Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 09:52:13 pm



Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 09:52:13 pm
Tên sách: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2004
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/hLN7UEx.jpg)

Chỉ đạo thực hiện
và chịu trách nhiệm xuất bản:

Ban Thường vụ Thành ủy

● Biên soạn:
   NGUYỄN CÔNG BẰNG      Phần mở đầu

   NGUYỄN THẾ SANG      Chương I

   PHẠM TIẾN THỌ         Chương II

   NGUYỄN GIA NÙNG      Phần cuối

● Biên tập:
   NGUYỄN QUỐC NINH
   NGUYỄN TẤN QUYẾT
   TRẦN XỦN
   PHẠM TIẾN THỌ


● Sửa bản in:
   PHẠM TIẾN THỌ


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 09:54:04 pm
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Năm 1990, vào dịp thế giới trân trọng kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn - Nhà xuất bản đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” và cuốn “Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự”, do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn.

Từ đó đến nay, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được xúc tiến mạnh mẽ và đã có những thành tựu bước đầu. Hai cuốn sách trên đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước hoan nghênh. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức cho toàn quân học tập.

Để tiếp tục thúc đẩy quá trình nghiên cứu và truyền bá sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm những ngày lễ lớn trong hai năm 2004-2005, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phối hợp với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức tái bản hai cuốn sách này.

Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần đưa Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quân và dân ta đã quán triệt và vận dụng xuất sắc tư tưởng của Người. Nhưng luận giải cho được những nguồn gốc và nội dung của tư tưởng ấy để tiếp tục vận dụng ở một tầm cao mới là cả một quá trinh, cần có sự nỗ lực nghiên cứu của nhiều thế hệ.

Lần tái bản này chúng tôi chỉ sửa chữa, bổ sung những chỗ thật cần thiết.

Cuốn sách gồm ba phần:

- Phần thứ nhất: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Phần thứ hai: Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự.

- Phần thứ ba: Thế giới ca ngợi sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xin cám ơn sự công tác nhiệt tinh của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Hồ Chí Minh và các nhà khoa học đã giúp đỡ chúng tôi trong lần tái bản này và mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí và các bạn.


NHÀ XUẤT BẢN
                                                                                                                                                                                 
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 09:56:58 pm
Phần thứ nhất

SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

Chủ tịch:
Thượng tướng TRẦN VĂN QUANG

Các ủy viên:
Thượng tướng, GS HOÀNG MINH THẢO
Thượng tướng ĐẶNG VŨ HIỆP
Trung tướng, PGS, PTS HOÀNG PHƯƠNG
Trung tướng, PGS ĐỖ TRÌNH
Trung tướng, PGS LÊ XUÂN LỰU
Thiếu tướng ĐOÀN HUYÊN
Thiếu tướng ĐOÀN CHƯƠNG


NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN

Đại tá PHẠM CHÍ NHÂN (Chủ biên)
Đại tá HOÀNG CƠ QUẢNG
Đại tá NGUYỄN XUÂN DUNG
Đại tá NGUYỄN HUY TOÀN
Thiếu tá NGUYỄN MINH ĐỨC
Đại úy LÊ VĂN THÁI


LỜI GIỚI THIỆU

Hơn nửa thế kỷ qua, trong đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, dân tộc Việt Nam ta đã xây dựng một nền khoa học và nghệ thuật quân sự mới. Đó là nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, kết hợp sáng tạo truyền thống quân sự của dân tộc với học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa quân sự kim, cổ, đông, tây. Hạt nhân của nền khoa học và nghệ thuật quân sự ấy là tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng quân sự của Bác Hồ là một bộ phận trong hệ tư tưởng cách mạng của Người, là cơ sở tư tưởng của đường lối quân sự của Đảng ta, phản ánh những vấn đề có tính quy luật trong đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở một nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc. Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, “lấy dân chúng (công nông) làm gốc”, phát huy cao độ trí thông minh và lòng dũng cảm của nhân dân trong chiến tranh chính nghĩa, tư tưởng quân sự ấy chính là tư tưởng quân sự của nhân dân “một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to”. Nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới: toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, lấy nhỏ thắng lớn, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn, “kiên quyết không ngừng thế tiến công”, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược trong thời đại mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế, vị anh hùng giải phóng dân tộc. nhờ chiến lược thiên tài của chiến tranh cách mạng Việt Nam. Tư tưởng quân sự của Người là một di sản quý báu có ý nghĩa dân tộc và quốc tế to lớn.

Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác Hồ (19-5-1890 - 19-5-1990), chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng tổ chức biên soạn cuốn “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là một công trình khoa học được biên soạn công phu, nghiêm túc, có nhiều tư liệu quý. Bằng phương pháp lịch sử, cuốn sách tái hiện được những hoạt động lý luận và thực tiễn về quân sự trong cuộc đời cách mạng của Người. Tuy chưa, nói được đầy đủ tính tổng hợp và chưa có điều kiện phân tích sâu, cuốn sách đã nêu được quá trình hình thành và phát triền tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là ở những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cuốn sách rất có ích đối với việc nghiên cứu khoa học quân sự.

Tôi hoan nghênh cố gắng của tập thể các tác giả và trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Nghiên cứu về sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công tác khoa học lớn. Mong rằng sẽ có nhiều công trình khoa học khác nữa nghiên cứu về những cống hiến của Người vào kho tàng lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin và nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.


Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:14:39 pm
Chương I
TỪ LÝ LUẬN VỂ CÁCH MẠNG THUỘC ĐỊA
ĐẾN NHỮNG QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN
(1911 -1938)

“Cuộc xâm chiếm Đông Dương bắt đầu từ năm 1858 mãi đến 1909 mới kết thúc. Chính trong thời kỳ này, khi nhà ái quốc Đề Thám chết thì công cuộc chống Pháp có tổ chức và có vũ trang chấm dứt”(1).

Sau 50 năm đánh chiếm và bình định, đến đầu thế kỷ XX. đế quốc Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương. Đó là chính sách cướp bóc trắng trợn của chủ nghĩa thực dân, kết hợp chặt chẽ thủ đoạn bóc lột của chủ nghĩa tư bản với các hình thức bóc lột dã man thời trung cổ. Là một dân tộc anh hùng bất khuất, có lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt, đến đây người Việt Nam phải sống trong cảnh căm hờn, khổ nhục của một dân tộc mất nước.

Trải qua nửa thế kỷ đấu tranh liên tục nhưng liên tiếp bị thất bại cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam bộc lộ rõ sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo. Lịch sử đề ra cho những người Việt Nam yêu nước lúc này là phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng giải phóng của dân tộc. phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Trong đêm trường nô lệ, xã hội Việt Nam “đen tối như không có đường ra”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua lao động, học tập và hoạt động ở nhiều nước, tư tưởng cách mạng của Người hình thành, từng bước tác động đến tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là ở những bước ngoặt lịch sử, Người trở thành lãnh tụ tối cao của dân tộc, nhà chiến lược cách mạng thiên tài, nhà chiến lược quân sự lỗi lạc của chiến tranh cách mạng Việt Nam, chiến sĩ xuất sắc của phong trào cách mạng thế giới.

I. TƯ DUY CỦA NHÀ YÊU NƯỚC TIẾN BỘ

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước nguồn gốc nông dân lao động, khi còn niên thiếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên là Nguyễn Sinh Cung, đã được giáo dục ý thức lao động, nếp sống trong sạch, giản dị và đạo lý làm người.

Quê hương Người bên dãy núi Hồng và dòng sông Lam. Đây là nơi đã sinh ra nhiều bậc vĩ nhân tiêu biểu cho phẩm chất, tinh hoa Việt Nam và là một cái nôi của phong trào yêu nước đương thời.

Những cảnh đồng bào bị hành hạ tàn nhẫn vì thiếu tiền nộp tô nộp thuế, hoặc bị bắt đi phu làm đường và những gương hy sinh lẫm liệt của các chiến sĩ Cần Vương ngay tại xóm làng đã khiến Nguyễn Sinh Cung căm hờn quân cướp nước và lũ tay sai bán nước. Những buổi đàm luận về thời cuộc của các sĩ phu yêu nước tại nhà cụ phó bảng Nguyễn Sinh sắc, thân sinh ra Người, hoặc tại nhà cụ cử nhân Vương Thúc Quý, thầy học của Người, đã sớm khơi dậy cho Nguyễn Sinh Cung tinh thần yêu nước thương nòi, Các cuộc khởi nghĩa Hương Khê, Yên Thế, các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục, cũng như cuộc vận động cải lương ở Trung Quốc, sự phát triển của Nhật Bản, cuộc chiến tranh Nga - Nhật đều tác động đến người thiếu niên yêu nước.

Khi còn ở gia đình, Nguyễn Sinh Cung đã “sớm hiểu biết”(3), “rất đau xót trước cành thống khổ của đồng bào”(4), (có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”(15) và “đã tham gia công tác bí mật”(6) nhận việc liên lạc cho các văn thân yêu nước ở quê hương.

Nguyễn Sinh Cung khâm phục các cụ Phan Đình Phùng. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, “nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”(7). Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đánh Pháp là rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; Phan Châu Trinh yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải lương là sai lầm, chàng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Lúc này, tiếng súng của nghĩa quân Yên Thế còn đang sôi động, tư tưởng bạo lực vũ trang đang day dứt bao người Việt Nam nặng lòng vì nước vì dân. Nguyễn Sinh Cung cho rằng “trực tiếp đấu tranh chống Pháp” như Hoàng Hoa Thám là “thực tế hơn”, nhưng cụ còn nặng “cốt cách phong kiến”(8).

Chính giữa lúc thực dân Pháp đàn áp các phong trào yêu nước và đặt được bộ máy thống trị của chúng trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia, Nguyễn Sinh Cung đã nhìn thấy những nhược điểm của các phong trào yêu nước đương thời và tán thành trực tiếp chống thực dân Pháp là thực tế hơn cả.

Năm 16 tuổi, Nguyễn Sinh Cung theo cha vào Huế. Người được đổi tên là Nguyễn Tất Thành, học tại trường tiểu học Đông Ba, rồi vào trường Quốc học. Thực dân Pháp mở trường Quốc học Huế nhằm đào tạo một lớp tay chân người bản xứ. Nhưng chính tại trường này, Nguyền Tất Thành đã tích lũy một vốn kiến thức cần thiết và đã đọc một số sách, báo truyền bá tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản Pháp.

Ngày 5-6-1911, lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp cho tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng sang phương Tây.

Với việc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành sang các nước phương Tây để tìm đường “trực tiếp đấu tranh chống Pháp”, báo hiệu cách mạng Việt Nam vượt ra khỏi tư duy hạn chế của các sĩ phu phong kiến và nhà cách mạng có xu hướng tư sản, để vươn tới trào lưu cách mạng mới của thời đại.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 157.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 585.
(3), (4), (5), (6), (7), (8) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H. 1975, tr. 12-13.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:17:13 pm
*
*   *

Những năm đi qua nhiều nơi trên thế giới, hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa và với chính nhân dân nước chúng, ở đâu, người dân mất nước cũng thống khổ như nhau. Ở đâu, tư bản đế quốc cũng độc ác như nhau. “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(1).

Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.

Từ Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành theo dõi cuộc chiến tranh thế giới và những vấn đề chính trị, xã hội do cuộc chiến tranh ấy đặt ra. Với tầm nhìn bước đầu được mở rộng, trước khi cuộc chiến bùng nổ, trong thư gửi Phan Châu Trinh ở Pa-ri, Nguyễn Tất Thành đã dự kiến một “cơn giông sấm động”(2) sắp diễn ra. Khi cuộc chiến bắt đầu, Nguyễn Tất Thành lại gửi thư đến Phan Châu Trinh, nói rõ: “Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến... Số mệnh sẽ con danh cho chúng nhiều bất ngờ... tình hình châu Á sẽ có chuyển biến”. Ngay từ lúc này. Nguyễn Tất Thành đã tiên đoán những biến lớn từ cuộc chiến tranh thế giới mà loài người đang gặp phải.

Năm 1917. Nguyễn Tất Thành rời Luân Đôn đến Pa-ri giữa lúc nước Pháp ngạt thở vì khói lửa chiến tranh. Lúc này, ở Pháp đã có gần 10 vạn người Việt Nam, chủ yếu là binh lính và công nhân. Nhà yêu nước Phan Châu Trinh cũng đang bị thực dân Pháp quản chế tại Pa-ri. Gặp cụ Phan Cháu Trinh, cụ Phan Văn Trường và nhiều Việt kiểu khác, Nguyễn Tất Thành nêu câu hỏi: “Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghĩa, thì chúng ta phải làm gì chứ?”(3).

“Phải làm gì?”. Đó chính là câu hỏi mà lịch sử đặt ra cho những người Việt Nam yêu nước trước “cơn giông sấm động” đang lay chuyển toàn thế giới.

Lúc này, Nguyễn Tất Thành là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc, nhưng còn ít hiểu biết về chính trị. Người tham dự nhiều cuộc mít tinh do Đảng xã hội Pháp tổ chức tại Pa-ri. Người tham gia Đảng xã hội Pháp vì thấy đây là tổ chức duy nhất ở Pháp có những người tỏ ra đồng tình với công cuộc giải phóng thuộc địa. Được sự giúp đỡ của một số nhà cách mạng Pháp, Nguyễn Tất Thành học làm báo. Trên lĩnh vực này, Nguyễn Tất Thành dùng các bài báo của mình để làm cho nhân dân Pháp hiểu sự bất công của chế độ thực dân ở Việt Nam.

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 làm chấn động thế giới. Những tin tức đầu tiên về chính quyền Xô-viết và báo cáo của đoàn đại biểu Đảng xã hội Pháp đi thăm nước Nga Xô-viết đến với Nguyễn Tất Thành. Mặc dù còn biết rất ít về Cách mạng tháng Mười, nhưng Người hăng hái tham gia cuộc vận động quyên góp giúp nhân dân Nga vượt qua nạn đói, phân phát truyền đơn của Đảng xã hội Pháp phản đối việc can thiệp quân sự của các nước đế quốc và của Chính phủ Pháp vào nước Nga cách mạng, tham gia cuộc vận động bảo vệ những thủy thủ Pháp phản chiến trên biển Đen.

Vừa hoạt động thực tế, vừa ra sức trau dồi kiến thức, Nguyễn Tất Thành tìm hiểu nền văn hóa châu Âu, đặc biệt là nền văn hóa Pháp. Người đọc một số tác phẩm tiêu biểu của Các Mác và Ph.Ăng-ghen, tìm hiểu cách mạng Pháp, Công xã Pa-ri, cách mạng Nga. Với tinh thận học tập không mệt mỏi và ý chí phấn đấu kiên cường, vượt qua những thử thách của cảnh nghèo túng, Nguyễn Tất Thành trong quá trình tìm đường cứu nước đã từ chủ nghĩa yêu nước hướng tới đỉnh cao của trí tuệ thời đại là chủ nghĩa Mác - Lênin.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 212 và 478.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 212 và 478.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 212 và 478.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:19:31 pm
*
*   *

Tháng 11 năm 1918, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc.

Đầu năm 1919, các nước đế quốc thắng trận họp ở Véc-xay (Pháp). Tổng thống Mỹ Uyn-xơn đến Hội nghị với “Kế hoạch 14 điểm”, rêu rao quyền dân tộc tự quyết nhằm lôi kéo nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, tranh giành ảnh hưởng các đế quốc khác.

Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Véc-xay bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam”, gồm tám điểm, yêu cầu Chính phủ Pháp và các cường quốc thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách ấy được gửi đến các đoàn đại biểu Đồng minh, các nghị sĩ Quốc hội Pháp, đồng thời đăng trên báo Nhân đạo, cơ quan của cánh tả Đảng xã hội Pháp và trên nhiều báo khác ở Pháp. Bản yêu sách cũng được in thành truyền đơn phân phát trong các cuộc mít tinh của nhân dân Pháp, phát cho Việt kiều, cho binh lính người Việt ở Pháp và được gửi về nước.

Đây là tiếng nói chính nghĩa của đại biểu đầu tiên cho phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, Cuộc đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc, có tiếng vang trong nhân dân Pháp, nhân dân các nước thuộc địa Pháp và trong nhân dân Việt Nam. Ý thức dân tộc theo một nội dung mới của nhân dân Việt Nam được thức tỉnh, tạo tiền đề cho việc tập hợp lực lượng mới chống đế quốc. Người Việt Nam yêu nước nhắc đến Nguyễn Ái Quốc với lòng kính yêu trân trọng, tự hào và tin tưởng. Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc cũng như yêu sách của các đoàn đại biểu Ấn Độ, Triều Tiên, Trung Quốc tại Hội nghị Véc-xay đều “không có kết quả gì hết”(1). Qua thực tế, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng những lời tuyên bố về tự do dân chủ của các nhà chính trị tư bản đế quốc thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc, “rằng” chủ nghĩa Uyn-xơn “chỉ là một trò bịp bợm lớn”(2). Người rút ra kết luận: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(3).


(1), (2) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H. 1975, tr. 12.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 162.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:23:30 pm
II. CHUẨN BỊ CƠ SỞ TƯ TƯỞNG CHO ĐƯỜNG LỐI
VÀ PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Tháng 3 năm 1919, Quốc tế cộng sản tức Quốc tế III, bộ tham mưu cách mạng của vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới được thành lập tại Mát-xcơ-va. Đây là một thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Quốc tế cộng sản đóng vai trò to lớn trong việc vạch trần chủ nghĩa cơ hội, xây dựng và củng cố các đảng cộng sản, phát triển phong trào cách mạng trên thế giới.

Tháng 7 năm 1920, báo Nhân đạo đăng toàn văn các văn kiện Đại hội lần thứ II của Quốc tế cộng sản, trong đó có: “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin.

Cũng như các đảng xã hội khác ở châu Âu lúc bấy giờ, trong Đảng xã hội Pháp đã nổ ra cuộc tranh luận gay gắt xung quanh vấn đề: xin gia nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II? Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết hơn cả - và cũng là điều mà người ta không thảo luận tại các cuộc họp, là: vậy thì Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa? Trong một cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu câu hỏi ấy lên. Có người trả lời: Đó là Quốc tế III chứ không phải Quốc tế II. Và một người nữa đưa cho Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa.

Đây là lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đọc một tác phẩm của V.I.Lênin.

Luận cương của V.I.Lênin để ra chính sách của Quốc tế cộng sản là giúp đỡ các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” cùng chống chủ nghĩa đế quốc.

Trong Luận cương, V.I.Lênin cho rằng, nếu trước kia phong trào giải phóng dân tộc kết thúc với việc giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, thì trong thời đại tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, phong trào này được sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, đứng đầu là đảng cộng sản, khi gặp điều kiện thuận lợi, có thể đi tới việc thiết lập một chính quyền thực sự nhân dân. Trong trường hợp này, các nước thuộc địa còn những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa có khả năng với sự giúp sức của giai cấp vô sản đã chiến thắng ở nước tiên tiến, thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Thấy được sự thức tỉnh của các dân tộc thuộc địa phương Đông, và hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tuy còn rất mạnh nhưng sẽ sụp đổ trước những đòn tiến công của phong trào giải phóng dân tộc, V.I.Lênin cho rằng đứng về mặt triển vọng lịch sử mà nói thì sự giải phóng các dân tộc thuộc địa là hoàn toàn có thể thực hiện được trong thực tế. V.I.Lênin tin rằng, nhân dân các nước thuộc địa sẽ vùng lên với tư cách là những người tham gia một cách độc lập vào quá trình lịch sử, là những người sáng tạo ra cuộc sống mới.

Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa soi sáng con đường giải phóng của các dân tộc bị áp bức trong thời đại mới, đáp ứng nguyện vọng tha thiết nhất cửa Nguyễn Ái Quốc là độc lập cho Tổ quốc và tự do cho đồng bào. Nguyễn Ái Quốc “rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng”(1).

Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp họp tại Tua tháng 12 năm 1920. Là đại biểu của thuộc địa Đông Dương, tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc cùng phái đa số do Mác-xen Ca-sanh lãnh đạo bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và Người trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Lênin và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Tiếp nhận Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam vào con đường cách mạng vô sản, gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, mở đường cho cách mạng Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng đường lối kéo dài hơn nửa thế kỷ.

“Đông Dương” là nhan đề hai bài báo Nguyễn Ái Quốc viết sau khi trở thành người cộng sản, Tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận - chính trị của Đảng Cộng sản Pháp đã đăng hai bài này trong hai số líên tiếp, tháng 4 và tháng 5 năm 1921.

Hai bài báo “Đông Dương” xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam vá cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trong thời đại mới mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười. Phương hướng ấy giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc viết: “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đây là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay. Trả lời câu hỏi đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: có”(2).

Phát triển những luận điểm của Các Mác và V.I.Lênin về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc nêu lên dự kiến về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước khi giai cấp vô sản ở “chính quốc” lên nắm chính quyền và tác động trở lại của nó đối với cách mạng ở “chính quốc”. Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(3).

Nguyễn Ái Quốc tin tưởng cách mạng Đông Dương nhất định sẽ bùng nổ. Người phê phán hai quan điểm sai lầm: quan điểm cho rằng người Đông Dương đã sẵn sàng làm cách mạng và quan điểm cho rằng người Đông Dương không muốn làm cách mạng và đã bằng lòng với chế độ đương thời. Người khẳng định nhân dân Đông Dương không chết, nhân dân Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn thực dân không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Trào lưu cách mạng thế giới, Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào cách mạng các nước khác như những luồng gió đang thổi đến thúc giục họ. Nguyễn Ái Quốc viết: “... người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”(4). Người xác định: “Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mưu đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”.

Hai bài báo “Đông Dương” đề cập những vấn đề và mục tiêu và động lực của cách mạng Việt Nam, về thời cơ và tính tiến công của phong trào cách mạng quần chúng, về liên minh khu vực và liên minh trên phạm vi toàn thế giới của cách mạng Việt Nam. Hai bài báo ấy vạch rõ triển vọng của phong trào cách mạng tại ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và đề ra nhiệm vụ trước mắt của những người cộng sản là “gieo hạt giống của công cuộc giải phóng”, “thúc đẩy thời cơ” chuẩn bị cho cuộc “bùng nổ” có tính chất quần chúng ở Đông Dương

Như vậy là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đến năm 1921 quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới và về bạo lực cách mạng của quần chúng đã được khẳng định.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 700.
(2), (3) Viện lịch sử Đảng: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, H, 1987, tr. 35, 36.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 10.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:29:09 pm
*
*   *

Trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tích cực cho mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

Phụ trách Tiểu ban nghiên cứu về Đông Dương trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc góp phần đấu tranh xây dựng chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, làm cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp hiểu rõ vấn đề thuộc địa.

Là người sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của nhiều nước thuộc địa kêu gọi các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại đấu tranh tự giải phóng.

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo Người cùng khổ (Le Pa ria), là người sáng lập tờ báo Việt Nam hồn và là người phụ trách mục viết về các thuộc địa trên báo Nhân đạo, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và các thuộc địa khác. Với nội dung súc tích, lời văn giản dị, các bài báo của Nguyễn Ái Quốc đầy tính chiến đấu, chĩa mũi nhọn vào bon thực dân đế quốc trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội. Người tố cáo chính sách áp bức bóc lột, vô cùng làn bạo của bọn thống trị Pháp ở Việt Nam: “Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế”(1). Người mô tả nỗi thống khổ của nhân dân các dân tộc thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh và cho rằng: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”(2). Mỗi bài báo của Nguyễn Ái Quốc như một lời tuyên chiến của các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân.

Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc được dành riêng để phân tích và ca ngợi những cuộc bãi công, biểu tình và nổi dậy vũ  trang nổ ra ở nhiều nước thuộc địa. Cuộc bãi công tự phát của 600 thợ nhuộm Chợ Lớn (Việt Nam) tháng 11 năm 1922 được Người đánh giá là một dấu hiệu “nô lệ thức tỉnh”(3) chứng tỏ giai cấp công nhân “bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình”(4). Cuộc bạo động ở Đahômây (nay là Bênanh) nổ ra tháng 2 năm 1923. một tháng sau Người đã có bài tường thuật trên báo Nhân đạo, nhận xét: trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp”(5). Từ những cuộc đấu tranh manh mún tự phát, chưa có tổ chức ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc, Nguyễn Ái Quốc nhận định: dân bản xứ không chịu nhục được nữa đã vùng lên, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, những người cộng sản đừng quên nhiệm vụ “giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức”(6).

Nguyễn Ái Quốc chủ trương tuyên truyền cho giai cấp công nhân và nhân dân các thuộc địa hiểu ràng có đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân bị áp bức ở châu Âu thì mới giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng. Người không gán phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc vào một hình thức hoặc một phương pháp đấu tranh duy nhất nào. Người thừa nhận những hình thức đấu tranh khác nhau, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị đến bạo động vũ trang. Người không “nghĩ ra” những hình thức đấu tranh ấy mà chỉ đặt vấn đề khái quát, hướng dẫn, tố chức, làm cho những hình thức đấu tranh của các giai cấp cách mạng ở các nước thuộc địa đang xuất hiện một cách tự phát trở thành tự giác.

Nguyễn Ái Quốc quan tâm nghiên cứu thủ đoạn thống trị bằng quân sự của chủ nghĩa đế quốc. Người chứng minh rằng, chủ nghĩa đế quốc đánh vào nhân dân các thuộc địa và vào chính nhân dân nước chúng một thứ thuế mà Người gọi là “thuế máu”. Nguyễn Ái Quốc viết: “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở các thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”(7). Nghiên cứu cơ cấu quân đội của đế quốc Pháp. Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Non một nửa quân đội Pháp là người bản xứ...”(8) trong tổng số 150 trung đoàn của quân đội Pháp có 10 trung đoàn người da trắng ở các thuộc địa, nghĩa là những người “nửa bản xứ”, 30 trung đoàn người châu Phi và 39 trung đoàn người bản xứ ở các thuộc địa khác. “Lo lắng vì giai cấp công nhân ở chính quốc đã thức tỉnh, chủ nghĩa tư bản Pháp tìm cách dùng các thuộc địa để củng cố nền thống trị đang lâm nguy của nó. Nó bòn rút ở đó cả nguyên liệu cho các nhà máy của nó, lẫn nhân lực để chống lại cách mạng”(9); “... người lính bản xứ có thể ngoan ngoãn và mù quáng bước vào chỗ mà người lính Pháp, giác ngộ hơn, có thể từ chối không chịu bước. Nguy hiểm là ở chỗ đó”(10). Người kêu gọi giai cấp công nhân ở cả chính quốc và thuộc địa hãy hành động, “làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó, họ đều là anh em cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau”(11).

Với quan điểm giai cấp, quan điểm nhân đạo và tinh thần quốc tế vô sản Nguyễn Ái Quốc phân tích sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc, vạch trần cái “khoa học” thống trị thâm độc của chúng, nêu lên quan điểm về vận động binh sĩ địch trong đấu tranh cách mạng.

Trong những năm Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng ở Pháp, cụ Phan Châu Trinh bị quản chế tại Pa-ri. Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo động, dựa vào Pháp để thực hiện cải cách dân chủ, đánh đổ nền quân chủ, gây dựng dân quyền tự do. Nguyễn Ái Quốc thường đến thăm và đàm luận với Phan Châu Trinh. Ngày 18 tháng 2 năm 1922, Phan Châu Trinh gửi thư cho Nguyễn Ái Quốc, một mặt nói rõ sự khác nhau giữa cụ và Nguyễn Ái Quốc về đường lối và phương pháp cứu nước; mặt khác, tự thày mình “như cây đã già”, “như hoa sắp tàn” và tỏ ý vui mừng thấy Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc”, “nghị lực có thừa, miệt mài học tập, lý thuyết tinh thông”. Phan Châu Trinh khuyên Nguyễn Ái Quốc sớm về nước hoạt động và tỏ ý tin tưởng rằng “cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư và ông Lý Ninh mà Nguyễn Ái Quốc tôn thờ sẽ mau chóng sâu gốc bền rễ trong đám dân tình chí sĩ nước ta và sẽ thành công”(12).

Đây coi như là lời ủy thác sứ mệnh cứu nước của thế hệ tiền bối cho nhà cách mạng ưu tú nhất của thế hệ tiếp sau: Nguyễn Ái Quốc.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 444, 65.
(3), (4), (6) Sách đã dẫn, tr. 446.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 129.
(7), (8), (9), (10), (11) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật. H. 1980, tr. 245. 131. 119. 150.
(12) Lịch sử Việt Nam, t.2, Nxb Khoa học xã hội, H. 19S5. tr. 207.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:42:38 pm
*
*   *

Mùa hè 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp.

Trong thư để lại cho các đồng chí của mình, Nguyễn Ái Quốc nói rõ Người sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(1).

Ngày 30 tháng 6 năm 1923, với tư cách đại biểu thuộc địa dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản, bằng đường biển Nguyễn Ái Quốc lên bến càng Pê-trô-grát, lần đầu tiên đến Liên bang Xô - viết.

Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sàn phải hoãn lại vì V.I.Lênin ốm nặng, Nguyễn Ái Quốc làm việc tại Bộ phương Đông của Quốc tế cộng sản, học tập tại trường Đại học phương Đông, đi thăm nhiều nơi ở Liên Xô.

Trong những năm ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động cho phong trào công nhân Pháp; ngược lại, Đảng cộng sản Pháp và giai cấp công nhân Pháp đã đào luyện Người thành chiến sĩ quốc tế. Một năm ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc lại có điều kiện bổ sung kiến thức về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, xây dựng tổ chức cách mạng của quần chúng, kinh nghiệm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người tham dự Đại hội Quốc tế nông dân, Đại hội Quốc tế thanh niên cộng sản, Đại hội Quốc tế phụ nữ cộng sản, Đại hội Quốc tế cứu tế đỏ và Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản. Người viết nhiều bài trên tạp chí Thư tín quốc tế, đúc kết tình hình đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, thực dân tại các nước thuộc địa. Với kinh nghiệm phong phú, nhiệt tình sôi động, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành nhà hoạt động cách mạng có uy tín trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Gặp Người, trong thời gian này. nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam viết: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”(2)...

Tại Đại hội Quốc tế nông dân (10-1923), Nguyễn Ái Quốc đã đề cập một vân đề mới mẻ đối với những người cộng sản: thực hiện cách mạng bạo lực của quần chúng ở các nước thuộc địa, nơi mà quần chúng đại đa số là nông dân và ở đó nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và những tàn tích của chế độ phong kiến. Nguyễn Ái Quốc nhận định: “Chỉ với lực lượng riêng của chính mình, nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ, sống tản mát trong các làng mạc, họ có thể nổi dậy và tiến hành đấu tranh, nhưng một mình họ thì không thể chiếm được bộ máy nhà nước và giữ được bộ máy đó... Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh với giai cấp nông dân”(3). Ngay từ lúc này, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rằng phong trào cách mạng thế giới phải cảnh giác với khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa nguy hiểm bắt nguồn từ sự thổi phồng quá đáng vai trò của nông dân. Người nói: “Những trào lưu cơ hội chủ nghĩa, nịnh nông dân, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, đều chỉ đi tới chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ và đi tới chỗ phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi”(4).

Tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản (7-1924), Nguyễn Ái Quốc đã kiến nghị về nhiệm vụ của các Đảng cộng sân châu Âu đối với cách mạng ở các nước thuộc địa đấu tranh cho sự hình thành một “mặt trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa”(5) chống chủ nghĩa đế quốc.

Người lên án quan điểm: “không cần liên minh trực tiếp với phong trào giải phóng ở các nước thuộc địa, giai cấp vô sản châu Âu cũng có thể thắng lợi được”(6) và khẳng định “cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch”(7) vấn đề dân tộc là “một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”(8). Nguyễn Ái Quốc vạch rõ chừng nào các Đảng cộng sản châu Âu chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa để cập đến quần chúng các nước thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của các đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Về cuộc đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo”(9). Người đề nghị Quốc tế cộng sản giúp đỡ nông dân các dân tộc thuộc địa tổ chức lại, “cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”(10). Những kiến nghị của Nguyễn Ái Quốc đã được Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản chấp nhận.

Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đã nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở Việt Nam. Họa sĩ người Thụy Điển E-rích Giô-han-xơ gặp Nguyễn Ái Quốc tại Mát-xcơ-va thời gian này kể lại: “Nguyễn Ái Quốc đã suy nghĩ về sự giải phóng nước Việt Nam bằng khởi nghĩa vũ trang. Nguyễn cho rằng, việc giải phóng đất nước không thể thực hiện bằng cải cách dần dần hay thông qua một sự giải phóng giội từ trên xuống: Nguyễn thấy một cuộc đảo chính đơn giản không thể thực hiện được sự nghiệp giải phóng. Nguyễn nói chuyện rất say sưa về việc tổ chức càng nhiều, càng tốt những nhóm vũ trang của nông dân và công nhân Việt Nam. Đó là tế bào hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Nguyễn tin chắc rằng sẽ nổ ra”(11).

Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn chỉnh tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu và biên soạn tác phẩm này trong những năm ở Pháp; một số nội dung đã được công bố trên báo Nhân đạo và báo Người cùng khổ. Năm 1925, tác phẩm được Thư điếm lao động ở Pa-ri xuất bản.

Bằng những dẫn chứng cụ thể, xác thực, lấy từ nhiều nguồn tư liệu, kể cả các sách báo và số liệu thống kê trong các thư viện và kho lưu trữ của nước Pháp, bằng cách diễn đạt sinh động, đầy sức thuyết phục, “Bản án chế độ thực dân Pháp” đặt trước nhân loại những tội ác không thể tưởng tượng được của đế quốc Pháp ở Đông Dương và các thuộc địa khác. Tác phẩm trình bày quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về bạo lực cách mạng tại các nước thuộc địa ở thời đại mới, chỉ ra con đường đấu tranh nhằm tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, đế quốc từ phía các thuộc địa của chúng.

Nguyễn Ái Quốc viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(12). Với luận điểm nổi tiếng này, nhất là với hình tượng độc đáo phải cắt đứt cả hai cái vòi con đỉa thực dân đế quốc, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển lý luận của Các Mác và V.I.Lênin về đoàn kết và phối hợp đấu tranh giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản các nước tư bản đế quốc, cụ thể hóa khẩu hiệu chiến lược do V.I.Lênin đề ra đầu thế kỷ XX: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.

“Bản án chế độ thực dân Pháp” vạch rõ: “Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Bởi thế, nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa”(13). Ở miền Cận Đông và Viễn Đông, các nước thuộc địa có diện tích trên 15 triệu ki-lô-mét vuông với số dân hơn 1.200 triệu người. Dân số của họ làm cho họ có sức mạnh. Họ có sẵn trong bản thân một sức mạnh vô cùng to lớn. Khối liên minh các dân tộc thuộc địa phương Đông “sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”(14).

Quán triệt quan điểm của Các Mác: “Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải do bản thân giai cấp công nhân làm lấy”(15), Nguyễn Ái Quốc khẳng định công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa có thể thực hiện bằng nỗ lực bản thân các dân tộc thuộc địa.

Chỉ rõ đối tượng của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp, “Bản án chế độ thực dân Pháp” vạch trần những luận điệu giả dối về “khai hóa văn minh” của bọn thực dân, cổ vũ thanh niên Việt Nam đứng lên chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù, chuẩn bị cơ sở tư tưởng cho đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.


(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật. H. 1980, tr. 174.
(2) Viện Lịch sử Đảng: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật. H. 19S7, tr 49.
(3), (4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H- 1950. tr. 157-158, 222, 217.
(9), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 230, 231.
(11) Báo Nhân dân, ngày 16-5-1980.
(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 454.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 463.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 459.
(15) C.Mác - Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1982, tr. 23.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:55:50 pm
III. THÀNH LẬP ĐẢNG, XÂY DỰNG CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG
TRONG CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ

Cuối năm 1924, với cương vị ủy viên Bộ phương Đông, Cục trưởng Cục phương Nam của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Người viết một loạt bài báo đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế, phác họa viễn cảnh quân sự ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương. Đó là các bài: “Đông Dương và Thái Bình Dương”, “Các nước đế quốc và Trung Quốc”, “Những vấn đề châu Á”...

Với tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Ái Quốc sớm thấy rằng Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều nhòm ngó. Vì vậy, khu vực này “tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”(1).

Người vạch trần âm mưu quân sự của các chính phủ tư bản đế quốc. Là cường quốc duy nhất ở châu Á kình địch với các đế quốc Anh. Mỹ, Nhật Bản đã cắt đứt liên minh với Anh, đề xướng việc thành lập “khối liên Á”. Anh cũng cắt đứt quan hệ hạn bè với Nhật Bản. bắt tay với “chú Sam” chặt chẽ hơn, khởi công xây dựng căn cứ hải quân Xin-ga-po. Mỹ chi tiêu hàng trăm triệu đô la, tăng cường hải quân, tổ chức những cuộc diễn tập lớn ở Thái Bình Dương. Đó chính là những lời đáp thiết thực của Anh, Mỹ đối với việc Nhật có ý định thành lập “khối liên Á”. Nguyễn Ái Quốc nhận định: “Những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, nó còn nguy cho cả vận mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nữa”(2).

Phân tích nguy cơ chiến tranh ở Trung Quốc đầu những năm 20, Nguyễn Ái Quốc viết: “Nhìn vào bản đồ Trung Quốc. ta thấy rằng hầu hết các hải cảng quan trọng, hầu hết các vị trí chiến lược, hầu hết các trung tâm sản xuất hiện đại, đều bị nước ngoài chiếm đóng. Song bản đồ vẫn chưa nói được hết. Bản đồ vẫn chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của tư bản nước ngoài lan rộng tới đâu, cũng chưa chỉ rõ được tầm đại bác của bọn đánh thuê của nước ngoài có thể bắn tới tận đâu”(3).

Phân tích bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Nguyễn Ái Quốc viết: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa”(4). “Việc tranh giành thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt hơn. Bọn đế quốc ngày càng trở nên điên cuồng hơn; những cuộc xung đột chính trị ngày càng trở nên không thể tránh khỏi”(5).

“Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó. Cho nên các đồng chí Nga cần phải biết rõ tất cả lực lượng và tất cả các mánh khóe trực tiếp hay gián tiếp của đối thủ của mình”(6), “... vấn đề Thái Bình Dương là vấn đề mà tất cả mọi người vô sản nói chung đều phải quan tâm đến”(7).

Những dự đoán của Nguyễn Ái Quốc về quân sự ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương trong những năm đầu của thập kỷ 20 chính xác như những lời tiên tri. Những dự đoán ấy dựa trên cơ sở phân tích bân chất xâm lược và hiếu chiến không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc như V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa là điều tuyệt đối không thể tránh được, chừng nào mà chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại”(8).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 242, 247, 281, 241.
(5), (6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 247, 241, 242.
(8) V.I.Lênin: Toàn tập, t. 27, Nxb Tiến bộ, M. 1980, tr. 389.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Năm, 2020, 10:58:16 pm
*
*   *

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu vào lúc Quảng Châu là trung tâm phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc và là nơi hội tụ nhiều nhà cách mạng châu Á và nhiều nhà yêu nước Việt Nam.

Một số thanh niên Việt Nam đã vượt biên giới đến Quảng Châu thành lập Tâm tâm xã, chủ trương làm bất cứ việc gì kể cả trừng trị những tên thực dân đầu sỏ, để thức tỉnh và lôi cuốn đồng bào trong nước đứng dậy đánh đuổi thực dân Pháp.

Ngày 19 tháng 6 năm 1924, một chiến sĩ của Tâm tâm xã là Phạm Hồng Thái đã hy sinh anh dũng trong cuộc mưu sát viên toàn quyền Đông Dương Méc-lanh khi y vừa tới Sa Diện. Nguyễn Ái Quốc đánh giá cao gương hy sinh của Phạm Hồng Thái: “Việc đó tuy nhỏ, nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”(1).

Ngay khi tới Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã bắt liên lạc với Tâm tâm xã, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, giải thích về Cách mạng tháng Mười, về Quốc tế cộng sản, về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đầu năm 1925, từ những thanh niên yêu nước ấy, Nguyễn Ái Quốc lập ra nhóm hội viên bí mật gồm chín người, trong đó năm người được Nguyễn Ái Quốc kết nạp làm đảng viên dự bị của Đảng cộng sản. Một số người được phái về nước bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng trong nước, đưa thanh niên yêu nước ra dự các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, hoặc cử đi học tại trường Đại học phương Đông ở Mát-xcơ-va. Mầm mống đầu tiên của một tổ chức cách mạng đã hình thành. Những mối liên lạc để nắm tình hình và chỉ đạo phong trào trong nước được gây dựng.

Lúc này, Phan Bội Châu đang ở Quảng Châu. Cụ chủ trương tập hợp những người trung nghĩa để đánh giặc, phục thù mà thủ đoạn là bạo động vũ trang nhằm khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập. Phan Bội Châu tổ chức Việt Nam quang phục hội và Việt Nam quang phục quân, thực hiện một số cuộc bạo động ở trong nước. “Tất cả những cuộc nổi dậy ấy đều đã đưa tới cái chết của mấy tên sĩ quan và binh lính Pháp, sự chiếm đoạt mấy khẩu súng và sự thất bại...”(6). Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Bội Châu và phát biểu ý kiến về đường lối hoạt động của cụ. Phan Bội Châu đã giao cho Nguyễn Ái Quốc những đầu mối cơ sở của cụ.

Với số chiến sĩ trong nhóm Tâm tâm xã và số chiến sĩ trong tổ chức của Phan Bội Châu từ trong nước ra, tháng 6 năm 1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, một đoàn thể cách mạng có xu hướng mác-xít - lê-nin-nít. Tiếp đó, cùng với một số nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Miến Điện... Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông và cùng những người cộng sản Trung Quốc tổ chức Hội nghị đại biểu công nhân Trung Quốc và Hội nghị đại biểu nông dân tỉnh Quảng Đông.

Hoạt động quan trọng nhất của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu là mở lớp huấn luyện chính trị, bồi dưỡng cán bộ nòng cốt của Hội về những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp tổ chức quần chúng. Nguyễn Ái Quốc là giảng viên chính và là người lãnh đạo các khóa huấn luyện. Một số cố vấn Xô - viết bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa của bác sĩ Tôn Dật Tiên tại Quảng Châu đã được Nguyễn Ái Quốc mời đến giảng dạy tại nhiều khóa, trong đó có Ga-lin (sau này là Nguyên soái Liên Xô Bliu-khe). Từ 1925 đến 1927, Nguyễn Ái Quốc mở được 10 khóa huấn luyện, đào tạo hơn 200 cán bộ. Phần lớn những người được đào tạo đã trở về hoạt động trong công nhân, nông dân, trí thức, xây dựng cơ sở Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở trong nước. Hơn 40 người khác được Nguyễn Ái Quốc cử đi đào tạo tại trường Đại học phương Đông ở Mát-xcơ-va.

Ngay trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc đã chăm lo đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Việt Nam. Người cử Lê Hồng Phong đi học tại Học viện Không quân Xô - viết, 17 hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được cử đi học tại trường Đại học quân sự Hoàng Phố, trong đó có Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng... Sau khi mãn khóa, một số được cử vào hoạt động trong quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa, một số khác được cử tham gia quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc.


(1) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 64.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 314.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:41:41 am
*
*   *

Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông xuất bản tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc nhan đề “Đường cách mệnh”, gồm những bài giảng của Người ở các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu.

Quán triệt luận điểm nổi tiếng của V.I. Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động”, tác phẩm “Đường cách mệnh” tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới trong vòng 150 năm, giải đáp những vấn đề cơ bản đang đặt ra trước các lực lượng yêu nước và cách mạng Việt Nam: muốn giành thắng lợi cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng nào và phải làm như thế nào?

Nguyễn Ái Quốc nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc “cách mệnh không đến nơi”, vì chưa giải phóng được cho công nông. Cách mạng Nga đã hoàn toàn giải phóng cho công nông thoát khỏi ách áp bức giai cấp, là cuộc cách mạng “thành công đến nơi”. “Đường cách mệnh” chỉ rõ cách mạng Việt Nam trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập tự do. Cách mạng giải phóng dân tộc ấy không tách rời mà có quan hệ mật thiết với cách mạng giải phóng giai cấp đánh đuổi bọn tư bản, địa chủ, giải phỏng cho công nông. Nó phải là một cuộc “cách mệnh đến nơi”.

“Đường cách mệnh” làm sáng tỏ các vấn đề then chốt của chiến lược cách mạng Việt Nam. Đó là động lực của cách mạng: “... công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh của công nông”(1). Đó là tầm quan trọng của sự đoàn kết quốc tế trong đấu tranh chống kẻ thù chung. Đó là sự lãnh đạo của chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

Về phương pháp cách mạng, “Đường cách mệnh” chỉ rõ: “phải biết cách làm thì làm mới chóng”(2), (cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”(3). “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”(4). “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ năm, bảy người giết hai, ba anh vua; chín, mười anh quan mà được”(5) “Ám sát là làm liều và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết?”(6).

“Đường cách mệnh” hướng dẫn giới thiệu kinh nghiệm đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, từ bãi công và tổng bãi công chính trị tiến lên khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng Nga. Tác phẩm nhấn mạnh nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang và nghệ thuật chọn thời cơ khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Mười.

“Đường cách mệnh” hướng dẫn cách tổ chức và hình thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng: công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ, tổ chức cứu tế, hợp tác xã... nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, giáo dục và huấn luyện quần chúng, đưa quần chúng ra tranh đấu từ thấp đến cao, đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị, giành quyền lợi thiết thực hàng ngày, chuẩn bị cho cao trào cách mạng.

Như vậy là, từ hai bài báo “Đông Dương” (1921) và tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) đến tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng giải phóng dân tộc đã được khẳng định trên những vấn đề cơ bản:

1. Trong thời đại mới mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc cần đi theo con đường cách mạng vô sản. Giai cấp công nhân ở thuộc địa có sứ mạng lịch sử liên minh với giai cấp nông dân, tập họp các tầng lớp nhân dân yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

2. Sự thống trị bằng bạo lực của chế độ thực dân tất yếu dẫn tới những cuộc bùng nổ cách mạng của các đàn tộc thuộc địa. Với sự ra đời của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa, các cuộc đấu tranh cách mạng có nhiều hình thức mới: bãi công, đình công, biểu tình, tổng bãi công chính trị, bạo động vũ trang. Khởi nghĩa vũ trang là bước phát triển cao nhất của quá trình đấu tranh cách mạng ấy.

3. Để thực hiện cách mạng giải phóng ở thuộc địa, phải thành lập chính đảng của giai cấp công nhân, phải lấy “dân chúng (công nông) làm gốc”(7), tập hợp đông đảo quần chúng dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau, qua đó mà giáo dục, huấn luyện và đưa quần chúng ra đấu tranh từ thấp đến cao.

4. Các dân tộc thuộc địa chỉ có thể tự giải phóng bằng lực lượng của bản thân mình, đồng thời phải liên minh chặt chẽ và tranh thủ sự giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới.

Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên các mặt tư tưởng, lý luận và tổ chức đã thúc đẩy việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường cách mệnh” đã chuẩn bị những cơ sở tư tưởng và lý luận về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội chuẩn bị cơ sở về tổ chức. Cách mạng Việt Nam đến trước một bước ngoặt.


(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật. 11. 1981, tr. 187. 180, 181, 198, 200.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật. 11. 1981, tr. 207.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:46:31 am
*
*   *

Giữa năm 1927, tình hình Trung Quốc biến động lớn. Tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch gây vụ phản biến Quảng Châu, đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc, khủng bố các tổ chức cách mạng quốc tế tìm cách hãm hại Nguyễn Ái Quốc. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu phải rút vào bí mật.

Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Thượng Hải, Vla-đi-vô-xtốc, Mát-xcơ-va. Từ Mát-xcơ-va, Người sang Đức, bí mật đến Pháp, trở lại Đức qua Bỉ, Thụy Sĩ, đến I-ta-li-a, rồi từ I-ta-li-a đáp tàu biển của Nhật Bản đi tới Thái Lan vào năm 1928.

Trong thời gian ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã viết tập sách: “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” cho trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mát-xcơ-va. Sau đó cuốn sách được xuất bản lần đầu ở Đức năm 1928. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra luận điểm quan trọng: “Cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở những nước nông nghiệp, nếu giai cấp vô sản không được quần chúng nông dân tích cực ủng hộ”. Từ luận điểm đó, Nguyễn đi đến kết luận là giai cấp vô sản cần phải có chính sách để đưa phong trào nông dân thoát khỏi tình trạng biệt lập, rời rạc, không có cương lĩnh chung. Sau khi trình bày những vấn đề có tính lý luận, tác phẩm bàn về công tác quân sự của Đảng trong nông dân. Theo Người, “Một phong trào cách mạng quan trọng trong nông dân nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang chống lại chính quyền của bọn thống trị”, “phải hình thành các đội du kích nông dân”(1).

Tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc ra sức củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong đông đảo quần chúng Việt kiều. Người mở lớp huấn luyện cho hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Thái Lan. Người tổ chức Hội thân ái Việt Nam, ra báo Thân ái bằng tiếng Việt để tuyên truyền cách mạng cho Việt kiều và gửi về nước. Người tập hợp các nghĩa quân của Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám đang lẩn tránh tại Thái Lan, tổ chức để các chiến sĩ nghĩa quân cũ kể chuyện đánh Pháp. Người soạn “Bài ca Trần Hưng Đạo”, viết vở kịch “Đề Thám”, tổ chức diễn vở kịch ấy nhằm đề cao truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, khích lệ tinh thần yêu nước trong đông đảo Việt kiều.

Từ cơ sở gây dựng được tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc chắp nối liên lạc với Quốc tế cộng sản ở Mát-xcơ-va, với Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu và với phong trào cách mạng trong nước.

Cuối những năm 20, ở Việt Nam phong trào yêu nước và dân chủ mang tính tự phát lên đến đỉnh cao với các làn sóng để tang Phan Châu Trinh, đòi trả tự do cho Phan Bội Châu. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã gây dựng được cơ sở ở các tỉnh, số hội viên lên gần 3.000 người. Với cuộc vận động “vô sản hóa” đưa hội viên đi sâu vào quần chúng công nông tại các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã phát triển phong trào công nhân trong cả nước, làm cho phong trào ngày càng có tổ chức.

Cuối năm 1927, Việt Nam Quốc dân đảng thành lập. Những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng hết sức chú trọng tuyên truyền, tổ chức hạ sĩ quan và binh lính người Việt trong đội quân thuộc địa của thực dân Pháp, chuẩn bị bạo động. Từ Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc nhận xét Việt Nam Quốc dân đảng không có một cương lĩnh chính trị rõ rệt, không biết đến lực lượng của nhân dân lao động, công việc tuyên truyền và tổ chức chỉ hạn chế trong tầng lớp trung gian.

Đầu năm 1929, ngay giữa Hà Nội, một sinh viên Việt Nam bắn chết tên thực dân Pháp Ba-danh chuyên nghề mộ phu. Nguyễn Ái Quốc không tán thành khủng bố cá nhân. Người cho rằng: “Chính sách khủng bố là chính sách của những người thất vọng, của những người nản chí. Trái lại, trong khi làm việc để giải phóng Tổ quốc, để thay đổi một chế độ người ta phải có can đảm, luôn luôn có can đảm và hy vọng, luôn luôn hy vọng”(2). Người nhấn mạnh “chỉ có lực lượng của toàn dân mới có thể giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thống trị bạo ngược. Chứ cá nhân hành động thì dù cho những cá nhân ấy anh dũng thế nào cũng không đi đến kết quả”(3). Những nhận xét trên đây một lần nữa thể hiện quan điểm đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc về bạo lực cách mạng.

Cuối năm 1929, hai sự kiện quan trọng khiến Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan đến Hương Cảng, nơi cả mật thám Pháp, mật thám Anh và đặc vụ Tưởng Giới Thạch đều đang tìm bắt Người. Việc thứ nhất là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội phân liệt thành hai nhóm, lập thành hai đảng cộng sản riêng biệt ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Trong khi đó tổ chức Tân Việt ở Trung Kỳ cũng tự lập thành một đảng cộng sản. Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất Quốc tế cộng sản trao cho Nguyễn Ái Quốc trách nhiệm thực hiện sự thống nhất ấy.

Việc thứ hai là Việt Nam Quốc dân đảng đang chuẩn bị gấp cho một cuộc bạo động. Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Cuộc bạo động ấy quá sớm và khó thành công”(4). “Kế hoạch rất chủ quan, người ta trông mong vào lực lượng vũ khí còn ở trong tay kẻ thù”(5). Người muốn “bàn lại kế hoạch với anh em Quốc dân đảng”(6).

Nguyễn Ái Quốc vừa tới Hương cảng thì ở trong nước cuộc bạo động của Việt Nam Quốc dân đảng đã nổ ra và lập tức bị thực dân Pháp đàn áp. Các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng chỉ huy cuộc bạo động đều bị bắt và đưa lên máy chém. Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã. Vai trò của giai cấp tư sản trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam chấm dứt.

Nguyễn Ái Quốc đánh giá: “Việt Nam Quốc dân đảng thất bại nhưng anh dũng. Thực dân Pháp ăn mừng thắng lợi. Chúng tuyên bố: thế là cách mạng Việt Nam hết! Thực dân Pháp không còn lo sợ nữa. Nhưng người Việt Nam trả lời thầm: “Đợi đấy, chúng bay sẽ thấy”(7).


(1) Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Trường đại học DAXAO, Cộng hòa dân chủ Đức ăm 1990. Tư liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
(2), (3), (4), (5), (6) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 75, 76, 77-78.
(7) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 77-78.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:47:56 am
*
*   *

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập khai mạc tại bán đảo Cửu Long (Hương cảng). Đảng Cộng sản Việt Nam, bộ tham mưu cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời. Lịch sử Việt Nam bước vào thời đại cách mạng do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.

Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Chính cương vắn tắt nêu rõ mục tiêu chính trị của Đảng là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và giai cấp phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập ra chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng báo cho toàn thể công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và đồng bào bị áp bức rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Phân tích âm mưu quân sự của chủ nghĩa đế quốc và chỉ rõ nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới, Nguyễn Ái Quốc viết: “Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra chiến tranh thế giới 1914 - 1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới mà đội tiên phong là nước Nga Xô - viết và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà tổng hành dinh là Hội quốc liên... Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác”(1).

Phân tích âm mưu của đế quốc Pháp ở Đông Dương, Người chỉ rõ: “Hiện nay, để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên “của chúng” ở Đông Dương... Càng ngày chúng càng tăng cường quân đội: một là để giết hại cách mạng Việt Nam; hai là để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa; ba là để phá cách mạng Trung Quốc; bốn là để chống lại nước Nga Xô - viết, vì nước này đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị... Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết”(2).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 303 - 304.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:50:38 am
*
*   *

Tháng 10 năm 1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng, thông qua Luận cương chính trị, ra nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng.

Luận cương chính trị cho rằng, cách mạng Đông Dương trong giai đoạn trước mắt là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do giai cấp vô sản lãnh đạo. Cuộc cách mạng ấy bao gồm cả cách mạng dân chủ và cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là cách mạng thổ địa đánh đổ phong kiến, làm cho người cày có ruộng và cách mạng phản đế, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Sau khi cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới thắng lợi, nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã hoàn thành, thì với sự giúp dỡ của giai cấp vô sản đã nắm chính quyền ở các nước tiên tiến, các nước Đông Dương sẽ tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Về phương pháp cách mạng, Luận cương vạch rõ Đảng phải thường xuyên đưa quần chúng ra tranh đấu giành quyền lợi thiết thực hàng ngày, qua đó mà giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Khi có tình thế trực tiếp cách mạng thì Đảng phải ra những khẩu hiệu chuyển tiếp và nâng cao khẩu hiệu đấu tranh lên, như: lập Xô - viết, vũ trang cho công nông... Đồng thời, Đảng phải mở rộng tất cả các hình thức tranh đấu của quần chúng như: bãi công, biểu tình thị oai, tổng bãi công bạo động và Đảng phải lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính quyền của địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

Luận cương nhấn mạnh: “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng mà lại phải theo khuôn phép nhà binh... Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu, nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải để tổ chức những cuộc manh động hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt để suy động(1) quảng đại quần chúng ra thị oai, biểu tình, bãi công, v.v... để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này”(2).

Luận cương xác định thái độ của Đảng và của nhân dân ta là phản đối chiến tranh đế quốc, chuẩn bị lực lượng để khi chiến tranh đế quốc nổ ra thì biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Đảng phải mở rộng công tác phản đối tăng cường quân bị, một mặt phát triển tổ chức cách mạng trong quân đội đế quốc, mặt khác thành lập các đội tự vệ công nông, làm cho khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc thành sâu rộng trong quần chúng.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 cũng ra Nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp của Đảng, vạch rõ: “Mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động”(3). Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ trước mắt về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng quân sự: “Điều cốt yếu trong công tác hàng ngày của Đảng là phải thâu phục được quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi”(4). Phải ra sức vận động công nhân, nông dân, chỉnh đốn công hội, nông hội và “ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức Bộ quân sự của Đảng để: 1. Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện; 2. Giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ; 3. Vận động trong quân đội của bọn địch nhân”(5).

Như vậy, những quan điểm tư tưởng về chính trị, quân sự của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hình thành từ những năm 20 đến lúc này đã phát triển thành những nội dung chủ yếu trong cương lĩnh chính trị của Đảng.


(1) Suy động: huy động (BT).
(2) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trích Văn kiện Đảng, t.1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 47.
(3), (4), (5) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trích Văn kiện Đảng, t.1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 64, 61.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:53:16 am
*
*   *

Ngay khi mới thành lập, Đảng đã phát động cuộc đấu tranh cách mạng trong công nhân và nông dân, mà đỉnh cao là Xô - viết Nghệ - Tĩnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương, hàng chục vạn công nhân và nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp nổi dậy với khí thế mãnh liệt chưa từng thấy. Các cuộc nổi dậy này vượt khỏi phạm vi đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị thông thường. Quần chúng biểu tình phá huyện đường, phá nhà giam, vây đồn lính, trừng trị địa chủ cường hào, làm tan rã bộ máy thống trị của thực dân phong kiến trên nhiều vùng nông thôn. Chính quyền Xô - viết, một hình thức chính quyền cách mạng của công nông, được thành lập ở nhiều thôn xã.

Trong cao trào cách mạng này, do yêu cầu bảo vệ quần chúng các đội tự vệ công nông đã ra đời. Riêng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, đã có trên 3.000 người tham gia các đội tự vệ.

Đế quốc Pháp thi hành chính sách khủng bố trắng vô cùng tàn bạo. Do chưa có tình thế trực tiếp cách mạng, do so sánh lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, do sự đàn áp khủng bố của kẻ thù phong trào Xô - viết Nghệ. - Tĩnh đã lắng xuống và đến năm 1931 thì chấm dứt.

Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng, sản cuối năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ca ngợi tinh thần đấu tranh của quần chúng, nhưng cũng nêu lên những sai lầm, khuyết điểm trong phong trào cách mạng của nông dân và chỉ rõ: “Đường lối chung của cách mạng nông dân hiện nay nhằm: tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân; chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”(1). Lúc này “đánh vào giai cấp thống trị đánh vào địa chủ và tư sản tức là chúng ta phải kích động nông dân đấu tranh phản đối thu thuế, phản đối chế độ phát canh, phản đối những quy tắc luật lệ của tư sản... và phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng ruộng đất và khuyến khích tổ chức một đội tự vệ của nông dân”(2). Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc đấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập một đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia”(3). “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”(5). Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ, coi đó là điều sai lầm. Muốn các đội tự vệ hoạt động đúng, một mặt phải chống những định kiến: “tay không làm sao mà đấu tranh được” hoặc “không nên gây ra một cuộc chiến tranh nhỏ”; mặt khác phải làm cho quần chúng hiểu “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình”(5).

Trên đây là những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về tổ chức và hoạt động của lực lượng tự vệ trong thời kỳ chưa có tình thế trực tiếp cách mạng.

Từ năm 1932, phong trào cách mạng Việt Nam lắng xuống. Hầu hết những cán bộ từng trải của Đảng đều đã hy sinh hoặc bị cầm tù. Tháng 6 năm 1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị đế quốc Anh bắt giam tại Hương Cảng và sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc. Người sang Liên Xô (1934). Theo dõi tình hình Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến việc giáo dục lý luận và chính trị cho các cán bộ, đảng viên trẻ tuổi đang hoạt động trong nước. Tháng 1 năm 1935, Người gửi thư cho Bộ phương Đông của Quốc tế cộng sản, đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ ở Việt Nam và các nước thuộc địa châu Á tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có. Người đề nghị Bộ phương Đông cho xuất bản những cuốn sách nhỏ viết về nhiều vấn đề trong đó có vấn đề khởi nghĩa vũ trang.

Năm 1936, cách mạng ở Việt Nam bắt đầu hồi phục và lớn mạnh. Phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương dâng lên mạnh mẽ. Nếu như cao trào quần chúng và Xô viết Nghệ - Tĩnh những năm 1930 - 1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, thì cao trào Mặt trận dân chủ những năm 1936 - 1939 là cuộc tổng diễn tập thứ hai, chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 sau này.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 37-38.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 37-38.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 07:54:22 am
*
*   *

Những thập kỷ đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh dấu bằng những mốc son lịch sử:

1911, ra đi tìm đường cứu nước.

1920, trở thành người cộng sản.

1930, sáng lập đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam.

Thiết tha yêu nước, tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cống hiến quan trọng về tư tưởng và tổ chức, phát triển học thuyết Mác - Lênin về cách mạng thuộc địa, nêu cao tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đưa cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Người đã tổ chức ra liên minh các dân tộc bị áp bức và đấu tranh cho sự hình thành một mặt trận thống nhất giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản quốc tế cùng chống kẻ thù đế quốc.

Từ truyền thống quật cường của dân tộc, được tiếp thêm sức mạnh bởi lý luận về cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, những quan điểm quân sự đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành.

Tin tưởng vững chắc ở sức mạnh của quần chúng, coi công nông là gốc cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các dân tộc thuộc địa chỉ có thể thực hiện công cuộc giải phóng bằng nỗ lực của bản thân mình và trong sự nghiệp ấy các dân tộc thuộc địa phải liên kết chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế.

Vận dụng kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và nghiên cứu kinh nghiệm cách mạng các nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương pháp đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa là dùng bạo lực cách mạng của quần chúng chống lại bạo lực phản cách mạng, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị tiến lên khởi nghĩa vũ trang khi có tình thế cách mạng trực tiếp, lập ra chính phủ công nông binh, xây dựng quân đội công nông.

Nắm vững bản chất xâm lược và hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc ngay từ những năm 20 của thế kỷ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy trước những hành động gây chiến tranh của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới và ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, gợi ra cho giai cấp vô sản Đông Dương và giai cấp vô sản quốc tế những nhiệm vụ chống chiến tranh đế quốc.

Những quan điểm quân sự trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở của đường lối quân sự của Đảng ta sau này.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:05:43 pm
Chương II

XÂY DỰNG LÝ LUẬN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG Ở VIỆT NAM
(1938 -1945)

Thời kỳ ổn định tương đối, cục bộ và tạm thời của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ kéo dài được có 5 năm (1924-1929).

Một cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội bùng ra ở các nước tư bản đế quốc châu Âu và châu Mỹ từ 1929 đến 1933 với sức tàn phá chưa từng có. Khủng hoảng kinh tế đã làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn của thế giới tư bản: mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, mâu thuẫn giữa nhân dân các nước thuộc địa với các nước đế quốc, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau.

Trong khi đó, Liên bang Xô - viết đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất công nghiệp hóa đất nước.

Giai cấp tư sản tìm đường thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế bằng cách thiết lập chế độ phát xít đàn áp nhân dân lao động, chuẩn bị gây chiến tranh thế giới mới.

Chỉ hơn mười năm sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, loài người lại đứng trước bờ vực của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Một thời kỳ chiến tranh và cách mạng mới đã đến.

Trước tình hình thế giới, trong nước diễn ra sôi động, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị trở về Tổ quốc cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân bước vào cuộc chiến đấu quyết định giành độc lập tự do.

Những quan điểm tư tưởng của Người về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây lực lượng vũ trang nhân dân hình thành trong thời kỳ này là cơ sở tư tưởng và lý luận của đường lối quân sự của cách mạng Việt Nam góp phần quyết định đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

I. GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC,
CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

Ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích lũy; việc tranh giành thuộc địa ngày càng gay gắt, những cuộc xung đột chính trị ngày càng trở nên không thể tránh khỏi, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn sẽ bùng nổ. Những dự đoán ấy đã trở thành sự thật.

Năm 1932 Nhật Bản bất ngờ đem quân chiếm đóng miền Đông Bắc Trung Quốc, một lò lửa chiến tranh xuất hiện ở châu Á và Thái Bình Dương. Năm 1933, Đảng Quốc xã lên cầm quyền ở Đức, một lò lửa chiến tranh cực kỳ nguy hiểm xuất hiện ở trung tâm châu Âu. Năm 1935, phát xít Ý đánh chiếm Ê-ti-ô-pi-a. Năm 1936, phát xít Đức - Ý cùng phát xít Tây Ban Nha đánh đổ Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha. Lại thêm một lò lửa chiến tranh nữa xuất hiện ở Nam châu Âu. Năm 1937, Đức, Ý, Nhật ký hiệp ước liên minh quân sự. Phát xít Nhật, không tuyên chiến, đánh chiếm lục địa Trung Quốc. Năm 1938, phát xít Đức chiếm đóng Áo và Tiệp Khắc. Những lực lượng xâm lược chủ yếu ở châu Âu đã tập trung theo hướng tiến công vào Liên bang Xô - viết.

Loài người đến trước ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc đột ngột rời Liên Xô. Người tới Diên An, rồi đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông vượt qua lục địa Trung Hoa xuống đến Hoa Nam. Trong thời gian ở đây, Nguyễn Ái Quốc lấy bí đanh là Hồ Quang, cùng với đồng chí Diệp Kiếm Anh tham gia huấn luyện “lớp đào tạo cán bộ du kích Nam Nhạc”(1) khóa II từ ngày 20 tháng 6 năm 1939 ngày 20 tháng 9 năm 1939. Vừa hoạt động trong Tập đoàn quân thứ 18 Bát Lộ quân Trung Quốc, Người vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước.

Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản tháng 7 năm 1939, Nguyễn Ái Quốc viết: “... tôi đã rơi vào một cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người”(2). Gửi thư về nước, Người viết: “Ở đây chúng tôi bận đến mức là chúng tôi muốn được như đức Phật nghìn tay - hay ít ra cũng phải như thế thì tôi mới có đủ tay để làm hết mọi việc cần làm”(3).

Trong nửa đầu năm 1939, với bút đanh P.C.Line, Người viết những bài gửi về nước đăng trên báo “Tiếng nói của chúng ta” (Notre voix), tờ báo công khai của Đảng viết bằng tiếng Pháp xuất bản tại Hà Nội. Một sổ bài mang nội dung quân sự như: “Người Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào”, “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, “Những khó khăn của quân đội Nhật”, “Tổng kết sau hai năm đấu tranh”... Từ thực tế kháng chiến của nhân dân Trung Quốc trong hai năm đầu chiến tranh. Nguyễn Ái Quốc khái quát một số vấn đề chiến lược và những nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc kháng chiến của nhân dân một nước thuộc địa và phụ thuộc chống lại cuộc xâm lược của một cường quốc tư bản đế quốc.

Về quyết tâm kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ cơ bản của cơ quan lãnh đạo kháng chiến, Nguyễn Áì Quốc vạch rõ: trước họa xâm lăng, nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cò mặt trận dân tộc chống xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Sứ mạng lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là “đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân”(4). Sự đoàn kết nhất trí giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến với nhân dân là điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy. Muốn kháng chiến thắng lợi, nhân dân phải góp sức mạnh tinh thần và vật chất, tăng cường đoàn kết, tích cực đấu tranh và xây dựng đất nước. Phải đả phá chủ nghĩa thất bại và chủ nghĩa bi quan, triệt để chống lại mọi khuynh hướng thỏa hiệp, đầu hàng.

Về chiến lược kháng chiến, Nguyễn Ái Quốc viết: chiến lược “đánh mạnh thắng nhanh” cửa quân xâm lược đã bị thất bại trước chiến lược “kháng chiến lâu dài” của nhân dân. Còn chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” thì “giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa! Làm sao chúng có thể khai thác được một nước mà ở hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội... chặn lại?”(5). Đến lượt nó, chiến lược này cũng bị đập tan bởi sức mạnh đoàn kết của Mặt trận dân tộc thống nhất.

Nguyễn Ái Quốc nêu bật địa vị chiến lược của chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch. Người đánh giá việc quân Nhật kiểm soát một vùng rộng lớn là một tổn thất đối với nhân dân Trung Quốc, nhưng về phía phát xít Nhật thì đó cũng không phải là một thắng lợi. Người phân tích: trong số 1.038 huyện ở 12 tỉnh bị chiếm, chỉ có 65 huyện hoàn toàn bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhật, trên 900 huyện đang là căn cứ của du kích và hoàn toàn do nhân dân Trung Quốc làm chủ, còn ở những huyện khác, quân Nhật chỉ kiểm soát từng phần hoặc chiếm đóng những tỉnh lỵ, huyện lỵ và các con đường lớn, không dám mạo hiểm đi vào các làng mạc. Nguyễn Ái Quốc khái quát du kích đánh giặc chủ yếu bằng mưu mẹo và sự bất ngờ, chưa chắc thắng thì chưa đánh. Du kích tiến công khi kẻ địch bất ngờ nhất, kẻ địch đi tìm thì chúng không thấy du kích ở đâu cả. Du kích tổ chức ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị. Du kích bao gồm cả công nhân, nông dân, đàn ông, đàn bà, thậm chí cả trẻ em. Du kích thu hút cả những người ngoại quốc có tinh thần chống phát xít.

Đánh giá những chỗ yếu của phát xít Nhật, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: chiến tranh càng kéo dài, Nhật Bản càng gặp nhiều khó khăn. Trong nước tình hình càng tồi tệ: giá sinh hoạt và thuế má tăng nhanh, công nhân thất nghiệp, tiểu chủ phá sản, binh lính ra đi chỉ thấy chở về những bình nhỏ đựng đi hài hoặc những phiếu nhỏ ghi là “đã hy sinh ở chiến trường”. Thêm vào đó, nỗi đau khổ của cuộc trường chinh, cuộc tiến công dồn dập của du kích ảnh hưởng nặng nề khiến những kẻ tiêu cực thì mất tinh thần và những người giác ngộ thì nổi dậy. Lòng cuồng tín của quân xâm lược không còn nữa. Những vụ binh biến trong quân đội xâm lược bùng lên.

Về những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”(6). Người khẳng định rằng với toàn dân đánh giặc, ai có tiền góp tiền, ai có sức góp sức, mỗi người là một chiến sĩ anh dũng, với quyết tâm đánh đến cùng, cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc chống quân xâm lược Nhật Bản nhất định thắng lợi.

Với những bài báo viết từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời tổng kết và phổ biến về nước những vấn đề chiến lược, chiến thuật quân sự rút ra từ cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật. Những kinh nghiệm quân sự này làm giàu thêm vốn lý luận thực tiễn quân sự của Người.

Cùng với báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, các bài báo viết từ Trung Quốc đánh dấu bước phát triển tư tưởng quân sự cửa Nguyễn Ái Quốc, khi ở Việt Nam chưa có tình thế cách mạng trực tiếp.


(1) Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb Quân giải phóng, Bắc Kinh, 1990, Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 117. 70,
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 73, 105.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 107.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:11:06 pm
*
*   *

Ở trong nước, ngày 6 tháng 11 năm 1940, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) dưới sự chủ trì của Ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt.

Hội nghị nhận định: chính sách của đế quốc Pháp thỏa hiệp và mở đường cho phát xít Nhật vào Đông Dương đã gây cho nhân dân ta tai họa không kể xiết. Để chống lại, nhân dân ta đã dùng những hình thức cao của đấu tranh chính trị và bắt đầu đấu tranh vũ trang. Tuy những hình thức đấu tranh ấy chưa phổ biến và chưa quyết liệt, nhưng một cao trào cách mạng nhất định sẽ bùng lên. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập.

Ngay trong tháng 11 năm 1940, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng sang Trung Quốc xin chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 12 năm 1940, tại huyện lỵ Tĩnh Tây, sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo tình hình trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Quốc tế cộng sản quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đầu tháng 2 năm 1941, sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới Việt - Trung trở về Tổ quốc.

Cùng về nước với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban cán sự của Đảng ở nước ngoài, người đã được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại trường Đại học quân sự Hoàng Phố và tiếp đó tại Học viện quân sự Hồng quân công nông Diên An.

Ngày 10 tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 (mở rộng) của Trung ương Đảng khai mạc tại Khuổi Nậm (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng).

Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ, đại diện Xứ ủy Trung Kỳ, đại diện Ban cán sự của Đảng ở nước ngoài.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(1). “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc... Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Hội nghị quyết định tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động, chia lại ruộng công, rồi sau này sẽ tiến lên thực hiện đầy đủ chính sách người cày có ruộng. Hội nghị xác định cách mạng Đông Dương “kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”(3) và quyết định phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hành khởi nghĩa khi thời cơ đến. Nhấn mạnh tinh thần không ỷ lại vào những điều kiện bên ngoài, dựa vào lực lượng bản thân là chính, Hội nghị chủ trương mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc ở nông thôn và rừng núi, đồng thời chú trọng những đô thị, đồn điền, hầm mỏ, làm cho phong trào công nhân ngày càng mạnh và trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị ra nghị quyết thành lập những đội tự vệ cứu quốc và những tiểu tổ du kích cứu quốc làm lực lượng xung kích trong các cuộc khởi nghĩa ở địa phương và trong cuộc tổng khởi nghĩa, xây dựng vùng Bắc Sơn - Vũ Nhai và vùng Cao Bằng - Bắc Cạn thành những căn cứ trung tâm cho cuộc khởi nghĩa ở Việt Bắc.

Hội nghị tiếp nhận đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật ở Việt Nam lây tên là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), đồng thời phối hợp với nhân dân Lào, Campuchia thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh.

Hội nghị chỉ rõ: “... nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Hoa xoay ra hoàn toàn có lợi cho cuộc cách mạng Đông Dương, thì lúc đó với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tống khởi nghĩa to lớn”(4). Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp - Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tổ chức quân đội cách mạng của nhân dân và vũ trang toàn dân.

Hội nghị bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng bế mạc. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi: “Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng... Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kể vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(5).

Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ mới, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, bổ sung và phát triển lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử, có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng đánh dấu hước phát triển mới trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Những tư tưởng ấy đặt nền móng cho nền khoa học quân sự Việt Nam ở thời đại mới.


(1), (2), (3) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trích văn kiện Đảng, t.1. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 307, 321, 338.
(4) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trích văn kiện Đảng, t.1. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 340.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 148-149.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:12:54 pm
II. XÂY DỰNG LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

Để chuẩn bị khởi nghĩa Nguyễn Ái Quốc đã viết một số tài liệu về quân sự và sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tác phẩm “Con đường giải phóng”(1).

“Con đường giải phóng” xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp diễn ra ở Việt Nam là một cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc do toàn dân tiến hành, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu. Tác phẩm chỉ rõ: Để cho công cuộc giải phóng dân tộc giành thắng lợi, một mặt phải đánh đổ xu hướng sai lầm muốn lợi dụng Pháp đánh Nhật và xu hướng muốn lợi dụng Nhật đánh Pháp; mặt khác phải đánh đổ cả xu hướng muốn làm cách mạng ruộng đất ngay hoặc muốn làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, những xu hướng ấy lúc này chỉ làm cho lực lượng giải phóng dân tộc bị chia rẽ và suy yếu.

“Con đường giải phóng” đặt vấn đề tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật trong phạm vi từng nước Việt Nam. Lào, Campuchia, nhằm phát huy cao độ tính tích cực chủ động, lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của mỗi dân tộc, đồng thời gắn bó các dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương chống kẻ thù chung.

“Con đường giải phóng” đúc kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam từ khi thực dân Pháp đến xâm lược, chỉ ra nguyên nhân chưa thành công của các cuộc khởi nghĩa trước đây. Những nguyên nhân ấy là: không có tính chất quần chúng rộng rãi, không có một chính đảng rắn rỏi lãnh đạo, khi thì không có binh lính tham gia, khi lại chỉ có binh lính nổi dậy, không lập được một quân đội cách mạng mạnh mẽ, không biết áp dụng chiến thuật du kích, giành được chính quyền địa phương không lập tức thi hành chính sách cách mạng thực tế mang lại hạnh phúc cho nhân dân. “Nói chung các cuộc khởi nghĩa ấy chưa đủ điều kiện khách quan và chủ quan, chiến lược, chiến thuật chưa đúng”. Tác phẩm chỉ rõ: Đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”. “Vận nước” không phải là một điều huyền bí. “Vận nước” là lòng dân và tình thế trong nước, ngoài nước. Nay “vận nước” đang đến vì dân ta cực khổ dưới hai vòng xiềng xích ngày càng ngả về phe cách mạng, tình hình thế giới lại dần dần thuận lợi cho ta. Muốn chóng được độc lập, nhân dân phải mau mau đoàn kết làm cách mạng. Chưa thấy một dân tộc nào khoanh tay chờ chết mà hạnh phúc tự nhiên trên trời rơi xuống bao giờ.

“Con đường giải phóng” xác định: Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền. Đó là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại. Vận dụng lý luận về khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, tác phẩm nêu lên những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa giải, phóng dân tộc.

1. Lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước nữa.

2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân chúng đói khổ, căm tức tới cực điểm, quyết hy sinh nổi dậy tranh đấu với đế quốc đến cùng vì hiểu rằng ngồi yên cũng chết.

3. Có một chính đảng cách mạng lãnh đạo, chính đảng ấy lập được một đoàn thể cách mạng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy.

Tác phẩm kết luận: Hiện giờ những điều kiện khởi nghĩa của ta chưa được đầy đủ. Nhưng Nhật ngày càng thua lớn ở khắp các mặt trận, ở Đông Dương chúng lại hầm hè với Pháp, cả hai sẽ bối rối hoang mang và khi Nhật sắp thua thì chúng sẽ hất cẳng nhau. Còn dân chúng ta thì ngày càng cảm thấy nỗi nhục nhằn dưới ách Nhật - Pháp và sẽ ngả hẳn về phe cách mạng. Chỉ cần nỗ lực tuyên truyền cho rộng chính sách cứu quốc của Mặt trận Việt Minh và ra sức tổ chức nhiều dân chúng là có ba điều kiện mau đầy đủ. Như vậy tức là gắng sức sửa soạn khởi nghĩa.

“Con đường giải phóng” chỉ rõ: Ở các nước Âu, Mỹ cuộc khởi nghĩa vũ trang hay bắt đầu từ những cuộc bãi công chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc bạo động vũ trang. Nhưng ở Đông Dương khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài địa phương rồi lan dần ra khắp nước. Khởi nghĩa địa phương thường bùng ra ở những nơi nhiều rừng, nhiều núi tiện cho lối đánh du kích.

Tác phẩm đề ra những việc phải làm trước, trong và sau khởi nghĩa. Trước khi khởi nghĩa, phải thành lập những đội tuyên truyền tổ chức để kéo tất cả hội viên cách mạng và đông đảo dân chúng tham gia khởi nghĩa, phải lập những đội tự vệ làm “quân chủ lực” trong khởi nghĩa. Phải chuẩn bị một chính phủ cách mạng và những việc chính phủ ấy thực hiện ngay sau khi khởi nghĩa. Phải chia địa phương thành từng vùng để khi khởi nghĩa mọi người đều có việc của mình, phải có kế hoạch tiến công, định ra đội tiên phong, đội hậu bị, đội cứu thương. Phải điều tra những kho tàng và phương tiện giao thông liên lạc để chuẩn bị chiếm lấy hoặc phá hủy. Trong khi khởi nghĩa, “phải tiến công kiên quyết, do dự một chút là thất bại”. Muốn khởi nghĩa thắng lợi chỉ có một cách là tiến công, kiên quyết tiến công để tiêu diệt quân thù. Các hội viên cách mạng phải tuyệt đối theo mệnh lệnh, cơ quan chỉ huy phải hăng hái tranh đấu, cương quyết hy sinh đến cùng làm gương cho dân chúng. Phải hết sức đề phòng bọn trinh thám của đế quốc lẻn vào phá hoại vùng khởi nghĩa. Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, phải lập tức đem vũ khí chiếm được vũ trang cho quần chúng có tổ chức và phải cử người chắc chắn lãnh đạo họ. Đồng thời phải lập ngay chính phủ cách mạng của nhân dân. Chiếm được một vùng khá rộng thì lập chính phủ lâm thời của toàn quốc. Chính phủ lâm thời đó phải do đại biểu các đoàn thể yêu nước ở trong nước và ở nước ngoài họp lại bầu ra. Nhiệm vụ của chính phủ cách mạng là: thủ tiêu hẳn chính quyền cũ, diệt trừ các hạng phản động, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, lập quân đội cách mạng để tiếp tục chiến đấu và giữ gìn trật tự cách mạng.


(1) Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:17:00 pm
“Con đường giải phóng” xác định chiến thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang là chiến thuật du kích. Tác phẩm chỉ ra rằng: “du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi hay không một phần lớn là do du kích tổ chức có vững vàng hay không, phát triển có rộng rãi hay không”. “Về địa vị của căn cứ du kích trong chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa”, tác phẩm viết: “Khi du kích đã khá đông thì phải có “căn cứ địa” là một vùng khá rộng và hiểm trở, ở đó dân chúng được tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó làm chỗ đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng”. Tác phầm cũng đề ra những nguyên tắc chủ yếu của tác chiến du kích và những hình thức chiến đấu du kích.

“Con đường giải phóng” đánh dấu sự phát triển hoàn chỉnh lý luận của Nguyễn Ái Quốc về khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Tiếp theo “Con đường giải phóng” Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách “Các đánh du kích” gồm 13 chương, vạch ra những nguyên tác và phương pháp tác chiến của lực lượng vù trang trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền. Nguyễn Ái Quốc viết: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh”(1). Những điều kiện để đánh du kích thắng lợi là: “Có con đường chính trị đúng”; “dựa trên cơ sở quần chúng”; nên tổ chức vững chắc và nghiêm mật”; “có một lối đánh rất tài giỏi”2. Tổ chức du kích có thể từ tiểu tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội đến chi đội. Như vậy đánh du kích không phải là những hoạt động của cá nhân hay những nhóm nhỏ dựa vào những âm mưu manh động, mà là hoạt động của những tổ chức vũ trang cách mạng có kỷ luật chặt chẽ, dựa vào đường lối chính trị đúng đắn của đoàn thể cách mạng tiên phong và dựa vào cao trào cách mạng của quần chúng, tiến hành vào lúc có tình thế trực tiếp cách mạng; đó là một hình thức khởi nghĩa và tiến hành chiến tranh của nhân dân.

Trong “Cách đánh du kích”, Nguyễn Ái Quốc vạch những nguyên tắc tác chiến du kích là: “giữ quyền chủ động”; “hết sức nhanh chóng”; bao giờ cũng giữ thế công”; “có kế hoạch thích hợp và chu đáo” Người đề ra những thủ đoạn tác chiến du kích là: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; tránh những trận gay go, không sống chết giữ đất; “hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh”; đánh lúc quân địch đang vận động hoặc lúc quân địch mệt mỏi. Người xác định những hình thức tác du kích là: lừa gạt quân địch, trinh sát quân địch, làm cho quân địch khốn quẫn, làm cho quân địch đói khổ, ngăn cản quân địch, làm cho quân địch mù mịt hoảng hốt, dụ quân địch vào bẫy để đánh, tập kích, phục kích, truy kích quân địch...

Nguyễn Ái Quốc nêu cao tầm quan trọng của việc xây dựng các vùng căn cứ làm những nơi đứng chân xây dựng lực lượng của quân du kích. Đó là những nơi có địa thế hiểm yếu che chở có dân chúng cảm tình ủng hộ; việc xây dựng các vùng căn cứ du kích phải gắn liền với việc giành và củng cố chính quyền cách mạng ở địa phương. “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”. “Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”(2).

Nguyễn Ái Quốc chủ trương: “Du kích bao giờ cũng tiến công”(3). Cách tiến công của du kích là: đánh úp, đánh lén, đánh lúc quân thù không ngờ, không phòng. Người viết: “Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng, quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc(4). Nguyễn Ái Quốc vạch ra hai cách tiến công chính là tập kích và phục kích. Người cho rằng: “phục kích dễ thắng lợi hơn tập kích”(5). Người hướng dẫn cụ thể nội dung các bước trinh sát, vạch kế hoạch chuẩn bị chiến đấu, thực hành chiến đấu và các động tác sau khi phục kích hoặc tập kích. Người đặc biệt chú ý việc tập kích các thành lũy kiên cố bằng nội ứng hoặc bằng kỳ tập và việc phục kích quân viện của địch khi chúng đi ứng cứu những nơi bị tập kích hoặc phục kích. Các cách phục kích quân địch đi lẻ, quân địch đi tập trung, phục kích đoàn vận tải, xe cơ giới, kỵ binh, phục kích trên đường sắt, trên sông... và các việc tổ chức thông tin liên lạc, hành quân, trú quân, đánh đuổi quân địch tháo chạy... cũng đều được Người hướng dẫn cụ thể.

