên lính bận áo khoác màu cỏ úa, bẩn thỉu. Cánh cửa ngôi nhà mở tung ra, trên thềm cao có hai tên lính Đức, cầm súng trường đang giậm giậm chân ; còn tên thứ ba đang đứng trên đống gì đó, nhìn qua cửa sổ đã bị phá hỏng...

        Ngay sau cái ý nghĩ lóe lên trong đấu; Lê-na và Vi-chi-a gặp chuyện chẳng lành và cân phải cứu họ thì cậu lại nghĩ ngay một ý khác « Còn bản báo cáo? Ai sẽ đưa báo cáo? ».

        Một tên lính nữa dáng thấp nhỏ, đầu trùm chiếc khăn phụ nữ lên mũ ca lô — nhảy lên thềm, chĩa súng vào lỗ cửa, và chỉ giây lát, Lê-na bước ra. Bước ra khỏi nhà, cô đưa mắt nhìn, hất mái đầu để trần. Vô-lô-đi-a không hiểu sao hai tay cô cứ chắp sau lưng. Nhưng cậu thoáng thấy nhẹ nhõm trong giây lát, cô vẫn sống và bình yên vô sự...

        Tên lính trùm khăn phụ nữ kêu lên cái gì đó, có vẻ như giục cô đi lên, nhưng Lê-na vẫn đứng nguyên, không hề nhúc nhích. Thấy vậy, tên lính vung nòng súng tiểu liên thúc vào sườn cô. Giật mình suýt ngã, cô gái như sực tỉnh bước lên, loạng choạng trên bậc thềm...

        Mặt Vô-lô-đi-a nóng bừng tựa như bị đốt, không chịu được. Sức mạnh vô hình giữ cho cậu không lao lên bảo vệ Lê-na, giữ cho cậu không nổ súng vào tên lính đang làm nhục cô, cũng quả là lớn lao. Cũng ngay lức ấy, với tất cả ý thức trách nhiệm và cay đắng đến nhẫn tâm, cậu hiểu rõ rằng, hoàn toàn không có thể làm gì được để cứu các bạn trong lúc này. Dĩ nhiên, cậu có thể vung súng ngắn lên bắn chết một, hai tên lính trước khi những tên khác kịp nổ súng vào cậu.

        Và có thể, trong cơn nhốn nháo lúc này, Lê-na và Vi-chi-a may mắn chạy trốn được chăng... Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra điều ngược lại là không ai trong số ba người trở về được thành phổ. Như vậy, bản báo cáo của đội du kích sẽ không đến tay người nhận được. Vô- lô-đi-a có thể hiến dâng đời mình để cứu các bạn khỏi cơn hiểm nghèo. Nhưng giờ đây lại có một yêu cầu khác đòi hỏi cậu phải tự giữ mình vì cậu còn mang báo cáo về...

        Tiếp sau Lê-na, hai tên lính khiêng một thằng bị thương nằm trên chăn — rõ ràng là Lê-na và Vi-chi-a đã kháng cự lại chúng.

        Và kia, trên thèm xuất hiện Vi-chi-a, đầu trần, áo va rơi rách một bên vai tả tơi, chân vẫn đi đôi ủng to quá cỡ, miệng và cằm đẫm máu. Chậm chạp bước xuống bậc thềm, cậu nhìn cái gì xa xa đâu đó, lúc quay bên này, lúc ngó bên kia .

        Giờ thì đã đếm được tới mười hai tên Đức từ các phía vừa chạy vào sân, vừa hò la, vung vẩy vũ khí Bọn chúng đang tranh cãi gì với nhau ầm ĩ, lộn xộn. Vô-lô-đi-a bóp chặt khẩu súng, mung lung suy nghĩ hay là cứ bắn bừa vào một số tên, buộc các tên khác phải chạy tản ra. Bẵng quên tất cả, cậu nâng súng lên ngang tầm mắt, ngắm ngắm nhưng rồi đột nhiên lại hạ Xuống... Quá trình chiến dịch quan trọng sắp tới phụ thuộc rất nhiều vào bản báo cáo mà cậu đang giữ... Và như vậy là, dù bất cứ thế nào, cậu — người duy nhất còn được tự do — cũng không được để lộ tung tích mình ra.

        Tên lính Đức trùm khăn vuông bước tới bên La-na và lấy súng tiểu liên thúc cô. Cô né người tránh đòn, chiếc áo ngoài sổ tung đề lộ chiếc sang đan len mâu xanh tím. Vô-lô-đi-a cảm thấy đau xót và xấu hổ, đau hơn bất cứ nỗi đau nào của thân thể cậu, mặt cậu nóng bừng, miệng khô đắng nghẹn lại... Mặc dù những gì cậu đau nhói chịu đựng và trông thấy trước mắt, nhưng vẫn không rời mắt khỏi Lê-na, như nuốt từng chi tiết tàn nhẫn. Cô đưa tay lên để đỡ, tóc xõa ra che lấp cả mặt. Vê-rép-kin lại hiện ra trước mắt Vô-lô-đi-a... Lao vào tên lính trùm khăn vuông, Vi-chi-a bé bỏng đá mạnh mũi ủng vào nó. Hai tay ôm lấy bụng, tên lính ngồi gục xuống...

        — Khá lắm! — Vô-lô-đi-a mấp máy môi, thở phào. — Chạy đi, Vít-ca, chạy đi! — Cậu sững người không biết điều đó sẽ xảy ra trong phút giây này.

        Ba, bốn tên lính cùng một lúc nhảy chồm vào Vi-chi-a. Nhưng tên Đức mặc áo khoác dài, có vẻ là chỉ huy ở đây, đã la mắng gì đó, bắt chúng dừng lại. Vê-rép-kin đứng im, chờ trận đòn thù. Và mãi giờ Vô-lô-đi-a mới biết hai tay cậu bị trói quặt ra sau lưng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2020, 08:56:03 am

        Từ xa, tên chỉ huy Đức giơ khẩu súng ngắn lên dọa dọa cậu ta và lại la mắng gì đó. Bọn lính đi tản ra khỏi sân. Lê-na và Vi-chi-a lùi lũi bước đi dưới mũi súng trường và tiểu liên. Hai người đi kề bên nhau, Lê-na hất ngược đầu để tóc khỏi xõa vào mắt — hai tay cũng bị trói ra sau. Còn Vê-rép-kin, quay lại lân cuối cùng, nhìn đúng vào chỗ bạn cậu đang căng thẳng nằm sâu dưới bóng cây thông lớn.

        «Cậu ấy đang kêu gọi mình đấy...» — Vô-lỡ-đi-a tuyệt vọng thầm nghĩ.

        Sân nhà cụ An-drây lại vắng lặng và cái đoàn diễu hành ngắn ngủi kia lát sau cũng khuất dần sau các nhà bên cạnh. Vô-lô-đi-a lồm ngồm trở mình, ngồi lên trên mặt tuyết. Ý định đâu tiên của cậu là cứ ngồi yên dưới gốc cây này, sụy nghĩ, phân tích xem chúng nó sẽ đưa Lê-na và Vê-rép-kin đi đâu; sẽ tổ chức cứu hai bạn, cho dù việc này không thể đủ sức làm thì cậu sẽ báo tin bất hạnh này khẩn cầu đội du kích giúp đỡ, nhưng Vô-lô-đi-a cũng hiểu ngay cả hai giả thuyết này là không thực hiện được, vì cần phải có thời gian.

        Ngày đông ngắn ngủi hôm nay đã gần hết; mặt trời đã khuất sau rừng và cần phải trở về thành phố ngay mới kịp được thời hạn quy định.

        — Đã đến lúc phải đi... — Vô-lô-đi-a lầm bầm thành tiếng, giọng dứt khoát.

        Nhưng cậu cảm thấy như không đủ sức. Cậu có cảm giác như mình đã phản bội các bạn, đã bỏ mặc, không làm gì để cứu họ...

        — Cần phải đi. — Cậu nhắc lại nhưng vẫn không nhúc nhích.

        — Phải đi ngay... Đúng... Phải đi ngay...

        Cậu bỗng cảm thấy một sự ác cảm lạ lùng đối với Nhi-ki-ta Đa-ni-lô-vích, người đã hạ lệnh phải mang báo cáo vào thành phố. Vì rằng, nếu không có cái lệnh này thì có thể, Lê-na và Vi-chi-a đã được giải thoát.

        — Chỉ được cái nháy mắt... — cậu lầm bầm giọng run run. — Việc gì mà nháy mắt ?... Lúc nào cũng cười được cả...

        Cuối cùng rồi câu cũng đứng dậy, lắng nghe. Từ trong làng vẫn lao xao vọng ra tiếng ồn ào lộn xộn. Nhưng không nhìn thêm nữa, Vô- lô-đi-a đi sâu vào rừng, bỏ làng Vư-xen-lốc. Bàn tay cậu vẫn nắm chặt khẩu súng ngắn, tê cứng và không duỗi ra được — những ngón tay tựa như đã dính chặt vào báng thép. Vô-lô-đi-a liền vung mạnh, với vẻ giận dữ man đại, tay phải đánh khẩu súng vào tay trái đến nỗi làm xước cả da.

        «Phải thế mới được» — cậu nghĩ và xuýt xoa vì đau.

        Mặt trời màu đỏ sẫm lấp ló sau các hàng cây; bóng tối trong rừng càng đặc hơn chuyền từ màu hồng nhạt sang màu khói lam, đục dần và mất hẳn màu sáng hồng. Ở vài nơi trong rừng, bỗng sáng đỏ vẫn còn có để lại những mảng đỏ vàng trên ngọn cây. trên mặt tuyết... Vô-lô-đi-a chậm chạp, khó khăn bước đi trong tuyết, nơi ngập đến đầu gối, nơi ngập đến thắt lưng - đôi giày trượt của cậu đã để lại nhà cụ An-đrây. Dừng lại vì mệt nhoài, cậu sờ sờ vào tập giấy nắm gọn trong lần áo ngực và, lại thầm nhẩm: «... Đội du kích « Búa liềm » sẽ đến địa điểm xuất phát đúng theo mệnh lệnh quy định.. Tín hiệu quy ước: hai pháo hiệu đỏ... ».

        Không nhắc hết câu, cậu bỗng cau mày, cẵn môi nhưng vẫn không kìm được, rùng mình, tựa như trong cơn sốt. Cậu nhớ lại hình ảnh Lê-na trong chiếc áo da sổ tung, chiếc săng-day đen tím, giơ cánh tay đỡ đòn, và Vê-rép-kin — thằng bạn chung thủy, thân thiết của mình — hai tay bị trói ra sau mà vẫn lao tới đánh tên lính Đức, bảo vệ Lê- na như thế nào.

        — Vi-chi-a!... Mình cảm ơn cậu... Cảm ơn suốt đời!... — Vô- lô-đi-a thốt lên..

        Và hiểu rằng sẽ không thể làm gì được vì Vi-chi-a, cậu lại nấc lên để mặc cho nước mắt trào ra, đau buồn, tuyệt vọng. Cầm một nắm tuyết, cậu xát vào mặt như muốn làm dịu bớt đôi má đang nóng bừng bừng...

        Đã đỡ mệt, cậu lại tiếp tục đi, bước ngập trong tuyết và những hạt tuyết nhẹ, xốp, trắng tinh rơi cả vào ủng, vào ống tay áo. Mặt trời tắt hẳn, trong rừng tối sầm lại, mặc dù trên bầu trời vẫn còn vương lại làn ánh sáng xanh nhạt, yếu ớt...

        Tận khuya Vô-lô-đi-a mới lần mò về tới ngôi làng là tuyến tiền tiêu của quân Đức; thở hổn hển, chân như long ra. Nằm một lát ngoài bìa rừng đề lấy lại sức, cậu lại tiếp tục đi dọc theo ven rừng, vòng qua khu làng bị địch chiếm... Bên phải, trong màn sương mù dày dặc và lạnh ngắt lập lòe ánh lửa sáng — sau làng, phía trước, đang đánh nhau. Rẽ sang trái, Vô-lô-đi-a lại tiếp tục lần mò dọc theo rừng, khi đi, khi bò. Khu vực đầy khe rãnh, khó đi này kéo dài đến tận tuyến phòng thủ của quân ta, và chính tại nơi này, hai ngày trước đây đội trinh sát đã vượt qua mặt trận chót lọt. Nhưng đêm nay, Vô-lô-đi-a lại phải tới đây để trở về sau khi suýt nữa thì đụng phải một tổ tuần tiễu Đức.

        — Wer ist da? Du, Fred?1

        — Cậu gịật nảy mình, khi nghe tiếng hỏi.

        — lch, ich... Schoess nur nicht2 — Thật may, có một gã lính Đức nào đó tên là Fred, ở phía sau lên tiếng trả lời.

------------------------
        1. Ai đấy? Phrét, cậu phải không?

        2. Tôi, tôi đây... Đừng bắn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2020, 06:54:26 am

        Lùi nhanh sang bên phải, một lát sau Vô-lô-đt-a đã ra đến khoảng đất trống, đen dặc, lỗ chỗ dầy hố đạn — khoảng trống chạy dài giữa hai tuyến hỏa lực: quân ta và quân Đức. Đêm đã sắp tàn, bản báo cáo phải kịp đưa tận tay đúng lúc sáng sớm nên Vô-lô-đi-a đành quyết định bò qua khoảng trống «cỉa tử thần ».

        Nằm dán mình trên tuyết, tai láng nghe tiếng đạn rít, Vô-lô-đi-a sống trong cảm giác kỳ lạ: giống như trong giấc mơ, con người chia ra làm hai phần... Trong khi thận trọng bò nhích từng tấc một trên mặt đất lạnh cứng, lổn nhổn, tai lắng nghe tiếng súng máy lúc rộ lên sằng sặc, lúc dịu đi, im hẳn như đợi chờ, cậu vẫn phải quan sát chăm chú từ nơi xa, đến từng điểm cao sau mình. Chân, tay, mắt, tai, ý nghĩ của cậu đều phải thận trọng phối hợp từng cử động nhỏ nhất, kiên trì phấn dấu nhích lên từng thước trên khoảng trống mênh mông đó. Đồng thời, cậu lại có cảm giác hình như cậu không tham gia vào cái công việc này nên chẳng cảm thấy sợ hãi gì cả... Cậu như đang bay đâu đó trong bóng đêm dày đặc; cậu là một vật thể mà lửa đạn đang hoành hành ở dưới không thể trông thấy được, không thể diệt trừ được...

        Trời hửng sáng cũng đúng là lúc cậu đứng trước đại úy chỉ huy đội trinh sát, trong ngôi nhà bỏ trống ở ngoại vi thành phố, được chiếu sáng bởi một ngọn đèn dầu. Vô-lô-đi-a vẫn thực hiện đúng tư thế: đưa tay lên chào xong, cậu rút tập báo cáo trong túi áo ngực thấm ướt mồ hôi và trao cho người chi huy. Sau đấy, cậu bước lên một bước, nhìn quanh và khẽ lẩm bẩm :

        — Tôi được lệnh truyền miệng: « Đội du kích « Búa liềm » sẽ tới nơi tập kết đúng như mệnh lệnh quy định. — Vô-lô-đi-a hầu như hết hơi, nên vừa nói vừa ngắt quãng, hít không khí — Tín hiệu quy ước: hai pháo hiệu đỏ, một xanh».

        — Đúng, Vô-lô-đi-a, — Đại úy nói và ngừng bặt suýt nữa định buột nói riêng: «Tôi đã biết rõ tất cả... Em về muộn chút ít...».

        Nửa giờ trước đây, anh cũng đã được người liên lạc riêng của đội du kích « Búa Liềm» tới T. trước Vô-lô-đi-a, truyền đạt lại nguyên văn như vậy (Nhi-ki-ta, trong những trường hợp tương tự, khi có những báo cáo quan trọng thường hay cử hai liên lạc đi). Nhưng sau một lúc nhìn kỹ người trinh sát của mình, đại úy thấy không nên nói điều này ra. Còn Vô-Iô-đi-a, mình vương đày khói thuốc súng đen nhẻm, vẫn đứng nghiêm, đôi mắt to, ngái ngủ, sâu hoắm nhìn chằm chàm vào chỉ huy; tay phải cậu còn đọng vệt máu khô.

        — Em sao vậy, bị thương à ? — Đại úy hỏi.

        — Không ạ, chỉ bị xước da thôi. — Vô-lô-đi-a trả lời. — Xin phép báo cáo thêm, — và cậu lại mím môi, hít đầy không khí. — Các chiến sĩ Hồng quân Lê-na Cô-lếc-nhi-cô-va và Vi-chi-a Vê-rép-kin đã bị quân thù bắt khi đang làm nhiệm vụ.

        — Lê-na và Vi-chi-a à ? Sao, em nói sao ? — Đại úy nghẹn ngào thốt lên. — Nói kỹ xem nào, chuyện ra sao? Và em, em đã thoát được như thế nào ?

        Vô-lô-đi-a bóp chặt ngón tay. Lòng bàn tay cậu vốn đã bị xước da, đau nhói lên tựa như bị dốt lửa, nhưng chính nhờ nó mà cậu nén được nỗi đau xót trong lòng.

        — ...Em trông rõ tất cả. Em thấy rõ chúng giải Lê-na và Vi- chi-a đi ra sao, thấy rõ tay các bạn ấy bị trói như thế nào. Nhưng

        em không thể làm gì được — Cậu kết thúc câu chuyện. — Không thể làm gì được. — Cậu nhắc lại, lòng sợ hãi có thể họ sẽ không tin cậu. — Em không được phép liều lĩnh, vì em cần phải mang báo cáo về. Thế có đúng không ạ? — Mất hết tự chủ, cậu bước sát tới đội trưởng. — Em nhận được lệnh... và suy cho cùng, điều quan trọng hơn là phải mang báo cáo về. Em nghĩ như vậy.

        Cậu ngừng bật, lui lại một bước và đứng nghiêm như cũ, hai tay duỗi thẳng trên đùi.

        — Tất nhiên là quan trọng hơn rồi... Em hành động hoàn toàn đúng. — Đại úy vội nói.

        Không hiểu sao, anh vội nhìn sang nơi khác... Chỉ huy dội du kích biết rất rõ tình bạn lớn lao đã gắn bó các chiến sĩ của anh là Lê-na, Vô-lô-đi-a và Vê-rép-kin. Và, xúc động khi hiểu rõ điều gì đã khiến Vô-lô-đi-a phải bỏ bạn trong cơn hoạn nạn, đại úy muốn an ủi cậu. Nhưng biết nói thế nào với chàng trai mảnh khảnh hãy còn niên thiếu này, với ánh mắt buồn rầu, đau khổ, đang thở hổn hển, đang như sôi máu lên và cũng đang lạnh ngắt đi vì cảnh nghiệt ngã oái oăm; đồng thời cũng rất anh dũng đối với bạn bè và với chính bản thân mình.

        — Cảm ơn em, Vô-lô-đi-a, — đại úy nói và đặt tay lên vai định ôm choàng lấy cậu. — Tôi hiểu, em đã chịu đựng như thế nào... Khá lắm.

        Nhưng, Vô-lô-đi-a bỗng bất ngờ quay mạnh vai, thoát khỏi vòng tay vỗ về an ủi của đại úy.

        — Em có muốn về thăm mẹ vài ba hôm không ? — đại úy hỏi, với vẻ hơi ngượng ngùng.

        — Xin phép được đề nghị một vấn đề riêng. — Vô-Iô-đi-a nói.

        — Ừ tất nhiên rồi! Nói đi! — Đại úy sốt sắng đáp.

        — Nhất định chúng đã giải Lê-na và Vi-chi-a về A-rxê-nhi-ép Chỗ này gần thị trăn Vư-xen-lốc. — Vô-lô-đi-a nói. — Xin phép cho em được đến đấy ít hôm.

        — Em nói gì vậy? — Đại úy đăm chiêu hỏi. — À, nếu vậy thì tôi có một đề nghị đối với em... Chờ một lát nhé...

        Và quay lại máy điện thoại đặt trên giá, anh cầm ống nghe...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2020, 06:55:09 am

        Bọn Đức ập đến nhà cụ An-đrây rất bất ngờ đối với Lê-na và Vi-chi-a. Khi trông thấy chúng vào đến cổng, Lê-na thậm chí không kịp rút súng ngắn khỏi bao, còn Vi-chi-a chỉ kịp bẳn có một phát. Bọn lính lao đến họ, đánh đập túi bụi... Từ phút ấy, Lê-na và Vi- chi-a bắt đâu sống trong cảnh tàn bạo, kinh hoàng mà hai người chưa khi nào hình dung tới — họ là tù binh, và đang trong tay thù.

        Ở lại ngủ đêm tại khu làng Vư-xen-lốc, sau khi chiếm hẳn ngôi nhà gỗ lớn nhất, bọn Đức vứt hai tù binh vào chuồng gia súc tối tăm, hôi hám. Tại đây họ được cởi trói.

        Vi-chi-a Vê-rép-kin co dúm lại trong chiếc áo va rơi rách nát, vừa nhảy nhảy giậm giậm chân chạy hết góc này sang góc khác cố làm cho người ấm lên...

        — Lại đây với tôi... Tôi ở đây, ở đây này. — Lê-na gọi. — Lại đây đi... Cậu ở đâu?

        Cô cởi chiếc áo ngoài, và cả hai ngồi xệp trên đống rơm ẩm lạnh, định chui vào đấy.

        — Ngồi địch gần vào... Nào, để mình ôm lấy cậu. Cậu chết cóng rồi đây này. — Lê-na nói. — Run bần bật thế này.

        — Chẳng ăn thua gì... Vô-lô-đi-a có lẽ đã đi thoát khỏi đây rồi. — Vi-chi-a lầu bàu khó khăn mấp máy đôi môi sưng vù bị đánh, rớm máu.

        — Có lẽ, — Lê-na tán đồng. — Cũng may mà cậu ấy không bị bắt cùng chúng mình. Còn cậu, đừng nói nữa, cậu bị đánh đau lắm, và đừng có cụa quậy luôn như thế...

        Nhưng lát sau cô cũng run bần bật như lên cơn sốt phần vì lạnh, phần vì sốt ruột và hy vọng.

        Mặc dù Vô-lô-đi-a — người bạn lớn tuổi, tin cậy của họ — vẫn được tự do, nhưng tai họa đáng sợ đang trùm lên cô và Vi-chi-a vẫn chưa phải là đã hết. Điều đòi hỏi duy nhất có lẽ là chỉ cần một hành động kiên quyết của Vô-lô-đi-a để mọi việc lại thay đổi ngay và tình hình lại thuận lợi như buổi chiều hôm nay.

        — Cậu ấy không để phí thời gian đâu. Cậu ấy không phải là con người như vậy... — Vê-rép-kin lại làu bàu. — Còn bạn, nếu có gì xảy ra thì phải bám sát lấy tôi đấy, nghe chứ!...

        — Nhất định cậu ấy sẽ nghĩ điều gì đó... mình tin rằng... — Le-na thì thầm.

        Họ khao khát lắng nghe, chờ đợi: sẽ có những loạt súng vang lên sau tường, rồi tiếp đó, cánh cửa bung ra vì bị một cú đánh rất mạnh và thật hạnh phúc biết bao, Vô-lô-đi-a lao đến họ... Điều tốt nhất là ngay đêm nay cậu ấy phải tìm cách cứu các bạn ra vì để đến mai thì có thể họ sẽ bị giải đi khỏi làng Vư-xen-lốc tới vùng xa xôi nào đó trong hậu phương quân Đức.

        Đã mấy lần Vi-chi-a đứng đậy, đi lại sờ soạng khắp chuồng gia súc. Tình cờ chạm phải chiếc đinh lớn đóng trên tường, cậu lay lay và cố hết sức rút ra rồi giắt vào trong ủng. Nhưng Vi-chi-a chẳng còn phát hiện thêm được gì có ích đối với cậu trong cái chuồng trống trải làm bằng các cây gỗ tròn, như vậy là không thể thoát ra khỏi đây nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài.

        — Có lẽ Vốp-ca đang chờ cho bọn Đức ngủ say. — Vi-chi-a nói, lại ngồi xuống bên cạnh Lê-na và dựa sát vào cô. — Sao cậu lại cởi áo ngoài cho tôi, người cậu cũng đang lạnh cóng đây này...

        — Nhưng tôi không rét như cậu... — Lê-na choàng hai tay ôm chặt lấy Vi-chi a, kéo đầu cậu ta gục vào ngực mình. — Tất nhiên phải chờ cho bọn Đức ngủ say. Cậu biết rõ Vô-lô-đi-a rồi, cậu ấy không làm điều gì hú họa đâu...

        Cả hai đều lặng im, nín thở ngóng chờ từ phía nửa căn nhà ấm áp nơi bọn Đức đang ở vang lên tiếng hô oang oang hoặc từ đâu đó trong làng rộ lên tiếng chó sủa. Nhưng đêm tối đầy lo sợ, nóng bỏng, hầu như vô tận vẫn lặng lẽ đơn điệu trôi qua và chẳng có cuộc giải thoát nào xảy ra cả. Bọn Đức cũng dần dần im lặng, ngủ yên. Chỉ có sau cánh cửa vọng vào tiếng lính đổi gác, hoặc thỉnh thoảng một tên nào đó bước vào phòng, vấp phải thùng, xô loảng xoảng... Khung cửa sổ dài dài, màu sẫm dưới mái nhà đã hiện mờ mờ trong ánh màn đêm hửng sáng. Lê-na đã ngủ thiếp đi trước lúc bình mình chợt tỉnh dậy và, khi nhớ lại những gì đã xảy ra trước đây, cô khe khẽ rên lên vì tuyệt vọng.

        — Không có gì cả, Len-ca.— Vê-rép-kin thì thào. — Có lẽ Vô- lô-đi-a đã chạy đến chỗ chú Nhi-ki-ta Qa-ni-lô-vích. Cậu ấy không phải là loại người bỏ rơi bạn đâu... Cậu ấy đã tinh toán rồi.

        ... Sáng sớm, bọn Đức bát thêm một tù binh thứ ba nữa — cụ An-đrây I-va-ri-ô-nô-vích — chủ nhân ngôi nhà chứa các chiến sĩ trinh sát bị bắt; và sau đó đưa cả ba ra khỏi chuồng bò, giải lên xe ngựa. Bọn lính đang chuẩn bị rút, bận rộn chạy ra chạy vào xếp lên xe ngựa nào gà, lợn đã mổ sẵn, và các thứ linh tinh khác đựng trong giỏ đạn. Hôm nay bọn chúng trông không hung dữ, tàn bạo như hôm qua vì đã được ăn no, ngủ đẫy giấc. Chúng vui vẻ trò chuyện, cười nói (thậm chí còn trêu chọc, đùa nghịch lẫn nhau) — lấy tuyết ném nhau. Còn tên lính thấp lùn đeo khẩu tiểu liên — hình như là tên hay đùa nhất trong đội — vừa cười nói oang oang vừa dùng dây điện thoại trói Lê-na và Vi-chi-a lại. Mấy người dân trong làng đứng phía xa lặng lẽ nhìn mọi việc diễn ra. Một phụ nữ trẻ, vừa từ sân nhà bên cạnh chạy sang vừa cởi chiếc khăn vuông ấm áp trên vai ra vò lại và vứt vào xe cho Vi-chi-a. Tên lính lái xe ngựa vung báng súng đánh chị, chị chỉ kêu lên một tiếng, né ra sau tránh đòn, nhưng hắn cũng không lấy chiếc khăn lại. Cụ An-đrây liền quấn khăn lên đầu Vi-chi-a.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2020, 06:56:13 am

        Khi xe vừa ra khỏi làng, Vi-chi-a liền cựa quậy mạnh, cố tìm cách ngồi sao để có thể nhìn rõ hai bên đường... Đúng như cậu phỏng đoán, bọn Đức rẽ sang phía thị trấn A-rxê-nhi-ép. Vi-chi-a cũng còn nhớ rõ, hôm qua đội du kích cũng đi về hướng này. Theo Vi-chi-a có thể là, Nhi-ki-ta cũng đã được Vô-lô-đi-a báo cho biết việc xảy ra nên có khả năng chú ấy sẽ bố trí đội phục kích ở đâu đó trên đường vào thành phố. Giờ đây thì Vi-chi-a đã nghiêng về giả thuyết là Vô-lô-đi-a hành động rất đúng khi cố kìm mình không tiến còng vào bọn Đức ở làng Vư-xen-Iốt. Cậu cố nhỏm dậy, nhìn vào các bụi cây ven đường; chiếc đầu trọc nhô ra khỏi khăn nghển cao đề nhìn khi khu rừng phủ tuyết trắng sừng sững như bức thành hiện ra hai bên đường.

        Lê-na ngồi lấp ngay sau lưng tên lính đánh xe; phía trước có một số xe ngựa nữa và đằng sau, rộ lên tiếng cười của bọn lính đi bộ. CÔ phải quay mặt đi đè khỏi nhìn thấy bộ mặt kinh tởm, bẩn thỉu của những con người đáng căm hờn đang nhăn nhở cười đùa trong bộ áo lính màu đất sét. Khi nhìn lên bầu trời xanh, trong suốt như hôm qua, hay nhìn lên các hàng cây ven đường lòng cô bỗng thấy nhẹ nhõm — trong khoảnh khắc đó, cô có cảm giác như chẳng có gì thay đổi số phận của cô cả. Nhưng vết trói ở tay đau nhức nhối đã đưa cô về với thực tại; cô vội cắn chặt môi lại để khỏi phải la lên, khỏi phải bật khóc.

        « Gan dạ biết bao! Thật đáng tự hào! — Vi-chi-a thầm nghĩ khi nhìn sang Lê-na. — Hãy cố chịu một chút nữa thôi...».

        Chỉ có mình cụ A-đrây, đang ngồi dựa vào thành sau xe là không ngừng nói. Đầu cụ rụt sâu vào cổ áo lông, thinh thoảng lại gật gật vì xóc ổ gà, nhưng khuôn mặt già nua, nước da vàng vàng nhăn nheo, với chòm râu rễ tre lưa thưa lại lộ vẻ xao động, bất an. Cụ cất giọng yếu ớt, kêu lên với tên lính đánh xe ngựa:

        — Này, hãy cởi trói cho bọn trẻ đi chứ, có nghe không ? Sao mày hành hạ chúng thế? Ôi chà, liệu hồn, rồi có lúc đến lượt mày đấy.

        Như thấy cần phải nói chuyện cho quên đi, cụ An-đrây bắt đầu kể cho Lê-na và Vi-chi-a nghe chuyện thời xa xưa mà cụ là người chứng kiến hoặc đã tham gia như để ôn lại quãng đời đã qua của mình. Hình như cụ muốn tìm trong quá khứ của mình lời giải thích cho điều đang diễn ra quanh cụ hôm nay. Những điều cay đắng và đầy lo âu...

        —... Này các cháu, nghe đây, đời ông đã chứng kiến bốn cuộc chiến tranh rồi. và chính ông đã tham gia ba... Suýt nữa thì chết chìm ở Ô-ca, — cụ già liệt kê. — Cuộc đời đã trải qua đủ thứ: đói, rét, và nỗi kinh hoàng của cái chết... Cháu vẫn nghe đấy chứ. — Cụ già lên giọng, bắt hai đứa trẻ phải chú ý lắng nghe. — ông cũng đã gặp đủ hạng người. Chính ông đã gặp bá tước Li-ép Ni-cô-lai Tôn-xtôi1 và ông vẫn còn nhớ như in con người ấy... Cụ ấy là người địa phương đây, cụ đã học và qua đời ở đây. Cụ ấy sống thật giản dị, đi giây bện rơm đấy. Mọi công việc của nông dân, cụ đều biết cả. Các cháu vẫn nghe chứ... Cụ ấy đã dạy gì nào?...

        Cụ An-drây ngừng bặt và đưa đôi mắt đờ đẫn nhưng vẫn hồn nhiên nhìn xung quanh một cách bất lực.

        — Hôm ấy đúng vào ngày, lạy Chúa, tôi còn nhớ rõ, lễ Chúa giáng sinh... — Vừa thở lấy hơi, ông già nói tiếp, có vẻ như cụ muốn nói thật nhanh chừng nào vẫn còn thời gian, vẫn còn có thể nói được điều quan trọng nhất, có tính giáo huấn nhất. — Có một ông nông dân chính gốc Ba Lan; dầm nhà bị mọt, ông ta bèn vào rừng — chẳng có tiền để mua gỗ thay dầm mới. Ông ta đốn một cây bạch dương mơn mởn, buộc vào xe ngựa và, ngay lúc ấy lại gặp Tôn-xtôi: « Chuyện gì vậy ?» — cụ ấy hỏi. Ông nông dân rụt rè bỏ mũ: « Chả là. — ông ta nói — thưa đại nhân... Cái dầm nhà nhà tôi bị mọt, trần sắp sập». «Thôi, chẳng sao, — Tôn-xtôi nói. — Cứ lấy đi, phải buộc chặt vào, nào tôi giúp một tay ».

        Cụ đã buộc cây bạch dương chắc chắn và khéo léo làm sao. Xong xuôi rồ!, cụ còn nói: «Ông bạn ạ, chở về đi, lạy trời, ông chặt một cây này thì có mười cây khác sẽ mọc lên...». Đấy, cụ đã dạy thế nào: «Một cây bị chặt, mười cây sẽ mọc lên...». Hê, cái thằng kia, cái thằng chiến tranh kia, mày nghe rõ chứ! — Cụ An-đrây hét lên the thé ngay sau lưng tên lính Đức.

        Tên đánh xe quay lại — hai má béo phị đô săm vì rét, lông mày dựng lên vì sương muối — và hắn ngơ ngác, tò mò nhìn ông già dò hỏi.

        Rừng đã hết, con đường từ đây chạy trên cánh đồng trống bằng phẳng, sáng lên một cách lạnh lẽo dưới ánh mặt trời. Và Vi-chi-a dù có lừa dối mình bằng sự hy vọng cũng phải tự nhận rằng, địa điểm thuận lợi cho phục kích đã lùi lại phía sau rồi. Một lát sau, trong màn sương lạnh, đã hiện ra những bức tường của tu viện cổ sừng sững ở cửa ngõ vào A-rxê-nhi-ép... Tên lính Đức rét run lên trong chiếc áo ca pốt, nhảy khỏi xe vừa nhón chân đi đôi ủng ngắn, vừa xoa xoa tay, chạy tại cạnh xe.

        — A, a... a, a...! — Hắn kêu lên.

------------------------
        1. Nhà văn Nga vĩ đại (1828 — 1910) — Tác giả những tác phẩm văn học lớn như: An-na Ka-rê-ni-na, Chiến tranh và hòa bình, Sống lại...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2020, 06:56:51 am

        Hình như điều này làm cho hắn thích thú, và vừa nhìn mẩy người tù binh, hắn vừa cười tựa như mời mọc họ chia sẻ sự sảng khoái với hắn.

        ... Tòa nhà ba tầng của trường trung cấp kỹ thuật nông nghiệp ở A-rxê-nhi-ép bị bọn Giét-ta-pô dùng làm nhà tù, chật ních người.

        Mấv ngày gần đâv, bọn Đức đã tăng cường các vụ bát bớ bừa bãi và đã dẫn từ khắp các nơi về đây. Trong căn phòng không lấy gì làm lớn lắm, nơi cụ An-đrây cùng Lê-na và Vi-chi-a bị tạm giam chờ hỏi cung, cũng đã có tới năm, sáu chục người đàn ông và đàn bà... Thỉnh thoảng, một vài người ở đây lại bị gọi lên hỏi cung và không thấy trở về nữa. Chỗ của họ lại có những người mới đến thay thế.

        Ngoài sân vẫn là ban ngày nhưng ở đây đã mờ tối; ánh sáng chỉ lọt được qua những khe gỗ đóng bít ngoài cửa sổ. Sương muối dày đặc phủ đầy trên tường, trần nhà cũng đầy sương đọng lại; mùi hôi thối, mùi nước tiểu và mùi rác rưởi từ góc phòng xông lên... Chẳng có ghế bàn gì ở đây cả. Những con người bị đầy dọa trong cái cảnh tranh tối tranh sáng này chỉ còn cách chen chúc nhau ngồi bệt ngay trên nền nhà bàn, đen như đất. Ít ai trong họ có thể tin được việc gì đang xảy ra... Thỉnh thoảng, qua tường vọng vào tiếng ồn ào không rõ — những tiếng nói khô khan, những tiếng kêu ấp úng ; ngoài hành lang vang vào tiếng ủng đóng cá sắt, tiếng vũ khí lách cách. Bên cạnh họ, trên đầu họ, trong tất cả các dãy gác, các phòng thí nghiệm, phòng học cũ đang diễn ra những công việc tàn bạo, độc ác nhưng được sắp xếp rất kỹ càng, liên tục, khéo léo. Bọn lính SS mặc áo choàng đen đến gọi, mang những người tù đi với vẻ mặt tàn ác rất thản nhiên, như làm một công việc thường xuyên hàng ngày, như một cái máy. Và trong khi ở những phòng bên cạnh, bọn nhân viên điều tra đang hỏi cung những người bị bắt; trong khi họ bị đánh đập, tra khảo, hành hạ, bị trói bằng dây da vào những chiếc ghế dài thấm máu; trong khi ở sân sau tường được dựng hàng rào đây thép gai dầy đặc, họ đang bị thủ tiêu, thì những người khác ở dãy vẫn cứ phải im lặng chờ đến lượt mình — tức là chờ đến với sự đau đớn và cái chết không thể thoát được. Sợ hãi hoặc uất hận, cau có hay thấp thỏm nghi ngờ — họ im lặng chuẩn bị đương đầu, theo từng cách của họ có thể làm được, với cuộc đấu tranh tuyệt vọng cuối cùng của đời mình...

        Vi-chi-a đầu trùm kín khăn, ngồi bó gối dựa vào tường, bên phải cậu là Lê-na, bên trái là một người đàn ông tuổi trung niên, đeo đôi kính cận dày, mắt kính lồi lên, mặc chiếc áo da cổ lông. Ông ta luôn luôn cựa quậy, khi thì dựng cổ áo lên, khi thì bỏ xuống, xoa xoa bóp bóp hai tay, ho, khạc; ròi đột ngột đứng bật dậy, lách ra quãng trống chật hẹp ngay giữa phòng giam. Trong góc gần đấy là hai người phụ nữ ngồi ôm ghì lấy nhau đang thì thào nói chuyện. Cũng ngay đấy một thanh niên đầu tóc bù xù, mặc chiếc bành tô ngán ngủn, có lẽ là của người khác, đang cúi úp mặt vào tường... Cụ An-đrây ngồi bệt trên sàn cựa quậy, xê dịch chọn thế ngồi cho thuận tiện.; và hít một hơi dài, cụ lại nói chuyện thì thào:

        — Các con ở đâu đến đây? — Cụ quay hỏi hai phụ nữ bên cạnh. — Ở nhà máy sữa trong thành phố à? Ra thế, đến mười năm nay tôi không vào thành phố... Già cả rồi, chả có việc gì mà đi lại nữa...

        Mặc dù sức khỏe của cụ đã giảm sút nhưng cái tính sôi nổi, hay bất chuyện không hề giảm đi; cụ An-đrây chỉ sợ có một điều là không nói đầy đủ được những gì cụ muốn và chúng sẽ tước mất của cụ cái khả năng này.

        — ... Tôi cũng chả có ý muốn đi đâu cả, tôi nghĩ rằng, tôi sẽ chết ngay cạnh bếp lò để bọn con trai vuốt mắt cho .. Thế mà không được, chúa Trời lại phán xét khác. — Cụ nói, giọng yếu ớt.

        Vi-chi-a lo lắng nhìn Lê-na ngồi cúi gục đầu, khóc thầm —  những giọt nước mắt từ mi mắt sưng húp trào ra, đọng lại trên hàng mi cô.

        — Sao vậy, Lê-na ? — Cậu hỏi và nhíu mày, môi sưng vù, rớm máu nên mỗi làn nhếch mép là đau nhói.

        Lê-na không đáp. Đối với cô, niềm hy vọng được giải thoát mà cô cố níu lấy cho đến giờ, đã bị tiêu tan. Vi-chi-a động viên cô:

        — Còn chưa có gì rõ ràng cả... — Cậu thì thầm chậm rãi. — Vô-lô-đi-a không phải là người có thể dễ quên bạn bè, đồng chí đâu...

        Cô vẫn lặng thinh, những giọt nước từ lông mi lăn lăn trên đôi má đỏ hồng, tròn trĩnh.

        — Bạn chưa hiểu rõ cậu ấy lắm đâu. — Vi-chi-a lúng túng nói mặc dù cậu cũng không tin rằng Vô-lô-đi-a giờ đây có thể thành công trong việc cứu họ.

        — Không, tôi biết. — Lê-na chỉ thì thào đủ nghe. — Có thể, anh ấy cũng đã bị bắt, và cũng có thể...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2020, 10:08:39 am

        Cô gái không nói hết nhưng Vi-chi-a vẫn hiểu: cô khóc Vô-lô- đi-a vì cho rằng, cậu áy đã chết. Thật ra, làm sao để giải thích được là, cậu ấy — người bạn vô cùng tốt và người chỉ huy kiên quyết của họ — thậm chí lại khổng làm một điều gì cả để cứu họ, thậm chí cũng không báo một dấu hiệu gì — hãy đợi đấy, mình sẽ hành động. Nhưng nếu cậu ấy bị bát thật thì nhất định hôm nay cậu ấy đã ở đây cùng với họ.

        — Mình hiểu Vô-lô-đi-a còn chưa nhiều. — Lê-na hiểu khẽ nói. —  Anh ấy dũng cảm nhất trong chúng ta. Mình giận anh ấy nhưng vì một điều khác... Còn anh ấy chưa bao giờ giận mình lần nào cả... Anh ấy hầu như đã nói những lời từ giã mình...

        — Chả có chuyện gì xảy ra với cậu ấy đâu —Vi-chi-a lẩm bẩm, lòng hoang mang và im bặt; ý nghĩ về Vô-lô-đi-a đã chết làm cậu sợ hãi đến sững sờ.

        Phòng giam tối hơn — trời đã về chiều... Có tiếng chốt cửa bên ngoài lạch cạch và hai tên cảnh sát mặc áo blu dông đen ngắn, tay lăm lăm súng ngắn, bước qua cửa; một tên vừa đi vừa nói tiếp câu chuyện với tên thứ hai.

        — ... Đến tháng 12 này tao sẽ nghỉ phép. Tao đã viết thư cho vợ báo tin là sẽ cùng nhau đón lễ Giáng sinh. Cô ấy đang ở Kên-me với mẹ tao.

        — Mày thật may mắn, sắp được gặp gỡ gia đình.

        Người đàn ông mặc áo va rơi cổ lông cáo, khi thấy bọn SS vào, liền lùi lại và không rời mắt khỏi chúng. Tên cảnh sát thứ nhất, cất giọng oang oang nặng trịch gọi:

        — Tên Xa-pô-sờ-ni-cốp-phơ Xi-li-an-ti có ở đây không ?

        Cái giọng phát âm nặng và sai họ tên này vang lên một cách lạ tai, ngay cả người được gọi cũng khó hiểu. Một bóng người thấp, mặc áo bông chăn, đội mũ trùm tai đứng quay lưng về phía bọn SS, đang nói gì đó với người bên cạnh như để từ biệt.

        — Schneller!1 — Tên cảnh sát thứ hai sốt ruột giục.

        Hắn có thái độ hách dịch, cố dằn giọng với người tù, có vẻ để tăng thêm phần oai vệ khi làm phận sự.

        Người mặc áo bông chần — ông Xi-lan-ti Xa-pô-giơ-nhi-cốp hầu như không chú ý đến bọn SS. Không hề vội vã, ông lần lượt bắt những bàn tay chìa ra và khi đã làm xong việc từ biệt này, không hiểu sao ông lại thong thả buộc lại đây mũ dưới cằm.

        — Nhanh lên! Chạy lên! — Tên cảnh sát thứ nhất vẫn nhắc lại với cái giọng không được tự nhiên ấy.

        Chỉ sau khi đã buộc xong dây mũ đàng hoàng, ông mới bước ra cửa; chính dáng diệu thong dong đó biểu hiện sự khinh bi, phản kháng. Tên cảnh sát thứ nhất thở dài vẻ sốt ruột và bực tức, chờ ông đến gần liền vung báng súng ngắn đấm mạnh vào ngực ông. Ông loạng choạng ôm lấy ngực nhưng cố giữ khỏi ngã.

        — Đồ chó! — Không nén được, Vi-chi-a thốt lên, và may cho cậu, tên cảnh sát không nghe thấy lời chửi đó.

        ... Một lát sau, Vi-chi-a lại mấp máy đôi môi khô nứt :

        — Lê-na. — Cậu gọi.

        — Sao, rét lắm hả ? — Cô gái hỏi.

        — Không sao. — Cậu ghé vào tai cô. — Hãy nghe mình dặn đây. Chúng ta sẽ bị gọi ra . Trong khi hỏi cung, cứ chối hết: chỉ nói một điều là không biết gì cả, thế nhé. Cứ nói là, cậu không quen biết tôi; cứ nói là tình cờ gặp mình. Cậu đến làng Vư-xen-lốc để mua thức ăn.

        — Chúng nó không tin đâu... Chúng thấy khẩu súng ngắn và bốn băng đạn trong túi mình.— Lê-na thì thầm.

        — Thế thì đã sao? Cứ nói không phải của cậu mà là của tôi... Mình sẽ nói là chính mình đã đút những thứ đó vào túi áo cậu, khi chúng xộc vào nhà. Và cái chính là cậu đừng có khóc, cậu cứ nghe tôi, cậu chờ đấy...

        Đó là tất cả những gì Vi-chi-a có thể nói được để động viên, an ủi cô. Nhưng giờ đây, khi tin rằng có lẽ Vô-lô-đi-a đã hy sinh và không còn có thể làm gì được để cứu người yêu cô đơn, mồ côi của mình thì Vi-chi-a cảm thấy phải có trách nhiệm chăm sóc cô gấp hai lần. Mọi sức lực còn lại của cậu giờ chỉ còn có một điều là, hết sức che chở cho cô.

        — Cậu nghĩ là mình sợ hay sao ? Mình không sợ! — Lê-na nói. —  Dĩ nhiên, thật đáng tiếc là mình chết quá sớm, nhưng chẳng sao, mình có phải là người đầu tiên đâu. — Đôi má bầu bĩnh của cô ánh lên vì nước mắt chưa khô, nhưng giọng nói yếu ớt của cô lại rất bình tĩnh. — Còn với bọn phát xít thì mình sẽ không thèm nói một lời nào đâu. Chúng đừng hòng chờ đợi ở mình một lời khai nào đâu.

        Cô dưa bàn tay lên miệng và thổi thổi vào vết hàn tím bầm trên cổ tay.

        — Cậu chờ chết à ? — Vi-chi-a tức giận nói. — Chúng ta sẽ còn phải trả thù bọn lang sói này... Và trả thù cho Vô-lô-đi-a nữa.

        Lê-na khẽ đưa đầu ngón tay xoa xoa vào vết đau nơi cổ tay.

        — Cứ như bị bỏng ấy. — Cô rên rỉ.

        Vi-chi-a rụt đầu vào vai. Cần phải biểu lộ thật kiên quyết sự bất đồng của mình với Lê-na là đối với họ, mọi điều đã kết thúc. Đúng vậy, từ giờ, họ cần phải trả thù cho bản thân mình và cho cả những người tù ở đây nữa. Chỉ cần có một cơ hội may mắn dù chỉ là một tia hy vọng nhỏ nhoi, một lời chỉ dẫn thiện ý nào đấy, hoặc một lời khuyên để cậu có thể tự hành động. Cũng chưa biết rõ là cần phải làm gì nhưng Vi-chi-a vẫn sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu với một nghị lực rõ ràng, cháy bỏng. Tuy nhiên, mọi người trong phòng giam vẫn im lặng, mải mê suy nghĩ hoặc đăm chiêu thất vọng, duy chỉ có mình cụ An-đrây là vẫn rì rầm nói chuyện...

---------------------
        1. Nhanh lên!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2020, 10:09:15 am

       
*

        ... Từ ngoài sân vọng vào tiếng ô tô gầm gừ — có lẽ chúng chở đến thêm những người mới bị bắt. Lát sau, vọng vào tiếng ủng và chốt cửa lại rít lên. Một làn ánh đèn pin chói lòa chiếu rọi từ bức tường này sang bức tường khác, lướt lên lưng, lên đầu, lên khăn, lên mũ trùm tai những con người đang lặng lẽ ngồi trên sàn, những cặp mắt chao đảo, những cánh tay giơ lên che ánh đèn trông như đề dỡ đòn, những đôi vai cựa quậy, chiếc cổ lông cáo của người nào đó đeo kính cận nhấp nhổm, mái đầu với những bím tóc vàng của Lê-na ngọ nguậy...

        Mọi người trông rõ bọn cảnh sát đi vào. Từ trong bóng tối lại vang lên cái giọng hách địch gượng gạo:

        — Phê-lô-ren-cô I-phan!...

        — Có tôi. — Người đàn ông mặc va rơi lên tiếng.

        Ánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt ông, một vệt sáng chói ánh lên trong đôi mắt kính của người tù.

        — Các đồng chí, — người đàn ông kêu lên. — Nếu có ai thoát khỏi đây xin nhờ nhắn hộ vợ tôi: tôi là Phê-đô-ren-cô, bác sĩ ở đây... đường Pu-skin, sổ ba...

        — Nhanh lên! Nhanh lên! — Tẻn Đức ra lệnh.

        — Tôi ra ngay đây. Nhờ nói hộ với vợ tôi là lúc nào tôi cũng nghĩ đến cô ấy... Tôi chuyển lời chào... — ông gào to lên... Phố Pu- skin, số ba. Nói hộ là tôi không chịu hạ mình, tôi không đầu hàng...

        — Schueller! — Tên cảnh sát thứ hai ngât lời ông.

        — Tao sẽ bắn. — Tên thứ nhất dọa. — Chạy lên !

        — Chà, tao đi ngay đây! — Người thầy thuốc cũng gắt lên.

        Ông hơi nghiêng đầu, so vai lại làm cho cổ áo xù lên, và bước ra. Đi đến gần bọn SS. bác sĩ bỏ kính, giụi giụi bụi trên mắt.

        Một tên SS nắm lấy tay ông, kéo lại phía hắn, rồi giúi mạnh ông ra hành lang. Cánh cửa đóng sầm, trong phòng giam lại tới như bưng.

        — Chúng cứ lần lượt thủ tiêu từng người một cho đến hết, còn chúng ta thi cứ chờ. — Một người nào đó lầm rầm trong bóng tối. —  Chúng ta chờ gì cơ chứ?

        Vi-chi-a tươi tỉnh hẳn lên — những lời nói đó là những lời công khai kêu gọi hành động.

        — Bọn thú vật! — Một giọng đàn bà la lên the thé và thổn thức. —  Mọi người nguyền rủa chúng bay! Các bà mẹ chúng mày cũng nguyền rủa vì đã sinh ra chúng mày!...

        — Tôi biết Phê-đô-ren-cô... ông ấy làm ở bệnh viện nhi... Vợ ông ấy cũng làm y tá ở đấy... rất cần mẫn và tài năng. — Một người nào đó ở góc bên kia nói ngắt quãng.

        Rời khỏi tường, Vi-chi-a thận trọng lần lần đến chỗ người thanh niên mặc chiếc bành tô đầu tóc bù xù nhô cao hẳn lên. Chẳng hiểu sao Vi-chi-a thấy tin tưởng ở người thanh niên này. Cụ An-drây im lặng được một lúc, giờ lại lên tiếng :

        — Làm sao lại không chống chúng nó được? Ngay cả con chim nó cũng phải đầu tranh chống lại khi có ai phá tổ của nó. Thằng con út của ông. A-lếc-xây, là học sinh xuất sắc của trường kỹ thuật nông nghiệp. Từ thời thơ ấu, nó đã không sợ phải làm những việc lặt vặt, nào cắt cỏ, nào dọn vườn... Thế mà giờ đây đã là xạ thủ súng máy đấy...

        Vi-chi-a sờ sờ ống tay áo bành tô viền lông cừu tơ.

        — Ai đấy? Cần gì đấy. — Người thanh niên hỏi.

        — Người mình. —Vi-chi-a vội đáp, sau khi đã nhận ra cái giọng cáu kỉnh đó và cậu vui sướng vì mình đã không nhầm lẫn.

        — Người mình là ai ?

        — Chúng bắt chúng em đến đây lúc chiều nay, — ấp úng như định tự giới thiệu, rồi nói thêm. — Chúng em có ba người, còn anh là ai? Có phải anh là người đã nói là đừng chờ đợi gì...

        Gần cửa sổ có tiếng ồn ào không rõ — ở đấy có tiếng người đang thì thầm, lan từ nơi này sang nơi khác... Một giọng mới, trầm và nhẹ, khỏe vang lên khắp phòng.

        — Các bạn ạ, đừng cúi đầu mãi nữa! Trong đội tôi có đồng chí chính trị viên đã nói như thế này: « Chừng nào tâm hồn anh còn tỉnh táo thì anh vẫn là chiến sĩ». Tuyệt đấy chứ, hả? Đồng chí ấy còn giải thích: « Có thể giết chết một chiến sĩ Hồng quân, nhưng không bao giờ chiến thắng anh ta được, không bao giờ ». Thật bực quá, tôi không trông rõ được các bạn. Nhưng điều đó không quan trọng. Tôi muốn nói là đừng đầu hàng, hãy đứng vững trên vị trí của mình và như vậy là đủ. Hồng quân không còn xa đâu, họ đang đánh khắp nơi, suốt ngày đêm...

        — Tôi thì lại nghĩ thế này. Hãy cho tôi... — Người nào đó giọng còn trẻ trung, ấp úng nói. — Mọi người chúng ta đều rõ là mọi bệnh tật đều do vi trùng, do chất bẩn thỉu gây nên. Đôi khi làm chết người... Nhưng dầu sao thì đó vẫn là một con người, còn chúng nó, đúng là một lũ vi trùng, là thứ bẩn thỉu nhất.

        — Đúng lắm! Không còn gì đúng hơn được nữa! — Cái giọng mềm mại lại vang lên vui sướng. — Chúng ta sẽ chứng minh cho bọn phát xít bẩn thỉu ấy, cho bọn súc sinh Hít-le ấy biết rằng, chúng ta là chiến sĩ Xô-viết. Người anh em, lại đây, cho tôi hôn một cái... Tôi không thể lại với anh được, chân tôi bị giập nát rồi...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2020, 10:10:49 am

        Tựa như sống lại, những con người bị giam chật trong phòng tối đen, lạnh lẽo và hôi thối này sôi nổi hẳn lên, trao đổi những lời cổ vũ và hy vọng. Những con người chưa hề quen biết nhau trước cái đêm tưởng như là đêm cuối cùng này, đã tìm thấy sự liên hệ chặt chẽ giữa những người bạn cùng sống chết với nhau.

        — Các bạn thấy đấy, chúng ta ở đây rất nhiều. — Người thanh niên nói với giọng hằn học.

        — Tất nhiên rồi. —Vi-chi-a ghì chặt lấy cánh tay áo của anh. —  Ở đây có người ở các nông trang, người thành phố... Ở đây, tất cả đều là người chúng ta...

        — Sao em run và đánh răng cầm cập dữ thế? — Người thanh niên hỏi.

        — Em lạnh lắm, thật tai hại. — Vi-chi-a đáp.

        Ở các góc phòng giờ đây đã rào rào râm ran đủ giọng nói chuyện.

        — Hồng quân sẽ trả thù cho chúng ta, trả thù cho mọi sự đau khổ của chúng ta! — Một giọng phụ nữ trong trẻo nổi lên giữa tiếng ồn ào, râm ran.

        — Anh ở Pa-vlốp-xcơ à?... Mình ờ xa hơn một chút, tận Đnie-prô-pê-trốp-xcơ, nhưng phục vụ ở Xê-va-xtô-pôn. Tất cả chúng ta từ các vùng khác nhau đến, nhưng nhiệm vụ chỉ có một thôi... — Giọng trầm của người lính thủy trùm lên không khí ồn ào này. — Bọn quỷ ranh này đã tính nhầm là chúng có thể đe dọa, khuất phục được chúng ta... Thật chỉ mới nghe cũng đã thấy buồn cười... Các đồng chí của tôi ở đội lính thủy đánh bộ đã chiến đấu cùng chúng tôi đến hơi thở cuối cùng, chính tôi đã chứng kiến họ vừa hát vừa xông lên trước hỏa lực dầy đặc. Còn kẻ thù như mọi người đã biết đấy thì lại khóc rống lên khi cái chết đến gần...   \

        Bỗng trên đâu họ vang một tiếng động nặng nề tựa như trên tầng gác hai nổ súng... Mọi người im bặt trong giây lát và có một mệnh lệnh tiếng Đức vọng vào phòng giam.

        — Chúng ta còn chờ gì nữa? — Vi-chi-a thì thào, nhón chân lên, nhưng vẫn không ghé tới được tai người bạn mới quen biết nên mất đà, cậu ngả cả người vào anh ta — Khi nào bọn súc sinh ấy đến, chúng ta sẽ từ phía sau xông tới... Em có một cái đinh lớn, có thể thay dao găm được... Chúng ta sẽ cướp súng của chúng.

        — Cậu xem ra có vẻ mưu trí đấy... — Anh thanh niên mặc va rơi thì thầm nhận xét và thấp giọng nói thêm. — Nhưng cậu không nhớ là ở hành lang có lính gác à?

        — Ở đấy không có lính gác đâu, chỉ ở cầu thang và ngoài sân mới có. — Vi-chi-a thì thầm.
         
— Anh em ơi! Không được lùi bước... — Người lính thủy nói to trong bóng tối. — Hãy giữ vững lời thề: sẽ chiến đấu đến cùng!

        — Này, khẽ một tí, chúng nó nghe đấy. — Một người nào đó tức giận nói.

        — Việc gì phải im lặng? Im lặng cái gi? Im lặng mãi rồi, muộn quá rồi... — Giọng người thanh niên ngân lên.

        Ngoài cửa có tiếng mở chốt lách cách, rồi một ánh đèn pin chói lòa, xé tan bóng tối.

        — Gô-léc-bép-hờ An-drây có đây không? — Lần này thì tên SS gọi gần đúng cái tên tiếng Nga.

        — Tôi đây, đây. — Cụ An-đrây I-Ia-ri-ô-nô-vích trả lời ngay.

        Đèn pin chiếu vào, cụ già chống hai tay xuống nền nhà đang cố đứng dậy, hai mắt lim dim, nhấp nháy vi chói... Lê-na ngồi bên cạnh, nhìn cụ, người cô lộ ra trong quàng ánh sáng và mọi người trông rõ cô nhanh nhẹn hất mái tóc đang phủ trên trán.

        — Nhanh lên! — Tên cảnh sát thứ nhất giục.

        Lầm rầm gì đó không rõ, cụ ngồi quỳ gối, vươn thẳng người lên, nhưng dù đã hết sức cố gắng cũng không đứng dậy nổi. Trong tiếng lầm rầm của cụ, Lê-na chỉ thoáng nghe được những câu khó hiểu:

        — «... Nếu hồn con không lên được thiên đường của Người, thì đó cũng là ý Người đã định ; hồn con vui lòng bình an dưới đất...» — Té ra cụ An-đrây đang cầu nguyện.

        — Nhanh lên! Nhanh lên! — Tên cảnh sát thứ nhất ra lệnh và hắn quay sang tên thứ hai, bực dọc nói thêm:

        — Trước chiến tranh, tao không hề biết thế nào là cáu giận, nhưng sự bướng bỉnh của bọn Nga làm tao phát khùng lên.

        — Ngồi địch ra, cháu — Cụ An-đrây 1-la-ri-ô-nô-vích đề nghị — « Và cầu chúa cho chúng con bình yên để bắt những kẻ mắc nợ Chúa phải đền tội». — Cụ lắp bắp vội vàng nói tiếp. — Hãy nói hộ với các con tôi, với thằng Xtê-van : tôi, bố nó đã cầu phúc cho nó... Nó phải trả thù, phải trừng phạt để cho bọn quỷ này không còn lấy một tên, để cho gia đinh chúng nó không còn lấy một đứa nào. — Cụ lạc giọng, chỉ lắp bắp đôi môi không thành tiếng và thở dài: « và chung ta phải bắt chúng trả nợ... ».

        Tên cảnh sát thứ hai tức giận quát:

        — Aufstehen! Schneller1!

        — Tao sẽ bắn! — Tên thứ nhất dọa.

        — Cụ ấy không thể... Các ông hãy xem! — Lê-na đứng bật dậy, ưỡn thẳng người hét lên, giọng lanh lảnh.

        Cô chỉ thấy được một chùm ánh sáng trắng chói lòa chiếu thẳng vào mặt và hàng cúc lóng lánh trên áo ca pốt của tên cảnh sát cầm đèn pin. Nhưng cô cũng biết rằng, từ trong bóng tới che khuất bọn Đức đang có một nòng súng hướng vào cô theo bản năng, cô bỗng giơ tay lên che mặt như để tránh viên đạn.

        — Cụ ấy già quá rồi, hiểu chưa! — Cố nhớ lại, cô nói luôn bẵng tiếng Đức, rành rọt.— Er ist sehr al t, sehr alet... verstehensie2 ?

---------------------
        1. Đứng dậy! Nhanh lên!

        2. Cụ ấy rất già, già quá rồi... Hiểu chưa ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2020, 10:12:42 am
       
        Im lặng vài giây và chỉ còn nghe giọng rì rầm, rì rầm đều đều của cụ An-đrây: « ... Xin cầu cho thiên đường của Người... sức mạnh và niềm quang vinh của Người... đời đời vĩnh cửu...».

        Ánh đèn pin chiếu thẳng vào mắt Lê-na nhưng cô không tránh mà còn ngẩng cao đầu, toàn thân như rướn cao hơn; mái tóc vàng nhạt trông tựa đám mây óng ánh vàng nhẹ phủ trên đầu cô. Từ phía bậc cửa có tiếng hô:

        — Zuriick1!

        — Lùi lại! Tao sẽ bắn cả mày nữa. — Tên cảnh sát thứ hai vung súng lên.

        — Bắn ư? — Lê-na kinh ngạc. — Mày có thể bắn ư? — Cô nhón chân lên tựa như định bay khỏi mặt đất.

        — Đồ dã man, chúng mày là đồ súc vật! Hãy chờ đấy, người của chúng tao đến, họ sẽ trừng phạt chúng mày! Và chúng mày sẽ không làm gì được chúng tao đâu, chúng tao không sợ chúng mày đâu !...

        — Chà, các bạn, đỡ tôi đứng dậy với! — Giọng nói khỏe của người lính thủy vang lên. — Đỡ tôi dậy với nào!

        Có người nào đó xô mạnh vai Lê-na, cô lảo đảo, dựa vào tường để khỏi ngã. Do đó, thoát ra khỏi làn ánh sáng. Vi-chi-a bé nhỏ đang cuống lên ngay cạnh cô. Lê-na đoán chắc là cậu ta đã làm như vậy để cô thoát khỏi viên đạn sắp bắn vào mình.

        Vi-chi-a và hai người đàn ông nữa đã che khuất cô; Làn ánh sáng chói lòa rê đi khắp phòng giam, soi rõ những khuôn mặt, ánh mắt, cánh tay, chiếu tỏa trần nhà sần sùi nham nhờ rồi đột nhiên tắt ngấm. Tất cả tù nhân đã đừng dậy, do đó trông như họ đã đông lên gấp hai. Có người tiến lại phía cửa, có người tiến sát đến bọn cảnh sát làm chúng hoảng lên.

        — Auf ihre platze! Ah, zum teufel! Zuruck, Schenelk2! — Giọng hốt hoảng vang lên trong bóng tối. Nhưng lần này, những tiếng « lùi lại», « nhanh lên» lại dành cho chính bọn Đức.

        Cửa đóng sập lại và tiếng chốt lách cách, bọn cảnh sát đã kịp tháo thân.

        — Chúng cút rồi! Chúng ta đã đuổi chúng. — Vi-chi-a tự hào thốt lên.

        — Chúng sẽ trở lại bây giờ đấy... Được, chúng ta đã cho chúng một đòn phủ đầu. — Anh thanh niên mặc va rơi nói.

        Vi-chi-a rút trong ống ủng ra chiếc định lớn, sờ sờ vào đầu nhọn và sau một lát do dự, bèn đút vào tay Lê-na.

        — Nàv, cầm lấy, có lức cần dùng đấy, — cậu ta nói.

        Cậu đã trao cho cô gái cái quí nhất lúc này — thứ vũ khí duy nhất của cậu. Thật ra, trước trận chiến đấu — không thể tránh khỏi và rõ ràng là, không có hy vọng gì thắng lợi, cậu không thể có món quà nào tốt hơn và xứng đáng hơn.

        — Cảm ơn, Vi-chen-ca! — Lê-na nói gọn lỏn.

        — Nào, ai còn trẻ, khỏe, hãy đến đây với tôi. — Giọng trầm của người lính thủy lại vang lên. — Hãy sẵn sàng đón trận chiến đấu kiên cường cuối cùng! Em gái, em đâu rồi ? — Anh gọi Lê-na. — Chào em và vĩnh biệt em, eựn gái thân yêu của đất nước chúng ta!...

        ... Kể từ lúc Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp đến với đội biệt động trượt tuyết của Hồng quân được phái vào vùng hậu phương địch tới cậu lúc nào cũng cảm thấy như bị giày vò cả thể xác và tâm hồn vì khó hiểu những gì đang xảy ra xung quanh. Cũng đi lại, đứng ngồi, chuyện trò như tất cả mọi người, cũng lau súng, ăn uống, nhưng nếu cố ai bỗng hỏi là đã làm gì mười lăm phút vừa qua, thì có lẽ cậu không trả lời được. Chỉ có một điều duy nhất không ngừng sôi động trong lòng mỗi lúc một mãnh liệt hơn là sự sốt ruột chờ mệnh lệnh lên đường. Đôi lúc Vô-lô-đi-a thậm chí đã quên mất mình sẽ đi đâu, sốt ruột để làm gì, — trí nhớ hình như đã phản lại cậu, và một nỗi lo lắng càng xâm chiếm lòng cậu mạnh mẽ hơn trong những giờ phút này.

        Mấy giờ trước lúc tiến công, toàn đội được lệnh ngủ đề lấy sức và Vô-lô-đi-a cũng ngoan ngoãn đi nằm như những người khác. Thật không ngờ ngay với chính mình, cậu ngủ say ngay vì đã quá mệt... Nhưng sau đấy có cảm giác người nào đó đánh thức cậu nhưng cậu không tỉnh dậy được. Biết rõ là cần phải tỉnh ngay và nếu không mở mắt, không ngồi dậy thì sẽ có thể gặp điều không may, nhưng không hiểu sao cậu không thể nhấc chân, động tay được. Một nỗi sợ hãi khác thường, không kim nổi đang đè nặng lên cậu... Bỗng nhiên nhớ ra — cậu không ngồi dậy được không phải vì ngủ say mà vì hai tay hai chân đã bị trói chặt. Điều này làm cậu kinh hoàng đến nỗi phải hét lên. Ngay lúc ấy, cậu thực sự bừng tinh. Quả là đang sớm, xung quanh các chiến sĩ còn ngủ nhưng cậu sốt ruột muốn làm sao đánh thức mọi người dậy ngay.

--------------------
        1. Lùi lại !

        2. Đứng tại chỗ! A, đồ quỷ!... Lùi lại! Nhanh lên !


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2020, 11:10:14 am

        Trời vừa chạng vạng, các chiến sĩ trượt tuyết lên đường; sau khi đi qua vườn hoa thành phố đang chìm dần trong bóng chiều tà, họ ra thẳng đường cái lớn và đi dọc theo tuyến phòng thủ của ta trước khu làng Mư-skin. Đội trượt tuyết đi về hướng A-rxê-nhi-ép. Như bộ chỉ huy khu T. được biết, tại đấy có một căn cứ hậu cần lớn của quân Đức hoạt động ở vùng Nam và Đông Nam thành phố. Để giảm bớt tiềm lực của địch, bộ chỉ huy quyết định phải phá tan căn cứ này —  phá hủy các tuyến đường sắt và các kho hàng hóa do bọn chúng xây dựng. Cú đấm vào A-rxê-nhi-ép — nơi có những doanh trại lớn của quân địch, dự định sẽ do các đơn vị du kích và các đội biệt động Hồng quân phối hợp thực hiện. Đâu đó trong rừng, các đội du kích đang chờ đội trượt tuyết vì ngay đêm nay, cả hai lực lượng này sẽ bất ngờ tiến công cùng một lúc. Mãi tới bây giờ, trong cuộc hành quân đêm, Vô-lô-đi-a mới đoán được, mối liên quan rõ rệt giữa bản báo cáo của đội trưởng du kích Nhi-ki-ta Đa-ni-lô-vích và trận đánh phối hợp này... Cái số mệnh hết sức tàn nhẫn chiều hôm qua hầu như lại mỉm cười với Vô-lô-đi-a và các bạn cậu — vì mọi việc lại diễn ra có vẻ thuận lọi. Nếu như quả thật Lê-na và Vi-chi-a vừa được giải tới A-rxê-nhi-ép thì giờ giải thoát cho họ sẽ không còn xa nữa. Vô-lô- đi-a được cử đến với danh nghĩa là chiến sĩ trinh sát của đội trượt tuyết, đang cùng gần một trăm chiến sĩ Hồng quân đến để giải thoát cho các bạn mình. Đây là lần thứ ba trong vòng hai ngày nay, cậu lại vượt qua tuyến phòng thủ một cách thuận lợi. Cuộc hành quân từ ban đầu đã thắng lợi, một số lớn chiến sĩ lọt được vào vùng hậu địch, đã vượt qua hai mươi lăm cây số đường rừng và đến A-rxê-nhi-ép trước giờ qui định chút ít.

        Tại ven rừng, đội dừng lại tổ chức chiến đấu... Nhưng Vô-lô- đi-a còn phải chờ hiệu lệnh tiến công tới gần nửa tiếng nữa. Trước rạng sáng không lâu, trên nền trời không trăng, đen sẫm, bỗng thấy xuất hiện một đốm sáng màu hồng rồi dõm thứ hai, và khi chúng biến mất thì một ánh lửa xanh lại mập mờ xuất hiện.

        — Hai pháo hiệu đỏ, một xanh... — Vô-lô-đi-a làm bàm.

        Một cảm giác mơ hồ, nóng bỏng choán lấy người cậu. Đấy, cuối cùng cậu đã nhìn thấy chúng: hai phát pháo hiệu đỏ. một xanh lập lòe chốc lát trong bầu trời lạnh ngắt và lần lượt tắt ngấm đi. Cậu rất đỗi ngạc nhiên là những ngôi sao mỏng manh, yếu đuối ấy sao lại chóng tắt thế.

        Ngay sau khi pháo hiệu xuất hiện, các chiến sĩ Hồng quân lao ra khỏi các hàng cây. Xa xa, phía A-rxê-nhi-ép, vùng ngoại vi chạy dài thành một đường viền đen mập mờ, vang lên tiếng chó sủa. Ngay lúc đó mọi người hiểu rằng, đến những dãy nhà đầu tiên của thị trấn này gần hơn là họ tưởng. Lát sau, tại vùng ngoại vi, bừng lên ánh lửa, những loạt đạn súng máy vang rền — có lẽ dội du kích đã bước vào trận đánh. Vô-lô-đi-a, tay phải nắm chặt lựu dạn, hơi nhăn mặt vì đau, cùng lao lên phía trước với mọi người.

        «Chỉ cần các bạn ấy, Lê-na và Vi-chi-a đang còn ở đây! — Cậu thoáng nghĩ... — Chỉ cần mình đừng đến muộn».

        Một bộ phận chiến sĩ Hồng quân tiến thẳng đến nhà ga xe lửa, phân khác mở đường thẳng vào trung tâm thị trấn. Các chiến sĩ du kích ở phía đối diện cũng sẽ tiến tới đây... Trung tâm thị trấn là nơi tập trung lực lượng chủ yếu của bọn Đức gồm tiểu đoàn bộ binh và đại đội hiến binh SS, ở đây cũng là nơi đặt ban chỉ huy quân quản, đội Gié-ta-pô, nhà tù, vốn là trường trung cấp kỹ thuật nông nghiệp. Mặc dù tất cá diễn biến về sau hoàn toàn khớp với kế hoạch trận đánh, mặc dù, đơn vị du kích đã chạm trán với một đội tuần tiễu mạnh ở ngoại ô thị trấn buôc phải nổ súng sớm hơn giờ quy định, nhưng sự kháng cự hỗn loạn của các đơn vị đồn trú ở đây, do bị đánh bất ngờ, đã bị tan rã nhanh chóng.

        Vô-lô-đi-a bắt gặp đội trưởng Nhi-ki-ta Đa-ni-Iô-vích ở quảng trường trung tâm thị trấn. Trận đánh đang diễn ra chung quanh —  những tràng tiểu liên vang lên, kính vỡ loảng xoảng rồi trên thềm ngôi nhà hai tầng có dòng chữ to tướng « BÁCH HÓA TỔNG HỢP» đang lấp lánh trong ánh lửa vàng, trắng. Khắp nơi vang lên tiếng kêu la, gọi nhau... Đại đội hiến binh đóng ở hiệu bách hóa đang còn chống đỡ. Trong cảnh hỗn loạn mù mịt khói đạn, ánh lửa bập bùng của trận đánh đêm trên đường phố đó, Vô-lô-đi-a thấy bóng Nhi-ki-ta đang phi trên con ngựa màu hung sẫm, cao to...

        — Đồng chí chỉ huy! Đồng chí chỉ huy! — Vô-lô-đi-a sung sướng kêu lên.

        Cậu nhảy ào tới đường theo Nhi-ki-ta, lòng đinh ninh là chỉ có nói được với Nhi-ki-ta về Lê-na và Vi-chi-a thì mới mong giải thoát sớm cho họ được. Vươn tay ra giữ yên cương và bàn đạp, cậu chạy theo ton ngựa đã ghìm bước lại.

        — Xin phép... Xin phép báo cáo!... — Cậu la lên.

        — À, em đấy à, tổ trưởng! — Nhi-ki-ta đã nhận ra cậu! — Sao lại đến đây được?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2020, 11:11:11 am

        Con ngựa bỗng vụt lên rời khỏi chỗ và Vô-lô-đi-a kịp hét theo:

        — Lê-na và Vi-chi-a ở đây!

        — Này, tổ trưởng! — Vang lên tiếng Nhi-ki-ta. — Chạy nhanh tới gặp chi huy Hồng quân, báo cho trung úy biết là chúng tôi sẽ « làm xong » ở đây... Báo là đã chiếm được ban chỉ huy quân quản...

        Nhưng khi nhìn thấy Vô-Iô-đi-a đang bước tới với vẻ mặt rất buồn, anh liền thúc ngựa chạy tiếp và chỉ nói với lại:

        — Tổ trưởng, thi hành đi ! Hãy vui lên chứ!...

        Anh giật cương căng và đột ngột đến nỗi, con ngựa qụy hai chân sau xuống. Anh nói gi với người cưỡi ngựa đi bên cạnh, rồi nới lỏng đây cương, thúc ngựa phi vọt lên như mũi tên.

        Những nắm tuyết từ chân ngựa bắn lên rơi vào ngực Vô-lô-đi-a. Một phút sau, cậu nghe vẳng tiếng hô vang như chuông, đầy hân hoan của Nhi-ki-ta Đa-ni-lô-vích:

        — Anh em ơi, hãy kết thúc đi! Xông lên!

        Quay ngoắt lại, Vô-lô-đi-a thấy người cựu kỹ sư nông nghiệp đang rướn người đứng trên bàn đạp rút thanh kiếm cong ra khỏi vỏ, lóng lánh ánh sáng xanh trong khỏi ủa, và với động tác thành thạo của người chỉ huy thực thụ, Nhi-ki-ta vung mũi kiếm lên trước...

        Tiếng hô « U-ra » vang rền, những bông tuyết đỏ hồng ánh lửa tung tóe bay lên cùng một lúc với tiếng lựu đạn nổ. Trên các tường nhà loang loáng những bóng người khổng lồ. Chẳng kịp do dự, Vô- lô-đi-a đành chạy lao đi thi hành mệnh lệnh mới của người chỉ huy du kích — tìm trung úy chỉ huy đội biệt động Hồng quân...

        Tuy vậy, cậu cũng dễ dàng tìm thấy đồng chí trung úy chỉ huy Hồng quân ngay chỗ góc đường phố chính ở thị trấn. Trung úy đứng ngay trước hàng rào đây thép gai bao quanh ngồi nhà trường trung cấp nông nghiệp; các chiến sĩ đang hối hả chạy dọc theo hàng rào... và số mệnh hầu như lại đùã giỡn với Vô-lô-đi-a, một lần nữa lại nở nụ cười hiền hậu với cậu các chiến sĩ trượt tuyết đã làm xong công việc mà cậu định nhờ Nhi-ki-ta — nhà tù vừa được giải phóng xong, và các tù nhân đang ùa chạy ra. Trong không khí xam xám ban mai, khó phân biệt được khuôn mặt những con người vừa chạy, vừa bước vội ra khỏi ngôi nhà đồ sộ, tối mờ mờ. Khi nghe những tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng la đầy hạnh phúc của phụ nữ, tim Vô-Iô-đi-a như rộn lên vì trong dòng người vội vã, náo động đang tỏa ra sân, ra đường kia nhất định phải có Lê-na và Vi-chi-a.

        Ba chiến sĩ lăm lăm sứng trường đang thúc một tốp cảnh sát Đức mặc áo ca pốt đen bước nhanh. Có mấy phụ nữ trùm khăn ôm chầm lấy trung úy, dòng người được giải thoát ngày một nhiều. Vô- lô-đi-a, vẻ sốt ruột và bất lực loanh quanh, nhớn nhác tại chỗ không biết làm cách nào để tìm các bạn mình. Bất ngờ, từ chân tường nhà tù ngay hàng rào đây thép gai, một lưỡi lửa súng máy phụt ra. Dòng người trên đường phố như sững lại, thét to đến nỗi át cả tiếng súng máy. Vô-tô-đi-a còn kịp thấy đám đông hốt hoảng đó chạy tỏa ra xung quanh như thế nào, thấy các chiến sĩ Hồng quân vội nằm xoài ra ngay trên vỉa hẻ và nổ súng bắn trả lại ra sao. Rồi sau đó, mọi ý nghĩ, sức mạnh tinh thần của cậu chỉ tập trung vào có một điều duy nhất là làm sao tiếp cận được gần ngọn lửa đang phun ra từ gốc sân và dập tắt ngay nó...

        Chạy được mấy bước, bỗng nhớ ra, cậu nằm xuống vội vã bò trên tuyết...

        « Nhanh ỉên, nhanh nữa lên, — cậu thầm giục giã mình. — Ở đây là những người không có vũ khí, ở đây có Lê-na và Vi-chi-a ! ».

        Kinh hoàng, lo sợ cho họ. Vô-lô-đi-a lại nhỏm dậy. Cậu cúi chạy khoảng năm, sáu bước và một lần nữa, bản năng tự vệ lại bắt cậu nằm xuống, má cậu cảm thấy mát lạnh khi chạm vào tuyết. Cậu áp sát vào đó. Nhưng đến chỗ tên xạ thủ súng máy SS — tên giét người không rõ mặt, với những băng đạn tròn nguyên vẹn kia, còn tới gần năm chục mét nữa, với khoảng cách đó, Vô-lô-đi-a không thể ném lựu dạn được...

        « Đồ nhát gan ! — Cậu mắng mình. — Lê-na đang ở đây! Những người phụ nữ đang ở đây! ».

        Tựa như lao vào khoảng không, Vô-lô-đi-a vụt lên... Được năm bước, rồi ba bước, rồi hai bước, cậu bỗng cảm thấy như có một cú đánh đau nhói vào ngực. Nhưng cậu vẫn dấn lên được một bước nữa rồi vung tay, cúi mình, ném quả lựu đạn vào đám lửa trước mặt. Sau đấy, tựa như bị vấp phải một cái gì, cậu ngã xuống.

        Cậu không thể đứng lên được nữa... Trong cái giây cuối cùng, Vô-lô-đi-a có cảm giác tựa như trong giấc mơ là, nếu cậu không ngồi lên ngay thì sẽ có một điều gì đó thật kinh khủng không lường được: nhưng thậm chí cậu không thể ngẩng đầu lên được nữa vì ngay trong giây lát đó, tri giác cậu đã ngưng đọng lại.

        Cậu không thể thấy được, quả lựu dạn của cậu đã nổ thế nào ở góc sân, không kịp thấy những mảnh vụn đất, đá, tuyết bay tung lên trong đám khói đen sệt và không biết được, ngay sau đó, Lê-na với chiếc áo da sổ tung, đã chạy ùa ra như thế nào...

        — Vô-lô-đi-a! Vô-va ! — Cô gái thét gọi tên anh. — Vô-va đã tới!... Vô-va...

        Vi-chi-a đuổi theo sau cô, giọng khản đặc, cũng la lên:

        — Mình đã bảo mà. Vô-lô-đi-a sẽ có cách mà... Mình đã bảo mà, — cậu phân giải. — Minh đã bảo mà...

