|
Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:41:56 pm Tên sách: Chuyện người con Hồng Phước
Tác giả: Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Thể hiện: Nguyễn Sỹ Long Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân Năm xuất bản: 2012 Số hóa: macbupda (https://i.imgur.com/zMY74Xd.jpg) Lời giới thiệu Đồng chí Hồ Phúc Ngôn (tên khai sinh là Trần Văn Lượng) sinh ra và lớn lên trong một gia đình và quê hương giàu truyền thống cách mạng, có chị ruột là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Xiềng, tại phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương về sự hi sinh, lòng dũng cảm, một lòng tận trung với sự nghiệp cách mạng. Tham gia hoạt động cách mạng từ thuở niên thiếu, trong khó khăn gian khổ vẫn kiên gan bền chí đi theo bộ đội, đồng chí Hồ Phúc Ngôn đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau. Từ một chiến sĩ tự vệ trước cách mạng, hòa cùng đoàn cán bộ, nhân dân địa phương tham gia giành chính quyền, đến tháng 5 năm 1947 ông hăm hở lên đường gia nhập Đại đội dân quân xã Hòa Liên. Một thời gian sau, do yêu cầu nhiệm vụ, đại đội dân quân giải thể, ông không về lại quê hương mà cùng với hai người bạn khác khoác ba lô lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 68, thuộc Huyện đội Hòa Vang, Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng. Đặc biệt, họ lại được phân công về chiến đấu trên chiến trường tây bắc Hòa Vang, được sát cánh cùng Anh hùng Bùi Chát, người anh hùng chỉ huy đánh mìn năm xưa. Tuy nhiên, cuộc đời tham gia hoạt động cách mạng của người chiến sĩ kiên trung Hồ Phúc Ngôn chủ yếu gắn liền với lực lượng đặc công của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Điểm khởi đầu của chặng đường đầy gian khó mà anh dũng đó là vào khoảng cuối năm 1952 đầu 1953, khi đồng chí được cấp trên điều động về Đội Đặc công 11. Kể từ lúc đó, ông đã cùng đồng đội tham gia, tổ chức nhiều trận đánh lớn nhỏ làm cho kẻ thù khiếp sợ. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, ông hòa trong đoàn quân chiến thắng ra miền Bắc tập kết theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ với lời hẹn ước hai năm sau trở về. Nhưng Mỹ - Diệm bội ước phá hoại hiệp định, buộc lòng những người con ra đi năm ấy theo ánh sáng của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 trở về miền Nam chiến đấu. Đồng chí Hồ Phúc Ngôn tiếp tục được biên chế vào lực lượng đặc công của quê hương Quảng Nam-Đà Nẵng và chiến đấu cho đến năm 1972 chuyển sang làm Quận đội phó, rồi Quận đội trưởng quận Nhì, thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh cuộc đời binh nghiệp đầy vinh quang nhưng cũng lắm chông gai, đồng chí Hồ Phúc Ngôn còn có một cuộc đời riêng đặc biệt, thể hiện sự hi sinh to lớn của người chiến sĩ cách mạng. Người vợ đầu được mẹ cưới cho khi ông còn trên chiến khu. Vợ chồng gặp nhau vẻn vẹn khoảng 30 phút, rồi sau đó ông lên đường ra Bắc. Không ngờ bốn năm sau người vợ hiền ở quê đã không đợi ông về mà vội ra đi vĩnh viễn. Gác đau thương, Hồ Phúc Ngôn tiếp tục lao vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông cưới người vợ thứ hai. Đau đớn lại dội lên cuộc đời người cán bộ đặc công khi ông hay tin vợ đang có mang ba tháng trong một lần cùng chị em cứu thương đi mua lương thực về phục vụ thương binh đã bị địch phục kích sát hại. Một lúc hai vành tang trắng nhưng không gục ngã, Hồ Phúc Ngôn tham gia chiến đấu với nấc thang căm thù mới, góp phần cùng đồng chí, đồng đội làm nên những chiến công vang dội, được “trên tin, bạn mến, dân thương”. Và rồi, người con gái thứ ba đã đem đến cho ông niềm hạnh phúc được làm chồng, làm cha trọn vẹn. Những cống hiến, hi sinh của đồng chí Hồ Phúc Ngôn cho cách mạng thực sự là bài học quý báu cho thế hệ trẻ. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuốn hồi ký của ông. NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:43:03 pm CHƯƠNG MỘT MIỀN QUÊ KHÓI LỬA Tôi sinh ra tại Đa Phước, một ngôi làng nhỏ nằm về phía tây bắc thành phố Đà Nẵng. Sau này, một bộ phận của làng được gọi là thôn Hồng Phước. Trước đây, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làng tôi thuộc xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang. Bây giờ, mảnh đất nơi tôi “chôn nhau cắt rốn” đã trở thành một bộ phận của phường Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Ký ức của tuổi thơ tôi luôn gắn bó với hình ảnh các anh hùng: Đốc Thường, Đốc Am, Thống Hai... Họ là những người đã lãnh đạo nhân dân vùng tây bắc Hòa Vang và Đà Nẵng chống thực dân Pháp trong phong trào Nghĩa hội Quảng Nam. Theo lời các bậc cao niên, khi xưa, họ Lê là một trong những họ có công khai cư làng này. Đa Phước trước đây mang hình dáng giống như một cái rẻ quạt. Phía bắc của làng giáp với làng Trung Sơn, phía nam giáp với làng Đà Sơn, Khánh Sơn, phía đông giáp Bàu Tràm, phía tây giáp các làng Thanh Vinh, Vân Dương... Thuở trước, cư dân làng tôi chuyên nghề làm ruộng, lúc nông nhàn cũng có một bộ phận lên rừng đốn củi. Nhưng có theo “nghiệp tiều phu” hay lúc “chân lấm, tay bùn” thì cuộc sống của người dân quê tôi cũng thường xuyên lâm vào cảnh “ăn cơm vay, cày ruộng rẽ”. Thời bấy giờ, chính quyền Nam triều là tay sai của thực dân Pháp. Thông qua bộ máy này, chúng vơ vét, bóc lột thuộc địa để đưa về chính quốc. Tại các làng xã, quan lại, lí hào, địa chủ nhiều ruộng đất thực hiện phát canh thu tô nhằm đè nén, bóc lột nhân dân ta. Nông dân phải lãnh canh ruộng đất của địa chủ để cày cấy. Khi thu hoạch, tá điền nộp cho địa chủ hơn phân nửa số hoa lợi. Vì vậy, chuyện người nông dân có đủ cơm ăn ngày hai bữa nghe cứ như trong cổ tích. Cuộc sống của họ chỉ có cơm độn khoai “bữa đói, bữa no”. Gặp buổi trời đất nhiễu nhương nổi cơn thịnh nộ gây thiên tai, bão lụt thì người dân quê tôi, cả nông dân lẫn tiều phu lại lâm vào cảnh khốn khó, bần cùng. Nhằm san bớt gánh nặng cho gia đình trong việc kiếm “miếng cơm manh áo”, bọn trẻ con chúng tôi không được học hành mà phải đi giữ trâu cho nhà giàu. Song dẫu rằng cuộc sống cơ cực nhưng người dân quê tôi vẫn một lòng yêu quê hương đất nước, sẵn sàng tương trợ lẫn nhau khi tắt lửa tối đèn. Tôi mang dòng máu họ Trần. Theo phả hệ truyền lại thì nguyên tộc tôi di cư từ tộc Trần của huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, ra Đa Phước từ hàng trăm năm trước. Gia đình, họ tộc tôi đều nghèo khổ. Nhiều người phải suốt đời làm thuê, làm mướn... Tuổi thơ tôi vì thế nên cũng sớm phải nếm mùi cay đắng, tủi cực. Những địa danh như: Vũng Thùng, Nam Ô, Xuân Thiều, Cồn Dâu.v.v. luôn hằn sâu trong tâm trí, gắn liền với quãng đời đói khổ của tôi. Và cũng bởi nơi ấy đã sinh ra tôi, cho tôi chất hào sảng của con người xứ Quảng, nuôi dưỡng tôi từ một đứa trẻ đi giữ trâu cho nhà giàu trở thành một người cán bộ bộ đội đặc công. Khi tôi lớn lên, mẹ tôi vẫn thường nhắc lại, năm tôi sinh, tức năm 1930, thôn Hồng Phước nay thuộc phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, lâm vào cảnh đói kém khủng khiếp. Có không ít bận mẹ phải vạch vú cho tôi nhai tóp tép mà nước mắt rưng rưng. Mẹ đói, con không có sữa khóc ngằn ngặt. Hồi ấy, tên khai sinh của tôi là Trần Văn Lượng. Sau này tham gia hoạt động cách mạng, để đảm bảo bí mật tôi đã lấy bí danh là Hồ Phúc Ngôn. Gọi lâu thành quen, vì vậy ít người biết tôi còn có tên là Lượng. Cái tên Hồ Phúc Ngôn đã đi theo tôi suốt hơn hai mươi năm chống Mỹ, cứu nước nếm mật nằm gai suốt dặm dài đất nước. Thậm chí, đến khi Tổ quốc hòa bình, điều kiện công tác không còn phải giữ bí mật, tôi vẫn giữ nguyên tên Hồ Phúc Ngôn khi giao tiếp. Cha mẹ tôi sinh được bảy chị em, tôi là con thứ năm. Hồi ấy, không riêng gì gia đình tôi, mà có nhiều gia đình đông con, vì trong suy nghĩ của người nông dân lam lũ, người tiều phu cùng cực lúc bấy giờ, họ cho rằng càng đông con thì càng thêm người làm. Các bậc cha mẹ tảo tần “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” quanh năm vẫn không lo đủ cái ăn, cái mặc cho đàn con nheo nhóc. Bên cạnh đó, để khắc phục hậu quả do khủng hoảng kinh tế thế giới đem lại, thực dân Pháp tăng cường vơ vét tài nguyên thuộc địa đem về chính quốc. Nhân dân ta đã khốn khổ lại thêm phần cùng cực. Nhiều gia đình ở quê tôi không nuôi nổi con, buộc lòng cho con trẻ đi ở cho nhà giàu. Cha mẹ tôi cũng vậy, dù bốn mùa thắt lưng buộc bụng, “cơm trộn mồ hôi, canh chan nước mắt” vẫn không thoát khỏi cảnh nghèo. Mẹ tôi chạy chợ, mót lúa, mót khoai... quanh năm suốt tháng vẫn không tránh khỏi cảnh “đói cơm, lạt muối”, đành phải rứt ruột để con cái đi “ăn mày nhà người”. Cứ mỗi lần một người chị cắp nón ra đi, tôi lại ôm chân chị khóc đòi ở nhà với em. Mẹ tôi nuốt nước mắt, dỗ dành: “Con để chị đi ít hôm lại với con”. Nhưng không kịp đợi đến khi các chị trở về, lúc tôi lên sáu, bảy tuổi, cái đói lại xô đẩy cha mẹ cho tôi đi ở đợ giữ trâu cho nhà giàu để đỡ bớt miệng ăn cho gia đình. Từ đó, kỷ niệm tuổi thơ của tôi chỉ toàn đòn roi, đói rét, không học hành, không biết chữ... Tôi trở thành một đứa trẻ chăn trâu có cuộc sống quanh năm ăn sắn ăn khoai, bữa đói, bữa no. Cái đói khủng khiếp ngày ấy đeo đẳng tâm trí tôi suốt những năm hoạt động cách mạng. Mặc dù nhà tôi cách biển không xa, nhưng do địch bao vây, cấm vận, ngăn sông cấm chợ nên cảnh ít cơm, nhạt muối xảy ra thường xuyên. Địch càn quét, đốt nhà, cướp của, chém giết tù đày, đối xử phân biệt kẻ giàu người nghèo, bất công xã hội.v.v. diễn ra như cơm bữa. Có không ít lần tôi phải mò mẫm trong đêm đen, đi bộ qua xóm làng khoảng sáu đến bảy cây số ra bờ biển để múc nước về nấu ăn cho có vị mặn, vì nhà không có muối. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:44:38 pm CHƯƠNG HAI LÊN ĐƯỜNG THEO CÁCH MẠNG Tây bắc Hòa Vang là một vùng đất giàu tinh thần yêu nước và cách mạng. Nơi đây, trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, người dân quê tôi đã góp một phần không nhỏ trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, nhất là trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thời Pháp thuộc, dưới sự lãnh đạo của Hường Hiệu, nhất là hai viên tướng thuộc quyền của ông là An Nại và Thống Hai (tức Hồ Như Học), nhân dân tây bắc Hòa Vang đã anh dũng đứng lên hưởng ứng phong trào “Bình Tây sát tả”. Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, đất Hàn nói riêng và Quảng Nam nói chung, nhân dân đã không ngừng nổi dậy chống lại chúng như: Phong trào chống thuế năm 1908, phong trào khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân... Tiếc thay, tất cả các phong trào đó đã bị thực dân Pháp và bè lũ phong kiến Nam triều dìm trong biển máu. Có lẽ làng quê tôi vẫn tiếp tục ngập chìm trong đêm đen, chôn giấu bao nhiêu giấc mơ hoài bão đẹp của nhiều thế hệ nếu như phong trào cách mạng không lan đến vùng đất địa linh nhân kiệt này. Từ năm 1930, nhiều đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam của Thị ủy Tourane và Tỉnh ủy Quảng Nam đã tuyên truyền, hoạt động cách mạng tại tây bắc Hòa Vang. Trong đó, tại ngôi làng bé nhỏ của tôi có các ông: Trần Kim Bảng, Trần Đình Tri, Trần Công Tẩn... Chính họ đã gieo vào tâm trí non nớt của tôi và người dân quê tôi nhận thức rằng, chỉ có tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, cởi bỏ ách thống trị, tự giải phóng cho mình. Khi tội ác của chế độ thực dân còn chưa kịp xóa sạch vết máu thì phát xít Nhật lại kéo vào Hòa Vang và Đà Nẵng. Chúng tổ chức mở rộng sân bay, lập các kho quân nhu chứa gạo, xăng dầu, súng đạn tại núi Đà Sơn, Khánh Sơn, Phước Tường... Lúc bấy giờ, tôi cũng chưa nhận thức rõ về cách mạng. Xin nói thêm rằng tôi tuy nhỏ, nhưng rất thích hóng những chuyện các chú, các anh nói làm cách mạng là để giành độc lập dân tộc, đánh đuổi kẻ thù khỏi đất nước, xóa bỏ chế độ vua quan bóc lột... làm cho dân nghèo được sung sướng. Vì thế, tôi đã được các chú nói cho nghe về việc phát xít Nhật thực hiện chính sách ăn cướp thô bạo như thế nào. Đó là, chúng độc quyền thu mua bông vải và dầu phụng; bắt nông dân phải kê khai tích trồng bông, đậu phụng; khi thu hoạch bông, đậu phụng phải bán cho các “Liên đoàn” thu mua bông và dầu phụng (dầu lạc) của phát xít Nhật. Ngay tại thị trấn Nam Ô, phát xít Nhật đã cho xây dựng một xưởng ép dầu phụng. Ngoài ra, chúng còn tổ chức khai thác đá ở Xuân Dương. Bị bóc lột hết sức tàn bạo nên người dân quê tôi vô cùng căm thù bọn phát xít Nhật. Một hôm, nhân có chiếc tàu lửa chở đá chạy ngang qua Nam Ô, không hiểu vì sao làm cháy một xóm nhà ở ven đường tàu. Nhân cơ hội đó, nhân dân ở đây đã đấu tranh bãi công không khai thác đá cho bọn Nhật. Từ đó, chúng không dám khai thác đá ở Xuân Dương nữa. Mùa thu năm 1945, không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa sục sôi khắp vùng quê yên tĩnh dưới chân dãy núi Hải Vân. Các đội thanh, thiếu niên cứu quốc được giao nhiệm vụ bí mật luyện tập quân sự. Với lứa tuổi 14 hoặc 15, chúng tôi chỉ được biết ta sắp thực hiện một nhiệm vụ gì đó rất lớn, cần nhiều người tham gia chiến đấu. Lúc ấy, tôi mới gần 15 tuổi, chưa đủ điều kiện để tham gia lực lượng tự vệ nên tự nguyện tham gia lực lượng thanh thiếu niên cứu quốc của Đa Hòa, thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang. Do tự ý thức được trọng trách vinh quang của mình nên không chờ ai sai bảo mà tự tích cực tập luyện các nội dung gậy, giáo, mác... Thầy giáo chính là các anh cán bộ hoạt động bí mật mà hàng ngày tôi hay đưa thư hoặc chuyển tài liệu giúp. Nơi chúng tôi bí mật tập luyện là một khu rừng gần núi Hải Vân. Chiều ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam phát lệnh khởi nghĩa. Mặc dù một số nơi quân Nhật đầu hàng phe Đồng minh đã giải giáp vũ khí, nhưng địa bàn các xã cánh bắc Hòa Vang, chúng còn đóng ở Khánh Sơn, Đa Phước, Nam Ô, v.v. Vì vậy, việc đi lại truyền đạt mệnh lệnh của cán bộ Việt Minh trong vùng còn gặp khó khăn. Song với quyết tâm giành chiến thắng trong thời gian ngắn nhất, từ cán bộ đến giao liên, liên lạc, thanh thiếu niên... đã không ngại hiểm nguy đến từng nhà thông báo lệnh khởi nghĩa. Đúng 16 giờ ngày 16 tháng 8 năm 1945, hoạt động khởi nghĩa giành chính quyền ở quê tôi bắt đầu. Dưới sự chỉ huy của các cán bộ Việt Minh, lực lượng tự vệ chúng tôi tích cực chuẩn bị cờ, gậy cùng nhân dân trong vùng xuống đường đi cướp chính quyền. Đến sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, cuộc vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền ở quê tôi đã nổ ra đúng với kế hoạch xác định. Lực lượng tự vệ, thanh thiếu niên cứu quốc với trang bị gậy gộc, giáo mác làm nòng cốt cho toàn dân tham gia khởi nghĩa. Mọi người hô vang quyết tâm chiến đấu: “Thề đem xương máu, quyết hy sinh để giành độc lập. Đánh Pháp, đuổi Nhật, cướp chính quyền về tay nhân dân”... Lý trưởng ở các làng đều run sợ trước khí thế cách mạng của nhân dân, vội bàn giao ấn, triện, sổ sách cho chính quyền cách mạng. Sau khi giành chính quyền thành công tại các tổng của Hòa Vang, trong khí thế hào hùng của ngày khởi nghĩa, tôi hăm hở đi trong đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng từ tổng Đa Hòa kéo xuống sân vận động Chi Lăng, thành phố Đà Nẵng để dự mít tinh ra mắt của chính quyền cách mạng tại đây. Tôi còn nhớ, lúc bắt đầu đi, đoàn người có khoảng 600 người kể cả “nam phụ lão ấu”, dọc đường đi lần lượt bổ sung nhiều người dân các làng mà đoàn đi qua. Trên đường kéo xuống Đà Nẵng, chúng tôi không gặp một trở ngại nào từ phía tàn quân Nhật đang ở đây chờ ngày xuống tàu về nước. Dường như ý thức được giây phút trọng đại của dân tộc đã đến, kiếp người lầm than sắp được làm chủ đất nước nên đoàn người đi giành chính quyền mặc dù ngày càng đông, nhưng họ vẫn giữ hàng ngũ chỉnh tề, thể hiện uy phong của người chiến thắng. Đi trong đoàn, đôi lúc tôi nhìn xung quanh, song không còn thấy đâu ông nông dân, bà đốt than hay đứa trẻ giữ trâu thuê. Tất cả đều đã trở thành những người chủ đất nước. Lực lượng khởi nghĩa lần lượt đi qua các làng Trung Nghĩa, Hòa Mỹ, Phú Lộc, Khánh Sơn, Đa Phước, Xuân Thiều, Nam Ô, Vân Dương, Quan Nam... Dân ở các làng tham gia khởi nghĩa mỗi lúc một đông nên khi lên đến Quan Nam thì đã có trên 3 nghìn người đi trong đội hình. Không ai bảo ai, mọi người tự động đi vào hàng lối nghiêm chỉnh. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:45:28 pm Khởi nghĩa thắng lợi, một số đồng chí cán bộ về các làng tổ chức lực lượng tự vệ chiến đấu, thành lập các đoàn thể cứu quốc và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành phần. Mặc dù chính quyền đã thuộc về cách mạng, nhưng nạn đói vẫn lan tỏa trong các gia đình nông dân, tiều phu quê tôi. Hậu quả của nạn đói này do chính sách cai trị bắt dân bỏ lúa trồng bông, đậu phụng của phát xít Nhật để lại. Trước tình thế đó, lực lượng thanh niên tự vệ Phú Lộc, Quán Cơm đã tổ chức bốc đỡ số gạo thu được của quân Nhật phân phát một số cho nhân dân chống đói. Phần còn lại, các anh chở về kho làm quỹ phục vụ huấn luyện tự vệ.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trên cả nước nói chung, địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng càng chứng minh truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn gắn bó máu thịt với quê hương, dám hy sinh lợi ích riêng vì sự nghiệp chung của dân tộc của nhân dân các xã cánh Bắc Hòa Vang, trong đó có xã Hòa Khánh quê hương tôi. Đây cũng là một trong những địa danh được mệnh danh “Yết hầu của vùng Thuận Quảng”, “Địa thế rất hiểm yếu, một người giữ ngàn người khó giành lại” nên từ khi thực dân Pháp xâm lược đất nước ta, chúng đã bị chặn đứng trên đất quê tôi nhiều năm liền. Không ngờ niềm vui làm chủ đất nước của nhân dân ta chưa được bao lâu thì thực dân Pháp viện cớ vào Việt Nam tham gia giải giáp quân Nhật để thực hiện âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Quyết không chịu làm nô lệ, nhân dân Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Giống như những thanh thiếu niên yêu nước lúc bấy giờ, tôi tiếp tục tham gia đội du kích và tự vệ chiến đấu của địa phương thôn Hồng Phước, xã Đa Hòa (tức Hòa Khánh, Hòa Vang, Đà Nẵng). Nhiệm vụ chủ yếu của đội du kích chúng tôi lúc ấy là cảnh giới bám địch, đánh mìn, khiêng thương binh, tải đạn, phục vụ cho Tiểu đoàn 19 thuộc Trung đoàn 96 Đà Nẵng trên chiến trường tây bắc Hòa Vang. Còn nhớ, trước sự gây hấn của thực dân Pháp tại Nam Bộ, với tinh thần yêu nước, người dân quê tôi thường xuống đường biểu tình phản đối quân xâm lược và nêu cao tinh thần quyết chiến chống thực dân Pháp. Có lần trong một đoàn biểu tình gần 3 nghìn người dân tây bắc Hòa Vang, trên đường đi, một đồng chí cán bộ hô vang khẩu hiệu: “Trước giặc nước nên hòa hay chiến?”. Ngay lập tức có nhiều tiếng đáp lại đồng thanh làm vang động cả một vùng: “Quyết chiến!”. Đồng chí cán bộ hỏi tiếp: - Thế nước yếu lấy gì ra chiến chinh? - Hy sinh! Tiếng hô như áp đảo quân thù, càng làm cho khí thế cách mạng trào dâng như bão táp. Tháng 5 năm 1947, theo tiếng gọi của tổ chức Đảng xã Hòa Liên, tôi thoát ly gia đình, địa phương để tham gia thành lập Đại đội dân quân tập trung. Hôm tôi lên đường, mẹ tôi gói ghém đồ đạc trong một chiếc túi vải gồm một chiếc quần đùi, một cái áo cánh và một ống muối rang. Vai vắt chéo chiếc ruột nghé gạo, lưng đeo túi vải, tôi đi bộ lên chiến khu Hòa Trung tập trung để tham gia thành lập đại đội dân quân. Quân số đơn vị gồm 150 người, được biên chế thành 3 trung đội. Đại đội đảm nhiệm chiến đấu ở ba khu vực là Hòa Trung, Trường Định và đèo Hải Vân. Mỗi địa điểm trên là một trung đội đứng chân. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là đánh địch giữ làng, bám dân, bám đất, bảo vệ chính quyền mặt trận. Đồng thời, đơn vị phải tự túc lương thực đảm bảo phục vụ chiến đấu lâu dài. Mặc dù quân số đông, biên chế thành đại đội dân quân, nhưng trang bị vũ khí của đơn vị khá thô sơ. Toàn đại đội có 3 khẩu súng tiểu liên, 6 súng trường; còn lại là dao, mã tấu, thân cây cau già vót sắc và mác nhọn. Ban chỉ huy đại đội lúc ấy gồm có 3 đồng chí là: Võ Bá Cừ, Lê Phúc Ánh và Mai Tân Cơ. Đến nay tuy đã hơn sáu mươi năm trôi qua, nhưng tôi không thể nào quên trận đầu ra quân đánh phục kích đoạn đường xe lửa ở bắc hầm số 1, nam hầm số 2 phía đông nam đèo Hải Vân (hiện nay là thôn Hòa Vân, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) tiêu diệt gọn một đại đội lính Lê dương, thu toàn bộ vũ khí và trang bị luôn cho đại đội dân quân. Trong trận này, tôi được phân công làm tiểu đội trưởng dân quân đánh chặn đầu. Chúng tôi xuất phát từ Trường Định, hành quân ra đèo Hải Vân. Bây giờ, đoạn đường này đã được mở rộng đi lại dễ dàng. Nhưng lúc ấy, chỉ với khoảng cách dưới 10 cây số, anh em chúng tôi phải lội qua nhiều con suối, gặp gấu, cọp, trâu rừng... là chuyện bình thường. Khi đi một mình nếu ta không cẩn thận, khéo léo xử trí thì dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho các loại ác thú này. Còn khi gặp đoàn quân đi đông thường là chúng chạy trốn, cũng có con ngồi giương mắt nhìn một lúc rồi mới chịu vẫy đuôi bỏ đi. Đường hành quân xuyên sơn, dây leo chằng chịt. Chúng tôi phải vạch dây rừng mà đi, nếu gặp các cây cổ thụ thì vòng tránh. Đơn vị dừng lại tại suối Khe Lạnh (gần hầm Hải Vân bây giờ) để bổ sung và nhắc lại nhiệm vụ, sau đó băng qua đồi Nấm Chiên, xuống đường 1A, vượt qua cầu Rô-giê, xuống đường sắt là đến vị trí phục kích tại làng Sứng (tức làng Hòa Vân ngày nay) gần vịnh Đà Nẵng. Tôi được phân công nhiệm vụ dẫn quân đi trước, hành quân tới đâu thì triển khai nhiệm vụ tới đó. Gần 11 giờ trưa ngày 25 tháng 5 năm 1947, địch đi tuần từ hầm số 2 vào hầm số 1. Chúng tôi triển khai đội hình chiến đấu nằm sát đường ray, cách địch từ 3 đến 5 mét. Đúng 11 giờ, địch lọt vào đội hình phục kích của ta. Tôi ra lệnh cho anh em nổ súng chặn địch. Nói nổ súng cho nó oai chứ vũ khí của ta lúc đó mỗi trung đội chỉ có 1 khẩu tiểu liên, còn lại là lựu đạn, mã tấu, kiếm, lao cau... Vì thế, khi nghe hiệu lệnh chiến đấu, chủ yếu là anh em ném lựu đạn rồi dùng lao cau lao vào đâm lính địch. Địch cuống cuồng phản ứng dữ dội. Các bộ phận chính diện, khóa đuôi của ta nhanh chóng xung phong đánh giáp lá cà với địch quyết liệt, ở mũi chặn đầu, tôi hô: “Xung phong!” và sử dụng tiểu liên diệt ngay mấy tên đi đầu. Ngay lập tức, anh em ném lựu đạn tới tấp vào đội hình địch và nhảy ra đánh. Nhiều tên lính khiếp đảm, la ó trước mũi lao cau của chúng tôi. Sau khoảng 10 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, thu vũ khí. Trong điều kiện hành quân khó khăn, lương thực phải tự túc nên chúng tôi không bắt tù binh mà chỉ giáo dục rồi thả cho về. Bên ta có một đồng chí bị thương và một hi sinh. Tôi tiếp tục dẫn đội hình lui quân, chạy về hầm số 1, vượt lên quốc lộ 1A, băng qua Nấm Chiên về Khe Lạnh rồi trú quân tại đó để củng cố đội hình trước khi hành quân về căn cứ. Trận thắng đó đã củng cố lòng tin của nhân dân địa phương về lực lượng tại chỗ, động viên kịp thời tinh thần quân sĩ. Kết quả trận đánh vượt ngoài sự mong đợi khi địch thất bại nặng nề, còn ta thương vong ít. Nhận được tin chiến thắng, Đảng bộ và nhân dân Hòa Liên vô cùng phấn khởi, đã tổ chức liên hoan mừng chiến thắng trận đầu của Đại đội dân quân tập trung. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:46:50 pm Giành được thắng lợi lớn ngay từ trận đầu, lòng tin về ngày chiến thắng trong lòng chúng tôi, những thanh niên áo vải chân đất lần đầu được cầm súng đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương ngày càng lớn lên. Phương châm lấy vũ khí địch để đánh địch được Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên áp dụng triệt để, nhanh chóng. Chúng tôi đã dùng ngay những khẩu súng trung liên, tiểu liên thu được tổ chức huấn luyện ngay sau đó. Trước khi có chiến thắng này, đơn vị chúng tôi huấn luyện quân sự chủ yếu là lý thuyết, vũ khí vận dụng cơ bản là gậy. Do đó, khi cầm súng đánh giặc có đồng chí còn lúng túng, thậm chí lúc đầu còn giật mình khi nghe đạn nổ vì chưa quen cảm giác. Trận phục kích đại đội Lê dương giành thắng lợi trọn vẹn còn là liều thuốc quý giá khích lệ chúng tôi trong thực hiện các trận đánh tiếp theo.
Thời gian công tác tại Đại đội dân quân tập trung tuy không dài, nhưng đối với tôi đó là một quãng đời đầy ý nghĩa. Bây giờ đã bước sang ngưỡng cửa của những năm cuối cuộc đời, tôi càng thấy tự hào cho tuổi trẻ của mình nói riêng, một thế hệ của thanh niên Việt Nam nói chung. Đầu năm 1949, nhận được thông báo của cấp trên trong thời gian tới sẽ có một đoàn xe và tàu hỏa của thực dân Pháp chở hàng hóa phục vụ chiến tranh chạy từ phía nam ra, đại đội dân quân có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội chủ lực tổ chức ngăn chặn không để chúng cung cấp hậu cần cho địch ở chiến trường Bình - Trị - Thiên. Mọi người tích cực chuẩn bị. Lúc này, dù ta đã lấy được vũ khí của địch, nhưng so với biên chế vẫn còn thiếu nhiều. Vì thế, ban chỉ huy đơn vị phải nghiên cứu bố trí lực lượng sao cho phát huy tối đa hiệu quả của xung lực và các loại trang bị. Một trong những trận đánh của đơn vị dân quân non trẻ để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc là trận phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 108, bộ đội chủ lực của Liên khu 5, phục kích tiêu diệt gọn đoàn xe và đoàn tàu ngay trên đèo Hải Vân vào ngày 24 tháng 1 năm 1949, một trận đánh được đánh giá là thắng lợi to lớn nhất của chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến dịch Đông Xuân năm 1949. Tham gia trận này, tôi làm tổ viên có nhiệm vụ khiêng quả mìn được làm từ vỏ quả đạn 155mm thu được của địch cải tiến lại, ra phục kích trên đường đèo Hải Vân. Do quả “mìn vỏ đạn” nặng khoảng 50 cân nên phải hai người khiêng mới ra được vị trí tập kết. Chúng tôi chỉ việc bàn giao xong là về ngay vị trí cảnh giới cách chỗ bố trí mìn khoảng 100 mét, còn kỹ thuật đặt mìn đã có đồng chí Bùi Chát đảm nhiệm. Theo kế hoạch, ta sẽ đặt mìn ở phía bắc cầu Bãi Cả. Mìn nổ, tổ chức lui quân theo quốc lộ, vượt qua cầu Trắng về vị trí tập kết đỉnh đèo Hải Vân. Tôi là người địa phương thông thuộc địa hình nên được chọn đi khiêng mìn và cảnh giới địch. Tất cả mọi hoạt động đều đặt dưới sự chỉ huy của đồng chí Bùi Chát. Khoảng 6 giờ sáng ngày 24 tháng 1 năm 1949, đoàn tàu hỏa từ Đà Nẵng ra Huế kéo còi, vừa chui ra khỏi hầm số 2 thì đoàn ô tô của địch cũng chuyển bánh qua phà Nam Ô. Ngay lập tức, bộ đội chủ lực của ta, do đồng chí Giáp Văn Cương chỉ huy, dùng súng máy khai hỏa tiến công tiêu diệt đoàn xe của địch. Buổi trưa cùng ngày, quân ta tiếp tục chặn đánh tiếp một đoàn xe khác gồm 12 chiếc từ Huế vào Đà Nẵng tiếp viện. Điên cuồng trước thảm bại cay đắng, thực dân Pháp điều động một lực lượng hùng hậu với quân số khoảng 8 tiểu đoàn, tổ chức rải quân từ Eo Ngựa đến Mũi Trâu và dọc theo hữu ngạn sông Trường Định nhằm bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Ngoài ra, chúng còn thu hết ghe thuyền, ngăn cấm nhân dân qua sông tiếp tế. Trước tình thế đó, chúng tôi được lệnh rút quân qua sông Trường Định, về ở giữa lòng dân. Một thời gian sau, khi tình hình bớt căng thẳng, đơn vị chúng tôi tiếp tục tổ chức học tập chiến thuật, rút kinh nghiệm đánh phục kích của Trung đoàn 108 tại đèo Hải Vân để áp dụng cho các trận đánh sau. Ngày 12 tháng 8 năm 1950, đơn vị đã phục kích đoạn đường đèo Eo Gió từ đồn Quan Nam đi lên đồn Phò Nam diệt gọn một trung đội lính Âu - Phi, thu toàn bộ vũ khí. Bên cạnh nhiệm vụ đánh phục kích, gây rối sau lưng địch, phối hợp với bộ đội chủ lực..., Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên còn được bổ sung nhiệm vụ tổ chức đánh mìn trên tuyến quốc lộ 1A và đường xe lửa Đà Nẵng - Huế. Những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), làng tôi nói riêng và tây bắc Hòa Vang nói chung đã trở thành một chiến trường ác liệt. Tại đây, thực dân Pháp thực hiện chính sách “tam quang”, nghĩa là phá sạch, đốt sạch và giết sạch. Tội ác của bò lũ thực dân xâm lược gây ra cho người dân quê tôi dậy lên ngút trời. Chỉ tính riêng thôn Trường Định nằm bên bờ bắc sông Cu Đê trước kháng chiến có đến 5.000 người dân, nhưng đến cuối năm 1948 chỉ còn 800 người. Tiếng khóc than ai oán lan tỏa khắp mọi nhà. Thậm chí, có nơi người chết, xương chất thành đống như An Châu, Đông Vinh. Do đặc điểm địa lý quê tôi thuận tiện cho giao thông đường thủy, điều kiện rừng núi dễ biến thành nơi bố trí lực lượng của ta để tấn công vào sào huyệt địch nên thực dân Pháp đã chú trọng bố phòng nghiêm ngặt, hệ thống đồn bốt dày đặc. Ngay tại xã Hòa Liên, nằm sát chân đèo Hải Vân, địch đã xây dựng 12 đồn và tháp canh. Vì thế, có thời điểm số lượng địch tập trung tại đây còn nhiều hơn cả số dân địa phương. Sau nhiều lần thất bại do cách đánh du kích của ta, địch điên cuồng khủng bố, càn quét nhằm trấn áp, đe dọa nhân dân, nhưng đều vô hiệu. Vì thế, để ngăn chặn sự tiếp tế lương thực, thực phẩm của nhân dân đối với lực lượng du kích nên cuối năm 1949 đầu năm 1950, chúng tăng cường bố trí đồn, bốt dày đặc trên địa bàn các xã cánh bắc Hòa Vang như các đồn: Quan Nam, Gò Đa, Ông Tự, Phò Nam, Tùng Sơn, An Ngãi, Thủy Tú, Liên Chiểu, Hải Vân, Hòa Mỹ,v.v. Thế nhưng thực tế đã diễn ra trái với mong muốn, sự tính toán của địch. Đại đội dân quân tập trung của xã Hòa Liên không những không yếu đi mà ngày càng mạnh thêm, càng lập nhiều chiến công hơn. Trong đó, điển hình là trận phục kích chặn đánh lính Pháp đi càn vào thôn Trường Định. Bộ binh địch có ca nô và xe lội nước yểm trợ đã tổ chức hành quân càn quét như vào chỗ không người. Chúng tin rằng với vũ khí thô sơ, quân số ít, lực lượng dân quân tập trung sẽ không dám đánh lại một lực lượng mạnh có hỏa lực hùng hậu yểm trợ. Có lẽ suy nghĩ như vậy đã khiến địch chủ quan nên đã rơi vào trận địa phục kích của ta. Lúc đó, tôi làm tiểu đội trưởng có nhiệm vụ chống càn bảo vệ dân, đánh địch giữ làng. Sau khi nắm vững tình hình địch, yêu cầu nhiệm vụ, phương án chiến đấu, tôi chỉ huy anh em ra phục kích tại bờ sông Trường Định. Trước đó, đơn vị đã tổ chức đào chiến hào ở bờ sông. Vì thế, khi ta báo động địch từ dưới Nam Ô lên, dân quân nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu thành ba bộ phận. Tiểu đội do tôi chỉ huy làm nhiệm vụ đánh chặn đầu để cho các bộ phận khác tiến công. Ca nô của địch chạy sát bờ. Chờ cho chúng cách trận địa phục kích khoảng ba chục mét, tôi nổ phát súng đầu tiên khai hỏa cho trận đánh. Bị bất ngờ, bọn lính trên ca nô bắn loạn xạ vào dọc bờ sông Trường Định. Nhưng mục tiêu của ta thì nằm phơi trên dòng nước, còn mục tiêu của chúng thoắt ẩn, thoắt hiện nên việc thất bại của địch là không tránh khỏi. Trước sự tấn công mãnh liệt, bất ngờ của lực lượng dân quân, bọn lính hoảng loạn nhảy ào xuống sông. Trước tình huống có thể nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ đội hình của chúng, tôi ra lệnh cho anh em bám đánh liên tục, không lui quân như đã dự kiến. Kết quả trận đánh, dân quân xã Hòa Liên đã bắn chìm một chiếc ca nô và 2 xe tăng lội nước, diệt hơn chục tên lính địch, đồng nghĩa với việc chính thức bẻ gãy cuộc càn trên dòng sông Cu Đê và thôn Trường Định. Phấn khởi trong niềm vui chiến thắng, tâm hồn thi sĩ của tôi bỗng chốc vút lên ý thơ mộc mạc: “Dòng sông Trường Định xanh rì/Nhiều tên lính Pháp có đi không về”. Ngoài những trận đánh có tính chất độc lập trên, trong các năm từ 1949 đến 1952, đơn vị chúng tôi còn phối hợp với bộ đội công binh Liên khu 5, do đồng chí Bùi Chát phụ trách, liên tục đánh mìn trên đèo Hải Vân khiến nhiều đoàn tàu quân sự của Pháp lật nhào xuống biển, diệt hàng trăm tên lính địch. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:48:05 pm Hồi tôi công tác tại Đại đội dân quân tập trung, đánh địch là điều bình thường, nhưng chuyện “đánh hổ” trong chuyến đưa thư vào vùng địch dịp đầu tháng 2 năm 1952 đã khắc ghi trong tâm trí tôi như một nỗi ám ảnh. Vì đó là lần đụng chúa sơn lâm, là lần thử thách cân não đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi. Hồi ấy, tôi được lãnh đạo xã Hòa Liên chọn làm liên lạc. Khoảng 5 giờ chiều một ngày đầu tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, Phó Bí thư Đảng ủy xã Hà Thúc Dư gọi tôi lên nhận nhiệm vụ khẩn cấp. Anh Dư trao cho tôi mảnh giấy và bảo: Phải chuyển ngay lá thư hỏa tốc này xuống đồng bằng, đưa cho các đồng chí Lê Phúc Ánh, Lê Thị Xa, Ngô Văn Lưu..., là cán bộ lãnh đạo đang hoạt động trong vùng địch. Sau đó, tôi và mọi người phải trở về ngay trong đêm để chuyển cơ quan nơi khác. Vì ngày mai địch sẽ càn lên căn cứ. Đoạn đường từ cơ quan xuống đồng bằng khoảng 10 cây số đường rừng hiểm trở. Tôi nhận nhiệm vụ xong, về chuẩn bị lên đường. Đồ đạc tôi mang theo, ngoài lá thư mật ra còn có 2 quả lựu đạn dập do quân giới Quân khu 5 chế tạo để chiến đấu khi gặp địch. Khi đến đèo Mỹ Sơn, thuộc xã Hòa Liên, thì trời nhá nhem tối, linh tính mách bảo tôi rằng: sẽ có điều chẳng lành đang chờ tôi ở phía trước. Tôi vừa đi, vừa quan sát mọi động tĩnh xung quanh. Đoạn đường này địch ít đi phục kích, nhưng cũng không được chủ quan. Nhưng chắc chắn một điều là cọp rất nhiều. Không riêng gì địch, bộ đội ta cũng đã nhiều người bị cọp vồ. Có lẽ bởi lý do sợ dụng chúa sơn lâm nên địch ít khi dám phục kích trên con đường này. Đúng là cha ông ta nói cấm có sai “nhắc đến ma thì ma xuất hiện”. Tôi vừa nghĩ đến vị chúa tể rừng xanh thì từ khoảng rừng phía trước mặt một con cọp dữ tợn nhảy ra. Nó ra oai, hùng hổ gầm thét và đi trước tôi khoảng 8 đến 10 mét. Con hổ vừa đi, vừa ngó lại, nhăn nanh, ngoắt đuôi ra vẻ mừng rỡ. Chắc nó cho rằng sắp bắt được con mồi ngon. Thực tình mà nói, lúc ấy tôi cũng sợ ông ba mươi bất ngờ quay lại tặng cho một cái tát. Tôi vẫn bình tĩnh đi theo, trong đầu tìm cách đối phó. Hai bên đường cây cối rậm rạp, tôi có muốn đi vòng cũng không được. Nếu bỏ chạy thì nó đuổi theo ăn thịt ngay. Tôi đã từng nghe ba tôi, ông nội tôi truyền lại, khi đi rừng gặp hổ thì tuyệt đối không được chạy. Vì mình chạy nó biết mình sợ sẽ vồ liền. Ngược lại, cứ bình tĩnh đi, cọp sẽ không dám làm gì, vì nó cũng sợ người. Đầu óc tôi lúc ấy rối bời. Tôi thầm nghĩ: “Tính mạng mình đã trong thế nghìn cân treo trên sợi tóc. Đi cũng chết mà không đi cũng chết. Nếu trở về lại cơ quan thì bị kỷ luật vì không hoàn thành nhiệm vụ. Ngày mai quân Pháp tấn công lên căn cứ, không đánh được địch ta sẽ tổn thất hy sinh, lương thực tài liệu bị mất hết”. Một cuộc đấu trí hết sức căng thẳng diễn ra trong đầu tôi: “Mình đi chiến đấu có đồng đội, hy sinh bị thương có người báo tin cho gia đình, cha mẹ, anh chị em được biết... Lần này cọp bắt ăn thịt mình không còn chút xương”. Chân tôi bước theo con hổ mà đầu óc như muốn nổ tung để tìm cách đối phó với tình huống bất ngờ này. Đến địa thế có lợi, con cọp nhảy lên vách, ngồi cách mép đường đi gần 2 mét, gầm thét oai vệ. Tôi đứng lại nhìn nó. Bốn con mắt gặp nhau ánh lên như thách thức. Quan sát biết đã đến lúc nó chuẩn bị bắt mồi, tôi nhanh chóng móc lựu đạn ra khỏi túi, rút chốt an toàn, đập xuống đường nghe nổ cái “tắc”, rồi ném ngay đến chỗ con cọp đang chồm hỗm. Chúa sơn lâm tưởng bị ném đá liền chụp trái lựu đạn, lót đít ngồi. 6 giây trôi qua, một tiếng nổ vang lên. Cọp thét một tiếng lao xuống hố, lại vướng thêm cái bẫy heo rừng, chết ngay tại chỗ. Thoát khỏi hiểm nguy trong gang tấc, tôi vội vàng chạy xuống vùng địch, rút cán bộ về kịp trong đêm. Đúng như kế hoạch ta nắm được, sáng hôm sau lính Pháp càn lên căn cứ. Chúng vấp phải bãi mìn của ta đã gây thương vong, phải co cụm lại. Lực lượng du kích của ta bố trí sẵn, xung phong chặn đánh khiến chúng phải tháo chạy về đồn. Tôi dẫn anh em đến chỗ con hổ bị đánh chết, kéo xác nó lên khênh về, róc xương nấu cao, đem xuống đồng bằng đổi gạo, muối. Cần nói thêm rằng, trong những năm đầu kháng chiến, vùng núi tây bắc Hòa Vang cọp rất nhiều. Các địa danh như khe Lỗ Trào, Cao Sơn, An Lộc, Đồng Hầu, Ba Viên,... cọp thường xuyên xuống bắt trâu bò của dân, đe dọa tính mạng con người.