Nguyễn Ái Quốc coi phá hoại là một thủ đoạn trọng yếu trong cách đánh du kích. Phá hoại có thể ngăn cản được bộ đội cơ giới, kỵ binh và làm chậm bước tiên của bộ binh địch. Người hướng dẫn cụ thể các việc phá hoại, từ phá hoại đường dây thông tin của địch đến phá hoại cầu cống, đường ô tô, đường xe hỏa, phá thành quách đồn lũy... Người dạy: “Muốn phá hoại phải có dân chúng ủng hộ và giúp sức. Đồng thời dân phải làm vườn không nhà trống thì mới có hiệu quả nhiều. Quân giặc đến đâu, đường sá, cầu cống đều bị phá tiệt lại phải đói khát khốn khổ”(6).

Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi”(7). Nhưng Người cũng thừa nhận nhiều khi đội du kích phải chiến đấu phòng ngự vì tình thế bắt buộc, như lúc hoạt động trong vùng địch chiếm, lúc bất ngờ bị quân địch tập kích, lúc chiến đấu bảo vệ cho đội chủ lực rút ra khỏi khu vực tác chiến, hay lúc bảo vệ vùng căn cứ... “Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá”(8). Phải động viên nhân dân tham gia đánh giặc, phải dùng mọi cách ngăn cản quân địch tiến công, đồng thời phải đưa chủ lực quân du kích chuyển đi đánh vào những nơi địch yếu, đánh vào sườn, vào sau lưng địch.

Ngắn gọn, súc tích, rõ ràng như điều lệnh chiến đấu, tác phẩm “Cách đánh du kích” nêu bật tư tưởng quân sự của Nguyễn Ái Quốc về chiến tranh du kích trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng.

“Con đường giải phóng” và “Cách đánh du kích” có giá trị lý luận và thực tiễn lớn. Hai tác phẩm ấy là sự chuẩn bị về lý luận, tư tưởng và tổ chức cho việc tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật; H. 1983, tr. 167,168.
(2), (3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 209. 173, 165, 182.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 202, 193.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:20:03 pm
*
*   *

Trong thời kỳ nay, Nguyễn Ái Quốc còn nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu quân sự, tổng hợp kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh của nhiều nước.

Thâu tóm quan điểm nghệ thuật quân sự của nhà quân sự nổi tiếng thời Xuân Thu ở Trung Quốc là Tôn Vũ, Người viết cuốn sách nhỏ nhan đề “Phép dùng binh của Tôn Tử”. Khái quát phần quân sự trong bộ Khổng Minh Toàn tập, tóm tắt kinh nghiệm điều khiển chiến tranh của nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc ở Trung Quốc là Gia Cát Lượng, Người viết cuốn sách ngắn nhan đẽ “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của ông Khổng Minh”.

Hai tác phẩm này trình bày những quy tắc chỉ đạo chiến tranh, tu thân, tuyển tướng của nhà quân sự Trung Hoa cổ với những lời bình sắc bén của Nguyễn Ái Quốc.

Người lược dịch từ tiếng Nga cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản (bônsêvích) Liên Xô” xuất bản ở Mát-xcơ-va năm 1937, qua đó giới thiệu quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm ba cuộc cách mạng ở Nga: Cách mạng dân chủ tư sản năm 1905, Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai năm 1917 và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười năm 1917.

Trên cơ sở bản thảo của đồng chí Phùng Chí Kiên về chiến tranh du kích của nhân dân Trung Quốc chống quân Nhật Bản xâm lược, Nguyễn Ái Quốc viết lại thành cuốn sách ngắn nhan đề “Kinh nghiệm du kích Tàu”, giới thiệu một số trận đánh du kích tiêu biểu. Người còn biên soạn hai tác phẩm quân sự khác với nhan đề “Kinh nghiệm du kích Pháp”, “Kinh nghiệm du kích Nga” về sau cuốn “Kinh nghiệm du kích Pháp” được Người bổ sung và cho xuất bản lần đầu năm 1948.

Nguyễn Ái Quốc tóm tắt lịch sử Việt Nam thành bài diễn ca, nêu lên đặc điểm các phong trào đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Người lập một niên biểu ghi lại những niên đại quan trọng nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó có niên đại của 15 cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 sau Công nguyên) đến các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương (1940-1941). Niên đại quan trọng cuối cùng ghi trong niên biểu là: “1945: Việt Nam độc lập”(1). Chỉ 5 năm sau, lịch sử đã chứng minh dự đoán này hoàn toàn chính xác.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn bồi dưỡng và chỉ đạo các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn hai tác phẩm: “Chính trị viên trong quân đội” và “Công tác chính trị trong quân đội cách mạng”. Đây là những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam, về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân, bước đầu xác định một số nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung về chính trị. Các nguyên tắc ấy là:

Đội du kích là đội quân cách mạng thực hiện nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Nó là đội quân của nhân dân, là một bộ phận giác ngộ và dũng cảm đứng ra dùng khí giới tiêu diệt quân thù. Mỗi người trong đội du kích, từ chỉ huy đến đội viên đều phải nhận rõ nhiệm vụ cách mạng đánh đuổi đế quốc, phải giữ vững con đường chính trị, tự giác tuân theo kỷ luật cách mạng.

Người đứng ra tổ chức lãnh đạo các đội du kích là “Đoàn thể chúng ta” - tức Đảng Cộng sản Đông Dương. Đoàn thể phái vào các đội du kích những cán bộ đã trải qua sinh hoạt quân sự, đã có kinh nghiệm chiến đấu, hoặc đã được rèn luyện về quân sự.

Đoàn thể phải chú ý đào tạo cán bộ lãnh đạo và chỉ huy các đội du kích. Các đồng chí cán bộ ấy cũng phải “tự đào tạo lấy mình”. Nếu Đoàn thể chuyên tâm đào tạo cán bộ cho các đội du kích, làm cho đội ngũ cán bộ ấy đủ đông và vững, thì các đội du kích sẽ “theo con đường đúng mà tiến tới”. Nếu Đoàn thể không chú ý điều đó, không biết đào tạo hay đào tạo không đúng những cán bộ cốt cán của các đội du kích, thì “ảnh hưởng về sau rất tai hại”.

Công tác chính trị có mục đích giữ vững “đội du kích là tổ chức quân sự của Đoàn thể”. Nó có nhiệm vụ làm cho toàn thể cán bộ và đội viên của đội du kích hiểu rõ con đường cách mạng cứu nước, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho cán bộ và đội viên, khiến mọi người có phẩm chất đạo đức cách mạng, “tận tâm tận lực, vui lòng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng”.

Đối với nội bộ, nhiệm vụ của công tác chính trị là “đúc bền và nâng cao sức chiến đấu” của đội du kích, bằng cách làm cho toàn đội hiểu rõ con đường cách mạng, dùng giáo dục chính trị giúp cho việc nâng cao trình độ quân sự của toàn đội, rèn luyện cho đội du kích có kỷ luật quân sự tự giác.

Đối với nhân dân, nhiệm vụ của công tác chính trị là “thực hiện quân dân nhất trí”, một mặt đảm bảo đội du kích luôn luôn là “đội quân của nhân dân, ở trong nhân dân, bênh vực quyền lợi cho dân, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu”; mặt khác “hô hào, giáo dục nhân dân cùng đánh đuổi đế quốc”. Tại các vùng chưa có cơ sở quần chúng, “công tác tuyên truyền, tổ chức và huấn luyện quần chúng bước đầu do đội du kích đảm nhiệm”.

Đối với quân đội địch, nhiệm vụ của công tác chính trị là “lôi kéo sĩ quan và binh lính địch, nhất là binh lính người Việt, dùng chính trị làm tan rã hàng ngũ địch”.

Vai trò của công tác chính trị rất quan trọng. “Không có công tác chính trị đúng, các đội du kích dễ mất tính chất cách mạng, dễ đi vào sai lầm có hại cho cách mạng”.

“Chính trị viên là linh hồn của đội du kích”. Chính trị viên phải đi đúng đường lối chính trị của Đoàn thể, phải có nhận thức cách mạng vững vàng, có trình độ giác ngộ cách mạng sâu sắc, có lý luận cách mạng, có năng lực tự động công tác khi đội du kích hoạt động độc lập. Năng lực lãnh đạo của chính trị viên phải gồm đủ mọi mặt: quân sự và chính trị, tuyên truyền, tổ chức và xếp đặt kế hoạch hoạt động của đội du kích, chẳng những giải quyết được kịp thời các việc cấp bách mà giải quyết được đúng đắn cả các việc sinh hoạt tinh thần, vật chất hằng ngày của đội du kích. Chính trị viên phải “nhúng tay vào tất cả mọi việc để dìu dắt người khác”.

Đây chính là những nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam Với những nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị được vạch ra rất sớm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị nền tảng tư tưởng và tổ chức cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đúng đắn ngay từ đầu, làm cho lực lượng ấy thực sự là của Đảng, của nhân dân.

Trong một thời gian ngắn, với cường độ làm việc rất lớn lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu tập hợp kinh nghiệm quân sự của nhiều nước và của dân tộc Việt Nam, phổ biến trong cán bộ và nhân dân những kiến thức quân sự cần thiết cho cuộc đấu tranh sắp diễn ra. Đây là những trước tác quân sự có ý nghĩa quan trọng làm tiền đề tư tưởng, lý luận cho những thắng lợi quân sự sau này của cách mạng Việt Nam.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 224.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:22:23 pm
*
*   *

Từ khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở và làm việc tại hang Cốc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng).

Khi còn ở nước ngoài, Người đã nhìn thấy tầm quan trọng của vùng căn cứ Cao Bằng. Đây là nơi có tổ chức đảng từ năm 1930, có điều kiện liên lạc quốc tế, nếu nối được với Thái Nguyên và thông được xuống phía nam tiếp xúc với toàn quốc, thì khi phát động khởi nghĩa vũ trang, thuận lợi có thể tiến, khó khăn có thể giữ.

Ở Cao Bằng, Người trực tiếp chỉ đạo đảng bộ địa phương xây dựng vùng Cao Bằng thành căn cứ địa cách mạng. Các hội cứu quốc phát triển nhanh. Đến cuối năm 1941, nhiều xã và một vài tổng ở các huyện Hà Quảng, Hòa An đã trở thành những xã “hoàn toàn” và tổng “hoàn toàn”. Tại các nơi này, hầu hết nhân dân vào hội cứu quốc nhưng vẫn làm ăn sinh sống hợp pháp. Nhiều tổng lý kỳ hào, lính dõng làm việc với quan lại và thực dân Pháp theo sự chỉ đạo của ban Việt Minh xã. Những tên gian ác bị bao vây, giám sát.

Các địa phương có hội cứu quốc đều tuyển lựa những người hăng hái lập thành đội tự vệ cứu quốc làm nhiệm vụ báo vệ quần chúng, bao vây các phần tử phản động. Mỗi xã lại chọn một số đội viên tự vệ cứu quốc lập thành đội tự vệ chiến đấu của xã. Tự vệ chiến đấu là lực lượng cơ động, làm nòng cốt trong việc canh gác bảo vệ cán bộ, bảo vệ các hội nghị, các lớp huấn luyện mở tại xã, giữ vững giao thông liên lạc với cấp trên, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ quân sự khác khi có lệnh. Sau khi được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho phép, các ban Việt Minh xã hô hào cán bộ và quần chúng mua súng để giữ nhà, giữ mình, khi cần đoàn thể có thể huy động. Phong trào mua sắm vũ khí lan rộng.

Tháng 11 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đội vũ trang Cao Bằng gồm một số cán bộ và đội viên, tự vệ chiến đấu tuyển chọn trong các xã thuộc tổng Lục Khu, huyện Hà Quảng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo, giữ vững giao thông liên lạc, giáo dục quần chúng, huấn luyện quân sự cho tự vệ chiến đấu. Người trực tiếp duyệt chương trình giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự của Đội. Người chỉ thị Đội vũ trang huấn luyện trong một tuần lễ rồi đi hoạt động ngay. Người dạy: phải hết sức giữ bí mật, ở đâu địch không biết, đến đâu địch không hay. Dựa vào rừng núi là cần, chủ yếu là dựa vào “nhân sơn nhân hải”. Đi hoạt động ngay chính là để tạo ra cái núi người biển người ấy. Người tự tay thảo “Mười điều kỷ luật” và những vấn đề nguyên tắc xây dựng Đội vũ trang về chính trị.

Sau một năm xây dựng cơ sở dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ “lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa” trải qua bước ban đầu là bước gian nan”, đến cuối năm 1941, ở Cao Bằng “cách mạng đã vững chân” và có đà “ồ ạt lan tràn khắp xứ”(1).

Mặc dủ thực dân Pháp mở nhiều cuộc đàn áp bắt bớ, có quần chúng bị bắt và có cán bộ hy sinh, nhưng nhờ cán bộ dũng cảm bám sát cơ sở, nhờ nhân dân địa phương một lòng bảo vệ cách mạng, phong trào được giữ vững. Đến giữa năm 1942, các châu huyện ở Cao Bàng đều có tổ chức Việt Minh, nhiều nơi có phong trào mạnh mẽ, trở thành những châu “hoàn toàn”, huyện “hoàn toàn”(2). Hệ thống tổ chức của Mặt trận Việt Minh thông suốt từ xã này sang xã khác, từ các châu, huyện lên đến tỉnh. Nhiều hội viên trung kiên được kết nạp vào Đảng. Phần lớn các xã có phong trào đã thành lập được chi bộ đảng. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng được thành lập.

Theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội vũ trang Cao Bằng hoạt động một thời gian rồi được giải thể, đưa cán bộ và đội viên về lập các đội du kích xã.

Cùng với sự phát triển của phong trào chính trị, phong trào học tập quân sự và tổ chức tự vệ lên mạnh. Hầu hết thanh niên nam nữ trong các xã “hoàn toàn” đều tham gia tự vệ và tự vệ chiến đấu. Mỗi xã có một hoặc hai đội tự vệ chiến đấu được tổ chức và huấn luyện quân sự khá chặt chẽ.

Một thứ chính quyền hai mặt và một tình thế hai chính quyền song song tồn tại xuất hiện tại các châu, huyện Cao Bằng. Đây là một hiện tượng mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hết sức chú trọng xây dựng đường liên lạc với Trung ương Đảng ở miền xuôi và cả nước. Sau Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, Người thấu cách liên lạc bằng giao thông bí mật không đáp ứng diễn biến của tình hình. Người chỉ rõ: “Liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”(3). Theo chỉ thị của Người, liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng tổ chức nhiều đội xung phong Nam tiến làm nhiệm vụ gây cơ sở quần chúng, đánh thông đường hên lạc từ Cao Bằng xuống Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, từ đó liên lạc với Trung ương Đảng ở Hà Nội. Người phân tích: có như thế mới tranh thủ được thời cơ khi cách mạng tiến lên tổng khỏi nghĩa. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức đội xung phong Nam tiến mở đường liên lạc từ Nguyên Bình (Cao Bằng) qua Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Cạn) đến Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 232-233.
(2) Châu “hoàn toàn”, huyện “hoàn toàn” là châu hoặc huyện đã có tổ chức và phong trào cách mạng rộng khắp từ xã trở lên (BT).
(3) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 88.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 08:27:09 pm
Dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cách mạng Việt Nam đã có căn cứ địa vững chắc tại Cao Bằng, dựa vào rừng người và rừng cây, phát triển cơ sở sang các tỉnh khác trên vùng rừng núi và nông thôn Việt Bắc.

Tháng 7 năm 1942, với tên Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc tập hợp thêm lực lượng, tranh thủ viện trợ quốc tế chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới ở Việt Nam.

Vừa ra khỏi biên giới, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Quốc dân đảng Trung Hoa bắt giữ tại phố Túc Vinh, huyện lỵ Tĩnh Tây (Quảng Tây). Cách mạng Việt Nam gặp biến cố lớn. Trong hơn 370 ngày, bị giải đi qua gần 30 nhà tù, dầm mưa dãi nắng, “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang vòng xích”, “ngày mang gông, đêm cùm chân”(1), Người phải chịu đựng biết bao gian khổ, nhưng tâm trí Người ngày đêm hướng về Tổ quốc, về đồng chí, đồng bào. Nỗi khổ tâm nhất của Người là không được hoạt động trong khi thời cuộc diễn biến nhanh chóng, phong trào cách mạng Việt Nam sôi động trong cả nước.

Trong thời gian bị giam cầm, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” (Ngục trung nhật ký) bằng chữ Hán. Đây là một tác phẩm tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam.

Trong bốn bức tường nhà giam, lãnh tụ Hồ Chí Minh suy nghĩ về đấu tranh vũ trang. Người thể hiện tư duy nghệ thuật quân sự sâu sắc qua bài thơ nổi tiếng “Học đánh cờ”:

Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.

Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.

Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.


Bài thơ nêu rõ tư tưởng chiến lược tiến công, nghệ thuật tạo lực, tạo thời, đánh giặc bằng mưu, bằng thế, giành thắng lợi trong chiến tranh.

Đầu năm 1943, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị đưa đến Liễu Châu, nơi có tổng hành dinh của Trương Phát Khuê, một viên tướng Quốc dân đảng Trung Hoa khét tiếng chống cộng đang trực tiếp chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt”.

Trong cuốn sổ tay của Người, tiếp sau hơn một trăm bài thơ viết trong tù, những trang cuối là bản ghi chép viết bằng chữ Hán dưới nhan đề: “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”.

Đây là những ý kiến ghi chép của Hồ Chí Minh qua đọc một số tài liệu quân sự Trung Quốc đương thời, gồm các vấn đề xây dựng quân đội chính quy về tổ chức biên chế, chỉ huy, kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị tư tưởng, chuẩn bị hậu phương chiến tranh...

Bản ghi chép chỉ rõ quân đội chính quy tổ chức từ “tiểu đội đến sư đoàn, quân đoàn”. Quân đội ấy phải có “kỷ luật nghiêm minh”, được chuẩn bị về “lương thực, vũ khí, thông tin liên lạc và thể lực”. Quân đội ấy phải có “động tác nhanh chóng; mệnh lệnh đơn giản, rõ ràng, thiết thực; hành động nhất trí, chính xác; sinh hoạt chỉnh tề, sạch sẽ, giản dị; thời chiến bình tĩnh như thời bình, thời bình khẩn trương và chịu đựng gian khổ như thời chiến”. Quân đội ấy phải được xây dựng toàn diện, “có phẩm chất trong sạch đáng kính, có khả năng cơ động tích cực và bí mật, nội bộ thân ái đoàn kết, cán bộ trung thực, thi đua hỗ trợ nhau, cùng nhau phê bình, thảo luận, nghiên cứu”. Trong quân đội ấy, “người chỉ huy phải đích thân làm đến cùng mọi việc, phải khắc phục các thiếu sót trong công việc, phải: đầu nghĩ, miệng nói, mắt nhìn, tay sờ, chân đến một cách thực sự thực tế”, mọi người “không sợ khó sợ khổ, làm hết nghĩa vụ, càng vất vả càng hăng hái, gian khổ không lùi”. Quân đội ấy có hậu phương chiến tranh ở đó “một người làm việc của hai người, một ngày làm công của hai người, một vật dùng bằng hai vật”. Quân đội ấy “liên hiệp sự đồng tình lâu dài của thế giới với quốc gia dân tộc, đấu tranh cho hòa bình và chính nghĩa chung trên thế giới”(2). Những hiểu biết cơ bản ấy giúp ích cho việc tổ chức và xây dựng quân đội ta sau này.

Tháng 9 năm 1943, chính quyền Tưởng Giới Thạch buộc phải trả lại tự do cho Hồ Chí Minh.

Mùa thu năm 1944. Hồ Chí Minh trở về vùng căn cứ Cao - Bắc - Lạng giữa lúc cách mạng Việt Nam tiên lên cao trào khỏi nghĩa cùng Trung ương Đảng chỉ đạo giải quyết những vấn đề chính trị, quân sự cấp bách của cách mạng Việt Nam.


(1) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 95-96.
(2) Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 4-1983.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 09:26:49 pm
III. KHỞI NGHĨA TỪNG PHẦN, TIẾN LÊN TỔNG KHỞI NGHĨA

Từ sau Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, ở miền xuôi Đảng tăng cường hoạt động mở rộng Mặt trận Việt Minh. Uy tín Mặt trận ngày càng lớn. Ảnh hưởng cách mạng ngày càng tăng. Phong trào cứu quốc phát triển trong cả nước.

Đầu năm 1943, tình hình thế giới có những biến chuyển quan trọng. Hồng quân Liên Xô thắng lớn ở Xta-lin-grát, chuyển sang phản công chiến lược trên khắp các mặt trận. Thắng lợi đó cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Việt Nam. Tháng 2 năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở ngoại thành Hà Nội ra nghị quyết phát triển Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa.

Giữa năm 1944, tình hình chuyển biến nhanh. Việc bọn phát xít bị tiêu diệt chỉ còn là vấn đề thời gian. Ngày 7 tháng 5 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 8 năm 1944, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Không khí cách mạng sôi sục, lan rộng khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam.

Ở đồng bằng, các đảng bộ tích cực củng cố những đội tự vệ sẵn có, tổ chức thêm nhiều đội mới, mua sắm vũ khí, cử người lên chiến khu học quân sự, thành lập những khu du kích, chuẩn bị khởi nghĩa từng phần ở các địa phương, ở Cao Bằng và Bắc Sơn -Vũ Nhai, không khí chuẩn bị khởi nghĩa càng sôi nổi.

Cuối năm 1944, đế quốc Pháp mở cuộc càn quét lớn vào Vũ Nhai, chuẩn bị càn quét vùng căn cứ Cao Bằng. Quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng căm phẫn đòi nổi dậy.

Tại Vũ Nhai, tháng 10 năm 1944, ban lãnh đạo của Đảng ở địa phương đã phát động quần chúng khởi nghĩa và tiến hành chiến tranh du kích. Đội du kích Bắc Sơn (từ năm 1941 đổi tên thành Cứu quốc quân) lúc này phát triển mạnh, đánh địch ở nhiều nơi. Nhân dân làm vườn không nhà trống, rút lên các vùng núi cao với quân du kích. Được tin cuộc khởi nghĩa Vũ Nhai nổ ra, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã đánh giá những ưu điểm, phê phán những khuyết điểm, sai lầm, rút ra những bài học bổ ích, chỉ thị cho Đảng bộ Bắc Sơn - Vũ Nhai phải lập tức đình chỉ khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích, dùng những hình thức đấu tranh thông thường của quần chúng mà chống địch khủng, bố, đưa lực lượng du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai sang vùng Yên Thế (Bắc Giang) củng cố, chờ đón thời cơ.

Mùa đông năm 1944, ở Cao Bằng, nhân dân đã sẵn sàng khởi nghĩa vũ trang. Tiếng súng diệt ác trừ gian đã nổ ở một số nơi. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chuẩn bị họp lần cuối để quyết định ngày giờ phát động chiến tranh du kích:

Giữa lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh về đến vung căn cứ Cao Bằng. Sau khi kiểm tra tình hình, Người chỉ thị cho liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng hoãn cuộc khởi nghĩa. Chủ trương sáng suốt này đã tránh cho phong trào, ở Cao - Bắc - Lạng khỏi bị tổn thất, giữ gìn và phát triển lực lượng cho tổng khởi nghĩa.

Người chỉ ra rằng: “Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương, mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Các địa phương khác trong toàn quốc tuy phong trào cách mạng đang lên cao nhưng hiện nay chưa nơi nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng”. Người kết luận: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động khởi nghĩa vũ trang ngay thì quân thù sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cư cả vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không bị địch bắt, hại những người hoạt động”(1).

Sớm thấy rõ vai trò chiến lược của bộ đội chủ lực, Người chủ trương lập đội quân giải phóng, vạch ra những nét chính về Đội Việt Nam giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược. Người duyệt danh sách các cán bộ và đội viên được chọn lọc từ các đội tự vệ chiến đấu và các đội du kích địa phương lên thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên hoạt động trên một địa bàn rộng, dùng hành động vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng trong quần chúng, phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang. Người nhắc nhở: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo”(2).

Tháng 10 năm 1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, đề nghị triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội để thành lập chính quyền cách mạng Trung ương. Với tầm nhìn chiến lược, Người thấy thời cơ tổng khởi nghĩa đang tới gần: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”(3).

Tháng 12 năm 1044, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Chỉ thị viết:

“1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phái duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4).


(1), (2) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 129-130.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 376.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 377-378.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 09:31:13 pm
“Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” là văn kiện lịch sử mang tính chất một cương lĩnh quân sự, gồm các vấn đề khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân và vũ trang toàn dân, xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và tự vệ du kích. Chỉ thị ấy vạch rõ phương thức hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng là kết hợp quân sự với chính trị, hình thức hoạt động thích hợp với yêu cầu của thời kỳ quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang là vũ trang tuyên truyền và chiến thuật của lực lượng vũ trang tập trung lúc này là chiến thuật du kích. Chỉ thị đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa ở Việt Nam.

Được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy ngày 22 tháng 12 năm 1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, thảo ra “Mười lời thề danh dự”, vạch kế hoạch hoạt động của Đội.

Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã hạ đồn Phai Khắt và hôm sau, tiêu diệt đồn Nà Ngần, bắt sống toàn bộ binh lính địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Bằng công tác vũ trang tuyên truyền, trong vòng vài tháng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mở rộng khu vực có cơ sở cách mạng từ vùng rừng núi huyện Hòa An (sát tỉnh lỵ Cao Bằng) đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Bioóc. Các khu vực này trở thành những “căn cứ hoàn toàn”, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía nam. Lực lượng của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cũng từ trung đội đầu tiên khi mới thành lập, phát triển lên thành nhiều đại đội.

Những chủ trương của lãnh tụ Hồ Chí Minh về phương thức đấu tranh và tổ chức lực lượng vũ trang lúc này đã được thực tiễn, lịch sử chứng minh là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo.

Đúng như dự đoán của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đánh đổ thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật trên toàn cõi Đông Dương.

Ngay trong đêm 9 tháng 3 năm 1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Ngày hôm sau, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trung ương Đảng quyết định thay đổi khẩu hiệu và hình thức đấu tranh trong cả nước, chuyển sang những hình thức tuyên truyền, tổ chức mới thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân phá các kho thóc của đế quốc phát xít để cứu đói, động viên đông đảo nhân dân xuống đường biểu tình. Trung ương Đảng chủ trương phát động chiến tranh du kích, đẩy mạnh phong trào chống Nhật, cứu nước, sẵn sàng chuyển lên tổng khởi nghĩa khi có điều kiện.

Cao trào chống Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Mặt trận Việt Minh có thêm hàng triệu hội viên. Đội quân chính trị ở thành thị và nông thôn phát triển nhanh chóng. Lực lượng vũ trang cách mạng mở rộng các vùng căn cứ. Khỏi nghĩa từng phần bùng nổ ở nhiều địa phương. Hoạt động du kích xuất hiện ở nhiều nơi.

Tại Việt Bắc, nhân dân làm chủ nhiều châu, huyện.

Tại trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, nhân dân nổi dậy phá kho thóc cứu đói, trừng trị phản động, phát triển tự vệ du kích, lập các chiến khu.

Tại Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ, tù chính trị ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột phá ngục về địa phương lãnh đạo phong trào. Khởi nghĩa Ba Tơ bùng nổ, đội du kích Ba Tơ ra đời. Tại Nam Bộ, các đội tự vệ, đội xung phong phát triển nhanh chóng ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc... Tinh thần Nam Kỳ khởi nghĩa bừng trở lại.

Tháng 4 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất chỉ huy các chiến khu, tổ chức tự vệ và tự vệ chiến đấu ở khắp nơi, thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân, thành lập Ủy ban quân sự cách mạng để chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương, đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa.

Tháng 5 năm 1945; lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Sơn Dương (Tuyên Quang). Theo chỉ thị của Người, Ủy ban nhân dân Khu giải phóng Cao Bắc Lạng - Thái Hà Tuyên được thành lập. Xã Tân Trào, nơi ở và làm việc của Người trở thành thủ dô của Khu giải phóng. “Việt Bắc trở thành một thứ “đất thánh” của cuộc cách mạng dân tộc”(1). Tại đây, “những bước đi đầu tiên của nền dân chủ mới đã được áp dụng”(2).

Ngay trong tháng 5, phát xít Nhật mở nhiều cuộc tiến công vào các vùng căn cứ nhằm tiêu diệt giải phóng quân và cơ quan đầu não cách mạng.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: quân địch không thể vào được khu căn cứ nếu ta, quyết tâm và biết cách tổ chức chiến đấu chặn chúng lại ở các chiến khu, giải phóng quân, du kích, tự vệ kiên quyết đánh địch, bảo vệ vùng căn cứ. Từ Việt Bắc đến Ninh Bình, Quảng Yên, Yên Bái, Quảng Ngãi, các toán quân Nhật tiến vào các vùng căn cứ đều bị chặn đánh và buộc phải rút lui.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 351.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Năm, 2020, 09:33:58 pm
Những điều kiện bảo đảm thắng lợi của tổng khởi nghĩa mà lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ ra trong tác phẩm “Con đường giải phóng” đã trở thành hiện thực. Tại Tân Trào, Người khẩn trương chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội. Mặc dù đang ốm nặng, Người vẫn làm việc, viết nhiều chỉ thị và thư hỏa tốc, phái giao thông đặc biệt đi các hướng để triệu tập các đại biểu nhanh chóng về họp. Người nhấn mạnh: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(1).

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng không điều kiện.

Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và từ ngày 9 tháng 8 mở cuộc tiến công vào quân Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng giờ.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đại diện cho 5.000 đảng viên trong cả nước khai mạc tại Tân Trào dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hội nghị quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa trong cả nước và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13 tháng 8, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, tuyên bố: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh”.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám bắt đầu.

Sáng 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc tại Tân Trào dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa. Đại hội quy định Quốc kỳ, Quốc ca, thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Cũng trong ngày 16 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”.

“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”(2).

Bão táp cách mạng cuồn cuộn nổi dậy.

Dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, khắp cả nước từ thành thị đến nông thôn, hàng chục triệu quần chúng nhất tề vùng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn thân Nhật, đập tan xiềng xích nô lệ. Với lực lượng chính trị mạnh mẽ của nhân dân, có lực lượng vũ trang và nửa vũ trang trợ lực, lại biết vận dụng sách lược đấu tranh thích hợp với quân đội Nhật đang hoang mang bối rối, tổng khởi nghĩa nhanh chóng thắng lợi từ Bắc chí Nam.

“Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách, mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(3).

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Nhân dân tưng bừng phấn khởi mừng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”. Người nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”(4). Nhân danh Chính phủ lâm thời, Người tuyên bố với toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(5).

Với thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân dân Việt Nam sau hàng ngàn năm nô lệ đã bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do.

*
*   *

Quá trình chuẩn bị tiến hành Cách mạng tháng Tám cũng là quá trình hình thành, hoàn chỉnh tư tưởng và lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở thời đại mới.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về vùng biên giới Trung - Việt trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Người có ảnh hưởng quyết định đối với việc hoàn thành sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc phát xít, xây dựng căn cứ địa cách mạng, thành lập lực lượng vũ trang cách mạng. Người xác định hình thức hoạt động của lực lượng vũ trang trong bước quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang, chỉ đạo tiến hành khởi nghĩa từng phần, nắm thời cơ thuận lợi cùng Trung ương Đảng phát động Tổng khỏi nghĩa trong cả nước.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám chứng minh sự sáng tạo đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc.

Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là cơ sở để xây dựng nên đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng trong chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc. Các trước tác quân sự của Người, tiêu biểu là “Con đường giải phóng”, “Cách đánh du kích”, “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” đã giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đặt những viên đá tảng xây dựng nền khoa học quân sự Việt Nam hiện đại. “Tuyên ngôn độc lập” của Người nói lên ý chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc.

Toàn dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền, toàn dân đem tất cả tinh thần và lực lượng để giữ vững độc lập, tự do. Tư tưởng quân sự ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành, hoàn chỉnh và trở thành hiện thực trong giai đoạn lịch sử này.


(1) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 203.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 380.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 18.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 3, 4.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:05:44 am
Chương III
PHÁT TRIỂN HOÀN CHỈNH TƯ TƯỞNG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN,
ĐƯA KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐẾN THẮNG LỢI (1945- 1954)

Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xám lược và bọn can thiệp Mỹ từ 1945 đến 1954 là “dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao”(1) và là sự thử thách đối với chế độ dân chủ cộng hòa Việt Nam ra đời trong Cách mạng tháng Tám.

Là lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ trong suốt chín năm kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang. Mỗi giai đoạn kháng chiến là một bước phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, đồng thời là một bước phát triển đường lối quân sự của Đảng ta.

I. KIÊN QUYẾT BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN VÀ CHỦ QUYỀN
DÂN TỘC, TRANH THỦ THỜI GIAN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CĂN BẢN

“Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm”(1).

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đế quốc Anh, Pháp. Mỹ và Trung Hoa dân quốc xúm lại quyết đè bẹp nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trẻ tuổi đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo.

Trong tình hình gay go và cấp bách ấy, chính quyền cách mạng gặp muôn vàn khó khăn: bộ máy nhà nước mỏng manh, quân đội còn thơ ấu, tài chính kiệt quệ. Nạn đói khủng khiếp do đế quốc Pháp và phát xít Nhật gây ra đầu năm 1945 vẫn còn đe dọa.

Đây là thời kỳ nguy kịch nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vận mệnh Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trước mưu đồ hiểm độc của lực lượng “Đồng minh” đang ồ ạt vào nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thiên tài của Người trên tất cả các mặt hoạt động: chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao, cùng Trung ương Đảng lái con thuyền cách mạng Việt Nam qua những thác ghềnh nguy hiểm.

Tại cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và các cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng lúc này; Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên những nhiệm vụ cấp bách: phát động tăng gia sản xuất chống nạn đói; mở phong trào chống nạn mù chữ diệt giặc dốt; xây dựng chính quyền nhân dân, tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội; vũ trang toàn dân và xây dựng quân đội của nhân dân; động viên tổ chức nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất; đặt luật lao động, thực hiện giảm tô, giảm tức, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; xây dựng văn hóa mới; tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết. Những nhiệm vụ ấy đều nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết của toàn dân, phát triển thực lực cách mạng để đối phó với thù trong giặc ngoài.

Ngày 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(3).

Người thảo chỉ thị “Kháng chiến và kiến quốc” vạch nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân là củng cố chính quyền cách mạng, cải thiện đời sống nhân dân, chống thực dân Pháp ở phía Nam, hòa hoãn với quân Tưởng ở phía Bắc, kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc.

Người gửi thư cho các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các địa phương và kiều bào ở nước ngoài, xác định địa vị và trách nhiệm của mỗi công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lời Người thắm tình yêu nước thương nòi đã nâng cao ý thức dân tộc và tinh thần làm chủ đất nước của mọi người. Nhân dân Việt Nam vừa thoát khỏi cuộc dời nô lệ đã nhanh chóng thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ anh minh quên mình vì dân, vì nước, vì đồng bào ủy thác mà gánh vác chức vụ Chủ tịch nước “như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước, mặt trận”(4).

Một cao trào cách mạng mới dấy lên trong cả nước.

Phong trào tăng gia sản xuất, nhường cơm, sẻ áo sôi nổi khắp nơi. Nạn đói bị đẩy lùi. Phong trào “Bình dân học vụ” rầm rộ ở cả thành thị và nông thôn. Nạn mù chữ được thanh toán dần dần. Cuộc sống mới bừng lên trong độc lập tự do.

Trong cao trào cách mạng mới, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ. Đồng bào nô nức gia nhập các đoàn thể cứu quốc. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo được tăng cường. Đây là lực lượng chính trị quần chúng hùng hậu và có tổ chức chật chẽ, giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám.

Hệ thống chính quyền nhân dân từ Chính phủ lâm thời Trung ương đến ủy ban hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã hình thành. Dân quân, tự vệ phát triển lên hàng chục vạn người, thành một mạng lưới khắp thành thị, nông thôn, là lực lượng giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền nhân dân ở cơ sở. Quân giải phóng Việt Nam trở thành quân đội của Nhà nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân có một chính quyền và một quân đội thực sự là của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục cán bộ về bản chất của chính quyền cách mạng. Người dạy: “... các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân”(5). Người nhấn mạnh: “... nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(6). Người nghiêm khắc lên án những thói xấu đã xuất hiện trong một số cán bộ có chức có quyền, như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người kêu gọi những cán bộ đã phạm khuyết điểm phải sửa chữa ngay, nếu không Chính phủ sẽ không khoan dung.

Với các lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục bản chất cách mạng tinh thần quân dân nhất trí. Người dạy: “... dân là chủ. Lực lượng bao nhiêu là ở dân hết”(7), “trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”(8).


(1),(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 9.
(3),(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 100.
(5),(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 36, 35, 60.
(8) Ban Nghiên cứu lịch sử quân sự - Tổng cục Chính trị; Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 236.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:07:57 am
Người trực tiếp sắp xếp cán bộ lãnh đạo các cơ quan chiến lược quân sự. Người xác định Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan quân sự cơ mật của Đảng, có nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện quân đội cho giỏi, tổ chức “nắm địch, nắm ta” cho rõ ràng, bày mưu kế cho khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác, để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng. Người chăm lo việc mua vũ khí, thành lập Phòng quân giới để tổ chức sản xuất vũ khí. Với nhãn quan chiến lược rộng lớn, tháng 9 năm 1945, Người thành lập Ban căn cứ địa Việt Bắc trực thuộc Chính phủ để theo dõi và tham gia ý kiến vào việc thực hiện các kế hoạch của Chính phủ ở căn cứ địa.

Chỉ một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc đoàn kết chặt chẽ xung quanh chính phủ và lãnh tụ của mình. Các đạo quân Đồng minh vào Việt Nam tháng 9 năm 1945 đều thấy trước mắt họ là một lực lượng cách mạng lớn mạnh, một chính quyền cách mạng đàng hoàng được nhân dân hết lòng ủng hộ.

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp được quân Anh hậu thuẫn đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn nhất tề đứng dậy quyết chiến với quân thù. Một trang sử mới của dân tộc Việt Nam bắt đầu: Nam Bộ kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư “Gửi đồng bào Nam Bộ”. Người biểu dương lòng quyết ái quốc của đồng bào. Người khích lệ tinh thần quyết chiến; “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”(1). Người kêu gọi đồng bào cả nước: “Nam Bộ thì ra sức kháng chiến, Trung Bộ và Bắc Bộ thì ra sức giúp đỡ đồng bào Nam Bộ và ra sức đề phòng”(2).

Phân biệt rõ nhân dân Pháp với thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đồng bào: “... đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp, biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”(3).

Được cả nước tiếp sức, nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ anh dũng đánh trả quân xâm lược. Với gậy tầm vông và mọi thứ vũ khí có trong tay, tự vệ công nhân và nhân dân Sài Gòn trong đánh ngoài vây sáng tạo nhiều cách đánh giặc, vây hãm quân Pháp dài ngày trong thành phố.

Cuối tháng 10 năm 1945, có thêm viện binh, thực dân Pháp phá vòng vây xung quanh Sài Gòn, đánh chiếm các tỉnh lỵ, thị trấn ở cả miền Đông, miền Trung và Tây Nam Bộ, mở rộng vùng chiếm đóng ra nông thôn đồng bằng Nam Bộ. Những đơn vị quân Pháp chạy sang Thái Lan sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 quay lại chiếm đóng Campuchia và Lào đến vĩ tuyến 16 độ Bắc. Từ Nam Bộ, Campuchia và Lào, chúng đánh ra Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên.

Ngay trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã công nhận Chính phủ lâm thời của nước Lào độc lập và thỏa thuận với Chính phủ Lào lập liên quân Lào - Việt, bảo vệ thành quả cách mạng Lào. Đồng thời, Ủy ban nhân dân Nam Bộ cũng liên lạc ngay với các nhà yêu nước Campuchia, góp phần tích cực thành lập Mặt trận Khơ-me độc lập.

Chỉ thị “Kháng chiến và Kiến quốc” được quần chúng tiếp nhận và trở thành hành động cách mạng sôi nổi. Cán bộ, đảng viên, dân quân tự vệ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên kiên quyết bám địa phương, dùng lối đánh du kích và bất hợp tác với địch để kháng chiến lâu dài. Nhiều căn cứ du kích được xây dựng. Nhiều đội du kích được thành lập. Chi đội bộ đội tập trung đầu tiên ở Nam Bộ ra đời. Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ được giữ vững. Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 25, 51
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 26.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:10:39 am
Từ thực tiễn những tháng kháng chiến đầu tiên ở miền Nam, Người rút ra những kết luận có ý nghĩa chiến lược quân sự. Trong lời kêu gọi đồng bào cả nước tháng 2 năm 1946. Người chỉ ra rằng “một dân tộc đang chiến đấu như dân ta bây giờ ắt phải luôn luôn chuẩn bị, đồng thời phải luôn trấn tĩnh, cương quyết, sẵn sàng đối với mọi tình thế, không bao giờ rối trí sợ sệt”(1). Trước hết, nhân dân ta phải xác định “tinh thần bại không nản, thắng không kiêu, thua trận này đánh trận khác, được trận này không chểnh mảng, chung sức, đồng tâm, nhất trí, giữ gìn trật tự, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ”(2). Người nêu lên “cách thực hành trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến bằng quân sự (dũng cảm, kỷ luật), bằng chính trị (đoàn kết, trật tự), bằng kinh tế (tăng gia sản xuất); bằng ngoại giao (thêm bạn, bớt thù)”(3). Những kết luận này bước đầu nêu lên quy luật giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.

Ở phía Bắc, đến cuối tháng 9 năm 1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã vào Hà Nội và các thành phố, thị xã. Theo chân chúng là lũ tay sai Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mệnh đồng minh hội. Âm mưu của chúng là sau khi “Hoa quân nhập Việt”, sẽ tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động đánh đổ chính quyền nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ lâm thời gặp những người cầm đầu quân Tưởng, hạn chế sự sách nhiễu của họ, nhắc nhở họ đã làm đúng nhiệm vụ của quân đội Đồng minh, nếu xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thì nhân dân Việt Nam kiên quyết tự vệ.

Ngày 4 tháng 10 năm 1945, tập đoàn Tưởng Giới Thạch cử tướng Hà Ứng Khâm, Bộ trưởng chiến tranh đến Hà Nội. Chính phủ Việt Nam chỉ được thông báo khi máy bay chở viên tướng quân phiệt này đã trên bầu trời Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới ngay tổng hành dinh quân Tưởng tại Phủ toàn quyền cũ, gặp Hà Ứng Khâm. Một cuộc tuần hành thị uy hàng chục vạn dân nội ngoại thành với các khẩu hiệu: “Hoa - Việt thân thiện”, “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Độc lập hay là chết”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”, đã diễn ra trước tổng hành dinh quân Tưởng chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi Hà Ứng Khâm đến Hà Nội. Trước khí thế của toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tập đoàn Tưởng Giới Thạch không dám thực hiện kế hoạch “diệt Cộng, cầm Hồ”.

Quân Tưởng chuyển sang dùng bọn tay sai “Việt quốc”, “Việt cách” tổ chức bạo loạn hòng lật đổ Chính phủ lâm thời. Trước tình hình phức tạp ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã bằng mọi cách tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển thực lực cách mạng. Lúc này. “không thể do dự. Do dự là hỏng hết”(4). Người và Trung ương Đảng đã quyết đoán, kể cả dùng những biện pháp đau đớn để cứu vãn tình thế. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự ý giải tán, thực tế là rút vào hoạt động không công khai. Một số Bộ trưởng đại diện Mặt trận Việt Minh trong Chính phủ lâm thời tự nguyện rút lui, nhường ghế cho đại diện các đảng phái khác. Quân giải phóng Việt Nam đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rút ra khỏi các thành phố, thị xã có quân Tưởng. Với các khẩu hiệu: “Phản đối chia rẽ”, “Đoàn kết chống thực dân Pháp”..., đảng bộ và ủy ban nhân dân các địa phương kiên quyết vạch, trần bộ mặt bán nước hại dân của bọn “Việt quốc”, “Việt cách”, kịp thời ngăn chặn bạo loạn, trừng trị những tên ngoan cố hoạt động phá hoại, giáo dục lôi kéo những người lầm đường, phân hóa hàng ngũ chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì thương lượng với quân Tưởng. Người đưa ra chủ trương cải tổ Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời. Nhiệm vụ của Chính phủ liên hiệp lâm thời là tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức. Sau đó Người còn chấp thuận để 70 đại biếu của “Việt quốc” và “Việt cách” tham gia Quốc hội không qua tổng tuyển cử.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tồng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tổ chức trên cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử tại thủ đô Hà Nội với số phiếu cao nhất.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa họp phiên đầu tiên. Chính phủ lâm thời được thành lập tại Tân Trào ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử. Quốc hội hoàn toàn tín nhiệm Chính phủ chính thức do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới bàn tay chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã vượt qua một bước thử thách cực kỳ nghiêm trọng.

Đầu năm 1946; thế và lực của cách mạng Việt Nam đã vững thêm. Ở phía Bắc chính quyền nhân dân được củng cố. Ở phía Nam, âm mưu bình định trong bốn tuần lễ của thực dân Pháp thất bại.

Để cứu vãn quyền lợi chung, Mỹ - Tưởng và Anh - Pháp tạm thời dẹp mâu thuẫn bộ phận ở Đông Dương, nhân nhượng với nhau. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký tại Trùng Khánh cho quân Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng. Ngày 1 tháng 3 năm 1946, hạm đội Pháp rời Sài Gòn đưa quân ra Bắc Việt Nam, lợi dụng nước thủy triều lên cao nhất trong tiết xuân phân để ngược sông cửa Cấm vào Hải Phòng.

Trước tình hình nguy kịch mới này, một lần nửa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mau chóng quyết đoán. Ngày 3 tháng 3 năm 1946, Người cùng đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và các Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng có mặt tại Hà Nội quyết định chủ trương “Hòa để tiến”. Chủ trương này dẫn đến việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Việt Nam và Pháp.

Theo Hiệp định sơ bộ, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong “Khối liên hiệp Pháp” là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép 15.000 quân Pháp được vào một số địa điểm ở Bác Việt Nam trong thời hạn 5 năm để thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch; việc thống nhất nước Việt Nam do nhân dân Việt Nam quyết định trong cuộc “trưng cầu dân ý” sẽ tổ chức sau; quân đội hai bên ở Nam Việt Nam phải lập tức ngừng bắn, đóng quân tại chỗ đợi hai Chính phủ Việt Nam và Pháp đàm phán đi đến một hiệp ước chính thức.


(1), (2), (3) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, t.1, Nxb Sự thật, H. 1958, tr. 73, 74.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 21.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:13:01 am
“Việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 thực sự là nước cờ “Tài trí cơ mưu” của Hồ Chí Minh”(3).

Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký tại Hà Nội lúc 16 giờ ngày 6 tháng 3 năm 1946. 18 giờ cùng ngày, những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Pháp đổ bộ lên bến cảng Hải Phòng.

Thực hiện chủ trương “Hòa để tiến” là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp. Thực dân Pháp liên tiếp phá hoại Hiệp định và lấn tới. Về phía Việt Nam, đây là một quá trình giáo dục, tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi trên phạm vi cả nước.

Sau Hiệp định sơ bộ, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở phía Nam thay đổi có lợi cho ta. Quân Anh rút khỏi Nam Việt Nam. Quân Nhật về nước. Quân Pháp phải phân tán lực lượng, đưa những đơn vị mạnh nhất ra miền Bắc Việt Nam. Ngụy quyền hoang mang dao động. Nhân thời cơ và điều kiện chính trị có lợi, nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ vùng lên tiến công kẻ thù. Từ các vùng căn cứ, một phong trào nổi dậy loang ra đến sát các đô thị và các đường giao thông. Từng mảng hội tề bị quét sạch. Đến mùa thu năm 1946, chính quyền cách mạng được thành lập lại tại 1,100 xã trong tổng số 1.200 xã toàn Nam Bộ. Mặt trận Việt Minh và các tổ chức cứu quốc phát triển mạnh mẽ. Chính sách giảm tô giảm tức được thực hiện. Tự vệ du kích phát triển rộng khắp. Bộ đội tập trung hình thành ở từng tỉnh. Lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ phát triển mạnh mẽ, đứng chân vững chắc ở khắp các địa phương.

Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp đã vào Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng. Chúng âm mưu sau khi chiếm đóng những vị trí chiến lược trọng yếu, sẽ từ những hành động mang tính chất quân sự tiến tới một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng.

Chính phủ và nhân dân ta kiên quyết đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định, đòi Chính phủ Pháp phải mở cuộc đàm phán chính thức tại Pa-ri.

Tranh thủ thời, gian tạm hòa bình sau khi Hiệp định sơ bộ được ký kết, Trung ương Đảng và Chính phủ đã triển khai một khối lượng công việc hết sức rộng lớn nhằm tăng cường lực lượng về mọi mặt, thể chế hóa bộ máy nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, phát triển văn hóa, giáo dục, nhanh chóng xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Đến cuối tháng 6 năm 1946, hầu hết quân Tưởng đã về nước. Âm mưu của bọn “Việt quốc”, “Việt cách” chuẩn bị một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ bị đập tan. Những hang ổ phản động trên các tỉnh phía Bắc bị quét sạch. Khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Nền chuyên chính dân chủ nhân dân được củng cố.

“Hòa để tiến” là một chủ trương kỳ diệu, một nước cờ cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước kia, Người đã khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ - Tưởng và Anh - Pháp để hòa hoãn với quân Tưởng ở phía Bắc, đánh Pháp ở phía Nam; nay Người lại khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng để hòa hoãn với Pháp, gạt 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một đạo quân lớn đã vào chiếm lĩnh các địa bàn chiến lược trên đất nước ta với ý đồ xâm lược và lật đổ, rút cục bị đẩy ra hết. Với việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, ta đã phân hóa được kẻ thù, thoát ra khỏi tình thế cô lập, giành chủ động, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược tranh thủ thời gian sửa soạn kháng chiến toàn quốc.

Đánh giá kết quả to lớn của chủ trương “Hòa để tiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: “... gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản”(2). Người nói: Việc ký Hiệp định 6 tháng 3 “cũng làm cho nhiều người thắc mắc và cho đó là chính sách quá hữu. Nhưng các đồng chí và đồng bào Nam Bộ thì lại cho là đúng. Mà đúng thật. Vì đồng bào và đồng chí ở Nam đã khéo lợi dụng dịp đó để xây dựng và phát triển lực lượng của mình”(3).


(1) Lăng Kỳ Hàn: Đằng sau việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản tại Hà Nội, Nxb Tri thức thế giới, bản đánh máy, ký hiệu VL 2452, Viện Lịch sử quân sự.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 22, 21.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:15:21 am
*
*   *

Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn dự cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-bờ-lô đi cùng một chuyến máy bay với Người.

Trước khi sang Pháp, Người viết thư “Gửi đồng bào Nam Bộ” khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(1). Người trao chức vụ Quyền Chủ tịch nước cho cụ Bộ trưởng Bộ nội vụ Huỳnh Thúc Kháng. Khi chia tay, Người nói với cụ Huỳnh câu châm ngôn “dĩ nhu xử cương, dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Trong thời gian ở Pháp, hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng cao địa vị của nước Việt Nam trên trường quốc tế. Quốc kỳ Việt Nam tung bay tại thủ đô Pháp. Chính phủ Pháp, nhân dân Pháp và thế giới hiểu vấn đề Việt Nam hơn trước. Người đã liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp. Người gặp đại diện Tổng công hội Pháp, Đảng xã hội Pháp và nhiều đảng phái, đoàn thể khác của nước Pháp. Người tiếp xúc với nhiều yếu nhân trong Chính phủ Pháp. Một số đông người Pháp trở thành bạn hữu của nhân dân Việt Nam, tán thành Việt Nam độc lập và Việt - Pháp hợp tác một cách thật thà. Người đã gặp đại diện nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và lao động Việt Nam được, các đoàn thể quốc tế công nhận là hội viên. Bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc vây quanh nước Việt Nam mới bị phá vỡ. Từ một nước thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã trở thành mối quan tâm của nhiều nước. Nhân dân Việt Nam thêm bạn, bớt thù.

Thực dân Pháp ra sức phá hoại cuộc đàm phán Việt - Pháp tại Phông-ten-nơ-bờ-lô, đồng thời đánh chiếm nước Lào và lấn tới ở Việt Nam. Ở bàn hội nghị chúng đưa ra một bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản mà Việt Nam không thể chấp nhận.

Ngày 13 tháng 9 năm 1946, Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô tan vỡ. Sáng 14 tháng 9, phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về nước.

Để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến và để cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới càng hiểu rõ thiện chí của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã một mình quyết đoán ở phút cuối cùng. Đêm 14 tháng 9 năm 1946, Người quyết định ký một bẳn Tạm ước với đại diện Chính phủ Pháp và Ma-ri-uýt Mu-tê, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại. Tạm ước ngày 14 tháng 9 quy định: hai bên đình chỉ xung đột, phía Pháp đảm bảo thực hiện các quyền tự do dân chủ ở Nam Bộ và thả những người Việt Nam yêu nước bị bắt; phía Việt Nam đảm bảo quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam; cuộc đàm phán giữa hai bên sẽ tiếp tục vào tháng 1 năm 1947.

Đây là quyết định đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tranh thủ đến cùng khả năng “Hòa để tiến”. Đây cũng là bước nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước và quyền lợi tối cao của dân tộc.

Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cuộc nói chuyện với nhà báo Mỹ Đa-vit San-bờ-rơn. Khi cuộc nói chuyện gần kết thúc, Đa-vit hỏi: ông có tin rằng ông sẽ bị bắt buộc phải chiến đấu không?”. Đa-vit kinh ngạc khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có, chúng tôi sắp phải chiến đấu. Người Pháp đã ký kết một Hiệp ước và họ đã treo cờ. Nhưng tất cả điều đó chỉ là sự giả nhân giả nghĩa. Trên thực tế, chúng tôi chưa có quyền độc lập thật sự: thuế quan riêng, ngoại giao riêng, tiền tệ riêng. Đất nước chúng tôi đang bị gặm nhấm. Họ đã dựng lên những chế độ bù nhìn ly khai ở miền Nam... Đúng, tôi ngại rằng cuối cùng, chúng tôi sẽ bị bắt buộc phải chiến đấu”(2).

Sáng 16 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pa-ri. Chiều 17 tháng 9 năm 1946, tuần dương hạm Đuy-mông Đuyếc-vin nhổ neo rời quân cảng Tu-lông đưa Người về nước.

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến thủ đô Hà Nội.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 139.
(2) Hăng-ri A-dô: Dịp may cuối cùng. Lê Tùng Ba dịch, bản in rô-nê-ô lưu tại Viện Lịch sử quân sự. Ký hiệu A76, tr. 7.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:19:03 am
*
*   *

Ngay sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định gấp rút chuẩn bị để “nếu phải đánh toàn thể thì có thể tức thời giáng cho thực dân phản động những đòn chí tử và chống nhau với chúng lâu dài đến toàn thắng”(1).

Trong sổ tay của Người còn lưu lại những trang bút ký viết ngày 5 tháng 11 năm 1946, nhan đề: “Công việc khẩn cấp bây giờ”. Trong đó, Người nêu rõ những ý định chiến lược về cuộc kháng chiến toàn quốc sắp diễn ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cuộc kháng chiến toàn quốc mà nhân dân ta sẽ tiến hành là một cuộc “trường kỳ kháng chiến rất gay go cực khổ, “địch thua đến 99%, nó cũng ráng sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang”(2). Chúng “sẽ tàn phá khủng bố rất dữ dội. Mục đích là mong làm cho dân ta hoảng sợ, do hoảng sợ đến đầu hàng. Nhưng ta phải hiểu: lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn “chớp nhoáng” đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng. Vì vậy, ta phải có và phải làm cho dân ta có Tín tâm và Quyết tâm. Dùng lời lẽ giản đơn, rõ rệt mà giải thích cho quần chúng. “Cố ráng sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân”(3).

Để tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “kháng chiến và kiến quốc” đi đôi “tổ chức du kích khắp nơi”, “tăng gia sản xuất khắp nơi”, “một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch”(4).

Người xác định cả hai việc kháng chiến và kiến quốc “đều phải có người, có nhiều người”(5).

Nêu lên câu hỏi “Người ở đâu ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải đáp:

“1. Là các đảng viên nam nữ hiện có.

2. Trong lúc này tỏ ra nhiều phần tử hăng hái, hoặc trong lúc chiến đấu, hoặc trong công việc khác. Phải ra sức kéo họ. (Phải làm khéo, vì có người hăng hái, nhưng không tán thành Đỏ).

3. Phải chọn một số khá đông thanh niên, để huấn luyện họ, đào tạo họ”(6).

Đối với đảng viên là đội ngũ nòng cốt trong chiến tranh Người dạy: “Cần phải rửa sạch những thói hẹp hòi, phụ diễn, tự đại, ỷ lại, lười biếng, nhút nhát, hủ hóa. cần phải kỷ luật, hoạt bát, siêng năng, dũng cảm, có sáng kiến, làm kiểu mẫu. Trước hết, phải ăn ở làm sao cho dân phục, dân yêu, dân nghe. Đó là các bảo đảm cho thắng lợi”(7).

“Công việc khẩn cấp bây giờ” là một văn kiện quan trọng vạch ra những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến và kế hoạch huy động nhân tài, vật lực vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, việc chuẩn bị kháng chiến toàn quốc được tiến hành gấp rút ở khắp các địa phương.

Cả nước chia thành 12 chiến khu. Bộ Tổng Tham mưu và Bộ chỉ huy các chiến khu vạch kế hoạch tác chiến ở các thành phố có Pháp đóng quân, nhằm chủ động đánh địch.

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức chuyên chở gạo, muối lên Việt Bắc, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, sẵn sàng đón các cơ quan Đảng và Chính phủ “trở lại Tân Trào”. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất vũ khí tại các vùng căn cứ.

Trong không khí cả nước chuẩn bị kháng chiến, tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ 2 nhất trí thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Quốc hội hoàn toàn tín nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy nhiệm Người đứng ra lập Chính phủ kháng chiến và giao cho Chính phủ mới toàn quyền đối phó với thực dân Pháp. Phát biểu tại Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chính phủ mới phải là một chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài, phải là một chính phủ liêm khiết, phải là một chính phủ biết làm việc, gan góc, quyết tâm đi vào mục đích vừa kiến thiết vừa tranh thủ độc lập, thống nhất cho nước nhà. Anh em trong Chính phủ sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy, cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho”(8).


(1) Báo Sự thật, số 54, ngày 20-9-1946.
(2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 180, 179,181.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 180.
(8) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 532.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:27:24 am
*
*   *

Trong lúc giải quyết công việc đối nội, đối ngoại hết sức phức tạp, cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ra sức chuẩn bị cơ sở tư tương và lý luận cho chiến lược kháng chiến.

Từ ngày 17 tháng 5 đến ngày 13 tháng 12 năm 1946, báo Cứu quốc lần lượt đăng những luận văn quân sự của Người với các bút danh Q.Th. và Q.T. gồm 15 bài với những nhan đề như: “Hình thức chiến tranh ngày nay”, “Chiến đấu vì chính nghĩa”, “Chiến lược của quân ta và quân Pháp”, “Phương pháp tác chiến”, “Phương pháp dùng gián điệp”, “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình”, “Chiến tranh tư tưởng”, “Động viên kinh tế”, “Vấn đề quân nhu và lương thực”... Các luận văn quân sự này giới thiệu kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh của nhiều danh nhân quân sự trên thế giới từ Tôn Tử đến Na-pô-lê-ông và Nen-xơn(1), đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của quân và dân ta trong hơn một năm kháng chiến, giới thiệu kinh nghiệm kháng chiến của Liên Xô. Các luận văn ấy nêu lên một số vấn đề lý luận về chiến lược, chiến thuật và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Về tính chất của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được”(2).

Người nêu rõ: “Trước khi khai chiến, nghĩa là lúc đương định kế hoạch chiến tranh”, phải xem xét “chính sách của chính phủ đối với dân chúng. Chính sách này phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng. Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống cho dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa... Có như thế dân chúng mới đoàn kết xung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc. Có như thế thì dù tình thế nguy khốn đến bậc nào, dân chúng không sợ hãi gì hết mà cố sức quyết chiến quyết thắng”(3).

Đây là nền tảng tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân.

Về chiến lược quân sự. Người nhận định: chiến lược của Pháp là chiến lược tiến công, đánh chớp nhoáng để chiếm cứ thật nhanh một khu vực. Sau khi đã củng cố vị trí, chúng lại bắt đầu tiến công để ngoạm một miếng khác. Chứng định tiêu diệt quần chủ lực ta, ra tay khủng bố, chém giết, hòng bắt ta phải khuất phục(4).

Người xác định: “Chúng ta quyết chiến đấu đến cùng, kỳ đánh bại được quân địch tiến công mới nghe... Vấn đề quan trọng hơn hết là làm thế nào bảo tồn cho được lực lượng, để chờ thời cơ trừ diệt địch quân”. “Sự chiếm đoạt một khoảng đất hay một thành phố chưa thể quyết định được sự hơn thua”. “Dù có phải rút lui ở một vài căn cứ cũng không lấy gì làm ngạc nhiên. Đó là con đường phải qua trong cuộc chiến tranh tự vệ”(5).

Người đề ra chiến thuật của quân và dân ta là “áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến”(6). “Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn quân địch. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương, vừa quấy rối, vừa làm hao mòn lực lượng của chúng”(7). Người chủ trương “ta không cố chiếm hoặc không cố giữ trận địa, trừ khi nào cần và có lợi cho tiến hành vận động chiến”(8).

Đây là tư tưởng của Người về chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ địch tiến công, ta dùng “lối phòng ngự thế công”(9), thực hiện cách phòng ngự có hiệu quả nhất là phòng ngự tích cực bằng tiến công.

Người nêu cao địa vị của chiến tranh du kích. Người chỉ rõ: “Để thực hiện du kích chiến, chúng ta tổ chức ra đội cảm tử, đội phá hoại, đội đánh bốt, đội đánh mai phục, đội cướp lương thực, súng đạn, đội trinh sát. Kế hoạch vườn không nhà trống, kế hoạch bất hợp tác phải được đem áp dụng một cách triệt để. Trong thành phố, ngoài những hầm hố, những chướng ngại vật, chúng ta phải biến mỗi nhà thành một ổ kháng chiến, phải đào đường hào thông từ nhà nọ sang phố kia. Trên các ngả đường quan, phải đắp nhiều ụ đất, đặt nhiều địa lôi, nhất là ở những chỗ có cầu cống. Nếu có xe tăng, xe thiết giáp qua đó, sẽ giật địa lôi làm nổ tung cầu hay đường thành hố sâu ở nơi kín đáo, đặt ụ súng đại bác hoặc súng liên thanh. Chúng ta phải dùng mọi biện pháp để cản trở quân địch không thể tiến được. Để kháng chiến lâu dài, mỗi làng ngay từ bây giờ phải biến thành một lũy kháng chiến”(10).

Về Nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng các nguyên tác: nhanh chóng, bí mật bất ngờ, đánh tiêu diệt.

Người dạy: “Các nhà danh tướng đời trước mỗi khi ra trận đều đánh thật nhanh, cướp được phút nào hay phút ấy. Thừa lúc quân địch nhọc mệt, trễ nải không đề phòng, hay bỏ ngỏ một mặt nào, phải quyết đoán, phải dũng cảm, tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ do dự, sẽ mất cơ hội tốt. Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu, phải vừa nhanh vừa có cơ mưu mới quyết định được thắng lợi. về binh pháp, bất luận một động tác gì, cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, trận đánh nhanh, súng bắn càng nhanh càng có lợi”(11).

Người chỉ rõ: “Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt mục đích chính trị”, nên phải nghi binh lừa địch, “cốt sao thắng được địch để bảo vệ đất nước”. “Mình có tài năng mấy cũng làm như mình không có tài năng gì”. “Thời kỳ tiến đánh quân địch đã đến nơi nhưng làm thế nào để cho quân địch tưởng là chưa đánh vội”(12).


(1) Nen-xơn (Nelson, 1758-1805), thủy sư đô đốc người Anh.
(2) Q.Th. “Hình thức chiến tranh ngày nay”, Báo Cứu quốc, ngày 20-9.1946.
(3) Q.Th. “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(4) Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(5), (6), (7), (8) Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr.193.
(10) Q.Th. Chiến lược của quân ta và của quân Pháp, Báo Cứu quốc, ngày 13-12-1946.
(11) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(12) Q.Th. Đặt kế hoạch tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 7-6-1946.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:31:39 am
Đánh tiêu diệt là nguyên tắc chỉ đạo tác chiến được Người đặc biệt quan tâm. Người dạy: “Trừ diệt lực lượng của địch là điều kiện có thể quyết định thắng lợi. Đối với một người, làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn một ngón tay. Về quân sự cũng vậy, đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt một sư đoàn... Dù ở thế thủ hay thế công ta cũng phải dùng mọi phương pháp tiêu diệt lực lượng của địch quân”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “nhân hòa, địa lợi và thiên thời” là những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh, trong đó nhân hòa là nhân tố quan trọng bậc nhất.

Nhân hòa là nhân dân cả nước một lòng đánh giặc, cứu nước, nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ. Người chỉ ra rằng:

“Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hòa”(2). Người phân tích: “Từ khi giựt được chính quyền trong tay phát xít Nhật, chúng ta luôn luôn chiến đấu để bảo vệ đất nước bằng mọi hình thức: chính trị, kinh tế, quân sự. Quân đội Việt Nam và dân chúng Việt Nam đã liên kết thành một khối quyết không chịu làm nô lệ dưới một chế độ thuộc địa nào. Trong khi chiến đấu, chúng ta được nhân dân thế giới ủng hộ, được dư luận thế giới tán đồng, nhất định chúng ta sẽ thắng”(3).

Địa lợi theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có sông sâu núi hiểm, mà gồm cả con người sinh trưởng tại chỗ quyết tâm đánh giặc, vận dụng được những cách đánh có hiệu quả phù hợp với đặc điểm địa hình, địa thế. Người chỉ rõ: “Từ hang cùng ngõ hẻm, núi cao rừng rậm đâu đâu cũng là đất nước Việt Nam, đâu đâu cũng có dân Việt Nam ở. Quân địch tiến đến chỗ nào cũng không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ”(4). Dân quân du kích phá hủy cầu cống, đường sá, chiếm đoạt quân nhu, lương thực làm cho địch hao mòn lực lượng. Địch đóng quân ở đâu thì ở đó nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống” và bất hợp tác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn nhiều về thiên thời. Người xem thiên thời trước hết là điều kiện khí hậu, thời tiết, là “lợi dụng ngày, đêm, sớm, tối, mưa nắng, nóng rét”(5). Người quan niệm thiên thời còn là điều kiện thời gian. Thời gian là lực lượng. “Tất cả các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều có thể tùy lúc, tùy nơi mà lợi dụng, nhưng điều kiện thời gian, điều kiện nhanh chóng vẫn là quan trọng”(6). Người dẫn câu nói nổi tiếng của Nen-xơn: “Trong chiến tranh giờ phút có quan hệ lắm. Chỉ sai nhau 5 phút, có thể quyết định được thắng bại”(7). Thiên thời còn là điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện mùa màng từng lúc. Vào cuối năm 1946, Người viết: “Dân ta năm nay được mùa không phải lo đói, lo rét như hồi đầu năm. Với điều kiện vật chất đầy đủ, dân chúng đã có đủ lực lượng để chiến đấu đến cùng”(8).

Người kết luận: “Có đủ ba điều kiện nhân hòa, địa lợi và thiên thời như trên, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thành công”. Đây là kết luận nêu lên trong bài chiến đấu vì chính nghĩa” đăng trên báo Cứu quốc ngày 6 tháng 12 năm 1946, mười ngày trước khi Người cùng với Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.

Các luận văn quân sự trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn, phát hiện ra những đặc điểm và quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam, từ mục tiêu chính trị và động lực của chiến tranh đến các hình thái chiến tranh, các phương thức tác chiến nguyên tắc chỉ đạo tác chiến. Các luận văn ấy chuẩn bị cơ sở tư tưởng, lý luận cho đường lối kháng chiến của Đảng.

Từ Cách mạng tháng Tám đến trước ngày toàn quốc kháng chiến là một giai đoạn lịch sử ghi đậm nhãn quan chính trị và tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kiên quyết về chiến lược, mềm dẻo về sách lược, Người đã tranh thủ được thời gian để củng cố Đảng, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng hậu phương, chuẩn bị tư tưởng và lý luận cho đường lối kháng chiến. “Lực lượng căn bản” được xây dựng trong thời gian này tạo tiền đề phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong các giai đoạn kháng chiến tiếp sau.


(1) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.
(2), (3), (4) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.
(5) Q.Th. Binh pháp Tôn Tử, Báo Cứu quốc, ngày 17-5-1946.
(6) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(7) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(8) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:17:24 pm
II. PHÁT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN
QUYẾT KẾ KHÁNG CHIẾN TRƯỜNG KỲ

Đến cuối năm 1946, Chính phủ Pháp đã ngả hẳn sang chính sách xâm lược Việt Nam bằng vũ lực. Tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, đổ bộ lên Đồ Sơn, Cát Bà, đưa thêm quân vào Đà Nẵng, Hà Nội. Với binh lực đứng sẵn tại Thủ đô và các thành phố lớn, thực dân Pháp âm mưu đánh úp cơ quan đầu não ta tại Hà Nội, tiêu diệt chủ lực ta, đánh chiếm cả nước Việt Nam bằng chiến lược “chớp nhoáng”.

Cố gắng tránh chiến tranh bằng mọi cách, ngày 7 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp kêu gọi nhà cầm quyền Pháp ra lệnh cho quân Pháp trở về các vị trí trước ngày 20 tháng 11. Chính phủ Pháp không trả lời. Thượng sứ Pháp tại Đông Dương là Đác-giăng-li-ơ tuyên bố khôi phục các điều ước bán nước, do triều đình nhà Nguyễn ký năm 1884, coi Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp.

Dân tộc Việt Nam đứng trước hai con đường: một là cúi đầu trở lại kiếp nô lệ, hai là chiến đấu đến cùng để giữ độc lập tự do.

Ngày 13 tháng 12 năm 1946, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Pa-ri - Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách.

Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ở khối liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”(1).

Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Trung ương Đảng điện cho các đảng bộ địa phương gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Hà Nội và thành phố có Pháp đóng quân triển khai kế hoạch chiến đấu.

Ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1946, tại làng Vạn Phúc cách thủ đô Hà Nội 12 ki-lô-mét, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị bất thường mở rộng dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị quyết định phát động toàn quốc kháng chiến và đề ra những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến.

Cùng ngày 17 và 18 tháng 12, Bộ chỉ huy quân Pháp gửi đến Chính phủ Việt Nam hai tối hậu thư, đòi triệt phá các lũy chướng ngại trên đường phố Hà Nội, đòi trao cho quân đội Pháp quyền giữ trật tự trong thành phố. Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội lại trao cho Chính phủ Việt Nam tối hậu thư thứ ba, đòi trong vòng 24 giờ Việt Nam phải triệt thoái quân đội, giải giáp tự vệ và công an ở Hà Nội.

Chiều 19 tháng 12 năm 1946, chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra lệnh cho toàn thể Vệ quốc quân và dân quân tự vệ bước vào chiến đấu.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nổ súng đánh quân Pháp tại thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn. “Nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên”(2). Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.

Sáng 20 tháng 12 năm 1946, từ núi Trầm cách Hà Nội 20 ki-lô-mét, đài Tiếng nói Việt Nam phát đi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, hất kỳ người già. người trẻ. không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thi phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”(3).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 201.
(2) Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1976, tr. 22.
(3) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 202-203.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:21:24 pm
“Lời kêu gọi toàn quốc khảng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hịch cứu nước nói lên quyết tâm kháng chiến của nhân dân Việt Nam, thể hiện cô đọng, hoàn chình và hào hùng tư tưởng toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Đó là tư tưởng chỉ đạo mọi kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân và dân ta.

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Chỉ thị vạch rõ: mục đích kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. Tính chất kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, thực hiện toàn dân kháng chiến, đoàn kết với Campuchia, Lào và các dân tộc yêu chuộng hòa bình, liên hiệp với nhân dân Pháp, chống thực dân phản động Pháp. Cách đánh là triệt để dùng du kích chiến và vận động chiến, bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài vừa đánh, vừa vũ trang thêm; vừa đánh, vừa đào tạo cán bộ.

Chỉ thị của Trung ương Đảng đề ra chương trình kháng chiến gồm 12 điểm cụ thể về các nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; nhằm thực hiện kháng chiến toàn diện, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã viết một loạt bài báo về sau in thành sách dưới nhan đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” để giải thích đường lối kháng chiến. Tác phẩm này góp phần quan trọng tuyên truyền giáo dục tư tưởng, đường lối quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong cán bộ và nhân dân.

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta và của thế giới đã được khái quát, tổng hợp và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để vạch ra những phương châm quyết chiến với quân thù.

Người chỉ rõ: “Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến. ngày ta tổng phản công, để quét sạch lũ chúng”(1).

Với cán bộ, Người giảng giải: “Hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái cứng cùng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái trứng, một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn... Pháp có xe tăng đại bác, thì ta phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng”(2). “Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng. Sét đánh không trúng, chớp soi không thấu thì hết cơn sấm sét là yên. Nhưng trong khi sấm sét thì ghê gớm lắm. Nó có thể dùng viện binh để đánh ta. Nó có thể đánh tràn, nhưng số viện binh đó không thể tập trung vào một nơi... Nếu nó rải ra từ Nam Quan đến Cà Mau cùng chẳng làm gì được ta, ta càng dễ đánh. Nó dùng vũ khí tối tân thì ta đánh du kích, nó trên trời thì ta dưới đất. Ta trường kỳ kháng chiến thì ta thắng lợi... nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị, ta không mắc mưu. Nó lấy kinh tế phong tỏa thì ta lấy kinh tế ta đánh nó. Ta tăng gia sản xuất. Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài”(3).

Với đông đảo đồng bào, Người nói: “Giồng khoai ba tháng mới có củ, giồng lúa bốn tháng mới được ăn. Giồng tự do và độc lập ít nhất cũng phải một năm hoặc năm, bảy tháng... Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thưa, ta nhất định thắng”(4).

Có người băn khoăn: toàn dân kháng chiến là thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải đáp: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ”(5).


(1), (2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 378, 277.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 279-280, 211-212.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:23:02 pm
Có người hỏi: Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì?

Người trả lời: chiến sĩ hy sinh xương máu, để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc. Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc, đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương. Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều gà, vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu. Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi. Thế là đồng bào hậu phương cũng ra sức tham gia kháng chiến”(1).

Tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diên, trường kỳ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng thấm nhuần trong các tầng lớp nhân dân. Một sức mạnh mới hình thành: sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc.

Cách Hà Nội 20 ki-lô-mét. tại Thanh Oai (Hà Đông), tiếp đó tại Quốc Oai (Sơn Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến đấu trong cả nước.

Cuộc tiến công của quân và dân Hà Nội và các thành phố lớn đã đánh bại kế hoạch của thực dân Pháp định đánh úp cơ quan đầu não và tiêu diệt lực lượng vũ trang ta. Tại Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, quân Pháp bị vây đánh nhiều ngày trong thành phố.

Tết Đinh Hợi, Tết kháng chiến đầu tiên. Trên chiến lũy giữa lòng Hà Nội, chiến sĩ thủ đô đón thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người biểu dương: “Các em là đội quyết tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”(2).

Người khuyến khích. “Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em”(3).

Cuối tháng 1 năm 1947, quân Pháp tiến ra các cửa ô nhằm đẩy quân ta ra xa Hà Nội, rồi quay vào quyết tiêu diệt lực lượng ta tại trung tâm thành phố. Quân và dân Hà Nội chiến đấu cực kỳ oanh liệt, giữ từng căn nhà, từng góc phố.

Thực hiện phương châm chiến lược “bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài”, chiều 14 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Tổng chỉ huy rút lực lượng chiến đấu ở trung tâm Hà Nội ra khỏi thành phố.

Ngay khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Ngoại giao và Ủy ban kháng chiến Hà Nội dùng danh nghĩa Hồng thập tự Việt Nam để gặp đại diện Bộ chỉ huy Pháp, trao cho họ những kiều dân Pháp bị bắt hoặc bị thương. Những cuộc gặp định kỳ của Hồng thập tự hai bên đã được thực hiện ngay tại trận địa, có đại diện Anh, Mỹ, Trung Hoa và phóng viên thông tấn, báo chí nước ngoài tham dự. Tại các cuộc gặp này, đại diện ta đã chuyển nhiều thư và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp và nhiều nước khác. Phóng viên các nước cũng được thông báo tin tức về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và nhận được những bài Người trả lời phỏng vấn của họ.

Từ giữa, vòng vây đế quốc, tiếng nói chính nghĩa của dân tộc Việt Nam vang đi khắp năm châu.

Những thư, điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Pháp trong đầu năm 1947, cùng những thư của Người gửi đến tướng lĩnh, Bộ trưởng và Tổng thống Pháp trong thời gian này là một “Quân trung từ mệnh tập” vạch rõ phải trái đúng sai, nêu bật điều hơn lẽ thiệt, tiến công vào hàng ngũ địch trên mặt trận chính trị tư tưởng.


(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 211-212.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 26.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:29:42 pm
Người vạch rõ: “Chính sách “phản bội các thỏa hiệp”, chính sách “việc đã rồi” và chính sách vũ lực mà các nhà đại diện Pháp ở Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã bắt buộc nhân dân Việt Nam phải võ trang tự vệ”(1). “Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà”(2). Người nêu lên viễn cảnh của cuộc chiến tranh: “Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến hẳn khỏi cõi Á châu”(3). Người đề nghị phương sách chấm dứt chiến tranh: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm đứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”(4).

Với Lơ-cléc, viên tướng Pháp đã từng chống phát xít Đức để giải phóng nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?

Phải chăng đó là một công việc bạc bẽo đau đớn cho ngài?”(5).

Với binh lính Pháp trong đạo quân viễn chinh xâm lược, Người viết: “Giữa các bạn và chúng tôi, không có sự thù hiềm gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn phải chịu, huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng”(6). Người kêu gọi binh lính Pháp: trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bầu bạn của chúng tôi”(7).

Với phụ nữ Pháp có chồng con, anh em, chồng chưa cưới hoặc bạn bè đang làm quân dịch ở Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “... tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau”(8). Người kêu gọi các bà mẹ Pháp: “... hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng xây dưng mối tình hữu nghị và tinh thần hòa hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam”(9).

Những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Quốc hội, Chính phủ, nhân dân và binh lính Pháp thể hiện lập trường chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình và lòng nhân ái của Người, đồng thời nêu lên một mẫu mực về tiến công chính trị vào hàng ngũ địch, một mũi tiến công có ý nghĩa chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong khi cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các thành phố lớn còn đang diễn ra quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán một cuộc tiến công lớn của quân Pháp. Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Người ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào: “Thực dân Pháp sẽ đem hết lực lượng của chúng, để tấn công ta. Chúng sẽ không phân biệt già, trẻ, gái, trai gặp là chúng giết hại. Chúng sẽ không phân biệt thôn quê, thành thị gặp là chúng sẽ đánh phá cướp bóc”(10).

Người chỉ thị: “Mỗi một nhà, mỗi một làng phải làm ngay những việc sau đây:

1. Đào hầm trú ẩn để tránh nạn tàu bay.

2. Của cải và lương thực thì cất giấu cẩn thận, phòng địch đốt phá.

3. Phải có kế hoạch sẵn sàng, khi cần thì tản cư có trật tự, không lộn xộn.

4. Phải có kế hoạch rộng để tăng gia sản xuất, một mặt kháng chiến, một mặt làm ăn”(11).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật; H. 1984, tr. 258.
(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 314, 243, 235-236, 227, 209,161.
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 161, 240, 241.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:33:53 pm
Tiếp đó, Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “phá hoại để kháng chiến” và “kiên quyết tản cư”.

Người vạch rõ: “Đánh thì phải phá hoại”, phá để chặn địch lại, “không cho chúng tiến lên”, “không cho chúng lợi dụng”, kháng chiến thắng lợi rồi sẽ “sửa sang tu bổ lại hết”, “sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn và xứng đáng một dân tộc tự do độc lập hơn”(1).

Người chỉ ra rằng: “Tản cư cũng là kháng chiến, ở tiền tuyến, chiến sĩ hy sinh xương máu để bảo vệ non sông. Ở hậu phương, toàn thể quốc dân hy sinh mồ hôi nước mắt để giúp việc kháng chiến. Các đồng bào tản cư cam chịu linh đinh cực khổ chứ không chịu đội trời chung với quân thù”; “dời vào hậu phương, các đồng bào mỗi người phải làm một việc, không nên một ai ăn rồi ngồi không”(2).

Tháng 2 năm 1947, Bộ Tổng chỉ huy họp Hội nghị quân sự tại Chương Mỹ (Hà Đông). Quán triệt nhiệm vụ chiến lược quân sự do Người và Trung ương Đảng đề ra lúc này là “bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài”. Hội nghị chủ trương: “tránh mũi dùi chủ lực của địch để bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiến đấu của bộ đội ta, phát động chiến tranh du kích, không cho địch phát triển vị trí và tiến quân mau lẹ”. Hội nghị nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ không được hành động “chỉ theo tiếng gọi của lòng dũng cảm, hy sinh oanh liệt mà quá hao tổn lực lượng”, cũng không được mượn tiếng bảo toàn chủ lực để “chưa đánh đã rút”, phải nắm vững bộ đội khi địch đánh rộng ra, phải vận dụng chiến thuật căn bản của ta là du kích chiến và vận động chiến, “chú trọng đánh những trận tiêu diệt để làm cho ta hy sinh ít mà thu được kết quả nhiều, thực hiện càng đánh càng mạnh(3).

Đúng như dự đoán của Người, mùa xuân năm 1947, thực dân Pháp đánh rộng ra xung quanh các thành phố lớn, lùng diệt cơ quan đầu não kháng chiến, khủng bố nhân dân. Chiến sự lan rộng trên gần 30 tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ.

Trong khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ thì ở Nam Bộ chiến tranh du kích nổi lên mạnh mẽ. Quân và dân Nam Bộ đánh địch trên khắp các mặt trận, góp sức cùng cả nước phá cuộc tiến công của chúng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, buộc thực dân Pháp phải để lại ở phía Nam một phần binh lực để giữ các đô thị, đường giao thông, các đồn điền cao su.

Trước cuộc tiến công lớn của địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào cả nước: “Chúng ta đã đoán biết trước rằng một ngày kia địch sẽ cố chiếm các thành thị và các đường giao thông”(4). Nhưng “địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng”(5).

Với đồng bào ở các vùng bị địch chiếm, Người nói: “Chính phủ và toàn thể nhân dân không bao giờ quên đồng bào vì đang lúc mọi người đều được tự do dưới chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì riêng đồng bào bị lâm vào cảnh nô lệ.

Vì những lẽ đó mà Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta không quản gian lao khó nhọc, ra sức chiến đấu hy sinh để mau giải phóng đồng bào ra khỏi chỗ nước sôi lửa bỏng”(6). Người nhắc nhở chính quyền các cấp vô luận thế nào cũng “không được bỏ dân bơ vơ”. Lúc này, ở nhiều nơi cán bộ có người bối rối lúng túng, có người bỏ chạy đi nơi khác Người chỉ thị cho Bộ Nội vụ phải “phái người đến những vùng địch đang chiếm, một là để giữ vững tinh thần của nhân dân, làm cho dân biết Chính phủ không quên họ. Hai là giải thích nhiệm vụ và kế hoạch cho các ủy ban hành chính và điều tra những người bất lực, thì phải cắt chức đi, tìm người khá hơn thay vào”(7).

Đây là quan điểm “dân bám đất, cán bộ bám dân, bộ đội bám địch” được Người nêu lên từ những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Trước cuộc tiến công của địch, Người không chủ trương rút lui chiến lược. Người đề xướng tinh thần tiến công để giành chủ động, duy trì lực lượng vũ trang ở khắp các địa phương, củng cố cơ sở quần chúng ở các vùng địch tạm chiếm, tiến hành đánh du kích để tiêu diệt địch. Tinh thần đó dẫn tới các chủ trương sau này của Đảng nhằm phát động chiến tranh du kích ở sau lựng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta.

Giữa lúc quân Pháp tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”, và “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ” đề ra những yêu cầu khẩn cấp về chính trị tư tưởng đối với toàn thể cán bộ, đảng viên và các cấp bộ đảng.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 248-249, 270-271.
(3) Nghị quyết Hội nghị quân sự lần thứ nhất, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 34.
(4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 303, 391, 317.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:36:52 pm
Người chỉ ra rằng: “Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao”(1). Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi đảng viên có quan hệ đến toàn quốc. “Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thế hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”(2). “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp và làm cho nước thống nhất và độc lập”(3).

Người biểu dương những ưu điểm của. cán bộ, đảng viên như nhẫn nại, chịu khó, tháo vát, nhiều sáng kiến... Người giáo dục cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm: quan liêu chủ quan, mệnh lệnh, địa phương chủ nghĩa, bè phái, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, bao biện, lạm quyền... Người nghiêm khắc phê bình: “Trong những vùng chiến tranh lan đến, một số đồng chí đã tự tiện bỏ địa phương mình chạy sang vùng khác làm việc mà không hề có sự quyết định của Đoàn thể, của cấp trên”(4).

Sự chỉ đạo kịp thời, sắc bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến gồm những nội dung lớn: bảo toàn chủ lực; phá hoại và tản cư, tiến công chính trị vào hàng ngũ địch; cán bộ, bộ đội giữ vững phẩm chất đạo dức cách mạng, đứng lại ở địa phương bám dân bám địch mà đánh, sự chỉ đạo ấy thể hiện tư tưởng giữ gìn lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến trong khi địch tiến công.

