Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2020, 11:31:50 am



Tiêu đề: Đường vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2020, 11:31:50 am
  
        - Tên sách : Đuờng vào Buôn Ma Thuột

        - Nhiều tác giả. Sưu tầm, tuyển chọn : Đại tá Lê Hải Triều

        - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

        - Năm xuất bản : 2005

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2020, 06:24:15 pm

       
BỐN MƯƠI BA NGÀY Ở NGÔ THANH

Hoàng Kim Hậu       

        Bốn mươi ba ngày ở Ngô Thanh tháng 7 năm 1973, quân ngụy Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari, thực hiện chiến tranh "Vết dầu loang" lấn chiếm vùng giải phóng. Tiểu đoàn 8 bộ binh cùng vài đại đội trực thuộc của Trung đoàn 66 vượt sông Pô Kô sang Ngô Thanh - Tà Rộp (thị xã Kon Turn) cùng Trung đoàn 95 giữ vùng giải phóng. Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt diễn ra.

       
*

        Qua hai ngày trèo đèo lội suối về phía nam, hình như chúng tôi đang đi xuôi theo dòng Pô Kô thì phải. Núi đồi ở đây tuy không cao lắm nhưng lên, xuống liên tục, rất ít có khoảng rừng bằng. Nhìn trên tấm bản đồ thu được của địch thì tiểu đoàn đang đi cách bờ sông hơn hai cây số gì đấy. Địa hình gấp khúc, rừng nhiệt đới đa dạng, le vầu lẫn lộn và không có cây cổ thụ. Thỉnh thoảng lại cắt ra một đoạn đường xe ngựa bỏ hoang từ thời Ngô Đình Diệm, cây cối mọc trên đường um tùm. Người ta nhận ra đường bởi vì còn sót lại bờ tà luy dựng đứng và mặt đường phủ đầy lá mục. Không thấy một bản làng bỏ hoang nào cả. Những trận mưa ào đến rồi lại bừng nắng để cho mặt đất nhớp nháp, bốc hơi, bảng lảng như sương mù. Thỉnh thoảng leo chênh vênh trên sườn núi, ngó sang thung lũng bên kia một khoảng trời mênh mông, cây cối ngút ngàn, có đàn vượn thấp thoáng gọi bầy.

        Hành quân một tiếng lại nghỉ mười phút. Vai đeo ba lô mỏi nhừ. Trời đã về chiều, thấy ánh nắng xiên từ phía sau tới, lại cắt ra phía đông rồi. Nghe đâu sắp đến bờ sông thì phải. Có tiếng máy bay phản lực ào qua, tiếng đại bác thì thùng phía trước.

        - Sắp ra bờ sông chưa anh Choóng? Tôi hỏi khi người đại trưởng quê ở Cao Bằng đang ngửa cổ tu nước trong chiếc bi đông nhựa.

        - Tối nay sẽ vượt sông đấy! Sang bên kia là hậu cứ của Trung đoàn 95.

        - Thôi! Cố gắng đi một tiếng nữa rồi dừng lại ăn cơm!

        Sẩm tối chúng tôi lần ra bờ sông. Tối mịt mùng, cứ bám theo nhau mà tụt dốc. Thỉnh thoảng đã thấy mặt nước lấp lóa phía sau cánh rừng thưa.

        Mẹ kiếp! Mưa nhiều quá, bùn lầy làm dép trơn nhầy nhụa, nhiều khi tọt lên tới bắp chân. Có lúc phải bám vào cây ven rừng tụt lưng xuống trước.

        Bờ sông khá dốc, được lệnh dừng lại ven đường, có tiếng mái chèo lách cách và tiếng nước óc ách phía dưới.

        - Dừng lại nghỉ đi! Không ai được bật lửa! Sang sông hơi bị lâu đấy!

        Nghe đâu chuyển quân chỉ có hai chiếc thuyền độc mộc lấy từ trong bản dân tộc, mỗi chuyến chỉ chở được sáu người. Biết khi nào cho "Xê" cuối cùng vượt sông? Có mà sáng!

        Hàng đàn dĩn ỏ đầu lăn xả ,vào chân, vào cổ của lính mà đốt. Ngứa không thể chịu được, kiểu này chắc chết! Có lẽ loài ruồi vàng này ở đây lâu lắm mới thấy hơi người nên nó thi nhau cắn phá. Tôi kéo tấm chắn dù hoa quấn kín người, kín cổ, mặc kệ bùn đất, ướt át. Tôi tỉnh giấc khi có ai đó đập vào ba lô:

        - Dậy đi! Đến lượt mình sang sông rồi!

        Có ai đấy ngáp ngủ, một tiếng quát nhẹ:

        - Khẽ chứ thôi! Biệt kích nó nghe thấy thì có mà ăn pháo!

        Không ai buồn trả lòi, có lẽ đều ngái ngủ cả. Phía trước thấp thoáng những chiếc ba lô như lưng lạc đà tụt dốc. Xuống đến bờ sông, tôi sờ vào mạn thuyền, một lớp rêu trơn bám vào mạn thuyền sứt sẹo.

        Tiếng súng va vào nhau lách cách, tiếng suỵt, tiếng mái chèo khua nước, tiếng của người bơi đò ra lệnh ngồi tản ra cho cân thuyền. Tất cả không ai thấy mặt ai, chỉ có những ngôi sao trôi theo dòng nước lấp loáng ánh bạc. Thuyền lừ đừ sang sông. Nước cắn cạp tròng trành như muốn lật. Có tiếng thác ào ào xa xa phía hạ lưu. Nó mà lật thuyền bây giò thì có lao xuống thác, tôi cố nín thở.

        Cũng may đoạn sông này rất hẹp. Sang bờ kia, dốc thoai thoải, bờ sông thấp và có vẻ bằng phẳng lắm. Chúng tôi lục tục kéo nhau lên bờ.

        Từng đàn dĩn lại lăn xả vào đầu, vào cổ của lính mà đốt. Nếu bị thương mà nằm ở bờ sông này không chết vì vết thương thì cũng toi vì ruồi vàng mất.

        Leo đại qua một bụi xấu hổ lùng nhùng, gai cào xước chân, tôi bước lên một khoảng rừng bằng phẳng toàn cây le mọc. Nguyễn Văn Thấu - đại đội phó - người Thái Bình đứng ở ven đường bảo:

        - Các đơn vị khác tiến về phía trước! Còn lại "Xê bảy" vào đây! Khẽ thôi!

        Rẽ sang khu rừng bên phải, đến một con suối khá rộng, chúng tôi đi ngược theo dòng suối. Không biết là mấy giờ vậy! Chắc sắp sáng.

        Dừng lại đóng quân, tất cả tản ra xung quanh buộc đai võng vào bụi le nghỉ tạm. Kiểu này đêm mưa xuống chắc là ướt hết mất.

        Sáng ra, nắng phết nhẹ trên những dải mây phía đông. Hôm nay, nắng to lắm. Thấy Nguyễn Văn Tình - anh nuôi - người Thanh Hóa đang lấy xoong nồi ra khỏi gùi. Tôi hỏi:

        - Tình! Suối có xa không?

        - Gần đây thôi!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2020, 06:24:56 pm

        Cầm khăn mặt đi theo Tình xuống suối thấy Trần Văn Hợp - tổ trưởng nuôi quân quê Thanh Sơn - Phú Thọ và Lý Sài Quẩy - người Lào Cai đang đào bếp Hoàng Cầm. Tôi ngạc nhiên:

        - Này! Định chốt ở đây lâu hay sao mà đào bếp to thế?

        - Biết quái thế nào được! Hợp đủng đỉnh: không làm thì cán bộ nó quát!

        - Hình như bên kia có nương lúa? Gần dân à?

        - Đâu...! Nương lúa của 95 đấy!

        Có tiếng đại bác từ phía đông bắn qua. Tiếng nổ đầu nòng của nó nghe gần lắm. Viên đạn vo vo như ong nối nhau qua đầu mới nổ ình oàng bên kia bờ sông. Đánh nhau đến nơi rồi! Tôi về võng quấn tấm chăn dù nhét vào ba lô. Có vậy thôi, đời lính đơn giản lắm. Tăng thì gấp sẵn kẹp nắp ba lô, có lệnh hành quân chỉ cần tụt võng, quấn lại tông vào ba lô là đi được ngay.

        Anh Hà Văn Lan - quê vùng Tam Thanh - Phú Thọ - chính trị viên đại đội đi kiểm tra một vòng vị trí đóng quân xong. Anh bảo tôi:

        - Ông Choóng lên tiểu đoàn hội ý rồi! Anh đi kiểm tra sức khỏe bộ đội thế nào? Mấy chiến sĩ đã cắt cơn sốt chưa? Không ở đây lâu đâu!

        Các đơn vị tập trung hội ý khi người đại trưởng từ D bộ về. Tôi mới biết ở đây là hậu cứ của trung đoàn 95 cắm chốt từ chiến dịch năm 72. Phía nam có con sông Đak Bla gặp sông Pô Kô từ phía bắc chảy xuống giao nhau ở ngã ba Kon Tum. Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định ngừng bắn, bắt đầu thực hiện chiến dịch "Vết dầu loang" lấn chiếm từng vùng giải phóng. Chúng tăng cường 3 trung đoàn: 53 – 44 - 45 có máy bay, xe tăng, pháo binh yểm trợ xóa bỏ bằng được cái thòng lọng nằm sát thị xã này.

        Vậy phía chúng tôi chỉ có một Trung đoàn 95 vừa đánh vừa di chuyển hậu cứ. Tiểu đoàn 8 của tôi cùng vài "Xê" trực thuộc Trung đoàn 66 sang đây, không quen đánh dã ngoại chắc là ác liệt lắm.

        Ăn cơm xong lại ngủ lấy sức. Một vài chiếc trực thăng bay phía đường 14. Có lẽ chúng đang chuyển quân. Pháo vẫn bắn thì thùng sang bờ tây sông. Địch làm ra vẻ vô tư như không có gì xảy ra.

        Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi về hướng đông, trinh sát tiểu đoàn dẫn đường lúc thì đi theo bìa rừng dọc một nương lúa, lúc lại cắt qua một điểm đóng quân của thằng 95 đã bỏ đi. Những chiếc hầm thùng, hầm chữ A còn ấm hơi người. Vài con gà lạc đàn táo tác bới đống cỏ gianh sót lại.

        Buổi chiều đi qua một cánh rừng dốc thoai thoải, bắt gặp nhũng chiếc đầu lâu ngụy nằm trỏng lỏn trong chiếc mũ sắp ngập nước. Hai hố mắt thao láo ngước nhìn bộ đội qua rừng, cẳng xương chân còn cắm trong đôi giầy Mỹ, xung quanh đầy xương sườn và ba lô ngụy. Anh Lan bảo:

        - Chỗ này mới đánh nhau trước lúc cắm cờ! Địch lấn ra đây đấy! Thằng 95 đánh dã ngoại tốt lắm!

        Qua một con suối nước ngập ngang ống chân có xác lính ngụy nằm bên bờ cỏ. Bộ quần áo dằn di mục nát để thò ra hai cẳng tay trắng hếu. Có lẽ tên này bị thương, bò ra suối và chết trên bờ nước.

        Khoảng 2 giờ chiều đến một khu hầm không có người ở. Phía trước là một cánh rừng lầy cây cổ thụ um tùm. Một vài cây cọ nước và dương xỉ rủ bóng có vẻ hoang sơ lắm. Trinh sát nói:

        - Theo dông bên trái có một con đường xe ngựa bỏ hoang dẫn đến một bản nhỏ không có dân ở. Phía ấy có địch! Còn men theo rừng lầy bên phải vị trí đóng quân hiện nay, qua một đoạn rừng thưa là nương lúa của Trung đoàn 95 bỏ lại. Cứ đi qua một khoảng rừng lại một nương lúa. Phía ấy theo đài kỹ thuật của ta báo về: cũng có địch! Chưa xác định chính thức tọa độ nào! Vậy bên trái, bên phải đại đội tôi đều có địch cả!

        Chia nhau vào các hầm để chốt. Đại đội bộ ở gần hầm chỉ huy dã chiến của tiểu đoàn, có một đài 2W và ông phó chính trị viên tiểu đoàn cùng một tổ trinh sát tăng cường. Anh nuôi xuống ven bãi lầy đào giếng và chuẩn bị bữa ăn. Các trung đội củng cố hầm hào, lau chùi súng đạn chuẩn bị chiến đấu. Tôi cầm thuốc cứu thương đi đến các hầm phát thuốc cho chiến sĩ chưa cắt cơn sốt, bổ sung bông băng đến các tổ.

        Chiều, trinh sát cùng trung đội 1, trung đội 2 theo hai hướng bám địch, không thấy.

        Tối, chia nhau canh gác, còn lại ngủ lấy sức.

        Sáng hôm sau, theo đài kỹ thuật báo về tọa độ X có một đại đội địch. Xem bản đồ cách vị trí đóng quân của chúng tôi không xa lắm. Trung đội 1 được lệnh xuất kích, đại đội trưởng Choóng trực tiếp chỉ huy.

        Khoảng hơn 10 giờ, có tiếng mìn và đại liên nổ phía đường xe ngựa. Không có tiêng AK bắn trả. Một lúc sau, B40 nổ và lác đác tiếng R15 của địch.

        B1 đánh nhau rồi!

        Trung đội 3 được lệnh xuất kích. Pháo địch bắt đầu bắn dọc đường xe ngựa. Tai chúng tôi căng ra, hồi hộp. Có ai việc gì không đây?

        Khoảng 13 giờ chiều, Đại trưởng Choóng về, im lặng. Mất ba chiến sĩ. Không lấy được ai ra cả. Cuộc hội ý khẩn cấp trong hầm đại đội bộ.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2020, 05:48:03 am

        Anh Choóng nói: "Đi đến tọa độ X, ngay ven đường xe ngựa, tôi ra lệnh cho bộ đội cúi thấp người xuống, đi thưa ra. Cùng lúc ấy, mìn nổ ngay ven đường, đại liên địch bắn xối xả. Anh em đi sau lăn xuống vệ đường, tôi nấp sau ụ mối thấy trinh sát và một chiến sĩ nằm bất động. Thằng Trung B40 vẫn còn cựa quậy, tôi bò lên lấy khẩu B40 bắn một quả rồi rút. Địch đông lắm! Nó phục sẵn mình rồi! Một tiếng sau chúng tôi cắt rừng ra lấy liệt sĩ. Nhìn sang bên đường thấy địch gài thêm mấy quả mìn bấm cạnh liệt sĩ của mình. Nó chặt đầu thằng Trung rồi! Không thấy đầu đâu cả? Phải đánh bọn này để lấy liệt sĩ đây!

        Ra quân trận đầu đã bị tổn thất. Bám địch kiểu ấy chắc không ổn. Đại đội giữ kín việc Trung bị chặt đầu sợ chiến sĩ hoang mang, dao động. Điện về tiểu đoàn bộ xin trinh sát. Tiểu đoàn đồng ý và lệnh cho chúng tôi chuẩn bị đánh địch: Còn 3 chiến sĩ hy sinh tiểu đoàn cho một tổ trinh sát và trung đội vận tải bám địch để lấy ra bằng được.

        Pháo địch bắt đầu bắn dọn đường. Cứ ngồi một chỗ mà nghe tiếng đầu nòng các khẩu pháo chết chóc ấy thì coi như ba bên đều có tiếng nổ. Khẩu pháo gần, khẩu pháo xa loạn xạ cả lên. Oái oăm thay, điểm nổ lại chụm vào một chỗ mà người ta gọi là pháo bầy. Nó có thể phát quang một vạt rừng và vô phúc đúng vào đội hình hành quân thì không biết có còn ai thoát nạn hay không? Tôi đã từng hành quân ngang qua cánh rừng vừa bị B52 hoặc pháo bầy cưa đổ. Cây rừng xơ xác bị cắt cụt đổ ngổn ngang không khác gì bãi phát nương. Cái mùi đặc trưng của sự hủy diệt này là một nhựa cây hăng hắc và mùi khét của khói bom. Những chùm lá xanh mơn mơn bị pháo dập nát, những thân cây một người ôm bị mảnh bom cắt cụt, xé tước ra... Đêm, pháo bắn cầm canh. Chúng tôi chia nhau gác các ngả có thể địch đột nhập vào.

        Trời về khuya, mây đen bảng lảng, thỉnh thoảng một cơn mưa ào qua rồi trả lại khoảng không màu ngọc bích cho những ngôi sao le lói.

        Sáng sớm, chui ra khỏi hầm, cơn mưa đêm còn đọng lại những giọt nước long lanh phản ánh nắng mặt trời, có con chim giật mình vỗ cánh bay về phía rừng lầy, xung quanh yên lặng. Anh nuôi gọi các B xuống bếp lấy cơm. Không khí vội vàng căng thẳng, chuẩn bị xuất kích. Khoảng 8 giờ sáng, một đại đội địch tiến về phía chúng tôi, mũ sắt lố nhố.

        Tổ tiền tiêu B2 chạy về xin lệnh chỉ huy sở. Đại đội dàn theo cánh rừng cạnh con đường mòn từ nương lúa dẫn vào vị trí đóng quân. Mặt ai cũng biến sắc, chỗ tụm vào rồi lại tản ra, tim tôi đập thình thịch.

        Đánh nhau rồi!

        Địch không biết chúng tôi đóng quân ở đây, nghênh ngang tiến theo hàng một, gần lắm. Đáng ra để địch tiến gần thêm chút nữa rồi đồng loạt nổ súng. Lúc đó cối bắn chặn hậu thì chắc chắn đã diệt gọn đại đội địch này. Thế nhưng theo lệnh người chính trị viên phó lại quá bài bản: dùng cối 82 bắn trước rồi bộ binh xung phong. Nghe tiếng nổ đầu nòng của khẩu cối, địch hoảng loạn chạy tản ra nương lúa, một số lao xuống ven rừng lầy. Tiếng nổ rất gần cùng từng loạt. AK bắn loạn xạ. Địch kêu thất thanh, tiếng người lệnh xuất kích, tiếng hô di chuyển tầm cối bắn về phía rừng lầy tất cả loạn cả lên, không ai nghe cả. Trung đội 2 được lệnh tiến sát xuống bãi lầy, xả súng bắn về phía địch kêu khóc inh ỏi, tiếng miền Nam chí chóe.

        Người ta khiêng về một thương binh dáng người gầy gò, nhỏ thó. Tôi nhận ra Nguyễn Văn Đê quê ở Hà Bắc. Viên đạn xuyên từ trước ra sau lưng phía dưới rốn, máu chảy trong ổ bụng chưa thấm ra ngoài. Đê vừa gào khóc vừa gọi mẹ. Vết thương rất nặng, hai chân tê liệt, mọi cảm giác phía dưới đã biến mất.

        Tôi và Tạ Văn Sang - quản lý đại đội - quê Thái Bình khiêng Đê xuống hầm. Băng bó vết thương và tiêm cho Đê một liều Moóc phin - loại thuốc giảm đau cực mạnh. Hai tay Đê bấu vào hai đùi và kêu:

        - Tiêm làm cái gì! Sao chân tôi lại thế này, con chết mất! Mẹ ơi!

        Vết thương ổ bụng ngoài khả năng của y tá đại đội, tôi quay máy điện thoại gọi về quân y tiểu đoàn cho người ra cáng thương về đội phẫu. Tôi sốt ruột quá, từ tiểu đoàn ra chỗ đánh nhau khoảng hơn một tiếng đi bộ xuyên rừng. Liệu quân vận tải có ra kịp không?

        Pháo địch bắt đầu tập trung bắn vào vị trí đóng quân. Bọn này giỏi thật, mới dứt tiếng súng chúng nó đã lấy được tọa độ bắn rất trúng mục tiêu. Chúng tôi bỏ hầm thùng chui vào ngách chữ A tránh pháo. Đạn nổ chát chúa ngay trên nóc hầm, mảnh bay lắc cắc, cây xanh bị tiện đứt đổ ào ào xuống hầm. Khoảng 30 phút cấp tập, pháo ngớt. Có tiếng V0-10 bay trên đầu, tiếng vo vo đều đều của nó làm người ta rất khó chịu, loại máy bay chỉ điểm này đến chắc là gọi bom đây!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2020, 05:48:37 am

        Đê chết rồi. Chúng tôi dùng tăng và võng liệm cho Đê. Một anh lính trẻ măng nhập ngũ năm 1972 về đại đội tôi vừa tròn bảy tháng thì hy sinh. Một mình nằm đó, không có gia đình nội ngoại, đồng đội khâm liệm và buộc chặt bằng những vòng dây dù.

        Có tiếng xèo xèo của loại đạn khói phân giới từ chiếc VO-10 bắn xuống. Hai chiếc A37 từ đâu ào tới bổ nhào. Bom rồi! Tôi bịt tai chui đầu vào hầm.

        Hai tiêng nổ inh tai, trần hầm rung lên bần bật đất rơi lả tả xuống đầu, xuống cổ. Bom đánh từ bìa rừng chuyển dần về phía chúng tôi. Lại bổ nhào chiếc nữa, hai quả bom dài ngoằng lao phăng phăng xuống đất. Tôi lại bịt tai, chui vào hầm.

        Tiếng bom vừa dứt, tôi thò đầu ra cửa hầm, thấy máy bay lao xuống rất thấp, cắt bom xong lượn vòng xịt khói le ve lượn lên chiếm độ cao. Lại chiếc nữa lao xuống, hai quả bom từ cánh máy bay được cắt ra tròn xoe. Tôi chui vào hầm nghĩ bụng: "Quả này chết thật rồi!".

        - Ục! mặt đất rung chuyển, bụi bay mù mịt, tai ù đặc không nghe tiếng máy bay ào qua. Vậy là ta chưa chết. Tôi thò đầu ra cửa hầm.

        Khói đen xì bốc lên ngọn cây phía trước cách tôi bảy mét, một khoảng rừng trống trơ, cây đổ ngổn ngang bay tung tóe. Bom ném trúng hầm tiểu đoàn hất tung kèo hầm vung vãi. Có liều phóng B40 của ai đó để trên nắp hầm bắt lửa xịt khói xanh biếc.

        Tôi bỏ hầm chạy lui về phía anh nuôi cách đấy năm mét, cùng lúc ấy, tiếng bom rít trên đầu, hơi bom hất ngã vào cửa hầm.

        Tôi ngồi dậy, máy bay ào qua. Lại một chiếc khác bổ nhào. Tôi bảo Tô Văn Mậu - anh nuôi - người Lạng Sơn:

        - Bom đánh sập hầm tiểu đoàn bộ rồi...! Chạy đi! Không hiểu sao tôi vọt ra cửa hầm, một đoàn người lốc nhốc chạy theo. Tiếng bom rít ghê người trên đầu, tôi nhảy đại xuống một khe nước nhỏ bịt tai, thấy có ai đó nhảy đè lên người. Sau tiếng nổ đinh tai nhức óc vẫn chưa chết. Chúng tôi vùng lên chạy vế căn hầm cuối cùng.

        Máy bay lượn hai vòng rồi chuồn mất, hết bom, lúc bấy giờ mới nhận ra rằng mình chạy không có dép, tập tễnh ngang qua hầm anh nuôi thấy Mậu thò đầu ra cười toe toét:

        - Mẹ! Các bố bỏ chạy hết! Tôi định chạy theo thấy bom rơi gần quá lại thụt vào hầm!

        - Chết một đống còn hơn sống một mình! Ông ở lại bom hớt mất gáo thì sao? Chúng tôi nhìn nhau cười.

        Quay về tới hầm tiểu đoàn bộ. May quá, bom đánh trúng hầm thùng, sáu người chui vào ngách hầm chữ A chỉ bị sức ép chảy máu tai, máu mũi, không ai việc gì cả. Pháo địch lại bắn về lúc nhặt lúc thưa, vừa pháo khoan, vừa pháo phạt. Ở đây hầm làm chắc lắm, mày làm đếch gì được!

        Chiều tà rồi tắt nắng, pháo địch thôi không bắn nữa. Bầu trời im ắng, có tiếng VO-10 ở đâu rất xa. Có lẽ lũ ngụy nghỉ ăn cơm chiều. Chúng tôi cũng tranh thủ sửa sang lại hầm hào. Anh nuôi nhóm bếp Hoàng Cầm thổi cơm. Có bốn người của trung đội vận tải tiểu đoàn mang gạo và đạn ra, cánh thương binh về phía sau. Ở chiến trường này, tất cả đều trên vai người lính từ gùi đạn, gùi gạo, khiêng vác pháo cối cho đến cáng thương, gùi cơm, gùi nước, tuốt tuồn tuột. Những lần hành quân chiến dịch tôi thấy sáu anh chàng pháo thủ của đơn vị pháo hỏa lực khiêng chiêc bàn đế của khẩu cối 160 ly. Nó to bằng cái nong phơi lúa, địa hình thì lên dốc, xuống khe, vừa đi vừa dẹp đường xuyên rừng. Sức mạnh của người lính vĩ đại thật.

        Tổ vận tải nhận lệnh của tiểu đoàn có thương binh thì đưa về đội phẫu. Số liệt sĩ đơn vị chôn cất ngay tại mặt trận, vẽ sơ đồ, chấm tọa độ gửi về tiểu đoàn giải quyết sau.

        Chiều tối, các trung đội đi chốt chặn hướng chủ yếu, đại đội bộ còn lại anh Lan, tôi và Sang. Anh Lan bảo chúng tôi làm công tác tử sĩ, chọn địa điểm cách hầm đại đội khoảng sáu mét, bên cạnh một gốc cây to nham nhở mảnh bom. Chưa đào được ba lượt xẻng đã nghe tiếng pháo địch bắn tới. Chúng tôi quăng xẻng chạy tới cửa hầm, quả đạn sẹt qua, một loạt ánh chớp và tiếng nổ inh tai, mảnh và đất đá bay rào rào.

        Chui vào hầm chữ A, vừa thở vừa nghe ngóng, xung quanh im lặng, hay là nó bắn cầm canh? Thôi, lên đi!

        Vừa thò đầu ra cửa hầm lại thấy tiếng: Cùng... cùng vội thụt vào hầm. Một loạt tiếng nổ xé màn đêm. Cứ như thế chúng tôi chơi trò ú tim với pháo địch không biết bao nhiêu lần chạy lên, chạy xuống.

        Đê được quấn trong tấm vải liệm, bên ngoài bọc võng và tăng, sợi dây dù buộc xung quanh, cứng nhắc. Tôi ôm đầu còn Sang vác chân đưa lên cửa hầm. Cách có sáu mét thôi mà tránh pháo, dấp dứ mấy lần mới đưa đến miệng huyệt. Vùi vội, vùi vàng hai ba lần chạy pháo mới gọi là lấp kín miệng hố. Thôi! Tạm thế đã! Pháo bắn dữ quá để mai ngớt pháo đắp thêm cho Đê.

        - À này! Lúc nãy mình chôn sấp hay ngửa...? Phía đằng đầu ông có kiểm tra không?

        - Ừ nhỉ! Quên mất! Vội quá nên không kịp xem lại!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2020, 05:40:01 am

        Sau ba mươi năm, hôm nay viết những dòng này, tôi cứ thấy có cái gì đầy ân hận và tiếc nuối.

        Ngày hôm sau, chúng tôi tiến về phía đông. Đào hầm trong một khu rừng le lác đác có vài cây to bóng xen kẽ. Nghe đâu phía trước có một nương lúa rồi lại một khu rừng như thế này.

        Trinh sát tiểu đoàn đi bám địch. Chúng tôi củng cố lại hầm và bếp anh nuôi. Tôi tranh thủ đi kiểm tra số bộ đội bị sốt rét và tiêm thuốc cho họ. Gần chiều, được lệnh xuất kích. Trung đội 1 do Nguyễn Văn Tẩm - quê Thái Bình - trung đội trưởng chỉ huy. Đại đội bổ sung cho khẩu đội cối 60 ly do Nguyễn Văn Khoản - bạn cùng quê, cùng nhập ngũ với tôi tiếp ứng.

        Họ loanh quanh xuyên rừng, ra một nương lúa rồi lại vào một cánh rừng khác. Vừa đi, vừa nghe ngóng, hai tai căng ra, cố tìm dấu tích địch, ánh chiều chập choạng, xung quanh yên lặng, không thấy pháo địch bắn vô tội vạ như mọi khi. Những người có kinh nghiệm trong chiến trường đều hiểu rằng: Nơi nào pháo địch bắn tới là có quân ta ở, còn chỗ nào không có bom địch, pháo địch thì hầu như vị trí địch đóng quân.

        Đến một vạt nương lúa đang ở thì con gái, tròi đã nhá nhem tối, trinh sát định quay về nhưng anh Tẩm bảo: "Dấn vào khu rừng trước mặt, nếu không có địch thì rút quân!".

        Gần tới bìa rừng bỗng phía trước tóe lửa, đại liên địch bắn ra như vãi đạn. Bị bất ngờ, trung đội tản ra nương lúa đánh trả quyết liệt, tiếng cối bắn, tiếng B40 ùng oàng, tiếng AK đan vào nhau loạn xạ. Địch ném lựu đạn vượt ra sau, cả anh Tẩm và Khoản đều bị thương.

        Bộ đội xông vào rừng, địch tháo chạy tán loạn bỏ lại những chiếc võng mắc toòng teng trên cây. Những chiếc ba lô không kịp đem theo đổ ngổn ngang trong rừng. Một vài xác chết bên cạnh những vỏ hộp và gạo sấy tung tóe. Hóa ra nó đang ăn cơm khi thấy bộ đội đột ngột tiến vào tổ cảnh giới chỉ kịp bắn vài băng đại liên, ném mấy quả lựu đạn rồi tháo chạy. Có nhũng sợi dây mìn định hướng địch không kịp bấm điện. May quá! Nếu nó chủ động thì một dàn mìn Claymo này chắc chắn bộ đội không còn ai trở lại.

        Một phần vì tối quá không truy kích được, phần nữa địch cậy thê đông phản công, anh Tẩm lại bị thương nên được lệnh rút quân. Thôi thì mạnh ai người ấy chạy, cố bám theo người đi trước không thì lạc đường.

        Về đến vị trí đóng quân kiểm lại người thấy thiếu mất bốn chiên sĩ. Tôi và anh Lan chạy đến các hầm:

        - Thằng Tám (Hà Bắc) có lẽ chết rồi! Nó đi đầu đội hình khi loạt đạn địch bắn thấy nằm xuống không động đậy gì cả! Còn thằng Hoạt (Hà Tĩnh) không nhìn thấy đâu! Anh Tẩm và Khoản bị thương đi với nhau chắc còn chưa về kịp!

        Trung đội 3 chuẩn bị xuất kích đi tìm thương binh. Tôi về hầm lấy thêm bông băng và thuốc cấp cứu. Anh Lan chạy về bảo:

        - Anh Tẩm và Khoản về đến hầm rồi! Hậu sang xem vết thương có nặng lắm không báo cho tiểu đoàn cáng ra ngoài!

        Tôi cầm túi thuốc chạy sang hầm anh Tẩm. Hai chiến sĩ cùng trung đội đang dìu xuống cửa hầm. Vết thương vào mông vẫn tập tễnh đi được. Anh Tẩm bảo:

        - Tao và thằng Khoản bị chung một quả US - mẹ nó - đến giáp địch mà không biết! Thằng Khoản bị thương nặng lắm, có khả năng vỡ đầu gối, máu ra rất nhiều. Tao quấn thêm hai chiếc khăn mặt nữa mà vết thương vẫn không cầm máu, dìu nó đi, tối quá lạc lung tung cả! Mày sang bên đó đi!

        Băng bó và tiêm thuốc cho anh xong, tôi chạy sang hầm tiểu đội cối. Khoản ngồi vắt vẻo trên cửa hầm, hai chân buông thõng, ở đầu gối ụ lên một đống vừa bông băng vừa khăn ướt sũng máu. Khẩu đội cối khi xuất kích có ba người, một bị thương từ trận trước. Hoạt đến nay vẫn chưa thấy về còn lại mỗi khẩu đội trưởng bị thương, tôi đưa Khoản xuống hầm, chân phải thẳng đứng, không co lại được. Tôi rửa vết thương và băng lại, tiêm cầm máu, trợ lực và đặt Khoản nằm xuống nền hầm. Vừa lúc ấy, pháo địch bắn đúng vào đội hình đóng quân. Không hiểu nó căn ke tọa độ thế nào lại biết chúng tôi ở khu rừng này. Cứ nghe tiếng nổ đầu nòng từ những khẩu pháo quái ác ấy là viên đạn xé không khí vút xuống đầu chúng tôi. Nằm trong tầm pháo nghe tiếng đạn rít thật ghê sợ, cứ như những ngọn roi khổng lồ vút xuống đầu. Những loạt pháo khoan làm hầm chao đảo kèm theo một loạt pháo phạt tóe lửa. Đất đá, cây cối đổ rào xuống cửa hầm, xung quanh sau hầm, trước hầm chớp giật liên hồi, tai ù đặc, tôi gù lưng trong hầm tránh đạn.

        Hơn nửa tiếng cấp tập, pháo địch im hẳn, tôi chui ra khỏi cửa hầm, cảnh tượng xung quanh thật khốc liệt. Ba lô để trên cửa hầm bay đi đâu hết. Những bụi le um tùm bị pháo phạt cành lá xơ xác. Cánh rừng ngổn ngang cây đổ như một bãi phát nương. Khoản bảo:

        - Mày về làm gì? Ở đây với tao!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2020, 05:40:34 am

        Những lúc như thế này ai lại không muốn ở gần nhau, lo cho nhau nhất lại là đồng hương, đồng khói.

        - Không ở lại được đâu! Pháo bắn đúng đội hình của mình rồi, tao phải về xem có ai bị thương không!

        Tôi cầm túi cứu thương lao ra khỏi hầm. Trăng rất sáng, nhìn cánh rừng như lạ hẳn đi. Chui qua mấy bụi cây loanh quanh mãi mới nhận ra căn hầm của mình. Anh Lan đang từ dưới hầm chui lên:

        - Hậu hả! Thương binh có nặng lắm không? Pháo bắn sập mẹ hầm anh nuôi rồi! Lấy xẻng nhanh lên!

        Tôi chạy theo về phía bãi lầy, một toán người đang hì hục đào bới, có tiếng kêu từ dưới đất vọng lên yếu ớt nghe tưởng như ở phía khu rừng bên kia bãi lầy. Lúng ta lúng túng, không biết đào từ đâu, cứ nhè chỗ có tiếng kêu mà xúc.

        - Ấy ấy! Khéo sập hầm! Khênh cây đà này lên để thông hơi, kéo người ngoài ra đi! Ai đấy? Ông thông tin à, được rồi!

        Người ta túm vào, người đào kẻ bới gấp gáp, thở hổn hển, không ai buồn nói nữa, đói mệt người muốn lả đi.

        - Bỏ xẻng ra ông này! Kéo cái kèo hầm này nữa! Kìa, khéo cuốc vào chân thương binh!

        Người thứ hai được kéo ra là Tình - anh nuôi đại đội, chúng tôi đưa Tình lên bãi đất bằng cấp cứu, hô hấp. Người Tình còn nóng rực, mềm nhũn, không động cựa.

        Sau cùng là Hợp - tổ trưởng nuôi quân. Hợp cố nói như cướp không khí:

        - Lúc nãy tôi còn thấy nó cựa đấy! Đầu nó ép vào cánh tay của tôi không làm sao rút tay ra cho nó thở được! Cố gắng cứu lấy nó!

        Người ta dìu Hợp về hầm, nhìn anh ta đi như bơi trong không khí. Lúc này pháo địch im hắn. Nêu nó cứ bắn như lúc nãy thì chắc không cứu được ai cả. Quả pháo khoan bắn trúng cửa hầm, khẩu AK để dưới bị hất văng lên, mắc toòng teng trên bụi le phía trước. Ba người cùng một hầm thì người ở giữa hy sinh. Nếu hầm đào có hai cửa thì chắc không ai việc gì.

        Lúc này tôi nhận ra trăng rất sáng, có lẽ vừa trung tuần của tháng âm lịch thì phải. Ánh trăng vùng rừng nó trong vắt và tinh khiết lạ lùng. Xung quanh yên lặng, cây cối xác xơ, mùi nhựa cây hăng hắc xen lẫn mùi khét của thuốc súng. Những chiếc kèo hầm trắng xóa ngổn ngang dưới ánh trăng. Tình nằm đó, yên lặng dưới cánh rừng. Ai đó đã quấn quăng một lớp vải liệm trắng toát, cảnh vật thật thê lương. Tôi mệt mỏi chống cuốc về hầm, điện quân y tiểu đoàn cho người cáng thương về đội phẫu.

        Mờ sáng ngày hôm sau, trung đội 3 được lệnh xuất kích ra khu rừng tối trước đánh nhau để tìm liệt sĩ. Người đầu tiên là Hoạt, khẩu AK được đặt ngay ngắn, chèn lên chiếc gùi dùng cho bộ đội khi xuất kích, bên cạnh là vỏ cuộn bông băng Trung Quốc còn dính máu. vết thương vùng đùi, xuyên vào bộ hạ Hoạt còn đủ thời gian để tự băng bó cho mình. Có lẽ suổt đêm kêu cứu không thấy ai cả. Hoạt giãy đạp, cào cấu một vạt nương dẹp xuống như tấm chiếu, bê bết máu. Cách chỗ Hoạt nằm hơn chục mét là Tám, viên đạn xuyên qua trán và Tám ngã đè lên khẩu AK, máu thấm xuống vạt lúa xanh mơn mởn. Chúng tôi thu gõ bốn quả mìn định hướng, mấy chục ba lô của ngụy bỏ lại, cáng liệt sĩ về vị trí đóng quân giao cho vận tải chuyến ra ngoài.

        Biết chắc hôm nay thế nào địch cũng dùng máy bay đánh phá khốc liệt. Chúng tôi được lệnh di chuyển sang khu rừng khác. Mặt trời vừa le lói, sương chưa tan hết đã nghe tiếng đại bác bắn cấp tập vào vị trí hôm qua đóng quân. Tan sương, chiếc VO-10 bay mấy vòng trên đầu và bom dội xuống cánh rừng không người ấy. Chúng tôi bình tĩnh đào hầm, mặc cho nó thừa bom đạn.

        Đại đội im lặng chốt lại cánh rừng ấy. Hàng ngày các trung đội cùng trinh sát đi bám địch về các hướng. Bên phải, bên trái đâu đâu cũng thấy pháo địch. Trong tiểu đoàn đại đội 5, đại đội 6 đều gặp địch bắn nhau dữ dội. Riêng phía cao điểm 518 của đại đội 19 đặc công là ác liệt hơn cả. Bom pháo suốt ngày, nghe đâu địch dùng cả xe tăng phản kích.

        Sang ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh hành quân giải vây cho đại đội 19. Đồng chí trung đoàn phó vừa tròn hai mươi tư tuổi trực tiếp chỉ huy. Đại đội được tăng cường khẩu cối 82 ly của một đơn vị pháo. Đội hình theo trinh sát dẫn đường cắt rừng về phía súng nổ. Đi khoảng 30 phút thì gặp một đại đội địch chặn đường. Bộ đội dừng lại, tản ra các gốc cây chuẩn bị chiến đấu. Người trung đoàn phó báo cáo về trung đoàn bộ và xin thực hiện phương án 2: Đánh địch dã ngoại.

        Tiếng xì xào điều B40 - B41 lên đầu đội hình, các trung đội theo chiến thuật của người chỉ huy tản ra theo hình vòng cung tiến về phía trước. Khẩu cối 82 được dựng lên bãi trống bên cạnh lấy xạ giới bắn ứng dụng. Tôi nằm cùng anh Lan dưới một bụi le to nín thở, tim đập thình thịch, ngực như nghẹn lại. Trinh sát quay về báo cáo khoảng cách giữa ta và địch. Lệnh nổ súng! Khẩu cối cứ kịch kịch chắc nịch đẩy tiếng nổ chết chóc về phía địch, nghe đã lắm! Người trung đoàn phó ra lệnh:

        - Bắn 20 quả cấp tập, khẩn trương chuyền làn chặn đầu địch cho bộ đội xung phong! Anh Lan đâu? Cho bộ đội lên đi!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2020, 06:50:54 am

        Tiếng ùng oàng của B40 và B41, tiếng AK bắn từng chập liên hồi. Không thấy địch bắn trả, chúng tôi xông vào vị trí địch.