Năm 1952, lãnh đạo huyện Hòa Vang và xã Hòa Liên có chủ trương giải tán Đại đội dân quân tập trung. Cán bộ, chiến sĩ về lại thôn, xã sống với gia đình, làm nòng cốt lãnh đạo phong trào quần chúng ở địa phương. Tuy nhiên, sau vài năm một số anh em bị địch phát hiện bắt bỏ tù, hoặc đưa đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng. Theo tôi được biết, nguyên nhân khiến huyện, xã có chủ trương trên là do cuộc kháng chiến ác liệt kéo dài, kinh tế khó khăn không đủ cung cấp lương thực cho lực lượng vũ trang địa phương. Mặt khác, địch tăng cường bao vây cấm vận, càn quét, lấn chiếm, đóng đồn bót, ngăn chặn Việt Minh trụ bám trong dân. Trong khi đó, ở chiến trường tây bắc Hòa Vang có hai vùng rõ rệt là đồng bằng trung du và miền núi nên việc tự túc lương thực đối với nhân dân còn khó khăn. Vì thế, những năm đầu kháng chiến, phong trào cách mạng càng gặp muôn vàn khó khăn. Cán bộ thoát ly, bộ đội, dân quân đều phải tự túc lương thực, súng đạn, trụ bám trong dân, vừa ăn vừa đánh giặc giữ làng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở quê tôi vẫn được giữ vững và phát triển toàn diện. Thời điểm giải tán Đại đội dân quân tập trung đã trở thành cột mốc đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi. Mặc dù không muốn, nhưng gần 150 anh em vẫn phải trở về với gia đình, tham gia gây dựng phong trào tại địa phương. Lúc ấy, còn lại ba anh em chúng tôi là Hồ Phúc Ngôn, Đồng Như Bớt và Mai Tấn Khuông tự nguyện mang khăn gói thoát ly, chứ không trở về với gia đình, địa phương. Đảng ủy xã Hòa Liên nhất trí cho chúng tôi đi bộ đội. Đại đội dân quân chính thức chia hai với tỷ lệ 3/147. Chúng tôi ôm nhau tạm biệt, dùng dằng kẻ đi người ở lại. Xen lẫn những cái bắt tay rất chặt, ánh mắt rực cháy niềm tin, có không ít giọt nước mắt phân ly. Dù không nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng: Chiến tranh còn dài, để đến ngày thắng lợi hoàn toàn thì sự hi sinh mất mát là điều không tránh khỏi. Không riêng gì 3 người ra đi, liệu 147 người trở về sẽ ai còn ai mất trên chặng đường vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Đối với tôi, sự kiện này cũng coi như chấm dứt thời kỳ tham gia lực lượng quân sự địa phương. Ngày mùng 1 tháng 6 năm 1952, ba anh em chúng tôi được biên chế vào Đại đội 68 thuộc huyện đội Hòa Vang, tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng. Tôi không ngờ mình được phân công về lại chiến trường tây bắc Hòa Vang và hoạt động tại xã Hòa Liên, ở trung đội anh Lan, anh Bá và đồng chí Bùi Chát, người cán bộ công binh chỉ huy đánh mìn xe lửa đèo Hải Vân năm nào. Sống trong đơn vị mới với lối sống chính quy, nền nếp hơn, tôi đã có cơ hội học tập ở các anh nhiều điều như tác phong quân sự, lối sống giản dị, biết thương yêu đồng chí, đồng đội, v.v. Trung đội tôi có địa bàn hoạt động trên ba khu vực rộng lớn là cánh trung, cánh nam và cánh bắc ở phía tây thành phố Đà Nẵng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:49:16 pm CHƯƠNG BA ĐẾN VỚI BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG Công tác tại Đại đội 68 một thời gian ngắn, đến cuối năm 1952, đầu năm 1953, tôi được rút về bổ sung vào Đội đặc công 11. Bài học đầu tiên của tôi về truyền thống bộ đội đặc công, cũng chính là những điểm trong nội dung mà sau này Bác Hồ dạy lực lượng đặc công: “Đặc biệt tinh nhuệ; anh dũng tuyệt vời; mưu trí táo bạo; đánh hiểm thắng lớn”. Tôi không khỏi tự hào khi được đứng trong đội hình của đội quân mỗi khi ra trận là ngụy trang nhem nhuốc lên thân thể. Để thực hiện nhiệm vụ “chui sâu, đánh hiểm, thắng lớn”, người chiến sĩ đặc công không chỉ ngụy trang cơ thể hòa lẫn màu bùn đất, cây lá mà còn phải nằm phơi sương vài ba ngày để mất hơi người, làm cho chó béc-giê không phát hiện được khi ta tiềm nhập vào đồn địch. Đầu năm 1953, cấp trên mở đợt học tập chính trị rèn cán, chỉnh quân tại thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Trước kia, khi tham gia lực lượng thanh, thiếu niên yêu nước xã Hòa Liên, sau đó xung phong vào đại đội dân quân tập trung, tình nguyện lên đường nhập ngũ vào Đại đội 68, tôi đã được học tập chính trị, nhưng nội dung còn ít. Vì thế, được tham gia đợt học tập này, tôi mới hiểu thế nào là chủ nghĩa Mác Lê-nin, đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, đấu tranh giai cấp, vì sao phải sử dụng lực lượng quân sự để giành độc lập dân tộc... Bây giờ, khi xã hội đã phát triển hiện đại, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu mắc phải sai lầm bị sụp đổ, dĩ nhiên nhận thức về chủ nghĩa xã hội theo quan điểm mác-xít đã được nghiên cứu, bổ sung phù hợp với thực tiễn. Do đó, lớp trẻ hôm nay dễ dàng tiếp cận, tiếp thu, học tập những cái mới. Còn đối với chúng tôi hồi ấy, biết được những nội dung cơ bản như vậy đã là “ghê gớm”. Kết thúc đợt học chính trị, tôi cảm thấy trí tuệ của mình mẫn tiệp hẳn lên. Thậm chí, có lúc tôi còn giật mình nhìn lại và ngẫm nghĩ: “Bấy lâu nay mình tham gia chiến đấu vì mục đích cao hơn nhiều so với mình từng nghĩ”. Sau đó, tôi cùng đồng đội được chuyển về vùng tây của huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, để huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đặc công. Thời kỳ này, do lực lượng đặc công mới được thành lập nên nghệ thuật quân sự trong cách đánh còn chưa phát triển. Cán bộ tham gia giảng dạy có nhiều đồng chí từng là chỉ huy bộ binh. Do đó, nội dung học vẫn mang hơi hướng của chiến thuật bộ binh, cách tiềm nhập vào đồn địch giống như đi trinh sát, v.v. Vì thế, đợt học tập được cấp trên xác định chủ yếu trang bị kiến thức cơ bản của cách đánh mới cho lực lượng đặc biệt này. Song đối với tôi lúc ấy, tất cả đều là kiến thức mới. Vì thời gian tham gia lực lượng dân quân thì phần lớn là phục kích đánh mìn, xung phong diệt địch. Khi chuyển sang bộ đội chủ lực ở Đại đội 68 tôi chưa tham gia đánh trận nào. Bởi thế, các nội dung như tiềm nhập, đánh từ trong ra, đột kích phát triển chiến đấu, v.v. là cả một kho kiến thức quân sự mà tôi đã lĩnh hội được trong đợt rèn cán chỉnh quân. Hoàn thành kế hoạch chỉnh huấn, các đơn vị trở về trạng thái hoạt động bình thường, kịp thời vận dụng những nội dung mới được huấn luyện. Cuối năm 1953, đầu năm 1954, tình hình chiến sự trên chiến trường Liên khu 5 đã có nhiều thay đổi, nhất là sau khi ta nắm được kế hoạch “chiến dịch Át Lăng” của địch. Lúc này, các nhà hoạch định chiến lược quân sự của quân đội Pháp đang dốc toàn lực, điều quân từ Tây Nguyên xuống đánh chiếm các tỉnh thuộc vùng tự do của Liên khu 5 là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên nhằm cắt đứt nguồn tiếp tế của ta; sau đó, thực hành tiêu diệt lực lượng chủ lực của đối phương và đưa quân từ Tây Nguyên ra tăng cường cho phía Bắc. Nắm được âm mưu của chúng, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đã chủ động chuyển quân lên Tây Nguyên đánh vào hậu cứ của quân Pháp làm cho chúng rối loạn, lúng túng tìm cách đối phó. Trong các tháng của quý II năm 1954, Đội đặc công 11 Đà Nẵng được giao nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, đã thực hành tập kích nhiều cứ điểm của địch đóng trên địa bàn. Mỗi trận đánh qua đi, mỗi chiến công do đơn vị lập nên đều để lại trong tôi những ấn tượng không phai. Đó là những khoảnh khắc huy hoàng của một thế hệ đã cống hiến hết mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. May mắn được đi hết cuộc chiến tranh, được chứng kiến sự đổi thay của quê hương Đà Nẵng, tôi không thể nào quên những đồng đội đã ngã xuống trước thềm chiến thắng. Bây giờ, có điều kiện viết hồi ký, chiêm nghiệm đời mình, tôi chỉ mong thể hiện được những gì thế hệ chúng tôi đã sống, cống hiến cho quê hương đất nước. Vì thế, những chiến công tôi đã viết, những trận đánh do tôi hồi tưởng đều luôn mang một thông điệp chung nhất “tri ân đồng chí, đồng đội và nhân dân trong cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại”. Mặc dù đã tham gia nhiều trận đánh trong giai đoạn này, nhưng ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi là trận tập kích các mục tiêu: đồn Cổ Mân, đồn Mân Thái, đồn Mỹ Khê, đồn Rờ Ni và cầu Đờ Lát. Tất cả đã bị đơn vị chúng tôi diệt gọn trong vòng một đêm. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:50:14 pm Về bối cảnh lịch sử, thành phố Đà Nẵng lúc bấy giờ gồm các khu sau: Khu Đông, khu Tây và khu Nam. Trong đó, địa hình khu Đông bao gồm một dãy đồi cát trắng kéo dài từ eo vịnh Sơn Trà đến Non Nước. Quân đội Pháp khi tấn công vào Đà Nẵng thường chọn phía đông làm bàn đạp để triển khai lực lượng đánh chiếm thành phố. Địch đã xây dựng ở đây các sân bay, bến cảng; bố trí hệ thống cứ điểm dày đặc, nhằm ngăn chặn đối phương tấn công vào đô thị và sẵn sàng ứng cứu cho nhau khi có tình huống xấu xảy ra, kể cả ở trên không, mặt đất và mặt biển.
Phương pháp bố phòng cụ thể, quân Pháp tổ chức đóng đồn bốt theo dãy đồi cát trắng tạo thành các cứ điểm: Cổ Mân, Mân Thái, Rờ Ni, Mỹ Khê và cầu Đờ Lát (tức cầu Trần Thị Lý hiện nay). Mặc dù đây là một hệ thống phòng thủ liên hoàn, được kết hợp chặt chẽ giữa mặt đất, lòng sông và mặt biển, nhưng không hiểu do chủ quan hay coi thường đối phương mà địch vẫn còn nhiều sơ hở. Do đó, cán bộ cơ sở của ta ở sông Hàn vẫn bám trụ trên sông, gọi là chiến khu nổi của Thành ủy Đà Nẵng. Hải quân Pháp không ít lần càn quét, săm soi từng lùm cây ven sông, song không phát hiện được dấu hiệu khả nghi. Dòng sông Hàn xanh thẳm luôn là nơi che cho an toàn cho các đồng chí cán bộ thành ủy suốt nhiều năm qua. Từ chiến khu nổi này, Thành ủy Đà Nẵng đã đề ra những quyết sách lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân địa phương lớn mạnh, luôn bắt nhịp kịp thời với phong trào cả nước. Bên cạnh đó, khi có chiến sự xảy ra, các đồng chí cũng nắm bắt rất rõ địa hình của khu vực để chỉ đạo hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương hoặc phối hợp với lực lượng cấp trên trong thực hành tác chiến. Thực hiện chỉ thị phối hợp với chiến dịch của Liên khu 5 và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đơn vị tôi có nhiệm vụ hiệp đồng chiến đấu nhằm tiêu diệt các cụm cứ điểm đồng bằng và vùng ven đô thị thành phố Đà Nẵng. Sau khi nhận nhiệm vụ cấp trên giao, đồng chí Đội trưởng Trần Hữu Tạo cử một bộ phận đi chuẩn bị chiến trường. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của cán bộ thành ủy hoạt động trên sông và cơ sở nội tuyến, ta nắm được sơ bộ tình hình địch, vị trí các đồn, bốt ở khu vực ven biển. Theo sự phân công của Thành ủy và Thành đội thành phố Đà Nẵng, lực lượng tham gia đánh địch trên địa bàn quận 3 gồm có: Đội đặc công 11, đơn vị Trinh sát đặc công 15 và trinh sát của Đại đội bộ binh Điện Bàn. Bộ phận làm nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu chiến trường trong quá trình thực hiện gặp khá nhiều thuận lợi. Đó là sự giúp đỡ tận tình của Thành ủy Đà Nẵng, đội công tác của phường và người dân ở các địa phương Hòa Quý, Hòa Hải (thuộc khu Đông) đã tạo điều kiện cho chúng tôi về nơi ăn, chốn ở để anh em đi lại đảm bảo an toàn, bí mật. Do yêu cầu thời gian khẩn trương, mặt khác địch còn nhiều sơ hở trong canh gác nên chúng tôi áp dụng biện pháp điều tra đồng loạt. Do đó, chỉ trong một thời gian ngắn, đơn vị hoàn thành công tác điều tra các mục tiêu, đồn bót của Pháp đóng rải rác trên địa bàn là các đồn: Cổ Mân, Mân Thái, Mỹ Khê, Rờ Ni và cầu Đờ Lát. Trên cơ sở kết quả điều tra, Đội đặc công 11 có nhiệm vụ tiêu diệt bốn mục tiêu là: đồn cổ Mân, đồn Mân Thái, cầu Đờ Lát và đồn Mỹ Khê. Đại đội bộ binh Điện Bàn phối hợp với đơn vị Trinh sát đặc công 15 tổ chức đánh các đồn Mỹ Khê và Rờ Ni. Đồng thời, lực lượng này còn có nhiệm vụ ngăn chặn quân tiếp viện từ các nơi đến, đảm bảo cho toàn bộ lực lượng tham gia trận đánh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ lui quân an toàn về Hòa Hải, Hòa Quý. Mọi kế hoạch đảm bảo cho trận đánh được chuẩn bị chu đáo. Đội trưởng Trần Hữu Tạo trực tiếp báo cáo phương án chiến đấu trên sa bàn để Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng phê duyệt. Sau nhiều ý kiến thảo luận, phương án chiến đấu do chỉ huy đội xác định được thông qua với sự nhất trí 100%. Cán bộ, chiến sĩ Đội đặc công 11, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Hữu Tạo nhanh chóng bắt tay vào huấn luyện cấp tốc các nội dung tiềm nhập, đột kích. Đơn vị Trinh sát đặc công 15 do đồng chí Thảo chỉ huy, cũng tham gia huấn luyện cùng chúng tôi. Lúc ấy, dù không ai bảo ai, nhưng tất cả chúng tôi đều tin chắc ngày chiến thắng đã cận kề. Trận đánh của chúng tôi như tiếng pháo góp chung mừng đất nước ca khúc khải hoàn. Theo hiệp đồng, đội chúng tôi tổ chức hành quân bằng các phương tiện: ghe, thuyền trên sông, trên biển, do đội công tác địa phương dẫn đường, đảm bảo trú quân tại bán đảo Sơn Trà trước ngày nổ súng. Đơn vị Trinh sát đặc công 15 của đồng chí Thảo sẽ bí mật tập kết tại Non Nước. Riêng tổ đánh cầu Đờ Lát, gồm 4 người, do đồng chí Huỳnh Ngọc Châu phụ trách, bí mật ém quân tại phường Hòa Cường trước ngày nổ súng. Ngoài quân số đánh đồn Mỹ Khê do đồng chí Nguyễn Văn Thành chỉ huy, lực lượng còn lại của Đội đặc công 11 gồm 24 đồng chí được biên chế thành hai mũi, thực hành đột nhập từ hướng đông đánh vào vị trí các đồn Cổ Mân và Mân Thái. Tham dự trận đánh, tôi được phân công làm mũi trưởng mũi thọc sâu đánh vào chỉ huy sở diệt ban chỉ huy đại đội địch tại đồn Cổ Mân. Mũi chúng tôi gồm sáu cán bộ chiến sĩ, được chia làm hai tổ, tôi đi cùng tổ 1. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:51:22 pm Đúng 21 giờ đêm 24 tháng 3 năm 1954, trong vai những người dân đi biển, chúng tôi bắt đầu rời vị trí trú quân tại Sơn Trà, tổ chức hành quân theo đường biển, dọc sông Hàn để tiếp cận mục tiêu. Mũi thọc sâu đi trước, chú ý chủ động vòng tránh khi gặp địch tuần tra. Tuy nhiên, nhờ có cơ sở mật và du kích dẫn đường thường xuyên thông báo tình hình kịp thời nên đơn vị đảm bảo bí mật tuyệt đối trong suốt quá trình triển khai đội hình. Ban đêm, những cồn cát ngày nóng bỏng rát, nhìn dưới nắng sáng lấp lóa, bây giờ dịu mát như lòng mẹ hiền. Thời gian như ngừng trôi. Dù đã tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, nhưng trước giờ nổ súng tôi vẫn thường suy nghĩ vu vơ. Không phải là tôi sợ, mà tâm hồn lãng mạn của lứa tuổi đôi mươi lắm lúc sinh ra những ý nghĩ “quái chiêu”. Gần 23 giờ, mũi của tôi đã tiếp cận mục tiêu lót đội hình. Như vậy, theo hiệp đồng, còn một giờ nữa, tức là 24 giờ, mới có lệnh nổ súng. Tôi ép nhẹ cánh tay xuống triền cát và tự hỏi: Trong chiến đấu, dù chiến thắng hay thất bại thì sự hi sinh mất mát là điều không tránh khỏi. Liệu sau mấy chục phút, trong số những con người đang hòa mình vào màu đất mẹ chờ đến giờ nổ súng kết liễu đời quân xâm lược, ai sẽ là người nằm lại nơi triền cát, nghe biển quê hương thì thầm sóng vỗ. Tôi miên man suy nghĩ cho đến lúc nhận được tín hiệu các mũi, hướng đã vào hết. 23 giờ, chúng tôi bắt đầu cắt hàng rào dây thép gai đầu tiên. Đơn vị lần lượt khắc phục vật cản và bí một đưa đội hình vào bên trong đồn địch. Theo hiệp đồng, giờ G, tức giờ nổ súng, là 24 giờ và đồn Cổ Mân khai hỏa trước tiên để làm hiệu lệnh cho trận đánh. Dưới ánh trăng sáng mờ mờ, tôi liếc nhìn chiếc kim đồng hồ nhích dần từng tí một, có cảm tưởng nó có vẻ chạy chậm hơn bình thường. Không rời mắt khỏi những căn nhà lính nằm im lìm trước giờ khai hỏa, tôi nhủ lòng như một quan tòa phán quyết tội nhân trước khi tuyên án: “Hằng ngày chúng mày bắn ra giết hại đồng chí, đồng bào của chúng tao. Cả một vùng rộng lớn không một bóng cây vì đạn địch cày xới. Còn mấy tích tắc nữa, các chiến sĩ đặc công Đà Nẵng sẽ trả địa hình nơi đây về triền cát trắng”. Lúc này, tôi thấy mình bình tĩnh đến lạ lùng. Quan sát tỉ mỉ mọi động tĩnh của địch, mắt tôi vẫn không rời khỏi chiếc đồng hồ. Khi ba chiếc kim chập một, tôi dẫn anh em chạy thẳng vào bên trong đánh lô cốt. Đề phòng địch bất ngờ phát hiện, tôi dùng tiểu liên chi viện để đồng chí tổ viên nhảy lên sử dụng bộc phá đánh sập lô cốt. Sau đó, chúng tôi nhanh chóng vận động, đánh vào sở chỉ huy của địch và các nhà lính. Mặc dù lô cốt đầu cầu đã bị tiêu diệt, địch vô cùng hoảng loạn nhưng chúng vẫn không phát hiện được quân ta đánh từ hướng nào. Vì thế nên tôi không phải nổ súng. Khi chỉ còn cách nhà chỉ huy đại đội địch khoảng mười mét, tôi ra hiệu cho anh em dừng lại, dùng tiểu liên bắn thẳng, ném thủ pháo, lựu đạn vào trung tâm đầu não của chúng. Trong tích tắc, ngôi nhà bốc cháy ngùn ngụt. Bọn lính loạng choạng chạy ra liền bị anh em chúng tôi diệt gọn. Phía bên kia, tổ đồng chí Hiền thực hành đánh dãy lô cốt phía nam, tiếp tục phát triển chiến đấu sang hai khu nhà lính. Còn tổ đồng chí Thiện đánh lô cốt phía bắc, sau đó phát triển vào bên trong tiêu diệt hoàn toàn quân địch, thu toàn bộ vũ khí. Chúng tôi tập hợp tại sân đồn Cổ Mân, tiến hành thu vũ khí và nhanh chóng cùng lực lượng dân công tổ chức lui quân.
Lúc này, lực lượng đánh các đồn: Mân Thái, Mỹ Khê, Rờ Ni, cũng đã nổ súng đúng hiệp đồng, nhanh chóng chiếm lĩnh mục tiêu. Quân địch đóng trong các đồn trên bị tiêu diệt hoàn toàn. Các đội du kích, dân công địa phương kịp thời vào đồn thu vũ khí, quân trang, quân dụng, chuyển anh em thương binh về Hòa Quý chữa trị. Riêng bộ phận đánh cầu Đờ Lát gặp phải khó khăn vì mìn không nổ. Nguyên nhân dây điện bị đứt nên nước thấm vào dây dẫn làm mìn không nổ. Do đó, tín hiệu điện kích nổ không thể truyền đến khối thuốc. Kịp thời xử trí tình huống bất ngờ, quyết tâm không để lực lượng địch cơ động ứng cứu, đồng chí Châu lập tức ra lệnh cho đồng chí Kiều Sơn Đen bơi ra móng cầu, bí mật trèo lên trụ cầu, thay tim dây cháy chậm, thay kíp nổ, quẹt diêm đốt dây cháy chậm. Sau khi giật nụ xòe, đợi cho 3 tim dây cháy chậm đều phụt lửa, chiến sĩ Kiều Sơn Đen mới bình tĩnh nhảy xuống sông, bơi về vị trí sẵn sàng chiến đấu. Lính Pháp đứng trên cầu, nghe tiếng bộc phá, tiếng súng bên Quận 3 nổ, cũng hoảng loạn bắn vu vơ xuống nước. Khi đồng chí Kiều Sơn Đen bơi ra cách mỏm cầu khoảng 50 mét thì 60 cân thuốc nổ TNT gầm lên một tiếng long trời lở đất, xó toang màn đêm, làm rung chuyển cả thành phố Đà Nẵng, khiến một dãy cầu đổ nghiêng xuống sông Hàn, ngăn chặn được xe tăng và bộ binh địch từ Đà Nẵng sang Quận 3 chi viện. Bốn đồng chí đánh cầu rút lui an toàn. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, từ đêm 24 đến rạng ngày 25 tháng 3 năm 1954, quân và dân Quận 3 đã hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, tiêu diệt 5 mục tiêu của Pháp, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng. Các lực lượng chủ lực trực tiếp tham gia trận đánh gồm có: Đội đặc công 11, Đội trinh sát 15 và Đại đội bộ binh huyện Điện Bàn. Trong đó, Đội đặc công 11 làm chủ công, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Một tập thể và một cá nhân được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất là tổ đánh cầu Đờ Lát và đồng chí Kiều Sơn Đen. Về ý nghĩa trận đánh, cấp trên đánh giá đây là một trận đánh táo bạo, thọc sâu vào sào huyệt của quân đội Pháp đóng ở ngay trong thành phố Đà Nẵng, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng địch. Kết quả trên cũng đã củng cố niềm tin trong nhân dân Đà Nẵng nói chung, nhân dân Quận 3 nói riêng về lực lượng đặc công non trẻ của mình. Bầu không khí vui tươi phấn khởi ngấm ngầm lan tỏa trên toàn thành phố. Bà con gặp nhau, bên cạnh câu chào xã giao như thường lệ, nhiều người còn thì thầm: “Mình đánh giỏi quá”. Còn chúng tôi sau khi hoàn thành nhiệm vụ được lệnh lui quân về vùng Gò Nổi, thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để nghỉ ngơi, sinh hoạt rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho trận đánh sau. Cùng với kỷ niệm về chiến công của đơn vị, lần đó tôi nhớ mãi hình ảnh một người con gái Sơn Trà. Chuyện là khi chúng tôi lui quân, chạy vào Hòa Quý, có các cô dân công khiêng thương tải đạn đi cùng, Trong số anh em bị thương, đồng chí Thiện là tổ trưởng đánh bộc phá, sau này làm Chủ tịch Hội Người mù thành phố Đà Nẵng được một thiếu nữ trạc tuổi đôi mươi cõng trên lưng chạy theo đoàn quân. Máu bộ đội thấm ướt cả chiếc áo trắng cô đang mặc. Người lính đặc công khi vào trận, da hóa trang thành màu cây cỏ, trên mình chỉ bận độc chiếc quần xà lỏn. Vì thế, việc cõng đồng chí Thiện trên lưng, chạy băng băng theo đoàn quân đến tận Non Nước của người con gái là một hành động xứng danh anh hùng của người phụ nữ sống trong vùng địch. Cô đã không sợ địch, không sợ xấu hổ, hết lòng cõng người chiến sĩ ở trần về cùng đơn vị. Lúc ấy, anh em chúng tôi vừa tỏ lòng cảm phục, vừa động viên người con gái thành Đà. Đến Non Nước, cô giao lại thương binh cho anh em chúng tôi để trở về Cổ Mân. Mọi người ứa nước mắt nhìn theo người nữ dân công gan dạ vì không có quần áo thay cho cô, máu ướt đầm đìa chẳng biết khi về có bị lộ không. Sau này, mỗi khi nhắc lại chuyện này, tôi cứ tiếc nuối bởi không kịp hỏi tên người con gái ấy. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:52:07 pm Tình hình chiến sự lúc này ưu thế đang thuộc về ta. Ở phía Bắc, chiến dịch Điện Biên Phủ đã chuẩn bị bước vào giai đoạn 2. Dẫu chiến tranh còn ác liệt, nhưng thực dân Pháp đã đứng trước nguy cơ thất thủ. Cứ điểm Điện Biên Phủ, được chúng gọi là “pháo đài bất khả xâm phạm” đã bị nghệ thuật “vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt” của ta cô lập. Còn trên chiến trường Liên khu 5, tình hình của địch cũng không khá hơn. Âm mưu kéo quân từ Tây Nguyên xuống đánh chiếm bốn tỉnh thuộc vùng tự do của Liên khu 5 là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, sau đó kéo quân ra miền Bắc chi viện cho Điện Biên Phủ bị ta phá vỡ. Lực lượng vũ trang Liên khu 5 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu, trực tiếp là đồng chí Tư lệnh Nguyễn Chánh đã chủ động đánh lên Tây Nguyên thọc sâu vào hậu cứ của địch làm cho quân Pháp rơi vào tình thế “đi cũng dở, ở cũng không xong” và chấp nhận thất bại. Thắng lợi của chiến dịch Bắc Tây Nguyên đã kịp thời khích lệ, cổ vũ cán bộ chiến sĩ đang chiến đấu trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Đơn vị chúng tôi cũng hòa chung niềm vui chiến thắng của liên khu.
Đội đặc công 11 về Gò Nổi nghỉ ngơi, củng cố được 5 hôm lại tiếp tục nhận nhiệm vụ đánh đồn Câu Lâu. Sở dĩ ta phải đánh nhanh mục tiêu này bởi vì trên chiến trường Bắc Tây Nguyên, bị ta tấn công mãnh liệt, bẻ gãy xương sống các binh đoàn lính Âu - Phi tinh nhuệ cơ động của Pháp nên địch phải bỏ Tây Nguyên chạy về Đà Nẵng phòng thủ. Chúng đóng quân chốt chặn trên suốt quãng đường từ thị xã Tam Kỳ ra đến Hòn Bằng, Trà Kiệu, Câu Lâu, Bồ Bồ, cầu Đỏ, Phước Tường, Nam Ô, Thủy Tú... để bảo vệ các đơn vị hải lục không quân của thực dân Pháp đóng tại thành phố Đà Nẵng. Nhằm đảm bảo an toàn cho vùng nội đô, địch tăng cường hành quân càn quét khu vực các huyện Điện Bàn, Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc. Chúng quyết giữ trục đường giao thông huyết mạch trên quốc lộ 1A, ngăn không cho ta đánh phá các mục tiêu như: cầu Câu Lâu, cầu Thủy Tú. Đội đặc công 11 Quảng Nam - Đà Nẵng được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Câu Lâu, cắt đứt giao thông và tiêu diệt lực lượng địch chốt giữ hai đầu cầu. Cần phải nói thêm rằng, đây là cây cầu nằm giữa hai huyện Điện Bàn và Duy Xuyên, dài 856 mét, bắc ngang qua sông Thu Bồn, dòng nước chảy xiết quanh năm. Các huyện này là những địa phương có truyền thống đấu tranh chống xâm lược từ lâu đời. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội và dân quân du kích nơi đây đã thường xuyên đánh địch càn quét, giành được nhiều thắng lợi, bảo vệ xóm làng, chống địch dồn dân lập ấp. Tháng 2 năm 1954, quân Pháp từ Tây Nguyên đánh nống ra. Chúng tổ chức một trận càn quy mô lớn với âm mưu chiếm đóng cầu Câu Lâu để khống chế xã Duy An, thuộc huyện Duy Xuyên và xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Hai xã này là vùng du kích mạnh của Duy Xuyên và Điện Bàn. Anh em thường phục kích chặn đánh mìn trên đường ô tô, ở hai bên nam, bắc cầu Câu Lâu, làm cho địch phải lúng túng đối phó, hoảng sợ cả ngày lẫn đêm. Vì thế, quân Pháp đã bố trí một đại đội tăng cường xây dựng hai đồn ở hai đầu cầu Câu Lâu hết sức kiên cố nhằm bảo vệ quốc lộ 1A từ Đà Nẵng đến Tam Kỳ. Lúc ấy, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng đề ra chủ trương mở chiến dịch xuân hè 1954 phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Các lực lượng vũ trang của tỉnh tập trung đánh điểm, diệt viện, cắt đứt giao thông cầu công, bao vây tiêu diệt quân địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Trước khi thực hành đánh cầu Câu Lâu, biên chế của đơn vị chúng tôi vẫn không có gì thay đổi. Chỉ huy đơn vị gồm các đồng chí: Đội trưởng Trần Hữu Tạo, Đội phó Nguyễn Văn Thành và Chính trị viên Ngô Trọng Đãi. Sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị tổ chức hai bộ phận đi điều tra, nghiên cứu tình hình địch ở hai đồn bắc, nam cầu Câu Lâu. Mũi phía nam gồm 4 đồng chí: Tạo, Ngôn, Thảo, Giác và mũi phía bắc là: Thành Châu, Thêm, Đãi. Thời gian điều tra được ấn định trong vòng 3 ngày đêm phải hoàn thành nhiệm vụ, báo cáo lên cấp trên. Tại phía nam cầu, địch tổ chức một đại đội lính Âu - Phi với quân số khoảng 120 tên. Đồn được cấu trúc kiên cố, xây dựng các boong-ke cốt thép, ở phía trên trục đầu cầu trông trải, địch có điều kiện quan sát từ xa và dùng hỏa lực không chế đối phương. Xung quanh cứ điểm, địch bố trí 18 lớp rào dây thép gai bao bọc. Chúng rào vòng quanh trụ cầu cả trên cạn và dưới nước. Ngoài ra, mìn chiếu sáng và mìn chạm nổ được gài vô số từ trong ra ngoài, trên các hàng rào dây thép gai dày đặc, không theo bất cứ quy luật nào. Trên lô cốt vọng lâu, địch gắn đèn pha cực mạnh, quét liên tục trên cầu và dưới nước, trông sáng rõ như ban ngày. Ý thức được tầm quan trọng của cầu Câu Lâu nên địch tổ chức canh gác hết sức nghiêm ngặt. Trên cầu, ban đêm có đội tuần tra đi lại liên tục theo chiều từ nam sang bắc và ngược lại. Thỉnh thoảng, chúng bắn vu vơ xuống nước nhằm uy hiếp đối phương, hoặc sợ ta bí mật tấn công. Tuy nhiên, qua ba lần điều tra nghiên cứu, chúng tôi phát hiện địch có nhiều sơ hở. Cả hai bộ phận điều tra phía nam, phía bắc cầu Câu Lâu gặp khá nhiều thuận lợi. Tất cả đều thống nhất nhận định có thể đánh được và quyết tâm đánh thắng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:53:04 pm Ban chỉ huy đại đội và hai tổ trinh sát nắm toàn bộ tình hình quân địch, nội ngoại vi cứ điểm. Ta đánh giá bước đầu tuy có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Vì cứ điểm địch được xây dựng kiên cố bố phòng cẩn mật; trong một đêm phải đánh hai mục tiêu cùng một lúc, một trong hai mục tiêu có thể bị lộ bí mật bất cứ lúc nào. Nếu không may để xảy ra sơ suất dù là rất nhỏ trước giờ nổ súng thì hậu quả tổn thất, thương vong là điều không thể tránh khỏi. Do đó, quá trình chuẩn bị phương án chiến đấu của chỉ huy đơn vị phải hết sức kỹ lưỡng, phát huy tốt tinh thần dân chủ, tránh chủ quan. Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng nhất trí theo phương án cách đánh đặc công của Đội đặc công 11. Bởi đơn vị có nhiều kinh nghiệm đánh địch, cán bộ chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng chiến đấu thọc sâu cứ điểm quân địch, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Sau khi phương án chiến đấu được thông qua, chúng tôi tiến hành đắp sa bàn để tổ chức huấn luyện. Đội tổ chức biên chế lực lượng thành hai phân đội. Phân đội 1 gồm 30 đồng chí, do đồng chí Trần Hữu Tạo trực tiếp chỉ huy. Trong đó, tôi làm mũi trưởng mũi thọc sâu đánh sở chỉ huy của địch. Mũi 2 do đồng chí Nguyễn Bá Thảo làm mũi trưởng, thực hành đánh từ phía đông lên. Mũi 3 do đồng chí Giác làm mũi trưởng, thực hành đánh từ phía tây xuống. Phân đội 1 có nhiệm vụ đánh địch ở phía nam cầu Câu Lâu, bí mật diệt gọn đại đội Âu - Phi, làm chủ trận địa thu vũ khí. Phân đội 2 gồm 20 đồng chí biên chế thành 2 mũi, do các đồng chí Nguyễn Văn Thành và Ngô Trọng Đãi trực tiếp chỉ huy, đánh địch ở đồn phía bắc cầu Câu Lâu. Cụ thể, mũi 1 do đồng chí Huỳnh Ngọc Châu làm mũi trưởng, có nhiệm vụ đánh chính diện ở phía đông lên; mũi 2 do đồng chí Nguyễn Hữu Thêm làm mũi trưởng, đánh từ phía bắc vào. Theo kế hoạch hiệp đồng, Phân đội 1 chúng tôi hành quân đến ém tại xã Duy An, huyện Duy Xuyên. Còn Phân đôi 2 giấu quân tại xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Trong quá trình hành quân, du kích địa phương sẽ dẫn đường đến vị trí tập kết.
