Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:29:50 pm



Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:29:50 pm
Tên sách: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 1995
Số hoá: ptlinh


Chủ biên:
   Thiếu tướng TRẦN HẢI PHỤNG

Biên soạn:
   NGUYỄN TỨ PHƯƠNG

Với sự tham gia:
   Trung tướng HÀ NGỌC TIẾU
   Đại tá NGUYỄN XUÂN DIỆU
   Đại tá TRẦN BÁ HÀO
   Đại tá NGUYỄN VŨ LINH
   Kỹ sư NGUYỄN VĂN TƯ


Tư liệu:
   NGUYỄN MINH CHÁNH
   NGUYỄN DANH KHÔI
   Cùng nhiều cán bộ, chiến sỹ, cơ sở Cách mạng Tự vệ Thành đã từng công tác ở Sài Gòn - Chợ Lớn


Tổ chức thực hiện:
   Đại tá ĐINH VĂN HUỆ (Trưởng phòng khoa học công nghệ và môi trương Quân khu 7)
 


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:30:55 pm
LỜI NÓI ĐẦU


Tự vệ Thành là một tổ chức vũ trang cách mạng được hình thành và hoạt động trong thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm thành phố - mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Trên cơ sở tổ chức lại các tổ vũ trang, bán vũ trang tự lập, với phương thức hoạt động theo kiểu "biệt động" dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy và tổ chức cơ sở Đảng, Tự vệ Thành đã góp phần quan trọng vào cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng anh dũng của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn trong những ngày đầu kháng chiến.


Thực hiện nghị quyết ngày 6 tháng 1 năm 1991 của Câu lạc bộ truyền thống các lực lượng vũ trang - Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh về việc sưu tầm tư liệu, biên soạn lịch sử truyền thống đấu tranh của quân và dân thành phố trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), tiếp theo việc xuất bản các cuốn: "Sống mãi với Đô thành" (tập 1), "Lược sử chiến sĩ Quyết tử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định (1945 - 1954)" chúng tôi tổ chức biên soạn cuốn "Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống Pháp". Tập sách sẽ góp thêm những tư liệu quý về bức tranh toàn cảnh cuộc đấu tranh chông ngoại xâm của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn.


Nhân dịp cuốn sách hoàn chỉnh bước đầu và được xuất bản, xin chân thành biết ơn những cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh anh dũng, tạo dựng những trang sử hào hùng của lực lượng Tự vệ Thành; cảm ơn những đơn vị, cá nhân - đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ Tự vệ Thành trước đây đã đóng góp những ý kiến và tư liệu quý trong quá trình biên soạn; Cám ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để sách đến với bạn đọc, thiết thực kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Mặc dầu tập thể biên soạn đã có nhiều cố gắng, song do việc sưu tầm tư liệu cò khó khăn, bởi độ lùi thời gian đã gần 50 năm và do khả năng thể hiện còn hạn chế, tập sách khó tránh khỏi sự giản lược và khiếm khuyết. Rất mong được sự góp ý của các đồng chí và các bạn.


Chủ nhiệm Câu lạc bộ
truyền thống các lực lượng vũ trang
Thành phố Hồ Chí Minh

Thiếu tướng TRẦN HAI PHỤNG


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:32:23 pm
Chương một
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG BIẾN THỂ
CỦA TỰ VỆ THÀNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN


I. CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG TRONG THÀNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN TẠM BỊ ĐỊCH CHIẾM (SAU NGÀY 23 THÁNG 9 NĂM 1945)

Cuộc vận động cách mạng sâu rộng đầu năm 1945, nhất là từ sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp (9-3-1945) ngày càng thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình yêu nước trong các tầng lớp nhân dân thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Cùng với cả nước, Sài Gòn - Chợ Lớn hướng tới một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.


Phong trào cách mạng ngày một dâng cao, đặc biệt là sau khi phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh đã tạo nên thời cơ "nghìn năm có một", để nhân dân ta giành chính quyền trong cả nuớc.


Ủy ban khởi nghĩa Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập, do đồng chí Trần Văn Giàu làm Chủ xịch đã kịp thời lãnh đạo quần chúng cách mạng đấu tranh giành chính quyền.


Tổng khởi nghĩa thành công ở Thủ đô Hà Nội ngày 19 tháng 8 trở thành động lực mạnh mẽ, tạo nên "phản ứng dây chuyền" từ Bắc tới Nam. Mọi công tác chuẩn bị khởi nghĩa ở Nam Bộ được xúc tiến khẩn trương.


Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa Sài Gòn - Chợ Lớn họp ở Chợ Đệm, quyết định ngày 24 tháng 8 sẽ khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn.


Ngày 25 tháng 8, khởi nghĩa giành thắng lợi ở Sài Gòn, chính quyền thuộc về quần chúng cách mạng, chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp kéo dài trên 80 năm.


Cách mạng mới giành thắng lợi, người dân Sài Gòn chưa trọn niềm vui, thì quân đội Anh với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật cùng hàng nghìn lính Pháp núp dưới bóng quân đồng minh đã trở lại Sài Gòn, thực hiện dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên một triệu đồng bào Sài Gòn mít tinh rầm rộ với rừng cờ đỏ sao vàng, mừng đón giờ phút thiêng liêng ra đời chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, thì quân Pháp đã bắn lén làm chết và bị thương một số đồng bào ta. Các chiến sĩ vũ trang và bán vũ trang đã nhanh chóng trừng trị những kẻ khiêu khích, bắt giữ nhiều tên. Không dừng ở đó, thực dân Pháp vẫn tiếp tục cho quân lính tăng cường hành động gây hấn, khủng bố nhân dân, xâm lược chủ quyền đất nuốc ta. Tình hình ngày càng căng thẳng, buộc chúng ta phải kiên quyết đánh trả để tự vệ.


Sáng 23 tháng 9 năm 1945, Sài Gòn - Chợ Lớn hiên ngang bước vào cuộc chiến đấu mới. Các chiến sĩ Tự vệ chiến đấu, Thanh niên Tiền phong, Quốc gia tự vệ cuộc (công an), Công đoàn... cùng nhân dân Sài Gòn anh dũng chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm luợc. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp tại nhà số 269 đường Cây Mai - Chợ Lớn, quyết định điện báo ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, để phát động ngay cuộc kháng chiến chống Pháp.


Sau khi gây hấn ở Sài Gòn, dần dần thực dân Pháp đánh nống ra các thành phố thị xã khác. Nhưng ngay trong lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, các nhóm, các tổ vũ trang ta vẫn dũng cảm hoạt động: Các vụ đánh phá, đốt kho tàng, nhà máy, diệt ác trừ gian vẫn tiếp diễn hàng ngày, gây cho địch nhiều thiệt hại về người và của.


Trước diễn biến của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị đại biểu các tỉnh, thành tại Thiên Hộ (xã Hậu Mỹ, Cái Bè, Mỹ Tho). Đây là hội nghị có đông đại biểu của Đảng bộ Nam Bộ kháng chiến tham dự. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn cùng nhiều đồng chí khác vừa được giải phóng từ nhà lao Côn Đảo trở về cũng đến dự. Hội nghị nhận định tình hình, rút kinh nghiệm chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, nhân mạnh nguyên tắc: "Đảng phải xây dựng và nắm các lực lượng vũ trang, đề ra hàng loạt biện pháp cấp thiết nhằm củng cố lực lượng vũ trang, đưa các đảng viên ưu tú gia nhập làm nòng cốt cho các lực lượng vũ trang. Hội nghị quyết định gấp rút xây dựng lực lượng, lấy du kích chiến làm chiến thuật chính, thực hiện vườn không nhà trống, đẩy mạnh công tác trừ gian; triệt để xây dựng cơ sở bí mật ngay trong thành phố, thị xã tạm bị chiếm, khôi phục chính quyền ở những nơi bị vỡ.


Khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng ra hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị "Kháng chiến, kiến quốc". Đồng thời Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định chia cả nước thành chí chiến khu. Địa bàn Nam Bộ bao gồm ba chiến khu 7, 8, 9.


Đối với Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Trung ương Đảng chỉ thị phải phong tỏa những thành phố đã lọt vào tay địch về kinh tế, chính trị, kết hợp tiến công quân sự, áp dụng du kích chiến triệt để, vận động nhân dân thực hiện "vườn không nhà trống" khi địch tới.


Chấp hành chỉ thị "Kháng chiến, kiến quốc" của Trung ương Đảng, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ tiến hành hội nghị mở rộng tại xã Bình Hòa Nam (trên bờ sông Vàm Cỏ Đông), chính thức thành lập Khu 7, Khu 8 và Khu 9.


Ban chỉ huy Khu 7 gồm các đồng chí: Nguyễn Bình - khu bộ trưởng, Dương Văn Dương - khu bộ phó. Đến giữa năm 1946, đồng chí Trần Xuân Độ được chỉ định làm chủ nhiệm chính trị khu bộ.


Ngày 20 tháng 2 năm 1946, khu bộ Khu 7 họp bất thường tại Lạc An, quyết định tổ chức lại cơ quan khu bộ, đồng thời quyết định những vấn đề quan trọng nhằm củng cố lại lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh du kích đặc biệt ở vùng đô thị và các vùng cao su, tăng cường cán bộ xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng, thế trận phòng thủ... Hội nghị đề ra chương trình hành động cụ thể gồm chín điểm; trong đó tập trung vào những khâu then chốt: trừ gian, nắm vững dân chúng, phát động du kích chiến tranh ngay trong lòng Sài Gòn - Chợ Lớn, và lập các ban trừ gian hoạt động ở thành phố.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:33:26 pm
II. TỔ CHỨC VÀ NHỮNG BIẾN THỂ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỰ VỆ THÀNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN

Các chỉ thị, nghị quyết của Trung uơng Đảng, Xứ ủy Nam Bộ về cuộc kháng chiến; đặc biệt là những vấn đề về chiến tranh nhân dân, các hình thức, biện pháp đấu tranh và quyết định của Khu bộ Khu 7 đã hướng cuộc đấu tranh của nhân dân và các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển đúng hướng. Trên nền tảng cuộc chiến tranh nhân dân và cũng do yêu cầu bức xúc của cuộc chiến tranh, nhiều tổ chức vũ trang ở Sài Gòn - Chợ Lớn lần lượt hình thành và hoạt động có hiệu quả.

1. Các đơn vị vũ trang tự lập sau ngày 23 tháng 9 nảm 1945.

Vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1945, Pháp đánh nống ra hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ. Nhiều người dân Sài Gòn trước đây tản cư về các vùng nông thôn Nam Bộ, nay gặp khó khăn đã phải trở lại vùng địch tạm chiếm để sinh sống. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ quyết định cử một số cán bộ, đảng viên vào nội thành có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn lãnh đạo nhân dân đấu tranh ngay tại sào huyệt kẻ thù. Ngoài các đoàn thể của quần chúng, các tổ chức chính trị nằm trong Mặt trận Việt Minh được củng cố và phát triển sâu rộng, còn có các đội "cảm tử" trụ bám ở các vùng ngoại ô cùng các tổ dân quân du kích. Được Xứ ủy và Khu bộ Khu 7 lãnh đạo, chỉ đạo, các tổ chức vũ trang hoạt động nội thành từ trước đó được phát triển thêm. Các địa bàn cơ sở yếu từng bước được củng cố. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng tỏ rõ sức mạnh, đánh địch có hiệu quả hơn.


Từ thục tiễn sống động của thế trận chiến tranh nhân dân, nhiều tổ chức vũ trang tự lập trong thành phố nhanh chóng hình thành dưới các tên gọi: Ban trinh sát Hùng Vương, Ban trinh sát Quân chính, Ban Vô hình, Ban Trừ gian, Đội cảm tử Nguyễn Bình, Nhóm "Dao găm"...


2. Các Ban công tác thành

Trong chuyến đột nhập nội thành để khảo sát tình hình vào cuối năm 1945, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình thấy cần phải chấn chỉnh lại các lực lượng vũ trang tự lập để tăng tính hiệu quả hoạt động tác chiến. Sau cuộc họp ở Gò Cát và Bình Hưng Hòa (giáp ranh Chợ Lớn) và cuộc họp ở ấp 4 xã Vĩnh Lộc, huyện Hóc Môn, vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, Khu bộ trưởng quyết định hợp nhất tất cả các tổ chức bán quân sự đã có trước đó thành một lực lượng lấy tên chung là các Ban công tác Thành.


Để thực hiện phương án này, Khu bộ trưởng khẩn trương tiến hành một số công việc cụ thể:

- Ủy quyền cho đồng chí Nguyễn Xuân Diệu là đại diện Khu bộ trưởng tiến hành vận động thực hiện sự chỉ huy thống nhất các Ban công tác Thành.

- Thành lập Ban chỉ quân sự thành Sài Gòn - Chợ Lớn, đặt dưới sự chỉ huy của Khu 7. Thành phần của Ban chỉ huy quân sự thành gồm các đồng chí:

Đặng Kim Thành (tức Nguyễn Xuân Diệu) - Chỉ huy trưởng.

Trịnh Văn Hà (tức Nguyễn Văn Tư) - Chỉ huy phó.

Vũ Kiên Chính (tức Nguyễn Mạnh Liên) - Chỉ huy phó.


Vào đầu tháng 5 năm 1946, tại văn phòng Ban công tác số 2 ở ấp 5, xã Vĩnh Lộc đã diễn ra cuộc họp gồm các đồng chí Nguyễn Đình Chính (Ban công tác số 1), Nguyễn Văn Tôn (Ban công tác số 2) và Nguyễn Văn Hân (ban công tác số 3) do đồng chí Nguyễn Xuân Diệu - đại diện khu bộ trưởng, Khu 7 chủ trì. Hội nghị thảo luận quyết định của Khu bộ trưởng, thống nhất chỉ huy ba ban công tác trực thuộc Ban chỉ huy Thành. Tiếp đó, thêm ba ban công tác (4, 5, 6) ra đời trong hai tháng 5 và 6, đặt dưới sự chỉ huy chung của Ban chỉ huy quân sự thành.


Cùng thời gian này, Khu bộ trưởng đã quyết định công nhận Ban công tác đặc biệt - một tổ chức tình báo của ta hoạt động ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ban công tác đặc biệt cũng được đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chỉ huy quân sự thành, do đồng chí Cao Văn Tây trực tiếp chỉ huy.


Việc thống nhất chỉ huy các Ban công tác thành là một chủ trương đúng đắn, tạo được sự đoàn kết hiệp đồng, khắc phục được tình trạng phân tán, nâng cao được hiệu suất chiến đấu. Chủ trương trên được thống nhất thực hiện, nhưng thực tê đã nảy sinh tình trạng ban nào cũng đểu muôn được Khu bộ trưởng Nguyễn Bình - một cán bộ quân sự dũng cảm, năng động, quyết đoán được Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào, trực tiếp chỉ huy.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:35:49 pm
3. Tự vệ Thành

Đồng thời với việc chấn chỉnh, củng cố và thống nhất chỉ huy các Ban công tác, Khu bộ trưởng ra quyết định xây dựng một lực lượng quân sự mới lấy tên là Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Đây là quyết định đã được thống nhất từ trước giữa Khu bộ trưởng Nguyễn Bình với đồng chí Nguyễn Văn Hoàn (tức Hà Ngọc Tiếu) và đồng chí Hà Ngọc Tiếu được phân công tổ chức. Nhiệm vụ của lực lượng Tự vệ Thành là:

- Nếu Pháp nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) ngừng tiến công quân sự thì Tự vệ Thành là lực lượng giữ trật tự trong thành phố và hỗ trợ cho chính quyền cơ sở cùng nhân dân trong khu vực, công nhân các xí nghiệp đấu tranh bảo vệ việc thi hành hiệp định.

- Nếu thực dân Pháp tráo trở, không thực hiện Hiệp định đã ký, thì Tự vệ Thành sẽ là lực lượng quân sự của chính quyền cơ sở cùng với nhân dân từng khu vực đánh địch ngay trong nội thành.

Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Tự vệ Thành phải được tổ chức theo khu vực phụ trách của chính quyền cách mạng cơ sở. Đồng chí Nguyễn Văn Hoàn về thành phố tháng 6 năm 1946, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Thành bộ Việt Minh. Mới hoạt động được hai tháng thì đồng chí Hoàn bị địch bắt trong dịp kỷ niệm ngày Tổng khởi nghĩa (19-8-1946). Nhằm tạo điều kiện xúc tiến việc tổ chức Tự vệ Thành phù hợp với quyết định trước và căn cứ vào đề nghị của đồng chí Nguyễn Xuân Diệu, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình giao cho Ban chỉ huy quân sự thành đặc trách chỉ huy cả Tự vệ Thành.


Khoảng giữa năm 1947, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn tiến hành hội nghị cán bộ Đảng toàn thành tại kênh Bà Vụ (Vườn Thơm, Trung Huyện, Chợ Lớn). Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Xứ ủy dự hội nghị. Nội dung chủ yếu thảo luận ở hội nghị là công tác xây dựng lực lượng cách mạng và hoạt động của lực lượng này ở thành phố. Hội nghị thống nhất chủ trương đối với hoạt động trong nội thành, Đảng phải đi sâu vào phong trào quần chúng, phải tiến hành kết hợp đấu tranh chính trị - kinh tế với đấu tranh quân sự, trừ gian, diệt ác. Hội nghị chủ trương đẩy mạnh các hoạt động bí mật, công khai và nửa công khai; không hợp pháp, hợp pháp và nửa hợp pháp.


Tư tưởng chỉ đạo của ta là chủ động tiến công địch chứ không "trường kỳ mai phục". Những nội dung cơ bản mà hội nghị thống nhất đã đặt nền tảng về chủ trương, biện pháp cụ thể cho đấu tranh vũ trang tại một thành phố lớn như Sài Gòn.


Hội nghị bầu đồng chí Nguyễn Văn Mười (tức Mười Cúc hay Nguyễn Văn Linh1 (Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - khóa VI (1986-1992)) làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.


Từ cuối năm 1947, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, trên địa bàn Nam Bộ đã thống nhất thành lập hệ thống các đơn vị dân quân, du kích và bộ đội địa phương. Trên cơ sở chủ trương đó, Tự vệ Thành có những biến động về tổ chức và mang những tên gọi khác nhau.


a) Thành lập Liên dội du kích Sài Gòn - Chợ Lớn

Cùng với việc thành lập các trung đoàn vũ trang tập trung của thành phố (trong đó có trung đoàn Phạm Hồng Thái), các Tỉnh đội dân quân, các Ban công tác và Tự vệ Thành trước đây thuộc Khu 7 được chuyển thành lực lượng vũ trang địa phương (địa phương quân) trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn.


Tháng 11 năm 1947, Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định biên chế các ban công tác và Tự vệ Thành thành các đại đội du kích của thành phố, gọi là Liên đội du kích thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Liên đội này đặt dưới sự chỉ huy của Ban Dân quân thành mới được thành lập do một đồng chí Phó bí thư Thành ủy phụ trách. Với chủ trương này, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn có cả ba thứ quân: chủ lực là trung đoàn Phạm Hồng Thái, bộ đội địa phương là các Ban công tác và Tự vệ Thành biên chế lại thành các đại đội du kích và dân quân các quận, (đang được củng cố và tổ chức)

Bảy Ban công tác Thành được đặt danh hiệu từ đại đội du kích số 1 đến đại đội du kích số 7.


b) Chuyển 15 khu và đội Tự vệ Thành thành ba đại đội du kích

Cùng với quyết định chuyển các đội tự vệ thành lực lượng vũ trang trực thuộc chính quyền địa phương, Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn tiến hành biên chế lại lực lượng này. 15 khu đội và đội Tự vệ Thành được biên chế thành ba đại đội du kích.


Mỗi đại đội gồm năm trung đội, trong đó có tính đến địa bàn hoạt động gần nhau. Ba đại đội này đánh số hiệu từ đại đội số 8, số 9 đến số 10. Lúc này toàn thành phố đã có 10 đại đội du kích.


Nhằm kiện toàn tổ chức các đơn vị được chặt chẽ và không ảnh hưởng đến chiến đấu, Ban chỉ huy Tự vệ Thành đề nghị tạm thời giữ nguyên thành phần ban chỉ huy cũ nhưng đổi tên là Ban chỉ huy Liên đại đội du kích 8, 9, 10. Ban này sẽ giải thể sau khi hoàn thành việc phiên chế các đại đội. Trong lúc đang chấn chỉnh biên chế, tổ chức thì hai đồng chí chỉ huy phó: Hoàng Trọng Khải và Nguyễn Hoài Nam lần lượt hy sinh. Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn chấp thuận đề nghị của đơn vị bổ sung đồng chí Đỗ Tân (đang phụ trách ban chính trị) vào Ban chỉ huy Liên đại đội du kích 8, 9, 10, giữ chức chính trị viên.


Chỉ huy các đại đội được sắp xếp như sau:

* Đại đội 8:
   Đại đội trưởng: Đào Văn Thực
   Đại đội phó: Đặng Đức Hào
   Chính trị viên: Hoàng Hữu Phúc.

* Đại đội 9:
   Đại đội trưởng: Đoàn Cát
   Đại đội phó Huỳnh Quang Tân, Như Thơ (Nguyễn Văn Thêu, Ba Thêu)
   Chính trị viên: Lý Kỳ Nam.

* Đại đội 10:
   Đại đội trưởng: Nguyễn Văn Nam (Nguyễn Danh Khôi).
   Đại đội phó: Huỳnh Văn Khai (Hoàng Hồng Các).
   Chính trị viên: Đỗ Văn Hanh.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:37:17 pm
c) Tổ chức Ban 200/CT và Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn

Khi Tự vệ Thành hoàn thành cơ bản việc xây đựng Liên đại đội du kích 8, 9, 10, chuẩn bị mọi mặt cho ba đại đội 8, 9, 10 tách khỏi liên đại đội, thì nảy sinh tình trạng: việc tổ chức các Ban công tác thành các đại đội du kích đã đưa đến một tâm lý không ổn định, ảnh hưởng đến tác chiến, gây bất lợi cho phong trào ở nội thành. Chủ động nắm bắt tình hình, Ban chỉ huy các ban công tác đề nghị cấp trên cho lấy lại danh hiệu cũ. Trước yêu cầu bức xúc của các đơn vị, tháng 4 năm 1948, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình ra quyết định: 10 đại đội du kích Sài Gòn - Chợ Lớn lấy lại tên 10 ban công tác như cũ, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của một ban gọi là "Ban 200/CT" do Khu bộ Khu 7 trực tiếp chỉ huy. Với quyết định này, 10 đại đội du kích không nằm trong hệ thống của thành đội dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn. Chủ trương này đã ổn định được tâm lý cho các Ban công tác thành nhưng chưa phù hợp với chủ trương thành lập lực lượng vũ trang địa phương đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn chưa có lực lượng vũ trang địa phương. Ban chỉ huy 200/CT gồm 10 trưởng ban công tác (tức 10 đại đội trưởng các đại đội du kích đã được phiên chế trước đó), họp cùng một Tổng thư ký, hình thành một ban chỉ huy chung, lấy tên là Ban thường vụ 200/CT. Đồng chí Nguyễn Tứ Phương được chỉ định làm Tổng thư ký. Bên cạnh Ban thường vụ 200/CT có một ủy viên kiểm soát là đồng chí Phạm Ngọc Thảo - trưởng phòng mật vụ Nam Bộ và một ủy viên chính trị là đồng chí Phạm Tuân.