        Cối của ta bắn ứng dụng nhưng rất chính xác, hầm hố của địch đào dở dang tung tóe. Những chiếc võng dù và ba lô ngụy rách tươm lăn lông lốc. Nhìn qua đếm được hơn chục lính ngụy xác chết tại chỗ, chưa kể số lính chạy vào rừng bị đạn thẳng và cối bắn chặn. Vì không có kế hoạch bắt tù binh nên chúng tôi thu hồi súng đạn, quân trang quân dụng và cả máy vô tuyến PRC của địch, rút quân, tránh địch phản pháo, không một ai bị thương, về đến vị trị tập kết, không thấy pháo địch bắn, có lẽ do mất thông tin, số tàn binh ngụy chạy vào rừng cho nên địch không biết đằng nào mà phản pháo.

        Tối, trung đoàn gọi điện khen ngợi đại đội tôi tiêu diệt gọn một đại đội của trung đoàn 53 ngụy mới tăng cường. Do gặp địch ngoài dự kiến, không có lực lượng giải tỏa cho đại đội 19 nên phần cao điểm 518 địch lấy mất một nửa. Đại đội đặc công có mấy đồng chí hy sinh.

        Dạo này tròi mưa nhiều, những đám mây đen kịt sà xuống rồi đổ nước không cần cơn cớ gì cả. Đánh nhau dã ngoại, xa hậu cứ rõ ràng phía chúng tôi thật bất lợi. Đi đến đâu cũng phải đào hầm cho dù chỉ dừng lại có vài tiếng đồng hồ. Trong rừng, dưới hầm bùn đất lép nhép thật khó chịu. Phía địch lại vô cùng thuận lợi, gần thị xã gần các khu căn cứ của địch, có trục đường 14 cơ giới di chuyên nhanh, tập trung quân ồ ạt, xe tăng, pháo binh, máy bay yểm trợ tối đa, đạn Mỹ thoải mái. Hôm nay, đánh nhau với trung đoàn 44. Ngày mai, lại thấy trung đoàn 53 ngụy. Mấy hôm sau, lấy được ba lô địch lại là quân 45 rồi. Vậy thì hơn một trung đoàn chúng tôi chọi nhau với ba trung đoàn bộ binh ngụy chưa kể hỏa lực tăng cường. Trung đoàn cho Tiểu đoàn 9 cùng đại đội hỏa lực sang tiếp viện, ứng cứu.

        Hơn nửa tháng hành quân đánh nhau liên tục, số thương vong và bị thương quá nửa. Lúc thì đi bám địch bị pháo, khi đi gùi đạn, tải thương bị phục kích, quân số cứ hao hụt dần. Đại đội trưởng Choong cũng bị thương đi viện. Tổng số còn lại từ tướng đến quân không đủ hai mươi người. Từ lúc bám địch để đánh nay chúng tôi chuyển sang thế phòng ngự.

        Đại đội nhận lệnh áp sát cao điểm 518 giữ thế chân kiểng và sẵn sàng chi viện cho đại đội 19. Đó là một cao điểm nằm cạnh con sông Pô Kô án ngữ không cho địch đánh vu hồi vào sau lưng chúng tôi. Bảo vệ các bến đò tải đạn sang sông, con đường huyết mạch cáng thương về hậu cứ. Bởi thế, cao điểm này giao cho đại đội đặc công và một trung đội công binh chuyên cắt đường đảm nhận.

        Địch cũng nhận thấy vị trí của cao điểm này nên tập trung quân và hỏa lực tối đa để san phảng.

        Từ sáng đến tối, hết bom lại pháo không lúc nào trên điểm cao tan khói. Tiếng bom vừa dứt, bộ binh địch phản công. Tiếng ĐKZ nổ đanh gọn, tiếng ùng oàng của B40, B41 và từng loạt AK lại rộ lên. Cứ mỗi đợt như vậy bộ binh địch lùi ra, pháo bầy bắn tới, máy bay VO-10 nghiêng ngó chỉnh pháo rồi gọi bom đánh vô tội vạ. Xung quanh cao điểm rừng bị san bằng như phát nương, không nhìn thấy màu xanh đâu nữa. Trên cao điểm đất đỏ au, nát bét không còn gốc cây nào nguyên vẹn. Cứ chập tối chúng tôi cùng vận tải chuyển đạn ra, cáng thương và đưa tử sĩ về, ngày này qua ngày khác giằng co căng thắng.

        Hôm ấy, bom đánh trúng công sự của C19, một số hy sinh và bị thương. Lệnh tiểu đoàn điều đại đội tôi phải ra cáng thương về đội phẫu. Các trung đội còn lại có mấy người đều giữ các điểm chốt trên đường ra cao điểm. Chỉ còn tôi - y tá, Sang - quản lý và Trần Xuân Thu - Tuyên Quang - làm văn thư đại đội ở nhà. Thấy chiến sự ác liệt như vậy, Sang hoảng sợ đùn đẩy:

        - Thôi! Bây giờ Hậu và Thu chuẩn bị cáng ra chốt lấy thương binh.

        Thấy Sang thoái thác, hèn nhát, tôi bảo:

        - Hôm qua thằng Thu đã gùi đạn ra chốt suốt đêm rồi! Cho nó nghỉ! Tôi và anh đi!

        - Nếu thế thì cả ba người!!!

        Chúng tôi lục tục cầm võng và cáng tiến ra cao điểm khoảng vài chục mét lại gặp một điếm chốt của đại đội, họ nhìn theo và vẫy tay, tôi thấy cũng yên bụng một phần. Ra đến bìa rừng, nhìn sang 518 thấy nó trỏng trơ bé nhỏ và trống hoắc. Phía trước cây rừng đổ ngổn ngang không thấy đường lối đâu cả. Chiếc VO-10 lượn sát đầu, xịt đạn khói và từ đâu hai chiếc A37 xầm xầm lao đến bổ nhào xuống cao điểm. Từng cột khói lại dựng lên, đất đá bay tơi tả. Chúng tôi rúc vào một hố cá nhân bỏ không để tránh bom. Hết mười hai quả, máy bay cút, chỉ còn tiếng VO-10 rả rách, tức lộn ruột.

        - Nhanh lên đi! Nó quay lại bây giờ!

        Vừa chui qua những thân cây đổ ngon ngang, vừa nhìn thằng VO-10 rà sát trên đầu, nó vòng đi là chúng tôi lại chạy.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2020, 06:51:27 am

        Đến điểm chốt, không thấy một bóng người, không còn nhận ra hầm hố nào cả. Hỏi ai bây giờ? Xung quanh chỗ nào cũng hố bom, đất phủ lên nhão nhoét. Thấy có tiếng động, một chiến sĩ lấm lem như từ âm phủ chui ra khỏi hầm. Tôi hỏi:

        - Này! Thương binh đâu?

        - Phía trước, chỗ chiến hào bị sập ấy! Anh ta nói mấy câu gấp gáp rồi lại chui vào hầm.

        Chạy dọc theo một đoạn chiến hào bị bom đánh sập, có một chiến sĩ nằm ngửa dọc theo chiến hào, mắt vẫn mở, môi hé để hở chiếc răng bịt vàng đỏ chóe. Phần dưới chân đất phủ kín, ổ bụng lầy nhầy một đông ruột lùng nhùng đất và cát. Leo lên tránh đoạn chiến hào ấy thì gặp một người nằm trên mặt đất, nằm thẳng cẳng. Tôi nghĩ bị nặng như vậy đang băng dở dang lại bỏ cho các vết thương xe lại dưới ánh mặt trời chắc là chết rồi. Tôi bảo Sang và Thu chờ rồi chạy quay về đoạn hầm ban nãy:

        - Có điện thoại không? Cho tôi gọi về tiểu đoàn bộ! Thương binh của các ông chết mẹ rồi! Người ta dẹp sang một bên. Tôi cầm máy:

        - A lô! Thủ trưởng Lợi đấy ạ! Chúng tôi ra lấy thương binh nhưng đồng chí ấy đã hy sinh rồi! Vậy có đem về hay để luôn ngoài này ạ!

        - Thương binh hay tử sĩ các anh cũng phải mang về! Người chính trị viên tiểu đoàn bộ gầm lên trong máy. Tôi chạy quay ra:

        - Nhanh lên! Tiểu đoàn không cho để ngoài này đâu! Đặt cáng xuống đất, bồng người thương binh đó ngóc đầu dậy:

        - Ai đấy! Cho em hớp nước!

        - Ồ! Nó chưa chết, khẩn trương lên! Thôi cố gắng vê đến phẫu rồi uống nước sau! Tôi động viên người thương binh ấy.

        Buộc võng vội vàng, xốc xa xốc xếch, chúng tôi cáng ra khỏi chốt. Chiếc VO-10 vẫn lởn nhởn, vòng đi vòng lại nghiêng ngó. Tôi lấy một cành cây khô, lá úa vàng che vòng băng trắng cho thương binh. Chui rồi trèo qua các bụi cây đổ, lúc đi, lúc dừng lại tránh máy bay trinh sát. Vào đến bìa rừng lại nghe thấy đạn khói bắn xuống, bom tiếp tục dội trên chốt, thật hú vía.

        Về đến điểm tập kết nóng quá, cho thương binh uống nước dấp miệng rồi chui xuống hầm quạt thốc quạt tháo. Người chính trị viên đại đội 19 thấy thương binh của mình còn nằm lại, kêu lên:

        - Báo cáo thủ trưởng Lợi - thương binh của em không có ai đưa đi đâu ạ!

        Và thế là ông Lợi gầm lên:

        - Anh Lan đâu?

        Anh Lan quát:

        - Ới Sang ơi để thương binh ỏ đây à? Và Sang thở hổn hển:

        - Hậu ơi, Thu ơi cáng thương về đội phẫu! Và các dây chuyền ấy cuối cùng đến chúng tôi phải thừa hành công vụ.

        Không có ngày nào bom pháo dừng trên đỉnh chốt. Đại đội 19 vẫn kiên cường bám trụ, thương vong ngày càng nhiều, đại đội 7 của tôi được lệnh ra chốt thay thế cho đại đội 19.

        Đêm ấy, trinh sát dẫn chúng tôi luồn rừng ra cao điểm. Trăng sáng nhờ, những vì sao rất thưa, buổi chiều có một cơn mưa nên trời se lạnh, xung quanh hơi nước bốc lên mờ mờ ẩn hiện một vài cây to dưới chân điểm chốt. Xung quanh vắng lặng, có tiếng lách cách của súng va vào nhau, tiếng xì xào bàn giao hầm hào và hướng địch.

        Hầm ở đây be bét bùn đất, nước dội tong tỏng, múc nước ra liên tục, dưới sàn hầm, bùn lội đến mắt cá chân, bộ đội phải lấy những khúc cây bị bom cắt cụt kê xuống bùn làm chỗ ngủ ngồi. Ở trong hầm cũng phải choàng áo mưa trên cổ.

        Mới tang tảng sáng đã xúc miệng một loạt pháo bầy, không ai việc gì. 9 giờ, địch tổ chức phản kích, chúng đứng rất xa, lao xao dưới chân đồi trong rừng cây "cộng sản" bắn cối và M79 lên chốt. Một toán bò lên bị tổ tiền tiêu bắn hất xuống chân đồi. Tiếng lính ngụy léo nhéo gọi bộ đàm.

        Pháo và cối lại câu đến, pháo khoan, pháo phạt mù mịt. Một quả cối rơi trúng cửa hầm bên cạnh. Hai chiến sĩ hy sinh.

        Buổi chiều, sau đợt pháo kích, địch hai hướng bò lên. Chúng tôi đánh trả quyết liệt. Địch dùng phóng lựu bắn vào cây cụt trên điểm chốt, mảnh bay xuống làm hai chiến sĩ mới bị thương. Một chiến sĩ trẻ măng người Cẩm Khê - Phú Thọ bị ba viên đạn qua lưng thấu phổi. Vết thương sùi bọt và máu, tôi băng chặt lại chờ đến tối cho cáng ra ngoài.

        Chưa qua một ngày chúng tôi đã mất bốn chiến sĩ. Chập tối, tiểu đoàn lệnh cho đại đội tiến xuống sát với địch, chỗ rừng cây "cộng sản" chia làm bốn tổ đào hầm.

        Sáng hôm sau, địch dùng cối, pháo và cả bom cháy đánh vào điểm chốt cũ, lửa bám vào cành cây khô cháy rừng rực. Chúng tôi ung dung bình an vô sự cạnh nách địch.

        Hai ngày sau, chúng chỉ dùng cối và pháo bắn lên cao điểm. Phía nam, máy bay quần đảo chắc là đơn vị bạn chạm địch. Không thấy bộ binh lên, hay chúng nó luồn rừng vòng ra sau lưng mình rồi. Có một xác lính ngụy chết cách hầm vài mét đang thối ruỗng, cây cỏ xung quanh đen sì như hắc ín, mùi khẳm xông lên rất khó chịu. Tôi và chiến sĩ thông tin lấy xẻng phủ đất lên trên cái xác ấy.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tám, 2020, 08:20:57 pm

        Chiều ngày thứ ba, địch thay đổi chiến thuật đánh vào khoảng 5 giờ chiều đến tối. Sau một đợt pháo và cối tưởng như xới tung cả cao điểm, bộ binh địch hò nhau lên. Những thằng to mồm đều là những thằng hèn nhát, chúng đứng trong rừng cây cách hầm tôi khoảng mười mét gì đó. Nghe thấy tiếng hô: Zô lên! Zô đi! Nhưng không thấy ló mặt thằng nào cả. Tiếng quả cối va vào nhau leng keng, tiếng của viên đạn chui vào nòng và tiếng nổ liều phóng. Sau tiếng kậm kịch của súng phóng lựu và một loạt tiếng nổ ùng oàng sau lưng chúng tôi. Khẩu đại liên trước mặt kéo hàng băng dài lên đỉnh cao điểm. Tôi bảo anh Lan:

        - Đừng có bắn! Lộ điểm chốt của mình! Dùng lựu đạn thôi! Tôi cầm quả lựu đạn ra hiệu cho các hầm bên cạnh cùng làm theo và ném lựu đạn US xuống chỗ địch đang bắn.
     
        Im lặng, hai bên cùng nghe ngóng, không có thấy tiếng AK bắn trả, địch lại bắn lại hò nhau lên. Chúng tôi cứ lựu đạn mà chọi, có tiếng gọi nhau chí chóe. Cứ thế địch bắn thì chúng tôi chọi lựu đạn, địch im thì chúng tôi nghỉ tay. Có lẽ chúng nghi ngờ một lực lượng áp sát nên nằm im nghe ngóng, sẩm tối, một cơn mưa ào qua, anh Lan lấy tấm tăng che lại cửa hầm, tôi ở ngách dưới gần địch hơn kéo anh xuống hầm và bảo:

        - Địch nó chưa rút đâu! Em không nghe thấy tiếng bò quay ra của chúng!

        Cùng lúc ấy tiếng lính, ngụy: Bắn đi! Zô lên! Cách hầm tôi không xa lắm. Đại liên địch đã hạ thấp nòng bắn quét sát sạt cửa hầm tiện đứt những thân cây đổ xuống. Anh Lan điên tiết bắn một quả B40 vào chỗ khẩu đại liên ấy. Địch im hẳn. Tôi định đứng dậy quan sát xem quả B40 đó nổ ỏ khoảng nào thì:

        - Ầm, oắc! Một vầng lửa màu da cam chụp lấy căn hầm. Hơi nổ hất tôi ngã nhào vào phía trong, tai ù đặc, miệng hớp khói đắng ngắt. Quả đạn chống tăng địch bắn trả vào đúng cửa hầm tôi đứng. Đang định thần kiểm tra xem mình có bị thương vào đâu không thì thấy anh Lan kéo áo:

        - Hậu! Tao bị thương rồi!

        Trong hầm tối đen như mực, không dám bật đèn pin. Tôi sờ lên đầu anh thấy máu nhầy nhụa, xé băng quấn đại xung quanh trán, đặt anh dưới sàn hầm.

        Thò đầu lên quan sát, xung quanh im lặng, có tiếng lách cách của súng và tiếng lê trên lá rừng. Địch đã biết vị trí mới của chúng tôi và lặng lẽ rút quân. Có tiếng chân chạy thình thịch và một bóng người lom khom từ phía sau lao đến. Tôi quát:

        -Ai!

        - Lĩnh đây! Lĩnh thông tin đây! Lĩnh, bộ đội thông tin quê Hà Tĩnh.

        Pháo bắn đứt đường dây, người thông tin phải đi kiểm tra và nối lại. Tránh một bên cho anh ta chui xuống hầm, tôi bảo:

        - Địch ở gần đây lắm! Ồng cứ "trọ trẹ" kiểu ấy có lúc quân ta chiến thắng quân mình đấy!

        Đúng lúc ấy, chính trị viên tiểu đoàn điện ra yêu cầu báo cáo lại trận đánh ban chiều. Tôi bảo anh Lan bị thương rất nặng. Ông bảo tôi báo cáo cụ thể. Tôi nói mạch lạc, tường tận trận đánh và cố ý đề cao việc người chính trị viên đại đội bị thương nặng không thể chỉ huy được, xin đơn vị khác ra thay thế. Ông bảo: "Để còn nghiên cứu!".

        Gần sáng, tiểu đoàn lệnh bàn giao điểm chốt cho đại đội 5. Tôi thay mặt anh Lan đi bàn giao hầm hào, hướng địch cho đơn vị bạn rồi vội vàng dìu anh rút lui trước khi trời sáng. Qua cao điểm, tàn lửa đã bị cơn mưa dập tắt, sợi kếp của bom na pan chưa cháy hết mắc trên cành cây như mạng nhện, về đến vị trí tập kết, tôi bảo Sang và Thu:

        - Hôm nay sẽ ác liệt lắm! Hầm hố của mình bị lộ hết rồi, lại quay đúng hướng pháo! Thằng đại đội 5 chắc không giữ được!

        Như tôi dự đoán, khoảng 9 giờ địch cho một tổ bộ binh lên thăm dò. Đại đội 5 đáp lại bằng B40 và AK có vẻ oai hùng lắm. Địch rút quân ra xa. Chúng cho một đài quan sát leo lên cây cao đối diện với hầm của đại đội 5 mà chỉnh pháo. Thế là pháo từ những điểm cao tập trung vào bốn cái hầm cỏn con ấy. Pháo phạt làm quang tinh vạt rừng "cộng sản" và trơ ra miệng hầm. Sang phải, sang trái toàn pháo khoan, có bốn chiếc hầm thì sập ba chiếc. Bộ đội đào bới nhau tập tễnh tháo lui bỏ cả cối 60 ly và điện đài trong hầm. Mất chốt hoàn toàn.

        Thấy bộ đội tập tễnh cõng nhau về. Ông chính trị viên tiểu đoàn quát:

        - Ới giời ơi! Nhìn không khác gì quân thất trận!

        Ngày hôm sau, trung đoàn cho lập một đài quan sát, dùng pháo 85 nòng dài từ bờ sông bên kia bắn sang vị trí đóng quân của địch. Nhưng do pháo của ta di chuyển bằng tháo rời, mang vác, bệ bắn, xạ giới kém nên hiệu quả không cao.

        Địch đã vòng ra sau lưng chúng tôi, chiều qua phục mìn đoàn vận tải mang đạn ra điểm chốt, sáu người hy sinh. Tiểu đoàn bộ đứng trước vòng vây của địch. Ngay hôm ấy, đơn vị được lệnh bỏ chốt, cắt rừng về tiểu đoàn bộ. Đến tiểu đoàn, anh nuôi, văn thư, quản lý ở lại. Anh Lan - chính trị viên, đại phó Thấu, tôi - y tá cùng bảy chiến sĩ nữa lên chốt giữ đồi tròn, cách tiểu đoàn khoảng 15 phút đi bộ.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tám, 2020, 08:21:23 pm

        Vừa ra khỏi tiểu đoàn vài phút, địch cắt đường bắn chết chiến sĩ thông tin đi sau, cắt đường dây điện thoại ra cao điểm. Coi như chúng tôi bị bao vây từ đấy. Đến điểm chốt, tập trung củng cố công sự, hầm hào chiến đấu. Chờ đến chiều không thấy anh nuôi đem cơm. Ngày thứ nhất qua đi, không thấy thông tin nối dây, mọi liên lạc về phía sau mù tịt, bộ đội ăn gạo rang.

        Ngày thứ hai đói, khát. Anh nuôi không đem cơm ra được. Chúng tôi phải dùng thuốc mìn claymo đốt cơm trong ống cóng. Cũng may đang là mùa mưa, bộ đội lấy tăng hứng nước để nấu và chống lại cái khát.

        Ngày thứ ba, địch vây chặt điểm chốt. Hướng nào cũng thấy lính ngụy gọi bộ đàm, gần lắm. Nhiều khi chúng ăn cơm, vứt vỏ hộp đánh coong một cái vào gốc cây. Rất ngạo mạn! Anh Lan bảo Thấu - đại phó đi bám địch, tìm cách liên lạc về tiểu đoàn. Thấu từ chối, ngồi dưới hầm, không đi đâu cả.

        Anh Lan bảo tôi chú ý cảnh giới, anh đi bám địch một mình, khi trở về anh bảo tôi:

        - Địch đào hầm rất gần mình! Khả năng ác liệt lắm! Nếu có gì cứ bám theo con suối dưới chân cao điểm này là về đến tiểu đoàn bộ!

        Cả tôi và anh đều linh cảm thấy một cái gì đó chuẩn bị xảy ra. Một sự mất mát rất lớn mà không làm sao thoát ra được. Tất cả lúc này mọi hành động đều là lý trí chi phối, chỉ có nhiệm vụ trước mắt và sẵn sàng hy sinh. Chúng tôi đã vậy, còn lại bảy chiến sĩ kia thì sao? Họ còn trẻ quá, ngây thơ quá. Tôi năm ấy cũng chỉ vừa tròn hai mươi tuổi nhưng dù sao cũng đã có ba tuổi quân, đã tham gia nhiều chiến dịch và qua nhiều trận đánh. Còn họ, có chiến sĩ mới vào chiến trường chưa được nửa năm.

        Càng ngóng tin tiểu đoàn càng biệt tích, không có một mệnh lệnh nào để hành động. Ở lại hay phá vây? Anh Lan gầy xọp đi, gương mặt hốc hác, trên đầu vẫn quấn băng trắng.

        Sang ngày thứ tư, có toán địch lọt vào điểm chốt. Anh Lan phát hiện và bắn hai loạt AK không chết tên địch nào cả. Chúng chạy ào vào rừng, vị trí của chúng tôi bại lộ. Địch áp sát đỉnh đồi, khép chặt vòng vây. Do quá gần nên chúng không gọi pháo tầm xa bắn đến mà dùng cối 81 lắp ngòi khoan tấn công. Cối bắn từ chỗ toán ngụy xuất hiện chuyến làn đến gần hầm của tôi thì dừng lại. Hầm tiền tiêu gồm: Toàn -  chiên sĩ B40 và Phòng bị dính cối. Toàn chết ngay trong hầm, Phòng bỏ chạy về cuối điểm chốt. Địch bắn hú họa mấy băng đại liên, không thấy xông vào. Hầm của tôi trở thành vị trí tiền tiêu.

        Chiều tối, tôi, anh Lan cùng Bình (đen) bò lên hầm phía trước đưa Toàn lên và chôn cất cạnh gốc cây to ở giữa điếm chốt, cách hầm tôi bốn mét.

        Sáng hôm sau, địch ồ ạt tấn công. Đại liên bắn loạn xạ, đạn vàng chóe tiện dứt những dây leo trong rừng. Đạn pháo lựu nổ vung vãi. Anh Lan và tôi bắn mấy loạt AK rồi quay về sau hầm, vòng sang bên phải thấy địch hỗ nhau xông lên, đại liên bắn vế phía trước. Tôi ném hai quả lựu đạn về phía địch, anh Lan bắn một loạt AK. Địch quay súng về phía chúng tôi, hai người tháo lui quay vê hầm.

        Thấy khẩu B40 của Toàn dựa vào gốc cây to phía trước, anh Lan bò lên lấy xuống. Vừa khom lưng đi được một đoạn tôi thấy anh chạy về, một tay sách súng, một tay bịt mồm, máu ra loang lổ:

        - Hậu! Tao bị thương!

        Mặc cho địch bắn loạn xạ, bộ đội hoảng sợ tập trung vào hai hầm sau cùng. Tôi kéo anh Lan xuống một hố sau hầm. Viên đại liên của địch bắn gãy hai răng cửa trước, xuyên qua quai hàm làm máu ra thành dòng. Tôi dùng cuộn băng vê chặt như chiếc nút chai xoáy từ bên ngoài vào và băng chặt qua tai lên đỉnh đầu:

        - Anh bị rất nặng! Không ở đây được đâu! Anh về ngay đi, càng nhanh càng tốt! Anh liền ra hiệu: - Tao về còn chúng mày làm thế nào?

        - Anh cứ đi đi, em sẽ liệu!

        Nhìn anh xộc xệch vội vàng tụt xuống dốc, tôi lo cho anh quá, không biết có về được đến tiểu đoàn không?

        Quay về căn hầm cuối cùng, bộ đội tập trung cả ờ đấy. Tôi bảo:

        - Tất cả lên hết! Không ai ở dưới hầm cả! Không đánh địch thì cũng chết, cố gắng cầm cự chờ anh Lan về gọi người lên phá vây!

        Thấu, Tròn, Bình, Phòng lục tục chui lên nằm xoài sau hầm. Địch đã ngớt bắn, chắc nó đang củng cố để tấn công đợt khác. Cùng lúc ấy anh Lan lếch thếch từ dưới dốc chạy lên, anh vẫy ra hiệu: - Cho anh em rút theo suối! Sau đó anh quay đi luôn.

        - Thôi rút! Tôi ra lệnh.

        Một vài người định nhảy xuống hầm lấy ba lô mang theo. Tôi nổi cáu:

        - Chắc gì còn sống mà ba lô, ba đồ! Cầm súng và đạn đi!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2020, 10:32:02 am
 
        Tụt xuôi theo vết máu, qua mấy điểm chốt của địch vừa bỏ đi xong, vết giày của địch còn in trên lốp đất ướt. Bám theo vết máu một đoạn thấy có tiếng địch gọi bộ đàm phía trước. Tròn kéo áo tôi lại:

        - Đừng đi theo anh Lan nữa! Ông ấy cuống lên có khi lao vào vị trí địch rồi!

        Bỏ vết máu, tôi cắt rừng xuống suối, lội qua một bãi gai xấu hổ sang bờ suối bên kia, chúng tôi dừng lại. Phía trước, phía sau cũng thấy địch gọi nhau. Trên điểm chốt, đại liên địch lại rộ lên từng chập, tiếng phóng lựu, tiếng cối loạn xạ. Chúng đang đánh vào chỗ không người. Tôi bảo:

        - Bây giờ thế này! Tôi đi đầu, Tròn cầm B41 đi cùng tôi. Mỗi người cách nhau bốn mét. Nếu gặp địch, tôi bắn thì tất cả cùng bắn, còn không cứ để địch đi qua hoặc cố gắng tránh né. Nếu không may bị thất lạc thì cứ xuôi theo con suối này là về đến tiểu đoàn bộ!

        Chúng tôi cứ bám suối cắt rừng mà đi, phía phải có địch thì cắt sang bên trái, phía này có súng nổ lại quay sang hướng khác. Có khi cắt qua một con đường mòn phía trên chắc có địch. Chúng vừa xuống suối lấy nước, một vệt nước còn đọng trên đường. Lúc này tôi mới mong mưa làm sao, mong đến cháy ruột. Nhìn lại đội hình chỉ còn mấy người, tất cả như gà con lạc mẹ, nhớn nha nhớn nhác. Thấu - đại đội phó mặt cắt không còn giọt máu, lủi thủi đi sau cùng, nếu gặp địch là sẵn sàng bỏ chạy.

        Nhìn anh em ngơ ngác tôi thấy thương họ quá. Nếu mình mắc mìn, người đi đầu bao giờ cũng chết, còn họ làm sao? Bây giờ mà mưa xuống địch sẽ co cụm lại trú mưa và chúng tôi xuyên rừng trong tiếng mưa đại ngàn ấy... Nhưng trên trời chỉ có một vài cụm mây đen bảng lảng như thách thức lòng can đảm của lính.

        Bỏ chốt khoảng 10 giờ sáng, xuyên rừng đến 15 giờ chiều thì ra một vạt nương cũ của dân, có mấy bụi chuối mọc xen trong nương ngô đứng chênh vênh bên sườn dốc. Hình như đến tiểu đoàn bộ rồi thì phải, mấy lần cáng thương về đây tôi nhớ có một vạt nương như thế kia nhưng liệu tiểu đoàn còn lại hay đã di chuyển sang sông rồi? Tôi thấy lo quá, chán nản, vừa đói vừa mệt vừa sốt ruột. Thấy một đoạn dây thông tin của ta bỏ lại vệ đường, tôi thấy hy vọng:

        - Thôi! Anh em nghỉ đi! Ngồi tản ra! Có lẽ về đến tiểu đoàn bộ rồi! Để tôi sang bên kia suối xem sao!

        Lội ào qua con suối bờ bên thấy một vết giày ngụy in đậm trên bậc lên xuống, tôi giật mình định tháo lui thì có tiếng ai đó huýt sáo. Không biết là ta hay địch, tôi cũng huýt huýt trả lòi. Bên một bụi le thấp thoáng bóng áo xanh vẫy vẫy. Tôi không kìm được niềm vui tột cùng kêu to:

        - Về tiểu đoàn bộ rồi! Bộ đội chạy ào sang suối, nước bắn tung tóe.

        - Khẽ thôi! Vừa mối bắn chết tên ngụy cách đây vài mét, nó bám theo đường điện thoại của ta và bị tổ thông tin bắn chết!

        - Anh Lan về chưa?

        - Về rồi! Đang cấp cứu ở hầm quân y! Anh ấy bị thương nặng lắm, không còn nói được, chỉ viết vào lòng bàn tay mấy chữ: "Đại đội 7 chết hết rồi!"... Xong rồi ngất đi. Chúng tôi lặng đi:

        - Thế là hết, cả ông Hậu nữa. Không còn ai!

        Phải thôi, chỉ có một mình chính trị viên chạy về đến nhà, máu me đầy mặt thì ai còn nghĩ đến chúng tôi. Sống mà trở về.

        Tôi chạy lên hầm phẫu, anh Lan nằm đó, vết thương được khâu kín, máu không ra ngoài được tích lại ở trong cơ làm mặt căng ra như quả bóng, mặt nóng rực, thở gấp gáp yếu ớt. Tôi gọi nhưng anh không trả lời, nhưng tôi biết anh còn tỉnh, anh đã nhận ra tôi và rất vui khi chúng tôi an toàn trở về. Tôi được gọi lên gặp anh Sơn - chính trị viên tiểu đoàn - người Thanh Hóa, anh ôm lấy tôi và bảo:

        - Đưa nhau về được là may mắn lắm rồi! Trinh sát đi tìm các đồng chí nhưng địch đông quá, không vào được! Thôi cho anh em nghỉ ngơi rồi tính sau.

        Chiều tối anh Lan tắt thở. Chôn anh ở phía sau vị trí đóng quân của tiểu đoàn bộ. Ở đấy người ta đã đào sẵn mười chiếc huyệt nữa nhưng rồi không dùng cho ai cả.

        Pháo địch bắn cấp tập vào chỉ huy sở tiểu đoàn, có nghĩa là chúng sẵn sàng đánh tập hậu và cô lập chúng tôi hoàn toàn. Khoảng 2 giờ sáng, toàn bộ tiểu đoàn rút ra bờ sông chỉ để lại một đơn vị nhỏ đánh địch vu hồi. Số gạo và đạn không đem theo hết vùi tạm trong hầm, nếu được có thể sẽ lấy về sau.

        Ra đến bờ sông, đại phó Nguyễn Văn Thấu bị đình chỉ chức vụ gọi về hậu cứ cách chức xuống hàng trung đội, chuyển về Khung thu dụng xét sau. Mười anh em chúng tôi đào hầm và mắc võng trong một bãi le bằng phẳng gần bờ sông. Một hôm đi xuống bếp ăn cơm, Mậu vừa mớ vung nồi nước mắm ra thì một con nhện rất to rơi xuống, chết co quắp. Tôi bảo:

        - À! Nhện xa vào nồi nước mắm thế nào cũng có thịt! Thôi! Chờ mấy "bô" kia về rồi hãy ăn cơm. Vừa dứt lời thấy Sang chạy hớt hơ về bảo:

        - Có con nai bị pháo địch bắn chết, tiểu đoàn đang chia nhau ngoài kia kìa, nhanh lên!

        Tụt xuôi theo vết máu, qua mấy điểm chốt của địch vừa bỏ đi xong, vết giày của địch còn in trên lốp đất ướt. Bám theo vết máu một đoạn thấy có tiếng địch gọi bộ đàm phía trước. Tròn kéo áo tôi lại:

        - Đừng đi theo anh Lan nữa! Ông ấy cuống lên có khi lao vào vị trí địch rồi!

        Bỏ vết máu, tôi cắt rừng xuống suối, lội qua một bãi gai xấu hổ sang bờ suối bên kia, chúng tôi dừng lại. Phía trước, phía sau cũng thấy địch gọi nhau. Trên điểm chốt, đại liên địch lại rộ lên từng chập, tiếng phóng lựu, tiếng cối loạn xạ. Chúng đang đánh vào chỗ không người. Tôi bảo:

        - Bây giờ thế này! Tôi đi đầu, Tròn cầm B41 đi cùng tôi. Mỗi người cách nhau bốn mét. Nếu gặp địch, tôi bắn thì tất cả cùng bắn, còn không cứ để địch đi qua hoặc cố gắng tránh né. Nếu không may bị thất lạc thì cứ xuôi theo con suối này là về đến tiểu đoàn bộ!

        Chúng tôi cứ bám suối cắt rừng mà đi, phía phải có địch thì cắt sang bên trái, phía này có súng nổ lại quay sang hướng khác. Có khi cắt qua một con đường mòn phía trên chắc có địch. Chúng vừa xuống suối lấy nước, một vệt nước còn đọng trên đường. Lúc này tôi mới mong mưa làm sao, mong đến cháy ruột. Nhìn lại đội hình chỉ còn mấy người, tất cả như gà con lạc mẹ, nhớn nha nhớn nhác. Thấu - đại đội phó mặt cắt không còn giọt máu, lủi thủi đi sau cùng, nếu gặp địch là sẵn sàng bỏ chạy.

        Nhìn anh em ngơ ngác tôi thấy thương họ quá. Nếu mình mắc mìn, người đi đầu bao giờ cũng chết, còn họ làm sao? Bây giờ mà mưa xuống địch sẽ co cụm lại trú mưa và chúng tôi xuyên rừng trong tiếng mưa đại ngàn ấy... Nhưng trên trời chỉ có một vài cụm mây đen bảng lảng như thách thức lòng can đảm của lính.

        Bỏ chốt khoảng 10 giờ sáng, xuyên rừng đến 15 giờ chiều thì ra một vạt nương cũ của dân, có mấy bụi chuối mọc xen trong nương ngô đứng chênh vênh bên sườn dốc. Hình như đến tiểu đoàn bộ rồi thì phải, mấy lần cáng thương về đây tôi nhớ có một vạt nương như thế kia nhưng liệu tiểu đoàn còn lại hay đã di chuyển sang sông rồi? Tôi thấy lo quá, chán nản, vừa đói vừa mệt vừa sốt ruột. Thấy một đoạn dây thông tin của ta bỏ lại vệ đường, tôi thấy hy vọng:

        - Thôi! Anh em nghỉ đi! Ngồi tản ra! Có lẽ về đến tiểu đoàn bộ rồi! Để tôi sang bên kia suối xem sao!

        Lội ào qua con suối bờ bên thấy một vết giày ngụy in đậm trên bậc lên xuống, tôi giật mình định tháo lui thì có tiếng ai đó huýt sáo. Không biết là ta hay địch, tôi cũng huýt huýt trả lòi. Bên một bụi le thấp thoáng bóng áo xanh vẫy vẫy. Tôi không kìm được niềm vui tột cùng kêu to:

        - Về tiểu đoàn bộ rồi! Bộ đội chạy ào sang suối, nước bắn tung tóe.

        - Khẽ thôi! Vừa mối bắn chết tên ngụy cách đây vài mét, nó bám theo đường điện thoại của ta và bị tổ thông tin bắn chết!

        - Anh Lan về chưa?

        - Về rồi! Đang cấp cứu ở hầm quân y! Anh ấy bị thương nặng lắm, không còn nói được, chỉ viết vào lòng bàn tay mấy chữ: "Đại đội 7 chết hết rồi!"... Xong rồi ngất đi. Chúng tôi lặng đi:

        - Thế là hết, cả ông Hậu nữa. Không còn ai!

        Phải thôi, chỉ có một mình chính trị viên chạy về đến nhà, máu me đầy mặt thì ai còn nghĩ đến chúng tôi. Sống mà trở về.

        Tôi chạy lên hầm phẫu, anh Lan nằm đó, vết thương được khâu kín, máu không ra ngoài được tích lại ở trong cơ làm mặt căng ra như quả bóng, mặt nóng rực, thở gấp gáp yếu ớt. Tôi gọi nhưng anh không trả lời, nhưng tôi biết anh còn tỉnh, anh đã nhận ra tôi và rất vui khi chúng tôi an toàn trở về. Tôi được gọi lên gặp anh Sơn - chính trị viên tiểu đoàn - người Thanh Hóa, anh ôm lấy tôi và bảo:

        - Đưa nhau về được là may mắn lắm rồi! Trinh sát đi tìm các đồng chí nhưng địch đông quá, không vào được! Thôi cho anh em nghỉ ngơi rồi tính sau.

        Chiều tối anh Lan tắt thở. Chôn anh ở phía sau vị trí đóng quân của tiểu đoàn bộ. Ở đấy người ta đã đào sẵn mười chiếc huyệt nữa nhưng rồi không dùng cho ai cả.

        Pháo địch bắn cấp tập vào chỉ huy sở tiểu đoàn, có nghĩa là chúng sẵn sàng đánh tập hậu và cô lập chúng tôi hoàn toàn. Khoảng 2 giờ sáng, toàn bộ tiểu đoàn rút ra bờ sông chỉ để lại một đơn vị nhỏ đánh địch vu hồi. Số gạo và đạn không đem theo hết vùi tạm trong hầm, nếu được có thể sẽ lấy về sau.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2020, 10:33:54 am
 
        Ra đến bờ sông, đại phó Nguyễn Văn Thấu bị đình chỉ chức vụ gọi về hậu cứ cách chức xuống hàng trung đội, chuyển về Khung thu dụng xét sau. Mười anh em chúng tôi đào hầm và mắc võng trong một bãi le bằng phẳng gần bờ sông. Một hôm đi xuống bếp ăn cơm, Mậu vừa mớ vung nồi nước mắm ra thì một con nhện rất to rơi xuống, chết co quắp. Tôi bảo:

        - À! Nhện xa vào nồi nước mắm thế nào cũng có thịt! Thôi! Chờ mấy "bô" kia về rồi hãy ăn cơm. Vừa dứt lời thấy Sang chạy hớt hơ về bảo:

        - Có con nai bị pháo địch bắn chết, tiểu đoàn đang chia nhau ngoài kia kìa, nhanh lên!

        Tụt xuôi theo vết máu, qua mấy điểm chốt của địch vừa bỏ đi xong, vết giày của địch còn in trên lốp đất ướt. Bám theo vết máu một đoạn thấy có tiếng địch gọi bộ đàm phía trước. Tròn kéo áo tôi lại:

        - Đừng đi theo anh Lan nữa! Ông ấy cuống lên có khi lao vào vị trí địch rồi!

        Bỏ vết máu, tôi cắt rừng xuống suối, lội qua một bãi gai xấu hổ sang bờ suối bên kia, chúng tôi dừng lại. Phía trước, phía sau cũng thấy địch gọi nhau. Trên điểm chốt, đại liên địch lại rộ lên từng chập, tiếng phóng lựu, tiếng cối loạn xạ. Chúng đang đánh vào chỗ không người. Tôi bảo:

        - Bây giờ thế này! Tôi đi đầu, Tròn cầm B41 đi cùng tôi. Mỗi người cách nhau bốn mét. Nếu gặp địch, tôi bắn thì tất cả cùng bắn, còn không cứ để địch đi qua hoặc cố gắng tránh né. Nếu không may bị thất lạc thì cứ xuôi theo con suối này là về đến tiểu đoàn bộ!