        Một làn chớp lóe lên gần dấy xé tan bóng tối mở ảo, mọi vật bừng sáng trong giây lát, tiếp theo là một tiếng nổ chói tai — kho đạn quân Đức trong khu nhà ga đã nổ tung.

        Lê-na vội choàng chạy tới chỗ Vô-lô-đi-a, quỳ thụp xuống, nhìn vào mặt cậu và choáng váng hét lên một tiếng kinh hoàng...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2020, 11:11:53 am

       
7

        Cuối tháng Một — đầu tháng Chạp, chiến sự ở vùng T. đã diễn ra tới mức căng thẳng tột độ. Với ý đồ khép kín vòng vây, bọn Đức đã tiến công cùng một lúc từ các hướng Đông Nam và hướng Tây. Khi nhìn vào bản đồ chiến sự và các sơ đồ liên quan tới thời kỳ phòng thủ T. ta sẽ thấy cái thành phố cổ kính ở ngoại vi Mát-xcơ-va đang nắm gọn trong vòng nhiều mũi tên xanh tượng trưng cho các hướng tiến công của quân thù. Trong các cuộc tiến công lặp đi lặp lại không ngừng, người ta cảm thấy có một cái gì đó như sự liều lĩnh và thậm chí điên rồ nữa. Kết quả sau đó là hàng binh đoàn quân Đức bị tiêu diệt gọn. Nhưng, sinh lực và phương tiện của những người bảo vệ thành phố T. cũng đã hao mòn nặng nề... Quả thật, kể từ ngày đầu tiên của cuộc công kích — ngày 30 tháng Mười, chưa lúc nào thành phố lại phải trải qua mối nguy cơ lớn lao như trong những ngày đâu tháng Chạp này.

        ... Từ những điểm cao không tên trên bờ sông nhỏ Ru-xa-lô-sca, từ sáng sớm hôm sau quân địch đã âm mưu chọc thủng vào khu vực bên cạnh. Ở làng Gô-lưi, suốt hai ngày đêm liền bọn bộ binh SS và xe tăng không ngừng tiến công, nhưng trên tuyến phòng ngự của trung đoàn công nhân, hai ba ngày qua lại tương đối yên tĩnh (nếu không tính đến những cuộc bắn phá của súng cối.

        Trước tối ngày thứ hai, Pa-ven Grô-mốp được gọi lên ban tham mưu trung đoàn ở tả ngạn sông Ru-xa-lô-sca. Ở trận địa, Ê-Ii-xây-ép không hề giấu giếm sự sốt ruột mong anh trở về sớm vì cần nghe Pa-ven báo cáo về những vấn đề quan trọng bậc nhất như: việc phải nhất thiết bổ sung thêm lực lượng cho đại đội, về sự trì trệ trong việc cung cấp thức ăn nóng cho các chiến sĩ ở tuyến tiền tiêu ; hơn nữa về số phận Bô-cốp trước sau gì cũng phải giải quyết trong ngày hôm nay. Sau khi đi kiểm tra các điểm chốt trở về hầm chỉ huy, Ê-Ii-xây-ép tranh thủ nắm nghỉ trên chiếc « giường» đất trải lá tùng bách, nhưng một lát lại ngồi dậy ngay — nỗi lo âu cứ day dứt làm ông hồi hộp khó nằm yên được. Ê-li-xây-ép quyết định, phải tranh thủ nửa giờ để viết thư báo cho bố mẹ Cô-li-a Ô-khốt-nhi-cốp biết vì, sớm hay muộn vẫn cứ phải viết lá thư nặng nề và đau khổ này thôi. Tự đáy lòng Ê-li-xây-ép cũng phải tìm cách tự an ủi mình bằng công việc này. Trong câu chuyện về chiến công, và những phút cuối cùng của chàng trai — những phút dũng cảm và ngắn ngủi — Ê-li-xây-ép hy vọng sẽ làm dịu bớt được nỗi đau buồn của gia đình người chiến sĩ đã hy sinh.

        Lấy các giấy tờ của Ô-khốt-nhi-cốp: những lá thư nhà anh luôn mang theo mình, thẻ đoàn viên Côm-xô-môn, cuốn vở có hình Pu-skin ở bìa, Ê-li-xây-ép hơi nhíu mày, mím môi, giở giở hồi lâu và thầm đọc. Ê-li-xâv-ép tin tưởng sâu sắc rằng mỗi con người đều được sinh ra để làm những việc lớn lao, để lao động vì sự nghiệp quang vinh, vì cuộc sống. Theo ông, nói chung không có những con người vô ích, những người thừa, mà cái cần đòi hỏi là phải hiểu đúng đắn về con người, phải có thái độ cư xử ân cần với họ...

        Giờ đây, Ê-li-xây-ép có cảm giác rằng, ông và các bạn chiến đấu  của mình đã mất một nhà thơ chân chính và, có thể là nhà thơ lớn này. Tất nhiên, Cô-li-a còn cần phải học tập nhiều. Chính Ê-li- xây-ép đã nhiều lần khuyên anh ta đọc nhiều hơn nữa các nhà thơ cổ điển Nga. Nhưng hiện nay, không những chỉ có các chiến sĩ đại đội mà toàn trung đoàn đều thích thơ anh.

        Ê-Ii-xây-ép mở quyền vở ghi chép... Trên đầu trang nhất vẽ một ngôi sao năm cánh đỏ thắm, mỗi góc đều tỏa ánh sáng ra xung quanh. Phía dưới, bằng nét chữ nguệch ngoạc học sinh, có một câu:

        « Không ai đánh hộ bọn phát xít cho ta, mỗi người đều có món nợ của mình...»,

        Tiếp theo, Ê-li-xây-ép chăm chú đọc những bài thơ. Đôi lúc ông lại lắc lắc đầu tựa như kinh ngạc trước điều ông vừa nhận thức được.

        Cảm thấy lành lạnh, ông kéo cao cổ áo bành tô. Từ sau tấm vách ngăn bằng gỗ hòm dành cho chiến sĩ thông tin, thỉnh thoảng lại vang lên lanh lảnh: «Táo đâu, Táo đâu... Tôi, Thông đây, Thông đây... Cậu đấy à. Cát-xát-kin... Tất cả đều tốt. Thôi gọi thế đã... Thanh trà đâu!... Tôi, Thông đây... Kiểm tra đi...» Xen vào đấy là những tiếng ì ầm dội vào hầm hầu như không ngừng — nghe tựa như tiếng búa máy đóng vào cọc móng nhà lạnh ngắt — phía làng Gô-lưi vẫn đang đánh nhau...

        Môt lát sau có mấy người — Cu-li-cốp, chiến sĩ thông tin của trung đội ba và hai người khác — đến hầm Ê-li-xây-ép để nhận tin tức và báo chí.

        — Có ngay đây, có ngay đây, ngồi xuống đã, các đồng chí, —  chính trị viên mời.

        Ba người ngồi xuống bệ đất và hút thuốc. Những dáng người uể oải, thờ ơ, thậm chí còn có vẻ lạnh lùng và quá mệt mỏi sau những trận chiến đấu kéo dài nhiều ngày căng thẳng, im lặng chờ cho Ê-li- xây-ép đọc xong.

        Trao báo mới và các bản tin của Cục thông tin Liên Xô do ban tham mưu trung đoàn gửi tới cho Cu-li-cóp, chính trị viên hỏi tiếp:

        — Các đồng chí có thì giờ không? — Ông lại đưa những ngón tay lạnh cỏng, thận trọng xoa xoa tờ bìa hồng hồng. — Các đồng chí có muốn nghe không? Đây là những bài thơ do Cô-li-a Ô-khốp-nhi-cốp của chúng ta sáng tác đấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2020, 11:13:53 am

        Thay cho câu trả lời, một chiến sĩ, tựa như vô tình, khẽ hỏi:

        — Đồng chí chính trị viên, có tin tức gì về việc bổ sung người không ạ? Tôi nghĩ rằng, ở Ta-sken, ở Tôm-xcơ còn khối người...

        — Sẽ có bổ sung... Nhất định sẽ có, — Ê-li-xây-ép nói và giở giở các trang vở. — Thế các đồng chí có thích nghe không?

        — Chà, thơ với phú!... — Một chiến sĩ vẻ lưỡng lự, lên tiếng; anh hít một hơi thuốc dài và, vừa nhả khói vừa khum khum hai bàn tay lên miệng để đón làn hơi âm ấm đang tỏa ra.

        Không hỏi thêm nữa, Ê-li-xây-ép kéo cây đèn dầu lại gần hơn, vặn to thêm, kéo cao cồ áo, ông cãt giọng đọc thong thả, rành rọt:

        Đạn đã rền vang
        Trên chiến hào trận địa Nhưng ta đã hô vang
        Lời thề quyết tử,
        Gửi đến cùng mảnh đất quê hương
        Chiến hào bị đạn bom cày xởi
        Xe tăng thù, hung hãn lao lên
        Nhưng lòng ta vẫn không hề nao núng
        Dù phải chết vì người, ơi nước Nga yêu dấu.


        Ê-Ii-xây-ép đọc với vẻ thận trọng, cứng cáp, ngân dài. Nhưng các thính giả của ông có cảm giác như đấy chính là giọng của Ô-khốt- nhi-cốp. Âm điệu trang trọng và hấp dẫn lạ thường ngân lên trong căn hầm lạnh giá, lờ mờ tối gây cho Cu-li-cốp một ấn tượng mạnh mẽ, ngỡ ngàng đến nỗi anh đứng hẳn dậy khỏi bệ nằm. Quả thật nếu ở vào một lúc khác và một nơi khác thì có lẽ những câu thơ chưa hoàn chỉnh trên chẳng thể gây được ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc như ở đây, trong giây phút nàv. Các chiến sĩ mỗi lúc một chú ý lắng nghe tâm tư của người đồng chí đã ngã xuống vả tựa như lại bất thần tâm sự với họ những điều hoàn toàn ngược lại với số mệnh của mình; nét mặt gầy gò màu đất của Cu-li-cốp lộ rõ vẻ ngạc nhiên đến sửng sốt:

        Ta lao lên, trong giao tranh đẫm máu,
        Phía sau ta — quê hương yêu dấu.
        Phía sau ta — Thành phố thân thương.
        Là đỉnh tháp Crem-li cổ kính
        Trong những trận giao tranh quyết liệt
        Ta mang theo lời thề — danh dự công nhân


        Tới đây, giọng Ê-li-xây-ép như lặng đi vì xúc động. Ngừng một lát, ông đọc lại, rành rọt và to hơn:

        Trong những trận giao tranh quyết liệt,
        Ta mang lời thề — danh dự công nhân
        Lời thề đó, sẽ vang lên tha thiết
        Trong những xóm làng, quê hương rực cháy,
        Trên những cánh đồng tuyết phủ Mát-xcơ-va
        Ta ngã xuống, chẳng phải là vô nghĩa
        Đổi đời ta, lấy sinh mạng quân thù
        Ta sẽ đánh, đánh đến cùng, đánh mãi
        Với lòng căm thù, với sức mạnh...
        Những trung đoàn Xô-viết công nhân!


        Cu-li-cốp bất giác nhìn người chiến sĩ vừa hỏi về việc bồ sung lực lượng mới; còn anh ta thì đang lặng đi, tay cầm tàu thuốc cháy dở... Những câu thơ của người đồng chí dã nói lên được suy nghĩ, tâm tư và sự thật mà họ đã nghĩ, đã sống; Ô-khốt-nhi-cốp là người có quyền hơn ai hết nói lên tất cả những điều này. Và nó, — cái sự thật đó — đã mang lại cho thơ anh sức truyền cảm mạnh mẽ của thơ ca chân chính.

        — Thật là tuyệt diệu, — Ê-li-xây-ép khẽ nói, khi đọc hết bài thơ. — Cần phải đưa vào sổ nhật ký chiến đấu... Này, Cu-li-cốp, đồng chí hãy chép lại bài thơ này...

        — Chà, cậu ấy viết hay quá! Chà, Cô-li-a! Cô-li-a! Cậu ấy miêu tả thật chính xác, cả những chiến hào, cả về xe tăng! — Cu-li-cốp nhìn quanh như đưa mắt tìm tác giả.

        Người chiến sĩ thứ hai từ nãy đến giờ vẫn ngồi im lặng, húng hắng ho và lên tiếng;

        — Chép vào sổ nhật ký. Tôi sẽ chép vào sổ tay của tôi... Có thể gửi cho tờ báo của tỉnh, tờ « Cô-mu-nar ».

        — Đúng, đúng đấy! Chúng ta sẽ gửi đến đấy; — Ê-li-xây- ép nói.

        — Theo tôi thì có thể gửi cho các báo trung ương ở Mát-xcơ- va nữa, — Người chiến sĩ thứ nhất nói. — Để cho mọi người cùng biết, cùng đọc. Và phải ký đày dủ họ tên cậu ấy là: Ni-cô-lai Ô khốt- nhi-cổp.

        — Xin phép cho tôi chép riêng vào sổ tay đã. — Người chiến sĩ thứ hai nói.

        Chờ họ chép xong bài thơ, Ê-li-xây-ép thầm nghĩ là, ngay cả sau khi đã hy sinh, Ô-khốt-nhi-cốp vẫn đang thực sự hành động và chiến đấu, vẫn sống cùng họ... Ý nghĩ đó đã an ủi Ê-li-xây-ép.

        Khi Pa-ven về tới hầm đại đội thì các chiến sĩ vẫn chưa giải tán. Anh đã mang về nguồn tin không vui: quân địch đã từ khu Gô-lưi đang thọc một mũi vào thành phố. Trận chiến đấu có nguy cơ chuyền sang các đường phố, do đó, các đơn vị bảo vệ hai bên bờ sông Pu- xa-lô-sca, trong đó có trung đoàn công nhân đã nhận được lệnh rút lui để khỏi bị bao vây. Tuyến phòng thủ mới mà ngay đêm nay phải lập xong, sẽ là tuyến sát ngoại vi thành phố.

        ... Thi hành mệnh lệnh, trước lúc trời sáng đại đội Pa-ven bỏ hai điểm cao không tên hầu như đã bị đạn bom cày nát, xới tung lên, hai ngọn đồi mà họ đã từng kiên trì và anh dũng bảo vệ từ bao ngày nay. Lặng lẽ và thận trọng, các chiến sĩ lần mò, vấp ngã trên các tảng băng nhấp nhô, khéo léo tránh những hố nước băng lạnh ngắt, để rút sang bờ bên kia... Từ chập tối đã có lốc tuyết và suốt đêm, tuyết rơi trắng xóa. Bô-cốp đi cuối cùng (anh vừa được nhận lại khẩu súng trường, trung đoàn trưởng đã không xử phạt anh về tội bỏ đơn vị, vì anh đã lập công anh dũng đề chuộc lỗi cho mình). Chàng thiện xạ, hai tay ôm chặt khẩu súng vừa được nhận lại, im lặng, lâm lũi bước đi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2020, 08:47:22 pm

       
*

        Một tháng đã qua kề từ ngày T. bắt đầu bị phong tỏa nhưng La-tô-skin đôi lúc vẫn có cảm giác đây chỉ là một ngày dài mà thôi. Thỉnh thoảng nắng lại hửng lên ngoài cửa sổ và, bà thư ký Ma-ri-a A-Iếc-xây-ép-na, kéo những tấm mành ngụy trang lên. Nhưng một lát sau, trời lại tối và, bà lại kéo rèm cửa, bật đèn sáng. Cho dù chiều đến, trong văn phòng của chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phố vẫn không có gì thay đổi vì ở đây, lúc nào cũng đông người làm việc, hội họp, lui tới. Hết đợt này đến đợt khác, từng tốp người gồm các cán bộ chỉ huy công nhân, đoàn viên thanh niên cộng sản, cán bộ kinh tế, cán bộ chính trị, nông trang viên, chiến sĩ liên lạc các đội du kích, chủ nhiệm các nhà trẻ, cửa hàng, bác sĩ, đốc công các nhà máy... kéo nhau đến gặp ông hầu như không dứt... Và cái điều chính — hay nói một cách chính xác hơn là điều duy nhất trong La-tô-skin hiện nay là lo lắng cho cuộc sống, cho số mệnh của những con người này. Người ta đến gặp chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phố để xin chỉ thị và báo cáo, yêu cầu giúp đỡ; hay đề nghị gì đó. Rồi từ văn phòng của ông họ sẽ trở lại tuyến trước hay tới một nhà máy đang được phục hồi, tới trận địa ngoại vi thành phố để tổ chức phản công hay vào sâu vùng địch để lập những chiến tích mới. La-tô-skin hình như cũng lên đường với họ... Và cái cảm giác về sự tồn tại của cá nhân mình, tức là cái vốn có từ lâu ở La-tô-skin — các ý thích, những nhu cầu, những thói quen — hầu như đã rời khỏi con người ông. Và đồng thời, chưa bao giờ những đức tính, năng lực quý báu nhất, quan trọng nhất trong sức mạnh tâm hồn của ông như trí nhớ, tình cảm đối với con người, lòng kiên trì và tính kiên quyết — lại thể hiện một cách đầy đủ, hoàn hảo như vậy trong ông. Chưa bao giờ La-tô-skin lại tỏ ra dẻo dai như hiện nay, khi ông đã tự quên mất bản thân mình từ lâu. Còn sự thành công hay thất bại của những người xung quanh, những khó khăn mới cùng với nhiệm vụ mới đồng thời cũng lại bồi dưỡng thêm cho ông một thử thách cá nhân mạnh mẽ hơn — đó là tinh thần trách nhiệm mới. Người ngoài nhìn vào có thể rất kinh ngạc trước sự chịu dựng dẻo dai của La-tô-skin, ông có thể thức hai ngày đêm liền không ngủ và chỉ sau vài ba giờ chợp mắt, ông lại có thể vùng dậy lao vào công việc ngay. Và cái tinh thần trách nhiệm thường xuyên trước vận mệnh mọi người này đã không một phút giây nào rời khỏi ông.

        Mãi tận khuya, cuộc họp của ủy ban bảo vệ thành phố vẫn thảo luận các vấn đề thường xuyên cấp bách hàng ngày. Chủ tịch Ban chấp hành Xô-viết thành phố Sa-rốp báo cáo về tình hình dự trữ lương thực ở T. và về sự cần thiết phải giảm bớt tiêu chuẩn cung cấp bánh mì cho dân. Nói chung, tình hình lương thực chưa gây nên nỗi lo lắng đặc biệt lắm vì đã có mấy đoàn tàu chở lương thực, thực phẩm  từ Mát-xcơ-va tới vào giữa tháng Một vừa qua. Nhưng đó là những đoàn tàu cuối cùng. Giờ đây, thành phố đang nằm trong tình trạng hoàn toàn bị bao vây — mọi tuyến đường sắt, dường bộ liên lạc nối liền với Mát-xcơ-va và các thành phố khác đã bị cắt đứt. Do đó, phải tính đến chuyện tiết kiệm tiêu dùng những thứ dự trữ tạm thời còn lại trong các kho... Tiếp theo, hội nghị quyết định một đợt quyên góp và may giày mùa đông cho các đơn vị Hồng quân.

        — Giao cho các bí thư đảng ủy khu phố, các chủ tịch Ban chấp hành Xô-viết khu, chủ tịch Ban chấp hành Xô-viết thành phố, các phó giám đốc nhà máy. — La-tô-skin tựa vào thành ghế, lim dim mắt, đọc nghị quyết, — tổ chức quyên góp ủng dạ trong nhân dân để cung cấp cho các chiến sĩ, chỉ huy và chính trị viên... Điểm hai: giao cho đồng chí Ma-lư-skin, bí thư đảng ủy khu trung ương Đảng (b)...

        Ngọn đèn nhỏ giữa bàn lóe sáng; không cần ngoảnh lại, ông nhanh nhẹn tựa cái máy, với tay cầm ống nghe... Nói chuyện xong với giám đốc nhà máy báo tin đã sản xuất xong đợt mìn chống tăng đầu tiên, La-tô-skin đặt ống nghe xuống mà cũng không cần nhìn vào máy. Ông im lặng một vài giây, suy nghĩ, nhớ lại đoạn nghị quyết, vầng trán hói bóng mồ hôi như sáng hơn lên.

        — Điểm hai — ghi rồi chứ? Giao cho đồng chí Ma-lư-skin tổ chức việc sản xuất ủng dạ phớt có sẵn tại các xí nghiệp, — ông đọc tiếp, — chị đánh xong rồi chứ, chị Ma-ri-a ?Chị chuyển ngay bằng đường điện tín, Pi-e A-ki-mô-vích, — ông quay lại phía Sa-rốp. — Cần phải triệu tập các nhà sản xuất lại. Ngày mai thì không được, vì không báo kịp đâu. Còn ngày kia, nhất định phải họp thôi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2020, 08:47:55 pm

        La-tô-skin vươn vai và lướt nhanh đôi mắt linh lợi, nhìn những người dự họp.

        — Sáng nay có các đại diện của xí nghiệp « Sản phẩm kim khí » đến gặp tôi, — ông nói. — Các đồng chí ấy tính toán rằng, nếu các hợp tác xã của họ làm được mười ngàn đinh chữ u và móc sắt thì có thể  yên tâm. Với số hộp ấy thì có thể tạm đủ dùng trong thời gian trước mắt... Nhưng nếu phải khôi phục lại chỉ một chiếc cầu Trê-rê- pa-nốp thì còn cần bao nhiêu nữa.

        — Cầu Trê-rê-pa-nốp à? — Có ai đó hỏi lại.

        Một người đứng tuổi, đâu hói nhẵn thín ngồi trong góc là chủ nhiệm tổ chức hợp tác xã kim khí tỉnh được mời dự cuộc họp hôm nay, đưa mắt nhìn người bên cạnh như muốn hỏi, ông ta có nghe nhầm hay không?

        — Mười ngàn chiếc đinh và móc sắt, không thừa đâu, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vích ạ! — Ông ngập ngừng nói. — Nhưng còn phải đuôi được quân Đức ra khỏi thị trấn Trê-rê-pa-nốp đã.

        — Các đồng chí nghĩ xem, đề ra những nhiệm vụ này có quá sớm không ? Không, không sớm đâu...

        La-tô-skin đứng dậy bước ra giữa phòng ; trông dáng ông vẫn còn trẻ trung như một sinh viên: hơi gày, thắt chiếc đây lưng nhỏ bản, vai rộng nhưng ngực lại hơi lép khiến cho chiếc áo va rơi màu phòng không xù lên trên lưng.

        — Các đồng chí ạ, Mát-xcơ-va hỏi chúng ta là đã chuẩn bị gì để khôi phục lại các cơ sở kinh tế bị tàn phá? — Ông nói tiếp. — Mát- xcơ-va nhắc chúng ta rằng, chúng ta đang đứng trước...

        — Công việc sẽ rất nhiều, — Sa-rốp hài lòng nói. — Ôi, rất nhiều!

        — Tôi hoàn toàn đồng ý với anh! — Người đầu hói thốt lên. —  Đủ việc cho mọi người làm.

        Mọi người trong phòng sôi nổi hẳn lên trao đổi với nhau: nguồn tin bất ngờ của chủ tịch ủy ban bảo vệ làm họ hết sức phấn chấn. Mặc dù tinh hình chung ở các mặt trận còn rất nặng nề, nhưng nếu Mát -xtơ-va đã hỏi và nhắc cái thành phố đang bị bao vây này chuẩn bị cho lao động hòa bỉnh thì điều đó có nghĩa là không bao lâu nữa sẽ có một bước ngoặt quyết định tốt hơn...

        — Nhưng cần phải nhớ rằng, chủ yếu là phải dựa vào nguồn nguyên vật liệu địa phương, — ông chủ nhiệm hợp tác xã vội nói.

        — Chính vì thế đấy, — La-tô-skin nói.— Căn phải tính toán, phải tăng thêm... Nhưng cái chính yếu là tất cả các đồng chí phải xác định cho mình. Thời gian không đợi các đồng chí đâu. Ngay ngày mai đã phải có sản phàm cần thiết cho việc phục hồi nền kinh tế toàn tỉnh.

        — Thật nghe mà hởi lòng hởi dạ, đồng chí La-tô-skin ạ! — Trưởng ban quân sự tỉnh, Tê-rê-khốp nói.

        — Chỉ riêng chuyện gạch ngói cũng cần biết bao nhiêu rồi. Còn nào là gỗ, đinh, kính! — Chủ nhiệm hợp tác xã đưa mu bàn tay giụi giụi cái đỉnh đầu nhẵn thín của mình. — Ôi, tim tôi rộn lên thế này này, đồng chí La-tô-skin ạ. Đồng chí gọi tôi tới và nói « Anh xoay xở chậm lắm đấy, anh Pô-Iu-a-nốp ạ ».

        Ông nói điều này với giọng hết sức thoải mái, hài hước.

        — Nhất định tôi sẽ nói, sẽ nói một cách mãnh liệt nếu thực anh xoay xở quá chậm, — La-tô-skin đáp lại một cách khô khan và chả cỏ vẻ gì hưởng ứng cái ý đùa vui của Pô-lu-a-nốp cả.

        Sa-rốp cươi vang, còn chủ nhiệm hợp tác xã tỉnh thì nhìn La-tô- skin với vẻ đầy ưu ái. Trong giờ phút này, triển vọng của lao động hòa bình, mặc dầu sẽ rất căng thẳng, nặng nề, nhưng đối với mọi người ngồi ở đây, nó sẽ là niềm hạnh phúc lớn lao.

        Đèn tín hiệu trên bàn lại lập lòe. Lần này là tướng Đi-a-cốp gọi, tư lệnh đặc khu T. đang ở sở chỉ huy không đến dự họp được vì tình hình không cho phép. Màng nghe không hiểu sao bị nhiễu. Chỉ có tiếng lục bục, lạo xạo và tiếng rít tựa như cơn bão tuyết đang đổ về từ phía bắc thành phố.

        — Xe tăng của lữ đoàn Ê-béc-bác đang tiến công thẳng vào hướng Tây... — La-tô-skin khó khăn lắng nghe... — Sư đoàn xe tăng số ba của chúng đang đánh từ hướng Đông Bắc.

        Giọng tướng Đi-a-cốp chìm đi trong tiếng ào ào, và tiếng rít, một lát sau mới thoáng nghe được như từ một nơi xa xôi nào đó:

        — ... Nóng lắm, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vích ạ, căng lắm... — La-tô-skin chi thoáng nghe được. — Người của tôi mấy ngày đêm nay chưa được nghỉ chút nào...

        Đây giống như lời phàn nàn — lời phàn nàn đầu tiên mà Đi-a- cốp thẳng thắn nói ra sau suốt cả thời gian hoạt động phối hợp với nhau...

        Tiếp theo, thiếu tướng báo tin: quân địch vừa mới chiếm được khu làng Gô-lưi và một nhóm xe tăng của chúng đã chọc thủng vào ngoại ô Đông Nam thành phố: ở đây đang đánh nhau quyết liệt.

        Trong khoảnh khắc đó, La-tô-skin cảm thấy bực bội tựa như có ai đó đã cản trở một công việc quan trọng của ông. Ông nghĩ là không thể trù trừ được nữa, cần phải huy động ngay các lực lượng dự bị mà ủy ban bảo vệ có trong tay, vào tư thế sẵn sàng chiến đấu.

        — Tôi sẽ đến chỗ đồng chí ngay bây giờ, đồng chí thiếu tướng ạ! — Ông hét vào ống nghe, giọng lạc đi vì căng thẳng. — Đồng chí có thấy cần thiết phải điều đội xung kích... diệt tăng lên không?

        Ông muốn nói tới các đội xung kích diệt tăng của đoàn Côm-xô- môn vừa được thành lập ở T., để tăng viện cho Hồng quân.

        — Biết sao được, tất nhiên là không thừa, hãy cho tôi đi... —  Tiếng Đi-a-cốp lẫn trong tiếng rú rít, thiếu tướng đang ở ngay khu vực chiến đấu, nghe rõ cả tiếng súng máy, tiếng mìn nổ.— Để cho thanh niên quen dần với tình hình... Anh hãy gửi đến đây...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2020, 08:48:29 pm

        Nhưng La-tô-skin lại do dự chưa trả lời ngay. Quả thật, các đội xung kích diệt tăng gồm toàn thanh niên còn quá trẻ — chỉ là những cô gái, chàng trai tuổi mười bảy; họ mới chỉ làm công việc gác kho và tuần phòng đường phố. Giờ đây, ngay trong đêm nay lại trao họ cho bộ chỉ huy quân sự — tức là cử họ đi chiến đấu — thì, đến phút cuối cùng này La-tô-skin thấy do dự, băn khoăn thực sự.

        — A lô, a lô... I-a-cốp Da-kha-rô-vích, anh nghe rõ tôi chứ? — Trong ống nghe lại vọng lại tiếng ào ào như tiếng đánh vào boong tàu.

        — Một giờ nữa các đội xung kích sẽ được cử tới chõ anh, đồng chí thiếu tướng ạ, — La-tô-skin gào lên.

        Ồng muốn nói thêm là nên thận trọng bảo vệ các thanh niên này; chỉ tung họ vào trận đánh trong hoàn cảnh không thể đừng được, trong trường hợp hết sức cần thiết... Nhưng ngay lúc ấy, Đi-a-cốp lại nói:

        — Muộn mất đồng chí La-tô-skin ạ! Chúng ta, tôi và anh đang ở trong tình hình hết sức xấu. Với mấy nhóm thanh niên của anh thì cũng chẳng xoay chuyển được tình hình đâu, tôi cho là như vậy. Ngay lập tức, phải tìm biện pháp gì hơn. Mời anh đến chỗ tôi ngay, chúng ta cùng bàn xem...

        Trong máy lạo xạo và im hẳn — Đi-a-cốp đã bỏ máy... Tay vẫn không rời ống nghe, La-tô-skin yêu cầu nối luôn đường đây tới đoàn Côm-xô-môn thành phố và hạ lệnh báo động sẵn sàng chiến đầu cho toàn thể hai mươi bảy đội thanh niên xung kích. Quay người lại, ông thấySa-tốp đang nheo đôi mắt hơi sưng nhìn ông thăm dò, còn chủ nhiệm hợp tác xã thì đang vội vã thu dọn giấy tờ vào cặp, sửa soạn ra về.

        La-tô-skin ngồi xuống ghế, vẫn giữ vẻ bình tĩnh và tự chủ, nói:

        — Như vậy các đồng chí nhé, chúng ta sẽ triệu tập các cán bộ

        kinh tế họp... Pô-li-va-nốp, đồng chí vội vã đi đâu đấy ? Chúng ta đã kết thúc đâu. Tôi còn muốn nghe ý kiến của đồng chí về các xí nghiệp hợp tác xã cơ khí.

        Dường như cảm thấy những con người ở đây lo lắng, bồn chồn, và để trả lời những câu hỏi không được nêu lên của họ, ông nói tiếp, nhỏ nhẹ và từ tổn:

        — Những trận giao tranh nặng nề vẫn diễn ra suốt ngày đêm, các đồng chí ạ... Quân thù vẫn không giảm sức ép. Tuy vậy, đúng, tuy vậy, hôm nay chúng ta lại càng tiến đến gần thắng lợi hơn hôm qua. Thời gian ủng hộ chúng ta. So với hồi cuối tháng Mười, suốt tháng qua chúng ta càng ngày càng tiến gân đến thắng lợi. Thế có nghĩa là đã đến lúc chúng ta cần phải suy nghĩ, chúng ta cần phải làm gì ngay sau ngày chiến thắng. Này, Pi-e A-ki-mô-vích — ông nhìn Sa-rốp, —  anh có thể báo cáo ngắn gọn tại cuộc họp...

        Sa-rốp gật đầu tỏ vẻ đồng ý.

        — Chúng ta cùng lấy ý kiến của nhân dân... Họ sẽ cho chúng ta nhiều ý hay, — La-tô-skin nói.

        Bỗng nhiên đèn trong phòng tắt ngấm... Chi còn có các đốm thuốc lá lập lòe trong bóng tới tựa như những ánh lửa từ dường phố bay vào. Các chiến sĩ bảo vệ chạy đi chạy lại ngoài hành lang và sau dãy, phòng bên cạnh có tiếng ghế đổ vọng sang.

        — Có lẽ có sự cố ở nhà máy điện chăng ? — Ông chủ nhiệm hợp tác xã lầm rầm nói.

        Không ai đáp lời ông cả... Mọi người cùng một ỹ nghĩ như vậy và cùng phỏng đoán là quân Đức đang hoạt động ở phía Bắc thành phố, ở khu vực Ca-ri-ra, có lẽ đã cắt đứt đường dây tải điện cao thế từ đấy về T. Do vậy thành phố đang bị quân thù bao vây này, có thể sẽ mất đi nguồn năng lượng chính.

        — Hay là bị chập mạch đâu đây, phải kiểm tra cầu chì xem sao, — sau một lúc im lặng kéo dài, giọng ông chủ nhiệm hợp tác xã lại cất lên — rõ ràng, ông vẫn chưa hết hy vọng.

        Một lát sau bà Ma-ri-a A-lếc-xây-ép-na và hai chiến sĩ bảo vệ đi vào mang theo mấy chiếc đèn dầu vừa được thắp lên. Đặt đèn lên bàn, bà Ma-ri-a ghẻ sát tai La-tô-skin:

        — Không ở đâu có điện cả, đồng chí I-a-cốp ạ, — bà thì thầm. —  Ở nhà máy chế tạo máy họ gọi điện tới: máy móc ở đấy đã phải ngừng hoạt động.

        Mặc dầu bà thì thầm nhưng tất cả mọi người trong phòng đều nghe rõ...

        Sự phỏng đoán đáng sợ nhất đã được khẳng đinh, và như vậy có nghĩa là — tất cả các nhà máy ở T. đã ngừng việc, bóng tối dày đặc đã bao trùm lên toàn thành phố... Sáng sớm mai, các cửa hiệu sẽ không có bánh mì. Quân thù đã giáng một đòn mới vào những trung tâm phục vụ sống quan trọng nhất của thành phố, tựa như một cú bất thình lình, sự chết lặng này sẽ nhanh chóng tỏa ra, khắp các ngành của thành phố.

        — Điện thoại có hoạt động không ? — La-tô-skin vẫn hỏi chậm rãi và nhỏ nhẹ như lúc nãy. — Điện thoại dã chiến hình như vẫn hoạt động được...

        Ông kéo chiếc hộp điện thoại lại gần và lần lượt gọi đến các Đảng ủy khu phố, khu Ga, khu Bờ Sông và khu Vô Sản...

        ... Trong khi đó, đằng sau cái đường viền của đêm bao phủ lên thành phố, ở khoảng cách một vài cây số ngoài ngoại vi của nó, các chiến sĩ quân đội Xô-viết vẫn đánh tan nhiều cuộc tập kích liên tục của quân thù. Trên mặt tuyết ánh lên những quả pháo sáng màu xanh lục, màu trắng, màu đỏ và, trong không trung lạnh ngắt những làn đạn lửa sáng vẫn lòe lên viu víu. Xa hơn về phía Ca-ri-ra, các chiến sĩ kỵ binh cận vệ của tướng Bê-lốp đang tập trung đề giáng đòn mạnh mẽ vào bọn bộ binh cơ giới đang thọc vào hai sườn. Xa hơn nữa về phía Bắc Mát-xcơ-va, các chiến sĩ bộ binh của tướng Pan-phi-lốp, chiến sĩ kỵ binh của tướng Đô-va-tô-rơ, chiến sĩ xe tăng của tướng Ca-tu-dốp đang chiến đấu quyết tử, một chọi bốn, trên các chiến trường vùng rừng ngoại ô thành phố. Ở đấy, trên mặt tuyết trắng mênh mông cũng ánh lên những tia phản quang màu xanh lục, màu trắng, màu đỏ; cũng rộ lên hỏa lực căm giận, hỏa lực tiêu diệt, hỏa lực bắn chặn, hỏa lực thọc sườn... Và cho đến lúc ở đấy người lính bảo vệ cuối cùng ngã xuống, quân thù mới có thể đạp lên xác đồng dội tiến lên được trăm mét...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2020, 08:49:40 pm
   
        
8

        Gần tối, lúc trời vừa chạng vạng, Na-ta-sa rời nhà máy về khu Bờ Sông. Trong bức thư mới đây Pa-ven yêu cầu bố gửi bộ bản vẽ chiếc máy tự động mới của anh về U-ran để nghiên cứu và do đó, cụ An-đrây đã cho Na-ta-sa về nhà lấy. Không gặp bà An-na ở nhà, cô định ngồi nghỉ một chốc trong phòng (Na-ta-sa đã biết được chỗ giấu chìa khóa cửa lớn) nhưng cô thiếp đi vì mấy ngày nay ở nhà máy cô rất bận. Khi bừng tỉnh, cô nghe thấy những tiếng leng keng khó chịu trong ngôi nhà nhỏ này. Hóa ra tất cả kính cửa đều rung rung, những tiếng ồn ồn chối tai đó vẫn không át được tiếng đại bác ì ầm xa xa. Ở vùng ngoại vi không xa lắm, đang diễn ra những trân đánh lớn như hôm qua.

        Trong nhà tối đen, Na-ta-sa vội hạ các bức mành giấy ở cửa sổ xuống, bật công tác, nhưng đèn vẫn không sáng... Vô tình, cùi tay cô chạm phải cọc nến suýt làm nó đổ. CÔ lần mò tìm được bao diêm ở chạn bát đĩa. Nhìn đồng hồ quả lắc treo trong phòng ăn, cô giật mình ngạc nhiên — đã gần mười một giờ khuya... Các loạt đại bác vẫn rền vang gần đâu đây. Ngôi nhà gõ cũ kỹ, nứt nẻ của cụ An-đrây Va-xi- li-ê-vích cùng như ngân lèn trong tiếng ì ầm đó. Một tay cầm giá nến, tay kia khum lại che ngọn lửa yếu ớt, Na-ta-sa im lặng lắng nghe, hồi hộp, lo lắng. Những tiếng đại bác nặng nề và xen lẫn tiếng ầm âm đâu đó, theo cô đoán, có lẽ là ở phía cửa ô, ở khu Gô-lưi Pô- li-an, nơi có trung đoàn công nhân và Pa-ven ở đấy.

        Na-ta-sa đã sống ở T. được hơn một tháng, trong cảnh phong tỏa; đã quen chịu bao cảnh đau khổ, khó khăn và nguy hiểm — cảnh rét mướt trong những phân xưởng băng giá, cảnh bom dạn do máy bay Đức trút xuống. Nhưng cô không thể quen chịu được một điều là, trong những trận đánh ấy, trong cảnh bom rền, đạn réo suốt ngày này sang ngày khác ấy, có chồng cô, Pa-ven... Sau lần gặp gỡ ngắn ngủi và đầy hạnh phúc hôm mới đây. trong lòng Na-ta-sa vẫn canh cánh nỗi lo âu và lặp đi lặp lại chỉ mỗi một câu hỏi: « Anh ấy có làm sao không ?», « Anh ấy đang ở đâu? ». Nỗi lo âu đó hình như cứ lớn dần lên. Mỗi khi nghĩ tới người chồng đang chiến đấu ngay ở ngưỡng cửa thành phố, cũng như nhiều phụ nữ khác, cô luôn luôn tự đề ra sự đòi hỏi bức thiết làm một điều gì đó cho anh ấy —sự giúp đỡ, bảo vệ hay an ủi...

        Cho nên, được cụ An-đrây giao việc về lấy bản vẽ của Pa-ven đến nhà máy đã làm cho Na-ta-sa vui mừng: dù sao thì cô cũng được làm một việc có ích cho chồng. Khi vào ngôi nhà trống trải, rung rinh lanh canh như chiếc hòm đựng bát đĩa vỡ của ông bố chồng, cô nghĩ rằng, bản vẽ nhất đinh phải được cất vào một nơi nào đó chắc chắn... Cô tự nói với mình:

        — Khoan đã nào. Chưa chắc bản vẽ đã được cất vào tủ không khóa! Không, phải nghĩ kỹ xem .. thiếu gì chuyện có thể xảy ra!

        Chính giọng nói của mình đã động viên và tăng thêm nghị lực cho Na-ta-sa. Không chần chừ gì nữa, cô bắt tay ngay vào công việc: lục chiếc tủ đứng của cụ An-đrây, kéo ghế lại và đặt cây giá nến lên... Từ trong chiếc tủ cũ kỹ mờ mờ dưới ánh sáng của cây nến, cô lôi ra các cặp bìa cứng, mấy cuộn giấy bóng mờ; mấy quyền vở lẫn với mấy tờ báo cũ ngả màu vàng ; những bức thư; mấy quyển sách xờn gáy; chiếc đèn pin và hôp đồ vẽ học sinh... Cô đặt những thư đó dưới chân và chúng thoảng lên mùi băng phiến, mùi mốc ẩm.

        — Mình sẽ mang cặp bìa cứng đi, để tập báo cũ lại... Mang cả mấy tờ giấy bóng vẽ. — cô vừa nói to với mình, vừa quỳ gối, chọn lựa. — Mấy lá thư này thì để lại thôi.

        Một vật tìm được làm cô chú ý: ở ngăn kéo dưới cùng, Na-ta-sa lục thấy chiếc hộp sắt tây hình dáng như cái tráp con xinh xắn, trong đó có chiếc lược cài tóc phụ nữ đã cũ, khảm trai lấp lánh, đôi hoa tai nạm hai mặt ngọc lam nhỏ xíu và chiếc nhẫn cưới xinh xắn bằng vàng viền chỉ bạc...

        «Có lẽ là của bà vợ ông A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích chăng ?» — Na-ta-sa thầm đoán.

        Một sự tò mò, kinh ngạc và thông cảm xâm chiếm lòng cô. Đã bao năm tháng, những vật kỷ niệm vô cùng quý giá đối với một con người già cả, vẫn câm lặng nằm đây, được giữ gìn cẩn thận; và tựa như bất ngờ, vô tình cô được nhìn vào cuộc đời một con người. Người thiếu phụ mà một thời là «cô Ô-len-ca hoa khôi», đã mất từ lâu kia — bà mẹ chồng của cô rõ ràng là người vợ rất tốt nên mới giữ lại được những ký ức của mối tình chung thủy, lâu bền như vậy. Na- ta-sa trầm ngâm vân vê chiếc nhẫn trong tay, ngắm nghía đôi hoa tai; đôi mắt ấm áp, tươi mát của cô ánh lên vẻ thương tiếc. Cô lại cẩn thận đặt chiếc hộp, như đặt một báu vật vào chỗ cũ...

        Xong xuôi, Na-ta-sa chuẩn bị đi. Một tay mang một bó tròn tất cả các loại giấy bóng và giấy vẽ (cô không đủ sức đề phân biệt tờ nào quan trọng hay không quan trọng dưới ánh nến yếu ớt và trong tiếng đại bác ầm ĩ như thế này); một tay ôm mấy chiếc cặp gồm các bản vẽ và sơ đồ, bản tính toán. Tuy nặng nhưng Na-ta-sa vẫn rất hài lòng vì, theo cô, đã cứu được một công trình lao động lớn của Pa-ven khỏi bị thiêu hủy. Nếu như anh thấy cần, cô có thể nhận lấy trách nhiệm đưa những bản vẽ, những cuộn giấy này tới tận U-ran.

        Không thể trở về nhà máy được nữa vì đã quá muộn và nhất định, cô sẽ bị các đội toàn tra đêm giữ lại. Na-ta-sa quyết định đi tìm bà An-na Va-xi-li-ép-na... Bà già có lẽ đang ở chỗ ủy ban đường phố cách đây năm, sáu căn nhà..., ở đấy cũng có hầm trú ẩn và cô có thể ở đấy cho đến sáng.

        ... Ngay trong đêm ấy, hai mươi bảy đội thanh niên xung kích cũng được lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu đã chiếm lĩnh tuyến trận địa ngoại ô thành phố. Trong bóng đêm, các nam thanh niên với thắt lưng đầy lựu đạn, các thanh nữ với túi cứu thương cố giữ im lặng, vừa khẩn trương và hồi hộp, tiến dọc theo các đường phố phủ tuyết, rẽ vào các ngôi nhà hoặc ngồi ngay trên các đống tuyết mịn màng dọc hàng rào. Một đội tiến đến cuối phố Pô-rô-khô-va. Xa hơn một chút, sau những hầm hào ở ngoại ô là cánh đồng trống trải mờ mờ màn sương mù dày đặc; trên bầu trời, những làn đạn loang loáng màu xanh, vàng, đỏ của trận đánh gần đấy đang vạch màn đêm.

        — Hãy kiểm tra vũ khí! Chỉ được bắn khi có lệnh! — Người chỉ huy nhắc nhở khi đi kiểm tra các chiến sĩ. — Không được chạy trốn xe tăng dưới bất cứ hình thức nào...

        Những phút chờ đợi nặng nề và chậm chạp trôi qua dưới làn gió rét buốt như kim châm mang theo mưa tuyết, hoặc trong các ngôi nhà gỗ lạnh giá với những khung cửa sổ tạc các mẫu hoa văn trang trí đã bị tuyết bám thành băng.

        — Ta hát một bài gì chứ nhi? — Có ai đó lên tiếng. — Thời gian sẽ trôi nhanh theo bài hát...

        Nhưng chẳng ai hát cả. Các chiến sĩ trẻ đang căng thẳng trước trận thử lửa đầu tiên Mỗi người đều chuẩn bị đón nhận nó theo cách của mình: người thì cho tay vào lần áo ngực sưởi ấm đề khi ném lựu đạn khỏi bị cóng ; người khác thì đang thổi thổi hơi ấm vào mặt kinh cửa để trông cho rõ hơn mảnh trăng khuya đáng lẽ có thể đứng ở ngoài khoảng rộng để ngắm được ; người thì đang nhẩm nhớ lại những qui tắc đánh xe tăng ; còn người khác mím chặt môi cố gắng kìm cho khỏi cơn run mà lòng không muốn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2020, 06:39:50 am

       
*

        Ủy ban đường phố Pô-rô-khô-va do bà An-na Va-xi-li-ép-na làm chủ tịch, làm việc trong tăng hầm của ngôi nhà bằng đá ngay góc ngã tư giáp với phố Stư-cô-va. Trước đây, nó là một quán rượu —  «Nơi sưởi ấm», như những người sống lâu năm ở đây vẫn còn nhớ rõ, — về sau là nhà kho thành phẩm của một hợp tác xã thủ công nghiệp ngành da « Cô-gi-ép-ních»1. Cho đến nay, cái mùi ngây ngấy thum thủm của da thuộc vẫn còn phảng phất trong tầng hầm rộng rãi, xây theo kiều vòm cuốn. Trong đêm nay nó còn đượm thêm mùi xà phòng giặt, mùi xút, mùi quần áo ẩm ướt và hơi nước ấm áp tỏa ra đến tận trần hầm đen xỉn.

        Mấy bà — gồm An-na và các bạn láng giềng — đêm nay đang giặt quần áo cho các chiến sĩ chiến đấu ở các trận địa gần đây. Một đại đội  tăng và tiểu đoàn pháo đang đóng ngay trong giường phố Pô-rô- khô-va, trong các vườn cây và sân nhá ven nội. Nhân dân khu Bờ Sông, đang làm những gì có thể được để chăm sóc, nuôi nấng những người đang chiến đấu, bảo vệ họ... Từ tối đến giờ, họ đã bắn pháo không ngừng — khẩu pháo này vừa im tiếng thì khẩu khác lại gầm lên; những tiếng nổ đanh, gọn dội vào tràn vòm thấp nghe như từng mảng tuyết rơi lộp bộp trên mái nhà. Bà Na-xchi-a, vừa ngẩng đầu lên nhìn vừa đưa cánh tay xoa xoa khuôn mặt ướt sẫm, nói:

        — Nghe không, nghe không, đại bác của ta bắn đấy!

        — Các bà ạ, cầu cho họ được sống đề trở về nhà, — bà Vác-va-ra Ê-gô-rốp-na béo phị, mờ mờ trong làn hơi nước như mây phủ, lên tiếng. — Thật khổ sở, tối như bưng lấy mắt thế này, chỉ vấp nhau mà chết thôi! — Bà thở dài đánh thượt..

        Gần nửa đêm, điện trong nhà đột nhiên tắt hết. Chỉ có một cây đèn dầu nhỏ với mảnh sắt tây phản chiếu treo trên tường đang hắt ánh sáng yếu ớt trong bầu không khi đẫm hơi nước.

        Na-ta-sa bước xuống tầng hầm và không nhìn thấy ngay bà Ôn- ga — những bóng người mờ mờ đang cử động trong màn hơi nóng ấm; tiếng phụ nữ gọi nhau, tiếng nước róc rách, tiếng dép cao su lẹp xẹp... Nhưng giọng nói trầm, ồ ồ của bà cô Pa-ven đã vang lên. —  Tè ra bà đứng gần ngay cửa tầng hầm và đang nói chuyện với một người đàn ông mặc bành tô, trông dáng diệu có lẽ cũng là người vừa mới đến. Khi Na-ta-sa vui sướng đi vội tới thì bà đứng nhón chân lên, vẫy vẫy tay đang đầy bọt xà phòng, gọi:

        — Na-xchi-a!

        Bà chỉ lướt nhìn cô cháu dâu và không hiểu tại sao lại cau mày tựa như không hài lòng lắm khi thấy cô đến đây. Từ sau hàng cột vuông chống đỡ mái vòm, bà Na-xchi-a xuất hiện, những túm tóc ướt sẫm xõa trên trán, đôi vai trần nhòa đi trong màn hơi trắng đùng dục.

        — Bà đứng đây thay tôi một lát, bà Na-xchi-a!— Bà An-na ra lệnh. — Hôm nay không thể giặt phơi hết được đâu... Cái gì chưa kịp thì cứ ngâm lại đấy. Có thể, phố ta hôm nay sẽ căng đấy. — Ai không có việc thì không được lên khỏi hầm. Hãy cho tất cả những ai chạy đến đây xuống hầm. Bà nhớ đấy, đừng có làm ầm ĩ lên, đừng có mà điên đầu đấy, lát nữa tôi sẽ về ngay...

        Bà lau tay ướt vào tạp dề và cẩn thận gài cúc ống tay chiếc áo cánh xa tanh đen bạc màu vẫn quen dùng.

        — Chị Liu-bốp Mi-khai-lốp-na, cho tôi gặp tí... — Bà gọi người phụ việc.

        Bà già có vẻ caư có với Na-ta-sa hơn. Khuôn mặt xương xương với chiếc mũi lo bè, chiếc trán đô, đôi lông mày vòng cung, hai hố mắt sâu và chiếc cằm, tạo nên một vẻ điềm tĩnh nhưng buồn buồn, mệt mỏi.

        — Tập hợp tổ tự vệ lại. — Bà lại ra lệnh cho một phụ nữ trẻ vừa hiện ra sau hàng cột. — Đưa Tơ-rô-phi-mốp và hai chị em nhà Ô-gô-ren-cốp đến đây... Tôi phải đi gặp chỉ huy đội thanh niên xung kích. Họ gọi tôi, có lẽ có việc gì đó cần giúp đỡ; lát nữa về, tôi sẽ nói...

        — Cô-li-a Ô-ga-ren-cô-va đã có một nhóm rồi. — Người phụ nữ cỏ tên là Liu-bốp Mi-khai-lốp-na khẽ nói (Na-ta-sa có nghe nói chị là giáo viên tiếng Nga và văn học ở trường trung học khu Bơ Sông). —  Còn tất cả những người khác đều đang ở trạm trung tâm... Tôi ra ngay bây giờ đây, chỉ còn mặc chiếc áo nữa thôi.

------------------------
        1. Người thợ thuộc da.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2020, 06:40:13 am

        Chị lại đi khuất sau hàng cột. Bà già quay lại cô cháu dâu.

        — Cháu ghé thăm cô đấy à, Na-ta-sen-ca, cô suýt quên mất cháu đấy, — bà Ôn-ga nói, vẫn không cười. — Cháu hãy về nhà trước đi.

        — Cháu ở nhà đến đây đấy, cô An-na ạ! Ở đó vẫn bình thường, — Na-ta-sa đáp, giọng vang vang.

        — Có gì mà lại không bình thường được... Nhà ta sẽ dùng làm trạm cấp cứu sơ bộ. Cháu hãy thay vải trải giường đi; vải sạch trong tủ quần áo, ở ngăn giữa ấy. Đặt ấm xa-mô-va lên để lúc nào cũng có nước nóng...—Bà già nhắc cô.

        — Đi ngay bây giờ ạ? —Na-ta-sa hỏi, vẻ hoang mang.

        — Nhanh nhanh lên... Còn Nhiu-ra đâu, làm gì mà rề rà thế cháu ?

        Một em gái gầy gố, mặc chiếc áo dài cộc tay bằng vải hoa, đi đôi ủng dạ đang đứng dưới trần vòm; cô gái lắng nghe bà An-na với vẻ buồn buồn.   

        — Này, đã tìm được công việc cho cháu rồi dấy... Mặc áo ấm nhanh nhanh lên, cháu! — Bà già nói như ra lệnh. — Cháu đi với cô Na-ta-sa của bà, giúp cô ấy một tay. Hãy dọn dẹp mấy căn phòng ở nhà bà cho ngăn nắp, việc này thì dĩ nhiên là hợp với cháu.

        Không hỏi thêm gì nữa, Na-ta-sa trùm khăn lên và vác bó giấy cuộn tròn dài dài, nặng như nòng khẩu súng cối.

        — Cô vác cái này đi làm gì? — Bà An-na hỏi. — Sao lại còn vác nó về nhà nữa? Cứ cất đâu trong góc hầm này cũng được. — Bà ra lệnh sau khi đã nghe trả lời. — Đè đây chắc chắn hơn.

        Na-ta-sa cũng không dám cưỡng lại, mặc dầu cô rất sợ phải gửi những bản vẽ của Pa-ven cho người khác giữ... Nhưng tất cả những gì do bà An-na ra lệnh, cô đều cho là mệnh lệnh phải thi hành không điều kiện.

        Trong khi ấy, các bà, các chị đã ngừng công việc, vươn vai cho giãn xương cốt đến bên người lãnh dạo của mình, im lặng chờ đợi ý kiến gì mới hoặc lời khích lệ nào đó. Khuôn mặt họ cùng những đôi vai trần, những cánh tay ướt sũng, như lay động mờ mờ ảo ảo trong làn hơi bàng bạc như sương. Bà An-na làm ra vẻ như không thấy những ánh mắt đang hướng vào mình, thản nhiên mặc áo bành tô, trùm khăn lên đâu.

        — Bác Va-xi-li-ép-na! Bác Va-xi-li-ép-na!... Các bác sao lại đầy đọa mình thế! Thật khổ cho bác ! — Từ góc hầm chị Vác-va-ra kêu lên. — Bác không thấy gì cả hay sao? Bác đi đâu đấy, bác Va- xi-li-ép-na? Bác đi đâu trong lúc đêm hôm khuya khoắt này.

        — Cô kỳ thật đấy, cô Vác-va-ra ạ, — bước lên "bậc cửa, bà An-na quay lại nói. — Suốt cuộc đời son trẻ của cô chưa bao giờ được sống dưới ánh sáng đèn điện. Cô làm phép cưới cũng ngay dưới ánh nến vàng khè. Cô đẻ thằng con đầu lòng cũng dưới ánh đèn dầu hỏa, tôi còn nhở rõ lắm. Thế mà cô lại không thích nghi được với ở đây.

        — Chúng tôi đã quen với cảnh ở đây rồi đấy chứ, sẽ có điện thôi, — chị phụ nữ vô tâm trả lời.

        Thật ra bà An-na hết sức lo lắng — bà vừa được một đội viên thanh niên xung kích đến báo cho biết là, đội xung kích bảo vệ phố Pô-rô-khô-va đa sẵn sàng đón đánh xe tăng địch ngay trên đường phố này. Cố giấu sự lo lắng, sợ hãi của mình đối với vận mệnh thành phố, cũng như vận mệnh của những con người rất tin cậy ở đây trong giây phút này, bà An-na cảm thấy mình có nghĩa vụ trước họ: mọi người đều có quyền đòi hỏi ở bà những gì lớn lao hơn so với những việc bà đã làm từ trước đến giờ...

        — Cô nói đúng đấy, Vác-va-ra ạ, — bà nhắc lại. — Giờ chỉ có một việc duy nhất là làm sao để không ai có thể cướp nguồn ánh sáng của chúng ta nữa... Mọi người hãy cứ ngồi bình tĩnh ở đây. Nếu có ai ở ngoài vào đây thì cứ việc thẳng thừng hỏi giấy tờ chứ đừng lịch sự làm gì... Khi nào xong việc, tôi sẽ về ngay...

        Bước thêm mấy bậc nữa, bà dừng lại, nói tiếp:

        — Không có việc gì, cấm không được lên trên sân đấy...

        ... Tại ngã tư giáp với phố Stư-cô-vôi đã thấy đặt các vật chướng ngại, các ụ chống tăng và khi len lỏi vượt qua chúng, Na-ta-sa thấy nhiều người đang vội chạy xuống hầm. Một màn sương mù mờ đục, bàng bạc, tựa cơn gió nhẹ, chao đảo trên khu Bờ Sông, lúc đứng lặng, yếu dần, lúc lại lướt đi, sáng xanh lên tựa như có ánh chớp xuyên vào. Khi ấy toàn cảnh đường phố Pô-rô-khô-va đã trông rõ hơn: những ngôi nhà nhỏ một tầng, chen chúc nhau chật chội, cái này dựa vào cái kia, những dãy hàng rào, vườn cây chìm ngập trong tuyết trắng cũng im lìm dưới cái ánh sáng mờ ảo, lạnh băng ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2020, 06:40:34 am

        Na-ta-sa và cô gái bạn đường nín thở, vội chạy qua đường về nhà. Sau đó lại hối hả thu xếp, dọn dẹp căn nhà cụ Grô-mốp An- đrây thành trạm cấp cứu... Khi Na-ta-sa đang bận lục lọi các ngăn tủ của bà An-na, thay các khăn trải giường cũ kỹ, vá víu, nhóm bếp lò thì Nhiu-ra quét tước sàn nhà. Sợ người ta mang thương binh đến sớm họ làm việc nhanh hơn, hầu như không nói chuyện gì với nhau và đôi lúc làm cho ánh nến chao đảo vì những động tác quá nhanh nhẹn. Cuổi cùng, ấm xa-mô-va réo sôi. Nhiu-ra quét rác ra sân rồi quay vào, ngồi trên chiếc rương đặt cạnh cây đa làm cảnh.

        «Cứ như chuẩn bị ngày lễ ấy », — Na-ta-sa thầm nghĩ và tự thấy sợ hãi về ý nghĩ này. — «Bây giờ chúng mình đang chờ khách đến đây...».

        Chị thấy nóng bức; hai má rừng rực nhưng vai thì lại lạnh buốt. Chị liền nằm xoài ra, cuộn mình lại, hai tay ôm lấy đầu như kiểu mỗi khi bị ốm lúc còn trẻ thơ. Chị ghé sát vào Nhiu-ra và cô gái ôm choàng lấy, ngả đầu xuống vai chị.
— Em đừng sợ... Đừng sợ gì cả, em đã lớn rồi cơ mà, — Na- ta-sa lắp bắp nói ngắt quãng, — quân ta nhất định sẽ đánh tan bọn Đức.

        Cô bé gái khẽ cầm tay chị, xoa xoa...

        — Ối, sao tay cô lạnh thế này! — Cô thốt lên. — Ôi, lạnh quá! Để cháu bóp cho ấm lại...

        Cô bé nắm chặt lấy bàn tay mũm mĩm của Na-ta-sa, bàn tay quá to so với bàn tay của em.

        — Cháu biết cô từ lâu rồi... — Em vẫn nói chuyện, giọng ngọt ngào, buồn buồn. — Còn cô thì không biết cháu đâu... Cô là vợ chú Grô-mốp, chú Pa-ven, ở đây ai mà chả biết. Cô từ Mát-xcơ-va đến đây với chú ấy, thế mà lại không gặp... Thật tội nghiệp cho cô, tội cô quá!...

        Cô gái bóp tay Na-ta-sa quá mạnh đến phát đau lên và chị phải nhăn mặt lại, khẽ rút tay ra.

        — Cô ư ? Cháu biết cô à ? — Bây giờ chị mới nhìn cô bé giúp việc của mình.

        Nhiu-ra mới khoảng độ mười bốn, mười lăm tuổi... Hai mái tóc bện đuôi sam dày, cồ cao, cử chỉ hơi vụng về. Khuôn mặt gày làm cho em trông càng khô khan và quá nghiêm túc.

        — Không sao đâu, cô Na-ta-sa ạ, rồi sẽ qua đi thôi. — Cô nói, tựa như an ủi bạn gái. — Có phải chiến tranh có thể giết hết mọi người đâu. Chồng cô đã có mảnh đạn nhỏ nào bén vào đâu. — Cô lại xoa xoa và bẻ gập các ngón tay chị lại. — Cháu và mẹ kế cháu lúc nào cũng cứ lo lo cho bố. Cháu nói với bà là : cứ lo trước rồi thế nào cũng gặp tai nạn đấy mẹ ạ.

        Tiếng đại bác gần đấy vang lên và kính cửa rung bần bật: Na- ta-sa ôm lấy đôi vai lạnh.

        — Cháu ở với mẹ kế à, Nhiu-ra? — Chị hỏi không tự nhiên.

        — Vâng, với mẹ kế... Thế thì sao hả cô? Mẹ đẻ cháu mất từ lâu rồi! Bố cháu phải lấy vợ hai. Lúc ấy, bố cháu còn trẻ lắm, bố chả có lỗi gì cả mà.

        Ngọn nến nhỏ cứ chao đảo liên hồi vì sức gió vô hình nào đấy, bóng tối mờ ảo trong căn phòng cũng như rung rinh, chao đảo và có cảm giác như căn nhà cũ kỹ, ọp ẹp của cụ A-Iếc-xây cũng đang đung đưa như sắp tan ra; kính cửa kêu lanh canh, lanh canh liên hồi.

        — Cháu thương dì cháu lắm. — Nhiu-ra tâm tình. — Lâu lâm bà chưa nhận được thư bố cháu nên chẳng đêm nào ngủ được. Sáng sớm đã phải đi làm như mọi người, chính cô cũng biết đãy...

        Cỏ gái hình như không hề sợ hãi gì cả. Cô hoàn toàn lo lắng và quan tâm tới nỗi buồn, sự đau khổ của người khác. Cảm thấy hết sức tin tưởng ở người giúp việc nhỏ tuổi này của mình, Na-ta-sa đột ngột đứng dậy và ôm chặt lấy đôi vai gầy gò của em.

        — Ồ, cháu là như thế đấy! Cháu dành lòng thương cho tất cả mọi người, — chị cao giọng, nói.

        — Thật là bực mình quá, đáng giận quá cô ạ! — Nhiu-ra nói. — Gia đình nhà bác Xvét-lốp ở đối diện ngay với nhà cháu có anh con trai đi mất tích; vừa tốt nghiệp lớp mười xong và bỗng dưng đi mất tích... Chính cô cũng hiểu đấy... Vừa nghe biết chuyện này cháu liền chạy tới thăm hai bác ấy. Cháu lau nhà, gọt khoai tây giúp. Hai bác ấy gặp được thứ gì ăn thứ ấy...

        — Chà cháu thật là!... — Na-ta-sa nhắc lại, và ôm chặt cô gái kỳ lạ vào người, hài lòng vì sự có mặt của cô ở đây. — Cháu thật là tốt bụng.

        — Có gì đâu... Tổ chức đoàn Côm-xô-môn trường cháu hoạt động không đến nỗi tồi. — Nhiu-ra giải thích. — Chúng cháu đều ghi nhớ rõ những gia đình có điều bất hạnh, không may. Cháu cũng đã đến giúp mẹ của Trô-sin — anh ấy bị hy sinh ngay trận đầu tiên — cũng chỉ là lau sàn nhà giúp thôi. Bác ấy thật vất vả. Giờ chỉ sống có một mình...

        Cô gái thở dài và nói tiếp, có vẻ chín chắn kiểu người lớn.

        — Có ai muốn đẻ con ra cho chiến tranh đâu...

        Cuộc pháo kích ở ngoài đường phố đã chuyển gần đển nhà cụ Grô-mốp và Na-ta-sa không chịu được nữa...

        — Em có nghe không ? Cần phải biết là nên làm gì bây giờ. Em nghe thấy chứ! — Chị kêu lên.

        Nhiu-ra cũng đứng bật dậy khỏi chiếc rương gỗ.

        — Cô ngồi đây nhé, — cô gái nói. — Còn cháu sẽ chạy ra xem xem.

        — Sao lại thế! Em ngồi lại đây.

        Na-ta-sa cũng đứng dậy; đôi mắt tròn to của chị long lanh... Một giây sau chị đứng sát vào tường, kéo theo Nhiu-ra. Những tràng súng máy đã rộ lên ngay ngoài bậu cửa sổ? Có người nào đó đứng lại trên đường và hét ầm lên như gọi gì đó; một người khác chạy sát ngay tường... Na-ta-sa bỗng lại nghĩ tới Pa-ven.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2020, 06:41:05 am

        « Phải chăng là anh ấy? Anh ấy đang ở đâu?» Nhưng chị lại im lặng, tim đập rộn lên.   

        — Ngoài ấy có người bị thương... Em có nghe thấy không... Có người đang gọi...

        — Để cháu chạy lại xem, — Nhiu-ra nói.

        — Không được đi đâu cả... Cháu không cần thiết, — Na-ta-sa thì thào.

        Với nỗi lo lắng trong lòng, chị kéo cô gái vào sát mình. Chị hôn thắm thiết lên mặt cô gái. Và chị chạy ra bậc thềm — nhanh, nhẹ nhàng dù thân hình hơi mập béo.

        — Đóng cửa hộ cô với... — Chị vừa nói vừa mặc bành tô. —  Nếu có ai gọi phải hỏi to. — Ai? Cháu đưa... đưa cho cô chiếc túi cứu thương. Lạy trời, chút nữa thì quên!

        Chị cố thở vào thật sâu nhưng không được.

        — Cháu cùng đi với cô, — Nhiu-ra cũng kêu lên. — Cháu chỉ cần ngó một tí thôi rồi về ngay.

        Nhảy ra hành lang, cô gái vấp phải bậc thềm ngã quì gối xuống. Có lẽ bị đau quá, cô nhăn mặt lại, và cứ ngồi vậy, cố rướn tay đưa chiếc túi cứu thương.

        — Chà cháu! Đã bảo mà, sao lại thế. — Na-ta-sa gượng nói. — Cháu không căn phải đi với cô đâu. Cô đi một mình, một mình thôi...

        Trên khu Bờ Sông rực lên một màu hồng hồng, huyền ảo, lạnh ngắt. Khi Na-ta-sa vừa chạy ra tới đầu nhà, thì một luồng sáng đỏ mờ mờ như chiếu thẳng vào cô, sáng cả sân. Bất giác, cô cảm thấy vui mừng vì lần này, nếu được chết trong ánh sáng vẫn tốt hơn là chết trong bóng tối âm thầm.

        Không gian bỗng yên tĩnh hẳn — không có tiếng kêu, không tiếng súng náo vang lên nữa. Na-ta-sa mở rộng cánh cửa hàng rào, bước qua tấm ván đặt qua rãnh, ra đường và ngắm nhìn xung quanh... Đường phố vắng ngắt, không một bóng người. Có lẽ người ta đã mang những người bị thương đi đâu rồi. Đúng là cô có nghe tiếng người kêu cứu. Để yên tâm hơn, cô quyết định đi đến đầu ngã tư, xem ở dấy có gì không. Di chưa được mười bước, bỗng trong bóng đêm lóe lên một ánh lửa giống như ai đánh bật lửa. Na-ta-sa áp sát vào hàng rào, trên đường phố lại rộ lên những tràng súng máy.

        Na-ta-sa không kịp nhìn xem : ai bắn ai ? Nhưng có một cái gì đó không rõ hình thù đang phun ra những tia lửa vàng, đỏ. Theo cô ước đoán nó ở đầu kia phố. Có lẽ đây là trận đánh, mà theo cô hình dung, trong những phút giây này, chẳng khác gì một con quái vật to lớn, lanh lẹn và đầy sinh khí đang tung hoành...

        Na-ta-sa sợ không dám nhúc nhích, ép sát vào hàng rào và cảm thấy thanh gõ cứng đang tì sát vào gáy mình.

        Khi trận đánh đã tràn đến, súng đã rộ lên sau ngã tư nhưng ngôi nhà ở góc phố, nơi có trụ sở ủy ban đường phố dặt dưới hầm vẫn còn là khu vực an toàn. Bất cứ khoảnh khắc nào trước ngôi nhà phủ mờ màn sương trắng này cũng có thể rộ lên ánh lửa đạn. « Bọn Đức đã vào thành phổ. Chúng nó đang tiến đến đây !» — Hình như có ai đó hét lên ngay bên tai Na-ta-sa.

        Cô rời ngay khỏi hàng rào và chạy ào lên — cô bỗng nhớ ngay đến tập bản vẽ của chồng đang vất ở trong hầm.

        Chao ôi, cô cảm thấy mình là người có lỗi không thể nào biện hộ được ! Cô — chính cô — đã không giữ gìn được, bảo vệ nổi cái công trình sáng tạo quan trọng mà Pa-ven rất quý trọng và tự hào này!

        Và nỗi lo sợ trước sự bất bình chính đáng của anh còn mạnh hơn cả nỗi lo sợ cho chính bản thân cô hiện nay... Nếu bọn Đức tràn được vào ngã tư thì những người đang trốn nấp ở trong hầm, tất nhiên, sẽ rời khỏi đây, nhưng liệu ai, Na-ta-sa nghĩ, trong giờ phút kinh khủng này lại còn lo lắng đến cái cuộn giấy và những tập bản vẽ kia của Pa-ven ? Những cuộn giấy bị vất quên trong góc hầm kia, « trong góc kín đáo » như lời bà An-na nói kia, nhất định sẽ rơi vào tay bọn Đức... và Na-ta-sa, không còn biết gì hơn nữa. rụt đầu lại như thể tránh mưa, chạy ào qua đường. Sau lưng cô cũng vang lên những bước chân chạy vội và cô sợ, không dám ngoái lại... Có ai đó đang đuổi theo, hét gọi cô nhưng cô không phân biệt được rõ tiếng...

        Một chùm sáng lớn màu vàng — trắng bùng lên giữa ngã tư và tiếp theo đó. tựa như không phụ thuộc gì vào chùm sáng kia, một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Chạy lên một bước nữa, Na-ta-sa bỗng sực nhớ ra và nằm úp ngay xuống đường nhựa phủ tuyết... Có ai đó cũng nằm ngay bên cạnh, thúc vào hông cô... Cô lại nghe thêm một tiếng lựu đạn nổ tiếp nữa. Cái bóng người không rõ rệt đó chồm lên cô, nắm lấy tay cô.

        — Bỏ ngay ra ! — Chẳng hiểu gì hơn, Na-ta-sa tức giận quát lên:

        Cô định giằng ra nhưng một cánh tay đã ấn lưng cô xuống. Cô nghiêng người ghé nhìn qua vai... và cô thấy, ngay trên đầu mình, cặp mắt long lanh, sáng rực của Nhiu-ra — mặt cô gái hầu như ghé sát vào mặt chị.

        — Em đến đây làm gì?... Chạy ngay về nhà đi ! — Na-ta-sa tức giàn nói.

        — Đừng đứng dậy, không được .. — Cô gái cũng hét lên, vòng cả hai tay ôm chặt hơn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2020, 06:54:39 am

        Giở đây súng đã nổ ở trước ngôi nhà góc phố — trận đánh lan tới ngã tư... Trên bầu trời rực sáng tựa cực quang phương Bắc, từng đợt sóng bụi tuyết và khói màu tím sẫm nối tiếp nhau trong làn ánn sáng xanh xanh lạnh ngắt, những bóng đen phủ lên mặt tuyết trắng...

        — Thật bất hạnh! Bò ngay về nhà !— Na-ta-sa lại giận dữ và cầu khẩn. — Đừng để cả hai bị giết một cách vô nghĩa, ngốc ạ!

        — Còn cô thì sao? — cỏ gái hét hơi thở nóng hổi phả vào mặt Na-ta-sa... — Còn cô thì sao? tốt nhất là cả hai cô cháu cùng...

        Từ sau góc nhà có người nào đó chạy vụt ra và phóng sang phía bên kia đường... Ngoảnh về sau. người đó ngừng lại trong giây lát, nổ súng và rán hết sức chạy tiếp lên trước. Từ trong màn đêm tím thẫm đó lại xuất hiện người thứ hai, khẩu tiểu liên run lên trong tay... Ánh lửa ngắt quãng soi rõ khuôn mặt có ria của người đó. Qua ánh sáng bùng lên, Na-ta-sa trông rõ đôi mắt nheo nheo và bộ ria viền quanh miệng rộng mở, có vẻ như người đó vừa bắn vừa cười. Nhưng hình như nó không trúng vào ngươi đang chạy trước, mặc áo ca pốt lính dù, đầu đề trần — nhảy sang bên và biến vào một hàng rào .. Người bắn tiểu liên chạy theo bóng hắn.

        Bỗng nhiên trên ngã tư, mọi sự đều ngừng lại những tiếng kêu không rõ từ phố Stư-cô-va theo gió vọng lại — trận đánh đã chuyền sang phía ấy. Gần đấy có tiếng cửa hàng rào kẹt mờ và có tiếng chó con sủa lanh lảnh.

        — Xong rồi đấy, bỏ ra. — Na-ta-sa kêu lên.

        Chị nhổm khỏi vòng tay Nhiu-ra và cô gái cũng đứng lên theo chị.

        Khi cả hai chạy đến góc phố, liền thấy mấy người mang súng, đang đi lại phía họ. Một người trong nhóm, vừa thở hổn hển vừa đi vừa ra lệnh:

        — Hãy tìm kỹ ở đường Ác-xê-nan. Xem kỹ trong sân, nhà kho... Phải lục soát cả đường phố bên cạnh nữa...

        Na-ta-sa không hiểu gì nhưng điều chính là người chi huy đó nói tiếng Nga.

        « Thế là đã đánh lui »... Na-ta-sa sung sướng thầm nói.

        Ở ngã tư không còn bóng người nào nữa. Nhưng ở dưới tầng hầm ngôi nhà góc phố vẫn vọng ra nhiều tiếng người kêu, nói. Vừa bước theo những bậc cầu thang phủ băng, Na-ta-sa vẫn phân biệt được giọng kim the thé nổi lên trong tiếng ồn ào:

        — Các bà ơi, còn chờ gì nữa ? ! Phải bắn chúng ngay tại chỗ... — Từ dưới hầm vọng lên tiếng nói như trẻ con.

        Ở dưới hầm này hình như đang có chuyện gì khác thường: tiếng mấy bà cùng la hét lên, chạy nhốn nháo nơi này, nơi kia. Một thanh niên tay cầm cuốc chim, — có lẽ là trong tổ tự vệ — đi qua Na-ta-sa vào gỏc hầm, tay giơ vũ khí của mình lên. Lát sau, từ trong màn hơi mờ như sương mù — vẫn bao phủ ở đây như lúc nãy — lại vẳng lên :

        — Này cô ơi. bọn Đức cút rồi! Chúng nó bị đuổi chạy rồi...

        — Anh em ta đã đánh tan chúng, — đứng dưới vòm cuốn, Na- ta-sa nói vang vang.— Chính chúng tôi đã chứng kiến mà. Ôi, vừa đến kịp !...

        Chị đi vào góc sâu trong hàm, nơi có bản vẽ của Pa-ven đang đề trên ghế dài, — chúng vẫn nguyên vẹn ở đây ; và, như không thật tin ở mắt mình, chi bèn khẽ cầm, xoa xoa cuộn giấy và mấy cặp bản vẽ... Cùng lúc, tất cả những ai có mặt trong hầm đều dồn về phía góc hầm bên phải lối ra vào; người đứng sau chen lấn người đứng trước. Từ đấy cũng vang lên tiếng nói tranh nhau :

        — ... Chúng ta sẽ tự xử chúng cho nó gọn!

        — Lại mặc đúng như quân ta, cứ tưởng là chúng ta không nhận ra...

        — Xem kìa, trẻ trung đấy chứ! Đồ rắn độc!

        — Còn chờ đợi gì nữa các bà ơi! — Một lần nữa lại vang lên cái giọng kim the thé của bà Na-xchi-a trong cái mớ hỗn âm ấy.

        — Mẹ ơi! — Có tiếng trẻ em gọi. — Mẹ đâu rồi, mẹ ơi ?

        Trùm lên mọi giọng khác là giọng trầm trầm của bà An-na Va-xi-li-ép-na

        — Thôi im lặng đi, các bà ơi. Chị Ca-tê-ri-na, hãy đi gọi bộ đội. tuần tra ở nhà số chín.

        Nhiu-sa cố chen lên và Na-ta-sa cũng lách theo sau... Nhón chân lên, chị trông thấy một người đàn ông mặc áo ca pốt bộ đội. trong góc phòng, bên cạnh mấy chiếc chậu gỗ ngâm đầy quần áo. Hắn ta đang quỳ, ngả người ra phía sau, vai tựa vào tường. Chị Na-xchi-a đứng cạnh, vai khoác khẩu tiểu liên Đức, tay cầm chiếc nòng như cầm gậy.

        — Bắn chết chúng nó đi! — Chị ta kêu lên.

        Còn gã đàn ông vẫn không dám rời đôi mắt sợ sệt khỏi chị, người như khuỵu xuống, ngã hẳn vào tường.

        Ở phía khác còn một tên lính thứ hai, ngồi bệt xuống nền hầm. Thằng này không còn áo ca pốt, có lẽ đã bị lấy đi, — hắn mặc chiếc áo blu dông màu sẫm có hai hàng cúc và hai cầu vai mềm mại. Na- ta-sa hết sức sửng sốt : có mấy tên lính Đức bị bắt vào đây.

        — Nhiu-ra! — Chị gọi, lo sợ cho cô gái. — Nhiu-ra, em ở đâu? Bọn Đức đây này.

        — Chính chúng nó đấy! — Một bà to cao, trùm chiếc khăn trắng quay sang cô. — Chúng mặc như quân ta và tràn đến đây... Chúng nó đến nhưng không thoát được.

        — Nhưng tại sao lại như vậy được ? — Na-ta-sa vung tay ngạc nhiên. — Và chính các bà bắt chúng?

        — Chúng định đánh lừa để bắt chúng ta ấy, — bà nói vẻ trịnh trọng.

        — Ôi, Na-ta-sen-ca, —bà Vác-va-ra Ê-gô-rốp-na béo, mặt lấm tấm mồ hôi, chen đến gần chị. — Suýt nữa thì chúng nó giết mất bà Va-xi-li-ép-na của cô đấy. Ôi, ôi, chúng nó làm gì vậy... Hai cái thằng này nhảy xổ vào chỗ chúng tôi và im lặng, rồi lao đến bên bếp lò... Ôi, tôi không thể, không thể, Na-ta-sen-ca ạ! Không thè nhấc chân lên nữa! — « Này, các anh là ai, ở đâu đến đấy?... » — Bà Va- xi-li-ép-na hỏi chúng. — «Giấy tờ các anh đâu! » — và một tên, cái thằng non choẹt này. chĩa ngay tiểu liên vào bà... Hắn sẽ bắn, nếu lúc đó thím Na-xchi-a không kịp ..

        — Hừ, còn làm ra vẻ tội nghiệp! — Bà già trùm khăn nói. —  Còn khóc kìa, đồ ăn cướp!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2020, 06:55:26 am
   
        Tên lính thứ hai đang khóc thật. Chiếc đèn dầu duy nhất dưới hầm treo ngay trên đầu hẳn, và có thè trông rõ những giọt nước mắt hắn loang loáng trên đôi má tên lính trẻ con này; môi dưới hắn run run và giật giật.

        — Khá lắm, Na-xchi-a không sợ gì cả ! Thím ấy đang cầm chiếc rìu nhỏ, thím ấy bổ củi đề đun mà, — bà ta nói tiếp. — Thế là thím ấy bồ vào khẩu súng," vào tay tên này... Ngay lúc ấy các cậu ở đội tự vệ cũng đến và, tất cả chúng tôi...

        Các bà chen nhau vây quanh hai tên tù binh...

        Trong Na-ta-sa trào lên một cảm giác xa lạ, dặc biệt chưa hề có bao giờ từ trước đến nay — cảm giác hài lòng đầy lo âu và căm giận: nó rất gay gắt và chưa đầy đủ — Na-ta-sa hình như còn chờ đợi thêm điều gì nửa. Và khi nghĩ ràng, hoàn toàn có thể là, hai gã lính Đức này đã bắn vào Pa-ven, cô cũng muốn hét lên như Na-xchi-a: « Bẳn chết chúng đi ! ». Chị cũng chẳng hề động lòng khi một tên trong chúng đã khóc vì sợ hãi hoặc vì đau — bàn tay phải của nó chảy đầy máu. Chị chỉ quay mặt đi để khỏi trông thấy cảnh đó... Tên lính thứ nhất, cựa quậy trên khoảng nền hẹp giữa chậu giặt và tường, lưỡi liếm dôi môi khò nẻ.

        — Chờ cái gì nữa hả ?! — Na-xchi-a vẫn hỏi với một giọng như lúc nãy — Còn chờ gì nữa, hả ?

        Thái độ đó của chị, rõ ràng chỉ là môt hành động tự nhiên, dũng cảm và chị cũng thấy lo sợ... Và chị lại nhắc lại, với một vẻ giận dữ và thất vọng, cốt để động viên mình.