Cuối tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Thanh Hóa, một tỉnh hậu phương rộng lớn, xa các vùng chiến sự. Trong lịch sử, miền Thanh - Nghệ đã nhiều lần là căn cứ địa của các cuộc khởi nghĩa vũ trang và kháng chiến chống ngoại xâm.

Tại Thanh Hóa, Người đã vạch phương hướng xây dựng một tỉnh hậu phương kiểu mẫu. Đó là kế hoạch: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn.
Người đủ ăn thì khá giàu.
Người khá giàu thì giàu thêm.
Người nào cùng biết chữ.
Người nào củng biết đoàn kết, yêu nước. Cách làm: đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân.
Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm.
Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động”(5).

Người gặp đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, chỉ rõ hậu phương kháng chiến là: về chính trị, thực hiện toàn dân đoàn kết; về quân sự, triệt để phá hoại đường sá và nhà cửa có cấu trúc kiên cố, tổ chức du kích để địch đến là đánh; về hành chính, thực hiện dân là chủ, chính phủ là đầy tớ của dân; về văn hóa, xóa nạn mù chữ, giáo dục đạo đức công dân và chính trị phổ thông, phát triển trung học, đào tạo nguồn cán bộ dự trữ; về kinh tế, thực hiện tự cấp tự túc, dù địch phong tỏa 10 năm hay 15 năm cũng đứng vững.

Tháng 4 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lên Việt Bắc. Khu giải phóng cũ trở thành trung tâm lãnh đạo cả nước kháng chiến. Đánh giá vị trí quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc, Người viết: “Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công. Thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”(6),

Mùa hè năm 1947, đảng bộ và chính quyền các cấp được kiện toàn một bước. Chính sách giảm tô giảm tức bắt đầu được thực hiện. Việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Các chiến khu, các tỉnh ra sức sản xuất vũ khí. Chợ búa mở mang. Hàng loạt thị trấn kháng chiến mọc lên. Đồng bào tản cư ổn định nơi ở và đời sống. Các trường học khai giảng. Tiền tài chính lưu hành rộng rãi, tạo điều kiện khơi luồng hàng hóa, vật tư, thực phẩm cung cấp cho bộ đội, cơ quan, xí nghiệp và nhân dân. Hơn ba vạn thanh niên xung phong tòng quân. Hơn một triệu ngươi tham gia tự vệ và du kích. Hàng nghìn làng kháng chiến được xây dựng. Hàng trăm đội du kích được thành lập ở các tỉnh, huyện.


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 317, 291, 294.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 284, 420.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:39:14 pm
Trong không khí cả nước sôi nổi xây dựng hậu phương và căn cứ địa, phát triển lực lượng quân sự, chính trị, chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công mới của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành hai tác phẩm quan trọng: “Đời sống mới” ký tên Tân Sinh, và “Sửa đổi lối làm việc” ký tên X.Y.Z.

Tác phẩm “Đời sống mới” chỉ ra rằng: chính trong kháng chiến người thì lo đánh giặc, người thì lo phá hoại, người thì lo tản cư, toàn dân ai cũng khó khăn vất vả lại càng phải thực hiện đời sống mới, là cần, kiệm, liêm, chính. Tác phẩm hướng dẫn bộ đội và nhân dân ta sửa đổi những cái cũ không còn phù hợp, thực hiện những cái mới mà hay trong đời sống, trong cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc, làm cho trong kháng chiến dân ta “vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn”(1).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, rèn luyện tư tưởng, tác phong lãnh đạo và đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhằm nâng cao năng lực của Đang và Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Tác phẩm giáo dục cán bộ, đảng viên khắc phục bệnh chủ quan, hẹp hòi trong quan hệ giữa Đảng với quẩn chúng, ba hoa trong cách nói, cách viết và những chứng tật xấu xa của chủ nghĩa cá nhân. Tác phẩm đề ra chính sách cán bộ nhằm đẩy mạnh huấn luyện, đào tạo cán bộ, nâng cao hơn nữa lòng thương yêu cán bộ, hiểu rõ và cất nhắc, sử dụng cán bộ đúng, khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc.

Hai tác phẩm “Đời sống mới” và “Sửa đổi lối làm việc” giải quyết những vấn đề cơ bản về xây dựng con người mới; cuộc sống mới, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, động viên tiềm lực của đất nước, phát huy tính ưu việt của chế độ xã hội mới để giành thắng lợi trong chiến tranh.

Vượt, lên những tàn phá, tổn thất đo chiến tranh gảy ra, một đời sống mới và một lối làm việc mới nảy sinh trên đất nước ta, tạo nên sức mạnh mới của toàn dân kháng chiến.

Tháng 5 năm 1947, giặc Pháp ngừng tiến công. Chiến lược “chớp nhoáng” nhằm tiêu diệt chế độ dân chủ cộng hòa, tái chiếm nhanh toàn bộ nước Việt Nam bước đầu thất bại.

Tống kết 6 tháng đầu toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: thực dân Pháp động viên hải, lục, không quân hàng chục vạn người. Chúng chi tiêu vào quân phí mỗi ngày hàng chục triệu bạc. Chúng mong dùng lực lượng ào ạt, chiến lược chớp nhoáng trong vài ba tháng cướp lấy nước ta. Chúng lại thuê một lũ bù nhìn mong phá hoại kháng chiến, chia rẽ đồng bào ta. Song âm mưu quân sự và chính trị của chúng đều hoàn toàn thất bại. “Kháng chiến ở Nam Bộ đến ngày nay đã gần hai năm. Kháng chiến toàn quốc đến hôm nay vừa đúng sáu tháng. Mà sức kháng chiến của ta càng mạnh. Sự thắng lợi của ta càng rõ ràng”(2). Người phân tích những nguyên nhân thắng lợi: vì kháng chiến của ta là chính nghĩa, vì đồng bào ta đại đoàn kết, vì tướng sĩ ta dũng cảm, vì chiến lược ta đúng, vì ta nhiều bầu bạn. Người khái quát: “Thế địch như lửa, thế tạ như nước. Nước nhất định thắng lửa”(3).

Suốt mùa hè 1947, giặc Pháp co về các thành phố củng cố lực lượng, chuẩn bị cho một cuộc tiến công lớn khi mùa mưa chấm dứt.

Tuy chưa phán đoán chính xác và đầy đủ hướng tiến công của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thấy trước rằng thực dân Pháp sẽ mở cuộc tiến công lớn trong thu - đông và chiến trường chính là Bắc Bộ. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị cho các cấp ủy địa phương gấp rút chuẩn bị đối phó. Bộ Tổng chỉ huy họp Hội nghị quân sự nhận định âm mưu và hướng tiến công sắp tối của địch, đề ra chủ trương tác chiến trong thu - đông.

Sáng ngày 7 tháng 10 năm 1947, quân Pháp bất ngờ nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn. Với nguồn tin tình báo khá chính xác, vừa xuống đến đất, quân Pháp lập tức bủa vây lùng sục, truy tìm Hồ Chí Minh và các bộ trưởng trong Chính phủ kháng chiến.

Đồng thời với cuộc đổ bộ đường không xuống thị xã Bắc Cạn, quân Pháp mở những gọng kìm và mũi dùi lớn đánh lên Việt Bắc.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 323
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 377, 378.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 08:42:11 pm
Sau khi được tin địch tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân du kích và đồng bào cả nước ra sức tiêu diệt địch. Người vạch âm mưu của chúng là đánh ào ạt, chớp nhoáng, bất thình lình, dùng cách “sét đánh ngang tai” làm cho ta hoang mang hoảng hốt, làm cho ta trở tay không kịp, ý định của chúng là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành một cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi chúng cụp ô lại, khép chặt vòng vây, từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra, nhảy dù xuống những nơi nghi có cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ ta để lùng bắt, phá cho được đầu não của cuộc kháng chiến. Sau đó chúng sẽ bình định tiếp các khu vực khác và lập chính phủ bù nhìn. Người phân tích: địch mạnh về các gọng kìm. Gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách.

Ngay sau khi quân địch nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn, yếu tố bất ngờ của chúng không còn nữa. Đến đâu quân Pháp cũng chỉ thấy vườn không nhà trống. Ở đâu cũng có tiếng súng của du kích từ rừng nui bắn ra. Càng đi sâu vào căn cứ địa Việt Bắc, các binh đoàn tiến công của thực dân Pháp càng bị rừng núi trùng điệp chia cắt làm nhiều mảnh, mỗi mảnh thành một mục tiêu tiến công của bộ đội và du kích ta.

Trong khi địch mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc thì ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ chiến tranh du kích phát triển mạnh. Nhiều tên Việt gian lăm le đứng ra lập chính phủ bù nhìn bị bắn chết ngay giữa Hà Nội và Sài Gòn. Thực dân Pháp lâm vào tình thế bế tắc: Việt Bắc đánh không xong, đồng bằng Bắc Bộ chưa chiếm được, chiến thuật du kích ờ Nam Bộ ngày càng mạnh.

Ngày 19 tháng 11 năm 1947, sau 40 ngày tiến công, quân Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Bắc. Cuộc tiến công của chúng thất bại. Chiến lược “chớp nhoáng” của thực dân Pháp hoàn toàn phá sản.

Sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Bắc, với bút danh quen thuộc Tân Sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Việt Bắc anh dũng”. Bằng những tư liệu lấy từ các bức thư, điện, công văn, mệnh lệnh của quân Pháp do ta thu được, Người miêu tả những khó khăn của quân Pháp trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm lên Việt Bắc.

Nêu lên câu hỏi: chắc có người lấy làm lạ, vì sao Pháp có súng ống tốt như thế, mà số chết và bị thương lại to gấp 10 lần bên ta? Người giải đáp: “Thì có gì lạ đâu: ta đánh du kích, đánh địa lôi, ta thấy địch mà địch không thấy ta. Thành thử nhiều khi ta giết, hàng chục hàng trăm tên địch, mà bộ đội ta không có một người nào bị thương”(1).

Bàn đến nguyên nhân sâu xa nhất đã dẫn tới thắng lợi của ta tại Việt Bắc thu - đông 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiếm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tấn công của thực dân”(2). Người khái quát bốn nhân tố quyết định thắng lợi của quân và dân ta trong thu - đông 1947, đó là: sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, sự hăng hái của toàn thể đồng bào.

Trong tác phẩm này, Hồ Chủ tịch phân tích sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt của ta. Người viết: ngay từ đầu, ta chủ trương trường kỳ kháng chiến, để đánh tan mưu mô “đánh mau thắng mau” của thực dân. Cũng ngay từ đầu ta đã thấy trước rằng địch sẽ cố chiếm một số thành thị và một số đoạn đường giao thông, nhưng lực lượng của chúng càng rải ra thì càng mỏng manh, ta càng dễ tiêu diệt chúng, do đó Bộ Tổng chỉ huy chủ trương dùng chiến thuật du kích để tiêu diệt địch. “Càng ngày chúng ta càng thấy những ý định trên là sáng suốt, nhất là trong cuộc địch tấn công vào Việt Bắc, chúng ta càng thấy rõ như thế”(3).

Cuối tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực dân Pháp chưa bị đánh qụy. Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa. Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác. Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn. Chúng sẽ dùng mưu độc ác đem người Việt đánh người Việt. Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa”(4). Người nhắc nhở: “Chúng ta chớ tự kiêu tự đại, chớ chủ quan, chớ khinh địch. Chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị, cấn thận đề phòng... Phải sửa chữa những khuyết điểm và cố gắng phát triển các ưu điểm”(5). Đó là cái chìa khóa để đi tối thắng lợi mới.

Ngày 19 tháng 12 năm 1947, tại núi rừng Việt Bắc còn âm vang tiếng súng truy kích địch, Chu tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước, tổng kết một năm toàn quốc kháng chiến.

Thực tế đã diễn ra trái với ý đồ xâm lược của thực dân Pháp. Chúng định chiếm Việt Nam trong một thời gian ngắn. Nhưng đến lúc này, “Chúng chiếm mấy thành thị đã hóa ra đống tro tàn”(6) còn “thôn quê khắp cả nước đều vẫn ở trong tay ta”(7). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “kháng chiến ắt phải gay go, phải trường kỳ, nhưng chắc chắn sẽ thắng lợi”(8), “lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhen, chỉ có tiến, không có thoái”(9). Còn lực lượng của địch “cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm, nhưng đã gần tắt nghỉ”(10).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 26, 35.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 5, 37, 38.
(6), (7), (8), (9), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 537-539.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:10:25 pm
III. PHÁT ĐỘNG THI ĐUA ÁI QUỐC,
“DIỆT GIẶC ĐÓI - DIỆT GIẶC DỐT - DIỆT GIẶC NGOẠI XÂM”

Chiến thắng Việt Bắc làm nức lòng quân và dân cả nước, nâng cao lòng tin tưởng ở tiền đồ kháng chiến. Thắng lợi ấy chứng tỏ Việt Nam tuy nước nhỏ, không có căn cứ địa chắc chắn, biên giới bị bao vây, vũ khí kém, nhưng với sự đoàn kết cố gắng của toàn dân, với chế độ dân chủ cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vẫn có thể đẩy mạnh kháng chiến giữa vòng vây đế quốc.

Trong không khí phấn khởi ngày 28, Tết Mậu Tý (1948), Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Quốc hội, Tổng bộ Việt Minh, Đoàn chủ tịch Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy đến chúc Tết Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói chuyện thân mật nhân buổi đầu xuân, Người phân tích: trường kỳ kháng chiến thì phải trường kỳ động viên. Động viên tinh thần, động viên vật chất, động viên sức người, sức của để thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, làm cho thế và lực của ta mau chuyển biến.

Ngày 15 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng. Từ Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào tháng 8 năm 1945, đến lúc này Trung ương Đảng mới có điều kiện họp hội nghị toàn thể.

Hội nghị nhận định: giặc Pháp không thể tự do tung lực lượng ra chiếm đất một cách dễ dàng như trong thời kỳ kháng chiến mới bùng nổ, nhưng chúng vẫn còn có thế vơ vét lực lượng trong nước và ở các thuộc địa, cầu cứu phản động thế giới để kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược. Chiến tranh sẽ thực sự lan rộng ra khắp cả nước.

Hội nghị đề ra những nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế nhằm đẩy mạnh kháng chiến, về chính trị: củng cố đoàn kết toàn dân, phá chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, phá chính quyền bù nhìn của địch, về kinh tế: phá kinh tế tài chính địch, thực hiện tăng gia sản xuất tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh, thực hiện giảm tô giảm tức và tịch thu tài sản, ruộng đất của Việt gian phản quốc chia cho dân cày nghèo và gia đình bộ đội. Về quân sự: phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là ở các vùng bị chiếm đóng, đồng thời tập trung bộ đội chủ lực đánh vận động tiêu diệt địch, quét những đồn lẻ của địch, bắt địch thu hẹp địa bàn, đột kích các thành phố nhỏ. Tăng cường công tác chính trị trong quân đội, ra sức lôi kéo quân ngụy chạy sang hàng ngũ ta, xúc tiến luyện quân lập công, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội và dân quân du kích, chỉnh đốn quân nhu, quân y, quân giới, chế tạo nhiều đạn và vĩ khí thô sơ để vũ trang toàn dân. Về xây dựng Đảng: củng cố chi bộ tự động công tác, chủ động lãnh đạo mọi mặt hoạt động, phát triển cơ sở đảng và củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong các vùng bị chiếm đóng, phát động một cao trào chiến tranh du kích và bất hợp tác với địch.

Đây là những chủ trương lớn nhằm phát động chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch và tiến lên đánh vận động ở trước mặt địch, phá những cuộc tiến công mới của địch.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bế mạc vào giữa tháng giêng âm lịch. Thời kỳ “thế địch như lửa”, quân địch ào ạt tiến công đã qua. Trên thuyền xuôi sông Đáy từ địa điểm họp hội nghị về nơi ở, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bài thơ xuân nhan đề “Nguyên tiêu” (Rằm tháng Giêng). Lời thơ sảng khoái, phong thái chủ động của Người báo hiệu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới.

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên,
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”
(1)

*
*   *

Ngay từ mùa xuân 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ triển khai những công tác động viên và tổ chức nhằm tạo thế, tạo lực mới cho cuộc kháng chiến.

Tháng 3 năm 1948,  Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động “Thi đua ái quốc”. Mục đích thi đua là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công. Nội dung thi đua là hướng mọi cố gắng, mọi năng lực của nhân dân và quân đội ở tiền phương cũng như ở hậu phương đẩy mạnh kháng chiến. Công nhân, nông dân thi đưa tăng gia sản xuất. Bộ đội, dân quân thi đua giết giặc, lập công. Quân và dân vùng tạm bị chiếm thi đua phá tề trừ gian. Cơ quan thi đua công tác. Nhà trường thi đua học tập. Gia đình và cá nhân thi đua tăng gia sản xuất, thực hiện đời sống mới. Hướng thi đua chủ yếu là luyện quân lập công và tăng gia sản xuất. Trong “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì. đều cần phải thi đua”(2).

“Diệt giặc đói khổ,
Diệt giặc dốt nát,
Diệt giặc ngoại xâm”(3).
“Làm cho mau - Làm cho tốt - Làm cho nhiều”
(4).

Thi đua ái quốc “sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng”(5).


(1) Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sóng xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Thơ Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, H. 1967, tr. 60).
(2), (3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 103-104.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:15:42 pm
*
*   *

Tháng 4 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo Hội nghị cán bộ bàn về công tác ở các vùng địch chiếm đóng.

Hội nghị xác định đây là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác của Đảng. Mục đích là giữ vững và nâng cao trình độ giác ngộ, tinh thần kháng chiến của nhân dân, khôi phục các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng, phối hợp đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị với các hình thức đấu tranh quân sự từ thấp đến cao, làm tan rã hàng ngũ địch, phá chính quyền ngụy, lập lại chính quyền ta. Khẩu hiệu đấu tranh trong các vùng bị chiếm đóng là: chống khủng bố, chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế, chống lập hội tề... Hội nghị chủ trương đưa các đội trang tuyên truyền tiến sâu vào các vùng sau lưng địch, gây cơ sở ở ngay hậu phương địch, dọn đường cho đại đội độc lập phát triển chiến tranh du kích. Các đại đội độc lập có nhiệm vụ giúp du kích trở thành những bộ đội địa phương, lập làng chiến đấu ở đồng bằng và khu chiến đấu ở miền núi, gây căn cứ du kích trong các vùng địch chiếm đóng.

Ngay trong tháng 4 năm 1948, Hội nghị dân quân toàn quốc do Bộ Tổng chỉ huy triệu tập đã thống nhất tổ chức và nội dung hoat động của dân quân du kích trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi mấy ngày đường để đến thăm và nói chuyện với Hội nghị.

Người đúc kết kinh nghiệm phong trào dân quân du kích từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, đề ra nguyên tắc tổ chức và hoạt động của dân quân du kích trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.

Người biểu dương phong trào du kích: nhiều nơi đã phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân, hoặc tự mình đánh giặc; công việc trừ gian, đánh thổ phỉ, diệt hội tề, phá giao thông của địch, học chữ quốc ngữ, tăng gia sản xuất, dân quân du kích đều cố gắng, hăng hái và đã thu được những kết quả khá. Người khen ngợi những làng kháng chiến kiểu mẫu, những chiến sĩ dân quân xuất sắc, những đội lão du kích và nữ du kích dũng cảm.

Người nêu lên những khuyết điểm trong phong trào du kích cần được sửa chữa ngay. “Nhiều nơi chưa hiểu rõ ràng, chưa hiểu triệt để ý nghĩa du kích, vì vậy mà có khuynh hướng sai lầm, là ham đánh trận to, ham đánh những cứ điểm kiên cố của địch. Chưa thiết thực thi hành sự tự cấp tự túc, xem thường việc tăng gia sản xuất.

Chưa phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân. Chưa biết tụ động tìm địch mà đánh.

Về mặt tổ chức và huấn luyện, thì ham hình thức, ít thiết thực”(1). Người phê bình: có nơi có lúc thường thì đội ngũ chỉnh tề, lúc có địch thì chẳng “du” mà cũng chẳng “kích”, thậm chí thấy địch đến lại “chuồn”.

Từ những ưu điểm, khuyết điểm trong phong trào du kích sau một năm toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành 7 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của dân quân du kích trong chiến tranh cách mạng:

“1. Thiết thực tổ chức và thiết thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly.

2. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vào lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khí thô sơ của ta.

3. Phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân.

4. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ cái nhiệm vụ vẻ vang của họ.

5. Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to.

6. Phải thực hành tự cấp tự túc bằng cách, thiết thực, bằng cách tăng gia sản xuất.

7. Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua. Làng này thi đua với làng khác, huyện, tỉnh, khu này thi đua với huyện, tỉnh, khu khác”(2).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 81, 82


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:17:03 pm
Tháng 8 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị cán bộ Trung ương bàn về phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với dân quân du kích.

Mục đích tác chiến của bộ đội chủ lực trong giai đoạn mới là tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch. Hội nghị quyết định xây dựng những tiểu đoàn chủ lực mạnh để tiến lên đánh vận động ngày càng lớn; bộ đội chủ lực phải học đánh từng bước, diệt cứ điểm nhỏ và riêng lẻ của địch trước rồi mới đánh những cứ điểm trung binh và cứ điểm lớn học đánh vận động từ tiểu đoàn đến trung đoàn.

Cũng trong tháng 8 năm 1948, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị quân sự bàn kế hoạch xây dựng bộ đội chủ lực. Đến thăm Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đội ngũ cán bô quân sự phải trau dồi tài năng và đạo đức.

Người dạy: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:

Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.

Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng.

Tín là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn nghĩa là tự tin ở sức mình nữa nhưng không phải là tự mãn tự cao.

Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.

Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung.

Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế; chớ tham danh vọng, tham sống.

Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”(1).

Người xác định: công tác của người tướng là:

“1. Đối với kỷ luật. Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.

Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.

2. Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đầu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

... Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.

3. Đối với dân... Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.

4. Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức mới bắt được”. “Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại”.

Ta biết rõ địch thì thắng. Nếu để địch biết rõ ta thì sẽ thất bại. Cho nên phải hết sức giữ bí mật.

Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: với đội ngũ cán bộ quân sự có tài, có đức như thế, với phương châm chiến lược, chiến thuật mới, kháng chiến nhất định thắng lợi.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 125-126.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 126-127.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:20:07 pm
Mùa hè 1948, Đoàn đại biểu quân, dân, chính Nam Bộ do đồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn và Đoàn đại biểu quân sự Bình - Trị - Thiên do đồng chí Trần Văn Quang làm Trưởng đoàn ra đến Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu của hai chiến trường xa giữa lòng căn cứ địa.

Đoàn đại biểu Nam Bộ bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối của đồng bào Nam Bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoàn đại biểu Bình - Trị - Thiên bày tỏ với Người quyết tâm đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở địa phương.

Người thăm hỏi Đoàn đại biểu Nam Bộ về tình hình đoàn kết nội bộ và đoàn kết toàn dân, tình hình tổ chức dân quân, việc giúp đỡ kháng chiến của nhân dân nước bạn Campuchia. Với Đoàn đại biểu Bình - Trị - Thiên, Người phân tích: địch càng khủng bố càn quét thì máu căm hờn của đồng bào ta càng sôi sục nhiều hơn. Đó là một điều để ta chuyển được tình thế. Người nêu rõ: kháng chiến của ta là toàn dân, toàn diện, cả nước kháng chiến. Từ Nam Quan đến Cà Mau chỉ có một mặt trận. Nhưng từng nơi có hoàn rảnh riêng. Có bại rồi mới có thắng. Có nhỏ rồi mới có to, có tổ du kích ngày trước thì mới có lực lượng hùng hậu ngày nay.

Sau thất bại ở Việt Bắc thu - đông 1947, thực dân Pháp thấy không thể giải quyết chiến tranh bằng vài cuộc hành quân lớn và chỉ với lực lượng của bản thân chúng. Từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, chúng buộc phải chuyển sang chiến lược đánh kéo dài, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, đồng thời ra sức xin viện trợ của đế quốc Mỹ. Thực hiện chính sách “siết chặt và vết dầu loang, thực dân Pháp thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ đánh vào từng thôn xã nhằm triệt phá cơ sở kinh tế và chính trị của ta, bình định vùng chúng chiếm đóng lấn chiếm vùng tự do, bao vây phong tỏa biên giới, ra sức lập ngụy quân ngụy quyền, giành giật sức người, sức của với ta.

Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Vùng địch chiếm đóng mở rộng ra nhanh chóng, hội tề mọc lên, hàng vạn thanh niên bị bắt đi lính ngụy. Quân địch rải ra lập cứ điểm và tháp canh ở đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ.

Tháng 2 năm 1948, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra khuyết điểm lớn của các địa phương là đặt kế hoạch chủ quan, không căn cứ vào thực tế, cho nên khi địch tiến công thì tán loạn hết; “... ngoài một ít nơi, còn thì bộ đội chạy, du kích chạy, cơ quan chạy, cán bộ chạy. Để dân hoang mang, vất vả, cực khổ, thiệt hại oán giận... Đó là một tình trạng rất đáng tiếc, đáng đau lòng!”(1).

Nêu lên câu hỏi: Trách nhiệm ấy ai phải chịu? Người giải đáp: cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi. Thế mà vì hẹp hòi, bao biện, không biết phân công. Vì nhân dân chưa biết lựa chọn đề cử ra những người có năng lực. Vì cấp trên không biết cất nhắc, giúp đỡ, đốc thúc, kiểm tra, huấn luyện. Thành thử phần nhiều cấp xã là uể oải, thiếu năng lực, kém tinh thần”(2). Người phân tích cả những yếu kém về các mặt kinh tế, văn hóa, y tế đã xuất hiện ở nhiều làng xã như “Tín dụng sản xuất thì thi hành sai mục đích. Cho vay để tiêu pha nhiều hơn là cho vay để sản xuất... Hợp tác xã không biết chọn người có năng lực, có công tâm làm quản lý, để đến nỗi có sự nhũng lạm, phá sản, thiệt thòi cho dân, mất cả tín nhiệm”(3).

Người chỉ thị cho các địa phương phải lập ngay một chương trinh thiết thực, “bệnh nào thuốc ấy”, sửa chữa những khuyết điểm. Người kêu gọi cán bộ, đảng viên phải “đi sát với dân chúng. Phải đem cả lòng vì nước vì dân, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính”(4) mà làm cho địa phương mình mau tiến bộ. Một lần nữa, trước những đòn đánh phá ác liệt của địch, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao đạo đức cách mạng, bám dân bám đất, dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 44-45.
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 44-45, 46.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:22:02 pm
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, ngay từ mùa xuân 1948, các đảng bộ địa phương đẩy mạnh cuộc đấu tranh trong các vùng bị địch chiếm đóng. Vượt qua mọi gian khổ hiểm nguy, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, cán bộ và đảng viên các địa phương tiến sâu vào vùng bị chiếm đóng, ngày đêm lăn lộn với quần chúng, bắt mối với cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới, khôi phục phong trào, tổ chức nhân dân đấu tranh với địch từ hình thức thấp đến hình thức cao. Nhiều khu du kích và căn cứ du kích hình thành. Nhiều đội du kích địa phương ra đời. Trong cuộc đấu tranh sống mái với quân thù, nhiều cán bộ, đảng viên và chiến sĩ đã lẫm liệt hy sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ hoạt động trong vùng địch là “những chiến sĩ kiểu mẫu của dân tộc, những người con xứng đáng của Đảng”, “rất dĩng cảm, tận tụy, bất kỳ gian nan nguy hiểm thế nào, vẫn cứ đi sát với dân, vẫn cứ bám lấy công việc, không nhút nhát, không phiền, hy sinh cả tính mệnh cũng không tiếc(1).

Cùng thời gian này, các tiểu đoàn chủ lực thuộc Bộ Tổng chỉ huy, thuộc các chiến khu, các tỉnh diệt được cứ điểm nhỏ và những đội quân hàng trăm tên địch. Các chiến công La Ngà, Tầm Vu, Mộc Hóa, La Bang, Lũng Mười, Mường Him, Lũng Vài, Bố Củng, Bản Trại, Đèo Khách, Phủ Thông, An Châu, Đồng Dương... đánh dấu bước trưởng thành mới của bộ đội chủ lực. Cả nước phấn khởi, càng quyết tâm đẩy mạnh kháng chiến.

Cuối năm 1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị tổng phá tề. Có lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân các vùng bị chiếm đóng nổi dậy quét ngụy quyền trên nhiều khu vực rộng lớn, lập lại chính quyền kháng chiến. Khí thế quần chúng nổi dậy mãnh liệt. Từ đồng bằng Bắc Bộ đến Bình - Trị - Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, đồng bằng Nam Bộ, nhiều xã ấp được giải phóng.

“Biến hậu phương địch thành tiền phương ta” là thành công lớn nhất của quân và dân ta trong thu - đông 1948. Cơ sở chính trị và quân sự của cả một chiến lược của địch đã bị lung lay. Thắng lợi đó tạo điều kiện cho ta xây dựng bộ đội chủ lực, đẩy vận động chiến tiến tới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị cán bộ Trung ương (1-1949) giữa lúc tình hình quốc tế biến chuyển dồn dập. Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đang tiến xuống Hoa Nam.

Hội nghị nhận định: ngọn trào dân chủ mới của Trung Hoa sẽ tràn đến biên giới Đông Dương. Chúng ta phải nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy thời cơ chiến lược.

Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị xác định: xây dựng bộ đội chủ lực là trung tâm công tác lúc này. Phải tập trung cán bộ, tập trung vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc cho những đơn vị có nhiệm vụ đánh vận động. Mọi việc biên chế, trang bị, huấn luyện đều nhằm mục đích thực hiện vận động chiến mà tiến hành. Phải từ chủ động chiến thuật và chiến dịch đi đến chủ động chiến lược bộ phận một cách mạnh bạo hơn. Du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phù trợ. Nhưng cần đẩy mạnh vận động chiến đi tới và khi có đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng.

Kết thúc Hội nghi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh một trong những việc phải làm trong năm 1949 là: “Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trước hết”(2). “Những vấn đề thảo luận thì nhiều, nhưng đều hướng vào một đường đi: kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội”(3).

Tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Đó là lực lượng vũ trang tập trung cơ động trên địa bàn địa phương, cùng dân quân du kích và tự vệ làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân ở địa phương, đồng thời là lực lượng hậu bị trực tiếp của bộ đội chủ lực.

Cũng trong tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Các đại đội độc lập đang hoạt động ở sau lưng địch được tập trung lại thành những tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực thuộc Bộ Tong tư lệnh hoặc thuộc Bộ tư lệnh các chiến khu. Tháng 8 năm 1949, Đại đoàn 308, đại đoàn chủ lực đầu tiên được thành lập, có nhiệm vụ đi tiên phong trên con đường vận động chiến. Tiếp đó, các đại đoàn khác lần lượt được xây dựng. Hàng nghìn cán bộ đảng được điều động vào quân đội. Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp và Bộ Tổng Tham mưu được kiện toàn. Lực lượng vũ trang trong cả nước hình thành ba thứ quân: dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Ta đã có điều kiện kết hợp mặt trận sau lưng địch với mặt trận trước mặt địch; vừa có lực lượng tại chỗ để tiêu hao, tiêu diệt, phân tán, giam chân địch, vừa có lực lượng cơ động để đánh những trận tiêu diệt ngày càng lớn.

Cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, phong trào thi đua ái quốc sôi nổi khắp nơi. Thế và lực kháng chiến ngày càng lớn mạnh.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 27.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 183.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:25:01 pm
Năm 1949, trước sự phát triển của cuộc kháng chiến ở Việt Nam và thắng lợi to lớn của cách mạng Trung Hoa, thực dân Pháp đề ra một kế hoạch chiến lược mới với sự đồng tình của đế quốc Mỹ. Nội dung chủ yếu của kế hoạch này là tăng thêm quân, lấy Bắc Bộ làm chiến trường chính, mở rộng vùng chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tăng cường phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, tăng cường phong tỏa vùng biên giới Việt Trung, triệt để bao vây căn cứ địa Việt Bắc. Với việc viện trơ quân sự cho thực dân Pháp để thực hiện kế hoạch chiến lược này, đế quốc Mỹ bắt đầu can thiệp công khai vào cuộc chiến tranh Đông Dương nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng lan rộng ở Đông Nam châu Á.

Được tăng thêm lực lượng, thực dân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta càng trở nên quyết liệt. Quân địch khủng bố dữ dội. Hội tề lập lại ở nhiều nơi. Cơ sở kháng chiến ở nhiều làng xã lại bị mất trắng.

Trước khó khăn mới của nhân dân các vùng bị chiếm đóng Chủ tịch Hồ Chí Minh tự nhận trách nhiệm: “... một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân”(1). Người kêu gọi: “Bất kỳ già trẻ gái trai, mỗi người Việt Nam ở trong vùng tạm bị địch chiếm phải là người đào mồ chôn quân địch. Sự giải phóng của đồng bào, một phần do Chính phủ ta phụ trách, mà một phần cũng ở trong tay đồng bào”(2).

Với kinh nghiệm phát động chiến tranh du kích và tổng phá tề năm 1948, các cấp ủy đảng địa phương đã bám dân, bám đất, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị bảo vệ cơ sở, một lần nữa khôi phục phong trào kháng chiến ở các vùng sau lưng địch. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt ấy, quần chúng cách mạng có thêm kinh nghiệm, cơ sở cách mạng được rèn luyện vững chắc, phong trào chiến tranh du kích dần dần được khôi phục và phát triển.

Vừa xây dựng vừa chiến đấu, trong năm 1949 và đầu năm 1950, bộ đội chủ lực mở hàng chục đợt hoạt động đánh vận động trên khắp các chiếụ trường từ Bắc chí Nam. Mỗi đợt hoạt động sử dụng từ vài tiểu đoàn đến vài trung đoàn, giải phóng được một số vùng với vài vạn dân. Bộ đội chủ lực đã tiến bộ về tác chiến và xây dựng lực lượng, nhưng vẫn còn thiếu những binh khí kỹ thuật để đánh cứ điểm kiên cố và còn thiếu kinh nghiệm tác chiến tập trung để tiến lên đánh vận động thực sự.

Tháng 4 năm 1949, trong khi Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến xuống Hoa Nam, ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở tỉnh Quảng Tây đề nghị Việt Nam cùng phối hợp chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định dùng bộ đội chủ lực của Quân khu Việt Bắc và bộ đội địa phương hai tỉnh Lạng Sơn, Hải Ninh mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giúp bạn mở rộng vùng căn cứ Ung - Long - Khâm. Người chỉ dẫn phương châm tác chiến nhằm đánh bại quân Tưởng, tiễu trừ thổ phỉ, giải phóng và bảo vệ nhân dân nước bạn trong khu vực tác chiến. Người căn dặn cán bộ chỉ huy: “Cẩn thận, bí mật, đoàn kết, hữu nghị, thắng lợi”. Trong chiến dịch này, bộ đội ta cùng bộ đội bạn giải phóng một khu vực từ Thủy Khẩu (Long Châu) đến Ninh Minh, Bằng Tường, Phòng Thành (Khâm Châu). Tuy còn nhiều khó khăn, cách mạng Việt Nam vẫn ghé vai với cách mạng Trung Quốc, thể hiện một tinh thần quốc tế vô sản trong sáng.

Cách mạng Trung Quốc thành công. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Thay mặt nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Chủ tịch Mao Trạch Đông chúc mừng thắng lợi vĩ đại của cách mạng Trung Quốc và công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Mùa xuân năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Liên Xô và Trung Quốc. Sau 10 năm về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ quốc tế Nguyễn Ái Quốc trở lại Mát-xcơ-va. Cùng đi với Người có đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng.

Trong thời gian ở Liên Xô, Người đã hội đàm với các nhà lãnh đạo Xô - viết, thông báo tình hình đấu tranh cách mạng và sự phát triển cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, trao đổi ý kiến về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam và địa vị của phong trào cách mạng Việt Nam trong trào lưu cách mạng thế giới. Tại Liên Xô, Người cũng gặp đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và nhiều tổ chức quốc tế, tranh thủ sự ủng hô của cách mạng thế giới đối với cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Trong thời gian ở Trung Quốc, Người đã hội đàm với các nhà lãnh đạo của nước Trung Hoa mới và thống nhất với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc cách mạng Trung Quổc viện trợ quân sự cho cách mạng Việt Nam.

Cũng trong thời gian này, với bút danh Đin, Người đã viết bài báo nhan đề “Nước Việt Nam đấu tranh cho nền độc lập của mình” đăng trên tạp chí Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân. Sau khi giới thiệu cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam giữa vòng vây đế quốc, bài báo nêu rõ: “... trái với tất cả những sự tính toán của lực lượng phản động quốc tế, đứng đầu là lực lượng phản động Pháp - Mỹ đang muốn biến Việt Nam thành một cái hàng rào chống cộng sản ở Đông Nam Á, nước Việt Nam dũng cảm đang trở thành một tiền đồn vững chắc của mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này của thế giới”(3). Người xác định việc Liên Xô, nước Trung Hoa mới và các nước dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là một thắng lợi lớn đối với Việt Nam. Cảm tình của nhân dân lao động toàn thế giới và sự đoàn kết của nhân dân Pháp đã dấy lên một phong trào rộng lớn chống “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam lại là một thắng lợi to lớn nữa. Người khẳng định: nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh đuổi tất cả bọn xâm lược và giải phóng Tổ quốc. “Quyết tâm bền bỉ đó, niềm tin tưởng không gì lay chuyển đó của một dân tộc là sự bảo đảm vững chắc của thắng lợi cuối cùng”(4).

Tháng 3 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về căn cứ Việt Bắc.

Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân lần lượt công nhận Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vòng vây của chủ nghĩa đế quốc bị phá vỡ. Từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam được tiếp thêm sức mạnh của cách mạng thế giới, chuyển sang phản công và tiến công.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 191.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 361.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 361.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:29:12 pm
IV. CHUYỂN MẠNH SANG GIAI ĐOẠN PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG,
THỰC HIỆN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC

Tháng 1 năm 1950, trong khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường tới Liên Xô, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã họp tại căn cứ địa Việt Bắc.

Trong thư gửi Hội nghị, Người vạch rõ: “Xét tình hình trong nước và ngoài nước, thế lực của ta và của địch, năm nay là năm cuộc kháng chiến của ta chuyển biến lớn”. “Nhiệm vụ của năm mới là: hoàn thành việc chuẩn bị, chuyển mạnh sang tổng phản công”(1).

Theo tinh thần ấy, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã đề ra những chủ trương cụ thể nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, động viên mọi lực lượng, khẩn trương xây dựng quân đội nhân dân ngày càng tinh nhuệ, đánh mạnh thắng to, đưa cuộc kháng chiến phát triển sang giai đoạn mới.

*
*   *

Năm 1950, theo sự thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đại đoàn 308 và một số trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh được điều lên vùng biên giới Việt - Trung để huấn luyện và nhận trang bị mới.

Với sự giúp đỡ của các cố vấn Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, bộ đội ta đã đúc kết kinh nghiệm chiến đấu của mình, học tập kinh nghiệm của bạn. Sức chiến đấu của bộ đội được nâng lên rõ rệt.

Tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới giải phóng một phần biên giới từ Cao Bằng đến Đông Khê, Thất Khê, mở rộng vùng căn cứ địa Việt Bắc, phá hàng rào phong tỏa của thực dân Pháp, “mở đường giao thông quan trọng với Trung Quốc và thế giới dân chủ”(2).

Liên khu ủy và Bộ tư lệnh liên khu Việt Bắc động viên sức người sức của, huy động hàng vạn đồng bào các dân tộc đi dân công phục vụ chiến dịch. Đoàn thanh niên cứu quốc tổ chức những đội thanh niên xung phong làm đường ra tiền tuyến. Các chiến khu khác được lệnh đánh mạnh, kiềm chế địch, không cho địch tiếp viện lên Cao - Bắc - Lạng.

Mùa hè năm 1950, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đến căn cứ địa Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đồng chí Trần Canh, Trưởng Đoàn cố vấn quân sự, trước khi Đoàn lên biên giới cùng Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị phương án tác chiến.

Đầu tháng 9 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường đi chiến dịch. Người kêu gọi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích: “Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết đánh thắng trận này”(3). Người cổ vũ thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”(4).

Ngày 10 tháng 9 năm 1950, tại sở chỉ huy chiến dịch ở làng Tả Phầy Tử (Quảng Uyên, Cao Bằng), Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch gồm bốn bước: đánh Đông Khê; đánh quân viện của địch lên Đông Khê; đánh Thất Khê; đánh Cao Bằng. Ngày hôm sau, Người chỉ thị về mục đích và quyết tâm chiến dịch cho cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn và đại đoàn. Tiếp đó, Người ra trực tiếp quan sát cụm cứ điểm Đông Khê.

Bác Hồ kính yêu ra trận là biểu hiện ý chí quyết thắng cao nhất của Đảng và của toàn dân, toàn quân ta. Toàn mặt trận phấn khởi tin tưởng, nô nức lập công.

Ngày 16 tháng 9 năm 1950, đạn pháo ta giáng xuống Đông Khê. Chiến dịch Biên Giới bắt đầu.

Sau hơn hai ngày đêm chiến đấu ác liệt, bộ đội ta tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Đông Khê. Ngay sau chiến thắng Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: có thể địch sẽ giành lại Đông Khê để giữ vững Cao Bằng, hoặc đánh lên Đông Khê để đón quân Cao Bằng rút lui. Người vạch ý đồ tác chiến của ta là: “nhử thú dữ vào tròng” để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng.

Mất Đông Khê, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định rút quân khỏi Cao Bằng theo kế hoạch: một mặt vét lực lượng dự bị chiến lược còn lại ở Bắc Bộ mở cuộc hành quân từ Hà Nội lên chiếm thị xã Thái Nguyên, hy vọng kéo chủ lực ta vể để đỡ đòn cho biên giới; một mặt dùng lực lượng cơ động ở Lạng Sơn do Lơ Pa-giơ chỉ huy đánh chiếm lại Đông Khê đón quân ở Cao Bằng về. Ngày 3 tháng 10, quân địch ở Cao Bằng do Sác-tông chỉ huy rút khỏi thị xã Cao Bằng, theo đường số 4 xuống Đông Khê. Thú dữ đã vào tròng.

Cuộc chiến đấu vây đánh binh đoàn Lơ Pa-giơ đã diễn ra quyết hệt 7 ngày đêm ở tây - nam Đông Khê. Ngày 6 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh điện cho các chiến sĩ: “Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để giành lấy toàn thắng”(5). Sáng ngày 7 tháng 10, binh đoàn này hoảng loạn tháo chạy. Chiều ngày 8 tháng 10, Lơ Pa-giơ cùng bộ tham mưu hành quân bị bắt sống.

Được tin quân cứu viện lâm vào cảnh khốn quẫn, Sác-tông cho đốt hết xe, pháo, bỏ đường số 4, rẽ tắt vào rừng, hy vọng hợp quân với Lơ Pa-giơ ở tây - nam Đông Khê. Bộ đội ta nhanh chóng vận động đến khép chặt vòng vây. Người gửi thư động viên, khen ngợi cán bộ và chiến sĩ: “Từ ngày kháng chiến đến nay, trận này là trận đầu tiên bộ đội ta đánh vận động liên tiếp luôn mấy ngày. Đó là một cuộc thử thách lớn. Các chú không mệt nhọc, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch... Các chú đã hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách một cách dũng cảm. Các chú cố gắng mà tiêu diệt nốt binh đoàn Sác-tông nhé. Bác và Tổng tư lệnh đã ra lệnh khao các chú một bữa thịt bò”(6). Chiều ngày 7 tháng 10, binh đoàn Sác-tông bị tiêu diệt. Sác-tông và bộ tham mưu binh đoàn cùng tên tỉnh trưởng Cao Bằng bị bắt sống.

Tại Thái Nguyên, quân địch tháo chạy về Hà Nội.

Ở Đông Bắc, quân Pháp bỏ Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn Đình Lập, An Châu chạy về Tiên Yên. Đồng thời ở Tây Bắc quân Pháp cũng bỏ Hoàng Su Phì, Bắc Hà, Bảo Thắng, Lào Cai, Sa Pa chạy về Than Uyên, Nghĩa Lộ. Hệ thống vành đai khép chặt biên giới bị phá vỡ. Một dải chiến lược vùng biên giới được giải phóng. Căn cứ địa Việt Bắc được củng cố. Hậu phương kháng chiến của ta nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác.

Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta, một chiến dịch đánh vận động, đánh tiêu diệt xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Trong “Lời kêu gọi và khuyên nhủ chiến sĩ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “... trong trận này, ta đã thắng hai trận: thắng lợi thứ nhất, chúng ta đã tiêu diệt địch và đã giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thứ hai là ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta”. “Chúng ta chớ vì thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan khinh địch; chúng ta phải nhớ trong toàn cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này chỉ mới là một bước đầu. Chúng ta còn phải đánh và phải thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”(7).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 340.
(2) Ban nghiên cứu lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t.1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 396.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 416, 425.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 433.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 434, 437-438.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:32:25 pm
*
*   *

Trong không khí phấn khởi tràn ngập cả nước sau chiến thắng Biên Giới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã họp tại tỉnh Tuyên Quang.

Tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Báo cáo chính trị kiểm điểm những biến chuyển lớn trên thế giới trong 50 năm đầu của thế kỷ và những bước phát triển của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời, đề ra những nhiệm vụ mới nhằm đưa kháng chiến đên thắng lợi, xây dựng chế độ dân chủ mới.

Về quân sự, Người nói: “Địch âm mưu đánh chớp nhoáng. Chúng muốn đánh mau, thắng mau, giải quyết mau, thì Đảng và Chính phủ ta nêu lên khẩu hiệu: Trường kỳ kháng chiến. Địch âm mưu chia rẽ thì ta nêu lên khẩu hiệu: Đoàn kết toàn dân. Thế là ngay từ lúc đầu, chiến lược ta đã thắng chiến lược địch”(1). Người chỉ rõ: “kháng chiến trường kỳ, thì quân đội phải đủ súng đạn, quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc. Nước ta nghèo, kỹ thuật ta kém, những thành phố có chút công nghiệp đều bị giặc chiếm. Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất. Đảng và Chính phủ bèn nêu ra khẩu hiệu Thi đua ái quốc. Thi đua mọi mặt, nhưng nhằm ba điểm chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”(2).

Báo cáo chính trị phân tích sự chuyển biến so sánh lực lượng giữa ta và địch. “Lúc bắt đầu kháng chiến, quân đội ta là một quân đội thơ ấu. Tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt. Quân đội địch là một quân đội nổi tiếng trong thế giới. Chúng có hải quân, lục quân, không quân. Chúng lại có đế quốc Anh - Mỹ giúp, nhất là Mỹ. Lực lượng ta và địch so le nhiều như thế, cho nên lúc đó có người cho rằng: cuộc kháng chiến của ta là “châu chấu đấu voi”. Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì như thế thật. Vì để chống máy bay và đại bác của địch, lúc đó ta phải dùng gậy tầm vông. Nhưng Đảng ta theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta không nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

Nay tuy châu châu đấu voi
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra.


Sự thật đã chứng tỏ rằng “voi” thực dân đã bắt đầu lòi ruột mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chia cuộc kháng chiến thành ba giai đoạn chiến lược. 16 năm sau, năm 1967, trả lời phỏng vấn của nữ văn sĩ Đức Stéc-nơ, Người nói: “Chia một cuộc chiến tranh đang xảy ra thành những giai đoạn thì có phẩn hơi khó. Chỉ sau đó thì mới có thể phân chia như vậy được”(4). Nhưng lúc này với năng lực dự đoán của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định:

Giai đoạn thứ nhất: ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn này từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến hết chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947. Giai đoạn thứ hai: chuẩn bị tổng phản công. Giai đoạn này từ sau chiến thắng Việt Bắc năm 1947 đến lúc này. Giai đoạn thứ ba: tổng phản công. Người nêu rõ quan điểm biện chứng trong việc xem xét, phân chia các giai đoạn: “... giai đoạn này có dính líu với giai đoạn khác, nó kế tiếp giai đoạn trước và nó gây những mầm mống cho giai đoạn sau. Có nhiều sự biến đổi mới sinh ra từ một giai đoạn này đến một giai đoạn khác. Trong một giai đoạn cũng có những sự biến đổi của nó. Có thể xét tình hình chung mà định ra từng giai đoạn lớn, nhưng không thể tách hẳn từng giai đoạn một cách dứt khoát như người ta cắt cái bánh. Một giai đoạn dài hay ngắn phải tùy theo tình hình trong nước và thế giới, tùy theo sự biến đổi lực lượng địch và lực lượng ta”(5). Người nhắc nhở: “Vô luận thế nào, chuẩn bị càng cẩn thận, càng đầy đủ, thì tổng phản công càng chắc chắn, càng thuận lợi”(6).

Về lực lượng vũ trang nhân dân, Người chỉ rõ: “Trong công việc xây dựng và phát triển quan đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chỉnh trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân. Đồng thời, phải phát triển và củng cố dân quân du kích về mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó”(7).

Người nêu bật sức mạnh của tinh thần yêu nước, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền giáo dục, ý nghĩa thời đại của việc kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong thời đại ngày nay, “tinh thần yêu nước chân chính khác hẩn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”(8). “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(9).

Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng là một văn kiện lịch sử, trong đó đã phản ánh đậm nét những quan điểm, tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân hình thành trong quá trình kháng chiến.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 22-23.
(3), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 23-24, 25-26.
(4) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb Tác phẩm mới, H. 1985, tr. 369.
(7), (8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 36-38


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:37:48 pm
* 
*   *

Sau thất bại quân sự cuối năm 1950, tình trạng của thực dân Pháp ở Việt Nam giống như người cưỡi trên lưng hổ. “Xuống chăng? Sẽ bị ăn thịt. Đừng xuống chăng? Bị ăn thịt mất thôi”(1).

Tuyệt vọng, thực dân Pháp cầu cứu đế quốc Mỹ.

Tháng 12 năm 1950, Chính phủ Pháp cử tướng Đờ-lát đờ Tát-xi-nhi, Tư lệnh lục quân khối Tây Âu làm Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, đồng thời ký với Mỹ hiệp định về viện trợ quân sự của Mỹ cho cuộc chiến tranh Đông Dương. Được trao toàn quyền cả về chính trị và quân sự, viên tướng này có nhiệm vụ triệt để thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, tổ chức phản công giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.

Với vũ khí và tiền bạc của Mỹ, thực dân Pháp ra sức tăng quân, lập những binh đoàn cơ động. Coi đồng bằng Bắc Bộ là “cái then cửa của vùng Đông Nam Á”, Tát-xi-nhi xúc tiến xây dựng phòng tuyến “boong-ke” từ Hòn Gai, Đông Triều, qua Vĩnh Yên; Phúc Yên, Sơn Tây đến Ninh Bình, ở ngoài, địch tàn phá làng mạc, cưỡng bức dân vào vùng chúng kiểm soát, lập “vành đai trắng”. Ở trong, địch càn quét các căn cứ du kích, dồn dân vào các khu tập trung, đốt phá hoa màu, bắn giết trâu bò, phá đê điều và các công trình thủy lợi. Chúng ra sức củng cố ngụy quyền, cưỡng bức thanh niên vào lính ngụy.

Những trận càn quét khốc liệt của địch ở các vùng bị tạm chiếm gây cho ta nhiều tổn thất. Phong trào đấu tranh sụt xuống. Địch đã thực hiện được một phần âm mưu của chúng. Tuy chưa giành lại được thế chủ động chiến lược, nhưng thực dân Pháp đã củng cố được thế phòng ngự ở đồng bằng Bắc Bộ.

Sau chiến thắng Biên Giới, Bộ Tổng tư lệnh liên tiếp mở ba chiến dịch: chiến dịch Trung Du (12-1950), chiến dịch Đường số 18 (3-1951) và chiến dịch Hà - Nam - Ninh (5-1951) nhằm làm thay đổi tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng do chọn hướng tiến công chiến lược vào nơi địch phát huy được chỗ mạnh của chúng là hỏa lực và cơ động, nên tuy tiêu diệt dược nhiều địch, nhưng ta cũng bị tiêu hao, không đạt được mục tiêu chiến lược đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự Hội nghị kiểm thảo chiến dịch Đường số 18. Người kêu gọi cán bộ chỉ huy nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình để tìm ra kinh nghiệm và khắc phục khuyết điểm, đưa quân đội ta tiên tới những thắng lợi mới. Người yêu cầu cán bộ “phải có tinh thần phụ trách, thành tâm phụ trách, dũng cảm phụ trách. Trước khi làm phải có thảo luận cho kỹ để chủ trương cho đúng và đặt kế hoạch cho sát”(2). Người chỉ thị phải tăng cường đoàn kết nội bộ trong hoàn cảnh chiến đấu gay go, quyết liệt. Người dạy: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới là dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”(3).

Tuân theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ chỉ huy đề cao tinh thần trách nhiệm, ra sức nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội. Cơ quan chiến lược tích cực nghiên cứu hướng tiến công của bộ đội chủ lực để giành những thắng lợi ngày càng lớn.

Đi đôi với chỉ đạo bộ đội chủ lực tiến lên đánh vận động, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chú trọng chỉ đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích ở mặt trận sau lưng địch.

Năm 1951, báo Cứu quốc đăng bài “Đẩy mạnh chiến tranh du kích” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Nguyễn Thao Lược. Người khái quát nguyên tắc đánh du kích là: “Ta biết rõ giặc, giặc không rõ ta. Đi nhẹ không tăm, về lặng không tiếng. Tiến nhanh như gió, thoái kín như đêm. Phục giặc không biết, đánh giặc không ngờ”(4). “Đánh như vậy thì du kích thực sự là kho thuốc súng trong lòng địch”(5). Tiếp đó, tác phẩm “Tỉnh ủy bí mật” của nhà văn Liên Xô Phê-dô-rốp do Người lược dịch và viết lời tựa, được phát hành rộng rãi. Bằng những mẩu chuyện cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, cuốn sách chứng minh rằng: “Du kích tổ chức khéo, thì toàn dân gái, trai, già, trẻ, sĩ, nông, công, thương ai cũng có thể tham gia. Người thì lo đánh giặc, người thì lo tiếp tế, tình báo, liên Ịạc, tuyên truyền. Mọi người đều có dịp phụng sự Tổ quốc”(6). “Sức du kích thật mạnh thì chiến tranh giải phóng nhất định thắng lợi”(7).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 358.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 71-72.
(4), (5) Lưu trữ Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, số DDS1/II 100/47.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 129, 130.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:39:45 pm
Tháng 9 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghi lần thứ 2 của Trung ương Đảng về công tác trong vùng tạm chiếm và vùng du kích.

Xem xét phong trào du kích từ trước đến lúc này, Hội nghị chỉ ra những thiếu sót: thiếu một chủ trương toàn bộ, chuyển hướng đấu tranh không kịp thời, chủ trương máy móc và nhất loạt, không biết bảo toàn lực lượng, chưa biết lấy dân làm gốc. Hội nghị định ra tiêu chuẩn phân biệt hai vùng: vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, chỉ rõ nhiệm vụ và hình thức đấu tranh ở từng vùng. Ở vùng tạm chiếm là nơi địch kiểm soát chặt hoặc tương đối chặt, nhiệm vụ là xây dựng và phát triển cơ sở, đấu tranh chính trị và kinh tế là chính, khi có điều kiện thì chuyển lên đấu tranh vũ trang. Vùng du kích là nơi địch và ta giằng co nhau, có nơi có căn cứ du kích tức vùng tự do của ta, thì nhiệm vụ là giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và đấu tranh kinh tế, xây dựng, củng cố và mở rộng căn cứ du kích. Vùng tạm chiếm và vùng du kích không có giới hạn phân vùng phân tuyến rạch ròi. Cần phân biệt vùng tạm chiếm và vùng du kích để định phương châm đấu tranh cho đúng. Hội nghị xác định: công tác trong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích có ba việc chính: dân vận, vận động ngụy binh, chiến tranh du kích, cả ba việc gắn liền với nhau, đều xây dựng trên cơ sở nhân dân rộng rãi và kết hợp với toàn bộ cuộc đấu tranh của nhân dân.

Tại Hội nghị chiến tranh du kích do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt”(1). Người chủ trương đưa một số đơn vị chủ lực vào tác chiến ở mặt trận sau lưng địch. Người căn dặn “bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân... phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân... Phải vận động nhân dân, để dân tự nguyện, tự giác... Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt... phái giúp đỡ cả nhân dân... phải biết chiến thuật du kích”(2).

Sau một năm ra sức củng cố thế phòng ngự, bình định vùng chiếm đóng và tăng cường lực lượng, cuối năm 1951, Tát-xi-nhi mở cuộc phản công lớn, đem quân cơ động chiến lược đánh ra Hòa Bình nhằm cắt đường tiếp tế liên lạc, phá sự chuẩn bị tiến công của ta, thu hút chủ lực ta đến để tiêu diệt, giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ.

Ngay sau khi các binh đoàn cơ động của Tát-xi-nhi tiến ra Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực; bộ đội địa phương và dân quân, du kích: “Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch. Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch thu - đông của chúng”(3).

Theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch vây đánh địch ở Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực tiến vào vùng địch chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ phát triển chiến tranh du kích, đánh địch trên cả hai mặt trận trước mặt và sau lưng, phối hợp chặt chẽ hai mặt trận ấy với nhau.

Trên mặt trận Hòa Bình, bộ đội chủ lực vây đánh địch hơn ba tháng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ và phương tiện chiến tranh của chúng, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch giành thắng lợi lớn.

Tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt hàng loạt vị trí then chốt của địch, tạo điều kiện cho nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng hệ thống chiếm đóng của chúng, mở rộng và nối liền các vùng căn cứ của ta thành thế liên hoàn.

Sau bốn tháng bị vây đánh tả tơi, quân Pháp ở Hòa Bình rút chạy. Âm mưu của địch hòng phản công, giành lại thế chủ động chiến lược đã bị đánh bại.

Kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đánh vận động song song với đánh du kích trên cả hai mặt trận trước mặt và sau lưng địch và phối hợp chặt chẽ hai mặt trận ấy với nhau - tư tưởng quân sự đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất sớm và đến đây được thực hiện trên chiến trường Bắc Bộ. Các nguyên tắc tác chiến do Người đề ra: tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết dẻo dai, chắc thắng mới đánh, cũng được thực hiện phổ biến trong các lực lượng vũ trang nhân dân; bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng đánh để tiêu diệt sinh lực địch.

Chiến thắng ở Hòa Bình và ở vùng sau lưng địch năm 1951- 1952 chứng minh tư tưởng quân sự nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với quy luật phát triển của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, đưa đến những thắng lợi quân sự ngày càng lớn.


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 296, 297, 128.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:41:49 pm
*
*   *

Mùa thu năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, chuyển hướng tiến công chiến lược lên vùng rừng núi phía Tây.

Vùng Tây Bắc nằm trong hướng chiến lược phía Tây Đông Dương trải dài từ Tây Bắc Việt Nam qua Thượng Lào và Trung, Hạ Lào. Địa hình rừng núi ở đây hạn chê khả năng cơ động và sức mạnh hỏa lực pháo binh, không quân của địch; ngược lại, quân ta có điều kiện phát huy sở trường đánh ở vùng rừng núi. Nhưng đưa bộ đội chủ lực lên vùng rừng núi phía Tây, ta cũng gặp khó khăn lớn về hậu cần.

Tháng 9 năm 1952, đến thăm Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc, Người nói: “Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tầm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ... Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”(1).

Kể chuyện trên đường tới Hội nghị phải, qua một con suối nước lũ chảy xiết, không muốn để hội nghị chờ đợi mất thì giờ. Người đã chống gậy lần vượt qua và một số đồng bào thấy Người qua được cũng mạnh dạn bước sang theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đó là kinh nghiệm cho các chú. Bất kỳ việc gì, to hay nhỏ, mình có quyết tâm thì làm được, mà còn lôi cuốn người khác cùng quyết tâm như mình”(2).

Người chỉ thị cho bộ đội và dân công: “Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, chịu khó, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. Nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ mọi việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được”(3).

Tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay soạn thảo “Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ” cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng. Đó là những quy định cụ thể nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản, nghề nghiệp làm ăn của nhân dân; xử lý tài sản của giặc Pháp và của bọn phản quốc; bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, bệnh viện và các cơ quan văn hóa xã hội khác; bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài; giữ gìn trật tự trị an; thưởng người có công, phạt người có tội; tổ chức lại nhân dân để tăng gia sản xuất và để giúp chính quyền, quân đội. Tinh thần cơ bản của “Tám điều mệnh lệnh” là “giải phóng cho đồng bào khỏi ách nô lệ và giúp đỡ đồng bào xây dựng một đời sống tự do, sung sướng hơn”(4).

Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu.

Bộ đội ta tiêu diệt tất cả các vị trí địch từ sông Thao đến tả ngạn sông Đà; tiếp đó, vượt sông Đà, giải phóng một vùng rộng lớn từ Mộc Châu đến Điện Biên Phủ, đồng thời đánh bại cuộc hành quân của địch lên hậu phương chiến dịch ở Phú Thọ -Tuyên Quang. Vùng căn cứ Việt Bắc được mở rộng và củng cố. Bộ đội ta tiến bộ rõ rệt về đánh công kiên và đánh vận động, khắc phục được khó khăn về tiếp tế, tỏ rõ có khả năng đánh lớn ở chiến trường rừng núi xa hậu phương.

Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch, Người chỉ rõ: “Lên Tây Bắc, Trung ương nói: quyết tâm thì đánh được. Thế rồi các chú có quyết tâm và đánh thắng, do đó, chiến sĩ tin tưởng ở cán bộ. Tất cả bộ đội tin tưởng ở Trung ương Đảng và Chính phủ, nhờ đó mà thắng lợi lớn”(5).

Ngay sau chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ ta đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ kháng chiến Lào thỏa thuận việc Quân tình nguyện Việt Nam sang cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào mở chiến dịch Thượng Lào.

Theo lời dạy của Người “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”(6), bộ đội ta cùng quân đội và nhân dân Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa và một phần các tỉnh Phông Xa Lỳ, Xiêng Khoảng.

Căn cứ kháng chiến của nhân dân nước bạn ở Thượng Lào được mở rộng, nối liền với vùng tự do của Việt Nam. Một thế tiến công mới hết sức thuận lợi cho nhân dân ba nước Đông Dương xuất hiện.


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 307, 308.
(4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 313, 351, 401.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:46:21 pm
*
*   *

Tháng 1 năm 1953, Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng họp giữa lúc cục diện chiến tranh chuyển biến có lợi cho ta.

Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo quan trọng, phát triển và cụ thể hóa đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đường lối kháng chiến của Đảng. Người nhấn mạnh hai nhiệm vụ chủ yếu để đưa kháng chiến đến thắng lợi: một là, chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự trong giai đoạn tiến công chiến lược; hai là, phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.

Về chính sách ruộng đất, Người chỉ rõ: nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc... Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”(1). Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã ra nghị quyết thực hiện chính sách ruộng đất, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân.

Về chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự trong giai đoạn tiến công chiến lược, Người nêu lên 10 điểm:

“1. Phương hướng chiến lược của ta là: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do”(2).

2. Trên chiến trường chính là Bắc Bộ, bộ đội chủ lực phải thực hiện “đánh chắc, ăn chắc, mở rộng vùng tự do”(3); muốn vậy, phải “dùng vận hoạt chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhở ở đó địch sơ hở, yếu ớt... Đồng thời, có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch và tạo điều kiện cho vận động chiến”(4).

3. Trên các chiến trường sau lưng địch, “phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng tài sản cho dân; để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch”(5).

4. Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, các vùng tự do và vùng căn cứ du kích đã phải “xây dựng những tổ chức dân quân, du kích không thoát ly sản xuất”6, để trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trị an, bảo vệ lợi ích của quần chúng, đấu tranh với địch, phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực và bổ sung cho chủ lực.

5. Về chỉ đạo quân sự, phải phối hợp mặt trận trước mặt địch với mặt trận sau lưng địch một cách linh hoạt. “Như thế, một mặt lợi cho bộ đội chủ lực có thể tìm nhiều cơ hội để tiêu diệt địch; một mặt khác có thể giúp bộ đội, du kích hoạt động và giúp căn cứ du kích của ta sau lưng địch phát triển và củng cố”(7).

6. Trong giai đoạn tiến công chiến lược, càng phải “nhận rõ tính chất trường kỳ của kháng chiến. Cho nên, phải rất chú ý giữ gìn sức chiến đấu nhất định của bộ đội, không nên làm cho bộ đội hao mòn, mệt mỏi quá. Đồng thời cần phải yêu cầu bộ đội chịu khó, chịu khổ, kiên quyết, gan dạ thi đua diệt địch lập công. Hai điều đó không trái nhau, mà kết hợp với nhau”(8).

7. “Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải đảm bảo sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ: phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mật chính trị. Vì vậy cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội”(9).

8. “Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết là phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, cũng như trình độ chiến thuật và kỹ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác”(10).

Công tác của Bộ Tổng Tham mưu phải được tăng cường để nâng cao chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội. Công tác của Tổng cục Cung cấp phải được tăng cường để bảo đảm cung cấp đầy đủ cho chiến trường và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội, nhưng phải kiên quyết phản đối xu hướng sai lầm làm cho các cơ quan đó phình lên”(11).

9. Trong giai đoạn tiến công chiến lược, việc phát triển bộ đội là một yêu cầu tất yếu. “Phải có kế hoạch chung về việc xây dựng và bổ sung bộ đội. Ngoài việc động viên thanh niên ở vùng tự do tòng quân, cần phải rất chú ý tranh thủ và cải tạo ngụy binh đã đầu hàng ta để bổ sung cho bộ đội ta. Tổ chức bộ đội mới thì không nên hoàn toàn dùng cán bộ mới và binh sĩ mới, mà nên dùng cách lấy bộ đội cũ làm nền tảng để mở rộng bộ đội mới. Đồng thời cũng không nên vét sạch bộ đội du kích để bổ sung cho bộ đội chủ lực”(12).

10. “Cần phải tăng cường và cải thiện dần dần việc trang bị cho bộ đội, nhất là xây dựng pháo binh”(13).

Mười chính sách quân sự do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra tại Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã tổng kết những kinh nghiệm chỉ đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong những năm kháng chiến đã qua, vạch phương hướng cho quân và dân ta tiến vững chắc tới thắng lợi thể hiện rõ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh giải phóng ở giai đoạn cuối cùng.


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 343, 339, 340.
(4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 343, 341, 342, 339, 340.
(9), (10), (11), (12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 341-342.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:49:05 pm
Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã quyết định những chủ trương cụ thể chuẩn bị cho bộ đội ta đánh địch ở những nơi địch sơ hở, hoạt động mạnh ở các vùng sau lưng địch đưa bộ đội ta tiến lên tác chiến ngày càng lớn. Hội nghị chọn vùng rừng núi phía Tây Đông Dương là hướng tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực trong chiến cuộc đông - xuân 1953-1954 và quyết định tập trung toàn lực giành thắng lợi quyết định. Để bảo đảm bí mật tuyệt đối cho cuộc tiến công. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các Ủy viên Trung ương Đảng tham dự Hội nghị “không được phổ biến hướng tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực cho bất kỳ cấp nào”(1).

Tháng 2 năm 1953, Hội nghị liên tịch giữa Ban thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc nhất trí tán thành nghị quyết về phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng. Tháng 4 năm 1953; Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh về ruộng đất. Tháng 11 năm 1953, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, cải thiện đời sống cho nông dân, bồi dưỡng lực lượng nhân dân, đẩy mạnh sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Hội nghị thông qua Cương lĩnh ruộng đất của Đảng. Với việc thực hiện Cương lĩnh ruộng đất này nguyện vọng hàng nghìn năm của nông dân Việt Nam được thỏa mãn. Lực lượng kháng chiến được tăng cường. Toàn dân đem hết sức người, sức của thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Sau bảy năm tiến hành chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp đã mất hàng chục vạn binh lính và sĩ quan. Nước Pháp lâm vào tình trạng khó khăn cả về kinh tế và chính trị, mặc dù đế quốc Mỹ đã trực tiếp can thiệp và gánh tới trên 70% chiến phí, nhưng vẫn thất bại, thực dân Pháp phải kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược phục vụ cho chiến lược toàn cầu của Mỹ. Trước những thất bại liên tiếp ở Đông Dương và trước phong trào đấu tranh ngày càng mạnh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt chiến tranh xám lược, vấn đề cấp thiết đặt ra cho thực dân Pháp là: hoặc phải thắng nhanh, hoặc phải chịu thua, hoặc đế Mỹ nhảy vảo thay thế. Chính phủ Pháp chủ trương xin thêm viện trợ của Mỹ, tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh chiến tranh, hòng tìm lối thoát bằng thắng lợi quân sự.

Tháng 5 năm 1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, tướng Hăng-ri Na-va, Tham mưu trưởng lục quân của khối Bắc Đại Tây Dương được cử làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Là viên tướng có nhãn quan chiến lược sắc sảo, vừa tới Đông Dương, Na-va đã phát hiện đồng bằng Bắc Bộ không còn là “cái then cửa” của vùng Đông Nam Á nữa. Với những thắng lợi trong đông - xuân 1952-1953, đối phương đã có những căn cứ ở Tây Bắc Việt Nam và ở Thượng Lào, các lực lượng vũ trang đã lớn mạnh, dựa vào đường tây Trường Sơn hoạt động trên toàn cõi Đông Dương. Đây chẳng những là một tình thế khó khăn đối với quân viễn chinh Pháp, mà còn là một sự uy hiếp nghiêm trọng đối với phòng tuyến chống cộng sản của Mỹ ở Đông Nam châu Á.

Na-va vạch một kế hoạch quân sự của Pháp - Mỹ trong 18 tháng (1953-1955) hòng chuyển bại thành thắng. Trung tâm của kế hoạch ấy là tổ chức khối chủ lực tác chiến. Kế hoạch tác chiến của Na-va chia làm hai bước: trong đông - xuân 1953 - 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược, tránh quyết chiến ở phía Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở phía Nam, nhằm chiếm đóng vùng tự do của ta ở Liên khu 5 (Trung Trung Bộ) và ở Hậu Giang (Nam Bộ); vào đông - xuân 1954 - 1955, sẽ tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến trên chiến trường phía Bắc, giành thắng lợi quyết định. Kế hoạch Na-va là một kế hoạch chiến lược quy mô rộng lớn và là cố gắng cuối cùng của thực dân phản động Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh để quyết định chủ trương tác chiến trong đông - xuân.

Khẳng định phương hướng chiến lược đúng đắn do Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đề ra từ đầu năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phê chuẩn phương án tác chiến do Tổng Quân ủy trình bày với hướng tiên công chiến lược Tây Bắc Việt Nam, Tây Nguyên và vùng Trung - Hạ Lào là những nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên hướng đó, mặc dầu có nhiều khó khăn về tiếp tế, vận tải nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó để ta tranh thủ tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt động ở các vùng sau lưng địch, tạo điều kiện giải phóng đồng bằng Bắc Bộ mà không phải đưa chủ lực lớn đánh vào đồng bằng. Kết thúc cuộc họp quan trọng này. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”(2). Người khẳng định: “Phương hướng chiến lược không thay đổi”(3).

Người và Bộ Chính trị đề ra cho bộ đội ta phương châm hành động: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, sẵn sàng đánh địch trong mọi tình huống. Nguyên tắc chỉ đạo tác chiến là: “Đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt. Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh. Giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta”(4).


(1) Điện gửi các đồng chí Ủy viên Trung ương, tháng 1-1953, Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
(2) Võ Nguyên Giáp, Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Ban khoa học xã hội thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 75.
(3), (4) Ban nghiên cứu Lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 531, 533.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:51:06 pm
*
*   *

Tháng 11 năm 1953, bộ đội chủ lực ta tiến lên Tây Bắc nhằm tiêu diệt địch, giải phóng Lai Châu, đồng thời vượt biên giới Việt - Lào phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào đánh địch ở Trung - Hạ Lào. Bị uy hiếp ở chỗ sơ hở nhất, ngày 20 tháng 11 năm 193, Na-va cho quân cơ động chiến lược đổ bộ đường không xuống Điện Biên Phủ nhằm chặn bước tiến của quân ta; đồng thời đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa (Thượng Lào), lập phòng tuyến sông Nậm Hu, nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Khối chủ lực cơ động chiến lược của địch bắt đầu bị phân tán.

Chủ lực ta được lệnh bao vây địch tại Điện Biên Phủ.

Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Na-va quyết định chấp nhận cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Thêm nhiều đơn vị cơ động chiến lược của Pháp được đưa tới. Cả Pháp và Mỹ tập trung cố gắng xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương.

Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận. Các mặt trận Tây Bắc, Tây Nguyên, Trung - Hạ Lào đẩy mạnh tiến công. Các mặt trận sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ tích cực hoạt động phối hợp. Nhân dân vùng tự do ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và nhân dân vùng mới giải phóng ở Tây Bắc hăng hái phục vụ chiến dịch.

Cả nước lên đường.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 9 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22 tháng 12 năm 1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định “cho mỗi đại đoàn và mỗi Liên khu một lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” để làm giải thưởng luân lưu”(1). Người chỉ thị:

“Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”(2).

Cùng với cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng sớm nhận thấy những yếu tố mới đó có thể mở mặt trận ngoại giao. Tháng 12 năm 1953, báo Nhân dân và Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam công bố những câu trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với phóng viên báo Ếch-prét-xen (Thụy Điển) và bài nói của Người nhân dịp kỷ niệm bảy năm toàn quốc kháng chiến. Người tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hòa bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng... thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”(3).

Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân Việt Nam tiến đến giai đoạn quyết định. Ngọn cờ hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh giương cao cùng với ngọn cờ Quyết chiến, quyết thắng.

Cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953-1954 triển khai trên các chiến trường toàn Đông Dương.

Tại mặt trận Tây Bắc, bộ đội ta nhanh chóng giải phóng toàn tỉnh Lai Châu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tại mặt trận Trung - Hạ Lào, liên quân Lào - Việt phá toang phòng tuyên Đường số 9, tiến đến bờ sông Mê Công, phát triển xuống Hạ Lào. Tại Đông Bắc Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng kháng chiến Campuchia giải phóng một phần tỉnh Công Pông Chàm, tiến đến sông Sơ Lông. Tại Liên khu 5, bộ đội ta giải phóng tỉnh Công Tum, làm chủ một địa bàn chiến lược rộng lớn ở Bắc Tây Nguyên. Đánh địch theo hướng tiến công chiến lược lợi hại do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chỉ ra, các đơn vị chủ lực không lớn của ta đã giành được những thắng lợi lớn. Thực dân Pháp buộc phải đưa quân cơ động của chúng đi đối phó. Cuộc tiến công của chúng vào tỉnh Phú Yên phải đình chỉ. Thêm một số tiểu đoàn cơ động nữa phải ném xuống tăng cường cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Khối chủ lực tác chiến của Na-va bị phân tán nghiêm trọng. Kế hoạch Na-va bắt đầu phá sản.

Trong khi đó, tại các mặt trận sau lưng địch, chiến tranh du kích lên mạnh. Bộ đội ta phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đáy của địch, tiến vào đồng bằng Bắc Bộ, mở rộng căn cứ kháng chiến ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Tại Bình - Trị - Thiên, nhiều vị trí địch bị tiêu diệt. Tại Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, nhân dân nổi dậy đánh đổ ngụy quyền trên phạm vi rộng lớn, mở ra cao trào chuyển vùng bị chiếm thành vùng tự do.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 535.
(2) Ban nghiên cứu Lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 557.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 494.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:56:09 pm
Tháng 1 năm 1954, bốn đại đoàn bộ binh và đại đoàn công pháo của ta đã tập kết ở Điện Biên Phủ. Ta đã thực hiện được sự kỳ diệu về chiến lược là căng địch ra khắp nơi để ta tập trung binh lực đánh đòn chủ yếu tại điểm quyết định.

Ngày 26 tháng 1 năm 1954, tại mặt trận Điện Biên Phủ pháo binh ta đã vào vị trí bắn và bộ binh ta chiếm lĩnh xong các vị trí xuất phát tiến công. Giờ công kích đã được phổ biến đến từng đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng xung phong diệt địch.

Sau nhiều ngày xem xét so sánh lực lượng giữa địch và ta tại Điện Biên Phủ, đối chiếu với phương châm “đánh chắc thắng”, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn lúc lên đường, trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định hoãn cuộc tiến công, chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”. Quyết tâm mới của Chỉ huy trưởng mặt trận được báo cáo ngay về Trung ương Đảng.

17 giờ cùng ngày, các đơn vị pháo binh được lệnh kéo pháo ra, các đơn vị bộ binh được lệnh trở về vị trí tập kết. Việc chuẩn bị chiến dịch được tiếp tục theo phương châm tác chiến mới “đánh chắc tiến chắc”.

Chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” là một quyết định chính xác kịp thời kiên quyết. Quyết định ấy thể hiện mấy yêu cầu đối với người chỉ huy và đối với quân đội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên từ năm 1941 trong cuốn sách “Phép dùng binh của Tôn Tử”, Người viết: tướng giỏi là: “Tướng biết có thể đánh và không thể đánh”(1); “Tướng giỏi mà Chính phủ cho tướng đủ quyền”(2). “Quân đội thắng lợi là vì họ chắc thắng rồi họ mới ra đánh, quân đội thất bại thì ra đánh rồi mới cầu thắng”(3).

Để đánh lạc hướng phán đoán của địch và tiếp tục phân tán khối chủ lực cơ động của chúng, một mũi tiến công của chủ lực ta từ Điện Biên Phủ đánh vào phòng tuyến địch ở sông Nậm Hu (Thượng Lào), Một bộ phận liên quân Lào - Việt cũng đồng thời tiến lên phía bắc, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phông Xa Lỳ. Bộ chỉ huy Pháp vội vã đổ quân xuống Luông Pha Băng và Mường Sài, lập những cụm cứ điểm nhằm chặn bước tiến của quân ta. Khối chủ lực tác chiến của Na-va càng bị phân tán nghiêm trọng.

Đầu tháng 3 năm 1954, công việc chuẩn bị chiến dịch theo phương châm “đánh chắc tiến chắc” đã hoàn thành, cả nước hướng về Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các chiến sĩ: “Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất tò lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang.

Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về từ tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”(4).

Ngày 12 tháng 3 năm 1954, cho rằng quân ta không còn sức tiến công, Na-va tập trung một lực lượng lớn đổ bộ lên Quy Nhơn.

17 giờ chiều 13 tháng 3 năm 1954, trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ bắt đầu.

Đợt thứ nhất, ta tiêu diệt các cứ điểm phía bắc, đập tan tấm lá chắn của địch ở hướng phòng ngự chủ yếu.

Đợt thứ hai, ta đồng loạt tiến công các ngọn đồi phía đông che chắn cho trung tâm tập đoàn cứ điểm, phát triển trận địa tiến công và bao vây, đánh lấn, chia cắt địch, khống chế đi đến triệt hẳn đường tiếp viện bằng cầu hàng không của chúng, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích.

Lúc này, tại Việt Bắc, nhà báo Úc Bớc-sét phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về triển vọng cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lật ngược chiếc mũ trên bàn tre, rồi nói: “Đây là Điện Biên Phủ”. Người đưa tay quanh vành mũ: “Núi ở đây và chúng tôi cũng ở đây”. Rồi Người nắm tay lại, đấm vào lòng mũ và nói tiếp: “Còn đây là quân Pháp. Họ không thoát khỏi chỗ này được”.

Đêm 1 tháng 5 năm 1954, đợt tiến công thứ ba của quân ta bắt đầu. Sau ba ngày đêm chiến đấu, ta chiếm gần hết các cao điểm còn lại ở phía đông, tiến đến sát sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Đêm 6 tháng 5 năm 1954, ta mở cuộc tổng công kích. 17 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, tướng Đờ Cát-tơ-ri, Tư lệnh tập đoàn cứ điểm và Ban tham mưu của y bị bắt sống. Hơn một vạn quân Pháp tại Điện Biên Phủ đầu hàng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen các chiến sĩ Điện Biên Phủ. Người dặn: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”(5).

Tin Việt Nam toàn thắng ở Điện Biên Phủ vang động khắp thế giới.

Đánh giá ý nghĩa chiến thắng to lớn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”(6).


(1), (2), (3) Phép dùng binh của Tôn Tử; Chính trị cục xuất bản, 1947, tr. 21, 22, 25.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 547.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 551.
(6) C.B - Đ.X - T.L - Chiến sĩ - Trần Lực, Nói chuyện Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972, tr. 295.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2020, 10:58:33 pm
Theo sự thỏa thuận tại Hội nghị ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Anh, Mỹ, Pháp ở Béc-lin tháng 1 năm 1954, ngày 8 tháng 5 năm 1954. Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương khai mạc.

Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đến Hội nghị với chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta tại Điện Biên Phủ.

Tại Pháp, quần chúng xuống đường biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương. Chính phủ chủ chiến La-ni-en đổ. Chính phủ Măng-đét Phrăng lên thay, tiếp nhận thương lượng với Việt Nam để lập lại hòa bình.

Ngày 15 tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo tình hình và nhiệm vụ mới. Người chỉ rõ: Âm mưu và kế hoạch của Mỹ là “kéo dài chiến tranh Đông Dương, quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương, phá hoại Hội nghị Giơ-ne-vơ, tìm hết cách hất cẳng Pháp để chiếm ba nước Việt, Miên, Lào”(1).

Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng quyết định: “Dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hòa bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và thực hiện dân chủ trong cả nước”. Quyết định này dẫn tới việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20 tháng 7 năm 1954.

Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, các lực lượng vũ trang của Pháp rút hết khỏi miền Bắc, tập trung vào miền Nam Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam vào tiếp quản các thành phố và các vùng quân Pháp chiếm đóng trên miền Bắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Mấy lời căn dặn các đơn vị bộ đội vào thành”. Người dạy: suốt tám năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi trong hòa bình”(2). Tuân theo lời dạy của Người, khi vào tiếp quản vùng mới giải phóng, các chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” đã phát huy phẩm chất cách mạng cao quý, giữ được toàn vẹn tài sản của nhà nước và của nhân dân phục vụ công cuộc xây dựng lại đất nước.

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đà đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam. Đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(3).

Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những công hiến kiệt xuất trên lĩnh vực quân sự.

Người yêu chuộng hòa bình, không muốn chiến tranh, đã kiên trì nhân nhượng. Nhưng Người kiên quyết phát động toàn quốc kháng chiến khi mọi khả năng hòa bình không còn nữa. Người hoạch định chiến lược kháng chiến và chỉ đạo thực hiện chiến lược đó qua từng giai đoạn, đưa quân và dân ta đến những thắng lợi quyết định ở mỗi bước ngoặt của lịch sử.

Người đề ra chiến lược kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để giành thắng lợi. Người lại vạch ra phương châm chiến lược vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng dân chủ ngay trong chiến tranh, xây dựng Đảng vững mạnh để lãnh đạo kháng chiến thắng lợi, xây dựng chế độ xã hội mới, đời sống mới, con người mới, bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh thắng quân xâm lược.

Chiến lược trường kỳ kháng chiến do Người đề ra đã đánh bại chiến lược đánh nhanh giải quyết nhanh của thực dân Pháp tạo nên sự thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, làm cho ta càng đánh càng mạnh, đưa cuộc kháng chiến từ giai đoạn bảo toàn chủ lực sang giai đoạn phản công và tiến công.

Đường lối toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt do Chủ tịch Hồ Chí Minh khỏi xướng, đã dẫn dắt quân và dân ta bền gan vững chí bám đất, bám dân, bám địch, đánh cả ở trước mặt và sau lưng địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và vận động binh sĩ địch, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích vừa tiến lên đánh vận động, càng đánh càng thắng.

Tiến công là tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ: chủ động tiến công khởi đầu chiến tranh trước khi kẻ thù kịp hành động, chủ động phát triển chiến tranh du kích tiến công địch ở khắp nơi khi quân địch đánh rộng ra, chọn hướng tiến công chủ yếu của chủ lực nhằm vào nơi hiểm yếu mà kẻ địch sơ hở, chủ động giương cao ngọn cờ hòa bình kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến phù hợp với khả năng chủ quan và tình hình quốc tế.

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là thời kỳ phát triển hoàn chỉnh tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, đưa nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam đến những thành tựu rực rỡ. Cũng chính trong thời gian này, một đội ngũ cán bộ quân sự trung thành, thao lược đã được Người đào tạo, sẵn sàng thực hiện và phát triển tư tưởng quân sự của Người trong các giai đoạn đấu tranh cách mạng sau này.

Thực tiễn chín năm kháng chiến oanh liệt và thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam kiểm nghiệm và chứng tỏ rằng đường lối kháng chiến của Đảng xây dựng trên cơ sở tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh những quy luật tiến hành chiến tranh giải phóng ở Việt Nam chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 581-582.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 19S7, tr. 44.
(3) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 371.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 01:53:44 pm
Chương IV

TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
PHÁT TRIỂN LÊN ĐỈNH CAO MỚI
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954 -1975)

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Miền Nam còn dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai. Con đường giải phóng mới đi một nửa.

Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp nắm bộ máy ngụy quyền, trực tiếp xâm lược Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, lập phòng tuyến chống cộng sản ở Đông Nam châu Á đồng thời dùng miền Nam làm bàn đạp tiến công miền Bắc Việt Nam. Việt Nam trở thành nơi tập trung những mâu thuẫn cơ bản của thời đại.

Nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài, ác liệt nhất trong lịch sử dân tộc. Đây là cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Lịch sử đặt ra trước Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nhiệm vụ vạch chiến lược cách mạng mới và phương pháp đấu tranh mới, xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lại phát triển lên đỉnh cao mới trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

I. XÁC ĐỊNH KẺ THÙ MỚI, TIẾN HÀNH ĐỒNG THỜI
HAI CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông. Dương được ký kết là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, cũng là thắng lợi của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới.

Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.

Cả nước hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyệt đối tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng và của Người.

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết; Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ chung của chúng ta hiện nay là: Thi hành đúng đắn Hiệp định đình chiến, đấu tranh để giữ gìn và củng cố hòa bình, để thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”(1). Người xác định: “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thông nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ”(2).

Ngay từ Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng, trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Người nói: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giời, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”(3). Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(4).

Tại Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp tháng 9 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ trước mắt của cả nước: miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, chuyển hướng công tác tổ chức, công tác tư tưởng và phương châm đấu tranh phù hợp với tình thế mới; miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất. phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, phát triển quan hệ ngoại giao với các nước, thiết thực giúp đỡ miền Nam đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất. Người kiên trì chủ trương hòa bình thống nhất đất nước. Vui mừng vì hòa bình được lập lại sau chín năm kháng chiến gian khổ, quân và dân cả nước phấn khởi, nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Nói chuyện với các chiến sĩ đơn vị bảo vệ, Người vạch rõ: “Đế quốc bao giờ cũng muốn chiếm cả nước ta. Nếu quân và dân ta tiếp tục truyền thống đấu tranh anh dũng, nhất trí một lòng, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo khéo, thì đế quốc dù có giàu và có tham vọng mấy, ta cũng không sợ”(5). Gặp cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, Người căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 22, 3.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 582, 586.
(5) Bác Hồ với đoàn Tân Trào, Cục Chính trị, Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, 1970, tr. 19.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 01:55:17 pm
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Tại cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ sau khi về Hà Nội, Người nói: “Trước kia ta mới có rừng núi, có đêm; ngày nay ta có thêm sông, thêm biển, thêm cả ban ngày. Đất nước ta bao la. Anh em ta đông đúc”. Với nông thôn, thành thị, rừng núi, đồng bằng, vùng trời, vùng biển, miền Bắc Việt Nam có đủ điều kiện để xây dựng thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa trên miền Bắc được để ra nhằm nhanh chóng khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại.

Ở miền Nam, tháng 9 năm 1954, Chính phủ Pháp thỏa thuận để Mỹ trực tiếp viện trợ quân sự và kinh tế cho ngụy quyền. Một kế hoạch xâm lược mới của đế quốc Mỹ được vạch ra. Trung tâm của kế hoạch này là gấp rút xây dựng lại quân ngụy do Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ huy, đào tạo tay sai mới người bản xứ. Với tiền bạc và vũ khí Mỹ, ngụy quyền Ngô Đình Diệm tập hợp tay chân, tạo nên một tầng lớp xã hội mới phục vụ cho âm mưu đánh phá cách mạng.

Quân Pháp vừa rút khỏi Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm lập tức mở cuộc tiến công tiêu diệt các lực lượng vũ trang Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo do Pháp để lại, phế truất Bảo Đại, lên làm quốc trưởng ngụy quyền, đem toàn bộ lực lượng thực hiên kế hoạch đánh phá cách mạng miền Nam. Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao tuyên bố cam kết ủng hộ chế độ Diệm.

Nước Việt Nam đứng trước hiểm họa bị chia cắt lâu dài.

Nhân dân miền Nam Việt Nam đã tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị kiên cường chống lại bộ máy cảnh sát quân sự của Mỹ - Diệm. Bằng những hình thức đấu tranh phong phú, nhân dân các địa phương vạch trần bộ mặt độc lập và dân chủ giả hiệu của chúng, đấu tranh chống địch bắt những người kháng chiến cũ. Ở nhiều nơi, địch thẳng tay bắn giết nhân dân. Một số cán bộ, đảng viên bị lộ đã lên các vùng căn cứ kháng chiến cũ, tổ chức những đội vũ trang bí mật để đối phó với địch.

Theo dõi cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhiều bài đăng trên Báo Nhân dân vạch trần hành động xâm lược của đế quốc Mỹ đối với các nước Đông Dương. Ngươi chỉ rõ: chúng sẽ dùng bộ máy ngụy quyền thẳng tay đàn áp những người yêu nước tán thành hòa bình. Chúng sẽ thúc ép các chính phủ theo đuôi Mỹ ủng hộ kế hoạch xâm lược mới của Mỹ. Cuộc đấu tranh sẽ gay go quyết liệt. Nhân dân ta phải quyết tâm đẩy mạnh đấu tranh hơn nữa để giữ gìn những quyền dân tộc đã giành được.

Trước sự phát triển mới của cuộc đấu tranh cách mạng trên cả hai miền Nam - Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vị trí của miền Bắc. Người nói: “Muốn dựng ngôi nhà tốt thì phải xây nền cho thật vững. Muốn cây được mạnh, lá được tươi, hoa được đẹp, quả được tốt, thì phải ra sức săn sóc, vun xới gốc cây. Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Cho nên mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam”(1). Đây là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí quan trọng của miền Bắc trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Tháng 8 năm 1955, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị nhận định: đế quốc Mỹ và tay sai của chúng đã trở thành kẻ thù cụ thể, trước mắt của nhân dân ta. Đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ, nguy hiểm nhất. Cuộc đấu tranh giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của nhân dân ta sẽ lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Quán triệt tư tưởng của Người, Hội nghị nêu rõ: muốn thống nhất nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, tập hợp lực lượng thành mặt trận thống nhất rộng rãi có cương lĩnh thích hợp để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai.

Lúc này, trước sự lớn mạnh của lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới, trước phong trào giải phóng dân tộc bắt đầu lên mạnh ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh, nhiều đảng cộng sản và công nhân nêu lên những vấn đề lý luận mới về chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, về khả năng ngăn ngừa chiến tranh, về những hình thức phong phú của bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước khác nhau, về những khả năng và triển vọng đang mở ra cho các phong trào cách mạng trong thời đại ngày nay. Bè bạn năm châu đã góp nhiều ý kiến về đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Có ý kiến khuyên Việt Nam nên tập trung xây dựng miền Bắc, thi đua kinh tế với miền Nam; những thành tựu về kinh tế, văn hóa và cải cách xã hội trên miền Bắc sẽ hấp dẫn mạnh mẽ nhân dân miền Nam và sẽ dẫn tới thống nhất đất nước. Lại có ý kiến cho rằng trước sức mạnh của đế quốc Mỹ, cách mạng Việt Nam nên thực hiện “trường kỳ mai phục”, dù lâu dài cũng phải kiên trì chờ đợi thời cơ.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 454.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 01:57:39 pm
Tạp chí Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân số tháng 9 năm 1955 đăng bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bằng tiếng Pháp nhan đề “Quốc khánh lần thứ 10 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bài báo điểm lại các phong trào cách mạng ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến lúc này khẳng định “ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa. Đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang”(1). Trong bối cảnh đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chỉ rõ một vấn đề quân sự có tính quy luật cho mọi cuộc cách mạng phản đế ở thuộc địa trong thời đại mới là khởi nghĩa vũ trang. Nêu cao thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới trong 10 năm qua, Người kết luận: “Tất cả những thành tựu to lớn đó đã đem lại cho nhân dân chúng tôi một niềm tin tưởng vô hạn vào tương lai huy hoàng của Tổ quốc và vào sự tất thắng của sự nghiệp của chúng tôi. Mặc dù còn gặp khó khăn và trở ngại, chúng tôi tiến lên phía trước với lòng tin tưởng và tâm hồn của người chiến thắng”(2).

Tháng 4 năm 1956, phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại xác định: “Trong khi nhận định sự có thể ngăn ngừa chiến tranh, chúng ta phải cảnh giác đối với âm mưu của bọn gây chiến; vì chủ nghĩa đế quốc hãy còn, thì còn có nguy cơ chiến tranh... Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hòa bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nửa đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh, vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hòa bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác”(3).

Trong bài báo nhan đề “Củng cố và phát triển sự thống nhất tư tưởng của các đảng mác-xít - lê-nin-nít” đăng trên báo Sự thật (Liên Xô) tháng 2 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu bật tầm quan trọng của việc vận dụng đúng đắn những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của từng nước. Người viết: “Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mới Đảng cộng sản và mỗi Đảng công nhân. Đồng thời chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là cơ sở không gì lay chuyển nổi của cuộc đấu tranh chung của tất cả các Đảng ấy”(4), về đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam, Người nhấn mạnh: Dân tộc Việt Nam “phải vạch rõ những phương pháp và những biện pháp riêng của mình trong cuộc đấu tranh chống những âm mưu của bọn đế quốc Mỹ và của chính quyền miền Nam Việt Nam hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước chúng tôi và cả trong cuộc đấu tranh để dần dần quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Người nêu rõ: “Không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc thuần túy... những hoạt động đó có muôn ngàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ.... sự đoàn kết thực sự của phe xã hội chủ nghĩa và của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đối với chúng tôi cũng cần thiết không kém gì trước kia, khi nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước”(5).

Đến giữa năm 1956, thời hạn hai năm tiến hành hiệp thương giữa hai miền để thực hiện tổng tuyển cử, thống nhất nước Việt Nam đã hết. Đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm cự tuyệt hiệp thương, tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Với khẩu hiệu “Bắc tiến”, chúng tăng cường quân ngụy, xây dựng hàng loạt căn cứ quân sự. Chúng đưa việc “tố cộng”, “diệt cộng” thành quốc sách, đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng ở miền Nam, gây nên những tội ác “trời không dung, đất không tha”.

Nêu cao quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào cả nước, khẳng định: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”(6). Tháng 6 năm 1956, Người chủ tọa cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, xác định: “Ở miền Nam vấn đề hết sức quan trọng là phải tranh thủ xây dựng lực lượng cách mạng... Tuy hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay vẫn còn là đấu tranh chính trị, chưa phải là đấu tranh vũ trang, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”. Bộ Chính trị quyết định: ở miền Nam phải “củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”(7). Nghị quyết này báo hiệu sự chuyển hướng phương pháp đấu tranh ở miền Nam.

Hai tháng sau, đồng chí Lê Duẩn, đại diện Bộ Chính trị Trung ương Đảng tại miền Nam viết “Đề cương cách mạng miền Nam”. Đề cương xác định: “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình là con đường cách mạng. Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam là quá trình tập hợp lực lượng của nhân dân, là quá trình xây dựng những phương tiện đấu tranh của nhân dân, là quá trình tự giải phóng của nhân dân về chính trị, kinh tế, văn hóa từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ những bước tuần tự đến những bước nhảy vọt và cũng là quá trình lay chuyển chính quyền phát xít đen tối cửa Mỹ - Diệm. Chính quyền ấy bị lay chuyển từng phần hay toàn thể là do sự phát triển của lực lượng cách mạng, do tình hình phát triển cụ thể trong nước và ngoài nước”. “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn là sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang vào điều kiện mới của cách mạng Việt Nam.


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 314, 323-324, 427.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H. 1960, tr. 595.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 314, 464.
(7) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, quyển 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1988; tr.,77.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 01:59:35 pm
Tiếp đó, Xứ ủy Nam Bộ ra chỉ thị về hoạt động vũ trang tuyên truyền, nhằm vận động và tổ chức quần chúng, tích trữ, phát triển lực lượng, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho khởi nghĩa vũ trang. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vũ trang tuyên truyền - một hình thức hoạt động thích hợp trong thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới, lại được vận dụng vào thực tiễn mới của cách mạng.

Cuối năm 1957, Hội nghị lần thứ 13 của Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Báo cáo chính trị tại Hội nghị, Người vạch rõ: “Ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa và riêng ở miền Bắc mà nói, thì nhiệm vụ dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Về mối quan hệ giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Người xác định: “Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm. Tuy vậy, nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Miền Bắc có được củng cố và tiến lên chủ nghĩa xã hội thì ta mối có cơ sở vững mạnh đảm bảo cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà... Ngược lại, lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển thì đó là một nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam đồng thời là hậu thuẫn mạnh mẽ cho sự nghiệp giữ vững hòa bình, củng cố miền Bắc”.

Trong bối cảnh của nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta, đồng thời là sự vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Một đất nước, một dân tộc tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, cùng nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đó là cống hiến xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta.

Với việc xác định đúng đắn hai chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, chiến lược quân sự của cả nước và ở mỗi miền có phương hướng thích hợp. Thực tế hai năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ cho thấy con đường bạo lực là con đường duy nhất đúng để hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đánh giá tư duy cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Càng ngày càng sáng”(1).

Tháng 3 năm 1957, với cương vị Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư, Người chủ tọa Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng bàn về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Hội nghị đã thông qua kế hoạch quân sự dài hạn 1955-1960 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy hiện đại, làm trụ cột vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Người và Trung ương Đảng chăm lo chuẩn bị thực lực của cách mạng, đặt việc tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và củng cố nền quốc phòng toàn dân trên miền Bắc thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng, toàn dân để giữ quyền chủ động chiến lược trong mọi tình thế. Nói chuyện với cán bộ cao cấp và trung cấp trong quân đội, Người chỉ rõ: những tư tưởng cho rằng hòa bình đã lập lại thì mọi việc đều yên vui, cho rằng, lực lượng hòa bình thế giói đã lớn mạnh thì nguy cơ chiến tranh không còn nữa, hoặc cho rằng kẻ thù đế quốc đã thất bại thì chúng không dám gây ra hành động xâm lược, đều là những tư tưởng sai lầm và nguy hiểm. Người căn dặn cán bộ quân đội phải “tiếp tục học tập nâng cao lập trường tư tưởng và trình độ kỹ thuật của mình... phải cố gắng xây dựng được nền nếp chính quy trong đơn vị... Quân đội ta nhất định phải tiến từng bước lên chính quy, hiện đại”(2). Người nhấn mạnh “... bọn đế quốc vẫn ra sức chuẩn bị chiến tranh, vì vậy chúng ta phải luôn luôn cảnh giác”(3). “Các đơn vị bộ đội thường trực phải tích cực học tập, phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ và kỷ luật, phải sẵn sàng chiến đấu”(4).

Kế hoạch quân sự 1955 - 1960 được thực hiện toàn diện. Từ đơn thuần bộ binh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành một lục quân chính quy, tương đối hiện đại với gần đủ cáo binh chủng kỹ thuật. Những cơ sở ban đầu của các quân chủng không quân và hải quân được xây dựng. Tổng Quân ủy điều chỉnh kế hoạch quân sự ăn khớp với kế hoạch chung của Nhà nước, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, vừa xây dựng quân thường trực, vừa xây dựng dân quân tự vệ và lực lượng hậu bị, lập kế hoạch động viên và kế hoạch phòng không nhân dân. Người trực tiếp xem xét việc bố trí quân thường trực và lực lượng tham gia sản xuất.


(1) Biên bản cuộc họp Bộ Chính trị Trung ương Đàng ngày 8 và 9 tháng 1 năm 1965, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 368/QU.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thát, H. 1987, tr. 675.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975. tr. 322, 323-324.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:04:41 pm
Các trường quân sự lần lượt được thành lập, củng cố. Đội ngũ cán bộ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp được luân phiên cử đi học tập tại các trường sĩ quan trong nước và nước ngoài. Tại buổi lễ phong quân hàm cấp tướng cho cán bộ cao cấp trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Dù ở cương vị nào, các đồng chí đều phải luôn luôn gương mẫu, luôn luôn xứng đáng là người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân”(1). Người đi thăm các trường quân sự, ra tận thao trường xem bộ đội diễn tập tác chiến hiệp đồng binh chủng. Trước một số biểu hiện giáo điều, máy móc trong huấn luyện chiến đấu, Người nhắc nhở: “tác chiến của bộ đội chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với chiến tranh du kích của toàn dân; cần rút kinh nghiệm và phát huy những truyền thống tốt đẹp trong kháng chiến chống Pháp vào nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng đơn vị”(2).

Đến thăm các đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng nông trường tại Tây Bắc, Tây Quảng Bình, Tây Vĩnh Linh, Người vạch rõ: đây là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho quân đội. Người động viên cán bộ và chiến sĩ ta đã từng đánh thắng đế quốc, nay phải ra sức khắc phục khó khăn về thiên nhiên và thời tiết, “phải chuẩn bị tinh thần đánh thắng cả trời”(3) để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng những vùng kinh tế mới tại các địa bàn chiến lược.

Coi trọng từng sáng kiến của cán bộ và công nhân viên quốc phòng trên đường tiến quân vào khoa học, kỹ thuật, Người khen ngợi: “Đó là một bước tiến đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật, như một đóa hoa báo hiệu mùa xuân”(4).

Trên miền Bắc, nhân dân ta bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 14 (11-1958) và lần thứ 16 (4-1959) của Trung ương Đảng được thực hiện thắng lợi, mang lại quyền lợi chính trị, kinh tế thiết thực cho nhân dân lao động, tạo nên nguồn sức mạnh mới, nâng cao tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, chế độ thống trị thực dân mới được thiết lập với những hình thức kìm kẹp đàn áp hết sức khốc liệt. Mỹ - Diệm tuyên bố “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”. Chúng ra luật 10-59, xử tử tại chỗ những người cách mạng. Chúng đặt luật “cải cách điền địa”, cướp lại ruộng đất cách mạng đã chia cho nông dân, tập trung ruộng đất vào tay địa chủ.

“Quần chúng không còn con đường nào khác hơn là phải vùng lên, một sống một chết với bọn Mỹ - Diệm”(5). Tại các vùng căn cứ kháng chiến cũ và nhiều vùng nông thôn đồng bằng, hàng trăm đội vũ trang được thành lập. Những cuộc diệt ác trừ gian nổ ra ở nhiều nơi. Miền Nam Việt Nam đã đến đêm trước của khởi nghĩa vũ trang. Xóa bỏ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, đánh đổ chế độ phát xít Mỹ - Diệm trở thành yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (mở rộng) họp tại thủ đô Hà Nội. Đại biểu các đảng bộ miền Nam vượt mọi khó khăn ra họp. Trí tuệ của toàn Đảng được tập trung để quyết định đường lối cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn mới.

Trong lời khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nhiệm vụ cứu dân, cứu nước là của toàn Đảng, toàn dân”. Người nhắc nhở: trong khi xác định đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam, “phải đặt miền Nam Việt Nam trong cách mạng chung của cả nước và cách mạng nước ta trong cách mạng thế giới”. Người phân tích: “Ta giương cao ngọn cờ hòa bình vì rất có lợi cho ta. Nhưng hòa bình không phải là ta không chuẩn bị lực lượng”. Thực lực cách mạng bao giờ cũng lả nhân tố quyết định đối với thắng lợi của cách mạng. Con đường xây dựng thực lực của cách mạng Việt Nam vốn lấy dân làm gốc, lấy việc xây dựng cơ sở chính trị quần chúng làm nên tảng. Trước yêu cầu xây dựng và phát triển thực lực của cách mạng miền Nam để chuyển cuộc đấu tranh từ chính trị lên vũ trang, Người xác định: “Nếu ta tổ chức lực lượng chính trị cho tốt khi cần vũ trang sẽ không khó”(6). Một lần nữa, tư tưởng “người trước súng sau” lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong giai đoạn cách mạng mới.

Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng quyết định “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam”. Phương pháp cách mạng là dùng bạo lực, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền của nhân dân”. Để đạt mục tiêu ấy, Hội nghị quyết định “chuẩn bị theo phương hướng căn bản là khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm”. Hội nghị dự kiến “cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang cục diện mới, đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”(7).


(1) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975. tr. 335-336.
(2) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1982, tr. 72.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975. tr. 319, 339.
(5) Lê Duẩn, Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, Nxb Sự thật, H. 1965, tr. 7.
(6), (7) Biên bản Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, Lưu trữ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Hồ sơ TW 110.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:07:28 pm
Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng là một sự kiện lịch sử. Hội nghị đã đề ra đường lối có tính nguyên tắc cho cách mạng miền Nam, đặt cơ sở để xác định nhiệm vụ chiến lược chính xác và toàn diện, động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của toàn dân, tạo nên những chuyển biến căn bản của phong trào cách mạng miền Nam trong những năm sau đó.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng. Quân ủy Trung ương khởi thảo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965) đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân trên miền Bắc, chuẩn bị đối phó với chiến tranh mở rộng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam.

Để tăng cường chi viện miền Nam, Đoàn vận tải quân sự Bắc - Nam (Đoàn 559) được thành lập, mở đường vượt Trường Sơn vào Trung Trung Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Tiếp đó, Đoàn vận tải đường biển Bắc - Nam (Đoàn 759) ra đời.

Ở miền Nam, nhân dân sôi sục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai với những hình thức hết sức phong phú, sáng tạo. Tiếp theo cuộc khỏi nghĩa Trà Bồng (8-1959), tháng 1 năm 1960 “đồng khởi” bùng lên tại nhiều xã thuộc tỉnh Bến Tre, mở đầu phong trào khởi nghĩa từng phần ở miền Nam. Đến tháng 9 năm 1960, toàn nông thôn Nam Bộ “đồng khởi”. Sau đó, phong trào khởi nghĩa lan rộng ra vùng rừng núi Tây Nguyên và nông thôn miền Trung Trung Bộ.

Từ thế giữ gìn lực lượng, cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công.

Mùa thu năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội giữa lúc nhân dân miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Nam tiến lên cao trào khởi nghĩa từng phần, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”(1).

Đại hội ra Nghị quyết xác định rõ: “Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”(2). “Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”(3). Trong buổi bế mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn cản được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lại khác”(4).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại. Nhất trí với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng trong giai đoạn mới, Đại hội vạch ra đường lối chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo, nhằm đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kết hợp sức mạnh của tiền tuyến và hậu phương, của dân tộc và thời đại, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Trong dịp này, gửi thư cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam, Người viết: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc - Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”(5). Người đã thận trọng gạch đoạn về thời gian cụ thể trong bản thảo của bức thư và đúng 15 năm sau, lịch sử đã chứng minh dự đoán này của Người là hoàn toàn chính xác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với toàn Đảng hoàn chỉnh đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Giương cao ngọn cớ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam xây dựng miền Bác tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


(1) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam: Văn kiện Đại hội, t. 1, tr. 11.
(2), (3) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam: Văn kiện Đại hội, t. 1, tr. 11, 17.
(4) Vũ Kỳ: Bác Hồ tại Đại hội III, Báo Nhân dân, ngày 3-2-1990.
(5) Đặc san Báo Nhân dân, ngày 30-4-1985, tr. 2.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:10:34 pm
II. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC
CHI VIỆN TIỀN TUYẾN LỚN MIỀN NAM,
QUYẾT TÂM ĐÁNH THẮNG GIẶC MỸ XÂM LƯỢC

Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng mở ra một thời kỳ đấu tranh cách mạng mới vô cùng sôi động và hào hùng trên đất nước ta.

Trên miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu được thực hiện. Nhân dân miền Bắc ra sức phấn đấu đưa đất nước từ một nền nông nghiệp lạc hậu tiến lên nhằm mục tiêu: có nông nghiệp, công nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Tại miền Nam, hình thái khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ đã dẫn tới những cuộc tiến công quân sự ngày càng phổ biến. Lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân phát triển nhảy vọt. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước, đồng thời làm chức năng chính quyền nhà nước ở vùng giải phóng và các vùng căn cứ.

Ở Lào, cách mạng từ đấu tranh chính trị chuyển lên đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, ở Campuchia, chính quyền vương quốc thi hành chính sách hòa bình trung lập.

Một tình thế cách mạng mới xuất hiện trên bán đảo Đông Dương.

Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã thay đổi qua cao trào “đồng khởi”, Bộ Chính trị quyết định chuyển phương châm đấu tranh của cách mạng miền Nam: Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính tri, đồng thời đẩu mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai lực lượng chính trị và quân sự”(1).

Bộ Chính trị đề ra “nhiệm vụ công tác trước mắt ở miền Nam là ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chinh trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn, tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ nông thôn đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam”(2).

Tiếp đó, tháng 2 năm 1961, Bộ Chính trị lại xác định nhiệm vụ quân sự chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tình thế mới là: “Bảo vệ hòa bình, bảo đảm công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc; đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính tri, tiến tới giải phóng miền Nam và tích cực giúp đỡ cách mạng Lào giành thắng lợi”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị dự kiến: trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, có thể nổ ra những cuộc đảo chính và binh biến mà cách mạng phải biết kịp thời nắm lấy cơ hội để chuyển biến tình hình; đồng thời có khả năng đế quốc Mỹ vũ trang can thiệp, ta phải hết sức theo dõi, hạn chế và kịp thời đối phó. Lúc này, còn khả năng giữ hòa bình trên miến Bắc. Cho nên, phải hết sức tránh một cuộc can thiệp vũ trang lớn của đế quốc Mỹ. Miền Bắc phải chi viện cách mạng miền Nam với tất cả khả năng của mình, tích cực giúp đỡ cách mạng Lào, đồng thời sẵn sàng đối phó với chiến tranh mở rộng.

Phát biểu kết thúc cuộc họp của Bộ Chính trị Người chỉ rõ: về xây dựng hậu phương miền Bắc, phải tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, “kế hoạch vật tư kỹ thuật phải bàn với bạn”(4); còn nhân dân ta thì phải làm tốt các mặt “lương thực, đường sá và hợp tác xã(5)”. Về xây dựng quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, Người căn dặn: “trang bị kỹ thuật thì phải tiến lên, nhưng sinh hoạt của bộ đội phải gần dân đừng tách rời dân. Phải nhớ rằng chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, quân đội ta là quân đội nhân dân”(6).

Hai cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 1 và tháng 2 năm 1961 đánh dấu bước phát triển sáng tạo về tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng trong tình hình cách mạng miền Nam chuyển từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn của cả nước, tích cực chi viện miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh vũ tranh kết hợp với đấu tranh chính trị, hạn chế chiến tranh trong phạm vi miền Nam và thắng địch ở miền Nam, đó là những nội dung tư tưởng quân sự chủ yếu trong thời kỳ này.

Giải thích chủ trương quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, trong thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn nói rõ: “Chúng ta đề ra chủ trương đánh địch bằng cả hai lực lượng chính trị và quân sự, tiến tới tổng khởi nghĩa, tổng công kích để giải phóng miền Nam” (7).

Ngay trong tháng 3 năm 1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ tác chiến ở miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi Quân giải phóng là “người em oanh liệt”(8) của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Người đặc biệt quan tâm tổ chức chi viện cho cách mạng miền Nam. Người tiếp đồng chí Bông Văn Dĩa từ miền Nam ra để nhận nhiệm vụ lái con tàu mở đường vận tải chiến lược trên biển đưa vũ khí vào miền Nam. Sau khi nghe thuyền trưởng Bông Văn Dĩa trình bày, Người nói: “Đi biển kiểu ấy thì xưa nay chỉ có Cri-xtôp Cô-lông và chú”. Tiếp đó, Người tiếp đồng chí Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn vận tải quân sự 559. Người căn dặn: Đoàn 559 phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật bất ngờ, phải chăm lo đời sống của nhân dần. Người giao nhiệm vụ cho đoàn đem ngay muối và vải hoa vào phát đến từng người dân ở cả hai bên Đông và Tây Trường Sơn trên dọc tuyến đường 559.

Với con đường chi viện chiến lược này, lực lượng tinh thần, vật chất của miền Bắc và sự giúp đỡ của các nước anh em và bầu bạn quốc tế ngày đêm tiếp sức cho cách mạng miền Nam.


(1), (2) Chỉ thị ngày 31-1-1961 của Bộ Chính trị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 285/TW.
(3) Quân ủy Trung ương: Các chủ trương công tác lớn của kế hoạch quân sự 5 năm 1961-1965, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 264/QU.
(4), (5) Quân ủy Trung ương: Các chủ trương công tác lớn của kế hoạch quân sự 5 năm 1961-1965, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 264/QU.
(6) Quân ủy Trung ương: Kế hoạch tổ chức trang bị và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật 5 năm 1961-1965, Lưu trữ Cục Quân lực, Hồ sơ 1104, TC1-61.
(7) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 36.
(8) Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 388.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:15:04 pm
*
*   *

Trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đế quốc Mỹ tiến thêm một bước trong chính sách vũ trang xâm lược. Tập đoàn Ken-nơ-đi lên cầm quyền ở Mỹ tiến hành cuộc “chiến tranh đặc biệt” nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa II ở thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo với toàn dân về cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ở miền Nam. Người biểu dương quân và dân miền Nam kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. Người kêu gọi nhân dân miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam... Người nhắn nhủ nhà cầm quyền Mỹ: “Tổng thống Ken-nơ-đi phải hiểu lịch sử. Lịch sử đã chứng tỏ rằng: khi một dân tộc đã đoàn kết nhất trí, đấu tranh giành độc lập tự do… thì nhất định họ sẽ thắng lợi”(1).

Vấn đề Việt Nam nhanh chóng trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Nhiều nhà báo nước ngoài đên Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn của nhà báo Nhật Bản I-ô-cô Ma-xu-ô-cô Người nói: đế quốc Mỹ xem miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm “chiến tranh đặc biệt” để đàn áp các dân tộc khác. Vì vậy, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi là để tự giải phóng mà cũng là một cống hiến vào cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh và nhất là ở Đông Nam Á, để tự vệ chống lại sự xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ(2).

Tiếp nhà báo Pháp Đa-ni-en Huy-nơ-ben, Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân miên Bắc là phải hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam”(3).

Nói chuyện với nhà báo Úc Uyn-phrít Bớc-sét, Người phân tích: đế quốc Mỹ và tay sai “cũng giống như con cáo đã bị mắc kẹt hai chân trong bẫy, mà còn muốn nhảy vào một cái bẫy khác... Khi nói đến việc “đưa chiến tranh ra miền Bắc”, Mỹ và bọn bù nhìn của Mỹ nên hiểu rằng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có đủ sức mạnh và sẵn sàng chiến đấu, lại có những nước bạn hùng cường sẵn sàng giúp đỡ và những lực lượng hòa bình trên thế giới nhiệt tình ủng hộ”(4). Với nhân dân Mỹ, Người nói rõ: “... chúng tôi phân biệt nhân dân Mỹ với đế quốc Mỹ. Chúng tôi muốn có những quan hệ hữu nghị và anh em với nhân dân Mỹ mà chúng tôi rất kính trọng, vì nhân dân Mỹ là một dân tộc tài năng đã có những công hiến cho khoa học và nhất là gần đây đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam”(5).

Trên Báo Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhiều bài báo với những bút danh khác nhau, chỉ ra những mặt yếu không thể khắc phục được của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược. Người vạch rõ: “Đế quốc Mỹ chỉ có thể chọn một trong hai con đường: Hoặc là chuẩn bị tinh thần chờ đón một trận Điện Biên Phủ. Hoặc là... chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam... rút hết quân đội và vũ khí về Mỹ, đế nhân dân miền Nam tự giải quyết việc nội bộ của mình. Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự”(6).

Tiếng nói chính nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh cổ vũ nhân loại đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tại Mỹ, phong trào chổng chính sách xâm lược của nhà cầm quyền Mỹ lên mạnh. Một mặt trận thứ hai, mặt trận trong lòng nước Mỹ hình thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận thống nhất nhân dân hai nước, mà cũng là thắng lợi chung của lòài người yêu chuộng chính nghĩa và hòa bình”(7).


(1) Hồ Chí Minh: Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H. 1970, tr. 252.
(2) Báo Nhân dân, ngày 11-9-1964.
(3) Báo Nhân dân, ngày 10-6-1964.
(4), (5), (5) Báo Nhân dân, ngày 25-4-1964.
(6) Báo Nhân dân, ngày 8-3-1965.
(7) Báo Nhân dân, ngày 24-10-1965.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:16:40 pm
Năm 1963, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi lớn trên cả hai miền Nam - Bắc. Với chế độ chính trị ưu việt, tiềm lực kinh tế và quốc phòng ngày càng phát triển, miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của cuộc chiến tranh giải phỏng miền Nam. Ở miền Nam, khỏi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng. Chiến thắng Ấp Bắc đầu năm 1963 đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị rầm rộ, quyết liệt ngay tại Sài Gòn Chợ Lớn và một cao trào tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Thắng lợi của quân và dân miền Nam làm cho các mâu thuẫn trong nội bộ ngụy quyền Sài Gòn và mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và tay sai trở nên trầm trọng, đẩy tập đoàn phát xít Ngô Đình Diệm đến sụp đổ.

Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp tháng 12 năm 1963, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định khẩn trương xây dựng bộ đội chủ lực 3 miền Nam, phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực trên các địa bàn chiến lược, làm cho vận động chiến ngày càng giữ địa vị quyết định trong cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam. Hội nghị xác định phương châm đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang song song không phải là một phương châm tạm thời, mà là phương châm lâu dài, trong toàn bộ quá trình cách mạng miền Nam. Thực hiện phương châm đó là phải tích cực chuẩn bị để tiến tới bước quyết định đánh đổ toàn bộ nền thống trị của địch ở miền Nam bằng một cuộc tổng công kích kết hợp với tổng khởi nghĩa. Hội nghị đề ra những chủ trương cụ thể nhằm động viên và tổ chức quân và dân cả nước “nỗ lực phấn đấu tiên lên giành thắng lợi mới ở miền Nam”(1).

Tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Người chỉ rõ: Mỹ và tay sai đã đến bước đường cùng. Chúng càng đánh càng thua, càng thua càng bí.

Người khẳng định cách giải quyết đúng đắn nhất đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam là chấm dứt sự can thiệp của đế quốc Mỹ, rút quân đội và vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam để công việc nội bộ của miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo tinh thần cương lĩnh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Người nhấn mạnh: nếu đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai liều lĩnh động đến miền Bắc thì chúng sẽ thất bại thảm hại. Nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng, các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta, nhân dân Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ sẽ phản đối chúng.

Ngươi kêu gọi nhân dân miền Bắc nâng cao chí khí chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ, “mỗi người làm việc bằng hai”, hết lòng hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ruột thịt. Người kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết hãy đoàn kết hơn nữa, phát huy truyền thống của dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, luôn luôn sẵn sàng hy sinh phấn đấu vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, vì sự nghiệp cách mạng toàn thế giới.

Tin tưởng vững chắc ở sức mạnh của nhân dân, nắm vững chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đây là một quyết tâm rất lớn, một niềm tin tất thắng.

Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập là một “Diên Hồng” ở thế kỷ XX, thể hiện khí phách anh hùng bất khuất, ý chí gang thép của dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ độc lập tự do, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đến năm 1964, đế quốc Mỹ đứng trước tình thế: hoặc phải chịu thua trong cuộc “chiến tranh đặc biệt”, hoặc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược.

Tháng 8 năm 1964, với những âm mưu và kế hoạch sắp đặt sẵn, chính quyền Giôn-xơn dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, dùng không quân ném bom, bắn phá một số địa phương trên miền Bắc.

Sáng ngày 5 tháng 8 năm 1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp hội nghị bất thường. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chuẩn bị mọi mặt chuyển sang thời chiến”(2). Sau 10 năm hòa bình, xây dựng, quân và dân miền Bắc bước vào một cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.

Tiếp đó, tháng 9 năm 1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực ở Nam Bộ. Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, giành một bước thắng lợi quyết định. Kết thúc hội nghị. Người nói: “Ta phải đánh lâu dài 10 đến 20 năm, phải đề phòng địch có hành động điên cuồng dù chúng bị cô lập, phải có kế hoạch phòng khi đột biến. Miền Nam phải mở rộng chiến tranh du kích, xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn nhanh. Hai năm qua chưa tăng cường Ủy viên Bộ Chính trị cho miền Nam, nay tình hình cấp bách, không đi không được”(3).


(1) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Đảng (tháng 12-1963), Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 31/TW.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ sơ H25/C4/19.
(3) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ sơ H25 C4/19.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:19:01 pm
Sau Hội nghị này, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng và một số cán bộ quân sự cấp cao có kinh nghiệm chỉ huy tác chiến tập trung được cử vào các chiến trường Nam Bộ và Trung Trung Bộ. Người trực tiếp chỉ thị: “Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi”(1).

Cuối năm 1964, Quân ủy Trung ương họp Hội nghị mở rộng giữa lúc ở miền Nam, quân và dân ta chuẩn bị mở những cuộc tiến công mới. Hội nghị nghiên cứu chiến lược quân sự của Đảng trong cả ba trường hợp: “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam; “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam; và “chiến tranh cục bộ” trên cả hai miền Nam - Bắc. Quán triệt tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng những kinh nghiệm lớn của Đảng về lãnh đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Hội nghị đã đúc kết lý luận về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân trong điều kiện mới. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đánh giá cao công trình tổng kết lý luận quân sự này và đã phê chuẩn những quyết định của Hội nghị Quân ủy Trung ương. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Cần giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân. Cần viết ngắn và giáo dục phổ biến trong các trường học, các lớp bình dân học vụ, các lớp bổ túc văn hóa, các cuộc họp của hợp tác xã, của cơ quan, nhà máy”(2). Người trực tiếp kiểm tra tình hình chuẩn bị đối phó với việc địch mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc.

Ngày 22 tháng 12 năm 1964, Quân đội nhân dân Việt Nam tròn 20 tuổi.

Huấn thị tại buổi lễ kỷ niệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”sup](2)[/sup].

Mùa xuân năm 1965, các chiến trường Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên cùng mở những chiến dịch và đợt hoạt động, dùng bộ đội chủ lực tiêu diệt từng bộ phận quân chính quy ngụy, hỗ trợ cho nhân dân các địa phương nổi dậy. Trong các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, bộ đội chủ lực ta tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, chiến đoàn ngụy, ở Nam Bộ, vùng giải phóng mở rộng đến sát Sài Gòn - Gia Định và các đô thị khác. Một vùng rộng lớn đồng bằng Trung Trung Bộ được giải phóng. Ngụy quân ngụy quyền tan rã từng mảng. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ phá sản.

Cùng với việc “leo thang” đánh phá miền Bắc bằng không quân đến vĩ tuyến 20, tháng 3 năm 1965, các lữ đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, Chu Lai. Chính quyền Giôn-xơn đã đưa nhân dân Mỹ đến bờ vực của một thảm họa.

Ngày 25.tháng 3 năm 1965, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xác định miền Bắc là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị quyết định chuyển toàn bộ nền kinh tế trên miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, mở rộng Quân đội nhân dân Việt Nam theo kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang thời chiến, đánh bại “chiến tranh đặc biệt”, sẵn sàng đối phó với “chiến tranh cục bộ” do đế quốc Mỹ gây ra.

Sau Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh ban hành Luật động viên thời chiến. Người trao cờ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” cho quân và dân miền Bắc. Trong một thời gian ngắn, hàng nghìn tổ, đội bắn máy bay được thành lập ở khắp các thành phố, thị xã, các trung tâm công nghiệp các trọng điểm giao thông. Quân đội nhân dân phát triển mạnh mẽ. Bộ đội phòng không - không quân, bộ đội vận tải cơ giới, bộ đội đặc công phát triển nhảy vọt. Nhiều trung đoàn bộ binh và tiểu đoàn đặc công, công binh, pháo binh, phòng không được lệnh hành quân vào miền Nam với nguyên tổ chức biên chế và trang bị vũ khí. Thanh niên rầm rộ hưởng ứng phong trào “ba sẵn sàng”: sản xuất, tòng quân, đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần. Phụ nữ sôi nổi thực hiện “ba đảm đang”: việc nhà, việc nước, việc quân sự địa phương thay thế cho chồng con ra trận. Trí thức hăng hái phục vụ sản xuất, chiến đấu, đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa, tư tưởng.

Ớ miền Nam, “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trở thành khẩu hiệu hành động ở khắp các địa phương. Các sư đoàn chủ lực được thành lập tại miền Đông - Nam Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên. Bộ đội địa phương và dân quân du kích phát triển mạnh ở các tỉnh, huyện, xã rừng núi và nông thôn đồng bằng. Bộ đội đặc công và các đội biệt động đứng vững chắc trong nhân dân ở ven đô và bên trong cảc đô thị lớn, đánh những trận vang dội ngay tại các hậu cứ an toàn của Mỹ - ngụy.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cao trào cách mạng tiến công mới bùng lên trong cả nước. Sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền phát triển mạnh mẽ. Cả nước sẵn sàng đối phó với mọi tình huống chiến tranh.


(1) Bác của chúng ta, Nxb Quân đội Nhân dân, H. 1985, tr. 38.
(2) Biên bản cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 8 và 9-1-1965, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 386/QU,.
(3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 358.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:25:12 pm
III. GIÀNH THẮNG LỢI QUYẾT ĐỊNH Ở MIỀN NAM.
ĐÁNH BAI Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ.
THẮNG ĐỊCH TỪNG BƯỚC, TIẾN TỚI THẮNG LỢI HOÀN TOÀN

Cùng với việc đua quân viền chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên miền Bắc.

Cả nước có chiến tranh.

Thế giới hướng về Việt Nam, lo lắng cho Việt Nam trước sức mạnh quân sự của đế quốc Mỹ. Thời đại đặt ra cho nhân dân Việt Nam sứ mạng trọng đại: đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Tháng 12 năm 1965, Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị nhận định: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn”(1).

Tại Hội nghị, Người nói: “Chúng ta phải đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ; tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy, phá tan ngụy quyền. Cụ thể là: đánh bại ý đồ bình định của địch ở Tây Nguyên, đồng bằng và xung quanh Sài Gòn”. Người chỉ rõ: “phải tính mặt nghịch, mặt khó khăn do địch gây ra, đồng thời phải thấy Mỹ cũng có khó khăn, không phải muốn làm gì thì làm”. Người dự đoán khả năng xấu nhất mà đế quốc Mỹ có thể gây cho ta là “bịt hành lang đi vào miền Nam và đánh Hà Nội, Hải Phòng”. Người chỉ thị: “Động viên toàn dân đoàn kết chống Mỹ, biến Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh hành động. Quyết tâm đánh Mỹ, ta nhất định thắng”(2).

Trung ương Đảng hạ quyết tâm động viên quân đội và nhân dân cả nước giữ vững chiến lược tiến công, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Hội nghị Trung ương đề ra phương châm ra sức “hạn chế cuộc chiến tranh của địch và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó”, kết hợp tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kết hợp ba mũi giáp công (đấu tranh chính trị đấu tranh quân sự và binh vận), kết hợp nổi dậy với tiến công, tiến công với nổi dậy tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp cửa Đảng, Nhà nước và quân đội nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cả nước ta đang tiến hành cuộc kháng chiến oanh liệt chống Mỹ để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, đồng thời để hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhưng vẻ vang góp phần vào cách mạng thế giới”(3).

Phân tích chỗ mạnh và chỗ yếu của đế quốc Mỹ, Người nói: đời sống của một tên lính Mỹ, nào bánh, thịt, thuốc lá, kẹo cao su, đủ thứ, một tên lính Mỹ đi đánh so với một tên lính ngụy tốn gấp 15 lần... Lính Mỹ to xác, trang bị đủ thứ, kềnh càng, nặng nề; còn Quân giải phóng của ta tuy nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn... Ta thấy chỗ mạnh của nó, vũ khí của nó mới, tiền của nó nhiều, nhưng ta cũng biết những khuyết điểm của nó mà là khuyết điểm lớn, cơ bản”(3).

Người chỉ thị: “Chúng ta phải ra sức cố gắng giành cho được thắng lợi quyết định ở miền Nam bởi vì cuộc chiến tranh này căn bản là ở miền Nam. Mỹ thua ở miền Nam tức là nó thua, ta thắng ở miền Nam tức là ta thắng. Cho nên phải giành thắng lợi quyết định trong một thời gian, ta không nói mấy năm, mấy tháng, mấy ngày, nhưng trong một thời gian càng ngắn càng tốt”(5). Người xác định: thắng lợi quyết định là “tiêu diệt và phá tan được quân ngụy, tiêu diệt được nhiều quân Mỹ”(6).

Người nhấn mạnh: “Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân”(7). Người căn dặn bộ đội ở miền Bắc phải rút kinh nghiệm những trận đánh máy bay Mỹ vừa qua, chuẩn bị cho những trận đánh quyết liệt hơn. Phải làm tốt việc sơ tán người già, trẻ em, kho tàng, xí nghiệp. Phải đề cao cảnh giác, chống chiến tranh tâm lý và chiến tranh gián điệp của địch.

Người yêu cầu cán bộ cao cấp “phải gương mẫu, phải quan tâm đến đời sống của cán bộ, của đồng bào, phải đồng cam cộng khổ”(8), phải có tác phong thời chiến, khẩn trương, giản dị, “chỉ chiếc ba lô lên lưng là đi”(9). Người dạy: “... ngoài đường lối, chính sách, chiến lược chiến thuật của ta đúng, đồng cam cộng khổ là cái không thể thiếu được... Việc ấy ảnh hưởng chẳng những cho cán bộ nói chung mà còn ảnh hường trong nhân dân nữa. Nhân dân thấy bộ đội ta, Chính phủ ta cũng sống như nhân dân, làm việc cho nhân dân, lo lắng cho nhân dân, không có quan cách gì cả”(10).

Người khẳng định: nhân dân ta rất anh dũng, Đảng ta có đường lối đúng đắn, cuộc kháng chiến của chúng ta được các nước anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ, cho nên chúng ta nhất định giành được thắng lợi”(11). “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, chúng ta cũng có thể vượt qua”(12).


(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, H. 1988, tr. 150.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, quyển 15, Hồ sơ H25. C4/19.
(3), (4), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 281, 268, 273, 281, 279.
(5), (6) Sách đã dẫn, tr. 273.
(8), (9), (10), (11), (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr, 281, 279.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:28:18 pm
Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng là “biểu hiện tập trung của tinh thần dân tộc ta hàng ngàn năm về trước”, là “kết tinh ý chí kiên cường, trí tuệ và sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay”(1). Hội nghị đánh dấu sự phát triển đường lối quân sự của Đảng lên đỉnh cao mới. Bước phát triển này biểu hiện ở việc xác định mục tiêu chiến lược quân sự: đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy, phá tan ngụy quyền. Phương châm và biện pháp cách mạng là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát huy tiềm lực của hậu phương miền Bắc, kiềm chế và thắng địch ở miền Nam, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Tư tưởng quyết đánh, biết đánh và biết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp lại được phát huy sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước ra quân với khí thế hào hùng, đánh bại quân viễn chinh Mỹ ngay từ những trận đầu ở Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Plây Me, giáng trả mãnh liệt những cuộc đánh phá bằng không quân của giặc Mỹ trên miền Bắc.

Ở miền Nam, quân và dân ta kết hợp tác chiến du kích với tác chiến tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, vừa tiêu diệt sinh lực địch vừa mở rộng quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Cuộc phản công chiến lực mùa khô 1965-1966 của quân Mỹ, ngụy và chư hầu bị thất bại. Nghệ thuật quân sự sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam được phát huy mạnh mẽ, tạo ra thế mạnh để đánh địch và thắng địch.

Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, quân và dân ta trên miền Bắc tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không chưa từng có trong lịch sử. Toàn dân đánh máy bay địch toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân bảo đảm giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ chiến đấu với sản xuất, chuyển hướng kinh tế phục vụ quốc phòng và bảo đảm đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mặc dù tuổi cao sức yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đến thăm nhiều đơn vị phòng không - không quân, pháo binh, công binh, vận tải thông tin, đặc công... Đây là những binh chủng kỹ thuật hiện đại, tinh nhuệ đang trưởng thành nhanh chóng trong chiến đấu. Người khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”(2). Người dạy cán bộ và chiến sĩ phải phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, đồng thời ra sức rèn luyện ngay trong chiến đấu, nắm vững kỹ thuật hiện đại và sáng tạo những cách đánh mưu trí. Người yêu cầu cán hộ, chiến sĩ đã có tinh thần dũng cảm lại phải có trình độ khoa học kỹ thuật cao, thực hiện cách mạng khoa học kỹ thuật trên lĩnh vực quân sự để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trong những ngày này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm một việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Hằng ngày, Người đọc và giữ lại những bài báo về gương “người tốt việc tốt” xuất hiện trong chiến đấu, sản xuất và học tập. Bộ sưu tập do Người tự tay thực hiện lên tới 19 quyển, gồm nhưng mẩu chuyện về hơn 5.000 cá nhân gương mẫu đã được Người thưởng huy hiệu. Người chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể việc xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”. Người giải thích: “Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình. Ngày nay, chúng ta lại đang đứng trước những thử thách rất lớn... hàng chục triệu con người đang hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà để đánh thắng giặc Mỹ...”(3).

Xây dựng con người mới chính là bồi dưỡng một nhân tố cơ bản của thắng lợi, cũng chính là một nội dung căn bản trong chiến lược cách mạng và chiến lược quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cũng trong những ngày chiến đấu quyết liệt này, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài báo nhan đề: “Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”.

Một lần nữa, Người khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(4).


(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, H. 1988, tr. 152.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 127.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 652-653, 599.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:38:36 pm
Trong bài báo, Người giải đáp câu hỏi đang đặt ra trước nhân loại tiến bộ: Vì sao cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi to lớn? Vì sao nhân dân Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược được trang bị mạnh mẽ hơn nhiều? “Đó là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam(1) - ngày nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quy luật xây dựng Đảng để giành thắng lợi là “khi định ra đường lối chính trị của mình, luôn luôn cố gắng kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm quý báu của các đảng anh em(2). Đảng phải luôn luôn coi trong việc giáo dục các can bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao tinh thần triệt để cách mạng, tinh thần dũng cam hy sinh vì lợi ích của giai cấp và của dân tộc... luôn luôn giữ vững quan hệ khăng khít với quần chúng. Do đó, Đảng được nhân dân hết lòng tin yêu và ủng hộ; đường lối chính sách của Đảng được nhân dân ra sức thực hiện”(3).

Người nhấn mạnh bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga: “... cần dùng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”(4), về hình thức bạo lực, Người viết: “tùy theo tình hình cụ thể của phong trào, đặc biệt là kết hợp đấu tranh trang với đấu tranh chính trị, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài, gian khổ và anh dũng đế đánh thắng quân xâm lược”(5). Trong toàn bộ quá trình đấu tranh giải phóng và xây dựng xã hội mới, Đảng phải “luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản”(6), “dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ nước Mỹ”(7). Người khẳng định một chân lý là trong điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của thời đại ngày nay, bất cứ một dân tộc nào, dù nhỏ nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ và kiên quyết chiến đấu theo đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, lại được sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân cách mạng trên thế giới, thì nhất định có thể đánh thắng bất cứ bọn đế quốc xâm lược nào, kể cả tên đế quốc đầu sỏ là đế quốc Mỹ”(8).

Để gỡ thế bí, giữa năm 1966, đế quốc Mỹ ra sức đấy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai ở miền Nam Việt Nam, đồng thời dùng không quân đánh phá thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Quân và dân ta anh dũng chiến đấu, lập nhiều chiến công mới. Trong lời kêu gọi ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đanh thép: “Giôn-xơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bác. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(9).

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt Nam, là chân lý của thời đại. Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên mạnh mẽ lòng yêu nước, dũng khí cách mạng của nhân dân ta, thúc giục quân và dân cả nước vượt mọi gian khổ, hy sinh, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Tiếp đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp thông qua quyết tâm giành thắng lợi quyết định ở miền Nam. Tại cuộc họp nảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tranh thủ giành thắng lợi sớm, nhưng phải chú ý đánh lâu dài, thuận lợi có nhiều, nhưng phải thấy những khó khăn. Nói giành thắng lợi quân sự nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được. Phải mở rộng du kích, tăng cường trang bị, làm sao càng đánh càng mạnh, đánh liên tục, đánh được dài”(10). Trong cuộc hội ý của Bộ Chính trị ngày 23 tháng 7 năm 1966, Người căn dặn các đoàn cán bộ của ta ra nước ngoài phải “làm bạn tin vào quyết tâm ta đánh thắng, phải tranh thủ được sự giúp vật chất, nhưng càng phải tranh thủ sự viện trợ về tinh thần cao hơn trước”(11).

Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về đấu tranh ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định; nay đã đến lúc mở mặt trận ngoại giao, phải tăng cường ngoại giao nhân dân, tiếp xúc với nhiều nhân sĩ tiến bộ. Người chỉ rõ: “Đánh là điểm chủ yếu, đàm là để hỗ trợ cho đánh. Nắm vững nguyên tắc cứng rắn với sách lược mềm dẻo”(12). Người chỉ dẫn: đối với đế quốc Mỹ “phải có cách chủ động để đi tới cho nó rút ra, vì rất phức tạp. Một tay đánh, một tay mở cho nó ra, trước cửa cần có rèm chống (một chính quyền trung gian do ta nắm mời nó ra)”(13).


(1), (2), (3), (6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 604, 605.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 589, 604, 605.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 605, 375.
(10), (11), (12), (13) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ sơ H25 C4/19.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:45:29 pm
Người trực tiếp theo dõi cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Người luôn căn dặn quân và dân ta: “Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng còn nhiều âm mưu hung ác”(1). Nghe đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh bộ đội Phòng không - Không quân báo cáo, Người chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước hết mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, mà chuẩn bị”(2). Nhắc lại kinh nghiệm ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã ném bom nhằm hủy diệt Bình Nhưỡng trước khi thua, Người nói: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”(3).

Như vậy là ngay trong khi đế quốc Mỹ cố gắng đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm giành thắng lợi quyết định, chuẩn bị thực hiện quyết tâm cả về quân sự, chính trị, ngoại giao và thấy trước hành động điên cuồng của địch trước khi chúng chịu thua.

Đến năm 1967, hơn hai nghìn máy bay phản lực chiến đấu hiện đại của đế quốc Mỹ đã bị bắn rơi trên miền Bắc, cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của quân Mỹ, ngụy và chư hầu ở miền Nam với mục tiêu vừa “tìm diệt” vừa “bình định” bị thất bại. Mặt trận đường số 9 và chiến trường Trị - Thiên của quân và dân ta đã thu hút được nhiều sư đoàn quân Mỹ, tiêu diệt chúng từng bộ phận. Trên chiến trường Tây Nguyên và Trung Trung Bộ, bộ đội ta đánh thắng nhiều trận với hiệu suất chiến đấu cao. Các cuộc hành quân “tìm diệt và bình định” của Mỹ, ngụy và chư hầu ở Nam Bộ, đặc biệt cuộc hành quân lớn nhất Gian-xơn Xi-ty của chúng đã bị thất bại. Thảm họa của chiến tranh xâm lược Việt Nam đố xuống đầu nhân dân Mỹ. Hàng trăm nghìn gia đình Mỹ đau khổ vì chồng con bị chết, bị thương tật tại Việt Nam. Tin tức về hàng trăm giặc lái bị bắt sống trên miền Bắc Việt Nam làm chấn động các tầng lớp xã hội Mỹ.

Phong trào thanh niên đốt thẻ quân dịch lan tràn khắp nước Mỹ. Hàng triệu công dân Mỹ xuống đường biểu tình chống chính phủ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tháng 3 năm 1967, tướng Oét-mo-len, Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam yêu cầu chính quyền Giôn-xơn tăng thêm 20 vạn lính chiến đấu, đưa quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam lên gần 70 vạn. Chính phủ Mỹ và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ bác yêu cầu này. Đế quốc Mỹ đã đến giới hạn mà chúng không thể vượt qua trong cuộc chiến tranh xâm lược.

Trước tình hình này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Mỹ thua đã rõ ràng... Tuy vậy, đế quốc Mỹ “chết thì chết, nết không chừa”, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược”(4). Người kêu gọi quân và dân cả nước “nâng cao cảnh giác, thừa thắng xông lên, kiên quyết đập tan mọi âm mưu của chúng. 31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”(5).

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam am bước vào giai đoạn giành thắng lợi quyết định.

Giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ “leo thang” đến đỉnh cao nhất, Hội nghị lần thứ 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Quang Trung) chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào dịp Tết Mậu Thân nhằm giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giặc Mỹ

Từ đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, các lực lượng vũ trang cách mạng đồng loạt tiến công địch ở Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng và hầu khắp các thành phố, thị xã. thị trấn, căn cứ quân sự, cơ quan đầu não Mỹ - ngụy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong khi đó, quần chúng nhân dân nổi dậy, đập tan bộ máy ngụy quyền trên nhiều vùng nông thôn rộng lớn, bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt địch, mở rộng vùng tự do. Cách mạng miền Nam giành thắng lợi to lớn chưa từng có. Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam không điều kiện và ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.

Kêu gọi nhân dân cả nước nhân dịp giành được thắng lợi to lớn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm sắt đá: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”(6).

Trong Thư chúc mừng năm mới 1969 gửi đồng bào cả nước, Người viết:

            “Năm qua thắng lợi vẻ vang,
            Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
            Vì độc lập vì tự do,
            Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
            Tiến lên, chiến sĩ đồng bào,
            Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”
(7).

Câu thơ xuân “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thể hiện tư tưởng nhất quán của Người về phương sách giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng.


(1) Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 406.
(2), (3) Tạp chí Lịch sử quân sự, số 24 (12-1987), tr. 84.
(4), (5) Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 486, 468.
(6) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 504.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật H. 1989, tr. 748.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 02:49:26 pm
Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tròn 79 tuổi.

Từ năm 1965, thấy sức khỏe giảm sút, Người bắt đầu viết Di chúc, sau đó, hàng năm cứ đến tháng 5, Người xem lại. Ngay khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra quyết liệt, Người đã khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nửa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”(1).

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân mở ra một giai đoạn mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - giai đoạn giành thắng lợi quyết định.

Bị thất bại trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” từ sau Tết Mậu Thân, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển hướng chiến lược, Còn hơn một triệu quân ở miền Nam Việt Nam và một tiềm, lực chiến tranh rất lớn, một mặt đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, tiếp nhận đàm phán ở Pa-ri, rút một lực lương lớn quân Mỹ về nước; mặt khác chúng ra sức tăng cường quân ngụy và duy trì ở Nam Việt Nam một bộ phận quan trọng quân Mỹ, hòng kéo dài, chiến tranh xâm lược, thực hiện một chiến lược quân sự mới gọi là “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức quyết liệt, khó khăn, phức tạp.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương cục và các đảng bộ miền Nam, các lực lượng vũ trang cùng nhân dân kiên trì, dũng cảm bám trụ, dân bám đất, cán bộ bám dân, bộ đội và du kích bám đánh địch.

Tháng 3 năm 1968, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng thu xếp để Người vào chiến trường miền Nam. Trong thư gửi đồng chí Bí thư thứ nhất, Người nói rõ mục đích vào Nam để “khuyến khích thêm anh em”. Người đề nghị đi bằng tàu thủy kết hợp với các phương tiện giao thông trên bộ. Lịch trình gồm “mươi ngày để chuẩn bị. Vượt biển độ 6 ngày. Từ bến tàu đến địa điểm độ dăm hôm”. Hiểu rõ mối lo lắng của đồng chí, đồng bào về sức khỏe của mình. Người viết: “Thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khỏe mau tiến bộ hơn”(2).

Tình hình sức khỏe không đáp ứng nguyện vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn vào thăm đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang chiến đấu. Bởi vậy, Người đã yêu cầu bố trí để Người gặp tất cả các đoàn đại biểu cán bộ, đồng bào, chiến sĩ miền Nam. Trong năm 1969, Người gặp gỡ nhiều cán bộ, anh hùng, dũng sĩ, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, đồng bào các dân tộc từ miền Nam ra Hà Nội.

Tiếp đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương cục miền Nam, Chính ủy Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Người nhắc nhở: “Phải nhanh chóng củng cố và phát triển cơ sở chính trị, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội, công đoàn ở nông thôn và thành thị. Trong chống phá âm mưu bình định của địch, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân trên ba vùng chiến lược. Phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cho mạnh. Lực lượng bổ sung chưa kịp thì càng phải huấn luyện cho tinh. Phải quan tâm đến việc ăn ở, phòng bệnh cho bộ đội. Phải trên cơ sở củng cố và phát triển các đoàn thể nhân dân mà phát triển chiến tranh nhân dân rộng rãi, chống phá bình định, giữ và làm chủ nông thôn. Phải báo cáo kịp thời, chính xác, chỉ đạo chỉ huy phải đi sát dưới. Cuối cùng, Bác gửi lời thăm đồng bào miền Nam, thăm bộ đội, cán bộ dân, chính, đảng, cán bộ và chiến sĩ trong quân đội. Các chú phải nhớ chuyển lời hỏi thăm của Bác”(3).

Gặp cán bộ cao cấp toàn quân, Người căn dặn phải làm tốt nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, coi đó là “nhiệm vụ hàng đầu”. Phải xây dựng quân đội có chất lượng cao, tiết kiệm sức người sức của. Bộ đội phải hết lòng giúp dân, tham gia củng cố hậu phương vững mạnh. Cán bộ phải cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng. Toàn thể cán bộ và chiến sĩ phải nhớ rằng chỉ khi nào quét hết giặc Mỹ ra khỏi đất nước, đánh đổ bọn Việt gian bán nước, thì nhân dân ta mới có hòa bình và tự do thực sự. Trước các tướng lĩnh do Người đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích mối quan hệ giữa thế và lực trong chiến tranh bằng một ví dụ dễ hiểu: “Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng chục, hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực”(4)[/sup]. Người kết luận: “Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng; nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta”(5).

Trước cuộc phản kích ác liệt của địch sau Tết Mậu Thân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tình hình cách mạng miền Nam. Ngày 1 tháng 8 năm 1969, tiếp đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam từ chiến trường ra báo cáo, Người hỏi nhiều về các “chiến dịch bình định cấp tốc” mà Mỹ - ngụy đang xúc tiến trên toàn miền Nam. Người căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh: “Bất cứ trong tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi”(6).

Lúc này, mặc dù lâm bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm theo dõi tình hình miền Nam. Ngày 28 tháng 8, Người nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo về tình hình chiến sự ở Nam Bộ và Liên khu 5.

Miền Nam ở trong trái tim Người cho đến những giờ phút cuối cùng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam qua đời.

Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết. Nhân loại tiến bộ và bầu bạn năm châu xúc động.

“Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn”(7).

Vĩnh biệt Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết biến đau thương thành hành động cách mạng, siết chặt hàng ngũ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”(8). Trong tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chưa giành được thắng lợi hoàn toàn, quân và dân cả nước thề trước anh linh của Người: “Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người”(9).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật H. 1989, tr. 833.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 10, Nxb Sự thật H. 1989, tr. 635.
(3) Xem: Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986, tr. 60-61.
(4), (5) Báo Quân đội nhân dân, ngày 23-5-1969.
(6) Vũ Kỳ: Bác Hồ viết Di chúc, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 75.
(7), (8), (9) Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc tại Lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:02:49 pm
IV. TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, TIẾN LÊN GIÀNH TOÀN THẮNG

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng xây dựng những nhân tố quyết định thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là tư tưởng và đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đó là khối đại đoàn kết toàn dân, là hậu phương lớn miền Bắc đang xây dựng tiến lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp với các vùng hậu phương tại chỗ, các căn cứ kháng chiến ở miền Nam, nối liền với hậu phương quốc tế là các nước xà hội chủ nghĩa anh em. Đó là lực lượng vũ trang ba thứ quân lớn mạnh với đội ngũ cán bộ quân sự được đào tạo và rèn luyện trong chiến đấu, với trang bị kỹ thuật ngày càng được tăng cường. Đó là tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của ba dân tộc anh em Việt Nam, Lào, Campuchia trên chiến trường Đông Dương và sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Những nhân tố quan trọng ấy được quân và dân ta phát huy, phát triển sáng tạo trong giai đoạn cuối của chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng.

Năm 1969, tập đoàn hiếu chiến Ních-xơn lên cầm quyền ở Mỹ. Với bản chất cực kỳ ngoan cố, chúng vừa xuống thang chiến tranh, vừa phản công cục bộ, tiếp tục những phiêu lưu quân sự mới. Trong thế bị động và thất bại, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược trên bán đảo Đông Dương, hòng “bóp nghẹt” chiến tranh cách mạng ở miền Nam Việt Nam, đàn áp cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Đồng thời chúng ra sức tập hợp các lực lượng phản động ở châu Á để tiếp sức cho Mỹ trên chiến trường Đông Dương, ra sức khoét sâu sự chia rẽ giữa các nước xã hội chủ nghĩa hòng cô lập cách mạng Việt Nam, buộc Việt Nam phải nhận những điều kiện của Mỹ trong đàm phán.

Mặt trận đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ phát triển lên một bước mới. Toàn Đông Dương là một chiến trường.

Mùa xuân năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn thể lần thứ 18. Hội nghị khẳng định thắng lợi oanh liệt của quân và dân ta trong mùa xuân 1968. Nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình, Trung ương Đảng đã kiểm điểm sự chỉ đạo chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân. Do “chưa nắm thật vững quy luật giành thắng lợi trong giai đoạn mới cũng phải trải qua từng bước mới tiến lên giành được thắng lợi quyết định”, nên sự chỉ đạo chiến lược “chưa xác định được một cách sát đúng yêu cầu cụ thể của từng bước nhằm tiến công quân địch vừa kiên quyết, vừa linh hoạt, càng đánh càng mạnh, giành thắng lợi ngày càng lớn”. Quán triệt tư tưởng giành thắng lợi từng bước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng kết luận: “Giai đoạn mới này là một cuộc chiến đấu lâu dài, quyết liệt đồng thời cũng là giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quá trình tiến lên của cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới là một quá trình giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi quyết định”.

Hội nghị hạ quyết tâm thực hiện kỳ được Di chúc thiêng liêng của Chù tịch Hồ Chí Minh: “Đánh giặc Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn”. Nghị quyết nêu rõ: “Nhiệm vụ trước mắt của ta trong suốt giai đoạn mới của cuộc kháng chiến là động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam, làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới công cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chù. hòa bình, trung lập, tiến tới thông nhất đất nước”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong chiến lược quân sự của Đảng. Nghị quyết đề ra chủ trương, phương hướng hoạt động nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Dưới ánh sáng của Nghị quyết, quân và dân miền Nam nhanh chóng khắc phục khó khăn, khôi phục và phát triển lực lượng, tiến lên giành thắng lợi mới.

Tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp giữa lúc cục diện kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương phát triển mạnh mẽ. Phát triển tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi Đông Dương là một chiến trường, Bộ Chính trị xác định: “Chiến lược của ta trên chiến Đông Dương và trên chiến trường mỗi nước đều hướng vào mục đích đánh bại âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi quyết định ở miền Nam Việt Nam, ở Campuchia và Lào, đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Lực lượng chiến lược để tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ trên bán đảo Đông Dương bao gồm toàn bộ lực lượng chính trị và quân sự của nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đoàn kết chẽ trong mặt trận thống nhất của các dân tộc Đông Dương chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, dựa trên sự nhất trí cao độ về đường lối và chủ trương giữa Đảng ta và các đảng Khơ-me và Lào”. Quan điểm của Đảng ta về chiến lược chung trên toàn chiến trường Đông Dương được hai đảng cách mạng anh em ở Lào và Campuchia hoàn toàn nhất trí.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:04:38 pm
Bộ Chính trị xác định: “Quy luật chiến tranh nhân dân ở nước ta là quy luật chiến tranh của toàn dân, là quy luật nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy, đi đến tổng tiến công và nổi dậy đều khắp để đánh bại kẻ thù”. Đó là “một quá trình tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch, một quá trình đấu tranh chính trị và quân sự, khởi nghĩa của quần chúng và chiến tranh cách mạng, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn”.

Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ “động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả hai miền Nam, Bắc nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, làm cho lực lượng của ba nước trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai”.

Để xây dựng và phát triển thế tiến công chiến lược mới trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Chính trị chủ trương: “Đẩy mạnh tiến công địch liên tục cả về quân sự, chính trị, binh vận và ngoại giao”, phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng, đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực trên các địa bàn trọng điểm. Hậu phương lớn miền Bắc “ra sức động viên sức người sức của cho tiền tuyến, góp phần lớn nhất của mình vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam cũng như của nhân dân hai nước Lào và Campuchia”.

Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 6 năm 1970 chỉ đạo rất kịp thời cuộc kháng chiến của nhân dân ta khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra ba nước Đông Dương.

Trong dịp này, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng viết tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới”. Tác phẩm phân tích sâu sắc đường lối cách mạng và đường lối quân sự của Đảng mà cơ sở là tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm khẳng định: “Tư tưởng và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta. Ngọn cờ chói lọi của Người mãi mãi chỉ lối cho chúng ta tiến lên phía trước”(1).

Đầu năm 1971, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân lớn đánh ra Đường 9 - Nam Lào nhằm cắt đứt đường chi viện chiến lược Bắc - Nam. Tiếp đó, đế quốc Mỹ dùng không quân và hải quân đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam, thả mìn phong tỏa các cửa biển, cửa sông trên miền Bắc. Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã lên đến bước cao nhất và là bước cuối cùng.

Phát huy thế tiến công chiến lược, quân và dân ta liên tiếp giành những thắng lợi to lớn. Ra quân trong thế chủ động hoàn toàn về chiến lược, các sư đoàn chủ lực ở miền Bắc cùng quân và dân Lào anh em đánh bại cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy trên mặt trận Đường số 9 - Nam Lào, giữ vững hành lang chi viện chiến lược bắc - nam Đông Dương.

Tiếp đó, trong cuộc liến công chiến lược xuân 1972, bộ đội chủ lực tiến lên tác chiến hiệp đồng binh chủng, phá vỡ các tuyến phòng thủ vành ngoài của Mỹ - ngụy, tiêu diệt nhiều tập đoàn phòng ngự của địch, giải phóng những khu vực rộng lớn ở Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, một bộ phận bộ đội chủ lực Trung Trung Bộ và Nam Bộ tiến xuống đồng bằng, cùng các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiến hành những chiến địch tổng hợp, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng mở rộng vùng giải phóng, khôi phục và phát triển cao trào chiến tranh du kích ở nhiều vùng nông thôn.

Cuối măm 1972, bộ đội Phòng không - Không quân cùng các lực lượng phòng không nhân dân trên miền Bắc lập chiến công oanh liệt, đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng.

Ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị đập tan.

Tháng 1 năm 1973, tại Pa-ri, đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng đại diện Tổng thống Hoa Kỳ Kít-xinh-giơ ký tắt vào các văn bản của “Hiệp định về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Mỹ buộc phải thừa nhận những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, rút hết quân Mỹ về nước, cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Phương sách thắng địch từng bước để “đánh cho Mỹ cút” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

Tuy bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố thực hiện “học thuyết Ních-xơn”, hòng duy trì chủ nghĩa thực dân mới trên các nước Đông Dương. Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri, kêu gào “tràn ngập lãnh thổ”, ra sức “bình định”, lấn chiếm vùng giải phóng. Tình hình miền Nam lại sôi động. Nhiều địa phương đánh trả địch, thu thắng lợi lớn. Một số nơi hữu khuynh, mơ hồ trước âm mưu của địch, để mất đất, mất dân.


(1) Lê Duẩn, Về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 13.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:06:07 pm
Tháng 7 năm 1973, sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21. Hội nghị tổng kết 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vạch phương hướng hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khẳng định “con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”, Hội nghị nhất trí với Nghị quyết của Quân ủy Trung ương tháng 6 năm 1973 nhận định hai khả năng: hoặc do ta đấu tranh mạnh mẽ mà có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri; hoặc ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn.

Về phương châm hoạt động, Trung ương Đảng nêu rõ: “Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định các vùng đồng bằng, vùng giáp ranh”. Việc vận dụng phương châm ấy phải gắn liền với yêu cầu giành dân, giành quyền làm chủ, “giành lấy thế mạnh để thắng địch, nhưng phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng vùng”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng là một văn kiện lịch sử. Nghị quyết phát triển sáng tạo đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn giành thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh, cụ thể hóa phương sách thắng địch từng bước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “đánh cho ngụy nhào” sau khi đã “đánh cho Mỹ cút”.

Dưới ánh sáng Nghị quyết của Đảng, quân và dân miền Nam kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tiến công quyết liệt bằng nhiều cách đánh dũng cảm, sáng tạo. Kế hoạch “bình định” lấn chiếm của địch bị thất bại. Quân ngụy suy sụp nhanh chóng khi quân Mỹ đã rút đi.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình, nắm bắt thời cơ lớn đang xuất hiện, từ tháng 10 năm 1974, một kế hoạch tác chiến chiến lược được chuẩn bị chu đáo và được Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua. Quyết tâm chiến lược là giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, có dự kiến giành thắng lợi hoàn toàn ngay trong năm 1975.

Cả nước đi vào trận đánh cuối cùng. Các quân đoàn bộ binh cùng với các đơn vị pháo binh, công binh, các lữ đoàn xe tăng, thiết giáp được lệnh hành quân ra trận.

Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng được cử vào chiến trường chỉ huy tiền phương chiến dịch.

Hoạt động quân sự mạnh mẽ của ta trong mùa khô 1974-1975 thu được thắng lợi lớn. Các chiến thắng Thượng Đức (12-1974), Phước Long (1-1975) đánh dấu bước suy sụp hết sức nghiêm trọng của quân ngụy và bước thụt lùi mới của đế quốc Mỹ.

Thừa thắng xông lên, mùa xuân 1975, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam. Chiến thắng Buôn Ma Thuột mở đầu giòn giã chiến dịch Tây Nguyên, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch. Tiếp đó là chiến dịch Huế - Đà Nẵng, đập vỡ tấm lá chắn của địch ở phía Bắc. Với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, các quân đoàn chủ lực thần tốc tiến quân, đồng bào các dân tộc đồng loạt nổi dậy. Các phòng tuyến vành ngoài bảo vệ Sài Gòn lần lượt bị đập vỡ.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, tại thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Hơn một triệu quân ngụy còn lại tan rã tại chỗ, được hưởng chính sách khoan hồng nhân đạo theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh thần nhân nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời thề thứ nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trước anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thực hiện trọn vẹn.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta phải đương đầu với một tên đế quốc có tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn, lại lôi kéo được quân đội của một số nước tham gia. Đây là thử thách lớn nhất, quyết liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Trong thời kỳ lịch sử này, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh phát triển lên đỉnh cao mới.

Kiên trì lập trường nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, Người cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ ấy.

Trong quá trình chiến tranh, Người đã cùng Trung ương Đảng hoàn chỉnh đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ra sức xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng coi trọng tình đoàn kết chiến đấu với Lào, Campuchia, tình đoàn kết quốc tế; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xác định chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam, xây dựng thế trận toàn dân đánh giặc trên cả ba vùng chiến lược.

Nghệ thuật quân sự Việt Nam theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ tiềm năng, trí tuệ của con người cung những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; chủ động tiến công địch, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và ngoại giao; kiềm chế chiến tranh căn bản trong phạm vi miền Nam, chủ động tạo ra các bước ngoặt của cuộc chiến, thắng địch từng bước tiến lên giành thắng lợi quyết định: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, kết thúc trọn vẹn chiến tranh. Đó là những vấn đề cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đánh giá cống hiến của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976 nêu rõ: thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hòa dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế”(1).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, H. 1977, tr. 9-10.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:08:42 pm
KẾT LUẬN

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người là nhà chiến lược thiên tài đã tìm ra con đường cứu nước, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với tấm lòng yêu nước thương nòi, với sự đồng cảm trước cảnh ngộ của những “người cùng khổ”, ngay từ đầu thế kỷ, Nguyễn Ái Quốc đã vượt ra khỏi tư duy chật hẹp của các trào lưu cách mạng đương thời, chọn con đường đúng đắn: con đường cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc đã gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Là người cộng sản Việt Nam đầu tiên giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nguyễn Ái Quốc phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng thuộc địa. Người đánh giá đúng đắn quan hệ giữa cách mạng vô sản ở “chính quốc” với cách mạng thuộc địa và tiên đoán khả năng cách mạng thuộc địa có thể thành công trước khi giai cấp vô sản ở “chính quốc” giành được chính quyền. Các luận điểm ấy góp phần đưa chủ nghĩa Mác - Lênin đến với nhiều dân tộc thuộc địa và đưa những dân tộc này đến với cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc không còn lẻ loi. Sức mạnh của dân tộc được tiếp thêm sức mạnh của thời đại. Đấu tranh cho độc lập tự do gắn chặt với đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng loài người.

Kết hợp lý luận với thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc ra sức nghiên cứu phương pháp cách mạng để thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Con đường cách mạng vô sản tất yếu đưa Người đến với học thuyết quân sự vô sản, ngay từ khi hệ tư tưởng quân sự phong kiến đang tồn tại ở trong nước và hệ tư tưởng quân sự tư sản đang thịnh hành trên thế giới.

Bối cảnh lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc khiến Nguyễn Ái Quốc - sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh - dành nhiều thời gian, tâm lực nghiên cứu về quân sự. Người đã làm việc không mệt mỏi đế chuẩn bị về lý luận và tổ chức cho khỏi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Với kiến thức uyên bác, Người rút ra từ lịch sử Việt Nam và lịch sử cách mạng các nước, từ các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai những bài học kinh nghiệm đấu tranh vũ trang cho cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người nghiên cứu, học tập và phổ biến về nước kinh nghiệm chiến tranh giải phóng của nhân dân Trung Quốc. Người trực tiếp biên soạn và chỉ đạo biên soạn nhiều tác phẩm quân sự có giá trị lý luận và thực tiễn, bồi dưỡng kiến thức quân sự cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong những buổi đầu.

Trong khởi nghĩa và chiến tranh, Người vạch chiến lược quân sự, xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng, xác định kẻ thù, hoạch định kế hoạch, sắp xếp bố trí lực lượng cách mạng, giải quyết đúng đắn, kết hợp tài tình các phương pháp và hình thức đấu tranh, bồi dưỡng các nhân tố cơ bản bảo đảm giành thắng lợi. Người đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, lãnh đạo và điều hành kháng chiến. Vai trò quyết định của Người nổi bật ở những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Sự nghiệp quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử. Cùng với sự nghiệp cách mạng, Sự nghiệp quân sự của Người là cống hiến to lớn đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Người đã khai phá con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cống hiến này đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh vào hàng các danh nhân quân sự của dân tộc, cùng với Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động và đấu tranh cách mạng là cơ sở của đường lối quân sự của Đảng ta. Cùng với đường lối chính trị đúng đắn, độc lập, sáng tạo đường lối quân sự bách chiến bách thắng của Đảng đã đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến thắng lợi oanh liệt.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bao gồm những quan điểm, luận điểm của Người về cách mạng bạo lực, về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân, về xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng hậu phương và nền quốc phòng toàn dân, về chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự ở một nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân đế quốc. Tư tương quân sự ấy phản ánh quy luật phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong điều kiện nước ta, là sự kết hợp hài hòa và khoa học truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam với tinh hoa quân sự kim, cổ, đông, tây của loài người tiến bộ.

Nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới bao gồm đường lối chiến lược, sách lược và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Đặc biệt nổi bật là chiến lược “lấy nhỏ thắng lớn” của dân tộc thuộc địa đánh kẻ thù đế quốc. Đây là tư tưởng quân sự của “một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to”.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:10:50 pm
*
*   *

Tư tưởng cách mạng bạo lực theo quan điểm Mác - Lênin là một nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa thực dân tự bản thân nó đã là “bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”(1). Sức mạnh vật chất phải được đánh đổ bằng sức mạnh vật chất. Kẻ thù hung bạo buộc nhân dân ta không thể có sự lựa chọn nào khác hơn là phải “đùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”(2).

Con đường giải phóng của dân tộc thuộc địa phải là con đường cách mạng bạo lực nhằm mục tiêu độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Quan điểm cách mạng bạo lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất biện chứng với chủ nghĩa nhân văn, không hề đối lập với tinh thần yêu chuộng hòa binh. Nó cũng hoàn toàn xa lạ với các xu hướng phiêu lưu, manh động, khủng bố cá nhân.

Với ý chí thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, Người luôn luôn suy nghĩ để tìm mọi cách chiến thắng kẻ thù xâm lược. Đối với sự nghiệp cách mạng, Người xác định “đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi... Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(3). Trong đấu tranh quân sự, Người đề ra yêu cầu thắng không kiêu, bại không nản, đánh chắc thắng từng trận, từng chiến dịch để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

*
*   *

Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, do đó không có cuộc chiến binh nào không mang mục đích chính trị và giai cấp. Với quan điểm mác-xít đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ hữu cơ giữa chiến tranh và chính trị. Người khẳng định vai trò quyết định của chính trị trong việc vạch ra đường lối chiến lược, phát động và tập hợp quần chúng tham gia kháng chiến, xây dựng và sử dụng lực lượng, củng cố hậu phương, nâng cao trạng thái chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội,... Cũng như sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đấu tranh vũ trang phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đó là một vấn đề có tính nguyên tắc: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(4).

Là nhà tổ chức vĩ đại, Người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam - Bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, lý luận, Đảng gắn bó chặt chẽ với quần chúng nhân dân, coi đó là điều kiện sống còn. Đường lối cách mạng của Đảng là nguồn gốc mọi thắng lợi của nhân dân ta. Đường lối quân sự là một bộ phận hữu cơ của đường lối cách mạng. Vì vậy, quân sự phải phục tùng chính trị, phục vụ chính trị. Đây là một nội dung cơ bản trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh để chỉ đạo chiến tranh, tổ chức và rèn luyện lực lượng vũ trang, chỉ đạo nghệ thuật quân sự và giải quyết các mối quan hệ giữa đấu tranh vũ trang với các mặt đấu tranh khác, giữa quân đội với nhân dân, với tổ chức đảng và chính quyền cách mạng.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 65.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 598.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 242.
(4) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 53.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:13:21 pm
*
*   *

Dân tộc thuộc địa đánh đuổi thực dân, đế quốc để tự giải phóng. Phải năng động, sáng tạo, tìm ra cách đánh phù hợp với hoàn cảnh từng dân tộc. Trước kẻ thù mới khác về chất với kẻ thù phong kiến trước kia, phải có chiến lược quân sự mới, chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Chiến lược ấy là chiến lược tổng hợp, là sự vận dụng học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội vào thực tiễn Việt Nam, thắng giặc bằng sức mạnh của dân tộc và của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng chiến lược toàn dân kháng chiến, chủ trương kháng chiến toàn diện, trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, trong đó “quân sự là việc chủ chốt”. Người coi thời gian là lực lượng, nên quyết kế kháng chiến trường kỳ, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng phát triển sức mạnh về mọi mặt, thực hiện càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng. Độc lập tự do không thể cầu xin mà có được. Phải đánh giặc bằng sức của chính mình. Tự lực tự cường nhưng không tự cô lập mình. Phải tranh thủ đến mức cao nhất sự giúp đỡ của cách mạng thế giới. Chiến lược quân sự kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy mạnh mẽ mọi tiềm lực, lực lượng: chính trị - tinh thần và vật chất, nhân tố chủ quan và khách quan, tạo nên sức mạnh tổng hợp vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Cả nước một, lòng, toàn dân đánh giặc. Bên trong đoàn kết, quyết tâm, Bên ngoài thêm bạn, bớt thù. Cả tiền tuyến và hậu phương cùng thi đua lập công.

Chiến tranh không còn chỉ là cuộc chiến đấu giữa hai quan đội; quân xâm lược đã vấp phải sức kháng chiến của cả một dân tộc anh hùng, được nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ.

Chiến lược quân sự ấy thấm nhuần sâu sắc tư tưởng tiến công. Khởi nghĩa là tiến công, “chỉ có tiến, không có thoái”(1). Từ khởi nghĩa từng phần, nắm bắt thời cơ tiến lên tổng khởi nghĩa, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Kháng chiến với tư tưởng chiến lược tiến công là biết chủ động khởi đầu chiến tranh, chủ động kết thúc chiến tranh, biết hạn chế chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng, thắng địch từng bước, giành thắng lợi quyết định, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

*
*   *

Cách mạng muốn thành công thì phải “Lấy dân chúng (công nông) làm gốc”(2). “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân(3). Đây là nét nổi bật xuyên suốt tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khác hẳn các quan điểm quân sự tư sản thường chỉ nhấn mạnh vai trò các tướng lĩnh tài năng, dựa vào quân đội nhà nghề, vào binh khí kỹ thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa vào dân, dựa chắc vào dân, khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân, có dân thì có tất cả.

Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa. Người chăm lo giáo dục cho toàn dân hiểu rõ tại sao làm cách mạng, tại sao phải kháng chiến. Người xây đựng khối đại đoàn kết toàn dân. tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông, động viên sức mạnh của toàn dân vào trong cuộc kháng chiến cứu nước. Hậu phương vững chắc là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Hậu phương không chỉ là sức mạnh vật chất mà còn là sức mạnh tinh thần, sức mạnh chủ yếu là ở lòng dân. Một nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh với sự tham gia của tất cả các ngành, các giới đả góp phần quyết định bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Công việc quân sự không phải là việc riêng của quân đội mà được đồng bào cả nước thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đấu tranh vũ trang không còn là lĩnh vực dành riêng cho những quân đội chuyên nghiệp. Toàn dân đã tự giác đứng lên chiến đấu. Công việc quân sự có mục đích rõ ràng, có nội dung chính trị sâu sắc, Hoạt động quân sự vì thế kiên quyết, triệt để nhằm giành thắng lợi từng bước cho đến thắng lợi hoàn toàn. Hoạt động đó được thể hiện bằng nghệ thuật toàn dân đánh giặc với lòng dũng cảm phi thường và trí thông minh, sáng tạo tuyệt vời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những lấy dân làm gốc, mà còn hết lòng chăm lo vun xới cái gốc để cây cách mạng nở hoa, kết quả. Người chủ trương kháng chiến đi đôi với kiến quốc để bồi dưỡng sức dân. Ngay trong chiến tranh, phải thực hiện các nhiệm vụ cách mạng dân chủ, các chế độ chính sách mang lại quyền lợi và hạnh phúc cho dân. Dân sinh được cải thiện, dân trí được nâng cao, dân chủ được thực hiện, con người mới được xây dựng, chế độ phát huy tính ưu việt, tất cả tạo thành khí thế của toàn dân đánh giặc, mà “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”(4).