        Chúng tôi cứ bám suối cắt rừng mà đi, phía phải có địch thì cắt sang bên trái, phía này có súng nổ lại quay sang hướng khác. Có khi cắt qua một con đường mòn phía trên chắc có địch. Chúng vừa xuống suối lấy nước, một vệt nước còn đọng trên đường. Lúc này tôi mới mong mưa làm sao, mong đến cháy ruột. Nhìn lại đội hình chỉ còn mấy người, tất cả như gà con lạc mẹ, nhớn nha nhớn nhác. Thấu - đại đội phó mặt cắt không còn giọt máu, lủi thủi đi sau cùng, nếu gặp địch là sẵn sàng bỏ chạy.

        Nhìn anh em ngơ ngác tôi thấy thương họ quá. Nếu mình mắc mìn, người đi đầu bao giờ cũng chết, còn họ làm sao? Bây giờ mà mưa xuống địch sẽ co cụm lại trú mưa và chúng tôi xuyên rừng trong tiếng mưa đại ngàn ấy... Nhưng trên trời chỉ có một vài cụm mây đen bảng lảng như thách thức lòng can đảm của lính.

        Bỏ chốt khoảng 10 giờ sáng, xuyên rừng đến 15 giờ chiều thì ra một vạt nương cũ của dân, có mấy bụi chuối mọc xen trong nương ngô đứng chênh vênh bên sườn dốc. Hình như đến tiểu đoàn bộ rồi thì phải, mấy lần cáng thương về đây tôi nhớ có một vạt nương như thế kia nhưng liệu tiểu đoàn còn lại hay đã di chuyển sang sông rồi? Tôi thấy lo quá, chán nản, vừa đói vừa mệt vừa sốt ruột. Thấy một đoạn dây thông tin của ta bỏ lại vệ đường, tôi thấy hy vọng:

        - Thôi! Anh em nghỉ đi! Ngồi tản ra! Có lẽ về đến tiểu đoàn bộ rồi! Để tôi sang bên kia suối xem sao!

        Lội ào qua con suối bờ bên thấy một vết giày ngụy in đậm trên bậc lên xuống, tôi giật mình định tháo lui thì có tiếng ai đó huýt sáo. Không biết là ta hay địch, tôi cũng huýt huýt trả lòi. Bên một bụi le thấp thoáng bóng áo xanh vẫy vẫy. Tôi không kìm được niềm vui tột cùng kêu to:

        - Về tiểu đoàn bộ rồi! Bộ đội chạy ào sang suối, nước bắn tung tóe.

        - Khẽ thôi! Vừa mối bắn chết tên ngụy cách đây vài mét, nó bám theo đường điện thoại của ta và bị tổ thông tin bắn chết!

        - Anh Lan về chưa?

        - Về rồi! Đang cấp cứu ở hầm quân y! Anh ấy bị thương nặng lắm, không còn nói được, chỉ viết vào lòng bàn tay mấy chữ: "Đại đội 7 chết hết rồi!"... Xong rồi ngất đi. Chúng tôi lặng đi:

        - Thế là hết, cả ông Hậu nữa. Không còn ai!

        Phải thôi, chỉ có một mình chính trị viên chạy về đến nhà, máu me đầy mặt thì ai còn nghĩ đến chúng tôi. Sống mà trở về.

        Tôi chạy lên hầm phẫu, anh Lan nằm đó, vết thương được khâu kín, máu không ra ngoài được tích lại ở trong cơ làm mặt căng ra như quả bóng, mặt nóng rực, thở gấp gáp yếu ớt. Tôi gọi nhưng anh không trả lời, nhưng tôi biết anh còn tỉnh, anh đã nhận ra tôi và rất vui khi chúng tôi an toàn trở về. Tôi được gọi lên gặp anh Sơn - chính trị viên tiểu đoàn - người Thanh Hóa, anh ôm lấy tôi và bảo:

        - Đưa nhau về được là may mắn lắm rồi! Trinh sát đi tìm các đồng chí nhưng địch đông quá, không vào được! Thôi cho anh em nghỉ ngơi rồi tính sau.

        Chiều tối anh Lan tắt thở. Chôn anh ở phía sau vị trí đóng quân của tiểu đoàn bộ. Ở đấy người ta đã đào sẵn mười chiếc huyệt nữa nhưng rồi không dùng cho ai cả.

        Pháo địch bắn cấp tập vào chỉ huy sở tiểu đoàn, có nghĩa là chúng sẵn sàng đánh tập hậu và cô lập chúng tôi hoàn toàn. Khoảng 2 giờ sáng, toàn bộ tiểu đoàn rút ra bờ sông chỉ để lại một đơn vị nhỏ đánh địch vu hồi. Số gạo và đạn không đem theo hết vùi tạm trong hầm, nếu được có thể sẽ lấy về sau.

        Ra đến bờ sông, đại phó Nguyễn Văn Thấu bị đình chỉ chức vụ gọi về hậu cứ cách chức xuống hàng trung đội, chuyển về Khung thu dụng xét sau. Mười anh em chúng tôi đào hầm và mắc võng trong một bãi le bằng phẳng gần bờ sông. Một hôm đi xuống bếp ăn cơm, Mậu vừa mớ vung nồi nước mắm ra thì một con nhện rất to rơi xuống, chết co quắp. Tôi bảo:

        - À! Nhện xa vào nồi nước mắm thế nào cũng có thịt! Thôi! Chờ mấy "bô" kia về rồi hãy ăn cơm. Vừa dứt lời thấy Sang chạy hớt hơ về bảo:

        - Có con nai bị pháo địch bắn chết, tiểu đoàn đang chia nhau ngoài kia kìa, nhanh lên!

        Chiều hôm ấy, chúng tôi được bữa thịt tươi nhớ đời. Hơn một tháng hành quân đánh nhau liên tục rau xanh nằm mơ cũng không thấy huống gì thịt tươi như thế! Bữa nào cũng chỉ có nắm cơm, muối vừng và ít ruốc. Hôm nay địch tặng cho một bữa thịt nai rừng quả là tốt quá.

        Pháo địch chuyển làn cấp tập ra bờ sông, Tiểu đoàn 9 vừa đánh vừa rút. Chúng tôi được lệnh vượt sông, chuyển quân về hậu cứ dưới chân núi Chư Mom Ray chờ bổ sung quân. Rõ ràng, địch đã tận dụng hết thế mạnh của chúng: gần thị xã, quận lỵ, có đường 14 di chuyển thuận lợi, tập trung nhanh. Các khu vực khác cắm cờ bàn chuyện hiệp thương để cầm chân lực lượng của ta. Vị trí nào địch lấn chiếm là tập trung tất cả máy bay, pháo đủ các loại theo kiểu "vết dầu loang" đánh chiếm ác liệt vùng giải phóng. Phía chúng tôi xa hậu cứ, lại chọn chiến dịch vào mùa mưa. Vô cùng phức tạp nhất là chuyển quân và súng đạn sang sông. Lực lượng đang dàn đều từ bắc sang nam nên di chuyển ứng cứu nhau không phải dễ.

        Đại đội tôi trước khi xuất kích gần 60 cán bộ chiến sĩ, khi đặt chân về hậu cứ còn đúng mười người kể cả anh nuôi. Trong mười đồng chí đó có một số đồng chí mới bổ sung tôi không nhớ tên. Sau chiến tranh những người lính bước ra ngoài cuộc chiến, họ tìm gặp lại nhau tay bắt mặt mừng nghẹn ngào xúc động.

        Tôi gặp lại Nguyễn Văn Khoản - Bác sĩ Bệnh viện Việt Trì, gặp Mậu nay ở Tỉnh ủy Lạng Sơn, Lý Sài Quẩy - Thanh tra huyện Sa Pa - Lào Cai, Thu phục viên về Sơn Dương - Tuyên Quang, Sang về Hưng Hà - Thái Bình và người tổ trưởng nuôi quân Trần Văn Hợp về Thanh Sơn - Phú Thọ. Có một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn đã từng cắt rừng đưa chúng tôi bám địch - cũng đã từng cắt rừng để vào chốt liên lạc với chúng tôi ở trận cuối cùng nhưng không thể vào được vì địch vây rất đông đó là Đinh Ngọc Lánh nay ở Xuân Đài - Thanh Sơn - Phú Thọ. Riêng Tròn hy sinh tháng 11 năm 1974 ở một trận đánh chốt. Còn lại

        Bình (đen), Phòng và những người khác chắc họ đang tần tảo với cuộc sống riêng của gia đình. Họ không bao giờ quên những kỷ niệm ấy.

        Xin chúc họ luôn may mắn và hạnh phúc.

H. K. H.                                   
Lâm Thao, thượng tuần tháng 4 năm 2002.        


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2020, 07:16:40 am

MIỀN KÝ ỨC

Nguyễn Đình Phượng       

        Một bạn đồng nghiệp viết thư ra mời tôi vào chơi Buôn Ma Thuột đúng vào dịp tháng ba. Theo anh, tháng ba là khoảng thòi gian đẹp nhất của Buôn Ma Thuột. Tôi chưa một lần đến đó, mà chỉ biết miền đất cao nguyên ấy qua sách báo, phim ảnh. Trong tôi, miền đất ấy hùng vĩ lắm. Nơi đó là "Mái nhà nam Đông Dương". Có Ma Trang Lơn, có anh hùng Núp. Từ ngày còn cắp sách tới trường, tôi đã mê trường ca Đam San. Là người lính xe tăng, Tây Nguyên còn là niềm tự hào của chúng tôi. Những Đắc Tô - Tân Cảnh, Cheo Reo, Phú Bổn, đèo Phượng Hoàng và đặc biệt là trận Buôn Ma Thuật mùa Xuân 1975.

        Rất may là tôi được đi Tây Nguyên vào những ngày đầu tháng ba. Tôi theo chân một người anh hùng trỏ lại thăm chiến trường xưa với anh Đoàn Sinh Hưởng. Tây Nguyên có nhiều kỷ niệm của một thời chiến đấu gian khổ, ác liệt mà bây giờ nhắc lại cứ như huyền thoại. Anh nói với tôi rằng: "Chuyến đi này là dịp để tìm về miền ký ức".

        Dọc đường lên Đắc Lắc, chúng tôi đi trong cảm giác lâng lâng. Gió Cao Nguyên mát lành và hào phóng thổi tới những cánh rừng cao su, cà phê đang mùa xanh lá. Từng đoàn người Ba Na, Ê Đê... trong sắc phục dân tộc, tay cầm dao đi rừng, miệng phì phèo ống thuốc, tươi cười vẫy chúng tôi. Những đứa trẻ được mẹ địu trên lưng đang ngủ ngon lành. Hai lăm năm trước, bộ đội ta phải luồn rừng để vào thành phố.

        Buôn Ma Thuột, giờ là thành phố, thủ phủ của cả một vùng Tây Nguyên rộng lớn. Đắc Lắc giờ đã là một tỉnh giàu có của Tây Nguyên. Năm 1995, mới đạt 32 vạn tấn lương thực, 120 ngàn hec-ta cà phê thu ngân sách 320 tỷ đồng thì năm 1999 con số đó đã gấp hai lần. Chúng tôi ngỡ ngàng trước những thay đổi nhanh chóng của một đô thị trẻ. Đường sá, cao ốc, người xe... đông vui, tấp nập. Anh Đoàn Sinh Hưởng bồi hồi nhớ lại những ngày đầu tháng ba năm 1975...

        Từ đỉnh núi Chư Nga, nơi Trung đoàn 273 xe tăng giấu quân, đêm mồng 9 tháng 3 năm 1975, cả đơn vị theo hướng Buôn Ma Thuột mà tiến. Những chiếc xe tăng mình đầy ngụy trang, giảm nhẹ chân dầu, trườn từng tý một trong đêm. Bộ đội công binh đã làm sẵn đường riêng cho xe tăng, đánh dấu cẩn thận. Những thân cây được cắt ngang gốc 1/3. Khi giờ G đã điểm, những con voi thép ấy tăng ga, đè lên những thân cây. Đến gần 5 giờ sáng mồng 10 tháng 3 năm 1975, bộ đội xe tăng Trung đoàn 273 và bộ binh Sư đoàn 10, Sư đoàn 316 đã cách cửa mở chừng 2 ki-lô-mét. Đúng 5 giờ sáng, hiệu lệnh tấn công bắt đầu. Thê đội 1 xe tăng bị sa lầy trước cửa mở, đơn vị nhanh chóng chuyển phương án hai. Những chiếc xe tăng dẫn dắt bộ binh ào lên. Xe tăng 980 của đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng bị trúng đạn. Đang lao quả đạn pháo vào chiến sĩ Nông Văn Vĩnh bị mảnh đạn làm cụt cánh tay trái... Do không nắm chắc địa hình nên hướng tấn công của xe tăng lạc xuống phía nam. Sau khi xác định được vị trí, đơn vị mới quay lại đánh vào một khu truyền tin, khu hậu cần... Kẻ địch lợi dụng công sự kiên cố như hầm ngầm, lô cốt, chống trả quyết liệt. Những chiếc xe tăng ta đã phát huy sức mạnh của hỏa lực và sức cơ động dẫn dắt bộ binh đánh dập từng ổ đề kháng. Xe 980 như một mũi tên thép, áp sát từng căn nhà, góc phố... Đến chiều tối, địch trong thị xã co cụm lại, tổ chức phản công quyết liệt.

        Ngày 11 tháng 3, bộ đội ta mới mở được cuộc tiến công vào sư đoàn bộ 23 ngụy và khu kho Mai Hắc Đế. Đại đội trưởng xe tăng Đoàn Sinh Hưởng lệnh cho pháo thủ Phan Lạc Vinh bắn quả đạn pháo thẳng căng vào sư bộ 23 ngụy. Quả đạn pháo xe tăng 100 ly làm vỡ toác một góc cổng. Lúc đó là 10 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975. Sau đó ít lâu, kẻ địch chạy tán loạn vào rừng cà phê. Xe tăng cùng bộ truy kích, bắt sống tên đại tá Luật, tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc.

        Sư bộ 23 ngụy ngày nào, giờ trên nền đất ấy, là những ngôi nhà bề thế của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đắc Lắc. Trong khuôn viên của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh vẫn còn chứng tích một thời chiến tranh: xác xe tăng địch, hầm ngầm, lô cốt... Chúng tôi thăm lại cánh rừng cao su, cà phê ngày nào giờ đã xanh bát ngát. Trong ký ức người lính một thời trận mạc thì vẫn còn tất cả.

        Ngày mồng 10 tháng 3 năm 1975, bộ đội hy sinh khá nhiều. Anh Hưởng nói giọng chùng xuống: "Tôi cũng bị thương vào chân. Hai ngày sau, anh em ép ghê quá, tôi phải vào viện. Nằm được một ngày, sốt ruột quá, tôi phải "đào ngũ" về để chuẩn bị cho trận đánh ở Cheo Reo. Tôi nhớ mãi cái đêm mồng 10 tháng 3 ấy. Nước mắt người còn sống rơi lã chã trên thi thể đồng đội. Máu chảy vào lòng đất bazan bấy giờ đã là thứ nước màu hồng. Không có gì ngoài những tấm võng để chôn cất đồng đội. Anh em nằm thẳng hàng trên những tấm võng màu tím. Tôi đọc trong từng ánh mắt đồng đội, những tia lửa căm thù...

        Buôn Ma Thuột giải phóng. Một rừng cờ hoa. "Đề nghị thủ trưởng khao quân mừng chiến thắng". Có tiếng chiến sĩ nào đó cất lên. Tôi và chính trị viên Huỳnh Rịch nhìn nhau. Chúng tôi bóp đầu suy nghĩ, vẫn không tìm ra được thứ gì tốt hơn ngoài lương khô. Ngọn lửa được đốt lên dưới cánh rừng cao su. Anh em đập vụn từng phong lương khô thả vào nồi, rồi cho ít đường vào thế là được nồi chè ăn mừng chiến thắng. Anh nuôi đưa cho mỗi người một bát nhưng không ai chịu ăn trước, cả niềm vui và nỗi đau đã tan vào tim, vào mắt. Ai nấy đều khóc.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2020, 07:17:10 am

       
*

        Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắc Lắc đặt trên một quả đồi cao. Đứng trước bức phù điêu và nhóm tượng đài của nhà điêu khắc nổi tiếng Tạ Quang Bạo, chúng tôi như được sống những giây phút hào hùng của quân và dân các dân tộc Đắc Lắc thời đánh Mỹ. Chúng tôi theo người phụ trách nghĩa trang đi dưới cái nắng oi nồng của cao nguyên để lần tìm đồng đội. Chiến tranh đã lùi xa hai mươi lăm năm, nhưng nhiều người vẫn chưa được tìm thấy. Nghĩa trang chỉ mới quy tập được hơn hai nghìn ngôi mộ. Những chiến sĩ xe tăng hy sinh trên đất Đắc Lắc một số người đã được gia đình đưa về quê, chỉ còn một ít nằm lại. Lê Văn Thập, quê Kinh Môn, Hải Dương, hy sinh ngày 14 tháng 3 năm 1975. Đầy là Trần Kim Tài, quê Phú Hộ, Cẩm Khê, Phú Thọ. Anh hy sinh ngày 21 tháng 3 năm 1975. Còn đây là Vũ Ngọc Tiến, pháo thủ xe tăng, quê Tiên Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa, hy sinh ngày 22 tháng 3 năm 1975. Thắp xong mấy nén nhang, chợt anh Hưởng thảng thốt:

        - Còn cậu Danh lái xe?

        Chúng tôi lại lần tìm. Đây rồi, giữa bao đồng đội, Danh cũng chỉ dành cho mình một vuông đất nhỏ với dòng chữ khiêm tốn: "Đặng Phong Danh, chiến sĩ lái xe tăng, quê Thanh Vân, Thanh Ba, Phú Thọ, hy sinh ngày 22 tháng 3 năm 1975".

        Đã hai mươi lăm năm, mấy năm nay là Tư lệnh binh chủng Tăng thiết giáp mang quân hàm Thiếu tướng, anh Đoàn Sinh Hưởng vẫn nhớ như in những năm tháng cùng đồng đội chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau. Trong ký ức anh, họ vẫn trẻ mãi ở cái tuổi mười chín đôi mươi. Trần Kim Tài người chắc mập, đen trũi như những cây chò vùng Phú Thọ quê anh. Tài ít nói, hiền từ nhưng hay làm. Tài còn có duyên đóng kịch. Những vở kịch "cây nhà lá vườn", có Tài thủ vai là hôm ấy lính ta được trận cười nghiêng ngửa. Danh lại có nước da trắng hồng như con gái nhưng là tay lái xe tăng nhất nhì của trung đoàn. Còn Vũ Ngọc Tiến lại khéo tay như một nghệ nhân. Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Tiến nhặt đâu được chiếc ống pháo sáng. Chỉ bằng con dao găm, hai ngày sau Tiến mang tặng anh Hưởng chiếc hộp đựng bàn chải đánh răng. Mấy ngày sau, Tiến hy sinh, anh Hưởng cất chiếc hộp vào đáy ba lô. Sau đó mấy tháng, khi ra Bắc đi phép, chiếc hộp bị rơi đâu mất. Anh ân hận như mình đánh mất một gia tài lớn.

        Những năm đánh Mỹ, Tây Nguyên là chiến trường vô cùng gian khổ và ác liệt. Lính xe tăng sợ nhất ba thứ: đói, khát và sốt rét. Có dạo hàng tháng bộ đội thay nhau đi đào củ mài và tìm lá rừng có thể ăn để mà sống. Lính ta còn vào thật sâu trong rừng để tìm cây bông báng, nó hao hao giông như cây dừa. Tìm được cây rồi lính ta mới phạt ngay ngọn, vài tuần sau trở lại, áp tai vào thân cây mà nghe. Từ trong thân cây phát ra những tiếng vo vo như ong bay từ xa. Lúc ấy bộ đội ta mối đẵn cây xuống, tìm nhặt những chú sâu mang về nấu cháo. Những bữa cháo đặc biệt như thê cũng chỉ đủ cho người ốm và đãi khách. Mà những chú sâu ấy cũng không dễ gì có được. Có lần anh em đi vào rừng tìm bông báng không thấy trở về...

        Tây Nguyên còn là nơi khí hậu khắc nghiệt. Bao đời nay Tây Nguyên trong cơn khát triền miên. Nước cho người đã khó lại còn cho cả xe nữa. Những bi đông nước chất trong xe thường chờ người đi xa về mới uống. Anh em dành cho người đi xa cả những quả chuối rừng, khi trở về thì đã đen thẫm, có khi không thể nào ăn được. Anh Hưởng nhớ mãi mấy ngày trước khi đánh trận Cheo Reo - Phú Bổn. Nắng, nóng kéo dài. Anh em chỉ có mỗi lương khô, lại thiếu nước. Cả tuần liền ai cũng lên cơn sốt vì không đi giải được. "Vị cứu tinh" lúc đó là rau má. Anh em thay nhau đi tìm, nhiều khi không có nước mà rửa cứ thê cho vào mồm mà nhai. Còn sốt rét thì chỉ nhắc đến cũng sởn da gà, Có người đang ngồi trong buồng chiến đấu, chỉ một cái rùng mình là "đi" luôn.

        Trưa hôm ấy, chúng tôi cố nán lại ở nghĩa trang để được gần các anh chút nữa. Những bó nhang nghi ngút cháy. Khi chia tay chúng tôi, chị Huỳnh Thị Xuân, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc, nắm chặt tay Anh hùng quân đội Đoàn Sinh Hưởng:

        - Chúng tôi biết các anh rất bận nhưng luôn nhớ về Đắc Lắc. Nơi đây anh có nhiều kỷ niệm, còn đồng đội và bạn bè nằm lại. Chúng tôi biết, đồng đội các anh chưa ai bỏ nhau bao giờ...


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:05:51 am

       
*

        Tôi nhẩm đọc câu thơ "Ơi cái gió Tuy Hòa" của một nhà thơ nào đó trên dọc đường đi. Từ độ cao 800 mét so với mặt biển của cao nguyên chúng tôi đi về phía biển. Đến Tuy Hòa, tôi may mắn được gặp lại anh Trần Văn Mười. Anh sinh ra bên dòng sông Ba, vào quân giải phóng khi mới mười sáu tuổi. Hiếm có một người nào lại có đủ đầy một quãng đời chiến đấu, trưởng thành ngay trên quê hương mình như anh. Nhiều năm nay anh là đại tá, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên.

        - Hồi chiến dịch 75 anh ở đâu? - Đoàn Sinh Hương hỏi anh Mười.

        - Tôi là tham mưu trưởng mặt trận đường 5 Phú Yên. Hôm các anh vào giải phóng thị xã Tuy Hòa, chúng tôi cùng vào sau đó mấy chục phút. Từ xa thấy xe tăng các anh bắn vào trận địa pháo của địch trên đồi Nhạn Tháp mới đã chớ!

        Từ đường 7, xe tăng theo hai hướng tiến vào Tuy Hòa. Mũi tiến quân của anh Đoàn Sinh Hưỏng định vượt cầu ông Chừ nhưng vừa chạm băng xích chiếc cầu đã run lên bần bật như lên cơn sốt. Anh lệnh cho đội hình quay lại tìm lối khác vượt lên. Đang đi trên chiếc M48 chiến lợi phẩm thì xe bị hỏng, anh Hưởng nhảy vội sang chiếc xe T54 số 985. Vừa vượt qua ngầm, đơn vị hình thành hai mũi tiến công. Xe 985 cùng mấy chiếc nữa vượt qua đường tàu, nhằm chặn đường rút ra biển của địch. Quả đúng như vậy, mấy chiếc tàu chiến dịch đang lởn vởn chuẩn bị đón đồng bọn rút chạy. Pháo xe tăng xe 985 rung lên. Các xe khác cũng nhả đạn. Một chiếc tàu chiến trúng đạn bốc cháy, mấy chiếc khác vội dạt ra xa. Chiếc xuồng máy chở đầy lính địch cùng bị pháo xe tăng hất tung lên bờ.

        Chiều nay chúng tôi lên đồi Nhạn Tháp. Mờ sáng ngày mồng 1 tháng 4 năm 1975, đáng nhớ ấy, đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng lệnh cho xe tăng 985 của mình bắn quả đạn pháo đầu tiên vào Nhạn Tháp. Như một hiệu lệnh tiến công, những nòng pháo xe tăng chĩa vê trận địa pháo 105 ly của địch đặt trên đồi mà nhả đạn. Cả trận địa pháo địch bị vô hiệu hóa.

        Đồi Nhạn Tháp bây giờ cây lên xanh ngăn ngắt. Ngọn tháp ngày nào bị quả đạn pháo cắm vào phá vỡ một mảng vẫn nhìn rõ lắm. Ngọn tháp đã được trùng tu. Bên cạnh ngọn tháp là đài chiến thắng của tỉnh Phú Yên.

        Chúng tôi đang đi trên đại lộ mang tên người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Ngày xưa, con đường này còn nhỏ lắm. Ngay trước cổng vào tiểu khu hành chính một chiếc xe ô tô của địch chở đầy bạc bị ta bắn trúng. Nhũng đồng tiền ngụy xanh đỏ bay tung tóe mà không ai thèm nhặt.

        - Đánh vào tiểu khu hành chính, xe tăng chúng tôi gặp phải sức chống cự rất mạnh của địch. Từ trên những ngôi nhà cao tầng chúng bắn M79 như vãi trấu - Anh Hưởng nói:

        - Chiến thắng nào mà trả phải trả giá - anh Mười tiếp lời. Nhưng ở Tuy Hòa kẻ địch thua đau lắm. Tên đại tá Vũ Quốc Gia, trưởng tiểu khu hành chính cùng thiếu tướng Trần Văn Cẩm tư lệnh quân khu II cũng bị bắt tại đây.

        Anh Hưởng sôi nổi:

        - Cả thằng Vi Văn Bình nữa. Nó là đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 22 của quân đoàn 2 ngụy bị ta bắt ở Đắc Tô - Tân Cảnh năm 1972. Năm 1973 được ta trao trả nhưng chứng nào tật ấy, theo chủ cũ, ngày mồng 1 tháng 4 năm 1975 ta lại bắt ở Tuy Hòa.

        Cả hai người sóng bước bên nhau, cùng cười. Trước mặt chúng tôi là Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên. Ngày xưa nơi đây là tiểu khu hành chính của ngụy quyền Sài Gòn. Ngôi nhà chính của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh mang dáng cánh chim hải âu. Đứng trên tầng thượng có thể nhìn rõ toàn cảnh thị xã Tuy Hòa. Gió từ biển hào phóng thổi vào. Bên tai tôi như đang vang lên bản hòa âm bất tận của trời đất Tuy Hòa. Chúng tôi lại vượt sông Ba, qua cầu Đà Rằng, để đi thăm một người đồng đội. Trong trận chiến đấu giải phóng Tuy Hòa, anh là một trung đội trưởng chiến đấu dũng cảm. Buổi sáng hôm ấy, ngày mồng 1 tháng 4 năm 1975 vừa vượt qua cầu Đà Rằng, mũi tiến công do anh chỉ huy đã gặp địch. Anh lệnh cho trung đội xe tăng triển khai đội hình chiến đấu cùng bộ binh xông thẳng vào đội hình địch rồi đồng loạt nổ súng. Bên phải bên trái đều có địch. Chiếc xe M41 chiến lợi phẩm do anh trực tiếp chỉ huy bốc khói mù mịt. Anh bật nắp tháp pháo, nhô người ra xe quan sát. Một viên đạn M79 của địch bắn trúng thành xe nhưng may không việc gì. Cùng lúc, nhiều hỏa điểm của địch xuất hiện. Anh thét lạc cả giọng:

        - Mạnh! ĐK phía trước - 200, bắn nhanh lên. Cùng lúc đó, chiến sĩ nạp đạn báo cáo khóa nòng pháo bị hỏng. Thấy vậy, anh nhô người ra ngoài, dùng 12,8 ly quất lửa vào địch. Thấy nguy hiểm, pháo thủ Mạnh kéo anh xuống nhưng muộn mất rồi. Từ trên ngôi nhà cao tầng một quả lựu đạn bay xuống. Anh cùng với năm, sáu chiến sĩ bộ binh hy sinh. Nguyễn Tư Chính không về kịp quê anh nữa rồi. Bên kia, Cầu Đà Rằng là quê anh - xã Ngọc Sơn.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:07:00 am

        Nhớ lại cái đêm anh Hưởng cùng với Trương Công Đạo, Nguyễn Tư Chính đi trinh sát chuẩn bị cho trận đánh vào Tuy Hòa. Dọc sông Ba, những vạt dưa hấu quả căng tròn. Thèm và khát quá mà kỷ luật chiến trường không cho phép. Nhưng lát sau, Chính vẫn lấy một quả.

        - Hai anh ăn đi. Dưa quê em đó!

        Lại nhớ cái đêm 31 tháng 3 năm 1975, trong khu vực tập kết trước giờ tiến công giải phóng Tuy Hòa, Chính như có điều gì mà suy tư dữ lắm! Thấy vậy, anh Hưởng đến bên võng Nguyễn Tư Chính.

        - Ngủ đi để lấy sức, trận đánh ngày mai là ác liệt lắm!

        Tư Chính bật dậy. Bộ râu quai nón đen thâm gương mặt, duy có đôi mắt rất sáng. Rít một điếu thuốc lào, nhả khói xong đâu đấy, Chính mới đáp:

        - Anh yên tâm. Có chết thì về quê em mới chết!

        Thế mà bây giờ chúng tôi đang đứng trước nghĩa trang chiều Phú Yên. Hơn bảy nghìn ngôi mộ xếp hàng vuông vức như hồi họ còn sống trong đội ngũ. Tại đây, tôi gặp ngôi mộ tập thể của bốn hai cán bộ chiến sĩ trung đoàn Ngô Quyền đã anh dũng hy sinh vào sáng mồng một Tết Mậu Thân khi đánh vào sân bay Đông Tác. Anh Hương đưa tay lên rồi nhẩm tính từng vần A - B - C... anh khẽ thốt lên "Chính đây rồi".

        Là con cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, đang học năm thứ hai Đại học Bách Khoa mặc dầu trong diện được ưu tiên Chính vẫn xung phong vào bộ đội. Chính là chàng trai thông minh, nhanh nhẹn và dũng cảm. Anh ít nói nhưng hóm hỉnh, có bộ râu quai nón mọc với "tốc độ" nhanh. Đi chiến đấu, không có thời gian để cạo, có lúc anh em phải dùng kéo để cắt. Anh hay hút thuốc lào. Trước khi vào trận bao giờ cũng phải rít cho được một điếu. Đánh giặc thì ít ai bì được Chính. Trong trận Buôn Ma Thuột, mải đuổi địch, bị lạc, anh Hưởng nhắc, Chính năn nỉ "còn địch, đánh đã, em sẽ về sau".

        Tròi về chiều, bóng chúng tôi đổ dài trên nghĩa trang Phú Yên. Nén nhang anh Đoàn Sinh Hưởng thắp trên mộ Nguyễn Tư Chính gặp gió từ sông Ba thổi tới cháy bùng lên. Anh còn trẻ lắm, mới hai mươi lăm tuổi đời.

        Chúng tôi lặng lẽ rời nghĩa trang trong lòng nặng một ký ức về đồng đội. Vị tư lệnh lấy khăn lau đuôi mắt. Thoảng trong gió chiều vang lên tiếng trống ếch của các cháu học sinh, mừng quê hương giải phóng. Dọc con đường về thị xã Tuy Hòa, từng đoàn học sinh đi ngược với chúng tôi. Các em đẹp quá, lại khỏe mạnh nữa. Các em mặc đồng phục, tay cầm cờ hoa, miệng hát vang những bài ca cha anh nó đã từng hát. Anh Đoàn Sinh Hưởng bảo người lái xe đi chầm chậm. Anh nhìn ra ngoài như muốn thu lại lần nữa những hình ảnh của hai mươi lăm năm sau chiến tranh. Đồi Nhạn Tháp, núi Chóp Chài, cầu Ông Chừ, sông Ba... Rồi anh nhìn lại nghĩa trang giờ đã chuyển sang màu tím sẫm.

        Nguyễn Tư Chính ơi! Nếu anh còn sống, ít ra anh cũng có một mái nhà và người vợ yêu. Biết đâu trong số các em đi ngược đường vói chúng tôi chiều nay có con anh. Nhưng anh đã hy sinh - cái hy sinh ngạo nghễ của người lính Cụ Hồ. Đất nước mình đã hòa bình nhưng trong cuộc dựng xây hôm nay vẫn còn có kẻ cố tình xuyên tạc lịch sử, hạ thấp chiến công của dân tộc. Chúng tôi là những người có trách nhiệm phải ấn đầu họ xuống.

        Tôi nhìn ra dòng sông Ba. Trong gió có vị mặn mòi của biển cả, có vị ngọt của mía Tuy Hòa. Tôi nhìn sang anh Đoàn Sinh Hưởng. Anh đã tìm về vạch xuất phát của hai mươi lăm năm trước - miền ký ức mà mình vừa tìm lại được. Nó sẽ theo anh đi suốt cuộc đời.

N. Đ. P       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:09:04 am

MỘT NGƯÒI LÍNH AI NHỚ AI QUÊN!

Trần Thị Hằng       

        Để chuẩn bị cho việc phát truyền hình địa phương trên kênh sóng mới, đoàn cán bộ đài phát thanh truyền hình Hải Phòng chúng tôi đang tiễn hành đi thăm rút kinh nghiệm một chuyến dọc các dải miền Trung, từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng.

        Dù đã trải qua một chặng đường dài, đang mệt mỏi gà gật, nhưng khi nghe Xuân Đấu phụ trách chuyên mục hộp thư bạn nghe đài và xem truyền hình thốt lên. "Đồng Hới!", tôi bừng tỉnh và nỗi cồn cào dậy lên. Tôi bảo: "Gần đến Vĩnh Linh, nhắc cho tôi biết với nhé!" Tôi đã từng đi công tác ở miền Nam, nhưng đi trên quốc lộ một thì đây là lần đầu.

        Hai đồng nghiệp của tôi, Hồng Khe và Cát Bình, những người đã từng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" nhưng được trở lại chiến trường xưa, họ nhoài người nhìn dãy Trường Sơn trập trùng mò ảo phía xa, tranh nhau kể lại những kỷ niệm một thời gian khổ mà hào hùng. Còn tôi, tôi lặng đi với nỗi niềm riêng.

        Vào những năm đầu miền Bắc chống trả cuộc đánh phá bằng không quân của giặc Mỹ, bố tôi được Bộ tư lệnh Hải quân biệt phái sang làm tham mưu về mặt biển cho Bộ tư lệnh Quân khu bốn. Chính trên con đường này, với ít gạo cho vào ruột tượng ngoắc trên tay lái chiếc xe đạp Thống nhất, bố tôi đã từng đạp xe ròng rã suốt từ Hải Phòng đến Thanh Hóa, Quảng Bình, Vĩnh Linh trong mấy ngày liền, khi nào mệt thì vào nhà dân nghỉ nhờ, bỏ gạo ra nấu ăn. Có dạo được giao phụ trách phân đội tàu tuần tiễu biệt phái, bố tôi, đại úy Trần Đình Phốc đã làm một việc "động trời" ở vùng giới tuyến tạm thời. Lần ấy, đang chỉ huy tuần tiễu, bố tôi nghe tiếng thuyền trưởng tàu kỳ hạm là Triệu Hữu vang lên trong tiếng sóng: "Báo cáo phân đội trưởng có hai khu trục hạm của địch lao ra từ phía cửa Việt!". Bố tôi ra lệnh: "Báo động chiến đấu toàn phân đội. Tăng tốc độ, đuổi!". Thế là bốn tàu pháo hạm của ta đuổi hai tàu khu trục của địch vào đến tận vùng biển gần cửa Việt. Ngay đêm ấy, các loại đài địch đồng thanh lu loa: "Hải quân Việt Cộng vi phạm giới tuyến!". Bộ Tổng Tham mưu lập tức cử đoàn cán bộ vào kiểm tra. Nhưng vì hôm ấy sóng to gió lớn, sổ sách ướt nhòe, các tàu không ghi được nhật ký hàng hải, vì vậy không tác nghiệp hải đồ, không xác định được vị trí hạm. Sự việc được cho qua. Vậy mà cả phân đội còn tiếc rẻ không được đánh!

        Ký ức về những người thân của tôi một thời gắn bó với mảnh đất kiên cường này cứ đầy ắp.

        Vâng, cũng chính thời kỳ ấy, cũng chính con đường này đã đưa cậu Lương của tôi đến Vĩnh Linh.

        Vĩnh Linh, một địa danh tôi chưa đến mà sao khi nhắc tới, trong tôi luôn trào lên sự thương nhố khôn nguôi.

        Cách đây 30 năm, Vinh Linh là một chiến trường khốc liệt. Tôi đã đọc trong bút ký "Đôi bờ Bến Hải" của Nam Hà: "Trong gần 20 năm chiến tranh, chỉ tính ở mặt trận Vĩnh Linh - Do Linh, đôi bờ Bến Hải đã có gần một vạn bảy ngàn liệt sĩ gồm quê cả nước, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau...". Trong số ấy có người cậu kính yêu của tôi. Thiếu úy, kỹ sư Lê Quốc Lượng, một sĩ quan tên lửa, người mà sau ba mươi năm lại được đồng đội nhớ đến, nhắc đến trong một bài điều tra của Ngọc Báu: "Ai đã cải tiến SAM 2 ở Việt Nam" đăng trong "Tri thức trẻ" số 42 nhân kỷ niệm hai mươi sáu năm chiến thắng B52 (12-1998).

        Một trong số một vạn bảy ngàn thật nhỏ nhoi và sự hy sinh mất mát vì Tổ quốc của những người lính đều thiêng liêng thương tiếc. Nhưng sao đối với gia đình chúng tôi, việc mất cậu lại thiêng liêng và để thương tiếc quá đỗi như vậy! Ba mươi năm qua, mọi người chưa nguôi và cứ đau đáu khắc khoải tìm kiếm, chờ mong, để hiểu thêm, biết thêm.

        Giữa năm 1968, gia đình chúng tôi nhận tin báo tử cậu. Năm ấy cậu hai mươi bảy tuổi. Trong tư trang của cậu tôi do đơn vị chuyển về có một vật quý giá mà bao năm qua tôi trân trọng giữ gìn, đó là cuốn nhật ký mà cậu tôi ghi chép rải rác từ năm 1963 đến năm 1967.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:10:50 am

        Trang đề ngày 26 tháng 10 năm 1966 cậu tôi viết: "Nhận thư cháu Hằng. Mong cháu thành công trong sự nghiệp văn học của mình. Lòng tràn đầy hy vọng đứa cháu yêu quý. Lại nghĩ tới con bé Thu Hà (em gái tôi), đáng yêu biết mấy. Thương bố mẹ chúng vô cùng, cứ phải xa nhau biền biệt, hết Pháp lại đánh Mỹ!". Có một vài trang cậu tôi nói về tình yêu thầm kín với một cô gái Hà Nội tên V. nào đó. Giữa những trang viết về tình cảm gia đình, đồng đội và những suy nghĩ trước một trận đánh, một sự cố về khí tài, tên lửa là những trang vẽ chi chít bằng bút chì, bút mực về những mạch điện. Đôi khi còn có cả những bài thơ chép lại, trong đó có bài "Miền Nam" của Tố Hữu. Ở cuối cuốn sổ, giữa những trang giấy trắng còn lại, có ba trang mang dòng chữ lạ. Ba trang đó viết: "Mấy nét ghi lại lúc Lượng hy sinh! 20 giờ 30 phút ngày 6 tháng 7 năm 1967, tại trận địa Vĩnh Linh, trận địa tên lửa đã bắn lên một quả. Một phản lực Mỹ rơi ngay, các mảnh văng ra như hoa cà hoa cải. Chiến công ấy có Lượng đóng góp. 21 giờ, bọn địch lại bay vào một tốp nữa gồm bốn chiếc. Hai quả đạn phóng lên, diệt hai chiếc. Lửa rực cháy ở Vĩnh Linh. Đạn đuổi theo máy bay địch sang cả bên kia bờ nam của Tổ quốc và diệt chúng ngay tại đó. Đồng bào miền Nam thân yêu của chúng ta đã tận mắt nhìn thấy, hả lòng hả dạ. Kẻ địch rất gian ngoan, trước khi chết, chúng đã làm Lượng và một số các chiến sĩ ngã xuống. Nóng, cái nóng hầm hập của gió Lào như quét trên da thịt các chiến sĩ một lóp chống ẩm. Đêm ấy thật đặc biệt, Lượng thân yêu chỉ mặc may ô bước vào chiến đấu. Lượng có biết không, anh Huy, chính anh Huy thủ trưởng trung đoàn của chúng ta đã lấy chiếc áo vừa lĩnh của anh để mặc vào cho Lượng. Trông Lượng gọn gàng và đẹp lên gấp bội. Còn đôi dép của Lượng tìm không thấy. Nhưng Lượng lại đi một đôi giày rất mới của ai đó xỏ vào đến nay không biết nữa. Tình đồng chí thân yêu đối với Lượng thì cần gì phải biết phải không Lượng?!

