|
Tiêu đề: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:29:44 pm LỊCH SỬ BỘ ĐỘI CHỦ LỰC MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN - QUÂN ĐOÀN 3
(1964 - 2005) NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN Hà Nội - 2005 Nguồn: Sưu tầm *Chỉ đạo nội dung: THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3 - Thiếu tướng, Tiến sĩ PHẠM XUÂN HÙNG Nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn. "QUYẾT THẮNG, SÁNG TẠO, ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT, NGHIÊM TÚC, TỰ LỰC" LỜI GIỚI THIỆU Tây Nguyên - địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước. Do vị trí chiến lược của nó, nên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên sớm hình thành khối chủ lực tập trung mạnh. Được sự giúp đỡ của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã lập nên chiến thắng Plei Me. Những chiến thắng Sa Thầy, Đắc Tô, Đắc Xiêng, Ngọc Rinh Rua, Đắc Tô - Tân Cảnh không chỉ đánh dấu chặng đường phát triển, trưởng thành của bộ đội chủ lực Tây Nguyên mà còn là những mốc son về sự sáng tạo của các hình thức chiến thuật để nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội ta. Quân và dân Tây Nguyên qua nhiều năm chiến đấu đã tạo nên một trong những điều kiện để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chiến lược Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Trận mở màn Buôn Ma Thuột thắng lợi đã đẩy địch vào thế bị động, rút bỏ Tây Nguyên. Ta phát triển tiến công đến Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, toàn bộ khối chủ lực Tây Nguyên chuyển thành Quân đoàn 3. Quân đoàn 3 vừa được thành lập đã nhanh chóng bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên hướng chủ yếu của chiến dịch, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, cùng đơn vị bạn đánh chiếm và làm chủ Bộ tổng tham mưu Quân ngụy, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Kế tục và phát huy truyền thống bộ đội chủ lực Tây Nguyên, khi làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã lập nên những kỳ tích mới. Quân đoàn 3 trở lại địa bàn nơi đã sinh ra, cùng nhân dân các dân tộc địa phương xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, văn hóa xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng một vùng đất chiến lược của Tổ quốc. Tôi hoan nghênh chủ trương của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 về việc biên soạn cuốn Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005). Nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Quân Đoàn 3, tôi chúc cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong Quân đoàn tiếp tục phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống vẻ vang của Quân đoàn: ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực", xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 15 tháng 11 năm 2004 Đại tướng CHU HUY MÂN Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:35:22 pm LỜI NÓI ĐẦU Trước yêu cầu cấp thiết phát triển chiến tranh cách mạng trên chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 1 tháng 5 năm 1964 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là chiến trường B3. Ngay sau khi Tây Nguyên được giải phóng, sứ mệnh lịch sử của B3 hoàn thành, ngày 26 tháng 3 năm 1975 Quân Đoàn 3 - Binh Đoàn Tây Nguyên ra đời trên cơ sở khối chủ lực Mặt trận Tây Nguyên chuyển gọn thành. Như vậy, kể cả giai đoạn tiền thân của mình, đến đầu năm 2005, lịch sử Quân Đoàn đã được hơn 40 năm. Trong suốt chặng đường chiến đấu và xây dựng gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt đó, được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mà trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân Đoàn đã cùng quân dân Tây Nguyên và cả nước tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây nên truyền thống: "Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực''. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang đó, những năm xây dựng trong hòa bình, chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, Quân đoàn lại lập nên những kỳ tích mới. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc, Quân Đoàn 3 đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Chấp hành Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ''Về đẩy mạnh nghiên cứu phát huy vai trị của khoa học lịch sử Quân sự trong thời kỳ mới'', để đáp ứng nguyện vọng tha thiết của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã, đang công tác tại Quân Đoàn và đồng bào đồng chí đã cưu mang đùm bọc trong hơn 40 năm qua; nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Binh Đoàn Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân Đoàn chỉ đạo tổ chức biên soạn: "Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân Đoàn 3 (1964 - 2005)". Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng việc tái hiện lại một cách hệ thống, tương đối toàn diện lịch sử Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 từ ngày thành lập đến nay là rất khó khăn, nên cuốn sách không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Chúng tôi mong nhận được sự góp ý phê bình và bổ sung tư liệu của cán bộ, chiến sĩ và bạn đọc gần xa, để khi có điều kiện tái bản cuốn lịch sử sẽ hoàn thiện hơn. Nhân dịp cuốn "Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân đoàn 3 (1964-2005)'' được xuất bản, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan, đơn vị, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên (B3) - Quân đoàn 3 qua các thời kỳ... để cuốn sách bảo đảm chất lượng và sớm ra mắt bạn đọc. THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3 Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:50:14 pm Chương một SINH RA TỪ TÂY NGUYÊN BẤT KHUẤT 1. Tây Nguyên: vùng đất, con người, địa bàn chiến lược, truyền thống lịch sử. Tây Nguyên - nơi ra đời Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 là vùng cao nguyên rộng lớn ở miền tây Nam Trung Bộ, bắt đầu từ vĩ độ 15o 27' 15'' (huyện Đắc Glei, tỉnh Kon Tum) đến 11o vĩ độ bắc (huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng), chiều rộng từ 107o đến 109o kinh Đông. Phía bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, phía nam nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ, phía tây giáp hai nước Lào và Cam-pu-chia với một đường biên giới chung khoảng 700km. Hiện nay, Tây Nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng; có diện tích 55.568,9 km2, dân số 4.445.403 người 1. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên có các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức. Phạm vi chiến trường Tây Nguyên gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc (kể cả Phú Bổn) có diện tích khỏang 36.000 km2. Địa hình Tây Nguyên chủ yếu là rừng núi và cao Nguyên, xen kẽ là những thung lũng. Núi ở Tây Nguyên không phải là một dải liên tục liền nhau, mà tạo thành những khối phân cắt. Phần bắc Tây Nguyên thuộc tỉnh Kon Tum có nhiều núi cao rừng rậm, phân bổ tập trung ở phía bắc và Đông bắc, chiếm hai phần năm diện tích toàn tỉnh. Cao nhất là núi Ngọc Linh (2.598m), thấp dần về hai phía Tây nam (có các dãy Ngọc Kring 2.025m, Ngọc Rinh Rua, Chư Mom Ray) và Đông nam (Ngọc Ni Ay: 2259m). Từ phía bắc tỉnh Gia Lai chỉ còn một số dãy núi cao trên 1.000m như: Kon Ka Kinh (1.761m), He Reng (1.045m), Chư Nâm (1.484m), Chư Jor (1.402m) ở bắc và Đông bắc; Kông Mroui (1.251m), Kông Kbang (1.046m) ở phía Đông và Chư Gol (1.465m), Chư Ta Kom (1.262m) ở phía Tây bắc. Vùng trung Tây Nguyên từ nam tỉnh Gia Lai đến phía bắc tỉnh Đắc Lắc không có ngọn núi nào cao đáng kể. Vùng phía nam Tây Nguyên, từ nam tỉnh Đắc Lắc đến Lâm Đồng lại có nhiều dãy núi lớn vĩ độ cao trên dưới 2.000m như Chư Yang Sin (2.442m), Chư Năng Ộp (1.821m), Chư Yên Du (2.075m), Ri Đúp (2.287m), Lang BLan (2.167m), Be Nom Đan Se Na (1.931m) rồi thấp dần về cao nguyên Lâm Viên, Lâm Đồng. Chiếm một phần lớn diện tích của Tây Nguyên là các cao nguyên, có độ cao từ 400m đến trên 1.000m, trải ra như những bậc thềm cao thấp kề nhau, sườn phía Đông dốc đứng, sườn phía tây nghiêng thoai thỏai về phía sông Mê Kông. Thứ tự từ bắc vào nam là: cao nguyên Kon Plong (nằm giữa hai dãy núi An Khê và Ngọc Lĩnh, có độ cao 1.100m - 1.300m), cao nguyên Kon Tum (cao trung bình 500 - 600m), cao nguyên Plei Ku (rộng 4.500 km2), cao nguyên Đắc Lắc (cao trung bình 500m - 600m), cao nguyên Lang Bi Ang (Lâm Viên, rộng 1.500 km2, cao trung bình 1.500m), cao nguyên Di Linh (cao trung bình 500m - 600m). Trên mặt đất tương đối bằng và xiên dốc của các cao nguyên, đột xuất nổi lên một số núi có giá trị khống chế các khu vực xung quanh như Chư He Peng (1.045m) ở Kon Tum, Chư Hơ Drông (Hàm Rồng, 1.028m) ở tây nam Plei Ku, Chư Đlếc (803m) ở Buôn Hồ, Chư Pao Chư Minh ở Bản Đôn. Che phủ cao nguyên là rừng thưa, rừng khoọc, rừng le, rừng cao su, các nương cà phê, chè, hồ tiêu. Đan xen các vùng núi và cao nguyên là những thung lũng dọc lưu vực sông Đắc Bla, Pô Kô, Sa Thầy (Kon Tum), sông Ba, Ayun (Gia Lai), Krông Ana (Đắc Lắc). Ngoài thung lũng Ayun Pa có diện tích 4.000 km2, hầu hết các thung lũng sông thường nhỏ hẹp, nhưng có phù sa bồi hàng năm, có nguồn nước tưới thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và đời sống nhân dân. Đất đai Tây Nguyên có nhiều loại: đất phù sa bồi lắng dọc các thung lũng sông (Ayun, Đắc Bla, Ea Krông), đất xám bạc màu (thung lũng Ayun Pa, tây sông Ea Hleo, Ea Krông, vùng hồ Lắc), đất vàng đỏ trên mác ma xít (bắc Kon Tum), nam Buôn Ma Thuột, bắc cao nguyên Lâm Đồng)...; nhưng nhiều nhất vẫn là đất đỏ bazan (đất feralít trên đá bazan và đá mác ma), trải rộng từ tây Kon Tum đến các cao nguyên Plei Ku, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đây là loại đất rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, bông, mía, đậu, lạc, cây ăn quả và phát triển gia súc 2. Bao phủ phần lớn mặt đất Tây Nguyên là rừng; nhiều nơi có diện tích rừng nhiệt đới nguyên sinh khá lớn 3. Do khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hòa, đất đai màu mỡ nên hệ động, thực vật rừng Tây Nguyên rất phong phú đa dạng về chủng loại. Theo kết quả điều tra bước đầu, Tây Nguyên có khỏang hơn 400 loài thuộc 180 chi và 75 họ thực vật bậc cao. Trong đó có nhiều hoại cây gỗ và dược liệu quý hiếm như: trắc, gụ, cẩm lai, pơ mu, giáng hương, kiền kiền, săng lẻ, sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, sa nhân, quế, hà thủ ô, mã tiền... Tập trung tại Đắc Glei, Kon Rẫy, Kon Plong, Sa Thầy (Kon Tum), K Bang (Gia Lai), Ea Súp (Đắc Lắc), Gia Nghĩa (Đắc Nông). Những vùng núi cao ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum chủ yếu là rừng thông. Dưới tán lá rừng, dưới sông suối hồ nước có gần 525 loài động vật có xương sống trên cạn (hơn 100 loài thú, 220 loài chim thường trú, 100 loài chim di cư, 90 loài bò sát...) và 70 loài cá nước ngọt; trong đó có hàng chục loài quý hiếm, 32 loài có tên trong sách đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. tê giác một sừng, nai đỏ, voi, trâu rừng, ngựa rừng, bò rừng, hổ, báo, gấu, hoẵng, sóc bay, công, trĩ sao, gà tiền mặt đỏ... Với diện tích rất lớn, có hệ động, thực vật phong phú, rừng Tây Nguyên không những là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia và quốc tế, mà còn là nơi bảo đảm nguồn gien đa dạng phục vụ đời sống con người hiện tại và lâu dài. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, rừng Tây Nguyên không những là nơi che chở, góp phần nuôi dưỡng bộ đội và nhân dân để duy trì lực lượng, bám giữ chiến trường, chiến đấu giải phóng địa bàn; mà còn là căn cứ bàn đạp của những Đoàn quân lớn tiến xuống vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, vào Đông Nam Bộ, sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia. Tiềm ẩn trong lòng đất Tây Nguyên có nhiều tài nguyên khóang sản. Than nâu, than bùn, crôm có ở Đắc Lắc, Gia Lai; quặng sắt ở Kon Tum; vàng ở Kon Tum, Gia Lai; đá hoa, đá vôi ở Chư Sê, Plei Ku, Đắc Mil... Song đáng kể nhất là quặng bô xít có trữ lượng lớn (3 tỷ tấn) ở Kon Hà Nừng, Kon Bay, Kon Plong, Di Linh, Bảo Lộc, trọng điểm là vùng Đắc Nông. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao từ 400m đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng nên khí hậu Tây Nguyên vừa có những điếm chung của vùng, vừa có những nét riêng, đan xen, phức tạp. Nhiệt độ không khí trung bình trong năm từ 21oC đến 23oC (riêng Đà Lạt 16,2oC), biên độ chênh lệch từ 6oC đến 8oC trong một ngày đêm; độ ẩm từ 81% đến 91%; số giờ nắng từ 2.300 giờ đến 3.000 giờ, lượng mưa trung bình từ 1.800mm đến 2.800mm. Một năm, Tây Nguyên có hai mùa rệt: mưa và nắng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 (ở Đắc Lắc, Lâm Đồng kết thúc vào tháng 11). Mưa thường liên miên, có trận kéo dài nhiều ngày, mặt đất ướt sũng, sông suối nước lũ dâng cao gây ngập lụt, xuất hiện đồng bão, trời đầy mây đen u ám... gây khó khăn về giao thông, cơ động lực lượng. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đất đai se cứng, trời xanh cao đầy nắng, nhiều nơi khô hạn thiếu nước, nhưng cơ bản rất thuận tiện cho các hoạt động giao thông và quân sự. Với địa hình rộng lớn, lượng mưa tập trung vào sáu tháng trong năm, đã tạo cho Tây Nguyên có những sắc thái riêng về thủy văn. Đây là nơi bắt nguồn của 28 sông thuộc ba hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Kông và sông Ba. Trong đó có ba sông Chính là Sê San, Sê Rê Pôk và sông Ba. Sông Sê San là hợp lưu của hai nhánh sông Pô Kô (bắt nguồn từ vùng núi Đakgrugok tỉnh Quảng Nam và Ngọc Linh tỉnh Kon Tum) và Đakk Bla (bắt nguồn từ bắc Kon Plong) chảy theo hướng Đông bắc - tây nam, từ Kon Tum qua Gia Lai đổ về sông Mê Kông ở địa phận thị xã Stung Treng nước bạn Cam-pu-chia. Sông có chiều dài 231km, rộng từ 100m đến 200m, sâu 4m đến 6m, lưu tốc dòng 2m đến 3mlgiây, độ dốc trung bình 2,9%, chảy quanh co, có nhiều thác ghềnh, có trữ lượng thủy điện cao. Hiện nay có nhà máy thủy điện Ya Ly lớn thứ hai trong nước và đang xây dựng các công trình thủy điện khác. Sông Sê Rê Pôk là hợp lưu của các sông nhỏ ở cao nguyên Pleiku và Đắc Lắc như: Ia Đrăng, Ia Lốp, EaHleo, Krông Nô, Krông Ana, Krông Pack, Krông Puk chảy về phía tây bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Rattanakiri nước Cam-pu-chia gặp sông Sê San và cùng chảy ra sông Mê Kông. Sơng Ba bắt nguồn từ núi Ngọc Rô, chảy qua 5 huyện phía Đông nam tỉnh Gia Lai, hợp lưu với sông Ayun tại Cheo Reo, với sông Krông Năng ở Đông nam Krông Pa rồi đổ ra Biển Đông qua cửa Đà Rằng (Phú Yên). Sông dài 300km, rộng 80m đến 120m, sâu từ 5m đến 7m, thường gây lũ lụt. Đây là con sông đổ về phía Đông lớn nhất của Tây Nguyên. Nhìn chung sông, suối ở Tây Nguyên thường dốc, bắt nguồn từ các vùng núi cao đổ về hai hướng Đông và tây; mùa mưa nước dâng cao chảy xiết gây cản trở giao thông, mùa khô ít nước; tạo nhiều thác nước vừa có tiềm năng thủy điện lớn, vừa là những cảnh đẹp như Ya Ly, Đa Nhim, Đrây H'Linh, Liên Khương, Đrayanna,... Ngoài hệ thống sông suối, Tây Nguyên còn có nhiều hồ nước lớn và nguồn nước ngầm phong phú. Bên cạnh những hồ nước lớn tự nhiên như hồ Tơ Nưng (Biển Hồ, rộng 230 ha), Hồ Plei Nông (46ha) ở Gia Lai, hồ Lắc ở Đắc Lắc, hồ Xuân Hương (Đà Lạt), ngày nay có thêm nhiều hồ lớn nhân tạo như lòng hồ Ya Ly, Ayun Hạ, Ia Hrung, Hoàng Ân (Gia Lai)... vừa có giá trị về thủy lợi, điều hòa khí hậu tạo môi trường trong lành, vừa là những thắng cảnh nổi tiếng. Với núi cao, sông dài, hồ rộng và nguồn nước khóang phong phú 4 đã tạo cho Tây Nguyên cảnh quan kỳ vĩ, một tiềm năng du lịch lớn không chỉ hiện tại mà cả mai sau. Trong hoạt động quân sự, hệ thống sông suối, hồ nước rộng khắp bảo đảm nguồn nước cho bộ đội và vận chuyển đường sông, đồng thời là những chiến hào thiên nhiên khổng lồ ngăn cản đối phương cơ động đường bộ và triển khai lực lượng. Nằm vào khoảng giữa vùng nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biên giới của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên sớm có mạng lưới giao thông đi các hướng: ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển và sang hai nước bạn. Giữa những năm sáu mươi của thế kỷ XX, hệ thống đường bộ ở Tây Nguyên đã khá phát triển với trục đường 14 chạy dọc Bắc - Nam như ''xương sống'' và các đường nhánh nôí ra hai phía đông - tây: 19, 7, 21, 5, 18, 5a, 5b, 20 như những ''xương sườn''. Cùng với hệ thống đường bộ, đường không cũng được thiết lập rộng khắp với hàng chục sân bay lớn nhỏ, chủ yếu phục vụ cho các hoạt động quân sự của Mỹ, ngụy. Đáng kể là các sân bay Kon Tum, Aréa, Cù Hanh (Pleiku), Hòa Bình (Buôn Ma Thuột). Tại các cứ điểm quân sự lớn thường có sân bay dã chiến hoặc bãi đỗ trực thăng. Ngoài hệ thống đường giao thông thuộc khu vực địch kiểm soát, trong những năm chống Mỹ, ta làm thêm một số tuyến đường phục vụ cho các hoạt động quân sự, vận chuyển, tập trung ở phía tây như đường 128 (Đường Hồ Chí Minh) chạy dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Phía Đông bắc có đường 220 nối đường 14 ở Võ Định (Kon Tum) chạy sang phía Đông tỉnh Gia Lai. Nhiều đường nhánh, đường ngang xuyên rừng (chủ yếu từ phía tây sang phía đông) gắn liền bền với các chiến dịch của bộ đội chủ lực ta ở khắp Tây Nguyên. Đường sông cũng được ta khai thác đưa vào sử dụng, nhưng chủ yếu là sông Sê San dùng để vận chuyển hàng hóa, khối lượng hạn chế. Hiện nay, các quốc lộ 14, 19, 20, 25 (đường 7 cũ), 27, 26 (đường 21 cũ), 28, 24 (đường 5 cũ), 18 được tu bổ nâng cấp bảo đảm giao thông thông suốt. Các tỉnh lộ: 666, 661, Đắc Tô - Ngọc Lây tỉnh Kon Tum; 662, 669, 670, 671, 664, 663, 661 tỉnh Gia Lai; 653b, 681, 684, 686, 687, 688, 689, 693 tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; 721, 722, 723, 724, 725 tỉnh Lâm Đồng được tu bổ làm mới, có thể cơ động lực lượng dễ dàng. Ngoài ra, tuyến Đường Hồ Chí Minh đang được mở rộng nâng cấp qua Tây Nguyên có ý nghĩa lớn về kinh tế dân sinh và quân sự. ----------------------------------------------------------------- 1. Theo số liệu thống kê năm 2002. 2. Theo thống kê năm 2002 Tây Nguyên có: 178.575 ha lúa, 496.438 ha cây công nghiệp, 17.606 ha cây ăn quả và đàn gia súc: 9.468.024 con. 3. Hiện nay rừng tự nhiên Tây Nguyên còn khỏang 2,7 triệu ha và hàng trăm nghìn ha rừng trồng (năm 2002 có 101.247 ha rừng cao su, 27.728 ha điều, 17.606 ha cây ăn quả), có vườn quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc), khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray (Kon Tum), Kông Cha Rang - Kon Ka Kinh (Gia Lai)... 4. Hiện nay nguồn nước khóang ở Tây Nguyên đã tìm thấy 5 vị trí ở Kon Tum, 3 vị trí ở Lâm Đồng... Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:55:32 pm * Sống trên vùng đất Tây Nguyên rộng lớn và giàu đẹp có gần 30 dân tộc anh em. Theo số liệu thống kê, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, dân số khỏang 75 vạn người 1, gồm các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xê Đăng, Cơ Ho, Ra Lai, Mơ Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Chu Ru, Brâu, Rơ Mâm, Vân Kiều... chiếm 64%, dân tộc Kinh chiếm 36%. Năm 2002, dân số 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc 2, Lâm Đồng là gần 4,5 triệu người. Trong đó dân tộc kinh khỏang 3,5 triệu người; tiếp đến là dân tộc: Gia Rai (355.432 người), Ê Đê (233.626 người), Ba Na (174.134 người), Kơ Ho (113.089 người), Tày (92.293 người), Xê Đăng (86.910 người), Nùng (84.864 người), Mơ Nông (82.824 người), Mạ (33.164 người), Giẻ Triêng (27.584 người). Người Kinh sống tập trung ở các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế mới (sau 1975); các dân tộc Xê Đăn, Giẻ Triêng, H'rê, Rơ Mâm và một số lớn dân tộc Ba Na... ở tỉnh Kon Tum; các dân tộc Gia Rai, Ba Na tập trung ở tỉnh Gia Lai; các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê và phần lớn dân tộc Tày, Nùng, Mường... ở phía Bắc di cư vào (sau 1975) tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; các dân tộc Kơ Ho, Mạ, Chu Ru... và một số lớn dân tộc ít người phía Bắc di cư đến ở tỉnh Lâm Đồng. Theo các nhà nghiên cứu về dân tộc, nhân chủng, khảo cổ khẳng định từ xa xưa đã có người nguyên thủy sinh sống trên đất Tây Nguyên. Đặc biệt, những kết quả khai quật các di chỉ ở Lung Leng (Sa Thày, Kon Tum), Biển Hồ, Trà Dôm (Pleku), Mê Van (Đắc Lắc) có niên đại thuộc thời kỳ đồ đá mới đến giai đoạn đầu thời ký kim khí cho thấy Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta. Từ giữa thế kỷ XVII người Kinh đã có mặt ở Tây Nguyên do quân nhà Nguyễn đánh ra Nghệ An bắt dân đưa vào sống ở vùng Tây Sơn. Giữa thế kỷ XIX trở đi người Kinh lên cao nguyên ngày một tăng. Lúc đầu là những giáo dân Thiên Chúa giáo từ Huế, Bình Định, Quảng Ngãi tránh sự truy nã của triều đình Huế; tiếp đến là các cuộc chuyển cư gắn với sự khai thác bóc lột mở mang Tây Nguyên của thực dân Pháp và sau này của Mỹ - ngụy. Riêng các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên muộn hơn, chủ yếu là sau năm 1954 và nhất là từ năm 1975 đến nay. Trong cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất, bền bỉ hàng nghìn năm với thiên nhiên, thú dữ và kẻ thù xâm lược để sinh tồn, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo nên những giá trị vật chất và văn hóa tinh thần vô cùng phong phú, mang đậm dấu ấn của vùng cao nguyên. Về thiết chế xã hội, cho đến cuối thiên niên kỷ thứ hai, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên còn ở một trình độ xã hội rất thấp, vào giai đoạn đầu của xã hội có giai cấp với nhiều tàn tích của xã hội Nguyên thủy. Ngoài những gốc tích có truyền thuyết về Hỏa Xá (Vua Lửa), Thủy Xá (Vua Nước) của người Gia Rai hoặc các ''Tơ Ring'' (một sự 1iên minh giữa các làng do tù trưởng cầm đầu), thì tổ chức xã hội duy nhất là làng (Plei, Kon - cách gọi của người Ba Na, Plơi -cách gọi của người Xê Đăng, Bôn - cách gọi của người Gia Rai, Plei Tum hay Plei - cách gọi của người Giẻ Triêng, Đê - cách gọi của người Brâu và Srúp - cách gọi của người Rơ Mâm), đứng đầu là chủ làng (già làng). Làng và một tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ, là một khối cộng đồng thống nhất, một đơn vị tụ cư mang dấu ấn ''công xã nông thôn'', có hệ thống tự quản với phương thức vận hành xã hội theo luật tục.Từ khi thực dân Pháp và sau đó và đế quốc Mỹ chiếm đóng Tây Nguyên, đã tạo ra một tầng lớp mới như binh lính, công chức, người buôn bán và công nhân trong các đồn điền; đồng thời cũng tạo ra một tầng lớp tay sai trong bộ máy cai trị làng xã như chánh tổng, chủ làng. Về kinh tế, đồng bào Tây Nguyên mang nặng tính tự cung tự cấp, khai thác tự nhiên (săn bắn, hái lượm); song canh tác nương rẫy có vị trí hàng đầu, trồng nhiều thứ như lúa, ngô (bắp), dưa, bí, sắn, khoai, thuốc lá... Chăn nuôi trâu, bò, gà lợn (heo) dệt vải, rèn, đồ gốm, đan lát phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số. Nhưng nhìn chung, sản xuất còn ở trình độ thấp, nên thường bị thiếu đói. Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống đơn sơ, giản dị, chất phác, dũng cảm, tâm hồn lạc quan phóng khóang, từ lâu đã tạo nên một nền văn hóa phong phú. Về văn học có những bản trường ca độc đáo có vần điệu, giàu tính chiến đấu, trữ tình và giáo dục hướng thiện như "Đam San ", "Xinh Nhã:, "Đăm Di''. Nhạc cụ có cồng, chiêng, đàn Trưng, Klông pút, Đinh túk... trầm bổng, giéo giắt như tiếng suối xa, thủ thỉ của gió ngàn. Nghệ Thuật múa (Soang) gắn liền với lễ hội đem lại niềm hứng khởi say sưa, hòa đồng cộng cảm sâu sắc. Nghệ Thuật tạo hình trang trí dân gian tinh tế, sáng tạo, có khiếu thẩm mỹ cao được thể hiện trên vải, đồ đan, nhà mồ và đặc sắc là nhà rông, vựa tạo môi trường không gian hoành tráng, nhân văn, nhưng cũng đầy huyền ảo, siêu thực và ấn tượng. Tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những động viên cộng đồng lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật, giặc giã, hướng con người tới chân - thiện - mỹ và tự do, mà còn là tài sản vô giá đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa nước nhà. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phong phú và quý giá, đồng thời hun đúc nên truyền thống đấu tranh bất khuất, yêu chuộng hòa bình... mang đậm phong cách cao nguyên. * Với đất đai rộng lớn, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động, Tây Nguyên không chỉ là một địa bàn có ý nghĩa rất quan trọng về kinh tế - xã hội đối với cả nước, mà đây còn là một khu vực có tầm chiến lược quân sự của Tổ quốc và đối với vùng Nam Đông Dương, được thể hiện sinh động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nằm ở ngã ba, nơi có đường biên giới chung ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên được ví như ''nóc nhà'' của bán đảo Đông Dương. Từ thế đất rất cao, thế đứng vô cùng lơi hại, Tây Nguyên có giá trị khống chế rộng các khu vực Xung quanh. Về phía bắc, do tiếp giáp với vùng rừng núi trùng điệp của tỉnh Quảng Nam và Lào, là một hướng cơ động lực lương lớn của ta. Hệ thống Đường Hồ Chí Minh và con đường 14, là những huyết mạch giao thông chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Phía nam, Tây Nguyên nối với Đông Nam Bộ bằng đường 14, với Sài Gòn bằng đường 20 và đi Phan Rang bằng đường 11; các binh Đoàn cơ động binh chủng hợp thành nhanh chóng tiến xuống Đông Nam Bộ, giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Đối với vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên có giá trị khống chế hầu như toàn bộ. Những đơn vị cơ giới nhanh chóng theo đường 19 xuống Bình Định, đường số 7 (nay là đường 25) xuống Phú Yên, đường 21 (nay là đường 26) xuống Khánh Hòa, đường 11(nay là đường 20) xuống Ninh Thuận, hoặc theo đường số 5 (nay là đường 24) xuống Quảng Ngãi. Bộ binh còn cơ động bằng nhiều đường mòn, đường xuyên rừng xuống đồng bằng. Về phía tây, Tây Nguyên nối liền với Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia; có đường số 18 từ Tân Cảnh qua PLei Kần sang A Tô Pơ, cao nguyên Bô Lô Ven, Pắc Xế (nước Lào) và đường số 19 kéo dài từ Pleiku qua Đức Cơ sang thị xã STung Treng (Cam-pu-chia). Bên cạnh hai con đường trên, địa hình biên giới rất thuận tiện cho những đơn vị bộ binh lớn qua lại, tác chiến.Tây Nguyên là một địa bàn rộng, có dung lượng chiến trường lớn; vừa có thế liên tục, vừa có chiều sâu kín đáo; vừa có thế công vừa có thế thủ. Địa hình rừng núi, cao nguyên là nơi đứng chân vững chắc và tác chiến thuận lợi của những binh đoàn lớn, đánh những đòn tiêu diệt, giải quyết những nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược. Khi tiến công, có thể triển khai lực lương binh chủng hợp thành với quy mô khác nhau, sử dụng cơ giới, không quân; cũng có thể đánh bao vây chia cắt trong từng khu vực hoặc toàn vùng; có thể đánh những đòn lớn vào khu vực trọng điểm, đồng thời cơ động lực lượng tiêu diệt, ngăn chặn tăng viện phản kích của đối phương; có thể phối hợp chặt chẽ giữa đòn tiêu diệt Chính của bộ đội chủ lực với tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân thống nhất. Từ căn cứ Tây Nguyên có thể phát triển tiến công xuống các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ cắt đôi miền Nam, tiến công về Đông Nam Bộ và Sài Gòn, phát triển sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia. Lúc tiến công gặp khó khăn, có thể tạm dừng để củng cố, chuyển thế, thay phiên. Trong phòng ngự, có thể lợi dụng địa hình từng khu vực hoặc toàn vùng tổ chức thế trận phòng ngự vững chắc, lâu dài, vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu; kết hợp giữa các cụm điểm tựa, khu vực phòng thủ then chốt với thế trận bố phòng thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân. Thế trận Tây Nguyên vững chắc như bức tường thành bảo vệ các vùng duyên hải phía Đông, Đông Nam Bộ và các vùng kế cận khác. Bên cạnh những đặc điểm trên, Tây Nguyên còn là một chiến trường có tiềm năng lớn về bảo đảm hậu cần chiến lược tại chỗ. Với khỏang một triệu héc-ta đất trồng trọt, nhiều đồi rừng, sườn núi, tráng cỏ, sông suối, hồ nước có thể sản xuất một lượng lớn lương thực, thực phẩm... cho nhu cầu thường xuyên và cơ bản lâu dài. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi, có thể tận dụng một lượng sản phẩm đáng kể từ khai thác tự nhiên làm thực phẩm, dược liệu, chất đốt, vật liệu Những dãy núi cao, rừng rậm là nơi thuận lợi để bố trí kho tàng, căn cứ hậu cần chiến dịch và chiến lược. Với hệ thống đường bộ, đường không và đường sông Tây Nguyên có thể cùng một lúc tiếp nhận lượng vật chất, lực lượng lớn chi viện từ các hướng, theo các phương thức đa dạng. Với những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội nhân văn và các mối liên quan với các chiến trường, khu vực Xung quanh, Tây Nguyên đã trở thành một địa bàn chiến lược quân sự, một vùng đất vô cùng trọng yếu trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thấy rõ giá trị của Tây Nguyên, trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều rất chú trọng và tìm mọi cách giành giật địa bàn chiến lược có tính chất sống còn này. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược của Quân và dân Tây Nguyên trải qua muôn vàn gian khổ, quyết liệt hy sinh, lập nên bao chiến công hiển hách. ------------------------------------------------------------------ 1. Theo số liệu thống kê năm 1965 tỉnh Gia Lai có 117.875 người, tỉnh Đắc Lắc có 519.000 người, tỉnh Kon Tum năm 1961 có 95.710 người. 2. Bao gồm cả Đắc Nông hiện nay. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:06:28 pm * Từ giữa thế kỷ XIX, các giáo sĩ Hội thừa sai Pa-ri tới truyền giáo ở Kon Tum, lập được một số cơ sở Thiên Chúa giáo trong những làng của người dân tộc thiểu số. Theo chân các giáo sĩ, những Đoàn thăm dò, phi bộ Quân sự của thực dân Pháp liên tiếp lên Tây Nguyên thực hiện âm mưu cai trị vùng đất này. Bằng các thủ đoạn thâm độc: lừa bịp, mua chuộc, chia rẽ để trị đi đôi với trấn áp vũ trang mà chúng gọi là ''đánh giặc Mọi''; đến năm 1889 thực dân Pháp thiết lập chế độ ''trực trị'', Chính thức truất hẳn quyền hành của triều đình Huế khỏi Tây Nguyên. Dưới ách thống trị cực kỳ tàn nhẫn của quân cướp nước, người dân Tây Nguyên bị cướp đất đai màu mỡ để lập đồn điền; phải nộp sưu thuế, lao dịch cực kỳ hà khắc; chìm đắm trong cảnh hủ bại ''ngu dân'' lơi dụng thần quyền mê hoặc; bị ''chia để trị'' và đàn áp dã man, bị đẩy và bước đường cùng, điêu đứng ngay trên mảnh đất của cha ông để lại. Quyết không chịu sống đời nô lệ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã phát huy truyền thống bất khuất, tinh thần thượng võ, ý chí kiên cường đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống quân xâm lược ngay từ khi chúng đặt chân lên cao nguyên. Những năm 1885-1886 nhân dân vùng An Khê hưởng ứng hịch Cần Vương cứu nước, tụ hội dưới cờ nghĩa của ông Mai Xuân Thưởng (Bình Định), san bằng nhiều cơ sở bàn đạp của bọn xâm lược, thành lập các đội nghĩa quân. Trong đó, nhân dân làng Tio (vùng Jrai) chặn đánh đàn công cán của công sứ Pháp Na-ven buộc chúng phải rút chạy về Quy Nhơn. Cùng thời gian này, đồng bào Ba Na, Xê Đăng ở Kon Tum sát cánh cùng nghĩa quân ở Bình Định, Quảng Ngãi đánh Pháp. Tiếp đó là những cuộc nổi dậy quật khởi của đồng bào Xê Đăng ở Kon Tum (1901, 1909 và 1914), đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân An Khê, Cheo Reo hưởng ứng phong trào Duy Tân; ''phong trào nước thần'' phát triển ở Kon Tum rồi lan rộng khắp Tây Nguyên (1925-1929). Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mơ Nông do Nơ Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài hơn 20 năm (1914-1935). Bản anh hùng ca của quân khởi nghĩa đã âm vang khắp núi rừng, buôn rẫy Tây Nguyên bao la: Ơ buông sang1 Ta giữ buôn xưa Ta giữ rẫy cũ ngàn xưa Ta sẵn sáng chống lại những ai đến cướp Quyết giết gíặc cho buôn vui Cho ngoài rẫy lúa chín Dân Mơ Nông ơi, vùng lên đi! Phụ nữ đánh bằng chày giã gạo Con trai cầm dao găm, giáo, mác Tất cả giơ lên như bông lau lách Giết bằng được tên Hăng-ri Mét Thì ta mới yên cái bụng làm rẫy, xây làng''2. Những cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Ở nhiều vùng, nhân dân vẫn làm chủ núi rừng, nhiều buôn làng sống hiên ngang như những pháo đài bất khả xâm phạm. Nhưng do chưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp vô sản lãnh đạo, nên các phong trào đấu tranh, các cuộc nổi dậy dù rất ngoan cường mạnh mẽ, song qua nhiều lần vây ráp càn quét quét bằng nhiều thủ đoạn rất thâm độc của địch nên lực lượng bị tiêu hao dần mịn, đều lần lượt bị thất bại hoặc khống chế. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3.2.1930), cách mạng Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ khủng hỏang về đường lối dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân Việt Nam vững bước trên con đường đấu tranh, đánh đổ ách thống trị của đế quốc, thực dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa ấy, tuy ở địa phương chưa có cơ sở Việt Minh và tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, nhưng quần chúng yêu nước ở Tây Nguyên chịu ảnh hưởng từ lâu của Đảng Cộng sản Đông Dương (nhất là qua những Đảng viên bị địch đày ở ngục Kon Tum) đã tự động nổi đậy giành chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng. Cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ khắp cao Nguyên. Nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cùng nhân dân cả nước hưởng những ngày vui độc lập chỉ trong thời gian ngắn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa. Tháng 11 năm 1945, quân xâm lược Pháp trở lại giày xéo Tây Nguyên. Căm thù quân cướp nước và hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Tây Nguyên Đoàn kết dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh nhất tề đứng lên chiến đấu. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, hơn một nghìn đại biểu các dân tộc Tây Nguyên và miền núi (các tỉnh đồng bằng) họp Đại hội đoàn kết dân tộc chống Pháp tại thị xã Pleiku. Trong lễ khai mạc, các đại biểu vô cùng xúc động lắng nghe thư Bác Hồ: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt...''3. Thực hiện lời kêu gọi đoàn kết dân tộc bảo vệ non sông của người, những buôn làng Tây Nguyên đã trở thành những làng kháng chiến, căn cứ du kích và pháo đài chiến đấu kiên cường. Làng kháng chiến Stơr (An Khê), Xốp Diu (Đắc Glei), xã kháng chiến Ya Hội, Ka nát (An Khê)... với vũ khí thô sơ, chông thò, cung nỏ, cạm bẫy, hầm chông... đã khiến quân thù khiếp sợ. Nhiều tấm gương kiên trung bất khuất: Đinh Núp 4 vận động nhân dân năm lần rời làng kháng chiến, lập nên kỳ tích; Chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng Vừu 5 người dân tộc Ba Na ở nam Đắc Đoa (Gia Lai) bị địch bắt tra tấn dã man, cắt tai, xẻo mũi, chặt mười ngón tay nhưng vẫn mưu trí lừa địch vào bãi chông của du kích diệt hơn một chục tên. Địch tra tấn dã man khoét hai mắt đồng chí rồi bắn chết. Những gương chiến đấu anh dũng kiên cường đó đã góp phần giữ vững niềm tin với cách mạng, cổ vũ nhân dân đấu tranh, làm cho Đảng ngày càng bén rễ bám chắc ở Tây Nguyên. Ngày 27 tháng 11 năm 1953, Tổng Quân ủy đã xác định: ''Lực lượng ta có phát triển vào Tây Nguyên thì mới giành được thế chiến lược quan trọng nhất ở miền Nam. Nếu khu chiến lược đó ở trong tay địch thì cục diện miền Nam rất khó cải biến''. Thực hiện chủ trương đó, bên cạnh sự phát triển của lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị bộ đội chủ lực được trên chi viện và gấp rút xây dựng ở Tây Nguyên ngày một tăng. Trong kháng chiến chống Pháp, các trung đoàn: 94, 95, 67, 108, 803, 120... đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, mở một số chiến dịch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Quân dân Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ, thực hiện thắng lợi chiến dịch Bắc Tây Nguyên (26.1 - 20.7.1954); loại khỏi vùng chiến đấu hơn 20.000 tên địch, diệt gọn binh đoàn cơ động loại và 15 tiểu đoàn khác, thu hơn 7.500 súng các loại và hàng trăm xe cơ giới, bức rút 182 đồn bốt tháp canh, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum (7.2.1954) và phần lớn tỉnh Gia Lai; buộc bộ chỉ huy quân Pháp phải phân tán lực lượng cơ động, tạo điều kiện cho chiến trường chính giành thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, góp phần quyết định vào việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên càng biết ơn và tin yêu sâu sắc đối với Đảng và Bác Hồ: "Người cứu dân tộc mình Cho suối đánh đàn, cho hoa "gơ ma'' nở Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn Cho con gái cườm đeo quanh cổ Là Bác Hồ Chí Minh". Giữ vững niềm tin sắt đá đó, phát huy truyền thống bất khuất, với kinh nghiệm đúc rút từ chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Tây Nguyên bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với thế và lực mới, lập nên những chiến công vang dội, giải phóng Tây Nguyên, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. ------------------------------------------------------------------ 1. Ớ dân làng 2. Tây Nguyên lũy thép thành đồng. Nxb Quân đội nhân dân; H.l972, tr. 19. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia; H. 1995, tr 217-218. 4. Đồng chí Đinh Núp được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1955. 5. Đồng chí Wừu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1956. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:10:09 pm 2. Chiến trường Tây Nguyên trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1963)
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết. Mặc dù bị các thế lực phản động ra sức ngăn cản, Hiệp định chưa phản ánh hết thắng lợi to lớn của nhân dân ba nước Đông Dương trên chiến trường, nhưng nó đã đánh dấu thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm ròng rã chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của dân tộc Việt Nam, Khơ Me và các bộ tộc Lào. Về Việt Nam, bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời phân chia hai khu vực tập kết trước khi tổng tuyển cử, không thể coi như một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ. Với bước ngoặt lịch sử trọng đại này, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta đến đây chưa hoàn thành, cuộc.đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc còn phải tiếp tục diễn ra trong những điều kiện mới đầy gian nan thử thách. Lợi đụng triệt để Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương và thế suy yếu của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, ráo riết áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Nam Việt Nam, từng bước thực hiện âm mưu chiến lược cơ bản lâu dài xuyên suốt là: ''Tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu đài đất nước ta, biến Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời lấy miền Nam Việt Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới ở Đông Nam Á hòng đè bẹp và đẩy lúi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước chủ nghĩa xã hội khác''1. Dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm được xây dựng và củng cố, miền Nam biến thành một ''quốc gia'' riêng. Lực lượng ngụy quân do Pháp để lại được gấp rút cải tổ và xây dựng thành một ''quân đội quốc gia'' tay sai trung thành, làm chỗ dựa cho ngụy quyền miền Nam và thực thi những âm mưu đen tối của ông chủ Mỹ. Được Mỹ huấn luyện và trang bị (với 1,5 tỷ đô-la vũ khí và phương tiện, từ 1955 đến 1960), sau kế hoạch dài hạn 5 năm quân đội ngụy có số lượng đông, nhiều binh chủng, có khả năng tác chiến trên các vùng chiến thuật. Cùng với nó là một hệ thống căn cứ và công trình quân sự bao đường chiến lược, hệ thống truyền tin, kho tàng được xây dựng khắp miền Nam. Ngoài ra Mỹ còn lôi kéo một số nước thành lập ''Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á'' (SEATO, tháng 9.1954), tự ý đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới cái ô ''bảo hộ'' của tổ chức này. Với đội quân lớn làm chỗ dựa, từ cuối năm 1954 đến năm 1960, Mỹ, Diệm ráo riết tiến hành cuộc chiến tranh đơn phương. Các chính sách ''tố cộng'', ''diệt cộng'' sắc lệnh (5.1957) ''đặt cộng sản ra ngoài vùng pháp luật'', đạo luật khát máu 10-59 lê máy chém khắp miền Nam, ''cải cách điền địa'', ''định cư di cư''... được tiến hành đồng thời với các cuộc hành quân càn quét, khủng bố, tàn sát đẫm máu. Hàng chục vạn cán bộ, đảng viên, quần chúng bị sát hại, bắt bớ, giam cầm. Những vụ thảm sát man rợ như Kim Đôi (Thừa Thiên), Hướng Điền (Quảng Trị), Chợ Được Quảng Nam), Mỏ Cày (Bến Tre)... diễn ra khắp nơi; đặc biệt là vụ thảm sát ở trại tập trung Phú Lợi (Thủ Dầu Một) đầu độc 6.000 người, hơn 1.000 người chết, làm nhân dân cả nước sôi sục căm thù và loài người tiến bộ phẫn nộ. Cuộc chiến tranh đơn phương của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm vô cùng tàn bạo, thâm độc, gây khó khăn tổn thất nghiêm trọng cho cách mạng miền Nam nhưng không dập tắt được ngọn lửa đấu tranh đang âm ỉ trong quần chúng, có thời cơ sẽ bùng lên thiêu đốt quân thù. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân miền Nam nhanh chóng tiếp nhận và biến Nghị quyết Trung ương Đảng lấn thứ 15 (1959) thành hành động, làm nên cao trào Đồng khởi rộng khắp, đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công. Cao trào Đồng khởi cuối năm 1959, đầu năm l960 của nhân dân miền Nam, cùng với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (12.1960) đánh dấu thất bại của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ dưới thời Ai-xen-hao; đồng thời mở đầu thời mở đầu thời kỳ chuyển tiếp sang chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của chính quyền Kon-nơ-đi. Là cấp độ cao hơn của chiến tranh xâm lược thực dân mới, là sản phẩm của thế bị động và thế thua; nên chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' mà đế quốc Mỹ áp dụng ở miền Nam là: dùng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ lực chủ yếu do Mỹ cung cấp trang bị vũ khí và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn; sử dụng kết hợp ba biện pháp cơ bản: tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ sở hạ tầng cách mạng, bình định để nắm dân, phong tỏa biên giới vùng biển để ngăn chặn chi viện và phá hoại miền Bắc bằng biệt kích. Nội dung chủ yếu của chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' thể hiện tập trung trong một kế hoạch toàn diện, dài hạn mang tên Stalây - Taylo nhằm "bình định" miền Nam trong vòng l8 tháng. Thực hiện kế hoạch Stalây - Taylo, Mỹ chuyển cơ quan viện trợ (MAAG) thành Bộ tư lệnh quân sự (MACV, 8.2.1962) do Pan Hác-kin (Paul HarKins) làm tư lệnh. Từ tháng 5 năm 1962 trở đi, Bộ tư lệnh này có quyền hạn như một bộ tư lệnh tiền phương của Mỹ ở Đông Nam châu Á. Đồng thời lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ ở miền Nam tăng lên nhanh chóng: 3.900 tên năm 196l, 11.300 tên năm 1962 và 16.800 tên năm 1963 (gấp 8 lần năm 1960). Nhiều đơn vị trực thăng nguyên vẹn và thiết giáp nhẹ được chuyển đến miền Nam. Năm 1961, địch đã có 210 máy bay các loại, 268 xe cơ giới, đến năm 1963 tăng lên 627 máy bay (có 359 trực thăng) và 732 xe cơ giới. Cùng với gia tăng lực lượng Mỹ, lực lương ngụy quân cũng tăng mạnh cả chủ lực và địa phương; đặc biệt chủ trọng phát triển quân địa phương và tăng cường sức cơ động nhằm đối phó với chiến tranh du kích đang phát triển ở miền Nam. Năm 1960 quân ngụy có 152.300 tên (gồm 7 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến...) 36.000 lính bảo an và 25.000 dân vệ; tới cuối năm 1963 chủ lực địch đã lên tới 206.000 tên (gồm 9 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn thủy quân cục chiến...), 86.000 lính bảo an và 96.000 dân vệ. Để bảo đảm cho bộ máy ngụy quân ngụy quyền tay sai khổng lồ, viện trợ Mỹ liên tiếp tăng lên: từ 321,7 triệu đô-la (1960-1961) lên 675 triệu đô-la (1963-1964). Có quân đông, vũ khí phương tiện chiến tranh nhiều, lại rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, những ''khu trù mật'', ''khu dinh điền'' trước đây và áp dụng kinh nghiệm mới của đế quốc Anh chống chiến tranh du kích ở Mã Lai; Mỹ - Diệm đẩy mạnh chính sách gom dân lập ''ấp chiến lược" - cái xương sống'' của "chiến tranh đặc biệt''. Để bảo đảm cho chính sách ''ấp chiến lược'' thành công và tiêu diệt lực lượng vũ trang non trẻ của ta, địch huy động các đơn vị chủ lực kết hợp bảo an, dân vệ được lực lượng pháo binh, cơ giới, không quân Mỹ trực tiếp chi viện, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét. Năm 1961 chúng mở 1.253 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, năm 1962 có 2.577 cuộc (có 100 cuộc hành quân bằng ''trực thăng vận''), năm 1963 lên từ 2.948 cuộc hành quân. Trọng điểm càn quét của địch là vùng tây bắc Sài Gòn, 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các vùng giáp ranh các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ở Khu 5 của ta. Nhưng những cố gắng cao nhất của Mỹ, Diệm vẫn không đem lại kết quả như tham vọng của kế hoạch Stalây - Tay lo, mà còn thất bại thảm hại. Cách mạng miền Nam không bị ''tàn lụi'', mà trái lại càng phát triển và vững vàng tiến lên. Phát huy thắng lợi cao trào đồng khởi, quân và dân miền Nam đã phát triển thành cuộc chiến tranh cách mạng, đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, từng bước đánh bại chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của Mỹ. Đặc biệt, chiến thắng Ấp Bắc (ngày 2.1.1963) bẻ gãy cuộc hành quân của hơn 2.000 quân ngụy có máy bay, thiết giáp, tàu xuồng chiến đấu và pháo binh Mỹ yểm trợ do cố vấn Mỹ chỉ huy đã đánh dấu sự ''thất bại về chiến Thuật - chiến lược" của địch, và ''sau trận Ấp Bắc địch thấy khó thắng ta''. Sự phát triển của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những làm cho kế hoạch Stalây - Taylo bị phá sản, chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' trượt nhanh về phía nấm mồ tiền định, mà còn làm cho mâu thuẫn trong lòng chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm và giữa chủ Mỹ với tớ Diệm tăng lên đến đỉnh cao. Nhằm tạo nên một chính quyền tay sai đắc lực hơn, đáp ứng mưu đồ leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược, ngày 1 tháng 11 năm 1963 Mỹ buộc phải thay ngựa giữa dòng, giết tên tay sai đắc lực Ngô Đình Diệm mà chúng đã từng dày công nuôi dưỡng, đào tạo xây dựng suốt 15 năm (1948- 1963). Sau 21 ngày sụp đổ của chế độ Diệm, ngày 22 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Mỹ Kon-nơ-đi bị giết. Giôn-xơn lên thay làm Tổng thống Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tiến tới nấc thang cao nhất của chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'': từng bước đưa quân chiến đấu Mỹ vào tham chiến ở chiến trường miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, mở đầu thời kỳ quá độ từ chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ''. ------------------------------------------------------------------ 1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:14:15 pm Nằm trong bối cảnh chung của miền Nam, lại là một địa bàn trọng điểm, nên trong suốt mười năm đầu (1954-1963) cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở Tây Nguyên diễn ra liên tục và ngày càng quyết liệt. Ngay từ khi hất cẳng Pháp, đưa Diệm lên nắm quyền, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ rất chú trọng đến vùng đất chiến lược này. Chính Rát pho (Radford) chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ (đến miền Nam ngày 22.12.1954, vạch kế hoạch 5 điểm ủng hộ Diệm) khi lên thị sát Tây Nguyên đã cho rằng: ''Tây Nguyên sẽ trở thành nhiều tuyến quan trọng cơ động, thành khu vực tập trung quân đội'', đặc biệt PleiKu sẽ là ''trục chiến lược'' khi chiến tranh xảy ra. Nhưng do Tây Nguyên đất rộng, người thưa, đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sống trong các buôn làng nên những biện pháp thống trị và khai thác của Mỹ, Diệm ở dây có khác so với toàn miền Nam, song cũng không kém phần khẩn trương, khốc liệt, tàn bạo.
