|
Tiêu đề: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 09:18:48 pm - Tên sách : Đứa con lạc mẹ - Tác giả : Trần Diễn - Nhà xuất bản Công an nhân dân - Năm xuất bản : 2003 Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 09:20:57 pm PHẦN MỘT LƯU LẠC CHƯƠNG MỘT NÓI CHUYỆN VỚI TÊN LỪA ĐẢO Kôbasi là một thanh niên người Nhật Bản quê ở Thủ phủ Kyôtô xách túi đi xuống phía Nam, đến đảo Liutô đón mẹ con Nguyệt Nga. Anh đi qua chùa Xinira tới con đường hẹp, trời vẫn còn tranh tối tranh sáng. Nhưng đường anh đi không khó khăn lắm vì vầng dương đã lan tỏa xuống biển, bao trùm cả đảo, và những hoa anh đào phớt hồng bên đường làm đường đi sáng sủa hơn. Phút chốc, Kôbasi đã tới nhà mẹ con Nguyệt Nga, anh gõ cửa. Hình như Nguyệt Nga đã chuẩn bị đón Kôbasi tù lâu nên cô đi ra ngay, run rẩy mở khóa. Qua ô kính mờ, cô nhận ra Kôbasi. Nhưng sao sáng nay cửa khó mở đến lạ lùng. Rồi cánh của cũng nặng nề hé ra, khép lại. Kôbasi nhìn Nguyệt Nga - một cô gái Việt Nam trong bộ đồ Kimônô màu xanh nước biển đẹp lạ thường. Nguyệt Nga cũng nhìn Kôbasi. Không khí trong căn phòng, không, ngay sau cánh cửa đột nhiên lặng hẳn đi. Trái tim chàng thanh niên Nhật và cô gái Việt Nam hình như đều ngừng đập, bởi vì họ thấy rõ, chỉ còn vài giờ nữa đã phải chia tay nhau để Nguyệt Nga theo mẹ về Việt Nam. Sự chia biệt xâm chiếm cả hai trái tim. Kôbasi nhìn Nguyệt Nga không biết chán, và cảm thấy hình như da thịt cô sau làn vải nóng bỏng làm tan mọi băng giá của sự chia biệt. Anh cầm tay Nguyệt Nga kéo vào lòng. - Anh sẽ đi Tôkyô cùng em. Nguyệt Nga ngước mắt long lanh nhìn Kôbasi. Luồng gió biển buổi sớm ào qua cửa. Ngược lại luồng gió là tiếng chân chị Nguyệt, mẹ Nguyệt Nga. Những cái môi con của hai người tìm nhau vụng trộm rời ra. Nguyệt Nga đẩy khẽ Kôbasi ra xa. Trái tim hai người tự nhiên đều nén lại. Vì họ biết đó là nụ hôn cuối cùng trước khi họ bưởc xuống ca nô đi vào hòn đảo lớn hơn để đến Chi-ba. Từ đây Kôbasi thuê xe ôtô chở mẹ con Nguyệt Nga đến thẳng Toà đại sứ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở Môtô Yôyêgi, Tôkyô. Chiều hôm sau, Kôbasi lại đến Tòa đại sứ đón mẹ con Nguyệt Nga đưa ra sân bay Nakita đi Hồng Kông khi thành phố đã lên đèn. Nguyệt dắt con đi qua khu giữa, nơi có chiếc ảnh khoả thân khổng lồ với những ánh điện màu nhấp nháy. Chị không đi ô tô buýt, không đi tàu điện mà đến bên chiếc xe kiệu. Kéo xe là người Trung Hoa khoảng năm mươi tuổi, vắt chiếc khăn mặt bông trắng trên vai tươi cười nói: - Nín suy nả? Nguyệt không biết tiếng Trung Quốc, nhưng chị cũng đoán chắc ông ta hỏi mình: Bà đi về đâu?... Nguyệt nói một câu xã giao thông thường: - Tôi từ Nhật đến. Rồi chị rút trong túi ra một tờ giấy Kôbasi đã viết sẵn đưa cho người kéo xe, nhưng ông ta xua xua tay. Những tháng ngày ở Nhật, Nguyệt ý thức được rằng, mình sống giữa một dân tộc khác, cuộc sống thật lạnh lùng cô đơn. Một sự cô đơn đắng cay, dai dẳng. Bây giờ đứng giữa Thành phố Hồng Kông xe cộ chạy đến chóng mặt với bàn tay vẫy vẫy của người đàn ông làm chị càng tuyệt vọng trước cuộc sống nơi đất khách quê người. Chị đứng như ngây dại nhìn và nhớ cặn kẽ mọi sự xảy ra đâu đó đến từng chi tiết nhỏ nhặt. Ông già đưa cánh tay dài như cành củi khô, xòe bàn tay run run chỉ vào chiếc xe kiệu. Nguyệt biết rằng đó là thái độ mời khách lịch sự của một người ngôn ngữ bất đồng. Chị đành đọc phiên âm dòng chữ bằng tiếng Trung Quốc. - Tôi đi về khách sạn Đông Phương. Ông già ngẩng gương mặt đờ đẫn không còn chút ý chí, một cái nhìn không có linh hồn, thân thể còm cõi đến rũ rượi. Nguyệt nhìn ông già rồi tự hỏi: Chẳng lẽ ở Hồng Kông hoa lệ, con người ăn chơi đến tàn bạo lại còn người già đau khổ tội nghiệp này sao? Nguyệt không hề nói nửa lời, chị dắt Nguyệt Nga bước lên xe kiệu. Ông già còng lưng xuống bắt đầu kéo. Bánh xe trải đều trên đường nhựa hòa vào dòng người xe như mắc cửi. Nguyệt Nga nép người vào lòng mẹ. Nguyệt quàng tay ôm con, mắt không rời thân hình ông già kéo xe như đang quỳ sụp xuống và van nài "Thưa bà, tôi mệt lắm rồi...". Bỗng bên đường, tiếng rao: "Hoa kiều đêm báo đây!". "Đài Bắc nhật báo đây!" vang lên làm chị giật mình quay mặt nhìn. Chú bé mặt tròn bầu mắt một mí tiến đến nói: "Mời bà mua báo!". Ông già dừng xe lấy khăn lau mồ hôi nói đôi lời, cậu bé liền bỏ đi ngay. Nguyệt nghĩ, có lẽ ông già bảo: "Bà ấy là người Nhật không biết đọc chữ Trung Quốc". Cậu bé kiễng chân sáo bước đi, ông già lại tiếp tục còng lưng bước. Chẳng mấy chốc xe kiệu đã đưa mẹ con Nguyệt đến khách sạn Đông Phương. Vừa bước xuống xe, một cô gái mặc bộ đồ mini sang trọng có nhiều đường viền bước đến. Nguyệt tự hỏi: "Cô ta là gái bán bar hay là hầu phòng khách sạn?" - Bà muốn thuê phòng? Nguyệt không hiểu cô gái hỏi gì, vội đưa giấy tờ. - Ồ, bà là người Việt Nam muốn thuê phòng. Sau khi hí hoáy ghi, thu tiền, cô ta dẫn Nguyệt đi lên tầng bốn theo cầu thang máy, mở cửa một căn buồng nhìn về phía bán đảo Cửu Long. - Đây là buồng của bà. Cô gái nói giọng rất từ tôn. Lúc này Nguyệt mới nhận ra đó là một thiếu nữ khá xinh đẹp. Mái tóc đen mềm như tơ cắt ngắn ngang tai được rẽ ra bằng một đường ngôi làm tôn thêm gương mặt non nớt đầy vẻ lo âu. Trông cô gái, Nguyệt đoán nghề nghiệp của cô là hầu buồng hoặc bán bar. Cô nhìn mẹ con Nguyệt lặng lẽ hồi lâu rồi đi ra. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 09:21:27 pm Đêm đó, Nguyệt không sao ngủ được, chị mở cửa sổ nhìn xuống đường, nhìn thành phố, nhìn dòng người vô tận đi lại. Nguyệt mong trời chóng sáng để sớm được trở về với dòng sông Thương, về với Sơn. Chị quay vào buồng ngủ mong tách ra khỏi cảnh dòng người huyên náo, tiếng cười nói ồn ào đang luồn lách vào từng nhà của thành phố hoa lệ. Chị kéo chăn đắp, nhưng tiếng người, xe vẫn không giảm bớt. Nguyệt phủ phục trên gối như người chết nằm sấp. Chị đang nghĩ gì? Chị đang ước ao được sớm trở về Việt Nam, trở về quê hương mình. Lúc này, tất cả đều tập trung cho một cầu nguyện thiêng liêng sớm được trở về Tổ quốc chứ không thể sống cuộc đời của con chim di trú. Nguyệt sung sướng nghĩ đến giờ phút thiêng liêng đứng bên dòng sông Thương ngắm dòng sông bên lở bên bồi, bên lở thì đục, bên bồi thì trong. Thế nhưng ngay khi ấy mình vẫn phải giấu đi điều ân hận đã đẩy người yêu vào con đường tội lỗi. Ôi anh Sơn ơi! Chính vì điều đó em đã ra đi trong đàn chim di trú để sống nơi đất khách quê người. Nhưng có đi em mới hiểu được rằng mẹ bao giờ cũng thương con. Bao tháng ngày xa Tổ quốc chưa bao giờ Nguyệt có cảm giác sung sướng như lúc này. Chị gục đầu xuống gối khóc thầm như cố nhớ lại những ngày tháng tuyệt diệu vô giá ở Trường Sơn. Rồi chị ngửng mặt lên như nhìn thấy phía trước có Sơn. Chị kêu thầm: "Anh ơi! Hôm nay em đang trên đường trở về Tổ quốc để tạ tội trước anh, anh có còn giận em không". Nguyệt thả mình trong những ý nghĩ đó cho đến khi đèn đường thành phố phụt tắt. Lại vẫn cô gái mặc đồ mini đến tìm Nguyệt. - Mời bà ra xe! - Để làm gì? - Để đi lấy vé máy bay và hộ chiếu. - Còn con tôi? - Cứ để cháu ngủ. Nguyệt tỏ ra ái ngại. - Đi đâu thì cả hai mẹ con tôi cùng đi! - Tôi đưa bà đi và sẽ đưa bà về. - Không. Tôi không đi đâu cả. - Nhưng đây là mệnh lệnh của ông chủ - Dừng một lúc cô gái nói tiếp - nếu không nghe theo, bà không có hy vọng trở về Việt Nam. "Trời ơi! Thế là mình có thể sa vào cảnh bế tắc!" Nguyệt gục đầu xuống, người run lên. Chị nghĩ rằng, bây giờ phản đối hay chấp thuận đều không có nghĩa gì. Đã đến cảnh cùng cực này, mình phải theo lao. Chị thay bộ đồ kimônô đang mặc bằng chiếc quần âu vải tôbican Nhật và chiếc áo len cánh dơi, xách túi ra đi. Ô tô đưa chị đến một tòa nhà trắng trong khu vườn trông tựa như một tòa lâu đài trong truyện cổ tích. Cô gái dẫn Nguyệt bước vào cầu thang máy, bấm chuông lên gác bốn. Vẫn cô gái đó chủ động gọi cửa buồng số hai mươi bảy. Nguyệt sửng người. Trước mặt chị là Năm Hổ, người mà chị đã từng gặp ở Khách sạn Thái Bình Dương, Đà Nẵng năm nào. - Chào ông! - Nguyệt miễn cưỡng đáp lễ. Năm Hổ nhìn xoáy vào mặt Nguyệt. - Chắc Nguyệt không quên tôi chứ. - Trời ơi! Các ông quả là những người ác độc - Hai tay Nguyệt đưa tay bưng mặt rồi ngồi xuống chiếc ghế đệm mút, người nóng bừng, gian phòng bắt đầu ngả nghiêng trước mặt - Các ông không chịu buông tha tôi. - Không! - Không ư? Nguyệt nhìn Năm Hô bằng con mắt mở rộng. - Chúng tôi chỉ muốn hỏi Nguyệt tại sao viết thư về Việt Nam lại ghi người gửi lúc là Hà Nguyệt Nga khi ghi Hà Sơn Lâm. - Trời ơi - Nguyệt có cảm giác như mình vừa bị rơi xuống vực thẳm - Thế tức là... tức là ông đã đọc hết thư của tôi...? - Không! - Ông là người mà lòng dạ xảo quyệt hơn quỷ, là một con quái vật. Năm Hổ giơ tay lên xem đồng hồ. - Ta đã tìm kiếm em mười mấy năm nay rồi, bây giờ mới gặp lại. Năm Hổ đứng dậy đi đến bên Nguyệt, đặt tay lên vai chị định kéo chị vào lòng. - Buông ra. Ông là người vô lương tâm. Bàn tay Năm Hổ bóp chặt hơn. Nguyệt gào lên vật vã: - Buông ra. Năm Hổ luồn tay qua nách Nguyệt ghì chặt vào lòng mình, dùng toàn thân ấn Nguyệt xuống. Nguyệt nghiến răng dùng sức vùng ra. Năm Hổ vẫn ôm chị như thể không cưỡng nổi niềm khoái lạc đã lên men trong đầu. Nỗi căm hờn và giận dữ dồn lên cánh tay Nguyệt, chị giơ tay tát mạnh vào má Năm Hổ. - Đồ đểu! Và đúng lúc ấy, tiếng chuông cửa vang lên. Năm Hổ sợ hãi đứng lên sửa lại quần áo. Tiếng chuông ngừng một lát rồi lại vang lên. Nguyệt vẫn ngồi im trên ghế, mặt đỏ bừng, tức giận. Năm Hố lấy bao thuốc ba số "555" châm lửa hút đi ra mở cửa. Mếch-cơ, điệp viên C.I.A từng cộng tác tại Chi cục Tình báo Trung ương Mỹ tại Đà Nẵng và cũng là người từng hỏi cung Nguyệt bước vào. - Chào bà! - Mếch-cơ bước đến trước mặt Nguyệt - Chắc bà còn nhớ tôi chứ. Nguyệt vẫn ngồi im lặng. - Sao bà không trả lời? Hay ông Năm Hổ đây có điều gì làm bà phật lòng? Nguyệt vẫn đứng im. Sự tức giận và hối hận ập đến, như một ngọn lửa thiêu đốt chị. "Tại sao ông ta biết mình đang trên đường về Việt Nam?". Chị có cảm giác như có ai tát vào mặt mình. "Vậy ra họ vẫn theo sát mình? Ôi, thế nghĩa là mình chạy đi đâu thì cũng không thoát khỏi bàn tay của kẻ thù...". Ánh đèn nê ông hòa với màu xanh của căn phòng cũng không làm dịu đi nỗi đau nhức nhối trong Nguyệt, người con gái đã bỏ chạy Tổ quốc mười lăm năm trời. Nguyệt vẫn đứng im nhìn qua cửa sổ, nhìn về phía khói đen lơ lửng trên khu công nghiệp Thanh Y. "Họ vẫn theo mình từng bước, thật là ghê sợ, thật là thâm độc". Nguyệt nhìn thẳng mặt Mếch-cơ: - Lại tiếp câu chuyện mười lăm năm trước. Mếch-cơ dửng dưng, lạnh lùng: - Vâng, đúng thế. Thưa bà! Nguyệt cúi gục. Trước mặt chị hiện lên những năm tháng ở Trường Sơn, những tháng ngày gặp Mếch-cơ ở Đà Nẵng. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:40:21 pm * Sau khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa, Nguyệt được điều vào chiến trường, phiên chế vào đơn vị của Sơn, bắt đầu cuộc trường chinh luồn lách qua những viên đá củ đậu, những cành lá nhọn sắc vượt qua đèo Mụ Dạ làm nhiệm vụ lắp đặt hệ thống dẫn dầu xuyên Trường Sơn. Phải nói rằng hệ thống đường ống này trở thành huyết mạch chuyển xăng dầu cho chiến trường. Chính vì vậy, cắt đứt mạch máu này là điều hấp dẫn đôi với các cơ quan tình báo Mỹ và các tướng lĩnh Sài Gòn. Mỹ đã sử dụng lực lượng SOG để thu thập tin tức, phá hủy. Lực lượng này hoạt động theo chương trình OPLAW 37 xác định các hoạt động bí mật do Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ ở miền Nam và Cục tình báo Trung ương Mỹ huấn luyện, chỉ đạo. Từ khi biết tin sư đoàn 559 bắc đường ống xăng dầu xuyên Trường Sơn, SOG tổ chức bắt cóc các kỹ sư của ta về khai thác và tháo gỡ từng đoạn đường ống. Trạm xăng dầu do Sơn phụ trách đảm nhiệm một đoạn đường ống dài mười lăm cây số, có bảy người, thay nhau đi tuần tuyến, giữ cho mười lăm cây số đường ống an toàn. Một hôm trời mưa như giội nước ào ào kéo cây côi, lá rừng ra biển Đông. Sơn và Nguyệt lại khoác súng lên vai đi tuần đường ống. Sơn bước ra khỏi lán trại. Nguyệt theo sau. Hai người ra đi trong lúc này có khi sống, khi chết, có hy vọng và tuyệt vọng. Tình yêu giữa họ đã nảy nở là hy vọng, là cuộc đời, là sức mạnh dẫn họ bước vào đêm mưa. - Có lẽ bà Nữ Oa quên mất nhiệm vụ vá trời nên mưa mới to như thế này - Sơn bắt đầu câu chuyện. - Em sợ nước lại cuốn trôi chúng mình như anh Chắt đêm nào. Bỗng quả đạn cối lẻ loi từ phía xa chọc thủng mây mưa rơi gần chỗ họ đi. Sơn ôm choàng lấy Nguyệt, hôn. - Anh sẽ là cái áo giáp che cho em. - Râu anh để dài quá. Lại một quả pháo bắn lên soi tỏ đôi mắt trũng sâu có quầng xám của Sơn. Pháo sáng tắt, họ lại tiếp tục đi. Gần sáng, mưa đã tạnh, Nguyệt và Sơn trải áo mưa lên tảng đá phẳng lỳ ngồi nghỉ, nhìn mảnh trăng vừa ló. - Em mệt, ngủ đi. - Em sợ ngủ lắm. Nhắm mắt vào là chỉ thấy anh Chắt hiện hồn về. - Cậu ấy đi như thế nào? - Đi lơ lửng. Nguyệt nằm ngửa, gối đầu vào đùi Sơn ngước nhìn anh. - Đúng đấy. Người đi bằng chân. Ma đi lơ lửng. Nguyệt như hoảng hốt ghì đầu Sơn xuống hôn. Giữa núi rừng Trường Sơn, trên tảng đá phẳng lỳ vừa được nước mưa kì cọ sạch sẽ, Nguyệt và Sơn đã tìm được sự bình yên hạnh phúc. Sơn ôm Nguyệt hôn như điên dại: - Anh sẽ là Thạch Sanh gác ma cho em ngủ. Lời của Sơn là lời cầu nguyện, là kế tục cảm giác tràn đầy hạnh phúc trong anh. - Lạy trời, chiến tranh chóng kết thúc để chúng mình tổ chức cưới. - Cưới ở đâu? - Ở quê anh. - Không, ở quê em cơ! Trên sắc mặt gầy xanh của Nguyệt ngời lên nụ cười tươi tắn, mơ màng. Bình yên vô hạn. - Anh thích đứa đầu con trai hay con gái? - Một lần đẻ được cả hai. Nguyệt kéo Sơn xuống bên. - Thế thì em đến vỡ bụng mất. Mưa lạnh. Ánh trăng bắt đầu choàng lên cánh rừng những chiếc khăn bông trắng xốp. - Nếu đẻ con trai anh đặt tên gì? Dường như đã nghĩ từ lúc hai đứa ngủ với nhau ở Hang Rơi, Sơn trả lời ngay: - Hà Sơn Lâm. - Và con gái? - Hà Nguyệt Nga. - Thế là chúng mình có hai đứa con rồi. Con trai giông bố, con gái... Bỗng từ trong những gốc cây cháy trụi đen ngòm, từ sau tảng đá nhấp nhô có tiếng quát: - Giơ tay lên. Sơn và Nguyệt hoảng hốt buông nhau ra. Sơn vội cầm súng tỳ khuỷu tay xuống tảng đá quan sát. Tằng! Tằng! Tằng! Tiếng súng từ bốn phía vang lên, chớp lửa rung rừng chuyển đất vút lên không trung đan chéo trên bầu trời. Luồng gió và khói thuốc xông lên mũi Sơn và Nguyệt như mùi thú dữ, tim họ đều loạn nhịp. Khi thấy tiếng súng nổ chéo chéo qua đầu, anh cúi xuống, ngẩng đầu lên đã thấy các họng súng đen ngòm, khiến máu trong người anh như đọng lại. Nguyệt ép sát vào người Sơn khiếp sợ. Đôi mắt Sơn đang nhìn bọn lính ngụy như hai hòn đá bị nung đỏ muốn vỡ ra. Nguyệt vẫn nhìn Sơn gọi tiếng "anh!" một cách tuyệt vọng. Nguyệt và Sơn nhìn chằm chằm vào lưỡi lê chĩa vào hai bên hông họ. Đó là giây phút tàn khôc và nguy hiểm nhất kể từ khi vào Trường Sơn đối với Nguyệt và Sơn. Cả hai người bị lực lượng biệt kích SOG bắt đưa lên máy bay trực thăng chở về Đà Nẵng. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:35 pm * Ngay hôm đó, chúng chuyển Nguyệt đến Khách sạn Thái Bình Dương Đà Nẵng đầy đủ tiện nghi. Đêm đêm có thể mở cửa sổ nhìn ra biển Thanh Bình, nhìn dòng sông Hàn lấp lánh ánh điện. Trong phòng có ti vi, tủ lạch, radiô cát sét, báo, sách, bồn tắm và xà phòng thơm, khăn tắm còn nguyên mùi vải. Trên tường treo bức ảnh sơn mài Chùa Một Cột. Sơn đã từng là lưu học sinh đi học ở nước ngoài về nên cảnh sống khách sạn này cũng không có gì mới lạ. Còn Nguyệt, là một cô gái ở thị xã Bắc Giang theo học khoa chế tạo máy đại học Bách khoa, chưa hề nghỉ ở khách sạn sang trọng kiểu này nên khá ngỡ ngàng. Chị không hình dung nổi, tại sao mình bị bắt mà lại được sống trong căn phòng sang trọng. Đêm đêm, chị mở cửa sổ nhìn về phía chợ Cồn kiên nhẫn suy nghĩ, kiên nhẫn chờ đợi. Một buổi sáng, cửa mở, một người phục vụ bước vào. - Mời ra. Chị dò hỏi đôi lời, song người phục vụ chỉ nói: - Tôi cũng không biết. Chị đành bước theo người phục vụ đi dọc hành lang còn thơm mùi nước hoa, xà phòng thơm các loại. Các cô phục vụ ngồi ở các quầy bán hàng lưu niệm và phục vụ nhìn Nguyệt một cách kênh kiệu. Chiếc ô tô có kính lọc màu đỗ sát cửa khách sạn. Theo sự chỉ dẫn của người đưa đường, chị lên xe. Ô tô chạy vòng vèo khoảng hai mươi phút sau mới lao vào số nhà 52 phố Bạch Đằng. Đó là trụ sở Lãnh sự quán Mỹ tại Đà Nằng nằm ngay bên bờ sông Hàn. Nguyệt được dẫn vào một căn buồng trên gác hai khu nhà trong cùng. Mếch-cơ - thiếu tá tình báo CIA đang ngồi bên bộ bàn phủ nỉ màu đỏ với những tập hồ sơ và máy điện thoại. Thiếu tá Mếch-cơ quần áo bảnh bao, áo cộc tay cho vào trong quần để lộ đôi tay đầy lông màu hơi vàng chỉ vào chiếc ghế đối diện mời Nguyệt ngồi rồi bắt đầu cuộc thẩm vấn. Không, phải gọi là nói chuyện mới đúng hơn. Bởi vì, thiếu tá Mếch-cơ nói tiếng Việt khá chuẩn, không doạ dẫm, không nạt nộ, mọi cử chỉ đều lịch sự. - Tên bà là gì? Nguyệt trả lời một cách nhấm nhang: - Nguyễn Thu Nguyệt. - Trời ơi, Thu Nguyệt - sắc mặt Mếch-cơ rạng sáng hơn - có phải tiếng Việt "thu" là mùa thu. Nguyệt là trăng. Trăng mùa thu thì đẹp lắm - Mếch-cơ nhìn Nguyệt - Tên bà đẹp như thế nào thì người bà như thế. Bà có hút thuốc không? - Xin lỗi, tôi không biết hút. - Bà cho phép tôi được hút chứ? - Mời ông! Mếch-cơ rút điếu thuốic ba số "555" để trên bàn, bật quẹt ga. - Con gái mà học nghề chế tạo máy có vất vả lắm không? - Đó là nghề tôi thích. - Thế sao bà không chọn nghề ngân hàng, thương nghiệp, hóa thực phẩm... có phải thích hợp với phụ nữ hơn không - Nguyệt ngồi im hồi lâu. Tự nhiên chị lại nhớ tới cái buổi mới vào trường, được phân vào học ngành dệt nhưng vì Yến bạn thân ở khoa chế tạo máy nên đã xin chuyển để được học cùng. Tuổi trẻ nào có nghĩ đến ngành nghề vất vả hay... - Bà tốt nghiệp năm nào? - Cách đây năm năm. - Sau đấy bà nhận công tác ở đâu? - Tại sao ông hỏi kỹ như thế - Nguyệt nghĩ họ đang điều tra về mình. - Ồ, một cuộc nói chuyện mà - Mếch-cơ ngả lưng vào thành ghế, nhìn sang phía trung tá Năm Hổ - Ông Hổ bảo tôi, con gái trí thức miền Bắc nói chuyện lịch sự, có duyên. Một thanh niên nước Mỹ như tôi, thích nói chuyện với con người có hiểu biết. Tôi biết bà và ông Sơn là những kỹ sư bắc đường ống dẫn dầu xuyên Trường Sơn. Mà đã là người bắc đường ống dẫn dầu thì chỉ là người của quân đội hoặc của Tổng công ty xăng dầu. Nghe nói, con gái miền Bắc đảm việc nhà, lo việc nước mà nào tôi có gặp trực tiếp bao giờ. Gặp bà là một dịp may hiếm có, nên tôi thích nói chuyện, thích nghe giọng bà nói. Bà cứ hiểu cho như thế. Câu nào thích thì bà trả lời, không thích thì thôi. Bà xem tôi có ghi chép gì đâu - Mếch-cơ xoè bàn tay - Bà gia nhập quân đội đã lâu chưa? - Tôi không phải là người quân đội. Xác định Nguyệt là kỹ sư của Tổng công ty xăng dầu, Mếch-cơ định hướng tiếp cho những câu mình hỏi. Phương pháp hỏi của Mếch-cơ là nêu biết chắc thì hỏi thẳng vào sự việc, con người, khi chưa có tài liệu thì hỏi vòng quanh, hỏi việc nhà, bạn bè sinh hoạt để tìm ra vấn đề mình muốn biết. - Bà tình nguyện đi vào Trường Sơn hay bị ép buộc? - Đó là điều tôi mong ước. Mếch-cơ cười tỏ vẻ thông hiểu: - Phải nói rằng đó là lý tưởng mới đúng chứ - Mếch-cơ thấp giọng - Ông Sơn là người cùng quê bà hay sao?... - Ông ấy là người tỉnh khác. - Bà là người thân quen với ông Sơn, bà có biết quê ông ấy có gì nổi tiếng không? - Có chứ, có ông vua mà thuở nhỏ đã phất cờ lau tập trận để lớn lên dẹp loạn mười hai sứ quân. - Trời ơi, ông Đinh Tiên Hoàng, ông ấy quả là con người tài ba, thống nhất giang sơn nước Nam về một mối. Có lẽ ông Sơn mang trong mình dòng máu đó nên đã đi Trường Sơn để tiếp bước cha ông. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:53 pm Mếch-cơ nói chuyện nhiều về lịch sử, về sinh hoạt, học hành của Sơn và Nguyệt. Thái độ lịch sự của ông ta cùng những thủ đoạn quanh co lắt léo, hỏi xa, hỏi gần làm Nguyệt không hiểu được ý đồ cuộc nói chuyện. Nhưng với nghề nghiệp của một tình báo viên cáo già, chuyên nghiên cứu tuyển chọn huấn luyện điệp viên ở vùng Đông Nam Á, Mếch-cơ đã tổng hợp toàn bộ các chi tiết, phác hoạ lên bức tranh khá đầy đủ về Sơn: Thuở nhỏ theo chú đi học ở thị xã Ninh Bình; Tốt nghiệp đại học nước ngoài, về nước nhận công tác tại Tổng công ty xăng dầu; vào Nam năm 1972 làm nhiệm vụ thiết kế bắc đường ống dẫn dầu xuyên Trường Sơn, hiện là kỹ sư trưởng một trạm xăng dầu. Sơn và Nguyệt yêu nhau chờ ngày ra Bắc cưới. Phía ngoài hành lang tiếng giày đinh lộp cộp của những người Mỹ và tiếng guốc của các cô phục vụ đi lại nhưng không lọt qua bức tường đã lót nỉ cách âm. - Bà và ông Sơn yêu nhau đã lâu chưa? - Từ ngày đi vào Trường Sơn. - Ông ấy vẫn thường hỏi thăm bà mà cả buổi nói chuyện tôi không hề nghe bà hỏi một lời về ông ấy sức khỏe ra sao, ăn ở thế nào. Hay bà đã quên... - Không - Nguyệt nói lên như thét - Tôi không bao giờ. Giọng Nguyệt hạ thấp rồi im hẳn. Đoán chắc tình yêu giữa Nguyệt và Sơn đã bùng cháy đến mức không ai có thể dập tắt, Mêch- cơ mới hỏi: - Bà định đặt tên đứa con đang trong bụng là gì? Nguyệt gục mặt xuống vừa hổ thẹn, vừa lo. Nỗi lo chưa cưới đã có con; đứa trẻ sinh ra ăn ở ra sao... cứ xâm chiếm lòng Nguyệt. Chị ngồi chết lặng trong suy nghĩ. Thế là họ đã biết hết về mình. Chắc anh Sơn lại khai báo rồi. Thực ra lúc đó Sơn chưa hề khai báo gì, Mếch-cơ biết chị có thai vì qua bác sĩ khám bệnh phát hiện ra báo lại. Mếch-cơ vẫn nhỏ nhẹ, ngọt nhạt: - Chẳng phải người Mỹ chúng tôi tò mò đâu mà chúng tôi muốn biết để giúp bà sinh nở mẹ tròn con vuông. Mếch-cơ im lặng theo dõi nét mặt của Nguyệt. Máu nóng bốc lên mặt như trách móc Sơn đã nói ra điều sâu kín của hai người. - Vấn đề tôi hỏi bà có liên quan gì đến chính trị đâu. Bà nên cho tôi biết tên đứa trẻ để gọi khi nó chào đời. Giọng Mếch-cơ tỏ ra chân thật. Nguyệt ngước mắt nhìn. - Ông hỏi gì?... Tôi đặt cho cháu tên là... Nguyệt cúi đầu, giọng lạc hắn đi - Hà Sơn Lâm. Biết Nguyệt đang bị xúc động mạnh, Mếch-cơ tiến công tiếp. - Đứa trẻ sinh ra có thế là con trai, có thể là con gái - Mếch-cơ nghĩ không hiểu Hà Sơn Lâm là tên đặt cho trai hay gái, ông ta rút thuốc hút, rồi hỏi một câu rất chung - Nếu là đứa con khác giới thì sao? Nguyệt thật thà trả lời: - Nếu là gái tôi đặt là Hà Nguyệt Nga. - Mời bà - Mếch-cơ đẩy đĩa kẹo về phía Nguyệt - Kẹo này tôi mang từ Mỹ sang đấy - Ông ta chọn một chiếc có giấy gói màu xanh đưa cho Nguyệt. Thái độ nói chuyện ân cần của Mếch-cơ làm Nguyệt giảm dần sự cách biệt mình là một người bị bắt. Bây giờ chị mới nhìn Mếch-cơ kỹ hơn. Không hiểu hắn ta học tiếng Việt ở đâu, bao lâu mà nói sõi thế. Chị cảm thấy dễ chịu nhất là trong buổi nói chuyện Mếch-cơ không hề đả động đến vấn đề chính trị. Ông nói chuyện, cư xử đúng là một con người lịch sự. Có lẽ mình cũng nên hỏi về anh Sơn xem sao. Mà có lẽ không hỏi thăm là vô trách nhiệm với cuộc sống mà hai đứa đã dành cho nhau. Nguyệt nghĩ như thế rồi ngẩng mặt lên nhìn Mếch-cơ: - Ông có thể cho tôi biết, bây giờ anh Sơn đang bị giam ở đâu không? Mếch-cơ cười: - Sao bà lại nói "giam". Tôi nói để bà yên tâm, ông Sơn đang sống đàng hoàng như bà và có phần hơn. Ở ngay tại Đà Nẵng này. Nguyệt vẫn chưa tin, hỏi tiếp: - Vì sao các ông không giam? Mếch-cơ nhún vai. - Vì ông ta là một kỹ sư, một trí thức. Bà biết đấy, nước Mỹ chúng tôi rất coi trọng trí thức. Mếch-cơ hoàn toàn giấu kín tình cảm của mình, còn Nguyệt không hiểu càng bộc lộ tiếp: - Ông có thể cho tôi gặp anh ấy được không? - Ồ, hoàn toàn có thể. Nhưng ngay bây giờ thì không. Mếch-cơ điềm tĩnh, sắc bén, chính xác trong từng câu hỏi, trả lời theo một ý đồ đã sắp xếp. Nguyệt quá mệt mỏi, mặt phờ phạc, nhợt nhạt. Mếch-cơ nhìn thẳng vào Nguyệt. - Có lẽ bà đã quá mệt, cần tĩnh dưỡng. Hôm nay tôi sẽ đưa bà về khách sạn, cùng bà dùng bữa cơm trưa. Mếch-cơ chủ động đứng lên. - Mời bà. Theo chiều tay của Mếch-cơ, Nguyệt đi ra cửa rồi lên chiếc ô tô đã chờ sẵn ở gần cầu thang. Chiếc xe Tôyôta bò ra khỏi cổng, chạy dọc theo đường Bạch Đằng. Ngồi trong xe, Nguyệt nhìn xuống dòng sông Hàn với câu hỏi mơ hồ: Tại sao người Mỹ lại đối xử tử tế với mình? Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:42:52 pm * Sáng hôm sau, Nguyệt vừa ăn sáng xong, người hầu phòng lại mở cửa bước vào. Theo sau cô gái là một gã đàn ông đẹp trai có bộ ria mép như sâu róm mặc bộ đồ ký giả màu cà phê sữa. - Thưa ông, đây là chị Nguyệt. Gã đàn ông đẹp trai cười nhã nhặn: - Chào bà! Người này cúi đầu lịch sự: - Xin giới thiệu, tôi là trung tá Năm Hổ người của quân lực Việt Nam cộng hòa đến phục vụ bà. Mời bà ra xe. Nguyệt hoàn toàn không hay biết ý định của Năm Hổ cũng như của Mếch-cơ. Chị tự hỏi: "Chúng định giở trò gì với mình đây?" và lặng lẽ bước theo sau Năm Hổ. Chị lại bị dẫn qua cái hành lang mà nhiều lần đã đi qua, lại vẫn mấy cô hầu phòng nhìn chị soi mới. Tất nhiên ngoài ông chủ khách sạn và một số gái hầu phòng thì tất cả các cô gái khác hay nói đúng hơn tất cả những người trong khách sạn đều không biết chị là ai. Ô tô vượt qua cầu Trịnh Minh Thế đi về phía bán đảo Sơn Trà. Lần đầu tiên có mặt tại Đà Nẵng, xe lại bịt kín, chị không biết chúng chở mình đi đâu. Một lúc sau, xe giảm số đi chậm hơn, chị có cảm giác đang lên dốc. Xe dừng lại, Năm Hổ mở cửa bước ra. Gió biển thổi thốc vào mát rượi. Cả phía trước là biển với chân trời nối nhau. Chị chợt nghĩ: "Hay chúng đưa mình đi thủ tiêu? Nếu chết ngạt như thế này thì không gì đau khổ bằng". - Xin bà xuống xe. Năm Hổ chỉ tay mời Nguyệt đi. - Chào trung tá. Họ giơ tay chào kiểu nhà binh và nhìn Nguyệt với thái độ kính nể. - Thưa trung tá - Tên cai ngục nhìn Năm Hổ - Tên tù cộng sản này nguy hiểm lắm, nó đã hai lần tổ chức vượt ngục. Để đảm bảo cho nên an ninh cộng hòa, tôi đề nghị trung tá hãy cho hắn án tử hình. Năm Hổ chầm chậm quay lại: - Tôi sẽ có quyết định dứt khoát vào tuần sau. Nhưng trước hết, theo yêu cầu của người Mỹ, ông hãy mở cửa nhà giam, cho bà lớn này vào thăm. Tên cai ngục vội bỏ bộ mặt quan quyền, thấp giọng hơn: - Ngay bây giờ? - Mở ra! Tiếng khóa cửa tra vào ổ lách cách. Người tù vẫn thờ ơ nằm im cho rằng đó là mấy tên hỏi cung lại đến quấy rầy. Đường xuống hầm giam nhỏ hẹp vọng lên tiếng giày, tiếng dép. - Thưa bà, chỗ này dốc lắm. Sơn nín thở nghe ngóng, suy nghĩ: "Tại sao lại có phụ nữ vào đây?". Tuy vậy, anh vẫn nằm im không nói. Ánh đèn pin soi rọi tấm thân bất động. - Thưa trung tá, chắc hắn ta đang ngủ. Người tù vẫn nằm im, nói to: - Không! Nguyệt nín thở để phân biệt tiếng người vừa trả lời. - Vậy mời ông ngồi dậy có khách tới thăm. - Tôi nằm nói chuyện cũng được. - Trời ơi, anh Sơn! Nghe thấy tiếng Nguyệt, Sơn như một chiếc lò xo ngồi bật dậy. Nguyệt lao về phía anh, nhưng bị viên trung tá cản lại. - Đây không phải là nơi bà nói chuyện. Nguyệt giận dữ thét lên: - Các ông suốt ngày nói nhân đạo mà giam người ở hầm tối như thế này hay sao? Riêng Sơn, anh quên hẳn mình là một người tù, quên hẳn sự có mặt của tên cai ngục, cả tên trung tá Năm Hổ, anh chỉ sung sướng đến run lên khi nghe thấy tiếng Nguyệt. Và chị cảm thấy tiếng anh hỏi như tiếng người mẹ ru con: - Em có bị chúng tra tấn không? - Không. Em không làm sao cả. Tên cai ngục ngơ ngác trước cảnh "bà lớn" đến thăm một tên tù cộng sản. - Tôi nhắc lại, không được nói chuyện. Mời ra. Bình thường như mọi khi, Sơn vần uể oải chưa chịu bước, nhưng hôm nay anh bước đi ngay, hy vọng có thể nhìn thấy và nói chuyện với Nguyệt. Anh loạng choạng bước ra cửa, tay quờ quạng. Nhưng khi bước được vài bước anh thấy chóng mặt suýt ngã thì Năm Hổ đỡ lưng anh. Anh hất tay Năm Hổ ra. Nguyệt tranh thủ chạy đến đỡ đế anh khỏi ngã về phía sau. - Có làm sao không anh? - Không sao. Anh bị giam trong buồng tối lâu quá đấy thôi. Hai người đi theo trung tá về phía bờ biển gần vịnh Tiên Sa, nơi tập luyện của lực lượng biệt kích người nhái. Hai bên đường họ đi là những bụi cây thấp. Trước mắt họ là dải cát đá chạy tít đến tận nhà thờ Tiên Sa; nhà thờ dành riêng cho những biệt kích người nhái làm lễ trước khi được tung ra miền Bắc. Linh mục của xứ bán đảo Sơn Trà đại úy tuyên úy quân đội ngụy được đặc trách làm lễ. Đi qua nhà thờ vài trăm mét là cảng sâu bốc lên những cột khói đặc của tàu chiến Mỹ. Trên đường họ đi thật yên tĩnh, không có dấu hiệu của một khu dân cư. - Mời bà đi đến khu nhà phía bờ biển. Trung tá Năm Hổ chỉ tay về dãy nhà một tầng sát biển có dây thép gai bao bọc nơi dành riêng cho việc hỏi cung của cơ quan tình báo Mỹ tại Đà Nẵng. Theo chỉ dẫn của Năm Hổ, Nguyệt và Sơn rẽ phải. - Em có khai gì về anh không? - Không. - Đừng khai gì về đường ống dẫn dầu. - Em biết. Năm Hổ thấy hai người bước chầm chậm nói chuyện liền đứng lại. - Không được nói chuyện! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:43:13 pm Tên lính gác chào Năm Hổ rồi mở rộng cánh cổng. Năm Hổ dẫn Sơn và Nguyệt vào một gian phòng lợp mái tôn. Bên trong, một thanh niên thân hình xương xương nhưng rắn chắc đang nằm co ro trên sàn đất, dưới ánh sáng điện, anh đang rên rỉ cố xua đi cái đau vừa bị tra tấn đang thấm vào từng tế bào. Hai tên lính ngụy ngồi bên bàn thấy Năm Hổ liền đứng lên chào. - Mời bà ngồi! Năm Hổ chỉ vào chiếc ghế bên bàn, rồi lại chỉ tay vào chiếc ghế đối diện như đã sắp đặt trước, mời Sơn ngồi. - Cho anh ta ngồi dậy. Người lính già, râu đã điểm muối tiêu kéo tai chàng thanh niên. - Bà có biết người này không? - Tôi cũng không biết. - Thế nghĩa là không phải người thân của ông bà - Năm Hổ nhìn hai tên giúp việc. Tên trẻ ngồi vào bàn, lấy giấy ghi chép. Còn tên già vẫn đứng. Năm Hổ bắt đầu cuộc thẩm vấn. - Anh Vĩnh, cho anh trả lời lần cuối, anh là sinh viên hay chiến sĩ biệt động? - Cả hai. - Anh có biết tờ truyền đơn này hay không? - Tôi biết. - Anh đã rải nó ở ga? - Đúng thế. - Anh có biết việc làm của anh là hành động chống chính phủ quốc gia không? - Tất nhiên, đó là mục đích. - Ai giao cho anh nhiệm vụ đó? - Tôi không biết. Năm Hổ hơi mất bình tĩnh, nói to: - Anh không thể nói là "tôi không biết". Với giọng đó, anh sẽ phải chịu hình phạt. Người thanh niên bình tĩnh trả lời: - Nếu ông không muốn nghe mấy từ đó thì tôi xin thay là "cấp trên bảo tôi không được nói". Người thanh niên lơ đãng nhìn lên trần nhà: - Tôi có thể nói cho anh hay, chúng tôi đã nắm rõ bằng chứng về việc anh liên hệ với tổ chức biệt động của thành phố. Cứ thẳng thắn thừa nhận, thì sẽ được tha, còn chống cãi chỉ thiệt mạng thôi. - Nếu các ông biết rồi thì còn hỏi làm gì? - Không được trả lời kiểu đó. - Năm Hổ mất hẳn sự điềm tĩnh, kiên nhẫn của một điệp viên. - Nếu các ông cứ tiếp tục hỏi tôi những câu đó. Sơn và Nguyệt ngồi im nghe cuộc thẩm vấn và nghĩ: Chắc nó chuẩn bị hỏi cung mình. Mỗi người đều tự sắp xếp lại các chi tiết để chuẩn bị trả lời. - Anh một lòng theo cộng sản, bảo vệ cấp trên của anh là tốt, theo ý niệm của các anh, nhưng nếu quá ngoan cố sẽ chẳng ích gì. Tại sao lại cứ bảo vệ họ để hủy hoại cuộc đời mình? Tôi nói với anh rằng, nếu anh khai báo thành thật những điều tôi hỏi thì chắc chắn sẽ được khoan hồng. - Thôi đừng lảm nhảm những lời lừa phỉnh đó nữa. Viên trung tá bật dậy quát lớn: - Câm ngay. Sau cơn tức giận, Năm Hổ thấy mình thiếu bình tĩnh, vội thấp giọng. - Có một vài người từ huyện Giằng đưa tài liệu về cho Đội biệt động ở Đà Nẵng, trong đó có anh. Nào, anh hãy khai những ai nhận tài liệu để chuyển đi các nơi? Người thanh niên ngẩng mặt, toàn thân run lên như muốn nhảy vào chộp lấy cổ Năm Hổ bóp chặt cho hả giận. - Tôi nói rồi, tôi không bao giờ nói những điều đó. Trung tá Năm Hổ quát to: - Thê thì anh chịu hình phạt cao nhất - Năm Hổ nhìn tên sĩ quan già - Đại úy Sáu, hãy cho thằng này hiểu sức mạnh của Việt Nam cộng hòa. Đại úy Sáu cầm dùi cui hằm hằm tiên đến bên Vĩnh, bắt đầu trận mưa đòn cho đến khi anh ngã gục và tắt thở! Dưới ánh sáng điện, máu tươi ở miệng anh trào ra càng hồng hơn rồi chuyển sang màu nâu sẫm. Từ ngày bị bắt, cảnh tra tấn, đánh đập này đã giúp Nguyệt thêm đức tính bình tĩnh. Song hôm nay chị không sao chịu nổi đã cúi xuống khóc nức nở thương cho người đồng chí của mình ra đi không một lời vĩnh biệt. Còn Sơn vẫn ngồi im, mặt biến sắc. Trung tá Năm Hổ đi sang phòng bên gọi điện, khoảng mười phút sau, chiếc xe chở quan tài đến đỗ ngay trước phòng hỏi cung. Tám tên lính khiêng xác người thanh niên đặt vào quan tài. Chiếc đinh lạnh lùng khép kín nắp quan tài rồi khiêng đi ra nghĩa địa phía sau khu hầm giam khoảng ba trăm mét. Sóng biển xô bờ phát ra những âm thanh đau buồn tiễn biệt người thanh niên xấu số... Sơn và Nguyệt, trung tá Năm Hổ và hai người lính nữa đi sau quan tài. Đám ma đưa người quá cố đến nơi yên nghỉ cuối cùng ngoài những người khiêng chỉ có năm người. Nguyệt cô cắn răng để khỏi bật ra tiếng khóc nhưng cô vẫn không thể kìm nén nổi. Chiếc quan tài vẫn lặng lẽ được khiêng đi. Âm thanh trong đám ma anh Vĩnh là tiếng sóng biển, tiếng khóc của Nguyệt và tiếng chân những người đi. Chiếc quan tài được hạ xuống huyệt đúng lúc chuông nhà thờ Tiên Sa vang lên ầm ĩ. Có lẽ tất cả đã hòa thành bài ca trần thế đau buồn vĩnh biệt người thanh niên xấu số. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:43:53 pm * Sau buổi hạ huyệt, Sơn bị giải ngay về hầm giam âm u, ẩm ướt nằm sâu trong lòng đất. Chủ ý của cơ quan tình báo Mỹ, của Mếch-cơ là để anh suy nghĩ về số phận những ai sa vào tay chúng vẫn ngoan cố. Tên cai ngục xô Sơn vào hầm rồi khóa trái cửa lại. Trong hầm giam lúc này chúng thả thêm mấy con rắn nước và vài chú chuột. Sơn sờ soạng bước tìm đến nơi anh đã từng nằm nhẵn bóng. Thê là cả chiều ấy, đêm ấy đằng đẵng trôi qua, anh mất hẳn khái niệm về thời gian. Thỉnh thoảng con rắn lại bò đến bên anh, con chuột kêu "chít, chít" chạy quanh hầm. Tuy đã quen với cảnh rắn rết ở Trường Sơn song lúc này tự nhiên tim anh đập gấp. Sáng hôm sau anh lại bị gọi đi thẩm vấn. Cuộc thẩm vấn lần này không phải do Phủ đặc uỷ Trung ương tình báo mà do Mếch-cơ, thiếu tá tình báo Chi cục Tình báo Mỹ tại Đà Nẵng tiến hành, vẫn tại căn phòng đã từng hỏi cung Nguyệt ở số nhà 52 phố Bạch Đằng. Nhìn thấy Sơn, Mếch-cơ nói ngay: - Tôi hy vọng lần này chúng ta nói chuyện kết quả hơn. Sao, căn hầm đó có tối như đêm Trường Sơn không? Sơn nhìn Mếch-cơ với thái độ căm tức: - Người Mỹ nói năng lịch sự lắm cơ mà? Mếch-cơ biết người nói chuyện với mình không phải là người bình thường nên đổi giọng ngay. - Anh Sơn, mời anh ngồi xuống. Anh thích cà phê hay bia? - Thứ gì tôi cũng uống được, miễn là không có thuốc độc. Mếch-cơ cười hết cỡ. - Không, không. Tôi với ông cùng uống. Mếch-cơ tự tay bật hộp bia rót vào hai cốc. - Xin mời! Sơn cầm cốc bia uống. - Các ông định hỏi tôi điều gì? Mếch-cơ tưởng sau những ngày bị giam, chứng kiến cảnh tra tấn, Sơn sợ hãi đã thay đổi ý kiến vội vàng hỏi ngay: - Chúng tôi chỉ muốn anh vẽ lại sơ đồ đường ống dẫn dầu ở ngoài Bắc và ở Trường Sơn, anh làm trạm trưởng mà. - Làm trạm trưởng chứ có phải là người vẽ đường đi của ống dẫn dầu đâu. - Vậy thì anh có thể vẽ lại sơ đồ đoạn đường ống do anh phụ trách được không? - Tôi bị giam nhiều trong ngục tối nên quên hết rồi. - Anh quả là khéo chống chế. Thực ra có thông minh anh mới được chọn đi du học nước ngoài chứ. - Nhưng trí thông minh đó đâu phải để ghi nhớ rồi báo cho Mỹ. Mếch-cơ nghiêm giọng: - Tôi báo cho anh biết, nếu anh cứ giở cái giọng đó ra thì anh sẽ chịu số phận như tên tù hôm qua. Sơn thấy hơi nao núng. Anh cúi đầu suy nghĩ, rồi lại ngẩng đầu lên: - Các ông muốn làm gì tôi thì làm. Mếch-cơ đứng lên dõng dạc tuyên bố: - Vậy thì anh sẽ chịu hình phạt: tử hình. Ngay sáng đó, Sơn lại bị tống vào hầm giam. Nằm trong xà lim anh cầu nguyện Nguyệt không bị chúng làm nhục, đừng khai gì về đường ống dẫn dầu. Mỗi một giọt xăng vào được chiến trường quý như giọt máu. Anh nhớ rất rõ, trước lúc anh lên đường đi Trường Sơn, Bộ Quốc phòng và Tổng cục xăng dầu phải dùng xe hơi, xe lửa vận chuyển xăng dầu đến hai căn cứ tiếp vận là Vinh và Quảng Khê, từ đó mới phân phôi đến các trạm tiếp vận dọc hành lang... đến tận cao nguyên Sêpôn, M.Noong. Tránh cho các nhiên liệu chở trên xe từ Bắc vào Sêpôn, bị không tặc hủy diệt. Bộ Quốc phòng và Tổng Công ty xăng dầu thiết kế lắp đặt đường ống dẫn dầu từ Bắc vào tận Sêpôn. Trực thăng và máy bay trinh sát địch chụp ảnh nhiêu lần, bay dọc dãy Trường Sơn để tìm đường ống, các kho trạm đánh phá nhưng vẫn chưa phát hiện ra, không đánh trúng. Nguyệt ơi, đường dẫn dầu xuyên Trường Sơn là mạch máu giữa hậu phương và tiền tuyến, em đừng bao giờ khai ra, nghe chưa? Anh cầu nguyện cho Nguyệt đừng bao giờ khai ra những điều bí mật. Càng nghĩ về đường ống dẫn dầu bị Nguyệt tiết lộ càng làm ảnh hưởng tới thần kinh Sơn. Cụm từ "đường ống dẫn dầu" với cái tên gọi thân thương "Nguyệt" ngày đêm vang dội trong anh. cả đêm đó anh suy nghĩ cách khai báo thế nào để bảo vệ đường ống, liên lạc thế nào để bảo vệ đường ống, liên lạc thế nào để báo cho Nguyệt biết đừng khai. Chiều hôm sau, theo lệnh của Mếch-cơ, cai ngục mở hầm giam, sắc mặt hắn ta sa sầm, vẻ chán chường. Sơn ngạc nhiên thốt lên: - Ông cầm roi để tra tấn mà cũng buồn hay sao? - Chẳng sao cả. Mời anh đi! - Đi đâu? - Đi gặp Nguyệt. Xúc động, Sơn hỏi ngay: - Thật không? - Thật. Sơn lại lặng người đi hỏi: - Chẳng lẽ các ông lại tử tế với tôi như thế hay sao? - Đúng. Họ bảo hôm nay sẽ áp giải anh đi để rồi không trở về nơi đây nữa. Một cảm giác sợ hãi đến tê cứng ập đến trong Sơn. Hay là họ đưa mình đi thủ tiêu? Tên cai ngục dẫn Sơn đến bên ô tô đậu ở trước cửa phòng hỏi cung. Trung tá Năm Hổ đứng bên xe nhìn anh trân trân rồi đột nhiên lại cười nhăn nhở vẻ thâm hiểm: - Thật vui. Hôm nay anh được gặp người yêu. Sơn không tin, hỏi lại: - Ông không đùa đấy chứ? Năm Hổ lắc đầu tỏ thái độ kiên quyết: - Không. Sơn nín lặng nhìn Năm Hổ không phải để khẩn cầu mà chỉ nghi ngờ. Năm Hổ vẫn tiếp tục thái độ nhã nhặn: - Mời anh lên xe! Người tài xế kéo cánh cửa xe, Sơn bước lên trước, Năm Hổ và một sĩ quan nủa đeo lon đại úy bước lên sau. Ôtô lao qua chợ Mai, Năm Hổ mới ngồi sát Sơn hơn, nói nhỏ: - Anh là người hết lòng vì cộng sản không chịu khai bất cứ điều gì. Những người Mỹ và những sĩ quan cộng hòa như tôi rất khâm phục ý chí đó. Chính vì ông không chịu khai nên phải chịu hình phạt cao nhất: "tử hình". Đợi cho xe vượt qua sông Hàn rẽ vào đường Bạch Đằng, Năm Hổ mới nói tiếp: - Người ta bảo rằng, dù là nhà tù cộng sản, hay Mỹ - ngụy, trước khi bị hành quyết đều được đối xử tử tế. Đối với anh, may mắn bậc nhất được tận hưởng khoái lạc của con người: làm tình với người vợ chưa cưới một đêm. Trước mắt Sơn lúc đó như có một màn sương phủ nhoè, rồi câycối, đường đi, nhà cửa... ngả nghiêng chao đảo. Giây phút anh thấy hiện lên khuôn mặt thần sắc nhợt nhạt của Nguyệt và bàn tay run run đau khổ đưa lên lau nước mắt. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:45:02 pm * Ô tô chở Sơn dừng ở trước cửa khách sạn. Anh bước ra xe ngước nhìn lên tòa nhà cao tầng này không biểu hiện gì sự khẩn cầu mà đượm vẻ ưu tư. Anh lặng lẽ theo Năm Hổ lên gác đến trước một căn phòng. Suốt đêm trước và cả ngày Nguyệt không sao ngủ được chỉ chờ gặp Sơn. Mỗi khi có tiếng chân người hay tiếng khóa tra vào ổ, Nguyệt lại nín thở chờ đợi. Khi cánh cửa vừa mở, Nguyệt bàng hoàng đau xót đứng nhìn, người mà bao ngày ao ước. Chị sững sờ, lý trí và trái tim đều không theo ý muốn của mình. Chị đứng nguyên, không chạy đến ôm Sơn như lúc ở Trường Sơn, không biểu lộ sự vui sướng để xua đi nỗi khủng khiếp sắp xảy ra. Bởi vì từ đêm qua, suốt ngày hôm nay Nguyệt đang nghĩ về một ý nghĩ đã ám thị: anh ấy sẽ bị tử hình. Choáng váng, đau khổ, Nguyệt đứng ngây ra nhìn cánh cửa khép lại và Sơn đang bước đến gần. - Anh Sơn! Mãi khi Sơn đến gần, Nguyệt mới thốt ra được, giọng lạc hẳn đi. - Anh! Nguyệt tưởng Sơn chưa biết mình sắp bị tử hình nên ngước mắt nhìn anh, chan chứa yêu thương, lo lắng, sợ hãi. Còn gương mặt Sơn biểu lộ tình thương vô hạn. Họ đứng nhìn nhau như thôi miên, tưởng như kiệt lực để rồi sau đấy không ai đứng vững, ôm nhau như thanh sắt dính vào khối nam châm khổng lồ. Hai tay Sơn quàng lên cổ Nguyệt, đầu cúi xuống hôn mái tóc còn vương trên môi. Hai tay Nguyệt cũng cố ghì cổ Sơn thấp hơn, dường như không muốn buông ra, để cho những làn môi dính vào nhau mãi mãi. "Trời ơi! Anh yêu nhất đời của em!". Nguyệt thốt lên làm làn môi dừng lại để mặc cho môi Sơn động đậy. Sơn kêu thầm: "Nguyệt ơi! Đây là nụ hôn cuối cùng dành cho em để anh đi về thế giới bên kia". Sơn ôm chặt Nguyệt hơn, nhìn mặt chị qua ánh đèn nê-ông vừa thương lại vừa hạnh phúc. "Không biết rồi đây cuộc đời em sẽ ra sao?". Sơn ghì chặt Nguyệt xuống giường. Và không hiểu anh bê Nguyệt đến giường hay hai người cùng đi mà đã nằm trên giường từ lúc nào. - Anh ơi! Đừng chết anh nhé! Nét mặt Sơn nhăn lại đau đớn. - Vì chúng nói với em, ngày mai anh sẽ bị đưa đi tử hình. Cánh tay Sơn từ từ nới lỏng. - Ai nói với em điều ấy. Im lặng như một dải khăn tang quấn quanh hai người tách họ ra khỏi cuộc sống ân ái. Thời gian đưa Sơn đi tử hình không phải tính bằng buổi, bằng giờ mà tính bằng giây. Anh nghĩ, không thể đắm đuối trong tình cảm âu yếm mãi này được, mà phải tranh thủ nói chuyện. Chỉ còn đêm nay mình sẽ vĩnh viễn xa người vợ chưa cưới xấu số! Muốn dặn dò điều gì cũng chỉ có đêm nay thôi. Anh chủ động buông tay ngồi dậy còn Nguyệt vẫn nằm. - Ngồi bên em như thế này anh có thấy hạnh phúc không? - Sao lại không. Anh mong muốn suốt đời được như thế này. Nguyệt và Sơn dường như giảm dần ý nghĩ ngày mai họ phải vĩnh viễn chia tay để không bao giờ gặp lại. - Em khát. Sơn rót nước đưa cho Nguyệt. - Anh ăn đi! Thứ này ngoài Bắc mình không có. Nguyệt đưa gói kẹo mè xửng cho Sơn. Sơn bật diêm hút thuốc, ăn kẹo. - Dai mà ngon thật. Sơn cắn một miếng, phần còn lại đưa vào miệng Nguyệt. - Từ mai trở đi anh không còn đâu mà bón cho em. Niềm hạnh phúc lại tắt ngầm trên khuôn mặt Nguyệt. - Tại sao chúng lại quyết định xử bắn anh. - Vì không chịu vẽ đường ống dẫn xăng dầu, không chịu khai địa điểm trạm anh phụ trách. - Nếu như anh khai có được không? Sơn uể oải đáp: - Thế thì chúng sẽ cho máy bay ném bom phá hủy. - Nghĩa là anh vẫn không chịu khai? - Anh khai ra nghĩa là giết đồng chí mình. Nguyệt tỏ thái độ buồn: - Lúc nào anh cũng nói đồng chí mà không nghĩ đến bản thân và em. Nguyệt khóc nấc lên. - Đừng chết! Anh! - Em thương yêu của anh! Đi kháng chiến bị địch giết, đó là chuyện thường tình. Hàng triệu người khác đã chịu số phận như anh. - Nhưng những người có liên quan gì đến em đâu? Còn anh, anh là máu thịt của em, là bố của thằng Sơn Lâm và con Nguyệt Nga cơ mà. Anh không thương em hay sao? Bao đêm nay em lo lắng cho anh, hễ chợp mắt lại mơ thấy anh chết. Anh ơi, anh đừng chết như anh Vĩnh... Sơn đứng dậy đi chậm trong phòng, hoàn toàn không lường tính hết được tình huống Nguyệt vừa nêu. Rồi Nguyệt ôm choàng lấy cổ Sơn van vỉ: - Anh yêu của em! Bố của hai đứa trẻ, hãy nghe em khai chút xíu để chúng xóa án tử hình. - Nhưng nếu chiến tranh kết thúc? Nguyệt kêu lên: - Trời ơi! Biết bao giờ mới kết thúc? Còn lâu dài lắm anh ơi. Anh mà chết để em lại thì em sống sao nổi. Anh có thương em không, anh? Sơn khựng người như bị trúng đạn, đứng chết lặng bên tường. Nguyệt cầm tay anh kéo ngồi vào lòng mình và bao bọc lấy anh bằng đôi tay mềm mại. - Khai rồi ta chạy theo chúng. Sơn úp mặt vào vai Nguyệt, áp vào má mịn màng đầy hơi ấm của Nguyệt. Ý nghĩ "khai để sống", "không khai, chết vẻ vang" đấu tranh với nhau quyết liệt. Nguyệt lấm lét nhìn Sơn như hoảng sợ trước điều mình vừa nói. Trong sự im lặng của Sơn có gì đó làm Nguyệt sợ, tuyệt vọng, làm trống rỗng trong lòng. - Nếu anh chết thì em không thể nào chịu đựng nổi. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:45:21 pm Nguyệt ghì chặt tay kéo cổ Sơn xuống. - Nếu không muốn chết thì hãy ngủ đi anh. Sơn nằm xuống bên Nguyệt, kéo tấm chăn mỏng đắp ngang bụng hai người. - Ngày mai anh sẽ bước vào giấc ngủ vĩnh hằng. - Đừng nhắc đến nó nữa anh. Sơn ôm quàng lấy Nguyệt và Nguyệt cũng ôm chặt Sơn. - Bố mẹ em sinh ra như để dành riêng cho anh mà nỡ nào anh bỏ em hay sao? Sơn nhìn vào mắt Nguyệt, vẫn tình yêu đã sưởi ấm cho anh từ ngày còn ở Trường Sơn. Hay là nghe theo em để từ bỏ cuộc đấu tranh. Sơn thở dài. Lẽ nào có điều kiện giữ trọn tình yêu sự sống mà mình lại sớm tự tay đạp vỡ nó đi hay sao? Trời ơi! Nếu ngày mai cũng lại nằm xuống lỗ huyệt đen ngòm như anh thanh niên biệt động Vĩnh kia thì kinh khủng quá. Gió đầu hè mang theo hơi nước từ biển Thanh Bình thổi qua cửa làm Nguyệt rùng mình. Chị nghiêng người ôm ghì lấy Sơn. vầng dương đã bừng lên phía bên kia đèo Hải Vân. - Anh ơi! Sắp đến giờ chúng đưa anh đi rồi. Anh thích gì ở em bây giờ em chiều anh tất cả. Nguyệt nhìn Sơn buồn khổ vô hạn. - Anh ơi! Thế là có hai đêm em nằm với anh trọn vẹn. Đêm thứ nhất là cái đêm nằm ở Trường Sơn, đêm thứ hai là đêm nay. Đêm nay là đêm cuối cùng. Không. Em chẳng muốn nó là đêm cuối cùng đâu. Em chỉ muốn anh ở bên em mãi mãi. Mếch-cơ bảo em rằng khuyên anh khai vài điều không quan trọng để ông ấy có cơ sở đề nghị không xử bắn anh. Nguyệt chủ động quàng tay lên cổ Sơn, áp cả bộ ngực căng phồng lên người anh và hôn. - Đồng ý đi anh yêu của em. Khai ở đây, ngoài em ra có ai biết nữa đâu. Sơn nằm yên nhìn lên trần nhà với thái độ điểm tĩnh. Nguyệt cầm tay Sơn đặt lên bụng mình. - Thằng Sơn Lâm hay con Nguyệt Nga lớn lên nó sẽ gọi ai là bố hả anh? - Nguyệt nói to hơn - Anh nghĩ kỹ đi! Hơn nữa anh không khai, chúng sẽ làm nhục em. Nguyệt khóc thành tiếng. - Nỡ nào anh đẩy em thành một thú mua vui cho chúng hay sao? Sơn thở dài, nói như người hen ốm yếu: - Đừng nói thế! Em là của anh tất cả. Cả hai người lại ngồi im không nói. Nguyệt thở dài bất lực. - Nếu anh khai thì sau đó trở lại đơn vị ư? Không được, vì không thể mặt mũi nào nhìn đồng chí của mình. Vậy thì đi đâu? Nguyệt cúi đầu, tay nắm thành giường nói như khóc: - Bọn Mỹ ném bom rải thảm xuống Trường Sơn, mưa Trường Sơn như trút nước, đêm Trường Sơn như có hàng triệu con ma trơi rập rình, song tất cả không ngăn nổi tình yêu giữa anh và em. Bởi vì lúc đó anh là của em, em là của anh tất cả. Thế rồi tháng đầu tiên bị tắc kinh, chúng mình vừa lo vừa mừng. Lo vì sợ bạn bè đồng chí chê cười không cưới đã có con. Mừng vì hai đứa đã có với nhau một đứa con. Đứa con làm em và anh quên tất cả gian khổ và tiếng đồn dị nghị. Lúc đó, chỉ có ý nghĩa về đứa con của chúng ta mới làm anh và em vượt lên tất cả. Thế thì giờ đây, vì đứa con của chúng ta, vì em cần có anh, anh hãy khai đôi chút làm phép rồi chúng ta ra ngoài xã hội sống bình thường. Phải nói rằng, từ khi bị bắt, càng ngày Nguyệt càng cảm thấy mình bị mất chủ động, càng thấy Sơn cần được sống. Nguyệt tìm cách thuyết phục Sơn một cách kiên trì. Chị nằm ngửa, gối đầu lên tay Sơn thở dài. Cám ơn Mếch-cơ đã thông cảm bố trí cho mình căn buồng khách sạn và cuộc gặp gỡ chia ly với Sơn để có thời gian thuyết phục anh khai. Suốt từ khi bị bắt, lúc nào Sơn cũng nghĩ: Không khai, cùng với ý nghĩ đó, anh luôn nghĩ tới Nguyệt, vẫn thèm muốn có Nguyệt, chỉ sợ Nguyệt bị chúng làm nhục. Đêm nay, nằm chung giường anh biết Nguyệt không bị chúng hành hạ làm nhục, anh vui lắm. Càng nghe Nguyệt nói, anh càng nao núng, bắt đầu nghĩ: Đành liều thôi! Anh quay lại, nhìn tấm thân tròn lẳn. Sau khi mang bầu, ngực Nguyệt đầy đặn, căng tròn hơn, hấp dẫn hơn. Cả gian phòng im lặng. Sơn vẫn cái nhìn chăm chú thèm khát xoáy vào thân thế Nguyệt khiến anh rạo rực, mà trước đây chưa từng có. - Anh liều nghe em. Cả tấm thân Sơn như tảng đá đè Nguyệt xuống. Hai tay Nguyệt vò đầu anh như vò đầu đứa trẻ. Khách sạn bỗng ngả nghiêng chao đảo. Hai người làm thức dậy trong người tất cả những khoái lạc. Nghe thấy tiếng gõ cửa, Nguyệt hốt hoảng bật dậy, mặc quần áo lót chạy ra. - Ai đấy? Vừa nói, Nguyệt vừa mặc thêm bộ đồ ngủ. - Tôi, nhân viên khách sạn. Nguyệt mở khóa, hé cửa. - Ông Năm Hổ báo đã đến giờ mời ông Sơn đi. Nguyệt buồn rầu, đáp lại: - Vâng. Người phục vụ vừa quay đi, Nguyệt sập cánh cửa nhìn Sơn đang đứng dậy tiến ra phía Nguyệt. Nguyệt lặng lẽ nghiêng vào người Sơn. Sơn nhìn Nguyệt rồi đưa tay vuốt mấy sợi tóc vương trước mặt. - Ngày nào một trong hai ta chết đi đứa còn lại sẽ nhớ tới giờ phút này. Họ cùng im lặng. - Em chờ mãi - Nguyệt lên tiếng - Hôm nay anh mới thực sự biết thương em và con. Anh đi đi, tối về đây với em. Sơn bước ra cửa đi xuống tận tầng dưới, Nguyệt vẫn đứng dựa bên cửa sổ đờ đẫn nhìn theo. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 09:47:07 pm * Chiếc xe Tôyôta đưa Sơn đến số nhà 52 phố Bạch Đằng - Đà Nẵng, ở đây anh không bị cùm, cũng không phải nhìn vào các lỗ hầm tối như ở Mỹ Khê. Nhưng qua mỗi lần bị thẩm vấn, anh hiểu thêm rằng Nguyệt đã khai báo nhiều về anh. Anh cầu nguyện mình chỉ khai đôi điều giản đơn, không ảnh hưởng gi đến đồng đội. Nhưng rồi mỗi khi ngồi đối diện với Mếch-cơ và Năm Hổ, nghe chúng hỏi thì ý nghĩ chiến tranh còn kéo dài biết đến bao giờ mới kết thúc, xúi giục anh khai đôi điều không quan trọng để về khách sạn sống chung với Nguyệt, nguồn ai ủi duy nhất của anh lúc đó. Nhưng rồi, ba ngày sau anh lại hồ nghi. Nguyệt là người khai toàn bộ bí mật về công việc, cuộc đời anh. Anh đành phải khai tiếp. Thế rồi bản khai sau đầy đủ hơn bản khai trước, cho đến ngày thứ bảy, anh đã trở thành kẻ không còn kiên trì với thái độ cách mạng ban đầu nữa, buộc phải ký nhận giấy làm việc cho cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ. Sơn bước theo sau Năm Hổ đến phòng Nguyệt đang ở Khách sạn Thái Bình Dương. Vừa bước vào phòng Nguyệt chạy ra giơ tay đón anh. - Anh Sơn! Sơn đứng sững lại. - Nguyệt - Mãi lâu sau anh mới thốt ra được, giọng lạc hẳn đi - Em! - Em chờ anh suốt tuần nay rồi. Bỗng Sơn sa sầm nét mặt lặng người như quên khuấy Nguyệt đang đứng trước mặt mình. Thái độ lặng ngắt bơ phờ của Sơn làm Nguyệt hết sức ngạc nhiên. - Sao anh có vẻ buồn thế? - Vì nghe theo em để rồi anh được trở lại sống cùng em một đêm cuối cùng. - Sao, họ vẫn định hại anh hay sao? Nguyệt vẫn đứng như cột đèn giữa gian phòng. - Em cứ ngồi xuống chiếc ghẽ này, nếu thấy mệt, em cứ nằm xuống rồi chúng ta nói chuyện. Đây là đêm cuối cùng của một kẻ tù tội sống cùng em, thì em phải chiều theo đấy. Nguyệt ngồi xuống bên Sơn, đặt tay lên vai anh. - Anh Sơn ơi! Đừng có tỏ ra nặng nề như thế. Em khóc lên thì... - Anh khẩn cầu em hãy cười... Nguyệt nghiêng người nhìn thẳng vào mặt Sơn, hai mắt mở tròn. - Anh nói gì lạ vậy? Sơn cúi đầu, mặt úp vào hai bàn tay. Nguyệt không hiểu Sơn định nói gì. Chị ngồi im chờ đợi. Để bù đắp khoảng trống vô tận, chị hỏi: - Anh uống cà phê nhé? - Suốt mấy đêm nay anh không ngủ, uống cà phê vào càng mất ngủ. Nhưng kẻ tử tù này cũng sẽ uống cùng em. - Anh nói gì lạ vậy - Nguyệt vừa nói vừa quỳ xuống sàn nhà mở tủ lấy cà phê - Anh có dùng thêm đường không? - Anh thích ăn chiếc mè xửng cuối cùng. Nguyệt đưa kẹo ngước mắt nhìn vào mắt anh. - Mặt anh tái mét đi kìa. Có gì uẩn khúc đến mức không thể nói ra? Anh chỉ thích đường - Một lúc im lặng qua đi, Sơn nói tiếp - Đường có pha thuốc độc. - Trời ơi! Em van anh. Hãy nói nghiêm chỉnh cho em hiểu. Sơn lấy một chiếc kẹo bẻ làm đôi đưa cho Nguyệt một nửa, đặt tách cà phê xuống, giọng buồn thảm: - Thôi! Em đừng hỏi chuyện đó nữa. Chỉ biết rằng chúng ta hãy dành cho nhau tình thương trọn vẹn trong đêm nay để ngày mai mỗi đứa đi một nơi, đi vào cái thế giới chia ly. Như bị điện giật, Nguyệt trợn mắt nhìn Sơn. - Anh nói gì? Nguyệt lại lặng lẽ ngả vào người Sơn, đưa tay vuốt mái tóc anh. - Anh điên rồi sao? Sơn từ từ đứng dậy đi lại trong phòng. Hai người cùng nín lặng. - Anh chỉ biết rằng, tất cả mọi suy nghĩ của anh, việc làm của anh đều vì thương em. - Năm tháng sống bên anh ở Trường Sơn và những giờ phút trong bàn tay Mỹ - ngụy đến giờ em mới được nghe lời nói mà cả đời em mong đợi. Anh nghĩ xem, nếu như anh không khai chút xíu, gọi là chút xíu thôi thì tự tay em sẽ phải đào huyệt chôn anh như ngày nào chúng mình chôn anh Vĩnh. Nếu như thế thì em phải lang thang suốt quãng đời còn lại như một kẻ không hồn. Nguyệt nghiên răng đau đớn, tay nắm chặt để khỏi bật khóc. Sơn dựa lưng vào tường bên cửa sổ, giọng trầm đục: - Chỉ còn vài giờ nữa anh phải trở lại Trường Sơn, còn em ở lại sống với Mỹ. - Trời ơi! Anh Sơn! Sao anh ác lời thế! Anh nghi em bán thân để cứu lấy mạng sống hay sao? Đã đến mức này thì em không cần anh nữa - Nguyệt gào lên nức nở - Thôi! Anh hãy đi đi đừng bao giờ nhìn mặt em nữa. Anh hãy đi đi. Hãy đi đi! Nguyệt cúi gục xuống khóc nức nở. Sơn vẫn đứng im không nói. - Em không bán thân. Đúng. Em không làm việc đó nhưng em đã khai hết về anh với chúng, để rồi chúng cứ buộc anh phải khai, phải nhận làm việc. - Em thế rằng không khai. - Thật không? - Đúng như thế. - Thế ai nói anh là trạm trưởng? - Trạm trưởng có quan trọng gì đâu anh? - Thê ai khai anh là kỹ sư học ở nước ngoài về? Giọng Sơn giận dữ mỗi lúc một rõ rệt. Thể xác anh đã kiệt quệ vì tháng ngày ở Trường Sơn, ở phòng giam, cuộc thẩm vấn của Mếch-cơ và Năm Hổ, bây giờ lại thêm cuộc xung đột thần kinh này làm khớp xương anh đau rã rời không nâng được tấm thân đứng vững. Nguyệt ngẩng mặt lên, thấy Sơn sắp ngã, chị đỡ anh, dìu đến giường. - Em có điều gì làm anh phẫn uất đến mức như vậy? Em không khai điều gì bí mật. - Thật không? - Hãy nhìn thẳng vào mặt anh mà nói. Nguyệt nhìn anh qua dòng nước mắt. - Em thề - Chị vừa khóc vừa nói - Nếu như em khai điều gì bí mật thì em không nhìn thấy anh. - Nói bậy! Sơn đẩy Nguyệt ra rồi đứng lên. - Nếu vậy tại sao chúng biết cả tên con chúng ta đang ở trong bụng em? Sẽ được đặt là Hà Sơn Lâm, nếu là con trai; Hà Nguyệt Nga, nếu là con gái? Sơn yên lặng rồi "hừ" lên một tiếng khinh bỉ. - Chính vì em khai cặn kẽ cả những điếu bí mật nhất của đời em nên anh phải khai tiếp. Nguyệt tròn xoe mắt, khiếp sợ. - Anh khai gì? - Khai một số kho chứa xăng dầu miền Bắc, khai quy luật đoàn xe chở xăng dầu vào Tây Nguyên... Nguyệt hỏi một cách gấp gáp: - Sau khi anh khai? - Chúng buộc anh là người phản lại đồng chí mình và bắt ký giấy cam đoan làm việc cho chúng. Và sẽ được trở lại Trường Sơn. Hôm nay chúng cho anh đến đây để... Nguyệt lặng người, mắt mơ to rồi bỗng sầm lại sợ hãi, mặt trắng bệch. Sự sợ hãi như một trận gió buốt ào ào bủa vây. - Thế là chúng ta đều mắc mưu Mếch-cơ và Năm Hổ. Nguyệt nín lặng, chậm rãi ngước nhìn Sơn như khẩn cầu. - Mếch-cơ chỉ hỏi anh về gia đình, về cuộc sống ; nói chuyện với em về hạnh phúc, về con cái... Nguyệt kể lại cho Sơn nghe toàn bộ mọi chi tiết, và cả hai người mới hiểu ra, những câu chuyện hỏi về người này lại là chìa khóa khai thác, lừa dối người kia. Còn Sơn và Nguyệt đều tưởng người yêu đã phản bội mình lại khai ra những điều bí mật. Và giờ đây, dù cho hai người đã biết mình bị mắc bẫy thì cũng không còn cách nào chống đỡ, vì chỉ đến đêm mai, chúng sẽ đưa Sơn đến huyện Giằng thả ra để trở lại Trường Sơn với lời khai: cùng Nguyệt đi chơi bị lạc ở Trường Sơn. Nguyệt đã bị mưa rừng cuốn trôi còn một mình sống sót trở về cùng đồng chí. Sơn và Nguyệt càng kể cho nhau nghe càng thấy rối tung, mọi điều đều xuẩn ngốc, mù mịt. Cho đến khi, tiếng chuông gọi cửa báo giờ họ phải chia ly, cả hai người đều nhận thấy mình bắt đầu một cuộc sống vô nghĩa. Nguyệt lại dựa lưng vào cánh cửa như lần trước nhìn theo Sơn với ý nghĩ: Chính mình là người đẩy anh vào con đường tội lỗi. Ý nghĩ ấy làm dòng lệ tuôn trào. Tất cả những năm tháng Trường Sờn mưa rừng, biệt kích đánh úp, cuộc gặp Mếch- cơ, đêm chia ly... hiện lên lại nhoè đi. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 09:48:27 pm CHƯƠNG HAI NĂM THÁNG LƯU LẠC TẠI NHẬT Sau khi Sơn đi khỏi Đà Nằng một tuần thì Quân giải phóng đánh vào Đà Nẵng. Mếch-cơ chỉ thị cho Năm Hổ áp giải Nguyệt chạy vào Sài Gòn. Nhưng khi ra tới cảng sâu Đà Nẵng, trong cảnh hỗn quân hỗn quan Năm Hổ lạc Nguyệt. Nguyệt nhảy ào xuống một chiếc thuyền máy. Cuộc đời thật trớ trêu thay, chiếc thuyền đó lại chạy thẳng đến Nhật, đến hòn đảo Liutô ở phía Nam. Tiếng Nhật, Liutô có nghĩa là Đầu Con Rồng. Dân chài các đảo khác và thủy thủ qua lại nơi đây đều gọi đảo này với cái tên như thế vì bao đời nay nó là hòn đảo tiền đồ ở phía Nam nước Nhật, nơi đứng mũi chịu sào đón nhận đầu tiên những trận cuồng phong thổi tới. Trước mắt nó là biển cả rộng mênh mông không bến bờ... Người dân Liutô là những người đầu tiên của nước Nhật đón nhận những tia hồng tím của vầng dương trong ngày. Khi đó, họ chứng kiến cảnh nước biển như bị tan loãng trong ánh sáng mặt trời làm cho mực nước thấp đi. Chiều đến, khi ánh sáng xanh tím từ phía Tây xuyên chéo qua đảo, người ta lại nghe thấy sóng vỗ bò mạnh đến nỗi đảo như rung chuyển dưới chân, nước biển như nâng đảo lên. Chiều đó, bác sĩ Takano dẫn Milai đi dạo dọc theo mép nước. Milai cầm cành hoa anh đào đi bên chồng hoàn toàn hạnh phúc. Khí hậu ở hòn đảo này ấm hơn cả vùng Hôckaiđô nên hoa anh đào đã nở. Nơi biển xa một con thuyền nhỏ như lá tre đang lướt nhẹ. Đợt sóng từ đại dương vỗ vào bờ rút ra tung lên một bức tường bọt trắng xóa. - Đẹp quá! - Milai... vừa chỉ tay ra biển vừa thốt lên. Chiếc thuyền ngoài biển đến gần bờ hơn. Một đợt sóng mạnh hơn từ phía sau thuyền xô tới đẩy cho thuyền như mũi tên lao về phía đảo. - Có lẽ thuyền kia đắm mất - Milai lo lắng nói với chồng, mắt không rời nhìn ra biển. Đợt sóng tiếp tục nã vào bờ, biển ngầu bọt tung lên vầng sóng sáng đỏ tím hung dữ, cướp đi cảnh yên bình trước đó vài phút. - Có lẽ thần biển nổi giận rồi! - Takanô nói với vợ - Vềthôi, kẻo sóng thần chồm lên bờ đấy. - Nhưng còn những người trên chiếc thuyền? Milai chưa nói hết câu thì cơn sóng lướt qua chiếc thuyền lao vào bờ dựng đứng lởm chởm đá tung lên một bức tường bọt nước trắng xóa che khuất cả con thuyền. Con sóng hung dữ rút ra. Con thuyền đang cưỡi trên sóng bỗng quay tròn rồi như rơi xuống biển, chốc lát lại bênh lên. - Cứu chúng tôi với! - Cứu chúng tôi với! Tám người trên thuyền cả già trẻ trai gái thi nhau gào thét bằng tiếng Việt, lẫn trong tiếng gào thét đó có tiếng người phụ nữ. Watasitatri Bêtônamujin...!1. Người con gái bắc tay lên miệng làm loa và gào lên bằng tiếng Nhật phát âm không chuẩn. Vợ chồng Takanô cũng vẫy tay đáp lại như bảo rằng "cứ bình tĩnh!". Tay phải Katanô giơ cao như chỉ huy thuyền bơi về phía mình. Nhưng ngay lúc đó, một đợt sóng vừa lao vào bờ bật trở ra. Chiếc thuyền chở tám người Việt Nam bị sóng dồn từ hai phía quay tròn lật úp. Takanô và Milai đều sững sờ, lý trí cũng như trái tim không vâng theo đôi chân mình nữa. - Anh ơi, họ chết mất! Milai nhìn chồng như chất vấn: anh là bác sĩ mà nỡ để họ chết như vậy hay sao? Anh là người sinh ra ở đảo này, biết bơi giỏi nhất làng mà không dám cứu họ ư? Tức giận, choáng váng, khắp người đẫm mồ hôi, Milai đứng ngây ra nhìn chồng. Takanô bắt gặp sắc mặt thay đổi của vợ, trong khoảnh khắc anh hiểu ngay vợ đang nghĩ gì? Anh cởi phăng áo nhảy ào xuống biển, bơi thật nhanh tới nơi có những người vừa la hét. Người phụ nữ kêu cứu bằng tiếng Nhật vẫy vùng một cách tuyệt vọng. Bên cạnh chị, một người đàn ông giơ tay lên rồi chìm xuống nước. Đôi cánh tay của chị vươn về phía Takanô bám vào anh kéo anh xuống đáy. Vốn là dân làng chài lại là bác sĩ, anh đập nhẹ vào thái dương chị khiến chị choáng váng rời tay ra. Tay trái nắm lấy tóc chị nâng đầu nhô lên khỏi mặt nước, tay phải bơi vào bờ. Milai đón nhận nạn nhân từ nơi ngập nước đến đầu gối, lôi nạn nhân lên bờ làm động tác hô hấp cấp cứu. Ngay lúc đó, Takanô như con cá voi vọt lên mặt nước quăng mình về phía chiếc thuyền bị đắm tiếp tục những chuyến cứu vớt. Nhưng đang bơi, bỗng chân anh chạm phải một người, rồi lại một người nữa. Hai người không biết bơi ôm nhau chìm xuống đáy biển và giờ đây gắng hết sức bình sinh ôm chân Takanô. Anh cố đạp thì họ càng ghì chặt. Luồng nước đã kéo cả ba người ra xa bờ. Hai người kia không gặp Takanô chắc chắn họ bị chết chìm. Còn giờ đây tính mạng cả ba người đều mỏng manh như bọt nước. Takanô cảm thấy ngạt thở, uống vài ngụm nước rồi buông mình theo sóng. Takanô căng mọi cơ bắp đạp những người ôm chân mình ra. Nhưng tất cả đều vô ích. Giờ đây anh mới hiểu được sức mạnh của người sắp chết lớn hơn cả sức mạnh khổng lồ, nặng hơn cả trái đất. Anh kêu thầm: Milai ơi, anh chết mất! Anh mở to mắt nhìn về phía đảo, nơi có vợ anh và những cây anh đào đang nồ... Em ơi! Milai...! Đời anh ngắn ngủi quá. Nhưng đau khổ của anh cũng sẽ ngắn ngủi. Còn em, em sẽ phải chịu nỗi đau khố kéo dài... Bỗng cơn run lạnh khủng khiếp ngấm toàn cơ thể rã rời của Takanô. Tròng con ngươi mở rộng cô nhìn lên đảo vĩnh viễn xua đuổi những cánh hoa anh đào và màu xanh của biển ra khỏi mắt. Takanô vĩnh viễn không còn nữa. Chính quyền đảo đánh điện cho hải quân. Một top máy bay trực thăng cùng tàu thủy bắt đầu cuộc kiếm tìm xác nạn nhân. Hơn một giờ sau, họ đã tìm vớt được xác Takanô và bốn người được lần lượt khiêng lên bãi cát, đặt cách mép nước khoảng vài chục mét. Tin con sóng dữ làm nhiều người chết lan khắp đảo. Những người sống trên đảo mặc bộ đồ Kimônô màu xanh nước biển lục tục kéo ra bờ biển. Họ lần lượt đứng sát vào nhau nhìn về bốn tấm thân bất động. Milai và cô gái Việt Nam còn sống sót gào thét bên xác những người chết. Tiếng khóc của họ hòa vào tiếng sóng biển như thét, tiếng rên ngân dài, gần như một âm điệu khổ đau của người phụ nữ hai dân tộc Nhật - Việt có người thân bị chết. ----------------- 1. Tiếng Nhật có nghĩa là: Chúng tôi, người Việt Nam. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:00:37 pm * Ngay đêm đó, máy bay trực thăng và tàu hải quân Nhật tiếp tục tìm kiếm xác bốn người Việt nhưng đều vô vọng. Trên bờ, cảnh sát đảo tiến hành điều tra, nói đúng hơn là làm các thủ tục cho người chết và tìm hiểu về người đang sống. Người Việt Nam duy nhất còn sống đó là kỹ sư có tên Nguyệt đang có thai quê Hà Bắc, ba người chết tìm thấy xác là: chị Tư Hồng, bốn nhăm tuổi, nhân viên Khách sạn Thái Bình Dương - Đà Nẵng , chồng chị là Bảy Tinh, năm mươi tuổi, nhân viên phòng lãnh sự quán Mỹ tại số 52 phố Bạch Đằng, Đà Nẵng; cô Phương Thảo, hai mươi hai tuổi, nữ phiên dịch tiếng Anh tại Trung tâm huấn luyện Mỹ Khê, còn bốn người chết không tìm thấy xác trong đó có chồng Phương Thảo là thủy thủ đã từng lái tàu đi lại tuyến đường Hồng Kông, Nhật Bản, đã từng lưu học lại Tôkyô. Sáng hôm sau, các đài báo địa phương đều đưa tin: "Tám người Việt Nam làm việc trong chính quyền Sài Gòn tại Đà Nắng, sợ cộng sản trả thù đã bỏ chạy đến Nhật. Bảy người chết, còn một người sống...". Dân đảo Liutô cho rằng, công việc điều tra là của cảnh sát, còn đối với họ, những người chết trên đảo này, phải được chôn cất theo nghi lễ trên đảo. Suốt đêm, họ bàn bạc ở nhà, ở chùa về việc chôn cất... Một đám đông tụ tập tại nhà Takanô cầu lễ. Người cho rằng, họ chỉ làm lễ chôn cất Takanô, còn những người Việt Nam do chính quyển chôn cất. Hầu hết dân đảo đều từ Tôkyô, Yôkôsuka, Hirôsima... chạy trốn chiến tranh ra đảo sinh sống. Những người này chủ trương bảo vệ những nạn nhân chiến tranh, cần làm lễ cầu hồn cho linh hồn họ. Họ bàn bạc suốt đêm song không thống nhất, đành hỏi ý kiến Milai xem có đồng ý cho ba người Việt Nam cùng được làm lễ với chồng mình không. Vì gắn bó với nhau trong bất hạnh nên chị đồng ý được làm lễ chung, chôn cất ở nghĩa địa phía sau chùa Kônbilaxama. Dân đảo khiêng quan tài Takanô đi trước, tiếp đến ba quan tài người Việt Nam lên dốc cao về phía nghĩa địa. Trong dòng người mặc quần áo Kimônô các kiểu tiễn biệt, chỉ có Nguyệt mặc áo trắng, quần thâm, đầu đội khăn trắng bám theo quan tài không rời nửa bước. Chị gào lên thảm thiết: "Trời ơi, các anh các chị quy về tiên tổ để lại mình em nơi đất khách quê người! Ôi! Anh Sơn ơi! Anh có hiểu cho nỗi lòng em không?...". Khoảng nửa giờ sau, đám rước đã đến nghĩa địa, cái nghĩa địa được chia thành khu "Quê hương" và khu "Quán trọ". Những người trên đảo chết được chôn cất ở khu "Quê hương", được vợ chồng con cái những người thân quyến thường xuyên đến chăm nom, hương khói nghi ngút. Còn khu "Quán trọ" dành chôn cất những người chết ngoài biển, xác xô vào đảo hay chết trên đảo nhưng không có người thân. Khu Quán Trọ hầu như không có ai đến chăm nom hương khói nên các ngôi mộ trơ trọi với vài cây xác xơ cằn cỗi. Theo đề nghị của Milai, ba người Việt Nam được chôn cùng với Takanô ở khu mộ Quê Hương. Sau khi chôn cất xong, Milai dẫn Nguyệt vào chùa Kônbilaxama. Họ đi trên con đường trải đá san hô vụn đến tận sân chùa. Milai và Nguyệt đến trước bàn thờ thắp hương. Milai ngồi xuống cầm trống gõ, Nguyệt cũng ngồi theo sau. - Na mô cứu khổ cứu nạn, xin thần Kônbilaxama hãy cho xác chồng con và những người Việt Nam được về sống trên đảo Liutô này! Milai gõ trống một cái và bắt đầu lầm rầm niệm Phật. Nguyệt dõi mắt lên bàn thờ, mặt mỗi lúc một tái nhợt rồi ngã vật xuống. Nhà chùa ngừng lễ, cho người đưa chị đến bệnh viện, có cái tên gọi rất bình dị "Bệnh viện Biển Xanh", nơi chồng Milai làm việc. Bệnh viện này là bệnh viện lớn nhất đảo "Đầu Con Rồng". Chủ nhân, bác sĩ Xêxiki đồng thời là bác sĩ trưởng. Tòa nhà bốn tầng, lại thêm tầng hầm nữa nằm gần trung tâm đảo, nhìn về hướng Đông. Đối với đảo, để tránh gió bão, mọi nhà đều xây hai, hoặc ba tầng. Vì vậy, Bệnh viện Biển Xanh trở thành khu nhà cao nhất. Ở tầng hầm là phòng đón tiếp bệnh nhân, tiếp khách, phát thuốc... Tầng một dành cho phòng mổ, phòng xét nghiệm, nơi làm việc của bác sĩ trưởng, thư ký và các bác sĩ bệnh viện. Từ tầng hai trở lên là các phòng của bệnh nhân, Trên cửa mỗi phòng đều treo biển: "Bác sĩ nội", "Bác sĩ da liễu", "Bác sĩ phẫu thuật", "Khoa thử nhiễm xạ nguyên tử Hirôsima"... Phía trước bệnh viện là dãy các cây anh đào đẹp lạ thường, cả vườn cây buông cành chẳng khác nào vườn liễu phủ bên bờ biển. Chiếc ô tô chở Nguyệt luồn dưới tán che cửa nó làm những bông hoa anh đào hồng hồng sắp tàn trong mùa rơi xuống mui ô tô. Những chiếc lá rụng trong ngày vẫn nằm trên đường đi. Milai và một người nữa cáng Nguyệt xuống, đi thẳng vào cửa chính của bệnh viện - cửa dẫn thẳng vào phòng cấp cứu. Bác sĩ trực Xêxiki vừa đọc xong trang cuối cùng tiểu thuyết "Cố đô Kyôtô" của nhà văn Nhật Bản Yasumari Kawabata. Bác sĩ gấp sách tự hỏi: - Tại sao là một nhà văn lớn của Nhật Bản và nhân loại đã từng được giải Nobel văn chương lại tự tử? Milai bấm chuông gọi cửa, cánh cửa từ từ mở. Milai cáng Nguyệt vào. Xêxiki đẩy cuốn tiểu thuyết sang bên. - Tại sao bệnh nhân ngất xỉu? Nhiều tiền đấy! - Thưa tiên sinh, tôi không rõ. - Người vùng nào? - Thưa tiên sinh, người Việt Nam. Nạn nhân của chiến tranh. Xêxiki cầm cuốn tiểu thuyết lật lật mấy trang, nói: - Là người nhà của bà? - Dạ, không! Xêxiki lạnh lùng giở tiếp các trang tiểu thuyết. - Vậy tôi khám không công hay sao? Milai đứng chết lặng nhìn bác sĩ nghĩ: Thật bất công quá chừng. Chỉ có tiền mới chữa được cho con người hay sao? Tại sao người bác sĩ này lại nghĩ đến lợi nhuận trước khi chữa bệnh, một việc làm rất xa với lý tưởng người thầy thuốc? Tuy vậy, Bệnh viện Biển Xanh vẫn là bệnh viện lớn nhất đảo, nếu không chữa ở đây thì không có nơi nào tốt hơn. Milai cố nén nỗi bực tức nhìn bác sĩ nói: - Thưa tiên sinh. Tôi trả. Milai thấy mình cần yên lặng để chiều lòng bác sĩ. Chị đứng im cho gió ngoài cửa sổ thổi vào mặt, nhìn vào gương mặt xanh bợt của Nguyệt khiến chị phải rùng mình. - Cô trả tiền thật chứ? - Thưa tiên sinh. Vâng! Xêxiki gật đầu, gấp cuốn tiểu thuyết, cầm ống nghe đi đến bên Nguyệt, áp ống nghe vào lưng, vào ngực, vào bụng. - Bệnh nhân bị động thai. - Nhưng bệnh nhân là người Việt Nam... - Vậy chúng ta không chữa cho bệnh nhân là người Việt Nam hay sao? - Khổ thế đấy! - Người bác sĩ cười. Milai cảm thấy cổ khô lại vì công phẫn. - Người Việt Nam hay người Nhật Bản thì tính mạng cũng có giá trị như nhau. Chẳng lẽ người thầy thuốc hành nghề chữa bệnh cho người mà chỉ chữa cho người Nhật Bản thôi ư? Milai ngồi quay lưng ra phía cửa sổ, ánh sáng bên ngoài xuyên qua tấm cửa kính chỉ soi vào nửa mặt càng làm tôn thêm vẻ đang bực bội của chị. - Bà nói quá rồi đây! - Xêxiki vặn người cho đỡ mỏi - Chúng tôi chỉ bảo đảm cho bệnh nhân vào viện khi có tiền. Mà khi vào đây có tiền sẽ nằm phòng thượng hạng và có giáo sư riêng. Milai buồn rầu: - Tôi nói rồi, tôi trả tiền cho bệnh nhân này. - Nhưng thưa bà. Bệnh nhân này là người ngoại quốc. - Thưa tiên sinh, đối với tính mạng và sức khỏe con người đều phải được bình đẳng chứ? - Bình đẳng ư? - Bác sĩ bĩu môi - Bệnh nhân người Việt Nam gấp năm lần tiền. Milai mặt nóng bừng. Đồng hồ trên tường chỉ mười bốn giờ. Chị so đồng hồ tay của mình với đồng hồ trên tường tính nhẩm bệnh nhân đến đây đã gần mười phút. Chị nhìn bác sĩ, giọng kiên quyết: - Bao nhiêu tôi cũng xin trả. - Chỉ đợi bà nói câu đó thôi mà. Bác sĩ vừa cười vừa nói đi đến bên bệnh nhân. Milai lo lắng và thận trọng đỡ đầu Nguyệt đặt lên đùi mình. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:01:24 pm * Sau khi khám xong, bác sĩ cho chuyển bệnh nhân đến một căn phòng xanh màu nước biển. Người thiết kế nhà này phải là người vùng biển hoặc ít ra cũng yêu biển. Mỗi khi chiều đến, màu nhà và biển hòa làm một; mỗi khi sóng xô bờ, ngồi ngoài khơi nhìn vào tưởng tòa nhà là đỉnh cao của ngọn sóng. Nguyệt tỉnh dậy, chị sờ vào bụng. Cái thai sắp đủ chín tháng mười ngày đạp mạnh. Chị kêu lên "Nguyệt Nga con ơi, Sơn Lâm con ơi! Hãy tha thứ cho mẹ giũ bỏ đi cái quyền được làm mẹ!". Chị ngã vật xuống, vừa hay đầu chạm phải cái gối thêu mấy bông hoa anh đào. Nét mặt Nguyệt lộ vẻ đau khổ khác thường, cả người co nhúm lại. Milai từ ngoài đi vào. Nguyệt nghĩ ngay: không thế để Milai biết được ý định của mình. Mà Milai làm sao biết được tâm tư của một người chạy trốn người chồng chưa cưới của mình? Bác sĩ từ ngoài bước vào: - Bệnh nhân Việt Nam của bà Milai nằm lên bàn! Tự nhiên Nguyệt ứa nước mắt nghĩ đến một đứa con không có bố!... Ông nghe ấp vào bụng chị cắt ngang dòng suy nghĩ. - Ngôi thai bình thường. Tim thai khỏe. Sau khi nghe Milai nhắc lại, Nguyệt liếc nhanh xuống bụng tự nhủ thầm: Chẳng lẽ cái sinh linh khôn khổ của mình vẫn lớn lên khỏe mạnh bất chấp mưa gió Trường Sơn và sóng biển hay sao? Bác sĩ quay lại phía Milai. - Thai đang trong thời kỳ nằm ngang. Bà phải cho bệnh nhân đi lại mới đẻ dễ được. Milai dẫn Nguyệt đi dọc hành lang qua căn buồng có một chị người Nhật đang vặn vẹo như con giun kêu gào. Tim Nguyệt như thắt lại rồi lại giội lên thốn thức mong được kêu gào như người mẹ kia để sinh ra cái sinh linh nhỏ bé! "Không! Không thể sinh nó ra trong lúc này được! Nó không có tội tình gì mà lại phải mang lý lịch có người bố chống lại Tổ quốc". Nguyệt gào lên rồi ngã khuỵu xuống, đầu đập vào đùi Milai. - Nguyệt! - Milai vừa lay vai Nguyệt vừa gọi. Mấy ông chồng đến thăm vợ đẻ cùng Milai dìu Nguyệt vào giường bệnh. Nửa đêm tỉnh giấc, Nguyệt thấy cả gian phòng trống vắng, trắng trơn. Phía ngoài, sóng biển đập vào đảo, chị tưởng như hồn biển đang hú gọi. Chị kêu lên: Phải trả giá để đổi lấy sinh linh nhỏ bé mà nó lại phải chịu mang tiếng có người bố làm gián điệp cho CIA hay sao? Không! Không thể như thế được. Hay là phá thai đi! Cũng không được! Nó sắp đủ chín tháng mười ngày. Nó phải được làm người. Nguyệt gục đầu xuồng gối khóc, "Anh Sơn ơi! Chính em đã đẩy anh vào con đường tội lỗi. Anh hãy tha thứ cho em! Nhưng giờ đây em không thể tiếp tục sống được nữa để trở thành thủ phạm tiếp tục đẩy con chúng ta vào cuộc sống cù bơ bù bất nơi đất khách quê người. Anh ơi! Nếu một người vợ cùng một lúc dẫn chồng đến tội lỗi, đưa con đến con đường tha hương thì sống làm gì. Nguyệt nhắm mắt lại và cảm tưởng như phía trước có màn sương mù phủ nhoè. Chị định thần lại, đảo mắt nhìn khắp phòng, rồi bước ra khóa cửa. Chị dựa lưng ngay vào cửa ra vào thầm nghĩ: Tự tử. Đó là con đường hay nhất bớt đi đau khổ cho mình và đứa con tương lai. Có lẽ chỉ có con đường đó mới trút bỏ được sự lo âu, trút bỏ đi cuộc sống nơi đất khách quê người. Và, cũng nên kết thúc sớm để khỏi phải chịu nỗi đau như người mẹ phòng bên. Bỗng cái thai đạp mạnh làm chị phải ngồi xuống bám lấy thành giường mặt nhăn nhó khổ sở. Một cái đạp nhẹ không biết của Nguyệt Nga hay của Sơn Lâm đã đưa chị vượt qua phút giây địa ngục và sống lại. Chị nhìn khắp phòng, nhà xây không cột kèo, không có đinh đóng trên tường. Chị nhìn xuống giường bệnh, cầm tấm ga xé nhỏ thắt thành cái thòng lọng treo trên cửa sổ kia là xong. Chị cầm tấm ga kêu lên: "Anh Sơn ơi! Hãy tha thứ cho em. Nếu em không chết sẽ phái tiếp tục cuộc sống quá ê chề. Anh ơi! Anh không bao giờ là kẻ phản bội mà chỉ là người mắc bẫy để rồi bước vào con đường tội lỗi sẽ đau khổ mười...". Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:02:21 pm Nguyệt đứng lên, rút tấm ga trải giường xé làm đôi, rồi đặt chiếc ga xuống đùi thử dứt, lòng đớn đau vô hạn. Ngoài ô cửa. Biển thanh bình và gió êm nhẹ như ru ngủ đảo Đầu Con Rồng. Cây anh đào ngoài sân bệnh viện lá rụng hết hoa vẫn đứng im đó. Trong nhà, ánh đèn nê ông vẫn tỏa sáng. Trên tường, tấm tranh người mẹ Nhật cho con bú vẫn tươi mãi. Tất cả đều như cũ. Còn mình? Nguyệt ngồi xuống thành giường, dựa lưng vào tường thở dốc. Lúc này sự đớn đau không phải ở chỗ chị sắp sinh ra đứa con mà cái đầu đau như búa bổ. Chị kêu lên: "Bố mẹ ơi! Sao đời con khổ quá thế này". Bỗng cánh cửa từ từ mở. Milai cùng bác sĩ bước vào và đứng ngay trước mặt Nguyệt. Bàng hoàng không hiểu vì sao họ vào được. Mãi sau này chị mới biết cửa thiết kế tự động, trong khóa nhưng bên ngoài cũng mở được. Và điều quan trọng, người bác sĩ trực có hệ thống vô tuyên theo dõi các buồng bệnh. - Nguyệt! Sao thế? Tấm ga giường rơi khỏi tay Nguyệt. Hình như sợ bác sĩ và Milai phát hiện ra mình đang làm việc kinh khủng, chị cố bình tâm vơ vội khăn ga lại. - Tại sao chị lại xé khăn trải giường? - Không!... Không!... Tôi... Giọng Nguyệt lí nhí và rời rạc. Phòng bên, có phụ nữ đau đẻ kêu thét làm Nguyệt sởn gai ốc. Chị chợt nghĩ đẻ còn khổ hơn chết. Chết như mình không đổ máu, còn đẻ thì phải đổ máu. Nhưng sống trong dằn vặt đẩy người thân vào con đường tội lỗi, lại còn khổ hơn cả đẻ và chết. Số phận con người thật cay nghiệt, không ngọt ngào chút nào. Người mẹ phải đi qua cái chết để có được đứa con, còn mình phải chết để đổi lấy cuộc sống yên nghỉ ngàn thu. Nguyệt quyết định sau khi họ ra khỏi phòng, mình sẽ nhanh chóng kết thúc nỗi đớn đau này. Sai lầm của mình phải đổi bằng tính mạng. Milai nhìn bác sĩ nói một câu gì bằng tiếng Nhật, ngay sau đó bác sĩ đi ra. Milai đến ngồi bên cạnh Nguyệt nhìn vẻ thông cảm. Nguyệt nhìn Milai rồi cúi xuống im lặng. Ngoài khơi. Gió biển mạnh hơn, vượt qua ô cửa làm bay làn tóc Nguyệt. - Chị định xé vải làm gì? Nguyệt vẫn nín lặng. - Chị định tự hại cuộc đời mình hay sao? Hai dòng nước mắt từ từ lăn qua gò má Nguyệt. - Vâng, đúng thế. Đứa con tôi sinh ra, lớn lên nó phải hỏi bố nó là ai. Không nói thực, nghĩa là dối trá đứa trẻ, mà nói thực thì đó là sự thực đau lòng. - Đất nước chị vừa giải phóng mà chị bỏ chạy sang đây nghĩa là chồng chị là người... Milai nhìn Nguyệt thăm dò e ngại. - Vâng. Chồng tôi là người chống lại... Nguyệt bất chợt lặng yên. Chị tự hỏi: Tại sao mình lại tâm sự điều đáng nguyền rủa đó với một người Nhật không quen biết? Câu hỏi Nguyệt không buột thành lời nhưng trong đêm khuya vắng, trong tiếng gió biển làm Nguyệt có cảm tưởng đó là lời răn đe khủng khiếp - Điều mà chị phải mang hận và ôm hận đó để chạy trốn Tổ quốc. Chị ôm chặt lấy đầu, cúi gục. Bên tai Nguyệt sóng biển Thái Bình Dương ào ào đập vào đảo Liutô. Chị khẩn cầu, Thần Biển hãy dâng nước cao nữa để dìm ngập cả Liutô, dìm ngập cả nước Nhật, dìm ngập cả chị xuống đáy biển, để chôn vùi nỗi đau ê chề. - Hãy vì đứa bé trong bụng! Milai khuyên nhủ Nguyệt bằng câu nói của tấm lòng một người đã hiểu thế nào là mẹ. Còn Nguyệt, nghe câu nói đó cứ như ai nện búa vào hai bên thái dương. Trong cảnh mụ mị, nửa tỉnh nửa mê, Nguyệt thét lên: - Không! Tôi không có con! Bất chợt Nguyệt lại nghĩ đến nghĩa địa. Miệng huyệt đen ngòm với thần chết đứng bên kéo chị xuống. Chị gọi thầm: "Bố mẹ ơi! Con không đủ dũng khí sinh ra đứa con do lỗi lầm trong chiến tranh để lại. Anh Sơn ơi! Em không thể nuôi một đứa con có bố làm việc chống lại Tổ quốc. Một mình em khổ là đủ rồi. Sống để dạ chết mang theo cái điều ân hận đã dẫn anh vào con đường tội lỗi". - Chị không nên nghĩ như thế. Nguyệt nhìn Milai trân trân. Ngược lại, Milai nhìn Nguyệt bình tĩnh thông cảm. - Hạnh phúc nhất của người phụ nữ là có đứa con. Nguyệt nhìn Milai vẻ bực bội, như bảo rằng thôi đừng nói nữa. Milai vẫn bình tĩnh. - Khi mẹ tôi mang thai tôi, mẹ tôi cũng không muốn sống nữa. Nhưng nghĩ đến tôi, mẹ tôi tiếp tục sống. Hạnh phúc nhất của người phụ nữ là có đứa con mà! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:02:55 pm * Milai bắt đầu kể về cuộc sống gia đình mình, đó cũng là những câu chuyện do mẹ Milai kể lại. Bà kể rằng, chồng bà, ông Yamađa khao khát được làm một quân nhân có chiến công hiển hách. Thế là, ngày nào ông cũng luyện võ, tập quyền. Ông nói rằng, là một nam nhi của đất Phù Tang không thể không quan tâm đến chiến tranh. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, ông tình nguyện vào lính sang Việt Nam. Đến một vùng đồi phía Bắc Hà Nội. Tiếng súng, tiếng pháo như truyền đi qua mấy quả đồi mới tới tai Yamađa. Ông nằm chốt ở phía Nam Sông Thương bên lở, bên bồi, còn phía Bắc do bộ đội Việt Minh chiếm giữ. Đơn vị ông đụng đầu với quân đội Việt Minh ở khúc sông gần thị xã Bắc Giang. Lực lượng mỗi bên chiếm một bờ sông hình thành cục diện đối địch nhau. Một viên đạn nóng bỏng đập vào bờ sông lạnh lẽo và rắn chắc, toé lửa, rơi tõm xuống sông. Lúc bấy giờ ông cảm thấy sởn gai ốc tự hỏi: Tại sao mình lại sang đây bắn giết họ? Nếu như viên đạn kia trúng người mình thì sao? Bỗng phía bờ Bắc có người thò đầu ra khỏi bụi cây, ông liền siết mạnh cò súng. Dòng sông lại vang lên tiếng súng kéo dài hơn. Và một điều hoàn toàn bất ngờ, một cánh quân Việt Minh tập hậu phía sau. Ông đã bị bắt đưa về rừng núi Yên Thế, dưới sự cai quản của mấy cô du kích... Các cô luôn cười như tiếng chim hót. Thấy những người tù binh ăn đói, các cô nhường cơm. Ông nhớ rõ, ngày đó là sau Tết âm lịch, cái rét buốt từ Thái Nguyên đã tràn về Yên Thế, ông run lên vì chỉ có một bộ quần áo kaki. Một cô gái có tên Thương nhường cho ông chiếc áo trấn thủ. Ông rất cảm động và hỏi cô gái: "Tại sao lại đến đây bắn giết họ? Cô gái kia có giống cô gái xứ Anh Đào không? Tại sao người Việt Nam và Nhật Bản lại bắn nhau?...". Những câu hỏi đó được cô gái có tên Thương giải đáp. Tháng Tám năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật đầu hàng vô điều kiện. Tin đó làm lay động cả núi rừng Yên Thế. Nhưng cô gái có tên Thương bắt đầu cúi mặt bước đi trong lời bàn tán: "Con Thương nó có chửa với thằng tù binh Yamađa rồi!". Ngày đó mùa Thu mà mưa vẫn ào ào đổ xuống núi rừng Yên Thế, Thương khẩn cầu mưa to nữa lên để dìm ngập cả vùng Yên Thế, làm cho nghiêng rừng lệch sông cuốn Thương ra biển. Thương mở cửa lán chạy ra ngoài gào lên: "Không! Không! Tôi không có con". Ý nghĩ "tự tử" mỗi lúc một rõ nét. Thương như một người mất trí, nửa tỉnh, nửa mê, đi lang thang trong rừng. Nhưng có điều lạ, Thương đi đến đâu thì vẫn có hình bóng anh tù binh Yamađa đi theo sau với câu nói bằng tiếng Việt chưa thạo, vừa đáng ghét lại vừa đáng thương: "Hãy... vì... đứa... con... chúng ta...". - Anh im đi! - Giọng Thương tỏ rõ bực tức và hối hận. Yamađa bình tĩnh nói: - Anh sẽ theo em đi kháng Pháp mà. Thương quên cả cái thai trong bụng, quay lại: - Anh nói thật đấy chứ? - Anh quyết định đổi cả tính mạng của mình để làm điều đó mà nỡ nào nói dối em ư? - Thế thì đi... Thương kéo tay Yamađa đi, nhưng ngay sau đó Thương đứng lại. Mình không thể sinh đứa con với người Nhật, nhất là người đó đã từng bắn giết bà con mình. Không! Không thể có con với một tù binh Nhật. Một mình chịu đau khổ là đủ rồi. Không nên để cho bố mẹ ở quê hương biết, không nên để cho đứa bé trong bụng phải mang trong tim vết thương... - Anh hãy bỏ tôi ra. Thương vung tay lao đi thì gặp chị em cùng đơn vị đi tìm. Từ ngày biết Thương xấu hổ vì cái thai đã định liều mình, chị em thường bám sát, động viên: "Niềm vui lớn nhất của một người con gái là được làm mẹ, được nuôi con...! Cái sinh linh nhỏ bé kia có tội tình gì mà lại bắt nó chết?". Nhờ có những lời khuyên thông cảm đó, Thương đã sinh ra đứa con gái đầu lòng mang tên rất Nhật: Milai. Mãi sau này, ông Yamađa mới giải thích cho vợ, sở dĩ ông đặt tên con là Milai vì tiếng Nhật, từ này có nghĩa là "Tương Lai". Milai là Tương Lai của vợ chồng ông. Nghe Yamađa giải thích, Thương đòi rằng Milai cũng do chị sinh ra nên phải có tên Việt Nam. Ông Yamađa đồng ý, chị đặt cho con gái cái tên "Thơm". Ông Yamađa hỏi vợ, tiếng Việt từ "Thơm" có nghĩa là gì? Chị cười và giải thích theo ý mình: "Thơm" là tỏa hương của núi rừng Yên Thế. Yamađa thật thà tưởng đó là nghĩa từ Việt Nam vội nhẩm theo: "Thơm là tỏa hương của núi...". Có lẽ cho tới lúc đó, Thương và Yamađa đều quên cả chiến tranh, quên cà việc đứa con của mình mang hai dòng máu Nhật - Việt. Bởi vì lúc đó họ chỉ nghĩ nó là đứa trẻ, nó là con mình. Cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn tiếp diễn. Chị Thương tiếp tục ở lại Yên Thế nuôi con và cai quản tù binh Pháp, còn ông Yamađa theo bộ đội Việt Minh đi vào kháng chiến cho đến ngày thực dân Pháp thua trận phải rút về nước. Ông Yamađa trở lại Yên Thế tìm vợ con. Theo sự thoả thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, ông Yamađa đưa vợ và Milai về Nhật, sống ở đảo Liutô nơi quê hương ông cho đến ngày nay. Sau khi kể xong, Milai mới nhìn sang bên, chợt phát hiện ra Nguyệt đang khóc. Chị chậm rãi nói: - Chính nhờ mẹ tôi nghĩ lại mà tôi đã được sinh ra, hôm nay mới được ngồi đây nói chuyện với chị. Vì vậy mẹ tôi, và cả tôi mới hiểu sâu sắc rằng, hạnh phúc nhất của người phụ nữ là được làm mẹ. Người mẹ không nỡ nào cướp quyền sống của đứa con. Có phải thế không? - Tôi van chị đừng nói nữa! Milai ngoan ngoãn nghe theo. Hai người ngồi im không nói. Bỗng Nguyệt gọi khẽ: - Thế ra chị cũng là người Việt Nam? - Vâng! Đúng thế. - Mẹ chị bây giờ ở đâu? - Ngay trên đảo này. Nguyệt ngẩng lên rồi lại cúi nhìn tấm khăn vừa xé. - Tôi sẽ là học trò của mẹ. - Thế thì cái sinh linh trong bụng chị sẽ đứng xuống đất gọi chị là mẹ. Đó chính là hạnh phúc của chị. - Vâng! Đúng thế. Ngoài biển. Ánh lân tinh pha màu hồng của mặt trời thêm rực rỡ. Theo thói quen, mỗi khi trời sáng, Milai lại nhìn về phía mặt trời cùng làn sóng hiền lành. - Thế là chị và tôi đều từ rừng ra biển! Cả hai người ngồi im như vừa nghe tiếng sóng biển, vừa nghe tiếng thai đập. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:03:45 pm * Nguyệt bình tâm trở lại, sức khỏe cũng dần dần hồi phục. Cái ý định điên rồ khi mới đặt chân đến nước Nhật dần dần dịu đi, lấy lại được sự thăng bằng. Chị vẫn chưa được ra viện. Theo yêu cầu của Milai, ông bệnh viện trương cử y tá Hamakô chăm sóc Nguyệt. Chị Hamakô sinh ra ở Osaca, học hết trung học ở đó mới theo chú lên Tôkyô học nghề y. Ở đó, chị lấy Xêxiki, rồi năm sau theo chồng về đảo Liutô. Hamakô có nước da trắng như vẫn thường thấy ở những người con gái vùng tuyết Hốckaiđô. Khi mới đến Liutô, Hamakô thường ngắm nhìn qua gương làn da trắng của mình. Vài năm sau, nước da chị đã nhuộm màu nước biển. Milai kể cho Hamakô nghe về cuộc đời mình, thông báo về ý định điên rồ của Nguyệt, làm Hamakô hết sức xúc động, lòng tràn ngập tình thương, thường xuyên có mặt ở bên giường Nguyệt. Trong cuộc sống gia đình, Xêxiki không thích chị cứ hay thương người, quan tâm đến bệnh nhân một cách quá đáng. Sự lạnh lùng đó đã giội vào tâm hồn chị, thế hiện trong đôi mắt u buồn. Đôi mắt ấy giờ đây như cảm thông với nỗi đau của Nguyệt và khi đêm đến, chị hay vào buồng bệnh nhân, lần nào cũng thấy Nguyệt nhìn ra phía biển. Hamakô đoán chắc, người con gái Việt Nam đang thả hồn về nơi mình sinh ra, muốn ném nỗi nhớ nhà, nhớ người chồng chưa cưới ra biển để cho sóng biển mang về tận bờ biển Việt Nam. Hamakô bước đến giữa phòng đứng lại. Thấy động, Nguyệt quay mặt vào, Hamakô chủ động chào. - Tự nhiên tôi muốn ăn cái gì... Câu nói bằng tiếng Nhật phát âm chưa chuẩn của Nguyệt cũng đủ để Hamakô hiểu. Chị vội đi sang phòng bên gọi điện cho nhà hàng rồi quay vào. - Chị phải ăn để lấy sức khi trở dạ. Nhà hàng đã đem đến bệnh viện nhiều thứ, như món gà nướng, rong biển, cá rán, canh cá... Xêxiki từ ngoài bước vào, nổi khùng lên khi thấy vợ mình quá chăm sóc người bệnh. - Cô chăm sóc người bệnh này để làm gì? Hamakô không trả lời chồng mà lấy món gà nướng đưa cho Nguyệt. Xêxiki tiến đến gần vợ hơn: - Tiền đâu mà mua những thứ này? - Tiền của bà Milai đưa. - Nhưng chưa thể cho bệnh nhân ăn được. - Nếu không cho ăn thì làm cho đứa bé trong bụng chết nhanh hơn. - Trời ơi! Tôi không hiểu cô nói gì cả - Xêxiki tức giận thét lên rồi miễn cưỡng đi ra bao lơn phanh áo khoác ngoài hóng gió biển và tiếng ồn ào của sóng. Nguyệt quay mặt vào tường. Cả bệnh viện yên ắng. Tiếng sóng đập vào đá ven đảo vỡ ra, như tiếng kêu xé lòng. Tiếng gió biển vượt qua chân đèo thổi tới bệnh viện đập vào các cánh cửa như rít lên tiếng đau vì nỗi cô đơn khủng khiếp. Chị cô nén để khỏi khóc to nhưng cả tấm thân vẫn rung lên. Cảnh tượng ấy làm Hamakô quên đi sự tức giận của chồng. Chị ngồi xuống, đặt tay lên bụng Nguyệt. Cái thai đập mạnh, đòi được sinh ra làm người làm Nguyệt đớn đau từ lúc vào viện bây giờ lại càng đau hơn. Không biết thằng Hà Sơn Lâm hay con Hà Nguyệt Nga giãy giụa làm Nguyệt đau đớn quằn quại, chị kêu lên: - Trời ơi! Tôi chết mất! Một tay Nguyệt nắm chặt thành giường, tay kia nắm chặt tay Hamakô. Nguyệt không nhận ra cơ thể mình đang quằn quại như con giun bị xéo. Hamakô ra sức giữ tay Nguyệt để khỏi cào xé. Một lúc sau cơn đau giảm dần, Nguyệt nằm im như thể chuẩn bị cho một đợt đau mới. Chị lập cập bước vào buồng, nhìn thấy Jiuki, cô bạn gái cùng dạy một trường vừa mới vào viện nằm bên giường Nguyệt. Bố mẹ Jiuki là người Hirôsima. Ông bà bị nhiễm phóng xạ do bom nguyên tử Mỹ. Trong thời gian điều trị, ông bà đã sinh Jiuki là con gái đầu lòng. Sở dĩ ông bà tìm đến đảo Liutô sống là để mong cho con cháu mình không bị di hại của bom nguyên tử. Jiuki theo bố mẹ đến đảo sinh sống từ ngày chiến tranh thế giới thứ hai mới kết thúc. Nhìn thấy Hamakô, Jiuki quay mặt đi gạt nước mắt. Đứa bé bên cạnh chị khóc đòi mẹ. Milai tiến đến định bế đứa bé nhưng Jiuki đưa tay vội lau nước mắt ôm đứa con vào lòng. Milai ngồi xuồng. Jiuki nhìn Milai, nước mắt lại giàn giụa. Lần này thì Milai chủ động đặt tay vào lưng đứa trẻ, một tay đỡ sau gáy mạnh dạn bế, lắc lư đứa bé trong tay, âu yếm gọi. - Nào! Cho cô xem mặt mũi. Mặt trời bé bé của cô nào. Bỗng Jiuki khóc to hơn, còn Milai tái mặt khi nhìn thấy đứa bé bị sứt môi. Trước mặt chị lúc đó là hình nấm quả bom nguyên tử ném xuống Hirôsima. Hàng vạn người từ từ đổ xuống đường phố. Hàng vạn nóc nhà mủn dần thành tro bụi. Có lẽ lúc đó, chị mới nghĩ đến chiến tranh nguyên tử. Hai tay chị giảm dần sự lắc lư rồi dừng hẳn. Làn bụi phóng xạ li ti bỗng dựng lên trước mắt. Qua làn bụi đó, chị nhìn thấy Nguyệt đang nằm kiệt sức. Trời ơi, hay cô gái Việt Nam kia cũng lại đẻ đứa con mang di hại của chất độc do Mỹ ném xuống Trường Sơn? Milai đứng lặng để mặc cho mùi biển và mùi thuốc bệnh viện xộc vào mũi. Ngoài đảo, sóng biển vẫn rì rầm như vốn nó đã có hàng ngàn đời nay. Thế rồi tiếng khóc của Jiuki lại to hơn, làm Milai bừng tỉnh và chợt phát hiện ra mình cũng vừa khóc. Chị nghĩ rằng, lẽ ra mình không nên khóc thì phải. Như có một cái gì đâm nhói vào tim, cào xé tâm can Milai. Chị nâng đứa bé lên, cúi xuống thơm nó và thấm nước mắt vào chiếc tã vải hoa nhìn Jiuki nói: - Phải quý nó! Thương nó thật nhiều! Jiuki bình tĩnh đôi chút nhìn Milai. Nguyệt cũng bình tĩnh nhìn Jiuki, nhưng chẳng hiểu sự tình gì. Còn Hamakô, chị là người đỡ đẻ cho Jiuki nên hiểu được khá thấu đáo ý nghĩa câu nói của Milai. Chị nói giọng đứt quãng: - Tôi tin rằng, bốn chúng ta đây cũng như tất cả những người mẹ Nhật Bản và Việt Nam đều phản đối chiến tranh, bởi vì chúng ta chỉ mong làm những người vợ, người mẹ. Phía ngoài, gió biển nhè nhẹ bay qua vườn anh đào, dấu hiệu của sự yên tĩnh và thanh thản vĩnh cửu vẫn lặng lẽ đến với bốn phụ nữ Nhật - Việt ở trong phòng. Bỗng Nguyệt kêu lên: - Milai ơi! Nó sắp ra rồi! Hamakô đứng phắt dậy, bảo Milai: - Đưa khăn bông đây! - Đi lấy nước nóng. Xêxiki từ ngoài bao lơn nghe thấy tiếng vợ liền đi vào. Và không hiểu lý do gì, anh ta đứng thần mặt ra. - Này anh - Hamakô huých khuỷu tay vào chồng - Trẻ con mới đẻ đó anh phân biệt nó người Việt hay Nhật đấy? Xêxiki gật đầu. Hamakô cười sung sướng. - Tóc nó đen lắm. Milai nhìn Nguyệt mong sao sinh ra đứa trẻ không bị di hại do nhiễm bom hóa học Mỹ ném xuống Trường Sơn. Chị cố giữ thái độ bình tĩnh, nói: - Thông minh nhưng bướng lắm đấy. Xêxiki đi ra tới cửa nói vọng vào: - Nếu là con trai phải mang tinh thần Samurai đấy1. - Sắp ra hết rồi - Hamakô động viên - Nín thở, cố lên! - Chị nhìn Milai - Dịch đi Milai! Tiếp sau đó là tiếng đứa trẻ khóc chào đời. Nguyệt òa lên vừa khóc, vừa cười rồi ngất xỉu. ------------------- 1. Tinh thần võ sĩ đạo. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:05:26 pm * Một tuần lễ sau, da trên má Nguyệt Nga đã phẳng. Mỗi khi cái tạo vật mảnh mai khóc, Nguyệt lại nhấn bầu vú căng tròn vào miệng Nguyệt Nga. Nhìn con bú, nhìn bầu vú mịn màng như quả đào tiên, chị lại nhớ tới Sơn. Cái ngày ở Trường Sơn, anh đã áp mặt vào nó nhưng lúc đó nó chưa có sữa. Còn bây giờ thì... Nguyệt quấn tã cho con, lòng xốn xang tình cảm và nỗi nhớ Sơn. Milai là người thường xuyên bên chị trong những ngày chị ở cữ. Mỗi khi chị nhớ Việt Nam, nhớ Sơn, chị khóc, Milai lại đến bên bế Nguyệt Nga nâng niu, đung đưa. - Chị suy tư nhiều sinh bệnh, ai chăm sóc Nguyệt Nga? Nguyệt lại nhìn con. Tròi ơi! Mắt nó giống như mắt bố, tóc đen giống tóc bố, còn khuôn mặt thì sao nó giống mình như tạc. Càng nhìn, chị càng không thề dứt khỏi được. - Cháu bác nó ngoan lắm mà. Không biết lớn lên nó có giống mẹ nó không? Mười năm sau. Vào giữa năm 1985, Nguyệt viết thư cho Sơn theo địa chỉ ở quê, báo rằng tình thương yêu giữa hai người đã kết thành Nguyệt Nga. Chị hy vọng, nếu Sơn còn sống, sau giải phóng thế nào cũng về thăm quê, sẽ nhận được thư. Nguyệt Nga lớn nhanh nhưng ít cười, lúc nào cũng mang tâm trạng buồn. Chiều chiều, Nguyệt dẫn con ra bờ biển ngắm nhìn ráng mây hồng tím với mặt nước mỗi lúc bớt màu nhường cho ánh lân tinh. Có lần Nguyệt kéo con ngồi xuống nói: - Trẻ con phải vui chơi chứ, con gái yêu của mẹ! - Nhưng tại sao mẹ không nói cho con hiểu bố con là ai? Nguyệt xoa đầu con. - Mẹ nói rồi, bố con ở Việt Nam. - Sao mẹ không cho con đi với bố? Nghe con gái hỏi, lòng Nguyệt thắt lại, chị kéo con vào lòng. - Lớn lên mẹ sẽ nói cho con hiểu. Nguyệt Nga vẫn hỏi một cách ngây thơ. - Bố con nói tiếng Việt hay tiếng Nhật? - Tiếng Việt con ạ. Tính tò mò trẻ con của Nguyệt Nga vẫn không chịu bỏ dở điều mình chưa hiểu. - Thế tại sao con đến trường lại không học tiếng Việt? - Mẹ xin con đừng hỏi những điều đau lòng ấy nữa. Nguyệt cúi đầu đau khổ: - Lớn lên mẹ sẽ nói cho con hiểu. - Lúc nào mẹ cũng bảo đợi con lớn lên sẽ nói. Thế bây giờ không nói được hay sao? Nguyệt Nga cầm cánh tay mẹ lay mạnh giục: - Nói đi, mẹ. Nguyệt như một pho tượng người đàn bà ẵm con ngồi chờ chồng bên bờ biển. - Bố con làm gì, ở đâu? Trăng nhô lên khỏi mặt biển bắt đầu loé lên những vầng sáng lung linh. Trên mặt biển, từ góc chân trời này đến góc chân trời kia rực lên ánh trăng tuyệt đẹp, rực rỡ. Nguyệt chỉ về phía tay phải: - Bố con ở phía bên kia bờ biển. - Có xa không mẹ? - Xa lắm! - Khi nào cho con đi gặp bố? Nghe con hỏi, Nguyệt mệt mỏi đến nỗi không muốn nghe nữa. Lẽ ra những lúc như thế này, anh Sơn ở bên cạnh có hạnh phúc hơn không. Nguyệt kêu lên: Trời ơi! Tại em cả thôi mà. Hãy tha thứ cho em đi, anh Sơn! Ngày ở Trường Sơn, anh và em vẫn ước ao sau chiến tranh chúng mình sẽ có một ngôi nhà riêng, mua sắm đồ đạc, em sẽ nấu cơm cho anh và con ăn, còn anh dạy con học. Thế mà giờ đây em phải sống nơi đất khách quê người, trên hòn đảo phía Nam Nhật Bản để nghe con hỏi những điều đau lòng. Nguyệt rút mùi soa lau mắt nhìn Nguyệt Nga: - Vài ba năm nữa con ạ! Phía bên kia dòng nước mắt sóng vẫn xô bờ dựng thành bức tường bụi nước nhuốm màu vàng của ánh trăng như một dải khăn tang bên đảo. - Mẹ xin con, đừng hỏi nữa! Nguyệt Nga bước vào tuổi mười bốn, thân thể phát triển đều đặn, nước da trắng hồng như trứng gà bóc. Mỗi khi cô mặc bộ đồ Kimônô màu xanh đi ra biển, nhiều chàng trai tưởng Nguyệt đã mười bảy. Mười mấy năm trời sống với dân đảo Liutô, cô nói tiếng Nhật như người Nhật. Những câu chuyện với các chàng trai đảo, với những người Nhật Bản, người ngoại quốc đến đảo du lịch khiến Nguyệt Nga muốn nhìn thấy cái gì khác ngoài biển xanh, lưới cá. Trong óc cô lúc đó hiện lên những đường phố bất tận, dòng người như con trăn khổng lồ trườn trên đường phố Tôkyô, Kyôtô, Kôbê... Cô ước ao được đến đó sống! Rồi ngày nào đó sẽ leo lên núi Phú Sĩ quanh năm quàng trên mình cũng sẽ tới để lặn ngụp dưới ánh sáng mặt trời đang làm tan băng giá, xem các dòng chảy có những tảng băng. Nếu thế thì mình sẽ đi từ cực Nam đến cực Bắc nước Nhật, sẽ đi qua nghìn nghìn hòn đảo của đất nước Phù Tang tràn ngập hoa anh đào, để xem cái đất nước có tinh thần Samurai mà suốt đêm ngày người ta nói tới ra sao. Sự ước ao của Nguyệt Nga đã đến. Nguyệt Nga đã quen thân một thanh niên ở Kyôtô đến du lịch đảo. Cố đô Kyôtô là một thành phố cổ Nhật Bản làm hấp dẫn hàng triệu khách du lịch nước ngoài, càng hấp dẫn Nguyệt Nga hơn. Một chủ nhật, theo lời hẹn, Nguyệt Nga đến Kyôtô, Kôbaxi đón Nguyệt Nga ở công viên Maruyama và dẫn đến làm lễ quen thân tại chùa Hâyangingu. Người Nhật dựng ngôi chùa này vào năm 1895 để tưởng niệm Thiên hoàng Kamrau1 người hơn ngàn năm trước đã hạ chiếu thiên đô Kyôtô. Vườn chùa là một rừng nhỏ những cây anh đào rủ, tô điểm cho khu vườn một vẻ riêng biệt. Nguyệt Nga bước vào vườn Chùa, lặng người đi không sao rời khỏi rặng anh đào. Những bông hoa sắc hồng và người thanh niên Nhật đẹp trai Kôbasi khiến tâm hồn cô rạo rực. ---------------- 1. Vua Nhật Kammu (737 - 806). Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:05:46 pm Sau buổi lễ chùa, Kôbasi dẫn Nguyệt Nga đi hầu hết các nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng của thành phố. Lần đầu tiên trong đòi vượt ra khỏi đảo Đầu Con Rồng, Nguyệt Nga với cái tên Umi, choáng ngập trước Thành phố Kyôtô sầm uất. Thực sự trong lòng Nguyệt Nga lúc đó không tìm thấy nơi nào đáng yêu bằng nơi đây. Có lần, cô đã lên tầng cao ngắm nhìn thoả thích những tấm thảm dày đặc hoa anh đào. Nguyệt Nga cùng Kôbasi đi dưới tán cây anh đào uốn lượn mềm mại nghiêng xuống mặt nước nom như những thác hoa hồng kiều diễm bất động trên bức tranh sơn mài. Trong bức tranh đó, Nguyệt Nga và Kôbasi đang ôm hôn nhau. Yên ổn, sự yên ổn và hạnh phúc sao mà đáng yêu thế. Nguyệt Nga ôm siết Kôbasi vào lòng. Những giờ phút đó, cô đã quên đi, mà có nhớ cũng chỉ là trách mẹ tại sao bấy lâu nay vẫn cứ âm thầm đau khổ nhớ Việt Nam, nhớ anh Sơn nào đó. Khi trở về đảo Đầu Con Rồng, Nguyệt Nga ra đứng bên đảo, phóng mắt ra biển xanh vô tận nghĩ lại giờ phút đầu tiên người con trai ôm hôn làm người cô run lên. Nguyệt Nga cúi đầu đi dọc theo mép nước. Tiếng sóng biển đập vào tảng đá ven đảo làm cô không chịu nổi. Nguyệt Nga muốn yên tĩnh nhớ tới Kyôtô, nhớ tới Kôbasi đẹp trai, thông minh, học giỏi. Sáng hôm sau, khi mặt trời chưa sưởi ấm đảo, Nguyệt Nga đã trốn mẹ đi Kyôtô. Lần này thì cô được Kôbasi dưa vào khách sạn mini. Đó là một căn lều nhỏ bên đường dành cho những đôi vợ chồng nhà cửa chật hẹp có thế đến thuê qua đêm. Vừa bước vào khách sạn mini này, Kôbasi đã ôm chầm lấy Nguyệt Nga hôn như điên dại. Nguyệt Nga sững sờ, hai chân cũng như lý trí đều theo xúc cảm của trái tim. Cô bàng hoàng, sung sướng. Tự nhiên Nguyệt Nga lại trách mẹ và Milai lúc nào cũng bàn cách trở về Việt Nam. Tại sao cứ để cho ý nghĩ ấy ám thị mẹ đến thế? Thân thể cao to, đôi tay chắc nịch của Kôbasi áp sát vào Nguyệt Nga, đôi môi hai người dính vào nhau thành đường thẳng. Giây phút đó, trái tim Nguyệt Nga rộn lên như điên cuồng và gần như vỡ ra vì sung sướng. Kôbasi lấy chân kéo hai tấm phu tôn - một loại chăn trải ngay dưới đất làm đệm, khi đắp làm chăn sát lại nhau rồi kéo Nguyệt Nga ngả người vừa ngồi xuống. - Ở Kyôtô quê anh có tục nằm ngủ cởi hết quần áo - Vừa nói, tay phải Kôbasi lần lần trước ngực Nguyệt Nga. Khi bộ đồ Kimônô được quăng sang bên, Nguyệt Nga, Kôbasi đã chui gọn trong phu tôn. - Nằm như thế này có phải ấm hơn mặc Kimônô không em? - Ừ! Ấm hơn. Kôbasi lại lật tấm phu tôn lên. - Mở phu tôn làm gì! Rét lắm! - Để anh ngắm người tuyết Phú Sĩ mà. Tấm phu tôn được trùm lại như lúc nằm. Tay Kôbasi sờ dọc theo người Nguyệt Nga và có cảm giác nó mịn màng, cảm giác được cả dòng máu chảy trong cơ thể. Hai người nằm ôm nhau, Nguyệt Nga như một con búp bê dễ bảo, còn Kôbasi dần dần trở thành như con nhái mắt đỏ đậu trên cánh bèo. - Em có ấm không? - Ấm. Thời gian như ngừng lại. Hai người nhìn nhau trong hơi thở. Kôbasi thấy như nước miếng đã chặn ngang cổ họng và phát hiện thấy mắt Nguyệt Nga, thực sự phải bùa sắc đẹp của cô từ lần đầu tiên gặp nhau trên đảo Liutô. Anh đã nói ý muốn thực lòng. - Anh ước ao suốt đời được ngủ với em như thế này. Tự nhiên Nguyệt Nga quay mặt đi. - Nhưng em sợ rằng chúng mình không thực hiện được. - Vì sao? Kôbasi ngửa mặt nhìn lên. - Mẹ em đang tìm cách đưa em về Việt Nam. Kôbasi quay nghiêng: - Em nói sao? Nguyệt Nga buồn rầu. - Em là cô gái Việt Nam. - Em nói thật hay đùa? - Thực. - Thế tại sao em nói tiếng Nhật giỏi thế?... Giọng Nguyệt Nga chậm rãi. - Chuyện này dài lắm. Nguyệt Nga bắt đầu kể về câu chuyện mẹ sợ bị Quân giải phóng khủng bố, bỏ chạy đến Nhật, được gia đình Milai và vợ chồng bác sĩ Hamakô cứu giúp. Ngoài khách sạn mini, cả cố đô Kyôtô bắt đầu nhuộm ánh mặt trời. - Thế là mười bốn năm qua mẹ con em sống lang thang? - Vâng. - Với em chưa có một ngôi nhà thật sự? - Vâng. Ngoài đường phố, những mái nhà cổ kính thấp đan chéo với những cây anh đào đầy hoa. Dòng sông xanh lững lờ trôi. Những mỏm đá phía sau với những ngôi chùa nối nhau san sát. Tàu xe bắt đầu thi nhau chạy. Một luồng ánh sáng lạnh như lưỡi dao hắt vào thân thể Nguyệt Nga. Nhờ có ánh sáng, Kôbasi nhìn rõ Nguyệt Nga đang run lên vì lo sợ phải chia ly. Còn Kôbasi, anh đến với Nguyệt Nga không phải chỉ làm một người tình, chỉ để nói chuyện, ngủ đêm trong khách sạn mà thực sự muốn làm bạn đời trăm năm. Anh đưa tay quấn lấy cổ Nguyệt Nga, rồi để mặc tay phải chạy lần theo thân thể, môi tìm môi. - Tình yêu là ngôi nhà chung em ạ! Và Kôbasi đã tìm thấy môi Nguyệt Nga. Họ quấn lấy nhau và không hề nghĩ rằng ai là người Nhật, ai là người Việt. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:06:26 pm * Tình yêu với Kôbasi lúc đầu có ma lực khiến Nguyệt Nga lao đến với anh bằng cả thể xác và tâm hồn. Còn Kôbasi cũng muốn cô gái người Việt, nói tiếng Nhật như người Nhật lúc nào cũng ở bên. Nhưng rồi khi mẹ cô phát hiện thấy con mình đang lao vào cuộc hẹn hò vụng trộm, chị khuyên con hãy chống lại sự cuốn hút ấy. Chị vốn đã buồn nhớ Tổ quốc, nhớ Sơn lại thêm nỗi buồn về con, không che nổi sự héo mòn. Trước mặt Nguyệt Nga lúc đó là khuôn mặt Kôbasi, là khuôn mặt mẹ. Nghe theo mẹ chuẩn bị về Việt Nam hay hãy dập tắt tình yêu với Kôbasi? Còn Kôbasi, anh chưa lúc nào có định từ bỏ mối tình với người con gái mà mình yêu. Nhiều đêm anh nghĩ, hoa anh đào Kyôtô, hoa đào Nhật Tân Hà Nội sao mà đẹp quá chừng, có lẽ nó đều lớn lên bằng nước biển Đông? Nguyệt cố che giấu nỗi buồn. Đã mươi mấy năm rồi, chị không gặp mẹ, gặp Sơn, gặp một người Việt Nam nào ngoài Milai. Chị cảm thấy sao mà buồn tẻ, ngày dài bất tận. Nhiều ngày, chị đã mặc cho con đi Kyôtô, đi Tôkyô chơi. Nhưng từ khi quyết định trở về Việt Nam, chị nghĩ phải kéo Nguyệt Nga khỏi vòng tay Kôbasi và muốn thế cần sớm trở về Việt Nam. Nhưng chị cũng đã từng yêu say đắm. Chính mối tình đó là nguyên nhân dẫn chị bước vào cuộc sống lang thang, chạy trốn. Chẳng lẽ lại cấm tình yêu của con ư? Không. Có lẽ cách tốt nhất là sớm rời Nhật Bản. Sự cách biệt kia may ra mới làm Nguyệt Nga tuột khỏi tay Kôbasi, Nguyệt Nga nói với Kôbasi: - Mẹ em không cản ngăn tình yêu của chúng ta nhưng cũng không ủng hộ. Mẹ em chỉ nói rằng, dù sao anh cũng là người Nhật, nếu em lấy anh có nghĩa là mẹ con phải xa nhau Mà em đối với mẹ là tất cả niềm vui và hy vọng. Mười lăm năm trước mẹ đã mất chồng, bây giờ lại mất con nữa hay sao? Thực tình, em chẳng hiểu thế nào. - Thế thì mẹ sẽ ở với chúng mình. - Nhưng mẹ em lại muốn về Việt Nam. - Ý em thế nào? - Em sinh ra và lớn lên ở Nhật, chưa bao giờ nhớ tới Việt Nam. Vậy mà thời gian gần đây lại đồng ý nghe lời mẹ về Việt Nam xem sao. Nguyệt Nga và Kôbasi dắt tay nhau đi trên đảo. Họ lội qua chỗ nước nông bước sang tảng đá nằm chênh vênh gần bờ. Hai người ngồi nhìn ra biển. Nguyệt Nga tự trách tại sao cái anh chàng người Nhật này lại bước vào đời mình. Đây là số phận hay tình yêu bồng bột? Cuộc đời mẹ em đã ê chề nay nỡ lòng nào ngăn cản tình yêu của con? Hay cắt bỏ tình yêu theo mẹ về Việt Nam? Những câu hỏi đó khiến Nguyệt Nga bật khóc. Kôbasi quàng tay qua vai Nguyệt Nga kéo vào lòng, lấy khăn tay lau nước mắt. - Nguyệt Nga, anh rất có lỗi - Kôbasi thì thầm - Anh đã chưa làm cho mẹ yên tâm ở lại Nhật. Kôbasi đặt tay lên mái đầu cúi gục, nói tiếp: - Tình yêu giữa chúng mình sẽ giữ mẹ lại. - Anh chẳng hiểu gì về mẹ. - Đúng, anh chỉ thấy mẹ ít nói. - Đó là đặc tính người hay nghĩ về quá khứ. - Thế mà em không nói cho anh từ đầu. - Vì em muốn để tự anh hiểu. Hôm nay anh đã hiểu rồi thì mẹ em đã nhận được giấy của Đại sứ báo đồng ý cho về Việt Nam. - Không! Không được về. Anh không cần ai nữa, chỉ có em thôi. Nếu em về Việt Nam thì tình yêu giữa anh và em là vô nghĩa. Anh đã nói rằng, anh yêu em hàng ngàn lần, mà em vẫn không tin hay sao? - Em tin. - Tin mà em vẫn bỏ về Việt Nam? Nhưng mẹ bảo rằng anh là người ngoại quốc. - Trời ơi! Tình yêu đâu phụ thuộc vào biên giới quốc gia. Kôbasi áp hai bàn tay vào hai thái dương Nguyệt Nga xoay cho mặt cô hướng về phía mình: - Em nói đi! Có phải em không yêu anh không? - Tạm thời như thế - Nguyệt Nga lấy khăn xoa qua mặt Kôbasi - Nhưng không phải là vĩnh viễn. Khi về Việt Nam, em sẽ ghi thư cho anh. Sau khi tốt nghiệp Trung tâm đào tạo giám đốc kinh doanh, anh sẽ sang Việt Nam, em đón anh ở bên đó. - Ai nói với em như thế? - Mẹ! - Trời ơi! Em bị mẹ lừa dối rồi. Em về Việt Nam là phải chia tay nhau vĩnh viễn. - Anh vừa bảo tình yêu không phụ thuộc vào biên giới quốc gia cơ mà. Nguyệt Nga đã nằm gọn trong lòng Kôbasi từ lúc nào. Cô quàng hai tay ôm cổ Kôbasi kéo ghì đầu anh xuống hôn. - Mẹ bảo rằng, mười lăm năm, năm nghìn bốn trăm đêm có lẻ mẹ đã hy sinh cho em. Bây giờ mẹ nói rằng, mẹ xin em một lần nghe mẹ về Việt Nam. Mười lăm năm qua ngủ chung với mẹ, em thấy mẹ cô đơn. Em không muốn làm điều gì tổn thương tình cảm mẹ đã dành cho em: Phải, em không bao giờ làm tổn thương tình cảm của mẹ. Mẹ bảo em về Việt Nam là bù đắp lại điều mẹ đã mất, đã chờ đợi mười lăm năm... Thế là em đã chấp nhận. Có thế đó là quyết định hấp tấp, vội vàng, vì em tin có ngày gặp lại anh, mãi mãi được ngồi trong lòng anh như thế này. Điều quan trọng nữa, làm như thế em được cả anh và mẹ. Anh hãy hôn em và tha thứ cho quyết định đó của em. Nguyệt Nga chủ động kéo đầu Kôbasi, nhưng anh không chịu cúi xuống, mắt mở to nhìn cô. Lại vẫn cái vòng tuần hoàn vĩnh cửu của tình yêu sau khi ngắm nhìn thỏa thích, anh cúi xuống hôn. Khi hai người quấn vào nhau ngả người xuống đất vướng vào một vật gì họ mới biết mình đang ngồi dưới một gốc cây anh đào cổ thụ. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 09:08:42 pm CHƯƠNG BA NHỮNG NGÀY KHỐN KHỔ TẠI HỒNG KÔNG Trước mặt Nguyệt lúc này vẫn là Mếch-cơ và Năm Hổ. Vẻ đẹp lạ lùng của chị, bộ ngực căng phồng của chị như nam châm hút Năm Hổ nhưng đã bị đánh bật ra. Giờ đây, Năm Hổ vẫn không buông tha, tiếp tục nhìn chị như một bác sĩ chữa bệnh bằng phương pháp thôi miên. Giờ phút im lặng đó, Nguyệt cảm thấy đau xót, như lúc đẩy Sơn vào con đường tội lỗi. Nguyệt vẫn nghĩ một cách vô ích về nỗi đau, mười lăm năm trước. Tiếng rít gì thế? Đây là tiếng quẹt ga của Mếch-cơ hút thuốc. Khẽ chứ, đừng kêu to như vậy làm ta thêm đau khổ. Lúc này, ta không cần gì hết ngoài sự yên tĩnh. Y nghĩ đó càng làm cho trạng thái bất lực khổ sở của chị thêm u sầu buồn khổ. Nếu như sức lực của người phụ nữ, sức lực của chị giờ đây làm được gì chắc chị đánh trả ngay. Nhưng mười lăm năm trước đây, cũng hai con người này, chị đã mắc lừa chúng. Giờ đây, chị tìm đường trở về Việt Nam để tìm lại Sơn. Không hiểu Sơn của chị còn hay đã vĩnh viễn nằm ở Trường Sơn? Khi nhìn thấy Năm Hổ và Mếch-cơ bước vào, chị hiểu ngay cả hai con người này định nói gì. Mếch-cơ nhìn chị mỉm cười một cách từ tốn: - Bà Nguyệt! Trước đây tôi rất có lỗi đã không che chở bà để bà phải bỏ chạy sang Nhật, phải sống những ngày lang thang. - Ông mà cũng nói che chở ư? Sao không nói tuột ra rằng vẫn bám sát tôi, bao vây tôi? - Không. Tôi không bao giờ có ý định bao vây bà. - Thế mà ông biết được chuyến bay của tôi đi từ Nhật đến Hồng Kông ngày giờ nào? - Bà quả là con người tuyệt diệu, nhưng lại hiểu lầm. Mười lăm năm trước, tôi gặp bà để đem cho bà cuộc sống vợ chồng. Lần này tôi gặp bà để tìm cho bà đường về Việt Nam. Tôi tin rằng, ông Sơn biết được điều này sẽ vui mừng biết bao. Tình yêu của bà với ông Sơn, với Tố quốc thật tuyệt vời. - Xin ông đừng lảm nhảm giọng lưỡi của mười lăm năm trước - Nguyệt thét lên một cách giận dữ. - Bà lại hồ nghi chúng tôi rồi. - Thôi, ông im đi! Tôi không bao giờ nói với ông điều gì nữa. Mếch-cơ bình tĩnh. - Nào! Tôi có yêu cầu bà làm gì đâu. Tôi chỉ muốn hỏi một đôi điều mà khi ở Đà Nẵng chưa có dịp hỏi kỹ. - Ông đừng nói nữa - Nguyệt vẫn chưa nguôi sự tức giận - ông tìm cách che mắt tôi một lần là đủ rồi!... Ông tưởng tôi mù mãi hay sao? - Bà Nguyệt - Giọng Mếch-cơ hết sức ôn tồn - Tôi chưa hề nhục mạ bà, chưa có lời nói nào xúc phạm đến nỗi nhớ nhà của bà khi phải sống nơi đất khách quê người. Liệu bà có thể dùng từ ngữ khiếm nhã hơn được không? Nếu bà vẫn giữ thái độ đó thì buộc tôi phải nghĩ rằng người Việt Nam là người không lịch sự! Mếch-cơ nhún vai bước đến bên chiếc bàn đóng bằng gỗ cẩm lai Sài Gòn. - Xin lỗi! Từ nãy đến giờ vẫn chưa mời bà ngồi - Mếch-cơ xoè tay - Mời bà. Nguyệt đã quá mệt mỏi với trò ảo thuật của cơ quan tình báo Mỹ nên chị nhắm mắt ngồi xuống. Chị nhủ thầm: Cứ ngồi xuống rồi ta liệu sau. Từng phút đồng hồ trôi qua, sắc mặt Nguyệt mỗi lúc một nhợt nhạt. - Bà quả là con người có tâm hồn cao cả và vẻ đẹp chưa từng thấy. Tôi đã gặp nhiều người Việt Nam bỏ Tổ quốc, chạy sang Hồng Kông này, nhưng không ai có nỗi nhớ quê hương, nhớ Trường Sơn như bà. Đọc tên con gái bà, tôi đã biết bà và ông nhà đã đặt tên con từ ngày ở Trường Sơn. - Vâng! Đúng thế. - Chính vì hiểu nỗi lòng bà, chúng tôi muốn tạo cho bà có dịp vế Tổ quốc. - Về hay không là quyền của tôi. Chính phủ Nhật Bản với tôi chứ đâu phải quyền của các ông. - Thê thì bà nhầm - Khi còn ở đảo Liutô thì nước Nhật che chở cho bà. Còn khi bước ra khỏi quần đảo của đất nước Phù Tang đến Hồng Kông, đặc biệt bước vào căn phòng này thì tôi mới là người giúp bà được, tôi muốn bà trở về Việt Nam, để bé Nguyệt Nga trở về với bố nó. Ôi! Liệu ông Sơn có nhận ra con gái mình không? Tự nhiên, Nguyệt thấy buồn vui xen lẫn nhau. Nếu như Nguyệt Nga gặp bố, chắc nó ngỡ ngàng lắm. Rồi chị lại nghĩ, giờ phút đó cha con họ không ai gọi ai, chỉ đứng nhìn vừa xa lạ, vừa ngỡ ngàng, hồ nghi, còn mình sẽ là người giới thiệu. Ôi! Buồn cười cho cuộc đời quá. Cái hạnh phúc nhất của người cha, người mẹ đứng trước mặt mình là đứa con, gọi tên con. Thế mà tại sao con mình đứng trước mặt mà không nhận ra? Trong phòng đã từ lâu chỉ còn tiếng tích tắc của đồng hồ hòa với tiếng tim đập. Nhìn sắc mặt và dáng điệu, sự im lặng của Nguyệt, Mếch-cơ đoán biết chị đang trải qua cơn xúc động nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ Sơn ghê gớm. Nguyệt nhắm mắt lại, ngồi bất động. - Tôi muốn được hỏi bà đôi điều. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:03:56 pm Nguyệt mở mắt nhìn thẳng Mếch-cơ: - Ông đã đặt tôi vào tình cảnh phải nghe và trả lời. - Câu hỏi và trả lời đó sẽ giúp bà sớm được trở về Việt Nam và nó cũng trong phạm vi giữa tôi và bà. - Nếu có chạm đến vấn đề như ở Đà Nằng thì xin ông đừng hỏi. Mặt Nguyệt tự nhiên như đanh lại. - Nhưng đó là vấn đề chính trị thật thì bà nghĩ sao? - Thì tôi sẽ không trả lời. - Nếu không trả lời đồng nghĩa với không được về Việt Nam, bà tính sao? - Thì chết vậy. - Sao lại "chết"? - Vì không về Việt Nam, tôi phải sống lại ở Hồng Kông hay sống ở nước nào cũng chẳng khác gì đã chết. Tôi không thể kéo dài năm tháng nhớ nhà hơn được nữa. Mếch-cơ để tay lên bàn, mắt hơi lim dim nghĩ ngợi. Giọng bực tức, Nguyệt nói tiếp: - Ở Hồng Kông này ông là người nước khác, tôi cũng từ nơi khác đến. ông đã nói phải "khiêm nhường", "nhã nhặn", vậy thì xin ông hãy trả tôi về khách sạn, chứ đừng có đóng kịch như ngày ở Đà Nẵng. - Hình như bà vẫn còn cay cú chuyện ngày đó. - Tôi căm thù - Nguyệt mở mắt nhìn không chớp - ngày ấy, cũng cái giọng lưỡi ngọt nhạt, ông đã đưa chúng tôi vào tròng, đẩy anh Sơn vào con đường tội lỗi, đẩy tôi lưu lạc sang Nhật, cháu Nguyệt Nga sinh ra không biết mặt bố là ai. Đấy, ngọt ngào của ông để rồi làm người khác xẻ đàn tan nghé. Nghĩ đến điều đó thì không thể cay cú mà là căm thù. - Bà đã nói ra điều đó, tôi rất mừng - Mếch-cơ vẫn nhã nhặn, lãnh đạm bắt đầu tìm lời đe doạ - Tuy nhiên, ngày đó tôi chưa hiểu bà, chưa hiểu gốc gác gia đình, quan hệ giữa bà với ông Sơn nên buộc phải hỏi vòng vèo. Còn bây giờ thì tôi nói thẳng với bà rằng: ông Sơn vẫn cộng tác với chúng tôi; mười mấy năm qua bà là người chuyển tài liệu, chỉ thị của chúng tôi về Việt Nam cho ông Sơn. - Đừng nói bậy! - Nguyệt thét lên giận dữ - Tôi đã đẩy anh Sơn đến bên bờ vực thẳm, tôi không thế đẩy anh ấy xuống vực được! - Có đấy! - Mếch-cơ mở cặp lấy ra một bức thư, rút một lá cuối cùng đưa cho Nguyệt - Đây là lá thư đầu tiên bà gửi cho ông Sơn - Mặt Nguyệt biến sắc, xúc động nhìn thấy dòng chữ mình viết với tên Sơn thân thương. Mếch-cơ đưa tiếp lá thư thứ hai - Còn lá thư này bà mới gửi trước khi rời Nhật, có đúng không? - Các ông quả là những con người mất hết nhân tính đến nỗi xem trộm cả thư của người khác. Còn những lá thư đó tôi đã gửi công khai thì ông cũng đừng đem nó ra mà doạ tôi - Nguyệt nhìn Mếch-cơ giọng thách thức - Tôi nói cho ông biết, tôi đã dám công khai với bố mẹ, anh em rằng, tôi và anh Sơn chưa cưới nhưng đã có chung với nhau một đứa con đó là Nguyệt Nga. Chuyện tày đình đó mà tôi dám nói ra thì nội dung thư không có gì phải giấu giếm. Ông càng nói, tôi càng thấy xấu hổ thay cho ông. - Nếu chỉ có thế thì chuyện của chúng ta đã kết thúc từ mười lăm năm về trước. Nhưng sự đời đâu đơn giản thế - Mếch-cơ đứng dậy đi lại trong phòng - vì tất cả thư của bà gửi cho ông Sơn đều có dán thêm vi ảnh. Chắc bà đã từng là sinh viên bà biết đấy, vi ảnh nói một cách nôm nà, nó là ảnh một vật, một trang báo, trang chữ... đã thu nhỏ hàng triệu lần, nhỏ bằng mũi kim. Nhờ nó, nhờ thư của bà mà chúng tôi đã liên lạc thường xuyên với ông Sơn. Bà thử nghĩ xem, nếu tôi công bố điều này ra, thì ông Sơn, bố mẹ bà, họ hàng nhà bà có liên luỵ không? Chuyện tày đình đấy chứ! - Giọng Mếch-cơ vẫn đều đều - Tôi biết việc xem trộm thư người khác rất hổ thẹn. Nhưng vì sự nghiệp, tôi vẫn làm để có buổi nói chuyện cùng bà hôm nay. Ôi! Nghĩ cho công việc như thế, tôi vui biết mấy. Nguyệt cắn môi ngồi im. Càng nghe Mếch-cơ nói, chị càng thấy rõ mình nằm trong kế hoạch của chúng nên tự nhủ phải hết sức bình tĩnh. Mình đâu có phải là học trò lóp mẫu giáo ngồi cho Mếch- cơ xoa đầu về việc gửi thư về nước có thêm vi ảnh chứa đựng những chỉ thị của cơ quan tình báo. Có lẽ đã từng tiếp xúc, nghiên ngẫm mười lăm năm về việc mình bị tình báo gài bẫy nên Nguyệt không hoảng hốt. Chị nhìn Mếch-cơ, hỏi: - Ông cần gì trong việc đó? Mếch-cơ cười thầm trong bụng, nhìn Nguyệt. - Để bà và ông Sơn tiếp tục cộng tác với chúng tôi. - Không! Không! Tôi không bao giờ cộng tác với các ông! - Nguyệt thét lên đến vỡ tung cả gian phòng, tưởng như lời nói đó đã vang vọng khắp Hồng Kông, sang đến bán đảo Củu Long. Những bức tường cách âm đã thu lại và phản lại tai Nguyệt đến ù đi, làm mụ mị đầu óc. - Ở Hồng Kông, tôi là một người ngoại quốc. Song tôi cũng có một chút đặc quyền, có đôi chút tiếng nói đối với các xử lý của bà. Nếu bà không chịu tiếp tục cộng tác với chúng tôi, tôi sẽ chuyển bà đến trại Cấm cho mấy ông mãnh Việt Nam máu gái kéo bà cho khách làng chơi tứ xứ thưởng thức "hoa hậu" Việt Nam - Lúc này Mếch-cơ cho rằng, phải tiếp tục tấn công buộc Nguyệt chấp nhận đề nghị của mình. Giọng nói nhã nhặn, nhưng nội dung rất kiên quyết - Nhiều người nước ngoài thích xài của lạ Việt Nam lắm đấy. Mếch-cơ vừa nói vừa dõi mắt về phía Nguyệt. Khi ông ta dừng lại ngay trước Nguyệt, chị ngang mặt nhìn nói: - Ông Mếch-cơ! Điều ông vừa nói với tôi phải nói là không có kẻ nào sinh ra trên thế gian này mà lại ác độc, đê tiện như thế. Ông đã dùng cả cuộc đời tôi đùa giỡn cho ông chưa đủ, lại còn định quăng thế xác tôi đến cho bọn đàn ông cấu xé hay sao? Ông dám bỡn cợt với trò nhẫn tâm như thế mà lại bảo tôi cộng tác hay sao? Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:04:16 pm Nguyệt dựa lưng vào ghế, ngước mắt cười chua cay, căm giận và tính toán. Mếch-cơ tháo chiếc kính trắng lấy khăn lau mắt kính, giọng lạnh lùng: - Nhưng bà cứ yên tâm. Cực chẳng đã tôi mới sử dụng đến đặc quyền ấy. Thâm tâm tôi muốn bà cộng tác với chúng tôi, để bà về Việt Nam sống với ông Sơn, và cháu Nguyệt Nga, với bố mẹ và quê hương. Do đó tôi mời bà đến đây để bà tự chọn. Nguyệt gục đầu không thèm nghe Mếch-cơ. Chị không muốn ngẩng mặt lên để phải nhìn thấy con người quái đản đang nói chuyện với mình. Nhưng tất cả lời nói của hắn ta: sẽ công khai thư có dán vi ảnh; Sơn vào cộng tác với tình báo nước ngoài; đưa vào trại cho các khách làng chơi... vẫn tiếp tục bủa vây xung quanh Nguyệt. Ý nghĩ quyết tâm không nhận lời cộng tác với Mếch-cơ đã bị những câu nói đe doạ của hắn ta làm mờ dần. - Sao. Bà có đồng ý cộng tác không? Nguyệt trả lời theo phản xạ. - Không. Sau câu trả lời đó chị thấy hiện lên trước mắt một lũ vượn người, kẻ kéo tay chân, kẻ cởi áo, kéo quần mình hiện lên. Nỗi sợ hãi kinh hoàng bất thần ập đến. Chị cúi đầu. Bên tai chị lại vẫn vang lên câu nói nhẹ nhàng tưởng như tiếng cha cố giảng đạo: - Để cho bà suy nghĩ một đêm nữa. Sau lời nói đó, Mếch-cơ đi ra, nhưng trong đầu Nguyệt cái bóng ghê rợn và những lời nói ma quái của hắn vẫn hiện lên trước mắt. Tự nhiên chị co nhúm người run rẩy, không dám ngẩng mặt sợ lại phải nhìn thấy con rắn độc, mặc dù chị biết chắc hắn đã đi xa. Vào những giờ phút Nguyệt đi khỏi Khách sạn Đông Phương, Nguyệt Nga nằm trên giường như một người chết. Xung quanh cô lúc ấy toàn là những người nói với nhau bằng ngôn ngữ "ngổ", "nỉ" mà cô không hiểu. Tự nhiên cô ước ao mẹ sớm trơ về, ước ao có người nào nói tiếng Việt hay tiếng Nhật cũng được cho nó qua đi giờ phút trống trải. Trong cô lúc đó chỉ cầu nguyện có ai nói chuyện bằng tiếng Việt... Thê rồi bỗng nhiên cánh cửa mở. Năm Hổ trong bộ đồ ghi, caravat xanh bợt bước vào. Bộ râu quai nón của Năm Hổ cạo nhẵn nhưng những chân râu vẫn tạo thành vành đen mò mờ từ phía thái dương bên này qua cằm chạy sang tận thái dương bên kia. Câu nói bằng tiếng Việt "Nguyệt Nga" đã có sức mạnh tạo sự thông cảm gần gũi của những người cùng một dân tộc, nói cùng một thứ tiếng. - Cháu chào chú. - Mẹ đi rồi, ở nhà một mình buồn lắm phải không? - Vâng. Chú đến, cháu vui quá - Giọng Nguyệt Nga sôi nổi hẳn lên. Năm Hổ hướng đôi mắt vào phía ngực Nguyệt Nga một cách kiên nhẫn. - Tại sao cháu không đi chơi? - Tiền không có, đường đi không biết, chú bảo cháu đi đâu. Hay là... Nguyệt Nga định kêu lên "chú đưa cháu đi" nhưng miệng tự dưng cứng lại. Không ngần ngừ, Năm Hố nói ngay: - Nếu cháu thích đi xem phong cảnh Hồng Kông, chú đưa đi. Nguyệt Nga nhìn Năm Hổ cười vui vẻ: - Sợ chú tốn tiền. Mà mẹ cháu cũng không ưng cho cháu đi chơi với đàn ông. - Không sao. Chú sẽ đưa cháu về trước khi mẹ cháu trở lại căn phòng này. Nguyệt Nga im lặng như không tìm được lời nào từ chối, rồi ngước mắt nhìn Năm Hổ một cách rụt rè. Năm Hổ đưa tay xoa trên mái tóc Nguyệt Nga tỏ ra thân thiện song nó chứa chấp cả sự thèm khát con gái của một gã đàn ông. Tự nhiên tay Năm Hổ trượt xuống vai Nguyệt Nga, hắn ta vội co lại. Nguyệt Nga tưởng đó là tình cảm trìu mến của người thuộc diện cha chú. - Nguyệt Nga ạ, có thể chiều mai mẹ cháu mới trở lại để đưa cháu về Việt Nam. Chắc khó có điều kiện trở lại Hồng Kông. Vì vậy chú khuyên cháu nên đi tham quan, để khi về Việt Nam kể cho mọi người nghe về nước Nhật, về Hồng Kông. Nguyệt Nga bắt tay ra sau đầu, ngả vào thành ghế. - Cháu sợ phiền chú. - Không. Nếu cháu thực sự muốn đi chơi. Thế là Nguyệt Nga ưng thuận bước theo sau Năm Hổ. Một người kéo xe kiệu có thân hình to cao, trạc hơn bốn chục tuổi, vắt chiếc khăn bông trên vai đang kéo xe không. - Cho tôi đi phố Hà Nội. Năm Hổ đỡ tay cho Nguyệt Nga bước lên xe trông tựa như một cặp tình nhân. Chiếc xe kiệu từ từ làn bánh đi vào phố Hà Nội. Ở đó, Nguyệt Nga thích mua gì, Năm Hổ đều ưng chiều. Buổi chiều, Năm Hổ lại đưa Nguyệt Nga sang bán đảo Cửu Long, vào một khách sạn ngay bên bờ biển. - Đói rồi, ăn thứ gì cho đỡ mệt. Năm Hổ gọi đủ thứ rồi nhìn Nguyệt Nga: - Mao Đài hay Xakê? - Cháu thích của lạ. Năm Hổ hiểu ý Nguyệt Nga bèn gọi chai Mao Đài. Hắn bật nút chai, rót vào hai cốc vại. - Nào. Chúc cho chuyến đi của mẹ con Nguyệt Nga. Năm Hổ nâng cốc, Nguyệt Nga chớm say. Cô nâng cốc uống cạn, đặt xuống bàn làm vang lên tiếng rung lanh canh. Cô đưa hai tay ôm đầu gối, đôi bàn chân trong bộ đồ Kimônô màu xanh nước biển. Càng uống, Nguyệt Nga càng lâm vào tình thế bi đát, ngoan ngoãn chiều theo đôi tay Năm Hổ. Nguyệt Nga càng uống, gương mặt và dáng điệu của cô càng tỏ rõ vương vấn cái gì ấu thơ, dường như nó mất đi cái gì kín đáo của một người con gái Việt Nam. - Hôm nay trông Nguyệt Nga đẹp, đáng yêu quá. Năm Hổ nói và nâng cốc. Tất cả mọi cử chỉ của Năm Hổ đểu đã nằm trong kế hoạch đẩy mẹ con cô vào cuộc đời cùng quẫn. - Thế mới có nhiều người yêu chứ. - Ở Nhật, Nguyệt Nga đã yêu ai chưa? - Có - Nguyệt Nga nhắm mắt rồi từ từ mơ - Anh ấy trẻ hơn chú. Nguyệt Nga lại nhắm mắt, mặt đỏ bừng, đầu ngoẹo trên thành ghế. Lúc này, Năm Hổ tha hồ ngắm cô, ôm lấy cô mà hôn tới tấp. Nguyệt Nga lịm đi bất lực, bàng hoàng trước những cái hôn điên dại của Năm Hổ. Khi nhận biết lờ mờ đôi tay hộ pháp siết chặt mình, Nguyệt Nga cố sức chống lại. Nhưng đôi tay ấy lại như gọng kìm chết khổng lồ quặp lấy toàn bộ thân thế cô đặt lên giường. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:04:58 pm * Chiếc ô tô chở Nguyệt vun vút phóng trên đường phố Hồng Kông chan hoà ánh điện trở về Khách sạn Đông Phương. Nguyệt cố dán mắt vào cửa kính để nhìn Hồng Kông, nhìn tất cả những gì mà chị biết qua tranh ảnh, báo chí. Nhưng ô tô bịt kín, chị không nhìn thấy gì ngoài ghế và người ngồi cạnh. Ô tô dừng lại, chị theo cô gái có lên Lâm Tiên đi vào cầu thang gác trở về phòng mình. Cánh cửa mở. Nguyệt Nga đang ngồi, thấy mẹ cô chạy ra, nhìn thẳng vào mặt mẹ. Nguyệt nhìn con, thấy con cân đối duyên dáng, đẹp đẽ lạ thường. Chưa bao giờ chị thấy có người nào lại gợi cho chị nhớ tới Sơn như Nguyệt Nga. Nhìn con, chị vui. Nhưng điều đáng vui hơn nữa là mẹ con chị sắp được về Việt Nam. Nguyệt cúi xuống, nhìn vào mặt con. - Mẹ bảo con về Việt Nam mà tại sao vẫn ở đây? - Sắp rồi - Nguyệt ấp úng thốt lên. Nguyệt Nga cứ nhìn xoáy vào mặt mẹ làm chị càng bối rối. Rồi Nguyệt thở dài. Lúc ở Nhật, chị tin chắc sẽ được trở lại Việt Nam, còn bây giờ, tuy trả lời con như thế, song chị vẫn không biết thực hư sẽ ra sao. - Mẹ ơi! Mẹ có điều gì buồn thế? - Không. Mẹ nhớ bố con và Việt Nam. Những âm thanh của mẹ mà Nguyệt Nga vẫn nghe mười lăm năm nay mà sao bây giờ không ra tiếng thở dài, không ra tiếng nức nở. - Mẹ ơi! Họ bảo về Việt Nam bây giờ khổ lắm. - Ai nói với con điều đó? - Chú Năm Hổ. Nguyệt nhìn con hỏi dồn dập: - Năm Hổ còn nói gì nữa? Nguyệt Nga giọng thành thật: - Chú ấy bảo mẹ con ta ở lại Hồng Kông. - Để làm gì? - Đi vào lầu xanh. Nguyệt kêu lên: "Nguyệt Nga! Nguyệt Nga con ơi!" rồi gục xuống giường khóc nức nở. Chị có cảm giác như trái đất nứt ra, chị và con đang rơi xuống vực thẳm không đáy, suốt đời không thoát ra được nữa. Nếu như mình chậm lại ở Hồng Kông ngày nào là bọn chúng càng tìm cách đẩy mẹ con chị vào cuộc sống bán bar. Trời ơi! Nếu như chúng cưỡng ép Nguyệt Nga. Bọn đàn ông mua vui trên thể xác con mình... Chị không bao giờ còn có thể nhìn thấy mặt con được nữa. Chị sẽ mất con vĩnh viễn, sẽ không dám nhìn mặt Nguyệt Nga, gương mặt thân quý nhất đời. - Nguyệt Nga, con yêu của mẹ. Con sinh ra và lớn lên nơi đất khách quê người - Nguyệt bình tĩnh lại, giọng không run - Nên con không hiểu được đầy đủ tình yêu quê hương, Tổ quốc, không hiểu được nỗi đau của người mẹ nhìn con đi vào "lầu xanh" như thế nào đâu. Nguyệt Nga ngơ ngác trước sự giải thích khó hiểu của mẹ. - Ngày ở Nhật, mẹ con mình sống ở hòn đảo Liutô phía Nam, quanh năm ngày tháng chỉ nghe thấy tiếng sóng biển, giờ đây đến Hồng Kông con mới thực sự thấy vui. Hôm nay, khi mẹ đi rồi, chú Năm Hổ cho con đi ô tô sang bán đảo Cửu Long, đến khu công nghiệp Thanh Y, đi tắm biển... - Lại thế nữa cơ ư? Thế thì con không sao hiểu được nỗi lòng mẹ. - Nỗi lòng gì hả mẹ? Nguyệt nhìn con lắc đầu: - Mười lăm năm rồi mà sao con còn quá ấu trĩ như thế. Nhưng mẹ không trách con đâu vì con lớn lên không trong cái nôi của Tổ quốc, nên mẹ đành nói rõ cho con nghe. Nỗi lòng của mẹ là muốn con ở bên mẹ mãi mãi, sống trong lòng Tổ quốc. - Nhưng Việt Nam bây giờ nghèo đói lắm, họ lại không chấp nhận cho ai ra đi trở về. - Lại Năm Hổ nói cho con điều đó phải không? - Vâng. Thưa mẹ. Chú ấy bảo chẳng nên về Việt Nam làm gì. Trở về đấy thì ngày này qua ngày khác, có lẽ suốt đời phải sống trong cảnh nghèo đói. Chỉ nghĩ đến điều đó con đã không muốn trở về rồi. Con định sẽ ở lại Hồng Kỏng, và làm việc, có tiền sẽ đi Mỹ. Con không muốn về Việt Nam. Nguyệt Nga nói giọng sôi nổi, không hề để ý sắc mặt mẹ đã hoàn toàn thay đổi, nỗi khổ theo nước mắt định trào ra, nhưng bị lý trí chặn giữ, làm mặt chị đanh lại. Những người mẹ trên thế gian này gặp nỗi đau lớn lao đều khóc. Chỉ có điều, người khóc thành tiếng, người không khóc thành tiếng, có người để mặc cho nước mắt lăn qua gò má, có người nén lại trong lòng. Nguyệt đứng lặng nhìn con. Nguyệt Nga không thể ở lại Hồng Kông được. Con ta không thể sống ở nước ngoài được. Mình phải đi gặp Mếch-cơ và Năm Hổ. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:05:14 pm Theo đề nghị của chị, Lâm Tiên lại bố trí cho chị gặp Mếch-cơ. Hôm đó, Chi cục Tình báo Trung ương Mỹ tại Hồng Kông đang họp không tiếp khách, nhưng nghe nói Nguyệt muốn gặp, Mếch-cơ vui vẻ hoãn buổi họp để tiếp chị. Khi bước vào, thần sắc đã thay đổi, đanh lại, đờ đẫn, mắt vẫn sáng trong nhưng chứa đựng sự nghiêm khắc. Đoán biết mình thắng trong cuộc vật lộn chưa quyết liệt lắm, giọng Mếch-cơ phấn khởi hơn trước: - Mòi bà ngồi! - Cám ơn ông. Chỉ khi Nguyệt ngồi xuống đối diện, nhìn trực diện mặt chị. Mếch-cơ mới thấy hai mi mắt chị hơi mọng, có phần sa xuống. - Bà từ khách sạn Đông Phương đến? - Vâng! Tôi đi cùng Lâm Tiên - Giọng chị khô khan, lạnh nhạt. - Chắc bà đã quyết định? Nguyệt nhìn thẳng vào mặt Mếch-cơ, cái nhìn khủng khiếp, chứa đựng điều gì thế thảm làm lạnh người. - Tôi đồng ý cộng tác với ông. Nhưng đề nghị ông thực hiện hai điều... - Xin bà cứ nói. Nguyệt nói nhỏ, đau xót, đứt quãng: - Một là, cho tôi biết công việc và phải giữ kín; hai là phải để cho con gái tôi trở về Việt Nam. Chỉ khi nào ông chấp nhận điều thứ hai tôi mới chấp nhận điều ông đặt ra. Sau câu nói đó, Nguyệt ngồi im để mặc trái tim mình bị dồn nén đến mức sắp vỡ tung, đau nhói. Còn Mếch-cơ lúc đó, lại tiếp tục đeo tấm mặt nạ nhân đạo, từ thiện mà gần trọn cuộc đời đã theo đuổi thuyết phục Nguyệt để con lại Hồng Kông. - Tôi hoàn toàn chấp nhận đề nghị của bà - Giọng Mếch-cơ mềm mỏng. - Không ai bác bỏ đề nghị cho con cái được trở về Tổ quốc, nếu có chết thì chết trên mảnh đất quê hương. Nhưng có điều, cả bà và tôi đều không có quyền giải quyết việc cháu Nguyệt Nga có thể về Việt Nam hay không mà quyết định đi hay ở đều do cháu định đoạt. - Nhưng đối với tôi, nhận làm việc cho ông với điều kiện duy nhất: Nguyệt Nga phải cùng mẹ về Việt Nam. - Vậy thì bà phải ký giấy. Giọng Nguyệt dõng dạc, kiên quyết: - Ông biết không, mười lăm năm qua Nguyệt Nga chưa biết mặt bố là ai; bố cũng chưa biết mặt con thế nào. Còn tôi, từ khi nó mới là bào thai, tôi đã biết nó là con ai, còn bố nó đến bây giờ vẫn chưa biết. Vì vậy, bằng giá nào tôi cũng phải cho cháu về Việt Nam để bố con gặp nhau. Chỉ vì thế mà tôi yêu cầu ông phải thề. Mếch-cơ mấp máy môi, làm dấu thánh, mãi sau mới nói thành tiếng: - Trước Đấng tối cao, tôi thề. Nguyệt nhắm mắt như lấy lại sự thanh thản để suy nghĩ cái gì sẽ lại xảy ra sau lời thề này của Mếch-cơ. Khi chị mở mắt, tờ giấy cam đoan cộng tác với cơ quan tình báo của Mếch-cơ viết bằng chữ Việt Nam với cây bút bi đặt ngay trước mặt. Hàm răng Nguyệt cắn chặt vào môi ngồi như một pho tượng. Trong đầu chị lúc đó chỉ còn hình bóng Nguyệt Nga. Suốt mười lăm năm chị nuôi dưỡng nó, theo dõi sự lớn khôn của nó và cũng đã từng khóc thầm vì nó. Giờ đây, chị thờ thẫn, chấp nhận đề nghị của Mếch-cơ cũng lại vì nó. Chị lại cứ đứng và không che giấu vẻ mặt sắp khóc vì vừa ký giấy làm việc cho Mếch-cơ. - Bà có thể về khách sạn! Nguyệt thoáng giật mình, ngẩng mặt nhìn Mếch-cơ, bề ngoài cũng bình thường như những người Mỹ khác, không có nét gì biểu hiện thâm độc, dã man. Khi biết Nguyệt đã bị thu phục, Mếch-cơ cho rằng tấn trò kéo dài mười lăm năm của mình bây giờ mới kéo màn. Chính vì vậy, Mếch-cơ cố tạo ra cho mình là người nhân ái để che đậy sự thâm hiểm bên trong. - Nguyệt Nga nó đang mong. Bà về cho cháu đỡ trông. Ngày mai gặp lại. Nguyệt vẫn đứng yên, tiếng nói của Mếch-cơ hình như không lọt vào tai chị. Thế rồi chị bước ra cửa với cảm giác toàn thân tan biến, đầu mềm ra và nặng như chì va vào tường làm choáng váng. Nỗi thương con và tờ cam đoan cộng tác với Mếch- cơ tràn khắp cơ thể, thấm sâu vào tay chân đến tận xương tuỷ, chị lảo đảo bước ra. Hình như có ai đẩy chị, làm chị ngã dúi dụi đến bên thành xe, lên xe. Chiếc Tôyôta nổ máy lao đi vào dòng người, xe như mắc cửi. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:05:46 pm * Sáng hôm sau Mếch-cơ đưa Nguyệt đi dự một lớp huấn luyện đặc biệt về công tác tình báo, bao gồm: Viết báo cáo bằng mực bí mật, sử dụng đài bí mật; cách thu thập tin tức viết báo cáo; ám tín hiệu đế người khác đến bắt liên lạc. Kết thúc lớp học, Mếch-cơ và Năm Hổ mở tiệc chiêu đãi, cấp cho mười ngàn đô la Mỹ làm kinh phí hoạt động với một chiếc đài Shap, bên trong có một chiếc đài thu phát nhỏ xíu. Sau lớp học cấp tốc, Mếch-cơ cho mẹ con Nguyệt tấm hộ chiếu mới với thời gian thích hợp từ Nhật đến Hồng Kông, rồi chuyển đến một khách sạn không phải là khách sạn nổi tiếng, sang trọng nằm ở ngoại ô thành phố trong một ngõ hẻm, ô tô không vào được, chỉ có những người Trung Hoa kéo xe kiệu mới vào được. Sáng hôm sau, mẹ con Nguyệt tìm cách đi ra sân bay quốc tê Hồng Kông. Mếch-cơ nói rằng, cứ ra đó mua vé đi Băng Cốc. Nguyệt nóng lòng đến giờ phút bước lên máy bay. Hành khách ở sân bay thuộc đủ hạng người, trong đó có người Việt Nam về thăm Tổ quốc. Thật ra, tất cả những người Việt Nam đi qua Hồng Kông đêu đặt chân đến sân bay này. Khi ra tới sân bay, Nguyệt gặp một bà tự xưng là Việt kiều sinh sống ở Hồng Kông muốn về thăm Tổ quốc nhưng một tuần rồi vẫn chưa mua được vé máy bay. Có người đã được cân hành lý, sắc mặt rạng rỡ. Họ vui vẻ nói: - Năm chín mươi là năm du lịch Việt Nam. Tôi về xem lại Việt Nam thay đổi thế nào. Nhiều người Việt Nam ở Singapore, Cửu Long, Đài Bắc đến, mỗi người một vẻ. Người chưa mua được vé, luôn ngước mắt nhìn đồng hồ vẻ lo âu, thất vọng. Mẹ con Nguyệt cũng thất vọng, chị nhìn những hành khách người Việt Nam chưa mua được vé buồn rầu, rồi rủ nhau đi tìm khách sạn ngủ qua đêm. Mẹ con Nguyệt và vợ chồng ông Thanh thuê xe kiệu trở về khách sạn mẹ con chị đã sống. Ông bà Thanh gốc là người phố Hàng Đào - Hà Nội, bỏ chạy sang Ma Cao - Trung Quốc từ hồi thực dân Pháp chiếm đóng, bây giờ về thăm lại Tổ quốc, ông bà nói từ Ma Cao đến nên Nguyệt trở thành người thông thạo Hồng Kông hơn. - Tối qua mẹ con cháu ngủ ở khách sạn này. Nguyệt đưa địa chỉ khách sạn cho vợ chồng ông Thanh. - Thế thì chúng ta đi về đó. Tại khách sạn, họ không sao ngủ được, ngổn ngang nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương. - Hay tại mình chưa đút lót cho người bán vé? - Có lẽ đưa vàng cho cô ta, sẽ được đi nhanh hơn. Ông Thanh ngồi uống cà phê hút thuốc, giết thời gian. Bà Thanh thở dài suốt đêm không ngủ. Nguyệt đi khẽ sang phòng bên ngồi nhìn Nguyệt Nga ngủ. Có lẽ cái nhìn đó để chị đôi mặt với tình yêu, nghĩ về đứa con để đẩy lùi thời gian chăng? Hay Mếch-cơ và Năm Hổ còn có âm mưu gì với mẹ con chị. Tại sao Sân bay Quốc tế Hồng Kông nổi tiếng là nơi thu xếp nhanh gọn, vừa lòng hành khách mà để hành khách đợi thế này! Càng đặt ra những câu hỏi, Nguyệt càng không hiểu gì về âm mưu của Mếch-cơ. Ngày hôm sau, ông bà Thanh mua được vé đi Băng Cốc, còn mẹ con Nguyệt vẫn trở về khách sạn trong ngõ hẻm. Lần này đi cùng có chị Tư Minh, quê Đà Nẵng. Chị nguyên là một sinh viên thời Mỹ - ngụy sang theo học ở Philipin bị kẹt sau chiến tranh. Chị cũng dẫn cháu về thăm nội ngoại. Thế là đêm thứ bao nhiêu mẹ con Nguyệt ở lại Hồng Kông. Chị bắt đầu tính từng giờ, từng phút để được trở về Việt Nam, tắm mình trong dòng sông Thương. Thực ra, Nguyệt không thể nào tính được, vì sao mình bị kẹt lại Hồng Kông dài ngày như thế! Bao hành khách đến sau đều mua được vé đi trước, còn chị vẫn ở lại. Mếch-cơ bố trí cho nhiều người chứng kiến lý do mẹ con Nguyệt ở lại Hồng Kông, họ sẽ là những nhân chứng minh chứng cho mẹ con Nguyệt trước cuộc điều tra của cơ quan an ninh. Nhưng rồi bốn ngày sau mẹ con Nguyệt cũng mua được vé. Bù đắp lại sự tiêu phí đi lại, chờ đợi, Năm Hổ đưa cho chị thêm mười ngàn đô la nữa. Nguyệt cầm chặt chiếc vé ra sân bay, thở phào nhẹ nhõm. Chiếc vé kia đã đẩy lùi những cuộc xét hỏi của Mếch-cơ, như xóa dần đi tờ cam đoan làm việc cho chúng. Hành động, lời nói gian trá, xảo quyệt của Mếch-cơ đôi với chị bắt đầu không có ý nghĩa. Ý nghĩa nhất đôi với chị bây giờ là được bước lên cầu thang máy bay. Máy bay chở mẹ con Nguyệt và mẹ con chị Tư Minh đến Sân bay Băng Cốc khoảng mười giờ đêm. Họ kê khai vàng, hành lý cho Hải quan Thái Lan, rồi về khách sạn. Tại khách sạn, có đủ hạng người, họ bàn nhau đem những thứ gì về Việt Nam kiếm được nhiều lãi; đổi tiền đô la ở ngân hàng hay chợ đen? Có người cũng bàn tính, nên đóng góp bao nhiêu để xây dựng quê hương? Bao nhiều người Việt Nam quá cảnh Thái Lan là bấy nhiêu tâm sự. Còn Nguyệt vẫn nghĩ về Mếch-cơ và Năm Hổ, nghĩ về những lời lẽ nói chuyện với Sơn. Chị nhìn qua cửa sổ, thấy đường phố mờ nhạt sau làn nước mắt. Sáng hôm sau, mẹ con chị lại cùng Tư Minh đi taxi ra sân bay. Thật vui mừng hết chỗ nói, chị đã lấy được vé đi Hà Nội. Ngồi lên chiếc máy bay của Hãng Hàng không Việt Nam chị vui đến trào nước mắt. Nữ nhân viên phục vụ đến bên Nguyệt cởi dây bảo hiểm quàng qua người Nguyệt và đưa cho một túi ni lông phòng khi ói mửa. Nguyệt cảm thấy việc làm của cô nhân viên sao nó thân thương, ân cần như người mẹ chăm sóc con. Đúng mười lăm giờ, máy bay hạ cánh xuống Sân bay Nội Bài. Mọi người lần lượt bước xuống cầu thang máy bay ra cửa. Ngoài phòng đợi, hàng trăm người đứng chờ người thân. Họ gặp nhau ôm hôn và không ít người đã òa khóc. Còn Nguyệt trở về không báo trước nên không có ai ra đón. Chị bùi ngùi, hít mạnh không khí quê hương rồi thở dài bước đi. Hình ảnh Mếch- cơ, Năm Hổ và Sơn lại hiện lên như níu chân chị bước chậm. Chị cầm tay Nguyệt Nga đi ra ô tô hàng không, lòng ngổn ngang bao ý nghĩ, cái ý nghĩ có ý nghĩa nhất tiếp sức cho chị bước được tới bên ô tô là đã về được Việt Nam. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:07:04 pm CHƯƠNG BỐN MA ĐI TÌM NGƯỜI Mếch-cơ ngồi xuống ghế rồi lại đứng lên đi sang phòng bên. - Cho tôi tôm hùm, cua bể Việt Nam! Người phục vụ bê các thứ mà ông ta yêu cầu đặt lên bàn, bên chai Xakê. Ngày công cán ở Việt Nam Mếch-cơ thích uống rượu với hai món này, ông ta cũng không hiểu vì sao những món ấy lại ngon đến thế. Bây giờ Hồng Kông nhập của Việt Nam những món đó, mặc dù bán giá gấp mười lần, Mếch-cơ vẫn không tiếc tiền. Sau khi ăn xong, Mếch-cơ trở lại công sở lục tìm toàn bộ hồ sơ về Sơn, đọc lại để kiếm tìm khả năng có thể của điệp viên này, nhằm xác lập lần cuối cho kế hoạch Sơn gặp lại Nguyệt. Vào những ngày cuối tháng hai năm 1975, Sơn được Mếch-cơ bố trí cho trở lại Trường Sơn, gặp đơn vị đóng vào thời kỳ quân ta đang chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công mùa Xuân 1975. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh trở ra Bắc, được anh em đón tiếp với thái độ đón một vị anh hùng từ chiến trường trở về. Vai anh khoác ba lô con cóc về tới cổng đơn vị mọi người quây quần bên anh. - Tròi ơi! Sơn! Rồi lại có tiếng chân người chạy thình thịch với tiếng gọi: - Chúa rừng đã về đấy hả? Người này rẽ qua vòng người ôm xốc Sơn lên quay tròn. - Tưởng bỏ xác ở Trường Sơn. - Chúa Sơn Lâm thì làm sao bỏ xác ở rừng được? Long từ từ giảm dần tổc độ quay rồi dừng hẳn. - Đợt này lại về phòng kỹ thuật bọn mình. - Do tổ chức phân công chứ. Tối ấy, mọi người ngồi nghe Sơn kế cuộc sống khổ sở ở Trường Sơn, kể về cuộc sống lạc đơn vị, lang thang trong rừng. Sơn kể rằng, hôm đó trời mưa như nghiêng trời, lệch đất. Sơn và Nguyệt đội mưa đi tuần ống. Trạm đường ống do Sơn phụ trách có bảy người. Sơn là trạm trưởng, Nguyệt - kỹ sư phụ trách van. Đêm đó mưa đến nỗi trăng không dám ló mặt ra. Nó sợ những Thạch Sanh Lâm và bà Nữ Oa Nguyệt đội mưa đi tuần. Khi đi cách xa trạm gần mười cây số đụng phải một toán biệt kích. Trong cuộc chiến đấu không cân sức đó, Nguyệt đã bị bắt hay bị chết không rõ, còn Sơn chạy lạc vào một thung lũng. Thung lũng đó là gì, đến giờ Sơn vẫn không biết tên. Đến sáng, khi mưa đã tạnh, mặt trời chiếu những tia rẻ quạt qua tán cây rừng, Sơn mới thấy đó là một bãi chiến trường. Xác chết nằm sấp, nằm nghiêng, nằm ngửa trông hệt một đoàn người vượn bị trúng độc nằm giữa thung lũng. Có xác người trắng bệch, có xác người đen xạm. Mặc dù mưa Trường Sơn đêm trước đã kỳ cọ thân thể họ, lau mặt mũi cho họ nhưng vẫn không che nổi những mặt người nhìn lên bầu trời hay nhìn vào gốc cây một cách bi ai. Mùi khét của cây rừng, mùi tanh của máu, mùi hôi thối của phân, mùi lá mục làm Sơn đến buồn nôn. Sơn nghĩ rằng, có lẽ hai đơn vị đi tuần hay hai đội trinh sát của địch và ta đụng nhau nổ súng cho đến người cuối cùng. Hai chân Sơn cứng lại như bị cắm xuống đất. Thế rồi bụng đói, miệng khát. Sơn đành di động một cách khó nhọc đến từng xác người lật tìm xem có gì ăn không. Sơn đã gom được khoảng năm kilô lương khô. Có lương thực rồi, yên tâm không sợ đói một tuần, Sơn lại đi khỏi thung lũng tìm đường trở về đơn vị. Sơn đi trong gió rừng lạnh buốt. Cả khu rừng. Không. Có lẽ cả dãy Trường Sơn như mặc áo tang. Sơn đi một mình như thế hơn một tuần. Khi lương thực sắp cạn, gói lương khô thấm máu cuối cùng tìm được trong thung lũng bóc ra ăn, thì Sơn muốn chết đi cho rảnh. Sơn nằm trên một tảng đá to, nhìn về hướng Bắc quê hương, nơi ấy có dòng sông Đáy nặng đỏ phù sa đang lặng lẽ đi ra biển cả. Giờ này, chắc người mẹ già đang lội bì bõm giữa đồng cói, vuốt từng cây cho khỏi đổ để sau mùa cói chọn tìm những sợi đẹp dệt chiếu cưới cho con. Nhưng mẹ ơi! Biết khi nào con mới trở về để nằm chiếc chiếu do chính tay mẹ dệt. Sơn nằm như thế để chờ cái chết, mặt nhìn về hướng Bắc. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:07:23 pm Nhưng rồi tiếng súng, tiếng pháo truyền từ núi rừng trùng điệp âm vang như truyền đi, vọng lại qua tai Sơn đến chục lần. Một phản xạ đầu tiên của lính Trường Sơn, Sơn cầm súng ngồi bật dậy. Thận trọng hơn, Sơn nép mình vào tảng đá. Một hồi lâu không thấy tiếng súng. Sơn tưởng rằng nơi đó chỉ còn có xác chết. Thế là dịp may hiếm có, cứ theo hướng đó tìm đến nơi hai bên vừa bắn nhau, cũng như lần trước, tìm lương khô bên xác chết. Nhưng kỳ lạ thay, vừa định đứng lên, lại thấy có người vác súng từ rừng sâu đi ra. Sơn tự hỏi anh ta là quân mình hay địch. Sơn nép mình bên tảng đá nhìn về phía người đang đi. Anh ta cũng mặc đồ giải phóng, lưng khoác ba lô con cóc, trước ngực đeo khẩu AK, tay luôn luôn đặt trên cò súng. Người này đi về phía Sơn, đến bên một tảng đá cách nơi Sơn khoảng hơn hai chục mét. Tảng đá này trông tựa như một cái bàn hình chữ nhật đứng nghiêng trên một đám đất. Nếu là người lính có kinh nghiệm, chắc chắn để cho người kia đi gần hơn nữa mới nổ súng. Song là một kỹ sư bắc đường ống, được huấn luyện không nhiều, Sơn vội hô to: - Đứng lại! Nếu không bắn chết. Cùng với tiếng hô đó, người này đã nằm lăn xuống đất, tránh đạn rồi nấp vào phía sau tảng đá. Thế là mỗi người chiếm giữ một tảng đá bắn nhau. Lúc đó, ai rời tảng đá sẽ bị bắn chết ngay. Những viên đạn người kia bắn đến hay Sơn bắn trả chạm đá toé lửa rồi tuột sang bên. Bắn nhau gần một ngày, không ai làm gì được ai, Sơn nghĩ, nếu kéo dài hơn nữa có thể mình sẽ chết, vì bụng đói, đạn chỉ còn một viên. Sơn nghĩ ra cách, quăng đất đá để cho đối phương nổ súng. Thế rồi đối phương cũng để mặc đá tung ra, cây rừng rung lên không thèm nổ súng. Mãi sau này Sơn mới hiểu anh ta cũng hết đạn, chỉ dành lại viên cuối cùng. Thời gian im ắng khá lâu. Người thanh niên kia che tay làm loa gọi to: - Hàng đi! Quân giải phóng khoan hồng. Sơn nghĩ, có lẽ anh ta không phải địch. Thế là Sơn hô to hơn: - Đằng ấy là ngụy quân hay quân giải phóng? - Trinh sát đoàn 559 đây. - Đằng này cũng là giải phóng. - Đơn vị nào? - Kỹ sư bắc đường ống. - Nếu vậy đừng bắn nhau nữa. Hãy đặt súng phía trước tảng đá. Sơn đặt súng lên trên tảng đá trước, người kia đặt súng theo. Hai người đều vừa mừng, vừa lo. Mừng vì có thể đã gặp đồng sự, lo vì sợ bị lừa. Thận trọng hơn, Sơn hỏi: - Quê cậu ở đâu? - Bên tả ngạn sông Đáy. Còn cậu? - Tớ ở bên hữu ngạn. Người thanh niên kia reo lên: - Như "vầy" là chúng mình cùng quê. Chính chữ "vầy", cái ngôn ngữ địa phương ở một vùng cuối sông Đáy đó đã giúp Sơn bớt sợ, tin người kia không phải là kẻ thù. Sơn rút khăn mùi xoa quay tròn mấy vòng rồi đứng lên về phía tảng đá đối diện. Lúc đó, Sơn cũng nghĩ, cho dù bị lừa thì chết cũng đành. Mà có lẽ chết, như thế nhẹ nhàng hơn chết vì đói. Sơn mạnh dạn bước đi. Người kia cũng đứng dậy bước về phía Sơn. Thế là Sơn và người thanh niên kia gần một ngày tưởng lầm nhau là địch đã nhận ra nhau cũng là lực lượng của Mặt trận giải phóng. Anh ta có tên rất con gái: Diệu, cán bộ của Bộ Giao thông vận tải, đi bộ đội năm 1971, năm 1972 vào chiến trường. Diệu cũng bị lạc đơn vị gần nửa tháng. Đèm đó, Sơn và Diệu ngủ trên tảng đá. Sáng hôm sau, hai người tìm về đơn vị. Nhưng họ đi suốt một tuần, đến ngày thứ tám mới gặp một trạm giao liên sư đoàn 559. Sau khi xuất trình giấy tờ, khai báo nửa tháng trời họ lạc đơn vị, cả hai phiên chế vào đơn vị mới và tiến vào giải phóng Đà Nẵng, rồi cùng một chuyên ô tô ra Bắc. Chuyện Sơn kể làm mọi người thực sự xúc động, nhìn anh với thái độ khâm phục, câu chuyện hai anh lính Sơn và Diệu tưởng lầm nhau là địch được mọi người kể cho nhau nghe, như một câu chuyện truyền thuyết. Ai cũng cho rằng, chiến tranh lắm cảnh bất ngờ và éo le. Mếch-cơ gập "Hồ sơ điệp viên Sơn, bí số PK.8" lại nghĩ: với câu chuyện ngụy trang này, chắc chắn cơ quan an ninh Hà Nội không thể nghi ngờ, PK.8 và cũng không thể nghi ngờ PK.7 Diệu. Mếch-cơ bật lửa hút thuốc rồi ngả lưng vào thành ghế, thổi luồng khói trắng lên trần nhà. Ôi! Gần mười lăm năm theo đuổi một cái bóng, đến giờ quả không vô ích. Mếch-cơ nghĩ thầm, giá như Mỹ và Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao hay buôn bán, thì có lẽ mình sẽ đề xuất đến Hà Nội đầu tiên để kiểm tra xem PK8 hoạt động ra sao, đến xem Hà Nội, thủ đô của một nước cộng sản như thế nào, tinh thần người dân của họ ra sao. Mếch-cơ đã làm trong cơ quan tình báo CIA gần ba mươi năm, song chỉ hoạt động ở vùng Đông Nam Á, chưa có dịp đến bất kỳ nước cộng sản nào. Vì vậy, Mếch-cơ rất hy vọng sau khi Nguyệt về Hà Nội gặp Sơn, ông ta sẽ được thượng cấp cho đi một vài chuyến sang Việt Nam. Âu cũng là trả công cho người đã trọn đời cho ngành bí mật nước Mỹ. Mếch-cơ rít một hơi thuốc, thả làn khói trắng. Nhìn vòng tròn trắng từ miệng bay lên, ông ta tưởng như trong vòng tròn đó có chữ "Hà Nội". Mếch-cơ kêu lên: Ta sẽ đến Hà Nội. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:07:53 pm * Sau những năm tháng sống ở chiến trường trở về, cơ quan cho Sơn về quê nghỉ một tháng. Ở quê lúc đó, bạn bè cùng lứa tuổi người đi công tác, người đi bộ đội. Thú thao thao bất tuyệt trước đây hình như đã cạn. Sau những giờ phút vui mừng gặp lại mẹ, anh lại ít lời. Tính tình thay đổi của anh làm mẹ hết sức ngạc nhiên. Bà Sơn (gọi theo tên con khi chồng chết) tự hỏi: lẽ nào chiến tranh đã làm con tôi thay đổi đến mức độ như thế ư? - Con bị mệt hay sao? - Không! Thưa mẹ. - Hay con bị thương. - Không. Suốt ba mươi ngày đêm ở quê, ai hỏi gì anh trả lời, còn không cứ nằm thở dài. Khi anh ngủ, đầu gác lên chiếc gối mây, tay phải bao giờ cũng đặt lên trán. Thỉnh thoảng, anh lại chống chân phải lên đầu gối chân trái. Lúc ngủ say, chân trái không theo sự chỉ huy của thần kinh đổ xuống làm anh giật mình. Những lúc anh ngủ, bà Sơn cứ đứng ngắm con như ngày anh còn bé. Bà kêu thầm như một hơi thở: Ôi! Sao nó giống bố như đúc. Có lần, bà đến bên giường, nhẹ nhàng nhắc chân phải anh khỏi đầu gối để chân không bị đổ nghiêng, ngủ một giấc sâu. Sơn cũng đem nỗi buồn đó về Hà Nội. Chiều chiều, sau mỗi buổi làm việc, anh lại đạp xe lên đường Thanh Niên, bước dọc theo bờ hồ Trúc Bạch. Hầu như anh không hé miệng từ lúc rời cơ quan. Có chiều chủ nhật, anh rủ Sinh, cô bạn gái thân đi chơi. Hai người đi dọc theo mép hồ mà anh vẫn đi. Khi đi được nửa đường, tự nhiên anh hỏi: - Sinh có mỏi chân không? - Không. - Chiều nay có hẹn ai không? Sinh nhìn Sơn hơi ngạc nhiên, trả lời bằng giọng lúng túng. - Không. Sinh nhìn xuống đất lại ngẩng lên, thấy ánh mắt Sơn lạ quá. - Từ ngày ở chiến trường ra anh thay đổi tính tình khác trước. - Cứ nghĩ đến ngày ở chiến trường, nghĩ đến bao bạn bè ngã xuống, mình buồn. Sơn như được dịp lại kể về cuộc sống lạc đơn vị nửa tháng, phải lật từng xác đồng đội tìm lương khô. - Nghĩ nhiều về quá khứ không hay đâu. Họ bước đến quầy bánh tôm. - Sinh vào đây ăn gì cho đỡ đói. Hai người ngồi vào bàn ở ngay bên hồ, sát gốc cây xà cừ, quay mặt về phía Nhà máy điện Yên Phụ. Sơn gọi bia, bánh tôm, nhưng rồi anh chẳng ăn cứ ngồi như một tảng đá. Anh chỉ uống, mắt nhìn ra hồ, chân di di trên mặt đất. Im lặng mỗi lúc một nặng nề, hình như Sơn quên rằng người ngồi trước mặt mình là một cô gái mà có lần đã từ chiến trường gửi thư. Ngày ấy, sau hai tháng đi bộ qua khu Bốn, đặt chân đến A sầu, Sơn nhớ tới Sinh và bạn bè. Người đầu tiên anh ghi thư đó là Sinh. Thư anh kể lại những gian khổ phải đi trong mây, trên những tảng đá tai mèo mới vào được chiến trường. Và quan trọng hơn nữa, anh hé mở rằng mình ra đi nhưng không có bạn gái thân. Những câu nói bóng gió đó gây cho Sinh sự hy vọng, trông chờ thư anh, trông chờ anh về. Nhưng hôm nay đi chơi, thấy Sơn trầm tư suy nghĩ làm Sinh áy náy và ân hận đã nhận lời. Sinh cũng không thể mở đầu bằng câu nói nào được để xua tan không khí trầm lặng. Còn Sơn, sau khi uống cạn vại bia của Sinh nhường, lại bắt đầu kể về câu chuyện ngụy trang bị lạc trong rừng mà Mếch-cơ và Năm Hổ đã soạn thảo. Sinh nhìn anh suy nghĩ, sao đầu óc anh Sơn cứ ám ảnh mãi tháng ngày lạc đơn vị thế nhỉ? Hay anh ấy bị bệnh tâm thần. Sinh ngừng bặt nín lặng nhìn anh không chớp. Chưa bao giờ Sinh thấy Sơn biểu lộ nét mặt đau buồn đến như thế. - Về đi anh Sơn. - Mình muốn đi chơi... Họ rời quầy bánh tôm, đi bộ qua dốc Yên Phụ vào đường Bưởi. - Sinh thấy chuyện chiến trường đó thế nào? - Đó là chuyện anh hùng. Nhưng anh kể quá nhiều làm... Sơn rất nhạy cảm với những câu hỏi bình luận, thái độ cư xử của người khác đối với chuyện mình kể. Anh nói tiếp: - Làm Sinh không thích phải không? - Vâng! - Nhưng lại là chỗ mình nghĩ về nó nhiều nhất. Vì nó trả lời các ông tổ chức thời gian mình xa đơn vị. - Chiến tranh bị lạc đơn vị là chuyện thường tình, có phải không anh? - Đúng. Nhưng cuộc đời đâu đơn giản như chúng mình tưởng. Vừa mới về đến đơn vị, mấy ông bảo vệ bên quân đội yêu cầu khai rõ thời gian lạc đơn vị, làm gì, gặp những ai. Về tới cơ quan mấy ông tổ chức cũng lại yêu cầu làm rõ. Sơn suy nghĩ hỏi thăm dò: - Sinh nghĩ thời gian mình lạc đơn vị có gì đáng nghi không mà họ cứ vặn vẹo. - Tổ chức là những con người máy móc. Họ nói gì kệ họ, còn chúng mình sống bằng lương tâm chính bản thân. - Lương tâm? - Sơn nhắc lại. Anh dựa vào gốc ổi ven đường - Có bao giờ Sinh nghĩ đến lương tâm người lính, người từ chiến trường trở về chưa? Họ đã sẵn sàng hy sinh tính mạng cho Tổ quốc, thế mà mấy ông tổ chức có tính đến điều đó đâu. Để thoát khỏi những con người cầm kính hiển vi soi vào từng dòng lý lịch người khác, mình định xin chuyển sang Tổng cục Dầu khí. Sinh chầm chậm bước sau Sơn, dọc theo đường Bưởi về phía Chèm. Suốt buổi chiều đến giờ Sinh mới thấy nội tâm của Sơn phơi bày sự bộc lộ bột phát câu chuyện. Sinh cảm động không tìm được lời nói động viên, chỉ lặng lẽ bước. Và càng bước, càng đẩy Sinh đi xa về thiên hướng thương cảm Sơn. Ngược lại, Sơn càng kể nhiều câu chuyện Mếch-cơ ngụy trang cho mình cốt để thăm dò tính lôgic của nó. - May mà có anh trinh sát Diệu sư đoàn 559 cũng bị lạc đã chứng nhận hoàn cảnh mình, nếu không thì khó lòng thanh minh được. Đúng là thiên thần phù trợ. Hai người tiếp tục bước. Phía Đông, mặt trăng đã vượt lên trên bãi ngô, ngọn tre ở phía bên kia Sông Hồng. Ánh trăng hòa vào ánh điện như nâng chân họ bước tiếp, đi xa hơn nữa về phía Chèm. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:08:23 pm * Sơn chia tay Sinh trở về phòng đã quá nửa đêm... Anh đi chậm đến bên cửa sổ, giò phong lan buông lơ lửng bên cửa sổ như sẫm màu hơn, không rực tươi như lúc còn ánh sáng mặt trời. Anh vừa tra chìa khóa vào ổ, Thủy em gái bước đến. - Anh Sơn! Em tưởng anh đi chơi, sáng mai mới về. Sơn định hỏi xem em mình có việc lên tìm, song anh tính đã nửa năm mình không về quê thăm mẹ nên lại thôi. - Anh Sơn, anh có khỏe không? Sơn nhìn Thủy hờ hững. - Em lên khi nào? Mẹ có khỏe không? Sơn đẩy cánh cửa chớp. Con mèo hoang nhà hàng xóm từ ngoài nhảy đến bên Sơn vẻ vui mừng. Anh cúi xuống bế nó lên lòng. Thủy vẫn ngồi im nhìn anh. Thái độ của Sơn làm Thủy có phần nào ngạc nhiên. Cô cũng mang nặng ý nghĩ gặp anh tay bắt mặt mừng nên chưa lúc nào hình dung anh trai lại tư lự thờ ơ. Chắc anh ấy có gì buồn phiền lắm nên mới lạnh lùng như thế. Song Thủy cũng rất giận trước thái độ của anh. Cô nhìn ra đường phố, tay đặt lên ghế, dựa người vào mé tường trả lời cũng hờ hững, trách móc. - Anh mà cũng hỏi thăm mẹ cơ à? Thủy nhìn Sơn tha thiết. Đôi lông mày nhạy cảm của Sơn rung lên. - Tại sao em lại nói thế? - Vì mẹ nói dạo này anh quên mẹ rồi. - Đừng nói thế mà tội nghiệp cho anh. Sơn lấy thuốc hút. Mặt Thủy sa xuống, cúi mặt nói không thèm nhìn. - Còn oan lắm hay sao. Nhà cách Hà Nội một trăm cây số mà nửa năm anh không thèm về. Biết được lý do em giận dỗi, Sơn bước về phía Thủy. - Anh bận mà. Nhà nước mình mở cửa, nhiều đoàn nước ngoài vào đầu tư, anh phải đi luôn. - Lúc nào cũng "anh bận" - Thủy cố nén thở dài, cất giọng - Vâng! Anh chỉ lo công việc còn mẹ ở nhà sống chết ra sao anh đâu nghĩ tới. - Anh định tháng sau nghỉ phép về thăm mẹ và em. - Khi ấy mẹ chỉ còn là nắm xương. Thủy bực tức bẻ quặt đầu mép chiếu gãy gập. - Sao? Mẹ yếu lắm à? Thủy vẫn chưa nguôi cơn giận, nói trong tiếng nấc: - Vâng! Yếu lắm nên em mới bỏ dạy học lên đây tìm anh. Từ lúc mẹ vào viện, em đã viết hàng chục lá thư, nhắn hàng chục lần mà anh cứ vẫn làm ngơ. Những ngày này mẹ hay nhắc tới anh. Mẹ bảo rằng, khi đẻ anh phải đẻ khan, thai quá to, người lại yếu nên khổ hơn chết. Chết chưa chắc đã đổ máu, còn đẻ thì nhất định đổ máu. Lần đẻ anh, mẹ tưởng như qua cái chết mới đoạt được sự sống. Mẹ phải nói với bác sĩ rằng hãy đổi tính mạng mẹ để được tính mạng anh. May mà chưa đến mức độ đó. Thế mà bây giờ anh nỡ báo hiếu với một người định đánh đổi cả tính mạng lấy sinh linh một người con như thế hay sao? Thủy úp mặt vào bàn tay khóc. Sơn ngồi xuống chiếc ghế phía đầu giường chờ cho tiếng khóc nhỏ dần. - Anh đã nghe mẹ nói nhiều. Bỗng Thủy ngẩng mặt lên nhìn anh nói như thét: - Thế mà anh vẫn chưa hiểu thế nào là đền đáp công ơn hay sao? Thủy lại khóc. Sơn nhìn đôi vại em đang rung lên vì giận. Anh nói khẽ: - Anh hiểu. Thủy lại ngẩng đầu, nhìn vào mặt anh: - Hiểu mà bỏ mặc mẹ già ốm liệt giường chiếu không về thăm hay sao? Sơn cố thanh minh: - Đã bảo, anh bận mà. Anh đã chuẩn bị tiền mua thuốc cho mẹ. Sơn đứng dậy chầm chậm bước đến cuối phòng, mở túi lấy một xếp tiền loại bạc NĂM NGHÌN ĐỒNG. Anh hoàn toàn không lường được tình cảm em gái mình lên tìm như thế này, nên bối rối không biết nói gì ngoài việc lấy tiền đưa cho Thủy. - Em cầm tạm số tiền này mua thuốc cho mẹ. Thủy lại khóc nấc lên. - Trời ơi! Mẹ ở nhà cần tiền thật, nhưng nghĩa tình lại cần hơn. Anh hãy giữ số tiền đó mà tiêu. Sơn nhăn mặt, ngập ngừng thương lượng: - Sô tiền này anh gửi cho mẹ. Thủy lấy khăn lau nước mắt, giọng vẫn mếu máo: - Mẹ bảo em lên đây tìm anh về đế mẹ trăng trối lần cuối cùng mà anh vẫn nhẫn tâm chỉ gửi tiền về thôi ư? Nếu vậy thì em về. Thủy xách túi đứng dậy đi ra cửa. - Thủy! Tiếng gọi của Sơn không làm dừng bước chân em gái và tiếng nói của cô: về mà ngắm nấm mồ. Câu nói đau đớn tấm lòng như thúc anh chạy theo em gọi: "Thủy! Thủy! Nghỉ lại sáng mai hãy về". Sơn gào lên giận dữ. Nhưng rồi ý nghĩ: ngày mai phải đi gặp PK.12 làm anh khựng người như bị trúng đạn. Tiếng gọi của anh yếu ớt rồi tắt dần để mặc cho đôi mắt đau buồn, sợ hãi dõi theo. Anh hoảng sợ trước việc mình vừa cư xử với mẹ và em. Trong sự im lặng của anh lúc này có điều gì hối hận. Anh kêu lên: Mẹ! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:09:25 pm * Nếu như mọi lần, Sơn sẽ tiễn Thủy ra tận ga, nhưng lần này sau tiếng gọi tưởng như rú lên anh lại đứng im. Trên đầu anh là vầng sáng điện, trên nó bầu trời xám ngắt, mây bay hỗn độn. Anh cúi mặt. Bỗng nhiên có một cảm giác mơ hồ: mẹ đã chết. Anh hoảng lên định chạy ra ga tìm cô em gái nhưng chân anh như bị chôn xuống đất. Anh đứng im hồi lâu rồi lết cả tấm thân vào nhà để mặc nó đổ xuống giường. Anh cứ nằm như thế nghĩ về mẹ, về gia đình, và lỗi lầm ở Đà Nẵng, bí mật của PK.12 nào đó. Những tháng ngày qua như một bộ phim hiện lên trước mắt, đặc tả từng chi tiết. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, sau khi tốt nghiệp đại học, anh khoác lên lưng ba lô con cóc vào Trường Sơn lắp đạt đường ống dẫn dầu, xứng đáng với đấng nam nhi, đem vinh quang cho Tổ quốc. Sơn cầm chai rượu Lúa Mới để ở chân giường rót một cốc uống một hơi cạn rồi gục đầu xuống gối nhớ tới một cơn ác mộng hai mươi năm trước. Thời kỳ đó, bố anh cũng là sĩ quan chiến trường bị thương đưa về điều trị tại Bệnh viện Quân y 108. Da mặt ông trắng bệch, giọt mồ hôi yếu ớt từ đuôi tóc mai chảy xuống. Ông nhìn Sơn nói: "Bố có lỗi đã có lúc mắng con không có chí khí, không dũng cảm ra chiến trường cứ suốt ngày đèn sách. Tại sao bố lại mắng con như thế khi Tổ quốc vẫn phải đào tạo kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ...". Sơn kêu lên: Trời ơi! Chính những giây phút tặc lưỡi gọi là khai "chút xíu" đó đã dẫn mình vào con đường tội lỗi nhận làm việc cho CIA, với tình tiết khai báo ngụy trang: bị lạc vào rừng. Anh tặc lưỡi để trở về với anh em đồng chí, tìm cách trốn chạy CIA. Sau khi miền Nam giải phóng, anh đã vào Sài Gòn, đi Vũng Tàu, lên Đà Lạt. Trên đường trở về anh lại đến thăm Khách sạn Thái Bình Dương lần cuối. Đứng trước khách sạn, anh ngắm nhìn căn phòng mà hai người đã chung sống đêm cuối cùng trước lúc chia tay, thế mà bây giờ Nguyệt không còn nữa. Anh hình dung Nguyệt đã chết, đã đem sang thế giới bên kia những niềm sung sướng, đam mê và đau khổ của cả hai người, còn để lại cho anh sự dằn vặt đớn đau, sự lo lắng thấp thỏm bị cơ quan an ninh phát hiện anh là một điệp viên được cài lại trong kế hoạch hậu chiến. Anh bước vào khách sạn đề nghị được thuê đúng căn phòng mà Nguyệt đã giãi bày cả tấm lòng và tấm thân cho anh. May mà, căn phòng đó chưa có ai thuê nên anh đạt được ý muốn! Khi cánh cửa mở, tự nhiên anh tưởng như Nguyệt đang nói, được gặp lại Nguyệt bàng xương, bằng thịt, chuyện trò tâm sự. Anh xúc động, trách mắng. Lúc đó, nước mắt anh không trào ra nhưng đượm nỗi buồn vô hạn. Trước mặt anh lặng lẽ hiện lên hình bóng Nguyệt của anh chưa chết, đang sống cùng trong căn phòng, đang cùng anh che chung tấm nilon dưới gốc cây rừng tránh mưa Trường Sơn. Trong phòng của khách sạn đó, Nguyệt là người dẫn anh vào con đường tội lỗi. Anh còn nhớ rất rõ. Đêm ấy, hai đứa nằm bên nhau để cho gió từ biển Thanh Bình đập vào cánh cửa. Đêm đó, cái chết đến với anh mỗi lúc một gần. Sự chia ly vĩnh biệt giữa anh và Nguyệt chỉ tính bằng phút, bằng giây. Trong ý nghĩ của anh trước đêm đó anh vẫn đủ nghị lực để nhận cái chết. Nhưng khi nhìn thấy tấm thân đẹp của Nguyệt dành cho anh trước lúc sang thế giới bên kia với mấy từ "khai chút xíu" thì trong anh đã hình thành hai con người: một con người yêu Tổ quốc, một con người chống lại Tổ quốc. Và từ đó trở đi, trong anh các từ "chết", "tội lỗi", "tình yêu" cứ đan chéo giằng xé anh... Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:09:41 pm Đà Nẵng vào hè khá nóng, phố phường điện vẫn sáng, người đi lại vẫn chưa giảm. Anh khóa cửa ra phố mua một nắm hương về thắp tại phòng, ngay đầu giường, nơi mà hơn mười năm trước đã nằm. Chao ôi! Có ai ngờ đâu dưới sợi khói mỏng tang Nguyệt lại hiện về. Anh nhìn Nguyệt trách cứ: Em là người có tội trong tội chung của chúng ta. Nhưng không, anh không trách em đâu, đó là tại anh. Còn giờ đây, nếu như công an phát giác anh làm việc cho CIA thì anh sẽ dũng cảm chết để chuộc lấy tội lỗi của mình. Ở nơi chín suối, em có hiểu nỗi lòng anh không? Cuộc đời anh bây giờ nặng nề, tàn nhẫn như thế đấy. Sống khôn thác thiêng, em hãy phù hộ cho anh, hãy cầu chúc cho anh chỉ có một con người yêu em, yêu Tố quốc. Sơn lặng người, mặt tái nhợt, cúi gục nghĩ lại nơi xuất phát dẫn anh vào con đường tội lỗi. Nhưng rồi, cũng trong đêm đó anh lại nghĩ, mười mấy năm qua, tấm màn bí mật kia vẫn che kín một tấn trò mà chỉ có anh và Nguyệt là hai diễn viên chính, giờ đây Nguyệt đã chết rồi, chỉ còn anh là người duy nhất. Thôi cứ giấu kín trong lòng, yên ổn làm ăn. Anh ngẩng đầu lên. Bỗng lại thấy hình Nguyệt lơ lửng. Trời ơi! Ma! Đúng rồi! Ma không có chân, bay lơ lửng, còn con người có chân. Anh lùi lại, dựa lưng vào tường. Ồ! Không phải! Anh nhận ra đó là hình bóng Nguyệt. Kìa, em lại nhìn anh làm gì? Em có biết rằng tội lỗi của anh là do em mang lại không? Rồi anh kêu lên: Nhận ra tội lỗi của mình một cách vô ích để làm gì? Chẳng lẽ mình nhận làm việc cho CIA mà không thoát khỏi được tay nó hay sao? Được lắm chứ. Mười mấy năm rồi, chúng có biết mình ở đầu mà liên lạc. Thôi, ta cứ giấu kỹ tội lỗi đó ở trong lòng. Đó là mệnh lệnh. Sáng hôm sau, Sơn mệt mỏi lê từng bước ra ga về Hà Nội mang theo mệnh lệnh đó. Anh thấy trong người nôn nao phải vịn vào thành tàu để bước vào toa. Tàu ủ còi chạy làm lá cây bên đường rung lên. Hai ngày sau, vào buổi chiều, tàu tới ga Hàng Cỏ. Anh vội về ngay nơi ở, mệt mỏi mở cửa. Anh cảm giác mọi vật xung quanh đều sụp đổ. Suốt đêm đó anh lấy ảnh Nguyệt đặt lên bàn và tự nhiên anh thấy có cái gì buồn thảm và lạnh lẽo đến kinh khủng. Từ đó anh lập bàn thờ Nguyệt, ngày ngày thắp hương tưởng nhớ. Thế rồi một đêm, có một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, dáng cao dong dỏng, mặt lưỡi cày, tay cầm chiếc cặp da gõ cửa bước vào. - Ông hỏi ai? Người đàn ông nhìn quanh phòng như tìm kiếm điều gì. - Anh có phải là Sơn không? - Vâng. Tôi đây. Linh tính mách bảo Sơn có điều chẳng lành. Anh nhìn người lạ. - Ông là ai? Người lạ mặt tiến đến bên ảnh Nguyệt để trên mặt bàn. Sơn sợ hãi lùi lại phía sau, cách xa người đàn ông khoảng năm bước. Nỗi sợ hãi khủng khiếp ập đến. Người đàn ông mở cặp lấy ra một mảnh giấy hình chữ nhật đặt bên ảnh Nguyệt mỉm cười nói lạnh lùng: ám tín hiệu mật khẩu. Những từ này phát ra đanh gọn mà Sơn có cảm giác như tiếng rú của "Pháo đài B.52", như hàng ngàn trái bom đang nổ làm rung chuyển trời đất, lửa cháy ngùn ngụt. Sơn nhắm mắt một lúc rồi lại mở mắt nhìn người đàn ông lặng lẽ bước ra cửa giống như lúc bước vào. Toàn thân Sơn run lên, vì toàn bộ ám tín hiệu và mật khẩu đều đúng cả. Nhưng lúc đó cũng như sau này, Sơn không hiểu mình bàng hoàng, hoặc sợ đến mức nào. Tự nhiên anh muốn lại sống trong cảnh Trường Sơn để lao thẳng vào bãi chiến trường, lao vào đúng nơi bom nổ cho khói đạn vùi đi. Anh đứng nhìn người đàn ông bước ra cửa và có cảm nghĩ, ông ta luôn rình rập ở bên, thấu hiểu tâm can anh, và lần đầu tiên, sau gần mười lăm năm nuôi hai con người trong anh, Sơn mới hiểu rõ con người thứ hai nó trỗi dậy và tàn ác như thế nào. Thật ra, một khi người ta sống trong tình cảnh đó thì dù cải trang cho nó hoàn chỉnh, thậm chí xinh đẹp, duyên dáng phù hợp với điều kiện sống như thế nào thì cuộc đời vẫn cứ trong lo âu, sợ hãi, tưởng như ai cũng đang theo dõi mình, cướp đi tất cả cuộc sống yên ổn. Sơn cầm tờ giấy đọc. Đó là những chữ số chi chít. Anh dịch được ngay: "Ngày thứ tư, mười sáu giờ đến địa điểm X gặp PK.12". Ôi! Cuộc đời sao tàn nhẫn thế, muốn sống yên ổn cũng không xong. Tại sao chúng cứ săn đuổi mình không chịu buông tha...? Đã đến nước này thì mình chấm dứt cuộc đời để đổi lấy bình yên ngàn thu? Sơn tự đặt cho mình câu hỏi tuyệt vọng đó. Thế rồi anh lại nghĩ: gần mười lăm năm ta sống giữa đất nước này mà có ai biết mình làm việc cho CIA đâu. Đúng rồi! Chưa ai biết. Đằng nào ta cũng chết. Vậy thì trước khi chết cứ gặp PK12 xem sao, xem sự vật xoay vần thế nào. Anh bước đến bên bàn cầm ảnh Nguyệt lên. Tròi ơi! Sao em nhìn anh giận hờn, oán trách? Lại như yêu thương tha thiết thế này? Nếu như ngày mai gặp PK.12, chúng bắt anh làm những việc ác độc thì em ơi, hãy cho anh theo em về thế giới bên kia. Sơn đi ra phía cửa số nhìn vào đêm dày đặc chốc chốc loé lên ánh lửa hàn phát ra. Anh đưa hai tay vịn song cửa đầu cúi gục kêu thầm: Phải chăng đó là sự đánh đổi đúng đắn nhất cho những ai nuôi trong lòng hai con người chống lại nhau? Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:32:02 pm * Sáng hôm sau, theo địa chỉ người đàn ông để lại Sơn rời Hà Nội đến một trạm xăng dầu ở Hà Sơn Bình, nơi mà trước đây anh đã từng công tác. Ấy thế nhưng lần này trở lại sau gần hai mươi năm xa cách, anh thấy rờn rợn. Sơn xuống xe ôtô rồi đi bộ. Đi được một đoạn anh quay đầu nhìn chiếc ô tô đã chạy xa. Bây giờ muốn quay trở lại Hà Nội, ô tô không có, tiếp tục đi không biết sẽ ra sao. Anh đứng im mặc cho gió cuốn lá rừng tạo thành rồng rắn chạy quanh. Sơn bước qua một con suối mà màu trời xám chì làm suối mang màu nước sắt hoen gỉ. Anh bước chậm về phía rừng và thấy vang bên tai: Sợ hay sao, không được quay trở lại. Đó là mệnh lệnh. Mồ hôi tự nhiên xuất hiện đọng lại trên trán Sơn. Tiếng nước róc rách làm tim anh tưởng như thắt lại. Anh quay nhìn, chẳng có ai, bốn bề lặng như tờ. Anh tiếp tục đi. Bỗng từ trong bụi cây tròn như cái chấm khổng lồ đứng bên suối vọng lên tiếng gọi: - Anh Sơn! Sơn đứng im. - Anh đến đây bằng đường nào? Giọng Sơn nhíu lại: - Ô tô và đi bộ - Sơn trấn tĩnh hỏi - Anh là ai? - PK.12 - Cảc ông định yêu cầu tôi làm gì? - Mệnh lệnh chứ - Giọng PK.12 tỏ ra cương quyết nhưng cũng hết sức nhã nhặn - Từ ngày ở chiến trường trở về anh có được khỏe không? - Cám ơn ông, khỏe! PK.12 và Sơn lội qua một khúc suối nhỏ bước lên đường đèo đi vào thung lũng. - Có lần nào anh nhận được chỉ thị chưa? - Tôi không muốn bước tiếp vào con đường đó. - Nhưng anh đã ký giấy nhận làm việc cho Mếch-cơ. - Đó là lầm lỗi của tôi. - Nhưng lầm lỗi đó cả cuộc đời không giũ được. - Không! Tôi sẵn sàng từ bỏ nó. - Nhưng người Mỹ không chấp nhận. - Thế chỉ có một con đường, đó là chết. - Anh nghĩ đơn giản như thế ư? Ai cho anh chết? PK.12 dừng chân. Một luồng gió nhẹ từ thung lũng ào ào chạy đến. Cây rừng, gió núi gợi cho Sơn nhớ tới Trường Sơn, nhớ tới kỷ niệm mà mười lăm năm qua nó như bóng ma rình rập bên anh. Anh nhìn PK.12 nói: - Sống chết là quyền của tôi. Nghe lời nói bi quan của Sơn, PK.12 nghĩ ngay: Chớ tin vào điệp viên đang hoang mang. Phải chăng thời gian qua Sơn đã bị Công an không chế - PK.12 vờ bóp bụng để kiểm tra lại súng - Trước khi giao việc cần kiểm tra. Âu cũng là nguyên tắc công tác đã được Cục Tình báo Trung ương Mỹ quy định. PK.12 nhìn Sơn và quyết định phương án ngoài kế hoạch: - Mày đã khai báo với Công an? Khẩu súng đen ngòm chĩa về phía Sơn. - Bỏ súng xuống! Sơn hoàn toàn bị bất ngờ, không hề chuẩn bị đối phó với tình huống hiểm nghèo này. Nhưng vì sẵn sàng đón nhận cái chết miễn là chết theo kiểu gì, nên anh bình tĩnh để mặc cho họng súng đen ngòm tiến về phía mình. - Mày và PK.7 đã bị lộ. Hôm nay mày đến đây theo kế hoạch của Công an dàn dựng. Sơn tiến về phía PK.12. - Không tin thì hẹn đến đây làm gì? - Đứng lại! Bước đi tao bắn chết - PK.12 hạ giọng, song mắt vẫn nhìn về phía Sơn. Ngón tay trỏ của PK.12 đã đặt lên cò súng. Họng súng đen ngòm tiến dần về phía Sơn. Tự nhiên, Sơn thấy sởn gai ốc. Chẳng lẽ họ lại đưa mình ra đây thủ tiêu chăng? Sơn lùi về phía sau cho tối khi bụng chạm vào thân cây to mới dừng lại. - Hãy bắn đi. Tôi đang muốn chết! Tiếng hạt nước đọng trên lá cây rừng rơi xuống lộp bộp tường như âm thanh tiếng súng nổ. Sự im lặng của núi rừng và họng súng đen ngòm kia dành riêng cho Sơn vào giờ này. - Nếu đúng thế, viên đạn này sẽ dành cho mày. Nhưng trước khi chết, mày hãy nhắn đôi lời với người vợ chưa cưới và đứa con gái Nguyệt Nga. - Cô ấy chết rồi. Tôi sẽ đi cùng cô ấy. - Không! Cô ấy còn sống! Niềm vui trở lại, nỗi lo âu sợ hãi bị đẩy lùi trong chốc lát. - Thật không? - Không ai bịa. - Vậy cô ấy đang ở đâu? - ở Hồng Kông. - Tại sao ông biết? - Tôi đến đây gặp anh cũng vì chuyện vợ con của anh. - Không. Tôi không tin. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:32:20 pm Gió rừng lành lạnh thổi tối như thoa mặt cho PK.12 và Sơn làm cả hai người thấy trút bỏ phần nào căng thẳng. - Ông có thể nói kỹ hơn. PK.12 vẫn đứng im nhìn Sơn. Bóng núi và bóng đêm quánh lại như cái chảo khổng lồ sắp úp xuống trạm 15. - Hôm nay tôi đến đây với tư cách cấp trên. Sơn tỏ ra bình tĩnh, chờ đợi tin tức: - Ông cứ cho chỉ thị. PK.12 vẫn chưa hết nghi ngờ, thận trọng. - Anh nhận được thư của Nguyệt bao nhiêu lần? - Biết rồi còn hỏi làm gì? - Anh có nghĩ rằng, Công an đang nghi ngờ anh những ngày bị lạc trong rừng không? - Đó là câu chuyện ngụy trang hợp lý. PK.12 rời tay khỏi báng súng, tay trái đẩy mạnh cành cây đang cầm trong tay cho nó trở lại thế ban đầu. - Nếu như bây giờ, Nguyệt trở về Hà Nội, anh phải làm gì? Sơn tỏ ý lo ngại. - Trở lại Hà Nội? - Sơn thấp giọng nhắc lại - Nghĩa là cô ấy vẫn còn sống. - Cô ấy cũng là người của Mếch-cơ. Hai người cùng trong tổ chức nói chuyện sẽ hiểu nhau hơn. Chỉ có điều, cô ấy vẫn sợ anh còn giận cô ấy đã đưa anh vào con đường cộng tác với Mếch-cơ. Sơn đứng im như một cây gỗ giữa rừng. PK.12 giục: - Ý anh thế nào? - Nếu như cứ để cô ấy sống mà tôi không liên hệ có được không? - Đúng. Tôi cũng nghĩ như thế - PK.12 nói nhỏ - Nhưng đấy là ý nguyện của cô ấy - PK.12 nói những điều đã chuẩn bị trước. Hai người về sống với nhau, đó là tổ ấm che đậy tai mắt Công an. Sơn nghe những lời nói đó như đang trong mộng du, hoảng loạn. - Nguyệt đã là điệp viên CIA, bí số PK.14. Điệp viên PK.14 sẽ là người hóa mã các báo cáo anh viết chuyển cho đại bản doanh CIA tại Hồng Kông qua điện đài. Sơn vẫn đứng im lặng nghe những lời nói lạnh lùng từ con người bí hiểm trước mặt. - Hôm nay, anh có nhiệm vụ đặt chiếc đài thu phát cực nhỏ trong nhà anh. PK.12 rút từ trong túi ra chiếc bọc nhỏ đưa cho Sơn. Nỗi sợ gián điệp mười lăm năm âm ỉ trong cuộc sống giờ đây bắt đầu nhân lên tạo thành bão rừng xô đẩy Sơn. Sơn nhìn PK.12 và nói trong hơi thở. - Để làm gì? - Nguyệt sử dụng nó. Sơn đứng chết lặng lòng dạ nôn nao vì đang phải trải qua cuộc vật lộn suy nghĩ. - Còn anh, hãy yêu Nguyệt như hai người đã dành cho nhau khi ở Trường Sơn. Về công việc, anh hãy tuyển chọn một người đặt máy thu phát trong biệt thự nào đó của ông cán bộ cấp cao để thu thập tin tức. Chiếc máy trong nhà anh sẽ thu lại những tín hiệu máy kia phát ra. Anh hóa mã cho Nguyệt chuyển giao về bản doanh. PK.12 mở túi xách lấy ra chiếc đài thu phát đưa cho Sơn. Tay Sơn như cành củi không lá rung lên trước làn gió rừng lướt qua. - Hãy chọn người cẩn thận! - Đó là vấn đề sống còn của tôi và Nguyệt. - Tôi hy vọng trong chiến tranh, anh và Nguyệt đã gắn bó với nhau thì cuộc sống hoạt động này càng thương quý nhau hơn. Khi nào, luồng gió tự do từ nước Mỹ tràn vào, chế độ cộng sản bị lật đổ thì chúng ta sẽ cùng người Mỹ ngồi uống rượu giữa thủ đô Hà Nội. Ôi! Đó là giấc mơ. Không! Đó là sự thật. Nói xong PK.12 đi theo đường mòn vào thung lũng còn Sơn trở lại đường cũ về Hà Nội. Anh sải bước thỉnh thoảng lại ngoảnh nhìn phía sau. Một trận gió rừng ào tới, anh tưởng có người nào đuổi bắt. Anh rùng mình, chép miệng cay đắng cho lỗi lầm bước vào nghề làm tay sai cho Mỹ. Ừ! Đúng là cay đắng thật, song không còn con đường nào khác. Mười năm qua, Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã theo dõi mình và Nguyệt như hình với bóng, giờ đây lại tiếp tục nắm chặt hơn. Sơn mệt mỏi rã rời bước đi. Trăng đầu tháng mỏng như chiếc lá chiếu ánh sáng bàng bạc xuống bìa rừng. Sơn nhắm mắt lại, thấy Nguyệt đang nhìn mình như đêm trăng nào ở Trường Sơn hai người ôm hôn nhau. Sơn đứng một lúc lâu không bước. Trong đầu anh lúc đó hiện lên cặp môi Nguyệt như hai cánh hoa đang run lên vì giận thương anh. Anh tự động viên: có lẽ cặp môi ấy sẽ sưởi ấm sự lạnh giá cho những giây phút làm một điệp viên, sẽ lấy lại cho mình bình tâm khi hoạt động. Anh ngẩng mặt nhìn trăng kêu lên: Nguyệt của anh xuống đây. Bao tháng ngày anh mong đợi. Gió rừng ào ào chạy qua Sơn vào thung lũng tạo nên âm thanh rờn rợn. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:35:23 pm CHƯƠNG NĂM MẸ KHÔNG GIẾT CON Nguyệt về Bắc Giang sống được một tuần, theo kế hoạch của Mếch-cơ, chị đi Hà Nội tìm gặp Sơn. Khi chiếc ô tô mang biển số 13A rung chuyển lắc rắc, thở phì phò rời bến thì tự nhiên chị thấy thổn thức. Không hiểu mười mấy năm qua anh có thay đổi gì không? Khi xe chạy, chị cứ nhìn qua ô kính; nhìn tất cả những người đàn ông may ra thấy Sơn. Nhưng suốt đoạn đường năm mươi cây số, cho tới khi xe chạy vào bến xe Gia Lâm chị không hề nhận ra ai hao hao giống Sơn, dù ở cách xa, trong dòng người chạy như mắc cửi. Chị chuyển sang xe lam chạy vào thành phố. Khi xe dừng lại, chị bước xuống đường đi về phía hồ Hoàn Kiếm, lý trí và trái tim như đều rộn lên không vâng theo chị nữa. Không hiểu tối nay anh Sơn có ở nhà hay không? Thái độ của anh ấy sẽ ra sao? Anh Sơn có chạy đến đón hay thờ ơ? Nhưng rồi niềm vui vô hạn được gặp Sơn, hình ảnh Sơn đã ám thị chị mười mấy năm qua, đã chiếm lĩnh cả tâm hồn chị, xua đuổi mọi ý nghĩ khác. Hà Nội mới vào hè nên trời tối hơi nhanh. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, chị thấy hồ Hoàn Kiếm lấp lánh ánh bạc. Chị đứng lặng hồi lâu rồi gọi xích lô. Chiếc xích lô chạy vòng qua phố rồi dừng lại trước một khu nhà một tầng. Trả tiền xong, chị đi thẳng tới phòng mười bốn. Từ lúc ở Hồng Kông, chị đã được Mếch-cơ nói rất kỹ về căn phòng này, nó nằm ở cuối dãy, sát tường. Lẽ ra, anh Sơn ở buồng số mười ba, song con số đó là con số bất hạnh nên đã tìm cách đổi tới căn phòng này. Trong phòng, Sơn đang ngồi một mình nhìn lên tấm ảnh Nguyệt đã được phóng to, đặt bên trên bát nhang. Khói hương như sợi tơ mỏng tang bay lên. Đã mười lăm năm nay anh vẫn thắp hương như thế đế tưởng niệm về Nguyệt, người vợ chưa cưới của mình. Mặc dù tuần trước đây điệp viên PK.12 báo rằng Nguyệt còn sống, song anh vẫn chưa tin. Anh kêu lên: Nguyệt ơi! Anh yêu em như thế thì nỡ lòng nào giết em! Anh đứng dậy cầm ảnh Nguyệt. - Em có trách cứ gì anh không? Bên tai anh như vẳng lên tiếng nói: - Không. Em không trách cứ anh điều gì... - Em không oán giận anh hay sao? Lại như tiếng Nguyệt vang lên: - Em đã nói rồi mà! Em không chết đâu. Em vẫn sống trong anh. Sơn gục đầu xuống. - Trời ơi! Em của anh không chết! Nguyệt đi nhẹ từng bước, tim đập điên cuồng và gần như như vỡ ra vì sung sướng và hối hận. Chị gõ cửa. Sơn đặt ảnh Nguyệt lên bàn rồi đi ra. Cánh cửa từ từ mở rộng. Nguyệt không cần hỏi thăm đã nhận ra người đứng trước mặt mình là Sơn. Chị bàng hoàng sững sờ đứng nhìn. Thời gian như ngừng lại. Chị nhìn vào mắt Sơn. Hình như đôi mắt ấy đang trong hoàn cảnh ngạc nhiên, hờn oán, giận căm thì phải. - Anh Sơn! - Chị nói lí nhí không thành tiếng. - Em vẫn còn sống hay sao? - Vâng! Em vẫn sống, vẫn là kỹ sư bắc đường ống Trường Sơn năm nào. Tự nhiên Sơn lùi lại. - Không. Họ bảo em đã chết. Nguyệt vẫn đứng im nhìn Sơn giọng đau đớn: - Anh ơi! Nguyệt của Trường Sơn đây mà. Chị vẫn nhìn Sơn đăm đăm, giọng như van vỉ: - Ngày ấy, lúc ngồi ở gốc cây rừng, anh chẳng nói với em rằng, đêm Trường Sơn có bóng Nguyệt soi tỏ lòng anh đó sao? Sơn lùi dần cho tới khi chạm phải giường, anh dừng lại, mắt không rời Nguyệt, tự hỏi: Tại sao Nguyệt biết mình ở đây? Vào đúng lúc này? Hình ảnh hai đứa ngước nhìn trăng qua tán cây rừng mờ đi nhường cho sự ngờ vực. - Không! Anh không tin. Hay em là ma? Kìa cả thằng Vĩnh chiến sĩ biệt động lại hiện hồn về kia. Mọi người kéo đến đây để hỏi tội hay sao? Nguyệt ngước đôi mắt nhìn Sơn. - Hãy bình tĩnh nào. Ngày ở Trường Sơn anh vẫn bảo em rằng, ma không có chân, đi lơ lửng. Còn con người thì... Sơn hơi cúi đầu nhìn chân Nguyệt, đôi chân mà bao lần anh đã dùng hòn cuội kỳ cọ. Trời ơi! Sao nó vẫn thon gọn, mảnh mai như ngày còn ở Trường Sơn? Anh nghĩ: Ngày ấy, Nguyệt sợ ma. Mỗi khi đêm đến, Nguyệt cứ ôm riết lấy mình để tránh ma... Nhưng bây giờ, ma lại đến với mình hay sao? Anh nói to gần như thét: - Trời ơi! Tôi không hiểu thế nào cả. Nguyệt hãy đi đi để cho tôi sống... Nguyệt nhìn xoáy vào Sơn một cách bình tĩnh. - Anh chóng quên những ngày ở Trường Sơn thế ư? Nếu anh đã quên, đuổi em đi, thì trước lúc ra đi, em chỉ xin nói một câu cuối cùng: Anh hãy tha thứ cho em đã đẩy anh vào con đường tội lỗi. Nguyệt nhìn Sơn mỗi lúc một lộ rõ vẻ hối hận, đau xót, hổ thẹn, bẽ bàng và niềm thương yêu vô hạn. Và chị bắt đầu cho rằng chuyến đi này lầm lẫn ghê gớm. Chị cúi đầu quay ra. Những ý nghĩ nuôi nấng trong mười lăm năm chạy xa Tố quốc bị vỡ tan tành. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:36:12 pm Còn Sơn, anh vẫn cúi đầu đau khổ, bàng hoàng. Sao mình lại mù quáng đến nỗi không nhận ra Nguyệt hay sao? Mình lại nhẫn tâm đuổi người mà mình hết lòng yêu thương mong đợi đi khỏi nơi này hay sao? Gần hai mươi năm, nuôi nấng tình yêu này, bây giờ lại để nó tuột khỏi tay mình hay sao? Với ý nghĩ như vậy, anh đã ngẩng đầu lên và bước nhanh ra cửa. - Nguyệt...! Nghe tiếng gọi, Nguyệt dừng bước, lòng rộn niềm vui. Song tính tự ái và tự trọng không cho chị quay đầu lại. Tiếng nói phía sau chị ngập ngừng, vang vang: - Nếu em còn sống thật, không là ma thì hãy vào đây với anh? Tình yêu và ý nghĩ tạ tội vừa bị lấn át, bị đè nén trong chị bỗng chốc lại bùng nổ tăng thêm cho Nguyệt sức mạnh. Chị quay lại đi vào phòng. - Mười lăm năm xa cách mới gặp lại anh mà không ngờ anh thay đổi nhiều quá. Tại sao anh hoảng loạn đến mức không phân biệt được người hay ma. - Không! - Sơn vừa nói như thét, lại thấp giọng ngay - Nói bé chứ! Con người điệp viên vừa ngủ thiếp trong Sơn bỗng ra lệnh cho anh phải thận trọng. Anh nhìn Nguyệt giục: - Vào nhà đi em! Sơn nhìn Nguyệt vừa yêu lại vừa hoài nghi là người do lực lượng an ninh sử dụng tiếp cận anh. Anh nhìn Nguyệt cố tìm xem có phải trong người Nguyệt có con người an ninh không. - Không. - Những ngày quân giải phóng tiến đánh Đà Nẵng , em ở đâu? - Lúc đầu em định ở lại chờ quân giải phóng, song nghĩ đến tội lỗi của mình, lại bị Năm Hổ thúc ép, em đã chạy theo chúng di tản sang Nhật. - Và sau đấy đi đâu? - Em sống với dân chài đảo Liutô. - Tại sao em lại bỏ Tổ quốc ra đi? - Anh không biết sao, để chạy trốn người thân và đồng đội, để mọi người không phát hiện ra lỗi lầm của anh và em. Một lý do nữa, để che giấu một đứa con không có bố. - Con chúng ta! Nguyệt sung sướng trả lời: - Vâng! Sơn hỏi một cách vội vàng: - Trai hay gái? Nguyệt trả lời chậm: - Con gái. Sơn nóng lòng muốn biết hết mọi tin tức về sinh linh mà cuộc sống Trường Sơn đã dành cho anh và Nguyệt. - Em đặt tên con là gì? Nó giống em hay giống anh. - Giống cả anh và em. Còn tên nó là cái tên mà anh thích. Niềm vui bất thần lộ trên mặt Sơn. Anh nói ngay: - Hà Nguyệt Nga! Sơn nắm chặt tay Nguyệt reo lên: - Trời ơi! Nguyệt Nga của anh đâu? - Nó đang ở trên thị xã Bắc Giang. - Nó ở với ai? Sao không cho nó đi cùng em? - Bố mẹ em không cho đi. Niềm vui đến với Sơn dồn dập hơn. - Trời ơi! Thế là chúng mình đã có với nhau một đứa con. Tháng ngày qua đi anh vẫn nghĩ như thế mà. Giọng Nguyệt vẫn lạnh lùng. - Vâng. Số nó được sống. - Em nói sao? - Em nói rằng số nó được sống - Nguyệt ngồi xuống giường nhìn lên ảnh mình đang đặt trên bàn thờ, mỉm cười, giọng đau khổ - Sau khi anh rời Đà Nắng trở lại Trường Sơn thi sự hối hận cứ như cái móng vuốt cào cấu tim em đến rỉ máu. Người mẹ như thế thì lấy sức đâu mà nuôi con hả anh? Sơn bắt đầu lấy lại được bình tĩnh. - Và sau đấy em sống ra sao? - Sau đó em bỏ chạy ra nước ngoài, sang Nhật. - Sang Nhật? - Vâng. - Để làm gì? - Để tìm thăng bằng cho sự đau khổ. Nhưng ở nơi đất khách quê người em mới thấy mình quá cô đơn, nhất là khi Nguyệt Nga đạp vào bụng. Lúc đó nó tròn chín tháng. Vâng cái thai chín tháng nó đã là đứa bé, lại mang sức khỏe của anh, sức khỏe của Núi nên đạp mạnh lắm. Sống không bạn bè, không quê hương trên hòn đảo Nhật Bản, lại bị dày vò về thể xác như thế anh bảo em sống sao nổi. May mà có Milai, một phụ nữ Nhật lai Việt cùng cảnh ngộ đã cứu em, khuyên em rằng đứa bé trong bụng có tội tình gì mà giết nó. Thế là em lại vượt qua được thử thách để Nguyệt Nga đủ chín tháng mười ngày. Nhưng từ đó cho tới khi sinh nở mẹ tròn con vuông em vẫn trách ông trời không cho ông thiên lôi nổ sấm giết chết em đi, không ấn những đám mây màu chì ở Trường Sơn xuống thấp hơn nữa để làm cho mưa rừng chìm ngập cả anh và em có phải vẻ vang không! Sơn nhìn vào mắt Nguyệt, trong đôi mắt ấy, anh thấy tình yêu của thuở núi rừng Trường Sơn đã đem lại sự tồn tại của Nguyệt. Nhưng có một điều hệ trọng mà anh không hiểu nổi, chính nó đã chỉ rõ đường về của Nguyệt ngay từ lúc đang lưu lạc. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:36:32 pm Sơn lặng lẽ đứng lên lấy ấm chè pha nước. Sự xúc động gặp lại người yêu và nỗi lo mình đang là một gián điệp lại đan chéo vào nhau lớn dần trong anh. - Em uống nước đi. Sau câu nói, anh ngồi chết lặng, bóp trán. Con người gián điệp trong anh thức tỉnh, song nó chưa chiến thắng nổi con người yêu say đắm đang hình thành rõ nét. Có lẽ đêm ở Khách sạn Thái Bình Dương và bây giờ, ngay tại đây, thâm tâm nghĩ rằng gần phụ nữ là yếu đuôi. Nhưng tại sao mười mấy năm qua mình vẫn nghĩ về nó, cần có nó để sưởi ấm lúc trống trải trong lòng? Tại sao vẫn nghĩ về cái sinh linh đang hình thành trong Nguyệt, nghĩ về Nguyệt Nga hay Sơn Lâm? Nó giống bố hay giống mẹ? Sơn cố gắng tưởng tượng trong óc từng đường nét khuôn mặt của Nguyệt Nga: đôi mắt, môi, tóc, và tấm thân. Chắc nó cũng cân đối như Nguyệt. Thế rồi anh bất chợt nhìn Nguyệt, bắt gặp cái nhìn của chị chiếu thẳng về phía mình. Anh xúc động, đau xót, và cảm nhận rằng cặp mắt đó đang nói gì - mình vẫn là một điệp viên, sẽ phải gắn chặt cuộc đời với cơ quan tình báo nước ngoài hơn nữa. Bởi vì, mình đã nhúng tay vào công việc này quá sâu rồi. - Nguyệt ơi! Sao em không cho con đi cùng? - Anh tha lỗi cho em. Vì em vẫn giấu con chuyện của chúng ta. Con nó đã chịu thiệt thòi có người bố, người mẹ vì yếu đuối, sợ chết đã mắc sai lầm. Bây giờ không thế đề nó mang trong tim vết thương lớn hơn, em để nó sống với tuổi thơ. - Nghĩa là em chưa nói chuyện chúng mình với nó? - Chạy trốn sang Nhật là để em giấu nó. - Còn bây giờ? - Nếu như thực sự anh muốn làm người bố để anh và em có tổ ấm thì em sẽ nói để cho nó không bao giờ mắc vào lỗi lầm như bố mẹ nó đã trải qua. - Không! Không được nói. -Vâng! Chiều ý anh, em sẽ không nói. Nhưng vì sao không nói, anh phải cho em biết chứ? Sơn lại ngồi im. - Chuyện đó anh sẽ nói sau. - Em biết! Anh đã không cần tới em, em chẳng còn nghĩa lý gì đối với anh. Mà em thì cần có anh, có Nguyệt Nga nên đã tìm về dòng sông Thương, nơi em sinh ra và lớn lên. Sơn nói giọng van vỉ: - Anh nói rồi! Chuyện đó sẽ bàn kỹ với em. Nguyệt bực bội bóp mạnh quyển sổ đang để đầu giường. Sau những xúc động chị cầm quyển sổ mở từng trang, bất chợt nhìn thấy ảnh Sinh với dòng chữ phía dưới: “Quảng Bá đêm 30 tháng 4 năm 1990” làm chị sa sầm nét mặt. Rồi chị lấy lại được bình tĩnh: - Anh ai đây, anh Sơn? - Ảnh... - Sơn tỏ thái độ lúng túng - Ảnh cô em gái. - Ngày ở Trường Sơn anh bảo rằng, anh và em gái giống nhau như đúc cơ mà? Sơn vẫn ngồi im không trả lời. Anh hối hận đã để quyển nhật ký với cái ảnh trên giường. Nhưng bây giờ thì không thể lấy quyển sách với cái ảnh kia được, mà có lẽ như thế tốt hơn. Nếu giơ tay ra lúc này là không tin Nguyệt, chạm lòng tự trọng của cô ấy... Càng nghĩ, anh càng đờ người ra như một tảng đá đặt trên giường. Anh van thầm trong óc, Nguyệt đừng mở sổ ra nữa. Trời ơi! May quá, Nguyệt đã gấp lại rồi. - Sao anh im lặng thế. Câu nói của Nguyệt phá tan sự căng thẳng. - Thôi! Dù là ai đi nữa thì cũng là người em không quen biết. Mà đã là người không quen biết thì em cũng chẳng nên quan tâm làm gì. Bây giờ em chỉ biết có anh và Nguyệt Nga. Âu cũng là người vợ, người mẹ nữa. Dừng một lúc Nguyệt nói tiếp: - Mải nói chuyện về con, quên mất chưa hỏi từ ngày xa em anh sống ra sao? Càng nói chuyện Nguyệt càng thấy trước mặt chị vẫn là Sơn của Trường Sơn năm nào: Đứng trước mặt chị vẫn là anh kỹ sư bắc đường ống, nhưng cũng là người khác, một điệp viên. Chị tự nhủ, dù thế nào cũng phải kéo anh ấy về với con. Và dường như đến bây giờ, sau bao năm suy ngẫm, chị mới hiểu kỹ hơn: hạnh phúc của mình là ở đứa con. Cặp mắt chị tự nhiên ngời sáng, chan chứa niềm vui. Đã mười lăm năm liên tục tìm mọi cách để trở về Việt Nam, để có con. Cho là anh ấy không là của mình thì Nguyệt Nga vẫn là của mình. Chị thở dài. Niềm vui, hạnh phúc bỗng tan biến đi để lại trong chị nỗi đau buồn không thèm che giấu. Chị chủ động nói: - Em sẽ cùng anh về quê thăm mẹ. Sơn đang sợ hãi nên cho rằng về quê là con đường tốt nhất để chạy trốn nó. Anh nhìn Nguyệt trả lời ngay: - Ngày mai anh nghỉ phép. - Nếu thế thì mẹ sẽ vui. Tối đó hai người nói chuyện tới khuya về những ngày tháng xa nhau. Sơn úp mặt vào vai Nguyệt quay cuồng trong ý nghĩ: Đêm Trường Sơn che chung tấm ni lông, nằm trong khách sạn, ký giấy làm một điệp viên... Tiếp tục cuộc sống nào? Càng nghĩ về cuộc sống hạnh phúc vợ chồng, về Nguyệt Nga anh lại càng lo nó khỏi tầm tuột tay. Buổi hoan lạc gặp lại người yêu sau mười lăm năm bị hai tiếng “điệp viên” làm tan biến. Anh gục đầu vào vai Nguyệt, lòng trống rỗng. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:37:22 pm * Sau ngày gặp Nguyệt, nỗi lo sợ cứ đè nặng tâm hồn Sơn. Đêm đêm anh ngồi một mình suy nghĩ, nhìn về phía bắc nơi mẹ con Nguyệt đang sống. Chẳng lẽ mình cứ làm việc cho chúng để mang nỗi sợ hãi này mãi hay sao? Anh mở cửa nhìn ra đường. Hà Nội mới vào hè nhưng oi bức. Nhiều tốp thanh niên chưa về nhà vẫn đi lại trên đường. Anh đứng như thế hàng giờ, đầu choáng váng. Anh không hiểu tại sao Nguyệt không xuống thăm anh nên đã quyết định đi Bắc Giang. Sáng hôm sau, anh đáp tàu hỏa Hà Nội - Lạng Sơn chuyến sáu giờ năm mươi phút sáng. Ngồi trong toa tàu xóc long cả xương cốt, anh có cảm giác đường dài vô tận. Sơn buồn rầu nhìn hai bên đường. Những giao thông hào ở mé đồi mà anh đã tham gia đào từ những năm trước để chặn quân địch tiến vào Hà Nội cỏ đã mọc xanh. Thế là tháng năm đã đẩy cái không khí chiến tranh lui dần vào dĩ vãng. Tàu dừng lại ở ga thị xã đúng giờ. Anh chậm bước ra ga. Đây đó nhân dân đang tươi cười trò chuyện về công việc làm ăn, về tình hình đổi mới ở các nước anh em. Anh đi bộ xuôi dòng sông Thương vềs nhà Nguyệt. Đi được một lúc lâu anh cầm tờ giấy ghi địa chỉ nhà Nguyệt ra xem, rồi bước theo con đường nhỏ vào một gian nhà xây không rộng lắm, phía trước có vườn nhỏ trồng hoa. Nguyệt đang ngồi một mình đọc sách, nhìn thấy Sơn, chị đứng lên đi ra. Hai người đều im lặng nhìn nhau không nói, họ đều có một ý nghĩ trùng hợp một cách kỳ lạ: nghĩ về ngày sống ở Trường Sơn, hẹn sau ngày giải phóng sẽ gặp nhau ở ngôi nhà này. Thế rồi chiến tranh đã đẩy mỗi người lưu lạc đi một nơi bây giờ mới thực hiện được lời hứa đó. - Chắc anh không nhầm nhà chứ? - Anh thuộc từ ngày còn ở Trường Sơn. - Vào nhà đi anh. - Nguyệt Nga đâu em? - Nó theo ông bà lên Lạng Sơn thăm bác. Sơn theo Nguyệt vào nhà và tự nhiên anh cảm thấy mình như con thú thoát khỏi chuồng cọp trở về ẩn náu nơi dòng sông Thương yên tĩnh. Anh bước lên bậc thềm lát những viên gạch đã cũ. Lần đầu tiên trong đời anh nghĩ muốn chạy trốn PK.12 về lặn ngụp ở dòng sông Thương này cho đến chết. Nhưng Sơn đâu có được cuộc sống đó. Ngay sau bữa cơm chiều, Nguyệt đã chủ động kéo Sơn đi chơi dọc bờ sông. Họ lẳng lặng bước đi mặc cho gió từ dòng sông thổi lên mặt, lên người. Trong đầu họ lúc đó là Nguyệt Nga và Mếch-cơ, Năm Hổ... Nhưng lạ thật đi một đoạn khá xa, mà chưa ai lên tiếng. Cuộc gặp gỡ này sao khó nói thế? Chị quyết định câu chuyện đã suy ngẫm: - Anh Sơn - Nguyệt thấp giọng - Anh có còn cộng tác với Mếch-cơ không? - Em hỏi gì lạ vậy? - Em hỏi anh có còn cộng tác với Mếch-cơ không? Sơn không trả lời câu hỏi của Nguyệt mà chỉ cúi đầu bước. Anh nghĩ, có lẽ phải giấu kín chuyện gặp PK.12 để có cuộc sống gia đình với Nguyệt. Tự nhiên, anh cảm thấy có sự thèm muốn về tình cảm. - Đừng nói đến chuyện đó nữa em! Giọng Nguyệt lạnh lùng, kiên quyết: - Em hỏi anh có còn cộng tác với Mếch-cơ nữa không mà tại sao anh không nói? Câu hỏi của Nguyệt làm Sơn choáng váng, tưởng như dòng sông Thương chảy ngược. - Em! Anh yêu em mà - Giọng Sơn tỏ ý van vỉ - Anh đến đây vì yêu em mà! - Yêu mà không dám nói thật với người yêu sao? - Dừng một lúc lâu, Nguyệt lại nói tiếp - Hai đứa gắn bó với nhau bằng cả cuộc đời mà anh vẫn còn giấu em. - Anh không cộng tác nữa thì biết nói với em như thế nào? - Anh mà cũng còn dối em à? - Không. Từ ngày giải phóng, anh chuyển đi khắp nơi, chúng không liên lạc được. - Thôi im đi - Nguyệt gắt lên - Bàn tay chúng vươn bất cứ nơi nào - Nguyệt cầm ra một tờ giấy có ghi chi chít những chữ số - Đây là bảng khoá mã mà Mếch-cơ giao cho em chuyển cho anh. Sơn sửng sốt lo sợ, song lấy lại được bình tĩnh ngay. - Nghĩa là em cũng nhận làm việc cho Mếch- cơ? - Vâng! Em về đây để chuyển giao tài liệu và là người chỉ huy anh - Giọng chị tỏ ra cứng rắn hơn - Anh hãy báo cáo cho nghe những ngày qua anh đã làm gì - Giọng Nguyệt mỗi lúc một gay gắt hơn - Em biết từ năm 1975 đến nay anh vẫn thường xuyên quan hệ với Mếch-cơ qua PK.12 mà. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:37:51 pm Cái tên Mếch-cơ, Năm Hổ, làm bùng nổ trong đầu Sơn bao ý nghĩ. Chính bọn chúng đã lừa mình và Nguyệt rồi đẩy mỗi đứa đi lưu lạc một nơi. Tưởng rằng cuộc sống sẽ yên lặng ai ngờ chúng không chịu buông tha. Mình đã mắc lỗi lầm nhận cộng tác với chúng bây giờ vẫn tiếp tục cộng tác để chống lại Tổ quốc mình hay sao? Tưởng rằng chỉ có một mình làm việc cho chúng thì phải xây bức tường ở đây, để bên kia bức tường là cuộc sống còn lại của mình, ở đó có Nguyệt và các con, có dòng sông Thương. Muốn thế phải xa Hà Nội. Nhưng chạy đi đâu khi cùng trời cuối đất này vẫn còn PK.12. Bây giờ thì không thể chạy được nữa rồi. Anh quyết định nói sự thực: - Một tháng anh chuyển giao tài liệu cho Mếch-cơ một lần. - Đó là những phiên liên lạc bình thường. - Người truyền tin là ai? - Họ nói sẽ giao cho PK.14. - Vậy thì chính em làm nhiệm vụ đó. - Nếu vậy thì an toàn. - Anh định chọn ai đặt đài bí mật? Sơn im lặng đến mấy phút, đi xuôi bờ sông Thương để mặc cho gió đập vào ngực và mặt mà anh tưởng đó là những trận cuồng phong. - Có lẽ tìm chọn trong số cán bộ nhân viên làm việc ở mục tiêu gài máy. Đến một đoạn sông vắng, hai người ngồi phóng tầm mắt về phía cánh đồng trước mặt; Sơn bật lửa hút thuốc. Hai người ngồi im lặng cho tới khi điếu thuốc cháy hết. Nguyệt hiểu rõ ràng Mếch-cơ bắt đầu cho người bắt liên lạc với Sơn. Chị quay lại nhìn Sơn, bắt gặp kỷ niệm tình yêu giữa hai người ngày ở Trường Sơn. Đứa con chính là sợi dây tình cảm gắn bó giữa hai người không bao giờ buông ra nữa. Mười lăm năm chạy xa Tổ quốc , Nguyệt chỉ mong có cuộc sống cùng Sơn và con ở bên dòng sông Thương này. Thật tiếc thay, hôm nay con bé đi chơi, bố con không được gặp nhau. Nguyên nhân chính của mười lăm năm cách biệt của bản thân đã mặc cảm với tội lỗi của mình. Sự mặc cảm đó chính là cái chết của tình yêu. Nhưng con người dù ai đi chăng nữa thì cũng hình thành bằng da, bằng thịt, bằng máu, vì thế không bao giờ từ bỏ bản chất của con người là tình yêu, mong muốn có cuộc sống gia đình. Càng nghĩ, Nguyệt càng thấy yêu Sơn. Con đường anh đang đi, đang đánh vật với điệp viên trong anh chính là do chị. Bây giờ muốn giải thoát cho anh, chỉ có chị là người duy nhất. Ý nghĩ ấy dai dẳng mười lăm năm nay, nó không có da có thịt, không có xương nhưng đã hình thành trong chị mỗi ngày một đậm nét. Chị quay nhìn Sơn trong ánh trăng mờ. Khuôn mặt chị dịu dàng, đau khổ, cặp môi mềm mại hé hở. Trong giây phút Sơn cảm thấy mình ở trong cặp mắt Nguyệt. Giây phút đó cả hai người đều nghĩ rằng mình là con người, và nỗi đau nhất của mỗi con người là không dám đoạn tuyệt với lỗi lầm để rồi mặc nó đeo đẳng cho đến cuối đời. Phải đoạn tuyệt với nó. Mình đã chủ động dẫn anh ấy vào con đường tội lỗi thì mình cũng phải chủ động kéo anh ấy ra. Ý nghĩ đó như luồng thác đổ ập lên người Nguyệt. Chị nhìn thẳng mặt Sơn nói: - Đến bây giờ anh vẫn là một điệp viên? - Và cả em nữa. - Vâng. Em đã mang về cho anh khóa mã, chỉ thị của Mếch-cơ. Em đã được dự một lớp huấn luyện đặc biệt tại Hồng Kông. Mếch-cơ đã dạy em cách tiếp xúc moi tin thu thập tình hình đổi mới ở Việt Nam. Năm Hổ dạy em cách hóa mã, đánh điện đài, giao thông qua bưu điện công khai. Nhiệm vụ thứ ba của em là truyền đi những báo cáo do anh soạn thảo. Nhưng tất cả những công việc em đã chấp nhận là để được về Việt Nam, nằm trong vòng tay anh, để con chúng ta không rơi vào tình cảnh bán thân. Em nghĩ rằng, anh và em vào Trường Sơn đánh Mỹ hay từ Nhật trở về đây chính là để được gần nhau, chỉ muốn trên chiếc giường có hai chúng mình. Chỉ có hai chúng ta thì cuộc sống mới hạnh phúc. Những giờ phút bên nhau trọn vẹn khi chúng ta ở Trường Sơn thì không thể có người thứ ba. Em sinh ra là để cho anh, và anh sinh ra là để dành cho em. Cả hai chúng ta sinh ra để dành cho con, cho Nguyệt Nga và Sơn Lâm, điều đó quan trọng hơn cả cuộc đời mình. Vì vậy không có lý do gì trong lúc chúng ta ngủ chung với nhau lại có kẻ thứ ba - một điệp viên nằm bên, có phải không anh? Chính vì lẽ đó em quyết định nói cho cơ quan An ninh việc mình đã làm. - Không được! - Sơn ngước mắt lên nhìn Nguyệt, chứa đựng nỗi sợ hãi, bàng hoàng. Nguyệt vẫn ngồi im không nói làm anh sợ đến lạnh người. Bất giác anh giơ tay lên xoa xoa những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán. - Đó là quyết định của em sau mười lăm năm suy ngẫm. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:38:07 pm Tay Sơn trượt đi, rơi từ trán xuống đùi Nguyệt. Nguyệt không những không đẩy bàn tay run rẩy, lạnh giá đó ra mà còn đặt tay mình lên trên. - Em điên rồi sao? - Sơn chậm rãi hỏi. Sau câu hỏi đó, anh nhìn Nguyệt một cách xa lạ. - Không! Em không điên mà đó là suy nghĩ sau mười lăm năm em lạc trong đêm cứ tưởng nhầm mẹ mình là ma quỷ. Đi mãi trong đêm nếu không bị ma quỷ giết thì nỗi sợ hãi ma quỷ cũng làm héo mòn cuộc đời. Nguyệt nắm chặt tay Sơn kéo vào lòng mình, mặt hằn lên những đường đau khổ. Chị ngồi lặng để mặc cho trái tim lạnh băng đến vỡ ra, thắt lại đau nhói. Chị chậm rãi nói tiếp: - Tổ quốc mình, mẹ mình không bao giờ giết con. Vâng! Đúng thế. Còn ma quỷ thì nó giết tất cả mọi người, có khi giết cả đồng bọn. Chính vì thế, em từ Nhật về Việt Nam để tạ lỗi anh, tạ lỗi mẹ. Sơn ngước đôi mắt bôi rối, bất lực trong đó chứa đựng nỗi đau và sợ hãi nhìn Nguyệt. - Anh biết thế! Nhưng nói ra mình sẽ là người có tội làm gián điệp. - Trước đây em cũng nghĩ như anh nên đã chạy xa Tổ quốc. Nhưng đi xa rồi em mới hiểu được điều cốt lõi: Người mẹ có giận con cao độ cũng chỉ tát con để dạy cho con bài học làm người, chứ không bao giờ giết con, có phải không anh? Lần trước đến nơi anh ở, em mừng là anh vẫn treo ảnh em nghĩa là anh vẫn nhớ tới em. Nhưng cũng trong những ngày ấy em càng hiểu rõ hơn, vì tình yêu em đã đẩy anh vào con đường tội lỗi, giữa tình yêu và tội lỗi sao nó chỉ gần gang tấc như thế, nó cách nhau chỉ như mặt trước, mặt sau của tờ giấy ảnh! Ôi! Thật đau khổ cho em quá. Một tiếng kêu đau giội lên. Tiếng rên của Nguyệt, một con người đã chịu đựng đến tận cùng của hối hận. Sơn lặng người đi rồi lại lạng đầu vào lòng Nguyệt. Nguyệt đặt cả hai tay lên đầu Sơn nói như khóc: - Tình yêu lại kéo anh và em bỏ tội lỗi về với tình yêu, để anh đứng trước ảnh em mà thỏa thuê ngắm nhìn, để chúng ta có Nguyệt Nga, con chúng ta, thế là đủ rồi, Nguyệt Nga là hòn máu của anh của em, của núi rừng Trường Sơn. Em quyết không cho nó nhìn thấy anh, cũng không trả nó về cho anh khi anh lần mò tìm kiếm công việc qua những mã số, qua bộ điện đài mà PK.12 giao cho anh. Nguyệt xoa nhẹ tay lên mái tóc Sơn. Còn Sơn hình như vẫn hoảng loạn nên cứ giúi đầu vào lòng Nguyệt, cứ để cho bàn tay kia đưa đi đưa lại như xoa đầu đứa trẻ. Anh tự hỏi: chẳng lẽ bây giờ mình tự đi nộp mình cho Công an ư? Liệu họ có cho mình được tự do hay bắt đi tù? Và điều quan trọng hơn, khi đó Nguyệt còn yêu mình nữa không? Anh cố gắng nâng đầu mình lên. - Còn nếu như anh xóa bỏ mã số đó? - Thì anh sẽ có em, có Nguyệt Nga và có thêm cả Sơn Lâm mà cả anh và em đã ước ao từ Trường Sơn. Sơn lại gục đầu xuống kêu lên: - Trời ơi! Anh không hiểu thế nào cả. Em đang nói gì anh cũng không biết. Đôi tay mềm mại của Nguyệt kéo đầu Sơn áp chặt vào lòng mình. - Em đang nói về sự yếu đuối của con người, của anh và em. Sự yếu đuổi đó dẫn anh và em vào con đường tội lỗi. - Nhưng tội lỗi đó không dễ gì được tha thứ. Câu nói lo sợ của Sơn là câu nói máu thịt. Bởi vì con đường từ bỏ làm tay sai cho cơ quan tình báo nước ngoài đâu đơn giản vứt bỏ ngay đi được, nếu cơ quan đối phương biết được sẽ đe dọa, thậm chí thủ tiêu; hay vẫn sợ Công an thành kiến với mình. Mười lăm năm sống trong tâm trạng này, giờ đây Nguyệt mới từ bỏ được nó nên chị đoán biết được ý nghĩ của Sơn. Chị nói trong hơi thở: - Mẹ thương con bao la! Không bao giờ giết con. Nhưng tấm lòng của mẹ cao hơn sự hiểu biết nhỏ nhoi của con, của anh và em rất nhiều. Vì vậy, em tìm kiếm anh tạ lỗi để chúng ta có cuộc sống gia đình, Nguyệt Nga có bố mẹ; còn anh tạ lỗi mẹ để mẹ có một người con - Giọng Nguyệt mỗi lúc một thổn thức hơn - Em nói thế mà anh vẫn không hiểu hay sao. Chỉ cần anh tĩnh trí lại sẽ thấy điều em nói là phải, sẽ nghe theo em thôi mà. Tiếng nói Nguyệt lúc đó như tiếng thở hòa nhịp vào tiếng đập trái tim Sơn. Sau những phút giây đập lạc nhịp, trái tim Sơn bỗng rộn lên. Anh thấy trong đầu mụ mị lại bồng bềnh, nâng đầu dậy. Anh nhìn Nguyệt vừa yêu vừa sợ. Anh nhìn Nguyệt, mắt anh gặp mắt Nguyệt. Bằng toàn bộ sức mạnh bản năng anh ghì Nguyệt vào lòng hôn. Nguyệt hoàn toàn hạnh phúc vì đã giành giật được điều tốt đẹp nhất trong con người mà anh đã gửi gắm mối tình đầu. Rồi chị toan nói câu gì để an ủi động viên Sơn hãy tin vào điều chị vừa nói, song sợ làn môi kia lúc này bị rời ra thì đáng tiếc biết nhường nào. Chị nhắm mắt lại, để mặc cho đôi môi Sơn áp sát vào môi chị, lưỡi của Nguyệt quấn vào lưỡi của Sơn. - Anh nghe em vì anh yêu em! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:39:33 pm PHẦN HAI TRỞ VỀ Tháng 12 năm 1988, Bộ Nội vụ phát động cuộc thi "Viết về người phụ nữ trên mặt trận bảo vệ An ninh Tổ quốc" (1989-1991). Vốn là người ham thích tìm tòi những câu chuyện trinh thám, tôi cho đây là dịp may giúp cho mình hiểu về một loại công việc mà ít ai biết đến. Thế là tôi đăng ký được nghe, được viết. Một nữ đồng chí đeo lon trung tá an ninh hỏi tôi: - Đồng chí muốn về Tổng cục một hay Tổng cục hai. Tôi cười, nói: - Đối với tôi, Tổng cục "Một" hay "Hai" đều không có ý nghĩa gì, vì đó là những con số. Nữ trung tá cười. - Mỗi chữ số là một lực lượng đấy. Như muốn để cho tôi hiểu hơn và hình như cũng đã tin tôi hơn, nữ trung tá giải thích sơ bộ: nào lực lượng cảnh sát, lực lượng phản gián, lực lượng tình báo, lực lượng hậu cần, lực lượng cảnh vệ... Trong từng Tổng cục có nhiều vụ cục. Ví dụ, Tổng cục phản gián lại còn chia ra phản gián kinh tế, phản gián điện đài... Tên các đơn vị trung tá kể đã hấp dẫn tôi một cách lạ kỳ như mình đang bước vào mê hồn trận. Tôi nói đại rằng: viết về Tổng cục phản gián. Nữ trung tá quay điện thoại. Khoảng năm phút sau, có một nam giới trạc bốn mươi nhăm tuổi, mặc áo bay, quần vải pho màu ghi nâu, tóc hơi ngắn bước vào. - Đây là anh Phan Thanh, phó cục trường cục "Ba". Tôi cười nói: - Lại con số! Người đàn ông vừa đến chưa hiểu tôi định nói gì nên ngồi lặng. Được nữ trung tá giới thiệu, anh Thanh dẫn tôi đi qua hai phố về nơi anh làm việc. Tại đây, anh nói cho tôi nghe công việc đơn vị anh làm. Gần trưa, tôi ra về có để lại địa chỉ và số điện. Sau đó có đôi lần tôi gọi dây nói tới thăm anh. Đầu tháng 5 năm 1990, tôi đang ngồi làm việc thì nhận được điện thoại, nhưng lần này anh Phan Thanh nói: Đồng chí đến gấp. Tôi vội đạp xe đến. Như thường lệ, tôi đến thường trực nhờ gọi điện cho anh Thanh nhưng hôm đó anh Thanh đã đứng chờ tôi từ ngoài cửa. Trông thấy tôi anh nói ngay: - Hôm nay mình giới thiệu cho ông bạn một người kể chuyện rất ly kỳ. Vừa nói anh Thanh vừa đi lên gác hai. Tôi theo anh bước vào gian phòng màu xanh rộng khoảng mười lăm mét vuông, có kê bộ xa-lông, trên bàn có lọ hoa; bộ ấm chén với đĩa hoa quả đang ăn dở. Hai người, một nam, một nữ đang ngồi, trầm lặng, sắc mặt đầy lo âu. Anh Thanh chủ động giới thiệu: - Đây là anh Sơn, kỹ sư học ở Ba Lan về. Còn đây là chị Nguyệt, kỹ sư chế tạo máy Đại học Bách khoa, mới từ Nhật về nước nửa tháng nay. Anh chị đều là kỹ sư bắc đường ống xuyên Trường Sơn. Anh Thanh xoè ngửa tay chỉ về phía tôi nói: - Còn đây là ông bạn thân của tôi. Anh chị cứ kể lại câu chuyện vừa kể cho tôi nghe. Tôi bắt tay anh Sơn và Nguyệt. Nhưng lạ thay cả hai người đều bắt tay rất lạnh nhạt. Lúc đó khoảng hai giờ chiều. Nắng đầu hè không gay gắt, gió khẽ khàng thổi qua ô cửa như đường đi của thiên nhiên tạo hóa chạy qua nơi nào không có vật cản. Nguyệt nhìn tôi rồi nhìn qua ô cửa, nơi có giờ phong lan treo lủng lắng như đang ngắm cảnh. Còn Sơn nhìn tôi một cách tư lự, như muốn thăm dò điều gì. - Tôi là một sĩ quan phản gián, làm án là phải dùng trinh sát, có chỉ huy. Nhưng lần này làm án không cần trinh sát, không cần chỉ huy. - Anh nói gì tôi vẫn chưa hiểu? - Chị Nguyệt, anh Sơn sẽ kể cho anh về vụ án đó. Với vẻ mặt buồn, giọng hối hận, Nguyệt kể lại chuyện mười lăm năm qua của mình. Lúc đầu, chị nói gần như thì thầm, về sau giọng cứng rắn hơn. Còn Sơn, cũng kể nhưng có vẻ không tự nhiên lắm. Tôi lơ mơ cảm nhận rằng Sơn vẫn còn đang trong tâm trạng hoặc là chưa dám giũ bỏ toàn bộ công việc đã làm, hoặc là sợ Công an thành kiến với lỗi lầm của mình. Tôi định hỏi câu gì nhưng lại thôi. Đâu đó, tận thẳm cùng tâm tư tôi có một chỗ dành riêng cho số phận hay việc làm đã lầm lỗi. Chia tay Nguyệt và Sơn trở về, suốt đêm đó tôi không sao ngủ được. Vợ tôi nhiều lần hỏi: "Tại sao anh không ngủ?". Lúc đầu tôi không nói, sau thấy vợ hỏi nhiều, tôi đành kể thật. Vợ tôi reo lên: "Con Nguyệt bạn em. Nó cùng học trường cấp ba Ngô Sĩ Liên thị xã Bắc Giang". Trời ơi! Lại thêm một tình tiết ly kỳ nữa làm tôi không sao chợp mắt được. Tôi nghĩ, trước lúc nhận làm một điệp viên CIA đã có thời kỳ con người đó là học trò tốt, là một người yêu Tổ quốc. Giữa tháng năm, trong một chuyến về thăm gia đình vợ ở Hà Bắc, tôi cùng vợ con tìm đến nhà Nguyệt. Chúng tôi bước sóng đôi bên bờ sông Thương. Sau gần hai mươi năm xa nhau, vợ tôi và Nguyệt ôm nhau, đấm vào lưng nhau thùm thụp. Nhưng ngay sau đó, Nguyệt nhìn tôi, bỗng lặng người đi. Tránh cái nhìn cúa Nguyệt, tôi nhìn xuống dòng sông Thương. Gió từ mặt sông ào lên ngọt ngào, êm ả dành cho tôi phút giây thanh thản đủ thời giờ để nghĩ suy: con người sinh ra có cội nguồn, củng như dòng sông Thương có được là nhờ nước từ núi rừng tràn về tạo nên. Cuộc đời con người có cái tốt, cái xấu cũng như dòng sông Thương chảy có lúc lở, lúc bồi, bên trong bên đục. Và cuối cùng, sông đều đi ra biển cả, còn con người lại trở về với đất đai cội nguồn... Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 01:40:10 pm * Sau những ngày nghỉ, vợ chồng tôi trở về Hà Nội. Vừa về nhà, vợ chồng con cái sum họp thì anh Phan Thanh đến. Sau những câu hỏi xã giao, nhằm vào lúc vợ tôi và các con đi sang nhà hàng xóm chơi, anh hỏi: - Có phải anh chị từ nhà Nguyệt về phải không? Tôi giật minh, trả lời: - Vâng - Tôi nhìn anh vẻ ngạc nhiên hỏi - Có việc gì mà anh đến tìm. - Có. Sau những phút nghĩ suy anh Thanh giải thích: - Câu chuyện về anh Sơn, chị Nguyệt mới chỉ là bắt đầu thôi, vì chúng tôi chưa biết PK.12 ở đâu, làm gì? Mếch-cơ và Năm Hổ sẽ cử điệp viên nào đến gặp Sơn? Màng lưới điệp viên này tổ chức ra sao, thực hiện nhiệm vụ gì, tất cả đều là những câu hỏi của ban chuyên án vừa thành lập. Tôi hỏi một cách vội vàng: - Nghĩa là tôi không được viết? - Không! Không phải thế - Anh thanh minh - Mời anh nghe từ đầu câu chuyện để anh hiểu đầy đủ mọi tình tiết phục vụ cho viết, nhưng có điều án chưa kết thúc nên chưa được phép công bố. Suốt đêm đó tôi trằn trọc không yên, thỉnh thoảng lại đi ra ban công ngồi. Tiếng máy đập của Nhà máy khóa Minh Khai, và Nhà máy cơ khí Mai Động gần nhà tôi ở như tiếng nổ trong đầu càng làm tôi khó chịu. Tôi trở vào nằm ngủ. Nhưng lạ quá, hình ảnh Sơn và Nguyệt lại hiện lên đậm nét hơn. Tự nhiên tôi quý thương họ vô cùng. Bởi vì, họ là những nhà khoa học, họ đâu tính toán hết mưu kế kẻ thù, hay nói một cách chưa đầy đủ, họ ngờ nghệch trước luồng lạch của chúng. Ngờ nghệch đến mức dẫn họ vào cuộc sống dằn vặt mười lăm năm nay, tưởng nhầm mẹ mình là ma quỷ. Giờ đây họ muốn tạ tội trước những lầm lỗi đã qua thực là điều đáng quý. Nhưng đến bao giờ mới kết thúc. Mà chưa kết thúc thi họ còn thì giờ đâu để tâm đến khoa học? Truyện tôi viết cũng để mãi hay sao? Sự suy nghĩ căng thẳng đó dẫn tôi đến kết luận: Dịp may luôn luôn đến với con người, nếu bỏ qua thì dịp may không bao giờ trở lại. Đối với người viết thì phải rung cảm trước điều mình nghe được, thấy được mới viết thành công, nếu bỏ qua thì cũng khó lòng lấy lại được tình tiết đó. Thế là tôi quyết định viết kẻo rồi vụ án kéo dài, năm tháng nó đuổi xuân đi, về già đâu còn sức mà viết. Cả tháng 5 tôi viết xong năm chương đầu và định kết thúc băng chương sáu - Lời tác giả. Nhưng lại dịp may hiếm có đến với tôi, vụ án này diễn ra cực kỳ mau lẹ. Một buổi tối, khi Hà Nội về khuya, anh Phan Thanh phóng xe máy đến nhà tôi. Lần này thì anh nói to cho cả vợ chồng tôi nghe: - Tờ vừa ở chỗ Mếch-cơ về. - Mếch-cơ nào? Tôi hỏi lại như không tin vào tai mình. - Mếch-cơ mà ông bạn đang viết ấy. - Trời ơi! Thế thì hay tuyệt - Tôi cầm tay anh lắc mạnh, giục - Kể đi. Cả đêm đó anh kể cho tôi toàn bộ vụ án tiếp theo. Tôi bắt tay vào viết ngay. Xưa nay, hình như chưa có ai viết lại đề "Lời tác giả" vào giữa cuốn tiểu thuyết. Nhưng vì câu chuyện tôi nghe nó có hai phần rõ rệt do hai người đứng trên hai cương vị công tác khác nhau kể nên tôi mạnh dạn cứ để theo trật tự như câu chuyện đã diễn ra, nghĩa là cứ ghi lại như vốn nó đã có. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 02:30:36 pm CHƯƠNG SÁU XÂM NHẬP VÀ LÓT Ổ Sau khi mẹ con Nguyệt rời Hồng Kông, Mêch- cơ nóng lòng chờ tin tức. Mếch-cơ đi lại trong phòng hút thuốc, uống rượu, lật từng hồ sơ, đọc từng bức điện do PK.12 điện về. Ông ngả lưng xuống thành ghê nhìn qua ô cửa thầm nghĩ: Mình mới bỏ chạy khỏi Đà Nẵng ngày nào mà đã mười lăm năm rồi. Nhanh thật. Con người bay nhanh bằng đôi cánh thời gian mà bản thân ông bạn Tàu ở đây hay nói là "lục thập" tuổi rồi. Chẳng còn bao năm nữa sẽ đi sang thế giới bên kia. Mếch-cơ thở dài. Âu cũng là số kiếp. Tự nhiên, Mếch-cơ nhớ tới thành phố cực Nam Chicago, nơi vợ con ông ta đang sống, nhớ tới con đường vào làm việc cho cơ quan tình báo CIA. Ngày ấy đang học đại học có một người không quen biết đến hỏi: Anh có thích làm việc trong cơ quan nhà nước na ná như công việc mà các viên chức ngoại giao đang làm không? Mếch-cơ mường tượng ra viễn cảnh tương lai của mình đi ra nước ngoài, du lịch đến các vương quốc xa xôi, kỳ thú, ngồi bên bàn cà phê bàn với các viên chức ngoại giao về những vấn đề quốc tế. Mếch-cơ nhận lời người kia. Qua nhiều đợt kiểm tra, ông đã được vào làm việc tại Cục Tình báo Trung ương Mỹ. Trong cả cuộc đời hoạt động tình báo của mình, có lẽ chỉ có vụ đánh PK.8 vào nội bộ cơ quan nhà nước Việt Nam là thành công nhất. Sau chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là từ những năm 80, những người chóp bu của cơ quan tình báo CIA phối hợp với Chính phủ Mỹ mở chiến dịch tấn công cộng sản, thổi luồng gió tự do vào Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa. Khi chiến dịch "Vượt trên ngăn chặn" hình thành, những người chóp bu của CIA ở Leng-lây chỉ thị cho Mếch-cơ chắp nối liên lạc với PK.8. Mười lăm năm theo đuổi những thư từ của Nguyệt từ Nhật Bản gửi về Việt Nam cho Sơn quả không vô ích. Giờ đây đã huấn luyện và phái được Nguyệt, bí số PK.14 trở về Việt Nam. Mếch-cơ phấn khởi ra mặt. Song phiên liên lạc đầu tiên trôi qua không nhận được điện báo cáo. Mếch-cơ thấy lo lắng. Những ngày này, Hà Nội đang thu hút bước chân của hàng triệu người trên thế giới. Họ đến Việt Nam để thăm đất nước đau thương vừa mới trải qua cuộc vận lộn trường kỳ ba mươi năm sống ra sao; có người tò mò tìm hiểu xem Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới như thế nào; có người đến Việt Nam với tấm lòng chân thật, muốn giúp Việt Nam xây dựng lại đất nước theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1987. Rất nhiều lý do khác nhau. Mếch-cơ hy vọng có dịp sẽ hòa vào dòng người đó đến Việt Nam chắp nối liên lạc. Chiếc đồng hồ treo tường đã chỉ con số mười hai. Chỉ còn vài phút nữa, một khắc nhảy của kim phút là quá nửa đêm, đến giờ bắt liên lạc. Năm Hổ, người cùng Mếch-cơ tham gia trực tiếp hỏi cung huấn luyện Sơn và Nguyệt từ ngày ở Đà Nẵng giơ tay ấn nút chuông điện. Mếch-cơ cất cao giọng bằng tiếng Anh: - Chào ngài. - Có điện hồi âm rồi phải không? - Vâng. Thưa ngài. - Điện của PK.7 hay PK.8? - PK.14 - Cô ta nói gì? - Thưa ngài, cô ta báo cáo đã bắt liên lạc được với PK.8 tại gia đình. Họ vẫn yêu nhau và hẹn cuối năm chín mươi này sẽ cưới. - Trời ơi! Thê là tổ ấm - Cái nôi chở che cho họ chuyển đài di động - Giơ tay vuốt tóc, một động tác chỉ khi nào vui mừng mới có. Những ngón tay đầy lông chạm phải chiếc mũ phớt, mà không hiểu đã đội từ bao giờ. Ông cầm mũ đặt lên bàn. - Mười lăm năm qua công việc của Cục Tình báo Trung ương không được trôi chảy lắm. Phần lớn các vụ xâm nhập vào Việt Nam qua đường Thái Lan - Lào hoặc đường biển đều bị cơ quan phản gián Việt Nam cho vào tròng hết. Hoặc người của ta cài lại trong kế hoạch hậu chiến vừa mới hành động đã bị bắt, hoặc có kẻ tự ra đầu thú. Còn những vụ do tôi và anh chỉ huy đều an toàn - Mếch-cơ nhếch mép cười - PK.7 vẫn giấu tung tích; PK.8 có tình yêu ràng buộc. PK.12 vẫn nằm trong cơ quan nhà nước. PK.14 có đôi bàn tay vàng sẽ giúp họ nhận tài liệu chuyển cho ta. - Như vậy màng lưới do chúng ta phụ trách đều an toàn. - Đúng. Chúng ta phải có kế hoạch cho cả bốn người này thu thập tin tức. Những tháng qua, nhiều Đảng cộng sản các nước Đông Âu đã tan rã. Liên Xô đang tiến hành công cuộc đổi mới nhưng Đảng cộng sản cũng không làm chủ được tình hình. Việt Nam, xem ra còn cứng cổ lắm. Nhiệm vụ các điệp viên chúng ta phải thu thập được tình hình của các nhóm chống đối như nhóm "cấp tiến", nhóm "tự do" tìm hiểu về lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước, về đường lối đổi mới kịp thời báo về bản doanh Leng-lây để các nhà chiến lược thực hiện kế hoạch thổi luồng gió tự do vào Việt Nam. Mếch-cơ ngả lưng xuống ghế bành, im lặng hồi lâu nhìn lên trần nhà trong ý nghĩ lạc quan - Nhưng dù sao chúng ta cũng phải thực hiện quan hệ đơn tuyến. Không cho họ nhóm họp, âu cũng là nguyên tắc. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 02:30:55 pm Mếch-cơ cầm bút ghi lên một tờ giấy dòng chữ Anh rồi dịch ngay sang tiếng Việt: "Sau khi du lịch trở về sẽ gặp nhau ở Hà Nội". Năm Hổ liếc nhìn mảnh giấy và nhận ra ngay đó là hộp thư chết do PK.12 gửi cho PK.8 để PK.8 hóa mã cho Nguyệt điện về trung tâm CIA tại Hồng Kông. Trong lúc Năm Hổ đọc nội dung mật điện chuyển đi, Mếch-cơ lại viết tiếp mật điện khác. Lần này thì ông ta viết ngay bằng tiếng Việt: "Hãy trồng hoa thược dược tại làng Ngọc Hà". Năm Hổ nheo mắt, hỏi: - Nội dung bức điện này nói về... - Ngài cứ chuyển đi. Cô Nguyệt sẽ hiểu nội dung. - Như vậy ngài không tin tôi hay sao mà không dám nói? Mếch-cơ cười hết cỡ. -Trời ơi, đây không phải là vấn đề có tin hay không mà nó là nguyên tắc. Gần trọn đời cộng tác với chúng tôi mà ngài còn ngờ nghệch hết chỗ nói. Một ngày không xa, chế độ cộng sản ở Việt Nam sụp đổ, ngài sẽ trở về Việt Nam. Khi ấy, tôi sẽ đưa cả vợ con sang thăm ngài ở Hà Nội, sẽ cùng ngài đi ăn bún chá mà ngài vẫn thường nhắc đến. Những lời nói của Mếch-cơ làm Năm Hố xúc động mạnh. Năm Hổ im lặng hồi lâu nhìn vào khoảng xa xăm, mờ ảo bên ngoài cửa sổ. Dòng chữ "Hãy trồng hoa thược dược tại làng Ngọc Hà" lại hiện diện. Mếch-cơ tập trung suy nghĩ đến việc báo cáo về Leng-lây tin tức ban đầu của nhóm điệp viên "Lửa quê hương". Ỏng ta đứng lên mở tủ sắt, mà mỗi ngăn đều có khóa riêng và dán niêm phong đặc biệt. Ông ta lấy cặp hồ sơ đưa cho Năm Hổ. - Ngài đọc lại tập hồ sơ này sẽ hiểu rõ "trồng hoa" là gì. Đọc xong, ngài dự thảo kế hoạch chỉ đạo hành động. - Ngài không dự thảo được hay sao? - Được - Mếch-cơ khẳng định - Nhưng tôi không hiểu người Việt Nam, đất nước Việt Nam bằng người Việt Nam. Vì vậy tôi muốn ngài làm việc đó. Trước khi ngài nghiên cứu, tôi chỉ lưu ý một điều, sau chiến tranh Việt Nam, Cục Tình báo Trung ương Mỹ có một vai trò đặc biệt trong chiến tranh lạnh. Nếu như trước đây, chúng ta đã đưa hàng chục vạn quân đến miền Nam Việt Nam để tiến hành một cuộc đụng độ trên chiến trường, dùng những lực lượng vật chất thô bạo đế chiến thắng đối phương, thì giờ đây chúng ta lại dùng trí tuệ để lật đổ cả một chế độ. Điều đó cho thấy rõ vai trò của chiến tranh lạnh. - Tôi đồng ý! Vì thế đế nghị ngài cần chỉ thị trực tiếp để các điệp viên hiểu rõ nhiệm vụ của mình. - Tôi cũng đã nói đến điều đó, ngài Năm Hổ ạ. Nếu chúng ta quá tin vào điện đài, mật mã sợ rằng phản gián điện đài của An ninh Việt Nam có thể phát hiện. Vì vậy, tôi có ý định sẽ đến Việt Nam để chỉ đạo họ "trồng hoa" ở làng Ngọc Hà trong những chuyến du lịch được thực hiện theo chương trình trao đổi văn hóa, khoa học của một nước không phải Mỹ với Việt Nam. - Tôi tán thành cách làm này. Làm sao phải kiểm tra trực tiếp. Mếch-cơ lặng lẽ gật đầu. - Vậy thì ngài hãy mau chóng đến Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang mỏ rộng cửa đón khách du lịch. - Ngài hãy lập cho tôi một kế hoạch thật chi tiết. Mếch-cơ đứng lên vươn cánh tay dài ngoẵng bắt tay Năm Hổ. - Chúng ta sẽ thành công. Hai ngày sau, tại bản doanh CIA ở Mỹ có cuộc họp bất thường duyệt kế hoạch cho điệp viên Mếch-cơ đến Hà Nội. Những người tham gia cuộc họp đều thống nhất, cả Chi cục Tình báo Trung ương Mỹ ở Hồng Kông và Mếch-cơ bận rộn chuẩn bị cho chuyến đi. Năm Hổ soạn thảo các chỉ thị gửi Sơn và Nguyệt kế hoạch đón Mếch-cơ theo quy tắc bí mật nhất. Bức điện cuối cùng trước khi Mếch-cơ rời Hồng Kông: "Tàu cập bến ngày hai mươi nhăm". Mếch-cơ cho hoá mã một lần nữa mới điện đi. Ông ta tin rằng, cơ quan phản gián Việt Nam dù có thu được bức điện này, thậm chí dịch được hết các con số thành dòng chữ kia thì cũng khó lòng hiểu nội dung sâu sắc của nó. Máy điện thoại nhấp nháy đèn báo. Mếch-cơ cầm ống nghe. Giọng trong trẻo của Lâm Tiên từ nơi khác gọi đến: - Sao hôm nay anh không đến với em. - Anh bận mà. - Có đến không đấy, nếu không em đi đây. Mếch-cơ thoáng nghĩ, có lẽ trước lúc rời Hồng Kông đi Hà Nội cũng phải đến với cô ta một đêm. - Có chứ! Ngay bây giờ. - Em biết thế nào anh cũng đến mà. Mếch-cơ xếp hồ sơ, khóa tủ và cửa phòng làm việc đi ra gọi xe kiệu - Một thú vui đi lại ở Hồng Kông. Gió từ biển, từ phía bán đảo Cửu Long thổi tối, làm Mếch-cơ có cảm giác xe kiệu không đến nỗi đi chậm lắm: Xe đi qua những phố xá náo nhiệt, xe hơi dày đặc, ồn ào nối đuôi nhau chạy, rồi lại đi qua những công viên lá cây vườn hoa còn ướt đẫm nước của người chăm sóc công viên để đến biệt thự bên những cây dương và màu xanh của biển. - Em biết thế nào anh cũng đến mà. Lâm Tiên trong bộ đồ mini jip màu xanh tươi cười nói. Mếch-cơ cầm tay cô kéo về phía mình rồi đặt tay lên vai cô đi vào trong căn phòng nhấp nháy ánh điện. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 02:31:31 pm * Cũng thời gian đó, tại một biệt thự trung tâm Hà Nội, trung tá Phan Thanh và đại úy Nguyễn Tuấn Khoa đang bàn tính về những tin tức do Nguyệt cung cấp, bàn cách đối phó với hoạt động của Mếch-cơ tại Hà Nội. Trung tá đi lại trong biệt thự, thỉnh thoảng anh đưa tay vuốt bộ tóc thưa, loáng thoáng điểm sợi bạc. - Mếch-cơ lợi dụng năm du lịch, nước ta mở rộng cửa đón khách du lịch vào để hoạt động. Cái khó của chúng ta là làm sao để các bạn du lịch nước ngoài đến Việt Nam hiểu ta không theo dõi họ mà chỉ theo dõi kẻ nào lợi dụng con đường du lịch hoạt động gián điệp. - Thế thì chúng ta phải bô trí giám sát thật kín đáo. - Nếu như anh em chúng ta sơ suất, khách du lịch phát hiện ra, họ tương lầm bị theo dõi thì sao? Như thế chính chúng ta làm trở ngại chính sách mở cửa, có đúng không? - Nhưng nếu tất cả khách đến Việt Nam đều với mục đích du lịch ta theo dõi làm gì? Ta chỉ theo dõi Mếch-cơ, theo dõi điệp viên nước ngoài lợi dụng du lịch để hoạt động. - Đấy là phân tích theo cách nhìn của đồng chí, của tôi. - Tốt nhất ta không cho Mếch-cơ nhập cảnh. Trung tá xoè tay cười hết cỡ: - Tròi ơi! Đồng nghiệp của tôi ngây thơ quá. Đại úy vẫn chưa hiểu ý trung tá, anh nhăn mặt hơi khó chịu. - Ta ngăn chặn từ xa. Trung tá vẫn tiếp tục cười vừa chỉ tay về phía đại úy. - Này nhé, tôi hỏi đồng chí, lý do gì không cho Mếch-cơ nhập cảnh trong khi đài báo ta suốt ngày nói sẵn sàng đón khách du lịch? Đại úy cười cúi đầu vẻ suy nghĩ, trung tá thôi cười, thấp giọng: - Nếu như cho Mếch-cơ vào có phải ta kéo còi báo động cho nhóm điệp viên "Lửa quê hương" đang bị theo dõi không? Đại úy hơi đỏ mặt có vẻ ngượng trước câu nói vội vàng thiếu suy nghĩ của mình. Trung tá đi về phía cửa sổ có tấm rèm che bằng vải xanh hòa với bức tường quét ve màu xanh làm người ta có cảm giác căn phòng như bị phủ bởi lớp mây trời mùa thu. - Tôi quyết định cứ để Mếch-cơ vào Việt Nam, và cho người bám thật chặt. Vấn đề quan trọng ngay bây giờ, chúng ta phải xác định nội dung các bức điện Nguyệt nhận được và màng lưới điệp viên "Lửa quê hương" gồm những ai. Bỗng máy điện thoại bật đèn tín hiệu. - Alô! Tôi trung tá Phan Thanh. Từ đầu dây bên kia có tiếng người đàn ông nói: - Tôi! Thượng úy Nguyễn Quang báo cáo, bộ phận chúng tôi vẫn chưa dịch được nội dung bức điện. Trung tá đứng lặng hồi lâu. - Các đồng chí cứ tiếp tục tìm khóa mã. Trung tá cầm ông nghe một lúc trên tay mới đặt xuống. - Mếch-cơ dùng tiếng lóng thì ta khó lòng dịch nổi. Hắn ta xảo quyệt thật, đến nỗi chính Nguyệt cũng không biết nội dung nói gì mà chỉ biết nhận xong chuyến giao cho Sơn, để Sơn giao cho PK.12. PK.12 là ai, làm gì, ở đâu... đều vẫn là câu hỏi. Bàn làm việc của Trung tá kê đối diện với cửa ra vào. Những tờ giấy in chữ "tuyệt mật" ở góc ghi nội dung các bức điện Nguyệt nhận được đặt trên bàn. Đại úy cầm tờ giấy lên xem. - Chúng ta hãy phân tích từng nội dung bức điện. Trung tá ngồi xuống ghế, đối diện với đại úy. - Theo đồng chí "Hãy trồng hoa thược dược tại làng Ngọc Hà" có nghĩa gì? - Tôi cho rằng, đó có thể là tiếng quy định giữa chúng với nhau. "Trồng hoa" có thể là "đặt mìn", Ngọc Hà có thể là địa điểm nào đó. - Nếu vậy "trồng hoa" có thể là "đặt đài bí mật", là "gài người vào cơ quan" nào đó có được không? Không khí trong phòng tự nhiên lặng hẳn đi. Trung tá dựa lưng vào ghế hút thuốc. Đại úy im lặng suy nghĩ. Với kinh nghiệm bao năm đánh án, anh cho rằng, loại mật điện dùng hai khóa mã lại dùng cả tiếng lóng thì đối phương hầu như đều bó tay. Anh rút khăn tay lau trán cho thần kinh bớt căng thẳng. Trung tá gõ nhẹ tay xuống bàn. - Diệu là PK.7, Sơn PK.8, Nguyệt PK.14. Ta chỉ cần bố trí theo sát PK.7, và Mếch-cơ từ đó có thể phát hiện ra PK.12. Đại úy vẫn ngồi im suy nghĩ, anh cho rằng, đó có thể là thủ đoạn để đi tới mục tiêu. - Như thế tin tức Nguyệt cung cấp cho ta mới chỉ là tin tức ban đầu. - Đúng thế. Cô ấy vừa mới về nước làm sao đã được chúng tin dùng ngay. Đại úy im lặng nhìn trung tá, hy vọng tìm được ở người cấp trên những quyết định nghiệp vụ sắc sảo. - Chỉ có điều chúng ta phải theo sát từng bức điện, bám sát từng bước đi của Sơn may ra mới chộp được PK.12 - Trung tá nhìn đại úy - Đồng chí chỉ huy một tổ theo sát Sơn, còn tôi chỉ huy một tổ theo sát PK.7. Tất nhiên, đấy không phải là sự liệt kê đầy đủ các công việc chúng ta cần tiến hành. Bởi lẽ, trên lĩnh vực này, bất ngờ ngoài dự kiến thường xảy ra. Nhưng bây giờ thì chúng ta tạm thời phải bằng lòng với cách này. - Vậy đồng chí cho phép tôi gặp anh Sơn hỏi kỹ thêm. - Cái đó do đồng chí tự quyết định. Hai người bắt tay nhìn nhau hứa hẹn. - Bọn chúng muốn đốt "Lửa quê hương" thì chúng ta phải đổ nước dập tắt - Trung tá nhìn đại úy tin tưởng, động viên - Nhưng vẫn phải để cho luồng gió mát tràn qua cửa đã mở rộng. - Tôi hiểu. Hai người từ trong biệt thự mát mẻ, có điều hòa nhiệt độ bước ra đường phố oi bức quả thực rất khó chịu. Đầu tháng sáu dương lịch, mỏi chỉ vào hè mà Hà Nội đã oi bức, chỉ có những người cảnh sát giao thông, ở trên đường hình như không chú ý đến cái nóng nực này. Đại úy nghĩ, có lẽ chiếc mũ kêpi trên đầu người đồng nghiệp đã làm họ quên mất nóng bức chăng? Có tiếng phanh hãm xe, chiếc xe com-măng- ca màu vàng đục dừng lại. Trung tá và đại úy bước lên xe. Chiếc xe lao đi để lại luồng khói đen mờ. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 02:32:20 pm CHƯƠNG BẢY HỘP THƯ MẬT Đại úy Nguyễn Tuân Khoa mở cửa phòng làm việc lấy tài liệu rồi đi ra ô tô. Anh quyết định đi gặp Sơn để nghe kỹ lại lần cuối cùng trước khi bước vào giờ phút quyết định tiến hành "Trò chơi không giải trí". Bình thường, anh mời người hỗ trợ tới phòng mình, nhưng hôm nay để bảo vệ an toàn, anh hẹn Sơn ở một địa điểm khác, cách xa nơi anh làm việc. Theo quy định từ trước, Sơn vào Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền, đứng sát gương ở phía cửa ra vào. Qua gương, anh đoán biết không ai theo dõi mình, anh lên gác hai rồi lại nhanh chóng vòng xuống gác một đi ra bến ô tô buýt ngồi trên một ghế đá. Ô tô đến, anh nhảy lên đi về phía sau ngồi. Tất cả những người ngồi phía trước hầu như không ai chú ý về phía sau. Anh tự an ủi: Không có kẻ nào theo dõi. Ô tô dừng lại bên trại Găng. Anh xuống xe rồi đi về hướng Bệnh viện Hai Bà Trưng. Đi được một nửa đường, anh lại rẽ vào một lối nhỏ, đến một gia đình có tường xây bao bọc. Đại úy Tuấn Khoa đang chờ anh ở đó. - Anh rời nhà ra đi lúc mấy giờ? - Hai giờ chiều. Tuấn Khoa xem đồng hồ. - Đoạn đường có ba cây số mà đi mất gần hai tiếng. - Báo cáo anh, như thế nó an toàn anh ạ. - Anh hút thuốc đi. Tuấn Khoa đưa bao thuốc ba số "555" về phía Sơn. Sơn rút một điếu châm lửa và ngồi thoải mái hơn trên chiếc xa-lông nan. - Anh và Nguyệt định bao giờ tổ chức cưới? - Chúng em định cuối năm nay. - Hôm đó thế nào tôi cũng có mặt. - Vâng, em mời anh. Sơn cúi mặt nói chậm. Đại úy rút thuốc nhìn anh. Trước mắt đại úy lúc đó không phải là gián điệp mà là con người lầm lạc muốn chuộc lỗi. Đại úy bật lửa. - Hôm nay tôi muốn hỏi anh chi tiết một số vấn đề. Biết đến đâu anh cung cấp đến đó. Đại úy trải trên bàn một loạt ảnh người nước ngoài. - Anh chỉ xem ai là Mếch-cơ? Sơn xem một hồi lâu rồi chỉ vào chiếc ảnh nằm ở phía tay trái mình. - Nhưng anh lại là Rôbớt, không mang quốc tịch Mỹ chuẩn bị vào du lịch Việt Nam. Sơn hồ nghi câu nói của mình, vội cầm ảnh lên xem lại. - Thưa anh, đúng hắn ta, vì đuôi mắt phải có nốt ruồi, mũi quặp kiểu mỏ quạ mà. Nguyệt xác nhận khách du lịch có tên Rôbớt chính là Mếch-cơ. Giờ đây Sơn cũng xác nhận như thế, đại úy Tuân Khoa chuyển sang vấn đề khác. - Chuyện mà anh kể cho mọi người tưởng lầm Diệu là địch, bắn nhau với anh ta một ngày mới nhận ra nhau là đồng chí, là chuyện thật hay giả. - Dạ! Đó là câu chuyện do Mếch-cơ viết ra bảo em học thuộc. - Anh gặp Diệu ở đâu? - Họ dẫn Diệu từ nơi khác đến bìa rừng gặp em, rồi chỉ cho chúng em hướng đi về đơn vị. - Nghĩa là anh cũng không rõ Diệu là ai. - Vâng! - Sau này có gặp Diệu nữa không? - Chúng em vẫn thường xuyên gặp nhau. Khi tổ chức bảo em khai lại thời gian bị lạc trong rừng, có ai biết, em đã phải nhờ Diệu chứng nhận. - Và anh cũng chứng nhận cho Diệu? - Dạ. - Vậy anh có biết Diệu là điệp viên không? Thực hiện nhiệm vụ gì? Sơn lạnh toát mồ hôi, anh đưa tay lau trán. Anh lúng túng thực sự, chỉ lo rằng trả lời "không biết", cơ quan an ninh lại bảo mình khai chưa thành khẩn. Anh nhìn Tuấn Khoa thanh minh: - Quả thực em không biết. - Đúng như thế chứ? - Dạ! Em không nói sai. Đại úy ném mẩu thuốc qua ô cửa rồi rút điếu khác, châm lửa. - Từ ngày ở Trường Sơn ra đến nay, anh gặp Diệu bao nhiêu lần? - Dạ. Rất nhiều lần. Em không nhớ được. - Nội dung mỗi lần gặp? - Chủ yếu do buồn chán, gặp nhau nói chuyện phiếm. - Có lần nào nói tới chuyện CIA giao nhiệm vụ chưa? - Thưa, không! - Anh có biết Diệu bây giờ làm việc ở đâu không? - Có, ở Công ty Xuất Nhập khẩu, làm bảo vệ. Đại úy ngồi yên, dường như đang chìm đắm trong suy tư của mình. Anh nhìn Sơn hết sức chân thành, thông cảm. - Những điều anh vừa nói rõ ràng là chính xác. Song đó mới là những điều nói về người khác. Bây giờ tôi muốn hỏi về anh. Sơn tỏ thái độ sốt ruột xem cơ quan an ninh hỏi gì về mình, đánh giá ra sao. Thời gian trôi đi đôi vài anh lúc này sao chậm chạp thế. - Xin anh cứ hỏi. Đại úy sửa lại kính, chăm chú nhìn Sơn. - Tại sao anh lại đến đầu thú? - Anh có thể không tin, nhưng mười lăm năm qua sống trong cảnh làm việc cho CIA, mới thấy mình chỉ là công cụ cho chúng, luôn luôn sống trong lo sợ, tưởng như lúc nào cũng có người đến bắt mình. - Cái gì đã giúp anh nhận ra điều đó? Sơn im lặng một lúc lâu, giọng hối hận: - Mỗi người có một lý do. Riêng em, đó là tình yêu với Nguyệt. Đại úy cười, hỏi: - Chỉ vì tình yêu thôi ư? - Vâng! Tình yêu đã giúp em hiểu nên sống như thế nào. - Mười lăm năm qua, ngoài lần gặp PK.12, anh còn gặp điệp viên nào nữa không? - Không. Khi rời Đà Nẵng trở về đơn vị, Mếch- cơ nói với em cứ nằm im khi nào có người đến bắt liên lạc sẽ hoạt động. - Nhiệm vụ chúng giao cho anh đợt này? - Chuyển những bức điện Nguyệt nhận được cho một người nào đó. - Người đó ở đâu? - Cho đến nay em vẫn không hay biết. Cứ đến ngày ba mươi tháng năm tới em sẽ ra địa điểm quy định bắt liên lạc. - Anh có nói kỹ hơn được không? - Dạ. Điện Mếch-cơ báo "Tầu cập bến ngày hai nhăm". Theo quy ước từ trước, "Tầu cập bến" có nghĩa là "hẹn gặp", "ngày hai nhăm", là thời gian gặp. Thời gian gặp bao giờ cũng lui năm ngày so với ngày ghi trong điện. Sơn mở túi lấy ra những bức điện mật mã Mếch-cơ chỉ thị cho nhóm điệp viên "Lửa quê hương" đưa cho đại úy. Đại úy xem xong suy nghĩ: Trong cuộc chiến đấu thầm lặng này nhiều vụ đối phương đã cho người đầu thú để thực hiện một kế hoạch thâm độc hơn. Trường hợp Sơn và Nguyệt, qua các sự việc, lời nói, thái độ, anh quả quyết đó là tự thú thực sự. Anh quyết định sử dụng Sơn và Nguyệt vào "trò chơi không giải trí" do anh và trung tá Thanh điều khiển. - Chúng chuyển "Lửa quê hương" về để thiêu cháy Tổ quốc mình, dân tộc mình thì chúng ta phải dập tắt nó, mà anh là một chiến sĩ "phòng cháy". Hôm nay, tôi sẽ bàn kỹ với anh các phương án tham gia. Sơn hết sức xúc động, lo lắng. Anh ngồi nghe đại úy nói như một cậu học trò mắc lỗi nghe thày giáo giảng bài. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 02:32:54 pm * Sau khi chia tay Sơn, đại úy đi tắt qua làng Quỳnh Lôi ra đường Minh Khai, xe đón anh ở đó. Sơn trở về đường cũ. Ngồi trên xe, đại úy sắp xếp phân tích lại những chi tiết Sơn báo cáo để mặc cho người lái xe đưa đến trụ sở. Anh mở cặp lấy một bức điện Nguyệt mới nhận được. Trung tá cầm tờ giấy đọc kỹ. Anh nhìn đại úy. - Anh Sơn không biết nội dung điện hay sao? - Anh ấy chỉ là một giao liên chuyển điện, không hơn không kém. - Nguyệt có dịch được những mã số này không? - Chỉ dịch được khoá mã đầu, thành những câu tiếng lóng. - Như vậy chị ấy cũng mới chỉ dừng ở chỗ là một báo vụ viên, không hơn không kém. - Chứng tỏ trong màng lưới điệp viên "Lửa quê hương" còn có những điệp viên cao cấp hơn Sơn và Nguyệt. - Chúng ta lần lượt phân tích những bức điện Nguyệt thu được. Bức điện "Tàu cập bến ngày hai mươi nhăm", chúng ta biết đó là ngày Sơn giao tài liệu tại hộp thư chết cho điệp viên X nào đó. Nhưng nội dung điện: "Người châm lửa sẽ đến vào ngày thứ hai", và hàng loạt những bức điện tiếp theo chúng ta không hiểu nội dung chúng định nói gì. - Theo tôi, phải "thả mồi" câu những bọn chưa lộ. - Nghĩa là động viên Sơn và Nguyệt tiếp tục cộng tác với chúng. - Vâng. Phải như thế. - Theo đồng chí lưới của điệp viên Mêch-cơ có mấy điện báo viên. - Theo tôi có một. - Vì sao? Đại úy suy nghĩ. Anh xếp tất cả những bức điện lại với nhau. - Mếch-cơ điện cho Sơn và Nguyệt, hai người có chung một mã khóa - Còn nếu điện cho điệp viên khác, Sơn chỉ là người chuyển giao. Nếu có hai điện báo viên thì Sơn đâu phải chuyển giao? Ngược lại, Nguyệt có nhiệm vụ là nhận báo cáo hóa mã chuyển đi. Điều này cho phép chúng ta kết luận có một điện báo viên. - Tóm lại, chỉ có một điện báo viên là Nguyệt mà Nguyệt lại không mở được hết khóa mã thì phải tổ chức giám sát những người nhận chuyển báo cáo cho Nguyệt và nhận điện có phải không? - Vâng! Đúng như thế. - Có nghĩa là chúng ta triển khai theo phương án đã thống nhất hôm qua - Trung tá nhìn đại úy với giọng thận trọng - Nếu thứ hai tuần tới Rôbốt có mặt trong đoàn du lịch Việt Nam thì phương án chúng ta khá chuẩn xác - Trung tá bật diêm hút thuốc - Mọi việc phải nín lặng chờ đến ngày đó. Con mồi lớn trong vụ này, ông khách du lịch Mếch- cơ có cái tên "Rôbớt" và "kẻ nào đó" mà Sơn và Nguyệt đều chưa biết. Trung tá và đại úy sau khi thỏa thuận kế hoạch giăng bẫy, hai người chia tay mỗi người đi về một hướng đã được thống nhất. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2020, 08:31:11 pm * Theo quy định, Nguyệt về Hà Nội gặp Sơn, chuyển lại toàn bộ những bức điện mật mã nhận được để Sơn chuyển giao cho một "người nào đó" ở hòm thư bí mật. Nguyệt mặc chiếc quần bò và áo sơ mi bó sát người nên trông có vẻ cứng cáp, làm tô thêm thân hình cân đối, quyến rũ. Thấy Sơn nhìn mình chăm chú, chị hỏi: - Anh không thích em mặc bộ đồ này sao? - Ngược lại. - Thực hay động viên đấy? Sơn mỉm cười: - Mặc bộ này trông khỏe lắm. Nguyệt nhìn Sơn. - Em chỉ mặc cho anh thôi. Và cũng tại cái tội hay mất điện, mặc quần bò đỡ phải là. - Đúng hơn là cái tội lười chứ. - Vậy thì sau này chỉ khổ anh thôi. Nguyệt đưa mắt nhìn Sơn, với ánh mắt hoàn toàn sung sướng. Chưa lúc nào anh cảm thấy mình sảng khoái bằng lúc này. Cả hai người luôn luôn giữ mình để cư xử cho hết sức vui vẻ, bù đắp lại tháng ngày đã xa nhau. Có lẽ, nửa cuộc đời đã qua, đây là những ngày hạnh phúc nhất đối với họ. Nhưng rồi Nguyệt lại nghĩ đến chỉ thị của Mếch- cơ, ngày mai phải đi trao tài liệu qua hộp thư chết cho một người nào đó làm chị lặng người đi. Công việc đặt tài liệu ở hộp thư chết không nguy hiểm gì đến tính mạng, nhưng nếu tiếp tục lún sâu vào hoạt động này, không may một trong hai đứa bị đối phương ám sát thì sao? Đối với chị sẽ mất đi cái đẹp đẽ nhất cuộc đời mà mười lăm năm lưu lạc mới tìm được nó. Mà tại sao hộp thư chết lại đơn giản thế? Đúng mười bốn giờ đi xe máy đến bên một cột mốc cây số X đường Hải Phòng - Hà Nội dừng xe, kiểm tra rồi vứt giẻ lau đầy dầu mỡ trong đó có tài liệu xuống vệ đường, phía sau cột mốc. Chẳng lẽ hoạt động gián điệp mà chỉ đơn giản thế này thôi ư? Càng nghĩ, Nguyệt càng khó hiểu. Tại sao các anh Công an bảo, bọn chúng quy định thế nào cứ làm thế? Hay là họ biết tất cả hoạt động của "người nào đó" rồi? Người đó có phải PK.12 đã từng gặp Sơn không? - Nguyệt! Em nghĩ gì thế? Nguyệt quay lại nhìn Sơn lúng túng: - Không... Em nghĩ... Muốn anh đi chơi. - Anh cũng đang định bàn với anh việc đó. - Đi chơi cho nó khuây khoả anh ạ. Vài phút bàn bạc, hai người lên xe hon đa đi về phía đường Thanh Niên, vào nhà nổi Hồ Tây. Tiếng nhạc xập xinh và tiếng hát của những cô gái không hợp với tâm trạng Nguyệt lúc này. Song vì chiều người yêu và cũng thử tận mắt nhìn cái cảnh ngoạn mục mà những ngày ở đảo Liutô Nhật Bản đã nghe qua đài báo xem sao nên Nguyệt chấp nhận đề nghị của Sơn. Nhà nổi Hồ Tây buổi chiều thật mát mẻ. Hai người đi về góc trong cùng bỏ mặc những cái nhìn ngưỡng mộ của một số chàng trai. Và khi Nguyệt ngồi xuống bên bàn có chiếc quạt cây gần đó làm tung mái tóc, Sơn mới thấy cái nhìn của Nguyệt về phía mình chứa chan niềm sung sướng. Hình như cả cô phục vụ trong bộ đồ thụng cũng chăm sóc chị thực sự chu đáo. Có điều đáng ngạc nhiên, Nguyệt không nói gì, cứ ngồi nhìn Sơn và nhìn các cô phục vụ, nhìn khách hàng xung quanh mình, sắc mặt tươi sáng hình như bắt đầu đẩy lui dần nỗi lo trong Nguyệt. Sơn nghĩ rằng, có lẽ Nguyệt đang trong giờ phút bồi hồi trước cuộc sống hạnh phúc và cảnh sống thanh bình. - Giá như lúc này có Nguyệt Nga ở đây có phải vui hơn không? Bỗng sắc mặt Nguyệt hơi thay đổi. - Em cũng định đưa con đi, nhưng lại nghĩ mình có việc... Đợi cho cô phục vụ đặt xong món ăn và hai hộp bia "333" xuống bàn đi ra, Nguyệt nói tiếp: - Suốt đêm hôm qua em trằn trọc và nghĩ vớ vẩn quá. Nếu như năm bảy nhăm, em trở về mang theo đứa con không có bố thì chắc bố mẹ em buồn lắm. - Còn bây giờ? - Niềm vui có con và có cháu làm quên đi tất cả. - Nếu như các cụ lại có thêm cháu "Sơn Lâm" nữa thì sao? Những hàng lông mi Nguyệt rung lên. Chị không dám nhìn Sơn để che giấu nỗi vui mừng. Hai người rời nhà nổi Hồ Tây, lòng tràn ngập hạnh phúc. Suốt dọc đường trở về, họ bàn nhau tổ chức lễ cưới vào cuối năm. - Mẹ có đồng ý cho chúng mình cưới không? - Em kẻ hết mọi chuyện. Mẹ giục em. - Con bố? - Chưa nói. Nhưng em tin bố sẽ thích anh. Trong anh có một cái gì đó rất chân thật. Hơn nữa, anh lại là "một kỹ sư" - Một cán bộ trí thức. Bố em vẫn thường nói, em là kỹ sư thì cũng nên lấy chồng có trình độ tương đương mới hạnh phúc. - Nhưng nếu cụ biết anh đã nhận làm việc cho CIA thì sao? Nguyệt bỗng im lặng. - Nhắc lại chuyện đó làm gì? Đã bảo tại em mà - Sơn rút bao thuốc, Nguyệt chủ động bật lửa và nhìn xoáy vào Sơn - Nếu như anh và em không nói thì bố mẹ làm sao biết được - Nguyệt đặt tay lên lưng Sơn đẩy nhẹ anh - Vào nhà đi, anh xem tài liệu còn không. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2020, 08:31:45 pm * Trung úy Nguyễn Huy, tổ trưởng tổ giám sát vị khách không mời "Rôbớt" đã có mặt tại Sân bay Nội Bài. Anh chăm chú nhìn các hàng mỹ nghệ vàng bạc bày trong tủ bán hàng lưu niệm. Nhiệm vụ của tổ hôm nay chỉ giám sát Mếch-cơ và những kẻ cộng tác với hắn ta. Tuy anh nhìn các hàng mỹ nghệ và tán gẫu với cô bán hàng nhưng thật ra trong lúc này anh đang quan sát mọi hoạt động đang diễn ra quanh mình. Anh đi lên gác hai phóng tầm mắt ra sân bay rộng hơn, nơi chiếc máy bay của "Hãng Hàng không Việt Nam" sẽ từ Thái Lan về hạ cánh. - Chú ý! Chú ý! - Tiếng cô phát thanh viên vang lên - Hãng Hàng không Việt Nam xin thông báo: chỉ còn một vài phút nữa chuyên bay Thái Lan - Hà Nội sẽ hạ cánh. Nguyễn Huy nháy mắt cho đồng nghiệp xuống tầng một còn anh ở lại tầng hai. Tiếng ầm ì từ xa mỗi ngày một rõ hơn. Khi tiếng máy bay rít lên, mọi người trong nhà đợi đều nghển cổ nhìn ra đường băng. Bánh xe đã chạm vào đường bê tông, cửa máy bay bật mở, cô chiêu đãi viên xinh đẹp bước ra. Theo sau cô là hành khách lần lượt bước xuống cầu thang. Một người ngoại quốc khoác túi du lịch bước ra sau cùng, đứng ở cửa máy bay ngắm nhìn về phía nhà đợi một lúc mới chậm rãi bước xuống cầu thang. Ngồi ở ghế băng dài, các sĩ quan an ninh nhận ngay ra người mặc áo sơ mi kẻ, thắt cavát, đeo kính gọng vàng là Mếch-cơ. Trong đám đông hành khách, trông hắn ta không có gì đặc biệt. Sau những thủ tục hải quan đơn giản, khách du lịch được các nữ hướng dẫn viên mời lên chiếc ô tô du lịch đang chờ. Huy và tổ chức giám sát bước ra ô tô u-oát của mình gọi điện về chỉ huy. - Phan Thanh đây. Báo cáo đi. - Báo cáo! Hắn ta đã lên ô tô về khách sạn. - Hãy bám sát. Song nhắc lại các đồng chí lần nữa, năm nay là năm du lịch, chúng ta có trách nhiệm tạo điều kiện cho người nước ngoài đến Việt Nam du lịch thật thoải mái, chỉ được theo dõi Mếch-cơ và những điệp viên đóng vai du lịch đến Việt Nam hoạt động. Nếu làm sai, giám sát tràn lan là trái với đường lối cấp trên đấy. Diễn biến tới đâu báo ngay về đài chỉ huy. -Rõ! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2020, 08:32:12 pm * Đợi cho hành khách lên xe buýt của Hàng không, Mếch-cơ có cái tên Rôbớt mới ngồi xuống hàng ghê cuối cùng. Mười lăm năm trước đây, hắn ta chạy khỏi Việt Nam. Tưởng rằng khó lòng có thể trở lại đất nước này, ai ngờ Việt Nam lại thực hiện chính sách mở cửa... Đầu óc Mếch-cơ quay cuồng, nhũng hình ảnh xa xưa ở Sài Gòn, Đà Nẵng vụt lên trong trí nhớ. Đúng mười năm, những người chóp bu của CIA ở Leng-lây chỉ thị cho hắn phải theo dõi và làm rõ những người liên quan xung quanh cái tên "Hà Sơn Lâm, Hà Nguyệt Nga" ghi trên những lá thư gửi về Việt Nam qua Hồng Kông. Nhờ chỉ thị đó, Mếch-cơ đã tìm ra Nguyệt. Quả là công lao đó không bỏ đi. Giờ đây Mếch-cơ được đến Việt Nam, được nhận thêm khoản tiền thưởng để gửi vào tài khoản riêng ở bên Mỹ. Ô tô của "Hãng Hàng không Việt Nam" chở khách về khách sạn. Sau khi nhận phòng, tắm giặt, các khách đều bách bộ thăm Hà Nội. Mếch-cơ cũng rời khách sạn. - "Trạm quan sát" gọi "trung tâm". Nguyễn Huy không rời mắt theo sát Mếch-cơ. - Trung tâm nghe rõ. - Mục tiêu rời nơi ở đi về phía Hồ Hoàn Kiếm - Mục tiêu đã lên ô tô đi về ga Hàng cỏ. Đèn đỏ ngã tư Bà Triệu - Trần Hưng Đạo bật sáng, người tài xế dừng xe, đèn xanh thông thường, chiếc xe phụt khói lao đi. Có hai chiến sĩ an ninh thấy xe dừng lại ở bến ga vội bước lên, nhưng khi xe vừa chạy, Mếch-cơ đập mạnh vào thành xe, chỉ tay xuống đường. Tài xế chiều lòng khách dừng xe cho Mếch-cơ xuống. Mình có nên xuông không? Nếu xuống xe trong trường hợp này chắc Mếch-cơ phát hiện ra ngay. Trung úy Nguyễn Huy và một chiến sĩ nữa quyết định cứ ngồi trên xe để cho xe rẽ về đường Lê Duẩn khoảng một trăm mét mới xin xuống, rồi nhanh nhẹn quay lại ga. Lúc này trung úy Nguyễn Huy khẳng định Mếch-cơ là tên điệp viên cáo già, phải dùng biện pháp theo dõi chặt chẽ. Anh gọi điện xin thêm người chi viện. Mếch-cơ đi bộ ra Cửa Nam rồi lại đi bộ về phía Hồ Hoàn Kiếm. Tổ sĩ quan phản gián do Huy chỉ đạo bám theo hắn. Chiếc tàu điện từ phía cầu Giấy lao tới, Mêch-cơ làm ra vẻ muốn đi, nhưng đột nhiên lại không lên xe. Một sĩ quan phản gián từ phía sau lao nhanh đến. Anh đứng bất động vài giây mới quyết định lên xe. Chuyến ô tô buýt từ Hà Đông chạy về, Mếch-cơ vẫy tay, ô tô dừng lại. Mếch-cơ lên xe, khi ô tô đã rẽ vào đường Phan Bội Châu, ô tô của tổ theo dõi mới lao tới. Theo lệnh của Huy, ô tô anh nhanh chóng đón đầu ô tô buýt. Từ trong ô tô, Mếch-cơ quan sát kỹ người trên xe và hai bên đường, nhìn trước, nhìn sau. Mếch cơ nghĩ rằng mình không bị cơ quan an ninh theo dõi. Nhưng dù sao cũng phải thận trọng. Trên một đoạn đường vắng phố Hai Bà Trưng, Mếch-cơ lại đập tay vào thành xe xin xuống ngang đường, ô tô chạy, hành khách trên xe nhìn lại vẻ lạ lùng, còn Mếch-cơ biết chắc không có bóng người nào "bám đuôi", hắn mới rẽ vào đường Quang Trung đi về phía Hồ Thiền Quang. Lúc này, ô tô của trinh sát an ninh mới rẽ từ đường Trần Hưng Đạo vào đường Hàng Bài đón đầu ô tô buýt biển số 29A... Một trinh sát bước xuống xe chuẩn bị đợi ô tô buýt. Khi người trinh sát này bước lên ô tô không thấy một người nước ngoài nào, anh vội xuống ngay báo cho Huy. Xe Huy lại phóng như bay đến bến cuối cùng của ô tô buýt để hỏi về ông khách người nước ngoài và được người lái xe cho biết, vị khách đó đã xuống ngang đường. Khi xe ô tô, mô tô các loại do Huy chỉ huy chạy bon bon trên các đường phố Hà Nội, may ra gặp được người "khách du lịch" kia thì Mếch-cơ đã trở về khách sạn. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2020, 08:33:19 pm * Trung tá Phan Thanh và đại úy Tuấn Khoa hết sức bực bội về việc tổ quan sát của Huy để "con mồi" cắt cầu. Trong thời gian đó, hắn ta bắt liên lạc với PK.12 hay điệp viên nào? Ngày hôm sau, "người nào đó" sẽ nhận tài liệu qua hộp thư chết? Có liên quan tới chuyến du lịch của Mếch- cơ không? Hai người bàn luận tất cả những chi tiết từ khi Mêch-cơ đến Việt Nam, và đều nhận thấy có cái gì đó sắp xảy ra. Nhưng cụ thể đó là cái gì, xảy ra ở đâu, thời gian nào? Ngày hôm sau, liệu Mếch-cơ có cùng đoàn du lịch đi Sông Đà hay cáo ốm ở lại Hà Nội để chỉ đạo màng lưới điệp viên? Những điều dự đoán của hai sĩ quan chỉ huy đều đảo lộn. Mếch-cơ tỏ ra người rất thạo đường phố Hà Nội. Sau khi đi dạo ngắm phố phường Hà Nội, Mếch-cơ về tới khách sạn, lơ đãng ngắm nhìn những bức tranh treo ở phòng cảnh. Suốt đêm đó, hầu như Mếch-cơ không ngủ. Khi nhạc dạo đầu của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam vang lên, Mếch-cơ cởi trần, quần soóc chạy ra cửa rồi chạy về phía Hồ Hoàn Kiếm. Sau một vòng chạy quanh hồ, đi một bài quyền, hắn ta trở về khách sạn ăn sáng, ra xe, cùng khách du lịch đi Sông Đà. - Chẳng lẽ Mếch-cơ không chỉ đạo vụ đặt và nhận tài liệu ở hộp thư chết hay sao? Đại úy Tuấn Khoa hỏi trung tá. - Chưa có cơ sở trả lời. Theo tôi, chúng ta phải bố trí giám sát chặt chẽ hơn. Anh quay điện gọi Nguyễn Huy đến rút kinh nghiệm sự thất bại ban đầu, nghe lại kế hoạch giám sát hộp thư chết. - Cột cây số đó nằm trên đoạn đường giữa cánh đồng, ta bố trí người quan sát thế nào? - Bố trí làm người chăn bò. - Thô thiển lắm. Cứ có người ở đó là hắn nghi ngay. Cái nghiệp này đã dạy: hễ nghi ngờ, không báo đảm an toàn là bãi bỏ ngay cuộc gặp, chuyển phương án. - Độn thổ vậy - Trung tá cười - Độn thổ để bắt quả tang khi hắn trao nhận tài liệu chứ gì? Mà tài liệu đó ta đã có rồi, cần gì phải thu giữ. Vấn đề đặt ra là làm sao xác định "người nào đó" để phát hiện màng lưới của chúng mà kéo một mẻ lưới. Vì vậy, đề nghị đồng chí chỉ thực hiện kế hoạch "đón lõng hai đầu". Họ chia tay nhau vào lúc tám giờ sáng. * Hôm đó trời nắng đẹp. Đường Năm như một tấm gương soi những gì xuất hiện trên đường, in bóng biến dạng của ô tô, xe máy và tất cả những vật di chuyển nhanh. Từ sáng sớm, Sơn đã kiểm tra lại chiếc DD70, đổ đầy xăng vào bình, đèo Nguyệt quanh Hà Nội một vòng. Dắt xe vào trong phòng, Sơn khóa trái cửa kiểm tra tài liệu lần cuối cùng trước khi chuyển đến hộp thư chết. Khi Đài Tiếng nói Việt Nam "tút tút" báo hiệu mười hai giờ trưa, anh giơ đồng hồ đeo tay so lại. Hơn một giờ sau anh đèo Nguyệt đi về đường Năm. Đến đúng cột cây số quy định, anh cho xe dừng lại giả vờ kiểm tra, lật yên lấy giẻ rách đầy dầu mỡ bẩn thỉu vứt về phía Hải Dương. Năm phút sau, một thanh niên đẹp trai dừng xe bên cột cây số. Anh ta cũng cúi kiểm tra xe, nhặt tấm giẻ lau qua xe, lật yên đặt nó vào đuôi cho xe tiếp tục chạy. Tổ giám sát của Nguyễn Huy luôn luôn giữ cự ly, tốc độ với chiếc xe này để khỏi bị lạc. Trên đường, anh thầm khen CIA tìm chọn nơi đặt hộp thư chết không dễ gì phát giác được, người đặt và nhận tài liệu đều có vẻ tình cờ, tự nhiên đến mức có ai đứng bên cũng khó phát hiện. Còn người vừa nhận tài liệu chính là Nguyễn Bang, cán bộ phiên dịch của một công ty xuất nhập khẩu ngoại thương. Bang nhìn về phía trước lại quan sát phía sau qua gương phản chiếu thầm nghĩ: Không có ai theo dõi. Bang cho xe tăng tốc độ, vượt qua cầu Chương Dương, hòa vào dòng xe lao về phía đường Bưởi. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2020, 08:34:53 pm CHƯƠNG TÁM NGƯỜI PHIÊN DỊCH THẬT VÀ GIẢ Những sĩ quan phản gián tham gia vào vụ tìm kiếm màng lưới gián điệp CIA "Lửa quê hương" do Mếch-cơ chỉ huy, lúc đầu tưởng rằng Nguyễn Bang là PK.12. Nhưng càng đi sâu vào điều tra mới phát hiện ra Nguyễn Bang là điệp viên CIA có bí sốPK.11, chịu sự chỉ huy của PK.12. Nguyễn Bang nguyên là sinh viên tiếng Anh, phiên dịch tại một công ty ngoại thương. Điệp viên CIA Pêtơ Xinhgơ dưới lốt tuỳ viên thương mại của cơ quan sứ quán nước khác đến Hà Nội đã làm quen với Nguyễn Bang trong một buổi làm việc với cơ quan ngoại thương Việt Nam. Pêtơ Xinhgơ, phát hiện Nguyễn Bang tuy trẻ song là con người "biết ăn chơi". Trong những lần chiêu đãi đoàn, Nguyễn Bang thường chúc rượu với khách bằng những cốc vại, khi chớm say, anh đề nghị mọi người uống bằng bát. Với kinh nghiệm của một sĩ quan tình báo có ba mươi năm tuổi nghề, Pêtơ Xinhgơ phát hiện đúng tính cách Nguyễn Bang, lập kế hoạch tiếp xúc, nhanh chóng đưa phiên dịch Nguyễn Bang vào màng lưới điệp viên. Thấy mình đã có tuổi tác, không hợp lứa tuổi khi giao tiếp, hơn nữa muốn trụ lại ở Việt Nam lâu dài hơn, Pêtơ Xinhgơ điện cho Mếch-cơ cử một điệp viên khác đến Hà Nội. Điệp viên CIA Lâm Tiên người Đài Bắc, nói tiếng Việt, tiếng Anh thông thạo, giỏi giao tiếp dưới danh nghĩa một thương nhân nước ngoài đến Việt Nam tìm hiểu thị trường. Dưới sự đạo diễn của Pêtơ Xinhgơ, Nguyễn Bang đã đi phiên dịch cho Lâm Tiên trong thời gian hai tháng lưu tại Việt Nam. Anh đã dẫn nữ thương nhân này đi thị sát một số cơ sở làm hàng xuất khẩu ở miền Bắc, miền Nam. Vào một ngày chủ nhật đẹp trời, "khách" có nhã ý mời Nguyễn Bang đi tắm ở Vũng Tàu. Một dịp may hiếm có được đi tắm biển với "người đẹp", Nguyễn Bang lộ vẻ sung sướng qua câu nói tiếng Anh. - Được đi cùng người đẹp ai dám từ chối. Im lặng một lát, Lâm Tiên hỏi: - Ông có xe riêng không? Chẳng lẽ trả lời "không có" kể cũng hơi ngượng nên Nguyễn Bang nói lấp lửng: - Xe cơ quan cũng là của mình. - Nghe nói ở Việt Nam đi việc riêng không được dùng xe cơ quan phải không? - Nhưng đưa khách đi chơi đâu phải việc tư? Lâm Tiên cho rằng mình đã đi đúng bài bản, khai thác triệt để "sĩ diện" của anh chàng phiên dịch. - Tốt nhất là đi xe đò để anh khỏi bị cơ quan dị nghị. - Nếu như bà thích thế. - Tất nhiên tôi chỉ vì ông. Thế là Nguyễn Bang và Lâm Tiên thống nhất với nhau kế hoạch cho chuyến đi chơi Vũng Tàu. Suốt đêm đó, Nguyễn Bang mong trời chóng sáng. Hôm sau, khi mặt trời mùa hè chưa sưởi nắng Sài Gòn, thành phố vẫn còn mát gió biển, các xe lam, xe máy bắt đầu nối đuôi nhau chạy trên đường, Nguyễn Bang đã đến gọi cửa buồng số bốn mươi tám mời Lâm Tiên ra xe. Chiếc xe lam chở riêng hai người ra khỏi thành phố khi đèn đường vừa tắt. Người tài xế cho xe chạy đến Bãi biển Vũng Tàu. Lâm Tiên và Nguyễn Bang xuống xe, nhưng cả hai người đều im lặng. Nguyễn Bang chờ "người khách" trả tiền, còn "người khách" lại cố ý để Nguyễn Bang trả tiền. - Ông bà cho xin tiền. Tiếng người lái xe cắt ngang ý nghĩ của Nguyễn Bang, anh rút tiền trong túi đưa cho người lái xe. Họ đi qua một hàng rào cây hoa giấy đã nở hết hoa. Từ đó họ đi đến một bãi tắm gần gốc cây dừa nằm ngả về phía biển. Lâm Tiên cho rằng trên thế gian này có lẽ không có nơi nào trên bờ biển dành cho nam nữ ngồi nói chuyện đáng yêu và thuận tiện như nơi gốc cây dừa này. Lâm Tiên chủ động cởi quần áo để lại bộ đồ tắm với thân hình thon gọn trắng hồng như trứng gà bóc, rồi ngồi bệt xuống bãi cát còn ướt nước biển. Nguyễn Bang ngồi xuống bên cạnh Lâm Tiên, phóng tầm mắt về phía biển trải suốt tầm mắt. Anh lặng lẽ nhìn dọc bờ biển, nhìn những hàng dừa uốn lượn mềm mại nghiêng xuống biển như một bức tranh kiều diễm. Rồi anh lặng lẽ quay lại nhìn tấm thân, khuôn mặt, bộ ngực Lâm Tiên một cách thỏa thích. Yên lặng. Sao mà yên lặng quá thế này. Anh ngẩng mặt nhìn lên trời qua kẽ lá dừa vẫn hình dung thấy vẻ đẹp của cô gái ngồi bên cạnh. - Ở Hồng Kông tôi nghe nói nhiều tới bãi biển Vũng Tàu, có nhiều khách nước ngoài, lại có món sò huyết uống với rượu Napoleon. - Nếu như "người đẹp" thích - Nguyễn Bang buông một câu tiếng Anh. - Sợ phiền ông - Lâm Tiên quyết định rút ngắn thời gian bằng chén rượu và sắc đẹp của mình. - Không. Người đẹp muốn gì tôi đều lo được. Nguyễn Bang chạy đến một quán xa vài trăm mét xách về một túi sò huyết. Chai Napoleon do họ mang theo bật nắp. Uống hết nửa chai, Nguyễn Bang chớm say. Trong đầu anh vang vang những lời nói phê bình của ông Trưởng phòng cơ quan: "Đồng chí tự do lắm! cần phải hạn chế uống rượu...". - Người có giọng phát âm tiếng Anh thật chuẩn. Có lẽ trước đây ngài đã sống với Mỹ ở Sài Gòn? Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2020, 04:35:50 pm Được người đẹp khen, Nguyễn Bang vui hẳn lên. - Không. Tôi học ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. - Trời. Nếu vậy thì ngài quả là con người thông minh, tài năng, sẽ có một tương lai sán lạn. Lâm Tiên hứa rằng, nếu có điều kiện sẽ mời anh sang thăm công ty của cô. Nguyễn Bang vốn nghĩ mình là một nhà phiên dịch, tài năng bây giờ mới được kiểm chứng qua đánh giá của người khách nước ngoài, anh cho rằng đó là lời đánh giá đúng nhất. Lâm Tiên và Nguyễn Bang gối đầu lên cát, nằm phơi mình trên bãi biển. - Cám ơn trời đất cho tôi phút giây thanh thản. Nguyễn Bang xoay nghiêng người, bất chợt anh nhìn thấy phần cao cao trước lồng ngực Lâm Tiên phập phồng theo chiều sóng. Anh nuốt nước bọt rồi lại xoay người ngang mặt lên trời. Lâm Tiên biết được suy nghĩ của Bang, chủ động cầm tay anh đặt lên người mình. - Ngài biết đây, những đại từ ngôi thứ hai của ngôn ngữ Anh bất kể nói chuyện với ai, nam hay nữ, đều dùng chữ "You", tiếng Trung Quốc đều dùng chữ "ni", nhưng khi dịch sang tiếng Việt lại tuỳ thuộc vào giới tính, tuổi tác mà gọi là "anh" hay "chị", là "ông" hay "bà", tuỳ thuộc vào thái độ chính trị người quan hệ có khi còn gọi là "ngài" có đúng không? Lâm Tiên giải thích bằng tiếng Anh nhưng mỗi khi nhắc đến đại từ "anh", "chị", "ông", "ngài"... lại nói bằng tiếng Việt một cách chuẩn xác làm Nguyễn Bang ngạc nhiên và cảm động. Anh định co tay lại, nhưng bàn tay Lâm Tiên vẫn nắm chặt như muốn đẩy nó về nơi cao nhất của lồng ngực. - Anh hơn tuổi em - Lâm Tiên nói hoàn toàn bằng tiếng Việt - Vì vậy Tiên muốn được anh cho phép gọi bằng "anh" xưng "em". Nguyễn Bang hoàn toàn bất ngờ. Những lời nói đặc biệt, hơi ấm từ thân thể Lâm Tiên lan tỏa sang người anh, làm anh rạo rực khác thường. - Anh Bang ạ, bố mẹ em và em rất có cảm tình vỏi Việt Nam nên đã cho em học tiếng Việt để tiện cho việc giao dịch - và không muốn có điều gì đó làm anh không vừa lòng. Nguyễn Bang nghĩ rằng, những ngày trước có lúc đã gọi vị khách này bằng tên thì giờ đây gọi là em cũng được chứ sao. Anh hỏi khẽ: - Em nói sao? - Em cám ơn anh những ngày qua đã cung cấp cho em những thông số giá cả và dự kiến của phía Việt Nam trước khi vào hội đàm, nhờ đó mà em đõ thua lỗ. Năm ngàn đô la là tiền cám ơn, em để trong túi áo anh ấy. Lâm Tiên chăm chú theo dõi phản ứng của Nguyễn Bang về điều mình vừa nói. Nguyễn Bang lại nhận được một điều bất ngờ mới. Anh cho tay vào túi ngực cầm ra tập đô la một trăm và hết sức ngạc nhiên không biết Lâm Tiên bỏ vào đó từ bao giờ. Lâm Tiên chủ động cầm tay anh và ấn tiền vào túi Bang. - Anh cứ cầm lấy. Nhưng cũng phải giúp đỡ em thủ tục khi nào em xin sang Việt Nam và từ Việt Nam về nước đấy. Nguyễn Bang chiều theo ý "người đẹp" bỏ tiền vào túi. - Anh còn nhớ "nhóm chống Đảng" ở Việt Nam trước đây không? - Lâm Tiên thấp giọng - Bố anh là một người trong nhóm này. Chính cái gốc gác đó mà người ta không cho anh đi nước ngoài tu nghiệp thêm. Trong cơ quan, người ta ghen ghét anh chỉ vì anh nói tiếng Anh thành thạo, anh dịch được chuẩn xác mà ba bốn người phiên dịch ở cơ quan anh cộng lại cũng không làm được. Cái hướng của anh đi là bế tắc. Vì vậy, em khuyên anh phải giữ kín mình và có tiền. Anh quan hệ với em, một người nước ngoài như thế này thì lộ liễu lắm. Lâm Tiên vừa nói vừa quan sát thái độ Bang. Hai người đã ngồi dậy dựa lưng vào gốc cây dừa. Nguyễn Bang cảm thấy có điều gì không bình thường khi Lâm Tiên quan tâm đến anh. Nhưng rồi do non nớt về chính trị, không giữ nguyên tắc trong quan hệ với người nước ngoài, lại bị đồng đô la chi phối, tâm lý bị kích động về việc bố bị Công an bắt về tội chống Đảng nên anh không những không báo cáo mà còn tiếp tục làm theo yêu cầu của Lâm Tiên. - Anh ghi cho em địa chỉ của anh để khi về Hồng Kông em gửi thư sang. Việc giới thiệu tên địa chỉ làm việc của mình là chuyện bình thường. Anh cầm bút ghi vào sổ tay của Lâm Tiên. Lâm Tiên đặt tay lên bờ vai anh, áp sát bộ ngực vào người anh. - Làm ở bộ phận nào? Nguyễn Bang chiều theo ý người đẹp viết trả lời trên trang giấy. - Hãy kể tên những người cơ quan anh để em tiện giao dịch. Nguyễn Bang định gập sổ, nhưng Lâm Tiên giục: - Giá cả những mặt hàng em định mua..., giá cạo nhất và thấp nhất mà công ty anh có thể đồng ý bán. Cứ như thế, Lâm Tiên đã mua chuộc để Nguyễn Bang viết từ những điều thông thường đến những cơ mật mà bản thân không hề ý thức được. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2020, 04:36:23 pm Sau hai tháng khảo sát thị trường Việt Nam, Lâm Tiên về Hồng Kông qua Sân bay Tân Sơn Nhất - Thái Lan. Một năm sau, Lâm Tiên và giám đốc công ty lại xin vào Việt Nam buôn bán. Vốn là người đã quen biết, Nguyễn Bang quan hệ có phần thoải mái hơn. Anh đã dẫn cô ta đi dạo khắp Hà Nội, vào các cửa hàng ăn sang trọng. Mỗi lần chia tay, hầu như anh lại nhận được một mảnh giấy trả lời vài ba câu hỏi. Lần đầu nhận những tò giấy đó anh ngại, có phần sợ, song xét thấy không gây thiệt hại lớn, nguy hiểm cho Nhà nước mà chỉ trao đổi thông tin giá cả của phía Việt Nam cho phép khi ký kết... để đổi lấy món tiền lớn mà cả đời cán bộ không kiếm được. Nhưng rồi, tất cả những câu trả lời bằng giấy của anh đã được chuyển cho Mếch-cơ và những người chóp bu cơ quan tình báo Mỹ. Tại bản doanh của CIA ở Hồng Kông, Mếch-cơ và đồng nghiệp lật từng mẩu tin của Nguyễn Bang xem, phân tích rồi đi đến kết luận: cá đã cắn câu. Trên trang giấy trắng, người giữ hồ sơ đã ghi lại tất cả lịch trình những lần Nguyễn Bang gặp, giấy báo cáo tin tức trong hai năm. Kèm theo lịch trình có một thư tay nói rõ, nếu không tiếp tục cộng tác, tài liệu đó sẽ được gửi cho cơ quan An ninh Việt Nam. Trong thư chỉ thị, để bảo đảm an toàn, không gặp trực tiếp Lâm Tiên, các báo cáo được gửi qua hộp thư chết. Hộp thư chết làm bằng một miếng nam châm hình vuông to bằng hộp dầu cao, bên trong có khoét sâu thành hình bán nguyệt. Sau khi các báo cáo tin tức đã hóa mã đặt vào trong, dùng miếng sắt hình vuông vừa khớp đậy lên trên. Đúng hai mươi mốt giờ ngày 15 hàng tháng, Nguyễn Bang đi xe về phía Hồ Thiền Quang, đến bên bờ rào Công viên Lênin, nơi có bụi cây, cọc xi măng đã vỡ nhô ra một đầu sắt, anh giả bộ là người đi giải, gắn hộp nam châm vào chỗ sắt rồi bỏ đi. Sau đó bao lâu, người nào đến lấy hộp thư đó đi đâu anh không biết. Hoặc có khi đúng ngày giờ quy định, anh đến hộp thư chết, nếu kiểm tra có người nào đó đặt hộp thư mật, anh cũng lấy rồi thay thế vào đó hộp thư do anh mang đến. Đúng hai mươi mốt giờ ngày 15 tháng 6 năm 1990, Nguyễn Bang nhận được chỉ thị qua hộp thư chết, ngày hôm sau đến cột cây số X nhận tài liệu. Sau khi dắt xe vào nhà, khóa cổng, Nguyễn Bang lật yên xe lấy tài liệu. Anh ta lấy một viên thuốc màu trắng pha vào một bát nước trắng rồi nhúng cả tờ giấy vừa nhận được vào. cần phải chờ vài phút, anh ta châm lửa hút thuốc. Điếu thuốc lá cháy được một phần ba, các chữ màu hồng hiện lên trên giấy. Mồ hôi lấm tấm trên trán Nguyễn Bang. Anh ta cầm tờ giấy thấm nước trải trên mặt bàn, dùng bút bi ghi lại từng chữ số một cách vội vàng như sợ ghi chậm chữ số kia sẽ mất đi. Anh ta vui vì mình đã làm xong toàn bộ công việc hiện hình các chữ số. Nguyễn Bang gạt những giọt mồ hôi bên thái dương chảy dài xuống cằm, bê bát nước ra sân đổ còn tờ giấy ướt kia được cuộn chung với những tờ giấy khô châm lửa đốt. Lấy chân di cho tàn giấy tan vụn, Nguyễn Bang mới quay vào dịch mã. Khoảng mười phút sau, anh ta đã dịch xong. Nội dung chỉ thị cho ba điều chính: Một: Báo cáo việc trồng hoa thược dược ở làng Ngọc Hà. Hai: Gặp một người nước ngoài theo ám tín hiệu thời gian, địa điểm quy định. Ba: Viết thư gửi Lâm Tiên để người nước ngoài chuyến về Hồng Kông. Học thuộc ám tín hiệu, mật khẩu xong, Nguyễn Bang gấp tờ giấy lại, ngồi lặng hồi lâu. Anh ta tự hỏi: Người mình sẽ đến gặp là ai? Liệu cô gái Hồng Kông kia có gửi "quà" cho mình không? Nghĩ tới cô gái, anh mỉm cười. Nếu lần này nhận được tiền thưởng, mình sẽ mua nhà và tìm lấy cô vợ thật xinh. Bỗng có tiếng gõ cửa, Nguyễn Bang giật mình vội mở quyển sách đặt tò báo vào. Hay Công an đến bắt mình? Trời ơi! Nếu thế thì cuộc đời sẽ sụp đổ hoàn toàn. Chân Nguyễn Bang như đứng không vững. Sau phút giây sợ hãi, anh ta lại lấy được bình tĩnh đi ra. Trước mắt anh là Minh, cô văn thư của công ty. Nguyễn Bang thở phào nhẹ nhõm. - Chú Hùng giám đốc bảo anh lên ngay. - Có khách đến làm việc phải không? - Em không biết. - Minh về trước, anh sẽ đi ngay. Chiếc xe máy của Minh lao đi. Nguyễn Bang quay vào nhà thu dọn chuẩn bị đến cơ quan. Trong đầu anh ta lúc đó cứ lởn vởn cái buổi gặp người nước ngoài và không hiểu kết cục sẽ ra sao. Và chính trong giây phút đó anh rút ra kết luận: Làm cái nghề này suốt đòi cứ lo sợ người ta theo dõi. Nguyễn Bang: thầm nghĩ như thế và tự nhắc mình: phải thận trọng. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2020, 04:36:53 pm * Theo chương trình đoàn khách du lịch được nghỉ một buổi chiều để có sức khỏe đi thăm rừng nguyên thủy Cúc Phương. Tất nhiên, khi đến Việt Nam, ai không muốn đi tham quan những nơi đã ghi trong chương trình có thể ở lại Hà Nội. Mếch-cơ thầm cảm ơn người xếp chương trình đúng vào ngày mà ông ta cần nghỉ. Suốt buổi trưa hôm đó, Mếch-cơ trong tâm trạng lo lắng, bước ra ban công ngắm nhìn dòng xe mầy, ô tô chạy như chảy trên đường. "Cuộc gặp chiều nay sẽ là cuộc thử lửa trong cuộc đời hoạt động tình báo của mình. Nếu thành công sẽ bước lên đỉnh cao của danh vọng, còn thất bại thì...". Mếch-cơ nghĩ như thế, song ông ta lại tin rằng mình đã dày dạn kinh nghiệm hoạt động không thể nào thất bại được. Mếch-cơ khóa cửa ban công, xem xét lại đồ dùng trong phòng lần cuối rồi đi ra cửa, mười bốn giờ đúng. Dòng khách du lịch tấp nập đi ra đi vào, người mua báo, người mua quà lưu niệm. Một nhóm người vây quanh cô hưởng dẫn viên du lịch đề nghị cô dẫn họ đi bộ xem Hà Nội. Mếch-cơ ra khỏi khách sạn, hòa vào dòng người ngoại quốc đủ các màu da, châu lục đang đi trên đường. Mếch-cơ đi dọc phố Tràng Thi, dạo quanh Bờ Hồ, Hàng Ngang, Hàng Đào, đi xích lô về Cửa Nam, rồi lại trở về Bờ Hồ. Trong hơn ba tiếng đồng hồ, Mếch-cơ đã đi bằng nhiều phương tiện để cố gắng phát hiện xem cơ quan An ninh có bố trí người theo dõi mình không, nhưng không hề phát hiện thấy có dấu hiệu gì nghi vấn. Mếch-cơ xem đồng hồ, chỉ còn mười lăm phút nữa tới giờ hẹn gặp, ông ta liền gọi xích lô đi xuôi đường Bà Triệu. Đường Bà Triệu là đường một chiều, nếu có "đuôi" cũng dễ phát hiện. Xích lô chạy đến ngay Bệnh viện Mắt Trung ương, Mếch-cơ ra hiệu dừng xe nhưng vẫn ngồi ngoái cổ lại nói chuyện, thanh toán tiền. Đó cũng là động tác cuối cùng kiểm tra xem có "đuôi" không. Sau khi xác định an toàn, Mếch-cơ rẽ vào đường Trần Nhân Tông đi ngang qua quầy bia đầu đường Nguyễn Đình Chiểu. Mếch-cơ hài lòng vế việc chọn nơi hẹn gặp. Người thanh niên lấy lại thăng bằng trong suy nghĩ của mình bằng cách uống vại bia với mực nướng. Khi trông thấy Mếch-cơ từ xa đi lại, anh ta chủ động trả tiền, tay cầm tờ báo Nhân dân đi ngược chiều với Mếch-cơ. - Chào anh. - Ông cần gì? - Tôi muốn hỏi anh đường đi về Bờ Hồ. - Xin ông cứ đi ngược lại đường cũ rồi hỏi thăm. Người thanh niên chỉ tay về phía Viện Mắt. - Cám ơn anh. Mếch-cơ quay lại đường Bà Triệu rồi đi về phía Vân Hồ. Người thanh niên nổ xe máy xuôi về đường Nguyễn Đình Chiểu rẽ vào đường Tuệ Tĩnh lao thẳng đến đường Bà Triệu đứng chờ. - Sạch sẽ chứ! - Rửa tay rồi. Mếch-cơ lên xe. Xe tiếp tục chạy xuôi rồi quay lại đường Hàng Bài lao ra một khách sạn mini ở Bưởi. Đó là một khách sạn tư nằm ven Hồ Tây có bốn căn phòng riêng biệt, nơi mà người thanh niên hay dẫn khách nước ngoài của cơ quan đến đây chiêu đãi. Từ sáng sớm hôm đó, người thanh niên này đã đến thuê cả bốn phòng trong một ngày. Thấy khách hàng đến, người chủ chạy ra đon đả: - Sao lại ít thế. - Khách về muộn. Ông chủ kêu lên: - Nếu vậy thì chết tôi. Các thức ăn hỏng hết! - Khỏi lo. Tôi thanh toán như đơn đặt hàng. Người thanh niên dẫn Mếch-cơ vào gian phòng trong cùng bên một mảnh vườn trồng hoa. - Ổng mới từ Hồng Kông đến. - Đã một tuần nay - Mếch-cơ nhìn quanh một cách thận trọng, nói tiếp - Anh đã trả lời các câu hỏi của tôi chưa? Người thanh niên lấy trong túi áo ngực ra một tồ giấy gấp tám. - Tốt quá! Mếch-cơ sửa lại kính râm của mình rồi nhận tờ giấy từ tay người thanh niên. - Việc trồng hoa thế nào? - Tôi đang tiếp cận với một cô văn thư. - Lại sử dụng phái yếu. - Vâng! Cô ta thường xuyên ra vào phòng họp, nhà nghỉ điều dưỡng, nhà riêng một số cán bộ cao cấp, do đó có thể đặt được máy ghi âm. - Tuyệt. Đó là điệp viên lý tưởng. Nước Mỹ đang cần thu thập tin tức xung quanh chính sách đổi mới của Việt Nam, quan điểm của từng cán bộ cao cấp để chúng tôi định ra đường lối thích hợp. - Nếu làm xong vụ này các ông thưởng bao nhiêu? - Tất nhiên không để anh thiệt - Mếch-cơ lấy ra phong bì dày cộm tiền - Lâm Tiên gửi anh thư và năm nghìn đô la. Còn sau khi đặt máy, chúng tôi thu được tín hiệu đầu tiên sẽ thưởng cho anh và nữ điệp viên kia mười nghìn. - Cám ơn ông! Tôi sẽ gắng hết sức mình. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2020, 04:37:26 pm Người thanh niên rút thuốc hút, bật nắp bia 333 đổ vào cốc cho Mếch-cơ, thả làn khói thuốc với những vòng tròn trắng trước mặt nhìn một cách vui vẻ. Mếch-cơ ngồi lại cho thoải mái hơn trên chiếc ghế mây. - Trước đây anh chuyến tin tức qua PK.7 để anh ta chuyển cho PK.12 và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của PK.12. Từ nay anh sẽ tách khỏi họ để hoạt động độc lập với tư cách một người chỉ huy. - Chỉ huy ai, thưa ông? - Anh cứ bình tĩnh nghe - Mếch-cơ uống hết vại bia, lấy khăn lau bọt còn dính bên mép - Đó là vợ chồng kỹ sư Sơn, bí số PK.8, vợ là Nguyệt, bí số PK.14. Cô Nguyệt sẽ là điện báo viên cho anh. Cô Nguyệt vừa mới từ Nhật về, nói tiếng Nhật rất giỏi. Mỹ cũng rất muốn tìm hiểu quan hệ buôn bán giữa Nhật Bản và Việt Nam như thế nào. Cô Nguyệt là người có thể làm được việc đó. Việt Nam đang mở rộng chính sách đầu tư nước ngoài, cho lập các công ty tư nhân. Hàng ngàn thương nhân Nhật Bản đã đến Việt Nam khảo sát, buôn bán lập công ty liên doanh. Họ rất cần phiên dịch tiếng Nhật giỏi. Bằng mọi cách anh môi giới cho cô Nguyệt được làm phiên dịch ở một công ty nào đó. Người thanh niên chưa trả lời. Anh nhìn ra Hồ Tây. Làn gió nhẹ đang lướt trên mặt nước luồn qua cửa số làm khói thuốc trắng bay ngược trở lại. Thấy người thanh niên ngồi im, Mếch-cơ hỏi: - Anh đang nghĩ gì vậy? Người thanh niên mỉm cười: - Điều đó có thể làm được. Nhưng việc chỉ huy hãy để cho PK.12. - Không được! PK.12 là con át chủ bài. Không để ai tiếp xúc ngoài PK.7. - Như vậy ông tin PK.7 hơn tôi hay sao? Nghe những lời chất vấn, Mếch-cơ thấy khó chịu, và nghĩ rằng phải có thời gian để kiểm tra lại tính cách và lòng trung thành của PK.11. Mếch-cơ ngồi im một lúc lâu nghĩ lại cuộc gặp gỡ hôm nay thuận lợi, không phát hiện thấy có sự theo dõi nào. Nhưng càng nghĩ về PK.11, Mếch-cơ lại có lòng tin ở điệp viên mới này. Từ lúc bước vào khách sạn, Mếch-cơ luôn ở trong tâm trạng lo lắng. Trong đời một điệp viên nhà nghề, Mếch-cơ đã chuẩn bị sẵn trường hợp rủi ro bị đối phương phát hiện. Ấy thế mà Mếch-cơ vẫn cứ lo bị đối phương theo dõi. Điều quan trọng bây giờ là không cho cơ quan phản gián Việt Nam phát hiện ra nhóm điệp viên "Lửa quê hương". Song điều quan trọng hơn cả đối với Mếch-cơ không phải là số phận của các điệp viên PK mà chính là số phận của bản thân ông ta. - Ông chỉ thị cho tôi phải "trồng hoa" ở làng Ngọc Hà? - Đúng! - Và phải tiến hành khẩn trương? - Chính vì thế tôi đã tổ chức lo liệu chu tất. Nhưng giống hoa? Ở đâu? Người thanh niên chăm chú nhìn vào mắt Mếch-cơ. - Tôi sẽ chuyên cho anh vào ngày thứ sáu này, nghĩa là sau thời gian tôi rời khỏi Việt Nam một ngày - Mếch-cơ hơi cúi đầu nói nhỏ đủ để hai người nghe toàn bộ kế hoạch gặp PK.12 nhận chiếc đài bí mật. - Tôi có thể trực tiếp gặp ông ta được không? - Không được. Hoạt động trên lĩnh vực này, người nào chỉ biết việc người đó. - Thời gian nhận sớm hơn có được không? Mếch-cơ thận trọng tính toán rằng, nhận sớm hơn, nhỡ có gì đổ bế thì ông ta không thoát được. Con bài cầm chắc, cứ để sau khi mình rời khỏi Hà Nội. - Tôi đã chỉ thị cho PK.12 rồi. - Còn ba ngày nữa tôi trở lại Hồng Kông. Chúc anh ở lại gặp nhiều may mắn. - Xin hẹn gặp lại ông! Mếch-cơ hoàn toàn hài lòng với những kế hoạch của mình quyết định và thực tế đã thực hiện chuẩn xác. Ông ta đi ra xe với ý nghĩ: Không hề bị cơ quan phản gián Việt Nam theo dõi. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2020, 04:38:54 pm CHƯƠNG CHÍN VÁN QUYẾT ĐỊNH Mếch-cơ đánh giá những quyết định của mình một cách tự tin và cho rằng kế hoạch đưa ra được thực hiện một cách chuẩn xác. Ngay buổi gặp người thanh niên tại khách sạn mini bên Hồ Tây, Mếch-cơ cũng thầm khen PK.11 là người có đầu óc tổ chức, hy vọng sau này sẽ hoạt động có hiệu quả. Nhưng thực tế Mếch-cơ đã bị giám sát chặt chẽ, nhất là sau khi các sĩ quan phản gián xác định được chân dung Nguyễn Bang. Nhận được tin do Nguyệt cung cấp, trung tá Phan Thanh đã bố trí người lập "đài quan sát" tại một gia đình mé làng cách xa cột mốc cây số. Từ trong nhà nhìn ra, những người quan sát phát hiện thấy Nguyễn Bang nhận tài liệu ở hộp thư chết, lập tức điện báo cho các tổ giám sát rải đều trên trục đường Năm bám sát cho đến khi PK.11 về với nhà. Theo lệnh của trung tá Phan Thanh, tất cả những người giám sát không cho PK.11 biết. Họ tổ chức bao vây ngôi nhà Nguyễn Bang. Chỉ vài phút sau, bằng thủ pháp làm quen với một bà bán hàng nước gần nhà, trinh sát đã biết rõ tên, tuổi, nghề nghiệp, cơ quan của Nguyễn Bang. Trinh sát điện báo về trung tâm chỉ huy. Nhận được báo cáo, đại úy Tuấn Khoa quyết định cho bắt Nguyễn Bang khai thác. Song vụ án đang tiếp diễn, cần phải giữ kín việc bắt này để tiến hành câu nhử đánh lừa đối phương. Anh làm việc trực tiếp với giám đốc công ty nơi Nguyễn Bang công tác nhờ giúp đỡ. Theo chỉ thị giám đốc, cô Minh văn thư đến nhà mời Nguyễn Bang tới cơ quan. Khi xe Nguyễn Bang chạy tới đầu đường Quán Thánh, một sĩ quan cảnh sát giao thông ra hiệu chặn xe anh kiểm tra giấy tờ. Nguyễn Bang vừa đưa "giấy phép lái xe" liền bị hai thanh niên đứng bên cầm tay anh đẩy lên xe ô tô đang nổ máy, mở cửa đứng bên đường. Mọi động tác diễn ra nhanh đến mức người đi đường gần đó chưa phát hiện ra, ô tô đã lao đi. Ngồi trên xe, Nguyễn Bang biết ngay mình bị bắt về tội hoạt động gián điệp. Anh cố nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra nhưng đều không hiểu mình lộ từ khâu nào để rồi bị đẩy lên chiếc xe này? Đại úy Tuấn Khoa và hai sĩ quan xét hỏi đang quay lại những thước phim ghi được khi Nguyễn Bang đến "hộp thư chết" nhận tài liệu. Họ đều đinh ninh rằng, Nguyễn Bang là PK.12. Nhưng chỉ sau một lúc hỏi cung, mọi nhận định ban đầu bị đảo lộn. Nguyễn Bang là PK.11, một điệp viên chưa nằm trong danh sách theo dõi. Đại úy Tuấn Khoa quyết định thực hiện một kế hoạch mới: Tìm người có trình độ ngoại ngữ và diện mạo giống Nguyễn Bang để thay thế hắn ta đi gặp Mếch-cơ. Trung úy Hoàng Phê được sắm vai PK.11 gặp Mếch-cơ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, dẫn được Mếch-cơ vào khách sạn mini rồi lại tiến về nơi ông ta ở. * Đại úy Tuấn Khoa đứng im bên cửa sổ suy nghĩ. Lát sau ông quay lại nhìn trung tá Phan Thanh. - Ván đầu đã diễn ra tốt đẹp. - Tôi cũng đang nghĩ như thế. Nhưng ngày mai Mếch-cơ rời Việt Nam, ta sẽ tổ chức ván tiếp ra sao? Chẳng lẽ cứ để Mếch-cơ rời Việt Nam trong khi ta có đủ chứng cứ về hoạt động gián tiếp của hắn? - Tôi đề nghị cứ để hắn ra đi. - Vì sao? - Vì nhiệm vụ chính của chúng ta bây giờ là câu nhử được PK.12. - Còn lý do nào nữa không? - Còn! Năm nay là năm du lịch. Ta bắt Mếch- cơ, tôi sợ rằng bọn địch xuyên tạc vu khống. Nếu tuyên bố với các khách du lịch khác tội hoạt động gián điệp của Mếch-cơ thì vụ án chúng ta tiến hành bị lộ. PK.12 sẽ tẩu thoát. Trung tá Phan Thanh nhìn đại úy. - Tôi nghĩ ngược lại. Đất nước mình thì mình phải có chủ quyền: Ai đến với ta không thật lòng thật dạ, có hành vi xâm phạm nền An ninh Quốc gia ta phải cảnh cáo, giữ lại làm rõ tội. Đồng thời, ta nói rõ và khuyến khích những ai đến đây với mục đích du lịch, buôn bán... - Chỉ còn hơn mười giờ nữa máy bay sẽ cất cánh, làm sao có thể hành động kịp. Hay cứ để Mếch-cơ về Hồng Kông, tiến hành câu nhử chuyến khác. Trung tá gõ nhẹ tay xuống tờ giấy có dán ảnh Mếch-cơ với cái tên khai man Rôbớt. - Sợ không dám bắt một điệp viên chỉ vì hắn ta núp dưới danh nghĩa một người du lịch, thế rồi cho hắn về để tiếp tục câu nhử hắn vào Việt Nam lần nữa để bắt hay sao - Trung tá cao giọng - Phi lý! Theo tôi, bất cứ ai có hành vi xâm phạm An ninh Quốc gia, dù là người Việt Nam hay nước ngoài đều giữ lại làm rõ tội trạng. - Trung tá nhìn thẳng về phía đại úy, với cái nhìn nảy lửa - Tôi nghĩ ra rồi. Đêm nay ta tổ chức một "vụ cấp cứu nạn nhân" và nạn nhân đó chính là Mếch-cơ. Từ ý nghĩ nảy sinh ban đầu, trung tá Phan Thanh căng thẳng suy nghĩ tình tiết vụ "cấp cứu", nghĩa là tìm cách giữ Mếch-cơ lại một cách hợp lý. Đại úy Tuấn Khoa ngạc nhiên trước quyết định thông minh, táo bạo của người chỉ huy trực tiếp. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Hai, 2020, 03:06:12 pm * Trước khi rời Việt Nam, các vị khách du lịch lại tranh thủ đi dạo quanh Hà Nội, mua sắm vật kỷ niệm tặng người thân. Mếch-cơ ngồi trong phòng khách sạn kiểm tra lại "hành lý" của mình. Tuy ngồi một mình trong căn phòng khép kín nhưng Mếch-cơ vẫn cảm nghĩ như đang có người theo dõi. Phải chăng đó là chứng bệnh nghề nghiệp của một điệp viên. Mếch-cơ nhắm mắt lại hình dung tất cả những việc làm trong thời gian lưu lại ở Việt Nam, những cuộc tiếp xúc với các điệp viên. Hoạt động của mình xem ra đều an toàn. Mếch-cơ tự đánh giá như thế rồi ngả lưng xuống giường. Bỗng có tiếng gõ cửa. Mếch-cơ giật mình ngồi dậy, lẳng lặng nhìn các gói đồ rồi đi ra mở cửa. Người phục vụ buồng bàn khách sạn nói: - Ông Rôbớt không đi chơi? - Vâng! Tôi chuẩn bị gói hàng. - Xin ông thứ lỗi vì đã quấy quả, nhưng có một phụ nữ muốn gặp ông. Tôi định không gọi, nói ràng ông đã đi chơi phố. Song chị ta nói rằng cứ ngồi ở phòng đợi cho đến khi nào ông trở lại. Thế là tôi đành nói thật ông vẫn ở khách sạn. - Chị ta muốn gặp tôi có việc gì? - Tôi không rõ. Chị ấy nói là quen ông ngày ở Hồng Kông. Chị ấy còn bảo tôi nói rõ với ông tên chị là Thu Nguyệt. - Thu Nguyệt - Mếch-cơ thốt lên cái tên "Nguyệt" bằng một giọng hơi ngân nga lại có vẻ lạ lùng. Người phục vụ khách sạn đã xoay người bước đi. Mếch-cơ khoá cửa, mặt bắt đầu chuyển màu hơi trắng. Ông ta cúi đầu bước chậm và nghĩ rằng chắc có gì nguy kịch nên PK.14 mới đến tìm mình. Tự nhiên người Mếch-cơ sởn gai ốc. Hay các cuộc tiếp xúc vừa qua đã bị lộ? Mêch-cơ tự đặt câu hỏi rồi lại tự trả lời. Vừa bước xuống cầu thang, Mếch-cơ nhận ra Nguyệt. Ông nhận thấy khuôn mặt Nguyệt không hề thay đổi, chỉ đanh lại. Vẻ dịu dàng, nhu mì của một người phụ nữ nhường chỗ cho tính cứng rắn. Nguyệt nhìn Mếch-cơ toát ra sự nghiêm khắc. Khi bước đến gần Nguyệt, Mếch-cơ chủ động nói to, tỏ thái độ hết sức thân thiện và tự giới thiệu khéo tên mình - Rôbớt xin chào bà. - Chào ông! - Xin mời bà ngồi. Với tâm trạng căng thẳng sợ hãi, Mếch-cơ chỉ xuống chiếc ghế xa-lông. - Cảm ơn ông. - Câu trả lời của Nguyệt hoàn toàn theo cách ngoại giao. - Ông sống ở Việt Nam có dễ chịu không? Mếch-cơ nhún vai, hay tay xoè ngửa: - Cảm ơn bà! Rất khỏe - Dừng giây lát, Mếch- cơ lại nói tiếp - Từ ngày ở Nhật về đến nay, mẹ con bà có được khỏe không? - Cảm ơn ông! Khoẻ. Biết ông sang du lịch Việt Nam mấy tuần nay, song bận quá không đến tìm được - Nếu chậm vài giờ nữa thì tôi đã rời Việt Nam. - Chắc tối nay ông không bận - Nguyệt đưa mắt ra hiệu. - Mọi thứ tôi đã chuẩn bị xong. - Vậy xin mòi ông cùng đi dạo. - Được đi cùng người đẹp, đó là điều vinh dự. Nguyệt chủ động đứng lên. Hai người đi sóng đôi ra cửa và mang theo tâm trạng hoàn toàn trái ngược nhau. - Có chuyện gì xảy ra? - Mếch-cơ hỏi, vẻ sốt ruột, lo lắng và sợ hãi. Nguyệt ngước mắt nhìn Mếch-cơ. Cái nhìn khủng khiếp, chứa đựng sự căm giận. Mếch-cơ sởn gai ốc. Ông ta giơ tay lên, sờ vào gáy đã lạnh toát. - Có điện - Nguyệt nói khẽ - Yêu cầu ông ở lại. - Để làm gì? - Mếch-cơ chậm rãi hỏi lại. - Sẽ nói sau. - Họ có nói lý do lưu lại không? - Có. Kêu ốm. Như đau bụng chắng hạn. Ông vào bệnh viện sẽ có PK.11 đến gặp. Linh tính nghê nghiệp mách bảo Mếch-cơ phải kiểm tra lại quyết định này. - Bà có thể... - Câu nói của Mếch-cơ bị đứt đoạn bởi chiếc ô tô vụt qua mặt - Cho tôi xem bức điện. - Ông nghi ngờ tôi như thế mà vẫn dùng hay sao. - Tôi không tin lại có quyết định đột ngột như vậy. - Nếu thế, ông vào bệnh viện, PK.11 sẽ đưa cho ông xem. Chiếc xe com măng ca chạy ngược chiều dọi thẳng đèn pha vào mặt Mếch-cơ. Xe chạy chậm rồi dừng lại. Cánh cửa xe bật ra. Hai người không mặc sắc phục bước xuống. - Ông là Mếch-cơ, xin mời lên xe. Mếch-cơ hoảng sợ nói: - Các ông nhầm. Tôi là Rôbớt. Giọng người lạ mặt sắc gọn: - Rôbớt tức Mếch-cơ. Mời ông lên xe! Lúc này Mếch-cơ mới hiểu rõ tại sao có buổi đi dạo này. ông ta bàng hoàng, cay đắng nhìn Nguyệt, nhìn những sĩ quan An ninh. Tuy nhiên đó là cái nhìn của một kẻ muốn chống lại Việt Nam, phụng sự cho cơ quan tình báo CIA, cái nhìn xảo quyệt, chứa đầy mưu kế, bối rối và bất lực. Ô tô đưa Mếch-cơ đến một căn phòng đầy đủ tiện nghi, tủ, bàn, ghế, ti vi, điều hòa nhiệt độ. - Xin mời ngồi! Nguyệt chỉ tay xuống ghế. Thấy Mếch-cơ vẫn lưỡng lự chưa ngồi, Nguyệt nói tiếp: - Ông đã hai lần mời tôi ngồi. Lần thứ nhất gặp ông ở Đà Nẵng, lần thứ hai ở Hồng Kông. Bây giờ tôi mới một lần đáp lễ thôi mà. Mếch-cơ ngồi xuống với vẻ nặng nề và căng thẳng. - Tôi hỏi ông, khi ông đến Việt Nam, đến nước khác, ông có muốn trở về Tổ quốc không? - Có. - Thế mà lúc tôi ở Hồng Kông, tôi muốn đưa con tôi về Việt Nam, đưa Nguyệt Nga về quê cha đất tổ mà ông nhẫn tâm giữ lại. - Không ai dám bác bỏ cái ý nguyện trở về Tổ quốc của bà - Mếch-cơ nói một cách mềm mỏng - Cũng như không ai bác bỏ sự trở về Tổ quốc của tôi. - Ông Mếch-cơ! Ông quả là con người nén được tình cảm của mình, đeo tấm mặt nạ của kẻ lừa lọc khá đẹp. Nhưng cũng may, nhò có sự lừa lọc đó, nhờ có sự gặp gỡ này ông mới nói ra được câu nói đó. Như vậy, khi ông hỏi cung tôi ở Hồng Kông là ông không nghĩ đến trường hợp ông phải xa vợ con ông có phải không? Trong lúc chờ đợi các sĩ quan An ninh Việt Nam làm việc với ông, tôi muốn nói chuyện với ông về cuộc sống con người. Chỉ khi ông bị bắt như thế này, ông mới hiểu nổi nỗi lòng tôi khi nói chuyện với ông ở Hồng Kông. Những năm tháng lưu lạc tại Nhật. Những tháng ngày ông làm tôi khốn khổ ở Hồng Kông, tôi mới nhận ra Tổ quốc là người mẹ. Người mẹ không bao giờ giết con và cũng không bao giờ giết con của người khác... Tiếng nói của Nguyệt vang lên lấn át tiếng đồng hồ tích tắc và trái tim lạc nhịp của Mếch-cơ. Ông ngồi với vẻ mặt sợ hãi trong làn sương mù của sự hoang mang. Nguyệt nói gì ông không nghe thấy. Đột nhiên Mếch-cơ ngẩng mặt lên nhìn Nguyệt: - Bây giờ tôi mới hiểu lòng bà! Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Hai, 2020, 09:16:35 pm * Sáng hôm sau, đúng tám giờ, các khách du lịch đi ra đi vào tíu tít ở cửa khách sạn. Họ vui vẻ nói chuyện, mua báo, quà lưu niệm. Có anh chàng thanh niên mắt không rời cô bán hàng trong bộ áo dài xinh đẹp, cô bán hàng không ngớt lời chuyện trò vui vẻ với khách du lịch. Một lúc sau, trưởng đoàn du lịch kiểm tra lại số hành khách chỉ thiếu một mình Rôbớt. Trương đoàn thông báo rằng, đêm qua Rôbớt đau bụng phải đưa đi cấp cứu, khi nào khỏi sẽ rời Việt Nam sau. Người tài xế trong bộ quần áo vải bò, đeo chiếc kính gọng to nổ máy cho xe chạy. Máy bay chở đoàn người du lịch rời sân bay hai giờ, trung úy Hoàng Phê lại tiếp tục sắm vai PK.11 gặp PK.12 nhận đài bí mật. Trung úy sinh trưởng ở Hà Nội nên đường đi, phong tục Hà Nội rất quen thuộc. Sau khi học Đại học An ninh, anh lại học tiếp Anh văn cấp tốc hai năm. Những ngày ở trường cũng như khi ra công tác anh luôn luôn thể hiện là một trinh sát thông minh, dũng cảm, trung thành, có tài ứng biến với những tình huống phức tạp. Theo quy định anh vào cửa hàng đồng hồ, thích thú ngắm nhìn, song vẫn không rời mắt quan sát tìm người cần gặp. Do quá chăm chú nên anh trở thành đối tượng của kẻ bị theo dõi. Đúng mười bốn giờ, một người khoảng bốn mươi lăm tuổi kẹp chiếc ví da ở nách từ ngoài bước vào. - Cho tôi xem chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô. Cô bán hàng đưa cho ông ta chiếc đồng hồ loại "cá sấu" có hai cửa. Trung úy Hoàng Phê nóng lòng muốn đến bên anh ta xem và nghe người này nói gì, song anh nghĩ làm như thế là sai quy định. Anh căng mắt nhìn vào tủ bày đồng hồ nhưng tất cả thính giác, đều tập trung vào vị khách kẹp ví da ở nách, và thấy thời gian dài bất tận. Qua gương trong tủ bày hàng mẫu, trung úy Hoàng Phê nhìn thấy người khách trả tiền rồi đi ra. Trung úy đi theo sau. - Anh mua loại đồng hồ gì thế? - Cá sấu. - Bao nhiêu tiền một chiếc? - Xem giá trên bảng ghi ấy. - Anh xem cho tôi được không? Khách hàng đưa đồng hồ cho trung úy. Hoàng Phê vừa cầm đồng hồ vừa xem chỉ tay vào chiếc đồng hồ Pon-jốt trên tay người khách. - Anh có bán chiếc đồng hồ cũ kia không? - Có. - Bao nhiêu tiền? - Được giá thì bán. Người khách tháo đồng hồ đưa cho trung úy. - Xem đi! Mười lăm nghìn đấy! Trung úy nhìn kỹ mặt số, rồi lại phía sau, thầm nghĩ: Nó cũng bình thường như những chiếc đồng hồ khác mà bên trong lại là chiếc máy ghi âm. Bọn địch xảo quyệt thật. Anh nhìn thẳng vào mặt PK.12. - Đồng hồ quá cũ! Mười ngàn thôi. - Cũng được. Trung úy rút một tập giấy bạc NĂM TRĂM ĐỔNG đưa cho PK.12. - Trong đó có chỉ thị của Mếch-cơ đấy! PK12 đưa tay cầm tiền cố giữ vẻ hoàn toàn yên tâm và tin tưởng, mặc dù các dây thần kinh trong đầu đã căng đến cao độ. Nhận tiền xong hắn định bước đi nhưng bàn tay rắn chắc của trung uy đã kịp thời bóp chặt tay hắn tê dại. Biết chống cự lại cũng vô ích, PK.12 đứng im nhìn những người từ phía trước, bên phải, bên trái tiến đến đẩy hắn lên chiếc xe ô tô đứng cách xa khoảng dăm mét. Trên đường, dòng xe ô tô, xe máy vẫn nối đuôi nhau chạy như cuộc sống tháng ngày nó vẫn có. Tiêu đề: Re: Đứa con lạc mẹ Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Hai, 2020, 09:19:36 pm Đôi điều về [/size]ĐỨA CON LẠC ME Việt Nam là một trong số nước trên thế giới có số người sống xa Tổ quốc nhiều nhất. Sự ra đi của một bộ phận người Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa chấm dứt bởi vô vàn lý do. Ngược lại có nhiều người từ nhiều chân trời góc bể trở về nước bởi những nguyên nhân rất khác nhau. Đây là một thực tế không thể lãng quên làm bật lên nhiều vấn đề xã hội nhức nhối. Nhưng có một điều này là hiển nhiên nếu ai đã từng sông ở nước ngoài đều cảm thấy rõ con người phải có quê hương. Và mặc dù cho quê hương của ta hôm nay còn đói nghèo, còn quặn mình đi lên thì cũng không dễ gì từ bỏ, giống như đứa con không bao giờ có thể từ bỏ mẹ mình. "Quê hương mỗi người chỉ một. Như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người". Viết Đứa con lạc mẹ, Trần Diễn muốn gửi đến chúng ta tâm sự trên thông qua câu chuyện tình éo le, thăng trầm của Sơn và Thu Nguyệt. Thu Nguyệt có mười lăm năm lưu lạc nơi đất khách quê người, ngang với nỗi đoạn trường của nàng Kiều. Nhưng cô Kiều lưu lạc vì hiếu, còn Thu Nguyệt lưu lạc vì tình. Ai đáng khen và ai đáng chê? Hãy theo dõi số phận của hai nhân vật chính chúng ta sẽ tìm được câu trả lời. Sau khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa, Thu Nguyệt được điều vào chiến trường, phiên chế vào đơn vị của Sơn - lúc này phụ trách một trạm xăng trên tuyến 559. Đó là vào thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất. Nhưng chiến tranh không ngăn cản được tình yêu. Họ đã gắn bó, hòa quyện, trao gửi cho nhau. Và giọt máu của Sơn đã để lại trong Nguyệt. Rồi cả hai bị địch bắt trong một lần làm nhiệm vụ. Thoạt tiên họ vững vàng. Nhưng kẻ địch thì tàn bạo, lắm mưu ma chước quỷ. Chúng đánh vào lòng ham sống sợ chết - một bản năng sinh tồn của con người. Trong một lúc yếu mềm, trước cái chết kề bên và một bên là tình yêu và đứa con tương lai... Sơn đã đầu hàng - nhận làm việc cho C.I.A. Trong hành vi này của Sơn, Thu Nguyệt có lỗi, chính chị thúc đẩy anh đi nhanh hơn tới sự phản bội. Rồi Sơn được thả về đơn vị cũ qua một màn kịch khéo léo mà kẻ địch dựng nên với âm mưu gài Sơn vào nội bộ ta để "chui sâu leo cao". Rồi chiến tranh vào thời điếm chót - tán loạn và chia ly. Nghĩ đến tội lỗi của minh, Thu Nguyệt bỏ sang Nhật. Mười lăm năm trên đất Nhật, sinh con và nuôi con khôn lớn, nhưng lòng chị không nguôi ngoai nhớ quê hương, người yêu, khao khát đoàn tụ, chuộc tội... Chị quyết định mang Nguyệt Nga trở về nước. Nhưng chị nào có thoát khỏi bàn tay của C.I.A. Muốn có điều kiện để mẹ con cùng về nước, chị buộc phải đồng ý hợp tác làm việc cho chúng. Rồi chị gặp lại Sơn. Sung sướng, đau khổ và ân hận. Rồi họ dắt nhau đến cơ quan pháp luật đầu thú. Hơn thế họ còn tham gia vào chuyên án của An ninh Việt Nam đánh trả lại kế hoạch thâm độc của kẻ thù. Cảu chuyện là như vậy! Dĩ nhiên tiểu thuyết đọc hấp dẫn bởi tính chất ly kỳ của cốt truyện, tình tiết nhiều kịch tính của thế loại trinh thám. Nhưng "Trinh thám" và "Tâm lý xã hội" đan quyện vào nhau, đây chính là ưu điểm của tác phẩm. Cái phần hấp dẫn của truyện trinh thám tôi không muốn bàn thêm, cái chính là con người, số phận của nó, những vấn đề mà tác phẩm đặt ra. Con người có số phận? Có! Số phận không phải là chuyện "vớ vẩn" "duy tâm", và kiêng kỵ nói tới như một thời ta đã nghĩ. Số phận không phải là một cái gì huyền bí, không thể giải thích được. Số phận là do tính cách quyết định, còn tính cách lại do hoàn cảnh tạo ra. Có lẽ tuân theo cái lôgich này mà tác giả rất chú ý, hay nói cách khác là đã miêu tả khá chân xác những hoàn cảnh đặc trưng quyết định số phận nhân vật. Về điều này Bônđarép đã viết rất chí lý: "Đúng thế, tất cả chúng ta đều là tù binh của hoàn cảnh. Và không một ai được tự do hết. Điều đó thật khủng khiếp, tuyệt vọng và hèn hạ... Nhưng trong cái đó cũng phái có một ý nghĩa hợp lẽ nào đó chứ". (Trò chơi, Trang 286). Hoàn cảnh dẫn Sơn và Nguyệt đến sai lầm thật tiêu biểu trong tính chất nghiệt ngã của nó. Còn phần "tái hồi Kim - Trọng" của Sơn và Thu Nguyệt ở cuối tiểu thuyết như là "Vi Thanh lạc quan" cần thiết để không đẩy hai người tới cái chết (tôi nghĩ nếu họ không gặp được nhau thì có lẽ Sơn sẽ tìm đến cái chết để giải thoát). Họ phải sống để mà nhớ lấy tội lỗi, phải sống để mà trả giá. Họ đáng lên án hay đáng cảm thông? Ở đây phải nói tới sự lựa chọn của mỗi người trong cuộc đời. Tiểu thuyết sẽ có tính chất nước đôi giữa "trinh thám" và "tâm lý xã hội" nếu tác giả chạy theo sự hấp dẫn của cốt truyện, tình tiết mà quên đi con người với những cảnh ngộ, tâm trạng tiêu biểu trên. Chương 1 và 5 viết hay theo tôi, ở đó người đọc quên đi mình đang đọc tiểu thuyết phản gián bởi lẽ nhân vật và hành động, hoàn cảnh và sự kiện đều tôn lên những vấn đề có ý nghĩa đạo đức, nhân sinh - vấn đề lương tâm, trách nhiệm của mỗi người lầm đường lạc lối... Cấu trúc của tiểu thuyết cũng bộc lộ rõ ý đồ của tác giả khi để phần một (Lưu lạc) dài gấp đôi phần hai (Trở về). Quãng đời đánh mất của hai người về thời gian vật lý, chưa phải là thật dài, nhưng ở một khía cạnh nào đó lại chiếm hầu như toàn bộ cuộc đời của họ. Còn hành vi "Trở về" như một tất yếu, nhưng không giản đơn mà đau đớn, rớm máu... Đây là cuốn sách thứ bảy của Trần Diễn (Theo lời ghi ở bìa bốn). Nhìn lại, truyện và tiếu thuyết của Trần Diễn đọc hấp dẫn. Sách của anh có độc giả, đây là điều đáng mừng trong tình hình hiện nay. Sự từng trải, lịch lãm trong cuộc đời và nghề nghiệp thể hiện rất rõ trên từng trang sách. Trần Diễn có một lối văn tự nhiên, ngòi bút dường như cứ tuôn trào bởi anh rung cảm trước tất cả những điều mình nghe được, thấy được. Những cái này đúng là chất liệu để anh xây dựng tác phẩm. Vì thế phần trực cảm trong văn anh rất rõ, nó là dấu ấn tươi nguyên của đời sống ùa vào, và nhiều khi vì thế không kịp gạn lọc, cô đúc và trau chuốt. Thấy rõ phần kỹ xảo ngôn từ còn chưa được gia công nhiều nên đôi chỗ sự giản dị dễ trở thành giản đơn. Dường như anh đang hối hả chạy đua với thời gian bởi vì anh sợ "về già còn sức đâu mà viết" - như điều anh nói trong sách này. Nhiệt tình ấy thật đáng quý. Hà Nội, tháng 12 năm 1992 Bùi Việt Thắng In theo Tác phẩm mới - Tạp chí sáng tác - lý luận phê bình hội nhà văn Việt Nam - số 2 -1993 HẾT |