        Nếu Lượng được biết trước khi nằm xuống, Lượng đang được chi bộ chuẩn bị đưa vào Đảng thì sẽ sung sướng biết chừng nào! Không những chỉ là thằng bạn cùng ghế đại học bách khoa, cùng đồng nghiệp khi còn dạy ở Trường sĩ quan Kỹ thuật, cùng vào đơn vị mối này trong một ngày mà sẽ còn là một đồng chí của mình nữa. Nguyện vọng sắp đạt thì Lượng đã hy sinh!

        Lượng nằm xuống, lặng lẽ, tay còn nắm chặt một sợi dây điện kiểm tra máy, mắt như còn nhìn vào màn hiện sóng. Lượng hy sinh vì bị thương vào đầu và ngực.

        Quân thù đã cướp đi một kỹ sư vô tuyến đầy triển vọng của Tổ quốc.

        Bọn mình còn lại hứa với Lượng thù này quyết trả và thay Lượng những phần việc còn lại.


Nhật Tân, tháng 7 năm 1967       

        Hai chữ "Nhật Tân" để lại trong cuổn nhật ký đã làm cho nỗi đau của chúng tôi nhân lên gấp bội: Bởi vì, vào cuối tháng 7 năm 1967 chúng tôi nhận được lá thư đầu tiên của người mang tên Nhật Tân.

        Mở đầu, lá thư viết: "Đôn, Đản (hai cậu còn lại của tôi) và Hằng ơi, anh vừa nhận được thư các em gửi cho Lượng. Anh thay Lượng viết thư cho các em đây!...

        Sao lạ thay, cậu tôi đâu rồi?! Chúng tôi linh cảm thấy một điều gì không hay xảy ra với cậu, nhưng lại có chút hy vọng: biết đâu, cậu tôi được cử đi học nước ngoài nhưng vì bí mật quân sự nên...

        Sau đó, cậu Tân còn viết cho chúng tôi liên tiếp ba lá thư nữa. Nhưng rồi đến một ngày... chúng tôi lại nhận được một lá thư cũng từ đất lửa Vĩnh Linh gửi về, nhưng không phải của cậu Tân. Thư để ngày 16 tháng 4 năm 1968.

        "Em Đôn, em Đản và cháu Hằng thân mến!

        Trưa nay anh nhận được thư của Đôn gửi cho Nhật Tân. Anh đã xem và viết thư ngay cho các em đây. Vì sao anh lại thay Nhật Tân và viết thư này thì đó là điều mà bây giờ chưa cho phép nói, hẹn dịp khác vậy và anh sẽ là người thay Nhật Tân mãi mãi trong quan hệ với các em và cháu sau này....


Hoàng Đinh Trị        "

        Trời ơi, sao lại "mãi mãi!". Có phải điều xấu nhất đã xảy ra với cậu Tân?

        Qua lá thư ấy, chúng tôi được biết cậu Trị cũng là một sĩ quan tên lửa. Cậu còn viết "Lượng đã hy sinh trong tư thế bình tĩnh, dũng cảm, là tấm gương sáng ngời về tinh thần chiến đấu quên mình. Những tháng ngày trước đó, Lượng đã đóng góp nhiều sáng kiến có giá trị chiến thuật phục vụ đơn vị chiến đấu. Lượng đã được đề nghị truy tặng Huân chương Chiến công hạng Hai.

        Truy tặng huân chương! Bao nhiêu năm qua chúng tôi chờ đợi!!! Nhưng thôi, đất nước sau chiến tranh có bao việc phải làm, tránh sao khỏi sự lãng quên đơn lẻ. Với đơn vị, chiến trường ngày ấy lại ác liệt quá, rồi còn có bao sự thay đổi về tổ chức! Điểu mà chúng tôi khắc khoải, day dứt là làm sao tìm được mộ cậu tôi; làm sao biết được tin cậu Tân, cậu Trị; và còn cậu Trị nữa, liệu có sao không? Bởi vì cũng như cậu Tân, chúng tôi chỉ nhận được ở cậu liên tiếp có ba lá thư rồi cũng bặt tin. Lúc này đây, tôi cầu nguyện qua bài viết này, chúng tôi liên lạc trở lại được vối cậu Trị, nếu ngày ấy cậu qua được!...


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:12:11 am
 
        Và còn một điều tôi khao khát muốn biết, đó là chuyện về cậu Tân. Vào những ngày Hải Phòng chống trả cuộc tập kích bằng B52 của giặc Mỹ cuối tháng 12 năm 1972, tôi đã đi viết về một trận địa tên lửa ở An Hải (Hải Phòng). Trong sự phấp phỏng, căng thẳng giữa hai trận đánh, một sĩ quan tên lửa vẫn kịp kể cho tôi một chuyện riêng tư của cậu Tân. Lần ấy, ở một nơi xa, phu nhân Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã gặp vợ cậu Tân là cô giáo của con mình. Cô đã tâm sự với bà là chỉ khao khát có một đứa con rồi có xa bao lâu cũng được. Nhưng chiến tranh ác liệt quá, làm sao được gặp! Trở về, bà mang điều này kể với Đại tướng. Và rồi chính Đại tướng đã thu xếp để cô giáo và cậu Tân cùng về Hà Nội công tác để kết hợp gặp nhau ít ngày. Chẳng hiểu việc làm nhân nghĩa ấy có mang lại kết quả gì? Ôi, mong sao dù cậu không còn nữa, nhưng với lần gặp ấy, cậu đã để lại cho cuộc đời này một mầm mống tài năng, quả cảm như các cậu!

        Về phần cậu Lượng của tôi, đã nhiều năm sau chiến tranh, chúng tôi không biết làm cách nào tìm được mộ cậu. Chúng tôi chỉ có một thông tin duy nhất, đó là điều cậu Trị cho biết qua trang nhật ký chép lại của cậu: "Lượng được đặt trên một ngọn đồi của nông trường X".

        Năm 1995, trong đợt đi xây dựng đường điện 500KV xuyên Bắc Nam, cậu Đôn tôi - kỹ sư sở điện lực Phú Thọ đã đi tìm. Khi xây dựng nghĩa trang huyện Vĩnh Linh, người ta đã quy tập tất cả các liệt sĩ ngã xuống ở vùng đất lửa này về đây, trong đó có cậu tôi.

        Ba năm qua, tôi mong mỏi được vào thăm mộ cậu. Ông bà tôi đã mất. Mẹ tôi luôn đau đáu một ước nguyện: Phải đưa được cậu về đặt tại quê nhà.

        Xe chúng tôi tiến dần đến Vinh Linh. Những hàng phi lao, những dải cát trắng cứ loang loáng trước mặt. Lòng tôi cồn cào. Nhìn những cháu nhỏ lem luốc, chân trần đứng trên cồn cát bạc màu nắng và cát trắng, hiền lành nhìn theo xe chúng tôi, bỗng nhiên nỗi thổn thức dậy lên trong tôi. "Thương lắm Vĩnh Linh ơi!". Vâng, đó cũng chính là lời cậu tôi thốt lên trong nhật ký của mình khi "trong nắng lửa và cơn khát cháy bỏng, cùng Trị lê bước trên những đồi trọc bạt ngàn cát trắng để đi - về giữa 81-831, kiểm tra, sửa chữa khí tài...".

        Cả đoàn nhà báo chúng tôi cùng vào nghĩa trang huyện Vĩnh Linh.

        Đứng trước người quản trang, tôi nghẹn ngào rồi nức nở không sao nói nổi họ tên quê quán cậu tôi để anh dẫn đi tìm mộ cậu. Chị Kim Thanh, trưởng ban khai thác vệ tinh đứng sau đã phải đỡ lời.

        Mộ các liệt sĩ được phân ra từng khu theo quê quán. Giũa hai nghìn ngôi mộ mà người quản trang không phải ngó nghiêng tìm kiếm. Anh dẫn chúng tôi đến thẳng ngôi mộ số 15 thuộc khu các liệt sĩ Nam Định.

        Mọi thứ nhòa đi trong mắt tôi. Chỉ kịp nhận ra tấm bia đá có khắc hình bông sen nổi và hàng chữ "Lê Quốc Lượng, Xuân Trung, Xuân Thủy, Nam Định, hy sinh ngày 6 tháng 7 năm 1967" tôi gục xuống: "Ôi, cậu ơi, cháu đây!". Không cầm lòng được, tôi nức nở trong tiếng kể than với riêng cậu!

        Cậu cháu tôi sinh ra ỏ làng Trà Lũ, Xuân Trung. Chúng tôi lớn lên trong những câu chuyện kể của ông ngoại về truyền thuyết xây dựng chùa Trung, nhà thờ Phú Nhai; về con sông Đào bao quanh làng có từ thời tướng quân Phan Bá Vành dấy binh khởi nghĩa (do quân sĩ cùng dân chúng đào để tạo thế hiểm vùng căn cứ và làm đường vận chuyển quân lương vũ khí). Rồi chuyện kể về những võ tướng dũng mãnh của quê nhà như Tả Hãn, Hai Đáng. Những đồ vật nổi tiếng miền Sơn Nam Hạ xưa như Đô Tân...

        Tuổi thơ tôi đầy ắp những kỷ niệm về quê hương, về người thân. Nhưng điều làm tôi thích thú và thường vặn vẹo người lớn là cái tên gọi đến với cậu tôi: Em cậu chú anh! Vâng, thời thơ ấu, mọi người đều gọi cậu Lượng của tôi như vậy. Hàng em hàng cháu như tôi thì gọi cậu là cậu chú anh! Người bề trên thì gọi bằng em cậu chú anh! Cũng có lúc ông bà tôi và mẹ tôi lại còn thêm đại từ thằng vào đằng trước, chẳng hạn như: "Thằng em cậu chú anh đâu rồi?", "Thằng em cậu chú anh ra đây bố (chị) bảo!... Tôi thắc mắc với mẹ tôi: "Sao đã thằng lại còn em, còn cậu, còn chú, còn anh?". Đã vậy, hàng xóm trong dong ngoài ngõ cũng đều gọi cậu tôi là cậu chú anh chứ không riêng gì người trong nhà.

        Theo lời mẹ tôi thì ông ngoại tôi là bậc trung lưu nho nhã, ăn ở hiền lành nhân đức, được mọi người nể trọng. Năm Ất Dậu, ông tôi bỏ cả mấy chục thùng thóc dự trữ ra chia đỡ mọi người qua cơn đói khủng khiếp. Vậy mà đường con cái ông bà tôi lại lận đận. Sau con cả là mẹ tôi, bà tôi đã sinh liên tiếp năm đốt con trai, nhưng người nào cũng chỉ được năm tháng là chết, với khát vọng mong manh, ai bảo làm gì ông bà tôi cũng làm, kể cả việc cúng bái, bắt tà bắt ma (!).

------------------
        1. Hai tiểu đoàn tên lửa SAM 2 tham gia chiến đấu ở Vĩnh Linh. (Giangtvx)


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2020, 07:13:28 am
 
        Khi mẹ tôi mười bảy tuổi, bà tôi lại có mang. Ông bà đưa nhau đi lễ cầu ở đền Bảo Lộc, nơi thờ Đức thánh Trần - Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn. Tại đây, ông bà tôi làm lễ gửi bán đứa con sắp ra đời cho Người. Mấy tháng sau, cậu Lượng tôi ra đời. Lượng là tên mãi về sau mới có. Theo tục lệ duy tâm, ông bà tôi mang cậu bỏ chợ và nói với cụ Hương Nhất là người bà con đón về. Ông bà tôi gửi đến một người vú nuôi để chăm sóc cậu. Phấp phỏng lo sợ cái thời khắc oan nghiệt "5 tháng" kia, ông tôi chưa dám đặt tên cho con. Mọi người gọi cậu tôi là Cậu, mẹ tôi và người vú gọi thêm tiếng Em thành Em Cậu. Con cháu đằng nhà cụ Hương ghép thêm tiếng Chú tiếng Anh thành Em cậu chú anh. Qua bảy tháng, mười tháng rồi một năm, cậu tôi lớn lên thông minh, khỏe mạnh. Ông tôi đã hơi yên tâm và cái sự thiêng, kiêng đã bớt đi. Những người bề trên đã bắt đầu gọi cậu bằng cái tên thân mật, âu yếm: "Thằng - em - cậu - chú - anh!" Sau đó, ông tôi nghĩ đến việc đặt tên khai sinh cho cậu và đón cậu về: Ông tôi họ Lê. Các ông em của ông và các con đều mang họ Lê Văn, Lê Minh. Nhưng với cậu tôi, ông lấy chữ Quốc làm tên đệm. Cậu tôi mang cái tên Lê Quốc Lượng từ đấy. Nhờ cái đốt cậu đứng được, ông bà tôi có thêm hai cậu nữa và cũng lấy chữ Quốc làm tên đệm để đặt tên, đó là cậu Lê Quốc Đôn và Lê Quốc Đản. Ông tôi thường nhắc các cậu: "Các con là hậu duệ của người, hãy nhớ lấy điều đó!".

        Thế rồi, các cậu tôi lớn lên qua các trang sử và chuyện kể về những người anh hùng của quê hương đất nước. Dù sau này, trong khó khăn chung của đất nước, thiếu thốn đủ điều, cả ba cậu đều học giỏi và đều tốt nghiệp đại học. Riêng cậu Lượng, ngày ấy huyện Xuân Trường chưa có trường cấp III, cậu phải trọ học ở trường Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định. Tôi không sao quên được hình ảnh cậu và người bạn thân cùng làng, cùng lớp là Phạm Ngọc Hải (sau này là thuyền trưởng tàu Viễn dương) đêm đêm ngồi dưới cột điện góc phố cửa Đông học bài vì thiếu tiền dầu đèn. Cũng vì ăn uống kham khổ sinh thiếu chất, cậu tôi bị phù liệt, có thời gian dài phải dùng gậy lết đi từng bước. Mẹ tôi phải xay cám gạo để cậu ăn trong thời gian dài học ở Nam Định.

        Ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Bách Khoa, cậu gửi cho bố tôi một lá thư nói: "Tổ chức đặt ra cho em hai khả năng: Ở lại giảng dạy ở Trường đại học Bách Khoa hoặc sang giảng dạy ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật? Em nghĩ đất nước đang có chiến tranh, vào Trường Sĩ quan Kỹ thuật sẽ thiết thực hơn phải không anh?". - Ỏ trường này một thời gian, cậu lại viết thư cho bố tôi: "Trên muốn điều động em vào đơn vị chiến đấu. Em đã hỏi ý kiến bố. Bố bảo: "Tổ quốc cần đâu thì con ở đấy, đó là cái lẽ của một người con yêu gia đình, yêu Tổ quốc. Thế là em sẽ đi theo con đường của anh, anh Bộ đội Cụ Hồ!".

        Và đây, một lần nữa cậu Lượng của tôi lại làm theo "cái lẽ" ấy!

        "Dẫu hôm trước vừa chôn cất đồng đội hy sinh bởi tên lửa Xrai bắn trúng đĩa ra đa, ngay hôm sau, hàng chục chiến sĩ đã đồng loạt tranh suất trắc thủ lên ngồi ngay ở đỉnh chóp ra đa để thực nghiệm đề tài "Điều khiển tên lửa bằng thiết bị quan sát quang học". Thiếu úy, kỹ sư Lê Quốc Lượng tốt nghiệp đại học Bách Khoa khóa 4, trợ lý kỹ thuật Trung đoàn 238 đã anh dũng hy sinh lúc thực hiện đề tài: tăng độ ổn định thiết bị điều khiển trong điều kiện tác chiến cơ động bằng kỹ thuật chuyển mạch... Chính nhờ những hy sinh như thế, những cải tiến kỹ thuật, đã đưa đến bước ngoặt... chấm dứt thời hội chứng "Tên lửa thối", đưa bộ đội tên lửa đến ngày thắng lợi hoàn toàn..." (Phóng sự điều tra "Ai đã cải tiến SAM 2 ở Việt Nam" của Ngọc Báu).

        Vâng, để đến thắng lợi hoàn toàn, bộ đội tên lửa đã thực hiện "Những giải pháp phải trả bằng máu và sinh mạng hàng trăm người lính và cán bộ khoa học kỹ thuật của quân chủng..." (Tri thức trẻ số 42). Và có phải không, cả cậu Nhật Tân, cậu Trị cũng ở trong số đó.

        Chúng tôi đang đi giữa những hàng mộ trắng. Ngôi mộ nào cũng có tấm bia đá khắc nổi hình bông sen hồng. Có nhiều tấm bia đề cùng ngày hy sinh của cậu tôi: Ngày 6 tháng 7 năm 1967, hoặc cùng tháng cùng năm ác liệt đó. Có phải họ là những đồng đội cùng đơn vị của cậu tôi? Nhưng có một điều chắc chắn: Tất cả đều là đồng đội của cậu!

        Ai đó đi bên tôi thì thầm: "Anh hùng Ngô Mây cũng nằm ở đây! Ở đây còn có cả hai ông Trung tướng!".

        Trước khi vào đây, hai anh trưởng, phó đoàn Tĩnh và Tể bảo tôi: "Mua nhiều hương vào để đoàn cùng thắp hương cho các liệt sĩ!". Dù mua đã nhiều mà chúng tôi vẫn không đủ thắp cho mỗi ngôi mộ một nén. Chỉ ở khu liệt sĩ quê Nam Định của tôi và khu Hải Phòng quê thứ hai của tôi thôi cũng đã không đủ.

        Mẹ tôi cứ sợ để cậu ở nơi xa xôi này sẽ "hương lạnh khói tàn". Nhưng không, bát hương trên mộ cậu tôi đầy ắp chân nhang từ trước đó.

        Cậu Đôn tôi đã cùng cả đoàn công tác xây dựng đường điện 500KV vào đây thắp hương cho cậu và các liệt sĩ. Khi đi đá giải, em Thiết tôi đã cùng cả đội bóng đá Quân khu 3 vào đây viếng. Thiết còn lấy một nắm đất và ít chân nhang về lập bát hương để mẹ tôi thờ cậu. Giờ đây, các đồng nghiệp của tôi lại đang nghiêng mình trước cậu. Anh Tú lái xe bảo tôi: "Chị yên tâm, mấy hôm nữa đưa đoàn của đài đi dự liên hoan truyền hình toàn quôc tại Huế tôi sẽ lại vào thắp hương cho cậu!".

        Thế đấy, dù xa cách về địa lý, nhưng tôi vẫn thấy cậu tôi gần gũi với mọi người biết nhường nào.

        Thôi, hãy để cậu nằm lại đây, đâu cũng là quê hương. Tôi sẽ nói với mẹ tôi như thế, kể cho mẹ tôi nghe tất cả để bà yên lòng.

        Sau phút giây xúc động không cầm được nước mắt, tôi đã thấy bình tâm trở lại. Tôi nghe văng vẳng đâu đây một bài hát: "Có người lính, mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo. Có người lính, mùa xuân ấy ra đi từ đó không về. Dòng tên anh khắc vào đá núi. Mây ngàn hoa bóng cây che...".

        Ông bà tôi sinh thành cậu. Đất nước quê hương cho cậu hồn sống. Nay cậu lại trỏ về với khí thiêng sông núi. Tôi linh cảm thấy đâu đây, trong mỗi ngọn cỏ nhành cây đều có bóng dáng cậu. Bất giác, tôi ngước nhìn bầu tròi bao la và tưởng tượng cậu tôi đang vãn du trên ấy. Và, thấy mây tụ, mây tan!

T. T. H.                       
Hải Phòng tháng 1 năm 1999       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:12:02 am

       
ĐI BƯỚC NỮA

Hoàng Hải       

        Lâu lắm rồi, tôi lại mới nhận được thư của cô Vy -  Bùi Ngân Vy. Lá thư ngắn ngủi: "Kính mòi anh chị đến dự bữa cơm liên hoan gia đình nhân ngày chúng em về ở với nhau. Thế nào anh cũng phải đến, anh đại diện cho nhà gái mà. Chúng em mong. Địa điểm tại... ngày...".

        Xem xong thư tôi bất ngờ thực sự vì đã mười tám năm qua, biết bao lần gia đình, bạn bè, đồng đội thân thiết khuyên cô ấy "đi bước nữa", cô ấy nhất định cự tuyệt, thế mà bây giờ...?

        Năm 1969 thượng sĩ Nghiêm Xuân Ngọ thuộc đơn vị đường dây 559 vừa bị thương vừa bị sốt rét, được đưa ra "Bắc" điều trị tại một quân y viện tiền phương ở Nam Khu 4 cũ. Vết thương nhiễm trùng gần khỏi thì cơn sốt ác tính, hiểm nghèo lại xuất hiện, tưởng anh không qua khỏi. Cô y tá trẻ "phụ trách" hầm thương binh nhận ra Ngọ là người bạn đồng hương Hà Tây của mình. Nhiều đêm thức trắng chăm sóc thuốc thang cho Ngọ đến khi vết thương lành khỏi thì cũng là lúc tình yêu giữa hai người gắn bó sâu nặng với nhau.

        Năm 1970 tôi đại diện cho đơn vị về phía nhà trai, về địa phương tổ chức lễ thành hôn cho hai người: Vy và Ngọ. Năm 1971 đứa con gái đầu lòng của họ chào đời, cháu "thừa hưởng" đôi mắt tinh anh của bố và nhan sắc "văn công" của mẹ. Năm 1972 Nghiêm Xuân Ngọ hy sinh trong chiến dịch tiến công trên mặt trận Tây Nguyên tại Đắc Tô - Tân Cảnh.

        Lúc đầu là nỗi đau choáng váng, hẫng hụt, nhưng rồi tiếp theo hậu quả sự hy sinh của chồng là nỗi đau khủng khiếp về mọi mặt đối với người thiếu phụ trẻ, người chiến sĩ, người mẹ người con dâu trong một gia đình dòng họ.

        Cũng may tổ chức thấu hiểu hoàn cảnh của Vy, đã cho chị chuyển công tác về một quân y viện trong tỉnh nhà..

        Hình như cũng "linh cảm" bố chết hay sao mà con bé chưa đầy một năm tuổi cứ khóc suốt đêm này qua đêm khác. Cũng có khi nó khóc vì vú mẹ cạn sữa, vì sức mẹ đã khô kiệt bởi khóc chồng thương con và làm việc quá sức. Nhiều đêm thức trắng một mình, một bóng cô đơn, chiếc khăn tang trên đầu, không cầm lòng nhìn con khóc, mẹ òa khóc theo.

        Bên trong buồng, người mẹ chồng nằm ốm liệt giường từ khi biết tin con bà hy sinh. Âm thầm nuốt đau sau những ngày nghỉ làm lễ truy điệu cho chồng, Vy gắng gượng đi làm. Hàng ngày gửi con rồi đi làm ở bệnh viện, không kể thời gian giờ giấc, liên tục, căng thẳng với công việc vất vả, nặng nhọc của một cô y tá, thực tế là công việc của một hộ lý đối với thương bệnh binh ngày một nhiều từ các mặt trận dồn về.

        Sáu tháng sau khi chồng hy sinh thì mẹ chồng mất và một năm sau thì bố chồng qua đời. Khăn tang liên tiếp đổ lên đầu người thiếu phụ mới hai mươi tuổi đời. Chồng chị là người con trai độc nhất trong gia đình nên chị là người phải thay chồng gánh vác mọi công việc trong nhà. Nhờ địa phương, cơ quan đơn vị và bệnh viện giúp đỡ, chị đã lo toan tang lễ cho cha mẹ chồng chu tất: "Mồ yên mả đẹp".

        Gánh nặng nhiệm vụ cộng với khó khăn gia đình tưởng như sẽ quật ngã chị. Nhưng chị đã vượt qua được nhờ ở ý chí và nghị lực của chị, nhờ sự thương yêu, giúp đỡ, đùm bọc của bà con cô bác, của bạn bè, của đồng đội và cơ quan đơn vị. Chiến tranh ngày càng ác liệt, giặc Mỹ trở lại đánh phá miền Bắc, mẹ con chị lại theo bệnh viện đi sơ tán. Cháu bé đã gửi được nhà trẻ, chị quyết tâm phấn đấu đi học y tá trung cấp (tương đương y sĩ).

        Kết hợp làm công tác chuyên môn, chị còn tham gia đội văn nghệ của bệnh viện. Nhiều hôm chị đã hát theo yêu cầu của thương bệnh binh, hát để động viên, "ru ngủ" thương bệnh binh quên bớt đi nỗi đau đớn của vết thương. Chị quên mình, tận tụy chăm soc thương bệnh binh, có lúc kiên trì hàng buổi "dỗ dành" bón cơm cháo, thay băng, chữa trị vết thương cho thương bệnh binh. Tính tình dịu dàng, miệng nói lúc nào cũng như cười, giọng nói êm ái tâm tình của chị để lại cho thương bệnh binh những ấn tượng sâu sắc khó quên. Chị lấy ngay những gương dũng cảm chiến đấu hy sinh của đồng chí, đồng đội, của thương bệnh binh và ngay cả chuyện riêng của chị, hoàn cảnh của chị để động viên an ủi thương bệnh binh. Chị chân thành chia sẻ với họ những nỗi đau, những mất mát do chiến tranh, do số phận gặp phải, cùng họ củng cố niềm tin và tìm thấy thuận lợi ở phần còn lại. Cho nên những ai đã vào khoa của chị, buồng bệnh của chị sẽ khó quên được chị, khó quên hình ảnh người con gái nết na thùy mị, người chị hiền "Lương y như từ mẫu".

        Và có lẽ cũng chính từ "hình ảnh" khó quên ấy ở chị mà dẫn đến những điều khó xử cho chị sau này khi cùng lúc nhiều người "say mê", "ngưỡng mộ" chị, và có lẽ cũng vì vậy không ít những điều dư luận dị nghị, phỏng đoán không đúng về chị.

        Sau ba năm, theo phong tục gọi là mãn hạn tang chồng, thương chị, thấy chị còn trẻ, bạn bè, đồng chí, đồng đội và gia đình cả hai họ nội, ngoại đều khuyên chị "đi bước nữa". Thậm chí mấy ông chú, ông bác nhà chồng dám ngang nhiên bàn nhau và đã bán cả cơ ngơi nhà đất ớ quê, của hương hỏa do bố mẹ chồng để lại cho vợ chồng chị với lý do: "Lấy tiền để dành sau này nuôi cháu", vì khẳng định chị sẽ đi lấy chồng?

        Nhưng thật lạ, nhiều người đến với chị, chị đều từ chối. Không phải vì họ không tương xứng, không hợp. Nhiều cán bộ sĩ quan ở các quân binh chủng, nhiều thương bệnh binh và cán bộ trong viện đến với chị, cả những người ở cơ quan nhà nước ngoài quân đội cũng đến với chị. Có người quan tâm chăm sóc cháu bé với tình cảm thực sự như con đẻ của mình để chị vừa lòng đồng ý, có người kiên trì hẹn ước, chờ đợi để hy vọng rồi chị sẽ "nghĩ lại"! Thậm chí cả bác sĩ Phó viện trưởng (vợ chết) cùng bệnh viện với chị, có nhà cửa khang trang, có kinh tế đời sống đầy đủ, đặt "vấn đề" với chị, chị cũng xin được "thông cảm", với lý do chị còn phải "nuôi con" trưởng thành, phải phấn đấu về chuyên môn và chăm sóc mẹ già (mẹ chị). Thế là dư luận xầm xì: Người thì bảo là chị kiêu kỳ, kén chọn, người ác khẩu hơn thì rủa chị là "linh tinh" lắm rồi sẽ "chết già". Thực lòng chị bảo cũng có lúc người ta nói nhiều, chị cũng dao động bi quan, định "liều" phó mặc cho số phận, nhưng rồi nghĩ tới sự hy sinh của chồng, nghĩ tới con, chị lại bình tâm, dũng cảm chịu đựng, kiên trì theo suy nghĩ và quyết định của mình.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:13:12 am

       
*

        Thòi gian trôi qua, thấm thoát đã mười tám năm, bé Vân đã trở thành cô Vân. Theo bước chân của bố, Vân trở thành chiến sĩ; theo nghiệp của mẹ, Vân trở thành một nữ quân y. Có lẽ theo gương của mẹ, ngay từ nhỏ Vân đã chịu thương, chịu khó. Vân rất thương mẹ, sẵn sàng cùng mẹ chịu đựng khó khăn, tỏ ra là cô bé có nghị lực và ý chí tự lập rất sớm. Nhận biết được hoàn cảnh và thân phận của mình, Vân chăm chỉ học tập từ lớp một liên tục đến hết phổ thông trung học. vỏi lực học khá giỏi Vân có thể thi vào đại học, nhưng để nhanh chóng giúp đỡ mẹ, Vân lại thi vào trường Trung cấp Quân y. Nay Vân đã tốt nghiệp ra trường và đã có công tác ổn định.

        Cuộc sống hạnh phúc lại đến với Vân, mẹ lo xây dựng gia đình cho Vân, chồng Vân cũng là bác sĩ công tác cùng cơ quan đơn vị với Vân. Đám cưới của Vân mới được tổ chức mấy tháng trước đây thôi. Hôm ấy về dự đám cưới của cháu rất đông vui, ai cũng thương, cũng mừng cho cô Vy một mình nuôi dạy con gái trưởng thành. Nhưng hôm ấy không thấy cô ấy nói gì về việc cô đi lấy chồng nữa đâu? Thậm chí đã từ lâu có ai nghĩ đến chuyện cô ấy "đi bước nữa". Mười tám năm qua cô ấy kiên trì ở vậy nuôi con, không lẽ nay bước vào tuổi...? Hay là có chuyện gì khác quan trọng mà cô ấy phải viết thư như vậy để cho mình phải đến. Thôi thì đằng nào cũng phải đến tận nơi mới biết được là chuyện gì. Cứ thế tôi suy tính, ngập ngừng, vì ngại đi lắm, nhưng không đi thì lại không thể yên tâm được. Biết vậy, tôi mở tủ lấy ít tiền, thay bộ quần áo quân phục cho "nghiêm chỉnh" ra xe.

        Từ bến xe thị xã vào nhà cô Vy còn phải đến hai, ba cây số, hôm nay là ngày lễ Tết gì mà trên đường đông vui tấp nập thế này? cảm thấy thế nhưng rồi tôi nhận ra ngay cái nơi đã có câu ví "Gái Hà Nội, Bộ đội Sơn Tây" thì cứ gì lễ Tết, ngày nào mà chả tấp nập đông vui cánh lính nhà mình. Song tôi quan sát lại quả thật hôm nay người đi lại có đông đúc hơn, bởi hôm nay còn là ngày chủ nhật.

        Vừa đến cổng, lúc đầu trông thấy một người rất quen mà không nhận ra được vì anh ta mặc bộ com-plê mới thắt ca-ra-vát chỉnh tề, đầu chải ngược, bóng mượt. Nhưng khi anh ta lao vội lại ôm lấy tôi, thấy cái chân cà nhắc của anh ta thì tôi nhận ra ngay:

        - A... Lê Lương Nhàn... Nghe nói cậu nghỉ hưu cũng ở gần đây phải không?

        - Ôi... Em cứ ra vào đón "thủ trưởng" từ sáng đến giờ đấy!

        - Chứ có chuyện gì mà quan trọng thế?
       
        - Quan trọng chứ ạ, thủ trưởng là chủ buổi liên hoan hôm nay mà!

        - Chủ gì? Liên hoan gì? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

        - Thì thủ trưởng cứ vào nhà đã nào, chúng em xin thưa chuyện sau.

        Tôi chưa hết ngạc nhiên thì rón rén phía sau một cô gái bất ngờ ôm đầu bịt mắt tôi:

        - Đố bác biết ai đấy?

        - Cái Vân "Tồ" chứ ai, tiếng mày thì lẫn vào đâu được? - Tôi quay người lại, Vân ôm chặt hai cánh tay tôi vừa lắc vừa nói:

        - Ôi mừng quá, bác lên rồi... Vui quá... mẹ cháu mong bác từ hôm qua cơ, cứ sợ bác bận không lên. Rồi nó quay vào gọi to: - Mẹ ơi, mẹ bác Hiền đây này, bác Hiền lên rồi...

        Tôi phải bịt miệng nó lại, bảo khoan đã, hãy cho bác biết có chuyện gì đã nào? Nó nói một cách trịnh trọng:

        - Chuyện vô cùng quan trọng.

        - Quan trọng... quan trọng, quan trọng có bằng cái chuyện hồi cưới mày không?

        Nó cười, bá cổ tôi xuống, ghé sát vào tai như có vẻ nói thầm bí mật nhưng lại cố ý nói ngắt quãng, rành rõ từng tiếng một:

        - "Mẹ... cháu... lấy... chồng... bác... phải... làm... chủ... hôn".

        Nói xong nó cười rồi ù té chạy vào nhà và đi xuống bếp.

        Là vợ liệt sĩ nên địa phương ưu tiên cấp cho mảnh đất làm nhà khá rộng. Nhà có hiên, sân gạch và ít đất vườn trồng cây. Hôm nay, như cô Vy vừa nói với tôi chỉ có "làm cơm gia đình" để "tuyên bố hợp pháp". Bức tường hoa trước sân dựng độ hơn chục xe đạp, xe máy. Trong nhà và ngoài hiên bày gọn gần chục mâm cơm. Khi bà con gia đình, bạn bè hai bên đã ngồi vào mâm đông đủ, Lê Lương Nhàn mới trịnh trọng đứng dậy "tuyên bố":

        - Thưa các cụ, các ông, các bà, các bác, thưa các anh, các chị cùng các bạn quý mến. Được gia đình, hai họ đồng ý hôm nay tôi và Vy làm bữa cơm thân mật liên hoan để về chung sống với nhau. Tôi xin giới thiệu bác Hiền vừa là thủ trưởng cũ của chúng tôi, vừa là người nhà, hôm nay xin mời bác làm chủ buổi liên hoan chứng giám ngày vui của chúng tôi. Rất cảm động trước tấm thịnh tình của bà con, các anh các chị và các bạn, tôi không biết nói gì được, xin thành thật cám ơn, xin mọi người nâng cốc chung vui...". Tiếp theo vừa ăn vừa nói chuyện, Vy nói trước đây tôi là chủ hôn hồi cưới cô ấy với Ngọ, và cô ấy đã là nàng dâu của đơn vị thì nay tôi là "chủ hôn" buổi "lễ liên hoan" này cho Vy và Nhàn cũng là phải nhẽ.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:13:30 am
         
        Hai người đã nói vậy tôi biết từ chối sao được? Vả lại, ai lại đọc "diễn văn" trong bữa ăn, cho nên tôi cũng vừa ăn vừa nói chuyện như tâm tình, nói những điều tôi đã biết và đang cần biết, lý giải những điều "bí ẩn" về Vy và Nhàn mà mọi người chưa biết.

        Thì ra, tưởng là ai chứ Nhàn thì tôi biết quá đi chứ. Khi Nghiêm Xuân Ngọ hy sinh, Nhàn là cán bộ đại đội cấp trên trực tiếp của Ngọ. Hôm ấy, khi đơn vị đã đánh chiếm được cứ điểm lợi hại của địch thì tổ mũi nhọn đột phá của Ngọ được lệnh ở lại phá hủy hầm chỉ huy trung tâm cứ điểm của địch, để địch không chiếm lại dùng nó phản công ta, rồi rút ra sau. Khi pháo địch phản kích trùm lên cứ điểm thì Ngọ bị thương. Hai giờ sau, chờ pháo địch ngớt bắn, tổ Ngọ mới rút được về hậu cứ. Biết mình không sống được, Ngọ mới đưa tấm ảnh và địa chỉ của Vy rồi nói với Nhàn rằng: Bố mẹ Ngọ đã già yếu lại rất nghèo nên nếu Ngọ chết thì mẹ con Vy sẽ rất khó khăn. Ngọ muốn nhờ Nhàn, xin Nhàn hãy nhận lời, hãy quan tâm giúp đỡ mẹ con Vy nhất là bé Vân, sao cho cháu khỏe mạnh, khôn lớn trưởng thành thì Ngọ yên tâm ra đi... Nhàn đã hứa và Ngọ xúc động trào nước mắt, bàn tay Ngọ bóp chặt tay Nhàn cho tối khi nhắm mắt.

        Sau này chiến đấu và công tác Nhàn được bố nhiệm làm trung đoàn trưởng ở chính đơn vị mình. Trong chiến đấu chống Mỹ, cứu nước anh bị thương, trong chiến đấu ở biên giới Tây Nam, anh lại bị thương. Thế là gần đây anh về hưu với thân hình của một thương binh chỉ còn một mắt, một chân.

        Bị thương lần thứ nhất anh về viện điều trị vết thương và có điều kiện gặp Vy. Trao lại di vật của Ngọ cho Vy, anh kể cho Vy biết về Ngọ trong những ngày chiến đấu hy sinh ở chiến trường, và cùng Vy "cam kết" thực hiện lời di chúc của Ngọ. Anh nói anh còn bận chiến đấu, anh chỉ có thể gửi tiền về góp thêm với Vy để nuôi bé Vân ăn học. Cũng như mọi người đã biết về Vy, từ cảm mến đến yêu thương, anh cũng đã mạnh dạn "ngỏ lời" với Vy, nhưng cũng như mọi người, Vy không nhận lời!

        Bị thương lần thứ hai, anh về viện gặp Vy, tình cảm yêu thương đối với Vy qua thời gian thử thách càng thêm sâu nặng. Không những yêu thương mà anh càng mến phục khi biết Vy đã vượt lên số phận, khắc phục khó khăn, phấn đấu công tác và học thêm để trở thành người y tá trung cấp, đã tần tảo, vất vả, lo toan gia đình và nuôi con khôn lớn trướng thành. Nhưng lại cũng chính từ đó, anh thấy sẽ là nghịch lý nếu gắn bó cuộc đời của một người thương tật như anh hiện nay với Vy, sẽ là tàn nhẫn bất công nếu đặt thêm gánh nặng vào cuộc đời đã quá nhiều đau khổ của Vy. Nghĩ vậy, sau nhiều đêm trăn trở anh quyết định "chấm dứt" không nói với Vy về vấn đề yêu thương nhau nữa! Ngược lại, vốn là người nhạy cảm, Vy biết những tâm tư trăn trở đang giày vò anh, Vy lại càng thương anh nhiều hơn vì bây giờ ai sẽ là người chăm sóc giúp đỡ anh, khi anh đã hỏng một mắt, cụt một chân, khi bố mẹ anh đã mất, vợ anh không còn, con cái chưa có? Đến lượt Vy, tình cảm yêu thương đôi với anh đang được thức dậy, vì Vy biết khác với những người khác, Nhàn đến với Vy bằng cả tình cảm trong sáng, chân thành, yêu thương và tôn trong. Thế là Vy lại chủ động tìm "lối thoát" bằng cách ra điều kiện với anh: - "Khi nào cháu Vân trưởng thành, có công ăn việc làm, có gia đình riêng, chúng ta hãy bàn đến việc chung sống với nhau". Được lời như cởi tấm lòng. Anh bất ngờ và vui mừng chấp nhận. Hai người đã ngầm cam kết giữ bí mật đến cùng và họ đã thực hiện được cam kết ấy. Suốt mười tám năm qua cho đến lúc hai người đã về hưu, đã "trả" xong "nợ đòi".