Là người luôn quan tâm đến phong trào đấu tranh vũ trang ở đô thị, tháng 10 năm 1948, trước khi về công tác tại Bộ tự lệnh Nam Bộ, đồng chí Nguyễn Bình đã nghiên cứu đề ra các giải pháp về vấn đề tổ chức, chỉ huy các lực lượng công tác của Sài Gòn - Chợ Lớn.


Trên cương vị là Khu trưởng Khu 7, đồng chí Nguyễn Bình đã cùng đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - Tư lệnh phó (sau này là Khu trưởng Khu 7) tổ chức một cuộc hội nghị gồm toàn thể Ban thường vụ 200/CT để thông báo một số nội dung về tổ chức chỉ huy các lực lượng công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn cụ thể:

* Giải thể ban 200/CT và Ban thường vụ 200/CT.

* Thành lập Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành Sài Gòn - Chợ Lớn.

* Chỉ định Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành, gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Công trung đoàn trưởng trung đoàn 306 kiêm chỉ huy trưởng 10 Ban công tác thành, Nguyễn Tứ Phương chính trị viên. Ban chỉ huy 10 Ban công tác đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Khu 7.


Với quyết định này, lực lượng vũ trang, tự vệ Sài Gòn - Chợ Lớn đã thống nhất về chỉ huy, nhưng Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính vẫn chưa có lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp của mình.


d) Rút gọn tổ chức các Ban công tác thành

Đầu năm 1949, nhằm tổ chức gọn và tăng cường khả năng chiến đấu, 10 Ban công tác thành được biên chế lại thành năm ban:

- Ban công tác số 16 gồm Ban công tác 1 và 6.
- Ban công tác số 17 gồm Ban công tác 7 và 9.
- Ban công tác số 18 gồm Ban công tác 8 và 10.
- Ban công tác số 19 gồm Ban công tác 2, 3 và 5.
- Ban công tác số 20 gồm Ban công tác 4 và 145.

Đến tháng 9 năm 1949, do yêu cầu tiếp tục tập trung lực lượng chiến đấu, năm ban công tác trên lại được biên chế thành ba ban công tác: 18, 19 và 20.


e) Thành lập Tiểu đoàn Quyết tử 950

Thất bại trong chủ trương chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", từ cuối năm 1949, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chủ trương: "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "Dùng người Việt trị người Việt". Trên bình diện cả nước, thế trận chiến tranh nhân dân nhằm đánh bại âm mưu thâm độc của kẻ thù đang được phát triển thêm một bước mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển nhanh chóng.


Ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Bộ Tư lệnh khu Sài Gòn lúc đó do đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh kiêm Chính ủy, quyết định thống nhất các Ban công tác thành thành Tiểu đoàn Quyết tử 950.


Ngày 19 tháng 12 năm 1949, lễ thành lập Tiểu đoàn Quyết tử được tổ chức trọng thể tại khu Vườn Xoài thuộc Mỹ Thạnh Đông, Bình Hòa Nam (hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông). Ban chỉ huy tiểu đoàn khi mới thành lập gồm: tiểu đoàn phó Lý Quốc Oai (tức Nguyễn Xuân Thanh) và chính trị viên Lê Bôi (tức Nguyễn Ngọc Lộc).


Trên cơ sở ba ban công tác số 18, 19, và 20, tiểu đoàn biên chế thành ba đơn vị: 3018, 3019, 3020 và một đội biệt động vũ trang. Mỗi đơn vị tương đương một đại đội.


Một tháng sau, các đơn vị được tổ chức lại:

* Đơn vị 3018 hợp nhất các ban công tác số 1, 6, 8, 10 thành đại đội 3927, do đồng chí Thanh Bần (tức Thanh Sơn) nguyên Phó ban công tác 18 làm đại đội phó, đồng chí Võ Thái làm chính trị viên.

* Đơn vị 3019 hợp nhất các ban công tác 2,3, 5 thành đại đội 3721, do đồng chí Nguyễn Huỳnh (tức Ba Cự) làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Trung Hiến (tức Hiến Địa) làm chính trị viên, sau đó là đồng chí Trần Thanh Ý (tức Trần Thanh Đạt).

* Đơn vị 3020 hợp nhất các ban Công tác số 4, 7, 9 và 145 thành đại đội 3824 do đồng chí Bùi Việt Hương (tức Đức Hy Sinh) làm đại đội trưởng, đồng chí Trần Anh Linh (tức Trần Đình Hà) làm chính trị viên.

* Đại đội biệt động vũ trang có khoảng 30 chiến sĩ chọn từ các ban công tác thành được trang bị các loại súng đại liên, súng cối, phóng lựu... do đồng chí Phùng Minh Ký (tức Bảy Rể) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Thắng làm chính trị viên. Khi ở căn cứ, nhiệm vụ của đội biệt động là chống địch càn quét; khi phối hợp với lực lượng vũ trang nội thành thì đảm trách đánh thọc vào vùng ven đô để hỗ trợ cho các ban công tác thành hoạt động ở các hướng bàn đạp.


Về tổ chức, chỉ trong thời gian hơn ba năm, nhưng lực lượng Tự vệ Thành đã có nhiều biến đổi. Những biến đổi đó một mặt xuất phát từ tình hình thực tế địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn, mặt khác cũng nằm trong xu thế phát triển chung về tổ chức lực lượng vũ trang Nam Bộ trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Từ khi thành lập đến hết năm 1948, khởi đầu là 15 khu, đội tự vệ, sau đổi tên là Liên đại đội du kích số 8, số 9 và số 10, tiếp đó là ba Ban công tác số 8, số 9 và số 10. Dù mang tên nào thì thành phần cán bộ chỉ huy chung, cán bộ chỉ huy đơn vị cơ sở và các chiến sĩ vẫn là lực lượng Tự vệ Thành.


* Đầu năm 1949, năm ban công tác hình thành thì Ban công tác 18 gồm hai Ban công tác số 8 và số 10, cán bộ chỉ huy và chiến sĩ hoàn toàn là lực lượng Tự vệ Thành.

Ban công tác số 17 gồm hai ban công tác số 7 và số 9 với thành phần cán bộ chỉ huy và chiến sĩ đã được mở rộng, riêng Ban công tác số 9 là lực lượng Tự vệ Thành.


* Ngày 19 tháng 12 năm 1949, thành lập tiểu đoàn Quyết Tử với ba đại đội 3721, 3824,3927, thì Ban công tác số 8, số 10 nguyên là lực lượng Tự vệ Thành cùng với Ban công tác số 1 và số 6 trở thành đại đội 3927. Ban công tác số 9 nguyên là lực lượng Tự vệ Thành cùng với các ban công tác số 145, số 4, số 7 trở thành đại đội 3824.

Từ đầu năm 1949, lực lượng Tự vệ Thành có sự thay đổi về tổ chức cũng như cơ cấu lực lượng, về tổ chức chung là tiểu đoàn Quyết Tử trực thuộc Ban chỉ huy quân sự Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Do nhiều lần thay đổi về tổ chức, nên tên gọi, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng như những hoạt động cụ thể cũng có nhiều biến động.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:12:03 am
Chương hai
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TỰ VỆ THÀNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN


I. XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU VÀ CĂN CỨ ĐỨNG CHÂN

1. Thành lập các đơn vị tự vệ ở nội thành gắn với việc xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng làm chỗ dựa vững chắc để thực hành chiến đấu

Do tác động tình hình trong nước và nội tình nước Pháp, từ tháng 3 năm 1946, ở Sài Gòn - Chợ Lớn và trên khắp địa bàn Nam Bộ đã xuất hiện nhiều yếu tố tích cực thúc đẩy phong trào kháng chiến phát triển. Việc thực dân Pháp mở rộng địa bàn đánh chiếm đã sớm bộc lộ mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, ở các thành phố, khi bị bao vây về kinh tế, địch đã lâm vào tình trạng khốn đốn về nhiều mặt.


Ở Pháp, chính phủ phản động đổ, chính quyền mới do Đảng xã hội Pháp nắm, Đảng cộng sản Pháp đã có tiếng nói trong Quốc hội Pháp, ở Sài Gòn, một nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác do Đảng cộng sản Pháp tổ chức, đã ra hoạt động công khai. Tình hình đó làm cho giới phản động Pháp dao động, kể cả Việt gian tay sai cũng hết sức hoang mang.


Nhiều báo chí ở Sài Gòn công khai viết về Cách mạng Việt Nam, đưa tin về những hoạt động của các tổ chức cách mạng, lên án hành động dã man của thực dân Pháp và bọn Việt gian.


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng: "Phải lợi dụng tình thế này mà phục hồi các tổ chức cách mạng và chính quyền cơ sở ở vùng bị địch tạm chiếm". Xứ ủy Nam Bộ kịp thời chỉ đạo các khu, thành, tỉnh tiếp tục chọn cán bộ, đảng viên đưa vào hoạt động trong các vùng tạm bị địch chiếm.


Trong bối cảnh lịch sử này, lực lượng Tự vệ Thành được gấp rút xây dựng. Nhận nhiệm vụ của Ban chỉ huy quân sự thành, các cán bộ và học viên Trường Quân chính Khu 7 phần đông đã có mặt tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc để lần lượt vào nội thành hoạt động. Sau đó được bổ sung thêm hai đồng chí, là Nguyễn Quang Phục và Nguyễn Minh Hoàng. Hai đồng chí vừa trực tiếp tham gia đánh địch, vừa làm huấn luyện viên chính trị và quân sự. Các đồng chí Mạnh Liên, Quang Phục, Minh Hoàng đều được bố trí nơi ăn chốn ở tại các cơ sở quần chúng cách mạng, bảo đảm an toàn. Mỗi đồng chí có một giao liên riêng để tiện liên lạc với Ban chỉ huy. Những giao liên đầu tiên trong Ban chỉ huy là các chị Huỳnh Thị Bông, Võ Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Huệ và em Bùi Thị Liễu, tất cả đều đã được đào tạo ở Truờng Quân chính. Bộ phận do đồng chí Hà Ngọc Tiếu phụ trách gồm các cán bộ quân sự vào thành phố tháng 6 năm 1946, thì quan hệ trực tiếp với Thành bộ Việt Minh, dựa vào các nghiệp đoàn thợ giày, thợ may và các đoàn thể cứu quốc để hoạt động, phát triển.


Mọi vấn đề ăn, ở trong quá trình hoạt động tại nội thành, đều do các thành viên tự vệ hoàn toàn tự túc. Mỗi cán bộ, đội viên tự vệ phải tự tìm công ăn việc làm hợp pháp, vừa tự nuôi thân, vừa để đánh lạc hướng săn lùng của kẻ thù. Yêu cầu đối với anh chị em là bảo đảm nguyên tắc tuyệt đối bí mật tung tích của mình, từng người hoạt động độc lập, không vì tình cảm mà liên hệ không đúng nguyên tắc. Điều quan trọng sống còn là mỗi chiến sĩ tự vệ phải nắm chắc tính hình quần chúng và tình hình địch tại vùng mình cư trú, xây dựng cơ sở quần chứng cách mạng để có nơi ẩn náu, tránh địch; chỉ trên cơ sở đó mới lựa chọn kết nạp đội viên vào tổ chức. Việc kết nạp đội viên vào tổ chức cũng rất quan trọng, phải nghiên cứu điều tra từng người cụ thể, hết sức cảnh giác đề phòng địch chui vào hàng ngũ của mình.


Về mặt bảo đảm tài chính cho hoạt động, ban đầu Tự vệ Thành được Công đoàn Nam Bộ thông qua đồng chí Lý Chính Thắng và Hà Huy Giáp cấp cho 20.000 đồng tiền Đông Dương. Đồng chí Nguyễn Oanh (lúc đó là thanh tra chính trị Miền Đông) cũng có lúc hỗ trợ thêm. Sau đó, Tự vệ Thành dựa một phần vào tiền bán công trái, phiếu kháng chiến của trên (Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ) cấp cho và một phần dựa vào sự giúp đỡ của đồng bào nội thành.


Khoảng hai ba tháng hoạt động ở nội thành, anh chị em tự vệ đã ổn định được chỗ ăn, ở, xây dựng các cơ sở quần chúng cách mạng và cơ sở tổ chức đầu tiên. Vào cuối tháng 6 năm 1946, trên 20 cán bộ được chọn lọc, phần lớn là học viên Trường Quân chính Khu 7, tổ chức một cuộc họp tại nhà hàng trên đường Thủy Binh ở Chợ Lớn (nay là đường Trần Hưng Đạo). Đồng chí Nguyễn Mạnh Liên, với danh nghĩa là chỉ huy phó Ban quân sự thành chủ trì cuộc họp. Các đồng chí Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Vũ Linh, Nguyễn Tứ Phương, Trần Quốc Phiên tham dự cuộc họp này. Lúc đó địch chưa kiểm soát chặt chẽ các đường phố ở Chợ Lớn. Chủ nhà hàng là người Hoa có cảm tình với cách mạng. Cuộc họp được tiến hành an toàn, dưới hình thức một cuộc chiêu đãi thân mật. Cuộc họp được tiến hành nhằm:

- Sơ bộ kiểm tra hoạt động của cán bộ cùng khả năng và điều kiện sinh sống của anh em Tự vệ Thành.

- Từ thực tế đó, phân chia khu vực và địa bàn hoạt động, phân công cán bộ phụ trách các khu vực và địa bàn.


Về nguyên tắc: Tự vệ Thành được tổ chức theo địa bàn dân cư, lấy đơn vị hành chính là hộ, quận làm cơ sở. Lúc đó nội thành có 18 hộ... Ngoài ra, Tự vệ Thành cũng được tổ chức theo đường phố lớn và xí nghiệp lớn. Với địa bàn dân cư gọi là khu tự vệ. Với đường phố hoặc xí nghiệp thì gọi là đội tự vệ. Mỗi khu hoặc đội tự vệ có thể tổ chức đến trung đội. Lúc đó, anh em đã tổ chức được 13 khu và đội tự vệ. Sau này có tổ chức thêm hai đội nữa, tổng số gồm 15 khu và đội. Tại một vài địa bàn dân cư hoặc xí nghiệp mà địch bố phòng chặt chẽ, ta chưa có điều kiện tổ chức lực lượng tự vệ.


Các khu tự vệ lấy tên những địa danh lịch sử cách mạng gồm có: khu Võ Nhai, Đình Cả, Bắc Son, Bạch Đằng, Lam Sơn, Tây Hồ, Hóc Môn và Lạc An. Các đội tự vệ có: đội Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Quang Trung, Ký Con, Thái Văn Lung - tên các danh nhân lịch sử. Sau này có thêm trung đội Mê Linh, trung đội Minh Khai và trung đội "Tiểu Quỷ".


Các khu và đội tự vệ đều đứng chân hoạt động trong nội thành, tập trung ở phía đông và đông bắc thành phố. Khu Bạch Đằng lấy Phú Nhuận, chợ Xã Tài đến chân cầu Kiệu làm chỗ đứng chân và hoạt động. Địa bàn khu Lam Sơn gồm vùng Bà Chiểu chạy dài sang Thị Nghề, với hai chợ khá sầm uất. Khu Tây Hồ đứng chân tại vùng Tân Định, Đa Kao, cũng có hai chợ buôn bán đông đúc. Tại đây có tổ chức một tiểu đội gồm những người đạp xích lô trụ tại vùng Hầm Sỏi và Bến Tắm Ngựa (nay là đường Huỳnh Tịnh Của). Khu Hóc Môn đứng chân ở vùng Bàn Cơ, lúc đó còn là xóm nhà lá nhưng có chợ rất đông người. Đội Ký Con lấy đường phố từ Phú Nhuận chạy dọc sang Bà Chiểu (nay là đường Phan Đăng Lưu), hồi đó địch đặt tên là "Đại lộ Vành đai" (Boulevard de la ceinture) làm nơi ém quân và hoạt động. Đội Trần Quốc Tuấn lấy cầu Mác-ma-hông (nay là cầu Công Lý) chạy sang Chuồng Bò (nay là phía sau trường Đại học Sư phạm, đường Lê Văn Sĩ) và Vườn Xoài (đường Lê Văn Sĩ bây giờ).


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:12:54 am
Về phía tây và nam thành phố, khu Bắc Sơn xây dựng cơ sở ở vùng Cầu Kho và cầu Ông Lãnh. Đây là một địa bàn hết sức đông đúc dân cư, có chợ đầu mối quan trọng. Khu Võ Nhai đứng chân ở vùng Khánh Hội và Tân Thuận. Dân cư ở đây phần đông là người làm nghề khuân vác ở cảng Sài Gòn. Đội Tô Hiệu đứng chân ở vùng Lý Nhân, Vĩnh Hội chạy dài sang cầu Chữ Y. Tại xóm Củi, gần bưu điện Chợ Lớn có một tiểu đội gồm những người đạp xích lô, hoạt động trên địa bàn Chợ Lớn.


Ở Trung tâm thành phố, ngoài khu vực tự vệ Lạc An lấy quận 1, chợ Bến Thành làm địa bàn đứng chân, có tổ chức thêm một tiểu đội với lực lượng chủ yêu là công nhân chữa cháy trong khuôn viên chợ. Trong khu tập thể công nhân sở Hỏa Xa (dọc đường Boudonnet - nay là đường Lê Lai) có một tiểu đội hoạt động. Trong công xưởng Đô Thành (Atelier Municipale) có một tiểu đội tự vệ công nhân và sở Bưu điện thành phố cũng có một tổ tự vệ.


Về nhân sự, Tự vệ Thành tổ chức chủ yếu trong nội thành, lấy cán bộ học viên Truờng Quân chính Khu 7 và cán bộ chỉ huy quân sự từ các đơn vị giải phóng quân đưa về thành phố làm nòng cốt, dựa vào các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh mà tuyển lựa, kết nạp đội viên. Nhờ vậy, thành phần nhân sự của Tự vệ Thành đa số là công nhân, nhân dân lao động, thợ thủ công, tiểu thương buôn bán trong các chợ, học sinh và trí thức yêu nước.


Các đồng chí Đào Văn Thực, Hoàng Trọng Khải, Nguyễn Danh Khôi, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Vũ Linh, Như Thơ, Huỳnh Quang Tân, Huỳnh Văn Khai, Đoàn Cát, Lý Kỳ Nam, Hoàng Hữu Phúc, Nguyệt Lăng, Ngô Thanh Vân, Lương Minh Trí, Đỗ Văn Hanh... là những cán bộ chỉ huy đầu tiên của 15 khu và đội tự vệ. Đây là các đồng chí đã đóng góp rất nhiều thành tích; hầu hết từng bị địch bắt giam và hơn một nửa các đồng chí này đã hy sinh trong quá trình chiến đấu. Số bị địch bắt giam, khi ra tù, các đồng chí lại tiếp tục chiến đấu.


Những cuộc gặp gỡ, trao đổi công tác giữa các thành viên của tổ chức tự vệ phải tiến hành ở ngoài đường phố, thông qua liên lạc mà hẹn ngày giờ và địa điểm gặp nhau, không được sai hẹn đến quá 5 phút. Tuyệt đối bảo đảm nguyên tắc hoạt động độc lập, luôn đề phòng khi bị địch bắt, chịu đòn không nổi hoặc vì lý do gì đó dẫn địch đến bắt đồng chí mình. Đó là nguyên tắc tổ chức và hoạt động bí mật của Tự vệ Thành mà mọi cán bộ, chiến sĩ đều phải tuân thủ nghiêm túc. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động nội thành, cũng có những trường hợp ta bị tổn thất nặng nề. Nguyên nhân chủ yếu là không nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc bí mật.


Để đứng chân và hoạt động trong khu vực mình đảm trách, cán bộ và chiến sĩ Tự vệ Thành đã dựa hẳn vào nhân dân ở khu vực đó. Anh chị em đã xây dựng cho mình những cơ sở quần chúng cách mạng.


Vốn là những người sinh sống tại thành phố, vì vậy khi trở về hoạt động, xây dựng cơ sở mới, phần đông chiến sĩ Tự vệ Thành không mấy khó khăn. "Điểm tựa" của họ chính là người thân trong gia đình, như bố mẹ, anh, chị em, hoặc bạn bè khối phố... Với thuận lợi đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ xây dựng từ hai đến ba cơ sở, theo phương châm có nhiều cơ sở càng đảm bảo an toàn cho mình.


Cơ sở quần chúng cách mạng là nơi anh chị em lưu trú, tránh địch khi bị địch theo dõi từ nơi khác. Đây cũng là nơi ăn ở khi chưa có công ăn việc làm hoặc tạm thời bị mất chỗ làm và là nơi anh chị em có thể tá túc chữa bệnh khi đau ốm. Nhân dân sẵn lòng nuôi dưỡng anh chị em trong tình quân dân cá nước và quan hệ họ hàng, bạn bè.


Cơ sở quần chúng cách mạng còn là nơi anh chị em có thể huy động phục vụ cho chiến đấu: làm giao liên, vận chuyển tài liệu, vũ khí, đi trinh sát nắm địch, nếu những việc đó hợp sức khỏe, khả năng của từng đối tượng. Tự vệ Thành đã dựa vào những đối tượng phục vụ trong các biệt thự, nhà riêng của sĩ quan hoặc công chức cao cấp của Pháp mà xây dựng cơ sở che chắn cho cán bộ, cất giấu tài liệu, vũ khí. Cơ sở tổ chức ở trong đồng bào người Hoa ở Chợ Lớn cũng là những nơi tương đối an toàn. Khi cần, Tự vệ Thành có thể lánh mặt từ Sài Gòn vào Chợ Lớn.


Ngoài các cơ sở thông thường của anh chị em xây dựng, Ban chỉ huy Thành bộ tự vệ còn xây dựng những cơ sở riêng biệt của mình, nhằm phục vụ chung cho những nhu cầu của đơn vị. Điển hình như bà Tư Nhiễm là một cơ sở rất quý của Tự vệ Thành. Bà Tư có một tiệm cơm bình dân, anh chị em liên lạc của Tự vệ Thành khi cần có thể đến ăn không phải trả tiền1 (Với những thành tích đóng góp to lớn cho cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bà Tư Nhiễm được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ cũng xây dựng cơ sở trong giới trí thức (đội ngũ giáo sư, luật sư, bác sĩ...) và giới công thương. Trạng sư Ngô Sách Vinh liên lạc với anh chị em tự vệ bị địch bắt giam cầm trong tù và biện hộ cho anh chị em khi bị đưa ra tòa xét xử. Bác sĩ Nguyễn Văn Diệp ngoài việc chữa trị thương tích và bệnh tình cho anh em, còn dành nhà riêng của mình làm nơi cất giấu tài liệu, vũ khí cho Tự vệ Thành. (Bác sĩ Nguyễn Văn Diệp nguyên là ủy viên trong Ủy ban kháng chiến quận Lái Thiêu, khi Pháp đánh rộng ra, bác sĩ được cử về nội thành hoạt động với Tự vệ Thành). Cả gia đình bác sĩ có tám người tham gia cách mạng. Đồng chí Quang (tức Lý) đại đội phó đại đội Quyết Tử -   em ruột của bác sĩ Diệp đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ. Bác sĩ Đặng Văn Hồ cũng là người chữa các vết thương và bệnh tật cho nhiều cán bộ của ta. Trong công thương gia có các cơ sở: ông Nam Tiến ở Tân Định, ông Định, ông Chiêu (tức Lâm Hải Học), ông Hai - chủ tiệm nước mắm cầu Ông Lãnh. Tại nhà hàng Long Vĩ, sát Khám Lớn, có ông Tôn Gia Sanh là cơ sở rất tin cậy của Tự vệ Thành. Gia đình ông bà Quảng Tê ở đường May-e (nay là đường Võ Thị Sáu) cũng là cơ sở vững chắc của Tự vệ Thành. Gia đình cụ Vũ Đình Tân là nơi anh chị em Tự vệ Thành và sau này là anh chị em 10 Ban công tác thành thường đến chữa bệnh, điều trị vết thương, nhất là thương tích nội tạng do bị địch tra tấn trong tù. Gia đình bác Hai Quyến cùng người em ruột là bác Ba Hơn đều là những người đã giúp đỡ tận tình Tự vệ Thành và sau này là Ban chỉ huy 10 Ban công tác thành. Bà Hoàng Thu Yến đã nhường toàn bộ nhà mình để cán bộ Tự vệ Thành làm việc và làm trụ sở bí mật của trung đội Minh Khai. Ông Nguyễn Văn Chính là cơ sở có công nuôi dưỡng, che giấu một số cán bộ, chiến sĩ Tự vệ Thành bị lộ trong quá trình hoạt động ở nội thành. Nhà ông Chính ở Giồng Ông Tố là cơ sở tin cậy của đội Tô Hiệu. Nhà bà Ký Vỹ lúc đầu ở gần cầu Chữ Y, sau chuyển về ngã ba cầu Công, quận 4 là nơi cất giấu nhiều tài liệu, lựu đạn của tự vệ. Bà còn có công nuôi dưỡng, che giấu nhiều cán bộ, chiến sĩ tự vệ hoạt động. Cụ Kim (tức Tiêu) ở 14 Thủ Khoa Huân cũng là một trong những cơ sở tin cậy của trung đội Minh Khai...