Đúng 19 giờ ngày 25 tháng 4 năm 1954, chúng tôi bắt đầu chiếm lĩnh trận địa, bí mật đưa đội hình vào bên trong cứ điểm. Giờ nổ súng được xác định là 24 giở, ưu tiên cho lực lượng đánh đồn phía nam cầu khai hỏa trước. 23 giờ 30 phút, chúng tôi đã triển khai đội hình nằm ngoài hàng rào của cứ điểm địch. Nằm ép mình sát đồn địch, tôi không tránh khỏi hồi hộp. Mũi của tôi là mũi thọc sâu đánh vào sở chỉ huy nên kết quả chiến đấu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả toàn trận đánh. Còn gần nửa tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ nổ súng. Dưới thân người chiến sĩ đặc công, cát quê hương mát lạnh đến tâm can. Thời gian này là tháng giao thời giữa mùa xuân và mùa hè nên những giọt sương rơi xuống cũng làm cho tâm hồn chúng tôi xao xuyến lạ. Người lính đặc công đi đánh giặc chỉ mặc độc chiếc quần xà lỏn nên cảm nhận sự thay đổi của thiên nhiên khá tinh tế. Mặc dù suy nghĩ vẩn vơ trước giờ nổ súng, nhưng tôi không quên quan sát mọi động tĩnh của địch và tìm ra phương án chiến đấu tối ưu. Trong đầu tôi chợt gợn lên câu hỏi: Tại sao ta không theo đường chính mà tiến công? Vì khi bọn lính đổi gác thì khoảng trống phía sau bị bỏ không, quá trình đi điều tra tôi đã nắm chắc điều này. Chúng mất cảnh giác ở chỗ đó. Tôi mới vừa nghĩ đến dây thì cũng chính là lúc chỉ huy trận đánh ra lệnh cho tôi dẫn tổ thọc sâu bám theo tên lính đi đổi gác. Khi nó vừa chui vào nhà, chúng tôi nhanh chóng cơ động đến sở chỉ huy, nổ súng đánh phủ đầu, tiêu diệt tên quan Hai, làm chủ mục tiêu, cố thủ chia lửa cho đồng đội. Nghe tiếng lựu đạn, thủ pháo của tôi nổ, anh em lập tức triển khai đội hình đánh chiếm các mục tiêu đã quy định. Tôi tiếp tục vừa chiến đấu, vừa chỉ huy tổ đánh mục tiêu bên cạnh như nhà bằng, lô cốt sắt của sở chỉ huy địch. Mũi 2 và mũi 3 cũng đồng loạt nổ súng bao vây chia cắt quân địch. Chúng hoảng loạn, chạy nháo nhào. Các hướng phối hợp tiến công nhịp nhàng. Vì thế địch không biết đường nào mà chống cự. Thuận đà thắng lợi, ta dồn địch xuống sông, buộc chúng phải đầu hàng. Chúng tôi bắt sống một số tên lính và 5 cô gái làm kỹ nữ, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng. Sau đó, tổ chức giáo dục và phóng thích tại chỗ 10 tên lính cùng với các cô kỹ nữ. Chỉ sau 10 phút chiến đấu, chúng tôi đã làm chủ hoàn toàn trận đánh. Đồng chí Đội trưởng Trần Hữu Tạo, người chỉ huy trận đánh, truyền lệnh bắt tù binh thu vũ khí, kịp thời tổ chức lui quân về Duy Xuyên. Ở đầu cầu phía bắc, do địch bất ngờ thay đổi quy luật tuần tra nên ta không kịp xử trí tình huống. Vì vậy, ở những phút đầu đội hình của ta đã có dấu hiệu bị lộ. Chúng bắn mãnh liệt về hướng nghi ngờ đối phương ẩn náu khiến một số đồng chí bị thương. Trước tình thế hiểm nghèo, đồng chí Ngô Trọng Đãi và đồng chí Huỳnh Ngọc Châu vẫn bình tĩnh chỉ huy thay đổi cách đánh như phương án chiến đấu đã được dự kiến. Nghĩa là, thay bằng bí mật đột nhập, ta nhanh chóng leo rào nhảy vào. Các mũi, các hướng đồng loạt nổ súng đánh chiếm mục tiêu. Tiếng súng tiểu liên, tiếng lựu đạn nổ chát chúa, dồn dập. Địch không ngờ ta tiến công nhanh như vậy nên bị bất ngờ, lúng túng. Do đó, trong vòng 15 phút, các đồng chí ở Phân đội 2 đã hoàn toàn làm chủ trận đánh, bắt sống một số tù binh, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng, rồi bí mật rút lui, đưa anh em thương binh về nơi an toàn. Sau đó, bộ đội công binh của tỉnh ra đánh sập cầu. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:53:55 pm Được sống trong thời khắc lịch sử của những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp mới có thể cảm nhận hết được niềm vui chiến thắng, sự dồn dập khẩn trương của chiến tranh. Tôi đã trải qua những ngày như vậy. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn không thể nào quên cảm giác tự hào xen lẫn trách nhiệm nặng nề của người chiến sĩ đặc công trước sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Hồi ấy, vào khoảng tháng 5 năm 1954, sau trận tập kích cầu Câu Lâu, chúng tôi trở lại đứng chân ở Gò Nổi chưa được năm ngày thì nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Bồ Bồ. Đây là ngọn đồi có độ cao khoảng 56 mét so với mặt biển, còn gọi là quả đồi đất ký, nằm ở nơi tiếp giáp của ba huyện là Điện Bàn, Hòa Vang và Đại Lộc, thuộc địa phận xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn. Có thể nói, căn cứ Bồ Bồ là khu tam giác chiến, địch tổ chức xây dựng công sự kiên cố, phòng ngự vững chắc. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp mỗi khi đổ quân xuống Quảng Nam - Đà Nẵng thường chọn đỉnh Bồ Bồ làm điểm tựa, đặt đài quan sát từ xa, bố trí binh hỏa lực khống chế 3 huyện đồng bằng nhằm bảo vệ hậu phương phía sau là thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An. Về tình hình địch trong giai đoạn đó, cụ thể là vào đầu năm 1954, quân đội viễn chinh Pháp đóng tại các tỉnh Tây Nguyên bị thua trận trong chiến dịch Át Lăng phải tháo chạy về Đà Nẵng. Địch bố trí một trung đoàn cơ động, có xe tăng, thiết giáp, phi pháo yểm trợ thực hành càn quét 3 huyện Điện Bàn, Hòa Vang, Đại Lộc và thực hành đánh chiếm đỉnh Bồ Bồ. Chúng không ngờ ta đã phòng bị sẵn, nên khi vừa đặt chân đến đã bị quân và dân các huyện đánh thiệt hại nặng, buộc phải tháo chạy về Đà Nẵng. Địch bố trí một đại đội Âu - Phi tinh nhuệ chiếm giữ Bồ Bồ, xây dựng đồn bốt. Xác định là điểm tựa vững chắc cho Đà Nẵng, Hội An nên chúng xây dựng rất kiên cố. Nhà ở, hầm ngầm đều được kết cấu bằng bê tông cốt thép; hệ thống lô cốt, boong-ke bố trí liên hoàn; hàng rào đan xen các bãi mìn, có hệ thống chiến hào bao quanh. Qua điều tra, chúng tôi nắm được cứ điểm Bồ Bồ lúc ấy như một pháo đài vững chắc có gắn ĐKZ 57mm và đại liên vít-ke 12,7mm hai nòng. Ngoài ra, địch còn trang bị thêm 2 khẩu pháo 94mm và một súng cối 81mm. Bọn lính ngày đêm dùng ĐKZ, cối 81mm và đại liên bắn xuống xóm làng, gây không biết bao nhiêu tội ác với phụ nữ và trẻ em sống xung quanh dưới chân núi Bồ Bồ. Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng giao nhiệm vụ cho Đội đặc công 11 của tỉnh đánh đồn Bồ Bồ để cứu dân Điện Tiến và mở rộng vùng giải phóng của ta. Sau khi nhận nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Văn Thành, Đội phó Đội đặc công 11, dẫn hai tổ trinh sát ra cứ điểm Bồ Bồ. Qua bảy ngày đêm điều tra, đột nhập năm đêm vào ba hướng mới đến được chiến hào bên trong và khu nhà lính, nhà chỉ huy, trận địa pháo cối. Với kết cấu vững chắc, địch tin rằng đối phương bất khả xâm phạm. Thậm chí, chúng còn tuyên bố: “Nếu Việt Minh đánh được Bồ Bồ thì nước sông Yên chảy ngược”.
Quá trình chuẩn bị đạt kết quả tốt, được cấp trên thông qua phương án chiến đấu, đơn vị tập trung sinh hoạt xác định nhiệm vụ chuẩn bị đánh cứ điểm Bồ Bồ. Nghe bộ phận đồng chí Hồng báo cáo hoàn tất công tác chuẩn bị lô cốt Giồng Lạc, phía tây nam cầu Cẩm Lý, cách Bồ Bồ 500 mét, án ngữ và ngăn chặn đối phương từ xa, Đội trưởng Trần Hữu Tạo quyết định biên chế 53 cán bộ, chiến sĩ thành bốn mũi, bao gồm: Mũi 1 có 21 đồng chí, chia làm 3 tổ đột nhập hướng đông, có nhiệm vụ đánh vào sở chỉ huy, chiếm lô cốt cố thủ, phát triển đánh khu nhà lính và hai lô cốt tiền duyên, do Đội trưởng Tạo trực tiếp chỉ huy. Mũi 2 có 12 đồng chí do đồng chí Thêm chỉ huy, đánh từ hướng Tây xuống tiêu diệt các lô cốt, đánh chiếm khu nhà để pháo cối, giữ hai khẩu đại bác và bắt liên lạc với mũi 1 và mũi 3. Mũi 3 có 12 đồng chí do đồng chí Khai chỉ huy, đánh hướng bắc vào khu nhà bê-tông bán âm, chiếm nhà máy điện, giữ kho đạn cối và chặn địch không cho chạy sang hướng đông. Mũi 4 có 8 đồng chí do đồng chí Hồng chỉ huy, đánh lô cốt tiền tiêu ở đồi Giồng Lạc, chốt giữ hướng Tây, không cho địch chạy về cầu Cẩm Lý đón đơn vị lui quân sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Thành, Đội phó, trực tiếp chỉ huy 2 khẩu SKZ 90mm của Đại đội 22 bộ đội địa phương huyện Điện Bàn phối hợp, chi viện hỏa lực. Quân số còn lại gồm hai khẩu đội và lực lượng dự bị sẵn sàng thay thế cho mũi 1. Ngoài ra, lực lượng phối hợp chiến đấu còn có cán bộ, du kích và nhân dân các huyện Điện Bàn, Hòa Vang và Đại Lộc. Ngày mùng 9 tháng 5 năm 1954, chúng tôi bắt đầu hành quân từ Gò Nổi ra trú quân tại xã Điện Tiến. Đúng 19 giờ ngày mùng 10 tháng 5, đơn vị tập kết tại sân đình Diệm Sơn để làm lễ xuất quân. Đồng chí Võ Thứ, Tỉnh đội trưởng Quảng Nam - Đà Nẵng, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy trao lá cờ Quyết thắng cho Đội đặc công 11. Đồng chí Thứ xúc động nói: “Đêm nay nhân dân và Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đón chờ tin chiến thắng của các đồng chí”. Chúng tôi đứng lặng như tờ, nghe như nuốt từng lời của người cán bộ cách mạng kiên trung, người chỉ huy tài ba từng tham gia du kích Ba Tơ. Trong phút giây thiêng liêng ấy, tôi cảm thấy mình lớn lên rất nhiều. Tôi tự nhủ phải chiến đấu hết mình để không phụ lòng tin cậy của cấp trên, của nhân dân. Bầu không khí im lặng được phá tan khi đồng chí Trần Hữu Tạo thay mặt đơn vị hứa với cấp trên và nhân dân: “Cán bộ, chiến sĩ Đội đặc công 11 quyết tâm tập kích tiêu diệt gọn cứ điểm Bồ Bồ, giành thắng lợi hoàn toàn để khỏi phụ lòng mong đợi của cấp trên và nhân dân các huyện Điện Bàn, Hòa Vang, Đại Lộc”. Không có tiếng hô quyết tâm, không có tiếng vỗ tay hoan nghênh, chúng tôi đứng nghiêm trang thể hiện ý chí sắt đá của người chiến sĩ đặc công. Sau đó, Đội trưởng Tạo lần lượt quàng khăn đỏ cho tổ thọc sâu gồm tôi, Nguyễn Văn Mùi và Kiều Sơn Đen. Tôi được phân công chỉ huy tổ này, thực hiện đánh lô cốt cố thủ và sở chỉ huy của địch nằm chính giữa cứ điểm. Lúc này, ánh trăng đầu tháng bàng bạc rọi xuống sân đình Diệm Sơn, xã Điện Tiến như muốn soi tỏ những gương mặt tuổi mười tám, đôi mươi đang hừng hực khí thế sẵn sàng bước vào trận đánh. Tổ thọc sâu chúng tôi, cổ quàng khăn đỏ cảm tử quân như dũng sĩ Ngô Mây ngày trước, trái tim như muốn đập vỡ lồng ngực vì niềm tự hào xen lẫn băn khoăn lo lắng về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Lòng tôi tự nhủ, thề quyết tử cho nhân dân 3 huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang được bình yên”. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:54:42 pm Khoảng 21 giờ, khi ánh trăng gần khuất núi, các mũi các hướng bắt đầu vượt qua cánh đồng lúa gieo, bí mật cơ động vào chân núi. Mặc dù đã trực tiếp đi điều tra, nhưng tôi cũng hồi hộp không kém người vào trận lần đầu. Bởi vì nhiệm vụ của tổ tôi rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến kết quả trận đánh. Lúc ấy, tôi không sợ hy sinh mà chỉ sợ không may do sơ suất của mình và anh em mà không diệt được sở chỉ huy địch, không đánh sập được lô cốt cố thủ của địch thì liệu các mũi hướng của ta tiến công lên như thế nào. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng tôi tin chắc mình nhất định sẽ giành chiến thắng. Tất nhiên, lo lắng đó cũng làm cho tôi cẩn trọng hơn. Khoảng 23 giờ, chúng tôi cắt xong hàng rào thứ nhất. Khi mọi hoạt động của chúng tôi vẫn được giữ bí mật thì một tình huống bất ngờ xảy ra. Đồng chí Đăng vấp phải quả mìn lân tinh, dây cháy chậm bắt lửa cháy xè xè. Đang bò ngay phía sau, anh Tạo nhanh chóng chụp lấy quả mìn và cà xuống đất làm mất tác dụng. Tình huống này có vỏ cũng làm cho địch sinh nghi. Vì ngay lúc đó, một tên lính Âu - Phi từ trên lô cốt bước xuống, ra ngay trước bờ rào hướng đột kích của ta, cách đội hình của chúng tôi khoảng 10 mét. Tay kẹp chặt khẩu súng, nòng hướng ra phía trước sẵn sàng nhả đạn, tên lính ngồi thụp xuống quan sát khoảng 15 phút không thấy động tĩnh gì bèn đi vào. Lúc này, bọn địch trong đồn đã bộc lộ vẻ nghi ngờ. Chúng đứng trên lô cốt xầm xì gọi sang lô cốt bên cạnh cũng có mấy tên lính đứng lố nhố chỉ trỏ ra ngoài. Trước tình hình đó, Đội trưởng Trần Hữu Tạo liền ra ám hiệu cho tôi đưa lực lượng của mình vào trước, ém quân bên trong bờ rào. Tôi hướng dẫn anh em dàn hàng ngang bò vào cách chiến hào và 2 lô cốt hai bên khoảng 10 mét. Đội hình phía sau cũng tranh thủ vào hết rào. Kim đồng hồ chỉ đúng 24 giờ, tức đến giờ nổ súng. Tôi chỉ huy tổ thọc sâu nhanh chóng vượt qua hai lô cốt vào bên trong. Không ngờ khi chúng tôi mới rướn người lên thì nghe tiếng kéo khóa nòng đại liên “rét, rét”. Địch bắn ngay ra đội hình mũi 1. Đồng chí Tạo phát lệnh nổ súng. Không bỏ lỡ thời cơ, tôi dẫn tổ chạy thẳng vào bên trong đánh lô cốt cố thủ. Nghe tiếng đường đạn rít căng ngay trên đầu, tôi bất ngờ nhìn lại phía sau và phát hiện thấy một đồng chí tổ viên đã bị thương nặng trên chiến hào. Tổ thọc sâu chỉ còn tôi và Mùi. Tình huống chiến đấu không cho phép chúng tôi chần chừ. Nếu chỉ chậm một phút thì có thể biến từ thắng thành bại. Vì thế, chúng tôi đành ngậm ngùi để Kiều Sơn Đen ở lại để tiếp tục xung phong. Đồng chí Thành ra lệnh cho SKZ diệt lô cốt. Hai phát đầu ta bắn không trúng đích, địch bắn ra dữ dội. Các xạ thủ nhanh chóng xác định lại phần tử bắn, kịp thời tiêu diệt hai lô cốt tiền duyên. Mũi 2 và mũi 3 thực hành xung phong diệt địch. Toàn trận địa ngập tràn tiếng súng, lựu đạn. Lửa cháy dồn địch rọi sáng ngời những khuôn mặt của người chiến sĩ đặc công. Địch hoảng loạn, la hét inh ỏi. Chúng không biết ta tiến công từ hướng nào. Chúng không thấy đối phương, chỉ những người lính đặc công có tài xuất quỷ nhập thần mới đủ khả năng nắm bắt mọi động tĩnh. Bất ngờ, một tên quan hai Pháp ôm bó pháo sáng ra đứng trên trụ cờ để giật pháo sáng. Tôi đang đứng trên lô cốt cố thủ phát hiện thấy, lập tức dùng khẩu đại liên vít-ke của địch bắn hắn gục tại chỗ. Sau đó, tôi và Mùi chui vào lô cốt tiếp tục chiến đấu để diệt một số tên còn lại. Bởi vì lô cốt boong-kc xây hình lục giác nên ta đánh thủ pháo ngăn nào thì địch ở ngăn đó chết. Khi chúng tôi vừa chui vào tấm cửa sắt lô cốt, một tên Âu - Phi to khỏe mang khẩu súng tiểu liên ôm choàng cả hai vào lòng. Một tay hắn bóp cổ Mùi, tay kia móc hông tôi. Tôi bất ngờ xoay nòng súng chĩa thẳng vào ngực tên địch bóp cò. Hắn thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra chết. Bị tên địch siết cổ quá lâu nên Mùi bị ngất. Tôi liền kéo anh ra ngoài lô cốt, làm hô hấp nhân tạo. Khi Mùi tỉnh lại, chúng tôi tiếp tục chiến đấu.
Sau những phút hoảng loạn ban đầu, địch điên cuồng chống trả dữ dội. Ta có nhiều đồng chí bị thương nặng ở bên ngoài chiến hào vẫn bò vào đánh hết giỏ thủ pháo rồi anh dũng hy sinh. Diễn biến trận đánh đang có lợi cho chúng tôi. Các hướng, các mũi vẫn hiệp đồng chi viện cho nhau chặt chẽ, thực hành bao vây tiêu diệt quân địch đúng phương án. Lúc này, tôi và Mùi giữ chắc lô cốt và đại liên đề phòng địch đánh phản kích chiếm lại và diệt những tên sống sót. Ở phía bên kia, bộ phận đánh lô cốt Giồng Lạc hiệp đồng nổ súng, đã tiêu diệt quân địch làm chủ trận địa. Sau 35 phút chiến đấu quyết liệt, đơn vị tôi đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đội trưởng Trần Hữu Tạo bắn pháo hiệu thông báo ta đã làm chủ trận đánh. Nhìn cánh cổng sắt của địch vẫn đóng chặt, một đồng chí chiến sĩ đã dùng bộc phá ống đánh tung cổng cứ điểm. Lực lượng dân công chạy vào chuyển thương binh, liệt sĩ về phía sau và thu toàn bộ vũ khí. Trong đó, hai khẩu pháo 94mm được bà con xã Điện Tiến dùng hai con trâu đực kéo sang sông an toàn. Kết quả trận đánh, chúng tôi thu được hai khẩu pháo 94mm, một khẩu ĐKZ 57mm, một khẩu đại liên vít-ke 2 nòng, một khẩu cối 81mm và trung liên, súng trường cùng vô số đạn dược, làm chủ hoàn toàn cứ điểm Bồ Bồ, góp phần giải phóng một vùng rộng lớn của huyện Điện Bàn. Chúng tôi phấn khởi hành quân về lại Gò Nổi. Ở đây, nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã tổ chức khao quân mừng chiến thắng Đội đặc công 11. Đánh giá ý nghĩa trận đánh, có thể nói đây là một trong những chiến thắng vang dội, đã đi vào lịch sử của bộ đội đặc công Quảng Nam - Đà Nẵng như một mốc son chói lọi. Đối với chúng tôi những người lính trực tiếp tham gia chiến đấu, “đỉnh Bồ Bồ” luôn là biểu tượng của niềm tin chiến thắng, là niềm tự hào không chỉ trong chiến tranh mà cả hòa bình. Sau này, mỗi khi về Điện Tiến thắp hương lên tượng đài tưởng niệm chiến thắng Bồ Bồ, tôi lại nhớ đến đồng đội, những đứa con tuổi đời mười tám, đôi mươi đã chiến đấu không tiếc máu xương. Ngày ấy, mỗi khi khăn đỏ quàng cổ, ngụy trang thân mình theo màu cây cỏ thiên nhiên, trong trái tim chúng tôi chỉ chứa đựng lòng căm thù giặc và tình yêu nước nồng nàn, nguyện chiến đấu vì Đảng, vì dân đến giọt máu cuối cùng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:55:46 pm Sau chiến thắng Bồ Bồ một thời gian, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân vào thị xã Tam Kỳ để sẵn sàng thi hành khi ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ. Cá nhân tôi vừa về đến Gò Nổi, chưa kịp ăn mừng thắng lợi đã nhận nhiệm vụ đi về phương bắc. Hôm ấy, tôi và anh Tạ Bán có lệnh lên gặp trực tiếp đồng chí Hà Bân - Chủ nhiệm Chính trị Thành đội Đà Nẵng. Tôi phân vân: “Trong trận đánh vừa qua, mình đã chiến đấu dũng cảm, nhưng cũng chưa dám nhận là xuất sắc. Vậy tại sao chỉ huy thành đội lại gặp mình?”. Tuy nhiên, có lệnh thì cứ đi. Anh Tạ Bán cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi hồi hộp lên gặp đồng chí Hà Bân. Khác với những gì tôi băn khoăn, anh Bân tiêp anh em tôi niềm nở, thân tình. Sau mấy câu thăm hỏi, đồng chí Hà Bân bắt đầu nói về tình hình địch, ta hiện nay, đồng thời cũng thông báo cho chúng tôi biết về quân đội Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ. Dường như chờ chúng tôi nắm chắc những thông tin trên, đồng chí Hà Bân ngừng lại. Tôi vẫn chưa hiểu nội dung cuộc gặp này là gì. Chẳng lẽ cấp trên gọi hai chúng tôi lên chỉ để thông báo tình hình? Không để chúng tôi đợi lâu, anh Bân đi vào vấn đề chính: “Hôm nay, tôi thay mặt chỉ huy thành đội, gọi các đồng chí lên để giao nhiệm vụ mới. Ngay ngày mai, các đồng chí lên đường về Đà Nẵng thực hiện nhiệm vụ điều tra nắm tình hình địch tập trung tại ga lớn Đà Nẵng và sân bay, bến cảng. Thời gian hoàn thành trước ngày 20 tháng 7 năm 1954”. Đồng chí Hà Bân ngừng lại, quan sát kỹ nét mặt chúng tôi, sau đó nhấn mạnh: “Đây là một nhiệm vụ khó khăn, yêu cầu bí mật cao, phải hoàn thành trong một thời gian ngắn. Vì thế, tổ chức đã lựa chọn rất kỹ người đi thực hiện nhiệm vụ. Tôi tin rằng các đồng chí sẽ không phụ lòng tin của chỉ huy đơn vị, của thành đội, tỉnh đội”. Quả thật, lúc đó tôi và anh Bán cũng có bị bất ngờ. Chúng tôi không dám nghĩ rằng mình được cấp trên tin cậy như thế. Vì vậy, hai anh em cùng hứa sẽ quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trên đường về đơn vị, chúng tôi xác định: Một là, hoàn thành tốt nhiệm vụ điều tra nghiên cứu tình hình địch phục vụ “đình chiến” ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Hai là, có thể sẽ hy sinh ở tuổi hai mươi bốn trong khi làm nhiệm vụ hoặc bị địch bắt. Chúng tôi tạm biệt anh em, bí mật đi ra Đà Nẵng. Do đặc điểm bộ đội đặc công thường có những nhiệm vụ đặc biệt, nên khi chia tay mọi người cũng không ai hỏi chúng tôi đi đâu, làm gì. Tôi và anh Tạ Bán lặng lẽ đi về khu Tây - Đà Nẵng.