       
*

        Buổi liên hoan kéo dài vì vui vẻ cũng có, vì lâu ngày mới gặp lại nhau cũng có. Trông thấy hai người thật hạnh phúc, ai cũng muốn chạm cốc chúc mừng. Rượu vào, lời ra, ai cũng muốn nói, muốn thổ lộ tâm tình nhân "buổi liên hoan", nhưng to tiếng hơn cả là hai ông anh, một người anh họ và người anh rể của Vy.

        Người anh họ nói:

        - "Tôi đã khuyên cô ấy từ ngày chú ấy mới hy sinh cơ, một là đi bước nữa, hai là không thì ở vậy nuôi con, mà đã đi là đi ngay, chứ đời người con gái có là bao..., chứ ai lại để mãi đến bây giờ, chứ... ư... ừ... mà thôi... ấy... muộn cũng còn hơn không... Nào... nâng cốc... mừng... mừng".

        Người anh rể như nhờ hơi men, mỗi câu nói một cái phẩy tay:

        - "Tôi cũng thấy có như vậy, ờ... tránh sao khỏi miệng đời dị nghị, rằng khi trẻ thì kiêu sa đến khi già mới hốt hoảng, ờ... khi trẻ còn "chịu" được, giờ có tuổi còn "hồi xuân"... Hừ... kệ họ... Họ có mồm, họ cứ nói! Thế làm như lời chú Ngọ dặn không đúng à? Không hay à? Ờ, mà đấy, bây giờ cháu Vân nó đã có gia thất, ai dám bảo là dì Vy giờ không cô đơn? Này chú Nhàn, chú kéo cái ống quần của chú lên tôi xem tý nào? Kéo lên, đấy, cái chân giả đấy chứ có phải chân thật đâu? Thế thì hai vị cựu chiến binh này chung sống với nhau thì đẹp quá đi chứ lị, hạnh phúc quá đi ấy chứ lị...".

        Còn tôi, bây giờ thì tôi đã rõ về sự "bất ngờ" đối với việc cô Vy "đi bước nữa". Song tôi lại nghĩ cô Vy chưa hẳn đã có ý định "đi bước nữa", vì từ đây, cô đã có thể sống an nhàn với người con gái, (cháu Vân rất muốn thế), với cháu ngoại tương lai, thậm chí cho dù có sống một mình, cô vẫn sống sung sướng cho bản thân hơn là lấy một người thương tật như Nhàn. Nhưng vì tình thương đồng chí, đồng đội, thương người bạn đã cùng "chia lửa" với chồng, đã từng chiến đấu hy sinh cả tuổi trẻ cuộc đời không tiếc máu xương cho độc lập tự do của đất nước, thương người đả cùng mình thực hiện "ý nguyện" cuối cùng của người chồng trước khi nhắm mắt để có được hạnh phúc cho con cái và gia đình Vy hôm nay, nên cô tự nguyện chấp nhận chung sống với người thương binh hỏng mắt, cụt chân ấy, chấp nhận "cuộc chiến" sau cuộc chiến, tiếp tục hy sinh gánh chịu những gian nan vất vả của cuộc sống khi tuổi đời đã gần đứng bóng, âu cũng là tiếp tục sống vì mọi người. Phải chăng, đó cũng là cách "Đền ơn đáp nghĩa" của cô.

H. H.       
"Số nhà 6N16 tổ 50H Khu tập thể gia đình quân đội Lăng Hoàng Cao Khải phường Trung Liệt - quận Đống Đa - Hà Nội.         


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:16:18 am

ĐOẠN VIẾT THÊM TRONG NHẬT KÝ

Phạm Văn Phung       

        Vào cuối tháng tám năm bảy mươi, trường Bách Khoa vui nhộn chuẩn bị một cuộc lên đường lớn. Không khí ấy, biểu hiện bằng những khẩu hiệu viết ở bảng tin, ở nét mặt những trai gái sinh viên, ở những cuộc gặp mặt vội vàng. Chắc giờ đây, có bao nhiêu ý nghĩ khác nhau! Xa nhau không biết bao giờ mới gặp lại, có trở lại mái trường ước mơ này không? Những đôi trai gái, trước đây yêu nhau thầm kín nay đã lộ ra, họ yêu nhau tha thiết quá chừng. Một cuộc chuẩn bị lên đường gấp, với tất cả sự cố gắng sẵn có.

        Tôi lên trường với thái độ đàng hoàng, ung dung, cũng chàng chuẩn bị gì, hay nói cách khác chẳng có gì mà chuẩn bị. Tư tưởng, thì có sẵn ở trong óc rồi, cũng không cần gì thêm! Không cần gặp ai và vì thế cũng chẳng hứa hẹn gì với ai cả.

        Một buổi sáng mưa lất phất, trời đất cũng như thấu hiếu nỗi chia ly. Sân bóng, nơi tập trung toàn trường, nơi biểu lộ rõ nét những tình cảm ở những giây phút sắp xa nhau...

        Bách Khoa hôm nay, vẫn sừng sững đứng đó, nhưng tôi tưởng nó xoay mình. Những ngôi nhà ở, dãy nhà A, B - hay khu đồ sộ ba, bốn tầng ở khu nhà mởi - khu c, cũng không đứng im, chứng kiến một lần tạm biệt.

        Nhà ăn đông hơn mọi ngày, riêng khu xưởng trường, khu thí nghiệm im lìm đứng nghỉ... Tôi vẫn để ý đến Vân và Minh là những người bạn mới quen, xem có mặt không để nói vài lòi an ủi, khỏi ân hận về sau... Nhưng đông quá, tìm sao nổi? Thê là không gặp được hai cô bạn mới quen nhau trong những ngày thực tập... Những người bạn gái ở lớp, ở tổ, hôm nay cứ loanh quanh, chạy hết chỗ này chỗ kia để tiễn chúng tôi, đôi mắt cô nào cũng đỏ hoe, mà rồi có nói được gì đâu, chỉ có "Thôi anh đi khoẻ mạnh", "Chào anh", "Tạm biệt anh nhé" và nhiều bạn đã có những giọt nước mắt lăn trên má. Có ai trong lúc này, mà không nghẹn ngào, khó nói. Hầu như bạn gái nào nước mắt cũng ướt những cặp mi; thực tình nhiều bạn nam cũng như vậy. Tình cảm sau ba năm học tập đã tô đậm của một chuyến đi.

        Lúc này, làm sao tôi không suy nghĩ, mà không chảy nước mắt được! Nhưng tôi cố nén nghẹn ngào... và thực tế cuộc đời đã thầm dạy tôi, không phải đến bây giờ tôi mới một lần chia tay, xa cách người thân; cuộc sống nghèo khổ, tự lập và nỗi mồ côi mẹ của một đứa con, đã làm cho tôi quen chia ly...

        Đoàn xe đưa chúng tôi đi, thế là xa Bách Khoa, từ ngày đó ngày 26 tháng 8 năm 1970.

        Những ngày chia ly, thường là những ngày mưa ư? Nếu không thì là những ngày hơi tối hơn mọi ngày. Tôi nghĩ thế, nhưng chắc không đúng hoàn toàn. Tuy vậy, cuộc đời đã nhiều lần tương tự.

        Trời cứ mưa, mỗi lúc một to... Chúng tôi đi vào Thanh Trì cách trường không xa, nhưng lại vòng vèo, mưa trơn, nên mãi chiều tôi mới tối nơi tập trung quân.

        Có thể có con đường gần hơn nhiều, nhưng cấp trên thử thách đôi chân của chúng tôi chăng? Vì quá mỏi, nên tôi thầm nghĩ như vậy.

        Cuộc đời người lính bắt đầu.

        Thế là "dùi mài kinh sử" đã ba năm, phải dừng lại. Cái ước mơ trở thành kỹ sư hoặc cao hơn nữa, mai sau có thể được trở về xây dựng Thành phố cảng cứ xâu xé trong tôi. Mình đã từ bỏ con đường này rồi ư? Không biết đến bao giờ trở lại. Đi! Nghĩa là thôi, hết ước mơ và tình cảm nữa.

        Nhưng rồi, tôi vẫn ấp ủ, nhũng mong sau này dù có năm đến mười năm đi nữa, khi trở về mình vẫn phải đi theo con đường mòn xưa, con đường mòn mà cha mẹ tôi đã nuôi dạy tôi từ bé tới lớn, hướng tôi vào đúng ước mơ chung của thời đại. Đến bây giờ tôi làm sao có thể quên công lao trời bể ấy. Tôi tốt nghiệp phổ thông năm 1967 và bước ngay vào ngưỡng cửa mới. Mẹ tôi lo cho tôi nhiều lắm, tình thương của người mẹ như nước trong nguồn tuôn chảy, sao có thể kể hết được. Tôi chia tay mẹ từ tháng 8 năm 1967, không ngờ đó là lần mẹ tôi vĩnh biệt đứa con yêu quý của mình. Mất mẹ, mất trăm nghìn thứ khác, tình cảm mẹ con có gì thay thế được và để đền đáp công ơn trời bể ấy, bằng mọi giá, tôi vẫn ước mơ đi theo con đường mòn ấy, con đường lấy sách vở kiến thức làm chìa khoá mở cuộc đời. Vì thế, trên mỗi đoạn đường hành quân, tôi vẫn mang theo vài cuốn sách hay, hoặc cuốn từ điển nhỏ, để luyện thêm cái ước mơ ấy.

        - Chú cứ cầm cái nón này đi, kẻo ướt hết!

        - Không, em không mang đi đâu, em đi trong mưa cho quen...


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:16:38 am

        Nhưng rồi theo đoàn quân ra đi trong mưa như xối nước. Thế là sống với dân được một tuần, chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Làm sao nói hết được tình cảm gắn bó của dân đối với chúng tôi. Nếu như trước đây, tôi đã có thời gian sống trong tình thương yêu của đồng bào dân tộc Việt Bắc, được đồng bào chăm lo đến từng thanh củi, chỗ nghỉ ngơi. Chỉ trước đây một năm thôi, chúng tôi được sống với đồng bào mạn Bắc Ninh - Bắc Giang, được họ dành cho những tình cảm quý mến trong những ngày sơ tán, thì lần này, tôi lại càng nghẹn ngào, xúc động... Tôi cùng hai anh bạn nữa được phân công ở nhờ nhà chị Tâm, chị có ba con và chồng đi chiến đấu xa. Cuộc sống của mẹ con chị so với dân làng khá chật vật, các cháu còn bé, mới đi học được vài năm, cháu bé nhất học lớp "chữ to" suốt ngày quanh quẩn với chúng tôi. Tôi mến các cháu, coi như các cháu của chính mình.

        Rồi một buổi tối, được lệnh chuẩn bị lên đường, chúng tôi chuẩn bị mọi thứ đầy đủ, nhưng vẫn chưa nói cho chị hay biết. Nhưng chị cũng đoán ra được. Tròi vẫn mưa, lúc đó là mười hai giờ đêm, mười lăm phút nữa chúng tôi sẽ đi. Trời như thử thách những người lính trẻ mới bước vào đòi.

        Là những tân binh "mới choang", chúng tôi chưa được cấp mũ, ni lông, chỉ có cái bọc nhỏ đựng những thứ lặt vặt và một bộ quần áo. Phải đi đầu trần trong mưa, quần áo bị ướt, nước thấm vào da, mặt. Chúng tôi vẫn phải đi, vì đây là mệnh lệnh rồi.

        Chị Tâm đưa cho chúng tôi nhũng thứ che tạm được cái đầu, chị bảo ban chúng tôi như những đứa em vậy. Tôi cũng được chị đưa cho cái nón: "Chú cứ cầm đi mà đội, đừng ngại".

        Nhưng tôi ái ngại, còn bao lần sau nữa, các anh khác cũng vậy, chị lại thương và giúp, mà chị thì nghèo... Rồi không chối được, tôi phải đội nón ra đi, mà trong lòng cảm động vô cùng.

        Từ đấy tôi giữ trong lòng một tình cảm sâu lắng, thầm nghĩ mình phải sống và chiến đấu để không phụ tấm lòng của chị.

        Khoảng năm giờ chiều một ngày cuối tháng 8 năm 1970, cuộc hành quân bằng đôi chân lại bắt đầu. Từ ga về đơn vị khá xa, để động viên chúng tôi, thỉnh thoảng trưởng đoàn lại cười nói:

        - Còn vài quăng dao nữa thôi.

        - Biết "quăng dao" của anh thế nào. Đi đã mỏi cả gối, mà vẫn chưa hết một "quăng dao " của anh.

        Tôi cười mệt nhọc, lẩm bẩm một mình.

        Với tôi đã nhiều lần đi bộ, nhưng đây là lần đầu tiên phải đi xa thế này, lại đi trong đêm tối, trong mưa, mệt nhoài. Song cái đầu vẫn phải hướng cái chân đi.

        Đây là Như Xuân - Thanh Hoá, rừng cây rậm rạp lá xanh um như cây mùa xuân vậy.

        Tròi càng tối, đường như dài thêm ra, khó đi nhanh. Rừng núi cứ kéo dài mãi, chỉ thấy mờ mờ, xa xa. Đã mười một giờ đêm, cái bản mường nhỏ này đã đi ngủ cả. Đêm tối như bưng, chỉ còn nghe tiếng chó sủa mỗi lúc một gần. Đã đến địa phận huyện Nông Cống.

        Căn nhà sàn nhỏ, một ngọn đèn hoa kỳ, vừa mới khơi lên. Cả nhà thức giấc. Dưới ánh đèn, hiện lên rõ căn nhà: Có bàn thờ nhỏ treo trên cao, mấy đứa cháu nhỏ nằm co quắp trên một cái chiếu ở góc nhà, bên trong là căn buồng kín. Dưới sàn nhà, mấy chú gà thức dậy, lục cục...

        Anh chủ nhà lấy nước mời chúng tôi...

        Đêm đã khuya, chúng tôi xin phép đi nghỉ ngay. Giấc ngủ ập đến, làm quên đi nỗi nhọc suốt một ngày hành quân. Cái đêm vất vả đầu tiên ở đời lính của tôi là như vậy đấy.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2020, 06:17:07 am

       
*

        Lại một ngày hành quân, di chuyển nơi đóng quân. Bây giờ là cuối thu nhưng trời vẫn còn nắng gay gắt. Lúa mùa xanh rờn đang chuẩn bị một mùa bội thu. Những thân dừa hơi lướt lưng còng xuống ao, nặng trĩu quả như đang bận bịu với nhũng đứa con thơ... Những cô gái Nông Cống chắc nịch, chân bước nhanh, trên vai những gánh củi nặng, đang hôi hả về làng. Còn chúng tôi người lính chiều nay chiếc ba lô nặng trĩu trên vai, lưng cũng hơi ngả như những thân dừa, những túi cóc ba lô căng phồng như những trái dừa nặng nước... Chiều đã muộn, mặt trời đã chuẩn bị giấu những tia lửa cuối cùng.

        Đoàn quân dừng lại, thôn Đạo Đức xã Công Liêm lại vui và ồn ào hẳn lên. Cả tiểu đoàn dồn lại cái thôn nhỏ bé này. Cái không bình thường đã thành bình thường. Nhiều gia đình ghi rõ những dòng chữ trên cánh cửa: "Một võng, hai giường", họ đã coi việc chăm sóc bộ đội như một việc bình thường. Bộ đội ở và đi... đã trở thành thường xuyên. Ai cũng hiểu việc làm bình dị này, nhưng ý nghĩa lại vô cùng lớn lao. Ngay đêm đó xúc cảm trước tình cảm của bà con cô bác, tôi đã viết một lá thư gửi về cho một bạn ở Hà Nội, thư kể lể dài dòng, nhưng có đoạn:

        "... Cuộc chiến đấu của toàn dân tộc thế là đã mười mấy năm trời. Những binh đoàn cứ lần lượt lên đường. Sức mạnh của cả hậu phương cứ dồn mạnh lên những cánh tay rắn chắc của người chiến sĩ. Cả hậu phương gửi gắm tất cả những gì thiêng liêng nhất đến đồng bào miền Nam qua từng cánh tay ấy.

        Hậu phương đang tiếp sức cho chúng tôi. Tất cả đang lo lắng cho chúng tôi, từng bước đi, từng chỗ nghỉ. Đến đâu cũng được chăm sóc chu đáo, cũng được truyền thêm sức mạnh thiên thần.

        Đất nước ta, đất nước của bốn nghìn năm lịch sử, đất nước của biết bao binh đoàn đã lên đường.

        Đất nước ta không rộng, không có thể là những trận địa rộng lớn như trong đại chiến thế giới thứ hai - nơi xung trận của mấy chục sư đoàn, với hàng ngàn xe tăng, đại bác, với hàng mấy triệu quân...

        Nhưng đất nước ta rất thuận lợi cho những cuộc hành quân. Cuộc hành quân chỉ có ở dân tộc ta.

        Từ những người hôm qua còn là nhũng thanh niên cầm cày, cầm cuốc là những anh công nhân sớm chiều cầm pan me đo từng chi tiết máy, còn là những chàng học sinh, sinh viên đang say với những trang vở mới, ước mơ cao xa. Nhưng hôm nay qua những "đoạn đường" hành quân dằng dặc ấy, họ đã trở thành nhũng chiến sĩ gang thép, đã được tôi luyện qua bao thủ thách gay go và ác liệt.

        Thê giói có lẽ không ở đâu có được cái hình thái riêng biệt của những binh đoàn hành quân đó... và trên mỗi đoạn đường, sức mạnh của từng binh đoàn, được tăng lên gấp bội...".

        Sáng hôm sau, tôi đọc lên cho mấy anh trong tiểu đội cùng nghe, mọi người cười ồ lên, cho là sáo rỗng quá...

        Thế rồi, bẵng đi... do sự bộn bề của những cuộc hành quân tiếp theo, lá thư tôi không gửi và được giữ lại cho đến mãi sau này.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:04:19 am

       
*

        - Chú ơi, để cháu quét cho.

        Sơn vừa đi học về, mới đến đầu ngõ đã nói to để mọi người trong nhà đều nghe thấy

        - Thôi cháu về chuẩn bị ăn cơm đi, mẹ đang đợi đấy.

       Hán đang quét sân, ngẩng lên đáp nhẹ nhàng.

        Không khí cả gia đình nhỏ bé này mấy hôm nay cứ thế vui lên, mấy đứa nhỏ cứ quẩn quanh bên mấy chú bộ đội. Căn nhà thêm ba chúng tôi nữa là bảy.

        Chị Hà, mẹ của hai đứa bé, nay mới chừng ba mươi tuổi, chị có dáng người thon, nước da trắng, hơi xanh. Có lẽ chị vừa mới ốm dậy. Tôi đoán như vậy.

        Chị rất vui và có phần nào hiểu, thông cảm với chúng tôi, thương hoàn cảnh của từng đứa một, mà chị coi như em ruột của mình.

        Sông ở nhà chị, ngoài tôi ra còn có Sương và Hán, hai bạn tôi đã có người yêu và họ yêu nhau đã mấy năm rồi. Họ mang những lá thư cũ ra đọc cho tôi nghe, tôi hiểu tình cảm của họ khi phải xa cách nhau. Tôi thấy thương thương những cô gái có người yêu chuẩn bị đi B như Lanh và Diệp, người yêu của Hán và Sương.

        Vì chưa có người yêu, nên tôi đôi lúc có lợi thế để "giảng giải" về "tình yêu và trách nhiệm" cho Hán và Sương nghe.

        Tôi cứ nói theo cái lý của tôi: Nào là, tình yêu phải được luyện thêm theo từng bước đi, từng trận đánh, các anh phải để "những bông hoa nở đúng thời", nào là: Không nên ràng buộc họ với mình để làm khổ họ. Cái quý nhất của người lính là như vậy và v.v...

        Chị Hà cũng hiểu tôi, và coi tôi như chú em út, được quan tâm nhiều hơn.

        Dần dần chúng tôi cũng hiểu hoàn cảnh chị.

        Gia đình chị sống ở đây mới bảy năm, chỉ có một ngôi nhà gỗ đã cũ. Những cây cột đã mục chân, rui mè đã nát. Trước nhà là cái sân nhỏ, bề ngang độ vài ba bước, bề dọc khoảng chục bước. Đằng sau nhà, cái vườn nhỏ xinh xinh, những cây chuối xanh um nặng trĩu quả, một cây dừa cong cong in hình xuống mặt ao nhỏ. Một gian nhà bếp làm thêm ở đầu nhà, chật chội, một cái bể nhỏ ít khi đầy nước được xây ở gần cửa bếp. Chỉ có thế thôi, nhưng chị lúc nào cũng vui. Hai đứa con của chị ngoan ngoãn, chịu khó học hành.

        Anh Lâm, chồng chị đã thoát ly từ lúc hai mươi tuổi, công tác ở Ty Lâm nghiệp Thanh Hóa, mỗi tháng một, hai lần về nhà.

        Cuộc sống của chị, người mẹ trẻ sống hiền từ rất giản đơn cứ thế trôi đi.

        Chị hỏi chúng tôi về Hà Nội, bây giờ có gì đổi mới không, người đông và cảnh đẹp thêm nhiều các chú nhỉ?

        Chúng tôi ngỡ ra chị đã sống ở Hà Nội hay đã qua Hà Nội rồi...

        Rồi chị kể: Dạo ấy, chị ốm ở nhà đã gần một tháng, vì bệnh của chị khó chữa, nên phải ra Bạch Mai, ở đấy mất ba tháng. Hồi ấy, anh Lâm phải gửi cháu Sơn, Lan sang bà ngoại, còn anh phải đưa chị đi Hà Nội. Những ngày điều trị bệnh, nỗi nhớ con cứ dằn vặt chị mãi, nhiều đêm mất ngủ. Chị thương chúng nó cô đơn, còn học hành, bữa cơm bữa cháo. Mỗi khi nhắc đến chị, chắc chúng nó khóc nhiều!

        Chị kể tiếp: Các chú biết không, tôi đi rồi, có tin là hai cháu không về bà ngoại, mà cứ đòi ở nhà mình bằng được, nói là còn giữ nhà (dạo đó Sơn học lớp ba, Lan học lớp một). Tôi quá lo!

        Nhưng rồi cũng may, ngay hôm sau có đơn vị bộ đội đóng quân như ba chú bây giờ, hai cháu được sống với ba chú ấy ngay nhà mình. Tôi yên tâm và dần dần khỏi bệnh, ba tháng sau tôi xuất viện, những mong gặp các chú ấy để cảm ơn. Nhưng các chú ấy đã vào chiến trường, không biết bây giờ ở đâu?

        Chị cho tôi biết tên các anh, nhưng không có địa chỉ và rất mong chúng tôi tìm gặp hẹn ngày trở lại, giúp chị...

        Như vậy là suốt ba tháng các anh ấy đã giúp Sơn, Lan học tập, nấu nướng, sớm tối có nhau. Các cháu đều khoẻ mạnh và học giỏi. Cuộc sống bộ đội đã sớm tác động vào nội tâm của hai cháu. Các cháu vui, mến các anh lắm. Ngoài giờ học và làm việc ra, thấy các anh rỗi lúc nào là chúng dẫn các anh sang bà ngoại và những bà con quen thuộc thăm hỏi (Sơn nhiều lần tâm sự với tôi như vậy).

        Có lẽ chính vì thế, mà giờ đây các cháu rất quý chúng tôi coi như đã quen từ lâu.

        Tôi thầm cảm ơn các anh đi trước, đã xây dựng lòng tin với dân, để chúng tôi hôm nay được dân tin dân mến.

        Làm sao có thể nói hết sự tự hào, vinh dự của chúng tôi khi nghe chị kể. Cả ba chúng tôi đều hứa với chị, sẽ tìm giúp chị tin tức về ba anh bộ đội ngày ấy và báo cho chị sau...


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:04:59 am

       
*

        Để giúp chị hàng ngày, chúng tôi phân công nhau đều đặn, mỗi người một ngày giúp chị. Nếu ai bận đột xuất, người khác phải thay. Công việc là quét nhà, quét sân, ngõ và gánh nước cho đầy bể nhỏ. Chỉ có thế nhanh chóng và trọn vẹn trong mươi phút, vì giếng nước gần, nhà và sân đều hẹp. Nhưng để tạo được thói quen cũng phải "rèn" vì có thể lãng quên hay có việc khác chen vào. Mọi việc có phân công, nên cái không quen sẽ quen rồi thành tự giác...

        Rồi từ đấy trở đi, khi sống với dân, chúng tôi đã coi những việc làm ấy là bình thường, nhưng là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được...

        Một lần, chị hỏi về gia đình tôi, rồi về bản thân, đã "mến" ai chưa? Tôi ngập ngừng, chỉ đáp gọn lỏn:

        - Chưa, chị ạ.

        - Thật không?

        - Thật chứ lỵ! Tôi quả quyết.

        - Thế chị giới thiệu cho nhé.

        - Vâng, thế thì tốt quá! Và tôi hạ giọng:

        - Cô nào hả chị?

        Chị nói nhỏ và như để dò ý tôi:

        - Cô đến đây hôm trước đấy!

        - Buổi trưa phải không chị?

        - Ừ, cô ấy đấy.

        - Thế thì em biết rồi, biết rõ là khác...

        Người con gái ấy, có thân hình thon thon, hơi cao, có nước da trắng như chưa tiếp xúc nhiều với nắng gió, có đôi mắt sắc sảo, hay liếc mắt nhìn xung quanh, khuôn mặt trái xoan càng làm cho cô thêm xinh, hoạt bát và lanh lợi hơn.

        Ban đầu mới quen, có phần nào e thẹn, "con gái bao giờ chẳng thế", "rồi thì thành... cả". Tôi trộm nghĩ như vậy.

        Hôm sau, khi đi tập về đến đầu thôn, tôi gặp lại cô và cô chào chúng tôi có phần hơi ngượng, nhưng nghịch:

        - Để cháu mang ba lô cho chú ơi.

        Tôi nhìn lại, thấy tập sách vở trên tay, biết là cô đi học về và cố ý nói dài ra:

        - Này, đây! Cháu giúp chú nhé...

        Thế rồi cô chạy vụt vào cái ngõ gần đấy.

        Sau đấy mấy hôm, vào một buổi trưa, cô rón rén đến đầu ngõ gọi:

        - Chị Hà ơi.

        Không có tiếng đáp lại.

        - Chào anh ạ!

        - Sao lại anh! - Tôi nói lại.

        - Chú cơ mà...

        Hình như, cô đã biết cái mâu thuẫn trong câu chào của mình, mặt đỏ lên.

        - Con gái chóng thay đổi thật, chẳng trách đi xa một vài năm... Tôi dồn cô vào chỗ bí hơn.

        Nhưng rồi, như để làm "lành" với cô, tôi hỏi:

        - "O" gì ơi? Sao hôm nay mới sang chị Hà chơi, chị ấy mong lắm.

        - Em sang luôn, nhưng các anh đi tập suốt ngày.

        Thế là từ hôm ấy, cô quen dần tôi, hiểu tôi hơn và cũng từ ấy cô không gọi tôi là "chú" nữa.

        Người con gái tôi nói nhiều đó, chính là Lý, em gái chị. Về tôi, tôi không dám nghĩ nhiều về điều chị giúp đỡ tôi, chỉ muốn qua những câu chuyện ấy làm cho chị vui hơn, hiểu tôi hơn.

        Tôi hiểu, bản thân mình không nên bước vào đời một cách vội vàng... Hôm nay còn đang tập lăn lê, bò toài, còn thức đêm thức hôm, còn chập chờn trước giờ báo động... Nhưng ngày mai, có thể ở rừng núi Quảng Trị, sau đó có thể ở bãi lau Đồng Tháp hay ở ngõ hẻm Sài Gòn! Không sợ gian khổ hy sinh, rất tin và sức sống của mình; nhưng biết đâu trong một trận chiến đấu nào đó mình có thể hy sinh đế làm đau đớn cho người con gái sau bao năm mòn mỏi chò đợi! Nghĩ như vậy, nên tôi đâu có dám "dính líu" sâu xa về chuyện đó.

        Nhưng Lý, vẫn mỗi ngày một thân tôi hơn. Một, hai ngày lại sang nhà chị Hà một lần. Mỗi lần gặp tôi, thường mở đầu bằng câu hỏi "anh không đi đâu à?".

        - Ừ, không đi đâu cả... anh chờ Lý mãi...

        Đêm nay, trăng lên. Cái ánh trăng đầu tháng, mò mò ảo ảo, làng xóm đứng im, tĩnh mịch, mấy nhà ở giữa xóm còn đun nấu gì tỏa khói trắng tinh. Thỉnh thoảng có đôi chim đi ăn đêm vỗ cánh "phành phạch". Thôn xóm vẫn chưa đi ngủ.

        - Anh kể chuyện đi!

        - Chuyện gì bây giờ, chẳng có chuyện gì cả... hay là chuyện hành quân "một sao, tám gạch".

        - Cũng được.

        - Hay là chuyện quê anh?

        - Lý cứ gợi cho tôi những chuyện phải kể.

        - Ừ, thì kể.

        Thế rồi, tôi phải kể thật, kể một cách chân thành say sưa.

        ... Quê anh ở vùng ven biển, ở đó có sông nước, có đồng ruộng, có đồi, có núi... mang tiếng là ven biển, nhưng cũng có nhiều chè, nhiều sắn. Vào những buổi chiều, mấy năm trước anh thường lên đồi chè, đồi thông phóng tầm mắt ra biển... Đẹp lắm, Lý ạ.

        Từ đây, anh nhìn thấy thành phố, thấy cảng, thấy những con tàu đang tiến vào bờ. Từ đây, có thế nhìn ngược lên phía bắc, thấy nhà máy điện Uông Bí đang bốc khói, có thể thấy những dãy núi đá Tràng Kênh xanh xanh.

        Từ đây, còn nhìn rõ từng người trên con thuyền đang lướt trên dòng sông trước mặt. Xóm làng, con đường rợp bóng cây thì gần ngay sát chân đồi, đượm vẻ thanh bình... Vào buổi cuối chiều, những tà áo trắng, xanh đang nhộn nhịp đi về.

        Xa hơn một chút nữa, ở đó có bãi tắm đẹp, khách thường hay qua lại.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:06:03 am

        Nếu có dịp theo tàu ra một hòn đảo xa xa. ở đó có nhiều hải sản, cá tươi, muối trắng, cũng có dừa như quê em. Đây là một hòn đảo nhỏ quanh bể nước trắng... Chiều chiều ngồi trên một hòn đá mà thả mồi xuống biển thì tuyệt lắm... Còn một hòn đảo nữa xa hơn, có rừng xanh núi đá, có nhiều chim muông, thú hiếm... Cứ tối đến là nghe thấy tiếng chim kêu, vượn hú.

        ... À, còn thành phố thì giống như nhiều thành phố khác, có nhà cao, đường rộng, nhiều vườn hoa; cây cảnh. Nhưng ở đây êm dịu, khí hậu trong lành hơn, không ồn ào náo động. Thành phố có bờ biển dài, ở đó tàu bè đậu san sát, đêm đến đèn điện như sao sa in xuống dòng sông lấp lánh. Ở đấy còn có nhà máy xi măng ngày đêm tỏa khói, có các nhà máy đóng tàu, nhà máy cá hộp, nhà máy thuỷ tinh, sắt -  tráng men... cả một khoảng trời có những làn khói của các nhà máy...

        Quê hương anh bình dị như các miền đất khác, nó tự nhiên có cái gì đó phơi phới như một cô gái đang bước vào đời...

        Thê thôi, Lý ạ!

        - Đẹp thật, anh nhỉ! Không biết đến bao giờ em được đặt chân đến đấy?

        - Có mà trời biết!

        Tôi trả lời lấp lửng, khiến Lý càng suy nghĩ mung lung.

        Phải chăng Lý đang mường tượng về một thành phố xa xôi mà tôi vừa mới vẽ, hay lại nghĩ tản mạn về chính người đang vẽ nó?

        - Sao anh lại nói thế?

        Lý không bằng lòng về câu nói của tôi.

        - Thì rõ ràng, tất cả là do Lý quyết định thôi!

        Lý không nói nữa, cúi đầu như dỗi.

        Tôi hiểu lắm cái tâm trạng lúc ấy của Lý, muốn nói một câu gì để an ủi, nhưng không sao nói được.

        Sau khoảnh khắc ấy, nhớ những nét riêng biệt của thành phố, tôi lại thả tâm hồn theo dòng suy nghĩ tự nhiên...

        Mai đây, nhất định thành phố tôi yêu sẽ đẹp, đồ sộ hơn. Cảng sẽ mở rộng hơn, hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ nhiều, nhiều tàu sẽ cập bên một lúc, nhà máy sẽ nhiều hơn, thành phố sẽ mở rộng đến tận Kiến An, Kiến Thụy, An Hải, trình độ công nhân và nông dân sẽ được nâng lên. Nhiều phương án xây dựng thành phố như được hiện lên trong tưởng tượng của tôi.

        Dường như Lý và tôi, giờ đây đang tập trung vào thành phố này, có thể hai đứa đang nghĩ về một tương lai mới mẻ sau mươi năm nữa, cũng có thể hai đứa nghĩ: mỗi đứa, mỗi khác... Biết đâu!

        Lý và tôi là như vậy. Cô gái mười bảy tuổi đời ngây thơ đã gây được cảm tình trong tôi.

        Và cuộc đời tôi từ đó đã mang hình bóng một người con gái đẹp như thế đi suốt cuộc đời.

        Hôm ấy, là một buổi tối đầu tháng 10 năm 1970 và cũng là lần cuối cùng tôi phải tạm biệt Lý, đi vào một chiến trường khác lạ, không biết bao giờ gặp lại.

        Tám năm sau...

        Sau vài lần ra Bắc, vào Nam do chuyển đơn vị và nhận nhiệm vụ mới, đến tháng 7 năm 1978 tôi được điều động vê Cục Kỹ thuật Hải quân, ngày ấy cán bộ nhân viên của Cục chủ yếu sống ở doanh trại số nhà 15 Lê Thánh Tôn, Quận l, thành phố Hồ Chí Minh.

        Cũng vô tình, vào một buổi tối cuối tháng tám năm ấy, nhân lúc xem lại đoạn nhật ký cũ, Tiến -  một anh bạn nằm cạnh giường tôi đang rỗi nhìn sang, hỏi bâng quơ:

        - Lại viết thư cho cô nào phải không?

        - Cũng có thể! Tôi trả lời tự tin và khoe luôn câu chuyện của tôi và Lý.

        Tiến không tin. Tôi đành phải cho Tiến xem đoạn nhật ký ấy. Thế là nhiều người biết chuyện.

        Bất ngờ hơn, tối hôm sau anh Tân là người đã ở nhà chị Hà trước chúng tôi ngày đó, là người cũng mới được điều về Cục đến bắt tay tôi và hỏi luôn về chị Hà ngày ấy. Tôi và anh Tân ôm nhau, mừng mừng tủi tủi, như hai anh em ruột gặp nhau... Tối hôm ấy là tối vui nhất đời tôi.

        Tôi và anh mời bạn bè "lai rai" tối khuya, để nhớ lại những kỷ niệm không quên ấy.

        ... Thời gian cứ trôi đi, đã hai tám năm...

        Anh Tân nay đã nghỉ hưu, hai người bạn của anh ngày đó sau đợt đi B đã không trở lại. Tôi đã viết thư về quê của Sơn để hỏi thăm gia đình. Được biết anh Lâm cũng đã nghỉ hưu, chị Hà mất năm 90, cháu Sơn và Lan đều tốt nghiệp đại học...

        Viết thêm đoạn nhật ký này; dù là muộn, nhưng tôi cảm thấy nhẹ người đi, vì đã làm xong một việc tưởng như không làm được (như đã hứa với chị Hà).

        Hơn thế nữa, như đã tìm ra kho báu của cuộc đời: đó là những người như anh Tân, như hai bộ đội nọ xung quanh ta vẫn còn, họ bình thường thôi, nhưng đáng quý, đáng yêu...

        Có thể còn đó nhưng ai cũng tìm họ ở mọi nơi để cảm ơn, trả nghĩa. Bất giác, tôi nghĩ tói những đồng đội không còn... Tự nhiên, lặng đi như tưởng nhớ... vô hồi.

P. V. P               
Tháng 2 năm 1998       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:07:31 am

       
CHUYỆN KỂ VỀ MỘT NGƯỜI MẸ

Đào Minh Vân       

        Tôi và bà không có họ hàng máu mủ, nhưng khi bà khuất núi, trên bàn thờ của gia đình tôi, cùng ảnh của cha mẹ ruột tôi, có bức ảnh của bà.

        Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, cha tôi là Hoàng Minh Đạo1 lúc đó là Trưởng phòng tình báo của Quân ủy hội (Bộ Tổng tham mưu ngày nay) nhận bà Nguyễn Thị Kíu, nhà ở 36 Lò Sũ làm chị, và ông Nguyễn Công Cầu là em bà Kíu làm anh. Bà Kíu và ông Cầu là chủ hai tiệm bánh kẹo Tùng Hiên, phố Hàng Đường (số 71, 79) rất nổi tiếng. Do tình cảm chị em kết nghĩa gia đình bà Kíu trở thành cơ sở đi lại, giúp đỡ tài chính, địa điểm liên lạc và gặp gỡ của cha tôi. Đầu năm 1948, mẹ tôi là Hoàng Minh Phụng, nhân viên phòng tình báo chết tại chiến khu Việt Bắc ở Đại Từ, Thái Nguyên lúc tôi mới hơn một tuổi.

        Cha tôi lại được Đại tướng Võ Nguyên Giáp cử biệt phái vào Nam Bộ củng cố ngành tình báo. Khi lên đường, cha tôi xét thấy tôi còn quá nhỏ đế lại chiến khu Đại Từ không tiện cho cơ quan, do đó, yêu cầu cô Nam (Nhân) là nhân viên phòng tình báo mang tôi về Hà Nội giao cho bà nuôi hộ. Sáu tháng sau, từ chiến khu Đại Từ theo đường giao liên, tôi về ở nhà bà vào khoảng giữa năm 1948. Từ đó tôi trở thành "con bà chủ". Tôi gọi bà là "mẹ Kíu" cùng sống với tôi còn có bốn đứa trẻ khác nữa: có Dũng con chú Hiệp (tình báo), Trang, Hùng (cha mẹ đều ở tình báo tên là Thìn (Hiền), Quảng (Minh Vân), Hải (con chú Lâm công an). Bà yêu thương năm đứa trẻ chúng tôi như con và chúng tôi cũng coi bà như mẹ đẻ của mình. Với ký ức tuổi thơ, tôi thấy nhà bà có nhiều người đến và đi, có khi ở lại một thời gian, sau này tôi mới biết có cả bác cả (tức ông Nguyễn Lương Bằng).

        Do một số điều kiện của lịch sử, tôi cũng bị nhiều người bắt qua, bắt lại song bà đều đi đến đòi tôi, mang tôi về chăm sóc theo tâm nguyện của cha tôi. Bà cho chúng tôi tình thương, cho ăn cho học, còn tôi thì học được ở bà nhiều điều cho tôi sau này như: tính chịu đựng, tự lực và không khuất phục, tôi học được ở bà một phần nào đó tính cách điều hành công việc kinh doanh. Trước năm 1954, thi thoảng bà đọc cho tôi nghe một đoạn thư của cha tôi (lá thư bằng giấy mỏng có khi màu hồng, trắng, xanh) mỗi lần đọc xong bà đều giấu đi và dặn tôi có ai hỏi con nhớ nói "cha lái xe taxi ở Sài Gòn". Suốt tuổi thơ, tôi chỉ khoe với các bạn hàng xóm cha lái xe taxi. Sau năm 1954, Hà Nội giải phóng, tôi và bà chờ cha tôi trở về nhưng không thấy. Bà lại đọc thư của cha tôi cho tôi nghe và lại dặn đi dặn lại, ai có hỏi con nhớ nói "cha con đi học Liên Xô", lúc này trong nhà có rất nhiều người đến và đi, tất cả đều là bộ đội. Má hai của tôi tên Hường tập kết ra Bắc, ở Tổng cục Chính trị, dẫn theo em trai tên Ngọc, theo thư cha tôi, tìm tôi, và tìm bà - chị em gặp nhau mừng mừng tủi tủi bao chuyện hàn huyên.