Đánh giặc bằng sức mạnh của toàn dân, nhưng phải có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Đó là một quân đội kiểu mới của Đảng và của dân tộc, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, coi nhân dân là cha mẹ, mang bản chất “trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”. Nét độc đáo trong tư tưởng của Người về xây dựng lực lượng vũ trang là “người trước, súng sau”. Trên cơ sở phong trào cách mạng của nhân dân mà tổ chức ra lực lượng vũ trang cách mạng.

Ngay từ những ngày đầu, Người đã phác họa mô hình lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đó lả một đội quân chiến đấu, công: tác và sản xuất. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định giữ vững, phát huy bản chất cách mạng và không ngừng nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Chất lượng chính trị được Người đặt lên hàng đầu. Quân đội phải có đức dũng cảm, chí hy sinh, có kỷ luật nghiêm, thực hiện toàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, đồng thời phải luyện tập công phu, làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự. Người đặc biệt quan tâm việc nuôi dưỡng bộ đội, “thực túc binh cường”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người động viên, giáo dục. Người chỉ bảo, chăm lo. Người khao thưởng quân sĩ mỗi lần thắng trận. Người thương tiếc các liệt sĩ, quan tâm đến các gia đình có người thân hy sinh vì nước. Người an ủi thương binh, chỉ thị cho các cấp phải cứu chữa tận tình. Người yêu cầu phải tốt chính sách hậu phương quân đội. Thật hiếm có vị Tổng tư lệnh tối cao nào lại gần gũi, chăm lo dạy bảo những người lính của mình như Bác Hồ đối với các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Và cũng hiếm có một quân đội nào lại tin yêu vị Tổng tư lệnh tối cao của mình như Quân đội nhân dân Việt Nam tin yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáp lại tấm lòng của Bác, cán bộ, chiến sĩ toàn quân ra sức rèn luyện, chiến đấu, trưởng thành vượt bậc, chiến thắng vẻ vang. Quân đội ta đã thực hiện được những lời Bác Hồ dạy, xứng đáng với phần thưởng cao quý nhất đối với các lực lượng vũ trang là được nhân dân gọi bằng cái tên trìu mến; “Bộ đội Cụ Hồ”.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 539.
(2) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 94.
(3) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 345.
(4) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 86.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:43:59 pm
Chiến tranh giải phóng của dân tộc thuộc địa chống thực dân, đế quốc lúc đầu bao giờ cũng là cuộc chiến đấu của người yếu chống kẻ mạnh. Muốn giành thắng lợi, không thể chỉ dựa vào ý chí, mà phải biết tạo ra sức mạnh tổng hợp “phải có một lối đánh rất tài giỏi”. Quyết đánh, lại phải biết đánh bằng nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn vận dụng phương pháp biện chứng trong đánh giá so sánh lực lượng địch, ta, phán đoán đúng âm mưu, thủ đoạn của đối phương, xác định phương án tác chiến tối ưu để thắng địch. Đây là nghệ thuật tạo lực, lập thế, tranh thời, biết đánh địch bằng mưu, thắng địch bằng thế, lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, song lại biết tập trung ưu thế vào thời cơ quyết định để luôn luôn đánh địch trên thế mạnh. Khi thì “tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây”. Lúc lại “dĩ đật dãi lao”, lấy cái sung sức của lực lượng tại chỗ thắng cái mệt mỏi của địch từ xa tới. Khi thì đưa một bộ phận chủ lực vào vùng sau lưng địch phát động chiến tranh du kích. Lúc lại vận dụng “nguyên tắc chính là tập trung lực lượng”, tạo ưu thế áp đảo trong thời cơ quyết định, ở địa điểm quyết định để giành thắng lợi quyết định. Bao giờ cũng phải đánh chắc thắng, tuyệt đối không chủ quan, khinh địch. Giành thắng lợi lớn mà ít tốn xương máu mới là “tướng giỏi của đoàn thể”(1).

Những nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị quần chúng, tiến công cả trước mặt và sau lưng địch bằng đánh du kích và đánh chính quy ở tất cả các địa bàn rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc”(2), nhưng du kích không chỉ “du” mà phải trụ bám, bám dân, bám địch mà đánh. Chiến tranh du kích phải phát triển lên chiến tranh chính quy. Chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Đánh du kích và đánh chính quy đều phải quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, đánh bằng sức mạnh tổng hợp: đánh bằng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao... và hiệp đồng chặt chẽ các mặt trận ấy với nhau. Kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ. Tiêu diệt địch phải đi đôi với làm tan rã hàng ngũ địch, đập tan ý chí xâm lược của chúng. Tấm lòng nhân nghĩa bao dung của Người là cơ sở của mũi tiến công binh vận, địch vận của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh phát huy cao độ nhân tố con người trong chiến tranh. Ở một nước thuộc địa kém phát triển, chiến đấu chống kẻ thù đế quốc có tiềm lực quân sự và kinh tế lớn, cần có những con người có đủ phẩm chất và tài năng. Đối với lực lượng vũ trang, trong chiến tranh “chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”(3). Chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân phải được những con người trung thành, dũng cảm, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư thực hiện mới thành sức mạnh vô địch. Đó là những đảng viên, cán bộ ưu tú, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của dân, kiên trì bám đất, bám dân, dựa vào dân mà đánh địch. Đó là những quân nhân cách mạng được giác ngộ chính trị, có lý tưởng cách mạng, có chiến thuật, kỹ thuật giỏi, cơ bản lĩnh chiến đấu cao. Đó là những cán bộ quân sự của Đảng có đủ tư cách của người tướng: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”. Cán bộ càng cao, trách nhiệm càng nặng. Trong các chuẩn mực của người tướng, không phải ngẫu nhiên mà cùng với người xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề chữ “Trí” lên đầu. ở đây “Trí” là trình độ giác ngộ chính trị, là tài thao lược, là năng lực lãnh đạo, chỉ huy, nắm vững chiến lược, chiến thuật, biết cách giáo dục, huấn luyện bộ đội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Để có được các chuẩn mực trên đây, người tướng cầm quân phải phấn đấu, rèn luyện không ngừng. “Sự học hỏi là vô cùng”(4). “Dốt nát cũng là kẻ địch”(5).

Chiến lược “trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên những con người mới Việt Nam, một đội ngũ cán bộ trung thành, tài trí và lớp lớp chiến sĩ dũng cảm, kiên quyết, thông minh, đáp ứng mọi yêu cầu và thử thách của chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước.

Người nói “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” chính là vì Người muốn chú ý trước hết đến xây dựng, bồi dưỡng con người để thực hiện “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng, xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một trận địa, mỗi chi bộ là một bộ tham mưu”.

Tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước phát triển hoàn chỉnh trong quá trình Người xác lập con đường giải phóng và cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tư tưởng ấy thể hiện rõ ở các tác phẩm quân sự và nhất là ở các hoạt động phong phú của Người trong khi chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng.

Sự chỉ đạo đó đã làm cho tư tưởng và lý luận quân sự của Người nhanh chóng trở thành nhận thức và hành động thực tíễn của toàn dân để giành thắng lợi. Công lao và cống hiến của Người vào sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp quân sự của dân tộc ta không chỉ ở việc tìm ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn mà còn ở nghệ thuật tổ chức thực hiện tài tình. Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là người thiết kế mà còn là ngươi chỉ đạo thi công tòa lâu đài Độc lập cùng với “Khải hoàn môn” của sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta để đi lên chủ nghĩa xã hội. Phản ánh đúng tâm tư, ý nguyện của quần chúng, được diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với trinh độ của mọi tầng lớp nhân dân, tư tưởng quân sự của Người thấm sâu vào lòng dân, hoạt động thực tiễn của Người cổ vũ và nêu gương cho toàn dân. Nó trở thành niềm tin tất thắng, thành nghệ thuật quân sự, thành sức mạnh vật chất trên chiến trường, góp thêm chất liệu mới để bổ sung và hoàn chỉnh đường lối, sách lược của Đảng, mang lại chiến thắng vẻ vang trong những cuộc đụng đầu lịch sử với thực dân, đế quốc.


(1) Phép dụng binh của Tôn Tử, Chính trị cục xuất bản, 1947, tr. 13.
(2) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 134.
(3) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 54.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 59, 58.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2020, 03:45:50 pm
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có ý nghĩa dân tộc và quốc tế to lớn, được các nhà lãnh đạo của Đảng ta, quân đội ta - những học trò xuất sắc của Người, cùng với quân và dân cả nước phát triển sáng tạo không ngừng, được nhân loại tiến bộ đánh giá cao. Tư tưởng quân sự ấy là hạt nhân của nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, góp phần quan trọng làm phong phú kho tàng lý luận của học thuyết quân sự Mác - Lênin.

Các Mác đã tổng kết một chân lý: “Mỗi xã hội đều có những con người vĩ đại của nó và nếu không có những con người như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra những con người như thế”. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”(1).

Bác Hồ muôn vàn kính yêu là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đạo đức của Người thấm nhuần sâu sắc đạo lý truyền thống của dân tộc và chủ nghĩa nhân văn, nhằm thực hiện ước mơ ngàn đời của nhân loại: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Tư duy của Người là tư duy khoa học, năng động, luôn luôn gắn với thực tiễn, đổi mới và sáng tạo. Suốt đời chiến đấu vì dân, vì nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, Người đã nêu một mẫu mực tuyệt đẹp của người cộng sản chân chính.

Trong khởi nghĩa và chiến tranh, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, phá cường bạo, thắng ngoại xâm. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Quyết chiến quyết thắng mà nhân nghĩa khoan dung. Vì tha thiết yêu chuộng hòa bình mà phải vũ trang tự vệ. Tác phong của người biểu hiện phong cách lê-nin-nít: lý luận liên hệ với thực tiễn, thực tiễn mà không thực dụng lời nói đi đôi với việc làm; tự mình làm gương trước. Đó là phong cách của vị thống soái tối cao, nhà chiến lược quân sự thiên tài. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã khái quát: “Hồ Chí Minh là người năng động và linh hoạt trong ứng biến, minh triết và thanh thản trong tâm hồn và phong độ. Hoàn cảnh càng nguy hiểm, khó khăn, Hồ Chí Minh càng bình tĩnh, sáng suốt. Giải pháp đúng đắn đến thần tình thường bật ra trong một phản ứng tự nhiên như từ trực giác cách mạng”(2).

Từ con người của Bác Hồ tỏa rộng một sức tập hợp kỳ diệu. Càng bình dị, khiêm tốn, sức tập hợp càng cao cả một dân tộc đoàn kết xung quanh Người chiến đấu vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội,

Cả nhân loại “công nhận nhà cách mạng Việt Nam, người con của nhân loại đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của Tổ quốc: Việt Nam, cũng như của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Tên tuổi Hồ Chí Minh được biết đến và kính trọng khắp thế giới... Hồ Chí Minh được kỷ niệm như một trong những vĩ nhân mà lịch sử loài người đã sinh ra”(3).

Ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến của dân tộc chống quân xâm lược Nguyên Mông, Trương Hán Siêu từng chỉ rõ dân ta thắng ngoại xâm không chỉ vì “sông sâu núi hiểm”, mà còn do cái “đức lớn” của người lãnh đạo. Điều đó cũng hoàn toàn đúng đối với các chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng để đưa nhân dân ta tới độc lập tự do, ấm no hạnh phúc trong thời đại ngày nay. Tiến lên dưới lá cờ của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi hết sức vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và đang xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với niềm tin tất thắng.

Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đó là một quy luật xã hội khách quan. Làm cho dân giàu nước mạnh, phải ra sức phát triển kinh tế, văn hóa, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chăm lo xây dựng quốc phòng, phát triển nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đang soi sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước tiến tới mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiến tạo một xã hội công bằng tốt đẹp đúng với tinh thần cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin ngay cả trước sự thách thức của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhất định sẽ phát triển phồn vinh. Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bất khả xâm phạm. Trong nhiệm vụ cách mạng khó khăn và vinh quang ấy, nhân dân ta có một nguồn sức mạnh to lớn và vô tận chứa đựng trong các di sản quý báu mà Người để lại. Chính vì vậy mà cùng với sự nghiệp và tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta và các thế hệ mai sau.


(1) Lê Duẩn, Tuyển tập, t.1, Nxb Sự thật. H. 1987, tr. 414.
(2) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Báo Nhân dân, ngày 8-1-1990.
(3) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, H. 1990, tr. 87.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:02:34 pm
Phần thứ hai

HỒ CHÍ MINH
BIÊN NIÊN NHỮNG SỰ KIỆN VÀ TƯ LIỆU VỀ QUÂN SỰ

SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN

Đại tá NGUYỄN XUÂN DUNG
Đại úy LÊ VĂN THÁI
Thiếu tá NGUYỄN MINH ĐỨC
Đại tá HOÀNG CƠ QUẢNG


HOÀN CHỈNH BẢN THẢO

Đại tá NGUYỄN HUY TOÀN
Đại tá TRẦN HẠNH
Đại tá HOÀI CHƯƠNG


CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SINH NGÀY 19 THÁNG 5 NĂM 1890 trong một gia đình nhà Nho yêu nước ở Nghệ An. Từ thuở thiếu niên, Người đã tiếp thụ được sự giáo dục tốt đẹp của gia đình. Sống trên quê hương có truyền thống cách mạng, lại được ảnh hưởng của các phong trào chống Pháp và các nhà yêu nước đương thời, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Hương Khê và cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Người sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước.

Các cuộc chống Pháp có tổ chức, có vũ trang của nhân dân ta lần lượt bị thất bại. Người khâm phục và kính trọng các nhà cách mạng tiền bối, nhưng “không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”(1). Người cho rằng cách làm của cụ Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”(2), cách làm của cụ Phan Châu Trinh là “xin giặc rủ lòng thương”(3), cách làm của cụ Hoàng Hoa Thám “thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp”, nhưng “cụ còn nặng cốt cách phong kiến”(e).

Năm 1907, Người học ở trường tiểu học Đông Ba, sau đó vào trường Quốc học Huế. Trong thời gian này, Người tiếp xúc với một số sách báo tiến bộ Pháp.

Năm 1911, Người rời Tổ quốc sang phương Tây “để xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, rồi trở về giúp đồng bào”.

Người đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, vừa lao động, học tập, đấu tranh, vừa xem xét tình hình và tìm hiểu chủ nghĩa thực dân đế quốc. Người rút ra kết luận là ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao động cùng bị áp bức, bóc lột dã man và tất cả các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân.

Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Từ Luân Đôn, Người viết thư cho cụ Phan Châu Trinh: “... cách đây vài tháng cháu đã nói với Bác về một cơn giông sấm động”. Người dự đoán “tình hình châu Á sẽ có chuyển biến và sẽ có nhiều chuyển biến”(5).

Năm 1917, Người trở lại nước Pháp vào lúc cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra ác liệt. Hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, Người khám phá ra một nước Pháp chân chính, nước Pháp cách mạng với một nhân dân nồng hậu, quả cảm, yêu tự do, công lý.

Cuối năm 1918, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp, lớp đảng viên “thế hệ lửa đạn”.

Tiếng sấm Cách mạng tháng Mười Nga dội đến châu Âu. Người có cảm tình với cuộc cách mạng ấy và có ý định đến nước Nga.

Năm 1919, sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị ở Véc-xay (Pháp), thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi đến Hội nghị bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam”, đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Nhưng từ kinh nghiệm thực tế, Người hiểu rằng: “Những tuyên bố về tự do, dân chủ của bọn đế quốc chí là những lời đường mật cốt lừa bịp các dân tộc”. “Muốn được độc lập, tự do thật sự, các dân tộc bị áp bức phải trông cậy trước hết vào lực lượng của bản thân mình, người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình”(6).

Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế cộng sản đã giúp Người tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Người “rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng”. Người nói: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(7).

Với con đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra, cách mạng Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối kéo dài hơn 50 năm, tiến vào quỹ đạo của thời đại mới.

Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện lịch sử này đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.


(1), (2), (3), (4) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 12, 13.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 478.
(6) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 33.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 175.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:11:33 pm
NĂM 1921

Tháng 4, tháng 5

Nguyễn Ái Quốc viết hai bài báo “Đông Dương”, đăng trên Tạp chí Cộng sản của Đảng Cộng sản Pháp số 14 và số 15.

Khẳng định khả năng cách mạng của nhân dân Đông Dương, Người viết: “Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ... lại càng sai hơn nữa... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Về phương hướng của cách mạng giải phóng dân tộc, Người viết: “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đây là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay. Trả lời câu hỏi đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: có”. “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em của mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(2).

Trong tháng 7

Người cùng một số chiến sĩ cách mạng nhiều nước thuộc địa hoạt động ở Pa-ri sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa. Tuyên ngôn của Hội do Người khởi thảo, viết: “... công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(3).

20-11

Người viết “Dự thảo báo cáo” của Tiểu ban Đông Dương thuộc Pháp trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, nêu kiến nghị về công tác của Đảng đối với các nước thuộc địa: “... các giai cấp thống trị coi các thuộc địa Pháp không chỉ là một kho vô tận nguyên liệu, mà bọn kẻ thù giai cấp của chúng ta còn coi những nước hải ngoại đó là nguồn cung cấp những đội quân phản cách mạng. Do đó, công tác tuyên truyền cách mạng và chống quân phiệt cần được tiến hành...”. “... việc nghiên cứu các vấn đề thuộc địa từ nay về sau phải lả bộ phận không tách rời các đề cương đưa lên Quốc tế cộng sản, vì cách mạng cộng sản chủ nghĩa không chỉ có mục đích ở châu Âu mà còn ở toàn thế giới”(4).

NĂM 1922

Tháng 1

Nguyễn Ái Quốc cùng Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp viết “Lời kêu gọi” các dân tộc thuộc địa: “Chúng tôi sát cánh với các bạn trong cuộc kháng chiến và đấu tranh của các bạn chống sự tham tàn của bọn thực dân, sự hung bạo của bọn cai trị và binh lính, bọn này có những tên đồng lõa là bọn quan lại bản xứ”(5).

1-4

Báo Người cùng khổ số 1 đăng lời ra mắt bạn đọc do Người viết: “Báo Người cũng khổ là tiếng nói chính nghĩa của giai cấp vô sản và nhân dân bị áp bức các nước thuộc địa... là vũ khí chiến đấu. Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: giải phóng con người”(6).

25-5

Người viết bài “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa” đăng trên báo L’Humamte’. Bàn về khả năng truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào các nước thuộc địa. Người nhận định: “Nói chung, quần chúng căn bản có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết làm cách nào để đạt được mục đích ấy”. Người kết luận: “Trước những khó khăn đó, Đảng phải làm gì? Tăng cường công tác tuyên truyền của Đảng để khắc phục”(7).

Trong tháng 8

+ Người viết bài: “Phụ nữ Việt Nam và ách đô hộ của Pháp”, trong đó có đoạn viết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”(8).

+ Nhân việc thực dân Pháp đưa Khải Định đến Pa-ri, Người viết bài báo “Thư gửi Khải Định”, vạch mặt phản dân hại nước của tên vua bù nhìn đó và khảng định: “... ý chí của nhân dân - một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực - một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi”(9).
 
Trong tháng 9

+ Người viết bài “Đồng tâm nhất trí”, trong đó có đoạn viết: “Khôn ngoan hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ”(10).

+ Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp An-be Xa-rô mời Nguyễn Ái Quốc đến, hòng phủ dụ Người. Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do. Tổ quốc tôi được độc lập”(11).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 9-10.
(2) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 35, 36.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 465.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 489, 490, 492.
(6) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 40-41.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 64.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 65, 76.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 89.
(11) Theo: Thời thanh niên của Bác Hồ, Nxb Thanh niên, H. 1976, tr. 135, 136.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:14:08 pm
NĂM 1923

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc viết “Lời cổ động” cho báo Người cùng khổ: “Tờ báo này... nhằm dẫn dắt mọi người bị bóc lột thuộc mọi màu da đoàn kết lại dưới lá cò đỏ búa liềm để trong một phong trào cách mạng quốc tế rộng lớn quét sạch mọi kẻ bóc lột mà chúng ta là những người cùng khổ”(1).

Trong tháng 3

Nhân dân Đahômây (nay là Cộng hòa nhân dân Bênanh) nổi lên khởi nghĩa và bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Người viết liên tiếp hai bài “Cuộc bạo động ở Đahômây” và “Khởi nghĩa ở Đahômây”. Người rút ra kết luận: “... trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây”(2).

Người lên án sự đàn áp da man của bọn thống trị thực dân: “Dân bản xứ. không chịu nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành. Người ta dùng những biện pháp cương quyết. Người ta đưa quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến; người ta ha lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ vả bỏ tù hàng loạt. Đấy, đức nhân từ của công cuộc khai hóa như thế đấy”(3).

13 - 6

Trước khi rời nước Pháp, Người để lại thư cho các bạn cùng hoạt động: “Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc, vì chúng ta có tất cả dân tộc của chứng ta ủng hộ và vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính, đứng bên cạnh chúng ta”. “Chúng ta phải làm gì?... Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(4).

Cuối tháng 6

Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đến Liên Xô.

Về cuộc chiến đấu của nhân dân Mát-xcơ-va năm 1812, Người nhận xét: “Chính ở đây năm 1812, Nã-phá-luân vừa là người thắng trận, vừa là kẻ bại trận. Thắng trận vì Nã-phá-luản đã chiếm được thành phố, bại trận vì nhân dân Mạc Tư Khoa đã quyết tâm hy sinh tất cả, tự tay đốt cháy thành phố, lửa đã đuổi Nã-phá-luân; rét, đói và du kích đã tiêu diệt đại quân của Nã-phá-luân”(5).

Tháng 7

Người viết thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, nêu ý kiến về công tác của Đảng ở các thuộc địa. Người viết: “... nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, được tiếng vang của cách mạng thức tỉnh, đã hướng theo bản năng của họ về Quốc tế của chúng ta, một chính đảng duy nhất mà họ hy vọng là sẽ quan tâm đến họ một cách thân thiết, mà họ hoàn toàn mong mỏi là sẽ mang lại cho họ sự giải phóng”(6).

7 - 9

Trong bài “Đội quân chống cách mạng” in trên báo Đời sống công nhân của Tổng liên đoàn lao động Pháp, Người viết: “Điều mà giai cấp công nhân Pháp không thể không biết đến là chủ nghĩa tư bản dựa vào thuộc địa để chống lại tất cả mọi phong trào giải phóng mà giai cấp công nhân Pháp định mưu đồ... Trong số 150 trung đoàn của quân đội Pháp, có 10 trung đoàn người da trắng ở các thuộc địa, nghĩa là những người nửa bản xứ; 30 trung đoàn người châu Phi và 39 trung đoàn người bản xứ các thuộc địa khác. Như vậy, một nửa số quân đội Pháp là tuyển mộ ở các thuộc địa”... “Người ta tự hỏi vì lý do gì mà 31 trung đoàn trong số những trung đoàn người bản xứ sẽ đóng lại trên lãnh thổ Pháp. Họ sẽ được dùng để làm gì? Phải chăng người ta sẽ dùng những người bản xứ đó để khai hóa cho người Pháp? Như vậy là ý định của chủ nghĩa tư bản Pháp đã rõ ràng Công nhân Pháp có nhiệm vụ phải hành động. Họ phải kết tình anh em với binh lính bản xứ. Họ phải làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó, họ là nah em cùng một giai cấp, và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau”(7).

13 - 10

Người đọc tham luận tại Đại hột lần thứ I Quốc tế nông dân ở Mát-xcơ-va. Về vai trò cách mạng của nông dân, Người nói “Chỉ với lực lượng riêng của chính mình, nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ... Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh với giai cấp nông dân. Những trào lưu cơ hội chủ nghĩa, nịnh nông dân, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, đều chỉ đi tới chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ và đi tới chỗ phản bội chủ nghĩa Lênin mà thôi”(8).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 115.
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 129, 130, 132, 174.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 58.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 139.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 148, 149, 150.
(8) Sách đã dẫn, tr 157, 158.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:31:44 pm
NĂM 1924

27 - 1

Sau khi Lênin qua đời, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Lênin với các dân tộc thuộc địa”: “Sự ngu dốt là một trong những chỗ dựa chủ yếu của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nhưng tất cả họ, từ những người nông dân Việt Nam đến người dân săn bắn trong các rừng Đahômây, cũng đã thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đă đánh đuổi được bọn chủ bóc lột họ và hiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền. Họ cùng đã nghe nói rằng nước đó là nước Nga, rằng có những người dũng cảm mà người dũng cảm nhất là Lênin”... “Họ còn được biết rằng người lãnh tụ vĩ đại này sau khi giải phóng nhân dân mình, còn muốn giải phóng các dân tộc khác nữa. Người đã kêu gọi các dân tộc da trắng giúp đỡ các dân tộc da vàng và da đen thoát khỏi áp bức của bọn Rumi(1), của tất cả bọn Rumi: toàn quyền, công sứ... Và để thực hiện mục đích ấy, Người đã vạch ra một cương lĩnh cụ thể”(2).

15 - 3

Báo Đoàn kết của Đảng Cộng sản Ý in bài trả lời phỏng vấn của Người với phóng viên Giô-van-ni Giéc-ma-net-tô. Người nói: “... chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”. Người khẳng định: Các dân tộc phương Đông dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc “không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới”(3).

20 - 5

Người viết thư gửi đồng chí Pê-tơ-rốp, Tổng thư ký Đông phương Bộ. Người nêu rõ: “... nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, “đó là sự ĐƠN ĐỘC. HỌ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẨN NHAU”(4).

Trong tháng 5

Bài “Đoàn kết giai cấp” của Người in trên báo Người cùng khổ. Từ thực tế một cuộc bãi công của nhân dân Bra-xin, Người rút ra kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”(5).

Từ 17 - 6 đến 8 - 7

Người tham dự “Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản. Tham luận của Người về vấn đề dân tộc và thuộc địa có đoạn viết: “... cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”(6).

Về phong trào nông dân trong các thuộc địa của Pháp, Người nêu rõ: “Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và phải chỉ cho họ con đường đi tới cách mang và giải phóng”(7).

19 - 9

Người gặp và nói chuyện với họa sĩ Thụy Điển E-rích Giô-han-xơn. Được hỏi về suy nghĩ của Người đối với việc giải phỏng Việt Nam, Người trả lời: bằng cách khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Người không cho rằng sự giải phóng đất nước có thể thực hiện được bằng cải cách dần hay thông qua một sự giải phóng giội từ trên xuống. Người cho rằng một cuộc đảo chính đơn giản không thể thực hiện được. Người nói chuyện rất say sưa về tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những “tế bào” có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Người tin chắc chắn sẽ nổ ra(8).

11 - 11

Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) để gây dựng phong trào cách mạng Việt Nam.

Trước đó mấy tháng, tại Quảng Châu, Phạm Hồng Thái đã mưu sát viên toàn quyền Méc-lanh nhưng không thành công, về sự kiện này, Người nhận xét: “Việc đó tuy nhỏ, nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”(9).

Tháng 12

Tại Quảng Châu, Người gặp và trao đổi ý kiến với cụ Phan Bội Châu. Người báo cáo lên Chủ tịch đoàn Quốc tế cộng sản “Trong cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông ta hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở. Ông ta đã đồng ý”(10).

Trong năm

+ Bài “Đông Dương và Thái Bình Dương” của Người in trong tạp chí Thư tín quốc tế, cơ quan của Quốc tế cộng sản. Dự đoán về một cuộc chiến tranh thế giới mới do bọn đế quốc gây ra, Người viết: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó. Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó. Cho nên các đồng chí Nga cần phải biết rõ tất cả lực lượng và tất cả các mánh khóe trực tiếp hay gián tiếp của đối thủ của mình”... “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”(11).

+ Bài “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” của Người in trên báo Đời sống công nhân. Trong đó có đoạn viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(12). Người chỉ rõ: Sự giúp đỡ của cách mạng Nga đối với dân tộc thuộc địa - mà một trong những việc quan trọng đầu tiên là lập Trường đại học Phương Đông - “đặt cơ sở cho một khối liên hiệp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hiệp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”(13).


(1) Rumi: tiếng A-rập, nghĩa là người nước ngoài, kẻ đi nô dịch.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 191-192, 197-198.
(4), (5), (6) Sách đã dẫn, tr. 207, 212, 217.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 230-231.
(8) Theo báo Nhân dân, ngày 16-3-1980.
(9) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 64-65.
(10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 314, 241-242.
(12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 249-254.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:47:38 pm
NĂM 1925

Đầu năm

+ Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ lãnh đạo phong trào và chuẩn bị cho việc thành lập một đảng vô sản ở Việt Nam. Từ đầu năm 1925 đến tháng 9 năm 1927, Trường mở được mười khóa với tổng số học viên khoảng 200 người. Sau khi hoàn thành khóa học, một số đồng chí được cử về nước hoạt động; một số được gửi sang Liên Xô học ở Trường đại học Phương Đông, một số vào học Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).

+ Gặp một số cán bộ được cử đi học Trường quân sự Hoàng Phố, Người căn dặn: Không được sao nhãng việc học chính trị. Chính trị, quân sự phải đi đôi. Cách mạng sau này rất cần đến đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị giỏi giang”(1).

+ Người cử đồng chí Lê Hồng Phong (sau khi tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố) đi học tại Học viện không quân ở Liên Xô(2).

19 - 2

Người viết thư gửi Đoàn chủ tịch Quốc tế cộng sản: “Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm chín hội viên, trong đó có: hai người đã được phái về nước, ba người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên), một người đang đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng). Trong số hội viên, đó, có năm người đã là đảng viên dự bị của đảng cộng sản”(3).

Tháng 6

Người sáng lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, trong đó có nhóm cộng sản làm nòng cốt lãnh đạo. Sau này, trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản (ngày 5-3-1930), Người nói rõ: “Trong tư tưởng của những người đứng ra tổ chức thì Hội này sẽ là cơ sở cho một Đảng lớn hơn và tương lai đã chứng minh điều đó”(4).

Trong năm

+ Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông - một hình thức mặt trận chống đế quốc gồm những người yêu nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ấn Độ,... Người được bầu là bí thư của Hội.

+ Tác phẩm: “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc được Thư quán lao động ở Pa-ri xuất bản. Tác phẩm tố cáo những tội ác dã man của thực dân Pháp ở Đông Dương và các thuộc địa khác, bước đầu vạch ra phương hướng đấu tranh đúng đắn nhằm giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi ách thống trị thực dân.

Ở chương I: Thuế máu, lên án thủ đoạn của thực dân Pháp bắt lính ở các thuộc địa để ném vào cuộc chiến tranh đế quốc, Người vạch rõ: “bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa”(5).

Ở chương XII: Nô lệ thức tỉnh, đánh giá cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn, Người viết: “... giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình... Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lại dấu hiệu đó của thời đại...”(6).

Người chỉ rõ: “Cuộc chém giết đẫm máu thế giới đã mở mắt cho hàng triệu vô sản và nông dân các thuộc địa thấy rõ hoàn cảnh sinh sống không sao chịu nổi của mình. Một loạt những cuộc bùng nổ cách mạng, mãnh liệt, nhưng chưa được tổ chức, đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến tranh thế giới”(7).

Người kêu gọi: “Hỡi anh chị em cùng khổ ở các thuộc địa! Hãy đoàn kết lại! Hãy tổ chức lại! Hãy phối hợp hành động của anh chị em với hành động của chúng tôi, chúng ta cùng nhau đấu tranh cho công cuộc giải phóng chung!”(8).

NĂM 1926

+ Trong những năm 1921-1926, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài tiếp tục vạch trần bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương Những bài ấy được tập hợp lại và xuất bản thành sách năm 1962 với tên “Đây công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương”.

Trong bài “Đông Dương khổ nhục”, Người viết: “Bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông Dương không thể chịu ngồi yên mà không phá gông xiềng của đế quốc thực dân Pháp”(9).

Trong bài “Phong trào cách mạng ở Đông Dương”, Người viết: “Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hòa, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với năm châu”(10).

Trong bài “Cuộc kháng Pháp”, Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”(11).

+ Người cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng về nước hoạt động và căn dặn: Sức mạnh là ở đoàn kết. Đoàn kết thì súng của giặc là vũ khí của mình”(12).


(1) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, số 7-1986.
(2) Theo: Báo Nhân dân, ngày 7-11-1982.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 8.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 20.
(5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 1, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 320, 446, 460, 462.
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 54, 154, 162.
(12) Theo báo: Nhân dân, ngày 8-5-1960.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:57:20 pm
NĂM 1927

Tác phẩm “Đường cách mệnh” gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông xuất bản.

“Đường Cách mệnh” tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới trong vòng 150 năm và xác định những vấn đề cơ bản về đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho cương lĩnh của Đảng ta sau này.

Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để: “Việc gi khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi. Đời này làm chưa xong đời sau nối theo làm thì phải xong”(1). “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi, thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(2).

Chỉ rõ những điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng, Người viết: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi, Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). “... muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã-khắc-tư và Lênin”(4).

Nhấn mạnh cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Người viết: cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ năm, bảy người giết hai. ba anh vua: chín mười anh quan mà được”(5); “Dân khí manh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”(6).

Chỉ rõ cách mạng Việt Nam phải dựa vào sức mình là chính đồng thời phải quan hệ mật thiết với cách mạng thế giới, Người viết:

“... Việt Nam muốn cách mệnh thành công thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”(7). “Nhưng muốn người ta giúp cho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(8).

Tháng 6

Người viết thư gửi Ban phương Đông Quốc tế cộng sản, báo cáo những công việc Người đã làm từ khi đến Quảng Châu (11-1924): “1 - Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức tại Quảng Châu. 2 - Xuất bản 3 tờ tuần báo nhỏ. 3 - Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ. 4 - Thành lập một liên đoàn cách mạng do một ủy ban gồm 5 ủy viên ở Quảng Châu lãnh đạo”(9).

NĂM 1928

Trong tháng 5

Trong bài “Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương” in trong Tạp chí Thư tín quốc tế, Nguyễn Ái Quốc viết: “Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, nhưng nạn nghèo khó và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp”(10).

2 - 10

Người viết bài: “Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương” vạch trần những thủ đoạn bóc lột, bát phu, bắt lính của thực dân Pháp ở Đông Dương. Người chỉ rõ: “Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người Việt Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”(11).

Từ tháng 7

+ Người đến Xiêm (Thái Lan) hoạt động, giáo dục, tổ chức Việt kiều, đào tạo cán bộ, ra báo Thân ái để tuyên truyền cách mạng trong kiều bào và gửi về nước.

+ Trong một lần gặp đồng chí Đặng Văn Cáp, Người nói: “Làm cách mạng là phải biết toàn diện, việc gì cũng phải biết làm. Biết bắn súng, thì khi súng hỏng cũng phải biết sửa”(12).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 180, 182, 183, 207.
(5), (6), (7), (8) Sách đã dẫn, tr. 200, 198, 216, 224.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 2, Nxb Chính trị quốc gia, H. 195, tr. 241.
(10), (11) Sách đã dẫn, tr. 272, 291-292.
(12) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H. 25-C5.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:06:00 pm
NĂM 1929

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đi Trung Quốc với ý định giải quyết hai việc quan trọng. Một là được tin ở trong nước, Quốc dân đảng đang chuẩn bị bạo động và nhận thấy cuộc bạo động này quá sớm và khó thành công, Người “muốn bàn lại kế hoạch với anh em Quốc dân đảng”. Hai là, ở Việt Nam đã ra đời ba tổ chức cộng sản ở Bắc, Trung, Nam. “Sự chia rẽ đã làm cho những người yêu nước lo lắng. Vì chia rẽ thì suy yếu!... Vô sản các nước phải liên hợp lại, huống chi vô sản trong một nước... Chúng ta phải đoàn kết giai cấp, đoàn kết toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Để đạt mục đích ấy, phải thống nhất tổ chức”.

Khi Người đến Trung Quốc thì cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Quốc dân đảng đã nổ ra và thất bại. Người nhận xét: “Việt Nam Quốc dân đảng thất bại nhưng anh dũng. Thực dân Pháp ăn mừng thắng lợi. Chúng tuyên bố: Thế là cách mạng Việt Nam hết! Thực dân Pháp không còn lo sợ nữa. Nhưng người Việt Nam trả lời thầm: Đợi đấy, chúng bay sẽ thấy!”(1).

Trong năm
Được tin ở trong nước, một sinh viên Việt Nam bắn tên Ba-danh, một nhân viên người Pháp chuyên nghề mộ phu, Người không trách người sinh viên trẻ tuổi nhưng không tán thành hoạt động khủng bố cá nhân vì “chính sách khủng bố là chính sách của những người thất vọng, của những người nản chí... chỉ có lực lượng của toàn dân mới có thể giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thống trị bạo ngược. Chứ cá nhân hành động thì dù cho những cá nhân ấy anh dũng thế nào cũng không đi đến kết quả”(2).

NĂM 1930

3-2

Được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Hội nghị họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, quyết định thống nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và “Điều lệ vắn tắt” của Đảng do Người khởi thảo.

Chánh cương có đoạn ghi: “Về chính trị: a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến... d) Tổ chức ra quân đội công nông”(3).

Trong tháng 2

Nhân dịp Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Nguyễn Ái Quốc ra “Lời kêu gọi”. Phân tích tình hình thế giới. Người viết: “Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác”(4).

Người chỉ rõ: “... Cách mạng Việt Nam không bị cô lập, trái lại nó được giai cấp vô sản thế giới nói chung và giai cấp cần lao Pháp nói riêng ủng hộ... giữa lúc các cuộc khủng bố trắng lên đến đỉnh cao thì những người cộng sản Việt Nam trước kia chưa có tổ chức, đang thống nhất lại thành một đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo toàn thể anh chị em bị áp bức chúng ta làm cách mạng”(5). Người kêu gọi: “... chúng ta còn phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để: 1- Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến Việt Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng... “(6).

5- 3

Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo “Phong trào cách mạng ở Việt Nam” gửi Quốc tế cộng sản. Về việc thảnh lập Đảng, Người viết: “Ngày nay các nhóm cộng sản đã thống nhất vào một đảng, hoạt động nhất định sẽ tốt hơn trước nhiều”... “Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng”(7).

Mùa thu

Gặp đồng chí Nguyễn Lương Bằng tại Thượng Hải (Trung Quốc), Người dặn: “Phải kết hợp tinh thần quốc tế với lòng yêu nước chân chính, không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung. Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc cho nên phải khơi lòng yêu nước của mọi người. Hoạt động trong binh lính phải rất thận trọng. Anh em hăng hái, nhưng trong tay có vũ khí thì dễ manh động”(8).

Từ cuối tháng 9

Phong trào Xô - viết Nghệ - Tĩnh nổ ra và bị thực dân Pháp đàn áp dã man.

Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Người cách mạng Việt Nam đã tìm thấy những phương pháp đấu tranh mới. Họ đã biết phối hợp tuyên truyền, bãi công và tuần hành thị uy. Trong nhiều vùng, tất cả nhân dân tham gia đấu tranh...”(9).

Người viết thư gửi Quốc tế cộng sản, Quốc tế nông dân báo cáo tình hình và đề nghị tìm cách giúp đỡ các nạn nhân bị khủng bố.

Sau Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương Đảng (10-1930), Người viết: “Báo cáo về những nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” gửi Quốc tế cộng sản. Nêu những thiếu sót trong phong trào cách mạng của nông dân, Người chỉ rõ: “... giải tán tự vệ là sai lầm. Phải tổ chức tranh đấu ban đêm”(10), về phương hướng lãnh đạo đấu tranh của nông dân. Người viết: “Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền, cho nhân dân; chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy, giành chính quyền)... phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị...”(11). “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”(12), “Cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình. Họ phải hiểu được rằng hành động cá nhân hoặc môi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình”(13).


(1), (2) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 77-79.
(3), (4) Sách đã dẫn, tr. 295, 304.
(5), (6) Sách đã dẫn, t. 2, tr. 305.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 24.
(8) Theo báo: Nhân dân, ngày 8-5-1960.
(9) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 80.
(10), (11), (12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 36, 38.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:15:06 pm
NĂM 1931

19 - 3

Trong bài “Nghệ - Tĩnh đỏ”, Nguyễn Ái Quốc viết: “Bom đạn súng máy, đốt nhà, đồn binh... tuyên truyền của chính phủ, báo chí... đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ - Tĩnh”(1).

6 - 6

Người bị đế quốc Anh bắt giam trái phép tại Hồng Công.

NĂM 1933

Trong tháng 1

Nguyễn Ái Quốc được trả lại tự do.

Trong tháng 11

Được tin một đoàn đại biểu từ châu Âu đến Thượng Hải để dự Hội nghị chống chiến tranh đế quốc, trong đó có đồng chí Pôn Vayăng Cutuyriê, Người tìm cách chắp lại liên lạc với Quốc tế cộng sản.

NĂM 1934

Đầu năm

Được sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, Người rời Thượng Hải đi Mát-xcơ-va.

1 - 10

Người được Quốc tế cộng sản giới thiệu vào học Trường quốc tế Lênin, là trường dành cho những người lãnh đạo đảng cộng sân ở các nước tư bản và thuộc địa.

NĂM 1935

Trong tháng 1

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Bộ phương Đông, đề nghị một số biện pháp nhằm bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin cho các cán bộ, đảng viên ở các nước thuộc địa đang gặp khó khăn vì “trình độ chính trị và lý luận rất thấp”. Người viết: “... tôi thấy tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có. Và biện pháp duy nhất có hiệu quả... là cho xuất bản những quyển sách nhỏ viết về các vấn đề...”(2).

Trong 30 vấn đề mà Người đề nghị, có vấn đề “Khởi nghĩa vũ trang”(3).

Tháng 7

Người tham dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế cộng sản họp tại Mát-xcơ-va với tư cách đại biểu Ban phương Đông. Trong thời gian đó, Người đem hết tinh thần trách nhiệm và khả năng giúp đỡ Đoàn đại biểu Đảng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ tại Đại hội chống phát xít của Quốc tế cộng sản(4).

NĂM 1936

Nguyễn Ái Quốc công tác tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa ở Mát-xcơ-va. Người theo dõi và giúp đỡ nhóm học sinh Việt Nam đang học tập tại đây.

NĂM 1937

Nguyễn Ái Quốc là nghiên cứu sinh tại viện nghiên cứu các vấn để dân tộc và thuộc địa.

NĂM 1938

Từ cuối tháng 10

Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đi Trung Quốc để tìm cách về nước hoạt động. Tại Quế Lâm, Người tìm cách bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Đông Dương.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 42.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 55-58.
(4) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 80.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:24:04 pm
NĂM 1939

Từ tháng 2 đến tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài báo gửi về nước đăng trên báo Tiếng nói của chúng ta (Notre voix), nhằm phổ biến kinh nghiệm kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc.

Trong bài “Thư từ Trung Quốc” (đầu tháng 3) Người viết: “… du kích... đánh giặc chủ yếu là bằng mưu mẹo và sự bất ngờ. Nếu khi họ thấy chưa chắc thắng được kẻ địch thì họ chưa đánh”(1).

Trong bài “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, Người nêu lên một nét đáng chú ý về tổ chức du kích tại vùng mỏ Ching sing “là ở chỗ nó hình thành một mặt trận chống Nhật có tính chất quốc gia và quốc tế. Quốc gia, vì mỏ có một sự hợp tác chặt chẽ giữa ban giám đốc các mỏ và công nhân mỏ, giữa công nhân và nông dân, giữa du kích và quân đội chính quy. Quốc tế, vì có một sự cộng tác chật chẽ giữa người Trung Quốc và người nước ngoài”(2).

Trong bài “Thư từ Trung Quốc. Tổng kết sau năm đấu tranh”, Người viết: “Sách lược “làm cho người Trung Quốc này đánh người Trung Quốc khác” của chúng đã bị bẻ gãy trước Mật trận dân tộc thống nhất của chúng tôi, bọn phát xít Nhật phải chuyển sang dùng một sách lược khác: “Đánh mạnh, thắng nhanh”. Đến lượt nó, sách lược này cũng bị phá tan với chính sách của chúng tôi là “chiến tranh kéo dài. Sách lược thứ ba của Nhật Bản là “ký nhanh hòa ước kết thúc nhanh cuộc chiến tranh” đã bị thất bại thảm hại trước quyết tâm của chúng tôi là đánh đến cùng. Hiện nay, chúng đang thử “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”... Chính sách đó cũng không thực hiện được, giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa!”(3). “Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”(4).

Tháng 7

Từ Trung Quốc, Người gửi thư cho Trung ương Đảng, nêu ý kiến về đường lối, chủ trương của đảng trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Người chỉ rõ: “… Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi. Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân tao động mà gồm cả tư sản dân tộc”(5). “... Mặt trận dân chủ Đông Dương phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp, vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chù và có thể giúp rất nhiều cho ta”(6).

Người viết Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản. Về tình hình hoạt động của Nhật ở Đông Dương, Người nhặn định: “Bọn Nhật đã nhòm ngó Đòng Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp... Từ 34 năm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong sẽ có dịp dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác”(7).

NĂM 1940

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh (Trung Quốc) để chắp liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 5, 6

+ Tại Thúy Hồ (Trung Quốc) Người nói với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh về tình hình thế giới: Đức đã đánh nhau với Ba Lan, Pháp, Liên Xô ký hiệp ước không xâm phạm với Đức là hợp với tình hình hiện tại... nhưng thế nào bọn Đức cũng tiến công Liên Xô trong một ngày gần đây. Nhưng đụng vào Liên Xô thì chúng sẽ bị tiêu diệt(8).

Người nói với đồng chí Hoàng Quốc Việt: Nếu chúng đánh Liên Xô thì Liên Xô sớm muộn thế nào củng tiêu diệt chúng, nhờ đó cách mạng nhiều nước có thể thành công. Chúng ta sẽ có không phải chỉ một Liên Xô mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa nữa sẽ ra đời(9).

+ Khi cử các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi học ở Diên An, Người căn dặn: cố gắng học thêm quân sự(10).

Trong tháng 9

Tại Quế Lâm, Người nói với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng: Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng.

Giải đáp băn khoản của mọi người về việc chưa có vũ khí, Người nói: Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng... Cho nên cử tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí(11).

Trước âm mưu thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng Giới Thạch, Người đề ra chủ trương: Làm thế nào khi chúng “nhập Việt” thì chúng ta đã ở ngay trong nước và với danh nghĩa “Việt Nam độc lập đồng minh” có thể đường hoàng buộc chúng phải nói chuyện với ta(12).

Trong tháng 11

+ Được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Người nhận định: Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào(13).

+ Xem xét tình hình và địa thế của Cao Bằng, Người nhận định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kế sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ(14).

+ Người nói với đồng chí Đặng Văn Cáp: Du kích phải tạo điều kiện mà đánh địch. Cái gì đánh được giặc là phải dùng cả... khi có dịp phải rèn dao, mác cho du kích(15).

Trong tháng 12

Người nói với đồng chí Lê Thiết Hùng: Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Nói chính trị quân sự đi đôi thì dễ, nhưng làm thì khó. Chúng ta trở về Tổ quốc, việc trước tiên là phải có chỗ đứng chân. Lúc đầu là một điểm nhỏ, sau mở rộng thành điểm to, rồi thành căn cứ. Chỗ đứng chân phải vững chắc. Vững chắc nhất là lòng dân(16).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 81.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 89-90, 105.
(4) Sách đã dẫn, tr. 107, 114, 115.
(5), (6) Sách đã dẫn, tr. 107, 114, 115.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 160.
(8), (9), (11) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 233, 171-172, 234, 235.
(10) Theo Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 25.
(12), (15) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 283, 337.
(13), (14) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 31, 33.
(16) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:28:40 pm
NĂM 1941

Trong tháng 1

Tại một địa điểm gần biên giới Việt - Trung, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho công cuộc giải phóng. Người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh biên soạn các bài giảng. Tài liệu của lớp huấn luyện này về sau được in thành sách với nhan đề “Con đường giải phóng”. Tác phẩm này đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh lý luận của Người về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Về Tình hình thế giới, phân tích triển vọng của cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra, tác phẩm chỉ rõ: “Triển vọng của cuộc chiến tranh này là: chủ nghĩa phát xít nhất định tiêu diệt, chế độ dân chủ tràn lan ra khắp thế giới, cách mạng thắng lợi hoàn toàn tại nhiều nước, nhân dân Đông Dương cũng sẽ tự giải phóng hoàn toàn”.

Phân tích tình hình Đông Dương trên các mặt địa lý, kinh tế, xã hội, chính trị, tác phẩm kết luận: “Nhật, Pháp ở Đông Dương khác nào như hai con chó ăn chung một miếng mồi. Nhật định dùng Pháp làm tay sai nhưng ghen ăn với Pháp. Pháp hàng Nhật nhưng càng ngày càng chán cảnh làm đầy tớ cho Nhật. Cả hai là giặc Nhật, Pháp đang sửa soạn hất cẳng để giữ thuộc địa cho riêng mình. Sự xung đột giữa Nhật, Pháp có lợi cho cuộc vận động của nhân dân ta không nhỏ”.

Về cách mạng Việt Nam, tác phẩm chỉ rõ: “Chủ nghĩa tân dân chủ cốt nhằm ba mục đích dưới đây: 1- Dân tộc độc lập… 2- Dân quyền tự do... 3- Dân sinh hạnh phúc...”, “Chủ nghĩa tân dân chủ của Việt Minh khác hẳn với chủ nghĩa độc tài phát xít của bọn tư sản tài chính Anh, Mỹ; nó cũng không giống chủ nghĩa Xô - viết của vô sản chuyên chính ở Nga, nó càng không giống chế độ dân chủ đại nghị thối nát ở Pháp hồi trước chiến tranh. Chủ nghĩa tân dân chủ của Việt Minh có tính chất hoàn toàn Việt Nam. Nó dựng lên một nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” lối mới, một nước Việt Nam hùng cường và tiến bộ”.

Đặc biệt tác phẩm đi sâu giải quyết những vấn đề về khởi nghĩa giải phóng dân tộc và nhận định: Khởi nghĩa là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc rất quan trọng, rất khó khăn, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại”.

Về những điều kiện của cuộc khởi nghĩa, tác phẩm xác định: “Muốn khởi nghĩa cần đủ ba điều kiện sau đây:

1. Lực lượng của đế quốc lung lay bối rối hoặc vì chúng phải đánh nhau với đế quốc khác, hoặc vì có cuộc cách mạng bùng nổ tại chính quốc, đế quốc không đủ sức giữ địa vị như trước nữa.

2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng, dân chúng vì khổ sở không chịu được nữa, căm tức tối cực điểm, quyết tâm hy sinh nổi lên tranh đấu cùng đế quốc vì hiểu ràng ngồi yên cũng chết.

3. Có một chính đảng cách mạng lãnh đạo, chính đảng ấy phải có một đoàn thể cách mọng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy”.

Phân tích những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương, tác phẩm chỉ rõ:

“1. Hiện nay Pháp đã mất nước cho Đức, thuộc địa của chúng bị Anh, Mỹ lấy hết. Ở Đông Dương chúng đã hàng phục Nhật. Thế lực của chúng đã tan rã suy đồi. Còn Nhật thì một mặt bối rối khó lòng giải xong vấn đề Tàu, một mặt phải lo cuộc phản công của phe Anh, Mỹ khắp nơi, mặt trận của chúng quá dài (hơn 3.000 cây số) mà chúng có nhiều kẻ địch, nên tình thế của chúng mỗi ngày một khó khăn hơn. Như vậy điều kiện thứ nhất của cuộc khởi nghĩa gần đủ.

2. Tuy dân ta hiện nay đói khổ ai cũng oán ghét Nhật - Pháp, nhưng hãy còn một số người chưa kiên quyết ra tranh đấu với đế quốc phát xít. Điều kiện thứ hai chưa đầy đủ.

3. Việt Minh là một đoàn thể cách mạng rất kiên quyết, chính sách cứu quốc rất đúng. Tuy vậy chính sách của Việt Minh chưa được phổ biến khắp nhân dân. Điều kiện thứ ba cũng chưa đủ.

Nói tóm lại hiện giờ những điều kiện khởi nghĩa của ta chưa đầy đủ.

Nhưng Nhật ngày càng thua lớn ở khắp các mặt trận. Ở Đông Dương chúng lại hầm hè với Pháp... Còn dân chúng sẽ ngày càng cảm thấy nỗi nhục nhằn dưới ách Nhật, Pháp thì ngả hẳn về phe cách mạng. Chỉ cần chúng ta nỗ lực tuyên truyền cho rộng chính sách cứu quốc của Việt Minh và ra sức tổ chức nhiều dân chúng là có ba điều kiện sẽ mau đầy đủ. Nói tóm lại chúng ta phải “gắng sức để sửa soạn khởi nghĩa”.

Tác phẩm nêu lên phương thức tiến hành khởi nghĩa của nhân dân Đông Dương: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường hay bắt đầu từ những cuộc bãi công chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc võ trang bạo động. Ở Đông Dương ta khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần ra khắp nơi. Khởi nghĩa thường bùng ra ở những nơi rừng núi tiện cho lối đánh du kích”.

Tác phẩm chỉ ra những công tác cần thiết trong cuộc khởi nghĩa.

Trước khi khởi nghĩa “đoàn thể cách mạng phải khai một cuộc hội nghị để xét rõ đã đủ điều kiện khởi nghĩa chưa? Nếu đã thì phải bàn định kế hoạch khởi nghĩa và bầu ra một ban chỉ huy khởi nghĩa... Kế hoạch ấy phải định ngày giờ cho đúng cái hoàn cảnh, với tình thế, vì một giờ sớm quá hay muộn quá đều có thể làm cho ta thất bại”. “Phải dùng hết cách kéo tất cả các hội viên và dân chúng tham gia khởi nghĩa... về mặt chính trị phải thành lập những đội tuyên truyền tổ chức để làm việc trong dân chúng. Phải dự bị lập một chính phủ cách mạng và xét những việc chính phủ ấy phải làm ngay. Về mặt quân sự phải tổ chức những đội tự vệ để làm quân chủ lực trong khởi nghĩa. Phải chia địa phương ra từng vùng để khi khởi nghĩa thì ai cũng có việc của người nấy. Trước hết phải có một khí giới và nhằm những kho khí giới của đế quốc để cướp. Phải định đội nào là tiên phong, đội nào làm hậu bị. Phải định ra nên đánh phía nào, giữ nơi nào, phá nơi nào,... Phải dự bị lương thực và việc cứu hộ (săn sóc những người bị thương). Phải tra kỹ càng những lối liên lạc giao thông (xe, tàu) dây thép, dây nói, v.v... để dự bị chiếm lấy hay phá hoại. Nói tóm lại phải có kế hoạch tiến công”.

Trong khi khởi nghĩa “ban chỉ huy phải hết sức lãnh đạo cuộc tiến công, kiên quyết tiến công, do dự một chút là thất bại”

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, “đoàn thể cách mạng phải lập tức đem khí giới chiếm được phát cho dân chúng có tổ chức và phái người chắc chắn ra lãnh đạo họ. Đồng thời phải lập ngay chính phủ cách mang của nhân dân. Những địa phương quân du kích làm chủ có thể tổ chức ra chính quyền cách mạng, chiếm được một vùng khá rộng trong nước thì có thể tổ chức Chính phủ lâm thời cách mạng của nhân dân toàn quốc”.

Về tổ chức du kích và cách đánh du kích trong khởi nghĩa, tác phẩm chỉ rõ: “Du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi một phần lớn là do du kích tổ chức có vững vàng hay không, phát triển rộng rãi hay không”?.

Về tổ chức du kích: “Du kích là binh lính cách mạng hoặc dân chúng, hoặc binh lính cách mạng và dân chúng do đoàn thể cách mạng lãnh đạo và tổ chức ra, gồm những người hăng hái vì nước vì dân. Cũng có khi binh lính cách mạng hoặc dân chúng cách mạng tự tổ chức ra du kích rồi liên lạc với đoàn thể cách mạng, chịu đoàn thể ấy lãnh đạo. Trong một đội du kích có một đội trưởng và một người chính trị ủy viên, có những người quản lý khí giới, lương thực, quản lý việc cứu hộ, việc do thám, việc giao thông...

Về cách đánh du kích: “Phép đánh du kích có thể gồm trong mấy lời này: Làm cho quân thù què đi, điếc đi, mù đi, chết đói đi”.

“Muốn làm tròn những việc,trên đây, các bộ đội du kích phải mật thiết liên lạc với nhân dân, cùng nhân dân cùng làm”.

Tác phẩm nêu lên vai trò quan trọng của căn cứ địa: “Khi du kích đã khá đông thì có căn cứ địa, nghĩa là một vùng khá rộng hiếm trở, dân chúng tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó làm nơi đứng chắc chắn, tiến có thể đánh và phát triển được, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng được”.
 
Tác phẩm khẳng định: “... dân chúng là chỗ nương tựa của quân du kích. Du kích như cá, dân chúng như nước. Có nước, cá mới mặc sức vẫy vùng, xa nước cả phải chết. Không có dân chúng, du kích sẽ thất bại. Được dân chúng hết sức giúp đỡ quân du kích nhất định sẽ thắng. Muốn được dân chúng giúp đỡ, quân du kích phải hết sức tôn trọng, yêu mến và bênh vực dân chúng”.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:42:28 pm
Đầu tháng 2

Người qua cột mốc số 108 biên giới Việt - Trung trở về Tổ quốc.

Tháng 3, 4

Chỉ đạo thành lập các hội cứu quốc tại căn cứ địa Cao Bằng, Người giải thích: Muốn có đội võ trang mạnh, trước hết phải có đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững... Muốn đánh Pháp - Nhật thì ai vác súng, ai là người tự giác tự nguyện đứng dậy làm cách mạng? Đó là quảng đại quần chúng, cho nên ta phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách mạng mới thắng được(1).

Từ 10 đến 19-5

Thay mặt Quốc tế cộng sản, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được(2).

Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu băng một cuộc khởi nghĩa võ trang...”(3), “... với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa phần từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”(4).

6 - 6

Người viết thư “Kính cáo đồng bào” nêu rõ tình hình trong nước, thế giới và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.

Điểm lại mấy chục năm đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, Người chỉ rõ: “Việc lớn chưa thành, không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm. Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thế tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh - Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết”(5).

Người kêu gọi: “Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”(6).

Trong tháng 6

+ Sau khi phát xít Đức tiên công Liên Xô, Người phân tích: Chiến tranh sớm muộn sẽ nổ ra ở châu Á - Thái Bình Dương... Trong chiến tranh thế giới 1914 - 1918 đã ra đời một Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô - viết, thì sau cuộc chiến tranh thế giới lần này, chắc chắn sẽ ra đời nhiều nước độc lập, dân chủ xã hội chủ nghĩa khác. Và đây là thời cơ tốt nhất cho nhân dân ta phát triển lực lượng cách mạng(7).

Từ tháng 8 đến tháng 11

Báo Việt Nam độc lập đăng một số bài thơ cổ động của Người nhằm kêu gọi các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi Nhật - Pháp: “Dân cày”, “Phụ nữ”, “Kêu gọi thiếu nhi”, “Công nhân”, “Ca binh lính”(8).

Tháng 10, 11

Người chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang tập trung. Đội du kích thoát ly đầu tiên gồm 12 người (có một nữ), 12 khẩu súng(9).

Trong lễ thành lập đội du kích, Người căn dặn: Muốn phát triển được tốt phải qua công tác rèn luyện mà phấn đấu, phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt... Đối với nhân dân, Đội phải như cá với nước.

Người thảo ra 10 điều kỷ luật và những nguyên tắc xây dựng, nguyên tắc hoạt động của Đội(10).

Về nguyên tắc xây dựng Đội, Người chỉ rõ:

1. Đội du kích từ nhân dân mà ra, vì nhân dân và dựa vào dân mà chiến đấu. Đội du kích với nhân dân như cá với nước...

2. Đội du kích phải thống nhất ý chí, trăm ngàn người như một, phải coi nhau như ruột thịt...

3. Kỷ luật là xương sống của Đội du kích, là kỷ luật sắt.

4. Đội phải vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác...

5. Đội phải vừa chiến đấu vừa xây dựng...

6. Đội du kích chiến đấu là để tiêu hao, tiêu diệt địch... Đánh địch nhằm bồi dưỡng lực lượng ta đồng thời là cách tuyên truyền động viên quần chúng tốt...(11)

Về nguyên tắc hoạt động của Đội, Người viết:

1. Phải hết sức giữ bí mật..; Dựa vào địa hình rừng núi là cần; chủ yếu là dựa vào nhân sơn nhân hải.

2. Chiến đấu cũng để phục vụ cơ sở... làm sao đánh được địch mà không ảnh hưởng đến cơ sở cách mạng của ta... phải có kế hoạch chống địch khủng bố.

3. Để đánh được địch, phải rõ địch, rõ ta, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đã đánh là phải thắng, vừa diệt được địch, vừa bồi dưỡng được ta.

4. Đánh to, đánh nhỏ; khi tập trung, khi phân tán; dương đông, kích tây, vận dụng cho linh hoạt.

5. Bất ngờ đột nhập, tập kích đánh phá đồn bốt... phục kích địch, dụ địch ra ngoài mà đánh.

6. Đội du kích đánh giặc, tự vệ, nhân dân cũng đánh; từng người, từng đơn vị đánh, phối hợp với nhau đánh. Đánh bằng súng, bằng mìn, chông, bằng giáo mác, gậy gộc, cuốc, xẻng...

7. Địch vận cũng là phương pháp đánh địch tốt...

8. Tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, đánh phá kho tàng vũ khí, quân trang quân dụng của địch trang bị cho ta.

9. Luôn luôn nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho Đội… Không ngừng phát triển lực lượng ta…(12).

Về huấn luyện quân sự, Người nhắc nhở: Không được quên là chúng ta còn có nền quân sự truyền thống quý giá của ông cha. Về trang bị vũ khí để phát triển du kích, Người giải thích: “Không sợ thiếu vũ khí. Chỉ sợ khi thời cơ đến thiếu người cầm vũ khí”(13).


(1) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 255-256.
(2), (3), (4) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trích văn kiện Đảng, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 321, 338, 340.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 148.
(7), (9) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C1, H-25-C6/20.
(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 154-159.
(10) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C2/09.
(11) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 9-1987.
(12), (13) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 9-1987.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:51 pm
Trong tháng 12

+ Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Mỹ - Anh tuyên chiến với Nhật. Người viết bài “Thế giới đại chiến và phận sự dân ta”, chỉ ra hai việc cần làm “1 là - Bất kỳ quân đội nào tới gần vùng mình, dân ta phải làm cách “nhà không vườn trống”, nghĩa là: bao nhiêu của cải, đồ ăn, đồ dùng, lương thực, súc vật đều đem giấu kín hết. Bao nhiêu đường sá, cầu cống đều phá hết. Người già, trẻ con, đàn bà con gái, đều tìm nơi chắc chắn mà trốn hết. Trai tráng thì phải ở lại trong làng, phải cùng nhau tổ chức đội tự vệ để canh phòng trộm cướp; các làng, phải giúp sức lẫn nhau. 2 là - Dân ta phải mau mau tổ chức lại... Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”(1).

Trong năm

+ Giao nhiệm vụ cho một số đồng chí mở lớp huấn luyện quân sự, Người chỉ thị: Giờ là lúc phải tổ chức võ trang cho tới tận các địa phương. Phải làm gấp, nếu chần chừ sẽ không kịp. Chẳng mấy chốc Hồng quân sẽ tiêu diệt bọn phát xít, lúc bấy giờ ta phải có đầy đủ lực lượng để có thể đứng lên giành chính quyền(2).

+ Người hướng dẫn hai nguồn tìm kiếm vũ khí: Một là từ trong tay giặc. Hai là ở trong nhân dân: nhân dân sẽ bằng mọi cách tự tạo ra vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang con em của mình... Khẩu hiệu là: “Lấy súng giặc để giết giặc”(3).

+ Người cử các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo... đi học quân sự. Người căn dặn đồng chí Đàm Quang Trung: Phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của các nước trong phe đồng minh, của cả đối phương nữa. Sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới(4).

+ Người viết cuốn sách “Cách đánh du kích”. Tác phẩm thể hiện tư tưởng của Người về tiến hành chiến tranh nhân dân trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền.

Người xác định: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh”(5).

Người nêu lên bốn điều cần thiết để đánh du kích thắng lợi: 1- Phải có con đường chính trị đúng... 2- Phải dựa trên cơ sở quần chúng... 3- Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật... 4- Phải có một lối đánh rất tài giỏi...”(6).

Về nguyên tắc của cách đánh du kích, Người viết:

“1. Giữ quyền chủ động... là khôn khéo xử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được... giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ...

2. Hết sức nhanh chóng... phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi.

3. Bao giờ cũng giữ thế công... Du kích phải giữ quyền chủ động chính để giữ thế công... Du kích mà chỉ phòng thủ thì thế nào cũng thất bại.

4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo... Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hóa, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng”(7).

Người nêu ra bốn mưu mẹo lớn trong đánh du kích: 1- Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây... 2- Tránh trận gay go, không sống chết giữ đất... 3- Hóa chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hóa linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung)... 4- Mình yên đánh quân thù động, mình khỏe đánh quân thù mệt...”(8).

Người chỉ rõ: “Du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước... Tuy vậy, nhiều khi đội du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự... Nhưng lối phòng ngự này là phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá”(9).

Khẳng định vai trò quan trọng của căn cứ địa, Người viết: “Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở... Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ. Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng... Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy...”(10).

+ Trên cơ sở bản thảo của đồng chí Phùng Chí Kiên về chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Người viết cuốn “Kinh nghiệm du kích Tàu”. Mở đầu cuốn sách, Người khẳng định: “Đánh du kích không cần phải có sức mạnh... hễ là người yêu nước, không chịu làm nô lệ, lại có chút gan dạ và mưu trí thì bất kỳ trai gái, già trẻ, bất kỳ có súng hay không, đều có thể đánh du kích”(11). Người kết luận: “Cuộc trường kỳ kháng chiến là dịp tốt cho toàn thể dân ta tỏ lòng yêu nước và tỏ tài năng mưu trí của mình. Mỗi một quốc dân phải là một người chiến sĩ. Mỗi một làng xóm phải là một ổ du kích”(12).

+ Người “dịch theo ý nghĩa” hai cuốn sách “Phép dùng binh của Tôn Tử” và “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh” giới thiệu những quan điểm nghệ thuật quân sự và nguyên tắc dùng binh, chọn tướng của hai nhà quân sự nổi tiếng nước Trung Hoa cổ.

Trong cuốn “Phép dùng binh của Tôn Tử”, Người chỉ rõ “Quân đội thắng lợi là vì họ chắc thắng rồi họ mới ra đánh. Quân đội thất bại thì ra đánh rồi mới cầu thắng”(13). “... đánh hơn trăm trận không phải là giỏi nhất. Giỏi nhất không phải đánh mà quân địch phải thua”(14).

Về tư cách người tướng, Người viết: “Một người tướng biết dùng binh là kẻ giữ gìn sinh mệnh của dân, là người làm chủ sự an nguy của đất nước”(15). “Người tướng phải tính trước. Không có lợi thì ta chớ dùng binh; không đến nguy cơ thì ta chớ chiến tranh. Không nên vì giận mà động viên. Không nên vì căm mà khai chiến. Lợi cho nước thì ta hành động: Không lợi cho nước thì thôi. Giận có khi lại vui, căm có khi lại hòa. Nhưng nước mất thì không lại còn, người chết thì không lại sống. Cho nên phải hết sức cẩn thận. Đó là cách yên nước nhà và toàn quân đội”(16).

Kết thúc cuốn sách, Người viết: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc. Muốn biết trước mọi việc thì phải dùng trinh thám”(17).

+ Trong cuốn sách “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh”, Người nêu lên năm điều hay, bốn điều phải của người tướng:

Năm điều hay là: “1- Phải biết rõ tình hình địch. 2- Phải biết rõ cách tiến thoái. 3- Phải biết rõ tình hình trong nước. 4- Phải biết rõ khí hậu của Trời và tâm lý của người. 5- Phải biết rõ núi sông”. Bốn điều phải là: “a) Đánh phải khôn khéo. b) Mưu phải mật. c) Quân đội phải chấn chỉnh. d) Lòng người phải nhất trí”.

Về “cách ăn ở của người tướng”, Người dạy: “bộ đội chưa có nước thì tướng chưa uống. Bộ đội chưa có cơm thì tướng chưa ăn. Bộ đội chưa có lửa thì tướng chưa phàn nàn rét. Nắng chớ che quạt, mưa chớ che dù để đồng cam cộng khổ với bộ đội”.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 160-161.
(2) Theo: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 296.
(3) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.
(4) Theo: Bác của chúng ta, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 85-86.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 165-166.
(7), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 169-170, 193.
(8) Sách đã dẫn, tr. 170-171.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 209.
(11) Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1970, tr. 137.
(12) Sách đã dẫn, tr. 150.
(13), (14), (15), (16), (17) Phép dùng binh của Tôn Tử, Chính trị cục xuất bản, 1947, Lưu trữ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:23:35 am
NĂM 1942

Trong tháng 2

+ Nguyễn Ái Quốc viết diễn ca “Lịch sử nước ta”. Sau diễn ca Người lập niên biểu “Những năm quan trọng”, ở dòng cuối Người ghi: “1945 - Việt Nam độc lập”(1).

Tháng 3

Người chỉ thị cho tỉnh ủy Cao Bằng phải mở rộng căn cứ nối liền Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn, Vũ Nhai: xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ Cao Bằng về miền xuôi để giữ vững liên lạc trong mọi tình huống. Người nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi”(2).

Trong tháng 4

Người chỉ thị cho Đội du kích Cao Bằng phân tán đi làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương và căn dặn: Phải có nhiều cán bộ giỏi. Phải chú ý mở lớp huấn luyện để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ... Hoạt động quân sự trong lúc này phải theo phương châm: gặp địch thì tránh, tránh không được thì đánh, nhưng đánh cũng là để tránh. Có đánh thì nhằm, tiêu diệt đầu sỏ(3).

Giữa năm

Giao nhiệm vụ cho các đồng chí thực hiện chủ trương “Nam tiến” mở thông đường liên lạc từ Cao Bằng qua Bắc Cạn - Thái Nguyên về miền xuôi, Người nói: Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi(4).

Từ tháng 2 đến tháng 7

Báo Việt Nam độc lập đăng một số bài thơ của Người “Ca đội tự vệ”, “Ca sợi chỉ”, “Hòn đá”, “Nhóm lửa”, “Bài ca du kích”... kêu gọi dân ta đoàn kết đứng lên đánh đuổi Pháp, Nhật(5).

Trong tháng 8

Lấy tên Hồ Chí Minh, với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ Việt Nam của quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh. Người bị chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Người viết tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng chữ Hán, trong đó bài thơ “Học đánh cờ” thể hiện một số suy nghĩ của Người về nghệ thuật quân sự.

…
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
…
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hừng mới xứng danh
(6).

Ở những trang cuối cùng Người ghi bút ký “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”: “Tổ chức:... cần phải chặt chẽ, thống nhất. Kỷ luật: cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự. Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự. Kế hoạch: cần rất tỉ mỉ, đầy đủ... Mệnh lệnh: cần đơn giản, rõ ràng, thiết thực, chu đáo... Hành động: cần phải đều răm rắp, cùng nhất trí, nhanh chóng, xác thực... Sinh hoạt: cần chỉnh tề, sạch sẽ, giản dị, chất phác. Thời chiến bình tĩnh như thời bình. Thời bình khẩn trương, chịu đựng gian khổ như thời chiến. Tính chất: Trong sạch, đáng kính, cơ động, bí mật, toàn diện: lường được, tính đến trọn vẹn, tích cực... Thái độ: Lễ, quy củ. Một vật dùng bằng hai vật. Một người làm việc của hai người. Một ngày làm công của hai ngày”(7).

NĂM 1943

Trong tháng 9

+ Được trả lại tự do ở Liễu Châu, Người bắt liên lạc ngay với Hội giải phóng Việt Nam (bộ phận Việt Minh ở nước ngoài).

+ Người căn dặn Hồ Đức Thành trước khi đồng chí ở Trung Quốc về nước: về chính trị và tổ chức thì phải hết sức phát triển, còn về quân sự và ngoại giao thì phải chờ. Phải nhớ từng chữ một và nói đúng như thế(8).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 224.
(2) Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng, Bác Hồ về nước Cao Bằng, 1986, tr. 78.
(3) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, số 22 năm 1987.
(4) Theo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 88.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 225-235.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 260.
(7) Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 4-1983.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/46.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:27:23 am
NĂM 1944

Tháng 3

Nhân danh đại biểu Việt Nam độc lập đồng minh, Người đọc báo cáo tại Hội nghị Quốc tế chống xâm lược tổ chức tại Liễu Châu. Người đề nghị thành lập Phân hội Việt Nam của tổ chức này và kêu gọi giúp đỡ Việt Nam giành độc lập(1).

Trong tháng 7

+ Người về nước, ở tại Khum Đắc, tỉnh Cao Bằng. Gặp gỡ cán bộ và đồng bào địa phương, Người nói: Khi Hồng quân Liên Xô phản công bọn phát xít đến sào huyệt của chúng ở Bá Linh thì cách mạng nước ta có điều kiện giành chính quyền(2).

+ Được báo cáo về việc liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng ra nghị quyết phát động khởi nghĩa, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa và phân tích: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên(3)...
 
+ Về tổ chức quân sự, Người chỉ thị: Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập họp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Người đề ra những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đội Việt Nam giải phóng quân: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của Đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo. Trong vòng một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi... Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết phố hợp chặt chẽ với nhau. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ các đội địa phương trưởng thành. Nhớ bí mật: ta ở đông, địch tưởng ta ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình(4).

Trong tháng 10

Trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc” đề nghị triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân ta giải phóng chỉ ở trong vòng một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”(5).

... + Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng nhận được chỉ thị của Người về việc thành lập Đội:

1. Tên đội VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện giúp đỡ vũ khí nêu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các. đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(6).

Cuối tháng 12

Người đi Côn Minh (Trung Quốc) dự Hội nghị Đồng minh chống phát xít”(7).

Người cho trung úy Sô (Shaw) - phi công Mỹ nhảy dù xuống Cao Bằng được ta cứu thoát - đi theo sang Côn Minh, ở đây Người gặp tướng Sênô (Chennault) - tư lệnh tập đoàn quân Mỹ số 14 - bàn việc phối hợp với quân Đồng minh chống phát xít Nhật(8).


(1) Tư liệu Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, DS1-108/1-024 XII.
(2) Theo: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 393.
(3) Theo: Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 130-132.
(4) Sách đã dẫn, tr. 133-135.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 376.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 377-378, 475.
(8) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 101.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:43:56 am
NĂM 1945

Trong tháng 3

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Người nhắc nhở: Tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước lúc này cũng chính là tích cực cho toàn dân sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ chính quyền cách mạng. Vì bọn thực dân phản động Pháp nhất định sẽ quay trở lại đánh chiếm Đông Dương lần nữa(1).

Trong tháng 4

Người gọi tất cả các đồng chí được cử đi học ở Trung Quốc về nước(2).

1 - 5

Người quyết định chuyển về vùng trung tâm Việt Bắc để chỉ đạo cách mạng cả nước. Người chỉ thị: cần chọn ngay trong vùng Cao - Bắc - Lạng hoặc Tuyên Quang, Thái Nguyên một địa điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài(3).

Đầu tháng 5

Người từ Cao Bằng về Tân Trào. Sau khi nghe báo cáo kỹ tình hình và nhất trí với nội dung chỉ thị của Thường vụ Trung ương, Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4-1945) Người bổ sung, chỉ thị thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc thống nhất các lực lượng vũ trang thành lập Quân Giải phóng, đề ra 10 chính sách cho Khu Giải phóng; trong đó, điều 4 ghi: “Vũ trang quần chúng, động viên quần chúng nhân dân ủng hộ du kích và tham gia Quân Giải phóng”(4).

+ Người chỉ thị cho đồng chí Vũ Anh: Lúc này là lúc có nhiều thuận lợi. Phải hết sức khẩn trương củng cố và đưa phong trào lên... chiến tranh du kích có thể bắt đầu được. Phải chú ý phát triển thêm các đội quân giải phóng và xây dựng các khu căn cứ cho vững đề phòng lúc khó khăn ta có thể giữ được phong trào. Khi thời cơ đã đến, dù gian lao, cực khổ mấy cũng cương quyết giành cho được độc lập(5).

9 - 5

Gửi thư cảm ơn hai người Mỹ: Bớc-na (bernard) và Phen (Fenn) về việc giúp huấn luyện kỹ thuật quân sự cho các chiến sĩ ta, Người viết: “Tôi mong họ có thể học vô tuyến điện và các thứ khác cần thiết cho cuộc chiến đấu chung của chúng ta chống bọn Nhật”(6).
 
Trong tháng 5

Người đôn đốc việc tổ chức giao thông liên lạc thông suốt: Mọi chủ trương phải thấm thật mau xuống quần chúng chừng nào tốt chừng ấy. Nhất là tình hình lúc bí mật gặp rất nhiều khó khăn thì giao thông liên lạc lại càng cần phải nhanh chóng. Trong lúc chuẩn bị gấp cho tổng khởi nghĩa, nếu giao thông chậm trễ sẽ bỏ lỡ mất thời cơ(7).

Trong tháng 6

+ Liên Xô và Đồng minh chiến thắng hoàn toàn phát xít Đức. Người phân tích: “Vì sao, chỉ trong mười tháng quân phát xít Đức đã chinh phục các nước châu Âu, mà chúng lại bị Liên Xô tiêu diệt một cách thảm hại như vậy? Vì dưới ngọn cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đoàn kết nhân dân thành một khối vô cùng chặt chẽ như thành đồng lũy thép. Hoàn cảnh càng gay go, nhân dân càng anh dũng”(8).

+ Với sự thỏa thuận của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung Quốc đã cử năm sĩ quan Mỹ, do một thiếu tá chỉ huy, nhảy dù xuống Việt Bắc theo hướng dẫn của ta. Người cho thành lập đại đội Việt - Mỹ, chỉ định đồng chí Đàm Quang Trung làm đại đội trưởng, thiếu tá Tômát làm tham mưu trưởng, các sĩ quan Mỹ khác làm huấn luyện viên(9).

Trong tháng 8

+ Chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội, Người nhắc nhở: Làm cách mạng phải biết tranh thủ thời cơ từng giờ từng phút. Tất cả đường lối chủ trương lúc này phải thông suốt từ Bắc chí Nam(10). Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng không thể bỏ lỡ cơ hội... Chỉ vài ngày nữa là Nhật đầu hàng không điều kiện(11).

+ Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập... Về chiến tranh du kích, Người căn dặn: lúc phong trào lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho thật vững chắc, để đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân được(12).

Từ 13 đến 15 - 8

Người tham dự và phát biểu ý kiến tại Hội nghị toàn quốc của Đảng: Trước mắt phải nỗ lực phát động một cao trào khởi nghĩa. Đã có khu giải phóng rồi phải mở rộng khu giải phóng ra khắp nơi trong nước... trước khi quân Đồng minh vào. Tích cực thì nắm được thời cơ. Không tích cực thì thời cơ không chờ mình(13).


(1) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H.25 - C2/02.
(3) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 200.
(4) Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, tr. 101.
(5) Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 273.
(6) Tạp chí Cộng sản, tháng 9-1985.
(7) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 – C15/24.
(8) T.L. Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, H. 1976, tr. 86-87.
(9) Bác của chúng ta, tr. 94.
(10) Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 159.
(11), (13) Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.
(12) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 212-213.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:50:10 am
16 - 8

Quốc dân đại hội cử Người làm Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, sau này trở thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sau Đại hội, Người gửi “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(1).

19 - 8

Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Chuẩn bị về Thủ đô để chỉ đạo cách mạng cả nước, Người nói với các cán bộ: Ta giành được chính quyền rồi, giữ chính quyền mới là khó. Cho nên có lẽ một ngày nào đấy, chúng ta lại bỏ cả nhà cửa, bỏ cả Hà Nội, các tỉnh khác nữa, rồi lên cả đây tiếp tục đánh nhau với quân thù(2).

2 - 9

Tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(3).

5 - 9

Trước tình hình thực dân Pháp bám gót quân Anh trở lại xâm chiếm Nam Bộ, Người viết lời “Kêu gọi quốc dân”: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(4).

7 - 9

Người chỉ thị thành lập Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị và Phòng Quân nhu của quân đội.

Cử đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tổng Tham mưu trưởng. Người nói: Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang, là cơ quan Quân sự cơ mật của đoàn thể. Nó có nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện quân đội giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta cho rõ ràng, bày mưu kế cho khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành qua cách mạng(5).

Đầu tháng 9

Khi quân đội Tưởng sắp vào miền Bắc, Người nói: Chúng sẽ ăn bám, báo hại, đưa bọn phản động về phá ta... Phải có gan nhẫn nhục, phải khôn khéo và luôn luôn tỉnh táo... phải có đối sách thích hợp(6).

Giữa tháng 9

Quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc, kéo theo bọn phản động tay sai. Thực hiện sách lược mềm dẻo, Người chỉ thị đổi tên Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn. Người căn dặn: Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nêu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột(7).

Người giải thích: Vì địch mạnh, ta đang yếu. Ta tạm thời nhân nhượng và hòa hoãn để làm giảm áp lực của chúng. Nhẫn nhục chứ không khuất phục, nhằm tạo điều kiện, thời cơ để đánh thắng kẻ thù, để vượt qua những khó khăn do chúng gây ra, để tập trung ngọn lửa đấu tranh vào thực dân Pháp... Đối với quân Đồng minh ta nghênh tiếp và hợp tác với họ. Còn quân Pháp đến ta với mục đích xâm lược nước ta một lần nữa, vì thế nhất thiết phải dùng chính sách đề kháng với chúng, thực hiện làm vườn không, nhà trống kháng chiến lâu dài(8).

15 - 9

Người ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới với hai nhiệm vụ: Thu thập, mua sắm. vũ khí và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí.


(1), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 380, 386.
(2)Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 - C5/01.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 9.
(5) Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986, tr. 14.
(6) Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.
(7) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 268.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 - C5/07.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:01:34 am
Trong tháng 9

Nhân dịp đến thăm Phòng Quân lương vừa được thành lập, Người nói: “Quân nhu là nhu cầu của quân đội... Cái gì bộ đội cần; quân sự yêu cầu là. ta phải giải quyết. Sẽ có khó khăn vất vả nhưng ta phải biết dựa vào dân. Được dân lo cho, được dân ủng hộ mọi việc sẽ xong”. Người giải thích thêm: “trọng tâm công tác của quân nhu lúc này là vũ khí. Phải có nhiều vũ khí, có nhiều súng đạn. Phải chuyển một số nhà máy, xí nghiệp để lo phục vụ cho quốc phòng. Quân nhu chưa đủ sức đảm nhiệm thì đã có nhân dân, có anh em công nhân giúp”(1).

Giữa tháng 9

Người, gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “... Giặc Pháp còn lăm le quay trở lại... Phải sẵn sàng mà chống quân giặc cướp nước, đấy là bổn phận của mỗi công dân. Các em lớn chưa hẳn đến tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”(2).

17 - 9

+ Người viết bài: “Nhân dịp Tuần lễ vàng”: “Tuần lễ VÀNG sẽ thu góp số VÀNG trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”(4).

+ Trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (Nghệ An), Người viết: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”(4).

23 - 9

+ Người chủ trì cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn y chủ trương khang chiến cục bộ của Xứ ủy Nam Kỳ.

+ Người ký sắc lệnh thành lập Ban căn cứ địa Việt Bắc đặt trong Chủ tịch phủ(5).

26 - 9

Người viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”(6). Người căn dặn: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng”(7).

4 - 10

+ Người cùng Trung ương Đảng quyết định tăng cường lực lượng cho Nam Bộ. Những đội quân “Nam tiến” đã nhanh chóng lên đường vào Nam.

16 - 10

Người chỉ thị thành lập sáu chiến khu ở Bắc Bộ, ba chiến khu ở Trung Bộ; sau đó thành lập ba chiến khu ở Nam Bộ. Cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự.

Trong tháng 10

+ Người viết thư gửi những người Pháp ở Đông Dương: “Chúng tôi không sợ chết, chính là vì chúng tôi muốn sống... chúng tôi chiến đấu cho nền độc lập của chúng tôi, chúng tôi chiến đấu chống sự đô hộ Pháp mà không chống những người Pháp lương thiện”(8).

+ Trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, Người viết; “Từ Nam chí Bác đồng bào ta luôn luôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(9).

5 - 11

+ Người viết thư gửi Việt kiều ở Pháp, hoan nghênh kiều bào đã kháng nghị với Chính phủ Anh đòi rút quân Anh ở Nam Bộ về. Người khẳng định: “Chưa bao giờ chúng ta đoàn kết chặt chẽ như ngày nay để biểu dương ý chí mạnh mẽ của một dân tộc thà chết tự do hơn là sống nô lệ”(10).

+ Tại lễ kỷ niệm “Những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến người đọc diễn văn nêu rõ ý chí bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc: “Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”(11).

8 - 11

Trong bài “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người viết: “Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc. Muốn chống nạn đói, cũng phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng của toàn quốc đồng bào”(12).

15 - 11

Nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người căn dặn: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”(13).


