Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:14:58 pm



Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:14:58 pm
- Tên sách: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chống Mỹ 1954-1975
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2005
- Số hoá: ptlinh, quansuvn


* Chỉ đạo nội dung:
   Thiếu tướng, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG

* Chủ biên:
   Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP

* Biên soạn:
   - Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP
   - Đại tá VŨ TRỌNG HOAN
   - Đại tá NGUYỄN TRỌNG DINH
   - Thượng tá TRẦN MINH CAO
   - Thiếu tá, ThS. TRƯƠNG MAI HƯƠNG


“GIÚP NHÂN DÂN NƯỚC BẠN TỨC LÀ MÌNH TỰ GIÚP MÌNH, ĐỂ LÀM TRÒN NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU, TỪ TRÊN XUỐNG DƯỚI, CÁC CHÚ CẦN PHẢI:
VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN, THI ĐUA DIỆT ĐỊCH, CHIẾN ĐẤU ANH DŨNG Ở BÊN ĐÓ CŨNG NHƯ BÊN TA;
NÊU CAO TINH THẦN QUỐC TẾ, TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN, TÔN TRỌNG PHONG TỤC TẬP QUÁN, KÍNH YÊU NHÂN DÂN NƯỚC BẠN;
TUYỆT ĐỐI GIỮ GÌN KỶ LUẬT, GIỮ GÌN DANH TIẾNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”.



HỒ CHÍ MINH
(Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 7,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1996, tr. 64)


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:16:14 pm
LỜI NÓI ĐẦU


Trong những năm 1945-1975, thực hiện thỏa thuận giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào, một bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của bạn. Thực hiện nhiệm vụ giúp bạn theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình", nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã sát cánh cùng các lực lượng kháng chiến của cách mạng Lào, không ngại khó khăn gian khổ, chấp nhận mọi sự hy sinh, giúp bạn từ việc tuyên truyền giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng chính trị, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, phát động nhân dân đấu tranh, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đến quá trình chiến đấu chống địch càn quét, lấn chiếm, bảo vệ nhân dân và chính quyền cách mạng, bảo vệ thành quả cách mạng Lào.


Được sự thương yêu, đùm bọc, chăm sóc của nhân dân các bộ tộc Lào và sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-19.75). Đó là thắng lợi to lớn của tình đoàn kết chiến đậu đặc biệt Việt - Lào, đồng thời củng là thắng lợi chung của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.


Tổ chức nghiên cứu, biên soạn lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào trong những năm 1945-1975 là việc làm lớn, rất có ý nghĩa. Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào là một bộ phận của lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời là một bộ phận của lịch sử quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa Đảng, nhân dân và quân đội hai nước Việt - Lào anh em.


Những năm gần đây, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam được các Ban liên lạc, cùng nhiều đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào cộng tác, giúp đỡ đã thu thập tư liệu, tổ chức biên soạn xuất bản các cuốn: "Quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Hạ Lào - Đông Bắc Cam-pu-chia (1948-1954)" năm 1998; "Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975)" - (Đoàn 100 cố vấn quân sự và Đoàn 959 chuyên gia quân sự), năm 1999; ’’Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945-1954)", năm 2002; "Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1945-1954)", năm 2004, phản ánh sinh động, thăm thiết mối tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975).


Trên cơ sở cuốn “Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào 1945-1975” - (Đoàn 100, Đoàn 959), “Lịch sử Sư đoàn 968”, “Lịch sử Sư đoàn 316”, “Lịch sử Sư đoàn 31” đã xuất bản và bản thảo lịch sử các đoàn 335, 463, 565, 766, 866 đang được hoàn chỉnh, cùng một số tài liệu liên quan khác, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức biên soạn cuốn: "Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)". Nội dung cuốn sách trình bày những mặt hoạt động chủ yếu của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào, giúp bạn tổ chức, xây dựng, phát triển lực lượng quân sự, chính trị, xây dựng căn cứ kháng chiến; cùng các đơn vị quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào phối hợp với các đơn vị quân chủ lực Việt Nam chiến đấu, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào đến thắng lợi hoàn toàn.


Mặc dù tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, biên soạn, song do tư liệu thu thập chưa thật đầy đủ, trình độ người viết có hạn, nên cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình, bổ sung tư liệu của các cơ quan, đơn vị, nhà nghiên cứu cùng bạn đọc để sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau cuốn sách đạt chất lượng tốt hơn.


Nhân dịp cuốn "Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)" được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo,   động viên của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Thủ trưởng Tổng cục Chính trị; cảm ơn Đại tướng Chu Huy Mân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tong cục Chính trị; Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, nguyên Trưởng đoàn kiêm Chính ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, đại tá Hà Minh Tân, đại tá Trần Công Hàm cùng Ban liên lạc quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào đã đóng góp nhiều ỷ kiến quý báu; cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cộng tác, giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:20:18 pm
Chương một
GIÚP CÁCH MẠNG LÀO CỦNG CỐ VÙNG GIẢI PHÓNG,
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ VỀ LÀO (1954 - 1959)


I. TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG LÀO SAU HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, GIÚP BẠN CỦNG CỐ VÙNG TẬP KẾT, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI PA-THÉT LÀO (1954-1955)

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân các nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Thắng lợi này có tác dụng làm chuyển biến tình hình cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em. Pháp và các nước tham gia hội nghị cam kết: tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.


Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, việc đầu tiên là thực hiện lệnh ngừng bắn. Điều 10 Hiệp định quy định lệnh ngừng bắn phải thực hiện theo nguyên tắc “đồng thời trên toàn cõi Đông Dương, sự đình chỉ chiến sự phải đồng thời trên toàn cõi Việt Nam, tại tất cả các chiến trường và cho tất cả mọi lực lượng của hai bên”1 (Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập I, Nxb quân đội nhân dân, H.2003, tr. 34). Theo thời gian được thỏa thuận, ngày 22 tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các lực lượng vũ trang ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam và quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia. Ở Bắc Bộ - Việt Nam, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực ngày 27 tháng 7; Trung Bộ ngày 1 tháng 8; Lào ngày 6 tháng 8; Cam-pu-chia ngày 7 tháng 8 và Nam Bộ ngày 11 tháng 8 năm 1954.


Tại Lào, ngày 23 tháng 7 năm 1954, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ kháng chiến Lào ra lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ và thực hiện Hiệp định đình chiến ở Lào. Tất cả các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào thực hiện lệnh ngừng bắn. Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, lực lượng Pa-thét Lào tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Năm 1955 sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thành lập một nhà nước Lào độc lập, thống nhất trên toàn vẹn lãnh thổ của Lào.


Với Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực dân Pháp buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Lào cũng như Việt Nam và Cam-pu-chia. Ở Lào, thực dân Pháp chỉ còn 1.500 quân ở Sê Nô tiếp tục giúp quân phái hữu Viêng Chăn huấn luyện một thời gian nữa, sau đó rút về nước.


Các lực lượng tay sai của Pháp bị phân hoá, tan rã, phần lớn chạy theo Mỹ đang âm mưu thôn tính các nước Đông Dương. Đế quốc Mỹ muốn biến Lào cùng với miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, hòng tiến công tiêu diệt các lực lượng cách mạng, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam Á.


Thực hiện âm mưu đó, ngày 29 tháng 9 năm 1954, đế quốc Mỹ thúc ép thực dân Pháp ký thông báo Mỹ - Pháp ở Oa-sinh-tơn, để Mỹ xúc tiến thành lập một chính quyền tay sai thân Mỹ ở Lào, trực tiếp viện trợ, đưa cố vấn Mỹ vào huấn luyện, xây dựng quân đội Vương quốc Lào. Dựa vào sự giúp đỡ của Mỹ, các thế lực phản động Lào, do Ka-tày Đôn Xa Rít và Phủi-xa Na-ni-con đứng đầu đã tập hợp các lực lượng thân Mỹ, tổ chức sát hại Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Cu-vô-ra-vông - người có xu hướng hoà bình trung lập trong Chính phủ Vương quốc Lào; đồng thời, chúng tiến hành đàn áp, khủng bố những người kháng chiến cũ ở 10 tỉnh gồm: Huội Sài, Bò Kẹo, Luông Phra Băng, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn (Thượng Lào), Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt (Trung Lào), Sa-ra-van, Át-ta-pư, Chăm Pa xắc (Hạ Lào).


Ngày 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ lôi kéo các nước Anh, Pháp, Ôx-trây-li-a, Niu Di-lân, Thái Lan, Pa-kix-tan, Phi-líp-pin thành lập khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO)1 (Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hòa bình ở khu vực, do mâu thuẫn sâu sắc, lại chịu tác động bởi thất bại của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, năm 1973, Pa-kix-tan rút khỏi tổ chức này. Tháng 9 năm 1975, SEATO quyết định tự giải thể, sau đó chấm dứt hoạt động vào tháng 6 năm 1977) ngang nhiên đặt Lào, miền Nam Việt Nam và Cam-pu-chia trong khu vực bảo hộ của khối này. Những hành động can thiệp xâm nhập, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai đã làm cho tình hình Lào ngày càng trở nên căng thẳng. Đế quốc Mỹ đã thực sự nhảy vào Lào, thay thế Pháp, trở thành kẻ thù xâm lược trực tiếp nguy hiểm của nhân dân Lào cũng như nhân dân Việt Nam và Cam-pu-chia. Ngay khi Hội nghị Giơ-ne-vơ chưa kết thúc, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 15-7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo quan trọng, chỉ rõ: “Mỹ không những là kẻ thù của thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên (Cam-pu-chia), Lao”1 (Hồ Chí Minh: Những bài nói và viết về quân sự, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1987, tr. 247).


Mặc dù chưa giành được chính quyền trên toàn quốc, nhưng theo quy định Hiệp định Giơ-ne-vơ, Pa-thét Lào được công nhận là một lực lượng chính trị độc lập, hợp pháp, có quân đội cùng hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ là vùng giải phóng sẽ trở thành nơi tập kết của lực lượng cách mạng cả nước2 (Lần đầu tiên "các lực lượng cách mạng và quân đội Lào Ít-xa-la" được gọi theo tên mới là các lực lượng Pa-thét Lào trong Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Lào). Trong khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, quân Pháp triệt thoái khỏi Lào trong thời hạn 120 ngày (kể từ ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ), các lực lượng cách mạng Lào từ khắp nơi trong cả nước chuyển về tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, chờ hai phái Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc Lào đàm phán tìm giải pháp chính trị hoà hợp dân tộc, bảo đảm quyền tự do cho nhân dân xây dựng lại cuộc sống ấm no hạnh phúc.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:22:13 pm
Hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ và một dãy hành lang nối liền hai tỉnh, xuyên qua phía đông tỉnh Luông Phra Băng, gọi là “Đàn Pẹt” (tiểu khu 8 ) - một vùng rừng núi hiểm trở với diện tích khoảng 32.770 km2, nơi cư trú của 32 vạn dân gồm nhiều bộ tộc sống xen kẽ nhau, từng là vùng căn cứ Trung ương cách mạng Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nối liền với khu Tây Bắc và Liên khu 4 (Việt Nam) - đã hoàn toàn giải phóng, tạo thuận lợi để phát triển mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào.


Song tình hình các tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ còn khó khăn, phức tạp. Ở nhiều địa phương, cơ sở cách mạng chưa được củng cố; nền kinh tế nghèo nàn, chậm phát triển, trình độ dân trí thấp; đời sống của nhân dân thiếu thốn, lạc hậu. Một số vùng còn bị bọn phỉ và tay sai phản động địa phương khống chế; chính quyền cách mạng các cấp hình thành, nhưng chưa phát huy được hiệu lực quản lý mọi mặt xây dựng cuộc sống mới của địa phương.


Trong khi đó, tình hình tại các tỉnh thuộc Thượng, Trung, Hạ Lào do Chính phủ Vương quốc Lào kiểm soát diễn biến căng thẳng, phức tạp. Sau khi các lực lượng Pa-thét Lào ở 10 tỉnh chuyển về khu tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ (Thượng Lào), phía Chính phủ Vương quốc Lào tìm mọi cách ngăn cản, gây nhiều khó khăn cho nhân dân các bộ tộc Lào thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Lào. Để giữ vững cơ sở ở các vùng lực lượng Pa-thét Lào vừa rút quân tập kết, Chính phủ kháng chiến Lào sắp xếp lực lượng, phân công một số cán bộ, đảng viên ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ giữ vững liên lạc từ cơ sở lên Trung ương, bảo đảm sự chỉ đạo chặt chẽ và phối hợp hành động kịp thời giữa Trung ương Đảng, Chính phủ kháng chiến Lào ở khu tập kết hai tỉnh với phong trào đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào ở 10 tỉnh đòi đối phương nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.


Trước âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ đối với Lào cũng như các nước Đông Dương và trên cơ sở tham khảo ý kiến của Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Trung ương Mặt trận Lào Ít-xa-la và Chính phủ kháng chiến Lào đề ra nhiệm vụ của cách mạng Lào trong giai đoạn mới là: “Đoàn kết toàn dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, xây dựng hai tỉnh tập kết thành căn cứ đấu tranh của cả nước; giữ vững và phát triển cơ sở quần chúng ở các vùng ta vừa rút quân, dựa vào lực lượng của ta và hiệp định đình chiến mà thương lượng hợp tác với Chính phủ Vương quốc, tiến hành tổng tuyển cử tự do và thành lập Chính phủ Liên hiệp thống nhất, tiến tới xây dựng một nước Lào dân chủ và hoàn toàn độc lập”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, 1999, tr. 12). Đặc biệt, Trung ương Mặt trận Lào It-xa-la và Chính phủ kháng chiến Lào nhấn mạnh: “Bảo vệ và xây dựng hai tỉnh thành căn cứ cách mạng cả nước và xây dựng, phát triển các lực lượng vũ trang vững mạnh... là công tác trung tâm mấu chốt nhất trong giai đoạn này”2 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, 1999, tr. 12).


Đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Lào, trước khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào đã xác định quyết tâm: “Bất kể tình huống nào, việc đẩy mạnh xây dựng bộ đội Pa-thét Lào là một nhiệm vụ hết sức cần thiết... là công tác trung tâm thứ nhất, phải tập trung lực lượng kiên trì thực hiện cho kỳ được”1 (Tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh của Bộ Tổng tư lệnh, tập IV, 1965, tr. 368).


Theo phương hướng đó, Bộ Quốc phòng Lào đã gặp gỡ bàn bạc với Bộ tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào2 (Tháng 11 năm 1954, Bộ tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào và các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam hoạt động trên toàn chiến trường Lào hoàn thành nhiệm vụ quốc tế lần lượt rút hết quân về nước tập kết ở Thọ Xuân (Thanh Hóa), Hương Sơn, Đức Thọ (Hà Tĩnh). Sau một thời gian, toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam rút về nước được tổ chức thành bộ đội biên phòng, mang tên Tổng đội Biên phòng 335, có nhiệm vụ phòng thủ biên giới Việt - Lào. Bộ tư lệnh Mặt trận Thượng Lào tổ chức thành Bộ tư lệnh Biên phòng), dự kiến kế hoạch phát triển bộ đội Pa-thét Lào đến mùa xuân 1955 phải đạt số quân khoảng một vạn, tổ chức thành 5 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh ở Thượng Lào, 2 tiểu đoàn bộ binh ở Trung Lào, 2 tiểu đoàn bộ binh ở Hạ Lào. Bộ Quốc phòng Lào chỉ thị cho các khu, tỉnh gấp rút tuyển quân, chuẩn bị mọi mặt cơ sở vật chất, phương tiện để xây dựng, phát triển bộ đội Pa-thét Lào.


Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào đề nghị Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng kế hoạch tiếp tục giúp bạn củng cố, xây dựng lực lượng quân đội Pa-thét Lào trong tình hình mới. Trước mắt bạn đề nghị ta cử đoàn cố vấn quân sự sang giúp xây dựng quân đội Pa-thét Lào ở ba cấp: Giúp chung ở Bộ Quốc phòng; giúp Trường Quân chính Com-ma-đam đào tạo, huấn luyện cán bộ và giúp xây dựng các tiểu đoàn chủ lực, các đại đội binh chủng phối thuộc.


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Việt Nam cũng như Lào đã được quốc tế công nhận là các quốc gia độc lập có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Mỗi nước tiếp tục xây dựng lực lượng và đấu tranh vì nền độc lập, thống nhất của mỗi nước. Trong bối cảnh chung đó, mối quan hệ đoàn kết liên minh chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước Việt Nam - Lào chuyển sang thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện hoà hợp dân tộc, đưa cách mạng mỗi nước tiến lên giành thắng lợi mới. Nhằm tăng cường xây dựng, phát huy khả năng tự lực của các lực lượng Pa-thét Lào đấu tranh thắng lợi trong giai đoạn mới, Đảng ta chủ trương tiếp tục giúp bạn toàn diện, cơ bản, trước mắt tập trung giúp bạn “xây dựng các lực lượng vũ trang, củng cố khu căn cứ hai tỉnh, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ”1 (Thư của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đồng chí Nguyễn Khang - Trưởng ban cán sự giúp Lào ngày 30 tháng 8 năm 1954).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:23:31 pm
Do tình hình Lào sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đã thay đổi, cả hai bên phải tôn trọng hiệp định, nên phương thức hợp tác, giúp đỡ của ta đối với cách mạng Lào cũng phải thay đổi phù hợp với tình hình mới. Trên cơ sở bàn bạc thống nhất với Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào về các vấn đề chiến lược cách mạng và chiến lược quân sự giúp bạn, Đảng ta chủ trương chuyển từ chế độ quân tình nguyện sang chế độ cố vấn quân sự (từ năm 1959 đổi gọi là chuyên gia quân sự) bên cạnh các cấp ủy và các đồng chí chủ trì của bạn từ Trung ương đến khu, tỉnh và một số huyện nằm ở các địa bàn quan trọng của Lào.


Về mặt quân sự, Đảng ta đặt chế độ cố vấn tách khỏi hệ thống bộ đội tình nguyện, thực hiện ở ba cấp: Bộ Quốc phòng (giúp chung mọi mặt), Trường quân chính (giúp đào tao huấn luyện cán bộ) và các đơn vị, địa phương (mỗi nơi có một tổ cố vấn, gồm 1 cán bộ tiểu đoàn và một số cán bộ đại đội).


Trung ương Đảng ta xác định phương châm giúp bạn là: đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của bạn. Hết sức đề cao lòng tự tin, tinh thần độc lập tự chủ của bạn, ra sức giúp đỡ bồi dưỡng cán bộ bạn tự đảm đương lấy nhiệm vụ của bạn theo tinh thần “cách mạng Lào do nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào tự làm lấy là chủ yếu; tránh bao biện làm thay, tránh chủ quan, hấp tấp”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 20).


Quán triệt nhiệm vụ Trung ương Đảng giao, Bộ Quốc phòng ta khẩn trương chuẩn bị lực lượng giúp bạn theo phương thức mới. Từ đầu tháng 7 năm 1954, tại xã Na Rì, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng nước ta triệu tập cuộc họp gồm một số cán bộ quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào vừa về nước báo cáo tình hình giúp bạn. Đồng chí Đoàn Việt Hưng - Phó chính ủy quân tình nguyện Việt Nam tại Lào thay mặt đoàn cán bộ từ chiến trường Lào về báo cáo tình hình cách mạng Lào sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ và chuyển đạt những đề nghị của Chính phủ kháng chiến Lào và Bộ Quốc phòng Lào yêu cầu Việt Nam cử một đoàn cố vấn quân sự sang giúp bạn Lào trong giai đoạn cách mạng mới.


Theo đề nghị của Chính phủ kháng chiến Lào và Bộ Quốc phòng Lào, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam công bố Quyết định ký ngày 16 tháng 7 năm 1954 về việc thành lập Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam, mang phiên hiệu Đoàn 100, có nhiệm vụ giúp quân đội Pa-thét Lào1 (Quân đội Ít-xa-la (Quân đội Lào tự do) hình thành trên cơ sở hợp nhất giữa đội Lát-xa-vông (đơn vị vũ trang chính quy ở Thượng Lào thành lập ngày 20-1-1949) với các đội vũ trang ở Trung và Hạ Lào; năm 1954 khi về tập kết ở hai tỉnh gọi là quân đội Pa-thét Lào; năm 1966 đổi thành quân giải phóng nhân dân Lào và từ năm 1975 đến nay là Quân đội nhân dân Lào) trong thời kỳ mới. Đồng chí Chu Huy Mân - Chính ủy Đại đoàn 316 (giữa năm 1955 đổi thành sư đoàn), được cử làm trưởng đoàn cố vấn quân sự kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn 100.


Thực hiện thỏa thuận giữa Chính phủ và Bộ Quốc phòng hai nước Việt - Lào, Bộ Quốc phòng nước ta giao nhiệm vụ cho Cục Tổ chức cán bộ thuộc Tổng cục Chính trị và Cục Quân lực thuộc Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu, lựa chọn và điều động ngay một số cán bộ trung cấp, sơ cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng, chiến đấu và bảo đảm chiến đấu, từng công tác ở các cơ quan chiến lược, các đại đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương của Việt Nam tham gia Đoàn 100 sang giúp bạn xây dựng quân đội Pa-thét Lào ở ba cấp: Bộ Quốc phòng, nhà trường và các đơn vị, địa phương.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Cục Tổ chức cán bộ (Tổng cục Chính trị) và Cục Quân lực (Bộ Tổng tham mưu) triển khai công tác tuyển chọn cán bộ từ các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, các đại đoàn chủ lực (giữa năm 1955 gọi là sư đoàn) 308, 304, 312, 316, 320, 351; Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu 3 và các tỉnh đội Hà Đông, Hải Dương. Bộ Quốc phòng còn giao cho Bộ tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào tuyển chọn một số cán bộ có kinh nghiệm, từng hoạt động lâu năm trên đất bạn và một số cán bộ giỏi tiếng Lào làm nhiệm vụ phiên dịch bổ sung cho Đoàn cố vấn quân sự 100.


Sau khi được lựa chọn và nhận quyết định của Bộ Quốc phòng, hầu hết số cán bộ tham gia Đoàn 100 tập trung về trạm Thống nhất của Bộ Quốc phòng ở khu vực Chợ Chu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Những cán bộ được giao nhiệm vụ làm cố vấn quân sự cho bạn vừa mới trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chưa có thời gian nghỉ ngơi, giải quyết những vấn đề riêng tư. Hầu hết anh em là những cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện thử thách, có phẩm chất chính trị vững vàng và có kinh nghiệm xây dựng, chiến đấu ở Việt Nam, nhưng chưa quen với công tác làm cố vấn giúp bạn, ít am hiểu phong tục, tập quán và ngôn ngữ các bộ tộc Lào. Tình hình đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên Đoàn 100 phải hết lòng vì sự nghiệp giúp bạn, phải có kiến thức, năng lực và phương pháp công tác tốt mới có thể vượt qua được mọi khó khăn, gian khổ, đủ sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế vẻ vang mà Đảng, quân đội và nhân dân ta giao phó.


Thực hiện chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng Đoàn 100 tranh thủ thời gian tổ chức cho anh em học tập quán triệt đường lối, nhiệm vụ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đối với cách mạng Lào nói chung và những quan điểm cơ bản về quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trong thời kỳ mới. Qua đợt học tập chính trị, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Đoàn 100 nắm vững đường lối quốc tế trong sáng của Đảng và tư tưởng "giúp nhân dân nước bạn bạn tức là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng thêm tin tưởng vững chắc vào truyền thống đoàn kết chiến đấu đặc biệt và khả năng phát triển của cách mạng Lào.


Đầu tháng 8 năm 1954, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng Đoàn 100 đến báo cáo và chúc sức khoẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại buổi gặp mặt ý nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao mối quan hệ và tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Đảng, quân đội, nhân dân hai nước Việt - Lào và căn dặn cán bộ, đảng viên Đoàn 100 “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”. Lời dạy của Bác Hồ có ý nghĩa: giúp cách mạng Lào, quân đội Lào trưởng thành tức là góp phần tăng thêm sức mạnh chiến đấu của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương1 (Chu Huy Mân: Trên chiến trường Lào, giúp bạn là tự giúp mình (hồi ký)).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:24:28 pm
Trước ngày Đoàn 100 lên đường sang nước bạn Lào, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đến thăm và làm việc với lãnh đạo, chỉ huy của Đoàn. Đồng chí nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đoàn 100: “Phải luôn luôn nắm vững đường lối quan điểm quốc tế của Đảng, tập trung mọi sức lực giúp đỡ bồi dưỡng cán bộ bạn nhanh chóng trưởng thành tự đảm đương được nhiệm vụ... Giúp bạn theo phương thức cố vấn là một công việc mới mẻ đối với cán bộ ta. Vì vậy, phải chú trọng tìm hiểu thực tế, rút kinh nghiệm qua từng nhiệm vụ, từng việc làm để không ngừng cải tiền phương pháp, nâng cao chất lượng giúp đỡ bạn”. Kết thúc buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Chí Thanh căn dặn: “Muốn giúp bạn tốt, ta phải “cố” hết sức để bạn “vấn” thật nhiều nếu bạn không “vấn”, thì ta không còn là “cố” nữa”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), tr. 21-22). Thay mặt Tổng cục Chính trị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh trao tặng mỗi cán bộ và nhân viên phục vụ Đoàn 100 một huy hiệu của Bác Hồ để ghi nhớ ngày lên đường làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào. Đồng chí Chu Huy Mân, thay mặt cán bộ, chiến sĩ xin hứa với Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Chủ tịch Hồ Chí Minh nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào.


Sau một thời gian tập trung học tập và chuẩn bị khẩn trương, ngày 10 tháng 8 năm 1954, Đoàn cố vấn quân sự 100 nhận nhiệm vụ lên đường sang nước Lào, mở đầu quan hệ giúp bạn trong thời kỳ mới. Từ khu căn cứ Trung ương ở tỉnh Thái Nguyên, Đoàn tổ chức hành quân bằng ô tô vào tỉnh Thanh Hoá. Đến thị trấn Hồi Xuân thuộc huyện Quan Hoá, toàn bộ Đoàn chuyển đội hình hành quân bộ lên phía tây vùng biên giới Việt - Lào. Đường hành quân phải vượt qua nhiều suối sâu, đèo cao dưới nhiều đợt mưa kéo dài. Ban ngày hành quân, đêm dừng nghỉ ngơi, cán bộ chỉ huy Đoàn tranh thủ phổ biến, trao đổi về tình hình, nhiệm vụ cách mạng Lào và những nội dung, phương pháp chủ yếu của công tác giúp bạn trong tình hình mới. Sau một thời gian hành quân, Đoàn đến Na Mèo, một địa điểm nằm giữa vùng biên giới hai nước Việt - Lào. Được tin, một số cán bộ Lào và Việt ra đón, đưa Đoàn 100 về vùng Bua Pha Nưa, khu căn cứ Trung ương và Bộ Quốc phòng Lào thuộc huyện Mường Xôi, tỉnh Sầm Nưa.


Vừa đến nơi, Ban chỉ huy Đoàn 100 phân công đại bộ phận lực lượng đi chặt cây làm lán trại, ổn định nơi ở; một bộ phận đi lấy gạo, thực phẩm ở gần biên giới và một bộ phận gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ bạn từ các tỉnh đến. Cán bộ chỉ huy của Đoàn sang thăm và làm việc với đồng chí Nguyễn Khang - Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách Ban cán sự miền Tây giúp Lào; tiếp đó, đến chào và chúc sức khoẻ các đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ kháng chiến Lào; đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - phụ trách tham mưu; Bun Phôm Ma-hả-xây - phụ trách chính trị quân đội Pa-thét Lào. Cuộc gặp gỡ giữa cán bộ chỉ huy Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam với các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng Lào diễn ra thân mật, đầy tình thắm thiết anh em. Sau vài ngày, Bộ Quốc phòng Lào mời một số cán bộ chủ chốt của Đoàn nghe thông báo về tình hình, phương hướng, nhiệm vụ cách mạng Lào và đề nghị ta giúp bạn, mở đầu quan hệ làm việc chính thức giữa Đoàn 100 với Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào.


Buổi đầu giúp bạn, Đoàn ủy Đoàn 100 gồm các đồng chí Chu Huy Mân, Lê Tiến Phục, Nguyễn Đức Phương, Quốc Vinh và đồng chí Tuy, do đồng chí Chu Huy Mân làm Bí thư. Đoàn 100 gồm các phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần vừa phụ trách công tác nội bộ Đoàn, vừa trực tiếp làm cố vấn giúp ba cơ quan Bộ Quốc phòng Lào. Đồng chí Nguyễn Thăng Bình - Trung đoàn phó, cán bộ tham mưu Đại đoàn 312, được cử làm tổ trưởng cố vấn Phòng tham mưu Bộ Quốc phòng Lào. Đồng chí Lê Tiến Phục - phó chính ủy trung đoàn, cán bộ tổ chức Tổng cục Chính trị được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng cố vấn Phòng Chính trị kiêm cố vấn Ban tổ chức Bộ Quốc phòng Lào. Đồng chí Nguyễn Đức Phương - Trung đoàn phó, cán bộ hậu cần Đại đoàn 308 được cử làm tổ trưởng cố vấn Phòng Hậu cần Bộ Quốc phòng Lào.


Bên cạnh việc bố trí cán bộ làm nhiệm vụ cố vấn chung cho các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần thuộc Bộ chỉ huy tối cao bạn, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 cử một số cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội trưởng làm tổ trưởng cố vấn các cơ quan nghiệp vụ chuyên môn và Trường Quân chính Com-ma-đam.


Tại Phòng Tham mưu, đồng chí Nguyễn Hữu Nghị - Trung đoàn phó Trung đoàn 42, làm cố vấn ban dân quân và trực tiếp giúp Tỉnh đội Sầm Nưa. Đồng chí Ngọc Anh - Tiểu đoàn phó, làm cố vấn ban tác chiến; sau một thời gian, đồng chí Phạm Xưởng - Tiểu đoàn trưởng được cử bổ sung, phụ trách chung. Đồng chí Nguyễn Hữu Tường - Đại đội trưởng, cán bộ quân tình nguyện từng công tác ở Lào, làm cố vấn ban quân huấn. Đồng chí Phạm Văn Miện - Tiểu đoàn phó và đồng chí Lương Thế Nho - Đại đội trưởng, vừa làm cố vấn cho ban quân báo, vừa hướng dân việc triển khai công tác ở phân đội trinh sát. Đồng chí Trần Văn Sâm - Đại đội trưởng, làm cố vấn ban quân lực. Đồng chí Hoàng Chất - Đại đội trưởng và đồng chí Lê Thành Ý - Trung đội trưởng làm cố vấn ban thông tin. Đồng chí Phạm Bá Dũng - Đại đội phó làm cố vấn ban cơ yếu.


Ở Phòng Chính trị, đồng chí Hà Minh Tân - Chính trị viên tiểu đoàn, cán bộ Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), làm cố vấn ban tuyên huấn, sau một thời gian bổ sung thêm đồng chí Nguyễn Xuân Lan - Chính trị viên đại đội. Ban tổ chức cán bộ do đồng chí Lê Tiến Phục kiêm nhiệm, sau bổ sung thêm các đồng chí Nguyễn Hữu Lợi - Chính trị viên phó đại đội; Nguyễn Phong - Trung đội trưởng; Đỗ Văn Nghiễn - Trung đội trưởng đều là cán bộ quân tình nguyện từng hoạt động trên chiến trường Lào, làm trợ lý tổ chức, bảo vệ, dân vận và địch vận.


Ở Phòng Hậu cần, đồng chí Nguyễn Lung, bác sĩ - Tiểu đoàn trưởng, làm cố vấn ban quân y. Đồng chí Đỗ Đình Hữu - Tiểu đoàn phó, làm cố vấn ban quân khí. Đồng chí Nguyễn Đình Lợi - Tiểu đoàn phó sau sang làm cố vấn ban tham mưu - kế hoạch hậu cần.


Tại Trường Quân chính Com-ma-đam, đồng chí Võ Quốc Vinh - Trung đoàn phó làm cố vấn quân sự, đồng chí Lê Tự Lập - Phó chính ủy trung đoàn, làm cố vấn chính trị Ban giám hiệu nhà trường. Đồng chí Trương Anh Dũng - Tiểu đoàn phó trợ lý kế hoạch; các đồng chí Đặng Sắc, Phạm Văn Hoè - Đại đội trưởng, làm trợ lý huấn luyện.


Đối với các tổ cố vấn giúp các đơn vị chủ lực, địa phương và các bộ phận chuyên môn kỹ thuật khác, chờ bạn hình thành cơ cấu tố chức quân đội sẽ do Đoàn ủy 100 và đồng chí đoàn trưởng nghiên cứu báo cáo Bộ Quốc phòng ta quyết định cử cán bộ chuyên trách.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:26:07 pm
Với tình nghĩa thủy chung trong mối quan hệ đặc biệt “vừa là đồng chí vừa là anh em”, với quan điểm “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” và trên cơ sở đề nghị của Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào, mỗi cán bộ, đảng viên Đoàn 100 xác định rõ ý thức trách nhiêm giúp đỡ bạn trong điều kiện mới, bắt đầu xây dựng kế hoạch hoạt động giúp bạn giữ vững phong trào cách mạng và xây dựng quân đội Pa-thét Lào.


Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, đến cuối tháng 11 năm 1954, các đơn vị quân đội Pa-thét Eào trong cả nước (gồm một số đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương), đại bộ phận là dân quân du kích và các nhóm thanh niên mới tập trung gồm 8.138 người, tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ1 (Các lực lượng cách mạng Lào tập kết về hai tỉnh gồm 8.138 người, cộng với ở hai tỉnh là 9.138 người, trong đó có 3.260 ngươi Hạ Lào; 1.175 ngươi Trung Lào; 584 người Luông Phra Băng, 2.441 người Viêng Chăn và Xay Nha Bu Ly; 2.006 người Huội Sài và 670 người Xiêng Khoảng). Hầu hết cán bộ, chiến sĩ bạn có lòng yêu nước, căm thù địch, tin tưởng và nhiệt tình ủng hộ Mặt trận Lào yêu nước, nhưng chưa từng sống xa gia đình, quê hương, chưa quen với đời sống tập thể và kỷ luật quân đội, nên trong thời gian đầu có những diễn biến tư tưởng phức tạp không thật yên tâm làm nhiệm vụ cách mạng ở hai tỉnh tập kết.


Trong khi đó, tình hình kinh tế, văn hoá ở hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ phát triển chậm, đời sống nhân dân các bộ tộc Lào còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Khả năng bảo đảm vật chất, kỹ thuật, trang bị phục vụ xây dựng, sẵn sàng chiến đấu của bạn còn hạn chế, chủ yếu vân dựa vào sự viện trợ của Việt Nam.


Căn cứ vào đặc điểm tình hình nhiệm vụ của cách mạng Lào và yêu cầu của bạn về xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng vừa giành được, lãnh đạo và chỉ huy Đoàn 100 đã xây dựng đề án tổ chức lực lượng giúp bạn. Dựa vào kinh nghiệm của Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng lực lượng, Đoàn 100 đề xuất phương án tổ chức xây dựng quân đội Pa-thét Lào với quy mô cao nhất là cấp tiểu đoàn, gồm cả các đơn vị bộ binh và trợ chiến.


Thực hiện phương án xây dựng tổ chức quân đội Pa- thét Lào đến cấp tiểu đoàn đặt ra yêu cầu cấp bách là phải gấp rút đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ có thể đảm đương được kịp thời nhiệm vụ trước mắt; đồng thời cần phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở, bảo đảm cấp trung đội có tổ Đảng, đại đội có chi bộ, tiểu đoàn có Đảng bộ, hoặc liên chi vững chắc; tạo điều kiện cho việc xây dựng, phát triển quy mô tổ chức đến cấp trung đoàn sau này khi tình hình phát triển, cách mạng Lào giành được chính quyền trong cả nước.


Theo phương án xây dựng lực lượng đó, tổ chức cơ quan Bộ Quốc phòng Lào gồm có ba cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị chuyên môn kỹ thuật trực thuộc Bộ, tổ chức các lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân: các tiểu đoàn chủ lực, các đơn vị bộ đội địa phương (đại đội tập trung ở tỉnh, trung đội tập trung ở huyện) và các đội du kích ở xã, bản; tự vệ chiến đấu ở các cơ quan, xí nghiệp, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng địa phương.


Đề án tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang do Đoàn 100 soạn thảo đã được hội nghị Ban cán sự miền Tây trao đổi góp ý kiến. Một số đồng chí cho rằng: Các đơn vị quân đội Pa-thét Lào chỉ có thể đánh du kích nhỏ lẻ, chưa thể huy động lực lượng lớn đánh tập trung, do đó chỉ cần tổ chức biên chế đơn vị cấp trung đội và một vài đại đội thí điểm. Hội nghị tập trung thảo luận, phân tích cụ thể tình hình đặc điểm cách mạng Lào, nêu rõ yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn là hết sức cần thiết. Đồng chí Nguyễn Khang - Bí thư Ban cán sự miền Tây của Trung ương Đảng ta thay mặt Ban cán sự miến Tây kết luận nhất trí với những nội dung trong phương án đề xuất của Đoàn 100.


Tiếp đó, đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 100 đến làm việc với các đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Chính trị, Chủ nhiệm Hậu cần bạn. Sau một thời gian nghiên cứu, trao đổi thẳng thắn về những nội dung chủ yếu của Đề án xây dựng lực lượng vũ trang như: tổ chức biên chế, giáo dục huấn luyện, bảo đảm hậu cần, xây dựng Đảng, xây dựng các cơ quan, đơn vị, sẵn sàng chiến đấu..., các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Bộ Quốc phòng Lào đã chấp thuận theo những nội dung chính và quyết định coi đó là Đề án xây dựng lực lượng vũ trang chính thức của bạn.


Đầu tháng 12 năm 1954, tại một địa điểm ở khu vực bản Cang Thạt và Cang Mùng thuộc huyện Mường Xôi, tỉnh Sầm Nưa, hội nghị quân chính Lào, do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Bộ trưởng Quốc phòng Lào chủ trì thông qua Đề án xây dựng lực lượng vũ trang Pa-thét Lào, do Đoàn 100 đề xuất với bạn.


Cũng tại hội nghị này, đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng bạn đọc báo cáo, trong đó nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của quân đội Pa-thét Lào là: “Khuếch trương và củng cố các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào thành một quân đội cách mạng vững mạnh, có đủ khả năng trước mắt, phá tan âm mưu quân sự của đối phương, bảo vệ khu tập kết, hậu thuẫn vững chắc cho đấu tranh chính trị; về lâu dài, nếu địch gây lại chiến tranh thì sẽ trở thành lực lượng nòng cốt cho cuộc vũ trang toàn dân để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, giải phóng hoàn toàn đất nước”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Nxb Quân đội nhân dân Lào, Viêng Chăn, 1996, Bản dịch tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 116, 117).


Hội nghị cũng nhất trí với phương châm xây dựng quân đội Pa-thét Lào phải nắm vững những nội dung chủ yếu: lấy giáo dục chính trị tư tưởng làm chính, bồi dưỡng cán bộ làm trọng tâm. Tổ chức gọn nhẹ, dựa theo tính chất dân tộc, phù hợp với trình độ chỉ huy của cán bộ, điều kiện chiến trường và khả năng cung cấp tại chỗ. Xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích; xây dựng đơn vị, đồng thời xây dựng cơ quan. Tăng cường xây dựng hệ thống lãnh đạo của Đảng và hệ thống công tác chính trị trong quân đội2 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Nxb Quân đội nhân dân Lào, Viêng Chăn, 1996, Bản dịch tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 116, 117).


Thành tích giúp bạn sớm xác định Đề án xây dựng lực lượng vũ trang Pa-thét Lào và tổ chức nghiên cứu, thảo luận nghiêm túc nhất trí trong nội bộ bạn là kết quả bước đầu của Đoàn 100, nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo cho bạn và ta tin tưởng, phấn khởi xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau hiệu quả ngay từ buổi đầu. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 đã có kinh nghiệm thực tế về cách thức giúp bạn trong tình hình mới hiệu quả, đúng phương châm, chế độ giữa hai bên ta và bạn. Các đồng chí lãnh đạo quân đội Pa-thét Lào cũng vui vẻ, phấn khởi, thoải mái tiếp thu những ý kiến giúp đỡ chân tình của cố vấn quân sự Việt Nam và tự quyết định việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của mình.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:27:15 pm
Tháng 12 năm 1954, Bộ Quốc phòng Lào quyết định thực hiện biểu biên chế trong toàn quân và các cơ quan, đơn vị bạn theo cơ cấu của một đội quân chủ lực tập trung và lực lượng vũ trang địa phương ở hai tỉnh tập kết. Nhờ sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của Đoàn 100, các cơ quan, đơn vị của bạn đã được củng cố, sắp xếp, hình thành cơ cấu tố chức có quân số đầy đủ theo biên chế gồm quân chủ lực tập trung (9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trợ chiến, 1 tiểu đoàn vận tải, 3 đại đội thông tin, quân báo, công binh) trực thuộc Bộ Quốc phòng Lào và các lực lượng vũ trang địa phương (gồm 1 trung đội bảo vệ cơ quan, 12 đại đội độc lập và đại đội địa phương, 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng Lào; Trường Quân chính Com-ma-đam, 2 cơ quan tỉnh đội Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ). Đến cuối năm 1954, quân số sắp xếp vào các đơn vị quân đội Pa-thét Lào đã cơ bản ổn định. Số thừa ra được giải quyết cho về các địa phương làm cán bộ cơ sở. Một số khác được bố trí sang Việt Nam học văn hoá, đào tạo thành cán bộ để về nước hoạt động sau này.


Trên cơ sở hệ thống tổ chức quân đội Pa-thét Lào, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng Đoàn 100 nghiên cứu sắp xếp tổ chức và giao nhiệm vụ cho từng tổ cố vấn giúp bạn ở 9 tiểu đoàn bộ binh (705, 609, 601, 613, 617, 593, 585, 701, 589), Tiểu đoàn trợ chiến 605, Đoàn Pát-chay (Lào Xủng), 3 đại đội (công binh, quân báo, thông tin) và hai tỉnh đội Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ.


Đối với các tiểu đoàn của bạn, những cán bộ cố vấn Việt Nam được chia thành từng tổ bố trí ở các tiểu đoàn như: tổ Tiểu đoàn 705, do đồng chí Đảo - Tiểu đoàn phó, làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 609, do đồng chí Bảo, Chiến sĩ thi đua toàn quốc - Chính trị viên đại đội làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 601, do đồng chí Bổng - Chính trị viên tiểu đoàn làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 613, do đồng chí Dũng - Tiểu đoàn phó làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 617, do đồng chí Khôi - Đại đội trưởng làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 593, do đồng chí ích - Tiểu đoàn phó làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 585, do đồng chí Cập - Tiểu đoàn phó làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 701, do đồng chí Tăng - Tiểu đoàn phó làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn 598, do đồng chí Lân - Tiểu đoàn phó làm tổ trưởng; tổ Tiểu đoàn trợ chiến 605, do đồng chí Hồng - Chính trị viên tiểu đoàn làm tổ trưởng; tổ Đoàn Pát-chay, do đồng chí Bình - Đại đội phó làm tổ trưởng.


Tổ cố vấn ở các đại đội gồm: Đại đội công binh, do đồng chí Trình - Đại đội trưởng làm tổ trưởng; Đại đội quân báo do đồng chí Nho vừa là trợ lý cố vấn ban quân báo, vừa giúp hướng dẫn công tác ở các phân đội trinh sát; Đại đội thông tin, do đồng chí Mai - Chính trị viên phó đại đội phụ trách.


Các tổ cổ vấn hai tỉnh đội gồm: Tỉnh đội Sầm Nưa, do đồng chí Nghị - Trung đoàn phó, cố vấn ban dân quân kiêm phụ trách; tổ cố vấn Tiểu đoàn 601, do đồng chí Bổng làm tổ trưởng có nhiệm vụ phối hợp giúp đỡ tỉnh. Tỉnh đội Phong Xa Lỳ (tổ cố vấn tổ chức tháng 3 năm 1955), do đồng chí Đinh Văn Tuy - Trung đoàn trưởng làm tổ trưởng.


Trong giai đoạn đầu triển khai công tác giúp bạn, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng tổ chức cho các cán bộ của Đoàn nghiên cứu, thảo luận, học tập, quán triệt sâu sắc những nguyên tắc, phương châm, phương pháp giúp bạn trên từng lĩnh vực cụ thể. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn xác định nắm vững nguyên tắc, phương châm và phương pháp giúp bạn giữ vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt - Lào, góp phần nâng cao hiệu quả giúp bạn trong giai đoạn cách mạng mới.


Sau khi nghiên cứu, thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn nghiêm túc, từ đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đến mỗi cán bộ cố vấn của Đoàn thống nhất nhận thức: Thực hiện đúng đắn chủ trương, đường lối, phương châm, phương pháp và nguyên tắc giúp bạn là cách thức hay nhất để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu và khả năng của bạn, giúp bạn tự vươn lên đảm đương nhiệm vụ của mình. Những nội dung cơ bản của các nguyên tắc, phương châm, phương pháp giúp bạn được Đoàn 100 thống nhất quy định thực hiện:

1. Tôn trọng độc lập chủ quyền của bạn, trước hết là tôn trọng ý kiến của cán bộ bạn. Trong mọi công việc giúp bạn, cán bộ ta phải nghiên cứu chuẩn bị trước, sau đó gợi ý, hướng dẫn cụ thể cho bạn nắm được tình hình, trên cơ sở đó đề ra chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện từng mặt công tác. Những ý kiến của bạn nêu lên lúc đầu dù chỉ được một phần và còn đơn giản, ta vẫn phải tỏ thái độ vui mừng, tiếp tục gợi ý để bạn suy nghĩ, bổ sung hoàn thiện hơn.

Quán triệt quan điểm tôn trọng ý kiến của bạn, mọi công việc đều do bạn làm chủ, ta cần kiên quyết bồi dưỡng, giúp đỡ tận tình để bạn quyết định và tự đảm đương công việc là một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giúp bạn của Đoàn cố vấn quân sự 100. Theo tinh thần đó, ta giúp bạn từng bước nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, lòng tự tin, phát huy hiệu quả tinh thần trách nhiệm và ý thức tự lực, tự cường, phấn đấu rèn luyện trưởng thành, tự đảm đương dần, tiến tới hoàn thành mọi nhiệm vụ trong xây dựng, chiến đấu và công tác của bạn.


2. Ta giúp bạn phải “được việc, được lòng, được người cán bộ”. Tất cả nội dung công việc giúp bạn đều phải có kế hoạch cụ thể. Khi đi vào thực hiện phải động viên bạn tích cực thực hiện đạt hiệu quả. Trong quan hệ giúp đỡ bạn, phải tạo được lòng tin cậy và sự đoàn kết gắn bó của bạn. Tư tưởng được lòng cán bộ bạn không phải là nể nang, làm thay bạn mọi công việc. Thực tế, một số ít cán bộ bạn khi phải đương đầu với những tình huống phức tạp đòi hỏi phải đào sâu suy nghĩ, phải nhanh chóng đưa ra biện pháp xử lý đã tỏ ra ngần ngại, muốn nhờ ngay anh em Việt Nam làm giúp cho xong. Trong những trường hợp đó, nếu những cán bộ Việt Nam làm hết cho bạn, thì có thể “được lòng bạn”, nhưng không thực hiện được yêu cầu theo quan điểm của Đảng ta là giúp bạn rèn luyện trưởng thành trong mọi công việc, hoàn cảnh khác nhau.


Trong công tác giúp bạn đòi hỏi có lúc phải khẩn trương, nhưng chúng ta không được nóng vội, thúc ép, thậm chí làm thay cho bạn. Tránh tình trạng được việc mà để bạn bất bình là sai và trách nhiệm đó chính là thuộc về cán bộ Việt Nam. Vì thế, quan điểm giúp bạn “được việc, được lòng, được người cán bộ”, là một yêu cầu khách quan đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ trong mọi lĩnh vực, không được xem nhẹ lĩnh vực nào và mục đích cuối cùng phải đạt là giúp đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ bạn không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:30:05 pm
Sau khi nghiên cứu quán triệt sâu sắc về những nguyên tắc, phương châm, phương pháp giúp bạn, tất cả cán bộ cố vấn Đoàn 100 đều nhận thức rõ nhiệm vụ, tự tin trong công tác giúp bạn hơn. Những bỡ ngỡ, vướng mắc, trăn trở ban đầu dần được giải toả, mỗi cán bộ của đoàn càng nhận rõ trách nhiệm, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ đươc giao góp phần đưa quan hệ đoàn kết Việt - Lào thêm bền chặt. Căn cứ vào tình hình cách mạng Lào và với phương châm, phương pháp giúp bạn đúng đắn, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn dự kiến trong ba năm, ta có thể giúp bạn đào tao được một đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm nòng cốt cho nhân dân các bộ tộc Lào đấu tranh đòi đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.


Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các đơn vị quân đội Pa-thét Lào hoạt động phân tán trên các chiến trường Thượng, Trung, Hạ Lào, ít có thời gian và điều kiện tập trung để xây dựng, huấn luyện cơ bản. Sau khi được tập trung về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, các đơn vị có điều kiện thuận lợi học tập chính trị, huấn luyện quân sự để nâng cao ý thức trách nhiệm, khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới.


Quán triệt phương châm “lấy chính trị tư tưởng làm chính, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm chính” như nêu trong đề án xây dựng lực lượng, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 tập trung một số cán bộ tuyên huấn, quân huấn có kinh nghiệm giúp bạn nghiên cứu biên soạn gấp tài liệu sát với thực tế của Lào và cùng bạn tổ chức các đợt tuyên truyền giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự sâu rộng trong các đơn vị. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang.


Nội dung giáo dục về chính trị gồm: quán triệt tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng Lào, nâng cao nhận thức vể bản chất, truyền thống và vai trò của quân đội nhân dân, ý nghĩa nội dung 8 lời thề, 12 điều kỷ luật quân đội, sức mạnh đoàn kết của nhân dân các bộ tộc Lào, công tác tuyên truyền vận động quần chúng của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Qua đó xây dựng lòng tin, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ, quan điểm cách mạng và tinh thần phục vụ nhân dân cho mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội Pa-thét Lào.


Về quân sự, bộ đội bạn được huấn luyện thành thạo 4 kỹ thuật lớn, nhất là kỹ thuật bắn súng; nắm vững các nguyên tắc và vận dụng tốt các hình thức chiến thuật từ tổ ba người, tiểu đội, trung đội, đại đội đến tiểu đoàn chiến đấu. Sau mỗi khoá huấn luyện, các đơn vị tổ chức diễn tập và bắn đạn thật đạt kết quả, đánh dấu bước trưởng thành về trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và khả năng chiến đấu của chiến sĩ bạn.


Lúc đầu, do năng lực trình độ của cán bộ bạn còn hạn chế, nhiều cán bộ của bạn chưa có kinh nghiệm trong công tác giáo dục, huấn luyện, nên cán bộ ta phải bồi dưỡng giáo viên và làm động tác mẫu giúp cán bộ bạn nắm vững những nội dung tài liệu để bạn tự đảm đương lên lớp hướng dẫn cho cơ quan, đơn vị bạn trong từng khoá huấn luyện. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ và động viên kịp thời của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ kháng chiến và cơ quan Bộ Quốc phòng Lào, cùng sự giúp đỡ tận tình và hiệu quả của các tổ cố vấn bên cạnh các cơ quan, đơn vị bạn, phong trào học tập chính trị, huấn luyện quân sự tương đối cơ bản đã diễn ra sôi nổi trên khắp các khu vực đóng quân của bộ đội Pa-thét Lào ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Cán bộ, chiến sĩ bạn đã không quản ngại vất vả, mưa nắng, hăng say luyện tập với nhiệt tình cách mạng cao, quyết tâm bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng Lào.


Trong hai năm 1955 và 1956, ta và bạn đã tổ chức được nhiều đợt tập huấn giáo dục về chính trị, huấn luyện quân sự cho các đơn vị bạn đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao trình độ chính trị và khả năng chiến đấu của quân đội Pa-thét Lào. Qua học tập, cán bộ, chiến sĩ càng hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ và ý thức trách nhiệm của mình, càng hăng hái vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thực hiện tốt các chỉ thị, mệnh lệnh của trên, phấn đấu xây dựng quân đội củng cố hậu phương hai tỉnh ngày càng vững chắc.


Cùng với việc giúp bạn tổ chức các đợt giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự tập trung, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 giao nhiệm vụ cụ thể cho các tổ cố vấn giúp bạn trên từng lĩnh vực chuyên môn. Tổ cố vấn Trường Quân chính Com-ma-đam và tổ cố vấn các ngành chuyên môn kỹ thuật biên soạn các tài liệu về chương trình giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và công tác của từng ngành, giúp bạn tổ chức các lớp huấn luyện cơ bản tại trường và tại chức cho cán bộ bạn. Trong những năm 1955-1957, tổ cố vấn Trường Quân chính Com-ma-đam đã giúp bạn tổ chức 5 khoá huấn luyện, mỗi khoá gồm 3 lớp quân sự, chính trị, địa phương. Tham gia chương trình đào tạo trong 5 tháng gồm những cán bộ tiểu đội, trung đội bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương; cán bộ xã đội, huyện đội hai tỉnh; còn bổ túc 3 tháng là cán bộ đại đội và một số cán bộ tiểu đoàn của bạn.


Trong khi bạn chưa có điều kiện bảo đảm thông tin liên lạc, tổ cố vấn thông tin, cơ yếu đã trực tiếp giúp bạn bảo đảm các mạng liên lạc bằng vô tuyến điện thông suốt; đồng thời tích cực giúp bạn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên kỹ thuật thông tin, cơ yếu, tạo cơ sở cho bạn từng bước nắm được tính năng, nâng cao trình độ kỹ thuật, tự bảo đảm hệ thống liên lạc luôn thông suốt. Các đồng chí cố vấn tổ thông tin và các đồng chí cố vấn tổ cơ yếu đã nỗ lực phấn đấu, phát huy các sáng kiến giúp bạn thực hiện các chương trình huấn luyện hiệu quả.


Tuy nhiên, do khả năng trình độ văn hoá, chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ bạn còn nhiều hạn chế, hầu hết anh em không biết chữ la-tinh, một số còn mù chữ, do đó việc truyền đạt, tiếp thu chuyên môn kỹ thuật rất khó khăn, chậm chạp. Trước tình hình đó, các đồng chí cố vấn tổ thông tin, cơ yếu phải tự nghiên cứu, tìm ra công thức mật mã của Lào, giúp bạn học văn hoá chữ la-tinh, kiên trì bồi dưỡng bằng phương pháp thực hành cho bạn hiểu được các kỹ thuật từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trong những năm 1954-1956, ta đã giúp bạn mở được các lớp đào tạo và thực tập tại chỗ cho 19 báo vụ viên (có 3 nữ), 20 cơ yếu, 3 cơ công; đồng thời giúp bạn củng cố kiện toàn các ban thông tin, cơ yếu của Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào.


Tháng 9 năm 1956, ta tổ chức bàn giao cho bạn tự khai thác toàn bộ mạng thông tin liên lạc và bộ phận cơ yếu mật mã của bạn. Đây là một thành tích giúp bạn xuất sắc trong lĩnh vực thông tin, cơ yếu, tạo thuận lợi cho bạn tin tưởng phấn đấu theo tinh thần tự lực của bạn. Trong lần gặp gỡ các đồng chí Xi Thoong, Xi-vi-lay - cán bộ thông tin của Lào ở thị xã Sầm Nưa, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch Mặt trận Pa-thét Lào nhận xét: “Đây là những cán bộ thông tin (nai xái) đầu tiên của đất nước Lào”.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:31:57 pm
Tháng 6 năm 1957, Hoàng thân Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma về Sầm Nưa liên lạc với lực lượng Pa-thét Lào, thấy bộ đội Lào biết làm báo vụ, cơ yếu giỏi, lại biết chơi bóng chuyền, sinh hoạt văn nghệ tốt, đã xúc động khen ngợi: “Người Lào bên phía Neo Lào Hắc Xạt quả thật có nhiều tiến bộ và chỉ có anh em Việt (Ái noọng Việt) mới giúp được như vậy”1 (Tư liệu do đồng chí Ngô Thế Khoa, cán bộ thông tin từng giúp bạn những năm 1954-1958 cung cấp).


Cùng thời gian này, các đồng chí tổ cố vấn quân y đã giúp bạn xây dựng ban quân y và các cơ sở trực thuộc như bệnh viện quân y, tổ phẫu thuật lưu động, kho dược (gồm cả đông y và tây y), bảo đảm cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh và cứu thương. Trong những năm 1954-1957, tổ quân y đã giúp bạn mỏ một số lớp đào tạo cho 48 y tá, 24 dược tá; đồng thời tổ chức bồi dưỡng tại chức cho 3 quân y sĩ làm nhiệm vụ ở ban quân y và 15 y tá, dược tá làm nhiệm vụ của y sĩ, dược sĩ phụ trách các tổ chuyên môn quân y của bạn.


Trong khi đó, tổ cố vấn quân báo giúp bạn xây dựng hệ thống tổ chức quân báo cho bạn từ ban quân báo Bộ chỉ huy tối cao đến các phân đội trinh sát trực thuộc Bộ và các tiếu đội hoặc trinh sát của các tiểu đoàn, tỉnh đội. Các đông chí cố vấn đã giúp bạn biên soạn một số tài liệu nghiệp vụ, tổ chức bồi dưỡng cán bộ bạn ở ban quân báo biết cách tổ chức hệ thống mạng lưới nắm địch, chủ yếu là phương thức trinh sát địch; tổ chức huấn luyện các phân đội nhỏ và thu thập, tổng hợp, nhận định, đánh giá về địch, phục vụ cho lãnh đạo nắm tình hình, kịp thời chỉ huy chiến đấu khi cần thiết. Các đồng chí cố vấn còn tổ chức huấn luyện các phân đội trinh sát trực thuộc Bộ Quốc phòng bạn nắm được những vấn đề cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật trinh sát và cùng một số cán bộ bạn đến hoạt động nắm tình hình ở sát vùng địch để thử thách rèn luyện, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.


Đối với tổ cố vấn giúp Đoàn văn công quân đội Pa-thét Lào, đã tận tình giúp bạn học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ về ca, múa, nhạc, nâng cao trình độ khả năng diễn xuất cho anh em văn công của bạn; đồng thời giúp bạn xây dựng các chương trình biểu diễn (thường xuyên có hai chương trình). Nhờ vậy, chương trình biểu diễn của đoàn văn công bạn đạt kết quả tốt, được các đơn vị quân đội Pa-thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào khen ngợi, góp phần động viên bạn xây dựng, phát triển đoàn văn công Trung ương và các đoàn văn công quân đội Pa-thét Lào những năm sau này.


Song song với việc giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại trường, tại chức, nâng cao trình độ văn hoá, tiếp thu kiến thức mới của khoa học quân sự cho bạn, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 chú trọng giúp bạn tổ chức và duy trì nền nếp học văn hoá, xoá bỏ tình trạng mù chữ, nâng cao trình độ cho cán bộ, chiến sĩ bạn. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ Lào xuất thân từ vùng nông thôn và dân tộc miền núi, ít được học hành, tỷ lệ mù chữ còn khá cao. Qua học tập văn hoá một thời gian, tất cả anh em Lào đều biết đọc, biết viết. Trên cơ sở đó, cán bộ ta tổ chức giúp bạn từ chỗ chưa biết đến biết làm và thông thạo các phép tính, biết xây dựng kế hoạch, viết báo cáo, làm nòng cốt tổ chức, hướng dẫn việc học văn hoá cho bộ đội bạn. Đến cuối năm 1957, hầu hết cán bộ, chiến sĩ bạn đã biết đọc biết viết chữ Lào; một số có triển vọng được cử đi học các lớp bổ túc văn hoá dài ngày ở Trường Sư phạm Na Khao do Bộ Giáo dục Lào quản lý đào tạo. Nhờ vậy, trình độ đội ngũ cán bộ cũng như chiến sĩ Pa-thét Lào ngày càng được nâng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng sẵn sàng chiến đấu và công tác trong tình hình mới.


Trong điều kiện sinh hoạt, xây dựng, công tác tập trung tại hai tỉnh tập kết với gần một vạn người, việc bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng, sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị quân đội Pa-thét Lào và lực lượng vũ trang địa phương là một nhiệm vụ hết sức cấp bách và phức tạp, nặng nể. Lúc bấy giờ, hệ thống tổ chức công tác bảo đảm hậu cần và cơ sở vật chất, kỹ thuật của bạn hầu như không có gì. Nền kinh tế của hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ còn rất nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào gặp nhiều khó khăn, do đó khả năng cung cấp lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm tại chỗ hết sức eo hẹp. Trước tình hình đó, tổ cố vấn hậu cần vừa phải lo giúp bạn bảo đảm hậu cần hằng ngày cho các cơ quan, đơn vị bạn, vừa phải giúp bạn xây dựng tổ chức hệ thống bảo đảm ăn, mặc, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn hậu cần, kỹ thuật, từng bước giúp bạn tự đảm đương nhiệm vụ, đáp ứng kịp thơi yêu cầu xây dựng quân đội Pa-thét Lào ngày càng vững mạnh.


Thực hiện phương châm giúp bạn khắc phục khó khăn, thiếu thốn, tổ cố vấn hậu cần đã giúp bạn tổ chức tiếp nhận một khối lượng lớn quân trang, lương thực, vũ khí, khí tài của Việt Nam viện trợ chuyển sang cho bạn, bảo quản và cấp phát tới các cơ quan, đơn vị bạn ở Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Riêng năm 1955, ta đã giúp bạn tiếp nhận 2.522 tấn gạo, 22 tấn muối, hàng vạn bộ quần áo, chăn, màn... Thời gian đầu, cán bộ bạn chưa có kinh nghiệm về quản lý, bộ đội bạn chưa quen với sinh hoạt tập thể, nên việc chấp hành nền nếp công tác nuôi quân, cấp phát, thanh toán và chấp hành các chế độ phòng bệnh, bảo quản vũ khí trang bị chưa nghiêm, để thất thoát cơ sở vật chất, khí tài trang bị xuống cấp. Phát huy ý thức trách nhiệm, tăng cường mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, coi công việc của bạn cũng như của mình, cán bộ hậu cần, kỹ thuật của Đoàn 100 và các tổ cố vấn ở từng đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, luôn luôn đi sâu sát, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ bạn từ việc sinh hoạt mang, mặc theo đúng tác phong quân đội cách mạng, sắp xếp nơi ăn ở gọn gàng, ngăn nắp đến giữ gìn, bảo quản, sử dụng đúng mức lương thực, thực phẩm và trang bị khí tài, góp phần bảo đảm cho bạn yên tâm xây dựng, bảo vệ hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 08:32:52 pm
Nhằm giúp bạn chăm lo tốt hơn đời sống cho bộ đội, phục vụ kịp thời các yêu cầu xây dựng và sẵn sàng chiến đấu, các đồng chí trong tổ cố vấn Đoàn 100 đã giúp Phòng Hậu cần Bộ chỉ huy tối cao Lào phát động một phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan, đơn vị bạn. Hưởng ứng phong trào thi đua, mỗi cơ quan, đơn vị bạn đều xây dựng vườn trại trồng lúa, ngô, các loại rau, cây ăn quả và chăn nuôi một số súc vật, gia cầm, khối lượng thu hoạch hằng năm khá lớn.


Trong công tác giúp bạn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cũng đạt được một số thành tựu đáng kể như cùng với ban tổ chức xây dựng một bệnh viện quân đội 40 giường, một cơ sở chế biến dược phẩm, tổ chức một số đội phẫu thuật, đội sửa chữa vũ khí, khí tài lưu động phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Đây là những cơ sở ban đầu, tao tiền đề cho sự phát triển các ngành chuyên môn kỹ thuât của quân đội Pa-thét Lào những năm sau này.


Tham gia giúp đỡ bạn khẩn trương xây dựng, củng cố khu căn cứ tập kết hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ ngày càng vững mạnh về mọi mặt là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng mà Trung ương Đảng, Chính phủ kháng chiến Lào đã giao cho quân đội Pa-thét Lào cùng chính quyền và các đoàn thể địa phương thực hiện, nhằm tạo cơ sở vững chắc cho cuộc tổng tuyển cử, hoà hợp dân tộc, thống nhất đất nước theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.


Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 100 cử một tổ cố vấn, do đồng chí Nguyễn Hữu Nghị - Trung đoàn phó phụ trách giúp Tỉnh đội Sầm Nưa; đồng thời cử một tổ do đồng chí Đinh Văn Tuy - Trung đoàn trưởng phụ trách Tỉnh đội Phong Xa Lỳ cùng với các tổ cố vấn tiểu đoàn có nhiệm vụ giúp bạn xây dựng vững chắc khu tập kết hai tỉnh. Các tổ cố vấn của các tiểu đoàn tích cực giúp đỡ bạn xây dựng, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu; đồng thời giúp bạn tiến hành công tác tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở theo kế hoạch hằng năm đã được bàn bạc thống nhất thực hiện giữa ta và bạn.


Thực hiện chỉ thị của Bộ chỉ huy tối cao Lào, các cơ quan, đơn vị bạn ở các khu vực đóng quân tổ chức các đội chuyên trách làm công tác xây dựng cơ sở quần chúng, giúp dân sản xuất, tổ chức khám, chữa bệnh cho nhân dân dạy văn hoá cho thanh niên, tuyên truyền về tình đoàn kết quân dân hai nước Việt - Lào. Nhờ sự nỗ lực to lớn của bạn và sự giúp đỡ tận tình, chu đáo về mọi mặt của Đoàn 100 phối hợp với cán bộ dân chính thuộc ban cán bộ miền Tây, tình hình hai tỉnh tập kết Lào đã có sự chuyển biến sâu sắc. Đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào được cải thiện, cơ sở quần chúng được tăng cường và củng cố; trong số 1.572 bản đã có 1.327 bản xây dựng được các đoàn thể cách mạng và lực lượng dân quân du kích. Nhân dân các bộ tộc Lào phấn khởi tham gia xây dựng bản mường, động viên con em tham gia quân đội Pa-thét Lào, hoặc dân công, góp phần bảo vệ vững chắc khu tập kết, ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.


Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong giai đoạn này là giúp bạn xây dựng và phát triển Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào đối với quân đội Pa-thét Lào. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tình hình cách mạng Lào có sự thay đổi, một số cán bộ, đảng viên được phân công ở lại 10 tỉnh hoạt động; còn lại hầu hết cán bộ, đảng viên các địa phương thuộc 10 tỉnh cùng các lực lượng Pa-thét Lào chuyển tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Lúc này, trong quân đội Pa-thét Lào chưa có cơ sở Đảng, những đảng viên cũ tự hoạt động theo tinh thần tự giác do chưa có tổ chức sinh hoạt. Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào nói chung, quân đội Pa-thét Lào nói riêng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của bạn.


Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22 tháng 3 nấm 1955, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được triệu tập tại một địa điểm giáp giới hai tỉnh Sầm Nưa (Lào) và Thanh Hoá (Việt Nam). Đại hội thông qua cương lĩnh của Đảng Nhân dân Lào - Đảng kế tục Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây tiếp tục lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào đoàn kết đấu tranh hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh. Đại hội thông qua một số chính sách cơ bản Điều lệ Đảng và bầu ban lãnh đạo toàn quốc của Đảng (mang tính chất một Ban Chấp hành Trung ương), gồm 5 đồng chí, do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn làm Tổng Bí thư. Tháng 4 năm 1955, ban lãnh đạo Đảng toàn quốc của Lào ra nghị quyết thành lập Đảng ủy Quân sự Trung ương, gồm 3 đồng chí, do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư làm Bí thư Đảng ủy Quân sự và chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào1 (Cùng với việc thành lập Đảng ủy Quân sự, từ tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng Lào được gọi là Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào). Đảng Nhân dân Lào và Đảng ủy Quân sự Lào được thành lập đã tạo cơ sở vững chắc để tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng bạn đối với quân đội Pa-thét Lào, đáp ứng tình hình mới; đồng thời đẩy mạnh quan hệ đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng, Quân ủy hai nước Việt - Lào.


Các đơn vị quân đội Pa-thét Lào gồm phần lớn là con em của Nhân dân Lào động các bộ tộc Lào, một số là thanh niên, học sinh, viên chức yêu nước từng trải qua những năm kháng chiến gian khổ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, luôn tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, đoàn kết xây dựng đất nước. Căn cứ vào truyền thống lịch sử và đặc điểm quân đội Pa-thét Lào, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 chú trọng tìm biện pháp giúp bạn xây dựng, phát triển Đảng nhanh chóng, hiệu quả, bảo đảm đúng nguyên tắc giúp bạn xây dựng Đảng. Qua nghiên cứu, tổ cố vấn về xây dựng Đảng xác định cách hay nhất là thông qua các đảng viên cũ và các tổ “xung phong gương mẫu” (nuồi tờ rum bon neo nạ) để phát hiện những cán bộ, quần chúng ưu tú nhất trong các cơ quan, đơn vị bạn. Trên cơ sở đó tổ chức lớp giáo dục bồi dưỡng, chọn lọc những người xứng đáng kết nạp vào Đảng. Lúc đầu, các chi bộ dự bị hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Chính trị được Đảng ủy Quân sự Trung ương Lào sự nhiệm. Đến khi các chi bộ này đủ điều kiện trở thành chi bộ chính thức thì được quyền trực tiếp lãnh đạo toàn diện đối với cơ quan, đơn vị mình.


Sau khi trao đổi ý kiến với lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100, Đảng ủy Quân sự Trung ương Lào quyết định tổ chức một “Trung tâm giáo dục bồi dưỡng cảm tình Đảng”, do đồng chí Xa-mán Vi-nhạ-kệt - Phó Chủ nhiệm chính trị kiêm Trưởng ban Tổ chức trực tiếp chỉ đạo học tập. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng quyết định thành lập một tổ cố vấn chính trị, gồm các đồng chí Vũ Đạt, Phan Hữu Tiên, Nguyễn Hữu Lợi, do đồng chí Lê Tiến Phục, đoàn ủy viên làm tổ trưởng. Đây là những đồng chí có năng lực và kinh nghiệm về xây dựng Đảng; biết thông thạo tiếng, chữ Lào, có nhiệm vụ giúp bạn chuẩn bị tài liệu và tổ chức hướng dẫn học tập theo chương trình quy định của bạn.


Trên cơ sở bám sát, nắm tình hình các cơ quan, đơn vị, tuyên truyền phát hiện những quần chúng được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, nhiệt tình cách mạng, bạn mở các lớp giáo dục bồi dưỡng về Đảng. Đến cuối năm 1956, khoảng 1.000 cán bộ, chiến sĩ ưu tú các cơ quan, đơn vị quân đội Pa-thét Lào tham gia lớp bồi dưỡng cảm tình Đảng, do bạn tổ chức trong đó có 671 người đã được kết nạp vào Đảng Nhân dân Lào. Những đảng viên mới được kết nạp cùng với số đảng viên cũ (qua thẩm tra kết nạp lại) ở các cơ quan và tiểu đoàn bạn được tổ chức thành 70 chi bộ chính thức và 10 liên chi. Trong biên chế của tiểu đoàn, các đại đội đều có chi bộ trực tiếp lãnh đạo; các trung đội có tổ Đảng, hoặc đảng viên.


Nhờ sự giúp đỡ tích cực của tổ cố vấn chính trị, đến năm 1956, việc tuyên truyền phát triển Đảng và các mặt công tác sinh hoạt Đảng đều do các tổ chức cơ sở Đảng của bạn tiến hành duy trì thành nền nếp. Lúc này, Trung tâm giáo dục bồi dưỡng cảm tình Đảng chuyển sang làm nhiệm vụ giáo dục bồi dưỡng các bí thư và cấp ủy viên các chi bộ, liên chi của cơ quan, đơn vị bạn. Trong khi đó, tổ cố vấn chính trị còn tham khảo kinh nghiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam và trao đổi ý kiến với các tổ cố vấn đơn vị, giúp bạn nghiên cứu, biên soạn Điều lệ tổ chức Ban Chính trị và Hội đồng quân nhân cách mạng ở cấp đại đội. Tiếp đó, giúp bạn tổ chức thí điểm ở một số đơn vị, qua đó rút kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng ở tất cả các cơ quan, đơn vị quân đội Pa-thét Lào.


Như vậy, trong những năm đầu thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, Đoàn cố vấn quân sự 100 đã xác định đúng phương châm, phương thức giúp bạn, xây dựng cơ cấu tổ chức quân đội Pa-thét Lào và lực lượng vũ trang địa phương, nhất là giúp đội ngũ cán bộ bạn học tập ren luyện từng bước nâng cao khả năng tự đảm nhiệm lãnh đạo, chỉ huy, củng cố khu tập kết; giúp bạn xây dựng phát triển Đảng, hình thành hệ thống lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị từ Bộ chỉ huy tối cao Lào xuống các đơn vị cơ sở; đồng thời giúp bạn phát huy sức mạnh và khả năng tự túc về vật chất, kỹ thuật, phục vụ huấn luyện, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn lấn chiếm, phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ hai tỉnh tập kết của Pa-thét Lào, chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:24:39 am
II. GIÚP BẠN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ PHƯƠNG ÁN TÁC CHIẾN, ĐÁNH BẠI CÁC CUỘC TIẾN CÔNG LẤN CHIẾM CỦA QUÂN PHÁI HỮU VIÊNG CHĂN, THỰC HIỆN HOÀ HỢP DÂN TỘC Ở LÀO (1955-1959)


Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào quy định trong lúc chờ một giải pháp chính trị giữa hai bên Chính phủ Vương quốc và các lực lượng Pa-thét Lào bàn bạc, thống nhất hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử tự do và thành lập Chính phủ liên hiệp thống nhất nước Lào năm 1955, thì hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ do các lực lượng Pa-thét Lào quản lý về mọi mặt.


Song các thế lực phái hữu thân Mỹ trong chính quyền Viêng Chăn vẫn nuôi âm mưu chống phá cách mạng hai tỉnh, hòng tiêu diệt các lực lượng Pa-thét Lào. Được đế quốc Mỹ viện trợ từ cuối tháng 11 năm 1954, bọn phản động Lào đã huy động quân tiến công vùng tập kết của Pa-thét Lào, mở đầu bằng cuộc tiến công vào Mường Pơn, tỉnh Sầm Nưa. Bộ đội Pa-thét Lào được Đoàn 100 giúp đỡ chiến đấu tiêu hao được một số sinh lực địch, buộc chúng phải hạn chế lùng sục lấn chiếm các vùng giải phóng của cách mạng Lào.


Sang năm 1955, phái hữu trong Chính phủ và quân đội Viêng Chăn tập trung hai phần ba lực lượng cùng một số toán nhóm biệt kích phản động địa phương mở các cuộc tiến công vào nhiều khu vực thuộc hai tỉnh tập kết của pa-thét Lào. Những tháng đầu năm 1955, chúng tăng cường lấn chiếm đóng giữ 13 vị trí quan trọng, xâm nhập 131 bản trong tổng số 974 bản của tỉnh Sầm Nưa và 195 bản trong số 598 bản toàn tỉnh Phong Xa Lỳ; đồng thời huy động một bộ phận lực lượng mở các cuộc càn quét, khủng bố nhân dân ở 10 tỉnh thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà vua Lào. Những hành động phá hoại các điều khoản Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào của quân phái hữu Viêng Chăn đã gây nên tình hình rất căng thẳng, nguy hiểm cho sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, thống nhất và độc lập của Lào; đồng thời gây trở ngại cho cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ của nhân dân các nước Đông Dương.


Trước tình hình đó, Trung ương Đảng Nhân dân và Chính phủ kháng chiến Lào đề ra đường lối, chủ trương đấu tranh cách mạng trong tình hình mới nêu rõ: “Động viên mọi lực lượng của quân và dân cả nước đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự một cách kiên quyêt bền bỉ để giữ vững căn cứ cách mạng hai tỉnh, giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ở 10 tỉnh, làm thất bại mọi âm mưu tiến công phá hoại của Mỹ và tay sai, buộc chúng phải chịu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến tới xây dựng một nước Lào hoà bình, dân chủ, thống nhất và độc lập thực sư”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia  quân sự Việt Nam tại Lào (145-1975), Sđd, tr. 55).


Trước mắt, Trung ương Đảng Nhân dân và Chính phủ kháng chiến Lào giao nhiệm vụ cho quân đội Pa-thét Lào làm nòng cốt cho nhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ kiên quyết chiến đấu đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của quân phái hữu Viêng Chăn, giữ vững khu căn cứ, tạo cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh vì hoà bình trung lập, hoà hợp dân tộc của nhân dân các bộ tộc cả nước Lào. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và hết sức nặng nề đòi hỏi các đơn vị quân đội Pa-thét Lào phải tập trung lực lượng, sẵn sàng chiến đấu cao. Tuy nhiên, các đơn vị quân đội Pa-thét Lào mới được tập trung, còn thiếu kinh nghiệm chiến đấu, thời gian huấn luyện chưa nhiều, trang bị vũ khí thiếu thốn, nếu tập trung tác chiến ngay có thể sẽ khó khăn, thương vong tác động đến tư tưởng và lòng tin vào cách mạng của bạn. Hơn nữa, nguồn lương thực, thực phẩm, trang bị kỹ thuật dự trữ cho cuộc chiến đấu dài ngày còn hạn chế, cần có thời gian chuẩn bị khẩn trương mới đáp ứng được tình hình chiến đấu có thể diễn ra quyết liệt.


Ngày 25 tháng 1 năm 1955, sau khi nghe Tổng Quân ủy báo cáo, Bộ Chính trị ta nhận định: Âm mưu của địch là cố làm cho Đoàn 100 rút về nước, không giúp đỡ được Pa-thét Lào. Chúng tìm mọi cách đóng quân và tổ chức chính quyền ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, tiến tới thôn tính hai tỉnh của bạn; đồng thời đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị chủ trương phối hợp với bạn ra sức củng cố hai tỉnh; đẩy mạnh đấu tranh của nhân dân toàn quốc Lào để hỗ trợ với đấu tranh ở Hội nghị hiệp thương. Đối với Chính phủ nhà vua, phải phân biệt đối xử với từng phe phái, chống bọn thân Mỹ, đoàn kết với những cá nhân và bộ phận tiến bộ trong nhân dân và Chính phủ Vương quốc, không đoàn kết được thì trung lập, chỉ chống bọn thân Mỹ, thống nhất lãnh đạo toàn Quốc vào Chính phủ và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, phối hợp chặt chẽ với đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn.


Đây là chủ trương chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy ta đối với công tác giúp bạn trong giai đoạn chuyển hướng chiến lược từ thời chiến sang thời bình, củng cố giữ vững vùng giải phóng, đẩy mạnh đấu tranh hiệp thương, giữ vững thành quả cách mạng Lào.


Chủ trương và đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ đã được hai Đảng thống nhất, triển khai thực hiện. Cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng ở Lào diễn ra trong hoàn cảnh mới với những hình thức mới.


Theo đề nghị về thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh đã được Đảng hai nước thống nhất, Đoàn 100 được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miền Tây của Trung ương Đảng ta đã nghiên cứu đề xuất với bạn kế hoạch tác chiến và tổ chức khu chiến đấu bảo vệ hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Qua trao đổi, Bộ chỉ huy tối cao Lào và lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 đã thống nhất những nội dung cơ bản trong kế hoạch tác chiến và phương thức tổ chức khu chiến đấu.


Về phương án tác chiến bảo vệ hai tỉnh: Trong thời đầu, khi các tiểu đoàn chủ lực tập trung xây dựng, huấn luyện, nâng cao trình độ chiến đấu, bạn sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ của hai tỉnh kết hợp với công tác binh địch vận, ngăn chặn quân địch càn quét, lấn chiếm các làng bản. Đồng thời, tranh thủ thời gian tuyên truyền động viên quân và dân hai tỉnh tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh các mặt công tác chuẩn bị vể mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu cao.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:25:54 am
Theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ kháng chiến Lào, hai tỉnh tập kết phân chia thành các khu chiến đấu liên hoàn nhằm tăng khả năng tổ chức quản lý, hỗ trợ lẫn nhau giữa các khu, kể cả trường hợp bị chia cắt, trong từng khu vẫn có thể độc lập chiến đấu. Căn cứ vào nhiệm vụ và yêu cầu của Bộ chỉ huy tối cao Lào, Đoàn 100 đã nghiên cứu giúp bạn về cách bố trí các lực lượng tác chiến trên từng khu vực của hai tỉnh:

Tỉnh Sầm Nưa phân chia làm ba khu vực tác chiến: Khu vực I gồm các huyện Mường Xôi, Sầm Tớ, một phần Mường Sầm và các xã phía đông đường số 6 thuộc huyện Húa Mường, do 2 tiểu đoàn chủ lực, 3 đại đội địa phương huyện và một trung đội Lào Xủng đảm nhiệm. Khu vực II gồm huyện Xiềng Khọ, một phần huyện Mường Sầm và các xã phía tây đường số 6 thuộc huyện Húa Mường, do 1 đại đội chủ lực, 2 đại đội địa phương phụ trách. Khu vực III gồm 145 bản thuộc 13 xã của huyện Mường Xon, do 1 đại đội chủ lực, 2 đại đội địa phương đảm nhiệm. Ngoài ra, tỉnh Sầm Nưa còn có 1.711 du kích bám cơ sở ở các làng bản vùng tự do và một số bản vùng địch tạm chiếm.


Đối với tỉnh Phong Xa Lỳ được chia thành hai phân khu: Phân khu tỉnh miền Bắc gồm hai huyện Mường U, Mường Xừn và thị xã Phong Xa Lỳ, do 1 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội trợ chiến, 3 trung đội bộ đội địa phương đảm nhiệm. Phân khu tỉnh miền Nam gồm các huyện còn lại, do 1 tiểu đoàn chủ lực, 2 trung đội bộ đội địa phương huyện phụ trách. Ngoài ra còn có 1.150 du kích hoạt động ở các bản làng.


Nhằm tăng cường khả năng bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ kháng chiến Lào, Bộ chỉ huy tối cao Lào chỉ đạo, chỉ huy một bộ phận lực lượng cơ động gồm 3 tiểu đoàn chủ lực và các tiểu đoàn trợ chiến, vận tải các đại đội thông tin, quân báo, công binh sẵn sàng đánh địch.


Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 100 cử một số cán bộ cố vấn giúp hai tỉnh đội Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ và các đơn vị của bạn thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở các khu vực tác chiến được phân công. Đoàn cử đồng chí Nguyễn Hữu Nghị đến giúp Tỉnh đội Sầm Nưa, đồng chí Đinh Văn Tuy giúp Tỉnh đội Phong Xa Lỳ; đồng chí Hán Công Ích, cố vấn Tiểu đoàn 593 cùng đơn vị bạn chuyển xuống huyện Sầm Tớ (phía nam tỉnh Sầm Nưa); đồng chí Phạm Thế Dũng, cố vấn Tiểu đoàn 613 cùng đơn vị bạn chuyển vào vùng địch hậu Mường Xon, bám địa bàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, bảo vệ cơ sở, giữ vững phong trào cách mạng ở vùng địch hậu.


Như vậy, sau một thời gian tích cực giúp bạn củng cố, huấn luyện bộ đội, tổ chức lực lượng chiến đấu, chuẩn bị mọi mặt chiến trường, phát động nhân dân các bộ tộc Lào tham gia, Đoàn 100 đã giúp bạn xây dựng được một thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc ở hai tỉnh tập kết, tạo cơ sở quan trọng cho các lực lượng Pa-thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào đẩy mạnh các hoạt động, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn quân địch lấn chiếm trái phép, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng bạn.


Sau khi huy động một bộ phận lực lượng đánh chiếm một số khu vực ở vùng giáp ranh và tung gián điệp, biệt kích vào nắm tình hình ở một số nơi quan trọng thuộc hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ; từ tháng 3 năm 1955, các thế lực phái hữu trong chính quyền và quân đội Viêng Chăn tập trung lực lượng lớn, mở cuộc tiến công vào các căn cứ của Pa-thét Lào ở vùng đông nam, tây bắc thị xã Sầm Nưa và các khu vực tây nam Mường Khoa, Mường U Tày - U Nưa, tỉnh Phong Xa Lỳ.


Dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy tối cao Lào và sự giúp đổ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam, bộ đội Pa-thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào dựa vào thế trận chuẩn bị sẵn đã kiên cường chiến đấu đánh trả các cuộc tiến công của địch. Cuộc chiến đấu bảo vệ vùng căn cứ của các lực lượng Pa-thét Lào diễn ra quyết liệt, giằng co kéo dài từ năm 1955 đến tháng 8 năm 1956, gây cho địch nhiều thiệt hại.


Trong ba tháng đầu năm 1955, địch mở một số cuộc tiến công lấn chiếm quy mô nhỏ, mang tính chất thăm dò, chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự lớn. Ta giúp bạn chiến đấu chống địch lấn chiếm và chuẩn bị lực lượng, thế trận chiến trường, sẵn sàng đối phó với địch lâu dài.


Trên địa bàn tỉnh Sầm Nưa, địch tập trung lực lượng tiến công vào sân bay Nọng Khạng và khu vực Húa Mường, Mường Pơn. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho Tiểu đoàn 613 sử dụng một đơn vị tới tuyên truyền, tổ chức chiến đấu ngăn chặn bước tiến quân của địch ở Nọng Khạng. Tổ cố vấn của Tiểu đoàn 613 đã tham gia giúp bạn chiến đấu. Sau gần một tuần, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh điều động thêm một đại đội thuộc đoàn 705 đến phối hợp chiến đấu. Tổ cố vấn Tiểu đòan 705 cử đồng chí Lê Thanh Cảnh đi cùng đại đội giúp bạn đánh địch.


Theo kế hoạch, ngày 17 tháng 1 năm 1955, dưới trời rét đẫm sương mù dày đặc, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 613 và một đại đội thuộc Tiểu đoàn 705 tiến vào áp sát bao vây sân bay Nọng Khạng. Trên đường tiến công, một tổ trinh sát của bạn gặp một toán địch đang đốt lửa sưởi cạnh một đồn gần sân bay, liền bắn một loạt AK vào đội hình quân địch. Phát hiện bộ đội Pa-thét Lào tập trung lực lượng tiến công bọn địch hoảng sợ bỏ đồn vội vã rút chạy về phía Sa Then. Các đơn vị bạn tiến vào chiếm đồn và các vị trí trong sân bay, kêu gọi những người bị buộc lôi kéo theo địch mang súng trở về với gia đình. Ngay sau đó, bạn tổ chức lực lượng bảo vệ toàn bộ khu vực sân bay.


Ngày 18 tháng 1 năm 1955, chính quyền Viêng Chăn dựng chuyện tố cáo các lực lượng Pa-thét Lào vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào và mời bộ phận Ủy ban quốc tế đến kiểm tra, hòng vu cáo, buộc các đơn vị quân đội Pa-thét Lào phải rút khỏi sân bay Nọng Khạng. Trước tình hình đó, tổ cố vấn Tiểu đoàn 613 đã giúp bạn nắm vững nội dung các điều khoản của Hiệp định quy định về Lào, dùng lý lẽ đấu tranh thẳng thắn với Ủy ban quốc tế. Đồng thời tiếp xúc trao đối với các đồng chí Ba Lan trong Ủy ban quốc tế, thống nhất ý kiến: Nọng Khạng thuộc vùng quản lý của các lực lượng Pa-thét Lào, quân đội phái hữu Viêng Chăn đã tiến công chiếm đóng trái phép. Khi quân đội Pa-thét Lào đến hoạt động ở khu vực này, quân của phái hữu Viêng Chăn hoảng sợ phải bỏ chạy. Sau ba ngày họp, trước thái độ đấu tranh kiên quyết, đúng đắn của bạn, Ủy ban giám sát quốc tế phải thừa nhận Nọng Khạng là địa bàn thuộc vùng quản lý của các lực lượng Pa-thét Lào, quân đội Pa-thét Lào không vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào. Chính quân đội phái hữu Viêng Chăn vi phạm Hiệp định.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:27:53 am
Nhằm tăng cường khả năng phòng thủ sân bay Nọng Khạng, chống cả quân bộ và quân dù địch lấn chiếm, tổ cố vấn Tiểu đoàn 613 được lệnh tiếp tục giúp bạn bố trí lực lượng, xây dựng phương án tác chiến; đồng thời tích cực tham gia xây dựng cơ sở nhân dân, tuyên truyền vận động binh lính địch còn lẩn trổn trong rừng trở về với gia đình, xây dựng cuộc sống mới. Bằng hình thức tuyên truyền thích hợp, 20 binh lính và dân vệ theo địch đã trở về trình diện và mang súng nộp cho cách mạng. Nhờ những nỗ lực to lớn của bạn và sự giúp đỡ tận tình của tổ cố vấn Tiểu đoàn 613, khu vực Nọng Khạng đã nhanh chóng được xây dựng thành một vùng giải phóng, làm chỗ dựa vững chắc cho các lực lượng Pa-thét Lào chiến đấu.


Trận đánh sân bay Nọng Khạng là một trong những trận đầu xuất quân giành thắng lợi của bạn. Mặc dù không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng đã giúp cho bạn và tổ cố vấn của ta hiểu rõ hơn âm mưu, thủ đoạn của địch, tạo niềm tin cho bạn vào khả năng có thể đánh thắng địch, nếu biết được điểm yếu của địch và phát huy được thế mạnh của cách mạng.


Sau khi nghe báo cáo về diễn biến trận đánh sân bay Nọng Khạng, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào và đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng Đoàn 100 biểu dương thắng lợi của các đơn vị bạn cùng tổ cố vấn đã giành được và kết luận: “Như vậy là ta vừa đánh vừa kiện thắng, lại biết làm tốt công tác vận động chính trị đối với nhân dân và binh lính địch”1 (Tư liệu do đồng chí Phạm Thế Dũng, nguyên tổ trưởng chuyên gia Tiểu đoàn 613 Pa-thét Lào cung cấp).


Trong khi đó, ở khu vực Mường Pơn, Húa Mường - Tiểu đoàn 617 bạn được giao nhiệm vụ phối hợp với lực lượng tại chỗ gây dựng cơ sở, chống địch lấn chiếm trái phép vùng căn cứ của bạn. Tổ cố vấn của Tiểu đoàn 617 do hai đồng chí Lê Khôi và Phạm Xuân Thuỳ phụ trách xuống cơ sở cùng với các đại đội bạn tuyên truyền, xây dựng cơ sở chính trị. Trong khi cùng bạn xuống cơ sở chuẩn bị chiến trường đồng chí Phạm Xuân Thuỳ đã anh dũng hy sinh do vướng mìn của địch ở gần bản Na-sa-la.


Thực hiện âm mưu tiếp tục phá hoại cách mạng Lào, địch đưa một trung đội nống ra chiếm giữ bản Xa Lới. Phát hiện địch, đơn vị bạn bí mật chuyển lực lượng qua bản Na Khum rồi bất ngờ tiến vào bao vây quân địch ở Xa Lới, bắt toàn bộ địch, thu nhiều vũ khí, sau đó tuyên truyền, giáo dục thả chúng về đồn Mường Pơn. Bị thất bại, địch huy động 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống tăng cường lực lượng cho khu vực Mường Pơn và đánh lấn ra vùng xung quanh. Tiểu đoàn 617 phối hợp với lực lượng tại chỗ tiếp tục hoạt động, gây cho địch một số thiệt hại. Sau một thời gian chiến đấu, lương thực, vũ khí cạn dần, sức khoẻ bộ đội giảm sút, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh rút Tiểu đoàn 617 ra vùng căn cứ củng cố lực lượng, bổ sung vũ khí trang bị; đồng thời điều động Tiểu đoàn 705 vào thay thế tiếp tục hoạt động ngăn chặn các hành động phá hoại, lấn chiếm trái phép của địch.


Song song với thủ đoạn đưa quân tiến công lấn chiếm trái phép ở phía trước, địch tung gián điệp, biệt kích hỗ trợ bọn phản động địa phương nổi dậy gây bạo loạn ở Khăng Khô, Khăng Khét, Mường Ngà thuộc huyện Sầm Tớ và nống ra vùng Huội Thầu, chiếm một điểm cao gần sân bay Na Thong, cách thị xã Sầm Nưa 6 km, uy hiếp đường giao thông quan trọng từ thị xã Sầm Nưa đến khu căn cứ Trung ương Lào.


Thường xuyên theo dõi phát hiện âm mưu của địch, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho Tiểu đoàn 601 đưa 1 đại đội tiến lên bao vây bọn phỉ nống ra vùng Huội Thầu; đồng thời chuyển 2 đại đội phối hợp với lực lượng tại chỗ tuyên truyền làm công tác diệt phỉ ở các vùng Hang Lọng, Khăng Khô và điều động 1 đại đội của Tiểu đoàn 585 tăng cường cho Tiểu đoàn 601 bảo vệ sân bay Na Thong. Tổ cố vấn của Tiểu đoàn 601 do đồng chí Bùi Huy Bổng phụ trách phân công từng cán bộ đi cùng các đại đội xuống cơ sở tuyên truyền vận động quần chúng ủng hộ bộ đội Pa-thét Lào, tổ chức dân quân du kích bảo vệ làng bản. Sau hơn một tháng hoạt động, các đồng chí cố vấn được phân công đã giúp bạn củng cố ổn định trật tự an ninh, đuổi hết bọn biệt kích, thổ phỉ xâm nhập trái phép ra khỏi vùng căn cứ của bạn.


Trong thời gian này, tổ cố vấn giúp Tỉnh đội Sầm Nưa tuyển chọn tổ chức được một đại đội độc lập mang phiên hiệu Đại đội 32 làm nhiệm vụ tuyên truyền gây dựng cơ sở, bảo vệ các khu vực Khăng Khô, Khăng Khét. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 cử đồng chí Trương Hoàng - Trung đội trưởng làm cố vấn giúp Đại đội 32 bạn huấn luyện, xây dựng cơ sở. Một lần cùng đơn vị bạn đi chuẩn bị chiến trường ở vùng Mường Hàm, đồng chí Trương Hoàng bị bọn phỉ phục kích đã anh dũng hy sinh trên đoạn đường từ thị xã Sầm Nưa đi Mường Hàm. Đây là một tổn thất đối với tổ cố vấn hoạt động ở khu vực thị xã Sầm Nưa.


Ở tỉnh Phong Xa Lỳ, từ đầu năm 1955, địch liên tục tung bọn biệt kích, thổ phỉ, kết hợp với bọn tay sai phản động địa phương thâm nhập, đánh chiếm khu vực U Tày và tăng cường các hoạt động phá hoại dọc đường từ U Tày đến thị xã Phong Xa Lỳ, gây khó khăn cho các lực lượng Pa-thét Lào.


Nhằm ngăn chặn các hoạt động lấn chiếm trái phép và phá hoại của địch, Bộ chỉ huy tối cao Lào lệnh cho Tỉnh đội Phong Xa Lỳ và Tiểu đoàn 701 đưa Đại đội 3 đến phối hợp với lực lượng du kích đẩy mạnh hoạt động tiễu trừ bọn biêt kích, thổ phỉ. Đồng chí Hoàn - Trung đội trưởng được cử làm cố vấn Đại đội 3 giúp bạn đã tích cực cùng với đơn vị của bạn tuyên truyền xây dựng cở sở trong nhân dân và tổ chức lực lượng đánh địch, bảo vệ bản làng. Một lần cùng bạn trên đường đi hoạt động gây dựng cơ sở, đồng chí Hoàn bị bọn phỉ phục kích đã anh dũng hy sinh ở một địa điểm cách thị xã Phong Xa Lỳ 10 km. Tổ cố vấn Tiểu đoàn 701 cử đồng chí Tiến - Trung đội trưởng thay thế đến Đại đội 3, tiếp tục giúp bạn gây dựng cơ sở và phát triển lực lượng dân quân du kích ở khu vực U Tày.


Thực hiện âm mưu ngăn chặn các hoạt động của Pa-thét Lào ở khu vực Mường Ngay, giáp giới giữa U Tày và U Nưa, địch tập trung một tiểu đoàn lập các chốt kiểm soát chặt chẽ việc ra vào khu vực này. Theo yêu cầu của bạn, tổ cố vấn Tiểu đoàn 701 cử đồng chí Nguyễn Phú Vỵ1 (Đồng chí Nguyễn Phú Vỵ sinh năm 1924, quê ở phường Ngọc Thụy, quận Long Biên (Hà Nội) được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 31 tháng 8 năm 1955, do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)) - Đại đội trưởng đi cùng một đại đội bộ binh và một trung đội trợ chiến tăng cường cho Đại đội 3 của bạn đẩy mạnh hoạt động ở vùng Mường Ngay. Phát hiện quân đội Pa-thét Lào tăng cường thêm lực lượng chuẩn bị tiến công địch vội rút phần lớn lực lượng sang bên kia biên giới Lào - Trung và chỉ để lại một đại đội chốt giữ ở U Tày. Ngay lập tức, Tiểu đoàn 701 tập trung lực lượng áp sát, bao vây và dùng hoả lực trợ chiến tiến công địch. Đồng chí Tiến, sĩ quan pháo binh trợ lý cố vấn tiểu đoàn đã trực tiếp giúp bạn từ khâu chuẩn bị đến lúc chiến đấu, góp phần tiêu diệt 11 tên địch, buộc chúng phải rút khỏi vùng U Tày.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:28:42 am
Vùng Mường Khoa nằm ở phía nam tỉnh Phong Xa Lỳ là khu vực thuộc vùng giải phóng cũ của Pa-thét Lào, tuy địch không đánh lấn, chiếm đóng, nhưng chúng liên tục tung biệt kích, gián điệp và thổ phỉ vào sâu trong các cơ sở của bạn quấy phá nhiều mặt. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy tối cao Lào lệnh cho Tiểu đoàn 589 phối hợp với các lực lượng tại chỗ hoạt động gây cơ sở, tổ chức phòng chống địch lấn chiếm trái phép. Tổ cố vấn Tiểu đoàn 589 do đồng chí Phan Lân và đồng chí Đạo phụ trách, tích cực giúp bạn tuyên truyền gây dựng cơ sở quần chúng, vận động nhân dân các bộ tộc Lào ủng hộ Pa-thét Lào. Đồng chí Sâm - Trung đội trưởng, trợ lý cố vấn tiểu đoàn thường xuyên cùng với đơn vị bạn đi vào vùng giáp nơi địch kiểm soát, thực hiện vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở, ngăn chặn các hành động phá hoại của địch. Cùng thời gian này, một bộ phận lực lượng an ninh của Việt Nam (do một tổ cố vấn Đoàn 100 làm trung gian) phối hợp hoạt động, ngăn chặn không cho bọn phỉ ở vùng Tây Bắc (Việt Nam) tràn sang phá hoại cách mạng Lào.


Sau một thời gian tập trung lực lượng mở các cuộc tiến công lấn chiếm nhỏ lẻ bị thất bại ở phía tây nam tỉnh Sầm Nưa, từ tháng 3 đến cuối tháng 10 năm 1955, địch tập trung lực lượng tiến công vào khu căn cứ của bạn ở Mường Pơn, Kẹo Lôm, Na Kềng. Các đơn vị quân đội Pa-thét Lào một thời gian chuẩn bị chiến trường, xây dựng, huấn luyện, sức mạnh chiến đấu được nâng cao. Để gây thanh thế hoạt động, Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định sử dụng các tiểu đoàn 705, 601 có các tổ cố vấn của ta giúp đỡ đã phối hợp với các lực lượng tại chỗ đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, bảo vệ vững chắc các khu căn cứ của bạn.


Ngày 1 tháng 3 năm 1955, địch bất ngờ cho quân nhảy dù xuống chiếm giữ bản Mường Pơn; tiếp đó, ngày 25 tháng 3 năm 1955, chúng huy động thêm quân mở cuộc tiến công từ Húa Mường lên chiếm khu vực Mường Pơn và dãy núi Phu Xạng (nằm ở phía sau Mường Pơn) thuộc tỉnh Sầm Nưa. Địch xây dựng các khu vực vừa chiếm đóng thành một cụm cứ điểm nằm sâu trong vùng quản lý của Pa-thét Lào và đưa một bộ phận Ủy ban quốc tế đến đóng ở Mường Pơn, hòng hợp pháp hoá việc chiếm đóng trái phép của chúng. Từ Mường Pơn, địch tập trung quân mở các cuộc tiến công ra các vùng Kẹo Lôm, Pa Kha, Na Kềng, Na-sa-la, Xa Lới, cách nơi đặt cơ quan chỉ huy tiền phương của bạn ở Mường Hàm khoảng 30 km.


Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy tối cao Lào điều động Tiểu đoàn 705, một đơn vị mạnh của Hạ Lào chuyển lên gần khu vực Mường Pơn thay Tiểu đoàn 617, tổ chức lực lượng phòng thủ trên một số điểm chốt, hoạt động ngăn chặn các cuộc lấn chiếm trái phép của địch. Tổ cố vấn quân sự Tiểu đoàn 705, do đồng chí Nguyễn Tất Đào - Tiểu đoàn phó và đồng chí Lê Thanh Cảnh - Đại đội trưởng phụ trách bám sát các đơn vị giúp bạn tuyên truyền, giáo dục tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống chiến đấu của bộ đội Pa-thét Lào trong kháng chiến chống Pháp, nắm chắc tình hình hoạt động của địch, tổ chức một số trận phục kích, gây cho chúng thiệt hại, buộc phải lùi về cố thủ ở khu vực Mường Pơn.


Trong khi đó, Tiểu đoàn 601, do đồng chí Bùi Huy Bồng làm cố vấn, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiễu phỉ ở Hang Lọng, Khăng Khô nhận được lệnh của Bộ chỉ huy tối cao Lào chuyển đến đánh cứ điểm Pa Kha. Đây là một vị trí tiền tiêu của địch ở khu vực Mường Pơn. Theo kế hoạch, tiểu đoàn cử các đơn vị bộ binh bao vây áp sát đồn, sau đó dùng pháo cối tập kích dồn dập vào cứ điểm địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng sợ bỏ chạy, các đơn vị bạn tiến vào làm chủ cứ điểm, thu một số lương thực, vũ khí. Phát huy thắng lợi, Tiểu đoàn 601 phối hợp với Tiểu đoàn 585 tiến đánh đồn Pa Thí, do bọn phỉ đóng giữ. Bọn phỉ bố phòng cẩn mật và ngoan cố chống cự, trận đánh của các đơn vị bạn không đạt được mục tiêu đề ra. Tiểu đoàn 585 để lại một bộ phận lực lượng, do đồng chí Nguyễn Thế Cập làm cố vấn hoạt động kìm chế bọn phỉ quấy phá, còn phần lớn lực lượng của tiểu đoàn cùng Tiểu đoàn 601 chuyển về khu căn cứ củng cố, chuẩn bị cho trận đánh mới.


Ở khu vực Mường Pơn, ngày 17 tháng 5 năm 1955, địch tổ chức lực lượng mở cuộc tiến công hòng chiếm lại Pa Kha vừa bị mất. Tiểu đoàn 609, một đơn vị được trang bị mạnh, gồm phần lớn cán bộ, chiến sĩ vùng Hạ Lào, do đồng chí Bảo làm cố vấn tổ chức phục kích, gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải rút quân. Trong thời gian giúp bạn chiến đấu ở khu vực Mường Pơn, đồng chí Hoàng Đình Đại đội phó, trợ lý cố vấn tiểu đoàn, một lần cùng đi nghiên cứu tình hình chiến trường bị địch phục kích đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh.


Trải qua hơn 5 tháng chiến đấu, quân và dân tỉnh Sầm Nưa có sự giúp đỡ của các cán bộ cố vấn quân sự Đoàn 100 đã giành được thắng lợi đáng kể, tạo thế chuyển biến quan trong cho các lực lượng Pa-thét Lào. Song bạn chưa có trận nào chiến thắng oanh liệt, tiêu diệt lực lượng lớn quân địch đánh bại được âm mưu phá hoại của chúng. Do lực lượng vẫn còn khá mạnh, sau một thời gian củng cố, địch tiếp tục mở các cuộc tiến công vào khu căn cứ Pa-thét Lào với quy mô lớn và ác liệt hơn. Tháng 5 năm 1955, địch tập trung một lực lượng lớn tiến công chiếm lại Na-sa-la và Xa Lới sau đó chuẩn bị đánh vào khu vực Mường Hàm, cách thị xã Sầm Nưa 28 km.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:30:15 am
Theo dõi nắm rõ âm mưu của địch, đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng Đoàn 100 đã gặp các đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng, Tổng tư lệnh Bộ chỉ huy tối cao và đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Tổng tham mưu trưởng quân đội Pa-thét Lào. Qua trao đổi về tình hình địch và ta, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy bạn và đồng chí Đoàn trưởng Đoàn 100 quyết định đánh một trận thắng lớn để nâng cao sức chiến đấu và gây thanh thế. Na-sa-la - một cứ điểm quan trọng của địch được chọn đánh. Mục đích trận đánh là: tiêu diệt một bộ phận và làm tan ra tiểu đoàn quân địch, góp phần động viên bộ đội Pa- thét Lào nâng cao khí thế, phấn khởi, tin tưởng vào lực lượng vũ trang cách mạng Lào có khả năng đánh và đánh thắng lớn quân địch, từ quy mô từng tiểu đoàn đến từng bin đoàn địch; đánh bại một bước âm mưu phá hoại của chúng đối với hai tỉnh tập kết Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ tạo uy thế cho phái đoàn chính trị, quân sự Pa-thét Lào đấu tranh đòi phía Chính phủ Viêng Chăn ngừng các hoạt động phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.


Về lực lượng tham gia trận đánh, bạn sử dụng Tiểu đoàn 705 (do tổ đồng chí Đảo làm cố vấn), Tiểu đoàn 617 (do tổ đồng chí Lê Khôi làm cố vấn), 2 đại đội bộ đội địa phương, một đại đội trợ chiến tăng cường của Tiểu đoàn 605 trang bị ĐKZ57 và cối 81 ly (do tổ đồng chí Hà Quốc Hồng làm cố vấn), cùng một số đơn vị kỹ thuật phục vụ chiến đấu của Bộ chỉ huy tối cao Lào. Căn cứ vào quyết tâm và kế hoạch tác chiến của trận đánh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần bạn lập kế hoạch cụ thể về công tác chính trị, tư tưởng; kế hoạch diễn tập cho các tiểu đoàn tham gia trận đánh; kế hoạch hành quân chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công; các kế hoạch vận tải, nuôi quân, chăm sóc thương bệnh binh và giải quyết tù hàng binh. Toàn bộ kế hoạch trận đánh được bạn xây dựng hoàn chỉnh đều có sự giúp đỡ, tham gia đóng góp những ý kiến quan trọng của các tổ cố vấn chính trị, tham mưu và hậu cần Đoàn 100.