Quan sát lính Pháp đi lại trên đường, ra vào ga tôi cảm nhận có lẽ chúng đã thất bại nên chỉ chú tâm chuẩn bị cho việc rút quân khỏi Việt Nam. Vì thế chúng tôi gặp khá nhiều thuận lợi trong công tác điều tra nắm địch. Hai chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ quay về Tam Kỳ thì được tin Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đình chiến toàn Đông Dương, Quân viễn chinh Pháp sẽ rút khỏi nước ta, Cam-pu-chia và Lào. Ngay buổi tối hôm đầu tiên về lại đơn vị, tôi được đồng chí Chính trị viên đại đội gọi lên, thông báo cấp trên cho đi tranh thủ với thời gian cả đi và về 3 ngày. Tôi không ngờ niềm vui đến nhanh như vậy. Tôi lắng nghe như nuốt từng lời của Chính trị viên: “Thời gian ngắn, đường đi khá xa, có nhiều nguy hiểm. Nhưng đây là sự quan tâm của đơn vị, đề nghị đồng chí chấp hành mệnh lệnh đúng thời gian quy định”. Tôi vui mừng đến ríu cả bước chân, đến quên cả chào thủ trưởng. Đêm hôm đó, trăng sáng tỏ, soi thẳng vào đầu giường. Tôi không thể nào ngủ được, chỉ mong cho trời mau sáng để lên đường về gặp ba, mẹ, các em, gặp lại bạn bè, quê hương. Thế là sau gần 9 năm xa nhà, tham gia chiến đấu ngay trên đất mẹ, tôi sắp được về thăm lại chốn xưa. Càng nằm nghĩ ngợi, tôi càng thấy thương ba mẹ, nhớ các em. Trong suốt nhiều năm chiến đấu, không ít bận cái chết cận kề, chưa có khi nào tôi nhớ nhà như lúc này. Kỷ niệm tuổi thơ dù không mấy ngọt ngào, nhưng vẫn ùa về trong tâm trí. Hồi nhỏ, mỗi khi lùa con trâu vào chuồng, mắt nó cứ nhìn tôi như nhắc mai nhớ đến cho nó đi ăn nhé, v.v. Tôi hết khẽ khàng trở mình sang bên này lại lật sang bên kia, vì sợ anh em thức giấc. Chỉ mong sao trời sáng mau mau để tôi lên đường. Quãng đường từ thị xã Tam Kỳ ra đến xã Hòa Liên dài khoảng 75 cây số, còn khá nhiều hiểm nguy. Vì lúc này đang trong thời gian đình chiến nên địch ta lẫn lộn. Ở các địa phương, cán bộ, bộ đội đi rồi, bọn tề ngụy kịp thời ngóc đầu dậy làm tay sai cho chế độ bù nhìn mới. Chúng theo dõi nghiêm ngặt, thanh lọc Việt Minh, cộng sản trong nhân dân. Để đảm bảo an toàn, tôi phải cải trang làm thợ nề đi xây dựng vùng giải phóng. Tôi vừa đi, vừa chạy từ Tam Kỳ về xã Hòa Trung, huyện Hòa Vang, mất 12 tiếng đồng hồ. Tôi mon men tiếp cận một số người dân đi cắt chè, đốn củi để nhờ họ nhắn hộ gia đình tôi ngày mai lên dậy sớm. Vì lúc đó, nhà tôi ở vẫn đang trong vùng bị địch chiếm. Tin về cho gia đình xong, tối hôm ấy, tôi yên tâm ăn, ngủ ở nhà ông Lê Văn Mùi chủ trại sản xuất. Ông này bị địch tình nghi là cộng sản nên thường xuyên cho quân lính mai phục trước cổng, xung quanh vườn nhà. Sợ không may anh em mình về bị chúng bắt, ông bỏ lên căn cứ cách mạng sống một mình và tính toán: Nếu sau này địch truy lùng thì ông vượt biên chạy ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sau này, không ngờ tôi lại gặp ông tại thị trấn Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, khi tôi tập kết ra Bắc. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Mười Hai, 2020, 05:57:11 pm Hôm sau, đúng 8 giờ sáng, đoàn nông dân đi cắt chè đã dẫn đến trước mặt tôi một người con gái hiền hậu dễ thương với đôi mắt ướt long lanh, đầm đìa giọt lệ. Cô gái này là Lê Thị Đặng, bạn cũ của tôi năm xưa. Chúng tôi đã biết nhau từ hồi cắt cỏ, giữ trâu cho nhà giàu. Song do hoàn cảnh chiến tranh nên khi lớn lên mỗi người một ngả. Ngày ấy, thực lòng mà nói chúng tôi cũng đã có ý phải lòng nhau. Hôm trước khi lên đường nhập ngũ, tôi có ngỏ ý kết duyên chờ đến ngày độc lập. Những tưởng gần mười năm không có tin tức của tôi, cô ấy đã đi lấy chồng. Không ngờ sau bao nhiêu năm xa cách, người con gái thôn quê dưới chân núi Hải Vân vẫn đợi chờ tôi, đợi chờ đến ngày độc lập. Tôi bàng hoàng, thổn thức. Tôi không tin, nhưng chuyện lạ đó có thật. Vì vậy, dù rất cảm động nhưng tôi vẫn kìm nén tình cảm, chỉ có lời qua ý lại, ân cần thắm thiết như bạn cũ gặp nhau. Tôi gợi ý thăm dò cuộc sống hiện tại của Đặng. Tôi ướm hỏi:
- Tình cảm của mình đã được thử thách xa nhau rồi, bây giờ lại xa nhau tiếp. Anh về phép có 3 ngày. Sau đó, đến đơn vị để tham gia hành quân vào thành phố Quy Nhơn chuẩn bị tập kết. Tôi ngừng lời, quan sát thái độ của em. Đặng vẫn im lặng. Tôi có linh cảm em đang giấu tôi một điều gì đó rất vui. Tôi mạnh dạn hẳn lên và đọc cho em nghe mấy câu thơ vừa ứng khẩu: - “Anh ra miền Bắc gặp Cha già / Gặp Võ Đại tướng thiết tha hiền lành / Thương dân, thương lính hết tình / Miền Nam anh dũng của mình nào quên”. Em ở lại đấu tranh chờ đến ngày thống nhất anh về cưới em. Có lẽ biết được tình cảm của tôi vẫn vẹn nguyên như hồi mới chia tay nên cô ấy vừa cười, vừa nói: - Mẹ ở nhà đã cưới vợ cho anh rồi. - Cưới ai rứa hả em? Tôi giật mình hỏi. Bấy giờ đến lượt Đặng đỏ mặt, ấp úng. Tôi càng sốt ruột. Cô ấy nói như hờn trách: - Cưới ai anh còn hỏi. Anh hứa với em khi anh còn ở đơn vị dân quân tập trung xã Hòa Liên kia mà. - Ờ, anh nhớ rồi, anh xin lỗi... Tôi vui sướng ôm chầm lấy em. Tôi không thể tả nỗi niềm hạnh phúc của mình. Nhưng tôi càng sung sướng bao nhiêu thì càng thương cô ấy bấy nhiêu. Thời gian gặp nhau ngắn ngủi đã không cho phép chúng tôi hàn huyên nhiều. Tôi chỉ biết sau khi mình lên đường nhập ngũ thì em cũng vào du kích hoạt động vùng địch hậu. Dù chưa công khai, nhưng em đã xem gia đình tôi như của mình. Người con gái đồng quê chất phác ấy mặc dù bị địch kìm kẹp, theo dõi gắt gao vẫn thường xuyên qua lại chăm sóc cơm nước, thuốc men và công việc đồng áng giúp cho ba mẹ tôi khi đơn chiếc, thiếu hụt. Mọi người trong gia đình tôi cũng xem em như dâu con trong nhà. Một hôm trời sáng trăng, Đặng xuống thăm nhà tôi. Hai người dường như đã hiểu được tâm sự của nhau. Mẹ tôi cất giọng buồn buồn: - Trong thời gian tới, địch sẽ bắt con gái chưa chồng lấy lính, lấy ác ôn làm chồng để ly khai cộng sản. Không biết... Mẹ tôi nói chưa dứt lời, cô ấy đã chen vào: - Ý con cũng muốn nhưng không dám thưa với mẹ. Vì sợ mẹ cho con là con gái vô duyên, đời nhà ai con gái lại đi cưới chồng. Mọ tôi vội xoa đầu người con gái nết na, hiền thục. Hai mẹ con tâm đầu ý hợp. Gia đình tôi liền tổ chức bữa cơm mời bà con hàng xóm chung vui hạnh phúc cho đôi trẻ Lượng - Đặng. Từ đó, em về ở hẳn với mẹ tôi. Chiến tranh đã làm nên điều kỳ diệu của tình yêu chúng tôi. Song chiến tranh cũng đã đẩy người con gái nơi thôn đã âu sầu lẻ bóng kể từ khi theo đám người rước dâu vắng chú rể. Đau đớn hơn, cuộc đời làm vợ của em thật ngắn ngủi. Năm 1954, em bằng lòng lấy tôi làm chồng, tổ chức đám cưới không có chú rể vì thương mẹ già, thương người yêu ở xa không người phụng dưỡng song thân. Hai mẹ con côi cút làm ăn chờ đến ngày thống nhất đón tôi về. Không ngờ năm 1958, số phận nghiệt ngã đã đưa em về suối vàng đột ngột, sau một cơn bạo bệnh. Chiến tranh đã đưa em đến với tôi và cũng là thủ phạm khiến tôi không được bên em lúc lâm chung. Có lẽ trên thế gian này chỉ mình tôi có cuộc sống vợ chồng ngắn ngủi, thiệt thòi đau thương đến như vậy. Niềm vui gặp người bạn gái từng ướm lời khi xưa hay niềm hạnh phúc được gặp người vợ trẻ chỉ diễn ra trong vòng ba mươi phút. Sau đó, tôi vội trở lại đơn vị để kịp tham gia đoàn quân tập kết ra miền Bắc. Đó là lần gặp gỡ đầu tiên, cũng là lần cuối cùng của tôi và Đặng theo nghĩa phu thê. Bốn năm sau ngày chia tay, tôi được trở về miền Nam chiến đấu. Khi tôi tranh thủ trở lại quê nhà thăm mẹ, thăm vợ thì: “Nhìn em chẳng thấy em đâu / Chơi vơi nấm mộ một màu cỏ xanh”. Âu cũng là số phận con người sinh ly tử biệt, chiến tranh không tránh khỏi sự đau thương mất mát. Lúc ra đi về cõi vĩnh hằng, vợ tôi chỉ kịp trăng trối: “Mẹ ơi! Khi con qua đời anh Năm ở ngoài đó có biết không mẹ?”. Cuộc sống vợ chồng chỉ được 30 phút bên nhau, hạnh phúc đỉnh cao là cầm tay nhau dặn dò, ước hẹn đã đi vào hồi kết. Một cái kết đau thương chỉ có trong chiến tranh. Lúc ấy, nghe tin vợ tôi đã đi xa, tôi không tin đó là sự thật. Khi biết chắc em đã yên nghỉ nấm mồ xanh, trái tim tôi như tan nát. Tôi thầm hứa phải chiến đấu bằng hai để đất nước sạch bóng quân thù, không còn ai chịu cảnh sinh ly tử biệt như chúng tôi. Bài thơ “Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan chúng tôi thường đọc cho nhau nghe không ngờ đã vận vào tôi với nỗi đau tột cùng “Nhưng không chết / Người trai khói lửa / Mà chết người gái nhỏ hậu phương / Tôi về không gặp nàng / Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối / Chiếc bình hoa ngày cưới / Thành bình hương tàn lạnh vây quanh”. Gác lại đau thương, tôi tiếp tục hành quân theo dặm dài đất nước với lời thề “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Quyết tâm chiến đấu cho quê hương sạch bóng quân thù”. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:19:46 pm CHƯƠNG BỐN THEO ĐOÀN QUÂN TẬP KẾT Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện chuyển quân tập kết, tôi thuộc lực lượng được lệnh lên đường ra miền Bắc. Từ ngày 10 tháng 5 năm 1955, tại thị trấn Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, các đơn vị chủ lực, các cơ quan dân chính Đảng và nhân dân Liên khu 5, dưới sự lãnh đạo chỉ huy của đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5, trực tiếp chỉ huy và điều hành tập kết. Có thể nói trong thời gian khoảng từ ngày 10 đến 16 tháng 5 năm 1955, đoạn đường từ thị trấn Bồng Sơn đến thành phố Quy Nhơn luôn nhộn nhịp, vui tươi như có ngày hội lớn. Đặc biệt, đàn voi ở các tỉnh Tây Nguyên kéo về, đoàn ngựa từ Phú Yên ra tham gia tập kết. Từng đoàn xe cam nhông chạy vùn vụt vận chuyển ngựa, voi, xe, pháo... xuống bến cảng Quy Nhơn đưa ra tàu lớn đi trước. Tuy nhiên, tình hình an ninh, trật tự những ngày này cũng vô cùng phức tạp vì địch ta lẫn lộn. Quân Pháp và bọn Việt gian tay sai bán nước với âm mưu muốn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, định đánh úp ta tại thành phố Quy Nhơn. Do đó, hai bên luôn trong tình trạng giằng co, căng thẳng. Tiểu đoàn đặc công 323 của Liên khu 5 và các trung đoàn chủ lực Liên khu được lệnh chuyển sang phòng ngự Quy Nhơn, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thành phố. Cuối cùng, công tác bàn giao cũng được hai bên tiến hành đúng theo Hiệp định. Ngày 16 tháng 5 năm 1955, các đơn vị tập kết tại cảng Quy Nhơn để lên tàu ra bắc. Nhân dân đến tạm biệt, tiễn đưa bộ đội đi tập kết trong ánh mắt rưng rưng. Dù không nói ra, nhưng ai cũng cảm thấy tình cảm quân dân thật dạt dào. Kẻ ra đi, người ở lại. Tay mỗi người cầm một lá cờ vẫy gọi và đưa hai ngón tay kia lên trời như nhắn nhủ hai năm sau sẽ trở về đoàn tụ. Đã có không biết bao nhiêu cặp vợ chồng, con cái, biết bao đôi uyên ương chưa kịp rước dâu ở các tỉnh xa xôi, băng rừng lội suối về đây để tiễn đưa người thương ra đi tập kết. Tôi không có ai đưa tiễn, nhưng cũng nôn nao trước tình cảm thắm thiết của nhân dân Quy Nhơn. Những chiếc đồng hồ đếm ngược được giấu trong trái tim mỗi người đã hoạt động từ lâu. Ẩn chứa sau vẻ ngoài nhộn nhịp là những khoảng lặng nặng nề đến nghẹt thở. Liệu địch không thi hành nghiêm túc hiệp định thì khi nào chúng tôi mới được trở về đoàn tụ? Khi chỉ còn hai giờ nữa là đối phương sẽ đến đất Bồng Sơn, đây là địa điểm ta và địch bàn giao để thi hành hiệp định đã ký kết, chúng tôi nghe tiếng còi tàu hú vang từ ngoài biển vọng vào. Cùng lúc này, chiếc tàu há mồm của Pháp cũng đang cập bến Quy Nhơn để chở bộ đội ra khơi. Tiểu đoàn Đặc công 323 Liên khu 5 đi chuyến cuối cùng với Trung đoàn 96 và một số lực lượng khác trên chiếc tàu thủy Ba Lan có tên là Kin-lanh-ski. Tàu kéo còi xuất phát chở theo đoàn con miền Nam tạm biệt quê mẹ yêu thương với lời ước hẹn hai năm sau quay về tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Ngắm không gian yên bình tôi thầm mong địch không phá hiệp định để chúng tôi sớm trở lại nơi này. Khi con tàu ra gần đến hải phận quốc tế, chúng tôi nhận được lệnh báo động chiến đấu. Tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ lên hết trên boong tàu, đeo áo phao sẵn sàng đợi lệnh. Theo phương án, khi có tình huống xảy ra, chúng tôi nổ súng và nhảy xuống biển bơi vào chân núi Hải Vân. Vì trước đó, ta nhận được tin tình báo cho biết khi tàu tập kết chạy ngang qua hải phận Đà Nẵng, địch sẽ đánh úp ngoài khơi, sau đó báo cho ta tàu gặp tai nạn chìm xuống đáy biển. Tình hình khá nguy nan. Đa số cán bộ, chiến sĩ chúng tôi là dân nông thôn, miền núi nên chiến đấu trên biển không phải là sở trường. Nếu xảy ra tình huống chiến đấu thật thì càng khó khăn hơn khi một số anh em đi tàu chưa quen đã bị say sóng. Hình như cũng được thông báo mối nguy hiểm có thể xảy ra từ trước nên lúc tàu đến hải phận Đà Nẵng, viên thuyền trưởng đã mở hết tốc lực, tàu đè sóng lướt băng băng. Đoàn tập kết đi đến biển Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị mới được thông báo an toàn. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Lênh đênh trọn hai ngày, hai đêm giữa trời mây sóng nước đại dương, đoàn tập kết đặt chân lên bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa. Tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thanh bình nơi đây. Biển Đà Nẵng quê tôi cũng rất đẹp. Song sinh ra và lớn lên trong buổi giặc giã triền miên, nên tôi chưa bao giờ được thấy vẻ thanh bình của biển quê hương. Lần đầu ra miền Bắc, được sống trong cảnh tự do, tôi càng mong ước sớm đến tổng tuyển cử để quê tôi được giải phóng, thống nhất hai miền Nam, Bắc. Chúng tôi hành quân từ Sầm Sơn về huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Cùng với nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, đơn vị còn tham gia đắp đê ở huyện Nông Cống. Chỉ mất gần ba tháng, chúng tôi đã hoàn thành một tuyến đê khá dài. Sau đó, đơn vị tiếp tục hành quân vào phía nam và đóng quân tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thuộc biên chế của Quân khu 4. Quân khu đã điều toàn bộ Tiểu đoàn đặc công 323 xuống bãi biển Cửa Lò. Trong thời gian này, đơn vị chúng tôi lập được một thành tích bất ngờ và nó đã trở thành kỉ niệm đẹp trong mỗi cán bộ, chiến sĩ đặc công Quân khu 4 ngày ấy. Số là trước đó có một chiếc tàu thủy của Liên Xô chở hàng tiếp tế cho ta bị bão đánh dạt lên bãi cát. Chúng tôi được lệnh đào bới lộ rõ thân tàu; sau đó đào rãnh dẫn nước để kéo tàu ra biển an toàn. Cả con tàu khổng lồ bị cát vùi lấp phân nửa. Tuy nhận nhiệm vụ, nhưng chúng tôi không biết đến lúc nào mới đào nổi phần thân tàu. Trời nắng nóng. Gió biển thổi cát bay phần phật. Mới bắt tay vào làm, ai cũng nghĩ chắc khoảng hơn một tháng là xong. Nhưng thực tế, lúc đào sâu xuống, nước biển thấm vào gây không biết bao nhiêu khó khăn cho đơn vị. Mất ba tháng ròng rã dãi dầm trong nắng gió miền Trung, chúng tôi mới hoàn thành công tác chuyển tàu ra khơi. Lần ấy, Tiểu đoàn đặc công Quân khu được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương. Năm 1957, trước tình hình chính quyền Ngô Đình Diệm trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, Quân khu 4 quyết định điều một trung đội đặc công vào bổ sung, xây dựng lực lượng trinh sát tại khu vực giới tuyến, thuộc địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tôi được bổ nhiệm làm Trung đội trưởng, chịu trách nhiệm dẫn quân vào Vinh Linh. Trung đội tôi thuộc quân số của Đại đội 18, Trung đoàn 220, Lữ đoàn 270, gọi là Trung đội trinh sát đặc công, có nhiệm vụ tuần tra canh gác phía bắc cầu Hiền Lương, dọc sông Bến Hải từ núi xuống biển trên địa bàn các xã: Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấp, Vĩnh Kim thuộc huyện Vĩnh Linh, Hồ Xá và cầu Hiền Lương. Chúng tôi đóng quân trong nhà dân, được đùm bọc chở che hết sức tận tình chu đáo. Có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi trong thời gian ấy là tình quân dân như cá với nước. Nhân dân đã thương yêu, coi chúng tôi như con cái trong nhà. Ngược lại, bộ đội cũng tôn trọng, thương quý mọi thành viên trong gia đình như thân nhân của mình. Tình hình chiến sự lúc đó cũng khá phức tạp. Vì đây là khu vực giới tuyến nên cuộc đấu tranh diễn ra rất quyết liệt. Ban ngày, hai bên bắc loa công suất lớn đấu tranh với nhau trên mặt trận chính trị. Ta tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, về chủ nghĩa xã hội.v.v. Còn phía bên kia sông Bến Hải, đài địch cũng ca ngợi lối sống tự do kiểu Mỹ, chính sách của nhà họ Ngô... Khi màn đêm buông xuống, tiếng loa tắt hẳn, trong không gian chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng pháo bắn cầm canh. Thảng hoặc đâu đó, chúng nghi có anh em mình hoạt động thì rộ lên một vài loạt đạn rồi thôi. Người ta thường nói, bóng tối là bạn đồng hành của kẻ trộm. Nhưng đối với bộ đội đặc công chúng tôi, bóng tối là người đồng minh tin cậy. Nhờ màn đêm đen kịt, chúng tôi đã thuận lợi khi vượt sông Bến Hải đột nhập vào căn cứ quân sự Mỹ - ngụy đóng ở Cồn Tiên - Dốc Miếu (Quảng Trị) để xây dựng cơ sở, tổ chức bàn đạp, vẽ sơ đồ cách bố phòng của địch, lên phương án tác chiến... Chúng tôi dự kiến, nếu quân địch đánh sang phía bắc cầu Hiền Lương thì trung đội đặc công sẽ tập kích các cứ điểm Cồn Tiên - Dốc Miếu. Cũng trong thời gian này, theo đề nghị của bạn, cấp trên đã nhiều lần giao nhiệm vụ cho Trung đội đặc công trinh sát chúng tôi tổ chức đội hình chiến đấu sang nước bạn Lào tập kích bọn lính phản động “Phu-mi - Bun-ùm” giành nhiều thắng lợi. Các bạn Lào đã không ngớt lời cảm ơn, khen ngợi. Năm 1959, đơn vị chúng tôi được lệnh về miền Nam chiến đấu, gọi là Đội đặc công Nam tiến. Thế là sau bốn năm tập kết ra miền Bắc, những người con miền Nam lại trở về đánh đuổi kẻ thù trên quê hương. Dẫu không ai muốn nhắc, nhưng chúng tôi vẫn không thể nào quên hình ảnh bàn tay giơ cao vẫy vẫy với hai ngón chếch ra hình chữ V, nghĩa là biểu tượng của chiến thắng, cũng là lời ước hẹn sau hai năm sẽ trở về tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lúc ấy, không ai có thể ngờ rằng để có được độc lập, thế hệ chúng tôi cùng bao lớp cháu con phải chiến đấu ròng rã thêm hai mươi năm nữa. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:21:09 pm CHƯƠNG NĂM TRỞ VỀ CHIẾN ĐẤU TRÊN QUÊ HƯƠNG Trước khi trở về miền Nam chiến đấu, có một vinh dự lớn đã đến với tôi vào ngày mùng 1 tháng 1 năm 1959. Đó chính là ngày tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Sau đó, đến ngày 15 tháng 7 năm 1959, tôi được công nhận đảng viên chính thức. Khoảng đầu tháng 8 năm 1959, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân ra Sơn Tây huấn luyện bổ sung nghiệp vụ đặc công để trở về miền Nam chiến đấu. Lúc này, tôi nghiệm lại lời dạy của cha ông ta “Có học mới hay” quả không sai. Trước đây, tôi từng tham gia nhiều trận đánh của bộ đội đặc công, đã được đào tạo một số kiến thức cơ bản về cách đánh “nở hoa trong lòng địch”. Nhưng khi được huấn luyện một thời gian ngắn ở đây, tôi cảm thấy đầu óc mình mở mang ra rất nhiều, có thể tin khẳng định mình đủ khả năng chỉ huy một đại đội đặc công tiềm nhập, phá hủy một căn cứ quân sự của địch. Sau gần hai tháng huấn luyện theo bài bản, đến tháng 10 năm 1959, chúng tôi bí mật hành quân và Quảng Bình, Vĩnh Linh (Quảng Trị) chính thức nhận nhiệm vụ, quân trang, quân dụng và vũ khí trang bị để lên đường. Đơn vị đặc công Quân khu 4 được chia thành nhiều bộ phận. Riêng đoàn chúng tôi về Quảng Nam - Đà Nẵng được biên chế sáu đồng chí. Nếu bốn năm trước, chúng tôi tập kết ra bắc, lênh đênh trên biển trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu thì bây giờ đường hành quân lại là xuyên rừng, lội suối và cũng luôn sẵn sàng chiến đấu. Quãng đường từ Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế có giao liên đi trước dẫn lối, báo động, hướng dẫn đi tránh đường vòng ở những nơi địch thường mai phục. Khó khăn gian khổ dọc đường thì hết chỗ nói. Các địa danh như Khe Sanh, dốc Ba Rền, Dốc Bút, v.v. từng ám ảnh bộ đội ta một thời đều có dấu chân chúng tôi. Lúc đầu, ba lô đồng chí nào cũng căng phồng, chứa đầy thức ăn, củi duốc và cả những vật kỉ niệm của miền Bắc. Đi được vài chặng, mồ hôi túa ra ướt đẫm quần áo. Mỗi lúc bước đi, quai ba lô lại cà vào vai đau điếng. Thế là nhân lúc nghỉ giải lao, ai nấy tranh thủ kiểm tra ba lô, cảm thấy thừa cái gì là vứt, kể cả nặng một gam cũng bỏ. Chúng tôi đi, chân bước thấp bước cao, tai luôn nghe ngóng động tĩnh, mắt nhìn ra phía trước. Lâu lâu, có tiếng xuýt xoa của ai đó khi nhìn lên đỉnh dốc cao vời vợi. Nếu như lúc lên dốc, ba lô như một vật nặng níu phía sau thì xuống dốc nó chẳng khác gì một khối đá đè nặng lên lưng, chỉ cần chúng tôi sẩy bước một chút là có thể bị lăn xuống vực sâu hun hút. Có đoạn đi trong sương đêm, cảm giác cẳng chân hơi ngứa ngáy là y như rằng một chú vắt đã yên vị trong quần từ lúc nào. Khó khăn chồng chất khó khăn. Gian khổ nối tiếp gian khổ. Nhưng lúc ấy không thể có sức mạnh nào có thể chiến thắng lòng căm thù giặc, khát khao được về miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương trong mỗi chúng tôi. Sau hơn hai tháng trèo núi, luồn rừng, vượt đường 9 - Khe Sanh, trèo lên dốc Bút..., băng qua thác ghềnh theo dọc đường Trường Sơn Đông, đến khoảng cuối năm 1959, đầu năm 1960, đoàn cán bộ đặc công về đến buôn làng A Banh, A Tép thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Khi chúng tôi vừa ổn định nơi ăn chốn ở thì cấp trên giao nhiệm vụ ngay. Trước mắt, anh em được phân công về địa bàn các huyện miền núi Đông Giang, Nam Giang và Tây Giang làm công tác dân vận, xây dựng vùng du kích; đồng thời, tổ chức quân báo trinh sát điều tra cứ điểm. Trong thời gian này, bọn ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thường xuyên đưa quân lên càn quét tận biên giới Việt - Lào. Âm mưu lâu dài của chúng là bình định các vùng dân tộc miền núi, khai thác tài nguyên, nắm dân đặt hội đồng hương chính xã thôn, tổ chức ra nhiều giáo phái chia rẽ đồng bào Kinh, đồng bào Thượng nhằm chống lại cộng sản. Do đó, quân ngụy và hội đồng hương chính đóng đồn bốt cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội như: Bót Xít, Ga Lâu, Lờ Bơ, A Ró, Trao, Rô và một nơi khác nhằm hỗ trợ cho bọn bình định chiêu an dồn dân lập ấp. Nói chung, ba huyện miền núi đều có địch chốt giữ. Chúng dồn đồng bào dân tộc K’tu vào ấp chiến lược, nhằm ly khai cộng sản. Tuy nhiên, nhờ có sự giúp đỡ của các đồng chí cán bộ huyện ủy nằm vùng, hoạt động hợp pháp như đồng chí Ấp Lò... nên chúng tôi sớm hoàn thành tốt nhiệm vụ, điều tra nắm địch. Các anh chính là những cán bộ đã được ta bố trí ở lại từ năm 1954, không đi tập kết. Để đảm bảo an toàn tránh địch phát hiện, các đồng chí ấy đã phải cưa răng, căng tai, thực hiện sống “ba cùng” với đồng bào dân tộc (cùng ăn, cùng ở và cùng làm). Có thể ví đội ngũ cán bộ nằm vùng như những người giữ ngọn lửa cách mạng trên dải đất vùng cao của ba huyện miền núi tỉnh Quảng Nam. Các anh đã lãnh đạo phong trào cách mạng nơi đây luôn vững mạnh. Vì thế, dù trong hoàn cảnh khó khăn hay địch tra tấn dụ dỗ, đồng bào K’tu vẫn một lòng, một dạ theo Đảng, Bác Hồ. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:22:21 pm Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời đã kêu gọi thành lập lực lượng vũ trang tại chỗ. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, ta chủ trương chọn số cán bộ đặc công từ miền Bắc vào làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh. Trên tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 (tháng 1 năm 1959), ta gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng tổ chức tấn công địch. Trước đó. Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng đã phối hợp với Quân khu 5, mở chiến dịch đánh địch từ đầu năm 1960. Trước đó mấy hôm, địch dùng máy bay thả dù xuống đồn này khoảng 15 tấn gạo và thực phẩm để cho hai đại đội lính ngụy đổ quân càn quét. Đặc biệt, nơi đây có bãi cỏ tranh rộng lớn, địa hình bằng phẳng, trống trải, gần sông Bung của ba làng dân tộc là: Bà Bân, Bà Ghì và Bà Tý, nằm trên một thung lũng của huyện Tây Giang, rất thuận lợi cho việc đổ quân, triển khai lực lượng càn quét của địch. Vì thế, ta cũng khó tiếp cận. Để chủ động tìm cách đối phó với trận càn sắp tới của địch, sáu anh em đặc công chúng tôi, do anh Tám Công chỉ huy, đến gặp đồng chí Ấp Lò nhờ dẫn đường xuống A Bát, A Dính để gặp các đồng chí Tỉnh ủy và Tỉnh đội đóng ở A Vương bàn kế hoạch trinh sát nắm địch. Ấn tượng ban đầu của tôi về người cán bộ “ba cùng” là anh có nước da ngăm đen, giọng nói chậm rãi y hệt đồng bào K’tu. Sau một lúc hỏi thăm tình hình, đồng chí Ấp Lò cung cấp tư liệu và cho cơ sở dẫn chúng tôi đến chỗ ở của Ban Tác chiến tỉnh đội, do anh Nguyễn Chơn làm Trưởng ban. Anh Chơn sau này được phong quân hàm thượng tướng, làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Lúc ấy, chỉ huy tỉnh đội quyết định phải tiêu diệt đồn Bót Xít, Ga Lâu và tiểu đoàn quân ngụy đóng ở đồn A Ró. Anh Trần Thận, Chính trị viên, thay mặt Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho đội trinh sát đặc công ở miền Bắc mới vào ghép đội hình vào bộ phận quân báo trinh sát làm nhiệm vụ điều tra các cứ điểm A Ró, Ga Lâu, Bót Xít. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng bào dân tộc sẽ nuôi dưỡng bộ đội, nhưng chúng tôi cũng tham gia làm nương phát rẫy trước là để giúp đỡ nhân dân, sau là tăng thêm tình cảm quân dân.
Tháng 12 năm 1960, Đội Trinh sát đặc công của chúng tôi chính thức nhận nhiệm vụ điều tra đồn Bót Xít. Địch bố trí ở đồn này một đại đội tăng cường. Chấp hành quyết định của trên, Đội cử sáu đồng chí gồm: Ngôn, Dâng, Hiền, Hữu, Thủy và Tế, chia thành hai tổ đi chuẩn bị chiến trường. Trong đó, tôi được phân công làm tổ trưởng tổ trinh sát, có nhiệm vụ phối hợp với bộ phận đặc công H29 để nghiên cứu tình hình địch, lựa chọn cách đánh phù hợp. Đêm mùa đông, trời mưa lâm thâm, gió bấc thổi lạnh thấu xương. Anh em trinh sát mình trần, nằm trên bãi cỏ tranh trống trải, sên vắt bu, bù hùm... bám đầy mình nhưng không thể bắt. Mặc cho chúng cắn no rồi tự rớt xuống. Tuy nhiên, đó chưa phải là khó khăn lớn nhất trong quá trình trinh sát. Vấn đề gây nhức nhối cho chúng tôi là cách bố phòng, tổ chức canh gác của địch. Chúng bố trí ở đây nhiều hàng rào, trong đó có bờ rào tre dày đặc khiến chúng tôi không cắt được buộc phải nhổ, cấu tạo phức tạp cộng với hệ thống hào giao thông dày đặc, chiến hào sâu tới 2,5 mét. Bọn lính gác thường xuyên ném lựu đạn, bắn súng ra ngoài bờ rào. Đặc biệt, khi canh gác, bọn bên này đánh kẻng thì bên kia phải trả lời để không ngủ gật. Hướng của chúng tôi là hướng chính nên phải điều tra tỉ mỉ. Là người trực tiếp chỉ huy tất cả, phải dự kiến phương án chiến đấu đề xuất lên cấp trên, tôi lần lượt chui rào, đo cự ly, xác định bao nhiêu lớp rào, số lượng lô cốt, chiến hào, nhà lính... sau đó vẽ sơ đồ và báo cáo lên trên. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địch canh gác cẩn mật là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến tâm lý của tôi và đồng đội, những cán bộ mới từ miền Bắc trở về. Trường hợp này vừa là thử thách đầu tiên, vừa là cơ hội để kiểm chứng những gì mình đã được học. Vì thế, anh em chúng tôi xác định quyết tâm chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ. Trước hết, đánh tiêu diệt để rút kinh nghiệm thực tế trên chiến trường, sau đó lấy lương thực gồm 15 tấn gạo địch mới đổ xuống cho bọn lính đi càn để cứu đói cho dân, đồng thời làm nguồn dự trữ cho bộ đội sau này. Điều tra ban đêm xong, ban ngày trèo lên cây cách đó khoảng 500 mét đặt đài quan sát, vẽ sơ đồ. Buổi tối, đội trinh sát chia lực lượng đột nhập vào đồn địch theo ba hướng. Đêm thứ nhất, sau khi chúng tôi bò qua được hai lớp rào dây thép gai thì không thể tiến thêm được nữa vì địch báo động liên tục và cho lính ra ngồi dày đặc trên chiến hào. Tôi tự nhủ: “Có lẽ bọn chỉ huy nằm ngủ mơ thấy ác mộng bị ta tấn công nên mới bắt lính la hét, ném lựu đạn, bắn liên tục ra ngoài nhằm ngăn chặn đối phương”. Vì thế, chúng tôi đành phải chờ địch ngớt tiếng súng, bò quay về, đêm sau tiếp tục. Hôm trinh sát thứ hai, anh em họp bàn xác định quyết tâm đột nhập vào bên trong cho bằng được, bởi quân địch có canh phòng cẩn mật đến đâu cũng không qua được kinh nghiệm điêu luyện của bộ đội đặc công có tài xuất quỷ nhập thần. Nhưng đêm thứ hai thì có mũi vào được tận trung tâm, có mũi chỉ đến hàng rào cuối cùng. Chúng tôi xác định bằng mọi giá đêm hôm sau là đêm cuối cùng phải trinh sát được toàn bộ mục tiêu. Đúng như kế hoạch, đêm hôm ấy cả ba hướng đều lọt qua ba lớp hàng rào, vào được bên trong cứ điểm. Theo sự phân công từ trước, anh em núp dưới các kho gạo để quan sát nắm chắc toàn bộ cách bố trí chi tiết, hoạt động của địch. Sau khi quan sát kỹ tình hình bên trong, chúng tôi nhận thấy địch vẫn còn nhiều sơ hở. Dựa vào hệ thống phòng thủ bên ngoài kiên cố, chúng cho rằng đối phương không thể chui qua những lớp rào thép gai, các bãi mìn bố trí không theo quy luật, v.v. Thực tế, quả thật đúng như vậy. Ở ngoài cùng là bãi tranh rộng lớn, trống trải, ta không dễ dàng ẩn náu, tiếp cận. Bao bọc xung quanh đồn là ba lớp rào kiên cố. Đặc biệt, ở lớp rào bên trong cùng, địch trồng tre nứa đan nhau dày đặc, đến một con chồn cũng khó lọt qua. Bên cạnh đó, bờ tường chiến hào được xây cao 2 mét sát bờ rào, hào sâu 2,5 mét, rộng 2 mét có bệ bắn cá nhân. Trên tường hào, cứ cách 15 mét, địch bố trí một vọng gác. Ở bốn góc có 4 lô cốt cố thủ, mỗi lô cốt có một khẩu trung liên. Trong đó, một vọng gác chỉ huy trực chiến. Cứ 10 phút, chúng đánh 3 tiếng kẻng. Các vọng gác đều trả lời theo thứ tự và la ó, bắn súng, ném lựu đạn ra bên ngoài. Qua quan sát tại chỗ, chúng tôi nhận định: “Điều này đã nói lên sự sợ hãi của chúng”. Kể ra địch sợ hãi cũng đúng, vì ở đây rừng núi âm u, hoang vắng, không biết sẽ bị đối phương tấn công khi nào, từ hướng nào tới. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:23:33 pm Sau ba đêm, tổ trinh sát đặc công điều tra đạt kết quả tốt. Tôi kịp thời về báo cáo cấp trên. Đồng chí Trần Thận và đồng chí Nguyễn Hữu Đức triệu tập cuộc họp thông qua Tỉnh đội. Tôi trực tiếp trình bày phương án tác chiến để các đồng chí phê duyệt. Toàn thể cuộc họp nhất trí 100% với quyết tâm tiêu diệt đồn Bót Xít, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng, làm chủ chiến trường, cắt đứt con đường từ hến Giằng lên ba huyện miền núi, thu 15 tấn gạo để cứu đói cho dân và dự trữ lương thực cho tỉnh để mở chiến dịch lớn giải phóng ba huyện miền núi Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang.
Theo phương án chiến đấu, Đội trinh sát đặc công của Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng gồm có các đồng chí: Ngôn, Tám, Vũ, Dâng, Hồng, Lan, Thư, Lâm và Thủy, được biên chế thành 3 mũi. Trang bị vũ khí gồm có súng tiểu liên AK, thủ pháo, lựu đạn, bộc phá ống phá rào. Mũi 1 do tôi làm mũi trưởng, đồng chí Lân mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ hướng đông lên đánh sập hai lô cốt đầu cầu, phát triển vào bên trong tiêu diệt các nhà lính. Mũi 2 do đồng chí Dâng làm mũi trưởng, đồng chí Hồng mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ hướng tây xuống diệt hai lô cốt đầu cầu, phát triển đánh vào nhà lính, chiếm giữ các kho gạo. Mũi 3 do đồng chí Thủy làm mũi trưởng, đồng chí Lan mũi phó, có nhiệm vụ đánh từ phía nam đánh vào, diệt hai nhà lính và hai lô cốt; chiếm giữ cổng ngõ, không cho địch tháo chạy ra ngoài. Truy quét tàn quân địch dưới chiến hào. Ba mũi bắt liên lạc tại trung tâm cứ điểm. Sau khi nắm chắc phương án tác chiến, toàn đội hiệp đồng giờ G nổ súng. Đúng 15 giờ ngày N, đơn vị hành quân đến vị trí tập kết, trú quân cách đồn địch 500 mét, nằm sâu trong rừng rậm cho anh em nghỉ lại vì sáng ngày mới đánh. Khi hành quân, đi trong đội hình chiến đấu, tôi trăn trở với vai trò là mũi trưởng mũi chủ công của mình. Dẫu không nói ra nhưng tôi biết cấp trên đã tin cậy khi giao cho tôi trọng trách vinh quang và nặng nề này. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của chúng tôi có thể nói ảnh hưởng rất lớn đến toàn cục trận đánh. Đơn vị đến vị trí tạm trú khi thời gian đến giờ nổ súng còn khá dài, tôi bàn bạc với các anh chỉ huy, đề xuất cho anh em tranh thủ ngủ để có sức khỏe chiến đấu. Nhân lúc trời chưa tối hẳn, anh em đặt ống nhòm quan sát mục tiêu để khi đánh khỏi bị nhầm lẫn, sau đó thay nhau lần lượt ngả lưng ngủ vội chờ đến giờ tiếp cận mục tiêu. Sợ khi mọi người ngủ không may địch bắn cầm canh vào đội hình, hoặc rắn rết, sên vắt, muỗi rừng.v.v. chui vào, hơn nữa biết mình có nằm cũng không ngủ được vì lo lắng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ nên tôi tình nguyện gác cho anh em tranh thủ chợp mắt trước khi vào trận. Nhìn anh em chiến sĩ vô tư ngáy khò khò trước giờ nổ súng, má căng mọng, mặt còn nhiều lông măng, những người chỉ huy chúng tôi phải trăn trở, suy nghĩ cách đánh làm sao ta ít tổn thất, thương vong mà giành thắng lợi lớn nhất. Đó cũng là điều dặn dò của cấp trên trước lúc chúng tôi làm lễ xuất quân. Trong tôi chợt trào dâng một tình cảm khó tả. Liệu sau đêm nay, những gương mặt còn đượm chút thơ ngây của tuổi học trò kia có ai vĩnh viễn nằm lại với núi rừng hay không? Càng nghĩ, tôi càng thương anh em. Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà họ phải gác lại bao mơ ước để lên đường chiến đấu. Trong số đó, liệu mấy người có thể đi suốt cuộc chiến tranh để đến ngày đất nước ca khúc khải hoàn. Cũng có thể sau trận đánh này, tôi là người dừng lại với nấm mồ xanh để anh em đi tiếp cuộc trường chinh vĩ đại. Tôi miên man suy nghĩ như vậy đến khi chiếc kim ngắn của đồng hồ chỉ đến số 12 giờ mới gọi chiến sĩ trong mũi dậy, nhắc lại mục tiêu, hướng tiến công để anh em nhớ và tổ chức động viên lần cuối. 1 giờ, chúng tôi bắt đầu thực hành vận động tiếp cận mục tiêu. Tôi dẫn anh em bò đến sát hàng rào thứ nhất, hướng dẫn tiềm nhập. Toàn mũi bò theo đội hình hàng dọc, lần lượt tháo gỡ bom mìn, chống chui, luồn sâu vào bên trong đồn địch. Lúc này, trời nổi gió heo heo, địch liên tục bắn ra ngoài. Tôi bò gần 12 chiến sĩ, động viên anh em nếu không may trúng đạn thì nằm im để đảm bảo bí mật, không làm ảnh hưởng đến trận đánh. Đúng 2 giờ, ta cắt hàng rào thứ hai, tiến sâu vào trong. 3 giờ, các hướng mở bờ rào tre nứa thứ 3 và đặt bộc phá ống phá rào sang một bên nhằm đề phòng tình huống xấu có thể xảy ra, nghĩa là nếu địch phát hiện thì sẽ đánh sập bờ rào tre và nhảy vào ngay. Toàn đội hình nằm theo hàng dọc chuẩn bị tư thế vọt tiến. Tuy nhiên, do địch bắn rát nên đến 3 giờ 30 phút, chúng tôi mới vượt qua được các lớp rào vào chiến hào tiếp cận được mục tiêu. Bấy giờ trời đã chuyển mưa lâm thâm. Các loại sên, vắt bu dày đặc, đốt chúng tôi hết lớp này đến lớp khác. Cán bộ, chiến sĩ mình trần, đã chịu đựng qua một đêm mưa phùn gió lạnh, bây giờ lại thêm nạn sên vắt. Nhưng tất cả mọi điều đó không làm chúng tôi nản chí quyết tâm. Tất cả đã sẵn sàng nổ súng. Đêm chuyển dần về sáng, quân địch canh gác sơ sài, tiếng kẻng trên các lô cốt thưa dần. Các mũi các hướng đã nắm được quy luật của địch nên nhanh chóng vượt qua bờ thành của hào giao thông, áp sát các nhà lính một cách an toàn, bí mật. Một tình huống bất ngờ xảy ra. Đồng chí đi sau cùng của mũi một không may bị rơi xuống hào gây nên tiếng động khiến tên lính đi tuần tra phát hiện vội la lên: “Ma! Ma! Ma! Tụi bây ơi”. Lính ở hai bót gác hai bên phát hiện cũng kêu lên “Ma! Ma! Bắn”. Như một sự trùng hợp may mắn, lúc đó vừa đúng 4 giờ sáng, tức giờ G, ta đồng loạt nổ súng bắn sập 4 lô cốt ở bốn góc đồn. Các hướng mũi lập tức nổ súng theo mục tiêu đã phân công. Tôi chỉ huy anh em xung phong, đồng thời ném thủ pháo, lựu đạn vào nhà chỉ huy, nhà lính. Trong sự khẩn trương của trận đánh, tôi dùng tiểu liên truy lùng địch, vừa chỉ huy vừa đánh, đồng thời bắt liên lạc với các mũi. Từ vị trí nhà chỉ huy đại đội địch, mũi của tôi tiếp tục đánh chiếm các nhà lính. Tôi lưu ý cho anh em không nên đốt cháy các kho gạo. Như vậy, chỉ sau gần một giờ, cán bộ, chiến sĩ đặc công đã xung phong tiêu diệt hoàn toàn một đại đội lính bảo an ngụy tại đồn Bót Xít, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng, bắt sống một số tên. Trận đánh kết thúc vừa đúng 5 giờ sáng, 300 dân công của ba làng dân tộc là Bà Bân, Bà Ghì, Bà Tý, do cán bộ chỉ huy dẫn vào thu chiến lợi phẩm. Còn chúng tôi hành quân về làng Bà Bân, được nhân dân khao quân một con bò ăn mừng chiến thắng Bót Xít. Cứ ngỡ rằng bò đã có sẵn nên tôi đôn đốc anh em tắm rửa nhanh chóng để tham gia làm thịt bò với bà con. Ai dè khi chúng tôi đến nơi tập trung, mấy người dân Bà Bân mới chỉ khu rẫy của đồng bào có con bò rừng rất hung dữ. Nhân dân ba làng đều sợ nó, nhưng chưa có cách trừ khử, nay nhờ bộ đội lên bắn đem về liên hoan. Tôi dẫn một số anh em theo người dẫn đường lên bao vây con bò. Bò phát hiện có người nên nhảy ra chỗ rẫy trống, ghếch sừng, giương cặp mắt đỏ ngầu như thách thức. Chỉ với một phát đạn của bộ đội và mấy mũi tên của thanh niên dân tộc đi cùng, con thú hoang bấy lâu phá phách nương rẫy của đồng bào nằm gục xuống, một sừng cắm xuống đất, sừng kia chổng lên trời. Chúng tôi khiêng về ăn mừng chiến thắng. Bà con liên tục cảm ơn bộ đội đã đánh giặc cứu dân, giết bò rừng để đồng bào yên tâm lên rẫy. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:24:40 pm Sau trận Bót Xít một thời gian, thừa thắng, Đội trinh sát đặc công tiếp tục cùng Đơn vị H29 tổ chức phục kích tại khu vực làng Trao, diệt gọn một đại đội lính ngụy thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Hôm ấy, một đại đội địch hành quân từ làng Trao lên làng A Dinh. Dưới sự chỉ huy chung của đồng chí Nguyễn Chơn, tôi được phân công chỉ huy tổ chặn đầu và bố trí đội hình phục kích ngay đường dọc bờ sông A Dinh. Khu vực tập trung diệt địch là đoạn đường Trao - A Dinh. Đây là một đoạn đường hiểm trở chạy dọc bờ sông. Các đơn vị phối hợp chiến đấu gồm: Đặc công H29, trinh sát đặc công và dân quân du kích hai làng Trao và A Dinh. Lực lượng dân quân phối hợp 2 tổ, vũ khí chủ yếu bẫy đá, chông thò. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi bố trí trung liên, tiểu liên phục kích cách đường hành quân của địch khoảng năm mét. Phát hiện địch từ xa, nhưng quán triệt phương châm trận đánh phải chắc thắng, diệt địch hiệu quả, chúng tôi kiên trì chờ chúng đến thật gần mới nổ súng. Khi toán lính cảnh giới cách trận địa phục kích khoảng năm mét, tôi sử dụng tiểu liên tiêu diệt tên đi đầu, đó cũng là hiệu lệnh nổ súng của tổ chặn đầu. Bị đánh bất ngờ, địch vội vàng co cụm đúng vào khu vực diệt địch của tổ chính diện. Ngay lập tức, quân ta bắn đá, bấm thò,v.v. Trước tình thế chiến đấu diễn biến mau lẹ, tôi lập tức chỉ huy xung phong, cùng anh em tiêu diệt hết toán đi đầu. Chúng tôi nhảy ra chiếm lòng đường, lập thành phòng tuyến lâm thời không cho địch tiến lên tháo chạy để các bộ phận khác chiến đấu.