(1) Theo: Công tác quân nhu thời kỳ 1945 - 1954, Ban khoa học Hậu cần, tr. 2-4.
(2), (3), (4), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1964, tr. 11-12, 15, 18, 25.
(5) Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 217.
(7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1964, tr. 26, 43.
(9) Sách đã dẫn, tr. 45, 48, 52.
(10) Sách đã dẫn, tr. 45, 48, 52.
(11), (12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 52, 53, 60.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:14:35 am
2 - 12

Nói chuyện tại Tổng đại hội của thanh niên Việt Nam, Người chỉ rõ: Chúng ta đã giành được độc lập, nhưng để cho nền độc lập ấy được hoàn toàn bền vững, còn rất nhiều khó khăn phải vượt qua... Thanh niên phải sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh tràn đến miền Trung và miền Bắc. Trong khi chờ đợi, ủng hộ cuộc kháng chiến vẻ vang của miền Nam(1).

3 - 12

Đọc diễn văn khai mạc Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Người nêu rõ: “Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập còn cần đoàn kết hơn nữa”(2).

7 - 12

Trong bài “Gửi nông gia Việt Nam”, Người viết: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam “Thực túc” thì “binh cường”(3).

25 -12

Nhân ngày lễ Thiên chúa giáng sinh, Người viết thư gửi các vị linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam: “Ngày nay đồng bào cả nước, giáo và lương, đều đoàn kết chặt chẽ nhất tâm nhất trí như con một nhà, cương quyết giữ vững quyền tự do độc lập. Ngoài sa trường các chiến sĩ lương và giáo đã xây nên một bức thành kiên cố vĩ đại để ngăn cản kẻ thù chung là bọn thực dân Pháp”(4).

Trong tháng 12

+ Trong thư gửi các chiến sĩ Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ, Người viết: “Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta còn phải chiến đấu nhiều. Chỉ có chiến đấu mới vượt được những trở lực, khó khăn, chỉ có chiến đấu mới được thắng lợi vẻ vang cho Tổ quốc. Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”(5).

Cuối năm

+ Nói chuyện với các cán bộ làm việc ở Bắc Bộ phủ, Người giải thích về sách lược đối với quân đội Tương Giới Thạch: Ta vừa giành được độc lập như người trong tay đã cầm được viên ngọc quý. Bị con nhặng bẩn bâu vào, không lẽ vì muốn đập chết con nhặng mà đánh rơi cả viên ngọc quý sao. Các chú phải biết kìm mình, để mọi việc Trung ương và Chính phủ lo liệu... Việc chính trị lớn của quân đội lúc này là phải làm cho anh em thấy ý nghĩa lớn của nền độc lập quốc gia. Mục tiêu lâu dài của ta là độc lập hoàn toàn. Mục tiêu trước mắt của ta là làm sao cả bọn Nhật, cả bọn Tàu đều phải rút về nước êm thấm và bọn Pháp Anh không quay trở lại(6).

+ Trước hành động khiêu khích, phá hoại của bọn phản động, Người chỉ thị cho cán bộ chỉ huy các đơn vị giải phóng quân ở Hà Nội: 1- Phải luôn luôn cảnh giác, cẩn mật và bảo vệ vững chắc các cơ quan, cán bộ của Đảng, Nhà nước và quân đội, giữ vững an ninh trong thành phố. 2- Không mắc mưu giặc, bị nó khiêu khích mà manh động làm liều... 3- Với những tên cố tình gây rối trật tự trị an thì giao cho Ty liêm phóng (công an) và Chính phủ nghiêm trị, không dung túng(7).

Với chủ tịch các tỉnh, Người phân tích: Nói là mất đất, nhưng dân ta có hợp tác với nó, có tin nó không? Nếu dân ta không đứng về phía bọn Quốc dân đảng, không tin nó thì ta không mất gì cả! Như thế mất đất chứ không mất nước. Còn dân thì còn nước(8).


(1) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3-C1/28.
(2) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, H. 1987, tr. 94.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 65, 67.
(4), (5) Sách đã dẫn, tr. 69-70.
(6), (7) Bác của chúng ta, tr. 163-164.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C3.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:04:23 pm
NĂM 1946

1 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời, trong đó có điểm về quân sự: “Thống nhất các bộ đội võ trang dưới quyền chỉ huy của Chính phủ, các đảng phái không được có quân đội riêng”(1).

5 - 1

Người ra “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” trong ngày Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946: “Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt trận chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn”(2).

7 - 1

Đến dự lễ khai giảng trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Người căn dặn: “Muốn thành công, các đồng chí phải thực hành ba chữ “Quyết tâm, Tín tâm và Đồng tâm”(3).

10 - 1

Tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người nói: “Lúc này chúng ta có hai nhiệm vụ là kháng chiến và kiến quốc... Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(4).

26 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố “Quốc lệnh” của Chính phủ gồm 10 điều thưởng và 10 điều phạt. Trong 10 điều thưởng có các điều: “1- Nhà nào có ba con tòng quân sẽ được thưởng. 2- Ai lập được quân công sẽ được thương. 3- Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng...”(5). Trong 10 điều phạt có các điều: “1- Thông với giặc, phản quốc sẽ bị xử tử. 2- Trái quân lệnh sẽ bị xử tử. 3- Ra trận tự ý rút lui sẽ bị xử tử... 5- Phá hoại quân khí sẽ bị xử tử. 6- Để cho bộ đội hại dân sẽ bị xử tử...”(6).

Trong tháng 1

Tiếp và trả lời phỏng vấn của các nhà báo, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(7).

8 - 2

Gặp tướng Pháp Ra-un Xa-lăng, Người nói: Chúng tôi muốn sống tự do, muốn có những quan hệ trao đổi rất nhiều về mặt kinh tế, muốn có quan hệ rộng hơn nữa về mặt văn hóa. Nhưng chúng tôi phải làm chủ trên đất nước chúng tôi(8).

16 - 2

Người viết thư gửi Tổng thống Mỹ Tru-man, yêu cầu nước Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Người viết: “... mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập và sự hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới”(9).

Trong thời gian này Người đã gửi cho Tru-man một loạt tám bức thư nhằm mục đích nói trên. Nhưng chính quyền Mỹ đã làm ngơ trước yêu cầu chính đáng và thiện chí của nhân dân ta.

22 - 2

Trong “Lời hiệu triệu giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ”, Người chỉ ra “cách thực hành trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến bằng quân sự (dũng cảm, kỷ luật), bằng chính trị (đoàn kết, trật tự), bằng kinh tế (tăng gia sản xuất), bằng ngoại giao (thêm bạn, bớt thù). Trước hết là bằng tinh thần, bại không nản, thắng không kiêu, thua trận này đánh trận khác, được trận này không chểnh mảng, chung sức, đồng tâm, nhất trí, giữ gìn trật tự, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ”(10).

Trước việc Pháp và Tưởng Giới Thạch bí mật ký hiệp ước Hoa - Pháp, cho quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng, Người cùng với Trung ương Đảng nhận định: Đây là kết quả mua bán, đổi chác giữa Tưởng và Pháp trên lưng ta. Việc ký hiệp ước còn thể hiện rõ dã tâm của bọn thực dân Pháp muốn chiếm nước ta một lần nữa(11).


(1), (2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 82, 85, 597.
(4), (5), (6), (7) Sách đã dẫn, tr. 87, 96-97, 100.
(8) Theo: Báo Quân đội nhân dân, ngày 14-3-1986.
(9) Theo: Giôdép A.Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 34-36.
(10) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 218.
(11) Theo: Báo Quân đội nhân dân, ngày 14-2-1986


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:10:00 pm
Trong tháng 2

Thay mặt Chính phủ và nhân dân cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đồng bào miền Nam danh hiệu: Thành đồng Tổ quốc(1).

3 - 3

Người cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng phân tích âm mưu của thực dân Pháp và xác định những nguyên tắc căn bản cho việc đàm phán với Pháp: Nếu Pháp chủ trương cho Đông Dương tự trị theo bản Tuyên ngôn ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì nhất định đánh và có thể đánh lâu dài theo lối du kích. Nhưng nếu Pháp công nhận Đông Dương tự chủ thì có thể hòa, hòa để phá tan âm mưu của bọn Tưởng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Pháp còn lại, chúng định hãm ta vào tình thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc. Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy, nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta(2).

8 - 3

Người gặp các khu trưởng và đai đội trưởng tự vệ thành Hà Nội. Giải thích về Hiệp định sơ bộ được ký kết ngày 6 tháng 3. Người căn dặn: Ký hiệp định đình chiến lẩn này không phải là đã hết chiến tranh. Thái độ ôn hòa, nhã nhận của ta đối với quân đội Pháp không phải là thái độ nhu nhược, thụ động. Trái lại, hơn bao giờ hết, ta phải luôn luôn chuẩn bị để bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân để đối phó với những việc bất ngờ bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra. Tinh thần kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực, tiếp tục không một giây, một phút nào ngừng(3).

10 - 3

Người viết thư gửi đồng bào, chiến sĩ và Ủy ban hành chính Nam Bộ: “... trong thời kỳ đình chiến này, nhất là trong lúc quân đội hai bên cần phải đứng lại trên vị trí hiện thời, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỳ luật là cần thiết hơn lúc nào hết”(4).

25 - 3

Người ký sắc lệnh số 34/SL về tổ chức Bộ Quốc phòng.

Đầu tháng 4

Đi kiểm tra bộ đội bảo vệ Bắc Bộ phủ, Người căn dặn cán bộ chỉ huy: Tinh thần anh em chiến sĩ mới bây giờ như tờ giấy trắng. Các chú giáo dục tốt hay xấu, như tô hồng hay bôi đen lên đó. Phải dành thời gian học cách giáo dục anh em, để cho mỗi chiến sĩ ta thành một người công dân mẫu mực(5).

Trong thư gửi “Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu”, Người viết: “Sông có cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”(6).

6 - 5

Người ký sắc lệnh số 60/SL thành lập Quân sự ủy viên hội. Điều 3 sắc lệnh ghi: “Quân sự ủy viên hội là một cơ quan tối cao quân sự... có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc”(7).

22 - 5

Người ký sắc lệnh số 71/SL đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam.

Ngày 26 - 5

Đến dự lễ khai giảng Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1, Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”(8).


(1) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 499.
(2) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 359.
(3) Sách đã dẫn, tr. 400-401.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 115.
(5) Theo: Bác của chúng ta, tr. 173.
(6), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 127, 601.
(7) Công báo nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, số 19, 1946, tr. 267.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:15:49 pm
Trong tháng 5

+ Nghe đồng chí Nguyễn Thế Lâm từ mặt trận Nha Trang ra báo cáo, Người căn dặn: Giặc Pháp có nhiều cái mạnh ban đầu. Nhưng chúng là quân cướp nước nên có cái yếu về gốc rễ. Chính quyền ta, bộ đội ta mới thành lập nên còn nhiều cái non yếu. Nếu ta vừa đánh giặc, vừa khắc phục non yếu để bồi bổ cho mình ngày một mạnh, làm cho toàn dân một lòng quyết tâm chống giặc, đánh địch ở khắp mọi nơi, bằng mọi thứ, mọi cách thì thắng lợi chắc chắn về ta(1).

+ Người chỉ thị cho đồng chí Đặng Vãn Cáp: Thực dân Pháp đã ký với ta Hiệp định sơ bộ, nhưng ký thì ký, nó vẫn sẽ đánh... Anh chuẩn bị về Cao Bằng, Trung ương giao nhiệm vụ mở công binh xưởng, chế tạo nhiều vũ khí, chuẩn bị cho kháng chiến(2).

31 - 5

Lên đường sang thăm chính thức nước Pháp. Người viết “thư gửi đồng bào Nam Bộ”, khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(3).

4 - 7

Trong thời gian ở thăm nước Pháp, khi tới viếng đài tử sĩ trên đồi Va-lê-ri-êng, Người ghi vào sổ lưu niệm: Quyền độc lập tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc mà xây dựng nên. Vậy nên những người chân chính ham chuộng độc lập tự do của nước mình thì phải kính trọng độc lập tự do của dân tộc khác(4).

11 - 7

Trong buổi đón tiếp của Ủy ban Trung ương Hội Pháp - Việt, Người đọc “Tuyên bố về vấn đề Nam Bộ và quan hệ Việt - Pháp”: “Nam Bộ là một miếng đất Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi... Sự đòi hỏi đó dựa trên những nguyên nhân về chủng tộc, lịch sử và văn hóa”(5).

Do thái độ ngoan cô của phía Pháp, cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-bờ-lô tan vỡ. Để tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến, Người ký với Ma-ri-uýt Mu-tê, đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp, bản Tạm ước 14 tháng 9. Tạm ước có điều ghi: Pháp cam kết thi hành những quyền tự do dân chủ ở Nam Bộ, sẽ đình chỉ mọi hành động võ lực(6).

Chuẩn bị về nước, Người nói với các đồng chí giúp việc: “Dầu có được một hòa ước với Chính phủ Pháp, con đường của nhân dân ta để giành độc lập, tự do thật sự củng là con đường chiến đấu”(7).

18 - 9

Người lên tàu về nước, đưa theo một số trí thức Việt kiều yêu nước ở Pháp cùng về: kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quý Huân, kỹ sư Võ Đình Quỳnh.

Trên đường về Người căn dặn Phạm Quang Lễ: Chú về phải lo ngay việc chế tạo vũ khí. Sớm muộn, thế nào ta cũng phải đánh nhau với Pháp(8).

23 - 10

Người ra lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về. Về vấn đề Nam Bộ, Người khẳng định: “Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta... Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”(9).

Trong tháng 10

+ Người chỉ thị củng cố căn cứ địa Việt Bấc: nhà máy kho tàng của ta ở thành phố đưa dần về vùng căn cứ. Người giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên Việt Bắc chuẩn bị mọi mặt cho việc di chuyển các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước khi cần(10).

+ Người chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân phụ trách quân giới: “Có thể giặc Pháp sắp tiến công mình... về quân giới, phải gấp rút chuyển hết máy móc, nguyên vật liệu ra khỏi Hà Nội, mang lên rừng núi, lập căn cứ chống lại nó”(11).


(1) Theo: Bác của chúng ta, tr. 231.
(2) Theo: Theo Bác đi kháng chiến, Nxb Thanh niên, H. 1980, tr. 122.
(3), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 139, 147.
(4) Theo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 479.
(6) Theo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 507.
(7) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/23.
(8) Pháo binh nhân dân Việt Nam, t.1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1982, tr. 88.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 174.
(10) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 559
(11) Theo Bác đi kháng chiến, tr. 26.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:22:35 pm
5 - 11

Đoán trước cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp sắp lan rộng ra cả nước, Người viết chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”. Người nêu hai nhiệm vụ: “KHÁNG CHIẾN VÀ KIẾN QUỐC”: “Một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch. Hai việc đều phải có người, có nhiều người”(1).

Về tính chất cuộc kháng chiến, Người chỉ rõ: “TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN. Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ. Dù địch thua đến 99% nó cũng rán sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang... Nhưng ta phải hiểu: lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn “chớp nhoáng” đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng”(2).

Người kết luận: “Tổ chức du kích khắp nơi. Tăng gia sản xuất khắp nơi. Dù phải rút khỏi các thành phố, ta cũng không cần. Ta sẽ giữ tất cả thôn quê. Khi chỉ có hai bàn tay trắng với một số đồng chí bí mật, le lói trong rừng, ta còn gây nên cơ sờ kháng Nhật, kháng Pháp. Huống gì bây giờ, ta có quân đội, có nhân dân”(3).

15 - 11

Hưởng ứng “Mùa đông binh sĩ”, Người tặng bộ đội ngoài mặt trận chiếc áo rét của Người và viết thư cảm ơn đồng bào toàn quốc đã sốt sắng tham gia cuộc vận động đó.

13 - 12

Người tuyên bố với phóng viên báo “Pa-ri - Sài Gòn”: “Đồng bào tôi và tôi thành thật muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Nhưng cuộc chiến tranh ấy nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thỉ chúng tôi sẽ làm, chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi... nhưng dân Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do”(4).

Từ 17 - 5 đến 15 -12

Báo Cứu quốc lần lượt đăng một loạt bài của Người với bút danh Q.Th. hoặc Q.T. nhằm bồi dưỡng kiến thức quân sự cho quân và dân ta chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến trên cả nước.

+ Trong bài “Phải biết xét đoán trước” (17-5), Người viết: “Trước khi khai chiến, phải biết mình biết người, biết tình hình thiên thời, địa lợi để định kế hoạch hành động, mới có thể thắng được. Nhưng biết phải có làm. Làm được thời sẽ có đủ nhân hòa, địa lợi, thiên thời, tướng giỏi, quân nhu đầy đủ, để nắm chắc được phần thắng trong lúc chiến tranh”(5).

+ Trong bài “Muốn biết người phải thế nào?” (24-5), Người viết “Biết người nghĩa là biết tình hình bên địch thì không gì hơn là dùng gián điệp. Không biết rõ tình hình bên địch, mà dám khai chiến thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh. Cho nên tướng giỏi, một khi đã dùng binh là cầm chắc được thắng lợi, chỉ vì lúc chưa khai chiến đã biết trước được tình hình bên địch”(6).

+ Trong bài “Phương pháp dùng gián điệp” (31-5), Người viết: “... dùng gián điệp là việc rất khó... Không phải là người đại tướng thông minh tinh thời, nhân nghĩa, không thể dùng gián điệp một cách đích đáng được. Vì rõ được người không phải là việc dễ... Người làm tướng còn phải có trí xét đoán tinh vi để phân biệt được thực hư trong những báo cáo của gián điệp”(7).

+ Trong bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (7-6), Người viết: “Dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân cứu nước”, “Biết mình, biết người rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến. Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài, mặt trận. Phải biết phổi hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi tới thắng lợi hoàn toàn”(8).

Người nêu lên 12 điều về chiến thuật:

“1. Về việc quân, không thể đường đường chính chính được, mà bao giờ cũng phải áp dụng chiến thuật lừa dối...

2. Muốn giả trá thì dù mình có tài năng mấy cũng làm như mình không có tài năng gì...

3. Thời kỳ tiến đánh quân địch đã đến nơi nhưng làm thế nào để cho quân địch tưởng là chưa đánh vội...

4. Lấy lợi để dụ địch...

5. Dùng mọi phương pháp để làm rối loạn nước địch hay bộ đội của nước địch.

6. Thấy quân bị của địch đã đầy đủ, ta phải thiết thực chuẩn bị đề phòng...

7. Thấy quân địch mạnh, ta phải tạm lánh không cần đương đầu vội để đợi thời cơ...

8. Khiêu khích cho địch nổi giận, để làm rối loạn lý tính của địch...

9. Đối với địch nên tỏ thái độ khiêm tốn, nhã nhặn. Thấy vậy, địch sẽ lên mặt kiêu căng...

10. Quân địch đóng yên ổn ở một chỗ nào, mình đem quân để đến đánh úp hoặc uy hiếp mặt sau, hoặc phá hoại đường lối giao thông, khiến cho quân địch bối rối, ứng phó nhọc mệt...

11. Tìm phương pháp ly gián nội bộ của quân địch, hoặc ly gián nước địch với các nước khác..

12. Tiến đánh chỗ địch không phòng bị, hay thấy địch không để ý mình tiến đánh một cách bất ngờ...

Đánh lối như thế bao giờ mình cũng giữ được địa vị chủ động làm cho địch không kịp ứng phó, mình sẽ chiếm được nhiều thắng lợi. Các chiến thuật nói trên đều là những bí quyết của các nhà quân sự. Nhưng trong việc quân, những việc bất trắc là thiên biến vạn hóa và thường xảy ra luôn luôn. Phải biết tùy cơ ứng biến, không thể biết trước mà bảo được. Chiến thuật cốt yếu để được thắng lợi là phải áp dụng thuật giả trá và tuyệt đối bí mật”(9).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 179, 180-181.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 181, 201.
(5) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.
(6), (7), (8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.
(9) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:29:27 pm
+ Trong bài “Phương pháp tác chiến” (14-6), Người viết: “... trước khi tham dự chiến tranh, phải lo cung cấp chiến phí cho đầy đủ mới mong chiến thắng được quân thù. Phải quyết đoán phải dũng cảm, tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ, do dù sẽ mất cơ hội tốt. Nhưng đánh không phải hấp tấp vội vàng là quên cả cơ mưu, phải vừa nhanh vừa có mưu cơ mới quyết đinh được thắng lợi... về binh pháp, bất luận một động tác gì cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, trận đánh nhanh, súng bắn nhanh, càng nhanh càng có lợi... Người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”(1).

Trong bài “Vấn đề quân nhu và lương thực” (21-6), Người viết: “Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu lương thực, không thể thắng trận được... Nhưng quân nhu và lương thực nếu trông cả vào món chiến phí mà dân chúng phải chịu, sẽ làm họ gánh vác nặng nề, không thể kham nổi. Nên người làm tướng giỏi bao giờ cũng tìm cách cướp quân nhu lương thực của bên địch làm của mình”(2).

+ Trong bài “Hình thức chiến tranh ngày nay” (20-9), Người viết: “Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau cả ở trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh... Nói tóm lại chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt đề ứng phó không thể nào thắng lợi được”(3).

+ Trong bài “Chiến tranh tư tưởng” (11-10), Người viết: Chiến tranh về mặt văn hóa tư tưởng so với những mặt khác không không kém quan trọng. Mục đích của nó làm ly gián quân địch, Iàm nhụt chí khí chiến đấu của bên địch. Ngày nay về quân sự, người ta coi phương pháp tuyên truyền là một loại lợi khí sắc bén nhất”(4).

+ Trong bài “Bàn về địa hình” (25-10), Người viết: “Về quân sự đành rằng phải có binh mạnh, tướng giỏi, nhưng không nghiên cứu địa hình một cách tường tận, không thế xuất trận thành công được. Trên mặt trận biết lợi dụng địa hình, đánh trận không bao giờ hao tổn công của mà được thắng lợi dễ dàng... Có khi vì không biết lợi dụng địa hình mà bị bại một cách thê thảm... Gặp địa hình nào, phải tùy cơ ứng biến để có thể lợi dụng một cách có hiệu quả trong cuộc chiến đấu với quân địch”(5).

+ Trong bài “Địa thế” (8-11), Người viết: “Ở vào mỗi địa thế phương pháp dụng binh mỗi khác. Nếu không tùy từng địa thế để thay đổi phương pháp, đánh trận không thể thắng được. Có khi hãm vào chỗ đất chết mà được sống, có khi vào chỗ đất sống hẳn hoi mà bị chết. Cho nên ra trận, phải biết phán biệt địa thế mới biết áp dụng phương pháp đánh trận một cách có hiệu quả”(6). Người nêu lên chín loại địa thế và phép dùng binh trên từng địa thế(7).

+ Trong bài “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình” (15-11), Người viết: “Trong lúc tiến quân cần tránh những địa điểm nguy hiểm sau đây: a) Đường độc đạo, leo dốc, núi cao. b) Thung lũng trũng, chung quanh có núi cao. c) Đường núi quanh co, tiến vào dễ nhưng thoát ra khó. d) Những nơi cây cối um tùm, gai góc rậm rạp, tiến thoái không được tự do. e) Những đồng lầy. g) Những đường độc đạo. Nếu gặp những địa điểm trên này, không nên đến gần, phải phái quân đi dò xét cẩn thận. Bất đắc dĩ phải chiến đấu thì nên dụ địch đến gần để rồi mình sẽ đưa chúng vào bẫy làm cho chúng không thể hành động được”(8).

+ Trong bài “Chiến đấu vì chính nghĩa” (3-12), Người viết: “Vấn đề quan trọng hơn hết là làm thế nào bảo tồn được lực lượng để chờ thời cơ trừ diệt địch quân. Như vậy, dù có phải rút ở một vài căn cứ cũng không lấy gì ngạc nhiên, đó là con đường phải qua trong cuộc chiến tranh tự vệ... Đánh giỏi cần phải giữ giỏi. Giữ giỏi cũng cần phải đánh giỏi. Đánh, giữ cần phải giỏi cả mới trừ diệt được lực lượng của địch quân, là điều kiện có thể quyết định thắng lợi... Vì vậy, dù ở thế thủ hay thế công chúng ta phải dùng đủ mọi phương pháp trừ diệt lực lượng của địch quân. Đánh trận trong thế thủ, phải hết sức tránh những lúc quyết chiến bất lợi, vậy không thể cố chết để cố bo giữ lấy một thành thị nào, nếu xét ra, không thấy lợi cho mình. Tóm lại, chiến lược tiêu hao lực lượng của địch là chiến lược rất màu nhiệm trong cuộc chiến tranh tự vệ(9).

+ Trong bài “Chiến lược của quân ta và của quân Pháp” (13-12) Người viết: “Chiến lược của chúng là chiến lược tiến công, đánh chớp nhoáng để giải quyết chiếm cứ thật nhanh ở một khu vực... và sau khi đã củng cố vị trí của chúng ở đó, lại bắt đầu tấn công để ngoạm miếng khác. Chúng định trừ diệt quân chủ lực của ta, bắt ta khuất phục rồi ra tay khủng bố, chúng giết kỳ đạt được mục đích của chúng... Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không... Về phương pháp tác chiến chúng ta áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến. Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn quân địch. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương vừa quấy rối vừa làm hao mòn lực lượng của chúng... Chúng ta nhất định không bị thất bại, nếu chúng ta còn bảo toàn được lực lượng”(10).

+ Trong bài “Động viên kinh tế” (15-12), Người viết: “Một cuộc kháng chiến lâu dài để giữ vững chủ quyền đất nước... không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế Chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì lực lượng kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng”(11).


(1), (2), (3) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.
(4), (5), (6), (7), (8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.
(9), (10) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.
(11) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C9/02.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 09:40:01 pm
18 - 12

Được tin bọn thực dân Pháp đã quyết định đánh chiếm Hà Nội vào ngày 22 tháng 12, Người cùng với Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên quy mô cả nước. Người nhận định: Thời kỳ hòa hoãn đã qua. Chúng ta đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng, kẻ thù càng lấn tới. Nhân dân ta không thể trở cuộc đời nô lệ một lần nữa. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trường kỳ và gian khổ song nhất định thắng lợi(1).

19 - 12

+ Người nói với các Ủy viên Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội: Chúng ta nhất định phải kháng chiến, dù phải mất 5, 10, 15 năm và lâu hơn nữa, chúng ta cũng sẽ thắng lợi(2).

+ Người viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(3).

21 - 12

Người viết thư gửi nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng minh, khẳng định quyết tâm kháng chiến của nhân dân ta: “Dân tộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập... Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do”.

Người kêu gọi: “Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta củng nhất định chiến đấu đến cùng, đến hao giờ đất nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất”(4).

23 - 12

Người viết bài “Hỏi và trả lời”, giải thích một cách phổ thông đường lối kháng chiến của Đảng: “Giồng khoai ba tháng mới có củ, giồng lúa bốn tháng mới được ăn. Giồng tự do và độc lập ít nhất phải một năm, hoặc năm, bảy tháng. Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng.

Có người lo lắng: “Mình không có tài, sức lại yếu, không có súng, không biết bắn thì tham gia kháng chiến thế nào? Tưởng như vậy là sai. Tôi nói một câu ví dụ rõ rệt cho bà con nghe: các chị em cô đầu có súng đâu, biết bắn đâu. Thế mà khi bộ đội lo đánh giặc thì chị em người lo nấu cơm, nấu nước, người giúp chuyên chở đạn dược, người chỉ băng bó săn sóc cho anh em bị thương. Thế là chị em cô đầu cũng tham gia kháng chiến, cũng làm tròn nghĩa vụ quốc dân”(5).


(1) Theo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 574.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/22.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 202, 209-210.
(5) Sách đã dẫn, tr. 212.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 10:11:06 pm
NĂM 1947

2 - 1

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và các y sĩ, khán hộ cứu thương đã hết lòng săn sóc thương binh.

+ Trả lời các nhà báo về triển vọng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Người nói: “Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam tỏ cho ta biết rằng: Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ”(1).

10 - 1

Nhân dịp Tết Đinh Hợi. Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Thực dân Pháp sẽ đem hết lực lượng của chúng, để tấn công ta. Chúng sẽ không phân biệt già, trẻ, gái, trai, gặp là chúng giết hại. Chúng sẽ không phân biệt thôn quê, thành thị, gặp là chúng sẽ đánh phá cướp bóc. Mỗi một nhà, mỗi một làng phải làm ngay những việc sau đây: 1- Đào hầm trú ẩn để tránh nạn tàu bay. 2- Của cải và lương thực thì cất giấu cẩn thận, phòng địch đốt phá. 3- Phải có kế hoạch sẵn sàng, khi cần thì tản cư có trật tự, không lộn xộn. 4- Phải có kế hoạch rộng để tăng gia sản xuất, một mặt kháng chiến, một mặt làm ăn”(2).

16 - 1

Người ra lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến: “Đánh thì phải phá hoại. Ta không phá thì Pháp cũng phá... Bây giờ ta phải phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng. Ta vì nước hy sinh, chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì... Một nhát cuốc của đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”(3).

21 - 1

Người viết thư gửi các chiến sĩ Quyết tử quân thủ đô: “Các em là đội quyết tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc Quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại... Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”(4).

10 - 2

Người viết thư gửi đồng bào tản cư: “[Tản cư cũng là kháng chiến”... Tản cư cũng phải tăng gia sản xuất. Nay dời vào hậu phương, các đồng bào mỗi người phải làm một việc không nên một ai ăn rồi ngồi không”(5).

20 - 2

Người về thăm tỉnh Thanh Hóa.

+ Nói chuyện với cán bộ về cuộc kháng chiến, Người phân tích: “Hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái trứng cùng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái cứng, một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn. Nên hai bèn cùng dùng mưu trí. Pháp có xe tăng, đại bác, thì ta phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng!”(6).

+ Nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tình Thanh Hóa, Người chỉ rõ: “Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng. Sét đánh không trúng, chớp soi không thấu, thì hết cơn sấm sét là yên... Nó dùng vũ khí tối tân thì ta đánh du kích, nó trên trời thì ta dưới đất. ta trường kỳ kháng chiến thì ta thắng lợi... Bây giờ nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị ta không mắc mưu. Nó lấy kinh tế phong tỏa, thì ta lấy kinh tế ta đánh nó... Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài”(7).

1 - 3

Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”. Người căn dặn: “Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”. Người yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch các khuyết điểm: địa phương chủ nghĩa: óc bè phái: óc quân phiệt quan liêu; óc hẹp hòi ham chuộng hình thức: làm việc lối bàn giấy; vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hóa(8).

5 - 3

Người viết thư gửi đồng bào toàn quốc sau khi giặc Pháp tấn công ra ngoài Hà Nội: “Chúng ta đã đoán biết trước rằng một ngày kia địch sẽ cố chiếm các thành thị và các đường giao thông... Địch làm như vậy để tuyên truyền với thế giới. Nhưng đồng thời nó gây những điều kiện có lợi cho ta sau này. Vì địch càng rải ra nhiều nơi, thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta cũng sẵn cơ hội mà đánh du kích, để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng... Trong một cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Còn là cuộc thắng lợi cuối cùng”(9).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 232, 240, 241.
(3), (4), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 248-249, 271-272, 277.
(5) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 25-26.
(7) Sách đã dẫn, tr. 279, 280.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 291-294, 303.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 10:16:36 pm
5 - 3

Người viết thư “Gửi Quốc hội và nhân dân Pháp”, nêu rõ thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân ta: “Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đi đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hòa bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện”(1).
 
10 - 3

Người viết thư gửi Bộ Nội vụ: “Bộ Nội vụ cần phải củng cố ngay các ủy ban hành chính lại. Phải có chỉ thị rõ ràng, những nơi địch đang chiếm đóng, những nơi địch đi qua và những nơi địch có thể đến, thì các ủy ban hành chính phải làm thế nào. Vô luận thế nào, các ủy han hành chính không được bỏ dân bơ vơ”(2).

20 - 3

+ Người hoàn thành tác phẩm “Đời sống mới” với bút danh “Tân Sinh” nhằm góp phần xây dựng nếp sống múi, con người mới trong kháng chiến, Người giải thích: “Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ... Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý... Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm... Cái gì mới mà hay thì ta nên làm”(3).

Về “Đời sống mới” trong bộ đội, Người chỉ rõ: “Một là kỷ luật phải cực kỳ nghiêm. Hai là siêng tập luyện. Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ... Bốn là mỗi người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều... Năm là bộ đội cùng phải tăng gia sản xuất... Sáu là tiết kiệm... Bảy là vệ sinh... Tám là ăn ở cho được dân tin, dân phục, dân yêu... Chín là đánh cho nhiều giặc, lấy được nhiều súng”(4).

27 - 3

Người viết thư gửi báo Vệ quốc quân, chỉ rõ: “Báo Vệ quốc quân, là cốt để nâng cao tinh thần và kỷ luật của bộ đội” và nêu ra 12 điều kỷ luật của quân đội(5).

11 - 5

Người gặp Pôn Muýt, đại diện của Cao ủy Pháp Bô-la. Trước những điều kiện ngang ngược do phía Pháp đưa ra. Người nói: “Lịch sử Việt Nam chúng tôi có những vị anh hùng như tướng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tháng quân Nguyên, vua Lê Lợi 10 năm chiến đấu chống quân Minh xâm lược. Dân tộc Việt Nam chúng tôi có thể chiến đấu 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa để đi tới thắng lợi. Dân tộc Việt Nam kiên quyết không bôi nhọ lịch sử của mình”(6).

25 - 5

Sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, Người viết thư gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “... bọn quân phiệt thực dân Pháp, quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ. Chúng khinh miệt bộ đội ta và nhân dân ta. Chúng đưa ra những điều kiện kiêu hãnh ngang ngược”(7).

Người kêu gọi: “... toàn thể đồng bào phải ra sức kháng chiến, giúp đỡ bộ đội đánh giặc... toàn thể bộ đội, dân quân tự vệ phải kiên quyết chiến đấu, xung phong giết giặc. Mỗi công dân phải là một chiến sĩ, mỗi làng phải là một chiến hào”(8).

+ Người viết thư gửi anh em làm công tác văn hóa và trí thức Nam Bộ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại những quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”(9).

27 - 5

Người viết thư gửi Hội nghị dân quân tự vệ và du kích toàn quốc: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cùng phải tan rã”(10).

Người căn dặn:

“1. Trong bộ đội phải đồng cam cộng khố. Phải giữ kỷ luật, phải năng tập tành, phải giữ bí mật, luôn luôn cẩn thận, lúc có địch cũng trấn tĩnh như không có địch, lúc xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch.

2. Đối với dân, phải bảo vệ dân, phải giúp đỡ dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

3. Đối với công việc, phải lập làng kháng chiến khắp nơi, phải luôn tích cực hành động.

4. Đối với địch, phải kiên quyết, dũng cảm. Phải có kế hoạch mưu trí, phải hữu tiến vô thoái, phải thi đua nhau trong việc giết giặc, cướp súng, v.v... Song đối với tù binh thì phải đối đãi họ một cách nhân đạo”(11).


(1), (4) Sách đã dẫn, tr. 310, 334-335.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 317, 323.
(5), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 349, 358, 359.
(6) Báo Quân đội nhân dân, ngày 12-12-1986.
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4. Nxb Sự thật, H. 1984, tr, 363, 361, 365.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 10:23:23 pm
12 - 6

Người viết thư gửi Đại hội đảng bộ Liên khu 4: “Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, tức là những người phụ trách vận mệnh an nguy của nước nhà và dận tộc. Vì vậy mỗi đồng chí phải gắng làm cho đúng năm chữ:

Trí - Là phải có mưu trí, biết rõ ràng sức ta, sức địch, đặt kế hoạch cho đúng, cho khéo. Luôn luôn nhớ câu: “Tri bỉ, tri kỷ bách chiến bách thắng”.

Nhân - Là đối với bộ đội và nhân dân phải “đồng cam cộng khổ”. Phải yêu quý và săn sóc bộ đội và nhân dân như mỗi người thầy, người anh và người bạn. Những địch nhân đã chạy qua phía ta, hoặc đã bị ta bắt, phải đối đãi họ tử tế.

Dũng - Khi đã có kế hoạch đầy đủ, thì phải dũng cảm mà thi hành, kiên quyết, mà thi hành...

Nghĩa - Mệnh lệnh nghiêm minh, thưởng phạt công bằng. Trọng dụng người có tài, nghe theo những lời phải. Chớ kiêu ngạo, chớ tực túc.

Liêm - Chớ tham danh, chớ tham lợi, chớ tham sắc.

Nếu thiếu một trong 5 điều đó, tức là một khuyết điểm to và ảnh hưởng đến công tác. Tuy người ta ai cũng có nhược điểm. Nhưng đã trung thành vì Tổ quốc, vì đồng bào thì nhất định làm được 5 điều đó. Mà cán bộ làm đúng 5 điều đó thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập chắc chắn thành công”(1).

19 - 6

Nhân kỷ niệm 6 tháng toàn quốc kháng chiến, Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Kháng chiến ở Nam Bộ đến ngày nay đã gần 2 năm. Kháng chiến toàn quốc đến hôm nay vừa đúng 6 tháng. Mà sức kháng chiến của ta càng mạnh. Sự thắng lợi của ta càng rõ ràng”(2).

Người chỉ rõ những nguyên nhân quyết định thắng lợi:

“A - Vì kháng chiến của ta là chính nghĩa... Chính nhất định thắng tà...

B - Vì đồng hào ta đại đoàn kết... Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù giặc hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại.

C - Vì tướng sĩ ta dũng cảm...

D - Vì chiến lược ta đúng... Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau... Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích để làm cho địch hao mòn, cho đến ngày ta tổng phản công để quét sạch lũ chúng. Thế địch như lửa, thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa.

E - Vì ta nhiều bầu bạn”(3).

20 - 6

Người viết “Lời kêu gọi nhân dân thế giới”: Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi. Từ đây mong anh em càng ủng hộ. Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi”(4).

16 - 7

Người gửi thư kêu gọi đồng bào trong những vùng địch tạm chiếm đóng:

“... nên tìm đủ mọi cách giúp đỡ quân du kích của ta trong công việc trừ gian, giết địch. Chớ tin vào những lời chia rẽ, những tin nhảm nhí do bọn địch và bọn Việt gian phao đồn. Phải luôn luôn giữ vững tinh thần, luôn luôn tin tưởng vào lực lượng của Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta, luôn chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta”(5)...


(1) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3-C5/26.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 377-379.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 377-379, 382, 392.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 10:27:42 pm
27 - 7

Người viết thư gửi Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”: “Thương binh là những người đã hy hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(1).

3 - 8

Người viết thư gửi các chiến sĩ và nhân dân Nam Dương (In-đô-nê-xi-a) đang kháng chiến chống đế quốc Hà Lan xâm lược: “... cuộc kháng chiến của Nam Dương và cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng như hai đội quân trên một mặt trận: Mặt trận giải phóng của các dân tộc Á Đông”(2).

19 - 8

Trong thư gửi đồng bào Việt Bắc nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Người dự đoán âm mưu của địch và nhắc nhở: “Hiện bây giờ, khu I chưa phải mặt trận chính. Nhưng với bọn thực dân hung ác, nay mai khu I rất có thể trở nên mặt trận chính. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng”(3).

30 - 8

Nhân ngày lễ Phật, Người viết thư gửi Hội phật tử Việt Nam: “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng... để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”(4).

Trong tháng 8

Người làm thơ khen hai cháu Phạm Đỗ Hải và Lê Văn Thục, nhi đồng liên lạc của bộ đội Chiến khu II đã được thành tích xuất sắc: dụ hàng và bắt sống được lính Pháp(5).

2 - 9

Nhân ngày Quốc khánh Người gửi thư cho quân đội: “Quân đội ta mới tổ chức, mới huấn luyện, nhưng lòng yêu nước, đức dũng cảm, chí hy sinh, thì chẳng kém quân đội nào”(6).

Người căn dặn các cấp chỉ huy phải: “a) Biết rõ bộ đội, chăm nom bộ đội. b) Mỗi một cái mệnh lệnh đưa ra, thì cần phải mau chóng và chuyển khắp đến từng đội viên và phải thi hành triệt để. c) Mỗi người chỉ huy về quân sự cùng như về chính trị phải làm kiểu mẫu. Phải biết giữ đúng đạo đức của quân nhân”(7).

+ Người viết thư gửi đồng bào các tình Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn: “Việt Bắc trước kia là căn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình. Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công. Thì khảng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”(8).

23 - 9

Nam Bộ kháng chiến tròn hai năm, Người viết thư gửi đồng bào. chiến sĩ Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ: “Lực lượng của 20 triệu người vì tự do, vì Tổ quốc, vì chính nghĩa mà kháng chiến là một lực lượng tất thắng”(9).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 394, 396, 406, 408.
(5), (6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 400. 417-418. 420, 424.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Năm, 2020, 10:37:53 pm
Đầu tháng 10

+ Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc lớp bổ túc cán bộ quân sự trung cấp. Người dạy: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thỉ khó thành công”(1). “... thời gian là quý. Dùng binh thắng bại nhiều lúc quyết đinh trong năm, mười phút. Vậy các đồng chí phải làm sao cho những mệnh lệnh ở trên xuống được nhanh chóng và thi hành chu đáo”(2).

+ Sau khi được tin địch tiến công lên Việt Bắc, ngày 8 tháng 10 Người viết thư kêu gọi bộ đội và nhân dân ra sức tiêu diệt địch. Người phân tích ý định của địch là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành một cái ô bọc lấy Việt Bắc rồi khép chặt vòng vây, dưới đánh lên, trên đánh xuống để tiêu diệt chủ lực ta và phá cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Người chỉ rõ: Chúng mạnh về hai gọng kìm. Gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách”(3).

21 - 10

Người gửi thư khen hai cụ già du kích Kiến An: “Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các phụ lão đời Trần đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu mà tự mình hăng hái chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước”(4).

Trong tháng 10

Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với bút. đanh X.Y.Z. Tác phẩm có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên.

Về vấn đề cán bộ, Người chỉ rõ: “Muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(5), “... cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(6). “Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(7)... “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ... đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”(8).

Người nêu lên năm điểm lớn trong chính sách cán bộ: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”(9). Trong việc dùng cán bộ, Người chí rõ: “... muốn cán bộ làm được việc phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. Muốn như thế, phải thực hành những điểm này: 1- Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... 2- Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc... 3- Không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”(10).

9 - 12

Người viết thư căn dặn đồng chí Hoàng Hữu Nam: 1- Cán bộ từ tỉnh đến làng, phải thực hành giải thích cho dân hiểu: Vì sao phải trường kỳ kháng chiến? Toàn diện và toàn dân kháng chiến?... 2- Làm cho khắp nơi có không khí kháng chiến. 3- Phải làm cho dân hiểu: kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng nhất định phải kinh qua một giai đoạn rất cực khổ”(11).

12 - 12

Người viết thư gửi Chính phủ Cao Miên (Campuchia) giải phóng “hoan nghênh việc thảnh lập một ủy ban giải phóng Việt - Miên - Lào, mục đích theo đuổi đến cùng cuộc chiến đấu chung chống đế quốc và thực dân Pháp”(12).

19 - 12

Người ra lời kêu gọi toàn dân nhân dịp kỷ niệm một năm kháng chiến toàn quốc: “... bọn thực dân phản động khỏng cướp được, thì chúng sẽ phá, không thắng được, thì sẽ cắn mấy miếng cho đã. Chúng sẽ tấn công vùng này rồi đến vùng khác. Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm, nhưng đã gần tắt nghỉ. Cho nên dân và quân ta phải luôn luôn gắng sức cẩn thận, chuẩn bị đề phòng, luôn luôn tấn công địch và phá hoại địch, tuyệt đối chớ tự kiêu, chớ khinh địch, dù lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhen, chỉ có tiến, không có thoái”(13).

22 - 12

Người viết bài “Kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam”. Nêu lên kết quả việc xây dựng Giải phóng quân, Người khẳng định: “... chính sách của Đảng ta rất đúng, chính sách đúng là vì ta dựa theo cái chân lý giản đơn và thiết thực này: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự. Muốn có lực lượng thì phải có tổ chức. Muốn có tổ chức thành công thì phải có kế hoạch, có quyết tâm”(14).

Người chỉ thị: “Vệ quốc quân, dân quân du kích phải luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân”(15).

Trong tháng 12

Tại lễ phong quan hàm cấp tướng cho một số cán bộ quân đội, Người nói: Các cụ ta qua bao thế hệ chiến đấu cho độc lập không thành, nhắm mắt mà chưa thấy được dân tộc tự do. Chúng ta may mắn hơn. Nhưng còn phải bao nhiêu hy sinh cố gắng. Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào đồng chí... Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành cho được độc lập, tự do cho thỏa lòng những người đã mất”(16).

Trong năm

Người tặng thơ ba cụ lão du kích ở Cao Bằng đã hăng hái tham gia giết giặc, trong đó có câu: “Tuổi cao chí khí càng cao”(17).


(1), (2), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 433, 435, 437, 352, 487.
(3) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 317.
(7), (8), (9), (10), (12) Sách đã dẫn, tr. 492, 496, 499-501, 536.
(12) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3 - C5/12.
(13), (14), (15) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 538-539, 542, 543.
(16) Theo: Tạp chí Tác phẩm mới, tháng 5, 6-1970.
(17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4 Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 390.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:23:18 am
NĂM 1948

Đầu năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách “Việt Bắc anh dũng” với bút danh “Tân Sinh” nói về chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947. Mở đầu Người chỉ rõ: “... ngay lúc đầu, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy đã định dùng chiến thuật du kích để tiêu diệt địch. Càng ngày chúng ta càng thấy những ý định trên là sáng suốt...”(1). Sau khi nêu lên những thất bại của quân Pháp, Người kết luận: “Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tấn công của thực dân trong trận vừa rồi”(2).

9 - 2

Trong thư gửi Ủy ban nhân dân tinh và huyện ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Người phê bình: “Khi địch tấn công, ngoài một ít nơi, còn thì bộ đội chạy, du kích chạy, cơ quan chạy, cán bộ chạy. Để dân hoang mang vất vả, cực khổ, thiệt hại, oán giận... Đó là một tình trạng rất đáng tiếc, đáng đau lòng! Trách nhiệm ấy ai phải chịu?”(3).

10 - 2

Người viết thư gửi báo Bạn - tờ báo của ta xuất bàn bằng tiếng Đức nhằm tuyên truyền vận động binh lính người Đức trong quân đội Pháp: “... cần có những bức tranh, những bức vẽ khôi hài... những tin tức ngắn về nước Đức và nước Pháp - đặc biệt là những tin tức có liên quan đến đời sống của nhân dân... cần làm cho họ cảm động, thoải mái, làm cho họ cười và khóc, để lôi cuốn họ về phía chúng ta”(4).

24 - 2

Người viết thư gửi bộ đội khu II và khu III nhân dịp bộ đội hai khu đều biết dọc, biết viết chữ quốc ngữ: “Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ ta và cho dân tộc ta. Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm... Nhưng bộ đội ta chớ vì thế mà tự kiêu, tự mãn. Sự học hỏi là vô cùng... Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”(5).

Trong tháng 3

+ Trả lời câu hỏi của một nhà báo nước ngoài về kết quả và triển vọng của cuộc kháng chiến, Người chỉ rõ: “Trong năm kháng chiến vừa qua, quân đội Pháp đã mất hơn 60.000 người chết và bị thương với một số phi cơ, tàu thủy và võ khí. Quân đội Việt Nam mất 1/6 số đó, vì chúng tôi đánh theo lối đánh du kích”(6).

+ Người viết “Thư gửi Hội nghị chính trị viên”: “Tư cách của chính trị viên có ánh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt thì bộ đội tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ thì bộ đội ấy không tốt”. “Đối với bộ đội... chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như người anh, hiểu biết như một người bạn. Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội... Đôi với quân địch... phải biết cách tuyên truyền khôn khéo, thiết thực, để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta... Kỷ luật phải được thi hành từ trên đến dưới. Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng. Chính trị viên phải làm kiểu mẫu trong mọi việc”(7).

+ Trong thư gửi Hội nghị quân y, Người viết: “Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu... một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”(8).

+ Người gửi thư khen lão du kích Đỗ Như Thìn (làng Tuấn Kiệt, Hải Dương): “... tôi tặng đồng chí Thìn bốn chữ: “Lão dương ích tráng” nghĩa là “Càng già càng mạnh”(9).

+ Trong thư gửi trung đội du kích Kim Thành, Người căn dặn:”... phải luôn luôn nhớ: Du kích là như cá; nhân dân là như nước. Muốn giết địch, thắng trận, thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”(10).

+ Người gửi thư khen các vị thân hào, thân sĩ và đồng bào thôn Hải Lạng, xã Vĩnh Thành “đã tự phá nhà cửa để tản cư, còn góp nhau 2.000 đồng và đem cờ xí của làng may thành áo chấn thủ để giúp chiến sĩ mùa đông”(11).

+ Người gửi thư khen đồng bào An Phú và Văn Giáo (Nghĩa Hưng) “đã bỏ sự ăn uống hàng năm, đem ruộng hậu và huê điền đấu giá được 3.000 đồng giúp quỹ Mùa đông binh sĩ”(2).

+ Người viết thư gửi đồng chí Hoàng Mai, giám đốc Sở Công an Khu XII: “... công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nêu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”(13).

5 - 4

Người viết “sáu điều không nên và sáu điều nên làm”. Mở đầu Người chỉ rõ: “Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân...”. Cuối cùng là “Bài thơ cổ động” trong đó có câu:

“Quân tốt, dân tốt
Muôn sự đều nên
Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
(14).


(1), (2) ách đã dẫn, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 3, 35.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 44, 47-48, 50-51, 69-70.
(7), (8), (9), (10), (11), (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5. Nxb Sự thật. H. 1985, tr. 60-61, 64, 67, 68, 72, 74.
(13), (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật H. 1985, tr. 75, 77-79.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:32:24 am
Đầu tháng 4

Trong thư gửi Hội nghị dân quân toàn quốc, sau khi chỉ rõ những thành tích và khuyết điểm của dân quân du kích, Người nên lên những việc phải làm: “1- Thiết thực tổ chức và thiết thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân, du kích làng làm nền tảng; đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly. 2- Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vào lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khí thô sơ của ta. 3- Phối hợp thật chặt chẽ với Vệ quốc quân. 4- Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ các nhiệm vụ vẻ vang của họ. 5- Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: phải luôn luôn giữ quyền động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối địch, phải cộng thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to. 6- Phải thực hành tự cấp tự túc bằng cách thiết thực: bằng cách tăng gia sản xuất. 7- Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua”(1).

Trong tháng 4

+ Người viết thu gửi Quân sự tập san: Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”(2).

+ Theo đề nghị của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, Biên khu Việt - Quế, Người cùng Trung ương Đảng giao cho Bộ Tổng chỉ huy đưa một bộ phận quân đội ta sang giúp bạn mở rộng khu căn cứ cách mạng gồm khu Tư Giang giáp Cao Bang, Lạng Sơn và khu Ung Châu - Long Cháu giáp Lạng Sơn và Quảng Ninh(3).

1 - 5

Nhân ngày Quốc tế lao động, Người viết “Thư gửi đồng bào lao động toàn quốc”: “Chúng ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Công nhân ta đã đồng cam trong công việc kháng chiến, thì ắt cũng dũng cảm trong sự nghiệp kiến quốc”(4).

+ Người viết thu gửi trường Trần Quốc Tuấn nhân dịp trường khai giáng khóa 4: “... trong trường này, chẳng những phải cố gắng học tập kỹ thuật cho ngày càng tiến bộ, mà còn phải giữ vững và phát triển truyền thống vẻ vang của quân đội ta... Sau nữa. tôi vui lòng tặng trường sáu chữ: Trung với nước, hiếu với dân(5).

10 - 6

Nhân kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến chống Pháp Người viết “Lời kêu gọi” đồng bào, tướng sĩ: “Cuộc kháng chiến của ta có những điều kiện thuận tiện, xưa nay chưa dân tộc bị áp bức nào có: từ Nam đến Bắc, cả nước một lòng, quyết chống ngoại xâm, quyết tranh độc lập. Từ Nam đến Bắc, bộ đội và dân quân hăng hái dũng cảm, chỉ huy thống nhất”(6). “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”(7).

11 - 6

Người ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”: “Mục đích thi đua ái quốc là gì? Diệt giặc đói khổ; Diệt giặc dốt nát; Diệt giặc ngoại xâm... Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên một mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”(8).

15 - 7

+ Trong thư gửi Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, Người viết: “Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền những gương mẫu oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho con cháu đời sau”(9).

30 - 7

Người viết bài: “Giữ bí mật”, ký tên A.G: “Trong chiến tranh... Giữ bí mật là điều quan trọng nhất... cuộc chiến tranh thắng hay bại, một phần lớn do biết giữ bí mật hay không biết giữ bí mật mà quyết định... Biết GIỮ BÍ MẬT, tức là ta đã nắm chắc một phần thắng lợi trong tay ta”(10).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật H. 1985, tr. 81-82, 86, 88, 96-97.
(5) Đặng Văn Việt, Đường số 4 - con đường lửa, Viện Lịch sử Việt Nam, Sở văn hóa thông tin Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Quảng Ninh xuất bản năm 1987, tr. 98-99.
(6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật H. 1985, tr. 100, 102, 103, 113-114.
(10) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 362-364.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:37:37 am
Trong tháng 7

Người viết thư gửi anh em thương binh và bệnh binh: “... các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác, tăng gia sản xuất để giúp ích cho Tổ quốc... trở nên Những người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận...”(1).

19 - 8

Người ký sắc lệnh số 206, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao(2).

Trong tháng 8

Người nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa... Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết... Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là: Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.., Công tác của người tướng là: 1- Đối với kỷ luật... mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên... Báo cáo từ dưới lên phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực... phải thưởng phạt cho công minh. 2- Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom... 3- Đối với dân... Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi. 4- Đối với địch... thì tuyệt đối chớ khinh địch. Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại... Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh”(3).

2 - 9

Nhân ngày Quốc khánh, Người viết “Lời kêu gọi”: “Dù phải kháng chiến 5 năm, 10 năm hay là lâu hơn nữa, để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và hạnh phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng”(4).

15 - 9

Người cử phái đoàn Chính phủ vào Nam Bộ kiểm tra công việc kháng chiến và viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, gửi Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ, gửi các cháu nam, nữ thanh niên và nhi đồng Nam Bộ, gửi các tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích Nam Bộ.

Trong thư gửi Vệ quốc quân và dân quân du kích Nam Bộ, Người viết: “Đã hơn ba năm nay, bộ đội và dân quân Nam Bộ đã lập nhiều chiến công vẻ vang và đã trưởng thành trong khói lửa. Các đồng chí đã thực hiện được kế hoạch cướp khí giới địch đánh lại địch, áp dụng triệt để chiến thuật vận động du kích và phá hoại hậu phương địch. Đó là những ưu điểm đáng khen... Song công tác chính trị, sự trao đổi kinh nghiệm, sự học hỏi trong bộ đội còn chưa đủ. Địa phương chủ nghĩa, anh hùng cá nhân, bản vị chủ nghĩa, hãy còn tồn tại ở một vài nơi và một vài cấp chỉ huy. Đó là những khuyết điểm phải sửa chữa”(5).

24 - 9

Người chỉ thị về tổ chức Ban quân sự Nam Bộ: “Tên và thành phần: để phù hợp với hệ thống chung, Ban quân sự Nam Bộ gọi là Bộ tư lệnh Nam Bộ”.

“Nhiệm vụ và quyền hạn trong Bộ tư lệnh Nam Bộ:

1. Về làm việc, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nghĩa là kế hoạch chủ trương phải đưa ra thảo luận trong Ban thường vụ hay Bộ tư lệnh tuỳ điều kiện.

2. Chính ủy có quyền quyết định tối hậu. Nhưng trong lúc dùng quyền ấy, cần trọng uy tín của Tư lệnh và Phó tư lệnh và không lấn át sáng kiến chuyên môn”(6).

15 - 10

Trong bài: “Chủ nghĩa cá nhân” ký tên X.Y.Z, Người viết: “Vì sao mà kháng chiến nhất định thắng lợi? Vì bốn điều kiện: 1 Đoàn kết chặt chẽ, quân dân nhất trí. 2- Có con đường chính trị đúng. 3- Có con đường quân sự đúng. 4- Có sự chỉ huy khôn khéo mau lẹ, về chính trị cũng như về quân sự... chúng ta đã sẵn có con đường: chính trị và quân sự đúng. Chúng ta cần phải sửa chữa bệnh cá nhân, bệnh quan liêu, để theo cho đúng, làm cho kịp thời... Toàn dân đoàn kết, tướng dũng cảm, chính trị vững chắc, chỉ huy khôn khéo. Bốn điều kiện ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi”(7).

Trong tháng 11

Trong “Thư gửi Đội du kích thủ đô”, Người viết: “Hà Nội là Quả tim quân sự, chính trị và kinh tế của địch. Du kích thủ đô và Vệ quốc quân, cần phải thường khuấy rối quả tim của địch cho đến ngày tổng phản công”(8).

19 - 12
 
Kỷ niệm hai năm ngày toàn quốc kháng chiến, Người viết: “Lời kêu gọi”: “Lực lượng của địch trước to sau nhỏ, trước mạnh sau yếu. Tình hình của địch như mặt trời đã xế tà, gần tắt. Lực lượng của ta trước nhỏ sau to, trước yếu sau mạnh. Thanh thế của ta cũng như những nguồn nước nhỏ nhóm dần thành một đại dương.., Song chúng ta chớ chủ quan, khinh địch. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, chúng ta còn phải kinh qua những bước gay go hơn trước, còn phải chiến đấu hăng hơn trước, mạnh hơn trước”(9).


(1), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật H. 1985, tr. 117, 125-127.
(2) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 133.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật H. 1985, tr. 129.
(5) Sách đã dẫn, tr. 138.
(6) Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 76 (1-48 - 12-48).
(7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 150-151, 163.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 167, 168.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:46:34 am
NĂM 1949

18 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ 6: “Những vấn đề thảo luận thì nhiều, nhưng đều hướng vào một đường đi: Kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Người nêu lên những việc phải làm trong năm 1949, việc đầu tiên là: “Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi”. Người chỉ rõ: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”(1).

Trong tháng 1

Người viết thư gửi cán bộ dân quân trường Lê Bình khoá 2: “Muốn đánh thắng giặc, phải dựa vào ai? Trước nhất và mọi việc phải dựa vào nhân dân. Vậy mỗi cán bộ và mọi chiến sĩ dân quân du kích phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Hai lừ phải tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo. Hễ có giặc là đánh. Đánh khéo, đánh gần, đánh mạnh, đánh dai, đánh cho tan giặc”(2).

2 - 2

Trong thư chúc Tết đồng bào vùng tạm bị chiếm, Người viết: “... tôi thiết tha khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ giữ vững tinh thần, giúp đỡ chiến sĩ ta, sẵn sàng để diệt địch. Bất kỳ già trẻ, gái trai, mỗi người Việt Nam ở trong vùng tạm bị địch chiếm phải là người đào mồ chôn quân địch. Sự giải phóng đồng bào một phần do Chính phủ ta phụ trách, mà một phần cũng ở trong tay đồng bào. Mà ngày giải phóng ấy sẽ không xa”(3).

17 - 2

Người viết thư gửi đội lão quân Nam Đàn: “Theo ý tôi thì các đội lão quân cần phải tổ chức đường hoàng và công tác thiết thực nhằm vào ba điểm chính: 1- Quân sự: đôn đốc dân quân du kích các làng tổ chức hẳn hoi, luyện tập chu đáo, canh gác cẩn thận. Khuyến khích thanh niên hăng hái tham gia bộ đội để giết giặc ngoại xâm...”(4).

7 - 4

Người ký sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương(5).

Trong tháng 4

Người viết thư gửi Quân nhân học báo: Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân, biết võ, biết văn mới là quân nhân hoàn toàn(6).

Trong tháng 6

Trả lời phóng viên báo Pháp Du kích, Người khẳng định: “Thắng lợi của Việt Nam sẽ Ịà độc lập và thống nhất thực sự. Chúng tôi bao giờ cũng trông ở sức mình. Chúng tôi không sợ ai cả. Không nước nào có thể thống trị được chúng tôi”(7).

20 - 8

Nhân ngày 2 tháng 9, Người ra “Lời kêu gọi đồng bào bán gạo khao quân”: “... tôi có ý muốn khao thưởng bộ đội ta, là những người đang chiến đấu anh dũng để giữ gìn quyền độc lập mà nhân dân ta đã đấu tranh được... Thánh hiền có nói: “Thực túc, binh cường”. Vậy thì lấy lương thực mà khao thưởng là giản đơn nhất, thiết thực nhất. Song tôi không có thóc gạo. Vậy tôi lấy danh nghĩa cá nhân mà nhờ đồng bào giùm tôi việc đó”(8).

Trong tháng 8

+ Tỉnh Bắc Cạn được giải phóng sau hai năm bị địch chiếm đóng. Người gửi thư khen quân và dân Bắc Cạn: “Đó là nhờ sự chiến đấu anh dũng của quân đội, nhờ lòng kiên quyết kháng chiến của đồng bào, nhờ đồng bào trong thị xã đã hăng hái hưởng ứng. Đó là nhờ quân và dân ta nhất trí, trong đánh ra, ngoài đánh vào mà có thắng lợi ấy”(9).

+ Người viết thư gửi báo Quân du kích: “Làm cho: Mỗi quốc dân là một chiến sĩ; Mỗi làng xóm là một pháo đài. Làm cho: Quân đội giặc đến đâu cũng bị khuấy, bị phá, bị diệt, Bộ đội ta đến đâu cũng được giúp đỡ đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là nhiệm vụ của báo Quân du kích”(10).

+ Người viết thư gửi Hội nghị tình báo:

“1. Tình báo là tai mắt của quân đội. Tai phải nghe rõ, mắt phải thấy rõ tình hình của địch thì ta mới dễ đánh thắng địch.

2. Người xưa nói: “Biết địch, biết ta, thì trăm trận ta thắng cả trăm”. Biết địch là nhiệm vụ của tình báo.

3. Bên ta phải biết rõ bên địch, nhưng đồng thời không để địch biết ta. Vì vậy, nhiệm vụ của tình báo là hết sức giữ kín tình hình và tin tức của ta, không cho lọt đến địch.

Tình báo là một khoa học. Người làm tình báo ắt phải có bốn đức tính: bí mật - cẩn thận - khôn khéo - kiên nhẫn”(11).

13 - 10

+ Người viết thư gửi Đội quân Bắc Phi độc lập - gồm một số binh sĩ người Bắc Phi trong quân đội Pháp đã chạy sang hàng ngũ ta, được tổ chức lại để làm công tác tuyên truyền vận động binh lính địch: “... chúng ta đoàn kết chặt chẽ và cùng có chung một lý tưởng: đập tan chế độ thực dân Pháp và giành lại độc lập.

Vì vậy nước Việt Nam được giải phóng sẽ giúp cho sự giải phóng nước các bạn được dễ dàng và cuộc chiến thắng của Việt Nam sẽ giúp cho các bạn chiến thắng sau này”(12).

15 - 10

Người viết bài “Dân vận” ký tên X.Y.Z: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13).

4 - 11

Người ký sắc lệnh số 126 đặt nghĩa vụ quân sự(14).

19 - 12

Trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Ba năm toàn quốc kháng chiến, Người chỉ rõ: “19 tháng 12 năm nay, so với năm trước, thì thế giặc Pháp đã sút kém nhiều, mà lực lượng của ta đã tăng gấp ba, bốn lần”. Người khẳng định: “Hễ còn một tên lính thực dân trên đất nước Việt Nam, thì Việt Nam cứ đánh, đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự”(15).

Trong năm

Người viết bài “Việt Bắc quyết thắng”. Trong đó có đoạn: “Việt Bắc sẵn điều kiện để đánh thắng. Điều kiện tuy sẵn, nhưng phải chuẩn bị đầy đủ mới thắng được... Chúng ta có ba lực lượng quân sự: Vệ quốc quân, bộ đội địa phương vả dân quân du kích. Vệ quốc quân phải lo đánh trận để tiêu diệt địch... Bộ đội địa phương phải phụ trách đánh những trận vừa vừa và phải chuẩn bị chiến trường sẵn sàng khi Vệ quốc quân đánh trận to ở địa phương minh. Dân quân du kích là một lực lượng rất rộng rãi, khấp cả nước... Nó là như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước. Hễ giặc Pháp và Việt gian bước chân đến đâu, là mắc phải lưới đó ngay”(16).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 167, 168, 183 - 184, 188.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 191, 197, 516, 213.
(7), (8), (9), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 251, 274, 266, 281.,
(11) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3-C7/14.
(12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr.291, 299.
(14) Sách đã dẫn, tr. 518, 322 - 323.
(15) Sách đã dẫn, tr. 518, 322 - 323.
(16) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3-C7/21.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:52:04 am
NĂM 1950

20 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Hội nghị toàn quốc của Đảng chỉ rõ:

“Công việc trước mắt của chung ta là:

- Giữ vững khối đại đoàn kết của dân tộc;
 
- Tích cực xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương;

- Đánh mạnh vào lực lượng vật chất và tinh thần của địch:

- Động viên lực lượng toàn dân, tổ chức và võ trang nhân dân rộng rãi, vùng tự do cùng như vùng tạm bị chiếm;

- Liên lạc hành động với nhân dân Pháp và các lực lượng hòa bình dân chủ trên thế giới...”(1).

12 - 2

Người ký sắc lệnh Tổng động viên nhằm huy động tất cả nhân lực, vật lực, tài lực cho cuộc kháng chiến(2).

22 - 3

Người viết bài “Nước Việt Nam đấu tranh cho nền độc lập của mình”, ký tên “ĐIN”, gửi cho báo Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân - Cơ quan của Cục Thông tin quốc tế. Về cuộc đấu tranh của nhân dân ta trước Cách mạng tháng Tám, Người viết: “Học tập được kinh nghiệm của thế giới là nếu không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức, Việt Minh đề ra nhiệm vụ tổ chức các đội du kích vĩ trang. Ngay từ năm 1944, Việt Minh đã bắt đầu cuộc chiến tranh du kích chống lại quân đội Nhật và Pháp... Các đội du kích phát triển nhanh chóng và trở thành Quân đội giải phóng nhân dân (Vệ quốc quân). Việt Bắc... trở thành một thứ “đất thánh” của cuộc cách mạng dân tộc”(3).

Sau khi vạch rõ âm mưu và thất bại của thực dân Pháp can thiệp Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Người kết luận: “Nước Việt Nam dũng cảm đang trở thành một tiền đồn vững chắc của mặt trận quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này của thế giới”(4).

Người viết bài “Quỹ công lương”, ký tên T.L.: “Lập quỹ công lương, Chính phủ nhằm mục đích chuẩn bị sẵn ở các chiến trường những kho thóc phòng khi cần đến dùng được mau lẹ; điều hòa giá cả; tiếp tế đầy đủ cho bộ đội để khỏi tình trạng vừa đánh giặc vừa lo ăn; giải quyết tiếp tế khó khăn cho công nhân viên chức”(5).

Giữa năm

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch giải phóng biên giới. Người chỉ thị: chiến dịch này “Chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại”(6).

20 - 7

Trả lời phỏng vấn của báo Cứu quốc về cuộc tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực, cho kháng chiến, Người nói: “Để cho việc sử dụng sức người được hợp lý và công bình: Chính phủ đã định ra Nghĩa vụ kháng chiến. Đó là một cách động viên nhân lực đặc biệt dân chủ của ta. Mọi người dân đều có dịp làm nghĩa vụ kháng chiến, đều có công trong cuộc giải phóng dân tộc”. “Phải làm sao cho bộ đội đủ ăn, đủ mặc, đủ người giúp việc trong khi chuẩn bị chiến trường, sửa sang đường sá, v.v...”(7).

25 - 7

Trả lời các nhà báo về việc đế quốc Mỹ can thiệp vào Đông Dương, Người nói: “Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ và theo chỉ thị của Mỹ. Nhưng đế quốc Mỹ càng ngày càng mưu gạt thực dân Pháp để độc chiếm lấy Đông Dương. Vì lẽ đó mà Mỹ càng ngày càng trực tiếp và tích cực can thiệp về mọi mặt: quân sự. chính trị, kinh tế”.

“Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một”. “Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn”(8).

6 - 8

Người viết Mệnh lệnh gửi các tỉnh trong Liên khu Việt Bắc: “Các tỉnh phải chỉnh đốn phát triển và củng cố du kích các xã một cách thiết thực để: Ở vùng tự do thì chuẩn bị đánh địch trong thu đông này. Ở vùng tạm chiếm thì tích cực quấy rối và đánh tỉa làm cho địch tiêu hao”(9).

19 - 8

Viết lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và ngày Độc lập, Người chỉ rõ: “Nước ta vừa độc lập thì giặc Pháp liền khai chiến. Với binh nhiều, tướng đủ, khí giới tối tân, chúng định đánh mau thắng mau. Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta quyết kế trường kỳ kháng chiến. Sự thật đã chứng tỏ rằng: Chiến lược ta đã thắng chiến lược địch”(10).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 340-341, 520, 350-351, 361.
(5)  Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C4/02.
(6) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, H. 1974, tr. 396.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 395, 397.
(8), (9), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 401 - 402, 408, 410.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 08:01:01 am
Trong tháng 8

Người cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn y phương án tác chiến chiến dịch giải phóng biên giới. Phân tích chủ trương đánh Đông Khê, Người chỉ rõ: Ta đánh Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu, nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, ta có cơ hội thuận lợi tiêu diệt chúng trong vận động(2).

11 - 9

Người đến sở chỉ huy chiến dịch Biên Giới, nghe báo cáo và kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến dịch.

Tại Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch chiến dịch, Người chỉ thị: “Chưa đánh thắng thì chưa được coi là đã chuẩn bị xong. Quân sự thì phải chuẩn bị mãi. Thắng xong chiến dịch này cũng chỉ mới là chuẩn bị xong một đợt; toàn thắng mới là chuẩn bị xong... Trong quân sự, phải kiên quyết và bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải là liều. Liều là dại, dũng cảm là khôn. Kiên quyết và bạo dạn không phải là một người mà phải toàn bộ tất cả mọi người. Muốn toàn bộ kiên quyết và bạo dạn thì phải có kỷ luật... Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”(2).

Từ 13 đến 18-9

Người rời sở chỉ huy chiến dịch để đến mặt trận Đông Khê trực tiếp theo dõi và động viên bộ đội đánh trận mở màn chiến dịch. Người chỉ thị: Dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu.

Sau chiến thắng Đông Khê, Người chỉ rõ: có thể địch sẽ giành lại Đông Khê để giữ vững Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân Cao Bằng rút lui. Người vạch ý đồ tác chiến của ta là “nhử thú dữ vào tròng”(3) để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng(4).

6 - 10

Trước tình hình quân địch ở Cao Bằng vội vã rút khỏi thị xã quân viện từ Thất Khê lên bị ta chặn lại ở phía nam Đông Khê. Người điện gửi các chiến sĩ: “Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết đẽ giành lấy toàn thắng”(5).

7 - 10

Người gửi thư động viên bộ đội sau khi binh đoàn Lơ-pa-giơ bị tiêu diệt. “Từ ngày kháng chiến đến nay, trận này là trận đầu liên bộ đội ta đánh vận động liên tiếp luôn mấy ngày. Đó là một cuộc thử thách lớn. Các chú không quản nhọc mệt, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch. Các chú đã đánh tan đoàn quân tinh nhuệ của địch. Các chú đã hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách một cách dũng cảm. Các chú cố gắng mà tiêu diệt binh đoàn Sác-tông nhé”(6).

30 - 10

Sau chiến thắng Biên Giới, Người viết thư gửi các chiến sĩ thắng trận Cao Bằng - Lạng Sơn: “Ta đã thắng to trong trận này là vì: bộ đội ta rất dũng cảm, chỉ huy rất đúng đắn, quân dân rất hăng hái, Chính phủ rất kiên quyết... Chúng ta cũng phải nhớ rằng trong trận này ta đã thắng hai trận: thắng lợi thứ nhất, chúng ta đã tiêu diệt địch và đã giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thử hai là ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta... Đánh thắng khuyết điểm của ta là đã một phần đánh thắng quân địch”(7).

Khoảng đầu tháng 11

+ Trả lời các nhà báo về chiến dịch Biên Giới, Người nói: “Thắng lợi có hai ý nghĩa quan trọng:

- Lần này ta giành được quyền chủ động.

- Ta học được nhiều kinh nghiệm, nó sẽ giúp cho bộ đội ta tiến bộ nhiều hơn, mau hơn nữa”(8).

+ Nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên Giới, Người chỉ rõ: “Trong việc tổng kết này có mấy điểm cần chú ý: 1- Đề cao kỷ luật. Trên dưới đều phải giữ kỷ luật. Phải kiểm thảo từ dưới lên, từ trên xuống... 2- Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên. Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành... 3- Thương yêu đội viên. Cán bộ phải thương yêu đội viên... Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ... 4- Tôn trọng nhân dân... Không được phung phí nhân lực, vật lực của dân... Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân..., 5- Giữ gìn của công, chiến lợi phẩm... Chiến lợi phẩm cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch... Phải biết thương tiếc, giữ gìn, bảo vệ...”(9).

17 - 11

Người viết thư gửi Hội nghị hòa bình ở Việt Nam, chỉ rõ: “... đế quốc chủ nghĩa là nguồn gốc chiến tranh... Vậy muốn giữ gìn hòa bình một cách thiết thực, thì phải ra sức chống đế quốc chủ nghĩa. Mấy năm nay, Việt Nam ta đang ra sức kháng chiến, quân và dân ta đang ra sức đánh bọn đế quốc Pháp và bon can thiệp Mỹ. Thế là chúng ta đang chặt cái gốc chiến tranh đế quốc, đang giúp sức bảo vệ hòa bình...”(10).

19 - 12

Người viết Lời kêu gọi nhân kỷ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến. Xem xét tình hình của địch và của ta sau bốn năm kháng chiến, Người chỉ rõ: “Nói tóm lại... tình thế bên địch ngày càng khó khăn... ta đã từ bị động chuyến dần sang chủ động, từ thế yếu chuyển dần sang thế mạnh, từ thế thủ chuyên dần sang thế công...

Nhưng tôi phải nhắc lại lần nữa...: tuyệt đốí chớ vì thắng mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: càng gần thất bại, địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng. Càng gần thắng lợi, ta càng gặp nhiều sự gay go... Phải nhớ rằng cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ kháng chiến”(11).


(1), (3), (4) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, tr. 400, 404 - 405.
(2) Theo Bác đi kháng chiến, tr. 246, 249.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 433, 434.
(7) Sách đã dẫn, tr. 437 - 438.
(8) Sách đã dẫn, tr. 445.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 439 - 441.
(10) Sách đã dẫn, tr. 457.
(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 475, 476.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 08:21:14 am
NĂM 1951

Đầu năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Đẩy mạnh chiến tranh du kích” với bút danh Nguyễn Thao Lược, trong đó có những đoạn: “Nguyên tắc đánh giặc là: biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. “Tinh thần binh sĩ giặc rất kém; giặc tập trung chỗ này dù sơ hở chỗ khác. Ta nhằm đúng chỗ yếu của giặc mà đánh, thì ta nhất định thắng”. “Ta biết rõ giặc, giặc không rõ ta. Đi nhẹ không tăm, về lặng không tiếng. Tiến nhanh như gió, thoái kín như đêm. Phục giặc không biết, đánh giặc không ngờ”. Trong vùng địch tạm chiếm, lực lượng to lớn của nhân dân và du kích ta giống như kho thuốc súng trong bụng địch. Ta khéo củng cố và phát triển lực lượng ấy thì giặc Pháp sẽ bị vỡ bụng mà chết”(1).

Trong tháng 1

Người viết thư gửi hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến. Nhiệm vụ chính trị của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Vậy việc thảo luận cần đặt trọng tâm vào hai việc đó”(2).

11 - 2

Người đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, về cuộc kháng chiến, Người chỉ rõ: “Địch âm mưu đánh chớp nhoáng. Chúng muốn đánh mau, thắng mau, giải quyết mau, thì Đảng và Chính phủ ta nêu lên khẩu hiệu: Trường kỳ kháng chiến. Địch âm mưu chia rẽ thì ta nêu lên khẩu hiệu: Đoàn kết toàn dân. Thế là ngay từ lúc đầu, chiến lược ta đã thắng chiến lược địch”(3).

Về cách xem xét so sánh lực lượng giữa ta và địch, Người phân tích: “... chúng ta không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

Nay tuy châu chấu đấu voi,
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra.


Sự thật đã chứng tỏ rằng “voi” thực dân đã bắt đầu lòi ruột, mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng”(4).

Về các giai đoạn của cuộc kháng chiến, Người viết: “Đảng và Chính phủ ta đã nhận cuộc kháng chiến có ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, thì ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn này từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến hết chiến dịch Việt Bắc, thu đông năm 1947. Giai đoạn thứ hai, thì ta tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Giai đoạn này từ sau chiến dịch Việt Bắc năm 1947 đến nay. Giai đoạn thứ ba, là tổng phản công”(5). “Chúng ta lại phải hiểu rằng: giai đoạn này có dính líu với các giai đoạn khác, nó kế tiếp giai đoạn trước và nó gây mầm mống cho giai đoạn sau... Có thể xét tình hình chung mà định ra từng giai đoạn lớn, nhưng không thể tách hẳn từng giai đoạn một cách dứt khoát như người ta cắt cái bánh”(6).

Về tình hình nhiệm vụ quân sự, Người chỉ rõ: “Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân. Đồng thời, phải phát triển và củng cô dân quân du kích về mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó”(7).

20 - 2

Người gửi thư khen các chiến sĩ cán bộ tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo: “Các chú lần đầu ở đồng bằng đã chiến thắng các binh đoàn lưu động tinh nhuệ nhất của giặc... Các chú đã nỗ lực thi đua lập công. Các chú càng ra sức học tập kinh nghiệm đánh đồng bằng để giành thắng lợi to hơn nữa”(8).

Trong tháng 2

Người gửi thư kêu gọi nông dân thi đua canh tác: “Thực túc thì binh cường!... Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.

Ruộng rẫy là chiến trường,
Cày cuốc là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương
”(9).

Người nói tại buổi khai mạc Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt: “... dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây chúng ta nhất định đi đến Việt-Miên-Lào đại đoàn kết. Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng tạ nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự”(10).


(1) Tư liệu Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, số ĐS1/H 100/47.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 7.
(3), (4) Sách đã dẫn, tr. 22, 24.
(5), (6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 24, 25, 36.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 43, 44, 45.
(10) Sách đã dẫn, tr. 47-48.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 08:26:53 am
Trong tháng 3

+ Người viết thư gửi Hội nghị nông dân cứu quốc lần thứ hai: “Đa số dân ta là nông dân. Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng”(1).

+ Người đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn xe ôtô đầu tiên của quân đội: “Các chú thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú đã lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại dập lưng ông”. Đây là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy... Xe, xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân, Các chú phải chăm sóc xe, yêu xe như con, quý xăng như máu”(2).

15 - 4

Người viết bài “Để hiểu chiến lược”, ký tên C.B. nêu lên một số nguyên tắc tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang.

“l. Trước đánh bọn địch lẻ tẻ và yếu. Sau đánh bọn địch tập trung và mạnh.

2. Trước chiếm lấy thành thị nhỏ và vừa vừa và những làng mạc to. Sau lấy những thành thị to.

3. Mục đích chính của ta là tiêu diệt sinh lực của địch, chứ không cốt tranh lấy hoặc đóng giữ các thành thị và các địa phương.

4. Trong mỗi trận đánh, ta phải tập trung binh lực của ta gấp 2, gấp 3, gấp 4, có khi gấp 5, gấp 6 binh lực của địch, bao vây tứ phía địch cốt tiêu diệt hết địch... Phải tránh những trận lợi không bù hại, hoặc được thua ngang nhau. Như vậy, xem chung (nói về số quân), thì thế ta yếu. Nhưng xem riêng từng mỗi chiến dịch, thì thế ta rất mạnh, nhất định ta thắng. Rồi dần dần ta sẽ chuyển thành thế mạnh chung cho đến khi tiêu diệt hết địch.

5. Không chuẩn bị đầy đủ thì không đánh. Không chắc thắng thì không đánh...

6. Phải nâng cao trong bộ đội cái tinh thần dũng cảm, không sợ khó nhọc, không sợ hy sinh, chiến đấu dẻo dai...

7. Ra sức đánh vận động để tiêu diệt sinh lực địch. Đồng thời cũng phải chú trọng đánh trận địa...

8. Ở những cứ điểm và thành thị, sức địch yếu, thì ta kiên quyết đánh lấy cho kỳ được. Những nơi sức của địch vừa vừa, thì ta chọn dịp tốt mà đánh lấy. Những chỗ địch giữ gìn kiên cố, ta phải chờ điều kiện chín muồi mới đánh lấy.

9. Dùng toàn bộ vũ khí và nhân viên của địch mà bổ sung cho ta...

10. Phải khéo lợi dụng những ngày giờ giữa chiến dịch này đến chiến dịch khác để nghỉ ngơi, chỉnh đốn và huấn luyện bộ đội...

Chiến lược ấy xây dựng trên nền tảng nhân dân chiến tranh, quân và dân đoàn kết nhất trí, cán bộ và chiến sĩ đoàn kết nhất trí, đẩy mạnh địch vận làm tan rã quân địch, đẩy mạnh công tác chính trị trong bộ đội”(3).

26 - 4

Đến dự Hội nghị kiểm thảo chiến dịch Đường số 18 (chiến dịch Hoàng Hoa Thám), Người nói:

“1. ... Tư tưởng có thống nhất hành động mới thống nhất, tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

2. ... Trước khi làm phải có thảo luận cho kỹ để chủ trương cho đúng và đặt kế hoạch cho sát. Nhưng khi đã quyết định rồi, có mệnh lệnh rồi thì phải tuyết đối phục tùng, phải vững lòng tin tưởng, phải quyết tâm thực hiện không một chút do dự... Sách quân sự có câu “tĩnh như núi, động như biển” là như vậy.

3. ... Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chua đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng.

4. Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ. khi minh đi nơi khác thì dân luyến tiếc”(4).

19 - 7

Người viết bài: “Nói mà nghe: Dân Mỹ chống chiến tranh” ký tên C.B: “Đế quốc Mỹ ra sức gây chiến. Song nhân dân Mỹ thì muốn hòa bình... Ý dân là ý trời. Đến quốc Mỹ làm trái ý trời, cho nên chúng sẽ thất bại”(5).

26 - 7

Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh, Người nói: “Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Họ đã làm trọn nhiệm vụ, họ không đòi hỏi gì cả. Song đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?... Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp trong một thời gian”(6).


(1) Sách đã dẫn, tr. 57.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 59.
(3) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C5/5
(4), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 71, 72, 95.
(5) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C5/23.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 08:41:21 am
Trong tháng 7

Người gửi thư khen cán bộ và chiến sĩ bộ đội địa phương Hà Đông đã cùng với bộ đội chủ lực dũng cảm đánh giặc ở Chợ Cháy, Trầm Lộng(1).

22 - 8

Người gửi thư khen bộ đội Thừa Thiên đã thắng trận ở Phú Vang và căn dặn: “1- Chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cẩn thận và cố gắng để tranh thủ thắng lợi to hơn nữa. 2- Phải luôn luôn nhớ: du kích chiến tranh là chính. Vậy các chú phải giúp đỡ du kích chiến tranh phát triển và củng cố khắp các nơi”(2).

2 - 9

Trong thư gửi lớp cán bộ cung cấp, Người chỉ rõ: “công việc cung cấp cũng quan trọng như việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận: Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ hiểu. Nhưng để làm cho đúng thì phải có một chính sách rõ rệt, một tư tưởng thấu suốt”... “Nhiệm vụ chính của cán bộ cung cấp là phụng sự đại đa số của bộ đội tức là người binh nhì, phải thương yêu săn sóc người binh nhì. Cán bộ cung cấp như là người mẹ, người chị của người binh nhì”(3).

29 - 9

Người viết thư kêu gọi ngụy binh, nói rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ ta: “Ngụy binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi mà quay về với đại gia đình kháng chiến”(4).

25 - 10

Đến thăm và nói chuyện tại trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện Chính trị - quân sự), Người căn dặn: “Quân đội ta là quân đội dân chủ, nhưng dân chủ không phải là không có mệnh lệnh. Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng và kiên quyết chấp hành, nhất là lúc tác chiến”. “Phải cố gắng học tập mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại... Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc... Nếu thuộc làu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”... “Cán bộ phải thương yêu chiến sĩ,... dù là đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng hay tiểu đoàn trưởng cũng chỉ là những người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận. Lúc ra trận, việc đặt mìn phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm... phải chăm lo cho đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”(5).

10 - 11

Trong thư gửi đồng bào và bộ đội Tả Ngạn (Liên khu III), Người chỉ rõ: “Xét tình hình kháng chiến hiện nay, nói chung là toàn quốc, nói riêng là Tả Ngạn, có dịp rất tốt để phát triển du kích chiến tranh mạnh mẽ sâu rộng và phá âm mưu cướp thóc, bắt lính, bắt phu, khủng bố của giặc”(6).

21 - 11

Người chuẩn y chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh đánh quân khi chúng tiến công ra Hòa Bình và chỉ thị: “Việc địch ra Hòa Bình có làm khó cho ta, nhưng cũng gây cơ hội cho ta đánh địch, thắng địch... Phải coi địch đánh Hòa Bình là việc ta dự đoán trước, không có gì lạ, đó chỉ là một biểu hiện của thế khó khăn, lúng túng của nó, ta khéo và quyết nhằm chỗ hở của nó mà đánh cho đúng, cho kịp thời, chuẩn bị chu đáo và bí mật thì ta sẽ ăn”(7).