Chỉ huy trận đánh là đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Tổng tham mưu trưởng. Đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng Đoàn 100 trực tiếp đi cùng giúp bạn xử trí kịp thời các tình huống tác chiến. Cố vấn các ngành của Đoàn 100 đều có bộ phận đi sát cơ quan tiền phương giúp bạn.


Sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, 7 giờ 30 phút ngày 30 tháng 6 năm 1955, khi trời còn đang sương Bộ chỉ huy tiền phương bạn ra lệnh cho các đơn vị nổ súng, mở đầu trận đánh vào Na-sa-la. Bộ phận hoả lực của bắn cấp tập vào các vị trí quân địch gần bản Na-sa-la. Tiếp đó các đơn vị bộ binh từ hai cánh nhanh chóng tiến thọc sâu đánh chia cắt từng vị trí quân địch. Ngay từ những loạt đạn pháo đầu tiên, binh lính địch đã bị thương vong một số, bộ phận còn lại hoảng loạn không kịp chống đỡ. Các mũi xung phong của bạn có cố vấn quân sự theo giúp tiến nhanh vào chiếm lĩnh ngọn đồi khống chế, bắn xuống cứ điểm địch. Bọn địch bị động chống cự yếu ớt rồi rút chạy vào các khe suối, bãi ruộng lẩn trốn. Phát hiện đích tháo chạy, bạn dùng súng cối, ĐKZ và súng bộ binh bắn chặn, diệt nhiều tên, rồi chuyển sang truy kích đuổi địch đến Bản Ngôn, gần khu vực Mường Pơn, gây cho chúng một số thiệt hại.


Trong trận đánh này, các đơn vị bạn diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch, trong đó có tên đại úy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 10, bắt hơn 40 tên, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng, giải phóng hoàn toàn các khu vực Na-sa-la, Na Ngôn, Na Nọng và Na Kềng. Chiến thắng Na-sa-la đã gây tiếng vang lớn, làm nức lòng quân dân hai tỉnh tập kết, đánh dấu bước trưởng thành về cách đánh gần, tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân đội Pa-thét Lào, gây nỗi khiêp sợ đối với quân đội trong phái hữu Viêng Chăn.


Đầu tháng 7 năm 1955, Bộ chỉ huy tối cao Lào tổ chức hội nghị tổng kết kinh nghiệm trận đánh Na-sa-la. Hầu hết các vị lãnh đạo Đảng, Mặt trận và hơn 300 cán bộ các đơn vị bạn từ cấp trung đội trở lên đã tham dự hội nghị. Đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Tổng tham mưu báo cáo cụ thể diễn biến và kết quả trận đánh, phân tích ý nghĩa thắng lợi, khẳng định bộ đội Pa-thét Lào có thể đánh và đánh thắng quân phái hữu Viêng Chăn; đồng thời rút ra bài học về xây dựng, huấn luyện, chiến đấu của các đơn vị, cơ quan. Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào phát biểu đánh giá cao tinh thần chiến đấu, ý nghĩa thắng lợi của trận đánh và kết luận khẳng định quân dân hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ có đủ khả năng tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy lùi các đợt tiến công của chúng vào khu căn cứ. Đồng thời căn dặn các lực lượng Pa-thét Lào ở hai tỉnh tập kết nâng cao tinh thần độc lập tự chủ và ý thức tự cưòng, tập trung xây dựng quân đội Pa-thét Lào lớn mạnh, tự đảm đương nhiệm vụ công tác và khả năng chiến đấu độc lập.


Sau Hội nghị này, các cơ quan, đơn vị tổ chức học tập bản báo cáo về trận đánh của đồng chí Tổng tham mưu trưởng và bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Đảng bạn, tiến hành khen thưởng những tập thể và cá nhân lập công xuất sắc. Tiếp đó, Trung ương Đảng bạn chỉ đạo tổ chức một đợt tuyên truyền giáo dục sâu rộng về ý nghĩa chiến thắng và phổ biến kinh nghiệm cho các cơ quan, đơn vị và nhân dân các bộ tộc Lào. Qua đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn này, các đơn vị quân đội Pa-thét Lào, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các bộ tộc Lào tin tưởng vào đường lối cách mạng đúng đắn của Trung ương và Chính phủ kháng chiến Lào, quyết tâm chiến đấu bảo vệ vững chắc khu căn cứ tập kết hai tỉnh Sầm Nưa và Phong XaLỳ.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:31:56 am
Sau thất bại ở Na-sa-la, quân địch thận trọng hơn trong việc sử dụng lực lượng mở các cuộc hành quân lấn chiếm; đồng thời tung các lực lượng biệt kích, thổ phỉ vào sâu trong vùng dân tộc và căn cứ của Pa-thét Lào hoạt quấy phá. Ngày 25 tháng 7 năm 1955, địch tập trung 2 tiểu đoàn đánh chiếm khu vực Húa Mường, nhằm hỗ trợ, bảo vệ cho đồng bọn ở khu vực Mường Pơn vừa bị thất bại. Tiếp đó trong hai tháng 8 và 9 năm 1955, địch tổ chức lấn chiếm khu vực Pa Thí và tiến công vào Huội Nhạ, uy hiếp thị xã Sầm Nưa từ phía tây và ngăn chặn đường liên lạc vao các huyện địch hậu Mường Xon, Húa Mường.


Trước tình hình đó, tháng 8 năm 1955, Bộ Tổng tham mưu ta chỉ thị cho Đoàn 100 nhấn mạnh: cần phối hợp với lực lượng Pa-thét Lào hoạt động quân sự, ngăn chặn mọi âm mưu hành động phá hoại của địch, kiên trì giữ vững hai tỉnh tập kết, củng cố bộ đội Pa-thét Lào. Chỉ thị quy định kế hoạch quân sự của Đoàn 100 và hình thức tác chiến của Đoàn.


Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu ta, theo yêu cầu của bạn, Đoàn 100 đã nghiên cứu giúp bạn xây dựng phương án tác chiến đánh địch ở khu vực Huội Nhạ. Lực lượng bạn tham gia trận đánh có Tiểu đoàn 609, một đơn vị được trang bị mạnh của bạn (tổ cố vấn tiểu đoàn do đồng chí Bảo phụ trách); một đại đội của Tiểu đoàn 705 (tổ cố vấn do đồng chí Đảo phụ trách); một đại đội trợ chiến tăng cường của Tiểu đoàn 605 (tổ cố vấn do đồng chí Hồng phụ trách); một đại đội độc lập của tỉnh và một số đơn vị kỹ thuật phục vụ chiến đấu của Bộ chỉ huy tối cao Lào.


Đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Tổng tham mưu trưởng quân đội Pa-thét Lào trực tiếp chỉ huy trận đánh nay. Đoàn 100 cử các đồng chí Võ Quốc Vinh - cố vấn Phòng Tham mưu và đồng chí Ngọc Ánh, cố vấn ban tác chiến cùng các tổ cố vấn tiểu đoàn tham gia giúp bạn chỉ huy bộ đội Pa-thét Lào chiến đấu.


Quân địch tổ chức phòng ngự ở Huội Nhạ, một điểm cao nằm trên địa hình rừng núi hiểm trở, đường giao thông đi lại rất khó khăn. Để bảo đảm cho trận đánh thắng lợi, các đơn vị bạn tổ chức huấn luyện khá công phu trên sa bàn, tiếp đó học tập về kỹ thuật đánh bộc phá mở hàng rào, cách đánh hiệp đồng binh chủng, đánh giáp lá cà theo hiệu lệnh bằng kèn đồng và pháo hiệu thống nhất trên toàn mặt trận.


Theo kế hoạch, 8 giờ ngày 12 tháng 9 năm 1955, Ban chỉ huy tiền phương bạn ra lệnh cho các đơn vị nổ súng. Mở đầu là các cụm hoả lực bố trí trên điểm cao bắn dồn dập vào các vị trí, dồn quân địch cố thủ trong các cứ điểm. Ngay sau đó, đội kèn đồng phát lệnh xung phong, các đơn vị bộ binh luồn theo từng khe núi tiến vào. Một đơn vị bộ binh nhanh chóng chiếm điểm cao và dùng súng bắn liên tiếp vào cứ điểm địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng sợ chống cự yếu ớt rồi rút chạy vào rừng. Các đơn vị bạn tiến vào làm chủ trận địa, thu một số lương thực và quân dụng.


Cùng thời gian này, các lực lượng vũ trang bạn ở tỉnh Sầm Nưa đẩy mạnh các hoạt động đánh địch ở Huội Thầu, Mường Pơn và một số nơi khác, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đến cuối tháng 10 năm 1955, các đơn vị bạn có Đoàn 100 giúp đỡ tận tình đã đánh tan nhiều cuộc tiến công lấn chiếm trái phép của địch, buộc chúng phải rút khỏi các khu vực dọc bờ sông Nậm Pơn, điểm cao 1340 thuộc Mường Pơn. Ở hai huyện địch hậu Mường Xon và Húa Mường, bộ đội địa phương bạn phối hợp với một đại đội thuộc Tiểu đoàn 613 (tổ cố vấn do đồng chí Dũng phụ trách) đánh chặn bọn biệt kích xâm nhập vào bản gây cho chúng thiệt hại, buộc phải rút lui. Các đơn vị bạn còn tiến hành vũ trang tuyên truyền, gây dựng được nhiều cơ sở ở các bản Lào Xủng, giáp vùng Pa Thí góp phần tạo thế bảo vệ vững chắc khu căn cứ du kích của bạn.


Trong khi đó, ở tỉnh Phong Xa Lỳ, địch cho quân nông xây dựng đồn Pha Chon để bảo vệ cho cứ điểm Pùng Nhang nơi đặt cơ quan chỉ huy bọn phỉ và nhận lương thực vũ khí tiếp tế bằng máy bay lên thẳng của địch. Đồn Pha Chon được xây dựng trên một điểm cao ở phía tả ngạn sông Nậm Nua, chảy từ vùng Tây Bắc (Việt Nam) sang Lào qua ngã ba sông ở Mường Khoa chảy ra Nậm U. Đây cũng chính là con đương tiếp tế bằng đường thủy của Việt Nam sang giúp cách mạng Lào.


Tháng 9 năm 1955, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho Tiểu đoàn 701 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công đồn Pha Chon. Tổ cố vấn Tiểu đoàn 701 do đồng chí Tăng phụ trách giúp bạn huấn luyện bộ đội, xây dựng phương án tác chiến, chuẩn bị chiến trường. Nhờ chuẩn bị chu đáo, các đơn vị bạn tiến đánh Pha Chon giành thắng lợi, làm thất bại âm mưu lấn chiếm trái phép của địch, bảo vệ con đường tiếp tế cho bạn bằng đường thủy từ Việt Nam sang Lào.


Trước những thất bại cả về chính trị và quân sự, bị nhân dân các bộ tộc Lào lên án và dư luận quốc tế không đồng tình, nhưng các thế lực phản động trong quân đội phái hữu và Chính phủ Viêng Chăn vẫn chưa chịu từ bỏ mưu thâm độc, tiếp tục các hoạt động phá hoại, hòng làm suy yếu các lực lượng Pa-thét Lào, xoá bở hai tỉnh tập kết của cách mạng Lào.


Sau cuộc tổng tuyển cử riêng rẽ và được nhận vào Liên hiệp quốc (12-12-1955), phía Viêng Chăn gọi Pa-thét Lào là “phiến loạn” và tuyên bố công khai tiếp tục tiến công lấn chiếm trái phép các vùng căn cứ hai tỉnh tập kết. Thực hiện âm mưu đó, từ cuối tháng 12 năm 1955, địch tập trung lực lượng mở các cuộc tiến công, chiếm đóng một số vùng ở huyện Húa Mường thuộc tỉnh Sầm Nưa và Bun Nưa, U  Tày thuộc tỉnh Phong Xa Lỳ; đồng thời tung biệt kích, thám báo, thổ phỉ luồn sâu vào hậu phương của Pa-thét Lào tìm cách phá hoại cách mạng Lào.


Trước những diễn biến ngày càng phức tạp ở Lào, Bộ Tổng tham mưu ta chỉ thị Cục Tác chiến tổ chức một đoàn cán bộ sang giúp bạn huấn luyện đơn vị đột phá (điểm) để xây dựng thành điển hình, trên cơ sở đó nhân rộng ra các đơn vị khác, nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:32:57 am
Tuy nhiên, để Pa-thét Lào đảm đương được nhiệm vụ phá tan âm mưu của địch đối với cách mạng Lào nói chung và hai tỉnh Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ nói riêng, cần phải xây dựng một kế hoạch tác chiến cơ bản, phù hợp với khả năng và yêu cầu của cách mạng Lào. Theo tinh thần đó, ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bộ Tổng tham mưu ta báo cáo Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy, đề xuất kế hoạch xây dựng và tác chiến của bộ đội Pa-thét Lào để làm việc với Trung ương Đảng bạn.


Đề án được Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy thông qua và thống nhất với bạn. Nội dung của đề án nêu rõ: Nhiệm vụ chung của bộ đội Pa-thét Lào là phá tan âm mưu của địch, kiên trì giữ vững hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang, giúp kiện toàn tổ chức chính quyền các cấp, phát triển cơ sở quần chúng, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng vùng tự do thành hậu hương vững chắc, vận động nhân dân tự túc và tham gia mọi công tác kháng chiến. Lực lượng vũ trang phải thâm nhập sâu vào hậu phương của địch (10 tỉnh còn lại), xây dựng cơ sở quần chúng và phát triển chiến tranh du kích ở vùng địch chiếm và ngay trong lòng địch. Phương châm tác chiến là: “Đánh lâu dài, đánh du kích và tự lực cánh sinh”. Việc xây dựng quân đội phải đi đôi với xây dựng kinh tế chính trị của nhân dân, phải xây dựng nhân dân thành một khối vừa đánh địch, vừa sản xuất.


Bộ Tổng tham mưu cũng đề xuất số lượng đơn vị chủ lực địa phương và cơ quan phải được xây dựng và bố trí ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, hướng tác chiến và huấn luyện cụ thể đối với bộ đội, vấn đề xây dựng căn cứ cách mạng Lào, tiễu phỉ, bảo vệ vùng biên giới Việt - Lào và việc cung cấp, tiếp tế cho bạn Lào. Đề án này đã được Trung ương Đảng ta và bạn thống nhất thông qua. Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Đoàn 100 phối hợp với bạn tổ chức thực hiện từ năm 1956 và những năm tiếp theo.


Về phía Pa-thét Lào, sau một năm được Đoàn 100 giúp xây dựng và chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ bạn đã có bước trương thành quan trọng, nhiều đơn vị đã có khả năng tự đảm đương chiến đấu độc lập giành thắng lợi. Đáp lời kêu gọi của Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước)1 (Ngày 6-1-1956, Mặt trận Lào Ít-xa-la tổ chức đại hội, trong đó quyết định đổi tên Mặt trận Lào Ít-xa-la thành Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước) và bầu Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Chủ tịch), các lực lượng Pa-thét Lào ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ đã nâng cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc tay súng, phát huy thắng lợi giành được, quyết tâm chiến đấu, đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, góp phần hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của nhân dân các bộ tộc trong cả nước Lào.


Ở tỉnh Sầm Nưa, ngày 13 tháng 1 năm 1956, phía Viêng Chăn tập trung một lực lượng lớn quân đội mở cuộc tiến công đánh chiếm khu vực Na Nọng, cách thị xã Sầm Nưa 30 km về phía tây nam. Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho Tiểu đoàn 609 (tổ cố vấn do đồng chí Bảo phụ trách), một bộ phận của Tiểu đoàn trợ chiến 605 (tổ cố vấn do đồng chí Hồng phụ trách) cùng bộ đội địa phương tỉnh Sầm Nưa đánh địch. Trước sức tiến công mạnh mẽ của các đơn vị bạn, địch bị tổn thất nặng, buộc phải rút quân khỏi khu vực Na Nọng.


Cuối tháng 1 năm 1956, một đại đội chủ lực địch phối hợp với bọn phỉ mở cuộc tiến công chiếm đóng dãy núi Huội Thầu xây dựng thành cứ điểm khống chế uy hiếp phía đông thị xã Sầm Nưa và con đường giao thông huyết mạch từ Sầm Nưa tới khu căn cứ các cơ quan Trung ương Lào. Tiểu đoàn 601 bạn (tổ cố vấn tiểu đoàn do đồng chí Bổng phụ trách) được lệnh phối hợp với bộ đội địa phương huyện Mường Sầm bao vây, tổ chức bắn tỉa, kết hợp dùng áp lực quân sự và binh vận, gây cho địch hoang mang và chịu một số thiệt hại, buộc phải lui quân.


Tại tỉnh Phong Xa Lỳ, sau thất bại phải rút khỏi đồn Pha Chon, địch tập trung củng cố lực lượng và trở lại đóng chốt ở Xi Đa. Chúng xây dựng ở đây thành một cứ điểm có quân đông và hoả lực mạnh đóng giữ, nhằm bảo vệ cứ điểm Pùng Nhang và ngăn chặn con đường tiếp tế quan trọng của Việt Nam từ Điện Biên sang Mường Khoa (Lào) giú bạn. Tháng 1 năm 1956, Bộ tư lệnh tối cao Lào lệnh đội phong Xa Lỳ và Tiểu đoàn 701 tiến công cứ điểm Xi Đa. Qua kinh nghiệm trận đánh Pha Chon, đồng chí Đinh Văn Tuy, cố vấn quân sự Tỉnh đội Phong Xa Lỳ cùng tổ cố vấn Tiểu đoàn 701 do đồng chí Tăng phụ trách, trao đổi thống nhất kế hoạch giúp bạn chuẩn bị trận đánh từ xây dựng kế hoạch chiến đấu, sử dụng lực lượng đến tiến công bao vây, áp sát, đánh chia cắt, kết hợp dùng hoả lực pháo kích tiêu diệt một số tên địch, buộc chúng phải rút quân.


Phát huy khí thế thắng lợi, giữa năm 1956, Ban chỉ huy Tỉnh đội Phong Xa Lỳ và chỉ huy Tiểu đoàn 701 gặp gỡ trao đối với bộ phận cố vấn quân sự Đoàn 100. Trên cơ sở phân tích tình hình, hai bên thống nhất quyết định tập trung lực lượng tiến công địch ở đồn Pùng Nhang. Theo kế hoạch, các đơn vị bạn mở cuộc tiến công, gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải rút khỏi đồn Pùng Nhang về vùng giáp ranh. Tiếp đó, bạn kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị của quần chúng, đánh tan bọn phỉ ở khu vực nam Tha Leng (giáp vùng Bun Nưa).


Gần 2 năm (tháng 10-1954 đến tháng 8-1956), Chính phủ phản động Lào, do Ka-tày làm Thủ tướng đã nhiều lần đưa quân ồ ạt tiến công hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Chúng đã sử dụng lực lượng của 11 tiểu đoàn mở 685 cuộc tiến công quy mô lớn, vừa, nhỏ vào các khu căn cứ của cách mạng Lào ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Cac lực lượng Pa-thét Lào tập kết ở hai tỉnh được sự giúp đỡ của Đoàn 100 đã chiến đấu dũng cảm, loại khỏi vòng chiến đấu gần 4.000 tên địch, đẩy lùi các cuộc tiến công lấn chiếm trái phép của chúng, giữ vững vùng căn cứ cách mạng Lào. Quân địch bị hao tổn và phân tán lực lượng không đủ khả năng thực hiện các cuộc tiến công quy mô lớn. Âm mưu dùng sức mạnh quân sự, hòng làm suy yếu các lực lượng cách mạng, tiến tới xoá bỏ việc đàm phán với Pa-thét Lào và thôn tính hai tỉnh tập kết của các thế lực phản động Viêng Chăn đã bị phá sản nghiêm trọng.


Tình hình cách mạng Lào đứng trước những chuyển biến quan trọng. Nhân dân các bộ tộc Lào thêm tin tưởng phấn khởi, tích cực tham gia các hoạt động xây dựng sẵn sàng chiến đấu. Các khu vực tập kết của Pa-thét Lào ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ được bảo vệ và xây dựng ngày càng vững mạnh, trở thành chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc của cả nước Lào.


Đạt được những thành tích to lớn đó là nhờ có đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng và Quân ủy bạn; sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân các bộ tộc Lào và cán bộ, chiến sĩ quân đội Pa-thét Lào được giáo dục, huấn luyện nâng cao ý thức tự lực, tinh thần chiến đấu dũng cảm; đồng thời biết học tập kinh nghiệm và tranh thủ sự giúp đỡ tận tình của Đoàn 100. Vì thế, các đơn vị quân đội Pa-thét Lào đã phát huy được tiềm năng, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân bạn giao phó.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:35:23 am
Đầu năm 1957, tình hình trên chiến trường Lào có phần lắng dịu do các thế lực phản động và quân đội phái hữu Viêng Chăn ít mở các cuộc tiến công vào vùng tập kết của Pa-thét Lào. Các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào có thời gian và điều kiện thuận lợi để tập trung xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu.


Căn cứ vào tình hình phát triển của cách mạng Lào và những mặt còn khó khăn hạn chế của bạn; đồng thời dự kiến tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh chính trị theo đường lối hoà bình, trung lập sắp tới với chính phủ và quân đội phái hữu Viêng Chăn, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng Đoàn 100 đề xuất với bạn chủ trương: Tranh thủ thời gian chiến trường lắng dịu, tổ chức các đơn vị quân đội học tập nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, đạo đức cách mạng và vai trò nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Đặc biệt là, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và các cấp ủy Đảng về công tác tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng và thực hiện chính sách đoàn kết, hoà hợp dân tộc của Đảng Nhân dân Lào; đồng thời tập trung huấn luyện quân sự cơ bản cho các đơn vị, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ và khả năng chiến đấu cao của chiến sĩ bạn.


Trên cơ sở bạn đã có sự trưởng thành và tạo điều kiện cho bạn phấn đấu, từng bước nâng cao khả năng tự đảm đương nhiệm vụ, Đoàn 100 đề nghị với bạn rút dần các tổ cố vấn quân sự Việt Nam ở các tiểu đoàn tập trung về giúp các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần thuộc Bộ chỉ huy tối cao Lào, Trường Quân chính Com-ma-đam và mở các lớp tập huấn ngắn ngày ở Bộ.


Sau một năm nỗ lực phấn đấu và được sự giúp đỡ tận tình của các tổ cố vấn quân sự, các cơ quan, đơn vị bạn được củng cố thêm vững chắc. Công tác giáo dục, huấn luyện và xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tình hình chính trị tư tưởng cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị địa phương ngày càng nâng cao, hoạt động nền nếp, hiệu quả. Các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào từng bước khẳng định là lực lượng nòng cốt, công cụ sắc bén của Trung ương Đảng và Chính phủ kháng chiến Lào trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc.


Trước tình hình phát triển ngày càng thuận lợi cho cuộc đấu tranh vì hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc ở Lào, đồng thời do “các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào qua hơn 3 năm xây dựng, chiến đấu đã có nhiều tiến bộ, phần lớn cán bộ đảm đương được nhiệm vụ, cho nên công việc của Đoàn cố vấn 100 không phải bận rộn như trước”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 81), sau khi trao đối với bạn, Tổng Quân ủy Việt Nam quyết định điều động đồng chí Chu Huy Mân - Đoàn trưởng về nước nhận nhiệm vụ mới; đồng thời chấn chỉnh tổ chức biên chế Đoàn 100 để giúp Tổng Quân ủy theo dõi và tổ chức việc giúp bạn Lào. Thực hiện chủ trương đó, ngày 11 tháng 6 năm 1957, Tổng Quân ủy ra Quyết định số 107/TQU xác định nhiệm vụ mới của Đoàn 100:

1. Đoàn vẫn là một đơn vị trực thuộc Tổng Quân ủy, các đồng chí Tổng cục có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn 100 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giúp bạn.

2. Tổng Quân ủy giao cho Bộ Tổng tham mưu chịu trách nhiệm theo dõi chung, từng thời kỳ nghe báo cáo tình hình và giải quyết các công việc cho Đoàn 100, khi cần có thể triệu tập các đồng chí Tổng cục dự họp.


Về tổ chức, Tổng Quân ủy phân công đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng chịu trách nhiệm theo dõi Đoàn 100; cử đồng chí Đinh Văn Tuy làm Đoàn trưởng Đoàn 100 thay đồng chí Chu Huy Mân, đồng chí Lê Tự Lập làm Phó đoàn trưởng thứ nhất, đồng chí Đức Phương phó đoàn trưởng thứ hai. Mặc dù tổ chức lãnh đạo của 100 có sự thay đổi, nhưng tính chất nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giúp bạn cơ bản vẫn như trước đây. Trên cơ sở chủ trương, kế hoạch đã thống nhất giữa ta và bạn, Đoàn 100 tiếp tục giúp các đơn vị bộ đội Pa-thét Lào đẩy mạnh các hoạt động xây dựng lực lượng, huấn luyện quân sự sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch góp phần thúc đẩy cách mạng Lào phát triển.


Những thắng lợi của các lực lượng Pa-thét Lào trong những năm 1954-1956 đã làm cho nội bộ phái hữu Viêng Chăn phân hoá sâu sắc. Sau khi Chính phủ mới, do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng (thay Ka-tày Đôn Xa Rít thân Mỹ năm 1956), tuyên bố thực hiện hoà bình trung lập và hoà hợp dân tộc, tình hình Lào có những chuyển biến ngày càng thuận lợi cho Pa-thét Lào.


Tháng 5 năm 1956, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề ra chủ trương đấu tranh trong tình hình mới là: “Đấu tranh cho một nước Lào hoà bình, trung lập trên cơ sở Hiệp định Giơ-ne-vơ, tạo điều kiện thực hiện mục tiêu của cách mạng là xây dựng một nước Lào hoà bình, đọc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng”1 (Theo Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 84).


Thực hiện chủ trương của Đảng Nhân dân Lào, ngày 28 tháng 5 năm 1956, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thay mặt các lực lượng Pa-thét Lào đề nghị Chính phủ Vương quốc Lào nối lại Hội nghị hiệp thương chính trị. Trước thiện chí của phía Pa-thét Lào, Chính phủ Vương quốc Lào chấp nhận gặp gỡ trao đổi giữa hai bên. Ngày 1 tháng 8 năm 1956, tại Viêng Chăn, phái đoàn cấp cao Neo Lào Hắc Xạt, do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm trưởng đoàn và phái đoàn cấp cao Vương quốc do Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma làm trưởng đoàn đã họp trao đổi thống nhất những vấn đề chính trị cơ bản của tình hình Lào. Sau nhiều phiên họp đàm phán về các vấn đề chính trị ngày 2 tháng 11 năm 1956, phái đoàn quân sự hai bên đã ký hiệp nghị thỏa thuận: Phía Chính phủ Vương quốc bảo đảm việc sáp nhập quân đội, vũ khí của Pa-thét Lào vào quân đội quốc gia. Những người tình nguyện tiếp tục ở lại quân đội được chuyển vào quân đội thường trực của Vương Quốc Lào, còn những người xin giải ngũ sẽ đăng ký làm quân dự bị Quốc gia. Quá trình tiến hành sáp nhập các đơn vị quân đội Pa-thét Lào vào quân đội Quốc gia là 60 ngày, kể từ ngày thành lập Chính phủ Liên hiệp Lào.


Cuối năm 1956, đầu năm 1957, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, lãnh tụ Neo Lào Hắc Xạt và Thủ tướng Xu-va-na Pu-ma bàn về vấn đề Chính phủ Liên hiệp có Pa-thét Lào tham gia và tổ chức bầu cử bổ sung. Hai bên thống nhất luật bầu bổ sung và chuẩn bị tiến tới bầu cử. Trước tình hình đó, Mỹ, Pháp, Anh ra sức phản đối bầu cử có Pa-thét Lào tham gia. Tuy vậy, xu thế hoà bình trung lập ở Lào vẫn tiến triển thuận lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:36:32 am
Trên cơ sở những vấn đề cơ bản về chính trị, quân sự đã được thỏa thuận, ngày 20 tháng 10 năm 1957, đại diện Pa-thét Lào và đại diện Chính phủ Vương quốc chính thức, ký kết việc thành lập Chính phủ Liên hiệp có Pa-thét Lào tham gia. Ngày 2 tháng 11 năm 1957, Lào ký kết Hiệp định Viêng Chăn, thành lập Chính phủ Liên hiệp Lào (lần thứ nhất) và vấn đề các lực lượng Pa-thét Lào sáp nhập quân đội Vương quốc, tổ chức chính quyền Vương quốc 3 hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Ngày 19 tháng 11 năm 1957, Quốc hội Lào thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng. Pa-thét Lào giữ hai ghế trong Chính phủ gồm: Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Bộ trưởng Kế hoạch, đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít giữ chức Bộ trưởng Bộ lễ nghi.


Mặc dù đế quốc Mỹ và các thế lực phản động cố tình tìm mọi cách gây cản trở Chính phủ Vương quốc Lào hoà hợp với các lực lượng Pa-thét Lào, nhưng dư luận quốc tế đều đồng tình và ủng hộ. Các nước Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Liên hiệp Lào. Đến đây, cách mạng Lào đã có bước phát triển thuận lợi cả về đối nội và đối ngoại, ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, cơ sở cách mạng và các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào được xây dựng vững mạnh. Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Lào đã thu được thắng lợi bước đầu rất quan trọng, góp phần đưa nước Lào đi theo con đường hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc.


Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, tháng 11 năm 1957, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào nêu rõ: “Nhiệm vụ chủ yếu hiện nay là tập trung mọi lực lượng đấu tranh đòi thực hiện các hiệp định đã ký để củng cố và phát triển những thắng lợi đã giành được”. Hội nghị chủ trương: “chuyển phương châm đấu tranh từ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự bảo vệ hai tỉnh tập kết, sang đấu tranh công khai hợp pháp trên toàn quốc, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh nghị trường và đấu tranh pháp lý, buộc phía Vương quốc phải thực hiện đúng đắn các thỏa thuận giữa hai bên”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Sđd,  tr. 137).


Theo đề nghị của Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy tối cao Lào, Trung ương Đảng ta cử đồng chí Chu Huy Mân nguyên Đoàn trưởng Đoàn 100 (sau hơn 3 tháng về nước nhận công tác mới ở Việt Nam) sang tỉnh Sầm Nưa cùng lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 tập trung giúp bạn xây dựng kế hoạch, chuẩn bị mọi mặt đưa các lực lượng Pa-thét Lào về hoà hợp dân tộc.


Sau khi trao đổi tình hình và dự đoán khả năng phát triển của cuộc đấu tranh trong thời gian tới, hai bên ta và bạn thống nhất nhận định: Trong khi Đảng Nhân dân Lào chủ động đề ra chính sách hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc, xây dựng một nước Lào độc lập, dân chủ, thống nhất, phồn vinh; các thế lực phái hữu thân Mỹ ở Viêng Chăn sẽ tìm mọi cách chia rẽ các lực lượng Pa-thét Lào, trước hết là các lực lượng vũ trang, hòng làm suy yếu cách mạng Lào. Do đó, cuộc đấu tranh hoà hợp dân tộc của Lào trong thời gian tới sẽ diễn biến phức tạp và quyết liệt. Trước tình hình đó, phía Pa-thét Lào cần chuẩn bị mọi mặt, nhất là nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù trong bất kỳ tình huống nào.


Để chuẩn bị đưa lực lượng về hoà hợp dân tộc, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào, có trao đối với Đoàn 100 đã thống nhất kế hoạch: Một là, tranh thủ thời gian mở đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ học tập về chủ trương chính sách, đường lối của Đảng Nhân dân và trận Lào yêu nước, xây dựng mối quan hệ máu thịt bền vững với nhân dân. Hai là, tổ chức sắp xếp quân đội Pa-thét Lào thành hai tiểu đoàn 1 và 2. Ba là, đại bộ phận lực lượng còn lại của quân đội Pa-thét Lào (có 700 đảng viên) chuẩn bị phục viên về các tỉnh, làm nòng cốt cho quần chúng đấu tranh, thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất đất nước Lào.


Theo đề nghị của bạn, Đoàn 100 thống nhất với bạn chọn một số cán bộ, chiến sĩ trẻ, khoẻ trong các đơn vị bộ đội Pa-thét Lào sang Việt Nam học văn hoá, chính trị và huấn luyện quân sự, nhằm đào tạo thành những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và chuyên môn các ngành, để sau này về nước làm nòng cốt phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Lúc đầu, ta và bạn thống nhất chọn 500 người sang học dài hạn, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết trong nước, bạn chỉ chọn được 330 người sang học tập ở Việt Nam.


Nhằm giúp bạn tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đề ra, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho các tổ cố vấn chính trị, tham mưu và hậu cần chuẩn bị theo nhiệm vụ chuyên môn. Tổ cố vấn chính trị, do đồng chí Lê Tự Lập - Phó đoàn trưởng thứ nhất phụ trách, khẩn trương chuẩn bị những nội dung văn kiện, tài liệu cơ bản giúp bạn thực hiện công tác giáo dục tư tưởng và tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ bạn. Đồng chí Đinh Văn Tuy - Đoàn trưởng kiêm phụ trách tổ cố vấn tham mưu, giúp bạn soạn thảo kế hoạch tổ chức lực lượng, bảo đảm vật chất cho các đơn vị hành quân về các địa phương thực hiện hoà hợp dân tộc. Tổ cố vấn hậu cần do đồng chí Đức Phương - Phó đoàn trưởng thứ hai phụ trách có nhiệm vụ giúp bạn chuẩn bị kế hoạch bảo đảm vật chất lương thực, thuốc men cho các lực lượng bạn vào hoà hợp, đồng thời tổ chức thanh lý các cơ sở vật chất, hậu cần chuyển giao cho hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ.


Quá trình chuẩn bị thực hiện hoà hợp dân tộc, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng bạn kiêm Chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào, khi sang làm việc với đồng chí Nguyễn Khang và các đồng chí Thường vụ Ban cán sự miền Tây, thường đến gặp đồng chí Chu Huy Mân ở Đoàn 100 trao đổi bàn bạc những vấn đề cơ bản của cách mạng Lào và mối quan hệ giúp đỡ giữa Đoàn 100 với bạn trong tình hình mới.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:41:26 am
Trên cơ sở những vấn đề cơ bản về chính trị, quân sự đã được thỏa thuận, ngày 20 tháng 10 năm 1957, đại diện Pa-thét Lào và đại diện Chính phủ Vương quốc chính thức, ký kết việc thành lập Chính phủ Liên hiệp có Pa-thét Lào tham gia. Ngày 2 tháng 11 năm 1957, Lào ký kết Hiệp định Viêng Chăn, thành lập Chính phủ Liên hiệp Lào (lần thứ nhất) và vấn đề các lực lượng Pa-thét Lào sáp nhập quân đội Vương quốc, tổ chức chính quyền Vương quốc 3 hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Ngày 19 tháng 11 năm 1957, Quốc hội Lào thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng. Pa-thét Lào giữ hai ghế trong Chính phủ gồm: Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Bộ trưởng Kế hoạch, đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít giữ chức Bộ trưởng Bộ lễ nghi.


Mặc dù đế quốc Mỹ và các thế lực phản động cố tình tìm mọi cách gây cản trở Chính phủ Vương quốc Lào hoà hợp với các lực lượng Pa-thét Lào, nhưng dư luận quốc tế đều đồng tình và ủng hộ. Các nước Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Liên hiệp Lào. Đến đây, cách mạng Lào đã có bước phát triển thuận lợi cả về đối nội và đối ngoại, ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, cơ sở cách mạng và các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào được xây dựng vững mạnh. Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Lào đã thu được thắng lợi bước đầu rất quan trọng, góp phần đưa nước Lào đi theo con đường hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc.


Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, tháng 11 năm 1957, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào nêu rõ: “Nhiệm vụ chủ yếu hiện nay là tập trung mọi lực lượng đấu tranh đòi thực hiện các hiệp định đã ký để củng cố và phát triển những thắng lợi đã giành được”. Hội nghị chủ trương: “chuyển phương châm đấu tranh từ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự bảo vệ hai tỉnh tập kết, sang đấu tranh công khai hợp pháp trên toàn quốc, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh nghị trường và đấu tranh pháp lý, buộc phía Vương quốc phải thực hiện đúng đắn các thỏa thuận giữa hai bên”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Sđd,  tr. 137).


Theo đề nghị của Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy tối cao Lào, Trung ương Đảng ta cử đồng chí Chu Huy Mân nguyên Đoàn trưởng Đoàn 100 (sau hơn 3 tháng về nước nhận công tác mới ở Việt Nam) sang tỉnh Sầm Nưa cùng lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 tập trung giúp bạn xây dựng kế hoạch, chuẩn bị mọi mặt đưa các lực lượng Pa-thét Lào về hoà hợp dân tộc.


Sau khi trao đổi tình hình và dự đoán khả năng phát triển của cuộc đấu tranh trong thời gian tới, hai bên ta và bạn thống nhất nhận định: Trong khi Đảng Nhân dân Lào chủ động đề ra chính sách hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc, xây dựng một nước Lào độc lập, dân chủ, thống nhất, phồn vinh; các thế lực phái hữu thân Mỹ ở Viêng Chăn sẽ tìm mọi cách chia rẽ các lực lượng Pa-thét Lào, trước hết là các lực lượng vũ trang, hòng làm suy yếu cách mạng Lào. Do đó, cuộc đấu tranh hoà hợp dân tộc của Lào trong thời gian tới sẽ diễn biến phức tạp và quyết liệt. Trước tình hình đó, phía Pa-thét Lào cần chuẩn bị mọi mặt, nhất là nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù trong bất kỳ tình huống nào.


Để chuẩn bị đưa lực lượng về hoà hợp dân tộc, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào, có trao đối với Đoàn 100 đã thống nhất kế hoạch: Một là, tranh thủ thời gian mở đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ học tập về chủ trương chính sách, đường lối của Đảng Nhân dân và trận Lào yêu nước, xây dựng mối quan hệ máu thịt bền vững với nhân dân. Hai là, tổ chức sắp xếp quân đội Pa-thét Lào thành hai tiểu đoàn 1 và 2. Ba là, đại bộ phận lực lượng còn lại của quân đội Pa-thét Lào (có 700 đảng viên) chuẩn bị phục viên về các tỉnh, làm nòng cốt cho quần chúng đấu tranh, thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất đất nước Lào.


Theo đề nghị của bạn, Đoàn 100 thống nhất với bạn chọn một số cán bộ, chiến sĩ trẻ, khoẻ trong các đơn vị bộ đội Pa-thét Lào sang Việt Nam học văn hoá, chính trị và huấn luyện quân sự, nhằm đào tạo thành những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và chuyên môn các ngành, để sau này về nước làm nòng cốt phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Lúc đầu, ta và bạn thống nhất chọn 500 người sang học dài hạn, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết trong nước, bạn chỉ chọn được 330 người sang học tập ở Việt Nam.


Nhằm giúp bạn tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đề ra, Đoàn ủy và đồng chí Đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho các tổ cố vấn chính trị, tham mưu và hậu cần chuẩn bị theo nhiệm vụ chuyên môn. Tổ cố vấn chính trị, do đồng chí Lê Tự Lập - Phó đoàn trưởng thứ nhất phụ trách, khẩn trương chuẩn bị những nội dung văn kiện, tài liệu cơ bản giúp bạn thực hiện công tác giáo dục tư tưởng và tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ bạn. Đồng chí Đinh Văn Tuy - Đoàn trưởng kiêm phụ trách tổ cố vấn tham mưu, giúp bạn soạn thảo kế hoạch tổ chức lực lượng, bảo đảm vật chất cho các đơn vị hành quân về các địa phương thực hiện hoà hợp dân tộc. Tổ cố vấn hậu cần do đồng chí Đức Phương - Phó đoàn trưởng thứ hai phụ trách có nhiệm vụ giúp bạn chuẩn bị kế hoạch bảo đảm vật chất lương thực, thuốc men cho các lực lượng bạn vào hoà hợp, đồng thời tổ chức thanh lý các cơ sở vật chất, hậu cần chuyển giao cho hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ.


Quá trình chuẩn bị thực hiện hoà hợp dân tộc, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng bạn kiêm Chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào, khi sang làm việc với đồng chí Nguyễn Khang và các đồng chí Thường vụ Ban cán sự miền Tây, thường đến gặp đồng chí Chu Huy Mân ở Đoàn 100 trao đổi bàn bạc những vấn đề cơ bản của cách mạng Lào và mối quan hệ giúp đỡ giữa Đoàn 100 với bạn trong tình hình mới.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:43:11 am
Sau một thời gian chuẩn bị, giữa tháng 12 năm 1957, các đơn vị Pa-thét Lào bắt đầu hành quân chuyển lực lượng về các địa phương, khu vực theo thỏa thuận giữa Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc Lào. Trong hai ngày 8 và 18 tháng 12 năm 1957, hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ lần lượt được chuyển giao cho Chính phủ Vương quốc. Ngày 15 tháng 12 năm 1957, hai tiểu đoàn Pa-thét Lào chuyển về khu vực Cánh Đồng Chum sáp nhập vào quân đội Vương quốc Lào.


Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ được cử sang học dài hạn ở Việt Nam, do đồng chí Xa-mán Vi-nhạ-kệt - Phó chủ nhiệm Chính trị quân đội Pa-thét Lào phụ trách cũng tạm biệt khu tập kết sang Việt Nam học tập. Đại diện của quân đội ta đã ra tận vùng biên giới Việt - Lào đón tiếp và đưa bạn về Trường Văn hoá 399 thuộc Quân khu Việt Bắc (nay là Quân khu 1). Lãnh đạo, chỉ huy khu 100 cử đồng chí Quang Tăng, nguyên cố vấn Tiểu đoàn 701 cùng các đồng chí Tân Kền, Lê Khế, Cẫn, Nghiễn, Đạt, Quyên, Thành, Nghề, Đổng, Tiến... về giúp các đồng chí Xa-mán Vi-nhạ-kệt, Xôm-xác-xay-xổm-kham quản lý và tổ chức lớp học tập. Quân khu Việt Bắc cử một số cán bộ chuyên môn giúp bạn suốt những năm học tập ở Trường Văn hóa 399.


Đến cuối năm 1957, cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ ở Lào đã thu được thắng lợi, đưa nước Lào theo con đường hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc. Trong quá trình phía Pa-thét Lào chuyển lực lượng hoà hợp dân tộc, những cán bộ cố vấn Đoàn 100 đã kiên trì giúp bạn giáo dục bồi dưỡng phẩm chất, năng lực lãnh đạo và kinh nghiệm đấu tranh cho cán bộ, đảng viên bạn, nhất là cán bộ chủ trì. Những kinh nghiệm Đoàn truyền đạt cho bạn đã để lại ấn tượng tốt về trách nhiệm và tình cảm gắn bó của cố vấn Việt Nam, góp phần động viên bạn thêm tin tưởng, quyết tâm đấu tranh với các thế lực phái hữu Viêng Chăn trong thời gian thực hiện hoà hợp dân tộc.


Trong những năm giúp bạn và cùng bạn chiến đấu, tất cả cố vấn quân sự Đoàn 100 đã có sự đóng góp to lớn không chỉ công sức, mà cả xương máu vào thắng lợi chung của bạn. Sát cánh cùng bạn chiến đấu, các đồng chí Hoàn, Phạm Xuân Thuỳ, Hoàng Đình Cầu, Trương Hoàng, Võ Ngọc Anh đã anh dũng ngã xuống ở các mặt trận Mường Pơn (Sầm Nưa) và Bun Nưa (Phong Xa Lỳ). Tấm gương hy sinh vì nghĩa lớn giúp bạn của các đồng chí mãi mãi là tấm gương chói lọi về tinh thần quốc tế cao cả, tô thắm lịch sử truyền thống của Đoàn 100 nói riêng và lịch sử truyền thống chuyên gia quân sự và quân tình nguyên Việt Nam nói chung, mở đầu quan hệ đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào.


Đầu tháng 1 năm 1958, sau khi cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ giúp bạn ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ Đoàn 100 được lệnh rút quân trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Tại một địa điểm thuộc khu vực tập kết của các lực lượng Pa-thét Lào, Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy tối cao Lào đã tổ chức trọng thể lễ tiễn Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam về nước. Trong buổi lễ, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư và chỉ huy tối cao quân đội bạn biểu dương sự giúp đỡ to lớn của Đoàn 100 đối với cách mạng Lào. Đảng quân đội Pa-thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào mãi mãi “biết ơn Đảng, nhân dân và quân đội Việt Nam; biết ơn cán bộ cố vấn Đoàn 100 đã hết lòng hết sức giúp đỡ cách mạng và quân đội Lào... Thời gian sẽ đi qua, nhưng tình nghĩa Lào - Việt vẫn mãi mãi sáng ngời trong lịch sử”1 (Phát biểu của đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư và chỉ huy tối cao quân đội Lào tại buổi tiễn đưa Đoàn 100 trở về nước (Ghi theo hồi ký của đồng chí Chu Huy Mân, nguyên Đoàn trưởng Đoàn 100)).


Lịch sử còn mãi mãi ghi lại những hình ảnh vô cùng cảm động của những cán bộ, chiến sĩ Pa-thét Lào và chuyên gia quân sự Việt Nam nắm chặt tay nhau như không muốn rời trong buổi tiễn đưa người anh em “Bộ đội Cụ Hồ” về đất nước thân yêu của mình. Theo kế hoạch, từ khu vực Na Mèo, nơi giáp giới giữa biên giới hai nước Việt - Lào, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 100 tổ chức đơn vị hành quân về nước. Lần trước, sang giúp bạn vào giữa mùa mưa, từ thị trấn Hồi Xuân, đoàn phải vượt qua nhiều núi rừng ở suối sâu với bao khó khăn, vất vả; lần này trở về Tổ quốc vào đầu mùa xuân, anh em đều phấn khởi, bởi nhiệm vụ quốc tế giúp bạn đã hoàn thành tốt đẹp.


Theo quy định của Bộ Quốc phòng nước ta, Đoàn 100 hành quân từ biên giới Việt - Lào bằng ô tô theo đường 217 về thẳng Thủ đô Hà Nội qua nhiều xóm làng, khu phố trước đây bị chiến tranh tàn phá, nay đang được xây dựng lại khang trang, đẹp đẽ hơn xưa. Ngày 15 tháng 1 ăm 1958 Đoàn về đến Hà Nội. Đại diện cơ quan Bộ Quốc phòng đã đón tiếp và bố trí các cán bộ của Đoàn 100 nghỉ ở trường An-be Xa-rô (Albert Sarraut) cũ, bên cạnh dinh Chủ tịch nước thuộc khu Ba Đình (nay là quận Ba Đình, Hà Nội). Đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay mặt Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đến thăm, sau đó mở tiệc chiêu đãi Đoàn ở nhà khách 33 Phạm Ngũ Lão (Hà Nội). Tại buổi chiêu đãi, đồng chí Nguyễn Chí Thanh biểu dương thành tích to lớn Đoàn 100 đã đạt được trong công tác giúp bạn xây dựng, chiến đấu thắng lợi và trao tặng mỗi cán bộ, chiến sĩ của đoàn một “Huy hiệu Bác Hồ”. Đây là lần thứ hai, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100 được vinh dự nhận huy hiệu của Bác.


Trải qua gần 4 năm (tháng 7-1954 đến tháng 1-1958) làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100 không quản khó khăn, gian khổ đẩy mạnh các mặt hoạt động xây dựng, chiến đấu và công tác, giúp bạn giành nhiều thắng lợi. Sau một thời gian về nước, Đoàn 100 giải thể theo quyết định của Bộ, kết thúc một giai đoạn lịch sử giúp bạn theo phương thức mới của quân đội ta trong những năm đầu đoàn kết đấu tranh đòi đối phương thực hiện Hiệp nghị Giơ-ne-vơ về Lào.


Những tháng đầu năm 1958, tình hình các nước trên bán đảo Đông Dương diễn biến phức tạp do sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Ở Lào, đế quốc Mỹ từng bước can thiệp ngày cặng sâu vào công việc nội bộ của bạn. Chúng tìm mọi cách hỗ trợ bọn tay sai phá hoại việc thi hành Hiệp định Viêng Chăn đã ký về Lào. Nhằm có chỗ dựa và thế mạnh can thiệp vào Lào, Mỹ cố dàn xếp mâu thuẫn trong nội bộ bọn tay sai, lập ra "mặt trận liên minh chống cộng" ở Lào. Thực hiện âm mưu đó, tháng 6 năm 1958, Mỹ thúc ép sáp nhập đảng "quốc gia tiến bộ" của Ka-tày và Đảng "Tự do" của Phủi-xa Na-ni-con thành một đảng mang tên "Đảng Tập hợp Lào" thân Mỹ và tổ chức "Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc gia", do CIA đỡ đầu nhằm tập hợp số sĩ quan trẻ trong quân đội và cảnh sát ngụy làm lực lượng xung kích chống phá các lực lượng Pa-thét Lào.


Tháng 8 năm 1958, đế quốc Mỹ tổ chức lật đổ Chính phủ Liên hiệp có Pa-thét Lào tham gia và dựng chính quyền phản động cực hữu thân Mỹ ở Viêng Chăn, do Phủi-xa Na-ni-con làm Thủ tướng và Ka-tày làm Phó thủ tướng, không cho các thành viên của Pa-thét Lào và lực lượng trung gian tham gia Chính phủ mới. Tiếp đó, Mỹ từng bước đưa bọn tay sai trong "Đảng Tập hợp Lào" nắm chính quyền từ tỉnh xuống huyện, bản.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:44:18 am
Cùng với việc lập ra bộ máy ngụy quyền, đế quốc Mỹ cũng tăng cường xây dựng đội quân ngụy Lào từ 25.000 quân lên 44.000 quân và thực hiện viện trợ khẩn cấp 34 triệu đô, đưa nhiều trang bị kỹ thuật vào Lào. Ngày tháng 2 năm 1959, đế quốc Mỹ xúi giục chính phủ thân Mỹ ở Viêng Chăn công khai tuyên bố chấm dứt hiệu lực Hiệp định Giơ-ne-vơ ký năm 1954 về Lào và các hiệp nghị Viêng Chăn ký giữa chính quyền Vương quốc với Pa-thét Lào, từ bỏ chính sách hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc, công kích chống các nước Việt Nam, Trung Quốc, thông báo xin viện trợ và tiếp nhận cố vấn quân sự Mỹ đến Lào.


Đối với cách mạng Lào, chúng tăng cường các cuộc vây ép, bắt bớ, sát hại, trả thù những người kháng chiến cũ, những cán bộ chiến sĩ Pa-thét Lào về các địa phương theo quy định Hiệp nghị Viêng Chăn. Cuộc khủng bố diễn ra ở nhiều vùng nông thôn và thành thị, nhân dân một số nơi đứng lên đấu tranh, nhưng ít hiệu quả do chưa có chủ trương phương hướng lãnh đạo đúng đắn, cơ sở cách mạng bị phá, nhiều cán bộ phải phân tán rút vào rừng duy trì lực lượng. Thâm hiểm hơn, sau nhiều lần dụ dỗ, mua chuộc không thành, ngày 11 tháng 5 năm 1959, đế quốc Mỹ huy động 3 tiểu đoàn đến bao vây, hòng tước vũ khí Tiểu đoàn 2 của Pa-thét Lào ở Cánh Đồng Chum và Tiểu đoàn 1 ở Xiêng Ngân. Trước tình hình đó, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đã đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Nhờ tinh thần dũng cảm, mưu trí, ngày 18 tháng 5 năm 1959, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đã cùng với một số gia đình vợ con vượt vòng vây của địch tiến về hướng đông bắt liên lạc được với Việt Nam. Trong khi đó, Tiểu đoàn 1 tuy bị địch khống chế, nhưng hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã bí mật phân tán rút từng bộ phận ra các cơ sở ở vùng Xiêng Ngân, Luông Phra Băng, sau đó tìm cách chuyển ra vùng biên giới Lào - Việt Nam an toàn.


Trước những khó khăn của các lực lượng Pa-thét Lào, Bộ Chính trị Trung ương  Đảng ta nhận định về tình hình Lào và chủ trương: Tích cực chi viện cho cách mạng Lào giành thắng lợi. Bộ Chính trị coi giúp cách mạng Lào là nhiệm vụ quốc tế quan trọng của Đảng ta trên cơ sơ nguyên tắc: “Giúp bạn để bạn tự lực là chính, giúp tân lực cũng để bạn đảm nhiệm được sự nghiệp cách mạng của mình”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 115).


Quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị, Thường vụ Tổng Quân ủy ta quyết định điều động gấp một số cán bộ từng là quân tình nguyện trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đoàn 100, tổ chức thành từng bộ phân đến đón Tiểu đoàn 2 và các lực lượng Pa-thét Lào rút sang các khu vực Mai Sơn, Hát Lót (Sơn La), Mường Xén (Nghệ An) và Đồng Hới (Quảng Bình); đồng thời chỉ thị cho các đồn biên phòng và nhân dân vùng biên giới Việt - Lào tuyên truyền vận động quần chúng đón tiếp, giúp đỡ bạn. Đối với Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào sau khi rút ra vùng biên giới được ta đón tiếp chuyển về đóng quân ở Xuân Thành, Phủ Quỳ thuộc phía tây Nghệ An. Đây là địa bàn thuận lợi cho bạn ăn ở, sinh hoạt, học tập và liên lạc với lãnh đạo cao cấp của Đảng Nhân dân Lào.


Sự kiện Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào phá vây rút lui an toàn về khu vực gần biên giới Lào - Việt là thắng lợi của cách mạng Lào. Chính phủ Vương quốc lo sợ, nội bộ phân hoá, nhân dân các bộ tộc Lào trông chờ Tiểu đoàn 2 hoạt động để tiếp tục xây dựng căn cứ, giữ vững lực lượng Pa-thét Lào, đẩy mạnh phong trào cách mạng toàn quốc.


Trước tình hình mới, tháng 5 năm 1959, Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy ta chỉ định Thiếu tướng Lê Chưởng phụ trách trưởng đoàn cán bộ Việt Nam bên cạnh Trung ương Đảng Nhân dân Lào giúp bạn. Ngay sau đó, lãnh đạo đoàn giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ giúp bạn và gấp rút tổ chức bộ phận kiêm nhiệm cả công tác giúp bạn, quản lý nội bộ. Do bạn chưa tổ chức được cơ quan, nên đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn để nghị đoàn cán bộ ta (lúc này chưa gọi là Đoàn 959), tham gia ý kiến về nội dung chuẩn bị của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất, khoá I, họp ngày 3 tháng 6 năm 1959.


Trên cơ sở phân tích tình hình, Trung ương Đảng Nhân dân Lào quyết định chuyển hướng đấu tranh. Đường lối đấu tranh trong giai đoạn mới được xác định là: Từ hình thức đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu chuyển sang đấu tranh vũ trang là chủ yếu; đồng thời kết hợp vận dụng hình thức đấu tranh chính trị hợp pháp trong phạm vi nhất định. Hội nghị dự kiến cuộc đấu tranh có thể xảy ra ba khả năng: Một là đế quốc Mỹ công khai đưa lực lượng quân Mỹ và khối quân sự Đông Nam Á vào Lào; hai là tăng cường đàn áp, khủng bố các lực lượng Pa-thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào một cách khốc liệt; ba là qua đấu tranh, lực lượng cách mạng phát triển, nội bộ bọn phản động phân hoá, lật đổ bọn tay sai thân Mỹ, phái trung gian nắm chính quyền, tiến hành đàm phán với Pa-thét Lào. Trên cơ sở phân tích thực lực của cách mạng Lào, Trung ương Đảng bạn xác định: tránh khả năng thứ nhất, tranh thủ khả năng thứ ba và khẳng định: dù tình hình diễn ra theo khả năng nào, nhân dân các bộ tộc Lào đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm đấu tranh và cuối cùng nhất định giành thắng lợi.


Sau Hội nghị, Đoàn cán bộ Việt Nam cùng với bạn tổ chức học tập phổ biến nghị quyết cho cán bộ, đảng viên và các đơn vị quân đội Pa-thét Lào. Mặc dù người ít, nhưng các cán bộ đoàn ta được bố trí hợp lý, vừa tổ chức giúp ban biên soạn tài liệu theo tinh thần nghị quyết Đảng bạn phù hợp với từng đối tượng, vừa khẩn trương giúp phương tiên cơ sở vật chất chu đáo cho các lớp học. Sau một thời gian chuẩn bị, đầu tháng 6 năm 1959, lớp học cán bộ đầu tiên của bạn được tổ chức ở Xuân Thành, Phủ Quỳ (Nghệ An) Tham dự gồm những cán bộ từ trung đội trở lên của Tiểu đoàn 2 và một số cán bộ trung cao cấp các địa phương của Lào. Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư; đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Lào trực tiếp phổ biến nghị quyết cho lớp học. Căn cứ vào tình hình và đặc điểm của lớp học, Thiếu tướng Lê Chưởng phân chia lực lượng của Đoàn cán bộ Việt Nam thành hai bộ phận: một bộ phận giúp cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 học tập; một bộ phận đi cùng bạn tổ chức những cán bộ, đảng viên từ trong nước sang học tập ở một số khu vực dọc biên giới từ Lai Châu đến Quảng Trị. Qua học tập, cán bộ, đảng viên của bạn phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Lào, quyết tâm nhận nhiệm vụ trở về Tổ Quốc chiến đấu để giành thắng lợi.


Cùng thời gian này, Đoàn xây dựng đề nghị kế hoạch giúp bạn chỉnh đốn lực lượng, bổ sung quân số, vũ khí trang bị, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Trên cơ sở đề nghị của ta, bạn chủ trương xây dựng từ nòng cốt là Tiểu đoàn 2 phát triển thành 3 tiểu đoàn mang phiên hiệu các tiểu đoàn 1, 2, 4; quân số mỗi tiểu đoàn khoảng 200 người. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn ta cử 3 tổ cán bộ đến giúp xây dựng 3 tiểu đoàn, mỗi tổ có một đồng chí phụ trách và bộ phận cơ yếu điện đài. Ngoài ra, bạn còn đề nghị ta viện trợ bổ sung vũ khí trang bị, quân trang, quân dụng và tổ chức huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật cho các đơn vị của bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:45:23 am
Quan tâm sâu sắc đến cách mạng Lào, Bộ Chính trị ta xác định phương hướng, chủ trương giúp cách mạng Lào trong tình hình mới. Ngày 2 tháng 7 năm 1959, Bộ Chính trị ta nhận định: Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, âm mưu nhất quán của đế quốc Mỹ là tích cực can thiệp mọi mặt vào nội bộ Lào. Chúng đã gây ra nội chiến, làm cho sinh hoạt chính trị trong nội bộ nước Lào mất hết khả năng phát triển hoà bình.


Triển khai thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về công tác giúp bạn, tháng 7 năm 1959, Bộ Tổng tham mưu ta đề xuất phương án hoạt động quân sự ở Lào: Hướng chiến lược chủ yếu là ở Thượng Lào, lấy hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ làm căn cứ. Trung Lào là hướng hoạt động phối hợp, Hạ Lào thì xây dựng lực lượng chính trị, quân sự bí mật rồi tiến tới đấu tranh vũ trang. Phương châm hoạt động là kết hợp quân sự với chính trị, tác chiến tuyên truyền với xây dựng.


Tháng 7 năm 1959, Bộ Chính trị ta và Bộ Chính trị bạn trao đổi thống nhất quyết định mở đợt hoạt động quân sự trong mùa mưa năm 1959, lấy Tiểu đoàn 2 làm nòng cốt chiến đấu, chuyển từ đấu tranh công khai hợp pháp sang đấu tranh vũ trang trên toàn quốc, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giành lại chính quyền ở thôn xã, vận động thanh niên tòng quân, xây dựng bộ đội chủ lực và phát triển lực lượng vũ trạng địa phương, chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Đồng thời liên hệ đón số binh sĩ cũ của Tiểu đoàn 1 phân tán ở khu vực Xiêng Ngân ra vùng căn cứ bổ sung quân số khôi phục lại tiểu đoàn này cho bạn.


Thực hiện chủ trương giúp bạn mở đợt hoạt động trong mùa mưa năm 1959, Tổng Quân ủy ta chỉ thị cho Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2) và Quân khu 4 cử một số đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, phối hợp với bạn tiến công một số cứ điểm của địch sát vùng biên giới Việt - Lào; đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở kháng chiến. Nhằm giữ bí mật, các đơn vị cả Lào và Việt Nam đều lấy danh nghĩa Tiểu đoàn 2 trở về hoạt động. Ngày 18 tháng 7 năm 1959, các đơn vị bạn chia làm ba bộ phận theo ba hướng trở về nước: Bộ phận thứ nhất gồm Tiểu đoàn 2, do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng bạn trực tiếp chỉ đạo; đồng chí Lê Chưởng, phụ trách Đoàn trưởng đoàn cán bộ Việt Nam giúp bạn cùng đi với tiểu đoàn tiến từ đông nam Sầm Nưa lên vùng đông nam Xiêng Khoảng (hướng chủ yếu). Bộ phận thứ hai, gồm Tiểu đoàn 4, do đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Lào trực tiếp chỉ đạo, tiến từ Mường Xon - bắc Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ - Luông Phra Băng đến Xiêng Ngân (hướng thứ yếu). Bộ phận thứ ba do một đại đội của Tiểu đoàn 1 phụ trách, từ bắc đường số 8 đến đường số 12 - Khăm Muộn (hướng phối hợp). Các tiểu đoàn 1, 2, 4 đều có một tổ chuyên gia và bộ phận điện đài cùng đi theo từng hướng. Những cán bộ và lực lượng du kích bạn vượt ra vùng biên giới đều được động viên, giao nhiệm vụ cùng đi với các tiểu đoàn trở về địa phương khôi phục lại phong trào, xây dựng cuộc sống của mình.


Đợt hoạt động quân sự của các lực lượng Pa-thét Lao bắt đầu. Tiểu đoàn 2 phân tán cùng nhân dân các địa phương nổi dậy, một số đơn vị địch chống cự yếu ớt, một số không dám chống cự. Tiểu đoàn 2 đã phối hợp với nhân dân nổi dậy đập tan ách kìm kẹp của địch, giải phóng các huyện Mường Sầm, Sầm Tố, Mường Xon (tỉnh Sầm Nưa), Xốp Nao, Xốp Hun (tỉnh Phong Xa Lỳ); Pak Khao, Xốp Văn (tỉnh Luông Phra Băng), khu vực Sảm Chè (Xiêng Khoảng), vùng Căm Cớt, Bô Ri Khăm (tỉnh Bô Li Khăm Xay), Na Pê, Na Hương, Lạc Sao (tỉnh Khăm Muộn).


Trước khí thế tiến công của cách mạng Lào, chính phủ Phủi-xa Na-ni-con ban hành lệnh khẩn cấp tại năm tỉnh Bắc Lào, đồng thời huy động lực lượng mở các cuộc càn quét khủng bố, đánh phá các vùng căn cứ dọc biên giới Lào - Việt. Nghiêm trọng là ngày 26 tháng 7 năm 1959, theo lệnh Mỹ, chính phủ Phủi-xa Na-ni-con bắt giam Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và một số lãnh tụ của Pa-thét Lào trong Chính phủ Liên hiệp ở Viêng Chăn. Tiếp đó, trước sức ép của Mỹ, Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc quyết định thành lập “Tiểu ban điều tra về Lào” nhằm lên án Việt Nam và yêu cầu Liên hiệp quốc đưa quân vào Lào.


Xác định âm mưu và thủ đoạn mới của địch, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta và Đảng bạn trao đổi thống nhất đánh giá: Đợt hoạt động trong mùa mưa năm 1959 đã đạt được các mục tiêu đề ra, không cần kéo dài thời gian hoạt động nữa, địch có thể viện cớ gây tình hình phức tạp thêm. Theo chủ trương đó, ngày 15 tháng 9 năm 1959, ta và bạn kết thúc đợt hoạt động quân sự thứ hai kéo dài từ ngày 28 tháng 8 năm 1959. Trong đợt hoạt động này, Tiểu đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh 40 trận, giải phóng thêm 13 điểm. Các tiểu đoàn 1, 2, 4 Pa-thét và các đơn vị Việt Nam được lệnh chuyển sang vùng biên giới Việt - Lào, sau đó tập trung ở huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ. Để chấn chỉnh lực lượng, bạn đề nghị Đoàn ta giúp xây dựng hai tiểu đoàn 1 và 2 thành hai tiểu đoàn chủ lực mạnh, quân số mỗi tiểu đoàn từ 650 đến 700 người; đồng thời đề nghị Việt Nam viện trợ bổ sung vũ khí trang bị và cử các tổ chuyên gia giúp hai tiểu đoàn cả về quân sự, chính trị và chuyên môn kỹ thuật.


Bạn còn đề nghị ta thành lập khung Trường Văn hoá Xuân Thành, bổ sung chuyên gia đào tạo cán bộ cho các tỉnh phía nam ở Đồng Hới (Quảng Bình). Cùng thời gian này, cán bộ ta tích cực giúp các tỉnh bạn xây dựng được hơn 100 trung đội bộ đội địa phương, khôi phục và tổ chức mới một số tiểu đội, trung đội du kích, bảo vệ địa phương.


Trước yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng Lào và theo đề nghị của Đảng Nhân dân Lào giúp bạn lâu dài, ngày 12 tháng 9 năm 1959, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ta ra quyết định (số 446/QĐ) thành lập Đoàn 959 (còn gọi là Đoàn công tác miền Tây) thuộc Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ là trực tiếp làm chuyên gia về quân sự cho Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào, tổ chức chi viện vật chất của Việt Nam cho cách mạng Lào và trực tiếp chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam hoạt động ở khu vực Sầm Nưa, Xiêng Khoảng và Viêng Chăn. Thiếu tướng Lê Chưởng - Ủy viên Ban công tác Lào phụ trách Đoàn trưởng Đoàn cán bộ Việt Nam được cử làm Đoàn trưởng kiêm Bí thư Đoàn ủy Đoàn 959. Các đồng chí Khanh, Quang, Hưng là những cán bộ dân chính và đồng chí Lê Tiến Phục, cán bộ quân đội cùng một số đồng chí khác làm Ủy viên Đoàn ủy.


Những tháng cuối năm 1959, Đoàn chuyên gia quân sự 959 khẩn trương chấn chỉnh lực lượng, củng cố tổ chức và chuẩn bị các mặt công tác sẵn sàng nhận lệnh hành quân sang giúp Pa-thét Lào phát triển lực lượng, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng. Cách mạng Lào có bước phát triển mới cả thế và lực.


Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương và hoạt động trong điều kiện bí mật, xa đất nước, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100 (lúc mới thành lập có 106 người) đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng, quân đội và nhân dân giao, góp phần quan trọng giúp bạn củng cố khu căn cứ hai tỉnh tập kết, xây dựng lực lượng từng bước tự đảm nhiệm được nhiệm vụ trong giai đoan chuyển biến có tính chất bước ngoặt của cách mạng Lào. Thành tích của Đoàn 100 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước mở đầu trong quan hệ giúp bạn toàn diện, hiệu quả của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đối với cách mạng Lào những năm tiếp theo.


Kế tục Đoàn cố vấn quân sự 100, theo đề nghị của Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy ta thành lập Đoàn chuyên gia quân sự 959. Tuy số lượng Đoàn không đông, nhưng đủ các thành phần, gồm cả cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần và các binh chủng chuyên môn kỹ thuật được giao nhiệm vụ khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt và sẵn sàng nhận lệnh sang Lào giúp bạn đẩy mạnh xây dựng, nâng cao khả năng tự lực, độc lập chiến đấu và công tác trong giai đoạn chuyển từ đấu tranh chính trị sang chiến tranh cách mạng, tạo thế và lực mới đánh bại một bước âm mưu thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biêt của đế quốc Mỹ, thực hiện hoà hợp dân tộc ở Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:51:03 am
Chương hai
SÁT CÁNH VỚI BẠN CHỐNG CHIẾN LƯỢC
"CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1960-1965)


I. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN, CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH, TẠO THẾ PHỐI HỢP GIỮA HAI CHIẾN TRƯỜNG LÀO - VIỆT (1960-1962)

Bước vào Xuân Hè 1960, một cục diện mới đã xuất hiện trên bán đảo Đông Dương. Ở miền Nam Việt Nam, phong trào Đồng khởi phát triển đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, đẩy chiến lược "chiến tranh một phía" của đế quốc Mỹ đến bờ vực phá sản. Tại Lào, sau sự kiện Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào nổ súng chống đế quốc Mỹ và tay sai (tháng 5-1959), phong trào kháng chiến của nhân dân các bộ tộc Lào đã tiến lên giai đoạn mới, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả nước. Ở Cam-pu-chia, chính quyền Vương quốc tiếp tục đi theo con đường hoà bình trung lập.


Sự phát triển của cách mạng ba nước Đông Dương, trong đó Việt Nam trở thành "điểm nóng" của loại hình chiến tranh nổi dậy giải phóng dân tộc và Lào trở thành "một thách thức mới" đã tác động mạnh đến chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ. Từ chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt", đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "phản ứng linh hoạt". Ngày 20 tháng 1 năm 1960, khi nhận chức thống Ken-nơ-đi tuyên bố: "Chúng ta hãy làm cho mọi người biết rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, gánh vác bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ sự gian khổ nào, ủng hộ bất cứ bạn bè nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm sự sống còn và thắng lợi của thế giới tự do"1 (Về chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ (1946-1990), Nxb Sự thật, H. 1990, tr. 29). Đối với Đông Dương, đế quốc Mỹ đưa "chiến tranh đặc biệt" vào Lào2 (Ngày 23 tháng 7 năm 1959, trước áp lực của Mỹ, Chính phủ Pháp và Chính phủ Vương quốc Lào tuyên bố đồng ý để Mỹ cung cấp vũ khí, trang bị và đưa cố vấn quân sự vào Lào để huấn luyện quân đội Viêng Chăn), miền Nam Việt Nam, đồng thời khiêu khích chống phá miền Bắc Việt Nam, phá hoại con đường hoà bình trung lập ở Cam-pu-chia.


Đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở Lào nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, nô dịch nhân dân các bộ tộc Lào, biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, dùng Lào làm bàn đạp để bao vây, tiến công phe xã hội chủ nghĩa, trực tiếp là Việt Nam và Trung Quốc, biến Lào thành lá chắn ngăn chặn ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc sang khu vực phía tây sông Mê Kông, trước hết là Thái Lan.


Trước âm mưu và hành động mới của đế quốc Mỹ đối với Lào, đầu năm 1960, cơ quan Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào đang đứng trên đất Việt Nam di chuyển vào Lam Sơn tỉnh Thanh Hoá, chuẩn bị về nước. Theo yêu cầu của bạn, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam điều Đoàn chuyên gia quân sự 959 đi cùng các cơ quan bạn; đồng thời chỉ thị cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc củng cố bộ phận công tác C (Lào) để giúp quân khu chỉ đạo lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện giúp bạn ở một số khu vực Nam Lào và Bắc Lào.


Đoàn 959 biên chế 88 cán bộ, chiến sĩ cùng các cơ quan Trung ương bạn hành quân vào Thanh Hoá. Tại đây Đảng bộ Đoàn 959 đã triệu tập Đại hội đại biểu toàn Đảng bộ để nghiên cứu, thảo luận dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960). Đồng thời, Đoàn 959 tổ chức học tập quán triệt về quan điểm, phương châm, nguyên tắc giúp bạn và kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ giúp bạn. Mọi cán bộ chuyên gia quân sự Đoàn 959 đều thấm nhuần quan điểm, phương châm, nguyên tắc "tích cực giúp đỡ cách mạng Lào là một nhiệm Quốc tế quan trọng của Đảng ta", "tinh thần giúp đỡ trên nguyên tắc bạn tự lực là chính, ta giúp đỡ tận lực".


Qua nghiên cứu học tập quán triệt dự thảo Báo cáo của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III và quan điểm, phương châm, nguyên tắc giúp bạn của Đảng, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 đã giải quyết tốt cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ những vướng mắc về tư tưởng, chính sách hậu phương quân đội, xác định rõ lập trường, tin tưởng và phấn khởi lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào.


Từ đây, hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam giúp bạn được tổ chức lại ở Lào. Về tổ chức, có các tổ chuyên gia giúp các cơ quan Trung ương và Trung ương Quân ủy Lào, trong các quân khu, tỉnh và đơn vị quân đội Pa-thét Lào. Có thể là giúp bạn về đường lối, chính sách, kinh nghiệm và vật chất, tham gia chiến đấu khi cần thiết. Riêng chuyên gia quân sự, theo yêu cầu của bạn, ta tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận cơ quan và bộ phận trực tiếp giúp bạn. Bộ phận cơ quan gồm có chuyên gia tham mưu, chính trị, hậu cần và công tác hậu phương trong nước. Trong ngành tham mưu, chính trị, hậu cần thực hiện hai nhiệm vụ: làm chuyên gia giúp các cơ quan tổng cục của Tổng Quân ủy, Bộ chỉ huy tối cao bạn và giúp đoàn ủy quản lý nội bộ ngành. Bộ phận trực tiếp giúp bạn gồm chuyên gia các khu, tỉnh đội, các tiểu đoàn, bệnh viện và nhà trường. Bạn còn đề nghị ta bố trí chuyên gia quân sự giúp đến cấp đại đội và cử một số trực tiếp làm cấp phó ở tiểu đội, phụ trách xạ thủ súng cối, súng máy, trung liên, đại liên.


Đường lối, chủ trương của hai Đảng về cách mạng Lào, những chủ trương, biện pháp của hai Tổng Quân ủy và sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu ta đối với nhiệm vụ giúp bạn được triển khai thực hiện qua Đoàn 959. Với tinh thần quốc tế cao cả, Đoàn 959 tập trung mọi khả năng giúp bạn củng cố cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng một số đơn vị chủ lực mạnh, tổ chức huấn luyện bộ đội địa phương, dân quan du kích ở các vùng xung yếu, làm nòng cốt cho phong trao đấu tranh cách mạng Lào trong giai đoạn mới.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:52:27 am
Bộ phận cơ quan Trung ương Đảng Nhân dân Lào về nước trong tình thế đế quốc Mỹ và tay sai đang ráo riết triển khai thực hiện “chiến tranh đặc biệt”. Sau khi hất Pháp, đế quốc Mỹ ra sức tập hợp tay sai để dựng lên chính quyền phản động thân Mỹ, dùng viện trợ quân sự, chuyển vũ khí và đưa nhân viên cơ quan PEO (Phòng đánh giá chương trình viện trợ)1 (Thực chất là một tổ chức quân sự trá hình) vào Lào, tiến hành cải tổ, biến quân đội Vương quốc thành quân đội ngụy tay sai2 (Mỹ cải tổ quân đội Vương quốc theo kế hoạch: Lập bộ tư lệnh các lực lượng cơ động đóng tại Luông Phra Băng chỉ huy 8 binh đoàn cơ động (GM). Lập bộ tư lệnh các lực lượng chiếm đóng đặt tại Xa Vẳn Na Khệt chỉ huy các lực lượng chiếm đóng, cảnh sát, dân vệ và công chức vũ trang với lực lượng gồm 12 - 20 tiểu đoàn tình nguyện (BV). 40 -  122 đại đội dân vệ xung kích (AC) và 3.000 - 4.000 cảnh sát từ Bộ Nội vụ chuyển thuộc Bộ Quốc phòng. Lập sở phối hợp an ninh phụ trách tình báo, chia chiến trường Lào thành 5 quân khu. Hệ thống cố vấn Mỹ chi phối mọi hoạt động của ngụy quân, ngụy quyền Lào được thiết lập và tăng cường; ở một số nơi, nhân viên của tổ chức quân sự trá hình PEO được bố trí xuống đến cấp tiểu đoàn) làm công cụ trực tiếp tiến hành chiến tranh; đồng thời triển khai xây dựng "lực lượng đặc biệt" để sử dụng nó chống phá cách mạng. Đội quân "lực lượng đặc biệt" không nằm trong hệ thống quân chính quy Lào mà do CIA trực tiếp huấn luyện, chỉ huy và nuôi dưỡng3 (Nguồn gốc của "lực lượng đặc biệt" là những nhóm phỉ người H'Mông do Pháp nhen nhóm tập hợp trước đây. Đế quốc Mỹ xúc tiến xây dựng "lực lượng đặc biệt" từ bộ tộc ít người sống ở vùng núi cao của Lào nhằm biến đội quân này thành một lực lượng xung kích tiến công lấn chiếm vùng giải phóng hoặc thọc sâu vào hậu phương của cách mạng Lào để hoạt động phá hoại, dồn dân vào các trại tập trung. Mặt khác, qua xây dựng "lực lượng đặc biệt" ở Lào làm kinh nghiệm để Mỹ xây dựng những đội quân tương tự ở các nước có nhiều dân tộc ít người, nhằm khai thác triệt để tình trạng lạc hậu và kỳ thị dân tộc phục vụ cho ý đồ can thiệp vào các nước này). Mặt khác đế quốc Mỹ lôi kéo quân đội các nước đồng minh của Mỹ (Thái Lan, Phi-líp-pin, Sài Gòn) tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Lào.


Chính phủ Vương quốc Lào bị chia rẽ, mâu thuẫn gay gắt do đế quốc Mỹ tăng cường các hoạt động can thiệp vào. Sau các cuộc đảo chính lật đổ lẫn nhau, ngày 24 tháng 4 năm 1960, phe cực hữu tổ chức cuộc tổng tuyển cử phi pháp, dựng lên Chính phủ thân Mỹ, do Chậu-xổm Xa-nít làm Thủ tướng, Phu-mi Nô-xa-vẳn làm Bộ trưởng Quốc phòng. Chậu-xổm Xa-nít công khai tuyên bố "chuyển chính quyền toàn quốc thành chính quyền quân sự", "lập lại an ninh bằng sự đầu hàng không điều kiện của Neo Lào Hắc Xạt". Phu-mi cử chỉ huy quân sự làm tỉnh trưởng nơi điều động binh lính thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào trào yêu nước và cách mạng. Chế độ độc tài quân sự được dựng lên theo kiểu ở miền Nam Việt Nam chứng tỏ đế quốc Mỹ đã can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Lào.


Trước tình hình đó, Đảng Nhân dân Lào kiên trì lãnh đạo nhân dân các bộ tộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai. Phong trào cách mạng dấy lên mạnh mẽ ở các vùng nông thôn, miền núi đã thúc đẩy phong trào đồng bằng và đô thị, tác động mạnh đến xu hướng dân tộc dân chủ, hoà bình trung lập phát triển trong các tầng lớp trung gian, tư sản dân tộc và nhiều phần tử phong kiến.


Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960, theo lệnh của Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Tỉnh ủy Viêng Chăn chỉ đạo cơ sở nội thành được sự giúp đỡ của binh lính, cảnh sát tiến bộ tổ chức giải cứu Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng các vị lãnh tụ Neo Lào Hắc Xạt khỏi trại giam Phôn Khêng. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn chuyên gia quân sự 959 tham gia bố trí lực lượng đón và đưa hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng các đồng sự của ông qua sự truy lùng, bao vây ráo riết của địch trở về căn cứ an toàn.


Sự kiện Chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt cùng các đồng sự vượt ngục thắng lợi đã gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước. Cách mạng Lào giành được một thắng lợi quan trọng. Uy tín và ảnh hưởng của Đảng Nhân dân Lào, Mặt trận yêu nước Lào, lực lượng vũ trang Pa-thét Lào với sự giúp đỡ chi viện của Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua Đoàn 959 ngày càng nâng cao. Tháng 6 năm 1960, Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị Trung ương lần thứ tư. Hội nghị nhận định: "Trong thời gian qua, Mỹ ra sức can thiệp sâu vào Lào về mọi mặt nhất là về quân sự. Chúng đã nắm quân đội, dùng bọn tay sai phản động nhất thiết lập chế độ độc tài quân phiệt hòng biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự gây chiến"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964; tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). "Nội bộ giai cấp thống trị ngày càng mâu thuẫn và phân hoá"2 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964; tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). "Tinh thần dân tộc dân chủ và xu hướng đi theo con đường hoà bình trung lập trong Nhân dân Lào động cũng như trong giai cấp trung gian và cả một bộ phận của giai cấp thống trị đang phát triển ngày càng mạnh"3 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964; tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Mục tiêu chính trị của cách mạng Lào không thay đổi. Những công tác cần kíp trước mắt của cách mạng là: Tiếp tục củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đề cao hơn nữa chất lượng chính trị và trình độ chiến đấu, tăng cường việc chống càn quét, chống dồn dân, phối hợp quân sự và chính trị, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ; đẩy mạnh hơn nữa công tác binh vận đối với quân ngụy, làm cho họ trở thành lực lượng ủng hộ cuộc đấu tranh cho hoà bình trung lập.


2 giờ 45 phút ngày 9 tháng 8 năm 1960, tại Viêng Chăn, một bộ phận quân đội Vương quốc (tiểu đoàn du số 2, tiểu đoàn bộ binh hỗn hợp số 4, một số đơn vị cơ giới, phi đội không quân và cảnh sát), do viên đại úy Coong Le - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù số 2 và trung úy Đươn Xa Na Lát chỉ huy tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Chậu-xổm Xa-nít. Quân đảo chính chiếm Đài phát thanh, Ngân hàng, Bưu điện, trụ sở Quốc hội, Bộ Quốc phòng, Cơ quân Quân khu 5 và nhiều vị trí quan trọng khác trong thành phố. 7 giờ ngày 9 tháng 8, lực lượng đảo chính lập "Ủy ban cách mạng" (sau đổi thành "Ủy ban đảo chính") do Coong Le làm Chủ tịch và tuyên bố trên Đài phát thanh "chống sự can thiệp của Mỹ, chấm dứt nội chiến, lập lại hoà bình, hoà hợp dân tộc, thương lượng với Pa-thét Lào thi hành chính sách trung lập thật sự”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyên và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 127); kêu gọi nhân dân binh lính, sĩ quan, cảnh sát trong cả nước ủng hộ “Ủy ban đảo chính”.


Ngày 10 tháng 8 năm 1960, Chậu-xổm Xa-nít và Phu-mi chạy sang Thái Lan tập hợp lực lượng nhằm chiếm lại Viêng Chăn. Ngày 17 tháng 8 năm 1960, Quốc hội Lào thông qua danh sách Chính phủ do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng và thông qua đường lối hoà bình trung lập của "Ủy ban đảo chính".


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:53:54 am

Trước những diễn biến mới, Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Lào đã trao đối với Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam. Về sự kiện Viêng Chăn, hai bên thống nhất nhận định: đây là một cuộc đảo chính bộc phát về quân sự do ảnh hưởng, tác động của phong trào yêu nước của nhân dân Lào nên có tính chất quần chúng và tiến bộ. Đảng Nhân dân Lào lấy danh nghĩa Mặt trận Neo Lào Hắc Xạt ra tuyên bố: "Đoàn kết ủng hộ và sẵn sàng tiếp sức, đàm phán với Ủy ban đảo chính, đảm bảo thực hiện đường lối, chính sách hoà bình trung lập, hoà hợp dân tộc"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Sđd, tr. 156). Trung ương Đảng Nhân dân Lào điện khẩn cấp cho Tỉnh ủy và Thành ủy Viêng Chăn: "Triệt để lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang dao động, đẩy mạnh hoạt động phát triển lực lượng, mở rộng ảnh hưởng của Neo Lào Hắc Xạt... Bằng mọi cách liên lạc và giúp đỡ các đơn vị Vương quốc nổi dậy chống bọn phản động, tạo thành phong trào binh biến khắp nơi,... phát động phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng,... Hưởng ứng cuộc nổi dậy của quân đội và nhân dân Viêng Chăn".


Thực hiện chủ trương của Đảng Nhân dân Lào một đoàn cán bộ cao cấp do đồng chí Nu-hắc Phum-xa-vẳn - Ủy viên Trung ương phụ trách và ba đại đội Pa-thét Lào đươc điều động khẩn cấp vào Viêng Chăn cùng với Tỉnh ủy và Thành ủy lãnh đạo nhân dân chống Mỹ và tay sai; hợp tác với Chính phủ Phu-ma; hỗ trợ lực lượng của Coong Le. Theo đề nghị và được sự đồng ý của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Đoàn chuyên gia quân sự 959 cử cán bộ giúp các đại đội Pa-thét Lào vào Viêng Chăn; đồng thời chỉ thị cho chuyên gia giúp các địa phương đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng trên cả nước, ủng hộ lực lượng đảo chính chống Mỹ và tay sai, hợp tác với các lực lượng tiến bộ lật đổ chính quyền phản động thân Mỹ để lập ra chính quyền cách mạng.


Tại Viêng Chăn, ngày 7 tháng 9 năm 1960, đại diện Neo Lào Hắc Xạt và đại diện Chính phủ Vương quốc đã thỏa thuận để lực lượng vũ trang Pa-thét Lào vào phối hợp với lực lượng đảo chính bảo vệ Chính phủ và nhân dân, chống lại các cuộc tiến công, phá hoại, gây rối của quân phiến loạn cực hữu phản động. Ba đại đội Pa-thét Lào có cán bộ chuyên gia Đoàn 959 đi cùng tiến vào Viêng Chăn, gồm Đại đội 8 do Chăn Co phụ trách, Đại đội 14 do đồng chí Khun Chăn Đeng phụ trách và một đại đội của Tiểu đoàn 500 do đồng chí Xỉ Thong phụ trách. Các đại đội Pa-thét Lào đã phối hợp với các đơn vị quân Coong Le đánh bại các cuộc tiến công của địch ở Pắc San, Pạc-ka-đình, Na-khưa, Na-chong thuộc ngoại vi Viêng Chăn.


Ở các địa phương, chuyên gia Đoàn 959 giúp bạn xây dựng phát triển các tổ đội vũ trang tuyên truyền có bộ đội tình nguyện tham gia, vượt qua khó khăn gian khổ để gây dựng cơ sở và phát động chiến tranh du kích ở các địa phương.


Cục diện chính trị ở Lào chuyển biến mau lẹ. Lực lượng cách mạng do Đảng Nhân dân Lào lãnh đạo thực hiện liên minh với lực lượng trung lập do Thủ tướng Phu-ma và Coong Le nắm, chĩa mũi nhọn chống Mỹ và lực lượng phe cực hữu phản động được Mỹ dựng lên.


Thực hiện chủ trương xây dựng căn cứ kháng chiến, đầu tháng 9 năm 1960, trong lúc đế quốc Mỹ và tay sai đang dồn lực lượng để giành lại Viêng Chăn, Trung ương Đang, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy toi cao Pa-thét Lào chỉ đạo đưa một bộ phận lực lượng vào giúp lực lượng trung lập giữ Thủ đô; đồng thời quyết định mở đợt hoạt động quân sự giải phóng Sầm Nưa, xây dựng Sầm Nưa thành căn cứ địa cách mạng của cả nước.


Sầm Nưa thuộc tỉnh Húa Phằn ở Bắc Lào, phía tây tỉnh Luông Phra Băng, tây nam giáp tỉnh Xiêng Khoảng và tây bắc giáp Việt Nam. Lực lượng giải phóng Sầm Nưa gồm: Bộ phận chỉ huy có các đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư, Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Tổng tham mưu trưởng, Xa-mán - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; chuyên gia có các đồng chí Lê Chưởng - Trưởng đoàn chuyên gia 959, Thăng Bình - Tham mưu trưởng đoàn 959 và một số cán bộ chuyên gia 959 giúp các cơ quan bạn. Bộ phận tác chiến có Bộ chỉ huy nhẹ Quân khu Tây Bắc, do đồng chí Phạm Nghiêm - Phó chính ủy Lữ đoàn 335 phụ trách, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc) được tăng cường 4 khẩu cối 82 ly, do Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Lê và Chính trị viên tiểu đoàn Tạ Đình Am chỉ huy, Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào và một tổ chuyên gia Đoàn 959.


Ngày 5 tháng 9 năm 1960, Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào phối hợp với Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện nổ súng tiến công các vị trí địch ở vòng ngoài sát biên giới Lào - Việt nhằm thăm dò phản ứng của địch và tranh thủ sự đồng tình của Chính phủ Phu-ma. Ngày 24 tháng 9, liên quân Việt - Lào đánh chiếm điểm cao Huội Thầu, dùng cối bắn thẳng vào sân bay Sầm Nưa. Bị tập kích bất ngờ, quân địch hoảng sợ bỏ chạy. Liên quân Việt - Lào truy kích chúng đến Mường Pơn. Toàn bộ quân địch ở đây gồm 2.000 tên thuộc ba tiểu đoàn bộ binh và một đại đội dù, 1.000 dân vệ tan rã và đầu hàng. Ngày 30 tháng 9 năm 1960, thị xã Sầm Nưa và phần lớn tỉnh Sầm Nưa hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng Sầm Nưa thể hiện sự tiến bộ về trình độ chiến đấu của liên quân Việt - Lào, về hiệu quả công tác của chuyên gia quân sự Việt Nam.    Sầm Nưa vừa giải phóng, một bộ phận cơ quan Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào và Đoàn chuyên gia quân sự 959 khẩn trương di chuyển về đây, xúc tiến xây dựng Sầm Nưa thành căn cứ địa kháng chiến của Trung ương và cả nước Lào.


Đế quốc Mỹ và tay sai điên cuồng phá hoại cách mạng Lào. Trước mắt chúng thúc ép phái hữu chiếm lại Viêng Chăn dập tắt lực lượng đảo chính. Ngày 15 tháng 9 năm 1960 tại thành phố Pắk Xế, được Mỹ và các thế lực phản động trong chính quyền Vương quốc Thái Lan và chính quyền Sài Gòn làm hậu thuẫn, phe phiến loạn cực hữu Phu-mi - Bun-ùm lập ra "Ủy ban cách mạng" để chống lại cuộc đảo chính của Coong Le và Chính phủ Phu-ma. Quân phiến loạn cực hữu tập trung lực lượng, chuyển lên đóng ở phía nam và tây nam Viêng Chăn chuẩn bị phản công chiếm lại thành phố. Tình hình Viêng Chăn trở nên hết sức căng thẳng.


Tháng 10 năm 1960, Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp quyết định: “Phối hợp và giúp đỡ lực lượng đảo chính, mở rộng mặt trận dân tộc, giữ vững và thúc đẩy Chính phủ Phu-ma thực hiện từng bước chính sách hoà bình trung lập thực sự, tiến tới thành lập Chính phủ Liên hiệp, đấy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị đánh bại bọn can thiệp Mỹ và bọn phản động Phu-mi - Bun-ùm"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Đồng thời, Trung ương Đảng bạn chỉ rõ: "Mặc dù thế nào ta cũng phải giữ khu căn cứ và lực lượng vũ trang, không phải hợp tác như thời kỳ 1957 nữa"2 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:54:59 am
Qua đánh giá tình hình toàn quốc, nhất là Viêng Chăn, hai Bộ Chính trị Việt Nam và Lào thống nhất chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, qua đó phân tán lực lượng địch và hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ Thủ đô, đồng thời dự kiến chuẩn bị phương án có thể rút khỏi Viêng Chăn.


Trên tinh thần đó, Tổng Quân ủy Việt Nam và Tổng Quân ủy Lào thống nhất chủ trương phối hợp lực lượng hai bên mở đợt hoạt động quân sự Đông Xuân 1960-1961 trên chiến trường Lào nhằm tăng cường ưu thế cho lực lượng cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục tiến công quân địch và sẵn sàng đối phó với những chuyển biến của tình hình do sự cấu kết của các lực lượng phản cách mạng trong nước, sự can thiệp của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đối với cách mạng Lào.


Theo phân công của Trung ương Đảng ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo hoạt động của bộ phận quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào thông qua Bộ Tổng tham mưu. Theo yêu cầu của bạn, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho Quân khu 4 và Quân khu Tây Bắc chuẩn bị một bộ phận chuyên gia và quân tình nguyện sẵn sàng cơ động sang chiến trường Lào sát cánh với bạn chiến đấu trên những hướng có ý nghĩa chiến lược. Đoàn chuyên gia quân sự 959 điều cán bộ, gồm cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp vào Viêng Chăn trực tiếp giúp các lực lượng vũ trang yêu nước chấn chỉnh lực lượng, tổ chức phòng thủ chống các cuộc tiến công của quân phái hữu phản động; đồng thời điều động một số chuyên gia quân sự trực tiếp giúp các đơn vị chủ lực Pa-thét Lào xây dựng, chuẩn bị bước vào chiến đấu.


Ngày 1 tháng 11 năm 1960, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) đề xuất một số ý kiến về tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang ở Lào. Cục Tác chiến nhận định cả ba lực lượng hiện tại ở Lào chưa có một lực lượng nào có ưu thế quân sự rõ rệt1 (Ba lực lượng gồm: Lực lượng cách mạng có Pa-thét Lào liên minh với lực lượng đảo chính của Coong Le. Lực lượng cực đoan phản động thân Mỹ, do Phu-mi và Bun-ùm nắm. Lực lượng phản động nặng về thân Anh, Pháp gồm phe Phu-ma, Nhà vua và bọn tướng tá của quân đội Vương quốc do Uôn-ra-ti-con nắm). Cuộc chiến tranh hiện tại ở Lào, trong đó quân đội Pa-thét Lào liên minh với một bộ phận quân đội Vương quốc do đại úy Coong Le lãnh đạo, chống lại bộ phận của quân đội Vương theo Phu-mi, Bun-ùm và Uôn-ra-ti-con được đế quốc Mỹ, Thái Lan và chính quyền Sài Gòn giúp đỡ. Dự kiến những khả năng phát triển của tình hình Lào, Cục Tác chiến đề nghị nhiệm vụ trước mắt của quân đội Pa-thét Lào là: Phải giữ vững và củng cố những căn cứ địa đã được thành lập, gây dựng và mở rộng thêm những căn cứ mới, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục tấn công quân địch và sẵn sàng đối phó với những biến chuyển của tình hình do sự cấu kết của các lực lượng phản cách mạng trong nước, sự can thiệp trắng trợn của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng dẫn đến.


Phương châm hoạt động của quân đội Pa-thét Lào là: Kết hợp tác chiến với địch vận; kết hợp việc đánh giặc với việc xây dựng cơ sở nhân dân và phát triển lực lượng vũ trang; kết hợp tác chiến với huấn luyện, kiên quyết và liên tục đánh địch, tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới giành và giữ chắc thế chủ động. Phương hướng hoạt động chủ yếu là vùng Xiêng Khoảng. Cố gắng mở rộng cơ sở nhân dân, thu hẹp sự chiếm đóng của địch, tiến tới giải phóng toàn bộ khu này để nối liền hai khu căn cứ chủ yếu của toàn quốc với nhau, tạo thành một căn cứ thống nhất vững mạnh. Phương hướng hoạt động thứ hai là khu vực Luông Phra Băng, từ khu căn cứ đông Mường Khoa thuộc Phong Xa Lỳ phát triển cơ sở và hoạt động mở rộng về phía thị xã Phong Xa Lỳ và phía Mường Sài, Luông Nậm Thà"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập 1, Sđd, tr. 401).


Về xây dựng quân đội Pa-thét Lào, Cục Tác chiến đề nghị: "Phương châm xây dựng quân đội là dựa vào sự giúp đỡ tích cực của bạn và khả năng thực tế của Lào, kết hợp việc giải quyết những nhu cầu chiến đấu trước mắt với việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng lâu dài, vừa tác chiến vừa xây dựng theo từng bước một cách thận trọng nhưng toàn diện, bảo đảm đủ sức để duy trì và phát triển chiến tranh du kích ở các địa phương, đồng thời có sẵn trong tay một lực lượng dự bị tương đối mạnh để tiến hành những hoạt động có tính chất quyết định"2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập 1, Sđd, tr. 401).


Những tháng cuối năm 1960, tình hình Lào diễn biến phức tạp. Ngày 15 tháng 11 năm 1960, tại Xa Vẳn Na Khệt, Phu-mi Nô-xa-vẳn dựng lên một chính phủ riêng biệt để chống lại các lực lượng đối lập. Ngày 6 tháng 12 năm 1960, tại Viêng Chăn, được Mỹ giúp sức, Cu-pra-xít, chỉ huy trưởng Quân khu 5 tiến hành đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ Phu-ma, nhưng bị các lực lượng trung lập yêu nước chống trả quyết liệt, buộc phải lui về căn cứ quân sự Chi-nai-mô.


Trước tình hình Viêng Chăn trở nên đặc biệt nghiêm trọng, ngày 7 tháng 12 năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện gửi Thiếu tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Trung Đảng đang công tác tại Khu ủy Tây Bắc. Nội dung điện ghi: "Theo đề nghị của Trung ương Đảng bạn, Bộ Chính trị ta quyết định đồng chí Chu Huy Mân sang Lào giúp bạn, tối nay phải có mặt tại Hà Nội". Sáng ngày 8 tháng 12 năm 1960, tại Hà Nội, Thiếu tướng Chu Huy Mân dự họp ở Bộ, nghe báo cáo tình hình Lào. Đang làm việc, nhận được tin có một sĩ quan của Coong Le lái máy bay T28 từ Viêng Chăn sang hạ cánh ở sân bay Bạch Mai mang thư của "Ủy ban đảo chính" gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị Chính phủ Việt Nam giúp đỡ khẩn cấp. Trước tình hình đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu rõ: "Mỹ đã can thiệp rất thô bạo vào Lào và đang trực tiếp chỉ huy các lực lượng tay sai triển khai đánh chiếm Viêng Chăn. Trên một mặt trận nóng bỏng, lại rất nhạy cảm về chính trị và ngoại giao như Thủ đô Viêng Chăn, thì sự giúp đỡ của Việt Nam lúc này phải bí mật và nhanh chóng, chủ yếu là giúp ý kiến cho bạn làm, không dùng ta. Giữ được hay phải rút khỏi Viêng Chăn đều phải sử dụng tốt lực lượng trung lập Coong Le để liên minh chiến đấu với Pa-thét Lào lâu dài, chĩa mũi nhọn chống Mỹ và phái cực hữu tay sai”.


Nhiệm vụ của Trưởng đoàn cố vấn quân sự lúc này rất nặng nề và tế nhị: ra trận một mình, rất gấp, lại không có một bộ tham mưu như thường lệ; làm cố vấn quân sự cho cả hai phái lãnh đạo của nước Lào kháng chiến là Chính phủ Vương quốc và Neo Lào Hắc Xạt, khi lâm trận thì làm cố vấn cho những người chỉ huy bộ đội đánh trận. Điều đặc biệt là phải hợp tác với những người trong Chính phủ Vương quốc mà mình chưa hiểu họ. Còn về lực lượng thì đánh bằng quân đội Vương quốc, một quân đội mà mình không tổ chức, chưa từng huấn luyện, chỉ huy họ trong tác chiến gay go ác liệt họ có thể nghe theo mình, cũng thể chống lại mình"1 (Từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum đăng trên Tạp chí Lịch sử Quân sự số 6 năm 1999, tr. 74).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:58:24 am
Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 8 tháng 12 Thiếu tướng Chu Huy Mân đi bằng máy bay từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội) sang sân bay Vạt Tày, gần Viêng Chăn (Lào). Các đồng chí Xinh-ca-po Chu-la-ma-ly và Phun-xi-pa-xót của Đảng bạn đón đồng chí Chu Huy Mân. Phía bạn thông báo: "Quân địch ở sát cửa ngõ Thủ đô, có thể ngày mai chúng sẽ trực tiếp đánh Viêng Chăn". Giữa lúc đó, quân cực hữu phản động do cố vấn Mỹ chỉ huy từ căn cứ Chi-nai-mô bắn pháo vào Viêng Chăn. Lập tức, đồng chí Xinh-ca-po gặp Coong Le, động viên bộ đội trung lập nỗ lực chiến đấu. Đồng chí Cố vấn trưởng nắm tình hình nhận thấy lực lượng Coong Le tỏ ra dao động trước hoả lực pháo binh địch. Sau khi cân nhắc mọi mặt, đồng chí Cố vấn trưởng điện về Hà Nội đề nghị đưa ngay một bộ phận lực lượng pháo binh sang Viêng Chăn giúp bạn.


Ngày 9 tháng 12 năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chi viện pháo binh cho Viêng Chăn; đồng thời chỉ thị cho Quân khu 4: "Địch tăng cường lực lượng ở phía Nam, có âm mưu đánh chiếm thành phố trong đêm 9 tháng 12, yêu cầu quân khu giúp bạn hành động hết sức nhanh chóng phô trương thanh thế, uy hiếp hướng Thà Khẹt, buộc địch phải rút một phần lực lượng về phối hợp bảo vệ Viêng Chăn"2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 407).


Ngày 12 tháng 9, lực lượng pháo binh chi viện gồm 29 đồng chí1 (Cán bộ pháo binh sang Viêng Chăn có thượng úy Nguyễn Duy Trác - Đại đội trưởng trinh sát pháo binh; thượng úy Đỗ Ba Bút, giáo viên chiến thuật Trường sĩ quan Pháo binh; trung úy Nguyễn Trí Năng, cán bộ Trường sĩ quan Pháo binh; pháo thủ của Sư đoàn bộ binh 312; 2 khẩu 105 ly (tháo rời từng bộ phận), 2 khẩu cối 120 ly và một số đạn) đến Viêng Chăn. Đồng chí Lê Kích - Chủ nhiệm pháo binh Quân khu Tây Bắc được phân công chỉ huy chung về pháo binh, làm tham mưu hoả lực cho đồng chí Chu Huy Mân; đồng chí Nguyễn Duy Trác tham mưu hoả lực cho đồng chí Lê Kích; đồng chí Đỗ Ba Bút làm Bí thư chi bộ, đồng chí Nguyễn Trí Năng phụ trách 2 khẩu pháo 105 ly và khẩu cối 120 ly triển khai ở phía bắc Thủ đô gần sát bờ sông Mê Kông hỗ trợ lực lượng Coong Le.


Các đồng chí Chu Huy Mân2 (Các bạn Lào gọi là Thao Chăn), Phun-xi-pa-xớt và Xinh-ca-po trao đổi về cách làm việc giữa cố vấn Việt Nam, Pa-thét Lào và trung lập. Hai bên thống nhất, những việc thuộc loại kỹ thuật, cố vấn và Pa-thét Lào thống nhất trước sau đó bạn chủ động bàn với Coong Le. Trước đó, ngày 10 tháng 12 năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Quân khu 4 và Quân khu Tây Bắc: Mỗi quân khu chuẩn bị 2 tiểu đoàn, sẵn sàng đợi lệnh sang Lào hoạt động. Tiếp đó, hai ngày 12 và 14 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị tiếp cho hai quân khu: Quân khu 4 tăng cường thêm 1 đại đội hoạt động phối hợp với bạn ở hướng Thà Khẹt; chuẩn bị 1 tiểu đoàn, nghiên cứu khả năng tổ chức lực lượng có thể đưa vào hoạt động ở Hạ Lào. Quân khu Tây Bắc chỉ đạo lực lượng gấp rút hoạt đông, nổ súng ngay và đánh mạnh với tinh thần tích cực và khẩn trương3 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng thơm mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 407).


Chấp hành mệnh lệnh, Bộ tư lệnh Quân khu 4 sử dụng Tiểu đoàn 929 (Trung đoàn 120) quân tình nguyện quân khu và 2 đại đội Pa-thét Lào phối hợp tiến công căn cứ địch ở Noọng Hét. Ngày 16 tháng 12 năm 1960, liên quân Việt - Lào bắt đầu nổ súng. Đại bộ phận Tiểu đoàn 929 tiến công Noọng Hét, nhưng do chủ quan, đánh giá địch thấp, nên những lần tiến công đầu tiên bộ đội đã gặp phải sự phản kích điên cuồng của địch. Trong khi đó, 1 trung đội của Tiểu đoàn 929 phối hợp với 2 đại đội Pa-thét Lào tiến công địch và giải phóng Lằng Khằng (19-12). Bộ tư lệnh Quân khu 4 khẩn trương tổ chức rút kinh nghiệm chuẩn bị sẵn sàng tiến đánh Noọng Hét lần thứ hai1 (Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 52).


Ngày 17 tháng 12 năm 1960, quân phiến loạn cực hữu phản động, do cố vấn Mỹ chỉ huy chia thành nhiều mũi mở đợt tiến công mới vào Viêng Chăn. Pháo binh Thái Lan từ căn cứ Noọng Khai bắn sang chi viện và một bộ phận lực lượng quân phái hữu ẩn nấp trong các sứ quán Mỹ, Thái Lan, ngụy Sài Gòn, cơ quan PEO... làm nội ứng. Trên các mũi, xe thiết giáp quân phái hữu tiến trước, được pháo binh ở căn cứ Chi-nai-mô bắn hỗ trợ vào tuyến phòng ngự ngoại vi thành phố.


Lực lượng bảo vệ Viêng Chăn gồm 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn thiết giáp với 20 xe bọc thép AM của phía trung lập, 1 đại đội Pa-thét Lào (36 người), 4 khẩu pháo và 29 cán bộ, chiến sĩ đoàn chuyên gia, cố vấn Việt Nam, tổng quân số khoảng 700 người. Được các tầng lớp nhân dân ủng hộ, lực lượng bảo vệ Thủ đô đã đánh trả các cuộc tiến công của địch. Pháo binh Việt Nam đánh mạnh vào các  căn cứ Chi-nai-mô, các vị trí địch ở phía đông thành phố, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các mũi, các đợt tiến công của địch.


Giữa lúc đó, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí Đảng Nhân dân Lào bí mật vào Viêng Chăn. Căn cứ vào dự kiến của hai Đảng và tình hình thực tiễn, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn và đồng chí Chu Huy Mân trao đổi, thống nhất quyết định rút lực lượng khỏi Viêng Chăn dự kiến theo ba phương án:

Phương án 1, rút về Sầm Nưa, vùng căn cứ lớn và vững chắc của cách mạng Lào. Nhưng về Sầm Nưa phải vượt qua chặng đường rừng hơn 500 km, cuộc hành quân khó khăn lực lượng trung lập Coong Le có thể rơi rớt, thậm chí có thể tan rã trên đường hành quân.

Phương án 2, rút về vùng rừng núi Mường Phương, cách Viêng Chăn 160 km về phía bắc Viêng Chăn. Đường hành quân về Mường Phương không xa, việc di chuyển có thể hoàn thành trong vài ngày, nhưng xét tổng thể phương án này không thể thực hiện được vì đó chỉ là phương án phòng ngự.