Để tách Tự vệ Thành ra khỏi dân, triệt nguồn cung cấp vật chất và chỗ dựa tinh thần, địch tăng cuờng đánh phá cơ sở của ta. Cuộc đấu tranh về tổ chức giữa ta và địch, lúc này chủ yếu là cuộc đấu tranh bảo vệ cơ sở cách mạng, chống lại sự đánh phá của địch. Nhiều trường hợp cán bộ của ta thoát khỏi sự vây bủa lùng bắt của địch nhưng cơ sở lại bị tổn thất. Đồng bào cơ sở cũng bị địch bắt, bị tra tấn, tù đày, bị địch tịch thu tài sản, có khi còn bị địch thủ tiêu. Không có cơ sở quần chúng cách mạng, Tự vệ Thành không thể tồn tại và không thể tổ chức đánh địch có hiệu quả. Bởi vậy, tự vệ Thành luôn xem những chiến công của mình trên mọi lĩnh vực: tổ chức lực lượng, thực hành đánh địch... đều là những chiến công của đồng bào cơ sở.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:15:08 am

2. Xây dựng căn cứ bàn đạp ở ngoại thành, đảm bảo sự chỉ huy thông suốt vào nội thành

Để điều hành công việc được nhanh chóng, thuận tiện, Ban chỉ huy quân sự Thành đã bí mật tổ chức hai trụ sở chính ngay trong nội thành.

Cơ sở thứ nhất đặt tại số 212 cầu Ông Lãnh. Đây vốn là nhà riêng của một chiến sĩ Tự vệ Thành hoạt động rất năng nổ đã bị địch bắt. Sau khi anh bị bắt, vợ và các con chuyển về sống ở Thủ Đức. Căn nhà gồm hai tầng, vị trí khá kín đáo, thuận tiện cho việc đặt trụ sở làm việc. Tầng trệt ngôi nhà dành để làm cơ sở giao dịch, buôn bán nước mắm. Tầng trên dùng làm văn phòng ban chỉ huy. Các đồ dùng cần thiết như máy chữ, con dấu... để ở tầng lầu này. Chính tại cơ sở này, những công văn, tài liệu đã được chuyển tới các khu đội tự vệ. Các liên lạc viên từ chiến khu về đều có những đầu mối riêng dẫn đến trụ sở nhận công văn, tài liệu, chỉ thị của Ban chỉ huy. Các buổi sáng hàng ngày, đồng chí Nguyễn Văn Tư (Trịnh Văn Hà) hoặc một đồng chí khác trong Ban chỉ huy thay nhau trực tại trụ sở này.


Trụ sở thứ hai là nhà sách Mạch Sống, số 156 đường An-be 1 (Albert 1er) Đa Kao (nay là đường Đinh Tiên Hoàng). Chủ nhà sách là chị Nguyễn Thị Nga - vợ anh Hoàng Trọng Việt. Anh Hoàng Trọng Việt là một nhà báo tiến bộ, theo xu hướng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta, đấu tranh chống sự xâm lược của thực dân Pháp bằng những bài báo có tính chiến đấu cao. Hoàng Trọng Việt đã bị địch bắt giam nhiều lần và đã hy sinh ngay tại gia đình bởi hậu quả những trận đòn dã man, tàn khốc của địch khi ở lao tù.


Vào các buổi chiều hàng ngày, đồng chí Nguyễn Văn Tư đứng bán sách, song thực chất là hoạt động dưới sự bố trí, chỉ đạo của Ban chỉ huy quân sự Thành.


Nội dung công việc chủ yếu của các đồng chí trực tại sở chỉ huy lúc này gồm:

- Vận động trí thức, các nhà báo: Dương Tử Giang, Thiêu Sơn, Tam Ích... thường đến đây gặp gỡ anh Hoàng Trọng Việt. Hễ có dịp là đồng chí Nguyễn Văn Tư tiếp xúc, vận động một số tờ báo đăng tải những tin tức về kháng chiến và trao đổi về đường lối cách mạng. Một số nhà trí thức khác như luật sư Võ Như Giới, các kỹ sư Nhung, Đồng... cũng hay lui tới trao đổi tình hình thời sự. Với lợi thế là nơi bán sách, dễ giao tiếp, nên hoạt động ở đây rất có hiệu quả.


Về nắm tình hình địch: gần hiệu sách có một câu lạc bộ các sĩ quan Pháp, Tự vệ Thành có anh Trần Quốc Phiên làm việc tại đó, có tin tức gì đều cho biết thường xuyên.


Về binh vận: nhiều lính Pháp, lính lê dương thường đến xem sách, các đồng chí Nguyễn Văn Tư, Hoàng Trọng Việt có dịp vận động giải thích để chúng chán ghét chiến tranh xâm lược mà giảm bớt những hành động dã man đối với nhân dân ta. Cũng có những lính lê dương có cảm tình với cách mạng đã bí mật cung cấp súng ngắn và lựu đạn cho ta.


Về công tác tài chính, thấy những người vào mua hoặc xem sách có cảm tình với kháng chiến, nhất là những người có học vấn, xem sách báo ngoại ngữ, ta vận động họ ủng hộ kháng chiến và thường là họ giúp ngay. Những người ủng hộ được nhận một cuốn sách truyện. Trong cuốn sách đó, đồng chí Nguyễn Văn Tư khéo léo ghi số tiền ủng hộ và ký biệt danh Trần Lâm, họ có thể giữ cuốn sách ấy cho đến ngày thắng lợi của dân tộc làm bằng chứng của sự giúp đỡ kháng chiến.


Mỗi lần ra công tác ở Vĩnh Lộc, đồng chí Tư chuyển cho đồng chí Xuân Diệu nộp vào quỹ của Khu 7 số tiền đã quyên góp được. Ngoài việc vận động giới trí thức, Ban chỉ huy quân sự còn chú trọng xây dựng một số cơ sở phụ nữ.


Nhà số 9 đường Pôn Be (Paul Bert) - nay là đường Trần Quang Khải ở Đa Kao, cạnh cầu Bông, đường ra Tân Định là nhà của vợ liệt sĩ Hà Huy Tập và con gái là Hà Thúy Hồng. Đây là nơi tập trung thuốc men của các nhà thuốc ủng hộ kháng chiến. Lực lượng vũ trang Khu 7 nhận phần lớn thuốc chiến thương ở cơ sở này. Những anh em là Tự vệ Thành cũng được giới thiệu đến lấy thuốc khi đau ốm.


Yêu cầu liên lạc của Tự vệ Thành với cấp trên là Khu bộ Khu 7 đóng tại Giồng Dinh (vùng Đức Hòa Thành), với Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn, đóng ở Rạch Rít (sau này dời về các xã Tân Kiên, Tân Nhựt, trong khu vực Bàu Cò - Láng Le).


Mặc dầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắng sức trì hoãn chiến tranh, tiến hành đàm phán tiến tới ký Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946), song với bản chất xâm lược, ngoan cố, thực dân Pháp đã từng bước và không ngừng mở rộng chiến tranh lan khắp hai miền Nam - Bắc nước ta.


Ở Nam Bộ, Pháp lập ra "Nam kỳ quốc" nhằm thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", tăng cường các hành động khủng bố, vây ráp trong thành phố, hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Để đề phòng địch có thể gây thiệt hại cho ta, tháng 9 năm 1946, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ quyết định phải xây dựng căn cứ an toàn ở ngoại thành. Ban đầu lấy ấp 4 xã Vĩnh Lộc (huyện Hóc Môn) làm căn cứ. Khi địch đánh chiếm lập bót ở Ngã Năm, Vĩnh Lộc, căn cứ được dời về ấp 8. Bộ phận nhỏ này ngoài đồng chí Nguyễn Xuân Diệu chỉ huy chung, còn có từ năm đến bảy cán bộ giúp việc, như các đồng chí Nguyễn Văn Hợp (bí danh Hồ Hữu Đức), Nguyễn Tứ Phương... Bộ phận này có nhiệm vụ điều hành mọi công việc của Ban chỉ huy Thành bộ tự vệ, thường xuyên liên lạc với Ban chỉ huy ở nội thành. Khi địch mở rộng cán quét mạnh vào Vĩnh Lộc, ấp 8 không còn an toàn nữa thì căn cứ này chuyển về Vườn Thơm, thuộc Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay là nông trường Lê Minh Xuân, thuộc huyện Bình Chánh - thành phố Hồ Chí Minh).


Có căn cứ ở ngoại thành, Ban chỉ huy lập các cơ quan trực thuộc nhằm đảm bảo sự chỉ huy thông suốt vào nội thành. Ban chỉ huy lần lượt xây dựng các cơ quan theo diễn biến tình hình và yêu cầu nhiệm vụ từng lúc, trước tiên là tổ chức một đội liên lạc. Ở ngoại thành, cơ quan đã được sự giúp đỡ tận tình của bà con nông dân địa phương. Tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc, bác Hai Tráng dành toàn bộ nhà riêng của mình cho cơ quan lấy chỗ làm việc và sinh hoạt, còn bác làm một chòi lá ngoài góc vườn để ở. Tại ấp 8, bác Tam Ca, tại Vườn Thơm, bác Hai Quyến cũng nhường toàn bộ nhà minh cho đơn vị sinh hoạt, và làm việc...


Ở căn cứ Vườn Thơm, đồng chí Nguyễn Xuân Diệu đã có dịp gặp đồng chí Lê Duẩn sau cuộc hội nghị Đảng bộ toàn Thành họp tại kênh Bà Vụ. Đồng chí Lê Duẩn đã phổ biến lại các điểm chính của nghị quyết hội nghị và nhân mạnh mấy vấn đề phải chú ý đối với các hoạt động ở nội thành. Những nội dung chủ yếu là:

- Trước tiên cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân về công cuộc kháng chiến của ta, gây lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

- Hoạt động quân sự ở nội thành là phát động chiến tranh du kích đánh địch về mọi mặt, chiến tranh toàn dân, toàn diện; không chủ trương ám sát cá nhân, bởi hoạt động này không có tác dụng lớn cho cuộc đấu tranh.

- Chú ý làm tốt công tác binh vận, nhằm làm tan rã hàng ngũ địch.


Những quan điểm lớn của nghị quyết hội nghị Đảng bộ toàn thành về đấu tranh vũ trang và những điều mà đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh là những vấn đề vừa có tính định hướng vừa có tính cụ thể, thiết thực đối với mọi hoạt động của Tự vệ Thành trong những năm tháng đầy khó khăn, thiếu thốn này.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:16:15 am
II. XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC ĐẢM BẢO CHỈ HUY VÀ TÁC CHIẾN

1. Xây dựng hệ thống giao liên thông suốt từ Ban chỉ huy đến đơn vị cơ sở

Đối với hoạt động xây dựng lực lượng, tổ chức đánh địch ở địa bàn nội thành, công tác giao liên giữ vai trò rất quan trọng. Đường dây liên lạc của Tự vệ Thành được tổ chức bí mật và giống như "mạng nhện". Có các đường dây lên xuống giữa tiểu đội và trung đội (khu và đội tự vệ), giữa các trung đội với Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ. Có các trạm giao liên đặt trong các chợ, trong các cửa hàng buôn bán mà liên lạc viên là người đứng bán hàng. Mạng lưới giao liên của Tự vệ Thành chủ yếu là phụ nữ và thiếu niên, đối tượng ít bị địch để ý tới. Mỗi khu hay đội tự vệ đều có các nhân viên giao liên của mình. Số lượng liên lạc viên phát triển tùy theo yêu cầu của đơn vị. Không dùng một giao liên cho nhiều đường dây, không để một giao liên biết nhiều đầu mối và cơ sở.


Ban chỉ Thành bộ Tự vệ còn tổ chức riêng những đường giao liên giữa ngoại thành vào nội thành và ngược lại, móc nối tại các trạm khác nhau đặt ở các vùng ven đô khác nhau, đi và về trên những đường khác nhau.


Tổ chức giao liên Tự vệ Thành phát triển thành một mạng lưới giao liên dày đặc, tổ chức khoa học, bí mật, hoạt động cả ngày lẫn đêm mà địch khó phát hiện. Địch cũng biết ta có tổ chức giao liên nên chúng ra sức tìm cách đánh phá, chặt đứt đường dây, vô hiệu hóa hệ thống chỉ huy. Do kinh nghiệm thực tế, ta luôn luôn có những đường dây "hiện hành" và đường dây "dự bị" để liên lạc không bị gián đoạn. Khi có hiện tượng một đường dây giao liên bị địch phát hiện, ta kịp thời chuyển sang hoạt động ở đường dây khác. Để làm được điều đó, vai trò các cơ sở quần chúng cách mạng lại nổi lên là những trợ thủ đắc lực. Khi một đường dây bị đứt, đơn vị thường "nhờ" cơ sở quần chúng "nối" lại, hoặc tổ chức đường dây mới.


Để đảm bảo cho các đội viên giao liên khi trở về nội thành được bảo vệ tốt. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ tổ chức một số trạm chuyển tiếp cho anh chị em liên lạc ở ngoại thành về nội thành có nơi tạm dừng chân để thay quần áo, nắm tình hình nơi cơ sở chính của mình, đề phòng cơ sở đó đã bị vỡ. Đó là các trạm của bà Nguyễn Thị Phương (còn gọi là Má Nguyệt) ở đường Mông-xô (Monceau) - đường Huỳnh Tịnh Của bây giơ. Trạm của bà Vũ Thị Tiếu ở Bà Chiểu, trạm của bà Trần Thị Chữ ở Đa Kao, trạm của chị Phạm Thị Hiền ở đường Pôn - Blăng-xi (Paul Blanchy) nay là đường Hai Bà Trưng, gần cầu Kiệu. Các trạm này đều là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí và giúp đỡ nhân viên giao liên ăn, ở. Chị em liên lạc ở căn cứ về nội thành trước tiên đều ghé các trạm này thay trang phục cho phù hợp với người thành phố. Cần tiền đi xe, chị em được trạm cung cấp giúp đỡ.


Khi Ban chỉ huy Tự vệ Thành thiết lập căn cứ ở ngoại thành thì vấn đề giao liên giữa ngoại và nội thành của riêng Ban chỉ huy trở thành vấn đề hàng đầu trong tổ chức bảo đảm. Từ ấp 4, ấp 8 xã Vĩnh Lộc, hay Vườn Thơm, huyện Trung Huyện, cách trung tâm thành phố từ 10 đến 15 ki-lô-mét và cách Chợ Lớn từ 4 đến 5 ki-lô-mét, đường giao liên được tổ chức thông suốt.


Hệ thống đường giao liên nội - ngoại thành gồm mấy "trục" chính sau:

Đường từ Vườn Thơm - Bàu Cò, vượt qua tỉnh lộ 10 (Sài Gòn đi Đức Hòa), qua cầu Tham Lương đổ về Bà Quẹo (địch đóng đồn ở đây), xuống ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình ngày nay). Đường này, nhân viên giao liên có thể dùng xe thổ mộ mà anh em đánh xe là người thuộc lực lượng Tự vệ Thành, hoặc ta giác ngộ tổ chức. Họ phần lớn là người ở Hóc Môn, Bà Điểm. Đây là lực lượng vừa bảo vệ giao liên, vừa chuyên chở hàng quân nhu, súng, đạn cho ta khá an toàn.


Đường xuất phát từ Tham Lương vào phía nam sân bay Tân Sơn Nhất đổ về Phú Nhuận. Có khi, từ Tham Lương, giao liên phải đi lên phía bắc sân bay, vòng về Gò Vấp để đi xuống Phú Nhuận hay Bà Chiểu. Trên đường này có bốt P.S.E (công an đặc biệt miền Đông) đóng trấn ở Tân Sơn Nhất và bốt Hàng Sanh (nằm ngay ngã ba Hàng Sanh, cuối đường Bạch Đằng nối với đường Xô Viết - Nghệ Tĩnh), một bốt chuyên hứng đón bắt liên lạc của ta từ căn cứ về Phú Nhuận, Gò Vấp, Bà Chiểu. Địch ở bốt này nổi tiếng tàn ác.


Đường từ Bầu Cò vượt tỉnh lộ 10, qua Gò Cát (xã Bình Hưng Hòa) đi vào Chợ Lớn bằng các ngã: hoặc qua Nhị Tỳ, Quảng Đông đi về chợ Thiếc, hoặc qua Cống Bế, Cầu Tre để vào Chợ Lớn. Hai con đường này liên lạc có thể đi luồn trong xóm, tránh các bốt địch, nhưng hay bị địch phục kích.


Đường từ Bầu Cò ra Tân Bửu, Chạ Đệm, Tân Kiên (phía Bình Chánh) lên xe thổ mộ hay xe đò qua Phú Lâm (địch đóng bốt ở đây) về Chợ Lớn.


Trên các đường này, nguy hiểm nhất là các bốt ác ôn ở Bà Quẹo, Hàng Sanh, Pô Lô, Phú Lâm - những bốt cửa ngõ vào thành phố. Tại các điểm Tham Lương, Gò Cát, Công Bê, Tân Kiên, trưởng ban liên lạc đã bố trí các trạm chuyển tiếp đặt tại nhà dân. Chị em liên lạc đến đó giao hoặc nhận "hàng" rồi trở về thành phố ngay, ít khi ở lại trạm. Nếu có địch, thì cơ sở tại địa phương đặt ám hiệu "có địch" cho liên lạc viên biết từ xa. Nếu có dấu hiệu địch phục kích, thì hoặc giao liên tìm nhà dân gần đó tạm nghỉ chờ tín hiệu "bình yên" mới đến trạm hoặc trở về thành phố ngay để hôm sau trở lại. Các nhân viên giao liên cũng không được biết mặt nhau, có quy định giờ đến trạm khác nhau. Tất cả các biện pháp này nhằm đảm bảo tránh địch phát hiện ra trạm liên lạc và các liên lạc viên... Chị em giao liên, những phụ nữ thành phố vốn "chân yếu tay mền" nhưng vẫn thường xuyên đi bộ liên tục hàng giờ, băng đồng, vượt trảng, giữa trời nắng gắt, hoặc những cơn mưa rào bất chợt...


Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đặt tên cho đội liên lạc của mình là đội Mê Linh. Đội trưởng là đồng chí Đoàn Thị Hoàng Mỹ, bí danh Nguyễn Thị Thuận (tức Mười Thuận). Là đảng viên, đồng chí Mười Thuận đã phát huy khả năng tổ chức đường dây liên lạc, tự mình đi nghiên cứu điểm đặt trạm, bố trí chị em giữ trạm, luôn đi động viên chị em và kiểm tra các trạm khi bình thường, cũng như khi bị địch phát hiện vây ráp.


Khi làm nhiệm vụ truyền tin, chị em giao liên phần lớn đi bộ tự nhiên như nông dân đi chợ về, chỉ dùng xe khi cần thiết, đi bộ có điều kiện chủ động tránh địch. Thành tích của chị em là những chiến công thầm lặng, không chỉ đưa tin tức, chuyển công văn, mệnh lệnh mà còn đảm nhận cả việc vận chuyển quân trang, lương thực, thực phẩm do đồng bào nội thành ủng hộ cho anh em chiến sĩ ngoài căn cứ. Trong chiến dịch vận động đồng bào nội thành hưởng ứng "Tuần lễ đồng" ủng hộ Tự vệ Thành để chuyển cho chi đội 10. Trên những chặng đường nối liền nội - ngoại thành, bằng đôi vai và bằng dáng vóc mảnh mai của mình, chị em vận chuyển được một khối lượng lớn đồng từ nội thành ra căn cứ để sản xuất vũ khí. Gian nan và hiểm nguy nhất là việc vận chuyển vũ khí từ ngoại thành về nội thành. Để phục vụ trận đánh của Tự vệ Thành đêm 22 tháng 12 năm 1946, các chị Võ Thị Nga, Quảng Thị Mùi (tức Nguyệt), Dư Thị Lắm (tức Nguyễn Thị Hạnh) đã ba lần đi gánh lựu đạn Võ Thành Phát, mỗi lần 20 trái từ căn cứ của bộ đội Bình Xuyên ở bên kia cầu chữ Y và Phú Xuân, Nhà Bè về thành phố giao cho cơ sở là anh Bảy Hải (làm bồi cho nhà Tây) ở đường Năng Xy (Trần Hưng Đạo). Từ địa chỉ này lựu đạn được các giao liên khác chuyển đến các đơn vị theo danh sách phân phối. Việc gánh lựu đạn từ khu Bình Xuyên về nội thành phải qua nhiều chặng đường địch thường bố phòng, vây ráp, qua cầu Hiệp An và tiếp tục thay nhau gánh qua cầu Xóm Củi để đưa về Năng Xy.


Khi Tự vệ Thành chủ trương rút súng đạn và người từ thành phố ra căn cứ xây dựng lực lượng vũ trang tập trung (tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ), các chị Dư Thị Lắm, Lã Thị Chuyên đã chuyên chở nhiều chuyến súng, mỗi chuyến từ ba đến năm khẩu, từ nội thành ra căn cứ. Các chị đã giấu súng trên xe thổ mộ có hai lớp ván sàn, nên qua đồn bốt được an toàn. Về đạn, các chị đã bỏ vào các hũ nước mắm, gắn miệng như hũ nước mắm mới. Các chị em liên lạc khác như các chị Lê Thị Nghiêm, Lê Thị Ngọc Hoa, Nguyễn Thị Tâm (tức Tư Xung Phong), Lê Thị Sáu1 (Chị Lê Thị Sáu là người lập được nhiều chiến công trong ngành tình báo ở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Chị được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) (tức Chín Biếc) xuất thân là nông dân, được đào tạo thành liên lạc viên ra vào thành phố, Nguyễn Thị Sự (Ma Thị Nhen), Trần Thị Hai (Năm Lộc) đều là những chị em đạt nhiều thành tích trong hoạt động giao liên và phục vụ Tự vệ Thành chiến đấu.


Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ còn xây dựng một trung đội thiếu niên làm liên lạc với tên gọi là đội Tiểu Quỷ. Các em phần lớn từ 11 tuổi đến 14 tuổi, nhỏ nhất là em Lê Quang Sáng 11 tuổi. Các em đều thông minh gan dạ và đặc biệt rất trung thành với tổ chức. Có em khi bị địch bắt, mặc dù chúng tra tấn dã mam vẫn không khai cơ sở. Ban chỉ huy giao cho đồng chí Trần Bá Hào huấn luyện và phụ trách trung đội này. Mỗi em được phân công liên lạc với một khu hay đội tự vệ nội thành. Một điển hình sống động nhất trong đội Tiểu Quỷ là em Lê Quang Sáng nhỏ tuổi nhất, dễ thương và dũng cảm. Nhiều lần mang thư từ, tài liệu từ ngoài căn cứ về nội thành, Lê Quang Sáng vừa đi vừa đánh vòng, vượt qua hệ thống đồn bốt của địch. Có khi em dùng hai đồng xu vừa giả mải mê đánh đáo, vừa vượt qua bốt an toàn. Sau này, trong một chuyến về thành, em Sáng xin chỉ huy đội được dùng lựu đạn đánh một toán địch đi tuần tra trên đường phố, lựu đạn không nổ, địch bao vây em, định bắt sống. Em thông minh, tay nắm lại như cầm một trái lựu đạn, giơ lên nói một câu tiếng Pháp: "Còn một trái nữa". Bọn địch hoảng sợ nằm rạp cả xuống. Tuy vậy, Lê Quang Sáng đã không thoát khỏi sự vây bủa của kẻ thù, bị địch bắt đưa về bót tra tấn dã man hòng tìm ra cơ sở cách mạng. Em Sáng đã chịu nhiều trận đòn khốc liệt nhưng tuyệt nhiên không khai một lời. Địch đã đánh em đến chết tại nhà lao. Cũng như em Lê Quang Sáng, em Nguyễn Văn Mạng rất gan dạ, cũng cảm hoạt động có hiệu quả. Hai anh em ruột Nguyễn Bỉnh, Nguyễn Thị Thư đều là những liên lạc viên Tiểu Quỷ có thành tích. Em Xuân Đồng còn trực tiếp ném lựu đạn vào bọn lính lê dương đang tập trung ở ga, chuẩn bị đi càn, diệt một số tên...


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:18:54 am
2. Giải quyết vấn đề hậu cần, đáp ứng các yêu cầu tác chiến ở nội thành

Hậu cần là một công tác quan trọng không thể thiếu được đối với lực lượng Tự vệ Thành. Hoạt động ở thành phố tạm bị địch chiếm, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự lo liệu mọi mặt. Anh chị em đều tự tìm kiếm công ăn việc làm, tự tìm chỗ ở. Chỉ khi tạm thời mất việc mới dựa vào các cơ sở quần chúng cách mạng. Bởi vì đa phần cơ sở cách mạng là quần chúng cần lao, nghèo khổ khi đau ốm, khi bị thương, anh chị em cũng dựa vào nhân dân. Nhân dân không để anh chị em tự lo mà tìm thầy thuốc tận tình chăm sóc cho đến khi lành bệnh. Trường hợp chiến sỹ ta bị bệnh nặng, bà con đưa anh em vào bệnh viện và nhận là con cháu, chăm sóc nuôi chu đáo cho đến khi xuất viện. Đồng chí Hà Ngọc Tiếu - Chỉ huy phó bị bệnh kiết lỵ rất nặng không dám đến bệnh viện điều trị vì sợ bị lộ, đã được vợ chồng Nguyễn Văn Ly1 (Vợ chồng Nguyễn Văn Ly đều thuộc tầng lớp trí thức. Nguyễn Văn Ly là anh rể bác sĩ Vũ Kim Vinh - công tác tại bệnh viện Quân y 108 - Hà Nội) công chức của Pháp nhờ bác sĩ tư đến tận nhà chữa cho đến khi khỏi. Riêng Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ vận động tổ chức được một nhóm bác sĩ yêu nước, phục vụ chữa bệnh cho anh chị em, như các bác sĩ Nguyễn Văn Diệp, Đặng Văn Hồ. Các khu, đội tự vệ cũng vận động bác sĩ, y sĩ phục vụ cho đơn vị mình.


Về bảo đảm vũ khí, trang bị để đánh địch, ngoài vũ khí chuyên dùng thích hợp với tác chiến ở nội thành như lựu đạn, mìn các loại, đạn tái tạo, do ban vũ khí của Tự vệ Thành sản xuất chuyển về với số lượng ngày càng tăng, các đơn vị còn chủ trương lấy vũ khí địch đánh lại địch. Ở trong thành phố, tự vệ tổ chức nhiều vụ giật súng, lấy súng của địch. Bất cứ ở đâu, hễ quân địch sơ hở là chiến sĩ ta giật súng, ngay cả ban ngày. Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ ta hoặc vận động binh sĩ địch, hoặc dựa vào bồi bếp các nhà tây tổ chức lấy vũ khí. Có những vụ ta thu được từ năm đến bảy khẩu súng các loại, đạn và lựu đạn. Súng gì cũng lấy, loại nào thích hợp với hoạt động của mình thì giữ lại dùng, súng lớn thì cất giấu và chuyển ra căn cứ trang bị cho các lực lượng vũ trang tập trung.


Đối với căn cứ ngoại thành, việc cung cấp của trên rất hạn hẹp. Tự vệ Thành đã dựa vào sự ủng hộ của nhân dân nội thành. Cán bộ và chiến sỹ được đồng bào cung cấp quần áo, lương thực, thuốc men, thậm chí cả thực phẩm tươi sống. Trong công tác hậu cần ở nội thành thì chị Hai Bính (tức Nguyễn Thúy Lan) là người hoạt động năng nổ, có nhiều đóng góp cho tự vệ. Chị vừa là giao liên đặc biệt của Ban chỉ huy, vừa tích cực vận động nhân dân ủng hộ vật chất cho Tự vệ Thành, tổ chức quyên góp tiền bạc, thuốc men, quần áo, thực phẩm. Có khi, chị mang ra căn cứ cả một nồi thịt kho lớn cho anh chị em. Ngoài ra, đơn vị còn tổ chức trồng rau, nuôi gà, vịt lấy trứng và thịt, nuôi lợn để tự cải thiện.


Một trong những công tác hết sức đặc biệt đối với lực lượng Tự vệ Thành là việc chăm sóc anh chị em bị kẻ thù bắt giữ, giam cầm trong các nhà tù của địch.


Hoạt động ở đô thị bị địch tạm chiếm, tuy cố gắng giữ gìn bí mật trong quá trình công tác, nhưng cán bộ, chiến sĩ không tránh khỏi bị địch bắt, bị giam cầm trong cấc nhà tù của địch với số lượng không ít. Cứu anh chị em ra khỏi những nơi bị giam, chăm sóc anh chị em tại các nhà tù sau khi địch đã xét xử thành án... là trách nhiệm không thể thiếu được của các cấp chỉ huy. Các Ban chỉ huy khu, đội tự vệ nói chung đều dựa vào nhân dân tìm trạng sư bào chữa cho anh chị em khỏi bị kết án, hoặc giảm nhẹ án tù. Vì mạng sống của những chiến sĩ tự vệ, vì tương lai của cuộc kháng chiến, thắng lợi của cách mạng, nên mặc dầu khó khăn, tốn kém về tiền của, song không một nhân mối nào khi được nhờ lại chối bỏ trách nhiệm. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ vận động trạng sư Ngô Sách Vinh để bào chữa nhiều vụ án mà địch xét xử cán bộ ta.


Một nét độc đáo của cơ sở ta ở thành phố là đồng bào đã tổ chức đi thăm nuôi tù định kỳ hàng tuần tại các khám, bất kể anh chị em tù nhân có là con cháu mình hay không.


Việc thăm nuôi tù là một công việc phức tạp và nguy hiểm. Người đi thăm nuôi tù phải xin địch một giấy chứng nhận là thân nhân của người tù. Và cũng vì thế, người xin đi "thăm nuôi tù" bị địch liệt vào loại "thân Việt Minh" bị địch theo dõi, khống chế. Nhưng không vì thế mà đồng bào ngần ngại. Người đi thăm nuôi tù thường là phụ nữ, nhất là phụ nữ lớn tuổi, về lương thực, thực phẩm, quà bánh và các nhu cầu khác như xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, thuốc uống... cho tù nhân thì các đoàn thể quần chúng cách mạng: thanh niên, phụ nữ, công đoàn, các tổ chức có anh chị em bị tù đảm nhận việc nấu nướng, mua sắm cung cấp khá đầy đủ. Đi thăm nuôi tù không chỉ đem quà bánh cho tù nhân, mà quan trọng hơn là cung cấp tin tức hoạt động của đồng chí, đồng đội ở bên ngoài cho những người bị địch giam giữ và cung cấp tình hình các đồng chí bị địch giam giữ cho tổ chức biết. Có hoạt động "thăm nuôi tù" nên số anh chị bị bắt giam luôn nhận được thông tin bên ngoài: tin gia đình, đơn vị; không cảm thấy hoàn toàn bị cách ly khỏi đồng chí, đồng đội mình, luôn luôn được động viên, cổ vũ trong đầu tranh. Việc đi thăm nuôi tù đã trở thành một nhu cầu của tổ chức cách mạng và đã trở thành một phong trào từ tự phát của quần chúng đi đến tổ chức của các đoàn thể, đơn vị cách mạng ở nội thành, ở Tự vệ Thành, những điển hình như các bà Tư Nhiễm, Nguyễn Thị Phương, Trần Thị Chữ, Vũ Thị Tiếu là những bà mẹ, người chị đầy nhiệt tình trong việc chăm sóc tù nhân. Biết được anh chị em nào bị địch bắt, nhất là các liên lạc viên, các bà đã theo anh chị em từ nhà tù này đến nhà tù khác, thậm chí lên tận Thủ Đức, Biên Hoa để chăm sóc anh chị em như chính những thành viên máu thịt, người thân trong gia đình.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:19:58 am
3. Tổ chức Ban vũ khí sửa chữa sứng đạn và sản xuất mìn, lựu đạn thích hợp với yêu cầu chiến đấu ở nội thành

Chiến đấu trong nội thành, có được súng tốt, không hỏng hóc, đạn không bị lép, nổ đúng yêu cầu, không chỉ tiêu diệt được địch mà còn quyết định đến tính mạng của chiến sỹ và cán bộ. Thấy được yêu cầu trên, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đã sớm quyết tâm xây dựng một tổ chức chuyên sửa chữa và sản xuất một số loại vũ khí theo yêu cầu đánh địch ở chiến trường đô thị. Các khu, đội tự vệ đã vận động được hơn 10 công nhân có nhiệt tình yêu nước tự nguyện rời gia đình, bỏ cơ sở, làm ăn ra căn cứ Vườn Thơm thành lập ban vũ khí Tự vệ Thành từ đầu năm 1947.


Giai đoạn đầu, ban được giao nhiệm vụ:

- Sửa chữa các loại vũ khí hỏng hóc.

- Kiểm tra và sửa chữa các loại lựu đạn, mìn. Xem xét từng chi tiết đảm bảo an toàn trong vận chuyển, đảm bảo lựu đạn, mìn, nổ nhậy và nổ đúng thời gian yêu cầu của từng trận đánh.

- Dùng vỏ đạn súng nhỏ đã xử dụng làm lại thành những viên đạn mới (rờ-sạc)... Khi có điều kiện sẽ tiến tới nghiên cứu sản xuất một số loại vũ khí thích hợp với yêu cầu đánh địch ở nội thành như lựu đạn nhỏ nhưng có sức công phá lớn, lựu đạn chỉ gây tiếng nổ mà không sát thương để tạo tình thế mất an ninh, làm mìn hẹn giờ... Về mìn, ban vũ khí thừa hưởng một kho mìn do bác Ba Châu lấy được tại kho của địch ở Bà Chiểu. Lượng mìn lấy được của địch có đủ dây cháy chậm và hạt nổ.


Ban vũ khí lúc đầu có 10 công nhân, sau tăng lên 30, chia thành bốn tổ chuyên môn:

- Tổ cơ khí gồm các nhóm: sửa chữa các loại súng, chế tạo súng thô sơ (súng tự tạo), sửa chữa và làm mới mìn, làm các thiết bị, tự chế khuôn mẫu, gá lắp, sửa chữa và làm mới các chi tiết của lựu đạn, mìn. Tổ do đồng chí Tống Văn Trọng phụ trách.

- Tổ hóa chất có nhiệm vụ nghiên cứu, chế thuốc nổ, thuốc cháy, kiểm tra dây cháy chậm, kiểm tra sửa chữa và lắp ráp các loại lựu đạn, mìn và kíp nổ. Tổ do đồng chí Tăng Hoàng Diệu phụ trách.

- Tổ khôi phục có nhiệm vụ tái tạo các loại đạn (rờ-sạc). Tổ do đồng chí Nguyễn Văn Năm phụ trách.

- Tổ phục vụ sản xuất và đời sống.

Trưởng ban vũ khí là đồng chí Lê Sỹ Thường, trực tiếp phụ trách kỹ thuật sản xuất. Đồng chí Nguyễn Minh Chánh, một cán bộ kỹ thuật điện làm chính trị viên phụ trách tổ chức, quản lý, công tác chính trị tư tưởng chăm sóc đời sống vật chất, văn hóa cho công nhân.


Một số công nhân có tay nghề khá, phần lớn là đảng viên được phân công phụ trách nhóm, làm nòng cốt trong các khâu sản xuất, công tác, như các đồng chí Thanh Tùng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Não, Bình, Tâm, Tươi, Thêm...


Toàn thể nhân viên trong ban vũ khí Tự vệ Thành đã từng hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ. Những người chưa từng biết súng đạn là gì, phải gấp rút tìm hiểu làm quen với các cấu tạo của từng loại vũ khí thông dụng, học tập nguyên lý chế tạo để có thể sửa chữa, điều chỉnh và làm mới các loại cấu trúc đơn giản, đáp ứng được đòi hỏi cấp bách cuộc chiến đấu ở nội thành. Anh em phải tự lo nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất, vừa lo cuộc sống, đồng thời luôn sẵn sàng đối phó với các cuộc hành quân đánh phá của địch vào căn cứ. Chỉ ít lâu sau, phần lớn nhân viên ban vũ khí đã từng bước đáp ứng được một số loại vũ khí tốt, đủ điều kiện đưa vào phục vụ chiến đấu ở vùng địch hậu. Qua thực tế sử dụng vũ khí, cán bộ và chiến sĩ ở nội thành rất hoan nghênh.


Những thành tựu về sản xuất và sửa chữa vũ khí của ban vũ khí trong thời gian này gồm:

- Nghiên cứu thành công, tổ chức sản xuất và sử dụng các loại thuốc nổ từ phu-mi-nát thủy ngân, dùng làm hạt nổ, chủ động được trong sửa chữa và sản xuất các loại đạn, lựu đạn.

- Tái tạo nhiều đạn các cỡ, nhất là đạn dùng cho súng nhỏ (9 ly, 7,2 ly, 12 ly).

- Sửa chữa được hầu hết các trường hợp súng hỏng hóc và làm thêm các bộ phận mới để phát huy các tính năng tác dụng của súng như làm ông phóng lựu đạn gắn vào súng trường (Tromblon VB) cho tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ.

- Nghiên cứu và sản xuất một số mìn không sát thương, dùng phá sòng bạc "Đại Thế Giới" ở Chợ Lớn vào cuối năm 1947. Làm nhiều lựu đạn vỏ bật lửa (hộp quẹt) hoặc vỏ bút máy, nổ tiếng đanh nhưng không sát thương. Loại lựu đạn này đã sử dụng đánh vào một buổi chợ phiên ở vườn Bờ-rô, đầu năm 1948.

- Sản xuất nhiều loại mìn hóa chất, tiếng nổ nhỏ nhưng gây cháy dữ dội để phá các kho tàng, tàu thuyền của địch. Làm các loại mìn định hướng, mìn hẹn giờ (có sự giúp đỡ của kỹ sư Lê Tâm) dùng đánh các nơi địch tập trung đông như nhà hàng, câu lạc bộ sĩ quan và hạ sĩ quan; sản xuất loại súng đơn giản chỉ bắn một phát rồi vứt bỏ để phi tang (có sự giúp đỡ của đồng chí Nguyễn Văn Quý - trưởng phòng công binh Khu 7) nhằm diệt các nhân vật quan trọng của địch.

- Sản xuất thành công loại lựu đạn nhỏ cầm gọn trong lòng bàn tay, có khía nhỏ và sâu, sát thương cao.

- Tổ chức và biệt phái một tổ sửa chữa vũ khí sang tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, cơ động trực tiếp giải quyết tại chỗ các hư hỏng nhẹ về vũ khí, đảm bảo kịp thời cho tiểu đoàn chiến đấu.


Ban vũ khí được thành lập tháng 4 năm 1947, đến tháng 4 năm 1948 thì chuyển thành công binh xưởng của 10 Ban công tác thành, tháng 1 năm 1950 chuyển về Ban Quân giới Nam Bộ, do Phân liên khu Miền Đông quản lý tại An Thành (Thủ Dầu Một). Từ trên 10 công nhân ban đầu, xưởng đã phát triển lên trên 80 công nhân, cán bộ. Tuy số vũ khí, đạn mà ban sản xuất, sửa chữa còn ít ỏi, song có tác dụng lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động của Tự vệ Thành trong những tháng năm đầy khó khăn, thiếu thốn. Từ cơ sở nhỏ nhoi ban đầu này đã đặt cơ sở cho việc hình thành những xưởng quân giới của lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn trong những giai đoạn tiếp sau.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:21:29 am
4. Phát hành báo Tự vệ, coi trọng công tác thông tin giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tinh thần quyết chiến, quyết thắng

Để có phương tiện tuyên truyền, bồi dưỡng ý chí chiến đấu cho cán bộ, chiến sỹ của mình, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ chủ trương ra tờ báo Tự Vệ lưu hành trong nội bộ. Nội dung chủ yếu của báo Tự Vệ, gồm:

- Thông tin về mọi mặt và thành tích của từng đơn vị, từng cán bộ chiến sĩ, trong thành phố như: giết giặc, trừ gian, cướp vũ khí của địch, địch vận, phá hoại của cải, kho tàng của địch, vận động quân nhu, tài chính... nhằm động viên phong trào thi đua giết giặc lập công, đồng thời giúp cho việc công nhận và biểu dương mọi chiến công của lực lượng Tự vệ Thành một cách chính xác, kịp thời, hạn chế hiện tượng tranh công, đổ lỗi.

- Thông tin về các chiến công lớn của chiến trường Nam Bộ và cả nước, một số thông tin quan trọng của thế giới liên quan đến chiến trường Việt Nam, nhằm giáo dục, động viên anh chị em giữ vững niềm tin, nâng cao tinh thần quyết tâm chiến đấu diệt địch, làm tăng lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân thành phố đối với công cuộc kháng chiến của toàn dân.


Đối tượng phục vụ của tờ báo là cán bộ, chiến sĩ Tự vệ Thành, chủ yếu là lực lượng hoạt động ở nội thành và một phần ven đô. Báo được giao liên đưa vào nội thành, phân phối đến các Ban chỉ huy, khu đội tự vệ để chuyển đến tay đội viên của từng đơn vị. Báo cũng được chuyển đến một số cơ sở quần chúng cách mạng, những tổ vận động ủng hộ kháng chiến, các gia đình có cảm tình với cách mạng để gây tin tưởng, giữ vững tinh thần của nhân dân đối với tổ chức Tự vệ Thành. Báo do hai đồng chí Minh Chánh, Như Thơ phụ trách. Bài, tin đăng báo do toàn Ban chỉ huy, các trưởng, phó ban các đơn vị trực thuộc và cán bộ chỉ huy chiến đấu các khu, các đội viết. Đến tháng 4 năm 1948, Tự vệ Thành hợp nhất vào Liên đại đội du kích thì báo Tự Vệ kết thúc hoạt động và chuyển sang tổ chức khác.


Trong công tác thông tin, Thành bộ Tự vệ cũng chú ý đến việc vận động các báo chí công khai ở Sài Gòn - Chợ Lớn đăng những tin, bài về kháng chiến cũng như cung cấp tin về hoạt động của Tự vệ Thành cho các báo. Đồng chí Nguyễn Quang Phục được Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ bố trí trong giới báo chí công khai để hoạt động. Vào trung tuần tháng 9 năm 1946, Ban chỉ huy quân sự Sài Gòn - Chợ Lớn ra nhật lệnh được đăng trên nhiều báo xuất bản công khai ở Sài Gòn. Nội dung nhật lệnh là: ra lệnh cho tất cả các Ban công tác Thành và Tự vệ Thành đình chỉ hoạt động quân sự trên địa bàn thành phố từ 0 giờ ngày 14 tháng 9 năm 1946, nhằm thi hành tạm ước 14-9-1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp. Nhật lệnh cũng nhắc nhở các đơn vị phải cảnh giác, tránh sự khiêu khích của địch và tránh đụng độ không cần thiết. Với Nhật lệnh này, chúng ta nhằm chứng tỏ cho địch biết:

- Sài Gòn - Chợ Lớn có lực lượng quân sự lực tổ chức nghiêm túc.

- Tự vệ Thành và Ban công tác Thành không phải là tổ chức khủng bố giết hại đàn bà, trẻ em như địch thường xuyên tạc.

- Tổ chức quân sự thành Sài Gòn - Chợ Lớn chịu sự lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Nhật lệnh do đồng chí Nguyễn Văn Tư - Phó ban chỉ huy quân sự Sài Gòn - Chợ Lớn ký.


5. Không ngừng quan tâm đến công tác huấn luyện chính trị, quân sự, công tác chính trị nội bộ

Một vấn đề mà Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ quan tâm đến nhiều là công tác huấn luyện. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ hoạt động nội thành về chính trị và quân sự là điểu rất cần thiết, ở nội thành, công tác huấn luyện được tiến hành tại từng đơn vị cơ sở.


Đối tượng huấn luyện là cán bộ trung đội hoặc tiểu đội trong số những anh chị được phép biết mặt nhau. Nội dung huấn luyện là: công tác quần chúng (lúc đó gọi là "Năm bước công tác cách mạng"), công tác bí mật. Về quân sự, nội dung huấn luyện là: chiến tranh du kích vận dụng trong thành phố, cách thức ngụy trang khi đi chiến đấu, sử dụng các loại vũ khí, chủ yếu là đánh lựu đạn và bắn súng ngắn. Mỗi lớp từ ba đến năm người. Hai đồng chí Nguyễn Tứ Phương và Nguyễn Minh Hoàng được giao nhiệm vụ huấn luyện. Trong thời gian huấn luyện (thường là 15 ngày), cán bộ tập trung tại cơ sở. Thời gian biểu huấn luyện được bố trí phù hợp, thuận tiện cho hoạt động của cán bộ.