Trong tháng 11

+ Người viết “Lời tựa” cho bản dịch cuốn “Tỉnh ủy bí mật” của nhà văn Phê-đô-rốp (Liên Xô): “... du kích là một lực lượng cực kỳ to lớn trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Sức du kích thật mạnh thì chiến tranh giài phóng nhất định thắng lợi. Tổ chức chặt chẽ và rộng khắp, trong vùng địch và xung quanh vùng địch, làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích, thì nó thành một tấm lưới sắt, một thứ “thiên la, địa võng” mà địch không tài gì thoát ra được... Du kích tổ chức khéo thì toàn dân gái trai già trẻ, sĩ nông công thương, ai cũng có thể tham gia”(8).

+ Viết thư gửi cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch Hòa Bình, Người chỉ rõ: “Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch...”(9).

19 - 12

+ Người viết thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh... Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(10).

+ Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 5 ngày toàn quốc kháng chiến, Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Chúng ta quyết vượt mọi khó khăn để thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”(11).

22 - 12

Người gửi điện tới đại đội 756, khi được tin chiến thắng của bộ đội ta ở sông Đà: “Bác rất hân hoan vui mừng khi được báo cáo về tin chiến thắng Lạc Song của các chú. Bác và Chính phủ quyết định tặng cho đơn vị các chú một lá cờ, tùy các chú chọn tên cho lá cờ ấy”(12).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 93, 108, 109-111, 119.
(5) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t.2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 53-56.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 125.
(7) Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 361.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 128, 129.
(10), (11) Sách đã dẫn, tr. 136-137, 143.
(12) Pháo binh nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đấu, t.1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1982, tr. 199.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:01:27 am
NĂM 1952

2 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đại đội pháo phòng không đầu tiên của ta. Người căn dặn: “Các chú phải cố gắng học tập, rèn luyện nhiều hơn nữa... Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân; thật sự yên tâm công tác, chớ có tư tưởng đứng núi này trông núi nọ”(11).

10 - 1

Người viết bài “Giữ bí mật”, ký tên C.B: “... trong chiến tranh, tình báo (đặc vụ, mật thám) là một bộ phận quan trọng bậc nhất; nó là lỗ tai con mắt của bộ chỉ huy... Cũng như muôn việc khác, việc chống tình báo địch, việc giữ bí mật, phải dựa vào sức quần chúng”(2).

25 - 2

Sau khi Hòa Bình được giải phóng, Người gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ mặt trận Hòa Bình: “So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công...”(3).

3 - 3

+ Trong bài: “Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, ký tên C.B., Người viết: “Bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi cả tính mệnh. Cụt chân gẫy tay, chân tay không thể mọc lại, người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối”(4).

+ Người viết bài “Ngụy binh giác ngộ”, ký tên C.B., “Cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, ngụy vận, xem đó là một nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn, hao binh mà được cả người lẫn súng”(5).

Trong tháng 4

Người đọc báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Trung ương Đảng (khoá II).

Về tình hình thế giới Người chỉ rõ: “Các cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc, bất kỳ gần hay xa, to hay nhỏ, đều có quan hệ với nhau. Nhưng không thể ỷ lại nhau”(6).

Về cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, Người khẳng định: “Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v... mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn”(7).

Về nhiệm vụ và công tác trước mắt, Người nêu lên ba nhiệm vụ lớn:

“- Tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích.

- Phá chính sách của địch: dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

- Bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, của kháng chiến.

Hai nhiệm vụ trên: Đánh địch về mặt quân sự và về mặt chính trị là để tiêu hao lực lượng địch. Tiêu hao lực lượng địch, bồi dưỡng lực lượng ta, hai việc ấy phải đi đôi với nhau”(8).

Để thực hiện ba nhiệm vụ trên, Người đề ra bốn công tác chính:

“1. Thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm...

2. Giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh sau lưng địch...

3. Chấn chỉnh quân đội:


… phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong việc chỉnh huấn phải lấy chính trị làm gốc, phải khởi đầu từ cán bộ dần dần đến toàn thể nhân viên. Phải chú trọng bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ công nông. Phải làm cho quân đội ta trở nên thật là một quân đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch.

4. Chỉnh Đảng. Đảng phải thật mạnh, thật trong sạch... Chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay”(9).

1 - 5

Đọc diễn văn khai mạc Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc. Người chỉ rõ: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi... Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những sóng to chảy vào bể cả”(10). Người kêu gọi:

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”
(11)


(1) Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986, tr. 78-79.
(2) Báo Nhân dân, ngày 10-1-1952.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.193.
(4) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C6/16.
(5) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6-C6/18.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.220, 234.
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.235-236, 244, 251.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:09:22 am
Trong tháng 5

Người viết bài “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu” nêu rõ mục đích, ý nghĩa và nội dung của cuộc vận động lớn này.

Người chỉ rõ: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm... Trong quân đội có quân nhu, quân giới, vận tải, v.v... là những cơ quan cần phải tiết kiệm đã đành. Các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và cũng có thể tiết kiệm”(1).

“Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô. Mà có nạn tham ô lãng phí là vì bệnh quan liêu”(2).

“Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”(3).

Trong tháng 6

Nói chuyện với Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất. Người căn dặn: “Đối với chiến sĩ phải săn sóc họ. làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy... Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”(4).

27 - 7

Người viết thu gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh, hoan nghênh “... đồng bào mấy xã ở Thanh Hóa và Phú Thọ đã sốt sắng giúp đỡ anh em thương binh, bệnh bính bằng cách đón anh em về xã và giúp đỡ anh em gây cơ sở làm ăn”. Về phần anh em thương binh, bệnh binh, Người nhắc nhở: “Phải hòa mình với nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân. Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật. Chớ bi quan chán nản. Phải luôn luôn cố gắng. Trước kia anh em đã xung phong diệt giặc thì ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất”(5).

31 - 7

Người viết bài “Mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp” ký tên C.B.: “Mâu thuẫn giữa Mỹ với Pháp ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa bọn thống trị Pháp cũng thêm sâu sắc. Mà phần lớn mâu thuẫn đó là vì Pháp thất bại ở Việt Nam. Vậy chúng ta phải cố gắng vượt mọi khó khăn, ra sức kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Ta càng thắng lợi thì mâu thuẫn giữa bọn địch càng to, chúng càng bị chia rẽ, thế chúng càng yếu, thế ta càng mạnh, chúng càng thua, ta càng thắng. Thế tức là: khéo dùng tình hình địch để làm lợi cho tình hình ta”(6).

Trong tháng 7

+ Người nói chuyện tại Hội nghị chiến tranh du kích: “Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh... Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập...

Kháng chiến phải trường kỳ, thì... du kích cũng phải trường kỳ. Nhiệm vụ hiện nay là phá âm mưu của địch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt.”(7)...

Về những công việc trước mắt, Người chỉ rõ:

“Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại... Bộ đội chủ lực trong địch hậu có nhiệm vụ giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt, giúp đỡ chứ không bao biện... Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt”(8).

- Người gặp riêng một số cán bộ ở địch hậu ra họp Hội nghị chiến tranh du kích và gợi ý chọn người thâm nhập hàng ngũ địch để hoạt động phản gián: chọn người thật trung thành, thông minh, biết giữ bí mật, biết giả làm người của chúng. Cứ ba tháng gửi báo cáo ra một lần là tốt”(9).

9 - 9

Nói chuyện với Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, Người căn dặn: “... Làm cách mạng và kháng chiến là việc khó, nhưng quyết tâm thì cũng thành công. Quyết tâm không phải ở hội trường ở lời nói mà phải quyết tâm trong công tác, trong hanh động”(10)... “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(11), “Phải nhớ rằng những quân đội cách mạng, trước hết là những người đảng viên, không sợ khó khăn mà phải khắc phục khó khăn, khi gặp một việc gì khó khăn, đơn vị nào được phụ trách thì rất lấy làm vẻ vang, những đơn vị không được phụ trách thì lấy làm buồn vì thấy mình chưa đầy đủ trình độ và năng lực để làm việc đó”(12).

1 - 10

+ Viết thư gửi cán bộ và chiến sĩ tham gia chiến dịch Tây Bắc, Người chỉ rõ: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng”(13).

+ Trong thư gửi anh chị em dân công phục vụ chiến dịch, căn dặn: “Các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng anh em bộ đội giành cho được thắng lợi”(14).

19 - 12

+ Người viết “Lời kêu gọi” nhân kỷ niệm 6 năm toàn quốc kháng chiến. Mở đầu, Người viết: “... Chúng ta bước sang năm thứ 7 của cuộc kháng chiến toàn quốc. Mọi người đều thấy rõ rằng ta càng ngày càng mạnh, địch càng ngày càng yếu. Từ chiến dịch Biên Giới cuối năm 1950 đến nay, chiến trường Bắc Bộ, ta đã giành và giữ chủ động, còn địch thì bị động”(15).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 260.
(2), (3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 265, 266, 284, 288, 289.
(6) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H6 - C6/59.
(7)Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 292-293.
(8) Sách đã dẫn, tr. 296-297.
(9) Theo: báo Nhân dân, ngày 6-2-1989.
(10), (11), (12), (13), (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 308, 310, 311, 322, 323.
(15) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 325


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:17:14 am
NĂM 1953

Từ 25 đến 30 -1

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và đọc báo cáo tại Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng (khóa II).

Phân tích âm mưu và thất bại của địch, Người chỉ rõ : “... từ nay cuộc chiến tranh giữa ta với địch sẽ gay go, phức tạp hơn”(1).

Về nhiệm vụ kháng chiến, Người nhấn mạnh: “Để đánh thắng thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn chó săn của chúng, ta phải có một quân đội nhân dân thật mạnh và luôn luôn tiến bộ”(2).

Người nêu lên những việc phải làm về mặt chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự:

1. Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay.

2. Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bắc Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc ăn chắc, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đên mà đánh... tạo điều kiện cho vận động chiến.

3. Chiến trường sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; ... mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch.

4. ... Xây dựng những tổ chức dân quân, du kích không thoát ly sản xuất...

5. Về việc chỉ đạo quân sự cần phải kết hợp những hình thức đấu tranh nói trên một cách linh hoạt, khôn khéo...

6. Trong sự chỉ đạo các hình thức đấu tranh nói trên, cần phải thiết thực nhận rõ tính chất trường kỳ của kháng chiến... phải rất chú ý giữ gìn sức chiến đấu nhất định của bộ đội...

7. Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta...

8. Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết là phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ... Đó là khâu chính trong các thứ công tác. Phải tăng cường công tác của Bộ Tổng Tham mưu và của Tổng cục Cung cấp...

9. Phải có kế hoạch chung về việc xây dựng và bổ sung bộ đội...

10. Cần phải tăng cường và cải thiện dần dần việc trang bị cho bộ đội nhất là xây dựng pháo binh”(3).

5 - 2

Người viết thư gửi Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc: “Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, ắt phải dựa vào quần chúng nông dân, muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ”(4).

Trong tháng 2

Đến thăm trung đoàn 45, đơn vị pháo 105mm đầu tiên của quân đội ta. Người nói với cán bộ, chiến sĩ: Muốn thắng địch phải đưa pháo đi xa, khiêng, kéo pháo vào gần địch mà bắn, bắn trăm phát trúng cả trăm thì đồn nào mà không hạ được”(5).

3 - 4

+ Người viết bài “Cách mạng và kháng chiến”, ký tên Đ.X.: “Ngày nay, ta có chính quyền nhân dân mạnh mẽ, có mặt trận dân tộc vững chắc. Có quân đội nhân dân hùng mạnh. Có Đảng Lao động tiếp tục truyền thống anh dũng của Đảng Cộng sản Đông Dương... Nhân dân ta ngày thêm đoàn kết chật chẽ. Đó là điều kiện làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi”(6).

+ Người viết thu gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ cùng với bộ đội Pa-thét Lào phối hợp lác chiến ở Thượng Lào: “Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”(7).

Người căn dặn: Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn; tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam”(8).

Tháng 6

Viết thư gửi Hội nghị cán bộ của Tổng cục Cung cấp, Người căn dặn: “Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách toàn nhiệm… toàn lực phục vụ bộ đội. Chớ tham ô, chớ lãng phí một đồng tiền, một bát gạo, một ngày công của nhân dân đóng góp cho bộ đội. Phải thật lòng thương yêu binh sĩ. Phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của binh sĩ, phải coi binh sĩ như anh em ruột thịt của mình”(9).


(1), (2) 2, 3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 338, 339.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 339-342.
(4) Sách đã dẫn, tr. 353.
(5) Theo: Bác của chúng ta, tr. 228.
(6) Báo Cứu quốc, ngày 3-4-1953.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 401.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.415-416


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:24:50 am
7 - 8

Người nói chuyện tại lớp chỉnh huấn nhân sĩ và trí thức công tác tại các cơ quan Trung ương. Nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Triều Tiên, Người chỉ rõ: “Triều Tiên cho ta thấy kinh nghiệm là phải đánh bao giờ cho đế quốc qụy, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán... Ta cũng phải đánh cho Pháp qụy, lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán... Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1% nó vẫn đánh. Phải đánh nó quỵ nó mới chịu”(1).

26 - 8

Người ra “Lời kêu gọi” nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và ngày Độc lập mồng 2 tháng 9: “Kiểm điểm lại mấy năm kháng chiến vừa qua, chúng ta thấy rõ: Thế ta ngày càng mạnh, thế địch ngày càng yếu”, “... thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bè lũ bù nhìn, một mặt tung ra luận điệu hòa bình giả dối, độc lập giả hiệu và những cải cách lừa bịp, hòng làm giảm bớt tinh thần quyết chiến của nhân dân ta. Mặt khác chúng gấp rút tập trung, tăng thêm quân đội và vũ khí để đẩy mạnh chiến tranh hơn nữa. Vậy quân và dân ta phải luôn luôn tỉnh táo, luôn luôn chuẩn bị để đánh tan âm mưu của chúng, đánh tan tư tưởng sợ Mỹ, tư tưởng sợ gian khổ, ảo tưởng hòa bình”(2).

16 - 9

Người viết thư gửi Hội nghị cán bộ giao thông công chính: “Năm nay công tác giao thông vận tải, nhất là công tác sửa chữa đường cầu, rất là quan trọng. Đường sá thông thì mọi việc đều dễ dàng”(3).

Trong tháng 9

Người cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn chủ trương tác chiến đông-xuân và thông qua phương án đưa bộ đội chủ lực tác chiến ở vùng Tây Bắc Việt Nam và phối hợp với bạn tác chiến ở Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Người kết luận: “Phương hướng chiến lược không thay đổi”(4).

11 - 11

Người viết bài: “Lấy xương máu Pháp đổi đô-la Mỹ”, ký tên C.B.: “Mỹ đã thất bại ở miền Bắc châu Á (Triều Tiên). Chúng đang âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh ở miền Nam (Việt - Miên - Lào). Chúng “giúp” thêm Pháp tiền bạc và vũ khí, với hai mục đích: một mặt để làm cho Pháp càng yếu ở Tây Âu và càng phụ thuộc vào Mỹ. Mặt khác, dùng Pháp đánh thuê cho chúng, hòng dùng xương máu người Pháp xây dựng căn cứ cho Mỹ ở Việt - Miên - Lào(5).

Từ 1 đến 4 -12

Người tham dự và đọc báo cáo tại Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 3. Về chủ trương thực hiện cải cách ruộng đất, Người nói: “Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Chỉ có phát động quần chúng cải cách ruộng đất, ta mới tiến hành những công việc đó được thuận lợi”(6).

“Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng tổ chức và lãnh đạo, để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan”(7).

6 - 12

Người chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định tình hình chiến sự đông xuân 1953-1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ rõ: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”(8).

Khoáng giữa tháng 12

+ Người gửi thư cho cán bộ và chiến sĩ ở Mặt trận Điện Biên Phủ: “Thu đông năm nay, các chú lại có nhiệm vụ tiến quân vào Điện Biên Phủ để tiêu diệt thêm sinh lực địch, mở rộng thêm căn cứ kháng chiến, giải phóng thêm đồng bào còn bị giặc đè nén... Các chú phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh:

Quyết tâm tiêu diệt địch. Quyết tâm giữ vững chính sách, Quyết tâm giành nhiều thắng lợi”(9).

22 - 12

Người viết thư gửi chiến sĩ và cán bộ nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân. Người quyết định “cho mỗi đại đoàn và mỗi liên khu một lá cờ quyết thắng” để làm giải thưởng luân lưu”.


(1) Sách đã dẫn, 438-439.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 454-459.
(3) Sách đã dẫn, tr. 463.
(4) Theo: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, tr. 531.
(5) Báo Nhân dân, ngày 11-11-1953.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 507, 514.
(8) Theo: Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 194.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 526.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:42:23 am
NĂM 1954

21 - 1

Chù tịch Hồ Chí Minh viết bài: “Lênin dạy”, ký tên C.B.: Trong bài có đoạn: “Phải có một quân đội đánh giỏi và một hậu phương vững chắc. Mỗi một người công nhân, mỗi một người nông dân đều phải biết đánh giặc. Tất cả cho tiến tuyến, tất cả để đánh thắng”(1).

15 - 4

Người viết bái “Ai âm mưu gây chiến”, ký tên C.B., chỉ rõ: “Mỹ là thủ phạm âm mưu gây chiến. Nhưng kinh nghiệm đã chứng tỏ: Mỹ thất bại ở Trung Quốc, đã thất bại ở Triều Xiên, thì ở Việt - Miên - Lào, Mỹ cũng sẽ thất bại”(2).

Trong tháng 4

Tiếp nhà báo Bớc-sét, Người nói về trận Điện Biên Phủ. Lật ngửa chiếc mũ trên bàn, đưa mấy ngón tay vòng quanh vành mũ, Người nói: - Đây là rừng núi, nơi có lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được - tuy có thể mất một ít thời gian(3).

8 - 5

Người gửi thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ và nhắc nhở: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”(4).

Trong tháng 5

Tại cuộc họp Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về chủ trương đàm phán ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, Người nói: “Ta kháng chiến, ta đàm phán cũng đều nhằm một mục đích giành độc lập thống nhất thật sự cho dân tộc. Hiện nay súng ở trên mặt trận bắn càng nhiều, càng trúng địch chừng nào thì trên bàn họp Giơ-ne-vơ ta lại càng thêm lợi thế chính trị chừng ấy. Giải quyết vấn đề theo nguyên tắc có lợi cho ta và địch có thể thừa nhận, nhưng trước hết là có lợi cho ta. Giải quyết vấn đề là phải có quan điểm toàn cục. Trong Hội nghị Giơ-ne-vơ ít nhất phải tranh thủ được thắng lợi chính trị”(5).

Từ 26 - 5 đến 7 - 6

Báo Cứu quốc đăng bài “Mẩu chuyện về Điện Biên Phủ” của Người với bút danh Đ.X. Nội dung vạch rõ âm mưu và thất bại của Pháp - Mỹ, thắng lợi của ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ rõ: “Điện Biên Phủ là một thất bại đau đớn cho thực dân Pháp, càng là một thất bại nhục nhã cho bọn can thiệp Mỹ. Vì Mỹ đã định ra kế hoạch Na-va, đã giúp tiền bạc và vũ khí để thực hiện kế hoạch ấy... Thế là Mỹ dần dần trở nên kẻ địch chính của quân đội và nhân dân ta”(6).

28 - 6

Người gửi thư khen ngợi chiến sĩ và cán bộ Liên khu V đã thắng trận ở An Khê, tiêu diệt binh đoàn cơ động số 100 của địch và căn dặn: “... toàn thể chiến sĩ và cán bộ cần phải cố gắng: nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công, ra sức dân vận, ngụy vận. Chớ nên vì thắng mà kiêu, chủ quan khinh địch; ra sức tranh lấy thành tích to hơn nữa”(7).

Từ 13 đến 18 - 7

Tham dự và đọc báo cáo “Tình hình mới và nhiệm vụ mới” tại Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng (khóa II), Người nêu rõ: “Bây giờ Pháp thì đang nói chuyện với ta, đế quốc Mỹ thì đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp, mũi nhọn của ta phải chĩa vào đế quốc Mỹ”(8)... Trước kia khẩu hiệu của ta là “Kháng chiến đến cùng”. Nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là “hòa bình,thống nhất, độc lập, dân chủ”(9).

“Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy được, chuẩn bị trước”(10)... Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng, không kịp thời lãnh đạo, thì tư tưởng sẽ hỗn loạn, hành động sẽ hỗn loạn. Những tư tưởng sai lầm có thể xảy ra như sau: “Tả” khuynh, có người thấy thắng luôn, muốn đánh bừa, đánh đến cùng, họ chỉ thấy cây không thấy rừng, chỉ thấy Pháp rút mà không thấy âm mưu của chúng; chỉ thấy Pháp không thấy Mỹ, thiên về tác chiến, xem khinh ngoại giao... “Tả” khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân ta và nhân dân thế giới và sẽ thất bại. Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc”(11).

“Tình hình mới định ra ba nhiệm vụ mới là:

1. Tranh thủ và củng cố hòa bình, hoàn thành thống nhất, độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

2. Tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình thế mới.

3. Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng: ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà”(12).

22 - 7

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Người ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí... Chúng ta phải ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta”(13).

12 - 8

Tiếp Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam, Người nói: “Hiệp định đình chiến ở Đông Dương ký kết tại Hội nghị Giơ-ne-vơ không những có một ý nghĩa to lớn đối với Đông Dương và Đông Nam Á, mà nó còn mở đường cho hòa bình lâu dài ở châu Á và làm cho tình hình quốc tế bớt găng”. “Nhưng chúng ta phải nhận rõ ràng: đình chiến mới chỉ là một bước đầu trong sự giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam...”(14).


(1) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 223.
(2) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 224, 225.
(3) U. Bớc-sét, Hồi ký, Nxb Thông tin lý luận, H. 1980, tr. 254-255.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 551.
(5) Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 570.
(6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 564-565, 571, 584, 586.
(10), (11), (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 587, 588.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 3-4.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 10 - 11


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:46:42 am
Cuối tháng 8

Nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mồng tháng 9, Người ra lời kêu gọi: “Nhiệm vụ mới đặt cho chúng ta những công tác cần kíp như sau:

Chúng ta phải củng cố quân đội nhân dân là lực chốt để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình.

- Chúng ta phải tiếp tục thực hiện “Người cày có ruộng” để giải phóng nông dân...

- Ở vùng Pháp tạm đóng quân, nhân dân ta sẽ đấu tranh bằng chính trị”(1).

19 - 9

Người nói chuyện với các cán bộ Đại đoàn 308 tại đền Hùng (Phú Thọ): Bộ đội ta đánh giặc giỏi, nhưng làm sao phải chiếm được lòng dân. Không phải chiến thắng rồi về muốn làm gì thì làm. Nắm lấy dân, để dân tin cậy đó là điều quan trọng. Cúc chú phải lo việc tiếp quản Thủ đô cho chu đáo... Phải bảo vệ tài sản trong thành phố, bây giờ thuộc về nhân dân, chứ không thuộc về kẻ địch mà ta phá phách, Đối với kẻ thù, khi nó phá hoại, chống đối thì ta ra tay trừng trị. Còn khi nó đã hạ súng quy hàng thì ta phải đối xử với nó nhân đạo(2).

... Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa, các Vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước(3)

Người căn dặn: Quân đội ta không được vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ(4).

21 - 9

Người viết thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc: “... Nam, Bắc vẫn là một nhà. Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”(5).

Đầu tháng 10

Người căn dặn các đơn vị bộ đội vào tiếp quản Thủ đô: “... về thành thị... phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi bằng hòa bình”...

“- Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân.

- Phải khiêm tôn nghiêm chỉnh.

Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng...

- Phải luôn luôn cảnh giác...”(6).

19 - 11

Trong bài “Nhân dân với quân đội”, ký tên C.B. Người viết: “Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu quân đội... đồng bào muốn cho quân đội của mình gương mẫu về mọi mặt, không những chiến đấu dũng cảm, mà lại có thái độ nghiêm trang...”(7).

19 - 12

Người ra “Lời kêu gọi” nhân kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến: “Hôm nay, lần đầu tiên chúng ta kỷ niệm kháng chiến trong hoàn cảnh hòa bình. Nhưng chúng ta phải biết rằng: so với đấu tranh vũ trang trong kháng chiến, thì đấu tranh chính trị trong hòa bình cũng phải trường kỳ và gian khổ và còn gay go, phức tạp hơn”(8).

22 - 12

Viết thư gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ nhân kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập Quân đội, Người chỉ rõ: trước tình hình mới, nhiệm vụ của các chú là phải làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”(9).

Trong tháng 12

Đến thăm và nói chuyện với cáo đơn vị đang tập luyện để tham dự cuộc duyệt binh ngày 1 tháng 1 năm 1955 tại Hà Nội. Người chỉ rõ: “Nhiệm vụ của quân đội hiện nay là phải cố gắng tiến lên chính quy. Đây là nhiệm vụ mới. Không nên vì hòa bình mà sao lãng học tập... Cần học chính trị để nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, để đi đúng đường lối của nhân dân. Phải học tập kỹ thuật, vì kỹ thuật ngày càng tiến bộ”(10).

31 - 12

Người cùng đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước đến đặt vòng hoa ở nghĩa trang liệt sĩ. Mở đầu lễ viếng, Người nói: “... Trong lúc cả nước vui đón năm mới và mừng Chính phủ về Thủ đô, mọi người đều thương tiếc và nhớ ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc”(11).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 24 - 25.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H. 25-C6/22.
(3) Hồ Chí Minh - Những sự kiên, tr. 205.
(4) Bác Hồ với Vĩnh Phú - Ty Văn hóa Vĩnh Phú xuất bản, 1975, tr. 13.
(5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 37.
(6) Sách đã dẫn, tr. 44 - 45.
(7) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H7-C3/10.
(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 85, 98.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 123.
(11) Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 159.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:36:17 pm
NĂM 1955

1 - 1

Đọc diễn văn tại cuộc mít tinh của nhân dân đón mừng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nam - Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được... Chúng ta phải tỉnh táo đề phòng, phải kiên quyết chống âm mưu đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vào Đông Dương xúi giục bọn tay sai của chúng phá hoại Hiệp định đình chiến, phá hoại hòa bình...”(1).

2 - 2

Người viết bài “Xem cuộc trưng bày của Quân đội nhân dân ta”, ký tên C.B. “Xem cuộc trưng bày của quân đội nhân dân ta là như xem cả pho lịch sử vẻ vang của toàn dân kháng chiến... Em nhi đồng miền Nam ung dung tự thiêu mình để đốt kho dầu của địch. Cụ lão du kích miền Bắc hiên ngang dùng cung nỏ bắn tỉa quân thù. Chị dân công miền núi xông pha bom đạn, tiếp tế cho bộ đội trước mặt trận. Anh công nhân miền xuôi trèo non lội suối, quyết tâm cõng cả nhà máy vũ khí vào hang đá rừng xanh. Bà con nông dân vui vẻ nhường cơm cho bộ đội ăn để đủ sức đánh giặc. Người cán bộ trí thức không quản ăn đói mặc rách, một người làm công việc của ba, bốn người. Anh cán bộ bí mật bị địch cưa chân mổ bụng, không chịu khai nửa lời. Bà mẹ già cho tất cả sáu, bảy người con vào bộ đội. Những chiến sĩ lao mình chặn miệng súng địch, để đơn vị ta tiến lên. Những làng chiến đấu. Những đội xung phong. Tất cả, tất cả mọi người mọi nơi chỉ theo một mục đích: diệt thù, cứu nước. Anh hùng thay dân tộc Việt Nam!”(2).

2 - 6

Về thăm và nói chuyện với các đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng, Người căn dặn: “Bộ đội và công an phải hết sức cảnh giác, không được chủ quan, khinh địch, phải dựa vào lực lượng của nhân dân, phải làm cho mỗi người dân hiểu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì sẽ có hàng triệu người làm tai mắt giúp công an, giúp bộ đội. Bọn phá hoại không sao lọt được cái lưới tai mắt của nhân dân”(3).

18 - 6

Trong bài “Đường số 5 anh dũng”, ký tên C.B., Người viết: “Từ ngày bắt đầu chiến tranh, đường số 5 trở thành cái cuống họng của địch... Suốt mấy năm, trong vùng đó địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta”(4).

31 - 8

Nói chuyện tại buổi lễ tuyên dương Anh hùng quân đội, Người nhắc nhở: “... ngày nay, các chú phải thi đua xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”. “... phải luôn luôn cố gắng, tiến bộ mãi. Phải khiêm tốn và gần gũi anh em, làm gương mẫu về mọi mặt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, chuyên môn và văn hóa. Phải trau dồi đạo đức cách mạng, phải thường xuyên phê bình và tự phê bình. Tuyệt đối chớ tự cao tự đại...”(5).

10 - 9

Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Người chỉ rõ: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt. Muốn thực, hiện Cương lĩnh của Mặt trận, thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi chứ quyết không phải là hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc”(6).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 129-130.
(2), (4)  Hồ Chí Minh. Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 290 - 291, 298.
(3)  Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 253-254.
(5), (6)  Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 302, 303, 331.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:42:26 pm
NĂM 1956

5 - 1

Đến thăm tiểu đoàn 11, trung đoàn Ba Vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen đơn vị tích cực luyện tập và nói: “Xây dựng quân đội chính quy, hiện đại là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Cả nước chăm lo xây dựng quân đội. Bởi vậy, các cháu phải cố gắng họe tập. Từ trước đến nay bộ đội ta còn nhiều thói quen đu kích. Bây giờ xây dựng chính quy, có nhiều cái mới và khó khăn. Các cấp ủy phải quan tâm đến việc học tập và đời sống bộ đội”(1).

Trong bài “Mật thám Mỹ”, ký tên C.B. Người viết: “Chống bọn phá hoại cũng như chống mật thám Mỹ, cách tốt nhất là tổ chức và giáo dục nhân dân đến nơi đến chốn. Lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần cảnh giác của nhân dân, cộng với sự cố gắng của bộ đội và công an - là cái lưới “thiên la địa võng”, bất kỳ bọn phá hoại nào, bọn mật thám nào cũng không lọt được cái lưới ấy của nhân dân”(2).

Trong tháng 1

Người nói chuyện với Hội nghị lần thứ 10 Công an toàn quốc: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là Quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại”. “Đánh địch phải đánh cho đúng, như “đánh rắn phải đánh giập đầu”. Cần phải điều tra, nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận”(3).

24 - 4

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Đảng (khóa II), Người nói: “Trong khi nhận định sự có thể ngăn ngừa chiến tranh, chúng ta phải cảnh giác đối với âm mưu của bọn gây chiến; vì chủ nghĩa đế quốc hãy còn, thì còn có nguy cơ chiến tranh”. “Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hòa bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nửa đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh, vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hòa bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác”(4).

7 - 5

Nói chuyện tại buổi lễ tuyên dương Anh hùng quân đội lần thứ ba, Người căn dặn: “Quân đội ta phải tiến đến chính quy và hiện đại hóa để bảo vệ công cuộc xây dựng miền Bắc vững mạnh, và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên nền tảng độc lập, dân chủ, bằng phương pháp hòa bình. Đó là một nhiệm vụ to lớn, vẻ vang, nặng nề và khó khăn gian khổ. Cho nên toàn quân ta phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hóa; phải thi đua làm trọn nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ bờ biển, bảo vệ thành thị và giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân. Đồng thời, bộ đội ta phải ra sức tham gia và giúp đỡ nhân dân thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1956”(5).

9 - 5

Trong bài “Chiến sĩ ta thật anh dũng”, bút danh C.B, Người viết: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Chiến sĩ ta là chiến sĩ anh dũng; trong kháng chiến thì hăng hái xung phong giết giặc, giữ gìn non sông; trong hòa bình thì kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, giúp đỡ nhân dân xây dựng... Chúng ta có thể tự hào mà nói rằng: Bất kỳ lúc nào và phụ trách việc gì, chiến sĩ ta cũng anh dũng”(6).

19 - 6

Người viết thư gửi cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc: “Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Cho nên mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam. Vì vậy, các cô các chú hoạt động ở đây cũng như đấu tranh ở miền Nam, tức là đấu tranh cho miền Nam và cho cả nước Việt Nam”(7).

6 - 7

Trước tình hình đế quốc Mỹ và bọn tay sai phá hoại tổng tuyển cử tự do đúng kỳ hạn như Hiệp định Giơ-ne-vơ đã quy định, Người viết thư gửi đồng bào cả nước: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”(8).


(1) Trung đoàn Ba Vì, t. 1, Quân đoàn 1 xuất bản, 1989, tr. 99 - 100.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 383 - 384, 385 - 386.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 427, 433.
(6) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H8-C2/23.
(7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 454, 464.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:45:33 pm
NĂM 1957

Tháng 3

Người chủ trì Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng (khóa II). Hội nghị đã ra nghị quyết về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và thông qua kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội (1956 - 1960).

16 - 5

Nói chuyện tại Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp trong quân đội. Người chỉ rõ: “... về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, năm nay, một mặt phải tiếp tục thực hiện kế hoạch huấn luyện cho quân đội, một mặt phải chuẩn bị thực hiện các chế độ chính quy và phải nghiên cứu giải quyết dần các vấn đề củng cố hậu phương. Đó là nhiệm vụ rất to lớn, rất quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta”(1).

Trong tháng 5

+ Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung cao cấp của Bộ Quốc phòng và các tổng cục, Người căn dặn: “Tiếp tục học tập nâng cao lập trường tư tưởng và trình độ kỹ thuật của mình. Kỹ thuật hiện nay càng ngày càng tiến, không gắng học tập thì sẽ lạc hậu. Phải cố gắng xây dựng được nền nếp chính quy trong đơn vị. Có người nói: “Trước ta chẳng chính quy gì cũng đánh thắng!”. Không đúng. Tình thế ngày một tiến. Trước là thời kỳ khác, nay là thời kỳ khác”(2).

+ Đến theo dõi cuộc diễn tập của sư đoàn 308 tại Sơn Tây, Người nói với cán bộ, chiến sĩ: Tác chiến của bộ đội chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với chiến tranh du kích của toàn dân. Cần rút kinh nghiệm và phát huy những truyền thống tốt đẹp của sư đoàn trong kháng chiến chống Pháp vào nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng đơn vị(3).

6 - 11

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng tháng Mười Nga, Người viết bài “Cách mạng tháng Mười và sự nghiệp giải phóng các dân tộc phương Đông”.

Nêu lên thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười, Người kết luận: “Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đang tiếp tục sụp đổ, không thể nào tránh được; vấn đề tiêu diệt hoàn toàn chế độ thuộc địa hiện nay là vấn đề trước mắt. Các dân tộc phương Đông đang đứng dậy chống bọn xâm lược và quyết không để cho ai áp bức mình nữa”(4).

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người khái quát những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc:

Dựa vào mặt dân tộc rộng rãi chống chủ nghĩa đế quốc;

- Giải quyết vấn đề nông dân;

- Có được một quân đội nhân dân;

- Được sự giúp đỡ anh em của nhân dân và giai cấp vô sản các nước;

- Do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo”(5).

Trong tháng 12

Tại Hội nghị lần thứ 13 của Trung ương Đảng (khóa II) Người đọc báo cáo nêu rõ: “Ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm. Tuy vậy, nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chù nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới. Miền Bắc có được củng cố và tiến lên chủ nghĩa xã hội thì ta mới có cơ sở vững chắc bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Ngược lại, lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển thì đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Đồng thời là hậu thuẫn mạnh mẽ cho sự nghiệp giữ vững hòa bình, củng cố miền Bắc”(6).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 628.
(2), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 675, 880.
(3) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 72.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 7, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 883.
(6) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 49


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:48:11 pm
NĂM 1958

20 - 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân về nhiệm vụ trước mắt của quân đội: “Một là chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ đó bao gồm việc xây dựng quân đội thường trực và xây dựng lực lượng hậu bị. Hai là tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng và củng cố hậu phương. Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau vì đều nhằm làm cho quân đội ta ngày càng mạnh và miền Bắc ngày càng vững chắc”(1).

28 - 3

Người gửi thư khen cán bộ và chiến sĩ sư đoàn 335 “đã quyết tâm triệt để chấp hành nhiệm vụ mới, yên tâm và phấn khởi tham gia công cuộc củng cố và xây dựng khu Tây Bắc thành một hậu phương vững chắc của miền Bắc chúng ta...”(2).

7 - 5

Trong bài “Điện Biên Phủ”, ký tên C.B., Người viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đế quốc hùng mạnh đã bị nhân dân một nước thuộc địa đánh cho tan tành tả tơi và phải cút về nước... Ngoài việc đánh đuổi thực dân, kinh nghiệm kháng chiến nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng, có hai ý nghĩa to lớn:

- Nó đã khuyến khích cho nhân dân bị áp bức ở Á - Phi nổi đậy chống chủ nghĩa thực dân, giành giải phóng dân tộc.

Nó chứng tỏ rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ ta và nhân dân ta đoàn kết, nhất trí thì khó khăn gì cũng khắc phục được, công việc to lớn mấy cũng làm được. Sự nghiệp cách mạng và kháng chiến cũng vậy, công cuộc xây dựng nước nhà tiến dần lên chủ nghĩa xã hội cũng như vậy”(3).

16 - 8

Trong thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người viết: “Bảo vệ hòa bình tức là chống chiến tranh. Ai cũng biết kẻ gây ra chiến tranh là chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Cho nên, muốn chống chiến tranh, muốn bảo vệ hòa bình thì phải chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu”(4).

22 - 12

Nói chuyện tại buổi lễ phong quân hàm cho cán bộ cao cấp quân đội, người chỉ rõ: “...quân đội ta phải là một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại. Nhiệm vụ của quân đội như vậy, cho nên trách nhiệm của cán bộ rất nặng nề... Dù ở cương vị nào, các đồng chí đều phải luôn luôn gương mẫu, luôn luôn xứng đáng là người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân”(5).


(1) Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 361.
(2) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 344.
(3) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H5-C5/17.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H. 1960, tr. 691 - 692.
(5) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 354.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:56:13 pm
NĂM 1959

7 - 1

Trong bài “Tình hữu nghị vô sản thắng lợi” đăng trên báo Tin tức (Liên Xô), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bọn thực dân Pháp, trước khi cút về nước, đã dâng miền Nam nước chúng tôi cho bọn đế quốc Mỹ và bọn này cố biến miền Nam nước chúng tôi thành thuộc địa và căn cứ quân sự của chúng. Như vậy là ở Đông Nam châu Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hòa bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh”(1).

Từ 12 đến 21 - 1

Người chủ trì Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (khóa II) bàn về nhiệm vụ cách mạng miền Nam. Kết luận Hội nghị, Người chỉ rõ: “Niệm vụ cứu nước là của toàn Đảng, toàn dân... phải đặt chung miền Nam Việt Nam trong cách mạng chung của cả nước và cách mạng nước ta trong cách mạng thế giới... Ta giương cao ngọn cờ hòa bình vì rất có lợi cho ta. Nhưng hòa bình không phải là ta không chuẩn bị lực lượng... Nếu ta tổ chức lực lượng chính trị cho tốt, khi cần vũ trang sẽ không khó”(2).

Đầu tháng 3

Đến dự lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang, Người nói: “Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau...”. “Công an nhân dân vũ trang, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”(3).

30 - 3

Đến thăm Hải quân, người nói với cán bộ, chiến sĩ: Dù ở nhiệm vụ nào cũng phải thường xuyên rèn luyện toàn diện, phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành(4).

4 - 4

Người đến xem và ghi cảm tưởng tại triển lãm Hậu cần quân đội: “... quân đội ta đã cố gắng nhiều và đã có thành tích khá trên con đường cải tiến kỹ thuật, nhằm tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”... “Đó là một bước tiến đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật, như một đóa hoa báo hiệu mùa xuân. Nhưng nó đã chứng tỏ rằng trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng vô tận. Cấp lãnh đạo phải khéo khuyến khích, giúp đỡ, hướng dẫn, vun trồng...”(5).

21 - 5

Người đến thăm lớp học chính trị của cán bộ trung, cao cấp pháo binh và căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, con người có đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa... Phải tiếp tục học tập và đấu tranh tư tưởng, chớ chủ quan, tự phụ, phải cố gắng tiến bộ mãi”(6).

19 - 11

Trong bài “Đế quốc Mỹ tiến gần miệng hố” ký tên T.L., Người viết: “... Mỹ - Diệm càng hung tàn thì nhân dân miền Nam càng đấu tranh kiên quyết, bền bỉ. Chính sách hung tàn không phải là dấu hiệu sự mạnh mẽ của Mỹ - Diệm, nó là dấu hiệu sự ươn hèn của chúng. Đó là dấu hiệu “chó dại cắn càn”(7).

22 - 12

Người đọc lời chào mừng trong buổi chiêu đãi nhân dịp kỳ niệm quân đội ta 15 tuổi: “Chúng ta có thể nói quân đội của chúng ta là một quân đội anh hùng, vì lúc đầu với gậy tầm vông, với súng kíp mà trải qua chín năm kháng chiến, chúng ta đã đánh thắng quân đội xâm lược của bọn đế quốc. Quân đội chúng ta anh hùng trong kháng chiến mà cũng anh hùng trong hòa bình”(8).

18 - 12

Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, người đọc báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi, trong đó có đoạn: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại được độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân”... “Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và của cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ rằng một dân tộc dù nhỏ yếu, nhưng đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng của nó, đi đúng đường lối của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì nhất định đánh thắng được đế quốc xâm lược”(9).

Trong năm

Trong “Lời tựa” cuốn Hồ Chí Minh – Những bài viết và nói chọn lọc, bản tiếng Nga do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Mát-xcơ-va xuất bản, Người viết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(10). “... trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và Đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”(11).


(1) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H. 1960, tr. 703.
(2) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 90.
(3) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 357 - 358.
(4) Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 985, tr. 68.
(5) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 361.
(6) Pháo binh nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đấu, t. II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1984, tr. 39 - 40.
(7) Báo Nhân dân, ngày 9-11-1959.
(8) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 363.
(9), (10) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 123, 114.
(11) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 116.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:59:44 pm
NĂM 1960

6 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Ba mươi năm hoạt động của Đảng”. Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người rút ra những bài học lớn:

Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối chính sách đúng đắn...

- ... Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố được liên minh công nông...

- Đảng ta đã khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện đoàn kết dân tộc để đấu tranh chống đế quốc và phong kiến...

... Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(1).

28-4

Người ký sắc lệnh số 11/SL công bố Luật Nghĩa vụ quân sự.

Trong tháng 4

Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Người viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(2).

21 - 7

Nói chuyện tại Đại hội Đảng toàn quân, Người căn dặn: “Thứ nhất là phải đoàn kết: đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết các ngành với nhau. Đồng thời phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ bí mật quân sự, bí mật quốc gia... Thứ hai là phải cố gắng thi đua. Bộ đội cần lấy thi đua huấn luyện quân sự làm chính... Thứ ba là phải chịu khó lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... Thứ tư là phải giữ kỳ luật cho nghiêm túc để xứng đáng là một quân đội cách mạng”(3).

Từ 5 đến 10 - 9

Ngày 5 tháng 9, đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người chỉ rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà... Miền Bắc giàu mạnh là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà... Dân tộc ta ]à một, nước Việt Nam là một. Nhâu dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam - Bắc một nhà”(4).

“Nhân dân ta đã từng đau khổ vì bọn đế quốc và ngày nay còn bị Mỹ - Diệm chia cắt đất nước, giày xéo miến Nam. Ngày nào mả chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng được miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ - Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên. Bởi vậy không thể nào tách rời cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất nước nhà với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ”(5).

Ngày 10-9, đọc diễn văn bế mạc Đại hội, Người nói: “Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn được chúng ta đi từ thắng lợi nãy đến thắng lợi khác”(6).

Trong tháng 10

Đến thăm Hội nghị mừng công của trung đoàn hàng không đầu tiên của quân đội ta, Người nói: Các chiến sĩ lái máy bay là những người lao động đặc biệt, vì không phải chỉ cầm súng, cầm lái, đấu tranh với kẻ địch, thiên nhiên và kỹ thuật, mà còn phải làm việc đó ngay trên trời cao, đòi hỏi phải tiêu hao rất nhiều sức lực và năng lượng. Vì vậy Đảng và Nhà nước phải chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ để bù đắp lại sức lực đã tiêu hao hao. Nhưng nếu chỉ có chiến sĩ lái máy bay thôi thì không đủ. Muốn lái máy bay tốt, an toàn, các chiến sĩ thợ máy phải làm việc giỏi, lại phải có người chỉ huy vạch đường chỉ hướng đúng đắn, có người dẫn đường, thông báo thời tiết chính xác, lại còn phải có sân bay sạch sẽ, đường băng quang quẻ, vững chắc:.., Mọi người phải được ăn uống no đủ... Vậy là tất cả các cô, chú đều góp công sức vào cho các chuyến bay được đến đích, nhanh chóng và an toàn...(7).


(1) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 116, 165 - 167.
(2) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 176.
(3) Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 373.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 185, 188.
(6) Theo: Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 309.
(7) Theo: Bác của chúng ta, tr. 185 - 186.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 03:25:34 pm
NĂM 1961

20 - 2

Về thăm Pắc Bó, Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ và nhân dân: Muốn giải phóng miền Nam thì miền Bắc phải mạnh. Muốn miền Bắc mạnh thì miền xuôi, miền ngược mọi người đều phải thi đua lao động, sản xuất. Riêng với đồng bào miền núi, còn phải ra sức xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, lực lượng bộ đội mạnh, để giữ gìn an ninh, trật tự. Ai cũng phải nâng cao cảnh giác, lúc thường phải lo lúc biến(1).

25 - 2

Trong phiên họp kết thúc Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về nhiệm vụ quân sự 1961 - 1965, Người nói: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Quân đội phải gắn chặt với dân. Trong quân đội tác phong đồng cam cộng khổ là rất quan trọng. Trang bị kỹ thuật phải tiến lên, nhưng sinh hoạt của bộ đội phải phù hợp với sinh hoạt của nhân dân”(2).

Tháng 3

Đến thăm Hải quân, Người căn dặn: Bờ biển của ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang... Phải biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên những truyền thống đánh giặc xưa kia của tổ tiên... Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển của ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó(3).

11 - 7

Đến thăm và nói chuyện với Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quân, Người nhắc nhở: “Luôn luôn nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và mức hiểu biết về khoa học và kỹ thuật. Phải giữ gìn kỷ luật một cách nghiêm túc. Nâng cao cảnh giác, giữ gìn bí mật, luôn luôn sẵn sàng đập tan mọi âm mưu nham hiểm của địch... Thấm nhuần tinh thần làm chủ, cần kiệm xây dựng quân đội... Đoàn kết và giúp đỡ toàn dân...”(4).

Trong tháng 5

Nghe đồng chí Võ Bẩm, Tư lệnh đoàn vận tải quân sự 559 báo cáo về việc mở đường và vận chuyển hàng, đưa bộ đội vào chiến trường miền Nam, Người khen ngợi và căn dặn: Phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật bất ngờ, phải lo đời sống cho dân. Người giao cho đồng chí Võ Bẩm mang muối và vải hoa vào phát cho dân dọc tuyến đường”(5).

NĂM 1962

2 - 3

Đến thăm Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua lần thứ nhất của lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “… Phải thi đua bền bỉ, liên tục, phải cố gắng hơn nữa, phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đề cao cánh giác, sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu,xâm nhập, phá hoại của kẻ địch, phải cố gắng học tập quân sự, chính trị, nghiệp vụ...”(6).

19 - 8

Thăm lữ đoàn 374, Người ghi vào cuốn sổ vàng truyền thống của đơn vị: “… luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng lao động sản xuất, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc”(7).

20 - 10

Tiếp đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bác, Người nói: “Miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi”(8).

13 - 11

Đến thăm căn cứ hải quân tại đảo Vạn Hoa. Người nói: Là chiến sĩ hải quân, các chú phải biết yêu quý đảo như nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng thành những mảnh dất vừa giàu, vừa dẹp, vừa có lợi cho mình, vừa có ích cho đất nước(9).

NĂM 1963

8 - 5

Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 11, được tin Quốc hội có ý định tặng Người huân chương Sao Vàng, Người phát biểu tỏ lòng biết ơn Quốc hội và xin Quốc hội cho phép Người chưa nhận huân chương ấy. Người đề nghị: “Cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình, thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”(10).

31 - 5

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi, Người nói: miền núi đối với quốc phòng rất quan trọng. Vì vậy, phải chăm lo đến việc củng cố quốc phòng, duy trì trật tự trị an, để chủ động tiêu diệt nhanh chóng bọn biệt kích, đập tan âm mưu của bọn phản động”(11).

Trong tháng 10

Lực lượng Phòng không và Không quân được hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân, Người chỉ thị cho các đồng chí chỉ huy quân chủng: Phát huy được sức mạnh sau khi hợp nhất, sẵn sàng cùng các lực lượng vũ trang nhân dân đập tan mọi âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa(12).


(1) Sách đã dẫn, tr. 118.
(2) Theo: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 133.
(3) Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, tr. 70 - 71.
(4) Hồ Chí Minh; Chiến tranh nhân dân Việt Nam, tr. 375.
(5) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 203 - 204.
(6) Lịch sử Bộ đội biên phòng, t. 1, 1959 - 1979, Nxb Công an nhân dân, H. 1990, tr. 92 - 93.
(7) Pháo binh nhân dân Việt Nam, t. II, tr. 41.
(8) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 333.
(9) Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, tr. 71.
(10) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 287.
(11) Sách đã dẫn, tr. 206.
(12) Bác của chúng ta, tr. 195.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 03:37:18 pm
NĂM 1964

1 - 1

Đến thăm sư đoàn 312, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi vào sổ vàng truyền thống của đơn vị: “...1- Ra sức thi đua làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và tham gia đấu tranh thống nhất nước nhà.

2- Thi đua thực hiện cuộc vận động xây dựng quân đội năm 1964. Ra sức học tập chính trị, rèn luyện tư tưởng và đạo đức cách mạng, nâng cao cành giác; ra sức học tập văn hóa và kỹ thuật, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho.

3- Đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Cán bộ và đảng viên gương mẫu trong mọi công việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu, mở rộng dân chủ, đề cao kỷ luật.

4- Các cấp ủy và cán bộ cần đề cao việc vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe và việc ăn uống của bộ đội. Cần tiếp tục tăng gia sản xuất khá hơn nữa”(1).

14 - 1

Trong bài “Thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam”, ký tên Chiến sĩ, Người viết: “Chắc anh em đều có lương tâm đối với Tổ quốc. Vì bị đế quốc Mỹ và lũ tay sai lừa bịp và bắt ép mà anh em cầm súng chống lại đồng bào. Nếu từ nay giác ngộ, quay về với nhân dân, thì anh em cũng xứng đáng với Tổ quốc”(2).

13 - 2

Đến thăm và chúc Tết cán bộ và chiến sĩ đại đội 130 pháo phòng không, Người căn dặn: Đế quốc Mỹ còn nhiều âm mưu thâm độc, các chú phải luôn luôn cảnh giác và lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu; phải kiên quyết bắn rơi máy bay địch nếu chúng liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bắc nước ta(3).

27 - 3

Người triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trước âm mưu của đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta.

Người đọc báo cáo tại Hội nghị, nêu lên những thành tích to lớn của nhân dân trong 10 năm qua và tình hình nhiệm vụ trước mắt đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Người kêu gọi: “Toàn thể đồng bào miền Bắc phải luôn luôn nhớ rằng: trong lúc chúng ta đang sính hoại và xây đựng trong hòa bình, thì đồng bào miền Nam là đang hy sinh anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Vì vậy, mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”(4).

25 - 4

Trả lời nhà báo Úc Bớc-sét về việc Mỹ - ngụy dọa đưa chiến tranh ra miền Bắc. Người nói: “Đế quốc Mỹ và bọn Nguyễn Khánh cũng giống như con cáo đã bị mắc kẹt hai chân trong bẫy, mà còn muốn nhảy vào một cái bẫy khác... khi nói đến việc “đưa chiến tranh ra miền Bắc” Mỹ và bọn bù nhìn của Mỹ nên hiểu rằng: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có đủ sức mạnh và sẵn sàng chiến đấu, lại có những nước bạn hùng cường sẵn sàng giúp đỡ và những lực lượng hòa bình trên thế giới nhiệt tình ủng hộ”(5).

7 - 5

Trong bài “Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ”, ký tên Chiến sĩ, Người viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”(6).

7 - 8

Tại buổi lễ tuyên dương công trạng các đơn vị phòng không và hải quân đã đánh thắng trận đầu ngày 2 và ngày 5 tháng 8 năm 1964, Người nói: “Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang, nhưng chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải biết rằng đế quốc Mỹ và tay sai, chết thì chết, nết không chừa. Chúng còn nhiều âm mưu hung ác”(7).

+ Người trả lời phóng viên hãng thông tin MỸ UPI về cuộc tiến công của máy bay Mỹ vào miền Bắc nước ta: “Tôi muốn nói với dư luận nhân dân ở nước Mỹ và toàn thế giới sự căm phẫn của toàn thể nhân dân Việt Nam trước những hành động xâm lược có tính toán từ trước của Chính phủ Mỹ đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tôi cũng muốn nói lên ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, với sức mạnh được tăng cường gấp bội, quyết đấu tranh chống bọn xâm lược cho đến thẳng lợi”(8).

11 - 9

Trả lời phó chủ tịch Hội nhà báo Nhật Bản, Người nói: “Miền Nam là tiền tuyến chống Mỹ. Miền Bắc là cơ sở của cuộc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân miền Bắc ủng hộ đồng bào miền Nam của mình”(9).

25 - 9

Người dự Hội nghi Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn chủ trương về quân sự, ngoại giao trước tình hình Mỹ tăng cường lực lượng quân sự ở miền Nam và ráo riết chuẩn bị đánh phá miền Bắc(10).

9 - 11

+ Đến thăm đoàn Không quân Sao Đỏ, Người căn dặn: tổ tiên ta từ xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển... Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi, trách nhiệm ấy trước hết là của các chú(11).

Vừa qua, địch chủ quan bay thấp nên ta bắn được. Lần này, nếu địch đánh lại, nó sẽ thay đổi thủ đoạn. Địch cũng biết rút kinh nghiệm, ta cũng phải biết rút kinh nghiệm. Chú ý từ việc ngụy trang máy bay đến cách đánh. Các chú hãy học tập Quân giải phóng miền Nam: phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà diệt chúng(12).

22 - 12

Phát biểu tại buổi chiêu đãi mừng quân đội ta 20 tuổi, Người khen ngợi: quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng... Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(13).

23 - 12

Người trả lời hãng thông tin Cô-pơ-lây (Hương Cảng); “Nếu Mỹ tiến công Bắc Việt Nam, chúng tôi sẽ kiên quyết đánh lại...”(14).

Trong năm

Tháng 9 năm 1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh và một số cán bộ cao cấp khác vào trực tiếp tham gia lãnh đạo chỉ huy ở chiến trường miền Nam. Trong buổi gặp mặt tiễn đưa đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Lê Trọng Tấn, Người căn dặn: Đánh Pháp đã khó. Đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam(15).


(1) Sư đoàn Chiến thắng, t. II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980, tr. 26 - 27.
(2) Báo Nhân dân, ngày 14-1-1964.
(3) Hồ Chủ tịch với bộ đội Phòng không - Không quân, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân xuất bản, 1975, tr. 15.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 320.
(5), (6) Báo Nhân dân, ngày 25-4-1961, 7-5-1964.
(7) Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, tr. 386.
(8) Báo Nhân dân, ngày 9-8-1964
(9) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H5-C6/40.
(10) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 353.
(11) Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986, tr. 114.
(12) Hồ Chủ tịch với bộ đội Phòng không - Không quân, tr. 20.
(13) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 345.
(14) Báo Nhân dân, ngày 23-12-1964.
(15) Bác của chúng ta, tr. 38.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 03:45:32 pm
NĂM 1965

5 - 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen Không quân đánh thắng trận đầu: “Các chú đã thực hiện khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân và dân ta”(1)...

10 - 4

Phát biểu tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa III, Người khẳng định: “Dù Mỹ đưa thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lôi kéo thêm quân đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này, thì quân và dân ta cũng quyết đánh thắng chúng”(2). Người kêu gọi: “Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thống nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”(3).

14 - 4

Người viết bài “Đại bợm Giôn-xơn miệng nói “hòa bình”, tay vung “binh hỏa”, ký tên Chiến sĩ: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Nhân dân ta từng trải qua một cuộc trường kỳ kháng chiến anh dũng, đánh thắng thực dân Pháp... Hiện nay, chúng ta lại đang tiến hành một cuộc trường kỳ kháng chiến thứ hai chống Mỹ và thắng Mỹ”(4).

27 - 5

Người gửi thư khen đồng bào và bộ đội miền Bắc đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 300 của giặc Mỹ và quyết định tặng thưởng những đồng bào và bộ đội có công huy hiệu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(5).

Trong tháng 5

Trả lời phỏng vấn của báo U-ni-ta (1-ta-li-a), Người nói: “Đế quốc Mỹ như người đang bị sa lầy ở miền Nam Việt Nam: càng quẫy mạnh thì càng bị lún sâu xuống tận cổ... bọn xâm lược Mỹ hung hãn đến mấy cũng không khuất phục nổi một dân tộc tuy nhỏ nhưng kiên quyết đấu tranh để tự giải phóng... Nhân dân Việt Nam rất quý trọng tình đoàn kết và sự ủng ủng hộ của nhân dân thế giới, coi đó là thêm một bảo đảm chắc chắn cho thắng lợi của mình... Chúng tôi đặc biệt hoan nghênh các chiến sĩ du kích cũ và các bạn thanh niên Ý, đã tình nguyện sang chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược... Chúng tôi gửi lời cảm ơn và xin nói để các bạn ấy biết rằng khi nào tình hình yêu cầu, chúng tôi sẽ báo với các bạn”(6).
   
19 - 7

+ Đến thăm đoàn Xung kích và đại đội 1, đoàn Tam Đảo phòng không đang chuẩn bị đi chiến đấu bảo vệ tên lửa ra quân trận đầu. Người căn dặn: “Phải làm sao đánh tiêu diệt được chúng. Vừa qua, súng của ta không phải ít nhưng chưa đánh tiêu diệt được... Không phải ta thiếu cảnh giác. Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi. Muốn bắn trúng, bắn rơi máy bay ngay từ loạt đạn đầu tiên, phải tập luyện công phu. Có bắn trúng, bắn rơi ngay từ loạt đạn đầu thì mới bắn rơi được tại chỗ... Những yêu cầu đó liên hệ mật thiết với nhau. Bắn trúng từ loạt đạn đầu tiên, bắn rơi tại chỗ sẽ tiết kiệm được đạn... Bộ đội Phòng không - Không quân có nhiều binh chủng hợp thành, lúc đánh phải hiệp đồng cho tốt... Phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mỹ nhất định phải thua... Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52. bay “B” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh mà đã đánh là nhất định thắng”(7).

+ Người nói với đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không -Không quân về việc đưa tên lửa vào Vĩnh Linh để đánh B.52: Đúng! Muốn bắt cọp thì phải vào tận hang(8).

20 - 7

Nhân ngày 20 tháng 7, Người ra lời kêu gọi đồng bào vả chiến sĩ cả nước: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng... dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(9).


(1) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 363.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 364, 367.
(4) Báo Nhân dân, ngày 14-4-1965.
(5) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 368.
(6) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H44-C8/26.
(7), (9) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 370 - 372, 376
(8) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 12-1987.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 03:48:47 pm
10 - 8

Nói chuyện tại Đại hội thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” lần thứ nhất của các lực lượng vũ trang nhân dân, Người căn dặn: “Các lực lượng vũ trang của ta hãy thực hiện tốt năm điểm sau đây:

- Phát huy truyền thống vẻ vang quyết chiến, quyết thắng, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

- Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, ra sức tiêu diệt địch và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.

- Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, đánh giặc giỏi, huấn luyện giỏi, xây dựng nhiều “đơn vị quyết thắng” hơn nữa.

- Dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân.

- Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”(1).

26 - 8

Đến thăm tiểu đoàn 61 tên lửa (đoàn Sông Đà) sau khi đơn vị đánh thắng trận đầu, Người căn dặn: “Nếu ta phấn đấu làm sao bắn ít đạn hơn mà lại rơi được máy bay nhiều hơn nữa thì càng ưu điểm... Phải hết sức quý trọng sức người, sức của của nhân dân. Nếu bất đắc dĩ phải chặt cây, chặt tre của đồng bào thì phải cùng địa phương bàn bạc trả tiền cho sòng phẳng. Một điều quan trọng nữa là phải giữ bí mật quân sự”(2).

4 - 9

Trong bài “Hai mươi năm đấu tranh thắng lợi của cách mạng Việt Nam” đăng trên báo Thời mới (Liên Xô), Người viết: “Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ đại của nhân dân toàn thế giới chống đế quốc Mỹ,... Dù chúng phái thêm bao nhiêu quân đội, đế quốc Mỹ xâm lược nhất định cũng sẽ hoàn toàn thất bại. Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi vẻ vang. Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng. Nước Việt Nam nhất định sẽ được hòa bình thống nhất”(3).

24 - 10

Trong bài “Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt - Mỹ”, ký tên Chiến sĩ, Người viết: “Mặt trận này tuy chưa xây dựng về hình thức, nhưng thực tế đã hình thành bằng hành động và tinh thần... Nhân dân Mỹ đã giác ngộ, họ đang vùng dậy đấu tranh chống bọn hiếu chiến Mỹ. Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhất định sẽ thắng”(4).

18 - 11

Trả lời nhà báo Anh Phê-lích Grin, Người khẳng định: “Trong chiến tranh tất nhiên phải có tổn thất và hy sinh. Nhân dân chúng tôi quyết kiên trì chiến đấu, chịu đựng hy sinh dù 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa cho đến thắng lợi hoàn toàn, vì không có gì quý bằng độc lập, tự do”(5).

Trong tháng 11

Người cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc(6).

22 - 12

Trong buổi lễ kỷ niệm lần thứ 21 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Người nói: “Quân đội ta có người em oanh liệt là lực lượng vũ trang của nhân dân miền Nam... Cuộc chống Mỹ, cứu nước hiện nay là tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp ngày trước, là sự nghiệp vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của nước ta”(7).

Cuối năm

Xem phim tài liệu có cảnh chiến sĩ lái ca nô để kích thích cho thủy lôi của địch nổ, Người nói với đồng chí Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải: Các chú đó thật dũng cảm. Nhưng chú thử nghĩ xem có phương pháp nào điều khiển ca nô tự động chạy qua bãi thủy lôi, chứ làm như thế này nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ(8).


(1) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân[/i], Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 378 - 389.
(2) Hồ Chủ tịch với bộ đội Phòng không - Không quân, tr. 27.
(3) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 338.
(4) Báo Nhân dân, ngày 24-10-1965.
(5) Báo Nhân dân, ngày 9-12-1965.
(6) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 366.
(7) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 388-389.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H.25-C.15.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 03:56:29 pm
NĂM 1966

16 - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng “Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng, nhất định ta thắng”(1), “... thắng lợi không phải tự nhiên mà đến...”(2). “Chúng ta phải ra sức cố gắng giành cho được thắng lợi quyết định ở miền Nam, bởi vì cuộc chiến tranh này căn bản là ở miền Nam. Mỹ thua ở miền Nam tức là nó thua, ta thắng ở miền Nam tức là ta thắng. Cho nên phải giành thắng lợi quyết định trong một thời gian, ta không nói mấy năm, mấy tháng, mấy ngày, nhưng trong một thời gian càng ngắn càng tốt. Cố nhiên mình làm càng gọn càng bớt hy sinh tổn thất”(3). “Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân”(4).

Nhân dịp Tết Bính Ngọ, đến thăm và nói chuyện với tiểu đoàn 27 công binh, Quân khu 3, Người căn dặn: “Để đánh bại âm mưu thâm độc của địch... các đơn vị công binh cũng phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt mọi khó khăn, không sự gian khổ, không sợ hy sinh, kiên quyết tiến lên giành nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa”(5).

5 - 2

Người và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm hai trung đoàn 239 và 249 diễn tập bắc cầu phao qua sông Hồng ở bến Mễ Sở. Người căn dặn cán bộ và chiến sĩ: “... Nhiệm vụ của các chú rất nặng nề nhưng rất vẻ vang, các chú cần cố gắng hơn nữa, làm tốt hơn nữa. Mỗi ngày làm nhanh hơn một phút, ba phút, năm phút, dần dần rút ngắn lại, càng ngắn càng tốt, các chú bắc cầu ngày một giỏi hơn, làm như thế, chúng ta sẽ mau chóng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(6).

24 - 3

Người nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”: “Giao thông vân tải rất quan trọng, quan trọng đối với chiến đấu. đối với sản xuất, đối với đời sống của nhân dân... Chiến tranh của ta là... chiến tranh nhân dân. Vì vậy, giao thông vận cũng là giao thông vận tải nhân dân. Nghĩa là ngành của các cô, các chú từ Bộ trưởng xuống, về chuyên môn, muốn làm cho tốt thì phải dựa vào nhân dân. Nơi nào làm công tác chính trị tốt, kết hợp với nhân dân tốt thì giao thông vận tải tốt hơn”(7). “Giao thông vận tải là một mặt trận. Vì vậy, mỗi công nhân, thành viên trong ngành giao thông vận tải phải là một chiến sĩ. Phải quyết tâm làm cho giao thông vận tải thắng lợi. Giao thông vận thắng lợi tức là chiến tranh đã thắng lợi phần lớn rồi”(8).

Đầu tháng 4

Trả lời phỏng vấn của hãng tin Nhật Bản Ni-hây Đen-pha về việc Mỹ đe dọa đưa quân vào Lào và tiếp tục khiêu khích Campuchia, Người nói: “Đế quốc Mũ muốn biến các nước ở Đông Dương thành một chiến trường thì nhân dân Đông Dương nhất định sẽ càng đoán kết chặt chẽ, kiên quyết đánh thắng chúng”(9).

17 - 4

Cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đến xem pháo binh bắn thừ pháo phản lực ĐKB và A12, Người căn dặn: Pháo đạn nặng nề, mang vác cồng kềnh nên khi đi làm nhiệm vụ sẽ gặp nhiều khó khăn. Phải động viên anh em dù khó khăn mấy cũng phải kiên quyết vượt qua để hoàn thành tốt nhiệm vụ(10).


(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 393, 394, 397.
(5) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 391.
(6) Lịch sử Công binh Việt Nam (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1991, tr. 205.
(7) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 408 - 409.
(8) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 413.
(9) Báo Nhân dân, ngày 12-4-1966.
(10) Bác của chúng ta, tr. 234.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 04:01:12 pm
5 - 7

Người tiếp ông Giăng Xanh-tơ-ni. Đề cập đến việc Mỹ có thể gây sức ép quân sự tối đa đối với Việt Nam, Người nói: Chúng tôi biết rõ sức mạnh cua kẻ thù của chúng tôi, chúng tói biết rằng người Mỹ, nếu họ muốn họ có thể san bằng thành phố này, cũng như những thành phố chủ chốt của Bắc Bộ: Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh... Chúng tôi đã chờ đón một tình hình như thế, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng điều đó không hề mảy may làm suy yếu ý chí chiến đấu đến cùng của chúng tôi”(1).

10 - 7

Trong bài “Chúng ta phải làm tốt việc sơ tán”, ký tên Chiến sĩ Người viết: “Làm việc sơ tán thật tốt tức là góp phần đắc lực vào công việc phòng không, vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(2).

13 - 7

Người nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại đội 12 và đại đội 6 thông tin liên lạc thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân: Công tác thông tin liên lạc là một công tác rất quan trọng, nó như thần kinh mạch máu của con người. Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta càng gần thắng lợi hoàn toàn càng quyết liệt hơn, các chú phải làm thật tốt nhiệm vụ của mình. Muốn thế phải vừa chiến đấu vừa không ngừng học tập nâng cao trình độ kỹ thuật. Muốn học tập kỹ thuật tốt, phải học văn hóa(3).

17 - 7

Nhân ngày 20 tháng 7, Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của nhân dân ta: “Giôn-xơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc... Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị làn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(4).

19 - 8

Trong bài “Mặt trận số 2 chống đế quốc Mỹ”, ký tên Chiến sĩ. Người chỉ rõ: “Mặt trận số 1 chống đế quốc Mỹ là Việt Nam, Mặt trận số 2 ở ngay tại nước Mỹ”. Người kết luận: “Bị giáp công trên hai mặt trận, đế quốc Mỹ nhất định thua, nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam nhất định thắng”(5).

12 - 10

Nói chuyện tại Đại hội thi đua của lực lượng Công an nhân dân. Người chỉ rõ: “Để phá tan mọi âm mưu chiến tranh phá hoại của địch, chúng ta phải: Quyết tâm đánh bại mọi hoạt động gián diệp và chiến tranh tâm lý của địch; ngăn chặn và trấn áp kịp thời mọi âm mưu của bọn phản động; bảo vệ tốt các cơ quan đầu não, các lực lượng vũ trang, các mối giao thông vận tải, tài sản của nhà nước và của nhân dân, giữ vững trật tự an nính của miến Bắc”(6).

19 - 10

Tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Người nói: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó, ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ ở cả hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”(7).


(1) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 5-1988.
(2) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 372.
(3) Hồ Chủ tịch với bộ đội Phòng không - Không quân, tr. 32.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 430.
(5) Báo Nhân dân, ngày 19-8-1966.
(6), (7) Hồ Chí Mi8nh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, tr. 412, 415.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:18:52 pm
NĂM 1967

1 - 1

Về thăm và nói chuyện với cán bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình. Người chỉ rõ: “Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng và toàn dân ta là sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Sản xuất và chiến đấu là hai mặt trận quan hệ rất mật thiết với nhau. Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận”(1).

Giữa tháng 2

Người viết thư trả lời Tổng thống Mỹ L. Giôn-xơn: “Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, phá hoại hòa bình và chống lại loài người... Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình”(2).

19 - 3

Người cùng các đồng chí Phạm Vãn Đồng, Võ Nguyên Giáp đến thăm và nói chuyện với bộ đội đặc công nhân dịp đặc công được công nhận là một binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Người chỉ rõ : “Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt... Chiến sĩ đặc công đã đi đánh là tất thắng. Như thế thì phải đặc biệt dũng cảm. Cái gì cũng đặc biệt đối với đặc411] công, chữ đặc biệt quán xuyến tất cả, từ lúc tập luyện cho đến lúc đi đánh cũng như lúc về... Nói tóm lại, công việc, công tác của các đồng chí cũng đặc biệt khó khăn, nhưng cũng đặc biệt vẻ vang...”(3).

13 - 4

Người gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ pháo binh đã có thành tích bắn chìm, bắn cháy tàu chiến và đánh trả pháo binh Mỹ. Người chỉ rõ: “Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt chăn đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”(4).

2 - 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen xét xử những tội ác do đế quốc Mỹ gây ra ở Việt Nam: Đó là một sự cổ vũ mạnh mẽ không những đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi mà còn đối với tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc và hòa bình”(5).

5 - 6

Quân và dân miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của quân Mỹ, Người gửi thư tới Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam: “Đông xuân này, miền Nam lại giành được thắng lợi to lớn... làm cho cả nước ta hết sức phấn khởi, bè bạn ta khắp năm châu hả dạ và riêng tôi rất vui mừng”. “... dù tăng thêm mấy chục vạn quân, dù dã man và xảo quyệt đến đâu, giặc Mỹ cũng không thể nào gỡ được thế bị động và sa lầy ở miền Nam Việt Nam”(6).

10 - 6

Miền Bắc bắn rơi 2000 máy bay Mỹ, Người gửi thư khen đồng bào, cán bộ và chiến sĩ: “Giặc Mỹ dùng bao nhiêu bom đạn đánh phá cũng không ngăn nổi những bước tiến mạnh mẽ của quân dân ta, không chia cắt được tình đoàn kết Bắc - Nam ruột thịt… Giặc Mỹ đánh phá miền Bắc một, đồng bào và quân giải phóng miền Nam đánh trả chúng gấp năm, gấp mười lần”(7).

5 - 7

Người gửi thư khen và tặng huy hiệu của Người cho các chiến sĩ trung đội dân quân gái huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa “đã chiến đấu giỏi và bắn rơi một máy bay phản lực Mỹ”. Người động viên: “Các đơn vị dân quân các nơi khác hãy thi đua sản xuất và chiến đấu với trung đội dân quân gái huyện Hậu Lộc”(8).

31 - 7

Người gửi thư khen cán bộ và nhân viên quân y đã lập được thành tích trong việc cứu chữa thương binh, bệnh binh và giữ gìn sức khỏe bộ đội. Người căn dặn: “Luôn luôn ghi nhớ rằng thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội…”(9).

20 - 9

Người gửi thư khen đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Vĩnh Linh “lần đầu bắn rơi hai máy bay B.52 của Mỹ”(10).


(1) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 437.
(2) Báo Nhân dân, ngày 22-3-1967.
(3) Lịch sử bộ đội Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 169-170.
(4) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 425.
(5) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 4-1988.
(6) Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, tr. 421-422.
(7), (9), (10) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 434, 440, 441.
(8) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, tr. 437-438.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:23:06 pm
Trong tháng 9

+ Gửi điện tới Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, Người khen ngợi: “Là tinh hoa của dân tộc, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã nêu cao tinh thần trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, khiêm tốn, giản dị, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, khó khăn không ngại, gian khổ không sờn, quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ cứu nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta”(1).

+ Tiếp nữ văn sĩ Đức G. Stéc-nơ, trả lời câu hỏi về việc đánh giá thế nào giai đoạn hiện nay của cuộc chiến tranh, Người nói: Chia một cuộc chiến tranh đang xảy ra thành những giai đoạn thì có phần hơi khó. Chỉ sau đó thì mới có thể phân chia như vậy được. Hiện nay, người ta có thể nói rằng, lúc đầu Mỹ tim mọi cách tiến hành cuộc chiến tranh chống người Việt Nam thông qua người Việt Nam. Ý nghĩ đó, chúng phải gạt ra khỏi đầu rồi! Hiện nay chúng biết rằng, bản thân chúng phải sửa đổi lại công việc bẩn thỉu của chúng. Như vậy, xét theo một góc độ nào đó, cuộc chiến tranh đã bước vào một giai đoạn mới(2).

17 - 10

Người gửi thư khen trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.400 của Mỹ bằng súng bộ binh: “Với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù địch sâu sắc, các cụ đã nêu cao quyết tám đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thật là tuổi cao, chí càng cao”(3).

Trong tháng 10

Nhân dịp ký niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười. Người viết bài “Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” theo đề nghị của báo Sự thật (Liên Xô). Nêu lên những thắng lợi của Cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười, Người chỉ rõ: “Đó là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam…”. “Đảng... đã xây dựng được Mặt trận dân tộc thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc dựa trên cơ sở liên minh công nông...”- “Đảng... biết sử dụng các hình thức đấu tranh cách mạng tùy theo tình hình cụ thể của phong trào, đặc biệt là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài, gian khổ và anh dũng để đánh thắng quân xâm lược”. “Đảng... luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản...”. “... trong điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của thời đại ngày nay, bất cứ một dân tộc nào, dù nhỏ nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ và kiên quyết chiến đấu theo đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, lại được sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân cách mạng trên thế giới, thì nhất định có thể đánh thắng bất cứ bọn đế quốc xâm lược nào, kể cả tên đế quốc đầu sỏ là đế quốc Mỹ”(4).

Từ 13 đến 20 - 11

Người gửi thư khen và thưởng huy hiệu cho năm đơn vị dân quân gái các xã Hoằng Trường, Hoằng Hải (Hoằng Hóa, Thanh Hóa), Hà Phú, Hà Toại (Hà Trung, Thanh Hoá), Võ Ninh (Quảng Ninh, Quảng Bình) đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi máy bay Mỹ(5).

25 - 12

Nói chuyện tại cuộc mít tinh kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định: “Mỹ thua đã rõ ràng... Tuy vậy, đế quốc Mỹ “chết thì chết, nết không chừa”, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược... 31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già, trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”(6).

28 - 12

Người dự Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chủ trương mở đợt Tống tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)(7).

Sau Hội nghị Người chỉ thị cho cán bộ chỉ huy các chiến trường: Kế hoạch phải thật tỉ mỉ. Hợp đồng phải thật khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu(8).

30 - 12

Phát biểu ý kiến trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, Người khen ngợi thanh niên: “Thanh niên ta bây giờ rất hăng say làm việc, không kể giờ giấc, ngày đêm, dám đánh giặc, không sợ chết. Một người đã không sợ chết, một dân tộc đã không sợ hy sinh, gian khổ, thì nhất định sẽ chiến thắng”(9).


(1), (3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 444, 446.
(2) Bác Hồ như chúng tôi đã biết, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 91.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, H. 1980, tr. 471-473.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 458-464, 468.
(7) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 388.
(8) Báo Nhân dân, ngày 17 và 18-2-1988.
(9) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, tr. 388.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:27:11 pm
NĂM 1968

Đầu năm

+ Nghe đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân báo cáo tình hình chiến đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Binh Nhưỡng, ở Việt Nam. Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chì chiu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội(1).

+ Sau đợt Tổng tiến cóng và nổi dậy Tết Mậu Thân, viết thư gửi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang cách nạng thành phố Huế, Người căn dặn:

- Khi thắng lợi chớ kiêu căng, khi tạm thời có khó khăn, quyết không nản chí.

- Luôn luôn nắm vững đường lối giai cấp cách mạng trong mọi công tác quân sự cũng như chính trị, ở thành thị cũng như ở nông thôn.

- Ra sức phát huy ưu điểm và sáng kiến, kịp thời rút kình nghiệm, quyết tâm tiêu diệt địch: đoàn kết, bảo vệ nhân dân; xây dựng và phát triển vững chắc các lực lượng cách mạng để đảm bảo càng đánh càng thắng, càng thắng càng mạnh.

- Mọi việc bất kỳ to nhỏ, phải có quyết tâm thật cao, kế hoạch chu đáo thì mới đảm bảo chắc chắn thành công(2).

4 - 2

Người gửi điện tới Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chào mừng thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Người chỉ rõ: “Thắng lợi đầu xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi! Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai”(3).

10 - 3

Người viết thư gửi đồng chí Lê Duẩn: “Nhớ lại hồi Nô-en năm ngoái, chú có ý khuyên Bác đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn... Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em... Có lẽ chú và các đồng chí khác e rằng sức khỏe của Bác không cho phép Bác đi chơi xa, nhưng thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu sẽ giúp sức khỏe tiến bộ mau hơn”(4).

Trong tháng 3

Người tặng thơ 11 chiến sĩ du kích gái thành phố Huế:

            “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
            Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
            Bác khen các cháu dân quân gái
            Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”
(5).

5 - 6

Người gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ trong một ngày (31-5-1968) đã bắn rơi bốn máy bay Mỹ: “Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng”. Cuối thư Người tặng các chiến sĩ hai câu thơ:

“Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận,
Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”
(6).

27 - 6

Quân và dân miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 3000 của giặc Mỹ, Người gửi thư khen toàn thể đồng bào, chiến sĩ và cán bộ: “Nam - Bắc hai miền đều đánh giỏi! Quân và dân miền Bắc dũng cảm không những bắn rơi nhiều máy bay Mỹ mà thắng cả Mỹ trên các mặt giao thông vận tải, xây dựng kinh tế, giữ vững đời sống nhân dân... Qua hơn ba năm chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa càng thêm vững vàng và luôn luôn hết lòng hết sức lảm tròn nghĩa vụ đối với đồng bào miền Nam ruột thịt”(7).


(1) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 12-1987.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H5-C10/20.
(3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 475.
(4) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H5-C10/22.
(5) Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, tr. 443.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 484-485, 486 - 487.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:30:42 pm
Trong tháng 6

Gặp một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Người nói: “Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình. Ngày nay chúng ta lại đang đứng trước những thử thách rất lớn, truyền thống anh hùng hàng nghìn năm đang được nhân dân ta phát huy đến độ cao chưa từng thấy. Và đã có những người làm nên sự tích oanh liệt được Đảng và Nhà nước tuyên dương... Nhưng dù sao số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hằng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà để đánh thắng giặc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

13 - 7

Quân và dân Trị - Thiên đánh quân Mỹ buộc chúng phải rút chạy khỏi Khe Sanh. Người gửi điện tới Ủy ban Trung ương Mật trận dân tộc giải phóng miền Nam: “Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa”(2).

20 - 7

Nhân ngày 20 tháng 7, Người ra “Lời kêu gọi” đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn”(3).

Trong tháng 8

Người gửi tặng ngành xe quân đội lá cờ thêu 16 chữ vàng:

“Yêu xe như con
Quý xăng như máu
Vượt mọi khó khăn
Hoàn thành nhiệm vụ”
.

Và thưởng huy hiệu cho 10 chiến sĩ lái xe vã thợ sửa chữa xe giỏi(4).

3 - 11

Đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện ném bom bắn phá miền Bắc, Người ra “Lời kêu gọi đồng bào vã chiến sĩ cả nước”: Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt... Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này lã phải nâng cao tính thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”(5).

30 - 11

Nhận được báo cáo thành tích của Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ của các lực lượng vũ trang Táy Nguyên, Người gửi điện khen: “... quân và dân Tây Nguyên, già trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua giết giặc lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(6).

Trong năm

Tiếp cán bộ Thừa Thiên - Huế, Người hỏi thăm tình hình đấu tranh của đồng bào và căn dặn: Phải chú ý phát triển lực lượng du kích, một đội quân ít tốn kém, đánh rất linh hoạt, rất giỏi mà địch không tài nào cản trở họ được… Đấu tranh trong vùng địch rất phức tạp. Mỹ thua ta vì ta có sức mạnh, mà sức mạnh đó chủ yếu là nhân dân(7).


(1), (3) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 477-478, 497.
(2) Sách đã dẫn, tr. 489.
(4) Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1992, tr. 235-236.
(5) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 504-505.
(6) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 507-508.
(7) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh H25-C9/06.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:34:09 pm
NĂM 1969

1 - 1

Thư tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào và chiến sĩ:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”
(1).

27 - 1

Người gửi thư khen trung đội thanh niên xung phong số 333 (Nghệ An) “nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn, gian khổ. Đội gồm phần lớn là các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn”(2).

28 - 1

Gửi thư tới Đại hội thi đua lập công của bộ đội Thông tin liên lạc, Người căn dặn: “Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng; ra sức học tập thêm nghiệp vụ, kỹ thuật, bảo đảm công tác thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, ngày càng tiến bộ, lập nhiều thành tích mới”(3).

5 - 2

Trong bài “Tết trồng cây”, ký tên T.L, Người viết: “Trong mấy năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân ta càng nhận rõ lợi ích của việc trồng cây, cho nên phong trào trồng cây càng phát triển... Những dải rừng được trồng ở ven biển, dọc đường giao thông, trong thôn, xóm, đã có tác dụng lớn”(4).

16 - 2

Nhân dịp Tết Kỷ Dậu, Người đến thăm và nói chuyện với cán bộ. chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân: Phải luôn cảnh giác sẵn sáng chiến đấu. Không tin được Mỹ chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược. Phải luôn sẵn sàng chiến đấu để khi nó giở quẻ thì mình đập lại được ngay”(5).

12 - 4

Người căn dặn các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái trước khi trở vào Nam công tác:

- Vấn đề trong Hội nghị Bộ Chính trị nhất trí, khi về thì phải quán triệt sâu sắc từ trong Đảng ra quần chúng.

- Tổ chức cơ sở chính trị ở nhiều nơi còn yếu, phải nhanh chóng củng cố và phát triển.

- Trong chống phá âm mưu hình định của địch phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với chính trị; kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân trên cả ba vùng chiến lược.

- Cần phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cho mạnh. Lực lượng bổ sung chưa kịp thì càng phải huấn luyện cho tinh. Phải quan tâm việc ăn ở, phòng bệnh cho bộ đội.

- Phải trên cơ sở củng cố phát triển các đoàn thể mà phát triển chiến tranh nhân dân rộng rãi, chống phá bình định, giữ và làm chủ ở nông thôn. Phải rất chú trọng đoàn kết...

- Phải nắm vững tình hình, báo cáo kịp thời, chính xác, chỉ đạo chỉ huy phải đi sát dưới(6).


(1) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 511-512.
(2) Báo Nhân dân, ngày 9-2-1969.
(3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 551.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 513.
(5) Hồ Chủ tịch với bộ đội Phòng không - Không quân, tr. 50.
(6) Người cha thân yêu, tr. 60-61.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 09:36:42 pm
11 - 5

Gặp và nói chuyện với cán bộ cao cấp toàn quân, Người chỉ rõ: “Từ Tết Mậu Thân đến nay, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta đã bước vào giai đoạn mới. Đồng bào và chiến sĩ ta ở miền Nam đã đánh rất giỏi, tháng rất to. Ở miền Bắc cũng đánh rất giỏi, thắng rất to. Quân và dân cả nước ta đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang”... “Thế giặc Mỹ thua đã rõ ràng, nhất định chúng sẽ hoàn toàn thất bại. Nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta”(1).

Giải thích mối quan hệ giữa thế và lực trong chiến tranh, Người nói: Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên rất nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng chục, hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi(2).

15 - 7

Tiếp nhà báo Sác-lơ Phuôc-ni-ô phóng viên báo Nhân đạo (Pháp). Người nói: “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của V.I. Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lẩn thứ 100 ngày sinh V.I. Lênin - Chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được chủ nghĩa Mác - Lênin”(3).

20 - 7

Nhân ngày 20 tháng 7, Người ra Lời kêu gọi quân và dân cả nước: “Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng. không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đố hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà”(4).

1 - 8

Nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình, Người chăm chú nghe và hỏi cặn kẽ nhiều điểm. Người căn dặn: Bất kỳ trong tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại... Đó là chìa khóa của mọi thắng lợi(5).

25 - 8

Trong.thư trả lời Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, Người khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”(6).

2 - 9

9 giờ 47 phút, đồng chí Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ trần, thọ 79 tuổi.

Người để lại Di chúc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân:

“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”...