Phương án 3, không đưa lực lượng Coong Le về đóng quân ở căn cứ của Pa-thét Lào, mà sử dụng lực lượng này một cách tích cực và kiên quyết, tiến công mở ra địa bàn mới vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng1 (Từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum, Tlđd; tr. 75, 76). Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn chiến lược, một vùng cao nguyên rộng lớn, địch sơ hở, dùng lực lượng không lớn đánh đòn bất ngờ chớp nhoáng có thể giành thắng lợi. Thực hiện phương án này chính là quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công của lực lượng kháng chiến Lào, từ Viêng Chăn tiến lên đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nối liền với tỉnh Sầm Nưa, mở rộng căn cứ địa, tạo thế và lực mới cho cách mạng Lào phát triển.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 08:59:57 am
Qua trao đổi, hai bên thống nhất thực hiện phương án thứ ba. Ngày 18 tháng 12 năm 1960, các đội du kích và thanh niên tình nguyện ở lại nội thành và vùng ven tiếp tục bám trụ chiến đấu. Lực lượng trung lập Coong Le, Pa-thét Lào, các đồng chí lãnh đạo bạn, cố vấn, chuyên gia và pháo binh Việt Nam bí mật rời Viêng Chăn, hành quân bằng cơ giới lên phía bắc. Ngày 19 tháng 12 năm 1960 đoàn tới Văng Viêng (bắc sông Nậm Lịch), cách Viêng Chăn 150 km về phía bắc. Tại đây, Cố vấn trưởng Chu Huy Mân nhận được chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do đồng chí Doãn Tuế - Tham mưu phó Bộ tư lệnh Pháo binh, phái viên của Bộ từ Hà Nội sang truyền đạt. Nội dung chỉ thị nêu rõ: "Phải nỗ lực cao nhất tiến công Cánh Đồng Chum, nhanh chóng chiếm lấy cao nguyên; trường hợp quân Coong Le quá yếu kém, tan rã trên đường tiến quân, thì thực hiện phương án đưa Coong Le và một số người gần gũi về Sầm Nưa để khôi phục và phát triển lực lượng này, liên minh với Pa-thét Lào chiến đấu chống Mỹ".


Ngay sau đó, đồng chí Chu Huy Mân căn dặn cán bộ chuyên gia và bộ đội pháo binh: "Tình hình rất phức tạp. Diễn biến rất mau lẹ. Những ngày tới có thể sẽ còn gặp nhiều khó khăn. Các đồng chí nhớ kỹ là dù hoàn cảnh nào cũng không được để bị bắt sống và dù hoàn cảnh nào cũng cố gắng giác ngộ lực lượng khởi nghĩa càng nhiều càng tốt và bảo vệ bằng được các đồng chí lãnh đạo cách mạng của bạn. Vấn đề bí mật bao giờ cũng phải hết sức quan tâm. Chúng ta sang giúp bạn nhưng chưa phải trong điều kiện công khai như thời kỳ có liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào"1 (Kể về đồng đội, Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1995, tr. 89). Cuộc hành quân đang được chuẩn bị gấp, đồng chí Chu Huy Mân nhận được điện trở về nước.


Tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì một cuộc họp gồm cán bộ tham mưu, chính trị và Thiếu tướng Chu Huy Mân bàn kế hoạch hành quân tiến công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu rõ: "Phải nắm chặt Coong Le, đề phòng Coong Le và một số người lúc khó khăn có thể làm phản, giết mình rồi chạy trốn; dọc đường số 7 có nhiều phỉ Mẹo, phải tổ chức đánh phỉ để mở đường tiến quân; đến Mường Sủi phải nắm địch ở ngã ba Phiên Luông và Cánh Đồng Chum, đánh giá tình hình và quyết định tiến vào Cánh Đồng Chum hay Sầm Nưa... Ở phía đông bắc Cánh Đồng Chum sẽ có một lực lượng ta từ Quân khu 4 lên đánh chiếm Noọng Hét và Bản Ban hỗ trợ"2 (Từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum, Tạp chí Lịch sử quân sự (số 1 năm 2000), tr. 72, 73), về việc cử người thay đồng chí Chu Huy Mân3 (Lúc này đồng chí Chu Huy Mân đang bị ốm), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ý kiến: "Giúp bạn phải giúp tận tình, chú Mân cứ đi mang theo thuốc chữa bệnh, chú Văn giữ liên lạc với chú Mân"4 ().


Trở lại Văng Viêng, Cố vấn trưởng phân tích và xác định nguyên tắc tiến công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Kế hoạch quy định, 1 trung đội Pa-thét Lào và 1 khẩu pháo 105 ly do trung úy Nguyễn Trí Năng chỉ huy ở lại Vang Viêng hoạt động nghi binh, bảo vệ cho bộ phận còn lại hành quân. Trước ngày xuất phát, đồng chí Cố vấn trưởng gặp Ki-nim Phôn-sê-na - quyền Thủ tướng Chính phủ Vương quốc trình bày chủ trương tiến công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng bạn rời Văng Viêng và ủy nhiệm ch đồng chí Xinh-ca-po đi cùng lực lượng tiến công Cánh Đồng Chum.


Ngày 26 tháng 12 năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện chỉ thị cho đồng chí Chu Huy Mân: Cuộc hành quân đánh Sa La Phu Khun là hành quân chiến đấu, đơn vị chiến đấu đi trước, cơ quan đi sau, phải trang bị vũ khí để tự vệ, đi cuối có đơn vị chiến đấu; cần dự kiến kế hoạch thứ 2 nếu đánh Sa La Phu Khun không thành, hoăc địch tăng cường hướng Cánh Đồng Chum; cần tăng cường lực lượng giữ Văng Viêng mới bảo đảm được cho căn cứ và đường hàng không, hành quân thuận lợi1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 407, 408). Cùng ngày 26 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Quân khu 4 đánh Noọng Hét: Nắm vững nguyên tắc đánh chắc thắng; không đặt yêu cầu quá cao, yêu cầu chung là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng Noọng Hét, mở đường để phát triển vào trong; tiếp tục chuẩn bị tiến vào Bản Ban sau khi giải phóng Noọng Hét2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 407, 408).


Ngày 27 tháng 12 năm 1960, thực hiện chỉ thị giữ Văng Viêng, Bộ Tổng tham mưu điện cho đồng chí Hoà, chỉ huy khu vực Văng Viêng: Muốn cố thủ Văng Viêng cần phải tăng cường lực lượng, chặn đánh địch từ Sê-nê Sum lên, giữ chân và tiêu hao chúng dọc đường bằng cách tích cực đánh chặn ở nơi thuận lợi, bố trí nhiều tuyến chiến đấu, kết hợp chướng ngại vật, phá cầu, cài mìn..., lợi địa hình hiểm trở bố trí phục kích và tập kích địch ở hai bên đường và sau lưng; có kế hoạch phòng giữ các đường tắt đến Văng Viêng; chỉ để một bộ phận canh gác sân bay Văng Viêng, giữ kho tàng...; cần có một lực lượng cơ động nhỏ làm dự bị, báo cáo tỷ mỷ kế hoạch phòng ngự Văng Viêng về Bộ1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 408).


Theo kế hoạch thống nhất giữa ta và bạn, ngày 28 tháng 12 năm 1960, lực lượng Pa-thét Lào tiến công đánh chiếm ngã ba Sa La Phu Khun. Địch ở Luông Phra Băng bị uy hiếp mạnh phải cầu cứu viện binh. Lập tức, Bộ Tổng tham mưu điện cho Tư lệnh Quân khu Tây Bắc: cần nhanh chóng đánh Mường Ngòi, nhưng bảo đảm chắc thắng sau đó để bộ đội bạn đi trước lên bao vây Nậm Bạc2 (). Cùng thời gian này, Quân khu 4 bổ sung thêm lực lượng của Sư đoàn 324 và xây dựng gấp 10 km đường từ Mường Xén đến Noọng Hét, kéo pháo vào áp sát căn cứ địch, nổ súng tiến công Noọng Hét lần thứ hai. Sau ba ngày (từ ngày 28 đến ngày 31-12), được pháo binh chi viện, liên quân Việt - Lào (Tiểu đoàn 929 và 2 đại đội Pa-thét Lào) đã giải phóng hoàn toàn Noọng Hét. Chiến công đầu của bộ đội tình nguyện Quân khu 4 phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào tiến công vào những vị trí quan trọng của địch đạt hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng Việt - Lào tiến đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Ngày 28 tháng 12 năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện chỉ đạo đồng chí Chu Huy Mân: Địch ở Luông Phra Băng bị uy hiếp mạnh ở phía bắc, chúng sợ ta từ đông bắc đánh xuống, từ phía nam đánh lên. Ngày 29, địch sẽ điều 1 tiểu đoàn đến Luông Phra Băng và có thể tăng cường hoả lực cho hướng này hoặc Cánh Đồng Chum. Ta cần đề nghị bạn đẩy lùi địch, giữ vững ngã ba Sa La Phu Khun; đồng thời tích cực nghi binh ở Luông Phra Băng; liên lạc với bộ đội Xiêng Ngân tiến công vào Luông Phra Băng. Hướng chính của ta là nhanh chóng đánh chiếm Mường Sủi, phát triển chiếm một số điểm cao ở Cánh Đồng Chum, không chế sân bay. Trong khi đó, lực lượng ta sửa đường đưa pháo và cơ giới chuẩn bị tiến công Cánh Đồng Chum. Mọi hành động phải bí mật, tích cực ngụy trang xe cộ và người tiến về hướng chính.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:00:48 am
Sáng 29 tháng 12 năm 1960, bộ đội Pa-thét Lào, quân tình nguyện và lực lượng trung lập bắt đầu cuộc hành quân tiến đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bộ phận đi đầu gồm một đại đội thiết giáp và một đội công binh mở đường. Bộ phận chủ yếu đi giữa gồm tiểu đoàn thiết giáp (trừ đại đội đi đầu), tiểu đoàn dù, đơn vị pháo binh Việt Nam và đơn vị Pa-thét Lào, có đồng chí Cố vấn trưởng và đồng chí Xinh-ca-po đi cùng (trừ 1 khẩu 105 ly và 1 trung đội Pa-thét Lào ở lại). Bộ phận hậu cần đi cuối đội hình hành quân.


Đoàn hành quân bằng ô tô và thiết giáp tiến theo đường số 13. Đường hành quân chật hẹp xuyên rừng rậm men theo các triển núi, vực sâu, vách đá dựng đứng... Cố vấn trưởng chỉ thị cho các bộ phận gặp phỉ phải đánh, các xe hỏng phải kéo vào vệ đường bảo đảm đội hình hành quân thông suốt. Đến 15 giờ ngày 29 tháng 12, đoàn quân đã vượt qua chặng đường 100 km, chiếm ngã ba Sa La Phu Khun, trong đó bộ phận đi đầu tiến sang phía đông đến gần Phu Sủng chiếm lĩnh 5 km đầu tiên của con đường số 7 đi Cánh Đồng Chum.


Sáng 30 tháng 12 năm 1960, đoàn quân theo đường số 7 tiến về Cánh Đồng Chum. Gặp phỉ quấy rối, đánh lén, lực lượng của Coong Le tỏ ra dao động. Đồng chí Cố vấn trưởng thống nhất với đồng chí Xinh-ca-po và chỉ thị cho các bộ phận vừa đánh phỉ vừa tiến, nếu bị phỉ tiến công thì chỉ dùng phân đội nhỏ đối phó, còn đại bộ phận tiếp tuc tiến về Cánh Đồng Chum; đồng thời điều bộ phận pháo 105 ly và trung đội Pa-thét Lào ở Văng Viêng tiến lên chiếm giữ ngã ba Sa La Phu Khun để chặn địch phía sau. Trong ngày 30 tháng 12, đoàn hành quân chỉ tiến được 50 km trên đường số 7, cách Cánh Đồng Chum khoảng 100 km.


Ngày 31 tháng 12 năm 1960, các lực lượng hành quân vừa đánh phỉ vừa tiến chiếm Mường Sủi và ngã ba Phiên Luông, cách Cánh Đồng Chum 20 km. Địch lập trận địa ở khu vực cầu sắt Nậm Ngừm, tăng cường phòng ngự Cánh Đồng Chum. Lập tức, Cố vấn trưởng ra lệnh đánh chiếm cầu Nậm Ngừm để mở đường tiến thẳng vào Cánh Đồng Chum. Quân địch chống trả mạnh. Bun-mi, một trong các phó chỉ huy của Coong Le tử trận và hai binh sĩ bị thương. Đồng chí Cố vấn trưởng động viên Coong Le chấn chỉnh lại đội hình, đồng thời chỉ thị triển khai pháo bắn dọc đường số 7, chế áp và uy hiếp địch ở trong Cánh Đồng Chum.


16 giờ 45 phút ngày 31 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho đồng chí Chu Huy Mân: “Nếu có triển vọng lấy được Cánh Đồng Chum, cần tiếp tục đánh đêm và cố gắng giải quyết chiến đấu vào sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961. Nếu chiếm được cần lập tức khống chế các cao điểm, làm công sự vững chắc, kiểm soát và bảo vệ sân bay, đề phòng địch nhảy dù; nhanh chóng giải quyết tù hàng binh...; quan trọng nhất là phải nắm một lực lượng cơ động, chấn chỉnh gấp rút để đối phó địch nhảy dù và số còn sót lại; sử dụng pháo ở Cánh Đồng Chum cần nhằm vào những nơi địch có thể nhảy dù mà chuẩn bị hoả lực; tuyệt đại bộ phận lực lượng ta bố trí phòng thủ, dùng từ 1 đến 2 đại đội có cối nặng đánh Xiêng Khoảng, nếu không đánh được thì bao vây phá sân bay.


Nếu thấy tình hình khó khăn không thể giải quyết được thì bao vây Cánh Đồng Chum và chuyển dần quân về phía đông để khỏi bị động. Khi thắng cũng như khi gặp khó khăn, cần làm tốt công tác tư tưởng, chính trị để giữ vững tinh thần chiến đấu và kỷ luật. Nếu ta giải quyết nhanh gọn Cánh Đồng Chum thì địch tại chỗ có thể tan rã, khả năng tăng viện hạn chế; nếu cuộc chiến đấu kéo dài, địch có thể nhảy dù hoặc đổ bộ lớn bằng trực thăng để chi viện Cánh Đồng Chum hay Xiêng Khoảng"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 408, 409).


Phát hiện địch bỏ chạy và căn cứ vào điện chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Cố vấn trưởng Chu Huy Mân quyết định nhanh chóng đưa lực lượng tiến vào đánh chiếm sân bay ở trung tâm Cánh Đồng Chum.

1 giờ ngày 1 tháng 1 năm 1961, Cố vấn trưởng cùng ; một bộ phận lực lượng đi trước tiến vào sân bay Cánh Đồng Chum không gặp một sự kháng cự nào của địch. Một giờ sau, toàn bộ lực lượng của đoàn hành quân vào tới sân bay. Ngay sau đó, đồng chí Chu Huy Mân giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Kích đưa pháo cùng một tiểu đoàn trung lập tiến vào giải phóng thị xã Xiêng Khoảng cách sân bay 35 km về phía tây nam. Cố vấn trưởng quy định: Cách thị xã Xiêng Khoảng từ 4 đến 5 km, pháo bắn hỗ trợ bộ binh thiết giáp tiến vào, chậm nhất 7 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961 phải giải phóng xong thị xã Xiêng Khoảng.


Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 1 tháng 1, lực lượng trung lập tiến bộ và pháo binh Việt Nam tiến vào giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, sau đó chuẩn bị đánh địch phản kích. 10 giờ ngày 1 tháng 1, một tiểu đoàn dù địch đổ bộ xuống khu vực Tha Viêng phía nam thị xã Xiêng Khoảng. Lập tức, lực lượng giải phóng thị xã Xiêng Khoảng dùng pháo bắn vào khu vực địch đổ quân, buộc chúng phải bỏ chạy.


Như vậy, cuộc hành quân từ Viêng Chăn tiến đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra trong 12 ngày đêm đến đây kết thúc. Lực lượng liên minh Pa-thét Lào và trung lập tiến bộ được sự chi viện giúp đỡ kịp thời của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu cuộc hành quân. Cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với diện tích 2.000 km2 có giá trị chiến lược quan trọng được giải phóng, nối liền với căn cứ Sầm Nưa. Đây là một trong những thắng lợi quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Lào, sự trưởng thành và uy tín của Pa-thét Lào được mở rộng; đồng thời thể hiện tinh thần nỗ lực, tận tình của tập thể cố vấn, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế, sát cánh cùng quân đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập và nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.     


Đầu năm 1961, đại diện lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào tiến hành hội đàm, thống nhất trong quan hệ giữa hai Đảng theo 5 nguyên tắc chung1 (Tinh thần cốt lõi của 5 nguyên tắc là: Sự nghiệp cách mạng Lào do nhân dân các bộ tộc Lào tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào. Quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào là quan hệ đồng chí, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chống tư tưởng nước lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Chống bao biện làm tha. Chống ỷ lại, tự ti và mọi biểu hiện làm phương hại đến tình đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước). Hai Đảng thống nhất tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, giúp đỡ nhau vì lợi ích của phong trào cách mạng thế giới và lợi ích của hai Đảng, hai nước, của mỗi quốc gia. Về quan hệ Nhà nước, hai Đảng làm hết sức mình để tranh thủ những lực lượng tiến bộ, cô lập và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng Lào, cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ và tay sai.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:01:54 am
Trước tình hình mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào trong 5 năm (1961-1965) với những công tác cụ thể: "Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực lượng vũ trang của bạn. Khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn"2 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Quyển một, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1988, tr. 131). Theo phương hướng đó, Bộ Tổng tham mưu quyết định biên chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224 thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân khu Tây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào.


Bộ Tổng tham mưu báo cáo Thường trực Tổng Quân ủy dự thảo phương hướng phát triển lực lượng vũ trang pa-thét Lào: "Xây dựng nhiều đơn vị chủ lực tập trung và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật cần thiết, đồng thời tích cực xây dựng bộ đội địa phương và phát triển lực lượng du kích để đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiễu phỉ trừ gian bảo vệ an ninh cho khu căn cứ"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003, tr. 8). Cụ thể: Chủ lực trực thuộc Trung ương gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn người H'Mông, 1 tiểu đoàn pháo 105 ly, 85 ly, 1 tiểu đoàn cối 120 ly, 1 tiểu đoàn cao pháo; 7 đại đội trực thuộc, 3 lớp đào tạo bổ túc cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Chủ lực địa phương gồm 6 tiểu đoàn ở Phong Xa Lỳ, Luông Phra Băng, Xiêng Khoảng, Xa Vẳn Na Khệt, Viêng Chăn, 18 đại đội bộ binh độc lập và các đại đội pháo, trợ chiến thuộc bộ đội địa phương các tỉnh, cần tiến hành tổ chức các cơ quan chỉ đạo quân sự Trung ương và địa phương.


Những tháng đầu năm 1961, Mỹ ngày càng lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đối với Lào, chính quyền Mỹ trù tính một kế hoạch đưa lực lượng Mỹ trực tiếp can thiệp vào Lào, nhưng vấp phải phản ứng mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận quốc tế và các nước Anh, Pháp, Pa-kix-tan - thành viên khối SEATO không tán thành, nên buộc phải từ bỏ kế hoạch đó. Để cứu vãn phái hữu tay sai, tháng 1 năm 1961, đế quốc Mỹ tăng cường 6 máy bay chiến đấu AD6 cho quân đội Phu-mi. Chính quyền Sài Gòn thỏa thuận với Phu-mi đưa quân ngụy vào Lào. Quân đội Thái Lan cũng bí mật đưa lực lượng vào Lào. Lúc này, tổng số quân phái hữu, quân Thái Lan và quân ngụy Sài Gòn đã lên tới hơn 5 vạn. Với lực lượng được củng cố và tăng cường, phái hữu phản động theo lệnh Mỹ liên tiếp mở các cuộc tiến công hòng giành lại những vùng đã mất.


Trong khi đó, liên minh các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào và trung lập yêu nước được sự chi viện giúp đỡ của quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam đã có bước phát triển. Lực lượng quân đội Pa-thét Lào và lực lượng vũ trang trung lập yêu nước có khoảng 1 vạn, nhưng còn trong tình trạng phân tán. Quân đội Pa-thét Lào đã xây dựng được 4 tiểu đoàn chủ lực tập trung và 40 đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng trung lập yêu nước được sự giúp đỡ của Pa-thét Lào đã phát triển từ 200 người lên gần 900 người. Chính phủ hợp pháp của Thủ tướng Phu-ma chuyển về đặt trụ sở ở Khang Khay - Xiêng Khoảng, được nhiều nước công nhận và tranh thủ được viện trợ của Việt Nam dân chủ cộng hoà, Liên Xô, Trung Quốc và các nước bè bạn.


Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào bàn bạc thống nhất với Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang trung lập yêu nước tiếp tục đẩy mạnh đợt hoạt động Đông Xuân 1960-1961 nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và giữ vững vùng giải phóng của cách mạng Lào.


Ngày 9 tháng 1 năm 1961, Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ cho quân tình nguyện Việt Nam:

"1. Tích cực giúp bạn xây dựng, củng cố và tăng cường lực lượng về mọi mặt.

2. Giúp bạn đẩy mạnh cuộc đấu tranh hiệp thương thành lập Chính phủ Liên hiệp.

3. Tích cực giúp bạn mở rộng và củng cố mặt trận liên minh với các lực lượng yêu nước, tăng cường đoàn kết các tầng lớp nhân dân xung quanh Neo Lào Hắc Xạt.

4. Đặc biệt chú ý giúp bạn củng cố và phát triển Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và bồi dưỡng đào tạo cán bộ Lào.

5. Tăng cường sự giúp đỡ của ta đối với cách mạng Lào, củng cố quan hệ giữa Chính phủ ta với Chính phủ Vương quốc Lào, vì lợi ích của cách mạng Lào và cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương chống Mỹ xâm lược"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2002, tr. 936). Trên hướng Bắc Lào, lực lượng Pa-thét Lào có Tiểu đoàn 3 ở Sầm Nưa, Tiểu đoàn 701 ở Phong Xa Lỳ, Đại đội 90 ở Mường Sài, du kích và hai đại đội địa phương ở Nà Mỏ, Nậm Thà. Quân tình nguyện có lực lượng hỗn hợp của Tiểu đoàn 3 do đại úy Lý Long Quân làm Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn 4 do đồng chí Lê Dị làm Tiểu đoàn trưởng thuộc Lữ đoàn 316 (Quân khu Tây Bắc). Theo kế hoạch, đầu năm 1961, quân tình nguyện cùng trung đội du kích Mường Ngòi do đại úy Lý Long Quân chỉ huy bao vây và tiến công thị trấn Nậm Bạc. Đây là một căn cứ quân sự lớn có 5 cứ điểm do 7 đại đội địch được trang bị hoả lực mạnh đóng giữ. Quân tình nguyện dùng 4 khẩu cối 120 ly pháo kích mạnh và chính xác rồi xung phong loại khỏi vòng chiến đấu hơn 130 tên, làm chủ Nậm Bạc. Trung đội du kích Mường Ngòi cùng bộ đội tình nguyện bảo vệ thị trấn, ổn định trật tự trị an cho nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:02:35 am
Phát huy thắng lợi, Tiểu đoàn 4 được lệnh tách khỏi lực lượng hỗn hợp tiến đánh vị trí Tông Sơ ở đông nam Nậm Bạc do lực lượng phỉ đóng giữ. Trận đánh không thành công. Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm và lệnh cho hai tiểu đoàn 3 và 4 tiến đánh tỉnh lỵ Mường Sài, do ba tiểu đoàn chủ lực và ba đại đội dân vệ có hoả lực cối 120 ly, ĐKZ 75 ly, ĐKZ 57 ly và trung liên, đại liên đóng giữ. Quân tình nguyện từ hai hướng bất ngờ nổ súng, loại khỏi vòng chiến đấu 750 tên, giải phóng Mường Sài. Quân tình nguyện chuyển sang tiến công vị trí Nà Mỏ, địch rút chạy về xung quanh thị xã Nậm Thà cố thủ. Đến tháng 4 năm 1961, hai tiểu đoàn 3 và 4 quân tình nguyện phối hợp với bạn tiến công giải phóng các vị trí Chòm Cheng, Pác Bút, Giang Tơi, Sốp Cai, Mường Là, Nà Mỏ, Mường Sài, Nậm Bạc, Mường Hùn, nối liền khu căn cứ kháng chiến Lào từ miền Tây Mường Sài đến sông Nậm Thà. Ở hướng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện (Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc) diệt vị trí Mường Hiềm ở Sầm Nưa (ngày 19-1-1961). Một đơn vị đặc công Quân khu Tây Bắc diệt vị trí phỉ Pa-thí ở Sầm Nưa (ngày 31-1). Tiếp đó, ngày 2 tháng 2 năm 1961, Tiểu đoàn 3 được lệnh hành quân cấp tốc đến bảo vệ khu vực Cánh Đồng Chum vừa giải phóng. Tiểu đoàn 3 vừa đánh phỉ vừa hành quân theo đường số 6 tiến xuống Bản Ban rồi sang đường số 7 vào Cánh Đồng Chum. Sau đó, Tiểu đoàn 3 được lệnh trở ra tổ chức phòng ngự ở khu vực ngã ba Sa La Phu Khun. Tiểu đoàn 3 khẩn trương hành quân đến chiếm lĩnh khu vực Phu Sủng xây dựng trận địa tại các điểm cao khống chế Sa La Phu Khun. Bộ đội dùng cuốc, xẻng ngày đêm đào hầm hào, sẵn sàng chiến đấu. Giữa lúc đó, một tiểu đoàn Pa-thét Lào và một đại đội trung lập tiến bộ do đồng chí Ay chỉ huy và đồng chí Nguyễn Hoà, cán bộ chuyên gia Đoàn 959, từ Viêng Chăn theo đường số 13 ra Phu Sủng gặp Tiểu đoàn 3. Tại đây, tiểu đoàn Pa-thét Lào và đại đội trung lập tiến bộ phối hợp với Tiểu đoàn 3 tổ chức thành "Mặt trận A" do đồng chí Nguyễn Hoà làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Phạm Nghiêm (Chính ủy Lữ đoàn 316) làm Chính ủy, đồng chí Ay làm Chỉ huy phó.


Ngày 23 tháng 2 năm 1961, cuộc chiến đấu của Liên quân Việt - Lào bắt đầu. Liên quân Việt - Lào đã liên tiếp đẩy lui các cuộc tiến công của 2 tiểu đoàn địch vào Phu Sủng; tiếp đó, Liên quân tiến công địch ở Sa-la Phu-kẹng phía bắc Sa La Phu Khun 3 km (ngày 4-3); diệt nhiều xe quân sự địch tại đoạn Pha-cọc trên đường từ Ka-xí đi Sa La Phu Khun (ngày 5-3); tiến công tiểu đoàn địch đóng giữ cao điểm Vành Khăn (ngày 6-3); truy kích đánh tan địch ở Pha-hin rút chạy trên đường 13 về Viêng Chăn (ngày 9-4), Pha-tòng-chinh (ngày 14-4), Pha-hom và Pha-tặng (ngày 22-4); giải phóng Văng Viêng, cắm cờ phân chia ranh giới Pa-thét Lào và phái hữu giữa cầu Hin Hợp trên sông Nậm Lịch. Các đơn vị Pa-thét Lào triển khai lực lượng phòng ngự phía trước sát địch. Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện ở lại Văng Viêng hỗ trợ bạn phòng ngự, thực hiện công tác dân vận, truy quét tàn quân địch, xây dựng chính quyền, mặt trận, củng cố vùng giải phóng. Với những thành tích xuất sắc trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế, Tiểu đoàn 3 đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công, 119 Huân chương Chiến công các loại cho tập thể đơn vị và cá nhân.


Ở hướng Trung Lào, thực hiện chủ trương của hai Đảng về việc mở con đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn và lợi dụng lúc địch tập trung lực lượng lớn lên phía bắc nhằm chiếm lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nên sơ hở ở Trung, Hạ Lào, Bộ tư lệnh Quân khu 4 được lệnh phối hợp cùng lực lượng Pa-thét Lào tiến công giải phóng đường số 8, tạo nên căn cứ rộng lớn cho bạn ở Trung Lào, uy hiếp địch, phối hợp với chiến trường chính miền Nam Việt Nam.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Quân khu 4 sử dụng Tiểu đoàn 14 bộ binh, 1 đại đội trợ chiến, 1 trung đội của Tiểu đoàn 927 bộ binh, 2 tiểu đội đặc công, 1 tiểu đội trinh sát của quân khu, được tăng cường 2 khẩu cối 120 ly, 2 khẩu ĐKZ 57 ly, 6 khẩu 12,7 ly của Lữ đoàn 324 và các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích Lào, tiến công các vị trí địch trên đường số 8 do 1 tiểu đoàn (BV34) và 3 đại đội phỉ đóng giữ. Liên quân Việt - Lào đã phối hợp chiếm thị trấn Na Pê và giải phóng Lạc Xao (ngày 17-2), chiếm thị trấn Căm Cớt (ngày 21-2). Một khu vực rộng lớn dọc theo đường số 8 từ biên giới Việt - Lào đến thị trấn Căm Cớt và toàn bộ huyện Căm Cớt tỉnh Bô Li Khăm Xay (12 xã với hơn 13.000 dân) được giải phóng.


Ngay sau đó, liên quân Việt - Lào gồm Tiểu đoàn 925 (thiếu 1 đại đội) của Quân khu 4, đại đội trợ chiến của Lữ đoàn 324 với 3 khẩu 12,7 ly, 1 đại đội Pa-thét Lào cùng tiến đánh 2 đại đội của BV22 địch và 2 đại đội phỉ, giải phóng Mường Ngàn (ngày 12-3). Quân địch đóng giữ đường số 12 và đường số 8B hoang mang, dao động. Chớp thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung các tiểu đoàn 927, 929, 14 phối hợp với Pa-thét Lào tiến công địch (BV32, BI8, 2/CBl, đại đội 16 dù, một số đại đội phỉ), chiếm các thị trấn Nhom Ma Rát (ngày 15-4), Ma-hả-xây (ngày 17-4). Gần một tháng liên tục chiến đấu, liên quân  Việt - Lào đã giải phóng toàn bộ đường số 8B từ Lạc Xao đến Nhom Ma Rát, khống chế phần lớn đường 12 từ biên giới Việt - Lào đến Na Du.


Trên hướng Hạ Lào, Bộ tư lệnh Quân khu 4 sử dụng Sư đoàn 325 (gồm Trung đoàn 101 được tăng cường Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95, Đại đội 12,7 ly của Tiểu đoàn 14 cao xạ, các bộ phận bảo đảm công binh, thông tin, vận tải, quân y, đại đội trinh sát), Tiểu đoàn 19 bộ đội biên phòng quân khu, Tiểu đoàn 927 tỉnh Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 6 vận tải Đoàn 559 và 1 tiểu đoàn Pa-thét Lào tiến hành chiến dịch ở khu vực đường số 9 - Nam Lào. Ngày 21 tháng 4 năm 1961, liên quân Việt - Lào nổ súng, liên tục tiến công chiếm thị trấn Mường Phin, thị trấn Sê Pôn, Tà Khống, đập tan tuyến phòng thủ dài hơn 100 km của địch trên đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch; làm chủ đường số 9 từ Huội San đến Mường-pha-lan. Ngày 2 tháng 5 năm 1961, chiến dịch kết thúc, Bộ Tổng tham mưu gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sê Pôn, một vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Lào. Vùng giải phóng Lào mở rộng trên địa bàn chiến lược miền Đông tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, nối liền với căn cứ kháng chiến của Việt Nam ở phía tây Quảng Nam và tây Quảng Bình, tạo điều kiện cho Đoàn 559 "lật cánh" tuyến vận tải chiến lược từ phía đông sang tây Trường Sơn, góp phần tạo ra thế và lực mới để phối hợp hoạt động tác chiến giữa hai chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:03:35 am
Tháng 4 năm 1961, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào lần thứ sáu quyết định: "Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quân sự, tiêu diệt sinh lực địch, quyết đánh bại các cuộc tiến công của chúng, tiêu diệt phỉ, củng cố khu vực đã giải phóng, đồng thời tiến hành đấu tranh về ngoại giao"1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 134). Về tác chiến, Hội nghị xác định: Thượng Lào là mặt trận chính, Trung - Hạ Lào là mặt trận phối hợp quan trọng. Tập trung lực lượng cùng với quân tình nguyện Việt Nam đập tan các cuộc tiến công của địch vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động du kích ở tỉnh Viêng Chăn, đường 13, Luông Phra Băng, Trung và Hạ Lào để phối hợp với mặt trận chính. Về phát triển lực lượng vũ trang: Kết hợp tác chiến và xây dựng, xúc tiến việc tổ chức các đơn vị mới, nâng quân số bộ đội Pa-thét Lào lên khoảng 12.000 (không kể bộ đội huyện và dân quân du kích). Tăng cường liên minh chiến đấu với quân đội Coong Le và quân đội Khăm Uồn, thành lập Hội đồng quân sự tối cao Vương quốc gồm đại diện Bộ chỉ huy quân đội Pa-thét Lào và đại diện chỉ huy quân đội Coong Le và quân đội Khăm Uồn theo hướng dân tộc, dân chủ.


Cùng thời gian này, phái đoàn Chính phủ Lào do Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma và Chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt Xu-pha-nu-vông sang Hà Nội hội đàm với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hai bên đã ký Hiệp nghị về việc Việt Nam viện trợ quân sự giúp Lào. Theo Hiệp nghị, Việt Nam cử nhân viên quân sự sang giúp quân đội Vương quốc, nhận đào tạo tại Việt Nam sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Vương quốc, đưa quân tình nguyện sang chiến đấu khi cần thiết.


Để đáp ứng với tình hình cách mạng Lào, tháng 4 năm 1961, Trung ương Đảng ta quyết định điều động đồng chí Chu Huy Mân về nước nhận nhiệm vụ mới. Đồng thời Quân ủy Trung ương quyết định tăng cường lực lượng cho Đoàn 959 và bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Chưởng phụ trách Trưởng đoàn, Bí thư Đoàn ủy 959 kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự; Thiếu tướng Hoàng Sâm - Phó đoàn phụ trách về quân sự.


Căn cứ vào yêu cầu của Tổng Quân ủy Lào, Đoàn 959 được giao nhiệm vụ làm chuyên gia quân sự và chính trị cho Pa-thét Lào và làm chuyên viên cho lực lượng trung lập. Theo yêu cầu của Tổng Quân ủy Lào, hệ thống giúp bạn của Đoàn 959 tổ chức thành các bộ phận: Bộ phận chuyên gia cơ quan Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Thăng Bình (sau đó là các đồng chí Nguyễn Năng, Nguyễn Hoà) phụ trách. Bộ phận chuyên gia cơ quan Tổng cục Chính trị do đồng chí Lê Tiến Phục phụ trách. Bộ phận chuyên gia cơ quan Tổng cục Hậu cần do đồng chí Lê Xuân phụ trách. Các tổ chức chuyên gia ở tỉnh đội, tiểu đoàn (có một số đến đại đội), các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật, hệ thống nhà trường, kho tàng, bệnh viện, sân bay. Bộ phận làm chuyên viên cho lực lượng trung lập tổ chức thành hệ thống riêng, do đồng chí Hoàng Cao Ngôn phụ trách.


Theo chức năng nhiệm vụ, Đoàn 959 vừa chấn chỉnh tổ chức, vừa cùng các đơn vị quân tình nguyện đẩy mạnh giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, hành động tiến công giành lại các địa bàn, nhất là vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, buộc địch phải rút bỏ nhiều vị trí. Ở hướng đông nam Xiêng Khoảng, địch phải rút chạy khỏi Tha Thơm về tuyến Pắc San. Ở hướng đường 13, địch phải rút chạy khỏi ngã ba Sa La Phu Khun, Pha-hom, Pha-tặng, Văng Viêng. Ở hướng Luông Phra Băng, địch rút khỏi Mường Sài. Phía đường 18, địch rút khỏi Na Pê, Lạc Xao, Căm Cớt. Ở Trung Lào địch rút khỏi Nhom Ma Rát, Ma-hả-xây, Sê Pôn. Các cụm phỉ lớn ở Mường Phin, Pa Thí trong vùng Sầm Nưa bị đánh tan.


Phối hợp cùng hoạt động quân sự, Đoàn 959 chú trọng giúp bạn tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền làm công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở vùng giảị phóng. Đội vũ trang tuyên truyền trở thành một loại hình tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình các địa phương hoạt động trong điều kiện rất khó khăn nhưng hiệu quả, đã vận động được đông đảo thanh niên các bộ tộc Lào nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân du kích, bảo vệ làng bản.


Thắng lợi của đấu tranh quân sự và chính trị đã tác động mạnh mẽ đến mặt trận đấu tranh ngoại giao. Ngày 3 tháng 5 năm 1961, đại diện ba phái gồm Neo Lào Hắc Xạt (Pa-thét Lào), Phu-ma và phái Bun-ùm - Phu-mi gặp nhau ở Hin Hợp; sau đó ở Na Mon (13-5) thỏa thuận công bố lệnh ngừng bắn. Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Hội nghị quốc tế tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) bàn về vấn đề Lào gồm 14 nước tham dự khai mạc.


Cách mạng Lào từ chỗ rất khó khăn được sự giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, sau một thời gian, đã có những chuyển biến trên nhiều mặt. Vùng giải phóng của Pa-thét Lào được mở rộng chiếm hai phần ba diện tích đất đai và một phần ba dân so cả nước, trong đó có những địa bàn quan trọng như Sầm Nưa, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sê Pôn. Lực lượng vũ trang Pa-thét Lào đã tổ chức được 5 tiểu đoàn tập trung, 34 đại đội độc lập và 70 trung đội bộ đội địa phương. Hầu hết các vùng giải phóng đã hình thành các ban chỉ huy quân sự cấp tỉnh và huyện. Lực lượng trung lập yêu nước được bổ sung, tổng quân số từ 200 khi khỏi Viêng Chăn tiến về Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1960) đã tăng lên 900 người.


Trong giai đoạn này, hình thái "vừa đánh vừa đàm” xuất hiện ở Lào. Ngày 4 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện Việt Nan thực hiện lệnh ngừng bắn ở Lào. Bộ Tổng tham mưu nhắc nhở các đơn vị: phải ra sức nắm vững tình hình địch, củng cố công sự, phòng không, ngụy trang, phòng gian; nếu địch lấn đất hoặc tiến công, hoặc đưa quân vào hậu phương ta thì cương quyết tiêu diệt; nếu máy bay địch bay vào khu vực ta thì vẫn bắn; các đơn vị phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu để khi có tình huống xảy ra xử lý kịp thời1(Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 47, 48). Ngày 15 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi Quân khu Tây Bắc, Quân khu 4, các đơn vị ở Lào hướng dẫn việc rút bộ đội tình nguyện về nước: "1- Sau ngừng bắn, âm mưu lớn của địch tiến công vào bộ đội bạn ít đi, nếu có cũng phải qua một thời gian khi biện pháp chính trị ở Lào không giải quyết được, hoặc sau khi địch đã chấn chỉnh và củng cố lực lượng. Trước mắt, âm mưu của địch là lấn đất ở những nơi tiếp giáp giữa ta và địch; tăng cường biệt kích, tập trung phỉ hoạt động ở hậu phương ta, nếu Ủy ban quốc tế đến thì trình diện; tung gián điệp lấy tài liệu về lực lượng bạn, đặc biệt tài liệu về ta. 2- Căn cứ tình hình trên, ta cần hết sức giúp đỡ bạn, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu đánh bại hoạt động khiêu khích lấn đất của địch, đồng thời phải nhanh chóng, kiên quyết rút quân về nước. Cụ thể: về bộ binh chỉ để lại chuyên gia ở mỗi đại đội khoảng 4 người, mỗi tiểu đoàn khoảng 20 người; đơn vị chiến đấu của ta chỉ để lại 1 tiểu đoàn ở vùng Mường Sài, còn lại rút hết, kể cả các đội vũ trang tuyên truyền..., thời gian rút chậm nhất là trước ngày 12 tháng 5 các đơn vị phải lên đường về nước"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 47, 48).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:04:54 am
Để giúp bạn củng cố và giữ vững vùng giải phóng hướng đường số 9, Bộ Tổng tham mưu đề nghị và được chấp thuận thành lập Bộ chỉ huy Mặt trận Đường 9 dưới quyền trực tiếp chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu 4. Mặt trận đường 9 có nhiệm vụ trước mắt là tổ chức lực lượng bố trí phòng thủ để phòng địch tiến công, giúp đỡ bạn đảm nhiệm dần nhiệm vụ chỉ huy.


Thường trực Quân ủy Trung ương xác định cần có chuyên gia quân sự ở Lào, tốt nhất là con đường công khai hợp pháp. Ngày 12 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959: Việc rút quân là theo chỉ thị của Bác và Quân ủy Trung ương. Khi đánh phải kiên quyết, khi rút cũng phải kiên quyết, nếu không khó chấn chỉnh bộ đội. Đối với bộ đội bạn cũng cần tránh phân tán trong lúc này, nếu cứ rải ra sẽ không chấn chỉnh, huấn luyện được.


Lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực thì phe phản động đã cho quân nống ra lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng Lào. Theo yêu cầu của bạn, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 3 và hai đại đội của Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 324) cùng trung đội công an vũ trang phối hợp với bạn tiến công tiêu diệt hai căn cứ Mường Ngạt và Phu La Bút do khoảng 300 tên địch trú đóng trong các hang động núi đá hiểm trở đóng giữ. Sáng 13 tháng 5 năm 1961, liên quân Việt - Lào nổ súng tiến công Mường Ngạt, địch chống trả quyết liệt nhưng cuối cùng cũng bị đánh tan. Tiếp đó, liên quân Việt - Lào đánh chiếm đồn Khăm Tạt, bao vây và đánh tan phỉ, giải phóng Phu La Bút (ngày 20-5).


Ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, liên quân Việt - Lào hai lần tiến công địch ở mặt trận Pha Đông. Ngày 8 tháng 6 năm 1961, sau khi chiếm được Pha Đông, đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng điện cho đồng chí Hoàng Sâm nêu rõ:

1- Kiên quyết truy kích bọn tàn binh ở Pha Đông tập trung lại ở vùng Pha Khao, đánh bật chúng khỏi vùng này.

2- Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, thấy phỉ nhóm lại ở đâu lập tức đánh ngay.

3- Các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng lúc nào cũng chuẩn bị sẵn từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn, nếu phát hiện địch là giao nhiệm vụ đánh ngay.

4- Mạnh dạn đưa cán bộ và đội vũ trang tuyên truyền đến vùng mới giải phóng do phỉ khống chế.

5- Đồng chí Hoàng Sâm nên bàn với bạn có kế hoạch đối phó tích cực toàn diện, tránh sự thỏa mãn sau thắng Pha Đông1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 55).


Đoàn 959 và các đơn vị quân tình nguyện tiến hành điều chỉnh lại lực lượng ở Lào. Lữ đoàn 316 cử Tiểu đoàn được tăng cường một trung đội ĐKZ 57 ly và một trung đội đại liên ở lại Mường Sài giúp bạn bảo vệ căn cứ, xây dựng lực lượng kháng chiến. Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) rút về nước (tháng 6-1961). Sư đoàn 325 để Trung đoàn 101 kết hợp với lực lượng Đoàn 559 sửa chữa sân bay Tà Khống (Sê Pôn) và mở đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn. Tiểu đoàn 929 được lệnh hành quân về Bản Ban làm nhiệm vụ phòng ngự và sẵn sàng cơ động đánh địch. Tiểu đoàn 929 cùng chuyên gia quân sự phối hợp với bạn bảo vệ đường số 12. Tiểu đoàn 925 (Trung đoàn 120) ở lại giúp bạn phòng thủ Noọng Hét. Lữ đoàn 324 để lại 1 đại đội bảo vệ binh trạm của Tổng cục Hậu cần tại Noọng Dẻ. Ngay sau đó, Đoàn 7 quân tình nguyện được thành lập thay thế Trung đoàn 120 và Lữ đoàn 324 về nước.


Tháng 7 năm 1961, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy Đảng Nhân dân Lào nhận định: "cách mạng Lào đang trên đà thắng lợi về chính trị cũng như quân sự, ảnh hưởng và địa vị của Pa-thét Lào ngày càng được nâng cao trong nước cũng như trên thế giới, đường lối đúng đắn của ta ngay càng được mọi tầng lớp nhân dân nhiệt liệt ủng hộ. Địch đang ở trên thế bị động và cô lập nhưng lực lượng của chúng chưa bị tiêu diệt, lực lượng ta chưa hơn hẳn địch. Cuộc đấu tranh sẽ còn lâu dài và phức tạp"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964). Hội nghị chủ trương: "Ra sức củng cố thắng lợi, tăng cường lực lượng mọi mặt, đồng thời ra sức phát động phong trào đấu tranh của nhân dân các vùng do phái Phu-mi - Bun-ùm kiểm soát, tập hợp thật đông đảo mọi lực lượng yêu nước chống Mỹ, đòi thành lập Chính phủ Liên hiệp do Phu-ma làm Thủ tướng và có Pa-thét Lào tham gia với địa vị xứng đáng"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964).


Đúng như nhận định của Đảng nhân dân Lào, đế quốc tiếp tục viện trợ quân sự trị giá 74 triệu đô la cho hái cực hữu phản động Viêng Chăn, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Lào. PEO tự lột bộ mặt trá hình đổi thành MAAG (Phái đoàn cố vấn quân sự) với số cố vấn Mỹ vào Lào tăng lên 1.600; nhân viên quân sự Phi-líp-pin tăng 400 và hàng trăm nhân viên kỹ thuật của ngụy Sài Gòn. CIA và phỉ chui vào cài cắm trong lực lượng trung lập nhằm phân hoá lôi kéo ly khai chống lại Pa-thét Lào. Đế quốc Mỹ và ngụy Viêng Chăn vừa cố tình kéo dài đàm phán, vừa tăng cường bắt lính phát triển lực lượng, mở các cuộc tiến công hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào. Thực hiện ý đồ của Mỹ, phe cực hữu phản động đề ra kế hoạch "Xay Xa Nạ", huy động lực lượng lớn mở các cuộc tiến công vào vùng giải phóng từ Bắc đến Nam Lào. Ở Trung - Hạ Lào, 5 GM nống lấn ra vùng Lầu Ngam (Sa-ra-van), Mường Phìn (Xa Vẳn Na Khệt), Ma-hả-xây (Khăm Muộn), nhằm chiếm khu vực đường số 9, đường số 12, phá thế liên hoan vùng giải phóng từ Bắc xuống Nam, chia cắt nước Lào và bịt hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương; phối hợp với quân ngụy Sài Gòn tăng cường hoạt động biệt kích gián điệp đánh phá các khu căn cứ cách mạng, nhằm uy hiếp cách mạng miền Nam Việt Nam từ phía tây. Ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoả, GM13 và một số tiểu đoàn độc lập tiến công lấn chiếm vùng Tha Thơm, Tà Viêng, Pha Đông,... uy hiếp cách mạng Lào từ phía đông nam. Tại Băc Lào, GM11 và GM12 đánh chiếm Mường Sài, Mường Hùn, Na Mỏ, chuẩn bị phòng tuyến Nậm U kéo dài qua Nậm Bạc đến Mường Khoa để bảo vệ cố đô Luông Phra Băng và uy hiếp biên giới Tây Bắc Việt Nam. Quân phỉ Vàng Pao ở hai tỉnh Sầm Nưa va Xiêng Khoảng liên tục quấy phá khu căn cứ cách mạng và vùng giải phóng Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:06:25 am
Ngày 6 tháng 7 năm 1961, Quân ủy Trung ương ta họp bàn chủ trương về Lào. Quân ủy Trung ương nhận định: "Trong tình hình hình hiện nay, khả năng địch đánh lớn có quân đội Thái Lan và một số nước Đông Nam Á tham gia có nhiều khó khăn về chính trị, nhưng khả năng địch sẽ cố gắng tranh thủ một thắng lợi quân sự chớp nhoáng, với mục đích có hạn để làm áp lực cho đàm phán chính trị thì có nhiều. Địch có thể âm mưu đảo chính ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết hợp với hoạt động phỉ và quân nhảy dù; phối hợp với bọn phản động trong nội bộ quân đội Vương quốc để chiếm Văng Viêng, tấn công quân sự chớp nhoáng vào đường số 9 và 12"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66). Trên cơ sở đó, Quân ủy Trung ương khẳng định: "Tích cực bảo vệ vùng giải phóng, kiên quyết giữ vững Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bất kể trường hợp nào, chuẩn bị sẵn sàng để đập tan kế hoạch tấn công đường số 9 và 12 nếu địch thực hiện; tiếp tục kế hoạch tiễu phỉ một cách tích, v.v..."1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73). Đối với bộ đội ta, Quân ủy đề nghị tạm ngừng rút quân về cho đến khi tình hình chính trị ngã ngũ"2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73).


Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, ngày 8 tháng 7 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi Quân 4 Quân khu Tây Bắc và đồng chí Hoàng Sâm: "Bộ đội ở đất bạn nhất là những vùng có tiếp xúc với bộ đội vương quốc cần phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, các bộ phận chuyên môn và cơ quan cũng phải trang bị vũ khí, tổ chức thành những đơn vị chiến đấu. Phải gần gũi bộ đội Vương quốc, tranh thủ cảm hoá những người tốt, nắm vững tình hình để kịp thời phát hiện những phần tử xấu và hành động phá hoại của chúng... Phải giúp Pa-thét Lào tăng cường công tác cảm hoá bộ đội Vương quốc, bảo đảm đoàn kết giữa hai bộ phận"3 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73).


Theo yêu cầu của bạn trong tình hình mới, ngày 31 tháng 7 năm 1961, Thường trực Quân ủy Trung ương ta xác định nhiệm vụ của Đoàn 959: “Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ đạo tác chiến theo các chủ trương, nghị quyết của bạn; lãnh đạo và chỉ huy bộ đội ta ở bên đó theo mệnh lệnh và chỉ thị của Quân ủy"4 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73). Tháng 8 năm 1961, đại diện hai đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào tiến hành hội đàm. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Viẹt Nam nêu ý kiến với bạn: Hiện nay thắng lợi thì lớn, làm thế nào để giữ được? Trước mắt có vấn đề Chính phủ Liên hiệp, nhưng vấn đề quyết định cuối cùng là ta có lực lượng không? Ta có mạnh không? Nếu bên trên có mà dưới trống rỗng thì không được. Quân đội và cơ sở quần chúng phải thật mạnh. Dưới có mạnh thì trên mới chuyển. Cần thấy chỗ yếu. chỗ mạnh của ta, đi từng bước vững chắc, phải tập trung xây dựng lực lượng cho mạnh cho kịp. Việt Nam có rút thì ta đã mạnh lên rồi. Hiện nay Đảng Lào có thế hợp pháp rất quý để xây dựng lực lượng. Trên thế giới ngoài các Đảng đã nắm chính quyền chưa có Đảng nào có như vậy, nếu không tích cực làm sẽ mất cơ hội. Đó là thắng lợi rất lớn, quý vô cùng cần phải giữ cho được. Triển khai thực hiện nghị quyết Trung ương 7, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào quyết định khẩn trương xây dựng, tăng cường lực lượng vũ trang trước hết xây dựng các tiểu đoàn chủ lực tập trung nhằm chuẩn bị cho khả năng chiến đấu với quy mô lớn và tạo ưu thế trong thương lượng. Với sự chi viện của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Tổng Quân ủy Lào đề nghị Đoàn 959 giúp thực hiện đề án kiện toàn 5 tiểu đoàn đã có, tổ chức thêm 10 tiểu đoàn mới và một số đơn vị chuyên môn kỹ thuật, phấn đấu đến cuối năm 1961 đưa Quân đội Pa-thét Lào phát triển lên 15 tiểu đoàn bộ binh, 36 đại đội độc lập, 70 trung đội địa phương huyện và các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật trực thuộc Bộ chỉ huy tối cao; tăng cường quân số cho các cơ quan của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần bạn, tổ chức thêm một số cục mới trong các tổng cục để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao trong tình hình mới1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), tr. 139).


Theo yêu cầu của bạn, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 tập trung vào công tác chuyên gia giúp bạn kiện toàn, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang. Các tổ chuyên gia của của Đoàn 959 được phân công tập trung giúp quân đội Pa-thét Lào tổ chức các đợt tập huấn chính trị, quân sự cho cán bộ trung cấp, sơ cấp và huấn luyện bộ đội. Xuất phát từ thực trạng của quân đội Pa-thét Lào, Đoàn 959 kiến nghị Tổng Quân ủy Lào gửi cán bộ luân phiên đi học các lớp ngắn ngày ở các trường trong nước và ở Việt Nam nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ về công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý đơn vị. Qua các đợt tập huấn, huấn luyện và hoạt động thưc tiễn quân đội Pa-thét Lào, nhất là đội ngũ cán bộ đại đội tiểu đoàn đã được nâng cao một bước về năng lực lãnh đạo chỉ huy; bộ đội được huấn luyện năm vững kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu cá nhân, hiệp đồng binh chủng và công tác vận động quần chúng.


Đối với lực lượng trung lập, lãnh đạo và chỉ huy Đoàn 959 trao đổi với bạn về tình hình lực lượng trung lập và sự giúp đỡ của Pa-thét Lào đối với lực lượng trung lập. Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào qua tham khảo ý kiến chuyên gia đã quyết định tăng cường đoàn kết giúp đỡ lực lượng trung lập hơn nữa, vừa liên minh chiến đâu vừa cải tạo họ theo phương châm "tranh thủ tầng lớp trên, cải tạo tầng lớp dưới”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 140), chủ yếu là lực lượng hạ sĩ quan, binh sĩ, từng bước bồi dưỡng cho họ về ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, gắn bó với cách mạng, chống Mỹ và tay sai. Một số đảng viên, cán bộ tiểu đội và một số chiến sĩ tốt của Pa-thét Lào được bổ sung làm nòng cốt trong các đơn vị của lực lượng trung lập. Đoàn 959 tăng thêm cán bộ cho tổ chuyên viên giúp các tiểu đoàn của lực lượng trung lập yêu nước.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:09:51 am
Ngày 22 tháng 9 năm 1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho ý đề án "Tình hình và nhiệm vụ ở chiến trường Lào" do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị: "Cần nắm vững đường lối đấu tranh chính trị, nắm vững ngọn cờ hoà bình, thấy rõ tác dụng của Chính phủ Liên hiệp, của mặt trận, của việc tranh thủ bộ đội Coong Le. Đó là vấn đề đường lối". "Về công tác quân sự, cần giúp đổ bộ đội Coong Le để có thể kiên trì đi với cách mạng, giúp bộ đội Pa-thét Lào để có thể dần làm chủ được việc của mình".


Qua trao đổi, tham khảo ý kiến Đoàn 959, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào quyết định tiến hành đợt hoạt động quân sự trên cả nước nhằm tiêu diệt sinh lực, phá kế hoạch lấn chiếm vùng giải phóng của địch, ở Bắc Lào, theo đề nghị lần thứ hai của Chính phủ Phu-ma, Lữ đoàn 316 (Quân khu Tây Bắc) được lệnh điều Tiểu đoàn 4 trở lại Mường Sài cùng Tiểu đoàn 3 và lực lượng Pa-thét Lào, trung lập đánh địch.


Qua một số trận chiến đấu quyết liệt, liên quân Việt - Lào đã đánh tan quân địch ở đông nam Phong Xa Lỳ, đuổi chúng khỏi khu vực Mường Sài và hình thành thế bao vây chúng ở Nậm Thà. Ở Trung Lào, liên quân Việt - Lào gôitt Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) quân tình nguyện, các tiểu đoàn 14, 17 Pa-thét Lào, và các đơn vị địa phương liên tục đánh địch trong hơn một tháng ở Thát Lài, Tăng Vai, điểm cao 166... loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên thuộc GM15 và GM17, buộc chúng phải rút về thị xã Sa-ra-van và Xa Vẳn Na Khệt. Tại hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng, liên quân Việt - Lào đánh chặn địch ở Tha Thơm, Văng Viêng, quét phỉ ở Chôm Văn, Giang Tơi (nam Phong Xa Lỳ), diệt các vị trí Noọng Pét, Cha Mừn; giải phóng khu vực nam bắc đường số 7 (Xiêng Khoảng). Ở các địa phương vùng sau lưng địch, các cơ sở Đảng và mặt trận đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, nhất là ở nam bắc đường số 9, khôi phục nhiều căn cứ du kích ở tây Viêng Chăn, Bô-ri-khăm, Bô Li Khăm Xay và Lầu Ngam, Hín Lạt (Hạ Lào); phát triển cơ sở cách mạng ở Xay Nha Bu Li.


Cuối năm 1961, hình thái chiến trường Lào chuyển biến ngày càng có lợi cho cách mạng. Quân phái hữu phản động từ chỗ ở thế tiến công đã buộc phải bỏ dở kế hoạch "Xay Xa Nạ" chuyển sang phòng ngự.


Để cứu vãn tình thế nguy khốn, đầu năm 1962, Mỹ - ngụy Viêng Chăn tập trung các binh đoàn cơ động về Luông Nậm Thà (Thượng Lào), đồng thời tăng cường phỉ, biệt kích quấy phá các vùng giải phóng, nhất là ở Xiêng Khoảng và Sầm Nưa; phối hợp với biệt kích Mỹ - ngụy Sài Gòn quấy phá hành lang chiến lược Đông Dương ở Trung - Hạ Lào. Mỹ - ngụy Viêng Chăn dồn quân đến Nậm Thà nhằm xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự mạnh làm bàn đạp chiếm lại toàn bộ Thượng Lào, uy hiếp Tây Bắc Việt Nam, khống chế một phần biên giới với Trung Quốc, bảo vệ tuyến Đông Bắc Thái Lan của khối SEATO, đồng thời gây áp lực phá hội nghị hiệp thương ba phái và Hội quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào.


Nhằm ngăn chặn hành động quân sự mới của địch, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào chấp thuận đề nghị của Đoàn 959 quyết định đẩy mạnh quân sự trong Xuân Hè 1962, trước mắt tiêu diệt địch lấn chiếm Nậm Thà để hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao.


Ngày 16 tháng 1 năm 1962, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng điện gửi đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Quân khu Tây Bắc nêu rõ: Nhiệm vụ quân sự hiện tại của bộ đội là tích cực tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững những khu vực và mục tiêu chủ yếu đã chiếm và xâ dựng căn cứ, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, giải phóng đất đai. "Khi đánh Nà Mỏ cần tranh thủ cho được việc tiêu diệt sinh lực địch. Muốn vậy phải rút kinh nghiệm những trận chiến đấu vừa qua, phải tổ chức vu hồi sau lưng địch, kết hợp bao vây gần với bao vây xa, bí mật phục kích trên những đường mà địch có thể rút chạy hoặc cơ động từ trong ra ứng cứu. Nếu có điều kiện thì nhanh chóng thọc sâu vào tiêu diệt những mục tiêu của địch đang bị bao vây ở chính diện. Trường hợp tranh thủ được thắng lợi và địch tan rã có thể giải phóng Luông Nậm Thà”1 ().


Tiếp đó, ngày 28 tháng 1 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu điện chỉ đạo Quân khu Tây Bắc, Quân khu 4. Đối với Quân khu Tây Bắc và đồng chí Chu Phương Đới (Sư trưởng Sư đoàn 316), bức điện nêu rõ: "Luông Nậm Thà, địch đã tăng cường lực lượng; nếu bộ đội đang đánh mà địch tan, bỏ chạy, ta có điều kiện thuận lợi chiếm Luông Nậm Thà thì cứ tiến hành theo kế hoạch cũ. Nếu ta đang chuẩn bị tấn công thì tiếp tục chuẩn bị, nhưng chưa tổng công kích vội, chờ chỉ thị của Bộ". Với Quân khu 4: Hiện nay, địch đang tập trung lực lượng đối phó ở Nậm Thà, đồng thời chúng vẫn tập trung lực lượng chủ yếu và dự địng tiếp tục mở cuộc tiến công vào đường 12. Quân khu tranh thủ lúc địch tập trung lực lượng, tấn công tiêu diệt một bộ phận địch ở đường 12. Trong tác chiến, chú ý tập trung ưu thế diệt một bộ phận địch, đừng ham ăn to”1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập II, Sđd, tr. 144).


Cùng thời gian này, Bộ Tổng tham mưu điện gửi đồng chí Lê Chưởng - Trưởng đoàn Đoàn 959, chỉ rõ: Hiện nay địch rút lực lượng ở Hạ Lào, Viêng Chăn để tăng cường cho hướng đường số 12 và đối phó với việc ta đánh gần Nậm Thà, do đó vùng địch hậu ở Hạ Lào, Viêng Chăn sơ hở; ta cần giúp bạn đẩy mạnh hoạt động ở địch hậu, chú ý vùng Hạ Lào, Viêng Chăn, Huội San, dọc đường số 13.


Ngày 20 tháng 2 năm 1962, Quân ủy Trung ương ta chỉ thị cho quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào: Tranh thủ xây dựng lực lượng cho bạn, giúp bạn củng cố căn cứ địa, tích cực tiêu diệt địch bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động quân sự vùng sau lưng địch, củng cố liên minh với lực lượng Coong Le nhằm làm cơ sở cho đấu tranh chính trị, luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với khả năng địch đánh lớn. Trong việc phòng ngự giữ khu giải phóng, lấy tiêu diệt địch làm chính. Phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu, chú trọng Hạ Lào, chống càn đánh giao thông, tiễu phỉ có trọng điểm, chú trọng bảo vệ đường giao thông của ta.


Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, những tháng đầu năm 1962, Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung lực lượng mạnh gồm các tiểu đoàn 927, 929, 9 của Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 44, hai khẩu pháo 105 ly đại đội cao xạ 37 ly phối hợp với các tiểu đoàn 16 18 đại đội của Tiểu đoàn 17 Pa-thét Lào và 1 tiểu đoàn trung lập Vương quốc tham gia phòng thủ Ma-hả-xây Nhom Ma Rát, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ con đường huyết mạch số 12, hỗ trợ cho bạn đấu tranh chính trị, ngoại giao đẩy mạnh hoạt động trên các chiến trường khác.


Tháng 3 năm 1962, Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào và Hội nghị ba phái Lào ở Na Mon phải tạm ngừng. Đàm phán chính trị bế tắc. Phu-ma bỏ đi Pháp gây hoang mang trong hàng ngũ trung lập, có người muốn thỏa hiệp với địch. Dự kiến khả năng phản ứng của Mỹ - ngụy Viêng Chăn và nhằm giảm khó khăn cho bạn trong mùa mưa sắp đến, hai Bộ Chính trị Việt Nam và Lào đã trao đổi quyết định mở chiến dịch giải phóng Nậm Thà.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:11:25 am
Tỉnh Luông Nậm Thà cách Thủ đô Viêng Chăn 370 km về phía bắc, có đường biên giới chung với Trung Quốc, Miến Điện (nay là Mi-an-ma), Thái Lan. Địa hình trong tỉnh phần lớn là núi cao trung bình hơn 1.000 m, trong đó phía đông có mỏm cao tới 1.620 m và 1.820 m xen kẽ rừng rậm, có thung lũng Nậm Thà và thung lũng Mường Xinh là hai cánh đồng lúa lớn nhất vùng Thượng Lào. Thị xã Nậm Thà nằm ở phần nam thung lũng Nậm Thà; thị trấn Mường Xinh nằm trong thung lũng Mường Xinh và cách Nậm Thà 30 km về phía tây bắc.


Mỹ - ngụy đã tập trung ở Nậm Thà - Mường Xinh một lực lượng lớn, gồm 8 tiểu đoàn thuộc GM11, GM15, GM18 và 3 tiểu đoàn chiếm đóng (BV13, BV15, BV18) với tổng quân số lên tới 5.600 tên, cùng 6 khẩu pháo 105 ly, 7 khẩu sơn pháo 75 ly, đặt dưới sự chỉ huy của quân khu Bắc.


Ngày 8 tháng 3 năm 1962, đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó điện gửi Quân khu Tây Bắc, đồng chí Chu Phương Đới, đồng chí Hồng Kỳ và Đoàn 959 nêu rõ:

"1. Nhờ những cố gắng khắc phục khó khăn hoàn thành hiệm vụ của ta, địch phải chuyển từ thế tiến công hai mặt lên Mường Sài về co cụm ở Pak Lung - Nậm Thà, thu hút trên 1/6 lực lượng cơ động. Do đó, các mặt khác ở Trung - Hạ Lào địch không thể hoạt động lớn, hầu như ngừng tại chỗ. Bạn có nhiều thời cơ đi sâu vào lòng địch hoạt động mạnh, diệt địch, mở rộng và củng cố cơ sở. Nếu ta giữ được địch ở đó đến mùa mưa thì tác dụng càng lớn.    

2. Phương châm hoạt động của ta là giữ vững trận địa hiện tại nhằm, chỗ sơ hở đánh chắc thắng, tạo điều kiện khống chế sân bay, cụ thể: giữ vững trận địa then chốt, đánh lui mọi cuộc tiến công của địch, làm cho chúng hoang mang, suy yếu dần; tổ chức một số cuộc tiến công chắc thắng, có chuẩn bị chu đáo, không nên đánh nhiều nơi một lúc, như vậy mới không ảnh hưởng chính trị; tạo điều kiện để tiếp tục khống chế sân bay.

3. Tiếp tục chuẩn bị chiến trường, nghiên cứu sẵn kế hoạch, nhất là nắm địch để quá trình chiến đấu có thể đánh lớn hơn nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và làm cho số còn lại tan rã.

4. Tích cực giúp bạn về mọi mặt làm cho bạn trưởng thành, phải tận dụng khả năng của bạn; bàn với bạn tìm cách liên lạc và chỉ đạo các trung đội địa phương hoạt ở vùng Nậm Thà"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd,tr. 166).

Cùng ngày 8 tháng 3, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng điện gửi Bộ chỉ huy Mặt trận Luông Nậm Thà: "Cần hiểu rõ và nắm vững quyết tâm của và tác dụng của các trận đánh trước mùa mưa ở Luông Nậm Thà”.   


Ngày 28 tháng 3 năm 1962, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào thống nhất hạ quyết tâm mở chiến dịch Nậm Thà (mật danh chiến dịch XYZ). Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, giải phóng thị xã Nậm Thà và thị trấn Mường Xinh, phá thế uy hiếp của chúng ở Thượng Lào, cô lập Luông Phra Băng, phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị, hỗ trợ cho Hội nghị hiệp thương ba phái ở Cánh Đồng Chum và Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào, đưa cách mạng Lào tiến lên một bước mới. Đối với quân tình nguyện Việt Nam, thể nghiệm tiến hành chiến dịch đánh rừng núi sau tám năm xây dựng, huấn luyện trong hoà bình và tạo điều kiện cho bộ đội Pa-thét Lào tham gia tổ chức, chỉ huy chiến đấu, cùng nhau học tập, trưởng thành trong thực tế”. Ngày 7 tháng 4 năm 1962, Quân ủy Trung ương ta ra quyết định (số 40/QU-TW) thành lập Đảng ủy Mặt trận Thượng Lào gồm 5 đồng chí, do Thiếu tướng Trần Độ làm Bí thư. Ngày 15 tháng 4 năm 1962, Bộ tư lệnh chiến dịch được thành lập: Phía Việt Nam, Thiếu tướng Nguyên Bằng Giang (Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào) làm Tư lệnh, Thiếu tướng Trần Độ (Chính ủy quan tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào) làm Chính ủy; thượng tá Nguyễn Hữu An - Tham mưu trưởng; thượng tá Dương Cự Tẩm - Phó chủ nhiệm Chính trị, trung tá Bùi Phùng, Chu nhiệm Hậu cần. Phía Lào có đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng. Các cơ quan Quân khu Việt Bắc tách một bộ phận giúp các Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch.


Lực lượng tham gia chiến dịch có Lữ đoàn bộ binh 316 đứng chân ở địa bàn chiến dịch, Lữ đoàn 335, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330), 1 tiểu đoàn sơn pháo 75 ly (13 khẩu) 1 tiểu đoàn súng cối 120 ly (12 khẩu), 1 tiểu đoàn phòng không 12,7 ly (12 khẩu), Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào, đại đội địa phương Na Mỏ, đại đội địa phương Nậm Thà, một số trung đội địa phương huyện và dân quân du kích các xã. Tổng quân số tham gia chiến dịch khoảng 7.800 người.


Lữ đoàn 316 được chỉ định làm lực lượng chủ yếu. Hai lữ đoàn 316 và 335 tạm thời thống nhất lãnh đạo, chỉ huy như một đơn vị do các đồng chí Lê Vũ - Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 316 làm Bí thư Đảng ủy, Chu Phương Đới - Tư lệnh Lữ đoàn 316 chỉ huy.


Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tập trung binh lực và binh khí tiêu diệt từng bộ phận quân địch, dùng bộ phận nhỏ thọc sâu, vu hồi đánh vào bên sươn, phía sau, kết hợp tác chiến với vận động binh lính để nhanh chóng làm tan rã quân địch.


Đội hình chiến dịch được tổ chức thành một thê đội lớn và một đội dự bị. Lữ đoàn 316, lực lượng chủ yếu của thê đội lớn được tổ chức thành hai thê đội nhỏ. Thê đội nhỏ thứ nhất gồm Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn 316), tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335). Thê đội nhỏ thứ hai gồm Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn 335). Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330) làm lực lượng dự bị chiến dịch.


Công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch gặp nhiều khó khăn do mặt trận cách xa hậu phương hơn 500 km. Vũ khí, đạn, lương thực được vận chuyển bằng máy bay từ Việt Nam sang. Bộ tư lệnh chiến dịch huy động 900 tân binh, pháo thủ các đơn vị và hàng trăm dân công nước bạn lập các đội vận tải ô tô, ngựa thồ, xe đạp đưa hàng từ bãi đỗ của máy bay ra mặt trận; đồng thời quyết định giảm định lượng ăn của mỗi cán bộ, chiến sĩ xuống còn 5 đến 4 lạng gạo một ngày để dự phòng lương thực cho chiến đấu dài ngày.


Thực hiện kế hoạch của Bộ tư lệnh chiến dịch, ngày 10 tháng 3 năm 1962, Lữ đoàn 335 xuất phát từ Mộc Châu hành quân bằng cơ giới lên Điện Biên, rồi hành quân bộ sang Lào. Ngày 24 tháng 4 năm 1962, Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) nổ súng tiến công các điểm cao 1620, 1680 thuộc ngoại vi Nậm Thà, đánh tan tiểu đoàn dù 55 của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:12:43 am
Tối 27 tháng 4 năm 1962, tại cao điểm 1620, Đảng ủy Lữ đoàn 316 họp, ra nghị quyết triển khai mệnh lệnh tác chiến của Bộ tư lệnh chiến dịch, hạ quyết tâm lãnh đạo chiến đấu: "Tập trung binh hoả lực tiêu diệt địch ở khu đông nam từ phía nam suối Nậm Thung đến sườn nam đồi Xanh, Nà Noi, Nậm Thà. Phối hợp cùng mũi thứ yếu ở hướng tây bắc và mũi thọc sâu ở tây nam tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã toàn bộ quân địch ở Nậm Thà, giải phóng Luông Nậm Thà". "Nhiệm vụ của Lữ đoàn 316 ở hướng chủ yếu chiến dịch rất quan trọng quyết định thắng lợi chung của toàn mặt trận. Nó đánh mở màn đồng cũng là kết thúc chiến dịch, cho nên toàn thể cán bộ, chiến sĩ phải nêu cao quyết tâm đã đánh là phải đảm bảo chắc thắng"1 (Sư đoàn 316, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1968, tr. 78, 79).


Quán triệt nghị quyết của Đảng ủy và mệnh lệnh chiến đấu của Lữ đoàn, Phòng Chính trị Lữ đoàn 316 tổ chức giáo dục mục đích, ý nghĩa chiến dịch, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tinh thần kiên quyết tiến công, tích cực tiêu diệt địch. Các đơn vị xây dựng quyết tâm chiến đấu tập tung vào các nội dung: Nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Truy kích thật dẻo dai mãnh liệt. Tham gia vận tải, thực hành tiết kiệm đan dược, lương thực. Không coi thường địch, không đánh giá cao địch. Bảo đảm đoàn kết nội bộ và đoàn kết chiến đấu với bạn. Sau một thời gian làm việc khẩn trương, công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành. Theo kế hoạch, đêm 2 tháng 5 năm 1962 liên quân Việt - Lào bắt đầu chiến dịch tiến công Nậm Thà. Lực lượng trên hướng phối hợp nổ súng trước. Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn 335) cùng Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào được tổ chức thành một trung đoàn hỗn hợp do hai đồng chí Hùm-pheng (Lào), Quang Vinh (Việt Nam) chỉ huy nổ súng tiến công Mường Xinh. Tiểu đoàn 2 đánh đồn quân sự; tiểu đoàn 4 đánh sân bay; Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào làm dự bị. Địch tan rã, rút chạy (hơn 100 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó có tên chỉ huy GM11 bị bắt sống). Đến 9 giờ ngày 3 tháng 5, liên quân Việt - Lào hoàn toàn làm chủ Mường Xinh. Lữ đoàn 335 để lại một bộ phận của Tiểu đoàn 2 cùng Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào tiếp quản thị trấn, số còn lại cùng Tiểu đoàn 4 phát triển tiến công truy kích địch.


Trên hướng chính diện, 3 giờ 32 phút ngày 6 tháng 5 năm 1962, pháo binh mặt trận bắt đầu bắn vào Nậm Thà1 (Bị mất Mường Xinh, viên tướng Bun Lợt - Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy Viêng Chăn lên Nậm Thà quyết định đúng 4 giờ sáng  ngày 6 tháng 5 năm 1962 tập trung toàn bộ pháo bắn hết cơ số đạn vào các vị trí đối phương rút quân. Như vậy, ta đã mở cuộc tiến công sớm 28 phút) Quân địch trong thị xã và ngoài tiền duyên đối phó rời rạc. Đến 4 giờ, nhận được tin quân địch có dấu hiệu rút lui, Lữ đoàn 316 lập tức tổ chức xung phong. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn 316) cùng Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) tiến công Nậm Thà. Quân địch bắn trả dữ dội. Trong trận đánh đồn Bun Chăn, chiến sĩ Nguyễn Văn Lới (Đại đội 17 Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 316) một mình dùng lựu đạn tiếp cận diệt cụm hoả lực đại liên của địch và dũng cảm hy sinh tạo điều kiện cho đơn vị xung phong chiếm toàn bộ mục tiêu. Ngay sau đó, Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) phối hợp tiến công đồi Tranh. Mũi Tiểu đoàn 4 bị pháo binh địch ngăn chặn. Thiếu úy Phạm Quốc Ái - Chính trị viên phó Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4) anh dũng hy sinh trong lúc vừa cứu chữa vừa lấy thân mình che chở thương binh dưới làn đạn địch. Mũi Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) đánh đồi Xanh lúc đầu phát triển nhầm hướng ngược về tiền duyên ta. Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) phải quay trở lại, được pháo binh mặt trận yểm trợ, lợi dụng địa hình, địa vật, hỗ trợ nhau vượt qua hoả lực dày đặc của địch. Chiến sĩ Đoàn Kim Mai dùng B40 và các loại vũ khí cướp được của địch bắn chế áp và diệt các ổ hoả điểm địch, bảo đảm cho đồng đội xung phong.


8 giờ 20 phút Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: Hướng tiến công của Lữ đoàn 316 phát triển thuận lợi; địch có khả năng sẽ rút chạy, vì vậy cần nhanh chóng thọc sâu vào tung thâm phòng ngự, chia cắt tiêu diệt địch. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) tiếp tục bao vây, đột phá tiêu diệt địch ở đồi Xanh; Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) chọc thẳng vào tung thâm bao vây tiêu diệt truy kích địch; Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) tiến theo hướng Bun Chăn, Nà Noi vào tung thâm Nậm Thà. Chấp hành mệnh lệnh Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) thọc vào tung thâm đánh chiếm khu hành chính. Quân địch phóng hoả đốt cháy nhà cửa, tài liệu, chống cự yếu ớt rồi rút chạy. Lập tức Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) được lệnh bám sát truy kích địch rút chạy về Viêng Phu Kha. Đến 9 giờ 23 phút, trừ khu đồi Cháy, còn lại liên quân Việt - Lào đã làm chủ thị xã Nậm Thà. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào tiến vào tiếp quản thị xã.


12 giờ 30 phút ngày 6 tháng 5 năm 1962, Bộ tư lệnh chiến dịch chuyển vào Nậm Thà. Thường vụ Đảng ủy mặt trận nhận định: Ta giải phóng Nậm Thà tương đối nhanh, nhưng chưa tiêu diệt được sinh lực địch; song cơ hội diệt địch vẫn còn. Thường vụ chỉ thị toàn mặt trận nhanh chóng, kiên quyết truy quét địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ định Ban chỉ huy truy kích do thượng tá Nguyễn Hữu An - Tham mưu mặt trận chỉ huy cùng với Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 chưc truy kích địch; Lữ đoàn 335 làm nhiệm vụ truy tàn binh địch ở Luông Nậm Thà.


Chấp hành mệnh lệnh, Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 sử dụng Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 4, được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330), do trung tá Ngô Trung - Tham mưu phó lữ đoàn chỉ huy truy kích địch. Các đồng chí Tư lệnh và Chính ủy lữ đoàn, một số cán bộ cơ quan tiến theo các mũi để tăng cường chỉ huy, động viên bộ đội chiến đấu với phương châm "thời gian là lực lượng và chiến công", ngay từ chiều 6 tháng 5, các mũi đã xuất kích, đuổi kịp, đánh tan địch ở Sa La, Xan Hốp, Nậm Xinh, Viêng Phu Kha, Mộc Tiên, Bản Son, Ta Pa, Ta Nam, Bản Peng, Xiêng Kon. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1962, các mũi truy kích của Lữ đoàn 316 tôn trọng luật pháp đã dừng lại tại Ta Pa và Xiêng Kon. Tàn quân địch chạy sang đất Thái Lan. Các đơn vị quân tình nguyện chuyển sang giúp bạn xây dựng cơ sở, bảo vệ vùng giải phóng.


Toàn chiến dịch, liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.800 tên địch thuộc lực lượng cơ động chiến lược của quân ngụy Viêng Chăn, trong đó GM11 bị diệt hoàn toàn, GM15 và GM18 bị thiệt hại nặng; giải phóng toàn bộ khu vực Nậm Thà rộng 8.000 km2 với hơn 7 vạn dân.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Ba, 2021, 09:13:31 am
Ngay sau chiến dịch, Quân ủy Trung ương ta gửi điện khen ngợi bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào: "Các đồng chí đã anh dũng chiến đấu, đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, đoàn kết với quân đội và nhân dân nước bạn, luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng va phẩm chất cao quý của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, tỏ ra xứng đáng với lòng tin yêu và sự giáo dục của Đảng, của nhân dân và quân đội ta, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân và quân đội bạn.


Các đồng chí đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào thắng lợi to lớn của cách mạng Lào, làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cách mạng Lào"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1044-2000), Sđd, tr. 941).


Tổng kết chiến dịch Nậm Thà, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng đánh giá: "Đó là màn chót của giai đoạn thử thách của địch... Thắng lợi Nậm Thà cũng là then chốt đẩy cục diện Lào đang đấu tranh chính quân sự xen kẽ chuyển sang giai đoạn mới là hoà bình phát triển tiến bộ trong đấu tranh chính trị hợp pháp của cách mạng Lào".


Lữ đoàn 316, lực lượng chủ yếu lập được nhiều thành tích xuất sắc được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng 4 Huân chương Quân công hạng ba cho lữ đoàn, Tiểu đoàn 3 bộ binh, Tiểu đoàn 14 pháo binh và Đại đội 28 thuộc Tiểu đoàn 14; 44 Huân chương Chiến công (15 hạng nhất, 12 hạng nhì, 17 hạng ba) cho toàn bộ các tiểu đoàn, hầu hết các đại đội và ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần lữ đoàn; 4 cán bộ, chiến sĩ được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất, 22 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì và 94 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công hạng ba.


Phát triển thắng lợi của chiến dịch Nậm Thà, các đơn vị quân tình nguyện tham gia chiến dịch chuyển sang giúp bạn củng cố vùng giải phóng. Phòng Chính trị Lữ đoan 316 phối hợp với địa phương tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền do các chiến sĩ Pa-thét Lào làm nòng cốt toả đi hoạt động ở các vùng mới giải phóng. Bộ đội tình nguyện sát cánh cùng chiến sĩ Pa-thét Lào xuống các làng bản ổn định tinh thần nhân dân, giải thích đường lối chính sách của Mặt trận Lào yêu nước, giúp bà con hiểu cách mạng và nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân tình nguyện Việt Nam. Các đội tuyên truyền giúp bạn thực hiện chủ trương vận động và phát động quần chúng kêu gọi người thân (chồng, con, anh em) đi lính cho địch còn đang lẩn trốn trong rừng trở về nhà làm ăn. Được các đội tuyên truyền giác ngộ và hướng dẫn, chỉ trong thời gian ngắn, đồng bào đã động viên được hơn 100 binh lính các loại mang theo 42 súng bộ binh và 2 đại liên trở về làng bản. Vùng giải phóng dần ổn định, nhân dân vui mừng yên tâm xây dựng ổn định cuộc sống.


Tại các địa phương khác, lực lượng vũ trang cách mạng Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến dịch Nậm Thà, gây cho địch nhiều tổn thất. Ở Trung Lào, Trung đoàn 101 (Lữ đoàn 325) quân tình nguyện cùng một bộ phận của hai tiểu đoàn 14 và 17 Pa-thét Lào phát triển thắng lợi của Mặt trận Đường 9, tiến xuống phía nam liên tiếp diệt các vị trí Xiêm Pạ, Com-măng-đô, Tam Luật, La Vi, Ta Nin, Chả Côi, Sa Mọi, Tà Lum, mở rộng vùng giải phóng xuống miền Đông Bắc tỉnh Sa-ra-van và tỉnh Tà-vên-oọc, tạo thế cho tuyến đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn tiếp tục phát triển về phía nam.


Bị thất bại ở Nậm Thà, đêm 11 tháng 5 năm 1962, tống thống Ken-nơ-đi họp khẩn cấp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định "sẵn sàng can thiệp vào Lào". Ngày 13 tháng 5 năm 1962, đế quốc Mỹ huy động tàu chở cấp tốc 2.000 lính thủy đánh bộ đổ bộ vào đông bắc Thái Lan tăng cường lực lượng cho khối SEATO. Sư đoàn bộ binh số 3 của Mỹ đóng tại Nhật Bản được lệnh báo động. Các nước đồng minh Mỹ sẵn sàng can thiệp gây áp lực đối với lực lượng cách mạng yêu nước Lào. Mặc dù vậy, chính quyền Mỹ tính toán nếu đưa quân vào Lào thì chiến tranh sẽ mở rộng, khó tránh khỏi sự phản ứng của các nước xã hội chủ nghĩa và dư luận tiến bộ trên thế giới. Hơn nữa, Mỹ đang gặp khó khăn, bước đầu bị thất bại ở miền Nam Việt Nam, nên cuối cùng Mỹ - ngụy Viêng Chăn một lần nữa phải chấp nhận giải pháp giải quyết vấn đề Lào bằng thương lượng.


Ngày 12 tháng 6 năm 1962, Hiệp định Cánh Đồng Chum được ký kết, Chính phủ Liên hiệp ba phái được thành lập do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Phó thủ tướng và quyết định lấy ngày 24 tháng 6 năm 1962 ngừng bắn chính thức trên toàn quốc.


Ngày 2 tháng 7 năm 1962, sau một thời gian gián đoạn, Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào có 14 nước tham gia họp trở lại. Ngày 23 tháng 7 năm 1962, Hiệp định Giơ- ne-vơ về Lào được ký kết. Các nước tham gia ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ thừa nhận tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.


Đến đây, các đơn vị quân tình nguyện cùng chuyên gia quân sự Việt Nam đã trải qua hơn hai năm (1960-1962) sát cánh với bạn Lào chòng chiến lược "chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Trên các lĩnh vực hoạt động, quân tình nguyện cùng chuyên gia quân sự Việt Nam đã phát cao độ tinh thần trách nhiệm, hết lòng chi viện giúp đỡ bạn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, chuyển hướng đấu tranh chống Mỹ - ngụy Viêng Chăn, góp phần cùng quân đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập tiến bộ và nhân dân các bộ tộc Lào giành thắng lợi quan trọng về quân sự, góp phần vào việc ký Hiệp định Cánh Đồng Chum, thiết lập Chính phủ Liên hiệp ba phái và ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào, tạo nên bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Lào; đồng thời tạo ra thế phối hợp giữa hai chiến trường Lào, miền Nam Việt Nam sát cùng nhau tiến lên đánh bại mọi âm mưu và hành động leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 02:53:12 pm
II. ĐẤU TRANH DUY TRÌ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP VÀ BẢO VỆ HOÀ BÌNH, TĂNG CƯỜNG THẾ VÀ LỰC ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1962-1965)

Trong không khí thắng lợi của chiến dịch Nậm Thà, Chính phủ Liên hiệp ba phái được thành lập, Hiệp nghị Giơ-ne-vơ về Lào được ký kết, tháng 10 năm 1962, Đảng Nhân dân Lào họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10. Hội nghị nêu rõ: cách mạng Lào đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn "mở đầu cho việc giải quyết hoà bình vấn đề Lào, tạo điều kiện cho ta củng cố những thành quả của cách mạng, tăng cường lực lượng về mọi mặt, thúc đẩy cách mạng tiến lên". Hội nghị nhận định: "đây mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên con đường giải quyết hoà bình vấn đề Lào, đưa nước Lào đi theo đường lối hoà bình trung lập, chưa phải là thắng lợi quyết định của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Lào". Hội nghị chỉ rõ âm mưu của đế quốc Mỹ là "lùi một bước tránh cho quân đội phản động Lào khỏi tan rã hoàn toàn; lợi dụng Ủy ban quốc tế và đặc biệt hy vọng lôi kéo Hoàng thân Phu-ma cắt đứt quan hệ giữa cách mạng Lào với cách mạng Việt Nam; tiếp tục lôi kéo Hoàng thân Phu-ma và lực lượng theo ông ta phá vỡ mặt trận đoàn kết chống Mỹ và tay sai, làm cho Neo Lào Hắc Xạt bị cô lập hòng biến Chính phủ Liên hiệp thành công cụ của chúng phục vụ âm mưu lâu dài của chúng đối với Lào và khu vực Đông Dương”1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến năm 1964, tài liệu Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Cách mạng Lào chuyển sang giai đoạn mới. Ngay sau chiến dịch Nậm Thà, tình hình chính trị ở Lào đã có sự thay đổi ngày 15 tháng 5 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu họp dự kiến điều chỉnh nhiệm vụ các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Đối với Đoàn 959, Bộ Tổng tham mưu nhận thấy: về cơ cấu tổ chức cơ quan lãnh đạo của bạn có sự thay đổi do chuyển về đóng ở Sầm Nưa, nên việc liên lạc, trao đổi có nhiều khó khăn; đồng thời hệ thống chuyên gia giúp bạn của ta còn qua nhiều khâu trung gian. Vì thế, cần đề nghị Quân ủy Trung ương sắp xếp tổ chức hệ thống chuyên gia theo từng khu vực bạn yêu cầu:


Nhiệm vụ của chuyên gia ở Sầm Nưa là giúp bạn về nghiệp vụ và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự; phát hiện những vấn đề về chủ trương, đường lối báo cáo với Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương để bàn bạc với bạn.


Chuyên gia ở khu vực Cánh Đồng Chum giúp bạn về chuyên môn, về biện pháp thực hiện các vấn đề quân sự vực; thống nhất với bạn về chỉ huy, hiệp đồng tác chiến trong chiến đấu; tổ chức các tổ chuyên gia sự ở khu vực Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào giúp bạn về công tác quân sự trong khu vực. Riêng Quân khu Tây Bắc và Quân khu 4 nhiệm vụ giúp bạn sẽ được giao cụ thể trong từng thời kỳ.


Thống nhất tất cả các tổ chuyên gia đang hoạt động ở Lào vào một đầu mối là Tổng chuyên gia, đặt trụ sở ở Hà Nội, chỉ đạo toàn diện các tổ chuyên gia; trong đó tổ chức một bộ phận chuyên trách quân sự trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, do Bộ Tổng tham mưu phụ trách.


Theo phương hướng tổ chức lại hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam ở Lào đã được Thường trực Quân ủy Trung ương thông qua; đồng thời xuất phát từ vị trí chiến lược của chiến trường Trung Lào ngày càng quan trọng đối với cách mạng hai nước, ngày 3 tháng 6 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu quyết định giao cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 tổ chức cơ quan chỉ huy quân sự vùng Trung Lào, nhằm tăng cường hiệu quả chiến đấu, thống nhất chỉ huy các lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở khu vực Trung Lào. Bộ Tổng tham mưu quy định tổ chức cơ quan chỉ huy quân sự vùng Trung Lào phải gọn nhẹ, nhưng bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ. Các lực lượng và phương tiện tuyển chọn từ Quân khu 4, có bổ sung thêm từ Bộ. Tất cả cán bộ, chiến sĩ Đoàn 959 đang làm chuyên viên giúp bạn ở khu vực Trung Lào chuyển giao cho Bộ lệnh Quân khu 4 chỉ huy, quản lý. Nhiệm vụ của cơ quan chỉ huy quân sự vùng Trung Lào là:

1. Trực tiếp chỉ huy các lực lượng tình nguyện của ta trên chiến trường Trung - Hạ Lào.

2. Trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng, củng cố cơ sở trong khu vực này.

3. Tổ chức các lực lượng của ta và giúp bạn thực hiện kế hoạch phòng thủ vùng giải phóng.

4. Chuẩn bị chiến trường trước mắt và đối phó với tình huống khẩn trương nhất, đồng thời chuẩn bị chiến trường có tính chất lâu dài.


Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh rút một số đơn vị chiến đấu, cơ quan và chuyên gia quân sự Việt Nam đang hoạt động và công tác ở Lào về nước. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, tháng 10 năm 1962, các lữ đoàn 316, 335, 330 quân tình nguyện Việt Nam lần lượt hành quân về nước.


Theo yêu cầu của bạn, một số đơn vị nhỏ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ở lại tiếp tục giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở và tiễu phỉ, bảo vệ khu giải phóng trên những địa bàn quan trọng. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đoàn 959 với quân số 3.085 người (giữa năm 1962), rút gọn còn một bộ phận gồm 49 người do các đồng chí Nguyễn Hoà - Tham mưu trưởng, Lê Xuân - Chủ nhiệm hậu cần, Hà Minh Tân - Phụ trách Phòng Chính trị của Đoàn ở lại giúp ba cơ quan thuộc Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quân đội Pa-thét Lào.


Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đã cơ bản về nước. Ngày 2 tháng 10 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Phòng Nghiên cứu chiến trường Lào (Phòng 962). Nhiệm vụ của Phòng 962 là:

1. Nghiên cứu các vấn đề về tác chiến ở chiến trường Lào, tổ chức và huấn luyện bộ đội Pa-thét Lào và Vương quốc, tiếp tế cho bộ đội bạn.

2. Nghiên cứu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào; theo dõi tổng hợp các vấn đề giúp Bộ chỉ đạo các đoàn chuyên gia, tuỳ viên quân sự và chỉ đạo việc bồi dưỡng cán bộ bạn sang học ở nước ta.

3. Hiệp đồng với cơ quan ba Tổng cục, trong và ngoài quân đội và cơ quan bạn về các vấn đề thuộc chiến trường Lào.

4. Cùng Cục Quân huấn - điều lệnh Bộ Tổng tham mưu, Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị và các trưòng, binh chủng giúp bạn biên soạn tài liệu học tập.

5. Quản lý cán bộ, nhân viên kỹ thuật dự trữ giúp Lào và giải quyết những vấn đề hậu phương của Đoàn 959.


Cuối năm 1962, đại bộ phận cơ quan Trung ương Đảng, Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quân giải phóng Lào từ Cánh Đồng Chum chuyển về căn cứ Sầm Nưa. Bộ phận ở lại Cánh Đồng Chum gọi là Trung ương phân cục, làm đại diện thường trực của Neo Lào Hắc Xạt liên hệ với lực lượng trung lập Phu-ma - Coong Le và Chính phủ Liên hiệp ở Viêng Chăn. Đoàn 959 được lệnh chuyển về Xiềng Xừ - Sầm Nưa giúp ba cơ quan Tổng cục bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 02:55:31 pm
Mặc dù Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào được ký kết (năm 1962), nhưng trên thực tế các thế lực thù địch vẫn âm mưu đẩy mạnh các hoạt động phá hoại cách mạng Lào. Đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ tài chính, vũ khí, trang bị cho quân ngụy Viêng Chăn. Nhân viên CIA và cố vấn quân sự Mỹ vẫn tiếp tục vào Lào. Mỹ - ngụy đẩy mạnh đôn quân, bắt lính để khôi phục các GM bị tan rã trong chiến dịch Nậm Thà. Đặc biệt, đế quốc Mỹ chú trọng nắm lực lượng "phỉ", xây dựng thành "đội quân đặc biệt" với quân số lên tới 17.000 tên, tổ chức thành nhiều tiểu đoàn (SGU, PS) và một số đại đội (AC), do Vàng Pao1 (Vàng Pao sinh năm 1928 tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) trong một gia đình dòng họ Vàng rất có thế lực đối với dân tộc H'Mông. Lúc nhỏ, được Pháp cho học ở Trường Vinh (Nghệ An). Năm 1947 vào quân đội Pháp đóng ở đồn Noọng Hét. Năm 1953, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt được Vàng Pao, năm 1955 được thả tự do, tiếp tục tham gia lực lượng biệt kích của quân đội hoàng gia. Khi Mỹ tổ chức lực lượng đặc biệt đã chọn Vàng Pao chỉ huy, phong từ trung tá, đại tá rồi thiếu tướng, trung tướng. Năm 1975, cách mạng Lào thành công, Vàng Pao chạy sang Thái Lan sau đó sang Mỹ tiếp tục tổ chức lực lượng người H'Mông hoạt động chống phá cách mạng Lào) làm tư lệnh, đặt chỉ huy sở tại căn cứ Loong Chẹng - Sảm Thông, mang tên quân khu 2, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của CIA và cố vấn Mỹ. Mặt khác, Mỹ - ngụy dùng nhiều thủ đoạn phá hoại Chính phủ Liên hiệp ba phái, tìm mọi cách lôi kéo Phu-ma và Coong Le; đồng thời đưa bọn tay sai thân Mỹ vào lũng đoạn lực lượng trung lập, nhằm làm tan rã khối liên minh Pa-thét Lào - trung lập, lôi kéo lực lượng trung lập để thực hiện âm mưu "hai đánh một", dùng quân phái hữu Viêng Chăn và quân trung lập liên kết đánh Pa-thét Lào. Thực hiện âm mưu đó, đại diện chính quyền Mỹ cùng một số quan chức CIA đến Cánh Đồng Chum dùng thủ đoạn viện trợ tài chính, vũ khí, trang bị để tiếp xúc, lôi kéo Coong Le. Ngày 27 tháng 11 năm 1962, máy bay vận tải C.130 Mỹ tới Cánh Đồng Chum thả vũ khí cho quân Coong Le. Nội bộ lực lượng trung lập phân hoá. Coong Le theo Mỹ, chuyển và lập khu chỉ huy riêng ở Mường Phằn cạnh trụ sở của E-tam2 (Bộ trưởng thuộc phái hữu trong Chính phủ Liên hiệp và là tay chân của CIA), bắt tay với phái hữu và theo lệnh Mỹ tiến hành khủng bố, đe doạ các đơn vị và sĩ quan, binh sĩ trung lập tiến bộ. Trước sự phản bội của Coong Le, một bộ phận sĩ quan và binh sĩ trung lập yêu nước đã tìm cách rút khỏi Cánh Đồng Chum về Khang Khay - Xiêng Khoảng được Pa-thét Lào giúp đỡ đã thành lập Tiểu đoàn 15 do Bun Xu làm Tiểu đoàn trưởng. Số sĩ quan trung lập tiến bộ do đại tá Đươn Xa Na Lát phụ trách tách khỏi sở chỉ huy của Coong Le, tiếp tục hợp tác với Pa-thét Lào. Tiểu đoàn 1 trung lập do trung tá Thiệp chỉ huy đóng tại Xiêng Khoảng bị lực lượng trung lập phản bội bao vây nhưng vẫn kiên quyết hợp tác với Pa-thét Lào.


Ngày 21 tháng 1 năm 1963, quân trung lập phản bội bao vây thủ phủ Khang Khay, nổ súng chiếm một số vị trí xung quanh thị xã Xiêng Khoảng. Cùng thời gian này, quân phái hữu Viêng Chăn tiến hành càn quét lấn chiếm vùng giải phóng Pa-thét Lào, nhất là ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Như vậy, Mỹ - ngụy Viêng Chăn đã câu kết và nắm Coong Le để tiếp tục chiến tranh, dùng bạo lực giải quyết vấn đề Lào. Chính phủ Liên hiệp ba phái đứng trước nguy cơ chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa.


Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 2 năm 1963, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 Đảng Nhân dân Lào đánh giá âm mưu thủ đoạn của Mỹ và tay sai, đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là: Đấu tranh duy trì Chính phủ Liên hiệp và bảo vệ hoà bình. Ra sức củng cố và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 148). Quân đội phải tích cực hoạt động quân sự làm hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị. Đây mạnh xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, làm cho tình hình chuyến biến có lợi cho cách mạng. Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Lào chủ trương tăng cường lực lượng giữ vững vùng giải phóng và các địa bàn quan trọng, yêu cầu Đảng, Nhà nước Việt Nam cử các đoàn chuyên gia giúp bạn.    Tình hình Lào diễn biến khẩn trương. Thế lực phản động trong Chính phủ Liên hiệp ám sát Bộ trưởng Ngoại giao Ki-nim Phôn-sê-na (ngày 1 tháng 4 năm 1963). Quân đội, hiến binh, mật vụ Viêng Chăn bao vây, khiêu khích, đe dọa đại đội bảo vệ của Pa-thét Lào và nhà ở của các thành viên Pa-thét Lào trong Chính phủ Liên hiệp. Quân phái hữu Viêng Chăn phối hợp với quân trung lập phản bội và quân phỉ Vàng Pao đẩy mạnh tiến công chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Ngày 12 tháng 4 năm 1963, tại Khang Khay - Xiêng Khoảng, Phân cục Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng họp bàn biện pháp phá âm mưu thủ đoạn của địch đối với khu vực Cánh Đồng Chum. Hai đồng chí Nguyễn Bình Sơn và Lê Văn (cán bộ chuyên gia quân sự Việt Nam) được mời tham dự hội nghị và nhận nhiệm vụ chuyên gia cho Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Các đại biểu vạch trần âm mưu thủ đoạn của Mỹ - ngụy Viêng Chăn và Coong Le, đồng thời đề ra chủ trương đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận nhằm làm thất bại mọi hành động theo đuổi chiến tranh của địch. Hội nghị nêu rõ nhiệm vụ của cách mạng Lào là phải nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đẩy mạnh binh vận, phân hoá làm tan rã lực lượng Coong Le, hỗ trợ lực lượng trung lập yêu nước, chuẩn bị giành lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Hội nghị chỉ rõ: Cách mạng có nhiều khó khăn như quân ít, trang bị vũ khí kém, trận địa chưa làm. Đặc biệt, do mới tập trung các tiểu đoàn chủ yếu đánh quy mô nhỏ, đánh tập trung cơ động lớn, phòng ngự trận địa còn nhiều điểm mới mẻ. Do vậy phải vừa đánh vừa học, trưởng thành nhanh chóng cả về quân sự và chính trị, cả tổ chức đời sống, giải quyết tốt hậu cần trong chiến đấu. Phải làm cho mọi người tin tưởng vào sức mạnh chính nghĩa của ta, vào đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, tin vào sự nỗ lực của quân dân cả nước và sự chi viện quốc tế.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 02:57:30 pm
Theo yêu cầu của bạn, Đảng ta chủ trương tiếp tục giúp bạn về vật chất, kỹ thuật và cử chuyên gia quân sự sang giúp bạn tác chiến, giữ vững khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Ngày 15 tháng 4 năm 1963, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định thành lập Đoàn chuyên gia quân sự 463 giúp Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đoàn 463 có nhiệm vụ: Giúp bạn chiến đấu giữ vững địa bàn còn lại, chiến đấu tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng; giúp lực lượng trung lập yêu nước đoàn kết lâu dài với Pa-thét Lào chiến đấu cho độc lập Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân các bộ tộc Lào. Ngày 17 tháng 4 năm 1963, Bộ Tổng tham mưu truyền đạt cho các chuyên gia quân sự Việt Nam về chủ trương quân sự ở Lào của Thường trực Quân ủy Trung ương: "Ra sức củng cố lực lượng vũ trang, lấy việc huấn luyện làm trung tâm, giữ vững, củng cố khu giải phóng, phối hợp với lực lượng vũ trang trung lập tiến bộ giữ vững địa bàn quan trọng, nhất là khu vực Cánh Đồng Chum; ra sức giúp đỡ lực lượng vũ trang trung lập tiến bộ, làm cho lực lượng này có thể hợp pháp quân sự, chính trị trở lại thống nhất với Coong Le, hoặc trở thành lực lượng nòng cốt cho lực lượng vũ trang trung lập thực sự nếu địch biến lực lượng Coong Le thành lực lượng phản động"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, tr. 350, 351). Phương châm hoạt động là: "Chủ động ngăn chặn khiêu khích quân sự, không để xung đột vũ trang lan rộng, nhưng khi bị địch khiêu khích tấn công thì kiên quyết đánh bại địch, chiếm giữ địa bàn có lợi, sẵn sàng đề phòng chúng gây ra cuộc chiến tranh lớn ở Lào"2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, tr. 350, 351). Những nhiệm vụ công tác cụ thể trước mắt là:

1- Cùng với các mặt chính trị, cần tăng cường công tác phát động quần chúng.

2- Duy trì khối liên minh quân sự vững chắc với lực lượng trung lập, giúp cho Đươn có địa vị hợp pháp về chính trị, quân sự, sẵn sàng trở lại hợp tác với Coong Le.

3- Pa-thét Lào cần phối hợp với lực lượng tiến bộ giữ vững khu vực đã kiểm soát.

4- Về hoạt động quân sự, không chủ động tiến công, nhưng nếu chúng tấn công khiêu khích thì Pa-thét Lào cùng lực lượng tiến bộ kiên quyết đánh trả lại, tiêu diệt một bộ phận. Đối với Pa-thét Lào, vẫn tiến hành theo kế hoạch lâu dài, trọng tâm là huấn luyện nâng cao chất lượng bộ đội, nhưng phải kiểm tra và bổ sung kế hoạch sẵn sàng chiến đấu"3 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, tr. 350, 351).

Ngày 18 tháng 4 năm 1963, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam họp trao đổi với đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng bạn về tình hình Lào thời gian qua và dự kiến chủ trương hoạt động trong thời gian tới. Hai bên nhất trí nhận định tình hình quân sự ở Lào chưa phải là chiến tranh đã trở lại và thống nhất chủ trương hoạt động trong thời gian tới là:

1- Đấu tranh chính trị là chủ yếu, có quân sự hỗ trợ. Lực lượng quân sự của ta tập trung vào việc củng cố vùng giải phóng và tiễu phỉ.

2- Bảo toàn lực lượng trung lập ở Lào, giúp lực lượng này củng cố và phát triển từng bước, không để địch tiêu diệt.

3- Giữ vững thế chiếm đóng của ta ở Cánh Đồng Chum và các chiến trường khác, tăng cường cải thiện thế phòng ngự có lợi nhằm bảo toàn lực lượng ta và lực lượng Đươn, Xủm-ma-lạt, ổn định tình hình, đề phòng khi tình hình xấu hơn xảy ra và sẵn sàng đối phó với địch trong mùa khô tới. Ngày 24 tháng 4 năm 1963, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng qua trao đổi thống nhất chủ trương, phương hướng hoạt động với đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào đã điện hướng dẫn các chuyên gia quân sự Việt Nam bàn với bạn: Trong thương lượng, đấu tranh thật mạnh nhằm làm cho quân Phu-mi phải rút hết ở Cánh Đồng Chum; trừng trị bọn đã gây ra xung đột; thả hết những người bị bắt; quân Coong Le và Đươn hiện đang ở đâu thì đứng đó để giữ vững những nơi đã chiếm. Về quân sự, hết sức giúp đỡ để củng cố lực lượng Đươn, đặc biệt giúp cán bộ, giúp người; giúp Đươn chủ động đấu tranh với Phu-ma; lưu ý lập ban chỉ huy hiệp đồng giữa hai lực lượng để hình thành liên minh Pa-thét Lào - Đươn; hết sức sẵn sàng đề phòng địch tập kích bất ngờ, củng cố lại công sự, đặc biệt củng cố trận đia phòng ngự Xiêng Khoảng, Lạt Huồng, Đông Đàn và chỉ huy sở Khang Khay, chiếm giữ những điểm cao quan trọng tạo thế lợi cho phòng ngự như bản Tồn, bản Len...; tích cực quét phỉ; có kế hoạch cụ thể và tích cực bảo vệ đường 7 để bảo đảm tiếp tế.


Đoàn chuyên gia quân sự 463 khi thành lập mới có 1 tổ (10 đồng chí) vừa khẩn trương ổn định tổ chức, vừa triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên gia theo chủ trương chỉ đạo của Quân ủy Trung ương. Tháng 4 năm 1963, để bảo đảm an toàn, các thành viên Pa-thét Lào cùng Bộ trưởng và Thứ trưởng của phái trung lập yêu nước trong Chính phủ Liên hiệp rời Thủ đô Viêng Chăn về Khang Khay - Xiêng Khoảng. Cuối tháng 4 năm 1963, phái hữu phản động điều quân đến khu vực Cánh Đồng Chum, phối hợp với quân Coong Le và quân phỉ Vàng Pao đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng, Lạt Huồng, Đồng Đan, uy hiếp đường số 7 và ngã ba Sa La Phu Khun.


Ngày 2 tháng 5 năm 1963, Thường trực Quân ủy Trung ương xác định chủ trương cụ thể chỉ đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào:

1. Giữ vững các vị trí chiếm đóng của ta, kiên quyết đánh địch tiến công lấn chiếm nhằm bảo đảm giữ được những địa bàn hiện có.