Trong “chùm chiến thắng” Bót Xít, Rô, Trao, A Ró của quân ta tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thì chiến thắng A Ró là “nhàn” hơn cả. Vì thực tế, ở đồn này chúng tôi chỉ mới điều tra thì địch đã chủ động rút chạy khi ta đánh Bót Xít. Thời gian điều tra đồn này, tổ trinh sát quân báo làm nhiệm vụ điều tra do tôi phụ trách gồm có tôi, Lâm, Thư, Tám, A Lăng Bin được một bà mẹ dân tộc tên là Bơ Ngơi là người làng A Ró tận tình giúp đỡ. Ban ngày chúng tôi lên nhà trên rẫy (đồng bào gọi là dun) của bà ở, chuyện cơm nước bà lo. Đêm xuống, mẹ Bơ Ngơi lại dẫn anh em về làng, chỉ đường vào đồn, tránh làng chó sủa. Sau khoảng 2 tuần làm nhiệm vụ, chúng tôi tạm biệt bà mẹ dân tộc về đơn vị. Khi tổ điều tra về đến nơi thì được tin địch đã bức rút cả tiểu đoàn về Thạnh Mỹ, Đại Lộc. Những chiến thắng trên đã buộc quân ngụy đóng quân ở ba huyện: Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang, rút hết về đồng bằng, ta giải phóng hoàn toàn miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1960, giải phóng xong miền núi, lực lượng đặc công chúng tôi tiến xuống đồng bằng, phá ấp chiến lược, tiêu diệt đồn, bốt Mỹ - ngụy ở cánh trung, cánh nam và cánh bắc. Về với đồng bằng, những năm 1960 đến 1961, đội đặc công bên cạnh việc đi công tác phong trào, phát động quần chúng cùng Huyện ủy Hòa Vang, chúng tôi còn có nhiệm vụ đánh địch bằng nghệ thuật “nở hoa trong lòng địch” của bộ đội đặc công. Cuối năm 1961, trận đánh đồn Phò Nam đã đi vào kí ức tôi như một mốc son không bao giờ phai. Trận đánh này không chỉ thể hiện sự quả cảm của người lính đặc công mà còn đọng lại trong lòng những cán bộ, chiến sĩ tham dự tinh thần lập công tập thể của người chiến sĩ cách mạng, một đặc điểm tiêu biểu của “Bộ đội Cụ Hồ” mà quân đội các nước khác không dễ gì có được. Đồn Phò Nam nằm trên trục đường từ dãy Bạch Mã ra Huế, song song với dòng sông Cu Đê chảy từ thượng nguồn uốn lượn qua Nam Yên, Phò Nam, Trường Định, Thủy Tú, xuôi về Nam Ô và đổ ra biển. Từ trên cao trông xuống, dòng Cu Đê như một dải Ngân Hà sáng lấp lánh. Mỗi lần đi công tác qua đây, tôi đều cố gắng dừng chân đứng trên đỉnh Ba Viên nhìn xuống. Dòng Cu Đê lượn quanh Phò Nam theo hình bán nguyệt, cây xanh nghiêng mình soi bóng tạo nên một bức tranh thủy mặc đẹp vô ngần. Đối với Phò Nam, sông Cu Đê như người mẹ tần tảo ngày đêm chở nặng phù sa bồi đắp ven bờ. Mặc dù bom đạn chiến tranh dội khắp hai miền Nam, Bắc, nhưng mảnh đất Phò Nam vẫn xanh tươi với lúa, khoai, sắn, bắp, hoa màu, vườn cây trĩu trái. Không riêng người Phò Nam, các thôn Nam Yên, Trường Định cũng được hưởng lộc của thiên nhiên ban tặng. Cứ mỗi lần dừng chân trên đất quê hương, thả hồn theo dòng sông Cu Đê, tôi như thoát khỏi không khí của chiến tranh, tâm hồn không còn vướng nỗi đau trần thế. Dòng sông chảy mê mải, lòng người trôi vô định. Nhưng thực tế chiến tranh đã không cho tôi có thời gian nghĩ vẩn vơ. Tôi đi. Đồng chí, đồng đội của tôi cũng đi. Chúng tôi phải đi cho đến ngày toàn thắng. Chắc hẳn Phò Nam, Nam Yên, Trường Định sẽ còn trù phú hơn, nên thơ hơn nữa nếu như không có gót giày của bọn đế quốc xâm lược, cùng bọn tay sai bán nước dày xéo trên mảnh đất này. Chúng vơ vét, đọa đày bóc lột, đánh đập, bắt bớ, tù đày, giết hại những người dân vô tội, quanh năm chỉ biết vui thú với điền viên. Những ngày ấy, câu hò, giọng hát đò đưa trên sông xuôi ngược đâu còn nữa. “Ai về nhắn với bạn nguồn Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:25:30 pm Thi thoảng có người tiếc nuối, hay ước mong quê hương; đất nước sớm sạch bóng loài lang sói đã cất lên câu ca trên nghe lẻ loi, ai oán. Trước đây, khi đặt chân lên đây, thực dân Pháp đã biến nơi này thành đồng không, nhà trống. Chúng đã đẩy nhân dân ta vào cảnh màn trời chiếu đất, cực khổ khốn cùng. Nạn đói, ốm đau bệnh tật, chết chóc,v.v. đua nhau tàn phá cái xóm làng yên bình như bức tranh thủy mặc. “Con giun xéo mãi cũng oằn”, lời cha ông nói không có sai. Trước sự tàn bạo của kẻ thù, quân và dân nơi đây đã đứng lên để “đòi cái công lý” mà khi thực dân Pháp mang danh nhà nước bảo hộ từng rêu rao. Một cái kết dành cho mọi kẻ xâm lược trên thế giới đã được định đoạt, âu cũng là cái giá phải trả cho những gì chúng đã gây ra. Phò Nam, Quan Nam trở thành mồ chôn giặc Pháp, cảm phục trước chiến công của những con người chân đất áo vải trên quê hương, tôi đã viết nên mấy dòng thơ đầy cảm kích vừa thể hiện tình cảm của mình, nhưng cũng là lời cảnh báo cho những kẻ đang tâm giày xéo lên hạnh phúc của con người:
Dòng sông Trường Định xanh rì Nhiều tên lính Pháp có đi không về Thực dân Pháp rút đi, đế quốc Mỹ nhảy vào tiếp tục dựng lên bộ máy chính quyền bù nhìn tay sai. Bọn tay sai bán nước hại dân đã quên đi đạo lý của dân tộc. Thể hiện lòng trung thành với ông chủ Mỹ, chúng tiến hành dồn dân lập ấp, tuyên truyền rùm beng cái gọi là tự do quốc gia, quốc sách ấp chiến lược, ấp tân sinh, khu trù mật. Âm mưu của chúng lộ rõ là nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng trên đà phát triển mạnh mẽ của ba huyện miền núi: Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang. Lúc đó, các huyện này đã được giải phóng. Bị thất bại nặng nề trong chiến lược “chiến tranh đơn phương”, để tiếp tục hình thức chiến tranh mới, Mỹ - ngụy đã đẩy quân ra chốt chặn nhiều nơi từ đèo Mũi Trâu nằm ở phía tây nam huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, theo dọc đường Bạch Mã vào Nam Yên, Phò Nam, Quan Nam, gò Ông Tự, Tùng Sơn, An Ngãi. Đèo Ông Gấm, Cao Sơn, An Lợi... thành vành đai phòng thủ vững chắc tại phía tây và tây bắc Hòa Vang, đây cũng là tuyến phòng thủ từ xa của thành phố Đà Nẵng. Để chia cắt sự liên hệ của nhân dân đối với bộ đội và các lực lượng cách mạng, địch tổ chức dồn dân vào khu tập trung, lập ấp người Phò Nam, Nam Yên, Trường Định, Quan Nam. Tình thế cách mạng vì thế trở nên khó khăn, nhân dân như “cá chậu, chim lồng”, không dễ dàng tiếp tế cho anh em chúng tôi gạo thóc, thuốc men như trước. Cũng trong thời gian này, Ngô Đình Diệm đẻ ra cái quái thai “Luật 10/59” để siết chặt cổ người dân, dìm phong trào cách mạng trên lưỡi lê, máy chém. Hoàn cảnh của quân và dân đã ngặt nghèo càng ngặt nghèo hơn. Về phía ta, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đơn vị H29 đặc công, đứa con đầu lòng của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ra đời và trưởng thành, đã lập nhiều chiến công vang dội như chiến thắng Hiệp Đức, Bót Xít, đồn Rô, Ga Lâu... làm nức lòng đồng bào dân tộc miền núi. Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên, đẩy mạnh diệt ác phá kềm, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống dồn dân, mở rộng vùng giải phóng đến nông thôn, đồng bằng, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ tiêu diệt địch ở đồn Phò Nam. Đây là một đồn có vị trí quan trọng về chiến lược quân sự, nó khống chế một vùng rộng lớn phía tây bắc Hòa Vang. Lãnh đạo, chỉ huy Đơn vị H29 lúc bấy giờ là các anh Phan Hồng Dâng, Hồ Sỹ Tỵ, Lê Tung, Nguyễn Thanh Thủy. Trước khi thực hành tiêu diệt cứ điểm Phò Nam, H29 được phối thuộc một trung đội trinh sát và quân báo do tôi chỉ huy và một trung đội bộ binh thuộc Đơn vị H30, do anh Đỗ Châu Sa phụ trách. Tham gia trận đánh, về phía chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng có anh Trần Tốc, Chính trị viên, và anh Đặng Đình Vân cùng đi lãnh đạo, chỉ đạo. Tôi 25 tháng 11 năm 1961, đơn vị chúng tôi làm lễ xuất quân từ thượng nguồn sông Voi, là một nhánh của sông A Vương, đi về hướng bắc huyện Hòa Vang. Dọc đường, chúng tôi hành quân đến đâu cũng được đồng bào dân tộc K’tu dẫn đường, ủng hộ lương thực mang theo, mặc dù lúc ấy đời sống của đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn đủ thứ như “thiếu cơm hụt muối”. Trong giai đoạn Mỹ - Diệm kìm kẹp, dùng những thủ đoạn xảo quyệt mị dân, mua chuộc, dụ dỗ,... nhưng đồng bào vẫn một lòng một dạ theo Đảng, Bác Hồ, không ai theo giặc làm tay sai cho chúng. Nhiều câu chuyện xúc động về đồng bào K’tu đã làm không ít người rơi nước mắt cảm động. Những ai từng sống trong những ngày đói khổ, địch càn quét liên miên thì làm sao có thể quên được câu chuyện người K’tu còn nghèo, còn khổ, thiếu thốn quần áo, phải đóng khố, phát rừng làm rẫy, nhưng thu hoạch lúa rẫy mỗi năm một hộ được 50 gùi thì ủng hộ cách mạng 30 gùi. Bữa ăn hằng ngày của đồng bào là sắn, bắp, rau rừng, còn gạo để dành nuôi bộ đội đánh Mỹ - ngụy. Tình thương vô bờ bến của đồng bào K’tu dành cho bộ đội được đúc kết một cách thật giản dị, chân thành qua câu nói: “Mình thương hắn như thương con đẻ của mình”. Trên đường hành quân, nghe những câu chuyện như vậy tôi thấy ấm lòng biết bao. Dù chiến tranh tàn khốc đến đâu, điều kiện chiến đấu ác liệt như thế nào, nếu được đồng bào chở che, nuôi dưỡng thì bất chấp thủ đoạn nào của giặc, chúng tôi luôn là người chiến thắng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:26:53 pm Sau ba ngày hành quân băng rừng, lội suối, chúng tôi đã hành quân từ Đông Giang ra Giàn Bí, Dốc Quạt và về đến Ba Viên vào ngày 28 tháng 11 năm 1961. Trên cương vị Đội trưởng Quân báo trinh sát đặc công của tỉnh đội Quảng Nam Đà Nẵng, tôi được phân công đi liên hệ với địa phương, các cơ sở mật để nắm lại tình hình. Đoàn công tác tiền trạm gồm có tôi, Phan Hồng Dâng và Nguyễn Thanh Thủy là Chính trị viên phó Đại đội 29. Chúng tôi đã gặp anh Ba Thế - Bí thư Huyện ủy Hòa Vang, anh Hùng - Phó Bí thư đứng cánh bắc Hòa Vang, chị Hai Cưu (tức Phạm Thị Cưu) và anh Hoàng. Những người lính đặc công một thời sát cảnh cùng Huyện ủy Hòa Vang đi công tác phong trào nay được gặp lại các anh, chị, ai cũng mừng mừng tủi tủi. Mọi người ân cần đón tiếp anh êm tôi như những đứa em đi xa mới về. Chúng tôi tiếp tục được các anh, các chị cung cấp thêm thông tin về tình hình địch từ cơ sở và nhân dân địa phương báo về như: quân số, chỉ huy, vũ khí và hệ thống phòng thủ của địch. Trên cơ sở đó, kết hợp với kết quả trinh sát thực địa, các đồng chí chỉ huy trận đánh đã kịp thời bổ sung vào phương án chiến đấu để đảm bảo chắc thắng”.
Bên lề cuộc vui hội ngộ, trao đổi tình hình nhiệm vụ, anh Ba Thế không quên hỏi thăm cuộc sống riêng của gia đình tôi, hỏi về tình cảm của tôi và cô du kích Trần Thị Bán, người con gái được anh xe duyên. Chuyện tình của tôi được bắt đầu từ khi Thành ủy Đà Nẵng phân công tổ trinh sát đặc công đi công tác phong trào cùng Huyện ủy Hòa Vang, do anh Ba Thế, Huyện ủy viên, phụ trách. Nhiệm vụ của chúng tôi là xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng trung du và vùng ven đô thị để nắm địch phục vụ chiến đấu, phá ấp chiến lược, diệt ác phá kìm, giành dân giữ đất. Một hôm, tôi cùng các đồng chí trong đơn vị đi công tác xuống đồng bằng. Cán bộ địa phương đã bố trí du kích dẫn đường và đảm bảo cơm ăn, nước uống. Ban đêm, chúng tôi được bố trí nghỉ lại chiến khu Lỗ Trào, Đá Hang. Sáng hôm sau, vào khoảng 10 giờ, có một đoàn người cơ sở gánh gồng gạo, mắm đem lên. Đoàn cán bộ đi công tác phong trào vô cùng cảm ơn tình cảm của nhân dân và tổ chức tiếp đón nồng nhiệt. Tôi bất ngờ phát hiện trong đoàn có cô du kích Trần Thị Bán, là người dẫn đường cho chúng tôi đêm hôm trước. Từ đó, tôi và Bán trở nên thân thiết. Nhiều lần cùng xẻ núi luồn rừng đi xây dựng cơ sở, tôi tâm sự với em những trầm luân của cuộc đời mình đã trải qua. Bán cũng không ngại ngần khi kể cho tôi nghe về cuộc sống riêng tư. Những câu chuyện như vậy đã làm cho đường đi của chúng tôi bớt đi phần khó nhọc, nói cách khác là làm dịu đi sức nóng của cuộc chiến. Đồng thời, tôi cũng có cảm giác mơ hồ một thứ tình cảm đặc biệt dành cho em đang len lỏi trong trái tim. Vì thế, dù biết rằng đi xuống đồng bằng không may gặp địch là có thể hy sinh, tù đày.v.v., nhưng tôi vẫn mong thường xuyên có nhiều chuyến đi để được gần gũi “cô du kích nhỏ”. Có lẽ Bán cũng có tâm trạng giống tôi nên mỗi lần đi bên nhau tôi thấy em rất vui. Không biết do anh em đồn đại hay trực tiếp tìm hiểu mà anh Ba Thế biết chuyện tôi và Bán có ý quyến luyến nhau. Anh đã nhiều lần chủ động tâm sự với tôi: “Cuộc kháng chiến còn dài. Nếu cậu đồng ý xây dựng với cô Bán thì tôi rút lên cho đi bộ đội”. Lúc đầu, tôi cũng còn e ngại vì mình dẫu gì cũng đã một đời vợ. Sau đó, tôi về ngẫm nghĩ: “Chiến tranh đã khiến tôi biệt ly người vợ thứ nhất. Không lẽ cũng chiến tranh đem đến cho tôi người kế tiếp?”. Tôi thăm dò tình cảm của Bán. Dường như anh Ba Thế đã nói hết với cô ấy nên em đã nhận lời cầu hôn của tôi nhanh chóng. Được sự đồng ý của tổ chức và hai bên gia đình, chúng tôi quyết định tổ chức kết hôn. Hôm vợ chồng tôi làm đám cưới, không quà tặng, không rước dâu, không ồn ào nghi lễ. Trên chiếc bàn dài của đơn vị, chỉ có bình nước trà, bao thuốc lá và gói kẹo. Số người tham dự, chứng kiến hạnh phúc lứa đôi của chúng tôi cũng ít ỏi. Tính đại diện cả hai cơ quan đơn vị vừa đúng 7 người. Nhưng không vì thế mà đám cưới bớt đi phần vui vẻ, đầm ấm và hạnh phúc. Vợ chồng tôi say mê trong lời chúc mừng của anh em, đồng chí đồng đội. Mọi người đều tin rằng, chiến tranh dù ác liệt đến đâu cũng không thể tiêu diệt được mầm hạnh phúc. Tôi và Bán hứa với anh em bầu bạn khi đất nước thống nhất sẽ tổ chức cưới lại cho bõ những ngày gian lao. Bây giờ được “ông mai” quan tâm, tôi vui vẻ báo cáo về những tháng ngày hạnh phúc vừa qua. Anh Ba Thế cười lớn: “Ông tơ này cũng biết xe chỉ đấy chứ”. Mọi người nghe vậy cũng cười vui làm vơi bớt vẻ căng thẳng trước khi bước vào trận đánh đồn Phò Nam. Khoảng 17 giờ hôm ấy, bộ đội ta bắt đầu thực hành tiếp cận mục tiêu. Đến vị trí tạm dừng cách đồn địch chừng 500 mét, chúng tôi đứng trên đồi cao quan sát. Bao nhiêu lô cốt lù lù của địch đều lộ ra, đập vào mắt cán bộ, chiến sĩ rõ mồn một. Lúc đó, có hai toán quân từ hướng cầu Sụp lần lượt kéo về đồn. Như mọi trận đánh trước, công tác chuẩn bị chiến trường được chỉ huy đơn vị tổ chức chặt chẽ, nhất là công tác điều tra. Quá trình điều tra đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Đặng Đình Vân và Trần Tốc. Tôi cùng với đồng chí Dâng, đồng chí Thủy thực hành đột nhập vào hướng đông nam nắm tình hình địch. Khó khăn ở hướng này là đồn đóng gần núi, nằm trên trục đường Bạch Mã Đà Nẵng - Huế, Đà Nẵng và Tây Nguyên, đây cũng là hướng trên núi xuống nên địch hay để ý. Đêm đầu, chúng tôi vào hết bốn lớp rào đến chiến hào an toàn, sau đó lùi ra. Hôm đó, đồng chí Tốc, đồng chí Vân đi cùng, nhưng nằm ở ngoài hàng rào. Chúng tôi bò ra báo cáo với các đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày hôm sau, tổ điều tra trở về vị trí tạm trú để vẽ sơ đồ. Đêm thứ hai, chúng tôi cũng vào đến vị trí đêm đầu để so sánh đối chiếu sơ đồ với thực địa và đến đêm thứ ba thì kiểm tra lần cuối xem địch có thay đổi gì không. Vì thế, khi đơn vị hành quân chiến đấu, dựa trên kết quả điều tra và thông báo của các anh cán bộ địa phương, chúng tôi được biết lực lượng địch nơi đây gồm một đại đội lính bảo an do tên thiếu úy Nguyễn Thông K chỉ huy. Vũ khí trang bị gồm có 5 trung liên và còn lại là ga-răng, các-bin, súng trường, lựu đạn, một máy PRC10. Thực chất, đồn Phò Nam có từ thời chống Pháp; đến thời Mỹ - Diệm, chúng xây thành đắp lũy kiên cố hơn, nằm trên trục đường Bạch Mã, một con đường quân sự chiến lược được nối từ nam Khe Tre ở phía tây huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, kéo qua sông Bắc, sông Nam, Phò Nam, Quan Nam, ngã ba Tùng Sơn An Ngãi rồi chạy xuống thành phố Đà Nẵng. Năm 1961, khi làm xong con đường này, Ngô Đình Diệm đi kinh lý cắt băng khánh thành. Bọn quan chức địa phương đã bắt nhân dân đứng hai bên đường cầm cờ ba que hô vang: “Tống thống Việt Nam cộng hòa muôn năm”, có cả may bay, xe tăng, binh lính hộ tống từ Thừa Thiên - Huế vào Đà Nẵng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:28:32 pm Sau khi quan sát kỹ địa thế, tình hình bố phòng của địch, ban chỉ huy kịp thời bổ sung và nhắc lại phương án hiệp đồng chiến đấu, hạ quyết tâm “đánh chắc, thắng chắc”, thống nhất khẩu lệnh, tín hiệu, các hướng xác định, vị trí từng mũi, theo giờ G nổ súng.
Mũi 1: các anh Lê Tân Viễn và Nguyễn Thanh Thủy trực tiếp chỉ huy đánh vào 2 lô cốt phía tây và hai nhà lính. Mũi 2: Anh Phan Hồng Dâng và tôi trực tiếp chỉ huy đánh vào 2 lô cốt, các nhà lính phía đông và nhà chỉ huy. Mũi 3: gồm các anh Tiến Râu, Thanh Ngọc, Lâm Liêm và Hồng đánh vào lô cốt dộc lập phía bắc đường Bạch Mã. Anh Trần Tốc, Đặng Đình Vân trực tiếp chỉ huy đi cùng. Chỉ huy các bộ phận nhanh chóng về triển khai cho lực lượng của mình. Lúc này, những chiếc kim đồng hồ như nặng nề hơn, nhích chậm chạp từng tí một. Là người chỉ huy từng kinh qua trận mạc, tôi không nôn nóng nhưng cũng không tránh khỏi sự hồi hộp. Chỉ sau mấy tiếng đồng hồ nữa, đồn Phò Nam như cái gai trong mắt của bộ đội, nhân dân nơi đây sẽ bị chúng tôi nhổ đi. Nhưng cũng chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, trong số đồng đội của tôi liệu có ai nằm xuống hòa vào lòng đất mẹ để đất nước sớm bình yên. Thời gian chờ đợi cũng qua đi. Đúng 23 giờ, chúng tôi bắt đầu tiềm nhập, tiếp cận chuẩn bị cắt hàng rào, rà mìn để lót đội hình. Theo phương án chiến đấu, tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy bộ phận của mình đánh vào lô cốt phía nam và nhà lính. Khi các mũi đang thuận lợi phát triển đội hình thì bất ngờ gặp lính địch đi tuần có dẫn chó theo. Con chó đánh hơi, sủa ăng ẳng. Trước tình huống oái oăm đó, anh em đành phải lùi ra ngoài hàng rào chừng 20 mét nằm chờ. Trong đồn, địch sinh nghi đã bắn pháo sáng báo động. Bọn lính từ trong các nhà bạt chạy ra ngoài hào chiến đấu và bắn hú họa về hướng chó sủa. Đến 0 giờ, địch vẫn không thấy động tĩnh gì, chúng cho rằng chó sủa là cọp, beo hay heo rừng đi kiếm ăn. Vì đồn này nằm sát chân núi lớn, toàn cây cối rậm rạp và lau lách là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, thú. Bầu không khí căng thẳng bỗng chốc bao trùm lên trận địa. Địch thì cố căng mắt nhìn vào bóng đêm, ta thì kiên trì mai phục. Sự giằng co của hai bên là cơ hội tốt nhất để bầy muỗi rừng kiếm ăn. Chúng tha hồ bay vo ve và đậu bất cứ chỗ nào phát hiện có mùi máu. Chúng tôi vẫn nằm im lìm, mắt căng ra theo dõi động tĩnh của địch. Nhiều tên lính đã bắt đầu có biểu hiện ngứa ngáy, có tên còn làu bàu cái gì đó. Tôi đoán chắc chúng đang trách bọn chỉ huy thần hồn nát thần tính, bắt lính ra canh thú rừng. Khoảng 1 giờ ngày 28 tháng 11, bọn lính ở ngoài hào chiến đấu lục tục kéo nhau vào nhà bạt ngủ để tránh muỗi đốt. Chớp thời cơ, chỉ huy trận đánh và các mũi chớp nhoáng hội ý nhận định: “Ta thực hiện phương án hai lúc này có nhiều yếu tố bất ngờ. Vì địch sơ hở, chủ quan. Chúng bị mất ngủ, mệt mỏi và cho rằng khu vực này là an toàn, quân giải phóng không dám tấn công nữa”. Đây là thời cơ và điều kiện thuận lợi để ta hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Sau đó, các mũi tiếp tục cắt rào, bí mật cơ động vào đồn địch. Hết lớp rào thứ hai, chúng tôi nhảy xuống hào áp sát gần các lô cốt, nằm ép mình để che khuất quầng sáng của pháo sáng do địch bắn lên khi đi tuần. 1 giờ 30 phút, toàn trận địa vẫn tĩnh lặng như tờ. Lũ muỗi rừng cũng hết kiên nhẫn để bám theo các chiến sĩ quân giải phóng đang chờ thời cơ để tiêu diệt quân thù. Ở mũi phía tây, do đồng chí Tấn Viễn chỉ huy, đã ra lệnh cho tổ trưởng Nhỏ dùng quả thủ pháo nặng một cân thuốc nổ vọt lên khỏi hào và lao về phía lô cốt địch, đồng thời giật nụ xòe đút nhanh vào lỗ châu mai. Ngay lập tức một chớp lửa xanh lè và tiếng nổ long trời lở đất vang lên làm rung chuyển không gian yên tĩnh của núi rừng. Đây là lô cốt đầu tiên của địch bị tiêu diệt, cũng là hiệu lệnh để các tiếng nổ dữ dội khác tiếp tục chôn vùi lực lượng địch ở các lô cốt phía đông, phía bắc trong đống bê tông đổ nát. Nghe tiếng nổ, tôi ra lệnh cho tổ viên của mình nhảy lên đánh chiếm lô cốt bằng cách ném thủ pháo, lựu đạn vào lỗ châu mai, sau đó phát triển chiến đấu đến các nhà lính. Bị đánh bất ngờ lại đang trong trạng thái mỏi mệt nên địch nhanh chóng bị thất thủ. Trong khi tảo trừ bọn sống sót, tôi bắt được 3 tên lính bị thương nhưng giả chết, hai tay vẫn ôm khư khư hai quả lựu đạn liền thu lựu đạn và bắt chúng đứng dậy dồn ra sân đồn giao cho anh em quản lý. Tôi quay lại nhà bếp, bắt gặp tên lính nấu cơm ôm khẩu súng ngồi trên bếp run cầm cập. Biết nó đang hoảng sợ, tôi hô đứng dậy, thu khẩu súng và hỏi: - Mày làm gì mà núp ở đây? - Dạ! Em là người nấu bếp, sợ quá nên núp vào đây. Tên lính trả lời. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:30:09 pm Tôi tước luôn khẩu súng, trói lại, đồng thời dồn tên lính vào trước sân đồn. Theo thông báo của chỉ huy trận đánh, sau gần mười phút chiến đấu, thế trận hoàn toàn thuộc về ta, quân địch trong đồn phần lớn đã bị tiêu diệt. Biết địch không còn khả năng kháng cự, chúng tôi bắc loa tay gọi hàng: “Đầu hàng thì sống, chống cự thì chết”. Lúc ấy, trước mắt chúng tôi, quân địch chết và bị thương nằm la liệt. Không nghe tiếng địch chống cự, bộ đội ta ngừng nổ súng. Từ trong các góc, hầm trú ẩn, nhiều tên lính đưa hai tay lên cao, buông vũ khí xin đầu hàng. Trước khi vào trận, đơn vị chưa dự kiến hết tình huống thắng lợi giòn giã như vậy nên không chuẩn bị đủ dây trói, đành phải trói hai tên làm một. Hai mũi tiến công phát tín hiệu, khẩu lệnh gặp nhau giữa sân đồn. Trong lòng chúng tôi ngập tràn cảm giác sung sướng của người chiến thắng. Kết quả trận đánh, quân ta chỉ có một đồng chí bị thương. Chiến thắng trên càng làm cho anh em chúng tôi vui mừng hả dạ. Riêng mũi 3 đánh lô cốt độc lập ra phía bắc, cũng diệt gọn lô cốt và thu toàn bộ vũ khí, trong đó có một khẩu trung liên.
Thế là chỉ gần một giờ chiến đấu, đồn Phò Nam bị quân ta xóa sổ. Chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí, quân trang quân dụng, đạn dược, thuốc men.v.v. và thực hành lui quân. Trong số chiến lợi phẩm có 5 khẩu súng trung liên, còn lại là tôm-xông, các-bin, ca-rân, súng trường và một máy PRC10. Số địch bị bắt làm tù binh lên tới 15 tên, trong đó có thiếu úy Nguyễn Thông K bị thương gãy chân. Bộ đội tổ chức băng bó cho đồng chí thương binh của mình và cả số lính địch bị thương. Cán bộ ta tuyên truyền, giáo dục và phóng thích tại chỗ 14 tù binh. Trong khi đó, Trung đội bộ binh H30, do anh Đỗ Châu Sa chỉ huy, được lệnh phối hợp chiến đấu, đã tổ chức phục kích quân địch tiếp viện trên đường Bạch Mã, khi chúng từ đồn Quan Nam sang ứng cứu. Song địch đã đi hướng khác nên ta đành phải lui quân. Khoảng 5 giờ sáng, sau khi thu dọn toàn bộ chiến trường, đơn vị tổ chức lui quân. Chúng tôi dẫn một tên lính bị bắt về trại địch vận là trung sĩ Vũ N, là dân miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954. N tỏ ra biết có tội với cách mạng và nhân dân. N ra vẻ ăn năn hối cải, như muốn làm một việc gì đó để chuộc tội. Vì thế, dù tay bị trói, nhưng anh ta vẫn xin mang giúp chiến lợi phẩm. Thấy thế, chúng tôi đã nói đùa với nhau tên tù binh này ngoan ngoãn. Sau 3 tháng học tập, cải tạo tại trại, ta phóng thích số tù binh về lại đồng bằng, nhưng N đã xin ở lại theo cách mạng, làm bất cứ việc gì cách mạng giao cho. Tôi cũng đã có dịp gặp lại anh ấy vào dịp cuối năm 1962, khi chúng tôi đi giữ lúa ở làng Lừng của đồng bào K’tu. Tôi giật mình hỏi ra mới biết N phụ trách tiểu đội sản xuất, chuyên phát rừng làm rẫy và đi gùi hàng cho cơ quan sản xuất của tỉnh. Sau trận đánh đồn Phò Nam của bộ đội đặc công, bọn dân vệ ở các thôn ấp: Nam Yên, Phò Nam, Trường Định, Thủy Tú và Quan Nam đã khiếp sợ bỏ súng về nhà. Số khác bỏ nhà vào thành phố lao động kiếm sống vì họ tin chắc cách mạng sẽ thắng lợi. Thông tin về chiến thắng Phò Nam đã được nhân dân truyền miệng lan nhanh từ miền núi đến đồng bằng, đi vào thành thị. Tài xuất quỷ nhập thần của bộ đội ta đã khiến địch ở các nơi hoang mang dao động mạnh, thậm chí một số nơi khác còn co cụm về đồng bằng. Sự khát khao, mong mỏi, chờ đợi của người dân huyện Hòa Vang bấy lâu nay được khơi dậy. Ta có chủ trương đánh địch bằng 3 hình thức phối hợp là quân sự, chính trị và binh vận đã làm cho địch mỗi ngày một suy yếu và tan rã. Từ đó, các đội vũ trang tuyên truyền của huyện Hòa Vang hỗ trợ cùng với nhân dân đứng lên phá ấp trở về làng cũ làm ăn, xây dựng làng chiến đấu và chính quyền cách mạng. Lúc này, ban tự quản ở các thôn ấp tiến hành xây dựng lực lượng du kích chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chúng tôi sau một tuần chiến đấu, trở về căn cứ, đơn vị tổ chức sinh hoạt bình công, mừng chiến thắng và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, phối hợp tác chiến. Dẫu có người được phát biểu ý kiến, có người không, nhưng trong lòng mỗi chúng tôi đều chung ý nghĩ thầm cảm ơn những người cha, người mẹ, người anh, người chị dân tộc K’tu đã tuy bao đời chịu đựng gian khổ, nhưng rất giàu lòng nhiệt tình cách mạng. Đặc biệt là đồng bào ở ba thôn Giàn Bí, Lồ Ô và Tà Lang. Đây là những thôn nằm dọc theo đường Bạch Mã (nay là xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Sau này khi hòa bình lập lại, xã Hòa Bắc đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại hay gặp lại đồng đội năm xưa tay bắt, mặt mừng, tôi lại trào lên cảm giác trân trọng những con người đã một thời hiến trọn tuổi thanh xuân cho cuộc trường chinh của đất nước, với sức chịu đựng bền chặt mà nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Hai mươi năm không đêm nào ngủ được” hay: “Vạn ngày có buổi nào yên/Cá ăn phải máu, chim quên lối về”. Với những dòng hồi ký muộn màng, tôi xin được thay nén hương để tưởng nhớ tới các anh: Đào Ngọc Chua, Ba Thế, Đặng Đình Vân và bao đồng bào, đồng chí đã nằm yên trên đất mẹ Hòa Vang anh dũng. Sự hy sinh cao cả của các anh đã để lại cho chúng tôi và thế hệ mai sau tiếp bước xây dựng quê hương giàu đẹp. Tổ quốc muôn đời sẽ không bao giờ quên công ơn của các anh. Tôi tự nhủ nếu mình còn sống để đi hết cuộc chiến thì sẽ làm một cái gì đó để góp phần giáo dục cho thế hệ sau hiểu được những gì thế hệ chúng tôi đã cống hiến cho đất nước và tôi đã bắt đầu viết lại những gì mình đã làm, được chứng kiến ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Có lẽ mong ước ấy sẽ trở thành hiện thực khi những trang viết này đến tay bạn đọc. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:33:34 pm Trở lại những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 1961, tôi được triệu tập về tham gia thành lập đội tình báo, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Đà Nẵng. Nhiệm vụ chủ yếu của Đội là theo dõi nắm địch, xây dựng cơ sở nội thành, xây dựng lực lượng giao liên biệt động thành và du kích mật và nắm tình hình địch phục vụ chiến đấu. Trong chiến tranh, người lính có thể gặp nhiều tình huống bất ngờ như đụng địch phục kích, cơ sở bị lộ, gặp thú dữ,v.v, nếu sơ suất hoặc không nhanh trí thì khả năng tổn thất là khó tránh khỏi. Đối với tôi, đụng địch là chuyện bình thường, nhưng hai lần chạm trán chúa sơn lâm đã trở thành những kỷ niệm khó phai. Lần thứ nhất xảy ra trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, tôi đã kể ở trên. Còn lần thứ hai tôi lại gặp hổ trong dịp đi mua lương thực. Đó là một ngày trung tuần tháng 8 năm 1962, tôi lúc ấy là Trung đội trưởng đang cùng với các chiến sĩ trinh sát đặc công gồm Hồng Râu, Lâm, Thư và Vấn đi công tác đồng bằng mua lương thực. Hoàng hôn buông xuống, đường về khó khăn hiểm trở. Mỗi người gùi 3 ang gạo, đồ dùng cá nhân và súng đạn, tổng trọng lượng khoảng 35 đến 40 cân. Từ chân dốc lên đến đỉnh phải đi mất bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi động viên nhau cố gắng đi lên trước khi trời tối, vì con đường này thỉnh thoảng có biệt kích hay đi tìm dấu vết cộng sản. Lúc này, tôi đi sau đội hình khoảng từ 15 đến 20 mét. Bất ngờ, từ bên vách ta luy núi, một con cọp vằn vện to như con ngựa xuất hiện. Nó đứng cách tôi khoảng hai mét. Cọp gầm lên một tiếng như xé trời đêm, âm thanh rung chuyển cả núi rừng. Vừa ngẩng đầu lên, không kịp suy nghĩ, tôi nhanh chóng bật khóa an toàn khẩu súng AK treo trước ngực và chĩa nòng súng vào họng cọp siết cò. Loạt đạn tiểu liên đã kết liễu đời con ác thú. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn có cảm giác ớn lạnh khi đối diện với chúa sơn lâm.
Tôi tham gia lực lượng tình báo từ năm 1961 đến hết năm 1963. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian này, địch tập trung đánh phá ác liệt phong trào cách mạng của quân và dân ta. Quân đội Mỹ - ngụy tăng cường đóng đồn bốt dày đặc, tổ chức khủng bố nhân dân, bao vây cấm vận thường xuyên, nhất là các làng thuộc vùng ven đô. Tôi cùng các đồng chí Đặng Ngọc Phương, Võ Thanh Hùng (Phó Bí thư Quận Nhì) bí mật nhận nhiệm vụ cấp trên giao vào thành phố xây dựng cơ sở cách mạng, nắm địch, diệt ác phá kềm, xây dựng lực lượng chính trị trong dân và xây dựng các chi bộ Đảng ở cơ sở. Khi vào đứng chân ở những khu phố có mật độ địch đóng quân dày đặc như Thanh Khê 6, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà và Tam Thuận. Để nắm được tình hình, ta phải đột nhập vào tận doanh trại của chúng. Nhưng quân địch đông, thỉnh thoảng bị biệt động thành, bộ đội đặc công “choảng” cho một trận nên chúng rất cảnh giác. Vì thế, chúng tôi phải cải trang khi thì làm lính ngụy, lúc lại là thanh niên làm nghề đánh cá biển. Vào một buổi chiều, bọn lính đồn Thanh Khê tổ chức thi đấu bóng chuyền. Tôi nhận thấy đây là cơ hội tốt để mình trà trộn vào điều tra. Bản thân vốn là một cầu thủ nên tôi lẫn lộn vào đánh mà không ai có thể phát hiện được. Tôi đứng ở vị trí cầu chuyền 2, nêu cho tên lính đập. Những quả chơi bóng cao tay của tôi được tung lên như đặt vào tay cầu công. Mọi người đứng xem vỗ tay nhiệt liệt. Bên có tôi tham gia đã thắng liền 3 hiệp. Lúc nghỉ giải lao, biết nếu ở thêm có thể bị lộ nên tôi lặng lẽ rút êm. Bọn chúng không hề hay biết. Tôi vừa về đến nhà cơ sở, đồng chí Phương đồng chí Hùng vỗ vai tôi khen ngợi: - Khen cho ông Ngôn không bao giờ sợ địch. - Nếu sợ địch thi linh đặc công không bao giờ đánh được địch. Tôi pha trò. Tối hôm đó, chúng tôi tiếp tục theo cơ sở địa phương dẫn đường đi điều tra mâm hội đồng quán cơm ngụy và trung đội địa phương quân đóng ở đồn Phú Lộc. Một thời gian sau, Thành đội Đà Nẵng rút tôi về xây dựng một trung đội trinh sát đặc công với đội công tác bảo vệ thành ủy, có địa bàn hoạt động ở cánh trung và cánh bắc Quận Nhì. Chúng tôi trực tiếp xây dựng cơ sở đặc công, biệt động thành, tham gia đánh tề, diệt ác ôn, đào hầm bí mật ở vùng ven và đô thị.v.v. Năm 1965 đối với tôi có khá nhiều kỷ niệm về công việc cũng như chuyện gia đình. Trong đó, ngày 16 tháng 3, vợ tôi sinh đứa con gái đầu lòng tại thôn Nam Yên, nơi được mệnh danh là chiếc nôi cách mạng. Khi con mở mắt chào đời, tai nghe bom nổ giật mình đã khóc ré lên hoảng hốt. Trong thời gian này, lính Mỹ đi càn quét liên tục. Vì thế, tôi phải nhờ đồng đội đưa vợ con lên vùng dân tộc K’tu ở thôn Tà Lang, Giàn Bí tạm trú một thời gian. Nhờ có sự cưu mang, giúp đỡ của bà con dân tộc, mẹ con cô ấy vẫn bình yên. Về sau bom đạn ác liệt quá, tôi lại chuyển vợ con vào vùng B Đại Lộc để tiếp tục đi công tác. Khi con gái chưa tròn một tuổi, vợ chồng tôi đã gửi về cho ông bà nội nuôi dưỡng. Vợ tôi trở lại với công việc của người lính quân y. Cũng trong năm 1965, một lần lính Mỹ đi càn quét bắt nhân dân đưa vào ấp chiến lược để thanh lọc, vợ tôi đã bị chúng giam ở nhà lao Hội An. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:34:33 pm Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phải có một tiểu đoàn hậu cứ (của Thành đội Đà Nẵng) để làm nhiệm vụ chuyên trách đánh sân bay, bến cảng, kho hàng, cơ quan đầu não, trận địa tên lửa và pháo binh, kho xăng dầu, bom đạn của địch; thực hiện chủ trương của Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng, ngày mùng 5 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn Đặc công 89 được thành lập; tôi có quyết định làm Đại đội phó. Sau một thời gian ngắn, cấp trên bổ nhiệm tôi làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn Đặc công 89 của Thành đội Đà Nẵng.