        — Bắn tuốt đi cho xong !

        Cô giáo Liu-bốp Mi-khai-lốp-na vẫn lăm lăm khẩu tiểu liên chiến lợi phẩm, sẵn sàng bắn. Nhưng mọi người xung quanh còn trù trừ chưa muốn trừng phạt hai tên tù binh, có lẽ, họ đang chờ xem ai sẽ là người nổ phát súng đâu tiên vào chúng ?

        — Dù có trừng phạt thế nào đi pữa cũng không xứng với tội ác của chúng! — Bà Vác-va-ra Ê-gô-rốp-na nói.

        — Nhốt nó vào cũi và dẫn đi khắp các đường phố. Sau đó vất vào hố băng, — một người nào đó đề nghị.

        Trong đám đông bỗng có tiếng cười — không phải tiếng cười giận dữ mà là tiếng cười bao dung vì, lời đề nghị này có vẻ thái quá, hoàn toàn không có gì nghiêm chỉnh cả. Bà An-na Va-xi-li-ép-na quay sang phía tiếng nói.

        — Ai nói gì mà ngu ngốc thế? — Bà nghiêm khắc hỏi. — Na-ta- sen-ca, lại đây xem nào, — đến giờ bà mới trông thấy cô cháu dâu. —  Mang cả cái túi nữa... Hãy băng bó cho tên này. Cô thấy không, nó tái đi rồi đấy.

        — Tên phát xít này ấy ư? Thế nếu nó đã bắn chết cô rồi thì sao... — Na-ta-sa thốt lên.

        — Băng cho chúng ! — Na-xchi-a la lên. — Nếu bà sa vào tay bọn chúng thì, có lẽ chúng đã đóng dấu ngôi sao vào lưng bà rồi... Còn chúng ta thì lại băng bó cho chúng!

        — Thế mới là chúng nó, còn đây là chúng ta, — bà An-na nói to, giọng vang vang. — Sao cô lại đi so sánh ta với chúng nó ? Chúng ta có phải là bọn tư bản đâu, mà là người lao động. — Cái điều bà nói lên mang tính thuyết phục, nhân hậu cao cả của con người. — Chúng ta không bao giờ giết những người đã bị quy phục. Na-ta- sen-ca, lại băng cho nó đi, — bà chấm dứt với giọng đày mệnh lệnh. — Cô đã học cấp cứu sơ bộ rồi...

        Na-ta-sa ngoan ngoãn vâng lời, đeo túi cứu thương lên vai, bước đến chỗ tên Đức đang ngồi trên nền nhà. Tên này đưa cánh tay lành lặn lên che đỡ, định lùi lại, cánh tay bị thương cựa quậy và hắn nấc lên, Nhiu-ra cũng đã đến cạnh hắn theo Na-ta-sa.

        — Ngồi im, — em la lên. — Mày được băng bó tốt hơn... Chà, hắn chả hiểu gì cả! Phải giải thích bằng tiếng Đức để nó khỏi sợ.

        Bà An-na Va-xi-li-ẻp-na cầm chiếc đèn dầu trên tường trao cha cô gái.

        — Cầm lấy, cô cháu quý hóa, soi cho cô Na-ta-sa, — bà già nói như ra lệnh.

        Tên lính Đức không có ý đề phòng nữa. Nhưng, đối với hắn, một người phụ nữ trẻ đẹp như vậy lại đang chăm sóc, cúi sát vào hắn quả là điều quá kinh hoàng khiến hắn phải nhắm mắt lại: đôi má béo phị, núng nính như hai chiếc gối nhỏ, giần giật rung lên.

        — Phải rạch ống tay áo ra cho tiện, đõ vướng hơn, — bà Vác- va-ra Ê-gô-rốp-na thở dài, nói.

        — Chờ một lát, tôi sẽ mang kéo đến cho, — người đàn bà trùm khăn nói. Na-xchi-a kẹp khẩu tiểu liên vào nách và cũng bước tới cạnh tên lính bị thương. Im lặng đứng nhìn một lát xem băng bó ra sao, chị bỗng đổi giọng, đè nghị:

        — Đưa tôi giúp một tay. Tôi cũng đã qua một lớp cấp cứu sơ bộ.

        Chị cười ngượng nghịu.

        Được thoát ra khỏi tâm trạng tàn nhẫn, Na-xchi-a hình như có vẻ vui hơn. Cảm giác nhẹ nhõm cũng nhanh chóng lan sang các bà, các chị khác — họ nhộn nhịp hẳn lên, trao đồi ý kiến với nhau... Lại vang lên tiếng cười khi tên lính Đức ngồi sau chậu quần áo giặt, bỗng hắt hơi khi đã được sưởi ấm lại trong tầng hầm này. Liu-bốp Mi- khai-lốp-na chúc nòng tiểu liên xuống, nói tiếng Đức :

        — Geben sie aus... Nienand wirdihnen etwas tun1.

        Chị nhăn mặt lại vì kinh tởm.

        Có tiếng bước chân trên cầu thang, tiếng súng chạm nhau lách cách: các chiến sĩ tuần tra đi xuống tầng hầm. Bà An-na Va-xi-li- ép-na đón họ và đám phụ nữ vây quanh họ... Chẳng mấy chốc, mọi việc đã được giải thích rõ ràng: mãy chiến sĩ Hồng quân cho biết, bọn Đức gồm trên một trăm tay súng tiểu liên cài trang quần áo bộ đội ta, đã lọt được vào một số đường phố và đã lặng lẽ tiến đến tận các ngôi nhà đầu khu phố Bờ Sông, không hề nổ súng Nhưng đến đây, các chiến sĩ xung kích diệt tăng — các chiến sĩ đoàn viên Côm- xô-môn chặn bọn chúng lại, đơn vị pháo binh phối hợp đã nã pháo chặn đường rút của chúng. Để thoát thân, bọn lính tiểu liên này đã đánh tràn vào phố Pô-rô-khô-va, nhưng đến ngã tư phố Stư-cô-va chúng bị chặn lại; một số bị tiêu diệt, một số bị bắt làm tù binh... Trong số những tên sống sót có hai gã này đã bị các bà tước vũ khí dưới hầm.

        — Này các anh ơi, chúng tôi thay các anh cho, — bà đầu trùm khăn vừa cười vừa nói. — Các anh đưa súng cho chúng tôi, còn chúng tôi đổi cho các anh những thứ này, các anh sẽ đứng bên bếp lò, chúng tôi sẽ đánh nhau với bọn Hít-le.

        Đây không phải là những lời trêu chọc mà quả là ước mơ hoàn toàn bình đẳng với nam giới.

        Băng bó xong cho tên Đức Na-ta-sa cũng cảm thấy vui vui khó tả, thấy nhẹ nhàng, thanh thản hơn, lắng nghe bà An-na nói chuyện với các chiến sĩ, chị nhìn bà với đôi mát long lanh, ấm áp và cố kìm lòng để khỏi phải ôm chàm lấy bà cô già nua có vẻ chuyên quyền và khô khan này, để hôn. Tuy nhiên, không phải chi riêng một mình bà An-na Va-xi-li-ép-na mà tất cả những người xung quanh đây, từ chị Na-xchi-a hay thay đổi tính nết đến cô giáo Liu-bốp Mi-khai-Iốp-na đoan trang và bà Vác-va-ra Ê-gô-rốp-na hay cười cũng như hai anh lính Hồng quân đứng tuổi, để ria mép, chân đi ủng da kêu cót két đang hút thuốc lá bằng tàu tự làm kia, đối với Na-ta-sa. quả thực là những con người chân chính, những con người tuyệt vời. Và chị, với tất cả niềm tự hào và hài lòng cũng cảm thấy mình là một con người chân chính, khoan dung như tất cả những người khác.

        ... Nửa giờ sau chị cũng đã băng xong cho một trong hai chiến sĩ Hồng quân để râu, bị thương vì mảnh dạn và đưa anh ta vào trạm cấp cứu ở nhà cụ Grô-mốp An-đrây. Trận đánh vẫn kéo dài suốt đêm. Đến gần sáng, tất cả giường của Pa-ven, bà An-na, cụ A-lếc-xây và chiếc đi văng nhỏ ở phòng ăn đều đã dành hết cho các chiến sĩ bị thương, bê bết máu. Còn Na-ta-sa thì mệt nhoài, da mặt tái nhợt ra.

------------------------
        1. Đi ra đi... Không ai làm gì mày đâu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2020, 06:56:39 am
         
        
9

        Trong đêm ấy, ở văn phòng các ban chấp hành đảng bộ và đoàn thanh niên quận không có một ai cả, trừ mấy người trực ban. Tất cả cán bộ đảng ủy quận đều phải xuống những nơi nào đáng lo ngại nhất — xuống các nhà máy đang chìm ngập trong bóng đêm, các đầu mối giao thông và các tuyến phòng ngự tiền tiêu của từng quận... Qua điện thoại, La-tô-skin ra lệnh cho các nơi phải báo cáo tình hình từng giờ một về ủy ban bảo vệ thành phố; sau đó ông lại gọi điện thoại cho nhà máy bánh mì và nhà máy xay. Ông tin chắc rằng công việc ở các khu vực quan trọng nhất của thành phố hầu như chưa bị ngừng trệ lâu — dòng diện thay thế đã được chuyển ngay về các nơi này... Ngay từ đầu tháng Mười một, ủy ban bảo vệ thành phố đã quyết định phải sửa chữa gấp một cỗ máy phát điện bị bom phá hỏng để đề phòng trường hợp dòng điện chính từ Ca-si-ra bị cắt. Thật ra, với mấy ngàn ki-lô-oát của chiếc máy phát này chỉ đủ đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết hàng đầu mà thôi. Đồng thời với việc sửa chữa gấp này, các xí nghiệp khác ở T. cũng được lệnh của Ủy ban là phải dự kiến những biện pháp đặc biệt khi mất điện.

        — Cần phải đến nhà máy chế tạo máy công cụ, — Sa-rốp nói. — Tại sao các máy nổ ở đấy lại im lặng? Không thể như vậy được...

        — Xong việc ở đây, chúng ta sẽ đi ngay, anh Pi-e A-ki-mô- vích ạ,...

        La-tô-skin nặng nề buông mình xuống ghế bành và đưa tay giụi giụi đôi mi hơi sưng, nhắm mắt lại. Lòng ông chỉ xốn xang một nỗi lo lắng lớn lao — mối nguy hiểm mới đang bao trùm lên T. — việc cung cấp điện lực đã bị cắt. Đây quả là một việc hết sức nghiêm trọng. Hơi lé mắt, ông thấy rõ những người có mặt trong phòng đang đứng cả dậy. Sa-rốp vừa đứng dậy vừa lắp đạn vào khẩu súng ngắn, còn Pô-lu-a-nốp, hơi khom người nghiêng nghiêng lách qua các hàng ghế đi ra ngoài; trông dáng điệu của ông như muốn nói rằng: « Tôi hiểu, tôi hiểu giờ đây không phải là việc của tôi, chẳng còn liên quan gì đến chuyện gạch ngói, đinh móc của tôi nữa. Còn Tê-rê-khốp, trưởng ban quân sự của tỉnh ủy, đang khoác khẩu các bin lên vai: trong nội chiến ông là kỵ binh và rất tin tưởng loại vũ khí dùng cho kỵ binh này.

        — Các anh định đi đâu cả thế này?... Định đi đâu?... Tôi đề nghị các anh ngồi lại! — La-tô-skin nói, hơi gay gắt. — Chúng ta đã ghi: sẽ triệu tập hội nghị đại biểu cán bộ kinh tế đề bàn vấn đề làm ăn...

        Ông vươn vai đứng dậy như muốn tiếp thêm sức lực cho mình... Mỗi một giờ trôi qua hầu như mối đe dọa lại càng tăng thêm đòi hỏi phải xem xét, thảo luận, khắc phục và vượt qua; việc này cũng tựa như khi con người ta đi lên một cái dốc thẳng đứng, nơi mỗi bước đi đều có thể gặp nguy hiểm mới, nhưng lại không thể dừng lại được để lấy hoi... Và La-tô-skin tựa như đang bước tiếp lên cao hơn, xa hơn sức chịu đựng mà người bình thường quen chịu trong những cuộc hành quân đường dài, rất dài...

        — Chúng ta còn có nhiều vấn đề thảo luận, — ông nói tiếp, sau khi trở lại vấn đề bị ngắt quãng, — trước hết, tất nhiên là về các cơ sở cung cấp điện của chúng ta... Khoảng ba bốn ngày tới, chúng ta sẽ có thêm một tuốc-bin nữa hoạt động, cũng vào khoảng một ngàn ki-lô-oát. và sẽ còn tìm thêm những nguồn dự trữ mới... Chúng ta không được và nhất định không thể để cho các xí nghiệp phục vụ quốc phòng bị mất điện — ông rót cốc nước và uống cạn một hơi. —  Đồng chí Pô-lu-a-nốp, — La-tô-skin quay sang chủ nhiệm hợp tác xã, “đồng chí hãy báo cáo cho chúng tôi nghe một vài ý kiến của mình về việc sản xuất các mặt hàng phục vụ kinh tế. Hãy tìm, hãy phát hiện cho được những khả năng chưa được sử dụng tới...

        Vừa ngồi xuống cuối bàn ngay cạnh cửa lớn, Pô-lu-a-nốp lại đứng lên, khoanh tay trước ngực, không ra vẻ phản đối mà cũng chẳng ra vẻ định thanh mình.

        — Đồng chí Ia-cốp Da-kha-rô-vích... — Ồng lên tiếng, trách móc.

        — Tôi nghe đồng chí đây..., — La-tô-skin nói.

        Khuôn mặt ỉu xìu của ông ta bỗng đỏ ửng, nóng lên và dồn máu... Ông hiểu rõ hoàn cảnh của Pô-lu-a-nốp cũng như tất cả những người khác có mặt ở đây.

        — Chúng tôi nghe đồng chí đây... — Ông nhác lại, và không đợi lời đáp, liền đứng dậy. — Chúng ta sẽ không rút khỏi thành phố; điều này thi đừng có ai phải hoài nghi cả — nếu quân địch lọt được vào các đường phố, chúng ta sẽ phá hết tường, nhà, phố xá... Tất cả chủng ta sẽ kháng cự đến cùng và nhất định không dâng thành phố cho chúng! Nếu bọn Hít-le tiếp tục tiến công, chúng ta sẽ chiến đấu đến người cuối cùng... Người duy nhất còn lại!

        Theo thói quen, La-tô-skin đưa tay vuốt vuốt lưng áo va rơi cộm ra ở sau, và im lặng một lát, ông kết thúc một cách khô khan:

        — Chúng ta lại phải xây dựng lại ngay sau khi quân thù bị tống khứ. Chúng ta lại cần rất nhiều gạch ngói, cần nhiều đinh, móc sắt, kèo, xà, gỗ, kích... Hãy nghĩ ngay tới điều này, đồng chí Pô-lu-a-nốp ạ. Ngay ngày hôm nay đồng chí cần chuẩn bị ngay cái việc ngày mai sẽ đòi hỏi nhiều ở đồng chí...

        ... Một lát sau, tất cả các ủy viên ủy ban bảo vệ tinh giải tán:

        Sa-rốp tới nhà máy Chế tạo máy công cụ; La-tô-skin và Tê-rê- khốp, khoác súng các bin, cũng đi đến ban tham mưu phân khu đặc biệt.

        — Chị Ma -ri-a A-lếc-xây-ép-na, gọi ngay điện thoại cho ban chấp hành thành đoàn Côm-xô-môn hỏi xem có thể gọi tới các đội xung kích được không? — Trước khi ra khỏi nhà, La-tô-skin còn quay lại đề nghị.

        — Tôi sẽ gọi ngay. Nhưng đồng chí La-tô-skin, đề nghị đồng chí mặc ấm hơn nữa. Ngoài đường rét dữ lắm, — bà thư ký nhắc nhở.

        Cầm chiếc đèn dầu, bà đi tới cầu thang đứng đấy chờ đến lúc cánh cửa dưới nhà đóng sập lại.

        Vừa bước xuống bậc thang, La-tô-skin lắng nghe tiếng bước chân nặng nề của Tê-rê-khốp sau lưng, bất giác ông nhớ lại:

        « Chúng ta đang nắm tay nhau, tưng toán một, đang chen chúc nhau đi theo con đường dốc đứng đầy khó khan... ». Đó là những lời Lê-nin trong « Làm gì?» — Ông thầm nói với mình.

        Đường phố tối nhờ nhờ, và lạnh dưới hai mươi độ, gió rất buốt nhưng không có tuyết.

        «... Chúng ta đang đi .. trên một con đường dốc đứng, đầy khó khăn, — La-tô-skin lại nhớ lại những lời của Lê-nin. — Chúng ta đang bị quân thù bao vây bốn phía và, hầu như khắp nơi chúng ta phải đi dưới hỏa lực của chúng... ».

        — Anh Tê-rê-khốp, từ lâu lôi đã muốn hỏi, —ông bỗng nói. — Anh có nhận được tin tức gì của cháu trai không? Cháu đang ở Lê- nin-grát, theo như anh nói...

        — Không, không nhận được gì cả, — Tê-rê-khốp trả lời. — Vả lại cũng chả hy vọng gì vì, Lê-nin-grát cũng bị phong tỏa như chúng ta ở đây.

        Khi hai người ngồi vào xe, từ bầu trời đen vang lên tiếng gầm gừ — máy bay Đức đang lượn trên thành phố, tìm mục tiêu...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2020, 07:08:02 am
     
        
*

        Công việc ở nhà máy chế tạo máy công cụ bị ngừng không lâu. Ở đâv có máy nổ tìm được trong đống đồ « phế phẩm », thay thế kịp thời những trường hợp bị mất điện. Nhưng đúng vào đêm có sự cố điện thì chiếc máy nổ này lại đang được tháo ra để thay thế một vài chi tiết. Ở phân xưởng cơ khí, nơi tập trung tổ « công nhân giáo sư » do cụ Ca-da-cốp và A-Iếc-xây Grô-mốp điều khiển, đã đề nghị là phải thử quay tay một số máy. Những người « trẻ hơn » thì quay bộ phận truyền động, còn các thợ cả đảm nhận gia công. Tuy vậy, chưa đến nỗi phải thực hiện ý kiến đó vì, chẳng mấy chốc, chiếc máy nổ đã chạy được và các máy móc được cung cấp điện.

        Cụ A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích về ngay với chiếc « Dip » của mình. Các cụ Ca-da-cốp, An-ma-dốp, Ni-cô-la-ép-xki cũng không muốn trở về phòng ngủ. Tất cả những người khác, dù chẳng tìm được việc gì trong lúc này, cũng không muốn giải tán. Mọi người đều mệt rã rời, đều kiệt sức... Nhưng quả là kỳ lạ, trong cái đêm đầy nguy hiểm này, công việc lại trôi chảy, suốt đêm chẳng ai ngủ... Trong phân xưởng, những ngọn đèn dầu hỏa vẫn sáng, trời vẫn tối âm u nhưng hầu như điều đó không làm ai băn khoăn, xao xuyến.

        — Nào, nào, dịch sang trái! Chà, sống dầu đèn, chết kèn trống, nhưng đây không có đèn cũng chẳng sao, — Ca-da-cốp đùa vui.

        — Rất đúng! Buồn làm gì, người anh em ạ, — ông già An-ma- dốp hưởng ứng.

        —Tốt nhất là có được cái mũ bảo hộ có đèn của thợ mỏ nhỉ... — Ông già Prô-ta-xốp thợ tiện, nói. — Khi chạy máy thì bật lên, khi xong thì tắt đi. Thật là tiện.

        Mọi người hình như đã quy ước là không được kêu ca phàn nàn, sầu não trước những khó khăn mới, mà lại còn có cách đùa vui, trêu chọc nhau và cảm thấy nhờ đấy mà những khó khăn đã giảm đi. Điều chính yếu là máy móc vẫn hoạt động như cũ, chúng lại làm ra vũ khí để ngăn chặn, trừng phạt quân thù. Và ý thức về lòng dũng cảm, về sự bất khuất của mình đã mang lại cho họ thêm sức mạnh, làm trái tim họ rộn ràng tự hào...

        — Sạch đấy chứ, chị Pra-xcô-vi-a? — Cụ A-lếc-xây hỏi, xoa xoa tay vào sản phẩm vừa mài xong. — Độ bóng không cần lắm...

        Thợ phay bào Cu-dơ-nhe-xô-va, ngừng máy vươn vai; mồ hôi lăn tăn trên mặt, mấy sợi tóc rũ ra dưới chiếc khăn chéo, vương trên mắt và, bà mím môi, thổi phù hất mấy sợi tóc lên...

        — Giống như đồ chơi ấy, — chị nói. — Bác có tiện được một mạch như vậy không ?

        — Tôi biết những lời này... — A-lếc-xây cầm lấy thành phẩm mới. — Không chê vào đâu được, chị Pra-xcô-vi-a ạ... Vật báu này không để kho được đâu... Ai được ai không đây...

        Giữa những con người đang sôi nổi, ồn ào chuyện trò ấy, ông già Grô-mốp cảm thấy thật yên tâm, thoải mái. Chính trong những ngày đêm gần đây ông cảm thấy tựa như mình chưa bao giờ bị đau ốm và cái đó đã cổ vũ ông rất nhiều, giờ đây, ông A-lếc-xây cỏ thái độ rất cởi mở, thân ái, dịu dàng với mọi người xung quanh, không còn thấy ghen tuông với lớp trẻ mà có vẻ khoan dung độ lượng hơn. Hình như cuộc đời của ông, giờ đây bỗng được hồi phục lại với một vẻ khác thường; trong lao động và đấu tranh, có thể phát hiện ra điều bí mật chính của tuổi thọ.

        — Tôi không nhận ra bác nữa... Tựa như bác đã uống được nước Tiên, bác như trở lại cái tuổi của chúng tôi. — Liếc nhìn ông già A- lếc-xây, chị Cu-dơ-nhe-xô-va nói.

        — Ôi, chị Cu-dơ-nhe-xô-va, chị quá lời đấy! Chị là một phụ nữ đang trẻ, một phụ nữ xuất sắc... Tôi chưa cảm thấy già đâu! — Ông A-lếc-xây nói đùa.

        Cu-dơ-nhe-xô-va mỉm cười, để lộ hàm răng trắng đều đặn như răng con gái; chị xắn tay áo lên và để lộ cánh tay rắn rỏi, mập mạp của một phụ nữ đã ngoài bốn mươi.

        — Chỉ có điều bất hạnh là, tôi rất ưa những mái tóc vàng, —  đôi mắt ông nheo lại dưới hàng lông mày đa bạc trắng. — Miễn là chúng ta đừng có xô xát nhau nữa.

        — Ôi, bố già giỏi giang của tôi ơi, đó chỉ là chuyện vặt thôi. Nếu muốn thì cứ đến hiệu nhuộm tóc. Ở đấy muốn nhuộm màu gì cũng được, — Cu-dơ-nhe-xô-va đáp lại với giọng đùa cợt như vậy.

        Niềm vui của tôi vẫn còn sống động
        Với đỉnh cao cuộc đời...


        Từ sau bức vách gỗ vang lên một giọng hát. Đó là giọng thanh thanh của Ni-cô-la-ép-xki, một người rất thích hát khi làm việc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2020, 07:09:11 am

        Đêm vẫn lặng lẽ trôi qua; tiếng máy nổ vẫn đều đều như mọi khi, dây cua roa kêu rin rít, phoi sắt loang loáng tách ra khỏi vật tiện, rơi xuống nền gạch khẽ kêu tanh tách. Trên các bức tường nổi lên những bóng người to lớn, cúi lom khom, khẩn trương hoạt động, tựa như đang vật lộn trong cuộc đấu tranh thầm lặng. Thinh thoảng có người nào đó chay vội lại thùng nước, uống vội mấy ngụm cho đỡ khát và lại trở về chỗ làm việc. Những bộ phận hoàn chỉnh của súng cối được chuyển sang phân xưởng lắp ráp chất thành từng đống lớn và ông già Oóc-lốp Pi-e Ki-rin-lô-vích tự điều khiển việc láp ráp, giúp đỡ tổ trưởng Lép-kin... Mỗi chi tiết mới từ các cỗ máy chuyển tới đây được coi như một phát súng bắn vào kẻ thù... Và những người thợ tiện, thợ mài, thợ phay, thợ nguội đang lao động ở đây trong đêm nay cũng có cảm giác: chính họ đã bắn những viên đạn tiêu diệt kẻ thù. Thậm chí khi trên bầu trời vang lên tiếng gầm gừ của máy bay địch đang lượn trên thành phố và các chiến sĩ phòng không bắt đầu nổ súng họ cũng không hề chú ý tới nữa. Họ cảm thấy tựa như chính họ đang tham gia vào trận đánh quyết liệt, nơi con người không có thì giờ để nghĩ đến những hiểm nguy bao quanh họ. Chỉ có mình Vla- xốp, giám đốc và Sa-rốp vừa đến nhà máy, bước vội ra sân để kiểm tra việc ngụy trang ánh sáng.

        Trên bầu trời đêm lóe lên những chùm sao khổng lồ của đạn phòng không. Ở hướng đông phía Bờ Sông hừng lên một đám mây màu đỏ — trận đánh đang diễn ra ở đó. Nhưng khu vực nhà máy vẫn có vẻ yên tĩnh, tin cậy trong màn đêm phủ kín — không hề có một tia sáng nào lộ ra cả... Sa-rốp vén ống tay áo khoác xem đồng hồ. Chiếc kim lân tinh nhỏ xíu chi hai giờ hai lăm phút... Nhưng bỗng một quầng ánh sáng xanh lóe lên soi rõ mặt số đồng hồ, chiếu sáng rực rỡ cánh tay Sa-rốp, soi rõ những bậc tiềm và lối đi phủ đầy tuyết... Ngạc nhiên, Sa-rốp ngàng nhìn và vội quờ tay rút khẩu súng ngắn — trên mái nhà xanh rờn của phân xuởng cơ khí lung linh một pháo hiệu xanh, toàn sân nhà máy rực lên

        Từ lúc nửa đêm, E-vê-min-gơ, sau khi đã lọt được vào câu lạc bộ đồ nát của nhà máy, đang nằm chết cóng chờ máy bay oanh tạc của bọn Đức tới. Hắn nằm ẩn dưới một hố sâu, hẹp giữa một bên là bức tường đổ, một bên là một miếng mái tôn đổ úp nghiêng xuống. Giờ đây hắn chỉ mong tìm được một góc nào ấm hơn để ăn... Gssfn đây, mỗi khi phải đi đêm, hắn đều mang theo chiếc chăn. Nhưng đêm nay rét quá nên cái chăn cũng chẳng ăn thua gì. Cuối cùng, khi đã nghe được tiếng động cơ máy bay, E-vê-min-gơ, lòng đầy vui sướng —  điều hắn chờ đợi đã đến. Hắn nhón chân ngồi dậy, dùng răng cắn lột chiếc găng tay ra khỏi bàn tay lạnh cóng và bắn lên ngay trên đỉnh đầu một phát pháo hiệu xanh rồi vội vàng cuộn chiếc chăn lạnh buốt lại, rời khỏi chỗ nấp. Nhưng hắn không kịp, ngay ngoài đường gần hàng rào nhà máy đã vang lên tiếng chân chạy dồn dập, có lẽ, các chiến sĩ bảo vệ đang chạy tới chỗ hắn. Dù cho Ê-vê-min-gơ có cố vội vã lo trốn khỏi đây chăng nữa, hắn vẫn không thoát đụng đầu với họ. Sau một vài phút, bọn máy bay oanh tạc đã ào đến, gầm rít lượn quanh, sà thấp ngay trên khu vực nhà máy...

        E-vê-min-gơ thấy người nóng ran... Nằm xoài ra tuyết, hắn rụt đầu vào cánh tay, nheo mắt lại. Mọi sự phẫn nộ, cầm thù của hắn đều dồn vào những người đang cùng hắn lâm vào hoàn cảnh nguy hiểm... Những con người thật khó hiểu đối với hắn — sao vẫn có thể ngoan cố kháng cự, — nhưng đồng thời họ lại là những con người mà hàng ngày, hàng đêm có thể mang lại cho hắn cái chết nhục nhã. Ngay giây phút này, hắn có thể bị tiêu diệt mất tang, mất tích, hoặc hàng trăm mảnh bom sẽ xé tan hắn ra... Để giảm bớt nỗi kinh hoàng, E-vê-min-gơ lẩm bẩm đếm:

        — Eins, zwei, drei, vier, funf...1

        Hắn cố đếm thật bình tĩnh để khỏi lẫn (đôi khi trong những lúc ác liệt, cái phương pháp này đã cứu được hắn)... Nhưng bỗng hắn quên bẵng là sau số năm là số gì ? Nỗi lo sợ và căm thù đã làm hắn lú lẫn, mất hết trí nhớ... Hắn cứ lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại như cầu kinh:

        — funf, funf, funf...

---------------------
        1. Một, hai, ba, bốn, năm...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2020, 07:10:21 am

       
*

        A-lếc-xây Grô-móp đã làm xong nửa định mức của ca ba; ông dừng tay, vén tay áo rách lên, lững thững bước ra hành lang hút thuốc... Nhưng ngay lúc ấy, ông thoáng nghe tiếng ông bạn già An- ma-dốp mượn con dao tiện của người bên cạnh...

        — Lấy dao của tôi ấy, bác An-ma-dốp ạ, có thể hợp với bác đẩy. — ông A-lếc-xây bỗng nói. — Đấy, các dụng cụ đây, cần gì thì cứ lấy...

        Những lời này, quả thật đã gây nên sự vui thú của mọi người vì, ở đây, trong phân xưởng này ai ai cũng biết ông già Grô-mốp rất quý những dụng cụ hiếm hoi mà ông đã tích lũy, giữ gìn hàng nửa thế kỷ đời thợ của mình.

        — Thôi cứ cho mượn từng cái một vậy... Ông có vẻ bốc rồi đấy, — ông già An-ma-dốp nói, vẻ cảm động.

        A-lếc-xây chẳng phải vì vậy mà giận ông ta, chỉ cười.

        — Cứ lấy mà dùng, khi tôi đang hảo tâm... — Ông nói, — cứ lấy đi, ai cần gì thì lấy thứ ấy...

        — Nên hiểu như thế nào đây: cho mượn tạm hay là cho hẳn ? —  Có người nào đó tò mò hỏi.

        — Thì cứ coi như cho hẳn, — A-lếc-xây đáp lại. — Nếu thích thì cứ giữ mà dùng...

        — Ôi, bác A-li-ô-sa! — Ca-da-cốp kêu lên kinh ngạc. — Này, nhớ lấy lời nói đấy, đừng để bay theo, gió nhé.

        — Cứ lấy hẳn đi, — A-lếc-xây lớn tiếng khẳng định.

        Quả thật, ông thành tâm đề nghị như vậy và không hề cảm thấy tiếc tí gì khi phải rời bỏ những dụng cụ đã từng làm cho ông nổi danh. Và nếu như ông còn muốn tiếp tục thi với họ, nếu như ông muốn tranh tài, đua sức với các đồng chí của ông trong đêm nay thì cũng chỉ là vì lòng hào phóng mà thôi.

        — ... Còn nếu tôi có cần thứ gì đó thì tôi sẽ mượn lại của các bác, — ông nói thêm. — Chỉ cần thế thôi.

        — Rất đúng, bác A-li-ô-sa ạ! — Ông già Ca-da-cốp hét lên lòng đầy phấn khởi. — Chà, cuộc sống là thế đấy! — Ông vội chạy đến bên Grô-mốp như muốn ôm chầm lấy ông ta.

        — Bác thích gì, tôi biếu bác. Bác xin gì, tôi cho cái ấy! — Ồng vui sướng nhắc lại, đưa hai nắm tay nhăn nheo đấm đấm vào ngực.

        — Thôi được rồi đấy... Bác thì có gì dùng được nữa... — A-lếc- xây Va-xi-li-ê-vích nói đùa theo.

        Có lẽ đã từ lâu lắm, ông không có được vẻ thanh thản và thỏa mãn như vậy... Một « ánh chớp » trôi trên mái đầu bạc, tóc rối bù như của Pa-ven, nhưng khuôn mặt ông với hàng râu lồm xồm lại bị khuất bóng dưới hàng lông mày rậm.

        Ngoài hành lang, ông già gặp Vla-xốp và Sa-rốp đang hối hả đi vào phân xưởng.

        — Xuổng hầm ngay, — Vla-xốp vừa đi vừa thúc giục, — xin mời mọi người xuống hầm ngay!

        Grô-mốp nhìn theo ông giám đốc và chủ tịch Xô-viết thành phố với ánh mắt thông cảm nhưng pha vẻ chế giễu, lấy hộp thuốc lá trong túi ra và vấn một điếu.

        — Tất cả — xin mời xuống hầm ngay! — Vla-xốp lại hét lên khi bước vào phân xưởng! — Chỉ có đội cứu hỏa mới ở trên này thôi...

        Một tiếng rít bất ngờ réo lên, át đi mọi tiếng động, tiếng ồn khác, xé nát bầu không khí ra và tiếp sau một tiếng nổ bùng lên, tường đá sụt lở, cửa ngoài hành lang tung ra, đập vào tường, một làn gió lạnh thốc vào ông A-lếc-xây Grô-mốp, ngọn đèn trên trần tắt ngấm, một mảng mồ hóng đen ngòm từ trần bay tỏa ra. Ông già A-lếc-xây nặng nề giậm giậm chân, bỗng quay ngoắt, chạy ra sân, nhanh nhẹn khác thường so với thân hình già cả và nặng nề của mình...

        Trong khoảnh khắc đầu tiên, ông khó có thể phân biệt được điều gì: trên bầu trời cao, ông thấy bùng lên và cháy sáng những chùm sao lửa trắng. Còn ở dưới đất, mọi thứ đều chìm trong khói: những cuộn khói xám xịt, bốc lên từ ngôi nhà rèn và trong đó cuồn cuộn những cột khói đặc sệt, nặng nề... Một ngọn lửa vàng chói bỗng lóe lên trên mái nhà phân xưởng dụng cụ ở bên trái... Ngọn lửa đó như nung đốt ông già. Một giây sau, ông chạy vụt lên, lao vào như thể để bảo vệ ngôi nhà của mình...

        Thoáng sau đã có thêm mấy người, mang theo câu liêm, thùng cát đuổi kịp ông ở cửa lớn phân xưởng dụng cụ. Nhiều người chạy theo cầu thang lên tầng trên. Ông cũng chạy theo họ. Tầng hai sáng rực những luồng ánh sáng xuyên qua các cửa lớn bị phá tung. Khi đạp tung cửa vào trong phân xưởng, ông già A-lếc-xây bất giác giơ tay che mắt... Trong gian nhà trống rỗng này, ngọn lửa đang hoành hành: những đám lớn màu trắng - xanh, đang cháy xèo xèo, bốc khói mù mịt, tỏa ra các phía. Trên nền nhà cũng có những lưỡi lửa lớn đang lung linh nhảy nhót, A-lếc-xây Va-xi-ỉi-ê-vích đứng sững lại ở bậu cửa, định tìm cách dập tắt chúng nhưng ông bỗng giật bắn, một mảng lửa văng tới, bốc mùi khét lẹt nồng nặc. Một quả bom cháy, nhanh như mũi tên, xuyên thủng mái nhà, rơi xuống tầng hai, tung chất cháy ra xung quanh. Muốn dập tắt nó lại phải lên chỗ cao hơn — phải trèo lên dầm thượng... Thấy ở chân cầu thang tầng hai có thùng cát, ông chạy tới và nhấc bổng nó lên một cách nhẹ nhàng. Chính ông cũng cảm thấy lờ mờ và rất ngạc nhiên với sức lực mới này của mình.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2020, 07:10:40 am

        ... Đám cháy ở mái nhà bên trái phân xưởng dụng cụ đã được đội cứu hỏa của nhà máy dễ dàng dập tắt; đám lửa do A-lếc-xây phát hiện cũng đã được dập. Nhưng tình hình khu nhà bên phải mỗi lúc một xấu hơn: ba bốn điểm cháy cùng bùng lên một lúc, những chiếc đòn tay cháy xèo xèo như diêm. Khi đội cứu hỏa của thành phố phóng xe đến thì đám cháy lớn đã lan khắp cả hai tầng gác: một phần mái sạt xuống, gió thổi mạnh dưa ngọn lửa tạt cao đe dọa lan sang các dãy nhà khác. Những chiếc thùng gỗ rỗng, đổ ngổn ngang ở đây có lẽ đã hàng năm nay, cũng đang cháy phàn phật; bụi bặm, mồ hóng từ trên mái nhà bị gió cuốn bay. thành từng đám đen đặc, mang theo tàn lửa rơi xuống khu nhà cơ quan quản lý, vào phòng thiết kế hiện được dùng làm xưởng lắp súng cối.

        Mọi người đã đấu tranh với lửa suốt nửa giờ liền nhưng không hiệu quả. Giờ đây, mọi cố gắng của họ chủ yếu dồn vào việc ngăn chặn không cho đám cháy lan sang các nhà khác. Bất chấp cuộc oanh tạc vẫn tiếp diễn trong thành phố, các chiến sĩ đội chữa cháy và hàng chục người tình nguyện khác dàn thành hàng ngang đang cố bảo vệ những ngôi nhà gần đấy khỏi bị cháy lây... Ông già A-lếc-xây Va- xi-Ii-ê-vích, vẫn đang trên dầm nhà phân xưởng dụng cụ, tay cầm câu liêm. Những chiến sĩ cứu cháy vội vã cưa các đòn tay và ông dùng câu liêm móc chúng hất xuống mặt tuyết. Lúc đầu, người ta còn hét gọi bảo ông xuống nhưng dần dà, đội cứu hỏa coi ông như là đội viên của họ, không xua đuổi nữa. Ông hiểu rất rõ những gì đang diễn ra xung quanh mình. Ông cần phải làm gì trong những phút giây này đồng thời ông cảm thấy, hình như ông không còn là ông già Grô-mốp A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vĩch — một phế nhân, một người hưu trí nữa — mà ông vẫn là chàng trai A-li-ô-sa Grô-mốp hai mươi tuổi thuở nào ở phố Pô-rô-khô-va.

        Khói đen khét lẹt ùa vào phổi, làm ông ngạt thở: một thanh gỗ rơi xuống đau buốt bả vai, nhưng ông không hề buông một lời kêu ca... Nhà máy đang chìm trong đám cháy, phải cứu lấy nó bằng mọi giá. Nhưng song song với ý thức đó, ông còn cảm thấy một cách thực tế: sức chịu đựng của quá khứ, cùng với lòng dũng mãnh như điên đại của quá khứ bốn mươi năm trước đây, đang tràn ngập, thôi thúc trái tim ông. Và hiện giờ, ông cũng đang đấu tranh công khai với kẻ thù hung bạo như lúc bấy giờ... Giờ đây, bên cạnh ông, cũng như thời ấy, vẫn đang có những người bạn trung thành ở phố Stư-cô-va, Ac-xe- nan và Cu-rcô-va...

        — Này, nhanh lên, đừng ngập ngừng như vậy, — vừa thở khò khè ông vừa động viên các bạn. — Ê, những con bồ câu ơi!...

        — Ái chà chà! — Qua tiếng lửa réo, qua tiếng nước sôi xèo xèo ông nghe rõ tiếng kêu đáp lại của những người bạn ở dưới.

        A-lếc-xây móc câu liêm vào chiếc dầm xà, giật giật... Chiếc dầm bật ra, rơi dựng đứng xuống trông như ngọn đuốc khổng lồ bùng lên trong bóng tối, soi rõ toàn bộ khu sân nhà máy, soi rõ những bóng người đang hối hả chạy đi chạy lại ở phía dưới, soi rõ những xe chữa cháy màu đỏ chói, những vết ủng ngoằn ngoèo trên mặt tuyết.

        Cuối cùng rồi ngọn lửa trên các tầng nhà đã bị nước giội tắt nhưng trên mái vẫn chưa hoàn toàn dập hết được. Trong góc sân, một chiếc dầm xà lớn rơi xuống gây nên đám lửa mới ở phân xưởng đồ mộc; bàn, tủ đứng, tủ con và tất cả những thứ gì có ở đấy lại đang cháy bùng lên. Đội trưởng đội cứu hỏa vội ra lệnh cho một chiến sĩ của mình dập ngay ngọn lửa ở đấy... Nhưng trước đó một lát, châng cần đợi lệnh ai. ông A-ỉếc-xây đã tự chạy đến, bất chấp nguy hiềm.

        — Chạy đi đâu? Đứng lại! — Đội trưởng đội cứu hỏa vừa đuổi theo vừa hét ông dừng lại. — Đứng lại, con quỷ già ơi!

        Nhưng A-lếc-xây không nghe thấy gì cả... Những ánh lửa cứ như những con vật vàng sẫm, có đuôi đang chập chờn nhảy múa dưới mái nhà trước mắt ông, cầm câu liêm đuổi theo chúng... Bỗng loạng choạng, mất đà vấp phải cái gì đó, nhưng ông vẫn đến được chỗ chiếc dầm đang cháy, dùng câu liêm lôi chiếc bàn bốc lửa, vất xuống dưới. Ông phải dừng lại một giây, hít thở đầy ngực; chiếc áo ngoài bị cháy sém lỗ chỗ. Nhưng ngay lúc ấy, toàn bộ mái nhà đổ ập ngay sau lưng ông...

        Ca-da-cốp, Ni-cô-la-ép-xki, An-ma-dốp chạy ào ra thềm và thấy rõ người bạn già của họ — ông già Grô-mốp A-Iếc-xây, đang chênh vênh trên chiếc dầm nhà tăng ba: trên đầu, trong bầu trời đêm đen thẳm tựa than, đang nhấp nháy những ngôi sao trắng nhợt nhạt.

        — A-Ii-ô-sa! Xuống đi, bác A-lếc-xây! — Ông già Ca-da-cổp lo sợ hét lên.

        Ông già Grô-mốp lại biến vào đám khói rồi lại hiện ra, vung câu liêm và lại ngã xuống ..

        Ca-da-cốp trông thấy, đúng lúc ấy, một mảnh tôn lởn còn vương lại, mắt chỗ tựa, từ phía sau rơi ập ngay xuống người A-lếc-xây. Mảnh tôn trùm lấy ông, và một ngọn lửa nhọn hoắt tựa ngọn giáo bùng lên ngay chỗ mảnh tôn vừa rơi xuống.

        Mấy phút sau, người ta mới khiêng được A-lếc-xây xuống sân, ông vẫn tỉnh táo nhưng không nói được nữa.

        Hơn nửa giờ sau, đám cháy mới được dập tắt hẳn, mấy dãy nhà nối với xưởng dụng cụ không bị thiệt hại gì và ca đêm lại tiếp tục làm việc. Sa-rốp báo cáo qua điện thoại cho La-tô-skin về tình hình xảy ra ờ nhà máy và nói thêm là không bắt được tên chỉ điểm cho máy bay oanh tạc.

        ... Đến gần sáng, các đơn vị Hồng quân đã chặn được sư đoàn SS ở phía Đông Nam T. nhưng mối nguy hiểm mới lại xuất hiện ở phía Bắc thành phố ; ở đấy, các đơn vị xe tăng và bộ binh địch đang tiến công vào các hướng đối diện từ Đông sang Tây. Hiện nay, chỉ còn một dải vành đai hẹp từ bốn đến năm cây số chiều ngang do quân đội Xô-Viết kiểm soát là còn có thể nối liền T. với vùng hậu phương Mát-xcơ-va...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2020, 07:11:54 am

PHẦN THỨ HAI

1

        Sư đoàn, nơi đại tá Bốt-đa-nốp vừa được đề bạt làm sư trưởng, từ đầu tháng Mười một tới nay đã được nghỉ ngơi sau những trận chiến đấu liên tục hồi mùa thu. Đến cuối tháng, nó đã được bổ sung đầy đủ và trang bị lại: các sĩ quan và cán bộ chính trị mới, thay thế những người cũ đã bị loại ra khỏi vòng chiến đấu và hàng trăm người thuộc các binh chủng chuyên môn khác nhau như công binh, pháo binh, súng cối, thông tin, quân báo, y tá và hậu cần — được cử về các đơn vị. Cũng trong thời gian này, bộ binh được nhận nhiều loại vũ khí tự động mới: trung liên, đại liên, tiểu liên kiểu mới, pháo cao xạ. Còn ở trung đoàn pháo binh thì thấy xuất hiện loại pháo mới, tươi rói nước sơn; tuy nhiên, sẽ phải sơn lại màu trắng ngụy trang. Chiến sĩ cũng được mặc các quân trang mùa đông ấm hơn. Đội vận tải được bổ sung đầy đủ và sửa chữa mới, xe ngựa thay bánh bằng càng trượt tuyết...

        Ở sư đoàn cũng như các đơn vị lớn nhỏ khác tập trung thành lực lượng dự bị của phương diện quân miền Tây đang khẩn trương huấn luyện, chuẩn bị cho các trận đánh mới. Ngoài ra, phải gấp rút hoàn thiện việc trang bị kỹ thuật trong thời hạn hết sức ngắn ngủi, phải làm sao sử dụng một cách tốt nhất thời gian nghỉ ngơi này để nâng cao bản lĩnh chiến đấu của chiến sĩ và sĩ quan, để nắm vững kinh nghiệm tích lũy được trong những tháng chiến đấu vừa qua, và để tiến hành công tác chính trị, tư tưởng. Với tất cả nhiệt tình của mình, Bốt-đa-nốp đã đảm nhiệm bao công việc dồn dập và khẩn trương: suốt từ sáng sớm đến chiều tối, sư trưởng luôn có mặt ở các đơn vị, ở các lớp học chiến thuật và làm việc mải miết ở phòng tham mưu đến tận đêm khuya... Nhưng Bốt-đa-nốp càng nhận thức một cách rõ ràng sự cần thiết sống còn đối với việc chuẩn bị kỹ càng, toàn diện công tác huấn luyện bộ dội bao nhiêu thì, đôi khi anh vẫn cảm thấy băn khoăn và khó xử vì đã bị giữ lại ở hậu phương quá lâu...

        Quả thật, những tin tức từ các khu vực khác của mặt trận, trong những ngày cuối tháng Mười một này, là đáng khích lệ. Rạng sáng ngày 23, Cục Thông tin đã thông báo về quả đấm mới giáng vào các đơn vị địch ở phía Tây tỉnh Rô-xtốp trên sông Đông; ở đấy, cho đến ngày tiến công thứ ba của quân ta, quân đoàn xung kích dã chiến số 49 của Đức, sư đoàn SS «Vi king» và sư đoàn xe tăng số mười sáu đã bị đánh tan. Mấy ngày sau, lại một đòn nữa: các đơn vị của mặt trận Rô-xtốp và mặt trận phía Nam đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Rô-xtốp trên sông Đông; các đơn vị bị tổn thất của cụm tập đoàn quân của tướng Clây-tơ đã vội vàng rút chạy tháo thân về Ta-gan- rô. Tuy vậy, tình hình vùng ngoài Mát-xcơ-va vẫn còn nặng nề, nghiêm trọng và rất hiểm nghèo... Bốt-đa-nốp đã được thông báo đầy đủ. Đôi khi vị đại tá trẻ tuổi cảm thấy thật lạ lùng đến khó chịu trước cảnh sinh hoạt cỏ vẻ thanh bình đang diễn ra chung quanh anh: những làn khói thuốc của các chiến sĩ tỏa ra trên đường ở bãi tập về; những buổi hòa nhạc của các đội văn nghệ nghiệp dư; những dãy quần áo phơi trên hàng rào dung đưa trước làn gió lạnh buốt; tiếng phong cầm nỉ non, tha thiết tối tối khẽ vang lên trên những con đường làng; tiếng cười trong trẻo của các cô gái trong bóng đêm bên các dãy hàng rào.

        Tất cả cảnh sinh hoạt đó đều diễn ra ở các đơn vị trong những giờ phút nghỉ ngơi. Có lần, khi Bốt-đa-nốp nói những suy nghĩ của mình với chính ủy sư đoàn Ma-scốp thì, ngay lúc ấy, tham mưu trưởng sư đoàn, trung tá Vê-xnin liền nhận xét:

        — Đồng chí Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích ạ, vấn đề khá nghiêm túc đấy... Chúng ta sẽ tổ chức lễ chào quân kỳ.

        Bốt-đa-nốp hơi nhíu mày không hiểu, nhưng vẫn gật đầu khi nhớ lại là, khái niệm « lễ chào quân kỳ», trong quân đội Nga có nghĩa là — hãy dưa bộ đội vào kỷ luật chiến đấu, hãy sẵn sàng chiến đấu.

        Trước chiến tranh, trung tá Vê-xnin nguyên là giáo viên môn lịch sử nghệ thuật quân sự, một con người thích phô trương kiến thức, nhất là những khi có dịp nói chuyện với người đại tá trẻ tuổi hơn anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2020, 06:17:31 am

        Theo Bốt-đa-nốp thì, nhiều lúc Vê-xnin đã con cà con kê các vấn đề lý luận, kể về quốc vương Xvi-a-tô-xláp hoặc về Tiu-ren, dẫn đến những công trình nghiên cứu khoa học ít người biết đến. Điều đó đôi khi làm cho Bốt-đa-nốp thận trọng đề phòng — tham mưu trường sư đoàn hình như cố ý nhấn mạnh đến ưu thế lý luận của mình trước sư đoàn trưởng.. Tuy nhiên, lần này, trong thâm tâm đại tá lại thầm đồng ý là Vê-xnin đã nói đứng lúc cái thành ngữ «chào quân kỳ »...

        — Đồng chí đại tá, tôi hiểu đồng chí... Mọi người chúng ta đều sốt ruột. — Ma-scốp nói. — Đồng chí thấy đấy, nào là đại bác mới, vũ khí, trang bị, xe cộ và cả ủng dạ nữa. Thậm chí họ cũng không quên cả những cái nhỏ nhặt, họ gửi cho chúng ta cả túi chườm ấm nữa —  đồng chí đã thấy nó chưa? — Túi chườm để khỏi cóng tay khi đứng trong chiến hào... Trong khi đó, bọn Đức đang tiến đến Mát-xcơ-va, đang bao vây Lê-nin-grát, sản xuất công nghiệp bị thiệt hại lớn lao. Tôi thường hay nghĩ là, nhân dân chúng ta phải lao động như thế nào, phải lao động quên mình, vô điều kiện ra sao để có thể cung cấp cho chúng ta chu đáo như vậy! Tôi vừa nhận được bức thư từ hậu phương, ở đấy, đồng bào, đồng chí chúng ta sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, nhường nhịn mọi thứ cần thiết nhất đề dành cho chúng ta.

        Bốt-đa-nốp lại gật đầu đồng ý: khuôn mặt anh với nước da chai sần, rám nắng của người lính, hơi ửng đỏ cau lại, vẻ bực dọc.

        — Tôi muốn nhắc đồng chí một điểm trong «Bàn về nghệ thuật quân sự» của Khổng Tử... — Tham mưu trưởng lại trích dẫn ngay qua trí nhớ của mình.

        Bốt-đa-nốp sốt ruột chờ Vê-xnin nói hết.

        — Anh Vê-xnin ạ,— anh nói lớn. — Quỷ nào biết được anh đang làm gì! Sáng nay, tôi đến kiểm tra đại đội ô tô: một số lớn xe đến nay vẫn chưa được sửa chữa xong... Làm ăn như vậy là không được!

        Vê-xnin — thân hình gày, hơi gù, ngồi im lắng nghe, đầu húi cua cúi xuống.

        — Rồi nữa, — Bốt-đa-nốp nói tiếp. —,Tôi vẫn chưa nhận được kế hoạch huấn luyện ban đêm. Chúng ta đã thỏa thuận rồi cơ mà, anh Vê-xnin...

        Khi nói những lời này, sư đoàn trưởng hoàn toàn không có ý làm cho người trợ lý gần gũi nhất của mình xấu hổ; anh chỉ muốn nhắc một điều là, ngày hôm nay rất quan trọng đối với toàn sư đoàn, và sau nữa, đối với riêng Vê-xnin.

        «Không dễ gì làm việc với anh. — Trung tá đau khổ thầm nghĩ. — Và tại sao anh luôn luôn «quất» tôi, giục giã tôi như vậy? Chả lẽ anh không thấy được là tôi đã làm tất cả những gì có thể, không thấy là mỗi ngày đêm tôi chỉ ngủ được ba tiếng thôi ư?»

        Vê-xnin thấy sư đoàn trưởng mới là một con người hầu như không biết mệt mỏi, đang tràn đày sức lực, có khả năng làm việc suốt ngày đêm không ngủ; là người hầu như không bao giờ hài lòng với anh, và thậm chí còn cho rằng khả năng anh có lẽ không phù hợp với trách nhiệm của mình. Tham mưu trưởng đã hết sức cố gắng để cho sư đoàn trưởng mới thấy điều ngược lại là: chính cái mục tiêu phòng thủ này là điều mà Vê-xnin đã nghiên cứu nhiều trong lịch sử nghệ thuật quân sự.

        Từ ngày đâu tiên về sư đoàn, đại tá đã phát hiện ngay là mọi người thường kín đáo nhìn anh một cách hiếu kỳ, họ nghiên cứu, đánh giá anh như vẫn thường thấy trong các trường hợp tương tự. Và cần phải nói ràng, anh không thờ ơ với sự đánh giá này. Đồng thời Bốt-đa-nốp cũng thẳng thắn nghĩ rằng, phương pháp tốt nhất để chiếm được lòng tin của cấp dưới là phải luôn luôn có đòi hỏi cao ở mình và ở những người khác — toàn bộ sự kiện khắc nghiệt vừa qua đã dạy anh điều đó. Anh sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu được biết rằng, những người cộng sự mới của anh đã phác vẽ cho mình một ấn tượng: một con người quá ư nghiêm khắc, cầu toàn thậm chí đến mức xét nét, thô bạo đối với các sĩ quan cấp dưới.

        Tận cuối,tháng Mười một, Bốt-đa-nốp nhận được lệnh điều động: toàn sư đoàn của anh được chuyển lên gần mặt trận hơn.

        ... Trời bắt đầu tối, các trung đoàn rút khỏi những khu đóng quân đông dân. Buổi tối trời dầy sao, không gió, Bốt-đa-nốp cưỡi con ngựa ướt đẫm sương đêm đi cùng các đơn vị sư đoàn. Dòng người và xe dày đặc đen thẫm chuyền động, rì rào trên con đường xuyên qua cánh đồng phủ dày tuyết trắng ; các đơn vị của trung đoàn bộ binh đã đi qua, và giờ đến các đơn vị pháo chiếm lĩnh mặt đường. Những chiếc xe bánh xích kéo pháo nặng nề trườn trong bóng đêm băng giá, tiếng xích rin rít, tiếng máy nổ rung rung, kéo theo sau mình những cỗ pháo nòng dài; đoàn xe tải loại ba tấn chở đạn kéo thành một dãy dài như chiếc xích khổng lồ. Những tiếng xe rú máy nặng nề tỏa trên mặt đất... Ánh sáng yếu ớt của những chùm sao xa, mờ mờ lấp loáng trên những chiếc mũ sắt của chiến sĩ pháo binh.

        Bốt-đa-nốp rẽ tới chỗ chính ủy Ma-scốp, cũng cưỡi một con ngựa hung, đang đứng trên một hố bom lớn, ngước nhìn đầu đoàn quân.

        — Các đơn vị lên đường chính xác từng phút... — Đại tá vui vẻ nói. — Đến sáng có thể tới địa điểm mới được.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2020, 06:18:06 am

        Anh cảm thấy nóng bừng, lòng vui vui tự hào khi thấy mình là người chỉ huy cao nhất của đoàn người, xe pháo và các phương tiện quân sự hiện đại, đang tiến ra mặt trận ; và rất hài lòng vì, cuộc hành quân đêm hôm nay chính là cuộc kiểm tra, với ý nghĩa rõ ràng nhất của nó, việc huấn luyện chiến đấu vừa qua.

        — Không thể khác được, họ phải đến địa điểm trước lúc trời sáng, — Ma-scốp nói.

        Cũng như sư đoàn trưởng, anh hồi hộp, xúc động: các trung đoàn đang tiến ra tiền tuyến và sắp đến lúc mà mọi cố gắng của bao nhiêu con người đã tạo nên sức mạnh quân sự, những con người được tôi luyện như chất thép tinh khiết nhất, đã tạo nên những chiếc xe đang gầm rú này, đã tạo nên hàng ngàn vạn viên dạn có sức mạnh kinh hồn này, nay mai sẽ đồng loạt lao vào quân thù.

        — Rét quá nhỉ ? Khung cảnh thật phấn chấn... — Anh hài lòng nói.

        Thúc ngựa bước lên, chính ủy đứng ngay cạnh sư trưởng; những làn hơi thở tỏa ra như khói thuốc vương trên mặt anh.

        — Hôm nay ở trung đoàn pháo binh có nhiều người nộp đơn xin vào Đảng, — anh nói, — Các chiến sĩ đã viết đại để như thế này: «Nếu tôi ngã xuống trên chiến trường, yêu cầu coi tôi như người đảng viên cộng sản ». Các hội nghị đảng ở sư đoàn đều đã tiến hành rất tốt.

        — Anh em trong các trung đoàn không phải là người tồi, —  Bốt-đa-nốp nhận xét ngắn gọn và hơi cụt ngủn.

        — Anh em thật tuyệt vời! — Chính ủy tiếp lời, tin tưởng.

        Bóng đoàn quân mờ mờ, đông đúc vân rì rầm chuyền qua trước mặt họ; hình dáng quen thuộc của các khẩu pháo, của ô tô in trong bóng đêm mờ ảo và có cảm giác như những người khống lồ đang tiếp bước nhau trong cuộc diễu hành, phô trương sức mạnh sắt thép của mình.

        Đứng thêm một lúc, Bốt-đa-nốp và Ma-scốp nhập vào cuối đoàn quân, trao đổi, chuyện trò với trung đoàn trưởng pháo binh và sau đấy rẽ sang đi theo con đường bên cạnh.

        Họ đi trong rừng một lúc — bóng đêm dày dặc hơn ở xung quanh, cành cây vương quất vào người và hai con ngựa hí lên, nhún mình phi nước đại. Thiếu úy Đu-ép, sĩ quan tùy tùng của sư trướng rút khẩu súng ngắn trong bao ra và đút vào túi áo bông Thật ra, động tác này là không cần thiết vì quân địch còn ở khá xa. Nhưng sĩ quan tùy tùng còn rất trẻ và do đó, cuộc hành quân đêm nay làm cho anh phấn chấn, hăng hái. Cố giữ đúng khoảng cách với ngựa của sư đoàn trưởng — đúng một thân ngựa ở phía sau — Đu-ép chăm chú nhìn vào bóng đêm trong rừng và, anh có vẻ bằng lòng với sự cảnh giác của mình sẵn sàng dối phó với mọi sự bất ngờ...

        Sau rừng lại một cánh đồng rộng nữa; một đoàn xe cánh quạt trượt tuyết đang trườn nhanh trên cánh đồng trắng toát — cả một đoàn thuyền trắng tựa như đang giập giờn trên sóng đại dương băng tuyết. Những ánh lửa tím thẫm, rung rung chiếu sáng trước mỗi chiếc thuyền, trông như những ngôi sao đang chập chờn bay trong không trung — đó là những chiếc chong chóng đang quay nhanh và do vậy không trông thấy nó được.

        Khi đoàn bộ binh đi qua cánh đồng về phía Tây, như Bốt-đa- nốp dự đoán, anh đã gặp ở đây một trung đoàn bộ binh nữa vừa trong làng đi ra. Phóng ngựa đến chỗ đoàn quân mới, sư đoàn trưởng ra lệnh cho sĩ quan tùy tùng gọi một người nào đó trong số cán bộ chỉ huy đến gặp anh... Một vài phút sau, anh đã thấy một bóng người cao lớn, mặc chiếc ca pốt dài, đeo khẩu tiểu liên ngang trước ngực, xuất hiện trong ánh tuyết mờ mờ ngay trước mặt mình.

        — Báo cáo, tôi, trung úy Gô-bu-nốp, đại đội trưởng đại đội hai, tiểu đoàn hai, trung đoàn mười hai, có mặt, — người sĩ quan mới tới, vừa thở vừa đưa tay lên chào và báo cáo.

        — Đại đội xuất phát bao giờ? — Bốt-đa-nốp vẫn ngồi trên yên ngựa, không cúi xuống, cất tiếng hỏi lớn. — Có ai bị tụt lại không?... Trước khi xuất phát có được ăn tốt không?... Đạn được cung cấp đầy đủ không?...

        Và, bị những câu hỏi hơi có vẻ hách địch dồn dập, trung úy hơi cuống, trả lời vội vã, lẫn lộn, vội thanh mình.

        Để ngựa đi bước một, Bốt-đa-nốp, sóng hàng cùng các chiến sĩ, quan sát quần áo, súng ống của họ ra sao, và một thứ mùi vị quen thuộc ấm áp làm anh vui vui — mùi bánh mì khô, mồ hôi, mỡ súng —  mùi thuốc lá cuộn — từ trong đoàn quân toát ra. Những đôi ủng kêu nhè nhẹ, rất nhiều tiếng ủng, tuyết bắn lên, thỉnh thoảng có tiếng cà mèn chạm nhau, nhưng không trông rõ mặt các chiến sĩ nhòa trong bóng đêm... Sau lưng Bốt-đa-nốp vang lên tiếng hô :

        — Nhìn bên phải, chào! — Gô-bu-nốp hô cho chiến sĩ đại đội chào, đúng như điều lệnh.

        Đại tá Bốt-đa-nốp kìm ngựa, đứng thẳng dậy trên bàn đạp yên.

        — Chào các đồng chí chiến sĩ đại đội hai! — Anh cất tiếng chào vang vang.

        — Kính chào đồng chí... sư... đoàn... trưởng... — Một chiến sĩ nào đó, cất tiếng. Lập tức nhiều giọng cùng vang lên một lúc:

        — Kính chào...

        Nhưng nói chung lời chào không đều — có lẽ, vì sự xuất hiện của người chỉ huy cao cấp như vậy là quá bất ngờ với họ. Bốt-đa- nốp liếc nhìn đại đội trưởng.

        — Đồng chí trung úy vào bộ đội lâu chưa? — Anh ghìm cương ngựa, nghiêm giọng hỏi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2020, 06:19:28 am

        Gô-bu-nốp đưa tay kéo lại áo ca pốt một cách máy móc, chờ đợi một câu chỉnh khác.

        — Báo cáo đại tá, từ năm một nghìn chín trăm bốn mươi, —  không hiểu sao anh lại đáp với một giọng đượm vẻ lo âu, băn khoăn.

        — Đã phục vụ ở đâu ?

        — Đã ở vùng biên giới... Ở ngay đại đội này. Và cùng đại đội vừa chiến đấu vừa về đến đây... — Gô-bu-nốp lại ấp a ấp úng.

        — Đại đội còn nhiều cựu binh không ? — Bốt-đa-nốp lại hỏi tiếp.

        — Báo cáo đại tá, có các đồng chí như trung sĩ Ru-mi-an-xép, các binh nhì Đvôi-e-gla-dốp, Cô-trê-lốp... Trung úy nêu rõ tên họ các chiến sĩ.

        Đại đội vẫn tiếp tục tiếp bước; các chiến sĩ đều cố tìm cách nhìn sư đoàn trưỏng của mình một cách chăm chú, tò mò, xét nét, kính trọng hoặc có vẻ chờn chợn nữa. Chính con người này, con người với dáng dấp bên ngoài còn khá trẻ này, trong chiếc mũ bông bịt tai bám đây bụi băng đang ngồi trên yên con ngựa cao lợn sẽ dẫn dắt toàn bộ sư đoàn của họ vàọ cuộc chiến đấu nay mai. Và những con người đã trải qua khói lửa thì nghĩ rằng, thắng lợi chung và số phận riêng của họ sẽ phụ thuộc, sẽ do kiến thức quân sự, nhiệt tình, nghị lực, tài năng chỉ huy của con người này quyết định; còn những người mới bắt đầu bước vào cuộc thử lửa sắp tới thí lại nhìn thấy trong con người kỵ sĩ có dáng thấp nhỏ cưỡi trên con ngựa to cao toàn thân đang bốc hơi này lại có vẻ nghiêm khắc nhưng đượm vẻ dũng cảm. Sự xuất hiện bất ngờ của sư trưởng của họ trên đường hành quân này hình như có một mối liên quan trực tiếp tới một cái gì đó cực kỳ khó khăn, hiểm nghèo trong tương lai gần đây.

        Các chiến sĩ không nghe rõ câu chuyện giữa trung úy của họ với vị sư trưởng, nhưng qua những tiếng thoảng tới, thì có vẻ sư đoàn trưởng đang nổi giận và trung úy đang thanh mình. Những chiến sĩ đã từng cùng đại đội trưởng trải qua những cuộc chiến đấu và hành quân, chịu đựng nhiều nỗi vất vả, gian lao giống nhau trên con đường dài từ biên giới tới Mát-xcơ-va thì lại bắt đầu lo lắng cho Gô-bu-nốp.

        Được bất ngờ gặp sư đoàn trưởng — người chỉ huy lớn — như họ vẫn thường hay nói vậy — quả thực, họ cảm thấy xúc động và nghèn nghẹn ở cổ khi thấy hình như đại đội trưởng của họ đang bị sư đoàn trưởng chỉnh mắng... Hàng quân bị dồn lại trên quãng đường ngập tuyết, nhanh chóng chỉnh đốn lại và tiếp tục rảo bước tiến lên. Bỗng nhiên, trong hàng ngũ đó vang lên tiếng hát, trầm nhưng mạnh;

                               Này, đồng chí ơi, chiến tranh đã tới,
                               Xếp mọi việc riêng tư, hãy lẽn đường chiến đấu !


        Qua tiếng hát đó, Gô-bu-nốp nhận ra ngay giọng của Ru-mi-an- xép, một trong những chiến sĩ kỳ cựu của đại đội và, anh thầm vui sướng cảm ơn người trung sĩ thông mình này... Rõ ràng là trung sĩ muốn qua bài hát của mình, tỏ cho sư trưởng biết rằng, trong hàng quân của đại đội hai, tiểu đoàn hai này là những chiến sĩ thực sự từng trải có thể hoàn toàn tin cậy được.

                              Chúng ta ra chiến trường, đầy lòng dũng cảm
                              Chiến đấu quên mình, vì
                              Chính quyền Xô-viết quang vinh.


        một vài giọng ồm ồm, rè rè khác hòa theo điệp khúc. Trung úy cảm thấy dạt dào xúc động — các cựu chiến sĩ của đại đội đã cố gắng, với những gì mình có thể, để giúp đỡ đại đội trưởng thoát khỏi tình trạng khó khăn.

                                  ... Mọi người chủng ta, đồng lòng chiến đấu
                                       Dù phải hy sinh vì sự nghiệp quang vinh!


        Toàn đại đội đồng thanh hòa theo và trong đó, nổi lên giọng nam cao, trong, lanh lảnh. Giọng đó ngân vang những lời cuối cùng, hòa theo nhịp đi hùng dũng. Có thể khẳng định đây là giọng của chiến sĩ mới bổ sung, một tân binh, có lẽ đang cố nén sự hồi hộp của mình trước những sự kiện diễn ra.

                                Đại bác rền vang, đại liên dõng dạc...

        Ru-mi-an-xép bắt đầu đoạn hai. Và, mặc dầu giọng anh rè rè vì bị cảm lạnh dưới làn mưa thu, hay khàn khàn vì nắng hè tháng sáu, trong mưa tuyết mùa dông và không có sức truyền cảm, nhưng Bốt- đa-nốp và Gô-bu-nốp vẫn thích hơn các giọng khác vì — trong đó nổi lên sức chịu đựng kiên trì của người lính.

                                  ... Nhưng, chủng ta, chiẽn sĩ Hồng quân
                                        Vẫn không hề run sợ !


        lập tức cái giọng nam cao, thanh, lanh lảnh của anh lính mới nổi lên tiếp lời.

        Bót-đa-nổp rút găng tay, cúi xuống.

        — Chúc mừng trung úy đạt nhiều thành tích trong chiến đấu! —  Anh vừa nói nghiêm túc, vừa đưa tay ra bắt.

        Tim Gô-bu-nốp nhẹ nhõm vui sướng — chắc là đại tá rất hài lòng trước tinh thần của các chiến sĩ đại đội.

        — Xin cảm ơn đại tá ! — Anh vội tháo chiếc găng tay len, bắt tay và thốt lên lời cảm ơn, mặc dù điều lệnh không quy định.

        — Hy vọng rằng, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ tiến về hướng ngược lại, về biên giới Tổ quốc, — Bốt-đa-nốp nói.

        — Đúng như vậy thưa đồng chí đại tá, — trung úy sung sướng như reo lên. — Tất cả chúng ta đều ước mong như vậy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2020, 06:20:02 am

        Anh giơ tay chào và đuổi theo các chiến sĩ của mình. Bốt-đa-nốp còn đứng lại một lát, đưa mắt nhìn theo đại đội vừa đi khỏi: lời hát xa và nhỏ dần — bóng đêm hình như đã cản nó lại... Tiếp đó lại vang lên tiếng hàng trăm bước chân liên tục khá to, lạo xạo đều đều một nhịp trong tuyết. Trong bầu trời đêm đen thẫm, hằng hà sa số những ngôi sao lấp láy, lấp láy: những chấm to, chấm nhỏ tựa như đang hạ thấp xuống trong không gian vô tận. Chòm Đại hùng tinh sáng lấp lánh, chòm Tiểu hùng tinh long lanh nhay nháy và ngôi Bắc đầu một mình đơn độc ánh trắng lạnh lùng. Rải khắp nửa bầu trời là dải Ngân hà với hàng triệu triệu chấm sáng li ti không thể nào tính xuề, đang mờ mờ tỏa như trong bóng mây rất mỏng. Các đại đội khác lần lượt đi qua, xa dần và tiếng hát cũng tắt hẳn, nhưng đoàn bộ binh vẫn tiếp tục dồn lên.

        Vào quá nửa đêm, Bốt-đa-nốp và Ma-scốp tạt rẽ vào ngôi nhà gỗ bất chợt gặp trên đường đề sưởi ấm. Trong khi Đu-ép đang loay hoay với ấm chè, đại tá cởi áo bông, ngồi bên chiếc bàn chỉ cắm có một ngọn nến tù mừ. Trong ngôi nhà gỗ chật chội, ám khói, giấc ngủ đang say nồng, góc nhà mờ mờ tối; bà chủ nhà đã thức dậy, mang ấm pha chè, bước đi nặng nề lê đôi dép loạt soạt, cạnh bếp lò vọng lại tiếng thở đều đều, bình tĩnh say sưa. Ở đây thật ấm áp, thậm chí hơi ngột ngạt, thoảng mùi bột chua chua nhào từ chiều, quện với mùi thịt cừu nướng khói...

        — Chúng mình có phần nào làm phiền mọi người, — Ma-scốp nói nhỏ.

        — Đúng đấy, hơi bất tiện, — Bốt-đa-nốp gật đầu đồng tình.

        — Vê-xnin có lẽ đang sốt ruột chờ chúng ta, — im lặng một lúc, chính ủy lại khẽ nói. — Cậu ấy đã vượt các đơn vị lên trước.

        Bốt-đa-nốp vẻ tư lự, không trả lời... Anh có cảm giác hình như, có lúc nào đó, đã từ lâu lắm rồi anh cũng đã ở trong một ngôi nhà gỗ như thế này, đã im lặng lắng nghe tiếng dép loạt soạt, ngắm nhìn chiếc trần nhà thấp, ám khói như thế này... Lát sau anh nhớ lại —  là tiếng dép lẹp kẹp của mẹ anh — thường dậy trước lúc trời hửng để chuẩn bị bữa điểm tâm cho cả nhà. Còn anh, chú bed học sinh lớp một Côn-sa Bốt-đa-nốp, thức giấc cạnh bếp lò, nằm im lắng nghe, quan sát sự bận bịu của mẹ, nghe tiếng kêu lách cách của chiếc cửa sắt bếp lò, tiếng nước sôi trong nồi gang và chần chừ xem có nên ngủ rốn một lát nữa hay dậy chuẩn bị đi học. Có cái gì cựa quậy gần chân chú bé, và trong bóng đêm nóng ấm ánh lên hai chấm sáng xanh bí hiểm — con mèo đã ngồi dậy, đang liếm chân rửa mặt. Sau cửa sổ đã hửng sáng — bà mẹ đi vào, xoa xoa đôi tay mềm mại.

        — Cô-len-ca, con muộn mất, — bà cưng nựng xoa xoa đầu đứa con trai. — Dậy đi, con bồ câu nhỏ của mẹ.

        Và cậu bé, lầu bầu vẻ ngái ngủ.

        — Còn sớm mẹ ạ... Sao mẹ dậy sớm thế?

        «Chà, sao giống không khí lúc ấy thế? » Bốt-đa-nốp ngạc nhiên, thầm hỏi mình.

        Anh bất giác thầm nghĩ rằng, trong mỗi làng, mỗi mái nhà mà anh cũng đã sống trong những ngày chiến tranh : những làng xóm, những căn nhà gỗ nơi anh đã ở, đã chỉ huy, đã bố trí các chiến sĩ của mình ấy có một cái gì đó gợi cho anh nhớ lại làng quê căn nhà thân yêu năm gian của gia đình mình Khi phải rút lui để lại chúng trong tay quân thù ở Min-xcơ, ở Xmô-len-xcơ, ở Mê-dư-nhia anh đều cảm thấy như phải từ biệt chính ngôi nhà thời niên thiếu.

        Bà chủ nhà kéo cửa lò và vất cây móc sắt sang bên cạnh. Bỗng nhiên trên bếp lò, ngay dưới vòm trần ám khói trong bóng tối cũng ánh lên hai đốm sáng xanh xanh .— hai ánh mắt xanh biếc của con mèo xuất hiện trong bóng tối hệt như ký ức thời niên thiếu... Bốt-đa- nốp vươn vai và nhìn quanh — hình như anh được đột ngột ghé về ngôi nhà thân yêu, thăm mẹ trong chốc lát. Cái cảm giác đó thật mãnh liệt khiến tim anh rộn lẻn một cách xốn xang và đầm ấm.

        — Các đơn vị bạn thân cận nhất hôm nay cũng lên đường, ghé sát tai anh, Ma-scốp khẽ nói. — Hình như cùng một hướng với chúng ta.

        — Thế à... Có thể là như vậy... — Bốt-đa-nốp đáp lại

        « Các đơn vị bạn gần gũi nhất » đấy là các đơn vị xe tăng cùng làm lực lượng dự bị như sư đoàn anh...

        Chắc chắn là đến nay diễn ra cuộc chuyển quân lớn của các đơn vị, có thể, toàn bộ tập đoàn quân đang thực hiện một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng — các đơn vị dự bị chiến lược của phương diện quân đang tiến lên chiếm lĩnh tuyến trước. Điều này có nghĩa là, các đơn vị mới, rất mạnh, khoảng nay mai thôi, sẽ được tung vào trận đánh lớn ở vùng ngoài Mát-xcơ-va.

        — Còn phải chờ thêm những tin tức chính thức, — Ma-scốp nói.

        — Sẽ có tin tức mới, — Bốt-đa-nốp khẳng định.

        « Sắp tới lúc rồi, hoàn toàn sắp tới rồi»...— Anh thầm nói tiếp đầy ý nghĩa, không phải với Ma-scốp, mà là với bà mẹ mình ở quê. — Mọi việc sẳp được quyết định... Mẹ sẽ nghe thấy, mẹ sẽ biết rõ... ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2020, 06:20:22 am

        ... Tới gần sáng, các trung đoàn đã đến đúng địa điểm quy định và ngay sáng hôm ấy cả Bốt-đa-nốp và Ma-scốp được triệu tập lên Bộ tham mưu họp với tư lệnh tập đoàn quân. Từ đấy họ trở về đơn vị với mệnh lệnh : toàn tập đoàn quân chuyển sang chế độ chiến đấu; sư đoàn của họ đã chuẩn bị sẵn sàng tiến công đẩy lùi và đập tan quân địch. Chỉ còn một điều là chưa có chỉ thị cụ thể — ngày, giờ mở đầu chiến dịch... Và sau đó là mấy ngày liền hoàn thành công tác chuẩn bị khẩn trương, công khai và phức tạp liên quan trực tiếp tới cuộc tiến công sắp tới của một số lượng khổng lồ chiến sĩ, bắt đầu từ việc nghiên cứu từng chi tiết chiến thuật, xác định các hình thức phối hợp tác chiến, điều chỉnh kế hoạch cho tới nhiệm vụ cụ thể của từng trung đội, từng chiến sĩ.

        Trong những ngày này Bốt-đa-nốp bề ngoài vẫn giữ vẻ bình tĩnh, mặc dầu hầu như anh hoàn toàn không được ngủ... Khi quan sát mọi người xung quanh, anh nhận thấy chiến sĩ cần vụ của mình mấy hôm nay cũng không ngủ. Trong ánh mắt của họ, từ chiến sĩ diện thoại, văn thư, liên lạc đều ánh lên vẻ chờ đợi. Khi nhìn vào những bộ mặt mệt mỏi, căng thẳng của các chiến sĩ bình thường Bốt-đa-nốp đã hiểu được phần nào tâm trạng họ cũng rất giống với nỗi lòng mình.

        Theo đề nghị của chính ủy, tại tất cả các đơn vị của sư đoàn đều tổ chức lễ tuyên thệ. Hàng ngàn con người được vũ trang đầy đủ, được biên chế theo từng đại đội, tiểu đoàn một, đã nghiêm chỉnh quỳ một chân trước quân kỳ, nhắc lại lời thể theo các chính ủy và chính trị viên.

        — Tôi, công dân Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết, trong lễ tuyên thệ trọng thể này, xin thể... trung thành đến hơi thở cuối cùng trước nhân dân, trước Tổ quốc Xô-viết và Chính phủ Liên Xô.

        Trong những khu rừng và trên các bãi sân trong làng, trên những cánh đồng khoai tây phủ tuyết và ven các bìa rừng, hàng ngàn con người cùng một loạt cất vang lời thề.

        — Tôi sẵn sàng... chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu và, là chiến sĩ của các lực lượng vũ trang, tôi xin thề, sẽ bảo vệ Tổ quốc một cách dũng cảm với tất cả lương tâm và danh dự, sẽ không tiếc máu và cả cuộc sống của mình để chiến đấu với quân thù, giành thắng lợi hoàn toàn cho Tổ quốc.

        Những hạt tuyết mỏng bay phủ trên đầu, trên vai các chiến sĩ trong hàng quân. Hàng ngàn âm giọng khác nhau đồng loạt vang lên một cách nghiêm trang.

        — Nếu tôi vi phạm lời thề thiêng liêng, tôi sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nhất theo luật pháp Xô-viết, sẽ chịu sự lên án và căm thù của nhân dân.

        Sau đấy, chỉ huy các đơn vị lần lượt hôn quân kỳ đỏ thắm viền dây dù vàng óng ánh, còn lỗ chỗ vết đạn cháy sém. Hôn xong, họ đứng dậy, nhìn thẳng vào cờ, cất vang lời thề hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy của mình trong chiến đấu.

        Rồi, mấy ngày nữa trôi qua, nhưng mệnh lệnh chiến đấu vẫn chưa tới...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 06:57:40 am
   
*

        Cùng với việc lựa chọn hướng cho quả đấm sắp tới, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của lãnh đạo chiên lược là tìm và chỉ ra cho được thời cơ tốt nhất để giáng quả đấm đó, tức là thời cơ thuận lợi nhất đối với so sánh lực lượng ta và địch. Xác định được thời cơ cực kỳ thuận lợi, trong quá trình đấu tranh, trong tình hình không ngừng biến động, khi chỉ một vài ngày đêm, hoặc thậm chí, một vài giờ sớm hơn cũng có thể có ý nghĩa không thể đảo ngược được, khi mà sự vội vàng cũng nguy hiềm như là sự chậm trễ — đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Còn trận phản công lớn ở Mát-xcơ-va thì Bộ tổng tư lệnh tối cao đã quyết định sẽ diễn ra vào lúc mà tiếng gầm của nó có thể nghe được ở sát vùng ngoại ô của thủ đô. Và tính chính xác đáng kinh ngạc của quyết định này — một quyết định không vội vàng nôn nóng và được cân nhắc toàn diện, — đến tận ngày nay không những chỉ là một ví dụ điển hình của nghệ thuật lãnh đạo quân sự mà còn được coi là chiến công vĩ đại của loài người.

        Cuối tháng Mười một và mấy ngày đầu tháng chạp năm 1941, quân đội phát xít Đức đã tiến công liên tục với tất cả sự tàn bạo cùng cực mà chúng ta vẫn nhớ được. Nhưng, đồng thời, cũng chính trong những ngày này, chúng ta đã phát hiện được những triệu chứng mệt mỏi của địch. Bọn Đức vẫn ngoan cố tiến công, còn có thể tiến lên ở một vài nơi nào đó nhưng đã thấy nhiều trường hợp nói lên sự hao mòn tinh thần và thiếu thốn vật chất của quân đội Đức.