Tại căn cứ Vườn Thơm, đồng chí Nguyễn Xuân Diệu đã được Khu bộ Khu 7 cho thành lập trở lại Trường Quân chính Khu 7, nhằm mục đích trước mắt đào tạo cán bộ cho Tự vệ Thành. Tại đây đã mở được hai khóa học: khóa lấy tên Thái Văn Lung và khóa lấy tên Dương Văn Dương. Đối tượng huấn luyện là cán bộ trung đội và tiểu đội trưởng Tự vệ Thành. Phần lớn cán bộ được huấn luyện là do Mặt trận Việt Minh thành phố, chủ yếu do đồng chí Trịnh Đình Trọng - Chủ tịch Mặt trận tuyển lựa và giới thiệu ra. Hai khóa này huấn luyện tập trung, công khai như các khóa lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau hai khóa này, do sự kiểm soát của địch trong thành phố ngày càng chặt chẽ, thủ đoạn khủng bố bắt bớ, khai thác của địch ngày càng tinh vi, hiểm độc, cán bộ hoạt động trong nội thành càng phải triệt để giữ bí mật, nên các khóa huấn luyện sau được tổ chức với quy mô nhỏ. Mỗi khóa tổ chức thành từng tổ biệt lập. Mỗi tổ ba đến năm người đã biết mặt nhau. Anh chị em khác tổ không được phép biết mặt nhau, không dùng tên gọi mà chỉ dùng số và không được phép đi ra chơi ngoài phạm vi quy định cho tổ của mình; ăn uống thì có người phục vụ đến tận nơi ở. Do đó, mỗi lớp huấn luyện không đông, thường là 20 người.


Tuy nhiên, công tác huấn luyện tập trung ở nhà trường chỉ có thể giải quyết được trong số ít cán bộ. Nội dung huấn luyện làm thường xuyên, liên tục trong tất cả các khu và đội tự vệ là đi sâu vào từng tiểu đội, từng tổ chiến đấu. Nội dung công tác tư tưởng, công tác chính trị thì do cán bộ chỉ huy trực tiếp phụ trách và thông qua, một số bài viết có tính chất phổ biến nội dung huấn luyện trên báo Tự Vệ.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 10:53:38 am
III. CỦNG CỐ BAN CHỈ HUY TỰ VỆ THÀNH, XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU

1. Củng cố Ban chỉ huy Tự vệ Thành

Tháng 11 năm 1946, đồng chí Trịnh Văn Hà ra công tác tại hậu cứ Vĩnh Lộc. Cuối tháng 12 năm 1946, khi trở về nội thành đồng chí Hà bị địch bắt. Chúng đưa anh ra xét xử tại tòa án quân sự thường trực và tuyên án 16 năm tù khổ sai và 16 năm đày "biệt xứ". Tiếp đến là đồng chí Nguyễn Mạnh Liên, khi có biểu hiện bị địch phát giác, Ban chỉ huy chủ trương bố trí để đồng chí Liên lánh mặt một thời gian. Trong khi bố trí bàn giao công việc để ra căn cứ thì cuối tháng 11 năm 1946, đồng chí bị địch bắt. Chúng đưa anh về bốt Ca-ti-na (Catinat) tra tấn rất dã man. Song không có được ở anh một lời khai nào. Bất lực trước dũng khí của người chiến sĩ Tự vệ Thành, vào một đêm (khoảng mùng 9 hoặc 10 tháng 2 năm 1947), địch đã hèn hạ thủ tiêu Nguyễn Mạnh Liên.


Ngày 30 tháng 10 năm 1946, đồng chí Nguyễn Văn Hoàn bí danh là Hà Ngọc Tiếu được ra khỏi Khám Lớn theo điều khoản cuối của Tạm ước 14-9-1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại biểu chính phủ Pháp. Đồng chí Xuân Diệu đón đồng chí Hoàn ra ngay chiến khu và Khu trưởng Nguyễn Bình ký quyết định cử làm Chỉ huy phó Tự vệ Thành. Đồng chí Hà Ngọc Tiếu tiến hành sáp nhập những tổ tự vệ đã tổ chức được trước khi bị địch bắt, hợp nhất vào Thành bộ Tự vệ. Ra khỏi Khám lớn cùng đồng chí Tiếu có đồng chí Trần Bá Hào, một cán bộ quân sự và cũng là học viên Trường Quân chính Khu 7, sau đó là đồng chí Nguyễn Danh Khôi. Đồng chí Khôi được Ban chỉ huy Tự vệ Thành cử làm đội trưởng đội tự vệ Tô Hiệu. Tại căn cứ ngoài chiến khu, một văn phòng được lập ra gồm các bộ phận hành chính, tổ chức, quân nhu, liên lạc. Đồng chí Nguyễn Tứ Phương là trưởng văn phòng. Trong văn phòng, lúc đó bộ phận liên lạc được xem là quan trọng, bởi chính chị em liên lạc và đông đảo liên lạc viên thật sự là nhân tố bảo đảm công tác điều hành chỉ huy tự vệ ở nội thành.


Tự vệ Thành được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Khu trưởng Nguyễn Bình. Các cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh khu như tham mưu, chính trị, quân nhu đã chăm sóc đơn vị về tinh thần, vật chất như các đơn vị giải phóng quân khác. Ủy ban hành chính kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn quan tâm giúp đỡ Tự vệ Thành về nhiều mặt. Đặc biệt là Thành bộ Việt Minh đã chọn cán bộ và đoàn viên các đoàn thể cứu quốc bổ sung cho Tự vệ Thành.


Thông qua Mặt trận Việt Minh, đồng chí Nguyễn Xuân Diệu đã gặp được đồng chí Nguyễn Văn Mười xứ ủy viên phụ trách thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Hai đồng chí đã nhất trí xây dựng chi bộ Đảng trong Tự vệ Thành, cả hai đồng chí đã chú trọng công tác tuyên truyền về Đảng trong một số cán bộ cốt cán của Tự vệ Thành. Giữa tháng 4 năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Mười đã chủ trì lễ kết nạp Đảng cho bốn đảng viên đầu tiên của Tự vệ Thành là: Hà Ngọc Tiếu, Nguyễn Tứ Phương, Hồ Hữu Đức, Trần Bá Hào. Lễ kết nạp được tiếp hành tại Vườn Thơm. Cũng theo đúng quy định của Đảng lúc bấy giờ, sau ba tháng, tức tháng 7 năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Mười tổ chức lễ công nhận đảng viên chính thức bốn đồng chí nói trên và tuyên bố thành lập chi bộ đảng Tự vệ Thành, cử đồng chí Nguyễn Xuân Diệu làm bí thư chi bộ. Đây là chi bộ đảng đầu tiên của Tự vệ Thành được cấp trên trực tiếp xây dựng và giới thiệu với Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Thành ủy. Đồng chí Nguỵễn Văn Mười cũng giới thiệu chi bộ Tự vệ Thành với Ủy viên chính trị bộ (sau này là Chính ủy) của Khu bộ Khu 7, lúc đó là đồng chí Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) để chi bộ chịu sự lãnh đạo trực tiếp theo hệ thống lãnh đạo của Đảng bộ quân sự Khu 7. Qua thực tiễn công tác và yêu cầu nhiệm vụ, chi bộ ngày càng phát triển mạnh, có nhiều tổ đảng làm nhiệm vụ lãnh đạo chuyên sâu trong tất cả các tổ chức khu, đội tự vệ ở nội thành và các tổ chức trực thuộc Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ ngoài căn cứ. Đầu năm 1948, Trung ương Đảng có chỉ thị cho phép kết nạp đảng tập thể, đã tạo điều kiện cho chi bộ Tự vệ Thành phát triển khá mạnh. Các đảng viên được Tự vệ Thành kết nạp thời đó, sau này đều là những đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Tình hình phát triển của Tự vệ Thành trong thế đi lên đòi hỏi một sự phân công toàn diện hơn và thành lập các cơ quan trực thuộc hoàn chỉnh hơn, đủ khả năng phục vụ cho tác chiến ở nội thành.


Vào tháng 4 năm 1947, trong Ban chỉ huy có sự phân chia công tác mới:

- Đồng chí Nguyễn Xuân Diệu, thôi giữ chức Chỉ huy trưởng Thành bộ Tự vệ, trở về làm Giám đốc trường Quân chính Khu 7.

- Đồng chí Hà Ngọc Tiếu, thay đồng chí Nguyễn Xuân Diệu làm Chỉ huy trưởng Thành bộ Tự vệ; về nội bộ, được phân công phụ trách ban tác chiến và ban chính trị, chỉ đạo tác chiến ở nội thành.

- Đồng chí Nguyễn Tứ Phương - Chỉ huy phó; về nội bộ, phụ trách các bộ phận trực thuộc ngoài căn cứ: văn phòng, quân nhu, liên lạc, binh công xưởng.

- Đồng chí Tạ Đức Đường giữ chức Chính trị viên Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ; phụ trách về công tác chính trị và xây dựng đảng trong các đơn vị ở nội thành. (Đồng chí Tạ Đức Đường nguyên là thợ đóng giày hoạt động cách mạng trước năm 1945, bị địch bắt nhiều lần, khi bị chúng đuổi về nguyên quán là Hưng Yên, đồng chí lại tìm cách trốn vào Sài Gòn tiếp tục hoạt động).

- Đồng chí Trần Bá Hào, phụ trách chỉ huy chung lực lượng vũ trang tập trung của Tự vệ Thành (sau này là tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ).

- Đồng chí Hồ Hữu Đức, chuyển sang làm phó Ban thông tin (gọi tắt là B.T.T do đồng chí Cao Văn Tây phụ trách).


Để phục vụ cho những nhiệm vụ tác chiến ở nội thành, tháng 4 năm 1947, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đã chính thức xây dựng các bộ phận trực thuộc cần thiết. Tùy tính chất và nhu cầu công việc mà tổ chức gọn nhẹ, nhưng hoạt động có chất lượng. Các cơ quan thuộc Thành bộ Tự vệ lúc này gồm có:

- Văn phòng, kiêm cả tổ chức và nhân sự.

- Ban tác chiến

- Ban chính trị, chủ yếu là xuất bản báo Tự Vệ để tuyên truyền, giáo dục nội bộ.

- Ban quân nhu, làm hai nhiệm vụ: tiếp nhận quân nhu ở nội thành cung cấp cho bên ngoài và vận chuyển vũ khí đạn dược từ căn cứ ở ngoại thành vào nội thành cấp phát cho tự vệ. Nhiệm vụ thứ hai được xem trọng hơn. Ban quân nhu còn phụ trách cả về tài chính và tăng gia sản xuất để tự túc một phần thực phẩm.

+ Ban liên lạc lấy tên là đội Mê Linh.

+ Ban vũ khí, sau phát triển thành một binh công xưởng.

Trường Quân chính đào tạo và bồi dưỡng chiến sỹ cán bộ cho nội thành.


Ngoài các ban trực thuộc, để phát huy khả năng chiến đấu của nữ thanh niên, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đã thành lập một trung đội tác chiến nữ, lấy tên là trung đội Minh Khai và cử đồng chí Dư Thị Lắm (tức Nguyễn Thị Hạnh) làm trung đội trưởng. Trung đội được giao cho Ban công tác 10, do đồng chí Nguyễn Danh Khôi làm đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy. Trung đội đã chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công vang dội.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 10:55:22 am
2. Tự vệ Thành xây dựng đơn vị vũ trang tập trung, Ủy ban kháng chiến hành chính thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành lập trung đoàn Phạm Hồng Thái

Khi Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ lập căn cứ ở vùng ngoại ô thành phố thì vấn đề thiết yếu đặt ra là phải xây dựng cho mình một lực lượng vũ trang tập trung để đánh địch bảo vệ căn cứ. Về phía địch, sau khi cơ bản ổn định tình hình nội đô, chúng bắt đầu càn quét ra các vùng ven đô vì vậy, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung để bảo vệ căn cứ là yêu cầu khẩn thiết. Việc xây dựng lực lượng này còn có mấy yêu cầu hợp lý: một là, có một số anh em hoạt động ở nội thành bị lộ cần lánh mặt một thời gian, đưa anh em vào một đơn vị vũ trang hoạt động sát ven đô, tạo điều kiện đột nhập vào thành phố, nhằm luyện thêm ý chí chiến đấu và kỹ thuật tác chiến ở nội thành. Hai là đường dây liên lạc của ta từ căn cứ về nội đô và ngược lại trong những chuyến đặc biệt đi đêm phục vụ cho việc đưa đón cán bộ hoặc vận chuyển hàng nặng (chủ yếu là đưa vũ khí vào nội thành) cần có lực lượng vũ trang bảo vệ, chống địch phục kích.


Tập thể Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ thống nhất chủ trương xây dựng một đơn vị vũ trang tập trung, quyết định tổ chức một cuộc vận động nội bộ, rút vũ khí và người của các khu và đội tự vệ từ thành phố ra tăng cường cho lực lượng vũ trang sẵn có ở Vườn Thơm. Khi nhận quyết định của đồng chí Nguyễn Bình về thành phố hoạt động, đồng chí Hà Ngọc Tiếu đã giao lại một đơn vị cùng vũ khí trang bị cho đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - chi đội trưởng chi đội 10. Cuối năm 1945 đầu năm 1946, khi còn hoạt động ở Vĩnh Cửu (thuộc Biên Hoa), theo chỉ dẫn của đồng chí Xuân Diệu, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã lấy được một số súng của quân Nhật còn giấu lại. Do mối quan hệ đó, chi đội 10 thường xuyên gửi lựu đạn, đạn cho Tự vệ Thành. Nay Tự vệ Thành yêu cầu giúp, chi đội 10 sẵn sàng chi viện cho Tự vệ Thành một trung đội có một súng trung liên Brenn, một súng phóng lựu (Tromblon VB) và một số súng tự động như Mi-tơ-ray-ét, Cac-bin, Tom-sơn... thích hợp với tác chiến ở nội đô. Cuối tháng 3 năm 1947, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ phái đồng chí Nguyễn Văn Chừng đưa trung đội về Vườn Thơm giao cho Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ. Đồng chí Chừng ở lại cùng trung đội chiến đấu một thời gian mới trở về Biên Hòa.


Với trung đội do chi đội 10 chi viện cộng với một trung đội sẵn có và số súng bộ binh ở nội thành chuyển ra, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ quyết định xây dựng một tiểu đoàn, tổ chức thật gọn nhẹ những trang bị hỏa lực mạnh, thích ứng với tác chiến ở ven đô và thành phố, lấy tên là tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ.

Ban chỉ huy tiểu đoàn, gồm:

- Trần Bá Hào tiểu đoàn trưởng.

- Phạm Thái Chu: chính trị viên.

- Lê Lăng (tức Châu Văn Hổ): tiểu đoàn phó.

Tiểu đoàn biên chế gồm hai đại đội bộ binh và một đại đội hỏa lực. Trong mỗi đại đội bộ binh có một trung đội hỏa lực. Trong đại đội hỏa lực có một tiểu đội trọng liên 12,7 ly, một tiểu đội súng cối 81 ly và hai tiểu đội công binh.

Nhiệm vụ của tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ là:

- Yểm trợ, bảo vệ đường dây liên lạc giữa nội thành và ngoại thành.

- Vũ trang tuyên truyền để vận động nhân dân thành phố ủng hộ kháng chiến và hỗ trợ cho công tác địch - ngụy vận.

- Tùy theo yêu cầu từng lúc, phối hợp với các lực lượng trong nội thành đánh sâu vào các đồn bốt ở ven đô và cả ở nội đô, thực hiện chiến thuật trong đánh ra, ngoài đánh vào để hỗ trợ cho phong trào hoạt động trong đô thị.

- Bảo vệ cơ quan của Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ và các cơ quan quân - dân - chính - Đảng của thành phố đóng tại căn cứ (Bàu Cò, Láng Le, Tân Nhựt).

- Tích cực bảo vệ căn cứ bằng đánh tiêu hao, tiêu diệt các đồn bốt địch đóng xung quanh căn cứ; chống các cuộc hành quân của địch càn quét vào căn cứ.

- Phối hợp với các lực lượng vũ trang bạn (các liên tác chiến đấu quân của các Ban công tác, trung đoàn 306, 308, 312 của tỉnh Gia Định và Chợ Lớn) đánh vào các đồn bốt ở ngoại thành, hỗ trợ cho phong trào nội thành.


Ngay sau khi thành lập, được huấn luyện cấp tốc về chiến thuật đánh trong thành phố, tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ đã chủ động tiến công một số đồn bốt địch ở vùng sát ven đô, có lần đánh sâu vào Tân Sơn Nhất - Phú Nhuận đạt hiệu suất chiến đấu cao. Sự ra đời của tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ đã tạo cho cán bộ chiến sỹ các khu đội tự vệ ở nội thành một tinh thần phấn khởi, tin tưởng. Giờ đây, khi họ tác chiến bên trong thành phố đã có sự hỗ trợ và phối hợp của lực lượng vũ trang bên ngoài.


Đầu năm 1947, Trung ương Đảng chủ trương xây dựng quân đội nhân dân có đủ ba thứ quân, do đó tháng 3 năm 1947, Khu 7 có cuộc họp để tổ chức cho các chi đội chuyển thành trung đoàn, thành lập các tỉnh đội, huyện đội ở những nơi chưa có, tổ chức bộ đội tập trung của tỉnh, bộ đội địa phương huyện, củng cố các xã đội và du kích xã. Tháng 5 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn đề nghị Bộ Tư lệnh Khu 7 cho thành lập trung đoàn tập trung của thành phố lấy tên trung đoàn Phạm Hồng Thái và chuyển các ban công tác các khu, đội tự vệ thành các đại đội du kích tập trung thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính thành bộ đội địa phương. Riêng Tự vệ Thành chuyển thành ba đại đội: đại đội số 8, đại đội số 9 và số 10, tạm thời gọi là Liên đại đội 8, 9, 10. Chỉ huy trưởng là đồng chí Nguyễn Tứ Phương, bổ sung hai chỉ huy phó là Hoàng Trọng Khải và Nguyễn Hoài Nam. Hai đồng chí này sau một thời gian hoạt động đều hy sinh trong chiến đấu. Các đơn vị vũ trang hoạt động trong phạm vi ngoại ô thành phố được tập trung lại và ngày 19 tháng 5 năm 1947, trung đoàn Phạm Hồng Thái làm lễ ra mắt gồm ba tiểu đoàn:


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 10:57:13 am
Tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ với ba trung đội và hai trung đội của công an xung phong tăng cường. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm:

- Tiểu đoàn trưởng: Trần Bá Hào.

- Tiểu đoàn phó: Lê Lăng (tức Châu Văn Hổ).

- Chính trị viên: Phạm Thái Chu.

Tiểu đoàn Ngô Gia Tự bao gồm lực lượng vũ trang liên hiệp Công đoàn thành phố của hai cánh quân đứng chân ở Gò Vấp, chỉ huy là đồng chí Triệu Cải và cánh quân đứng chân ở vùng Bình Trị Đông, Phú Thọ, do đồng chí Tám Quờn chỉ huy cùng với lực lượng vũ trang của ban công tác 4 hình thành. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm:

- Tiểu đoàn trưởng: Nguyễn Minh Đức.

- Tiểu đoàn phó: Phùng Minh Ký.

- Chính trị viên: Lê Tấn Ích.

Tiểu đoàn Ký Con là lực lượng liên tác chiến đấu quân (lực lượng liên hiệp tác chiến của năm ban công tác 1, 2, 3, 5, 6; trừ ban công tác 4 nằm trong tiểu đoàn Ngô Gia Tự), được bổ sung thêm một đại đội của Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam từ Quảng Ngãi vào. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm:

- Tiểu đoàn trưởng: Phạm Quang Thuần.

- Tiểu đoàn phó: Hoàng Giai Nhi,
            Cao Hồng Hải.

- Chính trị viên: Khưu Tân Lợi.

Ban chỉ huy trung đoàn Phạm Hồng Thái, gồm các đồng chí:

- Trung đoàn trưởng: Huỳnh Văn Vàng.

- Trung đoàn phó: Nguyễn Văn Hâm (quyết định có danh sách nhưng chưa nhận nhiệm vụ).

- Chính trị viên: Hà Ngọc Tiếu.


Trung đoàn Phạm Hồng Thái chủ yếu là các lực lượng vũ trang tập trung của các đơn vị Sài Gòn - Chợ Lớn, đứng chân tại căn cứ Bầu Cò - Láng Le và trụ bám ở hai huyện Hóc Môn (tỉnh Gia Định) và Trung Huyện (tỉnh Chợ Lớn) để huấn luyện và chỉnh quân. Nhiệm vụ chính của trung đoàn là chủ động tiến công các đồn bốt xung quanh thành phố, phối hợp và hỗ trợ cho các lực lượng Tự vệ Thành, các Ban công tác, Công an xung phong tiến công địch bên trong thành phố, chống càn, bảo vệ căn cứ của các cơ quan dân - chính - Đảng của Sài Gòn - Chợ Lớn đóng tại khu vực Tân Nhựt - Bàu Cò - Láng Le - Vườn Thơm.


Trong quá trình tác chiến tiến công địch ở ngoại ô và ven đô trung đoàn đã lập được nhiều thành tích, đồng thời cùng nhiều lần kiên cường đánh trả các cuộc càn của địch vào khu căn cứ.


Việc hình thành trung đoàn Phạm Hồng Thái đã tách các tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, Ký Con, Ngô Gia Tự ra khỏi sự chỉ huy của Tự vệ Thành và các Ban công tác thành. Những đơn vị này chịu sự chỉ huy chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy Khu 7 và Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn.


Vào cuối năm 1947, đầu năm 1948, trên bình diện cả nước cũng như chiến trường Nam Bộ, cuộc kháng chiến của quân dân ta có bước chuyển biến tích cực. Trước yêu cầu tác chiến ngày càng tập trung, quy mô hơn trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, chúng ta chủ trương phát triển mạnh ba thứ quân, đặc biệt là lực lượng vũ trang tập trung.


Ngày 7 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 tiến hành hội nghị quyêt định "xây dựng hàng loạt các trung đoàn".

Thực hiện nghị quyết của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 7 tiến hành chuyển các chi đội thành các trung đoàn.

Đơn vị nào không đủ quân số, vũ khí thì sáp nhập hai hoặc ba chi đội thành một trung đoàn.

Tháng 7 năm 1948, trung đoàn Phạm Hồng Thái hợp nhất với chi đội 6 thành trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái. Trong toàn khu, các đơn vị dồn dịch biên chế như sau:

- Chi đội 1 thành trung đoàn 301.

- Chi đội 2 và chi đội 3 họp thành trung đoàn 302, sau lại hợp nhất với chi đội 9 thành trung đoàn 309.

- Chi đội 4 hợp nhất với chi đội 25 thành trung đoàn 304.

- Chi đội 7, chi đội 16, một phần chi đội 25 và Quốc gia tự vệ quân Bà Rịa thành trung đoàn 307. Đầu tháng 5 năm 1948, trung đoàn 307 hợp nhất với trung đoàn 309 thành trung đoàn 397.

- Chi đội 15 hợp nhất với tiểu đoàn Nguyễn An Ninh thành trung đoàn 308.

- Chi đội 10 thành trung đoàn 310.

- Chi đội 12 thành trung đoàn 312.


Việc hình thành các trung đoàn vũ trang tập trung trên địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn phản ánh quy luật phát triển của cuộc kháng chiến và quy luật phát triển tổ chức lực lượng vũ trang ta. Nhiều trung đoàn hình thành cùng lúc chứng minh bước phát triển nhảy vọt của lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng thời hứa hẹn những đòn tiến công quy mô lớn vào đội quân xâm lược Pháp và tay sai.


SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỰ VỆ THÀNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN (1946-1949)

(https://i.imgur.com/SMPtMnC.jpg)


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:02:53 am
Chương ba
MỘT SỐ THÀNH TÍCH VÀ CHIẾN CÔNG CỦA TỰ VỆ THÀNH
(từ 1946-1948)


Trong thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, đánh địch tại sào huyệt của chúng, cách đánh của Tự vệ Thành chủ yếu là biệt động. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến ở nội thành là phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự và binh vận. Các mặt đấu tranh này quyện vào nhau không thể tách rời nhau. Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo đó, trong nhiều cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng, Tự vệ Thành đã có sự phối hợp đắc lực bằng cách tạo tiếng nổ để yểm trợ. Công tác binh vận cũng hỗ trợ đắc lực cho đầu tranh quân sự trong rất nhiều trường hợp. Mặt khác, đấu tranh quân sự thúc đấy đấu tranh chính trị phát triển rộng khắp, vững chắc; đồng thời tạo điều kiện cho binh vận phát huy vai trò làm rệu rã hàng ngũ địch. Kết hợp ba mặt: quân sự, chính trị và binh vận không chỉ là lý luận mà có thực tế cuộc kháng chiến chứng minh.


Nói đến thành tích chiến đấu của Tự vệ Thành, không thể tách rơi khỏi phong trào đấu tranh chính trị diễn ra liên tục trong vùng địch tạm chiếm của đông đảo các tầng lớp quần chúng cách mạng. Tuy nhiên, chỉ nói riêng về mặt đấu tranh quân sự thì ngay sau khi ra đời, Tự vệ Thành đã chiến đấu tích cực, nhất là sau khi thực dân Pháp phản bội các hiệp định có tính chất "hòa hoãn” đã ký kết với Chính phủ ta. Phương thức chiến đấu của Tự vệ Thành đa dạng với tinh thần kiên quyết, táo bạo và tài trí. Hiệu quả các mặt hoạt động của Tự vệ Thành được biểu hiện rõ nét bằng những nội dung sau:


1. Thường xuyên uy hiếp tinh thần địch

Tự vệ Thành từ đánh địch lẻ tẻ, thường xuyên đã tiến lên tác chiến phối hợp nhiều lực lượng nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Điển hình là trận đánh ngày 22 tháng 12 năm 1946, nhằm hưởng ứng lơi kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19 tháng 12 năm 1946). Đáp lời kêu gọi thiêng liêng đó, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đã tổ chức một trận tiến công địch bằng lựu đạn đồng loạt đánh vào các cơ quan quân sự và đồn bốt của địch trong toàn thành phố. Mục đích chủ yếu của trận đánh là đồng loạt gây tiếng nổ để uy hiếp kẻ địch, qua đó khẳng định ý chí quyết tâm kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn, quyết tâm cùng cả nước chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Mục đích sát thương kẻ thù chỉ là thứ yếu.


Đúng 19 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 1946, giờ mà địch đang nghỉ ngơi ăn uống, trong toàn thành phố, tiếng lựu đạn nổ dồn dập khiến quân địch vô cùng hoảng sợ. Chúng nấp trong công sự bắn vu vơ. Tiếng nổ lựu đạn càng làm cho địch tình náo loạn, địch vô cùng hoang mang không biết đằng nào mà đối phó.


Phương thức gây tiếng nổ bằng đánh lựu đạn, mìn thường xuyên uy hiếp tinh thần địch, chứng tỏ lực lượng kháng chiến luôn luôn có mặt trong thành phố, động viên, giữ vững niềm tin của nhân dân vào cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc.


2. Đoạt vũ khí của địch, tự trang bị

Thực hiện phương châm "Lấy vũ khí của địch, đánh lại địch”, các khu và đội tự vệ luôn luôn tìm mọi cách, mọi lúc đoạt súng của địch, tự trang bị cho mình.

- Một lần trên đường Đét-banh (Rue Déspagne - nay là đường Lê Thánh Tôn), anh Đào Văn Thực, đội trưởng đội tự vệ Ký Con bằng tay không đánh vào gáy một tên Pháp làm nó ngất xỉu để đoạt súng. Một lần khác, cũng anh Đào Văn Thực, tại phía sau chợ Bến Thành, đã mượn đòn gánh của một chị bán hàng rong đánh vào gáy một tên Pháp đi trên đường để đoạt súng.

- Năm 1947, anh em khu tự vệ Lam Sơn liên tiếp tổ chức phục kích địch, chặn đánh địch đi tuần đêm ở Xóm Gà (Gò Vấp) thu một tiểu liên và hai súng trường; phục kích ở ngã ba Cây Thị thu một tiểu liên, hai súng ngắn. Tự vệ khu Lam Sơn đã trang bị cho mình hai súng ngắn, còn súng tiểu liên thì giấu ở nơi an toàn để đưa ra căn cứ.

- Tháng 4 năm 1947, để trang bị cho tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, đội Ký Con tiến hành binh vận, nhờ ngụy binh phát hiện ra kho súng ở bốt Bà Chiểu. Đội Ký Con đã dùng một xe nhà binh địch chở một số chiến sỹ tự vệ cải trang ngụy binh đến bốt Bà Chiểu vào giờ địch ngủ trưa, bắt trói lính gác (người của địch, ta đã giác ngộ) phóng xe thẳng vào kho lấy 7 súng các loại và nhiều đạn, rồi rút lui. Người lính gác vẫn cài lại để làm "nội ứng" sau này, súng đạn giao các anh Nguyệt Lãng và Thanh cất giấu ở cơ sở tại Khánh Hội.

- Tháng 4 năm 1947, cũng bằng công tác địch vận, anh em đội tự vệ Quang Trung đã vận động được người nấu bếp của viên đại úy bác sĩ Duy-pông (Dupont), nhà ở đường Gác-xơ-ri (Garcerie - nay là đường Phạm Ngọc Thạch), đột nhập vào nhà lấy một lúc 3 súng côn (Colt), một khẩu P38, một tiểu liên (Mi-tray-et) báng gấp.

- Tháng 5 năm 1947, anh Minh làm bồi trong trại lính Pháp, nhân địch sơ hở đã lấy một khẩu trung liên FM "đầu bạc" rồi tìm cách chuyển ra ngoài trại giao cho anh Ngô Thanh Vân (tức Ba Đen) của đội tự vệ Ký Con. Anh Ba Đen đã tháo rời từng bộ phận của súng, đem đến gửi má Phương - cơ sở của anh ở đường Mông-xô. Má Phương giấu súng vào một bó chổi, chờ ngày chuyển ra căn cứ.

- Ngày 2 tháng 5 năm 1948, anh Chu cùng hai chiến sĩ đội tự vệ Trần Quốc Tuấn đột nhập vào nhà một tên mật thám Pháp ở đường Xa-xơ-lup Lô-bát (Chasseloup Laubat) lấy một lúc năm khẩu súng: một tiểu liên kiểu của Đức, một khẩu Côn 12 ly, một khẩu Rơ-manh-tông 9 ly, một súng ngắn Mỹ, một khẩu Brao-ninh và 500 đạn các cỡ.


3. Đánh phá cơ sở hậu cần của địch

Tự vệ Thành đã táo bạo đốt một khu vực trong kho quân nhu của quân đội Pháp, gây thiệt hại nặng cho địch. Vụ phá hủy một lúc trên 20 xe quân dụng của quân đội Pháp trong công xưởng Đô Thành (Atelier municipale) do đội Trần Quốc Tuấn thực hiện làm cho địch vừa thiệt hại và lo ngại. Vụ đốt kho cao su An-căng (Alcan) do đội Tô Hiệu tiến hành đã gây cho địch nhiều lúng túng. Đặc biệt, vụ đánh phá xưởng dệt của Đỗ Văn Năng (thành viên đảng Đại Việt) do đội Ký Con thực hiện vừa là để cảnh cáo tên trùm phản động, vừa là đánh vào một cơ sở kinh tế, phục vụ cho chiến tranh của địch. Gần như toàn bộ nhà xưởng dệt vải ka-ki dùng may quân phục của địch bị mìn phá hủy.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:03:50 am
4. Làm công tác địch vận

Vào thời điểm xây dựng tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, anh em tự vệ khu Lam Sơn đã vận động đưa ra căn cứ nguyên một tiểu đội lính ngụy đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tiểu đội này cơ bản là người tốt nhưng phải đi lính cho Pháp để tránh bị khủng bố và vì kinh tế. Cả tiểu đội được biên chế vào đội hình chiến đấu của tiểu đoàn. Anh Đạt, tiểu đội trưởng trở thành cán bộ chỉ huy; anh Bệ, tiểu đội phó được giao công tác quản lý cho tiểu đoàn đều công tác tận tụy và lập được nhiều thành tích. Trong công tác ngụy vận, cái khó là vận động số sỹ quan. Khu tự vệ Lam Sơn đã hết sức kiên trì công tác cả tháng và đã vận động được hai trung úy ngụy trong trung tâm truyền tin của địch trở về với lực lượng kháng chiến mang theo hai máy bộ đàm và hai súng. Hai sỹ quan này đã tham gia công tác ở chiến khu và đều là người vững vàng, kiên trì theo cách mạng.


Trong địch vận, anh em Tự vệ Thành cũng giác ngộ được một lính Pháp, một lính Đức và một lính đánh thuê người châu Phi đưa ra chiến khu. Số binh lính người nuớc ngoài đã được giác ngộ này được giao cho Bộ Tư lệnh Khu 7. Tự vệ Thành không có điều kiện giao công tác. Chính vì bảo đảm nguyên tắc đó, các khu và đội tự vệ thiên về công tác ngụy vận.


5. Diệt ác ôn, tay sai và những nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ địch

Tháng 4 năm 1947, đồng chí Đặng Đức Hào, chỉ huy phó tự vệ khu Bạch Đằng đã bắn gục tên đội Có, trưởng đồn cảnh sát Phú Nhuận ngay trên đường phố. Diệt được tên tay sai khét tiếng tàn ác này, nhân dân Phú Nhuận đều hởi dạ, hởi lòng.


Một vụ diệt nhân vật trọng yếu của địch gây dự luận xôn xao không những ở Sài Gòn mà cả ở Pháp là vụ diệt tên đại tá Im-phen (Imfelt) Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Lào, trú ở Khách sạn các Quốc gia (Hotel des Nations) số 68 - 70, đại lộ Sac-ne (Charner), nay là đường Nguyễn Huệ. Im-phen là chuyên viên tình báo Pháp. Anh Võ Hồng Tâm (tên thật là Võ Văn Hưng) là đội viên khu tự vệ Tây Hồ, một thanh niên 17 tuổi làm nghề hớt tóc dạo cho các khách sạn. Tay nghề khá cao, biết tiếng Pháp, giao tiếp lịch sự, anh được nhiều khách hàng tín nhiệm, trong đó có tên Im-phen là người rất thích Tâm. Tâm báo cáo về quan hệ này với tổ chức. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ quyết định giao cho Võ Hồng Tâm hạ sát tên này. Biết rằng khó có thể bảo đảm an toàn và bí mật khi mưu sát Im-phen, nên ta chuẩn bị phương án nếu bị bắt, Võ Hồng Tâm sẽ khai là bị tên cáo già thực dân cưỡng bức "đồng giới luyến ái". Tâm kháng cự lại thì bị đánh, nên buộc lòng phải hạ sát Im-phen để thoát thân.


Ngày 1 tháng 7 năm 1947, Võ Hồng Tâm đã mưu trí, dũng cảm dùng dao đâm chết Im-phen tại phòng làm việc của hắn. Như dự kiến trước, việc làm của Tâm không thoát khỏi sự theo dõi của lính gác và cảnh sát. Tâm bị địch bắt, đưa về giam ở bốt quận nhất và tiếp đó bị tòa án thực dân kết án tử hình. Ban chỉ huy Tự vệ Thành kịp thời nhờ luật sư bào chửa cho Tâm. Với các tình tiết như chưa đến tuổi 18, bị Im-phen cưỡng bức "đồng giới luyến ái" buộc Tâm phải tự vệ, dẫn đến cái chết của tên bạo dâm, Tâm đã thoát được án tử hình và bị đày ra Côn Đảo với án tù 20 năm khổ sai.


Vào tháng 8 năm 1947, các chiến sĩ Khu tự vệ Bắc Sơn định diệt tên Đi-gô (Digot) ủy viên thường trực đảng của Đờ-gôn (De Gaulle) tại Đông Dương - một tên gián điệp lợi hại. Nhóm hành động do các anh Phạm Gia Đảng, Trần Văn Tiệp và anh Nguyễn Duy Quang (tức Xứng). Anh Quang là lái xe cho tên Đi-gô. Sau khi tiến hành điều tra, chỉ chờ thời cơ là hạ sát tên Đi-gô, anh Quang đã đua vợ là chị Hồ Thị Khang và hai con nhỏ 4 tuổi và 4 - 5 tháng tuổi ra chiến khu trước đó vài ngày. Đến ngày hành động, anh Quang lái xe đón tên Đi-gô đi làm về. Bất ngờ khi đó tên Đi-gô gặp một người bạn, hai tên đi bộ nói chuyện. Hắn ra hiệu cho xe về trước. Anh Quang liền đánh xe về nhà được một lúc thì tên Đi-gô cũng về tới nơi. Anh Quang liền ném một quả lựu đạn hạ sát tên Đi-gô, sau đó anh Quang lái xe một mạch ra thẳng chiến khu Gò Cát, xã Bình Hưng Hòa.


Được tin Đi-gô chỉ bị thương, nhưng vẫn phải về điều trị ở Pa-ri, tòa án binh của Pháp tuyên án tử hình anh Quang (vắng mặt)1 (Theo lời kể của chị Hồ Thị Khang).

Chiến công của anh Quang đã được Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ báo cáo lên Khu 7. Khu trưởng Nguyễn Bình đã trực tiếp đến thăm gia đình và khen thưởng anh Quang. Anh Quang sau đó tham gia chiến đấu ở tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, chị Quang (cùng hai cháu nhỏ) về công tác ở văn phòng trung đoàn Phạm Hồng Thái. Cả gia đình anh Quang tiếp tục công tác trong khu kháng chiến đến ngày tập kết ra Bắc.


Chiếc xe chiến lợi phẩm (của tên Đi-gô) cũng được triển lãm ở chiến khu và sau được đưa về binh công xưởng.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:06:46 am
6. Đánh phá các tụ điểm ăn chơi, giải trí của địch

Sau các cuộc càn quét, tàn sát đồng bào, đánh phá các khu căn cứ của ta, quân địch trở về thành phố, ăn chơi phè phỡn tại các tụ điểm. Chúng còn bày đặt ra các trò chơi giải trí để ru ngủ một số người và huênh hoang về sự an toàn của vùng chúng tạm chiếm. Tự vệ Thành có nhiệm vụ tập kích các tụ điểm ăn chơi của địch, vừa tiêu diệt một phần sinh lực địch, vừa đánh vào tinh thần, tâm lý huênh hoang, ngạo mạn của địch.


Ngày 2 tháng 3 năm 1947, các chiến sĩ Tự vệ Thành tiến công rạp chiếu bóng Ca-tay (Cathay) bằng lựu đạn, diệt 24 lính Pháp, 9 lính khác bị thương.


Ngày 19 tháng 3 năm 1947, các anh Địch, Biếu (Hà Hữu Ni), Lương Hữu Phúc, Bản, em Lê Xuân Đồng thuộc đội tự vệ Tô Hiệu tập kích quán rượu Văn Lộc bằng lựu đạn, ba trái nổ làm bọn lính Tây và khách hàng đang ăn nhậu chạy tán loạn, một số lính lê dương bị chết.


Đầu năm 1947, Bô-la-éc (Bollaert) được cử sang Việt Nam làm cao ủy Pháp thay cho Đac-giăng-li-ơ (D’Argenlieu). Cũng thời gian này Chính phủ Pháp cử hai bộ trưởng chiến tranh và quân lực là Côt-xtơ Phlo-rê (Coste Floret) và Giắc-ki-nô (Jacquinot) sang Việt Nam. Sau khi thị sát tình hình, chúng huênh hoang tuyên bố: tại Sài Gòn thời kỳ bình định đã qua, an ninh trật tự đã được vãn hồi, chỉ còn những vụ hành quân cảnh sát thôi. Để chứng minh cho tuyên bố huênh hoang đó, chúng xúc tiến âm mưu mê hoặc nhân dân mà trước tiên là mở rộng khu sòng bạc "Đại Thế giới” ở Chợ Lớn và chuẩn bị mở chợ phiên ở vườn Bơ-rô.


Khu trưởng Khu 7 Nguyễn Bình đã triệu tập Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ lên khu bàn kế hoạch. Tại cuộc họp này, đồng chí Tư lệnh chỉ thị: phải đánh mạnh trong toàn thành phố, trước tiên là đánh phá "Đại Thế giới" và chợ phiên. Mục đích của ta là làm cho nhân dân Sài Gòn và thế giới biết rằng ở Việt Nam và ngay cả Sài Gòn chưa phải đã có an ninh trật tự như địch thường rêu rao.


Địch đã cho sòng bạc "Đại Thế giới” hoạt động trở lại với ba mục đích rất thâm độc: một là thu thêm nguồn tài chính nuôi chiến tranh; hai là làm cho đồng bào ta đam mê cuộc đỏ đen, trụy lạc mà quên đi kẻ thù trước mắt là quân Pháp cướp nước và bè lũ tay sai bán nước; ba là chứng tỏ trật tự, trị an trong thành phố đã được vãn hồi.


Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ giao nhiệm vụ này cho đội Ký Con do đồng chí Đào Văn Thực chỉ huy. Trước khi đánh sòng bạc "Đại Thế giới", ta tổ chức in truyền đơn (in-rô-nê-ô) giải thích cho nhân dân rõ âm mưu của kẻ thù trong việc tổ chức sòng bạc này. Mặc dầu truyền đơn đã rải ở khu vực này nhiều lần, song nhiều người dân vẫn vào ra "Đại Thế giới". Bời vậy ta phải dùng hình thức vũ trang để cảnh cáo. Khu "Đại Thế giới" được địch bảo vệ khá chu đáo nhằm đề phòng ta đánh phá. Cửa ra vào có cảnh sát vũ trang chặn chốt, khám xét kỳ mọi người, đề phòng "Việt Minh" đem vũ kí vào trong khuôn viên.


Tối ngày 7 tháng 3 năm 1947, đội Ký Con đã huy động một tiểu đội gồm 10 anh chị em, mang theo 8 quả lựu đạn không sát thương do chị Võ Thị Nga và chị Hợp (người Hoa) mới ở Quảng Châu sang Việt Nam được chị em ta vận động giúp đỡ. Cả hai chị đểu mặc đồ xẩm1 (Quần, áo phụ nữ người Hoa), đem hai giỏ lựu đạn lọt vào trong khuôn viên và phân phối cho các anh Thực, Long "lé", Long "đen", Sáng, Huy, Lạng. Ai nấy đều vào vị trí của mình tại mục tiêu đã chọn trước, rút chốt lựu đạn sẵn sàng. Đúng giờ quy định và theo một quy ước đã thống nhất, bảy quả lựu đạn gần như nổ cùng lúc, gây tiếng vang lớn. Một trái lép. Tiếng kêu cứu hoảng loạn, cả sòng bạc tan tác: quân bài, tiền bạc rơi vãi tứ tung. Các con bạc ôm đầu đạp lên nhau chạy thục mạng. "Đại Thế giới" như ong vỡ tổ. Bọn cảnh sát giữ trật tự cũng hoảng hốt bỏ trốn. Một số người bị thương vì lựu đạn cũng có, vì giẫm đạp lên nhau cũng có. Trong số đó, cò một người bị chết. Sau khi đã ổn định được trật tự, địch đưa những người bị thương đi cấp cứu. Thấy có người chết chúng liền tìm cách khai thác để gây căm thù chia rẽ nhân dân với lực lượng kháng chiến. Chúng tổ chức một đám tang lớn để tiễn ngườí quá cố. Nắm tình hình đó, đội Ký Con đã ném tiếp một trái lựu đạn giải tán được đám tang, làm cho địch không thực hiện được ý định của chúng. Sau đó địch phải mất nhiều ngày khôi phục "Đại Thế giới". Nhưng số người đến ăn chơi không còn đông như trước nữa.


Vào tháng 4 năm 1948, quân Pháp giở trò tổ chức chợ phiên tại vườn Bơ-rô (nay là công viên Văn hóa). Đây cũng lại là âm mưu ru ngủ nhân dân bằng trò cờ bạc, vui chơi. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ lên án âm mưu thâm độc này và khuyên đồng bào ta tẩy chay không tham gia vào chợ phiên. Một kế hoạch đánh phá chợ phiên được xây dựng với hai phương án: đánh phá trên mặt đất, cho người theo đường ống ngầm tiềm nhập và bất thần xuất hiện trên mặt đất, gây tiếng nổ giữa chợ.


Về cách đánh phá trên mặt đất, lần đầu tiên ta tập trung dùng loại vũ khí mới do công binh xưởng Tự vệ Thành sản xuất: loại mìn hình ngoài là bật lửa và bút máy. Hai loại mìn này tuy nhỏ nhưng tiếng nổ đanh và khá lớn, gây kinh hoàng giữa đám vui chơi nhưng lại không gây thương vong cho đồng bào. Mặc dù địch bảo vệ chặt chẽ khu vực chợ phiên, nhưng với hai loại mìn ít ai ngờ tới, anh em Tự vệ Thành và các Ban công tác đã lọt vào khuôn viên chợ phiên đánh phá, liên tục gây tiêng nổ trong nhiều ngày. Địch hoang mang, chưa tìm được phương cách đối phó. Đồng bào hoảng sợ đến chợ phiên thưa dần. Có một số lựu đạn của ta không nổ, anh chị em sơ ý không tìm cách lượm lại và giấu đi nên địch phát hiện ra. Chúng bèn ra lệnh cấm mọi người vào chợ phiên không được mang bật lửa và bút máy. Nhiều người không biết lệnh này nên đã bị địch làm khó dễ. Có người cưỡng lại bị địch bắt, nên mọi người cũng chán nản cảnh chơi vui mà bị bắt, bị cầm tù, nhiều người không đến chợ phiên nữa.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:07:26 am
Trận đột kích của Tự vệ Thành theo hệ thống cống ngầm là một cách đánh hoàn toàn mới, một cuộc thử nghiệm về phương thức tác chiến kiểu kỳ tập. Khu tự vệ Tây Hồ cung cấp cho Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ một bản đồ đường cống ngầm của thành phố Sài Gòn. Đây là một tài liệu rất quý. Ta có thể theo hệ thống cống ngầm này đánh vào những nơi trọng yếu, bí mật của địch. Để thử nghiệm sử dụng bản đồ này, Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ chủ trương giao cho một tổ năm người lấy trong anh em gan dạ nhất, trang bị lựu đạn tốt và mang tiểu liên báng xếp, mỗi súng hai băng đạn theo đường cống đột nhập vào khuôn viên chợ phiên, đội nắp cống chui lên, bắn phá vào các gian hàng rồi rút lui bằng đường cống. Ban Chỉ huy Thành bộ Tự vệ đã giao cho đội trưởng đội Trần Quốc Tuấn bí mật chọn một tiểu đội đặc biệt ra căn cứ cùng với Ban chỉ huy nghiên cứu cách sử dụng đường cống ngầm. Anh em được lệnh giữ bí mật hoàn toàn công tác này. Sau khi đã nghiên cứu kỹ bản đồ, nắm vững điểm xuống, đường đi và điểm lên mặt đất, tiểu đội gồm năm đội viên cùng với đồng chí đội trưởng đội Trần Quốc Tuấn được lệnh thực thi phương án đánh địch với một quyết tâm cao. Đường cống anh em đi là loại có đường kính hai mét, lối lên xuống đường ống ở đầu vườn Bờ-rô, bên ngoài khuôn viên chợ phiên khoảng 800 mét. Miệng cống trở lên mặt đất nằm ngay giữa khuôn viên chợ phiên. Mặc dầu lực lượng bố trí tham gia trận đánh đã mang theo một bản sao sơ đồ đường ngầm, đèn pin, địa bàn, để soi rọi, song vẫn xác định sai điểm cần lên, không đúng khuôn viên chợ phiên mà là ngã sáu đường Véc-đong (Verdun) - nay là đường Cách mạng tháng Tám. Cả nhóm đành trụ lại ở miệng cống chờ tôi mới lên. Đã mất hướng, anh em không dám mạo hiểm vòng lại để tìm đúng đường, đây là quyết định đúng đắn. Kế hoạch tập kích chợ phiên không thực hiện được, nhưng đã để lại một bài học rất quan trọng. Đó là muốn sử dụng đường cống, phải tập dượt nhiều lần cho thật thông thạo, không thể ngày một ngày hai mà thành công được. Đặc biệt phải biết sử dụng địa bàn kết hợp với sử dụng bản đồ thật giỏi để định hướng cho đúng; đồng thời phải biết ước định độ dài của đoạn đường mình đi dưới cống. Với số anh em đã tham gia công tác này, tuy không đạt kết quả, vẫn được Ban chỉ huy biểu dương vì tinh thần dám hành động.