2. Tăng cường giúp bạn trong chỉ huy giữ vững vùng Cánh Đồng Chum, cụ thể là giúp bạn về kế hoạch tác chiến, bảo đảm chỉ huy và tiếp tế.

3. Thực sự giúp lực lượng trung lập tiến bộ Đươn, Thiệp về phương hướng tổ chức lực lượng, đấu tranh chính trị, kế hoạch tác chiến, bảo đảm chỉ huy và bảo đảm vật chất.

4. Tiến công chính trị trong lực lượng Phu-mi, Coong Le và tăng cường công tác tuyên truyền trong nhân dân.

5. Củng cố hậu phương của ta, xây dựng các cơ sở và tích cực truy quét phỉ.

6. Kiên quyết giữ vững vùng đường số 7.


Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum chỉ đạo các đơn vị Pa-thét Lào trung lập yêu nước kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự, ngăn chặn và đánh trả các cuộc tiến công của địch. Đoàn 463 ở cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu và các đơn vị trực thuộc Quân khu cùng với bạn tiến hành điều chỉnh lực lượng, lập phương án tác chiến, huấn luyện bộ đội, xây dựng củng cố các trận địa phòng ngự sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 02:58:51 pm
Địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng hình thành hai mặt trận: Mặt trận thị xã Xiêng Khoảng gồm có tiểu đoàn dù 1 trung lập yêu nước, Đại đội 128 của tỉnh, 1 đại đội của Tiểu đoàn Pát-chay, Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào, do đồng chí Lao Tu - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Ký - Chính trị viên Tiểu đoàn 24 chỉ huy. Mặt trận Phôn Xa Vẳn - Khang Khay gồm Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 500, Đại đội 122 của tỉnh, 2 đại đội của Tiểu đoàn Pát-chay.


Đầu tháng 5 năm 1963, Coong Le điều tiểu đoàn dù 2 mở đợt tiến công ra Noọng Pẹt chiếm làm bàn đạp mở đường cho quân phái hữu đánh Bản Ban hòng cắt ngã ba đường số 6 và chi viện cho phỉ đánh chiếm đường số 7 - Noọng Pẹt. Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum chủ trương tổ chức đánh địch và sử dụng Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào mật tập đồn Lạt Buộc, giành lại Phu Phựng - Lạt Buộc, rồi tổ chức trận địa chốt giữ Phu Phựng, tạo thế phòng ngự, bảo vệ đường số 7.


Những trận đánh đầu tiên của các đơn vị bạn không đat kết quả. Bộ Tổng chỉ huy tối cao quân đội Lào lập tức tăng cường hai tiểu đoàn 701 và 2 Pa-thét Lào từ Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ về Cánh Đồng Chum, Quân tình nguyện Việt Nam được lệnh sẵn sàng đưa một bộ phận sang cùng Pa-thét Lào tác chiến khôi phục lại các vị trí ở Cánh Đồng Chum.


Được tăng cường lực lượng, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum điều Đại đội 16 (Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào) do đồng chí Van-na làm Đại đội trưởng phối hợp với Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào đánh chiếm Lạt Buộc. Theo kế hoạch, đêm 20 tháng 5 năm 1963, Đại đội 16 (Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào) do Đại đội trưởng Van-na chỉ huy nổ súng tập kích Phu Phựng, trong đó có sở chỉ huy tiểu đoàn dù 2 quân Coong Le. Đồng thời, Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào được pháo cối chi viện xung phong đánh chiếm đồn Lạt Buộc. Sau khi làm chủ Phu Phựng - Lạt Buộc, Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào khẩn trương xây dựng trận địa phòng ngự, sẵn sàng đánh địch phản kích.


Chiến thắng Phu Phựng - Lạt Buộc đã góp phần làm cho bộ đội Pa-thét Lào tin tưởng vào cách đánh mật tập, do Bộ tư lệnh Quân khu cùng chuyên gia Đoàn 463 dày công huấn luyện. Qua thực tiễn công tác, Đoàn 463 từng bước rút ra kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào.


Cuối tháng 5 năm 1963, trước sự thúc ép của CIA, quân phái hữu phản động và quân trung lập phản bội lại tập trung binh hoả lực mở cuộc tiến công vào khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Nắm bắt âm mưu của địch, chuyên gia quân sự Việt Nam được Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo: Nhiệm vụ trước mắt tập trung vào việc tăng cường giúp bạn củng cố, giữ vững hệ thống phòng ngự ở Cánh Đồng Chum, đồng thời tích cực chuẩn bị bộ đội về mọi mặt cho kế hoạch tác chiến ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Ngày 28 tháng 5 năm 1963, Bộ Tổng tham mưu ra quyết định thành lập Đoàn công tác đặc biệt ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, mang phiên hiệu Đoàn 5. Đoàn 5 được biên chế, tổ chức gồm ban chỉ huy, tổ tham mưu, tổ chính trị, tổ hậu cần, 3 trung đội (trinh sát, bảo vệ, thông tin) và 1 tổ phục vụ nội bộ; quân số toàn đoàn 131 người. Đoàn trưởng quân sự - thượng tá Nguyễn Hữu An; Đoàn trưởng chính trị - trung tá Quang Vinh.


Cùng thời gian này, các tổ chuyên gia Đoàn 463 được phân công đi cùng các tiểu đoàn Pa-thét Lào và trung lập yêu nước đã bám sát đơn vị, góp ý và cùng bạn tổ chức bộ đội đánh địch. Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào phòng ngự tại Phu Phựng - Lạt Buộc bám, chiến đấu kiên cường trong hai ngày, đẩy lui các đợt tiến công của GM12 và một bộ phận GM14 địch, giữ vững trận địa, trở thành đơn vị phòng ngự giỏi. Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào tổ chức đánh chiếm trận địa sơn pháo địch trên mỏm đồi Phu-ca-bó và xây dựng trận địa phòng ngự, tạo thành thế uy hiếp trận địa Phu Huột của địch. Pháo binh Pa-thét Lào và lực lượng trung lập yêu nước đánh chặn, bắn cháy 1 xe tăng của GM14 và GM16 quân phái hữu và quân trung lập phản bội tiến công vào hướng Nậm Khao - Phôn Xa Vẳn, buộc địch phải rút lui.


Sau những thất bại nặng, Mỹ - ngụy Viêng Chăn huy động GM15 mở cuộc tiến công vào khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. GM15 chọn hướng đột phá vào tuyến phòng ngự Bản Gion của Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào. Để tạo thế cho GM15 tiến công chính diện, địch sử dụng đại đội 1 của tiểu đoàn dù 1 dẫn đường lọt vào Thà Khẹt để tập kích trận địa pháo và sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào. Phát hiện được thủ đoạn của địch, Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum và chuyên gia Đoàn 463 thống nhất đưa lực lượng trinh sát và bảo vệ phối hợp với các đơn vị lùng sục địch. Phát hiện Pa-thét Lào chuẩn bị lực lượng đối phó, đại đội 1 (tiểu đoàn dù 1) quân phái hữu đã không dám tiến công vào Thà Khẹt, bỏ mặc GM15. Trong khi đó, GM15 chờ đợi suốt 5 ngày không nhận được sự tiếp viện từ phía đại đội 1 (tiểu đoàn dù 1), vẫn phải phát lệnh tiến công. Coong Le liên tục dùng pháo binh chi viện tối đa cho GM15 trong hơn ba ngày, nhưng binh lính GM15 vẫn trù trừ không tiến vào Thà Khẹt.


Các cuộc tiến công chớp nhoáng của quân phái hữu Viêng Chăn và quân trung lập phản bội hòng chiếm toàn bộ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trước mùa mưa đã bị chặn đứng. Các GM12, GM14, GM15, GM16 theo lệnh Mỹ vội vã cơ động về địa bàn cũ để đối phó với phong trào chiến tranh du kích của cách mạng Lào. Riêng GM17 phải ở lại Cánh Đồng Chum. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum vừa tổ chức đánh địch còn nằm lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, vừa tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác binh vận, tranh thủ xây dựng, củng cố lực lượng phía sau và truy quét bọn phỉ lấn ra đường số 7, ổn định hậu phương.


Các đơn vị Pa-thét Lào qua tham khảo ý kiến chuyên gia Đoàn 463, vận dụng nhiều biện pháp binh vận phù hợp, tranh thủ được binh sĩ của lực lượng trung lập. Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào quan hệ với Tiểu đoàn dù 4 trung lập tổ chức một số "trận đánh giả" liên tục trong một thời gian để nghi binh Coong Le. Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào ở Bản Ban mở đợt hoạt động đánh tan 2 đại đội phỉ nống ra vây cắt đường số 7, đuổi chúng chạy về Phu Noọng và Bản Thà (phía bắc Bản Ban). Tiểu đoàn Pát-chay và Tiểu đoàn 500 Pa-thét Lào truy quét 2 đại đội phỉ ra khỏi Phu Xa Bốt Keo-bon. Các tiểu đoàn 701, 500, Pát-chay và Đại đội 122 của tỉnh trừng trị phản động nằm vùng, củng cố chính quyền cơ sở các huyện Mường Khăm, Mường Pẹc.


Trong công tác xây dựng lực lượng, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng chú trọng giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và bảo đảm hậu cần cho bộ đội. Đoàn 463 nắm bắt chủ trương của bạn, nỗ lực triển khai các mặt hoạt động chuyên gia cho các đơn vị bạn thực hiện chỉ tiêu xây dựng lực lượng, về chính trị, các đơn vị được học tập về bản chất quân đội cách mạng, quán triệt các nghị quyết Trung ương, tình hình nhiệm vụ, đặc biệt là vấn đề chống chiến tranh tâm lý của địch. Các chi bộ nâng cao vai trò lãnh đạo, duy trì nền nếp chế độ sinh hoạt, trước mắt tập trung lãnh đạo chiến đấu, không ngại hy sinh gian khổ, chịu đựng và khắc phục khó khăn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:00:55 pm
Trong thời gian này, Quân khu mở hội nghị cán bộ về chống chiến tranh tâm lý của địch. Hội nghị đề ra nhiều biện pháp chống lại thủ đoạn lừa bịp, dụ dỗ mua chuộc, hòng làm cán bộ, bộ đội giảm sút ý chí chiến đấu, mất đoàn kết nội bộ, đào ngũ về địa phương hoặc chạy theo địch. Bộ đội trung lập tiến bộ yêu nước được học tập chương trình giáo dục chính trị như lực lượng Pa-thét Lào, trọng tâm là xác định ý thức trách nhiệm tự xây dựng thành bộ đội cách mạng, đoàn kết lâu dài với Pa-thét Lào chiến đấu cho độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc của dân tộc. Về quân sự, bộ đội được huấn luyện 5 kỹ thuật bộ binh, chiến thuật cá nhân, tiểu đội, trung đội và đại đội chiến đấu tiến công và phòng ngự. Cấp tiểu đoàn chú trọng huấn luyện đánh các mục tiêu và phương pháp chi viện hoả lực cho bộ binh chiến đấu tiến công. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào được chọn diễn tập để các đơn vị tham quan học tập. Về bảo đảm hậu cần, Quân khu vừa tổ chức đánh phỉ, vận chuyển tiếp tế trên đường số 7, vừa phát động các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất và tổ chức "thu thóc cứu nước" ở tỉnh Xiêng Khoảng. Quân khu đặc biệt chú trọng tuyên truyền giác ngộ vận động quần chúng nhằm xây dựng phát triển du kích, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân. Tại hội nghị cán bộ quân khu, đồng chí Nu-hắc Phum-xa-vẳn - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Lào nêu rõ: Không có biện pháp nào khác, địch dùng chiến tranh đặc biệt, ta phải làm chiến tranh nhân dân, chỉ có chiến tranh nhân dân, dựa vào dân giác ngộ và đoàn kết các bộ tộc, trang bị cho họ đánh giặc. Việc làm công tác quần chúng, tổ chức du kích, anh em ta chưa quen, phải tổ chức từng nhóm, vài ba anh em Lào có một chuyên gia đi cùng xuống bản, chuyên gia tuyên truyền bồi dưỡng xây dựng được du kích, anh em Lào cũng có được lòng tin rồi tự làm được. Theo chủ trương đó, đồng chí Nguyễn Khoa Tân chuyên gia huyện Mường Pẹc được giao cùng với chuyên gia quân sự giúp bạn tổ chức du kích. Các đồng chí chuyên gia xuống các bản làng giúp các tiểu đoàn Pa-thét Lào tuyên truyền và tổ chức du kích: Tiểu đoàn 1 ở Bản Gion, Tiểu đoàn 15 ở Bản Len, Tiểu đoàn pháo mặt đất ở Bản Bi, Tiểu đoàn 16 ở Bản Phạt, Tiểu đoàn 13 ở Bản Piềng và Tiểu đoàn 2 ở Bản Son. Mỗi tổ công tác bộ đội Pa-thét Lào có chuyên gia đi cùng xác định quyết tâm xây dựng một tổ du kích đánh được địch, gây được lòng tin vào chủ trương phát động chiến tranh nhân dân của Đảng, phá tan định kiến "dân phỉ - đất phỉ", xây dựng Xiêng Khoảng thành "đất cách mạng - dân cách mạng".


Sau một thời gian tuyên truyền vận động, công tác phát triển du kích và đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở cấc huyện đã đạt được kết quả rất đáng kể. Tiêu biểu là Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào cử một tiểu đội xuống dìu dắt tiểu đội du kích bản Xiềng Ai đánh đuổi các toán phỉ. Chỉ sau một thời gian ngắn, du kích Xiềng Ai đã tự bảo vệ được làng bản. Phong trào phát triển du kích, chiến tranh nhân dân dấy lên khắp tỉnh Xiêng Khoảng.


Liên tiếp bị thất bại trên chiến trường miền Nam Việt Nam và Lào, ngày 17 tháng 6 năm 1963, tại Thái Lan, dưới sự điều khiển của Mỹ, khối SEATO tiến hành cuộc diễn tập "Tha-na-lát" với 7.000 quân tham gia, trong đó chủ yếu là quân Mỹ, nhằm "kiểm tra trình độ tác chiến", sẵn sàng cho bước phiêu lưu quân sự mới vào Lào.


Ở Việt Nam, ngày 18 tháng 6 năm 1963, Thường trực Quân ủy Trung ương họp hội nghị xem xét bản đề án tổ chức cơ quan làm công tác ở Lào do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị. Nội dung đề án nêu rõ: Mấy năm trước đây khi xảy ra chiến sự ở Lào, Quân ủy Trung ương đã quyết định tổ chức Đoàn 959 sang giúp nạn. Đoàn 959 về cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ của Quân ủy giao phó. Sau khi tình hình ở Lào tạm thời ổn định, Đoàn 959 đã giải tán, nhưng vẫn còn tồn tại một bộ phận chuyên lo giải quyết các chế độ chính sách, đồng thời đã tổ chức thêm ở Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị, mỗi nơi một phòng làm nhiệm vụ nghiên cứu và theo dõi tình hình Lào. Xét thấy tổ chức các cơ quan giúp bạn như hiện nay là chưa phù hợp với tình hình ở Lào đang diễn biến rất khẩn trương, Bộ Tổng tham mưu lập dự án chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức làm công tác giúp bạn.


Bộ Tổng tham mưu đề nghị: Thường trực Quân ủy Trung ương thông qua ba Tổng cục (Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần) trực tiếp chỉ đạo các tổ chuyên gia, các đoàn công tác hoạt động giúp bạn trên chiến trường Lào. Tuỳ từng lúc, từng nơi, Thường trực Quân ủy Trung ương sẽ ủy nhiệm cho Đảng ủy và thủ trưởng Quân khu (Tây Bắc, Khu 4) trực tiếp chỉ đạo một số hoạt động nhất định. Đối với các đơn vị vũ trang của quân khu nào sang hoạt động thì do quân khu đó phụ trách về mọi mặt; đồng thời giao cho Quân khu 4 phụ trách các tổ chuyên gia hoạt động ở Trung Lào và Hạ Lào, Quân khu Tây Bắc phụ trách tổ chuyên gia hoạt động ở Thượng Lào. Cơ quan ba Tổng cục phụ trách quản lý mọi mặt các tổ chuyên gia hoạt động ở Sầm Nưa, Viêng Chăn và Xiêng Khoảng.


Thường trực Quân ủy Trung ương quyết định nguyên tắc tổ chức cơ quan làm công tác ở Lào như sau: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần chịu trách nhiệm trực tiếp giúp Thường trực Quân ủy chỉ đạo công tác Lào. Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần có cơ quan chuyên trách công tác Lào. Ở Bộ Tổng tham mưu, giải tán Phòng Lào để tăng cường cán bộ cho các cục. Cục Tác chiến chịu trách nhiệm tổ chức hiệp đồng giữa các cục thuộc Bộ Tổng tham mưu và khi cần thì giúp Bộ Tổng tham mưu tổ chức hiệp đồng giữa ba Tổng cục.


Chấp hành nghị quyết của Thường trực Quân ủy Trung ương và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, cấp ủy và cơ quan chính trị các đơn vị quân tình nguyện, Ban cán sự các đoàn chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào đã thường xuyên tổ chức giáo dục bộ đội thực hiện tốt 5 nguyên tắc trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước Việt - Lào nắm vững và làm tốt những yêu cầu nhiệm vụ Quân ủy Trung ương đã xác định khi hoạt động giúp bạn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị đã kịp thời phát hiện đấu tranh khắc phục tư tưởng nước lớn, ban ơn, xem thường, tự phụ, thiếu khiêm tốn học tập lẫn nhau; đồng thời chăm lo xây dựng và củng cố đoàn kết nội bộ, đoàn kết Quốc tế, đẩy mạnh huấn luyện quân sự, nghiệp vụ, vượt mọi khó khăn thử thách trong chiến đấu, tích cực giúp bạn tự đảm nhiệm công việc, mau chóng trưởng thành. Các cấp thường xuyên quan tâm bảo đảm chính sách, chăm lo đời sống mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quận sự làm cho mọi người yên tâm chiến đấu và công tác trên đất bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:02:21 pm
Tháng 7 năm 1963, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gặp gỡ và hội đàm với đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào. Một số cán bộ cao cấp của hai Đảng cùng tham dự. Hai Đảng thống nhất nhận định: "Thắng lợi của cách mạng Lào vừa qua là to lớn, nhưng thắng lợi đó chưa được củng cố, Mỹ - ngụy lại tăng cường phá hoại Chính phủ Liên hiệp, tấn công lấn chiếm vùng giải phóng... Mặc dù vậy, chúng vẫn ở trong thế phòng thủ, thực hiện chính sách hai mặt: lợi dụng Phu-ma, lôi kéo Coong Le giương ngọn cờ hoà bình trung lập, thân phương Tây để chống lại Neo Lào Hắc Xạt"1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 151). "Về ta, đường lối chưa có gì thay đổi, cuộc đấu tranh đang ở thế giằng co. Trong lúc này ta phải tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng, mạnh cả về quân sự và chính trị, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài".


Kết luận của hai Đảng đã tăng cường hơn nữa sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước Việt - Lào; đồng thời là phương châm hoạt động của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, góp phần đưa cách mạng Lào vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển vững chắc.


Ngày 18 tháng 7 năm 1963, Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Đoàn công tác đặc biệt ở Hạ Lào mang tên Đoàn 763, nhằm giúp bạn củng cố giữ vững vùng giải phóng, ổn định tình hình, phát triển lực lượng, tăng cường thế và lực cho cách mạng Lào; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đưa quân tình nguyện Việt Nam sang cùng bạn hoạt động ở Hạ Lào khi xét thấy cần thiết. Đoàn 763 có nhiệm vụ: Chuẩn bị các kế hoạch giúp bạn về mọi mặt; chuẩn bị các vấn đề cần thiết để đưa một số đơn vị quân tình nguyện sang hoạt động ở Hạ Lào và chỉ huy các đơn vị đó hoàn thành nhiệm vụ Bộ giao. Biên chế, tổ chức của Đoàn 763 gồm ban chỉ huy và các bộ phận giúp việc (tham mưu, chính trị, hậu cần, hàng không, phục vụ); quân số 44 người; chỉ huy trưởng: trung tá Lê Kích; chỉ huy phó chính trị: thiếu tá Hoàng Cao Ngôn; chỉ huy phó hậu cần: trung tá Đức Phương.


Ngay sau khi thành lập, Đoàn 763 và Tiểu đoàn 2 bộ binh (Quân khu Tây Bắc) được huấn luyện đặc công hoá tổ chức hành quân từ Đáp Cầu (Bắc Ninh) sang Hạ Lào. Đoàn 763 khẩn trương triển khai nhiệm vụ tại các tỉnh Tà-vên-oọc, Sa-ra-van và Át-ta-pư; một bộ phận do đồng chí Lê Kích phụ trách làm chuyên gia cho Quân khu Hạ Lào xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang; một bộ phận do đồng chí Đức Phương phụ trách mở đường giao liên về hướng nam.


Ngày 31 tháng 7 năm 1963, Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 chuẩn bị cử Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) sang làm nhiệm vụ tại chiến trường Lào; đồng thời giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 chuẩn bị kế hoạch phối hợp với các lực lượng của bạn tổ chức phòng ngự, đánh bại các cuộc tiến công của địch, giữ vững khu vực Trung Lào. Ngày 12 tháng 8 năm 1963, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Quân khu Tây Bắc và Lữ đoàn 335 điều tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 335 sang vùng Noọng Hét làm nhiệm vụ sửa chữa đường số 7.


Ngày 7 tháng 8 năm 1963, Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Trung ương và Quân ủy Trung ương Việt Nam tăng cường lực lượng chuyên gia sang giúp Lào. Bạn yêu cầu chuyên gia giúp toàn diện, nhưng có trọng điểm, giúp từ chủ trương, chính sách đến tổ chức thực hiện, trước mắt tập trung giúp năm vấn đề cơ bản:

1. Xây dựng và đào tạo cán bộ, đặc biệt là kiện toàn tổ chức Đảng.

2. Nghiên cứu một số chính sách.

3. Tổng kết kinh nghiệm về giáo dục quần chúng, bồi dưỡng cán bộ đảng viên.

4. Xây dựng về chính trị tư tưởng và tổ chức Đảng trong quân đội.

5. Củng cố và phát triển phong trào chiến tranh du kích.


Theo yêu cầu của lãnh đạo Đảng bạn, ngày 14 tháng 9 năm 1963, Tổng cục Chính trị trình Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập các đoàn chuyên gia quân sự ở các hướng, gồm: Sầm Nưa, Thượng Lào, Viêng Chăn, Xiêng Khoảng, Xa Xắn Na Khệt, Khăm Muộn và Hạ Lào. Các đoàn chuyên gia quân sự này đã được làm tốt công tác tư tưởng và công tác tổ chức trước khi báo cáo Quân ủy Trung ương ra quyết định bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy từng đoàn chuyên gia quân sự cả về Đảng và chính quyền, đúng quy định của Trung ương Đảng và yêu cầu của Đảng bạn.


Ngày 30 tháng 9 năm 1963, Quân ủy Lào họp, ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ trong những tháng cuối năm 1963 và sáu tháng đầu năm 1964. Các lực lượng vũ trang cách mạng Lào với sự giúp đỡ của chuyên gia quân sự Việt Nam trên các địa bàn đã bước ngay vào chiến đấu, kiên quyết đánh lui nhiều cuộc tiến công lấn chiếm, càn quét của địch, giữ vững các địa bàn vùng giải phóng và cơ sở ở vùng sau lưng địch. Đồng thời tranh thủ thời gian củng cố lực lượng về mọi mặt, trước hết là chính trị tư tưởng, khắc phục ảo tưởng hoà bình, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu; tiến hành huấn luyện quân sự, nghiệp vụ, đẩy mạnh xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích, đặc biệt là coi trọng việc phát triển các đơn vị phòng không của cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích; tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm chiến đấu xây dựng cơ sở và thu phục "phỉ", kinh nghiệm liên minh chiến đấu, hỗ trợ và dìu dắt lực lượng vũ trang trung lập yêu nước. Tham khảo ý kiến chuyên gia, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Lào quyết định đề bạt cán bộ bổ sung cho các đơn vị, các cơ quan của ba Tổng cục, các quân khu và tỉnh đội; đồng thời cử cán bộ đi học ở các trường trong và ngoài nước, chủ yếu là ở Việt Nam. Tổ chức lực lượng vũ trang Pa-thét Lào được kiện toàn. Năng lực lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ quân đội giải phóng Lào được nâng cao một bước rõ rệt.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:03:20 pm
Đông Xuân 1963-1964, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam và Lào nhằm cứu vãn chiến lược "chiến tranh đặc biệt" đang đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ở miền Nam Việt Nam, Mỹ loại bỏ gia đình họ Ngô. Cùng với các cuộc hành quân bình định nội địa, Mỹ - ngụy tăng cường đánh phá các vùng dọc biên giới Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia và trên tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam; đồng thời thực hiện kế hoạch "34A"1 (Kế hoạch 34A (plan opération 34A): Mỹ - ngụy sử dụng tàu biệt kích tung ra vùng biển miền Bắc Việt Nam để bắt cóc ngư dân khai thác tin tình báo...), đưa tàu khu trục đến Vịnh Bắc Bộ thu thập tình báo, chuẩn bị kế hoạch đánh phá miền Bắc Việt Nam. Đối với Lào, đế quốc Mỹ quyết định viện trợ thêm cho ngụy quyền Viêng Chăn 150 triệu đô la trong tài khoá 1963-1964. Quân ngụy Viêng Chăn được phục hồi, phát triển lên 62.000, trang bị thêm vũ khí hiện đại, máy bay chiến đấu, xe tăng, pháo 155 ly, mở các cuộc tiến công, hòng đánh ra chiếm lại các vùng đã mất.


Theo lệnh Mỹ, quân phái hữu phản động cùng quân trung lập phản bội mở cuộc tiến công lấn chiếm vùng giải phóng Trung Lào. Được không quân Mỹ và pháo binh Thái Lan yểm trợ, sau khi chiếm Sê Nô, quân ngụy Lào phối hợp với quân ngụy Sài Gòn đánh chiếm khu vực Mường Noòng, tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, chiếm lại thị trấn Căm Cốt, Lạc Xao, mở đường tiến xuống Pa Thí, nhằm giành quyền kiểm soát vùng Trung Lào, giải toả khu vực đường số 8, đường 12 giáp biên giới Việt - Lào. Tại tỉnh Bô Li Khăm Xay và tỉnh Khăm Muộn, quân ngụy Viêng Chăn và quân trung lập Coong Le phản bội bố trí 8 tiểu đoàn1 (Gồm các tiểu đoàn 5, 24, 30bis, 11, 55BP, 8, 340BR và 1 tiểu đoàn địa phương) và 2 đại đội biệt kích, mở rộng phạm vi chiếm đóng, đồng thời uy hiếp tuyến đường vận chuyển chiến lược từ miền Bắc vào miền Nam. Phán đoán đúng âm mưu và hành động của Mỹ - ngụy, cuối năm 1963, hai Quân ủy Trung ương Lào - Việt đã trao đổi thống nhất giao cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 cùng bộ đội Pa-thét Lào phối hợp mở chiến dịch 128. Chiến dịch nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá vỡ âm mưu chiếm đóng cao nguyên Trung Lào của chúng, giải phóng Nậm Thơm, tạo điều kiện cho bạn mở rộng phạm vi hoạt động xuống hướng đường 13, giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng, củng cố vùng giải phóng, bảo vệ hành lang vận chuyển của ta.


Chấp hành nhiệm vụ được giao, Bộ tư lệnh Quân khu 4 sử dụng hai trung đoàn 95 và 101 (Sư đoàn 325), Tiểu đoàn 3 (Sư đoàn 324), hai tiểu đoàn biên phòng 927 và 929 một đại đội pháo 105 ly (4 khẩu), một đại đội cối 120 ly (4 khẩu), một đại đội súng máy phòng không (4 khẩu), một đại đội thiết giáp, một trung đội đặc công; Tiểu đoàn 17 Pa-thét Lào tỉnh Khăm Muộn và Đại đội bộ đội địa phương Nhom Ma Rát tham gia chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch về phía Việt Nam có đồng chí Nguyễn Ích Tỷ làm Tư lệnh và đồng chí Quách Sĩ Kha làm Chính ủy. Bộ Tổng tham mưu cử đồng chí Lê Ngọc Hiền - Cục phó Cục Tác chiến làm phái viên của Bộ giúp Bộ tư lệnh chiến dịch. Ngày 15 tháng 1 năm 1964, Bộ chỉ huy chiến dịch thông qua quyết tâm chiến đấu. Trung tuần tháng 1 năm 1964, quân tình nguyện (Trung đoàn 95 Sư đoàn 325) đang sôi nổi huấn luyện thì được lệnh vượt đèo Mụ Giạ tiến sang khu vực tập kết chuẩn bị mở chiến dịch.


Ngày 27 tháng 1 năm 1964, từ hai hướng liên quân Việt - Lào nổ súng đánh địch. Tiểu đoàn 17 tỉnh Khăm Muộn và đại đội địa phương Nhom Ma Rát đã phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện tiến công cứ điểm Vang Yên; đánh chiếm các khu vực Bản Đông, Thà Thuột, Bản Khoa, tạo thành thế bao vây địch từ phía nam Na Cay. Đêm 28 tháng 1, liên quân Việt - Lào tiến công vào Na Cay. Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng sợ bỏ chạy về hướng Thẩm Công Lô. Liên quân Việt - Lào tiếp tục truy kích địch đến tận ngã ba Bản Thôn, truy lùng tàn binh địch trên một địa bàn rộng lớn từ Na Cay, Him-ban, Pha-ken-la, nam Nậm-xa tới Na Muông, Bản Ken, Bản Công Lô... đẩy lùi quân địch về hướng Kon-ka-ti-a và Bản Ken. Đến ngày 12 tháng 2 năm 1964, chiến dịch 128 kết thúc. Liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 tên, thu 360 súng các loại; giải phóng toàn bộ cao nguyên Na Cay cùng tuyến biên giới Lào - Việt dài gần 700 km từ đường số 8 đến đường số 12. Sau chiến dịch, Tiểu đoàn 927, Tiểu đoàn 929 và Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 324) chuyển sang làm nhiệm vụ cùng bạn phòng ngự và xây dựng cơ sở chính trị.


Cùng thời gian này, các chiến trường tích cực phối hợp với chiến dịch 128. Đoàn 763 ở Hạ Lào dựa vào khả năng và lực lượng địa phương tiến hành xây dựng củng cố cơ sở, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, phát triển sản xuất, chuẩn bị chiến trường. Đầu năm 1964, Đoàn 763 tập trung vào các nhiệm vụ cụ thế: Giữ vững và củng cố như hiện trạng, trọng điểm là miền đông Sê Kông và Bản Mày - Him Lát, tạo thành bàn đạp vững chắc để đấu tranh địch hậu, củng cố cơ sở và mở rộng căn cứ, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch trên đường giao thông quan trọng, tiến công lên bao vây, cô lập Sa-ra-van, Át-ta-pư. Tích cực củng cố cơ sở vùng Bô-lô-ven, khắc phục khó khăn để đưa cán bộ hoặc đội vũ trang tuyên truyền vào gây cơ sở vùng Nha Hớn. Tranh thủ thời gian huấn luyện bộ đội và du kích. Thống nhất với Ban cán sự Đảng để giúp Khu ủy và Quân khu ủy Bạn chỉ đạo toàn diện, huy động các ngành/các giới cùng phối hợp với bộ đội hoàn thành các nhiệm vụ được giao phó.


Tại khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, từ ngày 1 tháng 2 năm 1964, Đoàn 463 giúp bạn mở chiến dịch phản công GM13, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng thị xã và khu vực đông nam tỉnh Xiêng Khoảng, tạo thế và thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum. Các đồng chí Lê Văn - Chính ủy, Nguyễn Bình Sơn - Trưởng đoàn cùng nhiều cán bộ chuyên gia trực tiếp cùng Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum điều hành chiến dịch. Theo kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch sáng 1 tháng 2 năm 1964, Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào triển khai lực lượng tiếp cận mục tiêu, bất ngờ nổ súng chiếm mỏm Phu Hin, chia cắt đội hình GM13. Trong khi đó, thực hiện ý kiến của chuyên gia, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào) đào hầm vây lấn tiếp cận mục tiêu rồi dừng lại chờ lệnh tiến công.


10 giờ ngày 1 tháng 2, pháo binh chiến dịch tập trung bắn phá sở chỉ huy tiểu đoàn (BI 12), trận địa hoả lực và lô cốt địch trên đỉnh Phu Xiết. Phát hiện địch nhốn nháo tháo chạy, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào) lập tức xung phong đánh chiếm mục tiêu và cắm cờ trên đỉnh Phu Xiết. Bộ phận nghi binh (gồm 1 tiểu đội và 1 khẩu ĐKZ) loan tin ta và bạn sẽ tiến công vào sở chỉ huy của GM13 và tiểu đoàn (BI 13) ở Phu Huột. Trong khi đó, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào bí mật cơ động bằng ô tô vòng xuống Nậm Hét, được du kích dẫn đường tiến vào Mường Phàn hình thành thế bao vây địch.


Rạng sáng ngày 2 tháng 2, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào chia làm hai mũi tiến công vào Bản Thạc. Bị đánh bất ngờ, GM13 hoảng sợ rút chạy về Phu Huột. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào tiếp tục truy kích địch tháo chạy. Đến trưa ngày 3 tháng 2, hai tiểu đoàn 701 và 2 Pa-thét Lào gặp nhau tại Bản Thạc, củng cố lực lượng, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp theo.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:05:15 pm
Sáng 25 tháng 2 năm 1964, Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào bí mật tập kích tiêu diệt trận địa pháo và tiểu đoàn địch (BI21) ở Tin-pao; đồng thời Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và tiểu đoàn dù 1 trung lập yêu nước tiến công khu vực Phu Khe, kết thúc chiến dịch.


Thắng lợi của chiến dịch này đánh dấu các lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã có bước trưởng thành vững chắc về trình độ kỹ chiến thuật, tích lũy được nhiều kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu. Đoàn 463 tích luỹ thêm những kinh nghiệm về phương pháp công tác luôn chủ động bám sát cùng với bạn và tạo điều kiện để bạn đảm nhiệm tốt mọi nhiệm vụ. Ngày 17 tháng 3 năm 1964, Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị Trung ương lần thứ 12. Hội nghị đánh giá: Hoạt động quân sự của ta đã giành được thắng lợi; tiêu diệt, tiêu hao được một phần sinh lực địch, khôi phục được vùng giải phóng ở Khăm Muộn, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa. Lực lượng của ta qua thử thách chiến đấu và qua huấn luyện đã được củng cố về chất lượng, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cũng được nâng lên một bước... Tuy vậy, trình độ chính trị cũng như khả năng chiến đấu còn thấp, lực lượng chủ lực bị phân tán trong thế phòng ngự bị động, chưa làm được vai trò cơ động, bộ đội địa phương chưa được củng cố, cơ sở du kích chưa mạnh và chưa rộng khắp, về nhiệm vụ cách mạng Lào trong thời gian tới, hội nghị xác định: Ra sức đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở vùng sau lưng địch bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, quân sự với binh vận; ra sức xây dựng củng cố vùng giải phóng về mọi mặt,... củng cố lực lượng vũ trang và nửa vũ trang. Về tác chiến, phải lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính, nơi nào có điều kiện thì đánh để khôi phục và củng cố vùng giải phóng, kiên quyết quét "phỉ" ở hậu phương ta, tích cực phát triển chiến tranh du kích vào hậu phương địch, kết hợp đánh địch với binh địch vận, vận động nhân dân, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng.


Bộ Chính trị và Quân ủy Lào yêu cầu Việt Nam tăng cường chuyên gia quân sự giúp bạn. Với tinh thần chủ động, cuối tháng 12 năm 1963, Thường trực Quân ủy Trung ương Việt Nam đã thảo luận và thông qua chủ trương tăng cường chuyên gia quân sự cho bạn:

1. Phải tăng cường hệ thống cố vấn và chuyên gia trực tiếp giúp bạn cả Trung ương và đơn vị, gồm: cố vấn giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, cố vấn giúp các quân khu (liên tỉnh) và tỉnh, cố vấn và chuyên gia giúp các đơn vị tiểu đoàn chiến đấu (bộ binh và các binh chủng chủ yếu), cố vấn và chuyên gia giúp các trường lớp, cố vấn và chuyên gia giúp lực lượng trung lập tiến bộ.

2. Phải giúp đỡ một số đội công tác và một số đơn vị bộ đội Pa-thét Lào để phối hợp cùng bạn tiễu phỉ và củng cố cơ sở, giữ vững khu giải phóng.

3. Giúp bạn về lương thực và các nhu cầu vật chất khác cho tới khi bạn có thể hoàn toàn tự túc; đồng thời giúp bạn gấp rút sửa chữa lại những khí tài, phương tiện hư hỏng và xây dựng cho bạn những cơ sở sửa chữa cần thiết.

4. Nghiên cứu giúp bạn giải quyết những vấn đề lớn về mặt quân sự cho phù hợp với đặc điểm và tình hình Lào.

5. Chấn chỉnh việc theo dõi, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề của bạn ở trong nước về mặt tổ chức cũng như về mặt nền nếp công tác.

Quân ủy Trung ương hai Đảng thảo luận thống nhất nhận định: Địch chưa dám mở các cuộc tiến công quy mô lớn, nhưng chúng đã đẩy quân đội trung lập của Coong Le phối hợp với quân Phu-mi tích cực lấn chiếm chính diện, kết hợp đẩy mạnh hoạt động phỉ ở hậu phương Pa-thét Lào. Địch đã chiếm Văng Viêng, Căm Cớt, Lạc Xao và đang tăng cường lực lượng uy hiếp Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum; bọn phỉ đang gây khó khăn cho Pa-thét Lào, nhất là ở Thượng Lào và Sầm Nưa. Về phía ta, vừa qua hoạt động quân sự còn lúng túng, bị động, du kích vùng căn cứ Viêng Chăn không đẩy mạnh hoạt động lên được, chính diện thì phòng ngự nằm chờ khi địch tiến công mới chống đỡ; đồng thời do khó khăn tiếp tế và xe pháo cồng kềnh, khó cơ động nên mức độ và hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Chủ trương phương hướng hoạt động quân sự trong thời gian tới được hai Quân ủy thống nhất xác định: Khu vực dọc đường 13 nhanh chóng chuyên hướng sang hoạt động du kích và vận động chiến nhỏ, kết hợp với đẩy mạnh hoạt động mọi mặt ở vùng căn cứ địch hậu Viêng Chăn; phương châm là phải tích cực tiến công tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của quân địch, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị của quần chúng, kiên quyết chống bị động, nằm chờ.


Để chuẩn bị tổ chức Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân lần thứ hai tại Xiềng Xừ (Sầm Nưa), Quân ủy Trung ương Lào đề nghị chuyên gia quân sự Việt Nam giúp các cơ quan của ba Tổng cục chuẩn bị Đại hội. Do điều kiện đất nước Lào đang có chiến tranh, việc đi lại khó khăn, các đại biểu ở Trung Lào, Hạ Lào và Bắc Lào phải đi vòng sang Việt Nam để về Xiềng Xừ, vì vậy Quân ủy Trung ương Lào chủ trương kết hợp Đại hội Chiến sĩ thi đua với hội nghị cán bộ toàn quân.


Theo chủ trương đó, những cán bộ chuyên gia quân sự Việt Nam đã khẩn trương tập trung giúp ba cơ quan Tổng cục bạn hoàn tất các khâu chuẩn bị về nội dung Đại hội và hội nghị, bảo đảm vật chất, chỗ ăn ở, đi lại của đại biểu.


Cuối tháng 3 năm 1964, Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân lần thứ hai và hội nghị cán bộ toàn quân khai mạc tại Xiềng Xừ - Sầm Nưa. Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư, đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Tổng chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào cùng đông đủ cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong toàn quân, cán bộ phụ trách các đơn vị và địa phương trong cả nước Lào về dự.


Đại hội Chiến sĩ thi đua và hội nghị cán bộ toàn quân đã tổng kết phong trào thi đua; phổ biến quán triệt nghị quyết Trung ương lần thứ 12 và nghị quyết Quân ủy Trung ương Lào về tình hình nhiệm vụ cách mạng, chủ trương phương hướng chiến đấu của lực lượng vù trang trong giai đoạn mới. Nhân dịp Đại hội và hội nghị, Quân ủy Trung ương Lào phát động phong trào "Thi đua xây dựng đơn vị 3 giỏi, 2 tốt, chiến sĩ 3 giỏi, 2 tốt" (Xảm kềng sỏng đi) và cuộc vận động "Xây dựng chi bộ 4 biết" (Xi hụ)1 ("Thi đua xây dựng đơn vị 3 giỏi, 2 tốt, chiến sĩ 3 giỏi, 2 tốt": chiến đấu giỏi, công tác xây dựng cơ sở giỏi, tăng gia sản xuất tiết kiệm giỏi; học tập tốt, đoàn kết tốt. "Xây dựng chi bộ bốn biết": biết lãnh đạo chiến đấu, biết lãnh đạo đoàn kết, biết lãnh đạo công tác, biết lãnh đạo xây dựng đơn vị).


Được sự nhất trí của hai Đảng, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định giao nhiệm vụ cho Quân khu Tây Bắc phối hợp với bạn Lào mở chiến dịch 74A (chiến dịch đường số 7 và đường số 4) nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng khu vực Cánh Đồng Chum, giúp bạn trưởng thành trong tác chiến tập trung quy mô chiến dịch.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:06:22 pm
Sau thất bại ở đường số 8 và đường số 12 (Trung Lào), Mỹ - ngụy Viêng Chăn tiếp tục đẩy mạnh hành động lấn chiếm vùng giải phóng Thượng Lào, lôi kéo Coong Le, phát triển lực lượng phỉ Vàng Pao, đồng thời ra sức xuyên tạc chủ trương đường lối cách mạng Lào, chống phá Chính phủ Liên hiệp ba phái và nói xấu sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Lào. Tại khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mỹ - ngụy Viêng Chăn triển khai 13 tiểu đoàn bộ binh thuộc GM13 và GM17, cùng 3 tiểu đoàn hỗn hợp, 54 đại đội phỉ, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly và 85 ly, 2 đại đội súng cối 120 ly và 106,7 ly, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7 ly, 37 xe tăng và thiết giáp. Mỹ - ngụy Viêng Chăn xây dựng các trận địa phòng ngự mạnh nhằm chiếm giữ lâu dài địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, tiêu diệt lực lượng Pa-thét Lào, uy hiếp miền Bắc Việt Nam.


Đầu tháng 3 năm 1964, Bộ tư lệnh chiến dịch 74A được thành lập, phía Việt Nam có Thiếu tướng Nguyễn Bằng Giang - Tư lệnh Quân khu Tây Bắc làm Tư lệnh, phía Lào có các đồng chí Xinh-ca-po và Xa-mán (Pa-thét Lào), đại tá Đươn Xa Na Lát (trung lập).


Lực lượng tham gia chiến dịch: phía Việt Nam ca Lữ đoàn 316 và Lữ đoàn 335 (Quân khu Tây Bắc), Tiểu đoàn 8 (Sư đoàn 304), Tiểu đoàn 925 (Quân khu 4), 14 đại đội biên phòng; phía Lào có 7 tiểu đoàn Pa-thét Lào và trung lập (13, 1, 2, 15, Pát-chay, 701, 500).


Ngày 17 tháng 3 năm 1964, Tổng cục Chính trị ta ra chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị cho các quân khu, đơn vị trực tiếp giúp bạn. Chỉ thị nêu rõ: "Làm cho bộ đội thấy được âm mưu của địch, nắm vững chủ trương... phương châm tư tưởng chỉ đạo tác chiến, thấy hết thuận và khó khăn của ta, nâng cao tinh thần quốc tế vô sản, quyết tâm tiêu diệt địch, đoàn kết giúp đỡ bạn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng cơ sở cách mạng". Chỉ thị đề ra những yêu cầu về lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt những vấn đề chủ yếu sau:

1- Quán triệt sách lược chính trị, nắm vững đối tượng tác chiến, kiên quyết tập trung lực lượng tiêu diệt bọn phản động Phu-mi - Bun-ùm, hợp tác và tranh thủ lôi kéo quân trung lập tiến bộ, tránh xung đột với lực lượng của Coong Le và Phu-ma, tách họ ra khỏi lực lượng của Phu- mi, cùng với ta tiêu diệt bọn tay sai đế quốc Mỹ.

2- Đề cao tinh thần nghiêm chỉnh và triệt để chấp hành kỷ luật chiến trường, nhất là kỷ luật chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, phục tùng chỉ huy, thực hiện chính sách trong chiến đấu.

3- Đề cao tinh thần khắc phục khó khăn chịu đựng gian khổ, kiên trì chiến đấu và công tác liên tục; tăng cường công tác binh vận, kết hợp chặt chẽ tác chiến với địch vận làm tan rã hàng ngũ địch.

4- Tăng cường công tác tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong nhân dân, chăm lo củng cố cơ sở chính trị vùng giải phóng, nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế chiến đấu chống kẻ thù chung giữa quân đội cách mạng của hai nước và tình đoàn kết giữa hai dân tộc Lào - Việt.


Ngày 21 tháng 3 năm 1964, Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm, xác định kế hoạch chiến dịch chia thành ba đợt. Đợt 1, tiến công đánh chiếm toàn bộ trận địa của GM17 ở Phu Noọng. Đợt 2, kết hợp tác chiến với binh vận, giải phóng Cánh Đồng Chum. Đợt 3, truy quét tàn quân địch, củng cố ổn định tình hình ở các khu vực đã giải phóng.


Đoàn cán bộ quân tình nguyện do Thiếu tướng Nguyễn Bằng Giang - Tư lệnh chiến dịch dẫn đầu sang Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trình bày ý định và thống nhất kế hoạch phối hợp với bạn. Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đảm nhiệm một hướng chiến dịch; quân tình nguyện Việt Nam đảm nhiệm hướng chính chiến dịch. Đây là lần đầu tiên lực lượng vũ trang Pa-thét Lào đảm nhận một hướng chiến dịch có quy mô tương đối lớn, có nhiều tiểu đoàn chủ lực của bạn tham gia.


Đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng chỉ thị cho Đoàn 463: Tình hình ở Lào đang có nhiều chuyển biến mau lẹ. Bạn chọn thời cơ quyết định mở chiến dịch này là có cơ sở. Chuyên gia phải cố gắng giúp bạn thực hiện cho bằng được. Lúc này tạo thời cơ, đón thời cơ là rất quan trọng. Bộ chỉ huy chiến dịch 74A phải cố hết sức đánh sốm để hợp đồng đúng thời cơ của bạn. Đoàn 463 và chuyên gia các đơn vị quán triệt nhiệm vụ, tập trung giúp bạn chuẩn bị chu đáo về các mặt quân sự, chính trị tư tưởng, vật chất, dự đoán các tình huống cụ thể trong phương án tác chiến và phân công chuyên gia giúp bạn trong quá tình diễn ra chiến dịch.


Ngày 10 tháng 4 năm 1964, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch 74A phải chờ cuộc họp ba phái ở Cánh Đồng Chum kết thúc mới được đánh lớn.


Ngày 17 tháng 4 năm 1964, thủ lĩnh ba phái của Lào họp tại Cánh Đồng Chum, nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề gì. Ngày 19 tháng 4 năm 1964, Mỹ giúp Cu-pra-xít làm đảo chính ở Viêng Chăn, lật đổ Chính phủ Liên hiệp, buộc Phu-ma phải nhường chức Bộ trưởng Quốc phòng và Nội vụ cho phái Phu-mi Nô-xa-vẳn, nhưng Phu-ma không chấp nhận.


Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và đại diện các lực lượng trung lập (tướng Khăm Uồn Búp Pha ở Phong Xa Lỳ, đại tá Đươn Xa Na Lát ở Xiêng Khoảng) ra tuyên bố cực lực phản đối cuộc đảo chính của Cu-pra-xít và các hoạt động lấn chiếm của quân Phu-mi.


Chớp thời cơ, Bộ tư lệnh chiến dịch 74A hạ lệnh nổ súng đánh địch. Trên hướng chiến dịch do bạn đảm nhiệm, ngày 26 tháng 4 năm 1964, Trung ương phân cục Lào họp nghe đồng chí Phun-xi-pa-xót - Tư lệnh quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng báo cáo và đề nghị nổ súng đánh GM17 địch, nhằm tạo thế và thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum. Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng quyết định sử dụng 4 tiểu đoàn Pa-thét Lào, 2 tiểu đoàn trung lập yêu nước và 2 tiểu đoàn pháo binh tham gia chiến dịch. Các đơn vị có nhiệm vụ: Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào làm nhiệm vụ chủ yếu đánh chiếm Phu Sẳn - Phu Bạ. Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào tiến công chiếm vị trí Yên Ngựa giữa Phu Sẳn - Phu Bạ. Tiểu đoàn 15 trung lập yêu nước đánh chiếm Phu Bạ. Hai tiểu đoàn pháo binh bắn chi viện cho lực lượng bộ binh đánh chiếm mục tiêu. Chỉ huy trận đánh này có đồng chí Chăm Niên - Tham mưu trưởng quân khu, trung tá Thiệp (trung lập yêu nước), ông Phôn-xây và tổ chuyên gia quân khu. Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào cùng du kích Mường Pẹc đánh chiếm Mường Khừng, do đồng chí Xinh-ca-po và đồng chí Xi-phon chỉ huy. Bộ chỉ huy chung gồm các đồng chí Phun-xi-pa-xớt - Tư lệnh quân khu, Xa-mán - Chính ủy quân khu, đại tá Đươn Xa Na Lát - Chỉ huy trưởng lực lượng trung lập yêu nước và tổ chuyên gia quân khu.


20 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1964, đồng chí Nu-hắc, đại diện Trung ương phân cục chủ trì hội nghị hiệp đồng giữa lực lượng Pa-thét Lào và lực lượng trung lập yêu nước. Phía quân khu có các đồng chí Phun-xi-pa-xót, Xa-mán, Xinh-ca-po, Xi-phon, Chăn Niên và Bun Niên; phía trung lập yêu nước có các ông Đươn, Thiệp, Phôn-xây và chuyên gia quân khu. Sau khi đồng chí Nu-hắc tóm tắt tình hình địch, ta, ý định chiến dịch, mục tiêu tác chiến là GM17 để tạo thế và thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum, đồng chí Nguyễn Bình Sơn - Trưởng đoàn chuyên gia quân khu trình bày kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa hai Bộ chỉ huy Pa-thét Lào và trung lập.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:07:25 pm
Hội nghị thảo luận và thống nhất nhận định: Tuyến địa hình Phu Sẳn - Phu Lạt - Phu Tung là lá chắn cho Mường Phằn và Mường Khừng, địch đang chiếm giữ. Coong Le ngoan cố kéo dài thương thuyết, ta chiếm được tuyến này sẽ tạo thế hoà hợp hay tiếp tục đánh đều rất có lợi cho ta. Nếu để GM17 rút về, sau chúng đưa quân Coong Le lên chiếm Phu Sẳn thì bất lợi cho ta. Đồng chí Nu-hắc kết luận nhất trí với kế hoạch tác chiến hiệp đồng do đồng chí Nguyễn Bình Sơn - Trưởng đoàn chuyên gia trình bày; đồng thời chỉ thị: Thời gian chỉ còn vài giờ, mọi công việc chuẩn bị và hành quân sẽ phải hoàn thành trong đêm. Ngày mai (27-4), địch thay quân lúc nào là ta đánh lúc đó. Đồng chí nhắc nhớ mang theo truyền đơn địch vận rải vào trận địa Coong Le để khi đánh họ khỏi bất ngờ.


Theo kế hoạch, 4 giờ ngày 27 tháng 4 năm 1964, đồng chí Chăm Niên và chuyên gia quân sự có mặt tại sở chỉ huy. Đồng chí Phôm-ma-chắc - Chủ nhiệm pháo binh quân khu và đồng chí Trần Đăng - Chuyên gia pháo binh quân khu cho biết: Pháo đã chuẩn bị xong, sẵn sàng chờ lệnh.


8 giờ 15 phút ngày 27 tháng 4, đài quan sát báo cáo địch bắt đầu thay quân. Bộ chỉ huy phát lệnh nổ súng. Các đơn vị pháo cối nã đạn vào trận địa Phu Sẳn - Phu Lạt - Phu Tung. Các mũi bộ binh đồng loạt nổ súng tiến công. Quân địch (GM17) bị đánh bất ngờ không kịp phản ứng hoảng sợ tháo chạy.    Mũi Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào, Đại đội 16 dò mìn để tiến lên đánh chiếm Phu San - Phu Bạ, nhưng đến một vách núi dựng đứng thì vướng mìn địch, Đại đội trưởng Van-na bị thương nặng, Chính trị viên đại đội tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh chiếm Phu Sẳn.


Mũi Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào nhanh chóng đánh chiếm dãy Yên Ngựa, chia cắt Phu Sẳn và Phu Bạ, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 15 trung lập yêu nước đánh chiếm và chốt chặn Phu Bạ.


Giữa lúc đó, từ Phu Bạ, một chiếc xe jeép cắm cờ xanh lao ra phía trước đem thư của Coong Le đề nghị ngừng tiến công để hai bên thương lượng. Bộ tư lệnh Quân khu đồng ý với đề nghị của Coong Le, lệnh tạm ngừng tiến công tuyến Phu Sẳn để tiếp tục phân hoá địch.


Trong khi đó, mũi Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào cùng du kích Mường Pẹc nắm thời cơ phối hợp với chiến trường chính, tiến công đánh chiếm Mường Khừng, buộc địch phải rút chạy về Mường Sủi. 12 giờ ngày 27 tháng 4, lực lượng Pa-thét Lào và trung lập yêu nước đã kiểm soát một địa bàn rộng lớn thuộc khu vực Phu Sẳn - Phu Bạ và Mường Khừng. GM17 bị thiệt hại nặng. Quân trung lập phản bội Coong Le bị cô lập.


Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, đêm 26 rạng 27 tháng 4 năm 1964, quân tình nguyện (Lữ đoàn 335 và Tiểu đoàn 925) tiến công các vị trí địch ở Pha Kha. Quân địch tại đây bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại bỏ chạy về Sen Chồ. Thời cơ giải phóng hoàn toàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã xuất hiện, quân tình nguyện và lực lượng bạn phối hợp đánh mạnh vào các vị trí địch.


Ngày 28 tháng 4, hai tiểu đoàn của Lữ đoàn 335 phối hợp với Tiểu đoàn Pát-chay của bạn bao vây tiến công GM13 ở Phu Noọng, diệt Tiểu đoàn 11 (GM13). Lữ đoàn 316 phối hợp với Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào bao vây tiến công tiểu đoàn 22 và tiểu đoàn BR240 địch ở Noọng Khiêu, buộc GM13 phải rút chạy. Ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 7 quân tình nguyện và Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào triển khai đánh chặn địch ở Mường Păng.


Ngày 29 tháng 4 năm 1964, Phu-mi phải đưa GM17 về Viêng Chăn củng cố. Trong hai ngày 1 và 2 tháng 5 năm 1964, hai tiểu đoàn (500 và 701 Pa-thét Lào) phục kích không thấy địch, chuyển sang triển khai đánh phỉ. Lợi dụng bạn sơ hở, GM13 rút chạy về Nậm Coong, Nậm Kỳ Ao.


Trước những diễn biến mau lẹ, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung lực lượng bao vây, truy kích GM13 kết hợp với vận động lực lượng trung lập bỏ hàng ngũ Coong Le trở về với cách mạng. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 5, phần lớn lực lượng liên quân Việt - Lào truy kích GM13 ở phía nam Cánh Đồng Chum. Ngày 7 tháng 5, Phu-mi yêu cầu Coong Le cho quân lên phối hợp giữ Tha Viêng. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định nếu để địch chiếm giữ Tha Viêng thì ta không mở được đường về Xiêng Khoảng. Vì vậy, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định đánh Tha Viêng.


Ngày 8 tháng 5, liên quân Việt - Lào (Tiểu đoàn 925 quân tình nguyện, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và Tiểu đoàn 15 trung lập yêu nước) đánh bại các đợt phản kích của quân tiếp viện địch, tạo điều kiện cho hai tiểu đoàn dù số 4 và số 6 trung lập làm binh biến thoát khỏi sự khống chế của địch trở về với Pa-thét Lào. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy về hướng Sa La Đen Đin.


20 giờ ngày 15 tháng 5 năm 1964, liên quân Việt - Lào được lệnh mở cuộc tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum. Đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Tổng chỉ huy quân đội Pa-thét Lào trực tiếp đến đài quan sát chiến dịch ở đồi Bản Gion để chỉ đạo, chỉ huy. Ngày 16 tháng 5, đồng chí Xinh-ca-po và đồng chí Nguyễn Bình Sơn - Trưởng đoàn chuyên gia triển khai sở chỉ huy cánh nam ở đồi Pa-lăn. Các đơn vị liên quân Việt - Lào đã hình thành thế bao vây địch.


Sáng 17 tháng 5, từ hai hướng, pháo binh liên quân Việt - Lào tập trung bắn vào sở chỉ huy của Coong Le ở Mường Phằn. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào, Tiểu đoàn 15 trung lập yêu nước và Tiểu đoàn 294 quân tình nguyện bao vây sở chỉ huy Coong Le. Coong Le cùng tay chân hoang mang cao độ. Trung tá Xu-li-đệt (chỉ huy trung đoàn xe tăng và phân khu Mường Phằn, con bài của Mỹ chuẩn bị thay thế Coong Le) điên cuồng chống cự. Xu-li-đệt dẫn trung đoàn xe tăng vừa chống đỡ vừa cố chạy về Mường Khừng, nhưng đến Nậm Mô chúng bị Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào, Tiểu đoàn 16 trung lập yêu nước và một đại đội quân tình nguyện chặn đánh, diệt một số tên, trong đó có Xu-li-đệt.


Liên quân Việt - Lào vừa tiến công vừa dùng loa kêu gọi hoà hợp dân tộc, đoàn kết hợp tác chống Mỹ và tay sai. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào thọc sâu vào tung thâm sở chỉ huy Coong Le. Quân địch tan rã tháo chạy. Thừa thắng, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và Tiểu đoàn 15 trung lập yêu nước truy kích địch, đánh chiếm và chốt chặn tại Phu Cút, điểm cao khống chế bảo vệ cửa ngõ phía tây Cánh Đồng Chum. Một đại đội của Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào phục kích đón lõng địch tại khu vực Bản Không. Địch chạy về Na-pi.


Phía Mường Khừng, Tiểu đoàn 13 Pa-thét Lào và du kích Mường Pẹc nắm thời cơ thừa thắng đánh quân Coong Le tháo chạy tán loạn, một số tên đầu hàng, một số rút chạy về Mường Sủi.


Trên hướng Tha Thơm - Tha Viêng, ngày 23 tháng 5, Tiểu đoàn 701 và Tiểu đoàn 24 Pa-thét Lào phối hợp với Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện tiến công hai tiểu đoàn địch (BV25 và BV29) ở bản Đôn - Tha Thơm, truy kích chúng đến Mường Khừng. Ở Tha Thơm, một đơn vị trung lập do Khăm Phai chỉ huy đã quay về hợp tác với lực lượng cách mạng Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:09:28 pm
Bị truy kích mạnh, GM13 rút chạy về Mương Hương, GM17 rút về Viêng Chăn, ở Cánh Đồng Chum chỉ còn một số quân ngụy Viêng Chăn và quân trung lập Coong Le phản bội. Mỹ - ngụy Viêng Chăn huy động máy bay đến đánh phá Cánh Đồng Chum hòng cứu nguy Coong Le, nhưng bị các đơn vị phòng không Việt - Lào đánh trả quyết liệt.


Tận dụng thời cơ, Bộ tư lệnh chiến dịch mở tiếp đợt truy quét tàn quân địch, củng cố ổn định tình hình các khu vực đã giải phóng. Ngày 8 tháng 6 năm 1964, chiến dịch 74A kết thúc thắng lợi. Toàn chiến dịch, liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.500 tên, thu hàng trăm súng các loại, trong đó có 19 xe tăng và bọc thép; kêu gọi được 4 đơn vị trung lập về với cách mạng; giải phóng toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đến sát Mường Sủi rộng gần 3.000 km2, nối liền với căn cứ địa Sầm Nưa lên phía Bắc và xuống Trung Lào, mở thông đường số 7 nồi liền với Việt Nam.


Kề vai sát cánh bên nhau chiến đấu, liên quân Việt - Lào qua rèn luyện trong chiến dịch 74A đã nâng cao trình độ về nghệ thuật tổ chức chỉ huy và sử dụng lực lượng cũng như xử trí các tình huống chiến dịch. Đánh giá chiến dịch 74A, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nêu rõ: Nhờ nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ giỏi nên chỉ một năm đã giành lại Cánh Đồng Chum. Đây là chiến thắng to lớn có ý nghĩa chiến lược. Bạn tiếp tục đánh bại thêm một bước đối với kế hoạch leo thang "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ ở Lào; tạo cho cách mạng Lào có thời gian củng cố lực lượng, xây dựng vùng giải phóng, phát triển được chiến tranh nhân dân lên một bước mới. Là một sự hiệp đồng tốt đẹp đối với cuộc chiến đấu của chiến trường miên Nam Việt Nam.


Bị thất bại nặng, đế quốc Mỹ và các thế lực tay sai phản ứng quyết liệt. Đối với Lào, nhằm cứu vãn quân phái hữu Viêng Chăn và quân trung lập Coong Le, ngày 7 tháng 5 năm 1964, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên huy động máy bay từ Hạm đội 7 đến ném bom, bắn phá một số vùng ở Cánh Đồng Chum. Ngày 6 tháng 6 năm 1964, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá thị trấn Phôn Xa Vẳn - Khang Khay. Tiếp đó, ngày 12 tháng 6 năm 1964, Mỹ ép Phu-ma gặp đại sứ Mỹ ở Viêng Chăn, sau đó họp báo công khai tuyên bố: "Nhân danh Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Lào, cho phép không lực Hoa Kỳ được bắn phá các mục tiêu của đối phương trên lãnh thổ Lào"1 (lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 160). Ngày 12 tháng 8, người phát ngôn của đại sứ Mỹ ở Viêng Chăn tuyên bố: "Máy bay chiến đấu phản lực của Mỹ thực hiện nhiệm vụ ở Lào đã được lệnh bắn phá các mục tiêu quân sự của Pa-thét Lào". Ngày 13 tháng 7 năm 1964, tại Oa-sinh-tơn - tổng thống Mỹ phê duyệt kế hoạch của Bộ chỉ huy liên quân chuẩn bị sử dụng không quân và hải quân tiến hành chiến tranh phá hoại Lào và miền Bắc Việt Nam.


Ngày 7 tháng 8 năm 1964, ngoại trưởng Mỹ gửi thư cho đại sứ Mỹ ở Viêng Chăn, trong đó viết: "Mỹ muốn tình hình ở Lào ổn định dần, được như vậy sẽ tạo điều kiện cho tình hình Lào như hồi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1962. Nhưng vấn đề mấu chốt để ổn định tình hình là phải tạo nên thế cân bằng về quân sự giữa các phe phái. Nếu ngừng bắn ngay hiện nay thì chỉ có lợi cho cộng sản mà thôi". Ngày 21 tháng 8 năm 1964, ba phái ở Lào đồng ý mỏ hội nghị thượng đỉnh tại Pa-ri (Cộng hoà Pháp) để bàn giải quyết vấn đề hoà bình ở Lào. Hội nghị kéo dài nhiều phiên nhưng không đi đến kết quả.    Quân và dân hai nước Việt - Lào đang đứng trước giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược cực kỳ gay go quyết liệt. Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào (tháng 3-1964) đã khẳng định: "Tiếp tục nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ và hoà bình trung lập, nhưng ra sức củng cố tăng cường lực lượng cách mạng về mọi mặt, coi đó là vấn đề quyết định trước mắt cũng như lâu dài".


Theo yêu cầu của bạn, Thường trực Quân ủy Trung ương đã thông qua kế hoạch giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố vùng giải phóng trong ba năm 1964-1967. Về Xây dựng lực lượng vũ trang, phương châm là tập trung xây dựng chủ lực mạnh, đồng thời hết sức chú trọng bộ đội địa phương và dân quân du kích, lấy xây dựng đội ngũ cán bộ làm trọng tâm, xây dựng cơ quan làm trọng điểm; tổng quân số khoảng 20.000, trong đó chủ lực 12.000 - 14.000 (tổ chức thành 22 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo mặt đất, 3 tiểu đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn công binh), bộ đội địa phương 7.000 - 8.000 (tổ chức ở mỗi tỉnh 1 đại đội, cá biệt có tỉnh 1 tiểu đoàn), về củng cố vùng giải phóng, giúp bạn kết hợp giữa tiễu phỉ trừ gian với xây dựng cơ sở, kết hợp củng cố vùng giải phóng với việc đánh địch lấn chiếm, đồng thời phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu.


Ngày 30 tháng 6 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Đoàn chuyên gia quân sự giúp bạn Lào, mang phiên hiệu Đoàn 664. Bộ Tổng tham mưu quy định Đoàn 664 là một bộ phận của cơ quan Tổng cố vấn trực thuộc Bộ Quốc phòng. Đoàn 664 có hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới. Đoàn 664 chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương (thông qua ba Tổng cục) và đồng chí Tổng cố vấn. Quyền hạn của đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự tương đương với quyền hạn của Thủ trưởng quân khu.


Đi đôi với thành lập Đoàn 664, Bộ Tổng tham mưu đề ra quy định hệ thống chuyên gia quân sự giúp Lào và nguyên tắc biên chế tổ chức của chuyên gia ở từng cấp đơn vị, cơ quan. Theo đó, hệ thống chuyên gia quân sự gồm:

1. Đoàn chuyên gia bên cạnh Bộ Tổng tư lệnh bạn.

2. Đoàn chuyên gia và tổ chuyên gia bên cạnh các cơ quan quân khu và tỉnh đội của bạn.

3. Chuyên gia ở các đơn vị từ cấp tiểu đoàn trở lên, ở một số cơ sở hậu phương, trường, các đại đội chủ lực độc lập, đại đội chuyên môn kỹ thuật ở khu và Trung ương.

Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc và Bộ tư lệnh Quân khu 4 trực tiếp chỉ đạo và quản lý mại mặt chuyên gia ở một số khu vực được Bộ phân công.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:11:34 pm
Qua một thời gian thực hiện nguyên tắc trên, ngày 23 tháng 9 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu quy định rõ thêm nhiệm vụ, chức trách và quan hệ công tác trong hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam ở Lào. Cụ thể như sau:

Nhiệm vụ của Đoàn 664 là nghiên cứu toàn diện kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang, sau khi được bạn đồng ý thì giúp bạn làm kế hoạch tổ chức thực hiện; nghiên cứu, theo dõi tình hình giúp bạn làm kế hoạch tác chiến và tổ chức thực hiện mọi hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang bạn; giúp bạn xây dựng và củng cố các vùng căn cứ, phối hợp hoạt động trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và chỉ đạo phương châm công tác, chính sách đối với lực lượng vũ trang ta sang giúp bạn xây dựng căn cứ.


Chức trách nhiệm vụ của trưởng đoàn chuyên gia quân sự: Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam bên cạnh Bộ Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Pa-thét Lào; đồng thời là Tổng cố vấn dân, chính, Đảng của ta ở Lào, là người chịu trách nhiệm trước Quân ủy Trung ương về mọi hoạt động của đoàn chuyên gia quân sự và đội ngũ cố vấn. Nhiệm vụ chính của trưởng đoàn chuyên gia quân sự là kết hợp chặt chẽ công tác quân sự với các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội để giúp bạn điêu chỉnh kế hoạch; quán triệt chủ trương, đường lối, phương châm quân sự mà Trung ương Đảng hai nước đã thống nhất cho các chuyên gia ta và cán bộ bạn; quán triệt chủ trương, đường lối quân sự; theo dõi đôn đốc chuyên gia ta giúp bạn và định kỳ báo cáo Quân ủy Trung ương về tình hình chung theo quyền hạn.


Về quan hệ chỉ đạo và công tác: Đoàn chuyên gia quân sự giúp Bộ Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Pa-thét Lào chịu sự chỉ đạo của đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự và sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương ta (thông qua ba Tổng cục), định kỳ hoặc bất thường báo cáo công tác với Quân ủy Trung ương và đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự; tổ chuyên gia quân sự của Quân khu Thượng Lào chịu sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và trưởng đoàn chuyên gia quân sự (qua ba Tổng cục và Bộ tư lệnh Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc); tổ chuyên gia ở Hạ Lào chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ về mọi hoạt động, Quân khu 4 giúp Bộ giải quyết vấn đề chính sách hậu phương và quân thay thế, quân vào; tổ chuyên gia cạnh Quân khu Cánh Đồng Chum chịu sự chỉ đạo trực tiếp của đoàn chuyên gia quân sự; các tổ chuyên gia giúp các tỉnh đội bạn chịu sự chỉ đạo của đoàn chuyên gia quân sự hoặc tổ chuyên gia quân sự khu vực, hoặc Bộ tư lệnh Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc theo sự phân công của trên.


Quân khu 4 và Quân khu Tây Bắc chỉ đạo các tổ chuyên gia quân sự và lực lượng vũ trang ta sang giúp bạn trong phạm vi được phân công phụ trách; các tố chuyên gia quân sự và lực lượng vũ trang sang giúp bạn thuộc quân số của các quân khu, do đó quân khu có thể điều động, thay thế, nhưng phải báo cáo trưởng đoàn chuyên gia quân sự. Trong khi thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và hướng dẫn của trưởng đoàn chuyên gia quân sự, Bộ tư lệnh Quân khu 4, Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc có thế phát hiện, đề nghị với Quân ủy Trung ương và Tổng cố vấn những vấn đề thuộc chủ trương và phương hướng hoạt động. Bộ tư lệnh Quân khu 4, Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc phải thường kỳ hoặc bất thường báo cáo tình hình của các tổ chuyên gia quân sự lên Quân ủy Trung ương (qua ba Tổng cục) và trưởng đoàn chuyên gia quân sự.


Mối quan hệ giữa chuyên gia quân sự với cố vấn dân, chính, Đảng là quan hệ phối hợp công tác, không phải là quan hệ chỉ đạo, chỉ huy. Các tổ chuyên gia quân sự phối hợp chặt chẽ với các tổ cố vấn chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội để giúp bạn toàn diện; mọi ý kiến trước khi đưa ra bàn với bạn cần phải được các chuyên gia quân sự và cố vấn thảo luận đi đến thống nhất trước.


Đối với các lực lượng vũ trang ta sang giúp bạn xây dựng cơ sở phải thực hiện đúng đường lối, phương châm chính trị ở từng vùng theo yêu cầu của cấp ủy địa phương bạn và chịu sự chỉ đạo của tổ chuyên gia quân sự ở địa phương đó; về hoạt động tác chiến do Bộ tư lệnh Quân khu ta phái đi đảm nhiệm việc chỉ huy, chỉ đạo; riêng các đơn vị giúp bạn xây dựng cơ sở ở Sầm Nưa và Cánh Đồng Chum do đoàn chuyên gia quân sự ta ở Lào chỉ đạo trực tiếp. Khi có lực lượng lớn của ta sang mở đợt hoạt động quy mô dài ngày sẽ do Bộ tư lệnh Quân khu của ta phụ trách1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập III, Sđd, tr. 132, 133).


Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Thường trực Quân ủy Trung ương ta ra quyết định cử Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh - Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị làm Trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào - Đoàn 664.


Ngày 27 tháng 11 năm 1964, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng quyết định thay phiên hiệu Đoàn 664 thành Đoàn 959. Đoàn 959 được tăng cường lực lượng hơn 200 cán bộ quân đội2 (Số cán bộ quân đội này được điều động từ cuối năm 1963 đầu năm 1964, trong đó hầu hết là các đồng chí đã từng làm chuyên gia ở nước bạn trước Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào (năm 1962)), tổ chức hệ thống chuyên gia thành sáu bộ phận:

1. Bộ phận chuyên gia bên cạnh ba cơ quan của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, một số đơn vị trực thuộc cơ quan Bộ. Đồng chí Nguyễn Hoà - Phó đoàn giúp bạn về mặt quân sự, trực tiếp chỉ đạo bộ phận chuyên gia giúp Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí Trần Nguyên Phi - Phó đoàn chuyên gia chính trị, giúp bạn về mặt chính trị, trực tiếp chỉ đạo bộ phận chuyên gia giúp cơ quan Tổng cục Chính trị. Đồng chí Lê Xuân giúp bạn về công tác hậu cần, trực tiếp chỉ đạo bộ phận chuyên gia giúp Tổng cục Hậu cần.

2. Bộ phận chuyên gia bên cạnh các quân khu: Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có Đoàn 463 (còn gọi là Đoàn 5), bao gồm các chuyên gia Bộ tư lệnh và các cơ quan quân khu, Tỉnh đội Xiêng Khoảng, Tỉnh đội Viêng Chăn, chuyên gia các tiểu đoàn, các đơn vị binh chủng kỹ thuật thuộc quân khu, do hai đồng chí Nguyễn Bình Sơn và Lê Văn phụ trách. Quân khu Hạ Lào có Đoàn 763.

3. Bộ phận chuyên gia cho các tỉnh đội, đội công tác ở cơ sở địch hậu.    

4. Bộ phận chuyên gia cho các tiểu đoàn và các binh chủng chuyên môn kỹ thuật.

5. Bộ phận chuyên gia cho các trường quân sự, chính trị, trường văn hoá và các bệnh viện quân đội.

6. Bộ phận chuyên viên cho lực lượng trung lập yêu nước.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:12:30 pm
Đoàn 463 căn cứ vào yêu cầu của Quân ủy, Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào và tổ chức biên chế của Quân khu Cánh Đồng Chum, hình thành khung chuyên gia cho bạn bao gồm:

- Ban chỉ huy đoàn gồm các đồng chí Nguyễn Bình Sơn làm Đoàn trưởng; Lê Văn làm Chính ủy; Hồ Đệ làm Đoàn phó Tham mưu trưởng; Hoàng Cao Ngôn làm Đoàn phó phụ trách khối trung lập.

- Cơ quan đoàn gồm: Phòng Tham mưu có 28 người (gom các đồng chí Tham mưu trưởng, Tham mưu phó; các ban huấn luyện, tác chiến, quân báo, công binh, thông tin, quân lực, pháo mặt đất, pháo cao xạ, do Đoàn phó Hồ Đệ phụ trách). Phòng Chính trị có 12 người (gồm các đồng chí Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm; các ban tổ chức, tuyên huấn, bảo vệ, địch vận, cán bộ). Phòng Hậu cần có 21 người (gồm các đồng chí Chủ nhiệm, Chính ủy; các ban kế hoạch, tài vụ, quân nhu, quân khí, quân y, xe, do đồng chí Tạ Đảo phụ trách). Cơ quan nội bộ gồm 10 sĩ quan về hậu cần, cán bộ, tổ chức, tuyên huấn, bác sĩ và 30 hạ sĩ quan, chiến sĩ về cơ yếu, báo vụ, liên lạc, lái xe.

- Chuyên gia cho Tỉnh đội Xiêng Khoảng có 26 người: Chuyên gia Ban chỉ huy tỉnh đội (4 người) giúp các đồng chí tỉnh đội trưởng, tỉnh đội phó, chính ủy và phó chính ủy tỉnh đội. Chuyên gia cơ quan tỉnh đội (8 người) về công tác tham mưu, chính trị, hậu cần. Chuyên gia các huyện đội (14 người) giúp các huyện Noọng Hét, Mường Khăm, Mường Pẹc, Mường Khun, Mường Mọc và Đại đội 128 bộ đội địa phương tỉnh.

- Chuyên gia giúp khối trung lập yêu nước: Chuyên gia giúp Bộ chỉ huy có đồng chí Đoàn phó Hoàng Cao Ngôn, đồng chí Phạm Tiền Phong và 29 sĩ quan, tổng số là 31 người. Chuyên gia giúp các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần có 6 người. Chuyên gia giúp các tiểu đoàn 1, 4, 6, 15, 16, pháo mặt đất, pháo cao xạ 46 có 23 đồng chí, mỗi tiểu đoàn có 2 đến 3 đồng chí.

- Chuyên gia các tiểu đoàn Pa-thét Lào có 63 đồng chí, tổ chức thành 10 tổ (mỗi tổ 6 đến 7 đồng chí) giúp 10 tiểu đoàn (các tiểu đoàn 1, 2, 13, 24, 701, 500, tiểu đoàn Pát-chay, tiểu đoàn xe tăng, tiểu đoàn pháo mặt đất và tiểu đoàn pháo cao xạ).

- Chuyên gia Trường Sơ cấp quân khu có 6 đồng chí, trong đó đồng chí Nguyễn Khâm chuyên gia cho đồng chí Hiệu trưởng, đồng chí Hoàng Tiến Mão chuyên gia cho đồng chí Chính ủy và 4 đồng chí chuyên gia cho trợ lý kỹ thuật, chiến thuật.

Đến đây, hệ thống tổ chức chuyên gia giúp bạn từ cơ quan Trung ương đến đơn vị cơ sở đã hình thành. Mỗi đơn vị đều có đủ thành phần giúp bạn về quân sự, chính trị và một số trợ lý giúp về chuyên môn kỹ thuật.


Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quân giải phóng Lào quyết định chỉnh huấn bộ đội. Đoàn 959 đề nghị và được Quân ủy Trung ương Lào chấp thuận, quyết định: tranh thủ mùa mưa tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, nâng cao ý chí chiến đấu và năng lực lãnh đạo chỉ huy ở đơn vị. Bạn đề nghị trước hết tập trung giúp tổ chức đợt chỉnh huấn chính trị trong toàn quân, đối tượng chủ yếu là cán bộ trung sơ cấp. Nhận thức được tầm quan trọng của đợt sinh hoạt chính trị lần này, chuyên gia Việt Nam ở cơ quan cũng như ở đơn vị đã tổ chức thành nhiều đoàn, nhiều tổ chia nhau xuống từng khu vực, giúp bạn thực hiện đợt chỉnh huấn chính trị, quán triệt các nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 10, 11, 12. Đợt chỉnh huấn chính trị đã góp phần nâng cao trình độ giác ngộ về đường lối, nhiệm vụ cách mạng, mục tiêu chiến đấu của quân đội, bồi dưỡng bản chất của lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước, quyết tâm cùng nhân dân hy sinh, chiến đấu chống đế Quốc Mỹ xâm lược và tay sai, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước.


Kết hợp trong sinh hoạt chính trị, Đoàn 959 giúp bạn triển khai thực hiện cuộc vận động "chi bộ 4 biết". Tất cả các chi bộ và đảng viên đều nghiên cứu học tập nội dung cuộc vận động, bồi dưỡng vai trò tiền phong, gương mẫu của người đảng viên và nhiệm vụ lãnh đạo trực tiếp, toàn diện tuyệt đối của chi bộ đối với đơn vị, đề ra kế hoạch phương hướng phấn đấu xây dựng chi bộ, xây dựng đội ngũ đảng viên trong thời gian tới.


Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Lào quyết định tiến hành Đại hội ở chi bộ. Đây là lần đầu tiên bạn tổ chức Đại hội chi bộ. Đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Phó bí thư Quân ủy Trung ương đến dự Đại hội chi bộ thí điểm ở Tiểu đoàn 701 và trực tiếp chỉ thị phổ biến kinh nghiệm cho toàn Đảng bộ quân đội Pa-thét Lào.


Đối với các tổ chức quần chúng, Đoàn 959 giúp bạn xây dựng chi đoàn thanh niên xung phong, tổ ba người với các quy định nền nếp sinh hoạt, hội thảo, hội ý hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng từ tiểu đội, trung đội đến đại đội, tiểu đoàn, vận dụng trong mọi hoàn cảnh, lúc thường cũng như khi chiến đấu.


Chỉnh huấn quân sự, các đoàn chuyên gia quân sự tập trung giúp bạn xây dựng kế hoạch tác chiến và huấn luyện bổ sung về kỹ thuật, chiến thuật, chuẩn bị các mặt sẵn sàng chiến đấu cho bộ đội.


Sơ kết đợt chỉnh huấn mùa mưa 1964, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Pa-thét Lào hoan nghênh sự nhiệt tình và phương pháp công tác có hiệu quả của chuyên gia. Tuy vậy, các đoàn chuyên gia nhận thấy qua thực tiễn công tác còn bộc lộ một số nhược điểm như nóng vội, làm thay những việc bạn có thể tự làm được và trong một số trường hợp còn có tính áp đặt, nên bạn chưa thật vừa lòng1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 162). Quân độị Pa-thét Lào vừa kết thúc chỉnh huấn đã bước ngay vào chiến đấu chống lại các cuộc tiến công càn quét lấn chiếm vùng giải phóng của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:13:53 pm
Để đáp ứng với nhiệm vụ giúp bạn trong tình hình mới, ngày 17 tháng 11 năm 1964, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu và công tác trên đất bạn. Chỉ thị nêu rõ:

1- Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các đơn vị tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng làm cho bộ đội quán triệt sâu sắc mối quan hệ khăng khít, lâu dài giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào cùng chống kẻ thù chung, cùng sát cánh chiến đấu trên một chiến trường. Trong hoạt động thực tiễn, chú trọng làm cho cán bộ và chiến sĩ nhận rõ đặc điểm trên đất bạn khác Việt Nam về nhiều mặt; xây dựng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, gắn bó với cách mạng Lào, phối hợp chiến đấu và công tác chặt chẽ với bộ đội bạn, đồng cam cộng khổ, giúp đỡ và học tập lẫn nhau.

2- Lãnh đạo, chỉ huy tổ chức bộ đội thực hiện tốt nhiệm vụ chiến đấu: tiêu diệt nhiều sinh lực địch, gây ảnh hưởng tốt về chính trị làm cho bạn tin, dân mến, địch khiếp sợ. Quá thực tế chiến đấu giúp lực lượng vũ trang cách mạng Lào trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, tự đảm đương được nhiệm vụ của Đảng và nhân dân Lào giao phó; đồng thời rèn luyện bộ đội ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật, chiến thuật, nền nếp tác phong chiến đấu và công tác thực sự thực tế, đáp ứng nhu cầu giúp bạn ngày càng cao.

3- Coi trọng giáo dục bộ đội nhận rõ ý nghĩa quan trọng của công tác địch vận, cùng với bạn tuyên truyền giác ngộ quần chúng thấy rõ âm mưu thủ đoạn lừa bịp, dụ dỗ, khổng chế của địch đối với nhân dân Lào; tổ chức động viên nhân dân tin ở thắng lợi của cách mạng, phá tan mọi thủ đoạn xảo trá thâm độc của Mỹ và tay sai; củng cố cơ sở chính trị ở địa phương, huy động nhân dân tham gia làm công tác binh vận.

4- Lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục và tổ chức quản lý bộ đội chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường. Thường xuyên chăm lo bảo đảm đời sống tinh thần và vật chất của cán bộ, chiến sĩ làm cho bộ đội yên tâm chiến đấu và công tác trên đất bạn.

5- Coi trọng công tác củng cố, kiện toàn, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy và tổ chức Đảng, nhất là ở chi bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và xây dựng, thực hiện tốt nguyên tắc tổ chức và lãnh đạo của Đảng, rèn luyện bồi dưỡng kết nạp đảng viên nên gắn chặt với rèn luyện bồi dưỡng phát triển cán bộ1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Sđd, tr. 994, 995). Các đoàn chuyên gia quân sự đã giúp bạn xây dựng các phương án tác chiến, đối phó với các tình huống có thể xảy ra, phối hợp với lực lượng quân tình nguyện tại chỗ chủ động đánh địch.


Ở Cánh Đồng Chum, Đoàn 959 và Đoàn 463 giúp bạn xây dựng trận địa phòng ngự tại dãy núi Phu Cút, án ngữ phía tây Cánh Đồng Chum và thế trận phòng ngự hướng đông nam thị xã Xiêng Khoảng. Trên trận địa Phu Cút, Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào bố trí 1 đại đội tại mỏm 1 (1463), 1 trung đội ở mỏm 2 và 3, còn lại hai đại đội (thiêu) và đại đội hoả lực làm nhiệm vụ cơ động; 1 đại đội súng phòng không 14,5 ly bảo vệ mỏm 1, các đại đội cao xạ 37 ly, pháo 85 ly và cối 120 ly có nhiệm vụ chi viện trực tiếp cho Tiểu đoàn 1. Công sự, hầm hào bảo đảm chiến đấu và sinh hoạt đã được xây dựng cơ bản.


Hướng đông nam thị xã Xiêng Khoảng, chuyên gia và bạn thống nhất "dùng hình thức vận động tiến công kết hợp với chốt phòng ngự có trọng điểm và phát triển chiến tranh du kích rộng rãi khắp nơi". Bạn và chuyên gia quyết định chọn Phu-pha-pheo làm điểm chốt cửa ngõ vào Xiêng Khoảng. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào được giao nhiệm vụ tổ chức xây dựng chốt Phu-pha-pheo để đánh địch khi chúng tiến công thị xã; đồng thời xây dựng mạng lưới du kích vùng Mường Ngàn - Keo Sẹt - Thoong Phăn - Mường Phàn thành thế trận phòng thủ sẵn sàng phối hợp với Tiểu đoàn 500, Tiểu đoàn 24 và Tiểu đoàn 2 đánh địch.


Trên thế trận đã chuẩn bị, cuối năm 1964, bộ đội Pa-thét Lào, các lực lượng trung lập yêu nước, lực lượng vũ trang các địa phương cùng cán bộ chuyên gia Đoàn 959 và Đoàn 463, Tiểu đoàn 51 và 1 trung đội công binh quân tình nguyện liên tục chiến đấu, bẻ gãy cuộc hành quân "Xám xỏn" (ba mũi tên) của 4 binh đoàn địch (GM11, GM15, GM16, GM17) càn quét ở vùng bắc Văng Viêng - Sa La Phu Khun - Ca Xỉ. Quân địch bị chặn đứng trước của ngõ Phu Cút, không thể tiến được vào khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Ở Trung Lào, đầu năm 1965, quân tình nguyện (Trung đoàn 174 Quân khu 4) do đồng chí Lê Sơn làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Danh Trà làm Chính ủy được lệnh sang phối hợp chiến đấu với bạn. Cán bộ chuyên gia tại Trung Lào giúp quân khu và hai tiểu đoàn 17 và 18 Pa-thét Lào cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Xa Vẳn Na Khệt phối hợp với Trung đoàn 174 quân tình nguyện liên tục đánh bại các cuộc hành quân càn quét lấn chiếm "Xỏn Xay I" và "Xỏn Xay II" của địch ở khu vực bắc và nam đường số 9. Trong hơn 5 tháng, liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên, bảo vệ và mở rộng thêm vùng giải phóng đến bắc Hin Bun.


Tháng 1 năm 1965, Quân ủy Lào và Tỉnh ủy Sầm Nưa trực tiếp chỉ đạo thí điểm giải quyết cụm phỉ Hứa Mường. Một bộ phận chuyên gia quân sự và dân, chính, Đảng giúp các tiểu đoàn 705, 613, 585 của bạn đánh phỉ. Quân ủy Trung ương Lào đề ra phương châm tác chiến: thực hiện bao vây trước, đánh sau, tiêu diệt bọn đầu sỏ, kết hợp đánh tan rã, truy lùng, gọi hàng; phát động quần chúng kêu gọi con em lầm đường trở về và tham gia đấu tranh thu phục tàn phỉ. Sau hơn một tháng, hàng trăm tên phỉ ở Húa Mường đã ra hàng hoặc bỏ về nhà, số ngoan cố bị tiêu diệt.


Rút kinh nghiệm thu phục phỉ ở Sầm Nưa, chuyên gia Việt Nam ở các địa phương giúp bạn thành lập ban lãnh đạo thống nhất (quân - dân - chính - Đảng), chuẩn bị lực lượng các mặt, liên tiếp mở các đợt tiến công vào các ổ phỉ. Nhiều ổ phỉ lâu đời ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Chòm Văn, Giang Tơi (Thượng Lào), Tha Teng, Nha Hớn (Hạ Lào)... dần dần tan rã. Kết hợp với thu phục phỉ, chuyên gia Việt Nam giúp bạn phát động phong trào quần chúng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tổ chức lực lượng du kích, bộ đội địa phương dùng súng bộ binh bắn máy bay bay thấp, bắt giặc lái, lùng sục thám báo, biệt kích thâm nhập vào hậu phương.


Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 959 tăng cường cán bộ giúp bạn tiến hành công tác địch hậu. Các đội công tác cơ sở và đơn vị đặc công được đưa vào các vùng đông và tây Viêng Chăn. Hoạt động ở vùng sau lưng địch, cán bộ, chiến sĩ tình nguyện gặp khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần, ngôn ngữ, phong tục tập quán, nhất là ở các vùng dân tộc ít người. Được sự đùm bọc che chở của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Việt - Lào đã bám dân hoạt động, xây dựng được nhiều vùng cơ sở cách mạng, phát triển lực lượng du kích và căn cứ du kích ở Chăm Pa xắc, Tha Teng, Nha Hón (Hạ Lào), Ma-hả-xây, Noong Boốc (Trung Lào), Xay Nha BuLy, Pác Beng (Bắc Lào), góp phần tạo thế củng cố và bảo vệ vùng giải phóng.


Như vậy, từ năm 1960 đến đầu năm 1965, thực hiện sự thỏa thuận giữa hai Đảng ta và bạn, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã điều động các đoàn chuyên gia quân sự 959, 463, 763, các đơn vị thuộc các sư đoàn 312, 316, 335, 325, 330, 324, 304 trực thuộc Bộ, Quân khu Tây Bắc và Quân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp bạn xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng (lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, nòng cốt là quân đội Pa-thét Lào), xây dựng căn cứ địa kháng chiến, đồng thời sát cánh với bạn chiến đấu chống Mỹ - ngụy Viêng Chăn, tạo ra bước phát triển quan trọng của cách mạng Lào (1962) và thế phối hợp, chi viện lẫn nhau giữa hai chiến trường Lào - Việt. Cách mạng Lào chuyển sang giai đoạn mới sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1962), quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục hồ trợ bạn đấu tranh duy trì Chính phủ Liên hiệp, bảo vệ hoà bình, đồng thời giúp bạn tăng cường thế và lực tiến lên đánh bại một bước chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ ở Lào.


Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở Lào chuyển sang một giai đoạn mới. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh giúp bạn về mọi mặt, tiến lên giành những thắng lợi to lớn. 


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:50:22 am
Chương ba
TÍCH CỰC GIÚP BẠN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG,
CỦNG CỐ VÙNG GIẢI PHÓNG, ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC
“CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1965-1968)


I. GIÚP BẠN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, CHỐNG ĐỊCH LẤN CHIẾM, CỦNG CỐ VÙNG GIẢI PHÓNG (1965-1966)

Từ đầu năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược đối với các nước Đông Dương. Để cứu vãn tình thế thất bại ở miền Nam, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam; đồng thời mở rộng chiến tranh bằng không quân, hải quân ra miền Bắc, hòng phá hoại tiềm lực kinh tế, quân sự của hậu phương, uy hiếp tinh thần của nhân dân, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, hạn chế Việt Nam chi viện mọi mặt cho cách mạng Lào.


Để phối hợp với chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở Lào, tăng cường “chiến tranh đặc biệt”, phát triển các binh đoàn cơ động, thúc quân phái hữu tiến công quân đội Pa-thét Lào; đồng thời huy động máy bay đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng và tìm mọi cách phá hoại Chính phủ Liên hiệp ba phái. Đế quốc Mỹ liên tiếp cải tổ Chính phủ Viêng Chăn, gạt bỏ bọn tay sai bất lực, lập ra “trung tâm hành quân liên hợp” do Mỹ trực tiếp nắm để dễ phối hợp với lực lượng ngụy Lào, lực lượng Thái Lan và một bộ phận quân ngụy Sài Gòn sang chiến đấu trên chiến trường Lào; mặt khác kết hợp giữa lực lượng bộ binh và không quân Mỹ, nhằm tăng hiệu quả các hoạt động quân sự quy mô ngày càng lớn hơn.


Trước tình hình diễn biến khẩn trương, tháng 5 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp Hội nghị lần thứ 13 ra nghị quyết đánh giá tình hình và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, phát động chiến tranh nhân dân sâu rộng, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng có trọng điểm..., ra sức củng cố và tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân.


Đối với việc xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, nghị quyết xác định: Tăng cường chất lượng chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đi đôi với việc củng cố tổ chức, giải quyết tình trạng mất cân đối giữa ba thứ quân, với những yêu cầu nhiệm vụ cụ thể sau đây:

1. Bộ đội chủ lực phải ra sức củng cố xây dựng về mọi mặt để trở thành đội quân chiến đấu giỏi, vận động quần chúng giỏi, sản xuất giỏi, đủ sức đánh bại từng bộ phận quân địch. Cố gắng bổ sung quân số của các đơn vị tương đối đủ, coi trọng xây dựng cấp tiểu đoàn; tiến tới thành lập một số trung đoàn ở những địa bàn chiến lược quan trọng như: Sầm Nưa, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung Lào, Hạ Lào. Tổ chức lực lượng gọn nhẹ, nhưng phải mạnh và cơ động tốt.

2. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện và các vùng dân tộc phải tổ chức phù hợp với điều kiện chiến trường và tình hình thực tế của từng vùng giải phóng hiện nay. Nhiệm vụ của bộ đội địa phương là tổ chức và dìu dắt du kích, làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở địa phương, bảo đảm cho đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị ở địa phương.

3. Dân quân du kích phải phát triển rộng rãi ở vùng giải phóng và cả ở vùng sau lưng địch, đồng thời phải có lực lượng nòng cốt. Nhiệm vụ của dân quân du kích là chống địch, bảo vệ bản làng, bảo vệ cán bộ, chính quyền và các tổ chức cách mạng của nhân dân, tham gia đấu tranh chính trị. Tăng cường giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự cho du kích, chú ý bồi dưỡng cán bộ và đưa đảng viên vào du kích; phải phát triển rộng rãi du kích ở vùng giải phóng và cả vùng sau lưng địch.


Quán triệt nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Tổng Quân ủy bạn tổ chức nhiều cuộc họp bàn về nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội. Theo thoả thuận giữa ta và bạn, trong giai đoạn này, trên chiến trường Lào có Đoàn 959 tiếp tục giúp ba cơ quan: Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần của bạn về phương hướng, kế hoạch, tổ chức biên chế, trang bị và nội dung xây dựng quân đội, phát triển lực lượng, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bạn trong giai đoạn cách mạng mới.


Theo yêu cầu của bạn về công tác địch hậu, Đoàn 959 đã tăng cường cán bộ giúp bạn xây dựng cơ sở ở những vùng sau lưng địch. Đoàn tổ chức một số đội công tác cơ sở và đơn vị đặc công chuyên vào hoạt động ở đông và tây Viêng Chăn. Cán bộ, chiến sĩ ta giúp bạn ở vùng địch hậu gặp nhiều khó khăn về đời sống tinh thần, vật chất. Do không thông thạo ngôn ngữ, phong tục tập quán, nhất là các vùng dân tộc ít người của Lào, nên công tác tuyên truyền vận động nhân dân các bộ tộc Lào càng khó khăn hơn. Nhưng được sự đùm bọc, che chở của nhân dân, cán bộ ta đã sát cánh cùng cán bộ bạn phân tán bám sát địa bàn hoạt động, xây dựng được nhiều vùng cơ sở cách mạng, phát triển lực lượng du kích và căn cứ du kích ở các vùng Chăm Pa xắc, Tha Teng, Nha Hớn (Hạ Lào), Ma-hả-xây, Noọng Boốc (Trung Lào); Xay Nha Bu Ly, Pác Beng (Bắc Lào); Pác Nơn, NaLông, Mường Mẹt, Ca Xỉ (Viêng Chăn), tạo nên sự uy hiếp rất lớn đối với địch, hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ củng cố và bảo vệ vùng giải phóng.


Nhằm đáp ứng với yêu cầu tình hình của cách mạng Lào, Bộ Chính trị ta đã chủ trương giúp bạn khẩn trương phát triển lực lượng và gấp rút đưa một số đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự sang giúp bạn xây dựng, chiến đấu, củng cố vùng giải phóng.


Thực hiện chủ trương đó, ngày 18 tháng 5 năm 1965, Đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam mang phiên hiệu Đoàn 565 được thành lập tại Đức Thọ (Hà Tình). Ngày 19 tháng 5 năm 1965, Đoàn nhận lệnh hành quân sang chiến trường Nam Lào với nhiệm vụ: Chuyên gia giúp địa phương xây dựng lực lượng từ tỉnh đến các đại đội, cùng các địa phương trên địa bàn phát triển quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng giải phóng, trong vùng địch hậu. Bộ đội tình nguyện phối hợp với lực lượng địa phương đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, diệt phỉ, bảo vệ và mở rộng địa bàn, bảo vệ tuyến hành lang 559, cùng bạn triển khai đợt hoạt động quân sự tiến hành thu phục phỉ ở Khăm Muộn, bắc Xa Vẳn Na Khệt và đánh địch ở phía tây ven đường số 13.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:51:36 am
Đoàn 565 được tổ chức trên cơ sở thống nhất sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện đang hoạt động tại Nam Lào, bao gồm cả tổ chức chuyên gia quân sự Bon-khăm-xay có tăng cường đội ngũ chuyên gia và các đơn vị tình nguyện. Đoàn 763 (đoàn cán bộ dân chính) đang hoạt động tại huyện Đắc Trưng, tỉnh Tà-vên-oọc (nay là tỉnh Sê Kông) được sáp nhập vào đội hình Đoàn 565.


Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 565 gồm các đồng chí: Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh kiêm Chính ủy; Lê Kích - Phó tư lệnh; Ngô Thế Sơn - Phó chính ủy thứ nhất; Trần Quyết Thắng - Phó chính ủy thứ hai. Cơ quan Đoàn gồm các phòng: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; hai ban tài vụ và quản trị. Lực lượng trực thuộc Đoàn 565 có 2 trung đoàn (27, 29) và 4 tiểu đoàn (927, 2, 3, 4) bộ binh.


Quân khu 4 được Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ tiếp tế, bảo đảm hậu phương, tăng cường phương tiện chỉ huy và một số binh chủng bảo đảm cho Đoàn 565 khi cần thiết.


Trên cơ sở chiến lược chung “Đông Dương là một chiến trường”, Đảng ta chủ trương quyết tâm đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường chính Việt Nam; đồng thời giúp quân giải phóng Lào và nhân dân các bộ tộc Lào đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai trên chiến trường Lào.


Nhằm thúc đẩy cách mạng hai nước phát triển, ngày 22 tháng 6 năm 1965, đại diện Đảng Lao động Việt Nam và đại diện Đảng Nhân dân Lào tổ chức cuộc Hội đàm xác định những vấn đề cơ bản về đường lối, nhiệm vụ cách mạng, xác định vị trí, vai trò của chiến tranh nhân dân Việt Nam và chiến tranh cách mạng Lào. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ trước mắt đối với cách mạng Lào là khẩn trương tăng cường lực lượng cách mạng về mọi mặt, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, từng bước tạo chuyển biến tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho ta, quyết tâm đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Cuộc hội đàm đã thống nhất: Hai Đảng, hai dân tộc, hai nước cần đoàn kết giúp đỡ nhau, chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và tay sai. Chúng ta phải đánh và giành thắng lợi triệt để.


Thực hiện chủ trương của hai Đảng, Quân ủy Trung ương ta tăng cường công tác chỉ đạo giúp bạn hoàn thành hệ thống chuyên gia quân sự từ Bộ Tổng tư lệnh xuống các huyện đội và phân đội kỹ thuật (gồm 1.744 người), tăng cường lực lượng quân tình nguyện sang Lào giúp bạn (gồm 10.000 người, biên chế 10 tiểu đoàn quân tình nguyện, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ, 17 đội công tác) và nhận giúp bạn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trung sơ cấp về quân sự, chính trị, hậu cần1 (Đến tháng 6 năm 1965, ta nhận giúp Lào đào tạo, bồi dưỡng 479 cán bộ trung sơ cấp về quân sự, chính trị, hậu cần (Hồ sơ 781 - số 861, trang 69 - TK-937 - Viện Lịch sử quân sự).


Về nguyên tắc bố trí chuyên gia giúp bạn và tổ chức quân tình nguyện sang Lào, Bộ Tổng tham mưu ta đề xuất: Bố trí chuyên gia căn bản theo yêu cầu tình hình của bạn, cần tăng cố vấn chuyên gia về chính trị, dân quân, hậu cần và chuyên gia giúp một số huyện trọng điểm. Bộ Chính trị ta quyết định cho chuyên gia và quân tình nguyện sang Lào trong những năm tới cần từ 8.000 đến 10.000 người, nhưng theo nghiên cứu của Bộ Tổng tham mưu về nhu cầu cách mạng của bạn thì nên có khoảng 8.500 người, sau này tuỳ tình hình phát triển sẽ đưa lên 10.000 người. Với quân số 8.500 người thì thành phần các lực lượng là: cố vấn chuyên gia 600 - 700 người, nhân viên kỹ thuật phục vụ chuyên gia và các đơn vị bảo đảm chỉ huy hai Bộ tư lệnh là 1.400 người, bộ đội tình nguyện khoảng 6.400 người (Nam Lào 1.970, Bắc Lào 4.430). Khi chọn đội ngũ chuyên gia, bộ đội tình nguyện phải coi trọng chất lượng, chọn những người có khả năng tương đối phù hợp với chiến trường, giáo dục chính trị trước khi đi và có chính sách phù hợp1 (Biên niên Bộ tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập III, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003, tr. 260).


Theo nguyên tắc trong quan hệ quốc tế của Đảng, chuyên gia quân sự Việt Nam ở các đơn vị giúp bạn xây dựng các phương án tác chiến đối phó với các tình huống có thể xảy ra, phối hợp với lực lượng quân tình nguyện tại chỗ chủ động đánh địch; đồng thời giúp bạn đề ra phương hướng củng cố, phát triển lực lượng, tăng cường cán bộ giúp bạn tuyên truyền xây dựng cơ sở quần chúng ở những vùng sau lưng địch, tổ chức một số đội công tác cơ sở và đơn vị đặc công vào hoạt động ở đông và tây Viêng Chăn.


Bước vào mùa mưa năm 1965, lợi dụng ta khó khăn trong việc vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng, bọn phản động phái hữu tăng cường các tiểu đoàn cơ động cùng lực lượng quân khu 2 ngụy lấn chiếm lại các khu vực thuộc ba huyện Húa Mường, Mường Khăm, Mường Hiềm, tiếp giáp các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Luông Phra Băng. Đi đôi với hoạt động tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đế quốc Mỹ và tay sai tăng cường củng cố bộ máy thông trị ngụy quyền trong vùng chúng kiểm soát để phá hoại cơ sở cách mạng. Chúng liên tiếp mở những cuộc càn quét kéo dài đề “bình định” các vùng nông thôn, uy hiếp tinh thần nhân dân các bộ tộc Lào.


Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 959 tổ chức các đội chuyên gia cùng bạn hoạt động trong vùng địch hậu, cùng bạn tiến hành công tác địch vận và tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân dân vạch trần âm mưu thủ đoạn lừa bịp, dụ dỗ của địch. Cán bộ, chiến sĩ các đội chuyên gia không quản khó khăn, gian khổ kiên trì động viên nhân dân tin ở thắng lợi của cách mạng, củng cố cơ sở chính trị ở địa phương, huy động nhân dân tham gia công tác binh vận, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng địch hậu.    Ngày 3 tháng 7 năm 1965, Bộ Chính trị ta ra Nghị quyết về giúp đỡ cách mạng Lào và đẩy mạnh hoạt động trong thời gian tới. Nghị quyết nhấn mạnh: “Hiện nay, trước âm mưu đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của Mỹ và tay sai, vận mệnh của hai dân tộc và sự nghiệp cách mạng của hai nước đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa cách mạng hai nước và sự giúp đỡ tích cực hơn nữa của Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đối với cách mạng Lào. Ta cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của bạn”1 (Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng về công tác Lào, hồ sơ TƯ 364, tr. 28, lưu tại Văn phòng Bộ Quốc phòng).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:52:33 am
Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 8 tháng 9 năm 1965, Bộ Tổng tham mưu ta lập kế hoạch hoạt động quân sự mùa khô 1965-1966 trên chiến trường Lào nêu rõ:

1. Kiên quyết đánh bại mọi cuộc tiến công lấn chiếm của địch, kết hợp tiến công địch với phương thức thích hợp mở rộng vùng giải phóng. Trong đó, hướng Trung - Hạ Lào là trọng điểm tiến công của ta để mở rộng vùng giải phóng, phá âm mưu đánh chiếm đường 9 của địch; hướng Cánh Đồng Chum nói chung không chủ trương mở rộng vùng Bắc Lào, song phải tích cực chuẩn bị chiến trường ở khu vực tây Cánh Đồng Chum, Tha Thơm, Ta Viêng; đồng thời chuẩn bị sẵn nếu địch tiến công Cánh Đồng Chum thì đánh bại cuộc tiến công của chúng, mở rộng vùng giải phóng của bạn.

2. Tiếp tục tiến công lực lượng địch xâm nhập và quét phỉ, xây dựng cơ sở, củng cố vùng giải phóng. Theo đó, khu vực nam Sầm Nưa và nam, bắc đường số 7 là trọng điểm hoạt động ỏ Bắc Lào; vùng Thượng Lào trọng điểm quét phỉ ở Chòm Văn, Zăng Gơ, Tòng Sơn.

3. Đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, trọng điểm là Hạ Lào và Viêng Chăn.

4. Chống chiến tranh phá hoại, tăng cường các biện pháp phòng không, tổ chức rộng rãi bắn máy bay địch; sản xuất sinh hoạt phù hợp với tình hình, bảo đảm đường sá, vận tải, kho tàng.


Quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị về giúp bạn Lào, ngày 17 tháng 9 năm 1965, Tổng cục Chính trị quân đội ta ra chỉ thị về nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị đối với bộ đội đang phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Chỉ thị nhấn mạnh: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy các cấp, của chi bộ Đảng, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt sâu sắc đặc điểm tình hình nhiệm vụ cách mạng Lào; nhiệm vụ quốc tế của quân đội ta, mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào; nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung, phương châm nguyên tắc giúp bạn; nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm cơ bản về chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân vào điều kiện cụ thể của Lào; xây dựng được quyết tâm chống Mỹ, cứu nước... đoàn kết liên minh chiến đấu với bạn cho đến thắng lợi hoàn toàn”1 (Hồ sơ: CĐ-11-MĐ, 619, Tổng cục Chính trị, tr. 190).