        Về sau này, tướng Ca-tu-cốp, lữ đoàn trưởng lữ đoàn xe tăng cận vệ, hoạt động một trong những hướng quan trọng nhất, đã viết: « Ngày mùng hai và mùng ba tháng Mười hai, trong một trận đánh nhỏ ở khu vực Ba-kê-ê-vô đã phái hiện một tình huống thoạt nhìn cỏ vẻ không có ý nghĩa gì lắm: ba xe tăng của ta xông ra phản kích và bỗng thấy quân Đức hoảng hốt bỏ chạy .. Chúng tôi đã phân tích tình huống này. CÓ thể có ba khả năng: quân Đức khiêu khích để đưa ta vào bẫy, hoặc là đơn vị quân Đức ở đây không dũng cảm hoặc, cuối cùng là, quân chúng đã bắt đầu suy yếu. Chúng tôi lại tung vào điểm V một đội tám xe tăng dưới sự chi huy của chiến sĩ xe tăng nổi tiếng dũng mãnh Xa-mô-khin — bọn Đức chống trả rời rạc và rõ ràng chúng đã phạm phải những sai lầm chiến thuật. Cuối cùng, chúng tôi đã xác định rằng, hàng ngũ quân địch, do những chiến dịch kéo dài, nặng nề, đã xuất hiện sự rối loạn ».

        Những tình huống mà tướng Ca-tu-cốp đã nêu ra, giờ đây cũng đã thấy xuất hiện trển một vài điểm của mặt trận ngoại ô Mát-xcơ-va. Và trong những lời khai của tù binh trong các lá thư bọn lính Đức gửi về nhà ngày càng thây rõ sự hoang man, lo ngại, nghi ngờ và sự sợ hãi — sợ mùa đông Nga khác nghiệt, sợ sự kiên cường của người lính Nga, sợ sự chính xác của pháo binh Liên Xô và sự báo thù của du kích Nga, và nhất là nỗi lo sợ trước thủ đô Mát-xcơ-va của nước Nga!

        Trong bốn tháng đầu của chiến tranh, quân Đức đã bị giết, bị thương và bị bắt một số lượng khổng lồ không tính nổi. Và, mặc dù những con dường rút lui của chúng ta trong các tháng hè thu vừa qua có đau xót buồn thảm đi chăng nữa thì, chính trong những trận đánh nặng nề của thời kỳ đầu chiến tranh này, cũng đã tạo nên những tiền đề quan trọng cho thắng lợi của chúng ta sau này. Trong những trận đánh ở vùng biên giới và sau đó, ở Xmô-len-xcơ, ở Ki-ép, ở En-nhia Bri-en-xcơ và, sâu hơn nữa ở ngoại ô Mát-xcơ-va, quân địch cũng đã bị những tổn thất không thể bù đắp được. Và tuy Mát-xcơ-va đã ở không xa ngay trước mặt, nhưng chúng vẫn chưa sờ tới được. Mát- xcơ-va, nơi bọn Đức dự định nghỉ ngơi, nhưng hàng trăm ngàn tên đã vĩnh viễn nằm xuống trên những nẻo dường dẫn tới nó; và giờ đây đang gieo vào lòng chúng nỗi lo sợ ghê gớm

        Về phương diện chiến dịch, thì, tình hình ở mặt trận ngoại ô Mát-xcơ-va trong những ngày đầu tháng Mười hai được ghi nhận là, quân địch ngày càng co vào phòng ngự, trong lúc đó, bộ chỉ huy ta ngày càng nắm thế chủ động trong tay. Ở khu vực Ca-si-rơ và phía Nam Mát-xcơ-va, một trong những binh đoàn dự bị của ta được tung vào trận đánh, như đã nói ở trên, lữ đoàn kỵ binh cận vệ của tướng Bê-lốp, đã được tăng thêm sức chiến đấu cùng với một sư bộ binh và xe tăng. Bọn bộ binh cơ giới Đức ngày 28 tháng Mười một được tung đến Ca-si-rơ, bị các chiến sĩ kỵ binh cận vệ tiến công từ hai cánh, đã vội vã rút chạy về Mô-rơ-véc, vất bỏ cả vũ khí đạn dược. Để chặn đội kỵ binh lại, quân địch đã ném vào đây một sư đoàn bộ binh cơ giới khác nhưng cũng không giành lại được kết quả nào đáng kể. Và trong báo cáo của Bộ tham mưu quân đoàn Đức số bốn mươi ba lên cấp trên đã phải thú nhận như sau; « Do những đòn tiến công mạnh của địch (tức là của kỵ binh Xô-viết) — từ Ca-si-rơ ra hai hướng Nam và hướng Tây, các đơn vị xe tăng của ta buộc phải ngừng tiến công và... chuyển sang phòng ngự. Tinh hình trên giờ đây không cho phép chúng tôi liên lạc được với các lực lượng xe tăng ».

        Đồng thời bộ đội Xô-viết cũng đã đánh tan các đơn vị tiền tiêu của địch, đã tràn được sang bờ phía Đông của sông đào Mát-xcơ-va ở vùng Ia-khơ-ra-ma Ọuả đấm của các đơn vị dự bị mới, rđt sung sức của tướng Cu-dơ-nhe-xốp khá mạnh đến nỗi làm cho quân địch phải từ bỏ ý đồ vượt sang chiếm lại con đường sông quan trọng này...

        Và như vậy là, đầu tháng Mười hai, cụm tập đoàn quân « Trung tâm» của Hít-le đã bị kìm chân ở nhiều khu vực quan trọng và các đơn vị quân đội Xô-viết đã bắt chúng phải đánh theo ý mình. Ở các trục phía Nam thủ đô, tập đoàn quân xe tăng số hai của tướng Gu-đê- rin buộc phải rải ra trên một diện tích rộng; cái điểm tựa của nó nằm sâu trong vùng ta đã bị đập vỡ. Và, phần lớn các đơn vị của nó, sau khi dừng tại chỗ đã vội vã vùi đầu vào các điểm tựa vững chắc. Các trận đánh ở khu vực Cô-trô-vô và ga Rê-vi-an Ki-mô, nơi các đơn vị bộ binh, xe tăng Đức dự định liên lạc với nhau, đã diễn ra rất ác liệt trên các hướng ngược lại... Nhưng với tất cả sự nghiêm chỉnh mà xét, thì những tình hình được tạo nên trước ngày mùng năm tháng Mười hai cũng chỉ có tính chất quan trọng khu vực mà thôi. Điều cơ bản là quân Đức phát xít, sau khi đã không đạt được một mục tiêu chiến lược nào, nên trước các ngày bốn và năm tháng Mười hai đã phải chuyền sang phòng ngự hầu như trên toàn mặt trận Xô — Đức.

        Và trong tình huống yếu kém nhất này của quân địch, các đơn vị Xô-viết, được tăng cường mạnh hơn, kịp thời tập trung lực lượng dự bị, đã giáng cho quân thù những cú đấm quyết định, nặng nề nhất.

        Sáng ngày mùng sáu tháng Mười hai, bộ đội phương diện quân miền Tây do đại tướng Giu-cốp chi huy và bộ đội cánh phải Tây Nam của nguyên soái Ti-mô-sen-cô đã chuyển sang phản công quyết định theo mệnh lệnh của Tồng tư lệnh tối cao Xta-ỉin. Đến trưa, các đơn vị phương diện quân Ca-li-nin (của tướng Cô-nhép) cũng bắt đầu các trận đánh ở Ca-li-mn.

        Thanh kiếm, từ lâu treo trên đầu quân đội phát xít Đức, đã chém xuống.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 06:58:49 am

       
2

        Chỉ một ngày sau khi đánh tan quân chiếm đóng Đức ở A-rxê- nhi-ép (đúng vào tối ngày sáu tháng Mười hai), đội trượt tuyết trở về T., đường về gặp nhiều khó khăn hơn. Bộ chỉ huy Đức vô cùng hoảng sợ đã báo động tất cả các đơn vị chiếm đóng gần đấy; các đơn vị SS và cảnh sát bao vây chặn đường rút của đội, máy bay lùng sục lượn suốt từ sáng sớm đến chiều tối trên các khu rừng lân cận. Còn các chiến sĩ trượt tuyết, vừa mang theo thương binh và cả một số lớn những người vừa được giải thoát, đã phải tiếp chiến liền hai trận để phá vòng vây quân địch...

        Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp không hề hay biết gì những việc diễn ra cũng như không hay biết gì hơn về Lê-na đang bám sát theo các chiến sĩ tải thương, không rời chiếc cáng của cậu ra nửa bước; không biết gì về Vi-chi-a cũng đang đi bên cậu, thỉnh thoảng lại cúi nhìn đề cố tìm xem có dấu hiệu nào chứng tỏ cậu hơi tỉnh chưa. Sự sống chỉ còn thoi thóp trong con người Vô-lô-đi-a, — đang nằm bất tỉnh câm lặng, mê man. — mặt cậu trắng bệch một cách đáng sợ, và chỉ qua những nhịp thở thoi thóp, rất yếu ớt trên ngực mới có thể đoán biết được là thân thể bị đạn xé của cậu đang cố chống lại cái chết.

        — Điều cốt yếu bây giờ là làm sao chóng tới được thành phố. Ở đấy, Vô-lô-đi-a sẽ chóng được cấp cứu, — Vi-chi-a khẳng định với Lê-na và, cũng để an ủi ngay chính mình : đôi môi sưng húp của cậu vẫn còn đau và cậu phải thều thào từng tiếng một. — Các bác sĩ ở đấy là những người giỏi, thạo công việc... Cậu có nhớ có lần Vô-lốt- ca đã nói là, con người có thể sẽ sống tới một trăm năm mươi tuổi —  Và, không biết đã bao lần rồi — Vi-chi-a lại nói tới điều đang làm cậu xúc động. — Mình đã nói rồi mà, Vô-lốt-ca nhất định sẽ có cách, thế mà cậu vẫn không tin... Còn, cậu ấy, bạn thấy không, đã xuất hiện với cả một tiểu đoàn... Cả các chú du kích nữa cũng đến... Mình đã biết là Vô-Iốt-ca không bao giờ bỏ rơi bạn đâu, cậu ấy không phải là loại người như vậy đâu!

        — Mình vẫn tin — nhưng mình chỉ sợ là cậu ấy cũng bị bắt, —  Lê-na thanh minh.

        Cũng như Vi-chi-a, cô gái đã khẳng định rằng, họ đã mang ơn Vô-lô-đi-a trong việc giải thoát này. Thật là một điều bất công đến tàn nhẫn, không làm sao chịu nổi là trong khi họ và nhiều người khác được trở về với cuộc sống thì anh ấy, có lẽ, đang rời bỏ họ... Chác là anh ấy rất yêu cô, yêu Lê-na vì không có cách gì có thể giải thích khác được đối với những sự chăm sóc vô tư, ân cần của anh ấy đối với cô, với tất cả sự dịu dàng và biết bao nỗi cực nhọc anh ấy đã cố chịu dựng. Và ngạc nhiên trước sự mù quáng, trước sự vô tâm của mình, Lê-na thấy kinh hãi trước ý nghĩ là sự hối hận của cô đã quá muộn. Tựa như có bức tường vô hình, không rõ rệt đã ngăn cách cô với anh — một bức tường mà cả những loạt đạn súng máy lẫn lời thì thào thú nhận cũng không thể nào xuyên thủng được... Mấy sợi tóc mảnh mai, đen sẫm vương trên khuôn mặt trắng bệch của Vô-lô-đi-a ; có cảm giác như cậu đã già hơn sau những thử thách phải chịu đựng. Vẫn không rời khỏi con người đang bất tỉnh, dập dềnh trên chiếc cáng, Lê-na thầm hứa với mình sẽ đối xử với anh thật thắm thiết, dịu dàng, — miễn là anh được sống lại. Cô sẽ phải làm một điều gì thật lớn lao, thật đặc biệt, thật dứt khoát, để có thể trong chừng mực nào đó làm nhẹ bớt đi nỗi day dứt của mình. Và cô đã quyết định với chinh mình là, ngay từ giờ, sẽ yêu Vô-lô-đi-a cho đến lúc mãn chiều xế bóng — miễn là anh ấy sống!

        Suốt nửa ngày, đội trượt tuyết phải len lỏi chậm chạp qua những khu rừng rậm, hẻo lánh rồi sau đấy, họ dừng lại nghỉ chờ trời tối mới đi tiếp. Tuyết vẫn nhẹ rơi, phủ trên người Vô-lô-đi-a như một tấm chăn mỏng; Lê-na ngồi bên cạnh, đưa những ngón tay thon thả, đỏ ửng phủi những bụi tuyết bám vào tóc, vào mặt anh. Còn Vi-chi-a thì chạy hết tổ này đến đội khác, cố tìm hiểu xem bao giờ thì đi tiếp. Thỉnh thoảng lại có một vài người trong số những người đã cùng bị giam với cô trong nhà tù, đến ngồi bên cô tìm lời an ủi.. Còn người lính thủy bị gãy chân ở cáng gần đấy, cố ngồi nhỏm dậy — thân hình anh thật to lớn như thể lực sĩ điền kinh — và gọi cô:

        — Em gái ơi! Này, bao giờ đến thành phố, em phải đòi bằng được người ta tiếp máu cho cậu ấy. Em phải gặp cho được bác sĩ trưởng ấy, phải, nói rõ mối lo lắng cho ông ấy... các anh sẽ nói thêm cho...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 06:59:26 am

        Cuối cùng, gần sáng hôm sau, những người bị thương cũng được đưa, vượt qua trận tuyến, vào khu vực quân ta kiểm soát. Những người khiêng cáng rảo bước nhanh hơn trên khu đất trống ngay dưới bầu trời quang đãng ngoằn ngoèo vết đạn, còn các chiến sĩ trượt tuyết dồn lại sau, nổ súng bắn cản quân địch đang truy đuổi.

        — Nào, giờ thì Vô-lốt-ca nhất định sẽ sống tới một trăm năm mươi tuổi. Không còn phải nghi ngờ gì nữa, — Vi-chi-a nói, giọng đã vui hơn khi chiếc xe cứu thương đưa những người bị thương vào bệnh viện.

        Tuy nhiên, tại viện quân y, tình trạng Vô-Iô-đi-a cũng không tốt hơn mặc dầu đã trải qua một ca mổ đầy khó khăn suốt ba giờ liền.

        Sau khi Vô-lô-đi-a được đưa ra khỏi phòng mổ, người bác sĩ, vừa mổ cho anh, đã nói với y tá phụ mổ:

        — Chỉ có thể sống được năm, bảy giờ nữa thôi, có thể là mười giờ... — Ồng dùng nắm gạc bông lau vầng trán vàng vàng, đẫm mồ hôi. —  Cô nhìn gì tôi thế, không nên nhìn như vậy!

        Cô y tá nhìn sang nơi khác, im lặng, không nói gì.

        — Sao cô lại im lặng? — Nhà phẫu thuật đột nhiên cáu gắt.— Điều đáng ngạc nhiên là cậu ấy có thể chịu đựng được suốt ca mổ...

        Cô y tá vẫn im lặng và. bác sĩ vung tay vẻ bắt lực.

        — Những trường hợp như thế này là rất hiếm. Thường là chúng ta không thể mổ những trường hợp bị thương tương tự như thế này.

        — Xin lỗi đồng chí Na-tan Ma-rơ-cô-vích, nhưng, tôi không thể đồng ý với ý kiến đồng chí được, — cô y tá nói, giọng ngân lên. —  Tôi thương cậu ấy quá...

        — Đôi khi chúng ta cũng có những điều không thống nhất với nhau, — bác sĩ xẵng giọng — Chuẩn bị người tiếp theo.

        Nhưng dầu sao đi nữa, một lát sau ông lại bước vào phòng, nghe mạch chàng trai và ghi ghi điều gì đó vào phiếu điều trị...

        ... Quá trưa, mẹ Vô-lô-đi-a, chị Ôn-ga I-li-chi-na tới viện quân y. Vi-chi-a đã tự nhận cái việc hết sức gay go là báo tin cho chị biết và giờ đây đang rất lúng túng. Có lẽ thím Ôn-ga đã đoán biết mọi việc ngay khi thấy Vi-chi-a đến nhà. Không để cậu ta kịp nói một lời nào. chị dồn hỏi ngay: « Còn sống chứ? Vô-lô-đi-a còn sống chứ?». Và không cần nghe hết những lời ấp a ấp úng của cậu ta, chị cuống cuồng giục.

        Trên đường tới bệnh viện, chị chỉ hỏi đi hỏi lại có mỗi một câu ngắn gọn: «Còn sống chứ? Nói thật đi, Vô-lô-đi-a còn sống chứ?», và lại chạy ào lên nhưng, chỉ được mấy bước chị đứng sững lại, như bị nghẹt thở.

        Mãi tới tận bốn giờ chiều người ta mới cho chị vào phòng Vô- lô-đi-a nhưng nửa giờ, rồi một giờ trôi qua, người y tá trực ban khống làm sao bảo chị đi ra được. Ngay giây phút đầu tiên thấy con, Ôn-ga có vẻ như vui sướng — môi chị bỗng nở nụ cười kinh ngạc. Ngồi xuống cạnh giường con, cúi nhìn nó, chị thì thầm nói gì đó và đôi mắt chị ánh lên không ra đau đớn, không ra thất vọng, nhưng rất thiết tha... Sau đấy, chị khẽ ngồi xuống ghế, nhấp nhổm, lúc nhìn con, lúc quay đi... Trời về chiều, trong căn phòng nhỏ, đủ kê hai chiếc giường, tối dần và một lát sau chị y tá thắp đèn lên nhưng Ôn-ga vẫn ngồi như vậy cạnh Vô-lô-đi-a, miệng lẩm bẩm không rõ đang nói, đang hỏi Vô-lô-đi-a những điều gì.   

        Buổi tối lại thêm mấy người láng giềng của Ôn-ga Ti-khô-nô-va đến thăm — bà nhân viên chấm công, bà lao công và bà kế toán A-glai-a Ti-mô-phê-ép-na... Họ không được lên phòng nên phải đứng ở phòng chờ dưới nhà; Lê-na và Vi-chi-a cũng đang ngồi dựa lưng vào tường ở đây. Được phép nghỉ ba ngày, họ liền chạy tới thăm Vô-lô- đi-a và ở lại không rời bệnh viện nữa.

        — Tôi mang ít táo khô cho nó... có lẽ Vô-lô-đi-a ăn được cả mứt táo nữa đấy... — Bà nhân viên chấm công lẩm bẩm nói và thở dài. — Chà, nói thật liều lĩnh, thiếu thận trọng, chả thương gì cả mẹ lẫn bản thân mình nữa!...

        — Sao lại liều lĩnh ở đây ? — Vi-chi-a cau có thốt lên. — Nếu bác không biết gì thì đừng nói như vậy. Vô-lô-đi-a đã dập tắt được một hỏa điểm.

        — Anh ấy là người anh hùng, bác hiểu không ? Không thể có người anh hùng nàó lại liều lĩnh cả. — Lê-na tiếp lời theo.

        — Đúng, thật là anh hùng, — bà chấm công vội tán thành. — Tôi đã trông thấy nó lớn dần lên ngay trước mắt chúng tôi, tôi thường ngắm nó và nghĩ thầm: « Giống hệt như I-van — tính tình thẳng thắn, mặt mũi sáng sủa, và trái tim trong sáng». Những người như vậy thì việc gì cũng tiến lên hàng đầu cả,

        Họ im lặng lo lắng, luôn luôn nhìn về chiếc cầu thang dẫn lên tầng hai, lên căn phòng lắng nghe, đưa mắt dõi theo những người mặc áo choàng trắng, từ trên ấy đi xuống,

        — Này có nghe các bác sĩ nói gì không, có tí hy vọng nào không? — Bà A-glai-a hỏi trống không và cũng chẳng ai có thể trả lời bà được.

        Cũng trong lúc ấy, các bác sĩ đang tập trung quanh giường Vô- lô-đi-a. Họ lắng nghe mạch, nét mặt chăm chú, căng thẳng, cố giấu sự bất lực của mình, — đôi môi hé mở của người bệnh tím đen một cách đáng sợ, — và họ đi ra cố tránh không nhìn thẳng vào người phụ nữ gầy gò với đôi mắt cầu khẩn, van lơn đang ngồi ở góc phòng.

        — Mạch chính hầu như không cảm thấy được, — khi ra đến hành lang một bác sĩ nhận xét trước. — Cậu ta bao nhiêu tuổi, mười bảy, mười tám chứ ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 06:59:59 am

        Người bác sĩ đã mổ cho Vô-lô-đi-a, nhún vai.

        — Đồng chí y tá Xcơ-vô-rơ-xô-va, còn ngồi chờ gì dấy ? — Ông bỗng xẵng giọng. — Chườm ngay nước nóng vào chân. Và chuẩn bị tiếp máu lần nữa.

        Một lát sau, Vô-lô-đi-a được đưa vào phòng mổ, rồi lại đưa về phòng nằm. Trời đã khuya nhưng Ôn-ga vẫn ngồi nguyên bên giường, miệng luôn lẩm bẩm gì đó với con trai. Quên đi tất cả, chị lại nói to hơn... Bất cứ ai, nếu nghe được những lời nói vô nghĩa, rời rạc này có lẽ sẽ rất ngạc nhiên, không hiểu nổi.

        — Con ơi, Vô-lô-đi-a của mẹ, không sao đâu, con cố chịu đựng nhé... Sắp rồi... Sắp tới rồi, con trai bé bỏng... Chịu đau và con sẽ khỏi, sẽ sống... — Chị như đang an ủi mình.— Chịu đựng rồi sẽ nhẹ bớt... Khi bị sốt phát ban, con cũng mê sảng, cũng lăn lộn trên gối, cũng đòi uống liên hồi... Con đã bị sốt phát ban rất nặng... Sau khi khỏi bệnh, mẹ và bố đã đưa con đi chơi đấy... Và con đã ăn, ăn rất ngon miệng đấy...

        Thinh thoảng Ôn-ga lại cầm rất nhẹ tay Vô-lô-đi-a buông dọc theo mép chăn và xoa xoa trong lòng bàn tay mình.

        —... Con hãy chịu đau một chút, rồi sẽ nhẹ hơn... Khi nào khỏe mạnh con lại đi học tiếp. Chiến tranh kết thúc, con sẽ lại cầm sách... — Chị cứ rì rầm như thế nhử cậu con trai trở về với cuộc sống. — Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp... Con sẽ thành kỹ sư, hay là công trình sư, tùy con thích... Không sao, không sao, Vô-lô-.đi-a của mẹ, việc này nhất định sẽ đến... Sẽ đến thôi...

        Cứ như vậy, chị lặp đi, lặp lại không chán với Vô-lô-đi-a ràng sự đau đớn của cậu sẽ chấm dứt, cầu khẩn cậu cố chịu đựng. Sau những lời này, trong chị chỉ có một ước vọng — giúp cho đứa con trai mình trong cuộc đấu tranh kinh khủng với cái chết; chỉ có một điều cầu khàn. — Con hãy sống lại, hãy sống, đừng chết; hãy sống lâu, sống mãi, đừng chết! Ôn-ga chỉ có ước vọng khuyên nhủ Vô-lô-đi-a rằng, cậu có thể, cậu cần phải chịu đựng sự đau đớn. Toàn bộ sức lực, sự tồn tại của mình giờ đây chỉ dành cho cuộc đấu tranh không thể hiểu nổi, đấu tranh với những gì đang diễn ra âm thầm trong thân thể đứa con trai yêu quý và chị như cảm thấy sự đau đớn đó, như nỗi đau của chính mình, như giằng xé đầy thất vọng của trái tim mình, của các mạch máu, của bắp thịt, của thần kinh... Ước mong làm giảm bớt, làm nhẹ bớt đi nỗi đau trên thân thể mà Vô-lô-đi-a đang phải chịu đựng, chị cúi xuống, rồi lại ngẩng lên như một cái máy.

        Người thương binh bó băng hai tay và kín cả ngực trên chiếc giường bên cạnh, rên rỉ trong giấc ngủ li bì và lại im lặng. Thỉnh thoảng có người đi dọc theo hành lang và trên kính cửa lờ mờ nhấp nhô hiện rõ những bóng người lay động...

        Một giờ nữa trôi qua và hình như thể trạng Vô-lô-đi-a có điều gì đó biến đổi: nước da mặt tái xanh bỗng toát mồ hôi, hơi thở gấp và dồn dập hơn.

        Người nữ y tá vừa bước vào phòng nhìn thấy như vậy liền vội vàng đi ra báo ngay cho bác sĩ triệu chứng không bình thường này. Cánh cửa sau lưng cô vừa khép lại thì Vô-lô-đi-a chợt tỉnh — mi mắt hơi hé mở, hai con người xanh biếc lờ đờ động động.

        — Con yêu... — Ôn-ga thì thầm gọi, cúi nhìn thấp hơn.

        Hình như Vô-lô-đi-a nhận ra chị.

        — Nắm, nắm lấy tay con, tay phải, — cậu thì thào đòi hỏi.

        Ôn-ga vội đưa cả hai tay ôm chăm lấy bàn tay lạnh ngắt của con; chị chờ, chờ xem con trai còn nói gì nữa nhưng cậu vẫn im lặng, chăm chắm nhìn chị một cách khó hiểu.

        Mỗi lúc ở phía dưới, phòng chờ càng đông người hơn: hai cậu bạn cùng đơn vị và Vi-chi-a đến xem tình hình Vô-lô-đi-a ra sao; một lát sau lại thêm mấy bà phụ nữ cùng làm việc ở nhà máy với Ôn-ga — họ mang tới cho con trai chị bánh mì trắng và đường... Lát sau họ đều biết là tình trạng sức khỏe của Vô-lô-đi-a xấu hơn, hầu như không cảm thấy mạch máu chính hoạt động nữa.

        Bà nhân viên chấm công khóc thút thít khi nghe điều đó, còn Lê-na thì vội nắm tay áo ca pốt Vi-chi-a khẽ giật giật, giọng thôn thức, ngât quãng:

        — Vi-chi-a, làm gì bây giờ? Tôi không chịu được nữa... Cần phải làm gì bây giờ đây...

        — Chờ đấy, mình sẽ tới gặp bác sĩ ngay.— Vi-chi-a Vê-rép-kin nói kiên quyết và buồn rầu. — Cậu cứ yên tâm, cứ bình tĩnh. Tôi sẽ nói thẳng với họ là: nhà nước đào tạo các chú, tiêu hao nhiều tiền cho các chú. Cậu cứ chờ đấy... Cậu đứng bật dậy, sửa lại áo ca pốt và mũ trùm tai có ngôi sao Hồng quân rồi chạy rất nhanh lên thang gác. Cậu dừng lại trên phòng chờ tầng hai, phân vân vì bên phải và bên trái đều cổ hai dãy hành lang chạy dài, với những cửa phòng giống nhau đều một loạt kính mờ ở phần trên: bóng người nào đó trong áo khoác màu sẫm đi đi lại lai phía cuối hành lang .. Vi-chi-a bỗng cảm thấy mình hoàn toàn bất lực, bé bỏng và chẳng nghĩa lý gì cả... Những chiếc xe đầy nhỏ với những thùng sắt đặt đứng một dãy cạnh cửa dọc theo tường, một chiếc máng kỳ lạ nào đó, có công tắc và máy đo đặt giữa phòng chờ. Ở đây, tất cả đều có vẻ khó hiểu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 07:00:32 am

        Nhưng nén sợ, Vi-chi-a mạnh dạn bước qua ngưỡng cửa vào hành lang. Mọi ý nghĩ tập trung vào việc làm sao cứu chữa được cho Vô-ỉô-đi-a đà làm cậu thêm mạnh dạn.

        Một thương binh mặc chiếc áo choàng, chóng nạng, khuôn mặt trẻ gầy gò, nhưng cố dôi lông mày rất rậm từ phía trước đi tới.

        — Chú ơi! — Vi-chi-a khẽ gọi. — Chú có biết bác sĩ trưởng ở đâu không ạ ?

        Thương binh đó là trung úy Gra-trép — im lặng, nghiêm khắc nhìn từ đâu đến chân chú bé gầy gầy trong bộ quân phục Hồng quân này.

        — Cháu tìm bác sĩ trưởng à? Cháu cần gặp để làm gì ? — Anh hỏi lại.

        Giọng nói của anh có vẻ như không cho phép, tranh cãi và không được chần chừ câu trả lời.

        — Muốn hỏi về trường hợp một đồng chí của cháu, — Vi-chi-a khẩn khoản nói. — Bạn ấy đang điều trị ở đây.

        Gra-trép cau mày tựa như cáu giận.

        — Muốn hỏi về bạn à? — Anh ta im lặng giây lát. — Cháu cũng phục vụ trong quân đội đấy chứ? Cháu có lẽ chưa đến tuổi, —anh ta nói.

        — Chúng cháu chưa đến tuổi, đúng đấy... Thế mà Vô-lô-đi-a đã dập tắt được một ổ súng máy... Còn đối với chú thì — chúng cháu chưa xứng tuổi... Còn giờ đây, nghe nói, bạn ấy đang sắp chết.

        Miệng Vi-chi-a run run, giọng nghẹn lại, cảm giác xúc phạm không thể dung thứ được đối với Vô-lô-đi-a làm cậu uất ức.

        — Cháu sao thế? — Gra-trép nói. — Không nên thế, không tốt đâu...

        Nhưng đồng thời, anh lại đặt tay lên vai cậu bé, với vẻ rất thông cảm.

        — Bạn cháu thế nào, bị thương ở đâu, bao giờ? — Anh ta hỏi. — Nào ra phòng chờ, ở đấy có ghé ngồi.

        Không nghe hết câu, Vi-chi-a vội đi theo người thương binh có vẻ không bình thường, đang phải đi chống nạng nhưng lại nói chuyện với cậu tựa như trong bệnh viện này anh ta là người có quyền lực gì đặc biệt.

        — Nói đi nào ! — Anh ngồi xuống ghế và ra lệnh.

        — Chúng tôi đi trinh sát, và bọn Đức bắt được tôi và Lê-na —  trong đội chúng tôi có cả các bạn gái nữa — rồi tống vào nhà giam. —  Vi-chi-a nói vội vàng, lắp bâp.

        Nhưng khi cậu chuyển sang kể về trận chiến đấu sống mái của Vô-lô-đi-a với tên bắn súng máy Đức thì bản thân cậu sôi nổi hẳn lên và người nghe chuyện cũng hồi hộp.

        — Bạn cháu xông vào súng máy à ? — Gra-trép hỏi lại.

        — A hà... Bạn ấy đã cứu chúng cháu cũng như nhiều người khác tay không vũ khí, — Vi-chi-a giải thích.

        — Lao vào súng máy, với lựu đạn chứ?

        — A hà... Nó bắn như vãi đạn, còn Vô-lô-đi-a vẫn tiến lên... Xung quanh mọi người đều nằm xuống nhưng cậu ấy vẫn tiến lên, vẫn cứ đi lên!

        — Khá lắm! —Trung úy khẽ kêu lên.

        Khuôn mặt gây gò, trắng màu bệnh viện của anh hiện rõ vẻ tự hào; đôi lông mày gãy góc rướn lên.

        — Và sau đó — tất nó nổ bùng lên, như động đất — Vi-chi-a không nén được, hét to lên. — Một đống quần áo rách bay tung lên! Cậu ấy đã ném quả lựu đạn đúng ngay vào khẩu súng máy!

        — Khá lắm! Cừ thật. — Gra-trép cũng thốt lên. — Cậu ấy đã cứu các cháu...

        — Đúng thế! Vi-chi-a thốt lên vui sướng. — Thế mà chú lại bảo « chúng cháu chưa đến tuổi »...

        — Thể có cứu thoát được nhiều người bi giam không ? — Gra- trép hỏi tiếp.

        Nghe Vi-chi-a xong, trung úy liền nói kiên quyết:

        — Phải cứu Vô-lô-đi-a của cháu! Họ cậu ấy là gì ?

        — Ti-khô-nốp, — Vi-chi-a vội đáp.

        Cậu tin rằng người nói chuyện sẽ có thể dành cho cậu sự giúp đỡ quan trọng và cả hai người, tựa như đã đồng ý với nhau, không cần tranh cãi một điều, việc chữa khỏi bệnh cho mọi người là do, hay nhất thiết phải phụ thuộc trực tiếp vào tinh thần phục vụ chiến đấu của họ.

        Gra-trép im lặng, cúi đâu. Có lẽ, đang suy nghĩ kế hoạch hành động.

        — Thế chú thì sao? Cũng là thương binh à? — Vi-chi-a hỏi vẻ quan tâm.

        — Sắp ra viện rồi... Đang tập đi. Cả sáng lẫn chiều, mỗi buổi hai giờ, — trung úy nói.

        — Như vậy là rất tốt! —Vi-chi-a nhiệt tình khen ngợi. — Ngay cả việc trượt tuyết hay cưỡi ngựa, nếu không tập cũng chẳng đi được nữa là...

        Trung úy thú nhận với cậu, vẻ tin cậy và nhũn nhặn như đối với đồng chí lớn tuổi.

        — Xấu hổ lắm, cháu có hiểu không... Bị loại ngay từ trận đầu tiên... Nói chung, như vậy thật không hay ho gì...

        Anh chống nạng lên, dỡ một chân dậy, đặt xuống sàn và thận trọng đặt chân thứ hai lên.

        — Như vậy đó, đồng chí chiến sĩ Hồng quân ạ. — Anh nói.

        — Họ cháu là Vê-rép-kin, — Vi-chi-a cũng đứng lên.

        — Thế này nhé, đồng chí Vê-rép-kin, hãy xuống dưới nhà và chờ tôi ở đấy. — Gra-trép lại nghiêm giọng theo kiểu chi huy. — Tôi sẽ nói chuyện với bác sĩ, và có thể, công việc sẽ không đến nỗi xấu thế đâu. Ti-khô-nốp nắm ở phòng nào? Không biết à? Tôi sẽ hỏi cho. Nếu cần tôi sẽ báo cáo chính ủy viện... Thôi, thế nhé. Đừng nản lòng, — anh sửa lại nạng cho thuận chân. — Hãy nhớ là, người lính không bao giờ được nản lòng. Người linh bao giờ cũng phải tiến lên trước, khắc phục, vượt mọi khó khăn.

        Trung úy lại lộc côc quay lại hành lang; chiếc áo khoác vải bông trùm trên vai đung đưa theo bước chân.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 07:01:16 am

        Đi xuống phòng chờ bên dưới, Vi-chi-a trông thấy một sĩ quan nữa đang đứng nói chuvện voi bà A-giai-a Ti-mô-phê-ép-na và mấy bà khác: cậu được biết đấy là sĩ quan trợ lý của chính tư lệnh thành phố. Lê-na hết sức bỏi rõi, xúc động báo một tin dặc biệt: Bộ tham mưu phân khu đã biết về chiến công của Vô-lô-đi-a và cậu được đề nghị  tặng thưởng huân chương Cờ đỏ.

        — Thế mà Vô-lô-đi-a lại không được biết việc này... Cậu thử tưởng tượng xem... Tất cả chúng ta đều được biết, thế mà không thể nói cho anh ấy được... — Cò gái thì thầm, đau khổ.

        Sĩ quan trợ lý đội chiếc mũ lệch, sụp xuống tận lông mày, thắt chiếc thắt lưng mới, có vẻ không hài lòng :

        — Mấy ông thầy thuốc, — anh buông thõng, bực bội trả lời câu hỏi gì đấy của bà A-gai-a, — tôi báo cáo với chỉ huy bệnh viện là cần gặp cậu ấy để chuyển lời cảm ơn của tư lệnh tới chiến sĩ trinh sát Ti-khô-nốp. Thế mà ông ấy xua tay: «Trong lúc này, điều đó hoàn toàn vô nghĩa», ông ta nói thế đấy.

        Nhưng Vi-chi-a lại cảm thấy như có một làn gió hy vọng lớn. Quả thật là vô nghĩa, không thể chấp nhận được, không thể hình dung được là Vô-lô-đi-a sẽ chết mà không kịp nhận phần thưởng; vá chính vì phần thưởng tuyệt vời này, chính niềm vinh quang lớn lao đã tạo nên phần thưởng này buộc phải làm mọi cách để cậu ấy sống lại... Mỗi lúc một đông thêm những người mới đến — bạn bè và đồng chí của Vô-lô-đi-a ở đơn vị; bạn bè ở khu nhà ở; các bà bạn láng giềng của mẹ; những người tù được giải thoát khỏi nhà tù phát xít; một người chỉ huy bị thương đi nạng; chỉ huy bệnh viện và cả thiếu tướng tư lệnh nữa — tất cả mọi người đang phấn đấu, đang làm mọi cách đề cứu sống Vô-lô-đi-a, để đánh lùi cái chết. Tựa như một lời kêu gọi khẩn thiết vang lên, truyền nhanh trong thành phố: Vô-lô-đi-a — người chiến sĩ quang vinh, người bạn trung thành, người trinh sát tuyệt vời anh dũng đang lâm nguy! — Thậm chí cả những người không quen biết cũng vội đến cứu cậu. — Trước lòng yêu mến và quan tâm lớn đang bao trùm lên Vô-lô-đi-a như vậy thì không thể nhẫn tâm, mù quáng và kinh tởm có thể cho phép bó tay trước cái điều đang đe dọa cậu.

        — Lê-na, ở Vư-xen-lốc mình đã nói với cậu là Vô-lô-đi-a, cậu ấy... — Vi-chi-a lại thốt lên, giọng đầy xúc động. — Cậu ấy không phải là con người như vậy đâu... Và đấy, cậu thấy chưa. Tất cả chúng ta, cả đồng chí tư lệnh nữa cũng... Len-ca, phải hiểu đúng lời mình.

        Cô gái đã hiểu Vi-chi-a muốn nói gì và cô nói tựa như chả có gì liên quan tới điều đó.

        — Vi-chi-a, mình không biết làm gì được để cứu anh ấy, — cô nói. — Nếu cần nhảy vào lửa thi có lẽ mình cũng nhảy...

        Đôi mắt sưng húp đầy nước mắt của cô mở to, — ngơ nhác.

        Chị Ôn-ga I-li-nhi-na vẫn ngồi canh Vô-lô-đi-a, hai tay nắm chặt lấy tay đứa con trai. Vô-Iô-đi-a lại hôn mê, bất tỉnh và lời đề nghị duy nhất của cậu như vẫn còn văng vẳng bên tai chị: « Hãy nắm lấy tay con, tay phải... » Ôn-ga có cảm giác là chừng nào chị còn nắm lấy tay con thế này thì nỏ sẽ không bị cô dộc. Và chị càng ôm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của con, tựa như sợ Vô-lô-đi-a rụt lại mất. Thỉnh thoảng chị cảm thấy hình như cậu có đáp lại sự vỗ về ôm ấp này của chị, hỉnh như ngón tay cậu cố cựa quậy và, vừa nhìn vào khuôn mặt nhợt nhạt, xanh xao của con, chị cứ day dứt, ngẫm nghĩ xem còn có thể làm được gì nữa... trong người chị mọi thứ như đang sôi lên, hai thái dương máu như ứ lại; chị nghe rõ tiếng tim đập thảng thốt khô khan nhưng không thể nói được đấy là nhịp đập của tim mình hay là của con trai. Vì giờ đây, chị không còn tồn tại cách biệt khỏi nó được nữa. Cúi xuống sát hơn, gần hơn, má chạm má, Ôn-ga như muốn chia sẻ với con mọi đau đớn, lo ftu của nó.

        Nhưng kìa, bác sĩ phẫu thuật cùng y tá bỗng vào phòng và lập tức một công việc lặng lẽ khẩn trương đang diễn ra quanh Vô-lô- đi-a. Bác sĩ khẽ bảo, y tá vội đưa cho ông một ống tiêm đầy thuốc trong vắt. Ông tiêm thẳng vào tĩnh mạch và On-ga, lúc ấy đã đứng lùi lại sát tường, lo sợ chăm chăm nhìn vào cánh tay trần xanh xao của Vô-lô-đi-a đang tiếp nhận tia nước trong suổt kia.

        Từ lúc ấy đến hửng sáng, cô y tá không rời khỏi Vô-lô-đi-a nửa bước. Vừa sáng, bác sĩ phẵu thuật lại vào phòng — mặt hốc hác, có vẻ cau có vì cũng không ngủ. Nhưng hình như. biện pháp xử lý của ông đã có tác dụng —Vô-lô-đi-a đang ngủ, nhịp thở đều và sâu hơn, da mặt da ửng hồng hơn.

        Bác sĩ ngồi xuống giường, rút chiếc đồng hồ quả quýt trong túi áo ra và lắng nghe nhịp mạch một hồi lâu; vừa nghe vừa thầm đếm: « Một, hai, ba, bốn, năm...». Khi đếm, nét mặt lo âu của ông dần thay đồi. Cất đồng hồ vào túi, ông kéo lại chăn đắp cho Vô-lô-đi-a hết sức nhẹ nhàng trìu mến — chàng trai do họ cứu chữa giờ đây đối với ông thật vô cùng thân thiết, quý giá còn hơn cả lúc tiến hành ca mổ nữa.

        — Thế nào, đồng chí Xcơ-vô-rơ-xô-va ?... — Ông lên tiếng, hỏi cô y tá...

        Bàu trời ửng sáng sau cửa sổ, và, vừa đi lại cửa sổ, bác sĩ bất chợt nói to lên:

        — « Phương đông ửng hồng, lại một ngày mới...». Thế nào, đồng chí Xcơ-vô-rơ-xô-va, — ông quay nhìn cô y tá. — Chúng ta xem người tiếp theo nào...

        Khi Ôn-ga rời khỏi phòng thì trời đã sáng hẳn. Ở phòng chở phía dưới chỉ còn có Lê-na và Vi-chi-a đang thiếp đi trên ghế băng. Bà nhân viên chấm công, đêm qua về nhà, giờ lại vừa mới tới... Ôn-ga chậm chạp, thận trọng bước từng bậc thang, đi xuống, chống vào tay vịn — chị thấy mệt mỏi, choáng váng và sợ bị ngã. Trong đôi mắt sưng húp của chị dù mệt mỏi nhưng đã có vẻ yên tâm và vui sướng hơn. Thấy vậy, bà nhân viên chấm công vui sướng la lên:

        — Ôi, I-li-nhi-na, trông cô như mới sinh ra Vô-lô-đi-a lần thứ hai đấy! Cũng cái dáng yếu đuối, mệt mỏi giống như lúc chị ở nhà hộ sinh về ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2020, 07:02:20 am

*

        Những bông hoa tuyết nhỏ, quay cuồng trên đường phố; xa xa thỉnh thoảng vọng về tiếng đại bác; ngày phản công thứ hai của bộ đội Xô-viết đã qua.

        Đứng trên bờ cao dốc đứng, Bốt-đa-nốp quan sát các chiến sĩ súng cối đang chiếm lĩnh trận địa bên kia sông. Phía trước anh là khu làng vừa mới được giành lại mờ mờ, phía xa các chiến sĩ liên lạc đang chạy đi chạy lại trên mặt tuyết đến các đơn vị bộ binh, chiếc xe nhà bếp vừa tới, từng tốp xe chở đạn phóng nhanh và cũng từ đấy, những người bị thương nhẹ đang đi về tuyến sau, đi ngược lại họ là một sĩ quan đeo chiếc túi dết căng phồng; nhìn kỹ một lát Bốt-đa-nốp nhận ra trợ lý báo chí của sư đoàn. Tiếng súng đã ngừng, một buổi sáng lạnh giá, yên tĩnh đang dần dần đến, một trong những buổi sáng dày đặc sương mù, bầu trời như bị phủ một màn khói trắng sà thấp xuống và qua đó, ánh mặt trời yếu ớt chiếu xuống mặt đất phủ sương, tuyết...

        Bốt-đa-nốp hỏi mượn sĩ quan tùy tùng tấm bản đồ.

—   Hãy báo cho tham mưu trưởng biết: K.P.1 sẽ chuyển lên làng Mi-khai-lốp-xki, — anh nói, và trả tập bản đồ dựng trong xà cột. —  Chúng ta sẽ chuyển lên ngay bây giờ.

        Anh mỉm cười, nụ cười quen thuộc, hơi có vẻ mệt mỏi, và tháo găng tay xoa xoa lên tai đỏ ửng, nét mặt lộ vẻ vui vui, sung sướng... Mới có mấy ngày qua thế mà Bốt-da-nổp đã phải chuyển sở chỉ huy sư đoàn tới hai lần — chuyển lên, hầu như là phải đuổi theo bước tiến rất nhanh của các đơn vị trong sư đoàn.

        — Này, Xê-ri-ô-gia, cậu cứ vừa đi vừa ngủ vậy... Cậu thấy đấy, chẳng phải là điều ngẫu nhiên đâu, — anh nói với Du-ép.

        Còn người sĩ quan trẻ này lại nhìn sư đoàn trưởng của mình với đôi mắt ngái ngủ, mệt mỏi, cúi đầu bẽn lẽn — vì đây là lần dầu tiên đại tá gọi anh bằng tên riêng, xưng hô bằng «cậu, tớ».

        — Báo cáo đồng chí, sáng nay quả thật là tôi rất buồn ngủ. —  Anh thú nhận. — Nhưng giờ đây thì chả sao cả. Đồng chí đã làm tôi tỉnh táo rồi — chẳng sao cả...

        — Cho tôi nổi chuyện với trung đoàn mười hai, — Bót-đa-nốp hạ lệnh.

        Sau khi nói chuyện điện thoại với trung đoàn trưởng trung đoàn mười hai, hẹn gặp anh ta tại một địa điểm chưa được giải phóng — ngôi làng được gọi theo quy ước là « Nhà lớn », Bốt-đa-nốp bước tới bên ngựa của mình. Chiến sĩ coi ngựa Áp-đê-ép, bận bịu đến mức trên khuôn mặt trẻ trung của anh tựa như mang chiếc mặt nạ, râu ria xồm xoàm như một ông già, vừa trao đây cương cho sư đoàn trưởng vừa nói, giọng khàn khàn:

        — Đồng chí đại tá ạ, đáng lẽ nếu đóng lại được con cá sau bên chân phải thì tổt hơn! Tôi sợ sẽ long mất con cá đấy.

        — Vậy sao cậu không đóng lại?—Bót-đa-nốp hỏi lại.

        — Nhưng chẳng có lúc nào rỗi cả... Chẳng có lúc nào dừng lại được lấy một tiếng đồng hồ.

        — Thật à rủi ro, hả ? — Bốt-đa-nốp cười vang. — Cậu nói là chúng ta không hề dừng lại được lấy một tiếng, có phải thế không? Chà, thật là vất vả.

        — Biết thế nào được, đồng chí đại tá. —Nhìn đại tá, Áp-đê-ép cũng thấy vui vui và mạnh dạn hơn. — Bất cứ hoàn cảnh nào mà chả có khó khăn.

        Trên đường đến Mi-khai-lốp-xki họ phải vượt qua khu rừng sồi cổ thụ, và tốp người, ngựa có cảm giác như bị mất hút trong màn tuyết dầy đặc bao phủ khu rừng cấm này. Đang đi bỗng một loạt đạn tiểu liên vang lên, bắn thẳng vào họ, làm chao động, những bông tuyết trên cành rơi lả tả, một viên đạn réo vút qua tai Bốt-đa-nốp đang đi đầu, còn một viên khac bắn trúng mông phải con ngựa của anh... Con ngựa khuỵu chân sau xuống, lăn sang một bên. Bốt-đa-nốp còn chưa kịp định thần xác định xem từ đâu bắn tới thì ngay lúc ấy sau anh lại vang lên một loạt tiểu liên đanh. gọn. Tiếp đó, từ trên một cây cao phủ tuyết tráng xóa ngay ở giữa rừng, một vật gì đó, không rõ hình dáng tựa như bao bì nặng nề rơi phịch xuống, kéo theo những cành cây gãy làm tuyết rơi lả tả, bốc tung lên xung quanh...

        Đại tá đứng bật dậy khỏi yên ngựa và quay nhìn lại sau. — Đu-ép, tay giơ tiểu liên và các sĩ quan cùng đi đang chạy ào tới phía sau.

        — Đồng chí đại tá ! Đồng chí đại tá! — Đu-ép lo sợ kêu vang lên.

        — Xê-ri-ô-gia, cậu bắn đấy à? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        — Cậu ấy. cậu ấy đấy! — Ta-ren-kin, trưởng phòng quân báo sư đoàn đáp thay. — Cậu ấy phát hiện nhanh ghê! Đôi mắt tinh tường thật!

        — Từ xa tôi đã đề ỷ thấy có cái gì đó không bình thường ở trên cây kia... Tôi định là sẽ tới xem xem — có lẽ là con chim gáy, — Đu-ép thở dài nhẹ nhõm và sung sướng.

        — Nó sẽ gáy lên bây giờ đấy. — Ta-ren-kin nói. — Bọn đểu cáng thường hay tìm kiểu chết như thế nào! Trong chiến dịch Phần Lan, chính những con chim gáy này gây không ít phiền hà...

        — Đồng chí đại tá không bị thương chứ ? — Đu-ép sung sướng hỏi vang lên.

         — Cậu bắn khá lắm, Xê-ri-ô-gia ạ! — Bốt-đa-nốp khen người sĩ quan bảo vệ thay cho câu trả lời. — Nào ta lại xem xem con chim cậu hạ là loại gì.

        Lát sau khi đi ra khỏi rừng, anh hầu như đã quên hẳn tình huống vừa xảy ra...

---------------------
        1. Sở chỉ huy sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2020, 12:09:13 pm

*

        ...Tại khu vực sư đoàn Bốt-đa-nốp tiến công, quân Đức đã tổ chức hệ thống đề kháng dày đặc, rải khắp các nơi, hỏa lực rất mạnh và không thể nào phá vỡ ngay được. Từ sáng sớm ngày sáu tháng Mười hai các đơn vị của sư đoàn đã tiến công những điểm cao bị quân địch chiếm giữ, trận đánh kéo dài suốt ngày và hoàng hôn đến nhưng thắng lợi quyết định vẫn chưa giành được; sư đoàn kỵ binh bên cạnh vẫn chưa chọc thủng được tuyến phòng thủ... Đây là một ngày khó khăn, mệt mỏi, kéo dài nhất từ khi các đơn vị đâ xuất hiện những tin tức đáng lo ngại về tổn thất ngày càng tăng, khi, rải rác đây đó đã có những đơn vị nhỏ phải nằm bẹp tại chỗ và khi mà các chi huy trung đoàn mỗi lúc càng xin thêm đạn nhiều hơn nữa, còn bộ tham mưu tập đoàn quân vẫn khăng khăng đòi phải báo cáo nguyên nhân giẫm chân tại chỗ.

        Mãi sáng ngày thứ hai bọn địch mới bắt dầu rút lui và Bốt-đa- nốp liền hạ lệnh cho các trung đoàn tiến lên đập vỡ lớp vỏ chắn... Pháo lớn rền vang không ngớt trong ánh bình mình, xe tăng lùi lũi bò lên các điểm cao đã bị vất bỏ tạo thành những cửa mở, bộ binh dự bị tràn vào chiếm lĩnh. Các chiến sĩ trong áo choàng trắng cùng với những xe tăng sơn màu ngụy trang cùng hòa vào trong màu tuyết trắng mờ ảo, trên bầu trời, trong màn mây tuyết dày đặc, máy bay gầm rít lao vào tiến công quân địch. Tiếng máy gầm rít, xa dần, xa dần về phía Tây và, sư đoàn trưởng, mặt mày hốc hác vì mất ngủ, vội vàng lên ngựa đuổi theo các trung đoàn đang tiến lên phía trước...

*

        Ngày tiến công thứ hai cũng trôi qua với Bốt-đa-nốp với bao công việc khẩn trương, nặng nề cuốn hút bao tâm trí của anh và chỉ mãi tới tối khuya, anh với những người tham gia trận đánh này mới có chút thì giờ để đánh giá lại toàn bộ ý nghĩa của nó. Khi tư lệnh tập đoàn quân gọi điện thoại, vào buổi tối ngày thứ hai, chúc mừng thắng lợi của sư đoàn thì, Bốt-đa-nốp, thậm chí còn ngạc nhiên thầm hỏi: « Chả lẽ đây cũng là chiến tháng hay sao ? Dù sao chăng nữa thì anh vẫn cho rằng, những kết quả mà sư đoàn anh đạt được là không có gì lớn lao lắm... Nhưng sáng sớm ngày thứ ba của cuộc tiến công, Bốt-đa-nốp mới được biết rõ hơn về thắng lợi của quân đội Xô-viết hoạt động ở các khu vực khác trên các mặt trận phía Tây, Ca-li-nin và Tây Nam kéo dài suốt từ Bắc xuống Nam Mát-xcơ-va. Và trước mắt anh hiện lên bức tranh toàn cảnh, tuy chưa thật rõ ràng lắm, của toàn bộ trận đánh lớn, đang diễn ra ở ngoại vi Mát-xcơ-va và tiếp theo đó, những tin tức tốt lành lại dồn dập được đưa tới. Tuy nhiên, Bốt-đa-nốp có cảm giác là cái khoảnh khắc biến đổi hạnh phúc nhất trong tình hình, — sự biến đổi đòi hỏi những chịu đựng và hy sinh như vậy, — sự biến đồi dẫn tới chiến thắng từ lâu mong đợi lại có vẻ như một cái gì đó thật đáng kinh ngạc và đã thoát ra khỏi sự chú ý theo dõi của anh.

        Sau khi quân địch mất đi những chỗ dựa của mình, tốc độ tiến công của quân đội Xô-viết ngày một dồn dập hơn. Các đơn vị lớn quân Đức thọc sâu vào các vị trí ở phía Nam Mát-xcơ-va, từ đầu tháng Mười hai đến nay đang có nguy cơ bị chia cắt và bị bao vây: một mặt quân đoàn cận vệ của tướng Bê-lốp vẫn đang tiếp tục theo dõi hoạt động của các sư đoàn xe tăng số 17 và sư đoàn bộ binh cơ giới số 29, mặt khác — các đơn vị của tướng Gô-li-cốp đã chọc thủng vào Vê-ni-ốp và tung một bộ phận lực lượng ra dồn quân Đức khỏi E-pi-phan; và mặt thứ ba, các đơn vị của tướng Bôn-đin đang chuyển sang phản công. Và mặc dù quân Đức vẫn đang cố cầm cự để chuyển sang phản công lại, cố tạo nên những mắt xích trung gian nhưng quân đội Xô-viết vẫn tiếp tục không ngừng tiến lên. Giờ đây không còn ai có thể nghi ngờ gì nữa là sức mạnh quân thù đã giảm sút, chúng không thể đứng vững nổi trong những trận đánh quyết định. Nét mặt người chiến sĩ điện thoại khi trao ống nghe cho Bốt- đa-nốp như muốn nói: « Thế là chúng ta đã tiến công! ». Còn người liên lạc từ các đơn vị mang báo cáo tới cũng như muốn nói: «Giờ mà chúng tôi chờ đợi, đã tới! ». Ngay cả những thương binh — những người còn đủ sức để tự đi được về tuyến sau — cũng sôi nổi khác thường và trên đường luôn động viên những chiến sĩ được điều lên bổ sung các đơn vị.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2020, 12:09:36 pm

        Có một câu nói thế này: « Công việc trôi chảy » và « công việc không trôi chảy ». Giờ đây quả là công việc đang trôi chảy. Nó trôi chảy vì ngày kề trước những ngày tháng mười hai này, người ta đã suy nghĩ và chuẩn bị chu đáo cho nó, nó trôi chảy vì trong lòng hàng triệu người được tham gia vào công việc này cùng cháy bỏng một niềm khát vọng, cùng chung một nỗi đau và cùng nuôi một ý chí. Và về phần mình, cái công việc được trôi chảy này đã nâng cao hơn tinh thần các chiến sĩ. Kể từ ngày đầu chiến tranh đến nay, chưa bao giờ Bốt-đa-nốp lại thấy được ở những người xung quanh mình sự thông mình mưu trí, nhiệt tình và sự tháo vát như vậy và, trong những giờ phút vừa qua, tất cả mọi người — kể từ chiến sĩ bình thường đến vị tướng — hình như đều trở nên tài năng và thông minh hơn. Và cái ý nghĩ là, anh đang tiến lên chứ không phải quân thù, anh đang tiến công chứ không phải bọn phát xít, anh đang đuổi chúng ra khỏi quê hương thân yêu đã làm tăng thêm sức mạnh của mọi người, thôi thức họ tiến lên. Bốt-đa-nốp cũng không thấy ngạc nhiên hơn nữa khi anh được nghe báo cáo về những trường hợp đặc biệt xảy ra với các chiến sĩ của anh hang giờ, hàng phút qua — về những hành động táo bạo của những người này, về những may mắn tình cờ của những người kia. Và chính sư đoàn trưởng cũng có một cảm giác dặc biệt khi anh suýt bị chết trong vụ bắn trả sáng nay nếu người sĩ quan bảo vệ anh không kịp thời phát hiện, — tất cả những điều đó giờ đây đã trở thành chuyện bình thường. Và, cuối cùng rồi, sự thành công, cái thắng lợi từ lâu đã quay lưng lại với Bốt-đa-nốp và các đồng chí của anh, giờ đây đã trở lại, mỉm cười với họ, và niềm hạnh phúc — nếu như quả có niềm hạnh phúc như vậy, cũng đang quay cuồng với những người đang được cùng anh tạo nên nó.

        Trên đường tới làng Mi-khai-lốp-xki, Bốt-đa-nốp thấy ngổn ngang những vết tích tháo chạy vội vã của quân thù... Ở khắp nơi trong làng, còn nguyên những khẩu pháo đặt trên các cỗ xe bánh lớn bị quân Đức vất lại; những chiếc nòng dài ngoẵng bị sương tuyết phủ kín quay sang các hướng khác nhau tựa như những con quái vật bị bắt làm tù binh nay đang câm lặng, lén lút nhìn quanh. Xa hơn một chút, những chiếc xe tải chở hàng tấn hàng, phủ kín bạt đang nằm chết lặng trên tuyết và quanh đấy la liệt ống kim loại, hòm gỗ, giấy vụn, ba lô da của quân Đức vất la liệt...

        Làng Mi-khai-lốp-xki vừa mới được giải phóng chiều tối hôm qua chỉ còn sót lại ba, bốn ngôi nhà gỗ nguyên vẹn, còn tất cả nhà khác đều bị đốt cháy chỉ còn là những đống than lớn cuồn cuộn khói lửa. Và trước mắt Bốt-đa-nốp lại mở ra bức tranh quen thuộc của những vùng trống rỗng khi quân thù rút chạy — những ngọn lửa vàng rực lem lém cháy trên những đống than lớn trên một khu làng bằng phẳng, xung quanh đấy chen chúc nhau, chạy đi chay lại là những người đàn bà. Họ đang cố đào, cố bới nhặt nhạnh những gì còn nhặt được. Cạnh họ là đám trẻ con, đứa mặc những chiếc áo cánh của mẹ, đứa mặc áo bông bộ đội cũ, rách lòi cả lần bông lót, đứa thì mặc những gì mà mẹ chúng có thể kiếm được để khoác vào thân; và ờ đây cũng có cả các chiến sĩ — những người vừa đuổi đánh bọn Đức ra khỏi làng.

        Thật khó tự hình dung được điều gì có thể gợi nỗi buồn đau hơn là những đống than nhà cháy rụi đang hừng hực hồng lên giữa những đống tro tàn dưới bầu trời lạnh ngắt, giữa một cánh đồng vắng lặng phủ đầy tuyết trắng. Nhưng quanh những đống lửa âm ỉ đã dịu bớt này, mỗi lúc mỗi đông người hơn và đây đó vang lên tiếng người gọi nhau, tiếng khản đặc, trong trẻo và thậm chí cả tiếng cười vui nữa. Một giọng phụ nữ vang lên trên con dường phủ đây tro bụi:

        — Na-xchi-a đâu, con bồ câu của mẹ, khoai nướng nguội rồi đây này... Lại đây, con gái yêu...!

        Một người phụ nữ khác, trẻ hơn và như béo đẫy ra vì quấn quá nhiều khăn, vừa "khóc vừa cười, nói chuyện với các chiến sĩ đứng quanh. Mấy anh lính này, hình như nói đùa gì đó làm chị ta cũng cười theo nhưng lại im bặt và nấc lên. Đặt chiếc xô nước xuống đất, chị vung vung tay vẻ bất lực, vừa cười, vừa sụt sịt lấy khăn lau lau đôi má ướt đẫm...

        — Rồi sẽ có, Va-ri-a ạ! Cô đừng lo, rồi cô sẽ gặp may, — người phụ nữ đứng tuổi nói, vẻ hiền lành.

        — Trời đất ạ, tôi cũng chẳng biết làm gì bây giờ nữa, — cô gái la lên. — Đầu óc quay cuồng cứ như người say rượu, mà tôi thì lại không uống được rượu... — Cô huơ tay. — Bà con ơi, thế là chúng ta lại được trở lại làm người rồi!

        Thấy Bốt-đa-nốp đang từ từ đi ngựa đến gần, cô ngước nhìn anh với vẻ biết ơn, trên khuôn mặt ửng hồng vì lạnh, nở nụ cười rạng rỡ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2020, 12:10:07 pm

        Từ trong cánh rừng dăng thành bức màn xám xịt phía chân trời, thỉnh thoảng lại vọng tới vài loạt súng máy đanh gọn — ở đấy vẫn còn những trận đánh nhau lẻ tẻ.

        Còn ở đây, khói vẫn cuộn lên trên các đống lửa, cuốn theo mùi khoai tây nướng, mùi thức ăn thơm thơm và hòa vào đấy là hơi ấm của con người — luồng hơi ấm thanh bình, vô giá, vô cùng mạnh mẽ không sức mạnh nào chiến thẳng nổi — hơi ấm của cuộc sống đã trở lại nơi đây.

        ... Tại làng Mi-khai-ỉốp-xki, Bốt-đa-nốp được biết là người láng giềng của anh — sư đoàn cùng tiến bên cạnh — đã dừng lại và sư đoàn anh đã mất liên lạc với họ. Một lúc sau lại nhận được báo cáo của thiếu tá Pô-crốp-xki — trung đoàn trưởng trung đoàn mười hai, cho biết là có một lực lượng địch đáng kể — khoảng không ít hơn một trung đoàn bộ binh có pháo và xe tăng yểm hộ, — đang cụm lại phía sườn trung đoàn anh ở khu vực nông trường quốc doanh. Pô-crốp-xki hỏi là : trung đoàn anh có tiếp tục tiến công vào « Nhà Lớn » hay là phải dừng lại loại trừ mối nguy cơ đang đe dọa mạn sườn đơn vị anh.

        — Cứ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chính của mình, — Bốt-đa- nốp hạ lệnh, — đến tối nay, thiếu tá phải có mặt tại « Nhà Lớn ».

        Tham mưu trưởng Vê-xnin vừa chuân bi viết mệnh lệnh cho Pô-crốp-xki, vừa gật gật đầu tỏ vẻ tán thành mệnh lệnh này, nhưng ánh mắt anh ta lại có vẻ phân vân.

        — Phải thanh toán phía sườn ấy... Tôi cho rằng, chỉ cần một tiểu đoàn cũng đủ... — Bốt-đa-nốp nói tiếp.

        Anh nhận thức rõ là một trung đoàn bộ binh có xe tăng và pháo lớn yềm hộ là một mới nguy hiểm cân phải tính đến. Nhưng đồng thời anh cũng hiểu rõ rằng, ngừng cuộc tiến quân lại là anh đã tạo cho quân địch có thời cơ tập hợp các đơn vị đã bị tan rã và củng cố chúng. Sư đoàn của Bốt-đa-nốp phải tiến về hướng Tây, về T., và một nhiệm vụ được ghi rõ là phải nhanh chóng liên lạc được với các đơn vị của tập đoàn quân đang phòng thủ ở thành phố này. Vấn đề đặt ra ở đây là phải đánh tan hoàn toàn các đơn vị quân Đức đang hoạt động ở khu vực T. và, nếu hôm nay anh quá thận trọng, dè dặt thì ngày mai Bốt-đa-nốp có thể phải trả giá đắt cho nó vì để mất thời gian và tốc độ tiến quân, có thể ví như đã tự tước đi của mình một nửa lực lượng.

        — Pô-crốp-xki có pháo chống tăng, và tôi có lẽ không cần phải dạy thiếu tá biết là nên đặt nó ở đâu, — anh vẫn vừa đi vừa nói trong ngôi nhà gỗ; và quay ngoắt lại người sĩ quan liên lạc vừa mang bản báo cáo tới, Bốt-đa-nốp nói tiếp, giọng vừa đùa vừa đe dọa:

        — Hãy báo cho thiếu tá biết: tối nay tôi sẽ tới chỗ anh ấy ăn cơm tối tại khu « Nhà Lớn».

        — Đồng chí Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích! — Vê-xnin khẽ gọi, tính kiên quyết của sư đoàn trưởng đã làm cho người cựu giáo viên môn lịch sử nghệ thuật quân sự, thán phục nhưng đồng thời cũng làm cho anh lo lắng. — Nếu quân địch tiến công vào sườn trung đoàn mười hai thì một tiểu đoàn sẽ không đủ để...

        — Ồ, anh nghĩ gì vậy hả, A-lếc-xan-đrơ A-ca-đê-vích! — Bốt- đa-nốp dừng lại giữa nhà. — Chắc anh cũng biết rõ là: một tiểu đoàn trong tiến công cỏ thể sánh với ba tiểu đoàn trong phòng ngự. Tôi không nhớ là ai nói câu này, — ở đây anh có bản đồ trong tay. Còn nếu như rút lui trong thất bại thì lực lượng kia cũng chưa chắc đã mạnh bằng một đại đội.

        Anh bỗng nhìn vào góc nhà nơi có hai đứa bé đang ngồi ôm nhau trên giường gỗ: một bé gái bận chiếc áo khâu từ áo ca pốt bộ đội, và một bé trai, khoảng năm tuổi, mặt mày xanh nhợt, có một vết vảy ở môi. Bọn trẻ trong ngôi nhà gỗ hiếm hoi còn sót lại nguyên vẹn này nhìn ngơ ngác khắp nơi và, từ trên bệ bếp lò còn thấy nhô lên hai mái tóc bù xù và một khuôn mặt con gái với đôi mắt xanh biếc trông như hoa liu li đang ngồi trên giường gỗ.

        — Đến chiều chúng ta sẽ nã pháo vào chỗ bọn Đức tập trung, —  Bốt-đa-nốp lớn tiếng nói tiếp nhưng vẫn không rời mắt khỏi mấy đứa trẻ; — Còn tiểu đoàn phải cố giữ vững đến chiều, thậm chí nếu có bị bọn chúng lao vào cũng vậy, — quân của Pô-crốp-xki là những người rất khá.

        Hai chị em cô bé ngồi ở góc nhà có vẻ sợ hãi khi thấy hình như chúng bị mọi người trong nhà này để ý tới. Cậu bé bỗng rưng rưng nước mắt, có lẽ vì sợ, và cô gái vội vàng vừa dỗ vừa dọa, kéo sát đầu cậu em vào sát ngực mình nói như van xin:

        — Chú ơi, nó sẽ không khóc nữa đâu... Chúng cháu sẽ ngồi im, chú ạ. Nín đi, nín đi, nếu không thì, — cô bé ghì sát đầu vào chú bé. — Nín đi, nếu không thì chị bỏ ra đây này!

        Cô bé vẫn sợ có thể cả hai đứa sẽ bị vất ra sân cho chết rét.

        — Các cháu cứ ngồi đây, đừng dọa em như thế! — Bốt-đa-nốp lầu bầu nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2020, 12:10:26 pm

        Máu như dâng lên trên mặt anh, anh cảm thấy như làm một việc gì đó rất ngượng ngùng; các thớ thịt trên má anh giật giật... Rõ ràng là mấy đứa trẻ này vẫn chưa hết nỗi kinh hoàng, sợ hãi như khi chúng phải sống với quân thù tại đây.

        — Xê-ri-ô-gia! — Bốt-đa-nốp gọi sĩ quan bảo vệ. — Dưa tất cả các thứ dự trữ ra đây... Cậu còn gì ăn được không? Đường, bích quy... Hãy lấy ra đãi các cháu kia.

        Không tranh luận thêm. Vê-xnin lặng lẽ viết mệnh lệnh và đưa cho Bốt-đa-nốp ký; những cảm giác mâu thuẫn nhau đang làm cho tham mưu trưởng phân vân, — một mặt, anh tự hài lòng vì đã thận trọng nhắc Bốt-đa-nốp, nhưng mặt khác lại cũng hài lòng khi thấy sư đoàn trưởng không chấp nhận lời khuyên này. Ký xong mệnh lệnh, Bốt-đa-nốp trao cho sĩ quan liên lạc:

        — Hãy quay về trung đoàn ngay, lấy ngựa mới mà đi, — anh nói với một giọng kiên quyết khiến cho các sĩ quan cấp dưới mỗi lần nghe đều phải đứng « nghiêm» lại hoặc, không chần chừ gì hơn, lao đi thi hành mệnh lệnh ngay. Không kìm được lòng mình, tham mưu trưởng thở dài: người sư đoàn trưởng trẻ đã làm anh hãnh diện, nhưng chính Vê-xnin lại hiểu rõ rằng bản thân anh chả khi nào lại dám cả gan hành động kiên quyết và dũng cảm như vậy.

        Suốt ngày hôm ấy Bốt-đa-nốp dừng lại ở Mi-khai-lốp-xki, chuẩn bị cho trận tiến công vào « Nhà Lớn », điều đội xe tăng đột kích lên tuyến xuất phát, củng cố lại hậu phương sư đoàn, tăng cường thêm lực lượng pháo binh và hội ý với Vê-xnin và Va-scốp về nội dung báo cáo với Tư lệnh tập đoàn quân... « Cần cho bộ binh của anh mọc thêm đôi cánh, cần cho nó bay được chứ không phải đi nữa » — trưa nay tư lệnh đã nói với anh như vậy và anh hiểu rằng trong lời lẽ này của vị tướng tư lệnh không những chỉ chứa đựng chỉ thị là sự tiến công nhanh sẽ quyết định phần lớn thành công của anh — mà trong đó còn nói lên sự khát khao nóng bỏng đối với chiến thắng hoàn toàn mà ngay bản thân Bốt-đa-nốp hằng nung nấu, sự khát khao đang thôi thúc trái tim những người lính. Mỗi bước tiến lên của họ đã mang lại hạnh phúc cho đồng bào của họ, mỗi đòn giáng trả vào kẻ thù có nghĩa là sẽ giải phóng thêm những làng xóm mới, những nhà ga, những nhà máy, cánh đồng, rừng núi, sông ngòi và các thành phố mới... Và, những người lính của anh, vẫn rảo chân, gấp gấp nhằm hướng Tây tiến bước.

        Đã hai làn Bốt-đa-nốp gọi diện cho Pô-crốp-xki hỏi và kiểm tra tình hình ở sườn anh ta ra sao — dù sao thì sư đoàn trưởng vẫn chưa yên tâm lắm; còn Pô-crốp-xki trả lời là quân địch vẫn không tỏ ra hung hăng gì lắm. Đến chiều thì tự thiếu tá gọi điện thoại tới báo cáo là quân Đức — khoảng gần một nghìn tên tập trung trong khu làng, — đã xin đầu hàng và bảo đảm nộp giao đây đủ toàn bộ số pháo còn nguyên vẹn và một số xe tăng không có nhiên liệu để chạy... Quả thật hoàn toàn bất ngờ ngay cả với Bốt-đa-nốp — té ra quân địch đã tan rã cao hơn cái mức anh tưởng.

        — ... Chúng tôi bao vây chúng ở đấy, đồng chí đại tá ạ, —  giọng Pô-crốp-xki gào lên trong ống nghe. — Và sau đó bắt đầu tiến hành diễn kịch đúng như ở Nhà hát hàn lâm Mát-xcơ-va ấy.

        Tiếp đó, thiếu tá kể lại là một đại đội trưởng của anh đã lợi dụng một cách thành công địa hình ở đây để đánh lừa quân địch... Trên đường ra nga ba đường, nơi đại đội này phải chiếm giữ có thể công khai đi trên đường nhựa mà có những quãng nằm trong tầm quan sát của địch và cũng có thể đi theo đường mòn phía sau các ngọn đồi rậm rạp. Các chiến sĩ đại đội, sau khi đã cố ý chạy trên quãng đường trống liền vòng lại theo đường mòn và lại xuất hiện trên đường trống, rồi lại bí mật quay lại theo đường mòn. Và sau khi làm như vậy ba lần, đại đội trưởng đã buộc bọn địch phải tin rằng lực lượng anh ta ở đây gấp ba lần lực lượng thực tế của đại đội.

        — Không được hoàn toàn ăn khớp như ở Nhà hát hàn lâm, nhưng diễn xuất cũng rất đạt... — Vừa cười vui vẻ, Bốt-da-nốp vừa nhận xét. — Người nào chỗ anh có sáng kiến xuất sắc như vậy?

        — Báo cáo, trung úy Gô-bu-nốp, đại đội trưởng đại đội hai, —  thiếu tá nói, — cậu ấy là diễn viên và nhà đạo diễn nghiệp dư đấy.

        — A, Gô-bu-nốp! — Bốt-đa-nốp thốt lên khi nhớ lại cuộc gặp gỡ với người trung úy này trên dường hành quân của sư đoàn. — Tôi biết anh này... Thôi biết sao được, hãy kiểm tra và giải bọn côn dồ này về phía sau, đồng chí thiếu tá ạ! Còn bọn sĩ quan cao cấp thì giải ngay lên phòng tham mưu sư đoàn. Và anh vẫn không quên là tối nay tôi sẽ ăn cơm tới với anh ở « Nhà Lớn » đấy chứ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2020, 06:38:38 am

        Ngay sau đấy, sư đoàn trưởng rời làng Mi-khai-lốp-xki đến sở chỉ huy mới. Trên bầu trời vừa sẩm tối, đã thấy lấp lánh dù rất yếu ớt, hai ba ngôi sao nhỏ; từ phía Tây một bóng tím thẫm lớn đang lững lờ lan ra và những làn ánh sáng yếu ớt cuối cùng vẫn còn như cố vương lại trên cánh đồng nhấp nhô đồi trọc như các ngọn sóng. Và Bốt-đa-nốp vẫn còn có thể nhìn khá rõ ở phía bên phải, cùng hướng đi lên với anh. một đoàn xe trượt đang băng băng trên mặt sông đóng băng — đoàn xe cứu thương đang đến địa điểm tập kết mới. Sau đấy một lát, hai chiếc xe tải cỡ nhỏ, chở bánh mì sau khi đuổi kịp và vượt đại tá sư đoàn trưởng, liền phóng nhanh trên đường; giờ đây anh thường gặp nhiều hơn những người đi bộ một mình như các chiến sĩ liên lạc, các sĩ quan hậu cần, các cán bộ phòng chính trị sư đoàn, các xe quân nhu... Đã gần đến giờ tiến công vào khu làng « Nhà Lớn », hay đúng hơn, là vào các dãy cao điểm án ngữ trước khu làng này. nơi quân địch vẫn đang âm mưu cố chống cự tới cùng, ở vùng phía sau tất cả các đơn vị được tập trung cho cuộc tiến công này cũng đã sẵn sàng — những công việc cuối cùng của trận đánh lớn đã hoàn thành. Đi tụt xuống một con mương, Bốt-da-nốp thúc ngựa đuổi theo một đơn vị bộ binh. Một mảng ánh sáng xanh nhợt vẫn còn vương trên nền trời và từ xa đại tá đã trông thấy thân hình đẫy đà của trung úy Gô-bu-nốp nổi bật trên sườn đồi — trung úy đang dẫn các chiến sĩ của mình vào trận đánh mới. Các chiến sĩ, gồm những tay súng thiện xạ, các xạ thủ tiểu liên, trung liên, súng chống xe bọc thép đang bước những bước vững chắc, không vội vã nhưng cũng không quá chậm trong cuộc hành quân chiến đấu với những trang bị khá nặng nề. Có mấy người lại cài mũ mềm vào thắt lưng, dầu đội mũ sắt có lưới ngụy trang trông như tấm áo thép của các tráng sĩ thời xưa. Những người khác có vẻ hơi còng lưng xuống dưới sức nặng của những vũ khí họ mang trên vai.

        Bốt-đa-nốp thúc ngựa về phía Gô-bu-nốp... Và không phải chì vì ý định khen ngợi trung úy về sự thông mình, tháo vát của anh mà chính vì một ý muốn bất ngờ là, muốn gần gũi hơn với các chiến sĩ của mình trước thắng lợi mà họ vừa giành được và trước lúc họ bước vào trận đánh mới, nên Bốt-đa-nốp đã xuống ngựa. Trao đây cương cho Đu-ép, anh bước đi cùng trung úy đại đội trường. Trung úy hơi lúng túng và có vẻ ngại nên vội rảo bước nhanh hơn.

        — Đồng chí trung úy, thế là chúng ta lại gặp nhau! — Bốt-đa- nốp dịu dàng và tươi cười nhìn Gô-bu-nốp. — Nào, hãy kề cho tôi nghe kỹ hơn về màn kịch hôm nay. Nghe nói là rất đạt về nghệ thuật, nhất là màn diễu hành của quần chúng ấy...

        — Báo cáo đại tá, chúng tôi chỉ hành động theo tình hình thôi ạ! — Gô-bu-nốp nghiêm chỉnh báo cáo nhưng trên môi anh thoáng nở nụ cười, có thể thấy rõ anh đã cố kìm không đề lộ niềm vui thầm kín của mình. Tuy người đại đội trưởng này có khoác súng, trên thắt lưng anh vẫn lủng lẳng hai quả thủ pháo chống tăng nhưng trông anh vẫn có dáng dáp nhẹ nhàng như người học sinh vừa vượt qua kỳ thi khó khăn.

        Lắng nghe chuyện của hai sĩ quan, các chiến sĩ hơi ùn lại phía sau... Một lát sau, một chiến sĩ cao và gây liền mạnh dạn nói với Bốt-đa-nốp:

        — Đồng chí đại tá, xin phép được báo cáo là: chúng tôi được một bữa bở hơi tai. Chúng nó cứ tưởng là, sẽ được dự ngày lễ Ba Ngôi với những vòng hoa chiến thắng. Thế nhưng sự thể lại khác. Chúng còn may mắn chưa phải làm lễ cầu hồn...

        — Hạ sĩ Đơ-vôi-ê-gla-dốp... Đêm hai mươi hai tháng Sáu1 khi đi tuần anh là người đầu tiên đã nổ súng vào quân thù. Anh có nhiều ấn tượng riêng về đêm ấy lắm, — Gô-bu-nốp báo cáo như để giới thiệu thêm với sư đoàn trưởng về chiến sĩ của mình.

        — Báo cáo đại tá, nếu công việc cứ trôi chảy như thế này thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ tới Xmô-len-si-na và từ đấy tới biên giới còn chẳng bao xa. Cái chính là đường dây tiếp tế đừng có gián đoạn, —  một chiến sĩ khác, có khuôn mặt nâu bánh mật, nói theo.

        — Trung sĩ Ru-mi-an-xép... — Lòng đầy tự hào, đại đội trưởng lại giới thiệu thêm về người cựu binh này. — Người tổ chức chính của buổi biểu diễn nghiệp dư hôm nay.

        Bốt-đa-nốp lòng đây khoan khoái vừa đi giữa hàng quân vừa nói chuyện, đáp lời các chiến sĩ. Bản thân anh cũng đã từng là người lính thực thụ cả về cuộc sống lẫn tâm hồn. Có thể có một cái gì đó trong cái nghề nghiệp mà họ đã chọn, thể hiện trong cảnh gian khổ và nghiêm khắc, trong sự dứt khoát và rõ ràng của các điều lệnh quân sự, trong cách nhìn thẳng thân đối với các hiện tượng cuộc sống đã đáp ứng được những đòi hỏi thực tế của bản chất con người anh. Anh hài lòng và vui vui với những câu nói đùa, những bài hát của người lính; anh có thể nhanh chóng đoán biết một cách không sai lầm sự quan tâm và nỗi buồn của người lính vì chính anh trước đây cũng đã từng sống cuộc sống của họ, từng suy nghĩ như những người lính của anh hiện nay đang suy nghĩ. Và giờ đây, đại tá tựa như cũng đang hơi ngà ngà say với họ ngay từ nụ cười đầu tiên của niềm vui chiến đấu.

        Sau đoạn đường đèo, họ lại đi theo triền dốc thoai thoải; bóng đêm đã hoàn toàn bao phủ mặt đất, còn trên bầu trời màu nhôm sáng hàng ngàn, vạn ngôi sao đang lấp lánh như những ngọn đèn ngày hội.

        — Thưa đồng chí đại tá, xin có một nhận xét là, — hạ sĩ Đơ-vôi- ê-gla-dốp lên tiếng, — con người ta mỗi ngày chỉ cần ngủ độ hai, ba tiếng thôi. Có đúng không ạ. Nhưng còn riêng tôi thì lại không cần ngủ — khi nào đuổi được bọn rắn độc này ta sẽ nghỉ luôn thể. Tôi chỉ có một đề nghị là, nếu có dịp báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao thì đồng chí có thể khẳng định là: các chiến sĩ của sư đoàn đầy đủ tinh thần đuổi đánh bọn ăn cướp này đến tận Béc-lin.