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!


Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam - Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(7).


(1) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 514-515.
(2) Báo Quân đội nhân dân, ngày 23-5-1969.
(3) Hồ Chí Minh: Những sự kiện, tr. 405.
(4) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 538.
(5) Vũ Kỳ: Bác Hồ viết di chúc, in lần thứ hai, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 97.
(6) Báo Nhân dân, ngày 7-11-1969.
(7) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 540 - 543.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:31:37 pm
Phần thứ ba

THẾ GIỚI CA NGỢI SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

Trung tướng PGS. PTS HOÀNG PHƯƠNG

SƯU TẦM, TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU

Đại tá NGUYỄN HUY TOÀN
Trung tá LÊ VĂN THÁI
Trung tá NGUYỄN MINH ĐỨC


SỬA CHỮA, BỔ SUNG TƯ LIỆU

Đại tá TS. LÊ VĂN THÁI

Nhân loại tiến bộ đã khẳng định công lao và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Nhiều nhà khoa học, các chính khách trên thế giới đã nghiên cứu và thừa nhận những giá trị tư tưởng, chính trị, đạo đức, chủ nghĩa nhân văn và văn hoá của Người. Họ khẳng định rằng: “Cụ Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ đi vào lịch sử với tư cách là một nhà yêu nước vĩ đại nhất, một trong những con người kỳ diệu nhất của thế kỷ”(1).

Về quân sự, họ quả quyết rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo chính trị, quân sự toàn tâm, toàn ý và thiên tài”(2). Gớt Hôn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ từng viết: “Người là một lãnh tụ chính trị nhưng Người cũng là một lãnh tụ xuất sắc về quân sự”(3).

Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị và xã hội về Chủ tịch Hồ Chí Minh dù viết dưới dạng nào cũng đều đề cập đến thiên tài quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, một tập chuyên khảo giới thiệu riêng về “Thế giới với tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh” là cần thiết, bởi vì đây cũng là một trong những mặt nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp to lớn của Người.

Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và lao động khoa học; bởi những ý kiến đánh giá tài năng về lĩnh vực quân sự của Hồ Chí Minh nằm trong các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh được in trên nhiều nước, chúng ta cũng chưa thu thập được hết. Bước đầu chúng tôi trích ý kiến của một số tác giả về vấn đề này và xếp các đoạn trích dẫn theo một số chủ đề như sau:

1. Lý luận về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng dân tộc.

2. Lý luận về khởi nghĩa vũ trang.

3. Lý luận về chiến tranh nhân dân.

4. Lý luận về tổ chức quân sự.

5. Lý luận về khoa học, nghệ thuật quân sự.

Thông qua một số chủ đề trên, các tác giả ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy truyền thống quân sự dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa quân sự nước ngoài và vận dụng một cách sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin để xác lập tư tưởng, lý luận, quân sự của mình phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam góp phần vào thắng lợi của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Họ khẳng định rằng: “Người đã làm lay chuyển hệ thống thực dân, Người đã góp phần làm biến đổi bản đồ thế giới, Người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”(4).

Cơ sở quan trọng của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là động viên được lực lượng toàn dân đánh giặc, với sức mạnh của cả một dân tộc nên đã đánh bại những đội quân xâm lược nhà nghề mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Lực lượng vũ trang do Người xây dựng là một đội quân của dân, do dân và vì dân, đội quân ấy làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Nhiều tác giả đã nhận định rằng, lý luận quân sự Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh vũ trang và các mặt đấu tranh khác, chủ yếu là đấu tranh chính trị, nên luôn tránh được những phiêu lưu, mạo hiểm về quân sự, hạn chế được tổn thất hy sinh. Họ khẳng định rằng: “Nếu có ai hỏi văn bản nào giải thích kỹ càng nhất học thuyết Hồ Chí Minh? Chúng ta phải trả lời, đó là chủ nghĩa anh hùng nảy sinh hằng ngày trong dân tộc của Người”(5).

Nhiều tác giả đã đưa ra nhận định rằng, Hồ Chí Minh không xem chiến tranh là phương thức duy nhất để giành thắng lợi, Người sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác, phối hợp nhịp nhàng với nhau để tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm giành thắng lợi cuối cùng. Điểm nổi bật trong tư tưởng quân sự của Người lại là tinh thần yêu chuộng hòa bình, luôn luôn tìm cách đối thoại để tránh chiến tranh và chí ít cũng là hạn chế tới mức thấp nhất sự hy sinh xương máu của đồng bào và chiến sĩ. Đó còn là nhân cách, chủ nghĩa nhân văn của Người trong quân sự.

Ngày nay, thế giới đang có nhiều biến động, nhưng những giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vẫn dồi dào sức sống. Báo Người dân tộc Tan-da-ni-a viết: “Ngọn lửa cách mạng và giải phóng do Người giương cao và tượng trưng, nhất định tiếp tục dẫn đường cho tiến trình lịch sử ngày mai”.

Việc nghiên cứu, trích dẫn lần này chưa được đầy đủ, chúng tôi mong được bạn đọc bổ sung nhàm hiểu rõ sự xác nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh nói riêng của các tác giả nước ngoài.

Chúng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, cộng tác của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Trường đại học Sư phạm Hà Nội I, và các nhà khoa học đã góp phần để chúng tôi hoàn thành tập chuyên khảo này.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


(1) Jules Ancher, “Hồ Chí Minh Legend of Hà Nội” (Hồ Chí Minh truyền thuyết của Hà Nội) New Yorrk, Crowell Collier Press, 1972, tr. 189.
(2) In-ti Pê-rê-đô tư lệnh quân giải phóng Bô-li-vi: Thế giới ca ngợi Hồ Chủ tịch.
(3) Báo Nhân dân, ngày 17-9-1969.
(4) Xã luận báo Chiến đấu Công-gô Bơ-ra-da-vin 12-9-1969.
(5) Mác-ta Rô-giát, nhà báo Cu Ba, Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 39.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:48:43 pm
I. LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN
VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

“... Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp những lý thuyết về sự giải phóng khỏi sự áp bức thực dân, có sức mạnh không thể chối cãi được”...

Gin-ba Han-đát-sơ, Tạp chí Plamêta Actìon Pa-ri, tháng 3-1970.

“Người đã làm lay chuyển hệ thống thực dân. Người đã góp phần biến đổi bản đồ thế giới. Người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ. Cả ba đặc điểm đó thể hiện khái quát trong những đường lối chiến đấu hoàn hảo nhất của thời đại chúng ta”.

Báo Chiến đấu Công-gô Bơ-ra-da-vin, xã luận ngày 12-9-1969. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 107.

“Đồng chí Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc của thời đại chúng ta, đã góp phần hình thành nên lịch sử sinh động và giáng những đòn chí tử vào chủ nghĩa đế quốc”.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Ca-na-da. Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch. Nxb Sự thật, H. 1970, tập 1, tr. 87.

“... Cụ Hồ Chí Minh là một người tập hợp rất nhiều số liệu và câu trích. Những bài viết nghiên cứu của Cụ về chủ nghĩa thực dân là cả một công trình vĩ đại. Những số liệu thống kê, những đoạn trích dẫn sách Việt, Trung Quốc, Nga, Pháp của Cụ chiếm hàng vạn trang vở. Những tư liệu này được ghi lại theo thòi gian tỉ mỉ của Cụ. Nhưng phần lớn đã bị bọn chủ ngục và khí ẩm rừng rú làm hư hỏng và chỉ còn vài bản thảo với lời ghi ngoài lề được xuất bản sau khi miền Bắc được giải phóng.

... Những văn kiện ấy chứa đựng những nguyên tắc chỉ đạo của Cụ và vạch hướng cho đường lối cách mạng Việt Nam. Luận điểm trung tâm mà Cụ tóm tắt trong hàng vạn bài báo của mình là: “Chủ nghĩa thực dân là giai đoạn tột cùng của sự bóc lột xã hội giai cấp vô sản”.

... Suốt 50 năm nay, Cụ dồn hết sức lực để chứng minh tính chính xác của định nghĩa trên. Kết quả là Cụ đã lên án tử hình chủ nghĩa thực dân. Và chủ nghĩa thực dân là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc trước khi bị tiêu diệt”.

Gin-ba Han-đát-sơ, Cách mạng thiết thực Tạp chí Plamêta Action, 3-1970, số 15, tr. 125.

“... Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cách mạng Trung Quốc, Người đã từng phát biểu nhiều bài trên báo chí nước ngoài, vạch trần và lên án các nước đế quốc xâm lược Trung Quốc... Từ năm 1951 đến 1969, những bài viết của Chủ tịch về Trung Quốc đã có tới hơn 100 bài. Đấy thật là hiếm có”.

Hồng Tả Quân, Nhân dân Nhật báo, 19-5-1990. Tư liệu của Bảo tàng (B.T) Hồ Chí Minh.

“Những tháng sau chiến tranh ở Pa-ri đã trở thành bước ngoặt lớn trong cuộc đời của nhà yêu nước trẻ tuổi. Sau chuyến đi lâu dài qua các nước khác nhau, sau khi tổng kết những điều thấy được. Người đi đến một kết luận cuối cùng rằng: chỉ có một con đường duy nhất để giải phóng Tổ quốc và đồng bào của mình. Đó là con đường đấu tranh kiên quyết, đấu tranh sống còn. Người lúc đó còn chưa rõ phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam cần đi theo con đường nào để giành được thắng lợi. Song, lòng căm thù bọn thực dân đòi hỏi phải có lối thoát và Người tìm thấy nó ở hoạt động chính trị sôi nổi quên mình vì hạnh phúc của dân tộc mình”.

E.V.Cô-bê-lép, Hồ Chí Minh - Người con vĩ đại của Việt Nam. Tạp chí “Lịch sử cận và hiện đại” (Liên Xô cũ) số 4-1976. Bản dịch Đ.M, Lưu B.T Hồ Chí Minh, H29 C1/2, tr.12.

“Nếu nghiên cứu kỹ việc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và cuốn “Đường cách mệnh” thì đã thấy nổi bật một tư tưởng cho rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phải được kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giai cấp”.

Hốt-kim (Nhà sử học nước Anh), Trích trong Tạp chí “Race and class” Lon-don, 1975, TXVI, S3, tr. 223.

“... Đối với Người không còn con đường nào khác là đấu tranh giành độc lập thật sự. Và nền độc lập thực sự đó chỉ có thể là chống đế quốc, là xã hội chủ nghĩa và quốc tế chủ nghĩa...

Từ các tác phẩm của Người toát ra một quan điểm “Với một thắng lợi quân sự chưa thể nói rằng cách mạng đã giành được độc lập; độc lập chỉ trọn vẹn khi sự thống trị về kinh tế của chủ nghĩa đế quốc không còn đè nặng lên các dân tộc. Không có độc lập về kinh tế thì không thể có độc lập về chính trị”.

M.d E-ste-pa-nô - J.Ga-lê-gô (Cu Ba), Chúng bắt đầu bằng việc chém giết.

“Từ năm 1930, khi Cụ Hồ Chí Minh lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, trực diện tranh đấu (với Pháp) bằng việc thành lập một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất. Từ khoảnh khắc ấy trở đi, giờ cáo chung của ách thống trị thực dân Pháp đã điểm. Cụ Hồ Chí Minh là một con người có nhiều tài năng và một kiến thức khổng lồ. Người tuyệt đối kiên trì việc chấm dứt ách thông trị thực dân ở Đông Dương”.

W. Buốc-sét, Tam giác Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Nxb Thông tin lý luận, H. 1986.

“... Một cách lý tưởng mà nói thì nếu có sự ủng hộ của Mỹ, có thể Cụ Hồ Chí Minh đã thành lập một Chính phủ ở Việt Nam mà mặc dù là cộng sản vẫn hữu nghị với Mỹ. Nếu Mỹ đã ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh vào lúc đó, Mỹ có thể đã tránh khỏi được một cuộc chiến tranh tốn kém, bi thảm ở Việt Nam hàng năm về sau”.

G. Am-stơ Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:50:29 pm
“Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội đã diễn ra trên đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả trong ba thời kỳ: Pháp, Nhật và Mỹ. Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam đã phản ánh một sự hòa hợp giữa mặt chủ quan của Người với mặt khách quan của phong trào cách mạng thế giới.

... Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ thống nhất cho nhân dân thuộc mọi thế hệ khác nhau có cuộc sống chính trị và quan điểm khác nhau, nhưng đã liên hiệp với nhau bằng sự khâm phục chủ nghĩa anh hùng của Việt Nam và bằng mối tình đoàn kết của họ với Việt Nam”.

J. Li-sét-lich, Bài đăng trên báo “Quyền lợi đỏ”, Tiệp Khắc, số ra ngày 9 tháng 9 năm 1969. Trích theo “Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch”, Nxb Sự thật, H. 1971, tập 3, tr. 66-67.

“... Khi nói rằng cả cuộc đời Người, trong suốt hơn 60 năm, đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng, ta vẫn chưa có được một ý niệm trọn vẹn về cuộc đời vô cùng phong phú này với biết bao nhiêu điều truyền kỳ. Từ đó nổi bật lên cống hiến lịch sử: hiến dâng cuộc dời mình cho tư tưởng vĩ đại của V.I. Lênin và thực hiện tư tưởng đó tức là kết hợp cuộc chiến đấu chống thực dân với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong dòng thác duy nhất của cuộc cách mạng thế giới, nhằm chôn vùi chủ nghĩa đế quốc.

Báo “Dân chúng”, cơ quan Trung ương của ĐCS U-ru-goay, số ra ngày 4-9-1969. Trích theo “Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch” Nxb Sự thật, H. 1971, tập 3, tr. 149-151.

“Người đã tìm ra con đường là kết hợp giữa tư tưởng yêu nước của các dân tộc với sự cần thiết phải giải thoát họ khỏi sự bóc lột xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng xã hội là hai điểm then chốt trong học thuyết của Người”.

Phi-đen Ca-xtơ-rô, Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cu Ba. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 97.

“Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra và thực tế đã để lại tư tưởng và một mẫu mực trong thời đại giải phóng thuộc địa”.

Báo Mai-ni-chi Sim-bun (Nhật Bản), Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 66.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trong thế giới thứ ba để tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc”.

H.U.A.RI Bu-me-điên Chủ tịch Hội đồng cách mạng An-gê-ri “Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch”. Nxb Sự thật, H. 1970, t.1, tr. 175.

“Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam vì tự do và độc lập, cống hiến vô giá vào phong trào giải phóng dân tộc và tiến trình cách mạng thế giới, vào việc củng cố các lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên hành tinh chúng ta”.

... “Tài năng kiệt xuất của nhà cách mạng, người tổ chức cổ vũ những thắng lợi vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam, tính nhân đạo sâu sắc và sự giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu phục được sự mên yêu và sự kính trọng vô hạn của nhân dân mình và toàn thể loài người tiến bộ”.

(Tuyên bố của Hội nghị quốc tế “Việt Nam và thế giới, kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 51, 52.

“Là người sáng lập nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, nhân vật vĩ đại của phong trào cộng sản thế giới; đồng chí Hồ Chí Minh là một trong những người chi phối sự phát triển của thế kỷ XX, được đánh dấu bằng việc giải phóng các dân tộc thuộc địa và những bước tiến của chủ nghĩa xã hội”.

Bảo tàng Lịch sử Đảng Cộng sản Pháp. Bảng để trưng bày căn phòng Nguyễn Ái Quốc ngõ 9, phố Công-poanh - Pa-ri, Báo Nhân dân chủ nhật, 21-5-1989.

“Trong số các chính khách của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là nhân vật nổi bật về tính bền bỉ, dẻo dai và lòng kiên nhân trong việc tìm kiếm mục tiêu độc lập cho Việt Nam và về sự thành công trong việc dung hòa chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc”.

Thời báo Niu Yoóc (Mỹ), số ra ngày 4-9-1969.

“Hồ Chí Minh không những tìm ra con đường đi tới tự do, mà còn sáng lập và xây dựng công cụ lãnh đạo là chính đảng Mác-Lênin. Chính đảng đó lãnh đạo toàn diện cuộc đấu tranh của quần chúng nhằm đánh đổ ách thống trị của bọn xâm lược và đưa nhà nước mới có chủ quyền tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa và trước hết, tạo ra cho dân tộc Người ý chí và nghệ thuật bảo vệ linh hồn và lãnh thổ của mình chống lại các cuộc xâm lược của lực lượng quân sự viễn chinh được trang bị kỹ thuật hiện đại bậc nhất và vô lương tâm nhất chưa từng thấy kể từ ngày Đức quốc xã vượt sông En-bơ... Người đã thành công trong việc tạo ra cho một dân tộc hiền lành ý chí và khả năng chiến đấu dũng cảm như sư tử chống lại những đội quân đế quốc của Nhật Bản, Pháp và Mỹ.

... Trong quá trình cống hiến vào sự nghiệp giải phóng đồng bào mình thoát khỏi các lực lượng chiếm đóng của nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đóng góp một cách vô tư cho mục tiêu giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội và chính nhờ đó mà Người đã trở thành biểu tượng anh hùng và cách mạng trên toàn thế giới.

... Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thời đại chúng ta. Cuộc đời và các tác phẩm của Người còn sống mãi để thôi thúc những thế hệ tiếp nối và những thế hệ chưa chào đời. Nhà lãnh đạo Việt Nam vĩ đại này đã để lại một di sản gợi cảm thôi thúc lòng người và thúc đẩy những hành động lớn lao trong sự nghiệp tự do và chủ nghĩa cộng sản trong các nhà cách mạng trên toàn thế giới”.

Báo Thế giới hằng ngày, (Mỹ), số ra ngày 20-9-1969.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Năm, 2020, 10:53:01 pm
“... Thành phần học thuyết cộng sản ở Việt Nam bao gồm tính mềm dẻo, tính liên tục của phong trào, ưu thế của đối thủ và sự quan tâm trước sau như một đối với những mục tiêu cao nhất, là sự pha trộn nổi bật giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa Mác mà Ông Hồ Chí Minh và những cộng sự với ông đã đạt được. Biểu hiện sự pha trộn có tổ chức rõ ràng này là việc sử dụng bộ máy Mặt trận dân tộc thống nhất”.

Râu-giơ Xoóc-nin-giơ “Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam”, Tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.

“... Ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng bề mặt bên ngoài. Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng do Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới”.

Mô-ha-mét La-ma-ri, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền An-giê-ri tại Việt Nam. Hội thảo quốc tế về chiến tranh - Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, H. 1990, tr. 42.

“... Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là bước đầu dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ Liên hiệp Pháp - tức là đế quốc thuộc địa Pháp. Trong thực tế đó có sự đóng góp quý báu của người con lỗi lạc của nhân dân Việt Nam. Cụ Hồ Chí Minh và những người bạn chiến đấu của Cụ vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị thực dân Pháp áp bức. Họ đã có lòng tin và lấy dũng cảm một mình tiến hành cuộc chiến tranh đó, đồng thời tạo nên phản ứng dây chuyền dẫn đến độc lập cho không những các thuộc địa Pháp mà còn cho các dân tộc khác bị áp bức...”.

La-giô Lô Xan-gô. Giáo sư sử học Hung-ga-ri Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội thảo quốc tế về chiến tranh - Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội. H. 1990, tr. 71-72.

“... Sau năm 1954, Người một mặt cực lực phản đối chủ nghĩa bi quan và thỏa hiệp vô nguyên tắc, mặt khác cũng phản đối chỉ hướng vào đấu tranh vũ trang...

Xu hướng này đã thể hiện rõ bởi chính sách thực tiễn của Chính phủ Hồ Chí Minh trong những năm sau đó. Chính phủ muốn đạt được sự thống nhất cho đất nước, nhưng không muốn thực hiện nó bằng quân sự, mà muốn thông qua chính sách thực hiện đầy đủ hiệp định, bằng việc giải quyết hòa bình các vấn đề tồn tại giữa hai miền đất nước và giữa hai Chính phủ. Ông Hồ Chí Minh coi đây là một cách rất phức tạp, nhưng có thể đạt được...

Hồ Chí Minh cho đến cuối đời mình vẫn là người cộng sản và vẫn mong muốn chủ nghĩa xã hội cho đất nước mình. Tuy nhiên, mong muốn này, chưa bao giờ mâu thuẫn với mong muốn của Người về hòa bình, độc lập, thống nhất và dân chủ. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Người là biểu tượng của cuộc đấu tranh vũ trang và là đại diện của miền Bắc trong cuộc thi đua giữa các chế độ. Đồng thời Người luôn luôn là con người của sự hòa hợp, người chiến sĩ luôn mong muốn tìm giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột. Lập trường này không phải lúc nào cũng được sự nhất trí ở trong nước cũng như trên quốc tế. Tuy nhiên, với đa số nhân dân Việt Nam thì đó lại thể hiện nguyện vọng và mong muốn của họ. Ở bên ngoài có nhiều ý kiến về tính chất đặc biệt hiếu chiến của các chính sách và cách giải quyết của Việt Nam, rằng Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sàng giải quyết các xung đột bằng vũ lực. Sự đánh giá ấy hoàn toàn không đúng với Hồ Chí Minh. Đương nhiên, Người là vị lãnh tụ nổi tiếng của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam, nhưng trước tiên, Người là một chiến sĩ kiên định phấn đấu cho các giải pháp hòa bình cho những cuộc xung đột ờ Việt Nam, cũng như trên thế giới”.

Wilpried Lulei (Khoa nghiên cứu châu Á, trường Đại học Humbold Berlin, CHDC Đức cũ).

Theo: Hồ Chí Minh và những mục tiêu chính của Người” Hội thảo quốc tế ở Ca-lơ-ta (Ấn Độ) với chủ đề “Hồ Chí Minh Việt Nam và hòa bình thế giới”. Bản dịch tiếng Việt, lưu tại Viện Hồ Chí Minh, thuộc Viện chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Với chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiến thắng người Pháp và cuộc cách mạng của Người đã thành công. Khi nhảy vào Đông Dương, những giấc mộng của người Mỹ khác với người Pháp, nhưng họ vẫn giẫm theo những kiểu chân của người Pháp.

Còn đối với Cụ Hồ Chí Minh, ít có sự nghi ngờ rằng cuộc chiến tranh thứ hai cũng sẽ giành được thắng lợi. Cuộc đời của Người là một thắng lợi kỳ diệu và là một chứng minh cho chính nghĩa. Người là nhà yêu nước lớn nhất của dân tộc mình trong thế kỳ này. Nhưng ảnh hưởng của Người còn lớn hơn thế.

Ở châu Âu, chiến thắng của Người đã dạy cho nước Pháp rằng thời đại thực dân đã kết thúc.

Và ở nước Mỹ, ảnh hưởng đó còn lớn hơn thế. Những nhà lãnh đạo chính trị như Rô-bét Ken-nơ-đi khi bắt đầu thập kỷ 60 còn tin tưởng rằng, Mỹ có quyền, thậm chí có nhiệm vụ chiến đấu chống những cuộc chiến tranh du kích ở những nước chậm phát triển trên thế giới, đã phải thay đổi quan điểm, không những chống lại chiến tranh mà còn nói đến một khái niệm mới về chính sách đối ngoại của Mỹ, nhấn mạnh đến những sự hạn chế của sức mạnh và cho rằng, Mỹ không thể là tên sen đầm của thế giới.

Trong cuộc đời mình, Cụ Hồ Chí Minh chẳng những đã giải phóng đất nước mình và làm thay đổi cả chế độ thuộc địa ở châu Phi và châu Á, mà còn thực hiện một điều đáng quan tâm hơn: Người đã tác động đến cả văn hóa, tâm hồn kẻ thù của mình”.

Đa-vít Ham-béc-tam (Nhà báo Mỹ), Trích trong quyển “Hồ”, Ed Alíred A. Knopf, New York 1987, tr. 118.

“Ngọn lửa cách mạng và giải phóng do Người giương cao và tượng trưng, nhất định tiếp tục dẫn đường cho tiến trình lịch sử ngày mai”.

Báo người dân tộc (Tan-da-ni-a), Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H.1985, tr. 108.

“Hơn một phần tư thế kỷ nay, chỉ có Hồ Chí Minh mới giữ được cho ngọn đuốc độc lập bùng cháy trong trái tim, khối óc của những người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản và duy nhất chỉ có Ông đã trở thành hiện thân của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, một Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn của Việt Nam”.

A. Pat-ti. Why Việt Nam? Ca-Ii-phoóc-ni-a, 1986.

“Các dân tộc Nam Tư sẽ giữ kỷ niệm lâu dài về hình ảnh cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà cách mạng thần kỳ, Người chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh cho quyền tự quyết của các dân tộc”.

G.B.Ti-tô. Chủ tịch Liên bang Nam Tư. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H.1985, tr.322.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng của thời đại chúng ta.

Rô-nê-ô Pê-tơ-rô (Nhà văn Ha-i-ti), Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh Nxb Thanh niên, H.1985, tr.195.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử các dân tộc Đông Dương và tất cả các dân tộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ La - tinh như là tượng trưng cho cuộc đấu tranh yêu nước giành độc lập dân tộc”.

Nô-rô-đôm Xi-ha-núc. Quốc trưởng Campuchia. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên, H.1985, tr.319.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:07:31 am
II. LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

“Tháng 9 năm 1939, đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ, nhận thấy điều kiện cách mạng Việt Nam đã chín muồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm lấy thời cơ tiến hành các công tác chuẩn bị.

Sau 30 năm ở xa Tổ quốc, tháng 2 năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nước, trực tiếp lãnh đạo hoạt động cách mạng ở gần biên giới Trung - Việt. Tháng 5 năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, quyết định thành lập, phát triển và tăng cường sự lãnh đạo đối với tổ chức vũ trang và bán vũ trang. Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền. Hồ Chủ tịch còn tự tay biên soạn một số tài liệu về chiến thuật du kích, giới thiệu phương pháp và kinh nghiệm đánh du kích của Trung Quốc. Ngoài ra, Người còn biên dịch các sách về binh pháp Tôn Tử và đạo dùng binh của Khổng Minh”.

Cốc Nguyên Dương Nghiên cứu viên Viện nghiên cứu kinh tế, chính trị thế giới, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc. Trích “Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi” trong quyển “Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Ban Thường vụ của Đảng họp đêm mồng 9 rạng ngày 10 tháng 3, quyết định đẩy mạnh các cuộc khởi nghĩa cục bộ, vạch ra con đường phải theo và các phương thức hành động thích hợp trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, thành lập thêm nhiều đơn vị mới, lập các ủy ban quân sự, ủy ban giải phóng.

Các đội “Tuyên truyền giải phóng quân” và “Cứu quốc quân” vẫn tiếp tục tiến về phía Nam. Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy du kích và vị lãnh tu lão thành gặp nhau ở Hà Kiều, hồi đầu tháng 6, đúng vào lúc Đức quốc xã đầu hàng. Nhưng một lần nữa “Bác Hồ” không quên lưu ý người phụ tá hăng hái nhiệt tình của mình rằng, các điều kiện để tổng khởi nghĩa chưa có đủ.

Ngày 15 tháng 8, Chính phủ Thiên hoàng đầu hàng. Các chốt Nhật Bản đã bị bẻ gãy năm tháng sau khi chính người Nhật đã phá hủy lâu đài thuộc địa Pháp. Ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông chẳng ngỡ ngàng trước tính chất hơi kỳ diệu của họ tiến tới nắm chính quyền. Đến đây phải dừng lại một chút, vì lúc này là lúc thể hiện đầy đủ nhất nhân cách chính trị của Ông Hồ và... chiến lược của Ông. Phỏng theo chiến lược của V.I Lênin, chiến lược này được xây dựng trên hai ý: “Thời cơ thuận lợi” và “kẻ thù chính”. Không có cái gì xác định Ông Hồ tốt hơn là luận điểm về “Thời cơ thuận lợi”. Trong suốt đời mình và cho đến quá trình cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam sau năm 1960, ông đã tìm kiếm những hoàn cảnh thuận lợi để hành động và để thương lượng...

... Đã ba hay bốn tháng nay, trong mọi trường hợp từ ngày 9 tháng 3, các bạn chiến đấu của ông luôn luôn thúc giục ông hành động: thực dân Pháp đã bị quét sạch, nay phải đánh phát xít Nhật; nhưng ông cũng biết rõ so sánh lực lượng ở địa phương còn bất lợi nhưng so sánh lực lượng trên thế giới thì có lợi từ lúc phe “trục” thất bại. Phải chờ cho Nhật cũng yếu ở địa phương như trên lĩnh vực quốc tế. Nhưng lại phải hành động trước khi Pháp được phục hồi.

Còn như nói về “kẻ thù chính” thì điểm quan trọng là không được cố định..., nó thay đổi. Nó lần lượt là chủ nghĩa thực dân Pháp, chủ nghĩa phát xít Nhật, quân chiếm đóng người Trung Quốc, chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Điều quan trọng là phải phân biệt rõ kẻ thù chính trong từng lúc, chống lại nó bằng cách nào.

Ngày 10 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh còn chưa bình phục sau trận ốm vừa qua, triệu tập “Quốc dân đại hội đại biểu bất thường” ở Tân Trào (Thái Nguyên) có 60 đại biểu, trong đó có các đại biểu những dân tộc thiểu số ở miền Bắc và của những xu hướng còn chưa sáp nhập vào Việt Minh, về dự họp. Ủy ban này “quyết định giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi Đồng minh vào”. Ông Hồ Chí Minh tung ra “Lời kêu gọi tổng khởi nghĩa”, mà ông đã nhiều lần trì hoãn.

... “Đồng bào toàn quốc hãy đứng dậy, đem sức ta mà giải phóng cho ta. Chúng ta không thể chậm trễ. Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên...”. Lần cuối cùng, ông ký tên Nguyễn Ái Quốc.

... Đến ngày 25 tháng 8 năm 1945, mười ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng, Việt Minh làm chủ được cả nước Việt Nam...”.

Giăng La-cu-tuya. Trích trong “Hồ Chí Minh”. Bản dịch tiếng Việt, Lưu Viện Lịch sử QSVN.

“... Mùa xuân năm 1945, Hồ Chí Minh, Trường Chinh và những người chủ chốt của ban lãnh đạo Việt Minh ở miền Bắc cùng có khái niệm giống nhau về chiến lược. Chú trọng vào chiến tranh hơn là cuộc nổi dậy mang tính kinh điển. Họ chọn lựa cùng phối hợp với quân Đồng minh trong cuộc chiến kháng Nhật. Mục đích đầu tiên của họ là chống lại quân Nhật và phát động cuộc tổng nổi dậy ở các trung tâm ngay sau khi quân Nhật ngã lòng và tiến tới thất bại”.

Stein-tonnesson. Cách mạng tháng 8 năm 1945 Nxb, Oxlô, 1991. Bản dịch BT Hồ Chí Minh, H29 C6/19. tr.77

Ông Hồ và cuộc chiến tranh cách mạng thắng lợi của ông chống Pháp và cuộc chiến tranh chống Mỹ của ông đã gây nên một tác động rất lớn đến phương Tây và đến toàn bộ thế giới các nước đang phát triển... Trong khi nước Mỹ đang chiến đấu với quân đội của ông, một nhà xuất bản ở Mỹ đã in sách “Hồ Chí Minh bàn về cách mạng” và đã nói “Cuốn sách này được viết trong tù, ở nước ngoài, trên chiến trường là “Thánh kinh chính trị” của một nửa thế giới”.

David Halberstam, Hô, Brucher Chantel, Paris, 1972.

“Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời long trọng tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đúng lúc ấy, những người lính Đồng minh đầu tiên đến giải giáp quân Nhật Bản đã đổ bộ lên Việt Nam. Nhưng họ đã đứng trước một Chính phủ được nhân dân thừa nhận là hợp pháp và bao phủ lãnh thổ nước mình bằng một rừng cờ sao vàng. Khi Đồng minh đến Việt Nam, Việt Minh đã ở khắp mọi nơi. Duy nhất có nước Pháp vắng mặt lúc điểm danh. Chính phủ Pháp phản ứng không nhanh bằng Ông Hồ. Có thể vì Chính phủ Pháp không được báo cáo tình hình rành rọt bằng Ông Hồ. Nhật Bản bị đòn chí mạng, nhà vua và ngụy quyền tê liệt. Chính phủ Pháp không ra được quyết định nào. Nhưng Ông Hồ đợi sẵn từ lâu rồi. Ông đã có ủy ban khởi nghĩa trong tay và hành động tức khắc.

Ngày 13 tháng 8, nước Pháp mới ký lệnh thả xuống Đông Dương một bộ sậu: Xê-din xuống miền Nam, Mét-xme xuống miền Bắc làm ủy viên cộng hòa Pháp. Từ ngày ký đến khi thực hiện lệnh này là 9 ngày (13-8 đến 22-8). Chín ngày ấy là những ngày cốt yếu về chính trị, rung chuyển toàn bộ Đông Dương. Toàn bộ quỹ thời gian này đều trong tay Ông Hồ điều khiển và sử dụng”.

Hăng-ri A-dô: Sự bí ẩn của Ông Hồ, Pa-ri, 1976. Bản dịch lưu Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

“Ngày 19 tháng 8, sau khi đã thành công, Việt Minh bèn phô tỏ lực lượng quân sự của mình. Sáng hôm đó, khoáng 1000 quân Việt Minh có vũ khí đi vào Hà Nội để giành quyền kiểm soát. Bằng cách nào đó họ có vẻ như đông hơn là con số thực tế. Chính quyền do Nhật Bản lập ra bị bất ngờ. 30.000 quân Nhật không dám chống cự. Cảnh sát và lính bảo an lúc đầu còn chần chừ, nhưng chẳng mấy chốc họ bị trào lưu lôi cuốn vì họ thấy lực lượng Việt Minh trong hành động, những người lính này có vẻ thiện nghệ, hình như họ sắp xung phong đến nơi. Việt Minh xông vào Bắc Bộ phủ. Đến chiều tối thì toàn bộ thành phố Hà Nội lọt vào tay họ.

Những ngày này, Ông Hồ ở ngoài thành Hà Nội. Cuộc hành quân ào ạt được tổ chức chặt chẽ do Ông vạch ra đã được thực hiện thành công mỹ mãn. Nhưng Ông không dẫn đầu đoàn diễu binh vào Hà Nội. Ngược lại, Ồng lặng lẽ vào thành phố khoảng ngày 25 tháng 8, chưa xuất đầu lộ diện. Trước đó, Ông đã nhận biết điều mà ít người khác thấy được: Tất cả tuỳ thuộc vào tháng 8 năm 1945.

Ông Hồ đã nhanh tay hơn tất cả các đối thủ, thực hiện được tư cách hợp pháp của chính quyền và Ông Hồ làm Chủ tịch. Ông cảm thấy, lần đầu tiên lịch sử đã đứng về phía Ông.

Đa-vít An-be-xtam: Hồ, Radom House Niuooc. 1971. Bản dịch lưu Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:09:16 am
III. LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN

“Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ trong lĩnh vực lý luận và tư tưởng. Người là một lãnh tụ chính trị. Nhưng Người cũng là lãnh tụ xuất sắc về quân sự. Đây không phải là những lĩnh vực cách biệt, trong tài cao, trí rộng của Người. Đây không phải là những trào lưu trái ngược nhau, mà là những mặt của một quan điểm cách mạng thống nhất. Mỗi mặt được triển khai theo yêu cầu của hoàn cảnh cụ thể. Sức mạnh thúc đẩy cách mang phát triển bắt nguồn từ mỗi quan hệ đúng đắn giữa các mặt đó. Nhận thức sâu sắc về các lực lượng cách mạng phát triển bắt nguồn từ mối quan hệ giữa các lực lượng đó chính là nguồn gốc của một nhãn quan sáng suốt, khái niệm chiến lược đúng đắn và tài vận dụng sách lược ở trình độ bậc thầy của đồng chí Hồ Chí Minh trong mọi tình huống”.

Gớt Hôn - Tổng Bí thư Đảng cộng sản Mỹ, báo Nhân dân, 17-9-1969

“Đã gần nửa thế kỷ nay, ông nung nấu hy vọng và chiến đấu, trên tư cách là nhà hoạt động bí mật và người chiến thắng quang vinh, là người chiến sĩ du kích và vị Chủ tịch nước Đã nửa thế kỷ nay, đứng trong lòng quốc tế thứ 3, vì quốc gia Việt Nam và cuộc cách mạng lê-nin-nít, con người nhỏ bé này… đã tiến hành một cuộc chiến đấu phong phú chưa từng thấy về sự đa dạng của các chiến thuật và tinh huống, về sự linh hoạt của cuộc đấu tranh, về những nguy cơ phải trải qua và những hy sinh phải chịu đựng, về sự không cân bằng về vũ khí mà các đối thủ của ông đã đem ra đối lập lại ông... Nhà cách mạng nào trong thời kỳ này đã dám thách thức trật tự của những kẻ mạnh với một sự kiên trinh ngoan cường như vậy?... Ông là người thức tỉnh lúc mọi người đang ngủ... Người làm nên lịch sử phí thường này đã hồi phục một dân tộc, xây dựng một quốc gia, điều khiến hai cuộc chiến tranh về cơ bản là những cuộc chiến tranh của các dân tộc bị áp bức. Cuộc chiến đấu chống Pháp của ông đã dẫn tới sự sụp đổ của một đế chế thuộc địa lớn. Cuộc chiến đấu mà ông đang tiến hành chống lại Mỹ đang đánh dấu những giới hạn của sức mạnh kỹ thuật trước con người.

Trong tất cả những người hiện đang sống, Ông Hồ có lẽ là người đã chứng minh một cách ưu tú nhất rằng, một ý chí, được vũ trang bằng kỹ thuật cầm quyền không sao chê trách được đâm chồi bám rễ trong nguyện vọng nhân dân, có thể làm được những gì”.

Giăng La-cu-tuya - Hồ Chí Minh. Nxb Le-soi (Lesoill Paris - 1967) Bản dịch lưu VLSQS.

“Nếu có ai hỏi văn bản nào giải thích kỹ càng nhất học thuyết Hồ Chí Minh? Chúng ta phải trả lời đó là chủ nghĩa anh hùng nảy sinh hằng ngày trong dân tộc của Người”.

“... Như vậy là thông qua chủ nghĩa anh hùng nảy sinh hằng ngày của nhân dân Việt Nam, người ta đã tìm thấy lời giải thích hay nhất về học thuyết vi độc lập và tự do của Hồ Chủ tịch”.

Mác-ta Rô-giát (Nhà báo Cu Ba), Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 39-40.

“... Chúng ta có thể khẳng định rằng cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và lý luận của Người về chiến tranh nhân dân, đã góp phần làm phong phú học thuyết Mác - Lênin về phương pháp và các dân tộc phải làm theo khi tiến hành một cuộc cách mạng dân chủ. Điều đó giải thích tại sao Người có thể tập hợp toàn dân tộc vào mặt trận cách mạng và tại sao tất cả mọi người Việt Nam tham gia cuộc kháng chiến với chủ nghĩa yêu nước vĩ đại.

Đó là cống hiến to lớn của Người vào cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

(Mác-xê-la Lôm-bác-đô - Trung tâm nghiên cứu triết học, chính trị và xã hội Vi-xen-tê Lôm-bác-đô Tô-lê-đa-nô, Mê-hi-cô). Theo báo Nhân dân chủ nhật, số 20, ngày 13-5-1990).

“Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường, vạch ra chiến lược chiến thuật và đã không tính toán quá nhiều về những vũ khí của nhân dân Việt Nam có trong tay. Người biết rằng Việt Nam có một Đảng, có tổ chức quần chúng, có lòng yêu nước và có lẽ phải. Vì vậy, năm 1946, lúc đó quân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam, Người đã nói: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng ra sức chống thực dân cứu nước”.

Một dân tộc hầu như không có vũ khí đã khởi đầu như vậy cuộc đấu tranh mà tám năm sau kết thúc với chiến thắng hết sức quan trọng ở Điện Biên Phủ, chiến thắng đó đã làm cho bọn đế quốc khiếp sợ, làm cho đế quốc Mỹ khiếp sợ, đến mức hồi đó, chúng đã nghĩ đến việc dùng vũ khí nguyên tử để xem có cách gì cứu vãn được đội quân viễn chinh tinh nhuệ đang bị vây hãm ở Điện Biên Phủ hay không.

Cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh là một cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài và đẹp đẽ và Người đã đau xót biết bao trước những hy sinh, mà chủ nghĩa đế quốc đã gây ra cho nhân dân của Người, trước những nạn nhân - những người đã bỏ mình trong cuộc đấu tranh đó, những chiến sĩ cũng như những người lãnh đạo, nam cùng như nữ, già cũng như trẻ, trước những tàn phá ghê gớm đối với nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh đã không ngần ngại kêu gọi chịu dựng mọi hy sinh cần thiết để bảo vệ độc lập và tự do của Việt Nam. Người không bao giờ có chút dao động trong việc này”.

(Phi-đen Ca-xtơ-rô. Diễn văn ngày 27-3-1974 chào mừng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam. do Thủ tướng Phạm Vãn Đồng dẫn đầu sang thăm Cu Ba. trích báo Thống nhất, số 245, ngày 18-5-1974).

“... Không ai có thể chống lại nổi ông vì niềm tin của ông mãnh liệt, tin ở nhân dân minh và tất cả các dân tộc cũng như ở sự nghiệp cao cả. Mỗi lời nói của ông hình như dựa vào niềm tin là về nguyên tắc tất cả mọi người cộng sản đều là anh em cùng giai cấp, họ chỉ có thể tỏ ra trung thực và chân thành với nhau mà thôi.

Hồ Chí Minh quả thực là một trong “các vị thánh” của chủ nghĩa cộng sản.

N.Khơ-rút-xốp (Liên Xô rũ) Hồi ký, Rô-béc La-phông. Pa-ri. 1971. Tư liệu Viện Hồ Chí Minh.

“... Đồng chí Hồ Chí Minh đã biết gắn chặt cuộc chiến tranh của nhân dân nước Người với cuộc chiến tranh chung của tất cả các dân tộc bị áp bức chống đế quốc kẻ cướp. Bác Hồ đã dạy chúng ta rằng ý chí bất khuất giành độc lập là điều mà trên đời này sức mạnh cơ giới không thể nào khuất phục được...”.

Xã luận báo Chiến đấu Công-gô, ngày 12-9-1959.

“Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc đói nghèo và khát khao cuộc sống cho ra con người. Cụ đã dạy họ rằng muốn tự giải phóng, trước hết phải dựa vào sức mình là chính và một dân tộc chỉ có thể sống còn nếu con em của các dân tộc đó không chịu làm nô lệ. Nhất là Cụ đã dạy họ rằng, cuộc chiến đấu vì nhân phẩm và tự do phải vượt lên trên mọi cuộc chiến đấu khác”.

Gióc-giơ Mông-ta-rông, Trích trong sách: Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1971. tr. 280.

“Kết hợp chủ nghĩa Mác với tinh thần dân tộc. Cụ đã thành công vĩ đại trong khi truyền bá cho nhân dân cách hy sinh kỳ lạ... Cụ Hồ đã đánh gục mọi kẻ thù của mình: Pháp, Nhật, chế độ Sài Gòn và Mỹ.,.

Mục đích duy nhất của Cụ là làm thay đổi chiều hướng của lịch sử...”.

Giun-lơ Ác-sơ: Hồ Chí Minh. Truyền thuyết của Hà Nội. Niu Yooc roweell-collire. Vress. 1972. tr. 189 - 190.

“Một số người còn đi xa hơn và họ đã nói đến chủ nghĩa hòa bình. Vậy, phải phán đoán như thế nào? Đúng là trong thời kỳ ấy, Cụ đã cố gắng thuyết phục để chúng tôi hiểu rằng Cụ rất ác cảm với giải pháp bằng vũ lực... Tuy có học sách Khổng Tử, nhưng Cụ lại không có cái tệ mù quáng của tôn giáo hay của triết học như Giăng-đi chịu bó tay không dùng đến vũ lực khi cần thiết”.

Giăng Xanh-ten

Trích trong Face à Hồ Chí Minh Seuil, Paris. 1980.

“... Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là bước khởi đầu cho sự sụp đổ của toàn bộ liên hiệp Pháp, tức của đế quốc thuộc địa Pháp...

... Trong thực tế đó, có sự đóng góp quý báu của con người lỗi lạc của nhân dân Việt Nam - Hồ Chí Minh và những bạn chiến đấu của Người về sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị thực dân Pháp áp bức. Họ đã có lòng tin và lòng dũng cảm một mình tiến hành cuộc chiến tranh đó, đồng thời tạo nên phản ứng dây chuyền dẫn đến độc lập cho không những các thuộc địa Pháp mà còn cho các dân tộc khác bị áp bức”.

La-xlô San-gô

Giáo sư sử học Hung-ga-ri, Trích “Hội tháo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

“... Là một người chủ yếu theo chủ nghĩa nhân bản, một người yêu chuộng hòa bình, nhưng Cụ Hồ Chí Minh đã đi tới chỗ phải đóng vai trò một người lãnh đạo chiến tranh. Là một người cộng sản mác-xít do lòng tin vào học thuyết này từ hồi còn trẻ, lịch sử đã biến Cụ thành một trung tâm chung, từ đó nảy sinh ra những lực lượng trước hết có tính chất dân tộc”.

Xã luận báo “Ánh Điện” Ấn Độ ngày 13-9- 1959.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:11:18 am
... Ở Việt Nam, cuộc cách mạng đã phải tiến hành hoàn toàn bằng sức mạnh của nhân dân trong nước. “Tự lực cánh sinh” ở Việt Nam, đó là một khẩu hiệu do Cụ Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1915... Điều này theo tôi cũng là một cống hiến mới mẻ trong lịch sử lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác.

Sin-gô Si-ba-ta (Nhật Bản) Tạp chí Rô-ki-xi Hy-rô Rông. số 233, Tô-ki-ô, tháng 5-1969.

“... Giôn-xơn tiếp tục khẳng định Ông Hồ thật sự không muốn hòa bình và thường chứng minh điều này bằng cách trích dán không đúng ngữ cảnh lời của đối thủ. Điều ông ta không chịu nói ra là lời Ông Hồ nói rằng ông không chấp nhận một nền hòa bình theo điều kiện của Hoa Kỳ trong đó không đếm xỉa đến Mặt trận dân tộc giải phóng và vẫn chia đôi Việt Nam, đặt miền Nam dưới chế độ bù nhìn”.

Charles Fenn.

Giới thiệu tiểu sử Hồ Chí Minh một trong những lãnh tụ của tư tưởng hiện đại. Trung tâm thông tin KH kỹ thuật quân sự và Viện BTHCM, dịch lưu BTHCM. H.9 C2/14, tr. 13.

“Tôi nhớ đến Ông Hồ Chí Minh đã sang Pháp năm 1946 để tìm một người đối thoại nhưng không thấy, ông muốn đàm phán để tránh chiến tranh”.

R.Mit-tơ-răng

Tổng thống Cộng hòa Pháp, nói trong cuộc họp báo tháng 2-1993 HN. TTXVN trong “TLTK đặc biệt” 12-2-1993.

“Chiến lược cách mạng của đồng chí Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin bất tử đã góp phần xứng đáng, làm phong phú thêm kinh nghiệm cách mạng thế giới”.

Va-xin Va-lép-xki - Thành viên ủy ban bảo vệ hòa bình và ủy ban đoàn kết nhân dân Á - Phi của Bun-ga-ri. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H.1980, tr. 144.

“Đồng chí Hồ Chí Minh đã sống một cuộc đời rạng rỡ của một nhà cách mạng mác-xít, của một người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống thực dân, của một người tổ chức và xây dựng một Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên và duy nhất ở Đông - Nam Á, kế cả cho đến ngày nay. Đồng chí Hồ Chí Minh đã sống một cuộc đời đầy đấu tranh gian khổ và thắng lợi, là tấm gương cho tất cả những người trung thực và có ý thức về chính trị”;

Trích bài của Ban biên tập báo Thời mới (Liên Xô cũ) số 37, ngày 17-9-1969.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ vĩ đại nhất của châu Á. Người vĩ đại vì tài lãnh đạo, vĩ đại vì tình yêu đối với nhân dân, vĩ đại vì lòng dũng cảm và quyết tâm trong cuộc kháng chiến lâu dài chống xâm lược”.

Trích bài đăng trên báo Quốc gia (Ấn Độ). Số ra ngày 5-9-1969.

“Cụ Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có trong lịch sử. Cụ hiểu rõ và phản ánh một cách hoàn hảo những nguyện vọng của nhân dân. Cụ đã hiến trọn đời mình để hoạt động và chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của Việt Nam là nước liên tục bị chủ nghĩa đế quốc Pháp, Nhật và Mỹ tiến công, và cho nền tự do của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Trích bìa của Ri-sớt U-các-dơ, đăng trên báo Người bảo vệ (Mỹ), số ra ngày 20-91-69.

“Ngay từ ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã nhận thấy lực lượng mạnh mẽ nhất... là chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Trước hết ông gắn bó chặt chẽ bản thân mình với nguyện vọng dân tộc của dân tộc mình. Từ năm 1945, khi tuyên bố độc lập cho Việt Nam đến tận ngày nay, Hồ Chí Minh luôn luôn là chiến sĩ của chủ nghĩa dân tộc cũng như là người đứng đầu chế độ và Đảng cộng sản”.

Hồ Chí Minh trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. (Trích trong cuốn “Chúng ta đến Việt Nam như thế nào và sẽ rút ra khỏi Việt Nam ra sao” của Da-vít Sơn-brân, Giáo sư trường ĐH Cô-lô-bia H.29 C6/06 TL lưu BT Hồ Chí Minh.

“Chúng ta phải tìm bắt lại liên lạc với những người đại diện chân chính của Việt Nam. Dù các ngài muốn hay không muốn, đó không thể ai khác ngoài Hồ Chí Minh và Việt Minh. Vì họ là những người có nhân dân Việt Nam phía sau họ, là những người sẽ đến ngày đối diện với cách ứng xử của chúng ta. Việt Minh hay là Mặt trận Việt Nam độc lập là một phong trào rộng rãi, không phải là một đảng mà là một tổ chức đã tập hợp được đa số nhân dân”.

Hăng-ri Lô-dơ-ray

Diễn văn đọc tại Quốc hội Pháp 18-3-1947.

“... Trong cuộc chiến tranh của loại này: không có chiến tuyến vì chiến tuyến ở khắp mọi nơi, mọi chốn và bất kỳ ở đâu. Chiến tuyến đi qua hàng boong ke, nhưng cũng đi qua quán cà phê châu Âu, nơi bỗng nổ tung một quả lựu đạn. Chiến tuyến ở thành phố và cũng ở cả nông thôn, ở đồng bằng cũng như ở trên rừng núi. Chiến tuyến vào trong nhân dân nơi trên mảnh đất quê hương mình, nhân dân đấu tranh cho nền độc lập của dân tộc mình và những binh lính nước ngoài là những kẻ không hiểu vì sao mà họ lại phải đến đây để chém giết. Chém giết và cũng để rồi chết bỏ. Đối với họ, kẻ địch đó chính là anh nông dân đang lao động trên cánh đồng chẳng kém gì anh lính thường trực trong quân đội nhân dân chính quy. Họ có cảm giác kẻ địch ở trước mặt, ở sau lưng, bên phải, bên trái và khắp nơi đội quân viễn chinh ấy có cảm nghĩ là mình đã bị bao vây”

A-lan Rút-xi-ô

Dẫn theo P.Cuốc-tắt, R.Ác-tô, J.Quaus, Sách “Những người cộng sản Pháp với cuộc chiến tranh Đông Dương 1944 - 1954”, Nxb L’Harmattan. Pa-ri1985, tr. 345.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:12:09 am
IV. LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUÂN SỰ

“Cuối tháng 7 năm 1944, Ủy ban cách mạng vùng Cao Bằng đã tuyên bố tán thành khởi nghĩa vũ trang ở Việt Bắc. Ông Hồ không đồng tình và nhận định: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới”. Cao Bằng chỉ mới căn cứ tình hình địa phương, chứ chưa căn cứ vào tình hình chung.

Đầu tháng 12 năm 1944, Hồ Chí Minh ký “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”, mà hạt nhân là 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp hồi đó chỉ huy ở thượng du Bắc Kỳ. Chẳng bao lâu các đơn vị chiến đấu của Việt Minh đã được chuẩn bị sẵn sàng. Được họ bảo vệ, ngày 29 tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh tiến sâu vào lãnh thổ Đông Dương, vượt qua vùng biên giới Pắc Bó không phải là năm 1941 nữa rồi - và tiến về Thái Nguyên. Ông ở trong vùng núi đá vôi, mà 10 tháng sau ông sẽ từ biệt để về Hà Nội và rồi lại về đây từ 1947 đến 1954.

Các đội du kích Việt Minh làm hạt nhân trong cả nước, loang ra như một vết dầu, tiến vào vùng núi hẹp Đình Cả gần Thái Nguyên, thời kỳ này là thời kỳ phát triển lực lượng cực kỳ nhanh chóng...”.

Giăng La-cu-tuya (Nhà sử học Pháp), Trích trong quyển “Hồ Chí Minh”, Lesoill Pa-ri, 1947, Bản dịch tiếng Việt, lưu ở Viện Lịch sử Đảng, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Trong bảy tháng, kể từ ngày cách mạng thắng lợi đã làm được bao nhiêu việc để tăng cường sức mạnh quân sự của nước cộng hòa trẻ tuổi và công việc ấy không một ngày dừng lại. Nếu trước khởi nghĩa tháng Tám, việc quân sự hóa các Hội cứu quốc diễn ra chủ yếu là trong vùng giải phóng, thì giờ đây, quá trình này diễn ra khắp nước. Cuối năm 1945, hầu hết các làng xã, khu phố, nhà máy, hầm mỏ đều thành lập các đội tự vệ, mà trong một bài diễn văn của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đây là “Bức tường thép của Tổ quốc”.

Hội viên các Hội cứu quốc hăng hái tham gia tập quân sự, luyện các cách đánh giáp lá cà. Cả nước diễn ra trong phong trào tìm và chế tạo vũ khí. Lại như ngày xưa, các bác thợ rèn ở nông thôn tạm dừng đúc cày, rèn bay đem tài nghệ của mình ra đúc kiếm, rèn gươm. Trẻ em thu nhặt sắt vụn, người lớn hiến nồi niêu bằng đồng, thậm chí hiến cả đồ thờ cúng.

Quân đội chính quy nhanh chóng tăng lên về chất lượng và số lượng, nhiều đơn vị lớn: tiểu đoàn, trung đoàn xuất hiện. Cần phải nói rằng, ngay từ đầu, mặc dầu trong thực tế Đảng phải hoạt động bí mật, nhưng đã kiểm soát được quá trình hình thành lực lượng vũ trang đất nước và điều đó đóng vai trò quyết định trong cuộc kháng chiến lâu dài sau này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hai trường quân sự - trường quân sự chính quy và trường tự vệ - đã khai giảng và hoạt động ở Hà Nội. Nhiều người tốt nghiệp những trường này đã trở thành các nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng.

Đến đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng trường quân sự ở mạn tây-bắc tỉnh Sơn Tây. Tại đây, lần đầu tiên Người nói rằng, phương châm của quân giải phóng Việt Nam phải là sáu chữ “trung với nước, hiếu với dân”. Từ đó, mấy chữ ấy đã thành danh ngôn, trở thành máu thịt của mỗi người lính, mỗi dân quân, mỗi chiến sĩ tự vệ và đã đi qua hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam”.

Ép-ghê-nhi Ca-bê-lêp. Trích trong Đồng chí Hồ Chí Minh”. Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 170-171.

“Suốt cuộc đời, Cụ Hồ đã chiến đấu cho lý tương cộng sản. Chiến đấu cho lý tưởng, Cụ Hồ đã bị chính quyền Anh ở Hồng Công và chính quyền Trung Hoa nhiều lần bắt tù. Tác phẩm của Cụ được truyền bá rộng rãi, tên tuổi của Cụ được tất cả các phong trào cách mạng phương Đông nhắc tới. Trước hết, từ con người Cụ toát ra “một lòng nhân ái đặc biệt”. Và Cụ có một niềm tin vô cùng mãnh liệt khiến mọi người xung quanh đều bị lôi cuốn. Lối sống giản dị và sự trung thực của Cụ Hồ đã gây ấn tượng sâu sắc.

... Nghĩ và làm một cách “cụ thể và khôn khéo” của Cụ Hồ là một tác phong mà Giáp ra sức học tập, rèn luyện và đó cũng là điều hướng dẫn cho cách xử sự của Giáp những năm sau này, cả trong lĩnh vực chính trị cũng như quân sự. Một trong những nguyên tắc đầu tiên mà Cụ Hồ dạy là, hành động chính trị phải đi trước hành động quân sự, việc động viên quần chúng phải tuyệt đối ưu tiên và chính nhờ đó mới có thắng lợi chính trị và quân sự.

... Thấy Giáp cương quyết, có nhân cách, Cụ Hồ cho rằng, có thể giao cho Giáp phụ trách quân sự...

... Hồ Chí Minh là người thủ lĩnh tinh thần của phong trào, là một bậc thánh nhân... Giáp là một con người hành động.

... Để đấu tranh cho tương lai, cần phải có những người kiên quyết, hăng hái. Đối với họ, Hồ Chí Minh yêu cầu rất cao. Họ cần phải tháo vát, trung thực, tiết kiệm, ngay thẳng, vô tư, khiêm tốn, giản dị”.

Pê-tơ Mác-đô-nan: Giáp, một sự đánh giá Nxb Porrin-12, avenue d’ Jtalie, Paris 1992, Bản dịch lưu tai Bộ môn Tư tưởng quân sự VLSQSVN.

... “Cách mạng không thể đi tới đích nếu không có tổ chức quân đội nhân dân và tiến hành khởi nghĩa vũ trang (theo Hồ Chí Minh). Khởi nghĩa vũ trang phải được bắt đầu từ yếu tố cơ bản: Đó là con người, con người yêu nước Việt Nam. Quân đội đó dựa vào quần chúng thì sẽ là quân đội bách chiến bách thắng. Vũ khí đã có nguồn: lấy vũ khí địch trang bị cho mình”... Chính cái đó giúp chúng ta hiểu rằng một trong những cống hiến quan trọng nhất về quan điểm quân sự chống đế quốc của Hồ Chí Minh là quan điểm “Chiến tranh nhân dân”.

M. Ét-stê-pha-nô - J.Ga-lê-gô (Cu Ba), Chúng bắt đầu bằng việc chém giết.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:12:38 am
“Với uy tín và tài trí của ông, ông Hồ đã góp phần làm chuyển biến cả một giai đoạn lịch sử. Trong những thập niên 20 và 30, ông là một trong những người đã lên án chủ nghĩa thực dân, tiếng nói lúc ấy còn đơn độc, thường bị lãng quên. Trong thập niên 50, ông là người phụ trách xây dựng một tổ chức chính trị và quân sự giúp cho quần chúng nông dân lạc hậu tiến hành thắng lợi một cuộc chiến tranh cách mạng chống một nước phương Tây đáng sợ, một cuộc chiến tranh... đã chấm dứt cả cái huyền thoại về tính chất ưu việt của người da trắng”.

Đa-vít Han-bơ-xtan: Hồ Chí Minh, Ed. Bucher Chantel, Paris 1972, tr.75.

“Với thắng lợi (Điện Biên Phủ), uy tín của Hồ Chí Minh đã vươn tới đỉnh cao mới tại châu Á. Các nhà dân tộc chủ nghĩa tại nhiều nước, mặc dù họ chống cộng, cũng không thể không lấy làm tự hào trước chiến công của một quân đội một nước châu Á đánh bại những kẻ từng là “ông chủ” của họ từ châu Âu tới... Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, lực lượng Việt Minh đã có được một đội quân chiến đấu trong rừng có hiệu quả nhất Đông-Nam Á, có vị tướng tài ba nhất ở Đông-Nam Á là Võ Nguyên Giáp, có một tổ chức chính trị vững chắc nhất do Hồ Chí Minh đứng đầu và có trình độ lãnh đạo lão luyện”.

Tạp chí Thời báo (Mỹ) số ra ngày 22-11-1954.

“Tuy hết sức bận rộn công việc hằng ngày, Hồ Chí Minh vẫn suy nghĩ nhiều về đường lối mà Đảng và Việt Minh phải theo khi những điều kiện vũ trang đã chín muồi, khi kẻ thù còn mạnh, còn là một lực lượng đáng ngại, tuy đã bị mục ruỗng từ bên trong, Người nhớ lại những hoạt động nổi tiếng của tướng lĩnh Việt Nam thời Trung cổ chống lại sự xâm lược của bọn phong kiên Trung Quốc. Họ tổ chức nhân dân vũ trang thành các đội quân khởi nghĩa và tiến hành đấu tranh giải phóng theo phương châm “toàn dân là lính”...

Nói tóm lại, đường lối xây dựng quân đội giải phóng nhân dân là duy nhất đúng. Kinh nghiệm của cách mạng Nga lẫn cách mạng Trung Quốc đều chứng tỏ như vậy, đường lối này cũng hoàn toàn thích hợp với truyền thống đấu tranh lâu đời của nhân dân Việt Nam chống lại bọn xâm lược ngoại bang. Người nhớ lại là, ngay từ cuối năm 1941, đội vũ trang đầu tiên đã được thành lập, có nhiệm vụ bảo vệ bộ phận lãnh đạo của Đảng và hướng dẫn việc tập luyện quân sự của các đội tự vệ trong các Hội cứu quốc. Sau đó, các đơn vị vũ trang khác cũng đã xuất hiện.

Nhưng trong thời kỳ này, các đội vũ trang của Việt Minh chưa có khả năng trực tiếp hoàn thành các chức năng quân sự. Việc thiếu vũ khí và cán bộ quân sự đã ảnh hưởng đến hoạt động vũ trang. Vũ khí và cán bộ sẽ có dần dần, điều này là tất nhiên. Còn lúc bấy giờ lại cần những hoạt động có thể lay động được quần chúng, làm cho họ thấy rõ khả năng chiến đấu của các lực lượng cách mạng, dứt bỏ được nỗi sợ hãi của mọi người trước sức mạnh giả tạo của quân thù, xóa đi mối nghi ngờ về khả năng vô hạn của nhân dân khi họ đã vùng dậy kiên quyết đấu tranh...

... Không nên hạn chế trong những phương pháp thông thường tiến hành chiến tranh, còn trong trường hợp này là chuẩn bị cách mạng - đó phải là sách lược của Đảng trong những điều kiện đặc thù của Việt Nam - Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận rằng: sách lược hợp lý nhất và có hiệu quả nhất có thể là sự kết hợp một cách sáng tạo, linh hoạt hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, một trong hai hình thức ấy nhất định phải chiếm ưu thế tùy theo sự phát triển cụ thể của hoàn cảnh. Người nghĩ rộng, để sách lược ấy trở thành hiện thực thì phải tổ chức một đơn vị vũ trang vừa tiến hành tuyên truyền chính trị trong nhân dân, lại vừa có khả năng thông qua những cuộc tấn công quân sự táo bạo chống bọn xâm lược mà làm cho nhân dân tin vào lực lượng của mình, vào sức mạnh ngày càng tăng của cách mạng và khả năng chiến thắng kẻ thù.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Hồ Chí Minh ra chì thị thành lạp “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Người viết rằng tên gọi đó có nghĩa là “chính trị trọng hơn quân sự”. “Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tác chính là nguyên tắc tập trung lực lượng...”.

... Chỉ thị của Hồ Chí Minh về việc thành lập “Đội tuyên truyền vũ trang” đã trở thành đường lối chung của những người Cộng sản Việt Nam về vấn đề quân sự. Nguyên tắc hết sức quan trọng của lý luận Mác - Lênin về sự kết hợp hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang khi chuẩn bị cách mạng đã được Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo, có tính đến những điều kiện cụ thể của Việt Nam. Nguyên tắc đó là cơ sở cho hoạt động chính trị - tổ chức của Đảng cả trong khi chuẩn bị Cách mạng tháng Tám, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhiều năm sau, trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi bọn đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai của chúng, những người Cộng sản Việt Nam lại giành được những kết quả đặc biệt to lớn trong việc thực hiện triệt để sách lược kết hợp linh hoạt các sức mạnh to lớn trên các mặt trận vũ trang, chính trị, ngoại giao”.

Ép-ghê-nhi Ca-bê-lếp, Trích trong “Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H.1965, tr.81-85.

“... Khi đề cập đến đường mòn Hồ Chí Minh, con đường đóng vai trò to lớn đối với việc giải phóng Sài Gòn... nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh rằng: đường mòn Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là con đường quân sự, đó là con đường chính trị. Đặc trưng của các hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh luôn luôn bắt nguồn từ lời nói, phong tục tập quán, đạo đức của các dân tộc ở Việt Nam. Con đường mòn này đi qua vùng Tây Nguyên là nơi có các dân tộc thiểu số (Ba-na, Xê-đăng, Gia-rai, Ê-đê...) Nếu không có sự ủng hộ của các dân tộc thiểu số này thì không thể xây dựng và duy trì được đường mòn Hồ Chí Minh.

Sai-tô-ghen (Nhà sử học Nhật Bản). Trích ý nghĩa ngày nay của tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam và Hồ Chí Minh trong quyển “Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh”, tr.101.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:13:34 am
V. LÝ LUẬN VỀ KHOA HỌC, NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

“... Người ta nhìn thấy cống hiến lý luận của Cụ Hồ Chí Minh ở chỗ, Người đã phát triển lý luận của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở tính chất riêng của tình hình Việt Nam. Do đó đã phát triển hơn nữa lý luận mác-xít về cách mạng và về công tác quân sự. Lý luận mác-xít về công tác quân sự, đặc biệt lý luận quân sự cho các nước thuộc địa, phụ thuộc dựa trên lý luận chiến tranh du kích... Những nguyên tắc chỉ đạo cho “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đề ra trước cách mạng năm 1945, tiêu biểu cho một lý luận độc đáo, phù hợp với những điều kiện riêng của Việt Nam, khác với lý luận của cuộc chiến tranh của nhân dân Trung Quốc. Lý luận quân sự của Mao Trạch Đông là - như chính Chủ tịch Mao Trạch Đông nói - lý luận của chiến tranh nhân dân ở một đất nước rộng lớn và đông dân. Nhưng Việt Nam, như Cụ Hồ Chí Minh nói, có tính chất của nước diện tích hẹp, ít dân, xuất phát từ nhu cầu có một lý luận phù hợp với tình hình này. Cụ Hồ Chí Minh, ông Võ Nguyên Giáp và những người lãnh đạo khác đã hợp tác phát triển một lý luận quân sự riêng cho Việt Nam.

Trong lĩnh vực này, tôi cũng phải nói rằng, cuộc chiến tranh nhân dân ở Việt Nam được phát động sau chiến tranh thế giới mới, lý luận về chiến tranh nhân dân phải được phát triển thêm một bước mới. Cống hiến của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam về lý luận mác-xít của công tác quân sự là ở chỗ họ đã áp dụng lý luận quân sự mác-xít vào một nước nhỏ bé, ít dân, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Thời gian không cho phép tôi đi sâu vào vấn đề này nhưng tôi có bàn đến chi tiết trong quyển sách của tôi “Việt Nam và những vấn đề tư tưởng”. Tôi phải nói rằng Cụ Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam đã bổ sung vào lý luận quân sự mác-xít một công hiến rất mới mẻ và có tính chất mở ra một kỷ nguyên mới”.

Sin-gô Si-dá-ta (Shingo Shidata), giáo sư triết học và xã hội học Nhật Bản. (Trong quyển Betonamuto Shiso monoday, Tokyô, “Soki Shoten”. 1972, tr.269-270). Trích theo bản dịch cuốn “Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Qua sách báo nước ngoài, Trường ĐHSP Hà Nội I và Viện Thông tin KHXH thuộc TTKHXH và NV. 1993, tr.95-96).

Trong việc vạch ra chiến lược cách mạng để giải phóng Việt Nam khỏi ách đế quốc và thực dân mới, Hồ Chí Minh xem xét đặc thù của tình hình Việt Nam một cách cụ thể nhất. Người đã đưa ra phương hướng, những tư tưởng mới phát triển học thuyết mác-xít về cách mạng và khoa học quân sự. Những tư tưởng về học thuyết quân sự của Hồ Chí Minh bao gồm một lý luận toàn diện với nhiệm vụ cụ thể cho quân đội, dân quân và nhân dân trong các giai đoạn của cuộc kháng chiến toàn quốc. Dựa trên sự đánh giá sâu sắc về một lý luận của Người về thực tế khách quan, Đảng đã vũ trang xây dựng và phát triển khả năng của ba thứ quân. Đồng thời sự phối hợp các cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao đã đem lại một sức mạnh cách mạng mạnh mẽ đánh đuổi đế quốc Pháp và Mỹ. Điều cần lưu ý là cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và sự hy sinh của họ nhằm bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình là một bằng chúng sinh động về vai trò của quan chúng. Vì vậy, mục tiêu cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi và những thắng lợi phi thường của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguồn kinh nghiệm cho các đảng anh em ở châu Phi, đang bền bỉ chiến đấu chống các thế lực phản động quốc tế và tay sai gây rối.

Tô-sô-mê Kê-be-de Phó Viện trưởng Viện chính trị, Trường Đảng Ê-ti-ô-pi (Trích “Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay” trong quyển “Hội thảo quốc tế về chủ tịch Hồ Chí Minh” UNESCO và Ủy ban KHXHVN, Nhà xuất bản KHXH, H. 1990).

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài về việc đề ra chiến lược, sách lượng phương pháp cách mạng đúng đắn và nghệ thuật tài tình tạo ra thời cơ và nắm lấy thời cơ để đưa cách mạng đi đến thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng vào hàng đầu danh sách của tất cả các lãnh tụ cách mạng thiên tài của thời đại chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đứng vào hàng đầu danh sách các lãnh tụ lỗi lạc của thế giới về đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, tận tụy, dũng cảm, kiên trì quan điểm cách mạng tiến công, cách mạng triệt để”.

Ri-chác-đô-ba-sốp, nguyên đại sứ Grê-na-đa tại Cu Ba. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985, tr. 182.

Bao giờ Hồ Chí Minh cũng có một nhận thức sâu sắc về thời gian và thời cơ: ta thấy điều đó qua việc thành lập thanh niên, lợi dụng các truyền thống hồi sinh của các hội kín, còn thấy rõ hơn trong việc Người thành lập Việt Minh năm 1941, tận dụng tình thế mới ở Đông Dương, sau khi quân đội Nhật đến. Ta có thể đặc biệt thấy điều đó trong việc chuẩn bị Cách mạng tháng Tám, điều chứng tỏ sự thấy trước tài giỏi các biến cố bắt đầu bằng trung lập hóa Pháp năm 1945 đến việc Nhật đầu hàng vào tháng 8. Người Việt Nam đã sẵn sàng đối phó với những biến cố.

Béc-na Đan. Giáo sư Trường đại học Passon CHLB Đức (Trích trong bài “Hồ Chí Minh nhìn theo triển vọng các nhà lãnh đạo cách mạng và các truyền thống văn hóa được phục hồi ở Đông-Nam Á. In trong sách “Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh” Nxb KHXH, H.1990, tr.59-60).

“Người đã đưa ra những tư tưởng phát triển học thuyết mác-xít về cách mạng và khoa học quân sự. Những tư tưởng về học thuyết quân sự của Hồ Chí Minh bao gồm lý luận toàn diện với nhiệm vụ cụ thể cho quân đội, dân quân và nhân dân trong các giai đoạn của cuộc kháng chiến toàn quốc”.

Tê Shom Kê-bê-de (Ê-ti-ô-pi). Trích: Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb KHXH, H. 1990, tr. 67.

“Cái mà Người vận dụng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam; những lời huấn thị được làm sáng tỏ trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với những suy nghĩ của Người về chiến lược quân sự của dân quân, nông dân vũ trang tham gia vào chiến tranh du kích đã đặt Người vào vị trí cao cả trong Viện bảo tàng của những nhà cách mạng vĩ đại...”.

Gín-ba Han-đát-sơ. Tạp chí Planèta Action, Paris, tháng 3-1970.

“... Đồng chí Hồ Chí Minh là người thầy về nghệ thuật giành độc lập dân tộc”.

Đoàn đại biểu Mặt trận P.L.O, sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Hồ Chí Minh, Hà Nội, 5-1990.

“... Chính từ trong lòng xã hội và trong nhân dân mà Người đã học các khoa học xã hội, chính trị và quân sự...”.

R. Áp-dun-ga-ni (In-dô-nê-xi-a) Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, ngày 19-5-1990.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:14:49 am
“Ông Hồ Chí Minh đã trải qua 20 năm gần một phần tư thế kỷ để thuyết phục nhân dân từ nhóm này đến nhóm khác. Ta có thể nói thuyết phục từng người một. Bằng cách cùng lao động và cùng chia sẻ những khó khăn gian khổ. Bao giờ ông cũng dùng cách thuyết phục, không bao giờ dùng sức mạnh. Xung quanh ông đã nổi lên những chiến sĩ cách mạng sẵn sàng hy sinh.

Người ta có thể nghĩ rằng, Bác Hồ đã áp dụng lý luận của Mao Trạch Đòng và tưởng rằng những lý luận này đã góp phần khiến cho Bác Hồ theo kịp tình thế. Thật là một sai lầm nếu xây dựng chiến thuật chiến tranh du kích trên cơ sở nhận thức đó. Và về nguyên tắc thì không có gì mới, nhưng nó hoàn toàn xa lạ đối với những khái niệm của phương Tây...”.

Trở thành người Bác như thế nào (Hélene Toumaire Livre Jaune Du Việt Nam Librairie Académ, naique Perrin, 1966, Chiphitre VPP.90-100). Bản dịch lưu BTKCM, H29-C6/9 tr.22-2.

“Bốn mươi năm chiến đấu không ngừng đã dạy cho ông biết và đã làm cho ông tin rằng không bao giờ người ta thắng và cũng chẳng bao giờ người ta bại hoàn toàn, dù là ở trong đáy một xà lim của Quốc dân đảng Trung Hoa hay trước nấm mồ dưới khải hoàn môn Pháp. Khi Võ Nguyên Giáp báo tin thắng trận Điện Biên Phủ, ông đã nhẹ nhàng trả lời: “Thắng lợi có lớn đến đâu, thì cũng chỉ mới là bước đầu”.

Giăng La-cu-tuya. Hồ Chí Minh (Một số chương viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản dịch Đ.M lưu BTHCM- H29 C4/4 tr.56.

“Hiểu rõ rằng, ở giai đoạn đầu tiên của cuộc can thiệp, thực dân có lợi thế rõ ràng về mặt quân sự, đồng chí Hồ Chí Minh đề ra tư tưởng kháng chiến lâu dài để làm suy yếu kẻ địch. Cái chính như bất kỳ cuộc chiến tranh du kích nào, Người nói, không bám vào việc giữ đất, mà cố gắng bằng bất cứ giá nào bảo vệ các cơ quan chính quyền cách mạng, các lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ sở kháng chiến. Chỉ có đường lối như vậy, Người nhấn mạnh, mới cho phép chúng ta chống lại cuộc tấn công đầu tiên của bọn can thiệp, dần dần đạt được cân bằng lực lượng và rồi thì chuyển qua tấn công quyết định”.

E.V.Ca-bê-lếp. Vì sự nghiệp cứu nước. Tạp chí: “Lịch sử cận và hiện đại (Liên Xô cũ) Số 6-1976, Bản dịch Đ.M. Lưu BTHCM H.29,1/2, tr.93-94.

“Để đạt được mục đích của ông, Hồ Chí Minh lúc nào cũng có thể mềm dẻo hơn các đối thủ của ông.

Ông học rộng, thông minh, hăng say hoạt động, khắc khổ và hoàn toàn không vụ lợi tạo uy tín to lớn và lòng kính mến của nhân dân đối với ông. Quả đáng tiếc là Pháp coi thường nhân vật này và không biết đánh giá giá trị của ông và sức mạnh mà ông vận dụng được”.

Sác-li-phen, Giới thiệu tiểu sử Hồ Chí Minh, Một trong những lãnh tụ của tư tưởng hiện đại. Trung tâm TTKHKTQS và Viện BTHCM dịch, lưu tại BTHCM, H.29, C2/11, tr.19.

“Trong những ngày chuẩn bị đòn quyết định đánh vào Điện Biên Phủ, một đoàn nhà báo tiến bộ nước ngoài lên thăm Việt Bắc, các nhà báo gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề nghị Người cho biết những gì đang xảy ra ở Điện Biên Phủ, một địa danh thường được nhắc đi nhắc lại trong các buổi phát thanh ở nước ngoài.

Đây là Điện Biên Phủ - Người nói và lật ngược chiếc mũ cát trên bàn, đây là núi - Người dùng những ngón tay mảnh dẻ, rắn rỏi đưa theo vành mũ - chúng tôi đang ở đây. Còn phía dưới - tay Người đặt xuống đáy mũ, là thung lũng Điện Biên Phủ. Quân Pháp ở đây, chúng không thể thoát ra khỏi đây được. Có thể chúng sẽ còn ở đây lâu, nhưng dứt khoát không thể thoát ra được.

“Nằm” dưới chiếc mũ cát của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những đơn vị tinh nhuệ nhất mà Bộ chỉ huy tối cao của Pháp ở Đông Dương có thể tập trung được: những đơn vị lính dù của quân viễn chinh Pháp và những đơn vị lê dương Đức, tất cả gồm 16 ngàn tên.

Trận Điện Biên Phủ nổi tiếng đó trở thành mẫu mực của chủ nghĩa anh hùng vô song của các chiến sĩ Việt Nam và về nghệ thuật chỉ đạo quân sự đã trưởng thành của Bộ chỉ huy quân đội Việt Nam”.

Ép-ghê-nhi Ca-bê-lếp. Trích: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H. 1985.

... Ba tiếng Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ từ nay gắn liền với nhau thành một sự thật vĩ đại, chói lọi như một niềm hy vọng to lớn và tươi sáng.

Héc-to Rô-dri-ghêt Lôm-pác, Trích: Mấy vấn đề về chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb KHXH, H.1985.

“Để khỏi bị xấu chơi như những năm 1946 và 1954, trong khi tìm cách nhượng bộ với các nước phương Tây, ta có thể nghĩ được rằng con người đã làm nảy sinh ra cách mạng và cho nó một phong cách và sự vững mạnh, trụ lại trên ngã tư đường của cuộc chiến đấu vì Tổ quốc và vì chủ nghĩa xã hội cách mạng, con người ấy lại một lần nữa tìm cơ may trong việc vừa đánh, vừa đàm... Đó chính là sự kết hợp tài tình giữa mềm dẻo và kiên cường, giữa sự mường tượng về chính trị và sự kiên định về nguyên tắc, sự căn cứ về truyền thống yêu nước và sự phân tích của chủ nghĩa Mác. Sự kết hợp tài tình ấy chính là cái độc đáo của Ông Hồ”.

Giăng La-cu-tuya, “Một nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng” Báo Le Monde 5-9-1969 Tư liệu BTHCM H28, C20, tr.12.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chân chính, nhà lý luận lỗi lạc và nhà tổ chức thiên tài”.

... “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cống hiến rất vĩ đại vào kho tàng truyền thống cách mạng thế giới về tổ chức, về chiến lược và chiến thuật đấu tranh vũ trang”.

An-thô-ni A-ca-tô Am-pô, Đại biểu Hội liên hiệp học sinh Đại học toàn châu Phi, Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh Nxb Thanh niên, H.1985, tr.59, 60.

“Người đã chứng minh cho thế giới biết rằng, một khi chính nghĩa được bảo vệ bằng một lòng dũng cảm vô song và bằng một sự hiểu biết sâu sắc những quy luật của lịch sử thì nó sẽ chiến thắng những vũ khí và kỹ thuật tối tân nhất”.

J. Noóc-man, Tổng thư ký Hội luật gia dân chủ quốc tế (Sđd, tr.218-219).

Hồ Chí Minh là nhà lý luận, cũng lại là con người hành động, nhà chiến lược và sách lược của chiến tranh cách mạng.

Công-xtan-tin Xi-mô-nốp Nhà văn Liên Xô (cũ). Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H.1985, tr.157.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo chính trị và là một vị chỉ huy quân sự xuất sắc”.

Báo chiến sĩ An-giê-ri, Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh Nxb Thanh niên, H.1985, tr.155.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo chính trị, quân sự toàn tâm, toàn ý và thiên tài”.

In-ti-pê-rê-đô Tư lệnh quân đội giải phóng Bô-li-vi-a. Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên. H.1985, tr.32.

Bác Hồ từ trần, cùng với nhân dân ta, cả loài người tiến bộ tỏ lòng thương tiếc và quý mến Người. Có 22.000 bức điện, thư, từ 121 nước gửi đến Hà Nội, chia buồn với Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Một trận Tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Các nước xã hội chủ nghĩa và 10 nước dân tộc chủ nghĩa đã tổ chức để tang Người. Nhiều chính phủ quyết định lấy tên Người đật tên cho các công trình công cộng như trường học, nhà máy, đường phố, quảng trường.

Theo thống kê của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:15:51 am
SÁCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU

I. TÁC PHẨM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh: Toàn tập (từ t. 1 đến t. 10), Nxb Sự thật, H. 1980 - 1989.

Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch (từ t. 1 đến t. 6), Nxb Sự thật, H. 1956-1962.

Hồ Chí Minh: Tuyển tập (t. 1, 2), Nxb Sự thật, H. 1980.

Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H. 1970.

Hồ Chí Minh: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1970.

Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975.

Hồ Chí Minh: Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1980.

Phép dùng binh của Tôn Tử, Chính trị cục xuất bản, 1947, Lưu trữ Thư viện quân đội, số 15131.

Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh, Phòng Chính trị LKIII xuất bản, Lưu trữ Thư viện quân đội, số 15445.

Con đường giải phóng, Lưu trữ Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.

Báo Cứu quốc, các bài viết về quân sự với bút danh Q.T. và Q.Th, in trong các số ra ngày: 17-5, 24-5, 31-5, 7-6, 14-6, 21-6, 20-9, 11-10, 25-10, 8-11, 15-11, 22-11, 6-12, 13-12 năm 1946.

Nguyễn Thao Lược: Đẩy mạnh chiến tranh du kích, Lưu trữ Ban nghiên cứu lịch sử Đảng TƯ, số ĐS1/II, 100/47.

C.B: Để hiểu chiến lược, Báo Nhân dân, 15-4-1951.

C.H, Đ.X, T.L, Chiến sĩ, Trần Lực: Nói chuyện Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, 11.1972.

Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật. H. 1975.

T.L, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxh Sự thật., H. 1976.

Thơ Bác Hồ, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1976.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật. H. 1989.

Hồ Chí Minh: Những bài viết và nói về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, t. 2, H. 1985 - 1987.


Tiêu đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:16:29 am
II. SÁCH THAM KHẢO

C. Mác - Ph. Ăng-ghen: Về chiến tranh và quân đội (t. t, 2), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1983.

Văn kiện Đảng (3 tập), Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, 1978 - 1979.

Văn kiện lịch sử Đảng (từ t. 1 đến t. 11), Trường Nguyễn Ái Quốc xuất bản.

Lịch sử Việt Nam (t. 1, 2), Nxb Khoa học xã hội.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự thật, H. 1981.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, H. 1986.

Hồ Chí Minh - Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, H. 1987.

Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (t. 1. 2), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974 - 1989.

Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (t. 1, 2, 3) Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985 - 1989.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1988.

Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, H. 1982.

Công tác chính trị trong quân đội (t. 1, 2), VNVQĐ xuất bản, 1945, Lưu trữ Thư viện quân đội, số 18646, 15661.

Cuốn sách của chính trí viên, Hội Tân văn hoá Thuận Hoá xuất bản, 1945, Lưu trữ Thư viện quân đội, số 16689.

Lê Duẩn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Nxb Sự thật, H. 1986.

Lê Duẩn, Dưới cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, H. 1970.

Trường Chinh; Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, Nxb Sự thật, H. 1985.

Trường Chính: Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1983.

Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, H. 1990.

Võ Nguyên Giáp: Hồ Chủ tịch, nhà chiến lược thiên tài, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, H. 1980.

Võ Nguyên Giáp: Những bài giảng về đường lối quân sự của Đảng, Viện khoa học quân sự.

Hùng Thắng - Nguyên Thành: Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, H. 1985.

Đoàn Chương, Tìm hiểu sự nghiệp và di sản quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1989.

Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977.

Bác Hồ, Nxb Văn học, H. 1975.

Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975.

Theo Bác đi kháng chiến, Nxb Thanh niên, H. 1980.

Bác của chúng ta, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985.

Bác Hồ như chúng tôi đã biết, Nxb Thanh niên, H. 1985.

Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986.

Trận đánh ba mươi năm (t. 1, 2, 3), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1983 - 1988.

E, Cô-bê-lép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Cận vệ thanh niên, Mát-xcơ-va, 1985.

Sin-gô Si-ba-ta: Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng, Aoky Shoton, Tokyô, 1972.

G. Bu-đa-ren: Hồ Chí Minh (trích trong cuốn Các chính khách châu Á), Lưu trữ Thư viện quân đội, số 10894.

G. Lacu-tuya: Hồ Chí Minh, tiểu sử chính trị, Rondom House New York, 1968.

G. Xanhtơni: Câu chuyện một nền hòa bình bất hạnh, Amiot Duymont, Paris, 1953.

P. Muýt: Hồ Chí Minh, Việt Nam, châu Á, Au Seuil, Paris, 1971.

H. Adô: Hồ Chí Minh, dịp may cuối cùng, Flammarion, Paris, 1968.

R. Xalăng: Sự cáo chung của một đế quốc, Presses de la Cite’, Paris, 1970.

H. Nava: Đông Dương hấp hối, Plon, Paris, 1956.

H. Sanxbơri: Một người Mỹ ở Hà Nội - Đằng sau phòng tuyến Việt cộng, Presses de la Cite’, Paris, 1967.

B. Phôn: Mặt trận Việt Minh - Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1945 - 1960, Armand Colin, Paris, 1960.

G. Am-stơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985.