Về một số công tác cụ thể, chỉ thị yêu cầu phải coi trọng hoạt động giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng bộ đội, trước hết là cán bộ, đảng viên thông suốt và nhất trí cao mọi chủ trương, nhiệm vụ giúp bạn, thực sự gương mẫu về mọi mặt để dẫn dắt quần chúng cùng thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế vô tư, trong sáng, coi sự nghiệp cách mạng của nước bạn như sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa bộ đội ta với quân và dân Lào, tất cả vì thắng lợi chung. Thực sự khiêm tốn, tôn trọng bạn, kiên nhẫn, tận tình hướng dẫn giúp đỡ bạn tiến bộ, thực hiện miệng nói tay làm, đồng cam cộng khổ cùng với bạn chiến đấu, công tác và sản xuất. Kiên quyết chống mọi biểu hiện tư tưởng nước lớn, ban ơn, xem thường bạn, tạm bợ, ngại khó ngại khổ, thiếu an tâm làm nhiệm vụ giúp bạn.


Quán triệt những yêu cầu, nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị đối với quân tình nguyện và chuyên gia quân sự trực tiếp giúp bạn, cấp ủy, lãnh đạo chỉ huy, cơ quan chính trị các đơn vị tổ chức bộ đội thực hiện đúng quan điểm quốc tế chân chính, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó.


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng ta khẩn trương điều chỉnh lực lượng và tăng cường lực lượng sang giúp bạn đẩy mạnh hoạt động tác chiến, nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố, mở rộng vùng giải phóng.


Tháng 9 năm 1965, Bộ Tổng tham mưu ta tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động trên chiến trường Lào. Tham gia hội nghị có Thủ trưởng Bộ, đại diện các cơ quan chức năng, trong đó có các đoàn 959, 565, chuyên gia quân sự của ta ở Cánh Đồng Chum, Hạ Lào; cán bộ các đơn vị từng chiến đấu ở Lào. Về phía bạn có đồng chí Fun - ỦY viên Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Quân khu trưởng Quân khu Cánh Đồng Chum. Trong quá trình hội nghị, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn và đồng chí Võ Nguyên Giáp đến dự và nói chuyện với hội nghị. Hội nghị thảo luận thống nhất tăng cường một số biện pháp nhằm bảo đảm cho tác chiến đánh tiêu diệt trên chiến trường Lào được tốt hbn; đồng thời xác định rõ phương châm chỉ đạo tác chiến, phương thức hoạt động, vấn đề quán triệt phương châm ba mặt đối với bộ đội tinh nguyện Việt Nam trong hoạt động trên chiến trường Lào.


Theo yêu cầu của bạn, tháng 10 năm 1965, Tiểu đoàn 4 thuộc Quân khu 4 được lệnh sang làm nhiệm vụ Quốc tế trên địa bàn các tỉnh Trung Lào. Tiểu đoàn đã hoạt động chiến đấu trên tuyến đường số 8, số 12 và cùng một số đơn vị bạn đánh địch giải phóng các huyện Ma-hả-xây, Pha Hom, Bản Thảm (phía đông trục đường số 13 dọc theo hai tỉnh Bô Li Khăm Xay và Khăm Muộn). Cuối năm 1965, tiểu đoàn tổ chức trận phục kích thị xã Thà Khệt (Khăm Muộn) diệt tại chỗ 60 tên, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 tên khác, thu 4 xe quân sự tại ngã ba Thác Kéc. Chiến thắng Thà Khẹt đã làm mất uy danh tiểu đoàn phái hữu Viêng Chăn.


Ngày 11 tháng 11 năm 1965, Bộ Quốc phòng ta giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 thuộc Sư đoàn 316 (Quân khu Tây Bắc), hành quân sang Xiêng Khoảng phối hợp với Tiểu đoàn 9241 (Tiểu đoàn 924 thuộc Quân khu 4 được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ từ cuối năm 1964 sang giúp bạn bảo vệ trung tâm Cánh Đồng Chum, phối hợp cùng bạn hoạt động dọc trục đường số 7 từ Noọng Hét đến Bản Ban, Khang Khay), cùng bạn xây dựng cơ sở ở vùng giải phóng, không để bọn phản động tay sai của Vàng Pao lôi kéo, tranh chấp, gom dân vào vùng do chúng kiểm soát.


Được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 924 đã cùng đơn vị bạn và nhân dân địa phương xây dựng cơ sở, vận động thu phục phỉ, chiến đấu giữ vững các tuyến đường vận chuyển ở khu vực Xiêng Khoảng. Ngoài các đơn vị chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam đang ngày đêm giúp bạn, phối hợp với bạn chiến đấu, Bộ Quốc phòng ta còn cử một số đơn vị chủ lực cơ động sang làm nhiệm vụ quốc tế, giúp bạn đánh địch giành thắng lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:53:34 am
Trung tuần tháng 11 năm 1965, Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) do đồng chí Hoàng Chim - Trung đoàn trưởng, đồng chí Đoàn Độ - Chính ủy, được lệnh sang tham gia chiến dịch mang mật danh S.K, có nhiệm vụ tiêu diệt từ một đến hai tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng các tiểu đoàn khác, mở thông đường số 6, đoạn đường Sầm Nưa - Bản Ban, cùng bạn giải phóng Húa Mường, Mường Khăm, Mường Hiểm.


Phát huy thắng lợi, ngày 21 tháng 12 năm 1965, Trung đoàn 148 và bạn tiến công đánh chiếm Húa Mường. Tiếp đó, ngày 6 tháng 2 năm 1966 giải phóng Huổi Tum. 17 giờ ngày 18 tháng 2, lá cờ quyết thắng của trung đoàn tung bay trên sở chỉ huy GT Sầm Nưa trong trung tâm Nà Khằng. Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 năm 1966, Trung đoàn 148, cùng đơn vị bạn giải phóng Mường Hiềm. Để tạo điều kiện cho bạn bảo vệ và giữ vững vùng giải phóng, Trung đoàn 148 tiếp tục dồn ép địch về Pa Thí từ hai hướng bắc, nam. Ngày 19 tháng 4 năm 1966, trung đoàn chia làm hai mũi đánh chiếm Noọng Khạng (bắc Pa Thí), Nhọt Phát, Tông Ly (nam Pa Thí). Ngày 29 tháng 4 năm 1966, ta và bạn hoàn toàn làm chủ cả hai khu vực.


Trong chiến dịch này, Trung đoàn 148 đã đánh 23 trận, diệt 394 tên địch, bắt 231 tên, thu và phá hủv 2 pháo 105 ly, 4 cối 106,7 ly, 3 sơn pháo 75 ly, bắn rơi và phá hủy 2 máy bay L.19, tiêu hủy hàng nghìn lít xăng, thu nhiều quân trang, quân dụng, cùng bạn giải phóng bốn huyện: Húa Mường, Mường Khăm, Mường Khọ, Mường Hiềm; mở thông đường số 6 từ Sầm Nưa đến Bản Ban, giải phóng hơn một vạn dân, đập tan các bàn đạp địch dùng để lấn chiếm vùng giải phóng, làm thất bại ý đồ của Mỹ định xây dựng vùng này thành một căn cứ quân sự, phục vụ âm mưu gây chiến tranh xâm lược lâu dài của chúng ở Đông Dương.


Cuối năm 1965, theo đề nghị của Tổng Quân ủy, Trung ương Đảng bạn quyết định tiến hành cuộc vận động “Toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang”. Đoàn 959 được giao nhiệm vụ phối hợp với chuyên gia dân chính đến từng địa phương giúp bạn tổ chức nhiều cuộc tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân; phân công cán bộ, đảng viên ở từng địa phương cùng bộ đội thâm nhập, vận động từng gia đình. Quần chúng hưởng ứng tích cực, động viên con em đi bộ đội, tham gia du kích.


Ngay trong vùng tạm bị chiếm cũng có nhiều thanh niên bí mật ra vùng giải phóng xin nhập ngũ. Tuy dân số vùng giải phóng của bạn chỉ có 80 vạn dân, nhưng bước đầu công cuộc vận động đã có 5.000 thanh niên vào bộ đội và gần 20.000 người tham gia lực lượng du kích, đưa tổng số quân đội Pa-thét Lào năm 1966 lên 22.500 người và 44.0000 du kích (có 8.700 du kích nữ). Những thành tựu bước đầu đạt được có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tăng cường được lực lượng, bảo đảm quân số cho các đơn vị chiến đấu và khắc phục dần tình trạng mất cân đối giữa ba thứ quân. Đặc biệt, lực lượng vũ trang địa phương (bộ đội địa phương, dân quân du kích), đã phát triển củng cố thêm, làm nguồn bổ sung và hỗ trợ tác chiến với quân chủ lực chống các âm mưu và hành động lấn chiếm phá hoại vùng giải phóng của đế quốc Mỹ và tay sai.


Để đối phó với chiến tranh phá hoại ngày càng tăng với quy mô lớn, mức độ ác liệt của đế quốc Mỹ, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định phát triển lực lượng lên một bước mới: Thành lập thêm một tiểu đoàn cao xạ 37 ly và một số đại đội súng máy 12,8 ly. Các xã và huyện tổ chức tiểu đội, trung đội bắn máy bay thấp bằng súng trường. Kiện toàn các đơn vị pháo mặt đất, tổ chức thêm một đại đội công binh, đại đội hoá học và đặc biệt là thành lập đơn vị pháo binh nữ ở Cánh Đồng Chum. Đối với chủ lực, bạn xây dựng thêm 5 tiểu đoàn bộ binh, đưa tổng số đơn vị chủ lực lên 23 tiểu đoàn. Theo đề nghị của chuyên gia, mỗi tiểu đoàn có một đại đội tinh nhuệ, biết đánh theo kiểu đặc công, mỗi huyện có một tiểu đội hoặc trung đội du kích nòng cốt, cơ động chiến đấu trong khu vực địa phương mình. Theo yêu cầu của bạn, các đoàn 959, 565 tích cực cùng với bạn phát động phong trào quần chúng tham gia chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tổ chức lực lượng du kích, bộ đội địa phương dùng súng bộ binh bắn máy bay thấp, bắt giặc lái, bắt thám báo thâm nhập vào hậu phương của cách mạng Lào.


Tháng 12 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 341 hành quân sang tỉnh Át-ta-pư (Nam Lào) phối thuộc Đoàn 565 giúp bạn. Tiểu đoàn 3 có truyền thống bám trụ, vây ép, đánh cường tập rất kiên cường. Vốn ra đời và trưởng thành trên quê hương Bình-Trị-Thiên khói lửa, truyền thống bất khuất đã thôi thúc các chiến sĩ tiểu đoàn đánh thắng ngay từ trận đầu. Ngày 5 tháng 5 năm 1966, tại Phăng Đeng, Mường Cầu (ngoại vi thị xã Át-ta-pư), Tiểu đoàn 3 đã diệt gọn Tiểu đoàn 25 (BV25) quân phái hữu Viêng Chăn, bắt 65 tên, loại khỏi vòng chiến đấu 386 tên khác, thu gần 40 súng các loại.


Chiến thắng Phăng Đeng làm cho hàng ngũ địch hoảng sợ, tinh thần chiến đấu sa sút, quân và dân At-ta-pư vui mừng. Với chiến công này, Tiểu đoàn 3 đã được tặng Huân chương Quân công hạng ba.


Nhằm khắc phục khó khăn về phương tiện cơ động lực lượng và tạo thế trận tại chỗ, chủ động đối phó với các tình huống của chiến tranh, nhất là ở các địa bàn quan trọng, Đoàn 959 đề nghị bạn bố trí các tiểu đoàn chủ lực ở từng khu vực. Ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bố trí 10 tiểu đoàn, trong đó có 7 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn binh chủng (pháo cao xạ, pháo mặt đất và tăng AM). Ở Nam Lào có 8 tiểu đoàn1 (Đến 1968 tăng cường thêm 2 tiểu đoàn). Ở Sầm Nưa có 3 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn cao xạ 37 ly. Ở Bắc Lào có 2 tiểu đoàn bộ binh. Số lượng đơn vị nhiều, nhưng quân số thiếu hụt nghiêm trọng, sức chiến đấu hạn chế. Các đơn vị của bạn chỉ mới đánh nhỏ, lẻ, chưa quen đánh hiệp đồng quy mô lực lượng lớn.


Để khắc phục những hạn chế đó, các đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam vừa phải phối hợp cùng bạn chiến đấu, vừa có kế hoạch xây dựng, nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho cán bộ, chiến sĩ của bạn. Cán bộ ở các đoàn 959, 565, khẩn trương giúp bạn chuẩn bị nội dung huấn luyện và cải tiến phương pháp huấn luyện cho phù hợp với đối tượng tác chiến và thực tế chiến trường Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:55:34 am
Với phương châm tất cả để giúp bạn nâng cao trình độ toàn diện, cán bộ ở các đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện đã tranh thủ thời gian huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức quân sự giúp bạn. Tháng 1 năm 1966, tại Sầm Nưa và Xiêng Khoảng, ta đã giúp bạn mỏ 5 lớp huấn luyện quân sự cho hơn 400 cán bộ cấp đại đội, tiểu đoàn và cán bộ tỉnh đội, thời gian từ 10 đến 20 ngày; đồng thời tổ chức bồi dưỡng tập huấn cho cán bộ đại đội, trung đội ở một số đơn vị cơ động. Trước khi bước vào mùa khô năm 1965-1966, các đơn vị tổ chức huấn luyện phân đội, thời gian từ 15 đến 20 ngày. Nội dung huấn luyện chủ yếu là mật tập, mật tập chuyển sang cưòng tập, phục kích, vận động đánh trực thăng đổ bộ, phòng ngự, hành quân mang vác, truyền tin, cảnh giối, tuần tra và một số động tác cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật; trọng tâm là học cá nhân, tiểu đội, trung đội và huấn luyện đại đội tập kích cho một số tiểu đoàn cơ động.


Đối với tân binh mới tuyển vào quân đội bạn, đều được học tập về tình hình nhiệm vụ chính trị, kỹ thuật cơ bản, chiến thuật cá nhân, thời gian từ 15 đến 20 ngày. Việc huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị bạn được duy trì thành nền nếp. Nhò chú trọng làm tốt công tác huấn lụyện kết hợp với việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, bồi dưỡng quan điểm chiến tranh nhân dân, xây dựng tư tưởng đánh tiêu diệt, đánh đêm, đánh thọc sâu cho cán bộ, chiến sĩ, kết quả chiến đấu của các đơn vị bạn được nâng lên rõ rệt.


Sang năm 1966, cuộc đấu tranh ở Lào vẫn diễn ra trong thế giằng co. Đế quốc Mỹ và tay sai tăng cường “chiến tranh đặc biệt” ngày càng ác liệt và toàn diện hơn, đánh phá cách mạng Lào mạnh hơn. Phối hợp với cuộc “chiến tranh cục bộ” của chúng ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ chọn Trung, Hạ Lào làm chiến trường chính, sử dụng đại bộ phận lực lượng cơ động của ngụy hoạt động nhằm lấn chiếm ra vùng giải phóng, uy hiếp hành lang (A-B) và dùng máy bay tăng cường đánh phá ngăn chặn vận chuyển chi viện của ta từ Bắc vào Nam và sang chiến trường Lào. Trong khi đó, bọn tay sai của Mỹ ở Lào thực hiện âm mưu thâm độc, cưỡng ép nhân dân, vơ vét sức người, sức của trong vùng địch kiểm soát, gây khó khăn cho lực lượng cách mạng.


Trước tình hình đó, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam phối hợp với bạn tích cực đánh địch và tăng cường cán bộ giúp bạn ở những vùng sau lưng địch. Thực hiện chủ trương của Đảng Nhân dân Lào, kết hợp giữa đấu tranh quân sự và chính trị, cán bộ, chiến sĩ ta ra sức tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ nhân dân các bộ tộc Lào đấu tranh trấn áp bọn phản động, phát động chiến tranh du kích chống lại các cuộc càn quét của địch.


Ngày 5 tháng 1 năm 1966, phái hữu huy động binh đoàn 13 (GM13) tiến đánh Mường Phàn (phía nam thị xã Xiêng Khoảng), nhằm phối hợp với quân của Coong Le tiến công lên Phu Cút. Nhưng, chúng vừa đến Phu Xao đã bị các đơn vị bạn đánh thiệt hại phải rút quân. Không thực hiện được ý đồ đánh chiếm Mường Phàn, GM13 chuyển hướng sang đánh chiếm Phu Huội, tạo bàn đạp để tiến vào thị xã Xiêng Khoảng.


Theo đề nghị của bạn, Đoàn 463 giúp bạn tổ chức lực lượng đánh địch và quyết định sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 51 quân tình nguyện Việt Nam do đồng chí Cao Thọ Hồi chỉ huy đánh vào sở chỉ huy của GM13. Ngày 1 tháng 2 năm 1966, Đại đội 2 tiến công sở chỉ huy của GM13, tiêu diệt 50 tên địch, trong đó, có đại tá Khăm Phết chỉ huy trưởng GM13. Số quân địch còn lại rút chạy về Thong Phăn và Phu Sao bị các đơn vị bạn phục kích đánh thiệt hại nặng.


Ngày 3 tháng 2 năm 1966, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 7) hành quân vào Phu Noọng (nam đường số 7 và bắc đường số 4B) chốt giữ cao điểm, khống chế toàn bộ khu vực rộng lớn, lùng sục bọn phỉ hoạt động (thay Tiểu đoàn 51 thuộc Quân khu Tây Bắc) chuyển làm nhiệm vụ cơ động trên tuyến phòng ngự Phu Cút và Cánh Đồng Chum.


Đại đội 1 (Tiểu đoàn 7) đóng ở Keo Lực cùng đơn vị công binh làm đường, tiếp đó giúp bạn xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng du kích và phối hợp với lực lượng địa phương đánh địch, bảo đảm cho tuyến vận chuyển từ Sầm Nưa đi Bản Ban thông suốt.


Đơn vị còn lại của Tiểu đoàn 7 do đồng chí Mạc Mạnh - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, tổ chức đánh địch ở cánh phải của Phu Cút và phối hợp với Tiểu đoàn 13 của bạn phòng ngự, bảo vệ Phu Cút. Sau đó, Tiểu đoàn 7 cùng lực lượng bạn xây dựng cơ sở, vận động, thu phục phỉ và chiến đấu giữ vững các tuyến đường vận chuyển ở khu vực Xiêng Khoảng.


Ngày 9 tháng 2 năm 1966, quân phái hữu mở cuộc hành quân “In Ta” ở Hạ Lào với lực lượng 8 tiểu đoàn (có 3 tiểu đoàn của GM21) nhằm đánh phá từ Lầu Ngam - Tha Teng, đường số 23 đến phía tây đường hành lang chiến lược của bạn. Mục đích của địch nhằm tiêu diệt lực lượng quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam ở phía đông Sa-ra-van và bắc Bô-lô-ven đến Át-ta-pư, trong đó trọng tâm là hai khu vực Lầu Ngam và Tha Teng, mở rộng địa bàn đứng chân của chúng.


Trên cơ sở thống nhất giữa ta và bạn, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565), Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện1 (Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4 được điều sang Hạ Lào (12-1965)) phối hợp với Tiểu đoàn 11 và lực lượng du kích của bạn tổ chức đánh địch. Các cánh quân của địch hành quân tới đâu cũng bị liên quân Lào - Việt chặn đánh quyết liệt. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 phối hợp với bạn dùng chiến thuật đánh vận động tiến công kết hợp chốt tại khu vực Bản Phồn, vùng Sa Thư, loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội địch. Tiểu đoàn 3 phối hợp với du kích Sa-ra-van đánh mạnh ở hướng Tha Teng và Át-ta-pư để hỗ trợ với Lầu Ngam. Bị đánh mạnh ở nhiều nơi, nhất là khu vực thị xã Át-ta-pư và thị trấn Tha Teng, cuối cùng địch phải hủy bỏ cuộc càn quét.


Ngày 22 tháng 2, Tiểu đoàn 3 phối hợp với các đơn vị bộ đội địa phương của bạn tiến công địch ở Mường Cầu thuộc tỉnh Át-ta-pư, diệt hàng chục tên địch. Tiếp đó, ngày 24 tháng 2, Tiểu đoàn 3 cùng du kích của bạn tiến công một đại đội thuộc BV-25 quân phái hữu chốt giữ đồn Phăng Đeng, diệt và bắt 194 tên địch, giải phóng khu vực Phăng Đeng thuộc tỉnh Át-ta-pư.


Ngày 4 tháng 3 năm 1966, địch dùng hai tiểu đoàn phái hữu càn quét, lấn chiếm Bản Phồn (tỉnh Sê Kông), Tiểu đoàn 2 thuộc Đoàn 565 tổ chức lực lượng chốt chặn, kiên quyết không cho địch thực hiện ý đồ trong đợt càn quét này. Tại bản Sa Thư, các chiến sĩ tiểu đoàn đã mưu trí diệt gọn một trung đội địch. Trước những thất bại bất ngờ, phái hữu tăng cường thêm hai GM (802 và 804) hòng thực hiện kế hoạch lấn chiếm Bản Phồn, bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn 2. Cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đã dũng cảm chiến đấu, phá vỡ vòng vây của địch. Tiểu đoàn 2 đã phối hợp chặt chẽ với du kích địa phương kiên quyết bám trụ chiến đấu, giằng co quyết liệt với kẻ thù, diệt gọn nhiều toán địch và đánh tan rã 1 tiểu đoàn, phá vỡ kế hoạch lấn chiếm thị trấn Bản Phồn của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:56:27 am
Ngày 18 tháng 6 năm 1966, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 (Quân khu 4) quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích của bạn đánh chặn 1 tiểu đoàn quân phái hữu đi càn quét ở Kép Phỏng phía tây bắc Lầu Ngam, diệt và bắt 40 tên, thu 40 súng các loại. Trận đánh đã gây cho quân ngụy Lào hoang mang, hạn chế được một phần các cuộc càn quét lấn chiếm vùng giải phóng của chúng.


Ở hướng mặt trận Phu Cút, cửa ngõ phía tây của Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta và địch giành giật nhau quyết liệt. Từ cuối tháng 11 năm 1965, Coong Le tổ chức các GM có pháo binh và máy bay chi viện đã hai lần tiến công lên Phu Cút1 (Phu Cút gồm 3 mỏm đồi (1, 2, 3) có độ cao khoảng 1.000m thuộc tỉnh Xiêng Khoảng), nhưng đều bị liên quân Lào - Việt đánh bại. Ngày 2 tháng 2 năm 1966, Coong Le lại tổ chức 3 GM đánh chiếm các điểm cao 1140, Phu Xưa, Phu Sủng, hòng chiếm lại Phu Cút. Tiểu đoàn 51 và Tiểu đoàn 7 quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Tiểu đoàn 701 và Tiểu đoàn 13 của bạn đánh địch. Ngay trong đêm 2 tháng 2, Tiểu đoàn 51 đã tập kích chiếm lại Phu Xưa. Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào đánh lui địch ra khỏi Phu Sủng. Nhưng bọn địch rất ngoan cố và thâm hiểm, chúng tổ chức lực lượng (lính dân tộc Thái Đăm), ứng trước cho bọn này mỗi tên 5 nghìn tiền thưởng và hứa nếu chiếm được Phu Cút sẽ thăng cấp. Được pháo binh và máy bay chi viện, quân địch liều mạng tiến vào.


Bộ đội ta bám công sự chờ địch tối tầm cự ly thích hợp mới nổ súng, diệt nhiều tên. Số còn lại, không kịp lấy xác đồng bọn bỏ chạy tan tác. Tiểu đoàn 51 chớp thời cơ, khép chặt vòng vây, hiệp đồng với hoả lực các cỡ mở cuộc tiến công chiếm lại điểm cao 1140 và truy đuổi, đánh lui đợt tiến công của địch.


Sau khi điều thêm một tiểu đoàn từ Văng Viêng tăng cường cho 3 GM đã bị tiêu hao, ngày 14 tháng 3 năm 1966, địch lại tổ chức tiến công áp sát sườn Phu Cút, Phu Xưa. Ngày 15 tháng 3, địch vượt sông Nậm Ngừm chiếm bản Na Hi và ngã ba Phiêu Luông, đánh vào khu vực trận địa pháo của ta. Máy bay địch tăng cường ném bom, bắn phá. Bom na-pan đốt cháy cả đồi cây, đồng cỏ. Dây điện thoại của ta bị cháy hết. Bộ đội trên chiến trường, phần lớn bị sức ép của bom, đạn, nên sức chiến đấu giảm sút. Theo dõi sát tình hình ở Phu Cút, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 463 thường xuyên báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu ta.


Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 463 giúp bạn bố trí lại đội hình, điều chỉnh lực lượng quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn đánh địch. Tiểu đoàn 51 bám địch vào Phu Luông. Tiểu đoàn 7 đánh địch ở Phu Sủng. Vận dụng kinh nghiệm trên chiến trường Việt Nam, ta giúp bạn đào hàng nghìn mét hào, xây dựng hầm sâu tránh phi pháo địch.


Máy bay địch tập trung đánh vào mỏm 1. Các chiến sĩ ta bị thương vong nhiều, nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Cán bộ, chiến sĩ ta luân phiên giữ chốt. Các đơn vị pháo tổ chức lực lượng cơ động đánh địch, chi viện cho bộ đội giữ chốt, quyết không để mất Phu Cút.


Cuối tháng 3 năm 1966, quân của Coong Le bị liên quân Lào - Việt đánh thiệt hại nặng, phải rút lui về tuyến cũ để củng cố lực lượng. Ngày 6 tháng 4 năm 1966, lợi dụng sự sơ hở của ta, địch sử dụng 1 đại đội của 8 BI bí mật tiến lên chiếm mỏm 2 và mỏm 3. Trong khi đó, máy bay Mỹ thay nhau bắn phá mỏm 1 và tập trung đánh vào tuyến Nậm Ngừm, nhằm cắt đứt mối liên lạc từ Phu Cút với tuyến sau.


Đêm 6 tháng 4 năm 1966, Bộ chỉ huy mặt trận họp tại Rãnh Cạn, Bản Ngừm bàn cách đánh địch. Sau khi phân tích kỹ tình hình, cuộc họp đã đi đến nhất trí: phải tổ chức giữ cho được mỏm 1. Mặc dù địch bắn pháo rất dữ dội, ta chuyển một bộ phận lực lượng ra chặn ở chỗ Yên Ngựa (giữa mỏm 1 với mỏm 2) vừa để chiếm trước bàn đạp, vừa đánh địch từ xa, kéo dài thời gian giữ mỏm 1. Tiểu đoàn 7 quân tình nguyện chuyển sang phòng ngự hướng bắc Phu Cút, thay Tiểu đoàn 701 phối hợp với Tiểu đoàn 51 đánh phản kích giành lại Phu Cút.


Trưởng đoàn chuyên gia quân sự 463 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 51 tổ chức một trung đội (gồm những cán bộ và chiến sĩ dũng cảm) ra Yên Ngựa đánh địch. Đồng chí Hoàng Dự được chỉ định làm Trung đội trưởng. 4 giờ ngày 7 tháng 4 năm 1966, trung đội từ trận địa mỏm 1 tiến xuống chiếm lĩnh Yên Ngựa và bất ngờ nổ súng tiêu diệt một trung đội địch đang định chiếm mỏm 1. Sau đó, trung đội vượt qua Yên Ngựa, đào công sự, bí mật bố trí lực lượng phục kích đánh địch.


Bị đánh bất ngờ, địch không xác định được mục tiêu nên chỉ dùng máy bay bắn phá phía sau. Nhờ vậy, bộ phận lực lượng ta ở mỏm 1 có thời gian để củng cố trận địa. Ở mỏm 2, địch đánh lấn ra hai lần, nhưng đều bị trung đội của đồng chí Hoàng Dự tiêu diệt.


Theo kế hoạch đánh chiếm lại Phu Cút, Bộ chỉ huy mặt trận sử dụng Tiểu đoàn 13 đánh chiếm mỏm 2, Tiểu đoàn 701 đánh cắt chặn giữa, Tiểu đoàn 51 đánh chiếm mỏm 3, hỏa lực tập trung chi viện cho bộ binh hoàn thành nhiệm vụ. 2 giờ ngày 8 tháng 4 năm 1966, các trận địa pháo bắn dồn dập vào mỏm 2 và mỏm 3. Sau đó, chiến sĩ các mũi dùng AK, B40, B41 đồng loạt nổ cùng với tiếng hô “xung phong” tiến công vào. Sau 20 phút chiến đấu, liên quân Lào - Việt đã đánh bại quân của Coong Le, làm chủ Phu Cút.    Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và Bộ chỉ huy tối cao bộ đội Pa-thét Lào đã hai lần điện khen và tặng danh hiệu “Chiến sĩ Phu Cút” cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Phu Cút. Chiến thắng Phu Cút đã động viên khí thế đánh địch của liên quân Việt - Lào. Khẩu hiệu: “Tất cả để giữ vững Phu Cút”, “Tất cả cho cán bộ, chiến sĩ Phu Cút anh hùng” trở thành phong trào thi đua sôi nổi của bộ đội trên toàn mặt trận và thanh niên, phụ nữ trong nhân dân các bộ tộc Lào.


Như vậy, mùa khô năm 1965-1966, Đoàn 463 cùng Tiểu đoàn 51 (Quân khu Tây Bắc), Tiểu đoàn 7 (Sư đoàn 316) quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 701 của bạn đánh bại 5 đợt tiến công của địch loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 tên, giữ vững trận địa phòng ngự Phu Cút.


Trung tuần tháng 4 năm 1966, Tổng cục Chính trị quân đội ta tổ chức Hội nghị cán bộ lãnh đạo và chỉ huy các đoàn 959, 565 và 463, tổng kết đánh giá về hoạt động giúp bạn. Sau khi đánh giá về tình hình công tác những năm qua và nhận định bước phát triển từ năm 1966 trở đi, Hội nghị đề ra nhiệm vụ giúp bạn Lào như sau:

1. Lãnh đạo bộ đội giúp bạn ổn định chỗ ở cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân sản xuất, bảo đảm đời sống phù hợp với điều kiện của địa phương và hoàn cảnh của chiến tranh; tổ chức cứu đói và chữa bệrih cho dân.

2. Tích cực tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác của nhân dân, giúp bạn tổ chức lùng sục biệt kích; phát động quần chúng tố giác những tên chỉ điểm, gián điệp ngầm; phối hợp với bạn truy quét thổ phỉ, biệt kích ở những nơi trọng điểm trong hành lang vận chuyển của Đoàn 559 và vùng căn cứ tỉnh, huyện của lực lượng cách mạng Lào, để đảm bảo an ninh chung.

3. Tăng cường giúp bạn xây dựng và củng cố chính quyền, tổ chức các đoàn thể quần chúng ở những nơi còn yếu hoặc chưa thiết lập hoàn chỉnh, để mở rộng và củng cố cơ sở cách mạng vững chắc hơn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:58:09 am
Thực hiện những nhiệm vụ nói trên, lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chính trị các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đã giáo dục cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về ý nghĩa của việc phối hợp hoạt động trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng giúp bạn, ngày càng hiệu quả.


Cuối tháng 4 năm 1966, Đoàn 463 phối hợp với Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mở đợt truy lùng đánh bại kế hoạch tổ chức gián điệp ở Bản Ban thuộc huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng. Mường Khăm - một huyện hậu phương là vựa lúa của tỉnh Xiêng Khoảng, nhưng công tác thu thóc cứu nước thường đạt rất ít. Mỗi năm có hàng trăm người đi lính cho Vàng Pao và nhiều gia đình bị địch dụ dỗ đưa vào Loong Chẹng. Cán bộ về hoạt động ở vùng này thường bị bọn phỉ phục kích, ám sát. Nhiều cán bộ ta đã anh dũng hy sinh.


Sau một thời gian nắm tình hình, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 463 và Quân khu Cánh Đồng Chum nhận định: Mùa mưa này, có khả năng địch sẽ mở cuộc tập kích vào Bản Ban, cắt đường số 7, phá cơ sở của ta. Cuối tháng 5 năm 1966, quân khu nhận được bản báo cáo của huyện Mường Khăm: “Một chủ tịch xã, cách đây một năm trốn theo địch, làm tới chức tiểu đoàn trưởng, sắp đưa quân ra đóng ở San Chồ; anh ta đề nghị, nếu được ra đóng ở San Chồ, sẽ thực hiện kế hoạch “binh biến” chiếm San Chồ và đưa quân về hàng Pa-thét Lào”.


Qua báo cáo của huyện Mường Khăm, quân khu bạn nhận định: Đây là một mưu kế của địch, hòng làm ta mất cảnh giác để chúng thực hiện kế hoạch tập kích đánh phá kho tàng của ta ở khu vực Bản Ban, đường số 7, dồn dân vào vùng chúng kiểm soát. Vì thế, ta phải tương kế, tựu kế, tiêu diệt địch ở San Chồ, bao vây, khống chế bọn gián điệp nằm vùng, vạch trần bộ mặt phản động của chúng; đồng thời xây dựng, củng cố cơ sở Bản Ban vững chắc.


Đảng ủy Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng phân công đồng chí Xa-mán - Chính ủy quân khu cùng đồng chí Nguyễn Bình Sơn - Trưởng Đoàn 463 chỉ đạo và thực hiện kế hoạch tổ chức đánh địch, vây bắt bọn gián điệp ở San Chồ. Phòng Tham mưu quân khu bạn tổ chức một tổ công tác (gồm đồng chí Cơ - cán bộ tác chiến, đồng chí Doanh - chuyên gia phòng quân báo và một tổ điện đài) xuống Bản Ban hiệp đồng kế hoạch “binh biến”, phối hợp với huyện Mường Khăm làm việc với người của “lực lượng binh biến”. Bản đồ hiệp đồng do Phòng Tham mưu Quân khu bạn vẽ xác định rõ vị trí tập kết, đường hành quân và điểm tập kết cuối cùng của quân ta để chiếm lĩnh trận địa, xuất phát tiến công San Chồ. Về thời gian hành động, dành cho “lực lượng binh biến” quyết định và báo cho ta biết trước 5 ngày để quân khu chuẩn bị triển khai thực hiện kế hoạch.


Về phía bạn, Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giao cho đồng chí Bun-nin - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu, đồng chí Chun - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào) và đồng chí Pa-sợt - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pát-chay cùng chuẩn bị một kế hoạch hành động, đảm bảo lương thực, thực phẩm, đường tiến quân và vị trí tập kết cho bộ đội để tập kích San Chồ.

Ngày 5 tháng 6 năm 1966, hai máy bay T-28 đến ném bom, bắn phá khu vực Na Ưng - nơi ta vạch trên bản đồ để tập kết lực lượng. Ta cử một cán bộ tham mưu đến phê bình Huyện ủy Mường Khăm đã để lộ bí mật cho máy bay địch đến bắn phá. Quân khu bạn xác định: “Thế là địch đã cắn câu”. Tổ công tác được lệnh cử cán bộ trinh sát đi nắm địch ở San Chồ. Ngày 7 tháng 6 năm 1966, người của “lực lượng binh biến” báo cho ta biết ngày hành động là ngày 12 tháng 6. Chiều ngày 8 tháng 6, địch sử dụng trực thăng đưa một khẩu pháo 105 ly hạ xuống San Chồ.


Sáng 9 tháng 6, lực lượng của tạ tới trạm hậu cần nhận lương thực, vượt qua Tha Lin Nọi đến Nậm Phàn. Bộ phận đồng chí Xa-mán và đồng chí Nguyễn Bình Sơn mang theo điện đài trực tiếp chỉ huy trận đánh. Hướng nghi binh do đồng chí Xinh-ca-po chỉ huy thực hiện đúng kế hoạch hiệp đồng.


18 giờ ngày 9 tháng 6, bộ đội ta vượt suối Nậm Phàn, giữ được bí mật, an toàn. Bộ phận nghi binh báo cáo: Trưa ngày 9 tháng 6, pháo 105 ly ở San Chồ bắn thử 3 phát ra ngã ba Bản Ban, nhưng cơ quan huyện vẫn không thấy phản ứng gì. 20 giờ cùng ngày, Cục Quân báo Việt Nam cho biết: “Địch báo động cho nhau có một tiểu đoàn Pa- thét Lào đã vượt đường số 7, ngày 11 tháng 6 sẽ đánh San Chồ”. 23 giờ, đồng chí Xa-mán điện về: “Bộ đội đang chuẩn bị, trận địa yên tĩnh, 1 giờ sáng sẽ nổ súng”. Nhận được điện, đồng chí Nu-hắc nói: “Ta đánh trước một ngày, trên thực tế diễn ra rất khớp với dự kiến”.


Đúng 1 giờ sáng ngày 10 tháng 6 năm 1966, Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và Tiểu đoàn Pát-chay từ phía nam chia làm năm mũi tiến vào các vị trí: mỏm Đao, sở chỉ huy, sân bay, đồn bảo vệ phía đông và phía tây. Hoả lực các cỡ bắn áp đảo quân địch. Bộ binh nhanh chóng chia cắt địch ra để tiêu diệt. Bọn địch bị đánh bất ngờ, chúng không kịp trở tay, đối phó. Sau 30 phút chiến đấu, ta đã làm chủ hoàn toàn khu vực San Chồ, tiêu diệt 150 tên địch, thu một khẩu pháo 105 ly và nhiều súng, đạn các loại. Đặc biệt, tại văn phòng tiểu khu, ta thu được tài liệu, trong đó có đầy đủ danh sách những tên gián điệp và danh sách bọn phản động ở huyện Mường Khăm nhận lương hằng tháng của tiểu khu San Chồ1 (Danh sách bọn phản động có 10/12 người là cán bộ trong Huyện ủy Mường Khăm, nhận lương hằng tháng của địch (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1966)). Những tài liệu này được chuyển ngay về quân khu bạn.


9 giờ ngày 10 tháng 6 năm 1966, Bộ tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng họp quyết định: Tổ chức bắt ngay bọn phản động; phải cương quyết, bất ngờ. Ngay sau cuộc họp, quân khu bạn tổ chức một xe bọc thép, 1 ô tô gát 66 cùng một trung đội bảo vệ do đồng chí Xa-mán chỉ huy xuống huyện Mường Khăm, bắt gọn toàn bộ bọn phản động đưa về quân khu.


Trước những chứng cớ rõ ràng, bọn phản động đều phải cúi đầu nhận tội. Đồng chí Nu-hắc thay mặt Trung ương Đảng Nhân dân Lào ra quyết định: Đình chỉ sinh hoạt Đảng bộ huyện Mường Khăm, đồng thời, cử Ban cán sự mới do đồng chí U Đôm (Chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội, Thường vụ Tỉnh ủy Xiêng Khoảng) làm Bí thư huyện Mường Khăm. Quân khu sử dụng tập thể cán bộ, học viên Trường Quân sự của quân khu và đội chuyên gia quân sự thuộc Đoàn 463 xuống Mường Khăm, Bản Ban cùng đồng chí U Đôm củng cố cơ sở Đảng, các tổ chức chính quyền, đoàn thể và xây dựng lực lượng du kích giúp bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:58:53 am
Ngày 25 tháng 6 năm 1966, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ta gửi điện cho Quân khu Tây Bắc, Đoàn 959 và Sư đoàn 316 nêu rõ: Đế quốc Mỹ và tay sai đang âm mưu và hành động lấn chiếm vùng ngoại vi Cánh Đồng Chum, tăng cường đánh phá các trục đường số 6, số 7, dự báo, chúng sẽ tiến công quy mô lớn vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Các đơn vị khẩn trương chuẩn bị, phối hợp với bạn đánh địch.


Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những địa bàn rất quan trọng đối với cách mạng Lào. Phía bắc là tỉnh Sầm Nưa (Húa Phằn), căn cứ địa của Mặt trận Lào yêu nước, phía đông giáp Nghệ Tĩnh (Việt Nam), phía tây là quốc lộ 13 nối liền Kinh đô Luông Phra Băng với Thủ đô Viêng Chăn. Khu vực Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn, có độ cao trung bình trên một nghìn mét, có rừng rậm, núi cao hiểm trở và những lòng chảo rộng, bằng phẳng. Trong khu vực này có 8 sân bay, là những căn cứ không quân của địch. Máy bay địch có thể hoạt động cả khu vực rộng lớn đối với nước Lào và miền Bắc (Việt Nam). Từ Cánh Đồng Chum có đường số 7 đi Nghệ An, đường số 6 đi Sầm Nưa, đường số 4 đi Tha Thơm vào phía đông Thủ đô Viêng Chăn tương đối thuận lợi.


Đối với Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, có liên quan mật thiết với việc bảo vệ trị an vùng biên giới Lào - Việt. Đặc biệt là liên quan chặt chẽ đến hành lang vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường ở Đông Dương. Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là trung tâm chống “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào. Ta và bạn xác định cần tăng cường lực lượng, quyết tâm bảo vệ vững chắc khu vực này.


Ngày 1 tháng 7 năm 1966, Bộ Tổng tham mưu ta chỉ thị: Cần nhanh chóng tổ chức hai trung đoàn quân tình nguyện, đưa vào Sầm Nưa và Xiêng Khoảng làm nhiệm vụ giúp bạn, yêu cầu tổ chức lực lượng phòng thủ dài ngày, cùng bạn chiến đấu, kiên quyết phá tan âm mưu lấn chiếm của Mỹ và tay sai, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và mở rộng vành đai giải phóng của bạn.


Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, ngày 3 tháng 7 năm 1966, Đoàn 766 quân tình nguyện Việt Nam được thành lập, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào. Đoàn 766 có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang bạn đánh địch lấn chiếm Sầm Nưa, chống không quân địch oanh tạc, truy quét phỉ, trừ gian, củng cố cơ sở, bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở khu vực Viêng Say, Na Kay. Lực lượng trực thuộc Đoàn 766 gồm: Tiểu đoàn bộ binh 5, Tiểu đoàn bộ binh 923, Tiểu đoàn cao xạ 37 ly, đại đội thông tin trinh sát và các cơ quan Đoàn hoạt động ở Sầm Nưa.


Ban chỉ huy Đoàn 766 (khi mới thành lập) gồm các đồng chí: Phạm Nghiên - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy; Hồng Tân - Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng; Song Toàn - Chủ nhiệm Chính trị; Tương Đức Cù - Chủ nhiệm Hậu cần.


Ngày 17 tháng 8 năm 1966, Trung đoàn 866 được thành lập trên cơ sở một số đơn vị của ta đang hoạt động ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng do đồng chí Hà Thế Lương làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Vũ Thái làm Chính ủy, Lực lượng trực thuộc Đoàn 866 gồm có 2 tiểu đoàn bộ binh (924 và 7), 1 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly và 2 đội công tác. Trung đoàn 866 còn gọi là Đoàn 866 đặt dưới sự chỉ đạo của Đoàn 463, do đồng chí Nguyễn Bình Sơn làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Văn làm Chính ủy.


Các mặt công tác như tổ chức, xây dựng lực lượng, cung cấp hậu cần do Đoàn 959 thông qua Đoàn 766 ở Sầm Nưa chỉ đạo và cung cấp. Tuy chưa hoàn chỉnh biên chế trung đoàn, nhưng các ban tham mưu, chính trị, hậu cần được củng cố để giúp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các tiểu đoàn hoạt động. Ngay sau khi thành lập, Trung đoàn 866 nhanh chóng ổn định tổ chức, triển khai giáo dục chính trị, các chính sách dân tộc, quán triệt tình hình nhiệm vụ, xây dựng chương trình huấn luyện, hiệp đồng chiến đấu với bạn, giữ vững hành lang các đường số 6, số 4 và những cao điểm xung quanh khu vực Cánh Đồng Chum.


Cuối tháng 8 năm 1966, Đảng ủy Trung đoàn 866 họp ra nghị quyết lãnh đạo trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn và phối hợp với bạn chiến đấu. Nghị quyết nhấn mạnh: Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ cùng sát cánh với quân và dân Lào chống kẻ thù chung, xây dựng tinh thần đoàn kết quốc tế, trong sáng, gắn bó với bạn, phối hợp chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Qua thực tế chiến đấu giúp lực lượng vũ trang cách mạng Lào trưởng thành về mọi mặt để bạn sóm đảm đương được nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Đồng thời, rèn luyện bộ đội ta vững về chính trị tư tưởng, tổ chức, giỏi về kỹ thuật, chiến thuật, có nền nếp tác phong chiến đấu, công tác thực sự, thực tế, đáp ứng được yêu cầu giúp bạn ngày càng cao.


Quán triệt nghị quyết Đảng ủy, các đơn vị khẩn trương triển khai lực lượng phối hợp cùng bạn sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn 7 do đồng chí Mạc Mạnh làm Tiểu đoàn trưởng hoạt động ở khu vực đường số 6, đoạn từ Bản Thà đến Kẹo Lực, nốì từ Xiêng Khoảng sang Sầm Nưa. Tiểu đoàn 924 do đồng chí Hoàng Đình Hợp làm Tiểu đoàn trưởng hoạt động ỏ đường số 4 đi Tha Viêng và đường sô 4B đi Bản Piểng lên Phu Sao - một điểm cao hết sức quan trọng ở hướng đông bắc Xiêng Khoảng.


Tiểu đoàn 7 vừa bố trí lực lượng phục kích đánh địch, giữ vững hành lang bảo đảm trục đường thông suốt, không cho địch phục kích, phá hoại tuyến vận tải của ta và bạn; đồng thời tổ chức các đội tuần tra vào các bản nắm tình hình, giúp bạn xây dựng các tổ du kích. Công việc này gặp rất nhiều khó khăn vì lực lượng tiểu đoàn ít, không thông thạo địa hình, mặt khác địch lén lút gài mìn, bắn lén gây tổn thất cho ta. Địch còn lợi dụng móc nối với những tên phản động ở các bản để khống chế, thúc ép nhân dân vào vùng do chúng kiểm soát. Cán bộ, chiến sĩ ta hoạt động trong các thôn, bản đã khắc phục khó khăn, đồng cam cộng khổ với nhân dân,được dân tin yêu, giúp đỡ, chở che nên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nắm chắc tình hình địch, các đại đội đã nhanh chóng rút kinh nghiệm, củng cố quyết tâm, tăng cường tuần tra, mở rộng phạm vi hoạt động, bám sát vị trí địch, phối hợp với các đội du kích của bạn tiêu diệt địch. Nhờ đó, ta vẫn giữ được tuyến đường thông suốt, bảo vệ được nhân dân và giúp các thôn bản phát triển lực lượng du kích.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tư, 2021, 09:59:56 am
Ở hướng đông - đông bắc thị xã Xiêng Khoảng, địch tăng cường lực lượng đặc biệt Vàng Pao và các tiểu đoàn phái hữu phản động có không quân từ căn cứ Loong Chẹng yểm trợ lấn chiếm vùng giải phóng ở khu vực Mường Ngàn, Mường Phàn, Phu Sao, Phu Pha Sút. Thị xã Xiêng Khoảng bị uy hiếp nghiêm trọng. Đầu tháng 10 năm 1966, Trung đoàn 866 tập trung chỉ đạo Tiểu đoàn 924 và Đại đội trinh sát 24 phối hợp với hai tiểu đoàn (701, 705) của bạn kiên quyết đánh địch, giữ vững vùng giải phóng, bảo đảm các tuyến đường số 4 và số 4B luôn thông suốt.


Bị ta đánh quyết liệt, địch không chiếm được cao điểm Phu Sao, nên chúng tập trung nhiều tiểu đoàn có không quân chi viện nống lấn ra các tuyến đường ở thị xã Xiêng Khoảng. Vì vậy, việc vận chuyển lương thực, đạn dược vào tuyến trong và đưa thương binh, liệt sĩ ra hậu cứ của trung đoàn rất khó khăn, gian khổ, có lúc còn bị tổn thất.


Để giúp bạn bảo vệ vùng giải phóng và các tuyến đường số 4, 4B, Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc quyết định điều Đại đội hoả lực 67 bổ sung cho Trung đoàn 866. Ngày 15 tháng 11 năm 1966, Đại đội hoả lực 67, do đồng chí Nguyễn Hồng Đoan làm Đại đội trưởng hành quân từ Phù Yên - Nghĩa Lộ sang Sầm Nưa rồi đến Xiêng Khoảng. Trong điều kiện hành quân gấp, lại mang theo ĐKZ, cối 82 ly cùng đạn dược và lương thực, thực phẩm, cán bộ, chiến sĩ đại đội đã quyết tâm khắc phục khó khăn, hành quân an toàn. Đến Sầm Nưa, tuy bị máy bay địch đánh vào đội hình, nhưng đơn vị vẫn xác định trách nhiệm củng cố bộ đội, vượt qua khó khăn, nguy hiểm hành quân đến Noọng Pét nhận nhiệm vụ đúng thời gian quy định. Đại đội 67 được tăng cường cho Tiểu đoàn 924. Vừa chiến đấu, đại đội vừa tranh thủ huấn luyện phù hợp với địa hình tác chiến, cùng Tiểu đoàn 924 và các đơn vị của bạn đánh địch nống lấn, bảo vệ vùng giải phóng và các tuyến đường ở thị xã Xiêng Khoảng.


Tại Sầm Nưa, ngày 30 tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn 923 (Đoàn 766) đánh địch, giải phóng Phu Lao Xưa, bức địch rút khỏi Phu Soi Voi, bước đầu mở thông đường 6B. Đoàn 766 chủ trương điều chỉnh, bố trí lực lượng, tập trung phần lớn lực lượng về củng cố một thời gian, đồng thời chuẩn bị đánh địch ở Huội Tum và Nhọt Phát. Lúc này, địch tăng cường lực lượng vào Sầm Nưa, điều Tiểu đoàn 206 (BS206) từ Xiêng Khoảng lên, rút Tiểu đoàn 24 (BV24) về và đưa phần lớn lực lượng ra tuyến ngoài để lấn chiếm vùng giải phóng, uy hiếp đường 6B. Ngày 17 tháng 11 năm 1966, địch đưa BV28 từ Phu-nam-pa lên Nọng Khạng rồi đánh ra Mường Hét, Mường Long. Tiếp đó, ngày 21 tháng 11, chúng đưa BV27 và một số bộ phận của BS205 và BS206 lên hướng Nhọt Phát để thực hiện ý định ngày 24 tháng 12 năm 1966 sẽ đánh ra Mốc Lốc. Tranh thủ thời cơ, ngày 19 tháng 12 năm 1966, các đơn vị thuộc Đoàn 766 phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch, giải phóng Huội Lon, Na Ao. Trong khi đó, ở hướng Mốc Lốc, Tiểu đoàn 5 (Đoàn 766) dùng bộ phận nhỏ chặn địch ở chính diện, đưa một trung đội đánh vòng vào sau lưng địch, bẻ gãy các cuộc tiến công của chúng. Tiểu đoàn 923 đánh thọc sâu vào sào huyệt địch ở Na Khang.


Đợt hoạt động quân sự của Đoàn 766 đánh dấu bước chuyển biến về vận dụng phương châm tác chiến đánh nhỏ kết hợp với đánh lớn và lần đầu tiên thọc sâu đánh vào tận sào huyệt của địch, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, buộc chúng phải thay quân (đưa BS201 từ Long Chẹng lên thay BS203 về củng cố), rút bớt lực lượng và phạm vi chiếm đóng ở Huội Tum.


Trước tình hình địch tăng cường BV28 phòng thủ Nọng Khạng, Quân khu Tây Bắc điều Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 174 chủ lực) phối hợp với bạn đánh địch, giải phóng Nọng Khạng.


Tại Xiêng Khoảng, ngày 4 tháng 12 năm 1966, các đơn vị của Đoàn 766 cùng bạn đánh địch, giải phóng Bản Viêng, Phu Xa Bốt. Kết quả đợt hoạt động này đã gây cho địch một số thiệt hại, giải phóng Phu Lao Xưa, Phu Soi Voi, mở thông đường 6B, nối liền khu căn cứ địa trung tâm Sầm Nưa với khu vực chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum. Trong khi đó, Đoàn 565 giúp bạn đánh bại Mỹ - ngụy ở khu vực nam đường số 9, Lầu Ngam và Tha Teng.


Ngày 22 tháng 12 năm 1966 tại Húa Mường, Trung đoàn 148 (Sư đoàn bộ binh 316), Tiểu đoàn 923 và Tiểu đoàn 5 quân tình nguyện (Đoàn 766) phối hợp với Tiểu đoàn 705 của bạn đánh địch, diệt 62 tên, thu 30 súng các loại, 20 tấn lương thực, giải phóng 3.000 dân.


Mỹ - ngụy càng thất bại, càng điên cuồng, tăng cường cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân trên toàn lãnh thổ nước Lào. Từ chỗ chỉ bắn phá một số vùng có tính chất uy hiếp tinh thần theo kiểu chiến tranh tâm lý, nay mở rộng ra toàn quốc, đánh phá liên tục với quy mô lớn, mang tính hủy diệt. Mỗi ngày có tới 300 lượt máy bay, ném gần 1.000 tấn bom, bắn rốc-két xuống vùng giải phóng Lào1 (Lịch sử Lào, Nxb Khoa học xã hội, H. 1997, tr. 201). Chúng đánh vào những địa bàn quan trọng như Sầm Nưa, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đường số 9 - Nam Lào, nhằm làm suy yếu lực lượng kháng chiến Lào. Lực lượng không quân Mỹ trực tiếp chi viện cho quân ngụy trong chiến đấu, nhằm hỗ trợ Mỹ - ngụy đang thất bại ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Do đó, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào.


Sau khi củng cố lực lượng quân ngụy, nhất là lực lượng đặc biệt Vàng Pao, Mỹ - ngụy liên tiếp mở các cuộc càn quét, lấn chiếm với quy mô từ một tiểu đoàn đến nhiều binh đoàn, tiến công vùng giải phóng ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào. Quân giải phóng nhân dân Lào và nhân dân các bộ tộc Lào, có sự giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đánh trả quyết liệt tiêu hao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, phá tan các cuộc càn quét của chúng.


Trong hai năm 1965-1966, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp bạn xây dựng và phối hợp với bạn đánh địch, thu phục phỉ, củng cố vùng giải phóng, loại khỏi vòng chiến đấu 16.000 tên địch, thu phục, gọi hàng 4.000 tên phỉ, bắn rơi 391 chiếc máy bay Mỹ - ngụy. Riêng mùa khô năm 1965-1966, ta và bạn đã giải phóng Tông Sơ (tỉnh Mường Say), Nậm Bạc, Pạc Seng (Luông Phra Băng), Húa Mường, Mường Hiềm, Nhọt Phát, Nọng Khạng (Sầm Nưa), Na Kay (Khăm Muộn), Tha Teng ( Sạ-ra-van), Át-ta-pư.


Các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp bạn liên tiếp đập tan các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và mở rộng vành đai giải phóng. Phong trào đấu tranh chính trị và chiến đấu du kích trong vùng địch kiểm soát phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, uy tín của cách mạng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào. Các đợt thu phục phỉ theo phương châm ba mặt (lấy vận động chính trị làm gốc, quân sự làm áp lực, kinh tế làm đòn bẩy) do Trung ương Đảng bạn đề ra, bước đầu giành nhiều thắng lợi. Nhiều ổ, nhóm phỉ quan trọng ở khu Tông Sơ, Húa Mường, Hồng Nôm, Phu Xa Bốt bị xoá bỏ, hàng nghìn tên phỉ ra hàng cách mạng. Một số nơi, có đơn vị phỉ mang cả vũ khí, rời bỏ hàng ngũ địch trở về với cách mạng1 (Như ở Nậm Ưu, Phu Công (Sầm Nưa), liên huyện 90 và một số nơi khác). Những thắng lợi đó tuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, vì ta đã phá được âm mưu thâm độc của Mỹ - ngụy nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng của Lào phát triển các ổ phỉ, thu hẹp vùng giải phóng. Đồng thời làm cho nhân dân hiểu rõ hơn đường lối chính nghĩa và chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng Nhân dân Lào.    


Trong hai năm 1965-1966, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã nỗ lực giúp bạn củng cố cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được phát triển cả về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện cho quân và dân Lào có thể tự lực, tự cường, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình.


Cán bộ, chiến sĩ ta đã phát huy tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng phối hợp với bạn chiến đấu đánh địch lấn chiếm, thu phục phỉ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đồng thời giữ vững và phát triển chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, giúp cho cách mạng Lào tiến lên giành những thắng lợi mới.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:52:31 pm
II. CÙNG BẠN XÂY DỰNG VỮNG CHẮC VÙNG GIẢI PHÓNG, ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI (1967- 1968)

Sang năm 1967, đế quốc Mỹ và tay sai tăng cường thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở Lào với quy mô ngày càng ác liệt và toàn diện hơn. Chúng dùng mọi biện pháp quân sự để thôn tính Lào, thể nghiệm phương thức tác chiến mới: Tập trung các GM (Binh đoàn cơ động), quân ngụy Viêng Chăn làm lực lượng tiến công, chiếm đóng kết hợp với lực lượng đặc biệt đóng chốt trên các điểm cao và cắm sâu vào vùng giải phóng để mở rộng địa bàn hoạt động phá hoại cách mạng Lào. Chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét lấn chiếm quy mô từ tiểu đoàn đến nhiều binh đoàn vào các vùng giải phóng Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào, tăng cường cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân trên toàn lãnh thổ nước Lào.


Trước tình hình đó, Trung ương Đảng Nhân dân Lào xác định: Cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc Lào là lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi. Với quyết tâm hạn chế Mỹ để thắng Mỹ trong phạm vi “chiến tranh đặc biệt”, trước mắt phải ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, tích cực bảo vệ vùng giải phóng, truy quét và thu phục phỉ ở hậu phương.


Quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục phát huy thế chủ động tiến công địch; đồng thời chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ tranh thủ thời gian, ra sức nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác, chiến đấu, giúp bạn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và quân sự.


Trong hai ngày 30 và 31 tháng 12 năm 1966, địch dùng máy bay F4 và T.28 oanh tạc các trận địa phòng ngự của ta ở Mốc Lốc, nhằm hỗ trợ cho đơn vị BV27 tiến lên chiếm giữ. 11 giờ ngày 1 tháng 1 năm 1967, địch chiếm được Mốc Lốc và dùng BV27 từ Mốc Lốc đánh sang, BS14 từ Phu Đan lấn xuống Mường Pồn.


Đại đội 6 - Tiểu 5 (Đoàn 565) ở Mường Pồn tổ chức chiến đấu đánh trả quyết liệt cuộc phản công của BV27. Cán bộ, chiến sĩ ta chiến đấu rất dũng cảm, buộc địch không thể tiến lên được. Đại đội tổ chức ba đợt phản kích có cối, ĐKZ của tiểu đoàn chi viện. Sau một thời gian chiến đấu, ta đã phá được cuộc tiến công của BV27, diệt 93 tên địch, thu nhiều vũ khí và các phương tiện chiến đấu, chiếm lại khu vực Mốc Lốc.


Ngày 12 tháng 1 năm 1967, Tiểu đoàn 4 quân tình nguyện Việt Nam1 (Trước là Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 thuộc Quân khu 4) phối hợp với Đại đội 1 Pa-thét Lào và dân quân du kích tổ chức đợt tiến công địch ở hầu hết các địa bàn Mường Tùm Lan thuộc tỉnh Sa-ra-van, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, giải phóng hàng nghìn dân. Trận đánh thắng lợi đã góp phần mở rộng vùng giải phóng đến phía đông thị xã Sa-ra-van, từ Tùm Lan xuống Lầu Ngam, bảo vệ phía đông đường hành lang chiến lược vận chuyển Bắc - Nam (phía tây binh trạm 34 và 35).


Để thực hiện âm mưu gom dân, cắt đứt tuyến hành lang chiến lược của ta từ Sa-ra-van đến Bản Phồn, từ đầu tháng 1 năm 1967, địch dùng lực lượng lớn gồm 2 GM (21, 804), 1 tiểu đoàn thuộc GM16 và 2 tiểu đoàn lính ngụy địa phương mở cuộc càn “Thê Va Thắt I”, và “Thê Va Thắt II” đánh vào khu vực Lầu Ngam. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng thuộc tỉnh Sa-ra-van. Tại đây, địch có 84 vị trí chiếm đóng cùng với hàng chục tiểu đoàn cơ động, tạo nên mạng lưới quân sự dày đặc, hòng bao vây, tiêu diệt gọn lực lượng vũ trang của ta và bắt dân phải theo chúng.


Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 565 khẩn trương giúp bạn chuẩn bị phương án đánh địch. Lực lượng gồm: Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565), Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 27) phối hợp với Tiểu đoàn 12 Pa-thét Lào, các đại đội độc lập của Lầu Ngam, Không Xê Đôn cùng dân quân du kích địa phương. Kết hợp giữa quân sự với chính trị, bộ đội ta vừa đánh địch bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, vừa kiên trì vận động nhân dân đấu tranh giành giật với địch từng tấc đất, từng hộ dân trong các bản, làng. Trong chiến đấu ác liệt, nhiều người dân đã vượt qua bom đạn và sự kiểm tra gắt gao của địch để tiếp tế cho bộ đội. Nhờ đó, các đơn vị vẫn anh dũng chiến đấu hằng tháng trời trong lòng địch. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 phối hợp với đơn vị bạn đánh chặn địch ở nhiều nơi. Trong đó có những trận phục kích, tập kích đạt hiệu suất chiến đấu cao như các trận đánh vào sở chỉ huy GM địch ở Pha Khẻm, Na Mi, Kép Phỏng, Na Tản Đông, Bản Đông, Khẻm Lại... Trong trận Phắc Cụt, Tiểu đoàn 1 đã diệt gọn một trung đội địch, sau đó tiếp tục truy kích chúng về Phu Đoọc Nhầy, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 tên. Tại khu vực Huội Sản Phăn (thuộc mường Lạ Mam) Tiểu đoàn 2 phối hợp với dân quân du kích tập kích địch trên đường hành quân từ Lạ Mam về Tha Teng, diệt hàng chục tên địch.


Như vậy, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 27) quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị bạn cùng nhân dân địa phương đánh bại cuộc hành quân “Thê Va Thắt I” và “Thê Va Thắt II” của địch, diệt 162 tên, thu hơn 100 súng các loại, bảo vệ nhân dân, củng cố lực lượng du kích, giữ vững vùng giải phóng của bạn.


Đêm 1 tháng 2 năm 1967, các chiến sĩ đặc công của Quân khu Tây Bắc tập kích vào sân bay Luông Phra Băng phá hủy 11 máy bay, 1 xe ô tô, đốt cháy 1 kho xăng và 1 kho đạn, diệt 1 đại đội địch.


Từ ngày 4 tháng 2 đến ngày 24 tháng 4 năm 1967, Tiểu đoàn 924 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 866) quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng đánh bại cuộc tấn công với quy mô lớn của 3 GM quân Phu-mi Nô-xa-vẳn và lực lượng phản động Coong Le, giữ vững toàn bộ khu vực chiến lược từ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đến Sa-la-đen-đi-la.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:54:26 pm
Với tinh thần chủ động tiến công địch, đầu tháng 4 năm 1967, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 174) và đơn vị đặc công độc lập của Quân khu Tây Bắc cùng Tiểu đoàn 701 của bạn tổ chức đánh địch ở Nọng Khạng (Sầm Nưa). Lực lượng địch gồm 2 PC và 10 đại đội của BV28 và AC15.


Sau khi các tiểu đoàn và đơn vị đặc công cử trinh sát đến nắm tình hình các vị trí của địch, 18 giờ ngày 3 tháng 4, Tiểu đoàn 705 và Tiểu đoàn 1 tiến vào chiếm lĩnh vị trí tiến công. Do đêm tối vướng cây, một đồng chí đi đầu vướng mìn bị hy sinh và hai đồng chí bị thương, địch phát hiện bắn ra đội hình tiến công của ta. Vì vậy, ta không thể đánh mật tập được, bộ phận chỉ đạo quyết định đánh cường tập. 2 giờ 45 phút ngày 4 tháng 4 năm 1967, hoả lực Tiểu đoàn 705 và Tiểu đoàn 1 bắn vào Phù Ta Sỏi. Bộ phận Tiểu đoàn 1 xung phong lên Phù Ta Sỏi ba lần đều bị đánh bật xuống. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 705) xung phong chiếm được đoạn chiến hào phía Nam sân bay Nọng Khạng.


8 giờ sáng ngày 4 tháng 4, Tiểu đoàn 705 tập trung binh hoả lực đánh vào phía nam sân bay Nọng Khạng, kết hợp đánh từ phía đông xuống. Tiểu đoàn 1 dùng hoả lực đánh Phù Ta Sỏi. Sau ba đợt xung phong, ta đã đánh chiếm toàn bộ sân bay Nọng Khạng và Phù Ta Sỏi, tiêu diệt 45 tên địch, bắt một số tên, thu nhiều súng các loại và 3   tấn gạo, 1 tấn thóc, 1 tấn muối. Khu vực Nọng Khạng hoàn toàn giải phóng.


Sau những thất bại nặng nề, Mỹ - ngụy liên tiếp mở các cuộc càn quét với quy mô từ một tiểu đoàn đến nhiều binh đoàn, tiến công vào vùng giải phóng của bạn. Trước tình hình đó, ngày 22 tháng 4 năm 1967, Bộ Chính trị ta họp xác định nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Lào hiện nay là củng cố vùng giải phóng và đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch kiểm soát. Hội nghị đề ra nội dung và yêu cầu công tác xây dựng vùng giải phóng và phát triển phong trào ở vùng địch kiểm soát, nhằm đẩy mạnh hoạt động về mọi mặt, đáp ứng với tình hình cách mạng Lào trong giai đoạn mới.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, các đoàn 959, 565, 463, 766 và 866 tăng cường lực lượng giúp bạn, bảo vệ, củng cố vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch kiểm soát. Từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 31 tháng 5 năm 1967, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) phối hợp với các đơn vị bạn tổ chức hai đợt chống càn tại Lầu Ngam. Được nhân dân địa phương giúp đỡ, Tiểu đoàn 2 cùng với đơn vị bạn đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 33 (BP33); tiếp đó, liên quân Lào - Việt đánh 61 trận, diệt 410 tên địch, bắn bị thương 205 tên, bắn hỏng 2 máy bay T28, thu 100 súng các loại. Sau đợt hoạt động này, Tiểu đoàn 2 rút về vị trí tập kết bị bom pháo địch oanh tạc vào đội hình, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thuyên cùng một số chiến sĩ đã anh dũng hy sinh và bị thương.


Tại khu vực Bản Phồn, từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn 927 dùng hình thức bắn tỉa diệt 40 tên, buộc địch phải dồn về phía sau. Mỗi lần một tên địch bị bắn chết, chúng điên cuồng bắn hàng trăm phát đạn ĐKZ, cối, tiêu tốn nhiều đạn, nhưng không hiệu quả. Lợi dụng lúc địch đang hoang mang, Tiểu đoàn 927 tập kích Bản Phôn, diệt 94 tên, thu 53 súng các loại. Ngày 25 tháng 7, Tiểu đoàn 927 phối hợp với Tiểu đoàn 613 của bạn tập kích, kết hợp pháo kích địch ở Phu Khoa. Sau 15 phút chiến đấu, ta diệt nhiều tên địch, phá hủy toàn bộ vũ khí của chúng, giải phóng bốn vị trí Phu Khoa, Phu Phao, Phu Ngua, Nhọt Sin.


Ngày 6 tháng 7 năm 1967, Tiểu đoàn 1 và đại đội đặc công (Trung đoàn 27) phối hợp với dân quân du kích tiến công địch ở Bản Phồn - một căn cứ lớn của địch ở phía đông (thuộc tỉnh Tà-vên-oọc). Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) chặn đánh địch ở khu vực Xạ Thư, Huội Lay. Trong trận này, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam cùng dân quân du kích đã giành thắng lợi lớn, diệt và bắt hàng trăm tên địch.


Cuối tháng 7 tháng 1967, đội công tác thuộc Đoàn 565 đến Lầu Ngam, thống nhất với Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sa-ra-van về kế hoạch công tác ba mặt (dân vận, địch vận, tác chiến), đồng thời giải quyết một số khó khăn về lương thực cho bộ đội.


Lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động tại Lào phần lớn là trên chiến trường rừng núi, địa bàn ngăn cách, xa hậu phương. Đời sống của bạn cũng còn nhiều khó khăn, nên khả năng cung cấp lương thực và các nhu yếu phẩm tại chỗ ít. Ở tiền phương, tình hình ta lúc tập trung, lúc phân tán, lại liên tục cơ động chiến đấu với bạn. Chuyên gia ta hoạt động phân tán, việc cung cấp lương thực, vật chất gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, đang là mùa mưa, lũ lớn, việc tiếp tế càng khó khăn hơn. Tuyến đường vận chuyển từ Việt Nam sang Lào bị địch liên tục đánh phá. Nhiều đơn vị hết gạo, hằng tuần, anh em phải chia sẻ cho nhau từng bánh lương khô, từng nắm rau rừng.


Lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tổ chức đơn vị thành nhiều đội công tác đến các địa phương của bạn vận động nhân dân bán gạo, thực phẩm, ủng hộ bộ đội. Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) phối hợp với một đại đội của bạn vượt sông Xê xết, vào Bưng Xai tiến hành vũ trang tuyên truyền, vận động nhân dân tác bộ tộc Lào bán gạo cho bộ đội. Dù đời sống còn khó khăn thiếu thốn, nhưng nhân dân không quản mưa to, lũ lớn đã vận chuyển lương thực, thực phẩm đến bán và ủng hộ các đơn vị bộ đội Lào - Việt.


Từ ngày 20 đến 30 tháng 7 năm 1967, Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Lào triệu tập Hội nghị cán bộ quân chính trong toàn quân tại Na Cay (Sầm Nưa). Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy và đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Phó Bí thư, Quân ủy, Tư lệnh tối cao lực lượng vũ trang Pa- thét Lào chủ trì hội nghị.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:56:07 pm
Đoàn 959 được giao nhiệm vụ đã tập trung giúp ba cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần bạn gấp rút chuẩn bị nội dung báo cáo của Quân ủy Trung ương trước hội nghị. Qua nghiên cứu thảo luận hội nghị đã nhất trí cao về đánh giá tình hình địch, ta và những mặt mạnh, yếu của lực lượng vũ trang, về phương hướng nhiệm vụ của quân giải phóng nhân dân Lào trong thời gian tới, nhất là nhiệm vụ hoạt động quân sự trong mùa khô năm 1967-1968.


Từ kinh nghiệm thực tế trên các chiến trường, Quân ủy Trung ương rút ra một số vấn đề quan trọng, về phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang cần phải nắm vững là tích cực, chủ động, liên tục tiến công địch; phát huy ưu thế tuyệt đối về cách đánh gần, đánh thọc sâu, lấy ít đánh nhiều, đánh mạnh, đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh; tiêu diệt địch phải gắn với bảo vệ dân; tác chiến kết hợp với công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở và vận động binh lính địch, thu phục phỉ; phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa các chiến trường, bảo đảm các yếu tố bí mật, bất ngờ, nghi binh tốt; đánh nhỏ, đánh chắc thắng.


Về xây dựng, phải hết sức coi trọng xây dựng chất lượng chính trị, tăng cường bản chất của quân đội nhân dân, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, phấn đấu trở thành “Đơn vị 3 giỏi”, “Chiến sĩ 3 giỏi”1 (Tiêu chuẩn đơn vị 3 giỏi và chiến sĩ 3 giỏi: xây dựng cơ sở giỏi và tăng gia sản xuất giỏi). Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng đối với quân đội. Các cấp ủy Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội được trong sạch vững mạnh.


Để đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng, hội nghị quyết định đổi tên bộ đội Pa-thét Lào thành quân giải phóng nhân dân Lào, do đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon làm Tư lệnh tối cao.


Sau hội nghị, các đại biểu khẩn trương trở về địa phương, đơn vị chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới. Đoàn 959 tiếp tục cử một số chuyên gia cùng cán bộ ba cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần của bạn xuống các đơn vị giúp bạn nghiên cứu chiến trường, dự kiến các tình huống, các khu vực địch có khả năng tiến công, qua đó, chuẩn bị các phương án tác chiến và bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu.


Phát huy kết quả và kinh nghiệm của hội nghị quân chính, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tích cực cùng bạn triển khai toàn diện các mặt chuẩn bị chiến đấu đánh địch.


Trung tuần tháng 9 năm 1967, đội công tác (Đoàn 565) giúp bạn phân tán lực lượng hoạt động và vận động nhân dân khu vực bản Xoỏng Họng trên trục đường từ Lầu Ngam đi Không Xê Đôn đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch. Bất ngờ, có một đại đội địch từ Lầu Ngam đánh ra thăm dò ta ở khu vực Xoỏng Họng. Đội công tác cùng Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1), đại đội đặc công (Trung đoàn 27) phối hợp với du kích địa phương tập kích địch ở khu vực Noỏng Kha (cách bản Xoỏng Họng 3 km về phía đông nam), diệt tên chỉ huy và một số binh lính. Trận đánh đã giúp cho đội công tác (Đoàn 565) có nhiều thuận lợi, thâm nhập vận động nhân dân từng bước phá bung các trại tập trung của địch.


Ngày 25 tháng 10 năm 1967, Tiểu đoàn 4 quân tình nguyện phối hợp với bộ đội địa phương tiến công địch ở Tùm Lan, diệt 2 đồn trên đường số 23 phía bắc thị xã Sa-ra-van, giải phóng hoàn toàn Tùm Lan, mở rộng vùng giải phóng xuống phía nam tỉnh Xa Vẳn Na Khệt.


Ở hướng Lầu Ngam, đầu tháng 11 năm 1967, địch sử dụng 2 tiểu đoàn lính dù (BP3 và BP5) của GM802 đánh vào Mường The, Noỏng Sảng, Noỏng Tầu, Ka Chúc. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 27) quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, buộc chúng phải quay về phòng ngự ở khu vực Nậm Sằn, Bản Len, thị trấn Lầu Ngam.


Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) phối hợp với Tiểu đoàn 12 của bạn vượt sông Xê Đôn, tiến công địch ở đồn Bưng Xai. Đây là đồn lớn án ngữ trên đường số 16, nằm giữa sông Xê Đôn và sông Xê Xết. Ta và bạn đã mưu trí đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trảm tên. Trước thất bại của địch ở Bưng Xai, quân ngụy ở Sa-ra-van và đồn Va-pi Khăm-thoong án binh bất động. Trận đánh thắng lợi tạo điều kiện cho cán bộ và chiến sĩ đội công tác (Đoàn 565) tiến vào các bản tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu chính sách của cách mạng Lào, ủng hộ quân đội giải phóng nhân dân Lào. Nhân dân nhiều làng, bản đã đem gạo, lợn, gà ra ủng hộ và bán cho các đơn vị bộ đội Việt - Lào.


Từ tháng 11 năm 1967 đến đầu năm 1968, Đại đội 70 quân tình nguyện đã phối hợp với lực lượng trung lập yêu nước của ông Khăm Uồn Búp Pha, truy quét các ổ phỉ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 600 tên, có 524 tên ra hàng, giải phóng các khu vực U  Tày, U Nưa, Ma-ly-thâu, Ta-cô và Ô-le thuộc tỉnh Phong Xa Lỳ.


Ở phía Đông Hến, ngày 25 tháng 12 năm 1967, Tiểu đoàn 5 (Đoàn 565) phối hợp với Tiểu đoàn 18 của bạn chiến đấu tiêu diệt chỉ huy sở và đại đội trợ chiến của BI29 của địch. Đại đội 3, Tiểu đoàn 5 bắn rơi 1 máy bay trực thăng địch đến cứu cố vấn Mỹ. Đại đội đặc công quân tình nguyện cùng 1 đại đội (Tiểu đoàn 18) của bạn tiêu diệt địch ở điểm cao 154. Ngày 27 tháng 12, Tiểu đoàn 5 phối hợp với Tiểu đoàn 14 bạn đánh địch càn quét ỏ nam đường số 9. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 5) anh dũng chiến đấu đánh lui 7 đợt tiến công của tiểu đoàn dù 33, gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Cuối năm 1967, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 565) liên tục chiến đấu chống 2 trung đoàn ngụy phái hữu có máy bay và pháo binh yểm hộ, lấn chiếm vùng giải phóng trên địa bàn tỉnh Tà-vên-oọc và khu vực phía đông cao nguyên Bô-lô-ven. Trong 8 ngày, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 được dân quân du kích địa phương hỗ trợ đã đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Ngày 27 tháng 12 năm 1967, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 dùng súng bộ binh hạ 1 máy bay giặc Mỹ oanh tạc đội hình tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 804 phái hữu ở Bản Đông, phía đông cao nguyên Bô-lô-ven, buộc chúng phải dùng máy bay 14 lần hạ cánh lấy xác đồng bọn. Trong trận chiến đấu ác liệt này, 12 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 25 chiến sĩ bị thương.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:57:36 pm
Ngày 30 tháng 12 năm 1967, Quân ủy Trung ương ta ra nghị quyết (số 71/NQ-QU) về việc tăng cường giúp đỡ cách mạng Lào. Nghị quyết đề ra chủ trương và những công tác cụ thể giúp bạn trong thời gian tới là: Giúp bạn quán triệt và nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, phấn đấu với tinh thần khẩn trương nhất, cố gắng cao nhất đẩy mạnh xây dựng, phát triển lực lượng, tích cực và liên tục tiến công địch về quân sự, chính trị, địch vận, tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giành thắng lợi lớn nhất... Nhiệm vụ cơ bản nhất là giúp bạn củng cố, mở rộng vùng giải phóng; đồng thời tích cực đẩy mạnh hoạt động ở địch hậu, coi đó là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng; giúp bạn chỉ đạo cả hai chiến trường Nam và Bắc Lào, cả hai vùng giải phóng và địch hậu, làm cho hai chiến trường, hai vùng phối hợp, hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển.


Quán triệt nghị quyết của Quân ủy Trung ương, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, chuẩn bị nội dung giúp bạn thực hiện tốt những công tác lớn: Giữ vững, củng cố, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động quân sự ở cả hai vùng giải phóng và địch hậu, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, chú trọng cả ba thứ quận, nâng cao hiệu suất chiến đấu.


Sau thất bại mùa khô 1965-1966, địch đã huy động 6 tiểu đoàn chủ lực ngụy Viêng Chăn dưới sự yểm trợ trực tiếp của không quân Mỹ mở cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng Nậm Bạc. Tại đây, địch muốn thể nghiệm phương thức tác chiến mới. Chúng cho rằng quy mô tổ chức và tác chiến của quân đội giải phóng nhân dân Lào mới đến cấp tiểu đoàn, còn quân ngụy Viêng Chăn thì đã có binh đoàn cơ động, lại được sự hỗ trợ của phi pháo thì nhất định chúng sẽ tạo được ưu thế và giành được thắng lợi. Sau khi chiếm được Nậm Bạc, địch tăng cường lực lượng tổ chức nhiều cuộc nống lấn, mở rộng địa bàn kiểm soát, nhằm tạo bàn đạp nối liền với Luông Phra Băng, uy hiếp hậu phương tây bắc Việt Nam.


Nậm Bạc thuộc tỉnh Luông Phra Băng, nằm giữa bốn tỉnh tây - bắc Thượng Lào. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng ở Bắc Lào, nơi tranh chấp quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng Lào trong nhiều năm. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào, Nậm Bạc do các lực lượng Pa-thét Lào kiểm soát. Tháng 7 năm 1966, địch dùng GM11, BV12, BV15 và BV16 tiến công lấn chiếm Nậm Bạc.


Lực lượng quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với các đơn vị bạn liên tiếp đánh địch (từ tháng 7 năm 1966 đến tháng 7 năm 1967), buộc chúng phải chuyển sang co cụm, phòng ngự ở các khu vực chúng lấn chiếm được. Tháng 8 năm 1967, địch tăng cường lên Nậm Bạc GM12 và GM15, tổ chức nhiều mũi tiến công, mở rộng phạm vi lấn chiếm. Chúng đã chiếm được khu trung tâm và một số khu vực xung quanh. Đến tháng 12 năm 1967, lực lượng địch ở Nậm Bạc đã có các GM11, GM12, GM15 và 1 tiểu đoàn thuộc GM25, 1 tiểu đoàn pháo binh đóng thành ba cụm cứ điểm ở Na Khang, Huổi Ngát và trung tâm thung lũng Nậm Bạc, kèm theo 2 khu phỉ ở Chòm Văn, Giang Tơi, 4 đại đội phỉ ở Moóc Phúc, Pa-mao. Trong từng cứ điểm, địch bố trí nhiều chốt tiểu đội, trung đội, hình thành một cụm phòng ngự tiểu đoàn. Phía trước có các ổ phỉ thường xuyên hoạt động, nhằm ngăn chặn ta từ xa. Trước một lực lượng quân chủ lực ngụy Lào ở Nậm Bạc lớn như vậy, Quân ủy Trung ương Việt Nam và Lào nhất trí chủ trương: Tổ chức lực lượng, mỏ chiến dịch tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Nậm Bạc.


Để thống nhất chỉ huy và hiệp đồng chiến đấu giữa ta và bạn, đầu tháng 11 năm 1967, Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập. Về phía Việt Nam có các đồng chí: Vũ Lập - Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc được chỉ định làm Tư lệnh; Huỳnh Đắc Hương - Phó chính ủy Quân khu làm Chính ủy chiến dịch. Đồng chí Thăng Bình làm Tham mưu trưởng, đồng chí Quang Vinh làm Chủ nhiệm chính trị. Phía bạn có đồng chí Xi Xổm Phon Lò Văn Xay - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân Lào tham gia, cùng đồng chí Bí thư Huyện ủy Nậm Bạc và cán bộ ba cơ quan Tổng cục của bạn.


Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Trung đoàn 335, Sư đoàn 316, Tiểu đoàn 5 quân tình nguyện (Đoàn 766), Tiểu đoàn 409 quân giải phóng nhân dân Lào, đại đội đặc công của Quân khu Tây Bắc, đại đội địa phương Nậm Bạc cùng dân quân du kích của bạn.


Yêu cầu của chiến dịch này là đánh nhanh, gọn, bất ngờ, chắc thắng, tiêu diệt toàn bộ căn cứ địch, giải phóng Nậm Bạc.


Quân ủy Trung ương ta chỉ thị cho Quân khu Tây Bắc, bằng bất kỳ giá nào cũng phải hoàn thành chiến dịch trước Tết Mậu Thân 1968 để phối hợp với chiến trường miền Nam.


Phương châm tác chiến của chiến dịch được đặt ra là: chuẩn bị đầy đủ, bảo đảm chắc thắng, sử dụng lực lượng có trọng điểm, đột phá mạnh, bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, tác chiến kết hợp với địch vận, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ của chiến dịch, Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm sử dụng lực lượng như sau:

Trung đoàn 148 được tăng cường 3 khẩu cối 120 ly, 6 khẩu pháo 12,7 ly, 2 phân đội súng phun lửa làm nhiệm vụ ở hướng chủ yếu tiến đánh 2 cụm cứ điểm Na Nhang, Huổi Ngát, nằm sâu trong tuyến phòng ngự bảo vệ khu trung tâm do GM12 chiếm giữ.

Trung đoàn 174 (thiếu 1 tiểu đoàn) được tăng cường 6 khẩu pháo 12,7 ly, một phân đội súng phun lửa, cơ động xuống hướng tây nam Nậm Bạc tổ chức đón lõng, chặn đường rút của địch, hình thành thế bao vây vòng trong chiến dịch.

Trung đoàn 335 cùng các đơn vị phối thuộc khác có nhiệm vụ tiêu diệt GM11 cùng các ổ phỉ, ép địch trong khu vực chạy về hướng tây nam, hình thành thế bao vây vòng giữa.

Tiểu đoàn 409 của bạn hiệp đồng với Trung đoàn 335 đánh chiếm trung tâm Nậm Bạc, sau đó truy lùng tàn quân địch, làm công tác củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng. Đại đội 1 Nậm Bạc cùng dân quân du kích bạn và các lực lượng pháo binh, công binh hình thành thế bao vây vòng ngoài.


Các đơn vị khẩn trương làm công tác chuẩn bị. Tư tưởng chỉ đạo, phương châm tác chiến, cách đánh được các đơn vị tổ chức quán triệt, thảo luận đến từng tiểu đội.


Ngày 29 tháng 11 năm 1967, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 174 cùng các đơn vị công binh, trinh sát bắt đầu xuất phát từ Nà Mường làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và bảo vệ đường hành quân cho Sư đoàn 316. Sau gần 1 tháng hành quân, luồn lách, vượt qua những cánh rừng rậm rạp, vách đá tai mèo cao chót vót, toàn Sư đoàn 316 đã tới được vị trí tập kết an toàn.


Nhân dân các dân tộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu được huy động đi dân công, phục vụ chiến dịch. Bằng các phương tiện vận chuyển thô sơ kết hợp với cơ giới, trong tháng 12 năm 1967, ta đã vận chuyển được hàng trăm tấn lương thực, đạn dược tới chiến trường.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:58:28 pm
Phát hiện ta tăng cường lực lượng ở vùng Nậm Bạc, ngày 15 tháng 12 năm 1967, địch dùng trực thăng đưa tiểu đoàn 99BP lên Nậm Bạc thay cho GM15 và đưa GM15 tiến ra hướng Mường Ngòi. Chúng hy vọng buộc đối phương phải dùng một lực lượng lớn ngăn chặn ở Mường Ngòi, kéo giãn lực lượng ta uy hiếp khu trung tâm Nậm Bạc.


Trước tình hình đó, ta dùng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 174 được tăng cường Tiểu đoàn 12 ĐKB của Quân khu Tây Bắc, tổ chức chặn đánh địch. Ở khu vực Nậm Bạc, chớp thời cơ GM15 rút đi, bộ đội ta và bạn chiếm thêm một số vị trí, đưa hoả lực vào gần sân bay, khống chê vận chuyển tiếp tế đường không, tăng thêm thế chia cắt địch. Trung đoàn 335 vây ép địch và chiếm một số cao điểm có lợi thế để hình thành thê bao vây địch, tạo thế thuận lợi khi mở chiến dịch Nậm Bạc.


Ngày 9 tháng 1 năm 1968, các đơn vị theo phương án đã định, tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Trung đoàn 148 bố trí lực lượng trong khu vực Na Khang - Huổi Ngát và dùng Đại đội 11 cơ động sang hướng bắc Na Nhang chốt chặn, đề phòng địch chạy theo hướng này. Nhiệm vụ của trung đoàn là tiêu diệt sở chỉ huy GM12 trong khu vực và sẵn sàng lật cánh sang hướng đông tiêu diệt GM15.


Cùng ngày 9 tháng 1, Trung đoàn 174 (thiếu Tiểu đoàn 1) và các lực lượng tăng cường vòng xuống tây nam Nậm Bạc, bố trí trận địa chặn địch trong khu vực Mốc Lốc, Phu Sam Sum, tạo thế đón lõng, hình thành vòng vây thứ nhất. Trung đoàn dùng Tiểu đoàn 3 làm lực lượng dự bị chiến dịch, sẵn sàng cơ động phối hợp với Trung đoàn 148 diệt GM15.


Trung đoàn 335, Tiểu đoàn 5 quân tình nguyện, Tiểu đoàn 409 bạn trong ngày 9 tháng 1 đã đưa lực lượng áp sát sở chỉ huy GM11 và các ổ phỉ, sẵn sàng nổ súng theo hiệp đồng chiến dịch, tạo thành vòng vây thứ hai. Các đơn vị pháo binh, công binh, trinh sát cùng Đại đội 1 Nậm Bạc, dân quân du kích của bạn đã chiếm lĩnh các vị trí được phân công theo phương án tác chiến, tạo thành thế bao vây vòng ngoài cùng, sở chỉ huy chiến dịch đặt ở Pắc Bắc, cách trung tâm Nậm Bạc 10 km về hướng đông. Đến ngày 12 tháng 1 năm 1968, các lực lượng tham gia chiến dịch đã hình thành xong thế trận bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, có trọng điểm. Thế trận chiến dịch đã chuẩn bị xong.


19 giờ ngày 12 tháng 1 năm 1968, chiến dịch tiến công Nậm Bạc bắt đầu. Các vị trí tiền duyên của địch trong khu vực Na Nhang bị nhấn chìm trong đạn pháo bắn dồn dập của ta. Cùng với sự chi viện của pháo binh, các mũi đột kích của Trung đoàn 148 đánh thẳng vào sở chỉ huy GM12 và B15 cùng các cứ điểm xung quanh. Một số lớn địch bị tiêu diệt và bị bắt tại chỗ, số còn lại tháo chạy về Phu Nha Hợp - Viêng Xi. Ta tổ chức truy kích địch. Rạng sáng ngày 19 tháng 1, Tiểu đoàn 6 đuổi kịp tàn quân địch, đánh một trận vận động xuất sắc ở Phu Nha Hợp, diệt hơn 100 tên. Trong lúc địch đang hoang mang, thừa thắng, Trung đoàn 148 tổ chức đánh thẳng vào cụm Huổi Ngát. Sau gần một giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ vị trí này.


Trung đoàn 335, Tiểu đoàn 5 quân tình nguyện và Tiểu đoàn 409 bạn đồng loạt nổ súng tiến công GM11 ở trung tâm Nậm Bạc cùng các ổ phỉ ở xung quanh, đồng thời chặn đánh các toán quân lẻ trong khu vực, dồn địch chạy về hướng tây nam bị sa vào trận địa phục kích của Trung đoàn 174.


Tại khu vực trận địa đón lõng của Tiểu đoàn 2, ba tiểu đội của 3 đại đội ở đông nam Phu Sam Sum tiến công vào đội hình 2 tiểu đoàn địch, diệt và bắt 300 tên, thu hàng trăm súng, làm 2 tiểu đoàn này hoàn toàn tan rã. Số sống sót bỏ chạy tán loạn. Các cánh quân địch rút chạy bị Trung đoàn 174 đánh chặn ở các các điểm cao 551, 452, 569, tiêu diệt một số lớn. Sau đó, Trung đoàn 174 cùng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148, tổ chức lùng quét tàn quân địch diệt và bắt thêm một số tên.


Trung đoàn 148 (thiếu 1 tiểu đoàn) lật cánh sang phía đông phối hợp với Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 174 tiêu diệt GM15. Sáng ngày 19 tháng 1, Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 ở hướng chủ yếu, phối hợp với 1 đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 174 hướng thứ yếu tiến công điểm cao Moóc-ca-chóp, nơi đặt sở chỉ huy GM15. Chiến sĩ ta lợi dụng các gốc cây, mô đá, áp sát địch dùng lựu đạn thủ pháo đánh vào các tuyến hào tiền tiêu. Hướng thứ yếu cũng tổ chức đánh vào phía sau lưng địch. Địch co cụm, chống đỡ yếu ớt, cuối cùng bị ta đánh bật khỏi điểm cao. Sở chỉ huy địch bị đập tan.


Trong hai ngày 20 và 21 tháng 1 năm 1968, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 148 từ Ta Bu truy kích địch xuống Nậm Ngà. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174 đuổi đánh địch xuống đông nam Nậm Bạc, bắt và diệt một số tàn quân của GM12 và GM11. Địch bị đánh thiệt hại, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chống cự. Cuộc chiến đấu diễn ra giằng co quyết liệt đến ngày 27 tháng 1 năm 1968 mới kết thúc.


Sau 16 ngày đêm chiến đấu, với chiến thuật thọc sâu, bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, truy kích mạnh, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với bạn đập tan các khu vực phòng ngự của địch và truy lùng tàn quân địch. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 3.200 tên (trong đó có hơn 2.000 tên bị bắt), thu và phá hủy 34 khẩu ĐKZ, 47 súng cối, 25 trung đại liên, 9 khẩu pháo 105 ly, 2 khẩu sơn pháo 75 ly, 20 xe ô tô, bắn rơi 1 máy bay T.28 và 1 máy bay lên thẳng. Khu vực Nậm Bạc với trên 1 vạn dân được giải phóng.


Chiến thắng Nậm Bạc đánh dấu bước trưởng thành về trình độ tác chiến của liên quân Lào - Việt, góp phần khôi phục, củng cố khu giải phóng nối liến Sầm Nưa, Xiêng Khoảng và vùng giải phóng Bắc Lào, mở ra một vùng giải phóng liên hoàn rộng lớn ở Thượng Lào. Chiến thắng Nậm Bạc có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh bại một phương thức tác chiến chiến lược mới của đế quốc Mỹ trong “chiến tranh đặc biệt” ở Lào; đồng thời làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch ngày càng có lợi cho cách mạng Lào.


Cùng ngày 12 tháng 1 năm 1968, Tiểu đoàn 4 quân tình nguyện phối hợp với 1 đại đội quân giải phóng nhân dân Lào tiến công giải phóng thị trấn Tùm Lan (Sa-ra-van), diệt trên 70 tên, bắt 15 tên, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên khác, giải phóng hàng nghìn dân dưới ách kìm kẹp của phái hữu, nối liền vùng giải phóng Tùm Lan với Lầu Ngam. Khu căn cứ cách mạng Trung Lào, phía tây binh trạm 34, 35 được bảo vệ vững chắc, tạo thế uy hiếp địch.


Phối hợp với chiến trường Nậm Bạc, đêm 13 tháng 1 năm 1968, đơn vị đặc công của Quân khu Tây Bắc đã tiến công sân bay, trận địa pháo ở Luông Phra Băng (hậu phương trực tiếp của địch), phá hủy 12 máy bay, 2 pháo 105 ly, diệt 127 tên địch.


Chiến dịch tiêu diệt địch ở Nậm Bạc kết thúc thắng lợi, từ cuối tháng 1 năm 1968, các đơn vị chủ lực (Sư đoàn bộ binh 316) rút khỏi Nậm Bạc. Một bộ phận Trung đoàn 335 và Trung đoàn 148 ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ tiễu phỉ, truy quét tàn quân địch ở Chòm Văn, Giang Tơi; đồng thời giúp bạn xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, bán vũ trang, bảo vệ và củng cố vùng giải phóng.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 01:59:16 pm
Sau chiến dịch Nậm Bạc, ta và bạn liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi, gây cho chúng thiệt hại nặng. Ngày 29 tháng 1 năm 1968, đội công tác (Đoàn 463) phối hợp với lực lượng trung lập yêu nước Lào (gồm 3 tiểu đoàn, được tăng cường 1 tiểu đoàn du kích, 2 pháo 85 ly) tổ chức đánh địch, giải phóng khu vực Na Sia. Trận đánh diễn ra quyết liệt, địch dựa vào núi đá chống trả dữ dội. Máy bay địch tập trung bắn phá chi viện. Quân ta vẫn bám sát địch chiến đấu. Pháo binh ta bắn trúng hào địch ẩn nấp tạo điều kiện cho các mũi tiến công. Cuối cùng, địch phải tháo chạy. Các bộ phận phục kích, đón lõng, chặn đánh địch trên các hướng.


Trong trận này, lực lượng ta và bạn đã thực hiện phương châm: dùng quân sự đánh tiêu diệt, dùng chính trị kêu gọi, thu phục được hơn 100 tên lính ngụy mang theo vũ khí về với gia đình, với cách mạng. Đây là trận đánh đầu tiên của lực lượng trung lập yêu nước được quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chiến đấu. Chiến thắng Na Sia đánh dấu sự tiến bộ trong sử dụng lực lượng tác chiến tập trung (cỡ trung đoàn tăng cường) của lực lượng trung lập yêu nước và khẳng định sự rèn luyện, trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ đoàn kết chiến đấu hoà nhập với quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam.


Trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lực lượng Coong Le và phái hữu đã mở các đợt tiến công vào Phu Cút, nhưng đều thất bại. Lực lượng phỉ của Vàng Pao cũng bị đánh ở nhiều nơi. Tuyến phòng thủ Tha Viêng bị ta tiêu diệt, uy hiếp xuống Tha Thơm, Mường Om. Cụm phỉ ở Na Sia bị ta đánh tan tác phải tháo chạy, co cụm lại khu vực Mường Ngàn.


Phát huy thắng lợi, Quân khu Cánh Đồng Chum và Đoàn 463 chủ trương mở chiến dịch giải phóng Mường Ngàn, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực phỉ Vàng Pao, giải phóng nhân dân, tạo điều kiện chi viện cho lực lượng bạn ở Đông Viêng Chăn hoạt động.


Mường Ngàn là một khu vực tập trung đông dân, là vựa lúa và cơ sở cách mạng của huyện Mường Khum, tỉnh Xiêng Khoảng. Địa hình nổi lên ba điểm cao hình thành thế chân kiềng: Phu Hom Cheng, Phu Then Chao và Phu Tong Mong. Ngoài ra có Phu Viêng và Khu Na Đi, có đường ô tô 4B từ thị xã Xiêng Khoảng đến Mường Ngàn. Đường bộ từ Mường Ngàn đi Keo Xẹt, Tha Thơm, Na Đi Tha Viêng và sân bay Na Hon gần Phu Viêng.


Về địch, Vàng Pao mới tổ chức hình thành thí điểm các đơn vị biệt kích (SGU). Khu vực Mường Ngàn có 5 SGU. SGU 2 là chủ lực phòng giữ Phu Hom Cheng - điểm cao 2.139 khống chế toàn bộ khu Mường Ngàn, đương đi Keo Xẹt, Tha Thơm và Tha Viêng. SGƯ1 phòng giữ Phu Then Chao - cao điểm 1654 khống chế đường đi Tha Thơm và Mường Moọc. Còn 3 SGU giữ các vị trí Phu Tong Mong, Phu Viêng và khu Na Đi (mỗi SGU quân số khoảng 170 tên).


Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 tiểu đoàn bộ binh (2, 24, 701) và tiểu đoàn pháo binh tổng hợp 605 (gồm pháo binh, xe thiết giáp, súng phun lửa).

Ngày 2 tháng 2 năm 1968, chiến dịch mở màn. Sau một thời gian chiến đấu, ta và bạn đã phá vỡ toàn bộ tuyến phòng thủ của địch ở Mường Ngàn. Địch tháo chạy, ta và bạn truy kích về hướng nam, tiếp đó tổ chức đánh chiếm luôn Tha Thơm, Phu Mừn, Mường Mày, Bô Ri Khăm, bức địch rút khỏi Mường Bò, uy hiếp vùng địch tạm chiếm. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 280 tên địch, thu nhiều vũ khí cùng quân trang, quân dụng, thực phẩm. Khu vực Mường Ngàn được giải phóng, tạo điều kiện chi viện và mở thông tuyến vận chuyển tiếp tế cho Đông Viêng Chăn.


Sau chiến dịch Mường Ngàn, Đoàn 463 cùng Quân khu Cánh Đồng Chum tổ chức ngay một đợt vận chuyển chi viện cho Đông Viêng Chăn, nhằm tranh thủ thời gian củng cố cơ sở chiến tranh nhân dân và giải quyết một phần khó khăn cho nhân dân trong vùng hậu địch. Chỉ trong một thời gian ngắn, ta và bạn đã thực hiện vận chuyển được hơn 10 tấn hàng an toàn (gồm súng, đạn, lương thực, thực phẩm, vải, thuốc chữa bệnh) vào Phu La Vẹc, Đông Viêng Chăn.


Tại Sầm Nưa, Đoàn 959 giúp bạn mở đợt hoạt động thu phục phỉ, chủ yếu là giải quyết ổ phỉ lâu đời ở Pa Thí - nơi ta và địch đã giành giật nhiều lần nhưng vẫn chưa dứt điểm được. Đây là vùng núi đá cao, hiểm trở, dài hơn 7 km, cách thị xã Sầm Nưa 20 km. Bọn phỉ ở đây có khoảng 2.500 tên. Chúng dồn dân, lập ấp, làm hàng rào bao bọc xung quanh. Tháng 3 năm 1967, khi chiến tranh phá hoại diễn ra ác liệt, Mỹ xây dựng trên đỉnh núi đá (cao khoảng 1.000 m) một đài TACAN (đài ra-đa) do sĩ quan và nhân viên kỹ thuật người Mỹ điều khiển, dẫn đường cho máy bay địch xuất phát từ Thái Lan đi ném bom, bắn phá các tỉnh phía Bắc Lào và miền Bắc Việt Nam.


Để đảm bảo thắng lợi, Bộ Chỉ huy tối cao Lào tăng cường cho Sầm Nưa 2 tiểu đoàn chủ lực (705, 613), Tiểu đoàn 585 bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh. Lực lượng quân tình nguyện gồm 2 tiểu đoàn bộ binh (5 và 923) của Đoàn 766, một đơn vị đặc công của Quân khu Tây Bắc và 2 máy bay AN.2 của không quân Việt Nam chi viện. Đoàn 959 tổ chức một bộ phận chuyên gia (có các đồng chí chuyên gia dân chính) trực tiếp giúp các đơn vị khẩn trương làm công tác chuẩn bị.


Ngày 18 tháng 11 năm 1967, đợt hoạt động đầu tiên đã diễn ra rất quyết liệt. Được sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, bọn phỉ cố giữ cho được sào huyệt quan trọng ở Sầm Nưa, nơi mà chúng đã dày công nuôi dưỡng, cắm sâu vào vùng giải phóng bên cạnh cơ quan lãnh đạo của Trung ương bạn.


Được nhân dân địa phương nhiệt tình giúp đỡ, quân tình nguyện Việt Nam cùng bạn kết hợp vừa chiến đấu truy quét, vừa vận động thu phục phỉ, lần lượt tiến công địch từ ngoài vào trong. Ngày 10 tháng 3 năm 1968, liên quân Lào - Việt nổ súng tấn công các cụm phỉ ở Pa Thí, Huổi Mạ, Huổi Mun. Ta chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng (sân bay, khu ra-đa, chỉ huy sở), loại khỏi vòng chiến đấu 872 tên, trong đó có thiếu tá chỉ huy trưởng và 18 sĩ quan nhân viên kỹ thuật Mỹ, làm tan rã 3 đại đội (3AC), bắn rơi 10 máy bay, thu 300 súng, giải phóng 10 xã với hơn một vạn dân.


Địch bị liên quân Lào - Việt đánh bại ở Pa Thí, Vàng Pao gần như bất lực vì thiếu quân chi viện, buộc phải rút khỏi Pa Thí về giữ tuyến phòng ngự phía tây Mường Kút, Mường Hiểm, Nà Kliang chờ thời cơ lấn chiếm lại Pa Thí. Đồng thời, chúng huy động máy bay bắn phá khu vực thị xã Sầm Nưa, Khang Khay và phái các toán lẻ hoạt động phía hậu phương của bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 02:00:44 pm
Ngày 20 tháng 3 năm 1968, Đoàn 766 phối hợp với quân giải phóng nhân dân Lào diệt phỉ ở Huội Hin Sa (phía tây Pa Thí), đánh tan 1 tiểu đoàn địch, thu toàn bộ vũ khí của chúng.


Đầu năm 1968, tình hình chiến sự ở Đông Dương diễn biến mau lẹ. Đòn tiến công của quân và dân miền Nam trong Têt Mậu Thân năm 1968 đã làm thay đổi thế chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đẩy chúng vào thế lúng túng và bị động. Ngày 31 tháng 3 năm 1968 L.Giôn-xơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán với Việt Nam ở Pa-ri (Pháp). Song với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, Mỹ vẫn khẩn trương tăng cường sức mạnh quân sự để tiếp tục bám giữ miền Nam Việt Nam và đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt” ở Lào. Quân và dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng cách mạng Lào chủ động tiến công địch. Đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chuyển sang ném bom mạnh và thường xuyên ở Lào. Các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam phối hợp với bạn anh dũng đánh máy bay địch. Ngày 1 tháng 4 năm 1968, Đoàn 766 phối hợp với tiểu đoàn cao xạ của bạn bắn rơi tại chỗ 2 máy bay địch, bắt giặc lái ở khu vực Na Kay.


Liên tiếp trong hai ngày 7 và 8 tháng 4 năm 1968, Tiểu đoàn 924 cùng hai đại đội 67 và 24 (Trung đoàn 866) đánh địch giải phóng tuyến hành lang từ Phu Khe đến phía nam thị xã Xiêng Khoảng kéo dài về Phu Hụa Xạng thuộc phía đông Cánh Đồng Chum. Bị thất bại nặng nề trong âm mưu tăng cường "chiến tranh đặc biệt", nhưng Mỹ vẫn ngoan cố dùng không quân và lực lượng ngụy Lào đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng cách mạng Lào.


Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh hoạt động truy quét phỉ, củng cố vùng giải phóng, xây dựng cơ sơ quần chúng. Sau những thắng lợi của quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân các bộ tộc Lào càng tin tương ở Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Neo Lào Hắc Xạt yên tâm làm ăn, động viên chồng con rời bỏ hàng ngũ phỉ trở về và chỉ cho ta chỗ cất giấu vũ khí của địch. Từ đầu mùa khô đến tháng 5 năm 1968, toàn Lào đã có 3.000 phỉ ra hàng. Tính riêng Bắc Lào, Sầm Nưa và Xiêng Khoảng trong tháng 5 năm 1968 có 433 tên phỉ ra hàng trở về với gia đình.


Song song với thắng lợi dồn dập của quân và dân miền Nam Việt Nam, mùa khô năm 1967-1968, cách mạng Lào đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện, có tính chất vững chắc, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra một tình thế cách mạng mới. Quân ngụy Lào ngày càng thiệt hại, rơi vào thế bị động, lúng túng. Cách mạng thắng lợi lớn và nắm quyền chủ động tiến công địch trên hầu khắp các chiến trường. Các mục tiêu của địch đều bị đánh, cả hai lực lượng chiến lược của địch đều bị tổn thất lớn. Tổng số địch bị loại khỏi vòng chiến đấu lên tới 16.843 tên. Nhiều đội quân cơ động bị tiêu hao (2 GM và 7 tiểu đoàn bị xoá sổ, 5 GM và 28 tiểu đoàn bị tiêu hao nặng, 13 tiểu đoàn lực lượng đặc biệt bị tiêu diệt và ra hàng). Ta và bạn thu và phá hủy 3.200 súng các loại, 122 máy vô tuyến điện, 3 trạm ra-đa, bắn rơi và phá hủy 106 chiếc máy bay, thu hồi và giải phóng nhiều vùng quan trọng như Nậm Bạc, Pa Thí, Tha Thơm, Lầu Ngam với khoảng 17 vạn dân; đánh tan một số căn cứ thổ phỉ trên các địa bàn có tính chất chiến lược, mở rộng quyền làm chủ nông thôn ở vùng địch hậu, uy hiếp nhiều thị trấn, thị xã của địch.