Nhận nhiệm vụ mới chưa được bao lâu, vào tháng 5 năm 1966, tôi được phân công trực tiếp đi điều tra trận địa pháo binh Mỹ tại Thanh Vinh và báo cáo cấp trên phê duyệt phương án. Tình hình chung trên chiến trường miền Nam lúc bấy giờ, cuộc tiến công Đông Xuân (1964-1965) và Hè Thu 1965, đỉnh cao là các chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đã làm làm cho chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị phá sản, kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra bị thất bại. Các đòn tiến công vối sức mạnh của ba thứ quân kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đã đánh bại quân ngụy trên khắp chiến trường miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng. Giữa mùa hè năm 1965, mặc dù Mỹ đã từng bước đẩy cuộc “chiến tranh đặc biệt” lên tới đỉnh cao, vượt quá mức dự kiến ban đầu, nhưng mọi sự cố gắng đều rơi vào vô vọng và chịu sự thất bại nặng nề. Nhằm cứu vãn sự thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải đưa quân Mỹ vào để tiến hành “chiến tranh cục bộ”. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mỹ chính thức đặt chân lên thành phố Đà Nẵng. Đây là những đơn vị chiến đấu của Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, một biểu hiện của sự thất bại hiện hữu của “chiến tranh đặc biệt”. Chúng đã lập ra nhiều căn cứ quân sự, trong đó có căn cứ pháo binh Thanh Vinh, là nơi tập trung nhiều pháo lớn, ngày đêm bắn phá vùng giải phóng của ta, gây ra nhiều tội ác với nhân dân, đặc biệt ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Để chặn đứng bàn tay tàn bạo của kẻ thù, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng phải đánh phủ đầu, tiếp sức với các chiến trường trên toàn miền Nam, bằng mọi giá phải phá hủy căn cứ này nhằm tiêu hao sinh lực của chúng. Nhiệm vụ nặng nề, nhưng vô cùng vinh quang được cấp trên giao cho Đại đội 1, Tiểu đoàn Đặc công 89, là đơn vị mới được thành lập ngày mùng 5 tháng 11 năm 1965, thực hiện. Nhận nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và trực tiếp chỉ huy trận đánh, tôi không khỏi băn khoăn, hồi hộp. Tôi tự nhủ, mình phải phấn đấu sao cho xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên. Cách đánh đặc công thì mình cũng đã được học và cũng từng kinh qua nhiều trận. Song đây là trận đầu tiên tập kích vào trận địa pháo binh Mỹ, liệu mình phải tổ chức đánh như thế nào để trước hết diệt gọn quân địch, ít tổn thất cho ta. Với hỏa lực và lực lượng hùng hậu của địch, chỉ cần có cơ hội phản kích là chúng có thể đẩy lui hoàn toàn đội hình của ta. Mặc dù đây là vinh dự, tự hào, nhưng trên vai tôi là sinh mạng của đồng đội, là niềm tin của tổ chức, của nhân dân, nếu không may trận đánh không thắng thì liệu lịch sử sẽ viết như thế nào về mình. Tôi luôn trăn trở để tìm cách đánh sao cho hiệu quả, ít thiệt hại nhất. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi chọn năm đồng chí là Bân, Ngưu, Qui, Tỉnh và Chuyên cùng với tôi đi điều tra căn cứ pháo binh Thanh Vinh. Chúng tôi mang theo lương khô, gạo rang, cơm vắt... và vũ khí cá nhân. Tôi động viên anh em: Muốn thành công thì ngay từ đầu cả tổ phải quyết tâm vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian cấp trên giao. Chiều hôm đó, chúng tôi đến đồi Hố Chuối (Kim Liên) để đặt đài quan sát chọn hướng điều tra căn cứ Thanh Vinh. Từ đây, anh em có thể đưa ống nhòm lên nhìn rất rõ mục tiêu. Căn cứ pháo binh Mỹ nằm giữa bãi cát trắng bao gồm nhiều lớp rào kẽm gai, hào giao thông, lô cốt, nhà tôn, cụm pháo... hiện lên mồn một trong mắt các cán bộ, chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường. Như vậy, hướng điều tra căn cứ đã được chúng tôi xác định. Hoàng hôn buông xuống, toàn tổ lần mò đến bờ sông Thủy Tú và tìm cách sang bờ bên để tiếp cận căn cứ. Chúng tôi lặng lẽ vạch cỏ, nhẹ nhàng buông mình xuống dòng sông quê xanh mát. Lúc chúng tôi bơi đến giữa dòng thì một tình huống bất ngờ xảy ra. Một chiếc trực thăng từ sân bay Xuân Thiều bay lên đèn pha rà sát mặt nước tìm mục tiêu. Ánh đèn sáng đến nỗi tôi có cảm tưởng một con cá nhỏ đớp bóng cũng có thể bị chúng phát hiện. Đội công tác nhanh trí lặn sâu xuống nước khiến máy bay địch không phát hiện được gì. Khi tiếng động cơ nhỏ dần, chúng tôi nổi lên và tiếp tục bơi, coi như thử thách đầu tiên đã vượt qua. Tuy nhiên, để tiếp cận được mục tiêu chúng tôi còn phải qua mấy chặng đường gay go nữa như đột nhập ấp chiến lược, đụng địch phục kích phải đi đường vòng, gặp chim, thú đi ăn đêm đánh hơi thấy người liền bay loạn xạ, kêu oang oác.v.v. Soi đồng hồ, chiếc kim dạ quang chỉ gần 4 giờ sáng, tôi quyết định tìm nơi trú ẩn bí mật trong ngày cho anh em. Lúc này, trong xóm làng, tiếng gà gáy, tiếng chó sủa vang lên từng hồi. Một vài đồng chí băn khoăn, có người hỏi: - Trời sáng, làm sao bây giờ? - Các đồng chí yên tâm. Tôi sẽ bố trí chỗ cho chúng ta trú ẩn an toàn. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Mười Hai, 2020, 06:36:31 pm Tôi đáp liều như vậy để trấn an anh em, chứ mình vẫn chưa nghĩ ra chỗ nào. Bất chợt, tôi nhớ ngay đến gia đình mình ở cách đây không xa, chỉ cách căn cứ pháo binh Mỹ khoảng 250 mét. Nhà tôi nằm trong vùng địch kiểm soát, ở vùng cát xóm Hóc Bộ, thôn Hồng Phước. Mẹ tôi, tức bà Xiềng, là cơ sở của Quận Nhì, do ông Phan Văn Tải là Quận ủy viên Quận Nhì và tôi xây dựng. Trong nhà, ngoài vườn nhà tôi thường xuyên có những căn hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Nghĩ đến đây, tôi quyết định đưa anh em đột nhập về nhà mình. Khi về gần đến nhà, lòng tôi bồi hồi xúc động. Bao nhiêu năm xa gia đình, những tưởng chúng tôi sẽ đoàn tụ trong niềm vui thống nhất như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Ai ngờ hôm nay mình lại trở về với nhiệm vụ đặc biệt trong trận đánh quyết định này. Lúc ấy mọi người trong nhà thấy tôi về liền tròn xoe mắt chứa đầy sự ngạc nhiên. Mẹ tôi chỉ biết đứng nhìn và từng giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má đầy nếp nhăn nheo. Không chần chừ, tôi đề nghị gia đình bố trí cho một căn hầm bí mật để bộ đội trú ẩn trong ngày. Lúc ấy, mẹ tôi cũng như bao bà mẹ Việt Nam thời bấy giờ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu này. Mọi người trong nhà khẩn trương ngụy trang, biến ngay hầm trú ẩn bom pháo Mỹ của gia đình thành hầm bí mật cho anh em chúng tôi. Có một điều khá may mắn là nhà tôi ở sát căn cứ của Mỹ nên kẻ địch có phần nào chủ quan, không đi lùng sục nhiều. Mẹ hướng dẫn cho chúng tôi cơi nới thêm hầm, làm thêm ngách để bảo đảm đủ nằm, vì vách hầm đã có sẵn bao cát. Sau khi xong xuôi mọi chuyện, mẹ tồi căn dặn:
- Các con dưới hầm cứ bình tĩnh ngủ yên, đừng lo lắng. Trên này có động tĩnh gì để một mình mẹ đối phó. Lúc đó, trong lòng chúng tôi chợt trào lên một cảm giác rưng rưng khó tả. Dù không ai nói với ai một lời nào, nhưng anh em chúng tôi cùng chung ý nghĩ: “Nơi trú ẩn an toàn nhất đó chính là tình cảm, lòng thương yêu dũng cảm của mẹ. Người đã lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho bộ đội”. Có thể nói, trong chuyến đi điều tra trận địa pháo Thanh Vinh, chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhưng cũng khá nhiều thuận lợi. Chẳng hạn như ngay buổi chiều hôm ấy, em tôi là cơ sở cũng có mặt ở nhà. Buổi tối, em đã dẫn chúng tôi đột nhập vào toàn bộ căn cứ Mỹ. Cần nói thêm rằng, quê tôi hồi ấy không riêng gì gia đình tôi mà còn nhiều bà mẹ khác một lòng trung thành với cách mạng. Có thể đơn cử như gia đình bà Phạm Thị Dĩ cả nhà đều tham gia cách mạng. Nhà bà ở nơi đầu sóng ngọn gió, đêm đêm thắp ánh đèn dầu để cảnh giới bọn địch. Trong nhà bà có 4 căn hầm bí mật để nuôi cán bộ, bộ đội. Bản thân bà Dĩ đã trực tiếp tham gia phục vụ nhiều trận đánh như lo cơm nước, thuốc men, khiêng thương binh, tải đạn cho bộ đội đặc công quận Nhì xuyên suốt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hoặc gia đình bà Võ Thị Chinh ở thôn Phái 6, xã Hòa Liên. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đây là một trong những gia đình có công với cách mạng. Bà Chinh luôn thể hiện là một người mẹ mẫu mực, không sợ địch, kiên cường trụ bám, thường xuyên thu mua lương thực, thực phẩm giúp cho bộ đội địa phương và đơn vị đặc công quận Nhì. Bà nuôi bộ đội ăn uống ngày đêm thường xuyên từ 15 đến 20 người và hàng đêm gùi hàng trăm kilôgam gạo cho bộ đội. Trở lại nhiệm vụ chính, khi đột nhập vào đồn địch, quan sát thấy rõ các cụm pháo 105mm và nội ngoại vi căn cứ, tôi tiến hành phân công mỗi người đột nhập một hướng. Quy luật tuần tra canh gác của địch, những chi tiết trong căn cứ.v.v. đều được ghi vào trong trí nhớ của chúng tôi. Đúng 2 giờ sáng hôm sau, tôi dẫn anh em trở lại vị trí an toàn, xem như đã hoàn thành công tác chuẩn bị bước một. Khi quay vào núi X, tôi bất ngờ gặp lại các đồng chí Ba Đằng và Sáu Tài, là cơ sở có nhà ở sát đồn lính Mỹ, đang giả vờ đi lên núi đốn củi. Hai anh tiếp tục cung cấp thêm một số chi tiết, quy luật của địch. Do đó, chúng tôi càng hiểu rõ hơn, giúp cho việc vẽ sơ đồ quá trình điều tra trận địa pháo mọt cách chính xác hơn. Trong thời gian chúng tôi đi chuẩn bị chiến trường, anh em ở lại tiếp tục huấn luyện bổ sung phương án chiến đấu. Khi về đến đơn vị, tôi nhanh chóng vẽ sơ đồ và đắp sa bàn trận địa pháo của địch, sau đó thông qua phương án chiến đấu và được Đảng ủy, Ban Chỉ huy tiểu đoàn phê duyệt, nhất trí giao nhiệm vụ cho tôi trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Ngày 10 tháng 6 năm 1966, đại đội chọn 60 đồng chí, tổ chức thành 3 mũi, do các đồng chí Bân, Ngưu, Chuyên làm mũi trưởng tiến công căn cứ địch ở 3 hướng. Bố trí lực lượng cụ thể như sau: Đối với hướng Tây, là hướng chủ yếu, do tôi trực tiếp chỉ huy từ hướng Tây đánh xuống; ngoài ra còn một đội hình dự bị có thể chi viện kịp thời khi có tình huống ngoài dự kiến xảy ra. Mũi thứ hai do đồng chí Bân phụ trách, có nhiệm vụ từ hướng đông đánh lên. Mũi thứ ba do đồng chí Chuyên phụ trách, đảm nhiệm đánh từ hướng bắc đánh vào. Vũ khí trang bị gồm có: súng B40, B41; thủ pháo, lựu đạn, 7 khối bộc phá 5kg bằng thuốc TNT, 3 bộc phá ống dùng để phá rào. Sau đó, đơn vị tập hợp kiểm tra lần cuối cùng để chuẩn bị xuất phát. Đúng 14 giờ cùng ngày, chúng tôi bắt đầu hành quân. Tôi cắt cử lực lượng trinh sát đi trước bám địch, do đồng chí Nhưng phụ trách. Dọc đường đi, có lúc tôi chợt thấy trong lòng xao xuyến lạ. Năm xưa đi chiến đấu, tôi không ngờ có một ngày mình trở lại quê hương, trực tiếp chỉ huy một trận đánh lớn như thế này. Nghĩ trước lại nghĩ sau, trong số chiến sĩ tham gia đánh trận này có không ít đồng chí là con một trong gia đình. Tôi có quan niệm rất rõ ràng: Làm người chỉ huy, bên cạnh việc xây dựng quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, còn phải suy nghĩ cho anh em, đồng chí, đồng đội. Tôi có may mắn hơn nhiều anh em, vì trước khi bước vào trận đánh đã được gặp lại người thân trong gia đình. Đối với chúng tôi thời bấy giờ, đó là niềm hạnh phúc hiếm hoi của người lính trận mà không phải ai cũng có thể có được. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:27:06 pm Khi đến vị trí tạm dừng, tôi tổ chức đắp sa bàn và lên phương án huấn luyện bổ sung cho đơn vị. Về công tác chính trị tư tưởng, cấp trên cũng như chỉ huy đơn vị đã giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thể hiện quyết tâm bằng cách cắt dán câu “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lên báng súng AK từng đồng chí, nghĩa là quyết tâm đánh thắng trận đầu, diệt nhiều phương tiện vũ khí hiện đại nhất của quân đội Hoa Kỳ, trong đó có loại pháo 175mm tự hành, được gọi là “vua chiến trường”. 19 giờ, đội hình bắt đầu vượt sông Thủy Tú. Khác với lúc đi điều tra, lần này chúng tôi qua sông rất an toàn. Dường như đó cũng là dấu hiệu ngày tận số của căn cứ pháo binh Thanh Vinh. Khoảng 22 giờ, tôi cho dừng đội hình ở cánh đồng Hòa Hiệp để kiểm tra lần cuối cùng. Trong quá trình hành quân gần đến mục tiêu, cũng có vài đồng chí chưa thực sự quyết tâm, còn mang cả hỏa lực B41 đi lạc đường, thực ra thì đây chỉ là số ít anh em chưa có kinh nghiệm chiến đấu, không ảnh hưởng gì. Nhưng trước tình thế như vậy, tôi phải nhanh chóng xốc lại đội hình, để tiếp tục hành quân.
23 giờ đơn vị bắt đầu triển khai các hướng để tiếp cận mục tiêu. 30 phút sau mũi chủ yếu dọ đồng chí Ngưu phụ trách tiến hành cắt rào đưa hỏa lực vào bên trong. Các đồng chí phụ trách B40, B41 cơ động áp sát lô cốt đầu cầu, sẵn sàng nhả đạn. Quân ta lúc này nằm theo đội hình hàng dọc chuẩn bị đánh chiếm mục tiêu. 23 giờ 40 phút, mũi số 2 cũng khắc phục được vật cản đưa toàn bộ đội hình vào bên trong cứ điểm. 23 giờ 50 phút, tiếp tục mũi thứ 3 từ hướng bắc vào được bên trong, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Đêm đặc quánh, thời gian như ngừng trôi. Trong trái tim tôi lúc ấy dường như chỉ có một suy nghĩ duy nhất: Bình tĩnh quan sát, chờ đến giờ G phát lệnh nổ súng tiêu diệt cứ điểm địch đã gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân. Tôi nhẩm đếm từng tích tắc, mỗi tiếng như vậy là khoảng thời gian để anh em chúng tôi kiểm tra lần cuối trước khi siết cò, giật nụ xòe. Đúng 24 giờ, tức giờ G, hướng mũi phía tây còn một hàng rào thép gai cuối cùng. Đồng chí Ngưu thực hành cắt, bất ngờ vấp phải quả mìn sáng bật lên nổ, làm cả trận địa sáng như ban ngày. Chúng tôi đã dự kiến trước tình huống có thể xảy ra nên bình tĩnh tìm nơi ẩn nấp. Khi quả mìn sáng vừa tắt, mũi phía đông của đồng chí Bân tranh thủ lót đội hình vào. Một tình huống bất ngờ lại đến làm thót tim chúng tôi. Trong lúc cơ động vào bên trong cứ điểm, một đồng chí chiến sĩ do sơ suất đã vướng phải quả mìn sáng khác. Mìn bật lên nổ, cháy xè xè, phun ra những tia lửa như chùm pháo hoa bắn lên không trung làm sáng cả một góc trời, thời gian kéo dài khoản 5 phút. Toàn đội hình án binh bất động. Tôi xác định có thể bị lộ và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, dù hy sinh tất cả cũng phải nhổ cho được cái ung nhọt trên đất quê hương. Tuy nhiên, trong đồn vẫn im lặng. Chắc có lẽ lính Mỹ cho rằng chó mèo của dân đi ăn đồ hộp bị vấp mìn chiếu sáng, vì đó là chuyện thường xảy ra tại căn cứ này nên chúng không mấy để ý. Qua một cơn bất thần điên đảo, vô cùng hồi hộp lo sợ, chúng tôi hình dung giống như một cuộc diễn tập ở thao trường. Cũng may không có tình huống xấu nào xảy ra. Lúc này, ở hướng mũi 1, tôi cho hai tổ vọt qua bãi trống, áp sát hai lô cốt đầu cầu sẵn sàng nổ súng. Khoảng 24 giờ 15 phút, mũi phía đông lót được 2 tổ vào sát hào giao thông. Một bất ngờ nữa lại đến khi toán lính Mỹ đi tuần tra. Chúng đạp trúng đầu hai đồng chí Tỉnh và Quy, hoảng hốt hét lên: “Vi-xi! Vi-xi!”. Mìn sáng tắt, nhanh như chớp, Ngô Tấn Tỉnh nổ súng diệt ngay toán lính Mỹ, đó cũng là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Đồng chí Tĩnh, đồng chí Quy dẫn đội hình bàng qua chiến hào thọc sâu vào sở chỉ huy, nổ súng tiêu diệt địch hết nhà này đến nhà khác. Riêng đồng chí Bân, dẫn 25 cán bộ, chiến sĩ triển khai đánh chiếm các mục tiêu như trong phương án. Mũi phía tây được lệnh nổ súng. Những phát đạn B40, B41 chính xác của đồng chí Ngưu, đồng chí Hiền nhanh chóng đánh sập hai lô cốt đầu cầu. Hai đồng chí tiếp tục dẫn 8 chiến sĩ thọc sâu đánh vào trung tâm bắt liên lạc với mũi 2 và mũi 3. Lúc này, quân địch đã qua những giây phút hoảng loạn ban đầu. Chúng tập trung đội hình còn lại đánh phản kích vào hướng tây. Bọn lính trong lô cốt ở đồi phía nam dùng đại liên M60 bắn dọc theo hàng rào phía tây của mũi 1, cắt đội hình còn lại phía sau của ta chưa vào kịp. Tình thế chiến đấu vô cùng khẩn trương. Nếu để địch kịp hồi phục phát huy các loại hỏa lực mạnh thì ta khó bề chiến thắng. Trước tình hình như vậy, người chỉ huy phải thật sự tỉnh táo, bình tĩnh và dũng cảm thì mới có thể đạt được hiệu suất chiến đấu cao, ngược lại sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Tôi vừa chỉ huy anh em đánh địch vừa nghĩ ra cách vượt rào nhanh nhất. Lúc đầu, tôi bồng từng đồng chí ném qua rào. Bồng được khoảng chín mười đồng chí thì nghe tiếng súng nổ dồn dập bên trong, hỏa lực địch cay xé trước mặt, tôi vội nằm chồng lên dây thép gai thành một chiếc cầu để anh em tiếp tục vượt qua. Lúc này, địch đã hoàn hồn đánh trả quyết liệt. Khi đồng chí cuối cùng đã vào bên trong, tôi cũng nhảy lên vượt qua rào, vừa chạy vừa hô to: “Đảng viên! Đảng viên đâu theo tôi. Hãy dũng cảm tiến lên!”. Đồng chí Ngưu dẫn tổ của mình vòng ra phía sau, tiêu diệt ngay lô cốt địch ở tiền duyên, thu được khẩu đại liên M60. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:28:21 pm Mũi 3 do đồng chí Chuyên mũi trưởng dẫn đội hình thọc sâu đánh chiếm các khu nhà bạt, lô cốt, hầm ngầm, sau đó nhanh chóng phát triển vào khu trung tâm, bắt liên lạc với mũi 1 và mũi 2. Khi các mũi liên lạc được với nhau, tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Ngọc Trung độc lập tác chiến, một mình đánh một lô cốt ngoài cổng đồn. Đồng chí Trung nhanh chóng dùng súng B40 bắn sập lô cốt, sau đó nhảy vào tung luôn mấy quả thủ pháo diệt gọn một tiểu đội lính Mỹ và chiếm giữ luôn, sẵn sàng bắn xe tăng địch chi viện từ trận địa pháo 175 của tiểu đoàn lính Mỹ cách đó 300 mét về phía bắc. Trận địa pháo Thanh Vinh lúc này thực sự trở thành một biển lửa chôn vùi quân xâm lược Mỹ.
Trận đánh vô cùng ác liệt kéo dài 30 phút, các mục tiêu cơ bản đề ra trong phương án đều thực hiện được. Sở chỉ huy của Mỹ ở Đà Nẵng đã báo động cho máy bay trực thăng, Đa-cô-ta bay lên thả đèn sáng, bắn rốc-két vu vơ hòng cứu vãn tình thế. Nhưng mọi sự cố gắng của chúng chỉ rơi vào vô vọng. Các chiến sĩ đặc công của ta đã làm chủ hoàn toàn trận đánh. Tôi bình tĩnh chỉ huy bộ đội đặt bộc phá khối vào các bệ pháo và đồng loạt giật nụ xòe. Các khối thuốc nổ đã xé tung các bệ pháo 105mm ra thành từng mảnh. Kiểm tra lại trận địa, phát hiện thấy còn một khẩu pháo chưa đánh, tôi liền ra lệnh cho đồng chí Hiền dùng quả bộc phá ống đút vào nòng pháo 105mm phá hủy luôn. Sau khi quan sát, nhận báo cáo từ các mũi, hướng, tôi hô to: “Đơn vị tiếp tục tấn công!”, đây là ám hiệu riêng của chỉ huy trận đánh. Lúc này, trận địa đã im tiếng súng, anh em hiểu ý tự động lui về điểm hẹn an toàn. Kết quả trận đánh, ta đã tiêu diệt gần hai trăm lính Mỹ, phá hủy 7 khẩu pháo 105mm, 7 xe kéo pháo, 20 nhà bạt cùng công sự, lô cốt hầm ngầm, thu 4 đại liên M60 và một số súng đạn, quân trang quân dụng. Đây là lần đầu tiên bộ đội ta trực tiếp chạm trán với phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất thế giới của quân đội Mỹ. Quả là một đòn choáng váng, gây đảo điên, bất thần đối với những tên lính xâm lược khi chúng mới đặt chân lên đất Đà Nẵng. Cũng trong trận đánh này, có nhiều tấm gương chiến đấu xuất sắc, dũng cảm ngoan cường nổi lên như các đồng chí Ngô Tấn Tĩnh, Lê Văn Quy, Nguyễn Văn Bân, Lê Ngưu, Phạm Văn Hiền, Phạm Nhưng, Phạm Văn Chuyên và Trần Ngọc Trung cùng nhiều đồng chí khác. Đối với cá nhân tôi, được cấp trên đánh giá là người chỉ huy mưu trí, sáng tạo, bình tĩnh, dũng cảm trước, trong và sau trận đánh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Để ghi nhớ chiến công, tập thể Đại đội 1 và nhiều đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương cao quý. Kết quả trận đánh đã thiết thực góp phần tô thắm truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Tiểu đoàn Đặc công 89 Đà Nẵng nói riêng, luôn xứng đáng với truyền thống oanh liệt của quê hương “trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ”. Có thể khẳng định, trận tiêu diệt cứ điểm trận địa pháo Thanh Vinh là một trong những trận đánh hay của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn Đặc công 89 anh hùng. Tuy nhiên, để có được chiến thắng này một phần phải nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các thôn Thủy Tú (Hòa Hiệp), Quan Nam (Hòa Liên) Hồng Phước (Hòa Khánh) đã tạo mọi điều kiện để đơn vị tập kích trận địa pháo Thanh Vinh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đặc biệt, sau khi chúng tôi tập kích trận địa pháo Thanh Vinh, đồng chí Phạm Văn Hiền chạy lạc vào nhà bà Chính trong lúc lính Mỹ đang lùng sục. Bà đón vào hầm bí mật, sáng hôm sau đi chợ may quần áo cho đồng chí Hiền mặc và cải trang đi chăn trâu để xuống Xuân Thiều nhằm đánh lạc hướng địch và đưa đồng chí Hiển lên căn cứ. Đến tháng 4 năm 1967, Thành đội Đà Nẵng có chủ trương thành lập thêm một tiểu đoàn đặc công hậu cứ, nhiệm vụ là đánh các mục tiêu tương tự Tiểu đoàn Đặc công 89. Thành đội giao cho tôi và đồng chí Chính trị viên Đặng Thanh Nam chỉ huy Đại đội 1 ra cánh bắc Hòa Vang để tổ chức thành lập Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng. Cùng lúc đó, hậu phương lớn miền Bắc bổ sung thêm 400 cán bộ, chiến sĩ cho đơn vị, được biên chế thành 3 đại đội. Tuy nhiên, số cán bộ, chiến sĩ này phần lớn chưa kinh qua chiến đấu. Như vậy, quân số tiểu đoàn lúc này khoảng 500 người. Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tán Mào làm Chính trị viên, về cơ cấu tổ chức, ban chỉ huy tiểu đoàn gồm có 5 đồng chí là: Ngôn, Mão, Thượng, Phước và Công. Đây cũng chính là thời điểm ta đánh vào nhà lao Hội An, giải vây cho cả ngàn người chạy ra vùng giải phóng. Tôi không biết đó là hạnh phúc, hay báo trước một sự đau đớn đến tột cùng khi vợ tôi thoát ra, tiếp tục về làm việc cho ngành quân y tiền phương cánh bắc Hòa Vang. Cùng công tác trên một địa bàn nên thỉnh thoảng vợ chồng gặp mặt, chúng tôi thường động viên nhau công tác. Chiến tranh đã mang đến hy sinh, mất mát, nhưng cũng không thể ngăn cản nổi sự sống bất diệt của những con người anh dũng của một dân tộc anh hùng. Chính những ngày khó khăn, ác liệt ấy, vợ tôi đã mang bầu đứa con thứ hai. Tình hình chiến sự ở cánh bắc Hòa Vang lúc này, ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch bao vây phong tỏa. Toàn thể các cơ quan, đơn vị đều đói cơm nhạt muối. Bộ đội phải ăn toàn rau rừng và củ móng ngựa suốt 3 tháng trời. Chiến khu chỉ còn một ít gạo, dành để nuôi thương binh. Đến lúc gạo ưu tiên cũng hết. Bộ đội, du kích thiếu ăn da xanh như tàu lá. Nhưng dẫu sao thì họ vẫn có thể ăn rau, củ, quả thay cơm. Còn các đồng chí thương binh thì không thể như thế. Anh em phải có chút gạo để lấy sức giành lại sự sống khỏi tay tử thần. Là một người chỉ huy, nhìn bộ đội, du kích và thương bệnh binh lả đi vì đói, tôi không thể đành lòng phó mặc cho may rủi. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định dùng chiến thuật đặc công để lọt qua vùng địch, xuống nhà dân xin gạo về nuôi thương binh. Lần đó, tôi dẫn 5 đồng chí chiến sĩ công binh xuống ranh Trường Định. Nhìn thấy địch dăng hàng ngang phục kích bên kia sông, tôi hướng dẫn anh em chui qua hai lớp rào, đi quanh đồn lính Mỹ đóng ở Quan Nam, sau đó bò vào nhà cơ sở. Lúc ấy, anh em cán bộ, chiến sĩ công binh đi cùng tỏ ra vui mừng và khâm phục. Đặc biệt, khi chúng tôi vào đồn thì đi không, lúc trở về mỗi người mang 3 ang gạo vẫn theo đường cũ, cách lô cốt lính Mỹ từ 15 đến 20 mét. Chuyện chúng tôi đi lấy gạo giữa vòng vây quân thù nghe ra thật khó lý giải. Vì thế, sau này có người hỏi tôi vì sao mà chúng tôi có thể làm được chuyện động trời đó. Tôi chỉ thủng thẳng trả lời: “Chỉ có tinh thần dũng cảm, gan dạ của người chiến sĩ cách mạng, kết hợp với kỹ thuật, sự khôn khéo của người lính đặc công mới có thể vượt qua được khó khăn và giành thắng lợi”. Cũng trong dịp ấy, tức năm 1968, chị em bên bệnh xá xuống Kim Liên lấy gạo, trong đó có vợ tôi, nhưng gặp địch phục kích không đi được phải quay vào núi và ở lại đến tối hôm sau. Vì thế, mấy chị em phải nhịn đói suốt một ngày, một đêm. Buổi tối, mọi người lại xuống tiếp. Không ngờ đó là chuyến đi định mệnh của các y, bác sĩ, nhân viên bệnh xá. Họ bị địch phục kích hy sinh tất cả. Vợ tôi mất đi khi đứa con trong bụng mới gần 4 tháng, được đồng đội đưa về căn cứ chôn cất. Thế là tôi lại mang thêm trên mình hai vành tang trắng. Chiến tranh đã cướp đi của tôi nhiều quá. Hai bà vợ và một đứa con chưa kịp chào đời. Khỏi phải nói lúc ấy tôi căm thù giặc như thế nào. Nước mắt tôi lặn vào trong để nhường chỗ cho sự minh mẫn, khả năng sáng tạo của người chỉ huy bộ đội đặc công trong chiến đấu. Tôi thề sẽ quyết tâm chiến đấu để đền nợ nước, trả thù nhà. Xin nói thêm, sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng được giải phóng, tôi lên chuyển vợ con tôi về nghĩa trang liệt sĩ. Còn cô con gái Hồ Thị Liễu được vợ chồng tôi gửi về ở với nội nên không biết mẹ mình còn hay mất, ở đâu. Nó lớn lên chỉ biết có ba, người ba thương yêu độc nhất. Hiện nay, vợ chồng Liễu đang sinh sống ở quê chồng, thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:29:29 pm Cũng trong năm 1967, lực lượng đặc công biệt động quận Nhì, thành phố Đà Nẵng, đã tập kích đồn Phú Lộc, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, thu toàn bộ vũ khí, khai thông hành lang vào nội thành Đà Nẵng. Chiến thắng này đóng vai trò quan trọng trong việc đưa nhiều thanh niên, học sinh lên căn cứ bổ sung cho các đơn vị đặc công, biệt động và cơ quan dân chính Đảng. Họ được giáo dục, học tập chính trị và huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đặc công, sau đó biên chế quân số cho Quận đội quận Nhì và cơ quan Quận ủy quận Nhì. Số đồng chí này sau đó đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu nhiều chiến công xuất sắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào thành tích chung của lực lượng vũ trang Quận Nhì đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Quận Nhì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi càng thấm thía sự hi sinh anh dũng, lòng nhiệt tình cách mạng của những con người ấy. Sau này, mỗi khi nhớ lại một thời hào hùng của dân tộc, tôi lại cảm thấy tự hào vì mình đã đóng góp một phần nhỏ bé vào chiến thắng chung.