        Đến năm 1959, má Hường tôi lại cũng "đi học ở Liên Xô" về tiếp tục vào Nam hoạt động. Cuối năm 1964 bị địch bắt đầy ở Côn Đảo, cho đến năm 1973 được trao trả tù ở Bù Đốp, Lộc Ninh. Chú Hiệp, bố của Dũng trở về và đón Dũng về đơn vị. Ba của Hải, chú Lâm từ Côn Đảo về bà lại lo chữa bệnh và chỗ ở. Mẹ của Trang, Hùng tức cô Thìn (Hiền) từ nhà tù về bị bệnh điên, bà lo chữa chạy. Còn chú Vân (tác giả 3.000 câu thơ viết trong ngục Chín Hầm), một thời gian sau năm 1955, cũng lại lên đường "đi học Liên Xô" cho đến khi ra khỏi tù ngục Chín Hầm ở Huế.

        Chú ruột tôi tên Sơn, cô tôi tên Oanh (Hà) đều ở cơ quan tình báo, sau giải phóng 1954, cũng về nhà bà để hỏi tin cha tôi và tìm nhận cháu là tôi. Trong cầu chuyện tôi toàn nghe họ nói chuyện về cha cái Vân ở xa lắm. Liền sau đó, là cải tạo tư sản. Bà và cả bác Cầu bị quy là tư sản và bị tịch thu toàn bộ nhà xưởng, cửa hàng, nhà ở bị thu hẹp. Cuộc sống lúc đó rất khó khăn, bác Cầu bị đứt mạch máu não chết, có thế nói cuộc sống của bà đã thay đổi hẳn. Tôi nhớ lại, bà bị thất vọng, chán chường và khủng hoảng, căng thẳng, nhưng vẫn dặn tôi "nhớ nói cha con đi học Liên Xô". Thường những đêm đọc xong thư của cha tôi, bà ôm tôi vào lòng, thủ thỉ "chỉ khổ cho cha con nếu biết tin của mẹ là xót cho bà chị lắm..." hoặc "mẹ ao ước ngày gặp lại, ngày thông nhất đất nước để được minh oan..." rồi bà khóc một mình.

-------------------
        1. Đồng chí Hoàng Minh Đạo nguyên Trưởng phòng tình báo Quân ủy hội (1945), Trưởng ban quân báo Bộ tư lệnh Nam Bộ (1948-1955), Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định (1955-1969). Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:08:19 am

        Khoảng cuối năm 1963, dì Hai Hạnh của tôi có chuyển cho bà một lá thư của cha tôi trong đó có một đoạn tôi còn nhớ "... Em vẫn mần ăn khá, sức khỏe không tốt lắm, gan to, lách to, song vẫn theo kịp công chuyện chung. Chuyện riêng thì vợ em Hường bị nạn lớn chưa tìm ra địa điểm ở đâu, cháu Thu đã lâu lắm em không có biết tin, cháu Hồng đang ở với người quen tại Nam Vang... Em cảm ơn chị rất nhiều về chuyện cháu Vân. Chuyện của chị, em được nghe rồi...". Tôi thấy bà đọc đi, đọc lại mãi lá thư đó tôi đứng trước bàn thờ lầm rầm "rõ khổ Đạo ơi! Cha một nơi, bốn con ở bốn nơi, vợ một nơi... Sao lại không gửi hai cháu Hồng, Thu ra cho ở với chị...".

        Vào cuối năm 1964, má Hường tôi bị đày đi tù Côn Đảo, khi hay tin bà ngồi lặng yên, chỉ uống nước trà liên tục, sau đó nói với tôi có một câu "khổ cho cha mẹ con quá" rồi bà im lặng; từ đấy chiều nào bà cũng đứng trước bàn thờ Phật cúng lạy cho cha mẹ tôi. Những năm sau, tinh thần bà có sáng sủa hơn. Vì nhiều chú bác từ miền Nam ra miền Bắc chữa bệnh ở K5A, K5B đến thăm bà và đem theo thư của cha tôi, đặc biệt có một số người trước đây đã từng hoạt động tình báo ở Hà Nội như ông Mười Hương, ông Hùng Tàu... cũng đến thăm bà. Theo đường của tổ chức cha tôi thông qua ông Năm H và ông Bảy Dự (tức Nguyễn Võ Danh - nguyên Bí thư Thường trực thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh), đặc biệt là ông Bảy An (ở khu ủy Sài Gòn - Gia Định) bà đã được làm thủ tục hạ thành phần từ "tư sản" xuống tiểu thương. Chỉ tiếc rằng ngày bà được hạ thành phần thì bác Bảy An lên đường vào lại chiến trường Nam Bộ và trên đường đi bị bom B52 đánh rồi hy sinh. Khi báo tin, tôi nhớ mãi bà chỉ nói "Đạo ơi! Chị cảm ơn em" và bà đi cúng cho ông Bảy An ở chùa. Giữa năm 1970, tôi được dì Bảy Huệ cho hay tin cha tôi bị hy sinh mất xác tại Tây Ninh trên đường từ Khu ủy về họp Trung ương Cục miền Nam, còn má Hường vẫn ở ngoài Côn Đảo. Sau đó tôi xuống báo tin cho bà, bà la tôi "ăn nói dại mồm, dại miệng", khi tôi nói là dì Bảy Huệ (bà Ngô Thị Huệ vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh) báo tin thì mặt bà chuyển màu xanh lét, bà lặng đi và ôm tôi khóc rồi bà nói: "Không, mẹ không tin cha Đạo con chết". Kể cả cho đến sau giải phóng 1975, khi vào Thành phố Hồ Chí Minh, gặp má Hường và các em tôi Ngọc, Thu, Hồng,... Bà vẫn cứ nói riêng với tôi, bà hy vọng cha tôi bị thương nặng nằm ở đâu đó, và thế nào cũng có ngày trở về. Bà không còn sống được đến ngày tổ chức dự lễ cải táng cha tôi sau ba mươi năm ông hy sinh. Bà không được chứng kiến giây phút em nuôi bà (tức cha tôi), được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh.

        Nhân ngày 25 tháng 10 (tức ngày tình báo) tôi cầm bút viết lên những dòng này để tưởng nhớ tới vong linh hương hồn bà - Người với tất cả của cải và tấm lòng nhân hậu, trung kiên, nhẫn nại của mình đã nuôi tôi và nuôi con những người tình báo để họ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

M.V                                                           
Con gái Anh hùng Đào Phúc Lộc (tức Hoàng Minh Đạo, Năm Thu, Năm Đời)       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2020, 06:09:32 am

       
ĐẢNG VIÊN CHƯA LÀM LỄ KẾT NẠP

Lê Sĩ Hành       

        Trường tuyên giáo Trung ương II thành lập từ năm 1962 trên cơ sở hợp nhất ba trường: Tuyên huấn, Nguyễn Ái Quốc II và Đại học Nhân dân. Đối tượng chủ yếu của Trường là cán bộ trung cấp đang giữ cương vị lãnh đạo hoặc tham gia công tác tư tưởng của các cấp ủy Đảng. Thế nhưng, theo tinh thần các nghị quyết 11 và 12 của Trung ương Đảng xác định: "Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc" thì công tác chính trị tư tưởng đòi hỏi phải tăng cường để giáo dục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang đó, xây dựng ý chí quyết chiến quyết thắng và lòng tin "Có thể đánh bị bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ". Mặt khác, để chuẩn bị cho việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, Ban bí thư, Ban tuyên giáo và Ban thống nhất Trung ương chỉ thị cho Trường tuyên giáo Trung ương mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên huấn và báo chí cho cán bộ đi vào Nam công tác. Trong số 160 anh chị em được gọi về học có những đồng chí đã là cán bộ trung - cao cấp của Đảng, có những văn nghệ sĩ đã nổi tiếng như nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (lớp trưởng), nghệ sĩ tuồng Tư Bửu, nghệ sĩ biên đạo múa Thái Ly, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, v.v... Nhưng số anh chị em vào để thành lập các đoàn văn công giải phóng hoặc vào thì những lý do đặc biệt như vợ nhà văn Anh Đức... thì phần lớn chỉ là đoàn viên. Riêng số do quân đội gửi sang thì hầu hết là hạ sĩ quan và chiến sĩ, quá nửa chưa phải đảng viên. Chẳng những thế chúng tôi lại còn hoàn toàn mù tịt về nghiệp vụ. Song, chúng tôi luôn lấy câu "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua" để động viên nhau.

        Lớp báo chí gồm 75 người chính thức tách ra để học nghiệp vụ từ ngày 3 tháng 9 năm 1965 và kết thúc cùng ngày 10 tháng 3 năm 1966 với lớp tuyên huấn. Trước đó hai lớp đã học chung phần các nghị quyết Trung ương, đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân, đường lối Mặt trận và đối ngoại của Đảng...

        Về học tập thì hoàn toàn giống nhau. Những buổi học chính trị hoặc nghe các đồng chí lãnh đạo của Đảng và một số bí thư tỉnh ủy, thành ủy từ miền Nam ra nói chuyện thì cả hai lớp học chung ở hội trường lớn. Nhiều vấn đề chúng tôi chỉ được nghe mà không được ghi chép. Song rõ ràng có sự ưu tiên châm chước, nới lỏng nguyên tắc bí mật nên chúng tôi mới được biết cả những điều còn giấu kín về tiểu sử của một số vị trong Mặt trận dân tộc giải phóng, đang được cân nhắc sắp xếp vào Chính phủ Cách mạng lâm thời, như luật sư Nguyễn Hữu Thọ và các ông Huỳnh Tấn Phát, I-bít A-lê-ô...

        Có thể nói chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy một năm, vừa học vừa tập quân sự, rèn luyện đeo gạch hành quân, nhưng với khí thế "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt" của cán bộ và nhân viên nhà trường, chúng tôi đã được trang bị một "lưng vốn" kha khá và rất quý, cả chính trị lẫn nghiệp vụ.

        Tư tưởng - chính trị được xác định là yếu tố cơ bản, là điều kiện tiên quyết của những người làm công tác tuyên huấn và nhà báo, nên chúng tôi được học khá kỹ về Đảng, về đường lối chống Mỹ, cứu nước của Đảng và các vấn đề về mặt trận, nông dân và chiến tranh nhân dân... Trước khi học bài "Vấn đề nông dân" do đồng chí Huyền Nghĩa và bài "Nông dân Việt Nam và công nông liên minh" do đồng chí Trần Quang Huy giảng ngày 19 tháng 7 năm 1965, chúng tôi đã được nghe đồng chí Lê Duẩn nói về đặc điểm của nông dân miền Nam. Tôi nhớ mãi lời dặn của đồng chí Lê Duẩn đại ý: Dù là nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hay cán bộ gì cũng không được khách sáo và tự ái khi tiếp xúc với nông dân miền Nam. Đồng chí nói: Biết rõ tôi là Bí thư Trung ương Cục nhưng bà con vẫn xưng tao và gọi bằng mày... mày muốn ăn tao bảo má mày nấu cho ăn... mày nghỉ đi tao canh chừng (gác) cho!...

        Tuy không được phân công vào đoàn Nam Bộ, nhưng những lời khuyên nhủ đó vẫn có ích đối với chúng tôi. Nó làm cho tôi thấy gần gũi, thân thương và kính trọng khi tiếp xúc, nói hoặc viết về đồng bào. Cũng như, trước khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Vịnh và đồng chí Đào Duy Tùng giảng nghị quyết 12, chúng tôi đã được nghe đồng chí Tố Hữu nói chuyện về cuộc họp Trung ương để ra nghị quyết đó. Sau mỗi bài học lại thường được nghe các báo cáo ngoại khoá phụ trợ cho bài.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:39:19 am

        Cũng bởi với tinh thần: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt" mà lớp học của chúng tôi được coi như một đứa con cưng. Có một bài học không nằm trong chương trình kế hoạch đã chứng tỏ lớp chúng tôi được ưu tiên đặc biệt và chúng tôi - những đoàn viên thanh niên và quần chúng đã được coi là những "đảng viên chưa làm lễ kết nạp" như lời động viên khích lệ của một đồng chí giảng viên, đó là bài nói chuyện của đồng chí Nguyễn Đức Thuận. Lúc này, đồng chí Nguyễn Đức Thuận mới từ nhà tù của Mỹ - ngụy chiến thắng trở về, còn đang được nghỉ ngơi điều dưỡng. Chiến công của đồng chí khiến cho bất cứ cơ quan, lớp học nào cũng muốn được dù chỉ trong chốc lát, trông thấy dung nhan và nghe đồng chí nói một vài lời nhưng Trung ương "giữ rất kỹ". Riêng lớp báo chí thuộc ngoại lệ vì chúng tôi có một may mắn "độc nhất vô nhị", đó là chị Nhu - vợ đồng chí Thuận, đang học với chúng tôi. Nhiều lần tôi thấy bác Đỗ Xuân Mai - giáo viên chủ nhiệm lớp, vận động chị Nhu về mời anh đến nói chuyện cho Trường. Và thế là, được sự đồng ý của Trung ương, ngày 22 tháng 12 năm 1965, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đã đến nói chuyện cho hai lớp chúng tôi suốt hai ngày; sau đó Trường tổ chức cho anh em thảo luận và liên hệ trong khoảng một tuần về nhân sinh quan của người cộng sản.

        Có người cho rằng: chính trị là những bài học khô khan, đau đầu và mau chán, nhưng với chúng tôi lúc đó thì những bài chính trị là một món ăn bổ dưỡng, là bảo bối cầm tay, như chất rượu nồng đặc biệt say sưa và hấp dẫn. Chẳng hiểu các thầy và các đồng chí trong Phòng tổ chức nhà trường giới thiệu nhũng gì với các địa phương mà khi chúng tôi đi thực tế xuống cơ sở, dù là đoàn viên vẫn được mời dự họp với các đảng bộ hoặc cấp ủy ở địa phương. Đến đâu chúng tôi cũng được mời nói chuyện hoặc "cho ý kiến". Thực ra ngoài cái vốn chính trị - mà có những điều chỉ phổ biến cho từ Bí thư Tỉnh ủy trở lên - chúng tôi còn được cung cấp rất kịp thời những vấn đề thời sự trong và ngoài nước. Và, trước lúc đi đã được nhà trường "bật đèn xanh" cho phép nói một số điều báo chí không phổ biến, nên thường được nghe những câu trầm trồ thán phục: Nhà báo trên Trung ương, cái gì cũng biết (!). Tuy đó là câu nói quá nhưng cũng có một phần sự thật. Châm ngôn cổ có câu: "Người quân tử ba ngày không đọc sách, trông vào gương thấy mình xấu xí, nói ra những lời nhạt nhẽo chẳng ai muốn nghe". Trong những ngày đầu cả nước chiến tranh thì vấn đề thời sự được mọi người hết sức quan tâm. Có lúc, có người còn khát khao hơn cả cơm ăn, nước uống. Đôi với chúng tôi, có hai người thường xuyên nói chuyện thời sự, cung cấp được nhiều tin sốt dẻo, và để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, là đồng chí Hoàng Tuấn và đồng chí Nguyễn Minh Vỹ. Với đầu óc còn rất "ngây thơ về chính trị" của tôi lúc đó, tôi cứ cảm giác như Trung ương không giấu chúng tôi một điểu gì. Từ việc đấu trí của các đoàn ngoại giao ta ở các hội nghị quốc tế đến việc xử trí linh hoạt, tài tình của Bác Hồ trước các đoàn khách nước ngoài và các nhà báo nước ngoài đến xin gặp Bác. Từ tình hình vùng giải phóng của ta đến sự bố trí binh lực địch. Thực sự, nhà trường muốn cho chúng tôi "biết địch biết ta" để tuyên truyền khỏi trật, nên chúng tôi được cung cấp cả tên các tướng lĩnh chỉ huy, tổng số quân và tên các sư đoàn, trung đoàn đóng ở mỗi vùng chiến thuật.

        Thế là sự mặc cảm, tự ti mình là đoàn viên thanh niên được học ở trường Đảng của chúng tôi dần tan biến hết. Vì vậy, cái khái niệm "Đảng viên chưa làm lễ kết nạp" dần trở thành tiềm thức trong tôi và chúng tôi đều rèn luyện và phấn đấu hết mình. Đoàn quân đội chúng tôi được miễn tập quân sự và luyện tập hành quân. Kế hoạch của trường là ban ngày học tập và nghỉ ngơi, tối mới tập hành quân mang gạch. Nhưng chúng tôi, dưới sự cầm đầu của nhà báo Lê Ái Mỹ, hễ có thời gian rỗi là lại tự giác xếp thành hàng tập chạy, hoặc đeo gạch đi quanh trường. Lúc đầu, chúng tôi vừa chạy, vừa hô, vừa hò hát, cốt để mấy cô văn công chú ý. Đầu têu chuyện này là anh Lê Ái Mỹ. Anh là đảng viên, phóng viên báo Lao Động, đã được cấp thẻ Nhà báo. Anh hơn chúng tôi khoảng ba, bốn tuổi, có vợ là chị Đinh Thị Kim Thư, Việt kiều Thái Lan về nước. Chị Thư đã ba lần được gặp Bác Hồ. Sau nghe đâu chị làm giám đốc xí nghiệp làm hàng xuất khẩu nổi tiếng ở Hà Nội. Chị chết vì bị bệnh ung thư, khi anh và chúng tôi đang ở chiến trường. Anh thường tâm sự: Anh rất tiếc là chưa để lại cho chị được một đứa con. Sau tổng công kích tết Mậu Thân, anh có gửi thư cho chúng tôi, phàn nàn báo Khu 5 đang thiếu người. Nhưng sau đó, anh cũng bỏ làng báo mà đi, để trở thành liệt sĩ Đinh Thành Lê và để lại cho tôi lòng tiếc thương khôn xiết về một người anh, người bạn đồng nghiệp mẫu mực, hiền lành, đặc biệt là vui tính.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:39:55 am

        Bao giờ cũng vậy, Lê Ái Mỹ thường chạy hàng đầu. Chạy dăm vòng thấm mệt, anh lại dẫn chúng tôi đi bộ, vừa đi anh vừa đánh trông bằng mồm, có lúc hứng chí lại bụm tay lên miệng làm loa, hét theo điệu kèn đồng, cho chúng tôi hát bài "Hành quân xa" của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, về sau bị phê bình là làm ồn ào dễ lộ bí mật, nên chúng tôi chỉ âm thầm mà chạy: lúc qua cửa phòng của nữ văn công thì cố mà giậm chân thật đều, thật mạnh, xem các cô có ngó ra không. Tôi đã từng có thòi gian được cử về tổ chức học văn hóa cho Đoàn văn công Quân khu 3, nhưng vẫn không tìm được cách tiếp cận những "hạt giống đỏ" của Đoàn văn công giải phóng. Chúng tôi đã "sắt thép", không ngờ các cô còn "sắt thép" hơn. Nói vậy chứ lúc này anh chị nào chỉ hơi "léng phéng" hay "ướt át" một tý là đi đứt ngay cái "thòi cơ ngàn năm có một", nên ai cũng sợ. Có lần vào giữa trưa, một anh trong Đoàn quân đội chúng tôi, giặt áo bên cạnh một nữ diễn viên, không ngờ sinh chuyện. Số là, nhà tắm lúc này hoàn toàn vắng vẻ, chỉ có hai người bỗng cái giọng thanh thanh, nho nhỏ của cô lọt đến tai anh, và cũng chỉ vừa đủ để anh nghe được:

        - Yên tâm vững bước mà đi, hỡi người em yêu!

        Thế là anh vứt luôn quần áo lại đó, chạy về khoe với chúng tôi:

        - Yêu rồi, nó yêu tao rồi! Thật đấy! Nó đang giặt ngoài đó, không tin chúng mày ra mà xem!

        Câu chuyện đến hồi kết thúc thì ra chỉ là cô đang ôn lại bài hát "Ba đảm đang" các cô vừa tập, vô tình làm anh bị một phen kiểm điểm ra trò!

        Việc hành quân đeo gạch chỉ được thực hiện vào ban đêm. Mặc dù nhà trường luôn luôn nhắc nhở: cả đoạn đường hành quận và tập nặng đều phải tăng từ từ, nhưng chỉ vài ba đêm, chúng tôi lại có kỷ lục mới. Trong hành quân mang nặng, cánh bộ đội chúng tôi, với tinh thần "nhận khó khăn về mình" thường tự nguyện đi sau. Hành quân mà đi sau là cực nhất. Đoàn càng đông, đường càng khó, người đi sau càng cực. Có khi người đi đầu đến địa điểm, ngủ được một giấc, người đi cuối mới đến nơi. Ở đây chúng tôi chỉ hành quân theo các bờ mương, bờ ruộng và độ dài chỉ khoảng sáu, bảy kilômét nên sự chênh lệch không đáng là bao. Tuy vậy, chúng tôi vẫn đi sau, vì còn phải thu dung mấy chị. Giá cứ có sức khỏe như chị Tú - Thông tấn xã Việt Nam, chị Mai - cán bộ miền Nam thì chẳng phải lo. Đằng này chị Nhu, vóc dáng tiểu thư, tuy đã có con gần bằng tuổi chúng tôi nhưng trông chị chỉ nhỏ nhắn như một cô thiếu nữ. Chị vào diện được miễn hành quân mang gạch, nhưng chị cố thuyết phục chúng tôi - những chú em bộ đội thân yêu của chị, giúp đỡ chị hành quân. Những ngày đầu, chúng tôi kèm cho chị đi theo đoàn. Gặp những rãnh nước, chúng tôi kéo chị vượt qua; đoạn nào khó đi, chúng tôi đứng lại chờ chị. Vậy mà về đến nhà chị vẫn tỏ ra mệt mỏi gấp mấy chúng tôi. Tưởng một vài lần đau bại đôi chân, chị sẽ nhụt chí, không đòi theo nữa. Nào ngờ từ chỗ đi một đêm nghỉ một đêm, chị tiến đến đòi đi liên tục.

        Sự tiến bộ trong hành quân vác nặng thấy rất rõ qua tình hình khối gạch của nhà trường ngày một vơi đi và nhũng chiếc ba lô căng phồng thêm mãi. Thấy anh em đã mang tói gần hai mươi viên gạch, chị Nhu cũng đòi mang. Chúng tôi sắm cho chị một chiếc ba lô bộ đội miền Bắc - kiểu ba lô đơn giản, chỉ là một mảnh vải có những dải buộc xung quanh, không may thành túi như ba lô con cóc - rồi lấy giấy và lá chuôi khô gói vào buộc lại cho chị mang. Thấy mềm và nhẹ, chị phát hiện ra, nên không chịu. Chúng tôi đành xếp một lượt bốn viên gạch và hướng dẫn chị mang. Hôm đó chị đi rất khí thế. Nào ngờ khi về chị bị tróc da vai và lưng, làm chúng tôi ân hận mãi.

        Mỗi buổi hành quân mang gạch về đều được bồi dưỡng cháo gà. Tiêu chuẩn mỗi người một con, nhưng phần lớn ăn không hết. Cháo thì để cả nồi to giữa nhà, ai ăn bao nhiêu cứ tự do lại múc. Tuy ngày ăn ba bữa theo tiêu chuẩn đặc táo đi B, quá trình đồng hóa đã quá bão hòa, nhưng hành quân gần đến nửa đêm mới về, ngửi thấy mùi cháo gà thơm phức, nhìn nồi cháo nóng nghi ngút bốc hơi, đặc biệt là trước thái độ niềm nở, đon đả, cố động viên, nài ép, chào mời của các chị, các bác cấp dưỡng trường Tuyên giáo Trung ương thì không ai có thể chối từ. Không đói cũng phải ăn. Riêng số bộ đội chúng tôi thì tắm rửa vội vàng rồi chui vào màn giả ngủ hoặc rủ nhau đi trốn. Thường thì chúng tôi chỉ trốn được các anh, bởi vì bảo mãi chẳng ăn, các anh cũng phải về ăn để còn đi ngủ. Nhưng các chị, đặc biệt là chị Nhu và chị Minh, biết chúng tôi rất muốn ăn nhưng vì tiêu chuẩn quân đội không cấp cho ăn bằng tiêu chuẩn do Ban thống nhất Trung ương cấp, nên chúng tôi chỉ được ăn bình thường, khá hơn ở đơn vị một chút, không có tiêu chuẩn hành quân về bồi dưỡng cháo gà.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:40:15 am

        Đằng nào thì thừa cũng đổ đi, tội gì các em chịu đói; mà các em ăn cũng là vì chiến trường. Cứ xem các chị như "hậu phương tiếp tế cho tiền tuyến", "Ưu tiên lực lượng vũ trang"... Chị cứ ngồi đây, bao giờ các em chịu đi ăn, chị mới về ăn phần của chị!

        Không chỉ những buổi đêm đi tập về, mà cả những bữa ăn chính thức, trước khi ăn, các chị bàn nhau chuyển phần lớn thức ăn ở mâm của các chị cho chúng tôi, và cuối bữa, các chị thường đi đến các mâm, thấy gì còn nhiều lại kêu gọi các anh "chi viện cho bộ đội".

        Rèn luyện hành quân mang nặng kể cũng vất vả, nhưng chưa khó khăn bằng việc học tập nhà báo Bớc Sét bỏ thuốc lá để vào chiến trường. Tấm gương nhà báo người Úc đó cổ vũ chúng tôi rất nhiều, đã không phải chỉ một lần, ông đến nài nỉ Bác, xin được vào miền Nam Việt Nam tham gia chiến đấu như một chiến sĩ quân giải phóng và viết báo. Bác bảo, chiến trường ác liệt, khó khăn, không cung cấp được thuốc lá cho ông hút. Thế là ông bỏ hút thuốc. Tôi cũng tập bỏ thuốc theo ông. Song vốn sinh ra ở vùng quê Thanh Hóa, từ nhỏ đã quen rít thuốc lào, nên thuốc lá mỗi ngày tôi đốt hết một bao Trường Sơn hoặc Bông Lúa. Vì vậy, tôi đã từng dùng nhiều cách như ngậm kẹo, hút toàn thuốc Thăng Long đắt tiền để không có tiền mua, buộc phải chừa. Nhưng không chừa được! Thế mới biết, nếu chưa thật sự có bản lĩnh thì không dễ dàng từ bỏ được một thói quen. Phải nói để bạn đọc rõ thêm là thời đó hàng hoá rất khan hiếm. Chỉ những dịp lễ tết mới được phân phối mua bao thuốc và gói kẹo. Nhưng căng tin dành cho chúng tôi thì có đủ mọi thứ: Kẹo Hải Châu, thuốc lá từ Tam Đảo, Điện Biên bao thường và bao bạc, đến cả thuốc lá Thăng Long là loại chỉ dành riêng cho cán bộ cao cấp và xuất khẩu. Đã có chuyện giải thưởng văn nghệ là một chiếc bút máy Trường Sơn, có người đi từ Quảng Bình ra Hà Nội để nhận cây bút Trường Sơn mang về. Nhưng chúng tôi thì bút máy Hồng Hà nam và nữ muốn mua bao nhiêu cũng được. Về rèn luyện và giữ gìn sức khoẻ, có câu chuyện vui là vị bác sĩ phụ trách sức khoẻ của Trường khuyên chúng tôi:

        - Trường có xe riêng dành cho các đồng chí, ai cần gì ra phố, bảo xe chở đi. Thời cơ ngàn năm có một, các đồng chí phải hết sức giữ gìn sức khỏe đi bộ ra phố, chẳng may giẫm phải vỏ chuối trượt ngã trẹo chân, thế là phải ở lại!...

        Sau này hành quân, chúng tôi cứ trêu nhau:

        - Khéo giẫm phải vỏ chuối.

        Việc tập hành quân mang nặng là sự trang bị rất cần thiết để đủ sức vượt Trường Sơn tới chiến trường. Nhưng vẫn có người xem nhẹ, vì chủ quan tin vào sức khỏe. Đến tiết mục tập bắn súng và xử trí các tình huống trong chiến đấu mới thật sự thu hút và hấp dẫn mọi người. Chúng tôi được mời làm trợ giáo. Đôi với các anh, các chú tập tiết mục nằm ngắm bắn, chúng tôi sẵn sàng nằm xuống bên cạnh để làm mẫu; thậm chí với những người tư thế nằm không thoải mái, góc ngắm không chuẩn, chúng tôi còn bê ngang bụng đặt lại vị trí cho phù hợp. Anh em rất thích. Nhưng với các cô thì chúng tôi tránh rất xa. Chẳng ngờ, lúc kiểm tra bắn đạn thật, các cô lại bắn giỏi hơn nam giới. Chị Tú, Thông tấn xã Việt Nam bắn đạt ưu tú, ba viên đều trúng vòng mười. Ngày đồng chí Tố Hữu đến thăm, hỏi kết quả học quân sự, Trường báo cáo và nêu gương chị Tú. Đồng chí Tố Hữu chỉ hờ hững khen và còn nói: Bắn giỏi là tốt, nhưng nếu bắn chưa giỏi, một phát nó không chết thì ta bắn tiếp nó cũng phải chết; cốt là ở tinh thần. Như tôi (Tố Hữu) chưa hể bắn phát súng nào, nhưng không phải là không chiến đấu.

        Chúng tôi cũng xác định được vũ khí chủ yếu của chúng tôi là cây bút, chiếc máy ảnh; của các đồng chí văn công là nghệ thuật múa, hát... nên khi chuyển qua phần nghiệp vụ việc học cũng rất say sưa. Đồng chí Hoàng Tuấn - Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam - đến giảng trực tiếp môn tin tức. Trước khi giảng về lý thuyết, đồng chí đều dành khoảng 15 phút để thực hành bằng cách nhận xét, đánh giá, phát hiện sai sót, thử biên tập lại những bản tin vắn, tin tường thuật, tin tổng hợp, tin bình,... về thời sự trong nước và ngoài nước. Đó là cách dạy linh hoạt, nhẹ nhàng mà thấm sâu, kết hợp nhuần nhuyễn cả lý thuyết và thực hành nghe không hề biết chán.

        Nhưng đây là kết luận theo tâm thái mới vào nghề lúc bấy giờ của chúng tôi. Không hiểu các thầy dạy viết tin khác thế nào và sau này khi học lên chương trình đại học báo chí tôi vẫn học viết tin, mà cả nhận thức lẫn thực hành đương nhiên hơn hẳn lần học trước. Thế nhưng cái giỏi của thầy Hoàng Tuấn là đã chinh phục được chúng tôi, đưa nhận thức của chúng tôi vào đúng luồng, để các thầy nhào nặn thành nhà báo.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:40:40 am

        Như đã nói, chúng tôi toàn là những giáo viên văn sử đã viết hoặc thích viết cho các báo. Tôi còn nhớ bài đầu tiên tôi gửi cho báo Tiền phong của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là lúc tôi được giữ chức bí thư chi đoàn và được đưa vào diện cảm tình của Đảng năm 1961. Bài báo có nhan đề: "Chiếc huy hiệu Đoàn" đại ý ca ngợi chiếc huy hiệu Đoàn; đem so sánh chiếc huy hiệu Đoàn trên ngực đoàn viên với ngôi sao trên mũ người chiến sĩ - đã làm cho con người trở nên chững chạc, luôn ý thức đến vai trò vị trí của mình - lúc này tôi cũng vừa nhập ngũ; phê phán tình trạng nhiều đoàn viên không thích đeo huy hiệu. Bài báo càng trở nên hấp dẫn khi tôi "phịa" ra chuyện cô bạn gái đánh mất chiếc huy hiệu Đoàn, lo lắng, khóc sướt mướt và tôi đã phải ra công chế tác suốt mấy ngày: nào từ kiếm mảnh nhôm, đi mua cái dũa, đến việc tìm sơn... làm ra chiếc huy hiệu Đoàn giả giống in như thật để tặng người bạn gái.

        Thật thích thú khi tôi nhận được bức thư trao đổi viết tay của chị Lê Thị Túy, thay mặt tòa soạn báo Tiền phong gửi về. Lá thư chỉ trong một trang giấy nhỏ, đại ý:

        "Chúng tôi đã nhận được bài "Chiếc huy hiệu Đoàn" của bạn và bài báo đã làm cho chúng tôi tranh luận mãi. Không hiểu đây là bài báo hay truyện ngắn vì không thấy bạn nói rõ chi đoàn các bạn thuộc xã, huyện, tỉnh nào; ý kiến của Ban chấp hành đối với việc này ra sao...".

        Chị Túy đặt ra một loạt câu hỏi và bảo tôi viết gấp thư trả lời cho chị để có thể kịp đăng vào số tới, nhưng tôi "phịa" ra thì làm sao trả lời chị được nên đánh bài lờ! Sau này tôi còn bị một trường hợp nữa như vậy (cũng có thư tòa soạn gửi về và cũng đánh bài lờ) là bài: "Hai trường hợp sử dụng súng ngắn cần phê phán" gửi cho báo Quân đội. Tôi cũng "phịa" ra chuyện một sĩ quan về phép đem súng ngắn ra khoe, cho bạn bè bắn thử - lãng phí đạn! Và một sĩ quan gói súng nhét vào ba lô lúc giở ra hoen rỉ - không bảo quản. Đây là những bài học sơ khai làm cho tôi nhớ mãi.

        Thực tình lúc đó tôi chưa phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa báo và văn và sính đọc cũng như sính viết những bài báo có tính văn học như tùy bút, bút ký, phóng sự hay mẩu chuyện,... Khi nghe đồng chí Hoàng Tuấn nói: "Tin là thể tài cơ bản, chủ yếu của báo chí" thì tôi hơi thất vọng. Bởi lẽ tin thường là những bài ngắn, rất ngắn, có khi chỉ là một mẩu như chiếc bao diêm in lên báo thì ra mùi mẽ gì. Hay đúng như chú em họ của tôi đã nói:

        - Họ chỉ đào tạo anh thành thông tin viên thôi; chứ phóng viên tức là nhà báo, mà nhà báo thì họ ta không có đất; anh xem cả huyện mình có được nhà báo nào đâu!

        Nhưng khi học vào nghệ thuật "năm vê đúp" và "sức mạnh của tin thông tấn" với dẫn chứng tin "Người thanh niên bất khuất Nguyễn Văn Trỗi đã bị kẻ thù sát hại" do Thông tấn xã Việt Nam phát ngày 15 tháng 10 năm 1964, và chín phút hiên ngang trước pháp trường của anh mà các hãng tin AFP, AP, UPI không thể bịt được khí phách anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm cho nhân dân cả nước sôi sục lòng căm thù, kẻ thù phải kiêng nể. Cuối cùng chính tôi đã rút ra kết luận: Tin không đơn giản. Chức năng chủ yếu của báo chí là thông tin và tin có tác dụng hướng dẫn dư luận kịp thời, đáp ứng đúng nhu cầu bạn đọc vì tôi đã bị những tin thường, tin vắn (chưa kể đến tin tổng hợp hay bình luận) của thầy hấp dẫn đến mê hồn. Sau này khi đi theo "Đoàn Quân sự bốn bên" ở Đức Cơ, Gia Lai để đưa tin trao trả tù binh khu vực Đức Nghiệp tôi lại càng nhớ ơn thầy Hoàng Tuấn vì Tổng xã luôn điện vào thúc tôi phải đưa tin nhanh hơn hoặc bằng các hãng thông tấn phương Tây. Theo mô tip "năm vê đúp" học được, tôi soạn sẵn một cái sườn và sau đó chỉ việc điền thêm những từ thiết yếu vào chỗ trống cho bộ phận minh ngữ của Thông tấn xã đi theo đánh ngay ra Hà Nội.

        Qua phần tin, chương trình nhà trường chuyển tiếp sang phần học viết phóng sự. Học xong phần lý luận chung về viết phóng sự, liên tiếp trong hai ngày 3 và 4 tháng 11 năm 1965, chúng tôi được nghe nhà báo Xuân Thu và Chính Yên nói về "Kinh nghiệm viết phóng sự". Tiếp đó, ngày 6 tháng 11 năm 1965 lại được nghe đồng chí Bùi Hạnh Cẩn - Hội nhà báo Việt Nam - nói chuyện về cuộc thi tin và phóng sự.

        Theo "kinh nghiệm viết phóng sự" của nhà báo Xuân Thu thì: Phóng sự là đường lối chính sách kết hợp với thực tế có sự nhận định chủ quan của tác giả; Phóng sự ghi lại diễn biến của sự việc, có giá trị lịch sử. Vì vậy không thể ngồi một chỗ nghĩ ra bài phóng sự!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:41:03 am

        Phóng viên viết phóng sự thường phải độc lập, đi xa, cơ động linh hoạt: nay viết cái này, mai viết cái khác; nay ở nơi này, mai ở nơi khác; như con dao pha, viết về lĩnh vực nào cũng được. Muốn vậy cần phải có đủ năm vấn đế cốt tử:

        1- Vốn chính trị.

        2- Vốn sống thực tế.

        3- Sự say mê, yêu nghề, có nhiệt tình cách mạng.

        4- Phải có tính ranh hóm, nhạy thính, tháo vát, mưu mẹo. Phần này được đồng chí giải thích: Có nhiều nơi rất khó vào (bí mật thời chiến - tg); phải bám lấy những cơ hội tốt, tranh thủ mọi điều kiện, tự tạo ra thời cơ, lăn xả vào để lấy tài liệu. Đồng chí còn phê phán: Phóng viên mà hiền lành, chậm chạp, ít mánh khoé thì làm phóng sự kém kết quả. Nhất là phóng sự điểu tra. Đây đúng vào nhược điểm của tôi.

        5- Phải quần chúng hoá.

        Năm bài học kinh nghiệm này vẫn còn đúng cho đến tận ngày nay và chắc sẽ còn đúng mãi!

        Quá trình làm một bài phóng sự được nhà báo Xuân Thu chia ra làm ba phần. Hai phần đầu đồng chí coi là phần: "tạo bột" để phần ba: "gột nên hồ".

        Đi đến đâu và viết cái gì, ý định đó phải có trước khi thâm nhập thực tế tìm đối tượng đế "moi" tài liệu: Thường thì phóng viên được Ban biên tập gợi ý, giao nhiệm vụ, nhưng những bài viết theo kế hoạch, có "đơn đặt hàng" trước như vậy ít khi hay, mà phải do phóng viên động não tự tìm ra hoặc tình cờ bắt gặp, phát hiện ra vấn đề mới dễ thành công lớn trong bài viết.

        Dẫu là vấn đề được giao hay tự mình lựa chọn thì trước khi tiếp xúc khai thác tài liệu phóng viên cũng đều phải tìm hiểu và tưởng tượng sâu rộng về đối tượng mình sẽ gặp. Đồng chí trích lời Bô-rít Pô-lê-vôi: "Chỉ khi nào người viết có thể tưởng tượng được trước đối tượng định viết thì khi gặp lấy tài liệu mới phong phú!".

        Khi thâm nhập cơ sở lấy tài liệu, đồng chí khuyên nên gây cảm tình với quần chúng, gây cảm xúc cho mình đã, chớ vội vừa đến đã "bập vào" lấy tài liệu ngay.

        Khi tiến hành khai thác tài liệu thì: nên chọn nơi tập trung đông người như kho, chợ... nên tìm những đối tượng biết nhiều chuyện như phụ nữ, cụ già...

        Trong khi lấy tài liệu phải chú ý khai thác các tình tiết. Bản thân sự việc đã có nhiều tình tiết hay. Đừng chỉ nhìn một mặt, mà phải nhìn vào nhiều khía cạnh; có những tình tiết rất hay, liên quan đến vấn đề mình định viết nếu biết lật đi lật lại để hỏi. Kinh nghiệm này được tôi coi như nguyên tắc khai thác tài liệu khi viết về những tấm gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở chiến trường.

        Đương nhiên tình tiết càng hay, càng độc đáo thì sức hấp dẫn càng mạnh và bài báo càng được nhiều bạn đọc quan tâm. Nhà báo Xuân Thu phân tích khá kỹ mới liên quan giữa tài liệu và chất lượng bài, nhưng sâu sắc nhất đối với tôi là phần phân tích câu của Bô-rít Pô-lê-vôi: "Người viết chỉ khi nào đem tài năng của mình lăn lộn, đi sâu vào thực tế, chịu khó, chịu khổ mới có tác phẩm tốt", cần phân biệt giữa phóng sự với văn nghệ. Tựu trung sự khác nhau cơ bản là: "Phóng sự có địa chỉ trong cuộc sống". Đồng chí còn dặn: "Viết về ai thì nên tìm biếu họ một tờ, chớ dại nghĩ rằng: Viết những người ở xa báo không đến được, nên cứ việc tự do thêm thắt".