Để cứu vãn thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai âm mưu dùng thương lượng để ngăn chặn hoạt động quân sự của quân giải phóng nhân dân Lào. Song mâu thuẫn giữa Mỹ và tay sai, sự tranh giành địa vị giữa các tập đoàn trong nội bộ tay sai Mỹ ngày càng lan tràn và trầm trọng hơn.


Trong khi địch buộc phải co về thế phòng thủ chiến lược thì lực lượng vũ trang cách mạng Lào ngày càng phát triển. Trên khắp các miền Thượng, Trung và Hạ Lào, lực lượng bạn đã trưởng thành về mọi mặt, nổi bật là về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch, chiến thuật phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, với các chiến trường và ba thứ quân có những bước phát triển mới. Trên các chiến trường, quân giải phóng nhân dân Lào và quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam luôn giữ thê chủ động đánh địch. Tại Xiêng Khoảng, địch bị mất Tha Thơm, Tha Viêng. Pắc San bị uy hiếp, địch phải điều 12 BI từ Phôn Hồng về Pắc San, 21 BI ở Tây Bô Ri Khăm lên giữ tuyến Mường Hương, Mường Bò để bảo vệ an toàn cho Pắc San. Đồng thời, Vàng Pao đang tích cực xây dựng cơ sở phỉ Mẹo ở vùng Phu Xe, Phu Hụột (tây nam Tha Thơm 50 km) để mở rộng địa bàn hoạt động của phỉ ở vùng này, ngăn chặn ta phát triển vào Đông Viêng Chăn.


Ở Nam Lào, trước sự uy hiếp của liên quân Lào - Việt, địch phải rút bỏ một số vị trí lẻ chung quanh Lầu Ngam, Át-ta-pư. Trên 4 tỉnh Bắc Lào, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn tiễu phỉ rộng rãi, đồng thời tiến hành đánh giao thông dọc trên sông Mê Kông.


Trước những yêu cầu mới trên chiến trường ba nước Đông Dương, để đáp ứng nhiệm vụ tác chiến trên địa bàn Trung - Hạ Lào, cũng như nhiệm vụ bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược Đông Trường Sơn, trong bối cảnh Mỹ đã leo đến nấc thang cao nhất của chiến tranh xâm lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hai nước Việt - Lào thống nhất chủ trương kiện toàn các lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Nam Lào.


Theo chủ trương đó, ngày 28 tháng 6 năm 1968, Bộ Tổng tham mưu ra quyết định (số 98/TM-QĐ) tách Đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam 565 tại Nam Lào thành hai lực lượng: Lực lượng chuyên gia quân sự mang phiên hiệu Đoàn 565 và lực lượng quân tình nguyện Nam Lào mang phiên hiệu Đoàn 968.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Tư, 2021, 02:01:39 pm
Đoàn 565, chỉ huy Bộ tư lệnh và tổ chức biên chế các cơ quan vẫn giữ nguyên. Lực lượng chuyên gia gồm hai trung đoàn (27 và 29).


Bộ chỉ huy Đoàn 968 lúc đầu có các đồng chí: thượng tá Hà Tuấn Khanh - Tư lệnh; thượng tá Hoàng Biển Sơn - Phó tư lệnh, thượng tá Phạm Sinh - Chính ủy; thượng tá Nguyễn Lệnh - Phó chính ủy. Đoàn 968 đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4. Các đơn vị tình nguyện thuộc Bộ tư lệnh Đoàn 968 gồm 5 tiểu đoàn bộ binh (1, 2, 3, 4, 5), Đại đội S4 đặc công, Đại đội 5 cao xạ, Đại đội 6 pháo hỗn hợp, các đại đội công binh, thông tin, trinh sát, vận tải và Đội điều trị 49 quân y.


Các đơn vị đứng trong đội hình Đoàn 968 quân tình nguyện có kinh nghiệm và truyền thống xây dựng, chiến đấu ở vùng Quân khu 4 và Nam Lào. Tiểu đoàn 1 bộ binh trước đó mang phiên hiệu Tiểu đoàn 927 trực thuộc Quân khu 4. Tiểu đoàn 2 vốn gốc là tiểu đoàn công binh được chuyển thành tiểu đoàn bộ binh cơ giới và huấn luyện đặc công ở Quân khu Việt Bắc. Tiểu đoàn 3, tiểu đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 4, cuổì năm 1963 trong đội hình Sư đoàn 341 tham gia bảo vệ Vĩnh Linh. Tháng 12 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 3 tách đội hình Sư đoàn 341 hành quân sang Hạ Lào chiến đấu, công tác tại tỉnh Át-ta-pư thuộc đoàn chuyên gia quân sự Nam Lào. Tiểu đoàn 4, trước đây nguyên là Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 thuộc Quân khu 4, tháng 10 năm 1965 tiểu đoàn nhận nhiệm vụ sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế trên địa bàn các tỉnh Trung Lào. Tiểu đoàn 5 cũng trong đội hình Trung đoàn 27 thuộc Quân khu 4.


Các đơn vị binh chủng đặc công, cao xạ, pháo binh, thông tin, trinh sát, công binh và một số đơn vị phục vụ, bảo đảm được Bộ Tham mưu Quân khu 4 tổ chức biên chế, đảm bảo cho hoạt động chiến đấu của Đoàn. Đại đội S4 đặc công được huấn luyện cơ bản, năm 1967 đã có mặt chiến đấu ở Trung, Hạ Lào. Đội điều trị 49 quân y được thành lập từ đầu năm 1966 gồm 3 đội phẫu thuật của Quân khu 4 hợp thành.


Ngày 10 tháng 9 năm 1968, ban cán sự Đoàn 968 họp buôi đầu tiên tại khu vực Bản Boi, huyện Mường Phin, tỉnh Xa Vẳn Na Khệt. Đồng chí Hà Tuấn Khanh - Tư lệnh Đoàn chủ trì hội nghị đã phân tích kỹ đặc điểm tình hình địch, tình hình ta trên chiến trường và nhấn mạnh nhiệm vụ, xác định quyết tâm của Đoàn là: Bảo vệ tuyến hành lang chiến lược 559, giữ vững vùng giải phóng, phát triển thế tiến công địch, kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng của địch trên địa bàn được giao.


Hội nghị thống nhất một số nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là: Khẩn trương ổn định biên chế, tổ chức, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ quốc tế, chấp hành chính sách dân tộc trên đất bạn, làm tốt công tác nuôi quân và quản lý bộ đội, chuẩn bị cho hoạt động chiến đấu trong mùa khô sắp tới. Các đơn vị trong Đoàn hoạt động trên địa bàn từ đường số 9 Xa Vẳn Na Khệt tới các tỉnh Át-ta-pư, Sa-ra-van ở Hạ Lào.


Sở chỉ huy và cơ quan Đoàn bộ đóng tại Bản Boi, cách nam Mường Phin 8 km. Tiểu đoàn 1 đóng ở khu vực Lầu Ngam, Tha Teng. Tiểu đoàn 2 ở phía đông cao nguyên Bô-lô-ven và tỉnh Tà-vên-oọc. Tiểu đoàn 3 chốt giữ khu vực Át-ta-pư. Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 ở khu vực đường số 9. Đại đội S4 đặc công chuyển đến khu vực Tha Teng, Bản Phồn. Các đơn vị binh chủng sẵn sàng phối hợp chiến đấu trên các mũi, các hướng theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.


Sau khi ổn định tổ chức biên chế, các đơn vị thuộc Đoàn 968 khẩn trương xây dựng hầm hào, công sự phòng chống phi, pháo địch, tích cực huấn luyện theo phương án tác chiến, học tập chính trị, huấn luyện bổ sung chiến thuật và kỹ thuật chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vừa huấn luyện, vừa làm công tác sẵn sàng chiến đấu.


Ngày 3 tháng 8 năm 1968, Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp Hội nghị lần thứ 16 đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh kháng chiến trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh: Mỹ - ngụy đã bị thất bại, cách mạng Lào giành được nhiều thắng lợi to lớn. Chúng ta phải tiếp tục tiến công địch, ra sức xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở vùng địch hậu, mở rộng đấu tranh cả ba mặt: quân sự, chính trị, ngoại giao để củng cố thắng lợi đã giành được, nỗ lực vươn lên giành thắng lợi có tính chất quyết định, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển trong giai đoạn cách mạng mới.


Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng Nhân dân Lào lần thứ 16, trung tuần tháng 8 năm 1968, Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định tổ chức Hội nghị quân chính bàn về cách đánh, nhằm tiếp tục tiến công địch giành thắng lợi lớn hơn.


Dự kiến trước tình hình phát triển của cuộc kháng chiến ở Lào, trong bối cảnh chung của chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là chiến trường miền Nam Việt Nam, ngày 12 tháng 11 năm 1968, Quân ủy Trung ương ta chỉ thị cho Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc và Đoàn 959 về nhiệm vụ giúp bạn trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh một số chủ trương lớn:

1- Tiếp tục phát huy thế chủ động tấn công địch, đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng trên cả ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao.

2- Đánh mạnh vào hai lực lượng chiến lược của địch, giải phóng thêm một số vùng trọng điểm, tạo thành thế liên hoàn.

3- Ra sức giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, tạo điều kiện để bạn có thể hoàn thành nhiệm vụ trong bất kỳ tình huống nào.

Trên cơ sở Nghị quyết 16 của Trung ương Đảng bạn và chỉ thị của Quân ủy Trung ương ta, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào khẩn trương cùng bạn nghiên cứu tình hình chiến trường, dự kiên các tình huống, các khu vực địch có khả năng tiến công, chuẩn bị các phương án tác chiến và bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Đoàn chuyên gia quân sự cơ quan Trung ương tổ chức nghiên cứu, chuẩn bị nội dung giúp   bạn một số vấn đề chủ yếu về kế hoạch chiến đấu, chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, giải quyết phỉ, xây dựng lực lượng vũ trang, nâng cao chất lượng chiến đấu của ba thứ quân, tăng cường lực lượng đưa vào địch hậu, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch.


Các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tổ chức học tập, quán triệt tình hình nhiệm vụ chính trị, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tương, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức tư tưởng, hành động của cán bộ, chiến sĩ, phù hợp với yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Trong hai năm 1967-1968, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp bạn củng cố vùng giải phóng, mở nhiều đợt tiến công vào cả hai lực lượng chiến lược của địch (quân chủ lực và quân đặc biệt) trên khắp các chiến trường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hồi và giải phóng nhiều vùng xung yếu (riêng Đông-Xuân 1967-1968, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên địch, giải phóng 16 vạn dân, 1.300 làng). Nhiều “khu chấn hưng”, “làng đoàn kết”, “khu tị nạn” - một hình thức trại giam trá hình của địch ở Na Con Phang, Huội Coong (Át-ta-pư), khu Lầu Ngam (Sa-ra-van) bị ta phá bung. Chiến tranh du kích của nhân dân các bộ tộc Lào phát triển ở khu giải phóng và một số vùng địch tạm kiểm soát, góp phần làm thất bại nặng nề chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào.


Từ năm 1965 đến năm 1968, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh các hoạt động tác chiến tiêu diệt địch, củng cố vùng giải phóng; giữ vững và phát triển chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Với tinh thần quốc tế vô sản, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã phối hợp với bạn khắc phục khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, đánh bại một bước “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, góp phần phát triển thế chủ động tiến công của cách mạng Lào lên một bước mới. Tuy bị thất bại nặng nể, nhưng Mỹ vẫn ngoan cố tăng cường thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở Lào lên mức cao nhất. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục đoàn kết, phối hợp với quân giải phóng nhân dân Lào và nhân dân các bộ tộc Lào phát huy thế chủ động tiến công địch, quyết tâm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. 


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 02:57:18 pm
Chương bốn
CÙNG VỚI QUÂN DÂN LÀO ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN
ĐÁNH BẠI "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT TĂNG CƯỜNG" CỦA MỸ VÀ TAY SAI

(1969-1972)


I. GIÚP BẠN XÂY DỰNG, CỦNG CỐ THẾ TRẬN ĐÁNH ĐỊCH, BẢO VỆ VÙNG GIẢI PHÓNG VÀ TIỄU PHỈ (1969-1970)

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 của quân dân miền Nam, tình hình chiến trường ba nước Đông Dương có bước chuyển biến mới ngày càng có lợi cho các lực lượng cách mạng. Ở Việt Nam chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, đế quốc Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ ta ở Pa-ri (Pháp). Đối với Lào và Cam-pu-chia, chính quyền tay sai thân Mỹ xâu xé, lục đục, hình thành nhiều phe phái. Đế quốc Mỹ tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lược hai nước này theo phương thức và hạn độ thích hợp, nhằm phối hợp với chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam; đồng thời đàn áp cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia.


Trong khi đó, các lực lượng cách mạng ngày càng được củng cố với nhiều vùng giải phóng rộng lớn. Cùng với cuộc đấu tranh đang diễn ra sôi động ở ba nước Đông Dương, phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc ở các nước châu Phi, châu Mỹ la tinh cũng có bước phát triển mạnh mẽ.


Trước tình hình đó, tháng giêng năm 1969, sau khi thay Giôn-xơn làm tổng thống nước Mỹ, Ních-Xơn đã đề ra chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Ních-Xơn” dựa trên ba nguyên tắc sức mạnh của Mỹ, chia sẻ trách nhiệm và thương lượng trên thế mạnh.


Cùng với việc tiến hành chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở Việt Nam, ở Lào chính quyền Ních-Xơn tăng cường viện trợ quân sự cho các lực lượng tay sai thân Mỹ, tích cực phát triển quân ngụy Lào, nhất là lực lượng đặc biệt của Vàng Pao. Tăng cường không quân đánh phá tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam và trực tiếp chi viện cho quân ngụy Lào trong các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Đặc biệt là công khai đưa quân Thái Lan và quân ngụy Sài Gòn vào chiến đấu ở chiến trường Lào, thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào.


Chiến trường Lào từ trước đến nay luôn có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với chiến trường ba nước Đông Dương. Trong bối cảnh đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn bán đảo Đông Dương, Lào càng trở thành địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.


Xác định đúng tầm quan trọng của chiến trường Lào, trên cơ sở Nghị quyết 16 của Trung ương Đảng bạn, cuối năm 1968 và đầu năm 1969, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ta đã có một số cuộc gặp gỡ trao đối với Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Lào. Sau khi thống nhát các nội dung giúp bạn trên lĩnh vực quân sự, Bộ Quốc phòng ta đã chỉ thị cho Đoàn 959, Quân khu Việt Bắc và Quân khu 4 thực hiện tốt các chủ trương giúp bạn, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Tiếp tục giúp bạn phát huy thế chủ động tiến công địch. Đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng (nông thôn và thành thị), trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.

2. Giúp bạn củng cố vững chắc các địa bàn đứng chân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Tập trung đánh mạnh vào hai lực lượng chiến lược của địch (lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân chủ lực Viêng Chăn), giải phóng thêm một số vùng trọng điểm, tạo điều kiện mở rộng vùng giải phóng thành thê liên hoàn rộng lớn.

3. Tăng cường giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực, sẵn sàng hoàn thành các nhiệm vụ đánh địch bảo vệ vùng giải phóng trong mọi tình huống.


Căn cứ vào nhiệm vụ được Bộ và các quân khu giao, các đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào tích cực giúp bạn triển khai các kế hoạch chiến đấu chống địch lấn chiếm, tiễu phỉ, củng cố các đơn vị hiện có của bạn, xây dựng thêm một số đơn vị chủ lực, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu của ba thứ quân, đưa lực lượng vào trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch; đồng thời giúp bạn chuẩn bị một số nội dung tiến hành hội nghị quân sự toàn quân.


Theo nhiệm vụ được giao, trong thời gian này, Đoàn 959 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ làm chuyên gia quân sự giúp Trung ương Đảng, cơ quan Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào. Đoàn 463 giúp cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu và các tiểu đoàn, đơn vị kỹ thuật ở Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đoàn 565 giúp bạn ở Nam Lào.    Khác với các đoàn chuyên gia quân sự 959, 463, 565 (nhiệm vụ chủ yếu là giúp bạn hoạch định triển khai thực hiện các nội dung huấn luyện, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức hiệp đồng tác chiến và hướng dẫn bạn trong các ngành chuyên môn kỹ thuật), các đoàn 335, 766, 866, 968 quân tình nguyện chủ yếu giúp bạn, cùng với bạn chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, tiêu diệt các hang ổ của bọn phỉ. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 766 làm nhiệm vụ chiến đấu ở căn cứ địa Sầm Nưa. Đoàn 866 chiến đấu ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đoàn 335 làm nhiệm vụ bảo vệ, củng cố vùng giải phóng Bắc Lào. Đoàn 968 làm nhiệm vụ chiến đấu ở vùng Nam Lào. Ngoài ra, các đơn vị quân tình nguyện còn trực tiếp giúp bạn huấn luyện và xây cơ sở cách mạng trên các địa bàn được phân công.


Bên cạnh lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ giúp bạn xây dựng, chiến đấu thường xuyên liên tục, tại Lào còn có các đơn vị quân chủ lực Việt Nam như các sư đoàn 316, 312, 338 và một số đơn vị binh chủng được lệnh sang phối hợp chiến đấu trong các chiến dịch lớn theo yêu cầu của bạn. Đây là lực lượng hoạt động tuy không thường xuyên nhưng đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Khi đế quốc Mỹ thực hiện "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, sự phối hợp của ba lực lượng trên của ta tại chiến trường Lào ngày càng trở nên gắn bó và hiệu quả.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 02:58:06 pm
Tháng 2 năm 1969, khi địch tập trung 11 tiểu đoàn mở cuộc hành quân Xa Ma Khi I tiến công ra vùng giải phóng Pa Thí - một vị trí quan trọng nằm sát biên giới Việt - Lào nhằm uy hiếp căn cứ địa cách mạng Sầm Nưa của bạn và phá công tác chuẩn bị cho chiến dịch "Toàn Thắng" của ta, theo chức năng nhiệm vụ được giao, Đoàn 959 tập trung giúp bạn xây dựng phương án đánh địch ở Pa Thí. Trên cơ sở đề xuất của Đoàn 959, được sự nhất trí của Quân ủy và Bộ Quốc phòng hai nước, liên quân Lào - Việt quyết định mở chiến dịch phản công đánh địch ở Pa Thí. Lực lượng tham gia chiến dịch về phía Việt Nam có hai trung đoàn 148 và 174 (Sư đoàn 316), các trung đoàn quân tình nguyện 766, 866. Phía bạn có các tiểu đoàn 613, 705, 585 và bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Sầm Nưa.


Sau một thời gian gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu, ngày 1 tháng 3 năm 1969, Sư đoàn 316 nổ súng tiến công địch ở Sầm Nưa, tiêu diệt sở chỉ huy địch và các vị trí Phu Sam Sun, Hủa Phạ, điểm cao 1420, các đơn vị của Đoàn 766 và Đoàn 866 làm nhiệm vụ bao vây và chôt chặn chiến dịch. Sau 5 ngày tiến công, ta và bạn loại khỏi chiến đấu 500 tên địch, tiêu diệt hai đại đội của BS210, xoá sổ căn cứ phỉ ở Mường Hiểm - Na Khang, tiêu diệt cụm cứ điểm Tham La - Na Khang, Sở chỉ huy phân khu Sầm Nưa. Giải phóng hơn 1.000 km2 với gần 5.000 dân. Vàng Pao dùng máy bay lên thẳng tăng viện hai tiểu đoàn, hòng phản kích giành lại các điểm đã mất nhưng bị quân ta chặn đánh quyết liệt phải tháo chạy. Ta tiếp tục phát triển tiến công đánh phá vị trí Buôm Lọng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Khu vực Mường Hiềm - Na Khang được giải phóng hoàn toàn, lần đầu tiên đường số 6 và đường số 217 được khai thông nối liền hai tỉnh Sầm Nưa và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Bị thất bại ở Pa Thí - Na Khang với gần 40% lực lượng cơ động của Vàng Pao bị tiêu diệt, cố vấn Mỹ và bọn tay sai ngụy Lào vẫn tiếp tục âm mưu mở rộng chiến tranh đánh chiếm vùng giải phóng. Cuối tháng 3 năm 1969, dưới sự chỉ huy của CIA thông qua bộ chỉ huy phối hợp Mỹ - Thái - Vàng Pao, địch tập trung 22 tiểu đoàn quân đặc biệt Vàng Pao, 1.200 quân của lực lượng phản động Coong Le, được sự chi viện của hai tiểu đoàn pháo binh Thái Lan, 5 đại đội máy bay cường kích và hơn 100 máy bay trực thăng của Mỹ mở cuộc hành quân Xa Ma Khi II ra phía nam Cánh Đồng Chum. Địch hy vọng chiếm được Cánh Đồng Chum - chìa khoá của nước Lào, chúng sẽ tạo được thế mạnh có lợi uy hiếp miền Bắc Việt Nam từ phía tây, buộc ta phải phân tán lực lượng đối phó, ngăn chặn quá trình chi viện của hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam và cách mạng Lào, nhất là sự phối hợp chiến đấu giữa chiến trường Việt Nam với chiến trường Lào. Sau khi xem xét cụ thể tình hình địch, ta trên chiến trường và kiến nghị của Đoàn 959, hai Quân ủy Lào và Việt Nam quyết định sử dụng các đơn vị vừa tham gia chiến dịch Tham La - Na Khang, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 335, 3 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ và 6 tiểu đoàn bộ binh của Quân khu Cánh Đồng Chum mở đợt tiến công tiêu diệt địch, khôi phục lại khu vực phía nam Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Sau 20 ngày đêm chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng hơn 10 tiểu đoàn địch, buộc quân ngụy Lào phải tháo chạy khỏi khu vực chúng vừa lấn chiếm. Trong đợt hoạt động này, Đoàn 463 được lệnh giúp bạn đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch, Đoàn đã phối hợp chặt chè với các lực lượng trung lập yêu nước Lào, Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào và đội du kích Mường Khun bám đánh địch ở Phu Khe, Bản Nhuôn, Bản Kinh, tiêu hao các BS103; BS210 và BV24 địch1 (BS, BV: Phiên hiệu đơn vị tương đương tiểu đoàn của ta).


Trong thời gian này, Trung đoàn 866 sử dụng Tiểu đoàn 924 luồn sâu vào Phum Tày, Phum Nưa. Rạng sáng ngày 15 tháng 4 năm 1969, Tiểu đoàn 924 và các đơn vị tăng cường (Đại đội bộ binh 24 và Đại đội hoả lực 67) nổ súng đánh chiếm trường đào tạo sĩ quan ngụy Lào ở Mường Chà. Trong trận này, ta diệt 35 tên địch, thu một số súng đạn và đồ dùng quân sự. Sau trận đánh, tiểu đoàn ở lại hơn một tháng giúp bạn củng cố các cơ sơ cách mạng ở Phum Tày, Phum Nưa (huyện Bô Li Khăm Xay). Các đơn vị còn lại của hai trung đoàn 866 và 766 hoạt động ở trung tâm Cánh Đồng Chum, chốt giữ các điểm cao ở Phu Keng, Bản Hoi, Bản Ang, bảo vệ các đường vận chuyển của ta xung quanh khu vực Cánh Đồng Chum.


Ở Bắc Lào, Trung đoàn 335 (thiếu 1 tiểu đoàn) sử dụng lực lượng nhỏ cùng các tiểu đoàn, đại đội địa phương của bạn tổ chức các đội công tác, các đội vũ trang tuyên truyền đi phát động nhân dân thu phục phỉ, truy quét lực lượng phản động ngầm hoạt động ở khu vực giáp ranh ba tỉnh Bắc Lào, triệt phá các hang ổ của bọn phỉ ở Nậm Miêng, Pa Mao, Khăm Ngừm; đồng thời giúp bạn tuyển quân, huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền cơ sơ. Cuối tháng 4 năm 1969, Trung đoàn 335 tổ chức 8 đội vũ trang xuống các địa phương giúp bạn. Riêng đại đội đặc công và đại đội hoả lực của trung đoàn tổ chức một số trận đánh vào các kho tàng, sân bay Luông Phra Băng, phá hủy hai kho đạn, một kho xăng và 4 máy bay T28 của địch.


Ở Nam Lào, sau khi thực hiện việc chia tách Đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Nam Lào thành hai lực lượng (chuyên gia quân sự 565 và quân tình nguyện 968), từ đầu năm 1969, ta tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giúp bạn đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, xây dựng cơ sơ cách mạng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân. Do Nam Lào có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng (phía đông của Nam Lào tựa lưng vào dãy Trường Sơn tiêp giáp các tỉnh thuộc Quân khu 4 và Quân khu 5 của Việt Nam), nơi có tuyến vận tải chiến lược của ta đi qua, nên sau khi ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ đã tập trung phần lớn bom đạn đánh phá tuyến vận chuyển; đồng thời mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm ra khu vực này hòng phá các kho tàng, cơ sở hậu cần của ta. Sự đánh phá điên cuồng của địch đã gây cho ta và bạn nhiều khó khăn, ở nhiều nơi, lực lượng của ta và bạn bị bật ra khỏi dân. Tình hình vận chuyển từ miền Bắc vào miền Nam cuối năm 1968, đầu năm 1969 đạt thấp, đã ảnh hương không nhỏ đến các kế hoạch tác chiến của ta trên các chiến trường.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 02:58:47 pm
Trước tình hình đó, cuối năm 1968 và đầu năm 1969, được sự ủy nhiệm của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Trần Quý Hai - Phó Tổng tham mưu trưởng vào Quân khu 4 cùng với Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động ở khu vực Nam Lào:

1- Giữ vững và mở rộng tuyến vận tải chiến lược, cùng lực lượng vũ trang bạn tiến công có trọng điểm bằng những phương thức thích hợp để tạo bàn đạp đưa lực lượng áp sát các căn cứ lớn, tạo điều kiện giải phóng một loạt vị trí dọc đường hành lang chiến lược Bắc - Nam. Đánh thông đường vận chuyển của ta từ Trung Lào vào nam đường 9 và phát triển sâu vào Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

2- Tích cực giúp bạn củng cố vùng giải phóng, chống lấn chiếm, ra sức tiễu phỉ, thu phục phỉ.

3- Đẩy mạnh xây dựng căn cứ kháng chiến của bạn ở Nam Lào, tiến lên giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven, tạo thời cơ để giành thắng lợi quyết định.


Thực hiện chủ trương của trên, mùa khô 1968-1969, các đoàn 565, 968 đã phối hợp với Quân khu Nam Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng thị trấn Tha Teng, thị xã Sa-ra-van, nhằm tạo bàn đạp tiến công giải phóng thị xã Pắk Xoòng, thị xã Át-ta-pư khi có thời cơ.


Ngay trong trận đánh đầu tiên, các đơn vị của Đoàn 968 đã nhanh chóng chiếm được Tha Teng, nhưng sau đó địch tập trung hoả lực phi pháo đánh phá dữ dội và cho bộ binh liên tục phản kích hòng chiếm lại vị trí quan trọng này. Để bảo tồn lực lượng, ta và bạn chuyển sang vây ép Tha Teng; đồng thời đẩy mạnh hoạt động đánh địch trên các hướng nam đường số 9 (khu vực Keng Koọc, Huội Mừn, Tùm Lan), bắc thị xã Át-ta-pư, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Quân khu Nam Lào, các đơn vị của Đoàn 565 tích cực bám địa bàn giúp bộ đội địa phương, dân quân du kích bạn tổ chức nhiều trận đánh sâu trong lòng địch đạt hiệu quả cao. Ngày 26 tháng 1 năm 1969, được sự phối hợp chặt chẽ của chuyên gia ta, du kích địa phương đã cùng các tiểu đoàn 11, 12 quân giải phóng nhân dân Lào đánh địch ở bản Xoọc Nhầy diệt 27 tên, làm bị thương 7 tên, bắt 3 tên; phá hủy 1 xe GMC, thu 25 súng các loại. Được sự giúp đỡ của chuyên gia ta, hai trung đội du kích Lầu Ngam và hai tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào cơ động đánh địch bảo vệ an toàn hành lang Noọng Bùa đi Bưng Xây. Du kích xã On, Mừn Thẹ, Keng Bốc liên tục bám đánh địch ở đồi 300, Sen vẳng, Huội San. Bộ đội địa phương Lào vây ép tiêu hao nhiều sinh lực địch ở Phù Xa Phong, Bô Đô Pha. Chuyên gia ta còn giúp bạn tổ chức phối hợp với lực lượng của Tiểu đoàn 2 (Đoàn 968) đánh một số trận ở ngoại vi Pắk Xoòng, cắt đương số 23, không cho địch cơ động từ Pắk Xoòng tới Tha Teng.


Nắm chắc tình hình địch, ta trên địa bàn chiến dịch, đầu tháng 3 năm 1969, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 565 và Đoàn 968 đề xuất thống nhất với bạn phương án tác chiến; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân khu 4. Thực hiện phương án tác chiến đã được Bộ tư lệnh Quân khu 4 thông qua và bạn nhất trí, Đoàn 968 sử dụng lực lượng chủ yếu phối hợp với các tiểu đoàn 11, 12 (bộ binh), 16 cao xạ, 19 pháo binh của quân giải phóng nhân dân Lào cơ động đánh địch trên đường số 23 Pắk Xế đi Pắk Xoòng, vùng địch hậu Pắk Xế, pháo kích thị xã Sa-ra-van. Chuyên gia quân sự giúp bạn đẩy mạnh hoạt động quân sự ở hai huyện Phu Vông, Na Khôn Pên, đưa lực lượng vào áp sát thị xã Pắk Xoòng, thị trấn Keng Koọc, thị trấn Lầu Ngam. Mục tiêu đặt ra của ta và bạn trên hướng này là chọc thủng tuyến Xê Đôn, giải phóng một nửa tỉnh Sa-ra-van, phát triển đánh địch ở Phà Lan, Đồng Hến, đẩy lùi lực lượng địch trên tuyến phòng ngự của chúng ở đường số 9 đến Xê Săng Xoi. Ở các khu vực Keng Nhao, Phù Luông, Phù Khi Mắc, ta sử dụng khoảng một tiểu đoàn phối hợp với bạn đánh địch; đồng thời sử dụng từng bộ phận của Tiểu đoàn 2 thay nhau kìm chế, vây ép Tha Teng và Phù Chuôm, sẵn sàng đánh chiếm cứ điểm Tha Teng khi có thời cơ.


Từ giữa tháng 3 đến đầu tháng 4 năm 1969, lực lượng ta và bạn trên các hướng liên tục chủ động tiến công địch và giành nhiều thắng lợi. Địch lâm vào thế bị động đối phó không còn đủ sức tiếp viện cho Tha Teng. Chớp thời cơ, rạng sáng ngày 3 tháng 4 năm 1969, các đơn vị ta và bạn chuyển từ vây ép sang tiến công căn cứ Tha Teng. Ta dùng 300 quả đạn ĐKZ, cối 120 bắn phá hoại cứ điểm A1, A2 tạo điều kiện cho xung kích dùng bộc phá liên tục phá sập các lô cốt, công sự ở vòng ngoài, sau đó dùng hoả lực bắn thẳng chi viện cho xung lực đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ. Trận này, ta diệt 30 tên, thu hơn 100 súng các loại. Sau khi làm chủ thị trấn, ta tiếp tục truy quét tàn quân địch tới sát Pắk Xế.


Trong gần 4 tháng đánh địch tại mặt trận Tha Teng, các đoàn 565, 968 đã phối hợp với quân dân Lào trên địa bàn tác chiến, loại khỏi chiến đấu 1.022 tên địch, bắn cháy 13 máy bay, phá hủy 32 xe quân sự, thu hàng trăm khẩu súng và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Giải phóng gần một vạn dân gồm 537 bản, mở rộng vùng giải phóng Nam Lào liên hoàn từ đông đường số 9 xuống tỉnh At-ta-pư. Tạo điều kiện uy hiếp địch trên các thị xã Pắk Xoòng, Sa-ra-van, At-ta-pư, góp phần bảo vệ, giữ vũng hành lang tuyến vận tải chiến lược của ta qua địa bàn Trung - Hạ Lào.


Sau những thất bại trong đợt hoạt động nống lấn ra khu vực Phu Khe - Xiêng Khoảng, để tăng cường lực lượng bảo vệ sào huyệt Sảm Thông - Loong Chẹng và thực hiện âm mưu lấn chiếm khu vực Cánh Đồng Chum. Đầu tháng 6 năm 1969, địch mở cuộc hành quân Xa Ma Khi III tiến công từ Mường Sủi ra Phu Luông, Phu Cút nhằm chiếm các điểm cao có giá trị chiến thuật đề phòng ta tiến công Sảm Thông - Loong Chẹng; đồng thời tiến công ra Phu Than Leng, Bản Tôn hỗ trợ cho hướng chính, sử dụng lực lượng phỉ ở Buôm Lọng lấn ra Phu Khiêu, Phu Ma Lao, Phu Sản, phối hợp với bọn phỉ ở Sen Chồ và không quản đánh phá đường số 7 nhằm phá chuẩn bị tiến công của ta.


Về phía ta, sau khi phối hợp chặt chẽ với bạn đập tan các cuộc hành quân Xa Ma Khi I, II, chuyên gia và các đơn vị quân tình nguyện ta hoạt động trên địa bàn Bắc Lào đã tích luỹ được một số kinh nghiệm đồi phó với kiểu “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ. Qua các trận đánh 6 tháng đầu năm 1969, phối hợp tác chiến giữa ta và bạn đã có những tiến bộ. Quá trình đánh địch lấn chiếm, ta và bạn đã khéo nghi binh đánh lạc hướng chú ý của địch; đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt để chuẩn bị tiến công Mường Sủi - một cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 02:59:44 pm
Thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương Việt Nam và Lào, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại ý chí lấn chiếm vùng giải phóng của chúng, giúp bạn Lào mở rộng vùng giải phóng nối liền Sầm Nưa với Xiêng Khoảng tạo thế uy hiếp sào huyệt địch ở Sảm Thông - Loong Chẹng, ngày 23 tháng 6 năm 1969 liên quân Việt - Lào mở chiến dịch Mường Sủi. Lực lượng địch tại khu vực Mường Sủi có 13 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 6 tiểu đoàn Vàng Pao, 3 cụm pháo binh, 3 đại đội xe tăng và một số lực lượng hỗn hợp Thái Lan), do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Khi tác chiến được không quân Mỹ chi viện mạnh.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn 316 (thiếu 1 trung đoàn), một số tiểu đoàn quân tình nguyện của hai đoàn 766 và 866, 3 tiểu đoàn đặc công của Bộ, 2 tiểu đoàn cối 120 ly, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ly, 2 đại đội xe tăng, 1 tiểu đoàn vận tải. Bạn Lào có 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn 12,7 ly, 1 đại đội 14,5 ly, 1 trung đội xe tăng và 1 đại đội cối do lực lượng nữ phụ trách.


Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy; phía bạn Lào có đồng chí Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum tham gia phối hợp chỉ đạo tác chiến. Do tầm quan trọng của chiến dịch, Đoàn 959 thành lập tổ công tác giúp cán bộ cơ quan bạn xây dựng các phương án hiệp đồng tác chiến với quân tình nguyện và bộ đội chủ lực Việt Nam tham gia chiến dịch. Phương án này sau đó đã được đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Tổng chỉ huy quân giải phóng nhân dân Lào thông qua tại sở chỉ huy dã chiến ở Phu Lênh (Khang Khay).


Phân tích tình hình địch ta trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chú trọng đến hệ thống công sự trận địa khá kiên cố và hoả lực chi viện mạnh của địch ở cứ điểm Mường Sủi, các đồng chí chuyên gia và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam với nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường Bắc Lào đã đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch vận dụng rộng rãi cách đánh đặc công, dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ diệt các mục tiêu quan trọng trong cứ điểm, tạo điều kiện cho bộ binh đánh địch ngoài công sự, kết hợp đánh điểm với diệt viện khi có thời cơ kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch vận và đấu tranh chính trị.


Sau các trận chiến đấu nhỏ nghi binh và tạo thế chiến dịch, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 6 năm 1969, trên các hướng, các đơn vị của ta và bạn đồng loạt nổ súng tiến công địch. Ở hướng chính, các mục tiêu quan trọng của địch ở Noọng Tâng, Phu Xô, Nậm Xoong lần lượt bị đặc công, bộ binh ta tiêu diệt. Sân bay Mường Sủi bị khống chế. Trong ngày 24 tháng 6, toàn bộ lực lượng địch ở Phu Xuông, điểm cao 1313 hoảng sợ bỏ chạy. Quân địch ở Bản Khai bị uy hiếp mạnh.


Trên hướng phối hợp (đường 7), ta đánh chiếm được các điểm cao gần ngã ba Sa La Phu Khun. Trong các ngày từ 28 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1969, ta tiếp tục truy quét tàn quân địch làm chủ khu vực Mường Sủi, phát triển chiến đấu về hướng Phu Viêng - ngã ba Sa La Phu Khun, tạo thế uy hiếp Sảm Thông - Long Chẹng. Kết thúc chiến dịch, liên quân Việt - Lào loại khỏi chiến đấu 897 tên địch, diệt và bắt gọn cơ quan chỉ huy của địch ở Mường Sủi, làm thiệt hại 5 trong số 9 tiểu đoàn của chúng. Phá hủy hầu hết các trận địa và tiêu diêt nhiều lực lượng pháo binh hỗn hợp Lào - Thái, khôi phục toàn bộ khu vực Phu Khe - Xiêng Khoảng - Căng Xẻng, giải phóng một địa bàn quan trọng với hơn 4.000 dân, nối liền vùng giải phóng hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng với 4 tỉnh Bắc Lào. Tạo thế uy hiếp Luông Phra Băng, Viêng Chăn.


Chiến dịch Mường Sủi thắng lợi đà góp phần quan trọng tạo điều kiện để quân dân Bắc Lào xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, củng cố vùng giải phóng; đồng thời tạo điều kiện phối hợp tốt với chiến trường miền Nam Việt Nam đợt hè năm 1969. Bộ chỉ huy chiến dịch phía Việt Nam đánh giá: “Đây là một chiến dịch hiệp đồng tác chiến giữa ta và bạn đã đạt kết quả tốt”1 (Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001, tr. 567). Đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon nêu rõ: "Mường Sủi là một hệ thống phòng ngự khá vững chắc, lại được pháo binh Thái Lan và Mỹ trực tiếp chi viện. Thế mà trong một thời gian ngắn lại đang giữa mùa mưa lũ, liên quân Việt - Lào đã nhanh chóng đập tan cụm phòng ngự của địch. Điều đó chứng tỏ khả năng hiện nay của ta có thể đánh bại “cuộc chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mỹ ở Lào”2 (Huỳnh Đắc Hương - Chung một chiến hào, tr. 99). Thắng lợi của chiến dịch Mường Sủi có phần đóng góp công sức không nhỏ của các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động trên địa bàn Bắc Lào.


Sau chiến dịch Mường Sủi, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào triệu tập Hội nghị quân sự tại Viêng Xay (Húa Phằn) để rút kinh nghiệm chiến đấu, công tác xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và bàn công tác huấn luyện quân sự, cách đánh của lực lượng vũ trang trong điều kiện mới. Hội nghị nêu rõ với sự giúp đỡ của chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam mùa khô 1968-1969, lực lượng dân quân du kích Lào đã phát triển được gần 3.000 người, trong đó phụ nữ tham gia ngày càng đông (1.076 người). Nhiều nơi nữ du kích bắn máy bay giỏi, bắn rơi cả máy bay phản lực như ở Xiêng Khoảng, miền Đông. Phong trào nhân dân tham gia phục vụ tiền tuyến rất sôi nôi. Trong sáu tháng đầu năm 1969 có 4.144 người tình nguyện đi dân công phục vụ hoả tuyến, 1.007 người trực tiếp cùng bộ đội chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng.


Ngày 17 tháng 7 năm 1969, hội nghị kết thúc, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Lào đến thăm và nói chuyện với các đại biểu dự hội nghị. Sau khi điểm qua những thắng lợi to lớn của quân dân Lào trong mấy năm qua và sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào từ sau hội nghị quân chính năm 1967 đến nay, đồng chí nhấn mạnh một số việc trước mắt của các lực lượng vũ trang:

1- Phải quán triệt tư tương tích cực chủ động tiến công áp sát địch mà đánh, lấy ít đánh nhiều, đánh chắc thắng, đánh địch phải đi đôi với bảo vệ dân.

2- Vận dụng thành thạo mọi cách đánh phù hợp với đặc điểm chiến trường và điều kiện của Lào.

3- Huấn luyện quân sự phải sát thực tế chiến trường và đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ chiến đấu.

4- Tích cực xây dựng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội chủ lực đảm bảo chiến đấu trước mắt và lâu dài.


Trong suốt thời gian chuẩn bị và những ngày diễn ra hội nghị, Đoàn 959 đã tập trung giúp bạn chuẩn bị mọi mặt cho hội nghị. Từ thực tế chiến trường, ta đã giúp bạn tổng kết rút ra những kết luận bổ ích về nguyên tắc xây dựng phát triển lực lượng, tổ chức huấn luyện, chiến đấu, góp phần để hội nghị toàn quân của bạn thành công tốt đẹp.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 03:00:41 pm
Sau hội nghị toàn quân, để giúp bạn triển khai các nhiệm vụ đã được Hội nghị toàn quân xác định, Đoàn 959 đã cử một số cán bộ cùng cán bộ ba cơ quan bạn xuống các quân khu và tỉnh đội giúp bạn mở các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ chỉ huy các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào. Cách làm trên của chuyên gia quân sự Việt Nam được Bộ chỉ huy tối cao và chỉ huy các đơn vị bạn rất ủng hộ, coi đó là phương pháp bồi dưỡng thiết thực có hiệu quả phù hợp với trình độ cán bộ của bạn và điều kiện chiến trường. Riêng chuyên gia giúp bạn ở các trường đã dựa vào nội dung của hội nghị quân sự toàn quân để biên soạn điều chỉnh một số nội dung giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của các lực lượng vũ trang ba thứ quân.


Trong thời gian này, tại Hà Nội, đoàn cán bộ đại diện Quân ủy Trung ương Việt Nam, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã hội đàm với đoàn cán bộ Quân ủy Trung ương Lào về phương hướng hoạt động của lực lượng vũ trang hai nước trong mùa khô 1969-1970 và những năm tiếp theo ở chiến trường Lào. Trên cơ sở nhận định âm mưu của Mỹ đối với chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là các thủ đoạn của chúng trong “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào, Hội nghị đã nhấn mạnh bốn vấn đề lớn về tác chiến cần thực hiện trong thời gian tới:

1. Kiên quyết truy quét phỉ làm trong sạch vùng giải phóng.

2. Tập trung lực lượng đánh địch lấn chiếm, giữ vững các địa bàn trọng điểm.

3. Đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch hậu buộc địch phải co về đối phó không để chúng rảnh tay tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân càn quét.

4. Tăng cường lực lượng bảo vệ tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, bảo đảm chi viện cho các chiến trường thông suốt trong mọi tình huống.


Để thực hiện các chủ trương trên, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ta giao nhiệm vụ tiếp tục giúp bạn đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng các đơn vị cơ sở vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đồng thời ra sức củng cố vùng giải phóng tạo thế liên hoàn bao vây cô lập các vùng địch tạm chiếm, tạo điều kiện và thời cơ tiến tới giải phóng nhiều vùng rộng lớn.


Sau cuộc hội đàm này, chấp hành chủ trương của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân khu 4 đã ra nghị quyết và Quyết định số 38/QKU thành lập Đảng bộ lực lượng tình nguyện của quân khu tại Nam Lào và chỉ định 5 đồng chí1 (Năm đồng chí gồm: Phạm Sinh - Phó Bí thư; các đồng chí Hoàng Biền Sơn, Đinh Dư, Nguyễn Hào, Trần Văn Cẩn là Đảng ủy viên) vào Đảng ủy Đoàn 968 thay cho ban cán sự đoàn trước đó. Thượng tá Hoàng Biền Sơn được cử giữ chức Tư lệnh Đoàn 968 thay đồng chí Hà Tuấn Khanh nhận nhiệm vụ mới.


Trong năm 1969, các đơn vị của Đoàn 968 hoạt động tại khu vực Nam Lào được bố trí: Tiểu đoàn 1 cùng Tiểu đoàn 609 (quân giải phóng nhân dân Lào) hoạt động ở Lầu Ngam, Tiểu đoàn 2 chốt giữ Tha Teng, Tiểu đoàn 3 vây địch ở Át-ta-pư, Tiểu đoàn 4 hoạt động dọc đường số 13, Tiểu đoàn 5 cùng Tiểu đoàn 18 (quân giải phóng nhân dân Lào) đánh địch ở bắc đường số 9. Tại chiến trường Bắc Lào, ta và bạn cũng có sự điều chỉnh lực lượng: các đơn vị của Quân khu Cánh Đồng Chum tập trung về Mường Khừng củng cố huấn luyện, lực lượng chủ lực Việt Nam rút ra biên giới để chấn chỉnh, bổ sung quân số do đã chiến đấu liên tục suốt mùa khô. Trên địa bàn Cánh Đồng Chum chỉ còn 3 tiểu đoàn của các đoàn 766; 866 và một số đơn vị bộ đội địa phương chốt giữ.


Lợi dụng mùa mưa và lực lượng ta đang rút ra củng cố, cuối tháng 7 năm 1969, Mỹ và ngụy Lào huy động 16 tiểu đoàn, 52 đại đội quân đặc biệt Vàng Pao cùng 5.000 quân Thái Lan, một số phân đội pháo binh, xe tăng được không quân Mỹ chi viện hoả lực mở cuộc hành quân “Cù Kiệt” tiến công vào địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Phối hợp ở Nam Lào, quân phái hữu huy động 5 tiểu đoàn đánh ra thị trấn Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt). Mở cuộc hành quân này, địch còn âm mưu uy hiếp miền Bắc Việt Nam, thu hút một bộ phận chủ lực ta, làm giảm sự chi viện của miền Bắc. Đây là cuộc hành quân lớn điển hình của “Học thuyết Ních-Xơn” ở Lào theo công thức quân ngụy cộng với hậu cần và hoả lực tối đa của không quân Mỹ1 (Trong chiến dịch này, đế quốc Mỹ đã sử dụng 120 đến 150 lần chiếc máy bay chiến thuật hoạt động trong một ngày. Lần đầu tiên, Mỹ dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá ở chiến trường Thượng Lào).


Ngay từ khi địch mới mở cuộc hành quân, Đoàn 959 đã cử một bộ phận chuyên gia đi cùng đoàn cán bộ ba cơ quan Tổng cục của bạn xuống tăng cường cho các đơn vị cơ sở. Toàn bộ chuyên gia của Quân khu Cánh Đồng Chum, Tỉnh đội Xiêng Khoảng và các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã sát cánh với các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào chiến đấu ngoan cường chặn địch, loại khỏi chiến đấu hơn 2.000 tên. Nhưng do lực lượng ta và địch quá chênh lệch, đến cuối tháng 8 năm 1969, sau khi tăng cường thêm lực lượng lên tổng cộng khoảng 40 tiểu đoàn, địch đã chiếm được toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi ra đến Bản Ban, Noọng Hét sát biên giới Việt Lào. Đi đôi với đánh phá vùng giải phóng của bạn, địch còn ra sức giành dân. Chúng dùng trực thăng chuyển 1.500 người đưa về tập trung ở gần bờ sông Mê Kông, làm cho nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng và nhiều nơi khác lo sợ bỏ trốn vào rừng, hoặc chạy lánh nạn sang vùng biên giới Việt - Lào.


Ngày 11 tháng 9, Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào ra tuyên bố về việc lực lượng phái hữu đưa quân đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẳng định: Đây là sự vi phạm nghiêm trọng hiệp định ba phái đã ký ở Đuy Rích về Cánh Đồng Chum; tố cáo những tội ác của quân phái hữu đối với nhân dân vùng giải phóng Lào; đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế đoàn kết với nhân dân các bộ tộc Lào chống âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ.


Ngày 12 tháng 9 năm 1969, Quân ủy Trung ương ta giao nhiệm vụ cho Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ chỉ huy quân giải phóng nhân dân Lào mở chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (còn gọi là chiến dịch 139 hay chiến dịch Toàn Thắng). Chiến dịch này do Quân khu Tây Bắc chỉ huy. Đồng chí Vũ Lập được chỉ định làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy. Phía bạn Lào có đồng chí Xi Phon - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum tham gia Bộ chỉ huy chiến dịch làm Phó tư lệnh về quân sự.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 03:02:35 pm
Trung tuần tháng 9 năm 1969, ngoài một số đơn vị đã có mặt ở Cánh Đồng Chum, các đơn vị chủ lực Việt Nam tham gia chiến dịch lần lượt hành quân vào chiến trường. Ngày 13 tháng 9 năm 1969, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ và chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thực hiện nhiệm vụ Quốc tế đối với bạn Lào.


Cuối tháng 9 năm 1969, tại Khe Trì (Kỳ Sơn - Nghệ An), Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức phổ biến tình hình nhiệm vụ cho các đơn vị. Để nắm chắc công tác hiệp đồng chiến đấu, Đoàn 959 cử cán bộ theo đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon và đồng chí Xi Phon - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum dự hội nghị. Bộ tư lệnh chiến dịch xác định nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch là:

1. Tiêu diệt đại bộ phận lực lượng đặc biệt Vàng Pao, khôi phục khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giải phóng Sảm Thông - Loong Chẹng.    

2. Giành lại dân, giúp bạn ổn định sinh hoạt, sản xuất và củng cố lực lượng vũ trang.

3. Xây dựng vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tạo thế và lực mới cho cách mạng Lào.


Phát biểu ý kiến tại hội nghị, đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tính chất phức tạp và quyết liệt của chiến dịch. Đồng chí căn dặn các đơn vị phải có kế hoạch bảo đảm vững chắc địa bàn sau giải phóng. Bảo đảm tốt công tác hậu cần trong điều kiện địch tập trung không quân đánh phá, làm tốt công tác địch vận và bảo vệ dân.


Trên cơ sở ý kiến đề xuất của đoàn chuyên gia và chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện ở Cánh Đồng Chum, ta và bạn thống nhất phương châm chỉ đạo tác chiến là:

1. Vận dụng rộng rãi các hình thức chiến thuật kết hợp chặt chẽ giữa bộ binh và các binh chủng, thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa tạo điều kiện đánh lớn, tiêu diệt từng cụm phòng ngự địch.

2. Kết hợp giữa đánh chính diện với thọc sâu, bao vây chia cắt về chiến dịch, lấy đánh địch ngoài công sự là chủ yếu.

3. Tích cực làm tốt công tác địch vận, nhất là với người H'Mông trong lực lượng đặc biệt của Vàng Pao, làm tốt công tác bảo vệ dân trên địa bàn tác chiến và vùng giải phóng.


Lực lượng địch tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có 23 tiểu đoàn (trong đó có 16 tiểu đoàn chủ lực), 52 đại đội độc lập, 20 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, 12 khẩu cối 106,7 ly, 10 xe tăng, khi chiến đấu được không quân chi viện khoảng 120 lần chiếc máy bay/ngày.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 2 sư đoàn bộ binh (312 và 316), 2 tiểu đoàn (7 và 924) của Trung đoàn 866, 1 trung đoàn pháo, 1 đại đội xe tăng, 12 đội đặc công, 4 tiểu đoàn công binh, 5 tiểu đoàn phòng không. Phía bạn Lào có 10 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội tự vệ cơ quan và 1 đai đội xe tăng.


Do lực lượng tham gia chiến dịch của ta và bạn tương đối đông, nhiều binh chủng, nên lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 đề nghị với Bộ tư lệnh chiến dịch yêu cầu các đơn vị chú trọng quán triệt công tác giáo dục bộ đội ta và bạn, xây dựng tinh thần đoàn kết hiệp đồng chiến đấu; đồng thời có kế hoạch hướng dẫn cụ thể giúp bạn sử dụng lực lượng tác chiến, sơ tán nhân dân, ổn định sinh hoạt, đảm bảo sản xuất.


Sau khi Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, theo chức năng, chuyên gia quân sự ta ở Trung ương và bộ phận chuyên gia ở Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng phân công nhau đến từng đơn vị giúp bạn khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch từ họp Đảng ủy, họp chi bộ, họp các ban chỉ huy quán triệt nhiệm vụ yêu cầu chiến dịch, tổ chức trinh sát nắm địch, xây dựng phương án tác chiến đến đảm bảo cơ sở vật chất, tổ chức giúp dân sơ tán v.v... Mặc dù lực lượng chuyên gia không nhiều, nhưng ta vẫn cử ra một bộ phận cùng bạn thu gom số dân chạy ra rừng, động viên bà con tương trợ giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, phòng tránh máy bay và bọn phỉ quấy phá. Để giải quyết chỗ ăn ở cho số dân chạy ra biên giới Việt Nam, đoàn chuyên gia ta đã xin ý kiến chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; đồng thời cử cán bộ trực tiếp liên hệ với các huyện ủy, Tỉnh ủy Nghệ An, Hà Tĩnh yêu cầu các địa phương giúp đỡ bạn nơi ăn ở. Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, nhân dân Mường Xén, Kỳ Sơn đã nhận giúp đỡ 1.600 cán bộ và nhân dân bạn chạy sang lánh nạn ở khu vực này. Sau khi lo cho bà con có nơi ăn chốn ở, đoàn chuyên gia tiếp tục cử người cùng chính quyền các địa phương làm kế hoạch bảo đảm an ninh biên giới, phòng chống địch trà trộn. Ngoài nhiệm vụ giúp bạn, chuyên gia và một số cán bộ quân tình nguyện đã chiến đấu lâu năm trên chiến trường Bắc Lào, thông thạo địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được cử dẫn đường giúp các đơn vị chủ lực của ta mới sang chiến đấu ở Cánh Đồng Chum đưa quân vào chiếm lĩnh các vị trí tập kết an toàn. Những công việc thầm lặng này đã góp phần tạo lên sức mạnh chiến đấu to lớn của liên quân Việt - Lào.

Ngày 25 tháng 10 năm 1969, chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bắt đầu. Trong đợt I (từ 25-1-1969 đến 10-2-1970), ta đánh địch ở Mương Khừng, Phu Phựng, Lạt Buộc, tập kích thị xã Xiêng Khoảng, Phu Chông Vông, Then Phun, Keo Hom, Sen Chồ và hàng loạt vị trí khác của địch ở Cánh Đồng Chum. Trong đợt chiến đấu này ta và bạn loại khỏi vòng chiến đấu 3.161 tên địch, diệt 2 tiểu đoàn (BV24, BV27), đánh thiệt hại 5 tiểu đoàn (BS209, BS206, BV21, 12 BI, SGU3) và hai đại đội (AC11, AC1a), buộc địch từ thế nống lấn phải co về phòng ngự bị động.


Vào đợt hai (từ ngày 11 đến ngày 25 tháng 2 năm 1970), ta lần lượt làm chủ các mục tiêu ở Phu Huột, Noọng Pẹt, Phu Then Neng, điểm cao 1505, U Bo, Nậm Ô, Kô Xi. Sau khi quét sạch địch ở khu vực từ Noọng Pẹt đến Phu Khiêu, ta tiếp tục đánh địch ở đèo Bưởi, Phu Mu Lao, Mô Phương, sau đó đánh chiếm toàn bộ khu trung tâm Cánh Đồng Chum. Trong đợt này, ta và bạn loại khỏi chiến đấu 1.300 tên địch, diệt 3 tiểu đoàn (BV20, BV24, BV27) mới bổ sung, đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn khôi phục toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi mở thông đường vận chuyển ra các hướng.


Phát huy thắng lợi vào đợt ba, đêm 26 rạng ngày 27 tháng 2, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 và đặc công của Bộ tập kích tiêu diệt các vị trí của địch ở Phu Pha Xạt, Phu Khi Mốt, sau đó phát triển về Mường Mốt, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm bản Na, Xăn Luông, sân bay Huội San, Hin Tặng, Thẩm Lửng, Hin Dặm, Sảm Thông, Buôm Lọng, Keo Bon, Phu Xa Bốt, Phu Hồng Xinh, Nậm Cheng.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 03:03:41 pm
Ngày 25 tháng 4 năm 1970, chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta và bạn tiêu diệt 5 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn, loại khỏi chiến đấu 6.668 tên địch, bắn rơi và phá hủy 117 máy bay, thu 597 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch, giải phóng một vùng rộng khoảng 6.000 km2 với hơn 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi, Sảm Thông, nam Căng Xẻng - Sen Chồ với Sầm Nưa và 4 tỉnh Bắc Lào.


Thắng lợi của chiến dịch phản công này, liên quân Việt - Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Cù Kiệt" - cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và tay sai trên chiến trường Lào. Đây là đòn giáng mạnh vào lực lượng đặc biệt - lực lượng nòng cốt chủ yếu của Mỹ ở Lào lúc bấy giờ, bước đầu đánh bại “Học thuyết Ních-Xơn” ở Lào, góp phần tạo nên chuyển biên mới về tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng Lào.


Trong suốt quá trình chiến dịch, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vừa giúp bạn tổ chức các trận đánh ở phía trước, vừa giúp bạn giải quyết tốt nhiệm vụ hiệp đồng bảo đảm chiến đấu và trực tiếp chiến đấu ở những nơi khó khăn phức tạp nhất. Tinh thần tận tụy, dũng cảm, đoàn kết nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình của chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam đã được đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon, thay mặt Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào khẳng định trong Hội nghị tổng kết của quân khu sau chiến dịch: “Sự hy sinh chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam là vô cùng to lớn... đâu cần chuyên gia có, đâu khó có chuyên gia... Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ mối tình ruột thịt Lào - Việt, ghi nhớ công ơn Bác Hồ”1 (Bài phát biểu của đồng chí Khăm-tày Xi-phan-đon trong hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đánh bại chiến dịch "Cù Kiệt" của địch đầu tháng 5-1970, lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam).


Phối hợp chặt chẽ với chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Bắc Lào), Trung đoàn 335 cùng chuyên gia và lực lượng bạn ở các tỉnh Sầm Nưa, Luông Phra Băng, Nậm Thà, U Đôm Xay, đẩy mạnh hoạt động truy quét phỉ làm trong sạch vùng giải phóng. Tháng 3 năm 1970, khi địch mở cuộc hành quân Xay-a-vông lấn chiếm Phu Sang Nam với ý định chiếm vùng này làm bàn đạp tiến công ra Nậm Bạc, Trung đoàn 335 đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào, đập tan cuộc hành quân của địch, tiêu diệt 130 tên, thu nhiều súng đạn. Ngoài ra, trung đoàn còn nhiều lần tập kích bằng đặc công và hoả lực vào sân bay Luông Phra Băng phá hủy và phá hỏng 6 máy bay T28 và L19, góp phần hạn chế hoạt động của không quân địch.


Ở Trung, Hạ Lào, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam cũng tích cực đẩy mạnh các hoạt động giúp bạn đánh địch giành nhiều thắng lợi. Khi địch tập trung quân đánh ra Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt) Đoàn 968 được tăng cường Tiểu đoàn 46 địa phương Quảng Bình được lệnh phối hợp với các đơn vị Quân khu Trung Lào mở đợt tấn công quân địch ở Mường Phin, phá thế liên hoàn của địch ở Xa Vẳn Na Khệt, chia cắt đường 9. Sau gần hai tháng chiến đấu phối hợp với quân dân Trung Lào, Đoàn 968 đã giải phóng thị trấn Mường Phin, hành lang Mường Phin - Na Kha Nô - Tăng Vai - Bun Xạng chạy dọc tỉnh lộ số 11, phía nam đường 9 với chiều dài khoảng 70 km. Phát huy thắng lợi, đầu năm 1970, ta và bạn tiếp tục tiến công căn cứ Tha Teng, truy kích địch đến giáp thị xã Xa Vẳn Na Khệt.


Để thực hiện nhiệm vụ tiến công giải phóng thị xã Át-ta-pư tiến tới giải phóng thị xã Sa-ra-van, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào, tháng 3 năm 1970, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam và Lào quyết định thành lập Mặt trận X (mật danh của chiến dịch giải phóng thị xã Át-ta-pư), do đại tá Hoàng Kiện - Phó tư lệnh Quân khu 4 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy mặt trận. Lực lượng thuộc Mặt trận X có 2 tiểu đoàn bộ binh (2 và 3), Đại đội S4 đặc công của Đoàn 968; Trung đoàn 24 Mặt trận B3 (Tây Nguyên - Việt Nam) sang phối thuộc và lực lượng vũ trang của bạn ở Hạ Lào. Các lực lượng còn lại của Đoàn 968 làm nhiệm vụ chốt giữ địa bàn, Tiểu đoàn 1 hoạt động ở khu vực Lầu Ngam (Sa-ra-van), các tiểu đoàn 4, 5 kìm giữ giam chân địch trên hướng đường số 9 (Xa Vẳn Na Khệt), ngăn chặn không cho địch từ Trung Lào xuống Hạ Lào; đồng thời chuẩn bị các mặt bảo đảm cho Đoàn 968 cùng bạn tiến công giải phóng thị xã Sa-ra-van khi có thời cơ.


3 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1970, Đại đội đặc công S4 và Trung đoàn 24 nổ súng tiến công thị xã Mường Mày (tỉnh Át-ta-pư). Đến 10 giờ ngày 29 tháng 4, ta hoàn toàn làm chủ thị xã, loại khỏi vòng chiến đấu 1 tiểu đoàn, 5 đại đội địch, diệt 200 tên, bắt hơn 700 tên, bắn rơi 2 trực thăng, thu hàng trăm súng các loại. Tàn quân địch phải co về căn cứ PS38 (In Thi), LS165 (Nậm Tiếng), Kông Hăng, dãy Phù Chuôm phía tây bắc thị xã.


Mặc dù bị tổn thất nặng trong các cuộc hành quân đánh phá ra vùng giải phóng, nhưng được Mỹ tăng cường viện trợ quân sự và huấn luyện, quân ngụy Lào vẫn có sự phát triển nhanh chóng về quân số và trang bị. Từ những toán biệt kích thổ phỉ, những đơn vị quân ngầm AC dưới sự huấn luyện của cố vấn Mỹ, quân ngụy Lào đã phát triển từ hơn 30 vạn tên đầu năm 1969, lên gần 60 vạn đầu năm 1970. Chúng tổ chức hơn 150 tiểu đoàn, trong đó 2 phần 3 là các tiểu đoàn đặc biệt. Để chỉ huy quân ngụy Lào, Mỹ đã thành lập một ban tác chiến nằm trong đại sứ quán Mỹ tại Lào để điều hành, về không quân chúng lập ra cơ quan USAID chỉ huy hai đại đội máy bay Air American và Air-con-ti-nent (khoảng 60 máy bay các loại) để hỗ trợ quân ngụy Lào trong các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Ngoài ra, Mỹ còn tiếp tục đưa hàng chục tiểu đoàn quân Thái Lan vào Lào, biến lực lượng này thành lực lượng chiến đấu nòng cốt của Mỹ tại chiến trường Lào. Ngày 6 tháng 3 năm 1970, tổng thống Mỹ Ních-Xơn tuyên bố về tình hình Lào, khẳng định Mỹ tiếp tục ủng hộ chính quyền Viêng Chăn. Đế quốc Mỹ hứa hợp tác đầy đủ, sẽ tiếp tục những cố gắng đàn áp, ngăn chặn phong trào cách mạng Lào bằng không quân. Được Mỹ tiếp tay, quân ngụy Lào tiếp tục mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của các lực lượng vũ trang yêu nước Lào; đồng thời Mỹ tiếp tục dùng không quân mở nhiều đợt đánh phá tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Tư, 2021, 03:04:34 pm
Kịp thời nắm bắt các âm mưu thủ đoạn chiến tranh mới của địch, ngày 7 tháng 5 năm 1970, Thường trực Quân ủy Trung ương ta họp ra nghị quyết xác định phương hướng giúp đỡ cách mạng Lào nhấn mạnh: Phải tiếp tục hoàn chỉnh thế trận liên hoàn vùng giải phóng Bắc Lào, mở rộng vùng giải phóng Trung, Hạ Lào xây dựng thành căn cứ địa vững chắc; đồng thời chuẩn bị tốt mọi mặt sẵn sàng đánh bại các âm mưu của địch tiến công ra hành lang vận chuyển chiến lược, bảo vệ vững chắc cơ sở vật chất kỹ thuật, kho tàng của ta ở khu vực này. Đi đôi với sẵn sàng chiến đấu đập tan các hành động tiến công của địch ra khu vực hành lang vận chuyển chiến lược phải đẩy mạnh mọi hoạt động nhằm giải phóng khu vực Sa-ra-van, tiến tới làm chủ hoàn toàn cao nguyên Bô-lô-ven. Đẩy mạnh hoạt động mọi mặt ra giáp sông Mê Kông với phương thức thích hợp nhằm mở rộng quyền làm chủ vùng nông thôn. Trên cơ sở xác định chiến trường Trung, Hạ Lào sắp tới sẽ là chiến trường trọng điểm, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Đoàn 968 phải nhanh chóng giải phóng thị xã Sa-ra-van, Noọng Bùa, Bản Khoọc.


Ngày 19 tháng 5 năm 1970, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Quân khu 4 thành lập Mặt trận Z (mật danh của chiến dịch giải phóng thị xã Sa-ra-van), do đồng chí Hoàng Biền Sơn - Đoàn trưởng 968 làm Tư lệnh. Các đơn vị trong Mặt trận Z có 4 tiểu đoàn bộ binh (1, 4, 5, 46), Đại đội S4 đặc công và các đơn vị binh chủng. Bạn Lào có Tiểu đoàn 12 chủ lực, bộ đội tỉnh Sa-ra-van và dân quân du kích địa phương.


Thị xã Sa-ra-van nằm ở trung tâm Nam Lào (thuộc vùng 4 chiến thuật của quân ngụy Lào) là nơi địch huấn luyện và tung lực lượng đặc biệt ra đánh phá vùng giải phóng, phá hoại hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta. Địch sử dụng 2 căn cứ Bản Khoọc (cách đông bắc thị xã 6 km) và Noọng Bùa (cách đông nam thị xã 12 km) làm hành lang bảo vệ vòng ngoài thị xã. Hai căn cứ này đều có sân bay dã chiến để cung cấp hậu cần và phương tiện chiến đấu. Xung quanh thị xã có những điểm cao rất lợi hại như Phù Cà Tê (1508), Phù Khống (976), Phù Pa Xúc, các điểm cao 351, 466, 405. Lực lượng địch trong thị xã Sa-ra-van có tiểu đoàn BV43, tiểu đoàn dù, một số đơn vị lính đặc biệt SDU. Trong hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 1970, chuyên gia Nam Lào, Ban cán sự Mặt trận Z và cán bộ chỉ huy các đơn vị Lào họp bàn thông qua quyết tâm giải phóng thị xã Sa-ra-van. Căn cứ vào tình hình bố phòng của địch, ý kiến đề xuất của đoàn chuyên gia và bạn Lào, ban cán sự Mặt trận Z quyết định phương châm tác chiến là: Kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch vận, lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính nhưng cũng coi trọng nhiệm vụ giữ đất giành dân. Thực hiện luồn sâu, đánh hiểm, đánh dứt điểm, đánh chắc thắng, đánh địch phải đi đôi với bảo vệ dân và giải phóng triệt để thị xã.


Thực hiện ý định đó, 2 giờ sáng ngày 9 tháng 6 năm 1970, Đại đội đặc công S4 và Tiểu đoàn 1 đánh các mục tiêu trong thị xã. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Địch bắn trả rất dữ dội nhưng do làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, quán triệt tinh thần chiến đấu cao trong các đơn vị và có phương án xử lý kịp thời, nên tất cả các hướng đều đánh chiếm được mục tiêu quy định. Rạng sáng ngày 9 tháng 6, ta hoàn toàn làm chủ sân bay và thị xã Sa-ra-van. Trong các ngày tiếp theo, ta tiếp tục tiêu diệt quân địch ở cứ điểm Bản Khoọc, Noọng Bùa, đập tan các đợt phản kích của địch hòng chiếm lại thị xã Sa-ra-van. Trong đợt chiến đấu từ ngày 9 đến ngày 25 tháng 6, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã cùng các đơn vị của Quân khu Nam Lào loại khỏi chiến đấu 657 tên ngụy Lào, gọi hàng 250 tên, bắn rơi 2 máy bay, thu và phá hủy hơn 700 súng các loại, 187 xe ô tô và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch. Giải phóng một khu vực rộng khoảng 3.600 km2 với 80 bản và trên 1 vạn dân.


Đánh giá thắng lợi ở Sa-ra-van, Quân ủy Trung ương ta khẳng định: “Lực lượng tình nguyện Mặt trận Z đã phối hợp cùng bạn đánh nhanh gọn, chiến thắng giòn giã, giải phóng hoàn toàn thị xã Sa-ra-van. Chiến thắng có giá trị về mặt chiến thuật và một phần về chiến dịch. Thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đó đã góp phần vào thắng lợi chung toàn cục trên chiến trường ba nước Đông Dương, đẩy Mỹ và tay sai vào thế bị động và lúng túng”1 (Lịch sử Sư đoàn bộ binh 968 (1968-2003). Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003, tr. 97). Đồng chí Khăm Chăn - Ủy viên Khu ủy Quân khu Nam Lào cho rằng: "Đây là một thắng lợi lịch sử có ý nghĩa trong nước và quốc tế tiêu diệt nhiều địch, thắng lợi cả chính trị và quân sự, giải phóng được vùng đất đai rộng lớn. Sau Át-ta-pư, giải phóng một thị xã thứ hai ở vùng chiến thuật 4 Lào mà thực dân đế quốc đã đô hộ hàng trăm năm nay".


Ghi nhận những chiến công của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Nam Lào, được sự ủy nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã long trọng trao Huân chương Quân công hạng nhì cho toàn mặt trận, Huân chương Chiến công hạng nhất cho Đại đội S4 đặc công, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1, các đại đội 9, 10 Tiểu đoàn 4 và tập thê trung đội súng máy cao xạ thuộc Đoàn 968 quân tình nguyện Việt Nam ở Nam Lào.


Cùng với hoạt động quân sự sôi động trên chiến trường, chuyên gia quân sự ta ở Lào còn phối hợp chặt chẽ với chuyên gia các ngành dân sự giúp bạn đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh chính trị, làm thất bại nhiều âm mưu thủ đoạn của địch đồng thời đưa ra các giải pháp chính trị kịp thời. Ngày 6 tháng 3 năm 1970, Trung ương bạn công bố 5 điểm để giải quyết vấn đề Lào và cử phái viên của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch mặt trận yêu nước vào Viêng Chăn trao công hàm 5 điểm cho Thủ tướng Phu-ma. Đây là một đòn tiến công chính trị kịp thời làm cho địch càng bị động.


Tháng 4 tháng 1970, sau khi hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương thống nhất cương lĩnh đấu tranh, chuyên gia ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn kịp thời soạn thảo các tài liệu giáo dục bộ đội nâng cao nhận thức chính trị, đoàn kết hiệp đồng chiến đấu chống các âm mưu xuyên tạc chia rẽ của kẻ thù. Hoạt động của các chuyên gia quân sự giúp bạn xây dựng lực lượng ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa gặp không ít khó khăn nguy hiểm. Có đội công tác, có đồng chí chuyên gia ta bị bọn phỉ phục kích bắt cóc sát hại. Sinh hoạt vật chất, tinh thần vô cùng thiếu thốn khó khăn. Nhưng vượt lên mọi gian khó, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta dù công tác giúp bạn ở các cơ quan Trung ương hay trong các đội tuyên truyền vũ trang ở cơ sở vẫn ngày đêm sát cánh cùng bạn kiên trì vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển các lực lượng vũ trang, tham gia sản xuất và chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, công tác tận tụy, hết lòng chăm lo giúp đỡ nhân dân bạn của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã khắc sâu trong tâm khảm cán bộ, chiến sĩ nhân dân các bộ tộc Lào.


Với tinh thần vượt khó và chiến đấu dũng cảm đó, trong năm 1969 và nửa đầu năm 1970, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Lào đã sát cánh chiến đấu cùng quân dân bạn vượt qua nhiều khó khăn thử thách. Mặc dù địch tăng cường hoả lực và bộ binh đánh phá hành lang chiến lược và vùng giải phóng, ta vẫn giúp bạn vừa giữ vững được địa bàn đứng chân, vừa mở các chiến dịch tiến công tiêu diệt quân địch ở Pa Thí- Na Khang, Mường Sủi, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sa-ra-van, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, củng cố thế trận, tạo điều kiện để quân dân Lào tiếp tục xây dựng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, góp phần đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 02:58:22 pm
II. CÙNG QUÂN DÂN LÀO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN, ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐÁNH BẠI "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT TĂNG CƯỜNG” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1970-1972)

Sau chiến thắng mùa khô 1969-1970 và trước những âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ ở Lào và các nước Đông Dương, ngày 25 tháng 6 năm 1970 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp nhận định: “Tình hình diễn biến rất phức tạp, quyết liệt, nhưng Mỹ ít có khả năng chuyển chiến tranh đặc biệt lên chiến tranh cục bộ ở Lào... nếu Mỹ có đưa quân Thái Lan vào thêm nữa thì cũng vẫn nằm trong phạm vi của “chiến tranh đặc biệt tăng cường”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, bản tiếng Việt lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tr. 212).


Phân tích tình hình địch, ta trên chiến trường, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào xác định nhiệm vụ trong hai năm tới của cách mạng Lào là:

1. Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đấu tranh bền bỉ lâu dài, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, bảo vệ phát huy thắng lợi đã giành được, phát huy thế chủ động tấn công địch về mọi mặt.

2. Ra sức củng cố vùng giải phóng, giữ thế liên hoàn, khi có thời cơ thì mở rộng vùng giải phóng ở những vùng chiến lược, những vùng đông dân.

3. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, làm cho lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh vững chắc.

4. Tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động.

5. Tích cực chuẩn bị về mọi mặt để chuyển hướng đấu tranh khi tình hình có sự chuyển biến mới.


Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân Lào cũng nhấn mạnh hướng Trung, Hạ Lào trong hai năm tới sẽ càng trở lên đặc biệt quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược 559 của Việt Nam.    


Để kịp thời giúp bạn triển khai các chủ trương mà nghị quyết Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề ra, ngày 15 tháng 7 năm 1970, Bộ Quốc phòng ta ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (trên cơ sở biên chế tổ chức của Đoàn 959 có bổ sung một số lực lượng) gọi tắt là Bộ tư lệnh 959, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Bộ tư lệnh 959 có quyền hạn tương đương Bộ tư lệnh Quân khu, có nhiệm vụ: Thống nhất lãnh đạo, chỉ huy, quản lý mọi lực lượng vũ trang và chuyên gia quân sự của ta ở khu vực trung tâm, bao gồm các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay. Làm chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ chỉ huy tối cao Lào. Các lực lượng thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của Bộ tư lệnh 959 gồm:

1. Các đơn vị bảo đảm và phục vụ của Đoàn 95 cũ, Trường Xuân Thanh, Khung huấn luyện tân binh cho bạn.

2. Các chuyên gia và chỉ huy quân tình nguyện ở các tỉnh thuộc khu trung tâm, phân đoàn chuyên gia Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

3. Sư đoàn 316, các đơn vị tình nguyện và các đơn vị binh chủng nguyên thuộc Quân khu Tây Bắc nhưng đã điều sang hoạt động ở Lào.

4. Các đơn vị binh chủng do Bộ điều sang phối thuộc cho Bộ chỉ huy Cánh Đồng Chum (gồm một số tiểu đoàn pháo binh cơ giới, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội xe tăng, 1 trung đội trinh sát kỹ thuật).


Riêng chuyên gia quân sự và quân tình nguyện ở Nam Lào theo kiến nghị của Bộ tư lệnh quân tình nguyện, ngày 29 tháng 7 năm 1970, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 119/QĐ chuyển giao lực lượng tình nguyện Nam Lào (Đoàn 968) trước đây do Bộ tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy nay thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Bộ tư lệnh 559. Đại tá Hoàng Kiện - Phó tư lệnh cùng đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó Chính ủy Đoàn 559 trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của quân tình nguyện vùng Hạ Lào. Bộ Quốc phòng tăng cường 50 cán bộ sang chỉ huy và chiến đấu ở Mặt trận Hạ Lào; đồng thời Bộ Tổng tham mưu điều Trung đoàn 9 thuộc Mặt trận Trị Thiên tăng cường cho Đoàn 968 đáp ứng tình hình mới ở Nam Lào.


Lợi dụng lúc ta điều chỉnh lực lượng, mùa khô năm 1970, quân ngụy Viên Chăn phối hợp với quân Thái Lan tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét các căn cứ du kích của ta ở vùng Xi Phăn Đon (nam Pắk Xế), mở cuộc hành quân “Kăn Nha Kiệt” đánh vào hành lang Tạt Ha, Mường Noọng, Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt); cuộc hành quân "Tha Nông Kiệt" với lực lượng 17 tiểu đoàn đánh vào Tha Thôm, Tha Viêng, hòng chiếm lại vùng Xiêng Khoảng, tạo thế lấn chiếm lại Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 3 quân Thái Lan được đưa vào cao nguyên Bô-lô-ven để hỗ trợ cho Sa-ra-van, nhưng các cuộc hành quân càn quét lấn chiếm của địch đều bị lực lượng bộ đội địa phương, du kích và chủ lực Lào ở từng khu vực kết hợp với quân tình nguyện Việt Nam ngăn chặn và đánh thiệt hại nặng. Ta diệt gần 4.500 tên địch, bắn rơi 30 máy bay; trong đó riêng khu vực nam Xiêng Khoảng, ta diệt hơn 3.000 tên địch, bắn rơi 24 máy bay. Địch phải bỏ dở các cuộc hành quân, không thực hiện được ý đồ đánh phá, lấn chiếm địa bàn để tạo thế cho hoạt động mùa khô 1970-1971.


Bị thất bại nặng ở chiến trường ba nước Đông Dương, bị nhân dân Mỹ và dư luận tiến bộ thế giới phản đối mạnh mẽ, ngày 7 tháng 10 năm 1970, tổng thống Mỹ Ních-Xơn buộc phải tuyên bố về kế hoạch lập lại hoà bình ở Đông Dương. Riêng đối với Lào tuy chưa muốn ngồi vào bàn đàm phán nhưng Ních-Xơn đã thúc đẩy Xu-va-na Phu-ma xúc tiến quan hệ với lực lượng yêu nước Lào. Những động thái này cho thấy thế và lực của Mỹ cùng bọn tay sai trên chiến trường Lào đã có những dấu hiệu sa sút.


Trước tình hình đó, ngày 30 tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971 xác định: "Phải nêu cao vai trò của ba thứ quân, phải phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, giữa hai vùng chiến lược (vùng giải phóng và vùng sau lưng địch)... Chủ động tiến công địch mạnh mẽ và liên tục, nhằm vào cả hai lực lượng chiến lược của địch, trước hết là nhằm vào lực lượng đặc biệt, đồng thời phải đánh thiệt hại nặng quân Thái Lan, đánh phá các cơ sở hậu cần, kỹ thuật của địch... Phải bảo vệ củng cố, xây dựng vững chắc vùng giải phóng đi đôi với việc đẩy mạnh hoạt động bằng các hình thức thích hợp ở vùng đối phương tạm kiểm soát... Chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Cam-pu-chia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào - bản tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tr. 213).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:00:50 pm
Để phù hợp với nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn cách mạng mới, đáp ứng yêu cầu tác chiến quy mô ngày càng lớn, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (tương đương trung đoàn) bố trí sẵn ở những khu vực quan trọng: Nam Lào 2 cụm, Cánh Đồng Chum 2 cụm, bốn tỉnh phía Bắc Lào 1 cụm. Theo yêu cầu của bạn, Bộ tư lệnh 959 đã cử chuyên gia giúp bạn tổ chức lực lượng, huấn luyện, hiệp đồng chiến đấu ở các cụm.


Trên cơ sở các nội dung hội đàm đã được hai Đảng nhất trí, đầu năm 1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta ra nghị quyết giúp cách mạng Lào về quân sự với 6 mục tiêu cụ thể, trong đó nhấn mạnh phải nắm vững hai khả năng phát triển của tình hình Lào. Vừa đánh lâu dài, vừa phải tích cực chuẩn bị lực lượng để đẩy mạnh hoạt động khi có thời cơ. Trong khi củng cố địa bàn Sầm Nưa - Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum để đảm bảo chiến đấu lâu dài, phải tập trung chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ trước mắt ở chiến trường trọng điểm Trung, Hạ Lào. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ tư lệnh quân tình nguyện được lệnh tách ra, trở lại hoạt động với tên gọi Đoàn chuyên gia Quân sự 959 như những năm trước nhưng nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị có một số thay đổi:

1. Đoàn 959 chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ chỉ huy tối cao, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy bộ phận chuyên gia ở Quân khu Cánh Đồng Chum, ở các đơn vị chủ lực và tỉnh đội bạn thuộc khu trung tâm.

2. Thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh quân tình nguyện của Mặt trận 31 (Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

3. Quân khu Tây Bắc phụ trách giúp 4 tỉnh ở Bắc Lào trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy cả chuyên gia và quân tình nguyện.

4. Quân khu 4 giúp bạn từ nam đường số 7 đến bắc đường số 12 trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy cả chuyên gia và quân tình nguyện ở Trung Lào.

5. Đoàn 559 phụ trách Bộ tư lệnh 968, Trung đoàn 29 quân tình nguyện giúp bạn từ nam đường số 12 đến cực nam Nam Lào.


Theo yêu cầu của bạn, Quân ủy Trung ương ta chủ trương tăng cường cán bộ cho các đoàn chuyên gia quân sự ở Lào, đáp ứng nhiệm vụ giúp bạn từ Trung ương đến các tỉnh, trong đó chú trọng tăng cường chuyên gia các tỉnh đội giúp bạn đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, công tác quân sự địa phương. Tổ chức một số đơn vị độc lập, kết hợp với các đội công tác cơ sở ở các vùng mới giải phóng, giúp bạn truy quét phỉ, phá các cơ sở ngầm của địch, xây dựng và củng cố vững chắc cơ sở cách mạng. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, lãnh đạo và chỉ huy một số đoàn chuyên gia cũng có sự thay đổi nhân sự:

1. Đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự 959 về nước nhận nhiệm vụ làm đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc. Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương - Chính ủy Mặt trận Cánh Đồng Chum thay đồng Vĩnh phụ trách Bí thư đoàn ủy và Trưởng đoàn 959 (giữa năm 1972 đồng chí Hương mới đến Sầm Nưa).

2. Đồng chí Lê Thanh thay đồng chí Trương Đình Toàn làm Trưởng bộ phận giúp Bộ Tổng Tham mưu bạn.

3. Đồng chí Phạm Nghiêm - Chính ủy Đoàn 766 về phụ trách chủ nhiệm chính trị giúp Tổng cục Chính trị bạn.

4. Đồng chí Lê Văn - Chính ủy Đoàn chuyên gia Quân khu Cánh Đồng Chum về cơ quan giúp dự thảo báo cáo một số vấn đề quân sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ II của Lào.

5. Đồng chí Vũ Ngân, phụ trách bộ phận chuyên gia địch hậu Viêng Chăn vế thay đồng chí Lê Văn ở Cánh Đồng Chum.


Ở Nam Lào sau khi Quân ủy Trung ương ta quyết định giao Đoàn 968 quân tình nguyện và Đoàn 565 chuyên gia quân sự về thuộc quyển lãnh đạo, chỉ huy của Đoàn 5591 (Trước đó, Đoàn 656 thuộc Bộ tư lệnh 559, Đoàn 968 thuộc quyền lãnh đạo chỉ huy của Quân khu 4. Đến tháng 10 năm 1970 cả hai Đoàn chuyển về đội hình Đoàn 559), đồng chí Hà Tuấn Khanh được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Đoàn 559 phụ trách khối chuyên gia giúp bạn (đồng chí Khanh vẫn kiêm chức Đoàn trưởng đoàn chuyên gia 565). Đồng chí Trần Quyết Thắng - Chính ủy Đoàn 565 kiêm chức Phó chính ủy Đoàn 559. Đồng chí Nguyễn Lệnh - Phó chính ủy Đoàn 968 được bổ nhiệm Phó chính ủy Đoàn 559 phụ trách Cục C giúp bạn. Đồng chí Nguyễn Ích - nguyên Trưởng phòng C giúp bạn nay giữ chức Cục phó Cục Chuyên gia. Các đồng chí Nguyễn Việt Kỳ và Ngô Huân vẫn giữ chức Đoàn phó và Phó chính ủy Đoàn 968 như trước.


Về tổ chức Đoàn 565, giữ nguyên các tổ chuyên gia giúp bạn ở Nam Lào. Riêng 11 huyện trên đường Trường Sơn do các binh trạm sư đoàn khu vực (gồm 470, 471, 472, 473) phụ trách. Ngoài nhiệm vụ chuyên gia giúp quân khu và các tỉnh Nam Lào, Đoàn 565 còn hình thành khung chuyên gia giúp bạn tổ chức hai cụm chủ lực ở đường 9 và Hạ Lào.


Sau hai năm thực hiện “Học thuyết Ních-Xơn” ở Đông Dương bên cạnh những thất bại, với nguồn viện trợ quân sự lớn1 (Dưới thời Ních-xơn, viện trợ quân sự hằng năm của Mỹ cho quân ngụy Lào khoảng 60 đến 70 triệu USD, thời Ních-xơn tăng lên 359 triệu USD trong tài khoá 1970-1971), Mỹ đã giúp bọn tay sai xây dựng được ở ba nước Đông Dương một đội quân đánh thuê có số lượng đông và trang bị mạnh hơn nhiều so với trước đây2 (Năm 1968, quân ngụy Lào có gần 30 vạn, năm 1970 tăng lên 60 vạn, đầu năm 1971 lên 63 vạn được tổ chức thành 183 tiểu đoàn, trong đó có 113 tiểu đoàn đặc biệt. Thành phần binh chủng kỹ thuật (gồm xe tăng, pháo binh, không quân, công binh) trong các đơn vị chiến đấu tăng 2,5 lần so với năm 1968). Để thực hiện ý đồ rút quân Mỹ về nước nhằm xoa dịu dư luận và phong trào chống chiến tranh đang bùng phát mạnh mẽ trong lòng nước Mỹ; đồng thời chứng tỏ khả năng chiến đấu của quân ngụy Sài Gòn, Lào và Cam-pu-chia trên chiến trường, hối thúc Quốc hội Mỹ chi thêm viện trợ quân sự cho ba nước Đông Dương, tổng thông Mỹ Ních-Xơn đã quyết định mở ba cuộc hành quân lớn đánh phá tuyến vận tải chiến lược của ta, trong đó cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất1 (Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất 55.000 quân, 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 pháo, 700 máy bay các loại).


Chọn khu vực đường 9 - Nam Lào để mở cuộc tiến công mùa khô 1970-1971, địch tính toán nơi đó tập trung nhiều kho tàng, dự trữ chiến lược của ta, là cuống họng của đường Hồ Chí Minh, nếu chiếm giữ được địa bàn chiến lược này, chúng chẳng những đe dọa miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào mà còn bịt được "con đường sống" của ta vào chiến trường miền Nam, tạo thêm thế mạnh trên chiến trường, nhằm ép ta nhân nhượng trong cuộc đàm phán ở Pa-ri. Đây là cuộc hành quân lớn nhất điển hình cho chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ kể từ năm 1969 đến thời điểm này.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:01:33 pm
Dự đoán đúng âm mưu của địch ở khu vực đường 9 - Nam Lào, ngay từ đầu mùa khô 1970 - 1971, khi địch ở Hạ Lào tăng quân từ 25 tiểu đoàn lên 44 tiểu đoàn bố trí phòng ngự thành các cụm cứ điểm mạnh ở Tha Teng, Pắk Xoòng, Bô-lô-ven, Bộ Tổng tham mưu ta đã chỉ thị cho đoàn chuyên gia và quân tình nguyện ở Hạ Lào tổ chức các lực lượng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với bạn nắm chắc tình hình địch; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động ở vùng sau lưng địch, phá hoạt động chuẩn bị chiến trường của chúng.


Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh 559, ngày 20 tháng 11 năm 1970, các đơn vị thuộc Đoàn 968 đã phối hợp với bạn mở đợt tiến công dãy điểm cao phía đông Bô-lô-ven, các điểm cao PS38, LS165 Phu Lẳng Kẹo. Sau 4 ngày tiến công, ta tiêu diệt và bắt hơn 200 tên, buộc tàn quân địch phải tháo chạy về Pắk Xế, Pắk Xoòng. Sau khi làm chủ 3 căn cứ phía đông Bô-lô-ven ngày 9 tháng 1 năm 1971, Bộ tư lệnh Đoàn 968 sử dụng Tiểu đoàn 1, Đại đội S4 đặc công và Tiểu đoàn 20 đặc công của Bộ tăng cường tiêu diệt căn cứ Huội Sài. Ngoài ra, chuyên gia và quân tình nguyện ở Nam Lào còn giúp bạn khẩn trương chuẩn bị chiến trường, tổ chức các lực lượng chiến đấu sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực Việt Nam, tiến hành sơ tán dân và kho tàng. Những hoạt động này đã góp phần tích cực tạo thêm sức mạnh để bộ đội ta bước vào cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù khi chúng mở cuộc hành quân lớn đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào.


Ngày 30 tháng 1 năm 1971, ngụy Sài Gòn huy động 42.000 quân (trong đó có 9.000 tên Mỹ), 464 xe tăng, xe bọc thép, 258 khẩu pháo và 300 máy bay các loại mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở phía tây đường số 9 sử dụng 2 binh đoàn cơ động (GM) đánh ra vùng Mường Noọng, Mường Phin. Mục tiêu đầu tiên của địch trong cuộc hành quân này là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ đường số 9 (đoạn Bản Đông - Sê Pôn), lập thành phòng tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương; thực hiện lùng sục đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sê Pôn (khe Vinh - Na Thôn). Từ phía tây nam đến đông bắc Mường Phin nối với cánh quân Lào từ phía tây đánh sang, tiếp đó chuyển xuống đánh phá kho tàng khu vực Sa đi - Mường Noọng đến A Túc, A Sầu, A Lưới.


Nhận rõ tầm quan trọng của chiến dịch này, Bộ Chính trị đã cử Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng vào chiến trường làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tại mặt trận. Ngày 4 tháng 2 năm 1971, ta thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.


Lực lượng tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng chiến đấu tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559, tổng số khoảng 60.000 quân chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Bạn Lào có một số đơn vị tham gia chiến đấu ở phía tây đường 9.


Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, chuyên gia quân sự và chỉ huy quân tình nguyện ở Nam Lào đã trao đổi đề xuất với Bộ chỉ huy tối cao bạn các kế hoạch, phương án phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực Việt Nam; đồng thời giúp các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào, lực lượng vũ trang các địa phương trên địa bàn chiến dịch tổ chức nhiều trận đánh có hiệu quả cao. Theo chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu ta, lực lượng ở hai mặt trận X và Z của Đoàn 968 trước đây chuyển về hoạt động tập trung mang phiên hiệu là Mặt trận Y do đồng chí Hoàng Kiện - Phó tư lệnh Đoàn 559 trực tiếp chỉ đạo hoạt động tác chiến. Các đồng chí Hoàng Biền Sơn, Phạm Thanh Sơn làm Phó tư lệnh, đồng chí Nguyễn Ngọc Sơn - Phó chính ủy. Đồng chí Tô Đình Khản - Phó tư lệnh Đoàn 968 cùng các tiểu đoàn 4, 5 (Đoàn 968) chuyển về đội hình Trung đoàn 9 tác chiến ở đường số 9. Như vậy, lực lượng Mặt trận Y (968) lúc này gồm Trung đoàn 9, các tiểu đoàn bộ binh 1, 2, 3, 46, Tiểu đoàn 20 đặc công và một số binh chủng trực thuộc khác làm nhiệm vụ chiến đấu trên hướng nam chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.


Cùng với Đoàn 968, Đoàn 565 tập trung giúp bạn huy động toàn bộ lực lượng của quân khu và tỉnh Xa Vẳn Na Khệt triển khai thế trận, bố trí sẵn lực lượng ở các khu vực được phân công theo phương án tác chiến chung của chiến dịch, chủ động đánh địch ngay từ đầu khi phối hợp với bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công quyết liệt vào các GM31, 33 của địch. Từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lực lượng chủ lực Việt Nam đã tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân chủ lực phía bắc đường số 9 của địch, diệt gọn những cụm cứ điểm then chốt ở các điểm cao 500, 543, đập tan cuộc phản kích lớn của lữ đoàn dù số 3 và trung đoàn thiết giáp số 17 của quân ngụy Sài Gòn, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ cùng ban tham mưu lữ đoàn, đánh thiệt hại nặng liên đoàn biệt động quân số 1.


Ở phía nam, ngày 7 tháng 3 năm 1971, Bộ tư lệnh Đoàn 968 sử dụng Tiểu đoàn 3 tiến công căn cứ LS165 (Nậm Tiếng), ở đông nam thị xã Pắk Xoòng, Tiểu đoàn 2 bao vây căn cứ PS38 (In Thi). Cuộc chiến đấu ở căn cứ Nậm Tiếng diễn ra quyết liệt từ 2 giờ sáng đến 17 giờ chiều ta mới làm chủ được căn cứ. Trận này, ta diệt được hơn 100 tên địch nhưng Tiểu đoàn 3 cũng thương vong gần 100 đồng chí. Sau khi căn cứ Nậm Tiếng bị mất, quân địch ở căn cứ In Thi hoang mang tìm đường tháo chạy, ta diệt và bắt được 50 tên, làm chủ căn cứ lúc 18 giờ ngày 8 tháng 3 năm 1971.


Trên hướng Trung đoàn 9, sáng 8 tháng 3 ta nổ súng đánh căn cứ PS22 (Nậm Lực) - một vị trí phòng ngự khá kiên cố của địch. Ngoài 7 lớp hàng rào xen kẽ mìn sát thương, địch còn bố trí nhiều trận địa bắn thẳng ngăn chặn ta tiến công từ xa. Mở đầu trận đánh, pháo binh Mặt trận Y chế áp mãnh liệt phá hoại nhiều công sự trận địa của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị của Trung đoàn 9 mở cửa đánh chiếm các vị trí bên trong căn cứ. Sau 2 ngày chiến đấu quyết liệt, 21 giờ 15 phút ngày 9 tháng 3 năm 1971, ta hoàn toàn làm chủ căn cứ, diệt 226 tên, bắt 18 tên, thu 200 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Trận đánh thắng lợi đã góp phần kìm giữ lực lượng địch ở phía nam tạo thuận lợi cho các trận đánh tiếp theo. Trong các ngày từ 12 đến 18 tháng 3, các đơn vị thuộc hai sư đoàn 324 và 2 tiếp tục bao vây tiêu diệt quân địch ở các điểm cao 723 (Phu Riệp), 660, 532, 540, 550.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:02:49 pm
Ở phía tây đường số 9, các tổ công tác của Đoàn 565 cùng các đại đội 91, 93 quân giải phóng nhân dân Lào và du kích chặn đánh tiêu diệt nhiều sinh lực của GM33 khi chúng từ Huội Mun, Tùm Lan tiến ra hỗ trợ cho cánh quân ngụy Sài Gòn đánh vào Mường Noọng. Một tổ chuyên gia khác cùng Tiểu đoàn 14 Quân khu Trung Lào tổ chức các trận phục kích GM31 ở khu vực Đồng Một, Huội Xa La, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và sở chỉ huy GM31 buộc chúng phải chạy về Xê Xăng Xoi. Ở Phu Tin Tốc, GM32 của địch đang triển khai đội hình chiến đấu thì bị hoả lực ĐKB của quân giải phóng nhân dân Lào tập kích mãnh liệt chúng bị thiệt hại nặng nên phải bỏ dở cuộc hành quân.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Cùng với các đơn vị bạn trong đội hình chiến dịch, các Đoàn 968, 565 đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của quân dân ta ở đường số 9 - Nam Lào.


Phát huy thắng lợi, đầu tháng 5 năm 1971, Bộ Tổng tham mưu ta lệnh cho Bộ tư lệnh Mặt trận Y tổ chức tiến công giải phóng Pắk Xoòng và một số vị trí quan trọng ở Bô-lô-ven. Từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 5 năm 1971, các đơn vị thuộc Mặt trận Y được tăng cường 1 trung đoàn của Sư đoàn 2 (Quân khu 5) liên tục tấn công quân địch ở Huội Sài, Tha Teng, Pắk Xoòng, Huội Coòng. Trong 5 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Y đã cùng quân dân Nam Lào diệt 1.274 tên địch, bắt 214 tên, gọi hàng 621 tên, thu gần 1.000 súng các loại, bắn rơi và phá hủy 7 máy bay, làm chủ cao nguyên Bô-lô-ven. Thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện: “Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ các binh chủng thuộc Mặt trận Y đã lập được chiến công vẻ vang trong đợt hoạt động này”1 (Điện của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng gửi Mặt trận Y tháng 5 năm 1971. Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Phối hợp chặt chẽ với quân dân Nam Lào, ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, chuyên gia ta ở cơ quan Trung ương cũng như Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng tập trung mọi cố gắng giúp bạn phối hợp với quân tình nguyện giữ vững các địa bàn quan trọng. Để giành thế chủ động trước nùia mưa, lực lượng của Quân khu Cánh Đồng Chum cùng các đơn vị của Sư đoàn 316, Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312), Trung đoàn 866 do Bộ tư lệnh 959 chỉ đạo mở chiến dịch 74b nhằm giải phóng Mường Sủi, Sảm Thông, Loong Chẹng.


Ngày 21 tháng 2 năm 1971, ta tiêu diệt căn cứ phỉ Sa Xi Phu ở tây Mường Hiểm, sau đó tiếp tục tiến công giải phóng Mường Sủi, Buôm Lọng, loại khỏi chiến đấu 2.800 tên, bắn rơi 9 máy bay. Địch tăng cường lực lượng phòng thủ Sảm Thông - Loong Chẹng lên 33 tiểu đoàn, trong đó có 9 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh Thái Lan. Do công tác đảm bảo chưa kịp và mùa mưa cũng đã đến, nên ngày 30 tháng 4 năm 1971, ta chủ động kết thúc chiến dịch, các đơn vị chỉ để lại một số tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự bảo vệ địa bàn còn đại bộ phận rút lực lượng ra củng cố.


Cùng thời gian này, ở Bắc Lào, Trung đoàn 335 cùng bộ đội du kích địa phương đập tan cuộc hành quân lấn chiếm của 16 tiểu đoàn địch ra vùng giải phóng, sau đó rút về thung lũng Nậm Bạc, củng cố, huấn luyện chuẩn bị lực lượng cho đợt hoạt động mùa khô 1971-1972. Còn ở Trung đoàn 866, sau khi đồng chí Đoàn Độ được điều động từ Sư đoàn 316 sang làm Chính ủy trung đoàn, đơn vị đã được bổ sung quân biên chế đủ 3 tiểu đoàn bộ binh (5, 7, 924) và các đại đội trực thuộc vừa luân phiên huấn luyện, vừa cùng các đơn vị bạn tổ chức phòng ngự ở các khu vực Phu Học, Noọng Pẹt, Nậm Xiêm, sau đó triển khai lực lượng chốt giữ khu vực Phu Keng, Phu Tâng, Noọng Tớ.


Mùa mưa năm 1971, lợi dụng lúc ta rút bớt lực lượng ra củng cố địch huy động 31 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh với 40 khẩu pháo lớn từ 105 - 155 ly, 2 tiểu đoàn công binh, 10 đại đội biệt kích, 1 đại đội máy bay T28 và không quân Mỹ chi viện mở cuộc hành quân lấn chiếm khu vực Cánh Đồng Chum. Do lực lượng ta và địch quá chênh lệch, địch lại sử dụng nhiều không quân, pháo binh chi viện đánh phá ác liệt các trận địa phòng ngự của ta, nên mặc dù các đơn vị quân tình nguyện và dân quân du kích Cánh Đồng Chum đã chiến đấu rất ngoan cường chặn địch, nhưng đến cuối mùa mưa quân địch đã lần lượt chiếm được tuyến Mường Sủi - Phu Keng - Phu Tâng bao gồm toàn bộ trung tâm Cánh Đồng Chum. Sau khi lấn chiếm được các vị trí trọng điểm ở Cánh Đồng Chum địch hình thành hai tuyến phòng ngự: Trung tâm và trung gian.


Tuyến phòng ngự trung tâm bao gồm vùng trung tâm Cánh Đồng Chum với các cụm Phu Keng, Na Hin, Bản Sát, Bản Ang (lực lượng 2 tiểu đoàn bộ binh Thái Lan, 7 tiểu đoàn Vàng Pao, 1 cụm pháo 7 khẩu). Cụm Phu Tôn, Phu Tâng có 7 tiểu đoàn lính Vàng Pao; 4 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn, 1 đại đội pháo binh Thái Lan.


Tuyến phòng ngự trung gian của địch sử dụng 2 tiểu đoàn phòng ngự khu vực điểm cao 1900, 1978, Sao Phan, Thẩm Lửng, Phu Pha Sang, Tom Tiêng. Ngoài ra, ở các khu vực Buôm Lọng, Na Su, Mường Nham, Mường sủi địch thường xuyên bố trí từ 1 đến 2 tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự, sẵn sàng cơ động lùng sục đánh phá vùng giải phóng của bạn.


Ở Nam Lào, sau khi chiếm lại các vị trí ở Sa-ra-van, Pắk Xoòng, địch nhanh chóng điều động lực lượng chiếm thị trấn Tha Teng, nhảy cóc ra Bản Phồn, lập tuyến phòng ngự liên hoàn Pắk Xoòng - Sa-ra-van - Tha Teng.    Cùng với việc huy động lực lượng đánh ra Cánh Đồng Chum, Nam Lào, Mỹ cố dàn xếp mâu thuẫn trong nội bộ của các phái ngụy Lào. Chúng tăng thêm quyền lực cho phái Nam Lào, giao vị trí chủ chốt trong bộ tổng tư lệnh quân ngụy Lào cho Bun Pon, Pha Xúc; đồng thời tăng cường lực lượng Thái Lan từ 19 lên 33 tiểu đoàn bộ binh; 3 tiểu đoàn pháo binh, dùng bọn này và quân đặc biệt Vàng Pao làm lực lượng xung kích đánh phá vùng giải phóng. Cùng với đẩy mạnh các hoạt động tiến công quân sự, Mỹ - ngụy tăng cường chiến tranh tâm lý, lôi kéo các phần tử phản bội đầu hàng ở một bộ phận nhỏ thuộc lực lượng quân giải phóng nhân dân Lào ở vùng Hạ Lào nhằm chia rẽ nội bộ quân đội bạn.


Trước tình hình đó, song song với việc giúp bạn triển khai các hoạt động đánh địch bảo vệ vùng giải phóng, Đoàn 959 cử một tổ công tác đi cùng đoàn cán bộ cao cấp của Quân ủy Trung ương bạn đến để giải quyết và khắc phục hậu quả, giúp Tổng cục Chính trị bạn có phương hướng lãnh đạo chung trong toàn quân.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:03:52 pm
Mùa khô 1971-1972, sau khi tích cực hoàn thành các công tác chuẩn bị, thực hiện chủ trương của hai Quân ủy, Bộ Quốc phòng ta và bạn quyết định mở chiến dịch tiến công tiêu diệt địch ở khu vực Cánh Đồng Chum - Loong Chẹng (mật danh là chiến dịch Z), nhằm đẩy địch về phía tây nam Nậm Ngừm, quét sạch bọn phỉ còn lại trong vùng giải phóng.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 2 sư đoàn bô binh 312 và 316, 2 trung đoàn quân tình nguyện 866 và 335, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn phòng không, 1 tiểu đoàn tăng thiết giáp (23 chiếc), 3 tiểu đoàn công binh. Bạn Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh; 3 đại đội địa phương; 1 đại đội pháo binh. Bộ tư lệnh chiến dịch do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy. Bộ Quốc phòng cử đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tống tham mưu trưởng đại diện Bộ Quốc phòng và Quân ủy Trung ương đi cùng trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.


Phương châm tác chiến của ta và bạn đề ra là: Đánh mạnh, đánh nhanh, nắm thời cơ đánh chắc thắng. Tiến công liên tục, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng là chính để tiêu diệt địch trong công sự, đồng thời coi trọng đánh địch ngoài công sự khi chúng tăng viện hoặc rút chạy. Kết hợp giữa tiến công giành đất với phòng giữ các địa bàn trọng điểm, vừa tác chiến, vừa tranh thủ củng cố lực lượng bảo đảm chiến đấu liên tục lâu dài.


Theo phương châm đó, để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, Đoàn 959 tập trung giúp ba Tổng cục bạn giải quyết vấn đề hậu cần cho Quân khu Cánh Đồng Chum; đồng thời cử một bộ phận cùng đoàn cán bộ cao cấp của Bộ chỉ huy tối cao Lào tăng cường cùng Đoàn 463 dồn sức giúp các đơn vị, địa phương của Lào thực hiện tốt mọi công tác chuẩn bị chiến dịch. Theo chỉ thị của Bộ chỉ huy tối cao Lào, bạn đã huy động toàn bộ lực lượng của quân khu kể cả các đơn vị trung lập yêu nước cùng quân dân tỉnh Xiêng Khoảng phối hợp với các lực lượng tình nguyện Việt Nam làm tốt công tác chuẩn bị chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị ta và bạn bước vào chiến đấu đúng kế hoạch.


Ngày 18 tháng 12 năm 1971, trên hướng chủ yếu, Sư đoàn 312 nổ súng tiến công các vị trí Phu Seo, Hủa Sang, phu Tâng, Phu Keng, các điểm cao 1241, 1210. Ngày 19 tháng 12, các đơn vị của Sư đoàn 312 làm chủ khu vực phu Tôn, Phu Tâng.


Cùng thời gian này, trên hướng bắc, Trung đoàn 174 tiến công Na Hin, Bản Sát, tiêu diệt phần lớn lực lượng GM21, GM23 của địch. Trung đoàn 335 (quân tình nguyện Việt Nam hoạt động ở chiến trường Bắc Lào được tăng cường cho Sư đoàn 316 trong chiến dịch này) nổ súng tiến công Phu Keng. Sau hai ngày đêm liên tục chiến đấu vây hãm địch, chiều ngày 20 tháng 12 năm 1971, trung đoàn làm chủ hoàn toàn khu vực Phu Keng, tiêu diệt 2 tiểu đoàn (BC606 và 608) quân Thái Lan, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Phối hợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào mở đợt tiến công đánh chiếm toàn bộ Mường Sủi, sau đó phát triển về hướng Phu Viêng, ngã ba Sa La Phu Khun.