Trung đội Minh Khai - một đơn vị nữ chiến sĩ được Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ thành lập và giao cho Ban công tác 10 do đồng chí Nguyễn Danh Khôi làm chỉ huy trưởng. Đúng 19 giờ 30 ngày 23 tháng 3 năm 1948, trung đội ra quân trận đầu. Chị Mạc Thị Lan cùng một nữ đội viên đã tiến công bằng lựu đạn vào rạp chiếu bóng ASAM ở Đa Kao gây thương vong cho một số lính Pháp.


Ngày 30 tháng 4 năm 1948, hai chị Bùi Thị Huệ và Nguyễn Thị Đào (tức Nga) dùng lựu đạn đánh ở rạp Ca-tay (Cathay) gây thương vong cho một số lính Pháp.


Trận đánh gây khiếp sợ cho quân Pháp ở Sài Gòn và tác động mạnh đến tình hình nước Pháp là bốn nữ chiến sĩ trung đội Minh Khai tập kích rạp chiếu bóng Ma-giét-tích (Majestic) diệt và làm bị thương trên 60 sĩ quan Pháp.


Rạp Ma-giét-tích là rạp chiêu bóng khá hiện đại, xây dựng phía sau khách sạn Ma-giét-tích, một khách sạn vào loại sang nhất lúc bấy giờ ở Sài Gòn (nay là khách sạn Cửu Long). Tin tình báo cho biết ngày "N" có một cuộc họp của bọn sĩ quan hải quân Pháp tại Sài Gòn và sau cuộc họp bọn chúng sẽ cùng nhau đi xem phim tại rạp Ma-giét-tích. Ban chỉ huy trung đội Minh Khai lúc đó có chị Dư Thị Lắm trung đội trưởng và chị Nguyễn Thị Huê chính trị viên, tức tốc ra gặp Ban chỉ huy công tác 10 báo cáo tỉ mỉ tình hình và kế hoạch tập kích của trung đội. Hai chị đề nghị ban chỉ huy cung cấp cho trung đội ba quả lựu đạn tốt, bảo đảm nổ một trăm phần trăm. Được ban chỉ huy đồng ý, hai chị khẩn trương về thành tiến hành chuẩn bị cho trận đánh. Chị Nguyễn Thị Huệ (24 tuổi) đuạc phân công phụ trách trận đánh, các chị Nguyễn Thị Kim Dung, Bùi Thị Huê, Hoàng Thị Thanh, Mạc Thị Lan (đểu ở độ tuổi 15 - 16) được phân công nghiên cứu thực địa và tập kích rạp chiếu bóng theo kế hoạch. Đồng chí Nguyễn Danh Khôi cử cán bộ đến trung đoàn 120 đóng tại Tân An, trình bày rõ tầm quan trọng của trận đánh, đề nghị cung cấp cho ba quả lựu đạn OF mà trung đoàn mới đoạt được của địch trong trận đánh Mộc Hóa ít ngày trước đó. Số lựu đạn này được chuyển nhanh về thành cho trung đội Minh Khai.


Đúng ngày 10 tháng 6 năm 1948, sĩ quan hải quân Pháp tổ chức cuộc họp, buổi tối chúng xem phim "Giã biệt em yêu" tại rạp Ma-giét-tích.


Theo đúng kế hoạch, các chị Huê, Dung, Thanh, Lan trang phục lộng lẫy "vào rạp xem phim". Nhờ cách giao tiếp mềm mỏng, khéo léo và nhờ sắc đẹp, các chị đã vào rạp an toàn trước sự kiểm soát gắt gao của địch. Số lựu đạn mang theo được giấu kỹ dưới ví xách tay. Mỗi người thản nhiên ngồi đúng ghế mà chị Huê đã bố trí, mua sẵn.


Như kế hoạch tác chiến đã quy định, khi còn chiếu phim phụ thì các chị đều phải rút chốt lựu đạn, cẩn thận bọc trong mùi xoa và nắm chặt trong tay, không quên liệng chốt nhẹ nhàng xuống sàn. Các động tác này đều phải làm trong đêm tối. Vào lúc 20 giờ "giờ G" nhân lức đèn trong rạp tắt để chuyển tù phim phụ sang phim chính - cũng chính là giờ thống nhất hành động chỉ trong nháy mắt, chị Kim Dung ngồi phía bên phải màn ảnh vung tay ném trái lựu đạn qua vai vào phía trong nơi bọn sĩ quan ngồi. Cùng lúc, lựu đạn của chị Bùi Thị Huê và Hoàng Thị Thanh từ bên trái ném qua đúng chỗ đó đồng loạt nổ. Ba tiếng nổ: ầm! ầm! ầm như xé tan bầu không khí, làm rung chuyển toàn bộ rạp. Tiếp theo là tiếng la hét thất thanh làm náo loạn cả rạp, gây nên cảnh tượng hết sức kinh hoàng trong đêm tối.


Mấy phút sau địch mới tĩnh trí lại, đèn trong rạp bật sáng. Thừa lúc lộn xộn, chị Hoàng Thị Thanh quần áo trắng có dính máu vì bò lê dưới đất, đã vọt thoát được ra ngoài, địch không nghi ngơ gì và chị thuê xe trở về cơ sở của mình an toàn. Chị Kim Dung cũng lẫn vào trong đám đông chạy ra cửa thoát thân. Nhưng vừa đến cửa thì cánh cửa sắt đã bị đóng chặt lại. Địch cho xe cứu thương đưa bọn bị thương và xác chết về các bệnh viện Grall và Chợ Rẫy. Bọn cảnh sát đặc biệt miền Đông mở cuộc điều tra tại chỗ. Địch buộc mọi người phải ngồi lại chỗ cũ để xét hỏi từng người. Chị Kim Dung nhanh trí lượm một vé khác ở cuối rạp, xa chỗ lựu đạn nổ. Qua vài câu xét hỏi địch không nghi ngờ gì, cho chị ra về. Chị Huệ nhỏ (tức Mạc Thị Lan bị một mảnh lựu đạn nhỏ văng trúng mắt cá chân trái chảy máu, giả vờ khóc, lôi đứa em đi ra khỏi rạp. Chị Bùi Thị Huê ngồi lại chỗ cũ, bị địch tình nghi và bắt đưa về bót Ca-ti-na cùng 50 người bị tình nghi khác. Số bị địch tình nghi bắt giữ phần lớn là nam. Mãi hôm sau địch mới tra khảo đến thị Bùi Thị Huê.


Kết quả trận đánh này các nữ Tự vệ Thành diệt 20 tên sĩ quan, trong đó có hai tên quan năm hải quân. Trong số chết có cả tên mật thám An-be. Hơn 30 tên khác vừa sĩ quan Pháp (đa số là thủy binh) và sĩ quan ngụy bị thương, nhiều tên bị thương nặng. Trong số này có tên quản lý Pháp - Hoa ngân hàng. Trận đánh đã làm chấn động dư luận báo chí cả Sài Gòn lẫn Pa-ri.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:08:42 am
7. Phối hợp chiến đấu giữa Tự vệ Thành với các đơn vị bạn

Cuộc chiến đấu của Tự vệ Thành ở bên trong thành phố mang một sắc thái riêng biệt khi tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ ra đời. Việc thành lập tiểu đoàn chứng tỏ sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng Tự vệ Thành. Các khu, đội tự vệ hoạt động trong nội thành không cảm thấy lẻ loi, mà thấy rằng mình luôn luôn có sự phối hợp và hỗ trợ, dù chỉ là về tinh thần. Các trận đánh của tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ, cũng như của trung đoàn Phạm Hồng Thái sau này vào các bốt Bà Hom, Bình Trị, Phạm Xuân Tung, Phú Thọ, Phú Lâm... không phải chỉ nhằm bảo vệ tích cực khu căn cứ Bàu Cò - Láng Le, mà còn là công tác vũ trang tuyên truyền yểm trợ nội thành đánh địch một cách vững chắc hơn. Vượt xa hơn, hoạt động của lực lượng vũ trang Nam Bộ nói chung và lực lượng Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn nói riêng còn có ý nghĩa phối hợp tác chiến "chia lửa" với quân và dân ta trên khắp các chiến trường Trung - Nam - Bắc.


"Trên chiến trường Việt Bắc, quân và dân ta liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng ở Bắc Cạn, mặt trận Sông Lô, mặt trận Đường số 4, mặt trận Đường số 3. Phát huy thắng lợi, trong tháng 12 khắp các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, thành phố Sài Gòn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quân sự. Đúng 22 giờ, ngày 4 tháng 12 năm 1947, lực lượng chi đội 4, chi đội 6, chi đội 25, tiểu đoàn Ký Con phối hợp với các Ban công tác thành tiến công đồng loạt nhiều mục tiêu ở nội ngoại thành. Vòng ngoài, các mục tiêu Thị Nghè, Bà Chiểu, Gò Vấp, Ngã ba Chú Ía, Bà Quẹo, Bà Điểm, Phú Thọ Hòa, Phú Lâm, khu vực cầu Chữ Y, Nhà Bè; vòng trong, từ một số trại lính Pháp đến câu lạc bộ, rạp chiếu bóng dành riêng cho binh lính Pháp và sĩ quan các cấp Việt Nam đều bị tiến công. Tiếng súng nổ liên tục đến 5 giờ sáng ngày 5 tháng 12 mới chấm dứt"1 (Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 - 1975, tập 1. Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1990, Tr. 131 - 132).


Ngày 22 tháng 12 năm 1947, kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, trung đoàn Phạm Hồng Thái phối hợp với các lực lượng vũ trang nội thành (Tự vệ Thành, các Ban công tác thành, Công an xung phong) đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, bốt Phú Thọ Hòa, Rạch Rít. Trong lúc đó, các lực lượng nội thành dùng lựu đạn đồng loạt tiên công vào các bót, nơi tập trung sỹ quan Pháp và sỹ quan ngụy ở hộ 17, hộ 18, Chợ Lớn. Khu trưởng Khu 7 Nguyễn Bình trực tiếp đến ban chỉ huy tiền phương trận đánh tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc, cho đến khi kết thúc trận đánh, đồng chí Nguyễn Bình mới trở về cơ quan chỉ huy trung đoàn Phạm Hồng Thái.


Ở hướng tây nam thành phố, xung quanh vùng căn cứ Bàu Cò Láng Le, các cuộc tiến công địch bảo vệ căn cứ diễn ra rất quyết liệt ngay sau khi tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ được thành lập và tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc.


Đối với căn cứ Bàu Cò - Láng Le, tỉnh lộ 10 từ Sài Gòn đi Đức Hòa lên Tây Ninh, chạy dọc phía bắc căn cứ, địch đóng các bốt: Bình Trị, Bà Hom, Cầu Xáng nhằm bảo vệ con đường tiếp tế quan trọng này của chúng. Cách vài ngày, địch lại tổ chức một đoàn cơ giới chở lương thực, thực phẩm, vũ khí cho quân lính của chúng ở Đức Hòa và Tây Ninh. Mỗi chuyến vận chuyển địch thường phục kích, lùng soát dọc đường. Hệ thống giao liên của ta hàng ngày, từ Bình Hưng Hòa, ấp 4, ấp 8 xã Vĩnh Lộc qua Vườn Thơm và ngược lại đều phải qua đường số 10 nên gặp không ít khó khăn trở ngại. Để giữ vững đường dây liên lạc, tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ đã phối hợp với du kích và dân quân các địa phương phục kích suốt đoạn đường từ Bà Hom đến cầu Xáng và tổ chức đào đường, phá cầu Bà Lác, đồng thời đánh lui các đoàn vận tải cơ giới tiếp tế cho Đức Hòa. Bị thiệt hại bởi các cuộc tập kích ráo riết của ta, địch phải hủy bỏ việc vận chuyển tiếp tế bằng đường bộ này để thay bằng đường vận tải trên sông Vàm Cỏ Đông. Đường giao liên của ta được thông suốt ngày đêm giữa Vĩnh Lộc và Vườn Thơm.


Quanh vùng căn cứ của ta, địch đóng đồn bốt dày đặc, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân sâu vào bên trong. Để tích cực, chủ động bảo vệ căn cứ, tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ đã liên tục đánh tiêu hao, ngăn chặn các cuộc tiến công của địch ở các bốt Bà Hom, Bình Trị, Phú Lâm, ngã năm Vĩnh Lộc, Lương Hòa (sau Vườn Thơm), do đó đã hạn chế đáng kể các cuộc hành quân của địch, bảo vệ an toàn căn cứ. Tiểu đoàn còn dùng Tromblon VB và súng cối 60 ly, 81 ly, đại liên... đánh phá các bốt Bà Điểm, vòng ngoài sân bay Tân Sơn Nhất và thọc sâu vào Phú Nhuận, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đặc biệt, đồn Phạm Xuân Tụng đóng trên đường số 4, gần Phú Lâm, với đường xe lửa Sài Gòn đi Mỹ Tho, là một đồn có nhiệm vụ chi viện cho các bốt xung quanh và thường xuyên tổ chức các cuộc tiến công sâu vào các vùng căn cứ Tân Kiên, Tân Nhựt của ta.


Đầu tháng 4 năm 1948, được tin tình báo cho biêt đồn này đang tập trung quân tổ chức một cuộc hành quân quy mô đánh vào căn cứ, hòng vây bắt cán bộ và phá các cơ quan của ta, tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ liền tập trung hỏa lực chủ động tiến công đồn trên nhiều hướng ngay đêm trước ngày hành quân của địch. Cuộc tiến công đồn Phạm Xuân Tụng diễn ra mau lẹ. Ta tiêu diệt hàng chục tên, làm thất bại âm mưu mở cuộc hành quân càn quét của địch.


Trên đường số 4, địch thường xuyên dùng xe bọc thép vận chuyển hàng tiếp tế cho lực lượng của chúng ở Tân An, Mỹ Tho. Mỗi lần vận chuyển, địch huy động bộ binh đi yểm trợ, với lực lượng hùng hậu gây nhiều trở ngại cho đường giao liên của ta từ căn cứ ra Bến Lức, Tân Kiên và đường số 4 về Phú Lâm. Tiểu đoàn đã kiên trì tổ chức các trận phục kích, nhiều lần tiến công bộ binh địch yểm trợ các tàu hỏa, đánh lật nhào đoàn xe thiết giáp, diệt một số địch, thu vũ khí, buộc địch không thể thường xuyên phục kích, lùng sục như trước được.


Đường xe lửa Sài Gòn đi Mỹ Tho dọc đường số 4 thường có lực lượng bộ binh hộ tống gồm các toa chở thiết giáp và toa chở lính xen kẽ toa hành khách. Tiểu đoàn đã nghiên cứu đánh một số trận chặn đoàn xe lửa quân sự, gây cho địch nhiều thiệt hại; tổ chức các tay súng giỏi bắn tỉa bọn lính đi hộ tống. Thấy dùng đường xe lửa không an toàn, đến giữa năm 1948, địch buộc phải bỏ hẳn đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Hoạt động giao liên của ta từ Tân Nhựt, Vườn Thơm về Sài Gòn được thuận lợi hơn trước.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:10:23 am
8. Đấu tranh quyết liệt trong các nhà tù của địch

Đối với lực lượng Tự vệ Thành, cuộc đấu tranh với kẻ thù không chỉ bằng súng đạn, đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận, mà còn đấu tranh trực diện với quân thù ngay trong lao tù mỗi khi bị bắt. Trong truờng hợp không may lọt vào tay kẻ thù, bị tù đày, tra tấn rất dã man nhưng hầu hết anh chị em vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, một lòng trung thành với Tổ quốc.


Đến giữa năm 1946, số lượng anh chị em Tự vệ Thành, Công tác Thành và các đơn vị vũ trang tự lập khác bị địch bắt tăng lên khá nhiều. Sau ngày toàn thành kỷ niệm hai năm Cách mạng tháng Tám thành công do Thành bộ Việt Minh tổ chức (19-8-1946), số người bị bắt tăng lên trong số đó, có đồng chí Hoàng Minh Châu (đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Đồng Nai) và đồng chí Hà Huy Giáp. Tại bốt Ca-ti-na, tên mật thám Ba-danh (Bazin) trực tiếp chỉ huy tra tấn lấy khẩu cung. Trong khi tù nhân bị tra tấn, đánh đập dã man, đồng chí Hà Huy Giáp gợi ý nên làm một việc gì để động viên tinh thần anh em. Đồng chí Hà Ngọc Tiếu từ trong buồng giam riêng biệt đã viết vở kịch thơ ngắn với nội dung Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi. Đa số "diễn viên" là anh em Tự vệ Thành, trong đó có đồng chí Lê Việt Tiến đóng vai Nguyễn Trãi. Sau đêm diễn kịch, địch khủng bố tàn bạo hơn, thủ tiêu năm người, trong đó có các đồng chí Vương Anh Tuấn cán bộ chính trị Nam Tiến, Đặng Văn Thức cán bộ Khu 7 (bị bắt trong khi về thành phố mua vũ khí); Trần Phong (trước ở Đoàn Hùng sau sang Ban công tác)... Số anh chị em bị địch tra tấn đến chết, hoặc đem đi thủ tiêu khá nhiều, trong số đó có đồng chí: Nguyễn Văn Tý (tức Tý rỗ) nhà ở một ngõ hẻm đường Ga-rôt (A-Garros - nay là đường Thủ Khoa Huân) là một tự vệ dũng cảm, có nhiều thành tích, đã bị địch bắt tra tấn và bị giết chết, cùng thời gian chúng thủ tiêu đồng chí Nguyễn Mạnh Liên (tháng 2 năm 1947).


Trước hành động đàn áp, khủng bố ngày càng dã man, tàn bạo của kẻ thù, không khí càng nặng nề, bi quan đề nặng lên các nhà tù, trại giam. Đồng chí Hà Huy Giáp gợi ý phải tìm cách nâng cao tinh thần đấu tranh của anh chị em. Đồng chí Hà Ngọc Tiêu viết tiếp vở kịch thơ: "Trần Bình Trọng thà chết chứ không hàng" cũng do đồng chí Lê Việt Tiến đóng vai Trần Bình Trọng. Lê Việt Tiến (tức Lều Thọ Bính) là chiến sĩ Tự vệ Thành, nguyên là một công chức trí thức của Pháp. Khi Việt Nam và Pháp ký Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, phía Pháp dùng máy bay chở 10 người kháng chiến bị chúng bắt ra Hà Nội trao trả Chính phủ ta, trong đó có Lều Thọ Bính.


Tại Khám Lớn Sài Gòn, dưới sự chỉ đạo của hai đồng chí Phan Trọng Bình, Vũ Huy Xứng, anh chị em Tự vệ Thành, các Ban công tác là lực lượng xung kích, dũng cảm đi đầu trong cuộc "Cách mạng khám đường", kiên quyết trấn áp bọn "đầu gấu" lưu manh làm tay sai cho địch khủng bố, ức hiếp các tù nhân khác, buộc chúng phải tôn trọng và cải thiện một phần đời sống tù nhân. Anh chị em bầu đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch Liên đoàn tù nhân.


Đầu năm 1947, đồng chí Trịnh Văn Hà chỉ huy phó Tự vệ Thành bị đưa sang Khám Lớn - Sài Gòn. Ít lâu sau, đồng chí Huỳnh Tấn Phát được trả lại tự do, đồng chí Trịnh Văn Hà được bầu làm Chủ tịch kiêm Tổng đại diện Liên đoàn tù nhân.


Cuối năm 1947, nổ ra cuộc đấu tranh tuyệt thực của tù nhân toàn Khám Lớn - Sài Gòn đòi cải thiện đời sống. Trong từng phòng giam, anh chị em Tự vệ Thành và Công tác thành là lực lượng nòng cốt, kiên cường đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi. Lực lượng cai quản nhà tù phải công nhận Tổng đại diện của toàn thể tù nhân và nới rộng một số chế độ hà khắc trước đó. Đời sống vật chất và sinh hoạt tinh thần của tù nhân được cải thiện một bước.


Nhiều tờ báo viết tay được lưu hành ở các khám (salle) để động viên tù nhân đoàn kết đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc. Trong các năm 1947, 1948, 1949, đã lưu hành một loạt các tờ báo: "Khám Đường", "Tiếng Tù" "Sáng", "Đời sống tù", "Đêm Khám Lớn"... được đông đảo bạn tù hoan nghênh. Các đồng chí Truông Trọng Toản (tức Trần Quốc Phiên) Nguyễn Vũ Linh chủ trương biên tập các tờ "Sáng" ở khám dưỡng đường, "Đời sống tù" ở khám 2 viết bằng mực pô-li-cô-pi, in bằng bột gạo nếp, đã ra được mấy chục kỳ, mỗi kỳ khoảng vài chục bản, phát hành ở hầu khắp các khám...


Bị địch bắt và đày ra Côn Đảo, suốt mấy năm ròng bị đàn áp, tra tấn khốc liệt, sống cực khổ đói khát và bệnh tật, những chiến sĩ cách mạng, trong đó có một số chiến sĩ Tự vệ Thành vẫn kiên trung bất khuất, phát huy tinh thần cảm tử của người chiến sĩ, giữ vững bản lĩnh chiến đấu, trung thành với Tổ quốc. Đồng chí Trịnh Văn Hà được toàn thể tù nhân Côn Đảo bầu làm Phó chủ tịch Liên đoàn tù nhân kiêm Tổng đại diện suốt từ năm 1948 cho đến năm 1954. Anh em Tự vệ Thành bị lưu đày nơi đây tích cực ủng hộ người chỉ huy cũ của mình làm tròn nhiệm vụ. Biết bao cuộc đấu tranh tuyệt thực đòi quyền sống, quyền học tập, chống lại việc hành hạ tù nhân, đòi giảm nhẹ lao động khổ sai đã diễn ra. Ở khám nào và lúc nào lực lượng các chiến sỹ Tự vệ Thành cũng cùng những chiến sĩ nòng cốt khác đi đầu đối phó quyết liệt với những hành động trả thù dã man của địch. Chúng tập trung đánh đập tàn bạo các đồng chí lãnh đạo và các anh em ốm yếu ở các khám, thì anh em xả thân, giơ lưng chịu nhận những ngọn roi củ mây, báng súng để bảo vệ các đồng chí mình. Những tấm gương sáng ấy tiếp thêm sức mạnh tranh đấu cho mọi người, kể cả những anh em thường phạm cùng sống chung.