        Về tật này Bô-rít Pô-lê-vôi có kể cho các nhà báo trẻ một bài học mà ông vấp phải sau hai mươi lăm năm làm báo của ông là đã tự gán cho nhân vật hói không có một sợi tóc một tình tiết: "dù vội đến đâu, trước lúc đi làm, ông đều soi gương chải đầu tóc thật cẩn thận". Khi viết về tình tiết ấy ông đã không lường đến tình huống vì hói mà nhân vật chính trong bài viết thường đội mũ. Và tác giả chỉ nhận ra bài học đau xót của mình khi bác công nhân già - nhân vật chính ấy - cho biết: "Sau khi đọc xong bài báo, bọn công nhân trẻ cứ chạy bám theo tôi yêu cầu chải đầu cho chúng xem". Thực là một bài học cười ra nước mắt. Đó cung chính là bài học với tôi trên cả chặng đường làm báo sau này.

        Báo chí không phải là văn nghệ, song chính đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói:

        - Người làm văn nghệ không cần biết làm báo, nhưng người làm báo phải biết làm văn nghệ.

        Phải biết vận dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng, diễn đạt thật hùng hồn, hấp dẫn. Phấn đấu dùng chữ giỏi như các nhà báo phương Tây. Họ viết: "Việt cộng đã đưa chiến tranh du kích đến tận giường nằm cố vấn Mỹ", "chiến tranh lạnh", "chiến tranh bẩn thỉu"... Đồng chí Phạm Văn Đồng nói:

        - Chỉ riêng chữ "chiến tranh bẩn thỉu" ta cũng đã phải cảm ơn các đồng chí Pháp rồi! Chúng ta còn dùng nhiều chữ mòn, sáo lắm!


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2020, 05:41:39 am

        Một trong những người viết phóng sự hồi đó là nhà báo Chính Yên. Ông kể cho chúng tôi kinh nghiệm và công sức viết bài: "Thử thách lớn cuốỉ năm" vừa được giải Hội nhà báo. Đây là đề tài ông đã quen từ trước, bản thân sự việc nổi, hấp dẫn mạnh, nên ngay từ khi có ý định, ông đã có lòng tin và quyết tâm viết thành công. Ông cũng nói một câu đúng như phần lý luận chúng tôi vừa học:

        - Phải tìm hiểu sâu rộng về đối tượng để tăng thêm lòng yêu mến đối tượng, đặng giữ vững và tăng thêm cảm xúc của mình.

        Ông nói:

        - Trước khi đi lấy tài liệu, bao giờ tôi cũng đọc những tài liệu viết để gõ ra những điểm cụ thể, đỡ phải hỏi từ A, B, c dễ lạc hướng và làm mất thì giờ.

        Õng nhấn mạnh:

        - Đọc trước như vậy là đã tự gợi ý cho mình những nét cụ thể để đi lấy tài liệu cho dễ dàng và tập trung. Trước khi lấy tài liệu đã đặt chủ đề. Chủ đề đó được tiếp tục suy nghĩ, chi tiết hóa dần dần và ngày càng sáng rõ trong quá trình lấy tài liệu.

        Về mới quan hệ giữa các nguồn tài liệu: ghi, nghe và quan sát được, ông nói:

        - Khi mới vào nghề thường chú trọng phần quan sát, lấy suy nghĩ chủ quan của mình thay thế cho khách quan - phần nhiều đều có ý nghĩ: Mình viết phóng sự rất hay - nhưng thực tế những "phát kiến" chủ quan của mình đều là những cái người ta đã nói từ lâu, đã biết cả rồi. về sau nhìn lại mới thấy sai lầm, lại chuyển sang khuynh hướng "lạnh lùng" quan sát, để sự việc tự nói lên.

        Ông khuyên:

        - Khi quan sát phải lồng luôn sự suy nghĩ của mình vào. Như vậy khi viết giữa khách quan và chủ quan mới hòa quện vào nhau, không khô khan mà cũng không sống sượng. Phải khổ công quan sát. Chợt nghĩ một ý gì hay phải tiếp tục quan sát xem nó diễn biến cụ thể như nào. Ngay khi quan sát đã hình thành ngôn ngữ; những chữ đắt nhất đều hình thành trong quan sát. Phải quan sát rộng để tìm ra cái hay, cái mới; nhưng kinh nghiệm cho hay: phải đọc nhiều, đọc rộng, khi quan sát mới tìm ra nét mới.

        Như một người anh hết sức chân thành, nhà báo Chính Yên trao cho chúng tôi "thuật hỏi" của ông:

        - Phải chuẩn bị những câu hỏi cụ thể và chuẩn bị kỹ cho người được hỏi để họ khỏi lo, khỏi ngượng, làm sao để có thể tạo được cho họ thái độ bình tĩnh, cùng nhập cuộc với mình trong câu chuyện, đối thoại một cách thoải mái, thân tình,... về phần mình cũng phải chuẩn bị tư tưởng: có khi người ta giấu thành tích, thậm chí có trường hợp họ khinh thường mình, vẫn phải bám lấy để hỏi. Gặp trường hợp có những người "lớn" hơn mình đến hỏi rồi mình vẫn hỏi lại, vì mình có cách viết riêng của mình.

        Khi hỏi thì câu hỏi cần phải đặt theo "sợi chỉ đỏ", nhưng khi người ta trả lời làm lộ ra những ý hay mới thì phải bám lấy nó hỏi cho đến cùng. Có những người nói nghe rất chán, nhưng vẫn có lúc bật ra một ý làm sáng tất cả vấn đề nên vẫn phải chú ý lắng nghe.

        Tóm lại, việc lấy tài liệu bao giờ cũng phải đạt đến cụ thể nhất và chính xác nhất.

        Điều thích thú và thiết thực bổ ích nhất đối với tôi qua bài: "Nói chuyện về cuộc thi tin và phóng sự" của nhà báo Bùi Hạnh Cẩn là phần so sánh giữa tin và phóng sự. Đồng chí nói:

        - Phải có phương hướng định sẵn trước khi viết: Tin ra tin, phóng sự ra phóng sự.

        Rồi đồng chí giải thích:

        - Sự kiện là trung tâm của tin; Nhân vật là trung tâm của phóng sự. Mỗi một việc nên viết một tin, một tin không nên ôm đồm nhiều việc - vì làm như thế nó loãng tin ra. Phóng sự có thể bao gồm nhiều việc trong nhiều thời gian khác nhau. Phóng sự có thể đưa "cái tôi" vào, nếu thấy cần thiết; còn tin tuyệt đối không được đưa vào. Cả phóng sự và tin đều phải có địa chỉ trong cuộc sống, có lý lịch rành mạch, thậm chí lý lịch có khi phải "kể đến ba đời". Dù tin hay phóng sự đều phải có tính điển hình, cũng như tìm đỉnh cao nhất để cắm lá cờ lên đó cho người bốn phương đều trông thấy, nếu không, cắm vào gò đất thấp cờ vẫn bay, nhưng ít người để ý đến. Dù một cái tin ngắn hay một phóng sự dài đều phải có tác dụng chỉ đạo về mặt tư tưởng thì mới có tác dụng.

        Về nghệ thuật phải làm sao cho độc giả phấn chấn, vui mừng với cái tốt; căm hờn, uất hận với cái xấu, cái tiêu cực, sục sôi hành động khi đọc vào bài của mình.

        Cuối cùng đồng chí còn căn dặn:

        - Phóng sự phải chú trọng đến nguyên nhân, quá trình... để cho người đọc noi theo, bắt chước làm như thế và làm hơn thế. Phải có trách nhiệm với bạn đọc, đừng đưa cho bạn đọc "ăn bát cơm thiu". Nhà báo phải góp phần làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng phong phú và trong sáng.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:34:23 am

        Hai thể tài chủ yếu của báo chí là tin và phóng sự vừa xong, chúng tôi chuẩn bị đi thực tập. Ngày 15 tháng 11 năm 1965, đồng chí Bùi Hồng Việt tổng kết chuyến đi thực tế vào khu IV của cán bộ, nhân viên nhà trường và qua đó đề ra yêu cầu đi thực tập cho lớp báo chúng tôi. Đồng chí nêu ra ba mục đích cần đạt được qua chuyến đi thực tập:

        - Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cách mạng, nắm đường lối chính sách của Đảng vững hơn.

        - Rèn luyện tính tổ chức kỷ luật, tinh thần hữu ái giai cấp, ý chí quyết chiến quyết thắng, không sợ gian khổ hy sinh.

        - Tìm hiểu về nghề báo và tập viết báo.

        Ngày đi là 22 tháng 11 và ngày tập trung về Trường là ngày 17 tháng 12 năm 1965.

        Để "thêm vốn" và "có quà" cho chuyên đi thực tập, về tình hình thời sự quốc tế, chúng tôi được nghe: "Kết quả của Đoàn đại biểu Đảng ta đi thăm Pháp và Ru-ma-ni", "Tình hình In-đô-nê-xi-a đang diễn ra căng thẳng", "Vấn đề Á Phi", về tình hình trong nước và nghiệp vụ, chúng tôi được nghe thời sự hai miền và âm mưu mới của Mỹ đối với miền Bắc. Ngày 17 tháng 11, nghe đồng chí Nguyên Phô phổ biến kinh nghiệm đi thực tế. Ngày 18, nghe báo cáo nông nghiệp. Ngày 19, nghe đại tá Hoàng Minh Thi, Cục trưởng Cục tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, nói về chiến tranh nhân dân. Ngày 20, trung tá Trần Minh Bắc, Phó tổng biên tập báo Quân đội nhân dân, nói kinh nghiệm và yêu cầu viết về chiến đấu.

        Đoàn quân đội chúng tôi không đi theo các chi học tập, mà trở về báo Quân đội để đi đến các trận địa. Tôi ở trong nhóm đi xuống cầu Lai Vu, Hải Dương. Ngày 25 tháng 11, trung tá Trần Minh Bắc họp với chúng tôi, giới thiệu đại úy Dân Hồng và thượng úy Phan Hiền (Hoàng Hà) trực tiếp dẫn chúng tôi đi thực tập. Ngày 26, chúng tôi đến cầu Lai Vu, xã Lai Khê, Hải Dương. Ớ đây có chủ trương xây dựng xã chiến đấu Lai Khê như Nam Ngạn, Hàm Rồng, Thanh Hóa. Trước đó, ngày 5 tháng 11 và 17 tháng 11 đã diễn ra hai trận chiến đấu bảo vệ cầu.

        Trận ngày 5 tháng 11 ta thắng lớn: Bắn rơi tại chỗ một máy bay, bắt sống tên đại úy phi công Mỹ. Ngày 17 tháng 11, bọn chúng vào 36 chiếc, chia làm hai tốp, vừa đánh cầu vừa đánh vào trận địa phòng không. Đây là một chiến thuật mới của địch. Trước đó chúng chỉ tập trung đánh mục tiêu định sẵn là cầu. Lần này chúng còn dùng thủ đoạn bổ nhào hai ba chiếc cùng một lúc, đánh từ hai ba hướng để phân tán hỏa lực ta. Ngay loạt bom đầu tiên, nó đã đánh trúng cầu và trận địa của đại đội 19. Đại đội trưởng đại đội 19 bị bom vùi, tự ngoi lên, tiếp tục chỉ huy, chính trị viên bị thương. Tiếp đó, chúng lại đánh trúng trận địa đại đội 18, đại đội trưởng hy sinh, chính trị viên bị thương nặng và hỏng một khẩu pháo. Theo đánh giá của tiểu đoàn thì tuy bị đánh vào trận địa nhưng tinh thần anh em vẫn vững vàng, trong chiến đấu nổi lên nhiều tấm gương xuất sắc. Song, các đồng chí không ngớt lòi ca ngợi tinh thần hiệp đồng chiến đấu và lòng dũng cảm của nhân dân các xã quanh cầu Lai Vu. Nhân dân vừa là lực lượng bổ sung pháo thủ, vừa làm nhiệm vụ cứu thương, tải thương.

        Sáng ngày 27, chúng tôi nghe báo cáo của tiểu đoàn, chiều ngày 27, xuống hai đại đội 18 và 19 để tìm hiểu một số gương chiến đấu. Ngày bám ở trận địa, tối về ngủ trong làng. Đến ngày 3 tháng 12, chúng tôi tập trung về họp nhận nhiệm vụ viết bài. Tôi đã trực tiếp gặp và lấy được khá nhiều tài liệu về đồng chí Dương Văn Luông, một tấm gương hiệp đồng chiến đấu của địa phương được anh em bộ đội hết lời ca ngợi. Để hiểu rõ thêm, ngày 8 tháng 12, chúng tôi đến gặp đồng chí Tấn, xã đội trương xã Cộng Hòa, hỏi về tình hình chung của xã. Thì ra, trước ngày diễn ra trận đánh, xã đã phân công cụ thể cho 40 đồng chí làm nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với trận địa pháo 37mm. Anh em đã thực hành diễn tập: hai mươi người sẵn sàng thay thế pháo thủ, hai mươi người làm nhiệm vụ cứu chữa và cáng, tải thương. Xã còn giao cho các hợp tốc xã nhiệm vụ tiếp tế cho bộ đội. Khi nghe bộ đội bắt đầu nổ súng, thì trong xã cũng tiến hành đi gom gạo từng nhà, tập trung nồi để nấu cơm. Riêng xã cũng có 10 người thường trực chiến đấu, khi tác chiên thì được bổ sung thêm thành 28 xạ thủ. Trận địa của các đồng chí đó là những chiếc hầm cá nhân dọc đường 5. Trận ngày 5 tháng 11, do địch dùng chiến thuật cường kích, bay thấp gần sát ngọn cây đê tránh ra-đa của ta, nên trận địa dân quân lại nổ súng trước bộ đội. Qua hai trận chiến đấu, lực lượng dân quân xã Cộng Hòa có 38 đồng chí được khen thưởng; xã được ủy ban hành chính tỉnh và tỉnh đội khen. Tại đây chúng tôi lại biết thêm nhiều điển hình chiến đấu. Đó là những thang thuốc thực tế có tác dụng bổ dưỡng cho tinh thần dũng cảm của chúng tôi. Ngày 9 tháng 12, chúng tôi dự lễ mít tinh nghe: "Báo cáo thành tích chiến đấu của huyện Kim Thành.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:34:41 am

        Trận đánh mở đầu cho đường 5 là trận ngày 5 tháng 11, ta thắng lớn: Bắn rơi máy bay tại chỗ, bắt sống được phi công, nhưng trận ngày 17, địch rút kinh nghiệm, thay đổi chiến thuật nên ta bị thiệt hại nặng. Hôm đó công nhân đang sửa cầu bị địch đánh trúng, hy sinh nhiều. Sự hy sinh của mấy chục công nhân đang sửa cầu, máu nhuộm đỏ dòng sông, không khỏi ảnh hưởng đến tư tưởng một số người. Mãi đến ngày 11 tháng 12 chúng tôi mới đến gặp đồng chí Thi, đội phó Đội cầu 2, nhưng ngay từ hôm mới đến tôi đã biết tin này. Vừa tói nơi, tôi đã thấy trung úy nhà văn, nhà viết kịch Hoài Giao, người quen cũ của tôi, hớt hải đến báo tin:

        - Có gì ăn mừng tao đi! Tao hút chết trận vừa rồi; anh em công nhân Đội cầu 2 bị thiệt hại nặng lắm, đang sửa cầu mà!

        Tôi sẵn sàng biếu anh Hoài Giao một bao thuốc lá Điện Biên và gói chè Ba Đình. Hai thứ này anh đều nghiện nên anh rất thích. Hồi ở cùng anh, chúng tôi chỉ dám hút thuốc lá Trường Sơn và uống chè lạng. Là nhà văn, trái tim anh nhạy cảm, nên anh quá xúc động trước những cảnh hy sinh, còn tôi đang rèn luyện để thành nhà báo, mà nhà báo là cán bộ chính trị, nên thường cứng rắn hoặc phải tỏ ra cứng rắn hơn!

        Tại cầu Lai Vu, chúng tôi được tham dự nhiều trận đánh. Trận đầu tiên, tôi cứ đứng lớ vớ bên ngoài, vì công sự lúc này anh em đang bận chiến đấu. Cũng có một số người phải chạy từ chỗ nọ đến chỗ kia và hầu hết anh em đều đứng. Sự háo hức của tuổi trẻ và trước bối cảnh chung như vậy khiến tôi không thấy sợ. Giặc ném mấy quả bom xuống sông. Một quả rơi bên kia cầu phía Hà Nội không gây thiệt hại gì. Trận sau tôi được đồng chí chính trị viên gọi vào hầm, nhưng tôi vẫn đứng không chịu nấp. Tôi nghĩ: Mình là nhà báo, đi tuyên truyền động viên, giáo dục anh em không sợ địch, với tinh thần "Nhằm thẳng quân thù mà bắn" như anh Nguyễn Viết Xuân, mà mình lại cúi đầu, tỏ ra hèn nhát, sẽ ảnh hưởng đến uy tín của nhà báo. Tôi thật sự say mê và bình tĩnh theo dõi những chiếc máy bay địch bổ nhào, và thích thú nghe tiếng súng từ các trận địa của ta bắn lên nổ rất giòn. Bỗng tôi thấy liên tiếp có những cục lửa đỏ từ một khẩu 57mm bên kia cầu bắn lên. Đó là những viên đạn vạch đường, ban ngày vẫn trông rất rõ. Những cục lửa đỏ cứ lừ lừ bay lên. Trong khi đó, một chiếc máy bay đang bổ nhào từ hướng Hải Phòng về Hà Nội, không còn kịp thay đổi hướng. Tôi nghĩ thầm trong bụng: Trúng này! Trúng này! Quả nhiên, một cục lửa đâm trúng vào bụng chiếc máy bay. Một cột lửa bốc lên và chiếc máy bay cứ thế cắm đầu xuống đất.

        Nhà báo phải nói lên sự thật. Sự thật là chính mắt tôi nhìn thấy viên đạn của cao xạ 57mm, đỏ lừ như cục lửa, đâm trúng bụng chiếc máy bay làm nó bốc cháy và đâm đầu xuống đất. Đương nhiên, đang phấn khích, gặp ai tôi cũng say sưa mô tả lại cái giây phút hồi hộp và sung sướng đó. Tôi còn cảm thấy tự hào là chính mình đã được trông thấy đạn bắn trúng máy bay.

        Nào ngờ tôi bị gọi về Đoàn kiểm điểm. Tôi cố cãi: Đó là sự thật, chính xác 100%. Nhưng rồi tôi xỉu xuống như cái bánh đa nhúng nước, khi được giải thích: Nguyên tắc tính chân thật của báo chí không hoàn toàn đồng nghĩa với sự thật 100%. Có những sự thật nói ra không có lợi cho việc tuyên truyền, hoặc sẽ lộ bí mật cho địch biết thì không được nói. Đó là bài học sâu sắc và thấm thìa đầu tiên về nhà báo và nghề báo của tôi. Bất giác tôi nhớ đến anh thầy thuốc trong câu chuyện "Phúc thống phục nhân sâm" và cảm thấy mình còn phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhiều hơn nữa.

        Về ăn ở thì chúng tôi được gọi vào sống với dân xóm Lai Vu. Ban chỉ huy chẳng có gì, và cũng chắng có thòi gian tiếp đãi chúng tôi giữa lúc đơn vị đang bộn bề công việc. Trong khi đó, các đoàn dân chính đi theo quy trình hướng dẫn của nhà trường, về tỉnh nghe: Tỉnh ủy báo cáo tình hình chung, tỉnh đội báo cáo về chuyên đề quân sự, ủy ban báo cáo về tình hình kinh tế và nghe báo cáo về tờ báo địa phương, sau đó xuống xã, thì tương đối đàng hoàng - có thể nói là rất đàng hoàng. Đoàn đi Thanh Hóa về cứ ca ngợi mãi sự quan tâm săn sóc và ưu ái đặc biệt của đồng chí bí thư tỉnh ủy Ngô Thuyền. Mặc dù Thanh Hoá là một tỉnh nghèo, chiến tranh lại là nơi ác liệt, nhưng vì đoàn nhà báo "trên Trung ương" đến, nên được bố trí ăn ở còn "hơn cả Trung ương!". Không những anh em được tin theo tiêu chuẩn khách đặc biệt: 5 đồng /ngày/người, mà còn có cả những cô phục vụ và hướng dẫn. Phải nhớ rằng năm đồng lúc đó là cả một tháng lương binh nhì của chúng tôi! Tôi và các anh Đinh Ngãi, Nguyễn Đình Thảo là người Thanh Hoá nên chúng tôi cũng cảm thấy tự hào về lòng mến khách của quê hương. Nhưng anh em cứ đem cái cụm từ "nhà báo trên Trung ương" mà ai đó nói đùa hoặc diễn đạt sai ra trêu mãi, nên tôi cũng hơi tự ái. Về sau, có lần tôi và anh Vũ Thân được báo Quân đội nhân dân cử về đơn vị bảo vệ đập Bái Thượng, Thanh Hoá để viết bài, chúng tôi cũng được đồng chí Ngô Thuyền tiếp, tự tay đồng chí viết giấy giới thiệu và cử đồng chí Cứ, giám đốc Trường đảng tỉnh cho xe đưa chúng tôi đến nơi sơ tán của tỉnh đội ở Rừng Thông...


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:35:23 am

        Sau chuyến đi thực tập, chúng tôi lại tiếp tục học nghiệp vụ thêm ba tháng nữa. Ngày 29 tháng 12 năm 1965, chúng tôi được nghe nữ đồng chí Ánh, bí thư Đảng nhân dân Cách mạng Sài Gòn - Gia Định nói về tình hình văn nghệ - báo chí ở Sài Gòn - Gia Định. Do phụ thuộc vào điều kiện của giáo viên và khách mời, nên có những vấn đề hai lớp phải học chung. Vì vậy, chúng tôi học xen kẽ giữa chính trị, thời sự và nghiệp vụ. Song như người mới tập đi xe đạp, sự say mê thích thú của tôi lúc này chủ yếu dồn cho nghiệp vụ. Ngày 8 tháng 1 năm 1966, đồng chí Lê Dân, thư ký toà soạn, đến nói về "Hướng báo nhân dân". Ngay hôm sau đồng chí Trần Lâm, giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam lại đến nói về công tác biên tập của Đài. Cả hai bài đều có ý gợi mở vấn đề cho anh em chúng tôi viết sau đợt đi thực tế về. Ngày 11 tháng 1 nhà trường tổ chức cho chúng tôi học bài "Công tác biên tập". Sau đó còn thêm báo cáo thực tế của đồng chí Nguyễn Văn Chung, báo Hà Tây, về "Công tác biên tập một tờ báo địa phương". Báo cáo này, ngay lúc đó có một số đồng chí coi thường, nhưng sau đó nó lại trở nên thiết thực, vì gần như toàn bộ chúng tôi vào Nam đều làm báo địa phương. Có tờ "Quân giải phóng" và "Cờ giải phóng" tạm coi như Quân đội nhân dân 2 và Nhân dân 2 nhưng thực tế chủ yếu vẫn là nội bộ, vì lý do phát hành và ấn loát.

        Trên mặt trận bút chiến với địch, những bài bình luận, nhất là bình luận quân sự làm xôn xao dư luận, náo nức lòng người. Lúc đầu, chúng tôi coi bình luận là "đại bác bắn thẳng", người viết bình luận, ngoài việc phải giỏi về luận lý lô gíc, còn phải có "tầm cỡ" nữa, chứ "cái thớ" bọn tôi thì chỉ nên mài "lưỡi lê" để đánh giáp lá cà; thời gian có ít, học bình luận là thừa! Nhưng khi được biết: Bình luận thực tế cũng chỉ là một bài văn nghị luận và có nhiều loại bài bình luận trên báo: Xã luận, chuyên luận, bình luận thông thường thì mới thấy mình cần phải học. Đặc biệt khi đồng chí Quang Đạm (báo Nhân dân) mở đầu bài giảng "Công tác bình luận", ngày 26 tháng 1 năm 1966, nói rõ: "Bình luận là một công tác mà tất cả mọi người làm báo cần phải nắm, chúng tôi mới thật sự tự giác đứng vào vị trí: "Người làm báo là chiến sĩ tiền tiêu trên mặt trận tư tưởng" như lời Ka-li-nin. Sau này, khi mỗi chúng tôi được ném vào hoạt động ở một mảng của báo chí Cách mạng miền Nam thì những lý luận về "Viết bình luận trên báo" đã thật sự phát huy tác dụng, ở chiến trường, không những phải trực tiếp thường xuyên chống chiến tranh tâm lý của địch, mà mỗi chiến dịch, thậm chí trước và sau mỗi trận đánh, đều phải có những bài xã luận tuyên truyền hoặc hướng dẫn công tác.

        Cũng như các thể tài khác học xong phần "Viết bình luận" chúng tôi lại được thượng tá Nguyễn Đình Ước, Phó tổng biên tập báo Quân đội, nói về công tác bình luận của báo Quân đội - một tờ báo có những bài bình luận thật sự điển hình. Và, cũng qua bài nói chuyện của đồng chí Ước, chúng tôi mới biết rõ: Bọn địch theo dõi rất kỹ những bài bình luận của báo chí ta. Cụ thể như chỉ hai chữ "khăng khăng" và "khư khư" trong bài bình luận của báo Quân đội nói về sự ngoan cố của Mỹ - hôm trước dùng: "Mỹ vẫn khăng khăng...", hôm sau dùng: "Mỹ vẫn khư khư...", mà Mỹ nhận định là lập trường của Chính phủ Bắc Việt đã thay đổi, mềm dẻo hơn. Qua đó, chúng tôi càng thấy rõ trách nhiệm người cầm bút phải hết sức cẩn thận, cân nhắc kỹ từng chữ mỗi khi viết bài, nhất là những bài văn chính luận.

        Chuyên đề "Tiểu phẩm" do đồng chí Trần Minh Tước, bút danh Xích Điều, ủy viên thường trực Hội nhà báo Việt Nam, giảng dạy cũng là một chương hấp dẫn. Tôi nhớ mãi đồng chí nói như tâm sự: chính vì viết "Tiểu phẩm" mà có người gọi tôi là "Xích Đểu" và sau khi viết câu:

        - Lạ cho cái sóng khuynh thành.
        Mà sao quay tít theo vành ô tô.


        Đã làm cho có người mất vợ, tôi ân hận mãi. Vậy ra người phê bình rất cần phải có cái tâm. Đặc biệt phê bình trên báo cần xuất phát từ cái chung, nhằm mục đích "để sửa chữa”, tránh địch lợi dụng và bảo đảm đoàn kết tốt.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:36:07 am

        Trong nghiệp vụ, môn mà chúng tôi háo hức chờ mong là môn chụp ảnh. Có thể nói, người lính mới được phong sĩ quan, háo hức và vui thích được đeo khẩu súng ngắn thế nào thì cánh "nhà báo mới nhập nghề" chúng tôi mong được đeo chiếc máy ảnh như vậy. Ngày 15 tháng 1 năm 1966, đồng chí Hoàng Tư Trai giảng phần đầu về nhiếp ảnh. Sau đó nửa tháng, ngày 1 tháng 2, đồng chí mới giảng tiếp được phần "Quan điểm ảnh tân văn" và ngày 6 tháng 2 đồng chí Thọ (báo Nhân dân) mới nói về "tranh ảnh trên báo". Bởi lẽ sau khi được hướng dẫn sơ bộ về máy ảnh, cách lấy khuôn hình và bấm máy, là chúng tôi đua nhau để tập. Nhà trường thông cảm, và cũng có điều kiện, nên tung khá nhiều máy ảnh ra cho chúng tôi thực hành. Tôi thích nhất là loại máy ngắm có kính mờ, vì tấm ảnh hiện rõ trên màn hình, dễ chụp.

        Mỗi chúng tôi được phát một cuộn phim, ai muốn chụp thêm thì góp tiền để nhà trường mua hộ. Phim cuộn Owo của Đức là tốt nhất; nhưng cũng loại Owo đó mà mua phim thước về kiếm bô-bin (lõi cuộn phim) cuộn lấy thì rẻ hơn nhiều. Chụp xong có thể tự tráng phim, in ảnh hoặc nhờ Thông tấn xã Việt Nam làm hộ. Nói chung là chúng tôi không thiếu phim, nhưng thiếu đối tượng để chụp. Trong trường có một số nữ văn công, ngó bộ các cô cũng rất muốn ghi lại hình ảnh gửi tặng bạn bè và để lại cho gia đình, nhưng vì đã "cách ly nhau" từ trước, nên chẳng cô nào dám nói ra. Còn chúng tôi, phần vì cầm máy chưa vững, sợ chụp hỏng, chụp xấu sẽ bị các cô cười, phần cũng chẳng dại gì dây với các cô vì chúng tôi cứ hay ngâm đùa câu: "Tu là cõi phúc tình là dây oan" để hưởng ứng phong trào ba khoan do Trung ương Đoàn phát động (khoan yêu; đã yêu khoan cưới; đã cưới khoan có con). Thế nhưng cứ chụp cho nhau và chụp đi chụp lại mấy cảnh trong trường mãi cũng chán, nên sinh ra chụp trộm ảnh các cô gái xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, đi làm đồng qua cổng của Trường. Chúng tôi lên phim sẵn, núp phía trong tường, cho một anh đứng quan sát, hễ có đối tượng sắp đi qua là đánh động, người cầm máy chỉ việc ngắm qua lỗ hở của tường, thấy có bóng người đi qua là bấm máy.

        Sở dĩ có chuyện phải chụp ảnh trộm và đi hành quân đêm, vì chúng tôi không được ra khỏi trường. Lóp văn nghệ sĩ báo chí miền Nam lại đào tạo tại Trường Tuyên giáo Trung ương Hà Nội là chuyện bất bình thường, nên phải giữ hoàn toàn bí mật. Ngay cả việc liên lạc với gia đình và bạn bè, chúng tôi cũng không được báo địa chỉ thật, mà phải lấy địa chỉ cũ của Trường tại Đống Đa. Việc tuyển chọn người học lớp này, về lý lịch, được làm rất kỹ. Có thể chúng tôi mới được cung cấp một số điều thuộc về bí mật quân sự và bí mật quốc gia. Chỉ cần có quan hệ quen biết hay họ hàng với người theo địch vào Nam hoặc ở nước ngoài mà không do Chính phủ ta cử đi, đều không được đi với lớp. Vậy mà vào Nam, lớp chúng tôi vẫn có một nhà văn phản bội. Có lẽ bọn địch đánh giá cao những tin tức thu được về lớp học của chúng tôi nên chúng đã đưa Trường vào một trong những mục tiêu cần hủy diệt ở Thủ đô Hà Nội.

        Buổi đầu, nghe nói về vị trí, tác dụng, chức năng và đặc điểm của ảnh báo chí, phân biệt ảnh tân văn và ảnh nghệ thuật, chúng tôi chỉ mới hiểu chàng màng, chủ yếu tập trung vào cách chụp. Vậy nên chức năng phụ của ảnh là "chứng kiện lưu lại sau này" lại được coi là chức năng chủ yếu. Giờ đây, được trang bị thêm những quan điểm về ảnh báo chí chúng tôi mới thấy rõ phóng viên nhiếp ảnh chẳng những phải biết khái quát vấn đề nội dung mà còn phải biết khái quát cả vấn đề hình tượng, mới chụp được một bức ảnh báo chí. Anh báo chí cũng có đầy đủ các chức năng của một tin bài trên báo. Đặc biệt khi được nghe "Kinh nghiệm sử dụng ảnh trên báo Nhân dân" của đồng chí Thọ, chúng tôi mới biết ảnh báo chí có nhiều thể loại. Có thể đưa tin, làm phóng sự và cả nghị luận bằng ảnh.

        Theo đồng chí Thọ thì có tới tám loại ảnh đăng được trên báo chí nhưng vì thời gian cấp tốc nên môn nhiếp ảnh báo chí mới chỉ giảng được phần cơ bản nhất. Ảnh là môn học cuối cùng trong chương trình nghiệp vụ của chúng tôi.

        Để ổn định tư tưởng học viên, đồng chí Đỗ Xuân Mai, giáo viên chủ nhiệm lớp giải thích thêm:

        - Điều kiện không cho phép, chúng ta hãy tạm bằng lòng với một số kiến thức bước đầu; quá trình làm ta học thêm, học lẫn nhau và ta tự rút ra bài học. Khi điều kiện cho phép, mời các đồng chí trở về học theo chương trình đại học báo chí tại Trường.

        Lời căn dặn có vẻ tiên đoán của bác Mai đôi với tôi không ngờ lại thành sự thật. Năm 1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong quân đội, tôi thi vào lớp đại học báo chí khóa II của Trường (1975-1979) và đã trúng tuyển. Khi lớp học tập trung khai giảng, tôi được phân công làm lốp trưởng lớp báo A.

L.S.H       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:37:20 am

       
BA LẺ MỘT

Bảo Ninh       

        Mặc dù là sự ngẫu nhiên nhưng mà có lẽ chẳng phải chuyện tình cờ. Bởi nếu không thì chúng tôi đã lướt về đến Nha Trang mới dừng chứ chẳng nghỉ vặt lại làm gì ở dọc đường. Và xe sẽ không đỗ đúng ngay trước của tiệm cà phê đầu thị trấn. Cũng sẽ không phải là bài hát ấy cất lên. Không nghe thấy bài hát ấy tôi đã không buồn bước chân vào tiệm. Tôi vào thì băng nhạc ngắt, nhưng rõ ràng là tôi đã vừa nghe một bản quân ca chứ tuyệt nhiên không phải là những cái thứ nỉ non nhão nhoẹt đặc sản của hầu hết các quán xá phố huyện trong thời buổi văn minh ướt át này.

        "Lêkima", tên tiệm như vậy, trên tấm biển gỗ sơ sài. Một nhà gác nhỏ hai tầng, mái ngói xạm màu rêu. Quầy cà phê ở tầng trệt, gian giữa, nhưng chỗ của khách ở ngoài vườn. Một ai đó lúi húi sau quầy, tôi lên tiếng chào, gọi một tách đen, và qua cửa sau đi xuống vườn.

        Gió chiểu lộng thổi, dào dạt sóng lá. Vườn rộng, xanh ngắt, vú sữa và lêkima. Bàn ghế bằng mây kê rải rác dưới vòm cây xum xuê, bên những lối đi rải sỏi. Giờ này các bàn đều bỏ trống, cả khu vườn chỉ một mình tôi với tiếng chim ríu rít trên cành. Đợi anh tài xế sửa xong xe chắc là còn lâu. Không chừng có thể làm được một giấc. Tôi thoải mái ngả người vào lưng ghế, nhắm mắt lại.

        - Dạ thưa, cà phê của ông.

        Tôi không nghe thấy bước chân đàn bà ấy. Rất khẽ chị ta đi tới thật nhẹ để khay cà phê lên mặt bàn và se sẽ cất tiếng. Trên chiếc khay gỗ bày một bộ đồ uống cà phê kiểu đã xưa, rất đẹp, đĩa và tách bằng gốm, men màu lam vân trắng, phin và thìa mạ bạc. Thoang thoảng, đầm đậm hương thơm đặc trưng của cà phê chè Buôn Ma Thuột.

        - Gia đình ta có khu vườn tuyệt quá - Tôi nói, bày tỏ sự hài lòng và nỗi khoan khoái.

        - Dạ, cám ơn ông - Người đàn bà nói nho nhỏ, giọng Nam êm như nhung, lễ phép mà dịu dàng - Xin mòi ông bữa sau lại ghé tiệm chúng tôi, dùng cà phê, ngoạn cảnh chiều.

        - Ồ vâng, dĩ nhiên. Nếu như còn có một dịp thứ nhì.

        - Thưa, thị trấn nầy, ông mới một lần đầu ngang qua?

        - Vâng. Cũng gần như là lần đầu. Lần trước đã lâu lắm rồi. Đã hai mươi năm. Vả lại, ngày đó, thời cuộc gấp gáp, chúng tôi tiến ào qua, chỉ được vài phút dừng chân chốc lát.

        Tôi có cảm giác là người đàn bà như chợt sững đi vì điều tôi vừa nói. Tôi nhìn chị. Có thể đoán rằng tuổi chị đã chừng bốn mươi, mặc dù chắc là chưa đến như vậy. Gương mặt gầy yếu, xanh xao, song vẫn còn giữ được nét đẹp phảng phất. Tôi ưa cặp mắt của chị, mở to, đượm buồn.

        Gặp ánh mắt của tôi, chị ngại ngùng nhìn tránh đi, và không nấn ná thêm nữa, lặng lẽ quay vào nhà. Tôi nhìn theo. Bỗng đâu một cảm giác phi lý nhen lên, choán lấy tôi. Chẳng cần lục lại trí nhớ, tôi biết chắc chắn là trước đây chưa từng bao giờ gặp chị ta, và chắc chắn là không hề quen ai có thoảng nét giống chị, thế nhưng lại cũng hoàn toàn chắc chắn như vậy tôi cảm nhận được ở chị một sự quen biết, thậm chí một tình thân mến, từ xưa. Tình thân ấy mang máng đâu đây trong buổi chiều nay giữa khu vườn này. Tôi lắng nghe và tôi nhìn xung quanh, nhìn lên cao. Bên ngoài các vòm lá, bầu tròi đã ngả hồng. Ngày đã tàn, thòi tiết vẫn đẹp, càng đẹp hơn trước. Những đám mây cao và thưa nhẹ nhàng lướt trôi, mỏng dần và tan ra. Trong vườn, những ngọn gió khi thì lặng đi lúc lại dậy lên như cao trào của một bản nhạc. Một chiếc lá vú sữa nửa màu xanh nửa màu nâu nhạt bứt khỏi cành rớt xuống bên tách cà phê đang nhè nhẹ toả hơi. Chiếc thìa bạc kêu lanh canh. Lòng tôi xao xuyến lạ thường. Bỏ dở tách cà phê, tôi đứng vội dậy, rời bàn. Nóng lòng tôi muôn ngắm lại một lần nữa kỹ hơn dung nhan thân thuộc của người đàn bà không quen.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2020, 05:37:49 am

        Không có ai trong nhà khi tôi từ ngoài vườn đi vào. Tôi tới bên quầy. Trên mặt quầy để một máy quay băng, mấy trái xoài tượng, một cái bình xay sinh tố, các thẩu đường, những lọ cà phê và một hộp kính xếp đầy những gói thuốc lá. Ở trong góc tối phía sau quầy, trên tường treo một bức tranh. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại tôi thấy không phải tranh mà là một bức ảnh, được phóng to, lồng trong khung kính. Trong ảnh là hình một chiếc xe tăng. Và không phải M48. Vì khuất tôi không nhìn được rõ nhưng tôi vẫn nhận biết rõ ràng dáng vóc một chiếc T54 um tùm cành lá ngụy trang. Vòng ra sau quầy, tôi lần tìm công tắc, bật đèn lên. Anh điện bừng sáng và tim tôi như ngừng đập. Toàn, Trung và Chí, ba khuôn mặt ấy, ngay trước mắt tôi. Anh đen trắng, khi chụp hơi bị ngược sáng lại đã úa vàng vì năm tháng nên nom không được nét, song chẳng còn hồ nghi gì nữa, đúng là họ, và đúng là nó, xe 301. Đầu quấn băng, AK buông thõng trước ngực, Toàn ngồi trên nóc xe, ôm lấy nòng khẩu 12 ly 7, hai người kia bá vai nhau ngồi tựa vào sườn tháp pháo. Số xe khuất sau lưng họ, chỉ ngôi sao lộ ra. cả ba anh em đều còn rất trẻ, còn rất non nét mặt và dường như do vậy mà có vẻ kém ăn ảnh, nhân dạng phần nào mờ nhòa, tuy nhiên bởi đều đã vào ảnh với nụ cười nên cả ba gương mặt đều như tự bừng sáng. Xúc động, cổ nghẹn lại, tôi run khắp thân mình, hồi lâu không sao trấn tĩnh được.