Từ ngày 31 tháng 12 năm 1971 đến ngày 6 tháng 4 năm 1972, ta và bạn mở các cuộc tiến công xuống phía nam và tổ chức đánh địch phản kích. Trong chiến dịch này, liên quân Việt - Lào đã diệt hơn 7.000 tên địch (có 3.300 lính Thái Lan), bắt 1.137 tên, bắn rơi và phá hủy 143 máy bay các loại, thu 30 khẩu pháo, 106 súng cối và hàng nghìn súng bộ binh các loại. Hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải phóng Cánh Đồng Chum - một địa bàn chiến lược quan trọng và tuyến trung gian. Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra cục diện so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Lào, thu hút chủ lực địch tập trung ở Cánh Đồng Chum - Loong Chẹng, tạo điều kiện cho ta và bạn đẩy mạnh hoạt động trên các hướng khác, góp phần giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn.


Ở Nam Lào, sau khi địch chiếm các khu vực Pắk Xoòng Sa-ra-van, Tha Teng, cuối tháng 11 năm 1971, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Đoàn 559 điều Trung đoàn 141 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) tăng cường cho Hạ Lào phối hợp tác chiến với Mặt trận Y; đồng thời giao nhiệm vụ cho các lực lượng quân tình nguyện thuộc Mặt trận Y phối hợp với lực lượng bạn ở Hạ Lào thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

2. Kiên quyết bảo đảm và giữ vững tuyến chi viện chiến lược 559 cho chiến trường thông suốt thường xuyên.

3. Giải phóng và giữ vững những khu vực then chốt ở Hạ Lào.

4. Chuẩn bị tốt mọi mặt, giữ vững thắng lợi để tiếp tục phát triển thế tiến công.

5. Giúp bạn vừa tác chiến vừa xây dựng bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch hậu. Nếu tình hình phát triển, địch sợ bị tiêu diệt rút chạy, ta kiên quyết tập trung lực lượng giải phóng Pắk Xoòng và một bộ phận sẵn sàng tiến công về Không Xê Đôn, chặn không cho địch lấn chiếm ra Huội Coòng, Át-ta-pư. Thời gian từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 12 năm 1971 phải hoàn thành.


Phân tích tình hình địch, Bộ tư lệnh Mặt trận Y nhận định: Tại Sa-ra-van địch có 3 tiểu đoàn nhưng là những tiểu đoàn SDU, sức chiến đấu hạn chế khi tiến công dựa dẫm nhiều vào hoả lực phi pháo. Trên cơ sở nhận định về địch ta xây dựng quyết tâm chiến đấu với hai tình huổng chủ yếu:

1. Khi địch tan rã rút chạy, ta sẽ quét và ép không cho chúng tháo chạy. Phối hợp với bạn diệt quân địạ phương, diệt cơ sở nằm vùng của chúng, tiến lên tiêu diệt địch trong thị xã.

2. Nếu địch co cụm, ta dùng lực lượng bao vây tiêu diệt.


Bộ tư lệnh Đoàn 559 đồng ý với phương án của Bộ tư lệnh Mặt trận Y; đồng thời bổ sung thêm: "Nếu địch rút khỏi Sa-ra-van, ta dùng một bộ phận hoạt động ở Không Xê Đôn, tập trung lực lượng giải phóng Pắk Xoòng. Nếu địch tăng quân ở Sa-ra-van và có lực lượng lớn quanh Lầu Ngam, Tha Teng, ta vẫn tập trung giải quyết Sa-ra-van”1 (Lịch sử Sư đoàn bộ binh 968 (1968-2003), Sđd, tr. 118).


Về sử dụng lực lượng, Bộ tư lệnh Mặt trận Y quyết định: Tiểu đoàn 4 và 1 đại đội pháo của Trung đoàn 141 tiến công nam thị xã. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 141 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 46 bố trí trận địa đón lõng địch ở đông nam thị xã. Tiểu đoàn 20 tiễn công BV41 địch ở Na Đôn Khoang, Phôn Phai. Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 đón lõng địch ở hướng bắc, đông bắc và là lực lượng dự bị của trung đoàn. Các trận địa pháo binh nhận nhiệm vụ bắn phá các mục tiêu trong thị xã, kiềm chế sân bay và chi viện bộ binh trong quá trình phát triển tiến công.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:04:41 pm
Sáng 6 tháng 12, ta nổ súng tiến công Sa-ra-van. Bị vây ép từ nhiều hướng địch phải bở thị xã chạy ra vòng ngoài, sa vào trận địa đón lõng của ta, hơn 100 tên địch bị diệt, bị bắt. Số còn lại chạy trốn về hướng Mường Khảm Tha Teng. Sau khi làm chủ Sa-ra-van, đêm 19 tháng 1 Bộ tư lệnh Mặt trận Y sử dụng Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 9) Đại đội 3 Tiểu đoàn 46 tăng cường 3 xe tăng, 1 đại đội 12 ly 7 và một số phân đội ĐKZ tiến công Tha Teng. Ta diệt hơn 100 tên, chiếm được điểm cao 884, nhưng không làm chủ được hoàn toàn thị trấn. Địch tăng cường thêm 3 tiểu đoàn nhằm giải toả Tha Teng. Từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 12 Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 9, liên tục đánh địch phản kích xung quanh Tha Teng. Bị ta đánh thiệt hại nặng, ngày 20 tháng 12, địch phải rút khỏi Tha Teng.


Trên hướng Pắk Xoòng ngày 7 tháng 12, ta bắt đầu tiến công các điểm cao ngoại vi. Sau 5 ngày tiến công liên tục, ta loại khỏi chiến đấu 1.089 tên ngụy Lào và lính Thái Lan thu 396 súng các loại, bắn rơi 5 máy bay, phá 27 pháo, 6 ô tô quân sự. Địch buộc phải bỏ Pắk Xoòng và các căn cứ xung quanh. Trong đợt hoạt động này, tuy ta giành được các vị trí then chốt trên địa bàn Hạ Lào mà địch đã lấn chiếm được trong mùa mưa, nhưng hiệu suất chiến đấu của bộ đội ta chưa cao, công tác bảo đảm còn chậm, tăng, pháo còn bị địch đánh hỏng nhiều. Công tác vận động quần chúng ở một số nơi còn bị xem nhẹ... Những khuyết điểm trên đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ta kịp thời nhắc nhở: “cán bộ, chiến sĩ mặt trận phải phấn đấu tốt hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta”1 (Điện của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ta gửi Bộ tư lệnh Mặt trận Hạ Lào (15-1-1972), lưu tại Sư đoàn 968).


Cùng với các hoạt động quân sự giành nhiều thắng lợi trên chiến trường, một sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn đã đến với nhân dân các bộ tộc Lào. Ngày 3 tháng 2 năm 1972, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ hai đã khai mạc tại Sầm Nưa. Đại hội đánh giá những thành tựu của Đảng Nhân dân Lào giành được trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược những năm qua; đồng thời đề ra đường lối chủ trương, phương hướng lãnh đạo cách mạng tăng cường đoàn kết với nhân dân ba nước Đông Dương, phát triển môi quan hệ đặc biệt Việt - Lào, quyết tâm đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Tại Đại hội này, Đảng Nhân dân Lào đổi tên thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào.


Đảng ta đã cử một đoàn đại biêu do đồng chí Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đến dự Đại hội. Sau thời gian dự Đại hội, đồng chí Võ Nguyên giáp đã gặp gỡ trao đối với các đồng chí lãnh đạo các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về tình hình bộ đội ta ở Lào thời gian qua và nhiệm vụ trong thời gian tối. Đồng chí căn dặn cán bộ các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự tập trung mọi nỗ lực giúp bạn tốt hơn nữa, làm cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào ngày càng thêm keo sơn gắn bó.


Sau Đại hội, Thường vụ Bộ Chính trị bạn chủ trương tiến hành chỉnh huấn Đảng lần thứ ba, trong đó nhiệm vụ chỉnh huấn Đảng trong quân đội được Quân ủy Trung ương bạn xác định vào đầu mùa mưa năm 1972. Để kịp thời giúp bạn triển khai đợt chỉnh huấn Đảng trong các lực lượng vũ trang, chuyên gia cơ quan giúp Tổng cục Chính trị bạn đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tuyên truyền giáo dục của bạn biên soạn tài liệu, cụ thể hoá nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ II, đi sâu về mặt quân sự gắn với nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, nâng cao ý chí chiến đấu, đề cao trách nhiệm lãnh đạo của cán bộ chỉ huy các đơn vị, xây dựng quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Cùng với các tổ công tác của bạn, chuyên gia ta ở các đơn vị đã giúp bạn tổ chức cho cán bộ, đảng viên tham gia sinh hoạt đạt kết quả tốt. Sau đợt sinh hoạt chính trị này, trình độ giác ngộ cách mạng của cán bộ đảng viên được nâng cao, phong trào thi đua huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu lập công được phát động sôi nôi trong các đơn vị bạn.


Trong khi các đơn vị bạn tiến hành chỉnh huấn Đảng thì trên địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, địch ra sức nống lấn, giải toả để cải thiện hình thái bị uy hiếp ở Loong Chẹng, đẩy lực lượng ta ra xa. Mặt khác chúng khẩn trương điều lực lượng từ các quân khu khác đến tăng cường cho quân khu 2, thay cho các trung đoàn chủ lực đặc biệt Vàng Pao rút ra củng cố ở vùng giáp biên giới Thái Lan do bị thiệt hại nặng trong thời gian qua. Âm mưu của địch là tập trung lực lượng đánh chiếm Cánh Đồng Chum trong mùa mưa 1972 để tạo thế mạnh, làm cơ sở mặc cả với ta trên bàn đàm phán. Tính đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch đã tập trung ở quân khu 2 tới 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, hình thành 4 khu vực xung quanh Cánh Đồng Chum là: Sảm Thông - Loong Chẹng, Buôm Lọng, Tôm Tiêng - Pha Đông và Sa La Phu Khun.


Nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch và qua kinh nghiệm trong các mùa mưa trước ở chiến trường này, căn cứ vào đề xuất của Đoàn 959, đầu tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trung ương ta quyết định phối hợp với bạn tổ chức chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có hai trung đoàn 174, 148 (Sư đoàn 316), 2 trung đoàn bộ binh tình nguyện 866 và 335, 2 tiểu đoàn đặc công 41 và 27, Tiểu đoàn pháo binh 42, 4 tiểu đoàn phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng bạn có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo, 2 đại đội súng máy phòng không; 1 đại đội công binh; 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích.


Để thống nhất chỉ huy các lực lượng tham gia chiến dịch, Quân ủy Trung ương ta và bạn quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch (Mặt trận 31) gồm 6 đồng chí, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy. Bạn Lào có đồng chí Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó tư lệnh về quân sự.


Sau khi phân tích, đánh giá tình hình địch, ta, xác định 5 khu vực phòng ngự, trong đó Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tổ chức lực lượng thành hai bộ phận: Lực lượng phòng ngự tại chỗ và lực lượng cơ động chiến dịch.


Lực lượng phòng ngự tại chỗ xây dựng trận địa thành các chốt, cụm chốt để ngăn chặn địch tiến công gồm hai trung đoàn bộ binh (174 và 866), 1 đại đội xe tăng thiết giáp và toàn bộ pháo binh chiến dịch. Trong đó Trung đoàn 174 phòng ngự hướng chủ yếu (khu vực các điểm cao 1978, 1800, Thẩm Lửng, Hin Đăm, Phu Xiêng Luông, Phu Hủa Sang), Trung đoàn 866 phòng ngự hướng phối hợp (khu vực Phu Thông, Phu Keng, Bản Khổng).


Lực lượng cơ động chiến dịch đánh địch trên các hướng phòng ngự bị uy hiếp, xây dựng trận địa đứng chân: Trung đoàn 148 ở khu vực bắc Noọng Tai, Trung đoàn 335 ở nam Phu Keng. Ngoài hai thành phần chủ yếu trên, các đơn vị binh chủng, các đơn vị của bạn được bố trí xen kẽ ở các khu vực phòng ngự để hỗ trợ hiệp đồng chi viện cho bộ binh đánh địch bảo vệ địa bàn. Đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, các đơn vị phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đánh địch theo nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:05:54 pm
Để đảm bảo cơ động lực lượng chiến đấu trên toàn địa bàn trong mọi tình huống, Bộ tư lệnh mặt trận giao cho các tiểu đoàn công binh đảm nhiệm thi công các đường vận động của cơ giới và tổ chức bảo vệ những đoạn xung yếu. Các trung đoàn bộ binh tự đảm nhiệm đường cơ động của mình theo các phương án tác chiến, tổ chức những tuyến đường bí mật đế triển khai lực lượng. Hàng chục kilômét đường cơ động, hào giao thông đã được các đơn vị hoàn thành trong một thời gian ngắn. Chỉ tính riêng Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) đã làm được hai đường cơ động dài tổng cộng hơn 40 km với hơn 80 chiếc cầu nhỏ bắc qua các khe suối bảo đảm cơ động cho hướng nam. Trung đoàn 866 làm được hơn 20 km đường cơ động, 10 km hào giao thông; đồng thời bắc xong một cầu treo qua sông Nậm Khô. Trung đoàn 335 làm được hơn 500 chiếc hầm trú ẩn, gần 30 km hào giao thông và đường cơ động. Những khối lượng công việc to lớn đó nếu không có phương pháp tổ chức tốt và tinh thần lao động quên mình thì trong điều kiện bình thường cũng khó có thể hoàn thành. Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt và mùa mưa đã bắt đầu, muốn hoàn thành tốt khối lượng công việc đồ sộ đó đòi hỏi các đơn vị ta phải nỗ lực rất lớn, giúp bạn đưa ra những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, kịp thời và hiệu quả. Qua đề xuất của các đoàn 959, 463 ở Cánh Đồng Chum, bạn đã huy động một lực lượng lớn dân quân du kích và nhân dân địa phương đảm bảo được phần lớn tre, gỗ, tôn đưa đến các đơn vị; đồng thời giúp hàng nghìn ngày công, cùng bộ đội xây dựng công sự trận địa đảm bảo đúng thời gian và chất lượng. Đây là những yếu tố vô cùng quan trọng để bộ đội ta cùng bạn trụ vững và đánh thắng.


Với sự giúp đỡ tích cực của các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch phòng ngự đã cơ bản hoàn thành. Tuy còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng với quyết tâm cao, cán bộ chiến sĩ trên toàn mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng tin tưởng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt địch bảo vệ được địa bàn chiến lược quan trọng này.


Do yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu, ngày 14 tháng 5 năm 1972, Bộ tư lệnh Mặt trận 31 ra quyết định (số 364) tổ chức lại lực lượng của Sư đoàn 316. Theo đó, hai trung đoàn 174 và 148 đặt dưới sự chỉ huy chung của Mặt trận 31 và được biên chế thêm mỗi trung đoàn 1 đại đội cối 120 của Tiểu đoàn 11 (cũ). Giải thể các cơ quan sư đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc của Sư đoàn 316 để sáp nhập vào cơ quan và các đơn vị mặt trận. Bộ tư lệnh Sư đoàn 316 giải thể tham gia Bộ tư lệnh Mặt trận 31. Đồng chí Nguyễn Lê Hoàn được cử giữ chức Phó tư lệnh, đồng chí Lê Vũ Nguyên giữ chức Phó chính ủy mặt trận. Đồng chí Lê Sơn, Phó sư đoàn trưởng được bổ nhiệm làm Phó tham mưu trưởng mặt trận.


Trong lúc ta đang điều chỉnh tổ chức lại lực lượng theo phương hướng mới thì địch mở một loạt các cuộc tiến công thăm dò chiếm lại một số địa bàn đã mất ở các khu vực Phu Mộc, Sa La Phu Khun, Phu Viêng; các điểm cao 1863, 1804. Ngày 21 tháng 5, địch dùng không quân đánh phá dữ dội các điểm trọng yếu ở khu trung gian và các trục đường vào Cánh Đồng Chum sau đó chúng mở cuộc tiến công vào khu trung gian bằng hai cánh quân: Cánh thứ nhất trên hướng tây nam gồm 5 tiểu đoàn Thái Lan, 1 tiểu đoàn ngụy Lào, sau đó tăng cường thêm GM31, hình thành hai mũi tiến công các điểm cao 1800, 1978; đồng thời cho một mũi luồn ra Hin Đăm, Thẩm Lửng. Trên hướng nam, cánh quân thứ hai của địch gồm GM10b, GM30, 4 tiểu đoàn ngụy Lào, 1 tiểu đoàn Thái Lan dựa vào căn cứ Tôm Tiêng và bàn đạp ở điểm cao 1863 hình thành hai mũi đánh vào sườn phía nam Phu Pha Sang, điểm cao 2063.


Dự kiến sát các tình huống, liên quân Lào - Việt vừa kiên quyết đánh trả bảo vệ trận địa vừa cơ động lực lượng đánh địch trên các hướng, gây cho chúng nhiều tổn thất.


Ở hướng tây nam, các đại đội thuộc Trung đoàn 174 dựa vào công sự trận địa tích cực ngăn chặn, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, nhưng đến ngày 27 tháng 5 năm 1972, địch đã chiếm được một số điểm tựa ở khu vực phía tây như các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Mặt trận 31 quyết định sử dụng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 vào chiến đấu phối hợp với Trung đoàn 174 tổ chức phản kích địch trên hướng Phu Pha Xay, đánh chiếm lại các điểm cao đã mất ở cụm 1800. Ngày 6 tháng 6, ta đánh tan hai tiểu đoàn đặc biệt và một bộ phận của GM30, diệt khoảng 200 tên ở nam Phu Pha Xay, đẩy cánh quân ở hướng đông nam lùi về Tôm Tiêng. Những ngày sau đó, Tiểu đoàn 6 chuyển sang hướng tây nam phối hợp với Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 tổ chức phản kích khôi phục lại trận địa phòng ngự ở khu vực điểm cao 1800. Đêm 3 tháng 7, ta đánh tan 4 tiểu đoàn ngụy Lào, 2 tiểu đoàn Thái Lan ở Thẩm Lửng, Hin Đăm khôi phục lại toàn bộ trận địa phòng ngự ở đây.


Cùng thời gian này, ta và bạn đẩy lui nhiều đợt tiến cóng của địch vào Mường Sủi. Lực lượng đặc công, pháo binh tổ chức một số trận tập kích vào sân bay, kho tàng, sở chỉ huy quân Vàng Pao ở Loong Chẹng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Kết thúc đợt một chiến dịch, các đơn vị ta đã đánh thiệt hại một số tiểu đoàn địch giữ vững được tuyến phòng ngự trung gian, tạo điều kiện tốt để các đơn vị bước vào đợt hai chiến dịch.


Nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ huy thống nhất các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ngày 20 tháng 7 năm 1972, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 131/QĐ-QP hợp nhất Sư đoàn 316 vào lực lượng của Bộ tư lệnh 31 để thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mang phiên hiệu Bộ tư lệnh Mặt trận 316, quyền hạn tương đương cấp quân khu. Nhiệm vụ được xác định cụ thể là:

1. Lãnh đạo, chỉ huy quản lý các đơn vị thuộc quyền và các đơn vị phối thuộc thực hiện nhiệm vụ chiến dịch, chiến đấu mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ta giao cho Mặt trận 316.

2. Cùng chuyên gia quân sự của ta bàn bạc với Bộ chỉ huy Quân khu Cánh Đồng Chum và Ban chỉ huy Tỉnh đội Xiêng Khoảng của bạn về kế hoạch phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang của ta và bạn ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

3. Chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền phối hợp với chuyên gia quân sự và chuyên gia các ngành khác, giúp bạn xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, củng cố và xây dựng các căn cứ địa ở khu vực mình hoạt động. Quân số của Bộ tư lệnh Mặt trận 316 trong hai năm 1972-1973 là 13.500 người.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:08:16 pm
Sau các đợt tiến công vào khu vực trung gian không thành công, ngày 11 tháng 8, địch dùng 4 binh đoàn (GM) ồ ạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum từ ba hướng đông nam, tây và đông bắc, trong đó hướng tây là chủ yếu. Phân tích tình hình địch, Bộ tư lệnh chiến dịch nêu quyết tâm giữ vững khu vực phòng ngự trung tâm phía trước, ngăn chặn giữ vững các điểm tựa phòng ngự ở phía tây và nam Cánh Đồng Chum; đồng thời tập trung lực lượng phản kích địch trên hướng tiến công chủ yếu.


Thực hiện quyết tâm đó, Đoàn chuyên gia quân sự Cánh Đồng Chum phối hợp với bạn tổ chức các tổ công tác bám sát các trận địa, kịp thời giúp bạn triển khai tốt các kế hoạch hiệp đồng với các đơn vị chủ lực của ta; đồng thời động viên bộ đội ngoan cường chiến đấu đánh lui các đợt phản kích của địch giữ vững trận địa. Ở hướng nam, sau khi đánh bại các đợt tiến công của địch, ngày 21 tháng 8 năm 1972, Trung đoàn 148 đã chuyển sang phản kích tiêu diệt quân dịch ở Phu Luông và bao vây diệt một bộ phận GM23 ở Phu Hủa Sang, ở hướng tây, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 866) chiến đấu giành giật quyết liệt với địch ở khu vực Phu Thông. Ngày 23 tháng 8, Trung đoàn 866 đưa lực lượng dự bị (Tiểu đoàn 8) vào phản kích đánh bật quân địch ra khỏi khu vực đồi 5 mỏm, điểm cao 1294.


Trên hướng đông bắc, từ ngày 15 tháng 8 năm 1972, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 866), Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 335) phối hợp chiến đấu chặt chẽ với các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào đẩy lui các đợt tiến công của địch vào khu vực Bản Lao, Phu Học, diệt 600 tên, buộc địch phải lui về Mương Noi (nam Buôm Lọng).


Sau các hoạt động nghi binh thu hút lực lượng ta, trong hai ngày 21 và 22 tháng 8, địch dùng trực thăng cơ động GM21 và GM26 đổ xuống đông bắc Phu Keng, hòng bất ngờ tập trung lực lượng từ hướng tây bắc thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở trung tâm Cánh Đồng Chum. Phát hiện quân địch ở Phu Keng là lực lượng trực tiếp uy hiếp khu vực phòng ngự chủ yếu trung tâm Cánh Đồng Chum, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng lực lượng ngăn chặn địch trên các hướng; đồng thời tập trung lực lượng đánh trận then chốt chiến dịch tiêu diệt quân địch ở Phu Keng. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 335 nhận lệnh nhanh chóng đánh chiếm bàn đạp Phu Sản, tạo thế để các đơn vị tham gia trận phản đột kích Phu Keng vào vị trí chiến đấu. Đúng thời gian quy định, Trung đoàn 335 (thiếu Tiểu đoàn 1) tiến công trên hướng chủ yếu đã triển khai xong lực lượng từ đông nam Phu sản đánh vào Khang Mường, điểm cao 1202. Hai tiểu đoàn bạn Lào được tăng cường 4 xe tăng triển khai tiến công trên hướng phối hợp từ đông bắc đánh xuống bắc Phu Keng, 1 đại đội của Trung đoàn 866 và hai đại đội bạn Lào bao vây đón lõng, bố trí triển khai ở tây sông Nậm Ngừm.


Ngày 30 tháng 8, trên các hướng, ta đồng loạt nổ súng đánh vào Phu Keng. Trước sức tiến công mãnh liệt của quân ta, đội hình quân địch nhanh chóng bị chia cắt, chỉ huy bị rối loạn, một số tháo chạy, một số co cụm chờ trực thăng đến cứu. Lực lượng địch rút chạy về Nậm Ngừm rơi vào trận địa đón lõng của ta, một số bị tiêu diệt, bọn sống sót phải co cụm ở Bản Xang. Nắm thời cơ, từ ngày 31 tháng 8, ta liên tục tổ chức tiến công truy kích. Ngày 3 tháng 9 năm 1972, trận phản đột kích vào Phu Keng kết thúc thắng lợi ta diệt 679 tên, bắt 43 tên, thu nhiều vũ khí. Trên các hướng khác, ta tiếp tục ngăn chặn địch tiến công giữ vững địa bàn phòng ngự.


Bị thất bại trên hướng chính tây bắc, từ ngày 11 tháng 9, địch tăng cường lực lượng, lấy hướng tây làm hướng chủ yếu tiến công từ ngoài vào: GM30 triển khai ở các điểm cao 1411, 1294, Bản Kiểng. GM22 triển khai chiếm lĩnh các điểm cao 1244, 1276, Bản Thang. Tiểu đoàn 619 Thái Lan chiếm Bản Thông. GM21 và GM26 triển khai ở Nậm Pít. Âm mưu của địch là tập trung đánh chiếm đồi 5 mỏm, Phu Keng để phối hợp với cánh nam tiến công cánh đồng Căng Xẻng.


Ở hướng đông bắc, GM24 và GM27 chuyển sang tiến công Phu Lạt nhằm phát triển xuống Lạt Buộc, Phu Leng; đồng thời địch đô bộ tiểu đoàn biệt kích xuống Ta Li Noi, nhằm đánh phá quấy rối hậu phương ta. Phân tích tình hình địch, ta, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 148) và Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 866) đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu từ hướng bắc vào Bản Thang, diệt GM22. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 148) đảm nhiệm hướng tiến công phối hợp từ hướng đông vào Bản Khổng diệt GM24. Do địch đánh phá ác liệt, yêu cầu công tác chuẩn bị khẩn trương, chuyên gia quân sự đã cùng cán bộ chỉ huy các đơn vị kịp thời tổ chức mọi mặt công tác chuẩn bị, xây dựng quyết tâm chiến đấu, cơ động lực lượng vào các vị trí triển khai xuất phát tiến công đúng thời gian.


Trong hai ngày 17 và 18 tháng 9 năm 1972, liên tục diễn ra các trận đánh ác liệt ở khu vực điểm cao 1276, 1244, 1294, Bản Thang. Có mỏm đồi ta và địch giành đi giật lại đến 4, 5 lần. Trong chiến đấu giằng co, ác liệt không phải không có lúc một số cán bộ, chiến sĩ ta và bạn có biểu hiện ngại hy sinh ác liệt. Phát hiện kịp thời các vướng mắc nảy sinh trong tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, chuyên gia quân sự ta đã kịp thời đến từng chiến hào cùng chỉ huy các đơn vị động viên bộ đội, giữ vững quyết tâm chiến đấu. Ngày 20 tháng 9, nhận thấy quân địch đã tăng viện, bộ đội các đơn vị tham gia tiến công một số đã bị thương vong, sức chiến đấu giảm, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tạm ngừng tiến công để tiếp tục làm công tác chuẩn bị; đồng thời điều Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 335) và 1 trung đội xe tăng vào thay quân cho Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 148) rút ra củng cố.


Ngày 26 tháng 9, ta tiếp tục nổ súng tiến công địch, từ hướng chủ yếu đông bắc, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 335) và Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 866) đánh chiếm được Phu Thông, các điểm cao 1286, 1244, Bản Thang, ở hướng nam, Trung đoàn 148 chiếm lại được Bản Khổng, sau đó cả hai lực lượng phối hợp đánh địch rút chạy co cụm về Nậm Pít. Ngày 29 tháng 9 năm 1972, trận phản đột kích kêt thúc, ta loại khỏi chiến đấu 400 tên địch, bắn rơi 3 máy bay. Trong thời gian diễn ra trận phản đột kích, ở hướng nam, Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 148 phòng ngư ngăn chặn nhiều đợt tiến công của địch vào trận địa buộc chúng phải co về Khang Kho. Trên hướng đông bắc, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 866) phối hợp với bạn tổ chức tiến công GM24, GM27, tiêu hao một bộ phận địch buộc chúng phải rút chạy về Bản Lao và Phu Lạt Tây. Ở hướng đông công binh và các lực lượng bảo vệ sở chỉ huy thực hiện các trận đánh nhỏ, tiêu hao tiểu đoàn biệt kích ở Ta Li Noi, buộc chúng phải tháo chạy.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:09:03 pm
Bước sang tháng 10 tháng 1972, thời tiết bắt đầu chuyên dần sang mùa khô, cũng là lúc quân địch tập trung 60 tiểu đoàn hòng đánh chiếm phần phía nam Cánh Đồng Chum, hòng tạo thế cho cuộc đàm phán vào ngày 15 tháng 10 năm 1972.


Từ ngày 3 tháng 10 năm 1972, địch bắt đầu triển khai đội hình tiến công đánh chiếm khu vực Phu Huột. GM30 chiếm một phần điểm cao 1172, Bản Xưa. GM21 từ điểm cao 1243 tiến công Cha Ho, sau đó phát triển lên Phu Tâng, Keo Khoang. GM26 cùng 2 tiểu đoàn quân Thái Lan chiếm Nậm Cọ, Khang Kho, uy hiếp sườn đông Phu Hủa Sang. Trước âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng một lực lượng thích hợp để ngăn chặn bẻ gãy các mũi tiến công của địch, tạo thế và thời cơ thuận lợi để tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định, tiêu diệt lực lượng quan trọng của địch, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của chúng vào Cánh Đồng Chum.


 Ngày 8 tháng 10, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 335 tập kích đánh địch ỏ Bản Xưa, điểm cao 1172, sau đó dựa vào các chôt ngán chặn địch tiến công vào Phu Xeng Luông, Phu Huột. Ngày 9 tháng 10, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 được tăng cường 1 đại đội của Trung đoàn 866 và 7 xe tăng thiết giáp, được pháo binh chi viện tiến công làm chủ Bản Ngua, tiếp đó chuyển sang đánh địch ở các điểm cao 1228, 1239. Ngày 14 tháng 10, ta tập trung lực lượng tiêu diệt GM23 địch ở khu trung gian phía nam Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn 924 (Trung đoàn 866) được tăng cường xe tăng đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu từ hướng tây bắc vào các điểm cao 1228, 1229. Trung đoàn 148 từ hướng đông nam đánh vào Bản Xưa, điểm cao 1236, Phu Huột. Trung đoàn 335 đánh chiếm khu vực Cha Ho, điểm cao 1243.


Sau một ngày chiến đấu, lực lượng ta trên các hướng đã làm chủ được các điểm cao 1228, 1239, 1236, 1172, Bản Xưa, diệt một bộ phận quan trọng sở chỉ huy GM23 địch ở Phu Huột. Lực lượng tiến công Cha Ho phát triển tiến công đánh địch ở điểm cao 1.243, nhưng bị địch ngăn chặn phải chuyển sang bao vây đánh nhỏ lẻ. Từ ngày 21 đến 25 tháng 10, địch tăng cường thêm 2 tiểu đoàn Thái Lan lên Nậm Cọ - Khang Kho, sau đó chúng tập trung hoả lực bắn phá với mật độ cao và cho quân đánh chiếm lại các điểm cao 1172, 1236, 1239, Bản Xưa.


Được Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung lực lượng đánh trận then chốt vào cụm quân địch từ nam bản Quay đến bắc Khang Kho. Ngày 26 tháng 10, được sự chi viện trực tiếp của 2 cụm pháo binh chiến dịch trên các hướng, bộ đội ta đồng loạt tiến công vào đội hình quân địch: Trung đoàn 148 đảm nhiệm hướng chủ yếu từ Phu Seo đánh vào các điểm cao 1236, 1172, Bản Xưa, Na Van, cắt đường rút chạy của địch về Phu Huột. Trung đoàn 335 và Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 88) từ Phu Hủa Sang đánh vào Cha Ho, Bản Phồn, điểm cao 1388, chia cắt không cho địch chạy vế Nậm Cọ - Khang Kho. Bị tiến công trên tất cả các hướng, đội hình quân địch rối loạn, không chi viện được cho nhau, phải bỏ mục tiêu rút chạy bị ta tiêu diệt hơn 1.300 tên, chỉ có một số phân tán luồn rừng trôn thoát về Nậm Cọ - Khang Kho. Từ ngày 2 đến 5 tháng 11, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 148), Trung đoàn 335 (thiếu), Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 88) cùng lực lượng đặc công tiếp tục bao vây, tiến công tiêu diệt 1 tiểu đoàn lính Thái Lan và GM26 ở Phu Tu Ngua, Phu Vai, Nậm Cọ, Khang Kho. Quân địch bị thiệt hại nặng phải rút chạy về Tôm Tiêng, Pha Khao, ta làm chủ hoàn toàn khu vực trung gian nam Cánh Đồng Chum.


Ngày 15 tháng 11 năm 1972, chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc thắng lợi. Trong chiến dịch này ta và bạn đã đánh 224 trận, loại khỏi chiến đấu 5.759 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn Thái Lan, tiêu hao sinh lực 5GM khác của địch, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thắng lợi, bạn Lào giữ vững được thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng căn cứ địa cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi để các chiến trường khác đánh địch. Đây cũng là lần đầu tiên ta và bạn tổ chức chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, đánh bại các cuộc hành quân dài ngày quy mô lớn của địch vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Góp phần tích cực vào thắng lợi chung của chiến dịch, các Đoàn 959, 463 chuyên gia quân sự và các lực lượng quân tình nguyện đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, đoàn kết hiệp đồng cùng quân dân bạn làm cho liên minh chiến đấu, mối quan hệ gắn bó giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội Việt - Lào chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược ngày càng thêm keo sơn gắn bó.


Phối hợp chặt chẽ với chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum, ở Hạ Lào bước vào mùa mưa năm 1972 Đoàn 565 và Đoàn 968 đã cùng các lực lượng bạn đập tan cuộc hành quân "sư tử đen" của quân phái hữu Viêng Chăn vào khu vực Không Xê Đôn, đường số 23, Pắk Xoòng, Sa-ra-van, Tha Teng, Bô-lô-ven, loại khỏi chiến đấu nhiều đơn vị của các GM32, GM41, GM42, bảo vệ vùng giải phóng và tuyến vận tải chiến lược 559.


Bước vào mùa khô 1972-1973, địch tăng cường quân ở Hạ Lào lên 35 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 trung đoàn và 11 tiểu đoàn quân Thái Lan, trong đó bố trí lực lượng chủ yếu ở Pắk Xế (4 trung đoàn lính Vàng Pao, 3 trung đoàn quân phái hữu Viêng Chăn, 1 trung đoàn quân Thái Lan), lực lượng còn lại bố trí ở Không Xê Đôn. Chúng tích cực phòng thủ trên cả hai hướng Pắk Xế, Không Xê Đôn; đồng thời mở một số cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng và phá vận chuyển chiến lược của ta trên tuyến 559.


Theo dõi các diễn biến về địch, Trung ương ta và bạn nhận định: Địch có thể giành lại Pắk Xoòng, Sa-ra-van và At-ta-pư nhằm thu hút lực lượng ta ỏ chiến trường miền Nam hoặc ngăn chặn ta phát triển vào Pắk Xế, Không Xê Đôn, làm suy yếu lực lượng cách mạng Lào để giành thế có lợi trước khi có giải pháp chính trị. Bộ chỉ thị cho các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự phối hợp chặt chẽ với bạn chuẩn bị đầy đủ và tích cực cho cả hai tình huống chiến lược, tạo thế có lợi cho bạn khi tình hình Lào đi vào giải pháp chính trị. Về kế hoạch tác chiến, Bộ chỉ rõ: “Nếu xét thấy chưa đủ sức tiêu diệt Pắk Xế trước thì tập trung lực lượng nhanh chóng tiêu diệt Không Xê Đôn, bao vây tiêu hao kìm chế địch ở Pắk Xế. Phải kiên quyết tiêu diệt địch giải phóng cho được Keng Koọc, La Hả Nặm vì đây là yêu cầu tha thiết của bạn. Mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành trước ngày 15 tháng 10 năm 1972”1 (Lịch sử Sư đoàn 968 (1968-2003), Sđd, tr. 139).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:10:23 pm
Thực hiện chủ trương của Trung ương, Bộ tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 9 hoạt động trên đường 9, tập trung lực lượng đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm thị trấn Đồng Hến của địch; sẵn sàng lực lượng đánh chiếm Keng Koọc, Bun Xạng, La Hả Nặm, giữ vững đường số 9 chủ yếu là khu vực Đồng Hến - Pha Lan. Đoàn 968 sử dụng lực lượng chủ yếu bao vây đánh địch ở Pắk Xế; đồng thời sẵn sàng lực lượng nếu địch rút chạy thì nhanh chóng đánh chiếm Pắk Xế, giải quyết các mục tiêu ở Sa-ra-van, Tha Teng, Pắk Xoòng, Huội Koòng. Về phương châm tác chiến, Bộ tư lệnh 559 xác đinh: lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính, chủ động tiến công liên tục, táo bạo, bí mật, bất ngờ. Tiến công dũng cảm chốt giữ kiên cường, có cách đánh phù hợp với từng đối tượng, từng mục tiêu, phát huy sức mạnh của bộ binh và sức mạnh của binh khí kỹ thuật.


Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, trung tuần tháng 10 năm 1972, Bộ tư lệnh Đoàn 968 giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị:

1. Trung đoàn 39 (trừ Tiểu đoàn 8 ) cùng với Trung đoàn 19 (thiếu Tiểu đoàn 6 ) có pháo cơ giới, cao xạ 37 ly, xe tăng chi viện tiến công giải phóng và giữ vững Không Xê Đôn. Trong đó, Trung đoàn 19 thọc sâu vào trung tâm Không Xê Đôn, diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của ĐT4 địch và trận địa pháo, Không Xê Đôn và đánh bồi từ trong ra.

2. Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 39) đánh chiếm bản Hìn Xìu tây nam Không Xê Đôn 3 km và chặn địch từ Không Xê Đôn chạy xuống hướng nam. Bao vây Phù Không, có điều kiện thì tiến công chiếm chốt Phù Khống. Khi giải phóng xong, Trung đoàn 39 chốt giữ thị xã, Trung đoàn 19 đánh giải toả, có điều kiện thuận lợi thì đánh ép xuống Xu Va Na Khi Ri, Khốc Kông.

3. Trung đoàn 9 phối hợp với xe tăng tiến công vào ngã ba Lầu Ngam, tiêu diệt tiểu đoàn 621 Thái Lan, sở chỉ huy trung đoàn 401 ngụy và trận địa pháo quân Thái. Tiêu hao kiềm chê GM43 ở đông bắc Phù Chiêng, dùng một bộ phận lực lượng luồn sâu đánh vào quân khu bộ địch ở Pắk Xế.


Để tạo không khí thi đua giết giặc lập công trong toàn đơn vị, Bộ tư lệnh Đoàn 968 đã mở đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nghị quyết về tình thế mới, thời cơ lớn của Quân ủy Trung ương ta và bạn. Ngoài việc tổ chức quán triệt tốt nghị quyết, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao ở các đơn vị trong Đoàn, các tổ công tác chính trị của Đoàn 968 còn phối hợp với các tổ chuyên gia của Đoàn 565 xuống các đơn vị của bạn Lào cùng lãnh đạo, chỉ huy các cấp triển khai sinh hoạt bằng mọi biện pháp, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ tình thế mới, thời cơ lớn để từ đó nỗ lực chuẩn bị chiến đấu, tranh thủ thời gian, khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn làm tốt công tác chuẩn bị chiến trường để bước vào chiến đấu giành thắng lợi lớn. Thông suốt chủ trương quyết tâm chiến đấu của trên, bộ đội tranh thủ từng giờ, từng phút lao vào làm tốt mọi công tác chuẩn bị. Có đơn vị ban ngày chuẩn bị cơ sở vật chất, huấn luyện bổ sung, ban đêm tranh thủ học tập chính trị, tổ chức luồn sâu trinh sát nắm địch, đợt sinh hoạt chính trị kết thúc cũng là lúc mọi công tác chuẩn bị chiến trường của ta và bạn đã căn bản hoàn thành.


Sáng 18 tháng 10 năm 1972, Trung đoàn 9 nổ súng tiến công ngã ba Lầu Ngam. Tiểu đoàn 1 (thiếu Đại đội 3) phối hợp với Tiểu đoàn 2 tiến công tiểu đoàn 621 quân Thái Lan tại km 20 đường số 23. Tiểu đoàn 3 (thiếu) phối hợp với đại đội đặc công trung đoàn tiến công sở chỉ huy 401 và trận địa pháo quân Thái Lan tại km 16 đường số 23 cách Pắk Xế 10 km về phía đông. Trong ngày 18 tháng 10, tiểu đoàn 621 quân Thái Lan bị ta đánh thiệt hại hơn nửa quân số bị tiêu diệt, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng.


Trên hướng chủ yếu, sáng ngày 20 tháng 10, các tiểu đoàn 4, 5 (Trung đoàn 19) đánh vào trung tâm Không Xê Đôn. Trung đoàn 39 (thiếu Tiểu đoàn 8 ) tiến công lữ 22 ở Cút Ta Bèng, Cút Nậm Ly, Na Ka Đao, Phù Khống. Tiểu đoàn 8 diệt địch ở Hìn Xìu. Đến 7 giờ sáng ngày 20 tháng 10, các đơn vị làm chủ Không Xê Đôn và bản Hìn Xìu, địch rút chạy về Na Pông, Na Ka Thiêm. Ta vừa truy quét tàn quân địch, vừa đánh địch giải toả ở nam Hìn Xìu và ngã ba Không Nọi. Chiều ngày 25 tháng 10, Trung đoàn 19 được pháo binh chi viện tổ chức trận vận động tiến công bản Không Nọi, địch bị thiệt hại nặng phải rút về hướng Huội Xược. Sáng 28 tháng 10 Trung đoàn 39 làm chủ hoàn toàn Phù Khống.   


Ở hướng Sa-ra-van, 8 giờ sáng ngày 19 tháng 10, địch dùng trực thăng đổ bộ GM41 xuống tây nam thị xã Sa La Van. Ngày 20 tháng 10, chúng đổ bộ tiếp GM42. Ta sử dụng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 19 chiến đấu ngăn chặn không cho địch vào thị xã. Trong các ngày từ 20 đến 26 tháng 10, nhiều trận đánh đã diễn ra gay go ác liệt ở xung quanh thị Sa-ra-van. Chiều ngày 26 tháng 10, địch chiếm được thị xã. Do yêu cầu hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và ngoại giao trên bàn đàm phán của bạn, ngày 31 tháng 10, Bộ Tổng tham mưu ta chỉ thị cho Đoàn 968: “tiến công giải phóng thị xã Sa-ra-van trước ngày 16 tháng 11 vì có giải pháp chính trị về Lào. Diệt một bộ phận sinh lực địch, đuổi địch ra khỏi thị xã, bỏ mục tiêu Không Xê Đôn”1 (Lịch sử Sư đoàn 968 (1968-2003), Sđd, tr. 145).


Chấp hành chỉ thị của Bộ, Đoàn trưởng Đoàn 968 ra lệnh cho toàn đơn vị chuyển hướng chiến dịch trập trung lực lượng vào hướng chủ yếu Sa La Van, đánh thọc sâu vào trung tâm, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, quyết tâm giải phóng thị xã Sa La Van đúng thời gian quy định.


Nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị được giao: Trung đoàn 19 (thiếu Tiểu đoàn 6) được tăng cường Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 9), pháo binh, xe tăng chi viện tiến công GM41, GM42 địch trong thị xã. Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 39) ngăn chặn không cho GM33 địch từ Lầu Ngam phát triển về hướng Sa-ra-van. Trung đoàn 9 (thiếu Tiểu đoàn 2) phối hợp với hướng Sa-ra-van đánh địch trên hướng đường số 23, phòng giữ Pắk Xoòng.


Sau khi khẩn trương làm công tác chuẩn bị, điều chỉnh lực lượng tiến công, sáng ngày 15 tháng 11, ta tập trung hoả lực bắn phá các mục tiêu trong thị xã. Bộ binh hai trung đoàn 19 và 9 từ phía nam, tây nam chia thành nhiều mũi đồng loạt tiến công vào thị xã. Một bộ phận lực lượng của Tiểu đoàn 5 tiến công cụm quân địch ở phía tây sân bay phát triển lên ngã ba Na Sang Noi. Đại đội 6 tiêu diệt cụm địch ở phía nam sân bay phát triển chiến đấu dọc phía nam sân bay tới đồn cảnh sát trong trung tâm. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta làm chủ thị xã và khu vực sân bay, diệt 303 tên thu 69 súng các loại.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tư, 2021, 03:13:43 pm

Ngày 16 tháng 11 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điện khen: cán bộ, chiến sĩ Đoàn 968 đã cùng quân dân bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng thị xã Sa-ra-van, tạo điều kiện thuận lợi cho giải pháp chính trị về Lào. Do yêu cầu thúc bách về chính trị cuối năm 1972 và đầu năm 1973, địch tập trung quân hai lần đánh chiếm lại thị xã Sa-ra-van, nhưng đều bị ta đánh chiếm lại. Đầu tháng 1 năm 1973, địch tập trung quân ở Pắk Xế theo đường số 23 đánh chiếm lại thị xã Pắk Xoòng. Trong thời điểm nhạy cảm chuẩn bị có giải pháp chính trị về Lào, theo yêu cầu của Bộ chỉ huy tối cao Lào, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh 559 chỉ thị cho Đoàn 968: “Tiến công tiêu diệt quân Thái Lan và GM33 ngụy Lào, đẩy địch ra khỏi thị xã Pắk Xoòng, giữ vững thị xã Sa-ra-van. Tiếp tục đánh bồi, sẵn sàng đánh phản kích, lấy tư tưởng tiến công làm chủ yếu". Đồng thời tăng cường thêm Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 52 (Sư đoàn 338) vào đội hình chiến đấu của Đoàn 968. Bộ tư lệnh 559 rút bót lực lượng từ các sư đoàn trên tuyến vận tải chiến lược thành lập thêm Trung đoàn 59 (thiếu 1 tiểu đoàn) tăng cường cho Đoàn 968 làm nhiệm vụ cơ động, sẵn sàng đánh địch trên các hướng. Như vậy, ở Hạ Lào trong thời gian này, ta có tới 6 trung đoàn bộ binh.


Ngày 21 tháng 1 năm 1973, Bộ tư lệnh Đoàn 968 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 9 phối hợp với Trung đoàn 59 (thiếu) đánh địch ở thị xã Pắk Xoòng. Trung đoàn 19 triển khai lực lượng ở đông bắc Pắk Xoòng kìm chế GM33 và lữ đoàn 28 tại Tha Teng, Huội Sài, Huội Koòng; đồng thời là lực lượng dự bị của sư đoàn. Các trung đoàn 102, 39 làm nhiệm vụ bảo vệ thị xã Sa La Van.


Về phương châm tác chiến, sau khi nghiên cứu nắm chắc bố phòng của địch và tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, ta và bạn quyết định sử dụng một số lực lượng bao vây tiêu diệt những cứ điểm ngoại vi quan trọng xung quanh Pắk Xoòng, sau đó tập trung sức mạnh binh hoả lực đánh vào mục tiêu chủ yếu kết hợp đánh phá toàn diện, diệt sở chỉ huy trung đoàn 401 và tiểu đoàn 614 Thái Lan ở đồn Chăm Pi, giải phóng thị xã đuổi địch về phía tây. Sẵn sàng phương án đánh địch giải toả; đồng thời dùng một bộ phận lực lượng đánh kiềm chế các trận địa pháo của địch ở bản 42, Pắk Cụt, cắt giao thông, triệt không vận và tiếp tế của địch trên đường số 23.


Quá trình tiến công thực hành theo hai bước: Bước một cài thế bao vây Noọng Lé, Chăm Pi, Noọng Kin Nọi, dứt điểm Noọng Lé, đưa lực lượng phát triển chiến đấu vào chiếm lĩnh các bàn đạp quan trọng. Bước hai dứt điểm Chăm pi, Noọng Kin Nọi, giải phóng thị xã, đẩy địch về phía tây Pắk Xoòng.    

Ngày 23 tháng 1 năm 1973, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 9) nổ súng tiến công cứ điểm Noọng Lé, diệt 20 lính Thái Lan thu 10 súng. Địch chiếm lại, ta chuyến sang bao vây đến 3 tháng 2, làm chủ hoàn toàn căn cứ này, tạo điều kiện để đưa lực lượng vào triển khai đánh Chăm Pi. Sáng 5 tháng 2, từ các hướng, ta đồng loạt nổ súng đánh phá các mục tiêu. Sau ba ngày chiến đấu quyết liệt các mục tiêu của địch ở ngoại vi Pắk Xoòng lần lượt bị tiêu diệt. Sáng ngày 8 tháng 2, ta tập trung lực lượng đánh vào trung tâm Pắk Xoòng chiếm chỉ huy sở trung đoàn 401, tiểu đoàn 614 Thái và trận địa pháo. Sau khi giải phóng thị xã Pắk Xoòng, ta tiếp tục tổ chức truy kích địch trên đường số 23. Trong đợt chiến đấu này, ta diệt 491 tên địch, bắn rơi 4 máy bay, bắn cháy 2 xe GMC, thu 200 súng các loại. Âm mưu chiếm Pắk Xoòng, Sa-ra-van, giành thế mạnh trước khi bước vào thực hiện giải pháp chính trị ở Lào của địch bị đập tan.


Ở chiến trường Bắc Lào, Thu Đông năm 1972-1973, các tiểu đoàn 408, 409 của bạn phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện tiến công giải phóng Pạc U, Pạc Xương, tập kích địch ở Xiềng Ngân và sân bay Luông Phra Băng, tiếp đó tiến công giải phóng Viêng Phu Khe, Nậm Dụ, uy hiếp Huội Sài.


Ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, sau khi bị ta đánh thiệt hại nặng, địch cố tập trung xây dựng lại các GM. Đầu tháng 2 năm 1973, địch huy động 5GM quân Vàng Pao và 3 tiểu đoàn quân Thái Lan tiếp tục tiến công, hòng chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng này. Trên cơ sở nắm chắc các hoạt động của địch, xử lý kịp thời các diễn biên trên chiến trường trước thời điểm ký hiệp định Viêng Chăn, quân tình nguyện Việt Nam thuộc Mặt trận 31 đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bạn ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bẻ gãy các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 tên, buộc địch phải tháo chạy về Loong Chẹng.


Song song với việc giúp bạn đẩy mạnh hoạt động quân sự trên các chiến trường, chuyên gia quân sự ta còn tích cực giúp bạn huấn luyện làm chủ các phương tiện kỹ thuật nhất là từ cuối năm 1972, khi Bộ chỉ huy tối cao Lào lập các cụm chủ lực ở đường số 9 (Trung Lào), đường số 23 (Hạ Lào). Trong các cụm chủ lực này, ngoài các đơn vị bộ binh còn có các đơn vị pháo binh, xe tăng, công binh. Việc huấn luyện giúp bạn nắm chắc chuyên môn kỹ thuật, làm chủ các khí tài mới được trang bị, làm tốt công tác hiệp đồng chiến đấu giữa bộ binh và các binh chủng đã góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Lào, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến quy mô ngày càng lớn trong giai đoạn cách mạng mới.


Trong thời điểm chuẩn bị có hiệp định ngừng bắn, diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ có nhiều phức tạp, công tác chính trị đã được các chuyên gia ta đặc biệt coi trọng. Ta đã giúp bạn tổ chức các đội công tác bám sát từng đơn vị, nhất là ở những địa bàn quan trọng, tiến hành giáo dục, quán triệt sâu sắc về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù. Quán triệt và tổ chức tốt công tác xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng trong nhân dân, công tác binh địch vận, làm tốt mọi chính sách khen thưởng kỷ luật, đoàn kết liên minh chiến đấu Việt - Lào.


Đối với công tác xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang Lào, chuyên gia ta đã giúp bạn kiện toàn tổ chức các cấp ủy, phát triển đảng viên có đủ số lượng, đảm bảo chất lượng. Số lượng đảng viên của bạn, năm 1972 so với năm 1962 tăng lên 7,15 lần. Tỷ lệ lãnh đạo trong quân đội đạt 20 - 21%. Nhiều đơn vị chủ lực của bạn được ta giúp đỡ huấn luyện đã nâng cao hiệu suất chiến đấu rõ rệt. Bộ đội bạn từ chỗ chỉ quen đánh phân tán nhỏ lẻ đã tiến lên đánh được các trận hiệp đồng nhiều tiểu đoàn có pháo binh, xe tăng chi viện. Trường Quân chính Com-ma-đam đào tạo cán bộ trung cấp, sơ cấp thuộc Bộ chỉ huy tối cao Lào với sự giúp đỡ của chuyên gia Việt Nam đã nâng cao được chất lượng giảng dạy, đảm bảo kịp một số lượng lớn cán bộ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường. Những việc làm trên của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Lào đã góp phần thiết thực từng bước giúp bạn nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, lập nên chiến thắng giòn giã trên khắp các mặt trận từ Bắc đến Nam Lào.


Trong lúc trên chiến trường Lào, ta đã giúp bạn xây dựng được lực lượng vũ trang phát triển với tổ chức hợp lý và sức chiến đấu không ngừng được nâng cao, liên tục đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của địch thì ở Việt Nam, quân dân miền Nam cũng liên tục đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng đẩy Mỹ - ngụy Sài Gòn vào trình trạng khốn đốn. Sau nhưng thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam và thua đau trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhất là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và vùng lân cận, ngày 27 tháng 1 năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Thất bại của đế quốc Mỹ ở miền Nam đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của quân ngụy Lào, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với đại diện Mặt trận yêu nước Lào và chấp nhận giải pháp 5 điểm của mặt trận.


Để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị, chuyên gia quân sự ta giúp Quân khu Cánh Đồng Chum tổ chức 5 tiểu đoàn (1, 13, 15, 46, 116), một đại đội pháo binh, một đại đội xe tăng tiến công đánh chiếm 16 trong tổng số 32 vị trí của địch ở khu vực Sa La Phu Khun. Bị đánh mạnh trên các hướng, bị thiệt hại nặng nể, quân địch buộc phải tháo chạy khỏi Sa La Phu Khun. Ta tiếp tục truy kích địch đến Kiểu Ca Chăm, Ca Xỉ. Những trận đánh thắng lợi của quân tình nguyện Việt Nam và bạn Lào trên chiến trường Lào cuối năm 1972 và đầu 1973 đã góp phần rất quan trọng cho cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao giành thắng lợi.


Ngày 21 tháng 2 năm 1973, Hiệp định Viêng Chăn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Lào được ký kết. Mỹ và ngụy quyền Lào phải công nhận quyền dân tộc cơ bản, quyền tự do dân chủ của nhân dân các bộ tộc Lào, công nhận vùng giải phóng của Mặt trận Lào yêu nước, trung lập hoá hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng, thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và hội đồng tư vấn liên hợp chính trị quốc gia. Đây là một thắng lợi to lớn, toàn diện, vững chắc, có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Lào, đồng thời “là sự thất bại có tính chiến lược không những trên chiến trường Lào, chiến trường Đông Dương mà còn là thất bại của chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ”1 (Đánh giá của đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Lịch sử Lào, Nxb Khoa học xã hội, H.1997, tr. 482).


Có thể nói, trong những năm 1969-1972, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào với sự tập trung quân và hoả lực đánh phá ác liệt, hy vọng làm thay đổi cục diện chiến trường, thu hẹp vùng giải phóng, làm cho cách mạng Lào suy yếu. Được sự giúp đỡ to lớn của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, quân giải phóng nhân dân Lào cùng các lực lượng yêu nước đã vượt qua mọi khó khăn thử thách ác liệt, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch. Vừa giữ vững vùng giải phóng, củng cố chính quyền cách mạng, vừa xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, từ các đại đội nhỏ lẻ chủ yếu là bộ binh tiến lên xây dựng được những tiểu đoàn chủ lực với biên chế trang bị tương đối đầy đủ và một số đại đội binh chủng như xe tăng, pháo binh, công binh, phòng không. Tiếp đó phát triển, xây dựng được 5 cụm chiến đấu (tương đương 5 trung đoàn chủ lực) và hàng chục tiểu đoàn bộ đội địa phương, hàng vạn dân quân du kích. Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân đã tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mỹ trên chiến trường Lào, buộc Mỹ và ngụy quyền Lào phải ký Hiệp định Viêng Chăn lập lại hoà bình, hoà hợp dân tộc ở Lào.


Cùng với Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, Hiệp định Viêng Chăn về Lào đã góp phần quan trọng mở ra cục diện mới cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương. Trong giai đoạn mới của cách mạng, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ mới mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ta và bạn tin tưởng giao cho, nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân các bộ tộc Lào mau đến thắng lợi hoàn toàn. 


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:38:35 pm
Chương năm
GIÚP BẠN ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG HOÀ BÌNH, THỰC HIỆN THẮNG LỢI BA ĐÒN CHIẾN LƯỢC, KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ Ở LÀO
(1973-1975)


I. PHỐI HỢP GIÚP BẠN TẠO THẾ, TẠO LỰ, BUỘC ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI PHẢI THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH VIÊNG CHĂN (1973-1974)

Từ năm 1973, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương có bước phát triển hết sức thuận lợi. Hiệp định Pa-ri về “chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam” được ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, một thất bại vô cùng nặng nề của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Theo hiệp định, đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu về nước, quân và dân các nước Đông Dương có thời cơ rất thuận lợi để đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ mau tới thắng lợi.


Đối với cách mạng Lào, Hiệp định Viêng Chăn được ký kết ngày 21 tháng 2 năm 1973 đã tạo cơ sở chính trị và pháp lý để nhân dân các bộ tộc Lào tiến lên thực hiện hoà hợp dân tộc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Viêng Chăn đã đưa cách mạng Lào chuyển sang một giai đoạn mới, lấy đấu tranh chính trị đòi đối phương thi hành hiệp định làm chính, tiếp tục củng cố hoà bình, ra sức xây dựng lực lượng tiến tới đưa cách mạng dân tộc dân chủ đến thắng lợi hoàn toàn.


Tuy phải ký Hiệp định Viêng Chăn, thực hiện ngừng bắn và chuẩn bị hoà hợp dân tộc ở Lào, song đế quốc Mỹ vẫn không chịu chấm dứt sự dính líu quân sự ở Lào. Ngay sau khi Hiệp định Viêng Chăn có hiệu lực, Mỹ vẫn ngoan cố giữ lại trên đất Lào 2.000 lính Mỹ gồm nhân viên CIA, cố vấn quân sự đội lốt dân sự và sĩ quan không quân. Mỹ còn chuyên giao cho ngụy quyền Viêng Chăn những nhân viên và máy bay của hãng “Hàng không Mỹ” (AIR AMERICA). Bất chấp lệnh ngừng bắn, dưới sự chỉ huy của Mỹ, hơn 20 tiểu đoàn quân Thái Lan ở lại Lào, phối hợp với quân phái hữu tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng của bạn; đồng thời Mỹ vẫn tiếp tục cho máy bay, kể cả máy bay B-52 ném bom xuống nhiều nơi thuộc vùng cách mạng Lào, nhằm tạo thế mạnh trong Chính phủ Liên hiệp.    Trước tình hình mới, Trung ương Đảng ta xác định, nhiệm vụ giúp cách mạng Lào trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến là vô cùng cần thiết. Vì vậy, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia tiếp tục làm tốt nhiệm vụ quốc tế theo yêu cầu mới. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 10 tháng 3 năm 1973, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ra Chỉ thị số 04/CT-H về nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị đối với bộ đội hoạt động trên chiến trường Lào: "Phải làm cho cán bộ, chiến sĩ thấy rõ cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam đang chuyển biến lớn lao, đòi hỏi bộ đội ta phải nâng cao nhận thức, tư tưởng và hành động theo kịp yêu cầu nhiệm vụ giúp bạn trong điều kiện mới. Đối với công tác dân vận, giúp bạn đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân Lào, làm cho quần chúng nhận rõ và phấn khởi tự hào về thắng lợi to lớn đă giành được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả Lào và Việt Nam"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Sđd, tr. 960-961).


Chấp hành chỉ thị của Tổng cục Chính trị, lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào tổ chức đợt học tập quán triệt sâu sắc nội dung chỉ thị trong công tác giúp bạn, đồng thời chấn chỉnh về tổ chức biên chế để phù hợp với nhiệm vụ giúp bạn trong giai đoạn cách mạng mới.


Theo chủ trương đó, tại khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ngày 21 tháng 4 năm 1973, Bộ Quốc phòng ra quyết định chấn chỉnh Bộ tư lệnh Mặt trận 316 thành Bộ tư lệnh Mặt trận 31 và Sư đoàn 316 trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, lực lượng trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận 31 gồm 2 trung đoàn bộ binh (866, 335), Tiểu đoàn 24 pháo cao xạ 37 ly và 14,5 ly (4 đại đội), Tiểu đoàn 42 pháo mặt đất (trang bị pháo 130 và lựu pháo 122 ly), Tiểu đoàn 195 xe tăng, thiết giáp; Tiểu đoàn 25 công binh, Tiểu đoàn 26 thông tin, 2 đại đội trinh sát, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn quân y, Bệnh viện Quân y 139, cơ quan và các đơn vị trực thuộc. Tổng quân số là 6.500 người. Đây là những đơn vị quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Bộ tư lệnh Mặt trận 31 gồm các đồng chí: Vũ Lập - Tư lệnh; Lê Linh - Chính ủy, Dũng Mã - Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng; các đồng chí Nam Hà, Thế Hùng, Hà Vi Tùng, Nguyễn Lê Hoàn là Phó tư lệnh và Lê Nguyên Vũ - Phó chính ủy.


Nhiệm vụ của Bộ tư lệnh Mặt trận 31 được Quân ủy Trung ương ta xác định: "Giữ vững vùng giải phóng, nhất là các khu vực trọng yếu, làm hậu thuẫn vững chắc cho đấu tranh chính trị của bạn, tham gia công tác vận động quần chúng, vận động binh lính địch, xây dựng lực lượng tình nguyện ngày càng vững mạnh; cùng với bạn tham gia xây dựng vùng giải phóng"1 (Trích nghị quyết Hội nghị Đảng ủy Mặt trận 31, ngày 13 tháng 11 năm 1973, TLLT, SĐ 31).


Căn cứ vào thực tế cách mạng Lào, Đảng ủy Mặt trận 31 đề ra phương hướng lãnh đạo là: “Tích cực xây dựng bộ đội về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng chiến đấu theo hướng chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu trước mắt và lâu dài. Thực hiện tốt yêu cầu liên minh chiến đấu phối hợp với lực lượng vũ trang bạn tham gia củng cố xây dựng vùng giải phóng”2 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Sđd, tr. 960-961).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:39:42 pm
Đối với Sư đoàn 316, Bộ Quốc phòng ta quyết định chấn chỉnh thành Sư đoàn chủ lực quân tình nguyện làm nhiệm vụ cơ động trên chiến trường Lào. Bộ điều động Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308 C về đội hình Sư đoàn 316 và đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 149. Tiếp đó, Trung đoàn 187 pháo binh được thành lập gồm Tiểu đoàn pháo cao xạ 37 thuộc Binh trạm 11, Tiểu đoàn lựu pháo 122 (Bộ tư lệnh Pháo binh) và tiểu đoàn pháo hỗn hợp của Sư đoàn 316. Các đơn vị trực thuộc cũ được lệnh tách khỏi Bộ tư lệnh Mặt trận 31 trở về đội hình Sư đoàn 316. Lúc này, Sư đoàn 316 gồm ba trung đoàn bộ binh (174, 148, 149) và Trung đoàn 187 pháo binh cùng các tiểu đoàn, đại đội và cơ quan bảo đảm trực thuộc. Lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 316 gồm: Thượng tá Hải Bằng - Sư đoàn trưởng, trung tá Nguyễn Hữu Thơi - Phó sư đoàn trưởng, thượng tá Hà Quốc Toản - Chính ủy, thượng tá Đoàn Độ - Phó chính ủy sư đoàn.


Sau khi ổn định về tổ chức biên chế, Sư đoàn 316 được điều động tham gia chiến đấu với bạn ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Sư đoàn chiến đấu trong khi tình hình chính trị ở Lào đang diễn ra rất khẩn trương và phức tạp. Cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị giữa ta và địch đang diễn ra rất quyết liệt. Địch tập trung huy động lực lượng lấn chiếm vùng giải phóng, đặc biệt là cố sức lấn chiếm khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Chúng tổ chức nhiều cánh quân một mặt lấn chiếm Mường Sủi, mặt khác tranh chấp giành giật với ta ở khu vực trung gian, tạo bàn đạp đánh chiếm một phần phía nam Cánh Đồng Chum.


Trước âm mưu mới của địch, để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Bộ tư lệnh Mặt trận 31 quyết định để lại một lực lượng quân tình nguyện bao vây, giam chân địch ở Buôm Lọng, còn đại bộ phận lực lượng rút ra nhanh chóng cơ động đánh địch không cho chúng lấn chiếm các vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ giải phóng thêm đất đai thu hẹp vùng tạm chiếm của địch.


Chấp hành mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương ta giữa năm 1973, Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) hành quân gấp rút, vượt qua Cánh Đồng Chum về Phu Keng, sau đó vượt sông Nậm Ngừm tiến vào Mường Sủi. Đến nơi đóng quân, trung đoàn khẩn trương liên hệ cùng các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức lực lượng, tham gia chiến đấu một số trận, đẩy lùi cuộc hành quân lấn chiếm của địch ở khu vực Mường Sủi. Trong khi đó, Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 148) cùng các đơn vị bạn tích cực đánh địch, bẻ gãy mọi cuộc tiến công lấn chiếm của chúng ở khu vực trung gian. Được sự phối hợp chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam, khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi, một địa bàn chiến lược quan trọng được giữ vững. Ngoài ra, các đơn vị quân tình nguyện còn giúp bạn sửa sang nhà ở, đường giao thông, tiếp quản thị trấn Phôn Xa Vẳn, làm sân bay để biến nơi đây thành địa điểm giao dịch quốc tế; đồng thời có kế hoạch tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, trao trả tù binh theo Hiệp định Viêng Chăn đã ký kết.


Trên địa bàn các tỉnh Nam Lào, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ta giao nhiệm vụ cho Đoàn 565: “Chuyên gia giúp địa phương, cụ thể là vùng Nam Lào xây dựng lực lượng từ tỉnh xuống các đại đội, cùng các địa phương phát động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng giải phóng, trong vùng địch hậu. Ngoài ra, Đoàn 565 còn giúp bạn vận chuyển hàng hoá, phục vụ các chiến trường Nam Lào, xây dựng cơ sở vững chắc ở vùng giải phóng và vùng địch hậu, phối hợp với bộ đội địa phương bạn bảo vệ tuyến vận tải hành lang 559”1 (Hồ sơ 866-B1. Tài liệu lưu tại thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).


Thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, Đoàn 565 khẩn trương giúp các địa phương xây dựng lực lượng, ổn định tổ chức, chuẩn bị tiến công địch bằng ba mũi giáp công (nổi dậy của quần chúng, binh biến trong quân ngụy, hậu thuẫn của lực lượng vũ trang cách mạng). Bộ Quốc phòng và Quân khu 4 tổ chức bố trí cán bộ đáp ứng nhiệm vụ giúp bạn trước mắt và lâu dài. Theo quan điểm: Đối với cán bộ chuyên gia nên lấy chất lượng làm chính, đối với cán bộ tình nguyện chiến đấu độc lập hay chiến đấu tập trung, hoặc phối hợp với bạn cùng chiến đấu trên ba mặt trận đều phải làm tốt.


Bộ tư lệnh Đoàn 565 là cơ quan lãnh đạo chuyên gia giúp bạn ở Nam Lào (tương đương cấp sư đoàn). Ngoài Bộ tư lệnh, Đoàn 565 còn có Phòng Tham mưu (gồm các ban tác chiến, quân báo, quân lực, dân quân, công binh, pháo binh, thông tin, hành chính); Phòng Chính trị (gồm các ban tổ chức, tuyên huấn, cán bộ, dân vận và địch vận); Phòng Hậu cần (gồm các ban quân nhu, tài vụ, quân khí, xăng xe, quân y) và một số phân đội trực thuộc đoàn. Ở 7 tỉnh thuộc Nam Lào (Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt, Sa-ra-van, Át-ta-pư, Chăm Pa xắc...) Trường Quân chính quân khu và 2 cụm chủ lực đều có các tổ chuyên gia của ta giúp bạn.


Theo yêu cầu của bạn, Bộ tư lệnh Đoàn 565 mở lớp tập huấn 3 ngày quán triệt cho cán bộ, chuyên gia (gồm hàng trăm cán bộ) về nhiệm vụ giúp bạn theo tư tưởng: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” và phương châm: “Giúp bạn để bạn tự làm, với tinh thần hữu nghị”. Qua lớp học này, cán bộ ta nâng cao nhận thức vế tình hình, nhiệm vụ cụ thể quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế, giúp bạn đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Đoàn 565 liên tiếp cử những cán bộ có năng lực làm phái viên đi nắm tình hình các đơn vị của bạn, sau đó xây dựng kế hoạch, giúp Bộ tư lệnh Quân khu Nam Lào xây dựng, ổn định lực lượng chiến đấu. Trong công tác vận động quần chúng, cán bộ chuyên gia ta vừa hướng dẫn bạn, vừa phải học tiếng của bạn để truyền đạt cho bạn dễ hiểu, dễ nhớ.


Từ ngày 19 tháng 6 đến ngày 6 tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 21 (đợt I), đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới1 (Từ ngày 1 đến 4 tháng 10 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 21 (đợt II) bàn về cách mạng miền Nam và ra nghị quyết (ngày 13-10-1973) về "Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới). Hội nghị xác định nhiệm vụ chiến lược của hai miền Nam - Bắc và chủ trương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào: “Đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với ba nước Đông Dương. Lợi ích dân tộc chân chính của mỗi nước gắn bó chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho hoà bình và độc lập dân tộc không những trước mắt mà cả lâu dài về sau. Đoàn kết, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ và xây dựng đất nước theo con đường của mỗi nước là nguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa nhân dân ta với nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia theo tinh thần quốc tế vô sản chân chính"1 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, tháng 7 năm 1973, Tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Hội nghị Trung ương lần thứ 21 của Đảng đề ra chủ trương đúng đắn, kịp thời vạch rõ phương hướng cho quân đội ta xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, buộc đế quốc Mỹ phải thực hiện Hiệp định Pa-ri; đồng thời tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào. Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta chủ trương giúp bạn, phát huy thắng lợi đã giành được, củng cố và đẩy mạnh các hoạt động buộc đế quốc Mỹ phải thực hiện Hiệp định Viêng Chăn về Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:40:44 pm
Để đáp ứng với yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng ta chỉ thị cho các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đang giúp Lào: “Phải tăng cường đội ngũ cán bộ, chuyên gia nhằm thực hiện tốt việc tiếp quản hai thành phố Viêng Chăn, Luông Phra Băng và một số thành phố khác. Hướng dẫn bạn ra sức phát động quần chúng đấu tranh với ba hình thức. Mở cấp tốc các lớp, các đợt huấn luyện ngắn hạn, đào tạo cho bạn những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị, kinh nghiệm đấu tranh binh vận... Củng cố hệ thống tổ chức từ tỉnh đến các huyện”2 (Báo cáo số 630-L193 "Về tình hình và nhiệm vụ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Trước tình hình mới, cuối tháng 6 năm 1973, Quân ủy Trung ương ta ra nghị quyết về công tác chuyên gia giúp bạn. Theo tinh thần nghị quyết của Quân ủy Trung ương việc giúp bạn phải theo một kế hoạch toàn diện, chủ yếu là thi hành hiệp định, giúp xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và mở rộng vùng giải phóng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thổng nhất của ta và bạn. Khắc phục tình trạng phân tán quá nhiều đầu mối làm giảm hiệu lực giúp đỡ của ta, gây khó khăn cho bạn.


Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương ta, Đoàn ủy Đoàn 959 trực tiếp báo cáo với Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao bạn về tình hình công tác chuyên gia. Đoàn 959 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn và bạn đã trưởng thành tự đảm đương được nhiệm vụ của mình. Sau khi thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị hai nước, phần lớn cán bộ Đoàn 959 về nước, chỉ còn 100 đồng chí ở lại tiếp tục giúp bạn. Để đáp ứng với yêu cầu mới của cách mạng Lào, lúc này đội ngũ cán bộ của bạn đã trưởng thành, Đoàn 959 đề nghị và được Quân ủy bạn nhất trí: Đoàn 959 không còn hệ thống tổ chức giúp từ đơn vị cơ sở lên đến cơ quan Trung ương nữa, Đoàn sẽ hình thành các bộ phận nghiên cứu, giúp Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao những vấn đề cơ bản về chủ trương, chính sách và sau đó giúp tổ chức thực hiện rút kinh nghiệm để chỉ đạo chung.


Theo chủ trương mới của bạn, Đoàn 959 trao đối với bạn về những thắng lợi đã đạt được, tình hình cụ thể và kiến nghị với bạn triển khai thực hiện một số nhiệm vụ phù hợp tình hình mới. Đặc biệt là việc bố trí lực lượng, xây dựng, chiến đấu của lực lượng vũ trang; trong đó chú trọng củng cố các đơn vị chủ lực; bổ sung quân số, trang bị và tiến hành giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới, sẵn sàng chiến đấu chống lại những hành động vi phạm hiệp định về quân sự của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng của cách mạng Lào.


Cuối tháng 7 năm 1973, Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra Nghị quyết số 63 về “Tình hình nhiệm vụ và phương hướng công tác cách mạng Lào” nêu rõ: “Nhiệm vụ chính trước mắt phải tập trung tăng cường đội ngũ cán bộ, cụ thể là các thành phố Viêng Chăn, Luông Phra Băng, Pắk Xế... vùng nông thôn, đồng bằng phải nắm được phần lớn quần chúng cơ bản. Phải ra sức phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị vững chắc. Củng cố hệ thống tổ chức chỉ đạo từ trên xuống dưới. Ở Trung ương cần phải lập một ban phụ trách trực thuộc Quân ủy Trung ương chỉ đạo. Đối với các tỉnh cần tổ chức Ban cán sự tỉnh trực thuộc Trung ương”1 (Nghị quyết về nhiệm vụ phương hướng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào 1973-1975, hồ sơ số 63-M8, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).


Thực hiện nghị quyết của Trung ương, các đơn vị bạn kiên quyết đấu tranh với đế quốc Mỹ. Sau gần 7 tháng thực hiện nhiều thủ đoạn phá hoại cách mạng Lào vẫn không làm đảo ngược được tình thế, lại bị quân dân Lào đánh trả quyết liệt, thiệt hại nặng, ngày 14 tháng 9 năm 1973, đế quốc Mỹ buộc chúng phải ký Nghị định thư Viêng Chăn, giải quyết những vấn đề cụ thể về chính trị và quân sự để thực hiện Hiệp định Viêng Chăn. Đây lại là một thất bại nữa của Mỹ ở Lào.


Tháng 10 năm 1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng bạn họp đánh giá thắng lợi to lớn của cách mạng qua việc ký kết Hiệp định Viêng Chăn (tháng 2 năm 1973) và đề ra nhiệm vụ đấu tranh cách mạng ở Lào: "Chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, từ đấu tranh quân sự, chính trị sang đấu tranh chính trị - pháp lý; từ hai vùng, nay chuyển sang ba vùng chiến lược (vùng giải phóng, vùng địch tạm kiểm soát và vùng trung lập". Hội nghị dự kiến khả năng phát triển của cách mạng Lào và chủ trương: Duy trì hoà bình lâu dài, tạo điều kiện xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng để tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong xây dựng một nước Lào hoà bình, trung lập, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.


Về phương châm đấu tranh, Bộ Chính trị bạn chỉ rõ: Dựa vào lực lượng cách mạng, lực lượng nhân dân, nắm vững nội dung tinh thần Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn, chủ động đẩy mạnh các cuộc tiến công địch liên tục. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh trong sự liên hiệp với phong trào đấu tranh của quần chúng. Phát động cuộc đấu tranh của nhân dân làm hậu thuẫn; chú ý phối hợp với mọi lực lượng, mọi mặt trong cuộc đấu tranh trong cơ quan liên hiệp với tăng cường hoạt động quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới"1 (Nghị quyết về nhiệm vụ và phương hướng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào 1973-1975, hồ sơ số 63-M8, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).


Quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị, cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng nhân dân Lào triệt để tận dụng những điều kiện thuận lợi khách quan và chủ quan, phát huy ưu thế của cách mạng, kết hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh: Chính trị, quân sự, pháp lý bằng phương pháp thích hợp ở từng vùng chiến lược. Đồng thời kiên quyết bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch ra các khu vực: Tha Viêng, đường số 4, nam thị xã Xiêng Khoảng, đông bắc Đồng Hến, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước Lào.


Tại Thủ đô Viêng Chăn, “Ủy ban phối hợp hành động vì hoà bình và hoà hợp dân tộc” hoạt động mạnh mẽ gồm nhiều tổ chức tham gia như: Đảng trung lập, Câu lạc bộ Xa-ha-phum, Câu lạc bộ Lào Luôm Xảng Xạt, Hội cựu sinh viên các nước xã hội chủ nghĩa, Hội cựu sinh viên trường Luật và hành chính, Ủy ban vận động cá nhân tán thành hoà bình, trung lập... Trên cơ sở đó, gây dựng các phong trào đấu tranh của quần chúng hướng theo đường lối, chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Ngoài ra, Đảng bạn còn áp dụng sách lược mềm dẻo đối với những nhân vật cao cấp còn lừng chừng như Xu-va-na Phu-ma, kể cả vua Lào Si Sa Vang Vạt Tha Na... thuyết phục họ dần dần tán thành đường lối, chủ trương của Neo Lào Hắc Xạt, hoặc ít nhất cũng làm cho họ không cản trở quá trình phát triển của cách mạng.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:41:40 pm
Song song với việc dùng “lực lượng đặc biệt” Vàng Pao sáp nhập vào quân đội quốc gia (phái hữu) để trốn tránh việc thi hành điều khoản giải thể “lực lượng đặc biệt”, đế quốc Mỹ chỉ đạo ngụy quyền Viêng Chăn tổ chức “lực lượng phát triển nông thôn” nhằm khống chế nông thôn vùng chúng kiểm soát. Trong hai năm 1973-1974, chính quyền Ních-Xơn vẫn chi cho quân ngụy Viêng Chăn 310 triệu đô la, tạo điều kiện cho các lực lượng phản cách mạng ở Lào dùng mọi thủ đoạn chống phá cách mạng.


Trước tình hình khó khăn của cách mạng Lào, theo chủ trương của Nghị quyết 21, Trung ương Đảng ta họp thống nhất: giúp bạn theo một kế hoạch toàn diện, chủ yếu là thi hành hiệp định, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và mở rộng vùng giải phóng dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất; đồng thời khắc phục tình trạng phân tán quá nhiều đầu mối làm giảm hiệu lực giúp đỡ của ta, gây khó khăn cho bạn.


Tháng 12 năm 1973, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang 2 năm (1974-1975), đồng thời dự kiến kế hoạch tác chiến chiến lược của Bộ chỉ huy tối cao, trên các hướng và địa bàn chiến lược đã hình thành Bộ chỉ huy Mặt trận. Bộ chỉ huy tối cao chỉ để bộ phận cán bộ thường trực, còn lại được cử xuống các đơn vị thuộc vùng Bắc Lào, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đường số 9 (Xa Vẳn Na Khệt), đường số 23 (Sa-ra-van - Chăm Pa Xắc)... hỗ trợ, theo dõi hoặc trực tiếp chỉ huy các hướng chiến đấu. Bộ phận chỉ đạo đấu tranh chính trị của Trung ương được chú trọng, tăng cường thêm nhiều cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh, Ủy ban liên hiệp Quân sự Trung ương được hình thành khẩn cấp. Nhờ đó, cuộc đấu tranh để thỏa thuận về quy chế ngừng bắn, phân vùng giữa hai lực lượng, trung lập hoá hai thành phố Viêng Chăn, Luông Phra Băng và những quy chế cụ thể khác diễn ra gay go, phức tạp, nhưng cán bộ Lào với sự giúp đỡ của chuyên gia Việt Nam đã kiên trì, vững vàng, khéo léo đấu tranh buộc đế quốc Mỹ phải từng bước thực hiện Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn.


Cùng thời gian này, phong trào ủng hộ hoà bình, hoà hợp dân tộc của quần chúng, đặc biệt là các tầng lớp học sinh, sinh viên, sư sãi, viên chức nhỏ xuất hiện liên tiếp ở các thành phố Viêng Chăn, Luông Phra Băng, Pắk Xế và nhiều thị xã khác trên toàn quốc. Phong trào đấu tranh ngày càng lên cao, nhiều nơi quần chúng dựa vào pháp lý và sự hỗ trợ mạnh mẽ của lực lượng vũ trang đang áp sát các địa bàn chiến lược buộc địch phải nhân nhượng. Một số đơn vị quân phái hữu Lào có biểu hiện đào ngũ, rã ngũ hoặc không chấp hành lệnh của chỉ huy. Tại những nơi này, các tổ công tác của chuyên gia quân sự ta và các đơn vị đặc công bạn tranh thủ tuyên truyền về chủ trương, đường lối cách mạng. Được sự đùm bọc che chở của nhân dân, các cán bộ chuyên gia quân sự sát cánh cùng cán bộ bạn hoạt động, phát triển thêm lực lượng quần chúng hỗ trợ cho cuộc đấu tranh như ở Nha Hớn (Hạ Lào), Pác Beng (Bắc Lào), Mường Mẹt, Ca Xỉ (Viêng Chăn), tạo nên sự uy hiếp rất lớn đối với địch, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh vũ trang. Cán bộ chuyên gia quân sự của ta còn giúp bạn mở các lớp hướng dẫn cách tuyên truyền, hoạt động của các tổ chức cơ sở ở các tỉnh thuộc vùng sâu, vùng xa của Lào, đấu tranh đòi địch phải thi hành Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn.


Trong bối cảnh chung của ba nước Đông Dương và thực tiễn diễn biến tình hình ở Lào, Quân ủy Trung ương ta và bạn đã gặp gỡ, trao đổi, xác định nhiệm vụ của cách mạng Lào trong thời gian tới là: “Quyết tâm giữ vững thành quả đã đạt được. Nhanh chóng ổn định tổ chức chỉ đạo các cấp, gấp rút củng cố, phát triển lực lượng mọi mặt. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hợp pháp, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang để kịp thời hỗ trợ cho việc thực hiện Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn”1 (Nghị quyết số 48/CGQS. Tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Cuối tháng 12 năm 1973, hai đoàn đại biểu Đảng ta và bạn gặp gỡ trao đổi thống nhất nhận định: “Vấn đề quan trọng quyết định nhất trong tình hình hiện nay để đưa cách mạng Lào tiến lên là phải củng cố, xây dựng vùng giải phóng, nắm chắc lực lượng vũ trang, đi đôi với việc sử dụng Chính phủ Liên hiệp, đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong hai thành phố trung lập và trong vùng đối phương quản lý. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn, hai đoàn đại biểu đều nhất trí cần phải bố trí lại lực lượng, đưa các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đứng chân ở tuyến sau, giúp bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng, đề phòng địch bất ngờ tấn công lấn chiếm, đưa bộ đội giải phóng Lào lên phía trước, trực tiếp tiếp xúc với địch, gây áp lực, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh và sẵn sàng tấn công địch khi cần thiết. Trên cơ sở đó, tạo ra thế và lực mới cho cuộc đấu tranh chống Mỹ - ngụy, buộc chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn đã được ký kết”2 (Biên bản cuộc Hội đàm của đại biểu hai Đảng Việt - Lào (12-1973), tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị bạn (10-1973) và tinh thần nội dung cuộc hội đàm giữa hai Đảng (cuối tháng 12-1973), Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào chỉ thị cho các quân khu, các tỉnh và đơn vị trực thuộc khẩn trương thực hiện kế hoạch xây dựng, củng cố đơn vị, bổ sung quân số, trang bị, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.


Theo yêu cầu của bạn, chuyên gia ta giúp Quân ủy Trung ương bạn lập kế hoạch đưa toàn bộ các đơn vị bộ đội chủ lực và các tiểu đoàn tập trung của các quân khu, tỉnh lên phía trước tiếp cận với đối phương. Nhanh chóng triển khai thế trận, gây áp lực hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh với địch và khi có điều kiện nổi dậy giành chính quyền tại chỗ, đồng thời nắm chắc tình hình đối phương, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.


Trước yêu cầu khẩn trương của cách mạng, Quân ủy Trung ương bạn cùng Đoàn 959 xây dựng kế hoạch cụ thể về phân chia chiến trường Lào từ Bắc xuống Nam thành 4 khu vực trên 4 hướng chiến lược:

1. Khu vực Hạ Lào đối tượng là quân khu 4 của địch, thành phố Sa-ra-van và Pắk Xế.

2. Khu vực Trung Lào đối tượng là quân khu 3 của địch, thành phố Xa Vẳn Na Khệt và Thà Khẹt.

3. Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đối tượng là quân khu 2 và quân khu 5 của địch, hướng hoạt động là Sảm Thông, Loong Chẹng và Thủ đô Viêng Chăn.

4. Khu vực Bắc Lào, trọng tâm hoạt động hướng vào quân khu 1 của địch và thành phố Luông Phra Băng.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:42:26 pm
Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 959 xây dựng kế hoạch giúp Bộ Tổng tham mưu bạn thành lập các Ban chỉ huy mặt trận ở từng khu vực, tổ chức hệ thống thông tin liên lạc từ Bộ đến thẳng mặt trận và xây dựng mạng lưới hậu cần riêng cho từng khu vực để đảm bảo kịp thời vật chất cho sinh hoạt và chiến đấu của bộ đội. Quân ủy Trung ương bạn cũng chỉ thị đưa một số lớn cán bộ của ba cơ quan Tổng cục xuống các khu vực nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị.


Đồng thời, Đoàn 959 cử một số cán bộ xuống các mặt trận giúp bạn triển khai lực lượng, đưa cán bộ có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vào thành phố Viêng Chăn, dựa vào sứ quán của ta, giúp bộ phận hoạt động nội thành của bạn chỉ đạo công tác vận động binh lính địch và đấu tranh thi hành các điều khoản của hiệp định về mặt quân sự.


Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu ta, Đoàn 959 phối hợp với Bộ tư lệnh Thủ đô, Quân khu Tây Bắc, Quân khu 3 và Tổng cục Hậu cần giúp bạn đưa các tiểu đoàn quân giải phóng nhân dân Lào vào làm nhiệm vụ bảo vệ và cảnh sát liên hiệp ở hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng theo quy định của nghị định thư đã được 3 bên ký kết.


Căn cứ vào tình hình của Lào, bạn đề nghị ta giúp đỡ, từ tổ chức lực lượng, bồi dưỡng nghiệp vụ đến trang bị hậu cần, phương tiện vận chuyển. Được sự hỗ trợ to lớn của các đơn vị trong nước và Tổng cục Hậu cần, trong 3 tháng, ta đã giúp bạn đưa được 2 đơn vị bảo vệ, 2 đơn vị làm nhiệm vụ cảnh sát liên hiệp và hàng nghìn tấn hàng hoá, trang bị vào hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng an toàn, tạo điều kiện cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và đoàn cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt vào Thủ đô Viêng Chăn cùng Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp ở Lào sau này. Sự có mặt của các đơn vị quân đội bạn ngay trong thành phố' Luông Phra Băng và Thủ đô Viêng Chăn là thắng lợi quan trọng, tăng thêm thế và lực mới cho cuộc đấu tranh sắp tới của bạn.


Trong khi đó, Đoàn 565 giúp bạn điều chỉnh một bước về tổ chức lực lượng gồm 2 cụm chủ lực ở Hạ Lào và Trung Lào, phát triển lực lượng mỗi cụm từ trung đoàn lên tương đương lữ đoàn. Tiếp đó, Đoàn 565 giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương, tạo thế vững chắc cho các tỉnh thuộc Trung ương để tiến tới giải thể Quân khu Nam Lào. Ở tất cả các tiểu đoàn của bạn đều có các chuyên gia của ta phối hợp làm việc với bạn. Trong quá trình giúp bạn, ta cũng gặp không ít khó khăn do địch vẫn duy trì bọn phỉ hoạt động quấy rối, ra sức tuyên truyền chia rẽ tình hữu nghị Việt - Lào. Nhờ sự lớn mạnh, trưởng thành của quân đội bạn, sự hỗ trợ của chuyên gia quân sự Việt Nam, bạn đã giành được những thắng lợi đáng kể. Đặc biệt là ở các vị trí quan trọng như: Pha-lan, Đồng Hến, Keeng Cọc, Không Xê Đôn, Pắk Xoòng, Bô-lô-ven, cò cách mạng Lào được cắm khẳng định rõ ranh giới vùng giải phóng của bạn ngày càng được củng cố, mở rộng.


Đoàn 565 không chỉ giúp bạn ổn định tổ chức, xây dựng lực lượng ở hai cụm chủ lực mà còn giúp bạn xây dựng kế hoạch tác chiến cho các tiểu đoàn độc lập và tiểu đoàn binh chủng của bạn như các tiểu đoàn pháo 14, 19 của bạn đóng tại vùng Xa Van. Hỗ trợ Tiểu đoàn 11 thuộc vùng Nam Lào và bộ đội tỉnh Khăm Muộn thực hiện một số công tác binh vận đối với quân ngụy Lào. Ngoài ra, Đoàn còn cử chuyên gia xuống các địa phương giúp bạn ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt công tác dân vận ở các huyện thuộc phía đông của tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, phân công các tổ công tác, bám sát đội hình của bạn làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ cách mạng. Đoàn 565 bố trí chặt chẽ lực lượng, triển khai từng đợt hoạt động kết hợp phong trào đấu tranh của quần chúng với sử dụng lực lượng vũ trang, nhanh chóng giải phóng vùng Khăm Muộn và Bắc Xa Vẳn Na Khệt, phục kích diệt địch ở phía tây, ven đường số 13.


Trong công tác huấn luyện, Đoàn 565 còn cử chuyên gia giúp bạn mở lớp huấn luyện ngắn ngày. Nội dung huấn luyện gồm một số kiến thức trong hoạt động kết hợp 3 mũi giáp công. Trong một năm, Đoàn 565 đã giúp bạn mở 5 lớp tập huấn, góp phần trang bị kiến thức về quân sự và chính trị cho hơn 400 cán bộ cấp đại đội, tiểu đoàn và cán bộ tỉnh đội với thời gian 15 ngày. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 565 chủ động giúp bạn củng cố, hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong khu vực phía nam thị xã Sa-ra-van. Tiếp đó, mở đợt hoạt động dọc đường sô 13, phía tây tỉnh Tha Teng, tiêu diệt bọn phỉ trong vùng và phát động các tầng lớp nhân dân ủng hộ cách mạng Lào.


Khu vực Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, có liên quan mật thiết với việc bảo vệ trị an vùng biên giới Việt - Lào. Đặc biệt là giữ vai trò quan trọng quyết định việc thực hiện vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam đến các chiến trường Đông Dương. Đế quốc Mỹ đánh giá “Cánh Đồng Chum là chìa khoá của nước Lào, là mái nhà của Đông Dương". Về phía Lào cũng xác định: “Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là trung tâm chống chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào”. Bởi vậy, Quân ủy Trung ương Lào và ta đã thống nhất tập trung lực lượng đế bảo vệ và củng cố khu vực chiến lược trọng yếu này. Cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã sát cánh cùng quân và dân bạn vận động quần chúng thu phục phỉ, xây dựng cơ sở, chiến đấu giữ vững các tuyến đường vận chuyển ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Đầu năm 1974, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, Trung ương Đảng bạn quyết định tiến hành cuộc vận động: “Toàn quân đón thời cơ, tranh thủ thời cơ, tất cả ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu”. Hưởng ứng cuộc vận động của bạn, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam chiến đấu tại Lào tích cực triển khai công tác trên tất cả các hướng để thực hiện tốt việc thực hiện đấu tranh trên cả ba mặt trận. Nhiều đoàn cán bộ của ta xuống các địa phương bạn tổ chức vận động, tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân; phân công cán bộ, đảng viên ở từng địa phương cùng cán bộ bạn thâm nhập, vận động tới từng gia đình thuộc các bộ tộc Lào. Được tuyên truyền về chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng bạn, đông đảo quần chúng nhân dân các bộ tộc Lào, nhất là phụ nữ và thanh niên đã hăng hái ủng hộ cách mạng. Đây là thắng lợi lớn có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác phát triển lực lượng ủng hộ cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi, buộc địch phải từng bước thực hiện Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:43:27 pm
Trong thời gian này, vùng giải phóng Nam Lào được mở rộng kéo dài từ R8 qua Na-kai, vòng quá đông nam Thà Khẹc, đường số 13 xuống bắc Phu Xăng, qua thị trấn Sê Pôn xuống Koòng Kẹc, đường 13 ven sông Mê Kông. Cờ cách mạng Lào được cắm xung quanh các đồn địch. Đoàn 565 khẩn trương phối hợp với bạn tranh thủ điều kiện thuận lợi, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, tạo làn sóng đấu tranh mạnh mẽ ủng hộ cách mạng. Cán bộ chuyên gia ta đã giúp bạn giải giáp toàn bộ lực lượng ngụy quyền ở Quân khu 3, Quân khu 4 và Hạ Lào xoá bỏ hệ thống chính quyền ngụy từ tỉnh xuống huyện, tạo điều kiện để giải phóng hoàn toàn nước Lào khi thời cơ đến.


Sau khi ký thoả thuận cụ thể về việc đưa lực lượng của hai phái vào bảo vệ hai thành phố trung lập Viêng Chăn và Luông Phra Băng, ngày 24 tháng 1 năm 1974, các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào nhanh chóng tiến vào hai thành phố trung lập; đồng thời chiếm đóng các vị trí chiến lược quan trọng, làm cho thế và lực của cách mạng Lào phát triển vững chắc.


Tình hình diễn biến ngày càng thuận lợi cho cách mạng Lào, nhưng đế quốc Mỹ và bọn phản động cực hữu Viêng Chăn vẫn tìm mọi cách chống phá. Mỹ tiếp tục viện trợ cho quân đội và cảnh sát phái hữu nhằm khống chê Chính phủ Liên hiệp và hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia, sử dụng quốc hội Viêng Chăn ngăn cản hoạt động của hai cơ quan liên hiệp, gây rối làm cho tình hình Thủ đô hết sức căng thẳng.


Trước tình hình đó, Chính phủ Liên hiệp quốc gia tạm thời với cương vị là cơ quan điều hành hợp pháp đề nghị nhà vua giải tán quốc hội của phía Viêng Chăn. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân ở Viêng Chăn và một số địa phương khác, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải từng bước chấp hành Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn; đồng thời phải thực hiện việc rút cố vấn Mỹ và quân Thái Lan ra khỏi Lào, giải tán “lực lượng đặc biệt” Vàng Pao.


Trong khi đó, trên chiến trường Hạ Lào, Sư đoàn 968 quân tình nguyện được thành lập (trên cơ sở Đoàn 968 trước đây, có bổ sung thêm một số trung đoàn bộ binh và đơn vị binh chủng, theo Quyết định số 60 ngày 13 tháng 4 năm 1973 của Bộ Quốc phòng), giúp bạn giành nhiều thành tích to lớn. Nhiệm vụ chính của sư đoàn là: Giúp bạn bố trí lực lượng, huấn luyện quân sự, bồi dưỡng nghiệp vụ, đặc biệt là hướng dẫn bạn lãnh đạo các tầng lớp nhân dân tại các địa phương đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Viêng Chăn, tạo thế và lực cho quân và dân Lào đẩy mạnh cuộc đấu tranh giành thắng lợi.


Thực hiện chủ trương của bạn, ngày 21 tháng 1 năm 1974 Sư đoàn quyết định: Trung đoàn 9 phối hợp với Trung đoàn 59 (thiếu) chuẩn bị đánh địch tại thị xã Pắk Xoòng. Trung đoàn 19 là lực lượng dự bị chủ yếu, trước mắt cơ động về đông bắc Pắk Xoòng kiềm chế lực lượng GM33 và lữ đoàn 28 của địch tại các khu vực Tha Teng, Huội Sài, Huội Koòng. Các trung đoàn 102, 19, 39 bảo vệ thị xã Sa-ra-van. Sau khi chiếm được thị xã Pắk Xoòng, địch để lại trung đoàn 401 quân Thái Lan đóng giữ; GM33 về chốt giữ các vùng Huội Sài, Tha Teng hòng ngăn chặn ta từ hướng đông bắc Pắk Xoòng. Ngày 23 tháng 2 năm 1974, Trung đoàn 19 được lệnh tập kích bằng hoả lực pháo, cối tiêu diệt GM33 và GT4, buộc địch phải rút khỏi thị trấn Tha Teng, kết thúc chiến dịch. Từ đây, vùng giải phóng của bạn được mở rộng liên hoàn giữa các tỉnh Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt, Sa-ra-van, Át-ta-pư. Tuyến vận tải chiến lược 559 chi viện chiến trường Nam Đông Dương ngày càng được bảo vệ vững chắc.


Phát huy thắng lợi, trong những tháng đầu năm 1974 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 968 tiếp tục sát cánh cùng lực lượng vũ trang nhân dân bạn ở Nam Lào tiến công, kiên quyết buộc địch phải chấp hành các điều khoản Hiệp định trên cơ sở pháp lý ở các địa bàn giáp ranh Sa-ra-van, Bô-lô-ven, giúp nhân dân ổn định đời sống, tham gia làm đường, phát triển giao thông theo yêu cầu của chính quyền địa phương bạn. Đồng thời, Sư đoàn 968 giúp bạn mở các lớp huấn luyện cấp tốc nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị để bạn có thể độc lập đấu tranh với địch trên 3 mặt trận. Trong 3 tháng (từ tháng 2 đến cuối tháng 5-1974), sư đoàn giúp bạn tổ chức được ba lớp tập huấn cho hơn 500 cán bộ bạn. Nội dung tập huấn gồm những kiến thức cơ bản về đấu tranh chính trị kết hợp binh vận và công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ủng hộ cách mạng.


Ngày 17 tháng 2 năm 1974, Hội nghị toàn thể lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp, đánh giá ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Lào trong 18 năm qua nêu rõ: “Cách mạng Lào có bước phát triển to lớn, nhảy vọt, toàn diện, cơ bản, vững chắc, có ý nghĩa chiến lược, ý nghĩa lịch sử to lớn và có tính chất thời đại. Từ thắng lợi của cách mạng Lào là một đòn giáng vào dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ, làm thất bại một bước âm mưu chiến lược của chúng hòng biến nước Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự”1 (Tổng kết chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng (145-1975), Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 220, 221), về vai trò của lực lượng vũ trang, Hội nghị chỉ rõ: chúng ta (Lào) đã xây dựng được lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, luôn xứng đáng là công cụ bạo lực của giai cấp công nhân, của Đảng, trung thành với Tổ quốc, thương yêu nhân dân, dũng cảm, kiên cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và hy sinh, quyết đánh, quyết thắng mọi kẻ thù của dân tộc.


Căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng Lào, Hội nghị đề ra phương hướng nhiệm vụ trong giai đoạn mới là: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác trong vùng đối phương kiểm soát; tăng cường công tác mặt trận và dân vận. Tổ chức đấu tranh trong Chính phủ Liên hiệp. Hội đồng quốc gia Chính trị Liên hiệp và trong 2 thành phố trung lập; đẩy mạnh công tác ngoại giao; kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng thật vững mạnh, cải tiến về tổ chức và khâu tổ chức thực hiện nghị quyết. Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ, làm cho đảng viên có sự nhất trí cao; tích cực nghiên cứu, sớm có cương lĩnh chính trị cho giai đoạn mới"1 (Tổng kết chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng (1945-1975), Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 220, 221).


Trên cơ sở thế và lực mới của cách mạng, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng Lào điều chỉnh thế bố trí lực lượng vũ trang một cách cụ thể (vị trí đóng quân, nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến giữa quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng nhân dân Lào cho phù hợp với sự phát triển của cách mạng Lào.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Tư, 2021, 01:44:04 pm
Phối hợp với bạn chiến đấu ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng với Sư đoàn 316, còn có Trung đoàn 866 thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận 31. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 đã kiên trì chịu đựng khó khăn vất vả, hiểm nguy hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn giữ vững địa bàn, củng cố xây dựng đơn vị, giành chính quyền, bảo vệ khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Theo kế hoạch của Quân ủy Trung ương ta và bạn Trung đoàn 866 cử 40 đồng chí thông thạo tiếng Lào, có kinh nghiệm chiến đấu vào phía tây Viêng Chăn phối hợp với các đội công tác của bạn làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở củng cố và giúp đỡ các địa phương tuyên truyền về đường lối, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặc biệt là các địa phương có nhiều dân tộc ít người Lào. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 không quản khó khăn, gian khổ phối hợp cùng bạn làm tốt việc xây dựng cơ sở ở vùng địch hậu. Trong khi bọn tay sai phản động luôn tìm mọi cách mua chuộc và lợi dụng các bản người Lào Sủng (người Mẹo) để chia rẽ hoà hợp dân tộc, chống phá cách mạng Lào, các tổ công tác của ta đã tận tình giúp bạn tuyên truyền, vận động được đông đảo quần chúng ủng hộ cách mạng.


Trong thời gian này, tình hình cách mạng Lào có những diễn biến phức tạp. Một số sĩ quan phản động do tướng Thao-ma được bọn phản động Thái Lan ủng hộ, vượt sông Mê Kông làm đảo chính ở Viêng Chăn. Do biết trước kế hoạch của địch, ta và bạn đã dập tắt ngay cuộc đảo chính. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và kế hoạch xây dựng lực lượng ba năm (1973-1975), Bộ tư lệnh Mặt trận 31 phân chia khu vực và các hướng để tập trung đấu tranh phối hợp ba mũi giáp công, chú trọng công tác vận động binh lính địch và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Dựa vào việc một số đơn vị của phái hữu Lào đang có hiện tượng đào ngũ, không chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Bộ tư lệnh Mặt trận 31 cử các tổ, đội công tác xuống các địa phương giúp bạn tuyên truyền, vận động binh lính địch quay súng trở về với cách mạng sẽ được hưởng khoan hồng; đồng thời tích cực đấu tranh buộc địch phải thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đã ký kết trong Hiệp định.


Cuộc đấu tranh để trung lập hoá hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng diễn ra gay go quyết liệt vì phái hữu Lào đưa ra nhiều điều khoản phi lý. Nhưng trước sự mềm dẻo, kiên trì thuyết phục, sau nhiều phiên họp đàm phán giữa hai bên, ngày 3 tháng 4 năm 1974 Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và đoàn cán bộ của bạn đã đến Viêng Chăn an toàn để chuẩn bị thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp.


Ngày 5 tháng 4 năm 1974, Chính phủ Liên hiệp lâm thời quốc gia và hội đồng chính trị hiệp thương quốc gia do nhà vua trực tiếp ra chỉ dụ tiến cử. Tiếp đó, ngày 23 tháng 4 năm 1974, Chính phủ Liên hiệp lâm thời quốc gia thông qua chương trình công tác gồm 10 điểm. Ngày 25 tháng 5 năm 1974, Hội đồng chính trị liên hiệp Quốc gia đã nhất trí thông qua cương lĩnh chính trị gồm 18 điểm và văn kiện xác định quyền tự do dân chủ của nhân dân. Cương lĩnh chính trị được Chính phủ Liên hiệp Quốc gia tổ chức thực hiện và trở thành cương lĩnh chỉ đạo hoạt động của chính quyền các cấp trên toàn quốc, trở thành phương hướng và chỗ dựa cho nhân dân các bộ tộc và các lực lượng vũ trang toàn quốc tiến hành đấu tranh để bảo vệ hoà bình và hoà hợp dân tộc, thực hiện quyền tự do dân chủ và thống nhất dân tộc, xây dựng đất nước Lào độc lập, thống nhất và thịnh vượng.


Trước sự đấu tranh kiên quyết của quân và dân Lào, tháng 5 năm 1974, Mỹ và Thái Lan phải rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Lào. Sự kiện này làm cho quân phái hữu vốn đã suy yếu nay lại càng suy yếu hơn. Tình hình cách mạng Lào chuyển biến nhanh và thuận lợi, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta tiếp tục tập trung xây dựng kế hoạch cụ thể giúp bạn.


Đánh giá về quan hệ đoàn kết, hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước Việt - Lào, trong đó có quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động ở Lào theo yêu cầu của Đảng và nhân dân Lào, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nêu rõ: "Mối quan hệ đoàn kết Lào - Việt là mối quan hệ đặc biệt, tình nghĩa hiếm có trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài từ trước tới nay và từ nay về sau vẫn còn là yêu cầu thiết thân, sống còn của hai nước đối với cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Mối quan hệ đó là mẫu mực đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân, góp phần đấu tranh vì sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin"1 (Bài phát biểu của đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, hồ sơ CĐ-11, MQ-620, TCCT, tr. 35).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:49:27 pm
II. NẮM VỮNG THỜI CƠ, GIÚP BẠN THỰC HIỆN BA ĐÒN CHIẾN LƯỢC VÀ MŨI TIẾN CÔNG PHÁP LÝ, GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN ĐẤT NƯỚC LÀO (1974-1975)

Những tháng cuối năm 1974, cách mạng Lào đứng trước thuận lợi hết sức to lớn. Trên chiến trường, thế trận của cách mạng đã hình thành ngày càng vững chắc, các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào cũng như quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam được bố trí trên các địa bàn trọng yếu, sẵn sàng đẩy mạnh các hoạt động giành thắng lợi lớn.


Trong khi đó, đế quốc Mỹ tiếp tục viện trợ cho quân đội và cảnh sát phái hữu nhằm khống chế Chính phủ Liên hiệp và Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia, sử dụng Quốc hội của phía Viêng Chăn ngăn cản hoạt động của hai cơ quan liên hiệp, gây rối làm cho tình hình Thủ đô căng thẳng. Trước tình hình đó, Chính phủ Liên hiệp quốc gia tạm thời với cương vị là cơ quan điều hành hợp pháp đề nghị nhà vua giải tán Quốc hội của phía Viêng Chăn.


Lúc này, phong trào đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào phát triển sôi nổi và rộng khắp. Nhân dân vùng giải phóng hăng hái đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, ở vùng địch hậu và các thành phố lớn, các tầng lớp nhân dân tiến hành đấu tranh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhất là phong trào của công nhân, viên chức, thanh niên, sinh viên đấu tranh đòi đối phương thi hành các điều khoản đã ký trong Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn, đòi lực lượng Mỹ và Thái Lan rút khỏi Lào và trừng trị những tên phản động trong quân đội, cảnh sát và ngụy quyền Viêng Chăn gây nhiều tội ác với cách mạng Lào.