Những năm tháng ăn núi, ngủ rừng một thời đã trở thành kỷ niệm không thể nào phai mờ trong tôi. Vì nơi ấy, chúng tôi đã sống chiến đấu vì nền độc lập của dân tộc, nơi có những con người bình dị đi vào cuộc chiến tranh với trái tim đầy nhiệt huyết cách mạng. Có những chiến công đã được sử sách ghi danh, cũng có những chiến công thầm lặng chỉ in dấu trong trái tim mỗi con người trực tiếp tham gia chiến đấu. Trường hợp tôi muốn nói đến là trận đánh bất ngờ trên đường đi công tác tiêu diệt một tiểu đội lính biệt kích của Mỹ tại thung lũng Khe Răm vào thượng tuần tháng 5 năm 1967. Địa danh này nằm về phía bắc dòng sông Cu Đê. Thiên nhiên đã ban cho nơi đây một cảnh đẹp sơn thủy hữu tình. Nếu không có chiến tranh thì có lẽ nơi đây sẽ là một khu du lịch sinh thái tốt cho những ai muốn nhìn mây ngắm núi. Dọc hai bên bờ sông là hai thôn Phò Nam và Nam Yên. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, đây là chỗ dựa vững chắc của quân và dân ta ở chiến trường tây bắc huyện Hòa Vang. Vì vậy, để ngăn chặn đường tiến của quân ta xuống đồng bằng, vào thành phố Đà Nẵng, bọn giặc không từ một thủ đoạn chiến tranh tàn ác nào. Chúng ngày đêm đánh phá quyết liệt, hành quân càn quét, chà đi xát lại, lùng sục, bố ráp các khu vực dân cư. Trên không, pháo tầm xa, pháo đài bay B-52 ngày đêm trút xuống khu vực này hàng ngàn tấn bom đạn và chất độc hóa học. Xóm làng trở nên tiêu điều xơ xác. Địch đã biến nơi đây thành bãi chiến trường để tha hồ hoạt động thám báo, biệt kích. Có thể nói, lá rừng cũng ghi không hết tội ác của chúng. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng; vẫn kiên cường bám trụ làng quê chiến đấu, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Cuộc sống của cán bộ, bộ đội trên căn cứ vì thế cũng gặp không ít khó khăn, nhất là vấn đề lương thực, thuốc men. Người khỏe mạnh chịu đựng còn thấy khó khăn, với anh em thương binh càng cực khổ bội phần. Để góp phần giải quyết tình thế, tôi quyết định tổ chức một số đồng chí đi xuống thăm nhân dân nắm tình hình bà con, tình hình địch và tiện thể thu hái ớt rừng, mang xuống đồng bằng đổi lấy ít gạo, mắm. Trong một chiều hè tháng 5 oi bức, tôi cùng bốn anh em xuống Khe Răm với ý định bơi sang thôn Phò Nam, sau đó sẽ đi thu hái ớt như dự kiến. Chúng tôi xuống đến Khe Răm khoảng hai giờ chiều. Bất ngờ, một chiếc máy bay trinh sát L.19 của địch bay đến, quần lượn mấy vòng trên cao rồi sà xuống thấp ném quả mù xuống bãi cỏ tranh. Chúng tôi chưa kịp xác định hành động đó của địch nhằm thực hiện âm mưu gì thì một chiếc trực thăng bay đến và đổ xuống bãi cỏ tranh một toán biệt kích. Bọn chúng gồm có 12 tên, sau một lúc sục sạo xung quanh thấy không có gì, bèn tìm cách tránh nắng. Chúng tôi lặng lẽ quan sát. Cái nắng gay gắt chiều hè miền nhiệt đới không ủng hộ những tên lính xâm lược đến từ phía bên kia bán cầu. Tụi biệt kích tụ tập lại bên khóm chuối rừng, cởi bỏ quần áo, tổ chức ăn uống no say và nằm lăn ra đất tắm nắng, nghỉ ngơi thoải mái. Chúng không hề biết rằng chúng đang bị năm cặp mắt tinh tường của các chiến sĩ đặc công theo dõi. Đối với chúng tôi, đây là tình huống xảy ra bất ngờ và thời cơ diệt địch rất thuận lợi. Tôi trao đổi với anh em về tình hình. Toàn tổ nhất trí quyết tâm tiêu diệt địch. Phương án tác chiến được vạch ra ngay trên dốc Khe Răm. Trời càng về chiều, nắng hè càng chói chang. Dường như vạn vật đều sợ cái nắng nung người của miền sơn cước. Không một loài chim thú cất tiếng kêu nên không gian càng trở nên tĩnh mịch. Thỉnh thoảng, vài ngọn gió nồm lọt qua khe núi làm bãi cỏ tranh xào xạc, uốn lượn dập dờn theo chiều gió như những làn sóng xanh mơn man, làm mát dịu cái nắng nóng mùa hè. Chúng tôi cơ động theo bờ khe nước, bí mật bò qua bãi cỏ tranh, men theo chiều gió cách địch chừng 50 mét. Khoảng cách của chúng tôi và tụi biệt kích được rút ngắn dần. Khoảng 20 mét thì toàn tổ dừng lại, dàn thành hàng ngang sẵn sàng nổ súng. Năm giờ chiều nắng nóng bắt đầu dịu dần, bọn lính Mỹ lục tục gọi nhau ngồi dậy. Chớp thời cơ, tôi phát lệnh nổ súng. Những tiếng súng AK và lựu đạn đồng loạt phát huy sức mạnh. Tiếng hô xung phong của chúng tôi hòa lẫn tiếng la hét của những tên lính biệt kích làm vang động cả một vùng, cỏ tranh bốc cháy ngùn ngụt, khói lửa bốc cao rần rật càng thôi thúc khí thế hăng say chiến đấu của chiến sĩ ta, góp phần uy hiếp tinh thần của lính Mỹ. Bị đánh phủ đầu, bọn lính biệt kích chưa kịp phản ứng đã bị tiêu diệt gọn. Một tên lính da đen bị thương vào chân, cố bò lại khẩu đại liên M60. Nhưng hắn chưa kịp nổ súng đã bị một chiến sĩ cũng đang bị thương nằm cạnh đó diệt luôn. Tên cuối cùng thoát chết trong trận đánh bất ngờ, cố chạy ngược vào rừng cũng bị quân ta truy kích tiêu diệt nốt. Như vậy, trong phút chốc, trên đường đi công tác, 5 cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã diệt gọn toán biệt kích của Mỹ khi chúng chưa kịp gây tội ác; thu 10 khẩu tiểu liên cực nhanh AR15, một đại liên M60, một súng phóng lựu M79, một máy thông tin PRC 25 cùng toàn bộ quân trang, quân dụng. Bên ta một chiến sĩ bị thương và đã hy sinh trên đường chuyển về đơn vị. Trận đánh dù không lớn, nhưng đã gây chấn động các đồn địch gần đấy. Chúng không ngờ Việt cộng ở đâu xuất quỷ nhập thần như vậy. Do đó, địch ngay tại căn cứ và một số đồn bốt ở gần đó cũng không có phản ứng gì. Sáng hôm sau, chúng mới cho máy bay đổ bộ, xe tăng lên để lấy xác đồng bọn về. Có thể nói, đây là một trận đánh xuất sắc, có hiệu suất chiến đấu cao, với tinh thần dũng cảm kiên cường, ý chí kiên quyết tấn công tiêu diệt địch bất kể chúng ở đâu và trong hoàn cảnh, điều kiện nào. Chiến công trên đã góp phần tô thắm truyền thống anh dũng kiên cường của bộ đội đặc công Đà Nẵng nói chung, Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng nói riêng. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:30:53 pm Ngay sau khi thành lập khoảng ba đến bốn tháng, tức tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn đặc công 87 đã tổ chức tập kích đại đội pháo binh Mỹ đóng ở phía bắc đèo Ông Gấm, thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi Tây, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 20 cây số về phía tây. Có thể nói, đèo ông Gấm là tiền đồn án ngữ về phía tây khu vực dân cư đông đúc. Nhân dân ở đây chủ yếu là đồng bào theo đạo Thiên Chúa thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi. Căn cứ của địch nằm trên trục đường 14B, nay là đường đi du lịch Bà Nà - núi Chúa. Trước đây, tức năm 1966, Tiểu đoàn Đặc công 89 tập kích trận địa pháo Thanh Vinh. Để tránh bị đối phương đánh bất ngờ vào các căn cứ trong thành phố, năm 1967, Mỹ đã điều lên đây một đại đội pháo binh 105mm, đóng dã chiến trên dãy đồi Lai Láng, nằm về phía bắc đèo Ông Gấm. Chúng thường xuyên bắn phá ác liệt ngày đêm lên các căn cứ của ta như: Phú Túc, An Lợi, Hòa Trung, Nam Yên, Trường Định và khu vực núi Chúa, nay là khu du lịch Bà Nà, nhằm ngăn chặn từ xa để bảo vệ khu hậu cần Mỹ ở Bàu Tràm (Đa Phước) và sân bay trực thăng Xuân Thiều (Hòa Hiệp). Trong khi đó, cục diện chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng lại đang nghiêng về phía ta, khi ta mở chiến dịch hè - thu tấn công quân Mỹ - ngụy đã thu được nhiều thắng lợi lớn.
Tình hình đơn vị chúng tôi lúc ấy vừa mới thành lập đang trong tình trạng vừa phải sắp xếp biên chế tổ chức, bố trí cán bộ, chiến sĩ vào từng vị trí theo khả năng; vừa xây dựng doanh trại, huấn luyện chiến thuật đặc công và chuẩn bị chiến trường để tiểu đoàn tham gia chiến đấu và phối hợp với các đơn vị bạn cùng hiệp đồng chiến đấu tấn công quân địch. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng địch ở đèo Ông Gấm, Ban chỉ huy Tiểu đoàn cử lực lượng đi chuẩn bị chiến trường, gồm 9 đồng chí, chia thành 3 tổ do tôi chỉ huy. Trong quá trình điều tra, các đồng chí Tạo, Tùng, Phước, Sửu, Hiền đã đạt được kết quả tốt sau 2 đêm đột nhập vào trận địa pháo đèo Ông Gấm. Qua điều tra, chúng tôi biết được cứ điểm địch phòng thủ sơ sài; bên ngoài chỉ có 2 lớp rào bùng nhùng, 4 lô cốt, 1 hào giao thông; bên trong toàn nhà bạt và các ụ pháo. Chỉ huy đơn vị xác định đã nắm chắc 95% phần thắng, có thể tác chiến dễ dàng. Bên ngoài, cách căn cứ khoảng 500 mét, chung quanh là đồng bào Thiên Chúa giáo thuộc các thôn Tùng Sơn và An Ngãi. Bọn ngụy quân, ngụy quyền đóng ở đây khoảng 800 tên và cho rằng khu vực này là bất khả xâm phạm. Trên thực tế, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địch đã lợi dụng đồng bào, gây chia rẽ Kinh - Thượng, lương - giáo để chống lại phong trào cộng sản. Vì thế, đây cũng là một khó khăn khi ta tiếp cận mục tiêu. Kể từ khi thành lập, đây là trận đánh mở màn của Tiểu đoàn Đặc công 87, vì vậy phải quyết tâm đánh thắng để lập thành tích xây dựng đơn vị và làm nền tảng cho những trận đánh sau. Đó cũng là một trong những trọng tâm của công tác chính trị tư tưởng mà Đảng ủy Tiểu đoàn xác định, nhằm lãnh đạo động viên đơn vị, nhất là bộ phận tham gia chiến đấu lần đầu, ra quân là đánh thắng. Tiểu đoàn lấy Đại đội 1 trước đây thuộc Tiểu đoàn Đặc công 89 làm nòng cốt, chọn 25 đồng chí cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm chiến đấu tốt trong trận tập kích trận địa pháo Mỹ ở Thanh Vinh năm 1966 và 15 đồng chí cán bộ, chiến sĩ mới từ miền Bắc vào làm dự bị trận đánh. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm hậu cần, vận chuyển thương binh, liệt sĩ cũng được chỉ huy đơn vị phân công, bố trí chặt chẽ, cụ thể, tỉ mỉ. Vũ khí mang theo được trang bị mạnh, đặc biệt có 6 khối bộc phá 5 cân để đánh các cụm pháo. Ngày 10 tháng 7 năm 1967, đơn vị bắt đầu hành quân trên trục đường hành lang. Chúng tôi phải vượt sông, trèo đèo, lội suối, có không ít đoạn đường Mỹ đổ quân phục kích và càn quét khu vực. Thỉnh thoảng pháo binh ở trận địa pháo Hòa Lộc bắn chặn đường. Đặc biệt khó khăn và nguy hiểm khi đội hình vượt qua hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra. Ở đây, địch đặt máy ra-đi-ô xung, loại máy mà dân ta gọi nôm na là cây nhiệt đới, khi phát hiện tiếng động của đối phương sẽ ngay lập tức báo về tổng đài. Đồng thời, các cụm pháo cối lập tức bắn dồn dập đến tọa độ do tín hiệu xác định. Tuy nhiên, quân đội Mỹ dù có cố gắng bao nhiêu cũng không thắng nổi những trinh sát đặc công điêu luyện của ta. Trong điều kiện bình thường, một người dân có thể đi từ cánh bắc sang cánh nam chỉ mất 4 giờ. Nhưng để qua đoạn đường trên đảm bảo an toàn, bí mật thì chúng tôi phải hành quân mất 2 ngày 2 đêm nghĩa là phải đi đường vòng không những để tránh địch mà còn phải tránh nhân dân đi lại trên trục đường này, vì kẻ địch thường trà trộn vào để đi do thám tình hình. Bên cạnh đó chúng còn sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để phát hiện bộ đội hành quân, hay cán bộ đi công tác qua vùng này. Có trường hợp ta không thể lường trước được, chỉ cần sơ suất nhỏ là có thể rơi vào tay địch ngay. Tôi xin đơn cử một thủ đoạn của địch khiến ta không dễ gì phát hiện. Trên các trục đường hẻm và đường luồn bắt buộc ai cũng phải đi qua, cứ độ 5 giờ chiều, chúng quan sát, trà trộn vào dân để chờ mọi người đi làm về hết rồi đem kẹp heo đặt trên trục đường và cột tranh cỏ qua đường. Sáng hôm sau lên, chúng kiểm tra nếu thấy mất kẹp, mất cỏ tranh là có cộng sản đi qua đây. Trên cơ sở đó, địch sẽ tổ chức phục kích hoặc đặt mìn nhằm để sát thương bộ đội hoặc cán bộ của ta. Có một lần, đồng chí Ngô Văn Hiên là Bí thư chi bộ xã Hòa Ninh, trên đường đi công tác bị dính kẹp của địch, loại kẹp nặng 8 cân. Đồng chí đã phải dùng súng ngắn bắn đứt khóa rồi mang kẹp đi luôn. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:32:09 pm Vì thế, trong quá trình hành quân, ta luôn thực hiện khẩu hiệu đối phó với địch là: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng”, đó cũng là nguyên tắc bắt buộc mọi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải chấp hành và thực hiện tốt. Ngày 12 tháng 7, đơn vị hành quân đến vị trí tạm dừng tại thôn Hòa Trung (Hòa Liên) và tổ chức đội hình chiến đấu. Lực lượng biên chế thành hai mũi. Mũi 1 do đồng chí Thái Thanh A làm mũi trưởng cùng 8 đồng chí đột nhập vào hướng bắc trận địa pháo và sở chỉ huy của địch. Mũi 2 là mũi chính, do đồng chí Trịnh Xuân Tạo làm mũi trưởng cùng các đồng chí Hiền, Tùng, Sách, Chí... đột nhập từ hướng tây đánh xuống, tôi đi theo mũi này. Đội dự bị gồm 9 đồng chí do đồng chí Phước chỉ huy. Sau đó, các bộ phận lần lượt cơ động đến thôn Mỹ Sơn, đèo Ông Gấm. Theo kế hoạch hiệp đồng, 18 giờ ngày 12 tháng 7, tổ trinh sát tiểu đoàn đi tiền trạm cảnh giới bám địch; 20 giờ, đơn vị tổ chức hành quân; 22 giờ tiếp cận mục tiêu; 23 giờ bí mật cắt rào để lót đội hình sẵn sàng nổ súng.
Khi đội hình dừng lại phía bắc đồi Lai Láng, tôi ra lệnh triển khai, thực hành tiềm nhập theo các hướng như đã phân công. Trời càng về khuya, sương mù càng dày đặc. Đêm tối mịt mùng như bưng lấy mắt bộ đội. Tôi có cảm tưởng chỉ quơ nhẹ cánh tay ra là có thể bốc được một nắm bóng tối và sương mù. Lúc này, pháo của địch tăng cường bắn phá dữ dội về phía tây các căn cứ của ta. Tiếng nổ dồn dập, liên hồi, ánh lửa chớp sáng lòa cả trận địa. Chúng không hề biết rằng đó là những phát đạn gây tội ác cuối cùng của mình. Sự có mặt của những tên lính viễn chinh không hề được nhân dân bản xứ hoan nghênh, ngược lại một cái chết đang chờ đợi chúng. Chỉ trong giây lát nữa thôi, các chiến sĩ đặc công của chúng tôi sẽ biến cái căn cứ tiền đồn này thành mồ chôn những tên lính xâm lược. Nghe tiếng đạn nổ, tôi miên man suy nghĩ như vậy. Nhận định trước tình hình, đúng hơn là đã có trong phương án chiến đấu nên đội hình của ta vẫn bí mật nằm trước họng súng 105mm của địch. Mặc dù tiếng nổ làm rung chuyển cả người nhưng anh em vẫn nằm yên chờ lệnh. Tôi bò theo động viên anh em cứ đúng 23 giờ là thực hành cắt rào lót đội hình. 24 giờ, nghĩa là đã đến giờ G theo hiệp đồng cả trận địa pháo binh Mỹ ngưng bắn. Không gian lại trở về vẻ im lìm trong đêm tối. Chỉ có một toán lính Mỹ đi tuần tra chung quanh các vọng gác. Chúng dùng đèn pha quét qua quét lại nhiều lần nhưng không hề phát hiện ra các chiến sĩ đặc công đang ẩn mình trên các ụ súng đang từng phút, từng giây chờ lệnh nổ súng. Thời gian như ngừng trôi. Hình như mọi hoạt động của sự sống xung quanh đều ngừng hẳn để nhường lại sức mạnh cho những trái tim người lính đặc công. 24 giờ 5 phút, tôi làm hiệu bấm nhẹ đồng chí Tạo, xạ thủ B41, ra lệnh bắn sập lô cốt đầu cầu. Ngay lập tức một quầng lửa da cam bùng lên. Ụ súng vừa mấy phút trước đó còn bắn dữ dội về phía căn cứ của ta bỗng chốc trở thành đống bê tông đổ nát. Nghe tiếng súng, anh em hiểu ngay đó là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn và những đường đạn căng của súng AK như một tấm lưới lửa trút xuống đầu quân địch khi chúng chưa kịp trở tay. Các đồng chí Tạo, Tùng, Hiền nhanh chóng chỉ huy các mũi phát triển vào trung tâm bắt liên lạc với chỉ huy trận đánh và chờ lệnh đánh pháo. Để kịp thời xử trí những tình huống chiến đấu có thể xảy ra, tôi khẩn trương cơ động về vị trí chỉ huy tiểu đoàn cùng đồng chí Bá Phước (Tiểu đoàn phó) và theo dõi toàn bộ trận đánh. Trong quá trình phát triển chiến đấu, chúng tôi vận động theo hướng của đồng chí Tùng. Lúc này, các đồng chí bộc phá viên đã đặt xong các khối thuốc TNT. Bất ngờ, một phát pháo hiệu đỏ bắn lên không gian báo hiệu cho các chiến sĩ đồng loạt giật nụ xòe rồi lùi xa ẩn nấp. Những tiếng nổ long trời chuyển đất nối đuôi nhau, vang lên như sấm dậy một góc trời đèo Ông Gấm đã xé tung những khẩu pháo của Mỹ thành những đống sắt vụn. Nhân dân các thôn Tùng Sơn, An Ngãi, Phú Thượng và Phú Hạ nghe tiếng bộc phá nổ biết có đánh lớn đã thức dậy xem chúng tôi biểu diễn nghệ thuật “nở hoa trong lòng địch”. Sau khoảng 10 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn đại đội pháo binh Mỹ, phá 6 khẩu pháo 105mm và nhiều xe quân sự; thu một số vũ khí. Khi đơn vị rời khỏi trận đánh, về vị trí tập kết, kiểm tra quân số phát hiện thiếu một chiến sĩ, tôi cùng đồng chí Hoàng Thế Sắc vội quay lại đưa đồng chí của mình ra. Sau đó, tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị lui quân về chiến khu Hòa Trung đảm bảo an toàn, bí mật. Trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là từ lúc Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng, lấy vịnh Đà Nẵng làm hậu phương cho các loại tàu chiến quân sự neo đậu, sẵn sàng chi viện cho quân đội Mỹ đi các chiến trường Khu 5 và Trị Thiên - Huế. Khi đổ quân vào cảng Phú Lộc, Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hòa Hiệp,v.v, địch đóng các đồn bót, tổng kho hậu cần ở Đa Phước, sân bay Xuân Thiều, cầu Thủy Tú, đồi Hầm Vàng và kho xăng Liên Chiểu, trận địa pháo Thanh Vinh. Chúng phái nhiều trung đội biệt kích hành quân lùng sục theo trục đường 1A và đường xe lửa từ cầu Thủy Tú sang Kim Liên và kho xăng Liên Chiểu hòng ngăn chặn đối phương tấn công bất ngờ để bảo vệ an toàn hậu phương của chúng. Về phía ta, Tiểu đoàn Đặc công 87, sau khi thực hiện các trận đánh lớn, chúng tôi lại trở về căn cứ rút kinh nghiệm, học tập, huấn luyện và củng cố về mọi mặt. Trong quá trình vừa chiến đấu vừa xây dựng, đơn vị đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Mọi cán bộ đảng viên, đoàn viên đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cấp trên giao. Đầu tháng 3 năm 1966, tiểu đoàn ra quân đi chiến đấu với phương thức phân tán từng đại đội, đứng ở từng địa bàn khác nhau trên vành đai Đà Nẵng. Mỗi bộ phận tự tổ chức lực lượng điều tra chiến trường, nghiên cứu mục tiêu. Lúc này, tình hình chiến sự ngày càng nóng lên, hệ thống căn cứ chốt điểm trên vành đai phòng thủ Đà Nẵng của địch được củng cố thêm. Quân Mỹ áp dụng hình thức chiến thuật cơ bản trong phòng ngự của chúng là xây dựng nhiều căn cứ hỏa lực và lực lượng để lấp hết các khoảng trống trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Trước tình hình như vậy, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng ra lệnh cho các đơn vị bộ đội địa phương và Tiểu đoàn Đặc công 87 đóng quân hướng cánh bắc Hòa Vang mở một đợt hoạt động nhằm tăng cường đánh phá giao thông, tập kích các chốt điểm Mỹ - ngụy để thu hút lực lượng và làm cho địch chú ý hướng này, tạo thời cơ cho Tiểu đoàn Đặc công 89 và các đơn vị ở cánh nam hoạt động mạnh hơn, phối hợp với chiến trường chung. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:34:01 pm Theo chỉ thị của cấp trên đêm mùng 6 tháng 8 năm 1967, phải nổ súng ở địa hình. cánh bắc Hòa Vang, cho dù đánh lớn hay nhỏ cũng phải nổ súng bằng được để hướng sự chú ý của địch về cánh bắc nhằm mục đích làm cho chúng phân tán lực lượng không kịp tập trung đối phó. Đêm mùng 6 tháng 8 năm 1967 Đại đội 1, thuộc Tiểu đoàn Đặc công 87, sử dụng một bộ phận do tôi trực tiếp phụ trách lên đường thực hiện nhiệm vụ. Hôm ấy, tôi cùng 11 đồng chí hành quân từ căn cứ cánh bắc Hòa Vang xuống khe Hố Chuối, trong đó có đồng chí Sắc là du kích xóm Kim Liên. Đồng chí Sắc đã dẫn chúng tôi xuống xóm Kim Liên nằm phục kích. Lúc này, trời cũng vừa tối. Theo nguồn tin từ cơ sở, tụi lính Mỹ thường đi tuần từ Liên Chiểu đến Kim Liên. Chúng tôi triển khai đội hình nằm phục kích đến tận 23 giờ 30 phút vẫn không thấy bọn địch đi tuần. Tôi bèn phân công đồng chí Sắc bò vào làng Kim Liên để về nhà hỏi thăm tình hình địch. Ba của đồng chí sắc cho biết hôm đó bọn lính Mỹ đóng quân dã chiến lúc 5 giờ chiều ở cuối làng Kim Liên. Lực lượng của địch gồm có 1 trung đội, 3 nhà bạt, 1 khẩu đại liên. Chúng không bố trí hàng rào, không đào công sự và đóng ngay cạnh đường ray xe lửa, phía dưới quốc lộ 1A. Sau khi nắm chắc tình hình địch cũng như địa điểm đóng quân của địch, đồng chí Sắc nhanh chóng trở lại đơn vị báo cáo. Tôi tập trung anh em lại hội ý. Căn cứ vào ý kiến của đồng chí Sắc và một số chiến sĩ, tôi lệnh cho đơn vị đột nhập theo hướng biển bò lên, vì hướng này địch rất sơ hở không để ý quan sát. Theo kế hoạch đã thống nhất tôi dẫn anh em xuống Hố Chuối, triển khai đội hình, giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Trợ (Đại đội phó) chỉ huy trận đánh và đồng chí Sắc dẫn đường. Còn tôi cùng với một đồng chí chiến sĩ liên lạc nằm ngoài để vừa cảnh giới bám địch, vừa giữ đường cho anh em lui quân. Do đặc điểm làng Kim Liên bấy lâu nay ta không tổ chức hoạt động gì lớn nên địch vẫn xem đây là vùng an toàn nhất với địa hình phía bắc là cầu Trắng, cầu Đen, phía nam là cầu Thủy Tú, phía đông giáp biển và phía tây là ấp chiến lược Kim Liên.
Nhận mệnh lệnh chiến đấu, đồng chí sắc dẫn anh em lần lượt vượt quốc lộ 1A. Bất ngờ, một chiếc GMC chạy từ Liên Chiểu vào hướng Đà Nẵng, cách đội hình của ta khoảng 5 mét. Mặc dù đèn pha rất sáng, nhưng chúng vẫn không phát hiện được ta. Các anh tiếp tục bò qua đường 1A, xuống đường xe lửa, rồi xuống hướng biển, sau đó bò lên lại theo hướng địch đóng quân. Khi đội hình bò qua đường xe lửa, anh em nhận thấy quân số của địch lúc này đã tăng lên, do chúng kéo quân từ Liên Chiểu về. Đồng chí Trợ nhanh chóng tổ chức hội ý với các tổ trưởng về vấn đề tăng quân của địch. Anh em vẫn quyết tâm đánh. Đồng chí Trợ chia lực lượng thành 3 tổ, mỗi tổ gồm 3 đồng chí. Khi ta đột nhập vào sát trận địa thì gặp một chuồng bò của dân khoảng 15 đến 16 con. Nhờ tiếng động của đàn bò phát ra nên địch không để ý. Chúng chỉ tập trung chú ý vào hướng từ trên núi xuống. Thực hiện chiến thuật đánh nhanh, diệt gọn, áp sát quân địch phát huy tối đa hỏa lực, xung lực nên ta cố gắng vận động càng sát địch càng tốt. Đặc biệt, đồng chí Hiền ở tổ chính diện đã bò cách chỗ hai tên lính đứng gác khoảng 5 mét. Còn hai tổ đột nhập vào sát hai bên nhà bạt. Khi tất cả đã sẵn sàng, đồng chí Trợ bắn một phát súng ngắn làm hiệu lệnh chiến đấu. Ngay lập tức, đồng chí Hiền tiêu diệt luôn 2 tên lính gác rồi xông lên, cùng anh em dùng AK, thủ pháo, lựu đạn đánh tới tấp vào các mục tiêu nhà bạt, san bằng trận địa làm cho địch không kịp trở tay. Đồng chí Liên, xạ thủ B40, nhanh chóng lấy phần tử bắn dập tắt ổ đại liên, bất ngờ một viên đạn văng trúng vào phổi. Đồng chí y tá kịp thời băng bó vết thương và cùng đồng chí Hiền dìu đồng chí Liên về Hố Chuối, nơi đơn vị tập kết quân số. Các anh lần lượt về đến vị trí tập kết. Đơn vị kiểm tra lại quân số đã phát hiện thấy thiếu đồng chí Ngô Lực, người con của mảnh đất Hòa Liên. Anh đã anh dũng hy sinh trong trận tập kích vừa qua. Trong trận đánh này ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Bọn lính Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn, mặc dù bọn ngụy ở đầu cầu Thủy Tú và Liên Chiểu ở gần đó cũng không kịp dùng bộ binh để chi viện. Chúng phải bắn đèn sáng pháo cối, dùng xe tăng phản kích. Nhân dân vui mừng thông báo, sáng ngày mùng 7 tháng 8, tình hình chiến trận phơi bày ra trước mắt. Những chiếc nhà bạt hôm qua giờ chỉ còn là những đống đổ nát. Đổ che đậy sự thất bại, địch đã điều trực thăng hạ xuống lấy xác ngay trong đêm. Tuy nhiên, sáng dậy, người dân vẫn còn thấy thịt và cánh tay của những tên lính văng vào nhà dân và đường số 1 Các đồng chí tham dự trận đánh này đều được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Sau này, mỗi khi có dịp trở lại thăm làng Kim Liên, Thủy Tú, nơi diễn ra trận đánh năm xưa, tôi vẫn được người dân sống trên mảnh đất này kể chiến công của bộ đội đặc công Tiểu đoàn 87 như mới vừa xảy ra hôm qua. Có thể nói đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất của đời tôi về một trận đánh xuất sắc, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, bất ngờ, hợp đồng chặt chẽ. Trong chiến công chung đó, đồng chí Sắc, người du kích Kim Liên cùng bà con Hòa Hiệp đã góp một phần không nhỏ. Trên chiến trường miền Nam, Mỹ liên tiếp đổ quân và nhiều hơn dự kiến ban đầu gấp nhiều lần. Tiểu đoàn Đặc công 87 cũng như các lực lượng khác vẫn trong tình trạng vừa xây dựng, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành. Quân số luôn có sự thay đổi vì lý do chiến đấu hy sinh, bị thương, cấp trên điều động. Vì thế, chúng tôi phải thường xuyên có kế hoạch vừa chiến đấu, vừa huấn luyện để anh em kịp làm quen với cách đánh của bộ đội đặc công. Đối với tôi, mỗi trận đánh là một kỷ niệm. Không chỉ là chiến thắng mà còn chứa đựng sự đau thương mất mát. Có những anh em vừa mới từ miền Bắc vào một thời gian ngắn đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Mái tóc đen nhánh, nụ cười tinh nghịch mang đậm nét duyên con gái của những chàng trai thư sinh mới lớn lên, vừa rời ghế nhà trường xếp bút nghiên lên đường đánh giặc luôn ám ảnh tôi trong từng bữa ăn giấc ngủ. Là người chỉ huy, tôi không lúc nào nguôi ý nghĩ phải tổ chức trận đánh như thế nào để ta tổn thất ít nhất và đem lại hiệu quả chiến đấu cao nhất. Trong những trận chiến đấu về sau này, tôi đặc biệt ấn tượng với trận đánh đêm giao thừa xuân Mậu Thân 1968. Năm đó, ngày mừng xuân, Tiểu đoàn Đặc công 87 Đà Nẵng đã tổ chức đón một cái Tết đặc biệt, một cái Tết đầy máu lửa. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:35:13 pm Trước đó, ngày 19 tháng 8, tôi nhận được bức điện khẩn của đồng chí Tư lệnh Mặt trận 44 gọi vào nhận nhiệm vụ gấp. Vừa đến nơi, gặp các anh cán bộ tiểu đoàn anh em 89, 91 và 71, chúng tôi tay bắt mặt mừng. Như vậy là các đơn vị đặc công cùng đồng nghiệp cũng đều có mặt nhận nhiệm vụ. Chúng tôi được cấp trên thông báo, ta chuẩn bị mở chiến dịch lớn trên phạm vi toàn miền Nam để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Tham dự trận đánh trên đèo Hải Vân lần này, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ ở ngoài rào chỉ huy chung cả ngày lẫn đêm. Vì thế khi trở lại đơn vị, tôi liền cử hai tổ trinh sát gồm 6 đồng chí đi chuẩn bị 2 mục tiêu là đồn lính Mỹ và đồn lính ngụy trên đèo Hải Vân, do hai đồng chí Tiểu đoàn phó phụ trách. Lực lượng điều tra đồn tên lửa của Mỹ gồm 3 đồng chí Phước, Tạo và Thái A. Hướng đồn lính ngụy do 4 đồng chí Thượng, Sửu, Hiền và Sử nhận nhiệm vụ điều tra.
Sau một tuần lễ tổ chức đột nhập, nhiều đêm quan sát, các đồng chí đã đạt kết quả tốt. Riêng đồn tên lửa Mỹ vào đêm cuối cùng, 3 đồng chí vào được bên trong cổng ngõ đồn thì bất ngờ gặp 3 tên lính Mỹ cùng một con chó béc-giê đi tuần. Chúng đạp trên đầu đồng chí Tạo, thậm chí con chó còn cạp cái mũ trên đầu đồng chí. Trước tình thế này, bắt buộc đồng chí Tạo phải dùng lựu đạn diệt 3 tên lính Mỹ và con chó béc-giê chết tại chỗ và chạy thoát ra ngoài. Còn đồng chí Phước bị kẹt lại trong bờ rào thứ 3. Địch trong đồn báo động bắn ra dữ dội. Chúng cho xe tăng chạy quanh dồn, bắn pháo sáng liên tục cho đến sáng, khiến đồng chí Phước không thể thoát ra ngoài được, phải nằm lại trong bờ rào của địch suốt ngày hôm ấy, chờ đến tối mới bò ra. Sau 3 ngày đêm ăn đói, mặc rét, đồng chí Phước về đến đơn vị người đầy vết thương, thịt da trầy trụa do dây thép gai cào hết cả người. Mặt khác, sau khi thoát ra ngoài, hai đồng chí Tạo và Thái A về báo cáo chỉ huy mục tiêu bị lộ. Ngay lập tức, tôi đưa tổ trinh sát đi trở lại địa hình và trực tiếp dẫn đường đột nhập theo hướng khác. Chúng tôi vượt qua cầu Lô, rẽ xuống biển rồi lên hầm số 2, bò lên đỉnh trận địa tên lửa của địch. Sau 3 ngày đêm đầy khó khăn vất vả, khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi dẫn tổ trinh sát trèo lên phiến đá cách bờ rào dây thép gai của địch khoảng 50 mét để quan sát. Bên trong cứ điểm của địch hiện ra trước mắt chúng tôi rõ mồn một. Bao gồm: 6 dàn tên lửa Tô-ma-hốc, lô cốt, nhà lính, đài ra đa và sân bay trực thăng. Trong đầu tôi phác nhanh dự kiến hướng tiến công. Tôi nhận định khả năng hướng đông có nhiều sơ hở, chỉ có một lớp rào sơ sài, các dàn tên lửa sát rào, 3 dàn quay ra hướng bắc, 3 dàn quay ra Biển Đông có thể đánh được. Khoảng 10 phút sau, trên sân đồn có 3 con chó béc-giê ngóng đầu ra chỗ cục đá nơi chúng tôi đang ngồi núp. Chúng đánh hơi và sủa lên inh ỏi. Lũ chó sủa ngày càng dữ dội làm cho bọn lính Mỹ nghi ngờ hô toáng lên “Vi-xi! Vi-xi!”. Địch lập tức điều một chiếc xe tăng chạy xuống hướng đông đường cúp cùng 3 con chó béc-giê. Nhưng lúc ấy, chúng tôi đã thoát ra khỏi chỗ đó một cách an toàn, sau khi chui qua ống cống đá dưới đường cúp của ngụy. Tối hôm ấy, tổ trinh sát tiếp tục đột nhập từ hướng đông vào đến các bệ phóng một cách dễ dàng, bởi vì đèo Hải Vân lúc này mây mù bao phủ. cần nói thêm rằng, hàng ngày, trong thời gian từ 18 giờ đến sáng hôm sau, trời vẫn còn tối. Đó là một thuận lợi để bộ đội đặc công đột nhập vào mục tiêu, điều nghiên tỉ mỉ. Coi như bước điều tra lần này đạt kết quả tốt đẹp. Chúng tôi nhanh chóng quay trở lại điểm hẹn, gặp lại các đồng chí đi điều tra đồn Nhứt ngụy báo cáo kết quả. Tôi cho các anh em về trước, còn tôi cùng các đồng chí tiểu đoàn phó là đồng chí Thượng, Sửu, Phước và Sử ở lại tiếp tục đặt đài quan sát, vẽ sơ đồ đồn Nhứt và chọn trận địa cối 82mm của tiểu đoàn, tiến hành đo cự li và tầm bắn trên thực địa của bản đồ độ 800 đến 1.000 mét. Vì ở khoảng cách đó là thuận lợi nhất cho tầm bắn của cối 82mm trong hiệp đồng tác chiến với tiểu đoàn. Cũng ngay trong đêm hôm đó, tôi cùng các đồng chí tiếp tục đột nhập vào đồn Nhứt ngụy để nắm toàn bộ nội, ngoại vi cứ điểm của ngụy một lần nữa. Sáng hôm sau, chúng tôi trở về đơn vị bàn kế hoạch chuẩn bị phương án tác chiến. Lúc này, công việc của tiểu đoàn rất bộn bề, vừa phải củng cố tổ chức, biên chế đơn vị làm doanh trại chỗ đóng quân, cho anh em xuống đồng bằng gùi lương thực đổ vừa ăn vừa dự trữ. Một số đồng chí được cử ra đèo Hái Vân làm nhà chứa gạo và súng đạn, chuẩn bị trạm cứu chữa thương binh. Một tổ trinh sát được cử đi chuẩn bị điều tra sân bay Xuân Thiều, chuẩn bị trận địa cối 82mm đặt tại miếu xóm Nà, hiệp đồng bắn vào sân bay trực thăng Xuân Thiều khi có lệnh mở chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968. Trong một thời gian ngắn nhờ sự thống nhất của cán bộ, chiến sĩ và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm nôn công việc chuẩn bị mọi mặt của tiểu đoàn đã hoàn tất. Bên cạnh việc chuẩn bị vật chất cho cuộc chiến lâu dài, chúng tôi còn được học chính trị để nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm cho từng cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng nhận nhiệm vụ trên giao, thi đua lập công xuất sắc. Đơn vị được huấn luyện kỹ thuật đặc công tập kích cứ điểm vào ban đêm, ban ngày; tổ chức phòng ngự đánh địch phản kích khi chúng có xe tăng máy bay yểm trợ trên đường đèo Hải Vân, từ Đà Nẵng ra, từ Thừa Thiên Huế vào khi địch tập trung tại cao điểm đồn Nhứt trên đỉnh đèo Hải Vân, nơi dự kiến sẽ diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:36:51 pm Đêm 30, rạng ngày mùng Một Tết Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn Đặc công 87 chính thức thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm đèo Hải Vân. Nhận mệnh lệnh cấp trên, Tiểu đoàn 87 đã sử dụng 4 đại đội đặc công tập kích tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Mỹ - ngụy. Cụ thể, lực lượng đánh tên lửa do Đại đội 1 đảm nhiệm, dưới sự chỉ huy chung của đồng chí Công; trong đó, đồng chí Chiêm - Đại đội phó làm mũi trưởng. Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, tôi lệnh cho bộ phận này đi trước một ngày. Đội hình đánh đồn ngụy do Đại đội 2 đảm nhiệm, các đồng chí: Phước, Thượng, Sửu chỉ huy. Đại đội cối giao cho đồng chí Sử chỉ huy, có nhiệm vụ bắn chế áp, kiềm chế hỏa lực địch, kịp thời chi viện cho anh em chiến đấu. Tôi đứng ở ngã ba đỉnh đèo Hải Vân, chỉ huy chung.