Thắng lợi lớn nhất là cuộc đấu tranh 40 ngày đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ về việc trao trả tù binh và tù chính trị.


Trong cuộc đấu tranh dài ngày này, người cán bộ lãnh đạo Tự vệ Thành năm trước, nay là Tổng đại diện, trên đà thắng lợi của cuộc kháng chiến "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" của quân và dân ta, đã ngẩng cao đầu, đối mặt với bọn cai quản nhà tù, yêu cầu chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh từng điểm trong Hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Ngược lại, chúng cũng giở mọi thủ đoạn, khi thì xoa dịu để trông chờ ý kiến của cấp trên trong đất liền, khi thì quyết liệt khủng bố để buộc tù nhân phải tuân theo điều luật trại giam, nhưng cuối cùng chúng đành chấp nhận thất bại. Ngày 20 tháng 8 năm 1954, từ Côn Đảo, 512 tù chính trị được đưa về đất liền chờ trao trả và ngày 24 tháng 9 có 1.050 tù chính trị được đưa về Sầm Sơn trao trả cho Chính phủ ta. Cũng tại đây, một sự việc xảy ra thể hiện khí tiết người tù Côn Đảo. Khi tàu rẽ vào cửa sông Chu, anh em tù chính trị phấn khởi, xúc động trương cơ đỏ sao vàng chào những thuyền của đồng bào ra đón mừng thì địch tức tối cho tàu quay ra biển, yêu cầu anh em phải hạ cờ xuống. Anh em kịch liệt phản đối và lập tức một số tù chính trị lao xuống biển để biểu thị thái độ kiên cường. Các thuyền của đồng bào ra đón vội vàng bủa đi cứu, nhưng vì sóng cả, nước sâu, ba đồng chí đã hy sinh, trong đó có hai đội viên Tự vệ Thành là anh Tính và anh Phụng (tức Dóm). Sự hy sinh để tỏ rõ khí tiết, bản lĩnh của những chiến sĩ cách mạng, của những chiến sĩ Tự vệ Thành trước phút giây toàn thắng, phút giây sum họp Bắc - Nam đã để lại niềm cảm phục và lòng tiếc thương vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đông đảo nhân dân.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:11:35 am
Đối với những kẻ phản động làm tay sai cho bọn cai nhà tù, phá hoại tổ chức Liên đoàn tù nhân, sau nhiều lần giáo dục ngăn chặn, chúng vẫn chứng nào tật ấy thì anh em Tự vệ Thành phối hợp với những người tù kháng chiến trung kiên thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, kiên quyết trừng trị, nêu cao tinh thần diệt ác, trừ gian, ở Côn Đảo có đến 10 tên phản động bị anh em diệt trừ, cho dù sau mỗi lần như thế, bọn cai ngục trả thù rất dã man.


Đấu tranh mang tính chất "cách mạng", tích cực nhất đối với những chiến sĩ Tự vệ Thành cũng như các đồng chí cách mạng kiên trung khác là tìm cách vượt ngục, trở về đội ngũ tiếp tục đánh địch. Hàng trăm cuộc vượt ngục lẻ tẻ tiến lên những cuộc vượt ngục tập thể được chuẩn bị, tổ chức tỉ mỉ bằng các phương thức khác nhau như phá khám, vượt biển, thể hiện ý chí sắt đá và lòng dũng cảm tuyệt vời của anh em tù chính trị trong đó có vài vụ do anh em Tự vệ Thành thực hiện: Đồng chí Đào Văn Thực, đội trưởng đội tự vệ Ký Con, sau này là trưởng ban công tác số 8 đã bảy lần bị địch bắt trong hai cuộc kháng chiến. Trừ một lần được thả, còn sáu lần vượt ngục thoát khỏi tay địch trong tình thế vô cùng nguy hiểm. Lần thứ nhất, Đào Văn Thực vượt trại giam Sa Đéc (năm 1946), lần thứ hai trốn khỏi nhà tù Biên Hòa (cuối năm 1947), lần thứ ba vượt nhà tù Côn Đảo (năm 1949)... Lần vượt nhà tù Côn Đảo (ngày 23 tháng 12 năm 1949) Đào Văn Thực và đồng đội lênh đênh trên biển suốt hai tháng 12 ngày, vượt qua bao sóng to, gió cả, đói khát, nguy nan, có lúc thuyền dạt vào Hòn Tu, khi cặp Hòn Cau, Thổ Chu, Hòn Cu Choong... Cuối cùng, người tù mang số 4006 này đã cùng đồng đội cặp đất liền ở An Biên (Rạch Giá). Khi được tin, Trung tướng Tư lệnh lực lượng vũ trang Nam Bộ - Nguyễn Bình khẩn trương cử người đón các anh. Nhưng chỉ mấy tháng sau (cuối năm 1950), trên đường về công tác ở Chiến khu Đ, Đào Văn Thực lại sa vào tay địch ở Bàu Trai, ở đây, anh lại tổ chức vượt ngục thành công và đã vận động thêm hai lính lê dương (người Bỉ) mang hai súng trường Mas - 36 về với hàng ngũ cách mạng.


Vào giữa năm 1950, nhờ có sự phối hợp hành động giữa số tù chính trị và lực lượng bên ngoài, Tự vệ Thành đã tổ chức một cuộc vượt ngục quy mô lớn. Hoạt động "châm ngòi" cho cuộc vượt ngục này bắt đầu từ hai nữ liên lạc: Quảng Thị Nguyệt (Quảng Thị Mùi) và Võ Thị Nga (Võ Thị Nhự). Nguyệt và Nga là hai liên lạc viên đắc lực của Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ. Tháng 6 năm 1949, qua khai báo của một thành viên đã đầu hàng địch, hai chị bị bắt trên đường công tác và được đưa vể giam tại Thành Kèn (Biên Hòa). Tại đây, hai chị đã liên lạc được với đồng chí Hà Ngọc Tiếu và vận động được hai lính ngụy là anh Dể, anh Bảy làm được chìa khóa phòng giam đang có 29 nữ tù. Đồng chí Hà Ngọc Tiếu cùng Ban chỉ huy trung đoàn 310 cử một đại đội do đồng chí trung đoàn phó Nguyễn Văn An và phó ban quân báo trung đoàn phụ trách, có nhiệm vụ yểm trợ cho chị em tù vượt ngục.


Theo kế hoạch, đêm 15 tháng 3 năm 1950, đến giờ gác hai anh Dể và Bảy mở khóa phong giam cho chị em vượt ngục an toàn. Sau khi tù nhân vượt ngục an toàn, bộ đội còn vào kho lấy vũ khí và rút ra chiến khu Đ. Một sự tình cờ là trước khi đi ngủ tên trưởng trại giam đi kiểm tra phát hiện được khóa phòng giam tù nhân nữ đã bị mở, liền đánh kẻng báo động. Hai anh Dể, Bảy cùng một tiểu đội bộ đội ta đã vào trong thành thấy lộ đành phải rút đi. Hai anh mang theo một súng máy và một súng trường ra chiến khu đứng trong hàng ngũ lực lượng vũ trang.


Ít lâu sau, địch chuyển số nữ tù ở Thành Kèn về trại giam Thủ Đức. Trại này ở ngay trong khu vực chỉ huy quân sự miền Đông của địch. Tại đây, hai chị lại nghiên cứu kế hoạch vượt ngục. Thông qua các nam tù nhân là cán bộ quân sự, cán bộ quân báo, đặc biệt là các đồng chí Quang, Cơ thuộc trung đoàn 310 Biên Hòa, các chị liên lạc được với đồng chí Hà Ngọc Tiếu thống nhất phương án dùng thuốc mê làm tê liệt lính gác và bọn cai quản trại giam, phá các phòng giam, tự giải thoát. Kế hoạch chưa kịp hoàn chỉnh thì nhân dịp Quốc khánh Pháp (14-7-1950), địch trả tự do cho một số tù nhân, trong đó có hai chị Nguyệt và Nga. Ra khỏi nhà tù, nhưng chị Nguyệt vẫn ý thức đầy đủ trách nhiệm giải thoát các đồng chí, đồng đội của mình. Chị cùng anh Lê lên ngay chiến khu Đ gặp đồng chí Hà Ngọc Tiếu tình nguyện tiếp tục thực hiện phương án giải phóng tù nhân. Được sự nhất trí của Bộ Tư lệnh Khu 7, đồng chí Hà Ngọc Tiếu cùng Ban chỉ huy trung đoàn 310 bàn kế hoạch cụ thể: bên trong trại giam, do các anh Quang, Cơ đảm nhận tổ chức một trung đội xung kích là tù nhân quân sự khỏe mạnh có nhiệm vụ phá tường để tù nhân vượt ra ngoài. Sau khi kế hoạch được thông qua, chị Nguyệt cùng đồng chí Trần Văn Lễ (tức Long "lé") trực tiếp về Thủ Đức vừa phổ biến kế hoạch vượt ngục vừa mang thuốc mê để tù nhân thực hiện kế hoạch. Thuốc mê được đồng chí Nguyễn Văn Hâm - trung đoàn phó trung đoàn Phạm Hồng Thái chuẩn bị và hướng dẫn cách sử dụng. Từ Sài Gòn, anh Lễ và chị Nguyệt vượt qua nhiều trại kiểm soát của địch một cách dễ dàng. Đến gần trại giam Thủ Đức, anh Lễ dừng lại ở chùa Hiếu Nghiêm, chị Nguyệt vào trại với nhiệm vụ phổ biên kế hoạch vượt ngục và cung cấp thuốc mê cho hai anh Quang và Cơ.


Cùng lúc triển khai kế hoạch bên trong trại giam, bên ngoài trung đoàn 310 và Ban quân báo Khu 7 có nhiệm vụ yểm trợ dẫn đường, cõng những người ốm yếu và chặn địch nếu chúng phát hiện, truy đuổi. Trực tiếp chỉ huy chung là đồng chí Hà Ngọc Tiếu.


Chị Nguyệt tự tin và khôn khéo đến thẳng trại giam, xin gặp giám thị trưởng. Chị mang theo quà tặng, cảm ơn giám thị trưởng đã xin cho chị được ân xá trong dịp vừa rồi và xin được phép thăm một số tù nhân. Trước ứng xử "khéo léo" của chị Nguyệt, giám thị trưởng đồng ý cho chị gặp tù nhân. Chị Nguyệt đã thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ của mình.


Ngày 23 tháng 7 năm 1950, nhân ngày chủ nhật, một nửa số lính gác được chơi ngoài doanh trại. Một số lính lê dương đang áp tải một đoàn vận tải cơ giới từ Đà Lạt chưa về, kế hoạch vượt trại giam Thủ Đức của tù nhân được thực hiện.


Sau khi các giám quản Pháp và lính gác ngấm thuỗc mê qua uống cà phê, hơn 300 tù nhân đã phá nhà ngục giúp đỡ nhau vượt ra ngoài.


Mọi việc gần như trót lọt thì bất ngờ một lính địch đi chơi về phát hiện tù nhân vượt ngục. Tên lính này liều mạng trèo lên chòi canh và sử dụng súng 12,7 ly bắn vào một tốp tù nhân. Vì không phát hiện trước nên 35 người đã hy sinh bởi khẩu 12,7 ly lợi hại này.


Số tù nhân thoát khỏi nhà giam Thủ Đức được đưa về Chiến khu Đ. Trên đường ra căn cứ, những người con trung kiên, bất khuất đã được các tầng lớp nhân dân địa phương đón tiếp chân tình, quý trọng.


Các đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - Tư lệnh trưởng, Nguyễn Văn Trí - Chính ủy và Dương Văn Hà - Phó tư lệnh Khu 7 tổ chức một cuộc đón tiếp long trọng những tù chính trị vượt ngục. Bộ Tư lệnh Khu 7 cấp bằng khen cho những đồng chí có công lớn tổ chức cuộc vượt ngục này.


Tiêu đề: Tự vệ thành Sài Gòn-Chợ Lớn những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Tư, 2021, 11:12:45 am
THAY LỜI KẾT


Căn cứ vào các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, của Xứ ủy Nam Bộ, sau khi đột nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn trực tiếp nghiên cứu nắm vững tình hình địch, ta trong thành phố, nhất là được hiểu thêm tinh thần bất khất kiên cường của người dân Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Nguyễn Bình - Khu trưởng Khu 7, với kinh nghiệm chỉ huy chiến khu Trần Hưng Đạo ("Đệ Tứ chiến khu") chủ trương chỉnh đốn lại các tổ chức vũ trang, bán vũ trang tự lập đang chiến đấu trong thành phố và đã quyết định thành lập một lực lượng vũ trang hoạt động ngay trong thành phố đang bị địch tạm chiêm. Đó là lực lượng Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn.


Tự vệ Thành là một lực lượng vũ trang được tổ chức và hoạt động ngay trong lòng thành phố. Cán bộ chỉ huy được chọn trong số cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân khu 7, học viên Trường quân chính khu 7, một số ít cán bộ quân chính Nam Tiến ít nhiều đã trải qua chiến đấu vũ trang, được bồi dưỡng về chính trị cơ bản, học tập năm bước công tác cách mạng, theo chương trình huấn luyện của Mặt trận Việt Minh, được huấn luyện về quân sự, về chiến thuật du kích, tổ chức và hoạt động bí mật trong thành phố bị địch tạm chiếm.


Chiến sỹ Tự vệ Thành dù là Bắc, Trung, Nam Bộ đều là người từ thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn ra đi kháng chiến, họ thông thuộc thành phố, có gia quyến, bạn bè, thân quen ở đó. Ưu thế của lực lượng này làm nhiệm vụ trong thành phố là có điều kiện thuận lợi trong việc ăn, ở, sinh hoạt bình thường và tìm việc làm để che giấu mình. Bối cảnh chính trị, xã hội lúc đó cũng có những nét mới. Khi địch chiếm đóng thành phố, một số nhân dân đi sơ tán, không cộng tác với địch, nay gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, phải lần luợt trở về nơi ở cũ. Kẻ địch cũng ra sức tuyên truyền, lôi kéo dân chúng trở về để giành dân vừa giảm thế cô lập, vừa giảm uy tín lực lượng kháng chiến, nên việc kiểm soát cũng có phần nới lỏng. Mặt khác, nhân việc thi hành Hiệp định sơ bộ (6-3-1946), ta chọn lực lượng đưa vào thành hoạt động, thực hiện chỉ thị của Trung ương: "Miền Nam phải nhân cơ hội này khôi phục và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức cách mạng và chính quyền cơ sở ở các vùng bị địch tạm chiếm đóng".


Với phương châm chỉ đạo: dựa vào người thân quen để có chỗ ở và phát triển tổ chức, tìm việc làm, tiến lên tuyên truyền, giác ngộ những người trong gia đình, thân thuộc bạn bè, người cùng khu cư trú đưa vào tổ chức, các đơn vị Tự vệ Thành đã phát triển vững chắc và hoạt động có hiệu quả.


Lợi dụng từng thời điểm địch cần tuyển người làm từ công chức, nhân viên chuyên môn kỹ thuật đến lao động chân tay, các đơn vị đã đưa nhiều anh chị em ta vào "trong lòng" kẻ địch, vừa tạo công ăn việc làm, vừa có dịp trực tiếp điều tra nắm tình hình địch, đồng thời có điều kiện tuyên truyền, giác ngộ những người khác đang làm cho địch. Đối với nhân dân đang phải sống và phải có quan hệ với địch trong thành phố bị tạm chiếm, sau khi điều tra nắm vững được những người tốt, có cảm tình ủng hộ cách mọng, dám hoạt động chống địch, anh chỉ em đã thực hiện phương án "kéo ra" giác ngộ họ, khi đủ tiêu chuẩn quy định thì đưa vào tổ chức, giao công việc, xóa bỏ những mặc cảm "cộng tác” với kẻ thù, những thành viên sau khi được giác ngộ trở về với hàng ngũ cách mạng đã tích cực hoạt động, trực tiếp chiến đấu và lập nhiều chiến công.


Bằng phương thức "đưa người vào" và "kéo người ra” đã làm cho tổ chức Tự vệ Thành phát triển vững chắc, năm bước công tác của chương trình huấn luyện Việt Minh đã phát huy tác dụng. Với đặc thù hoạt động ngay trong lòng địch, việc điều tra, lập kế hoạch đánh địch, dù với mục tiêu diệt những tên cầm đầu, chỉ huy quan trọng của địch, tiêu diệt những tên tay sai ác ôn, hay đốt phá các hoại kho quân nhu, vũ khí, xăng dầu cho đến nắm tình hình địch, ta đều đạt hiệu quả cao. Nếu từ xa đột nhập vào điều tra thì thời gian có hạn, địch bố phòng cẩn mật, công tác điều tra khó đạt mức chính xác; nếu phải qua cơ sở trung gian mà người đó chưa được huấn luyện theo yêu cầu đánh địch thì cũng khó cung cấp những thông tin cần thiết để chỉ huy hạ quyết tâm một cách vững chắc, nên có tâm lý "ít nhiều phải mạo hiểm phiêu lưu". Bằng những hoạt động cụ thể, sâu sát, Tự vệ Thành đã phần nào hạn chế được những yếu tố trên.


Bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền và đoàn thể, sống cùng nhân dân, dựa vào dân là nhiệm vụ, là khẩu hiệu hành động chỉ đạo mọi suy nghĩ hành động và cách sống hàng ngày của lực lượng Tự vệ Thành. Điều này đã tạo ra sự gắn bố, thân tình, giúp ích rất nhiều cho công tác chung và đời sống của anh chị em. Việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ và khẩu hiệu nói trên được anh chị em sử dụng đầu tiên đối với những người thân trong gia đình, họ hàng, thân quen... Họ cùng chung sống trong khu vực nên dễ dàng nhận ra người có cảm tình với cách mạng, người xấu, người là tay sai của địch; hàng ngày họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhau mà không phải bố trí thời gian, tình thế gặp gỡ. Tự vệ Thành tổ chức được nhiều tuyên truyền viên, hợp giới, hợp tuổi nên đạt nhiều kết quả mà không để lộ tổ chức. Nếu từ nơi khác đến tuyên truyền theo kiểu tuyên truyền xung phong rồi nhanh chóng rút thì khó có kết quả sâu rộng và liên tục như vậy. Đó là thế mạnh của lực lượng tại chỗ.


Phương thức đánh địch theo chiến thuật đột kích kiểu đặc công biệt động, kết hợp nội công với ngoại kích, coi trọng yếu tố bí mật bất ngờ, đánh thật sâu, thật hiểm, thật trúng bằng lực lượng rất nhỏ, hai, ba người, thậm chí chỉ một người rồi rút nhanh, đạt hiệu quả cao mà địch lại khó bề phát hiện1 (Tạp chí quân sự Guerilla (Du kích) của thực dân Pháp đã mô tả các hoạt động vũ trang của ta ở nội thành: "Họ mặc thường phục, trang bị súng ngắn, dao găm, thoắt ẩn thoắt hiện, bất ngờ như chớp giật, tấn công vào câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp, đánh vào nơi hội họp, vui chơi giải trí nơi làm việc của quân đội Pháp rồi tan biến như sương mù và không dấu vết").


Tự vệ Thành đã thực hiện lơi dạy của Bác Hồ về cách đánh phải "Lai vô ảnh, khứ vô tung" và đã hiểu sâu sắc muốn "Lai vô ảnh, khứ vô tung" thì phải đánh nhanh, đánh ngay ở những nơi mình thông thạo nhất, có quần chúng ủng hộ cản địch truy đuổi, xóa dấu vết mình còn để lại và có nhiều cơ sở che dấu nuôi dưỡng và chăm sóc khi mình bị thương, giữ liên lạc với tổ chức.


Tự vệ Thành thực chất là một lực lượng vũ trang hoạt động theo kiểu biệt động. Do quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính quyền, Mặt trận Việt Minh từ Trung ương, Xứ ủy, Khu ủy, đến Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Tự vệ Thành luôn phát triển về tổ chức và đánh địch, được nhân dân tin yêu. Điều có ý nghĩa thực tiễn sâu xa hơn là tên gọi Tự vệ Thành chỉ tồn tại trong hai năm tám tháng, thời gian đầu của cuộc kháng chiến, sau đó chuyển sang các hình thức tổ chức và tên gọi khác phù hợp với tình hình mới, nhưng cán bộ, chiến sĩ Tự vệ Thành luôn luôn được coi là một trong các lực lượng nòng cốt, nêu cao lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và bản lĩnh chiến đấu đánh địch bảo vệ nhân dân. Tinh thần cảm tử, mô hình tổ chức và phương thức tác chiến, tổ chức quần chúng cách mạng ngay trong lòng địch đã đóng góp những kinh nghiệm quý báu, thiết thực đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, góp phần tổng kết thành các phương châm chiến lược "ba chân, hai mũi", "xây dựng căn cứ lõm" trong các vùng địch tạm chiếm, làm cho cuộc chiến tranh nhân dân của Việt Nam càng thêm độc đáo và phong phú.


Hoạt động của Tự vệ Thành phối hợp cùng các lực lượng vũ trang bạn đã tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, nhất là diệt một số tên đầu sỏ, làm cho địch hoang mang, khiếp sợ. Ta còn kết hợp phá hoại nhiều cơ sở vật chất, kỹ thuật của địch như đốt phá các kho bom đạn, xăng dầu, kho hậu cần..., đặc biệt là lấy súng đạn của địch trang bị cho ta ở ngay trong thành phố và còn đưa ra căn cứ, góp phần xây dựng được một tiểu đoàn chủ lực - tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ.


Phương thức hoạt động của Tự vệ Thành mang tính chất biệt động, từ điều tra nghiên cứu, bám thời cơ, tạo thuận lợi, có điều kiện là tiến công địch. Những hoạt động có ý nghĩa chính trị luôn luôn tranh thủ sự chỉ đạo của trên, và được trên hỗ trợ, tổ chức chỉ huy nên đạt hiệu quả cao như các trận đánh rạp Ma-giét-tích, cuộc phá trại giam Thủ Đức... Trong những đợt hoạt động thống nhất dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ huy quân sự Thành, Tự vệ Thành đã tham gia tích cực cùng các đơn vị bạn trong thành phố, kết hợp với các lực lượng tập trung ở ven đô, kể cả thống nhất với các trung đoàn chủ lực như trung đoàn Phạm Hồng Thái, trung đoàn 306, 308, 302 thành một mặt trận có hiệp đồng về mục đích, chỉ huy, mục tiêu, địa bàn và thời gian, tạo nên một bức tranh toàn cảnh hoạt động của các lực lượng vũ trang thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, đạt được hiệu quả và đã góp phần vào kho tàng kinh nghiệm về chiến, kỹ thuật đánh địch trong thành phố của các lực lượng vũ trang cách mạng trong nhũng năm đầu chông thực dân Pháp.


Năm tháng qua đi, nhiều sự kiện đã và đang lùi về dĩ vãng, song những tháng năm chiến đấu hào hùng với những gương chiến đấu hy sinh anh dũng của Tự vệ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mãi mãi là những dấu son đáng tự hào của lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Càng tự hào với quá khứ, trân trọng công sức, máu xương của những cán bộ chiến sỹ Tự vệ Thành đã góp phần viết nên "màn dạo dầu" của cuộc kháng chiến "Ba nghìn ngày không nghỉ", những chiến sĩ Tự vệ Thành còn sống, dù ở cương vị công tác nào, dù ở độ tuổi nào đều vững tin vào hiện tại và tương lai của một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thịnh vượng.