        Bốt-đa-nóp bất giác quay nhìn xung quanh: không thể nhìn rõ nét mặt ai cả mà chỉ có thể thoáng lên trong bóng tối lạnh giá những ánh mắt của họ mà thôi.

        Tiếng hòm đạn chống tăng do hai chiến sĩ khiêng kêu cót két theo nhịp chân bước, bóng mũ sắt loang loáng ánh lên, tiếng áo bành tô trùm tới đầu gối những người lính kêu loạt soạt, những lưỡi lê nhọn hoắt ánh lên xanh xanh. Và trong những ngôi sao kia có cả những ngôi sao của tổ tiên những con người đang đi ở đây, những ngôi sao của các vị tướng nổi danh như I-u-ri Đôn-gô-ru-ki, Đo-mi- tơ-ri Đôn-xki. I-van Grô-dơ-nưi cũng như đang long lanh tỏa sáng trên đầu họ...

------------------------
        1. Đêm quân Đức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô — ND.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2020, 06:40:13 am

       
4

        Sáng ngày mồng chín tháng Mười hai, các đơn vị tập đoàn quân phòng ngự ở T. cũng chuyển sang cuộc tổng tiến công đồng thời một lúc ở hướng Tây và Tây Nam. Vòng vây quân thù tạo nên quanh thành phố T. đã bị phá vỡ, cuộc phong tỏa kéo dài một tháng rưỡi nay đã bị thủ tiêu và tiếng vang của các trận đánh dần dần chuyền xa khỏi thành phố.

        ... Bà An-na Va-xi-li-ép-na và Na-xchi-a từ sáng sớm đã rời khỏi ủy ban đường phố để mang trả cho các chiến sĩ pháo binh đóng ở gần ngoại ô quần áo đã giặt sạch. Nhưng tại đây chẳng còn thấy một người lính, một khẩu súng nào nữa; và có lẽ những tiếng súng tối qua vang lên ờ khu Bờ Sông vọng lại là đúng với phỏng đoán của bà — quân địch rút chạy dưới hỏa lực truy kích của pháo binh ta.

        Theo mấy người phụ nữ gặp bà An-na trên đường cho biết thì, cả đại đội pháo binh đóng ở đây đã bất ngờ chuyển quân từ quá nửa đêm hôm qua, trước lúc trời sáng. Còn bà già thì vẫn khẳng định là, đối với các chiến sĩ pháo binh, dù sao thì quần áo sạch sẽ vẫn tiện lợi hơn trong chiến đầu, nên đã quyết định, không dềnh dàng mất thì giờ, phải đuổi theo tìm họ ngay.

        Bà và Na-xchi-a, vác trên vai hai bọc lớn quàn áo, đi đã khá lâu nhưng vẫn không gặp một ai cả. Ngoại ô thành phố lại càng yên tĩnh và vẳng vẻ; đêm qua tuyết rơi khá nhiều, và từ cái màu trắng mênh mông đó ánh lên một thứ ánh sáng dìu dịu, còn bầu trời đầy mây hôm nay trông có vẻ thấp hơn, đục hơn, tối sẫm hơn cả mặt đất. Chi cố những chiến hào và hố đạn lồi lõm trên cánh đồng phủ tuyết, những cột điện thoại xiêu vẹo dây đứt rối tung, những xác xe bọc thép nằm chênh vênh trên hố rãnh và xác con ngựa chết bị tuyết phủ một nửa thân mới gợi lại cảnh những trận đánh ác liệt vừa diễn ra ờ đây.

        — Anh em pháo binh họ đi bằng ô tô, còn chúng ta chỉ có hai cái ống chân này thì làm sao mà đuổi kịp họ được? — Chị Na-xchi-a bực mình làu bàu.

        Bà An-na không đáp lại; khuôn mặt đàn ông lưỡng quyền cao của bà hôm nay có vẻ không được vui và hiền lành như mọi ngày; đôi mắt màu gio nhíu lại dưới vâng trán trùm kín trong chiếc khăn vuông.

        — Cái bọc của tôi nặng đến hai và dễ thường đến ba pút1 đấy.— Na-xchi-a lại than vẫn. — Bác định đi tới tận Vê-ni-ốp chăng?

        — Nếu căn thì cứ đến Vê-ni-óp, — bà già đáp lại với một giọng nói kháy không ngờ. — Có thể đến Vê-ni-ốp, cũng chẳng có gì đáng lạ cả.

        — Bác sao vậy, bác muốn đi đến tận đâu cơ... Việc gì mà bước vội bước vã thế, — Na-xchi-a lại làu bàu tựa như trách oán. — Nghỉ chân một lát đã, bác An-na ạ...

        Chị vứt bọc quần áo ngay trên tuyết, xoa xoa đôi bàn tay tê cóng và đột nhiên mỉm cười, để lộ đôi hàm răng đều đặn, trắng bóng.

        — Anh em ta đuổi bọn Đức chạy xa quá! Im lặng quá đấy nhỉ? Chẳng còn tiếng súng máy, chẳng còn tiếng máy bay, tâm hồn được thảnh thơi quá! — Chị thốt lên, đầy tự hào, sung sướng. — Ôi, bác Va-xi-li-ép-na, cho tôi hôn bác cái nào.

        Bà An-na cũng đặt bọc quần áo xuống và vươn vai; Na-xchi-a bước đến bên bà... Và hai người đàn bà ấy, đứng đối diện nhau ngay trên cánh đồng trống trải, ôm chầm lấy nhau hôn liền ba lần vào môi.

        — Chúc mừng bác, — Na-xchi-a thốt lên. — Chúc mừng cô, nhân ngày chiến thắng. — Bà An-na đáp lại.

        — Anh em ta thật khá quá! Đúng là anh hùng, chẳng phải quá lời đâu. Thế mà có lúc chúng ta đã oán trách họ. Anh nhà tôi cũng vậy, khi đã hăng lên thì, chẳng sợ gì cả, việc gì cũng làm dễ như bỡn, xung quanh như sôi lên. Thôi, ta đi đi... — Giờ thì Na-xchi-a lại giục. —  Dù có phải đến tận Vê-li-ốp cũng được... Tôi sẽ nói với họ, này các đồng chí nam giới anh hùng ơi, hãy nhận quần áo sạch này. Nào, đưa tôi đỡ lên cho bác nào !

        Họ tiếp tục đi... Con đường dần dần đã ồn ào hơn: đã có những chiếc xe từ thành phố chạy ra, chở nặng hàng, nhảy chồm chồm trên các ổ gà, một chiếc xe tải nhẹ, chạy được ở mọi địa hình chẳng hiểu tại sao lại chưa sơn lại màu trắng cho hợp với mùa đông mà vẫn giữ màu ngụy trang xanh đen, đang nhảy chồm chồm trên đường trông như một con ếch không lồ. Một lát sau, từ xa xuất hiện một đoàn xe ngựa dài tiến về thành phố.

        — Bác Va-xi-li-ép-na, chúng ta vẫy nhờ một chiếc xe nào đi, —  Na-xchi-a đề nghị. — Họ sẽ cho chúng mình đi nhờ vì chúng mình cũng đang phục vụ bộ đội đấy chứ.

        Nhưng chẳng có chiếc xe nào đi cùng chiều nữa. Khi đoàn xe ngựa từ phía trước đã đến gần, họ mới nhìn thấy rõ các thương binh đang nằm trên ổ rơm lót trong thùng xe. Những chiếc xe chậm chạp nối nhau kéo thành hàng dài, chở những con người nằm im, bất động như đang trong cơn ngủ say, người thì trùm những áo ca pốt nhàu nát, phủ một lớp tuyết mỏng, người thì trùm áo vải bạt cứng đơ, một số các chiến sĩ khác thì trùm chăn vải bông, đấu và chân tay quấn băng trắng thấm máu đẹn sẫm...

--------------------
        1. Pút : đơn vị đo lường Nga, nặng bằng 16,38 kg.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2020, 06:40:44 am
   
        Hai người phụ nữ đứng tránh ra vệ đường, im lặng nhìn. Bà An-na lo lắng, căng thẳng nhìn kỹ từng thương binh và Na-xchi-a hiểu rằng bà đang nhìn và sợ sẽ phải nhìn thấy trong những người bị thương này có Pa-ven — đứa cháu trai của bà.

        — Chúng ta cũng chẳng dễ chịu gì, — thở dài, bà già lẩm bẩm.

        Những chiếc xe vẫn thong thả đi diễu qua cạnh họ, bước chân ngựa nghiến trên tuyết; những khuôn mặt xanh xao mất máu với những đôi mắt nhắm nghiền mệt mỏi khẽ lắc lư trên ổ rơm, những đôi găng tay cứng đờ trông như không có sức sống lòi ra dưới những chiếc áo ca pốt đắp trên người... Khi chiếc xe cuối cùng qua knỏi. Na-xchi-a lắc lắc đầu, nổi:

        — Ở nơi nào đó lại có những giọt nước mắt tuôn rơi... Ở nơi nào đó lại có những trái tim bà mẹ quặn đau...

        Bà An-na liếc nhanh, nhìn người bạn đường của mình một cách thông cảm, trìu mến và làm Na-xchi-a phải thốt lên vì cái nhìn khác thường hiếm có này của bà.

        — Ôi, bác Va-xi-li-ép-na!

        Còn bà vẫn làm ra vẻ như không nghe thấy tiếng gọi, xốc bọc quần áo sau lưng lên sát vai và, chẳng nói chẳng rằng, lùi lũi bước đi.

        Lại có thêm hai chiếc xe tải cùng chiều vượt họ, mặc dù Na- xchi-a đã vẫy tay gọi nhưng các lái xe vẫn không dừng lại... Đường lại vắng vẻ một lúc rồi phía trước lại thấy xuất hiện một chiếc xe ngựa đơn độc, đi về hướng thành phố; người đánh xe mặc chiếc áo bông ngắn bộ đội vội kìm ngựa lại khi nghe tiếng Na-xchi-a gọi. Nhưng khi vừa nghe chị hỏi là có gặp bộ đội pháo binh ở phía trước không thì anh lính đánh xe liền giật cương cho ngựa đi tiếp.

        — Thậm chí cũng chẳng thèm nói được một lời, — Na-xchi-a phật lòng, càu nhàu nói.

        — Có lẽ họ vội thôi, — bà An-na giải thích vẻ dàn hòa.

        Và, bà lại lầm lũi rảo bước những bước dài như đàn ông, lưng hơi còng xuống dưới sức nặng của bọc quần áo khá lớn. Còn lần này thì Na-xchi-a quyết định là để tự bà già phải lên tiếng đề nghị nghỉ chân, cho nên chị cứ lặng lẽ bước theo, thỉnh thoảng lại ngước nhìn bà già đi trước, vẻ sốt ruột. Nhưng bà vẫn cắm cúi đi, có vẻ đã quen với sự mệt nhọc, chỉ có khuôn mặt hơi ửng đỏ mà thôi.

        « Gớm, cái bà khỏe gớm...» — Na-xchi-a thầm nghĩ có vẻ bực bội nhưng cũng thầm phục. — Có lẽ bà ấy quyết đi tới tận Vê-ni-ốp thực chăng ?

        Từ cánh rừng con bên phải xuất hiện một tốp bộ đội trượt tuyết mặc quần áo choàng trắng, kéo thành một hàng dài, đang phóng ra đường cái và Na-xchi-a liền tuyên bố:

        — Phải hỏi người chỉ huy đội này xem. Sẽ rõ tất cả. Bác nói rõ cho họ, bác Va-xi-li-ép-na ạ — nói cho họ biết ta là ai, hỏi đơn vị pháo binh xem ở đâu, để còn biết cách tìm họ chứ...

        — Biết sao được, để thử xem, — bà già đồng ý, — có thể người chỉ huy này biết anh em pháo binh ta đang ở đâu.

        Đội trượt tuyết khoảng hai nhăm, ba mươi người kéo dài đội hình lên dốc nên đi chậm lại. Dẫn đầu là một người cao lớn khoác chiếc áo choàng trắng ngụy trang, đầu đội mũ lông chùm tai, đang cúi gập mình chóng đôi gậy trượt bước lên mặt dốc thoai thoải, dáng điệu vui vẻ, hoạt bát như trong buổi đi chơi.

        — Ôi. Pa-sa Grô-mốp kìa! — Sửng sốt. Na-xchi-a khẽ kêu lên. — Bác Va-xi-li-ép-na ơi, Pa-ven của bác đấy. — Chị kêu lên to hơn và nhìn bà An-na Va-xi-li-ép-na.

        Còn bà già cũng ngạc nhiên không kém, mặt hơi tái đi khẽ mấp máy đôi môi định nói gì đấy nhưng không nói được.

        Lên đến đường lớn, Pa-ven ngẩng nhìn và cũng nhận ra bà cô mình... Niềm vui bất ngờ đã làm anh sững lại, và, có thể cũng như các đồng đội của anh trong cái giờ phút đầu tiên của chiến thắng này, đã làm anh như nghẹn lại, anh quên hết xung quanh, thốt lên:

        — Mẹ! Mẹ!

        Bà An-na mừng quýnh đến nỗi quên chẳng vất bọc quần áo xuống, cứ thế bước lên và sững lại tựa như bao sức lực trong bà tiêu tan đâu hết. Chưa bao giờ Pa-ven gọi bà như đã gọi lần đầu tiên trong phút giây này và không có tiếng gọi nào đối với bà lại đậm đà ngọt ngào, thân thương như tiếng gọi vừa rồi. Và nếu như trên trái đất này có một cái gì đó có thể gọi là phần thưởng để tặng cho bà An-na, làm cho bà sung sướng và cảm thấy tột cùng hạnh phúc, thì giờ đây đối với bà cái tiếng gọi này quả là một phần thưởng như vậy.

        Pa-ven lúng túng cởi giày trượt, đi đến bên người cô thân yêu, đỡ bọc quần áo xuống và ôm hôn bà; bà ngả đầu vào vai anh, đưa bàn tay gầy, khô, dài như rễ cây xoa xoa. vuốt ve khuôn mặt anh —  bà vẫn không thể cất lên lời nào được... Pa-ven — con trai bà, —  con trai, như chính anh đã thốt lên tự láy lòng, như chính anh đã tự nhận, như chính anh đã gọi vang lên giữa cánh đồng tuyết phủ, giữa ban ngày này, — anh đang ở đây đang đứng với bà, mạnh khỏe, sung sướng và bà — ba đã trở thành mẹ anh bất chấp rồi đây số phận có lúc nào đó sẽ làm bà phải lìa xa cõi đời.

        Các chiến sĩ đứng vây quanh họ; chào hỏi bà An-na Va-xi-li- ép-na; và bà trông thấy Na-xchi-a bỗng bật tiếng khóc — người đồng hành của bà cứ hết nhìn Pa-ven lại nhìn bà và chả hiểu tại sao cứ khóc rưng rưng, hàm răng cắn chặt làn môi, đỏ tươi.

        — Pa-ven, thật tốt là chúng ta đã gặp nhau, — cuối cùng rồi bà già cũng đã nói được. — Các con sống ở đây ra sao?...

        Mãi giờ đây bà mới nhìn kỹ khuôn mặt với đôi mắt sâu hoắm như sau khi ốm của Pa-ven, — khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi, hơi đen nhưng đồng thời lại hơi xanh xao tựa như cái chất xanh đó từ trong máu thấm qua da vậy. Và da mặt các bạn chiến đấu của anh cũng đều có sắc thái như vậy nhưng cả anh lẫn họ đều có vẻ rất vui, đều đang cười với bà trong phút này...

        — Chúng con vẫn sống, như cô thấy đấy, vẫn mạnh khỏe, — anh sung sướng nói oang oang.

        — Pa-sa, đã đuổi được bọn Đức rồi, — bà An-na lại thốt lên.

        — Chúng con đang đuổi, đến long cả chân ra đấy. — Và Pa-ven lại cười vang rạng rỡ. — Nói chung, chúng ta đã giành lại được, đã đứng vững được và nỗi hiềm nguy đã qua rồi.

        — Con còn đi xa không, Pa-sen-ca?— Bà giờ chợt hỏi.

        — Không, không xa lắm đâu,’ sẽ quay lại ngay thôi... (Pa-ven đang dẫn đội trượt tuyết đặc biệt vừa được thành lập trong số những người tình nguyện đề đi vào vùng hậu phương quân địch đang tan rã). — Nhưng còn cô, cô làm sao lại tới đây với những bọc đồ này?...

        Vì vội, vả lại không muốn dềnh dàng mất thì giờ, Pa-ven hỏi dồn bà An-na liền mấy câu:

        — Bố con ra sao? Sao cô lại chẳng viết gì cho con về tình hình ông cụ cả. Mãi hôm qua tình cờ mới được nghe tin về ông... Họ nói rằng không có gì dáng ngại cả.. Có đúng thế không? — Anh hỏi dồn dập.

        — Các bác sĩ nói rằng sẽ khỏi và sẽ ra viện với tình trạng tốt nhất, — bà già đáp gọn và liền nói lảng sang chuyện khác. — Na-ta-sa của con thật cừ — giờ đây đã về sống với cô và, ở nhà máy người ta cũng rất thích nó — đó là điều chính yếu.

        — Đã chuyển về với cô... — Pa-ven nhắc lại. — Cô bảo cô ấy biên thư cho con, bảo cô ấy đừng e ngại, biên thư đều vào, — anh khẩn khoản đề nghị.

        Và bà An-na lại ôm chầm lấy đứa cháu mà giờ đây bà coi như con đẻ, từ biệt anh.

        Pa-ven trở lại đầu hàng quân, vừa rảo bước vừa quay lại gọi với theo bà, các bọc quân áo có thể gửi lại kho quân trang ở thành phố và, vẫy tay từ biệt. Mãi một lúc lâu chiếc mũ tráng của anh vẫn dập dờn dẫn đầu các chiến sĩ trượt tuyết trên dường cái lớn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2020, 06:41:39 am

       
*

        Suốt buổi sáng hôm ấy, La-tô-skin và Đi-a-cốp ở tại trung tâm thông tin của Bộ tham mưu phân khu, nói chuyện với tư lệnh tập đoàn quân (liên lạc điện thoại với ông bị gián đoạn mấy hôm nay vừa mới được nối lại mấy giờ trước đây); và cũng từ đây, La-tô-skin trực tiếp báo cáo thẳng qua truyền phát thanh tới Mát-xcơ-va và ủy ban quốc phòng nhà nước. Sau đó ông sửa soạn về tỉnh ủy và thiếu tướng sau khi mặc áo khoác và đội mũ lông, cũng đi ra tiễn ông tới tận xe hơi.

        — Đầu như muốn vỡ ra... — Ông giải thích. — Suốt ngày ngồi, hút thuốc lá, đầu óc bắt đầu thấy nhức nhối...

        La-tô-skin chậm rãi dạo bước trên thềm, trong óc nhẩm lại một lần nữa những câu đã ghi trong báo cáo: « Quân địch, lợi dụng các vật chắn đã rút khỏi phía Tây và Tây Nam...», « Chúng tôi đã ứng dụng mọi biện pháp cần thiết để liên lạc với các đơn vị Hồng quân đang tiến công ở hướng Đông...». «Sự thiếu thốn nghiêm trọng nhiên liệu đã bó tay chúng tôi... ». La-tô-skin vẫn lo là có thể còn bỏ sót điều gì chăng, ông đã báo cáo đầy đủ hết các vấn đề chưa?... Và đây là lần đầu tiên ông nghĩ một cách rõ ràng, một cách vô điều kiện là không thể có « nếu như » và «có thể», «hình như», rằng: « chúng ta thế là đã đứng vững! Không còn nghi ngờ gì nữa. — Chúng ta đã đứng vững, chúng ta đã chiến thắng ! ».

        Ông ngắm nhìn với một cảm giác hình như không nhận ra các đường phố rộng rãi, ngập tuyết mà hầu như hàng ngày ông vẫn đi qua... Trong thành phố vẫn diễn ra công việc bận rộn thường ngày: các đội tuần tia đồi phiên ở các ngã tư, người người vội vã đi trên dường phố, trèo qua các đống tuyết, các chiến sĩ ky binh cho những con ngựa xù lông lên vì lạnh đứng nghỉ ăn tại gần các vòi nước. Cửa hiệu chưa mở nhưng tại các quầy bán dầu người mua đã xếp hàng dài; đàn bà, trẻ em trùm kín khăn, mũ len xách chai, lọ đứng nép sát tường hoặc cạnh các hàng rào (để đề phòng máy bay địch bắt chợt bay qua phát hiện thấy đông người tập trung). Mọi việc đều diễn ra giống như hôm qua, giống như hôm kia. nhưng tất cả đối với La- tô-skin hình như đều khác lạ, hình như đều mất hết ý nghĩ khắc nghiệt của mình... Ông rất muốn đến bên những người phụ nữ và trẻ em đang xếp hàng kia — có lẽ họ đã phải kiên nhẫn đứng xếp hàng từ tối hôm qua và đang sốt ruột mong giờ mở cửa quầy bán dầu —  và nói rõ to đề mọi người có thể nghe được: « Các đồng chí ơi, đồng bào ơi, chúng ta đã chiến thắng! Mọi đắng cay, gian khổ, khó khăn nhất đã lùi về phía sau. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có đủ ánh sáng điện cho từng căn phòng, sẽ có đầy đủ bánh mì, than đốt...».

        La-tô-skin thở dài tựa như người vừa bỏ được gánh nặng trên vai xuống; trên khuôn mặt gầy gầy với vầng trán cao và bộ râu rễ tre lởm chởm dưới cằm— hiện lên vẻ mệt mỏi nhưng nhẹ nhõm

        — Anh I-van Đi-a-cốp, chúng ta cùng đi dạo một lát xem, — ông bỗng đề nghị với Đi-a-cốp. — Vất xe ô tô cho quỷ nó đi. Chúng ta đi bộ thôi...

        — Ừ, đi dạo bây giờ chẳng phải là điều vô ích. —: Sau một lúc suy nghĩ, Đi-a-cốp đồng ý. — Cái chính là ngồi và hút thuốc lá nhiều nên cái đầu bắt đầu nhức rồi ..

        Và chính cái điều hai người cùng quyết định cho phép mình được « đi dạo » hôm nay đã làm cho La-tô-skin cảm thấy được điều đặc biệt hiếm có và điều khác thường của buổi sáng rất bình thường này... Ông để xe lại, đề nghị lái xe báo cho bà thư ký Ma-ri-a biết là một giờ rưỡi nữa ông sẽ về văn phòng tỉnh ủy; còn Đi-a-cốp cũng bảo cho sĩ quan tùy tùng biết là một giờ rưỡi nữa ông cũng sẽ quay về Bộ tư lệnh. Hai người khoan thai dạo bước... Không gian yên tĩnh, lặng gió — tuy không có nắng nhưng bầu trời mùa đông lại rất sáng sủa và trong bầu không khí lạnh ngắt đó, mỗi một tiếng động như tiếng nhạc ngựa, tiếng mở then cửa ở quầy bán dầu — đều vang lên nghe rành rọ tận phía xa.

        Đi được mấy bước, La-tô-skin quay lại Đi-a-cốp — đường hẹp nên hai người không đi sóng đôi được — và hỏi to:

        — Nào, đồng chí thiếu tướng tư lệnh phân khu, hôm nay anh cảm thấy thế nào?

        Nghe trong giọng sảng khoái của ông có nghĩa như muốn nói: « Chúng tôi đã đứng vững với các anh, chúng ta đã chiến thắng ».

        Đang trầm ngâm với ý nghĩ của mình, Đi-a-cốp chưa trả lời ngay được... Trong ánh nắng ban mai, thậm chí, có thể thấy rõ những nếp nhăn trên mặt ông, những nếp nhan trên cổ do cổ áo tạo nên và cặp lông mi hơi sưng sưng, đo đỏ — làm cho ông hôm nay trông có vẻ già hơn và hình như không được khỏe mạnh lắm... Chiếc mũ lông của ông chụp sâu trên đầu, chiếc áo ca pốt màu xanh cài hết khuy và móc trông căng hẳn ra.

        — Tôi thấy rất khỏe, rất phấn chấn, — ông khẽ thốt lên. — Giờ chỉ cần được ngủ một giấc thì hay biết mấy. Nhưng ở đằng kia...

        Ông không nói hết câu và im lặng...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2020, 08:09:24 pm

        Tù phía sau một nhóm người đi đến gần, rồi vượt hai người. Họ mặc áo bông trần, áo bành tô rách, bẩn, một số lại đeo cả bao dựng dụng cụ, đồ nghề — có lẽ đội công nhân sửa chữa đang trở về sau phiên trực. La-tô-skin vả Đi-a-cốp đứng tránh sang bên nhường đường cho họ và, trước mặt hai ông là những người nét mặt già nua và trẻ trung xanh xao, mệt mỏi vì rét — họ là những người chưa đến tuổi nhập ngũ và đã quá tuổi động viên. Có lẽ họ trở về sau ca làm đêm ở đâu đó để sửa chữa một phân xưởng nào đó bị trúng bom. La- tô-skin chợt nghĩ: những ông bố và những cậu con trai ở tuổi vị thành niên, đang mệt mỏi và đói lòng này có lẽ chưa được nghe biết gì về những điều mà ông đã biết, những con người chiến thắng đang rụt đầu vào những chiếc cổ áo dựng đựng, vào những chiếc mũ nhầu nát này có lẽ chưa biết tí gì về thắng lợi của mình...

        « Quân thù tháo chạy khỏi thành phố chúng ta rồi... Các đồng chí, đã thắng! — Ồng định hét to lên với họ. — Giờ đây mọi sự sẽ đổi khác...».

        Quay sang với người đồng hành của mình, ông sôi nổi tin tưởng khẽ nói:

        — Anh có thấy là người ta còn viết rất ít về giai cấp công nhân chúng ta, anh có thấy thế không, ít lắm... Các nhà văn, nhà thơ cần phải viết nhiều về những người thợ làm súng đạn, người thợ chế tạo máy, về công nhân đường sắt, về những người thợ mỏ và cả những người thợ may nữa. Thật tiếc là Mai-a-cốp-xki không sống đến bây giờ! Giá mà Mai-a-cốp-xki thi, ông ấy biết sẽ viết gì!... Tôi sinh ra ở nông thôn, lôi là dân vùng Ri-a-dan... Đã hái hàng bì hoa hướng dương, đã nhịn đói đào đất, — có lẽ anh đã nghe về cái vùng chúng tôi? Bố tôi đến bây giờ vẫn làm đội trưởng sản xuất ở nông trang, —  ông tự kể về mình một cách sung sướng và cởi mở. — Nhưng người đầu tiên đã mở mắt cho tôi nhìn đời lại là một người Mát-xcơ-va, người bôn-sê-vích, thợ rèn ở nhà máy Gu-gi-ôn. Nam một ngàn chín trăm mười tám ông về làng tôi thành lập chính quyền Xô-viết... Ông sống trong ngôi nhà của chúng tôi, với danh nghĩa là người ở trọ, làm thợ rèn. Nhờ ông nên tôi mới biết về sự nghiệp của giai cấp công nhân, về chủ nghĩa xã hội. Thật là một con người tuyệt vời, thông minh, hiểu rộng, biết nhiều.

        Đi-a-cốp chỉ gật đầu tỏ vẻ vẫn lắng nghe.

        — Chạy đâu, chạy đi đâu? — Đứng lại! — La-tô-skin bỗng hét lên, đang tay ra cản đường.

        Từ góc đường bỗng chạy xô ra hai cậu bé. Các cậu đang khom người kéo chiếc xe trượt tuyết nhỏ, trên chất dầy những thanh gỗ cháy sém có lẽ để làm củi dốt lò.

        — Các cháu lấy ở đâu đấy. Nào, đứng lại, trả lời đi... — La-tô-skin giả vờ nghiêm mặt, hỏi.

        Ông đứng chắn ngang đường và hai cậu bé đành phải dừng lại, mặt đỏ gay, lúng túng.

        — Nhặt ở phố Gôn-tra-rốp, bác hỏi làm gì vậy? — cậu bé lớn tuổi mặc chiếc áo bông cộc và chiếc quần rộng thùng thinh có lẽ là của bố, vội đáp vẻ sợ sệt. —Ở đấy, có ngôi nhà lớn bị trúng bom, đã cháy hết, từ lâu rồi...   

        Chú bé vẫn cố xoay xở, vừa giải thích vừa sửa lại đoạn dây thừng vòng từ sau gáy qua cổ, vừa đưa ông tay áo quệt mũi vừa cố kéo chiếc xe và nhìn lại sau xem các « chiến lợi phẩm » cỏ còn nguyên không ?

        — Chúng nó cháy sém thế này chỉ còn đốt lờ sưởi được thôi, —  cậu ta lại thanh minh thêm.

        — Ở đấy còn khối, tha hồ lấy, — cậu ta vừa thở hồn hển vừa the thé hét bảo cậu bé cùng đi đội chiếc mũ trùm tai bằng da thỏ —  và quả thật trông cậu ta cũng giống như con thỏ vì đôi mắt xanh hơi hiếng. — Các bác cứ đến phó Gôn-tra-róp, có lẽ các bác cũng cần lấy một ít mà dùng.

        — Sao, sao?... Chà chà, chú bé láu cá thật! — La-tô-skin cười vang, tránh sang bên nhường cho hai cậu nhỏ.

        — Kéo đi, còn chờ gì nữa, — cậu bé lớn ra lệnh.

        Và cả hai cùng chồm lên, kéo nhanh chiếc xe chờ củi đi tiếp.

        — Chúng thật tháo vát! — La-tô-skin vui vẻ nhận xét.

        — Đáng lẽ chúng phải đi học, — Đi-a-cốp bỗng nhận xét một cách nghiêm khắc, — chúng phải được đi học...

        La-tô-skin ngạc nhiên nhìn thiếu tướng — giọng nói của ông hôm nay có vẻ gì thật khó hiểu.

        — Giờ thì chẳng bao lâu nữa chúng sẽ được đi học, tôi xin hứa với anh như vậy. — La-tô-skin nói. — Trong vòng hai tuần nữa, tôi sẽ huy động mọi người làm ngoài giờ để dọn sạch và hồi phục lại các trường học và vào đầu tháng giêng sẽ bắt đầu khai trường... — Ông quay nhìn vào mắt Đi-a-cốp. — Nhưng cũng phải báo động cho anh biết, đồng chí thiếu tướng ạ, sở chỉ huy của các anh là khu trường bảy năm đấy.

        — Tôi không phản đối, — Đi-a-cốp nói. Phải thế thôi, và... Thôi, chúng ta phải tạm biệt nhau chứ, anh I-a-cốp Da-kha-rô-vich.

        — Sao anh vội thế... Hôm nay trông anh thế nào ấy, tôi không thích tí nào cả.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2020, 08:09:49 pm

        Dù Đi-a-cốp vốn là con người cũng hay thích nói đùa nhưng lần này ông có vẻ không để ý, hay nói đúng hơn, không hiểu câu nói đùa này.

        — Vài ba ngày nữa, T. sẽ là thành phố hậu phương... Đã đến lúc có thể đuổi bọn xâm lược chạy đến mức không nhấc nổi chân lên được... — Ông nói với vẻ căm giận như muốn tự trả lời cho ý nghĩ của mình; khuôn mặt thiếu tướng có vẻ nặng nề và đôi mắt màu xám xanh của ông long lên dưới hàng mi rậm — Tôi còn nắm được quá ít tình hình phía Bắc thành phố mặc dầu chỉ được biết qua là ở dấy, quân ta cũng đang tiến lên. Mặt trận quân Đức ở ngoại vi quanh Mát-xcơ-va đã bị rung chuyển, các cánh quân của chúng đã bị đánh tan. Chúng đã thua, đã lùi bước, theo tôi, chiến thắng to lớn có tầm chiến lược này của chúng ta, chính đã tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh.

        — Đúng, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là bước ngoặt, —  La-tô-skin nói. Và ngay trong thâm tâm, ông cũng thầm nhắc lại để có thể tận hưởng hết ý nghĩa thực sự của mấy tiếng đó của mình.

        « Đúng, đây chính là bước ngoặt... ».

        Phía bên kia đường có một người nào đó đang đi lại, tay vẫy vẫy mũ ra hiệu chào bí thư tỉnh ủy... Từ xa. La-tô-skin đã nhận ra Pô-lu-a-nốp — một trong những người lãnh đạo của hợp tác xã thủ công nghiệp thành phố (theo ý ông thì anh ta là một cán bộ loại rất xoàng) và ông cũng cầm mũ vẫy vẫy chào lại — dù thế nào chăng nữa thì, hôm nay đây, anh ta vẫn là một trong những người chiến thắng như tất cả những người khác đa tham gia bảo vệ thành phố T. này. Pô-lu-a-nốp ngơ ngác nhìn quanh, có lẽ anh ta không hề nghĩ rằng, bí thư tình ủy lại có thể dành cho anh ta thái độ chào hỏi thân mật và trang trọng như vậy...

        Đường phố đã dần dần náo nhiệt hơn — trung tâm thành phố chẳng còn bao xa nữa... Trước quầy bán báo đã có một đám đông người xếp hàng chờ đợi để mua Số báo mới nhất ra ngày hôm qua, tờ «Sự thật Mát-xcơ-va» (từ tối qua chuyến bưu điện đầu tiên từ Mát-xcơ-va tới, đã có được mấy chục tờ được chuyền tới trước); còn xa hơn chút nữa, gần ngôi nhà quét vôi màu xám, treo tấm biển đề là trụ sở của hợp tác xã mỹ nghệ «Nghệ thuật », và là nơi hiện giờ đang sản xuất lựu đạn và mìn có một tốp chiến sĩ Hồng quân đang khẩn trương khênh vác những hòm gỗ lên xe... Còn kia đã vang lên tiếng mở cửa ở hiệu bán bánh mì và, ngay sau đấy, thoảng bay tới mùi bánh mì nướng thơm thơm, dịu ngọt và ấm áp quyện lấy La-tô- skin... Và dù chỉ là những chi tiết nhỏ nhặt như vậy của cuộc sống trên cái đường phố nhỏ chẳng có gì đáng chú ý đặc biệt này đã gây cho ông niềm thú vị khác thường. Hình như thành phố trong đó từ trẻ con đến người lớn, hôm nay đều đã trở thành người chiến thắng, đã khoác một bộ mặt mới, tuyệt diệu hơn... Quả thật trước đây chưa bao giờ La-tô-skin lại tò mò chú ý đến những đường phố quá quen thuộc, đến những con người đang đi ở đây với vẻ mặt buồn rầu, lo lắng, thậm chí đến cả những mặt nhà bẩn thỉu của ngôi nhà cũ kỹ này. Đến cổng vào nhà máy Chế tạo máy, ông đứng tránh sang một bên, nhường cho ba nữ công nhân đi ra... Một cô đôi má đỏ ửng vì lạnh, một cô khác có bộ lông mi đen, cong vút đã thu hút sự chú ý của ông, còn cô thứ ba, rất tiếc là khuôn mặt bị trùm kín trong chiếc khăn vuông. Ba cô công nhân đều đeo trên lưng một bao tải lớn, nént chặt có lẽ là vỏ bào. Nhìn họ, La-tô-skin sững người lại tựa như mãi đến giờ, ông mới phát hiện ra trong thành phố của ông có nhiều phụ nữ trẻ, đẹp đang sống và quả thật, điều này có thể là hôm qua ông không hề nghĩ tới; và, không phải là quá đáng nếu như giờ đây ông có thể không do dự gì khi gọi hai cô gái kia là hoa khôi thực sự... Ông phân vân quay lại và ngay lúc ấy, cô gái đi đầu, chính cô má ửng đỏ, cũng ngoái nhìn lại ông...

        — Ồ, các đồng chí thủ trường ơi, đi dạo chơi với hai tay không như vậy thật phí hoài, — cô vừa cười vừa hét với theo.

        — Anh thấy chưa, anh đã thấy các cô gái của thanh phố chúng ta chưa, anh I-van Đi-a-cốp! — La-tô-skin nói.— Còn anh thì lại vội vã định trở về... Thật đáng tiếc cho chúng ta là những người đã có gia đình, đã luống tuổi !...

        Đi-a-cốp không đáp lại; hai tay chắp sau lưng, thiếu tướng chậm chạp bước đi, mắt nhìn thẳng chứ không nhìn xuống chân như lúc nãy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2020, 08:10:11 pm

        « Đúng, hôm nay ông ta có điều gì thế này ?!» — La-tô-skin thầm nghĩ khó hiểu. Đến trước công nhà máy, thiếu tướng dừng lại và định quay trở lại — cuộc đi dạo này vẫn không làm cho lòng ông khuây khỏa nhẹ nhàng hơn như ông vẫn mong muốn một cách miễn cưỡng... Hôm qua Đi-a-cốp đã nhận được tin nhà do bà vợ báo tin qua mấy bức thư liền một lúc bị đọng lại vì những ngày thành phố mất liên lạc; sau khi bóc lá thư thứ nhất — theo dấu đóng của bưu điện, ông mới biết là đứa con trai út bị ốm nặng... Và có thể tiếp tục cộng việc của mình một cách bình thường như lãnh đạo bộ đội trong chiến đấu, ra những quyết định, nghe cấp dưới báo cáo, nghiên cứu bản đồ chiến sự... với sự tập trung trí tuệ và nghị lực cao nhất như những ngày đầu phản công đòi hỏi, thiếu tướng quyết định đề những lá thư chưa được bóc lại — bằng cách đó ông đã cố trì hoãn đến tối hoặc đêm khuya không muốn đón nhận những tin tức đau xót hơn... Mãi tới sáng hôm nay, cảm thấy được rỗi rãi, thư thái đôi chút (các báo cáo từ đơn vị gửi về đã an ủi ông rất nhiều) ông mới bóc lá thư đề ngày viết gần nhất— một lá thư ngắn nhất, vẻn vẹn có mấy dòng trên trang giấy nhỏ, do vợ ông viết rất tháu với nét chữ nguệch ngoạc, đau xót ngay sau khi vừa chôn đứa con trai... Gia đình Đi-a-cốp — vợ và hai con ông — đi sơ tán khỏi Mát-xcơ-va từ tháng Mười; đứa bé thứ hai bị ốm nặng do đường xá xa xôi và giờ đây Đi-a-cốp lại nghĩ rằng nếu không phải đi sơ tán thì có lẽ thằng con ông vẫn sống. Cũng như những con người có nhiệt tình, không hề nhân nhượng trước những khó khăn thất bại, ông đã tự đấu tranh với nỗi bất hạnh của mình bằng cách phân tích, tìm ra kẻ thủ phạm gây ra cái chết của con ông. Và tìm chúng, chẳng phải khó khăn gì lắm — Cái chết vô nghĩa của đứa con trai bé bỏng của ông có thể gắn thêm vào vô vàn tội ác không thể kể hết do quân thù của ông gây nên... Trong khi bị thất bại, bị rút chạy, hình như quân thù đã cố tìm cách xoay xở, và đến phút cuối cùng đã giáng cho ông một đòn mà không bao giờ ông ngờ tới. Và nỗi đau của người bố, lòng căm thù và phẫn nộ, sự khao khát trả thù, cảm giác về sự sơ ý và sai lầm của mình là đã đồng ý và thậm chí còn khuyên gia đình đi sơ tán — đã day dứt ông, dày vò nỗi lòng Đi-a-cốp trong buổi sáng hôm nay.

        — Anh Đi-a-cốp, hình như anh chưa có lúc nào gập gỡ những người thợ chế tạo máy thì phải ? — La-tô-skin nói. — Chưa à?... Vậy thì chúng ta rẽ vào đây một lát, mười lăm phút thôi... Anh sẽ không phải tiếc vì phí thời gian đâu — đây là những con người vàng ngọc đấy! Và những ông thợ già ở mới tuyệt vời làm sao — quả là những nhà nghệ sĩ! Những người thợ ở đây đã sản xuất súng cối và các loại súng chống tăng cho bộ đội của anh đấy... Thôi anh đừng định chối từ nữa, rồi anh sẽ hài lòng về những con người ở đây, — vừa nói, ông vừa kéo tay thiếu tướng đi về cửa lớn, — ở đây người ta chờ đợi anh từ lâu rồi...

        Đi-a-cốp định từ chối nhưng rồi ông phải bằng lòng đồng ý —  vì, đó lẽ, dù sao chăng nữa ông cũng nên đến thăm nhà máy đã làm rất nhiều để phục vụ việc bảo vệ thành phố.

        Tuy vậy, sự xuất hiện bất ngờ của hai người, lúc đầu cũng không làm ai chú ý hay ồn ào gì hơn: những người công nhân đang chăm chú và im lặng làm việc chỉ khẽ gật đầu chào, vẫn không rời khỏi máy — bây giờ chả phải là lúc có thì giờ để làm đầy đủ lẽ nghi cho lịch sự. Nhưng sau đấy một lúc thì giữa bí thư tỉnh ủy và đội trường Ca-da-cốp đã trao đổi chuyện trò rất thú vị về vấn đề không kém phần quan trọng. Lúc đầu, để trả lời câu hỏi của bí thư tỉnh ủy là công việc ra sao, có cần gì dặc biệt không thì ông già Ca-da-cốp — ông có vẻ cao hơn lên, vàng vọt và gầy hơn chỉ khẽ trả lời tựa như nói thầm:

        — Công việc vẫn bình thường, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô- vích ạ! Chúng tôi vẫn sẵn sàng đối với mọi yêu cầu... Nếu việc không chạy thi tự chúng tôi sẽ thúc. Chi có một điều hơi ngại là: sao lâu không thấy cung cấp thép, sắt thép của chứng tôi đã sắp cạn rồi... Tôi đã chính thức báo cho đồng chí Vla-xốp — giám đốc biết là: các anh lấy hàng thì rất đúng hạn nhưng sau đấy thì biến mất. Và, tôi cũng tuyên bố với đồng chí là cần phải nhìn trước những biện pháp cần thiết.

        Bước đến gần, hay đúng hơn là cúi ghé gần La-tô-skin hơn, ông hạ thấp giọng tựa như đang nói tới những chuyện tối mật:

        — Có tin đồn, đồng chí I-a-cốp ạ, tin lành thôi: hình như bọn Đức đã rút chạy khỏi thành phố ta. Các chiến sĩ từ làng Mư-skin đến nhận súng trường ở đây có nói là, ở chỗ họ đã yên tĩnh rồi; họ nói là không còn thấy quân Đức ở các vùng quanh thành phố nữa. Thế là chủng tôi cứ đoán mò với nhau : có nên tin những lời đồn này không?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2020, 08:10:36 pm
         
        Ô-rô-lốp — phân xưởng trưởng cùng đi hướng dẫn La-tô-skin và Đi-a-cốp vươn cổ ra lắng nghe: bộ râu cố đạo của ông xõa ra như chiếc quạt; còn An-ma-dốp thì ngừng máy — trông ông trắng bệch và lạnh lùng như ông già tuyết năm mới; có người nào đó vẫn để máy chạy nhưng ngoái nhìn theo La-tô-skin; từ sau bức vách ngăn Ni-cô-la-ép-xki xuất hiện... Trong phân xưởng không có lò sưởi gì cả, có lẽ đã không phải riêng hôm nay hay hôm qua và hôm kia — mọi người vẫn phải mặc áo bành tô, đội mũ lông, mũ trùm tai, trùm khăn đề làm việc; hơi nước bốc lên từ những thùng nhúng thép rèn tỏa ra, chậm chạp hòa trong bầu không khí đầy chất sắt. La-tô-skin vội có ý trả lời vì, từ lâu nay những con người ở đây đã nóng lòng chờ đợi tin vui này, do đó không nên làm khổ họ hơn nữa...

        — Tại sao lại không tin sự thật được, phải tin sự thật chứ... —  Ông nói nhanh.

        — Và ông cũng ngạc nhiên với chính mình là đối với sự kiện tuyệt vời, mọi người mong đợi như vậy — sự chiến thắng — mà ông có thể nói ra một cách đơn giản, nhẹ nhàng như vậy. Ông nhìn Đi- a-cốp — ông này đứng hơi xa một chút, hai tay vẫn chắp sau lưng đang nhìn qua cánh cửa sổ phủ một lớp băng mỏng như tráng phim —  và nói to, giọng vang hơn:

        — Vinh quang thuộc về Hồng quân Công Nông của chúng ta, các đồng chí ạ ! Vinh quang thuộc về quân đội giải phóng của chúng ta!

        Bầy lũ quân thù vây hãm thành phố đã tháo chạy, đã tan rã. Và từ những khu vực khác của mặt trận Mát-xcơ-va cũng có những tin tức tốt lành, những tin vui tuyệt vời... Vinh quang thay Hồng quân chúng ta... — La-tô-skin nhắc lại, — vinh quang này thuộc về các chiến sĩ dũng cảm và các vị tướng lĩnh tài ba của quân đội chúng ta!

        Đi-a-cốp rời khỏi cửa sổ; hai tay đang chắp sau lưng, liền rời ra và ông đứng nghiêm lại... Hàng chục cặp mắt long lanh, rạng rỡ trong bầu không khí đầy bụi sắt đang cùng hướng nhìn ông và, nhìn vào những cặp mắt đó — những cặp mắt già nua, trai trẻ; của phụ nữ —  thẫn thờ, long lanh, mở rộng, — bất giác làm cho vị tướng ưỡn thẳng người lên, đứng nghiêm như khi đáp lễ duyệt binh.

        — Ồ, đồng chí thiếu tướng! Nào, nào, các chàng trai! Các chàng trai!... — Cụ Ca-da-cốp lướt nhanh tới bên Đi-a-cổp, lắp bắp thì thầm. — Các con, các con đã an ủi nhân dân, đã an ủi...

        Cụ già vung đôi bàn tay bé bỏng như tay trẻ con của mình lên như định nắm bắt một cái gì đó... Từ mọi nơi, mọi người rời máy móc, từ hành lang chạy vào xúm quanh Đi-a-cốp. Và ngay lúc ấy vị tướng cảm thấy rộn lên một cảm giác khó tả mà sau này, ông còn gặp, còn sống nhiều lần nữa — ông như bị mất tự chủ một lúc và trong khóe mắt — cặp mắt luôn sắc lạnh, nghiêm khắc của ông — bất giác rưng rưng nước mắt.

        Có thể, nếu hôm nay Đi-a-cốp không cảm thấy buồn, không cảm thấy tâm hồn đang có điều xao xuyến thì có lẽ ông cũng không mềm yếu đến thế này. Nhưng ông không phải chỉ xúc động thôi — những lời thì thào của cụ Ca-da-cốp như những mũi kim châm vào tim ông —  cũng không phải như khóc thương đứa con trai bé bỏng của ông.

        — Các con đã sưởi ấm bao trái tim... Sẽ cúi mình sát đất, kính chào các con. — Cụ Ca-da-cốp vẫn thì thào, thì thào, — vì sự lao động, vì máu của chúng ta đã đổ...

        Ni-cô-la-ép-xki chen tới bên Đi-a-cốp, cất mũ chào một cách hết, sức lịch thiệp và nói:

        — Xin kính chào! Xin phép hỏi một chút về tình hình mặt trận bên phải: bọn địch đã bị quét sạch khắp nơi, có phải không ?

        — Đúng như vậy... Chúng đã tháo chạy hoàn toàn rối loạn... —  Đi-a-cốp nói, giọng vang vang.

        Và để cho nước mắt khỏi trào ra trên má, ông vươn ngực, ưỡn thẳng người, nín thở và không chớp mắt nữa. Ông không nhìn rõ những ai đang đứng trước mình, đang nói với mình, nhưng mọi người có cảm giác như vị tướng uy nghi còn khá trẻ này đang đứng nghiêm trước thủ trưởng, trước Ca-da-cốp người công nhân lão thành bảy mươi tuổi, trước ông già thợ tiện An-ma-dốp, trước ông già thợ nguội Sép-kin, trước cụ Oóc-lốp — thợ cơ khí, cụ Ni-cô-la-ép- xki— thợ khắc chạm và thậm chí trước cả cô kỹ sư cơ khí trẻ Na- ta-sa Trô-mô-na đang cố nhón lên sau đôi vai vạm vỡ của chị Pra- xcô-vi-a Ni-ki-ti-na.

        — Quân Đức đã đứng giữa các gọng kìm Nga, — An-ma-dốp nói. — Con thấy đấy, gân cốt chúng ta sẽ càng vững vàng hơn...

        — Đúng như vậy, —Đi-a-cốp khẳng định.

        — Đồng chí thiếu tướng, đồng chí có phải ở sư đoàn Tra-pa-ép không? — Một người nào đó nhón cao trong đám đông, hỏi to. —  Này các bác đừng cản tôi, cho tôi hỏi vài lời: đồng chí có phải ở sư đoàn Tra-pa-ép không? Bố tôi cũng là lính sư đoàn Tra-pa-ép...

        — Không phải đâu... Tôi bắt đầu phục vụ là linh trung liên ở quân đoàn ky binh thứ nhất, — Đi-a-cốp báo cáo.

        La-tô-skin bỏ mũ, hít một hơi dài làn không khí lạnh ngắt đượm mùi sắt của phân xưởng.

        «Tất cả chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân, — ông vui sướng và tràn trề hạnh phúc thăm nghĩ, — chúng ta chỉ là đày tớ, không hơn không kém... ».

        ... Khi các vị khách: bí thư tỉnh ủy và thiếu tướng tư lệnh bộ chỉ huy thành phố từ giã phân xưởng, cụ Ca-da-cốp tỏ vẻ phân vân, buồn rầu than thở:

        — Chà, các ông ạ, thật đáng buồn! Ông A-li-ô-sa Grô-mốp lại đang ở bệnh viện... Bao nhiêu chuyện đã xảy ra! Na-tan-ca! Na-ta- sa ! — Ông cất tiếng gọi cô con dâu người bạn già — Cháu có vào bệnh viện bây giờ không?

        — Đi đâu cơ ạ ? — Na-ta-sa không hiểu ngay là tại sao trong cái giờ phút đầy phấn khởi này ông cụ lại hỏi cô chuyện đi bệnh viện. — Vâng, tất nhiên cháu sẽ đi! Họ chỉ tiếp nhận quà từ năm đến sáu giờ chiều... Ngày nào cháu cũng vào thăm mà...

        — Hôm nay bác đi cùng cháu, Na-ta-sa ạ! — Cụ Ca-da-cốp nói. — Bác sẽ thông báo cho ông Grô-mốp biết mọi chuyện... Thật là buồn biết bao, — ông ấy ở trong bệnh viện chẳng biết một tí gì cả !

        « Người nào khác thì được, chứ Grô-mốp phải là người đầu tiên biết tin chiến thắng này — ông buồn rầu thầm nghĩ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2020, 10:49:58 am
        
5

        Khi Bốt-đa-nốp đi ngựa xuống trạm quan sát đặt trong cánh rừng thì trời đã tối mịt. Và ở đây đại tá lại biết thèm một tin mới rất tuyệt: các đơn vị bảo vệ T. đã tiến quân thắng lợi về phía sư đoàn anh... Đội trượt tuyết ở T. được cử đến liên lạc đã đi liền một mạch sáu chục cây số không nghỉ chân, vừa mới có mặt ở vị trí trung đoàn mười hai và Pô-crốp-xki cử người chỉ huy nhóm này đến sở chỉ huy của Bốt-đa-nốp.

        — Anh ta đâu? Mời lại gặp tôi — Sư đoàn trưởng sốt ruột nói với Ta-ren-kin. «Đi-a-cốp... I-van Ti-mô-phê-vích đang đến gặp mình». — Anh nghĩ một cách hài lòng. — Con người ấy không để mất thế chủ động... Từ hai phía chúng ta sẽ siết chặt Gu-đê-ri-an ». Anh trao dây cương cho cần vụ và đi lên trước... Bỗng từ sau bức tường cây màu xám trong bóng tối dày đặc, một bóng người to lớn, toàn thân trắng toát, từ đầu đến chân phủ đày tuyết đột ngột bước ra. Vị đại tá nhỏ bé nhìn từ dưới lên trên rồi vừa cười vừa nói:

        — Ô hô! Anh từ đâu đến thế?

        Người lực sĩ trong bộ quần áo đày tuyết trả lời chậm rãi như thể vừa nói vừa nghĩ:

        — Grô-mốp, đại đội trưởng thuộc trung đoàn công nhân...

        Anh đứng nghiêm nặng nề giơ tay lên chào, sư đoàn trưởng lúng túng tựa như do dự: anh muốn ôm chặt lấy người sứ giả từ T. đến, nhưng thân hình chàng thanh niên quá to lớn so với anh nên anh đã kìm lại.

        — Tôi biết đơn vị của các đồng chí. — Bốt-đa-nốp thốt lên. —  Chúng ta đã quen biết nhau trong các trận chiến đấu vừa qua. Sau đó — rất tiếc là khổng còn thời gian đề nhớ lại — anh hỏi luôn không cần chuyền tiểp: — Đồng chí đã thấy những gì trên đường tới đây? Bọn Đức ở đâu ? Cuộc hành trình của các đồng chí ra sao ?

        — Chúng tôi đi vòng qua rừng theo bãi lầy tránh vùng đất hoang. Các nông trang viên đã cử người dẫn đường chúng tôi, — mấp máy đôi môi nứt nẻ, đại đội trưởng trung đoàn công nhân báo cáo. —  Ở chính vùng Đất hoang bọn Đức tập trung rất nhiều phương tiện kỹ thuật, hàng chục xe bọc thép, ô tô chở đầy đạn được... Đường đi từ đó chỉ có một lối duy nhất qua An-tô-nốp; xung quanh là đầm lầy...

        Bốt-đa-nốp lắng nghe, một lần nữa anh lại muốn cám ơn người đại diện của Đi-a-cốp tới.

        ... Trong lúc con người to lớn trắng toát này nói, Bốp-đa-nốp liền suy nghĩ ngay tới kế hoạch cuộc tiến quân mới, những nét kế hoạch nảy sinh nhanh chóng và rõ ràng một cách kỳ lạ, như thường thấy khi sự tưởng tượng được chắp cánh và trái tim không biết sợ hãi... Các đơn vị từ vùng T. tiến công ra đã chặn đường rút lui của giặc sang phía Tây trên một mặt trận lớn và điều đó đã tạo nên những điều kiện thuận lợi để bao vây quân Đức đang tập trung ở vùng Đất hoang.

        — Thôi đồng chí hãy nghỉ đi, nghỉ đi... — Sư đoàn trưởng nói. —  Ngủ đi một chút... Cho phép đồng chí sáu tiếng nghỉ ngơi. Xê-ri-ô-gia hay tỏ lòng mến khách đối với đồng chí chỉ huy đi... Đại úy Ta-ren-kin, hãy gọi đây nói cho Rê-lô-dúp.

        Pa-ven Grô-mốp lùi lại một bước, tựa người vào cây và kiệt sức, ngồi phịch xuống tuyết...

        Du-ép, sĩ quan tùy tùng của sư trưởng bước tới, tháo chiếc bi đông cài ở thắt lưng ra và lắc lắc...

        — Đồng chí nhấp một ngụm nhé? — Không hiểu sao anh ta vừa vặn nút chai vừa hỏi thì thầm. — « A-ra-vát», năm sao... Uống đi đồng chí chỉ huy, sẽ ấm người ngay đấy... Bây giờ sẽ có ô tô đưa đồng chí về phòng tham mưu.

        Pa-ven không đáp — điều chính yếu lúc này tốt nhất là đừng đi đâu cả, anh không thể vội vàng đi đâu nữa khi đã hoàn toàn kiệt sức. Và một cảm giác biết ơn về sự tuyệt đối yên tĩnh đã xâm chiếm người anh... Pa-ven ngoan ngoan nhấp một ngụm từ cái miệng nút bi đông bé xíu do người thanh niên nào đó ân cần đưa cho anh, Du-ép rót thêm một lần nữa, anh lại uống hết với một cảm giác khoan khoái.

        « Hãy để tôi ở đây, tôi yêu cầu các đồng chí — suýt nữa anh buột miệng. — Tôi được sáu tiếng, sáu tiếng... »

        Dù sao chăng nữa, để người trung úy trẻ khỏi bực mình, Pa-ven cố gắng lẩm bẩm:

        — Cám ơn... Chất nước thật lành mạnh.

        Đâu anh rũ xuống ngực và ngay lúc đó anh thiu thiu ngủ... Đây chưa phải là giấc ngủ, nhưng cũng lựa như cảm giác lắng lắng của giấc mơ, những giọng nói không rõ ràng mang máng vọng đến tai Pa-ven, những âm thanh không phải tiếng điện thoại rung, không phải tiếng những con chim kêu chút chít hay những tiếng thường có ở rừng, một cái gì đó xanh tươi không rõ ràng, chập chờn xuyên qua cặp mi nhắm nghiền... và anh không nhìn thấy những chiếc ô tô to lớn giống như những ngôi nhà kỳ lạ đang chuyển động với cái dáng nghiêng nghiêng đồ sộ đi qua, dọc theo bìa rừng và biến mất vào bóng tối...

        Chỉ lát sau, nơi đặt các trận địa súng cối cận vệ bừng lên những cột lửa khổng lồ ngoằn ngoèo vút khỏi dải đất. Và từ đó, từ chỗ trũng sâu, những ngọn lửa bừng sáng soi rõ vùng xung quanh rồi bất ngờ bay vụt lên trên mang theo các thiên thạch được bao phủ một lớp ête vàng như bị đốt nóng bên trong.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2020, 10:52:26 am

        Tiếng kêu ken két, tiếng rít của đạn rung chuyển không trung... Pa-ven mở mắt và chẳng hiểu gì cả, nhung anh cũng không quá ngạc nhiên, dù đây thực sự như trong giấc mơ, anh nhìn trận mưa sao ở nơi khác đổ xuống những mỏm đồi xa xa. Một chốc ở phía sau Pa-ven dường như có một trận núi lở kinh khủng — những khẩu đại bác ngắn nòng, nặng nề đang gầm lên. Trên sườn dốc rừng phía trước, trên cả khoảng diện tích bọn Đức cố thủ, một màn khói dày đặc bay bốc lên, treo lơ tửng. Những đám cháy chớp nhoáng sít nhau rực sáng dưới chân, những cơn sống động xé nát và hất tung nó lên cao.

        Các khẩu «Ca-chiu-sa» bắn lượt thứ hai, và từ dưới chỗ trũng chùm sao lửa lại bay lên trời. Khi rơi xuống chúng dường như đốt cháy chính mặt đất; Pa-ven nhận rõ những cây bạch dương cháy sáng hồng, đỏ rực nhấp nháy rung rinh và các bụi cây biến thành đám lửa dày dặc... Tuy chưa tinh ngủ hẳn, nhưng anh ngạc nhiên và tò mò thầm nghĩ: cô gái Ca-chiu-sa bí mật này là ai nhỉ, cái tên thật dịu dàng đối với những người chiến sĩ — khi ở T. anh cũng thoáng nghe thấy tên loại súng này...

        Ngay giây phút sau, Pa-ven đã đứng dậy, anh cố tưởng tượng những gì đang diễn ra trong các công sự trên các quả đồi kia và thấy kinh hoàng. Một cảm giác dằn vặt, tê tái lan khắp người anh... Nhưng bỗng nhiên trong ký ức của Pa-ven thoáng hiện ra một bức tranh khác vừa xảy ra cách đây không lâu lắm: vùng ngoại thành T., những cây thùy dương ở hẻm Nhi-cô-lin, Ê-go Trô-sin, cậu Ê-go bất hạnh trong cái áo bành tô màu xám, co dúm người trên mặt đất ẩm ướt. Pa-ven bất giác thầm gọi tên người bạn thân thiết dường như mời anh ta tới xem những điều anh đang nhìn thấy ở đây... Sau Trô-sin, thoáng hiện ra trong giây lát Ô-khốt-nhi-cốp đang nằm duỗi thắng người trên miệng dốc hố bom, Mi-khai-lốp với chòm râu cằm như dệt bằng gấm, lấp lánh dưới mặt trời, rồi đến I-gơ-na-chép, Đru-nhi-cốp... và một ước mơ hão huyền, đầy trí tưởng tượng choán lấy tâm hồn Pa -ven — anh mong cho tất cả những chiến sĩ của anh, tất cả những người đang sống và những người đã chết đứng lên cùng anh trong phút này, ở ngay đây...   

        — Ôi, các cậu ấy không còn nữa... Các bạn! — Anh thì thào nhắc đi nhắc lại với niềm thương tiếc sâu sắc.

        Bốt-đa-nốp im lặng, chăm chú quan sát hoạt động của các khẩu đội cận vệ. Loạt súng thứ ba gầm lên và sư đoàn trưởng ra lệnh ngừng bắn — cần để cho bọn Đức có khả năng cầu xin khoan hồng và đầu hàng.

        Dồn dập có báo cáo về thắng lợi của các đơn vị được chuyển đến. Trung đoàn trưởng trung đoàn mười ba, thiếu tá Bê-lô-dúp được cử đánh vu hồi bọn Đức, gọi điện về báo cáo trung đoàn anh đột nhập vào «Nhà Lớn » hầu như còn nguyên vẹn... Sư đoàn trưởng lại nhảy lên ngựa, hướng về phía Bê-lô-dúp.

        Kéo mũ lông áp sát đầu hơn nữa, Bốt-đa-nốp giật cương cho ngựa phi nước đại ngay từ đầu. Lòng anh xúc động mạnh bởi cảm giác khác thường của con người tràn trề sức sống, đầy nghị lực chiến thắng, cái cảm giác của con người thường có ở lúc hăng say nhiệt tình nhất trong cuộc đời của anh, vào lúc có những công việc to lớn và quan trọng, những chiến công có tính chất quyết định. Trước mắt anh trải dài cánh đồng bao la, rộng lớn, đồng ruộng mênh mông đã được giành lại, đã được giải phóng khỏi tay quân thù và lắng nghe tiếng vó ngựa nhẹ nhàng gõ trên mặt tuyết, tiếng thở phì phì, khịt khịt mũi. Bốt-đa-nốp thoải mái phóng như bay trong bầu không khí trong lành, lạnh cóng, ngây ngất như chất rượư Vốt-ca...

        Đu-ép cố hết sức để khỏi bị tụt lại sau sư đoàn trưởng, anh ghì chặt con ngựa của mình và căng mắt nhìn bóng đêm, tay giữ khẩu tiểu liên đang lắc lư trước ngực.

        Bốt-đa-nốp gặp thiếu tá Bê-lô-dúp đang đứng đợi anh trong nhà kho trống trải phủ băng giá ở gần «Nhà Lớn». Trên trán trung đoàn trưởng lấp ló dải băng trắng thò ra dưới chiếc mũ trùm tai.

        — Hành động tuyệt lắm, đồng chí thiếu tá ạ! — Vừa bước vào Bốt-đa-nốp vừa gật đầu chào. — Đồng chí bị thương à? Vết thương có nặng không?

        — Sượt da tí thôi... — Bê-lô-dúp trả lời giọng êm ái, và nhẹ nhàng như giọng phụ nữ. — Kính chào đồng chí đại tá.

        Tiếp sau đó Bê-lô-dúp báo cáo là ở phía « Tây Nhà Lớn » có một số khu dân sự đã được giải phóng và bọn Đức đã hỗn loạn chạy về phía Nam T. — Bọn chúng bỏ lại toàn bộ xe tải, xe ngựa và kho tàng, — anh nói tiếp bằng giọng ngọt ngào, êm ái của mình. — Không phải thắng lợi chớp nhoáng mà là thất bại chớp nhoáng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2020, 10:52:55 am

        Để chặn đường rút lui của bọn Đức sang phía Nam, Bốt-đa-nốp cho xe tăng và bộ binh đón chặn tắt đường chúng. Đồng thời anh chỉ thị cho trung đoàn trường trung đoàn mười ba theo dõi sát đường rút lui của bọn địch. Cúi người xuống tấm bản đồ được Đu-ép chiếu đèn pin soi sáng, đại tá đưa ngón tay lạnh cóng vì rét chỉ thị:

        — Ở vùng Đất hoang quân đổ bộ sẽ chặn bọn chúng lại. Các đồng chí cần đến đấy vào lúc rạng sáng... Các đồng chí sẽ bao vây, cắt đường đến An-tô-nốp và giáng cho bọn chúng một đòn ở đây. —  Bốt-đa-nốp nói với giọng đặc biệt, rõ ràng và hài lòng các động từ « bao vây », « cắt đứt » « giáng đòn». — Và cùng với các chiến si xe tăng các đồng chí sẽ tiêu diệt chúng, — ngẩng đầu lên, đại tá mỉm cười ngượng nghịu... — Tất nhiên là nếu chúng không hạ vũ khí.

        — Viên đạn sẽ tìm ra kẻ có lỗi, đồng chí đại tá ạ. Đồng chí cho phép thực hiện chứ? — Bê-lô-dúp nói.

        « Một người chi huy gan dạ và có khả năng!» Bốt-đa-nốp thầm nghĩ khi chia tay với thiếu tá.

        Tuy vậy trong những ngày chiến đấu cang thẳng này, anh hoàn toàn hài lòng về tất cả mọi người trong sư đoàn mình, trong thái độ với những đồng nghiệp cấp dưới mới, thái độ thận trọng của Bốt-đa-nốp không còn nữa, và về phần mình anh cũng cảm thấy mọi người xung quanh không còn nhìn anh như trước nữa; sự lạnh nhạt xã giao của anh đối với họ từ những ngày gần đây cũng đã biến mất...

        — Đồng chí đã có lúc nào đến T. chưa, đồng chí thiếu tá ? — Anh hỏi.

        — Chưa có dịp nào cả, — vừa buộc quai mũ xuống dưới cằm, Bê-lô-dúp trả lời. — Nghe nói ở đó người ta làm dàn phong cầm tuyệt lắm.

        — Ừ, không chỉ riêng đàn phòng cầm... Đó là một thành phố công nghiệp cổ kính. Sắp tới, anh sẽ được thấy thành phố ấy, — Bốt- da-nốp nói vẫn cái giọng, dường như chỉ riêng việc vào được T. cũng đã là một phân thường lớn.

        Tuy nhiên đối với riêng anh, người trở về thành phố thân yêu với chiến thắng, thi lại là việc riêng thường tình

        Bê-lô-dúp phóng ngựa về đơn vị còn Bốt-đa-nốp và Ma-scốp đi ra cánh đồng sau làng để dẫn các chiến sĩ xung kích vào trận đánh mới. Đã bốn ngày đêm liền, họ cỏ mặt trong các trận đánh, trong các cuộc hành quân, trong lửa đạn và giờ đây có thể tin rằng họ có khả năng hoàn thành nhiệm vụ mới... Đêm đến, gió mạnh hơn, đất cát xoáy lên bay rào rào như kính vỡ, phủ lên những đống tuyết bên hàng rào, lên những chiếc ô tô đen nháy của bọn Đức bỏ lại và những chiếc áo ca pốt của bọn lính Đức nằm lăn lóc bên lối cổng làng. Trong màn sương tuyết mờ trắng đó hầu như không thể nào nhìn thấy những xạ thủ tiểu liên mặc áo ngụy trang trắng đứng cạnh các ô tô.

        — Các đồng chí, nhân dân đang đợi chúng ta. — Ma-scốp nhấp nhổm trên ngựa, nói rất to, căng mắt cố nhìn vào mặt mọi người. —  Các bà mẹ, những người chị đang nóng lòng chờ đợi! Bọn giặc đang rút chạy, chúng ta không được để chúng kịp hồi sức, tập trung lực lượng... Đồng chí Xta-lin đã chi thị cho chúng ta — tống cổ chúng khỏi đất nước thân yêu... Không được dừng lại !...

        Chính ủy dứt lời, các chiến sĩ trèo lên tháp xe tăng và ngồi xuống. Bốt-da-nốp bước lại gần... Các chiến sĩ mặc áo trắng vừa xuất hiện bất ngờ trong con lốc tuyết đã chạy tản về các phía như những bóng ma, nhanh nhẹn với giọng nói khàn khàn trong cơn giận dữ của trận cuồng phong này. Tất nhiên các chiến sĩ rất mệt, làm sao không mệt được: có ai đó trượt trên mặt nghiêng, rơi ra khỏi xe tăng và ngã xuống đất. Nhưng trong hỗn loạn của những tiếng kêu, tiếng hét, tiếng ra lệnh ấy lại vọng đến tai Bốt-đa-nốp một tiếng cười khô như ở trong thùng.

        — Ai có ghế mềm thì lên đi! — Ai đó kêu tướng lên trong tiếng rú của động cơ bắt đầu khởi động.

        Niềm hân hoạn cực độ của các chiến sĩ vừa tới đây và khi đi đuổi kẻ thù trước mặt, mọi người cười đùa ầm ĩ, sắp xếp lại chỗ đứng từ đầu ở ngoài tháp xe, chen chúc dưới các nòng pháo còn chưa kịp nguội đi vì những loạt đạn mới đây. Và có thể nghĩ rằng không có màn đêm nào, không có băng giá nào dưới hai mươi độ, không một sự ngột ngạt nào, không một cơn mất ngủ nào, trận gió nào, sắt thép nào lại có sức mạnh lớn hơn sức mạnh của các chiến sĩ này. Đoàn xe chở các chiến sĩ trong chớp mắt đã chìm vào bóng đêm, tiếng sắt thép loảng xoảng cũng yếu dần đi. Xa xa, ánh lửa hồng nhạt trên cao hắt xuống lờ mờ, và ngay cả ngọn lửa ờ trong đêm tháng Mười hai dãy tuyết này cũng không cảm thấy lạnh hơn, băng giá hơn...

        « Hãy để cho bộ binh của anh mọc cánh lên, hãy cho nó bay chứ không phải là đi», — Bốt-đa-nốp nhớ lại lân thứ ba trong ngày, đại tá chuyển sở chi huy của mình đến chỗ mới ở khu « Nhà Lớn », ban tham mưu trưng đoàn nằm ngay cuối làng này và thiếu tá Pô-crốp-xki không chậm trễ cử phái viên của mình đến mời sư trưởng tới dùng cơm tối.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2020, 10:53:53 am

        Bốt-đa-nốp quên khuấy mất là chính anh đã hứa, hay nói đúng hơn thì đã dọa thiếu tá là sẽ đến đấy ăn tối. Nhận lời mời anh cười khà khà:

        — Cậu thấy chưa, anh ta nhớ dai đấy chứ! Hãy nói với thiếu tá là chúng tôi sẽ đến, tất cả sẽ đến, — đại tá vui vẻ nói với phái viên.— Bảo anh ấy cứ chuẩn bị đi...

        Nhưng Bốt-đa-nốp còn phải làm việc lâu với tham mưu trưởng, ra chỉ thị ngày hôm sau cho các đơn vị, rồi anh lại báo cáo với tư lệnh tập đoàn quân, ký danh sách khen thưởng, nghe báo cáo của ban quân nhu sư đoàn và của đội trưởng đội cấp cứu... Còn trong căn nhà rộng lớn của xô-viết xã, trong các phòng bên cạnh, cán bộ tham mưu, chiến sĩ liên lạc, thông tin đang túm tụm cúi xuống bên chiếc máy điện thoại, chốc chốc cánh cửa rơm lại đóng ập lại, người đi ra người đi vào, phủi tuyết bám trên giày, gió lùa trên đầu họ, chiếc đèn dầu hỏa treo lơ lửng dưới trần nhà, những bóng đen chập chờn trên bức tường đã bị tung hết giấy dán, ai đó oang oang kề lại cho người viết báo của sư đoàn các chi tiết của trận đánh giành giật khu làng lớn này; người từ các trung đoàn tới thì hỏi đường đi đến phòng chính trị, người thì nằm kềnh, ngủ ngay trên nền nhà sát ngay chân tường, người thỉ mời bạn diếu xì gà « Ha-ba-na » lấy được trong kho của bọn Đức.

        Chính ủy Ma-scốp ngồi ở bàn nói chuyện với hai cụ già — dân khu « Nhà Lớn». Người mặc áo lông cừu, đấu hói, mớ tóc bạc bù xù rủ xuống tận mí mắt, nghiêng người nhìn thẳng vào mắt Ma-scốp.

        — Đồng chí chính ủy ạ! Đồng chí chính ủy!... Bọn quỷ dữ đã bắt mất ông chủ tịch của chúng tôi rồi, tất cả ban quản trị nông trang chỉ còn mình tôi sống sót thôi... Đồng chí chính ủy ạ! — Ông cụ nói mấy câu này với cái giọng như tụng kinh, vừa với sự cầu xin giúp đỡ, vừa hy vọng vào tương lai, vừa có vẻ khoan khoái lại vừa có vẻ xót thương. — Cả làng chỉ còn lại ba con ngựa, mà cũng gãy chân rồi, hai con bò cái, một con dê, năm con cừu non. Nhưng tài sản chúng tôi vẫn bảo quản được phần nào và chỉ mong được cung cấp hạt giống thôi... Đồng chí chính ủy ạ.

        Ông đưa những ngón tay nâu sẫm sờ sờ, xoa xoa tay áo ca pốt có gắn ngôi sao đỏ của Ma-scốp.

        — Ngày mai các cụ tập họp mọi ngựời lại và cùng với họ thử nghĩ xem nên làm gì và bắt đầu từ đâu, — chính ủy nói.

        — Mai đã có thè tập trung được rồi ư ? — Ông già trán hói hỏi lại dường như không tin vào tai mình.

        — Thế còn đợi gì nữa? — Tôi sẽ cử đại diện trong các chỉ huy đến họp với các cụ và sẽ báo cáo tình hình...

        Ông nông trang viên thứ hai có khuôn mặt dài, nheo nheo, đứng yên tại chỗ, hai tay buông thõng, túi bìa các tông kẹp ở nách trông như cái cặp. Lúc Ma-scốp đứng lên thì ông vội vàng rút từ đó ra một tập giấy dày cộm, tả tơi, đặt lên bàn rồi ưỡn thẳng người như kiểu bộ đội và nói :

        — Tôi yêu cầu nhận báo cáo... Số liệu tính đến ngày hôm nay. Đây là các giấy biên nhận của những người được chúng tôi cung cấp mỡ và lúa mạch, kể cả đội du kích.

        Không nói hết câu, ông ho sặc sụa và im lặng, mím chặt môi dường như bỗng nhiên bị bực mình.

        — Kế toán của nông trang chúng tôi, — ủy viên ban quản trị vội vàng giới thiệu với Ma-scốp. — Đã từng được thưởng huân chương trong chiến tranh thế giới thứ nhất đấy... Ông ấy còn giấu thành tích của mình mà...

        — Tỏi phục vụ ở trung đoàn bộ binh thành phố miền hạ lưu Ni-gie-gô-rốt cho đến tháng giêng năm một nghìn chín trăm mười sáu. Bị giải ngũ khỏi quân đội thường trực sau khi bị hơi ép... — Người kế toán im lặng với vẻ bực tức, mím môi trông có vẻ xúc động. —  Tôi yêu cầu đồng chí đọc bản quyết toán này, đồng chí chính ủy ạ.

        Ma-scốp lại ngồi xuống, mở cặp giấy và vội vàng đọc các giấy tờ bên trong. Không nên từ chối lòng nhiệt tình của một con người đã không quản nguy hiểm với cuộc sống của mình để bảo vệ chúng. Trong lúc đó, một nhóm phụ nữ đang túm tụm xung quanh người lính gác trên bậc thềm trụ sở Xô-viết làng còn lăn lóc mấy vỏ đạn và một thùng sắt đựng vài quả lựu đạn.

        — Có lẽ phải cọ rửa nền nhà trụ sở Xô-viết thôi nhỉ? — Một chị thở dài hỏi. — Bọn mất dạy bôi bắn và vứt rác ra khắp nơi... Có lẽ rửa đi chứ ?

        — Khi nào đổi gác anh vào chỗ chúng tôi mà sưởi. — Một chị khác đề nghị.

        — Chúng tôi khổ tâm quá... Ôi khổ quá! — Ai đó kêu lên, giọng lanh lảnh. — Chúng tôi đợi các anh — mắt chị ươn ướt...— Tôi nói thật, từ đáy lòng, từ lòng yêu quý các anh đấy!

        ... Muộn hơn chút nữa, vào quãng gần nửa đêm, Bốt-đa-nốp được báo rằng đội trượt tuyết của bộ đội bảo vệ ở T. đang chuẩn bị quay về... Anh cho gọi đội trưởng tới để chuyển những tin tức cần thiết cho tướng Đi-a-cốp... và khi công việc cuối cùng này được làm xong và tin rằng người đội trưởng đội này đã nắm vững tất cả, anh hỏi thêm về tình hình của đội, các chiến sĩ đã được ngủ tốt chưa, họ được ăn uống có tốt không ? — Bốt-đa-nốp bước ra khỏi bàn...

        — Hiện giờ trung đoàn anh đang chiến đấu ở đâu? — Anh hỏi — Đang tiến công tư phía Đất hoang à ? Á hà, thế đấy... Tôi đã đến chỗ các anh khi các anh đang bảo vệ tuyến đường Oóc-lốp-cơ. Thật là những ngày căng thẳng...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2020, 11:48:57 am

        Anh thấy có thiện cảm với người lực sĩ trẻ tuổi này... Như tất cả những người tầm vóc bé nhỏ khác, trong thâm tâm đại tá cảm thấy hơi ghen tị với những người to lớn như vậy và thậm chí hơi hực mình vì họ. Nhưng sự xuất hiện của người sử giả từ T. đến ngày hôm nay, làm cho anh rất vui mừng .. Nhưng cái quan trọng nhất là người sử giả của tướng Đi-a-cốp đã mang đến cho anh những tin tức về tình hình địch vô cùng quý giá và rất kịp thời.

        — Trước chiến tranh anh đã làm việc ở T. ? Trong thời bình anh làm nghề gì? — Đại tá hỏi chuyện tiếp.

        — Tôi là kỹ sư... Kỹ sư thiết kế máy, — nghiêng người về phía Bốt-đa-nốp, nhìn anh với con mắt yêu thương, chân thành, Pa-ven trả lời: — còn đúng là tôi đã làm việc ở T.

        Pa-ven tưởng tượng như lực lượng cứu nguy của người đại tá nhỏ nhắn, của con người điều khiển được cả sấm chớp trên bầu trời này là vô tận ; với thắng lợi hôm nay, Hồng quân xứng đáng với công lao to lớn của mình. Bên cạnh Bốt-đa-nốp nhẹ nhàng và linh hoạt, Pa-ven cảm thấy mình lúng túng, vụng về. — Đồng chí làm đại đội trưởng đã lâu chưa? — Đại tá hỏi tiếp vẻ quan tâm hơn.

        — Chưa, chưa lâu lắm... Nói thật là mới đây thôi ạ. — Pa-ven nói, có vẻ như người có lỗi.

        — Hãy cẩn thận đấy, đồng chí trang bị sơ sài lắm. — Bốt-đa- nốp nói. — Một khẩu súng ngắn với vài quả lựu đạn thì quá ít đối với một chuyến đi vào vùng địch.

        Anh tháo khẩu tiểu liên của mình treo trên tường và đưa cho Pa-ven:

        — Hãy cầm lấy, đồng chí kỹ sư! Hãy đánh bọn giặc với sức mạnh của kỹ thuật mới... Xê-ri-ô-gia ! — Bốt-đa-nốp gọi người sĩ quan tùy tùng, — cậu tìm cho ít băng đạn dự trữ nữa.

        Pa-ven rất thích thú đeo khẩu tiểu liên của sư trưởng lên ngực. Và không đắn đo gì cả, với tấm lòng nhiệt thành đang trào lên trong lòng, anh rút khẩu súng ngắn khỏi thắt lưng.

        — Xin lỗi, xin phép đồng chí một phút, — anh rút món qua quý giá của « Nhóm thợ giáo sư » ra khỏi bao da. — Xin đồng chi vui lòng nhận món quà kỷ niệm về thành phố của chúng tôi.

        Bốt-đa-nốp cau mày — thật là bất tiện khi anh lại nhận một món quà như thế này... Nhưng không cần phải hoài nghi gì về nó xuất phát từ một trái tim chân thành

        — Đạn « TT » của chúng tôi hoàn toàn rất khớp... Đồng chí hãy nhìn kỹ những đường chạm trồ — Pa-ven nói sôi nổi. — Đúng là một tác phẩm nghệ thuật... Thêm vào đó nó làm việc rất tốt.

        Anh giơ khẩu súng ngắn gần đèn để nhìn cho rõ những đường hoa vẫn trên mặt thép: tràng hoa đây kết bằng lá sồi. Bốt-đa-nốp bất giác ngắm nghía.

        — Thật không thể hiểu được... — Anh nói. — Anh kiếm đâu ra cái của lạ này ?   

        — Bố tôi và các bạn của cụ ở nhà máy chúng tôi làm đấy.. —  Pa-ven vô cùng hài lòng vì anh đã có một món quà ít nhiều cũng xứng đáng với người nói chuyện của anh. — Bố tôi tiện vài chi tiết... Còn nhà cơ học già nhất Oóc-lốp Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, nhân tiện nói thêm, đó là thày dạy tôi, thì thiết kế, còn hoa văn do bác thợ tiện giỏi nhất thành phố Ni-cô-lai-ép-xki làm.

        — Tác phẩm của ông cụ à? — Bốt-đa-nốp hỏi lại.

        — Tất nhiên là của bố tôi! — Pa-ven kêu lên

        Sư đoàn trưởng cầm lấy khẩu súng ngắn cho vào bao.

        — Ồ, nếu vậy xin cảm ơn, — anh nói.

        Ma-scốp thú vị theo dõi hai người bây giờ mới nói đây thiện cảm:

        — Thế đấy, trông như các anh kết nghĩa anh em vậy.