19 giờ, các mũi ở các hướng đã tiếp cận mục tiêu, 22 giờ khắc phục vật cản, 23 giờ bí mật lót đội hình vào bên trong, 24 giờ hiệp đồng nổ súng. Những mốc thời gian như vậy kể lại sau chiến tranh có vẻ khá dễ dàng, nhưng trong thời điểm ấy chúng tôi có thể phải đánh đổi bao nhiêu sinh mạng của đồng chí, đồng đội chỉ vì một sơ suất nhỏ của mình. Tại đồn Nhứt, chúng đốt pháo, giật đèn sáng, bắn súng chào mừng năm mới. Sau 30 phút, bọn lính ăn nhậu say sưa, sau đó nằm im lặng trong đêm tối mà không hề cảnh giác. Đúng 24 giờ, tức giờ G, Tiểu đoàn đặc công chúng tôi thực hành hiệp đồng nổ súng với toàn mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Đêm ba mươi, rạng sáng ngày mùng Một xuân Mậu Thân năm 1968, bị những tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn, AK, B40, B41, đạn cối 82mm đánh phủ đầu, quân Mỹ - ngụy trong đồn gần như bị tê liệt hoàn toàn. Đỉnh đèo Hải Vân như một biển lửa trút lên đầu quân thù. Đơn vị chúng tôi đã làm chủ hoàn toàn trận địa cho đến sáng mùng Một Tết Mậu Thân. Sáng hôm ấy, toàn tiểu đoàn chuyển sang phòng ngự, sẵn sàng đánh địch phản kích. Quân Mỹ - ngụy hành quân từ Đà Nẵng lên bằng cơ giới, có xe tăng, máy bay yểm trợ. Hướng Thừa Thiên - Huế, chúng cũng hành quân tương tự như vậy. Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan khi địch ở Đà Nẵng ra, pháo từ tàu biển bắn lên, địch ngoài Huế vào tôi cùng với các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn vẫn quyết đoán, động viên anh em bình tĩnh chống trả và tìm cách xử trí thích hợp. 12 giờ địch đến vị trí phục kích của ta tại nơi quẹo cánh tay ở chân đèo. Quân ta sử dụng hỏa lực của cối 82mm, B40, B41 đánh phủ đầu quân địch, diệt nhiều tên, bẻ gãy cuộc hành quân tiếp viện cho quân Mỹ - ngụy trên đèo, buộc chúng phải tháo chạy về Đà Nẵng. 18 giờ ngày mùng Một Tết Mậu Thân, toàn tiểu đoàn về vị trí tập kết an toàn. Tuy nhiên, trong trận chiến đấu trên ta không thể tránh khỏi những tổn thất. Đó là sự hy sinh anh dũng của một số cán bộ, chiến sĩ khi tham gia trận đánh này, đặc biệt là tấm gương đồng chí Phòng, người nhảy lên cắm cờ trên lô cốt cố thủ đồn tên lửa Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Ngay sau đó, đồng chí Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Công, Chính trị viên tiểu đoàn, tuyên bố kết nạp Đảng cho đồng chí Phòng tại trận địa. Nhận được mệnh lệnh tổ chức lui quân của cấp trên, khoảng 6 giờ chiều hôm đó, tôi cho anh em khiêng thương binh, liệt sĩ về hậu cứ Khe Lạnh (Kim Liên, Hòa Hiệp) nghỉ ngơi để hôm sau về doanh trại ở Khu 1, cánh bắc Hòa Vang. Tôi nắm tình hình tư tưởng, kịp thời giáo dục, xốc lại đội hình, động viên anh em tiếp tục sẵn sàng đi chuẩn bị chiến trường, đồng thời lãnh đạo đơn vị làm kho chứa gạo để chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Khi chúng tôi về Khu 1, đang tiến hành làm doanh trại củng cố đơn vị thì bất ngờ gặp một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ hành quân từ Lăng Cô đi xuyên sơn về Khe Răm. Chúng vô tình đi đúng ngay nơi đơn vị đóng quân. Khoảng 5 giờ chiều, nghe trinh sát báo cáo tôi ra lệnh nhanh chóng chuyển thương binh và cán bô các cơ quan vào sâu trong cánh bắc, để bộ phận chiến đấu ở lại. Lúc này, lực lượng của tiểu đoàn chỉ còn một đại đội tăng cường. Tôi giao nhiệm vụ cho các đại đội đào hầm, chiếm vị trí có lợi đảm bảo đánh địch hiệu quả nhất. Khoảng 7 giờ sáng hôm sau, lính Mỹ ở trên tràn xuống theo khe, hướng sân tiểu đoàn. Do phát hiện địch từ trước nên ta chủ động đón đánh từ xa. Bị bất ngờ chúng vội vàng dừng lại và gọi pháo đánh xung quanh, gọi trực thăng thả dù tiếp tế. Tôi bình tĩnh bám sát đội hình, chỉ huy anh em kiên cường chiến đấu. Tuy nhiên, do chênh lệch về quân số, vũ khí trang bị nên khoảng ba ngày sau địch tràn xuống được và tổ chức truy kích quân ta. Nhưng trên trục đường hành quân của chúng, ta đã bố trí các lực lượng như công binh, đại đội độc lập của khu đội... chặn đánh gây thêm nhiều tổn thất cho địch. Đối với bộ đội đặc công, vì lực lượng mỏng nên rút sâu vào căn cứ thứ hai củng cố lại đội hình, sẵn sàng đánh chống càn, đối phó với B-52, bom tọa độ. Sau bận đó, máy bay chiến đấu của Mỹ - ngụy đã đánh bom nát rừng từ Khe Răm lên khe Hói Mít. Chúng còn cho 3 chiếc máy bay B-52 rải thảm làm các cơ quan khu bị tổn thất nặng. Ngoài ra, máy bay chiến đấu của địch tiếp tục thả chất độc hóa học khiến lá cây rụng hết, buộc chúng tôi phải lấy cành cây khô che hầm bí mật. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:38:34 pm Công tác tại Tiểu đoàn Đặc công 87 đến năm 1969, tôi được cấp trên điều động về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Đặc công 89. Sát cánh chiến đấu cùng anh em khoảng hai năm, đến năm 1971, tôi lại chuyển sang Ban 10 Đặc công Mặt trận 4. Sau đó, Bộ Tư lệnh đã điều tôi đi cùng Sư đoàn 2 Quân khu 5 tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh Khe Sanh tỉnh Quảng Trị. Trong chiến dịch này, ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Xa những người chiến sĩ đặc công một thời cùng nếm mật nằm gai, trong lòng tôi không khỏi bùi ngùi thương nhớ. Nhưng chiến tranh là vậy, dẫu trên bất cứ vị trí nào người lính cũng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đó cũng là cách thể hiện nỗi nhớ đồng đội.
Năm 1972, tôi được cấp trên điều về quận Nhì, thành phố Đà Nẵng làm Quận đội phó. Một thời gian sau, tôi tiếp tục được bổ nhiệm chức danh Quận đội trưởng, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng đặc công biệt động thành. Trong bối cảnh chung, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sắp đi vào hồi kết, cục diện chiến trường nhiều nơi ưu thế thuộc về chúng ta; hơn nữa, lực lượng đặc công, biệt động thành đã qua nhiều lần thử lửa, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu nên công việc của tôi cũng gặp khá nhiều thuận lợi. Cùng với việc tổ chức, xây dựng lực lượng, huấn luyện nghiệp vụ,v.v, trong thời gian này, tôi chỉ huy chung ở vòng ngoài và các đội tập kích Tiểu đoàn vận tải công binh và Cơ quan tham mưu tổng hành dinh Sư đoàn 3 của ngụy tại ngã 3 Hòa Mỹ. Kết quả trận đánh, ta đã thu toàn bộ vũ khí, giành thắng lợi to lớn, góp phần tô thắm truyền thống lực lượng vũ trang quận Nhì, thành phố Đà Nẵng. Hồi ấy, ngã ba Hòa Mỹ là khu tam giác chiến giữa ba xã Hòa Khánh, Hòa Minh và Hòa Phát, nằm trên trục đường 1A, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 5 cây số về hướng tây bắc. Đây là một địa thế vô cùng lợi hại trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, khi địch đánh chiếm Đà Nẵng Chúng lấy nơi đây làm bàn đạp phòng thủ và tấn công đối phương quyết liệt hơn qua từng giai đoạn lịch sử. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ngày 17 tháng 1 năm 1947, nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt của Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 96 cùng lực lượng dân quân du kích khu tây Đà Nẵng của hai xã Hòa Thắng và Hòa Liên cũ. Ta đã đánh bại 5 đợt phản kích có xe tăng, xe thiết giáp yểm trợ của quân đội Pháp với ý đồ xâm lược đánh nhanh thắng nhanh, giành lại quyền chủ động để cứu nguy cho lực lượng địch đang chiếm đóng Đà Nẵng. Tiểu đoàn 19 đã cùng dân quân du kích đánh bại mưu đồ xâm lược của chúng ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, cũng tại ngã ba Hòa Mỹ này, Mỹ - ngụy cũng lấy nơi đây làm tiền đồn án ngữ nhằm phòng thủ phía tây Đà Nẵng. Chúng đưa đến đây một lực lượng lớn khoảng 5.000 tên. Trong đó, Sư đoàn 3 bộ binh đóng tại thung lũng Sũng Mây, trên dãy núi Phước Tường chạy dài ra dãy núi Đa Phước. Tại đây lính Mỹ đóng đồn bót dày đặc, bao gồm: Tiểu đoàn cơ giới vận tải, một cơ quan tham mưu của Sư đoàn 3 ngụy, quân địa phương, tổng đoàn, dân vệ, bảo an, cảnh sát đóng rải rác trong dân. Căn cứ Hòa Mỹ nằm trên dãy gò đất cát, chung quanh là ruộng lúa nước của dân. Gò nống cát cao 3 mét so với mặt ruộng, địa hình trống trải dễ quan sát từ xa. Có hàng rào dây thép gai bao bọc, hào giao thông, kiên cố. Ở giữa có lô cốt cố thủ cao 4 mét, được trang bị hỏa lực bắn thẳng có đèn pha cực mạnh chiếu ra xung quanh cứ điểm sáng như ban ngày. Tiểu đội bộ binh địch tuần tra canh gác ngày đêm hết sức nghiêm ngặt. 4 góc rào 4 lô cốt có gắn đại liên M60 sẵn sàng nhả đạn khi có báo động. Ngoài ra, trong cứ điểm nhiều dãy nhà lính lợp tôn được bố trí xen kẽ nhiều nhà để xe ô tô và nhà chứa vũ khí, lương thực để tiếp tế cho quân ngụy ở chiến trường Trị Thiên. Căn cứ Hòa Mỹ được chúng phân ra hai khu vực: khu A tiểu đoàn cơ giới đóng nằm về phía bắc cứ điểm, khu B nằm phía nam cụm cứ điểm là cơ quan tham mưu của Sư đoàn bộ binh 3 ngụy. Khu A và khu B cách nhau con đường cái, địa hình phòng thủ như nhau. Hai đơn vị nằm trong khuôn viên cụm cứ điểm, khi có động tĩnh bên ngoài vào thì hai bên sẽ yểm trợ cho nhau đắc lực. Từ tối đến sáng, các loại xe ô tô vận tải vận chuyển trên đường liên tục. Được sự nhất trí của ban chỉ huy, tôi dẫn hai tổ trinh sát gồm các đồng chí Xảo, Cưu, Nhơn, Bông và Thắng đi chuẩn bị chiến trường. Từ căn cứ đóng quân đến vị trí trinh sát, chúng tôi phải đi mất 24 giờ và phải vượt qua nhiều đồn bốt giặc. Qua 3 đêm đột nhập, chúng tôi đã nắm chắc toàn bộ nội ngoại vi cứ điểm, đồng thời kết hợp cùng các đồng chí cơ sở Quận Nhì ban ngay cải trang đi bán bánh mì cho bọn lính để vẽ sơ đồ báo cáo cho đơn vị. Đây là những chiến sĩ biệt động thành hoạt động hợp pháp, đứng chung quanh các xã phường, thường xuyên nắm tình hình địch phục vụ chiến đấu tốt. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:40:24 pm Tôi lên phương án chiến đấu, đề nghị Quận ủy Quận Nhì báo cáo cấp trên xin thông qua. Cấp trên chấp thuận và yêu cầu đặc công Quận Nhì phải tiêu diệt cho được tiểu đoàn vận tải và cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy tại ngã ba Hòa Mỹ để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị vùng ven đô lúc bấy giờ. Sau khi nghe tôi trình bày phương án chiến đấu, Quận ủy và Ban chỉ huy đã nhất trí phương án và phân công cho tôi trực tiếp chỉ huy với tinh thần “diệt gọn, giành thắng lợi”. Lực lượng tham gia chiến đấu gồm 35 đồng chí với vũ khí trang bị là súng AK, thủ pháo, lựu đạn, B40, B41, được biên chế thành 2 mũi: Mũi 1, do đồng chí Đặng Ngọc Xảo chỉ huy, đánh tiêu diệt tiểu đoàn vận tải công binh; mũi 2, do đồng chí Lê Đức Cưu chỉ huy, đánh tiêu diệt cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy. Tham gia trận đánh còn có đội công tác của quận ủy do đồng chí Phan Văn Tải phối hợp chiến đấu, nhân dân thôn Hồng Phước trực tiếp giúp đỡ giải quyết thương binh, thuốc men, đảm bảo cơm nước cho bộ đội. Trong chiến tranh, công tác hậu cần luôn đóng vai trò quan trọng. Bộ đội có ăn no mới đảm bảo đủ sức khỏe để xung phong, cầm cự với địch. Vì thế, đơn vị phải thực sự biết dựa vào nhân dân. nhờ nhân dân nuôi dưỡng. Trong trận đánh đồn Hòa Mỹ của đơn vị chúng tôi, bà con thôn Hồng Phước đã không quản ngại nguy hiểm, đêm ngày lo cho bộ đội bát cơm ngon, chén canh ngọt. Dẫu đã gần bốn thập ki trôi qua, nhưng tôi không thể nào quên những con người điển hình năm ấy như các chị Ba Dĩ, Năm Miên, Bảy Mau, ông Thủ Tuấn, bà Năm Liên và một số gia đình khác tận tình giúp đỡ trong và sau trận đánh của Đại đội Đặc công quận Nhì, Đà Nẵng.
Ngày 10 tháng 5 năm 1972, tổ trinh sát đi trước bám bến đò Thủy Tú chuẩn bị cho đơn vị vượt sông. Nhân dân thôn Thủy Tú chuẩn bị ghe thuyền chờ sẵn để đón bộ đội sang sông. Ngày 12, đơn vị bắt đầu hành quân, 19 giờ, chúng tôi bắt đầu vượt sông Thủy Tú. 22 giờ, chúng tôi đến vị trí tập kết. Tôi kiểm tra lại lần cuối quân số, vũ khí trang bị. Toàn đơn vị an toàn, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Tôi giao nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu cho đồng chí Đặng Ngọc Xảo - Đại đội phó làm mũi trưởng và đồng chí Lê Đức Cưu - Đại đội trưởng làm mũi trưởng thứ hai. Còn tôi ở vị trí chỉ huy bên ngoài cùng với đồng chí liên lạc để đón anh em ra. Đúng 23 giờ theo kế hoạch, các hướng mũi bắt đầu tiếp cận mục tiêu, khắc phục vật cản như dò gỡ mìn, cắt hàng rào dây thép gai.v.v. 24 giờ, đơn vị bí mật đưa đội hình vào các mục tiêu. Hôm ấy, không hiểu vì sao khác với thường lệ, ở bên trong cứ điểm của địch, chúng đang tăng cường pha đèn sáng liên tục. Đội tuần tra của chúng ra sức lùng sục xung quanh cứ điểm. Bộ đội bí mật nằm im chờ lệnh. 24 giờ 30 phút, bộc phá viên lên đánh sập lô cốt cố thủ. Toàn bộ các mũi xông lên tiến công địch. Tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn, bộc phá, B40, B41, AK vang lên giòn giã cả trận địa. Trong vòng 30 phút chiến đấu vô cùng ác liệt, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận đánh, tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn vận tải công binh và cơ quan tham mưu Sư đoàn 3 ngụy. Lúc này, Sư đoàn 3 ngụy ở Sũng Mây đã báo động cho quân xuống chi viện. Đồng thời, quân địch ở Đà Nẵng cũng kéo lên, nhưng chỉ đứng ở xa, chứ không dám vào chi viện. Đơn vị đã diệt và phá hủy hàng trăm xe các loại, phá hủy một lô cốt cố thủ và nhiều nhà lính, lực lượng địch ở căn cứ Hòa Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đội đặc công quận Nhì đã chiến đấu anh dũng, ngoan cường, thọc sâu đánh hiểm sát thành phố Đà Nẵng, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy. Sau chiến thắng Hòa Mỹ ba tháng, tức tháng 8 năm 1972, lực lượng đặc công quận Nhì, thành phố Đà Nẵng tiếp tục lập chiến công lớn, đó là trận tập kích Tỉnh đường lưu vong Quảng Trị, khi chúng thất thủ tại Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng nương thân, được Mỹ đùm bọc, che chở. Lực lượng này đóng quân tại Bàu Tràm, thôn Xuân Thiều xã Hòa Hiệp. Bối cảnh chung lúc ấy, chiến dịch xuân hè năm 1972 đã được mở ra trên khắp các chiến trường miền Nam, từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến Khu 5, Nam Bộ. Quân và dân ta giải phóng tỉnh lỵ và các chi khu, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thất bại nặng nề. Điển hình là Tỉnh đường Quảng Trị phải khoác áo lưu vong vào núp bóng căn cứ Đà Nẵng. Mỹ ưu ái dành riêng cho một lô đất ở khu vực Bàu Tràm để nương thân. Chúng là những đứa con nuôi của Mỹ, nằm ở tuyến đầu chống miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Quảng Trị bấy giờ là một chiến tuyến với không biết bao nhiêu năm chứa đầy bom đạn của giặc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Một thời tôi đã được chứng kiến nhân dân 3 xã ở đây là Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấp, Vĩnh Kim của huyện Vĩnh Linh, trung dũng kiên cường trụ bám cả bầu trời và mặt đất; trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quân dân nơi đây đã bắn rơi nhiều máy bay của giặc Mỹ, bảo vệ mảnh đất thân yêu của mình trên tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đầu năm 1972, quân và dân ta tấn công, tiêu diệt hàng loạt đồn bốt ngụy như: Gio Linh, Cam Lộ, Cồn Tiên, Dốc Miếu và giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Lúc đó, bộ máy ngụy quyền và quan quân địch tháo chạy khắp nơi. Khi vào Đà Nẵng, chúng đóng quân trên một đồi cát trắng Bàu Tràm, bao bọc chung quanh là căn cứ hậu cần của Mỹ, bên cạnh đó là sân bay trực thăng Xuân Thiều. Đặc biệt, ở đây có bàu nước sâu bao bọc chung quanh cồn cát trắng, là một địa hình an toàn nhất. Chúng cho nơi đây là bất khả xâm phạm mà không nghĩ rằng ngay trung tâm thành phố cũng trở thành không an toàn đối với bọn Mỹ - ngụy. Chính vì vậy mà chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” bị thất bại thảm hại trên chiến trường, trong đó có Quảng Nam - Đà Nẵng. Bọn này bị tấn công liên tục. Chúng buộc phải dàn mỏng đội hình ra, nơi nào có hoạt động mạnh thì chúng đối phó lúng túng, ăn không ngon, ngủ không yên. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:31 pm Thất thủ tại Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng, lực lượng Tỉnh đường Quảng Trị đóng quân tại Bàu Tràm bao gồm một đại đội lính bảo an, một trung đội cảnh sát và cơ quan hành chính trên dưới 200 tên, do tên thiếu tá tỉnh phó chỉ huy, có quân Mỹ bảo vệ ngày đêm tại khu hậu cần Đa Phước. Đây là một trong những mục tiêu tấn công của lực lượng đặc công Quận Nhì. Ban chỉ huy Quận đội cử tôi trực tiếp chỉ đạo, tổ chức trinh sát, điều tra cứ điểm trong 2 đêm 10 và 20 tháng 9 năm 1972, gồm 2 bộ phận. Một bộ phận do đồng chí Xảo phụ trách, đột nhập Tỉnh đường Quảng Trị đạt kết quả tốt, bộ phận còn lại do đồng chí Cưu điều tra đồn công binh, tiền đồn bảo vệ tỉnh đường và sân bay trực thăng Xuân Thiều trên trục hành lang cống Bàu Tràm cũng đạt kết quả tốt, bảo đảm có thể đánh được. Thông qua phương án chiến đấu, Ban chỉ huy và Quận ủy Quận Nhì bao cáo lên cấp trên phê duyệt, nhất trí 100% cho Quận Nhì nổ súng. Theo phương án, mũi 1 có 15 đồng chí do đồng chí Xảo chỉ huy, có nhiệm vụ bí mật dẫn đội hình bơi qua Bàu Tràm đánh vào nhà tên tỉnh phó, đại đội bảo an và khu vực cảnh sát, diệt các lô cốt nhà lính, chốt chặn không cho địch tháo chạy sang đồn lính Mỹ. Cấp trên yêu cầu đánh nhanh, giải quyết gọn, rút quân an toàn, đề phòng địch đánh phản kích và chặn đường rút lui của ta. Mũi 2 có 15 đồng chí do đồng chí Cưu chỉ huy có nhiệm vụ tiêu diệt đại đội công binh, chặn quân Mỹ ở sân bay Xuân Thiều, chốt giữ bờ cảng, chờ bộ phận đánh tỉnh đường ra bắt liên lạc với nhau, giải quyết xong công tác thương binh tử sĩ mới được rút lui về tập kết tại xóm cồn.
17 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1972, đơn vị tổ chức hành quân, 19 giờ vượt sông Thủy Tú, 22 giờ đến vị trí tập kết, 23 giờ toàn đội hình vượt qua Bàu Tràm. Tôi đưa bộ đội xuống triển khai tại xóm cồn, đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Xảo, đồng chí Cưu. Tôi ở ngoài cảnh giới và đón anh em ra. 23 giờ 30 phút, ta bí mật lót đội hình theo phương án tác chiến. 24 giờ, tức giờ G, khối bộc phá 5 cân đặt tại chân cầu thang nhà tên tỉnh phó giật nụ xòe là hiệu lệnh tấn công cho toàn trận đánh. Bộ phận đồng chí Cưu nhanh chóng tiêu diệt đại đội công binh, làm chủ trận địa, chốt chặn quân địch không cho địch chạy sang sân bay Xuân Thiều. Bộ phận du kích các xã Hòa Hiệp và Hòa Khánh, do đồng chí Phan Văn Tải phụ trách, hiệp đồng nổ súng vào khu vực hậu cần Mỹ ở Bàu Tràm để nghi binh, kéo địch đánh lạc hướng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng đặc công hướng chủ yếu lui quân an toàn. Kết quả ta tiêu diệt hoàn toàn Tỉnh đường lưu vong Quảng Trị và đại đội công binh ngụy tại bờ cảng Bàu Tràm, Xuân Thiều. Quân ta đã tiêu diệt địch được cả hai nơi, gồm lực lượng lính ngụy và cảnh sát, trong đó có tên thiếu tá tỉnh phó Quảng Trị. Kết quả trên đã thể hiện một trận đánh xuất sắc của Đại đội Đặc công Quận Nhì: dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, anh dũng tuyệt vời cùng với sự hiệp đồng chặt chẽ giữa quân và dân hai phường Hòa Hiệp, Hòa Khánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đặc biệt, trong trận đánh đã nổi lên một số tấm gương chiến đấu dũng cảm, kiên cường như các đồng chí Xảo, Cưu, Nhơn, Bông, Cúc, Diêm, Điến... cùng với người chỉ huy sâu sát, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, linh hoạt mưu trí và quyết đoán trận đánh tốt. Năm 1974, sau khi đi tập huấn chiến thuật đặc công toàn quốc, rút kinh nghiệm tác chiến đặc công toàn miền Nam tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, do Binh chủng Đặc công tổ chức; cuối năm 1974, tôi trở về tham gia chuẩn bị chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam nói chung. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, các đơn vị địa phương phối hợp với các sư đoàn chủ lực tấn công các hướng vào thành phố Đà Nẵng đã thu được thắng lợi trọn vẹn. Tháng 4 năm 1975, cấp trên điều tôi về làm Quận đội trưởng Quận Nhất, có nhiệm vụ tập hợp lãnh đạo giải quyết hậu quả chiến tranh, giải quyết an ninh trật tự rất phức tạp, tổ chức cải tạo và học tập cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, phá gỡ bom mìn để lại. Trong giai đoạn này, Đà Nẵng 3 năm liền (từ 1975 đến 1977) chủ yếu tập trung giải quyết hậu quả chiến tranh, củng cố các tổ chức Đảng, chính quyền và mặt trận, ổn định kinh tế, an ninh quốc phòng địa phương. Năm 1977, trước yêu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi, cũng là nguyện vọng của bản thân, tôi được tổ chức cử đi học bổ túc quân sự địa phương trong thời gian một năm ở Học viện Quân sự Đà Lạt. Ra trường năm 1978, tôi tiếp tục trở về nhận công tác quận Nhất. Cũng trong năm đó, Thành đội Đà Nẵng được thành lập. Cấp trên điều động tôi nhận nhiệm vụ mới, làm Chỉ huy phó Thành đội. Tình hình Đà Nẵng hồi mới giải phóng, đời sống của nhân dân còn khó khăn. Vì thế, cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ cũng thiếu thốn đủ thứ. Để góp phần cải thiện đời sống cho bộ đội, tôi đã bàn với các đồng chí cán bộ lãnh đạo mở cuộc vận động anh em tăng gia sản xuất. Dần dần, nhiều đơn vị đã tự túc được rau xanh, bổ sung quỹ vốn, nâng cao bữa ăn cho bộ đội. Cùng với công tác hậu cần, việc duy trì kỷ luật, chống tình trạng xả hơi, tư tưởng công thần sau chiến thắng cũng được đơn vị duy trì thường xuyên. Vì thế, đơn vị luôn ổn định. Năm 1983, tôi được nghỉ hưu, trở về đời thường, vui cuộc sống gia đình tại phường Thạch Thang, quận Hải Châu. Suốt hơn ba mươi năm quân ngũ, về hưu phải đối mặt với gánh nặng cơm áo gạo tiền cũng là một thách thức lớn đối với tôi. Hồi ấy, cuộc sống gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Để nuôi sống đàn con, duy trì sự tồn tại của gia đình, tôi đã làm bất cứ việc gì mình có thể như đi đào phế liệu, lên rừng đốn củi, bứt mây,v.v. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:43:52 pm CHƯƠNG SÁU NHỮNG PHÚT TRẢI LÒNG Mặc dù cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng thiếu thốn, con cái nheo nhóc, nhưng lòng nhiệt tình cách mạng của tôi không lúc nào nguôi. Trở về địa phương, tôi không nghỉ hưu theo đúng nghĩa mà tích cực tham gia công tác xã hội. Thực tế, tôi đã có thâm niên 15 năm làm tổ trưởng tổ dân phố, công tác Mặt trận Tổ quốc, Hội Người cao tuổi, câu lạc bộ Thái Phiên, là cựu chiến binh gương mẫu. Ở bất cứ cương vị nào, công việc gì, tôi đều nghĩ rằng mình là bộ đội đặc công, như lời Bác Hồ dạy “là công tác đặc biệt, nhiệm vụ đặc biệt”, nên tôi luôn đặt việc làm của mình là đặc biệt để hoàn thành một cách “đặc biệt”. Tham gia hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ do thành phố Đà Nẵng. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam,v.v. phát động, tôi đã viết nhiều bài ký kể về những trận đánh tiêu biểu của bộ đội đặc công thành phố Đà Nẵng trong các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước đã xuất bản thành sách do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành. Đồng thời, tôi cũng viết nhiều bài thơ để kỷ niệm lưu truyền cho con cháu sau này như: Trường Định quê hương, Thủy Tú quê em, Nước nhà đã hết chiến tranh,v.v, tham gia viết lịch sử một số quận xã phường thuộc thành phố Đà Nẵng. Nhớ những năm tháng ăn trong bom, ngủ trong đạn, nhiều anh em còn nằm lại nơi rừng sâu núi thẳm, tôi đã cùng động đội đi tìm mộ liệt sĩ đưa về nghĩa trang và bàn giao cho gia đình ở miền Bắc. Suốt cuộc đòi cống hiến cho Đảng, cho cách mạng, tôi không mảy may tính toán một chút riêng tư, kể cả trong quá khứ và hiện tại. Hiện nay, tuổi đời của tôi đã vượt qua ngưỡng thất thập cổ lai hi khá lâu, thời gian còn lại không dài. Ngẫm lại, với 50 tuổi Đảng, cấp bậc trung tá, được khen thưởng 15 huân chương các loại, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang các hạng Nhất, Nhì, Ba; 1 Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì; nhiều bằng khen và một bằng tuyên dương công trạng, tôi thấy thành tích cống hiến của mình còn khiêm tốn, nhưng lòng tôi vẫn cảm thấy thanh thản khi đã sống hết mình cho đất nước, cho quê hương. Về cuộc sống gia đình riêng, tôi đã hai lần biệt ly hai nửa cuộc đời. Những tưởng hạnh phúc không còn mỉm cười với một người lính đặc công chỉ biết cầm súng chiến đấu cho quê hương. Nhưng chiến tranh đã cướp của tôi hai người vợ thì chiến tranh cũng ban phát cho tôi người con gái thứ ba. Chính người con gái này đã lấp khoảng trống trong trái tim tôi và chính cô ấy đã đem đến cho tôi niềm hạnh phúc vững bền. Sau này, dù trong gian khó tôi vẫn luôn cảm ơn người vợ hiền đã đem cho tôi niềm tin cuộc sống. Niềm vui đó của tôi được bắt đầu từ năm 1974, khi đất nước đã gần đến ngày thắng lợi trọn vẹn như lời Bác Hồ dạy: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, lúc đó tôi đang làm Quận đội trưởng Quận Nhì, thành phố Đà Nẵng. Trong một lần đi công tác, tôi đã kịp làm quen với cô dân quân biệt động thành Bùi Thị Tánh, một người con gái cùng quê. Tình đồng hương, đồng đội trộn lẫn và trên tất cả là sự cảm thông chia sẻ những mất mát đau thương trong chiến tranh đã đưa hai tâm hồn lại với nhau. Vì vậy, mới gặp nhau vài lần, chúng tôi đã “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Gần kề ngày chiến thắng, tôi quyết định hòa nhập niềm vui chung với vẹn tình riêng nên đặt vấn đề xây dựng gia đình với vợ tôi bây giờ. Người ta bảo hạnh phúc là thiên thần, đối với tôi nó còn kỳ diệu hơn thế khi nhận được cái gật đầu e lệ của cô dân quân xinh đẹp. Tôi trình bày nguyện vọng với tổ chức và được sự đồng ý, liền chọn ngày lành tháng tốt làm lễ kết hôn. Trong hoàn cảnh chiến tranh, vợ chồng tôi được sự giúp đỡ của anh em trong đơn vị Quận Nhì đã tổ chức một lễ cưới trang trọng tại chiến khu cánh bắc Hòa Vang. Mỗi lần kể lại cho các con nghe, tôi vẫn thường gọi đây là “Đám cưới đồng đội”. Vì các đồng chí, đồng đội của chúng tôi đã chung nhau góp sức làm nên một buổi liên hoan ấm cúng mừng hạnh phúc của chúng tôi. Hôm ấy, mọi người đã tổ chức một bữa cơm thân mật, đầy đủ ý nghĩa rồi chia tay nhau ra mặt trận lên đường chiến đấu. Cũng năm đó, niềm vui được làm cha đã đến với tôi khi vợ tôi sinh được cháu trai đầu lòng dưới làn bom đạn địch đánh phá ác liệt, trên chiến khu phía bắc đường Bạch Mã, tức tuyến đường Huế đi Đà Nẵng. Mọi khó khăn vất vả của người mẹ, người cha đều trút lên vai cô ấy. Còn tôi tiếp tục hòa nhập cùng đoàn quân gồm bộ đội địa phương và các binh đoàn chủ lực, pháo binh, xe tăng thiết giáp, chuẩn bị xuất kích hiệp đồng tác chiến ba cánh quân tấn công giải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975 lịch sử. Bây giờ, tuy chiến tranh đã lùi xa nhiều thập niên, nhưng trong trái tim tôi không thể quên được tấm lòng nhân dân đã giúp đỡ bản thân cũng như đơn vị đi đến trọn vẹn cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Đó là mẹ kính yêu của tôi, tức bà Hồ Thị Khoen, còn gọi là mẹ Xiềng ở thôn Hồng Phước - người đã đào 7 căn hầm bí mật trong nhà và ngoài vườn để nuôi giấu cán bộ, bộ đội đặc công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được công nhận là gia đình có công với cách mạng và được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Hòa bình lập lại, chị gái tôi tức Trần Thị Xiềng được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Gia đình bà Phạm Thị Dĩ, bà Võ Thị Chinh,v.v. với tôi, những con người như vậy thật bình dị, nhưng cũng cao quý biết bao. Hạnh phúc gia đình hòa chung với niềm vui của dân tộc. Nhờ sự bảo ban, dạy dỗ của vợ tôi trong những năm tôi còn trong quân ngũ nên hiện nay ba đứa con tôi đều đã trưởng thành. Các con dâu, rể, cháu đều đang tham gia công tác xã hội. Có được cuộc sống hôm nay, tôi biết ơn Đảng, ơn Bác Hồ, cảm ơn nhân dân đã nuôi dưỡng tôi trong suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Đồng thời, tôi cũng luôn ghi nhớ công ơn của những đồng chí đồng đội đã ngã xuống vì nền độc lập của dân tộc, vì cuộc sống bình yên hôm nay. Những người tôi muốn nói đến cuối cùng là các bà vợ. Mỗi người đến với tôi trong một giai đoạn, hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả họ đều hy sinh vì tôi. Họ chính là phần đời, là máu thịt của tôi. Để có tôi hôm nay là nhờ vào những con người như vậy. Mở rộng ra, tâm sự của tôi với cháu con, thế hệ trẻ chính là sống ở đời hãy biết tri ân, biết hy sinh vì lợi ích của dân tộc, đất nước. Âu cũng là đạo nghĩa truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:46:46 pm Bài thơ lưu niệm Nước nhà đã hết chiến tranh Ghi trang hồi ký để dành mai sau. Đánh Tây, đánh Mỹ năm nào Tuổi nay bóng đã chiều tà sớm hôm. Viết lên trang sử hào hùng Tả xung hữu đột vô cùng hiểm nguy. Mình làm rồi lại mình ghi Để cho con cháu mai sau luận bàn. Chiến trường tây bắc Hòa Vang Bao nhiêu trận đánh mình cùng tham gia Giờ đây trở lại quê nhà Một thời chinh chiến đã qua đi rồi Bây giờ ngoài tuổi bảy mươi Không ham lợi lộc, không màng công danh. Giờ đây con cháu trưởng thành Phát huy truyền thống dựng xây cơ đồ. Lá cờ năm cánh phất cao Việt Nam anh dũng tự hào đứng lên. Đây là lời kết sau cùng Ghi trang hồi ký vang lừng chiến công. Trường Định quê hương (Kỷ niệm bộ đội làm công tác dân vận tại thôn Trường Định tháng 10 năm 1967) Gió đông thổi lòng thêm tê tái Hận thù nhà không thể ngồi yên Nhìn về Trường Định quê hương Làm sao cho khỏi nhớ thương đồng bào Lên non mới biết non cao Sống giữa đồng bào mới thấm lòng dân Chín năm kháng chiến thánh thần Giờ đây chống Mỹ là dân anh hùng Bao lần chúng bắt tập trung Chiêu an, bình định về vùng quan Nam Nhân dân thề quyết giữ làng Rào thôn chiến đấu, rào đàng chúng đi Dòng sông Trường Định xanh rì Nhiều tên lính Pháp có đi không về Giờ đây Mỹ, ngụy ê chề Đã từng ném xác như bè chuối trôi Chúng không cứu vãn được rồi Đêm ngày bắn giết để rồi dồn dân Âm mưu khủng bố tinh thần Đồng bào cứ giữ một lòng mà thôi Trồng khoai, cấy lúa xanh tươi Năm nào cũng đủ mọi người ấm no Cũng nhờ cách mạng đem cho Hướng dẫn sản xuất, còn lo học hành Đồng bào góp sức, góp công Nào gạo, nào lúa để dành nuôi quân Nuôi anh cán bộ nằm vùng Đón anh giải phóng ở rừng về đây Giúp dân sản xuất, cấy cày Thắm tình cá nước, bao ngày khó khăn Mẹ già đôi má nhăn nhăn Bấm tay từng đốt, mấy năm qua rồi Các em bé nhỏ vui tươi Vang ca tiếng hát nụ cười thơ ngây Cụ già mấy chục năm nay Trông cho thống nhất đón ngày Bác vô Các anh, các chị, các cô Hầm chông, mìn mũi chôn mồ thực dân Dù cho gian khổ khó khăn Con thuyền cách mạng buồm căng lên rồi Cho dù sóng gió ra khơi Vững tay chèo lái, thuyền bơi đến bờ Kết đoàn quanh dưới bóng cờ Không phân đảng phái, nhất tề đứng lên Lời thề độc lập vững bền Vì Tổ quốc, hãy đứng lên diệt thù. Thủy Tú quê em Tiếng chuông ngân nhà chùa réo rắt Đêm về khuya ruột thắt từng cơn Nhìn về Thủy Tú quê em Bến đò làng cũ đêm đêm vắng người Các em bé nhỏ xinh tươi Giờ đây vắng cả nụ cười, tiếng vang Thôn em có bến đò ngang Đưa anh bộ đội về làng thủy chung Thôn em tấp nập, tưng bừng Mít tinh, hội nghị đón mừng chiến công Giờ đây làng xóm không còn Chuối vườn trơ trọi nhận không ra nhà Quân thù cướp mất dân ta Chúng dồn dân ở Vạn mà cồn Dâu Nhân dân sống cảnh khổ đau Ruộng vườn bỏ hết, sống nhau sao đành Đêm đêm thức suốt năm canh Nhớ người cán bộ sao đành nằm im Giờ đây bến lại xa thuyền Đi về làng cũ không còn như xưa Mẹ già tựa cửa sớm trưa Vườn cau, khóm trúc gió đưa dạt dào Các anh giải phóng ước ao Về quê Thủy Tú ghé vào thăm em Tình duyên chớm nở đôi bên Quân thù chia cắt quê em đây rồi Căm thù ứa nghẹn sục sôi Kết đoàn tranh đấu để rồi về quê Đón anh giải phóng đi về Rào làng chiến đấu chống bè ngoại xâm Quân dân đoàn kết một lòng Quân thù không thể mà hòng chia đôi Cho dù bão táp sóng dồi Vững tay chèo lái, thuyền bơi đến bờ Sông dài cá lội bơ vơ Phải duyên tinh nghĩa đợi chờ trăm năm Nay về Thủy Tú quê em Bến đò làng cũ đêm đêm vắng người. Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 08:54:21 pm (https://i.imgur.com/2hhY97z.jpg) Ban liên lạc Cựu chiến binh đặc công Đội 11 và Đội 15 chụp ảnh lưu nhiệm nhân ngày truyền thống của đơn vị, năm 2010 (https://i.imgur.com/wPt0kRn.jpg) Nghĩa tình đồng đội Tiểu đoàn đặc công 487 Đà Nẵng, sau mười năm giải phóng thành phố (29.3.1975 - 29.3.1985) (https://i.imgur.com/K4I0yqc.jpg) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn và đồng chí Hiền tìm gặp được đồng chí Cao Thượng và đồng chí Ba Phước - nguyên cán bộ Tiểu đoàn 487 đặc công Đà Nẵng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 6 tháng 9 năm 2003 (https://i.imgur.com/XZ64vD4.jpg) Các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy Tiểu đoàn 489 đặc công hậu cứ Đà Nẵng giai đoạn 19.5.1965 - 30.4.1975, chụp ảnh lưu niệm Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 09:01:00 pm (https://i.imgur.com/o85QQOt.jpg) Đoàn cựu chiến binh nguyên cán bộ đặc công Đội 11 và Đội 15 thăm lại chiến trường xưa trong kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 2009 (https://i.imgur.com/UZX9dPI.jpg?1) Đồng chí Nguyễn Bá Thanh - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, chúc mừng, tặng hoa Tiểu đoàn đặc công 489 anh hùng nhân gặp mặt ngày truyền thống đơn vị (ngày 8.4.2011 tại Liêu Chiểu) Trong ảnh: Đồng chí Hồ Phúc Ngôn thay mặt đơn vị, cảm ơn đồng chí Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (https://i.imgur.com/ozNdUEi.jpg) Cựu chiến binh Tiểu đoàn đặc công 489 anh hùng họp mặt truyền thống tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, ngày 8 tháng 4 nă m2011 (https://i.imgur.com/5KxGEXV.jpg) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn và vợ dự lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của thành phố Đà Nẵng, ngày 29 tháng 3 năm 1996 Tiêu đề: Chuyện người con Hồng Phước - Anh hùng LLVTND Hồ Phúc Ngôn Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười Hai, 2020, 09:11:02 pm (https://i.imgur.com/t6EqbGi.jpg) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn năm 24 tuổi tập kết ra miền Bắc (ảnh chụp thành phố Vinh, Nghệ An, năm 1955). (https://i.imgur.com/bZpET5g.jpg?1) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn hoạt động tình báo tại quận Thanh Khê - Đà Nẵng, năm 1964-1965. (https://i.imgur.com/qt8TJeY.jpg) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn dự Hội nghị Binh chủng Đặc công tại Hà Nội, năm 1974. (https://i.imgur.com/G8BpGSy.jpg?1) Đồng chí Hồ Phúc Ngôn và vợ, năm 2011. |