Tháng 9 năm 1954, địch tiếp quản Tây Nguyên. Để ''thâu hồi độc lập'', chúng khẩn trương lập bộ máy hành chính từ tỉnh đến quận và cơ sở, từng bước gạt bọn tay sai cũ của Pháp, lập các tổ chức chính trị phản động, ra sức tuyên truyền lừa bịp bằng các chiêu bài ''cách mạng quốc gia'', ban hành chính sách ''Kinh - Thượng đề huề - quân dân nhất trí - khai thác miền sơn cước'' (6.1955), tiếp đó là ''đồng tiến xã hội''. Để khai thác và khống chế Tây Nguyên, địch đua hơn một vạn giáo dân và đồng bào dân tộc thiểu số miền Bắc (bị chúng lừa gạt cưỡng ép di cư vào Nam) đến chiếm các vùng đất đai màu mỡ, có giá trị quân sự và chính trị ven các trục đường giao thông chính và xung quanh các thị xã, thị trấn. Tiếp đó, từ tháng 3 năm 1957 đến năm 1962, chúng lừa xúc hàng chục nghìn dân các tỉnh miền Trung Trung Bộ và một số dân Nam Bộ lên Tây Nguyên lập các dinh điền, nhằm xây dựng các pháo đài chống cộng, vừa khống chế đồng bào dân tộc thiểu số xung quanh. Đồng thời với các hoạt động trên, Mỹ, Diệm ra sức xây dựng phát triển lực lưọng quân sự ở Tây Nguyên. Năm 1955 chúng lập sư đoàn bộ binh hạng nhẹ số 2 ở Kon Tum và sư đoàn bộ binh hạng nhẹ số 4 ở Buôn Ma Thuột1. Ngày 1 tháng 10 năm 1957, địch lập vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 đảm nhiệm hoạt động tác chiến toàn bộ vùng cao nguyên Trung Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm các tỉnh: Kon Tum, PleiKu, Phú Bổn, Bình Định, Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Bộ tư lệnh vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 ngụy đóng ở thị xã Plei Ku tỉnh Gia Lai do tướng Trần Ngọc Tâm làm tư lệnh (10.1957 - 8.1958); những năm tiếp theo là các tướng ngụy: Tôn Thất Đính (8.1958 - 12.1962), Nguyễn Khánh (12.1962 - 12.1963), Đỗ Cao Trí (12.1963 - 9.1964)... thay nhau giữ chức này. Đến cuối năm 1960, địch đưa sư đoàn 23 từ Dục Mỹ (Khánh Hòa) lên Buôn Ma Thuột, đảm trách địa bàn 7 tỉnh phía nam vùng 2 chiến thuật (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận). Cùng với xây dựng các đơn vị chính quy chủ lực, địch rất chú trọng xây dựng lực lượng bảo an, dân vệ, hệ thống tề điệp ở xã, buôn với hàng chục nghìn tên ở Tây Nguyên. Tại mỗi ''dinh điền'' đều có đồn bốt, tháp canh, do một trung đội đến một tiểu đoàn lính địa phương đóng giữ. Ở các quận lỵ đều có căn cứ quân sự. Dọc biên giới phía Tây có hệ thống đồn biệt kích, đa số quân trong các đồn này là bọn ác ôn người dân tộc thiểu số địa phương, bị nhồi sọ tư tưởng chống cộng cuồng tín. Để phục vụ cho mục đích quân sự và khai thác Tây Nguyên, Mỹ, ngụy đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố hệ thống đường giao thông. Những con đường huyết mạch 14, 19, 21 và các tỉnh lộ xuyên sâu vào các buôn làng được gấp rút sửa chữa và làm mới. Các sân bay được tu sửa mở rộng xây dựng khắp các tỉnh, ở nhiều quận như: Kon Tum, Đắc Tô, Măng Đen, Cù Hanh, Hòa Bình, Phụng Dực, Liên Khương, Bản Đôn, Cheo Reo, Nhân Cơ, Tuy Đứa, Phi-di-a. Hàng vạn dân bị bắt đi lao dịch xây dựng các công trình quân sự. Quá trình xây dựng, củng cố bộ máy hành chính quân sự phát xít ở Tây Nguyên cũng là quá trình địch thi hành ''tố cộng'' ''diệt cộng'' đánh phá các cơ sở cách mạng ngày càng ác liệt. Từ giữa năm 1956, chúng mở những chiến dịch khủng bố gọi là ''chiến dịch thượng du vận'' để dồn dân vào các dinh điền, buộc phải khai báo, đầu thú. Hàng nghìn người bị bắt, bị tra tấn và giết hại, nhiều buôn làng bị đốt phá sạch. Tại các trọng điểm đánh phá như quận Đắc Tô, Đắc Pét (Kon Tum), Đắc Đoa, Nam An Khê (Gia Lai), Buôn Hồ, M'Đrắc (Đắc Lắc)... nơi nào cũng có địch lùng sục, cướp phá, đầu rơi, máu chảy. Những lớp chiêu hồi, ''tố cộng'' có khi kéo dài đến nửa tháng nhằm uy hiếp tinh thần dân chúng, phát hiện cán bộ đảng viên. Nhân dân bị cấm không được ngủ ngoài rừng, không được mang gạo ra rẫy... Song song với những cuộc càn quét, những chiến dịch khủng bố đẫm máu, Mỹ, Diệm còn kìm kẹp nhân dân trong các ''dinh điền'' - một loại ''ấp chiến lược'', ''trại tập trung'' ở miền nam. Cho tới tháng 12 năm 1959, địch đã lập được 176 dinh điền ở Tây Nguyên và dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia với 220.000 dân. Trong mỗi dinh điền đều có binh lính đóng giữ, có hệ thống lô cốt, tháp canh; người dân bị giám sát, o ép gắt gao, bị kiểm soát mọi hoạt động... nhằm ''ngăn cản sự xâm nhập của cộng sản''. Cuộc chiến tranh đơn phương với những thủ đoạn vô cùng tàn bạo, thâm độc mà Mỹ, Diệm tiến hành trên cao nguyên tuy có gây cho ta những tổn thất nặng, nhưng cơ bản các khu căn cứ miền núi vẫn được giữ vững. Có được như vậy là do cấp ủy Đảng và nhân dân địa phương kịp thời nắm bắt đánh giá đúng tình hình, chủ động linh hoạt tìm biện pháp đấu tranh hợp pháp, biết vận dụng phong tục tập quán của nhân dân để chống địch, bảo vệ cơ sở, bảo vệ phong trào. ----------------------------------------------------------------- 1. Tháng 4.1959, hai sư đoàn 2 và 4 (đổi tên thành sư đoàn 12 và sư đoàn 14) sáp nhập thành sư đoàn 22. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:42:36 pm * Trong khi cuộc chuyển quân tập kết đang diễn ra sôi động; các cơ quan, đoàn thể, một số gia đình cơ sở ở Tây Nguyên và Trung Đoàn 84 (Đắc Lắc), Trung Đoàn 120 (Gia Lai) ra miền Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy Liên khu 51 và cấp ủy địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên được phân công ở lại làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh mới. Ở Kon Tum có 128 đồng chí, ở Gia Lai có 131 đồng chí và Đắc Lắc có trên 120 đồng chí được chọn trong số các đồng chí tự nguyện thuộc các cơ quan dân, chính, Đảng và quân đội, có đủ phẩm chất, ý chí và kinh nghiệm công tác quần chúng. Để che mắt địch, số cán bộ hoạt động hợp pháp khôn khéo lọt vào thị xã, thị trấn với tên gọi mới, dưới hình thức các nhà tư sản, chủ thầu, nhân viên công chính, bưu điện; một số khác tỏa về các buôn làng, đổi tên gọi và nói tiếng như. người địa phương, cà răng, xâu tai, đóng khố, đi chân đất, choàng tấm đồ, mang ná, vác rựa, để tóc dài... trở thành những cán bộ nằm vùng. Số cán bộ hoạt động bất hợp pháp tổ chức thành những tổ công tác trở về các vùng du kích, khu căn cứ trước đây, được nhân dân che giấu, cung cấp hậu cần; cũng có người bền bỉ gây dựng phát triển cơ sở trong vừng địch tạm chiếm. Cùng với việc bố trí cán bộ ở lại, các tỉnh đều tổ chức chôn giấu vũ khí để sử dụng sau này. Tỉnh Kon Tum để lại gần 80 khẩu súng và 4 tấn đạn; tỉnh Gia Lai để lại hai hầm vũ khí gồm 70 súng trường, 7 tiểu liên, 60 súng ngắn, và hàng chục nghìn viên đạn, các huyện 1, 2, 7 cũng để lại vũ khí. Ngoài ra, các loại vật chất thiết yếu như lương thực, thuốc chữa bệnh, văn phòng phẩm, nông cụ, muối ăn, tiền bạc... cũng được để lại chuẩn bị cho các hoạt động về sau. Xác định 1 tầm quan trọng của các khu căn cứ, các tỉnh sớm khôi phục lại căn cứ cũ và tổ chức xây dựng thêm căn cứ mới. Tháng 9 năm 1954 Tỉnh ủy Gia Lai chuyển lên căn cứ Kon Hà Nừng, Sơ Lam Sơ Ró; đầu năm 1955 cơ quan tỉnh Kon Tum từ Ba Tơ (Quảng Ngãi) dời lên Kon Bờ Ê (xã Hiếu, Kon Plong); tháng 5 năm 1955 bộ phận chỉ đạo và cơ quan tỉnh Đắc Lắc chuyển từ vùng Thồ Lồ (tây Phú Yên) lên buôn Ma Nhao, Ma Thìn rồi về vùng buôn Uar, buôn Mùng. Để chỉ đạo sát phong trào cách mạng ở Tây Nguyên, năm 1955 Lên khu ủy 5 quyết định thành lập 4 liên tỉnh ủy, trong đó có Liên tỉnh ủy 4 gồm tỉnh ủy ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc do đồng chí Trương Quang Tuân làm Bí thư (kiêm Bí thư Ban cán sự tỉnh Đắc Lắc). Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên tỉnh ủy 4, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên phát triển mạnh, cơ sở cách mạng được phát triển rộng khắp2, các cuộc đấu tranh của quần chúng chống địch "tố cộng'', chống cướp đất lập danh điền, bắt xâu, bắt lính, chống trưng cầu dân ý liên tục diễn ra và giành nhiều thắng lợi đặc biệt, phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước cuối năm 1955 diễn ra sôi nổi, rộng khắp từ nông thôn đến đô thị, lôi cuốn hàng vạn quần chúng tham gia. Đây là cuộc đấu tranh chính trị có quy mô lớn, có tổ chức chỉ đạo chặt chẽ gắn đòi hiệp thương với các yêu sách về dân sinh, dân chủ đã nâng cao khí thế cách mạng, bước đầu rèn luyện thử thách cán bộ và quần chúng, làm cho ngụy quân, ngụy quyền lúng túng, bất ngờ. Từ năm 1956 đến năm 1959, phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Nguyên tập trung chống các chiến dịch ''thượng du vận'', ''tố cộng" và chống cướp đất lập ''dinh điền'' của Mỹ, Diệm. Khi địch mở chiến tích ''thượng du vận'' vào các huyện H2, H3, đông và tây Cheo Reo, cấp ủy Đảng đã bám sát buôn làng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống bắt bớ, khủng bố, chống đi học tố cộng. Địch bắt, tra tần dã man nhiều cán bộ, đảng viên, cơ sở nhưng không một ai tiết lộ bí mật. Tại huyện 7 Gia Lai, địch bắt hàng loạt cán bộ, tra khảo, dìm xuống suối nhưng không ai sờn lòng. Bí thư chi bộ làng Krông Hra xã Yang Bắc bị địch chôn đứng đến cổ, dùng chày nện đất xung quanh cho trào máu, nhưng trước lúc hy sinh còn ráng sức hô ''Bok Hồ muôn năm''. Ở làng Nước Chè (xã Đắc Kôi, Kon Plông, Kon Tum) dịch bắt được đồng chí Đinh Gió tra tấn dã man nhưng không ép được dẫn đường đi càn; chúng xâu dây thép vào hai tay rồi nắm tóc kéo đi nhưng đồng chí kiên quyết chống lại và anh dũng hy sinh. Những tấm gương trung liệt của cán bộ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những góp phần bảo vệ cách mạng, tính mạng tài sản và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân, nêu cao khí tiết cách mạng mà còn làm cho ngọn lửa đấu tranh cách mạng ngày càng lan rộng. Song song với đấu tranh chống ''tố cộng'', phong trào đấu tranh phòng địch cướp đất lập ''dinh điền'' cũng diễn ra quyết liệt kéo dài từ năm 1957 đến năm 1960. Tại Gia Lai, phong trào lúc đầu còn lẻ tẻ nhưng từ năm 1959 bùng lên mạnh mẽ, có lúc lôi cuốn được nhân dân 143 làng thuộc huyện 4 và 5 tham gia. Có nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu như: 6 làng của xã Ia Kreng (huyện 5) vũ trang giáo mác đòi trả đất thắng lợi; 25 làng quanh dinh điền Lệ Ngọc đóng cọc chặn xe ủi, địch bắn chết và làm bị thương hàng chục người nhưng cuối cùng chúng phải nhượng bộ (tháng 2, 3 năm 1959). Ở Buôn Ma Thuột phong trào chống địch cướp đất được quần chúng Kinh -Thượng hưởng ứng mạnh mẽ và diễn ra quyết liệt suốt ba năm (1957-1959). Hàng trăm đoàn biểu tình kéo lên quận kêu kiện đòi trả đất. Khi địch dùng xe ủi đến cướp đất, nhân dân kết thành khối chặn xe. Trong cuộc đấu tranh giữ đất, đã huy động được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là phụ nữ. Có nhiều tấm gương dũng cảm như chị Rơ Mah Cham (huyện 4, Gia Lai) bế con nằm chặn xe bị địch xúc đổ vô thùng xe, một chị làng Plei Bối (Phú Nhơn) lao vào chặn đầu đoàn xe... buộc chúng phải từ bỏ kế hoạch chiếm đất lập dinh điền. ------------------------------------------------------------------- 1. Tháng 9 năm 1954 Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục Miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ V Liên khu ủy Liên khu 5 trực thuộc Trung ương Đảng. 2. Cuối năm 1958, Gia Lai có cơ sở ở 911 trong tổng số 1.001 làng, 55 chi bộ với 623 đảng viên và 674 đoàn viên; ở Đắc Lắc, từ năm 1954 đến năm 1956 xây dựng cơ sở ở 521 làng trong tổng số556 làng và 400 cơ sở trong thị xã Buôn Ma Thuột. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:44:43 pm * Trước hành động ngày càng tàn ác của Mỹ, Diệm, cán bộ và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên cũng thấy không thể chỉ đấu tranh với địch bằng lý lẽ đơn thuần. Quần chúng ở một số nơi không nén nổi căm thù uất hận, đã tự động diệt ác ôn. Nhiều vụ thủ tiêu đã diễn ra như diệt tên Cơ (của dân làng Bà Bah, huyện An Khê), tên Đầm (của dân làng Nước Kua, huyện Kon Plông) và nhân dân các làng vùng Tu Mơ Rông, làng Đông Lốc, Mang Tôn (Đắc Glei) Đê Xơ Rơn, Đê Xơ Kiết, Đê Cúc, DJana (An Khê), buôn Oi Đak, Ma Hin (Cheo Reo), Ka Dăng Hroi, Bõung (M'Đrak)... tự động diệt ác ôn, sau đó mới báo cáo tổ chức, đã cho thấy quần chúng nhân dân không thể tiếp tục sống nén nhịn mãi được nữa, phải dùng vũ khí đánh trả kẻ thù tàn bạo. Cũng trong quá trình khủng bố của địch, thanh niên ở nhiều buôn làng Tây Nguyên đã kéo nhau ra rừng lập các trại ''bí mật''. Địch càng đánh phá, các trại ''bí mật'' ngày càng phát triển. Được cán bộ hướng dẫn, thanh niên ở các trại tổ chức thành đội ngũ và vũ trang bằng vũ khí thô sơ: cung nỏ, rìu, rựa, chông, thò, cạm bẫy chống địch lùng sục càn quét vào làng, bảo vệ nương rẫy. Hành động tự vệ ít nhiều mang tính tự phát của quần chúng và cán bộ cơ sở thể hiện nguyện vọng được cầm vũ khí, lập căn cứ kháng chiến; đồng thời cho thấy không còn con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Quán triệt các nghị quyết của Trung ương Đảng và tài liệu "Đề cương cách mạng miền Nam" của đồng chí Lê Duẩn, tiếp thu kinh nghiệm của Nam Bộ, trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, mùa hè năm 1958 Liên khu ủy Liên khu 5 ra nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Trung Trung Bộ. Nghị quyết chỉ rõ : "Cần củng cố lực lượng vũ trang và nửa vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ địa làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang. Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thóatt cán bộ khí cần thiết''. Cùng thời gian này, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ trước mắt ở Tây Nguyên. Chỉ thị nêu rõ Tây Nguyên (Kể cả miền núi Liên khu 5 và miền núi đông bắc Nam Bộ) là vị trí chiến lược rất quan trọng đối với kẻ địch cũng như đối với ta; Mỹ, Diệm đang ra sức xây dựng Tây Nguyên thành một trung tâm căn cứ quân sự xâm lược ở miền Nam; vì vậy phải ''giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ cách mạng của ta ở miền Nam; phá âm mưu xây dựng trung tâm căn cứ quân sự của Mỹ, Diệm tạo điều kiện đón thời cơ, tranh thủ chủ động trong mọi tình thế''. Chỉ thị của Trung ương Đảng và nghị quyết của Liên khu ủy đã tạo ra một bước chuyển biến quan trọng trong vùng núi Liên khu 5, đông bắc Nam Bộ nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Đây là cơ sở để các địa phương xây dựng căn cứ cách mạng, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ hỗ trợ đấu tranh chính trị và vũ trang tự vệ. Thực hiện chủ trương đúng đắn trên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự địa phương các căn cứ cách mạng được củng cố và xây dựng ở khắp các tỉnh Tây Nguyên. Tại Kon Tum các huyện H16, H29, H30, H80, H40, H67 đều có các căn cứ (phía sau) và vùng phía trước để hỗ trợ nhau trong đấu tranh chống địch và xây dựng. Hai huyện H40 và H67 nằm ở vùng biên giới còn quan hệ với cách mạng Cam-pu-chia và Là0. Ở Gia Lai, các vùng căn cứ huyện l, 2, 7 và H2 (đông Cheo Reo) được cố và phát triển; mỗi căn cứ có từ 1 đến 2 tổ tự vệ mật làm công tác bảo vệ cơ quan, hành lang đưa đón cán bộ và diệt ác trừ gian. Tỉnh Đắc Lắc tập trung xây dựng hai căn cứ chính ở vùng Dliê Ya (phía bắc) và Nam Lung (phía nam Lắc), các huyện Buôn Hồ, M'Đrak, Cheo Reo1 đều có căn cứ. Khắp Tây Nguyên, hàng nghìn thanh niên nam nữ gia nhập lực lượng vũ trang, tự vệ, làm giao liên, tham gia các đội công tác. Vũ khí chôn giấu từ trước nay được đào lên; tổ chức lau chùi sửa chữa, trang bị cho các lực lượng. Một vài căn cứ đã xúc tiến lập các công binh xưởng sửa chữa, sản xuất vũ khí. Để bảo đảm nuôi quân, nhân dân các buôn làng nô nức đóng góp gạo, lúa, trâu, bò, gà, heo. Các "rẫy cách mạng" xuất hiện ở khắp nơi. Việc sản xuất lương thực, thực phẩm, tích trữ gạo, ngô, vải, muối, nông cụ... được đẩy mạnh tại các căn cứ kháng chiến. Trồng sắn (mì) được đặt tên hàng đầu và phát tnển rất nhanh, vì đây là cây dễ trồng, dễ dự trữ, địch lại khó cướp phá. Nhiều nơi nhân dân đặt tên gọi là''rẫy mì Thống nhất". Việc đẩy mạnh xây dựng các khu căn cứ cách mạng và sự ra đời của nhiều đội du kích ở Tây Nguyên vào cuối năm 1958 và năm 1959 có ý nghĩa lớn. Nó không những là bước tạo cơ sở vật chất, địa bàn, duy trì phát triển lực lượng cách mạng tại chỗ, là bàn đạp cho các hoạt động quân sự, là bước chuẩn bị quan trọng cho Tây Nguyên tiếp nhận những đơn vị chủ lục đến hoạt động mà còn là một mắt xích hữu cơ hợp thành của hệ thống căn cứ địa cách mạng ở miền Nam, nhân tố bảo đảm thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. ------------------------------------------------------------------ 1. Cheo Reo lúc này thuộc tỉnh Đắc Lắc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:49:55 pm * Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) xác định đường lối cách mạng miền Nam, phương hướng xây dựng và chiến đấu của các lực lương vũ trang ở miền Nam. Nghị quyết hội nghị nêu rõ: ''Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền... Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc ít hoặc nhiều tùy tình hình... Khi sử dụng lực lượng vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền, cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục tùng lợi ích của đấu tranh chính trị... Phải hết sức che giấu và giữ gìn lực lượng... Nhưng do đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ... Đảng ta phải thấy trước khả năng ấy để chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó trong mọi tình huống''. Tháng 6 năm 1959, đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ -Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 5 vào Tây Nguyên phổ biến Nghị quyết Trung ương 15 cho Liên tỉnh ủy 4. Tháng 8 năm 1959, các tỉnh ủy Kon Tum, Gia Lai, sau đó là Đắc Lắc chính thức học tập và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 15. Nghị quyết Trung ương 15 đã cắm mốc lịch sử vô cùng quan trọng, ph hợp với tình hình thực tế và đáp ứng nguyện vọng bức thiết của nhân dân, tạo bước chuyển biến căn bản và nhảy vọt cho phong trào cách mạng miền Nam, trong dó có Tây Nguyên. Đến đâu, Nghị quyết cũng được đón nhận với niềm xúc động khôn tả; ngọn lửa cách mạng vốn từ lâu vẫn âm ỷ nay bùng lên thành đám cháy lan tỏa ra khắp cao nguyên bao la thiếu đất quân thù. Thực hiện Nghị quyết 15, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên phát triển mạnh mẽ. Lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh không ngừng và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, Diệm. Cuối năm 1959 Ban quân sự tỉnh Kon Tum được thành lập, do đồng chí Nguyễn Tuấn Tài (Trần Kiên) và sau đó là đồng chí Phan Phụ (Quyết) - Bí thư Ban cán sự tỉnh làm trưởng ban, đồng chí Nguyễn Bá Trình làm cán bộ quân sự chuyên trách 1. Ở Gia Lai, đầu năm 1960 Ban quân sự tỉnh cũng được thành lập do đồng chí Vũ Trung Thành - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Kpã Thìn - tỉnh ủy viên phụ trách. Tỉnh Đắc Lắc hình thành các ban quân sự ở các vùng (B) vào giữa năm 19622. Tiếp đó, các huyện ở Tây Nguyên cũng lần lượt tổ chức các ban quân sự huyện. Để xây dựng căn cứ địa cách mạng Tây Nguyên ngày càng lớn mạnh, thời kỳ này Trung ương bắt đầu chi viện cán bộ quân sự và chính trị cho các tỉnh. Tháng 9 năm 1959 đoàn cán bộ đầu tiên từ miền Bắc vào đã đến Đắc Lắc, đoàn gồm phần lớn cán bộ của Trung đoàn 120 (tập kết ra Bắc) do đồng chí Vũ Dũng phụ trách; tháng 10, đoàn thứ hai gồm 25 cán bộ do đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) chỉ huy cũng đã đến tỉnh an toàn. Cả hai đoàn được trên giao nhiệm vụ cùng tỉnh Đắc Lắc xây dựng đường hành lang chiến lược xuyên vào Nam Bộ. Cùng thời gian này, tỉnh Kon Tum cũng được chi viện một đoàn cán bộ quân sự gồm 24 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Viên làm trưởng đoàn (đến làng Nước Kua, H29 ngày 10.9.1959); tỉnh Gia Lai được chi viện 25 cán bộ. Có đội ngũ cán bộ tại chỗ giàu kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, am hiểu tình hình địa phương, nguồn cán bộ cấp trên chi viện có trình độ quân sự, chính trị, kỹ Thuật vững vàng cơ bản và các chiến sĩ được chọn lọc từ các đội tự vệ mật, đội công tác, du kích tập trung... nên cán đơn vị vũ trang tập trung thuộc các tỉnh đội lần lượt ra đời. Ngày 1 tháng 10 năm 1959 tại làng Nước Chè đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Kon Tum gồm 64 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Huỳnh Văn Mẫn chỉ huy chính thức ra đời; đầu năm 1960 tỉnh xây dựng được đại đội 130, một trung đội đặc công, một trung đội trinh sát. Tại Gia Lai, tháng, 10 năm 1959 lập được 3 trung đội (10, 20, 30), đến đầu năm 1960 phát triển thêm 3 trung đội khác (40, 50, 60). Ở Đắc Lắc trung đội vũ trang đầu tiên gồm 30 cán bộ, chiến sĩ làm lễ ra mắt tháng 2 năm 1960 tại khu rừng Chư DJú (Dliê Ya) do đồng chí Cao Văn Khá chuyện) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Vũ Hùng - chỉ huy phó và đồng chí Phan Đình Lương (Vân) - chính trị viên, đồng chí Mlô Nguynh là chính trị viên phó. Các huyện M'Đrak, Cheo Reo, Buôn Hồ cũng lập được từ 1 đến 2 tiểu đội vũ trang. Có Nghị quyết 15 soi đường, lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuẩn bị chu đáo, lại được khởi nghĩa Trà Bồng (8.1959 ở Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Phước Sơn (Quảng Nam) và đặc biệt là phong trào Đồng khởi của nhân dân Nam Bộ thôi thúc cổ vũ; năm 1960 quân và dân Tây Nguyên đồng loạt nổi dậy tiến công địch, giành quyền làm chủ, mở đầu một cao trào cách mạng mới. Đầu tiên là cuộc nổi dậy của nhân dân làng Tà Bok huyện Đắc Glei tỉnh Kon Tum. Bức xúc trước sự o ép kìm kẹp của địch và đã chuẩn bị sẵn, trưa ngày 7 tháng 9 năm 1960 nhân dân mưu trí lừa địch vào nhà uống rượu, rồi bất ngờ trước vũ khí diệt 3 tên, phóng thích một tên. Khi tên Tụi rút lựu đạn thả ra hòng tẩu thóat đã bị chị Y Ngã lao vào ôm chặt để cho chồng diệt tên này. Sau khi diệt xong tốp địch, cả làng nhanh chóng rút vào rừng chuyển lên thế bất hợp pháp đánh địch. Tháng 10 năm 1960, thực hiện chủ trương của Liên khu ủy 5, được một lực lượng vũ trang của trên phối hợp, quân và dân Tây Nguyên đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, giáng một đòn thôi động vào hệ thống ngụy quân, ngụy quyền ở cao nguyên. Tại Kon Tum, trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 10, ta hạ liền 6 đồn: Đắc Tả, Đắc Rú, Đắc Glei, Đắc Beng, Măng Đen, Măng Bút.; diệt và bắt 300 tên địch thu 50 súng. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bộ đội chủ lực Quân khu 5 tác chiến ở Tây Nguyên. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của bộ đội, các đội công tác hỗ trợ nhân dân phá banh các khu đồn dọc đường 14, đường 24, xung quanh Đắc Pét, Đắc Sút, quận lỵ Đắc Tô và Tu Mơ Rông, đưa 250 làng với 40.000 dân chuyển lên vũ trang bố phòng đánh địch, lập ra ủy ban tự quản. Một vùng rộng lớn ở bắc Tây Nguyên nối liền từ H29, H30, H40; H67, H80 do ta hoàn toàn làm chủ. Đây là nơi sau này phát triển thành căn cứ hậu phương chiến lược trực tiếp của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với Kon Tum, Đồng khởi ở Gia Lai mở đầu bằng trận tiến công tiêu diệt đồn Kanát (huyện 2) đêm 23 tháng 10, loại khỏi vùng chiến đấu 100 tên địch, thu 80 súng và nhiều đạn dược. Hỏang sợ, địch bỏ đồn Ktoh và Đắc Bớt. Tiếp đó ta tiêu diệt đồn Plei Bông. Những đòn tiến công quân sự đã hỗ trợ nhân dân các huyện 1, 2, 6, 7 vùng lên gianh quyền làm chủ rộng khắp; đồng bào Kinh, Thượng nô nức tham gia, nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt sáng tạo xuất hiện. Ngày 25 tháng 10 năm 1960, phụ nữ làng Sung Iao (huyện 45) do chị Rơ Chom Ban chỉ huy đã dũng cảm dùng thanh củi đánh một toán lính bảo an vào làng, diệt 6 tên, bắt 1 tên, thu 8 súng. Sau đó làng Sung Iao và các làng xung quanh chuyển sang bố phòng vừa đấu tranh vũ trang, vừa tạo thế hợp pháp. Cùng thời gian này, 3.000 dân ở đông Cheo Reo tổ chức biểu tình tuần hành 2 ngày liền, bao vây đồn Ơi Nu làm quân địch hỏang sợ, phải dùng súng cối bắn chặn quanh đồn, ngăn quần chúng tràn vào. Ở Đắc Lắc, sau khi trừng trị những tên ác ôn, hỗ trợ nhân dân đấu tranh, ngày 26 tháng 10, trung đội vũ trang tỉnh và đội công tác phục kích ở quả đồi buôn Hoang diệt một trung đội bảo an thu nhiều vũ khí, sau đó bức rút đồn Phú Đức, tập kích hỏa lực vào quận lỵ Buôn Hồ. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân Đắc Lắc nổi dậy mạnh mẽ, làm chủ một vùng nông thôn rộng lớn từ giáp Gia Lai đến bắc đường 21 và từ đông đường 14 đến giáp vùng giải phóng tỉnh Phú Yên, với trên 30 xã hơn 300 buôn và 30.000 dân. Địch chỉ còn chiếm đóng quận M'Đrắk, Buôn Hồ... Sau gần bảy năm sống trong cảnh cá chậu chim lồng, với bao tủi nhục đắng cay mất mát đau thương, hờn căm dồn nén, nay nhân dân Tây Nguyên vùng lên với một sức mạnh quật khởi, ào ạt như dòng thác lũ cuốn phăng một mảng lớn hệ thống tổ chức ngụy quân, ngụy quyền ở vùng nông thôn mà địch đã dày công xây dựng trong nhiều năm trời, cùng nhân dân miền Nam đánh bại cuộc chiến tranh đơn phương của Mỹ, Diệm. Trong không khí tiến công và nổi dậy sôi động của quân và dân Tây Nguyên, tháng 11 năm 1960 tại xã Đắc Leh huyện 1 tỉnh Gia Lai, đông đủ đại biểu các dân tộc ít người Tây Nguyên tiến hành Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc tự trị Tây Nguyên, bầu cụ Ybih Aléo làm chủ tịch, thông qua chương trình hành động, ra lời kêu gọi các dân tộc đoàn kết chống Mỹ, Diệm, giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc; đồng thời cử một đoàn đại biểu đi dự Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20.12.1960). ----------------------------------------------------------------- 1. Theo sách "Kon Tum 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất (1945-1975)" do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum xuất bản năm 1993,ở trang 99 có viết: đồng chí Nguyễn Trọng Đàm (Lý) là tỉnh đội trưởng, đồng chí Nguyễn Bá Trình là chính trị viên đầu tiên của Ban quân sự tỉnh Kon Tum. 2. Giữa năm 1960, khi tách tỉnh Quảng Đức (mật danh B4), tỉnh Đắc Lắc chia làm 3 vùng: vùng bắc đường 2l (B3), vùng nam đường 21 (B5) và vùng thị xã Buôn Ma Thuột (B6). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:55:25 pm * Sau Đồng khởi, lực lương vũ trang cách mạng Tây Nguyên phát triển mạnh cả về quy mô, số lượng, chất lượng. Các tỉnh đội (Ban quân sự tỉnh) được củng cố kiện toàn; mỗi tỉnh đội xây dựng được từ 2 đến 3 đại đội bộ binh, trong đó có 1 đại đội đặc công, 1 đại đội người dân tộc thiểu số tây Nguyên và các trung đội trinh sát, công binh, thông tin, một số phân đội vận tải, hậu cần. Hầu hết các huyện đều xây dựng trung đội tập trung và một số đội vũ trang công tác. Do đường hành lang chiến lược phía tây từng bước được khai thông về Nam Bộ, nên Tây Nguyên được chi viện một số khung đại đội bộ binh hoàn chỉnh. Các tuyến vận chuyển từ tây sang đông được mở nối các căn cứ, để cơ động lực lương và chuyển vũ khí vật chất... do Ban giao bưu phụ trách. Tháng 5 năm 1961, Trung ương Đảng quyết định tổ chức lại chiến trường miền Trung thành Khu 5 và Khu 6, thành lập các quân khu tương ứng. Khu 5 bao gồm 9 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Binh Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai; đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư Khu ủy. Tiếp đó ngày 27 tháng 7 măm 1961, Bộ tư lệnh Quân khu 5 được thành lập do đồng chí Nguyễn Đôn - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng làm tư lệnh kiêm chinh ủy. Về Đảng, Khu ủy 5 do Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo; về quân sự, Quân khu 5 do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Khu 6 bao gồm 7 tỉnh: Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng, đồng chí Trần Lê - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng làm Bí thư Khu ủy. Bộ tư lệnh Quân khu 6 do đồng chí Y Blốc làm quyền Tư lệnh, sau đó là đồng chí Nguyễn Minh Châu, đồng chí Nguyễn Mô (Tư Khiêm) làm chính ủy. Về Đảng, Khu ủy 6 chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam; về quân sự, Quân khu 6 do Bộ tư lệnh Miền trực tiếp chỉ đạo. Đến tháng 3 năm 1963, Đắc Lắc, Khánh Hòa được tách ra, sáp nhập vào Quân khu 5. Để xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ lâu dài và cho toàn miền. Nam, đáp ứng yêu cầu mắt địa bàn ''trung tâm cơ động trên toàn chiến trường'' Khu 5, cả miền Nam và nam Đông Dương; nhằm tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh cách mạng đánh thắng ''chiến tranh đặc biệt'' của đế quốc Mỹ trên địa bàn, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 từng bước đưa các đơn vị bộ đội chủ lực đến chiến trường Tây Nguyên. Tháng 5 năm 1961, Tiểu đoàn 200 pháo binh - đơn vị chủ lực đầu tiên của miền Bắc chi viện cho Tây Nguyên đã đến Kon Tum. Tiểu đoàn có 3 đại đội1 với 148 cán bộ, chiến sĩ hầu hết quê ở miền Nam tập kết ra Bắc, trong đó có 4 chiến sĩ gái người Ê Đê2, được chọn từ hai tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 305 và Sư đoàn 324, trang bị 2 sơn pháo 75mm (có 208 quả đạn), cối 81mm và 60mm cùng một số tiểu liên. Đại úy Trần Trọng Sơn làm tiểu đoàn trưởng, đại úy Hồ Thắc làm chính trị viên. Khi vào đến Tây Nguyên, tiểu đoàn được Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ: phân tán xuống các địa phương thuộc huyện 40 (Kon Tum), vừa đánh địch, bảo vệ vùng giải phóng, vừa xây dựng cơ sở, củng cố địa bàn, làm chỗ đứng chân cho lực lượng lớn của ta sau này; đồng thời tổ chức một bộ phận xoi đường trục bắc - nam dọc biên giới phía Tây và tìm tuyến đường từ Kon Tum xuống Khu 5. Giữa năm 1961, Tây Nguyên được chi viện Tiểu đoàn 407 đặc công và tăng cường Tiểu đoàn 90 (thiếu một đại đội Tiểu đoàn 30, Tiểu đoàn 50 của Quân khu 5... khẩn trương bước vào đợt hoạt động vũ trang mạnh trên phạm vi toàn khu, nhằm củng cố mở rộng căn cứ rừng núi, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ''ấp chiến lược'' - cái xương sống của chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'', giành quyền làm chủ. Mở đầu đợt hoạt động, đêm 30 rạng sáng 31 tháng 8 năm 1961, Tiểu đoàn 90, Tiểu đoàn 407 đặc công, một phân đội học viên Trường Quân chính Quân khu 5 và Đại đội 207 Tỉnh đội Kon Tum bất ngờ nổ súng tiến công tiêu diệt quận lỵ Đắc Hà (địch mới lập gọi là Tu Mơ Rông), xóa sổ một đại đội bảo an, một trung đội biệt kích cùng bọn dân vệ, cảnh sát, chọc thủng một mắt xích quan trọng trên phòng tuyến cứ điểm bắc Tây Nguyên3 của địch. Bị đòn bất ngờ, ngày 2 tháng 9 hai tiểu đoàn của sư đoàn 22 ngụy từ Đắc Tô hùng hổ tiến về phía Đắc Hà định chiếm lại quận lỵ và tiêu diệt đối phương. Nhưng chưa kịp tới Đắc Hà quân cứu viện địch đã bị lọt vào trận địa phục kích bày sẵn của ta. Tuy lực lượng ta chỉ có hơn ba đại đội, nhưng khéo tận dụng lợi thế địa hình, tạo thế trận chia cắt và đánh từ nhiều hướng; bộ đội dũng cảm, liên tục tiến công trong suốt một ngày, diệt gần hết tiểu đoàn địch đi đầu và đánh tan tiểu đoàn đi sau, bắt hơn 100 tù binh, thu hàng trăm súng các loại. Phát huy thắng lợi, quân ta tiến công tiêu diệt đồn Kho Knar (huyện 67), cứ điểm Măng Đen, bao vây Măng Búk buộc địch phải dùng máy bay thả dù tiếp tế cho đồng bọn ở đây. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, nhân dân 28 làng ở bắc Kon Tum đồng loạt nổi dậy phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Chỉ trong hơn mười ngày tiến công và nổi dậy, quân và dân bắc Tây Nguyên đã loại khỏi vùng chiến đấu 640 tên địch; trong đó có tên quận trưởng Đắc Hà Nguyễn Hồng Ánh và các tên ác ôn phản động Prô, Plang, Niết, Kem phải đền tội. Hoang mang lo sợ, nhiều lính ngụy ở Kon Bi, Kon Kênh, bọn dân vệ mới được đôn lên bảo an ở Kon Tum bỏ ngũ. Các hoạt động vũ trang, chính trị, binh vận của ta ở bắc Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Quản Nam, Quảng Ngãi, Bình Định không chỉ làm bọn ngụy quân ngụy quyền ở địa phương khiếp sợ, mà còn làm chấn động đến bọn chóp bu địch ở Sài Gòn. Cuối tháng 9 năm 1961, Bộ tổng tham mưu ngụy vội vã đưa một lực lượng lính dù và lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng dự bị chiến lược lên Tây Nguyên cứu nguy cho đồng bọn nhưng không mấy hiệu quả. Địch lại phải rút bỏ thêm một số cứ điểm dọc trục đường số 5 từ Măng Đen đến Giá Vụt. Phối hợp chặt chẽ với đón tiến công chính ở bắc Tây Nguyên, Tiểu đoàn 30 và Tiểu đoàn 50 của Quân khu 5 cùng quân dân Gia Lai tập kích buộc địch phải rút bỏ cứ điểm Kanát, tập kích quân địch ở dinh điền Chầu Bầu, tiểu khu hành chính Chợ Đồn, đánh giao thông, chống càn quét, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Cùng thời gian này, một lực lượng của ta đột nhập thị trấn Củng Sơn giải thóat các nhân sĩ của phong trào đấu tranh cho hòa bình bị địch đưa đi an trí và giải thóat luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị địch quản chế ở Tuy Hòa. Trên hướng nam Tây Nguyên, dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu 6, lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc4 cũng tiến công rộng khắp: tập kích hỏa lực rồi tiến công đồn buôn Mghăn (19.9), Ea Rớt; huy động cả voi đánh địch ở danh điền Quảng Cơ, Khuê Ngọc Điền, buôn Yang Bông; diệt các chốt ở Chư M'gar, Quảng Nhiêu, Phú Học... hỗ trợ quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ một vùng lớn ở phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Đòn tiến công mạnh mẽ, rộng khắp trong tháng 9 năm 1961 đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân và dân Tây Nguyên. Lực lượng vũ trang cách mạng trưởng thành lớn mạnh thêm một bước mới và ba thứ quân hoàn chỉnh: bộ đội chủ lực, độ đội địa phương tỉnh huyện và du kích tự vệ làng xã. Đặc biệt thời điểm này đánh dấu sự xuất hiện và các hoạt động tác chiến đầu tiên của những đơn vị bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên. Tuy số lượng ban đầu chỉ có mấy tiểu đoàn, trong đó một phần ba là lực lượng tăng cường cơ động, lại do hai quân khu (5 và 6) chỉ đạo, chỉ huy...nhưng đã thể hiện vai trò của đội quân ''đàn anh''. Ngay từ trận đầu ra quân đã đánh những đòn tập trung tiêu diệt, làm thôi động chiến trường, từng bước giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quân sự ở địa bàn. ----------------------------------------------------------------- 1. Khi thành lập (22.12.1960) Tiểu đoàn 200 pháo binh có 4 đại đội. Hành quân đến tây Thừa Thiên để lại một đại đội cho địa phương. 2. Bốn chiến sĩ gái: Y Nay, Y Hồng, Y Ngoan, Y Na sau này hy sinh trong chiến đấu. 3. Phòng tuyến gồm các cứ điểm: Đắc Hà, Măng Đen, Măng Buk(Kon Tum) và Giá Vụt (Quảng Ngãi). 4. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc lục này có 6 đại đội và một số trung đội, các huyện có trung đội. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 05:00:45 pm * Năm 1962 Mỹ, Diệm đẩy mạnh chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam Việt Nam. Tại Tây Nguyên, địch tập trung các sư đoàn 22, 23, lực lượng bảo an, dân vệ mở hàng trăm cuộc càn quét, có cuộc càn quy mô sư đoàn kéo dài nhiều tháng vào các khu căn cứ của ta; tập trung chủ yếu ở hướng bắc Kon Tum, Kon Hà Nừng, Đắc Bớt (Gia Lai) và nam vùng Lắc (Đắc Lắc). Địch không từ một thủ đoạn tàn bạo nào: ném bom, bắn pháo bừa bãi, rải chất độc hóa học, triệt hạ nhà cửa, hoa màu, cướp phá tài sản, tàn sát dã man hàng nghìn thường dân. Tại khu dồn Plei Krông - Rơ Lung (H67, Kon Tum), chúng trộn thuốc độc vào gạo phát cho dân ăn, gây nên cái chết thảm thương cho 80 đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 1962 địch đã dồn được 414 làng với 64.350 người ở hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai vào các ấp chiến lược. Ở Đắc Lắc, sau các cuộc càn quét khốc liệt ''An Lạc'', ''Dân Thắng'', ''An Dân'' của địch, đến đầu năm 1963 vùng căn cứ của ta chỉ còn 12 xã với hơn 3.000 dân. Trước cuộc tiến công điên cuồng của Mỹ, Diệm, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng quân và dân Tây Nguyên nêu cao truyền thống bất khuất, kiên cường, mưu trí sáng tạo, liên tục tiến công địch trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và binh vận. Trong năm 1962 có trên 3.000 cuộc đấu tranh chính trị với hàng chục vạn lượt quần chúng Kinh - Thượng xuống đường. Lực lượng vũ trang ba thứ quân vẫn giữ vững và ngày càng phát triển, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ, mở rộng vùng giải phóng và hỗ trợ đấu tranh chính trị, binh vận. Mặc dù lực lượng còn chênh lệch lớn so với địch, nhưng các đơn vị bộ đội chủ lực được quân dân địa phương phối hợp, tích cực đánh địch càn quét, đánh giao thông, tiến công đồn bốt cứ điểm gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đặc biệt, bộ đội địa phương Kon Tum đã bắn rơi chiếc trực thăng đầu tiên, diệt 4 tên Mỹ bằng súng trung liên, mở ra cách đánh máy bay địch bằng súng bộ binh. Hưởng ứng phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công'' do Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát động, thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Quân khu 5, các đơn vị bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên sát cánh cùng quân dân địa phương tiến công địch rộng khắp. Mở đầu đợt hoạt động ''diệt giặc, giành dân'', ngày 2 tháng 1 năm 1963,. Tiểu đoàn 407 đặc công được đại đội đặc công tỉnh Gia Lai phối hợp, bất ngờ tiến công trung tâm huấn luyện biệt kích Plei Mơ Rông. Sau ba giờ chiến đấu, ta xóa sổ hoàn toàn cứ điểm này, 250 tên địch bị chết và bị thương (có 12 cố vấn Mỹ), 140 tên bị bắt lám tù binh, gây chấn động mạnh cả vùng Tây bắc thị xã Pleiku, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân huyện 4 nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Trên hướng bắc, Tiểu đoàn 200 pháo binh được củng cố đã bước vào chiến đấu tập trung, dùng cối 81mm bắn phá cứ điểm Đắc Pét, chi viện cho lực lượng vũ trang địa phương đánh địch ở Đắc Tang, Đắc Rú, phục kích trên đường 14, phá vỡ hệ thống ấp chiến lược vòng ngoài của cứ điểm Đắc Pét. Tiếp đó, tháng 5 năm 1963, Tiểu đoàn 407 đặc công, một bộ phận của Tiểu đoàn 200 pháo binh cùng lực lương vũ trang Kon Tum đánh bại 57 cuộc càn lớn của trung đoàn 42 ngụy vào H40, tập kích sở chỉ huy trung Đoàn 41 ngụy ở bắc Kon Plong, phục kích giao thông trên đường số 5 đoạn Măng Đen - Cam Rẫy diệt hàng trăm tên địch, bắn rơi nhiều máy bay phá hủy nhiều xe quân sự. Hoạt động của ta ở Kon Tum đã góp phần phá vỡ kế hoạch mở đường cho cuộc hành quân lớn của ba sư đoàn ngụy, do Nguyễn Khánh - tư lệnh vùng 2 chiến Thuật chỉ huy, đánh vào khu căn cứ Măng Xin (vùng tiếp giáp ba tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Từ tháng 11 năm 1963, tranh thủ thời cơ thuận lợi khi Mỹ thay ngựa giữa dòng (Diệm, Nhu bị giết, Dương Văn Minh lên) nội bộ địch cắn xé lẫn nhau, tình hình chính trị rối ren, binh lính tề ngụy hoang mang dao động; quân và dân Tây Nguyên nổi dậy mạnh mẽ, phá vỡ từng mảng ''ấp chiến lược'' ở Đắc Tô, Đắc Glei (Kon Tum), các huyện 3, 6 và Khu 8 (Gia Lai), vùng B5, B3 (Đắc Lắc)1. Trong phong trào tiến công và nổi dậy cuối năm 1963, lực lượng chủ lực của Quân khu 5 hoạt động ở Tây Nguyên có 3 tiểu đoàn: 407 đặc công, 200 pháo binh, 303 súng máy, phối hợp chặt chẽ với quân dân địa phương, tích cực đánh địch. Nổi bật là trận tập kích hỏa lực rồi bao vây cứ điểm Đắc Pét diệt 96 tên địch, giải phóng hai ấp chiến lược với gần 1.000 dân, sau đó bức hàng một số đồn bốt khác. Tiếp đó cuối tháng 1 năm 1964, các đơn vị chủ lực và địa phương đồng loạt tiến công tiêu diệt vị trí Kon Bành. làm chủ Trí Đạo - Võ Định. Đặc biệt, ngày 1 tháng 2 năm 1964, một trung đội đặc công của Tiểu đoàn 407 cùng cơ sở nội thị tiến công khu cố vấn Mỹ trong thị xã Kon Tum (địch gọi là phái bộ MAAG) loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch (chủ yếu là Mỹ). Đây là trận tiến công quân Mỹ đầu tiên của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương ở Tây Nguyên. Trận đánh đã làm cho địch hỏang sợ, phải ra Kon Tum và vùng phụ cận. Chính hãng AP (Mỹ) đã thú nhận: ''Đây là một thất bại chưa từng có của Mỹ ở cao Nguyên Trung Bộ''. ------------------------------------------------------------------ 1. Từ tháng 10 năm 1963, hai tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa được chuyển về Khu 5. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:32:05 pm 3. Mặt trận Tây Nguyên ra đời.
Sau ba năm thực thi kế hoạch Stalây - Taylo không mấy kết quả, năm 1964 đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy ''chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam Việt Nam đến mức cao, mở đầu thời kỳ quá độ từ chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ''. Thực hiện tham vọng ''bình định'' miền Nam trong vòng 2 năm (1964-1965) và chống phá phong trào cách mạng, Mỹ thành lập ban chỉ huy liên quân Việt - Mỹ để nắm trọn quyền chỉ huy quân ngụy Sài Gòn; đồng thời ra sức tăng quân và vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại, đưa lực lượng cố vấn, yểm trợ Mỹ lên 26.200 tên, lực lượng ngụy quân lên 561.600 tên với 989 máy bay các loại và 732 xe cơ giới. Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự ''bình định'' ở miền Nam, Mỹ tiếp tục phá hoại miền Bắc, từng bước thực hiện ''chiến tranh đặc biệt'' ở Lào và can thiệp vào Cam-pu-chia. Tại Tây Nguyên, địch có 25.100 tên gồm 1.600 cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ, 10.500 quân chủ lực ngụy và 13.000 quân địa phương; vũ khí trang bị lớn có 20 khẩu đại bác 155mm, 62 khẩu đại bác 105mm, 65 súng cối l06,7mm, 54 xe thiết giáp và 16 máy bay các loại. Bộ tư lệnh quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy và một số đơn vị pháo binh, thiết giáp... Ở khu vực thị xã PleiKu, sư đoàn 22 ở tỉnh Kon Tum, sư đoàn 23 ở tỉnh Đắc Lắc. Ngoài ra, chúng còn bố trí các trại lính đặc biệt ở dọc biên giới phía tây, mỗi trại có từ 2 đến 3 đại đội dân vệ và một toán lính biệt kích. Trước tình hình Mỹ tiếp tục leo thang và mở rộng chiến tranh với quy mô ngày càng lớn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 9, chỉ rõ: ''Chúng ta cần phải và có khả năng kiềm chế và thắng địch trong loại ''chiến tranh đặc biệt''... tích cực chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó nếu đế quốc Mỹ mạo hiểm mở rộng cuộc chiến tranh ở miền Nam thành ''chiến tranh cục bộ''. Để thực hiện yêu cầu đó ''điều quan trọng nhất, quyết định nhất trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự''. Vì đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp ''trong việc đánh tan lực lượng quân sự của địch, chỗ dựa của nền thống trị của chúng, làm cho cách mạng thắng lợi''1. Thực hiện Nghị quyết 9 (khóa III) của Trung ương Đảng hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt (27.3.1964): ''Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt'', quân và dân cả nước hăng hái thi đua trên các mặt trận sản xuất' công tác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sau 3 năm (1961-1963) thực hiện kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất, đã có những biến đổi căn bản: thiết lập và củng cố quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế phát triển mạnh và đạt những thành tựu to lớn, ''đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và còn người đều đổi mới''2. Đây là cơ sở vững chắc, là nền tảng để nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đặc biệt, việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, có đầy đủ các quân binh chủng, chính quy hóa và tương đối hiện đại, vững vàng về chính trị, có sức chiến đấu cao không những đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ miền Bắc mà còn kịp thời chi viện ngày càng lớn, đáp ứng yêu cầu của các chiến trường. Thi đua với hậu phương lớn miền Bắc, quân và dân ta trên tiền tuyến lớn miền Nam đẩy mạnh tiến công địch trên các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận ở cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị, giành những thắng lợi quan trọng2. Ta đang ở thế thắng, thế chủ động; địch đang lâm vào thế thua, thế bị động, chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' đang bị phá sản, chính quyền ngụy Sài Gòn đang làm vào cuộc khủng hỏang trầm trọng, toàn diện. Từ thực tiễn chiến đấu và xây dựng, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam phát triển vượt bậc cả về số lượng, chất lượng, trang bị và tác chiến hiệp đồng giữa ba thứ quân (chủ lực, địa phương, du kích), hai lực lượng (chính trị, quân sự). Bộ tư lệnh Miền được thành lập (10.1963); nhiều căn cứ địa được xây dựng và được xây dựng, củng cố và từng bước hoàn chỉnh; các qân khu có bước phát triển mới cả về lực lượng, tổ chức, trang bị, cách đánh. Để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh cách mạng, chuyển mạnh từ chiến tranh du kích sang tác chiến chính quy tập trung cơ động, nhiều đơn vị chủ lực được gấp rút xây dựng trên cơ sở lực lượng vũ trang địa phương phát triển lên và những đơn vị chính quy được xây dựng huấn luyện ở miền Bắc lần lượt vượt Trường Sơn chi viện cho các chiến trường. --------------------------------------------------------------------- 1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H. 1988, tr.99. 2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 11. Nxb ST, H.19..., tr. 224.2. Chỉ tính riêng năm 1963, ta loại khỏi vùng chiến đấu 7,8 vạn tên địch, bắn rơi và phá hủy 160 máy bay, hàng trăm xe quân sự, 34 đoàn tàu, bắn chìm bắn cháy 236 tàu thuyền chiến đấu; thu 1,1 vạn vũ khí; phá 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược, giải phóng gần 9 triệu dân. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:35:34 pm * Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, hiểu rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; đầu năm 1964 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 tổ chức bộ phận tiền phương của Quân khu tại Tây Nguyên, do đồng chí Hà Vi Tùng làm Tư lệnh và đồng chí Dương Liên làm Chính ủy. Tháng năm 1964, bộ phận tiền phương vừa đến Tây Nguyên đã khẩn trương bắt tay vào tổ chức đợt hoạt động hè, nhằm giam chân một lực lượng cơ động của quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy, phối hợp chặt chẽ với hướng hoạt động chủ yếu của Quân khu ở đồng bằng Khu 5. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiền phương Quân khu 5, lực lượng vũ trang Tây Nguyên vừa tích cực đánh địch vừa xây dựng củng cố mọi mặt. Đến giữa năm 1964, lực lượng chủ lực ở Tây Nguyên có 3 tiểu đoàn: 407 đặc công, 200 pháo binh, 303 súng máy; lực lượng địa phương được xây dựng ở các cấp và có bước trưởng thành. Các tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đều có chỉ huy - cơ quan, các tiểu đoàn, đại đội, trung đội trực thuộc, phân đội bảo đảm phục vụ. Các đại đội cũng có chỉ huy và đại đội, trung đội thuộc. Ở làng xã có du kích, tự vệ. Bên cạnh xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, các căn cứ chiến đấu và cơ sở hậu cần được tổ chức rộng khắp. Nhiều căn cứ có dung lượng lớn, có đủ điều kiện cho các đơn vị chủ lực đến đứng chân và cơ động tác chiến. Cùng thời gian này, tuyến đường hành lang chiến lược phía tây (Tuyến 559 - Đường Hồ Chí Minh) đã mở qua Bạc, Chà Vằn (Hạ Lào) và đang từng bước khai thông qua Tây Nguyên trở thành tuyến cơ động vận chuyển chủ yếu của ta, chi viện sức người, sức của từ miền Bắc cho các chiến trường phía Nam. Những yếu tố khách quan về tự nhiên, xã hội, tình hình địch - ta cùng sự nỗ lực của Khu ủy, Quân khu 5 và cấp ủy Đảng, quân dân địa phương đã làm cho Tây Nguyên hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết để phát triển chiến tranh chính quy, xây dựng thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực, thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Trước yêu cầu cấp thiết, ngày 1 tháng 5 năm 1964 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là Chiến trường B31. Mặt trận Tây Nguyên đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Khu ủy 5 và quan hệ mật thiết, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 . Nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh xác định là: ''Xây dựa Tây Nguyên thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân phát triển; tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, thu hút và giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ, ngụy, tạo điều kiện cho đồng bằng và thành phố nổi dậy; phối hợp chặt chẽ với Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược. Đồng thời xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và Đông Dương; xây dựng, bảo vệ hành lang chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến lớn, phá thế chia cắt của địch, tiến lên chia cắt địch''. Phạm vi chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Bộ tư lệnh gồm: đại tá Nguyễn Chánh (nguyên Tư lệnh phó Quân khu 5) làm Tư lệnh và đại tá Đoàn Khuê (nguyên Phó chính ủy Quân khu 5) làm Chính ủy. Ba cơ quan của Mặt trận là Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần hình thành và từng bước được kiện toàn trên cơ sở cơ quan của bộ phận tiền phương Quân khu 5 và Bộ Quốc phòng chi viện. Các đơn vị trực thuộc Mặt trận gồm có: Tiểu đoàn 407 đặc công, "Tiểu đoàn 200 pháo binh, Tiểu đoàn 303 súng máy và một số phân đội bảo đảm, phục vụ. Mặt trận Tây Nguyên ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, phù hợp với những điều kiện địa lý, nhân văn, kinh tế của Tây Nguyên và đặc biệt do vị trí chiến lược của nó trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở miền Nam và khu vực nam Đông Dương trong cuộc kháng chiến thống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng thời, đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của chiến tranh mạng: từ chiến tranh du kích tiến tiến lên chiến tranh chính quy, nhằm đánh những đòn tiêu diệt lớn, đánh bại lực lượng quân sự chỗ dựa chủ yếu của địch, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Đối với Tây Nguyên, Mặt trận được thành lập không những đánh dấu bước phát triến nhảy vọt của phong trào cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn, mà còn là sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời và mở đầu chặng đường lịch sử vẻ vang của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - tiền thân của Quân đoàn 3 ngày nay. ----------------------------------------------------------------- 1. Ngày 1.5.1964, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ trực tiếp cho đồng chí Nguyễn Chánh, đặt tên mật danh cho Chiến trường Tây Nguyên là B3. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:37:59 pm * Tháng 5 năm 1964, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu 5 chủ trương mở đợt hoạt động thu đông trên toàn địa bàn nhằm tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, phá ấp giành dân, rèn luyện lực lượng vũ trang và phối hợp với các chiến trường khác trong toàn miền Nam. Chỉ huy các đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên trong đợt hoạt động này vẫn do tiền phương Quân khu 5 tạm thời đảm nhiệm. Ba tiểu đoàn: 407, 200, 303 được lực lượng vũ trang địa phương và dân công hai huyện 40, 67 tỉnh Kon Tum hỗ trợ, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt căn cứ Plei Krông (bắc Kon Tum). Đây là một trung tâm huấn luyện biệt kích lớn của địch, có hệ thống công sự khá vững chắc, vật cản nhiều tầng, hỏa lực mạnh do tiểu đoàn bảo an 104 đóng giữ, được tăng cường một trung đội huấn luyện của chư hầu (Đài Loan), có 12 cố vấn Mỹ chỉ huy. Quá trình chuẩn bị chiến đấu gặp trời mưa tầm tã, đất rừng ướt sũng, đường trơn, núi cao vực sâu.... nhưng những bước chân của quân và dân Tây Nguyên vẫn kiên trì, bền bỉ tiến vào vị trí triển khai ở các hướng tiến công. Trên đường hành quân, các chiến sĩ vô cùng xúc động khi thấy từng đoàn dân công huyện 40 và 67 tỉnh Kon Tum không có áo che mưa, phải dùng lá chuối rừng che hàng, lặng lẽ tiến ra phía trước, tối đến ngồi dựa lưng vào nhau để ngủ. Có một bà mẹ người dân tộc thiểu số làng Đắc Xây gùi 4 viên đạn cối, tay dắt theo đứa con nhỏ, tay kia bế đứa con trước ngực, luồn rừng lội suối ra trận... Sau những ngày chuẩn bị khẩn trương, đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 7 năm 1964, ba tiểu đoàn 407, 200 và 308 do đồng chí Dương Loan (đại diện Quân khu 5) chỉ huy tiến công trung tâm huấn luyện biệt kích Plel Krông. Được hỏa lực ĐKZ 75, cối 81mm của đại đội 1 tiểu đoàn 200 và súng máy của tiểu đoàn 303 chi viện, các chiến sĩ đặc công liên tục tiến công, đột phá. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài gần 10 giờ đồng hồ. Quân địch dựa vào công sự, lô cốt, hỏa lực nhiều tầng ngoan cố chống cự; nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, cuối cùng cứ điểm đã bị san phẳng. Trận đầu ra quân, Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã lập chiến công xuất sắc: loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch (có 9 cố vấn Mỹ và 1 thiếu tá, 1 đại úy, 1 trung úy ngụy bị diệt, 29 tên bị bắt), tiểu đoàn 104 bảo an và trung đội huấn luyện Đái Loan bị xóa sổ; thu 200 khẩu súng các loại (có 7 đại liên, 10 trung liên, 3 cối 60mm) và gần ba tạ muối; phá hủy 40 nhà lính, 3 kho súng đạn, 8 xe ô tô. Về phía ta có 11 đồng chí hy sinh và 30 đồng chí bị thương. Trận tiến công Plei Krông là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao, có tiếng vang lớn làm quân địch ở bắc Tây Nguyên run sợ và bọn chỉ huy quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy chóang váng. Phát huy thắng lợi, các lực lượng vũ trang ta ở bắc Tây Nguyên đẩy mạnh tiến công địch ở cứ điểm Kleng và một loạt đồn bốt dọc phía đông sông Pô Kô. Với thành tích xuất sắc tiêu diệt cứ điểm Plei Krông, các đơn vị tham gia trận đánh được Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. Đây là tấm huân chương đầu tiên của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong khi bộ đội chủ lực Mặt trận tập trung tiến công địch trên hướng Tây bắc Kon Tum, thì Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5) được Đại đội 2 bộ binh và trung đội công binh (tỉnh đội Gia Lai) phối hợp do đồng chí Giáp Văn Cương (Quân khu 5) và đồng chí Kpã Thìn (tỉnh đội trưởng Gia Lai) chỉ huy đã bí mật triển khai trận địa phục kích giao thông trên đường 19, đoạn suối Đắc Pơ. Ngày 1 tháng 7 năm 1964, ta đánh một trận xuất sắc, diệt gọn một đoàn xe quân sự 41chiếc và đại đội hộ tống; làm sống lại hình ảnh các chiến sĩ Trung đoàn 96 và Tiểu đoàn 109 mười năm về trước chôn vùi binh đoàn cơ động 100 của thực dân Pháp. Trên hướng Đắc Lắc, lực lượng vũ trang tỉnh cũng đẩy mạnh tiến công địch: phục kích tiêu diệt đại đội biệt kích ác ôn ''Cọp đen'' (15.6), tập kích diệt một đại đội dân vệ ở ấp buôn Yun (29.6) và tiến công nhiều vị trí ở đông bắc Buôn Ma Thuột, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào phá ấp chiến lược và đấu tranh chính trị của quần chúng. Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của ''chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam, tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ dựng lên ''sự kiện Vịnh Bắc Bộ'', dùng không quân đánh phá nhiều nơi trên miền Bắc. Hòa chung tiếng súng với quân dân miền Bắc giáng trả kịp thời, trừng trị đích đáng không quân Mỹ, quân dân miền Nam trả lời đanh thép bằng một loạt đòn tiến công vào tận hang ổ quân xâm lược Mỹ: khách sạn Caraven (25.8 ), tàu chở xăng ở Nhà Bè (17.10), sân bay Biên Hòa (111), khách sạn Bơrinh (tháng 12)... Trong không khí sục sôi đánh Mỹ của cả nước, quân và dân Tây Nguyên mở một đợt tiến công mới. Tháng 9 năm 1964, các đơn vị bộ đội chủ lực Mặt trận phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum liên tục tiến công, giải phóng hoàn toàn quận Tu Mơ Rông và phần lớn quận Đắc Tô, Đắc Sút, tiêu diệt và làm tan rã 20 đại đội, 60 trung đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu 8.000 tên (có 50 tên Mỹ và 20 sĩ quan ngụy), thu 1.506 súng các loại, phá hủy phá hỏng 126 xe quân sự, bắn rơi 26 máy bay. Một vùng rừng núi nông thôn rộng lớn ở bắc Tây Nguyên được giải phóng, nhân dân phấn khởi nô nức tham gia xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng. Những chiến thắng giòn giã của bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ đắc lực cho quân và dân địa phương đẩy mạnh tiến công địch, phá ấp giành dân, đấu tranh chính trị và binh địch vận. Trong năm 1964, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã đánh 1399 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 8.450 tên địch (có hơn 130 Mỹ), phá hủy 250 xe quân sự, bắn rơi 15 máy bay. Ở hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum ta đã phá được 197 ấp chiến lược, giải phóng 74.000 dân; tổ chức được 913 cuộc đấu tranh chính trị với 192.000 lượt quần chúng tham gia. Trải qua thực tiễn đấu tranh, xuất hiện nhiều xã chiến đấu điển hình, các căn cứ được mở rộng và củng cố ngày càng vững chắc; lực lượng vũ trang địa phương phát triển cả về số lượng, chất lượng, trưởng thành trong cách đánh... tạo cơ sở địa bàn thuận lợi và phối hợp có hiệu quả với bộ đội chủ lực. Những tháng cuối năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh bổ sung khung cơ quan và một số phân đợt bảo đảm của Sư đoàn bộ binh 325, được Quân khu 5 chi viện cán bộ và một số phân đội phục vụ để xây dựng ngành hậu cần. Với nguồn cán bộ nòng cốt này, ba cơ quan của Mặt trận: Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị và Phòng Hậu cần cơ bản được kiện toàn và củng cố một bước. Phòng Tham mưu có các ban: Tác chiến, Quân huấn, Quân lực, Trinh sát, Pháo binh, Công binh, Thông tin, Cơ yếu. Phòng Chính trị có các ban: Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ. Phòng Hậu cần có các ban: Quân nhu, Quân y, Quân giới, Vận tải, do đồng chí Võ Tác (Võ Thành Vinh) làm trưởng phòng. Nhiều đơn vị bảo đảm cũng lần lượt ra đời: Viện quân y 1 (trên cơ sở khung tiểu đoàn quân y của Sư đoàn 325); Cửa khẩu VQ5 (Tân Lập) do lực lượng vận tải Sư đoàn 325 làm nòng cốt, hoạt động trên đất Cam-pu-chia, vừa tiếp nhận hàng do Trung ương chi viện qua đường Cam-pu-chia, vừa thu mua hàng hóa, vật chất cho Mặt trận. Cũng trong thời gian này, nhiều đơn vị chủ lực được Bộ Tổng tư lệnh và các quân khu ở miền Bắc chi viện cho Mặt trận Tây Nguyên, lần lượt vào chiến trường. Tháng 9, Trung đoàn bộ binh 320 đã vượt Trường Sơn đến Tây Nguyên với đầy đủ quân số, vũ khí trang bị. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị được chọn lọc từ ba sư đoàn: 308, 304 và 350; đồng chí Tô Đình Khản làm trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Dự và sau đó là đồng chí Nguyễn Chức làm chính ủy. Đây là trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cũng trong tháng 9, Quân khu Tây Bắc chi viện cho Tây Nguyên Tiểu đoàn 545 bộ binh. Tiểu đoàn có 500 cán bộ, chiến sĩ, hầu hết là người dân tộc Tày, Nùng quê ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Vào đến chiến trường Tiểu đoàn 545 được sáp nhập với Tiểu đoàn 407 đặc công (có khỏang 100 đồng chí, chủ yếu là cán bộ) thành Tiểu đoàn 952 trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận. Cuối năm 1964 đầu năm 1965, Tây Nguyên tiếp tục được bổ sung Trung đoàn 101 bộ binh (Sư đoàn 325) và Tiểu đoàn 32 pháo binh trang bị súng cối 120mm ( trước đây thuộc Trung đoàn 16 pháo binh). Bên cạnh những đơn vị trên, Bộ tư lệnh Mặt trận thành lập Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7mm. Được sự chi viện của Bộ Tổng tư lệnh và các đơn vị bạn, sự giúp đỡ của địa phương, sau một thời gian kiện toàn, củng cố, cuối năm 1964 đầu năm 1965 Mặt trận Tây Nguyên đã tương đối hoàn chỉnh, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Mặt trận, 2 trung đoàn bộ binh (320, 101), 1 tiểu đoàn đặc công bộ binh hỗn hợp (952), 2 tiểu đoàn pháo binh (200, 32), hai tiểu đoàn súng máy phòng không (303, 30) và một số đơn vị bảo đảm, phục vụ: Viện quân y 1, Cửa khẩu VQ5... Với khối chủ lực cơ động ngày càng lớn mạnh và tinh thần sục sôi đánh Mỹ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên nhanh chóng triển khai trên các hướng, sẵn sàng bước vào cuộc tiến công mùa xuân năm 1965 cùng quân và dân Tây Nguyên lập những chiến công mới. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:39:27 pm * Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, của nhân dân miền Nam, cả nước và ba nước Đông Dương nói chung, của phong trào cách mạng ở Tây Nguyên nói riêng, Mặt trận Tây Nguyên ra đời. Viện thành lập Mặt trận Tây Nguyên đánh đấu sự hình thành của một tổ chức quân sự mới với chức năng, tiềm lực lớn nhằm giải quyết những nhiệm vụ có tính chiến dịch, chiến lược gắn liền với địa bàn và trong mối quan hệ hữu cơ với các chiến trường. Đây là sự phát triển, thay đổi về chất của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quá trình ra đời của Mặt trận gắn liền với đường lối kháng chiến chống Mỹ của Trung ương Đảng, chủ trương biện pháp, lãnh đạo chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh và Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 đối với Tây Nguyên. Phương thức hình thành là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chủ lực tại chỗ của Quân khu 5 với các đơn vị chủ lực chính quy từ miền Bắc chi viện, có sự giúp đỡ chí tình, tạo điều kiện mọi mặt của các cấp ủy, quân và dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Mặt trận Tây Nguyên là hình ảnh vô cùng sinh động về cả nước đoàn kết, hết lòng vì Tây Nguyên và Tây Nguyên vì cả nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của Mặt trận vừa có những nét đặc thù riêng, vừa nằm trong quy luật chung của quá trình hình thành, phát triển của quân giải phóng miền Nam. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh giao, bộ đội chủ lực Mặt trận, Tây Nguyên phát huy truyền thống quân đội, truyền thống bất khuất của Tây Nguyên, Khu 5 đoàn kết chặt chẽ, sát cánh cùng quân và dân các dân tộc trên địa bàn vượt qua mọi khó khăn thử thách, vừa kiên trì xây dựng vừa tích cực chiến đấu, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt", buộc đế quốc Mỹ phải chuyển sang thực hiện chiến lược ''chiến tranh cục bộ". Công cuộc xây dựng và chiến đấu của quân dân Tây Nguyên nói riêng, quân dân cả nước nói chung bước sang một giai đoạn mới. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:48:05 pm Chương hai VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA XÂY DỰNG, CÙNG QUÂN VÀ DÂN TÂY NGUYÊN GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC ''CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965-1968) 1. Khẩn trương xây dựng, đẩy mạnh tiến công, mở chiến dịch Plei Me lịch sử Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta, đến đầu năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục khủng hỏang, các cuộc đảo chính liên tiếp xảy ra1. Để cứu vãn tình thế và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, ngày 20 tháng 1 năm 1965 trong thông điệp nhậm chức, tống thống Mỹ L.Giôn-xơn tuyên bố. Mỹ ''phải có hành động mạnh mẽ hơn để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội Việt Nam cộng hòa và chính quyền miền Nam, giữ vững Nam Việt Nam''. Tiếp đó ngày 1 tháng 4 năm 1965, L.Giôn-xơn quyết định tăng lực lượng yểm trợ Mỹ từ 18.000 quân lên 20.000 quân. Giới quân sự Mỹ coi quyết định này là cột mốc của sự chuyển hướng chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' ở Nam Việt Nam. Thực hiện âm mưu đó, đầu tháng 3 năm 1965 Mỹ từng bước đưa lực lượng chiến đấu và chư hầu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng hoạt động không quân ném bom bắn phá miền Bắc, đẩy cuộc ''chiến tranh đặc biệt'' lên nấc thang mới, bắt đầu có những yếu tố của cuộc ''chiến tranh cục bộ''. Trước những âm mưu và hành động leo thang chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, cuối tháng 3 năm 1965 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III họp Hội nghị lần thứ 11 (đặc biệt) về nhiệm vụ cấp bách trước mắt đã xác định: Nhiệm vụ cơ bản của ta là tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc "chiến tranh đặc biệt'' ở mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc ''chiến tranh cục bộ'' ở miền Nam nếu địch gây ra... kiên quyết bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch''2. Tiếp đó Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam công bố lập trường 4 điểm và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa công bố lập trường 5 điểm, khẳng định ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, không chịu khuất phục trước sức mạnh và chấp nhận một cuộc thương lượng theo điều kiện của quân xâm lược. Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và hưởng ứng mạnh mẽ tuyên bố trên, quân và dân hai miền Nam - Bắc thi đua trên các mặt trận chiến đấu, sản xuất, công tác giành nhiều thắng lợi. Trong khí thế tiến công địch rộng khắp ở miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất hành động với Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở đợt tiến công mùa xuân 1965 trên ba hướng trọng điểm: đông Gia Lai và Bình Định (lực lượng gồm Trung đoàn 2, Trung đoàn 10, Tiểu đoàn đặc công 409 chủ lực Quân khu và địa phương); tây Gia Lai và bắc Kon Tum (Trung đoàn 320, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn đặc công 952 Mặt trận Tây Nguyên và lực lượng địa phương); vùng trung Quảng Nam (Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu và địa phương). Để tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, phá ấp, giành dân, mở rộng vùng giải phóng, tạo bước chuyển biến lớn cho chiến trường... phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực Khu 5 mở chiến dịch Đèo Nhông - Dương Liễu (Bình Định) và tiến công chi khu Việt An (Quảng Nam), Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sử dụng tập trung 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp đánh địch trên hướng tây, tây bắc Plei Ku và tây bắc Kon Tum. Mở đầu đợt hoạt động, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965 Tiểu đoàn 409 đặc công, Đại đội cối 60mm (của Trung đoàn 2 Quân khu 5) và Đại đội 90 đặc công tỉnh Gia Lai bất ngờ tiến công sân bay Cù Hanh và trại lính Mỹ Hơ-lô-uây ở thị xã Pleiku. Theo người phát ngôn quân đội Mỹ tại Sài Gòn thú nhận: ''Việt Cộng đã giết chết và làm bị thương 117 lính Mỹ, phá hủy 21 máy bay và 52 căn trại lính thuộc tiểu đoàn không quân số 52''3. Trận đánh này đã buộc Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn phải triệu tập cuộc họp khẩn cấp Hội đồng An ninh quốc gia vào 7 giờ 45 phút tối 7 tháng 2, quyết định ''di chuyển phụ nữ, trẻ em Mỹ'' khỏi Sài Gòn và ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch ''Mũi lao lửa'' ném bom ''trả đũa'' miền Bắc Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công ở PleiKu, ngày 7 tháng 2 Đại đội 1 Tiểu đoàn 334 Trung đoàn 320 phục kích đoạn Plei Mơ Rông, Ninh Đức diệt và làm bị thương 27 tên, phá hủy 7 xe quân sự; Đại đội 1 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 101 phá ấp Đắc Giao (H67) xóa sổ một trung đội dân vệ mở đầu cho hoạt động của bộ đội chủ lực B3 trên hai hướng. Tiếp đó, từ tháng 2 đến nửa đầu tháng 4, Trung đoàn 320 đánh một loạt trận phục kích giao thông, phá ấp ở Làng Bàng, Plei Te, Plei Grungrút. Nổi bật 1 trận tiến công cứ điểm Kleng và phục kích Krông của Tiểu đoàn 635, diệt 68 tên, bắt 12 tên, thu 11 súng. Cùng thời gian này, Trung đoàn 101 đánh liên tiếp 13 trận tiêu diệt các đồn và ấp chiến lược của địch ở Đắc Giao, Rơ Bông, Đắc La, Đắc Siêng, Đắc Long, Đắc Tang, Đắc Ja, phục kích Mo Lẹt, Đắc La; trong đó nổi bật là các trận đánh của Tiểu đoàn 3 bộ binh trong hai ngày 21 và 22 tháng 2. Sau khi diệt ấp Rơ Bông và Đắc Giao, tiểu đoàn chuyển sang phục kích ở Đắc Long tiêu diệt một đại đội của tiểu đoàn 2 trung Đoàn 42 ngụy đi cứu viện, loại khỏi vùng chiến đấu 116 tên (có tên đại úy tiểu đoàn trưởng và 1 cố vấn Mỹ), bắt 5 tên, thu 25 súng các loại, 4.104 viên đạn, 2 máy thông tin 4. Trên hướng tây Gia Lai, Tiểu đoàn 952 kỳ tập đồn Ia Blan và Ia Châm, dinh điền Lệ Ngọc 1, Blang Dam. Hướng bắc Kon Tum, Tiểu đoàn 200 pháo binh pháo kích cứ điểm Đắc Pét... hỗ trợ cho địa phương phá ấp giành dân. Phối hợp chặt chẽ với chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng Quân khu 5 và địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng. Nổi bật là hoạt động của Trung đoàn 10 và Đại đội 1 địa phương ở phía đông tỉnh Gia Lai, tiến công tiêu diệt cứ điểm Kà Tung, đồn Kan Nát, uy hiếp đường 19 đoạn tây đèo Măng Yang, phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 22 biệt động quân... Những hoạt động của ta ở Gia Lai đã làm cho địch lo sợ, quân Mỹ phải dùng máy bay hạng nặng B57 và F100 từ sân bay Biên Hòa và Đà Nẵng lên ném bom tàn sát nhiều vùng dân cư ở khu vực giữa An Khê và Piei Ku. Trước nguy cơ bị uy hiếp mạnh ở bắc Kon Tum cuối tháng 3 địch điều trung đoàn 42 (2 tiểu đoàn), trung đoàn 40 (1 tiểu đoàn) và tiểu đoàn 21 biệt động quân có chân đoàn 8 thiết giáp, 2 trung đội pháo binh cùng lực lương bảo an dân vệ phối thuộc mở cuộc hành quân phản kích ''Quyết thắng 129'' tại vùng núi Cơn thuộc tiểu khu Đắc Sút, rồi mở lai cuộc càn thứ 2 mang tên ''Quyết thắng 134'' ở vùng núi này vào trung tuần tháng 4: ''nhằm tiêu diệt cho bằng được chừng 3 tiểu Đoàn Việt Cộng đang uy hiếp Đắc Sút''. Quá trình càn quét, địch tăng thêm tiểu đoàn 3 dù thuộc lực lượng tổng dự bị quân ngụy Sài Gòn, sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay (cả B57) đến hỗ trợ. Để kịp thời chỉ huy cuộc hành quân, ban chỉ huy trung đoàn 42 và bộ tư lệnh sư đoàn 22 ngụy chuyển lên Tân Cảnh. Mặc dù lực lượng địch khá đông, có pháo binh, không quân hỗ trợ mạnh nhưng Trung đoàn 101 chủ động kiên quyết triển khai đánh địch. Trong 2 ngày 29 và 30 tháng 3, Trung đoàn (thiếu Tiểu đoàn 1) vận động phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 2 trung đoàn 42 ngụy, trong đó diệt gọn đại đội 4 (tiểu đoàn 21) và đại đội 2 (tiểu đoàn 2), thu hàng chục súng các loại, bắn rơi 3 máy bay trực thăng. Ngày 13 tháng 4, Đại dội 2 Tiểu đoàn 3 phục kích giao thông đánh đoàn xe của trung đoàn 42 ngụy đi thu quân, phá hủy 14 chiếc, diệt nhiều tên, thu một số súng. Khi lực lượng cứu viện của địch rút lui bọn bảo an dân vệ ở các đồn Đắc Tả, Đắc Vên, Mo Lẹt, Măng Bút... hoang mang bỏ chạy. Trận chống càn thành công của Trung đoàn 101 có ý nghĩa cả về chính trị và quân sự. Lần đầu tiên, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên có sự hỗ trợ của địa phương đã đánh trận quy mô cấp trung đoàn trong nhiều ngày, đánh bại kẻ địch có quân đông, vũ khí nhiều, không quân, pháo binh chi viện mạnh. Trận đánh cũng đánh dấu sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Trung tuần tháng 4 năm 1965, đợt tiến công mùa xuân của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Trong gần 70 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực đã sát cánh cùng các lực lượng địa phương đánh 28 trận với những quy mô, hình thức chiến Thuật khác nhau: 2 trận tiến công cứ điểm, 2 trận đặc công, 12 trận phục kích, 9 trận phá ấp, 3 trận pháo kích; diệt 490 tên địch (có 2 sĩ quan Mỹ), làm bị thương 166 tên (có 3 Mỹ), bắt 144 tên, phá hủy 23 xe quân sự và 3 máy bay, thu hơn 100 súng các loại và 19 máy thông tin. Chiến thắng giòn giã của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên mùa xuân 1965, không những hỗ trợ Đắc lực quân và dân địa phương liên tục tiến công và nổi dậy, phá banh hàng loạt ấp chiến lưc, giải phóng trên 10.000 dân với vùng nông thôn rộng lớn, mà còn giam chân một lực lượng chủ lực địch trên cao nguyên, tạo thuận lợi cho chủ lục Khu 5 giành thắng lợi lớn ở Dương Liễu, Đèo Nhông, giải phóng nửa phần phía bắc tỉnh Bình Định và vùng tây Quảng Ngãi. Trong khi tiếng súng tiến công mùa xuân Ất Tỵ của quân và dân Tây Nguyên còn đang nổ, đêm mùng 4 và 5 tháng 4, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp đánh giá đợt hoạt động xuân 1965 ''đã thu được một số thành tích tương đối khá, từng bước đưa các mặt hoạt động lên tương đối đều, toàn diện''; nguyên nhân là do chỉ đạo chặt chẽ kịp thời sát đúng, sự giúp đỡ tận tình của Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang địa phương và sự nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường. Đồng thời Đảng ủy Mặt trận cũng chỉ rõ: so với yêu cầu của cuộc chiến đấu ngày càng phát triển và ác liệt thì trình độ tổ chức chỉ huy, ý thức chấp hành kỷ luật, tác phong chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ ''còn chưa theo kịp''. Để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng củng cố lực lượng và tích cực tiến công địch, Đảng ủy quyết định tổ chức một đợt chỉnh huấn toàn Mặt trận, vừa khẩn trương chuẩn bị mọi mặt dể mở đợt tiến công mùa hè với phương hướng nhiệm vụ chung là: Khẩn trương tranh thủ thời cơ, liên tục chiến dấu diệt thật nhiều sinh lực địch, hỗ trợ tốt hơn cho phong trào cách mạng của địa phương, phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung với một sự nỗ lực vượt bậc'', làm cho chiến trường B3 có những bước ngoặt chuyển biến lớn, tạo cơ sở tốt cho viện hoàn thành nhiệm vụ của năm 1965. ---------------------------------------------------------------- 1. Nguyễn Khánh và một số tướng đảo chính lật đổ Trần Văn Hương (25.1), Lâm Văn Phát và Phạm Ngọc Thảo đảo chính lật Khánh không thành (19.2), Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Chánh Thi lật đổ Khánh (20.2) ép Phan Khắc Sửu (Quốc trưởng) ký sắc lệnh chỉ địnhTrần Văn Minh làm quyền tổng tư lệnh. 2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự, Sđd, tr. 123. 3. Hiện nay số liệu về kết quả diệt địch trong trận đánh này ở nhiều cuốn sách và tài liệu chưa thống nhất. 4. Trận này ta có 3 đồng chí hy sinh và 2 đồng chí bị thương. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:59:54 pm * Ngày 27 tháng 4, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định: ''Cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam đã đến mức cao, có một số yếu tố chiến tranh cục bộ''; đồng thời chỉ thị cho các chiến trường: ''Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực, mở những đợt hoạt động quy mô chiến dịch cùng lúc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng ở từng khu vực, thúc: đẩy nhanh quá trình sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền... chuẩn bị điều kiện đối phó và quyết thắng địch nếu chúng mở rộng thành chiến tranh cục bộ''. Đối với Mặt trận Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xác định đấy là chiến trường chính để tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với Pa-thét Lào giữ vững và mở rộng khu giải phóng Hạ Lào, tạo thành một căn cứ tương đối lớn ở miền Trung Đông Dương. Thực hiện chủ trương, chỉ thị của trên và nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, cán bộ, chiến sĩ vừa tích cực tập huấn vừa khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng bước vào đợt chiến đấu mới. Về phía địch, sau những thất bại liên tiếp đầu năm 1965, quân ngụy ở Tây Nguyên đã phải thu hẹp thế chiếm đóng ''tuyến kết hợp diện'' và bắt đầu co cụm. Mùa hè, địch có những thay đổi về cơ cấu tổ chức. Tháng 5, chúng tách hai tiểu khu Plei Ku và Kon Tum ra khỏi vùng 2 chiến Thuật để thành lập biệt khu 24, sở chỉ huy biệt khu đóng tại thị xã Kon Tum; đồng thời tách trung đoàn 42 khỏi sư đoàn 22 thành trung đoàn độc lập đặt dưới quyền tư lệnh biệt khu này. Tại các trung đoàn bộ binh, địch tổ chức thêm một tiểu đoàn chiến đấu, gọi là tiểu đoàn thứ tư. Tháng 6, địch bỏ tổ chức vùng chiến Thuật để thành lập quân khu. Vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 đổi thành quân khu 2 - quân đoàn 2, trung tướng ngụy Vĩnh Lộc thay Nguyễn Hữu Có làm tư lệnh quân đoàn 2 kiêm quân khu 2. Cùng thời gian này, địch đưa bộ tư lệnh sư đoàn 22, trung Đoàn 40? trung đoàn 41 từ Tây Nguyên xuống Bình định. Với lực lượng lính cộng hòa bị căng kéo, phân tán trên diện rộng, lực lượng dân vệ bảo an tinh thần bạc nhược, hành động dè dặt, quân địch ở Tây Nguyên chủ yếu giữ các vùng chiếm đóng và mở một số cuộc hành quân đối phó với các hoạt động của ta, nhằm ''ngăn chặn chiều hướng thua''. Sau thời gian ngắn chuẩn bị, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên và lực lượng địa phương bước vào đợt tiến công mùa hè năm 1965 trên cả hai hướng Kon Tum và Plei Ku, phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công và nổi dậy của ta trên hướng nam Tây Nguyên, bắc Quảng Ngãi (chiến dịch Ba Gia của Quân khu 5) và chiến dịch Đồng Xoài của Bộ chỉ huy quân sự Miền. Theo kế hoạch tác chiến, đêm 25 tháng 5, ba trung đoàn: 2, 10 và 12 (tức Trung đoàn 18, Sư đoàn 325) vừa vào đến chiến trường nam Tây Nguyên đã bắt đầu nổ súng, diệt gọn các cứ điểm Ama, Hork nhưng không tiêu diệt được lực lượng tiếp viện của địch trên dường số 7. Đầu tháng 6, Trung đoàn 12 diệt cứ điểm Ơi Nu, đánh quân tiếp viện, cắt đứt đường số 7 từ Mlá đi Ơi Nu và cắt đường 19 đoạn từ Măng Yang đi An Khê. Cùng lúc, Trung đoàn 10 thọc sâu vào đường 21, phục kích diệt gọn một đoàn xe tiếp tế của quân đoàn 2 ngụy, xóa sổ đại đội hộ tống, thu và đốt trên 100 tấn gạo; một lực lượng tiến công tiêu diệt cứ điểm Hoành Châm, bao vây quận lỵ Thuần Mẫn, uy hiếp giao thông đường chiến lược số 14 đoạn Plei Ku - Buôn Ma Thuột. Địch đưa một chiến đoàn đặc nhiệm gồm 2 tiểu đoàn dù (1, 5), tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40) từ Cheo Reo lên ứng cứu, nhưng lại rơi vào trận địa phục kích của Trung đoàn 2. Bị đánh bất ngờ, quân dịch lúng túng chống đỡ, rồi rút chạy, co cụm ngoan cố kháng cự. Quyết không để cho địch chạy thóat, Trung đoàn 2 tổ chức tập kích ngay trong đêm, diệt gọn tiểu đoàn dù số l, đánh thiệt hại nặng ban chỉ huy chiến đoàn đặc nhiệm và hai tiểu đoàn còn lại. Thấy đồng bọn đi cứu viện bị vây diệt, địch ở Thuần Mẫn hoang mang tháo chạy khỏi quận lỵ; 3 cố vấn Mỹ bỏ đám ngụy quân, leo lên trực thăng thóat thân. Được tin dữ, tướng Mỹ Đơ-puy ở Sài Gòn phải bỏ dở cuộc họp báo, vội vã lên Tây Nguyên. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, quân và dân địa phương nổi dậy mạnh mẽ phá banh nhiều ấp chiến lược, làm chủ một vùng rộng dọc hai bên quốc lộ 14 từ ngã ba Mỹ Thạch đến Buôn Hồ. Ngày 28 tháng 6, lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc đánh một trận phục kích giao thông xuất sắc ở cây số 38 đường 21, phá hủy 18 xe quân sự (có 1 xe tăng), diệt 11 tên địch, bắt 8 tên, làm bị thương 6 tên. Trong lúc quân địch đang tập trung đối phó với chủ lực Quân khu 5 ở Đắc Lắc, thì bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên cùng lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum đánh mạnh vào hệ thống phòng ngự của địch. Trọng hướng trọng điểm phía tây Gia Lai, đêm 31 tháng 5, rạng ngày 1 tháng 6 Tiểu đoàn bộ binh 952 bất ngờ nổ súng tiến công quận lỵ Lệ Thanh. Ngay từ phút đầu, đạn súng cối của ta đã trùm lên khu chỉ huy, dãy nhà lính và trận địa, hỏa lực địch. Các chiến sĩ ĐKZ sáng tạo đắp công sự nổi, đặt súng lên bắt vượt trên hàng rào diệt nhiều lô cốt hỏa điểm bên trong. Khi hỏa lực chuẩn bị vừa chuyển làn, trên các hướng bộ đội đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Bị đánh bất ngờ, địch chống cự rời rạc, yếu dần. Sau gần một giờ chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn quận lỵ Lệ Thanh, diệt và bắt toàn bộ quân địch, gồm chỉ huy khi khu, đại đội bảo an 142, một đại đội thám báo, một trung đội dân vệ, một toán mật thám; 110 tên chết tại trận, 12 tên bị bắt; 6 xe vận tải, 3 kho đạn, 1 hầm xăng và 3 khẩu trung liên bị phá hủy; 2 đại liên, 1 cối 81mm, 1 cối 60mm, 1 trung liên, 65 khẩu súng khác, trên 5.000 viên đạn các loại, 47 máy thông tin và nhiều thuốc chữa bệnh bị tịch thu. Về phía ta, có 11 đồng chí hy sinh và 43 đồng chí bị thương1. Đây là trận đánh tập trung đầu tiên của Tiểu đoàn 952. Thắng lợi của trận đánh là kết quả sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có sự vận dụng thành công chiến Thuật của đặc công và bộ binh có hỏa lực đi cùng; nó giải đáp câu hỏi về cách đánh cứ điểm địch nằm sâu trong vành đai ấp chiến lược và dinh điền. Chiến thắng Lệ Thanh mở đầu đợt hoạt động hè của Mặt trận Tây Nguyên trên hướng tây Gia Lai, tạo điều kiện cho Trung đoàn 320 (thiếu Tiểu đoàn 966) phục kích giao thông trên đường 19 tây, đoạn từ Thanh Bình đến cầu Ia Krai. Từ 9 giờ 30 phút đến 23 giờ ngày 1 tháng 6, Trung đoàn đánh liên tiếp ba trận, diệt gọn 2 đại đội (140, 979) thuộc tiểu đoàn 14 bảo an, 3 trung đội, 1 phân đội tình báo Plei Ku và toàn bộ phái đoàn kiểm tra bộ nội vụ ngụy quyền Sài Gòn; diệt 165 tên (có 2 cố vấn Mỹ, 2 thiếu tá ngụy) làm bị thương 74 tên, bắt 40 tên (có thiếu tá Lê Văn Cứ - phó tỉnh trưởng Plei Ku); phá hủy 34 xe quân sự, bắn rơi 5 máy bay và bắn cháy 3 chiến khác; thu 121 khẩu súng các loại, 3 máy thông tin và 8.000 viên đạn. Đây là một trận đánh hay, có hiệu suất chiến đấu cao. Những trận đánh liên tiếp của Trung đoàn 320, Tiểu đoàn 952 và lực lương vũ trang địa phương trên hướng tây nam Plei Ku đã gây chấn động mạnh. Quân địch trong khu vực hỏang sợ, ngày 5 tháng 6 đã rút chạy khỏi 6 đồn: Plei Bôn, Cà Lúi, Công Gô... Chớp thời cơ, lực lượng vũ trang Gia Lai đẩy mạnh tiến công phá ấp giành dân: đột nhập dinh điền Lệ Chí, tiến công địch ở làng Chế Rùi, bao vây bức rút trung tâm huấn luyện biệt kích Ktoh, phục kích ở Măng Yang... gây cho địch nhiều thiệt hại. Được quân giải phóng hỗ trợ, từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 6, đồng bào Thượng, Kinh nổi dậy đồng loạt, phá 13 dinh điền (Đức Nghiệp, Thanh Giáo, Lệ Ngọc 1, Lệ Ngọc 2, Thanh Bình, Đức Khánh, Trị Đức, Giáo Trạch, Lệ Phong 1, Lệ Phong 2, Đức Hùng...), giải phóng trên 10.000 dân. Phối hợp chặt chẽ với hướng tiến công trọng điểm ở tây Gia Lai, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 200 pháo binh cùng lực lượng địa phương tỉnh Kon Tum tiến công mạnh vào hệ thống cứ điểm đồn bốt địch ở bắc Tây Nguyên. Từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6, Trung đoàn 101 tiến công cứ điểm Pô Kô, phục kích ở đông nam cầu 2km diệt gọn 4 trung đội (thuộc đại đội 103 bảo an và đại đội 3 biệt kích), diệt và làm bị thương 104 tên địch (có 4 cố vấn Mỹ), bắt 12 tên, thu nhiều vũ khí. Tiếp đó, ngày 25 tháng 6 Trung đoàn 101 phối hợp với một trung đội địa phương và du kích tiến công chi khu Tu Mơ Rông, pháo kích quận lỵ Đắc Tô. Tại Tu Mơ Rông địch có 340 tên, nhiều vũ khí, trong đó có 2 khẩu pháo 105mm, đóng trên núi Ngọc Hòe (điểm cao 1.557m). Cứ điểm này có chiều dài 350m, rộng 70m, xung quanh có 8 hàng rào thép gai và tre nứa, xen kẽ là những bãi mìn chống bộ binh, do tên Thanh quận trưởng chỉ huy. Để tạo vành đai bảo vệ, địch cưỡng ép hơn 10.000 dân trong vùng vào các ấp chiến lược bao quanh cứ điểm. Ta tuy vũ khí trang bị còn hạn chế, nhưng với quyết tâm rất cao, dũng cảm mưu trí sáng tạo đã chiến đấu liên tục từ 20 giờ 30 phút. đến 23 giờ, làm chủ hoàn toàn cứ điểm, 200 tên địch bị giết, 32 tên bị bắt làm tù binh; 2 pháo 105mm, 1 cối 61, 2 kho đạn, 13 xe quân sự và 5 xe ủi đất bị phá hủy; 147 súng các loại và 67 máy thông tin bị tịch thu. Để làm nên chiến thắng Tu Mơ Rông, 10 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh và 28 đồng chí bị thương. Trận đánh không những đánh dấu bước trưởng thành mới của Trung đoàn 101 mà còn để lại những kinh nghiệm quý về tiến công cứ điểm tương đối lớn của địch trên điểm cao ở vùng rừng núi Tây Nguyên. Phát huy thắng lợi, đêm 6 tháng 7 Trung đoàn 101 sử dụng Tiểu đoàn 2 tiến công và làm chủ quận lỵ Đắc Tô, loại khỏi vòng chiến đấu 80 tên địch, phá hủy 7 xe quân sự, 1 kho đạn và một kho xăng, thu 62 súng và 29 máy thông tin. Ngày hôm sau (7.7), Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn phục kích trên đường 14 đoạn nam Đắc Tô, loại khỏi vòng chiến đấu 75 tên thuộc trung đoàn 42 đi cứu viện, trong đó có tên trung tá Nguyễn Văn Nho - trung đoàn trưởng bị tử trận. Những đòn tiến công quân sự của chủ lực Mặt trận trên hướng bắc Tây Nguyên đã tạo điều kiện cho quân và dân Kon Tum đẩy mạnh các hoạt động tiến công, diệt nhiều đồn bốt, phá banh nhiều ấp chiến lược dọc quốc lộ 14 như: Kon Rú, Kon Tra, Đắc Sé, Kong La... mở rộng vùng giải phóng. Đợt hoạt động mạnh của ta ở bắc Tây Nguyên mùa hè năm 1965 làm cho địch lo sợ; Chính hãng UPI đã phải thốt lên: ''Việt Cộng có thể cắt đôi miền Nam ở vĩ tuyến 15, nơi họ chiếm giữ gần hết tỉnh Kon Tum trong tuần qua''. ------------------------------------------------------------------- 1. Một sô trận đánh của các đơn vị thuộc Binh Đoàn Tây Nguyên, tập 5, Nxb QĐND, H.1996, tr. 25. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:03:34 pm * Trong khí thế tiến công sôi động, rộng khắp của quân và dân Tây Nguyên, ngày 11 tháng 7 năm 1965 Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp kiểm điểm công tác lãnh đạo các mặt sáu tháng đầu năm, đồng thời ''quyết nghị một số phương hướng lãnh đạo trước mắt trong đợt ba của chiến dịch mùa hè''. Thép đó, Đảng ủy ra nghị quyết ''về quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ''. Tuy lúc này những đơn vị chiến đấu lớn của quân viễn chinh Mỹ chưa lên Tây Nguyên, nhưng Đảng ủy Mặt trận đã dự kiến tình hình, âm mưu sắp tới của địch và nhận định: ''Trên chiến trường B3, vùng rừng núi Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng. Để bảo đảm giữ vững các khu vực chiến lược này, trong thời gian tới chúng có khả năng đưa những đơn vị quân Mỹ hoàn chỉnh chiếm đóng ở các vị trí chiến lược quan trọng, chủ yếu và trước tiên có thể là Plei Ku, Kon Tum... Quân Mỹ xuất hiện trên chiến trường Tây Nguyên, nhất thời chúng có thể bơm thêm sức hoạt động cho bọn ngụy quân, nhưng chúng cũng không thể nào khắc phục được nhược điểm cơ bản của bọn ngụy quân... ngày càng suy yếu đồng thời trên 0chiến trường sẽ xuất hiện nhiều mục tiêu ngoài công sự cũng như trong hậu cứ, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt chúng, mặc dù ban đầu chúng có thể đánh phá một số nơi và gây khó khăn tạm thời cho ta, chứ không thể đẩy lui được phong trào cách mạng của ta đang phát triển''1. Trên cơ sở đánh giá khoa học và dự đoán sát đúng đó, Đảng ủy xác định: ''Chúng ta cần phải cảnh giác mọi mặt, thường xuyên bồi dưỡng, chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội sẵn sàng diệt quân Mỹ. Quyết đánh thắng trận đầu và giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ biện pháp đề phòng binh khí, kỹ thuật Mỹ (nhất là máy bay, hóa chất độc)''; trước hết phải dám đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cứ đánh khắc tìm ra cách đánh. Nghị quyết tháng 7 năm 1965 của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng, nó không những kịp thời chỉ đạo các lực lượng đẩy mạnh tiến công địch trong đợt 3 hoạt động hè, mà còn thể hiện tính nhạy bén chủ động, kiên định cách mạng, đặt cơ sở cho việc chuẩn bị tư tưởng, xây dựng quyết tâm sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức với quân viễn chinh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên. Ngay sau đó, nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận đã được quán triệt trong đại hội Đảng bộ các cấp và cán bộ, chiến sĩ trên toàn chiến trường Tây Nguyên. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, cuối mùa hè, đầu mùa thu năm 1965, các đơn vị chủ lực trên hai hướng tây bắc Kon Tum và tây nam Plel Ku phối hợp chặt chẽ với quân và dân địa phương đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch. Hướng tây nam Plei Ku, Trung đoàn 320 tiến hành vây cứ điểm Đức Cơ và phục kích trên đường 19 tây diệt viện binh địch. Đầu tháng 8, Tiểu đoàn 966 xiết chặt vòng vây xung quanh cứ điểm Đức Cơ, liên tục pháo kích và bắn tỉa. Lúc đầu, quân địch trong trại ''lính đặc biệt' này có 400 tên ngụy và 12 cố vấn Mỹ, đến ngày 9 tháng 8, địch ở đây chỉ còn khỏang 150 tên và lâm vào tình trạng rất khốn quẫn. Để cứu nguy cho Đức Cơ, địch liên tục huy động nhiều lực lượng thay nhau đến giải vây và dùng máy bay tiếp tế, song quân cứu viện lại rơi vào các trận địa phục kích của ta. Chiến sự diễn ra quyết liệt xung quanh Đức Cơ và dọc đường 19 tây. Trong các ngày 3, 4, 5 của tháng 8, Trung đoàn 320 liên tục tiến công chiến đoàn dù ngụy, diệt 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn còn lại. Địch dùng cả máy bay B57 và X-cai-rai-đơ liên tục đánh phá hỗ trợ nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Ngày 9 tháng 8, địch huy động một lực lượng lớn gồm: chiến đoàn thuủy quân lục chiến, chi đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, 1 đại đội công binh, 1 trung đội pháo 105mm từ Plei Ku tiến theo đường 19 tây hòng giải tỏa Đức Cơ. Lập tức Trung đoàn 320, Tiểu đoàn 952 và một đại đội pháo binh của Tiểu đoàn 200 từ trận địa phục kích giao thông đường 19 ở khu vực ngã ba Lệ Thanh đến ngã ba Đức Nghiệp đồng loạt nổ súng. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt, kéo dài suốt ngày 9 đến 4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8. Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên địch (có 2 cố vấn Mỹ và 1 thiếu tá ngụy bị diệt), bắt 4 tên; phá hủy 10 xe bọc thép, 3 xe tăng, 12 xe ô tô, 2 pháo 105mm, bắn rơi 2 máy bay (1 F.105 và 1 L.19); thu 22 khẩu súng và nhiều quân dụng. Về phía ta có 107 đồng chí hy sinh và 102 đồng chí bị thương. Chiến thắng lớn của ta ở tây nam Plei Ku đã làm cho quân khu 2 ngụy hoang mang, tướng Oét-mo-len (Wiuiam Westmoreland) tư lệnh ''Bộ chỉ huy viện trợ quân sự'' (MACV) ở miền Nam phải vội vã điều lữ đoàn dù số 173 và lữ đoàn bộ binh số 2 Mỹ từ Phan Rang và Biên Hòa lên Plel Ku (10.8 ). Nhưng bọn lính dù Mỹ đi đến Thanh Bình đã bị súng cối và súng máy của ta đánh vào đội hình. Ngày 12 tháng 8, Oét-mo-len lén lút đáp trực thăng xuống Đức Cơ thị sát và khích lệ tinh thần binh lính. Khi chiếc trực thăng chở y vừa cất cánh thì một loạt đạn súng cối của ta rơi trúng sân bay Đức Cơ. Trung tuần tháng 8, khi các lực lượng ta ở tây nam Plei Ku mở vây Đức Cơ, thì ở bắc Tây Nguyên, Trung đoàn 101 được tăng cường hai khẩu pháo 75mm, 2 trung đội bộ đội huyện 40 tỉnh Kon Tum tiến công quận lỵ Đắc Sút. Nằm bên đường 14, cách thị xã Kon Tum 60km về phía bắc, quận lỵ Đắc Sút vốn là cứ điểm cũ của Pháp, được Mỹ, ngụy cải tạo xây dựng thanh cụm cứ điểm (gồm 12 cứ điểm) do ba đại đội bảo an (101, 104, 749), 2 đại đội dân vệ, 2 trung đội pháo 105mm và 2 trung đội biệt kích (có 12 sĩ quan Mỹ chỉ huy) với tổng quân số trên 450 tên, đóng giữ. Sau khi trinh sát nắm chắc tình hình, chuẩn bị chu đáo, lúc 18 giờ 15 phút ngày 18 tháng 8 ta bất ngờ nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài 12 giờ. Đến 6 giờ 15 phút ngày 19, ta làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm, diệt gọn ban chỉ huy chi khu, 3 đại đội bảo an, loại khỏi vòng chiến đấu 145 tên (có 5 cố vấn Mỹ), bắt 211 tên, chỉ còn khỏang 100 tên chạy thóat được về Đắc Tô; phá hủy 20 xe quân sự và 2 kho đạn, bắn rơi 7 máy bay; thu 815 khẩu súng các loại (kể cả địa phương thu, có 2 pháo 105mm, 2 cối 81mm, 7 cối 61mm, 4 ĐKZ 57mm, 12 đại liên, 21 trung liên), 46 máy thông tin, 19.638 viên đạn nhọn, hàng trăm quả đạn cối, 4 tấn gạo. Về phía ta có 65 đồng chí hy sinh và 204 đồng chí bị thương. Đây là trận đánh có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị là trận hiệp đồng bộ - pháo cấp trung đoàn đầu tiên tiến công cứ điểm địch của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 101 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Sau trận đánh, Tiểu đoàn 200 đã kéo được 2 khẩu đại bác 105mm chiến lợi phẩm về căn cứ, mở đầu truyền thống lấy pháo địch đánh địch của bộ đội pháo binh Tây Nguyên. Chiến thắng Đắc Sút đã kết thúc thắng lợi đợt tiến công mùa hè năm 1965 của quân và dân Tây Nguyên. Trong gần ba tháng liên tục tiến công, bộ đội chủ lực B3 được quân và dân địa phương hỗ trợ phối hợp, đánh 42 trận, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch (loại khỏi vòng chiến đấu 981 tên, làm bị thương 836 tên, bắt 437 tên), bắn rơi 18 máy bay, thu 780 súng các loại, mở rộng vùng giải phóng, buộc địch phải thu hẹp vùng kiểm soát. Trải qua chiến đấu gian khổ ác liệt, bộ đội chủ lực Tây Nguyên trưởng thành nhanh chóng, toàn diện. Chiến thắng mùa hè năm 1965 của quân và dân Tây Nguyên không những góp phần cùng quân dân toàn miền Nam đánh bại hoàn toàn chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của Mỹ; mà còn là bước rèn luyện thử thách quan trọng để bước vào những đợt hoạt động dài ngày, những chiến dịch đánh tiêu diệt lớn quân viễn chinh Mỹ, trong cuộc ''chiến tranh cục bộ'' trên địa bàn Tây Nguyên. ------------------------------------------------------------------ 1. Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp ngày 11, 12, 13 tháng 7 năm 1965, tr. 18. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:08:23 pm * Trước những thất bại liên tiếp ở Đồng Xoài (11.5- 22.7), Ba Gia (29.5-20.7), Núi Thành (26.5), ''đặc biệt'' lo lắng về ''sự xâm nhập quy mô của lực lượng miền Bắc vào cao nguyên Trung phần'' và yêu cầu mở rộng chiến tranh xâm lược của phái hiếu chiến Mỹ, ngày 17 tháng 7 năm 1965 Tổng thống Giôn-xơn quyết định ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam. Tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng, Giôn-xơn tuyên bố: ''Hôm nay, tôi đã ra lệnh đưa sang Việt Nam sư đoàn không vận và một số lực lượng khác nữa để nâng hầu như ngay tức khắc tăng quân số chiến đấu của chúng ta từ 75.000 lên 125.000. Sau đây sẽ cần thêm lực lượng bổ sung và lực lương này sẽ được đưa sang theo yêu cầu''. Đến đây cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã lên đến đỉnh cao nhất ''chiến tranh cục bộ''. Với chiến lược hai gọng kìm ''tìm diệt'' và ''bình định'', kết hợp leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, đế quốc Mỹ tin rằng sẽ đánh bại lực lượng đối phương trong vòng 2 năm đến 2 năm rưỡi, giành thắng lợi quyết định. Thực hiện cuồng vọng đó, chỉ trong một thời gian ngắn, Mỹ và chư hầu đã đưa vào miền Nam 4 sư đoàn, 4 lữ đoàn (gồm 43 tiểu đoàn) nâng tổng số quân từ 85.720 tên (7.1965) lên 206.772 tên (12.1965). Cùng với tăng nhanh quân Mỹ, quân ngụy cũng được củng cố và phát triển thành 10 sư đoàn, 4 trung đoàn, 20 tiểu đoàn độc lập với tổng số 520.000 tên. Một lượng vũ khí phương tiện chiến tranh khổng lồ đổ vào miền Nam với hàng nghìn pháo lớn, 1396 xe cơ giới, 2.186 máy bay và 341 tàu chiến. Nhiều sân bay, quân cảng, kho tàng, hệ thống truyền tin, các tuyến đường bộ được gấp rút xây dựng và mở rộng phục vụ nhu cầu chiến tranh. Miền Nam Việt Nam trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Trước âm mưu đen tối và hành động phiêu lưu leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm của đế quốc Mỹ, ngày 20 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn''. Lời hịch cứu nước của Người vang dậy núi sông, là hiệu lệnh chiến đấu giục giã quân dân hai miền Nam - Bắc bước vào cuộc đọ sức trực tiếp với quân viễn chinh Mỹ, với niềm tin sắt đá vào thắng lợi và lòng dũng cảm vô song. Mùa thu năm 1965, trong khí thế sục sôi đánh Mỹ của cả nước, chiến trường Tây Nguyên có những chuyển biến quan trọng. Xuất phát từ vị trí chiến lược, tình hình chiến tranh phát triển, yêu cầu khẩn trương xây dựng khối chủ lực mạnh nhằm giải phóng bắc Tây Nguyên vào cuối năm 1965; tháng 7 Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương cử Thiếu tướng Chu Huy Mân - Chính ủy Quân khu 5 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên1 thay đồng chhí Nguyễn Chánh và đồng chí Đoàn Khuê. Tiếp đó, trong Bộ tư lệnh và ba cơ quan Mặt trận có sự phân công mới: đại tá Nguyễn Chánh và thượng tá Nguyễn Hữu An làm Phó tư lệnh, đại tá Huỳnh Đắc Hương làm Phó chính ủy, thượng tá Bùi Nam Hà (Tham mưu phó Quân khu 5) làm Tham mưu trưởng, trung tá Đặng Vũ Hiệp (Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 5) làm Chủ nhiệm chính trị, trung tá Lê Trí làm Chủ nhiệm hậu cần Mặt trận Tây Nguyên. Để kịp thời chỉ đạo và bảo đảm cho khối chủ lực ngày càng lớn mạnh ở Tây Nguyên, tháng 8 năm- 1965 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo về quân sự và Tổng cục Hậu cần trực tiếp bảo đảm hậu cần cho Mặt trận Tây Nguyên. Cùng thời gian này, Bộ bổ sung cho Tây Nguyên Trung đoàn bộ binh 33, hai tiểu đoàn vận tải bộ của Đoàn 559, tăng thêm một số cán bộ của hai sư đoàn 325, 304 và đoàn cán bộ của Tổng cục Hậu cần. Các Đoàn hành lang C02, C07 trước đây thuộc Quân khu 5 cũng được chuyển giao cho Phòng Hậu cần Mặt trận.2 Đến đầu mùa khô năm 1965, khi ta mở chiến dịch Plei Me, chiến trường Tây Nguyên đã có khối chủ lực cơ động mạnh, khá cân đối bao gồm: Bộ tư lệnh và ba cơ quan Mặt trận, 4 trung đoàn bộ binh (320, 101, 33 và 66 đang hành quân vào), 1 tiểu đoàn đặc công (952), 1 tiểu đoàn pháo binh (200), 1 tiểu đoàn súng máy phòng không (32), một số đơn vị bảo đảm phục vụ, với tổng quân số 7.853 cán bộ, chiến sĩ. Riêng lực lượng hậu cần hình thành hai khu vực: cánh Bắc và cánh Nam. Bên cạnh khối chủ lực Mặt trận, các lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc cũng có bước phát triển mới. Mỗi tỉnh đội đều có tiểu đoàn bộ binh, các dại đội binh chủng và bảo đảm, các huyện đội có đại đội, ở các xã có trung đội, làng buôn có tiểu đội du kích. Đây là lực lượng vừa tích cực dành địch tại chỗ, vừa thường xuyên củng cố xây dựng địa bàn, là nguồn bổ sung trực tiếp kịp thời cho các đơn vị chủ lực, là một nhân tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên chiến thắng quân thù. ------------------------------------------------------------------ 1. Lúc đầu Bộ Chính trị thông báo Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Sau do yêu cầu nhiệm vụ đồng chí Lê Trọng Tấn vẫn làm Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Miền. 2. Đoàn hành lang C02 (Đoàn Đông Bắc) thuộc Quân khu 5, thành lập tháng 4 năm 1961, đảm nhiệm việc tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc và từ Quảng Đà, cấp phát cho các lực lượng ta trên đất Kon Tum và chuyển tiếp cho Đồan hành lang C07 Tây Bắc) chuyển vào nam Tây Nguyên và Nam Bộ. Ngoàii ra còn có nhiệm vụ đưa đón bảo đảm sinh hoạt cho khách qua lại trên tuyến hành lang. Vị trí đứng chân của Đoàn từ cuối năm 1961 ở tỉnh Kon Tum. Đoàn hành lang C07 (Đoàn Tây Bắc) thuộc Quân khu 5, thành lập tháng 3 năm 1961 trên cơ sở hành lang "giao bưu'' trên đất Gia Lai. Ngoài các nhiệm vụ tiếp nhận, cấp phát, chuyển tiếp hàng, đưa đón khách, Đoàn còn đẩy mạnh tăng gia tự túc. Lực lượng phần lớn là người Ê Đê, Gia Rai, Mơ Nông... Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:14:45 pm * Tháng 9 năm 1965, trong khi ta đang khẩn trương chuẩn bị để mở chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, thì sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đổ bộ vào cảng Quy Nhơn, rồi lên chiếm đóng An Khê (từ 14.9.1960). Theo Oét-mo-len, mục đích đưa sư đoàn kỵ binh không vận số 1 đến Tây Nguyên là ''nhằm đối phó với cuộc khủng hỏang ở cao nguyên miền Trung'' nơi có 3 trung đoàn chủ lực của đối phương đang hoạt động ở vùng tây nam Plel Ku. Nhưng thực chất quân Mỹ lên Tây Nguyên nhằm đạt tham vọng tiêu diệt chủ lực ta, dập tắt phong trào cách mạng, làm chủ vùng đất chiến lược này; vừa thực hiện được chia cắt miền Nam và Đông Dương, khống chế miền duyên hải phía Đông, vừa đối phó với cuộc tiến công của ta sắp mở ở bắc Tây Nguyên mà chúng mới dò biết được. Đồng thời đây cũng là một hướng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của địch trên toàn miền Nam. Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 à ''con đẻ'' của bộ rưởng quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra, được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1965 tại trung tâm huấn luyện Pho Ben-ninh (Fort Ben nông) bang Gioóc-gia (Mỹ), trên cơ sở sư đoàn kỵ binh số 1 (thành lập năm 1921, đã chiến đấu ở Tây, Tây nam Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai và tham gia chiến tranh Triều Tiên 1950-1953). Khi đến Việt Nam, sư đoàn này có 15.787 quân, 434 máy bay trực thăng, 1.600 xe các loại (trong đó có 26 xe bọc thép hạng nhẹ), 54 khẩu pháo 105mm, 78 dàn rốc két (với 1972 ống phóng cỡ 70mm lắp trên trực thăng); tổ chức thành ba lữ đoàn gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trinh sát đường không, 5 tiểu đoàn trực thăng rốc két, 3 tiểu đoàn trực thăng công kích chi viện, 3 tiểu đoàn lựu pháo 105mm; tổng hành dinh đóng tại An Khê (Gia Lai), do tướng Kin - na (Harry W.B. Kin nard) chỉ huy. Đây là sư đoàn không vận cơ động đầu tiên, tinh nhuệ nhất của quân Mỹ. Với quân đông, vũ khí phương tiện chiến đấu nhiều và hiện đại, tầm hoạt động trung bình có bán kính từ 100km đến 150km, tối đa từ 250km đến 300km, chiến thuật chủ yếu của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 là tập kích bằng đỗ bộ đường không, sử dụng từng lữ đoàn tác chiến độc lập. Thường chúng đổ bộ từ đại đội đến tiểu đoàn theo kiểu ''cóc nhảy'' vào cả phía trước, phía sau, bên sườn mục tiêu, nhằm ''bủa lưới'' rồi hợp vây ''cất vó'', ''phóng lao'' tiêu diệt đối phương. Bên cạnh những ưu thế về sức đột kích lớn, cơ động cao ít phụ thuộc vào địa hình thời tiết, tập trung lực lượng tiến công nhanh mạnh và bất ngờ vào các mục tiêu gần hoặc nằm sâu trong hậu phương của ta, giải quyết các nhiệm vụ hết sức đa dạng trong tiến công và phòng ngự, được không quân chi viện mạnh, có nhiều phương tiện trinh sát, thông tin chỉ huy hiệp đồng thuận lợi; sư đoàn này cũng có những điểm yếu khó khắc phục: tiêu thụ quá lớn, hậu cần nặng nề, máy bay trực thăng dễ bị hỏa lực tầm thấp tiêu diệt, binh lính chủ quan khi bị đánh gần dễ hoang mang dao động, không phát huy được binh khí kỹ thuật. Song sư đoàn kỵ binh không vận số 1 vẫn dược các nhà quân sự Mỹ coi là một ''đơn vị lý tưởng'' của lục quân trong mọi loại địa hình; còn bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra cho rằng sư đoàn này ''đã tạo ra cho lục quân một khả năng mà không một lục quân nào khác trên thế giới ngày nay có được''. Vừa đặt chân lên Tây Nguyên, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 mở các cuộc hành quân tìm diệt ở Bình Định và gấp rút chuẩn bị các cơ sở hậu cần, sân bay để hoạt động lớn ở Gia Lai. Trước những diễn biến mới về địch trên chiến trường, thực hiện chủ trương của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương: ''tranh thủ thời cơ đánh đau quân ngụy, làm suy yếu chỗ dựa về bình định, không để quân Mỹ rảnh tay tìm diệt, đồng thời khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng quân Mỹ ngay từ trận đầu, nỗ lực cao nhất đánh bại chiến lược đánh nhanh giải quyết nhanh'' tiến lên đánh bại chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của Mỹ''1, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thay đổi chủ trương giải phóng bắc Tây Nguyên và hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công Plei Me. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ngụy, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, phát triển chiến tranh du kích, rèn luyện và nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cơ quan chiến tích, đội ngũ cán bộ các cấp và khả năng tác chiến của bộ đội. Sau khi nghiên cứu thực địa và phân tích kỹ, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định chọn địa bàn chiến dịch trong khu vực tứ giác: Plei Me - Bàu Cạn - Đức Cơ - Plei Thê rộng 1.200km2 thuộc phía Tây nam tỉnh Gia Lai, giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Địa hình nơi đây chủ yếu là rừng khoọc tương đối bằng, xen kẽ là những tráng cỏ tranh, gần các trục đường có một số nương rẫy... thuận lợi cho các hoạt động tác chiến của bộ binh, song cũng tiện cho địch sử dụng trực thăng đỗ bộ đường không. Nổi lên đột xuất quanh khu vực có một vài dãy núi độc lập như Chư Yé (5.22m) ở phía bắc, Chư Gô (751m) ở phía đồng, Chư Pông (725m) ở phía tây nằm vắt ngang đường biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Trong khu vực tác chiến không có sông lớn, chỉ có con sông nhỏ Ia Đrăng và các suối Ia Muer, Ia Kreng, về mùa khô không gây nhiều trở ngại cho việc cơ động lực lượng. Chạy dọc phía bắc khu tứ giác là quốc lộ 19 tây, phía đông là quốc lộ 14, thuận tiện cho cơ giới. Ngoài ra còn một số đường đất như tỉnh lộ 21, đường nối quốc lộ 19 và quốc lộ 21 nằm ở phía đông và bắc khu tác chiến chiến dịch có thể cơ động xe cộ dễ dàng. Dân cư trong khu vực thưa thớt, hầu hết các làng, xã đều là vùng căn cứ cách mạng hoặc ta đã xây dựng dđợc cơ sở, vừa sống ''bất hợp pháp'' vừa ''hợp pháp'' với địch. Lực lượng địch đồn trú trong vùng chỉ có ba cứ điểm lớn là Đức Cơ, Tân Lạc và Plei Me, ta có thể vây để kéo viện binh. Nhưng cứ điểm Tân Lạc gần địch khó đánh, nếu vây cứ điểm Đức Cơ địch sẽ đổ bộ về phía biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia không có lợi cho viện bảo vệ hành lang và hậu phương ta. Vì vậy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương vây cứ điểm Plei Me (quân số khỏang 500 tên, do 36 cố vấn Mỹ chỉ huy) nằm sâu trong tứ giác. Đây là căn cứ biệt kích hiểm yếu trấn giữ vừng tây nam Plei Ku; nếu ta vây, địch sẽ ứng cứu giải tỏa. Việc lựa chọn khu vực tứ giác Plei Me - Bàu Cạn - Đức Cơ - Plei Thê làm địa bàn tác chiến chiến dịch bảo đảm đầy dủ các yếu tố thuận lợi cho cách đánh vây điểm diệt viện của ta. Với lực lượng khỏang một sư đoàn, ta có thể bí mật triển khai trên các hướng: vây cứ điểm Plei Me, đánh quân ngay cứu viện bằng đường bộ trên đường 21, bố trí thế trận có chiều sâu đánh quân Mỹ dỗ bộ đường không, đồng thời có điều kiện bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Để bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ, kịp thời các lực lượng trong từng giai đoạn chiến dịch, bên cạnh Bộ tư lệnh và cơ quan chiến dịch (do Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành), ta còn tổ chức một sở chỉ huy tiền phương do đại tá Nguyễn Chánh, đại tá Huỳnh Đắc Hương phụ trách (giai đoạn đánh ngụy) và thượng tá Nguyễn Hữu An, trung tá Đặng Vũ Hiệp đảm nhiệm (giai đoạn đánh Mỹ), đặt ở bắc núi Chư Pông. Mùa thu năm 1965, công tác chuẩn bị cho chiến dịch Plei Me được khẩn trương tiến hành. Cùng với việc chuẩn bị chiến trường, kế hoạch tác chiến, vật chất hậu cần... Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt suất sắc tình hình nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết thắng Mỹ. Trên cơ sở nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, Thường vụ Đảng ủy tập trung chỉ đạo các đơn vị, cơ quan tiến hành đại hội Đảng các cấp, quán triệt nghị quyết của Đảng ủy sâu rộng đến toàn thể bộ đội, coi đây là yếu tố tiên quyết để giành thắng lợi. Tiếp đó các đơn vị trong toàn Mặt trận mở đợt sinh hoạt chính trị tập trung quán triệt nhiệm vụ chiến dịch, nội dung tập trung vào cách đánh ''vây điểm, diệt viện'', xây dựng quyết tâm đánh thắng quân Mỹ, ngụy ngay từ trận đầu, ''phát huy truyền thống đánh gần, đánh thọc sâu bao vây chia cắt, đánh mạnh, xung mạnh, truy mạnh bảo đảm đã đánh là thắng, đã đánh là tiêu diệt gọn'', ''kiên quyết chống mọi biểu hiệu hữu khuynh, tiêu cực mà chủ yếu là sợ gian khổ, sợ ác liệt, sợ hy sinh, thắng kiêu,khó nản, thỏa mãn dừng lại''2, thiếu lòng tin đánh thắng Mỹ. Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng thực hiện tốt phương pháp ''cơ bản cổ truyền'' là phát động tư tưởng, phát động giai cấp, phát động căm thù đới với quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai bán nước; khơi dậy lòng tự hào đối với truyền thống anh hùng thống ngoại xâm của dân tộc, truyền thống kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên và vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; đồng thời chú ý tuyên truyền chiến thắng của ta ở Đồng Xoài, Ba Gia... đặc biệt là những trận đầu diệt Mỹ ở Núi Thành, Vạn Tường, quán triệt phương châm ''bám thắt lưng dịch mà đánh'' khi giao chiến với quân viễn chinh Mỹ. Đợt sinh hoạt chính trị lớn đầu tiên được tổ chức trên phạm vi toàn Mặt trận có ý nghĩa rất quan trọng, nó không những xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ - một nhân tố cơ bản hàng đầu làm nên chiến thắng Plei Me lịch sử; mà còn khẳng định năng lực thực tiễn, tính chủ động sáng tạo và nhạy bén của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Công tác chuẩn bị hậu cần chiến dịch được tiến hành khẩn trương. Tổng nhu cầu vật chất bảo đảm cho chiến dịch là 202 tấn lương thực, thực phẩm, 50 tấn đạn và các cơ sở cứu chữa cho hàng trăm thương binh, bệnh binh. Mặc dù phải triển khai trong điều kiện giữ bí mật cao, luôn bị địch rình rập đánh phá, vận chuyển chỉ bằng đôi vai, đường rừng, nhưng Phòng Hậu cần Mặt trận chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, có dân công địa phương tăng cường đã cơ bản hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu được giao. Lực lượng hậu cần chiến dịch tổ chức thành hai bộ phận: căn cứ hậu cần phía sau có chỉ huy hậu cần, vận tải, kho đạn lương thực thực phẩm, trạm quân giới, Bệnh viện 2 (có khả năng thu dung điều trị 700 thương bệnh binh); căn cứ hậu cần phía trước ở làng Ba Bỉ (huyện 5), gồm có: chỉ huy hậu cần tiền phương, 2 trung đội vận tải, 100 dân công, kho đạn và bệnh viện tiền phương. Giữa hai căn cứ hậu cần phía sau và tiền phương có trạm tiếp chuyển T2. Các trung đoàn, tiểu đoàn, cơ quan chiến dịch được cấp phát đầy đủ đạn được, lương thực thực phẩm theo quy định. Riêng Trung đoàn 320 và Trung đoàn 33 được tăng cường mỗi đơn vị một tổ phẫu và 100 dân công. Mặc dù một số chỉ tiêu về lương thực, đạn dược vẫn còn thiếu, nhưng đây là một cố gắng lớn của ngành hậu cần Mặt trận còn non trẻ, lần đầu tiên phục vụ bảo đảm chiến dịch ở Tây Nguyên. Bên cạnh lực lượng chủ lực Mặt trận, Tỉnh ủy và Tỉnh đội Gia Lai nhất là quân dân huyện 5 - nơi chiến dịch sắp diễn ra, tích cực phối hợp với B3 làm công tác chuẩn bị. Tỉnh Gia Lai thành lập cơ quan chi viện tiền phương phục vụ chiến dịch, cử nhiều đoàn cán bộ xuống các xã vận động nhân dân đi dân công, huy động lương thực, thực phẩm. Các đồng chí Lê Tam - Bí thư huyện ủy và đồng chí Lư - Phó bí thư huyện ủy huyện 5 trực tiếp chỉ đạo chiến dịch phối hợp với bộ đội chủ lực. Tiểu đoàn bộ binh H15 của tỉnh được lệnh về triển khai ở phía đông đường 14, từ Mỹ Thạch đến tây sông A Yun để phối hợp đánh địch vòng ngoài. Hội phụ nữ giải phóng huyện do chị Rah Lan H-Bình làm hội trưởng tích cực huy động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho bộ đội, vừa tổ chức sẵn các đội nữ đấu tranh chính trị khi chiến dịch diễn ra. Nhiều cụ già ở các làng Sinh, Mùi, Nú, Hoa gói cơm nếp, gùi chuối, mía, gà đi hàng chục cây số thăm hỏi động viên bộ đội. Tạo các làng, hàng vạn công được huy động vào giã gạo, cả các cụ ông người dân tộc thiểu số cũng tham gia cho kịp phục vụ chiếu đấu, một việc mà bao đời nay người đàn ông dân tộc ở đây không bao giờ làm. Trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn, quân và dân Gia Lai đóng góp cho chiến dịch 70 tấn gạo, 2 tấn thực phẩm và trên 20 nghìn ngày công là một nỗ lực phi thường, là nguồn động viên cổ vũ vô giá đối với cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên, là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch3. Đầu tháng 10 năm 1965, khi Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua quyết tâm và kế hoạch chiến dịch Plei Me của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, thì cũng là lúc những công tác chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch được gấp rút hoàn thành. Trước ngày chiến dịch nổ súng, các trung đoàn: 320, 33, Tiểu đoàn đặc công 952, Tiểu đoàn 200 pháo binh, Tiểu đoàn 32 súng máy phòng khơng v các đơn vị bảo đảm, hậu cần đã triển khai xong ở các vị trí quy định. Các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc cũng sẵn sàng nổ súng phối hợp. ------------------------------------------------------------------ 1. Đại tướng Chu Huy Mân: Thời sôi động. Nxb QĐND, H.2004, tr 417, 418. 2. Mấy vấn đề công tác chính trị chiến đấu trong Chiến dịch Plei Me, từ 19.10 đến 25.11.1965. Phòng chính trị B3, Số 94/CT, tr. 2. 3. Theo báo cáo của Tỉnh ủy Gia Lai tại Hội thảo khoa học ''Chiến thắng Plei Me 30 năm sau nhìn lại'' thì mùa thu năm 1965 nhân dân Gia Lai huy động 1.200 tấn lương thực, lúc cao nhất có 2.500 dân công thanh niên phục vụ hỏa tuyến. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:26:15 pm * Thực hiện kế hoạch chiến dịch, 4 giờ sáng ngày 19 tháng 10 năm 1965 Trung đoàn 33 bắt đầu rời vị trí tập kết ở Quênh Kla, cách Plei Me 15km về phía Tây, bí mật hành quân về phía mục tiêu1. Đến 17 giờ cùng ngày, đơn vị đến cách Plei Me 1,5km, sau đó lợi dụng đêm tới Tiểu đoàn 3 (thiếu Đại đội 2) vào chiếm lĩnh trận địa tiến công tiền đồn Chư Ho. Cùng lúc Đại đội 2, một trung dội (thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 1) và hỏa lực Trung đoàn 33 bí mật tiếp cận xây dựng công sự vây ép Plei Me trên ba hướng: Tây nam, đông nam và Tây bắc, cách hàng rào địch từ 50m đến 100m. Nhằm nghi binh lừa địch, lúc 19 giờ Tiểu đoàn 200 pháo kích vào căn cứ Đức Cơ, một đại đội của Tiểu đoàn 952 nổ súng đánh Tân Lạc, một đại đội súng cối và một tổ công binh đánh vào ngã ba Phú Mỹ. Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 15 (mới thành lập) bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai tập kích vào trung đội dân vệ ở nhà thờ Mỹ Thạch. Tưởng ta tiến công hai cứ điểm Tân Lạc, Đức Cơ từ 19 giờ l5 phút đến 24 giờ, địch huy động máy bay đến thả pháo sáng, bắn phá xung quanh hai cứ điểm này. Đúng 22 giờ 45 phút ngày 19, trung đoàn trưởng Trung đoàn 33 ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công tiền đồn Chư Ho, làm hiệu lệnh chung vây lấn Plei Me. Lập tức hai khẩu cối 82mm bắn dồn dập vào đồn trong ít phút, bộc phá viên lên mở cửa nhưng chỉ nổ một quả, quả thứ hai không nổ, hàng rào thép gai bung lên rồi lại rơi xuống nhưng không dứt. Đại đội trưởng Long (Đại đội 3) và đồng chí bộc phá viên lao lên dùng ống bộc phá không nổ đè lên hàng rào, kết hợp tay chân vít dây thép gai xuống cho bộ đội xung phong. Chớp thời cơ, tiểu đội trưởng Thương dẫn đầu tổ thọc sâu nhanh chóng vượt qua hàng rào đánh thẳng vào nhà chỉ huy đồn, diệt khẩu đại liên cắt đứt đường rút lui của địch về hướng Plei Me, tạo điều kiện thuận lợi cho các mũi phát triển chiến đấu. Sau sáu phút nổ súng, ta làm chủ hoàn toàn Chư Ho (điểm cao 468), diệt gọn một trung đội địch. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn và hỏa lực súng cối, ĐKZ của Trung đoàn bắn phá Plei Me, diệt một số địch, phá sập một số lô cốt, nhà lính gây nhiều đám cháy. Lúc 23 giờ 02 phút, hai mũi vây ép ở hướng tây nam và tây bắc đánh bộc phá mở thông hai hàng rào. Dưới ánh sáng của đèn dù và lứa cháy, bộ đợi tích cực đào công sự vây ép xung quanh Plei Me. Ngay trong đêm, lực lượng phía sau của Tiểu đoàn 1 và cơ quan Trung đoàn 33 chuyển gỗ, nứa lên các trận địa vây lấn để làm hầm, vòng vây xung quanh cứ điểm Plei Me đã khép chặt. Chư Ho bị diệt, Plei Me bị tiến công và đang bị vây chặt làm cho chỉ huy quân đoàn 2 và biệt khu 24 ngụy lúng túng bị động. Phán đoán ta có thể phát triển đánh vào Phú Mỹ, Mỹ Thạch, Phú Nhơn, nên tư lệnh biệt khu 24 chỉ thị cho thuộc cấp tăng cường phòng thủ các vị trí trên, nếu không giữ được thì rút về Hàm Rồng. Từ 2 giờ 30 phút ngày 20 tháng 10, máy bay địch đánh phá dữ dội vào trận địa vây ép của ta với cường độ ngày càng cao và ác liệt. Tính đến ngày 22, chúng đã huy động tới 360 lần chiếc máy bay các loại đánh phá xung quanh Plei Me. Để chuẩn bị ứng cứu bằng đường bộ, lúc 9 giờ ngày 20, một đại đội thám báo địch chia thành nhiều tốp nhỏ, từ ngã ba Ogri sục sạo hai bên đường 21 rồi tiến về phía Plei Me. Do Trung đoàn 320 làm tốt việc ngụy trang giữ bí mật, nên địch không phát hiện được trận địa phục kích của ta xây dựng đêm 17, sáng 18 tháng 10 ở phía tây đường. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch: tích cực bao vây tiêu hao địch ở Plei Me, cắt tiếp tế, triệt nguồn nước, khống chế đường không, sẵn sàng cơ động diệt viện. Trong ngày 20, bộ đội trên các hướng vây ép dũng cảm chịu đựng bom đạn ác liệt, vừa tích cực đào công sự, vừa linh hoạt mưu trí dùng hỏa lực, xung lực tập kích các toán quân trong đồn ra phản kích, khống chế sân bay, đường ra suối lấy nước, khu thông tin... gây cho địch nhiều thiệt hại. Tại trận địa chết giữ Chư Ho, một tiểu đội của Tiểu đoàn 3 chiến đấu rất quyết liệt, vừa đánh quân địch phản kích vừa đánh trả hàng chục lấn máy bay địch, giữ vững trận địa. Sáng ngày 21 tháng 10, địch dùng trực thăng đổ bộ tiểu đoàn 91 biệt kích dù xuống làng Khọp (Plei Xom) cách Plei Me 5km về phía bắc để thăm dò, cho trực thăng nghi binh trên hướng đồn Bo. Giữa trưa, biệt khu 24 đưa chiến đoàn 3 thiết giáp tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) từ Plei Ku đến Phú Mỹ (ngã ba đường 14 và tỉnh lộ 21), đồng thời cho quân sục sạo ven đường 21 nhưng không phát hiện được gì. Song song với các hoạt động trên, máy bay địch đánh phá mạnh vào các trận địa vây lấn của ta xung quanh Plei Me. Đại đội 1 (Tiểu đoàn 3) bị bom đánh trúng đội hình làm đại đội trưởng Phúc hy sinh và một số chiến sĩ thương vong. Đại đội phó và chính trị viên Đại đội 1 dao động, cho phân đội rút ra. Nhưng chỉ có bộ phận vây phía sau nhận được lệnh rút, bộ đội không được tổ chức nên một số bị lạc, trong đó có đại đội phó. Đến chiều tối ngày 21 có 70 cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn rời trận địa vây về đến đơn vị. Lúc này, lực lượng vây ép phía trước chỉ còn Tiểu đội 9 (Trung đội 3 Đại đội 1) và bộ phận hỏa lực gồm 1 đại liên, 1 ĐKZ 75 do trung đội phó Biên chỉ huy huy tiếp tục chiến đấu, vẫn trụ bám sát hàng rào, nhưng bị mất liên lạc với cấp trên và không được tiếp tế. Lúc 16 giờ khỏang một đại đội địch từ trong cứ điểm nống ra trận địa vây của ta. Đợi chúng đến cách chiến hào 50m các chiến sĩ mới bất ngờ nổ súng, diệt tên đại đội trưởng và một số tên, bọn còn lại bỏ chạy vào đồn. Đêm 21, rạng ngày 22 bộ đội tranh thủ củng cố công sự, đào thêm hố bắn, hàm ếch chuẩn bị cho trận đánh mới. Sáng sớm ngày 22, sau khi cho một trung đội nống ra bị đánh lui, địch tập trung pháo cối và máy bay đánh phá rất ác liệt vào trận địa của Tiểu đội 9; chúng dùng nhiều bom bi, bom na pan và bom xăng hòng hủy diệt trận địa. Khi tin rằng lực lượng đối phương bị tiêu diệt, 15 giờ hai đại đội địch từ trong đồn tiến ra trận địa vây. Mặc dù địch đông, nhưng các chiến sĩ vẫn bình tĩnh, dựa chắc vào công sự, hàm ếch chờ chúng đến thật gần mới bất ngờ dùng đại liên, trung liên bắn mãnh liệt vô tốp địch đi đầu buộc chúng phải tháo chạy ngược trở vào, bỏ lại nhiều xác chết và một số tên bị thương. Về phía Tiểu đội 9 cũng bị tổn thất: tiểu đội trưởng hy sinh, tiểu đội phó bị thương, đồng chí Châu xạ thủ trung liên bị thương lần thứ hai máu chảy nhiều đã tự dùng đất đắp vào vết thương để cầm máu, không dám dùng băng vì sợ màu trắng dễ bị lộ. Sau đợt ra lấy xác đồng bọn lúc 18 giờ 30 phút bị diệt thêm, địch tiếp tục đánh phá mạnh vào trận địa ta. Đến 19 giờ lực lượng vây ép chỉ còn 7 người, vũ khí còn 1 đại liên, 1 ĐKZ75 và một số AK, lựu đạn do trung đội phó Biên chỉ huy, nhưng ai củng quyết tâm chiến đấu giữ vững trận địa dù nhịn đói, chịu khát và phải hy sinh đến người cuối cùng. Đêm 22 tháng 10, chỉ huy Trung đoàn 33 chỉ thị cho Tiểu đoàn 1 tăng cường ngay một tiểu đội bộ binh trang bị mạnh do đại đội phó Sự (Đại đội 1) trực tiếp chỉ huy cho bộ phận vây ép, và quyết định tặng danh hiệu ''Đơn vị quyết thắng" cho Tiểu đội 9. Nhưng địa hình bị bom pháo làm biến dạng, nên đến 4 giờ sáng ngày 23 hai chiến sĩ Lành và Ngôn đem cơm nước mới tìm thấy trận địa vây ép. Có người chưa kịp ăn thì địch ập đến. Lập tức các chiến sĩ chặn đánh quyết liệt bằng AK, lựu đạn, lưỡi lê. Sau 20 phút chiến đấu, khỏang 20 tên địch bị diệt, số còn lại buộc phải tháo lui. Trong trận cuối cùng này, hầu hết vũ khí bị hư hỏng, chiến sĩ bị thương, kiệt sức, phải rút ra. Lúc 23 giờ cùng ngày, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 33 chuyển sở chỉ huy về Quênh Xom, đưa Tiểu đoàn 3 về đội hình, đồng thời tiếp tục dừng Tiểu đoàn 1 vào vây ép cứ điểm Plei Me ngay trong đêm 24 tháng 10. Sau năm ngày vây lấn, Trung đoàn 33 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vây ép Plei Me, tiêu diệt 249 tên địch, làm bị thương nhiều tên, trong đó có tên đại úy Mỹ đồn trưởng bị thương nặng; bắn cháy 4 xe thiết giáp và 1 xe tăng, bắn rơi 13 máy bay, phá sập 10 lô cốt và nhiều nhà lính. Trận vây ép Plei Me không những buộc quân địch phải đi cứu viện, tạo điều kiện cho Trung đoàn 320 tiêu diệt, mà còn tìm hiểu thêm một bước trong hành động chiến thuật và chiến dịch của địch; đồng thời đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật vây điểm của bộ đội chủ lực Tây Nguyên: dùng binh lực ít và không phải công kiên dứt điểm vẫn kéo được viện binh lớn của địch. ------------------------------------------------------------------ 1. Theo kế hoạch, ngày nổ súng mở màn chiến dịch Plei Me là 18.10, nhưng xét thấy Trung đoàn 33 cần chuẩn bị thêm, khi địch đã phát hiện dấu vết cho phát quang xung quanh cứ điểm... nên Bộ tư lệnh chiến dịch cho lui ngày nổ súng vào hôm sau (19.10). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:29:06 pm * Để cứu đồng bọn đang lâm vào tình trạng khốn quẫn ở Plei Me, ngày 23 tháng 10 tướng ngụy Vĩnh Lộc tư lệnh quân khu 2 - quân đoàn 2 quyết định đưa một lực lượng lớn gồm: chiến đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) với hơn 1.000 tên do trung tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy, theo đường 21 đến giải vây cho Píei Me; đồng thời đổ bộ tiểu đoàn 22 biệt động quân xuống Plei Me Tô, đưa sở chỉ huy tiền phương biệt khu 24 đến Phú Mỹ. Chiến đoàn 3 thiết giáp là chiến đoàn cơ giới duy nhất của biệt khu 24 lúc đó, có 3 chi đoàn với trên 40 xe tăng, xe M113 và nhiều xe chở đạn, xăng dầu. Mặc dù quân đông, trang bị nhiều, cơ động nhanh, hỏa lực mạnh lại được máy bay pháo binh chi viện, trinh sát nhưng địch vẫn rất thận trọng. Lúc 12 giờ, địch rời Phú Mỹ theo đường 21 tiến về phía trận địa phục kích của Trung đoàn 320 ở khu vực từ điểm cao 601 đến điểm cao 538. Đội hình hành quân kéo dài 5km, chia làm bốn bộ phận, đi cách nhau 500m. Đi đầu là tốp xe tăng, xe bọc thép và khỏang 1 đại đội biệt động quân; tiếp đó là bộ phận chính gồm chỉ huy, cố vấn Mỹ, nhiều xe cơ giới và hai đại đội biệt động quân; đoàn thứ ba ngoài số xe bọc thép có 2 xe kéo pháo (105mm), xe chở xăng dầu, đạn dược, và 2 đại đội bộ binh bảo vệ; sau cùng là 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 42. Mọi diển biến của lực lượng cứu viện địch đều bị trinh sát ta nắm chắc và báo cáo kịp thời về sở chỉ huy Trung đoàn 320 ở bình độ 530 phía tây cuối Ia Muer. Do địch thay đổi đột ngột tốc độ hành quân, chuyển sang đi bộ, bắn phá ném bom dọn đường... nên trung đoàn trưởng Tô Đình Khản phải nhiều lần ra lệnh cho hai tiểu đoàn 635 và 334 đang xuất kích phải tạm dừng. Thời gian vận động từ vị trí ém quân đến trận địa phục kích kéo dài gần 150 phút (từ 14 giờ 4 phút đến 16 giờ 30 phút) làm tinh thần của bộ đội rất căng thẳng, nhưng ai cũng chấp hành nghiêm mệnh lệnh, giữ được bí mật bất ngờ đến phút chót. Đúng 16 giờ 52 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 635 bất ngờ nổ súng bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu và bắn hỏng chiếc thứ hai, chặn đứng đội hình tiến quân của địch, làm hiệu lệnh cho trận (lệnh. Lập tức các cỡ súng của Tiểu Đoàn 635 từ trận địa phục kích bên tây đường đồng loạt bắn vào đoàn xe địch. Hai phút sau, Tiểu đoàn 334 cũng nổ súng mãnh liệt vào các mục tiêu. Các trận địa súng máy phòng không tích cực bắn máy bay địch bảo vệ đội hình chiếu đấu. Tiểu đoàn 966 từng bước cơ động sẵn sàng bước vào chiếu đấu trên các hướng theo mệnh lệnh của Trung đoàn. Trên hướng Tiểu đoàn 635, quân địch rất đông, bom pháo địch rất ác hệt, một số cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, nhưng Đại đội 1 làm nhiệm vụ chặn đầu chiến đấu rất dũng cảm chặn đứng đoàn xe địch. Lúc 17 giờ hai đại đội 2 và 3 đồng loạt xung phong ra mặt đường đánh chia cắt đội hình địch, bắn cháy nhiều xe, diệt nhiều bộ binh. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hàm bình tĩnh bắn cháy 5 xe M113, Nguyễn Văn Lãng bắn 3 phát B40 diệt 3 xe tăng, Lương Văn Bạt cũng diệt 2 chiếc xe tăng khác. Ở Đại đội 3 có chiến sĩ bị thương nặng vẫn không rời trận địa, tiếp tục ở lại chiến đấu. Bị ta đánh mạnh, phần lớn lực lượng đi đầu và đi giữa đội hình hành quân của địch bị tiêu diệt, số còn lại vừa điên cuồng chống trả vừa co cụm về phía đồng đường. Nhưng bộ phận đối diện hoang mang không đám nổ súng, nên khỏang 10 xe M113, xe tăng và gần một đại đội bộ binh địch chiếm được đồi cây Độc Lập. Theo dõi sát diễn biến trận đánh, trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 lệnh cho Tiểu đoàn 635 tổ chức tiến công tiêu diệt ngay bọn địch co cụm. Sau nhiều lần tổ chức xung phong nhưng Tiểu đoàn 635 vẫn không chiếm được đồi cây Độc Lập, một Số chiến sĩ thương vong, trong đó có 5 cán bộ đại đội, buộc phải tạm dừng. Hướng khóa đuôi của Tiểu đoàn 334 do tiểu đoàn trưởng Luyện Bá Di và chính trị viên Vũ Năm chỉ huy, chiến sự cũng diễn ra rất ác liệt. Đại đội 2 (tức Đại đội 14) khi vận động đến cách đường 21 khỏang 150m đến 200m, phát hiện nhiều xe địch cụm lại ở đỉnh điểm cao 601; cán bộ đại đội nhanh chóng hội ý, quyết định chuyển từ phục kích sang bao vây tập kích cụm địch này. Sau ít phút, đại đội chia làm hai mũi từ phía đông và phía Tây bắc tiếp cận mục tiêu. 17 giờ 04 phút đại đội trưởng chỉ huy hỏa lực bắn chuẩn bị dồn dập vào cụm địch. Bộ đội tiếp cận bị địch phát hiện bắn chặn quyết liệt. Chính trị viên đại đội hô lớn "xe cụm lại nhiều là thời cơ tốt cho đại đội ta lập công!". Lời động viên phát ra đúng lúc, có tác dụng cổ vũ mạnh, cán bộ, chiến sĩ bất chấp bom đạn dũng cảm xung phong đánh vào đội hình địch. Khẩu đội ĐKZ bắn cháy liền 4 xe, xạ thủ B40 bắn phát đầu tiên tiêu diệt 1 chiếc M113. Chớp thời cơ, trung đội trưởng Thông dẫn dầu đội hình xung phong, phối hợp nhịp nhàng với Trung đội 2 do đồng chí Tình chỉ huy đánh thọc sâu, chia cắt. Cách đánh áp sát dũng cảm của ta làm cho xe thiết giáp địch không phát huy được hiệu quả, bộ binh địch hoang mang chống cự yếu dần, rồi lần lượt bị tiêu diệt và xin hàng, máy bay pháo binh địch chỉ oanh tạc vòng ngoài. Sau hơn một giờ chiến đấu, Đại đội 2 làm chủ hoàn toàn điểm cao 601, diệt và bắt hơn 200 tên địch, bắn cháy phá hủy 30 xe quân sự và 2 pháo 105mm làm lứa cháy sáng rực một góc trời. Cùng thời gian này, Đại đội 13 Tiểu đoàn 334 tiến vào đồi Blou, tuy không thấy địch nhưng đại đội trưởng Đại đội 13 lại báo cáo cấp trên: địch ở đây rất đông. Do không kiểm tra kỹ, tiểu đoàn trưởng lệnh cho cối 81mm bắn dồn dập vào thung lũng Blou, đồng thời đưa Đại đội 15 (dự bị) xuất kích khi tới thung lũng không thấy địch. Trung đoàn cũng lệnh cho một đại đội (của Tiểu đoàn 966) cơ động về hướng thung lũng Blou chi viện cho Tiểu đoàn 334. Đến 17 giờ 13 phút, sau khi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 334 báo cáo đã chiếm được thung lũng, trung đoàn trưởng lệnh cho tiểu đoàn dùng Đại đội 13 đánh lên đồi cây Độc Lập chi viện cho Tiểu đoàn 635. Nhưng cán bộ Đại đội 13 chấp hành không nghiêm mệnh lệnh đó, tự động cho bộ đội tiến về phía điểm cao 601. Sau hai giờ chiến đấu, lúc 18 giờ 30 phút ngày 23 tháng 10, quân địch ở trong trận địa của Trung đoàn 320 bị tiêu diệt phần lớn, chỉ còn lại 6 xe tăng và một số bộ binh (trong đó có tên Nguyễn Trọng Luật chiến đoàn trưởng và cố vấn Mỹ) co cụm ở đồi cây Độc Lập, 4 xe tăng ở bắc điểm cao 538, 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 cùng một số xe ở bình độ 600 (gần ngã ba Ogri). Trước tình hình đó, chỉ huy Trung đoàn quyết tâm tiêu diệt gọn cụm địch ở đồi cây Độc Lập và bắc điểm cao 538, sau đó phát triển về phía bắc đánh địch ở bình độ 600. Lực lượng tiến công gồm Đại đội 8 (Tiểu đoàn 966), hai trung đội (Đại đội 15), hai đại đội 2, 3 cùng hỏa lực Tiểu đoàn 635, Đại đội cối 81mm, một trung đội ĐKZ 75, một trung đội 12,7mm do đồng chí tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn 334 được lệnh bám sát địch ở bình độ 600, sẵn sàng tiến công. Đúng 2 giờ ngày 24, ta nổ súng tiến công địch ở đồi cây Độc Lập. Nhưng do nắm địch không chắc, tổ chức chiến đấu chậm, hành động của bộ đội lộ liễu, bị địch phát hiện bắn chặn quyết liệt làm trung đội đi đầu thương vong nhiều cán bộ chỉ huy dao động chỉ cho bắn súng cối và mục tiêu, không tổ chức xung phong. Sáng 24, địch dùng trực thăng bốc tên chiến đoàn trưởng và cố vấn Mỹ về Plei Ku. Đêm 24, Đại đội 3 Tiểu đoàn 635 được lệnh đánh vào đồi cây Độc Lập, nhưng cán bộ do dự, không nổ súng, tự lui quân. Trong hai ngày chiến đấu, Trung đoàn 320 đã tiêu diệt hầu hết chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy, diệt gọn tiểu đoàn 21 biệt động quân và một đại đội thuộc tiểu đoàn 2; giết và làm bị thương khỏang 900 tên địch, bắt 6 tên; phá hủy phá hỏng 29 xe M113, 6 xe tăng, 6 xe đạn, gần 40 xe GMC, 2 pháo 105mm và bắn rơi 3 máy bay phản lực; thu 42 súng, 20.000 viên đạn, 8 máy thông tin. Về phía ta có 87 đồng chí hy sinh và 84 đồng chí bị thương. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã tiêu diệt một chiến đoàn thiết giáp ngụy, bẻ gãy một cánh quân tiếp viện lớn trên địa hình không mấy thuận lợi, hoàn thành xuất sắc trận then chốt thứ nhất của chiến dịch Plei Me. Với dòn chí mạng giáng vào chủ lực ngụy ở đường 21, quân Mỹ buộc phải nhảy vào cuộc chiến theo đúng ý định của ta. Ngày 24 tháng 10, tướng Kin-na vội vã đưa lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 lên Plei Ku và lúc 7 giờ 15 phút 93 lần chiếc trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn Mỹ xuống tây nam Phú Mỹ 2km. Đến 15 giờ cùng ngày chúng đổ bộ tiếp một tiểu đoàn Mỹ khác cùng pháo 105mm, cối 106,7mm xuống Plei Đô Đoát cách đông bắc Plei Me 10km. Được quân Mỹ hỗ trợ, ngày 25 và 26 tháng 10 tàn quân chiến đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 22 biệt động quân, tiểu đoàn 91 biệt kích và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ngụy mở cuộc hành quân mới theo đường 21 nhằm giải vây cho Plei Me. Trưa ngày 26 đã diễn ra một trận đánh ác liệt giữa 11 chiến sĩ ta đang vây ép phía đông nam Plei Me do trung đội trưởng Đậu Văn Phơn chỉ huy với một tiểu đoàn bộ binh và 20 xe bọc thép, xe tăng địch. Cả năm đợt tiến công của chúng đều bị đánh lui. Dưới làn bom đạn dữ dội giữa hai đợt chiến đấu, các chiến sĩ thu nhặt vũ khí của đồng đội hy sinh, sử dụng hai đến ba loại súng đánh địch. Trung đội trưởng Đậu Văn Phơn bị thương vẫn ráng chịu đau bình tĩnh chỉ huy, động viên chiến sĩ. Trận đánh kéo dài đến chiều tối, địch bị mất 40 tên ngụy, 3 cố vấn Mỹ, 3 xe M113 và 2 xe tăng nhưng vẫn không sao nhổ được trận địa ta. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trung đội Đậu Văn Phơn được lệnh lui quân. Mặc dù chỉ còn 5 chiến sĩ mệt lả vì đói khát, mình đầy thương tích nhưng vẫn khiêng cáng hết thương binh, tử sĩ, mang theo súng đạn rời khỏi trận địa. Sau đó phân đội bị lạc 10 ngày mới tìm được đơn vị. Phân đội Đậu Văn Phơn đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần chiến đấu dũng cảm, ý chí chấp hành mệnh lệnh và tình yêu thương đồng chí đồng đội. Xét thấy nhiệm vụ của ''Pha 1'': vây Plei Me, diệt viện trên đường 21 đã hoàn thành, quân Mỹ đang từng bước tham chiến; 16 giờ ngày 25 tháng 10, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 33 ''mở vây toàn bộ'' Plei Me, nhanh chóng điều chỉnh đội hình đưa Tiểu đoàn về làng Khô, Tiểu đoàn 2 về khu vực suối Ia Muer, Tiểu đoàn 3 về tây Chư Ho sẵn sàng đánh quân Mỹ đỗ bộ. Trung đoàn 320 cũng được lệnh cơ động về dừng chân ở đông nam sông Ia Đrăng và Plei Bon Ga sẵn sàng cơ động đánh quân Mỹ trên hướng Tân Lạc và Plei Me. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:37:09 pm * Trước thất bại nặng nề của quân ngụy, ngày 26 tháng 10 năm 1965 tướng Oét-mo-len tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam lên Tây Nguyên, ra lệnh cho tướng Kin-na tư lệnh sư đoàn kỵ binh không vận số 1 ngừng ngay cuộc càn quét của lữ đoàn 3 ở Bồng Sơn (Bình Định), tập trung lực lượng tham chiến ở khu vực Plei Me nhằm: ''Đi tìm địch và cướp lấy quyền chủ động về tay mình''. Đồng thời Oét-mo-len còn quyết định đưa một trung đoàn Nam Triều Tiên, 2 chiến đoàn dù ngụy, 2 trung đoàn vận tải lên Plei Ku. Để trấn an quân ngụy, làm đẹp lòng chủ Mỹ và lừa bịp dư luận, ngày 28 lũ tướng nguy Sài Gòn do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu mò đến Plei Me và kHoóc lác: ''Đây là trận cuối cùng mà Việt Cộng có thể gắng gượng được tại cao nguyên!''. Những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 1965 vùng tây nam Gia Lai vang động tiếng máy bay trực thăng và bom pháo địch. Quân Mỹ bước vào tham chiến đã làm cho cường độ hỏa lực pháo binh, không quân tăng lên đột ngột, nhất là khu vực phía tây Plei Me. Sau khi đưa sở chỉ huy lữ đoàn 1 đến Bàu Cạn và các tiểu đoàn Mỹ đóng dọc khu vực Hòn Rồng, Phú Mỹ, Bàu Cạn, Plei Đô Đoát. Từ ngày 27 tháng 10 đến ngày 10 tháng 11, địch dùng 2 chiến đoàn thủy quân lục chiến lùng sục dọc hai bên tỉnh lộ 21; đồng thời đổ bộ từng đại đội, trung dội Mỹ vào sâu hậu phương chiến địch của ta để lùng sục thăm dò, tập kích nhằm phát hiện đối phương, tìm cách giành quyền chủ động và chuẩn bị cho những đòn phản đột kích chiến dịch của lữ đoàn 3. Trong quá trình đỗ bộ ''nhảy cóc'', địch đã bị các lực lượng ta chặn đánh tiêu hao. Ngày 1 tháng 11, một đại đội Mỹ tập kích vào trạm phẫu Trung đoàn 33, bị tiểu đội bảo vệ cùng y tá, bác sĩ, hộ lý, nhân viên hậu cần, thương binh chặn đánh quyết liệt; sau đó được một đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33 đến giải vây, diệt 60 tên. Địch tăng quân đánh chìm đại trạm phẫu, gây cho ta nhiều thiệt hại1. Ngày 3, khỏang một đại đội Mỹ và một trung đội ngụy đỗ xuống đông nam Plei Thê, bị một đại đội đi lấy gạo của Trung đoàn 33 đánh diệt một trung đội. Ngày hôm sau (4.11), một đại đội Mỹ và một đại đội ngày tập kích vào khu lán trại cũ của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33, bị Tiểu đoàn 3 vận động đến diệt một trung đội. Cùng thời gian này, Đại đội 8 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 trên đường hành quân đến Ba Bỉ gặp một đại đội Mỹ, đã nổ súng diệt hơn 10 tên, phá hủy 2 trực thăng. Tiếp đó, ngày 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33 diệt hàng chục tên mỹ, rồi đánh thiệt hại nặng đại đội tiếp viện. Tuy đây chỉ là những trận nhỏ lẻ, diệt khỏang 5 trung đội Mỹ, chưa thực hiện được ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch: tiêu diệt từng đại đội địch, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Nó tạo ra những điều kiện và thế trận thuận lợi cho trận đánh then chốt sắp tới, bộ đội có những kinh nghiệm bước đầu nhưng rất quý giá trước đối tượng tác chiến mới là quân viễn chinh Mỹ. Về phía địch, những trận tập kích bằng đỗ bộ đường không trong ''Pha 2" chiến dịch làm cho chúng đang từ thế bị động chuyển sang thế chủ động về chiến thuật trong thế bị động về chiến dịch''2. Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Đảng ủy chiến dịch Plel Me họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Chu Huy Mân, thống nhất đánh giá kết quả giai đoạn một của chiến dịch đã hoàn thành; đồng thời chủ trương: ''Tiếp tục châm ngòi ở Plei Me nhử cho Mỹ vào sâu hậu phương ta, kiên quyết tập trung mọi lực lượng để tiêu diệt bằng được một bộ phận quan trọng sinh lực của chúng, đánh bại một bước chiến thuật "nhảy cóc'' của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 để gây lòng tin tưởng và khí thế cho bộ đội quyết tìm Mỹ mà đanh, gặp Mỹ là diệt, đồng thời dể rút kinh nghiệm đánh Mỹ, một vấn đề mà ta còn lúng túng chưa có kinh nghiệm''3. Để kịp thời chỉ huy các đơn vị chiến đấu trong ''Pha 3'' chiến dịch, đảng ủy quyết định cử thượng tá Nguyễn Hữu An và trung tá Đặng Vũ Hiệp làm Tư lệnh và chính ủy tại sở chỉ huy tiền phương. Xác định rõ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của trận đánh phủ đầu quân viễn chinh Mỹ ở Tây Nguyên, khi tiễn chân đồng chí Nguyễn Hữu An và đồng chí Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh chiến dịch Chu Huy Mân căn dặn: "Trên cơ sở đã chuẩn bị, hai đồng chí có quyền một đổi một cũng đánh thắng trận này, nhưng chỉ được lần này thôi''4. Tiếp đó trong hai ngày 9 và 10, Bộ tư lệnh chiến dịch mở hội nghị quân chính sơ kết ''Pha 1'', ''Pha 2'' và triển khai ''Pha 3'' theo chủ trương của Đảng ủy và kế hoạch của Bộ tư lệnh. Nghị quyết sát đúng của Đảng ủy và sự chỉ đạo kịp thời của Bộ tư lệnh chiến dịch đã làm cho hiệu quả chiến đấu trong ''Pha 3'' chiến dịch Plei Me nâng lên rõ rệt. Những ngày đầu của trung tuần tháng 11 năm 1965, cuộc chạy đua quyết liệt giữa ta và địch diễn ra từng ngày, từng giờ. Về phía ta, sau khi Trung đoàn 66 hành quân vào chiến trường, các trung đoàn được điều chỉnh lại cho phù hợp ý định chiến dịch. Trung đoàn 66 đứng chân ở phía đông nam Chư pông: sở chỉ huy trung đoàn ở bắc làng Trung 1, Tiểu đoàn 7 ở bắc làng Trung 2, Tiểu đoàn 9 ở đông bắc Chư Pông, Tiểu đoàn 8 ở khu vực Ba Bỉ. Trung đoàn 33 bố trí sở chỉ huy, các tiểu đoàn 2, 3 và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) ở khu vực gần làng Briêng; Tiểu đoàn 1 (thiếu) ở khu vực suối cạn gần Ba Bỉ. Trung đoàn 320 cơ động về triển khai ở Plei Thê giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Tiểu đoàn 952 đặc công vẫn đứng chân trên hướng Bàu Cạn. Phối hợp với bộ đội chủ lực, các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai sẵn sàng đánh địch ở An Khê, Bàu Cạn, diệt biệt kích thám báo, bảo vệ kho tàng trong khu tác chiến chiến dịch. Đảng bộ và quân dân Đắc Lắc vừa tích cực ủng hộ lương thực cho chủ lực, vừa chủ động sử dụng Tiểu đoàn 301, các đội công tác H5 tập kích 4 đại đội Hòa Hảo khét tiếng gian ác ở Quảng Nhiêu, giam chân sư đoàn 23 ngụy. Trong khi ta đang điều chỉnh thế bố trí và chuẩn bị "Pha 3'' chiến dịch, thì ngày 10 tháng 11 lữ đoàn 3 kỵ binh không vận (do đại tá Tim Brao chỉ huy) đã đổ bộ xuống Bàu Cạn và Hàm Rồng thay cho lữ đoàn 1. Ngày hôm sau (11.11) một bộ phận của lữ đoàn 3 được đổ xuống Plei Ngo cách Plei Me 10km về phía tây. Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: ''Tạm thời đình phương án đánh lại Chư Ho và đánh Plei Me để câu viện... mà trước mắt tập trung đánh bọn Mỹ đã ra và hiện còn trong hậu phương ta''5. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, đêm 11 tháng 11, 26 chiến sĩ và 4 khẩu cối của Tiểu đoàn 952 đặc công bất ngờ tập kích vào sở chỉ huy lữ đoàn 3 Mỹ ở Bàu Cạn. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt một đại đội chỉ huy (khỏang 200 tên), phá hủy 40 máy bay trực thăng. Cùng đêm, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tập kích sở chỉ huy sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở An Khê gây nhiều thiệt hại cho địch. Đây không chỉ là trận đánh mở màn "Pha 3'' chiến dịch, mà còn là tiếng súng phối hợp với chiến trường Đông Nam Bộ tiến công quân Mỹ ở Bàu Bàng rạng sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965. Phát hiện vị trí trú quân của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 ở đông bắc núi Chư Pông, sáng 14 tháng 11 địch dùng máy bay và pháo lớn từ các trận địa gần Ia Muer, Plei Ngon đánh phá trong nhiều giờ; lúc 10 giờ 37 phút tiểu đoàn 1 (trung đoàn 7, lữ đoàn 3 Mỹ do trung tá Harold Moore chỉ huy đổ bộ xuống khu rừng (địch gọi là bãi đáp ''Tia X'') cách vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 9 khỏang 1km về phía đông. Cùng thời gian này, chúng lập 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở Tây nam quênh Kla 2km và đông nam Ia Đrăng 3km (địch gọi là Phan-cơn) để chi viện cho tiểu đoàn 1. Ngay khi xuống đất, đại đội B (do đại úy John D. Herren chỉ huy) bắt được một chiến sĩ ta (đào ngũ). Qua khai thác, biết lực lượng ta ở gần đó, đại đội B Mỹ chia làm hai mũi tiến vào vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 9, bắn chết chiến sĩ cảnh giới. Khi địch đánh vào, Tiểu đoàn 9 mới biết. Lúc này tiểu đoàn trưởng, tham mưu trưởng, chính trị viên phó tiểu đoàn đi công tác vắng, chỉ có chính trị viên tiểu đoàn ở vị trí chỉ huy, nhưng lại bỏ vị trí xuống Đại đội 12; trong khi các phân đội đóng quân dọc theo suối lại không triển khai kế hoạch tác chiến tại chỗ. Trước tình hình đó, đồng chí trợ lý tác huấn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn chiến đấu, lệnh cho cán bộ, chiến sĩ cơ quan tiểu đoàn kiên quyết đánh chặn địch; đồng thời lệnh cho Đại đội 13 vận động đánh vào bên phải phía sau đội hình địch và Đại đội 11 đánh chặn mũi tiến công bên trái của chúng. Ở khu vực tiểu đoàn bộ, ngay từ những phút đầu nổ súng, chiến sĩ vận tải Đinh Quốc Sủng chỉ huy tổ cảnh giới bắn gục 7 tên Mỹ rồi ở lại chặn địch và anh dũng hy sinh tạo điều kiện cho đồng đội kịp về báo cáo cấp trên; trợ lý chính trị tiểu đoàn Vũ Thanh Xuân tổ chức bộ phận trinh sát, thông tin, y tá, nuôi quân, vận tải chiếm lĩnh công sự dũng cảm chiến đấu đánh lùi nhiều đợt tiến công của địch; trợ lý quân nhu Vũ Quốc Sự, binh nhất Lê Văn Đính và Trịnh Minh Thái bắn rất chính xác, cứ nổ súng là hạ gục một tên địch. Chủ động phối hợp chiến dấu, đại đội phó Đại đội 11 Bùi Hồng Cầu dẫn dầu phân đội xông thẳng vào quân địch, đánh giáp lá cà, diệt chúng bằng lưỡi lê, báng súng và lựu đạn làm quân Mỹ khiếp sợ tháo lui. Từ bờ sông Ia Đrăng, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Định thấy phía đơn vị có tiếng súng nổ đã chủ động tìm cách quay về, khỏang 11 giờ đến Đại đội 11, liền tổ chức đại đội này, một bộ phận của Đại đội 12 hỏa lực và 1 khẩu cối 82mm tiếp tục phản tập kích. Trước sự đánh trả quyết liệt của ta, cả hai mũi tiến công của đại đội B Mỹ bị chặn lại rồi lùi dần. Tiến công thất bại, địch dùng máy bay, pháo binh oanh tạc dữ dội vào đội hình chiến đấu của ta, đồng thời đưa đại đội A tăng viện cho đại đội B. Nhưng quân tăng viện vừa vượt qua con suối cạn đã bị Tiểu đoàn 9 chặn đánh thiệt hại nặng. Lúc 16 giờ 20 phút, được sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh và rốc két, tiểu đoàn 1 Mỹ mở cuộc tiến công cuối cùng trong ngày, khi tiến được 150m thì bị đánh bật trở lại. Đên 19 giờ địch đổ bộ tiếp đại đội B (tiểu đoàn 2, trung đoàn 7) tăng cường cho tiểu đoàn 1 và dùng phi pháo oanh tạc dữ dội vào trận địa ta. Các đại đội của Tiểu đoàn 9 tự động rời vị trí chiến đấu: Đại đội 11, 12, 15 rút về tây bắc suối Khon Cha, Đại đội 13 rút về hướng tây nam. Trên đường lui quân, Đại đội 13 gặp chính ủy Trung đoàn 66 Lã Ngọc Châu. Sau khi nắm tình hình chiến đấu của Tiểu đoàn 9, đồng chí chính ủy Trung đoàn tổ chức ngay một trung đội (của Đại đội 13) tiếp tục bám nắm địch, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 7 tổ chức tập kích cụm địch ngay trong đêm và báo cáo Tiền phương Bộ tư lệnh chiến dịch. Sau gần 9 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 9 đã hoàn thành xuất sắc trận phản tập kích, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, bắn rơi 1 máy bay và truy kích chúng chạy gần 2km. Trận đánh có ý nghĩa ''quan trọng về mặt chiến thuật: ngay từ đầu cuộc tiến công của địch đang từ thế tiến công đột nhiên chuyển sang thế phòng ngự. Về chiến dịch trận phản tập kích này có thể coi như là bắt đầu ngòi nổ của ''Pha 3'' và đã giành thắng lơi giòn giã. Ngoài ra còn có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho Tiểu đoàn 7 tập kích đêm 14 rạng ngày 15 tháng 10''6. ------------------------------------------------------------------ 1. Theo J.Pim Lott trong cuốn "Việt Nam những trận đánh quyết định", trong trận tập kích vào trạm phẫu, địch sát hại 15 chiến sĩ, bắt 43 người khác, lấy đi một số tài liệu, dụng cụ y tế. 2. Đại tướng Chu Huy Mân. Thời sôi động. Sđd, tr. 49. 3. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ký ức Tây Nguyên. Nxb QĐND, H.2000, tr. 72. 4. Đại tướng Chu Huy Mân. "Mấy ý kiến với chương II" bản thảo Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964 2005), tr. 2, 3 (ngày 20.8.2004). 5. Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 ở thung lũng Ia Đrăng từ ngày l4 đến 17.11.1962, tr 2. Hồ sơ: 02-F10 Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng. 6. Nhận xét của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trong Tổng kết chiến dịch Plei Me, tr.6. Hồ sơ 02-F10. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:41:08 pm * Sau khi bị Tiểu đoàn 9 đánh thiệt hại nặng và truy kích, tiểu đoàn 1 Mỹ rút chạy hơn 2km và co cụm lại ở bãi tia X. Trước thời cơ tiêu diệt địch, 21 giờ 30 phút ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 được lệnh tập kích ngay cụm địch này. Mặc dù nhận nhiệm vụ gấp, địa hình mới lạ, đêm tối, các ,đại đội đều có một số chiến sĩ đi lấy gạo chưa về kịp... nhưng được chiến thắng của đơn vị bạn cổ vũ, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 háo hức lập công. Sau 80 phút chuẩn bị, 22 giờ 50 phút, tiểu đoàn hành quân về phía mục tiêu, vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, động viên bộ đội và củng cố tổ chức; chủ trương tích cực truy tìm tiêu diệt địch, gặp là bám sát, triệt để đánh gần của Đảng ủy tiểu đoàn được quán triệt tới từng cán bộ, chiến sĩ. Do địch di chuyển trong đêm, nên đến gần 5 giờ sáng ngày 15 trung đội trưởng Nguyễn Văn Chương (Đại đội 2) mới phát hiện được mục tiêu. Sau khi trực tiếp vào kiểm tra nắm rõ địch và cho các hướng vào chiếm lĩnh, lúc 5 giờ 10 phút tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu hạ lệnh nổ súng. Lập tức 2 khẩu súng cối 82mm bắn dồn dập 14 quả đạn vào mục tiêu. Hỏa lực chuẩn bị vừa rứt, đại đội 1 và đại đội 2 từ hai hướng đông - đông nam và tây - tây nam đồng loạt đánh thẳng vô đội hình địch. Trung đội 2 (Đại đội 2) đánh trúng sở chỉ huy tiểu đoàn, Tiểu đội 6 của Vũ Hải Triều nhanh chóng diệt trung tâm thông tin cắt đứt liên lạc làm cho máy bay pháo binh địch không thể yểm trợ bộ binh đang bị đánh. Cuộc chiến đấu ở bãi Tia X diễn ra rất quyết liệt, bộ đội đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê, báng súng, dao găm, lựu đạn. Đại đội trưởng Đại đội 2 Lê Văn Tam, tiểu đội phó Hà Huy Trọng, các chiến sĩ Phạm Văn Tiết, Trần Minh Duyên, Đỗ Văn Vinh đều diệt được từ 5 đến 7 tên địch, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Bị đánh bất ngờ, áp sát, địch bàng hoàng chống trả rồi tháo chạy. Sau 10 phút tiến công, ta cơ bản làm chủ trận địa. Số địch còn lại chạy dạt về hai phía, lợi dụng gốc cây, ụ mối ngoan cố chống cự. Để cứu nguy cho tiểu đoàn 1 địch đổ thêm 2 đại đội pháo (12 khẩu 105mm) lập trận địa ở Cô-lơm-bớt (Columbus) và cho máy bay phản lực oanh tạc vào chiến địa. Trong cơn bối rối, một chiếc F100 đã ném 2 thùng napan vào sát nơi cố thủ của tiểu đoàn trưởng . Mo-re. Sau 25 phút truy lùng diệt thêm một số địch, lúc 5 giờ 45 phút trận đánh kết thúc; địch thú nhận có 40 tên bị giết. Bộ đội nhanh chóng rời khỏi trận địa. Ta chỉ để lại một trung đội thuộc Đại đội 1 và 2 khẩu cối 82mm ở bìa rừng gần bãi Tia X để phục kích diệt trực thăng địch đến lấy xác. Tiểu đoàn 7 cho bắn thử ngay súng M79 vừa thu được của địch để sử dụng đánh địch. Trên đường ta lui quân, máy bay địch chặn đánh ác liệt Các chiến sĩ dùng súng bộ binh bắn hạ 4 chiếc trực thăng. Trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ, chiến sĩ Nguyễn Hữu Tài (Trung đội 1 Đại đội 1) lấy thân mình làm giá súng trung liên để đồng đội bắn rơi 1 chiếc AD6. làm sống lại hình ảnh Bế Văn Đàn ở Tây Nguyên; có chiến sĩ hy sinh trên lưng còn cõng thi hài đồng đội. Bị đòn đau, trong suốt ngày 15 địch bắn tới 6.000 viên đạn pháo và sử dụng từ 130 đến 140 lần chiếc máy bay đánh phá rất dữ dội vào khu vực tác chiến; trong đó lần đầu tin Mỹ sử dụng B52 (24 lần chiếc) làm nhiệm vụ chi viện chiến thuật cho bộ binh ở Tây Nguyên. Dưới làn bom đạn địch, các chiến sĩ phục kích dũng cảm bám trừ, kịp thời bắn hạ 2 chiếc trực thăng, khống chế bãi Tia X, làm cho địch tăng viện khó khăn, đến 17 giờ mới đổ thêm được 2 đại đội (C và H) của tiểu đoàn 2 xuống trận địa và nhặt xác đồng bọn. Trong đêm 15, tàn quân tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 địch co cụm lại thành ba điểm ở phía bắc trận địa cũ. Theo dõi sát diễn biến trận đánh, thấy Tiểu đoàn 7 còn sung sức, Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch lệnh cho tiểu đoàn tổ chức tập kích lần thứ hai vào cụm quân Mỹ ở bãi Tia X trong đêm 15 rạng sáng ngày 16 tháng 11. Lực lượng sử dụng gồm Đại đội 3, Trung đội 1 Đại đội 1 và 2 khu cối 82mm. Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, Đại đội 3 do trung úy Vũ Đình Thước làm đại đội trưởng và trung úy Phạm Văn Chẩn làm chính trị viên vừa đi lấy gạo và tải thương về đã khẩn trương xuất kích. Đúng 2 giờ 30 phút trận thứ hai bắt đầu. Súng cối bắn liên tục 21 quả đạn vào mục tiêu, tiếp đó bộ binh đồng loạt xung phong. Hướng đông, trong vòng 10 phút đầu Trung đội 1 (Đại đội 1) do đại đội trưởng Lê Triệu chỉ huy đánh chiếm trận địa súng cối, phá hủy 3 khẩu cối 81mm rồi phát triển đánh địch ở cụm 2. Ở hướng nam, Trung đội 1 Đại đội 3 đánh vào cụm 1 địch. Trung đội 3 bị lạc đã chủ động tìm về phía có tiếng súng nổ, tạo thành một mũi vu hồi bất ngờ. Trong ít phút nổ súng địch ở cụm 1 bị tiêu diệt hầu hết; Đại đội 3 nhanh chóng phát triển tiến công sang cụm 3. Do yếu tố bất ngờ không còn, địch ở cụm 2 và 3 dùng hơi lực tập trung ngăn chặn, pháo lớn từ các vị trí xung quanh bắn trùm lên trận địa làm các mũi tiến công của Tiểu đoàn 7 gặp khó khăn. 5 giờ, tiểu đoàn trưởng cho các phân đội rời khỏi trận địa. Quá trình lui quân, một số chiến sĩ không nhận được lệnh rút, vẫn ở lại chiến đấu cả ngày 16. Chiến sĩ Trịnh Văn Thu một mình một súng dũng cảm đánh lui toán địch phản kích, sau đó đem theo tử sĩ và đầy đủ súng đạn rút ra an toàn. Hai trận tập kích liên tiếp, Tiểu đoàn 7 đã diệt đại đội C, trung đội chỉ huy, trung đội súng cối, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên địch, bắn rơi 6 trực thăng (trong đó có chiếc chở đại tá Brao " lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 Mỹ). Địch thú nhận bị chết 79 tên, bị thương 128 tên và mất gần hai phần ba số sĩ quan tiểu đoàn. Ta thu 72 khẩu súng, 22 vô tuyến điện; phá hủy 3 khẩu cối 81mm. Về phía Tiểu đoàn 7 có 51 cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Ý nghĩa của trận đánh đó được Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên khẳng định: ''Hai trận tập kích liên tiếp của Tiểu đoàn 7 đã quyết định dứt khóat thế bị động hoàn toàn của quân Mỹ về mặt chiến thuật, buộc chúng rút lui có tính chất tháo chạy'', ''Tiểu đoàn 7 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:51:26 pm * Để tránh bị tập kích đêm, sau khi nghi binh, chiều ngày 16 tháng 11 tàn quân tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 Mỹ vội vã rút khỏi bãi Tia X bằng đường bộ, đi về phía trận địa pháo Columbus và Albany ở hướng đồng. Cùng thời gian này, Chỉ huy tiền phương chiến dịch chỉ thị cho Trung đoàn 66 nhanh chóng cơ động Tiểu đoàn 8 từ Ba Bỉ về tiêu diệt lực lượng còn lại của 2 tiểu đoàn địch; đồng thời khẩn trương cho Tiểu đoàn 9 theo đường làng Sinh, Trạm 5 về triển khai ở khu vực làng Tung chặn địch. Chiều ngày 16, mệnh lệnh trên được chính ủy Trung đoàn 66 Lã Ngọc Châu giao cho chiến sĩ liên lạc Nguyễn Đức Tăng chuyển đến Tiểu đoàn 8. Khi tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi nhận được mảnh giấy ghi mệnh lệnh từ trong túi áo đẫm máu thì cũng là lúc Nguyễn Đức Tăng trút hơi thở cuối cùng. Nhận rõ tính khẩn cấp và ý thức được thời cơ tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ đã đến, Đảng ủy Tiểu đoàn 8 họp xác định quyết tâm lãnh đạo đơn vị cơ động chiến đấu theo mệnh lệnh của trung đoàn. Tiếp đó, cán bộ tiểu đoàn, đại đội bàn kế hoạch hành quân, dự kiến cách đánh khi gặp địch trên đường cơ động (tao ngộ chiến) và sơ bộ hiệp đồng chiến đấu theo các tình huống. Thực hiện kế hoạch, chiều ngày 16 Tiểu đoàn 8 rời khu vực Ba Bỉ và đến trưa ngày hôm sau (17.11) tiến vào ngã ba làng Tung và làng Sinh, khu vực suối cạn. Cũng trong buổi sáng ngày 17, khỏang 400 quân Mỹ thuộc lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1 (trung đoàn 7) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 5) lữ đoàn 3 hành quân về phía ngã ba làng Tung và làng Sinh. 9 giờ sáng bộ phận đi đầu của địch vượt qua suối cạn đã bắt được 2 chiến sĩ trong tổ săn máy bay của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33. Sau khi dừng lại 20 phút để tra hỏi, địch lại tiếp tục hành quân. Lúc 12 giờ, nhận được tin đơn vị bạn thông báo phía trước có địch, tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi cho đơn vị dừng lại khẩn trương triển khai đội hình chiến dấu thành hai thê đội. Bộ đội chiếm lĩnh trận địa xong thì 2 trung đội Mỹ tiến vào. Đợi địch vào thật gần, cách 40 - 50m, Đại đội 6 mới bất ngờ nổ súng đồng loạt rồi xung phong. Sau 5 phút chiến đấu, 2 trung đội Mỹ đi đầu bị tiêu diệt gọn, 2 chiến sĩ bị địch bắt trước đây được giải thóat. Đợt đánh mở đầu vừa kết thúc, cũng là lúc đội hình hành quân chính của địch tới cách trận địa 300m. quân Mỹ vừa đi vừa bắn, pháo binh máy bay đánh mạnh vào trận địa, nhưng các chiến sĩ Đại đội 6 vẫn kiên quyết chiếm địa hình có lợi, rồi hình thành nhiều mũi chiến đấu, từ phía bắc đánh mạnh vào đội hình quân địch. Chủ động hiệp đồng theo tiếng súng, Đại đội 8 quay lại bất ngờ đánh vào sườn tây. Cùng lúc, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 Bùi Thế Luận lệnh cho Đại đội 2 đánh một mũi trên hướng bắc - đông bắc, còn mình trực tiếp chỉ huy Đại đội 1 đánh từ hướng đông lại. Hỏa lực cối 82mm của Tiểu đoàn 8 bắn mạnh vào các mục tiêu, chi viện bộ binh chiến đấu. Đại đội 7 cũng được lệnh bước vào chiến đấu trên hướng Đại đội 6, nhưng bị bom địch đánh cắt ngang đội hình, chỉ có một trung đội kịp lên tham chiến. Bị bao vây và đánh mạnh cả bốn mặt, địch co cụm trên một dải đất hẹp, mỗi chiều chừng 200m nhưng vẫn ngoan cố chống cự. Trên trời, máy bay địch từng đàn thi nhau ném bom, bắn rốc két và đạn 20mm hòng cứu nguy cho đồng bọn trên mặt đất. Bộ đội dũng cảm áp sát đội hình quân địch, thực hiện đánh gần, đánh liên tục, kiên quyết tiêu diệt quân Mỹ. Càng về chiều, trận đánh càng trở nên khốc liệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi bị đạn pháo thủng bụng lòi một đoạn ruột máu chảy đầm đìa nhưng cố gượng dậy dùng tấm vải dù ngụy trang buộc ép lại rồi tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu và anh dũng hy sinh1; chính trị viên tiểu đoàn bị thương nặng; nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Trước tình hình đó, tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận phụ trách chỉ huy chung hai tiểu đoàn tiêp tục chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 8 nghiêm chỉnh tự giác chấp hành mệnh lệnh. Lòng căm thù giặc Mỹ, tấm gương anh hùng của người chỉ huy quả cảm và đồng đội đã ngã xuống càng tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ. Các phân đội siết chặt đội hình, các tổ, mũi chiến đấu bám sát yểm hộ cho nhau đánh giáp lá cà, tiêu diệt địch bằng lưỡi lê, báng súng, dao găm. Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế ba lần bị thương vẫn kiên quyết ở lại chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn chết 5 tên và dùng dao găm đâm chết ba tên khác. Chiến sĩ Cao Đình Thơ bằng một đường lê chính xác đâm chết một tên Mỹ, cứu sống đồng đội các đồng chí: trung úy Đoàn Ngọc Đảnh đại đội trưởng Đại đội 8, thiếu ý Nguyễn Xuân Ngạch - trung đội trưởng (Đại đội 7), trung úy Vũ Đình Dự - chính trị viên Đại đội 8, thiếu úy Vũ Đức Thắng - trung đội trưởng (Đại đội 8 ), đồng chí Chương - trung đội phó Trung đội 3 (Đại đội 6), đồng chí Mỹ - tiểu đội trưởng (Trung đội 2, Đại đội 6), chiến sĩ Lê Văn Quỳnh, xạ thủ trung liên A (dân tộc thiểu số, Trung đội 2, Đại đội 6), tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận là những tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, diệt từ 5 đến 15 tên Mỹ. Chiến sĩ Huân xông pha trong lửa đạn cứu chữa thương binh, chuyển tử sĩ không để sót một người nào. Khi tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận hy sinh2, cán bộ chiến sĩ của Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 1 tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc. Sau gần 8 giờ chiến đấu vô cùng quyết liệt, khỏang hơn 17 giờ ngày 17 tháng 11 trận đánh kết thúc thắng lợi. Gần 400 tên địch của tiểu đoàn 1(trung đoàn 7) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 5) lữ đoàn 3 Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, chỉ còn vài chục tên sống sót chạy được về căn cứ. Địch thú nhận có 151 tên tử trận và 121 tên bị thương trong trận đánh này. Đây là một trận đánh thể hiện khí phách anh hùng và lòng dũng cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên; đồng thời là trận đánh khủng khiếp nhất và thất bại thảm hại nhất của quân viễn chinh Mỹ trong chiến dịch Plei Me. Về trận đánh này, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã nhận xét đây ''không những là một trận kết thúc của một cuộc chiến đấu về mặt chiến thuật, mà về mặt chiến dịch nó là một trận then chốt quyết định về sự thất bại căn bản đối với mục đích và nhiệm vụ của lữ đoàn 3 Mỹ trong chiến dịch Plei Me''. Để tiếp tục giáng cho quân Mỹ những đòn chí mạng, ngày 18 tháng 11 Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo Phan-cơn ở phía tây suối Ia Muer. Thực hiện mệnh lệnh, từ 16 giờ 30 phút ngày 18, hai tiểu đoàn 2 và 3 cùng phân đội súng cối do tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy nổ súng tiến công trận địa pháo địch. Sau ít phút chiến đấu, ta diệt một đại đội và chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch, phá hủy 3 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu cối 81mm, 5 máy bay trực thăng và bắn rơi 2 chiếc khác; thu 750 viên đạn pháo và 30 viên đạn cối. Quân Mỹ bị thất bại nhục nhã, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận bị đánh tơi tả ở thung lủng Ia ĐRăng, buộc địch phải ném lực lượng dự bị cơ động chiến lược của ngụy ra đỡ đòn cho quân Mỹ. Ngày 17 tháng 11, chiến đoàn dù số 1 ngụy đỗ xuống Đức Cơ và sau đó được đưa tiếp đến Plei Thê và tây suối Ia Kreng. Cùng ngày, chiến đoàn dù số 2 cũng được đổ xuống đông suối Ia Muer nhằm đánh vào hậu phương và cắt đứt đường vận chuyển của ta. Trước diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương sử dụng Trung đoàn 320 (dự bị chiến dịch trong pha 3) đang dừng chân ở Plei Thê và phía bắc núi Chư Pông tiến công tiêu diệt từ 1 đến 2 tiểu đoàn dù ngụy, đồng thời cơ động Trung đoàn 66 về làm lực lượng dự bị chiến dịch. Nhưng khi địch đỗ bộ đúng như phương án dự kiến, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 635 dao động, cho đơn vị rút về hướng núi Chư Pông. Trung đoàn 320 chỉ còn Tiểu đoàn 334 nằm kẹp giữa hai chiến đoàn dù ngày. Từ ngày 18 đến 27 tháng 11, Trung đoàn chỉ tổ chức đánh được 3 trận nhỏ, diệt khỏang 200 tên; bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch không hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 19 tháng 11 năm 1965, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ hốt hỏang rút hết lực lượng còn lại khỏi thung lũng Ia Đrăng cái viễn cảnh cho cuộc tiến công vô thung lũng Ia Đrăng ''chẳng khác gì một cuộc dạo chơi nhỏ dưới ánh mặt trời và sau đó trở về căn cứ dể ăn thức ăn nóng và tắm mát bằng vòi phun hoa sen'' mà quân Mỹ tưởng tượng ra đã bị đảo ngược, trở thành một thảm bại, hãi hùng trong thực tế ngay khi chúng đặt chân lên Tây Nguyên. Trong quá trình diễn ra chiến dịch Plei Me, các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc tích cực tiến công và đấu tranh trực diện với địch phối hợp chặt chẽ với hoạt động của bộ đội chủ lực. Đặc biệt, quân và dân Gia Lai liên tục hoạt động tạo vành đai diệt Mỹ xung quanh các căn cứ An Khê, Bàu Cạn... diệt gần 100 tên Mỹ - ngụy, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh; du kích các xã huyện 5 tích cực bắn tỉa làm cho địch nơm nớp lo sợ... có tác dụng căng kéo địch, hỗ trợ cho bộ đội chủ lực Mặt trận tác chiến. Trong cuộc đấu tranh trực diện với địch, chị Kpã HNét hội trưởng đội phụ nữ xã E5 dũng cảm cởi áo nằm chặn đầu xe địch không cho chạy vào làng, phá rẫy, buộc lính Mỹ phải nhượng bộ. Ở Ia Me, chị Goch phải dằn lòng hy sinh đứa con nhỏ để giữ bí mật cho bộ đội Trung đoàn 320. Lực lượng dân công phục vụ chiến dịch không quản ngày đêm, bom đạn ác liệt. Nhiều chiến sĩ bị thương lạc rừng được bà con đồng bào dân tộc thiểu số bí mật cứu chữa, đưa về nuôi dưỡng, sau trở về đơn vị cũ. Ngoài ra còn biết bao hành động và chiến công thầm lặng, những hy sinh mất mát của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong phối hợp hành động với chiến dịch Plei Me không thể tính được. Ngày 26 tháng 11, chiến dịch Plei Me kết thúc toàn thắng. Trải qua 38 ngày đêm chiến đấu liên tục (19.10- 26.11), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.974 tên địch (có khỏang 1.700 tên Mỹ); tiêu diệt tiểu đoàn 2 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1, lữ đoàn 3, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ; tiêu diệt chi đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 42, đánh tiêu hao một lực lượng của chiến đoàn dù số 1 và 2 ngụy; đánh thiệt hại nặng lực lượng biệt kích trong cứ điểm Plei Me; phá hủy 88 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), 5 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 59 máy bay; thu 73 khẩu súng các loại và 58.000 viên đạn. Về phía ta, có 554 cán bộ, chiến sỹ hy sinh và 669 đồng chí bị thương. Chiến dịch tiến công Plei Me là chiến dịch đầu tiên ở Tây Nguyên, động thời là chiến dịch tiến công quân Mỹ đầu tiên của ta ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. ''Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng''3, nó là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Tây Nguyên, là nguồn động viên cổ vũ lớn lao quân và dân hai miền Nam, Bắc thi đua giết giặc lập công, đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) của quân Mỹ. Âm hưởng của chiến thắng nhanh chóng vượt qua không gian một khu vực, trường tồn mãi với thời gian, làm chấn động cả nước Mỹ và thế giới. Từ thực tiễn chiến dịch đã giải đáp một vấn đề nóng hổi: Việt Nam có đánh được Mỹ không? Và khẳng định: chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là vô địch, nhất định sẽ đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; bộ đội ta với trang bị mang vác vẫn có thể tiêu diệt gọn tiểu đoàn bộ binh Mỹ, đánh bại chiến thuật cơ động bằng máy bay trực thăng của Mỹ những đơn vị tinh nhuệ nhất của chúng ở chiến trường rừng núi trong "Chiến tranh cục bộ'' ở miền Nam. Chiến thắng Plei Me không chỉ là mốc son lịch sử sáng chói của quân và dân Tây Nguyên, mà còn để lại nhiều bài học có giá trị về nghệ thuật quân sự. Đó là bài học về nghệ thuật nghiên cứu dự báo đúng đối tượng tác chiến mới; lựa chọn cách đánh đúng và thắng địch ngay từ trận đầu; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các loại hình chiến thuật trong điều kiện cụ thể từng trận, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta; về nghệ thuật chỉ huy xuất sắc trong chiến dịch; đặc biệt là bài học về công tác đảng - công tác chính trị đã xây dựng được ý chí quyết tâm dám đánh và quyết thắng Mỹ. Khẩu hiệu ''Tìm Mỹ mà diệt'', "Tìm ngụy mà đánh'' đã trở thành phong trào sôi nổi trong các lực lượng vũ trang Tây Nguyên và toàn miền Nam. Đây là những viên ngọc quý trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Với chiến công đặc biệt xuất sắc, các đơn vị tham gia chiến dịch Plei Me đã được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng nhất4; 2 đơn vị và 13 cá nhân được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai, 6 đơn vị và 53 cá nhân được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba; 2 đại đội được tặng danh hiệu ''Đại đội Anh dũng diệt Mỹ''; 5 trung đội được tặng danh hiệu Trung đội Anh dũng diệt Mỹ''; 3 tiểu đội được tặng danh hiệu ''Tiểu đội Anh dũng''; 54 cá nhân được tặng danh hiệu ''Dũng sĩ diệt Mỹ'', 3 cá nhân được tặng danh hiệu ''Chiến sĩ diệt M113 và xe tăng''. Đặc biệt, liệt sĩ đại úy Lê Xuân Phôi - tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1995). ------------------------------------------------------------------ 1. Đại úy Lê Xuân Phôi tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân ngày 30.8.1995. 2. Đồng chí Bùi Thế Luận được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì. 3. Phát biểu của Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Hội thảo ''Chiến thắng Plei Me, 30 năm sau nhìn lại'' tại Hà Nội, năm 1995. 4. Trong bức điện gửi Bộ tư lệnh Măt trận Tây Nguyên tháng 12 năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Quân ủy Trung ương giải thích: "Quân đội ta không có huân chương nào cao quý hơn Huân chương Quân công hạng nhất, nhưng để xứng đáng với chiến thắng Plei Me, nên tặng chiến thắng này hai Huân chương Quân công hạng nhất". Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:02:13 pm 2. Tạo thế, tạo lực, liên tục tiến côn 'đánh bại cuộc phản kích mùa khô lần thứ hai của địch ở Tây Nguyên. Mặc dù đưa một lực lượng lớn quân viễn chinh Mỹ là chư hầu vào miền Nam, thực hiện ''chiến tranh cục bộ'', nhưng trong thu Đông 1965 quân địch vẫn bị thất bại liên tiếp ở Vạn Tường, Plei Me, Đất Cuốc, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đồng Dương trên 30.000 tên địch, trong đó có 9.000 tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Biện pháp ''tìm diệt'' bị đánh phủ đầu, gọng kìm ''bình định'' vẫn dậm chân tại chỗ, chiến tranh phá hoại miền Bắc bị giáng trả đích đáng. Nhưng với bản chất xâm lược và ngoan cố Mỹ, ngụy tiếp tục leo thang chiến tranh bằng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 hòng giành thắng lợi quyết định. Trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (12.1965 - 6.1966) địch thực hiện kế hoạch ''5 mũi tên'', tập trung lực lượng Mỹ, chư hầu và quân ngụy nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực và đối phó với các hoạt động quân sự của ta trên hai hướng Khu 5 và miền Đông Nam Bộ. Với 206.772 quân Mỹ và chư hầu cùng 520.000 quân ngụy, trong 6 tháng đầu năm 1966 địch đã tổ chức 1.880 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, sử dụng 191.378 lần chiếc máy bay (trong đó có 1.976 lần chiếc B52), 54.163 lần chiếc tàu thủy yểm trợ hành quân và đánh phá căn cứ địa của ta. Song song với cuộc phản công ở miền Nam, Mỹ tiếp tục mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, lần đầu tiên dùng máy bay B52 ném bom đèo Mụ Giạ miền tây Quảng Bình; bước đầu xây dựng hàng rào điện tử ở khu phi quân sự; tiến công ngoại giao xảo quyệt dưới nhân hiệu ''hòa bình thương lượng'' hòng lừa bịp dư luận và che giấu bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng. Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp hội nghị lần thứ 12 (27.12.1965) đề ra ''Nghị quyết lịch sử'' khẳng định: ''Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn''; đồng thời quyết định: "Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước''. Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc''. Phương châm chiến lược của cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, nhưng hướng phấn đấu tích cực là: ''Tập trung lực lượng của cả hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn''. Thực hiện Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng, chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh1 và Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương phát triển thế chủ động tiến công, giành thắng lợi quân sự ngày càng lớn, tiến lên giành thắng lợi quyết định trên chiến trường chính miền Nam. Để miền Nam đánh mạnh thắng to, lực lượng bộ đội tập trung trong năm 1966 được đưa lên từ 27 vạn đến 30 vạn, gồm 35 trung đoàn chủ lực, 51 tiểu đoàn bộ đội địa phương, đồng thời phát triển dân quân du kích rộng khắp. Các đơn vị binh chủng trong bộ đội chủ lực được tăng cường, lực lượng đặc công biệt động phát triển mạnh, các đơn vị chuyên trách đánh giao thông đô thị được xây dựng. Trong xuân hè 1966 đã có 9 trung đoàn bộ binh, 3 trung đoàn pháo binh mặt đất, cùng một số đơn vị phòng không, công binh, thông tin với đầy đủ quân số vũ khí trang bị được lệnh hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 và miền Đông Nam Bộ. Là một chiến trường trọng điểm đánh tiêu diệt sinh lực địch, cuối năm 1965 đầu năm 1966 Mặt trận Tây Nguyên được tăng cường một lực lượng lớn các đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm và từng bước được xây dựng củng cố về mọi mặt. Tháng 2 năm 1966 Trung đoàn 24A2 do thiếu tá Phùng Bá Thường làm trung đoàn trưởng và thiếu tá Nguyễn Mạnh Thạch làm chính ủy đã hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên. Tiếp đó là trung đoàn bộ trung đoàn pháo binh 68A, một đại đội chỉ huy và Tiểu đoàn pháo binh 11 (có 12 khẩu pháo 105mm do trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Giá chỉ huy), trung đoàn bộ binh 88 (Sư đoàn bộ binh 308), Tiểu đoàn 96 pháo binh (có 12 khẩu cối 120mm), Sư đoàn bộ binh 325B3 (do đồng Chí Vương Tuấn Kiệt (Vương Phú) làm sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Trân làm sư đoàn phó, đồng chí Quốc Tuấn làm chính ủy, đồng chí Trần Xuân Lư làm phó chính ủy, đồng chí Thái Bá Nhiệm làm chủ nhiệm chính trị, đồng chí Nguyễn Lương Thầm làm trưởng ban tác chiến, đồng chí Nguyễn Quốc Thước làm phó ban...) cũng lần lượt vào chiến trường. Cùng thời gian này, Tổng cục Hậu cần chi viện cho chiến trường Tây Nguyên Quân y viện 84 (tức Viện Quân y 211) do bác sĩ Võ Văn Vinh - Cục phó Cục Quân y làm Viện trưởng, đồng chí Khuất Duy Kính làm Chính ủy và ba viện phó là: bác sĩ Lê Cao Đài, bác sĩ Trần Nam Hưng, đồng chí Lê Công Viện. Đội ngũ cán bộ của bệnh viện được chọn trong các chuyên viên ở hai bệnh viện tuyến cuối của quân đội là Viện Quân y 108 và Viện Quân y 1034. Cục Quân giới cũng bổ sung cho Tây Nguyên hai đoàn cán bộ. Đoàn 10 do đồng chí Tô Văn Của làm trưởng đoàn, Đoàn 30 do đồng chí Lê Văn Chức làm trưởng đoàn. Một đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng do đại tá Vũ Văn Cẩn - Phó chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần kiêm Cục trưởng Cục Quân y, làm trưởng đoàn cũng được tăng cường vào Tây Nguyên để nghiên cứu tình hình và trực tiếp giúp đỡ các ngành của Mặt trận. Trên cơ sở lực lượng chủ lực tại chỗ và những đơn vị vừa từ miền Bắc chi viện, tháng 12 năm 1965 Mặt trận Tây Nguyên thành lập 2 sư đoàn bộ binh (1 và 6). Sư đoàn bộ binh 1 gồm 3 trung đoàn bộ binh vừa tham gia chiến dịch Plei Me: 320, 33, 66 và một số phân đội hỏa lực, bảo đảm do đồng chí Nguyễn Hữu An làm sư đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Sư đoàn bộ binh 6 gồm 2 trung đoàn bộ binh: 24, 88, Tiểu đoàn 200 pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không, một đại đội công binh. Nhưng 2 trung đoàn (24, 88) đang trên đường hành quân vào chiến trường, nên Sư đoàn 6 mới hình thành bộ tư lệnh, cơ quan và một số phân đội trực thuộc. Đầu tháng 4 năm 1966, khi Sư đoàn 325B vào chiến trường, vẫn được giữ nguyên tổ chức biên chế và đổi phiên hiệu thành Sư đoàn 10 (mật danh là Nông trường 10). Bên cạnh các đơn vị trực tiếp chiến đấu, lực lượng bảo đảm phục vụ cũng được củng cố, tổ chức cho phù hợp yêu cầu chiến trường: thành lập 2 tiểu đoàn vận tải bộ: Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2, Xưởng quân giới X53, xúc tiến xây dựng các căn cứ hậu cần ở cánh Bắc, cánh Nam và cánh Trung. Việc tăng cường quân số lên 32.000, thành lập các sư đoàn bộ binh và các phân đội, cơ sở bảo đảm phục vụ đánh dấu sự lớn mạnh vượt bậc, là bước tiến nhảy vọt của Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên nhằm đáp ứng yêu cầu đánh tiêu diệt lớn quân địch; song cũng làm mất cân đối giữa khả năng có hạn về bảo đảm hậu cần với nhu cầu cho các hoạt động của bộ đội. Đây cũng là vấn đề nan giải của chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước. Để tăng cường, thống nhất việc lãnh đạo, chỉ huy Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên và đáp ứng tình hình phát triển của chiến tranh trên địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng này, ngày 27 tháng 4 năm 1966 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết ''Về việc thành lập Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên''; xác định rõ nhiệm vụ của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên là: ''Lãnh đạo và chỉ đạo việc xây dựng, tác chiến của các lực lượng chủ lực hoạt động ở Tây Nguyên, bảo đảm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quân sự mà Trung ương và Quân ủy Trung ương giao cho''. Về quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ tư lệnh Tây Nguyên với Khu ủy và Quân khu 5, Bộ Chính trị quy định: giải quyết theo ''nguyên tắc quan hệ giữa bộ đội chủ lực hoạt động ở địa phương với cấp ủy địa phương. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên có nhiệm vụ giúp đỡ cấp ủy địa phương chỉ đạo việc xây dựng, tác chiến của các lực lượng vũ trang địa phương, phối hợp hoạt động giữa chủ lực và địa phương''. Đối với Trung ương Cục miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên ''có nhiệm vụ liên lạc và báo cáo tình hình... phối hợp chiến trường, trao đổi kinh nghiệm''5. Cùng ngày, Bộ Chính trị ra Nghị quyết ''... chỉ định Đảng ủy "Chiến trường Tây Nguyên'' gồm 11 đồng chí: Bí thư Đảng ủy Chu Huy Mân, Phó bí thư Lê Trọng Tấn6 và các ủy viên: Hoàng Kiện, Đặng Vũ Hiệp, Hoàng Phương, Quốc Tuấn, Nguyễn Nam Khánh, Vương Tuấn Kiệt, Thái Dũng, Bùi Nam Hà, Nguyễn Hữu An. Việc kiện toàn Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên, xác định rõ nhiệm vụ chức năng, các mối quan hệ giữa lãnh đạo chỉ huy chiến trường với Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu 5, Quân khu 5 và địa phương các tỉnh Tây Nguyên của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng là một quyết định đúng đắn, kịp thời. Nó không những đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phương hướng xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tác chiến, đưa chiến tranh cách mạng ở địa bàn chiến lược quan trọng Tây Nguyên hòa nhịp với toàn chiến trường miền Nam; mà còn tăng thêm sức mạnh cho khối chủ lực, làm cho mối quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các đơn vị chủ lực với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương càng thêm gắn bó. -------------------------------------------------------------------- 1. Ngày 16.1.1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 12 Ban Chấp hành Trung ương. 2. Đây là Trung đoàn 42 Trung Dũng thuộc Quân khu 3, khi đến chiến trường Tây Nguyên, đơn vị có 2.634 cán bộ, chiến sĩ. 3. Sư đoàn bộ binh 325B có 8.059 cán bộ, chiến sĩ; trong Sư đoàn có 2 trung đoàn bộ binh 95B và 101B. Trung đoàn bộ binh 95B do đồng chí Lê Khắc Cần làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Hưu làm Chính ủy. Trung đoàn l01B do đồng chí Ma Văn Minh làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Hân làm chính ủy. 4. Đầu tháng 5.1966 cán bộ, chiến sĩ Quân y Viện 84 vào đến chiến trường Tây Nguyên. 5. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3, Biên niên sự kiện, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2002, tr. 50: 6. Do yêu cầu nhiệm vụ thay đổi, đồng chí Lê Trọng Tấn không vào tham gia Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:11:48 pm * Sau chiến dịch Plei Me, bên cạnh ý nghĩa to lớn của trận đầu thắng Mỹ, tình hình tư tưởng trong bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên cũng có những diễn biến phức tạp. Do hành quân chiến đấu liên tục, dài ngày, ác liệt, thương vong; ăn uống kham khổ, thuốc men thiếu thốn, bệnh tật, nhất là sốt rét ác tính và bệnh tê phù hoành hành. Triệt để lợi dụng khó khăn của ta, địch ráo riết tiến hành chiến tranh tâm lý rất thâm độc, hăm dọa; dụ dỗ, kêu gọi chiến sĩ ta ''chiêu hồi''... đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng bộ đội. Trong khi đó củng cố, lãnh đạo chính trị, giáo dục tư tưởng sau chiến thắng ở không ít đơn vị cơ sở chưa theo kịp yêu cầu tình hình, chưa chủ động tích cực đấu tranh trước các biểu hiện tiêu cực sa sút; có nơi buông lỏng lãnh đạo, chỉ huy quản lý, cán bộ thiếu ân cần chăm sóc và thuyết phục cấp dưới lúc khó khăn... làm cho nội bộ đơn vị mất đoàn kết, nhiều đồng chí không yên tâm với nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng chiến trường lâu dài. Nghiêm trọng hơn có những cán bộ, chiến sĩ sa sút ý chí chiến đấu, dao động, thôi thúc nhiệm vụ; vi phạm kỷ luật, chính sách. Trước tình hình trên, Đảng ủy Mặt trận kịp thời đề ra "chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất khí tiết, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến cùng''1. Thực hiện chủ trương trên, đợt chỉnh huấn chính trị tập trung lớn đầu tiên cho cán bộ trung cao cấp toàn Mặt trận được tổ chức. Từ ngày 25 tháng 12 năm 1965 đến ngày 5 tháng 1 năm 1966, 166 cán bộ trung cao cấp (gồm 13 cán bộ trung đoàn, 29 cán bộ tiểu đoàn, 124 cán bộ cơ quan trung đoàn và Mặt trận) được quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, chiến trường Tây Nguyên; học tập truyền thống và bản chất quân đội, thực hiện lời dạy của Bác Hồ... liên hệ kiểm điểm cá nhân sâu sắc, tự giác dân chủ đề cao tự phê bình và phê bình. Kết thúc đợt chỉnh huấn, Thiếu tướng Chu Huy Mân tuyên bố và đợt tất cả những bản kiểm điểm về khuyết điểm, tất cả cán bộ giữ bản ưu điểm của mình để phát huy, rồi trao dây trói tù binh Mỹ cho chính ủy các trung đoàn 66, 33, 320 trong tiếng vỗ tay vang dậy. Ngay sau đợt chỉnh huấn chính trị thành công, Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức tập huấn về nghệ thuật chiến dịch tiến công cho cán bộ trung đoàn, sư đoàn và đầu ngành ba cơ quan Mặt trận; đồng thời chuẩn bị cho đợt tiến công mùa xuân Bính Ngọ 1966. Từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 7 tháng 4 năm 1966, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở đợt tiến công mùa Xuân, nhằm tiêu diệt và kìm chân một bộ phận Quân Mỹ - ngụy, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và phối hợp chiến trường toàn miền Nam. Trong đợt 1 (15-20.2) Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 (Sư đoàn bộ binh 1) đánh 4 trận quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn ở khu vực Ia Vầm (Đắc Lắc) tiêu hao một lực lượng của trung đoàn 45 ngụy, phá hủy một số xe thiết giáp. Đợt 2 (21.2-27.3) ta đánh một số trận nhỏ lẻ chống cuộc càn quét của lữ đoàn 3 sư đoàn 252 Mỹ ở bắc Buôn Ma Thuột. Sang đợt 3 (30.3-7.4), Trung đoàn 66 và Trung đoàn bộ binh 88 (vừa hành quân vào chiến trường, phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 1) đách bại đợt tiến công của lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Chư Pông. Nổi bật là trận đánh ngày 2 tháng 4 của Trung đoàn 66. Khi ta tập kích cụm địch ở Đồi Xanh không thành công, địch dừng một tiểu đoàn bộ binh từ Đồi Xanh tiến lên đồi Đá Trắng, bị Tiểu đoàn 8 chặn đánh diệt 80 tên. Kết quả đợt tiến công mùa xuân 1966 tuy còn hạn chế: loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, diệt gọn 1 đại đội bộ binh và 1 chi đội xe bọc thép, bẻ gãy cuộc càn quét của địch ra khu vực buôn Ia Vầm và Chư Pông..., nhưng nó đã giam chân một lực lượng địch đáng kể, tạo điều kiện cho Khu 5, Đông Nam Bộ, đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ, ngụy. Sau đợt tiến công mùa xuân, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên dự định mở tiếp cuộc tiến công mùa hè ở cánh Bắc (Kon Tum), nhưng công tác bảo đảm hậu cần khó khăn nên phải chuyển xống cánh Nam. Hướng tác chiến chủ yếu được chọn ở tây nam Plei Ku, bao gồm khu vực Plei Gi Răng, Bàu Cạn, Plei Me, Chư Pông, Đức Cơ do hai sư đoàn bộ binh 1 và 10 đảm nhiệm. Hướng tiến công thứ yếu ở bắc Kon Tum: khu vực Đắc Pét, Đắc Tô, Tu Mơ Rông, đường 14 do Sư đoàn bộ binh 6 phụ trách. Đợt tiến công mùa hè kéo dài từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8 và chia làm ba đợt. Trong đợt 1 (21-30.5) chiến sự diễn ra đồng thời trên cả hai hướng tây nam Gia Lai và bắc Kon Tum. Hướng chính, do chuẩn bị chưa đầy đủ nên Tiểu đoàn 966 Trung đoàn 320 phải chuyển từ công kiên sang vây điểm Plei Gi Răng (21-27.5); Trung đoàn 66 diệt địch nống ra Đồn Mo (24.5). Ngày 27 tháng 5 địch đổ bộ một lực lượng xuống Sùng Lễ, ta chủ trương mở vây Plel Gi Răng để tập trung tiêu diệt quân ứng cứu. Nhưng do chấp hành kỷ luật không nghiêm, Tiểu đoàn 21 súng máy phòng không Sư đoàn bộ binh 1 bị máy bay địch đánh trúng đội hình, không tổ chức đánh trả, tự động, rút quân, bị địch lấy mất 5 khẩu 12,7mm. Ngày 29 tháng 5 Trung đoàn 66 chuyển sang tiến công cụm địch đổ bộ ở Chư Pa, khi tiêu diệt được khỏang 2 đại đội địch, bộ đội lại tự động lui quân. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 lệnh cho Trung đoàn 33 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) tiếp tục tiến công quân địch còn lại ở Chư Pa. Quá trình tiến công bị địch đánh chặn, khả năng tiến công giảm sút, ta phải lui quân. Trên hướng thứ yếu bắc Kon Tum, từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 5, Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 có hỏa lực tăng cường, vây ép cứ điểm Tu Mơ Rông. Chiều ngày 24, địch đưa trung đoàn 42 (thiếu), tiểu đoàn 21 biệt động quân lên ứng cứu, song lại rơi vào trận địa phục kích của Trung đoàn 24 ở khu vực đèo Đắc Rô Gia; ta phá hủy 27 xe (có 3 xe M113), loại khỏi vòng chiến đấu khỏang 300 tên địch, thu gần 100 súng các loại. Để cứu nguy cho quân ngụy, Mỹ buộc phải đưa lữ đoàn dù 1 thuộc sư đoàn dù 1013 vào tham chiến. Ngày 6 tháng 6, khi lực lượng đi đầu của lữ đoàn dù 1 vừa đặt chân lên Tân Cảnh đã bị Trung đoàn 24 bất ngờ tập kích ở Đắc Prông, diệt chỉ huy tiểu đoàn 1, 1 đại đội và 2 trung đội, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, phá hủy một trận địa pháo. Để gỡ thế bị động và tìm diệt lực lượng ta, ngày hôm sau (7.6) lữ đoàn 1 bổ sung quân số, vũ khí cho Đắc Prông, động thời dùng 1 đại đội thám báo lần theo dấu vết lui quân của ta, rồi đổ bộ một lực lượng xuống Đắc Trâm định đánh vào sau lưng Trung đoàn 24. Ngày 7 tháng 6, Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 do đại đội phó Bân chỉ huy đánh bật đợt xung phong của 1 đại đội Mỹ, diệt 40 tên, thu một số súng đạn. Ngày hôm sau (8.6) một đại đội địch từ hai hướng Đắc Mong và Đắc Sia tiến vào trận địa Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt. Chủ động hiệp đồng theo trung đội súng, Đại đội 2 kịp thời xuất kích chi viện cho phân đội bạn, trung đội súng cối của Tiểu đoàn 4 cũng kịp chi viện hỏa lực cho bộ binh chiến đấu. Sau ít phút nổ súng, ta diệt 116 tên, số địch còn lại tháo chạy về phía sau. Buổi chiều và đêm 8 tháng 6, địch dùng máy bay, pháo binh đánh phá rất mạnh vào khu vực nam Đắc Trâm, thả pháo sáng đổ thêm quân, chuẩn bị cho đợt tiến công ngày hôm sau. Nắm chắc mọi diễn biến mới về địch, ban chỉ huy Trung đoàn 24 quyết định di chuyển toàn bộ đội hình lên dãy núi Cơ Nông ngay trong đêm, dựa vào công sự trận địa làm trước của đơn vị, đánh tập trung tiêu diệt nhiều địch. Đúng như ta dự đoán, lúc 11 giờ 30 phút ngày 9 tháng 6, khỏang 200 tên Mỹ dược hỏa lực phi pháo chi viện, chia làm bốn mũi đánh vào trận địa các đại dội 8, 6 và 12. Để cho địch vào cách chiến hào tiền duyên hơn chục mét, các chiến sĩ bất ngờ đồng loạt ném lựu đạn, nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng xuống sườn núi. Chớp thời cơ, súng cối, đại liên, B40 từ trận địa nhiều tầng bắn xối xả vào quân địch co cụm. Bị đòn bất ngờ, hơn 100 tên địch bỏ xác tại trận, bọn còn lại tháo chạy. Đợt đầu tiến công bị thất bại, địch dùng máy bay, pháo cối bắn phá rất ác liệt dai dẳng vào toàn bộ trận ta, rồi mở đợt tiến công thứ hai vào lúc 16 giờ, nhưng lại bị đánh bật trở lại. Trong đợt chiến đấu này, xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm: đồng chí Trọng (Đại đội 12), đồng chí Am (Đại đội 13)... luôn sâu sát gương mẫu, quyết đoán chỉ huy phân đội diệt nhiều địch, giữ vững trận địa, bảo vệ được thương binh có sức cổ vũ bộ đội hăng hái chiến đấu. Bị mất tiếp hơn 100 quân và không chiếm được trận địa đối phương trong đợt tiến công cuối chiều, địch chuyển sang tiến công ban đêm nhưng đã bị Tiểu đoàn 5 đánh bại. Thấy đánh dàn trải không được, địch tập trung đánh vào từng điểm chốt của ta trong đêm. Với thủ đoạn xảo quyệt này, từ 17 giờ 30 phút đến 24 giờ ngày 9 tháng 6, hàng trăm tên địch mở liên tiếp 8 đợt tiến công vào trận địa chốt của Đại đội 7, mỗi đợt có từ 50 đến 60 tên, có hỏa lực phi pho chi viện mạnh. Tuy chiến đấu rất dũng cảm nhưng quân số Đại đội 7 bị tiêu hao dần, nên đợt tiến công thứ 7, quân địch đột nhập vào một phần trận địa. Với quyết tâm cao, lực lượng còn lại của Đại đội 7 do đại đội trưởng Hà chỉ huy, được hỏa lực Tiểu đoàn 5 chi viện đã tổ chức phản kích thành công trong đêm, khôi phục lại trận địa. Đợt tiến công thứ 7 thất bại, địch tập trung pháo cối, dùng máy bay ném bom napan đánh phá hủy diệt trận địa Đại đội 7, rồi cho bộ binh chia làm bốn mũi xung phong đánh chiếm. Mặc dù quân số Đại đội 7 còn ít, ai cũng mệt mỏi đói khát, một số bị thương nhưng cán bộ, chiến sĩ động viên nhau kiên quyết tiêu diệt địch, giữ vững trận địa. Đợt chiến đấu thứ 8 diễn ra khốc liệt, địch chiếm được trận địa. Ngay trong đêm, 16 cán bộ, chiến sĩ còn lại của Đại dội 7 do đại đội trưởng Hà chỉ huy đã dũng cảm mưu trí tập kích, diệt 48 tên địch, thu 30 súng khôi phục lại trận địa. Ngày và đêm 10 tháng 6, địch tiếp tục dùng pháo binh, máy bay kể cả B52 đánh phá, thả bom na pan, bắn đạn hóa học hủy diệt trận địa ta; đồng thời đỗ quân xuống điểm cao 986 nhằm vây chặt, ''cất vó'' Trung đoàn ở Đắc Trâm. Về phía ta, tuy đánh bại các đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa, nhưng lực lượng bị tiêu hao, số thương binh lên đến hơn 200, đạn súng cối và gạo đã hết, nước uống không có. Để bảo toàn lực lượng, tiếp tục chiến đấu lâu dài, thực hiện mệnh lệnh của đồng chí Nguyễn Hữu An - Phó tư lệnh chiến trường Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo lực lượng chủ lực hoạt động trên cánh Bắc, Trung đoàn 24 tổ chức lui quân đêm mùng 10 rạng sáng ngày 11 tháng 6, mang theo thương binh và súng đạn trở về vị trí tập kết an toàn. Trong đợt 1 hoạt động mùa hè, Trung đoàn 24 đã tiêu diệt tiểu đoàn 1, tiêu hao nặng tiểu đoàn 2 (thuộc lữ đoàn dù 1 sư đoàn dù 101 Mỹ) và 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 ngụy; loại khỏi vòng chiến đấu hơn l.000 tên Mỹ, 300 tên ngụy; phá hủy 27 xe quân sự, 6 pháo 105mm, 2 cối 106,7mm, bắn rơi 2 máy bay; thu trên 500 súng các loại, buộc địch phải rút khỏi cứ điểm Tu Mơ Rông; góp phần cùng quân và dân Kon Tum giải phóng một vùng rộng phía tây bắc tỉnh. Đặc biệt, chiến thắng Đăc Trâm đã giáng đòn phủ đầu nặng và lữ đoàn dù 1 sư đoàn dù 101 Mỹ khi chúng hùng hổ ra quân ''tìm diệt'' đầu tiên ở bắc Tây Nguyên. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 24 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và được Tỉnh ủy Kon Tum gửi thư khen ngợi. Sau đợt 1 hoạt động hè, ta nhanh chóng củng cố và chuẩn bị mọi mặt, tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai (19.6- 15.7). Trong đợt này, ta chủ trương đánh công kiên cứ điểm Tân Lạc, tập trung bốn trung đoàn bộ binh: 66, 320, 33, 95 diệt viện đổ bộ đường không ở khu vực nam đường 19 tây. Nhưng địch không ra đúng ý định, ta chỉ đánh được 14 trận nhỏ (có 6 trận đánh mìn), nổi bật là các trận đánh quân Mỹ của Trung đoàn 66 ở tây suối Ia Le (của Đại đội 13, Tiểu đoàn 9 diệt 137 tên Mỹ ngày 19, 20 tháng 6) và tây Đức Vinh (của Tiểu doàn 7 diệt gần 100 tên Mỹ, bắn cháy 4 xe M113 ngày 3 tháng 7). Đặc biệt, trận tây Đức Vinh đã hình thành bước đầu chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, mở ra khả năng mới để nâng tốc độ đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực chiến trường Tây Nguyên lên trình độ cao hơn. Trong đợt 3 hoạt động hè (20.7-15.8 ), ta sử dụng Sư đoàn bộ binh 1 đánh địch trong khu vực Plei Thê, Thanh Giáo, Bàu Cạn, Plei Me, Phú Nhơn, Ia Muer. Sư đoàn 10 đảm nhiệm khu vực Lệ Thanh, Sùng Lễ, Chư Pa đến nam Plei Gi Răng. Đợt này ta đánh 28 trận vừa và nhỏ, tiêu biểu là trận đánh gặp địch (tao ngộ) của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 320 ở tây bắc Ba Bỉ (8.8, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, giết 130 tên, thu nhiều vũ khí) và hai trận phục kích, vận động tập kích của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 ở nam Chư Pông (14, 15.8, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên địch, bắn rơi 2 trực thăng). Ngày 15 tháng 8 năm 1966, đợt tiến công mùa hè của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Trong gần 3 tháng chiến đấu, bộ đội chủ lực được sự phối hợp của quân và dân địa phương, đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.813 tên địch (có 2.828 tên Mỹ), diệt gọn 2 tiểu đoàn, 3 đại đội và 10 trung đội Mỹ, 2 đại đội ngụy, phá hủy 48 xe quân sự (có 26 xe M113) và 10 pháo cối lớn, bắn rơi 35 máy bay, thu hàng trăm súng các loại. Thắng lợi của đợt tiến công mùa hè đã hạ uy thế lữ đoàn dù 1 (sư đoàn 101), lữ đoàn 3 (sư đoàn 25) Mỹ, giam chân một lực lượng cơ động quan trọng của địch ở Tây Nguyên, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường Khu 5, Trị Thiên và miền Đông Nam Bộ. ------------------------------------------------------------------ 1. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ký ức Tây Nguyên. Sđ d, tr. 121. 2. Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ mệnh danh ''Tia chớp nhiệt đới", thành lập ngày 1.10.1941 tại Ha-oai, tham gia chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Tiều Tiên (1950-1953), đến Việt Nam từ ngày 29.12.1965, rút khỏi Việt Nam tháng 4.1971. 3. Sư đoàn dù 101 Mỹ thành lập trong chiến tranh thế giới thứ hai, đến miền Nam từ ngày 29.7.1965, rút khỏi miền Nam ngày 10.3.1972. Thương vong trong chiến tranh Việt Nam khỏang 20.000 quân, gấp 2 lần thương vong trong chiến tranh thế giới thứ hai (9.328). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:36:08 pm * Mùa thu năm 1966, bộ đội chủ lực Tây Nguyên phát triển thành 3 sư đoàn bộ binh, trong khi lực lượng vũ trang địa phương phát triển chậm hơn, không theo kịp yêu cầu hỗ trợ cho chiến tranh chính quy, thiếu cân đối giữa ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Bên cạnh đó, việc bảo đảm hậu cần cho các đơn vị chủ lực gặp nhiều khó khăn vì ''xa hậu phương, giao thông vận tải tiếp tế khó khăn... nhân dân Tây Nguyên nhất mực trung thành với cách mạng, hết lòng giúp đỡ bộ đội; nhưng dân số thưa, kinh tế nghèo lại bị bóc lột phá hoại trong nhiều năm, không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cần thiết của đánh vận động với những binh đoàn lớn''1. Để giải quyết những mâu thuẫn trên và bảo đảm cho chiến trường liên tục phát triển tiến công giành nhiều thắng lợi mới, tháng 8 năm 1966 Đảng ủ y và Bộ tư lệnh chiến trường quyết định giải thể Sư đoàn bộ binh 6 và Sư đoàn bộ binh 10; cán bộ cơ quan hai sư đoàn được tăng cường cho cơ quan B3. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên được tổ chức thành hai khối: cơ động và tại chỗ. Khối cơ động gồm Sư đoàn bộ binh 1 (có Trung đoàn 320, Trung đoàn 66, các tiểu đoàn binh chủng), Trung đoàn bộ binh 88 và Trung đoàn bộ binh 101B. Khối chủ lực tại chỗ gồm 3 trung đoàn bộ binh đứng chân ở 3 tỉnh: Trung đoàn 24A ở Kon Tum, Trung đoàn 95 hoạt động ở huyện 4 và 5 Gia Lai, Trung đoàn 33 ở bắc Buôn Ma Thuột. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trường Quân Chính B3 (mang tên Trường Huấn luyện cán bộ) (20.8 ) do đồng chí Hồ Bắc làm hiệu trưởng và đồng chí Đoàn Trọng Thông làm chính ủy; thành lập 3 tiểu đoàn bộ binh độc lập: Tiểu đoàn 101 (lựa chọn những đồng chí quê ở Việt Bắc, Tây Bắc trong Trung đoàn 101B), Tiểu đoàn 35 và Tiểu đoàn 36 (rút từ 2 trung đoàn 24A và 33); đẩy nhanh việc xây dựng căn cứ hậu cần, tổ chức 3 binh trạm: Binh trạm Bắc, Binh trạm Trung, Binh trạm Nam. Các đội điều trị ĐT3, ĐT4 bố trí cơ động theo các hướng tác chiến của bộ đội; 2 tiểu đoàn thu dung 22, 23 và các xưởng dược, quân giới... được tổ chức củng cố đi vào hoạt động. Công tác tăng gia sản xuất lương thực, trồng sắn (mì) được đưa vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, vào kế hoạch của các đơn vị và Bộ tư lệnh chiến trường, được coi là một nhiệm vụ quan trọng như nhiệm vụ chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Chiến trường, với khẩu hiệu hành động ''biến rẫy hoang thành nương sắn'', một chiến dịch khai hoang đã diễn ra rộng khắp. Bộ đội ngày luyện tập, đêm lợi dụng ánh trăng đào đất tra hom. Chỉ trong một thời gian ngắn những nương sắn xanh rờn đã xuất hiện ở khắp nơi, ven các bìa rừng, đường giao liên, trong thung lũng, ven bờ sông Sa Thầy. Xúc động trước tinh thần lao động quên mình của bộ đội, chiến sĩ hậu cần Trần Bích đã sáng tác bài thơ ''Cây sắn tiến công", có đoạn: "Một cây sắn ta trồng, Là một tên Mỹ gục. Ngàn cây sắn ta vun, Là ngàn tên ngụy tan thây". Sau một năm đánh Mỹ, ta rút ra dược quy luật phản kích và thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ ở Tây Nguyên. Chúng ỷ vào sức cơ động của trực thăng, hỏa lực không quân, pháo binh mạnh; khi phát hiện lực lượng đối phương là đổ quân ''nhảy cóc'' sâu vào sau lưng thực hiện bao vây, chia cắt, chặn đường tiếp tế rồi đánh bật đối phương ra khỏi khu chiến. Quân Mỹ thường rất chủ quan và dễ bị mắc lừa. Vì vậy tháng 9 năm 1966, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Sa Thầy, dùng mưu kế lừa địch vào khu vực rừng già có nhiều ngọn núi nhô cao ở hai bên bờ đông, tây sông Sa Thày để tiêu diệt. Đây là vùng căn cứ của ta, bộ đội quen thuộc địa hình, việc cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần cớ nhiều thuận lợi, có điều kiện nhử địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị sẵn. Với địch, địa hình khu vực tác chiến mới lạ, xa căn cứ, nhiều khe sâu rừng rậm bao bọc dễ bị chia cắt, cơ lập, tiêu diệt. Để đạt mục đích tiêu hao một bộ phận sinh lực quân Mỹ, ngụy; hỗ trợ phong trào phá ấp giành dân, phát triển chiến tranh du kích của địa phương, rèn luyện bộ đội; phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đ ịch. Bộ tư lệnh Chiến trường huy động toàn bộ khối chủ lực B3 tham gia chiến dịch. Trên hướng chính: đông, tây sông Sa Thày bố trí Sư đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 88, Trung đoàn bộ binh 95 (thiếu), 3 tiểu đoàn pháo binh, phòng không. Ở hướng phối hợp có lực lượng chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương: Trung đoàn bộ binh 24A ở Kon Tum, Trung đoàn 33 ở Đắc Lắc, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 95 ở nam đường 19 tây đến bắc Buôn Ma Thuột. Thực hiện kế hoạch, giữa mùa mưa năm 1966 công tác chuẩn bị cho chiến dịch được gấp rút triển khai. Các đơn vị cơ quan chiến dịch tiến hành trinh sát, làm kế hoạch, chuẩn bị trận địa, vận chuyển đạn, gạo từ phía tây ra các vị trí tập kết, liên tục, bền bỉ, bí mật. Trong quá trình chuẩn bị, nhân dân miền Tây Gia Lai mặc dù còn thiếu thốn, khó khăn nhưng đã giúp đỡ bộ đội hơn 140 tấn gạo, 12 tấn sắn, 56 tấn ngô và hàng chục trâu bò ''để bộ đội ăn no đánh thắng''. Ngoài ra địa phương còn chi viện hàng trăm dân công làm công tác vận chuyển phục vụ chiến dịch. Nhiều bà con làng Nú, làng Sinh vai gùi gạo, tay ôm bó sắn luộc; có những cô gái gùi đạn nặng gần gấp hai trọng lượng cơ thể, như YLeng vóc người không lớn lắm đã gùi được 112kg. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, lực lượng vũ trang các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc dẩy mạnh các hoạt động đánh địch nghi binh. Tiêu biểu là trận tập kích vào sân bay Tân Tạo của Tiểu đoàn 407 đặc công Gia Lai đêm mùng 3 tháng 9. Ta nổ súng đúng lúc, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đang làm lễ kỷ niệm 1 năm tới Việt Nam, làm nhiều tên đang dự lễ chết gục ngay tại chỗ, 40 máy bay bị phá hủy. Sau khi đã chuẩn bị cho hướng chính của chiến dịch 1005 tấn vật chất (829 tấn gạo, 91 tấn thực phẩm, 85 tấn vũ khí) và làm xong chiếc cầu giả, mắc dây điện thoại qua sông Pô Kô (15.10). Trong hai ngày 18 và 19 tháng 10, Trung đoàn 95 pháo kích vào cứ điểm Plei Gi Răng khêu ngòi, dụ địch. Bị mắc lừa, ngày 23 và 24 tháng 10, địch dùng 24 lần tốp B52 và pháo lớn (155, 17, 203mm) từ các trận địa mới lập ở Sùng Lễ, Sùng Thiện đánh phá dữ đội vào khu vực cầu treo; đồng thời vội vã mở cuộc hành quân Pôn-ri-vơ 4 đổ bộ lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ2 và cho biệt kích xuyên rừng tiến vào vùng đông và tây sông Sa Thày. Trong thế trận đã chuẩn bị, từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 10, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 320 đánh nhiều trận cấp tiểu đoàn, tiêu diệt từng đại đội, trung đội của lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở tây bắc Plei Gi Răng 10km (26.10), khu vực B1, B2 điểm cao 621, làng Mít Dép, bắc Sơn Ló, bắc Chư Grou (khu A). Do nhận thức không đầy đủ về nhiệm vụ, trong khi địch tiếp tục đổ quân vào khu chiến, Trung đoàn 320 để lại Tiểu đoàn 6 đánh nhỏ lẻ, còn toàn đơn vị hành quân lên phía bắc. Căn cứ vào tình hình cụ thể địch, ta Bộ tư lệnh chiến tích chủ động cho các đơn vị kết thúc đợt 1 chiến dịch để củng cố và chuẩn bị bước vào đợt 2. Để tiếp tục dụ địch vào sâu hơn nữa, ta dùng một bộ phận nhỏ hoạt động thu hút dịch ra bờ sông Sa Thày và cho công binh bắc cầu giả qua sông ở khu vực C và D. Hoạt động nghi binh của ta đã làm cho địch tiếp tục đổ bộ lữ đoàn 2 sư đoàn 4, lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ và tung biệt kích ngụy vào các khu vực C, D, B; đồng thời tập trung hỏa lực đánh phá dữ dội vào hai bên bờ đông, tây sông Sa Thày. Sau các trận đánh mở đầu đợt 2 của Tiểu đoàn 6 trung đoàn 320 (ngày 5.11 diệt 1 trung đội Mỹ), Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 (ngày 10.11 diệt 100 tên ở D1) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 88 (ngày 11.11 tiêu hao lực lượng lữ đoàn 2 sư đoàn 25 Mỹ ở Bãi 9) địch phản ứng mạnh. Ngay sau khi dùng máy bay F100 và pháo 175mm bắn phá dọn bãi, từ 9 giờ đến 14 giờ ngày 11 tháng 11 địch dùng 125 lần chiếc trực thăng (có cả loại H21 chở pháo) đổ bộ tiểu đoàn 2, 1 đại đội pháo 105mm (6 khẩu), 1 trung đội cối 106,7mm thuộc trung đoàn 8, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ và 1 đại đội biệt kích ngụy xuống bãi C1. Quá trình đổ bộ, chúng dùng máy bay trực thăng nghi binh đổ bộ giả ở bãi C2 và đổ 1 đại đội xuống bãi C9 để bảo vệ sườn phía nam cho lực lượng chính ở C1. C1 là một cái rẫy bỏ hoang lâu ngày nằm trên một quả đồi có diện tích khỏang 24 ha (dài 600m, rộng 400m) nằm ở phía tây sông Sa Thày, trên trục giao liên bắc- nam và ở sâu trong hậu phương ta. Đây là vị trí có giá trị chiến thuật, đã từng là trọng điểm của các đợt tiến công ''tìm diệt'' của địch ở khu vực này3. Do hiểu rõ địa hình C1 và ném bom phát quang 200m trên đỉnh đồi, ngay khi đổ bộ, địch tổ chức đội hình vòng tròn khép kín với ba tuyến công sự; bố trí chỉ huy tiểu đoàn 2, một đại đội chỉ huy ở giũa, trận địa pháo 105mm ở phía tây, trung đội cối 106,7mm ở phía đông, 2 đại đội bộ binh ở vòng ngoài; trọng tâm phòng ngự hướng về phía tây nam và đông nam. Địch ở C1 tuy quân số nhiều, hỏa lực chi viện mạnh nhưng công sự vật cản dã chiến, tinh thần binh lính có phần sa sút. Việc địch đổ bộ chiếm C1 diễn ra đúng như dự kiến của ta. Vì vậy, ngay khi chúng xuống C1, Trung đoàn 88 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 và hỏa lực đã triển khai đội hình tiến công ban ngày vẫn giữ được bí mật. Lúc 16 giờ 57 phút, trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 ra lệnh cho súng cối bắn chuẩn bị sớm hơn kế hoạch 9 phút và kéo dài hơn tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu. Đúng 18 giờ, bộ đội được lệnh xung phong đánh chiếm C1. Trên hướng chủ yếu của Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm, Đại đội 7 do đại đội trưởng Vực chỉ huy từ phía tây bắn đánh lên chiếm một số công sự vòng ngoài rồi phát triển vào bên trong. Quá trình tiến công, đại đội trưởng bắn một quả B40 làm nổ tung kho đạn 105mm, đội hình thọc sâu phải tạm dừng. Cùng thời gian này, đại đội 6 tiến công ở phía bắc, nhưng bị bom bi rơi trúng đội hình, bộ đội đánh đến gần đỉnh C1 không đủ sức phát triển tiếp. Đại đội 5 bị lạc, nhưng sau đó cũng lần lượt đưa được các trung đội vào tham chiến. Khi đánh chiếm được tuyến công sự vòng ngoài, địch bị dồn lên đỉnh C1 thì đại đội trưởng Quang, chính trị viên Tiểu đoàn 2 (đi cùng Đại đội 5) và một số chiến sĩ Trung đội 1 hy sinh, liên lạc với cấp trên bị đứt, mũi tiến công b bị chững lại. Trước tình hình đó, cán bộ đại đội lúng túng, không xử trí tình huống kịp thời. Tiểu đoàn không nắm được các đại đội, phân đội cối 82 và ĐKZ ở phía sau bị bỏ quân không sử dụng... Hướng tiến công thứ yếu, sau khi dừng cối 82 bắn 38 quả đạn vào đánh C1, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) nhanh chóng đánh chiếm đồi C1B, nhưng bị bom bi chặn ngang không phát triển tiến công sang C1 theo kế hoạch. Cũng thời gian này, mũi phối hợp phía đông cơ động đến Khe Trâu thì tự ý dừng lại (cán bộ báo cáo lên trên: quân địch chặn mất đường!). Chỉ có một tiểu đội công binh hoàn thành tốt nhiệm vụ thu hút nhiều hỏa lực địch về phía đông. Đêm 12, rạng ngày 13 tháng 11, quân Mỹ ở C1 bị tiêu diệt phần lớn, chỉ còn gần một đại đội co cụm lên đỉnh đồi tiếp tục chống cự. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 quyết định đưa đại đội dự bị vào chiến đấu, cùng 2 tiểu đoàn 2 và 7 tiếp tục tiến công tiêu diệt tàn quân địch; đồng thời tăng cường đồng chí tham mưu phó và đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn xuống Tiểu đoàn 2 để tổ chức động viên bộ đội chiến đấu. Nhưng do tổ chức chiến đấu chậm, trời gần sáng vẫn không nổ súng được, nên trung đoàn trưởng ra lệnh lui quân, chỉ để lại phân đội cối 120mm tiếp tục tập kích hỏa lực vào C1 diệt thêm một số quân địch. Sáng ngày 13 tháng 11, địch đổ quân dọn xác đồng bọn ở C1 và buổi chiều rút hết quân khỏi cứ điểm này. Kết quả trận C1: ta đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 trung đoàn 8, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ, phá 6 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm. Mặc dù chưa tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, nhưng chiến thắng C1 đã giáng một đòn nặng đầu tiên vào sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ, gây cho chúng lúng túng về mặt chiến dịch, đây ''là một trận điển hình về hiệp đồng đánh quân Mỹ đổ bộ đường không''. Phát huy thắng lợi, ngày 13 tháng 11, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt gọn 1 đại đội thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ ở nam C1 khỏang 12km; Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 cũng tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ khác ra lùng sục ở phía tây khu D. Từ ngày 19 đến 21, Trung đoàn 66 tiếp tục tiến công lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ ở khu D, diệt hơn 100 tên, bắn rơi 3 máy bay. Bị đánh đau, địch buộc phải co cụm lại ở hai điểm lớn là C16 và D10, mỗi vị trí khỏang 1 tiểu đoàn bộ binh, 1-2 đại đội pháo (105mm); đồng thời đổ tiếp 2 tiểu đoàn Mỹ xuống nam, bắc khu B nhưng bị Trung đoàn 320 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95 phục kích tiêu hao phải chùn lại. Ngày 27, 28 tháng 11 địch vội vã cho máy bay bốc quân rút chạy khỏi khu vực đông, tây sông Sa Thày. Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, các đơn vị chủ lực tại chỗ và quân dân địa phương đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch. Ở tây nam Gia Lai, Tiểu đoàn 101 và lực lượng vũ trang địa phương đánh nhiều trận nhỏ lẻ ở khu vực Thăng Đức, diệt 1 đại đội Mỹ (thuộc tiểu đoàn 1, lữ đoàn 2, sư đoàn kỵ binh không vận số 1), bắn rơi 3 máy bay (21.11); một phân đội pháo binh tập kích hỏa lực cứ điểm Plei Me (26.11). Trên hướng bắn Kon Tum, Tiểu đoàn 6 hoạt động mạnh ở khu vực Plei Kần, cùng địa phương tiêu hao, giam chân quân địch ở các căn cứ, tích cực đánh giao thông ngăn chặn địch cơ động và tiếp tế. Nắm chắc những diễn biến mới về địch, để giải quyết khó khăn về lương thực, ngày 27 tháng 11 Bộ tư lệnh chiến dịch chủ động kết thúc đợt 2 chiến dịch rút 2 trung đoàn 95 và 320 về Xóm 10 cũ, chỉ để lại Tiểu đoàn 6 đánh nhỏ lẻ ở khu vực làng Nú và đường 5b; đồng thời khẩn trương củng cố rút kinh nghiệm để bước vào đợt 3. Những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1966, trong khi ta khẩn trương chuẩn bị theo hướng dụ địch vào đế đánh tiếp một số trận tiêu diệt sinh lực địch ở khu C và khu D, thì địch dùng không quân, pháo binh đánh phá rất dữ dội vào khu chiến. Mỗi ngày có tới hàng trăm tấn bom và hơn 100 tấn đạn pháo, hàng chục lần chiếc má y bay B52 được huy động ném bom rải thảm dọc hai bờ đông, tây sông Sa Thày4. Ngày 6 tháng 12, địch dùng 111 lần chiếc trực thăng dỗ quân xuống Xóm 10 (Cà Đin) và đẩy trung đoàn 42 ngụy nống ra Plei Kleng và Plei Le (Kon Tum). Ta chủ trương rút chủ lực vào bí mật để chuẩn bị cho các nhiệm vụ tới; chỉ dùng Tiểu đoàn pháo binh 200 pháo kích Cà Đin, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội pháo binh Mỹ. Sau khi dùng một lực lượng trinh sát B3 và trinh sát Trung đoàn 320 hoạt động nghi binh nhằm kéo địch ra lại hướng chính đông, tây sông Sa Thày, nhưng không dụ được dđch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ động kết thúc chiến dịch. Chiến dịch Sa Thày thắng lợi giòn giã: ta đánh 73 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.410 tên địch (có 2.050 tên Mỹ); diệt gọn 1 tiểu đoàn, 8 đại đội Mỹ và 5 đại đội, 2 trung đội ngụy, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn Mỹ khác; phá hủy 25 khẩu pháo, 17 xe quân sự, bắn rơi 20 máy bay, thu 71 súng các loại. Nét độc đáo của chiến dịch Sa Thày là ta đã "thành công trong nghệ thuật chuẩn bị, lừa địch, buộc địch hành động theo ý định của ta":. Cùng với chiến dịch Plei Me, chiến dịch Sa Thày đã giáng một đòn nặng nề, làm mất hiệu lực chiến thuật ''trực thăng vận'' của quân Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên, buộc địch về sau phải dè dặt, cơ động từng tiểu đoàn trên một trục, một hướng để tránh bị tiêu diệt. Với chiến thắng Sa Thày, bộ đội chủ lực B3 đã góp phần quan trọng cùng quân dân Tây Nguyên và toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch, giáng một đòn chí mạng vào chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ. Với chiến thắng oanh liệt ở Sa Thày, bộ đội chủ lực chiến trường Tây Nguyên được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. ---------------------------------------------------------------------- 1. Nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ''Về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong các đơn vị chủ lực ở Tây Nguyên'', ngày 31.8.1966. 2. Sư Đoàn bộ binh số 4 Mỹ thành lập năm 1917, tham gia Chiến tranh thế giới thứ 2 ở châu Âu, có mặt ở miền Nam từ ngày 25.9.1966, sở chỉ huy đóng tại La Sơn (nam Plei Ku), rút khỏi miền Nam ngày 7.12.1970. 3. Tháng 1 và tháng 4 năm 1966, địch đã đổ bộ 1 đại đội bộ binh và 2 khẩu pháo 105mm xuống C1, sau đó rút đi. 4.Trong chiến dịch Sa Thày, địch sử dụng 306 lần chiếc máy bay B52, ném 10.500 tấn bom. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:01:19 pm * Sau chiến dịch Sa Thày, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức tổng kết chiến dịch, rút kinh nghiệm, chỉnh huấn, củng cố tổ chức biên chế lại theo nguyên tắc gọn nhẹ cơ quan và trực thuộc, tăng cường và xung lực và các thành phần trực tiếp chiến đấu, lấy tinh binh, tinh cán nâng cao chất lượng làm chính; quyết tâm thực hiện thắng lợi ''nhiệm vụ trước mặt'' mà Đảng ủy chiến trường đã đề ra: ''khẩn trương nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội, liên tục đánh nhỏ khắp nơi đồng thời sẵn sàng tranh thủ thời cơ đánh một số trận tiêu diệt vừa và lớn, để phối hợp chiến trường''1. Trong lần chỉnh huấn này, cán bộ cao cấp tập trung nghiên cứu học tập tài liệu ''Tình hình và nhiệm vụ mới'' của đồng chí Nguyễn Chí Thanh; cán bộ trung cấp học tập quán triệt nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường, kết hợp tổng kết chiến dịch, chiến thuật, chú trọng tự phê bình và phê bình, quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, nâng cao ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, quan điểm quần chúng. Cán bộ sơ cấp và chiến sĩ học tập một số tài liệu nhằm củng cố nâng cao lập trường cách mạng và ý hí chiến đấu, tính tổ chức kỷ luật. Công tác xây dựng Đảng tập trung xây dựng chi bộ ba tốt gắn với xây dựng khí tiết cách mạng. Được sự chi viện giúp đỡ của Tổng cục chính trị, đầu năm 1967 Báo Tây Nguyên, Phân xã Thông tấn xã Giải phóng, Đội văn nghệ xung kích, Đội chiếu bóng, Nhà in trực thuộc Phòng Chính trị B3 lần lượt ra đời bước vào hoạt động, góp phần tăng cường củng cố thêm trận địa tư tưởng cách mạng và kịp thời phục vụ nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Song song với xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng Mỹ, việc huấn luyện quân sự để bộ đội biết đánh, biết thắng địch được tiến hành chặt chẽ, toàn diện cả về tư tưởng quân sự, chiến thuật, kỹ thuật, tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội, tác phong chiến đấu. Các hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh gặp địch (tao ngộ chiến), tiến công địch trong công sự, vây điểm, đánh giao thông, bắn máy bay trực thăng; các thủ đoạn chiến đấu: đột phá, thọc sâu bao vây, chia cắt, vu hồi được chú trọng huấn luyện, thục luyện nâng cao. Đặc biệt chiến thuật tổ 3 người được tập trung xây dựng, cách đánh xe cơ giới được rèn luyện kỹ. Nhằm bảo đảm các nhu cầu trước mắt, thường nhật và lâu dài, công tác hậu cần thời gian này vừa tập trung đẩy mạnh phong trào nui quân phòng bệnh nâng cao sức khỏe, chăm lo cải thiện đời sống bộ đội; vừa tích cực tiếp nhận, khai thác các nguồn hàng, đồng thời chủ động tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực thực phẩm, phấn đấu đạt chỉ tiêu 1.000 gốc sắn 1 người ở đơn vị chiến đấu và 1.500 - 2.000 gốc sắn 1 người ở cơ quan và đơn vị phía sau. Với tinh thần chủ động sáng tạo, vượt khó khoa Dược của Viện Quân y 211 đã sản xuất được cồn bằng men lá cây theo cách làm của đồng bào dân tộc địa phương, và kinh nghiệm này được phổ biến nhanh chóng, góp phần hạn chế áp xe do tiêm thiếu cồn khử trùng da. Tiếp đó, bộ phận X.quang của Viện đã lắp đặt thành công và đưa vào sử dụng máy X.quang đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên, tạo điều kiện cho công tác chẩn đoán điều trị thương bệnh binh. Cho đến đầu tháng 2 năm 1967, trước khi bước vào đợt hoạt động xuân, hậu cần Chiến trường Tây Nguyên được củng cố toàn diện và có bước phát triển mở rộng. Hệ thống tổ chức hậu cần Chiến trường bao gồm ba binh trạm (Bắc, Trung, Nam), các quân y viện (1, 2, 3, 4, 211, đội phẫu), lực lượng vận tải (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Đại đội vận tải dân tộc), các đường hành lang (C02, C05, C07)... hoạt động đồng bộ, hiệu quả. Lượng đạn toàn B3 sau chiến dịch Sa Thày chỉ còn l.500 quả đạn cối 82, thuốc nổ thiếu nghiêm trọng, nay tăng lên 450 tấn; gạo có 3.000 tấn, quần áo 5.000 bộ, 20.000 chiếc màn, thuốc men đủ dùng đến hết tháng 6. Lần đầu tiên bộ đội ở Tây Nguyên được cấp thuốc lá, bàn chải và thuốc đánh răng, giấy viết thư. Quân số khỏe đạt 87%, có đơn vị như Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 đạt 90%. Phong trào tăng gia tự túc do Bộ tư lệnh chiến trường phát động thu dược nhiều kết quả. Trong 6 tháng đầu năm 1967, toàn B3 trồng được 14 triệu gốc sắn, gieo 1 vạn ký lúa giống và 1.500kg ngô; chăn nuôi được 8.900 con gà, 700 con lợn, 30 trâu bò. Các đơn vị Binh trạm Nam, Viện 4, Trung đoàn 320, K28... vượt chỉ tiêu tăng gia. Quân y sản xuất được 17kg cao động vật, 23.000 viên thuốc và 11.000 lít thuốc chữa bệnh các loại. Quân giới sản xuất 144 quả mìn định hướng, 40 mìn xe, 200 lựu đạn 1289 con dao; chữa 2.500 quả lựu đạn, 467 khẩu súng, bộ đội săn bắn dược 53 tấn thịt thú rừng. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên vẫn dành 159 tấn lương thực cấp cho lực lượng vũ trang địa phương và 19 tấn gạo kịp thời cứu đói choàng, bảo đảm cho hàng nghìn lượt bộ đội và cán bộ qua lại chiến trường. Trước yêu cầu tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng ngày càng lớn ở Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn pháo binh 40 (mật danh công trường 40). Ngày 5 tháng 2 năm 1967 Trung đoàn pháo binh 40 ra đời, trong biên chế có chỉ huy, cơ quan, 4 tiểu đoàn súng cối, súng máy phòng không (30, 31, 32, 34), 2 đại đội trực thuộc (trinh sát, thông tin). Chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí Nguyễn Đức Giá (trung đoàn trưởng), Sơn Hùng (chính ủy), Nguyễn Xô và Nguyễn Thành Lai (trung đoàn phó). Sự ra đời của trung đoàn pháo binh đầu tiên đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của bộ đội pháo binh Tây Nguyên và s ự trưởng thành lớn mạnh của bộ đội chủ lực trên chiến t rường. Từ đó về sau, ngày 5 tháng 2 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn pháo binh 40 tiền thân của Lữ đoàn pháo binh 40 ngày nay. ------------------------------------------------------------------ 1. Nghị quyết "Sau chiến dịch mùa khô năm 1966'' của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên, họp ngày 15-17.12.1966. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:11:27 pm * Với thế và lực mới, ngày 3 và 4 tháng 2 năm 1967, Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp mở rộng, quyết định chuyển đợt hoạt động đệm thành Chiến dịch Sa Thày 21; nhằm tiêu diệt tiêu hao sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, mở rộng vùng giải phóng, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và phát triển chiến tranh du kích ở địa phương, phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam; đồng thời rèn luyện và nâng cao khả năng của cơ quan, trình độ tổ chức chỉ huy, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Lực lượng chủ lực cơ động B3 gồm Sư đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn pháo binh 40 đánh địch trên hướng chính đông - tây sông Sa Thày, sẵn sàng phát triển vào Chư Pa - Sùng Thiện. Trên các hướng phối hợp: Tiểu đoàn 101, Trung đoàn 95 (thiếu) hoạt động ở khu vực nam đường 19 đến bắc Plei Me; Trung đoàn 33 tác chiến ở bắc Buôn Ma Thuột Trung đoàn 24 đảm nhiệm bắc Kon Tum, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đánh địch ở khu vực Pa Kha - Tà Xẻng. Ở các hướng tác chiến đều có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp. Trong khi ta chuẩn bị chiến dịch Sa Thày 2, cũng là lúc Mỹ, ngụy đẩy mạnh cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) với hai gọng kìm song song là tìm diệt chủ lực đối phương và bình định nông thôn, tập trung chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ. Sau thất bại trong cuộc hành quân Át-Tơn Bo-rơ (14.9-25.11.1966) ở Tây Ninh, chúng huy động một lực lượng lớn binh lực mở liên tiếp các cuộc hành quân Xi-đa-phôn (8-26.1.1967 đánh phá vùng ''Tam giác sắt'': Bàu Bàng - Bến Súc - Củ Chi), Gian-xơn Xi-ty (22.2-14.5.1967 đánh phá căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam); đồng thời mở các cuộc hành quân ở Khu 5, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức phòng ngự Đường 9 - Bắc Quảng Trị, xây dựng hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra ở vùng giới tuyến, tiếp tục leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, tiến công ngoại giao và củng cố ổn định tình hình chính trị nội bộ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, củng cố tập đoàn tay sai Thiệu - Kỳ. Nằm trong kế hoạch phản công chiến lược lần thứ hai, ngay từ đầu năm 1967, quân địch ở Tây Nguyên mở nhiều cuộc hành quân liên tiếp. Tại Gia Lai, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2 năm 1967, chúng huy động một lực lượng lớn gồm 2 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 25, 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, liên đoàn 2 biệt động quân (thiếu), trung đoàn 3 thiết giáp, sau đó tăng thêm lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ và 2 tiểu đoàn pháo mở cuộc hành quân Sam-hút-tơn. Đây là chiến dịch phòng ngự cơ động nhằm ngăn chặn và phá chuẩn bị tiến công của ta vào vùng tây Plei Gi Răng. Tiếp đó, từ giữa tháng 2 đến ngày 30 tháng 4, địch mở cuộc hành quân Frăng-xi Ma ri-ôn vào vùng tây Gia Lai với lực lượng 2 lữ đoàn (1, 2) sư đoàn bộ binh 4, 2 tiểu đoàn thiết giáp và 2 tiểu đoàn pháo hỗn hợp Mỹ. Phối hợp với các cuộc hành binh của quân Mỹ trên hướng tây, quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy cũng mở nhiều cuộc hành quân càn quét: Tân Thắng 131 (vào vùng Đắc Đoa, Suối Đôi), Tân Thắng 135 đến 144 (khu vực đường 19 kéo dài) xúc 14.000 dân vào các ''khu định cư'' Plei Dịt, Tân Lạc. Tháng 5 chúng mở tiếp các cuộc hành quân vào vùng Chư Pa, Đức Vinh, trục đường 15, Giáo Trạch, Ba Bỉ, Chư Pông. Ở Đắc Lắc, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1967, địch huy động lữ đoàn 1 (sư đoàn dù 101 Mỹ) cùng trung đoàn 45, tiểu đoàn 23 biệt động quân, một lực lượng bảo an, trung đoàn 8 thiết giáp, các tiểu đoàn pháo mở các cuộc hành quân Xim-sơn (ở vùng Krông Pách, Krông Dung), Phi Bằng 5 - 6 (ở Buôn Hồ, Mê Van, Quảng Nhiêu, Lạc Thiện, Đạt Lý, Khánh Dương, Phước An). Hướng Kon Tum, chúng dùng trung đoàn 42, lực lượng bảo an, biệt kích mở cuộc hành quân Tân Thắng 132 - 134 ở vùng Đắc Tô, Kon Kô, rồi mở rộng hoạt động biệt kích ở ba trọng điểm: Sa Thày, tây Đắc Tô và đông bắc Tân Cảnh. Trên hướng chính của chiến dịch, đầu tháng 2 năm 1967 địch làm đường, bắc cầu sắt qua sông Pô Kô, đỗ quân chiếm khu B bên bờ tây sông Sa Thày, lập các trận địa pháo ở Pông Giông, công trường Đất Đỏ (bờ đông). Giữa tháng 2, lữ đoàn 2 Mỹ tổ chức hai mũi tiến quân sang bờ tây sông chiếm bãi D10 và C16 lập bàn đạp nhằm đánh sâu vào căn cứ của ta. Tại mỗi vị trí có 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội pháo binh Mỹ. Như vậy, ta c chưa khêu ngòi, quân địch đã ra. Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định cho các đơn vị nổ súng mở đầu chiến dịch Sa Thày 2. Chấp hành mệnh lệnh, sáng ngày 15 tháng 2 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 tập kích tiểu đoàn 1 (trung đoàn 12, lữ đoàn 2 Mỹ) ở vị trí D10, tiêu hao nặng 2 đại đội địch. Cùng thời gian này, Trung đoàn 320 tập kích hỏa lực vào vị trí C16 diệt nhiều tên Mỹ, phá hủy 1 trực thăng. Tiếp đó, trưa ngày 17, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 diệt gọn đại đội C (tiểu đoàn 2 Mỹ), bắn rơi 2 trực thăng ở Mít Dép (bờ đông sông Sa Thày); Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 320 phục kích ở phía tây C16 diệt đại đội C và 1 trung đội của đại đội A (tiểu đoàn 1, trung đoàn 22, lữ đoàn 2 Mỹ). Bị thua đau, ngày 3 tháng 3 địch đưa một lực lượng của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 từ An Khê lên Sa Thày ứng cứu và đưa lữ đoàn 1 sư đoàn dù 101 từ Phan Rang lên Tây Nguyên. Nhưng quân ứng cứu vừa đổ xuống đất đã bị Trung đoàn 320 đánh liên tiếp ba trận ở tây bắc C16, đông bắc công trường Đất Đỏ và bị Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 88) tiến công ở tây D10 mỗi trận ta diệt từ 1 trung đội đến 1 đại đội Mỹ. Ngày 8 tháng 3, địch buộc phải rút chạy khỏi D10. Trên các hướng phối hợp, Trung đoàn 95 liên tục tiến công: Tiểu đoàn đánh 8 trận ở đường 19 và bắc Plei Me diệt 119 tên địch, bắn rơi 5 trực thăng, phá hủy 5 xe quân sự và 1 khẩu pháo 105mm. Tiểu đoàn 2 phục kích diệt 1 đại đội ngụy ở Quynh Xom, pháo kích cứ điểm Tân Lạc, phá ấp Huy Bang giải phóng 700 dân. Công binh đánh giao thông phá hủy 11 xe (có 8 xe bọc thép) diệt 116 lính Mỹ. Những trận đánh của Trung đoàn 95 đã buộc địch phải chấm dứt cuộc hành quân Tân Thắn 131 và chuyển thành Tân Thắng 135 ở vùng Đức Cơ để đối phó với ta. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai tập kích hỏa lực vào căn cứ của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở An Khê, diệt và làm bị thương 120 tên, phá hủy 38 máy bay, 7 lô cốt, 3 nhà lính. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn 33 đẩy mạnh các hoạt động, phá ấp Buôn DLung, diệt gần hết một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 ngụy (22.2). Hướng Kon Tum, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh diệt một số biệt kích. Trong khí thế tiến công sôi động và tiếng súng giết giặc đầu xuân nổ vang trên các hướng, ngày 24 tháng 2 Đại hội mừng công lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên lần thứ nhất khai mạc trọng thể. Hơn 100 Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ tiêu biểu cho phong trào thi đua của ba thứ quân lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã tham dự. Qua 2 năm (1965-1966) chiến đấu gian khổ, bền bỉ, liên tục và anh dũng, hưởng ứng phong trào thi đua ''Quyết thắng giặc Mỹ xâm lược'' được phát động từ chiến dịch Piei Me, các lực lương vũ trang Tây Nguyên đã giành được những kết quả to lớn: loại khỏi vòng chiến đấu 13.225 tên địch, bắt 586 tên, thu 1.299 sáng các loại, phá hủy phá hỏng 326 xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 266 máy bay các loại. Qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã xuất hiện 86 đơn vị ''Anh dũng diệt Mỹ'', 411 Dũng sĩ, 636 Chiến sĩ thi đua, 108 Chiến sĩ quyết thắng, được tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng nhất, 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 3 Huân chương Quân công hạng ba. Hai đơn vị: Đại đội 8 (Trung đoàn 66) và Đại đội 3 (Trung đoàn 33) được tặng cờ danh dự ''Đại đội anh dũng diệt Mỹ'' đầu tiên của chiến trường. Kết luận Đại hội, Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến trường Tây Nguyên kêu gọi: "Mỗi chúng ta phải xứng đáng với sự nghiệp vĩ đại của nhân dân, với sự tích anh hùng của dân tộc. Muốn thế, trước hết phải kiên định lập trường giai cấp và ý chí đấu tranh cách mạng, trau dồi tư tưởng, khí tiết và phẩm chất cách mạng, phải có kỷ luật tự giác cao. Đó là cái quý nhất, cao đẹp nhất của con người, của những chiến sĩ gang thép trong đội quân gang thép''. Mang theo nhiệt huyết, quyết tâm và kinh nghiệm đánh Mỹ, diệt ngụy từ Đại hội, các đại biểu nhanh chóng tỏa về đơn vị cơ sở làm nòng cốt thúc đẩy phong trào thi đua, đưa chiến dịch Sa Thày 2 phát triển thắng lợi. Đầu tháng 3 năm 1967, đợt 1 chiến dịch Sa Thày 2 kết thúc thắng lợi giòn giã. Bộ tư lệnh Chiến trường chủ trương nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, tiếp tục tiến công đợt 2 (11-31.3). Mở đầu đợt hoạt động, ngày 12 tháng 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 88 vây ép, pháo kích quân địch ở C16; cùng lúc Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 vận động tiến công tiêu hao nặng 1 đại đội thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ và đánh thiệt hại 1 đại đội khác của tiểu đoàn 2, trung đoàn 35, sư đoàn 25 Mỹ ở Mít Dép. Đêm hôm sau (13.3), Tiểu đoàn pháo binh 31 (Trung đoàn 40) tập kích hỏa lực ba đợt vào lữ đoàn bộ lữ đoàn 2 sư đoàn 4 ở Sùng Thiện, loại khỏi vòng chiến đấu 350 tên Mỹ, 70 tên ngụy, phá hủy 8 pháo lớn, 7 máy bay trực thăng và 30 xe quân sự. Sau hai đợt pháo kích, đặc công của ta đột nhập vào Sùng Thiện phá hủy 2 xe quân sự, 1 máy bay trực thăng và đốt cháy 1 kho xăng. Cùng đêm 13, ta pháo kích C16, công trường Đất Đỏ gây nhiều thiệt hại cho địch. Bị đánh tơi tả, tiêu hao nặng lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ phải tháo chạy khỏi bờ tây sông Sa Thày. phát huy thắng lợi, ta phát triển tiến công sang bờ đông sông và dùng một lực lợơng đánh về hướng Chư Pa, buộc địch phải đưa lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ từ Tuy Hòa lên Tây Nguyên đối phó. Nhưng lữ đoàn 1 vừa đổ quân xuống Chư Pa đã bị pháo kích tiêu hao và ngày 23 tháng 3 bị Tiểu đoàn 101 chặn đánh tiêu diệt gần 2 đại đội. Cùng thời gian này, trung đoàn 35 sư đoàn 25 Mỹ bên bờ đông sông Sa Thày cũng bị đánh liên tiếp, bị Trung đoàn 320 đánh vận động tiêu diệt một đại đội và tiêu hao 1 đại đội khác ở phía bắc công trường Đất Đỏ. Để tránh bị tiêu diệt, ngày 28 tháng 3, quân Mỹ phải rút chạy khỏi Chư Pa và bờ đông sông Sa Thày, co về phòng thủ trên tuyến đường 15 (Sùng Thiện, Sùng Lễ, Lệ Thanh). Phối hợp với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh trên đường số 5, đường 19 tây, Plel Me, Phú Nhơn; Trung đoàn 24 pháo kích thị xã Kon Tum; Trung đoàn 33 pháo kích vào Buôn Hồ, Buôn Đôn... tiêu hao một lực lượng quân ngụy buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho hướng chính của chiến dịch phát triển thuận lợi. Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1967, địch rút bỏ Sùng Thiện, đưa lữ đoàn 2 sư đoàn 4 và tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3 sư đoàn 25 về Pleiku củng cố, đồng thời dùng lữ đoàn sư đoàn 4 Mỹ mở cuộc hành quân Frăng-xi Ma-ri-ôn và cho tiểu đoàn 11 biệt động quân ngụy càn quét vùng Tân Lạc, Thanh Giáo, Lệ Ngọc nhằm bảo vệ phía nam Piei Ku, gom dân lập ấp chiến lược. Trước diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chuyển sang đợt 3 chiến dịch (1-30.4). Trong suốt một tháng chiến đấu, ta đánh 50 trận, trong đó có 4 trận phục kích và chống càn cấp tiểu đoàn của Trung đoàn 88 và Trung đoàn 95 ở khu vực phía nam đường 19 tây. Trên hướng phối hợp, Trung đoàn 24 tập kích vào Kon Tây, Trung đoàn 33 pháo kích Buôn Đôn gây cho địch một số thiệt hại. Ngày 30 tháng 4, chiến dịch Sa Thày 2 kết thúc thắng lợi. Sau 75 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được lực lượng vũ trang địa phương phối hợp đã đánh 140 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.941 tên địch (có 3.397 tên Mỹ, 1.541 tên ngụy), bắt 4 tên; tiêu diệt 10 đại đội, 1 trung đội Mỹ và 1 tiểu đoàn, 3 đại đội, 3 trung đội ngụy; tiêu hao 1 tiểu đoàn, 14 đại đội, 1 lữ đoàn bộ binh Mỹ và 4 đại đội, 1 trung đội ngụy; bắn rơi 61 máy bay, phá hỏng 180 xe quân sự và 20 khẩu pháo; thu l29 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Những kết quả to lớn trong chiến dịch Sa Thày 2 không những có ý nghĩa về tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ phong trào phá ấp giành dân, phối hợp chiến trường, rèn luyện bộ đội; mà còn đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật khêu ngòi bằng gây ép nhử địch vào các khu vực ta đã chuẩn bị sẵn để tập trung lực lượng bao vây, tiêu diệt. Điểm nổi bật trong chiến dịch này là ta sử dụng rất thành công hỏa lực pháo cối tập kích địch đồng loạt cùng một thời gian đạt hiệu quả cao, góp phần nhanh chóng cải thiện thế chiến dịch, tạo điều kiện cho bộ binh mở thêm hướng tiến công mới, làm chiến dịch phát triển, giành thắng lợi lớn. ------------------------------------------------------------------ 1. Chiến dịch Sa Thày 2 còn được gọi là đợt tiến công mùa Xuân 1967. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:16:04 pm * Tiếng súng tiến công mùa Xuân vừa tạm lắng, ngày 2 tháng 5 năm 1967 Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên chủ trương ''đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tiếp tục tiến công địch'' mở đợt tiến công mùa hè. Hướng tiến c ông chủ yếu ở khu vực Chư Pa, các hướng phối hợp ở trục đường 19 tây, Tây bắc Kon Tum, bắc Buôn Ma Thuột. Trong khi ta đang chuẩn bị đợt hoạt động hè, bị địch phát hiện dấu vết trên hướng chính, chúng liền phản ứng. Ngày 15 tháng 5, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ từ Đức Cơ, Sùng Lễ mở hai mũi tiến công ra vùng Chư Dam, Chư Pa, định phá sự chuẩn bị tiến công và đẩy ta ra xa. Thời cơ tiêu diệt địch đã đến, các đơn vị trên hướng chính được lệnh chuyển sang chặn đánh cả hai cánh quân địch. Từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 5, chiến sự nổ ra rất ác liệt ở vùng rừng núi Chư Dam, Chư Pa, Chư Lom. Tại Chư Dam, Trung đoàn 320 đánh 4 trận diệt 420 tên địch, bắt 1 tên, bắn rơi 6 trực thăng, thu 36 súng và 2 vô tuyến điện. Hướng Chư Pa, Trung đoàn 66 cũng đánh liên tiếp 4 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 392 tên, bắn rơi 2 trực thăng, thu 3 súng và 1 vô tuyến điện. Trung đoàn 88 đánh 11 trận, diệt 272 tên, bắn rơi 2 trực thăng, phá 8 xe quân sự. Sau 8 ngày chiến đấu, Sư đoàn bộ binh 1 đã đập tan cuộc hành quân ''tìm diệt'' của lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ. Địch bị đánh tơi tả buộc phải tháo lui co về giữ tuyến phòng thủ đường 15. Phối hợp chặt chẽ với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh ở hai huyện 4 và 5 Gia Lai diệt 77 tên Mỹ, phá 5 xe quân sự; Trung đoàn 33 đánh 5 trận, diệt 68 tên Mỹ và 90 tên ngụy, bắn rơi 3 trực thăng, phá 1 xe; Trung đoàn 24 đánh 6 trận, diệt 312 tên, thu 38 súng. Để đối phó với ta trên hướng bắc Kon Tum, từ ngày lê tháng 6 năm 1967, địch đưa lữ Đoàn dù l73 lên Tân Cảnh và mở cuộc hành quân Greely. Chủ động đánh địch, đêm 16 và tối 17 tháng 6, ta dùng ĐKB, cối 120mm, 82mm đánh căn cứ Tân Cảnh, phá cơ sở hậu cần của cuộc hành quân. Hỏang sợ trước sự xuất hiện của loại hỏa tiễn mang vác ĐKB, địch ráo riết lùng sục và treo giải thưởng 100.000 đồng cho ai cung cấp tin tức về loại vũ khí mới này. Ngày 20 tháng 6, địch đổ bộ một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 Mỹ xuống Ngọc Kring thăm dò, sau đó tiến sang Ngọc Bờ Biêng, nhưng bị Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đánh trận phủ đầu đẫm máu. Để cứu nguy cho lữ đoàn 173, chiến đoàn dù số 1 thuộc lực lượng tổng dự bị của quân ngụy Sài Gòn và 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 được vội vã đưa lên Tây Nguyên mở cuộc hành Quân ''Dân Thắng 161'' ở Tây bắc Kon Tum; một trung đoàn Nam Triều Tiên cũng được cấp tốc đưa lên cao nguyên. Trong tháng 6, hướng Gia Lai, Trung đoàn 88, Trung đoàn 95 đánh một số trận nhỏ lẻ và pháo kích. Nổi bật là trận tập kích xuất sắc của Tiểu đoàn 952 đặc công vào thị xã Plei Ku (10.6), Tiểu đoàn địa phương Gia Lai đánh ấp Lệ Chí, loại khỏi vòng chiến đấu 338 tên địch (có 183 tên Mỹ), bắt 18 tên, giáng một đòn mạnh vào hậu cứ của địch. Riêng hướng Đắc Lắc, Trung đoàn 33 hoạt động yếu. Đầu tháng 7, địch tăng quân mở các cuộc càn quét lùng sục xung quanh các cứ điểm Tân Cảnh, Đức Cơ, Chư Kram, Lang Beng. Nhưng tinh thần binh lính địch bạc nhược, gặp ta là bỏ chạy, có hiện tượng tránh đụng độ với chủ lực ta. Vì vậy trong tháng 7, Trung đoàn 1741 và Tiểu đoàn 101 chỉ đánh được một số trận phục kích và pháo kích ở Đắc Siêng, vận động tiến công ở Đắc Vai Kông tiêu hao đại 2 đội Mỹ; Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đánh một trận xuất sắc tiêu diệt 2 đại đội Mỹ ở nam Đức Vinh; Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 320 phục kích diệt một số địch ở bắc Da Bo. Ngày 20 tháng 7, đợt tiến công mùa hè của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.763 tên Mỹ và 1.560 tên ngụy, bắt 32 tên, phá hủy 75 xe quân sự và 22 pháo lớn, bắn rơi phá hỏng 27 máy bay, thu 273 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Đợt tiến công mùa hè đã phá tan âm mưu chiến lược của địch là kiềm chế Tây Nguyên tập trung quân đánh phá đồng bằng, đẩy địch vào thế đối phó lúng túng bị động, buộc phải chuyển vào phòng ngự sớm hơn trước mùa mưa. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Sa Thày 2, kết quả của đợt tiến công mùa hè đã tạo cho quân và dân Tây Nguyên thế và lực mới, mở những chiến dịch giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn. ------------------------------------------------------------------ 1. Trung Đoàn bộ binh 174 do trung tá Đàm Văn Ngụy làm trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Thanh Trà làm chính ủy, đồng chí Lý Long Quân làm trung đoàn phó, có 2.883 cán bộ, chiến sĩ, vào chiến trường Tây Nguyên ngày 30.5.1967. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:24:16 pm 3. Giữ vững quyền chủ động tiến công địch, mở chiến dịch Đắc Tô 1, đánh bại cuộc phản kích mùa khô lần thứ ba của Mỹ, ngụy. Cuối tháng 7 năm 1967, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp đánh giá thắng lợi to lớn của quân dân Tây Nguyên qua ba đợt hoạt động đông, xuân, hè 1966-1967, chỉ những ưu khuyết điểm và rút ra những kinh nghiệm quý giá trong lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời đề ra nhiệm vụ phương hướng, yêu cầu lãnh đạo Chiến trường thời gian tới, trong đó tập trung làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch Đắc Tô 1. Cùng thời gian này, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cử thiếu tướng Hoàng Minh Thảo làm tư lệnh và đại tá Trần Thế Môn làm chính ủy Chiến trường Tây Nguyên thay Thiếu tướng Chu Huy Mân về làm Tư lệnh quân Khu 5; đại tá Cao Văn Khánh được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Tiếp đó, đảng ủy Khu 5 chỉ định đồng chí Trần Thế Môn - đảng ủy viên (Đảng ủy Khu 5) làm Bí thư Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên và đồng chí Hoàng Minh Thảo - đảng ủy viên (Đảng ủy Khu 5) làm Phó bí thư. Tuy đầu tháng 9 năm 1967, sau khi được cấp trên phê chuẩn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mới chính thức quyết định mở Chiến dịch Đắc Tô 1; nhưng công tác chuẩn bị chiến dịch được chủ động tiến hành ngay từ khi đợt tiến công mùa hè vừa kết thúc. Trong hai tháng 7, 8 các đoàn cán bộ của B3 và Sư đoàn bộ binh 1 đã đi chuẩn bị chiến trường. Cuối tháng 8, cán bộ quân sự từ cấp tiểu đoàn trở lên rời tây nam Gia Lai lên khu vực Đắc Tô trinh sát địa hình, sau đó ở lại đón bộ đội và làm công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Song song với công tác chuẩn bị chiến trường, việc chuẩn bị lực lượng theo phương châm: ''Ra sức tăng cường chất lượng, để chiến thắng số lượng đông của địch'' được tiến hành tích cực, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng chính trị, chiến thuật, kỹ thuật để ''diệt lữ đoàn Mỹ''. Do thường xuyên phải tác chiến với quân địch đông về số lượng, lắm bom nhiều đạn, liên tục ác liệt dài ngày, trong khi ta còn thiếu thốn, trang bị có hạn nên Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường đặc biệt quan tâm xây dựng cho bộ đội tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Công tác xây dựng chi bộ 4 tốt được chú trọng; dân chủ được phát huy; những vướng mắc về tư tưởng được phát hiện và giải quyết. Lần đầu tiên trên toàn chiến trường Tây Nguyên dấy lên phong trào tự nguyện đăng ký chỉ tiêu diệt Mỹ rộng khắp; từ chiến sĩ nuôi quân đến đồng chí Tư lệnh đều đăng ký chỉ tiêu thi đua. Những từ ''Đánh to Thắng lớn'', ''Diệt lữ đoàn Mỹ'' được mọi người nhắc đến với lòng tin tưởng và quyết tâm rất cao. Giữa những ngày chuẩn bị chiến dịch khẩn trương sôi động, Đoàn văn công Tổng cục Chính trị và Đội văn nghệ xung kích B3 chia ra từng tổ, đến tận trung đội, đại đội biểu diễn động viên bộ đội trước khi bước vào chiến đấu. Để đạt được chỉ tiêu đã giao ước, các đại đội, tiểu đoàn tích cực luyện tập chiến thuật tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt theo phương án tiêu diệt đại đội, tiểu đoàn Mỹ. Từng tổ 3 người, từng tiểu đội tự động ra thao trường ôn luyện ngoài giờ về chiến thuật, kỹ thuật bắn các loại súng khi lên dốc, xuống dốc. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh và cán bộ ba cơ quan Chiến trường xuống tận đại đội kiểm tra, động viên bộ đội, vừa nắm thực chất và kịp thời uốn nắn việc chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị vật chất, vừa tạo gắn bó trên dưới, vun đắp truyền thống đoàn kết của lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Chiến dịch Đắc Tô 1 được mở trong khu vực rừng núi trùng điệp phía tây bắc tỉnh Kon Tum, cách thị xã Kon Tum khỏang 40km. Ngoài vùng thung lũng Đắc Tô - Tân Cảnh và dọc đường 18 đến Plei Kần (gần ngã ba biên giới Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia) do quân địch đóng giữ thành cụm cú điểm lớn, địa hình khu vực tác chiến chia ra làm hai phần rõ rệt bắc và nam đường 18. Phía bắc có các dãy núi Ngọc Van (1.416m), Ngọc Sia (1.556m), Ngọc Tụ (700-900m). Phía nam gồm nhiều dãy núi có độ cao từ 700m đến 1.300m, bị hai con suôí Đắc Klong và Đắc Kal (phụ lưu sông Sa Thày) chia cắt. Phía đông suối Đắc Klong có dãy Ngọc Bờ Biêng (1.262m, cách Đắc Tô 7km về phía nam), Ngọc Tang, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Dơ Lang cao trên 1.000m, rồi thấp dần về phía bãi bằng Plei Lăng Lô Kram. Bờ tây suối Đắc Klong là dãy Ngọc Kom Liệt (826m, cách Plei Kần 2km về phía nam); nam suối Đắc Kal có dãy Ngọc Kring (882m), xa hơn khỏang 4km là điểm cao 875 có nhiều bãi le, tương đối bằng, tiện lợi cho việc đổ bộ trực thăng. Địa hình khu vực tác chiến tuy không rộng lắm, nhưng có đầy đủ các yếu tố để mở chiến dịch tiến công quy mô sư đoàn tăng cường. Từ các dãy núi bên bờ tây sông Pô Kô như Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, Ngọc Rinh Rua ta có thể bố trí hỏa lực khống chế toàn bộ thung lũng Đắc Tô, Tân Cảnh, buộc địch phải đưa quân ra phản kích. Khu vực trung tuyến Ngọc Dơ Lang là khu quyết chiến thứ nhất có thể triển khai hàng trung đoàn, đánh bại đợt phản kích và đòn phản kích thứ nhất của địch. Khu vực Ngọc Kom Liệt, Bãi Le, điểm cao 875 là trung tâm không gian chiến dịch, nơi triển khai lực lượng chủ yếu của ta thực hiện trận quyết chiến then chốt chiến dịch. Các khu vực phía bắc đường 18, đông, đông bắc Tân Cảnh có thể triển khai lực lượng vừa và nhỏ đánh vào sau lưng đội hình địch, khống chế sân bay Đắc Tô, uy hiếp Tân Cảnh, cắt giao thông đường 14... hỗ trợ cho hướng chủ yếu chiến dịch. Ngày 15 tháng 9, khi Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chính thức chuyển vào giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, và ngày 22 quyết tâm chiến dịch được thông qua lần cuối, công tác vận chuyển gạo đạn và cơ động lực lượng chiếm lĩnh trận địa, làm công sự diễn ra bí mật, nhưng rất khẩn trương sôi động. Khu vực mở chiến dịch nằm trong tầm khống chế của hỏa lực pháo binh và máy bay địch nên công tác chuẩn bị được lãnh đạo tổ chức rất chặt chẽ. Dưới trời mưa tầm tã, bộ đội và dân công phải đi xa chặt hàng vạn cây lồ ô, nứa đan phên lát hàng trăm kilômét đường thồ, làm dàn ngụy trang ở những đoạn đường trống. Khi chiến dịch mở màn, đã có tới gần 500km đường bộ được mở phục vụ vận chuyển và cơ động lực lượng. Nhưng khó khăn nhất và sôi động nhất là công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch. Do nguồn hàng ở xa, núi dốc đường trơn, tất cả đều vận chuyển bằng đôi vai và xe đạp thồ, nên một lực lượng lớn được huy động vào vận tải. Bên cạnh các đơn vị vận tải bộ của Phòng Hậu cần, các binh trạm, Sư đoàn 1 và các trung đoàn, Bộ tư lệnh Chiến dịch còn huy động Trường Quân chính, Trường Quân y, các bệnh viện, xưởng dược, xưởng quân giới và cơ quan B3 tham gia ''chiến dịch'' vận chuyển. Một lực lượng lớn gồm 3.400 thanh niên xung phong và dân công của các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc cũng được huy động tham gia phục vụ chiến dịch. Với quyết tâm ''Không vì hậu cần mà ảnh hưởng đến chiến đấu'', các chiến sĩ vận tải động viên, giúp đỡ nhau, thi đua tăng cân tăng chuyến, gùi hàng vượt trọng lượng cơ thể băng qua ''dốc Trăm bậc'', đỉnh đồi ''Cây đa gió lộng'' cao hàng nghìn mét, vượt sông Sa Thày chảy xiết bền bỉ tiến ra phía trước. Đội nữ vận tải Phòng Hậu cần đưa năng suất gùi bình quân 50kg/1người/1chuyến; Tiểu đoàn 6 vận tải đạt năng suất 42kg; cán bộ, chiến sĩ viện Quân y 211 chưa quen gùi thồ cũng đưa năng suất thồ xe đạp lên 120kg và gùi lên 60kg. Xưởng dược X38 tổ chức một đội xe đạp thồ vận chuyển suốt cả chiến dịch. Trong đợt vận chuyển này xuất hiện nhiều kỷ lục gùi hơn 100kg, thồ xe đạp 2 tạ/chuyến. Trong gian lao, vất vả các chiến sĩ vận tải rất yêu đời. Những lời ca: "Tôi là người chiến sĩ giải phóng quân Vượt dốc, băng sông, xuyên rừng, lội suối Còn trẻ lắm, năm nay mười tám tuổi…" Sôi nổi, say sưa luôn được các nữ chiến sĩ cất lên mỗi tạm dừng chân trên đường ra trận. Thi đua với bộ đội thanh niên xung phong và dân công cũng liên tục đưa suất vận chuyển tăng lên. Có gia đình đi dân công bà mẹ đi gùi gạo theo sau là đứa con lớn cõng em hàng tháng trời; có chị gùi đạn sau lưng, địu con trước; có bà mẹ dân tộc thiểu số gần 60 tuổi cũng chẳng bằng được đi dân công và gùi tới 40kg đạn là nhiều ngày. Ngoài vận chuyển, thanh niên xung phong dân công còn tích cực làm đường, dựng kho tàng, đào sự cáng thương, nuôi dưỡng thương bệnh binh. Với quyết tâm cao hơn núi'', đến trước ngày chiến dịch nổ súng, đã có 679 tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược thuốc men, trong đó có 10.000 bánh lương khô tự chủ chỗ của quân nhu Tây Nguyên được chuyển đến các trận địa. Riêng Tiểu đoàn 6 Tây Ninh (do đồng chí Cơ làm đoàn trưởng và đồng chí Tiêu Văn Mẫn làm chính trị viên) làm nhiệm vụ chốt chiến dịch được cấp 4.000 bánh lương khô bảo đảm cho đơn vị đánh địch trong 7 ngày. Toàn chiến dịch có 2.500 tấn rau tươi, 28 con trâu bị, 30 con lợn và hàng trăm con gà được đưa ra mặt trận phục vụ bộ đội. Trong chiến dịch này có sự đóng góp giúp đỡ quý báu của địa phương. Có gia đình đã ủng hộ đến 75% số lượng ta chỉ giữ lại 25% để nuôi sống và làm giống; có gia đình chỉ để lương thực đủ làm giống, ủng hộ toàn bộ cho bộ đội, còn gia đình ăn sắn và rau rừng. Để tăng quân số trực tiếp chiến đấu, lực lượng quân y toàn Chiến trường mở một đợt thi đua điều trị đột xuất, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh trả nhanh quân số về đơn vị. Chỉ trong 2 tháng (28.8 28.10) các bệnh viện, bệnh xá, tiểu đoàn thu dung đã điều trị 1.646 thương bệnh binh đủ sức khỏe trở về đơn vị, vượt 100% chỉ tiêu được giao. Ngoài ra quân y Chiến trường còn mở một lớp tập huấn 8 ngày (7-15.9) cho 86 y bác sĩ nhằm nâng cao chất lượng cứu chữa bệnh. Thời gian này, tờ nội san ''Quân y Tây Nguyên'' cũng ra số đầu tiên đăng tải 8 bài, kịp thời giới thiệu những kinh nghiệm quý rút ra từ thực tiễn khám chữa và phòng chống bệnh ở chiến trường. Những kết quả to lớn toàn diện trong gần 3 tháng chuẩn bị chiến dịch ở khu vực nằm sâu trong tầm khống chế của địch, bảo đảm tuyệt đối bí mật đến trước giờ nổ súng không những là một kỳ công, mà còn là một thành công lớn của nghệ Thuật chuẩn bị chiến dịch, sự vận dụng sáng tạo quan điểm sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và tinh thần chủ động tích cực khắc phục khó khăn của Đảng ủy, Bộ tư lệnh, các cơ quan, đơn vị và nhân dân trên Chiến trường Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:26:20 pm * Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch, ngày 15 tháng 10 các đơn vị làm nhiệm vụ trên hướng chính cơ động lực lượng vào khu vực tập kết. Các đơn vị chủ lực tại chỗ được lệnh cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến nghi binh, thu hút sự chú ý của địch. Tại Gia Lai, đêm 15 tháng 10, ta dùng 1 trung đội cối 82mm pháo kích Đức Cơ. Tưởng ta chuẩn bị tiến công lớn trên hướng Plei Ku, sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ vội vàng mở cuộc hành quân Mác Ác-Tơ (Mác Arthur) ra vùng tây Gia Lai. Trong khi lữ đoàn 1 Mỹ đang hành quân thăm dò ở tây Đức Cơ, thì đêm 26 tháng 10 Tiểu đoàn 33 pháo binh dùng ĐKB tập kích hỏa lực vào sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, căn cứ La Sơn và sở chỉ huy sư đoàn 4 Mỹ ở Plei Ku, giết và làm bị thương 300 tên, phá hủy 15 xe quân sự. Ngày 30 tháng 10, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 95 tiêu diệt 1 trung đội ngụy, phá hủy 3 xe GMC ở tây bắc Plei Ku. Phối hợp với bộ đội chủ lực, từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 10 du kích Huyện 4 Gia Lai tích cực hoạt động đánh nhỏ lẻ diệt 103 tên địch, phá hủy 7 xe quân sự, thu 3 súng. Những trận đánh kết hợp với các hoạt động nghi binh khác của ta trên hướng tây Gia Lai đã thu hút được sự chú ý của địch về hướng này. Ở Đắc Lắc, do địch đang dùng tiểu đoàn 1 lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ và trung đoàn 45 ngụy đánh ra vùng Chư Diê Lia, Mê Van nên các lực lượng ta trên hướng này được lệnh nổ súng từ ngày 20 tháng 10 trở đi. Đêm 27, hai đại đội đặc công tỉnh tập kích sở chỉ huy sư đoàn 23 và một đại đội pháo của tiểu đoàn 232 ngụy ở tây thị xã Buôn Ma Thuột 2km, diệt 250 tên, phá 3 pháo 105mm, 30 xe quân sự (có 4 xe bọc thép), đốt cháy 1 kho xăng, làm nổ tung 1 kho đạn, thu 6 súng. Địch thú nhận trận này chúng bị chết và bị thương hơn 200 tên, chủ yếu là sĩ quan. Cùng đêm, ta pháo kích vào sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp, phá hủy 4 xe bọc thép và diệt 50 tên địch. Tiếp đó từ ngày 28 đến 31 tháng 10, Trung đoàn 33 tập kích tiểu đoàn 1 (trung đoàn 12, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ) ở nam Ya Súp diệt 40 tên, chặn đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp ngụy, phá hủy một số xe khi chúng đi ứng cứu quân Mỹ. Đại đội 1 Tiểu đoàn 301 địa phương và du kích phục kích giao thông trên đường 21, liên tục đánh vào trung đoàn 45 ngụy từ khu vực Phước An đến Buôn Ma Thuột, diệt và bắt hàng chục tên địch, thu 17 súng, phá sập 1 cầu. Trước khi mở màn chiến dịch, ta đã hoạt động nghi binh khá thành công, cầm chân được sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ và nhiều đơn vị chủ lực ngụy ở Gia Lai, Đắc Lắc; diệt 807 tên (có 340 tên Mỹ), phá hủy 3 pháo, 28 xe quân sự (có 8 xe bọc thép), phá 2 cầu, 1 kho đạn, là kho xăng, thu 20 súng; làm cho La - Xâu tư lệnh quân Mỹ ở Tây Nguyên lo sợ báo cáo lên Oét-mo-len: ''Tình hình Tây Nguyên ngày càng trở nên đáng lo ngại... Mối đe dọa ở Pleiku, Buôn Ma Thuột rất nghiêm trọng, nếu không tăng thêm lực lượng thì chúng ta sẽ bị o ép mạnh''. Ngày 30 tháng 10, lữ đoàn 173 Mỹ được đưa vội vã từ Phú Yên lên Tây Nguyên. Tranh thủ thời cơ quân địch bị giam chân ở Gia Lai, Đắc Lắc, các lực lương trên hướng chính chiến dịch đã khẩn trương, hoàn thành những công việc chuẩn bị cuối cùng vào ngày 25 tháng 10. Ngày 26, một trung đội của Tiểu đoàn 6 Tây Ninh chiếm lĩnh trước một số điểm cao ở Ngọc Bờ Biêng và ngày 29 toàn tiểu đoàn hoàn thành chiếm lĩnh trận địa chết chiến dịch ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kông Kreng, Ngọc Tang, sớm hơn kế hoạch bốn ngày. Cùng thời gian này, các lực lượng pháo binh, phòng không của Trung đoàn 40 bí mật triển khai trận địa ở các khu vực. Riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 31 tháo rời 2 khẩu sơn pháo 75mm, kiên trì bền ba đua được hai khối thép lên đỉnh Ngọc Bờ Biêng sẵn sàng khống chế căn cứ Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô; đồng thời dùng 2 khẩu ĐKZ 75 và 6 khẩu cối 82mm phối thuộc Tiểu đoàn 6 giữ cụm chốt chiến dịch. Tối mùng 3 tháng 11, Sư đoàn bộ binh 1 cơ bản chiếm lĩnh xong trận địa theo kế hoạch: Trung đoàn 320 ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Lăng Lô Kram, Trung đoàn 66 ở Ngọc Kom Liệt, Đắc Vang Công, Tiểu oàn 2 Trung đoàn 174 ở Đắc Vang Kham. Hướng đông đường 14, lực lượng vũ trang địa phương triển khai xong thế trận sẵn sàng nổ súng; riêng Trung đoàn 24 đến ngày 5 tháng 11 vẫn chưa triển khai xong. Trong khi ta triển khai lực lượng chiến dịch, quân địch vẫn không phát hiện được gì. Chúng dùng tiểu đoàn 3 (trung đoàn 8, lữ đoàn 1, sư đoàn 4 Mỹ) tiến hành các hoạt động thăm dò ở vùng Plei Kần, chốt Ngọc Rinh Rua; triển khai trận địa pháo ở Tân Cảnh, Đắc Mót, Plei Kần. Ngày 2 tháng 11, qua lời khai báo của một tên phản bội đầu hàng, địch mới biết hướng tiến công chính của ta, liền vội vàng điều quân đối phó. Ngày 3 tháng 11, địch mở cuộc hành quân Mác Ác-Tơ 2 với lực lượng lữ đoàn 1 (sư đoàn 4), lữ đoàn dù 173, 1 tiểu đoàn (của sư đoàn kỵ binh không vận số 1), liên đoàn 2 biệt động quân và tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy. Ý định của địch là dùng hai lữ đoàn Mỹ cùng một lúc tiến hành phản kích trên hai hướng tây và tây nam Tân Cảnh. Lữ đoàn 1 sư đoàn 4 triển khai trên hướng tây nam đánh chiếm Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kông Kring. Lữ đoàn dù 173 đánh trên hướng tây chiếm các điểm cao phía nam Plel Kần, Ngọc Kom Liệt. Cả hai cánh sẽ hợp vây chiến dịch tại khu vực điểm cao 875. Thực hiện ý định đó, 10 giờ ngày 3 tháng 10 hai đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 đổ bộ chiếm điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang; 13 giờ 30 phút chúng đổ tiếp 2 đại đội xuống Ngọc Non và triển khai các trận địa pháo 105mm ở Plei Kần, Ngọc Rinh Rua, Tân Cảnh, Sân bay Đắc Tô 2, Đắc Mót. Lữ dù 173 từ An Khê được đưa cấp tốc lên Kon Tum. Ngày 5 tháng 11 tiểu đoàn 9 dù ngụy từ Phú Bài (Huế) cũng được đưa lên Đắc Tô. Theo kế hoạch, ngày 5 tháng 11 ta mới bắt đầu nổ súng mở màn chiến dịch. Nhưng quân Mỹ ra sớm, lại đổ ngay vào hai khu quyết chiến của ta là Ngọc Kom Liệt, Ngọc Dơ Lang và Ngọc Kông Kring. Trước diễn biến mới về địch, nhận định đây là thời cơ thuận lợi, ta đã rút ngắn được thời gian khêu ngòi, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Tiểu đoàn 6 Tây Ninh kiên quyết ngăn chặn tiêu hao địch, giữ vững khu chốt, đồng thời dùng hỏa lực khống chế sân bay Đắc Tô, Tân Cảnh hỗ trợ cho lực lượng chính tiêu diệt địch ở khu quyết chiến; Sư đoàn bộ binh 1 phải giữ kín lực lượng, chờ địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị sẵn, liên tục xuất kích tiêu diệt từng đơn vị quân Mỹ bằng các hình thức chiến Thuật chốt kết hợp vận động tiến công, phục kích, tập kích, đánh liên tục nhiều trận nhằm tiêu diệt từng tiểu đoàn địch. Trung đoàn 24 và lực lượng vũ trang Kon Tum đánh nhỏ trong những ngày đầu, thời gian cao điểm vây diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy ở đông bắc Đắc Tô, đánh phá thị xã Kon Tum, đường 14. Thực hiện quyết định trên, 15 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11 trên mỏm đồi Yên Ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đội 7 (Đại đội 11 Tiểu đoàn 6) mở màn chiến dịch Đắc Tô 1 bằng một trận đánh quyết liệt với 2 đại đội Mỹ, diệt hàng chục tên, thu 3 súng. Tối mùng 3, địch pháo kích dữ dội vào trận địa Tiểu đội 7, làm liên lạc với cấp trên bị đứt. Trong đêm, các chiến sĩ tranh thủ củng cố công sự chuẩn bị cho trận đánh ngày hôm sau. Sáng mùng 4, địch dùng máy bay ném bom đào, bom xăng, bom na pan, bom mang chất độc hóa học vào trận địa Tiểu đội 7, làm nhiều đoạn hào bị san phẳng, cây cối bị phát quang, cháy trụi. Từ 8 giờ sáng đến chiều, địch dùng 2 đại đội bộ binh có hỏa lực chi viện mạnh tiến công 8 đợt vào chốt ta, nhưng đều bị các chiến sĩ Tiểu đội 7 dũng cảm mưu trí đánh lui; 120 tên Mỹ phơi xác trước trận địa, 5 súng và 1 vô tuyến điện bị tịch thu. Do trận địa hư hỏng nặng, tối mùng 4 Tiểu đội 7 được lệnh rời khỏi chốt. Ngày hôm sau (5.11) địch chiếm đồi Không Tên, 1 đại đội Mỹ bất ngờ ập đến trận địa thứ hai của Đại đội 11 ở Ngọc Tang. Tại đây, ta chỉ có 1 trung đội bộ binh (thiếu) và 2 khẩu ĐKZ, nhưng các chiến sĩ không hề nao núng, dũng cảm dùng lưỡi lê, báng súng, dao găm, lựu đạn đánh giáp lá cà với địch, diệt 70 tên. Chiến sĩ Nguyễn Tấn lẩn đầu ra trận chiến đấu rất quả cảm, khi chỉ còn 1 viên đạn cuối cùng đã chờ cho tên Mỹ đến thật gần mới nổ súng tiêu diệt. Bị thất bại, ngày 7 tháng 11 địch tăng quân rồi liên tục tiến công lên chốt Ngọc Tang suốt 2 ngày 8 và 9. Trước quân địch đông, lắm bom nhiều đạn, lực lượng chốt của ta vừa kiên cường giữ trận địa, vừa dùng các tổ cơ động xuất kích ngắn đánh vào bên sườn đội hình tiến công của địch. Với cách phòng ngự tích cực này, ta tiêu hao nặng 2 đại đội Mỹ. Tối mùng 9, sau khi dùng ĐKZ bắn phá sân bay Đắc Tô, sở chỉ huy lữ Đoàn 1 Mỹ, ta chỉ để lại 1 tiểu đội tiếp tục chốt giữ Ngọc Tang, còn toàn bộ lực lượng rời khỏi chốt. Ngày hôm sau, tiểu đội ở lại chốt ỗa chiến đấu liên tục, đánh lui 5 lần tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên Mỹ, thu 1 súng rồi lợi dụng đêm tối lui quân an toàn. Ngày 11 địch chiếm Ngọc Tang sau khi đã bị tiêu hao nặng một tiểu đoàn, 310 tên bị chết. Những trận đánh của lực lượng chết chiến dịch ở Ngọc Tang đã buộc địch phải phân tán đối phó, hỗ trợ đắc lực cho Sư đoàn bộ binh 1 tiến công tiêu diệt địch tại khu quyết chiến, đồng thời tạo điều kiện cho hai khu chốt chính của Tiểu đoàn 6 ở Ngọc Bờ Biêng và Ngọc Kông Kring tiếp tục củng cố vững chắc. Trong khi chiến sự diễn ra quyết liệt ở khu chốt chiến dịch phía đông, thì những trận đánh với hai cánh quân Mỹ của Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 ngày càng trở nên ác liệt. Trên hướng tây bắc, lúc 13 giờ 30 phút ngày 6 tháng 11, hai đại đội của tiểu đoàn 1 và hai đại đội của tiểu đoàn 4 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 Mỹ từ Plei Kần cơ động bằng đường bộ và trực thăng đến chiếm các điểm cao của dãy Ngọc Kom Liệt, rồi hình thành hai mũi đánh vào sườn phải Sư đoàn bộ binh 1. Mũi tiến quân đường bộ của tiểu đoàn 1 Mỹ đã bị Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chốt ở điểm cao 823 chặn đánh thiệt hại nặng đại đội D, diệt 70 tên, thu 2 súng và 1 vô tuyến điện. Khi Đại đội 9 nổ súng, Tiểu đoàn 9 cơ động lực lượng chi viện nhưng cán bộ tiểu đoàn đi trước dẫn đường bị thương vong, đơn vị đến chậm, địch đã chiếm được Ngọc Kom Liệt. Trong 4 ngày tiếp theo, Tiểu đoàn 9 mất liên lạc với Trung đoàn 66, không chủ động đánh địch. Cùng thời gian này, mũi đổ bộ đường không của tiểu đoàn 4 Mỹ vừa xuống điểm cao 823 đã bị bộ phận đài quan sát và trinh sát Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 60 tên, tiêu hao nặng đại đội B, nhưng chúng vẫn chiếm được điểm cao này. Tối mùng 6 tháng 11, Trung đoàn 66 dùng Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) định tập kích chiếm lại điểm cao 823, khi tiếp cận bị lộ, địch dùng hỏa lực sát thương, ta phải lui quân. Ngày hôm sau (7.11) Trung đoàn sử dụng cối 82mm bắn 100 quả đạn vào điểm cao 823, gây cho địch nhiều thiệt hại buộc chúng phải rút bỏ điểm cao này lui về phía bắc dãy Ngọc Kom Liệt. Tại khu chiến Ngọc Dơ Lang, ngày 3 tháng 11 địch đổ bộ 2 đại đội của tiểu đoàn 2 lữ đoàn 1 Mỹ xuống đông bắc rồi chiếm điểm cao 882 làm bàn đạp. Ngày 6, hai đại đội này đánh sang chốt của Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 320 ở điểm cao 843. Ta sử dụng chiến Thuật chốt kết hợp vận động tiến công diệt được 20 tên địch, nhưng do sơ hở bị chúng chiếm mất chốt. Ngày hôm sau (7.11) địch từ điểm cao 843 tiến sang điểm cao 724, bị Đại đội 9 đánh vận động diệt đại đội C, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, thu 6 súng, nhưng ta bị mất tiếp điểm cao 724. Ngày 8 tháng 11, địch đổ bộ tiếp 2 đại đội của tiểu đoàn 3 lữ đoàn 1 xuống nam điểm cao 865 dãy Ngọc Dơ Lang. Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên hai hướng tiến công của địch, dự đoán chúng sẽ tăng quân và tiến sâu hơn, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Trung đoàn 174 dừng vận chuyển, khẩn trương cơ động ra khu vực phía tây Lăng Lô Kram, gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu; đồng thời lệnh cho Sư đoàn bộ binh 1 dùng phân đội nhỏ đánh vây ép, tranh thủ đánh vận động ngoài công sự, nắm chắc thời cơ tập kích địch trong công sự, bằng nhiều trận liên tức tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ; Trung đoàn 24 và lực lượng địa phương đánh mạnh ở phía đông đường 14, thị xã và giao thông; Tiểu đoàn 6 vừa đánh địch vừa củng công sự và sơn pháo 75 sẵn sàng bắn vào Đắc Tô, Tân Cảnh theo mệnh lệnh. Thực hiện mệnh lệnh trên, tối mùng 8 tháng 11 Sư đoàn bộ binh 1 sử dụng hai tiểu đoàn (6 và 4) của Trung đoàn 320 tập kích địch ở điểm cao 724. Khi Tiểu đoàn 4 hành quân tiếp cận mục tiêu, cũng là lúc 2 đại đội Mỹ từ điểm cao 724 tiến về phía tây để tránh ta tập kích đêm. Lập tức Tiểu đoàn 4 nhanh chóng chuyển sang đánh vận động. Tiểu đoàn 6 kịp thời cơ động đến phối hợp. Sau 2 giờ chiến đấu ta đánh thiệt hại nặng 2 đại đội A, B tiểu đoàn 3 Mỹ, diệt 150 tên, số còn lại chạy ngược trở lại điểm cao 724; ta truy kích nhưng bị máy bay địch ném bom trúng đội hình, cán bộ hai đại đội 1, 2 và nhiều chiến sĩ thương vong, đại đội mất sức chiến đấu không dứt điểm được. Kịp thời chi viện cho Trung đoàn 320 đánh địch, pháo binh ta tập kích hỏa lực vào Ngọc Rinh Rua (phá hủy 2 pháo, diệt 20 tên) và điểm cao 823 (diệt 30 tên, phá 2 trực thăng). Trong tuần đầu chiến địch, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 đã tiêu hao 5 tiểu đoàn Mỹ (tiểu đoàn 1, 2, 3 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 và tiểu đoàn ,4 lữ đoàn 173) chặn đứng hai hướng tiến công, phá vỡ âm mưu của địch đánh vào phía sau đội hình tiến công của ta; đồng thời tiếp tục dụ địch tiến sâu vào thế trận mà ta đã chuẩn bị sẵn để đánh những đòn tiêu diệt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:50:05 pm * Với lực lượng 12 tiểu đoàn cơ động, được pháo binh máy bay chi viện tối đa, sau một tuần ra quân cuộc hành quân Mác Ác-Tơ không đem lại kết quả như mong muốn; trái lại, địch bị đánh liên tiếp, bị tiêu hao, cả hai cánh quân đều bị chặn đứng. Không cam chịu thất bại, từ ngày 11 tháng 11 địch tiếp tục pháo kích và dùng tới 700 gần chiếc máy bay phản lực, trong đó có hàng chục lần chiếc B52 mỗi ngày ném bom xuống khu vực rừng núi tây nam Đắc Tô; đồng thời thúc bộ binh phản kích quyết liệt trên các hướng. Về phía ta, các đơn vị vẫn trụ bám kiên cường, liên tục tiến công tiêu diệt địch tạo thành một đợt chiến đấu cao điểm từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 11. Tại Ngọc Kom Liệt, mờ sáng ngày 11, sau khi dùng bom pháo dọn đường tiểu đoàn 4 Mỹ từ điểm cao 823 mở cuộc hành quân giải tỏa về hướng tây. Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 được điểm chốt trinh sát yểm trợ kịp thời vận động chặn đánh cánh quân này. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài suốt 8 giờ; với lối đánh gần, chia cắt địch ra từng mảng để diệt, Tiểu đoàn 7 đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn địch, chỉ còn một số tên liều chết chạy thóat về đồi Không Tên cụm lại, liền bị Tiểu đoàn 8 vận động đến tiêu diệt. Để cứu nguy cho 11 tiểu đoàn 4, 16 giờ 30 phút cùng ngày, lữ đoàn 173 cấp tốc tung 2 đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 từ Ngọc Kom Liệt xuống tiếp ứng. Nhưng chúng bị Tiểu đoàn 8 và phân đội 12,7mm của Trung đoàn 66 chặn đánh tiêu diệt đại bộ phận. Hàng trăm xác địch bỏ lại ngổn ngang trên trận địa, địch phải dùng cả máy bay B52 ném bom cứu nguy, nhưng lại ném bom nhầm vào đám tàn quân làm chết 40 tên Mỹ. Ngay buổi tối ngày 11, quân Mỹ dùng máy bay ném bom phá, bom xăng hủy xác đồng bọn. Như vậy, chỉ trong một ngày Trung đoàn 66 đã cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn 4 và tiêu hao nặng tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 lữ đoàn dù 173 Mỹ, diệt 490 tên, thu 21 súng và 6 vô tuyến điện. Trận đánh ''chốt kết hợp vận động tiến công'' xuất sắc của Trung đoàn 66 ở điểm cao 823, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ đã giáng một đòn mạnh mẽ vào lực lượng nòng cốt chiến dịch của địch, mê đầu bước phát triển mới về trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Cũng trong ngày 11, khi chiến sự diễn ra quyết liệt ở Ngọc Kom Liệt, tại Ngọc Dơ Lang Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 320 kịp thời vận động chặn đánh 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 173 Mỹ từ điểm cao 724 nống ra, diệt gọn đại đội B và tiêu hao nặng đại đội C, loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên, bọn còn lại chạy ngược trở lại co cụm trên hai mỏm đồi. Lập tức Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 được lệnh tiến công tiêu diệt cụm địch. Bộ đội nhanh chóng vận động áp sát mục tiêu, nhưng chưa kịp xung phong đã bị bom địch đánh trúng đội hình. Trước tình hình đó, tối ngày 11 Trung đoàn 320 tiếp tục sử dụng Tiểu đoàn 5 tiến công quân địch co cụm. Do hiệp đồng không chặt, khi cối 82mm bắn hết 60 viên đạn vào mục tiêu, bộ binh vẫn chưa kịp xung phong, nên trận đánh không thành công. Đêm 11 và sáng ngày 12, ta dùng súng cối bắn vào điểm cao 724 phá hủy 2 trực thăng và diệt 40 tên địch. Những trận đánh thắng giòn giã liên tiếp của Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 trong những ngày đầu tháng 11 và chốt chiến dịch của Tiểu đoàn 6 Tây Ninh như cái đinh đóng vào hông kẻ địch làm cho quân Mỹ chóang váng, lúng túng bị động đối phó. Trong cơn bấn loạn, quân Mỹ tiếp tục dấn sâu hơn nữa vào cái bẫy ''Đắc Tô'' của ta. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, Trung đoàn 174 nhanh chóng hoàn thành tổ chức hai điểm chốt chiến dịch ở điểm cao 882 và 875, sẵn sàng bước vào trận then chốt quyết định của chiến dịch. Đúng như dự đoán của ta, sau những đợt phản kích, phản đột kích ở Ngọc Kom Liệt và Ngọc Dơ Lang không thành, bộ chỉ huy quân Mỹ tức tốc cử tướng A-bơ-Ram, phó tư lệnh Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên Tây Nguyên xem xét tình hình, quyết định tổ chức một đòn phản đột kích mới vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta, hòng xoay chuyển tình thế. Địa hình địch chọn để thực hiện đòn đánh mới là dãy điểm cao 845, 882, 875, trong đó trọng tâm là điểm cao 875 vì nó có vị trí khá đặc biệt. Nằm cách quận lỵ Đắc Tô khỏang 25km về phía tây nam và cách Plei Kon 10km về phía nam, có chiều dài khỏang 500m, chiều rộng 350m, rừng già bao phủ, điểm cao 875 vừa có giá trị chiến Thuật, vừa án ngữ con đường tiến vào quần thể các điểm cao ở vùng rừng núi tây nam Đắc Tô, là nấc thang đầu tiên bước lên dãy Ngọc Tô Ba, một trong những căn cứ của ta ở Tây Nguyên. Bộ chỉ huy Mỹ cho rằng nếu chiếm được điểm cao 875 làm bàn đạp sẽ khống chế toàn bộ khu vực, từ đó thực hiện đòn đánh vu hồi vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta, thay đổi thế trận. Phán đoán đúng âm mưu mới của địch và từ thực tế các trận đánh của Trung đoàn 66, Trung đoàn 320 đã chứng minh: với hình thức chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công'' bộ đội ta có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của địch để giành thắng lợi. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung Trung đoàn 174 và Trung đoàn 66 của Sư đoàn bộ binh 1 thực hiện trận then chốt quyết định. Trong đó Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu của trận then chốt, bố trí ở điểm cao 875; Trung đoàn 66 triển khai đội hình ở dãy Ngọc Kom Liệt, điểm cao 823 và 845 đánh địch vòng ngoài bảo vệ sườn trái. Đồng thời các trung đoàn 320, 24, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, lực lượng pháo binh, phòng không... đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng. Thực hiện ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch, trong các ngày 12, 15, 16 Đại đội 1 pháo binh dùng 2 khẩu pháo 75 trẽn dãy Ngọc Bờ Biêng bắn phá sân bay Đắc Tô 2 và căn cứ Tân Cảnh. Với cách đánh táo bạo đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng, ta đã làm tê liệt sân bay, gây thiệt hại nặng cho sở chỉ huy dã chiến sư đoàn bộ binh 4 Mỹ, xóa sổ trại biệt kích ngụy, diệt trên 350 tên (có 150 tên Mỹ), phá hủy 3 máy bay vận tải C130 chở đầy lính, 4 xe quân sự, bắn cháy 2 kho xăng, làm nổ tung 1 kho đạn trên 1000 tấn và phá hủy một cụm thông tin. Chỉ huy địch bị rối loạn, cái dạ dày dùng cho 16.000 quân bị vỡ, tiếp tế bị gián đoạn càng làm cho địch thêm rối bời. Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã phải hốt hỏang kêu lên: ''Đây là cơn bão lửa kinh khủng nhất... Việt cộng bắn cả ngày lẫn đêm rất chính xác, gây thiệt hại, cho quân đồng minh". Cùng thời gian trên, Trung đoàn 24, lực lượng công binh, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum đẩy mạnh tiến công địch trên hướng đông bắc Tân Cảnh và đường 18. Ngày 11 tháng 11, Tiểu đoàn 304 tỉnh đội Kon Tum phục kích trên đường 14 diệt một đoàn xe 7 chiếc (có 3 xe tăng) và 100 tên Mỹ. Tiếp đó, đêm 14 một đại đội của Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh tập kích trại Nghĩa Binh ở thị xã Kon Tum, diệt 100 tên địch, thu 4 súng. Nổi bật là trận đánh luồn sâu đêm 16 rạng ngày 17 tháng 11 của Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24, tiêu diệt hoàn toàn đồn cảnh sát và làm chủ thị trấn Tân Cảnh, đánh bại lực lượng phản kích của địch, diệt 6 xe (có 2 xe M113); đồng thời tập trung nhân dân mít tinh ủng hộ cách mạng ngay trong hậu phương địch đã gây tiếng vang lớn về chính trị và mở ra khả năng hiện thực đánh chiếm các mục tiêu ở sâu trong vùng địch kiểm soát. Từ ngày 14 đến ngày 19 tháng 11, địch huy động một lực lượng lớn gồm trung đoàn 42, chiến đoàn dù tiểu đoàn 23 biệt động quân do đích thân trung tướng Vĩnh Lộc, tư lệnh quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy trực tiếp chỉ huy và hơn một đại đội Mỹ thay nhau đánh lên các chốt của ta ở Ngọc Sia, điểm cao 1030, 1423 Ngọc Wan... nhưng đều bị Trung đoàn 24 đánh bại, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch (có 50 tên Mỹ). Những trận đánh liên tiếp của Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, Đại đội 1 pháo binh (Trung đoàn 40), các phân đội trinh sát công binh và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã gây cho địch nhiều thiệt hại, mất ổn định hậu phương chiến dịch, buộc phải phân tán lực lượng đối phó trên hướng đông bắc; đồng thời tạo thế trận chiến dịch của ta ngày càng vững chắc và điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn bộ binh 1 tiến công tiêu diệt địch ở khu quyết chiến. Trên hướng chính của chiến dịch, chiến sự diễn ra ác liệt ngay từ những ngày đầu trung tuần tháng 11. Sau đòn chóng váng ở Ngọc Bom Liệt, Bộ chỉ huy quân Mỹ lúng túng bị động đối phó nhưng vẫn rất ngoan cố, ngạo mạn tiếp tục tung quân ''tìm diệt''. Chiều ngày 11, lữ đoàn 173 Mỹ đỗ bộ tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. Liên tiếp trong ba ngày 12, 13, 14 chúng tổ chức hàng chục đợt tiến công lên điểm cao 862, nhưng đều bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 chốt chặn ở đây đánh bại, gây thiệt hại nặng 3 đại đội, diệt 220 tên, bắn rơi 1 trực thăng, thu 6 súng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tối 14 tháng 11 Tiểu đoàn 3 được lệnh rời khỏi điểm cao 882. Trong quá trình Tiểu đoàn 3 chiến đấu, ta dùng cối 120 và 82mm tập kích hỏa lực vào điểm cao 823 phá hủy 5 trong số 6 khẩu pháo 105mm, tiêu hao nặng đại đội A tiểu đoàn 4 Mỹ. Lực lượng phòng không và ĐKZ 75 bám sát các trận địa địch, tích cực đánh máy bay, bắn rơi và phá hủy 10 chiếc trực thăng. Đêm 17, ta pháo kích vào 2 trận địa của tiểu đoàn 3 (sư đoàn 4 Mỹ) ở nam Ngọc Dơ Lang và điểm cao 530, phá 6 khẩu pháo 105 và ĐKZ 106,7mm, diệt 70 tên địch. Bị thất bại liên tiếp, địch phải huy động một lực lượng lớn pháo binh và 700 lần chiếc máy bay, trong đó có hàng chục lần chiếc B52 mỗi ngày ném hàng nghìn quả bom, bắn hàng nghìn quả đạn pháo hòng hủy diệt đối phương. Vùng núi rừng trùng điệp, cây cối um tùm ở tây nam Đắc Tô bỗng chốc sạch quang, cháy trụi, trơ trọi nham nhở chi chít hố bom. Ở các trận địa của ta, nhiều đoạn hào, công sự bị san phẳng. Trong các chốt bị bom đạn Mỹ cày xới tưởng chừng như không còn sự sống, bộ đội ta vẫn bình tĩnh, kiên cường trụ bám trận địa, chủ động tổ chức những trận đánh kết hợp giữa chốt với xuất. kích ngắn đẩy lùi các đợt tiến công của địch. Những khẩu hiệu ''Quyết giữ trận địa đến cùng'', ''Phấn đấu đạt dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú'' ở khắp chiến hào có sức cổ vũ động viên bộ đội vượt qua mọi ác liệt, hăng hái giết giặc lập công. Đúng như dự đoán của Bộ tư lệnh Chiến dịch, sáng ngày 18 tháng 11, sau khi dùng pháo binh máy bay đánh phá dữ dội dọn đường, hai tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 Mỹ chia làm hai mũi tiến về hướng điểm cao 875. Tiểu đoàn 1 tiến quân bên phải, lúc 14 giờ 30 phút đến sườn tây bắc điểm cao 882, bị Tiểu đoàn 8 và một đại đội của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 90 tên, thu 6 súng buộc phải dừng lại. Cùng thời gian này, tiểu đoàn 2 địch từ điểm cao 845 tiến xuống chiếm đồi ''Biệt kích'' ở tây bắc điểm cao 875 khỏang 1km tạo bàn đạp. Ở phía đông, hai đại đội thám báo từ Bãi Le tiến công thăm dò lên điểm cao 875, bị Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 chặn diệt. 28 tên, thu 3 súng. Ta khống chế trận địa, không cho địch lấy xác, buộc chúng phải đánh tiếp. Sau khi dùng máy bay B52 dội bom suốt đêm 18 và dùng máy bay phản lực, trực thăng vũ trang, pháo binh đánh phá hơn ba giờ liền vào sáng ngày 19; từ 9 giờ 45 phút tiểu đoàn 2 địch tổ chức tiến công 7 lần lên trận địa chốt của Đại đội 7 ở sườn đông bắc điểm cao 875, nhưng đều bị đẩy lùi đánh chính diện không được, địch bí mật chuyển hướng sang chiếm đồi Yên Ngựa ở phía bắc điểm cao 875 làm bàn đạp tiến công tiếp. Kịp thời phát hiện âm mưu mới của địch, Sư đoàn 1 nhanh chóng điều chỉnh đội hình, Trung đoàn 174 xuất kích Tiểu đoàn 2 (thiếu) và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1), hình thành bốn mũi bất ngờ đồng loạt xung phong đánh thẳng vào đội hình địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ 14 giờ đến 18 giờ, ta tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, thu 18 súng và 6 vô tuyến điện. Trong cơn bấn loạn, để cứu tiểu đoàn 2, Mỹ lại cho máy bay ném bom nhầm cả vào đám tàn quân làm chết và bị thương một số. Địch thú nhận trận này có 16 trong số 18 sĩ quan của tiểu đoàn 2 chết và bị thương, 3 đại đội trưởng thì 1 chết và 1 bị thương. Bộ chỉ huy quân Mỹ phải thừa nhận: ''Họ (Quân giải phóng) để lại một đám tàn quân của lữ đoàn dù 173 sau khi họ đã bao vây tiêu diệt bằng súng máy và súng cối''. Ngày 20 tháng 11, ta khống chế cả trên không và mặt đất, bắn rơi 12 trực thăng. Trước tình thế lữ đoàn dù 173 bị thiệt hại nặng, địch một mặt dùng phi pháo oanh tạc mạnh vào điểm cao 875, mặt khác huy động tiểu đoàn 2 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ tăng viện phản kích. Ngày 21, tiểu đoàn 2 địch đổ bộ xuống Bãi Le rồi liên tục tiến công lên trận địa chốt của Đại đội 7 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174). Từ những chiến hào bị bom đạn địch cày xới nát vụn tưởng như không còn sự sống, các chiến sĩ Đại đội 7 bất thần bật dậy bắn mãnh liệt vào đội hình tiến công của địch. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Xảo đứng hiên ngang trên chiến hào, AK kẹp nách bắn quét gục từng tợp địch và chỉ huy phân đội lập công. Chiến sĩ Bùi Đình Ước gan góc dùng B40, AK, lựu đạn diệt 20 tên địch. Đặc biệt tổ ba người Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc, Đỗ Văn Chuyên với quyết tâm ''Thà hy sinh, không để mất chốt'' đã dũng cảm mưu trí đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, diệt 102 tên Mỹ, nêu kỷ lục xuất sắc về thành tích diệt địch của tổ ba người trong một trận chiến đấu. Tuy bị mất gần một đại đội, nhưng lính Mỹ vẫn cố sống cố chết lao lên chốt theo lệnh chỉ huy. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Ta và địch giành giật nhau từng đoạn chiến hào. Lúc 17 giờ ngày 21, quân địch chiếm được một đoạn hào dài 200m. Quyết tâm tiêu diệt địch, khôi phục lại trận địa, 4 giờ 30 phút ngày 22, Đại đội 7 phản kích chiếm lại được đoạn hào, đẩy địch xuống chân đồi. Sau khi tổ chức tiến công tiếp nhưng không thành, hàng chục tên chết và bị thương không lấy ra được, địch dùng bom xăng ném ồ ạt trên diện rộng để thiêu hủy xác và xóa dấu vết bại trận. Về phía ta, sau khi giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến thuật, hoàn thành trận then chốt quyết định, Bộ tư lệnh Chiến dịch ra lệnh rút bỏ điểm cao 875, chỉ dùng một bộ phận nhỏ hỏa lực và bộ binh cơ động kiềm chế. Thực hiện mệnh lệnh, đêm 22 tháng 11 Đại đội 7 rời trận địa chốt. Hôm sau, địch dò dẫm lên điểm cao 875, nhưng trận địa đã không một bóng người. Chiến thắng oanh liệt của Trung đoàn 174 tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 và 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở điểm cao 875 (loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên có 372 tên Mỹ, bắn rơi 7 máy bay) đánh dấu bước phát triển tương đối hoàn chỉnh chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công''1, đồng thời là bước trưởng thành của trung đoàn trong trận đầu đọ sức với quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên. Về trận đánh này, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên đã nhận xét: ''Chiến thắng của Trung đoàn 174 ở điểm cao 875 là một bước phát triển tương đối hoàn chỉnh hình thức dùng điểm chốt khống chế, thu hút địch, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động xuất kích từ bên sườn và phía sau bao vây tiêu diệt. Trận đánh... đã làm cho địch chóang váng, khiếp sợ cách đánh mới của ta và trước tinh thần anh dũng tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ ta''. Trong những ngày chiến sự diễn ra ác liệt ở điểm cao 875, ta cũng đẩy mạnh tác chiến trên các hướng khác. Tại Ngọc Dơ Lang, Trung đoàn 320 liên tục đánh kiềm chế và dùng hỏa lực tiêu hao tiểu đoàn 3 sư đoàn 4 Mỹ, diệt hơn 100 tên, phá hủy 6 khẩu pháo làm cho chúng phải ''án binh bất động''. Ở khu vực chốt chiến dịch, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đã dũng cảm đánh bại hàng chục đợt tiến công của hai tiểu đoàn Mỹ (trong đó có tiểu đoàn 1, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 do đích thân tướng Pers, tư lệnh sư đoàn chỉ huy đánh lên điểm cao 1338), loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên địch, rồi lui quân an toàn. Đại đội 1 pháo binh, sau khi bắn hết số đạn vào Đắc Tô, Tân Cảnh hoàn thành nhiệm vụ cũng được lệnh trở về căn cứ. Phối hợp với hướng chính chiến dịch, trên các hướng Gia Lai, Đắc Lắc ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm cầm chân, tiêu hao địch chia lửa với Sư đoàn 1. Tại Gia Lai, từ ngày 3 đến ngày 22 tháng 11, ta đánh 10 trận, diệt 189 tên địch (có 114 tên Mỹ), bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 7 xe quân sự (có 2 xe bọc thép). Nhưng hoạt động của Trung đoàn 95 ở hướng này còn yếu, không hoàn thành nhiệm vụ giam chân sư đoàn 4 Mỹ. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn 33 đánh một số trận ở Buôn Drằng (ngày 3 tháng 11, tiêu hao 1 đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên Mỹ thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 12 sư đoàn 4, phá 2 pháo lớn, 2 xe M113, bắn rơi 2 trực thăng, phá hủy 1 hầm đạn), bắc Mê Van (ngày 17 tháng 11 diệt 1 trung đội Mỹ). Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc pháo kích vào sân bay thị xã phá hủy 22 máy bay, loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên địch (có 48 tên Mỹ). Ngày 22 tháng 11, chiến dịch Đắc Tô 1 kết thúc toàn thắng. Sau 20 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta đã đánh 78 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.670 tên địch (có 2.690 tên Mỹ). Nếu tính cả giai đoạn hoạt động nghi binh chiến dịch và các hướng phối hợp, có 4.570 tên địch (4.030 tên Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu; 3 sân bay bị đánh hư hại nặng, 70 máy bay bị phá hủy và bắn rơi; 18 pháo lớn, 52 xe quân sự (16 xe bọc thép), 2 kho đạn bị phá hủy, 3 kho xăng bị đốt cháy; 104 súng các loại và 14 vô tuyến điện bị tịch thu. Về đơn vị, ta đã đánh qụy lữ đoàn dù 173, lữ đoàn 1 (sư đoàn 4) Mỹ, tiêu diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ), diệt 6 đại đội khác (có 2 đại đội Mỹ), làm mất sức chiến đấu 1 tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ và chiến đoàn 3 ngụy. Chiến thắng Đắc Tô 1 ''ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét vàng son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu Đông Xuân quyết thắng 1967-1968 của miền Nam anh hùng''l. Sau thất bại ở Đắc Tô, Bình Long - Phước Long và các chiến trường khác, quân Mỹ và chủ lực ngụy Sài Gòn buộc phải co dần vào thế phòng ngự chiến lược, giữ các thành phố và căn cứ lớn, từng bước thực hiện ''quét và giữ''. Đối với Bộ đội chủ lực Tây Nguyên, chiến dịch Đắc Tô 1 đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch (lừa dụ địch, tiêu diệt địch ở khu quyết chiến), hoàn chỉnh thêm chiến thuật ''vận động tiến công kết hợp chốt'' và mở ra những khả năng mới về đánh tiêu diệt địch trên chiến trường. Đây là một cống hiến xuất sắc đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự của Quân đội ta. Với chiến công oanh liệt Đắc Tô 1, Chiến trường Tây Nguyên và các đơn vị tham gia chiến dịch được tặng thưởng hai Huân chương Quân công giải phóng (hạng nhì, ba). ------------------------------------------------------------------ 1. Sau này chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công " được Bộ bổ sung, gọi là ''vận động tiến công kết hợp chốt''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:31:06 pm 4. Chiến trường Tây Nguyên trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Cuối năm 1967, ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phát triển tới mức cao, nhưng bị quân và dân ta đánh bại một bước rất quan trọng. Do thất bại có tính chất chiến lược trong hai cuộc phản kích mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 ở miền Nam, đế quốc Mỹ lâm vào ''tình thế tiến thóai lưỡng nan về chiến lược''1. Mặc dù liên tiếp gặp những khó khăn lớn về quân sự, chính trị, tài chính, nội bộ lục đục, địa vị quốc tế suy yếu và bị loài người tiến bộ lên án mạnh mẽ; nhưng với bản chất đế quốc và hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục theo đuổi và dấn sâu hơn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuối năm 1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh Việt Nam 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của cả nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật và 60% máy bay chiến lược B52, một phần ba lực lượng hải quân (4 tàu sân bay trong tổng số 12 chiếc). Đến tháng 1 năm 1968, lực lượng địch ở miền Nam có 1.195.000 tên, trong đó có 486.000 quân Mỹ, 57.800 quân chư hầu và 650.000 quân ngụy. Với lực lượng quân sự khổng lồ, địch chủ trương tiếp tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm ở quy mô nhất định, giữ vững các vị trí then chốt, giữ thế giằng co cho tới khi bầu cử tổng thống ở Mỹ (11.1968), đồng thời tiếp tục tiến công ngoại giao buộc ta phải thương lượng trên thế mạnh của chúng. Về phía ta, sau hơn 13 năm kháng chiến và nhất là qua hơn 2 năm đương đầu với ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, ''chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật, lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường'', ''chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn''2. Để giáng cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự, tháng 12. năm 1967 Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết lịch sử: ''Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định''; đồng thời chủ trương: ''Động viên những nổ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định''. Nghị quyết tháng 12 năm 1967 của Bộ Chính trị đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa III) thông qua (1.1968) và nhanh chóng biến thành hành động cách mạng của quân và dân hai miền Nam, Bắc. Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ trên miền Bắc được biên chế thành các trung đoàn, sư đoàn vượt Trường Sơn kịp thời bổ sung cho các mặt trận Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ nâng tổng số Quân giải phóng miền Nam lên 220.000 bộ đội chủ lực và 57.000 bộ đội địa phương. Những chiến dịch chi viện vật chất kỹ thuật cho miền Nam diễn ra sôi động bằng Đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển, qua đường Cam-pu-chia và ''hậu cần nhân dân'' phong phú đa dạng trên khắp miền Nam. Trong khí thế khẩn trương, bí mật chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Tây Nguyên tích cực chủ động chuẩn bị mọi mặt để các hướng, các địa phương nổ súng tiến công đúng thời gian quy định. Cuối tháng 11 năm 1967, sau khi được phổ biến sơ bộ chủ trương của cấp trên, Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp ra Nghị quyết ''Về kế hoạch Đông - xuân - hè 1967-1968"; đồng thời quyết định thành lập ở mỗi tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc một Đảng ủy và ban chỉ huy thống nhất, gồm đại diện Đảng ủy Bộ tư lệnh B3, đại diện tỉnh ủy tỉnh đội, trung đoàn chủ lực tại chỗ ở địa phương. Các Đảng ủy và Ban chỉ huy trên đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Bộ tư lệnh B3. Tiếp đó Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường họp hội nghị liên tịch với các đồng chí Bí thư tỉnh ủy ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc thống nhất kế hoạch ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' trên toàn bộ khu vực Tây Nguyên và từng địa phương. Cuối tháng 11 năm 1967, các Đảng ủy và Ban chỉ huy chung của các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc được thành lập và bước vào hoạt động. Tại Kon Tum, Ban chỉ huy chung do đồng chí Vương Tuấn Kiệt - Tham mưu phó B3 làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tiềm (Bùi Anh) - Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum làm chính ủy, đồng chí Phùng Bá Thường - trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 làm chỉ huy phó, đồng chí Nguyễn Phùng (Nguyễn Tập) - Phó bí thư tỉnh ửy làm phó chính ủy, đồng chí Lê Tấn Thuận - chính trị viên tỉnh đội làm chỉ huy phó cánh quân phía đông. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên tăng cường cho Tỉnh đội Kon Tum: 1 đại đội ĐKB, l đại đội công binh và 331 tân binh. Ở Gia Lai, Ban chỉ huy chung mang ký hiệu ''Mặt trận 300'' do đồng chí Trần Văn Trân - Tham mưu phó B3 làm chỉ huy trưởng, đồng chí Võ Trung Thành - Khu ủy viên Khu 5, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai làm chính ủy, đồng chí Kpã Thìn Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Tỉnh đội trưởng làm chỉ huy phó, đồng chí Trần Xuân Lư (phó chủ nhiệm chính trị B3) làm phó chính ủy. Tại Đắc Lắc, Ban chỉ huy chung gồm có: chỉ huy trưởng Trương Cao Dũng (Tham mưu phó B3), chính ủy: đồng chí Bốn Đạo (Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lắc), chỉ huy phó: Nguyễn Cự (Tỉnh đội trưởng Đắc Lắc) và Ma Văn Minh (trung đoàn trưởng Trung đoàn 33), phó chính ủy: Huỳnh Văn Cần (chính trị viên tỉnh đội). Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Tổng tư lệnh xác định nhiệm vụ cho Chiến trường Tây Nguyên trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 gồm ba điểm: 1- Thu hút kiềm chế địch, phối hợp với chiến trường toàn miền Nam. 2- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, ngụy. 3- Đánh vào thị xã, diệt ngụy quyền, đẩy phong trào quần chúng vùng lên. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Bộ Chính trị (12.1967) và nhiệm vụ Bộ Tổng tư lệnh giao, ngày 2 tháng 1 năm 1968 Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên chỉ thị cho các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc về nhiệm vụ, phương châm, nguyên tắc chỉ đạo ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' và chủ trương, mục đích, yêu cầu phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến dịch trong ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' ở Tây Nguyên. Chỉ thị xác định rõ: ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là cả một giai đoạn chứ không phải là một đợt, một lúc. Trong suốt cả giai đoạn này có thể diễn ra Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa đi lại nhiều lần để đi đến thắng lợi hoàn toàn''. ''Mục đích của Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là đập tan ngụy quân ngụy quyền, tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, biến hậu phương địch thành tiền phương ta; tăng cường lực lượng của ta gấp hai, ba lần, nhanh chóng tiếp tục chiến đấu kịp thời chống phản kích của địch thắng lợi... để đập tan ý chí xâm lược của địch''3. Tháng 1 năm 1968, cả Tây Nguyên chuyển vào nhiệm vụ mới với nhịp độ khẩn trương chưa từng có. Chỉ trong một thời gian ngắn, 27.800 bộ đội chủ lực, trên 6.000 bộ đội địa phương và khỏang 16.000 du kích được triển khai trên các hướng. Sư đoàn bộ binh 1 và các đơn vị binh chủng tập trung trên hướng đường 18 - Plei Kần, nơi dự kiến quân Mỹ sẽ xông ra phản kích khi ta đánh thị xã Kon Tum và thực hiện đòn tiêu diệt lớn. Các trung đoàn 24, 95, 33 được tăng cường cho các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Lực lượng tiến công các thị xã được bổ sung đủ một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa tiễn hỗn hợp (ĐKB, ĐKZ, 12,7mm). Cùng với chuẩn bị lực lượng vũ trang, công tác vận động quần chúng, tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị và nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền được các tỉnh, huyện rất chú trọng. Hàng chục nghìn quần chúng được vận động sẵn sàng bước vào các cuộc đấu tranh, phục vụ chiến đấu. Bên cạnh những nhiệm vụ trên, công tác hậu cần được đẩy mạnh, vừa bảo đảm cho các lực lượng tiến công trên các mặt trận, các cánh, các hướng trong dịp Tết Mậu Thân, vừa bảo đảm cho các đợt ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' tiếp theo trong năm 1968. Ngoài sự chi viện đắc lực của Đoàn 559, Đoàn 17, Đoàn 86, sự giúp đỡ của ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Hậu cần Chiến trường còn tích cực thu mua tiểu ngạch, đẩy mạnh tăng gia tự túc, sản xuất vũ khí. Cả năm 1968 Bộ đội chủ lực toàn Chiến trường thu từ 6 nguồn trên được 8.894 tấn gạo, 928 tấn thực phẩm, 458 tấn muối, 92 tấn thuốc và dụng cụ y tế, 1.226 tấn đạn dược vũ khí và trên ba vạn lít xăng dầu. Trong đó, ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc giúp đỡ 669 tấn gạo; bộ đội chủ lực tăng gia tự túc được 6,7 triệu gốc sắn, hơn 380 tấn lúa ngô, hàng chục tấn đậu lạc chăn nuôi 1.400 con lợn, 6.300 con gà, săn bắn được 176 tấn thịt thú rừng, sản xuất 199kg cao xương động vật, 130kg cao thảo mộc, 85.360 lít và 1.125.700 viên thuốc đông y, 4.786 lít và 6.166.810 viên thuốc tây y, 714 lít cồn, 41.310 cuộn băng cá nhân và 30.600 ống tiêm. Quân y B3 bảo đảm 26.000 giường bệnh tuyến trung đoàn, 23.000 giường bệnh tuyến bệnh viện có thể tiếp nhận với 8.000 thương binh. Quân giới chế tạo được 1.107 quả mìn, 46.055 quả lựu đạn thủ pháo, tháo bom được 4.298kg thuốc nổ, thu 16 tấn sắt thép, sửa chữa gần 5.000 lượt khẩu súng các loại. Để bảo đảm hậu cần cho các lực lượng hoạt động trên hướng nam Tây Nguyên, Hậu cần B3 mở thêm Binh trạm 4 ở Đắc Lắc. Nhằm vận chuyển một khối lượng lớn vật chất bảo đảm ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' ở Tây Nguyên và cho chiến trường Nam Bộ, từ cuối năm 1967 và trong năm 1968 ta đẩy mạnh vận chuyển bằng ô tô trên đường 128 phía tây Tây Nguyên, từ Binh trạm Bắc đến Binh trạm Nam, mở thêm nhiều đoạn đường cơ giới khác với tổng chiều dài 350km. Ngoài ra, ta còn mở, soi thêm các đường gùi thồ từ phía tây sang các khu vực tác chiến phía đông, vươn dài tới các thị xã, thị trấn. Phương thức vận chuyển cũng đa dạng: Đoàn 559 bảo đảm đến các chân hàng, Đoàn 17 đến VQ5, Đoàn 86 đến V4; Phòng Hậu cần B3 chuyển về các kho tàng ở các binh trạm; các đơn vị nhận từ các kho chuyển về vị trí tập kết. Hàng nghìn dân công của ba tỉnh được huy động vào các chiến dịch vận chuyển. Riêng bảo đảm vũ khí cho các đơn vị địa phương đánh địch trong các thị xã được vận chuyển bằng nhiều phương tiện, thực hiện từ trước, dựa vào dân. Nhiều nơi, lợi dụng địch sơ hở, chiến sĩ vận tải, quần chúng cách mạng giấu súng, đạn trong hàng hóa đưa vào nội thị. Đặc biệt ở thị xã Kon Tum có ông Du Dư Tòng không sợ hiểm nguy, dũng cảm dùng xe lam của gia đình chở 9 khẩu AK, 1 khẩu K54, 1 khẩu B40, 85kg thuốc nổ và nhiều lựu đạn vào nội thị ngay trước họng súng kiểm soát dày đặc gắt gao của địch hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bà Nguyễn Thị Khảm - một cơ sở trong thị xã Kon Tum tự mua 30 bộ quần áo lính ngụy để bộ đội ta cải trang đánh địch, làm gương cho nhiều cơ sở noi theo... Trước ngày nổ súng ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'', Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên mở một đợt tiến công cao điểm bằng lực lượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 1 năm 1968. Mục đích của đợt hoạt động là: tiêu diệt sinh lực phương tiện chiến tranh của địch, giam chân thu hút lực lượng Mỹ lên hướng đường 18 - Plei Kần, kéo chủ lực địch ra ngoài thị xã tạo điều kiện cho các lực lượng của ta áp sát mục tiêu, chuẩn bị bàn đạp, tập dượt và rèn luyện bộ đội, đồng thời bảo đảm bí mật cho Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân. Trên hướng đường 18 - Plei Kần, Sư đoàn bộ binh 1 đánh nhiều trận nhỏ và vừa, bắn máy bay, giam chân 3 tiểu đoàn Mỹ (thuộc sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn dù 173), trung đoàn 42 và tiểu đoàn dù 6 ngụy, diệt 1 đại đội ngụy và tiêu hao 1 đại đội Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 725 tên địch (có 565 tên Mỹ), bắn rơi 33 máy bay, phá hỏng 26 xe quân sự và 7 đại bác, thu 37 súng các loại và 3 vô tuyến điện. Ở Kon Tum, ta áp sát thị xã đánh 3 trận tập kích và một số trận giao thông trên đường 14, giết 419 tên, bắt 43 tên, thu 60 súng và 4 vô tuyến điện; phá hủy 117 xe quân sự (có 18 xe bọc thép), 3 đại bác, 1 cầu và khu chứa máy bay, phá hủy và bắn rơi 50 máy bay. Nổi bật là trận đánh táo bạo vào sân bay Kon Tum của Tiểu đoàn đặc công 406 tỉnh đêm 10 tháng 1, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên Mỹ, phá hỏng 30 trực thăng, 104 xe quân sự (có 7 xe tăng) cùng khu nhà chứa máy bay, sau đó tập kích ấp Krông (20.1) diệt 1 đại đội bảo an, bắt 43 tên, thu 30 súng. Tại Gia Lai, liên tiếp diễn ra các trận tập kích, phục kích của Trung đoàn 95, Tiểu đoàn đặc công 408... loại khỏi vòng chiến đấu 818 tên địch (có 680 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 81 máy bay, 207 xe quân sự (có 25 xe bọc thép), 3 pháo lớn, đốt cháy 800 tấn xăng dầu. Có nhiều trận đánh xuất sắc: Tiểu đoàn đặc công 408 tập kích công binh xưởng (đêm 8.1) diệt gọn 1 đại đội bảo vệ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật (120 tên), phá 2 khu cơ khí và 39 xe ủi, sau đó đánh sân bay Aréa (26.1) phá hủy 75 máy bay, 65 tấn đạn và đốt cháy 5 vạn lít xăng; Trung đoàn 95 đánh 2 trận phục kích giao thông đường 19 (15.1) diệt 150 tên địch, phá hủy 89 xe quân sự và đốt 50 tấn xăng dầu. Hướng Đắc Lắc, Trung đoàn 33 và lực lượng vũ trang tỉnh hoạt động liên tục tập trung vào các mục tiêu là đầu não ngụy quân, ngụy quyền địa phương, sân bay, kho tàng ở thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận làm cho địch hoang mang lúng túng bị động đối phó, tạo khí thế cách mạng trong quần chúng lên cao. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 404 tên địch (có 7 0 tên Mỹ), diệt gọn 2 đại đội bảo an, chi khu Lạc Thiện; phá hủy 34 máy bay, 6 xe quân sự và 1.000 tấn bom đạn, thu 87 súng và 2 vô tuyến điện. Nổi bật là trận đánh sân bay thị xã (4.1) diệt 70 tên Mỹ, phá 20 máy bay, phá sập nhà dinh tỉnh trưởng; pháo kích sở chỉ huy trung đoàn 45 ngụy; đánh kho Mai Hắc Đế (21.1) phá hủy 1.000 tấn bom đạn; tiến công quận lỵ Lạc Thiện (24.1) diệt 2 đại đội bảo an, 2 đội bình định bắt 20 tên, thu 57 súng, phá 6 xe quân sự; đặt mìn ở phòng tham mưu sư đoàn 23 ngụy (26.1) diệt một số sĩ quan; tập kích quận lỵ Buôn Hồ (25.1). Trong đợt tiến công cao điểm trước Tết Mậu Thân, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh 36 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.366 tên địch (có 1.608 tên Mỹ), bắt 88 tên; diệt gọn 7 đại đội (có 1 đại đội Mỹ) và 1 chi khu; phá hủy 361 xe quân sự (có 62 xe bọc thép), 17 pháo lớn, trên 3.000 tấn bom đạn xăng dầu; bắn rơi và phá hỏng 198 máy bay, thu 205 súng các loại và 9 vô tuyến điện. Đòn tiến công trước tết của quân và dân Tây Nguyên đã phối hợp nhịp nhàng với đòn tiến công lớn của ta thu hút địch về hướng Nậm Bạc (Lào), Khe Sanh (Quảng Trị) tạo sơ hở trên chiến trường miền Nam. Điểm nổi bật trong đợt này là kết hợp chặt chẽ giữa tiến công địch rộng khắp với đòn đánh sâu vào các mục tiêu nằm trong hậu cứ của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên một khâu yếu mà xưa nay ta chưa làm được, buộc địch phải căng kéo, lúng túng bị động đối phó trên các hướng, tạo điều kiện thuận lợi và giữ bí mật cho ta chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy. Đây là đợt diễn tập khá toàn diện của quân và dân Tây Nguyên trước khi bước và cuộc chiến đấu mới quyết liệt hơn. ------------------------------------------------------------------ 1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự, Sđd, tr. 177. 2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự. Sđd, tr. 177. 3. Trích điện số 505/Tgk ngày 2.l.1968 của Thường vụ Đảng ủy B3, tr. 2, 3. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:45:36 pm * Trước Tết Nguyên đán, miền Bắc công bố lịch mới, trong đó đón năm Mậu Thân 1968 sớm hơn một ngày so với lịch cũ. Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị lui cuộc Tổng tiến công lại một ngày để thống nhất hành động theo giờ G trên toàn miền Nam. Đêm 29 tháng 1 năm 1968, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên nhận được lệnh trên, nhưng lúc này lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng đã triển khai trên các hướng sẵn sàng hành động, không thể rút ra hoặc giấu quân tại chỗ an toàn được nữa. Vì vậy Bộ tư lệnh Chiến trường vẫn quyết định tiến công theo đúng kế hoạch vào đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968. Trong giờ phút chuyển mình của lịch sử, cả miền Nam sục sôi khí thế ra quân, anh dũng xốc tới đáp lời hịch vang vọng núi sông của Bác Hồ: "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp mọi nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ, Tiến lên! Toàn thắng ắ về ta". Đúng 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1, Sư đoàn bộ binh 1 sử dụng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 có lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phối hợp nổ súng đánh chiếm làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 trên chiến trường Tây Nguyên và toàn miền Nam1. Trên hướng trọng điểm thị xã Buôn Ma Thuột tỉnh Đắc Lắc, ta tiến công lúc 0 giờ 45 phút. Lực lượng địch ở đây tương đối yếu so với hai thị xã Plel Ku và Kon Tum. Quân Mỹ có bộ tư lệnh viện trợ quân sự và nhân viên kỹ thuật, 1 đại đội trực thăng với gần 400 tên. Quân ngụy có 1 tiểu đoàn bộ binh (trung đoàn 45), trung đoàn 8 thiết giáp (có 30% quân số, số còn lại đi phép Tết), bộ tư lệnh sư đoàn 23, sở chỉ huy trung đoàn 45, đại đội thám kích 413, đại đội trinh sát 23, đại đội vận tải 514, đại đội địa phương quân 702 và đại đội 23 biệt động quân. Ngay từ phút đầu cuộc tiến công, ta dùng súng cối, ĐKB bắn phá mạnh vào bộ tư lệnh sư đoàn 23 ngụy, sở chỉ huy trung đoàn 45, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình. Cùng lúc ở hướng chủ yếu đông nam, Trung đoàn 33 từ suối Ea Nao tiến công bộ tư lệnh sư đoàn 23, ta hành chính tỉnh, ban chỉ huy tiểu khu, đại đội 514 vận tải. Ở hướng tây bắc Tiểu đoàn 301 đặc công và Tiểu đoàn 401 bộ binh của tỉnh đánh vào căn cứ pháo binh (tiểu đoàn 231, 232), sau đó phát triển sang khu hành chính, chiếm Ty Ngân khố. Tiểu đoàn 3 đặc công (mới được trên bổ sung) đánh vào trung đoàn 8 thiết giáp nhưng bị lạc, gần sáng mới đưa được một mũi vào bên trong, diệt một số xe M113. Hướng tây nam, Tiểu đoàn 39 đánh chiếm Đài phát thanh rồi phát triển tiến công tiểu đoàn 4 (trung đoàn 45 ngụy) và trại huấn luyện nghĩa quân, diệt và bắt hơn 300 tên địch. Tiểu đoàn 101 đánh vào bộ tư lệnh sư đoàn 23 ngụy và Băng-ga-lô (Mỹ). Nhìn chung đợt tiến công đầu tiên ta chiếm được một số mục tiêu quan trọng trong thị xã, nhưng không diệt được cơ quan đầu não ngụy quyền, không chiếm được bộ tư lệnh sư đoàn 23 và sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 4 tháng 2, địch huy động lực lượng trung đoàn 45, chiến đoàn 318, trung đoàn 8 thiết giáp, bảo an, biệt kích tiến hành phản kích quyết liệt trên các hướng. Các lực lượng của ta vừa tích cực đánh địch phản kích, vừa tổ chức đột phá vào bộ tư lệnh sư đoàn 23, sở chỉ huy trung đoàn 8 t thiết giáp và một số mục tiêu khác nhưng không thành công. Pháo binh tiếp tục bắn vào các mục tiêu địch. Cùng với đòn tiến công địch trong thị xã Buôn Ma Thuột, lực lượng vũ trang các huyện đồng loạt tiến công vào các vị trí Buôn Hồ, Quảng Nhiêu, Buôn Du, Đạt Lý, Trung Hòa, Kim Châu Phát, Khánh Dương, Đức Lập, Gia Nghĩa. Phối hợp với tiến công quân sự, lực lượng chính trị quần chúng Đắc Lắc rầm rập xuống đường đấu tranh. Trong thị xã Buôn Ma Thuột, khi bộ đội nổ súng, nhân dân ở các khu phố nổi dậy chiếm trụ sở ngụy quyền, xé cờ ba que, treo cờ giải phóng, rải truyền đơn, lùng bắt bọn tề điệp ác ôn, kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Học sinh Trường kỹ thuật Đắc Lắc xé cờ ngụy, treo cờ giải phóng lên cột cờ nhà trường rồi chia nhau dẫn đường cho bộ đội. Quần chúng ấp 3 và 4 nổi dậy truy lùng bọn ác ôn bắt nhốt đầy trường A Dục. Sáng mùng 1 Tết, 7.000 quần chúng tập hợp trước sân chùa Khải Đoan ngay giữa thị xã nghe tuyên truyền đường lối cách mạng. Tại vườn cao su cổng 3, trên 3.000 quần chúng biểu dương khí thế cách mạng. Nhiều gia đình tham gia giúp bộ đội lập chiến lũy trên đường phố chặn đánh địch, dẫn đường, tiếp tế, cứu chữa nuôi dưỡng thương binh. Để tiếp ứng cho thị xã, một lực lượng lớn quần chúng cách mạng ở vùng ven và các huyện ở Đắc Lắc được huy động xuống đường đấu tranh. Ngày 30 tháng 1 có 18.000 đồng bào Kinh, Thượng từ các căn cứ, các buôn làng vùng giáp ranh và ven thị chia làm năm hướng trương băng cờ khẩu hiệu tiến về Buôn Ma Thuột. Hướng bắc, hơn 6.000 đồng bào vùng giải phóng H4, H5 tiến đến Buôn Chuôr Dăng bị địch xả súng bắn chết và bị thương nhiều người, phải lui về Tư Cung củng cố. Hướng nam, gần 2.500 quần chúng thuộc huyện 10 và vùng ven bị địch bắn chặn ở suối Ea Nao làm nhiều người thương vong, không tiến lên được. Ở hướng chủ yếu phía đông, hơn 9.000 quần chúng từ vùng giải phóng và căn cứ huyện 9 đã đi từ ngày 28 vì đường xa; sáng 30 đoàn biểu tình đến khu chiêu hồi ''Tình thương'' cách thị xã 9km trên đường 21, bị địch chặn lại. Đồng bào đấu tranh quyết liệt với địch, dùng loa kêu gọi nhưng bọn ác ôn vẫn dùng đại liên bắn xối xả vào đoàn người tay không. Trước sự tàn ác dã man của địch, quần chúng cách mạng vẫn xiết chặt đội ngũ, người trước ngã xuống, người sau tiếp tục tiến lên và hô vang các khẩu hiệu át cả tiếng súng quân thù. Má Hai ở dinh điền Khuê Ngọc Điền ba lần bị thương vẫn hiên ngang giương cờ, hô hào chị em tiến lên. Khi Má Hai ngã xuống, chị Mười xông lên giữ vững lá cờ rồi anh dũng hy sinh. Chị Ban ôm con nhỏ đi biểu tình bị địch giết con, chị lặng lẽ đặt xác con dưới tán cà phê bên đường tiếp tục xông lên đấu tranh với địch. Em gái H'Nam cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình, địch bắn trọng thương đã trao cờ cho chị ruột là H'Lan và nhắc chị giữ vững lá cờ. Trong lúc địch điên cuồng tàn sát đồng bào, đồng chí Bùi Thế Châu và 5 đồng chí cán bộ binh vận đã quyết tử xông lên chặn họng súng đại liên địch. Trong cuộc đấu tranh này đã có trên 200 đồng bào ngã xuống trước cửa ngõ Buôn Ma Thuột. Ngày 6 tháng 2, đợt tiến công Tết Mậu Thân ở Đắc Lắc kết thúc. Chỉ hơn một tuần chiến đấu, quân và dân mặt trận Đắc Lắc đã diệt và làm tan rã 2.000 tên địch, bắt 90 tên (có 1 tỉnh phó, 1 nghị viên quốc hội ngụy, 1đại úy FULRO), phá hủy 180 xe (có 15 xe bọc thép), 5 pháo l ớn,bắn rơi và phá hủy 28 máy bay, đốt cháy 12 kho xăng dầu bom đạn, thu 140 súng các loại và 9 vô tuyến điện; hơn 5.000 quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Cuộc tiến công của quân và dân Đắc Lắc mà tiêu biểu là trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột là nổi bật nhất, là một điển hình trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên địa bàn Tây Nguyên. Tại Gia Lai, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra đúng 0 giờ 45 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968. Ngay từ phút đầu, lực lượng vũ trang tỉnh chia làm nhiều hướng nhiều mũi đánh thẳng vào trung tâm thị xã Pleiku. Hai đại đội 90 (đặc công) và 21 đánh vào tỉnh đoàn bảo an, tiểu khu Plei Ku, khu cảnh sát vùng 2, tòa hành chính tỉnh, diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy nhiều xe quân sự, giải thóat gần 2.000 cán bộ và nhân dân bị địch giam giữ. Tiểu đoàn 408 đặc công tỉnh đánh vào sân bay Aréa bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, khu biệt động quân ở Biển Hồ phá hủy 45 máy bay trực thăng, 35 xe quân sự, gần 1.000 tấn bom đạn và hàng vạn lít xăng dầu. Tiểu đoàn 15 bộ binh tỉnh nhận lệnh chậm, đã hành quân cấp tốc trong đêm, kịp triển khai một lực lượng phối hợp với Đại đội 90 đặc công đánh địch ở đường Hoàng Diệu (nay là đường (nay là đường Hùng Vương); còn mũi thứ hai tiến về căn cứ trung đoàn 3 thiết giáp ngụy ở ngã ba Phù Đổng, nhưng vừa bố trí đội hình thì trời sáng. Cùng thời gian này hỏa lực ĐKB của ta liên tục bắn vào bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, phá hỏng dàn ra đa viễn thông. Trung đoàn 95 bộ binh chủ lực B3 diệt một đoàn xe 26 chiếc tại khu vực cầu Ayun (đường 19), không cho địch cứu viện Plei Ku. Từ 7 giờ sáng ngày 30 tháng 1, địch dùng pháo binh, máy bay đánh phá dữ dội và đến 10 giờ chúng cho bộ binh, xe tăng phản kích rất mạnh trong thị xã. Cuộc chiến đấu của ta ở nội thị Pleiku diễn ra rất quyết liệt, liên tục suốt mấy ngày, tiêu hao một số sinh lực địch, bắn cháy một số xe quân sự, rồi lui quân. Song song với tiến công quân sự, trong đêm giao thừa ta tổ chức đưa được hơn 40 cán bộ các ban ngành của tỉnh và thị xã vào nội thị; huy động hơn 10.000 quần chúng vùng ven, các huyện 3, 4, 5, 6 tiến về Plei Ku. Nhưng hầu hết cán bộ bị địch phát hiện, chặn đánh; lực lượng quần chúng bị đàn áp dã man từ ngoại vi thị xã, nên không tạo được sức mạnh của đòn tiến công chính trị và tỉnh lỵ. Trong cuộc đấu tranh chính trị có nhiều tấm gương dũng cảm xuất hiện: các đồng chí Võ Tiêu, Đặng Tiết (Mét), Nguyễn Thị Hương... dẫn đầu quần chúng xông vào thị xã. Phối hợp nhịp nhàng với đòn tiến công ở thị xã Pleiku, ta hoạt động mạnh ở các huyện 2, 3, 4, 5, 6. Bằng tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận ta đã giành được quyền làm chủ ở nhiều nơi, giải tán tề, diệt ác ôn, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đợt tiến công mở đầu Tết Mậu Thân 1968, quân và dân mặt trận Gia Lai đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.500 tên địch (có 1300 tên Mỹ), phá hủy phá hỏng 580 xe quân sự, 35 khẩu pháo, nhiều máy bay, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu. Để giành được chiến công lớn lao đó, chỉ tính riêng tỉnh Gia Lai đã có 350 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào anh dũng hy sinh, 1.849 người bị địch bắt giam cầm tra khảo, 177 người bị thương và mất tích2. Ở thị xã Kon Tum, ta nổ súng lúc giờ 15 phút ngày 30 tháng 1 (tức mùng 1 Tết theo lịch cũ). Trong khi ĐKB bắn dồn dập vào các mục tiêu biệt khu 24, khu 40 thì Tiểu đoàn 406 đặc công và Tiểu đoàn 304 bộ binh tỉnh đội Kon Tum cùng tự vệ mật chia làm bốn mũi tiến công đồng loạt vào các mục tiêu nằm sâu trung nội thị. Từ hướng tây, Tiểu đoàn 406 đặc công (cải trang thành lính ngụy) đánh vào toà hành chính, ty cảnh sát và tỉnh đoàn bảo an; lực lượng thị đội và trinh sát đánh vào cư xá sĩ quan địch. Ở hướng đông, Tiểu đoàn 304 bộ binh đánh chiếm sân bay Kon Tum. Trên - hướng nam, Đại đội đặc công 207 đánh vào trụ sở Châu Thành và các mục tiêu khác. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ được hai phần ba thị xã, trong đó có các mục tiêu quan trọng: tòa hành chính, ty cảnh sát, tiểu khu Kon Tum và sân bay. Riêng Trung đoàn 24 bộ binh chủ lực B3 (do trung tá Phùng Bá Thường làm trung đoàn trưởng và trung tá Lưu Quý Ngữ làm chính ủy) có nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu chủ yếu là biệt khu 24, khu 40 trung tâm huấn luyện sĩ quan, nhưng vào chiếm lĩnh muộn, bị địch ngăn chặn sát thương gặp rất nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 5 đảm nhiệm đánh biệt khu 24, khi bộ đội tiếp cận bị địch dùng pháo cối ngăn chặn dữ dội, máy bay trinh sát thả pháo sáng và trực thăng vũ trang bắn chặn trước tiền duyên, đội hình ta bị rối loạn. Hai đại đội 7 và 8 đánh từ phía bắc xuống nhưng không đột phá được phải dừng lại làm công sự chuyển sang đánh vây lấn. Chỉ có Đại đội 6 đánh vào được khu 40, cùng với lực lượng đặc công chiếm đầu cầu, nhưng sau đó bị địch chặn lại và bao vây. Tiểu đoàn 4 đột phá vào biệt khu 24 cũng không thành, bị đánh bật ra, thương vong cao. Sau đòn phủ đầu chóang váng, từ sáng ngày 30 tháng 1 trung đoàn 42, lực lượng biệt động quân, bảo an sau tăng cường 1 tiểu đoàn Mỹ dựa vào biệt khu 24, khu 40 và các cứ điểm khác tổ chức phản kích rất dữ dội trong thị xã Kon Tum, gây cho ta nhiều tổn thất3. Mặc dù lực lượng chênh lệch, tác chiến trong vòng vây của địch, nhưng các chiến sĩ đặc công, bộ binh chiến đấu rất anh dũng. Chiến sĩ A Xâu4 (Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh Kon Tum) một mình bám trụ tại khu vực chợ thị xã chiến đấu 2 ngày 3 đêm liền, xông pha giữa hang ổ giặc, bị thương nhiều lần đều tự băng bó, đánh lui 16 đợt tiến công của lũ biệt kích ''Lôi Hổ'' diệt nhiều tên. Dũng sĩ A Thang mới 16 tuổi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, mở vòng vây về với đồng đội. Chiến sĩ liên lạc nội thị Trần Văn Hai không may sa vào tay giặc (ngày 29 tháng 1), bị địch tra tấn dã man vẫn không khai báo; lợi dụng sơ hở của bọn thẩm vấn, đã cướp lựu đạn diệt địch và anh dũng hy sinh. Song khốc liệt nhất là trận đánh của đại đội 6 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968. Địch dùng bộ binh xe tăng bao vây rồi liên tục tiến công hơn một giờ đồng hồ. Cán bộ, chiến sĩ và cả thương binh phân đội đặc công quyết tâm tử thủ, kiên quyết đánh trả diệt hàng chục tên địch, phá hủy 3 xe bọc thép, bắn đến hết đạn và hy sinh đến người cuối cùng. Cả Đại đội 6 chỉ còn 3 thương binh là Rỹ, Ngôn và Trúc che mắt địch, tối bò ra trở về đơn vị. Trong khi Đại đội 6 chiến đấu, đêm 30 tháng 1 Tiểu đoàn 5 tổ chức lực lượng tiếp viện nhưng mấy lần đều không vào được trận địa. Tấm gương chiến đấu hy sinh vô cùng quả cảm của tập thể Đại đội 6 đã làm cả Trung đoàn 24 lắng đi vì xúc động. Sau trận đánh vào thị xã Kon Tum không thành, các đồng chí trung đoàn trưởng và chính ủy Trung đoàn 24 bị thi hành kỷ luật và được điều về B3; đồng chí Đặng Dự Nhượng (trung đoàn phó Trung đoàn 174) được giao tạm quyền trung đoàn trưởng và đồng chí Vũ Khắc Thịnh được cử làm chính ủy; đồng thời Trung đoàn 24 được lệnh chuyển sang đánh địch ở vòng ngoài thị xã Kon Tum... Trong đợt đầu tiến công Tết Mậu Thân, quân và dân trên mặt trận Kon Tum đã loại khỏi vòng chiến dấu 1.500 tên địch (có 650 tên Mỹ), phá hủy phá hỏng 253 xe quân sự (cớ 67 xe bọc thép), bắn rơi và phá hủy 37 máy bay, đốt cháy 5 kho xăng, làm nổ tung 3 kho đạn. Nhiều vùng nông thôn, ven thị quần chúng vùng lên khởi nghĩa phá ấp phá đồn, giành quyền làm chủ. Những nỗ lực hy sinh lớn lao của quân và dân ta ở Kon Tum góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của toàn chiến trường Tây Nguyên trong đầu xuân 1968. Ngày 9 tháng 2 tiếng súng diệt địch ở cao nguyên thưa dần. Trong 10 ngày đầu Tổng công kích và nổi dậy đầu xuân 1968, quân và dân Tây Nguyên ''đã thu được những thắng lợi chưa từng có'', làm rung chuyển toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, đánh thiệt hại nhiều đơn vị quân Mỹ, ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 5.630 tên địch (có 1.600 tên Mỹ), bắt 90 tên; phá hủy, bắn rơi 171 máy bay, phá hủy 520 xe quân sự (có 130 xe tăng, xe bọc thép) và 27 pháo lớn; thu 180 súng các loại và 12 vô tuyến điện. Giải phóng 39 ấp làng với khỏang 25.000 dân. Đánh giá cao những đóng góp quan trọng của quân và dân Tây Nguyên vào thắng lợi chung của toàn miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ngày 4 tháng 2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương điện ''Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của quân dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân, dân thị xã Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku và vị trí Tân Cảnh''. Đồng thời Đại tướng chỉ thị: ''Hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, tiếp tục tiến công và phản công tiêu diệt địch nhiều hơn nữa... làm cho chúng tê liệt, đánh cho không không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ''. ------------------------------------------------------------------ 1. Ở thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, quân ta tiến công vào lúc 0 giờ ngày 30.1.1968 2. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai, tập1 (1945-1975). Nxb Chính trị quốc gia; H.1996, tr. 353. 3. Đợt phản kích này của địch làm Tiểu đoàn 406 mất gần 2 đại đội,Tiểu đoàn 304 mất 1 trung đội, Đại đội công binh tổn thất một nửa, Trung đoàn 24 tổn thất hơn 1 đại đội. 4. Đồng chí A Xâu dân tộc Giẻ Triêng, xã Đắc Pen, huyện Đắc Glei, chiến sĩ Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh Kon Tum, được tuyên dương Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân ngày 23.12.1969. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:54:41 pm * Tiếp tục thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, với tư tưởng kiên quyết ''giữ vững và phát triển thế tiến công'', Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc mở liên tiếp bốn đợt hoạt động cao điểm từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 6 năm 1968. Trong đợt một tiến công cao điểm (17-25.2), với đội hình cơ bản vẫn bố trí như trước, có điều chỉnh (đưa Trung đoàn 209 bộ binh mới được tăng cường về đứng chân ở Plei Kần thay Trung đoàn 320 cơ động về hướng Buôn Ma Thuột và đưa Trung đoàn 174 về khu vực đường 14 bắc Pleiku), ta duy trì liên tục các hoạt động nhỏ và vừa đánh vào thị xã và vùng phụ cận, củng cố và mở rộng bàn đạp, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Toàn đợt một, ta đánh 22 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 632 tên địch (có 324 tên Mỹ), bắt 4 tên; phá hủy 29 xe quân sự, 6 pháo lớn, 1 trực thăng; thu 72 súng và 13 vô tuyến điện; giải phóng 7 ấp. Nổi bật là các trận đánh tiêu diệt đồn Kom Săm Lũ (17.2), diệt tổng đoàn dân vệ ở ấp Hà Mòn, Đắc Vác (của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24), phá đồn Trung Nghĩa, diệt đồn bảo an ở đông bắc Plei ku, phục kích đường 19 đoạn tây An Khê (20.2 của Trung đoàn 95), phục kích ở Buôn Tor tây nam Buôn Ma Thuột và Buôn Ana. Sau khi điều chỉnh lực lượng, chỉ duy trì Trung đoàn 66 và một bộ phận pháo binh hoạt động trên hướng Plei Kần, từ ngày 3 đến ngày 15 tháng 3 toàn Tây Nguyên mở đợt tiến công cao điểm thứ hai tiếp tục đánh vào các mục tiêu xung quanh ba thị xã Kon Tum, Plei Ku, Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận. Hướng Gia Lai ta hoạt động liên tục và kết quả tốt hơn các hướng khác. Các đơn vị: Tiểu đoàn 6 (trung đoàn 320), Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh tốt. Nhiều trận đánh có hiệu suất cao: trận Chư Thoi của Tiểu đoàn 6 (diệt 1 đại đội Mỹ), phục kích đường 19 của Trung đoàn 95 (diệt 145 xe quân sự), phục kích đường 14 của Trung đoàn 174 (diệt 98 xe, bắn rơi 17 máy bay), trận tiến công ở bắc Buôn Ma Thuột của Trung đoàn 320 (diệt tiểu đoàn 4 ngụy), các trận đánh của Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24 ) ở Chư Go Tông (tiêu hao 2 tiểu đoàn Mỹ, diệt 200 tên, thu 35 súng). Toàn đợt hai ta đánh 103 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.984 tên địch (có 2.943 tên Mỹ), bắt 26 tên, bắn rơi và phá hỏng 135 máy bay; phá hủy 373 xe quân sự bắn rơi và phá hỏng 135 máy bay; phá hủy 373 xe quân sự (có 68 xe bọc thép), 8 pháo lớn, 1 cầu, 1 kho đạn, 15 kho xăng, 1 khu ra đa; thu 103 súng các loại và 8 vô tuyến điện giải phóng 10 ấp. Được điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào và chiến sĩ miền Nam cổ vũ, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 quân và dân Tây Nguyên bước vào đợt tiến công cao điểm thứ ba, trọng điểm là hướng Kleng ( tây Kon Tum ). Ý định của ta là tập trung Sư đoàn bộ binh 1 (gồm Trung đoàn 66, Trung đoàn 209) được tăng cường Trung đoàn 24 (thiếu) và một bộ phận hỏa lực diệt đồn Kleng, đánh viện binh địch chuẩn bị bàn đạp sang phía đông thị xã Kon Tum; các hướng Gia Lai, Buôn Ma Thuột đẩy mạnh các hoạt động phối hợp. Khi ta đang chuẩn bị đánh Kleng, thì địch phát hiện được tuyến vận chuyển ô tô về hướng này, chúng liền đổ quân xuống Chư Tăng Kra để ngăn chặn (21.3). Chưa vây điểm, địch đã ra sớm, ta chuyển sang thực hiện phương án B. Đêm 25 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 1 mở đầu đợt hoạt động bằng trận kỳ tập vào Chư Tăng Kra, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2 đại đội Mỹ. Tiếp đó là các trận vận động ở Chư Go Tông và Ngọc Bay, tiêu hao nặng tiểu đoàn 3 (trung đoàn 8 ) và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 35) thuộc sư đoàn 4 Mỹ. Phối hợp chặt chẽ với Sư đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 174) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh tiêu hao gần 2 tiểu đoàn Mỹ thuộc lữ đoàn dù 173; Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) tập kích 2 trận ở phía đông bắc thị xã Kon Tum diệt gần 2 đại đội ngụy. Trên các hướng khác, ta dùng hỏa lực, đặc công, bộ binh tập kích, pháo kích các mục tiêu trong thị xã Kon Tum, sân bay Aréa (phá hủy kho bom), thị xã Buôn Ma Thuột. Trong 20 ngày tiến công, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.039 tên địch (có 1.379 tên Mỹ), bắt 5 tên; phá hủy 173 xe quân sự (có 57 xe bọc thép), 11 pháo lớn, 1 kho bom, 6 cầu, bắn rơi và phá hỏng 92 máy bay; thu 112 súng các loại và 6 vô tuyến điện. Quý II năm 1968, Chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh tăng cường Sư đoàn 325C1, 2 trung đoàn pháo binh 208 và 1582; đồng thời một số đơn vị bộ binh cũng lần lượt rời Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ (B2). Thực hiện mệnh lệnh tiến công mùa hè (1968) của Bộ Tổng tư lệnh, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 25 tháng 5 quân và dân Tây Nguyên bước vào đợt 4 hoạt động cao điểm với ''nhiệm vụ hàng đầu'' ''là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch quan trọng và thu hút lực lượng cơ động Mỹ, ngụy càng nhiều càng tốt"3. Trên hướng chính tây Kleng, Sư Đoàn bộ binh 1 được tăng cường Trung đoàn 24 và hỏa lực, vây đánh 2 tiểu đoàn địch, nhưng chúng rút sớm. Do ta không dự kiến khả năng này nên gặp khó khăn về bảo đảm hậu cần và triển khai lực lượng khi địch co về cố thủ ở Chư Tăng Kra, Chư Ben, Chư Tô Bla. Vì vậy cả đợt hoạt động, hướng chính chỉ tổ chức đánh được 25 trận nhỏ lẻ, loại khỏi vòng chiến đấu 768 tên địch, bắn rơi 29 máy bay. Ở khu vực đường 18, Sư đoàn 325C tập kích địch ở Ngọc Hồi (2 lần), Ngọc Pơ và điểm cao 824. Các hướng phối hợp, ta dùng đặc công và hỏa lực tập kích các mục tiêu trong thị xã Plei ku, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, tích cực đánh giao thông và phá ấp mở dân ở vùng Lệ Trung, Lệ Chí, Lệ Cần, Ninh Đức (Gia Lai) thu nhiều kết quả. Nhìn chung đợt hoạt động này ta đánh đồng loạt vào cả ba thị xã, duy trì được thế tiến công liên tục, giữ quyền chủ động chiến trường, thắng lợi giòn giã: loại khỏi vòng chiến đấu 2.808 tên địch (có 1.816 tên Mỹ), bắt 16 tên; phá hủy 237 xe quân sự (có 49 xe bọc thép), 24 pháo, 8 kho xăng và đạn, bắn rơi và phá hỏng 42 máy bay, thu 50 súng và 6 vô tuyến điện. Bên cạnh những kết quả trên, đợt này ta tiến công chưa mạnh, nhất l à ở các thị xã, chưa phối hợp chặt chẽ giữa hướng trọng đ iểm với các hướng khác, chưa phá vỡ được hệ thống phòng ngự điểm chốt của địch, phát triển chiến dịch chậm. Ngày 25 tháng 5 năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968 ở Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Trong suốt 115 ngày đêm (30.1 - 25.5) quân và dân Tây Nguyên đã tổ chức thành công đợt tiến công Tết Mậu Thân và mở liên tiếp 4 đợt tiến công cao điểm giành được kết quả to lớn, toàn diện. Ngay từ phút đầu và cùng một úục ta tiến công đồng loạt, mãnh liệt vào ba thị xã, thị trấn Tân Cảnh và một số quận lỵ, đánh trúng tất cả các mục tiêu chủ yếu với thế bất ngờ, áp đảo, sau đó liên tục duy trì thế tiến công. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.223 tên địch (có 8.088 tên Mỹ), bắt 144 tên; bắn rơi và phá hỏng 451 máy bay, phá hủy 1.332 xe quân sự (có 325 xe tăng, xe bọc thép), 65 pháo cối lớn, 15 cầu, trên 50 kho với hơn 3.000 tấn bom đạn, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, thu 520 súng các loại và 55 vô tuyến điện; giải phóng 2.000 người khỏi lao tù và 55.000 dân ở 107 làng, ấp. Chiến công đầu năm 1968 của quân và dân Tây Nguyên đã góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Riêng với Tây Nguyên nó làm thay đổi, tương quan lực lượng và hình thái bố trí binh lực của địch trên chiến trường; đánh dấu sự trưởng thành nhiều mặt, sự phát triển nhảy vọt về tác chiến, mở ra nhiều khả năng để tiến công địch trong các thị xã, thị trấn và sự phối hợp đấu tranh hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi (quân sự, chính trị, binh địch vận) đánh đổ từng bộ phận chính quyền địch, thiết lập chính quyền cách mạng. Mặc dù còn một số hạn chế trong chỉ đạo, sử dụng lực lượng, trình độ tác chiến, bảo đảm hậu cần, phối hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị, giải phóng nông thôn... nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở cao nguyên mãi mãi là một mốc son tươi thắm trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Tây Nguyên. ------------------------------------------------------------------ 1. Sư đoàn 325C vào Tây Nguyên đổi tên thành Sư đoàn 6, trong Sư đoàn có 2 trung đoàn bộ binh 95C, 10lC và một số phân đội hỏa lực bảo đảm. 2. Hai trung đoàn pháo binh 208 và 158 đến Tây Nguyên sáp nhập vào Trung đoàn pháo binh 40. Ban chỉ huy Trung đoàn pháo binh 40 gồm các đồng chí Tô Thuận (trung đoàn trưởng), Lê Ngọc Tuệ (chính ủy), Võ Khắc Phụng(trung đoàn phó), và Phạm Việt Thọ (phó chính ủy). 3. Trích điện số 552 ngày 13.4.1968 của Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ mùa hè năm 1968 cho Chiến trường Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:26:36 am * Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam của quân và dân ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã tiến công vào 5 trên 6 thành phố, 37 trên 44 thị xã, 64 trên 242 thị trấn quận lỵ, tiêu diệt và làm tan rã 147.000 tên địch (có 43.000 tên Mỹ), phá hủy 34% vật tư dự trữ chiến tranh của Mỹ ở miền Nam, phá 4.200 (trong tổng số 5.400) ấp chiến lược, giải phóng thêm 1,4 triệu dân. ''Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược ''chiến tranh cục bộ'', làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-Ri''1. Tháng 3 năm 1968 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cách chức tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam của Oét-mo-len và đưa Abram tên thay, tuyên bố ngừng mọi hoạt động bằng không quân và hải quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa từ vĩ tuyến 20 trở ra (31.3) và đồng ý bước vào đàm phán với chính phủ ta, đồng thời không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo. Về chiến lược quân sự, Mỹ chủ trương chuyển từ ''tìm diệt'' sang ''quét và giữ'' củng cố nâng cao hiệu lực chiến đấu cho quân ngụy Sài Gòn nhằm cải thiện thế phòng ngự để từng bước ''phi Mỹ hóa chiến tranh''. Thực hiện chiến lược quân sự mới ''quét và giữ'' Mỹ, ngụy vừa ra sức xây dựng tuyến phòng thủ xung quanh các thành phố, căn cứ, tiểu khu, chi khu quân sự, chốt trên các trục đường giao thông, lập vành đai ngăn chặn các cuộc tiến công mới của ta; đồng thời tổng động viên và tối tân hóa quân ngụy, đẩy các sư đoàn chủ lực ngụy ra phía trước cùng với quân Mỹ mở hàng loạt cuộc hành quân giải tỏa, càn quét hòng đẩy chủ lực ta ra xa các đô thị, căn cứ quân sự, bảo đảm an ninh cho chính quyền Sài Gòn. Tại Tây Nguyên, địch ra sức đôn quân bắt lính, điều động thêm lực lượng từ các nơi khác đến mở nhiều cuộc phản kích, đưa tướng Lữ Lan thay thế tướng Vĩnh Lộc làm tư lệnh quân khu 2, quân đoàn 2. Trong suốt hè thu năm 1968, Mỹ, ngụy ráo riết lùng quét ở các thị xã Kon Tum, Plei ku, Buôn Ma Thuột, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân giải tỏa trên các hướng tây bắc Buôn Ma Thuột, tây bắc Kon Tum, tây Plei Ku. Từ tháng 8, quân Mỹ co về phòng thủ thị xã Plei ku, giao dần địa bàn Kon Tum và Đắc Lắc cho quân ngụy đảm nhiệm. Được sự hỗ trợ của hỏa lực và từ 1 đến 2 tiểu đoàn Mỹ phối hợp, quân ngụy mở 7 cuộc hành quân với lực lượng từ 1 đến 2 tiểu đoàn, thời gian từ 5 đến 7 ngày và các vùng Ngọc Vin, H16, bắc Kon Tum, nam bắc đường 19 đông, tây nam Đức Cơ, đông và đông nam La Sơn, tây bắc An Khê và bắc Buôn Ma Thuột. Tháng 12 chúng mở cuộc hành quân Gét-ti-phơn (cơn bão lớn) ở khu vực từ tây Kon Tum đến Plei ku nhằm phá thế chuẩn bị tiến công của ta. Thực hiện chủ trương mở đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 của Bộ Chính trị và quyết định của Trung ương Cục Miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở đợt tiến công hè thu với hai đợt thường xuyên (tháng 6, 7 đầu tháng 8 ) và cao điểm (cuối tháng 8 ) nhằm giành thắng lợi to lớn... chuẩn bị điều kiện thật tốt cho đông xuân tiến công mãnh liệt hơn, quyết cùng toàn Miền giành thắng lợi quyết định''. Trong đợt hoạt động thường xuyên, Bộ tư lệnh Chiến trường rút Sư đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn 24 ở hướng Kon Tum về phía sau củng cố, chỉ để lại một trung đoàn bộ binh, Trung đoàn pháo binh 40 và Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp, tiến hành vây ép, tiêu hao, giam chân địch ở đường 18, tây Kleng, đường 14, thị xã Kon Tum. bằng 52 trận đánh nhỏ và vừa với nhiều hình thức chiến thuật: tập kích, phục kích, pháo kích, đánh giao thông... ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.566 tên địch (có 961 tên Mỹ), bắn rơi phá hỏng 31 máy bay, 95 xe quân sự, 19 pháo lớn, 2 kho đạn, 1 kho xăng, thu 3 súng và 4 vô tuyến điện. Ở Gia Lai, Trung đoàn 95 cùng công binh tỉnh luân phiên đánh nhỏ lẻ trên đường 19 các phân đội đặc công, ĐKB, súng cối phối hợp với các lực lượng vũ trang thị đội đánh nhỏ ở thị xã Plei Ku... loại khỏi vòng chiến đấu 1.212 tên địch (có 747 tên Mỹ), bắn rơi 2 máy bay, phá hủy 226 xe quân sự (có 48 xe bọc thép), 1 pháo, 36 nhà, 2 kho đạn, thu 21 súng. Hướng Đắc Lắc lực lượng địa phương liên tục đánh nhỏ, diệt 618 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 19 máy bay, phá hủy 34 xe quân sự, thu 22 súng; đồng thời tích cực chuẩn bị gạo, đạn, địa bàn để đón Sư đoàn bộ binh 1 về hoạt động. Đợt hoạt động thường xuyên, toàn B3 loại khỏi vòng chiến đấu 3.359 tên địch (có 1.938 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 85 máy bay, phá hủy 418 xe quân sự (có 157 xe bọc thép), 20 pháo lớn, 41 lô cốt, 38 nhà lính, 4 kho đạn, 1 kho xăng, thu 80 súng và 6 vô tuyến điện. Sau khi điều chỉnh lại lực lượng, đưa Sư đoàn bộ binh 1 về Đắc Lắc, từ ngày 14 đến 30 tháng 8 ta tiến hành đợt hoạt động cao điểm hè thu. Trên hướng chủ yếu tây Đắc Lắc, Sư đoàn bộ binh 1 và lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công quận lỵ Đức Lập và một loạt vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến Đắc Sắc, Sa Pa, Đắc Lao,... chặn đánh các cánh quân đến giải tỏa, diệt hơn 1.300 tên địch, làm tan rã hệ thống ngụy quyền từ quận đến xã, giải phóng hàng nghìn dân. Phối hợp chặt chẽ với hướng chủ yếu, các đơn vị chủ lực B3 và lực lượng vũ trang H80, H16, thị đội Kon Tum đồng loạt tiến công địch: ngày 14 tháng 8 vây ép địch ở điểm cao 824, pháo kích Đắc Uy, đánh giao thông đường 14; ngày 17 tập kích Đắc Siêng; ngày 23 pháo kích sân bay Kon Tum, biệt khu 24, sở chỉ huy lữ đoàn 1 (sư đoàn 4 Mỹ)... loại khỏi vòng chiến đấu 598 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 7 máy bay, phá hủy 39 xe quân sự, 2 pháo lớn và 2 kho. Ở Gia Lai, ta đồng loạt đánh giao thông đường 19 và 14 vào ngày 14 tháng 8; ngày 17 Trung đoàn 95 đánh một trận phục kích xuất sắc trên đường 19 diệt 53 xe quân sự (có 4 xe tăng); Trung đoàn 24 liên tục đánh giải tỏa Chi Pou diệt 276 tên địch. Từ ngày 23, các đơn vị chủ lực và địa phương Gia Lai đồng loạt tiến công các mục tiêu KơTy Prông, khu nhân viên quân sự Mỹ, tiểu đoàn bảo an, sân bay Cù Hanh, sân bay Aréa, liên đoàn công binh Mỹ, cư xá sĩ quan, cắt giao thông đường 14 và 19; phá ấp Plei Beng, Ngô Sơn... loại khỏi vòng chiến đấu 1.605 tên địch (có 805 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 26 máy bay, phá hủy 334 xe quân sự (có 64 xe bọc thép), 5 pháo lớn, 1 kho đạn, 4 kho xăng, thu 41 súng. Ngày 31 tháng 8, đợt tiến công cao điểm hè thu năm 1968 kết thúc thắng lợi. Chỉ trong nửa tháng tiến công, bộ đội chủ lực Tây Nguyên và lực lượng vũ trang địa phương đã đánh 126 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.114 tên địch (có 1.154 tên Mỹ, giết tên tướng ngụy Trương Quang Ân, 1 đại tá cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan), bắt 99 tên, bắn rơi và phá hỏng 89 máy bay, 424 xe quân sự (có 105 xe bọc thép), 16 pháo lớn, 2 cầu, 2 cống, 50 lô cốt, 81 nhà, 7 kho xăng, 3 kho đạn, 1 kho súng, thu 91 súng và 4 vô tuyến điện; phá 14 ấp chiến lược, giải phóng 6.000 dân. Thắng lợi của đợt tiến công hè thu năm 1968 ở Tây Nguyên là một nỗ lực rất lớn của quân và dân trên địa bàn trong điều kiện ta gặp rất nhiều khó khăn. Nó không những giữ vững thế chủ động tiến công, giáng tiếp những đòn mạnh vào dinh lũy cuối cùng của địch ở Tây Nguyên, củng cố mở rộng vùng giải phóng mà còn tạo điều kiện cho phong trào cách mạng địa phương phát triển mạnh mẽ. Tháng 7 năm 1968, tỉnh Gia Lai tiến hành Đại hội thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh. Đồng chí Ksor Ní (Phó bí thư Tỉnh ủy) được bầu làm chủ tịch tỉnh, Anh hùng Núp (Tỉnh ủy viên) và đồng chí Ngô Thành (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) làm phó chủ tịch. Tại nhiều huyện, xã nhân dân nô nức đi bầu hội đồng nhân dân giải phóng các cấp; tiếp đó các ủy ban nhân dân cách mạng cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động. ------------------------------------------------------------------ 1. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IV Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nxb Sự thật, H. 1977, tr. 17, 18. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:33:56 am * Mùa khô năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điều động một số đơn vị của Sư đoàn 325C (tức Sư đoàn 6) từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ và Sư đoàn bộ ra miền Bắc; một số tiểu đoàn binh chủng của B3 được chuyển về Quân khu 5 và các chiến trường khác. Vì vậy kế hoạch thành lập Đoàn 1 đứng chân ở nam Tây Nguyên và Lữ đoàn 1 (gồm Trung đoàn 66, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cối) của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đều không thực hiện được. Nhằm củng cố nâng cao khả năng chiến đấu của các đơn vị và bộ đội, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường rút Sư đoàn bộ binh 1 về phía sau củng cố, kiện toàn Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn1, đồng thời tổ chức chỉnh huấn lực lượng vũ trang toàn chiến trường. Nội dung đợt chỉnh huấn này được quy định cụ thể cho từng đối tượng. Cán bộ trung cao cấp học tập Nghị quyết của Trung ương Cục Miền Nam và Nghị quyết của Đảng ủy B3, học tập thư của Bác Hồ (3.1968), các chuyên đề về chống chủ nghĩa cá nhân và chống chiến tranh tâm lý của địch. Cán bộ sơ cấp và chiến sĩ học tập đề cương “Tình hình và nhiệm vụ”, học tập thư Bác Hồ và Nghị quyết Trung ương Cục Miền Nam. Dân quân du kích do các tỉnh đội tổ chức học tập, thời gian từ 2 đến 3 ngày. Để phát huy hơn nữa sức mạnh to lớn của lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn cách mạng mới. Cuối tháng 9 năm 1968 Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức hai hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích và công tác quân sự địa phương. Các đồng chí bí thư, thường vụ Tỉnh ủy, đoàn đại biểu ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và bốn huyện miền tây (huyện 4, 5 tỉnh Gia Lai, huyện 6, 7 tỉnh Kon Tum, huyện 5 tỉnh Đắc Lắc) cùng nhiều cá nhân xuất sắc của bộ đội địa phương, dân quân du kích tham dự. Hội nghị đã khẳng định thành tích và bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang địa phương trong năm 1968. Cuối năm 1967 toàn Tây Nguyên có 5.311 bộ đội địa phương và 13.868 du kích, nhưng đến cuối năm 1968 bộ đội địa phương đã có 6.316 đồng chí và du kích là 16.322 người2. Về thành tích chiến đấu, năm 1968 lực lượng vũ trang địa phương Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu 14.559 tên địch (có 5.392 tên Mỹ), bắt 259 tên (chiếm 113 tổng số sinh lực địch bị diệt); diệt gọn 1 tiểu đoàn, 20 đại đội, 21 trung đội ngụy, 1 đội bình định, 5 trung đội Mỹ; tiêu hao 1 tiểu đoàn, 10 đại đội, 12 trung đội ngụy, 1 đại đội Mỹ; diệt 2 quận lỵ; bắn rơi và phá hủy 500 máy bay, 1.521 xe quân sự, trong đó có 455 xe bọc thép (chiếm 112 số máy bay và xe địch bị diệt), 45 pháo cối lớn, 77 kho, 247 nhà lính, thu 524 súng các loại; mở 88.195 dân (chiếm 21% dân số bị kìm kẹp)3. Quán triệt sâu sắc hơn vị trí chiến lược, nhiệm vụ phương châm của chiến tranh du kích, Hội nghị xác định phương hướng trong thời gian tới là: ''Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phát triển du kích chiến tranh, tích cực phá ấp giành dân, giải phóng toàn bộ vùng nông thôn. Ra sức xây dựng căn cứ địa. Tăng cường công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân địa phương''. Về phương châm xây dựng, Hội nghị khẳng định: ''Dân quân du kích phải đạt tỷ lệ 12%, phải nắm chắc vấn đề chất lượng... phải đưa đại bộ phận Đảng viên vào du kích... đưa hết thanh niên trung Đoàn vào du kích... Hàng ngũ du kích phải trong sạch về chính trị, bảo đảm cây súng ở trong tay những người trung thành tuyệt đối''. Sau hội nghị chiến tranh du kích và công tác quân sự địa phương, lực lượng vũ trang và bán vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc có bước phát triển mới, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội chủ lực tác chiến trên địa bàn, đưa chiến tranh nhân dân ở Tây Nguyên ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tiếp sau chỉnh huấn, tổng kết năm, từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 11 năm 1968 Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên lần thứ hai được tổ chức trọng thể tại khu giải phóng bên bờ sông Sa Thầy. Dự Đại hội có gần 300 đại biểu tiêu biểu cho phong trào thi đua giết giặc lập công và các lĩnh vực công tác của các đơn vị chủ lực và địa phương trên toàn Chiến trường Tây Nguyên. Đoàn đại biểu ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, anh hùng Núp, Kpa Kơlơng và các đội văn công ba tỉnh cũng tham dự. Trong gần bốn ngày làm việc, các đại biểu đã nghe bản báo cáo tổng kết phong trào thi đua của toàn Chiến trường do đại tá Trần Thế Môn - Bí thư Đảng ủy, chính ủy Chiến trường Tây Nguyên trình bày và 60 bản báo cáo của các cá nhân, tập thể điển hình; đồng thời tham gia thảo luận chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm chiến đấu và công tác. Được sự ủy quyền, Bộ tư lệnh Chiến trường đã trao cờ thi đua luân lưu: "Quyết chiến, quyết thắng'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Trung đoàn bộ binh 95; cờ “Dũng mãnh đánh giỏi diệt gọn lữ đoàn Mỹ'' cho Sư đoàn bộ binh 1 (đã vào miền Đông Nam Bộ); cờ ''Giữ vững mở rộng phong trào, trụ bám giành dân, tiêu diệt nhiều địch'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho quân và dân tỉnh Gia Lai; cờ ''Liên tục tiến công, đánh giỏi diệt gọn nhiều đơn vị Mỹ, ngụy'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho Tiểu đoàn 304 Kon Tum; cờ ''Trung dũng kiên cường, liên tục tiến công vào thị xã'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho thị xã Buôn Ma Thuột; cờ ''Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ'' của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên cho Tiểu đoàn 408 Gia Lai; tặng danh hiệu ''Thành đồng quyết thắng'' cho 3 tiểu đoàn, danh hiệu Chiến sĩ thi đua cho 1.156 cá nhân; trao 1 Huân chương Thành đồng hạng nhì, 10 Huân chương Quân công hạng nhất, 11 Huân chương Quân công hạng nhì và hạng ba cho các đơn .vị. Đại hội đã thay mặt toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên gửi thư quyết tâm lên Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng nhớ thương, tin tưởng và hứa với Người: Đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn ác liệt, cùng cả nước bền gan chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng để sớm được đón Bác vào thăm. Đại hội liên hoạn Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lần thứ hai của lực lượng vũ trang Tây Nguyên là hình ảnh sinh động, tiêu biểu của khối đại đoàn kết của quân, dân các dân tộc và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên địa bàn rừng núi Tây Nguyên. Ngày 30 tháng 11 năm 1968, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vô cùng xúc động nhận được điện thăm hỏi của Bác Hồ4. Người viết: “Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên. Tôi rất vui mừng nhận đưa thư báo cáo thành tích của Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ lần thứ 2 của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên. Như vậy là quân và dân Tây Nguyên, già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng, Đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược... Tôi nhiệt liệt khen ngợi các Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến lập công vẻ vang. Giặc Mỹ và tay sai bị thua to trên khắp nước ta, đã phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá miền Bắc và chịu ngồi nói chuyện với đại diện hai miền nước ta. Nhưng chúng còn rất ngoan cố, hiếu chiến, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược. Vì vậy nhiệm vụ của quân và dân cả nước ta còn rất nặng nề. Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, ra sức củng cố và phát triển vùng giải phóng và phục vụ tiền tuyến. Tôi tin chắc rằng Tây Nguyên nhất định cùng cả nước tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Tôi xin gửi đến cụ Chủ tịch và các vị trong Phong trào Dân tộc tự trị và toàn thể đồng bào Tây Nguyên, các cháu thanh niên và nhi đồng lời thăm hỏi ân cần và lời chào quyết thắng. Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1968 HỒ CHÍ MINH Vô cùng phấn khởi trước tình yêu thương bao la ấm áp, sự ân cần động viên khen ngợi của Bác Hồ, một phong trào học tập làm theo thư Người được tiến hành sâu rộng khắp các đơn vị và địa phương trên chiến trường Tây Nguyên. Tình cảm kính yêu và lòng tin tưởng vô hạn đối với Bác Hồ đã nhanh chóng biến thành hành động cách mạng, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường: ''Nỗ lực vượt bậc kiên quyết tiến lên giành thắng lợi to lớn nhất trong thời gian tới'', cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của đế quốc Mỹ. ------------------------------------------------------------------ 1. Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 gồm: đồng chí Trần Văn Trân - tư lệnh, đồng chí Nguyễn Văn Viên - chính ủy, đồng chí Lê Hữu Đức - tư lệnh phó, đồng chí Định - phó chính ủy, đồng chí Trần Duy Huynh – tham mưu trưởng. Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn gồm 5 đồng chí trên. 2. Cuối năm 1967 tỉnh Kon Tum có l.651 bộ đội địa phương và 4.763 du kích; năm 1968 có 1.796 bộ đội và 4.208 du kích. Cuối năm 1967 tỉnh Gia Lai có 1.837 bộ đội địa phương và 7.258 du kích; năm 1968 có 2.504 bộ đội và 9.689 du kích. Cuối năm 1967 tỉnh Đắc Lắc có 1.823 bộ đội địa phương và 1.847 du kích; năm 1968 có 2.016 bộ đội và 2.425 du kích. 3. Sau định càn quét dồn xúc lại, ta giữ được 22.477 người dân. 4. Bác Hồ điện nhờ cụ I Bi ALê Ô - Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịchU.B.T.Ư.M.T.D.T.G.P miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên chuyển. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:35:41 am * Trong 21 năm trường kỳ gian khổ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thì giai đoạn chiến tranh cục bộ là đỉnh cao của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ. Khi ồ ạt đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, Mỹ đã chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm thi thố sức mạnh của quân đội chưa từng bị thua trận bao giờ trong các cuộc chiến tranh trước đó. Ngay khi bước vào cuộc chiến, bộ chỉ huy quân Mỹ tung con át chủ bài ''sư đoàn kỵ binh không vận số 1'' - một ''sáng kiến vĩ đại'' của Mác Na-ma-ra, được trang bị hiện đại bậc nhất với chiến thuật tân kỳ ''nhảy cóc'' lên Tây Nguyên. Với số quân đông gấp ba lần (35.200/12.000), lại có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe thiết giáp và đại bác, Mỹ, ngụy tưởng có thể ''tìm diệt'' quân giải phóng như cuộc dạo chơi dưới ánh mặt trời. Trước đối tượng tác chiến mới, quân và dân Tây Nguyên không hề nao núng. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đã triệt để phát huy ưu thế sự giác ngộ chính trị cao của bộ đội để giải quyết sự chênh lệch về trang bị vũ khí so với địch; kết hợp nhuần nhuyễn giữa tài thao lược của bộ chỉ huy chiến dịch với tính độc lập sáng tạo của từng đơn vị và tinh thần dũng cảm, trí thông minh của mỗi cán bộ, chiến sĩ, giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang, quần chúng cách mạng địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, làm nên chiến thắng Plei Me lịch sử. Chiến thắng Plei Me không chỉ mở đầu giai đoạn đánh thắng chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, mà còn giải đáp dứt khóat một vấn đề nóng hổi: Việt Nam có đánh được Mỹ không? Tây Nguyên có đánh được Mỹ không? Và khẳng định chân lý: chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là vô địch, nhất định sẽ đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nối tiếp chiến thắng Plei Me, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được quân và dân địa phương phối hợp đã giáng những đòn sấm sét xuống đầu sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” Mỹ trong mùa mưa năm 1966. Khẩu hiệu ''Tìm Mỹ mà đánh, bám thắt lưng Mỹ mà diệt'' trở thành phong trào ở mọi đơn vị và là tư tưởng chỉ đạo khi bước vào trận của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Song song với đòn tiến công quân sự phủ đầu quân viễn chinh Mỹ, lực lượng vũ trang địa phương được chủ lực hỗ trợ dìu dắt lớn mạnh không ngừng, trưởng thành nhanh chóng, từng bước đảm nhiệm vai trò nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương và hỗ trợ ngày càng hiệu quả cho bộ đội chủ lực. Những “pháo đài thép'' như xã Đắc Uy (Kon Tum), khu 4, khu 5 (Gia Lai), xã Khuê Ngọc Điền (Đắc Lắc) xuất hiện ngày càng nhiều tạo nên thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân, những điều kiện thuận lợi cho chủ lực về hoạt động. Bị thua đau trong cuộc phản kích chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965-1966, quân Mỹ tiếp tục tung sư đoàn bộ binh số 4 mở cuộc hành quân. Sam Hút-tơn vào đông tây sông Sa Thày. Mặc dù được máy bay B52, trực thăng, phản lực, pháo binh chi viện tối đa, có quân ngụy bảo vệ sau lưng và thi thố những chiến thuật ''tân kỳ'', những mánh khoé xảo quyệt đúc kết qua lần thất bại trước; nhưng tham vọng ''tìm diệt'' của chúng lại bị ''vùi sâu'' xuống dòng sông Sa Thày. Chiến thuật ''trực thăng vận'' đổ quân ồ ạt mất hiệu nghiệm, buộc quân Mỹ phải cơ động từng tiểu đoàn trên một trục, một hướng khi hành quân để tránh ba tiêu diệt gọn từng đơn vị. Với thế và lực ngày càng lớn mạnh cùng những kinh nghiệm quý qua hai mùa khô thắng Mỹ, lại được quân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên chủ động cài bẫy nhử địch vào vùng rừng núi trùng điệp tây nam Đắc Tô để tiêu diệt. Trong 20 ngày đêm chiến đấu, ta đã giáng cho lữ đoàn dù 173 và lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ những đòn thôi sơn. Bọn ''thiên thần mũ đỏ'' bàng hoàng hốt hỏang tháo chạy và lữ đoàn 1 thảm bại kinh hoàng kết thúc giai đoạn ''tìm diệt'' của chúng. Chiến dịch Đắc Tô 1 đã hoàn chỉnh chiến thuật ''vận động tiến công kết hợp chốt'' của bộ đội chủ lực Tây Nguyên và góp phần phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Tây Nguyên mang theo khí thế tiến công hào hùng của cả miền Nam, với quyết tâm sắt đá và lòng tin mãnh liệt vào chiến thắng. Trong suốt 115 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực Tây Nguyên sát cánh cùng quân và dân địa phương đánh đồng loạt, liên tục tiến công và nổi dậy, đưa chiến tranh vào dinh lũy cuối cùng của địch, giáng một đòn quyết đánh vào chiến lược ''chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở Tây Nguyên, góp nốt nhạc hào hùng vào bản đại hợp xướng ''Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!'' của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng vang dội của bộ đội chủ lực và quân dân địa phương trên chiến trường Tây Nguyên đánh bại ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, đã tạo ra những tiền đề vững chắc để đánh thắng hoàn toàn chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch trên địa bàn. Nguyên nhân thắng lợi to lớn, toàn diện của quân và dân Tây Nguyên trong cuộc đọ sức với quân viên chinh Mỹ, trước hết bắt nguồn từ đường lối kháng chiến, đường lối quân sự và phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát đúng của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy Khu 5; là kết tinh của sự lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, nhạy bén, tài trí, mưu lược của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên với tính linh hoạt, sáng tạo của chỉ huy các cấp và tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, trí thông minh, dám xả thân vì sự nghiệp cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ đồng thời nó còn là biểu hiện sinh động của sự đoàn kết, chi viện, giúp đỡ chí tình của Bộ tư lệnh Quân khu 5, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang, sự cưu mang đùm bọc hết lòng của nhân dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và sự phối hợp của các chiến trường trên toàn miền Nam. Năm tháng trôi đi, nhưng những chiến công oanh liệt Plei Me, Sa Thầy, Đắc Tô 1... đánh bại ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên mãi mãi là những trang hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẻ vang của bộ đội chủ lực và quân dân Tây Nguyên anh hùng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:43:28 am Chương ba VƯỢT QUA THỬ THÁCH TRỤ BÁM CHIẾN TRƯỜNG, LIÊN TỤC TIẾN CÔNG ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC ''VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH, CỦA MỸ, NGỤY Ở TÂY NGUYÊN (1969-1972) 1. Chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1969, đánh bại trận quân cuối cùng của bộ binh Mỹ và bước đầu thử nghiệm “phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên. Qua ba đời tổng thống (Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn- xơn) các chiến lược và kế hoạch xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam liên tiếp bị thất bại. Lên cầm quyền trong lúc ''nước Mỹ đang có khủng hỏang về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ, xơ xác tơi bời, chửi nhau như vỡ chợ''1; thế và lực của Mỹ đã suy yếu nhiều trên thế giới, Ních - xơn buộc phải ''điều chỉnh'' chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đưa ra ''học thuyết Ních-xơn''. Việt Nam được Mỹ chọn làm nơi thí điểm học thuyết mới này, theo đó chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' được thay bằng ''Việt Nam hóa chiến tranh''. Thực chất ''Việt Nam hóa chiến tranh'' là chuyển gánh nặng chiến tranh cho quân đội ngụy Sài Gòn, ''thay màu da trên xác chết'', vẫn tiếp tục thực hiện ba biện pháp chiến lược cũ (bình định, tìm diệt, phong tỏa biên giới) nhưng dưới những cái tên mới (chiến tranh giành dân, chiến tranh hủy diệt, chiến tranh bóp nghẹt) và nâng cường độ hoạt động ngoại giao kiềm chế sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh'' rất thâm độc, nhưng nó là sản phẩm của sự thất bại, nên không tránh khỏi số phận thảm bại tiền định. Thực hiện chiến lược mới này, từ đầu năm 1969 đến năm 1972 địch vừa gấp rút xây dựng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, vừa dẩy mạnh bình định nội địa, tiến hành nhiều cuộc hành quân đánh phá căn cứ, triệt đường tiếp tế và cơ sở hậu cần tại chỗ nhằm tiêu hao, đẩy lực lượng ta ra vùng biên giới; đồng thời mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào, từng bước rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh. Nằm trong âm mưu đen tối và kế hoạch ''điều có chung của Mỹ, ngụy, Tây Nguyên sớm được chúng chọn làm nơi thực thi ''phi Mỹ hóa'' ở miền Nam. Đầu năm 1969 tổng binh lực của địch ở Tây Nguyên có 20 tiểu đoàn bộ binh, 9 tiểu đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị không quân với số quân là 68.792 tên, 246 khẩu pháo lớn 380 xe bọc thép và xe tăng, 371 máy bay các loại. Trong đó, quân Mỹ có sư đoàn bộ binh số 4, một tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173 và các đơn vị cơ giới, không quân gồm 10 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 6 tiểu đoàn pháo binh và 3 tiểu đoàn không quân với 15.600 tên co về phòng thủ thị xã Kon Tum, Plei Ku, vùng An Khê và trục đường 19. Ngoài ra một số quân Mỹ được tung ra chốt chặn các điểm cao ở Chư Tăng Kra, Chư Tăng An, Chư Tô Bla, Chư Pa, Chư Xang, Thanh An tạo thành tuyến ngăn chặn vòng ngoài. Lực lượng quân ngụy tăng nhanh cả về số lượng và vũ khí, phương tiện chiến tranh. Cuối tháng 2 năm 1969, quân cộng hòa (chủ lực ngụy) ở Tây Nguyên có trung đoàn bộ binh 42 (4 tiểu đoàn), trung đoàn bộ binh 45 (4 tiểu đoàn), trung đoàn bộ binh 47 (1 tiểu đoàn), liên đoàn 2 biệt động quân (3 tiểu đoàn), trung đoàn 8 thiết giáp (2 chi đoàn), trung đoàn 3 thiết giáp (3 chi đoàn), các tiểu đoàn pháo binh 221 (biệt khu 24), 232 (sư đoàn 23), 39 (quân đoàn 2) và 37; tổng số gồm 11 tiểu đoàn bộ binh, 5 chi đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh với 15.792 tên. Quân địa phương có 37.400 tên được tổ chức thành 4 tiểu đoàn bảo an, 95 đại đội địa phương quân, 70 đại đội biệt kích, 8 đại đội thám kích, 228 trung đội nghĩa quân, 4 đại đội cơ giới. Nhằm đối phó với các đợt tiến công của ta và từng bước ''phi Mỹ hóa'', quân ngụy được bố trí thành 5 cụm chính: Đắc Tô - Tân Cảnh, đường 18; Kon Tum, Kleng; Plei Ku, đường 19 tây; An Khê, đường 19 đông; Buôn Ma Thuột, đường 21, trọng điểm là thị xã Plei Ku, Kon Tum và An Khê - đường 19. Để tăng quân, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1969, địch tiến hành một đợt bắt lính lớn nhất ở Tây Nguyên; đồng thời đẩy mạnh đôn quân, đưa trung đoàn 14 thiết giáp từ đồng bằng Khu 5 lên đóng ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Song song với tăng quân, địch phát triển thêm những tổ chức mới, lập thêm bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt, tổ chức ở mỗi quận 1 liên đội bảo an (từ 3 đến 4 đại đội); lập thêm tiểu đoàn pháo 233 cho sư đoàn 23; bố trí ở mỗi tiểu đoàn bộ binh 1 trung đội trinh sát đồng thời địch thay toàn bộ súng ga răng và các bin bằng súng M16 cho các đơn vị cộng hòa, biệt động quân, từng bước trang bị cho địa phương quân. Với binh lực lớn, lại được máy bay pháo binh Mỹ chi viện mạnh và một lực lượng bộ binh Mỹ hỗ trợ, ngay từ đầu năm 1969 quân ngày giữ vai trò chủ yếu tác chiến trên bộ ở Tây Nguyên. Trong tháng 1, chúng mở liên tiếp 3 cuộc hành quân ''Bình tây'' và tung nhiều toán biệt kích, dùng hàng trăm lượt máy bay ráo riết đánh phá sâu vào vùng căn cứ của ta. Trong 3 tháng đầu năm 1969, địch tung 52 toán biệt kích, sử dụng 250 lần chiếc máy bay trinh sát và 260 lần chiếc phản lực đánh phá các kho tàng, đường vận chuyển cơ giới, cầu phà, rải chất độc hóa học...vào phía tây ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Cùng với các hoạt động trên, địch ra sức thực hiện âm mưu bình định cấp tốc, càn quét vây ráp. Chỉ tính riêng trong 2 tháng (1 và 2 năm 1969) đã có tới 147 cuộc càn quét với binh lực từ 1 đại đội đến hơn 1 tiểu đoàn; trọng tâm là các vùng Đắc Đoa, Lệ Ngọc (Gia Lai); Kla, Buôn Hồ, Phước An, Quảng Nhiêu (Đắc Lắc)... Trước sự thay đổi chiến lược quân sự và âm mưu thủ đoạn mới của địch, quân và dân Tây Nguyên cũng như toàn miền Nam bình tĩnh, chủ động giáng trả và liên tiếp tiến công địch, kết hợp hai chân ba mũi; đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng, nâng cao chất lượng của ba thứ quân. Nhằm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát kịp thời hơn đối với lực lượng vũ trang Tây Nguyên, đầu tháng 1 năm 1969 Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định giao cho Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Ngày 5 tháng 1 năm 1969, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy quy định cụ thể về việc lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Tây Nguyên, trong đó giao cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh B3 chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Đến đây Chiến trường Tây Nguyên giữ vai trò của một ''phần khu quân sự'' của Quân khu 5, vừa làm nhiệm vụ bộ đội chủ lực của một mặt trận, vừa đảm nhiệm vai trò lực lượng vũ trang dịa phương ở Tây Nguyên. Sự hòa quyện giữa nhiệm vụ của đội quân chủ lực với công tác quân sự địa phương, sự đoàn kết gắn bó keo sơn giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và nhân dân Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng quân thù là nét đặc sắc của Chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau khi Bộ Tổng tư lệnh điều động Sư đoàn bộ binh 1 vào miền Đông Nam Bộ, đầu năm 1969 ngoài Bộ tư lệnh, cơ quan B3, lực lượng chủ lực Tây Nguyên còn lại ba trung đoàn bộ binh: 66, 24, 95, hai tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn pháo binh 402 và các đơn vị bảo đảm, hậu cần, nhà trường, bệnh viện. Ngày 28 tháng 1năm 1969 Trung đoàn bộ binh 28 (do thiếu tá Hoàng Nhiên làm trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Xuân Hệ làm chính ủy, đại úy Nghiêm Xuân Núi làm trung đoàn phó và đại úy Nguyễn Gia Hưu làm phó chính ủy) từ Quảng Bình hành quân vượt Trường Sơn v vào đến Tây Nguyên với đầy đủ quân số, vũ khí, trang bị. Tiếp đó, Chiến trường Tây Nguyên dược bổ sung Tiểu đoàn pháo binh 85. Tháng 2, tổng quân số bộ đội chủ lực B3 lên đến 28.000 người. Bên cạnh khối chủ lực, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc có số lượng ngày càng đông, cơ cấu khá cân đối. Đến đầu tháng 4 năm 1969, toàn Chiến trường Tây Nguyên có 5.643 bộ đội địa phương tỉnh, huyện và 17.332 du kích xã thôn. Các tỉnh đội đều có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, một số đại đội hỏa lực, bảo đảm; các huyện đội, thị đội tổ chức đại đội, trung đội3. Để nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội địa phương và du kích, ngoài việc thường xuyên chỉ đạo tổ chức huấn luyện cho các tỉnh đội, Bộ tư lệnh B3 đã mở 2 lớp huấn luyện cho 80 cán bộ đại đội, trung đội, huyện đội, xã đội, trợ lý dân quân và trợ lý tác chiến tỉnh đội. Ban Dân quân B3 cử nhiều lượt cán bộ xuống trực tiếp huấn luyện và dìu dắt 328 du kích các xã miền tây tỉnh Gia Lai, 60 du kích vành đai thị xã Plei Ku và 193 du kích huyện 67 tỉnh Kon Tum. Các trung đoàn và tiểu đoàn (độc lập) chủ lực B3 ngoài nhiệm vụ tác chiến còn được Bộ tư lệnh Chiến trường giao trực tiếp giúp đỡ huấn luyện, dìu dắt các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích ở địa bàn hoạt động. Riêng Trung đoàn pháo binh 40 đảm nhiệm huấn luyện cho dân quân du kích ba xã miền tây huyện 67 Kon Tum. Với số lượng, chất lượng ngày càng tăng, khả năng chiến đấu được nâng lên, bộ đội dịa phương và du kích ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực B3 ngay từ những ngày tiến công đầu xuân 1969 và thu được nhiều thành tích. ----------------------------------------------------------------- 1. Thừa nhận của Ních- xơn trong ngày nhậm chức 20.1.1969. 2. Trong Trung đoàn pháo binh 40 có Đại đội xe tăng 16, có mặt ở Tây Nguyên ngày 18.4.1968. 3. Tỉnh Kon Tum có Tiểu đoàn 406 đặc công, Tiểu đoàn 304 bộ binh, Đại đội 6, Đại đội 7 công binh, Đại đội 3l ĐKB, 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội thông tin, 1 đại đội vận tải (bộ đội đánh) và 3 đại đội, 7 trung đội (bộ đội huyện) với tổng quân số 1.706 cán bộ, chiến sĩ, cùng 5.195 du kích (trang bị l.561 súng các loại). Tỉnh Gia Lai có Tiểu đoàn 408 đặc công, Tiểu đoàn 67 bộ binh, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 406 đặc công), 3 đại đội công binh, 1 đại đội trợ chiến, 1 đại đội ĐKB, các phân đội tỉnh sát thông tin vận tải vệ binh (bộ đội tỉnh) và 5 đại đội, 10 trung đội (bộ đội huyện) với tổng quân số 2.416 người; lực lượng du kích có 10.642 người (trang bị 1.555 súng các loại). ở Đắc Lắc, bộ đội tỉnh gồm Tiểu đoàn 401 đặc công, Tiểu đoàn 301 bộ binh, Đại đội 303 bộ binh, Đại đội 312 công binh, Đại đội 314 trợ chiến, 1 đại đội vận tải hành lang, các trung đội trinh sát, thông tin, vận tải; bộ đội huyện có 2 đại đội và 11 trung đội, tổng quân sốlà 1.521 người; du kích có 1.495 người (trang bị 469 súng). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:47:54 am * Thực hiện âm mưu ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên, ngày 10 tháng 1 năm 1969, địch huy động trung đoàn 42 và tiểu đoàn 11 biệt động quân (ngụy) có máy bay, pháo binh Mỹ chi viện hỏa lực mạnh, mở cuộc hành quân Bình Tây 48 vào vùng rừng núi Chư Pa (cách thị xã Plei Ku trên 30km về phía tây bắc) nhằm đánh phá hành lang, kho tàng của ta. Ngay khi tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42 ngụy) vừa đỗ bộ xuống đã bị lực lượng vận tải, hậu cần của B3 chặn đánh. Cùng thời gian này, Trung đoàn 241 (do thiếu tá Nguyễn Quốc Thước làm trung đoàn trưởng và trung tá Vũ Khắc Thịnh làm chính ủy) đang vượt sông Pô Kô để sang vùng núi Chư Pa, xuống đường 14 đánh địch. Trước tmh hình địch đổ quân xuống Chư Pa ngăn chặn đường cơ động, chỉ huy Trung đoàn 24 đề nghị Bộ tư lệnh B3 cho đơn vị chuyển sang đánh quân địch ở Chư Pa và được cấp trên chấp thuận. Đồng thời Bộ tư lệnh B3 huy động các lực lượng của Phòng Hậu cần, Trường Quân chính, Binh trạm Trung vận chuyển đạn, gạo bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Liên tiếp trong các ngày 11, 12, 13, 14 tháng 1 hai tiểu đoàn 4 và 6 (Trung đoàn 24) cùng Tiểu đoàn 8 liên tục tiến công đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1, sở chỉ huy nhẹ trung đoàn 42 và tiểu đoàn 11 biệt động quân. Sau đó ta tập trung lực lượng đánh bốn tiểu đoàn 1, 3 (trung đoàn 42), 11, 22 (biệt động quân) và 1 đại đội Mỹ trên chốt Chư Pa. Ngày 20 tháng 1 năm 1969, cuộc hành quân Bình Tây 48 - trận ra quân lớn đầu tiên của quân ngụy trong chương trình ''phi Mỹ hóa'' của địch ở Tây Nguyên bị thất bại hoàn toàn, 552 tên bị diệt. Trước thảm bại của quân ngụy, quân Mỹ không thể giữ mãi thái độ ''trùm chăn'' được nữa. Ngày 21 tháng 1, sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đổ bộ 2 tiểu đoàn xuống khu vực Trăng Thu (phía nam ngọn núi Chư Pa khỏang 10km) cùng 3 tiểu đoàn biệt động quân ngụy (11, 22, 23) mở tiếp cuộc hành quân Bình Tây 49 chủ động đón đánh địch, trong hai ngày 21, 22 tháng , Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 631 (mới được tăng cường) tiến công tiêu diệt gọn chỉ huy nhẹ tiểu đoàn 11 và 2 dại đội bộ binh địch ở Chư Pa. Tiếp đó, từ ngày 23 đến ngày 25, ta liên tục tiến công diệt 1 trung dội Mỹ, diệt gọn tiểu đoàn 23, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 22 biệt động quân. Ngày 27, tàn quân của tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42), tiểu đoàn 22 biệt động quân tháo chạy khỏi Chư Pa. Cuộc hành quân Bình Tây 49 thất bại. Đánh giá các trận đánh diễn ra tại Chư Pa trong những ngày này, hãng tin AFP (28.1.1969) đã nhận xét: ''Đây là trận đánh ác liệt nhất kể từ cuộc tiến công đẫm máu hồi Tết Mậu Thân đến nay''. Cay cú vì bị đòn đau ở Chư Pa, quân Mỹ cho máy bay, pháo lớn tập trung đánh phá có tính chất hủy diệt vào khu chiến và nhiều nơi khác. Ngày 23 tháng 1, chúng ném bom vào khu tập trung Kon Hơ Ring (Kon Tum), gây ra vụ thảm sát lớn đầu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng: làm chết 350 người dân theo đạo Thiên Chúa. Mặc dù bị thất bại hên tiếp trong hai keo đầu, “phi Mỹ hóa'' ngày 28 tháng 1 tướng Lữ Lan tung tiếp tiểu đoàn 1 (trung đoàn 47 vừa từ Phú Yên lên), tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) và tàn quân tiểu đoàn 22 biệt động quân liều lĩnh mở cuộc hành quân Bình Tây 50. Song số phận cuộc hành quân này cũng không khác gì hai cuộc hành quân trước. Từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, ta vừa kiềm chế tiểu đoàn 4, vừa tập trung lực lượng tiến công liên tục vào tiểu đoàn 22 biệt động quân và tiểu đoàn (trung đoàn 47), diệt 240 tên địch. Nổi bật trong đợt tiến công này là trận đánh của Tiểu đoàn 4 và lực lượng đặc công vào tiểu đoàn Mỹ ở đỉnh Chư Pa, loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên địch, thu 85 súng các loại Ngày 3 tháng 2, tàn quân tiểu đoàn 22 biệt động quân rút chạy, địch đưa tàn quân tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ra thay nhưng lại bị tiêu hao nặng phải tháo lui. Ngày 8 tháng 2 cuộc hành quân Bình Tây 50 thất bại hoàn toàn. Sau gần một tháng liên tục chiến đấu ở Chư Pa, bộ đội chủ lực có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương đã đánh bại 3 cuộc hành quân liên tiếp của chủ lực ngụy có hỏa lực và bộ binh Mỹ hỗ trợ. Ta đánh thiệt hại nặng liên đoàn 2 biệt động quân, trung đoàn 42, tiêu hao nặng trung đoàn 47 ngụy và diệt 1 tiểu đoàn Mỹ; loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch (có 371 tên Mỹ), phá hủy 9 khẩu pháo cối lớn, 1 kho đạn, bắn rơi 24 máy bay, thu 280 khẩu súng các loại. Chiến thắng Chư Pa là đòn phủ đầu đánh vào âm' mưu ''phi Mỹ hóa'' của địch trên Chiến trường Tây Nguyên. Đợt chiến đấu đầu xuân Kỷ Dậu vừa kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 và các đơn vị lập công ở Chư Pa2. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 vận tải), Đại đội 2 (Trung đoàn 24) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66) dược tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Lời khen của Bác và những phần thưởng cao quý là nguồn động viên cổ vũ lớn lao quân và dân Tây Nguyên anh dũng tiến lên, hăng hái bước vào chiến dịch xuân, hè năm 1969. ------------------------------------------------------------------ 1. Trung đoàn 24 thiếu Tiểu đoàn 5 (đang hoạt động ở hướng Kon Hơ Ring - Kon Tum). 2. Điện khen của Bác, sau khi phổ biến cho cán bộ, chiến sĩ được giao cho tổ cơ yếu Trung đoàn 24 giữ, nhưng bị bom B52 nên không còn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:51:25 am * Được chiến thắng Chư Pa cổ vũ thôi thúc, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 2 năm 1969 lực lượng vũ trang Tây Nguyên đồng loạt tiến công vào 37 mục tiêu địch trên khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc mở đầu đợt tiến công mùa xuân. Tại Kon Tum, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 304 địa phương giải phóng ấp Kon Hơ Rinh, đánh vào nhiều mục tiêu trong thị xã; Tiểu đoàn 20 đặc công tập kích sân bay Đắc Tô, Tân Cảnh; Tiểu đoàn 37 đặc công đánh vào căn cứ Lôi Hổ, Tân Phú. Trung đoàn 40C pháo binh lần đầu sử dụng pháo 85mm bắn phá căn cứ Plei Kần. Ở Gia Lai, Tiểu đoàn 408 đánh khu kho, sân bay Aréa, liên đoàn 2 biệt động quân, Ninh Đức; Tiểu Đoàn 67 đánh Glar; Tiểu đoàn 6 đánh Plei Ku Ró. Tiểu đoàn 68 bảo an, Blang 3; Tiểu đoàn 31 pháo kích sân bay Cù Hanh, Aréa, bộ tư lệnh quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy; Trung đoàn 95 và công binh cắt giao thông đường 19 ở đèo Măng Yang; Trung đoàn 24 cắt đường 14 ở khu vực Tà Uẩn; Trung đoàn 40B pháo kích Đức C Cơ. Hướng Đắc Lắc, Tiểu đoàn 401 đánh hậu cứ trung đoàn 45, sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, khu thiết giáp, pháo binh; Tiểu đoàn 304 đánh phá quận lỵ Lạc Thiện; Tiểu đoàn 39 tiến công Ia Tan, trường huấn luyện; Tiểu đoàn 34 pháo kích, sở chỉ huy sư đoàn 23, sân bay Hòa Bình; công binh đánh xe trên đường 21. Trong một tuần (22-28.2), ta dã loại khỏi vòng chiến đấu 3.122 tên địch (có 965 tên Mỹ), bắt 55 tên, phá hủy 248 xe quân sự (có 163 xe bọc thép), 6 pháo lớn, 30 kho tàng, 996 đoạn ống dẫn dầu, phá sập 3 cống, thu 37 khẩu súng. Chóang váng trước đòn tiến công đồng loạt, bất ngờ của ta, quân địch phản ứng dè dặt, chủ yếu dựa vào lực lượng tại chỗ, pháo binh, không quân chống đỡ phát huy thắng lợi và trước thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định mở tiếp đợt 2 tiến công mùa xuân (3- 19.3), tập trung 2 trung đoàn bộ binh (28, 66), Trung đoàn pháo binh 40, một tiểu đoàn công binh trên hướng chủ yếu phía tây Kleng nhằm tiêu diệt từng đơn vị cơ động Mỹ; đồng thời giữ vững và phát triển tiến công trên các hướng phối hợp. Thực hiện kế hoạch, đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3 lực lượng vũ trang Tây Nguyên tiến công đồng loạt vào các mục tiêu trong ba thị xã, vùng ven, các trục đường giao thông và cứ điểm Kleng. Trên hướng chính, ta dùng một lực lượng vây ép đồn Kleng, khêu ngòi, buộc sư đoàn 4 Mỹ phải mở cuộc hành quân vào khu vực rừng núi phía tây cứ điểm này. Quân Mỹ dựa vào tuyến điểm chốt Chư Tăng Kra, Chư Tăng An đổ quân nống sâu vào đông, tây sông Sa Thầy hình thành tuyến ngăn chặn mới từ Ngọc Tô Ba đến Chư Hinh, Chư Mơ Nu. Đồng thời địch dùng một lực lượng biệt kích luồn sâu vào hậu phương ta, cho máy bay, pháo binh đánh phá ngăn chặn ta cơ động lực lượng và vận chuyển. Đến ngày 6 tháng 3 trên hướng chính đã có 5 tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 1, 3 trung đoàn 8; tiểu đoàn 3 trung đoàn 12; 1 tiểu đoàn của lữ đoàn 3, 1 tiểu đoàn của lữ đoàn 2) sư đoàn 4 Mỹ và tiểu đoàn 4 thiết giáp. Trong thế trận đã bày sẵn, từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 3 Trung đoàn 66 và Trung đoàn 28 có lực lượng pháo binh chi viện, liên tục tiến công quân Mỹ. Nhiều trận đánh có kết quả tất như trận Chư Rơ Bang (của Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66, ngày 4.3), trận Chư Đô (của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28, ngày 5.4), trận Đồi Tranh (của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28, ngày 13 tháng 3). Trong hơn 10 ngày ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.672 tên địch (hầu hết là quân Mỹ), diệt gọn 5 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 4 đại đội Mỹ khác, phá hủy 50 xe (có 27 xe bọc thép), 15 pháo lớn, bắn rơi và phá hỏng 58 máy bay. Trong khi ta tập trung lực lượng tiêu diệt quân Mỹ trên hướng chính, thì ở hướng Plei Kần chiến sự cũng diễn ra rất quyết liệt. Đêm mùng 3 tháng 3, lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta sử dụng 4 xe tăng lội nước PT76 và pháo 85mm, súng cối tiến công cứ điểm Plei Kần. Xe tăng bí mật tiến sát hàng rào, dùng hỏa lực tiêu diệt nhiều mục tiêu rồi xông thẳng vào cứ điểm. Hai xe tăng mang số hiệu 511 và 527 đánh được vào bên trong khu A. Sau hơn một giờ chiến đấu, xe tăng ta đã diệt 6 xe bọc thép, phá 1 khẩu đại bác 175mm, làm cháy nổ 4 kho đạn và xăng dầu, bắn sập 15 lô cốt, 3 nhà bạt, diệt nhiều tên địch. Với thắng lợi giòn giã trong lần đầu xuất trận, Đại đội xe tăng 16 đã đặt nền móng và mở đầu truyền thống đã ra quân là chiến thắng của bộ đội xe tăng Tây Nguyên. Riêng tập thể xe tăng 511 lập chiến công xuất sắc được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Để cứu nguy cho đồng bọn ở Plei Kần và tây Kleng, địch dùng một lực lượng lớn không quân, pháo binh đánh phá rất dữ dội, ném cả bom napan và chất độc hóa học vào xung quanh hai cứ điểm và vùng chiến sự. Mặc dù lực lượng ít, lại chỉ có vũ khí phòng không tầm thấp nhưng các phân đội cao xạ vẫn kiên quyết đánh trả bắn rơi nhiều máy bay địch. ''Khẩu đội thép'' - Đại đội 48 phòng không do đồng chí Trần Trọng Diễn chỉ huy chiến đấu liên tục 30 ngày đêm, có ngày đánh trả 76 lần chiếc máy bay địch. Để giữ vững trận địa, Đại đội đã hy sinh đến người cuối cùng Khẩu đội đại liên của Vương Tử Hoàng (Trung đoàn 28) đánh máy bay ở Chư Đô, nhiều lần bị bom đạn địch trùm lên trận địa. Giữa trận bom thù dữ dội, lửa napan cháy khắp thân mình như cây đuốc sống nhưng Vương Tử Hoàng vẫn hiên ngang trên vị trí, tiếp tục chỉ huy khẩu đội bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Trước lúc hy sinh người khẩu đội trưởng dũng cảm vẫn dành hơi thở cuối cùng động viên đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu. Phối hợp với hướng chính, các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh trên các hướng khác Tiểu đoàn 20 đặc công đánh vào sân bay Đắc Tô diệt gọn 1 đại đội Mỹ (5.3), tiến công sở chỉ huy trung đoàn 42 ngụy diệt 150 tên, trong đó có tên trung đoàn trưởng và nhiều sĩ quan (9.3). Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 304 địa phương liên tiếp mở 6 ấp: Đắc Kăm Peng, Đắc Kăm Lốt, Kon Hơ Nông, Kon Gung, Đắc Mót, Kông Trăng Loi rồi bám trụ tiêu diệt quân địch đi giải tỏa. Ở Gia Lai, ta đánh 42 trận, trong đó có nhiều trận hiệu suất chiến đấu cao như: trận tập kích Plei Ku Ró của Tiểu đoàn 6 (5.3), đánh chi đoàn 3 thiết giáp của Tiểu đoàn 408 (5.3), đánh giao thông đường 14 của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 3 buộc tiểu đoàn 1 Mỹ thuộc lữ đoàn 3 phải ra giải tỏa) và đánh giao thông đường 19 ở đèo Măng Yang của Trung đoàn 95 (diệt 1 đoàn xe 32 chiếc và hơn 100 tên Mỹ). Hướng Đắc Lắc, ta đánh vào Buôn Ma Thuột làm trung đoàn 45 ngụy phải bỏ dở cuộc hành quân ở Buôn Hồ co về bảo vệ thị xã. Phát huy thắng lợi của đợt hai, ngày 20 tháng 3 ta chuyển sang đợt ba tiến công mùa xuân. Mở đầu đợt hoạt động, đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, quân và dân Tây Nguyên lại đồng loạt tiến công vào 20 mục tiêu địch ở thị trấn Tân Cảnh,3 thị xã, 5 sân bay và nhiều thị trấn khác. Tại Tân Cảnh, ngay từ phút đầu các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 20 đồng loạt nổ súng diệt nhiều mục tiêu trong căn cứ 42, làm hệ thống đèn điện tắt ngấm. Quân địch hỏang hốt xô nhau chui xuống các công sự, hầm ngầm; xe tăng địch gầm rú bắn loạn xạ. Ở hướng tiến công chủ yếu, phân đội của Phạm Văn Nhỏ đánh thẳng vào sở chỉ huy và cơ quan tham mưu trung đoàn 42. Khi ta đang phát triển thuận lợi thì bị khẩu trọng liên từ lô cốt ba tầng và hỏa lực xe tăng bắn chặn xối xả. Lập tức chiến sĩ Hoàng Văn Liên dùng súng chống tăng bắn sập lô cốt dập tắt hỏa điểm nguy hại, sau đó bắn đứt xích chiếc xe tăng đi đầu. Cùng lúc chiến sĩ Bân bắn cháy nhà máy điện làm tê liệt hệ thống truyền tin của địch. Tuyến ngăn chặn bị chọc thủng, các chiến sĩ xông lên dùng thủ pháo, lựu đạn diệt gọn từng tốp dịch trong giao thông hào, dưới hầm ngầm. Trong lúc trận đánh diễn ra quyết liệt ở khu vực sở chỉ huy trung đoàn 42, thì mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 20 cũng chiếm được khu nhà lính. Một khẩu đại liên của địch bất ngờ xuất hiện bị chiến sĩ Lý Nông Hiệt diệt ngay, tạo điều kiện cho đồng đội phát triển chiến đấu. Ở phía nam căn cứ, một mũi tiến công của ta nhanh chóng đánh chiếm trận địa pháo binh, rồi đánh về phía sở chỉ huy. Trong vòng 30 phút, Tiểu đoàn 20 tiêu diệt 212 tên địch, phá hủy hàng chục xe cộ, pháo lớn... giáng một đòn rất nặng vào cơ quan đầu não trung đoàn 42 ngụy. Cũng trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, Tiểu đoàn 37 tập kích căn cứ lữ đoàn 1 Mỹ ở Tân Phú (nam thị xã Kon Tum) diệt 162 tên, phá hủy 100 xe quân sự, bắn sập 17 lô cốt, đốt 4 bể chứa xăng lớn làm lửa cháy suốt 6 giờ liền. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 diệt trận địa pháo Kon Hơ Ring. Trên hướng Gia Lai, ta tiến công vào hàng loạt mục tiêu: căn cứ sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ ở La Sơn, khu nhân viên không quân Mỹ ở Plei Ku, khu sĩ quan Mỹ ở Tân Tạo, sân bay Aréa, cụm xe tăng ở cầu Hội Phú, ấp Trà Bá, Bàu Cạn. Ở Đắc Lắc, các mục tiêu: căn cứ sư đoàn 23 ngụy, trường huấn luyện biệt kích, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, ấp Duy Hòa, Buôn Diêu, Liêm Sơn đều bị tiến công. Trong khi các hướng dồn dập nổ súng, ở thượng nguồn sông Sa Thầy, 2 trung đoàn 28 và 66 tiếp tục vây ép địch ở chư Hinh, điểm cao 467 và đánh địch nống ra giải tỏa. Từ ngày 23 đến 30 tháng 3, hai cánh quân nống ra của tiểu đoàn 1 (trung đoàn 8 ) và tiểu đoàn 3 (trung đoàn 12) Mỹ bị đánh bại gần 200 tên bị diệt ở nam Chư Cô Tắc, Chư Kê Pắc và điểm cao 467. Bị thiệt hại nặng, ngày 30 tháng 3, lữ đoàn 1 Mỹ khiếp nhược buộc phải rút chạy khỏi vùng thượng nguồn sông Sa Thầy. Cuộc ra quân cuối cùng của sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ ở Tây Nguyên bị thất bại hoàn toàn. Ngày 31 tháng 3 năm 1969, đợt tiến công mùa xuân Kỷ Dậu của quân và dân Tây Nguyên kết thúc toàn thắng. Trong 40. ngày đêm, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 12.704 tên địch (có 6.212 tên Mỹ), bắt 197 tên, phá hủy 999 xe quân sự (có 500 xe bọc thép), 62 pháo cối lớn, 24 kho đạn, 13 kho xăng, bắn rơi và phá hủy 24 kho đạn, 13 kho xăng, bắn rơi và phá hủy 243 máy bay, thu 336 khẩu súng và 36 vô tuyến điện. Về đơn vị, có 13 đại đội Mỹ và 8 đại đội, 18 trung đội ngụy bị diệt gọn, 13 đại đội Mỹ khác bị tiêu hao chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu với đòn phủ đầu quân ngụy trong bước thử nghiệm ''phi Mỹ hóa'' và đánh bại đợt ra quân cuối cùng của bộ binh Mỹ ở tây Kleng đã tạo thêm thế và lực để quân và dân Tây Nguyên mở các chiến địch mới, giành thắng lợi ngày càng lớn hơn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:54:45 am 2. Chiến dịch Đắc Tô 2 - đòn phủ đầu đối với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh''.