        ... Đêm đã khuya, Bốt-đa-nốp ngồi sưởi ấm và uống vốt ca tại sở chỉ huy của thiếu tá Pô-crốp-xki, lòng khoan khoái, nhẹ nhàng như đang ở giữa những người bạn cũ. Tài điều khiển công việc nội trợ của thiếu tá, người chiến sĩ quang vinh, một trong những người chỉ huy được coi là bậc cha chú vì ông không còn trẻ, anh chàng Đu- ép người gân guốc, râu cằm đen nhánh, khuôn mặt đỏ ửng, má đây lông tơ, đang ngồi mỉm cười mơ màng trong góc nhà và cả sự niềm nở dịu dàng của Ma-scốp, cùng những món ăn ngon lành của thiếu tá đều làm cho Bốt-đa-nốp thấy rất dễ chịu, thoải mái. Nhìn sang Vê-xnin trắng nhợt, im lìm và mệt mỏi, sư trưởng nghĩ rằng anh rất may mắn được gặp tham mưu trưởng, một con người hiểu rất rõ công việc của mình, chăm chỉ và cần cù. Lúc Pô-crốp-xki lại rót rượu ra cốc, Bốt-đa-nốp đề nghị nâng cốc chúc mừng sức khỏe của Vê-xnin «con người của điều lệnh» như chính Vê-xnin đã từng nhận và Vê- xnin rõ ràng là không chờ đợi lời chúc này nên rất xúc động.

        — Pi-e đệ nhất nói thế này, các đồng chí ạ: « Không nắm được điều lệnh thì tựa như người mù đứng bên bức tường... — Nhìn Bốt- đa-nốp trung tá nói vẻ biết ơn — bởi vì nội qui đã được ghi ở đó, song không có thời gian và cơ hội; cho nên người ta phải biết suy luận...». Như vậy là tham mưu trưởng thể hiện lòng biết ơn đối với Bốt-đa-nốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2020, 11:49:15 am

        Sau đó cuộc nói chuyện chuyển sang việc gia đình, việc riêng tư, , theo đề nghị của sư trưởng, Pô-crốp-xki rút ở túi ngực áo va rơi ra bức ảnh con mình — hai cô bé khoảng mười, mười hai tuổi. Tám ảnh các cô bé học sinh mặc váy đồng phục màu trắng được chuyền vòng quanh bàn, mỗi người khi cầm lấy cố nói một câu gì đó cho người cha hài lòng; Pô-crốp-xki lắng nghe với vẻ tự hào ngây thơ và khi cất bức ảnh, anh dịu dàng giải thích:

        — Chúng nó học chẳng ra sao cả, thật khổ... Cả hai đều lười.

        — Thế bây giờ người bạn đời của anh ở đâu, Nhi-cô-lai Phê- đô-rô-vích? — Vê-xnin lịch thiệp hỏi sư trưởng.

        — Nhà tôi ư? — Trong trí tưởng tượng của Bốt-đa-nốp chợt hiện lên hình ảnh cô gái Na-ta-sa người bạn đường vui vẻ, xinh đẹp và tình cờ của anh trên đường từ Mát-xcơ-va đến T. và cũng biến mất không còn lại dấu vết nào. Đề hòa vào cái không khí vui vẻ chung của buổi nói chuyện quanh bàn ăn, dường như sợ một cái gì đó làm xấu đi trong đó, anh trả lời không do dự:

        — Gần đây thôi... Đang ở T. với những người thân thích.

        — Trong trường hợp này thì chúng tôi sẽ làm quen với chị ấy thôi, cần phải có kế hoạch, —Vê-xnin kêu lên.

        — Tôi ghen với hoàn cảnh thuận lợi của anh đấy, — Ma-scốp nói. — Cả nhà tôi đều ở Gui-bư-sép, có lẽ phải hết chiến tranh chúng tôi mới gặp nhau được.

        — Thế chị có kịp đi sơ tán không? — Pô-crốp-xki hỏi. — Có khi điều hại hóa ra điều may mắn.

        — Vợ mình ư? — Bốt-đa-nốp cảm thấy nóng bừng hai bên má, máu dồn mạnh lên mắt, — ừ cô ấy bị kẹt ở đấy...

        «Cái gì chạy trong người mình thế này? — Anh sửng sốt. —  Có qui mà biết được đó là cái gì. Mình nói dối để làm gì kia chứ? ».

        — Bây giờ anh chẳng phải đợi lâu nữa đâu nhé. Chúng ta đang tiến thẳng tới T... — Vê-xnin nói.

        « Thế đấy bản lĩnh, — Vê-xnin nghĩ với vẻ kính trọng khi nhìn sư trưởng — cho đến bây giờ anh ấy cũng không hở một lời nào là ở T. anh có người thân... ».

        Bốt-đa-nốp cúi đầu nhìn cái dĩa và im lặng... Con người trẻ tuổi kia với nước da ngăm ngăm, chai sạn trong băng giá, mái tóc thẳng mượt xanh đen như cánh điều, khỏe mạnh, dẻo dai, bền bỉ, dù cho người không to, vai không rộng, nhưng sao cương quyết vậy, không sợ một trách nhiệm nào, đối với Vê-xnin dường như là biểu hiện sinh động của con người có ý chí không biết do dự.

        — Kẻ thù không làm cho chúng ta đi trệch khỏi T. đâu. Nhất định anh sẽ được thăm nhà, — tham mưu trưởng nói thêm.

        Bốt-đa-nốp nhún vai bằng quơ.

        « Ôi sao lại đến nống nỗi này, — anh ân hận — mình xử sự như một đứa trẻ con!... Và ta sẽ nói gì đây, khi mọi người đi đến T. Đành phải nói dối một lần nữa vậy... Quỉ thật! ».

        Nhưng trong toàn bộ câu chuyện này, lời nói dối đã đưa lại cho Bốt-đa-nốp một sự khoan khoái kỳ lạ. Chỉ khi lời nói đen đủi ấy nói ra, đại tá mới cảm thấy sự tin tưởng hạnh phúc vào điều là anh nhất định sẽ còn gặp lại Na-ta-sa và sẽ đón chị như một người bạn đời... Như một niềm khao, khát không rõ ràng ở trong con người được trở nên rõ ràng, một mong muốn có thật sau khi nó được nêu lên.

        Gần sáng Bốt-đa-nốp và những người khách khác mới rời khỏi nhà Pô-crốp-xki, nhưng ngoài đường dân chúng vẫn tụ tập thành từng nhóm. Đại tá đi hơi khập khiễng — vết thương ở đầu gối dạo chiến dịch Phân Lan lại bắt đầu nhức nhối, điều đó thường xảy ra khi cơ thể mệt mỏi đến cực độ. Ma-scốp im lặng, dăm chiêu bước bên cạnh. Đu-ép vấp liên tục trên đường đi... Có ai đó đang chạy về phía họ, vài thiếu niên tiễn họ, những giọng nói ríu rít vang lên từ sân, nghe thấy cả tiếng cười của phụ nữ, xung quanh ồn lên — như nói đến hạnh phúc của con người — niềm hạnh phúc lớn lao của sự giải phóng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2020, 11:49:53 am

6

        A-lêc-xây Va-xi-li-ê-vich chiến đấu khá lâu với cuộc sống —  gần hai tuần lễ ông nằm trong bệnh viện với vết bỏng nặng và bị dộp. Cho đến ngày cùng của đời mình, ông vẫn không cho mình là người không chiến thắng - Na-ta-sa và An-na Va-xi-li-ép-na kể cho Pa-ven nghe là cho đến giờ cuối cùng ông vẫn bướng bỉnh giữ vững tinh thần và không mất hy vọng. Dù sao chăng nữa ông vẫn rất muốn tin là sẽ khỏi bệnh và hơn bao giờ hết so với những ngày trước đây, ông thực hiệp lời dặn của bác sĩ hết sức nghiêm chinh, cố gắng mang những dải băng trên mình dù ông rất khó chịu, bắt mình phải ăn kỳ hết tất cả những thức ăn người ta đưa cho ông, luôn hỏi han công việc của nhà máy với sự chú ý khát khao và đề nghị mang báo đến cho mình. Cô y tá trực trong phòng của A-lếc-xây Va-xi-li-ê- vích trong buổi đến mà tình trạng sức khỏe của ông đã đến mức xấu nhất nhớ lại rằng, lúc đó ông gọi cô lại gần mình và nói: «Tôi ngủ một chút... Còn chị hãy gọi tôi dậy lúc nào bác sĩ đến...». Ông thiếp đi và không tỉnh lại nữa, mặc mọi sự cố gắng của những người chung quanh. Nhưng sau khi chìm đắm vào giấc ngủ vô giác, vài tri giác của ông mãi mãi bất động. Ông còn sống thêm hai ngày đêm nữa, hấp hối chống cự bằng sức lực cuối cùng của cơ thể.

        Như vậy là Pa-ven không gặp được bố lúc còn sống... Từ chỗ Bốt-đa-nốp trở về thành phố sau khi đến phòng tham mưu để nhận giấy phép nghỉ một ngày. Ở nhà máy, anh được biết rằng, chính vào ngày ấy bố anh không còn nữa. Sáng ngày hôm sau, người ta đưa A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích đi an táng.

         Buổi sáng thi hài ông được đưa từ bệnh viện đến nhà máy, về nơi ông đã hy sinh để bảo vệ nó. Tại đây, bên cạnh chiếc áo quan giản dị bằng gõ thông được trùm vải đỏ, những người cùng tuổi và những người đồng chí trẻ — học trò của Grô-mốp — thành kính đứng túc trực bên linh cữu. Mười lăm phút trước lúc an táng, mọi người nói với Pa-ven là anh cũng phải đứng chào vĩnh biệt, và Pa- ven nghe lời — ngày hôm đó anh làm tất cả những gì mọi người bảo làm — anh đứng vào chỗ nào người ta chỉ cho anh. Đứng cùng với anh có bà An-na Va-xi-li-ép-na, Na-ta-sa và Ca-sa-côp. Bà Anna Va-xi-li-ép-na mặc chiếc áo dài đen, cổ quấn chiếc khăn sao đen viền đăng ten, đôi mắt trũng sâu ráo hoảnh nhìn thẳng trước mặt với một vẻ cứng rắn kín đáo. Na-ta-sa hai mi mắt mọng đỏ vì khóc, chốc chốc lại nhìn sang Pa-ven — chị thấy thương anh Ca-da-cốp —  cũng như những người bạn già khác của Grô-mốp — hôm nay mặc hộ com lê ngày lễ, chiếc sơ mi sạch — luôn lo lắng nhìn quanh. Lá cơ lụa màu đỏ, viền dải băng đen nghiêng trĩu phía trên đầu A-lếc- xây Grô-mốp. Mọi người đứng im lặng chung quanh vĩnh biệt ông. Mặt trời buổi chiều màu vàng rọi xuống các khung cửa sổ nhỏ trên cao, và chỗ đầu kim loại trên cán cờ bỗng bừng lên ngọn lửa màu vàng giống như ngọn đèn nhỏ. Những phút cuối cùng của người thợ tiện già Grô-mốp đang trôi qua trong nhà máy,.. Từ sau bức tường vang lên tiếng máy chạy đều đều và tiếng gõ khe khẽ — ca hai đã bắt đầu làm việc.

        Trông Pa-ven rất lúng túng và hình như có vẻ sợ sệt. Đứng trong hàng người túc trực danh dự với vẻ phân vân kín đáo, Pa-ven nhìn vào con người nắm trong áo quan, vào khuôn mặt người cha hốc hác, vào cái đấu quấn đầy băng của ông, vào cánh tay ôm chặt bên sườn một cách vụng về, cánh tay phải cũng quấn dây băng... Không thể nghi ngờ gì rằng đó là bố anh, bố Pa-ven, ông A-lếc-xây Grô-mốp đã yên nghỉ trên đống chăn đệm trắng toát, trong cái áo vét tông mới bằng nỉ của mình, chân đi giày ống, chiếc ca vát trên cổ lệch sang một phía. Và cùng với những điều vượt quá sức con người, cái làm cho người ta sợ hãi cũng đã xuất hiện trên cơ thể rất quen thuộc này kể từ mỗi nếp nhăn... Mặc dù giờ đây Pa-ven đã phải chúng kiến nhiều cảnh chết chóc, song cái chết bất ngờ của bố đã làm anh choáng váng. Anh vẫn tin rằng bố hoàn toàn hy vọng vào sự giúp đỡ của anh, hơn là anh — một người đã trưởng thành — hy vọng vào sự giúp đỡ của bố, nhưng anh vẫn cảm thấy mình bị côi cút, thiếu mất chỗ dựa quen thuộc trong cuộc sống...

        Vla-xốp, giám đốc nhà máy khe khẽ ra lệnh gì đó, và tất cả từ từ bước đi, bà An-na Va-xỉ-li-ép-na tiến đến chỗ Pa-ven.

        — Đã đến lúc vĩnh biệt, — bà nói nghiêm nghị. — Pa-sa, cháu làm đầu tiên đi.

        Anh nhìn bà một cách khó hiểu rồi ngoan ngoãn chạm môi mình vào môi bố, bất giác anh chờ đợi cặp môi đó đáp lại cái hôn của anh, nhưng anh kinh hoàng vì sự lạnh cứng của chúng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2020, 11:50:18 am

        Người ta nâng quan tài lên trên những chiếc khăn, Pa-ven, Oóc- lốp, An-ma-dốp, Ni-cô-Ia-ép-xki, Ca-da-cốp và bí thư đảng ủy nhà máy cùng khiêng đi. Khi họ vừa bước ra sân, trong nhà máy liền yên lặng hẳn, các máy nổ, máy tiện đã ngừng chạy. Những công nhân làm việc ở ca hai xuất hiện trên cánh cửa mở toang, họ bỏ mũ, tiến lại tập trung ở cửa, nhìn theo người đồng chí già A-lếc-xây Grô-mốp của mình, lần này vĩnh biệt nhà máy ra đi không bao giờ trở về nữa... Một cô gái Pa-ven không biết tên đi phía trước, hai tay nâng chiếc gối trên dặt tấm huân chương «danh dự » mà A-lếc-xây Grô-mốp được tặng thưởng trước chiến tranh không lâu. Trong những phút này chỉ còn nghe tiếng lạo xạo khô khan của tuyết trên khoảng sân rộng lớn và vô cùng lặng lẽ. Khi quan tài mang thi thể A-lếc-xây Grô-mõp ra đến gần cổng gác của nhà máy thì tiếng còi vang lên —  gay gắt, nghe thấu xương — báo cho toàn thành phố biết cái tin đau đớn.

        Ở phía sau cổng lớn, một đám đông cũng đã tụ tập. Đó là những người trong ủy ban phố Pô-rô-khô-va — những người bạn của bà An-na Va-xi-li-ép-na mang theo vòng hoa làm bằng lá thông non với những dải băng xanh đỏ, những đại diện đội sửa chữa của nhà máy Liên hợp luyện kim cũng mang theo cờ hiệu của nhà máy mình. Một bà già lưng còng, có lẽ là bạn của vợ A-lếc-xây Grô-mốp, cũng đi tiễn với một bó hoa hồng giấy trên tay... Điều bất ngờ đối với mọi người là ở giữa phố có một đội nhạc công, có lẽ là đội duy nhất còn lại trong thành phố — gồm có ba kèn đồng, sáo và trống. Đó là những đội viên cứu hỏa đã cử các nhạc công của mình đến đưa tiễn A-lếc-xây Grô-mốp theo yêu cầu của công nhân chế tạo máy cái. Quan tài được để lên thùng xe ô tô, và tiếp đó các bà các chị cũng được mời lên ngồi trên mấy dãy ghế dài. Tiếng còi đột nhiên chấm dứt, đội nhạc thòi bài « Anh hy sinh trong cuộc đấu tranh nguy hiểm... ». Vài phút mặc niệm trôi qua. Na-ta-sa chạy đến chỗ Pa-ven, nắm lấy tay anh — chị thấy không nên để Pa-ven đứng một mình dù trong một phút. Một lát sau ô tô tang đã rẽ sang đại lộ trung tâm của thành phố — xa xa thấp thoáng tòa nhà khách sạn — đối diện với bức tượng Lê-nin bằng đồng. Na-ta-sa nhớ lại một tháng trước đây, khi chị cùng với A-lếc-xây Grô-mốp đi thử súng máy theo con đường này. Chị thở phào và nghĩ ngay đến việc bọn Đức tuy mới bị tống ra khỏi T. cách đây có ba hôm, nhưng mọi cái đã thay đổi cả... Khó có thể nói rằng điều đó thể hiện đặc biệt ở mặt nào: những bao cát vẫn bịt kín các tủ trưng bày của các cửa hàng như cũ — nơi thì kín như bưng, nơi thì dở đang, trên các ngã tư những ụ « con dim » chống tăng nhô ra sau những đống tuyết. Trong khi đó thì các đường phố mà sự xâm nhập của kẻ thù không còn đe dọa nữa, đã mất đi cái vẻ kiêu kỳ khắc khổ gần đây của mình. Tuy nhiên có lẽ cái ấn tượng này có được là bởi vì lúc này đây khắp nơi tuyết đang dăng đầy, tuyết mềm mại, sáng chói đẹp rực rỡ trong ánh hồng nhạt buổi chiều tà. Hôm nay ngày không lạnh lắm, bầu trời trên thành phố không một gợn mây, và Na-ta-sa cảm thấy như bầu không khí của tháng Mười hai này có hương vị của tháng Ba — hương vị tươi mát đầu tiên của mùa xuân. Chị lại cảm thấy buồn rầu, thật đau khổ khi A-lếc-xây Grô-mốp không còn được thấy những điều chị đang được ngắm nhìn. Lát sau Na-ta-sa lại tò mò nhìn ra chung quanh. Chị đã khóc ông bố chồng thân yêu và tốt bụng của chị — từ hôm qua và sáng hôm nay với niềm khao khát không kiềm chế nổi đối với cuộc sống thực tại đã lên tiếng trong lòng chị. Na-ta-sa ngước mắt mình Pa-ven đang lặng lẽ bước đi, đầu cúi gục, vẻ rầu rĩ, thân hình to lớn bó trong chiếc áo ca pốt ngắn bị rách ở vai và chị âu yếm khẽ nắm lấy tay anh. Người mà lúc này cần đến sự an ủi chia sẻ phải chăng chi có một mình anh! Không hiểu sao chị thấy buồn rầu khi nhìn thấy những người bạn già của Grô-mốp... Khi thấy họ — Ca-da-cốp bước thấp bước cao, An-ma-dốp tóc bạc da dẻ hồng hào, Ni-cô-la-ép-xki lau đến mòn cả đôi kính và Oóc-lốp mặc chiếc áo măng tô lông theo kiều cũ dài lê thế — trái tim chị thắt lại vì nỗi đau thương bất ngờ.

        Các ông bạn già của A-lếc-xây Grô-mốp có vẻ khác biệt và đứng sát lại gần nhau. Họ cũng chẳng còn mấy người — đó là thế hệ mà thời gian đã làm cho họ càng vắng dần và tâm hồn trở nên trống trải. Hình như ngày hôm nay, sau sự mất mát mới này, họ đoàn kết với nhau chặt chẽ hơn, đoàn kết như những người lính xông vào trận đánh.

        — Số phận thật có phần khắc nghiệt — Ni-cô-la-ép-xki đăm chiêu nói, — rõ là A-lếc-xây Grô-mốp vẫn sống trước mắt chúng ta như bằng chục năm ông đã kề vai sát cánh với chúng ta. Thế mà bỗng nhiên bất hạnh là thế...

        — Nhưng ông ấy đã chết như một người trẻ tuổi. — An-ma-dốp lên tiếng thì thào. — Cái chết, bác cũng thấy đấy, nỏ chẳng từ ai cả, dù cho có vùng vẫy đến thế nào đi chăng nữa. Còn ông ấy đã đấu tranh với nó, đã giành giật với nó từng giây, từng phút...

        — Thật là một con người toàn vẹn, — Ca-da-cốp nói, lắp bắp hơn bình thường vì xúc động. — Sức mạnh, sự kiên cường của ông ấy có thể gấp ba người khác. Không ai có thể làm cho con người này sờn lòng được, bẻ cong như liễu trắng ấy, không, không thể được đâu, ông ấy là cây sồi vững chắc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2020, 03:16:18 pm

        Họ vẫn im lặng bước đi, đầu đề trần, làn gió nhẹ mơn man những hạt tuyết trắng trên mái đầu hói của Ca-da-cốp. Có thể nhận thấy rằng ngày hôm nay những người bạn già của A-lếc-xây Grô-mốp đã có gắng tỏ ra rắn rỏi hơn, mạnh khỏe hơn và bước đi vững chắc hơn... Như những người chiến sĩ từng trải đi vào giờ phút nghiêm trọng, họ biết rằng cái chết kề bên đang đe dọa mỗi người trong bọn họ — chỉ riêng Ca-da-cốp hình như quên mất điều này, ông đang cố gắng nhìn đi đâu đó về phía trước.

        — Lạy trời, đừng ngã nhé. Cu-dơ-ma Đa-nhi-lô-vích ! Dưới tuyết có băng đấy. — Ni-cô-lai-ép-xki lo lắng nhắc ông.

        Ca-da-cốp nheo mày nhìn quanh — vẻ hồi hộp lo lắng không rời khỏi ông... Người thợ già vừa rất buồn, rất nhớ người bạn tuổi ấu thơ — A-li-ô-sa của mình, vừa tự hào về ông và tựa như lúc này ông chia tay với một kỷ niệm quí nhất, quan trọng nhất trong cuộc sống của ông. Và hình như lúc này ông tiễn đưa ra nghĩa trang không phải chỉ một mình người bạn thân Grô-mốp, mà ông tiễn đưa cả những gì tinh túy và quan trọng, hùng dũng và trẻ trung nhất vẫn có trong chính ông, những gì đã không phai mờ trong ký ức của ông, trong tâm trí ông, những gì đã gắn bó chặt chẽ hai người với nhau. Và ông bực tức về việc không có nhiều người đi đưa đám tang, mặc dù đối với một thành phố vừa thoát khỏi cuộc phong tỏa, dĩ nhiên là không thể làm khác được...

        Ngước mắt lên ông nhìn thấy những lá cờ chuyển động theo ô tô — những lá cờ được ánh hoàng hôn chiếu sáng lay động như một đám lửa cao, dàn nhạc chậm chạp, buồn bã vang lên gần như liên tục...

        Ca-da-cốp cảm thấy dàn nhạc đang long trọng và rầu rĩ kề về ông, về cuộc sống và tuổi trẻ của ông và những lá cờ được mang trên đường phố là vì danh dự của ông... Khi một người đi đường nào đó dừng lại nhìn vào đám tang và bỏ mũ xuống, Ca-da-cốp muốn nghiêng mình cảm ơn, tựa như sự kính cẩn của mọi người trong một chừng mực nào đó có quan hệ đến chính ông. Khi có người nào đó vì quá bận với những lo âu của mình nên đã vô tình đi qua mà không quay lại thì ông muốn chạy ra và thét với họ một câu gì đó đại loại: « Anh hãy nhìn và nhớ lấy rằng: người ta đang đưa tiễn A-Ii-ô-sa Grô-mốp đấy, người bạn thân thiết nhất của chúng tôi đấy ».

        Pa-ven cúi xuống bên Na-ta-sa và nói nhỏ ;

        — Em biết không, bố góa vợ lúc còn rất trẻ, khi chưa quá bốn mươi. Và ông cụ không lấy vợ kế nữa.

        Na-ta-sa gật đầu:

        — Bố sợ anh sẽ bị khổ với dì ghẻ, — chị âu yếm nói, — cô Anna giải thích cho em... và bố rất yêu mẹ.

        — Chỉ đến lúc này anh mới hiểu được nhiều điều, — Pa-ven nói. — Anh sống bên cạnh bố, kính trọng ông như lệ thường, thế mà lại không suy nghĩ đến cuộc sống của ông. Ôi, chúng ta sao mà...!

        Anh lắc lắc đầu và im lặng.

        Một chiếc xe tải chở đầy bộ đội mang vũ khí đã đuổi kịp đám tang ở gần nghĩa trang, đỗ xịch lại bên hàng rào, một người đội mũ vệ binh đen bước vội khỏi ca bin và các chiến sĩ cũng nhảy ra khỏi thùng xe, rồi nhanh nhẹn xếp thành hàng. Khi đã nhận ra chính trị viên Ê-li-xây-ép và các chiến sĩ của đại đội mình, Pa-ven lao nhanh đến phía họ. Không hiểu là bằng cách nào họ đã đến được đây trong giờ phút này, song anh không quá ngạc nhiên... Những chiến sĩ của anh, những người đồng chí không thể thiếu được — trong cuộc sống và trong cái chết, trong hạnh phúc và trong mọi đau thương — đã lao tới đây, tựa như họ đã lao qua lửa đạn đến cứu viện cho anh. Và nỗi đau thương nhất cũng sẽ được nhẹ nhõm hơn, nếu những người mặc ca pốt nhàu nát phai bạc với những băng đạn bên hông này vai sát vai đứng ở bên cạnh anh trong lúc này. Bước tới với Pa-ven, Ê- li-xây-ép im lặng bắt tay anh và nói:

        — Từ sáng chúng tôi đã ở thành phố — trung đoàn đang chuyền sang hướng khác... Song tôi biết tin về nỗi bất hạnh của anh hơi muộn.

        Thiếu tá Tra-skin nhờ tôi nói lại là bọn phát xít sẽ hoàn toàn phải trả nợ cho chúng ta. Thêm vào đó tối nay chúng ta sẽ phải hành quân.

        — Trong đại đội có chuyện gì không, Ê-li-xây-ép ? — Pa-ven hỏi. — Không có biến cố gì chứ ?.

        — Vâng, mọi việc đều tốt... Chúng ta đã nhận được hai khẩu đại liên mới. — Ê-li-xây-ép nói.

        — Trung đội, nghiêm! — Tiếng hô chợt vang lên. — Pa-ven nghe thấy giọng Su-kin. — Tập hợp theo hàng danh dự!

        Các chiến sĩ đứng ở cổng nghĩa trang thành hai hàng và đồng loạt cầm súng trường cắm lưỡi lê tuốt trần... Người ta mang quan tài ra khối xe — xe không thể đi trong nghĩa trang được — và lại phải khênh nó trên tay. Không gian yên tĩnh, hoàn toàn trang nghiêm bao trùm khu nghĩa trang; gác chuông nhà thờ nơi trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân chỉ huy trận đánh cũng trống không, những con đường mà những chiến sĩ liên lạc và người tiếp đạn, những thương binh trở về vùng sau bị tuyết phủ kín. Và chỉ có tiếng hàng bây quạ bay trên những lùm cây, tun chỗ tốt đề ngủ đêm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2020, 03:16:45 pm

        Bà An-na tách ra khỏi đám người, đi lên trước để dẫn đường... Sáng nay bà đã đến nghĩa trang để chọn chỗ cho anh trai được nằm bên cạnh mộ của bố mẹ, cụ ông, cụ bà và mộ của bà chị đâu cũng ở ngay đấy, hơi chếch trong một góc, dưới hai cây bạch dương. Và lúc này men theo đường mòn, bà An-na nhớ lại việc xa xưa bà và anh trai A-li-ô-sa thường đến đây thăm mộ bố. Lúc đó trời lạnh kinh khùng và bà — cô bé mười tuổi — run đến nỗi không khóc được, — khi về đến nhà lao ngay vào bếp sưởi, còn anh A-li-ô-sa thì thay giày và đem bán đôi ủng mới của mình bởi vì phải sửa lại bia mộ. Sau đó là mùa xuân, và bà nhiều lần tới đây thăm bố, sửa mộ cho bố... Rồi một thời gian sau, cũng trên con đường mòn này, bà và A- li-ô-sa mang quan tài vợ ông — chị đâu Ô-len-ca xinh đẹp. Mùa hè năm ấy rất khô, chẳng có một trận mưa — mới tháng bảy mà cây đã úa vàng và ở đây đã phủ một lớp lá rơi. Lúc đó thật kinh khủng khi nhìn mặt anh A-li-ô-sa: hai mắt ứ máu và bất động như bị chấn thương, ông đứng lặng bên bờ huyệt vuông bốn góc. Và giờ đây cũng trên con đường này, người ta đang khiêng chính ông... Lúc này không phải là sự thất vọng hay khuất phục mà là một cảm giác phức tạp, hỗn loạn đang trào dâng trong lòng bà An-na.

        Nghĩa trang ở T. đã tồn tại hơn một trăm năm, chiếm một diện tích  rất lớn, nên đám tang phải đi trong đó khá lâu. Những cây dương thẳng thân to đến hai vòng tay cùng những cây sồi cồ thụ trăm tuổi chia cành khẳng khiu đến tận đường mòn, còn ở dưới là hai hàng rào chữ thập bằng gang, những chiếc bia bằng sắt tấm đã úa đỏ vì hoen gi. Thỉnh thoảng trên những thanh sắt hàng rào lại xuất hiện những tay nắm bằng đồng hoặc những mẩu sắt nhỏ với hình Đức chúa bị hành hình. Thậm chí tấm bia trên mộ của những người thợ luyện kim và chế tạo vũ khí yên nghỉ ở đây cũng làm từ những vật liệu mà họ đã lao động suốt cả dời mình; đó là thứ kim loại đã được tôi luyện trong khói lửa chứ không phải là thứ gỗ mềm hoặc đá lạnh để đời đời con cháu nhớ đến họ. Và kim loại đã trung thành gìn giữ nó, mặc dù ở một số nơi, chữ thập bị nghiêng ngả, bị xám lại và bị ăn mòn theo năm tháng. Một vài tấm bia trên mộ bị cào xé bởi những mảnh đạn bắn tới đây mấy ngày qua.

        Bà An-na rẽ theo lối mòn một lần nữa và từ sau đám cây hiện ra mảnh đất nhỏ hình tròn... Ở giữa đám đất là hai cây bạch dương thẳng đứng liền nhau, cây nọ giống cây kia như hai chị em, dưới những cành bạch dương là mấy đụn đất được ngăn bời hàng rào gang và một số chiếc ghế dài phủ đầy tuyết. Bà An-na lặng lẽ quay lại đoàn người và quan tài được đặt bên miệng huyệt đã đào sẵn. Trung đội chiến sĩ trung đoàn công nhân đứng tách về bên phải, đội nhạc đi sang phía đối diện, những người còn lại tiến đến gần hơn... Trời xanh hẳn lại và dường như trở nên lạnh hơn — mặc dù chưa tới sáu giờ, nhưng mặt trời đã lặn.

        Đứng lên ghế băng, giám dốc nhà máy bắt đầu đọc lời điếu văn... Thì ra Vla-xốp đã biết A-lếc-xây Grô-mốp từ năm mười tám và gặp ông trong những ngày T. bị bọn Đê-ni-kin đe dọa. Trong điếu văn của mình, ông nhắc đến việc Grô-mốp là người tham gia đại hội công nhân luyện kim đầu tiên của tỉnh và đại hội này đã gửi cho Lê-nin bức điện yêu cầu chuyển tới Hội đồng dân ủy « lời thề chiến thẳng xã hội chủ nghĩa của những người thợ luyện kim»; đại hội cũng quyết định thành lập những trung đoàn thép của công nhân và hứa bất kỳ trong giây phút nào cũng sẵn sàng rời khỏi nhà máy lao vào cuộc chiến đấu với bọn bạch vệ. Và Vla-xốp kể lại rằng, A-lếc-xây là một trong những người đầu tiên ghi tên vào một trong những trurg đoàn đó... Sau giám đốc là đại diện các tổ sửa chữa vũ khí của nhà máy liên hợp luyện kim lên phát biểu.

        Song bà An-na không còn đủ trí tuệ để nghe những lời phát biểu này nữa vì dường như có một giọng nói thầm kín nào đó — quan trọng và da diết hơn — át nó đi và đang kể về anh trai bà theo ý kiến của bà, kể về số phận của chính bà và về những người thân của cả hai... Nỗi bất hạnh và sướng vui của họ, cuộc sống lao động không biết mệt mỏi và đấu tranh kiên cường của họ hiện lên trong trí nhớ của bà và bà hoàn toàn chìm đắm trong những hình ảnh thân thương hoặc hùng vĩ... Bà rất thương anh trai, thương xót ông hơn bất cứ ai hết và rất đau buồn vì ông không được sống hết cuộc sống trên trần gian của mình, không được cùng mọi người mừng vui chiến thắng, không được gặp con trai trước khi chết...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2020, 03:17:27 pm

        Và dường như có người nào đó đã an ủi bà rằng, anh trai bà, ông A-li-ô-sa không thể hành động khác được và ông hy sinh vì hạnh phúc của con trai và của những đứa cháu mai sau. Cuộc sống của những con người đã lao động và chiến đấu vì hạnh phúc của con cháu mình và con cháu người khác tương tự như ông sẽ rất khắc nghiệt — bà An-na hiểu rõ điều này. Song trong cái thế giới trong sạch và nghiêm chỉnh của những ý nghĩ và cảm xúc của bà thì chỉ có cuộc sống như vậy, cuộc sống hy sinh cho tương lai là mới có ý nghĩa và đáng được kính trọng. Tiếng nhạc buồn, chậm rãi nổi lên sau mỗi bài phát biểu và bà già cảm thấy hình như đấy cũng là tiếng nói của nỗi đau thương và hy vọng của bà để mọi người đều nghe thấy.

        — ... A-li-ô-sa Grô-mốp là con người cần cù lao động, — một giọng nói cao, ấp úng như giọng con nít bỗng nhiên vọng đến tai bà. —  Các nhà toán học hãy tính xem, trong cả đời mình, ông đã luyện được bao nhiêu kim loại. Còn tôi chỉ nhận xét về một điều: lúc còn trẻ ông không hề biết sợ là gì và cho đến lúc già ông vẫn giữ được đức tính ấy. Lớp thanh niên hãy trông đấy. Ông già Ca-da-cốp leo lên ghế băng và vừa phát biểu ý kiến vừa vung tay tựa như mời những người tham dự xác nhận điều ông nói.

        — Chúng tôi đã sống và không hề biết nhục — tôi xin nhắc lại lời ông, hỡi ông A-lếc-xây! Và đó cũng là lời để vĩnh biệt ông...!

        Ông lắc lắc cái đầu lơ thơ vài sợi tóc giống như cây bồ công anh.

        Nhạc lại nổi lên, tiếng trống trầm trầm, tiếng kèn đồng ngân dài, như bị ngạt thở, bà An-na cởi chiếc khăn san dăng ten trên cổ. Và bà lại chậm chạp nhận thấy ở trên ghế băng đã xuất hiện một người phát biểu mới — người tóc hoa râm đã dẫn các chiến sĩ tới đây.

        — Chúng tôi những người con của giai cấp công nhân đang buộc phải cầm súng ngoài ý muốn và sự cần thiết của chúng ta để chiến đấu, — giọng nói đều đều chậm chạp vọng đến tai bà. — Ở cái thời đáng căm giận xa xưa, chúng ta đã mất đi nhiều chiến sĩ kiên cường trong các nhà tù, trại khổ sai, chiến lũy và hầm mỏ. Và trong cuộc chiến đấu với chủ nghĩa đế quốc quốc tế hiện nay, các đồng chí kiên cường của chúng ta đã hy sinh vì tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

        Bề ngoài, Ê-li-xây-ép nói bình tĩnh xúc tích... và thỉnh thoảng ông lướt qua đầu người nghe nhìn về phía chân trời còn hơi ửng hồng.

        — Ít có người trong thành phố chúng ta, phải chăng chỉ có những người mới đến mới không nghe thấy dòng họ Grô-mốp từ bao dời nay đã có ở địa phương này, — ông nói tiếp. — Chính tôi khi còn là học sinh lớp thợ tiện cũng đã nghe đến cái tên A-lếc-xây Grô-mốp đây vinh quang rồi. Tuy ông không còn sống, nhưng vinh quang của ông bất diệt, tấm gương và thành quả lao động của ông vẫn còn với chúng ta. Ví dụ: trong các máy cái đang làm việc, thậm chí chỉ là cái máy dệt, cũng có công của A-lếc-xây Grô-mốp, chiếc đầu tàu đang chạy cũng có thể có những chi tiết do Grô-mốp làm ra, những khẩu súng cối đang diệt quần thù cũng có công lao của ông.

        Nhìn dải trời hồng khuất sau đám cây, Ê-li-xây-ép suy nghĩ trong một giây.

        — Các đồng chí, thật đau khổ khi mai táng một người thân của chúng ta... Song cũng yên lòng khi biết rằng cuộc sống và cái chết của ông là không uổng công. Không, những người con ưu tú của giai cấp công nhân đã hy sinh đời mình không phải là vô ích — Bà An-na nghe thấy nhưng gì mà chính trong lòng bà muốn nói ra.—Những giọt máu thiêng liêng của họ không đổ xuống một cách uổng công.

        Chính trị viên giơ cao cánh tay cầm mũ.

        — Các đồng chí, chúng ta đã cùng nhau bảo vệ vững chắc... thành phố của chúng ta! — Ông nói chậm chạp và rành rọt. — Chúng ta đã không cho kẻ thù dộc ác vào thành phố... Và lúc này trên đường tới ngoại ô Mát-xcơ-va Hồng quân dàng đánh tơi bời quân xâm lược. Với đầy đủ trách nhiệm, hôm nay chúng ta có thể nói rằng: Mát-xcơ-va đã được cứu vãn! Hôm qua chúng ta nói: không để mất Mát-xcơ-va! Hôm nay chúng ta có thể nói: chúng ta đã không để mất Mát-xcơ-va.

        Trong đám người có ai đó thờ phào đứt đoạn, mọi người tiến gần hơn đến chính trị viên. Và mặc dù nhạc đã im trong phút này, song bà An-na vẫn cảm thấy như những chiếc, kèn đồng và cả đội đồng ca đang hát trong nghĩa trang, bà không động dậy, nhưng trên khuôn mặt gầy gò của bà hiện lẻn một nụ cười ngỡ ngàng y như thể bà đang nghe một bản nhạc phi thường.

        — ... Khi toàn thể nhân dân lao động đoàn kết chặt chẽ quanh Đảng của mình, khi tất cả mọi người từ nhỏ đến lớn đều đồng loạt đứng đây đấu tranh thì không có một sức mạnh nào có thể phá vỡ nổi. — Ê-li-xây-ép nói tiếp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2020, 03:17:45 pm

        Dường như có một số nhạc cụ mới tham gia vào dàn nhạc lạ thường và âm thanh tuyệt vời lan rộng ra. Không gian như lớn lên rung chuyền.

        — Tất nhiên là chiến tranh còn chưa kết thúc, song với tư cách là một người chứng kiến, tôi có thể nói với các đồng chí rằng...—  Ê-li-xây-ép áp bàn tay cầm mũ lông vào ngực. — Kẻ thù đang tháo chạy vất lai một khối lượng lớn vũ khí thiết bị và bỏ lại hàng nghìn xác chết của binh lính cùng sĩ quan.

        — A-li-ô-sa! — Từ trong dám người Ca-da-cốp cao giọng gọi. —  Ông có nghe thấy không, A-li-ô-sa!

        Chính trị viên ngừng lại một giây như để cho ông già A-lếc-xây có khả năng đáp lời... Hoàng hôn đã dày dặc hơn. Màn sương mờ xanh đã bao phủ lên cây cối ở phía xa nhưng trên ngọn hai cây bạch dương đơn độc vẫn còn đọng lại một làn ánh sáng dễ chịu đang yếu dần.

        — Tất nhiên là phía trước còn không ít khó khăn và chúng ta, những người con của giai cấp công nhân phải sẵn sàng với cuộc chiến đấu mới. Song sự nghiệp giải phóng mảnh đất Xô-viết của chúng ta giành khỏi tay quân chiếm đóng đã bất đầu. Và không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi cuối cùng... Hàng triệu cánh tay chai sạn đã đứng lên chống chủ nghĩa phát xít và chúng ta sẽ đóng đinh nó, sẽ đuổi nó, sẽ đuổi nó tới tận cùng con đường thắng lợi.

        Chính trị viên nhìn quanh, bất giác đưa ngón tay gãi bộ ria rồi rời khỏi băng ghế. Một giọng nói vang lên trong nghĩa trang:

        — Chuẩn bị bắn vĩnh biệt!

        Tiếng lên đạn lách cách, những khẩu súng trường nhô lên từ hàng chiến sĩ.

        — Toàn trung đội bắn vĩnh biệt loạt thứ nhất! — Su-kin hô vang. Từ trong bổng tối chìm sâu không trông rõ mặt anh.

        Hai ánh chớp vàng nhạt đồng thời lóe lên, loạt đạn nổ và những làn khói giống hệt nhau bay lên không... Quan tài A-lếc-xây Grô-mốp được thận trọng thả xuống huyệt. Ánh lửa của những loạt đạn nối tiếp nhau lóe lên trong bầu không khí nhá nhem và những làn khói nhẹ bay lên cao giống như những đàn chim.

        Na-ta-sa vịn chặt lấy chồng; anh im lặng đứng thẳng người, mắt không nhìn vào mộ mà nhìn các chiến sĩ đang bắn. Mắt anh lúc thì chìm trong bóng tới, lúc lại bừng sáng íên dưới những ánh lửa đạn.

        Mấy phút sau, mọi việc đã xong xuôi: mộ đã được đắp xong, trên đặt vòng hoa lá nhọn. Ê-li-xây-ép đợi một lát rồi nói nhỏ với Pa-ven rằng tối nay trung đoàn sẽ chiến đấu và họ cần phải khẩn trương. Pa-ven quay lại Na-ta-sa và dìu chị.

        — Thế, như vậy... ta đi thôi, — anh nói. — Hãy lau nước mắt đi rồi ta đi... Chắc là em mệt lắm rồi.

        Đến tận cổng, anh chẳng hề nói một lời nào, nhưng cũng không bỏ tay Na-ta-sa ra. Cứ thế anh dắt chị đi theo đường mòn nghĩa trang. Hôm nay mai táng bố, nghe những lời nói bên mộ ông, Pa-ven có cảm giác không chỉ là cảm xúc vĩnh biệt bố mà còn là vĩnh biệt tuổi trẻ của mình. — Ở ngay nơi đây, ngay lúc này chứ không phải bên bờ sông Ru-xa-lót-ca khủng khiếp loang lổ hố đạn. Gánh nặng mà A-lếc-xây đã mang cả đời, gánh nặng khủng khiếp và không tránh nổi, gánh nặng quá sức và sướng vui dường như lúc này hoàn toàn đặt lên vai con trai. Pa-ven hiểu rằng thâm tâm anh cho đến lúc này chứ không phải khi bố còn sống — vẫn cảm thấy mình chỉ là đứa trẻ bên cạnh bố, mặc cho đôi lúc anh có cự lại ông. Và thế là từ đây anh đã bước vào vị trí trong thế giới của bố, vị trí đầy sóng gió. Còn trong anh, mọi cảm giác đều là sự tiếp tục của những gì bố anh đã càm xúc, đã hy vọng, đã hướng tới, đã yêu thương, căm giận và đấu tranh.

        Ra khỏi cổng, Pa-ven chia tay với bà An-na một cách ngắn gọn và vội vàng tới bên những chiếc xe đang đợi và chia tay với Na-ta-sa cũng vội vàng như vậy :

        — Hôm nay em hãy ngủ bên cô An-na. Và đừng khóc, đừng khóc nhé. Anh sẽ viết thư cho em ngay khi có điều kiện.

        Giọng nói của anh — trầm trầm, không âu yếm nhưng đầy vẻ quan tâm — bỗng nhiên anh thấy giọng nói đó giống bố một cách kỳ lạ và điều này làm anh xúc động...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2020, 10:04:57 am

       
7

        Đến ngày mười một tháng Mười hai, thắng lợi của các binh đoàn phương diện quân miền Tây được xác định rõ ràng. Các thành phố phụ cận từ phía Bắc và Tây Mát-xcơ-va đã được giải phóng gồm : Rô-ra-trép, Ia-khô-ma, đồi Mặt trời, I-tô-ra; ở phía Nam thủ đô, quân đội Xô-viết đã chiếm lại: Vê-nhi-ốp, Xta-li-nô-gôr-scơ, Mi- khai-lốp, Ê-pi-phan và đẩy lùi kẻ thù tới sông U-pa... Trên các đường ngoại vi Mát-xcơ-va, tỉnh Tun-ski và Ka-li-nin bọn Đức đã bỏ lại vô số quân trang, quân dụng cùng vũ khí, hàng nghìn ô tô và xe tăng, hàng trăm khẩu đại bác, pháo cối cùng súng liên thanh. Giờ đây, chiến trận ngoại vi Mát-xcơ-va trải ra trên một vùng rộng lớn bao gồm cả mấy tỉnh này đã biến thành một bãi tha ma khổng lồ chôn vùi hàng chục ngàn quân lính Hít-le cùng những phương tiện kỹ thuật quân sự bị phá hủy. Sau năm ngày phản công các đơn vị của phương diện quân miền Tây đã chiếm lại từ tay bọn Hít-le hơn bốn trăm khu dân cư... Đêm mười hai tháng Mười hai đài phát thanh thủ đô Xô-viết đã loan báo cho thế giới biết tin quân đội phát xít Đức, một đội quân đã làm cho châu Âu lâm vào thảm họa, đội quân đã chiếm gần hết các thủ đô của châu Âu tư bản nay đã bị đánh bại hoàn toàn ở ngoại vi Mát-xcơ-va. Bản tin này của Cục thông tin Liên Xô được truyền trong « bản tin giờ chót» sau bản tóm tắt tình hình chiến sự trong đêm mười một với đầu đề : « Sự thất bại của phát xít Đức trong kế hoạch bao vây và đánh chiếm .Mát-xcơ-va». Hàng triệu người dân thủ đô Mát-xcơ-va và ngoài khu vực thành phố, trên các mặt trận và ngoài lãnh thổ Liên Xô đều cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm. Thắng lợi mà những người Xô-viết đã mơ ước bên ngọn lửa của du kích trong rừng khu Xmô-len-si-na, bên những khung cửa sổ đen nhẻm vì thuốc súng của pháo đài Brét, trên những tảng đá trắng bị đạn pháo cày xé ở Xê-vát-xtô-pôn, trong thành phố Lê- nin-grát lạnh lẽo và đói khổ — thắng lợi lớn đầu tiên mà họ nóng lòng chờ đợi và vì nó mà họ đã phải chịu những tổn thất cùng sự hy sinh nặng nề nhất đã bay đến với họ xuyên qua khói lửa của những thành phố còn đang bốc cháy. Dường như mảnh đất bị giày xéo bởi bom đạn chìm sâu trong bóng tối dày đặc của cái đêm tháng Chạp này cũng trở lên sáng sủa hơn, yên tĩnh hơn và ấm áp hơn. Trong lịch sử của các dân tộc, cũng như trong cuộc sống của mỗi con người, có những thời điểm khi những ước vọng lớn lao nhất trở thành hiện thực, thì mối lo âu khủng khiếp nhất đã dịu đi. Còn trong mùa thu và mùa đông này, cả loài người không có nói lo âu nào lớn hơn nỗi lo cho Mát-xcơ-va, thủ đô Xô-viết xã hội chủ nghĩa. « Từ mười sáu tháng Mười một năm 1941 — Cục thông tin Liên Xô thông báo, — với lực lượng gồm mười ba sư đoàn xe tăng, ba mươi ba sư đoàn bộ binh và năm sư đoàn bộ binh cơ giới, sau khi đã phá vỡ sự chống cự của phương diện quân miền Tây, quân đội Đức đà bắt đầu mở cuộc tổng tiến công lần thứ hai vào Mát-xcơ-va.

        Mục tiêu của kẻ thù là, bằng phương pháp bao vây chặt chẽ kết hợp với thọc sâu vào sườn để cắt đứt hậu phương của ta, rồi tiến hành bao vây và chiếm Mát-xcơ-va. Chúng có nhiệm vụ chiếm Tula, Ca-svi-a, Ri-a-dan, Kô-lôm-na — ở phía Nam, sau đó chiếm khu đồi mặt trời, Rô-ga-tri-ép, Ia-khô-rô-ma, Đơ-mi-trốp — ở phía Bắc và sau đó từ hai hướng tiến công đồng loạt vào Mát-xcơ-va...». Trong bản tin nêu rõ tên các sư đoàn Đức tập trung tiến công phương diện quân miền Tây và sau đó bị đập tan, cùng hướng các mũi tiến công chính của chúng... Những câu thông báo ngắn gọn chính xác theo kiểu quân sự của bản tin này đã phác họa trước những người dân trong và ngoài Mát-xcơ-va thực chất của mối hiểm họa lớn mà lúc này đã bị đẩy xa. Tiếp sau đó bản tin đã phác họa rõ bức tranh chung trên mặt trận miền Tây sau ngày mười một tháng Chạp và nêu tên họ các vị tướng, các đơn vị quân đội đã đánh tan vì đang truy kích quân thù như Lê-nin-sen-cô, Cu-dơ-nhe-xốp, Rô-cô-xốp-xki, Gô-vô-rốp, Bôn-đin, Bẹn-lốp, Gô-li-cốp và những số hiệu tổn thất nặng nề của quân Đức. Khi nghe những điều này, những người dân trong các căn nhà Mát-xcơ-va lạnh lẽo — vì không đủ than và không có củi —  những người đang làm ca đêm ở xưởng máy, trong hầm trú ẩn, đang sống trong những thành phố hậu phương xa xôi không biết thế nào là bóng tối, các chiến sĩ trong các trung đoàn đang nghỉ ngơi giữa đêm ngắn ngủi, các thủy thủ trên những con tàu ra biển khơi, những con người khác nhau ở mọi nơi đang dõi theo tiếng nói của Mát-xcơ-va, những người chống phát xít hoạt động bí mật ở Rô-ma, trong những căn nhà kín đáo của những người Pháp yêu nước — tất cả mọi nơi ở đâu nghe được tiếng nói của thủ đô Xô-viết vọng tới đều cảm thấy hạnh phúc hân hoan. Mát-xcơ-va đã được cứu vãn và cùng với nó hy vọng giải phóng châu Âu khỏi chủ nghĩa phát xít cũng đang được cứu vẫn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2020, 10:06:11 am

       
*

        Suốt một tuần sau khi mổ, Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp ở trong trạng thái giữa cái sống và cái chết — nhà phẫu thuật Na-tan Mác-cô-vích rất lo về việc chỉ khâu có thể bị đứt và xuất huyết bên trong —  đồng thời trạng thái chung của cậu thanh niên cũng rất đáng lo ngại và khó khăn vất vả lắm người ta mới cứu vãn được — trạng thái thần kinh rất yếu ớt và đây thường là dấu hiệu của sự tận số đang rất gần. Hàng ngày Vô-lô-đi-a gầy guộc yếu đuối thở khò khè trong tình trạng mê sảng —  những giấc mơ chập chờn, mê man càng giày vò cậu... Chẳng hiểu sao trong những giấc mơ này tất cả đều được quét lên một màu xanh không thật, vô tư và rất khó chịu: những cây cối trơ trụi màu xanh mọc trên những bình nguyên xanh, lính Đức với những khuôn mặt xanh lè đang bước đi trên các đường phố vắng tanh độc một màu xanh ngắt, những con ngựa xanh cứng đờ, mao lờm xờm nàm trên bãi cỏ xanh nhạt, những con mèo xanh biếc đuổi bắt những con chuột xanh lá mạ. Và khi tỉnh dậy Vô-lô-đi-a buồn rầu nhìn những bức tường quét sơn xanh sáng ở trong phòng mình.

        Lần đầu tiên cậu tỉnh táo hay đúng hơn — là hồi hộp và thấp thỏm khi người ta cho Lê-na và Vi-chi-a vào thăm cậu, khẽ ngàng đầu lên rướn cái cổ nhỏ như cổ trẻ con, Vô-lô-đi-a mệt nhọc nói khẽ vừa đủ thoảng nghe, nhắc lại những gì đang tiếp tục giày vò thâm tâm cậu để thanh mình với các bạn:

        — Các bạn ơi, mình không có quyền... Thật đấy! Ngay cả bắn cũng không được phép... Xin thề lời thề danh dự của đoàn viên Côm- xô-môn đấy!... Bạn ạ!

        Cậu ta trông có vẻ ân hận và thất vọng đến nỗi Na-tan Mác- cô-vích người cùng đi với Lê-na và Vi-chi-a vội vã bảo họ ra ngoài —  một tiếng kêu nhỏ thất thanh vọng theo hai người bạn nhỏ đang quá lo sợ và ngơ ngác:

        — ... Thật đấy, các cậu ạ! Trong mình có mệnh lệnh, bản báo cáo...

        Lần gặp thứ hai với Lê-na và Vi-chi-a diễn ra bình thường hơn. — Nhìn hai người bạn đang ngượng ngùng và xúc động thăm hỏi sức khỏe của mình, cuối cùng Vô-lô-đi-a mới tin rằng, các bạn cậu —  những người bạn chân chính ân cần công minh với cậu — không nghi ngờ gì cậu là kẻ phản bội và ích kỷ với họ... Vô-lô-đi-a cũng không hề có ý nghĩ cho rằng họ coi mình là người cứu tinh của họ — và cậu xiết bao xúc động khi nghe Lê-na ngồi bên đầu giường, đôi mắt mở to, ghé đấu nói với cậu:

        — Cậu không biết chúng mình lo cho cậu như thế nào đâu, tất cả đều lo cho cậu. Chắc mình không thể chịu nổi nếu chẳng may cậu bị làm sao.

        Vô-lô-đi-a cảm thấy tấm lòng tốt đó là quá mức và cậu không xứng với nó, cậu chau mày, nhắm mắt lại và đôi môi khô khẽ động đậy.

        — Tốt hơn là các cậu hãy hỏi đồng chí chỉ huy... — Sau đó cậu nói. — Chỉ huy cũng sẽ nói... là mình không có quyền. Các bạn cứ hỏi xem...

        Sau khi hai bạn ra về, Vô-lô-đi-a nhanh chóng thiếp đi — cậu vô cùng mệt mỏi. Và cũng chính sau hôm đó, sức khỏe của cậu trở nên tốt hơn — nhiệt độ hạ thấp hơn mức bình thường, ăn đã thấy ngon miệng đồng thời Vô-lô-đi-a lại quan tâm đến thế giới bên ngoài: cậu hỏi các hộ lý về tình hình mặt trận và mỉm cười với mẹ —  chị Ôn-ga Ti-khô-nốp-na ngày nào cũng đến chăm sóc cậu...

        Sáng mười hai tháng Chạp Vô-Iô-đi-a thức dậy muộn hơn — ngay trước lúc bác sĩ đi thăm bệnh — và cậu rất ngạc nhiên khi nghe thấy ở hành lang rất ồn ào: những giọng nói thì thầm, tiếng giày lạo xạo cùng nhiều giọng nói khác nhau. Qua cánh cửa hé mở Vô-lô-đi-a trông thấy những người đã khỏe mạnh tập trung ở đó — người thì chống nạng, người thì băng bó ở tay, người ngồi trên xe có ghế đệm, quàng áo blu xanh trên vai, đang sôi nổi thảo luận chuyện gì đó. Bà hộ lý — An-ge-li-na Pa-vlốp-na hay như các thương binh thường gọi là An-ge-lốp, một phụ nữ mập mạp, má đỏ hồng đeo kính cận đi lướt qua rồi bỗng nhiên quàng lấy cổ cô An-na Ma-cốp-na và thế là họ hôn nhau. Nói chung, ngày làm việc ở viện quân y thường trầm lặng và bận rộn, đầy rẫy những điều căng thẳng, nhiều khi còn đáng buồn, nhưng trong buổi sáng này lại bắt đầu bằng những tiếng ồn ào huyên náo không sao giải thích nổi. Đặc biệt làm cho Vô-lô-đi-a lo lắng là người nằm giường bên cạnh với cậu — một đại úy bộ binh bị thương nặng ở đầu, ngực và tay trái. Cho đến buổi sáng nay đại úy hầu như không nói năng gì, nếu không kể đến việc hễ thiu thiu ngủ là ông bắt đầu rên rỉ liên tục, và thỉnh thoảng khi quá đau ông hết gọi bác sĩ rồi cắn môi chửi tục... «Một trong hai điều, hoặc các người chữa khỏi cho tối, hoặc đầu độc tôi đi. Cho nhiều moóc-phin hơn nữa và mọi việc xong xuôi!... Tôi hết sức yêu cầu! ». Ông gào lên nhìn bác sĩ điều trị bằng con mắt căm giận, còn mắt kia bị băng đầu che mất.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2020, 10:07:13 am

        Lúc này đại úy đang gối đầu lên gối, nằm nghiêng sang phải —  tay trái bị bó thạch cao — thẩn thơ suy nghĩ, ông hát khá to, khuôn mặt bị băng một nửa, râu ria lởm chởm sau hai tuần không cạo, nhìn ra cửa sổ.

        Biền khơi vắng lặng,
        Ngày và đêm rì rào,
        Chôn vùi bao đau thương
        Trong đáy ngầm khủng khiếp.

        Ông hát không đúng nhịp và Vô-lô-đi-a nhạy cảm với âm nhạc nhận ra ngay. Bắt gặp cái nhìn ngạc nhiên của cậu, đại úy mỉm cười.

        — Chối tai lắm hả, dũng sĩ! Hừ, tôi ngắm nhìn cậu ngủ say làm sao... — Ông nói. — Họ sắp mang nước chè cho chúng ta rồi.

        Ông lấy bàn tay phải xoa xoa bộ râu dày, đen bóng của mình.

        — A này, cậu có dao và xà phòng cạo râu không? — Đại úy hỏi. — Hừ, tôi nổi gì với cậu nhỉ? — Ông tự ngắt lời và mỉm cười. —  Cậu chưa đến tuổi quan tâm đến cái khoản này đâu.

        — Hừ, cháu rất vui mừng, rất vui mừng thấy chú đã đỡ hơn. — Vô-lô-đi-a nói với giọng ngái ngủ.

        — Cậu hoàn toàn không biết đâu! — Đại úy chống khuỷu tay, nhỏm dậy. — Chà, cậu dũng sĩ trẻ ơi!

        Nhưng anh chưa kịp kể về bản tin của Cục thông tin Liên Xô vừa phát đi đêm qua thì bà An-ge-li-a Pa Vlốp-na đã hổn hển bước vào.

        — Chào các đồng chí bệnh nhân! Tôi có những tin tức tuyệt vời cho các anh đây. — Từ ngưỡng cửa bà đã nói. — Xin chú ý nghe «tin cuối cùng trong ngày...».

        Bà hộ lý bị kích động đến mức cả cổ lẫn tai đều đỏ ửng lên, đến bên cửa sổ, đọc to bản tin... Và cuối cùng thì Vô-lô-đi-a đã được biết về thắng lợi, thắng lợi vĩ đại của quân đội Xô-viết ở ngoại vi Mát- xcơ-va.

        — Cô An-ge-li-na Pa Vlốp-na cho cháu, cháu muốn tự đọc lấy, —  cậu vội vàng yêu cầu. Sau khi đọc xong và đưa trả lại bản tin, cậu nói với giọng nghiêm nghị và mệt mỏi.

        — Rất đáng đời cho chúng... Đừng có đụng chạm đến chúng ta.

        — Cả đêm qua tôi không ngủ được, — bà hộ lý nói. — Tôi không thể chợp mắt được mặc dù đi trực đêm về... Đôi mắt bà phồng lên dưới cặp kính cận — đôi mắt hiền từ, ướt át cũng đỏ hoe — có thể từ nay chiến tranh sẽ sớm kết thúc.

        — Sao hôm nay họ mang chè đến muộn thế, — đại úy nói. — Và một điều này nữa chị An-ge-lốc ạ, cần phải nghĩ đến việc cắt tóc chứ. Nếu không thì tôi dễ biến thành hoang thú lắm.,

        — Ừ, tất nhiên... Tôi sẽ lo... Họ sẽ mang chè đến bây giờ.

        Bà vội vàng đi sang phòng bên cạnh. Im lặng một lát, Vô-lô-đi- a nói, giọng nghiêm trang:

        — Nhân dân thật phấn khởi! Tốt quá... Bởi vì bao nhiêu người đã lo lắng, khổ sở. — Cố nhìn qua cửa sổ đùng đục vì giá rét, bằng quơ lấy ngón tay nhỏ móng dài yếu ớt kéo lại viền chăn, cậu tiếp tục:

        — Và chú thử nghĩ xem. Đã năm ngày quân ta tiến công, đuổi bọn Đức trên toàn mặt trận, còn chúng ta nằm ở đây, chẳng biết gì cả... Song cháu nghĩ rằng chiến tranh không sớm chấm dứt thế đâu, cần phải giải phóng Lê-nin-grát, Ki-ép, và một loạt thành phố khác nữa.

        — Cậu đừng lo, chàng dũng sĩ ạ, tôi với cậu còn khối dịp để chiến đấu... cùng lắm thì trên đất Đức cũng được, — đại úy nói.

        Ảnh bắt đầu gọi Vô-lô-đi-a là dũng sĩ từ khi có tin cậu thiếu niên này được thưởng huân chương. Tuy vậy chính Vô-lô-đi-a lại không tin vào tiếng đồn này — có lẽ mọi người trong viện quân y muốn an ủi, động viên cậu nên mới nói đến chuyện khen thưởng này. Và chẳng tranh cãi với họ — cậu chẳng đủ sức để tranh luận bất cứ một vấn đề gì, vì cậu cho rằng họ nói không đúng.

        Nằm nghiêng một bên đã một, đại úy thận trọng trở mình và lại hát:

        Dũng cảm lên, anh bạn
        Tôi sẽ lái cánh buồm đầy gió của mình...

        Vô-lô-đi-a chau mày lại — cậu không thể nghe nổi khi người ta hát sai nhịp điệu — và cậu cũng bắt đầu hát, cố sửa cho đại úy.

        Như lướt trên sóng gió
        Ngựa guồng nhanh...

        Đại úy cao giọng và họ cùng hát:

        Ở đó nơi xa xôi trắc trở.
        Có đất nước phồn vinh...

        Đi thăm các phòng, bác sĩ Na-tan Mác-cô-vích bắt gặp họ đang hát. Đẩy của một cách dứt khoát và bác sĩ sững lại bên ngưỡng của tựa như bị vấp, cặp song ca dở sống dở chết này làm cho ông ngạc nhiên: người chỉ huy đầy thương tích mới hôm qua còn ngắc ngoải và một chiến sĩ trẻ gần như là trẻ con, ngực bị trúng đạn đang hát bản hùng ca. Con mắt xanh duy nhất của đại úy nhìn bác sĩ, còn Vô-lô- đi-a mải hát đang chăm chú nhìn lên trần.

        — Hoan hô! Hoan hô! — Na-tan Mác-cô-vích nói. — Không cần phải hỏi các anh cảm thấy thế nào nữa. Tôi thấy các anh rất khỏe. Song cũng đừng vui thái quá đấy!

        Bác sĩ đến bên Vô-Iô-đi-a mở chăn, khẽ sờ từ bên phải và bên trải dải băng trên bộ ngực nhỏ gầy gò nổi rõ từng chiếc xương sườn dưới lớp da nhợt nhạt lơ thơ mấy sợi lông tơ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2020, 10:08:30 am

        Sau đó Na-tan Mác-cô-vích nghe nhịp dập.

        — Cừ lắm! — Ông tin tưởng nói.

        Cảm giác của ông đối với bệnh nhân đã được ông cứu chữa này từa tựa như lòng biết ơn, như thể bản thân sự sống của Vô-lô-đi-a đã ban cho chính ông — một bác sĩ phẫu thuật — ân huệ lớn.

        ... Buổi chiều, các bạn Vô-lô-đi-a lại đến thăm cậu trong giờ được tiếp khách. Lần này họ mạnh dạn hơn, thậm chí Lê-na chào Vô-lô-đi-a và người nằm giường bên cạnh một cách thoải mái hơn... Song không quá năm phút, cậu nhận thấy Lê-na và Vi-chi-a đang nghĩ ngợi về một điều gì đó, hình như họ đang bực bội — điều này có thể biết được qua việc họ vui mừng thảo luận bản tin của Cục thông tin Liên Xô. Một lát sau Vô-lô-đi-a biết được nguyên nhân làm họ buồn phiền: không giữ nổi lời hứa với Vi-chi-a, Lê-na nói rằng: «Tất cả những ai trong trung đội trinh sát chưa đến mười tám tuổi đều sẽ bị giải ngũ về nhà», và trong mệnh lệnh bất ngờ này có cả tên của Vi- chi-a, Lê-na và Vô-lô-đi-a...

        Vi-chi-a nhìn cô gái với vẻ oán trách — theo cậu thì tin này không nên kể cho người tổ trường của họ chưa được hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng ngay lúc đó chính cậu buột miệng:

        — Họ không cần đến chúng ta. Khi Hít-le kéo đến thành phố thì họ cần, còn bây giờ đuổi nó đi rồi... Họ luôn luôn làm như vậy đấy...

        « Họ » đây là những người lớn — những người có quyền thế và ích kỷ luôn luôn không cho cậu Vi-chi-a Ve-rép-kin — tham gia vào công việc của mình.

        — Khoan đã, các cậu ơi! Mệnh lệnh đã ban hành chưa ? — Vô-lô- đi-a hỏi.

        — Hôm qua họ đã đọc cho chúng mình nghe rồi. Một ông chính trị viên tiểu đoàn ở trên ban tham mưu đến, đấu tiên ông ta cảm ơn tất cả mọi người, sau đó tuyên bố: « Các anh cần phải học!». Với vẻ châm biếm Lê-na trả lời: «Nói chung là chúng ta đã chiến đấu xong... Nói chung là chúng mình chưa trưởng thành, loại nho còn xanh mà!».

        — Nho còn xanh! Nỏi thẳng ra như vậy ư ? — Vô-lô-đi-a hỏi lại.

        — Hôm nay cậu chẳng hiểu tí gì cả ? Ý là như vậy, — Lê-na bực bội nói.

        Vô-lô-đi-a im lặng. Cậu phải suy nghĩ kỹ tất cả đã... Cũng như Vi-chi-a, cậu rất bực phải ra khỏi quân đội sau chiến thắng mới, nhưng đồng thời cậu cũng vui mừng với. ý nghĩ là Lê-na và Vi-chi-a ở lại thành phố, sẽ không còn mối hiềm họa nào đối với họ nữa, điều này không chối cãi được. Song nỗi lo cho Lê-na, trước hết cho Lê-na, không lúc nào rời khỏi Vô-lô-đi-a dù chỉ một lần lóe lên trong cậu cứ bám riết lấy tâm trí cậu mãi mãi. Và Vô-lô-đi-a còn quá yếu để có thể  đấu tranh được với nó.

        — Điều này cũng có phần nào đúng, các cậu cần học hết phố thông, — Vô-lô-đi-a ấp úng nói. — Tất nhiên đã bỏ mất một năm rồi, song nếu cố gắng cậu sẽ gỡ lại được...

        — Còn cậu không cần học hết phố thông phải không ? — Lê-na ngắt lời Vô-lô-đi-a. — Cậu không cần...

        Vô-lô-đi-a không tìm được câu gì để trả lời, vì chính cậu cũng thầm quyết định là sau khi ra viện, sẽ tìm mọi cách để trở lại quân đội.

        — Cậu nói thì dễ hơn, cậu có nhà, có mẹ, có mái che trên đầu... Sao cậu không học đi ? — Lê-na nói mỗi lúc một gay gắt hơn. — Cậu hãy cố gắng, cậu hãy gỡ lại, còn mình thì đi đâu.—Trở lại làng Một tháng Năm hay sao? Khóc bên giá treo cổ hay sao? Tôi chỉ có một điều là báo thù, báo thù.

        Đôi mắt xanh nhạt của cô căng ra, y như thể cô run sợ khi nghĩ đến số phận cô đơn của mình. Và trên khuôn mặt mịn màng trẻ trung với đôi má bóng bảy toát lên vẻ giận dữ điên đại.

        — Khẽ chứ Lê-na, cậu điên à! Vô-lô-đi-a đang yếu không được làm cho cậu ấy...— Vi-chi-a cố khuyên răn cồ.

        — Mời cậu im đi... Chỉ đứng từ gác chuông nhà mình mà suy luận, còn những người khác thì các cậu kệ thây. Các cậu là những kẻ ích kỷ không hơn không kém! — Chợt nhìn thấy cái nhìn trìu mến của Vô-lô-đi-a, cô im bặt.

        — Hừ, Len-ca! — Vi-chi-a phẫn nộ đến mức không tìm được lời. - Cô chẳng có lương tâm chút nào, thế đấy!

        — Tôi kỳ quặc thế đấy... — Lê-na hất đầu nói và lấy cánh tay nhỏ ngăm ngăm đen như cánh tay người lính gạt món tóc trắng xòa xuống trán.

        Lúc này cô mới nhớ tới lời hứa là phải thân mật dịu dàng với Vô-lô-đi-a... Song trong giây phút đầu tiên cô nóng nảy đến mức không giữ được lời hứa và đã cáu giận với Vô-lô-đi-a, người đã buộc cô phải làm việc này.

        — Nghe các anh nói tôi không chịu được, — Lê-na nói thêm sau một phút im lặng. — Tốt hơn là đừng bàn bạc với các anh điều gì cả.

        — Lê-na! — Vô-lô-đi-a khẩn khoản nói. — Khi nào chưa tìm thấy mẹ, hãy đến sống với mẹ mình. Cả Vi-chi-a cũng đến nhà mình nữa, rõ chưa? Sao lại nói là không biết đi đâu được? Sao lại có thể nói như vậy được? Tất cả chúng ta đều vẫn là một, các cậu hiểu chứ!...

        Cô gái quay đi, cắn chặt môi đến nỗi đỏ tím lại. Cũng như mọi khi, Vô-lô-đi-a độ lượng đã nói đúng, song Lê-na không muốn đồng tình với cậu.

        Nắm chặt chăn, Vô-lô-đi-a định nhỏm dậy.

        — Sao cậu lại im lặng?... Lê-na! — Vô-lô-đi-a gọi.

        — Cứ nằm đi, nằm đi, — Lê-na nói, vẻ ngượng ngập.

        Song ngay lúc đó câu chuyện của họ bị ngắt quãng vì có người đến thăm đã đứng ngay ở cửa. Gô-ga mặc áo choàng trắng quá cỡ, dài quét đất, đang đi trên nạng. Trông có vẻ như ai đang đuổi cậu ta và cậu mải tìm chỗ ẩn.

        — Cậu đấy à!... Vốp-ca!... — Gô-ga kêu lên giọng lanh lảnh. —  Thật tuyệt vời!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2020, 07:16:13 pm
           
        Chẳng chào hỏi ai y như thể không trông thấy người nào hết ngoài Vô-lô-đi-a, cậu bé khua đôi nạng một cách điêu luyện, cậu nhảy chồm tới Vô-lô-đi-a.

        — Mẹ cậu bảo là thím cũng sẽ đến, tối thím sẽ đến, còn bây giờ đang đi làm! — Cậu bô bô rồi im bặt y như bị ngạt thờ.

        — Gô-ga!... Làm thế nào mà cậu một mình tới được đây ? — Vô-lô-đi-a ngạc nhiên. — Ngồi xuống, sao cứ đứng vậy...

        Lặng im bên giường, cậu bé nhìn chằm chằm người bạn lớn tuổi và cũng là người bảo trợ của mình.

        — Cậu không nhận ra mình sao ? Ngồi xuống đi, ngồi xuống đã, Vô-lô-đi-a nhắc lại. — Ở nhà có gì mới không, mọi người đều bình thường cả chứ ?

        Song Gô-ga vẫn không nhúc nhích. — Thực ra không dễ gì nhận được Vô-lô-đi-a với mái tóc cắt trụi theo kiểu bộ đội và bộ mặt võ vàng nhợt nhạt cùng đôi má xây xát dường như lao vào cuộc sống chiến đấu Vô-lô-đi-a già đi ngay lập tức!

        — Vô-va, anh gầy quá!... — Cuối cùng Gô-ga thốt lên với sự thẳng thắn vô tình. — Anh thay đồi nhiều quá.

        — Không sao, mình sắp bình phục rồi. Béo nhiều mỡ, chẳng để làm gì cả, — Vô-lô-đi-a nói và cố gượng cười.

        — Thật thế à? — Gô-ga dài giọng vẻ đầy nghi ngờ. Và cậu thương cho bạn, thương đến mức không kìm nổi lại thở dài... Trong túi áo choàng, cậu có quà cho Vô-lô-đi-a, hộp đô-mi-nô của bố —  quán trắng với lỗ đen — mà cậu cầm theo chẳng hỏi ý mẹ. Song lúc này cậu cảm thấy món quà tuyệt vời này vẫn không đủ. Không biết làm gì để động viên bạn, Gô-ga nghĩ thầm rồi báo tin ":

        — Em đã giải hết các bài tập số học... Tất cả nào là nhân, chia. Em không nói dối... Còn chia phần trăm thì chúng em chưa học tới.

        — Cậu nói dối để làm gì cơ chứ? — Vô-lô-đi-a nói.

        — Em cũng viết hết lại một vở Nga văn, — Gô-ga khoe, — học thuộc lòng bài « Cái mũ đỏ lạnh », « Bài hát về cô Ô-lê-ga tiên tri»...

        Gô-ga không bốc, cậu hiểu rằng Vô-lô-đi-a luôn luôn quan tâm đến kết quả học tập của cậu và chắc là nó sẽ có ý nghĩa gì đối với bạn. Và với niềm tin đó Gô-ga lấy nó để an ủi người bạn bị thương này... Sau đó cậu rút hộp cờ đô-mi-nô trong túi áo choàng ra đặt lên mép bàn.

        — Anh cầm lấy mà chơi khi không có việc gì làm, — Gô-ga lí nhí nói, mặt đỏ nhừ lên vì ngượng nghịu.

        Tuy vậy họ nói chuyện chẳng được bao lâu, bà hộ lý đã ngó vào phòng nhắc người thăm là đã hết giờ. Lê-na vội đứng bật dậy khỏi ghế, cúi xuống, đôi mắt sát tận mặt Vô-lô-đi-a thì thầm:

        — Cậu đừng nghĩ gì... Chính mình cũng không hiểu là đã nói gì. Chắc là do thần kinh mình không bình thường... Đặc biệt là sau lần ở A-rxê-nhi-ép-xcơ, sau cái đêm ấy...

        Vô-lô-đi-a nhìn Lê-na với vẻ đầy lo âu dịu dàng, còn cô có vẻ hối hận, cảm thấy mình gần như là tàn ác, nên lại thầm hứa với mình là không bao giờ và trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được cáu giận với Vô-lô-đi-a, dù cho cậu ta cố nói gì, làm gì đi chăng nữa.

        — Có điều là xin cậu đừng nhìn như vậy. — Lê-na đề nghị. —  Tim mình đến vỡ tung ra nếu cậu cứ nhìn như thế... Và cũng đừng lo cho mình... — Cô hôn Vô-Iô-đi-a hai lần vào má chỗ gần mang tai và hôn vào môi.

        — Lê-na!... Lê-na!... — Vô-lô-đi-a luống cuống. — Sau khi giải ngũ, Lê-na cùng với Vít-ca đến ngay với mẹ mình nhé!

        — Được, mình sẽ đến, — Lê-na lắp bắp. Sau khi những người đến thăm đã đi ra, người đại úy từ nãy vẫn im lặng, tò mò lắng nghe, giờ mới nói:

        — Cậu có những người bạn tốt thật, anh bạn dũng sĩ ạ ! Cô gái chắc là tính tình hay thay đổi lắm!

        Vô-lô-đi-a không trả lời ngay, nhìn đại úy với vẻ khâm phục nhưng đây bối rối và thốt lên:

        — Chú có biết không ! Nếu như chú biết được cô ấy đã chịu đựng những gì trong chiến tranh!

        Vào ngay chiều hôm đó, lại diễn ra một sự kiện nữa: thiếu tướng, tư lệnh phân khu đã đến thăm viện quân y. Ông cùng với bác sĩ trưởng viện quân y, các bác sĩ và một số cán bộ chỉ huy đã đi thăm các thương binh rồi đến phòng Vô-lô-đi-a. Và trong ký ức cậu còn ghi rõ ràng đến tửng chi tiết tất cả những gì diễn ra sau đó, y như thể chúng được soi bởi thử ánh sáng gay gắt... Một sĩ quan chỉ huy to lớn tóc hoa râm, đeo kính, bước lên phía trước rồi đọc to bản mệnh lệnh ghi rõ tên họ, tên lót của Vô-lô-đi-a: chiến sĩ Ti-khô-nốp Vla-đi-mia Vla-đi-mia-rô-vích, những âm thanh vang lên trịnh trọng và xa lạ như thể không phải nói về cậu. Sau đó thiếu tướng trong chiếc áo choàng như tất cả các bác sĩ, lấy trên tay người chi huy khác cái hộp nhỏ, mở ra rồi trao cho cậu, trong hộp một tấm huân chương tròn tròn đặt trên mặt lụa trắng như tỏa ánh sáng ra khắp phòng: lá cờ đỏ trên ngôi sao vàng... Im lặng bao trùm kéo dài khá lâu cho tới khi Vô-Iô-đi-a bừng tỉnh, rướn người dưới chăn, ghìm chặt tay hai bên sườn, rồi nói với giọng cao đứt đoạn, sung sướng và vội vàng :

        — Tôi phục vụ Liên bang Xô-viết!

        Thiếu tướng cúi sát hơn nữa rồi đặt cánh tay to trắng của mình lên vai cậu.

        — Xin chúc mừng phần thưởng đầu tiên trong chiến đấu, — ông nói với giọng Bạch Nga, — Sức khỏe ra sao, chú chim ưng ?

        — Thưa đồng chí thiếu tướng, tốt ạ. — Quên cả đau, Vô-lô-đi-a thành thật kêu lên. — Sắp tới, tôi sẽ ra viện.

        Đi-a-cốp lắc đầu, ông cảm thấy cậu bé bị thương như con chim non mới ra khỏi tổ không được ai che chở... Và nỗi buồn đã dịu đi trong thâm tâm lại trào dậy trong ông như một cơn giá lạnh.

        — Không, không, không, tôi không hỏi với ý ấy — Đi-a-cốp nói gay gắt.

        — Điều trị, điều tri cho tốt, hãy nghe lời các bác sĩ... Và hãy nhìn tôi! Không thế — tôi phạt đấy.

        Ưỡn bộ ngực nở nang uy nghi, râu cạo sạch, thoảng mùi nước hoa và thuốc lá, ông nhẹ nhàng xoa vai Vô-lô-đi-a.

        — Thôi, hãy cố nghỉ cho lại sức, — ông nói giọng khác hẳn, đây sảng khoái. — Cho tôi gửi lời chào tới mẹ cậu. Tôi, thay mặt Bộ tư lệnh, cảm ơn bà.

        Chậm lại một giây rồi giây nữa — có thể nghĩ rằng ông không muốn chia tay với Vô-lô-đi-a sớm như vậy — ông bước đến giường của đại úy bị thương.

        Về đêm, không gian yên tĩnh đã bao trùm toàn viện quân y và ánh sáng từ hành lang chỉ xuyên qua phía trên cửa kính vào phòng, đại úy ở giường bên đã ngủ say qua tiếng ngáy đều đèu. Vô-lô-đi-a mới mở cái hộp huân chương ra xem. Cậu ngắm rất lâu, rất lâu cái vật quý giá lấp lánh trong nền lụa mà người ta vừa tặng cậu. Cậu hơi ngạc nhiên, chính tấm huân chương phát ra ánh sáng — một thứ ánh sáng thần kỳ ấm áp, sinh động tỏa ra từ ngọn cờ cách mạng đỏ thắm dưới nền ngôi sao Hồng quân năm cánh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2020, 07:33:03 pm
        
*

        Hai ngày liền, các đơn vi quân đội kéo đi qua T. Đó là những ngày đơn vị đã đánh tan quân địch ở phía Bắc và Đông thành phố nay đang chuyển sang hướng mới để kết thúc số phận của chúng. Không dừng lại T., các tiểu đoàn bộ binh hành quân bằng ô tô lần lượt đi qua thành phố, các chỉ huy đi trên những chiếc xe con « Gaz » và « E-mô- ca »; những chiếc xe lực sĩ nhiều bánh kéo trọng pháo, lực lượng dự bị của bộ Tổng tư lệnh tối cao. Tiếng rì rầm của hàng trăm động cơ xe không lúc nào ngớt trên quảng trường Lao động, trên phố Thợ Luyện kim, phố Xô-viết cùng đại lộ Công Xa. Những đoàn xe tải hầu như vô tận chở đạn dược, lương thực, thuốc men, bếp đi động, quân dụng cùng những chiếc áo da cộc tay. Ky binh đi thành một đoàn lớn, những đơn vị đã đuổi bọn Đức từ chính Ca-si-ra tới đây. Bị tỉnh giấc ban đêm bởi tiếng động cơ, tiếng ồn ào huyên náo, tiếng hô mệnh lệnh vọng tới bên cửa sổ, những người dân thành phố với tấm lòng chân thành biết ơn im lặng lắng nghe cái tiếng động ồn ào không ngớt, đầy an ủi đó của đội quân đang tiến công.