        Nghe thấy tiếng guốc đi xuống cầu thang song tôi không rời mắt khỏi bức ảnh. Người đàn bà tới bên quầy. Ngoài cửa ánh chiểu đã tắt hẳn. Căn phòng im ắng. Từ cõi nào xa xăm vọng đến tiếng còi tàu hoả. Lát sau đoàn tàu rùng rùng băng qua cung đường gần thị trấn. Những hàng bánh sắt rền rền lăn trên ray. Mặt đất nhè nhẹ rung lên. Chiếc đồng hồ treo tường thong thả đô chuông. Tôi nhớ đến khúc quân ca nghe thấy lúc chiều khi vừa dừng xe. Thì ra...

        Lòng khắc khoải bao nhiêu là ý nghĩ và điều phỏng đoán, tôi chậm rãi xoay mình lại, đối diện với người đàn bà. Chị chống khuỷu tay lên quầy, áp mặt vào hai bàn tay. Một gương mặt thanh tú và khiêm nhường, một dung nhan dẫu đã lụi đi mà không hề tàn héo, đôi mắt hiền dịu, rất to, lặng nhìn tôi.

        - Chị biết không, thật kỳ lạ - Tôi nói, ngập ngừng - Chiếc xe tăng trong bức ảnh kia chính là chiếc xe tăng của tôi, ngày xưa.

        - Ơn tròi, - Chị thầm thì - Thế là cuối cùng các anh đã trở lại. Bởi vì anh đã đổi khác quá nhiều so với anh trong hình nên em không nhận liền ra anh. Nhưng anh à, bao năm qua, từ ngày đó đến giờ, em vẫn một lòng tin rằng nhất định các anh sẽ còn trở lại.

       
*

        Ngày đó, năm 75, buổi sáng cuối cùng của tháng Ba. Thị trấn bên bờ biển cho tôi chiều tối hôm qua còn nghẹn ứ một biển người vậy mà sáng ra đã hoàn toàn trống rỗng.

        Không ai ngờ thời cuộc lật nhanh đến thế. Vừa mói phong phanh tin thất thủ Buôn Ma Thuột, còn bán tín bán nghi, đã nghe mạn Khánh Dương tiếng đại bác rền vang. Người từ cao nguyên chạy xuống ban đầu thưa thớt, về sau kìn kìn. Người ta bảo rằng quân dù đã được điều về giữ đèo Ma Đơ Rắc, họ sẽ chặn đứng Việt Cộng và rồi sẽ tái chiếm Đắc Lắc chỉ trong ngày một ngày hai. Nhưng chỉ trong ngày một ngày hai vụ di tản chiến thuật đã trở thành cơn giãy chết vĩ đại. Thị trấn ngã ba nghẹn cứng hai luồng chạy loạn khổng lồ đổ ập về theo hai ngả, quốc lộ 1 và quốc lộ 21. Phố biển muôn thuở bình yên ngập chọn trong khói bụi và hoảng loạn. Mặt đường đen đặc người và xe. Xe đò và xe nhà binh, đồ đạc và chiến cụ, dân thường bỏ quê hương và lính tráng vỡ mặt trận, như lũ lụt tràn bờ, như tròi long đất lở. Gần cả tháng trời thị trấn triền miên trong quang cảnh tán loạn đầy thú vật của cuộc đại bại. Chen chúc, xô lấn, giày đạp, chà xéo, đánh nhau, giết nhau, cưỡng hiếp và cướp bóc. Đến cuối tháng thì đã thật sự những ngày tận thế. Phòng tuyến trên đèo tan võ. Các Thiên thần mũ đỏ còn sống sót ôm đầu máu tháo chạy. Có những toán đông nghìn nghịt súng ống còn trong tay mà không còn giày, không còn áo, trần thùi lụi như đàn đười ươi ồ ồ tràn qua trấn. Tất cả đều đã điên lên vì khiếp sợ. Chạy, chạy, và chạy. Muốn sống thì chạy đi. Mạnh ai nấy chạy. Giành đường mà chạy, dẫm lên nhau mà chạy. Tiền pháo hậu xung, đại bác quân Bắc Việt sẽ san bằng thị trấn. Chiến xa quân Bắc Việt sẽ cán nát tất cả. Và bộ binh Bắc Việt khi xung phong vào sẽ giết hết, sẽ giết hết, giết tuốt mo, giết không còn một mống.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2020, 08:20:57 pm
 
        Buổi trưa, phi cơ từ biển ào vào bổ nhào ngay trên đầu thị trấn trút bom xuống Dục Mỹ để cản bước địch quân. Nhưng trận chiến vẫn từng giờ một xích gần lại. Cửa kính rạn vỡ, vôi vữa rơi lả tả. Chập tối, đạn pháo hú vang, từng loạt, từng loạt nã vòng qua thị trấn rót xuống dọc mép biển. Nửa đêm tiêng nổ thưa dần và tinh mơ thì bặt hẳn. Hừng đông mong manh chuyển dần sang buổi ban mai và ở xa thắm ngoài khơi vừng dương đã nhô lên trên mặt biển. Trên bờ, ở ngôi nhà đầu thị trấn, ông chủ hiệu ảnh Lêkima và cô con gái của ông ngồi lặng im trong bóng tối. Bên ngoài, ánh mai hồng ngòi rạng, trong nhà tối như hũ nút. Cửa đóng then cài.

        Cả đêm hai cha con không chợp mắt, thao thức nghe sấm sét của quân đội cách mạng và nghe những hậu đội cuối cùng của quân Sài Gòn huỳnh huỵch tháo thân chạy qua trước cửa. Nỗi lo âu cồn cào, nhức nhối ruột gan. Hồi giữa tháng khi còn có thể ra đi người cha lại chùng chình nghe ngóng, tiếc nhà tiếc vườn, tiếc kê sinh nhai. Tới lúc không thể do dự thêm được nữa thì cũng là lúc cảnh tượng của cuộc tùy nghi di tản đã trở nên quá độ kinh hoàng. Cô con gái xin cha để cô được ở lại. Thà chết còn hơn là phải dấn thân vào một lộ trình đã an đến như vậy. Hai cha con náu mình trong nhà. Bọn lính cướp phá tan hoang hai bên hàng xóm nhưng may phúc làm sao chúng chưa xông vào hiệu ảnh. Chúng bắn tan tấm biển Phôtô Lêkima nhưng chưa bắn võ tường và chưa làm sập nhà. Tuy nhiên nếu tình trạng hỗn mang kéo dài thêm nữa bọn kẻ cướp sẽ không bỏ qua ngôi nhà này. Nhưng mà nếu chúng biến đi thì tức là họ sẽ vào. Họ vào thì trời ơi, sẽ ra sao?

        Trời đã sáng hẳn. Hình như có tiếng vạn vật thức giấc. Ì ầm như sóng biển xô bờ. Nhưng mà chẳng phải tiếng sóng. Tiếng động mới mẻ xa xôi mơ hồ ấy không tắt mà cứ lớn dần lên và loang rộng ra. Rồi bỗng nhiên tất cả rung lên. Đất trời như rạn nứt.

        - Trời đất ơi, chiến xa! Tránh xa cửa, con ơi!

        Tiếng kêu khiếp đảm bị tiếng gầm của động cơ xe tăng nuốt đi. Chiếc thứ nhất rồi chiếc thứ hai, thứ ba... mũi đột phá xe tăng gần chục chiếc, T54 và K63, như một cơn lốc bằng thép xé mặt lộ lướt tới với thần tốc kinh hồn, là phẳng mọi chướng ngại trên đường, nhằm hướng nam truy kích. Nhà cửa rung giần giật. Cả thị trấn điếng hồn, choáng đi trong tiếng rít của xích thép hòa lẫn với hơi dầu xả phùn phụt, tiêng tháp pháo nghiên ken két. Mặt đường toé lửa, nứt ra, rền vang như gang võ.

        Thị trấn được giải phóng trong vòng không đầy năm phút đồng hồ. Đoàn xe tăng lao tới, tràn qua và mau chóng mất hút phía trời nam. Sấm vang chớp giật rồi tất cả lại trở về trong buổi sáng mai êm ả dưới bầu tròi trong xanh, cao vòi vọi miền duyên hải.

        - Nhưng mà hình như họ ngừng. Họ ngừng rồi! Hình như ngay trước nhà mình đấy, con ơi!

        Mà họ dừng lại thiệt, trời ạ! Chỉ một chiếc nhưng mà tắt máy dừng ngay trước thềm. Nghe huỵch huỵch tiếng chân từ trên xe nhảy xuống đất. Những giọng xứ Bắc, nói oang oang. Họ to tiếng quát nhau. Rồi lại nghe rộ lên tiếng cười. Rồi choang choang tiếng gõ tiếng đập. Tò mò, quên cả sợ, cô gái tới bên cửa sổ vén màn nhìn ra. Thình lình, chiếc tăng rú lên, phụt khói đen ngòm, rồi như bị sặc nó nấc lên và tắt ngóm. Lại ồn lên tiếng quát tháo, tiếng la lối bực bõ. Nắp xe mở ra đóng vào sầm sầm. Mấy phút sau xe khởi động lại. Cô gái bưng lấy tai. Nền nhà rung nẩy. Không khí khét nồng mùi khói ma dút. Khi cô bỏ tay ra thì tiếng gầm gào hung dữ đã ngừng bặt, thế nhưng cô lại nghe thấy tiếng những bước chân đi lên thềm. Cha cô mặt tái mét, vội vội vàng vàng bỏ trốn lên gác. Khiếp hãi cô đứng nép vào góc. Tiếng gõ cửa dẫu dè dặt vẫn chẳng khác nào súng bắn. Những giọng nói từ bên ngoài ngưỡng cửa vọng vào rõ mồn một.

        - Có ai đâu nào. Bác phó nháy nhà này hẳn là đã cao chạy xa bay.

        - Nhưng tớ bảo đảm là vừa nãy tớ thấy thoáng có người từ cửa sổ nhìn ra mà lỵ. Để tớ tông cửa vào xem nào. Hay đấy là một thằng dù?

        Sợ hết hồn nhưng không còn cách nào khác, cô gái đành khe khẽ thưa lên và đi nhanh tới bên cửa, mở khóa rồi nhấc then ra. "Xin kính chào quí ông", cô lý nhí. Hai ông ngoáo ộp đứng choán trước cửa tươi tỉnh cất tiếng chào đáp. Lần đầu trong đời cô gái tận mắt thấy Việt Cộng. Một người vóc dáng cao lớn, đầu húi cua, súng đeo trễ bên vai, tay xách một cái can nhựa, người kia gầy gò, nhỏ thó, đầu quấn băng, súng lăm lăm trong tay. Cửa mở, thấy cô anh ta vội chúc họng súng xuống. Bàn tay, gò má và bộ đồ trận của cả hai đều ám khói.
        Họ nói xe họ bị sự cố phải dừng sửa, giờ sửa xong rồi, nhưng vì đã cạn hết nước uống nên trước khi xuất kích còn phải vào làm phiền gia đình một chút, mong thông cảm. Họ gọi chị xưng chúng tôi, lễ phép, nhã nhặn, gần như khách sáo khiến cô gái trẻ vừa bối rối vừa phần nào cảm thấy an lòng. Cô mời họ vào. Cô bảo sau nhà có bể chứa nước mưa xin để tuỳ quí ông dùng, lấy bao nhiêu cũng được, tắm gội nữa, tha hồ. Nhưng họ nói chỉ xin nạp một can đủ dùng thôi, chứ tắm táp gì được, thời gian không có, vả chăng sạch sẽ mấy ngồi vào xe thì chỉ một lát là lại đen nhẻm. Những người lính này mặc dù súng ống lịch kịch, mặc dù bụi bặm và nhầu nhĩ, thế nhưng chẳng hề có cái vẻ lính tráng như cô vẫn thường thấy. Cô thấy họ rất lành. Không sục sạo, không ngó nghiêng, và không một mảy may lỗ mãng. Lấy đầy can nước rồi, tuy rất vội, họ không xồng xộc bỏ đi ngay mà tế nhị ngồi nán lại vài phút bên bàn, từ tốn nhấp tách trà cô mời, ân cần hỏi han, trò chuyện. Chỉ là theo phép lịch sự nhưng rất mực thân tình. Họ khen đám vườn của cô đẹp tuyệt, khen cơ ngơi của cô trang nhã, khen trà cô pha ngon, khen những bức ảnh mẫu bày trong tủ kính. Họ nói không lâu nữa đại quân sẽ trẩy qua, bộ binh, xe pháo nườm nượp, nhưng đừng có sợ hãi, cứ thoải mái, cứ mở cửa tiệm, giữ lấy nếp sinh hoạt bình thường như mọi ngày. Đà tiến của quân ta sẽ mau chóng giãn tầm phi pháo của địch ra xa thị trấn này. vả chăng, rất có thể chiến tranh sắp kết thúc. Không chừng ngay trong năm nay, thậm chí ngay trong mùa khô này cũng nên, biết đâu đấy, chúng tôi sẽ tiến thấu đuợc đến tận mũi Cà Mau.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2020, 08:21:20 pm

        - Hết được chiến tranh rồi sẽ sung sướng biết bao - Anh lính nhỏ người, đầu quấn băng, ngả người ra lưng ghế, khẽ thở dài - Không còn bọn Mỹ, không còn bọn nguy, không bom không pháo, đất nước thống nhất, hoà bình, dẫu chỉ được sống trọn một ngày như vậy thôi rồi chết, cũng đáng.

        - Nói gì thế cái cậu này! Cậu chỉ được độc cái tài nói gở thôi à? - Người kia nhăn mặt, khẽ gắt.

        - À là nói thế. Chứ chết sao được. Đã đến ngày khổ tận cam lai mà lại chết thì thật hoài. Phải gắng sống đế hưởng hồng phúc của thái bình chứ. Mai này, khi đã tàn trận mạc, tôi sẽ rời tay lái xe tăng chuyển ngành sang làm xế quốc doanh, vi vu dọc ngang cho đến già trên các ngả đường, ngắm Chủ nghĩa xã hội, ngắm đồng ruộng núi sông trời bể nước Nam cho đã bao năm ròng tút hút rừng sâu. Và nhất định năm nào tôi cũng sẽ qua đây, dừng thăm ngôi nhà này, thăm người quen hôm nay.

        Không hoàn toàn hiểu những điều họ nói, cô gái ngồi im, khép nép, thỉnh thoảng khe khẽ dạ thưa, mắt nhìn xuống. Tuy nhiên, cung cách hiền hoà dễ mến của hai người khách đã giúp làm vợi đi nỗi lo sợ. Tâm trạng căng thẳng chùng xuống, hầu như chẳng còn chút nào mới dè chừng và sự thủ thế. Thậm chí không còn lây một mảy may ác cảm. Tự cô cũng thầm lấy làm lạ vế sự nhẹ dạ của mình. Bao nhiêu những định kiến đã thấm sâu vào tâm trí, tương chừng bất biến, vậy mà cô đã dứt bỏ nhẹ nhàng như thể trút một tiếng thở phào. Chẳng những không hề là những tên cuồng sát, thấy nguời là giết, thấy nhà là đốt, hai người lính này cũng không giống những nhân vật rắn như đanh, lòng dạ gỗ đá, đầu óc cứng nhắc, mặt mày thì khắc nghiệt, cử chỉ thì thô bạo, miệng lưỡi thì cục cằn, phách lối được gọi là Việt Cộng mà cô vẫn hằng ngày nghe thấy trên đài phát thanh và đọc thấy trên sách báo. Tuyệt nhiên chẳng có vẻ gì là một cuộc tẩy não, họ nói năng nhẹ nhàng mà thân ái, vui vẻ nhưng đúng mực, giữ lễ xã giao chủ khách.

        Nhìn những vật dụng trong phòng, nhìn gói thuốc với hộp quẹt cha cô để trên bàn, cái gạt tàn đầy đầu mẩu, cái áo khoác đàn ông trên mắc áo, hẳn rằng hai người lính Việt Cộng thừa biết hiện trong nhà này không chỉ có mình cô, song họ chẳng hề căn vặn. Họ hỏi thăm song thân cô nhưng thấy cô ngập ngừng họ không gặng. Thật tình cô không sao hiểu nổi duyên do của nỗi ghê khiếp Cộng sản đã ám ảnh và chế ngự cuộc sống của cha cô cũng như của bao người khác nữa ở thị trấn này. Có cái gì thật vô lý và tức cười trong thái độ tột cùng hoảng hốt của cha cô khi nãy. Khiếp sợ đến nỗi bỏ cả con gái đấy để trốn chạy. Cô hình dung lúc này đây cha cô mặt mày xanh xám, náu mình trong một góc tối om trên gác, run cầm cập chờ tiếng chân Cộng sản sầm sầm bước lên cầu thang.

        Nhưng những người Cộng sản còn bận công chuyện của họ. Họ nhìn đồng hồ, thốt kêu lên, rồi vội vã đứng dậy, đeo súng lên vai, vội vội xin cáo từ và một lần nữa xin cám ơn sự giúp đỡ của gia đình. Họ bắt tay cô. Một người chỉ nắm nhẹ rồi buông ngay. Nhưng người kia giữ lại lâu hơn bàn tay nhỏ nhắn mểm dịu của cô trong bàn tay thô ráp của mình, lắc nhè nhẹ: Bọn anh là bộ đội chứ nào phải là quý ông. Mai này gặp lại nhau nhớ đừng gọi bọn anh như vậy nữa. Nhớ nhé. Bọn anh nhất định sẽ trở lại. Anh sẽ chẳng bao giờ quên nơi này, chẳng bao giờ quên buổi sáng hôm nay. Buổi sáng hôm nay, quê hương em giải phóng, em hãy nhìn xem, đất trời tươi đẹp biết bao. Còn anh thì anh coi hôm nay là ngày đầu tiên sau bao năm trời xa cách được trở về gặp lại quê hương. Quê anh ở bờ biển Quảng Ninh cho nên hễ cứ nơi nào bờ biển cũng đều là quê nhà. Vậy nên anh và em chúng mình là đồng hương duyên hải đấy.

        Hai người buông tay nhau. Người lính chạy ra xe, cô gái đi vội vào nhà rồi lật đật chạy ngay ra, trên tay cầm chiếc máy ảnh. Xe tăng đã nổ máy, gầm lên điếc óc, nhưng chưa lăn xích. Cô gái chạy xô tới trước đầu xe, huơ máy ảnh lên. Chiếc tăng dường như ngần ngừ do dự, động cơ vẫn rền rền song có vẻ dịu xuống. Nắp tháp pháo bật mở, lần lượt hai người từ lòng thép chui ra. Người thứ ba từ cửa buồng lái. Anh ta không tắt động cơ. Chiếc tăng rầm rầm nổ máy tại chỗ như hối thúc.

        Cô gái không ham nghề ảnh nên rất ít khi rờ đến máy và chưa bao giờ cô thay cha chụp hình cho một người khách nào. Cô nhỏ bé, yếu ớt và run rẩy trước khối thép đồ sộ đang hừng hực phả hơi nóng và rung lên giần giật. Phải bậm môi lại, gần như vận hết can đảm và lấy hết sức bình sinh cô mới bấm máy nổi. Không may, sáng hôm đó, cuộn phim trong chiếc Canon chỉ còn một kiểu. Bấm xong cái tách, hết phim. Sững sờ ngó chiếc máy, dường như mãi mới chợt hiểu, cô sực tỉnh, hớt hải kêu lên muốn át tiếng máy bảo bốn ông khách gắng chờ để cô vào nhà lấy máy khác chụp tiếp.

        Nhưng khi cô ôm chiếc Kodak chạy lao ra, xe tăng đã gầm lên, tốc bụi mù mịt, chồm mạnh tới và lập tức lao xộc đi như thể chạy trốn cô. Cô đứng khựng lại giữa lòng đường. Chiếc T54 nhỏ dần, mặt đường vẫn rung chuyển nhưng tiếng gầm của động cơ nghe không còn hung dữ nữa, và càng lùi xa chiếc tăng nom càng hiền đi, trông giống như một lùm cây xanh, rung reo trong gió và lấp lánh trong nắng.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2020, 08:22:57 pm

       
*

        Những ngày giông tố qua mau, cuộc đời lật nhanh sang trang khác. Nuối tiếc kiếp xưa, nhiều kẻ quyết lòng trốn chạy khỏi quê hương, lên thuyền vượt biển, trong số họ có ông chủ hiệu ảnh. Cô con gái của ông một mình ở lại với ngôi nhà và vườn cây lêkima. Hiệu ảnh tuy còn đó, song không nhận chụp, chỉ mở thế để chờ trả ảnh cho khách cũ. Ngày lại ngày từng đoàn bộ đội trên đường hồi hương đã đi ngang thị trấn, thế nhưng chang ai dừng chân vào lấy ảnh. Nhiều năm trôi qua, khi mà ngay cả những người lính được giải ngũ sau chót cũng đã về đến quê nhà, bức ảnh chụp cỗ chiễn xa vẫn mãi mãi là một tấm hình vô chủ.

        Thời gian thấm thoắt như thoi đưa. Cô gái trẻ măng ngày ấy đã thành thiếu phụ, lập gia đình, có con. Đời sống gian nan khắc khổ kéo dài suốt mười mấy năm trời sau chiến tranh khiến chị mau già. Chồng chị đã sớm từ giã phố nghèo để tìm vào Nha Trang kiếm kê sinh nhai dễ dàng hơn. Các con chị lớn lên cũng lần hồi đi hết. Rất muốn theo chồng con nhưng chị lại không muốn rời bỏ thị trấn. Đành lại thui thủi một mình với ngôi nhà, chật vật sống tựa vào mảnh vườn. Trong nhà chẳng còn dấu tích nào nữa của hiệu ảnh, ngoại trừ tấm hình chụp chiếc chiến xa, chưa người tới nhận, ngày một úa vàng.

        Ngày lại ngày, năm này qua năm khác, ngôi nhà xưa cũ vẫn đấy, mòn mỏi bên rìa lộ, như âm thầm ngóng trông một điều gì đó, không biết là điều gì, rồi sẽ đến trong dòng thời gian đang đều đều trôi chảy ngược xuôi không cùng tận trên đường. Cuối cùng thì cái sự kiện mơ hồ được bền bỉ ngóng trông ấy dường như đã thực sự bước chân qua ngưỡng cửa. Một trong những chủ nhân của chiếc xe tăng đã nhận ra chiếc xe tăng của mình.

        Chỉ có điều, người đàn bà chủ tiệm cà phê đã lầm: Tôi không phải là một trong những người mà chị ngóng trông. Mặc dù là xạ thủ 12 ly 7 trên chính chiếc xe tăng trong ảnh, tôi không hề có mặt trong ảnh.

        Đã trót lọt qua những trận ác chiến trên đèo Ma Đo Rắc, đã an lành vượt qua Dục Mỹ, tôi lại để bị thương ở cây số cuối cùng của đường 21. Và ngu ngốc làm sao, lính xe tăng mà lại bị đốn bởi đạn súng trường. Chỉ độc một phát, bắn tù mù trong đêm tối, nhưng đúng lúc tôi đang nhoài nửa người khỏi cửa xe.

        Vết thương không nặng nhưng đủ để loại nhau ra khỏi vòng chiến trong hơn chục ngày trời. Nằm được mười ngày, tôi ôm vết thương tếch khỏi bệnh viện, nhặt một chiếc Jeép lùn nằm quăng bên vệ đường, lái hết tốc độ rượt theo vết xích xe tăng. Nhưng vào giai đoạn hành quân thần tốc ấy chậm một giờ là lỡ cả đời, huống hồ tụt hậu mất mười ngày như tôi. Đuổi theo vết xích của 301, tôi phóng ô tô qua Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, rẽ đường 11 lên đèo Ngoạn Mục, rồi qua Di Linh, Đức Trọng về Bảo Lộc, về Lộc Ninh, và ngoặt gấp sang đông nhằm hướng Sài Gòn. 30 tháng Tư vẫn theo vết xe tăng, tôi qua Lăng Cha Cả vào phi trường Tân Sơn Nhất. Nhưng 301 của tôi hình bóng đã mịt mù nơi đâu trong mưa rơi buổi chiểu ngày đại thắng.

        Tôi đã trở lại Lăng Cha cả, trở lại cầu Bông, trở về tận Phan Rang, địa danh của những trận tử chiến bằng xe tăng trên đường tiến đánh Sài Gòn. Nhưng trời đất bao la, mặc cho tôi bền bỉ theo đuổi, 301 vẫn mãi mãi xa khuất khỏi tầm mắt của tôi.

        Và như thê là đã hai chục năm trời rồi theo đuổi vô vọng cho tới buổi chiều hôm ấy. Chẳng phải sự tình cờ, mà là một sự run rủi tuyệt vời của định mệnh đã khiẽn tôi bước vào vườn cây lêkima bên bờ biển Khánh Hòa. Cuộc đời có hậu đã cho tôi, một số phận lẻ một, khi đã luống tuổi, lúc đã xế tà vẫn còn ruổi kịp đà tiến công vũ bão của thời thanh xuân để gặp lại được số phận chung bốn anh em.

        Chiều hôm ấy, trước bức ảnh xe tăng 301, người thiếu nữ năm xưa, vụt sông lại với buổi bình minh của đời mình, đã không cầm được nước mắt. Và tôi cũng vậy, sau hai chục năm trời, lệ chiến tranh lại tràn mi.

B. N       


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2020, 08:24:20 pm

ĐƯỜNG VÀO BUÔN MA THUỘT

Lê Hải Thiếu       

        Đầu tháng 2 năm 1975, tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 được lệnh bí mật rời khỏi hậu cứ của đơn vị ở Kon Tum, hành quân bằng xe ô tô theo đường mòn Hồ Chí Minh xuôi về phía Nam. Đoàn xe của tiểu đoàn 4 hòa vào dòng xe lớn, phủ kín bạt, tươi lá ngụy trang cuồn cuộn chạy về hướng chiến dịch.

        Ngồi trên xe, các chiến sĩ ta như thấy cả Tây Nguyên đang chuyển mình. Ai nấy đều xúc động mỗi khi xe chạy qua những cánh rừng quen thuộc - chiến trường xưa: Ngọc Tô Ba, Sa Thầy, Đức Vinh, Ia Đrăng... những địa danh gợi bao kỷ niệm với chiến công hào hùng đã đi vào lịch sử.

        Tạm biệt những người dân Kon Turn, tạm xa những nương sắn, nương ngô, xa những căn nhà xinh xắn do chính bàn tay mình làm ra trong lòng mỗi người không khỏi bồi hồi nhố lại những tháng ngày gian khổ cùng đồng bào ăn sắn, ăn măng trụ bám chiến trường. Nhớ bao đồng đội vĩnh viễn nằm lại trong những cánh rừng, ven suối vì sự nghiệp giải phóng Tây Nguyên, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        Cùng với những đoàn xe ngày đêm hối hả ra mặt trận là các chiến sĩ công binh, anh chị em thanh niên xung phong tấp nập đào đất, chặt cây, mở đường thông tuyến cho xe qua. Từ các cụm kho chiến dịch, hàng trăm xe vận tải chở hàng theo những con đường quân sự làm gấp đi vê các hướng tiến công của các sư đoàn, trung đoàn. Lúc đầu xe ô tô chỉ chạy ban đêm, sau chạy lấn sáng lấn chiều, rồi chạy cả ngày lẫn đêm. Các chiến sĩ lái xe thiếu ngủ, căng thắng, nhưng vẫn vững tay lái vượt qua những đoạn đường đèo hiểm trở. Ở các tuyến sâu, các chiến sĩ vận tải tiểu liên AK khoác trước ngực, quần đùi, áo cộc hăm hở gùi, thồ đạn, gạo ra tận trận địa cho các đơn vị...

        Ngày 12 tháng 2 năm 1975, tiểu đoàn 4 cùng Trung đoàn 24 đã vào vị trí tập kết bên dòng sông Đắc Đam an toàn.

        Thực hiện kế hoạch tấn công Buôn Ma Thuật của Bộ chỉ huy chiến dịch là bỏ qua tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch đánh thẳng vào thị xã. Tiểu đoàn 4 đảm nhiệm mũi tiến công ở phía tây là mũi thọc sâu bằng binh chủng hợp thành đánh chiếm sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy. Đây là một vinh dự lớn nhưng cũng là nhiệm vụ rất khó khăn. Mục tiêu nằm sâu trong khu vực trung tâm phía nam thị xã Buôn Ma Thuật, có diện tích khoảng hai kilômét vuông, với nhiều phân khu, có nhà cửa, lô cốt, tháp canh dày đặc, phức tạp; có hệ thống công sự, vật cản kiên cố nhiều tầng. Tại đây địch có hơn một nghìn tên, trang bị các loại vũ khí hiện đại, lại có xe tăng, xe bọc thép bố trí sẵn. Do những điều kiện khách quan về địch địa hình, khả năng trinh sát nắm địch của ta có hạn nên trong quá trình chiến đấu là quá trình nắm địch, bổ sung phương án và tổ chức thực hành đánh địch.

        Tiểu đoàn 4 do tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh chỉ huy. Để tiến công bằng sức mạnh đột kích, cơ động, thọc sâu, tiểu đoàn được tăng cường hai đại đội xe tăng, thiết giáp gồm 16 chiếc T54 và K63 thuốc tiểu đoàn 3 Trung đoàn xe tăng 273, một tiểu đoàn phòng không 371y, hai khẩu ĐKZ 75 ly, hai khẩu 12,7 ly và một trung đội công binh, một trung đội trinh sát.

        Vào lúc 1 giờ 55 phút ngày 10 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 198 đặc công bất ngờ nổ súng vào kho Mai Hắc Đế, sân bay lên thẳng Ngã Sáu và sân bay Hòa Bình. Cùng lúc, các loại pháo chiến dịch của ta bắt đầu bắn phá vào sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy và nhiều mục tiêu khác trong thị xã. Đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn 23 ngụy từ nhà riêng vội vã đến trung tâm chỉ huy rồi rúc vào hầm ngầm. Vũ Thế Quang gào trong máy bộ đàm ra lệnh cho Nguyễn Trọng Luật:

        - Anh cho quân chốt chặn các ngả đường vào thị xã, và cho một đại đội bộ binh cùng bốn xe bọc thép Ml13 ra chốt ở Ngã Sáu ngay!

        Ra lệnh xong cho Luật, Vũ Thế Quang gọi máy bay đến oanh tạc ngăn chặn đối phương. Quang còn điện xin Lê Trung Tường, tư lệnh sư đoàn 23 ngụy cho quân tiếp viện.

        Nguyễn Trong Luật, lập tức ra lệnh cho quân địa phương, ra các ngả đường dẫn vào thị xã. Nhưng cũng chẳng được là bao! Trừ bốn xe Ml13 là có mặt ở Ngã Sáu.

        Trong khi đó, Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2, tư lệnh quân khu 2 ngụy vẫn nhắc Vũ Thế Quang cố giữ thị xã trong vài ngày, vì cho rằng Cộng sản không đủ sức kéo dài cuộc chiến đấu mà chỉ đánh như hồi Tết Mậu Thân năm 1968.

        Trên hướng Tây, tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh bí mật cho các phân đội vào chiếm lĩnh trận địa. Theo các lộ tiêu chỉ đường, xe tăng, xe bọc thép chở quân của ta băng qua các lô chè, cà phê, vượt qua các ổ đề kháng vòng ngoài của địch, nhằm hướng cửa mở lao tới.

        Ngay từ sáng sớm, đại đội 2 tiểu đoàn 4 do đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy đã dùng mìn bộc phá mở cửa.

        Xe tăng ta tiến vào cứa mở, nhưng khói bụi mịt mù làm chiến sĩ lái không nhìn rõ đường. Trước tình hình đó, Lê Xuân Chuyển lệnh cho trung đội trưởng Nguyễn Đức Lập:

        - Khói bụi che lấp đường tiến của xe tăng, đồng chí cho người cầm cờ đứng hai bên cửa mở làm lộ tiêu cho xe tăng ta tiến vào.

        Bất chấp nguy hiểm Nguyễn Đức Lập và Kiêu Hải Âu cầm cờ đứng hai bên cửa mở hướng dẫn cho xe tăng ta vượt lên.

        Lúc này tiểu đoàn Trương Quang Oánh, lệnh cho đại đội 1:

        - Đồng chí Thứ, cho bộ đội lên xe K63, rồi nhích dần đội hình lên phía trước.

        Sự xuất hiện bất ngờ, một lực lượng mạnh có xe tăng, xe bọc thép ở ngay sát cơ quan đầu não của địch khiến chúng vô cùng hoảng sợ.

        Địch cho máy bay oanh tạc dữ dội vào đội hình quân ta. Đại đội trương đại đội bộ binh Hoàng Xuân Thứ và đại đội trưởng đại đội 9 xe tăng Đoàn Sinh Hưởng bình tĩnh chỉ huy bộ đội dùng súng 12 ly 7 trên xe tăng đánh trả máy bay địch và tiếp tục cho bộ đội tiến công.


Tiêu đề: Re: Đuờng vào Buôn Ma Thuột
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2020, 08:25:02 pm

        Lực lượng thọc sâu của tiểu đoàn 4 thọc qua khu gia binh rồi phát triển tiến công sang khu tuyến trên. Do lầm tưởng đây là sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy nên hai chiến sĩ Chinh va Nghĩa lao lên cắm cờ. Địch bắn cả hai trúng đạn hy sinh. Tại khu vực cột cờ khu truyền tin cuộc chiên đấu giữa các chiến sĩ đại đội 1 Tiểu đoàn 4 và quân địch diễn ra giằng co quyết liệt. Trung đội trưởng Bùi Đức Chín và chín chiến sĩ lần lượt ngã xuống.

        Tiểu đoàn trương Trương Quang Oánh ra khỏi xe bọc thép K63, chỉ huy bộ đội chiến đấu. Anh xông xáo lên trước đội hình tiểu đoàn chỉ thị mục tiêu cho súng cối 60 của ta bắn. Rồi anh ra lệnh cho đại đội 3 là lực lượng dự bị của tiểu đoàn bước vào chiến đấu. Trương Quang Oánh dẫn đầu đơn vị thọc sâu nhanh chóng đánh xuống phía nam vào khu vực vận tải và khu kỹ thuật. Tại đây, lực lượng thọc sâu của ta bị súng cối, súng M79 của địch bắn mạnh vào đội hình, vẫn không ngăn được bước tiến của quân ta. Một khẩu đại liên xuất hiện bất ngờ bắn xối xả về phía quân ta. Trương Quang Oánh trúng đạn ngã xuống, khi cuộc chiên đấu diễn ra vô cùng khẩn trương và ác liệt.

        Sau một đợt chiến đấu, đến 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn làm chủ hoàn toàn khu gia binh, khu vận tải, khu truyền tin, nhưng tiểu đoàn 4 cũng bị tổn thất khá lớn: Sáu mươi cán bộ chiến sĩ thương vong, trong đó có tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn 24 ra lệnh cho tiểu đoàn 4 tạm dừng tiến công để củng cố và ổn định tổ chức.

        Trời tối dần, một lực lượng bộ binh có xe tăng địch yểm trợ từ tiểu khu Đắc Lắc mở đợt phản kích vào tiểu đoàn 4. Đại đội 1 nhanh chóng chia làm hai mũi cùng xe tăng đánh vào đội hình quân địch ở khu tiểu đoàn quân y và làm chủ khu vực này lúc 18 giờ.

        Trong đêm 10 tháng 3 năm 1975, bộ đội ta lợi dụng đèn dù và những đám cháy lớn, tranh thủ củng cố công sự và nhận thêm vũ khí, đạn dược chuẩn bị cho cuộc tiến công ngày hôm sau. Ở phía sau chỉ huy, Trung đoàn 24, kịp thời điều động lực lượng tăng cường cho Tiểu đoàn 4 và tập trung lực lượng vận tải chuyển đạn bổ sung cho bộ binh và xe tăng ở mũi thọc sâu...

        Cũng trong ngày 10 tháng 3, trên các hướng tiến công của các đơn vị bạn vào thị xã Buôn Ma Thuật cũng diễn ra vô cùng ác liệt. Trung đoàn 95B, giành giật quyết liệt với địch và chiếm được Ngã Sáu, rồi phát triển vào tiểu khu Đắc Lắc. Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) phát triển dọc theo đường Phan Bội Châu. Ở phía nam, các chiến sĩ Trung đoàn 174 và 198 đặc công đánh địch ở khu kho Mai Hắc Đế, rồi tiến vào trong thị xã.

        Đối với tiểu đoàn 4 lúc này là tập trung lực lượng nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy.

        5 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3 năm 1975, pháo chiến dịch của ta và hỏa lực của đơn vị dồn dập bắn vào sở chỉ huy địch, phá hỏng nhiều công sự, lô cốt, ụ súng. Đúng 6 giờ, Tiểu đoàn 4 được lệnh tiến công. Mỏ đầu, các chiến sĩ đại đội 2 liên tiếp đánh bốn giá mìn ĐH, tạo một cửa lớn xuyên qua bốn lớp rào kẽm gai thông từ khu quân y đến khu nhiên liệu. Một quả đạn ĐKZ của ta bắn trúng vào bồn xăng, lửa bùng lên che kín cửa mở. Đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển hét lớn:

        - Đại đội vòng sang phía bắc đường!

        Khi đại đội 2, tiến lên phía bắc, gặp hàng rào. Lê Xuân Chuyển ra lệnh:

        - Đưa hai giá mìn ĐH lên đánh, mở cửa!

        Hai chiến sĩ đeo hai giá mìn ĐH lên đánh, hàng rào vẫn chưa hết. Một số chiến sĩ lao lên dùng bộc phá ống mở cửa. Thấy cửa mở chưa sạch, mặc cho địch bắn như vãi đạn, hai trung đội trưởng Lập và Nhung kéo rào thép gai cho xung kích luồn qua đánh vào bên trong.

        Đại đội 2 chia làm hai mũi đánh lướt qua các mục tiêu làm chủ khu vực liên đoàn 350. Phối hợp với đại đội 2, đại đội 1 cùng 3 xe tăng, thiết giáp đánh dọc theo trục đường chiến khu chiến tranh chính trị của địch. Đến đấy, anh em phát hiện ở phía bắc có biển đề "Bộ tham mưu", lập tức tiểu đoàn tập trung cả đại đội 1 và đại đội 2 va xe tăng, thiết giáp cùng đột pha. đánh chiếm Bộ tham mưu địch.

        Hỏa lực xe tăng và hỏa lực bộ binh ta bắn mãnh liệt vào các mục tiêu bên trong. Đại đội 1 đánh từ hướng nam lên, đại đội 2 từ hướng tây nam đánh lại. Hai chiếc Ml13 của địch liều mạng xông ra chặn trước cổng chính Bộ tham mưu, lập tức bị hai xe tăng của ta bắn cháy. Cuộc chiến đấu ở dây diễn ra quyết liệt, ta và địch giành giật nhau từng ụ súng, lô cốt, căn nhà. Bộ đội ta dùng lựu dạn, AK đánh gần, diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Lợi dụng lúc địch sơ hở đang tập trung chống đỡ mũi tiến công của đại đội 1 và đại đội 2, đại đội trưởng xe tăng Đoàn Sinh Hưởng dẫn đầu mở hướng tiến công về phía tây, đánh tràn qua cổng chính. Sau khi bắn sập một góc cổng chính, xe tăng ta húc đổ cổng sắt rồi dẫn dắt bộ binh đột phá vào trung tâm chỉ huy sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy.

        Cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 4 đến lúc này tuy phát triển thuận lợi nhưng cũng vô cùng quyết liệt. Tổ cắm cờ của Tiểu đoàn 4 đã bốn lần chuyền nhau lá cờ. Người trước ngã xuống, người sau lại cầm cờ tiến lên. Cuối cùng, lá cờ quyết chiến quyết thắng thấm máu chiến sĩ Tiểu đoàn 4 được Nguyễn Văn Thắng, Phạm Văn Vỵ, Đoàn Duy Tộ thuộc đại đội 1 cắm lên nóc nhà sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Lúc đó là 10 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975.

        Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thọc sâu, tiêu diệt và làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy ở thị xã Buôn Ma Thuột, góp phần xúng đáng vào chiến công chung trong trận then chốt mở màn chiến dịch Tây Nguyên đại thắng.

L. H. T.       

HẾT