Về phía địch diễn ra mâu thuẫn và phân hoá thành nhiều phe phái, trong đó có 3 nhóm lớn: phái Bun-ùm ở Hạ Lào; phái Xi-núc và Chăm-pắc-sắc ở Trung Lào. Đa số binh lính ngụy tinh thần chiến đấu sa sút, không còn tin ở Mỹ và bọn chỉ huy cấp trên. Nhiều nơi, địch dùng lực lượng quân sự để tranh giành quyền lực, đem quân thanh toán lẫn nhau như ở Bắc và Nam Thà Khẹc. Tình thế ở Lào chuyển biến ngày càng có lợi cho sự nghiệp giải phóng đát nước, thực hiện hoà hợp dân tộc.


Trước sự lớn mạnh của cách mạng Lào, theo thoả thuận giữa Trung ương Đảng, Chính phủ ta và Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước, một bộ phận lực lượng quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào tiếp tục chấn chỉnh về tổ chức biên chế. Thực hiện chủ trương đó, ngày 11 tháng 7 năm 1974, Bộ Quốc phòng quyết định giải thể Bộ tư lệnh 31 trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh; đồng thời ra Quyết định số 116/QĐ thành lập Sư đoàn bộ binh 31, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4.


Buổi đầu thành lập, Bộ tư lệnh Sư đoàn 31 gồm: đại tá Nguyễn Lê Hoàn - nguyên Phó tư lệnh Mặt trận 31 làm Tư lệnh, đại tá Lê Vũ Nguyên - nguyên Phó chính ủy Mặt trận 31 làm Chính ủy; các Phó tư lệnh: đại tá Hà Vi Tùng, nguyên Phó tư lệnh Mặt trận 31 và thượng tá Phạm Đình Tê; Phó chính ủy - thượng tá Nguyễn Vân An. Về tổ chức Đảng có Đảng bộ Sư đoàn, các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần; các trung đoàn và tiểu đoàn trực thuộc. Theo quyết định của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4, Đảng ủy Sư đoàn 31 gồm có các đồng chí: Lê Vũ Nguyên - Bí thư, Nguyễn Lê Hoàn - Phó Bí thư và Hà Vi Tùng - Ủy viên thường vụ. Các đơn vị trực thuộc Sư đoàn 31 gồm: Trung đoàn bộ binh 866, Trung đoàn bộ binh 335, Tiểu đoàn pháo binh 42, Tiểu đoàn công binh 25, Tiểu đoàn thông tin 26, Tiểu đoàn Tăng thiết giáp, Bệnh viện 139 và các cơ quan, phân đội bảo đảm.


Ra đời vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 31 kê thừa truyền thống vẻ vang của các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế trên Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kế tục sự nghiệp của Bộ tư lệnh 959, Bộ tư lệnh 316 và Bộ tư lệnh 31 trong điều kiện hoàn cảnh mới. Các đơn vị hợp thành Sư đoàn 31 hầu hết được chuyền từ các đơn vị thuộc Mặt trận 31 sang, từng tham gia xây dựng, chiến đấu nhiều năm, lập những thành tích to lớn trên chiến trường Lào.


Ngay sau khi thành lập, Đảng ủy Sư đoàn 31 họp hội nghị đề ra chủ trương xây dựng đơn vị: "Tiếp tục xây dựng, vun đắp tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt - Lào, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững trật tự an ninh, hết sức hết lòng giúp bạn theo khả năng và phạm vi của mình để góp phần củng cố vùng giải phóng, đề cao tinh thần tự lực, tự cường, ra sức sản xuất thực hành tiết kiệm, quản lý tốt vật tư tài sản, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao"1 (Trích "Nghị quyết hội nghị Đảng ủy Sư đoàn 31" số 36/L1-TLLT tại Sư đoàn 31). Thực hiện chủ trương đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn cùng các đơn vị, cơ quan khẩn trương triển khai thực hiện nhiệm vụ, tập trung nắm tinh hình địch, địa hình, các đơn vị ta và bạn ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng; bổ sung và hoàn chỉnh các phương án chiến đấu phòng thủ khu vực, xây dựng phương án tiến công Long Chẹng, Buôm Lọng và phát triển tiến công trên hướng Sa La Phu Khun. Đồng thời tích cực củng cố kiện toàn cơ quan sư đoàn, các trung đoàn và đơn vị bạn, đáp ứng nhiệm vụ giúp bạn trong giai đoạn mới.


Đối tượng tác chiến trực tiếp của Sư đoàn bộ binh 31 ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân phái hữu Lào còn khá đông. Ngoài ra, địch còn tổ chức các toán thám báo, lực lượng hoạt động ngầm. Tuy nhiên, lực lượng địch ở khu vực Cánh Đồng Chum nói riêng và toàn nước Lào nói chung đã có những suy yếu do nội bộ phân hoá, tinh thần binh lính sa sút.


Trong khi đó, lực lượng cách mạng Lào ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có bước phát triển mới. Theo yêu cầu của bạn, Sư đoàn 31 triển khai lực lượng chốt giữ 17 điểm ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, sẵn sàng chiến đấu làm hậu thuẫn cho bạn thực hiện Hiệp định Viêng Chăn; đồng thời tranh thủ thời gian đẩy mạnh huấn luyện, nâng cao khả năng tác chiến, vận chuyển vật chất, chuẩn bị cơ sở đế tiếp nhận một số cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt trước đây trao trả.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:50:21 pm
Mặc dù chiến trường ở cách xa hậu phương Quân khu 4, nhưng Đảng ủy, Bộ tư lệnh Sư đoàn 31 luôn chủ động lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh chỉ thị cấp trên về huấn luyện chiến đấu, kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, đưa dần công tác huấn luyện vào nền nếp, bảo đảm đúng phương châm: "Cơ bản, hệ thống, toàn diện" sát với thực tế chiến đấu. Sư đoàn tích cực, chủ động giúp bạn tổ chức bồi dưỡng tại chức cho cán bộ chỉ huy phân đội, cơ quan, cán bộ chuyên môn sát với yêu cầu và nhiệm vụ chiến đấu ở Lào. Trong sáu tháng cuối năm 1974, Sư đoàn giúp bạn mở được 45 lớp tập huấn cán bộ các cấp, bồi dưỡng 2.812 lượt cán bộ, trong đó có 308 cán bộ trung cấp, 1.021 cán bộ sơ cấp, 926 tiểu đội trưởng, 512 cán bộ chuyên môn kỹ thuật. Thời gian mỗi lớp tập huấn từ 65 đến 80 ngày, gồm cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên tham dự. Nội dung tập huấn gồm: chiến thuật vận động tập kích, vận động bao vây tiến công liên tục và phòng ngự trận địa. Kết quả kiểm tra các lớp đều đạt 100% yêu cầu, trong đó có 55% khá giỏi.


Cùng với quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn vừa bảo đảm đủ, kịp thời nhu cầu về ăn, mặc, vũ khí đạn dược, thuốc men thường xuyên thiết yếu; vừa tích cực vận chuyển bảo đảm lượng dự trữ chiến đấu theo đúng yêu cầu quy định của trên. Để đảm bảo nơi ăn, ở, đường cơ động, vận chuyển, sư đoàn huy động một lực lượng lớn gồm 5 tiểu đoàn và ba cơ quan sư đoàn làm doanh trại, tu sửa đường sá và sân bay giúp bạn. Để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm tốt nhiệm vụ quốc tế ở Lào trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngày 20 tháng 7 năm 1974, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 10/CT-H xác định rõ nhiệm vụ: "Giáo dục động viên bộ đội nhận rõ trách nhiệm lịch sử của Đảng ta, nhân dân và quân đội ta đối với cách mạng nước bạn. Tăng cường đoàn kết quốc tế, giữ nghiêm kỷ luật trong quan hệ giúp bạn. Kịp thời chấn chỉnh, củng cố, kiện toàn tổ chức lãnh đạo, tổ chức quần chúng; có kế hoạch và phương pháp công tác chu đáo, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn giành thắng lợi quyết định kết thúc sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2004), Sđd, tr. 963).


Thực hiện chỉ thị của Tổng cục Chính trị, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tổ chức phổ biến tinh thần chỉ thị của Tổng cục tới tất cả cán bộ, chiến sĩ, xác định đúng đắn mối quan hệ cách mạng ba nước Đông Dương. Nhận thức được ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến mỗi nước ảnh hưởng trực tiếp đến thắng lợi của cả ba nước Đông Dương. Vì vậy, đoàn kết chiến đấu với cách mạng Lào tiếp tục được quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam phát huy với sức mạnh mới.


Những tháng cuối năm 1974, quân và dân miền Nam đẩy mạnh tiến công địch trên chiến trường, tạo thế áp đảo chủ lực địch trên các địa bàn xung yếu, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở cả ba vùng chiến lược, đặc biệt là vùng đô thị, nơi hậu phương của địch. Những điều kiện thuận lợi đó cho phép Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta chủ trương giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 và có thể sẽ sớm hơn; đồng thời góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi to lớn.


Xác định đúng tầm quan trọng của chiến trường Lào, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng ta và bạn đã có nhiều cuộc họp trao đổi để thống nhất nhiệm vụ giúp bạn trong giai đoạn cách mạng mới. Căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nước Lào, ta và bạn bàn bạc thống nhất xác định: Trong những năm 1973-1975 không đơn thuần là đấu tranh bằng quân sự nữa, mà hình thức đấu tranh cần phải thay đổi, chuyển hướng đấu tranh kết hợp ba đòn chiến lược.


Một là, ta giúp bạn tiếp tục phát huy thế chủ động tiến công địch, huy động các lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh... nổi dậy mạnh mẽ ủng hộ cách mạng.

Hai là, giúp bạn củng cố vững chắc vùng giải phóng. Buộc địch phải từng bước thực hiện các điều khoản Hiệp định Viêng Chăn. Vận động binh biến trong quân đội ngụy.

Ba là, giúp bạn xây dựng, tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng. Nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.


Sau khi xác định nhiệm vụ Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng ta giao, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tích cực triển khai các hoạt động giúp bạn Lào. Khác với những năm 1969-1972, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta sang giúp bạn hoạch định chủ trương, biện pháp, các phương án tác chiến, xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, phối hợp cùng bạn chiến đấu. Đến những năm 1973-1975, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam chủ yếu giúp bạn bảo vệ vùng giải phóng, đấu tranh kết hơp ba đòn chiến lược, buộc địch phải thực hiện Hiệp định Viêng Chăn. Trong hai năm 1974-1975, lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục giúp bạn, cùng với bạn giành những thắng lợi ngày càng to lớn.


Để đáp ứng yêu cầu giúp bạn Lào trong điều kiện mới, được sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng ta, cuối tháng 9 năm 1974, Đoàn ủy Đoàn 959 tổ chức Hội nghị tổng kết công tác chuyên gia giúp bạn (từ năm 1959-1974); qua đó rút kinh nghiệm và phổ biến chủ trương, nhiệm vụ, phương châm, phương pháp giúp bạn trong tình hình mới. Hội nghị nêu rõ: “Phương châm giúp bạn của ta là toàn diện, cơ bản, giúp cả việc xây dựng, chiến đấu, giúp công tác trước mắt và lâu dài. Bạn phải chủ động suy nghĩ, ta tham gia ý kiến, nhằm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giúp cách mạng Lào để Lào tự làm lây” và “Giúp Lào là nhiệm vụ quốc tế, vừa là nhiệm vụ cách mạng của mình, giúp bạn phải đứng trên tình đồng chí, anh em, giúp một cách tận tình, vô tư, trong sáng"1 (Hồ sơ 83-A, lưu tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu).


Quán triệt chủ trương của Đảng, Đoàn ủy Đoàn 959 triển khai kế hoạch giúp bạn tranh thủ thời cơ, thực hiện ba đòn chiến lược và mũi tiến công pháp lý. Lúc này, phong trào đấu tranh của quần chúng trong cả nước phát triển sôi nổi và rộng khắp. Sự thành công của bạn trên mặt trận đấu tranh pháp lý cùng lực lượng vũ trang cách mạng có mặt ở hai thành phố trung lập Viêng Chăn và Luông Phra Băng góp phần tạo thế hỗ trợ nhân dân tại hai thành phố này đấu tranh quyết liệt làm cho ngụy quân, ngụy quyền hoang mang, lo sợ. Nội bộ địch vốn đã có nhiều mâu thuẫn càng mâu thuẫn sâu sắc.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:51:24 pm
Tháng 10 năm 1974, cùng với các hướng khác trên chiến trường Lào, Đoàn 463 Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẩn trương cử cán bộ xuống các địa phương giúp bạn tổ chức tuyển quân, bổ sung quân số và trang bị kỹ thuật cho các đơn vị, đặc biệt là bộ đội địa phương. Đồng thời cùng bạn mở cấp tốc ba lớp tập huấn cho 816 cán bộ, chiến sĩ nhằm phổ biến cho bạn một số nội dung về giáo dục chính trị, tư tưởng và các bài tập về huãn lụyện quân sự cơ bản. Cán bộ của Đoàn phổ biến cho nhân dân địa phương nơi đóng quân những kiến thức về Đảng, cách mạng, về cách tổ chức và các kinh nghiệm đấu tranh kết hợp ba đòn chiến lược và mũi tiến công pháp lý.


Địa bàn hoạt động của Đoàn 463 phần lớn là chiến trường rừng núi, địa bàn ngăn cách, xa hậu phương. Đời sống của bạn còn gặp nhiều khó khăn, nên khả năng cung cấp tại chỗ cho quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta là rất ít. Mặt khác, khí hậu trên chiến trường Lào rất khắc nghiệt, đường sá quanh co nên việc tiếp tế gặp nhiều khó khăn. Nhiều lúc lương thực hết, cán bộ, chiến sĩ ta phải chia sẻ cho nhau và cho bạn từng bánh lương khô, từng bó rau rừng.


Trước những khó khăn gian khổ, tinh thần cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam vẫn vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Tại các vùng Xa Vẳn Na Khệt, Bô Ri Khăm, Na-luông-na-xu... nhiều tổ, đội công tác của ta vào từng bản vận động, tuyên truyền nhân dân ủng hộ cách mạng, đặc biệt là tập hợp lực lượng phụ nữ, thanh niên làm tốt công tác binh vận, địch vận, được Đảng và nhân dân bạn tin yêu.


Cuối tháng 10 năm 1974, Đoàn 565 nhận lệnh trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Những năm đầu thành lập, Đoàn 565 thực hiện cả chức năng chuyên gia quân sự và quân tình nguyện hoạt động ở khu vực Nam Lào, đến năm 1968, chuyển tập trung thực hiện chức năng chuyên gia quân sự. Sau gần 10 năm đã giúp bạn từng bước trưởng thành, tự đảm đương được nhiệm vụ và giành thắng lợi rất đáng kể. Buổi tiễn đoàn có đại diện của đơn vị bạn ở Nam Lào diễn ra lưu luyến, đầy tình cảm đoàn kêt đặc biệt giữa hai quân đội Việt - Lào anh em.


Đầu tháng 11 năm 1974, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp nêu rõ: Chúng ta buộc đối phương phải thông qua Chương trình 10 điểm của Chính phủ Liên hiệp; thông qua quy chế tổ chức và chương trình hành động, nhằm xây dựng nước Lào hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng. Phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, trong đó có một bộ phận quân đội và cảnh sát thuộc phái hữu được cách mạng giác ngộ ngày càng lên cao. Phạm vi kiểm soát tạm thời của phái Viêng Chăn bị thu hẹp (chỉ còn dọc bờ sông Mê Kông) nhưng lại bị chia thành hai khu: khu trung lập và khu chính quyền Viêng Chăn quản lý. Cả hai khu này đều có cơ sở của Đảng và Mặt trận yêu nước Lào.


Trên cơ sở phân tích, nhận định tình hình, Trung ương Đảng bạn đề ra nhiệm vụ: “Lãnh đạo nhân dân xây dựng và giữ vững vùng giải phóng, làm chỗ dựa cho cách mạng cả nước. Ra sức phát động phong trào cách mạng ở phía bên kia, tranh thủ thời cơ phối hợp chặt chẽ giữa các vùng, phối hợp các mặt đấu tranh với thái độ kiên quyết bền bỉ, những linh hoạt, sáng tạo, đưa cuộc đấu tranh lên một bước mới. Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tạo điều kiện tiến lên thực hiện thống nhất và đưa đất nước Lào theo con đường xã hội chủ nghĩa”1 (Hồ sơ B4-1. Tài liệu lưu tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).


Về mục tiêu đấu tranh, Trung ương Đảng bạn chỉ rõ: Phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ sự thao túng và khống chế của đế Quốc Mỹ; tranh thủ phân hoá lực lượng phái hữu làm cho chúng bị cô lập; chuyển hoá từng bước quân phái hữu, làm cho lực lượng chiến đấu của chúng bị suy sụp, kiên quyết không để cho bọn phản động dùng quân của chúng lật đổ Chính phủ Liên hiệp và gây lại xung đột vũ trang. Đấu tranh làm cho bộ máy chính quyền Viêng Chăn từ Trung ương tới cơ sở bị tê liệt, không có điều kiện thực hiện các chủ trương phản động. Tranh thủ sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, từng bước cải tiến cơ cấu kinh tế, tài chính ngày càng có ỉợi cho sự phát triển kinh tế của cả nước.


Phương châm hành động trong giai đoạn tới được xác định là: Giương cao ngọn cờ hoà bình, độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc, thống nhất quốc gia. Tranh thủ tiến công địch, nhưng phải biết nhân nhượng, trung lập hoá mọi lực lượng; kể cả tranh thủ nhà vua và các hoàng tộc, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong các phe phái thuộc phái hữu, tranh thủ các nhóm Bắc và Nam Lào, làm cho nội bộ của chúng ngày càng rạn nứt sâu thêm.


Ngày 26 tháng 11 năm 1974, trước yêu cầu khẩn trương của cách mạng Lào, để làm tốt hơn nữa nhiệm vụ giúp bạn, Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác chuyên gia giúp bạn trong 2 năm (1973-1974) và đề ra kế hoạch tiếp tục giúp bạn trong thời gian tới. Sau hội nghị, Trung đoàn cử các tổ công tác, mỗi tổ gồm 3 ngươi với trang bị gọn, nhẹ, đa số biết tiếng địa phương vào các huyện ở phía tây Viêng Chăn giúp bạn củng cố, phát triển các đội du kích, xây dựng cơ sở vững chắc, phát động quần chúng đấu tranh giành chính quyền. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 quân tình nguyện đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để gần gũi với nhân dân các bộ tộc Lào khi bọn tay sai phản động tìm mọi cách lợi dụng trình độ dân trí thấp của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa để chia rẽ hoà hợp dân tộc. Nhờ sự tuyên truyền, vận động giúp đỡ tận tình của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866, lực lượng bộ đội địa phương và du kích của bạn trưởng thành và lớn mạnh, dần dần có thể hoạt động độc lập có hiệu quả về các phương pháp đấu tranh, tạo cơ sở hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nhân dân đấu tranh giành thắng lợi.


Cùng với việc giúp bạn ổn định tổ chức, xây dựng kế hoạch tác chiến, Trung đoàn 866 chú trọng huấn luyện, học tập nghị quyết của Đảng ủy, đồng thời tranh thủ tăng gia cải thiện bữa ăn cho cán bộ, chiến sĩ. Trong tháng cuối năm 1974, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 924 (Trung đoàn 866, Sư đoàn 31) phối hợp với bạn mở đường, bắc cầu từ Phôn Xa Vẳn đi Tha Viêng đến Nậm Xiêm - Sảm Thông xong trước thời hạn một tháng. Nhờ vậy, việc vận chuyển hàng hoá, lương thực, đạn dược từ vùng giải phóng ra phía trước an toàn, thuận lợi.


Cùng thời gian này, trung đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn huấn luyện được hàng nghìn tân binh bổ sung cho các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào. Trong công tác huấn luyện, Trung đoàn 866 thực hiện tốt phương châm do Bộ đề ra gồm: huấn luyện cả tiến công và phòng ngự, trong đó tiến công làm chủ yếu. Bên cạnh đó, chú trọng chấp hành nghiêm túc, chặt chẽ các điều lệnh, chế độ quy định trong quân đội. Tập trung huấn luyện theo đối tượng tác chiến là quân ngụy Lào, lính đánh thuê Thái Lan có sự chi viện hoả lực không quân, pháo binh Mỹ.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:52:35 pm
Tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 968 nhận lệnh trở về nước chuyển vào hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên. Kể từ khi thành lập (1968), Đoàn 968 làm nhiệm vụ quân tình nguyện ở khu vực Nam Lào đã giúp bạn củng cố, xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, sát cánh cùng bạn chiến đấu lập nhiều chiến công, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng Lào.


Theo yêu cầu của bạn, cuối tháng 12 năm 1974, Trung đoàn 866 cử một bộ phận cán bộ từ Na-nu xuống Lạt Huồng giúp bạn triển khai các phương án giành chính quyền. Trước khi rời Na-nu, trung đoàn tổ chức bàn giao tặng Ủy ban tỉnh Xiêng Khoảng một hội trường làm bằng gỗ gồm 200 chỗ ngồi để bạn có điều kiện hội họp. Khi đến vị trí tập kết, cán bộ, chiến sĩ ta khẩn trương ổn định tổ chức, phân công mỗi tổ công tác gồm 5 người, trong đó có một người biết tiếng Lào, tiến sâu vào vùng địch kiểm soát tiếp xúc, yêu cầu chúng không bắn pháo sang phía cách mạng. Nhiều cuộc tiếp xúc, thương lượng đã diễn ra giữa cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng nhân dân Lào và đối phương. Sự thuyết phục mềm dẻo, kiên quyết của bạn đã góp phần hạn chế xung đột vũ trang, tránh thương vong không cần thiết cho nhân dân.


Sau nhiều phiên họp, ngày 28 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Liên hiệp và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp buộc phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm của Trung ương Đảng bạn đưa ra và coi Cương lĩnh 18 điểm là nguyên tắc hoạt động đối nội, đối ngoại của Chính phủ Liên hiệp lần này.


Dưới ánh sáng của nghị quyết Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng, sôi nổi. Từ cuộc đấu tranh vì sự công bằng, đòi quyền sống trong hoà bình, quyền dân chủ tiên tới cuộc nổi dậy giành chính quyền từng phần.


Trước tình hình diễn biến khẩn trương, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra chỉ thị (số 63-TV TWL) về nhiệm vụ, phương hướng của cách mạng Lào nêu rõ: “Trong thời gian tới, để tiến công địch, phải đẩy mạnh phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân bằng mọi hình thức. Phối hợp với các cuộc đấu tranh ở vùng giải phóng, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Đối với binh lính địch phải vận động họ dần dần, đặc biệt là lực lượng Vàng Pao. Đối với tầng lớp trung gian và thân sĩ, họ là lực lượng giữ vai trò đáng kể, vì vậy phải đấu tranh làm cho họ nhận rõ kẻ thù, ủng hộ cách mạng”1 (Chỉ thị về tình hình và nhiệm vụ phương hướng công tác ở Lào năm 1974, lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Bước sang năm 1975, tình thế cách mạng Lào có sự chuyển biến thuận lợi. Thời cơ kết hợp tiến công địch bằng ba đòn chiến lược và mũi đấu tranh pháp lý để giành chính quyền ở từng khu vực xuất hiện. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, dựa vào sự hợp pháp của Cương lính chính trị 18 điểm, các tầng lớp nhân dân trong vùng kiểm soát tạm thời của phía Viêng Chăn nổi dậy đấu tranh mạnh mẽ và liên tục đòi lật đổ bọn phản động phái hữu. Nổi bật nhất là cuộc nổi dậy đấu tranh kiên cường của nhân dân huyện Noọng Boốc tỉnh Khăm Muộn (1-1975), giành thắng lợi, chính quyền cách mạng được thành lập. Tiếp đó, ngày 7 tháng 1 năm 1975, hàng nghìn người dấn thị xã Thà Khẹc xuống đường diễu hành biểu dương lực lượng đòi phía Viêng Chăn phải nghiêm chỉnh thực hiện cương lĩnh chính trị 18 điểm. Đặc biệt, ngày 10 tháng 2 năm 1975, tại hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng, hàng vạn người thuộc các tầng lớp nhân dân biểu tình đòi chính quyền tại vùng kiểm soát của phái Viêng Chăn thực hiện cương lĩnh chính trị của hội đồng chính trị quốc gia liên hiệp, đòi thay đổi lãnh đạo chính quyền.


Hoà cùng khí thế sục sôi của cách mạng Lào, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh nhiệm vụ giúp bạn. Trong những tháng đầu năm 1975, Sư đoàn 31 hoàn thành việc nắm địch, chuẩn bị chiến trường trên hướng Sa La Phu Khun, bổ sung hoàn chỉnh các kế hoạch, phương án tiến công Long Chẹng, Buôm Lọng và phòng thủ vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Các đơn vị đều sẵn sàng chiến đấu, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch xâm lấn vùng giải phóng, hỗ trợ kịp thời các lực lượng cách mạng Lào. Tiểu đoàn công binh 25 huy động toàn bộ quân số xây dựng các công trình phòng thủ trên các vị trí then chốt. Trung đoàn 335 và một số phân đội của Tiểu đoàn 24 (phòng không), Tiểu đoàn 42 (pháo binh) tập trung sửa chữa bảo dưỡng 4 đoạn đường giao thông chính với tổng chiều dài hơn 150km trước mùa mưa lũ.


Đầu tháng 4 năm 1975, để hỗ trợ các lực lượng cách mạng Lào ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sư đoàn bộ binh 31 được Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ tư lệnh Quân khu 4 tăng cường Trung đoàn công binh 299 và Tiểu đoàn công binh 27 bảo đảm đường cơ động và vận chuyển từ Nậm Tiền, Nậm Mật vào Cánh Đồng Chum, Mường Sủi và hướng Sảm Thông, Long Chẹng. Cùng thời gian này, Sư đoàn cử 3 đội trinh sát cơ động bám nắm địch trên các hướng Sa La Phu Khun, Sảm Thông, Long Chẹng, Buôm Lọng kịp thời bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến đề ra.


Trong khi ở Lào, khí thế đấu tranh cách mạng đang sục sôi, thì tình hình chiến sự ở Cam-pu-chia và Việt Nam phát triển rất nhanh, tạo thuận lợi hỗ trợ cho cách mạng Lào phát triển. Ở Cam-pu-chia, lực lượng vũ trang tiến công địch quyết liệt, các lực lượng yêu nước siết chặt vòng vây quanh Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 12 tháng 4 năm 1975, những tên lính Mỹ cuối cùng đã phải ròi khỏi Thủ đô nước này. Ngày 17 tháng 4 năm 1975, quân đội Cam-pu-chia mở cuộc tiến công cuối cùng đánh thẳng vào Thủ đô Phnôm Pênh, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Ở miền Nam Việt Nam, chỉ hơn một tháng (từ ngày 4-3 đến ngày 8-4-1975), quân và dân ta mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy dồn dập, giải phóng một vùng rộng lớn từ Tây Nguyên đến Trị Thiên, Huế, Đà Nẵng và đồng bằng Trung Bộ, bao gồm 16 tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn, diệt và làm tan rã 2 quân đoàn và 2 quân khu quan trọng của địch. Phát huy thắng lợi, quân và dân ta thực hiện cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Thắng lợi của cách mạng Cam-pu-chia, đặc biệt là thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã tạo thuận lợi cho cách mạng Lào, thời cơ chiến lược chưa từng có để giải phóng đất nước. Trước tình hình đó, ngày 5 tháng 5 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng bạn họp hội nghị mở rộng, quyết định phát động quân và dân cả nước nổi dậy với thế trận ba vùng và bằng ba đòn tấn công chiến lược, kết hợp với mũi đấu tranh pháp lý, đồng loạt tiến công địch, giành chính quyền trong thời gian ngắn nhất. Bộ Chính trị kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Lào quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:55:03 pm
Quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị, bạn cử một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và úy viên Trung ương Đảng tăng cường đến các hướng để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo. Các đồng chí Xom Xừn và Xa-mán - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đi Pắk Xế - Hạ Lào; đồng chí Nu-hắc - Ủy viên Bộ Chính trị xuống Xa Vẳn Na Khệt (Trung Lào); đồng chí Sa Lỳ - Ủy viên Trung ương Đảng lên Luông Phra Băng (Bắc Lào), ở khu trung tâm Cánh Đồng Chum - Viêng Chăn đồng chí Xi-xa-vạt - Úy viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo. Theo đề nghị của bạn, các đoàn chuyên gia ta cử một số cán bộ cùng đi với các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng bạn theo sát các hướng chiến lược để trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Tuy số lượng chuyên gia không nhiều, nhưng trước yêu cầu của Quân ủy bạn, Đoàn 959 chỉ để lại cơ quan một số cán bộ theo dõi tình hình hằng ngày, nghiên cứu, đề xuất giúp chỉ đạo chung. Bộ phận chuyên gia còn lại bố trí đi cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương bạn xuống giúp các mặt trận củng cố lực lượng, phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị, sẵn sàng tiến công, tiêu diệt địch, hỗ trợ nhân dân giành chính quyền; đồng thời cùng cán bộ chỉ huy các mặt trận thâm nhập vào vùng đối phương đang kiểm soát chuẩn bị chiến trường, hoàn chỉnh các phương án tác chiến cho đợt tổng tiến công mới.


Điều kiện giải phóng đất nước Lào đứng trước thời cơ thuận lợi chưa từng có. Đoàn chuyên gia báo cáo tình hình và kiến nghị một số vấn đề với đồng chí Tổng Bí thư bạn. Ngày 7 tháng 5 năm 1975, Thường vụ Bộ Chính trị bạn họp phiên khẩn cấp. Sau khi xem xét diễn biến tình hình, Bộ Chính trị bạn hạ quyết tâm: Đưa toàn bộ lực lượng vũ trang ở các hướng nhanh chóng tiến vào vùng đối phương đang kiểm soát, kiềm chế địch, hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng, phong trào binh biến của binh lính địch, giành chính quyền ở từng địa phương.


Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, ngày 8 tháng 5 năm 1975, Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào ra lệnh cho các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương trên các hướng nhanh chóng tiến quân áp sát địch, chiếm lĩnh các vị trí xung yếu trong các thành phố, thị xã, thị trấn theo kế hoạch. Chấp hành mệnh lệnh của Quân ủy, các đơn vị ở các hướng đồng loạt xuất quân, tổ chức "hành quân thần tốc", nhanh chóng tiến vào tiếp cận các mục tiêu đã được giao. Bộ phận chuyên gia ở từng hướng được lệnh theo sát giúp bạn trong hành quân, sẵn sàng chiến đấu.


Sư đoàn 31 dưới sự chỉ huy của đồng chí Phạm Đình Tê, sử dụng một bộ phận lực lượng cơ động, một đại đội pháo 130 ly và một đại đội súng máy cao xạ 14,5 ly tiến vào hướng Sảm Thông triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu ở khu trung gian, cùng bạn gây áp lực giành quyến kiểm soát các căn cứ địch. Trên hướng Mường Sủi, một lực lượng khác của Sư đoàn 31 quân tình nguyện gồm 2 khẩu pháo 122 ly (có 200 viên đạn), 3 xe tăng và một đại đội phòng không tiến vào chiếm lĩnh trận địa sẵn sàng đánh địch theo yêu cầu của bạn. Ngoài ra, một đại đội pháo nòng dài 85 ly của sư đoàn, sẵn sàng tiêu diệt các mục tiêu địch ở Buôm Lọng. Do lực lượng vũ trang cách mạng huyện Mường Khăm của bạn gặp khó khăn trên hướng Buôm Lọng, Sư đoàn 31 chủ động giúp bạn về, áo quần, thuốc men và trang bị cho hai trung đội bộ đội huyện mọi thứ cần thiết làm nhiệm vụ, tuyên truyền địch vận.


Quán triệt quyết tâm của Bộ Chính trị và Bộ chỉ huy tối cao của bạn, các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh hoạt động trên các hướng chiến lược. Ở hướng Hạ Lào, các tiểu đoàn 10, 11, 12 bạn cùng 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội xe tăng AM tiến quân dọc đường số 13, nhanh chóng áp sát, sẵn sàng đánh chiếm chỉ huy sở của quân khu 4, sân bay và căn cứ giang thuyền của quân khu, hỗ trợ 20.000 dân nổi dậy giành chính quyền ở Pắk Xế.


Trên hướng Trung Lào, các tiểu đoàn 14, 18, 19 bộ binh và các đơn vị bạn từ Sê Nô hành quân tiến thắng vào thành phố Xa Vẳn Na Khệt. Trước sức mạnh và khí thế của hàng vạn nhân dân địa phương, ngày 18 tháng 5 năm 1975, Tư lệnh Quân khu 3 và Tỉnh trưởng Xa Vẳn Na Khệt buộc phải đầu hàng. Trong khi đó, một cánh quân khác ở Trung Lào đánh chiếm Thà Khẹc, hỗ trợ nhân dân thị xã nổi dậy giành chính quyền.


Ở hướng Bắc Lào, Tiểu đoàn 13 nhanh chóng chiếm Pạc U, Pạc Xương, tiếp đó phối hợp với hai tiểu đoàn 408, 409 đang làm nhiệm vụ bảo vệ và cảnh sát liên hiệp trong thành phố Luông Phra Băng chiếm giữ thành phố, vận động tiểu đoàn 106 ngụy làm binh biến, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chiếm thị trấn Xiêng Ngôn, cắt đứt một đoạn đường dài hơn 200 km nối liền hai thành phố Luông Phra Băng và Viêng Chăn.


Ở hướng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Viêng Chăn, thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ưởng bạn, cụm chủ lực của Quân khu Cánh Đồng Chum tập trung lực lượng tiến công cụm phòng ngự lữ đoàn 2 lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở ngã ba Sa La Phu Khun, làm chủ vị trí quan trọng này.


Ngày 18 tháng 5, thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy tối cao, lực lượng của Quân khu Cánh Đồng Chum tiếp tục chia làm hai cánh, đánh chiếm Phôm Xi-da, Pha Hôn, giải phóng thị trấn Ca Xỉ.


Phối hợp với các đơn vị tiến công hướng chính, lực lượng vùng địch hậu ở Viêng Chăn, gồm Tiểu đoàn 613, đại đội đặc công và đơn vị bộ đội địa phương từ Pha-la Vẹt tổ chức chiếm vùng Phu Khau Khoai. Ngày 16 tháng 5, các tiểu đoàn 15, 16, 24, 216 (Pát-chay) tiến công quân khu 2 của lực lượng Vàng Pao đánh chiếm các vị trí Na Su, Pa Đông, Sảm Thông. Tiếp đó, tiến công chiếm Loong Chẹng, chỉ huy sở của quân khu ngụy, hang ổ "Vương quốc Mẹo" - một căn cứ của bọn phỉ ở Lào trước đây ta và bạn đã nhiều lần tổ chức tấn công, nhưng không thành công.


Sau 6 ngày (từ ngày 18 đến ngày 23-5-1975), các lực lượng vũ trang Lào đã tiến công, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một số địa bàn chiến lược quan trọng, tạo thế bao vây, chia cắt các thành phố, thị xã, các quân khu, phân khu của địch trên từng chiến trường.


Hoảng sợ trước khí thế tiến công và nổi dậy của quân và dân Lào, Mỹ - ngụy tìm mọi cách chống lại, hy vọng lật đổ được Chính phủ Liên hiệp, gạt Pa-thét Lào và giữ Phu-ma lại để kéo dài được tình trạng hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội như Hiệp định Viêng Chăn năm 1973 quy định. Thực hiện âm mưu đó, Mỹ chỉ đạo CIA trực tiếp điều khiển bọn cực hữu; đồng thời giúp sức cho lực lượng bên trong được pháo binh Thái Lan ở bên kia bờ sông Mê Kông chi viện, liên tiếp tiến hành hai cuộc đảo chính đều bị thất bại.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:55:45 pm
Trong tình thế bất lợi, cuối tháng 5 năm 1975, đế quốc Mỹ phải rút những tên tay sai đầu sỏ bị nhân dân căm gét chạy trốn sang Thái Lan. Riêng lực lượng Vàng Pao được Mỹ bảo lãnh đưa cả gia đình cùng 60 sĩ quan cấp tá và 200 tên thân cận của lực lượng đặc biệt chạy trốn sang U Bon (Thái Lan) xây dựng căn cứ mới ở U Bon. Tại đây, chúng tập hợp được khoảng 4.500 tên phỉ Mẹo cùng gia đình, tổ chức thành 3 trung đoàn mang tên "Hổ Đen", "Hổ Trắng”, "Hổ Vàng". Mỹ thực hiện viện trợ khẩn cấp 150 triệu đô la để nuôi dưỡng và khuyến khích Vàng Pao, tiếp tục đánh phá cách mạng Lào.    Sau khi bọn phản động đầu sỏ bỏ chạy sang Thái Lan, sáu Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp lần lượt xin từ chức. Để tranh thủ lợi thế về mình, Phu-ma đưa Khăm Uồn - nguyên tỉnh trưởng Phong Xa Lỳ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, người của phái trung lập làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng thời giao cho Khăm Uồn phụ trách toàn bộ công tác Quốc phòng và chỉ huy quân đội Vương quốc. Trước tình hình bọn đầu sỏ phản động chạy trốn và khí thế tiến công nổi dậy của quân dân Lào dâng cao, tinh thần quân ngụy Lào ngày càng hoang mang, sức chiến đấu giảm sút. Giữa tháng 5 năm 1975, hàng loạt đơn vị quân ngụy Lào binh biến ly khai tập thể, trong đó có 45 tiểu đoàn và đại đội ngụy ở Quân khu 5 (Viêng Chăn), các trường huấn luyện sĩ quan bộ binh, pháo binh, công binh ở Chi-nai-mô; các đơn vị bảo vệ cơ quan Bộ Tổng tham mưu ở Phôn Hồng, xe tăng, thiết giáp, lực lượng pháo binh ở km 27, tổng kho 21, lực lượng bảo vệ sân bay Vát Tày đều ly khai khỏi quân đội Vương Quốc.


Nắm bắt thời cơ thuận lợi, ngày 15 tháng 5, Quân ủy Trung ương và Bộ Chỉ huy tối cao Lào lệnh cho một cánh quân của bạn có chuyên gia ta giúp đang tạm dừng ở Văng Viêng tiếp tục tiến quân. Một đại đội của Tiểu đoàn 2 nhanh chóng tiến vào Chi-nai-mô, trung tâm quân sự lớn nhất của Viêng Chăn, tiếp nhận các trường sĩ quan huấn luyện và các đơn vị ly khai của quân đội Vương quốc. Trong khi đó, các tiểu đoàn 701, 705, 13, Tiểu đoàn 2 (trừ 1 đại đội), cùng các đơn vị xe tăng, pháo mặt đất, pháo phòng không được lệnh tiến thẳng vào Viêng Chăn, phối hợp với các đơn vị đang làm nhiệm vụ bảo vệ và cảnh sát ở Thủ đô nhanh chóng đánh chiếm các vị trí xung yếu của địch trong nội thành.


Cùng ngày 18 tháng 5, hàng nghìn nhân dân thị xã Văng Viêng (cách Thủ đô Viêng Chăn 150 km về phía Bắc) nổi dậy lật đổ chính quyền địch. Bộ đội địa phương Viêng Chăn đánh chiếm thị trấn Phôn Hồng. Quân và dân Lào nổi dậy làm chủ Pắk Xế, trung tâm của Quân khu 4. Giữa tháng 5, lực lượng vũ trang bạn đã hình thành thế bao vây, chia cắt chiến lược đối với hai phân khu xung yếu của địch. Ngày 16 tháng 5, các tiểu đoàn 24, 46, Pát-chay đánh chiếm căn cứ Sảm Thông, Loong Chẹng, sào huyệt cuối cùng của lực lượng đặc biệt Vàng Pao bị đánh đổ.


Vận dụng kinh nghiệm đấu tranh trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam Việt Nam, Đoàn 959 tập trung giúp bạn thực hiện kế hoạch đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị. Ngày 21 tháng 5, tại Thủ đô Viêng Chăn đã nổ ra cuộc đấu tranh rất quyết liệt của 1.000 học sinh, sinh viên, công nhân viên chức và nhân dân bao vây, đòi giải tán cơ quan USAID của Mỹ. Trước áp lực của quần chúng, Chính phủ Liên hiệp buộc phải ra lệnh giải tán cơ quan USAID ở Viêng Chăn và các chi nhánh ở các tỉnh, bàn giao lại toàn bộ tài sản, phương tiện cho Chính phủ và rời ngay khỏi Lào. Đến ngày 30 tháng 5, toàn bộ nhân viên của cơ quan viện trợ Mỹ và những người nước ngoài làm việc cho Mỹ đã rút hết khỏi Lào. Đây là thắng lợi to lớn của quân và dân Lào trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.


Mặc dù bị thất bại nặng nề, nhưng Mỹ - ngụy vẫn hy vọng dựa vào 3 vạn quân và 1.300 sĩ quan các cấp "xương sống" của quân ngụy đang tồn tại, để tiếp tục thực hiện âm mưu ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Lào. Trước tình hình đó, Đoàn 959 đề xuất với Thường vụ Bộ Chính trị và Quân ủy bạn ra quyết định tăng cường áp lực về quân sự và đẩy mạnh mũi tấn công pháp lý, làm vô hiệu hoá hệ thống tổ chức chỉ huy và đội ngũ sĩ quan quân ngụy, khiến chúng bị cô lập, phải chấp nhận theo yêu cầu của cách mạng Lào.


Thực hiện quyết định đó, bạn thông qua bộ phận hoạt động trong Chính phủ Liên hiệp, vận động, tranh thủ Thủ tướng Phu-ma và các thành viên trong Chính phủ. Ngày 21 tháng 5 năm 1975, Hội đồng Chính phủ họp phiên toàn thể, đưa ra một số quyết định có lợi cho cách mạng:

1. Giải thể các tổ chức phản động của quân đội Viêng Chăn, gồm cục tình báo, cơ quan chiêu hồi và toà án quân sự.

2. Cách chức tổng thanh tra Bun-ùm (tên trùm phản động ở Nam Lào).    3. Chính phủ ra tuyên bố hoan nghênh lực lượng yêu nước (cả Pa-thét Lào và trung lập) vào các thành phố, đô thị để tăng cường bảo vệ an ninh, quốc phòng cho đất nước.

4. Yêu cầu sĩ quan của lực lượng yêu nước giúp Bộ Tổng tham mưu và các quân khu cải tổ quân đội Vương quốc.


Tận dụng quyết định của Chính phủ Liên hiệp, cuối tháng 5 năm 1975, Bộ chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho các mặt trận đưa lực lượng vào các hướng áp sát, xen kẽ giữa các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào và lực lượng đối phương, tạo thế kiềm chế đi đến làm mất hiệu lực của quân ngụy. Đồng thời vận động Khăm Uồn - Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tư lệnh quân đội Vương quốc ra lệnh cho các quân khu tổ chức cuộc hội thảo về tình hình đất nước và trách nhiệm của quân đội cho sĩ quan và binh sĩ. Riêng cấp tướng họp tại Sầm Nưa do Trung ương Neo Lào Hắc Xạt đảm nhiệm. Đến cuối tháng 6 năm 1975, bạn đã vô hiệu hoá được lực lượng quân đội ngụy. Hầu hết các đơn vị bộ binh và binh chủng của 4 quân khu (trừ quân khu 1) đều ly khai khỏi quân đội Vương quốc.


Theo đề nghị của bạn, Đoàn 959 tiếp tục giúp bạn biên soạn tài liệu, xây dựng kế hoạch và cử người trực tiếp giúp cán bộ bạn chỉ đạo các lớp tập huấn. Trước khí thế tiến công cách mạng, bạn đề nghị Đoàn 959 giúp chuẩn bị phương án giành chính quyền trong thời gian ngắn nhất. Sau khi đưa ra phương án tối ưu, Quân ủy Trung ương Lào đã tán thành. Qua đó, Quân ủy Trung ương Lào đề nghị Đoàn chuyên gia 959 giúp bạn mở lớp tập huấn ngắn ngày cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp với nội dung về kết hợp các hình thức đấu tranh, cách tổ chức, vận động ngụy quyền, tay sai. Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 959 đã giúp bạn mở được một số lớp tập huấn liên tiếp được mở trong thời gian 15 ngày cho hơn 800 cán bộ, chiến sĩ. Kết thúc đợt tập huấn, bạn điều động số cán bộ, chiến sĩ được học tập tới các địa phương tập hợp lực lượng đấu tranh với địch. Nhờ vậy, phong trào đấu tranh đã diễn ra mạnh mẽ không chỉ ở các thành phố, thị xã mà cả ở nhiều nơi xa xôi như: Văng Viêng, Thu La Khôm, Bô-ri-khăm... hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh vũ trang. Cách làm của Đoàn 959 được Quân ủy Trung ương Lào đánh giá cao, mang lại hiệu quả trong đấu tranh của bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:56:44 pm
Đầu tháng 6 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng bạn họp, trên cơ sở ý kiến đề xuất của Đoàn 959 và chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện đã kết luận: Thời cơ để giành thắng lợi cuối cùng ở Lào đã chín muồi, cần đẩy mạnh cuộc tiến công bằng ba đòn chiến lược và mũi đấu tranh pháp lý để giành chính quyền trong thời gian ngắn nhất. Mục tiêu đấu tranh là: Xoá bỏ triệt để và toàn diện quân đội và cảnh sát của phái hữu, xoá bỏ hoàn toàn chính quyền cũ của phái hữu từ tỉnh trở xuống, cải tổ Chính phủ Liên hiệp, về danh nghĩa là Hoàng thân Xu-van-na Phu-ma làm Thủ tướng, nhưng thực chất là người của Neo Lào Hắc Xạt nắm và do Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo.


Sau hội nghị này, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào và đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon trực tiếp gặp lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 thông báo chủ trương của Trung ương bạn và đề nghị Đoàn tập trung nghiên cứu, khẩn trương giúp bạn một số vấn đề cấp bách như: chủ trương, chính sách tiếp quản vùng mới giải phóng, nhất là các thành phố, đô thị; xoá bỏ triệt để lực lượng quân sự và cảnh sát địch, giáo dục, cải tạo sĩ quan; tiếp nhận thu gom, quản lý, bảo quản các loại vũ khí, trang bị vật chất, kho tàng và phương tiện chiến tranh của quân đội ngụy.    Theo yêu cầu của Trung ương và Quân ủy bạn, cán bộ Đoàn 959 làm việc không kể ngày đêm, cố gắng hết sức mình để hoàn thành những công việc mà bạn tín nhiệm giao trong thời gian ngắn nhất phải hoàn thành để bạn kịp triển khai thực hiện. Tại Viêng Chăn, Xa Vẳn Na Khệt, Luông Phra Băng, cán bộ, chuyên gia ta theo sát, giúp bạn tận tình, nhất là các bộ phận bạn mới thành lập. Ở tỉnh Chăm Pa xắc, quân tình nguyện Việt Nam không nhiều nhưng đã cử các tổ công tác bám sát địa bàn động viên đồng bào tương trợ, giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, sản xuất, ổn định cuộc sống, giữ vững trật tự trị an vùng mới giải phóng. Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là khu vực rất phức tạp, trong công tác binh vận, bạn còn thiếu kinh nghiệm, chuyên gia ta vừa sát cánh cùng cán bộ địa phương bạn làm công tác vận động các dân tộc ít người Lào, đặc biệt là người H'Mông trong lực lượng Vàng Pao không chống phá cách mạng. Được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, chuyên gia ta, các ban, ngành của bạn dần đi vào ổn định tổ chức và triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao.


Mặc dù đế quốc Mỹ tìm mọi cách xúi giục bọn phản động tay sai cực hữu tổ chức nhiều cuộc khiêu khích, gây rối và cắt viện trợ, nhưng vẫn không ngăn nổi làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân Lào. Đến cuốỉ tháng 6 năm 1975, bằng ba đòn tiến công chiến lược, kết hợp hiệu quả với mũi đấu tranh pháp lý, cách mạng Lào đã giành được chính quyền ở 13 tỉnh và 4 thành phố, trong đó có 6 tỉnh hoàn toàn do nhân dân làm chủ, chính quyền cách mạng được thành lập. Số tỉnh còn lại, về hình thức là chính quyền liên hiệp, nhưng do Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo. Ở cấp huyện về cơ bản đã lập xong chính quyền mới, chỉ còn 8 huyện đang tích cực chuẩn bị. Đội quân đánh thuê cho Mỹ hơn 30.000 tên bị chính quyền cách mạng vô hiệu hoá, tạo điều kiện thuận lợi để cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Trong khi cách mạng Lào đã giành được thắng lợi quan trọng, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn chốt giữ các vị trí trọng yếu ở khu vực trung tâm như: Trung đoàn 82 ở Luông Phra Băng, Sư đoàn 31 ở vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung đoàn 176 ở Khăm Muộn, Bộ Tư lệnh 559 ở hành lang Trung - Hạ Lào nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào.


Theo yêu cầu của bạn, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 463 và một số cán bộ thuộc phòng tham mưu, chính trị, hậu cần của Đoàn trực tiếp giúp bạn khởi thảo kế hoạch tiến công và nổi dậy đồng loạt ở Thủ đô Viêng Chăn. Sau khi có kế hoạch cụ thể, ngày 20 tháng 6 năm 1975, đồng chí Nguyễn Bình Sơn ở lại giúp bạn ở sở chỉ huy tối cao tại Viêng Chăn, đồng chí Vũ Ngân đi Pắc San truyền đạt nhiệm vụ và kế hoạch cho đồng chí Xi Phon Pha Li Khán - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng về kế hoạch triển khai cuộc nổi dậy đồng loạt trên toàn quốc.


Đầu tháng 7 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng ta và Đảng bạn có cuộc hội đàm tại Thành phố Hồ Chí Minh, về phía ta có đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất, đồng chí Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị và một số đồng chí Ủy viên Trung ương, về phía bạn có đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư và một số ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Sau khi đánh giá tình hình của mỗi nước, hai bên thống nhất quyết định: Với thời cơ vô cùng thuận lợi của cách mạng Lào cần khẩn trương giải quyết bước chuyển tiếp cuối cùng bằng vận động dân chủ xoá bỏ Chính phủ Liên hiệp, xoá bỏ chế độ quân chủ và nhà vua, thành lập chế độ Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào càng sớm càng tốt, cố gắng hoàn thành trong năm 1975.


Mặc dù đất nước đã được giải phóng, nhưng công tác xây dựng, củng cố các tỉnh, thành phố rất phức tạp đòi hỏi nhiều yêu cầu mới cao hơn. Tàn quân địch và bọn phản động địa phương còn lén lút ở nhiều vùng, trong khi đó lực lượng chính trị của bạn còn yếu, chưa có kinh nghiệm hoạt động. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 959 đã giúp bạn tổ chức hàng trăm cuộc họp ở các địa phương, thu hút hàng vạn nhân dân tham gia để tuyên truyền, giải thích về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đề cao uy tín của cách mạng Lào.


Trên cơ sở phát động quần chúng, ta đã giúp bạn xây dựng, củng cố hệ thống cán bộ từ bản đến huyện, tỉnh và Trung ương, tổ chức thêm lực lượng dân quân tự vệ ở các bản và huyện. Riêng ba huyện Mường Xon (tỉnh Sầm Nưa), Pạc Xeng (tỉnh Luông Phra Băng) và Mường Mộc (tỉnh Xiêng Khoảng), ta đã giúp bạn xây dựng được hàng chục trung đội du kích và dân quân tự vệ làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an của địa phương. Cùng thời gian này, Đoàn 959 còn giúp bạn mở cấp tốc nhiều lớp tập huấn cho hơn 400 cán bộ các ngành thuộc vùng Xiêng Khoảng để bổ sung kịp thời cán bộ cho các cơ quan và mặt trận các cấp của bạn.


Song song với việc giúp bạn xây dựng, củng cố ở các thành phố Viêng Chăn, Luông Phra Băng, Pắk Xế... chuyên gia ta còn cử các tổ công tác cùng bạn đến các vùng miền núi, nơi có nhiều đồng bào dân tộc ít người ở Lào sinh sống, vận động nhân dân phối hợp truy quét bọn phản động lợi dụng địa hình hiểm trở, lén lút hoạt động chống phá cách mạng. Cùng với các hoạt động về chính trị, các đội công tác của ta còn tranh thủ giúp đỡ nhân dân các huyện Phôn Hồng, Văng Viêng, Tu La Khôm (Viêng Chăn) sửa chữa một số nhà cửa bị hư hại, xây dựng được nhiều lớp học cho các em học sinh, làm mới một số cầu đường, được nhân dân và cơ quan địa phương hết sức ca ngợi. Tại phía tây tỉnh Át-ta-pư, các đội công tác của ta đã cùng bạn đi sâu vào vùng đồng bào dân tộc Lào Thơng, cùng ăn, ở, cùng đi làm nương, phát rẫy, để tuyên truyền, vận động nhân dân. Kết quả là, ta đã vận động giúp dân xoá bỏ dần sự hiềm khích, phân biệt, chia rẽ giữa các dân tộc và bộ tộc, vận động giúp dân nhường đất cho những hộ nghèo cùng sản xuất góp phần ổn định đời sống.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Tư, 2021, 02:57:37 pm
Trên cơ sở cuộc sống nhân dân từng bước được ổn định, quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, bộ tộc được cải thiện, cán bộ chuyên gia ta đã giúp bạn thúc đẩy việc xây dựng lực lượng dân quân, du kích và các hội quần chúng bảo vệ bản làng. Đồng thời giúp đỡ, hướng dẫn nhân dân thực hiện nếp sống mới như: tổ chức học tập văn hoá, hoạt động văn nghệ, chăm sóc sức khoẻ người già, trẻ em, vận động giữ vệ sinh bản làng... Qua đó, nhân dân càng phấn khởi, tin tưởng vào chính sách của Đảng, các tổ chức quần chúng, lực lượng dân quân tự vệ được củng cố, xây dựng vững mạnh.


Để chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng Lào, bạn yêu cầu chuyên gia giúp xây dựng một loạt kế hoạch và nội dung về tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, về quy chế và tổ chức bộ máy hành chính các cấp; về tổ chức lực lượng quân đội, thiết lập chế độ quân quản ở các thành phố, thị trấn mới giải phóng. Được sự giúp đỡ tích cực của các cơ quan trong nước và Ban công tác miền Tây, trong một thời gian ngắn, Đoàn 959 hoàn thành nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu của bạn.


Ngày 23 tháng 8 năm 1975, nhân dân Viêng Chăn mít tinh đón mừng chính quyền thành phố được thành lập. Tiếp đó, ngày 4 tháng 9 năm 1975, bạn mở phiên toà đặc biệt công khai xử tội và tuyên án vắng mặt 31 tên phản động đầu sỏ của quân đội và chính quyền ngụy có nhiều tội ác với nhân dân, đã chạy trốn ra nước ngoài. Thực chất phiên toà xét xử bọn phản động Lào nhằm phán xét tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ và bọn tay sai cho chúng, là đòn cuối cùng đánh vào uy thế còn lại của Mỹ - ngụy ở Lào.


Ngày 18 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng bạn ra chỉ thị: "Phát động phong trào dân chủ, vận động nhân dân cả nước tiến hành cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp”. Bạn đề nghị Đoàn 959 trao đổi kinh nghiệm tổ chức bầu cử ở Việt Nam và rút kinh nghiệm qua lần tổng tuyển cử bổ sung năm 1958 có lực lượng Pa-thét tham gia để bạn hướng dẫn cho các lực lượng vũ trang, vừa làm nhiệm vụ người công dân tham gia bầu cử, vừa có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự và vận động nhân dân thực hiện tuyển cử được thắng lợi trong cả nước.


Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 năm 1975, nhân dân cả nước Lào sôi nổi tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính ở ba cấp (tỉnh, huyện, xã). Cuộc bầu cử đã thu được kết quả rất tốt đẹp, đánh dấu một bước thắng lợi về uy tín và sức mạnh to lớn của Neo Lào Hắc Xạt, tạo điều kiện cho bạn giải quyết thuận lợi chính quyền ở cấp Trung ương.


Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 1975, tại Thủ đô Viêng Chăn đã diễn ra một cuộc mít tinh lớn gồm hơn 3 vạn nhân dân tham gia đấu tranh đòi xoá bỏ chế độ quân chủ, giải tán Hội đồng quốc gia liên hiệp, Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc để thành lập chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân, nhà vua phải tuyên bố thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ hằng nghìn năm ở Lào.


Đầu tháng 12 năm 1975, một sự kiện chính trị quan trọng diễn ra ở Lào. Ngày 1 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào được triệu tập tại Thủ đô Viêng Chăn. Đại hội quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ, thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Đại hội cử Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Chủ tịch nước, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng của Chính phủ. Đại hội mở ra một bước ngoặt mới trong lịch sử của nhân dân các bộ tộc Lào, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, nhân dân Lào được sống trong một đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và thịnh vượng.


Đến đây, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Theo thỏa thuận giữa ta và bạn, lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam lần lượt rút về nước. Tại những nơi có các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đóng quân đều diễn ra những cuộc tiễn đưa hết sức thân thiết và cảm động. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội bạn đều có mặt đông đủ tại các buổi tiễn đưa đầy lưu luyến vì tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào. Trong quá trình giúp Lào, ta được bạn đánh giá: "lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã góp phần to lớn và cơ bản trong việc giúp Quân đội nhân dân Lào trưởng thành về mọi mặt. Đến nay, Quân đội nhân dân Lào đã có đủ ba thứ quân, có các binh chủng cần thiết, trang bị vũ khí tương đối hiện đại, có khả năng tổ chức chiến dịch bao gồm nhiều tiểu đoàn. Điều đó được chứng minh cụ thể từ sau Hiệp định Viêng Chăn, cách mạng Lào có khả năng đánh địch lấn chiếm, phát triển du kích bằng lực lượng của chính mình"1 (Bài phát biểu của đồng chí Pi-sa Vát trong Hội nghị đoàn chuyên gia 959 tròn 15 tuổi (năm 1975); tư liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).


Sau khi đất nước Lào đã giành được độc lập hoàn toàn, nhưng sự nghiệp xây dựng, củng cố chế độ mới của Lào còn nhiều khó khăn, phức tạp. Bạn đề nghị ta tiếp tục phối hợp giúp đỡ bạn một số việc cần thiết ở một số nơi quan trọng. Đáp ứng yêu cầu của bạn, một bộ phận lực lượng, trong đó có Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31) tiếp tục ở lại giúp bạn một thời gian nữa, góp phần giúp nhân dân địa phương nhanh chóng ổn định cuộc sống sau chiến tranh.


Cùng với sự phát triển thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Đông Dương, trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào (1973-1975), quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giúp bạn xây dựng kế hoạch, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh chiến đấu, công tác, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, giành thắng lợi to lớn.


Trong quá trình giúp bạn, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự luôn quán triệt phương châm: "Cơ bản, toàn diện, liên tục và có hiệu quả", nêu cao ý chí chiến đấu, bền bỉ, kiên cường, cùng bạn vượt qua mọi thử thách, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến giành thắng lợi, từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp bạn, đấu tranh giữ vững hoà bình, thực hiện thắng lợi “ba đòn chiến lược”, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của quân và dân Lào, kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Tư, 2021, 02:12:50 pm
KẾT LUẬN


Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), quân và dân hai nước Việt - Lào đã giành được thắng lợi vẻ vang. Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Lào có hai tỉnh tập kết Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước chuyên về đứng chân ở hai tỉnh, chờ một giải pháp chính trị hiệp thương thông qua đàm phán giữa Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc Lào để đến năm 1955 sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thành lập một nhà nước Lào độc lập, thống nhất trên toàn vẹn lãnh thổ của Lào.


Song đế quốc Mỹ với bản chất ngoan cố, nhân cơ hội thực dân Pháp rút ra khỏi Lào, Việt Nam, Cam-pu-chia đã từng bước can thiệp, tiến tới xâm lược và thông trị các nước Đông Dương bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, hòng ngăn chặn và đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương, Đông Nam châu Á và trên thế giới, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, Lào cũng như Cam-pu-chia còn phải tiếp tục.


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài đến 9 năm, nhưng cuộc đọ sức lần này của quân dân hai nước Việt - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược diễn ra còn lâu dài và ác liệt hơn nhiều. Quân Mỹ, quân ngụy và quân các nước đồng minh của Mỹ tìm mọi cách sử dụng hầu hết các loại vũ khí và kỹ thuật hiện đại với hàng chục triệu tấn bom đạn (trừ vũ khí hạt nhân), mở rộng chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương, hòng gây chia rẽ, phá hoại tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào.


Trên cơ sở mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, vì lợi ích của hai dân tộc, nhân dân Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào cùng giúp đỡ nhau kiên quyết kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, quân và dân ta vừa dồn sức xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và tiến hành kháng chiến để giải phóng miền Nam, vừa dành cho quân và dân Lào sự giúp đỡ hết sức to lớn, toàn diện để đánh Mỹ. Theo yêu cầu của Đảng, Chính phủ kháng chiến Lào và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, một bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam gồm một số đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đã lần lượt nhận nhiệm vụ sang giúp bạn tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Kinh nghiệm về giúp bạn Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là vốn quý, tiếp tục được quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam phát huy mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với sức mạnh mới.


Trong những năm 1954-1959, phương thức hợp tác giúp đỡ của ta đối với cách mạng Lào có sự thay đổi so với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trên cơ sở bàn bạc thống nhất với Đảng bạn, Đảng ta chủ trương chuyển từ chế độ quân tình nguyện như trong cuộc kháng chiến chống Pháp sang chế độ cố vấn quân sự (từ năm 1959 đối gọi là chuyên gia quân sự), về mặt quân sự, Trung ương Đảng ta đặt chế độ cố vấn tách khỏi hệ thống quân tình nguyện, thực hiện ở ba cấp: Bộ Quốc phòng, Trường quân chính và các đơn vị, địa phương. Thực hiện chủ trương đó, Trung ương Đảng ta cử Đoàn cố vấn quân sự 100 sang giúp bạn, mở đầu mối quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào.


Từ năm 1960, khi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng trắng trợn vào công việc nội bộ của Lào, thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, mối quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào càng được củng cố và phát triển. Trong những năm 1960-1968, theo đề nghị của bạn, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng nước ta lần lượt cử các đoàn chuyên gia quân sự 959, 463, 565 và các đoàn quân tình nguyện 335, 316, 763, 766, 866, 968 sang giúp quân và dân Lào xây dựng lực lượng, củng cố khu căn cứ, vùng giải phóng để kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.


Năm 1969, đế Quốc Mỹ thực hiện “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào, yêu cầu nhiệm vụ giúp cách mạng Lào đòi hỏi ngày càng lớn. Để đáp ứng với tình hình mới của bạn, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng nước ta chấn chỉnh tổ chức biên chế các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Năm 1970, Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào được thành lập trên cơ sở Đoàn 959 được chấn chỉnh nâng cấp tổ chức tương đương quân khu mang phiên hiệu Bộ tư lệnh 959. Năm 1971, tách ra thành Đoàn chuyên gia quân sự 959 và Bộ tư lệnh Mặt trận 31 (Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng). Năm 1972, Bộ Quốc phòng ta quyết định hợp nhất Sư đoàn 316 vào lực lượng Bộ tư lệnh Mặt trận 31 để thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, mang phiên hiệu Bộ tư lệnh Mặt trận 316, quyền hạn tương đương cấp quân khu. Đến năm 1973, Bộ Quốc phòng lại quyết định chấn chỉnh Bộ tư lệnh 316 thành Bộ tư lệnh Mặt trận 31 và Sư đoàn 316, cùng các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào đến năm 1975.


Mặc dù các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự hoạt động trên một số địa bàn khác nhau, chức năng nhiệm vụ từng đoàn cũng có sự khác nhau ở chừng mực nhất định, nhưng đều chung mục đích là giúp bạn trưởng thành từ nhỏ đến lớn, từng bước tự đảm nhận được nhiệm vụ cách mạng của bạn. Trong quá trình giúp bạn, các đoàn quân tình nguyện cũng như chuyên gia quân sự đều bắt đầu từ đề xuất, kiến nghị những vấn đề quan trọng, giúp bạn xem xét đề ra chủ trương, chính sách lãnh đạo kháng chiến, xây dựng và chiến đấu của quân đội; sau đó, bám sát các nghị quyết của Đảng và Bộ Quốc phòng bạn, giúp tổ chức triển khai xây dựng lực lượng, đề xuất phương án tác chiến, phối hợp chiến đấu, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, coi đó là tổng thể hoàn chỉnh trong nhiệm vụ giúp bạn.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Tư, 2021, 02:14:23 pm
Trải qua 21 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm, nguyên tắc của Đảng, tận tình giúp bạn đạt được những thành tựu to lớn trên một số mặt chủ yếu sau đây:

+ Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và các khu căn cứ để tiến hành kháng chiến. Trong giúp bạn, một trong những nhiệm vụ quan trọng mà quân tịnh nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thực hiện là giúp bạn về quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó chú trọng xây dựng quân đội Pa-thét Lào (năm 1966 đổi là quân giải phóng nhân dân Lào, năm 1975 đổi thành Quân đội nhân dân Lào), làm nòng cốt cho các lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào kháng chiến; đồng thời quan tâm giúp đỡ xây dựng các đơn vị trung lập yêu nước cùng đoàn kết phối hợp chiến đấu với quân đội Pa-thét Lào. Trong những năm 1954-1965, các đoàn 100, 959, 463, 565 làm nhiệm vụ chuyên gia (cố vấn) quân sự bên cạnh quân và dân bạn đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm về xây dựng quân đội ta, xác định đề án tổ chức biên chế, giúp bạn xây dựng hình thành cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân (các tiểu đoàn trực thuộc Bộ; các đại đội tập trung ở tỉnh, trung đội tập trung ở huyện; các đội du kích ỏ xã bản, tự vệ chiến đấu ở các cơ quan, xí nghiệp) phù hợp với hoàn cảnh, tình hình cách mạng Lào.    Suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thường xuyên giúp bạn xây dựng các khu căn cứ, vùng giải phóng, làm chỗ dựa để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Giúp bạn xây dựng, củng cố các khu căn cứ, vùng giải phóng là nhiệm vụ quan trọng. Theo yêu cầu của bạn, lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thường xuyên cử các tổ cố vấn (chuyên gia), các đội vũ trang công tác cùng cán bộ, chiến sĩ bạn đi sâu sát cơ sở, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân các bộ tộc Lào ủng hộ sức người, sức của cho kháng chiến. Vượt qua những khó khăn trở ngại, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện, chuyên gia quân sự đã giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố các khu căn cứ, vùng giải phóng ngày càng vững chắc để kháng chiến lâu dài và đi đến thắng lợi cuối cùng.


+ Bồi dưỡng đào tạo đội ngủ cán bộ giúp bạn nâng cao ý chí độc lập tự chủ, tinh thần tự lực tự cường, từng bước tự đảm nhiệm công việc của bạn. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đội ngũ cán bộ và số đảng viên người Lào còn ít. Để giúp bạn tự đảm nhiệm mọi cương vị về chính quyền cũng như lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang và làm chủ sự nghiệp cách mạng của bạn, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta hết sức coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên cho bạn ở các đơn vị, địa phương.


Với tinh thần đồng chí, đồng đội, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta đã sát cánh cùng với bạn xây dựng, chiến đấu và công tác. Sau mỗi trận (đợt) chiến đấu, hoặc công tác, ta cùng bạn tổng kết rút kinh nghiệm để bạn tự nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy. Trong quá trình kháng chiến, ta còn giúp bạn mở các lớp huấn luyện cán bộ ngắn ngày về chính trị, quân sự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cho bạn ở từng giai đoạn của cách mạng. Công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giúp bạn được triển khai tích cực và hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm cách mạng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Riêng lực lượng vũ trang đến cuối năm 1975 phát triển hơn 3 vạn quân tập trung và hơn 5 vạn dân quân du kích. Tổng số đảng viên trong bộ đội là 5.965 người, chiếm gần 18% quân số. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trưởng thành là vốn quý của cách mạng Lào. Nhiều cán bộ, đảng viên bạn được ta bồi dưỡng, đào tạo sau này đã trở thìmh những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội Lào.


+ Giúp bạn huấn luyện, xây dựng Đảng, tăng cường công tác chính trị, nâng cao trình độ và năng lực chiến đấu, công tác.

Trong quá trình kháng chiến, các đơn vị quân đội Lào hoạt động phân tán trên các chiến trường ít có thời gian tập trung xây dựng, huấn luyện. Vì thế, bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam phải từng bước giúp bạn huấn luyện nâng cao trình độ quân sự, gồm 4 kỹ thuật lớn, trong đó chú trọng kỹ thuật bắn súng và nguyên tắc vận dụng các hình thức chiến thuật đánh địch trong mọi tình huống. Sau mỗi khoá huấn luyện, ta và bạn đều tổ chức bắn đạn thật đạt kết quả tốt.


Cùng với việc giúp bạn đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự ta rất chú trọng giúp bạn xây dựng, phát triển Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, coi đó là nhân tố quyết định bước phát triển của việc xây dựng lực lượng vũ trang và thắng lợi của cách mạng Lào. Đồng thời giúp bạn bảo đảm công tác hậu cần, kỹ thuật, phục vụ tốt các yêu cầu xây dựng, chiến đấu, sản xuất và công tác. Nhờ sự giúp đỡ tận tình có hiệu quả của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta, bạn đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, từng bước tự đảm đương nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu và công tác, đạt những thành tích ngày càng to lớn. 


+ Sát cánh cùng với quân và dân Lào chiến đấu, từng bước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai.

Xác định kẻ thù của nhân dân Lào cũng chính là kẻ thù chung của nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã luôn sát cánh cùng với bạn chiến đấu, giúp bạn tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu, từ nghiên cứu nắm địch, chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất đến vận dụng các hình thức đánh địch.


Lúc đầu tổ chức các đơn vị chiến đấu hỗn hợp Việt - Lào, Lào - Việt thực hiện đánh nhỏ, đánh phục kích. Sau đó, khi bạn trưởng thành, có khả năng độc lập tác chiến mới tách riêng đơn vị tình nguyện, chuyên gia và đơn vị của Lào, đánh các đồn bốt, đánh ngăn chặn các cuộc càn quét, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận quân địch, từ đánh từng trận riêng lẻ, sau chuyển đánh nhiều trận liên kết thành một đợt tác chiến, thành chiến dịch; đồng thời phối hợp với các đơn vị chủ lực Việt Nam sang mở các chiến dịch lớn như các chiến dịch Nậm Thà (nám 1962), 128, 74A (năm 1964), Nậm Bạc (năm 1968), Mường Sủi (năm 1969), Toàn Thắng (năm 1970), Đường 9 - Nam Lào (năm 1971), Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1972), tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thắng lợi từng bước về quân sự, hỗ trợ cuộc đấu tranh chung của nhân dân cả nước Lào, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, tiến tới đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào.


+ Xây dựng chiến trường Lào thành chiến trường phối hợp với các chiến trường, đặc biệt là chiến trường chính miền Nam, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng ba nước Đông Dương.

Thực hiện giúp bạn xây dựng, trưởng thành về mọi mặt và chiến đấu giành thắng lợi trên chiến trường Lào cũng là một nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam nỗ lực phấn đấu để phối hợp với các chiến trường, nhất là chiến trường miền Nam.


Ngay từ khi đế Quốc Mỹ can thiệp và xâm lược Lào, ta và bạn đã tích cực triển khai các mặt chuẩn bị chiến trường (điều chỉnh thế bố trí lực lượng trên các địa bàn chiến lược, theo dõi nắm địch, chuẩn bị cơ sở quần chúng, dự trữ lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược, xây dựng hệ thống đường sá, nhất là ở phía tây Trường Sơn). Nhờ chuẩn bị chiến trường chu đáo, trong các chiến dịch tiến công trên chiến trường Lào những năm 1962-1972, lực lượng quân tình nguyện, quân chủ lực của ta và bạn tham gia ngày càng lớn. Ngoài ra còn có hàng nghìn đội dân quân du kích và dân công phục vụ trên địa bàn chiến dịch. Thực tiễn quá trình kháng chiến, chiến trường Lào thực sự là một chiến trường phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính, những thắng lợi của cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam cũng như Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Tư, 2021, 02:15:17 pm
Trong những năm hoạt động trên chiến trường Lào, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam đã phải chịu đựng biết bao khó khăn, thiếu thốn, gian khổ, ác liệt, phải quyết tâm phấn đấu mới vượt qua được. Nhờ có sự giúp đỡ hết sức to lớn, hiệu quả của quân dân Lào và tinh thần phấn đấu theo đường lối quốc tế vô sản trong sáng, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã phát huy được khả năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, lập nhiều chiến công trên chiến trường Lào. Một số đơn vị và nhiều cá nhân tiêu biểu của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta đã được Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Quân ủy Trung ương Lào tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, đồng thời được Đảng và Nhà nước ta tặng Huân chương Sao vàng, nhiều huân chương các loại1 (Năm 2000, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, do đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế ở Lào). Một số tập thể và cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam lập được thành tích vẻ vang, đó là do đã chấp hành nghiêm đường lối quốc tế trong sáng của Đảng, được sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời do tinh thần phấn đấu quên mình vì sự nghiệp quốc tế cao cả của cán bộ, chiến sĩ ta, sự thương yêu đùm bọc, giúp đỡ hết mình của quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào đối với bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam. Qua hơn 20 năm quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn trên chiến trương Lào có thể rút ra một số kinh nghiệm chính sau đây:

1. Thực hiện hợp tác giúp cách mạng Lào theo đường lối, quan điểm quốc tế của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhằm củng cố và tăng cường mòi quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào, vấn đề quan trọng đầu tiên là phải nắm vững quan điểm, đường lối quốc tế và chủ trương giúp cách mạng Lào của Đảng ta trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong quan hệ liên minh, hợp tác chiến đấu giữa Việt Nam và Lào.


Trên cơ sở mối quan hệ đặc biệt vốn có truyền thống từ lâu trong lịch sử, Đảng ta xác định giúp đỡ cách mạng Lào một cách toàn diện và bằng nhiều phương thức, trong đó về quân sự có hai phương thức chủ yếu là chuyên gia quân sự và quân tình nguyện. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của quân và dân Lào là một bộ phận của chiến tranh liên minh, mà Đông Dương là một chiến trường, trong đó Việt Nam và Lào là hai chiến trường gắn bó chặt chẽ với nhau.


Trong bối cảnh cách mạng Lào còn non yếu phải tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ mạnh gấp nhiều lần, việc giúp bạn về quân sự của ta đòi hỏi phải nỗ lực rất lớn. Nắm vững nguyên tắc liên minh, đoàn kết và giúp đỡ nhau, Đảng ta đã thường xuyên giáo dục, quán triệt cho quân tình nguyện và chuyên gia quân sự phải nắm vững quan điểm đường lối quốc tế của Đảng để vận dụng giúp bạn đúng đắn. Mọi hoạt động của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ở Lào, từ xây dựng đến chiến đấu, lúc khó khăn cũng như khi thuận lợi đều phải thống nhất theo quan điểm “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, giúp bạn để bạn tự đảm đương được sự nghiệp cách mạng, ra sức giúp bạn từng bước vươn lên tự làm chủ trong xây dựng, chiến đấu, công tác, không ngừng trưởng thành và giành thắng lợi, tránh tự ty, tác phong bao biện, làm thay. Quán triệt sâu sắc mục tiêu giúp bạn cơ bản đó, cán bộ, chiến sĩ ta đã kiên quyết đấu tranh khắc phục những quan điểm, hành động sai trái, sớm đưa công tác giúp bạn theo đúng quỹ đạo.


Phương châm, phương pháp giúp bạn được xác định: “Bạn chưa biết ta làm giúp, tiến tới ta và bạn cùng làm, cuối cùng bạn làm ta giúp”. Quán triệt quan điểm, đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng và theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ngày càng chất lượng và hiệu quả, được bạn hoan nghênh cùng phấn đấu thực hiện, giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.


2. Tăng cường đoàn kết giúp bạn xây dựng và chiến đấu theo đường lối, chủ trương thống nhất giữa ta và bạn.

Mặc dù cùng chung nhiệm vụ chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng do cách mạng mỗi nước phát triển không đều, nên việc vận dụng đường lối cũng như các quan điểm giúp bạn phải được nghiên cứu, bàn bạc thống nhất phù hợp với tình hình của cách mạng Lào. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương ta luôn đề xuất, trao đổi, tôn trọng ý kiến quyết định của bạn, thống nhất quan điểm, đường lối giúp bạn xây dựng và chiến đấu. Trong thực hiện nhiệm vụ giúp bạn, vấn đề quan trọng là phải nắm được đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng bạn đề ra, trên cơ sở đố thực hiện giúp bạn về quân sự, về xây dựng và chiến đấu theo đúng chức năng của mình.


Trong thực hiện nhiệm vụ giúp bạn, lãnh đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự luôn quan tâm giáo dục cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ quan điểm: “Cách mạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy. Việt Nam giúp Lào là tạo điều kiện để từng bước bạn đảm nhận được sứ mệnh lịch sử của đất nước mình”. Trong giúp bạn, phải “thực sự tôn trọng quyền làm chủ” của bạn, giúp bạn theo phương châm: "cơ bản, toàn diện, liên tục và có hiệu quả”. Lúc đầu giúp bạn, cán bộ, chiến sĩ ta còn lúng túng, nhưng sau một thời gian thực hiện đã từng bước theo đúng chức năng của mình, giúp bạn hiệu quả.


Quá trình giúp bạn, ta thường bắt đầu từ đề xuất, kiến nghị những vấn đề' chiến lược có tính chất quan trọng theo tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền của bạn để Trung ương và Quân ủy bạn xem xét, trao đổi đi đến thống nhất đề ra đường lối, chả trương, chính sách đúng đắn về lãnh đạo chiến tranh, về xây dựng và chiến đấu của quân đội. Trên cơ sở đường lối cách mạng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân ủy bạn đã xác định rõ phương hướng lãnh đạo các lực lượng vũ trang bạn xây dựng và chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta tích cực giúp bạn, được bạn đồng tình đã đạt được những thành tựu rất đáng kể trong xây dựng, từng bước trưởng thành và chiến đấu thắng lợi.


Như vậy, trên cơ sở nhất trí cao về quan điểm, đường lối, chủ trương và các biện pháp thực hiện giữa ta và bạn, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta với tinh thần trách nhiệm cao, ý thức tôn trọng độc lập chủ quyền của bạn đã vươn lên mạnh mẽ cùng với bạn xây dựng và chiến đấu, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, do Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân ba nước Đông Dương.


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Tư, 2021, 02:16:04 pm
3. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của chuyên gia quân sự và quân tình nguyện giúp bạn trên các mặt công tác.

Trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn, lực lượng chuyên gia quân sự ra đời từ rất sớm, ngay trong những năm quân và dân Lào đấu tranh vì hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc (1954-1959). Mở đầu là sự ra đời của Đoàn cố vấn quân sự 100 (năm 1954) với nhiệm vụ giúp xây dựng quân đội Pa-thét Lào về mọi mặt, đáp ứng tình hình mới. Trong quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, lực lượng chuyên gia quân sự được bổ sung lớn mạnh từ nhiều nguồn, lần lượt hình thành. Năm 1959, Đoàn chuyên gia quân sự 959 hình thành làm chuyên gia giúp bạn bên cạnh Trung ương Đảng và Quân ủy Lào; giúp các cơ quan Trung ương, các quân khu, tỉnh và đơn vị quân đội Pa-thét Lào, cụ thể là giúp về đường lối, chính sách, kinh nghiệm và vật chất, tham gia chiến đấu khi cần thiết. Năm 1963, Đoàn chuyên gia quân sự 463 thành lập, giúp Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng; giúp lực lượng trung lập yêu nước đoàn kết với Pa-thét Lào chiến đấu cho độc lập Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.


Năm 1965, đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện 565 thành lập (năm 1968 tách ra thành hai đoàn: Đoàn chuyên gia quân sự 565 và Đoàn quân tình nguyện 968), làm chuyên gia giúp các địa phương ở Nam Lào xây dựng lực lượng từ tỉnh đến các đại đội, xây dựng cơ sở ở vùng giải phóng và vùng địch hậu; phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch lấn chiếm, diệt phỉ ở Khăm Muộn, bắc Xa Vẳn Na Khệt, bảo vệ địa bàn, bảo vệ tuyến hành lang 559. Các đoàn chuyên gia quân sự 959, 463, 565 bám trụ hoạt động trên chiến trường Lào cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến.


Từ năm 1960, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, liên tiếp mở các cuộc tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, nhiệm vụ giúp bạn giữ vững thành quả cách mạng trở nên cấp thiết. Theo yêu cầu của bạn, năm 1962, ta cử Lữ đoàn 335 quân tình nguyện sang phối hợp với một số đơn vị bạn mở chiến dịch Nậm Thà, mở rộng vùng giải phóng Thượng Lào. Năm 1963, Bộ Quốic phòng nước ta thành lập Đoàn 763 quân tình nguyện giúp Quân khu Hạ Lào xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang. Năm 1966, ta tổ chức Đoàn 766 quân tình nguyện giúp bạn xây dựng lực lượng, phối hợp với bạn chiến đấu ở khu vực Sầm Nưa; đồng thời thành lập Đoàn 866 quân tình nguyện giúp bạn chiến đấu ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Năm 1968, Đoàn 968 quân tình nguyện thành lập làm nhiệm vụ phối hợp với bạn xây dựng, chiến đấu ở vùng Nam Lào.


Để đáp ứng với yêu cầu phát triển cách mạng Lào, năm 1970, Bộ Quốc phòng nước ta quyết định thành lập Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Lào (Bộ tư lệnh 959) có quyền hạn tương đương Bộ tư lệnh Quân khu. Nhiệm vụ là thống nhất lãnh đạo, chỉ huy quản lý mọi lực lượng vũ trang và chuyên gia quân sự của ta ở các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay; làm chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào. Năm 1971, Bộ Quốc phòng quyết định tách Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Lào thành Đoàn 959 chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ chỉ huy tối cao Lào, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy bộ phận chuyên gia ở Quân khu Cánh Đồng Chum, các đơn vị chủ lực và tỉnh đội bạn thuộc khu trung tâm; đồng thời thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận 31 (Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ta. Năm 1972, Bộ Quốc phòng ta quyết định hợp nhất Sư đoàn 316 vào lực lượng của Bộ tư lệnh Mặt trận 31 để thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, mang phiên hiệu Bộ tư lệnh Mặt trận 316, quyền hạn tương đương cấp quân khu. Đến năm 1973, Bộ Quốc phòng lại quyết định chấn chỉnh Bộ tư lệnh Mặt trận 316 thành Bộ tư lệnh Mặt trận 31 và Sư đoàn 316 trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.


Quá trình giúp bạn, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự thường xuyên nắm vững và thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình trên đất bạn, từ tham gia giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở kháng chiến đến phối hợp với bạn, phối hợp với các đơn vị chủ lực ta sang chiến đấu. Với tinh thần quốc tế trong sáng, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam luôn được quân và dân Lào yêu mến coi như anh em trong gia đình, được Đảng và Chính phủ kháng chiến Lào đánh giá như một lực lượng bên trong (nội lực) cuộc kháng chiến của bạn.


4. Thường xuyên xây dựng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự, đặc biệt là xây dựng đội ngủ cán bộ đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Trong điều kiện hoạt động ở chiến trường xa hậu phương ta, lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự hết sức chú trọng xây dựng về mọi mặt để trở thành những đơn vị có bản lĩnh hoạt động độc lập, có năng lực công tác chính trị vững vàng, trình độ quân sự giỏi; đồng thời có tinh thần bền bỉ, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, sức chịu đựng cao, ý chí tự vươn lên mạnh mẽ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. Vì thế, việc xây dựng các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo, chỉ huy, có bản lĩnh hoạt động độc lập cao, năng lực công tác tốt, sống hết mình vì sự nghiệp cách mạng Lào, không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế cao cả vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.


Nhận thức được tầm quan trọng, trách nhiệm, vinh dự và những mặt mạnh, mặt yếu của mình, ngay từ những ngày đầu sang đất bạn, mỗi đoàn quân tình nguyện cũng như chuyên gia quân sự rất coi trọng công tác xây dựng nội bộ, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng phải được quan tâm lãnh đạo, quản lý chặt chẽ, thường xuyên. Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ vừa lãnh đạo công tác giúp bạn, vừa chăm lo xây dựng nội bộ, lãnh đạo, chỉ huy các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự tổ chức các bộ phận, các ngành tham mưu, chính trị, hậu cần chuyên trách và công tác nội bộ, thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ; chính sách gia đình hậu phương của cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào.


Nhờ lãnh đạo, chỉ huy thường xuyên giáo dục và tinh thần nỗ lực tự vươn lên của mỗi cán bộ, chiến sĩ, công tác giúp bạn của các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam trưởng thành nhiều mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được bạn yêu mến, tin cậy, góp phần tô thắm truyền thống đoàn kết quốc tế cao cả, trong sáng, thủy chung son sắt, chí nghĩa, chí tình của Quân đội nhân dân Việt Nam với Quân đội nhân dân Lào anh em. 


Cuộc kháng chiến chống Mỹ tại Lào đã giành được thắng lợi. Được Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp rất to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào. Đó là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào; đồng thời là thắng lợi chung của nhân dân ba nước Đông Dương. Sự giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đối với quân và dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội hai nước Việt - Lào. Đó là một tất yếu khách quan, một điển hình mẫu mực về quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu và hợp tác giữa quân đội hai nước độc lập có chủ quyền, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược.


Mối quan hệ đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa hai quân đội Việt - Lào được xây dựng trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản thật là "mối quan hệ mẫu mực hiếm có, vô cùng trong sáng, rất mực thủy chung, gian khó không đổi thay, đạn bom không lay chuyển” như đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ. Mối quan hệ đặc biệt ấy "hơn 30 năm đã qua mà vẫn trong sáng như xưa", là "di sản vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, để lại cho hai Đảng, hai dân tộc chúng ta ngày càng phát triển với chất lượng mới, mà không thế lực phản động nào có thể phá võ nổi như đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã khẳng định.


Ngày nay, kinh nghiệm của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về giúp bạn và cùng với bạn tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cũng như kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ quốc tế trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đó là di sản vô cùng quý báu. Nó mãi mãi được giữ gìn và tiếp tục phát huy, góp phần đưa quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào phát triển lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giói trong những năm đầu của thế kỷ XXI. 


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Tư, 2021, 02:18:57 pm
PHỤ LỤC


I. DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY CÁC ĐOÀN QUÂN TÌNH NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN sự VIỆT NAM TẠI LÀO  (1954-1975) (Do nguồn tư liệu thu thập chưa đầy đủ, nên trong danh sách này còn thiếu. Rất mong các đồng chí và bạn đọc, nhất là những đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam từng công tác tại Lào bổ sung tiếp cho bản danh sách này được đầy đủ)

* Đoàn 100 cố vấn quân sự
   - Ngày thành lập: 16-7-1954
   - Đoàn trưởng: + Chu Huy Mân
                 + Đinh Văn Tuy
   - Phó đoàn trưởng thứ nhất: Lê Tự Lập
   - Phó đoàn trưởng thứ hai: Đức Phương

* Đoàn 959 chuyên gia quân sự
   - Ngày thành lập: 12-9-1959
   - Đoàn trưởng: + Lê Chưởng (kiêm Bí thư đoàn ủy)
              + Nguyễn Trọng Vĩnh (kiêm Chính ủy)
              + Huỳnh Đắc Hương
   - Đoàn phó: + Hoàng Sâm
          + Nguyễn Hoà
          + Trần Nguyên Phi
          + Trần Quyết Thắng

* Đoàn 335 quân tình nguyện1 (Đoàn 335 (Đoàn Thảo Nguyên), tiền thân là Tổng đội Biên phòng 335 thành lập tháng 10-1954. Tháng 5-1955 chuyển thành Sư đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc, tháng 5-1959, rút gọn thành Lữ đoàn 335, tháng 5-1965 rút gọn tiến thành Trung đoàn 335, tháng 7-1974 đứng trong đội hình Sư đoàn 31 (nay thuộc Quân đoàn 3)) 
   - Thành lập: Tháng 10 năm 1954
   - Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên: Tạ Xuân Thu
   - Phó Tư lệnh đầu tiên: Lê Thuỳ
   - Tham mưu trưởng đầu tiên: Lê Thanh

* Đoàn 463 chuyên gia quân sự
   - Ngày thành lập: 15-4-1963
   - Đoàn trưởng: Nguyễn Bình Sơn
   - Chính ủy: Lê Văn
   - Đoàn phó: + Hồ Đệ
          + Hoàng Cao Ngôn

* Đoàn 565 chuyên gia quân sự và quân tình nguyện1 (Ngày 28-6-1968, Bộ Tổng tham mưu ra Quyết định số 98/TM-QĐ tách Đoàn 565 thành 2 lực lượng: Đoàn 656 làm nhiệm vụ chuyên gia quân sự. Đoàn 968 làm nhiệm vụ quân tình nguyện) 
   - Ngày thành lập: 19-5-1965
   - Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên: Đồng Sỹ Nguyên
   - Phó Tư lệnh: Lê Kích
   - Phó Chính ủy thứ nhất: Ngô Thế Sơn
   - Phó Chính ủy thứ hai: Trần Quyết Thắng

* Đoàn 766 quân tình nguyện
   - Ngày thành lập: 3 - 7 - 1966
   - Đoàn trưởng: + Phạm Nghiêm (kiêm Chính ủy)
             + Lê Kỳ
   - Đoàn phó: Hồng Tân

* Đoàn 866 quân tình nguyện
   - Thành lập: Đầu năm 1965, đến ngày 17-8-1966 chuyển thành trung đoàn
   - Đoàn trưởng (Trung đoàn trưởng): + Hoàng Hữu Lâm
                       + Nguyễn Hữu Thơi
                       + Hà Thế Lương
                       + Nguyễn Bình Sơn
   - Chính ủy: + Đoàn Độ
         + Vũ Thái
         + Lê Văn
   - Phó Chính ủy: Đặng Ngọc Lân

* Đoàn 968 quân tình nguyện1 (Ngày 13-4-1973, Bộ Quốc phòng quyết định bổ sung lực lượng, phát triển Đoàn 968 thành Sư đoàn 968) 
   - Ngày thành lập: 28-6-1968
   - Quyền Tư lệnh: Hà Tuấn Khanh 
   - Phó Tư lệnh: Hoàng Biển Sơn
   - Chính ủy: Phạm Sinh
   - Phó Chính ủy: Nguyễn Lệnh

* Sư đoàn 316 quân tình nguyện2 (Sư đoàn 316 thành lập năm 1951 mang tên Đại đoàn 316, năm 1955 đổi gọi là Sư đoàn 316, năm 1958 chuyển thành Lữ đoàn 316, năm 1962 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Năm 1965 củng cố nâng quy mô tổ chức thành Sư đoàn 316. Tháng 7-1972 hợp nhất vào lực lượng Bộ tư lệnh 31 để thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, mang phiên hiệu Bộ tư lệnh Mặt trận 316. Ngày 21-4-1973 tách khỏi Mặt trận 31 thành Sư đoàn 316 và Mặt trận 31. Tháng 12-1974, Sư đoàn 316 chuyển vào chiến trường Tây Nguyên) 
   - Ngày thành lập: 1-5-1951
   - Tư lệnh (giai đoạn 1973-1975): Vũ Lập
   - Chính ủy (giai đoạn 1973-1975): Lê Linh
   - Phó Tư lệnh (giai đoạn 1973-1975): + Nam Hà
                        + Thế Hùng
                        + Hà Vi Tùng
                        + Nguyễn Lê Hoàn

* Sư đoàn 31 quân tình nguyện
   - Ngày thành lập: 11-7-1974
   - Tư lệnh: Nguyễn Lê Hoàn
   - Phó tư lệnh: + Hà Vi Tùng
             + Phạm Đình Tê
   - Chính ủy: Lê Vũ Nguyên
   - Phó Chính ủy: Nguyễn Lê Văn 


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Tư, 2021, 09:47:44 am
II. TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN THUỘC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG DANH HIẸU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ TẠI LÀO (1954-1975)

A. TẬP THỂ1 (Sưu tầm trong bộ sách "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân", tập 1 đến tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H.1996 )


(https://i.imgur.com/GU7tEL3.jpg)
(https://i.imgur.com/bZup0TK.jpg)
(https://i.imgur.com/Uy7Nx7s.jpg)


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Tư, 2021, 10:07:02 am
B. CÁ NHÂN1 (Sưu tầm trong bộ sách "Anh hùng lực lượng vũ trang Việt Nam", từ tập 1 đến tập 8, Nxb Quân đội nhân dân, H.1996)


1. Hoàng Ngọc Chương: Sinh năm 1936, dân tộc Kinh quê xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá; nhập ngũ tháng 4 nám 1963; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, hạ sĩ, Trung đội phó súng cao xạ 14,5 ly thuộc Đại đội 48, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 330.


2. Hoàng Văn Vịnh: Sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê xã Mạc Lạn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; nhập ngũ tháng 3 năm 1959; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, chuẩn úy, chính trị viên phó Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316.


3. Trần Ngọc Phương: Sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà; trú quán phường Ngô Quyền, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; nhập ngũ tháng 7 năm 1963; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, hạ sĩ thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 335 (nay thuộc Sư đoàn 31, Quân đoàn 3).


4. Đỗ Văn Trì: Sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê xã Thụy Văn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là hạ sĩ, xạ thủ trung liên thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316.    


5. Đèo Văn Khổ: Sinh năm 1937, dân tộc.Thái, quê xã Chiềng La, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; nhập ngũ tháng 4 năm 1962; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2 thuộc Tiểu đoàn 51, Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2).


6. Hà Văn Kẹp (tức Kẹt): Sinh năm 1942, dân tộc Thái, quê xã Kỳ Tân, huyện Bá Thưóc, tỉnh Thanh Hoá; nhập ngũ tháng 2 năm 1961; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, chuẩn úy, Trung đội phó Trung đội trinh sát thuộc Tiểu đoàn 923, Đoàn 959 (bộ đội tình nguyện giúp Lào).


7. Mùa A Páo: Sinh năm 1928, dân tộc H'Mông, quê xã Sà Dè Phin, huyện Sình Hồ, tỉnh Lai Châu; nhập ngũ tháng 1 năm 1953; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, thượng úy ở bộ phận cán bộ tình nguyện giúp nước bạn Lào vận động dân tộc H'Mông (Mẹo) tỉnh Mường Sài.


8. Phạm Hữu Thoan: Sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê xã Nam Tân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Hà; nhập ngũ năm 1961; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đó là đảng viên, trung sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 10 thông tin, Tiểu đoàn 78, Cục Thông tin liên lạc (nay là Binh chủng Thông tin liên lạc).


9. Cà Văn Khum (liệt sĩ): Sinh năm 1942, dân tộc Thái, quê ở bản Giảng, xã Chiềng Cơi, thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 22 tháng 12 năm 1969; khi hy sinh là đảng viên, trung úy, phân đội phó đặc công thuộc Đoàn 31 bộ đội tình nguyện chiến đấu ở Lào.


10. Vi Đức Cường: Sinh năm 1946, dân tộc Dao, quê xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; nhập ngũ tháng 2 năm 1965; được tuyên dương ngày 25 tháng 8 năm 1970, khi đó là đảng viên, thượng sĩ đặc công Đoàn 866, Quân khu Tây Bắc (nay thuộc Sư đoàn 31, Quân đoàn 3).


11. Lương Xuân Tuyết (liệt sĩ): Sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở Kỳ Lân, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nhập ngũ tháng 9 năm 1966; được tuyên dương ngày 20 tháng 8 năm 1970; khi hy sinh là đảng viên, thượng sĩ, Tiểu đội trưởng bộ binh thuộc Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316.


12. Trần Văn Phước (liệt sĩ): Sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê xã Vũ Hợp, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nhập ngũ năm 1961; được tuyên dương ngày 1 tháng 10 nám 1971; khi hy sinh là đảng viên, thiếu úy, Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 27 đặc công, Bộ tư lệnh Đặc công.


13. Trịnh Minh Đích: Sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê xã Phú Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá; nhập ngũ năm 1959, xuất ngũ năm 1962, tái ngũ năm 1966; được tuyên dương ngày 1 tháng 10 năm 1971, khi đó là đảng viên, Trung đội trưởng trinh sát thuộc Tiểu đoàn 27 đặc công, Bộ tư lệnh Đặc công.


14. Hồ Thị Cảnh: Sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê xã Quỳnh Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; vào công nhân quốc phòng năm 1968; được tuyên dương ngày 1 tháng 10 năm 1971, khi đó là đảng viên, chiến sĩ Đại đội 35 thuộc Trung đoàn 217, Bộ tư lệnh Công binh.


15. Hoàng Trọng Sén: Sinh năm 1944, dân tộc Tày, quê xã Tân Việt, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 1 tháng 1 năm 1973, khi đó là đảng viên, trung úy, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 41 đặc công, Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2).


16. Vi Văn Pụn: Sinh năm 1943, dân tộc Thái, quê xã Tường Tiến, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đó là đảng viên, thiếu úy, Đại đội phó bộ binh thuộc Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 148, Sư đoàn 316.


17. Lương Văn Hạt: Sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê xã Đông Phong, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; nhập ngũ tháng 11 năm 1968; được tuyên dương ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đó là đảng viên, Trung đội trưởng đặc công thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 27, Bộ tư lệnh Đoàn 305.


18. Nguyễn Thái Giám: Sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, Bắc Giang; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đó là đảng viên, thiếu úy, chính trị viên phó Đại đội 1 ô tô vận tải thuộc Binh trạm 1, Cục Hậu cần, Quân khu 4.


19. Trần Văn Trí (tức Trần Văn Trung): Sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nhập ngũ tháng 6 năm 1965; được tuyên dương ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đó là đảng viên, trung úy trinh sát ngoại biên thuộc lực lượng Công an nhân dân vũ trang Nghệ An.


20. Nguyễn Đức Hạnh (tức Nguyễn Văn Tích): Sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê xã Vũ Công, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nhập ngũ tháng 3 năm 1959; được tuyên dương ngày 31 tháng 12 năm 1973, khi đó là đảng viên, thượng úy, tổ trưởng tổ chuyên gia thuộc Đoàn 959.


21. Triệu Xuân Tâng (tức Triệu Xuân Công): Sinh năm 1946, dân tộc Nùng, quê xã Quốc Dân, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; nhập ngũ tháng 5 năm 1966; được tuyên dương ngày 31 tháng 12 năm 1973, khi đó là đảng viên, thượng sĩ, Trung đội trưởng bộ binh thuộc Đoàn 28 Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2).


22. Nguyễn Như Hành: Sinh năm 1948, dân tộc Tày, quê xã Quốc Việt, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nhập ngũ tháng 5 năm 1966, được tuyên dương ngày 31 tháng 12 năm 1973, khi đó là đảng viên, thượng sĩ, Chính trị viên phó Đại đội 21 súng máy 12,7 ly thuộc Trung đoàn 148, Sư đoàn 316.    


23. Phan Châu Mỹ: Sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nhập ngũ tháng 2 năm 1964; được tuyên dương ngày 6 tháng 11 năm 1978; khi đó là đảng viên, thượng úy, Chính trị viên Tiểu đoàn 7 bộ binh, Trung đoàn 39, Đoàn 565, Bộ tư lệnh 559.


24. Lê Văn Trung: Sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá; nhập ngũ tháng 1 năm 1966; được tuyên dương ngày 6 tháng 11 năm 1978, khi đó là đảng viên, chuẩn úy (quân nhân chuyên nghiệp), trạm trưởng sửa chữa xe máy thuộc Trung đoàn 216, Binh chủng Công binh.


25. Trịnh Trọng Thập: Sinh năm 1951, dân tộc Nùng, quê xã Cai Lệ, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; nhập ngũ tháng 8 năm 1969; được tuyên dương ngày 6 tháng 11 năm 1978, khi đó là đảng viên, thượng sĩ, Trung đội trưởng lái xe ô tô thuộc Phòng tham mưu Sư đoàn 31 (nay thuộc Quân đoàn 3).


Tiêu đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Tư, 2021, 10:10:04 am
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000.

2. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996.

3. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1997.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân Lào gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 8-2-1965. Hồ sơ số 163, Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

5. Báo cáo của Đảng ủy chiến dịch Quân khu Tây Bắc và kết quả chiến dịch Mường Sủi (8-1969). Lưu trữ tại Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu).

6. Báo cáo tình hình quân đội Vương quốc và lực lượng vũ trang, bán vũ trang của Pa-thét Lào trước và trong thời gian sáp nhập. TK 5088, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

7. Bố trí lực lượng ta ở Lào năm 1967, 1968, hồ sơ số 4851, Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005.

9. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 3, 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1997, 2003.

10. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 11. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005.

11. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004.

12. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001.

13. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào 1945-1975, (Đoàn 100, Đoàn 959), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998.

14. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) - Những sự kiện quân sự, H. 1988.

15. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Thống kê các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, tập 2, H. 1993.

16. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, H. 1991.

17. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quần sự Việt Nam: Bộ Quốc phòng 1945-2000 (Biên niên sự kiện), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003.

18. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Việt Nam thế kỷ XX - Những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001.

19. Bộ Quốc phòng Mỹ: Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam, Tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

20. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 1, 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003.

21. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 1, 2, 3, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003.

22. Bộ tư lệnh Quân đoàn 1: Lịch sử Trung đoàn bộ binh 165 (1946-2001), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001.

23. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3: Lịch sử Sư đoàn 31 (1974-2004), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004.

24. Biên niên sự kiện Lào, hồ sơ 1231, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

25. Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn: 25 năm chiến đấu và thắng lợi của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Sự thật, H. 1980.

26. Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn: về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Lào, Nxb Sự thật, H. 1986.

27. Chu Huy Mân: Trên chiến trường Lào, giúp bạn là tự giúp mình (Hồi ký).

28. Chu Huy Mân: Thời sôi động, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004.

29. Huỳnh Đắc Hương: Chung một chiến hào, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972.

30. Cao Đắc Trung: Một số chi tiết trong chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1971-1972, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 - 1998.

31. Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Mỹ xâm lược Lào (1962-1974), VL2734, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

32. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, H. 1987.

33. Chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở Lào nhất định thất bại, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1971.

34. Dương Đình Lập: về mối quan hệ quân đội hai nước Việt - Lào trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Tạp chí Lịch sử quân sự số 6-2003.

35. Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1999.

36. Lịch sử Quân chủng Phòng không, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1993.

37. Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam (1955-1977), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1993.

38. Lịch sử bộ đội Thông tin liên lạc (1945-2000) Nxb Quân đội nhân dân, H. 2000.

39. Lịch sử Công binh Việt Nam 1945-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2000.

40. Lịch sử Công binh 559 - Đường Trường Sơn, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1999.

41. Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Nxb Quân đội nhân dân Lào, Viếng Chăn, 1996 Bản dịch tiếng Việt, Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

42. Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1991.

43. Lịch sử Sư đoàn 316, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001.

44. Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2000.

45. Lịch sử Sư đoàn 968 (1968-2003), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003.

46. Lịch sử các đoàn 335, 463, 565, 766, 866 quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

47. Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1997.

48. Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, 1998.    

49. Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Viêng Chăn (1930-1975), 1977, bản dịch lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

50. Lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1955 đến 1975, Bản số 1, tập thống kê số liệu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

51. Lược sử Lào, Nxb Sự thật, H. 1978.

52. Lý Thực Cốc: Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996.

53. Một số văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập 2 (1965-1970), Nxb Sự thật, H. 1985.

54. Một sổ vấn đề chủ yếu trong lãnh đạo chiến tranh nhãn dân xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Lào (Báo cáo của Trung ương trong Hội nghị cán bộ quân chính toàn quốc từ ngày 30-7 đến ngày 13-8-1967, hồ sơ số 171, Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

55. Nước Cộng hoà dãn chủ nhân dân Lào, Nxb Sự thật, H. 1983.

56. Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng về công tác Lào, ngày 3-7-1965, hồ sơ số 364 TW, tài liệu lưu tại Văn phòng Bộ Quốc phòng.

57. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 12-1967, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

58. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 9, tháng 7 năm 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

59. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 4-1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

60. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 3-1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

61. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 21, tháng 7-1973, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.    

62. Nguyễn Anh Dũng: về chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ, Nxb Sự thật, H. 1990.

63. Nguyễn Hữu Hợp: Đại thắng mùa xuân 1975, sức mạnh của liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia - Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Khoa học xã hội, H. 1985.

64. Quân khu 4, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994.

65. Quân khu 3, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1995.

66. Quân khu 4, 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1995.

67. Quảng Trị - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, 1998.

68. Quân tình nguyện và chuyên gia Quân sự Việt Nam giúp Lào (1954-1975), hồ sơ số 781- TK 937, Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

69. Sư đoàn 304, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990.

70. Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ cuối năm 1954 đến năm 1964. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.    

71. Tây Bắc - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994.

72. Tài liệu tra cứu những sự kiện Lào, tập III, IV, Tài liệu của Thư viện Quân đội, H. 1980.

73. Tổng kết chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng (1945-1975), Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

74. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, tập 1, bản đánh máy, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

75. Tổng kết chiến dịch Nậm Bạc, hồ sơ TK 4368, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

76. Tổng kết chiến dịch Nậm Thà và Quân khu Tây Bắc, hồ sơ VL 11894, lưu ở Trung tâm thông tin khoa học Quân sự - Bộ Quốc phòng.

77. Tổng kết Cánh Đồng Chum - Long Chẹng mùa khô 1971-1972, Tài liệu lưu ở Cục Quân huấn (Bộ Tổng tham mưu).

78. Tổng kết chiến dịch 139 khu vực Cánh Đồng Chum (15.10.1969 - 25.4.1970), Tài liệu lưu trữ ở Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu).

79. Trần Công Hàm: Hoàng Thân - Chủ tịch Xu-pha-nu- vông với bộ đội tình nguyện Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự số 12-2004.

80. Trần Tiệu: Cánh Đồng Chum mùa mưa 1972, Tạp chí Lịch sử quân sự số 3-2002.

81. Trần Văn Thìn: Quân khu 4 với nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1-2005.

82. Trung tướng Doãn Tuế: Kể về đồng đội, Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1995.

83. Trần Độ: Từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum, Tạp chí Lịch sử quân sự số 6-1999 và số 1-2000.

84. Việt Nam con số và sự kiện, Nxb Sự thật, H. 1990.