        ... Trên đường từ viện quân y về nhà, sau khi đã chia tay với Lê- na và Vi-chi-a, Gô-ga đứng trên via hè một lúc lâu, ngắm nhìn đoàn ky binh đi ngang qua. Trời lạnh, gió to và tay run lẩy bẩy, song cậu ta không thể rời bỏ quang cảnh phi thường này, cậu rất phấn khởi vì rất hiếm có dịp may thế này.

        Tất cả những gì đang diễn ra trước mắt Gô-ga đều vô cùng to lớn hùng vĩ đối với cậu: những con ngựa cao mập, sương giá bám đến tận mắt — vì vậy chúng có một màu sương trắng chen chúc nhau thành hàng bốn, gõ những chiếc vó to như hòn đá xuống đương. Và cậu bé phải ngẩng mặt lên để nhìn các chiến sĩ ngồi trên yên ngựa, theo Gô-ga những chiếc mũ lông màu tráng của các kỵ binh cao ngang tầng ba của các ngôi nhà. Từ đó, từ màn sương đi động bao trùm lấy những người khổng lồ này, thinh thoảng cậu lại nghe thấy giọng khàn khàn như không phải giọng người của họ cùng tiếng hí to kinh khủng của đoàn ngựa nhưng hoàn toàn giống tiếng ho của người.

        Không một điều gì có thể thoát khỏi ánh mắt chăm chú căng thẳng của Gô-ga và đồng thời từng chi tiết như: lá cờ đầy bụi tuyết trên ngọn giáo, tua da đung đưa trên các đốc kiếm, những bó cỏ khô cho ngựa, ống đồng sau lưng người lính kèn, tuy không phải lúc nào cậu cũng hiểu hết, song tất cả đều rất hấp dẫn đối với cậu. Những hình tượng gì đó lờ mờ nhưng tuyệt đẹp lởn vởn trong trí tưởng tượng của cậu và Gô-ga nhớ lại « Bài hát về cô Ô-lê-ga tiên tri» mà cậu thuộc lòng cách đây không lâu, trong đó có câu: «... Với đồng đội của mình, trên xe sắt nhà vua».

        — Chú ơi! Sao người thì có giáo, người khác lại không ? — Gô-ga hỏi người lính bộ binh dừng lại bên cậu. — Chắc là giáo tốt hơn phái không chú? Khi thằng Đức chạm gươm tới thì chú đã mười lần xuyên qua hắn...

        Người lính bộ binh có cánh tay trái bị bó băng bẩn, chi liếc nhìn cậu bé mà không trả lời. Các chiến sĩ kỵ binh đi qua chỉ khẽ lắc lư trên yên ngựa và Gô-ga câm thấy như họ đang nghỉ sau những trận chiến đấu. Nhưng ở phía trước vang lên một tiếng kèn lệnh ngắn gọn và tất cả mọi người đồng loạt thúc ngựa chuyển sang nước kiệu: vó ngựa dồn dập, kiếm va lạch cạch vào bàn đạp và hơi nước ngựa phì đâm đặc hơn. Nhóm chi huy phi nước đại, những chiếc mũ đen phủ màu trắng bạc của bụi tuyết, uyển chuyển nhấp nhô theo bước chân ngựa. Với một sức mạnh phi thường cậu bé chồm người nhìn theo những bóng dáng khổng lồ hùng mạnh và hiền lành kia, có lẽ đang lao vào trận đánh... Song cậu chỉ đổi đôi nạng của mình trên vỉa hè. Chỉ lát sau cả đoàn kỵ binh hùng dũng nặng nề lẻng xẻng những vũ khí đã biến mất, đề lại sau mình một dải tuyết lớn đầy vết móng ngựa. Cố nhìn về cuối phố nơi đại đội kỵ binh biến mất sau màn bụi tuyết trắng, Gô-ga thở phào:

        — Ê, các anh ơi! Chúc các anh gặp may! — Cậu gào lên và quay lại người lính bộ binh bị thương. — Xông lên thế nào thì hãy chiến đấu như thế!

        — Sao ?... Mày cần gì ? — Quay người lại, người lính bộ binh sẵng giọng hỏi nhỏ.

        Từ dưới chiếc mũ có tai trùm tận tới lông mày, một đôi mắt rất gần nhau, tròn như mắt chim, nhìn chằm chằm Gô-ga. Và cậu bé nhận ra người lính này ngay, mặc dù anh ta không đội mũ ca lô mà đội mũ có tai và chiếc ca pốt bảnh bao có bị nhàu nát hơn, đôi má đỏ hồng mọng và bóng hơn.

        — Chú ơi, chú cũng bị thương à ? — Gô-ga vui mừng thốt lên. —  Chú từ mặt trận về phải không ? Sao chú không vào viện quân y

        Song người lính này — chính là người khách của lão già họa sĩ Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích. — Không nói một lời, vội rảo bước trên via hè chuồn thẳng. Gô-ga đang háo hức muốn nói chuyện với người lính từ mặt trận vè, liền thấy thất vọng.

        Khi cậu về tới gần nhà thì trời đã bắt đầu tối. Cuốc bộ cả một đoạn đường từ mãi tận trung tâm thành phố tới nhà, người cậu nóng bừng lên, thậm chí toát mồ hôi, song cũng mệt lử vì chưa quen đi bộ dài như vậy. Còn cách nhà không xa — thật lòng mà nói — Gô-ga chưa muốn về ngay. Cậu ngồi lên bệ nghỉ ngơi một lát.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2020, 07:36:01 pm

        « Chắc là mẹ đã đi làm, không đợi được... Hừ, cứ để cho mẹ đi vậy...». Cậu mơ màng nghĩ. Bên tai cậu còn vang vọng tiếng vó ngựa, tiếng gươm chạm nhau, trong trí tưởng tượng còn thấp thoáng bóng những người kỵ binh khổng lồ lao ra mặt trận... Chỉ có hình ảnh của ngôi nhà đá đồ sộ màu xám xịt nơi cậu đã phải sống từ mười năm nay và hầu như không ra khỏi sân, là làm cậu buồn phiền. Tất cả những gì lúc này cậu trông thấy: cái ngõ yên tĩnh vắng tanh cùng những con đường phủ tuyết, dãy hàng rào dài mất hút trong bóng xanh của buổi hoàng hôn là đều gợi lên cho Gô-ga nỗi thất vọng bất ngờ. Dường như chỉ trong buổi tối này, một buổi tối hoàn toàn không khác gì bao buổi tối mùa đông tĩnh mịch ở đây, Gô-ga nhận thấy là những gì ở chung quanh cậu chẳng có gì là hấp dẫn thích thú cả.

        Giá lạnh lại dồn đến và Gô-ga buộc phải cầm nạng nhảy về nhà. Mẹ đích thực đã đi làm ca hai, chi còn một bát xúp, chiếc bánh mì dưới tờ báo với một ít đường cát mới mua theo phiếu là đang đợi Gô-ga mà thôi. Hâm lại xúp là một công việc rắc rối cho nên Gô-ga đành ngồi một mình trong bóng tới nhá nhem nhai bánh mì với đường... Cảm thấy mình có trách nhiệm trước Vô-lô-đi-a, người mà hôm nay cậu vừa mới kể cho nghe về thành tích của mình, sau đó Gô-ga buông rèm cửa sổ, bật đèn và lấy sách giáo khoa từ ngăn tủ ra. Song cậu vẫn không mở những quyền sách chán ngấy với những tờ bìa sần sùi dây đầy mực, cùng những nét vẽ bằng bút chì màu... Tất nhiên là có thể  ra hành lang kiểm tra xem những người bên cạnh, ai đã đi làm về, ai còn vắng mặt, cũng có thể lấy kéo cắt ảnh chiến đấu trên báo rồi dán chúng vào một quyền vở đặc biệt. Song giờ đây chẳng có một việc nào thu hút được Gô-ga thích thú — tâm trạng bồn chồn tựa như hờn giận mà từ trước tới giờ cậu bé chưa hề biết, đang xâm chiếm tâm hồn cậu.— Cả cái vẻ yên tĩnh trầm lặng bao trùm trong những bức tường âm u dày hàng mét của ngôi nhà cũ kỹ này, hôm nay cũng làm cậu ngán ngẩm...

        Sau một hồi trầm ngâm, Gô-ga mặc quần áo ấm, đội mũ lông và đi ra hành lang — cậu chẳng còn việc gì khác... Vào giờ này ở đây hoàn toàn tối và bóng đêm cũng bao trùm lấy cả gian bếp chung. —  Các bà chủ nhà cho rằng tốt nhất là cứ nấu ăn ngay trong phòng mình, như vậy vừa tiện lợi, vừa tiết kiệm hơi ấm và ánh sáng vô cùng quý giá. Nhưng chẳng thấy một ai ở hành làng và ở bếp cho nên Gô-ga đã quyết định gõ cửa phòng của người hàng xóm bất kỳ nào đó — chưa bao giờ như lúc này cậu khao khát muốn chuyện trò với mọi người. — Nghe thấy ở đầu cầu thang bước chân dò dẫm của ai đó, cậu vội vàng đi ra chỗ có tiếng động này... Song người chủ phòng thứ tư — Pơ-trê-lin-sép, thợ tiện xưởng sủa chữa toa xe, đang vội về nhà, rõ ràng không muốn tiếp chuyện Gô-ga. « Tránh sang bên trái kẻo tớ xéo phải đấy!»— Anh ta mệt mỏi kêu lên khi cậu bé chưa kịp thốt ra lời nào, rồi lạnh lùng đi qua.

        — Mặc xác họ... — Gô-ga càu nhàu, bất ngờ nổi cáu.

        Đứng một mình trong hành lang, cậu cố tưởng tượng đến ngày làm thợ tiện ở xưởng sửa chữa xe lửa hoặc làm kỵ binh. Thậm chí cái khả năng dễ dàng tự an ủi mình từ lâu nay vốn có ở cậu, hình như hôm nay cũng không hiệu nghiệm nữa. Lần đầu tiên trong đời, Gô-ga cảm thấy nghi ngờ ngay cả khả năng cậu sẽ bình đẳng với mọi người xung quanh trong mọi lĩnh vực của cuộc sống... «Cả bộ binh lẫn kỵ binh chẳng ở đâu người ta nhận...». — Cậu nghĩ một cách tỉnh táo và tàn nhẫn.

        — Nếu vào bộ binh thì chính mình không đi cơ, — cảm thấy mình bị bỏ rơi một cách bất công, cậu nói to. — Ta không chạy theo bất cứ tấm thảm nào... Ở đó ta không trông thấy cái gì nữa cơ chứ?

        Song những giọt nước mắt hờn tủi đã trào lên đôi mắt cậu. Và như để chúng khỏi trào ra Gô-ga nhảy nhanh tới cuối hành lang, ở đó cậu trèo lên bệ cửa — điểm quan sát cố định của mình — và lựa chân ngồi trong bóng tối, miệng làu bàu:

        — Không nhận ta chẳng cần... Kệ xác họ... Ta chẳng tự động đi...

        Một người nào đó, chắc là Cô-li-a Bli-a-khin — học sinh xưởng in, từ phòng thứ hai đi ra — Gô-ga xác định được điều này qua tiếng lò xo ken két ở cửa. Cô-li-a đi vội ra cổng, chắc là đi trực phòng không. Sau đó yên lặng lại bao trùm lên rất lâu. Theo mối liên quan vô hình tự nhiên, mọi suy nghĩ của Gô-ga lại hướng về bạn — Vô-lô- đi-a bị thương nặng đang nằm trong viện quân y. — Trong số phận đáng buồn của người bạn lớn tuổi bị thương nặng trong chiến tranh, cậu bé dột ngột nhận thấy sự giống nhau với số phận của chính mình. —  Thực ra Vô-lô-đi-a bị thương trong chiến trận thực sự và trong hoàn cảnh đáng ghen tỵ, song bây giờ có ai muốn cậu ta vào bộ binh, dù chỉ là ở đội phòng không nữa đâu. Và thế là nỗi thương xót của Gô-ga cho chính mình chuyền sang nỗi thương cho Vô-lô-đi-a.

        — Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau... — Cậu lại nói. — Cả hai, chứ không phải mình ta...

        Suy luận này làm cậu thêm hy vọng, và thầm hứa với Vô-lô-đi-a rằng sau khi xuất viện trở về nhà cậu ta sẽ không rời bạn nửa bước, làm Gô-ga thấy phấn khởi hơn.

        — Mình sẽ pha trà cho anh ấy, sẽ mua hộ bánh mì... sẽ mua hộ thuốc nữa... Đối với mình khó lắm hay sao?...—Sôi nổi hơn Gô-ga tiếp tục cuộc độc thoại. — Sẽ cùng nhau đi mọi nơi — trong thành phố và xem chiếu bóng... sẽ cùng nhau chuẩn bị bài... chúng mình sẽ sống không kém những người khác...

        Cậu im lặng chăm chú lắng nghe — ngoài sân có tiếng động ở cửa ra vào. — Một người nào đó bước vào hành lang, đứng yên một chỗ, khẽ sột soạt, trong bỏng tới chẳng nhìn thấy gì. Sau đó que diêm bùng cháy và ngọn lửa yếu ớt soi lên khuôn mặt một người đội mũ lông, hai quai buộc chặt vào cằm. Lấy hai ngón tay che ngọn lửa, anh ta thận trọng đi trong hành lang — đấy chính là người lính bộ binh mà chiều nay Gô-ga vừa gặp ở ngoài phố. Người lính đứng lại trước phòng số bảy. Và chỉ khi que diêm trên tay người lính cháy hết cậu bé mới nhớ ra là lúc chiều tay trái anh ta cuộn dây băng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2020, 07:37:00 pm

       
8

        Cái thành phố Nga, nơi E-vê-min-gơ được tung đến tròn hai tháng nay và hắn đã biết hết các đường phố, lối ngõ, khu sân, đường cụt công viên và bãi trống ở ngoại ô, lúc này đối với hắn là một thung lũng rậm rạp, trong đó đâu đâu cũng có bẫy, có ổ phục kích cùng hố săn chó sói. Thời kỳ đầu khi các sư đoàn thiết giáp Đức tiến gần tới T. những lúc đi trên đường phố và nhìn người dân sống ở đó hắn có cảm giác tò mò của người đi săn lạc vào khu rừng cấm. Thậm chí E-vê-min-gơ không đặc biệt căm ghét những con người tất tưởi, lo âu, không có vũ khí hoặc mới học cầm vũ khí mà hắn không hiểu này, hắn chỉ quan sát họ với một vẻ thích thú và đêm đến khi bắn pháo sáng chi điểm chỗ ở của họ hoặc ám sát những người đi đường muộn mằn một mình, hắn chỉ có cảm giác nghề nghiệp là chủ yếu : cảm giác của nỗi lo sợ bị phát hiện và cảm giác khoan khoái của người thợ săn vì phát đạn chỉnh xác...

        Song chẳng bao lâu tình thế thay đổi hẳn — cuối cùng trong cả nhóm được tung qua mặt trận sang T., chi còn độc mình hắn là chưa việc gì; căn nhà hội họp bí mật được giữ gìn hết sức thận trọng đã bị tàn phá. Và chính E-vê-min-gơ cũng cảm thấy mình là kẻ đang bị rình mò truy bắt. Đối với hắn — một sĩ quan của cơ quan đặc biệt SS, những người dân của thành phố Nga xa lạ trở nên dễ hiểu hơn, nhưng lúc này hắn biết khá rõ là đã chiến đấu một cách cương quyết và thành thạo hơn. Dù gặp họ ở đâu trên phố, trong hầm tránh bom ở cửa hàng bánh mì, nhà ga hay ngoài chợ, E-vê-min-gơ đều phải cố giữ sao cho khỏi lộ và nếu phải nói chuyện với họ thì chỉ lặp lại những gì mà họ thường nói một cách tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của mình. Sau khi đã nhận thấy những con người này không chịu ngoan ngoãn quỳ xuống trước mũi súng của mình, hắn vô cùng căm thù họ.

        Hai ngày nay, cải trang là bộ đội vừa xuất viện, hắn đã tạm trú trong ngôi nhà nhỏ của nữ nhân viên tuần đường tại khu ga gần làng và như hắn nhận thấy, cánh tay đầy băng luôn luôn gây cho người dân thành phố một ấn tượng tốt, Buổi tối khi nghe bà chủ kề về người con trai đang phục vụ trong quân đội và được đọc những bức thư do bà chủ nhà tốt bụng đưa cho hắn, lại những bức thư đầy niềm tin vào thắng lợi sắp tới. E-vê-min-gơ khó khăn lắm mới ghìm được lòng căm thù sôi lên trong người. Song khi bà chủ tuyên bố cần phải thay băng ở tay, gọi bác sĩ tới rửa vết thương, thì E-vê-min-gơ hiểu rằng —  cần phải chuồn nhanh khỏi nơi đây. Lúc này không cỏ gì cản trở việc hẳn thanh toán người nữ chủ nhân vì những câu chuyện phấn chấn của bà và vì sự chạy trốn của hắn, ngoài ra còn đỡ phải giải thích lôi thôi cho bà ta... Và khi người phụ nữ quay vào cửa sổ để bỏ rèm, hắn nhanh chóng bám theo sau và mở dao găm cán gập... Kéo cái xác nặng nề vào góc sau bếp, lau dao vào thảm sàn, hắn bình thản xốc ba lô lên vai ra đi... Và lần này hắn lại cực kỳ may mắn : khi lẻn vào vườn rau trong ánh hoàng hôn hắn nhìn thấy những người bộ đội có vũ khí đang ập vào san ngôi nhà mà hắn vừa mới chuồn khỏi — chắc là việc hắn trú ngụ ờ đây đã bị lộ...

        E-vê-min-gơ trú đêm trong nhà máy đồ nát ở đầu kia thành phố, trong hoàn cảnh này mà vào hầm tránh bom, như thời kỳ đầu hắn đã làm là một việc quá nguy hiềm. Trong cái đêm tháng Chạp dài dằng dặc này tất cả sức lực cùng trí tuệ của hắn đều tập trung vào một điều — ngồi cho đến sáng trong cái ô băng giá lạnh ngắt của mình và cố không để bị chết cóng. Sợ ngủ thiếp đi, thỉnh thoảng hẳn lại bò theo cái đống gạch, theo những thanh sắt cong queo cháy sém và trong bóng đêm, hắn lại vấp ngã đau điếng. Nhưng đồng thời đêm chuyển dần về sáng, một sự chuyển động không ai có thể làm nhanh hơn hoặc chậm hơn, lại làm hắn hoảng sợ... E-vê-min-gơ mong muốn hơn hết là chuồn khỏi thành phố này, chạy xa khỏi nơi đây, song hắn đang bị truy lùng và cần phải đáng lạc hướng. Rạng sáng, ở bãi gạch đá nơi hắn ẩn nấp xuất hiện các chiến sĩ Hồng quân — họ bao vây khu vực nhà máy. Trong màn sương mù dày đặc một lãn nữa, hắn lại phát hiện ra họ sớm hơn họ phát hiện ra hắn, rồi hẳn bò sang sân bên cạnh chuồn mất.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2020, 08:55:13 pm

        Ban ngày hắn lại lang thang trong thành phố, vào các cửa hàng để sưởi ấm, đứng xem các đơn vị bộ đội — những đoàn xe dài và kỵ binh đang tiến về phương Nam và theo thói quen hắn bắt đầu đếm... Nếu bắt gặp ai đang nhìn mình là hắn vội vàng lảng xa. Hắn bị cóng đến mức phản ứng rất chậm, y như thể giá lạnh chui vào hộp sọ rồi làm tê liệt thần kinh — ý nghĩ là người ta luôn luôn ngầm quan sát hắn và không một phút nào người ta sơ lãng để hắn tẩu thoát. Trong mỗi người qua đường, trong người phụ nữ choàng khăn tới mắt chăm chú nhìn cánh tay băng bó của hắn, trong người tài xế đỗ xe cạnh vỉa hè, trong cậu bé chống nạng, không hiểu sao lại bắt chuyện với hắn trên phố, E-vê-rnin-gơ đều nghĩ rằng họ là những người đang theo dõi hắn như trong cuộc lùng bắt ở rừng... Và hắn sẵn sàng trong bất kỳ khoảnh khắc nào hắn cũng bắn vào những người hắn gặp —  vào người phụ nữ, vào anh tài xế, vào cậu bé, nếu có thể hắn sẽ vô cùng sung sướng được hủy diệt cả thành phố này cùng với những người dân của nó, cốt sao cứu được mình... Mất tự chủ, E-vê-min-gơ quay ngoắt lại đi sâu vào ngõ vắng hoặc vội vàng đến trung tâm đông đúc, cố lẩn vào trong đoàn người, gần công viên thành phố, hắn bỗng quay lại nhìn và thấy một người đàn ông mặc chiếc bành tô đông màu đen, đội mũ trùm tai màu xám đi theo hắn khá xa, sau đó ở trung tâm hân lại bắt gặp ông ta một lần nữa ở gần khách sạn. Và chẳng nhớ tới mình, hắn vội bước sang bên kia đường, chạy vào cổng bỏ ngỏ, quay lại, ép vào tường, rút súng lục trong túi ra...

        Đến tối E-vê-min-gơ đã ở khu Bờ sông — hắn tưởng hắn đã lừa được và thoát khỏi cuộc truy lùng ; đứng trong lối đi hẹp giữa hai bờ rào, hắn tháo cái băng giống như cái bao và vùi nó xuống tuyết —  lúc này hắn sợ nó sẽ biến thành dấu hiệu đề người ta đi tìm. Rút bọc tài liệu trong áo ca pốt ra hắn chọn các chứng mình thư cùng giấy đi đường đủ loại — một số hắn để lại, số khác cũng chôn xuống tuyết, súng ngắn hẳn giúi vào túi ngực để đầu khỏi bị đông cứng... Khi hắn đặt đôi chân tê đại tới ngôi nhà Bu-kha-xép ở thì trời đã tối hẳn, hẳn không tin là tên đồng mưu này của hắn chưa phải chịu số phận chung và hắn cũng không quá tin vào y, song Ẹ-vê-min-gơ cần phải nghỉ ở nơi ấm áp dù chỉ trong một hai giờ trước khi đi đến quyết định cuối cùng... Tay lăm lăm súng ngắn dưới áo ca pốt, sẵn sàng nhả đạn nếu có bẫy trong nhà, hắn loạng choạng bước lên chiếc cầu thang dựng đứng với những, bậc đã mòn.

        Bu-kha-xép có ở nhà... Trái với mọi dự tính, hôm nay y gặp người khách nguy hiểm của mình có vẻ vui mừng hơn so với lần đầu. Có thể nghĩ rằng lão già đã bị lừa và lại chịu bao thất vọng nên đa thực sự vui sướng khi gặp hắn. Y mời E-vê-min-gơ ngồi vào ghế bành của mình, ngay sau đó chạy đi pha trà và khoe rằng lão còn một dúm, như lão nói, chè Tầu chính hiệu — nói chung, trong chiếc áo vét cũ kỹ loang lò sơn và đôi giày sàn sùi, lão già sôi nổi một cách kỳ lạ gần như vui sướng là đằng khác. Hình như lao không những lo chính mình mà trái lại trong tình hình tuyệt vọng như thế này lại có vẻ bình thản hơn — quả là điều hoàn toàn không hiểu nổi. Ngồi trong phòng Bu-kha-xép chưa được mười lăm phút, E-vê-min- gơ đã nghi ngờ điều mà theo quan điểm của hắn, là tự nhiên nhất trong những trường hợp tương tự như thế này.

        — Ông sống ra sao hả, ngài Bu-kha-xép ? Ông có gì mới để báo cáo không?... — E-vê-min-gơ nhỏ nhẻ, thì thầm bắt đầu câu chuyện, bỗng nhiên hắn mất giọng. — Ông loay hoay mãi ở đấy làm gì thế ?

        — Có ngay đây, có ngay đây, ông Bô - rít Ni-cô-lai-ê-vích ạ! — Vừa loay hoay với bếp dầu Bu-kha-xép vừa líu ríu trả lời. Đấy! Nước réo rồi, tôi mời ông uống trà nóng. Hôm nay rét tợn... Lâu lắm rồi ông không đến chỗ tôi, thử tính xem, đúng một tháng rồi. Tôi hiểu : không có thì giờ rỗi, lúc việc này, lúc việc khác.

        Lão làm như không nghe thấy câu hỏi của khách, còn E-vê-min- gơ mỗi lúc một nghi ngờ thêm, hắn ngồi im lặng suy nghĩ đắn đo là có nên dùng súng ngắn trong lúc này không hay chờ đã.

        — Ấy, rõ khổ cái bếp của tôi lại hỏng, cái của đơn giản thế mà không có nó cũng không xong — Bu-kha-xép nói giọng lại có vẻ đùa. — Chắc là gần hết bấc... Hừ, ông cũng biết đấy, lúc này thì đừng hòng mua được cái mới.

        E-vê-min-gơ không tài nào sưởi ấm được và cố chống lại cơn rét run người, hắn kẹp hai tay vào nách và ưỡn thẳng người lên ghế.

        — Ông cần phải biết... Ngài đại úy tham mưu ạ, — hắn thì thầm, nói nhưng giọng lại lanh lảnh, — quân đội Đức tạm thời rút lui để tổ chức lại trận tuyến, — Ồng là nhà quân sự ông phải hiểu rõ điều này. Trước bước nhảy vọt mới thường cần phải tập trung lấy đủ sức.

        — Đúng như vậy ông Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích ạ ! À, này ông hãy cởi ca pốt ra, phòng tôi ấm không sợ bị lạnh đâu, — Bu-kha-xép nói. — Như ông biết đấy củi này vừa mới nhận được trong tuần. —  Mới đẵn còn tươi và ẩm lắm, nhóm được lò thì cứ chóng cả mặt.

        — Và tôi định... thông báo cho ông biết là, — E-vê-min-gơ mất tự chủ nên đã phát âm lơ lớ nghe lạ tai, — bộ chỉ huy Đức sẽ trọng thưởng cho những ai trung thành... và chúng tôi sẽ không thương xót treo cổ tất cả những kẻ phản bội...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2020, 08:58:15 pm

        Song lời hăm dọa này vẫn không tác động đến Bu-kha-xép, hay nói chính xác hơn là lão đã bỏ ngoài tai những lời này. Rời khỏi bệ cửa sổ, nơi bếp đầu đang cháy giữa đám xoong, lọ ngổn ngang, lão già định thu dọn bàn...

        — Ông Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích này, chiều nào tôi cũng đợi ông —  vừa nhìn khách, lão vừa làm vừa nói, đôi mắt ướt của lão hiện rõ vẻ rất hài lòng, — hễ nghe thấy bước chân ở hành lang là lập tức tôi nghĩ: có phải là ông không ?...

        Lảng tránh các câu hỏi, dường như Bu-kha-xép cười với chính mình, bông đùa với hoàn cảnh khó khăn của khách, và E-vê-min-gơ quyết định là hắn không thể ở lại đây được — hắn không còn nghi ngờ, là tên cựu đại úy tham mưu trưởng đã thay lòng đổi dạ, hòng chuộc lại cho mình nếu không phải sự khoan hồng thì cũng là cuộc sống... Tuy vậy hắn không thể đứng dậy và đi khỏi căn phòng ấm áp ra ngoài giá lạnh trong lúc này được. Trong khoảnh khắc này hắn hình dung rõ một cách kỳ lạ cái thế giới đáng yêu duy nhất mà hắn hiểu và đang khao khát trở về... Đây không phải là sự tường tượng mạch lạc về thuở hoàng kim xa xưa, nhưng trong bức tranh chung ấy với những hình ảnh này đè lên hình ảnh kia, hắn mơ thấy chiếc áo khoác đen viền trắng với đôi quân hàm bạc trên cầu vai đã cởi bỏ lại bên kia trận tuyến, như thấy rõ các đồng nghiệp cũng mặc áo cảnh sát y như vậy, thấy rõ quán bia hơi chật nhưng nóng đến ngạt thở mà buổi tối tất cả bọn hắn quây quần bên chiếc bàn đá hoa cương màu trắng với những cốc bia sùi bọt và cô bạn gái rẻ tiền của hắn trong gian phòng nồng nực buông rèm màu hồng, chậu rửa bằng sành cùng chiếc đồng hồ quả lắc trên tường...

        — Mein Gott! Bin ich Zugrun dege gargeu? DaWird Ja Sehrecr lích sein1! — Hắn ú ớ buột nói tiếng mẹ đẻ.

        — Còn hôm nay như thể có người nhắc tôi nhớ đến ông: ông ấy đến, nhất định sẽ đến — ghé sát vào E-vê-min-gơ, song chẳng nhận thấy gì, Bu-kha-xép mỉm cười ranh mãnh nói: và thế là cả ngày tôi không đi đâu, tôi biết ông sẽ đến!

        E-vê-min-gơ nhìn lão già, sau đó lướt nhìn đôi tay của mình: một tay đỏ tấy vì rét, tay khác — tay trái hơi trắng với những vết bẩn. Hắn cố tưởng tượng xem điều gì sẽ đe dọa hẵn, nếu hắn bắn vào lão chủ căn phòng này, đề hắn được yên thân suốt đêm ở đây một mình mà không sợ khi ngủ, lão già có thể dẫn quân tuần tiễu ở phố vào. Hắn rất cần được ngủ đẫy giấc... Và nếu hàng nghìn người — già cũng như trẻ, gái cũng như trai, người Nga cũng như người Đức, dù trong dám ấy có cả mẹ hắn nữa — đứng ngăn đường hắn thì hắn cũng sẽ bắn tất cả cốt sao lấy lại được của cải, cái áo khoác cảnh sát, cốc bia hơi và con tình nhân rẻ tiền của mình. Với ý nghĩ là dường như lúc này sự cứu vẫn của hắn phụ thuộc vào một lão già nham hiểm, hắn thấy căm giận đến nghẹt thở. Dễ dàng thủ tiêu Bu- kha-xép mà không gây tiếng động — để cho những người bên cạnh khỏi đổ xô đến — song trong bất kỳ phút nào cũng có thể có người đến đây gõ cửa và lúc đó tình thế của E-vê-min-gơ là không có lối thoát... Trong lòng đầy khát vọng, hắn lại ngước đôi mắt chim hơi lồi lên nhìn Bu-kha-xép như muốn hỏi phải hành động như thế nào. Và vọng đến tai hắn:

        — Ông Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích! Có việc cần bàn với ông! —  Lão già hạ giọng nhanh nhảu và vui vẻ nói... — Trong khi tòa án đang bận việc, tôi đã lập danh sách những người sống ở ngõ phố tôi — đã lập được hơn bốn trăm số, toàn những người tôi biết rõ tông tích.

        — Was ist das?2 — E-vê-min-gơ lơ đãng hỏi.

        — Đây ông hãy xem qua, xem đi!

        Nhoài người qua bàn, Bu-kha-xép chìa tập giấy mềm gấp tư cho hắn.

        — Tất cả đều ở đây, rõ ràng như thanh đếm, — mặt lão có vẻ thỏa mãn và hơi hợm mình của kẻ có món quà độc đáo, quý giá hoặc hiếm hoi. — Tôi đã ghi rõ cả chỗ ở lẫn chức vụ của chúng... Ông hãy đọc đi.

        Như một cái máy, E-vê-min-gơ cầm lấy tập giấy — phía trên của trang đầu có hàng chữ to viết bằng bứt dạ cổ: « Nhà số 43 » — Tiếp theo là các cột với đầu đề: « Số thứ tự «Số phòng », « Họ, tên, tên lót», « Nghề nghiệp hoặc chức vụ», «Chứng cớ», « Ngày Iập». Xê-rê-bri-a-cốp Ti-khôn An-đrê-ê-vích, quản trị trưởng khu nhà, đứng đầu bản danh sách, ở cột « Chứng cớ» ghi : « Ký giấy cho thuê nhà», « Nhận báo» « Chiến sĩ công xã>>, cột « Ngày lập » bỏ trống.

        — Ông cứ chọn bất kỳ một người nào đó, tốt hơn là theo thứ tự. — Bu-kha-xép đứng dậy giải thích, mặt lão cúi sát vào ngọn đèn trên bàn nên lão nheo mắt lại.

        — Nếu cần có thể lập danh sách các phố khác. Ở đó tôi cũng cỏ người quen — lão để đèn sang một bên — tất nhiên trong thời gian ngắn, một mình tôi khó hoàn thành được.

----------------------
        1. Lạy chúa! Phải chăng tôi đã chết ? Thật là khủng khiếp!

        2. Cái gì thế?



Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2020, 08:59:32 pm

        E-vê-min-gơ vứt mạnh tập giấy xuống bàn, chúng xòe ra như cái quạt, rồi hắn ngả người vào thành ghế, đưa tay vuốt vuốt mặt, —  cuối cùng hắn đã đoán được điều gì đã làm lão già run sợ. Và nếu không vì rét cùng nỗi lo sợ căng thẳng tột độ thì có lẽ hắn đã đấm cho lão già một cú cho bõ nỗi sợ hãi của mình...

        — Cho tôi ăn đi, — hắn cáu giận nói và chửi tục bằng tiếng Đức lẫn tiếng Nga.

        — Ông hãy giữ lấy tập danh sách này, ông Bô-rít Ni-cô-lai-ê- vích ạ, — xếp lại tập giấy Bu-kha-xép nói, — tôi còn bản nữa, tôi đã sao lại cho mình một bản lưu rồi.

        Cách đây ít lâu, Bu-kha-xẻb được thực sự như bị điếc đặc đối với tất cả những gì có thể làm lão quên mất lý tưởng duy nhất mà lão tuân theo... Điều này xảy ra từ lúc nào chính hắn và những người chung quanh đều không biết. Nhưng tháng qua thì Bu-kha-xép không hề thay đổi, lão suy luận chặt chẽ, hành động có mục đích rõ ràng vẫn như mọi khi; cẩn thận và sắc sảo trong cuộc sổng hàng ngày: đi mua bánh mì từ sớm, nhanh mồm nhanh miệng với mọi người láng giềng, khi thì xin ít củi, lúc thì hỏi phiếu mua dầu. Đồng thời lão hình như cũng quên mất là mới đây một nỗi khủng khiếp đã đến với lão... Mối hận thù lâu năm mà lão không bao giờ quên được tựa như một khát vọng cuồng đại đòi hỏi phải được trả thù. Giờ đây những bản tin cuối cùng về tinh hình trên các mặt trận và trong thành phố, về sự thật khủng khiếp đối với Bu-kha-xép, đã trườn qua đầu óc lão mà không gây ra một tiếng vọng nào. Vì những ước mơ kỳ diệu mà lão tưởng như có phép thần sắp trở thành hiện thực cũng đã sụp đồ hoàn toàn trong giây lát.

        — Tôi muốn ăn, ông có nghe thấy không? — E-vê-min-gơ thì, thầm nhắc lại. — Schnell! Schnell!1. — Co người lại trong ghế bành, hắn đưa tay trái túm lấy cổ áo véc của Bu-kha-xép kéo ghì qua bàn. Bị bất ngờ lão ta đánh rơi tập danh sách xuống sàn, một số tờ bay tỏa ra, lão ngạt thở, miệng há hốc, khuôn mặt hiện rõ vẻ không hiểu, bối rối và đau đớn.

        Đúng lúc đó bỗng có tiếng đập cửa và tiếng người nào đó hét to đòi mở cửa. Vội bỏ Bu-kha-xép ra, E-vê-min-gơ xô ghế đứng bật dậy... Ngoài cửa vọng vào tiếng chân ngưởi, tiếng nói ồn ào của nhiều người tập trung ở đó — E-vê-min-gơ lao ra cửa sổ, gạt chiếc chăn làm rèm, lấy khuỷu tay đập vỡ kính... Song ngay lúc ấy hắn biết rằng không thể chui qua được cái khung nhỏ hẹp và dãy chân song bên ngoài. Trong khi đó cánh cửa rung lên bởi những cái đập mạnh làm lớp sơn cũ long ra... E-vê-min-gơ vội lùi khỏi khung cửa sổ đang tràn đầy gió rét — lướt nhìn căn phòng trống trải mờ mờ tối, nơi họ sẽ bắt hắn ngay bây giờ, nhìn những bức tường trần trụi màu xanh bẩn, cái trần hoen ố, chiếc tủ cũ thấp, rộng như khung thành, chiếc giường sắt đầy giẻ rách trong góc — hắn rên lên vì đau xót, thất vọng. Và trong óc hắn lại thoáng hiện ra rõ ràng; sinh động như thật: vại bia đầy bọt trên bàn đá hoa cương, chiếc đồng hồ quả lắc với cái hộp sặc sỡ... Chạy đến bên bàn, E-vê-min-gơ tắt đèn và rút súng ngắn trong túi áo ngực ra...

        ... Không thể nói ràng người lính bộ binh đến thăm nhà họa sĩ già Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích đã gây cho Gô-ga những nghi ngờ nhất định; lúc đầu cậu chỉ chú ý vì tò mò thôi. Do tò mò cậu tập tễnh bước đến cửa phòng số bảy và đứng im ở đó một lát. Khi Pô- trê-Iin-xép lại đi ra hành lang thì cậu đã quên nỗi bực bội bước tới bên anh để khoe tin nóng sốt. Khi anh thợ tiện đang rửa tay ở bếp thì Gô-ga tập tễnh đến bên chậu rửa cúi tránh những giọt nước lạnh bắn vào mặt, vừa kề về anh bộ đội bị thương ở tay, chóng khỏi một cách lạ thường — cậu rất khoái là đã có một người lớn tuổi, anh thợ tiện xuất sắc của xưởng sửa chữa toa xe, lại chăm chú nghe cậu nói — chắc Pô-trê-lin-xép cho rằng đây là một trường hợp thú vị đáng quan tâm.

        — Anh bộ đội ấy đã có lần nào đến phòng bác Mi-kha-in Mi- khai-lô-vích chưa? — Rửa mặt xong anh vừa lau vừa hỏi.

        — Có, trước đây đã có đến... Chỉ có điều là lúc đó anh ta giống như một chi huy, — Gô-ga nhớ lại, — mặc bộ đồ mới, đi ủng da bốt-can mới...

        — Đợi đấy để anh lấy mũ lông đã, — suy nghĩ chốc lát, anh công nhân tiện nói: phải đến báo cho bác Ti-khôn An-đrê-ê-vích biết...

           — Không có em, anh đừng nói! — Gô-ga kêu lên không hiểu được là tại sao cần đến gặp quản trị trưởng, nhưng linh cảm thấy có một điều gì đó mạo hiểm hiếm có, thế là Gô-ga vội tập tễnh chống nạng theo sau Pô-trê-lin-xép.

        Họ không gặp Ti-khôn An-đrê-ê-vích ở nhà cạnh văn phòng —  con gái ông nói rằng cách đây nửa giờ người ta đã gọi bố cô đi đâu đó — Gô-ga đã chán chường cho rằng cuộc mạo hiểm mà cậu hy vọng thế là hết. Nhưng Pơ-trê-lin-xép cau có và phân vân, lẩm bẩm rằng phải ra đồn công an và cậu bé lại hy vọng cũng vội đi theo anh. Ra khỏi cổng họ bị một chiến sĩ Hồng quân giữ lại và bên kia vỉa hè, họ thấy còn có ba người lính nữa cầm súng đứng tách nhau trước nhà; Ti-khôn An-đrê-ê-vích cũng đang ở đấy.

---------------------
        1. Nhanh lên ! Nhanh lên !


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2020, 09:00:05 pm
     
        Một người mặc thường phục — áo bành tô đen, đội mũ lông, trùm tai màu xám bước đến bên Pơ-trê-lin-xép.

        — Đồng chí đi đâu? Đồng chí ở trong khu nhà này phải không? — Ông hỏi.

        Anh thợ tiện vội vàng kể về những gì mà Gô-ga đã cho anh biết, người mặc bành tô chắc là người chi huy, chưa nghe xong đã ngắt lời :

        — Anh có trông thấy người lính đó vào nhà ai không?

        — Anh ta hoàn toàn không bị thương — Gô-ga vội hét lên, giọng lanh lảnh trên đường phố. — Anh ta đã khỏi... Cháu không nói dối đâu, chú ạ!

        — Khẽ thôi, chú em, khẽ thôi, — ông ta hốt hoảng — cháu nói anh ta đã khỏi rồi?... Phải không? Thế đấy. Có thể anh ta đã khỏi thật rồi, — sau một giây nghĩ ngợi ông nói thêm.

        Gô-ga cảm thấy tất cả những gì xảy ra sau đó giống như một giấc mơ tuyệt diệu và thật tuyệt diệu làm sao khi tất cả những điều ấy không phải diễn ra trong giấc mơ mà là trong thực tế. Không phải ở trong trí tưởng tượng của cậu mà là chuyện có thực... Người chi huy mặc thường phục, Pơ-trê-lin-xép, quản trị trưởng cùng hai chiến sĩ Hồng quân và cậu — Gô-ga — tụt lại sau những người khác vội bước lên cầu thang dóc mờ mờ tối. Chi huy trưởng bật đèn pin — Ánh sáng nhỏ quét lên các bức tường, lên sàn lát gạch gang và trần hình vòm. Trông thấy núm cách điện gần cửa số bảy, ông treo đèn pin lên đấy. Sau đó ông gõ mạnh của phòng Mi-kha-in Mi-khai- lô-vích. nhưng không một ai trả lời, tựa như họ đang ngủ say trong đó. — Lúc ấy một trong hai chiến sĩ Hồng quân, ghé vai, lấy báng súng nện vào cánh cửa gõ...

        — Gô-ga, em lẩn đi đâu thế ? — Giữa tiếng đập cửa, cậu bé nghe thấy giọng Pơ-trê-lin-xép. chẳc người thợ tiện lo cho cậu. — Đi về nhà ngay... — Gô-ga quanh quẩn trong bóng tối bên cầu thang để người ta khỏi phát hiện ra cậu và bắt cậu về phòng.

        Đoạn giữa cánh cửa nhanh chóng bị phá và bung vào trong phòng Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích, nhưng vẫn không có một tiếng động nào vọng ra từ đó, những tổm cuối cùng rơi ra-khỏi cánh cửa-.. Và bỗng nhiên một loạt ba phát súng ré lên qua lỗ hổng hình chữ nhật làm Gô-ga chối cả tai. Ánh sáng vụt tắt — chắc là kẻ bắn nhằm vào ngọn đèn treo trên tường. Trong bóng tối như bưng, những giọng nói căm giận đồng thời vang lên.

        — Đừng hòng trốn thoát! Mày chạy đi đâu?

        — Đứng lại! Đồ chó đẻ!

        — Đê-men-chi-ép ! Bắt lấy nó !

        Những viên gạch gang dưới chân kêu lạch cạch, ngọn đèn pin thứ hai lóe sáng... và Gô-ga nhìn thấy người lính bộ binh ban nãy đang nghiêng người lao thẳng tới cậu. Ánh đèn chiếu rọi sau lưng hắn và cậu bé cảm thấy hắn ta đen thui, y như thể tự đầu đến chân nhuộm mực...

        Chẳng kịp sợ hãi, Gô-ga, thậm chí không thèm tránh, đứng chân giữa đường chạy của hắn, đưa chiếc nạng ra ngáng đường...

        Một phát súng nữa lại vang lên, một ánh lửa đỏ nhạt lóe lên trong hành lang, cậu bé cảm thấy một luồng gió nóng tạt vào mặt và cậu thú vị kêu lên — hai chiến sĩ Hồng quân lao tới tên lính bắn súng tóm lấy vai hắn.

        Pơ-trê-lin-xép cũng xô tới và ba người đè nó ngã xuống sàn...

        Sau khi Bu-kha-xẻp và người khách của lão bị giải đi, Gô-ga không trông thấy gi nữa — Pơ-trê-lin-xép bế cậu vào bếp và những người phụ nữ tất cả các phòng vội chạy đến vây quanh cậu.

        — Đồ chó đẻ bắn vào tôi, thật đấy. — Gô-ga sung sướng la lên, — song chỉ sượt thôi, viên đạn đi mua sữa... Cháu đứng đấy, còn thằng đều ấy chĩa súng vào cháu : păng, păng... Cháu cứ đứng dấy. — Cậu lặp lại giọng lanh lảnh.

        Cậu rất hạnh phúc tự hào, khi cảm thấy mình cũng đã chiến đấu và chiến thắng như tất cả mọi người.

       
*

        Trái với sự mong đợi, lần này đại tá Bót-đa-nốp không đi qua T. Tới gần thành phố, sư đoàn anh rẽ sang hưởng Tây Nam ra mặt trận để tiếp tục truy đuổi kẻ thù mà bỏ qua T. giờ đây đã được coi là vùng hậu phương...

        Cuộc phản công của quân đội Xô-viết vẫn tiếp tục... Song như mọi người đều biết, con người ta chóng quen với niềm vui chiến thắng hơn là nỗi đau thương bất hạnh. Và nói chung đây là một đặc điểm tốt của nhân loại, bởi vì một mặt nó sẽ không, cho phép thỏa mãn với những gì đã đạt được, và mặt khác cam chịu với những nguyên nhân thất bại. — Tình hình ở khu vực của Bốt-đa-nốp khá tốt: giữa tháng Chạp sư đoàn anh đã đến sông U-na và sau một đòn tập kích táo bạo và lanh lẹn đã làm tan rã một đơn vị dự bị lớn của bọn Đức, bắt được nhiều tù binh. Đồng thời sự tiến công liên tục trong điều kiện mùa đông khắc nghiệt cũng đời hỏi những cố gắng lớn và hầu như lúc nào đó cũng có những điều làm sư đoàn trưởng lo lắng hoặc phật ý: lúc thì các đơn vị hậu cần đến chậm so với các đơn vị phía trước, lúc thì các đơn vị bạn hoạt động ở giao điểm với sư đoàn đến địa điểm tập kết không đúng giờ hẹn, lúc thì tư lệnh tập đoàn quân không đồng tình với một điểm gì đó, lúc thì chính Bốt-đa-nốp phải khiển trách một chỉ huy cấp dưới đã để đơn vị anh ta chịu tổn thất lớn... Thực ra thì không thể nào khác được, vì mỗi thành công — trong chiến đấu hoặc trong lao động hòa bình — là cơ sở và tiền đề cho bước tiến của ngày mai — mới chỉ là những bước đi đầu tiên và có thể chưa phải là những bước đi khó nhất trên con đường từ Mát-xcơ-va tới chiến thắng hoàn toàn, một chiến thắng còn xa xôi chưa được phác họa một cách rõ ràng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2020, 09:02:21 pm

       
*

        ... Sáng sớm, tư lệnh tập đoàn quân đến sở chỉ huy sư đoàn của Bốt-đa-nốp — Sau khi nói qua về những kết quả xuất sắc của các đơn vị của sư đoàn trong nhiều cuộc chiến đấu mới đây, trung tướng tư lệnh trao cho sư đoàn nhiệm vụ mới là: tiếp tục tiến công không cho quân địch cố thủ ở bờ phải sông U-pa. Và cho đến giữa trưa ông còn họp bàn với Bốt-đa-nốp và các sĩ quan trong phòng tham mưu của anh về những biện pháp chuẩn bị nhanh hơn, tốt hơn cho những trận chiến đấu mới. Cho đến khi đã lên xe, sắp chuyển bánh, tư lệnh còn nói thêm:

        — Người xưa có câu « Người lính phục vụ không được chần chừ, còn quan thì phải quan tâm mọi việc». Chúc mừng đồng chí đại tá! —  Bộ tham mưu phương diện quân đã đề nghị tôi ký lệnh khen thưởng anh.

        Sau khi đã chia tay với trung tướng ở cổng làng, nơi ông sẽ đi thăm những khẩu cối chiến lợi phẩm loại mới, nòng to, Bốt-đa-nốp và tham mưu trưởng Vê-xnin trở về sở chỉ huy. Tuyết dưới chân lạo xạo, dưới ánh nắng mặt trời những cột khói tròn màu trắng tỏa trên các nóc nhà, hầu như không động đậy, không tan ra...

        — Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích! Xin chúc mừng anh! — Vê-xnin chân thành nói, (ông cũng biết mới đây sư đoàn trưởng đã ký giấy khen thưởng cho chính ông).

        — Còn sớm, còn quá sớm... Cứ coi như chưa có gì. — Bốt-đa-nốp chống chế. — Và đừng cho ai biết chuyện này đấy, — anh cười, — kẻo họ lại không cho cái gì đâu, có cái điểm như vậy đấy, đó là chuyện thường thấy...

        Không hiểu sao, chuyện khen thưởng này bỗng như nhắc anh rằng anh đang ở cách T. khổng xa lắm — khoảng ba nhăm cây sổ về phía Bắc theo đường chim bay... Bốt-đa-nốp buồn rầu nghĩ rằng chắc là từ nay đến hết chiến tranh anh sẽ không có dịp qua đó nữa vì ngày mai — ngày kia là cùng, anh sẽ dẫn sư đoàn của mình tiếp tục tiến về phía Tây.

        — Thôi, thế là chúng ta không đến T. nữa,— anh nói. — Chúng ta thì dự tính, còn Hội đồng quân sự thì quyết định. — Tiếc thật —  ở T. tôi quen biết nhiều nguời — đã quen biết họ trong hoàn cảnh đặc biệt... Nói thật ra tôi rất thất vọng.

        — Đồng chí đại tá, tại sao đồng chí không cho chiếc «Em-ca» vào T. — Vê-xnin thốt lên, đầy vẻ biết ơn sư đoàn trưởng, — có thể viết thư gửi lời chào người bạn đời — vì có thể với tay tới thành phố, cả đi lẫn về xe chạy mất ba tiếng.

        Bắt gặp cái nhìn lạ lùng, bỗng nhiên như xa lạ của Bốt-đa-nốp, Vê-xnin im bặt. Đại tá cũng im lặng, vừa thương hại cho mình, vừa ái ngại cho Vê-xnin.

        Rõ ràng là câu nói tai hại về người bạn gái không có mà chẳng hiểu sao anh lại thốt ra trong bữa ăn tối với Pô-crốp-xki vẫn chưa bị lãng quên... Không biết trả lời ra sao —Bốt-đa-nốp không biết nói dối nên anh quay đi...

        Chung quanh anh trên con đường chính trong làng rất nhộn nhịp — sáng nay các đơn vị hậu cần của sư đoàn đã đến đây, trên bờ sông U-pa và đang xếp dọn ở chỗ đóng quân mới. Trước ngôi nhà dành cho quân nhu, những người văn thư đang bận rộn bốc dỡ đồ đạc văn phòng trên các xe trượt tuyết, gần đấy hai trung úy trẻ tuổi đang cười nói vui vẻ trên bậc thềm ngôi nhà gỗ của chủ nhiệm phòng hậu cần.

        Trông thấy sư đoàn trưởng cả hai người đồng loạt giơ tay chào với một vẻ hiên ngang và phấn khởi đặc biệt — xa hơn nữa các chiến sĩ mặc áo bông chần đang khuân các máy in tay từ chiếc xe tải màu xanh của tờ báo sư đoàn...

        Và ở đâu cũng vọng lại những tiếng ken két rất to y như thể hôm nay tất cả những ai ra đường đều đi giày mới kêu ken két.

        — Anh Vê-xnin, anh không thấy là tất cả chúng ta không ở hết được trong ngôi nhà này hay sao — làm ra vẻ không nghe thấy đề nghị cho xe tới T., Bốt-đa-nốp nói — và cũng không hay lắm, anh trông xem...

        Phía trước trong khu sân rộng gần nhà thờ bị bọn Đức phá hủy có mấy đống lửa đang cháy và từ những ngọn lửa vàng nhạt cuồn cuộn bốc lên nhiều cột khói đen.

        Các chiến sĩ của đại đội bảo vệ sư đoàn bộ, những người không tìm được phòng nghỉ trong khu làng bị hủy diệt ba phần tư này, quây quần bên các đống lửa...

        — Tối nay, một bộ phận của phòng tham mưu sẽ chuyển đi chỗ khác, — Vê-xnin trả lời, — chúng ta sẽ ở Khô-mi-a-cốp, đồng chí Bốt- đa-nốp ạ.

        Họ đi ra sân và cùng lúc ấy, từ phía đối diện, xuất hiện một đoàn tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng. Đi đầu là nhóm sĩ quan gồm khoảng hai chục tên trong đó có một viên đại tá, thân hình cao to quá cỡ, thẳng đuỗn như cây gậy, đeo dôi bao tay đen, trùm khăn kín tai, áo ca pốt dài chấm gót, hai tay thọc sâu vào túi áo hoặc lồng vào ống tay áo khom lưng, lê từng bước. Hắn lầm lì nhìn thẳng theo con đường trước mặt — pháo hạng nặng cày xé, hai bên lởm chởm, và khuôn mặt hơi xanh vì lạnh, lộ rõ vẻ căng thẳng thờ ơ.

        Sau nhóm sĩ quan là những tên lính bước đi lộn xộn — đứa đội mũ ca lô méo mó, đứa trùm cả khăn phụ nữ, có tên quấn cả bao vải chỉ để hở nửa mặt, tên đi bên cạnh hắn quấn khăn mặt trùm kín cổ —  chen chúc nhau thành một khối xanh xám. Trên nền tuyết trắng, bọn lính chậm chạp lê bước qua những đống gạch vụn của nhà thờ, qua những ngôi nhà cháy dở với những khung cửa toang hoác, qua những hàng cây cối bị chặt cụt: cành...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2020, 06:44:10 am

        Những người dân còn sống sót qua cuộc chiếm đóng đều kéo ra hai bên đường đứng nhìn. Thậm chí cả trẻ con cũng chạy ra khỏi cổng nhà im lặng căm giận đứng nhìn. Bỗng một bà già người gầy nhỏ, gù lưng chạy lao đến bọn sĩ quan tù binh và giơ nắm đấm yếu ớt lên đầu, người chiến sĩ áp giải đeo tiểu ỉiên giơ tay ngăn bà lại.

        — Mẹ ơi! Đừng phí sức làm gì! — Anh nghiêm nghị nói.

        Trong đám nông dân không ai cười... Viên đại úy tù binh bị bà già dọa đánh vội vàng đi lên phía trước. Song sự dọa nạt này đối với bọn giặc cũng không làm ai cười, không làm dịu đi những ánh mắt đang căm giận soi mới nhìn vào tên đại úy tù binh. Một người phụ nữ khác — mái tóc thẳng, mặc chiếc áo da vội vàng chạy tới, vấp phải cành cây gãy, liền vứt nó sang một bên, để nhìn đám tù binh...

        Nhóm sĩ quan mất hút sau lối rẽ, nhưng đoàn tù binh buồn tẻ, xanh bẩn vẫn tiếp tục chuyển động qua sân nhà thờ. Nhiều tên lính Đức, mà đối với chúng chiến tranh kết thúc từ ngày hôm qua, trông có vẻ lại rất hài lòng với số phận của mình, một số tên khác tò mò liếc nhìn chung quanh... và có một cái gì đó thật khó hiểu đối với suy luận bình thường của nhân loại là tại sao những con người này, những kẻ đã gây bất hạnh, đã làm máu chảy thành sông cho loài người, lại còn có thể tỏ vẻ tò mò quan sát hoặc tỏ vẻ chững chạc trong tình cảnh nhọc nhã của mình. Bị choáng váng trong cảnh ngộ khốn cùng, phần lớn bọn chúng nhẫn nhục lê bước, mong sao nhanh chóng đi đến chỗ ấm áp... Một chú bé đâu đội mũ sắt, lấy bánh mì ở túi ca pốt ra và vừa đi vừa nhai; một tên binh nhì đi hàng ngoài cùng, lại còn gật đầu chào Bốt-đa-nốp và Vê-xnin, tỏ vẻ đã nhận ra họ và những người chỉ huy.

        — Anh Ni-cô-lai này! — Vê-xnin lại nói, — tên sĩ quan đội mũ ca lô đi qua đây lúc nãy chính là đại tá Phôn Grê-ve, sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh cơ giới số Mười đấy. Trong cuộc hỏi cung, hắn ta có hỏi về anh đấy... «Tôi buộc phải nói những lời tốt đẹp nhất về cuộc vu hồi khéo léo và kiên quyết của người sư đoàn trưởng Nga này — anh có nghe hắn tuyên bố thế nào không ? — Sự xuất hiện quân lính của các ông ở hậu phương chúng tôi là một điều hết sức bất ngờ ».

        — Tôi không thể nói những lời tốt đẹp như vậy về sự chỉ đạo của tên sư trưởng sư đoàn bộ binh cơ giới số Mười được. — Bốt-đa-nốp gay gắt nói.

        Anh vừa tức giận vừa ngạc nhiên về việc đại tá của Hít-le bị bắt làm tù binh này lại định nói chuyện bằng cái giọng tựa y như thể sự việc diễn ra không phải là trong cuộc chiến tranh đẫm máu, mà như là trong cuộc tập trận vô tội vạ của cơ quan tham mưu. Mấy ngày gần đây, Bốt-đa-nốp chứng kiến khá nhiều việc đồng bọn của Phôn Grê- ve — các sĩ quan quân đội phát xít khi hạ vũ khí làm tù binh đã xử sự như thế nào. Và trong một chừng mực như nhau, anh đều cảm thấy khó hiểu trước sự hoảng sợ quá đáng của một số tên trong cuộc hỏi cung đã vội khai ngay tức khắc những gì chúng biết, trước sự kiêu ngạo của một số kẻ khác và khả năng suy luận tầm thường kiểu học viện của Phôn Grê-ve.

        — Xem kìa, xem kìa, đấy... thằng ấy hãy còn trẻ... Hừ, đồ không biết nhục!... — Người phụ nữ mặc áo da nói to.

        Và Bốt-đa-nốp nghĩ rằng chị ta nói đúng, rất chính xác... Thực vậy, những tên tù binh khi đi qua những đống gạch đá và những ngôi nhà gỗ xa lạ, những làng mạc và những đống tro tàn xa lạ, hình như chúng không hiểu rằng đấy chính là tội lỗi khủng khiếp của chúng.

        — Đưa bọn côn đồ đến T. phải không? — Sư trưởng hỏi Vê-xnin.

        — Vâng, chúng sẽ qua T. — tham mưu trưởng khẳng định.

        Bót-đa-nốp hình dung thấy tên đại tá Phôn Grê-ve, kẻ đã hạ lệnh nã pháo hạng nặng vào T. đang lê bước như thế nào dưới sự áp giải của các chiến sĩ của anh trên đường phố của một thành phố đã kiên cường đứng vững trước cuộc bao vây dai dẳng của kẻ thù. Cảm thấy hài lòng trong một chừng mực nhất định, sư trưởng quay sang Vê-xnin.

        — Đi thôi, A-Iếch-xan Ac-ca-dê-vích, ta đến chỗ các chiến sĩ trinh sát... Lúc này tôi quan tâm đến bọn Đức chưa đầu hàng hơn.

        Rẽ sang hướng khác họ đi tắt qua những đống gạch ngói ngổn ngang ở nhà thờ và bước trên lớp tuyết hồng vì bụi gạch. Tại đây các chiến sĩ Hồng quân đang sưởi ấm quanh những đống lửa cuồn cuộn, những cột khói đen bay thẳng lên bầu trời quang đãng...

        — Anh nhất thiết phải cho xe đến T. đi. — Giọng Vê-xnin lại vang lên sau lưng Bốt-đa-nốp. — Hãy làm cho chị ấy vui sướng bất ngờ... Và cho tôi gửi lời hỏi thăm, mặc dù tôi khống có hắn hạnh được trình diện...

        « Đấy mới là mối quan tâm cần thiết! Cái lưỡi quỷ quái đã làm hại mình ». Bót-đa-nốp bực dọc thâm nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2020, 06:45:10 am

        Song ngay lúc đó anh lại cảm thấy buồn cười... Trong bao công việc, bao lo lắng và mừng vui, anh lại thực sự đau khổ vì một điều cỏn con,, dù có cho là đáng tiếc đi chăng nữa. Điều này sao mà kỳ lạ và khôi hài đến thế.

        — Tôi thấy không cần thiết phải dừng xe... Trong mọi trường hợp, tạm thời cứ dừng. — Bốt-đa-nốp vui vẻ nói. — Cảm ơn anh, A-lếc- xan Ac-ca-đê-vích ạ!

        ... Trung đoàn của thiếu tá Pô-crốp-xki sẽ là mũi tiến công chính trên trận tuyến mới và Bốt-đa-nốp đến đơn vị này trước khi xẩm tối. Cần phải dò dòng sông trước khi trời tới, anh cùng với trung đoàn trưởng lập tức xuống các đại đội, xuống tổ tiền tiêu để thấy tận mắt vị trí tiến công, trực tiếp hỏi các chiến sĩ quan sát...

        Khi trở về sở chỉ huy của Pô-crốp-xki, Bốt-đa-nốp ngồi nói chuyện rất lâu qua điện thoại với chính ủy sư đoàn, với tham mưu trưởng, với thủ trưởng pháo binh trong khi thiếu tá phổ biến nhiệm vụ chiến đấu cho các tiểu đoàn trưởng của mình. Sau đó, Bốt-đa-nốp và Pô-crốp-xki cùng ngồi ăn tối dưới ánh đèn. Trong khi sư trưởng định thu xếp ngủ khoảng tiếng rưỡi trước khi vào trận, thì chiến sĩ liên lạc của trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh mô tô bên cạnh đã mang thư đến gặp thiếu tá, trước khi đơn vị này trực thuộc phân khu T. còn bây giờ nó hoạt động giáp ranh với sư đoàn.

        Đọc xong thư của người bạn láng giềng, thiếu tá trả lời ngay không chần chừ, còn Bốt-đa-nốp trải chiếc blu dông da của mình bên bếp lửa ngồi xuống và bắt đầu tháo giầy...

        — Cứ ngủ đi đồng chí đại tá... Tôi sẽ ra lệnh không cho ai tới đây — Pô-crốp-xki nói, vẫn không ngừng viết.

        Chiến sĩ liên lạc — là một chiến sĩ cao lớn mặc áo khoác trắng ngụy trang — tựa vai vào khung cửa đứng đợi trong bóng tối. Lướt nhìn người chiến sĩ liên lạc một lần, rồi lần nữa, Bốt-đa-nốp bỗng nhận thấy anh ta không rời mắt khỏi mình và như anh nhận thấy — anh ta còn cười với mình tựa như một người quen biết cũ và nhìn kỹ hơn Bốt-đa-nốp rồi bỗng dớ người ra.

        — Xe-li-vê-xtốp ? — Anh ngập ngừng hỏi. — Xin chào đồng chí đại tá ! — Như nực cười trước sự ngạc nhiên của Bốt-đa-nốp, chiến sĩ liên lạc trả lời rất to.

        Sư trưởng bật dậy và vừa nhanh nhẹn lao tới chỗ anh, vừa thắt dây lưng.

        — Ép-ghê-ni Ghê-ra-xi-mô-vích, sao cậu lại im lặng vậy? —  Anh rất bối rối — Bất ngờ thật ! Nhưng sao cậu im lặng?

        — Tôi cứ đứng và xem xem cậu có nhận ra tôi hay không? — Xe-li-vê-xtốp nói.

        — Có thể mình không nhận ra cậu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. — Bốt-đa-nốp trả lời, với tính thẳng thắn anh không hiểu rằng câu nói này có thể làm cho anh bạn hiểu anh có thể lảng tránh sự quen biết giữa hai người. — Nào, xin chào cậu ! — Anh ôm lấy vai Xe-li-vê- xtốp cố rướn người lên cao bởi vì thấp hơn anh ta một dầu. — Ngồi xuống đi, Ép-ghê-ni Ghê-ra-xi-mô-vích ngồi xuống đi! Bỏ tiểu liên ra...

        Sửng sốt và chẳng biết hỏi han như thế nào cho tế nhị hơn, Bốt- đa-nốp đành im lặng, nhưng chính Xe-li-vê-xtốp đã giúp anh thoát khỏi .tình trạng lúng lúng.

        — Tất nhiên cậu có thể không nhận ra — anh ta xác nhận. — Thế cậu không biết gì về mình hay sao, không có tin gì đến tai cậu hay sao?

        — Ai đó có kể rằng, cậu có chuyện không vui... À, mình nhớ ra rồi. Song thú thật, mình không ngờ... — Bốt-đa-nốp ấp úng không nói hết câu.

        — Họ kể về những điều khó chịu à? — vẻ quan tâm, Xe-li-vê- xtốp hỏi lại. — Như vậy dấy, khó chịu phải không? Không, chắc điều này không hoàn toàn chính xác. Điều khó chịu à? Hay đấy!

        Ngồi xuống ghế dài và trong mấy lời ngắn ngủi như muốn nhanh chóng kết thúc cái phần không tránh khỏi của câu chuyện, Xe-li-vê- xtốp báo tin: « Họ xử phạt vì không thi hành mệnh lệnh, giáng chức, cho làm lính để chuộc tội...». Sau đó anh lái câu chuyện sang Bốt- đa-nốp.

        — Xin chúc mừng với ngôi sao thứ tư trên quân hàm, mình nhận ra cậu ngay, — anh nói vẻ hoàn toàn chân thật. — Bây giờ cậu chỉ huy cả sư đoàn. Rất mừng cho cậu...

        — Ừ, sư đoàn. — Bốt-đa-nốp gượng gạo trả lời. Anh cảm thấy rất bất tiện trong khi đó người đối thoại của anh không hề lúng túng và hình như không hề ganh tị. Khuôn mặt Xe-li-vê-xtốp dài, nước da rám nắng, nâu sẫm. Anh để bộ râu rậm, dưới chiếc mũ trùm trắng phủ tới tận mang tai ánh lên vẻ điểm tĩnh hiền lành. Nhớ lại cuộc gặp gỡ với Xe-li-vê-xtóp ở Bộ tham mưu phương diện quân miền Tây, anh thầm nghĩ, lúc này người đồng chí của anh, con người đã chịu sự thất bại khắc nghiệt trong đời, đang gây cho anh ấn tượng là một người đã lắng dịu an phận, sự an phận lắng dịu từ bên trong.— Ép-ghê-ni ạ, mong rằng cậu sẽ không phải sống trong hoàn cảnh này lâu. — Anh nói tiếp. — Chà, hiện chúng ta đang rất cần cán bộ chi huy, nhất là những người đã tốt nghiệp Học viện!

        — Ta hãy xem xem. — Xe-li-vê-xtốp nói.

        — Cuối cùng thì mọi việc đều phụ thuộc vào chính cậu và quyết tâm của cậu... — Cảm thấy mình tuy nói đúng, song có vẻ quá giáo huấn khô khan, Bốt-đa-nốp nhăn mặt. — Mình biết cậu đã gặp khó khăn.

        — Không, không sao cả, thậm chí ngược lại, — người đối thoại với anh phản đối.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2020, 06:45:42 am

        Hạ giọng và nghiêng nhìn lên, Bốt-đa-nốp hỏi thẳng:

        — Cậu phục vụ tốt không? Nói thật đi!

        — Thủ trưởng hài lòng... — Xe-li-vê-xtốp cười khẩy trả lời nhưng không có vẻ bực bội và anh thoáng báo tin như báo một điều gì ngồ ngộ. — Trong các trận đánh ở T. được thưởng huy chương « vì lòng dũng cảm ».

        — A ha! — Sư đoàn trưởng sung sướng, thốt lên. — Đây là điều tuyệt diệu...

        Pô-crốp-xki viết xong và tò mò lắng nghe, Xe-li-vê-xtốp đứng dậy — to lớn và không được thành thạo lắm trong bộ đồ ngụy trang may liền cả áo lẫn quần của mình, rồi sửa lại tiểu liên trên ngực.

        — Thưa đồng chí thiếu tá, đồng chí cho phép nhận thư và quay về. — Anh quay sang Pô-crốp-xki cầm lấy lá thư của thiếu tá, anh dắt vào áo trong rồi cẩn thận buộc nút áo choàng.

        — Xin phép ra đi? — Anh quay sang sư đoàn trưởng.

        — Ép-ghê-ni Ghê-ra-xi-mô-vích, có thể cậu đói rồi, có thể cậu ăn tạm tí gì nhé. — Bốt-đa-nổp sực nhớ ra.

        — Mệnh lệnh là về càng sớm càng tốt, mà tôi còn phải đi bộ ba cây số nữa.

        — Thôi, để tôi tiễn cậu vậy. — Cầm chiếc blu dông da trên ghế, sự trường nổi.

        Anh vẫn cảm thấy bất tiện và không hài lòng về mình... Và mặc dù không thể nói rằng Xe-li-vê-xtốp đã chán chường, đã nản chí, song Bốt-đa-nốp vẫn nghĩ rằng cần phải động viên tốt hơn nữa người đồng chí của anh đang lâm vào hoạn nạn. Song nếu anh tỏ ra bị xúc phạm hoặc than vãn về sự đối xử bắt công đối với mình thì Bốt-đa- nốp đã không đề ra điều đòi hỏi này.

        Nhanh chóng mặc áo và chia tay Pô-crốp-xki, anh bước ra trước... Trời đã về đêm, ánh trăng tỏa sáng trên con đường làng rộng lớn. Đằng xa những viên đạn lửa màu da cam đang lơ lửng trong bầu không khí xanh lạnh, có trận đánh đang diễn ra ở dấy. Và từ cái kho gỗ dán xiêu vẹo bên đường mòn đây những vết chân trên tuyết bốc ra mùi xúp củ cải đỏ. Các chiến sĩ đang ăn tối trước khi ra trận và từ cái lều bạt trước cửa kho vọng tới tai Bốt-đa-nốp tiếng nói:

        — ... Xa-mô-khin, làm sao lại cất thìa đi, không muốn ăn hay sao?... Này, anh bạn, đây là công việc cuối cùng của người lính.

        — Tất nhiên trong cuộc sống mọi cái đều có thể xảy ra. — Bốt- đa-nốp chậm rãi nói. — Và mình muốn nhắc cậu một điều là, Ép-ghê- ni Ghê-ra-xi-mô-vích ạ, đối với cậu, cái quan trọng không phải là cái quá khứ đã qua mà là tương lai sắp tới. Quá khứ không tài nào thay đổi được, còn tương lai, nó ở trong tay chúng ta. Bây giờ cái giá trị quan trọng nhất là cậu đánh giá như thế nào những điều đãxảy ra về cậu ?

        — Mình không giận ai cả, — từ trên nhìn xuống người đại tá nhỏ nhắn, Xe-li-vê-xtốp nói. — Vừa trông thấy cậu, mình đã nhớ lại cuộc tranh luận của chúng ta hôm ở Bộ tham mưu phương diện quân. Chắc là cậu cũng chưa phải không? Cái gì thế Cô-li-a. — Bỗng nhiên anh im bặt. — Cho phép mình lại gọi như vậy nhé?

        Xe-li-Vê-xtốp hỏi điều này với nụ cười có vẻ như không hoàn toàn nghiêm chỉnh, song Bốt-đa-nốp đoán được ràng người đồng chí của mình không thực sự tin cái tên gọi ngắn ngủi kia sẽ làm cho anh dễ chịu.

        — Cậu nói gì vậy? Tất nhiên rồi! — Đại tá nói với vẻ xót xa.

        — Thế đấy, Cô-li-a, — trong giọng Xe-li-vê-xtốp toát ra vẻ biết ơn. — Sau đó mình đã nghĩ nhiều về cuộc tranh luận của chúng ta... Bây giờ mình thấy cậu đúng, cậu đúng hoàn toàn! Và cậu có thể tin ở mình, mình vui mừng về điều này, — anh nói nhanh và sôi nổi y như thể sự ưu phiền nào đó vẫn kiềm chế anh giờ đây đã biến mất.— Mình đã đọc đi đọc lại bản tin của Cục Thông tin Liên Xô ngày mười hai tháng Chạp, thậm chí mình nhớ từng chữ... Thời điểm đó mình hiểu rằng chúng ta đã đứng vững và mình đã nhìn cuộc sống với con mắt khác. Mình không dám nói là mình đã đứng vững và cùng với mọi người, mình thấy buồn, đau khổ về điều này? Song quỷ bắt mình đi, không phải lỗi tại mình... Mình không phải là người xa lạ với các cậu! Mình không phải là người ngoại quốc phải không?

        — Cậu sao thế, Ghê-nhi-a ? Ai nói với cậu như vậy ? — Bốt- đa-nốp làm bầm.

        — Mình rất khó trả lời trước tòa án quân sự. — Xe-li-vê-xtốp vội vàng kể. — Thật rất khó chịu khi chờ đợi sự kết án. Lúc nào rỗi mình sẽ tả kỹ hơn cho cậu. Tòa án làm việc trong năm giờ và ủy viên công tố đòi dành cho mình viên đạn. Người lính áp giải mình —  một chàng trai hay xúc động cứ nhìn mình thở dài và quay mặt đi... Khi họ tước quân hàm trên vai, lòng mình nặng trĩu. Cậu biết không, mình đã trải qua những ngày như vậy đấy. Song đau đớn hơn khi nghĩ rằng, — mình nói thật với cậu — cuối cùng thì thảm họa cũng sẽ đến với tất cả mọi người, dù chúng ta có vẫy vùng thế nào đi chăng nữa. Gặp cậu hôm nay, mình nhớ lại việc cậu đã chỉnh mình vào con đường đúng đắn như thế nào. Lúc đó cậu nói đúng là mình không ra trận mà mình đi đến nấm mồ của mình... Song chỉ có điều là mình chẳng hiểu gì, y như người điếc.

        — Thế ở trung đoàn người ta đối xử thế nào với cậu? — Bốt- đa-nốp hỏi để cho câu chuyện chuyển sang hướng khác, sự đúng đắn của anh trong cuộc tranh luận mới đây với Xe-li-vê-xtốp rõ ràng đến mức anh thấy ngượng ngùng vì nó.

        — Họ đối xử tốt, bình thường... Tất nhiên. Không ai an ủi mình trình diện với tờ sao bản án trong túi...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2020, 06:46:19 am

        Xe-li-vê-xtốp tránh sang một bên, nhường đường cho các pháo thủ đang kéo khẩu pháo chống tăng, một người lính thở một cách nặng nề đứng bên hàng rào để nghỉ... Ngay ở đó có người phụ nữ mặc váy đen đang kéo nước ở giếng, kéo chiếc xô lên chị thận trọng đặt xuống thành giếng phủ lớp băng mỏng. Tiếng xích kêu loảng xoảng. Và xa xa trên các nóc nhà tối như được dát từ một thứ kim loại màu xanh nhạt, những con đom đóm vàng — chúng sẽ lập tức biến đi trong mùa hè — rất đẹp bay chập chờn trong ánh trăng mờ...

        — Đêm nay ta đi lên phía trước phải không ? — Xe-li-vê-xtốp hỏi.

        — Ừ, có ý định như vậy. — Bốt-đa-nốp trả lời.

        — Thật ra mà nói, — Xe-li-vê-xtốp trở lại câu chuyện ban đầu. —  Mình động não trước khi có chiến thắng của chúng ta. Ở T. có lần bọn mình đã giúp một đại đội của trung đoàn công nhân...

        — À, mình có biết đơn vị ấy! — Bốt-đa-nổp ngắt lời với giọng tựa như câu chuyện kể về những người bạn thân thiết của anh. — Mình biết họ rất rõ.

        — Cậu nghe đây: một dúm các chiến sĩ, đúng là một dúm, cả một ngày đã đánh trả một trung đoàn địch có xe tăng yểm hộ. Khi bọn mình phản công, trong đại đội không còn lấy một người lành lặn. Đại đội trưởng, cậu biết không, là một chàng trai trẻ, thân hình to lớn như một lực sĩ, lảo đảo như một anh say rượu, tiến đến thủ trưởng bọn mình và hỏi: « Các đồng chí còn đạn dự trữ không, đồng chí trung úy?». — Lời đầu tiên anh ta nói — về đạn dự trữ...

        — Chứ còn gì nữa: họ đã bắn hết đạn! Mình rất hiểu họ. — Bốt- đa-nốp lặp lại, thậm chí có vẻ rất tự hào. — Cậu có nhớ họ, tên người đại đội trưởng ấy không ?

        — Làm sao nhớ được? Cô-li-a ạ, tóm lại mình có cái gì đó để suy nghĩ. Khi đi vào cuộc phản công này, mình đã sẵn sàng nhận viên đạn đầu tiên... — Xe-li-vê-xtốp thú nhận. — Mình có những cảm giác như vậy... Song khi nhìn rõ mọi người mình đã quyết định hoãn lại.

        — Một quyết định thông mình đấy... — Họ đi đến chiếc cầu cuối làng và Bốt-đa-nốp dừng lại.

        — Ghê-nhi-a, chúc cậu may mắn, sống lâu và về hưu với quân hàm cấp tướng. — Anh nói. — Đừng cho rằng mình nói đùa. Sắp tới họ sẽ trả lại quân hàm cho cậu, mình tin như vậy.

        Nghiêng người bên anh, Xe-li-vê-xtốp nói nhỏ:

        — Mình cũng hy vọng rồi sẽ tốt hơn... Và nếu không hy sinh, mình sẽ đạt được, biết rằng nhất định sẽ đạt được: không cho lại sư đoàn thì cho trung đoàn hoặc tiểu đoàn... — Trong giọng anh bỗng nhiên như vang lên một nỗi buồn, một lời than vẫn và một ước muốn mãnh liệt. — Mình cần phải thanh mình cho chính mình và cho người khác, cậu hiểu chứ ? Cân phải thanh mình... Nhân tiện nói thêm là vợ mình vẫn chưa hề biết gì về chuyện này.

        — Cậu không viết gì cho cô ấy à? — Bốt-đa-nốp ngạc nhiên.

        — Có viết và nói rằng mình sống khỏe và gửi địa chỉ hòm thư mới... Nhân tiện mình nói thêm là ở một tập đoàn quân, họ đã hỏi nhận xét về tư cách đạo đức của mình.

        — Đấy, cậu thấy chưa... Sắp tới họ sẽ phục chức cho cậu. —  Bốt-đa-nốp nói.

        — Biết sao được, cứ cố chịu một thời gian ngắn nữa, như dân Bạch Nga chúng mình thưởng nói... Có thể họ chuyển mình tới sư đoàn của cậu... Cậu cho mình chỉ huy trung đoàn chứ? Cô-Ii-a? —  đôi mắt Xe-li-vê-xtốp ánh lên trong bóng mũ trùm đầu chăm chú nhìn sư trưởng không chớp.

        Bốt-đa-nốp không trả lời vội... Lúc này dù anh có thiện cảm thế nào đi chăng nữa với người đồng chí cũ — nhưng anh vẫn là anh — thẳng tính, tinh táo và cứng rắn. Tất nhiên là anh không thể tin tưởng giao một trung đoàn của mình — một đơn vị chiến đấu với mấy trăm lưỡi lê cho một người đã một lần không xứng với niềm tin, không chú ý đến lời nói của anh.

        — Ghê-nhi-a, cậu nhận trung đoàn để làm gì cơ ? Mình sẽ nhận cậu là phụ tá. — Anh nói. — Chúng mình sẽ cùng nhau chỉ huy...

        Là cựu sư đoàn trưởng, Xe-li-vê-xtốp đã hiểu ý anh. Người phụ tá tồi gây ít tai họa hơn người trung đoàn trưởng tồi, ngoài ra người thứ nhất luôn luôn trong tầm nhìn của thủ trưởng.

        — Thối được cảm ơn cậu... — Bốt-đa-nốp nghe thấy câu trả lời nhỏ, Xe-li-vê-xtốp đứng thẳng và nói thêm với vẻ kính nể hơn là bực dọc. — Mình hiểu cậu sẽ còn tiến đấy, Cô-li-a ạ, cậu sẽ thành chỉ huy cao cấp hơn nữa...

        Bốt-đa-nốp cầm cánh tay anh, khẽ lắc lắc.

        — Tạm biệt Ghê-nhi-a, tạm biệt nhé. — Anh nói.

        — Chúc cậu!... Tạm biệt! Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tham gia một trận đánh, gần như cạnh nhau. Chúng mình cũng đã sẵn sàng.

        Xe-li-vê-xtốp gật đầu, quay lại và cất bước trên con dường đầy tuyết dưới ánh trăng mờ ảo...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2020, 06:48:00 am

       
9

        Tuy vậy vào mùa đông này Bốt-đa-nốp vẫn có dịp đến T. Vào cuối tháng Mười hai, tập đoàn quân, trong đó có sư đoàn của anh, sau khi đã tiến quân được khoảng một trăm ki-lô-mét về hướng Tây, đã tới vùng sông Ô-ca; vào mấy ngày đấu tháng giêng, sư đoàn Bốt-đa- nốp đã hoạt động ở bên kia sông Ô-ca và ở đây sư đoàn được lệnh ở lại nghỉ một thời gian ngắn, còn sư trưởng thì được mời về Bộ tham mưu phương diện quân miền Tây (theo phỏng đoán của anh thì chắc lại có nhiệm vụ mới, Bộ tham mưu vẫn đóng ở chỗ cũ, trong cánh rừng ngoại ô Mát-xcơ-va và để tới đó, Bốt-đa-nốp phải đi qua T. không còn đường nào tiện hơn).

        Đi trên chiếc « Em-ca » của mình từ sáng sớm theo đường Oóc- lốp, đại tá tới thành phố vào lúc ba giờ chiều. Mặc dù không định ở lại T. và cũng không có thời gian để dừng lại, song anh cảm thấy như mình đang vội vàng đi tới một cuộc hẹn hò.

        Người lái xe bỗng cho xe dừng lại cách cửa ô không xa. Bộ nồi bị trục trặc, đại tá bước ra khỏi xe, ngắm nhìn chung quanh. Và cái quá khứ gần gũi, cái quá khứ mà anh đang vội vàng tới gặp, lập tức rộn lên trong lòng anh... Bên trái anh một dãy nhà thấp của nhà máy gạch và thật kỳ lạ là chúng vẫn còn nguyên vẹn. Nơi đây là khu vực phòng thủ của trung đoàn thiếu tá Đu-bốp. Phía bên kia đường, làng Mư-skin đổ nát mập mờ in trên cánh đồng trăng ngập tuyết, trung đoàn công nhân chiến đấu ở đấy. Phía trước, bức tường gạch đỏ của nghĩa trang chạy dài sang phải và tháp chuông màu xanh thấp thoáng dưới những ngọn dương phủ đây sương giá y như một làn khói trắng trong bàu không khí lạnh lẽo. Bốt-đa-nốp nhớ lại lúc anh đứng trên tháp chuông này với đại úy Tra-skin, trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân, nhớ lại người đại úy hay tự ái đã nóng nảy trong cuộc chiến đấu quyết liệt và việc chính anh cũng mất bình tĩnh trong khi yêu cầu thiếu tướng Đi-a-cốp chi viện vì sợ trung đoàn của Tra-skin không giữ nổi phòng tuyến. Khi nghĩ đến giây phút yếu đuối của mình, Bốt-đa-nốp tự cười thầm — còn lúc này anh cảm thấy tất cả những gì mà anh và các đồng chí của anh đã làm được ở đây dĩ nhiên là có khó khăn, song nói chung là hoàn toàn vừa sức con người.

        Anh sốt ruột nhìn người lái xe đang hí hoáy bên bộ động cơ và Bốt-đa-nốp cảm thấy rằng trên đường tới T. sẽ có một điều gì đó rất dễ chịu đến với anh... Trở lại những nơi đã vĩnh viễn đi vào ký ức này, như thường lệ, anh hy vọng nhìn thấy và sống lại những kỷ niệm của quá khứ ngày càng trở nên quyến rũ hơn với thời gian, anh linh cảm thấy trước sự hài lòng được gặp lại những người đã cùng anh chiến đấu tại đây. Và anh lại nghĩ tới Na-ta-sa. Có thể cô ấy vẫn còn ở T. Thật kỳ lạ, tuy anh chỉ gặp người phụ nữ này có một lần, song hình ảnh cô đã ghi đậm vào tâm trí anh. Càng nghĩ về chị, anh càng thấy chị tốt hơn, dễ thương hơn, đẹp hơn trong ký ức anh. Và người đại tá trẻ tuổi không cảm thấy quá xấu hổ khi nói dối các bạn chiến đấu là anh đa có bạn đời, sống ở T. — ai mà biết được cuộc gặp gỡ tình cờ trên đường đi này sẽ kết thúc ra sao ? Niềm tin kỳ lạ của Bốt-đa-nốp vào điều là nhất định anh sẽ được gặp lại Na-ta-sa đã được vững chắc hơn sau lần nói dối bột phát. Quen dần với điều nói dối của mình, tuy không đáng giận, nhưng có tác dụng an ủi, cuối cùng chính Bốt-đa-nốp gần như tin vào nó...

        Song anh lại ngồi vào xe. chiếc « Em-ca » chuyền bánh và Bốt- đa-nốp lấy tất tay lau kỹ hơi nước ở tấm kính chắn gió phía trước... Những ngôi nhà ngoại ô mù mịt trôi qua, vài ngôi nhà cao tầng đơn độc xen lẫn với những ngôi nhà gỗ, những bãi trống, những đổ nát ngồn ngang trong bãi tuyết. Tháp nước cao như cái vọng gác đã thấp thoáng ở lối vào, tiếp theo là đại lộ thẳng hơi dốc về phía trung tâm thành phố, đó là phố chính — đại lộ Công Xã... Bốt-đa-nốp nhớ rất rõ từng ngôi nhà, từng chiếc sân ở vùng cửa ô, nên anh rất ngạc nhiên là trên các đường phố không còn những ổ súng máy và pháo cao xạ chống tăng hướng chính diện... Khắp nơi trên đại lộ đều nhìn thấy nhiều người đang làm việc: ở ngã tư phụ nữ đang thu dọn những đoạn dây thép gai ngoằn ngoèo, khiêng chướng ngại vật và đưa lên xe, ở chỗ khác những người dân ồn ào và vội vã đang kéo cột tàu điện trên tuyết. Nói chung là ngoài đường hôm nay bỗng nhiên có rất nhiều người: xe của Bốt-đa-nốp đuổi kịp một toán thiếu niên mang cờ đỏ, lại thêm một đoàn nữa cũng cầm cờ đi ngược lại — có cái gì đó khác lạ đang xảy ra ở T...

        Khi bên tay phải xuất hiện ngôi nhà ba tầng màu xám với cánh cửa gỗ sồi nặng nề và chiếc đồng hồ trước lối ra vào, Bốt-đa-nốp không kìm nổi mình, anh ra lệnh cho xe dừng lại — anh không thể vào tới T. mà không ghé thăm La-tô-skin, Sa-rốp và Tê-rê- khốp được...

        « Mình sẽ thử hỏi về Na-ta-sa xem, biết đâu mình tìm ra dấu vết ..» — bỗng nhiên Bốt-đa-nốp quyết định, tâm hồn anh rạo rực tựa như anh linh cảm trước sự may mắn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2020, 07:20:42 am

       
*

        Giờ đây Na-ta-sa đã về sống ở khu Bờ Sông trong ngôi nhà nhỏ ở phố Pô-rô-khô-va1 — Ngay hôm sau ngày đưa tang ông già Grô- mốp, chị chuyển từ nhà máy sang ở với An-na Va-xi-ép-na để bà khỏi cô đơn trong lúc đau buồn. Bà An-na tuy không thể hiện ra bên ngoài, nhưng cũng đánh giá cao sự chú ý này của cô cháu dâu. Những khi Na-ta-sa vắng nhà bà dọn dẹp sạch sẽ phòng của Pa-ven, nơi chị đang ở: bà lau sàn, thay rèm cửa mới. Chẳng bao lâu bà thấy rõ là chính Na-ta-sa cần đến sự có mặt và giúp đỡ của bà hơn là bà cần chị. Lúc này chị không lo cho bà cô chồng người phụ nữ rất vụng về trong việc âu yếm, lại dịu dàng chăm sóc chị...

        Từ khi An-na biết rằng Na-ta-sa đã có thai và đến mùa hè sẽ sinh cháu thì quan hệ của bà đối với chị đã thay đổi. Từ trước tới nay bà chỉ niềm nở và lịch thiệp với cháu dâu của mình, còn nay thì bà đã nhường cho chị vị trí quan trọng nhất trong gia đình này. Nét mặt dịu dàng thậm chí có vẻ dò hỏi xuất hiện trong đôi mắt sáng của bà khi bà nhìn Na-ta-sa.

        — ... Cô đã gói bánh mì và đường cho cháu. Nào cầm lấy bọc này. Ừ, đừng quên ăn trưa đấy nhé... Và đừng vừa làm vừa ăn, hoặc ngồi vào xó xỉnh nào đó, mà phải đàng hoàng như mọi người, — buổi sáng đi làm với cháu dâu, bà dặn chị. — Đã lâu rồi không có mỡ ăn... khéo chủ nhật này cô chạy ra chợ, có thể sẽ mua được ít mỡ bò...

        Biết mình sắp làm mẹ, lúc đấu Na-ta-sa hoàn toàn không cảm thấy hạnh phúc, chị bàng hoàng không biết mình cần phải làm gì —  ở lại T. hay là đi đến chỗ mẹ đẻ và chị đâm ra lo sợ. Một điều gì đó bí mật không thể nào tránh khỏi và có thể là thảm họa nữa, bất chấp ý muốn, ước mơ và phản kháng của chị, đã hình thành trong Na-ta-sa và gây nên một sự tức giận đến chảy nước mắt ra được. Tựa như một người nào đỏ đã lừa dối chị, lúc đâu thì hứa một cuộc sống độc lập, lâu dài, dễ dãi, còn sau đó thì xóa bỏ lời hứa...

        « Thế là tuổi trẻ của tôi đã hết... — Na-ta-sa muốn phàn nàn với những người chung quanh. — Ôi sao nhanh đến vậy, thậm chí tôi cũng chưa kịp sống... ».

        Và chị cố hỏi — có phải mẹ Pa-ven như An-na thường gọi là Ô- len-ca xinh đẹp đã chết vì sinh đẻ hay không ?

        — Cháu nói gì thế ? Cháu lôi từ đâu ra cái điều gở này thế hả ? —  Bà già vội an ủi chị. — Ô-len-ca chết vì bị địch cúm khi Pa-ven mới hơn một tuổi. Mà sao cháu lại đi so sánh thời đó với bây giờ kia chứ ? Lúc đó khoa học còn lạc hậu và cũng chẳng lấy tiền đâu ra mà nói chuyện khoa học. Có những trường hợp, có người còn đẻ ngay trong xưởng máy ấy chứ... Rồi cứ nằm đấy, tim đập thình thình, thở hổn hển khoảng một tiếng, sau đó thì xin ca nước uống rồi đứng lên bế đứa trẻ về nhà... Còn bây giờ các chị được hướng dẫn đầy đủ, trong bệnh viện điều kiện vệ sinh đầy đủ, sạch sẽ... — Na-ta-sa lắng nghe với vẻ giận dỗi, còn bà già đưa bàn tay khô cứng của mình khẽ xoa xoa lên cánh tay nhỏ bé đầy đặn của chị...

        Song sau đó một bước ngoặt đã xuất hiện trong tâm trạng của người phụ nữ trẻ mà chẳng cần có ngoại cảnh nào cả. Nỗi lo sợ về mình, về cuộc sống của bản thân đã từ từ lan sang cái cơ thể sống mà chị vẫn chưa biết, chưa có tên gọi đang hình thành trong người chị, những ý nghĩ đầy tò mò và tốt lành về nó, đã dần dần xâm chiếm tâm hồn Na-ta-sa. Dạo này Na-ta-sa thường có một tâm trạng hoàn toàn đặc biệt: vừa mơ mộng, vừa lo âu — chị nóng lòng muốn mọi việc sẽ nhanh chóng kết thúc và vẫn thấy hơi sờ sợ, nhưng đồng thời chị cũng thấy rất thú vị. Trong những phút đó, đôi mắt đen ấm áp của chị dường như không nhìn thấy gì và trên khuôn mặt chị thường xuất hiện nụ cười mơ màng lưỡng lự...

        ... Tối thứ bảy, từ nhà máy trở về, Na-ta-sa thấy ở nhà đang có cuộc họp — bà An-na đang trao đổi với các ủy viên ủy ban đường phố về việc lao động ngày chủ nhật. Hôm nay ở nhà máy người ta đã nói nhiều về việc cả thành phố sẽ tham gia lao động ngày chủ nhật: ngày mai toàn dân T. sẽ ra đường phố để lấp hầm hào và các hố đạn đang cản trở giao thông, dọn gạch vỡ trên vỉa hè và tuyết ở trên đường tàu điện sau đó sẽ có mít tinh ở nhà hát thành phố. Bà An-na, người sẽ phụ trách dân phố Pô-rô-khô-va, đang phổ biến những chỉ thị cuối cùng cho buổi sáng mai.

        — Chúng ta tới cửa ô, rồi cùng với dân phố A-rơ-xe-nan tới đại lộ Công Xã như dạo đi đào công sự, — vừa cởi áo ở ngoài hành lang Na-ta-^a vừa lắng nghe cái giọng đàn ông ồm ồm của bà cô Pa- ven — Tất cả sẽ tập trung ở gần tháp canh — chúng ta sẽ theo hàng ngũ có tổ chức.— Ở đây sẽ nhận chia xẻng, xà beng... Vác-va-ra, chị sẽ phụ trách việc phân phối dụng cụ...

----------------------
        1. Thuổc nổ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2020, 07:21:30 am

        Bà An na phân công. Trong phòng có khoảng gần hai chục người đang ngồi quanh bàn: ờ đó có chị Vác-va-ra Ê-gô-róp-na phì nộn — chị hàng xóm Na-xchi-a và cô giáo Liu-bốp Mi-khai-lốp-na; những người giúp việc quen thuộc của bà An-na mà Na-ta-sa đã biết, Ma-ri- na đã trùm khăn bông trắng ngồi trên cái hòm dưới cây si, gần đây chị thường hay lui tới vào buổi tối. Khi nhìn chị, Na-ta-sa lại ngạc nhiên như lần đầu tiên — Ma-ri-na vẫn đẹp lạ thường như trước, mặc dù sau khi bị thương chị vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, vẫn khó chịu, thậm chí những vết nhăn đầu tiên đã xuất hiện trên đuôi mắt chị. Nhưng đôi mắt xanh kỳ lạ luôn mở to dưới hàng mi đen, cong vút, đôi lông mày lượn kia, khuôn mặt dài, trắng xanh với cái miệng duyên dáng kia — tất cả đều dẹp đến nỗi không thể nào quên được chúng.

        — Màu trắng rất hợp với khuôn mặt chị! — Na-ta-sa nói; rồi ngồi xuống cạnh Ma-ri-na. — Đẹp quá, sao mà lại đẹp đến thế! Tất cả đều hợp với khuôn mặt chị, chị thật hạnh phúc...

        — Tôi mà hạnh phúc à? Chị nói thế đấy... — Ma-ri-na ngượng ngùng. — Tôi thì hạnh phúc gì cơ chứ.

        — Na-ta-sen-ca, trước tiên cháu phải đi ăn đã ! — Bà An-na chen vào câu chuyện của họ. — Cô đã hâm lại thức ăn rồi đấy... Mời cả cô Ma-ri-na vào nữa, cô ăy cũng căn phải phục hồi sức khỏe.

        Mặc cho Ma-ri-na từ chối, Na-ta-sa vẫn kéo chị xuống bếp... Khi họ quay trở lại phòng, các ủy viên của các ủy ban đã ra về — chỉ còn lại Na-xchí-a. Quay lưng vào bếp, thò những ngón tay vào túi chiếc áo bông trần khá chật chội so với bộ ngực nở nang của mình, ngả đấu về phía saa. Na-xchi-a nói nhanh, hàm răng dày, nhỏ, rất đẹp ánh lên:

        —... Cô ấy thích ngủ nhiều! Bác An-na cứ nhớ lời cháu mà xem. Mai cô ấy sẽ ngủ quên, cô ấy không đến đâu. Ai cũng biết, giấc ngủ là của cải mà, càng ngủ nhiều lại càng muốn ngủ nữa...

        Na-xchi-a thường hay thích trêu chọc, mách tội một người nào đó. Bà An-na nặng nề đi lại trong phòng, chuẩn bị cốc chén uống nước chè.

        — Cháu cứ ngồi nghỉ đi, Na-ta-sen-ca ạ! — Bà âu yếm nói với cô cháu dâu đang định giúp bà. — Cô tự làm được mà, ngồi xuống đi...

        Đoán được ý bà già đang lo cho ai, Na-ta-sa ngoan ngoãn vâng lời.

        — Chắc là sắp tới chị sẽ xa chúng tôi phải không? Chúng tôi sắp phải tiễn chị đi rồi... — Na-xchi-a nói với Na-ta-sa.

        — Tôi đi đâu cơ? — Na-ta-sa không hiểu.

        — Đến Mát-xcơ-va hoặc xa hơn nữa, chị biết rõ hơn chứ... Gia đình chị vẫn chưa trở về Mát-xcơ-va phải không ? — Na-xchi-a quan tâm.

        Mẹ tôi viết thư cho biết là bà muốn trở về vào mùa xuân. Còn bố tôi đang ở ngoài mặt trận, chắc là còn lâu... Tàu vừa trở lại hoạt động binh thường là tôi nhận được hàng đóng thư, — Na-ta-sa thốt lên. — Tất cả đều trong một ngày, toàn là thư của bố mẹ và em trai tôi. Tôi chẳng biết gì về họ cả, còn về tôi thì...

        — Nghĩa là chị ở đây đến mùa xuân, còn sẽ đến chỗ mẹ khi chị sinh cháu — Na-xchi-a nói. — Chị suy tính rất hợp lý, vì không một ai chăm sóc và giúp đỡ tốt bằng mẹ đẻ được.

        Bà An-na lặng lẽ lau cốc tách, mặt bà chìm trong bóng chao đèn. Cả Na-xchi-a lẫn Na-ta-sa đều không biết được là bà đang chăm chú lắng nghe câu chuyện của họ như thế nào.

        — Tất nhiên là tôi rất nhớ mẹ ! — Na-ta-sa trả lời. — Và tôi cũng rất thương bà. Bây giờ bà chỉ có một đứa em gái tôi ở cùng, gia đình tôi thì đông... Song tôi không biết, không được biết gì...

        Na-ta-sa im lặng vì cảm thấy ngượng nghịu khi phải thú nhận rằng sẽ đi khỏi T., phải chia tay với những người đã cùng sống với chị rất tốt, cùng lo lắng cho nhau, cùng sống những lúc khó khăn, là một điều bất hạnh lớn đối với chị. Ở nhà máy, chị đã trở thành người của họ và điều quan trọng là lần đầu tiên chị cảm thấy họ rất cần mình. Mới đây chị được bầu vào công đoàn nhà máy và chị đã bị lôi cuốn vào bao nhiêu công việc, bao nhiêu dự định và hy vọng. Và thực ra, lúc này nhà máy mới thực sự bắt đầu hồi phục một cách chính thức...

        — Tôi sợ rằng Pa-ven sẽ giận tôi, nếu tôi ra đi, — chị nói vui.

        Tuy nhiên trong việc này cũng có một phần sự thật — thực tế chị cũng thấy rằng khi chị còn ở trong thành phố của chồng mình và trong nhà máy người ta còn nhớ tới anh thì dường như chị gần anh hơn.

        — Nghĩa là chị vẫn chưa quyết định... — Với vẻ lạnh lùng khó hiểu, Na-xchi-a nhìn Na-ta-sa vẻ chờ đợi.

        — Chưa, tôi chưa quyết định... Có thể là mùa hè mẹ tôi sẽ đến đây sống với tôi. Nói chung là lúc đó sẽ rõ...

        — Cô muốn nói với cháu một điều, Na-ta-sen-ca ạ,— Bà An-na lên tiếng. — Một báo cáo viên từ khu ủy đến nói chuyện ở nhà máy cô có dẫn ra một hiện tượng khá hay, cháu nghe nhé... Mặc dù chiến tranh ở khắp mọi nơi, pháo lớn bắn dồn dập, nhưng trong thành phố của chúng ta đã có tới bốn trăm năm mươi chín trẻ em ra dời.

        — Có đúng thế không, hả cô?! — Na-ta-sa thốt lên.

        — Tại sao lại không đúng. Tất cả bọn trẻ đều khỏe mạnh, lên cân y như là thời bình ấy.

        — Các bà mẹ của chúng ta không nhút nhát... — Na-xchi-a cười mỉm, nói. — Họ biết trách nhiệm của mình và cố gắng...

        — Tôi rất thích trẻ nhỏ. — Ma-ri-a nói. —nếu còn trẻ tôi sẽ học nghề giáo viên hay cô bảo mẫu cũng được. Tôi thấy người ta thường tìm thấy nguồn vui lớn nhất ở trẻ em.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2020, 07:22:23 am

        Chị khẽ hất đầu để khăn san rơi xuống vai, cái cổ con gái mảnh khảnh lộ ra. Ma-ri-na lấy tay vuốt vuốt mái tóc đen rẽ thành đường ngôi thẳng.

        — Thôi được, cô sẽ có con. rồi tha hồ mà vui đùa và khóc với chúng... Cứ đợi đấy, Va-nhi-a thân yêu của cậu sẽ trở về, — Na-xchi-a nói giọng giễu cợt và-ngay lúc đó chị thở dài. — Cầu cho các ông chồng của chúng ta kết liễu sớm bọn Hít-le đi! Không có thì cái gì sẽ xảy ra: ở nhà máy thì phải sản xuất bằng hai và ở nhà công việc cứ ùn lên. Như vậy là khá nhiều công việc sẽ chất lên lưng người đàn bà...

        — Giờ ở chỗ chúng tôi cũng có nhiều phụ nữ làm việc, — Na-ta-sa nói. — Và chúng tôi lấy cả những người chưa biết nghề vào dạy. Chúng tôi muốn mở thêm hai xưởng mới vào mùa xuân, — với vẻ sôi nổi chị quay sang bà An-na. — Cô cố biết ở chỗ cháu người ta nghĩ ra cái gì không ? Có những người phụ nữ cương quyết không để con ở nhà cho người khác trông, cương quyết... Thế là chúng cháu thành lập nhà trẻ ở nhà máy. Và họ còn trả lương cho công việc này nữa đấy.

        Na-ta-sa mỉm cười — chị rất thú vị nhớ lại rằng, đề nghị lập nhà trẻ do chị đưa ra, đã được sự ủng hộ của nhà máy.

        — Thế là tôi đã có chỗ để gửi con rồi, — chị nói thêm.

        — Chị cứ nói toạc ra rằng chị cố gắng để cho mình, — Na-ta-sa nói, giọng dịu dàng hẳn đi.

        Bà An-na đẩy đến cho Na-ta-sa đĩa mứt:

        — Cháu nếm thử đi — mứt táo hơi chua chua... Cháu xem có ngon không ?

        Bà cúi xuống bàn và tránh bóng chao đèn; trên khuôn mặt gầy gầy của bà lộ rõ vẻ độ lượng. Bà lại ngả lưng vào ghế, khuôn mặt chìm vào bóng chao đèn, bà lặng lẽ nghe câu chuyện của những người phụ nữ trẻ, nghiêm nghị nhìn Na-xchi-a, vẫn không ngớt khuyên Na-ta-sa về với mẹ đẻ và âu yếm nhìn Ma-ri-na xinh đẹp, trầm tĩnh, dịu dàng và hình như cô không nhận thấy ấn tượng mà cô gây nên cho người khác. Bà quay lại Na-ta-sa với một vẻ biết ơn và dịu dàng nhìn cô cháu gái để tỏ lòng âu yếm của mình.

        Chắc bà An-na không giải đáp chính xác được là tại sao việc Na-ta-sa không rời khỏi đây lại quan trọng đối với bà đến thế... Tất nhiên cũng phần nào là do bà đã gắn bó với chị và bà thầm đánh giá những ưu điểm chinh của vợ Pa-ven là không khôn vặt, không kiêu ngạo. Bà luôn luôn hài lòng nhìn chị — khỏe khoắn, sạch sẽ, ngộ nghĩnh và bà thường tự giải thích là do trái tim đôn hậu. Bà nghĩ đến đứa con sắp tới của Na-ta-sa và Pa-ven như nghĩ đến cháu ruột mình. Tất nhiên là bà muốn có mặt trong cái giờ phút khó khăn và hạnh phúc khi cháu bà cất tiếng chào đời: còn một nguyên nhân khác làm bà ghen tị và âu yếm Na-ta-sa — một nguyên nhân không rõ, ẩn sâu trong đáy lòng — do không có con nên bà luôn luôn tìm nguồn an ủi trong việc làm mẹ nuôi. Niềm hạnh phúc, theo bà là lớn lao nhất, bị mất đi khiến bà như sợ sệt, bợ đỡ trước tuổi trẻ cường tráng. Lúc này đây bà sẵn sàng phục vụ Na-ta-sa và chăm sóc chị, ngạc nhiên và sung sướng với mầm sống lớn lao đang nằm trong chị...

        Uống trà xong, Na-xchi-a và Ma-ri-na đi sang phòng Na-ta-na, đã gần một giờ đêm, tất cả đều phải dậy sớm, nên những người khách thấy rằng tốt hơn cả là ngủ tại đây... Bà An-na còn đi lại trong phòng một lúc nữa, dọn bếp, thu dọn chỗ quần áo mà bà định đề chiều mai sẽ giặt và quay về phòng ăn. Ngắm bức tranh viền tang đen của A-lếc-xây treo giữa những tấm ảnh gia đình, bà lắc đâu tựa như trách móc anh trai vì cái chết của ông, nặng nhọc thở dài và ngồi xuống, hai tay đặt lên đầu gối.

        Từ gian phòng, nơi những người phụ nữ đang thu xếp chỗ ngủ vọng lại những giọng nói không mạch lạc, đôi lúc có cả tiếng cười nữa. Bà An-na nghĩ đã đến lúc nên đi nằm, nhung cái thói quen tiếc việc không chịu để bà ngơi tay. Bà ngồi đó, trên chiếc ghế bành cũ kỹ của ông A-lếc-xây, chống lại cơn ngủ gật đang từ từ kéo đến và cố điểm lại xem hôm nay còn phải làm gì nữa.

        Na-ta-sa nhường giường của mình cho Na-xchi-a và Ma-ri-na, còn chị thì nằm trên đi văng. Trong khi thu xếp chỗ ngủ, mấy người phụ nữ nói chuyện gẫu : Na-xchi-a nhớ lại, trong chính ngôi nhà Grô-mốp này cô và Ma-ri-na đã gặp Na-ta-sa lần đầu tiên như thế nào. « Ôi lúc đó tôi bực với chị thế, — chẳng hề ngượng nghịu, chị thú nhận. — Tôi nghĩ chị đến thành phố của chúng tôi làm gì, khoe lòng can đảm chăng...?». Gỡ cái cặp tóc ra, sửa lại đuôi sam, Na-ta-sa kể lại cuộc hành trình của mình tới T., về đoạn chị bị lạc rất lâu trong thành phố, về việc phải trài qua nhiều mạo hiểm chị mới tới được ngôi nhà ở phố Bờ Sông này và lại chẳng gặp ai ở đây cả.

        ... — Tôi nghĩ là chi đi vài ngày thôi, ai ngờ lại bị tắc nghẽn, hoàn toàn khác hẳn dự kiến ban đầu, — Na-ta-sa nói như thể ngạc nhiên. — Song được cái tôi đến đây khá thuận tiện trong chiếc « Em- ca » với người đồng hành khá thú vị.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2020, 07:23:02 am

        Môi dưới hơi nhô ra của chị rung rung, tiếng cười tựa như bất ngờ trào lên trong người chị, tuy chưa buột khỏi miệng, nhưng khuôn mặt hồng hào với đôi mắt long lanh của chị đã mỉm cười. Trong trí nhớ Na-ta-sa hiện rõ hình ảnh người bạn đường, chủ chiếc xe đã đưa chị tới T. Nhân tiện nói thêm, từ lúc hai người chia tay, chưa lúc nào chị nhớ tới anh. Và lúc này đây, do một nguyên nhân tình cờ, anh bỗng hiện lên từ sự lãng quên hoàn toàn, một người lịch sự, mạnh khỏe và trịnh trọng (chắc là do ngượng ngùng), vụng về và hơi buồn cười trong ý đồ tán tỉnh của mình, còn nói chung thì hoàn toàn không cần thiết đối với Na-ta-sa.

        — Anh bạn đường nào vậy? — Ngoảnh đầu lại, Na-xchi-a hỏi. Nghiêng người bên chiếc bàn, chị đính lại cúc áo mình.

        — Một chàng trung tá đưa tôi đến đây — anh ấy cho tôi đi nhờ xe trên đoạn đường gần Pô-đôn-xcơ.— Mím môi dưới lại, Na-ta-sa nói. — rất lịch sự nhé, cứ gọi là trên suốt đường đi chẳng để tôi phải buồn...

        — Chắc là lại xin địa chỉ và còn đạt được cái gì nữa chứ ? — Na-xchi-a tò mò hỏi.

        — Quả là anh ấy cũng muốn biết là tôi sẽ ở đâu... và cũng hỏi xin địa chỉ... — Na-ta-sa hất đuôi sam ra sau lưng, ngẩng đầu lên và cười rộ với vẻ thích thú tựa như lúc này chị mới cho phép mình cười như vậy.

        Na-xchi-a lấy răng cắn thử chỉ ở cúc áo xem đã được chưa.

        — Ồi, mình chẳng biết nói gì với cậu về điều này, — chị nhún đôi vai trần thoai thoải của mình. — Đôi lúc tình thương vẫn trào lên khi nhìn thấy bộ đội... Bời vì tất cả họ đều lao vào chỗ gian khổ, chết chóc... Họ còn trẻ, tất cả đều măng sữa. Này, nói nhỏ với nhau nhé, ở phố ta cỏ một nhóm kỵ binh đóng đấy. Trong đó có một trung úy trạc hăm hai, hăm ba tuổi mang huy chương « Vì hành động dũng cảm », thỉnh thoảng đến nhà mình chơi, ngồi uống nước chè với bố mẹ mình khoảng hai ba tiếng gì đó, tùy thời gian cho phép.

        — Mình cho rằng anh chàng đến với cậu chứ không phải là đến với ông bà già, — Na-ta-sa nói.

           — Thì rõ rồi, đến với mình, nhưng mà vô ích, mình đã có chồng ở ngoài mặt trận, mình chẳng muốn làm ông xã bực dọc... Song chỉ... — Na-xchi-a nháy mắt, nhìn sang Ma-ri-na — ... Tôi sẽ mủi lòng và vô tội chỉ vì tôi thương bộ đội... Các cậu xem việc này thế nào?

        — Gì thế cô, cô nói gì thế? — Ma-ri-na kinh ngạc. — Phải chăng có thể như vậy được?... Cậu nói oan cho mình.

        Chị ngồi trên giường, nhỏ nhắn với đôi vai gầy, nhợt nhạt, giữ trên ngực chiếc áo đang tuột ra.

        — Trước kia mình không thể nghĩ về người nào khác ngoài Vi-chi-a, còn bây giờ... mình thà chết...
Ngượng ngùng vì câu chuyện này, chị khép hàng lông mi che đôi mắt lạ thường của mình và một bóng đen hình mũi tên in dài trên má chị.

        — Cậu đã trông thấy... Nữ hoàng tuyết thế nào chưa? — Nở một nụ cười dịu dàng, — Na-xchi-a hỏi.

        Một lúc sau khi đèn đã tắt và mọi người đều im lặng, chị là người đầu tiên phá tan cảnh yên tĩnh, giọng chị bỗng trở nên buồn bã.

        — Ôi, các cô vợ bộ đội ơi, các đức ông chồng của chúng ta giờ ở đâu ? Đang nằm trên tuyết, ôm nhau với khẩu súng...

        Cả Na-ta-sa lẫn Ma-ri-na đều không đáp lại... Vệt sáng nhỏ từ dưới cánh cửa chui vào gian phòng cũng tắt và nghe thấy bước chân nặng nề — bà An-na đi về phòng mình.

        — Lâu quá, ôi chờ họ lâu quá... — Na-xchia-a lại nói. —đêm không ngủ được, chẳng thể nào yên tâm được.

        Cái bóng trắng lờ mờ động đậy trong đêm tối — chị nhổm dậy và sửa lại gối.

        — Đúng vậy, chẳng thể nào yên tâm được, — sau một hồi im lặng, Na-xchi-a nghe thay Ma-ri-na tham thì như tiếng rì rầm từ xa vọng lại,

        Trong căn phòng nhỏ có rèm hơi ngột ngạt, hơi nóng từ lò sưởi bốc ra và Na-ta-sa cũng trằn trọc trên giường. Na-xchi-a nằm xuống và lại hỏi:

        — Pa-sa có biết là anh sắp sửa được làm bố không ? Cô đã viết thư cho anh ấy chưa ?

        — Chắc bây giờ thì biết rồi... Nhưng tôi vẫn chưa nhận được thư của anh ấy. — Na-ta-sa thì thầm.

        — Chắc sẽ sung sướng lắm, mình hình dung được mà, — Na- xchi-a nói.

        — Sung sướng à? — Chính Na-ta-sa cũng không hoài nghi gì, Pa-ven sẽ hài lòng, song chị thích nghe điều này ở người khác.,

        — Còn gì nữa... Đối với người ngoài mặt trận thì cái tin đó rất quý giá... — Vẻ từng trải, Na-xchi-a xác định. — Chắc là Pa-ven muốn con trai... nhân tiện cho cậu hay, chồng mình viết thư về nói rằng anh ấy rất tiếc là chúng mình không có con trai...

        — Pa-ven bảo là đối với anh ấy, con nào cũng được, còn mình cũng muốn con trai, — Na-ta-sa nói.

        Và họ lại im lặng, ba người phụ nữ trẻ ấy — ba người bộ đội đang suy nghĩ về những người chồng của mình.

        Na-ta-sa thận trọng sờ bụng phập phồng dưới chăn và chú ý lắng nghe — chị cảm thấy, chị biết được sự yếu ớt của một cơ thể mới khác — của mình mà cũng không phải của mình — tựa như có tia chớp lóe lên trong bóng đêm nóng bỏng, khô khan. Nín thở, chị chờ xem cái cảm giác lạ thường, hoàn toàn không giống một cảm giác nào khác, có lặp lại hay không. Và chị thấy như Pa-ven — chồng chị lúc này đang đứng cạnh giường chị, và cũng căng thẳng đợi chờ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:33:40 am

       
10

        Pa-ven dọn sạch một góc bàn, xếp gọn mấy băng đạn tiểu liên, lựu đạn, hộp đựng đạn sang một bên, lấy quyển sổ ghi chép xé hai tờ giấy trắng và ngồi viết thư cho vợ. Các đồng chí của anh nằm sát vào nhau ngủ trên ổ rơm trải ngay trên nền nhà; còn bà chủ nhà và mấy đứa con nằm gần bếp lửa... Còn gần tiếng rưỡi nữa là tới lúc phải dậy; đến sáng đại đội lại lao vào trận đánh mới. Ban ngày Pa-ven đã chợp mắt được một chút nên lúc này anh quyết định không nằm nữa. Thêm vào đó, ai mà biết được điều gì sẽ xảy ra trong trận đánh?... Tốt hơn hết là đừng để cuộc nói chuyện quan trọng với vợ đến mai.

        «... Và thế là anh sắp sửa thành bố. Anh sẽ là ông bố... — Anh thầm nhắc lại và không thể nào quen với hai tiếng này được, — với vẻ lo lắng anh viết nhanh cúi sát mặt xuống giấy — không hiểu sao chiếc đèn dầu lại cháy lù mù.

        « Anh vội vàng nói tin này với Prô-cô-phi Ia-cô-pê-rích và ông già thông thái của bọn anh đã nói vài điều đại loại về ý nghĩa của gia đình trong xã hội... Na-ta-sa, sáng nay anh nhận được thư em, và thế là cả ngày hôm nay anh vui sướng như ngày lễ thánh của anh...».

        Pa-ven dừng lại một phút đề suy nghĩ, anh lấy đuôi bút chì vuốt lên mi mắt... Thật lòng mà nói, anh vẫn chưa hiểu hết những cảm xúc do lá thư cuối cùng của vợ đem lại. Song anh hiểu chị chờ đợi ở anh một lá thư như vậy... Và bất kể mệt nhọc, anh sẵn sàng thổ lộ với Na-ta-sa nỗi vui sướng của mình và cảm thấy vừa có lỗi với chị, người phụ nữ đáng thương vì chị không muốn có con vội — anh vừa biết ơn, vừa lo lắng: chắc bây giờ chị sẽ vất vả với đứa trẻ.

        « Em biết không, khi trở thành người bố của một gia đình lớn, ai cũng cảm thấy rất ngạc nhiên» — anh định đùa để cho Na-ta-sa không đoán được nỗi băn khoăn lo lắng của anh... Song chính sự kết hợp của những từ « ông bố trong gia đình» có một cái gì đó chững chạc lớn lao, nó vang lên hoàn toàn giống như danh hiệu đại tướng hoặc viện sĩ hàn lâm. Và em có tin không, anh đã bắt đầu có cảm giác là người bố đối với đứa con của chúng ta: anh chỉ sợ nó xách « ngỗng » về nhà khi đi học ».

        « Mình viết không đúng, không phải vậy...» — Pa-ven nghĩ và đặt bút chì xuống — anh nhớ lại lần đầu tiên anh trông thấy người vợ tương lai của mình, việc này xảy ra ở Mát-xcơ-va trong phòng đọc — lúc đó Na-ta-sa, như sau này kể lại, đang chuẩn bị thi vào trường đại học... Hai tay ôm chồng sách, cô chậm chạp đi dọc chiếc bàn dài, đưa mắt tìm chỗ trống, đôi chân cân đối đi giày gót thấp kiểu trẻ con, vững vàng bước trên sàn nhà. Thậm chí trong phút đầu này Pa-ven không đặc biệt hâm mộ — anh thấy Na-ta-sa còn quá trẻ — chỉ là một cô học trò đối với anh. — Gặp cái nhìn của anh, chị mỉm cười cởi mở và dễ tin: « Thế đấy, tình trạng buồn cười như vậy đấy, tôi chẳng tìm được chỗ ngồi » — Mặt chị nói lên điều này, chị đi qua và anh như muốn giữ chị lại, nhường ghế của mình. Một hôm khác Pa-ven lại trông thấy chị ở đây, nhưng chị lại ngồi ở gian bên kia phòng đọc rộng quét vôi hai màu; và đến năm sau họ mới làm quen với nhau ở trường đại học... — Nhớ lại tất cả những điều này Pa-ven thực sự vui mừng, nhớ nhung và xúc động. Chống tay lên đầu, anh ngồi như vậy khá lâu, không nhúc nhích trước bức thư đang viết dở. Tình yêu xôn xao trong người anh trong bóng tới lờ mờ, tiếng gọi của người lính gác từ ngoài phố làm cho anh bừng tỉnh. Và không biết thể hiện cảm xúc lạ thường của mình như thế nào, anh viết:

        « Em thân yêu, ngoài những chuyện đùa, anh thực sự cảm thấy mình đã bắt đầu khác đi — tựa như cỏ thêm trách nhiệm mới và anh rất vui khi biết rằng mặt trận mỗi ngày một lùỉ xa các em! Chúng ta đã chiến thắng trong cuộc chiến này... Mặc cho nó có thể kéo dài bao nhiêu lâu nữa; một năm, hai năm hay ba năm — vấn đề là ở chỗ quân xâm lược đã hiểu rằng toàn thắng thuộc về ta, và sự diệt vong thuộc về chúng — chúng đã bị đánh tơi bời». Muốn nói với Na-ta-sa về tình yêu của mình sao cho mạnh hơn, anh nói về chiến thắng và anh tưởng rằng anh đang nói về tình yêu — « Nói chung, chúng không thể nào thắng chúng ta được... Dây không phải là sự huênh hoang, sự rung động trống rỗng của hơi ê-te1 », niềm tin mù quáng mà đây là sự hiểu biết... Tất cả chúng ta: em, anh và hàng triệu người như chúng ta đang bảo vệ những cái mới của thế giới và như vậy có nghĩa là, chúng ta — những người chủ của ngày mai. Thắng lợi của cái mới trước cái lỗi thời — đây là quy luật, là nguồn gốc tiến hóa từ thấp đến cao...».

-------------------
        1. Trước khi thuyết tương đối ra đời, một số nhà vật lý cho ràng ê-te là môi trường truyền sóng điện từ — ND.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:34:30 am

        Đốm lửa của chiếc đèn làm từ vỏ đạn chổng tăng đập dẹt bỗng nhấp nháy rồi tắt ngấm... Pa-ven buộc phải ngừng viết thư chữa lại ngọn đèn, kéo bấc lên. Sau đó anh lại tiếp tục viết: « Không có súng đại bác nào, không có đội quân đông hàng triệu người nào có thể thay đổi hoặc làm cản trở bước tiến của ngày mai. Sau tất cả những gì mà anh được chứng kiến trong cuộc chiến tranh này, anh thấu hiểu rất rõ rằng tương lai của thế giới — chủ nghĩa cộng sản — sẽ thuộc về chúng ta. Như vậy mọi người trên trái đất sẽ hạnh phúc. Song cái cũ tất nhiên là không chịu bị hủy diệt, nó sẽ điên cuồng tiến công lại. Và chúng ta phải chiến đấu để trong tương lai loài người không bao giờ phải đánh lẫn nhau...».

        « Hình như mình lại nói không đúng, không phải vậy ? » — Pa-ven nghĩ. Bừng tỉnh, anh viết tiếp:

        «Song cẩn thận nhé, Na-ta-sca, em phải giữ mình, phải thận trọng! Em hỏi là em nên ở lại T. hay đến chỗ mẹ. Anh khó khuyên lắm. Em thì rõ hơn; có thể tốt hơn cả là đi. — Anh chỉ yêu cầu một điều: em phải cẩn thận, em thân yêu ạ; bởi vì nói thật là không có em thì anh chẳng cần một tương lai nào khác cả...».

        Có bước chân ở phòng bên cạnh, quả đấm cựa kêu lạch cạch, và quản trị trưởng đại đội bước vào, mang theo luồng hơi nước lạnh cóng vào phòng, Pa-ven lấy cặp bản đồ che lá thư lại. Sau khi đã báo cáo về tình hình quân nhu, phàn nàn về việc không có ủng dạ cỡ to trong kho trung đoàn, nhận chỉ thị phải cho các chiến sĩ ăn nóng trước khi ra trận, kiểm tra xem cổ ai bị cóng sau đêm nghi không và các túi thuốc đã chuẩn bị chưa, quản trị trưởng đi ra và chi còn nửa tiếng nữa đến giờ phải dậy. Pa-ven viết vội:

        « Em thân yêu, đừng lo cho anh. Anh mạnh khỏe, tỉnh táo, vui vẻ và mọi thứ ở đây đều rất tốt » — anh cảm thấy trong hoàn cảnh của Na-ta-sa, còn phải làm tiêu tan mọi lo lắng trong lòng chị —  « Cuối cùng thì mùa đông thực sự cũng đã tới và em biết đấy, anh rất thích mùa đông. Bây giờ ở ngoài đồng và trong rừng đẹp một cách lạ thường... Thêm vào đỏ, mới gần đây có một đoàn văn công đến chỗ bọn anh biểu diễn. — Em thấy đấy, bọn anh thỉnh thoảng cũng được vui vẻ. À, còn một tin nữa: người ta đã phong quân hàm cho bọn anh: anh nhận quân hàm thượng úy (Na-ta-sa, bây giờ thử nhìn anh xem!), Bô-cốp — trung sĩ. Hãy chuyền lời tới Ma-ri-na rằng Va-nhi-a của cô ấy — con người cừ khôi, niềm tự hào của trung đoàn và nỗi khủng khiếp đối với bọn phát xít. Em nói với cô An-na rằng: anh ôm hôn cô và sắp tới anh sẽ viết cho cô một bức thư. Anh gửi lời thăm tới tất cả mọi người trong nhà máy, đặc biệt là bác Pi-e Ki-rin- lô-vích! Thôi, hôn em, hôn em! Thứ lỗi cho anh, em thân yêu!».

        Với nét mặt nghiêm nghị và đăm chiêu, Pa-ven không dọc lại bức thư, anh gấp nó thành hình tam giác. Viết xong địa chỉ, anh đứng dậy cúi người xuống bàn và bắt đầu đeo thắt lưng, anh đã đi qua lưới lửa nhiều lần, phải cúi lom khom và dần dần anh có dáng hơi gù.

        ... Gần sáng, đại đội Pa-ven đã tới tuyến xuất phát gần bìa rừng. Trong chốc lát trời sáng dần, nhưng trong rừng cây vẫn còn tối lờ mờ và các chiến sĩ mặc áo ngụy trang cùng tất cả các thứ khác nhau: súng máy, hòm đạn, cáng cứu thương được để tựa vào thân cây thông đều chìm trong màn sương màu xanh lạnh buốt. Mọi người thu người lại, giẫm chân tại chỗ, đánh tay vào sườn — thận trọng, cố gắng không gây ra tiếng động. — Bọn Đức đóng cách dấy không quá bốn trăm mét cho nên không được để lộ trước giờ nổ súng...

        Trước phút tiến công, Pa-ven bước đi trong tuyết ngập đến đầu gối, kiểm tra các trung đội... Trong bóng tối lờ mờ, chung quanh nổi lên những giọng nói, tiếng ho, tiếng thở hổn hển, chính trị viên Ê-li- xây-ép Prô-cốp-phi Ia-cô-lê-vích một người cộng tác đắc lực và là người bạn vô giá, đang nói chuyện với các chiến mới bổ sung, ở một chỗ khác dưới cây thông dính đầy tuyết dưới mái lều tập trung mấy tay «lính cưu >>. (bây giờ người ta gọi những chiến sĩ đầu tiên của đại đội như vậy). — Nhận ra giọng nói của Bô-cốp và Cu-li-cốp, Pa-ven dừng lại bên các chiến sĩ của mình.

        — Cho đến khi ra trận bọn mình vẫn chưa hiểu — chiến tranh là thế nào — Bô-cốp thì thầm khá to, nói nhanh như tự khoe. — Các cậu chưa quên chứ, trận đánh ở Khô-lép-nhi-cốp chứ ? Xe tăng địch lao vào quân ta, còn bọn mình ngồi như bầy chim non, không biết làm gì.

        — Lần ấy tớ rất sợ đến nỗi không nói ra được lời nào. — Cu- lê-cốp thú nhận. — Như đã thấy, người ta cảm thấy sự hài lòng ký quặc thú nhận sự yếu đuối của mình trong quá khứ, khi mà kẻ thù sợ họ nhiều hơn là họ sợ kẻ thù.

        — Đồng chí thượng úy, đồng chí cho, phép hút thuốc chứ? —  Hướng con mặt rám nắng trong ánh sáng ban mai trông như không có máu về phía Pa-ven, Bô-cốp yêu cầu, tuy vậy anh vẫn thấy hồi hộp.

        — Cố chịu một lát nữa, Va-nhi-a ạ, tí nữa cậu sẽ được hút xì gà chiến lợi phàm.

        — Mình không chịu được cái loại xì gà dơ bẩn ấy đâu. Cái thứ ấy thì đề cho khỉ dài đuôi. — Bô-cốp nói.

        Một không khí nặng nề trước trận đánh bao trùm lèn mọi người.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:35:01 am

        ... Pa-ven đoán được điều đó trong tiếng thì thầm cố nén của nhóm chiến sĩ này, trong sự tất bật đi lại của nhóm kia, trong sự yên lặng căng thẳng như trước bước nhảy dài của nhóm khác.

        ... Đi đến chỗ chết cũng như đi đến mặt trời, không thể nhìn thấy bằng tất cả các con mắt được đâu — tiếng thì thầm của một người nào đó vọng tới tai anh.

        — Đừng buồn bố ơi!,.. — Lại một chiến sĩ không trông rõ mặt lên tiếng. — Mặc cho bọn Đức nó nghĩ cái chết chứ không phải chúng ta. Lúc đầu tôi cũng cho rằng mỗi viên đạn đều bay vào người tôi, nhưng kết quả là đạn của tôi chính xác hơn.

        Pa-ven trở lại vị trí chỉ huy của mình. Trời sáng dần và từ xa, sau hàng cây hiện ra các cột điện cao thế. Được lớp sương giá dầy phủ lên trắng toát trên nền trời xanh, trông chúng giống như một bức vẽ khổng lồ trên bản giấy xanh. — Xa hơn nữa là những ngôi nhà gỗ phủ đầy tuyết mà bọn Đức còn ẩn náu trong đó. Pa-ven cảm thấy rõ mồn một rằng: hòa bình như đóng kín lại ở phía trước...

        Muốn được tiến lên, muốn được sống, muốn được trở về nhà, muốn được hôn vợ, nuôi con, cần phải hất kẻ thù ra khỏi nơi đây.

        « Tại sao chúng lại ở đây?... — Tựa như ngạc nhiên, anh tự hỏi mình. — Chúng có quyền gì mà ở đây ? » Chiến sĩ quan sát đứng ở bìa rừng quay lại và vẫy tay ra hiệu.

        Pa-ven,bước tới chỗ anh ta.

        Phía bên trái từ cánh rừng xa im ắng xanh thẫm và không thể nhìn rõ được, có một cái gì đó trườn ra đồng... Chính xác hơn, đây chính như cả cánh đồng tuyết đang im lặng chuyển động ra phía trận địa bọn Đức, phải tinh lắm mới phát hiện ra được những mô đất nhấp nhô, những đống tuyết lờ mờ chuyền động từ rừng đến khu làng...

        Pa-ven vén tay áo ca pốt, kim đồng hồ chỉ chín giờ hơn, tiểu đoàn bên cạnh đã bắt đầu tiến công đúng giờ quy định.

        «Họ ngụy trang khéo quá — anh thầm khen các đồng chí của mình — dần dần rồi cũng học được...».

        Anh thích thú theo dõi cuộc đi chuyền thầm lặng — phải tinh lắm mới phát hiện được — trên cánh đồng tuyết. Sau đó anh đặt tay vào khẩu tiểu liên — giây phút nữa phải có ba phát súng trường —  tiếng nổ báo hiệu cho đại đội của anh.

        Những ý nghĩ của Pa-ven tập trung vào những điều phải làm sau khi có tín hiệu: động viên mọi người làm sao có thể vượt nhanh quãng trống bốn trăm mét ngăn cách họ với kẻ thù tiến vào làng, ném lựu đạn vào các hỏa điểm của bọn Đức... Song, sau những ý nghĩ này là sự hồi hộp khôn nguôi của tình yêu mà anh đã viết về nhà hôm nay, đang rộn rã trong anh, động viên anh tiến lên. « Cũng có the sau một phần tư giờ nữa, mình sẽ chết »... Anh chợt nghĩ... Song tâm hồn chan chứa tình yêu lập tức chống lại: « Hừ, không... —  anh nóng nảy phản đối lại mình — chắc là bây giờ thì mình sẽ đi tới đích cuối cùng, đi tới và sẽ trở về ».

        Trung đội trưởng Su-kin từ đằng sau đi tới — Pa-ven quay nhìn anh và mỉm cười ngỡ ngàng thân thiện. — Một làn gió nhẹ thòi trên cánh đồng làm lay động những cành thông, những hạt tuyết nhẹ rơi xuống mặt Pa-ven, tan ra trên làn da rất dễ chịu... Kẻ thù không hề có một dấu hiệu sống nào và chỉ có một cánh đồng trắng hơi nhô cao đang lặng lẽ không ngừng chuyền động đến chỗ chúng. — Nhìn kỹ có thể nhận thấy rõ những mô đất động đậy có màu vàng nhạt và chỗ mà chúng ta tiến tới và tụm lại xuất hiện một vệt màu vàng nhạt hầu như không cảm giác được, tựa như nó được tạo thành từ tia sáng xuyên qua đám mây.

        «Bây giờ Na-ta-sa đang làm gì?... Chắc là đang ngủ — hôm nay là chủ nhật mà... — Những ý nghĩ lởn vởn trong đầu Pa-ven. —  À, chớ quên ra lệnh cho các chiến sĩ súng máy... Em thân yêu của anh, chắc em đang ngủ trên chiếc giường ấm áp của mình... — Ừ đừng quên cho nổ súng kịp thời. — Anh thầm nhắc mình ».

        Tứ bên trái vang lên ba phát súng trường như tiếng thét đánh vào nhau: một, hai, ba... và tựa một mạch máu lạnh chạy dọc trên lưng Pa-ven; mắt anh sáng lên lạ thường. Quay lại Su-kin đang chờ mệnh lệnh, anh hô lớn.

        — Tiến lên, hỡi giai cấp công nhân!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:35:58 am

       
*

        Bốt-đa-nốp không tìm thấy La-tô-skin ở tỉnh ủy, bà Ma-ri-a A- lếc-xố-ép-na thư ký kỹ thuật đang ngồi một mình bên máy chữ trong phòng tiếp khách rất quen thuộc với Bốt-đa-nóp, nói rằng hôm nay ở T. có ngày lao động chủ nhật tập thể và từ sáng sớm bí thư thứ nhất đã phải có mặt ở « địa bàn », còn bây giờ chắc đã đến chỗ mít tinh rồi.

        — Chúng tôi muốn phục hồi lại tàu điện trong vài ngày nữa. — Ma-ri-a A-lếc-xê-ép-na giải thích, — và nói chung căn phải dọn sạch đường phổ, thu dọn các mảnh vỡ, quét tuyết...

        Chính bà — một người chăm chỉ và trầm tĩnh, không trẻ nhưng cũng chưa già, trông không thay đổi là bao — chiếc áo vét xanh đen và mái tóc trải mượt. Và dáng nét của bà đúng như Bốt-đa-nốp hình dung đã làm anh thích thú...

        — Như anh biết đấy, công việc khá nhiều... Hôm qua đại hội giáo viên của thành phố đã bế mạc và ngày mai những xưởng mới ở nhà máy Chế tạo máy cái sẽ bắt đầu hoạt động, — bà Ma-ri-a kể, —  các trường đã bắt đầu vào học...

        Mặc dù tính bà trầm tĩnh, nhưng rõ ràng là sự xuất hiện của Bốt-đa-nốp làm cho bà vui lây Lần trước ở T. anh và bà chỉ có dịp trao đổi với nhau khoảng vài chục lời là cùng, song bây giờ họ lại gặp nhau như những người bạn cũ.

        — Vâng, vâng, thật vậy.. — Bốt-đa-nốp thốt lên. — Đa đến lúc phải mở trường rồi, các cháu cần phải được đi học! — Tựa như hoàn cảnh này làm anh sửng sốt.

        — Mất bao nhiêu công việc sửa lại trường sở, sửa chữa bàn ghế, đồ dùng, — bà Ma-ri-a im lặng một giây và nói tiếp vẻ nghiêm trang đặc biệt: — chúng tôi đang bắt đầu công việc phục hồi các mỏ ở ngoại ô Mát-xcơ-va, trước nhất là than..

        — Than à? Vâng, tất nhiên... Dường như chỉ lúc này Bốt-đa- nốp mới biết rằng người ta dạy trẻ em ở trường học, khai thác than ở mỏ và sửa lại những ngôi nhà trong thành phố không phải là để làm cứ điểm phòng thủ. Tỏ lòng biết ơn bà Ma-ri-a về những tin tức của bà, Bốt-đa-nốp nghiêng người qua bàn vừa cười vừa nói:

        — Tôi thấy ở đây mọi người không hề buồn khi vắng chúng tôi... Thà bước đi cho rảnh, cho khỏi bận tâm...

        — Ôi! Không ! Anh nói gì thế ? — Bà phản đối, anh nói như vậy là anh nghĩ xấu về chúng tôi đấy. — Và trên khuôn mặt hơi vàng của bà ửng hồng. — Chúng tôi thường nhớ tới các anh: cả đồng chí Đi-a- cốp, cả anh...

        — Tướng Đi-a-cốp đã chiếm được K. — Bốt-đa-nốp gọi tên một thành phố lớn ở phía tây T — Đây là một chiến thắng lớn nữa của đồng chí ấy. Chiếm được ngay trước ngày tết...

        — Vâng, chúng tôi đã chúc mừng đồng chí ấy, tất cả chúng tôi đều đánh giá đồng chí ấy rất cao... Hình như bà Ma-ri-a không bao giờ nói « tôi » mà chỉ nói « chúng tôi» — Ừ, mà các anh nói đúng đấy, chúng tôi không còn lúc nào mà ngồi buồn nữa, ngày đêm vẫn túc trực ở đây... Anh đã biết cách làm việc của đồng chí I-a-cốp Da-kha- rô-vích rồi còn gì ? — Suốt ngày không cần ngủ...

        — Sa-rốp có khỏe không? Nhất định là bác phải chuyển lời hỏi thăm của tôi đến các đồng chí ấy đấy... Dô-brô-vôn-xki thế nào? Tê-rê-khốp ra sao? — Đại tá hỏi dồn dập.

        Sau nửa giờ anh đứng dậy và yêu cầu chuyển tới La-tô-skin và các đồng chí khác lời chào — như anh nói — của người lính. — Bà Ma-ri-a tiễn anh ra tận cửa ngoài.

        — Anh nên ghé qua chỗ mít tinh ấy, — bà khuyên, — không xa lắm đâu, ở nhà hát ấy... Ở đó anh sẽ gặp tất cả...

        — Tôi không biết thế nào, tôi vội, vội lắm... — Bốt-đa-nốp trả lời.

        Và khi đã bắt tay từ biệt bà Ma-ri-a, anh mới hỏi, giọng hơi cao để giấu vẻ lúng túng của mình.

        — Có thể bác có tình cờ nghe thấy... nói đến một cô gái nào tên là Na-ta-sa, sinh viên ở Mát-xcơ-va không? Cô ấy đến đây với người nhà...

        Một niềm hy vọng bất ngờ dâng lên trong lòng anh... Và mặc dù Bốt-đa-nốp hiểu rất rõ sự vô lý của nó, song anh sẽ không quá ngạc nhiên nếu Ma-ri-a trả lời: « Tôi có biết cô Na-ta-sa người Mát- xcơ-va ? ».

        — Họ cô ấy là gì? Có thể hỏi thăm ở phòng địa chỉ, — bà nói.

        — Rất tiếc là điều này tôi biết — Bổt-đa-nốp mỉm cười cởi mở, như tự cười mình.

        Và qua vẻ mặt bà Ma-ri-a anh hiểu là bà không giúp gì cho anh được, anh vội vàng kết thúc câu chuyện. — Người lái xe lại loay hoay với bộ phát lửa thay cho bu đi. Đại tá bèn thong thả dạo theo đại lộ và bảo lái xe đuổi theo mình sau.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2020, 07:01:50 am

       
*

        Trời vẫn còn tới mà những người phụ nữ phố Thuốc Nổ đã ra tới đại lộ Công Xã, mọi người ở các nơi khác cung kéo nhau tới hầu như cùng một lúc. — Từng dòng người ở các phố Nòng Súng, Cò Súng, Lưỡi Lê, Thanh Gươm, Báng Súng hầu như đồng thời cũng xuất hiện, rồi đến người từ các khu: Trung Tâm, Vô Sản, Giáp Ga cũng kéo tới... Đến trưa những chướng ngại vật do chính những con người này xây lên ba tháng trước đây đã được thu gọn, đường tàu điện ngập sâu dưới đống tuyết dày hàng mấy mét cùng những mảnh vỡ đã được thu dọn sạch sẽ. Trong giờ nghỉ, các đoàn viên Côm-xô-môn mang đến cho những người lao động nước chè nóng, kẹo và bánh mì. Sau giờ giải lao mọi người bắt tay vào việc tu bổ đường ray và treo dây...

        Lúc đầu Na-ta-sa cùng mọi người xúc tuyết, chuyển đá, nhưng bà An-na lo lắng liệu lòng nhiệt tình này có hại cho cháu dâu không? Và bà bảo chị vào giúp Vác-va-ra phân phát và trông coi dụng cụ. Bước lên thềm ngôi nhà ở góc phố, nơi để xà beng, cuốc chim, kìm, dây cuộn, Na-ta-sa có thể quan sát gần hết đại lộ to, rộng, thẳng tắp... Từ trung tâm thành phố tới gần cửa ô, nơi tâm mắt có thể nhìn rõ được trên đại lộ đầy những người tham gia lao động, bụi tuyết bay lên trong bầu không khí lạnh lẽo, xanh lam phủ lên hàng trăm, hàng ngàn bộ lưng khom khom... Ở chỗ này chỗ khác những khẩu hiệu, cờ đỏ khẽ lung lay trước làn gió nhẹ. Rõ ràng là mọi người làm việc rất thoải mái và nhiệt tình vì lợi ích chung. Xen vào những tiếng nói ồn ào, tiếng rú của động cơ xe ô tô, tiếng xẻng va vào đá, tiếng réo của lửa hàn, bỗng nổi lên tiếng cười của phụ nữ rồi một đoạn của bài hát:

        Những đoàn viên Côm-xô-môn xông ra trận,
        Anh có lệnh tiến về phía Tây,
        Còn em, em hãy đi về hưởng khác,
        Chúng ta cùng lao vào cuộc chiến...

        Đoạn cuối bị át đi bởi tiếng xủng xoảng của kim loại, trong tiếng hô của các tổ trưởng. Trời rất lạnh, nhiệt độ luôn luôn giảm xuống, đám khói màu tím nhạt bay lơ lửng và mặt trời bị mây bao phủ lúc ẩn lúc hiện tỏa ra những luồng ánh sáng đỏ. Có tin đồn là nhiệt độ đã xuống dưới hai mươi độ âm. Những người dân vừa húng hắng ho, vừa xoa má và cố gắng bước nhanh hơn.

        Ngôi nhà ở góc phố cách không xa ngã tư là chỗ những người đàn ông đặt đường ray tàu diện, — Một người nào đó mặc áo bành tô có dây thắt lưng, đội mũ trùm đầu vung tay và lanh lảnh bắt nhịp :

        — Một, hai — dô ta này! Đều tay nào — dô ta này!

        Na-ta-sa nhìn thấy chủ tịch Hội đồng quân sự thành phố trong đám người dựng cột ngang, mặt đỏ rực, chiếc áo bành tô dầy tuyết, chiếc mũ có tai lệch sang một bên, ông đang lấy vai nâng cột lên.

        — Nhìn kìa, nhìn kìa, La-tô-skin! — Từ bậc thềm vọng lên giọng nói gay gắt của Na-xchi-a. — Ôi giời, cố gắng nhiệt tình, người đỏ tấy cả lên. Hừ, cái này thậm chí là thừa do với ông ấy... —  Chị nhận xét vẻ kẻ cả.

        Na-ta-sa cười... Ở nhà máy mọi người nói về La-tô-skin với vẻ kính nề, như chị được biết thì đại loại là: « Không tin lời hứa, nhưng chính mình hay hứa và quyết làm bằng được, một con người vững vàng, được rèn luyện tốt về chính trị và hiểu biết về khoa học kỹ thuật », « Chính mình không biết nghỉ ngơi và cũng chẳng cho cả người khác được nghỉ ngơi ». Và lúc này nhìn La-tô-skin, Na-ta-sa hơi thất vọng: « Sinh viên chính cống » — chị nghĩ. Song ngay lúc đó chị chú ý. đến tiếng hô đang vọng lại từ xa trên đại lộ. Từ đó một đoàn bộ đội đang đi về ngã tư, mọi người dãn sang hai bên... Na-ta-sa nhận thấy La-tô-skin và các đồng chí của anh để thanh tà vẹt xuống nhìn những người chiến sĩ lạ.

        ... Kích đấy! Từ cửa ô vọng tại tiếng nối không rõ ràng, ... Kích đấy!... Na-xchi-a chạy lên bậc thềm và từ sau lưng ôm choàng lấy bụng Na-ta-sa.

        — Hình như du kích!... — Chị đoán ra đầu tiên.

        Và thật vậy, trên những chiếc mũ của các chiến sĩ đang tiến tới gần, trông thấy cả những chiếc băng đỏ.

        — Họ đến đấy, đang đến! — Không kìm nổi, Na-ta-sa gào lên cùng tất cả mọi người.

        Đã có lần chị không những chỉ nghe mà tự mình còn hát những bài hát — không rõ cho ai — về những du kích — những người báo thù của nhân dân. Và đây, họ đang đi tới, bước tự do nhưng có trật tự, theo hàng ba, đây là những chiến sĩ bí mật ẩn náu trong rừng đã đi ra khỏi chỗ nấp không thể nào tìm được của mình. Bây giờ có thể nhìn rõ những người đi ở hàng dầu, với tiểu liên chiến lợi phẩm ánh lên vì giá lạnh, súng các bin sau lưng và lựu đạn Đức bên hông. Sương giá bám vào làm trắng cả râu, lông mày các chiến sĩ, bám cả vào cổ áo bông cộc, áo ca pốt. Và tựa như mưa tuyết đã làm bạn với họ, làm mất dấu vết của họ, cùng đi từ cánh rừng từ đồng tuyết bao la vẫn đang quyện lấy họ ..


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2020, 07:02:32 am

        Những người tham gia lao động ngày chủ nhật dàn thành một hành lang hẹp cho các chiến sĩ du kích đi, đuôi của đoàn quân mất hút đâu đó sau cửa ô. Từ đẵng xa mọi người đã gào lên « U-ra»! — Tiếng kêu vang lên và lan đi xa... Người chỉ huy đoàn quân luôn tay, lúc thì bỏ, lúc thì đội, lúc thì sửa lại mũ để chào đón bà con dân phố. Hơi lụ khụ theo kiểu nông dân, ông đi trước hàng quân, các chiến sĩ của ông đi chậm bước nhưng rắn rỏi và trông đẹp mắt. Họ là những nông trang viên, là thợ mỏ, người trồng rừng, hoặc là giáo viên, kế toán viên hay người chăn gia súc. — Tất cả những người có nghề nghiệp hòa bình ấy được phủ từ đầu tới chân toàn vũ khí cướp được của kẻ thù. Một số người giơ tay lên vẫy, một sổ khác gào to « U-ra», hoặc giơ tiểu liên lên lắc lắc, vẫy chào dân phố — những người dân thường cũng y như họ — những người chế tạo máy, công nhân đường sắt, thợ may, mậu dịch viên, diễn viên, thợ sắp chữ, nội trợ và học sinh — đã anh dũng chiến đấu bảo vệ thành phố của mình.

        Trông thấy La-tô-skin, người chỉ huy du kích rảo bước, nhưng sau đó ông quay lại các chiến sĩ và lấy tay phải vẫy vẫy.

        — Đứng lại! — Ông ra lệnh. — Có thể hút thuốc!...

        Bước ra khỏi nhóm của mình La-tô-skin tiến ra phía trước, song chưa tới người chỉ huy, ông dừng lại... Tiếng ồn ào chung quanh bắt đầu giảm xuống, Na-ta-sa và Na-xchi-a vịn vào nhau kiễng chân lên để không bỏ sót một cái gì trong cuộc gặp gỡ này... Người chỉ huy vân vê chiếc mũ lông cáo trên đầu, sau đó ông để tay lên chiếc ống nhòm treo trước ngực, dường như ông không thể nói được.

        — Chúng tôi đã tới, thưa đồng chí chủ tịch Hội đồng quân sự! —  Ông bất ngờ, giọng run run. — Chúng tôi đã trở về... Đội du kích tổng hợp « Búa liềm », đội « Cách mạng Tháng Mười», đội bay « Thần Chết của Chủ nghĩa phát xít», đại đội tự vệ của Hội đồng làng Lu- cốp-xki... — Người chỉ huy quay lại như để kiểm tra xem có quên ai không — và cả dội thanh niên mang tên Gie-li-a-bốp đã hoàn thành nhiệm vụ truy kích kẻ thù. — Ông im lặng lấy hơi. — Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh, trở về sẽ tổ chức lại đề tiếp tục chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn, thưa đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vích, sẽ tiến đến Béc-lin !

        — Hà, chào đồng chí Ni-ki-ta Da-ni-lô-vích! — La-tô-skin nói. —  Tôi không nhận ra anh ngay được, hừ để bộ râu thế kia... Chúc mừng anh đã trở về, nhà kỹ sư nông học huyện.

        Họ ôm choàng lấy nhau, hôn nhau và chung quanh mọi người lại ồn ào... Cuộc mít tinh của đại biểu nhân dân lao động chào mừng thành phố được giải phóng hoàn toàn khỏi quân xâm lược dự định bắt đầu vào lúc ba giờ. Bà An-na còn phải đến Ban chỉ huy lao động, Ủy ban nhân dân thành phố và do đó Na-ta-sa và Na-xchi-a cũng chậm gần một tiếng cùng với bà. Vừa mệt vừa rét, họ đến nhà hát, một ngôi nhà tối, phía trước không có cửa sổ, cách không xa tòa nhà tỉnh ủy... Nhìn cháu dâu, bà An-na thậm chí phải do dự, có thể tốt hơn cả là ngay bây giờ nên đi về nhà với nó... Song vào đến nhà hát, những người phụ nữ cảm thấy mình được trả công ngay, mặc dù bên ngoài tối lờ mờ, nhưng bên trong tòa nhà ấm và sáng lộng lẫy. Ánh điện mà người dân thành phố đã quên đi: ánh diện sáng trắng tỏa xuống đều đều và lặng lẽ khắp mọi nơi trên cầu thang, phòng nghỉ, trên trần nhà sau lớp kính mờ, ở phòng khán giả có hai chùm đèn lớn sáng rực như các thiên thạch từ trên trời rơi xuống. Chắc là nguồn điện từ ngoại ô Mát-xcơ-va đã vào thành phố... Và chỉ một điều này cũng là một ngày hội, vì từ trước tới giờ điện được sản xuất ngay trong T. cũng phải sử dụng tiết kiệm hơn bánh mì...

        Cuộc mít tinh đã bắt đầu từ lâu rồi, mọi người đã đứng dậy trong phòng, còn những người phụ nữ thì phải khó khăn lắm mới len theo cổng bên để vào trong được... Song ngay trong phút đầu tiên, Na-ta- sa đã thấy cảm giác quen thuộc mà chị luôn có mỗi khi bước vào nhà hát đầy ánh điện: sự nóng lòng chờ đợi một cái gì đó lạ thường xảy ra khi kéo màn... Và chị không hiểu ngay được những điều đau đớn của những lời nói từ sân khấu vọng lại — ... Hệt như là chúng tôi loay hoay trên bai sa mạc các đồng chí ạ, hệt như có một trận cuồng phong đi qua chỗ chúng tôi — bước tới mép sân khẩu, người đàn ông râu ria, ăn mặc kỳ quặc trong chiếc ád da đi mưa nói, — quân xâm lược đã đốt tháp đào giếng, làng xóm, phá hầm mỏ, làm hỏng ống dẫn hơi —  các đồng chí ạ! Ở mỏ « Khu Nam » tình hình rất nghiêm trọng! —  Ông giơ tay ra phía trước như ra hiệu cho mọi người im lặng mặc dù trong phòhg im phăng phắc. — Chúng tôi cần người, cần vật liệu... Toàn thể cơ sở đảng chúng tôi đều nhất trí, dù phải làm việc trong nước lạnh đến đầu gối, có khi đến lận thắt lưng. Đại gia đình thợ mỏ đang phục hồi căn hầm trong vùng đất băng giá...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2020, 07:02:53 am

        Na-ta-sa quay lại nhìn bà An-na như muốn hỏi: « Phải làm gì bây giờ?». Bà già đang nghiêng đầu lắng nghe...

        — ... Chúng tôi đã làm một cái cổng, qua đó chúng tôi cho người và thiết bị xuống mỏ và cũng từ đó kéo than lên... Đồng chí thợ mỏ Sa-rốp, chủ tịch ủy ban tỉnh đã nói trong bản báo cáo của mình rằng : Mát-xcơ-va chờ đợi nhiên liệu. Chúng tôi xin đề nghị chuyển ngay những tấn than từ mỏ của chúng tôi đến Mát-xcơ-va. Cũng cần chú ý đến điều thứ nhất là thiếu chuyên gia về mỏ, điều thứ hai là xe cơ giới...

        Và người thợ mỏ «Khu Nam» vừa mới dứt lời thì trong gian phòng đã nhao lên:

        — Cho chúng tôi phát biểu!

        — Xin nói! Cho tôi...

        Chủ tọa cuộc họp, một nhân viên quân sự mà Na-ta-sa không biết, không hiểu sao lại chậm chạp trả lời và nhìn vào tờ giấy. Song không đợi được phép, một cô gái cao lớn, quàng khăn đứng dậy.

        — Các đồng chí ạ, chúng tôi là mười bảy cô gái Tam-bốp! —  Cô gào to đến nỗi mọi người giật mình, hình như những mặt kính chùm đèn pha cũng rung lên. — Theo lời kêu gọi của đoàn thanh niên Côm-xô-môn, chúng tôi, những cô gái đã đến đây theo tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa... và chúng tôi được giao nhiệm vụ tải quặng ra. Tất nhiên chúng tôi không làm ở mỏ « Khu Nam » mà ở mỏ số 22 công ty than A-rxê-nhi-ép — cô gái ngừng lại một giây. — Xin lỗi là tôi đã tự đứng dậy... — Tuy vậy, cô gái vẫn nói chẳng hề ngượng nghịu. — Tôi muốn nói rằng ở Tam-bốp đã thành lập được nhiều đội tình nguyện. Họ sẽ đi đến chỗ các đồng chí và các nơi khác. Tôi nghĩ là nên viết thư để cho họ đến gấp... — Đưa mắt nhìn khắp nhà hát, cô bình tĩnh tuyên bố: — tôi nói hết rồi các đồng chí ạ!

        Tất cả mọi người dưới và trên sân khấu đoàn chủ tịch đều vỗ tay rất lâu, hoan hô người đoàn viên từ Tam-bốp đến. Sau cô gái là một kỹ sư từ U-ran tới để khôi phục nhà máy cơ khí liên hiệp, phát biểu; tiếp theo là đại biểu của Hồng quân, chính ủy sư đoàn bước ra sân khấu, ông kể về các cuộc tiến công diễn ra trên các mặt trận. Và sau ông là một người Ca-dắc da ngăm ngăm mặc blu dông và áo khoác buốc-ca, từng mang hẳn một toa xe thiết bị mỏ từ Ca-ra-gan- đa tới T.

        Mọi người cũng hoan hô rất lâu người đại biểu Ca-dắc. Bị chẹt trong lối đi đông nghịt người đến muộn, Na-ta-sa luôn luôn với nhẹ hai bàn tay và cứ để khuỷu tay ở sườn. Những gì xảy ra trong gian phòng này thực sự là một điều phi thường, dường như những giọng nói từ những vùng khác nhau, cách xa nhau hàng nghìn cây số trên đất nước đang được lặp đi lặp lại. Trong mỗi giọng nói đều nhắc lại câu: « Hãy đứng vững... Chúng tôi ở bên cạnh các bạn !».

        — Chúng ta rất đông... Thật vậy, đông không kể xiết, — Na- xchi-a thì thầm với Na-ta-sa: — ôi, chân tớ cứ kêu răng rắc, ngồi ở đâu thì cứ... — Cô than thở.

        Bỏ ngoài bất kỳ những gì liên quan rõ ràng tới những câu nói trong buổi mít tinh hôm nay, đột nhiên Na-ta-sa quyết định là chị sẽ không đi đâu khỏi T. nữa. « Mình sẽ viết thư cho mẹ, tốt hơn cả là mẹ mau mau đến với mình», — chị nghĩ. Và khi đã quyết định như vậy, chị thở phào nhẹ nhõm.

        — Có thể là, cháu mệt lắm rồi, ta về nhà đi chứ? — Bà An-na hỏi.

        — Xong bây giờ đấy ạ, lúc đó ta sẽ về, — Na-ta-sa nói. Chị đã được sưởi ấm trong đám người này và nếu như ở đây có chỗ thì chị hoàn toàn hài lòng...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2020, 07:03:24 am
        
*

        Đi tới ngã tư, Bốt-đa-nốp đứng lại ở một góc gần nhà hát. Từ đây, mọi người đang đổ ra đường phố — cuộc mít tinh mà bà Mi-ri-a nói đáng nhẽ phải xong từ lâu. Bốt-đa-nốp đưa mắt tìm trong đám người đang tỏa ra hai bên via hè rồi lại dưa mắt sang góc đối diện...

        Dĩ nhiên là anh sẽ không thú nhận với một người nào đó là mình đi tìm Na-ta-sa — có thể nói điều này là không nghiêm túc, không xứng với vị trí của anh. Song niềm tin gặp lại người phụ nữ hầu như không quen biết này vẫn chưa mất đi trong anh. Rõ ràng là không cần thiết hỏi về chị khi chi biết « sinh viên Mát-xcơ-va », « đi đến đấy với người nhà ». Song trái với những suy nghĩ chín chắn, Bốt-da-nóp mong đợi trường hợp ngẫu nhiên, có thể làm họ gặp nhau một lần nữa... Mỗi lần nghĩ về Na-ta-sa, đại tá lại nghĩ rằng anh cô đơn, tự do và chưa yêu; thậm chí chính xác hơn là ấn tượng cô đơn đã làm anh nghĩ về chị...». « Biết đâu bỗng nhiên mình lại gặp may mắn kỳ lạ và cô ấy lại xuất hiện...». — Đó là cơ sở duy nhất cho niềm tin của anh trong lúc này. — « Bỗng nhiên cô ấy đi từ góc phố ra và quay lại phía mình, đi dọc theo đại lộ... ». Và mặc dù thầm an ủi mình, anh văn chăm chú nhìn sang góc đối diện xem có thấp thoáng chiếc mũ nổi xanh ở đó không, có xuất hiện dáng người nhỏ nhân, nhẹ nhàng... Thật ra mà nói Bốt-đa-nốp hình dung không rõ Na-ta-sa của mình, anh chi tin chắc rằng chị tuyệt diệu. Và anh khao khát gặp lại người phụ nữ tuyệt vời này, cuối cùng ở cái tuổi hai chín của mình, anh sẽ gặp... « Bỗng nhiên mắt họ gặp nhau và từ xa chị đã giơ cánh tay đi găng mỏng vẫy anh... » — Bốt-đa-nốp tưởng tượng như đứa trẻ con. —  Thật là tuyệt diệu, — chị đi đến chỗ anh và nói, — tôi biết là anh sẽ đến, tôi tin... ».

        Không chờ đến khi Na-ta-sa xuất hiện từ góc phố, đại tá nhìn những người đang ra khỏi nhà hát. Và anh thực sự đã trông thấy chị — Na-ta-sa đang bước tới phía anh cùng với một nhóm phụ nữ khác...

        Những người phụ nữ mặc áo da cộc, áo bông chần, áo bành tô cũ đang vội vã bước đi và nói chuyện gì đó khá sôi nổi, Na-ta-sa trùm chiếc khăn dày xù xì trên lưng. Tháo găng tay hai ngón của quân đội, chị sửa lại đám tóc rơi xuống trán đúng vào lúc đi qua Bốt-đa-nốp. Đưa mắt nhìn theo chị, anh không nhận ra Na-ta-sa... Người phụ nữ đọng lại trong trí nhớ của anh hoàn toàn khác — lạ thường, xinh xắn — như thế, trong ý nghĩ của anh lúc này, chị còn là một phụ nữ vô tâm nữa. Cuộc gặp gỡ duy nhất thực sự của họ càng đi xa với thời gian thì hình ảnh chị càng mờ mịt không rõ ràng và hấp dẫn đối với anh. Và, nghĩ về người phụ nữ ấy, Bốt-đa-nốp mơ ước về một thế giới hạnh phúc, tươi đẹp, tuyệt vời nhất định sẽ tới, qua những thử thách khó khăn của cuộc chiến tranh.

        Mọi người nhanh chóng tản ra mọi phía, một giọng nói gắt gỏng vọng tới phía đại tá — « Na-xchỉ-a, đừng nghịch!», sau đó tiếng cười nhỏ, rất dễ vui lây... Anh quay tại, chiếc « Em-ca » của anh đã chạy theo vỉa hè và người lái mở cửa mời anh lên xe... Đại tá rảo bước tới xe, vẻ kiên quyết, anh thấy ngượng nghịu với hy vọng mù quáng viển vông của mình. Song — và điều này là tự nhiên — anh không cảm thấy buồn và bị đánh lừa. Na-ta-sa của anh mà anh đã gặp trên con đường chiến tranh gần mặt trận tựa như một người khách thoáng qua từ tương lai tuyệt diệu, từ nơi mà chắc chị sẽ trở về sau khi chia tay với anh ở ngoại ô T. Và ở đấy chứ không phải ở đây, trong tương lai, chị hoặc một người phụ nữ nào đó giống chị nhất định sẽ chờ anh...

        Một lát sau chiếc « Em-ca » của đại tá đã lao nhanh ra khỏi thành phố theo đại lộ Mát-xeơ-va... Và mặc dù Bốt-đa-nốp không hề được gặp một người nào mà anh muốn gặp, song anh vẫn ở trong tâm trạng tuyệt vời — dường như hôm nay đã xảy ra một khoảnh khắc quan trọng trong đời anh và tồng kết lại anh không có một nguyên nhân nào chê trách mình. « Thế là trường học đã mở và tàu điện cũng sắp chạy lại...» — Bốt-đa-nốp thầm nhớ lại những điều anh được biết ở T. Qua cửa kính sau, anh nhìn lại một lần nữa những ngôi nhà đang xây lởm chởm ở ngoại ô trong bóng tối lờ mờ. Hoàng hôn đã bắt đầu phủ mờ thành phố...

        « Dân nhà nghề— tâm hồn sắt thép », — Đại tá nghĩ với sự kính trọng.

        Khi anh tới cái làng đáng nhớ bên cạnh đường, nơi ba tháng trước đây anh đã ăn trưa với Na-ta-sa thì trời đã về khuya. Cách không xa cổng vào, ngổn ngang những đống xác xe bọc thép Đức, xa hơn nữa dường như những đống lớn hơn nằm vạ vật trên tuyết. Trời sáng lạ thường như chưa hề sáng như vậy trong những đêm lạnh lẽo sáng sủa hơn trước đây... Trăng gần như trắng và tròn ở giữa một quầng rất to báo hiệu ngày mai trời sẽ quang đãng... Trong sự mờ ảo của bóng tối xanh đen và ánh sáng xanh da trời, thỉnh thoảng có thể phân biệt được bánh xe của đại bác lật ngược, khẩu pháo cỡ lớn nắm nghiêng sang một bên. Và từ xa lại ánh lên dưới ánh trăng — như đèn pha lóe lên — cái nắp mở của cửa xe tăng...

        Một đội quân khổng lồ không tồn tại nữa đã để lại vũ khí của mình trên những dải đồng bằng vô tận này. Và dường như móng của con thú vật kinh khủng đã chết đang xòe ra, dường như cái sọ sắt đã bị dập tan của nó lúc này đang nằm im lìm trên mảnh đất ngoại ô Mát-xcơ-va...

HẾT