Thực hiện ý định của Bộ tư lệnh Quân khu 5: ''Tập trung một bộ phận lực lượng chủ lực B3 mở khu chiến ở tây bắc Kon: Tum (Đắc Tô - Tân Cảnh - Ngọc Bờ Biêng) nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động của địch, chủ yếu là Mỹ, diệt từ 1 - 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh qụy 1 lữ của sư đoàn 4 Mỹ. Trên cơ sở tác chiến tiêu diệt mà kéo, kèm, thu hút, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động của địch trên chiến trường Tây Nguyên, trực tiếp hỗ trợ cho địa phương diệt kẹp giành dân ở ven trục đường 14 và quanh thị xã Kon Tum''1. Mùa hè năm 1969, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Tô 2. Lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm 3 trung đoàn (66, 28, 40), 3 tiểu đoàn (5, 20, 25) chủ lực và một tiểu đoàn địa phương (304) tác chiến trên bốn khu vực: - Khu quyết chiến chiến dịch ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kom Liệt, Ngọc Dơ Lang do Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 (thiếu Tiểu đoàn 2) và 2 tiểu đoàn pháo binh đảm nhiệm. - Khu vây hãm Plei Kần: bố trí Tiểu đoàn 2, 1 đại đội công binh và một bộ phận hỏa lực. - Khu thọc sâu, cắt giao thông, đánh hậu cứ ở Đắc Tô, Tân Cảnh, Diên Bình do Tiểu đoàn 20 đặc công, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 304 Kon Tum và 1 đại đội công binh đảm nhiệm. - Trận địa hỏa lực khống chế Đắc Tô, Tân Cảnh: bố trí 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp. Thời gian nổ súng được ấn định vào đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 5 năm 1969. Ngày 18 tháng 4, Bộ tư lệnh Chiến trường giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch: Lập tức cả Tây Nguyên bừng bừng khí thế ra trận ''đánh cho sư 4 đảo điên, đánh cho quân ngụy ở Tây Nguyên tơi bời''. Cao trào thi đua ''Trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác'' diễn ra sôi động khắp chiến trường. Trên những con đường mòn từ phía tây hướng ra phía công, bộ đội, dân công gửi thồ gạo đạn nườm nượp nối nhau ra phía trước, náo nức như trẩy hội. Bên cạnh các đơn vị vận tải chuyên nghiệp là các đội vận chuyển vừa được huy động gồm cán bộ, chiến sĩ ba cơ quan B3, Trường Quân chính, Viện Quân y 211, các đội điều trị, xưởng dược, xưởng quân giới. Nhiều kỷ lục mới được lập nhiều tấm gương điển hình tiên tiến trên mặt trận vận tải xuất hiện. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 vận tải) giữ vững danh hiệu ''Voi đầu đàn'' của ngành vận tải Tây Nguyên. Trong phân đội có nhiều kiện tướng gùn trên 100 kg như Nguyễn Đình Cỏn, Võ Văn Hoan. Đặc biệt chiến sĩ Bùi Xuân Chế lập kỷ lục mới gùi 118kg một chuyến, gồm 5 đầu đạn ĐKB, súng, đạn, gạo, ba lô cá nhân trở thành tấm gương sáng thôi thúc cổ vũ bộ đội. Đội xe đạp thồ của Viện Quân y 211 gồm các y tá, hộ lý, bác sĩ, nuôi quân liên tục bám đường đưa hàng ra phía trước, nhiều chiến sĩ gái thồ tới 140kg. Cán bộ, chiến sĩ Binh trạm Bắc đã mạnh dạn tháo rời chiếc ô tô ra làm nhiều bộ phận, rồi khiêng gửi vượt núi cao sang tuyến đường mới lắp ráp lại vận chuyển rất hiệu quả. Trung đoàn 40 pháo binh phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ tìm ra sáng kiến cải tiến bánh xe pháo 37mm làm giá đỡ chở nòng pháo 85mm, rút số lượng người khiêng từ 24 xuống còn 15 người và tăng tốc độ từ 2km lên 4km một ngày... đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định. Với quyết tâm rất cao, lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ, tổ chức linh hoạt hợp lý khoa học, vừa tập trung cho hướng trọng điểm vừa chú ý đến các hướng khác... nên trong điều kiện chuẩn bị có nhiều khó khăn về lương thực, địa bàn rộng, thời tiết mưa lũ, địch đánh phá mạnh... ta vẫn bảo đảm được 324,6 tấn đạn, 1.997 tấn gạo, 180 tấn thực phẩm đáp ứng cơ bản các yêu cầu của chiến dịch. Phát hiện ta mở chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 5 địch mở cuộc hành quân ''Dân quyền 35'', tung 2 tiểu đoàn biệt kích ra điểm cao 731, Plei Phi Pháp và đổ bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 xuống phía bắc Plei Kần nhằm thăm dò, ngăn chặn chuẩn bị chiến dịch của ta. Đồng thời chúng gấp rút điều động lực lượng lên Đắc Tô. Đến ngày 11 tháng 5, địch đã tập trung được 12 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo trên hướng này. Để thống nhất chỉ huy cuộc hành quân, địch vội vã lập bộ chỉ huy hỗn hợp gồm tư lệnh biệt khu 24, liên đoàn biệt động quân, trung đoàn 42, trung đoàn thiết giáp và B12. Phối hợp với cuộc hành binh của quân ngụy trên hướng Đắc Tô, Tân Cảnh, từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 5 sư đoàn 4 Mỹ mở cuộc hành quân Grai - ti-pon (cơn bão táp) vào phía tây Plei Ku. Trung đoàn 45 và trung đoàn 53 ngụy cũng tiến hành giải tỏa ngăn chặn ở vùng Buôn Dơ Rây và Kho Lý cách Buôn Ma Thuột 15km về phía tây nam. Địch ra quân sớm, trong khi ta đang ở giai đoạn chuẩn bị chiến dịch và chiếm lĩnh trận địa. Nhưng với tinh thần chủ động, cảnh giác cao ta đã kịp thời xuất kích một lực lượng tiến công tiêu diệt địch, đồng thời đẩy nhanh tốc độ triển khai lực lượng trên các hướng. Ngày 5 tháng 5, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 vào chiếm lĩnh trận địa gặp hai tiểu đoàn biệt kích địch ở Plei Phi Pháp, lập tức đơn vị chuyển sang tiến công. Liên tục trong 4 ngày (5-8.5), Tiểu đoàn 2 tiêu diệt 125 tên địch. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) trên đường hành quân vào chiếm lĩnh trận địa ở Ngọc Bờ Biêng đã kịp thời phát hiện tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42 ngụy), liền dùng 2 trung đội tập kích diệt 1 đại đội địch. Kịp thời chi viện cho bộ binh, Trung đoàn pháo binh 40 dùng pháo 105mm bắn phá vị trí Ngọc Hồi, pháo 85mm bắn 85 viên đạn vào cứ điểm Plei Kần, điểm cao 824 và dùng ĐKB bắn 50 viên vào hai căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh... phá hủy 8 pháo lớn, 1 trực thăng, nổ tung một kho đạn cháy một kho xăng gây thiệt hại cho sở chỉ huy cuộc hành quân và nhiều sinh lực địch. Để tránh bị tiêu diệt, tối mùng 9 tháng 5 địch vội vã rút tiểu đoàn 4 ở Ngọc Bờ Biêng về Tân Cảnh, rồi dùng 20 lần chiếc máy bay B52 ném bom vào ngọn núi này. Ngày hôm sau (10.5) chúng rút ,tiếp tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) từ Ngọc Hồi về bảo vệ Kon Tum. Đến đây cuộc hành quân ''Dân quyền 35'' thất bại hoàn toàn. Trong khi các lực lượng ở hướng chính bước vào chiến đấu sớm, các đơn vị trên hướng phối hợp kịp thời chiếm lĩnh trận địa, chủ động nổ súng tiến công địch giành nhiều thắng lợi. Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) tập kích tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ ở điểm cao 600 Làng Giả diệt 250 tên, bộ đội địa phương Đắc Lắc chặn đánh 1 tiểu đoàn ngụy ở tây nam Buôn Ma Thuột 28km diệt 1 đại đội; Tiểu đàn 631 tập kích căn cứ lữ đàn 3 Mỹ ở Tân Lạc loại khỏi vòng chiến đấu 300n, phá 12 pháo tự hành, 1 dàn ra đa, 10 xe quân sự, 4 kho đạn, 1 kho xăng; Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh vào Diên Bình diệt đại đội bảo an 749, phá sập cầu Diên Bình; Tiểu đoàn 406 đặc công tiến công sân bay Kon Tum. Nổi bật nhất là trận tập kích của Đội 58 Tiểu đoàn 20 đặc công và phân đội ĐKB, cối 82mm vào Tân Cảnh, phá nát căn cứ hành quân lên hợp Mỹ, ngụy loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mỹ, Phá hủy 32 nhà tôn, 10 hầm ngầm, 6 lô cốt, 4 xe tăng, 4 máy bay trực thăng, 1 kho xăng... gây chấn động lơn đến toàn bộ quân địch ở tây bắc Kon Tum. Bị uy hiếp mạnh cả ở sào huyệt lẫn vòng ngoài, ngày 12 tháng 5 địch vội vã mở cuộc hành quân ''Dân quyền 38'' tung 8 tiểu đoàn bộ binh và chiến đoàn 3 thiết giáp ra hướng tây bắc Kon Tum. Trong đó tiểu đoàn 23 biệt động quân được đổ xuống Plei Phi Pháp, tiểu đoàn 22 xuống Ngọc Rinh Rua, tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 1338. Mặc dù quân ngụy vào khu quyết chiến từng tiểu đoàn, nhưng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 5 hai trung đoàn 28 và 66 chỉ đánh được những trận nhỏ tiêu diệt đại đội địch. Nguyên nhân ta chưa tiêu diệt được tiểu đoàn ngụy là do sự chỉ đạo chưa chuyển kịp từ đánh quân Mỹ ban đầu sang đánh quân ngụy. Các đơn vị đều lưỡng lự và cho rằng nếu tập trung lực lượng diệt ngụy thì khi quân Mỹ nhảy vào sẽ không còn đủ sức để đánh. Bên cạnh đó kinh nghiệm đánh quân ngụy của Trung đoàn 28 và Trung đoàn 66 còn có hạn. Về khách quan, đối tượng tác chiến là quân ngụy tuy có thua kém quân Mỹ về hỏa lực song thủ đoạn chiến đấu lại có nhiều mặt tinh ranh hơn quân Mỹ. Chúng thông thuộc địa hành, giỏi luồn lách, thường tìm cách né tránh ta, lợi dụng rừng le đào công sự, ''tự do di tản'' khi bị tiến công. Những ngày đầu chiến dịch bộ đội ta phải lùng sục rất vất vả, cứ nổ súng là địch bỏ chạy, rất khó bao vây diệt gọn. Vì vậy việc tìm ra hình thức chiến thuật mới để đánh bại thủ đoạn của quân ngụy, giành thắng lợi cho chiến dịch, xây dựng lòng tin cho bộ đội là một yêu cầu bức thiết của ta. Quan tâm, nắm chắc mọi diễn biến của chiến địch và kịp thời rút kinh nghiệm, quyết tâm tìm ra cách đánh hiệu quả, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chuyển sở chỉ huy chiến dịch vào khu chiến Ngọc Dơ Lang để chỉ huy chặt chẽ hơn; đồng thời tập trung 2 trung đoàn 66, 28 tiêu diệt bằng được 2 tiểu đoàn biệt động quân, dùng 1 tiểu đoàn pháo cơ giới kiềm diệt tiểu đoàn ở điểm cao 830 (tây Ngọc Dơ Lang). Nhiều cán bộ của Phòng Tham mưu B3 nhanh chóng tỏa xuống bám sát các đơn vị, cùng bộ đội rút kinh nghiệm tìm ra cách đánh thích hợp. Trong những ngày cuối tháng 5, bộ đội kiên trì xuyên rừng lùng sục suốt ngày đêm. Chỉ huy tiểu đoàn đi cùng đội hình đơn vị, kịp thời chỉ huy bộ đội triển khai vây địch, tiến công liên tục Với cách đánh mới vận động bao vây tiến công liên tục, từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 5 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đã đánh qụy tiểu đoàn 22 biệt động quân ở Ngọc Dơ Lang, loại khỏi vòng chiến đấu 210 tên địch, thu nhiều súng. Cùng thời gian này, tại Đắc Rơ Đê Hay, Tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Đinh Xuân La chỉ huy, đã liên tiếp vận động tập kích tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 2, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên và đánh tiêu hao tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 1 đến cứu viện. Đây là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao trong chiến dịch Đắc Tô 2. Ngày 25, địch đổ bộ tiểu đoàn 11 biệt động quân xuống điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang để thay cho tiểu đoàn 22. Nhưng chúng đã bị Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3, Trưng đoàn 28) vây đánh liên tiếp, diệt 132 tên. Trước nguy cơ bị diệt gọn, ngày 29 tiểu đoàn 11 buộc phải rút chạy về hướng điểmcao 785 để hợp điểm với tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ở điểm cao 702. Trên đường tháo chạy, bọn biệt động quân lại bị Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66) và Đại đội 10 (Tiểu đoàn 3, trung đoàn 28) chặn đánh diệt hơn 1 đại đội. Trong 7 ngày tiểu đoàn 11 bị chết và bị thương 250 tên, cả ban chỉ huy tiểu đoàn bị xóa sổ. Cũng với cách đánh vận động bao vây tiến công liên tục, những ngày cuối tháng 5 hai tiểu đoàn 8 và 7 Trung đoàn 66 tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 23 biệt động quân ở điểm cao 843 và bắc điểm cao 785, loại khỏi vòng chiến đấu 419 tên, bắt 6 tên, thu 17 khẩu súng các loại. Nhưng trận đánh then chốt của Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 trong những ngày cuối tháng 5 có ý nghĩa quyết định, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. ----------------------------------------------------------------- 1. Báo cáo ''Diễn biến khu chiến tây bắc Kon Tum (từ ngày 5.5- 25.6.1969)'' của Phòng Tham mưu B3, tr. 2. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:56:52 am * Ngày 1 tháng 6, địch rút chạy khỏi Ngọc Dơ Lang. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc đợt hai, khẩn trương điều chỉnh lực lượng, bổ sung đạn dược để chuyển sang đợt ba: tiếp tục vây hãm Plei Kần, kéo quân ngụy ra để diệt, buộc quân Mỹ phải tham chiến để ta đánh, làm thất bại âm mưu ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên. Thực hiện kế hoạch, ngày 4 tháng 6 các lực lượng chiến dịch đã hoàn thành triển khai trên các hướng. Trung đoàn 28 tiếp tục dùng Tiểu đoàn 2, 1 khẩu cối 120mm, 4 khẩu 12,7mm, 8 khẩu ĐKZ vây hãm cứ điểm Plei Kần, lực lượng còn lại triển khai đánh địch ở phía nam đường 18. Trung đoàn 66 đứng chân ở Ngọc Rinh Rua, điểm cao 724. Trung đoàn 40 pháo binh vừa chi viện hỏa lực chung, vừa khống chế địch ở các cứ điểm Đắc Tô, Tân Cảnh. Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh địch dọc đường 14 đoạn Đắc Tô - Kon Hơ Rinh. Trong những ngày tập trung mọi nỗ lực chạy đua với thời gian, chuẩn bị cho đợt ba chiến dịch, bộ đội rất phấn khởi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương điện ''Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang'' vừa giành được ''thắng lợi quan trọng, đánh bại một bước âm mưu phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên; đồng thời chỉ rõ: ''Cần tiếp tục tiến công địch, mạnh bạo nắm thời cơ giành thắng lợi lớn nhất''. Cũng trong dịp này, Thường vụ Khu ủy Khu 5 và Thường vụ Quân khu ủy Quân khu 5 gửi điện nhiệt liệt hoan nghênh chúc mừng thắng lợi ''có ý nghĩa chính trị quan trọng'' của B3 và động viên cán bộ, chiến sĩ tranh thủ thời cơ thuận lợi, khuếch trương chiến quả, phát huy cao độ mọi nỗ lực, kiên trì phương châm ''lấy ít thắng nhiều, đánh dẻo dai bền bỉ'' giành những thắng lợi mới lớn hơn. Mở đầu đợt ba chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 6, ta liên tục pháo kích vào cứ điểm Plei Kần, Ngọc Rinh Rua phá hủy 2 pháo 105mm, 4 xe, diệt một số sinh lực địch. Để cứu nguy cho đồng bọn ở Plei Kần và ngăn chặn ta phát triển chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 6 biệt khu 24, trung đoàn 47 ngụy gắng gượng mở cuộc hành quân ''Dân quyền 40'', tung 5 tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị thiết giáp có pháo binh, không quân yểm trợ ra vùng tây – tây nam Ngọc Rinh Rua và tiến theo đường 18 lên giải tỏa cho Plei Kần. Cánh quân địch đỗ xuống Ngọc Rinh Rua bị Trung đoàn 66 bao vây tiến công liên tiếp ở điểm cao 782, Ngọc Rinh Rua, bị tiêu hao từng đại đội. Cùng lúc, cánh quân tiến theo đường 18 bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 chặn đánh diệt 1 đại đội. Đường 18 vẫn bị cắt đứt, Plei Kần bị vây chặt khiến cho bọn lính ở trong cứ điểm lâm vào tình trạng khốn quẫn, thiếu đạn dược, lương thực, thuốc men, nước uống buộc địch phải dùng máy bay C130 thả dù tiếp tế Mục đích tìm diệt chủ lực đối phương không thực hiện được, lai bị thiệt hại nặng, ngày 7 tháng 6 chỉ huy biệt khu 24, trung đoàn 42, trung đoàn 47 nhóm họp quyết định kết thúc cuộc hành quân ''Dân quyền 40'' và chuyển sang cuộc hành quân ''Dân quyền 41'' nhằm mở thông đường 18, giải tỏa Plei Kần. Trước âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương tiếp tục vây hãm Plei Kần, đồng thời tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên hướng đường 18 - Đắc Mót. Trong những ngày chiến đấu quyết liệt này, một tin vui lớn đã đến với quân dân Tây Nguyên và cả nước: Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam họp từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969 đã tuyên bố thành lập chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Ngay trong tháng 6 đã có 23 nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tại Tây Nguyên, ủy ban nhân dân giải phóng các cấp được thành lập khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh của Mặt trận tung bay khắp các buôn làng, các đơn vị lực lượng vũ trang, giục giã quân và dân hăng hái thi đua ''Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào'' thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Để chào mừng sự kiện lịch sử trọng đại này, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức mít tinh trọng thể, gửi điện lên Chính phủ cách mạng lâm thời khẳng định quyết tâm của quân và dân Tây Nguyên cùng toàn miền Nam kiên quyết đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai; đồng thời ra lệnh cho các lực lượng vũ trang đẩy mạnh tiến công địch hơn nữa, thực hiện thắng lợi đợt ba chiến dịch Đắc Tô 2. Trong thế trận đã chuẩn bị sẵn, từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 6 Trung đoàn 28 đánh bại hàng chục đợt phản kích giải tỏa của nhiều đại đội địch, cắt đứt đường 18, khống chế chặt cứ điểm Plei Kần. Đặc biệt, trong một đợt chiến đấu không cân sức ngày 10 tháng 6, chiến sĩ Nguyễn Đình Lỡ thuộc Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 cùng đồng đội xông thẳng ra mặt đường 18 giáp chiến với xe tăng, bộ binh địch đông gấp hàng chục lần. Khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng thì một chiếc xe tăng địch chồm tới bắn xối xả về phía đồng đội. Không chút do dự, Nguyễn Đình Lỡ ôm quả mìn định hướng lao lên, dùng ngực áp chặt khối thuốc nổ vào thành xe rồi điểm hỏa và anh dũng hy sinh. Khiếp sợ trước hành động dũng cảm tuyệt vời của người chiến sĩ quân giải phóng, bọn địch còn lại hốt hỏang bỏ xe chạy dạt sang hai bên đường làm bia sống cho các cỡ súng của ta. Học tập noi theo tấm gương anh hùng của Nguyễn Đình Lỡ, nhiều chiến sĩ lần đầu ra trận cũng trỏ thành dũng sĩ. Riêng đại đội 10 đã có 50% quân số trở thành dũng sĩ diệt xe cơ giới trong chiến dịch Đắc Tô 2. Tập trung lực lượng giải tỏa song không mấy kết quả ngày 13 tháng 6 địch đổ bộ tiểu đoàn 3 (trung đoàn 47) xuống Ngọc Bờ Biêng và tiểu đoàn 2 cùng 1 đại đội khác xuống tây Ngọc Non định bất ngờ đánh vào phía sau đội hình chiến dịch của ta. Cùng lúc, chúng đưa tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) lên chốt giữ Đắc Mót Lốp. Nắm chắc mọi diễn biến, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 28 tiếp tục đánh địch trên đường 18, vây hãm Plei Kần; Trung đoàn 66 vây diệt địch ở Ngọc Rinh Rua, tập trung pháo binh bắn phá vào Plei Kần, Ngọc Rinh Rua, Đắc Tô, Tân Cảnh. Từ ngày 13 đến 18 tháng 6, ta liên tục tiến công địch gây cho chúng nhiều thiệt hại. Riêng Trung đoàn 28 đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn thiết giáp và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) diệt 206 tên, bắt 9 tên, phá hủy 34 xe quân sự (có 25 xe tăng) và chặn đánh thiệt hại nặng 1 đại đội địch, phá 1 khẩu pháo 175mm từ Plei Kần nống ra. Ngày 21 tháng 6 cuộc hành quân ''Dân quyền 41'' bị thất bại, địch mở tiếp cuộc hành quân ''Dân quyền 42'' với lực lượng 7 tiểu đoàn bộ binh có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ. Cánh quân phía nam gồm 2 tiểu đoàn (2, 4) của trung đoàn 42 đỗ xuống Ngọc Long Rua định đánh vào phía sau đội hình ta ở nam đường 18 đã bị Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) chặn đánh diệt 95 tên. Cùng lúc, mũi chính gồm hàng trăm tên có xe tăng đi cùng, máy bay pháo binh chi viện từ Đắc Mót tiến theo đường 18 cũng bị Trung đoàn 28 chặn đánh quyết liệt ở Đắc Rơ Leng diệt 202 tên và 31 xe (có 25 xe tăng). Nhưng địch đã lọt được 25 xe tăng và 10 xe vận tải chở quân vào Plei Kần. Trung đoàn 66 do dự, bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Thấy khả năng chiến đấu của các đơn vị giảm sút do hoạt động liên tục dài ngày và mục đích chiến địch đã đạt được, ngày 27 tháng 6 Bộ tư lệnh Chiến trường chủ động kết thúc chiến dịch Đắc Tô 2. Sau 45 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Tây Nguyên đã đánh 659 trận lớn nhỏ diệt và đánh thiệt hại nặng 15 tiểu đoàn Mỹ, ngụy, tiêu hao 10 đại đội và chỉ huy cụm biệt kích 5, căn cứ 42 Tân Cảnh, Tân Lạc, La Sơn... loại khỏi vòng chiến đấu 12.997 tên địch (có 5.014 tên Mỹ), bắt 168 tên; phá hủy 1151 xe quân sự (có 406 xe tăng, xe bọc thép), 74 pháo cối lớn 317 nhà, 392 lô cốt hầm ngầm, 6 dàn ra đa, 101 kho các loại, bắn rơi và phá hủy 266 máy bay, phá sập 11 cầu cống và 1409 ống dẫn dầu. Riêng hướng chính chiến dịch (tây bắc Kon Tum) ta đánh 318 trận, giết và làm bị thương 6.150 tên (có 607 tên Mỹ), phá hủy 260 xe quân sự (có 165 xe tăng, xe bọc thép), 46 pháo lớn, 26 kho tàng, bắn rơi và phá hủy 128 máy bay, thu 294 súng các loại. Chiến dịch Đắc Tô 2 ''đã thu được thắng lợi to lớn toàn diện, vượt hẳn các chiến dịch trước đây về số lượng cũng như chất lượng... đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ và những yêu cầu cơ bản của trên giao''. Chiến thắng Đắc Tô 2 đã giáng đòn phủ đầu vào chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch ở Tây Nguyên, làm thất bại một bước biện pháp chiến lược ''quét và giữ'', buộc chúng phải co về thế phòng ngự bị động. Điểm nổi bật của chiến dịch là nghệ thuật chọn hướng và khu vực tác chiến chủ yếu chính xác, tạo được thế và thời cơ đưa địch vào khu quyết chiến mà ta đã tập trung lực lượng, chuẩn bị sẵn để đánh trận then chốt tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, giành thắng lợi quyết định. Về mặt chiến thuật, ta đã sử dụng thành công cách đánh mới: vận động bao vây tiến công liên tục, đánh bại chiến thuật đóng chốt trên điểm cao và thủ đoạn di tản, co cụm của quân ngụy. Đây cũng là chiến dịch ta thực hiện tốt phương châm ''lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều'', đạt hiệu suất chiến đấu cao; mở ra khả năng tổ chức những chiến dịch lớn hơn, có thể đánh qụy và tiêu diệt từng trung đoàn, đánh thiệt hại sư đoàn địch trên Chiến trường Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:01:08 am 3. Vượt qua thử thách, trụ bám chiến trường, liên tục tiến công giành chiến thắng.
Do địch đánh phá rất ác liệt ngăn chặn tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam, nên từ đầu năm 1969 Chiến trường Tây Nguyên đã xuất hiện những khó khăn ngày càng lớn về bảo đảm lương thực, đạn dược, thuốc men, quân trang. Cho đến mùa hè, tình hình lương thực trở nên đáng lo ngại và trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng ủy, Bộ tư lệnh và mọi cán bộ, chiến sĩ mặt trận. Số gạo còn lại của năm 1968 chuyển sang năm 1969 chưa đầy 63 tấn rưỡi. Lượng gạo dự trữ toàn B3 có lúc chỉ còn 40 tấn, lại phân tán xé lẻ ở nhiều nơi, góp lại cũng chỉ đủ nuôi quân một tuần: Trong khi đó chi viện từ miền Bắc vào bị tắc, lương thu mua từ các nguồn đều giảm sút do địch ngăn chặn phong tỏa. Mỗi chiến sĩ đi chiến đấu chỉ ăn có 4 lạng đến 4,5 lạng lương thực (kể cả sắn) một ngày, người ở phía sau chỉ ăn có 1,5 lạng. Thực phẩm cũng rất thiếu thốn, chỉ nhận được bằng 1/8 so với năm trước. Quân trang bình quân cứ 2 người chiến đấu và 8 người phục vụ mới có 1 bộ. Do không đủ lương thực, nên ngay khi tiếng súng ở vùng rừng núi Đắc Tô vừa lắng xuống, khối chủ lực Tây Nguyên không trở về hậu cứ tổng kết, ''khao quân” như mọi lần mà lật cánh về phía nam. Khi đến khu vực Cầu Lầy (Gia Lai) toàn bộ đội hình phải dừng lại để lấy sắn ăn thay cơm. Ngoài số bánh sắn mang theo, trên ba lô các chiến sĩ còn có thêm những bó lá sắn làm thức ăn dự trữ dọc đường. Trong đợt hành quân này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 khiêng theo nhiều cuộn dây thép gai thu được của địch từ Kon Tum vào Phước Long để làm thao trường đánh công sự vững chắc. Hành quân ròng rã hơn một tháng trời với bao gian nan vất vả, nhưng không một ai tụt lại phía sau, tất cả bộ đội đều tới đích kịp thời gian chuẩn bị chiến dịch. Đến vị trí mới, cán bộ, chiến sĩ đặt ba lô là bắt tay ngay vào mở 200km đường, vận chuyển đạn gạo dưới trời mưa tuôn xối xả và bom đạn địch đánh phá suốt ngày đêm. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong những ngày vô cùng gian khổ này, nhưng bộ đội không hề nao núng, giữ vững quyết tâm chiến đấu. Địch củng hiểu rõ những khó khăn của ta, chúng càng rắp tâm đẩy mạnh cuộc ''chiến tranh bóp nghẹt''. Từ giữa năm 1968 và cả năm 1969, địch mở hàng trăm cuộc càn quét xúc tát gom dân, phá hoại sản xuất triệt nguồn sinh sống, thực hiện ''bình định cấp tốc'' vô cùng khốc liệt ở khắp Tây Nguyên1. Song song với âm mưu tách bộ đội ra khỏi dân, địch liên tục dùng máy bay, biệt kích đánh phá rất ác liệt dọc tuyến hành lang vận chuyển của ta ở phía tây. Chỉ tính riêng trong 3 tháng đầu năm 1969, chúng sử dụng 510 lần chiến máy bay và tung 52 toán biệt kích đánh phá tập trung vào các kho tàng của Binh trạm 4, Binh trạm Trung và Binh trạm Nam. Có trận chúng huy động một lực lượng lớn tập kích vào Viện quân y 211 nơi có gần 1.000 thương bệnh binh đang điều trị, cướp đi 7 tấn gạo, 380kg đường, đốt cháy nhiều nhà. Tàn bạo hơn, địch dùng cả chất độc CS phá hoại hầu hết các nương rẫy hòng gây ra cảnh đói khổ buộc quân và dân Tây Nguyên suy yếu mất sức chiến đấu và ''tàn lụi dần''. Trong những ngày sóng gió, thử thách nghiêm trọng tưởng chừng như không thể vượt qua nổi, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5 thấu hiểu những khó khăn của B3, thường xuyên gửi điện chỉ đạo, động viên, giúp đỡ Chiến trường Tây Nguyên tìm cách tháo gỡ khó khăn, quyết tâm vượt qua bước hiểm nghèo. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường tập trung mọi trí tuệ, làm việc cả ngày đêm họp bàn với lãnh đạo chỉ huy các đơn vị, cơ quan và địa phương tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn; đồng thời động viên kêu gọi toàn thể Đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận đoàn kết thành một khối vững chắc ''vạn người như một'' phát huy cao độ tinh thần cách mạng tiến công, truyền thống cần kiệm, tự lực khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ quyết tâm đứng vững trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên tiếp tục chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lênh2 và Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường tập trung chỉ đạo, tổ chức sản xuất tăng gia tự túc, kiên quyết giành 10% quân số để sản xuất chuyên nghiệp, giao cho các binh trạm bảo đảm cung cấp giống ngô, lúa... cho các đơn vị trong khu vực Để giảm bớt một phần khó khăn trước mắt về lương thực, mùa hè năm 1969 Chiến trường Tây Nguyên đưa hầu hết thương bệnh binh nặng, Trường Quân chính, Trường văn hóa dân tộc và Trường Quân y với tổng quân số khỏang 5.000 người ra miền Bắc tiếp tục điều trị, học tập; đồng thời giải thể 5 tiểu đoàn pháo xe kéo, 2 bệnh viện cánh Bắc và Nam, giảm nhẹ khối cơ quan, phục vụ xuống tối đa. Khối chủ lực Tây Nguyên được kiện toàn lại, gồm 4 trung đoàn bộ binh (66, 28, 24, 95), 3 tiểu đoàn độc lập (631, 394, 5), 2 tiểu đoàn đặc công (20, 37), 1 trung đoàn pháo binh (40), Viện Quân y 211 và 3 cơ quan mặt trận. Thực hiện phong trào thi đua ''Đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc thực hành tiết kiệm'' do Bộ tư lệnh Chiến trường phát động, với khẩu hiệu hành động: ''Sản xuất như đánh giặc” các đơn vị, cơ quan vừa chiến đấu, công tác vừa giành từ 10% đến 15% quân số cho nhiệm vụ sản xuất. Bên cạnh những cây lượng thực chủ yếu như sắn, lúa, ngô bộ đội còn tích cực trồng nhiều khoai lang, bầu, bí, lạc, đậu, vừng; chăn nuôi trâu bò, lợn, gà; đánh bắt cá, săn bẫy thú rừng, thu lượm rau măng, mật ong, hái nấm, đào củ. Với bàn tay lao động cần cù, sáng tạo và thấm sâu ý nghĩa của lao động sản xuất bộ đội Tây Nguyên đã biến rừng hoang thành nương rẫy, bốn mùa xanh tốt lúa ngô, rau xanh nuôi quân đánh giặc Những nương rẫy từ phía tây ngày một lan rộng về phía đông sông Sa Thầy tạo thế uy hiếp địch. Vừa tranh thủ ngày đêm sản xuất, các chiến sĩ vừa tích cực bảo vệ thành quả lao động: bắn máy bay, diệt biệt kích, chống thú rừng, sâu bệnh bảo vệ hoa màu, gia súc gia cầm, kho tàng. Nhiều tấm gương hy sinh quên mình bảo vệ sản xuất, kho tàng xuất hiện. Chiến sĩ Lê Văn Hiền không may sa vào tay giặc, bị tra tấn dã man, mổ bụng moi gan, vẫn không để lộ khu vực kho của đơn vị. Nữ du kích Y Huân dân tộc Ba Na bị địch đốt cả chân tay, vẫn nghiến răng không khai báo nơi để đạn gạo của bộ đội... Nhằm khắc phục tình hình thiếu thuốc men tại chiến trường, với tinh thần tự lực, sáng tạo ngành quân y Tây Nguyên dã dựa vào dân, tiếp thu kinh nghiệm cổ truyền của đồng bào dịa phương tìm ra nhiều cây thuốc hay, nhiều bài thuốc quý, đưa phong trào sử dụng đồng y phát triển rộng khắp mặt trận, từ các đơn vị chủ lực đến địa phương. Xưởng X38 chế được cồn 900, sản xuất viên bổ Damin từ giun đất. Bộ phận sản xuất thủy tinh của Viện Quân y 211 do đồng chí Trần Bá Song phụ trách kỹ thuật, sản xuất được nhiều vỏ ống tiêm và dụng cụ y tế dùng cho xét nghiệm, cất giữ thuốc men. Các bệnh viện ở tuyến sau đã sản xuất tự túc được 10% thuốc chống sốt rét và kháng sinh, 30% thuốc an thần, 50% thuốc lỏng lỵ, 80% thuốc chống ghẻ lở và 100% cồn y học. Các bệnh xá tỉnh đội cũng sản xuất được nhiều loại thuốc, cao động vật, thực vật, nước giải khát từ quả dâu da, chôm chôm rừng. Riêng bệnh xá tỉnh dội Kon Tum, 6 tháng đầu năm sản xuất được hàng vạn viên bổ đẳng sâm từ cây thuốc quý sẵn có ở địa phương. Kịp thời giới thiệu kỹ tthuật canh tác và phổ biến những kinh nghiệm lao động sản xuất, động viên bộ đội trên mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược này, Báo Quân giải phóng Tây Nguyên mở thêm chuyên mục về sản xuất. Phòng Hậu cần B3 dày công sưu tầm, biên soạn, xuất bản tập 1 'Sổ tay rau rừng'' giới thiệu 61 loại rau rừng ăn được, trong đó có hơn 50 loại có vẽ hình để bộ đội nhận dạng. Đội văn nghệ xung kích B3 và các đội tuyên truyền văn hóa của các trung đoàn 66, 28, 40, Phòng Hậu cần, Viện Quân y 211, ba binh trạm bám sát cơ sở động viên cổ vũ cho nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu, sáng tác nhiều tiết mục mới. Bài hát ''Cây sắn then công'' đã âm vang núi rừng Tây Nguyên trong những ngày này. Để phục vụ sản xuất, bên cạnh nhiệm vụ làm vũ khí, sửa chữa súng đạn, các xưởng quân giới và tổ rèn dẩy mạnh việc sản xuất nông cụ, bàn thái săn, lò sấy măng, công cụ làm bánh kẹo từ sắt thép phế liệu. Tiêu biểu trong phong trào lấy thuốc nổ, sắt thép của địch để sản xuất nông cụ, làm vũ khí là chiến sĩ công binh Đào Công Quỹ, nhiều năm dũng cảm cưa bom lấy được hàng tấn thuốc nổ và nhiều gang, thép. Sau một năm kiên trì, bền bỉ phấn đấu gian khổ, toàn Chiến trường đã thu được 535 tấn thóc, 136 tấn ngô hạt, 11 tấn đậu lạc vừng, 18 tấn thịt, 937 tấn rau xanh và để , lại cho năm sau 13 triệu gốc sắn, 2.400 con lợn. Ngoài ra bộ đội còn khai thác được 74 tấn thịt thú rừng, 14 tấn măng khô và hàng trăm tấn rau tự nhiên các loại. Tổng khối lượng vật chất thu được từ lao động sản xuất tự túc của toàn mặt trận trong năm 1969 đạt 1.054,8 tấn, chiếm 13% tổng khối lượng vật chất của Chiến trường (7.690 tấn). Cùng với lượng vật chất tiếp nhận của trên, thu mua qua các nguồn (5.762 tấn), địa phương cung cấp (491 tấn), thành quả lao động của bộ đội vừa kịp thời giải quyết những khó khăn trước mắt vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, không những bảo đảm cho trên 20 nghìn bộ đội chủ lực, hơn 10 nghìn bộ đội địa phương... mà còn cung cấp gần 500 tấn vật chất cho 61.500 lượt bộ đội, cán bộ qua lại hành lang phía tây Tây Nguyên. ------------------------------------------------------------------- 1. Hai tháng 1, 2 năm 1969, địch mở 147 cuộc càn quét với binh lực từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn; trọng tâm là vùng Đắc Đoa (k3), Lệ Ngọc (k5) Gia Lai; vùng Kla (H6), Buôn Hồ (H4), Phước An (H8), Quảng Nhiêu (H5) Đắc Lắc. Mỗi cuộc càn chúng đều ập đến bất ngờ bắt hết dân đi cướp phá mọi của cải, chà nát hoa màu, ra sức tuyên truyền chia rẽ đồng bào các dân tộc với cách mạng. 2. Ngày 25.5.1969 Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị: Lực lượng vũ trang Tây Nguyên ''phải làm cả ba nhiệm vụ: chiến đấu và chủ yếu), tăng gia sản xuất và làm công tác cơ sở''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:05:03 am * Sau một thời gian củng cố và tổ chức chỉnh huấn chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc vị trí chiến lược của Chiến trường Tây Nguyên, phát huy truyền thống kiên cường bất khuất, ra sức khắc phục khó khăn gian khổ, tự lực tự cường, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 11 tháng 9 năm 1969 quân và dân Tây Nguyên bước và đợt tiến công mùa thu nhằm tiêu hao tiêu diệt địch rộng khắp, tạo điều kiện chuẩn bị cho chiến tích Bu Prăng - Đức Lập. Lực lượng tham gia đợt hoạt động này gồm 5 tiểu đoàn chủ lực (5, 631, 394, 2/95, 5/24) và ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Mở đầu đợt hoạt động, ta đồng loạt tiến công hàng chục vị trí địch ở khắp Tây Nguyên. Tại Đắc Lắc, ta đánh vào 30 mục tiêu ở thị xã Buôn Ma Thuột, Cheo Reo... nổi bật là các trận: pháo kích của Tiểu đoàn 394 vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, tập kích của Tiểu đoàn 401 vào sở chỉ huy trung đoàn 45, tập kích của Tiểu đoàn 301 diệt đại đội bảo an ở dinh điền Tư Cung. Ở Gia Lai, ta diệt căn cứ Mỹ ở Cơ Ty Prông và tập kích nhiều vị trí địch ở khu vực Plei ku. Hướng Kon Tum ta đánh nhiều trận nhỏ. Trong một tháng tiến công, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, phá hủy hàng chục xe quân sự, bắn rơi hơn 10 máy bay buộc địch phải co lại giữ căn cứ, đô thị tạo điều kiện cho ta chuẩn bị chiến dịch ở phía tây Đắc Lắc và tăng gia sản xuất. Với thành tích lập được trong đợt hoạt động mùa thu, ngày 28 tháng 8 các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã được Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi. Đầu tháng 9 năm 1969, giữa lúc Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi dua và Dũng sĩ của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên lần thứ ba chuẩn bị khai mạc và bộ đội đang hối hả chuẩn bị cho chiến dịch mới thì một tin đau đớn đã đến: Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới từ trần1. Bác đã để lại bản Di chúc lịch sử. Đáp lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, với tình cảm tiếc thương biết ơn vô hạn, ngày 6 tháng 9 Đảng ủy và Bộ tu lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo dọc tóm tắt tiểu sử ôn lại công ơn trời biển của Người Và điếu văn viếng Bác; thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, Đảng ủy Chiến trường gửi điện lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng bày tỏ lòng xúc động tiếc thương vô hạn và ân hận vì chưa hoàn thành triệt để nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm Tây Nguyên thực hiện ước mơ thiêng liêng suốt bao năm của quân và dân trên chiến trường. Đồng thời biểu thị lòng tin tưởng, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương, ra sức học tập tư tưởng, đạo đức tác phong của Bác, chấp hành nghiêm mọi chỉ thị mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, kiên quyết khắc phục khó khăn, đạp bằng mọi trở ngại “Đoàn kết, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi'' hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, cùng cả nước đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người đến đích cuối cùng. Sau tuần để tang Bác, Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lần thứ ba được tiến hành. Trong lễ khai mạc, toàn thể Đại hội kính cẩn mặc niệm trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội làm việc trong 6 ngày. Sau bản báo cáo của đồng Chí Tư lệnh Chiến trường, có 29 bản báo cáo điển hình của tập thể và cá nhân được trình bày. Tiêu biểu cho phong trào thi đua có 5 đơn vị lập thành tích xuất sắc được tặng cờ danh dự, 15 đơn vị dược tuyên dương là ngọn cờ đầu trên các lĩnh vực công tác, hàng chục đơn vị và cá nhân được tặng Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công các hạng. Đại hội đã thông qua điện gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5, Quân khu Tây Bắc, Quân khu Việt Bắc kết nghĩa hứa lập thành tích xuất sắc đóng góp tích cực nhất cùng quân dân cả nước đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào thực hiện kỳ được Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Đại hội cũng gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên thi đua giết giặc lập công, giành thắng lợi to lớn, toàn diện trong Đông xuân 1969-1970. Tháng 9 năm 1969, sau khi trực tiếp nghe các đồng chí Giáp Văn Cương, Đoàn Khuê và Trần Thế Môn báo cáo tình hình, chủ trương và dự kiến sơ bộ phương hướng hoạt động mùa khô 1969-1970 của Chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên, Thường trực Quân ủy Trung ương kết luận: “Chiến trường Tây Nguyên vẫn giữ một vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Trước mắt và sau này dù khó khăn về tiếp tế hậu cần, ta vẫn quyết tâm khắc phục bằng mọi biện pháp tích cực nhất để duy trì bộ đội ta ở đó với số lượng nhất định bám đánh địch làm chủ vững chắc địa bàn này'', và xác định:' ''Chiến trường Tây Nguyên có ba nhiệm vụ chính là: chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo đảm hành lang vận chuyển tiếp tế cho Nam Bộ... Ba nhiệm vụ trên đều có ý nghĩa chiến lược''. Thực hiện chủ trương, ý định của Thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5, sau khi hoàn thành ''Chiến dịch đánh phá giao thông ba thứ quân'' và ''chiến dịch săn máy bay'', Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút giam chân quân địch ở Tây Nguyên, giữ dân mở rộng vùng giải phóng, rèn luyện và nâng cao trình độ tác chiến của ba thứ quân, phối hợp chiến trường toàn miền Nam. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn bộ binh (66, 28), Trung đoàn pháo binh 40, hai tiểu đoàn đặc công (20, 37) tác chiến trên hướng chính; Tiểu đoàn bộ binh 394 và lực lượng tỉnh đội Đắc Lắc đánh phá các mục tiêu ở khu vực thị xã Buôn Ma Thuột; hai trung đoàn (95, 24) cùng lực lượng vũ trang Gia Lai, Kon Tum tiến công địch trên các hướng phối hợp. Để phân tán nghi binh lừa địch, từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 10 ta đồng loạt nổ súng tiến công. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và địa phương Kon Tum tiến công Tu Mơ Rông, Plei Kần - đường 18, Đắc Pét, Măng Bút, thị xã Kon Tum, pháo kích căn cứ 42 Tân Cảnh sân bay Đắc Tô. Trung đoàn 95 và tỉnh đội Gia Lai đánh giao thông đường 19, căn cứ Tân Lạc và nhiều mục tiêu khác trong thị xã Plei ku: Những trận đánh ở Kon Tum, Gia Lai diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, làm rối loạn thế trận của địch, tạo điều kiện cho hướng chính của chiến dịch hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, nổ ,súng đúng kế hoạch. Rạng sáng ngày 29 tháng 10 năm 1969, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 thực hành vây ép đánh lấn cứ điểm Ka Te trên điểm cao 936, chính thức mở màn chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập. Đây là một căn cứ hỗn hợp bộ - pháo có vị trí quan trọng hàng đầu trong tuyến phòng thủ liên hoàn phía tây nam Đắc Lắc, dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia kéo dài suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập. Ka Te cách biên giới 4km, cách đồn Bu Prăng 9km (về phía đông nam), có hình bầu dục diện tích 6.000m2 được địch xây dựng từ ngày 21 tháng 9 năm 1969 nhằm đối phó với cuộc tiến công của ta vào tháng 11 (theo tin chúng nắm được). Sau 37 ngày, địch đã hoàn chỉnh hệ thống công sự trận địa, vật cản khá vững chắc, gồm 92 hầm, công sự chiến đấu, nhiều nhà tôn nửa nổi nửa chìm, bao quanh có hàng rào thép gai bùng nhùng và bãi mìn chống bộ binh. Riêng khu trung tâm chỉ huy, thông tin, trận địa pháo và sân bay trực thăng có 2 hàng rào bảo vệ. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở Ka Te có 1 đại đội pháo binh Mỹ (5 khẩu 105, 155mm), 2 đại đội ngụy thuộc cụm biệt kích số 5 (B13) với quân số 300 tên. Ngoài ra còn có 1 đại đội biệt kích cơ động ứng chiến bảo vệ vòng ngoài. Do Ka Te có vị trí rất quan trọng, nên bị tiến công, địch đưa quân ứng cứu giải tỏa ngay. Ngày đầu vây lấn Ka Te, hỏa lực của ta đã đánh trúng trận địa pháo, nhà kho, nhà lính, diệt nhiều hỏa điểm và sinh lực buộc quân địch phải chui xuống hầm hào. Đại đội cơ động vòng ngoài của chúng nống ra bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 25 tên phải tháo chạy vào căn cứ. Địch huy động 18 lần chiếc máy bay đến bắn phá xung quanh Ka Te, bị Đại đội phòng không 49 (Trung đoàn 40) đánh trả quyết liệt, bắn cháy 1 chiếc. Rút kinh nghiệm, ngày hôm sau (30.10) các trận địa vây lấn của ta áp sát cách mục tiêu từ 40m đến 100m.Với cách đánh vây ép sát này, Tiểu đoàn 8 đã bắn sập 19 lô cốt, ụ súng, phá hủy 1 khẩu đại bác, diệt 40 tên, bắn rơi 6 máy bay trực thăng. Sân bay bị khống chế, nguồn nước bị cắt triệt, địch trong cứ điểm lâm vào tình trạng khốn quẫn. Để cứu nguy cho Ka Te, bọn chỉ huy B13 địch đưa tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 1 đến giải tỏa, nhưng Tiểu đoàn 7 chặn đánh phải tháo chạy. Ngày 31 tháng 10 và ngày 1 tháng 1 các chiến hào vây lấn của ta tiến sâu vào trong hàng rào xiết chặt thêm vòng vây, hỏa lực các cỡ của ta bắn tỉa chính xác diệt nhiều mục tiêu. Cuối ngày vây lấn thứ 3 có 50% ụ súng, lô cốt, công sự chiến đấu bị phá hủy và hai phần ba quân địch ở Ka Te bị thương vong. Lợi dụng đêm tối, quân địch rút chạy ra hướng đông bắc nhưng các chiến sĩ Đại đội 49 kịp thời phát hiện, hạ nòng súng 12,7mm bắn quét trên mặt đất diệt 30 tên, số còn lại chạy ngược trở lại cứ điểm. Hai tiểu đoàn biệt kích ứng chiến (số 1 và 5) đi giải tỏa, khi đến đồn điền chè Bu Prăng bị Tiểu đoàn 7 chặn đánh phải tháo lui. Thời cơ tiêu diệt Ka Te đã đến. Lúc 4 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 Tiểu đoàn 8 đồng loạt xung phong đánh chiếm những mục tiêu còn lại và làm chủ cứ điểm này sau một giờ tiến công. Cứ điểm Ka Te bị diệt, 190 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 8 tên bị bắt, 14 máy bay bị bắn rơi, 62 súng bị tịch thu (trong đó có 2 pháo 155mm, 6 pháo 105mm còn nguyên vẹn) và hàng nghìn viên đạn, đã làm rung chuyển tuyến phòng thủ Bu Prăng - Đức Lập. Bọn địch ở các vị trí Bu Lon, Du Viên Via... hốt hỏang tháo chạy. Đặc biệt, thành công của việc vận dụng chiến thuật vây ép tiến lên diệt điểm không những củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ về cách đánh địch trong công sự vững chắc bằng các thủ đoạn ''vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt'' - một yêu cầu mới đặt ra cho Chiến trường Tây Nguyên trong quá trình phát triển cuộc chiến tranh giải phóng mà còn làm cho quân địch khiếp sợ. Chúng đã phải thú nhận: ''Chiến thuật bao vây áp sát của Cộng sản Bắc Việt triển khai và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969 tại Cao nguyên Trung phần đã làm cho quân lực Việt Nam cộng hòa và đồng minh căng thẳng về thần kinh, ứng chiến bị động, buộc phải rời bỏ căn cứ''. Mất Ka Te, địch huy động một lực lượng lớn đối phó, vội vã đổ tiểu đoàn 22 biệt động quân xuống bắc Đắc Song, tung trung đoàn 53 vào trận, đưa một liên đoàn hỗn hợp thuộc sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đến Buôn Ma Thuột. Lực lượng phản kích của địch đã bị Trung đoàn 28 chặn đánh quyết liệt ở ngã ba Đắc Song, diệt gọn 3 đại đội, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội và 1 chi đội thiết giáp, bắn rơi nhiều máy bay. Chỉ tính riêng Tiểu đoàn 3 đã diệt và bắt hơn 300 tên. Cùng thời gian này, Trung đoàn 66 đánh tiểu đoàn biệt kích địch ở tây Bu Prăng, điểm cao 882, sau đó phát triển sang điểm cao 883. Nổi bật là trận đánh của Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 do đại đội trưởng Nguyễn Đình Kiếp chỉ huy, trong một ngày diệt 220 tên địch, chiếm 120 công sự buộc tiểu đoàn biệt kích số 5 phải tháo chạy. Lực lượng pháo binh ta pháo kích Đắc Sắc, Bu Prăng; Tiểu đoàn đặc công 20 đánh chiếm quận lỵ Đức Lập... các hướng phối hợp hoạt động mạnh. Từ, ngày 11 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, địch huy động 8 tiểu đoàn của sư đoàn 23, 4 tiểu đoàn biệt kích, 6 đại đội lực lượng đặc biệt, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 đại đội pháo, 3 đại đội trinh sát và 1 đại đội công binh Mỹ, tổ chức thành 3 chiến đoàn (53, 220 và hỗn hợp) liên tục phản kích giải tỏa. Trên hướng Bu Prăng, Trung đoàn 66 và các đơn vị binh chủng liên tục tiến công bao vây tập kích địch 5 ngày liền (13-17.11), diệt gần hết chiến đoàn 220. Tiếp đó, từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 11, Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 và Đại đội 60 đặc công đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 53 buộc chúng phải co về phòng thủ phía nam Bu Prăng. Cùng lúc hỏa lực ta tập trung đánh vào sở chỉ huy chiến đoàn 53 và căn cứ Bu Prăng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trận đánh then chốt quyết định diệt chiến đoàn 53 đã tạo điều kiện để kết thúc chiến dịch. Ở hướng Đức Lập - Đắc Song, Trung đoàn 28 vây ép điểm cao 804 tiêu hao một số địch, nhưng vây không chặt, đánh giải tỏa chưa tốt bỏ lỡ thời cơ khi địch thay quân. Trên các hướng phối hợp, ta đánh hàng chục trận. Nổi bật là các trận đánh cắt giao thông đường 14 ở phía bắc Plei ku của Trung đoàn 24, đánh giao thông đường 19 của Trung đoàn 95 và hoạt động của lực lượng địa phương Đắc Lắc, Quảng Đức. Đặc biệt ngày 6 tháng 12, ta bắn rơi chiếc trực thăng ở tây nam Tu Mơ Rông, diệt tên đại tá Nguyễn Bá liên, tư lệnh biệt khu 24, 1 đại tá cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan khác. Tranh thủ thời cơ quân địch bị thu hút, kìm chân, tiêu diệt ở Bu Prăng - Đức Lập, lực lượng vũ trang địa phương và nhiều nơi ở Đắc Lắc, Gia Lai đẩy mạnh tiến công phá âm mưu ''bình định cấp tốc'', giành quyền làm chủ ỏ hàng chục làng với hơn 7.000 dân. Ngày 5 tháng 12 chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập kết thúc thắng lợi, 9.202 tên địch (có 2.053 tên Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu, 82 tên bị bắt; 618 xe quân sự (có 250 xe tăng, xe bọc thép), 48 pháo cối lớn, 212 lô cốt, 65 kho tàng, 368 nhà lính, 9 cầu cống, 1.407 ống dẫn dầu bị phá hủy; 163 máy bay bị bắn rơi và phá hỏng, 355 khẩu súng và 31 vô tuyến điện bị tịch thu. Với chiến công xuất sắc này, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên đã được Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì, được Thường vụ Khu ủy Khu 5 điện khen ngợi. Chiến thắng Bu Prăng - Đức Lập đã kết thúc một năm đầy khó khăn thử thách nhưng cũng rực rỡ chiến công của quân và dân Tây Nguyên. ----------------------------------------------------------------- 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần lúc 9 giờ 47 phút ngày 2.9.1969. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:07:46 am * Đầu năm 1970, Mỹ, ngụy tiếp tục đẩy mạnh ''quét và giữ'', đề ra kế hoạch ''Bình định phát triển'' đưa cuộc chiến tranh giành dân lên quy mô chưa từng có, với những thủ đoạn tàn khốc quyết liệt, ráo riết thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh'' khắp miền Nam. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ thủ mưu, tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ hợp pháp, hợp hiến của Xăm-đéc Quốc trưởng Nô-rô-đôm Xi-ha-núc, trắng trợn cho quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn xâm lược Cam-pu-chia hòng xóa bỏ ''đất thánh'' của Việt cộng; đồng thời đẩy mạnh ''chiến tranh đặc biệt'' ở Lào. Là khu vực tiếp giáp giữa ba nước Đông Dương, có quan hệ hữu cơ với vùng Đông Bắc Cam-pu-chia và vùng Hạ Lào, Tây Nguyên chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp của các sự kiện xảy ra ở hai nước bạn. Đồng thời đây cũng là nơi địch tập trung một lực lượng lớn ráo riết đánh phá. Tuy bị thất bại nặng nề trong năm 19691, nhưng vào năm 1970, địch ở Tây Nguyên vẫn còn 65.757 tên (có 10.000 quân Mỹ), 242 xe tăng xe .bọc thép, 236 khẩu pháo cối lớn và 383 máy bay các loại. Ỷ vào quân đông, lắm xe, nhiều súng, lại được pháo binh không quân Mỹ chi viện mạnh, quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá cơ sở, đường vận chuyển chiến lược, các kho tàng bến bãi, hậu cứ của ta, hòng đẩy chủ lực B3 ra vòng ngoài. Về phía ta, bước sang năm 1970 tuy còn không ít khó khăn nhưng thế và lực của Chiến trường Tây Nguyên đã có bước phát triển mới. Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng: ''kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ''; hạ tuần tháng 2 năm 1970 Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Đắc Siêng, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, đẩy mạnh phong trào phá ấp giành dân, rèn luyện và nâng cao sức chiến dấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tích cực phối hợp chiến trường toàn miền Nam. Hướng chủ yếu của chiến dịch là vùng Đắc Siêng, Đắc Tô - Tân Cảnh, Plei Kần do các trung đoàn 66, 28 (thiếu), 40 và hai tiểu đoàn đặc công (20, 37) đảm nhiệm. Các hướng phối hợp ở đông bắc Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc do các đơn vị chủ lực tại chỗ và lực lượng địa phương tiến hành. Để trực tiếp kịp thời chỉ huy lực lượng tác chiến trên hướng chủ yếu, đầu tháng 2 năm 1970 Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch Đắc Siêng được thành lập, gồm các đồng chí: Vương Tuấn Kiệt- Tư lệnh, Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy, Nguyễn Đức Giá -tham mưu trưởng, Lã Ngọc Châu - chủ nhiệm chính trị, Phan Hoan - tham mưu phó, Đặng Văn Khóat - chủ nhiệm hậu cần, Lưu Quý Ngữ - chính ủy hậu cần. Ngay sau Tết Nguyên đán, Bộ tư lệnh tiền phương và cơ quan chiến dịch đã lên đường ra phía trước. Để chiến dịch Đắc Siêng giành thắng lợi, ta đã có một thời gian khá dài để chuẩn bị và củng cố lực lượng. Ngay sau chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập, khối chủ lực cơ động của Chiến trường lật cánh lên phía bắc Tây Nguyên, từng bước triển khai nhiệm vụ mới. Trong tháng 1 và 2 cán bộ từ cấp trung đội trở lên được tập huấn, bộ đội huấn luyện 25 ngày, tập trung vào hai hình thức chiến thuật: bao vây đánh lấn và tập kích theo kiểu đặc công, ôn luyện nâng cao kỹ thuật sử dụng binh khí, chú trọng bồi dưỡng xạ thủ. Việc phát triển ''lớp Đảng viên, đoàn viên năm 1970” được tổ chức đã ''tăng cường. thêm thành phần ưu tú mới vào Đảng, vào Đoàn'', ''tăng cường chất lượng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, phát huy vai trò xung kích của chi đoàn, động viên quần chúng tham gia xây dựng Đảng''. Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ toàn chiến trường vừa hoàn thành đợt học tập Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm chiến đấu rất cao. Không khí thi đua ''Thực hiện lời Bác, biến thành cao trào hành động cách mạng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào'', ''Dũng mãnh tiến công, đền ơn Đảng, Bác'' tràn ngập trong các đơn vị. Riêng công tác bảo đảm đạn, gạo cho chiến dịch được chuẩn bị từ rất sớm. Đầu tháng 1 năm 1970, hai tiểu đoàn vận tải bộ 5 và 7, hai đội điều trị 3 và 4 cùng một lực lượng của ba trung đoàn 66, 28, 40 đã bước vào vận chuyển cho chiến dịch. Lần này, việc vận chuyển được tổ chức theo phương pháp mới. Ở tuyến ngoài, ta tích lũy dần, nhịp độ bình thường không gây nên hiện tượng đột xuất. Còn ở tuyến trong, lực lượng gùi thồ không vào trước mà bám sát phía sau đội hình hành quân của bộ đội. Hướng Trung đoàn 28 do Tiểu đoàn vận tải 5 và Đội điều trị 3 bảo đảm, hướng Trung đoàn 66 do Tiểu đoàn vận tải 2 và Đội điều trị 4 phụ trách. Với cách tổ chức mới này, vừa giữ được bí mật, vừa bảo đảm kịp thời, đầy đủ cho các đơn vị bước vào chiến đấu Trước khi chiến tích mở màn, đã có 320 tấn gạo, 141 tấn đạn, 20 tấn thực phẩm và 5 tấn vật chất khác được vận chuyển đến vị trí quy định trên hướng chủ yếu và 332 tấn vật chất cho các hướng khác. Chiến dịch tiến công Đắc Siêng được tiến hành theo cách vây điểm diệt viện. Mục tiêu ta chọn để vây ép là trại biệt kích Đắc Siêng. Đây là một cứ điểm nằm sâu trong vùng rừng núi huyện 40 tỉnh Kon Tum, cách thị trấn Tân Cảnh 30km về phía bắc, phía tây 10km là biên giới Việt - Lào, phía đông 3km là sông Pô Kô. Căn cử Đắc Siêng có diện tích khỏang 3.000m2, nằm gọn trong một thung lũng hẹp tương đối bằng phẳng, cạnh đường 14, xung quanh từ 500m trở ra có nhiều điểm cao, mỏm núi có giá trị chiến thuật như 668, 702, 768, 1043... đặc biệt hai điểm cao 923 và 925 của núi Éc có thể khống chế cứ điểm. Do nằm sâu trong vùng căn cứ của ta, lại bị đánh hai lần (năm 1968) nên địch xây dựng Đắc Siêng thành một căn cứ kiên cố với hệ thống lô cút hầm ngầm tháp canh tường hộp; vây quanh có 7 lớp do kẽm gai được cài màn dày đặc, giữa có hào rộng cắm chông. Các khu Mỹ, sở chỉ huy, trận địa cối đều có hàng rào phân khu. Ở phía bắc có sân bay, máy bay C130 có thể lên xuống được. Chiếm giữ Đắc Siêng là 3 đại đội biệt kích (424 tên) do các cố vấn ''mũ nồi xanh'' Mỹ trực tiếp chỉ huy, huấn luyện và 1 trung đội thám báo, 1 trung đội chiến tranh tâm lý. Vũ khí trang bị có 2 khẩu đại bác 105mm, 3 cối 81mm, 2 cối 106,7mm, 2 ĐKZ 75 và nhiều vũ khí bộ binh. Mặc dù Đắc Siêng chỉ là một đồn nhỏ, cô lập giá trị về chiến thuật chiến dịch không lớn lắm, nhưng đây là nơi chứng minh cho sự ''đúng đắn'' của ''Việt Nam hóa chiến tranh'' và vai trò của quân ngụy ở Tây Nguyên. Vì thế, khi cứ điểm này bị tiến công, địch sẽ cố sức giữ và đưa lực lượng lên cứu viện. Thực hiện kế hoạch chiến đấu, mờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1970 rừng núi Đắc Siêng bất thần rung lên trong tiếng nổ xé trời của các loại hỏa lực của Trung đoàn 28 cùng một lúc bắn vào cứ điểm. Chiến dịch Đắc Siêng chính thức mở màn. Ngay từ phút đầu, cối 120mm bắn trúng khu trung tâm, ĐKZ diệt nhiều lô cốt mục tiêu ở khu vực đầu cầu và sân bay. Cùng lúc bộ binh áp sát hàng rào, dùng B40, B41, 12,7mm, đại liên ghìm đầu quân địch ở bên trong nhanh chóng phát triển chiến hào vây lấn xiết chặt quanh đồn. Quân địch hoàn toàn bị bất ngờ. Sau đòn phủ đầu chóang váng, chúng phản ứng quyết liệt, tập trung đại liên, súng cối, ĐKZ bịt cửa mở, đồng thời cho hàng chục lần chiến máy bay có cả B52 đánh phá dữ dội, ném bom bi, bom phá, bom na pan xuống các trận địa vây lấn của ta. Để cứu nguy cho Đắc Siêng, từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 4, biệt khu 24 đổ bộ 2 đại đội biệt kích xuống bắc và nam đồn và 3 tiểu đoàn (22, 23 biệt động quân, 4142) xuống Pô Kô Hạ. Đến ngày 7 tháng 4, địch đã huy động tới 50% lực lượng dự trữ cơ động ngụy ở Tây Nguyên, gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 4 chi đoàn thiết giáp và một lực lượng đáng kể pháo binh, không quân mở cuộc hành quân ''Tất thắng 17'' dể chi viện cho Đắc Siêng. Ngay trong những ngày đầu chiến dịch, chiến sự ở Đắc Siêng diễn ra rất ác liệt. Dưới mưa bom bão đạn, bộ đội vẫn dũng cảm kiên quyết bám trụ, vừa đánh địch trong đồn phản kích vừa chặn đánh viện binh phía sau lưng. Các xạ thủ trung liên Tiểu đoàn mang theo khí phách Vương Tử Hoàng vô cùng quả cảm, có khẩu đội chỉ còn một, hai người sau trận bom thù vẫn tiếp tục giá súng trên mặt đất trống trải kịp thời bắn quét hạ gục từng toán địch. Ở các trận địa súng cối, bộ đội có sáng kiến xẻ rãnh dẫn khói, dùng mũ tai bèo bịt nòng súng mỗi khi có máy bay trinh sát địch bay qua, hoặc dùng dây cao su nịt nòng súng để giảm tiếng vang làm bọn địch khó phát hiện vị trí trận địa. Lực lượng súng máy phòng không dựng lên lưới lửa tầm thấp thiêu cháy nhiều máy bay địch, khiến cho chúng tung cả hỏa mù mà hàng hóa thả xuống từ máy bay vẫn rơi phần lớn ra ngoài cứ điểm. Chính tướng Lữ Lan tư lệnh quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy thú nhận: “ Hỏa lực của địch (tức quân giải phóng) khá mạnh nên đã ngăn trở việc vận chuyển bằng máy bay''. Sau 6 ngày đêm vây lấn Đắc Siêng, Trung đoàn 28 và hỏa lực tăng cường giết và làm bị thương 240 tên địch (có 20 cố vấn Mỹ), phá hủy hơn 50% công sự, nhà. cửa, làm cháy nổ nhiều kho tàng đạn dược, phá hỏng 2 khẩu đại bác 105mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 1 khẩu ĐKZ, bắn rơi 10 máy bay... buộc địch phải đưa quân lên ứng cứu giải tỏa đúng như dự kiến của ta. Xét thấy vây điểm đã kéo dược một lực lượng lớn quân địch vào khu quyết chiến và lực lượng vây lấn của ta không còn đủ sức đánh chiếm Đắc Siêng, ngày 6 tháng 4 Bộ tư lệnh tiền phương chiến thách ra lệnh cho Trung đoàn 28 rút lực lượng vây lấn trên hướng bắc - tây bắc ra để tập trung đánh quân ứng cứu, chỉ để lại một bộ phận chốt giữ núi Éc và khống chế sân bay. Cũng trong thời gian này, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 bám đánh địch đổ bộ ở khu vực Đắc Sang, núi Éc. Nhưng do cách đánh không phù hợp trước đối tượng địch liên tục luồn lách di chuyển nên tiểu đoàn chỉ thu được kết quả hạn chế. Trong khi Trung đoàn 28 đánh mạnh ở Đắc Siêng, phía nam Trung đoàn 66 do trung đoàn trưởng Hộ Đệ và chỉnh ủy Lê Ngọc Tuệ chỉ huy, bí mật ém quân kiên trì chờ đợi và kịp thời nổ súng tiêu diệt viện binh địch. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4, trung đoàn liên tục chặn đánh tiểu đoàn 1 biệt kích ứng chiến), tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42), tiểu đoàn 23 biệt động quân, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Nổi bật là trận đánh tiểu đoàn 23 ở điểm cao 763, diệt hầu hết tiểu đoàn này, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng và 3 cố vấn Mỹ. Khi tiểu đoàn 22 biệt động quân từ Đắc Còn vượt qua điểm cao 629 tiến vào điểm cao 763 ứng cứu đồng bọn, lập tức bị Tiểu đoàn 7 chặn đánh thiệt hại nặng. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị đánh địch phía trước, Đại đội 60 đặc công tập kích sở chỉ huy liên đoàn 2 biệt động quân diệt 90 tên; Đại đội 20 tập kích trận địa pháo ở Pô Kô Hạ, phá hủy 3 khẩu đại bác, diệt 50 tên. Ngày 7 tháng 4, địch tung tiếp tiểu đoàn 11 biệt động quân vào thay tiểu đoàn 22. Nhưng chúng vừa đến điểm cao 763 đã bị Tiểu đoàn 9 chặn đánh diệt 30 tên. Sau 9 ngày chiến đấu, Trung đoàn 66 đã diệt 973 tên, bắt 7 tên làm thất bại hoàn toàn âm mưu giải tỏa Đắc Siêng từ hướng nam của địch. Phối hợp với hướng chính, các đơn vị đặc công pháo binh chiến dịch tập kích vào sở chỉ huy hành quân của địch ở Đắc Tô, kiềm chế trận địa pháo lớn của chúng ở Plei Kần, Pô Kô Hạ rất hiệu quả. Trên hướng Gia Lai, Đắc Lắc chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương giáng những đòn đau vào bọn Mỹ, ngụy ở sân bay Tân Tạo, Cù Hanh, Aréa, hậu cứ liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 47 gây cho chứng nhiều thiệt hại. ------------------------------------------------------------------ 1. Năm 1969, quân địch ở Tây Nguyên bị loại khỏi vòng chiến đấu 47.747 tên (có 17.858 tên Mỹ), 475 tên bị bắt; 3.606 xe quân sự, 83 pháo cối lớn và 808 máy bay bị phá hủy, phá hỏng và bắn rơi; 1.343 khẩu súng và 144 vô tuyến điện bị tịch thu. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:11:08 am * Cuộc hành quân ''Tất thắng 17'' bị thảm bại. Để che giấu sự thật, ngày 12 tháng 4 địch tuyên bố giải thể cuộc hành quân này và mở tiếp cuộc hành quân ''Tất thắng 18''. Mặc dù đã cố bưng bít, nhưng những tin xấu từ Đắc Siêng vẫn rò rỉ làm cho 600 lính người Thượng ở Plei Ku phản chiến, không chịu lên ô tô đi ứng cứu động bọn, buộc chỉ huy địch phải tung trung đoàn 42 chủ lực vào tham chiến. Bị cấm trại nghiêm ngặt nhưng bọn lính vẫn tìm mọi cách đào ngũ. Chỉ riêng tiểu đoàn 3 chủ công có cố vấn Mỹ đi kèm cũng có tới 30 tên trốn trại, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng chống lệnh hành quân bị phạt tù. Sau khi đổ bộ tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) và tiểu đoàn biệt kích số 4 xuống tây bắc Đắc Siêng 2km nhằm chuẩn bị bàn đạp tiến lên núi Éc. Trong 2 ngày (14 và 15 tháng 4), địch dùng 111 lần chiếc máy bay bắn phá núi Éc nhỏ hẹp rồi thực hành đổ bộ tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42) xuống ngọn núi này. Âm mưu của chúng là chiếm ngọn núi có giá trị khống chế rộng ở bắc Đắc Siêng làm bàn đạp, phối hợp với bọn trong đồn phản kích đẩy ta ra khỏi thung lũng. Vì vậy chiến sự ở Đắc Siêng ngày càng trở nên quyết liệt và lan rộng. Trên hướng tây bắc, tiểu đoàn địch vừa đặt chân xuống đất đã bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 bám đánh, phai co cụm lại ở điểm cao 629. Ở phía bắc, tiểu đoàn 3 địch cũng bị các chiến sĩ chốt giữ núi Éc chặn đánh ngay từ đầu. Tình huống chiến dịch đã xuất hiện. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch quyết định tập trung lực lượng lên phía bắc Đắc Siêng tiêu diệt tiểu đoàn 1, ngăn chặn tiểu đoàn 3 sau đó chuyển sang tiêu diệt nốt tiểu đoàn này. Thực hiện lệnh chiến đấu, đêm 16 tháng 4 Trung đoàn 66 cơ động lên phía bắc Đắc Siêng cùng với Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 đánh địch ở khu quyết chiến mới. Ngày 18, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 được Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) phốil hợp, từ các trận địa vây chuyển sang tiến công tiểu đoàn 1 địch ở điểm cao 629. Do nghiên cứu địa hình và nắm địch chưa kỹ, kế hoạch hiệp đồng thiếu chặt chẽ, thông tin liên lạc không bảo đảm cho chỉ huy... nên trận đánh phải kéo dài suốt 5 ngày đêm. Ta phải tổ chức 6 đợt tiến công mới tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 1. Khi ta đánh tiểu đoàn 1, địch đổ bộ thêm tiểu đoàn 4 1 (trung đoàn 42) xuống tây bắc Đắc Siêng cùng với tiểu đoàn 3 từ núi Éc tiến sang điểm cao 629 ứng cứu đồng bọn. Nhưng trên đường truy diệt tàn binh tiểu đoàn , Đại đội 9 Tiểu đoàn 3 phát hiện được tiểu đoàn 4 địch, liền chuyển sang tiến công diệt 55 tên, số còn lại bị cối 120mm của ta bắn trúng đội hình bỏ chạy tán loạn. Ngày 21, tiểu đoàn 3 đi ứng cứu cũng bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 chặn đánh thiệt hại nặng phải tháo lui. Lúc 18 giờ ngày 22 tháng 4, trận đánh ở điểm cao 629 kết thúc thắng lợi, 300 tên địch bị diệt, 44 tên bị bắt, chỉ còn khỏang 60 tên liều chết chạy thóat về hướng Đắc Sang. Tiểu đoàn 1 của địch bị xóa sổ, thế trận của ta thêm vững chắc, tạo thuận lợi chuyển sang tiến công tiểu Đoàn 3 và tiểu Đoàn 4 địch. Đêm 22 tháng 4, Trung Đoàn 66 tập trung 2 tiểu Đoàn (7 và 8 ) bao vây tiểu Đoàn 3 trung Đoàn 42. Sau 2 ngày bị ta vây chặt ''vo tròn'', tập kích hỏa lực tiêu hao, gọi loa địch vận và tiểu đoàn 22 biệt động quân đi ứng cứu bị Tiểu đoàn 3 Trung Đoàn 28 chặn đánh đẩy lui, bọn lính tiểu đoàn 3 rất hoang mang. Thời cơ đã đến, ngày 25 và 26 Trung Đoàn 66 liên tục tập kích rồi chuyển sang tiến công "bóp bẹp'' tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn địch. Tiểu đoàn 3 là đơn vị chủ công của trung đoàn 42 ngụy, khi tham chiến có 450 tên, sau 5 ngày bị đánh có 338 tên chết, 82 tên bị bắt làm tù binh, chỉ còn 30 tên chạy thóat.1 Đây là một trận đánh không những có hiệu suất chiến đấu cao2 mà còn hoàn thiện thêm hình thức chiến thuật mới ''vận động bao vây tiến công liên tục'' của quân giải phóng Tây Nguyên. Trong khi hai Trung Đoàn (66, 28) tập trung tiêu diệt từng tiểu Đoàn địch, thì cuộc chiến dấu ở trận địa chốt chiến dịch núi Éc diễn ra vô cùng quyết liệt. Trên ngọn núi hình đế giày, có 2 mỏm (923 và 925) ở hai đầu, giữa là yên ngựa dài 200m, ta đã bố trí 2 chốt từ trước. Chốt phía nam yên ngựa có 15 cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 12 (Tiểu Đoàn 3 Trung Đoàn 28) do đại đội trưởng Xuân và Chính trị viên phó Hòa chỉ huy, bên cạnh có trận địa cối 82mm do khẩu đội trưởng Thám phụ trách. Chốt phía Đông nằm trên đỉnh mỏm 923 gồm 12 tay súng của Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 do đại đội phó Lê Minh Hồ chỉ huy và 5 chiến sĩ đại liên do tiểu đội trưởng Lương Xuân Thưởng phụ trách. Từ 10 giờ sáng ngày 15 tháng 4, sau khi dùng trực thăng và súng cối bắn dọn bãi, địch thực hành đổ bộ xuống yên ngựa. Khi chiếc trực thăng đi đầu vừa hạ cánh đã bị các chiến sĩ giữ chốt bắn cháy, diệt 1 cố vấn Mỹ và 2 tên ngụy, số còn lại bỏ chạy lên mỏm 925. Địch phản ứng mạnh, dùng máy bay, pháo cối đánh phá vào các chốt rồi tiếp tục đổ bộ. Nhưng cứ mỗi lần trực thăng địch tiếp đất là bị các tay súng bất ngờ xuất hiện trên mặt đất đã bị bom đạn cày xới ngổn ngang, lia những loạt đạn chính xác tiêu diệt. Với cách đánh này trong ngày đầu đã có 7 máy bay trực thăng bị phá hủy, hàng chục tên địch bị diệt, 16 súng và 5 vô tuyến điện bị tịch thu. Từ ngày 16 đến ngày 27 tháng 4, địch đánh phá rất dữ dội và tiếp tục đổ quân xuống núi Éc. Ngọn núi nhỏ bé rung chuyển dưới làn bom pháo địch, rừng cây bị cháy trụi, hố bom hố pháo chồng lên nhau? đất đá tơi vụn sém lửa na pan và sặc mùi chất độc hóa học. Nhưng cái tập thể nhỏ bé kiên cường chốt giữ vẫn tồn tại, các dũng sĩ luôn bất ngờ, kịp thời đánh trả mỗi khi địch xuất hiện. Hình ảnh dũng cảm của đại đội trưởng Xuân, đại đội phó Lê Minh Hồ, trung đội trưởng Trần Trọng Thóat, khẩu đội trưởng Lương Xuân Thưởng và các chiến sĩ Viên Đình Phúc, Lê Chí Vân, Mai Ngọc Xê, Nguyễn Đức Tại... băng qua lửa đạn rượt đuổi giặc, bên cạnh là những xác trực thăng ngùn ngụt cháy, mãi mãi in đậm trong tâm trí quân và dân Đắc Siêng. Những dũng sĩ núi Éc anh hùng gắn liền với chiến thắng oanh liệt Đắc Siêng đã ghi vào lịch sử kiên cường bất khuất của quân và dân Tây Nguyên những nét son tươi rói. 17 giờ ngày 27 tháng 4, lực lượng chốt giữ núi Éc bắn nốt 29 viên đạn cối còn lại vào mục tiêu địch rồi rút ra an toàn theo lệnh của cấp trên. Trong suốt 26 ngày đêm chiến đấu, các chiến sĩ chốt chiến dịch núi Éc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 153 tên địch, bắt 7 tên, bắn rơi và phá hủy 15 máy bay, thu 27 súng các loại và 6 vô tuyến điện. Cùng với chiến công của chốt hỏa lực Đại đội 13 (cối 82mm) và Đại đội 14 (súng máy phòng không) Trung Đoàn 28, khống chế sân bay Đắc Siêng nhiều ngày diệt 206 tên địch, bắn rơi 13 máy bay... các chiến sĩ núi Éc đã góp phần ngăn chặn, giam chân, thu hút một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch phát triển tiến công giành thắng lợi. Trên cơ sở kết quả đợt một chiến dịch, căn cứ vào thực lực của ta sau khi đưa một lực lượng đi làm nhiệm vụ quốc tế và âm mưu mới của địch; trong đợt hai chiến dịch Đắc Siêng (3.5-2.6) Bộ tư lệnh chiến trường chỉ để lại trên hướng chính hai trung Đoàn (28 thiếu và 40) tiếp tục đánh địch. Trung Đoàn 66 và Tiểu Đoàn 5 Trung Đoàn 24 được lệnh cơ động về bắc đường 18 hoạt động. Từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 5, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét "Bình tây 1'', ''Bình tây 2'', ''Bình tây 4'' vào khu vực nam - bắc sông Ia Đrăng, Binh trạm Nam và ''Bình tây 3" vào Binh trạm 4 nhằm đánh phá các căn cứ hậu cần B3. Mỗi cuộc hành quân chúng thường huy động từ 8 đến 11 tiểu Đoàn bộ binh, thiết giáp có máy bay, pháo binh chi viện rất mạnh nhằm triệt phá cơ sở hậu cần của chủ lực Tây Nguyên. Trước âm mưu và diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh Chiến trường kịp thời chỉ đạo các binh trạm, Trường Quân chính, cơ quan B3, các đơn vị sản xuất kiên quyết chống càn. Tại cánh Trung, ta kịp thời thành lập Ban chỉ huy chống càn (6.5), sử dụng Trường Quân Chính, Tiểu Đoàn 20, lực lương tân binh, bảo vệ kho, Viện Quân y 211, Xưởng dược X38 và bộ phận tăng gia của Trung Đoàn 24, Tiểu Đoàn 631, Tiểu Đoàn 26, 28 liên tục chặn đánh diệt 726 tên (có 350 tên Mỹ), làm bị thương 144 tên (có 52 Mỹ), phá 6 pháo lớn, 4 súng cối, 6 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 26 máy bay, thu nhiều vũ khí. Hướng Binh trạm 4 và Binh trạm Nam, ta diệt được từ 300 đến 400 tên địch, bắn rơi nhiều máy bay, phá hủy hàng chục xe quân sự. Mặc dù tiêu diệt được nhiều địch, bảo vệ sơ tán được thương bệnh binh, giữ được nhiều kho tàng, nhưng quân địch dã gây cho ta những tổn thất lớn về vật chất: phá hủy hàng trăm tấn lương thực, hàng hóa, cướp phá đốt trụi hàng nghìn héc ta hoa màu và hàng trăm nghìn gốc sắn, tàn sát hàng trăm trâu bò. ----------------------------------------------------------------- 1. Theo Báo cáo ''Diễn biến chiến dịch xuân hè 1970 tại Đắc Siêng của Trung Đoàn 66, B3''. Hồ sơ số 19-F10. 2. Trận đánh tiểu Đoàn 3 địch, Trung Đoàn 66 có 29 đồng chí hy sinh, 164 đồng chí bị thương. Trong số hy sinh có 1 cán bộ tiểu đoàn, 6 cán bộ đại đội, trung đội. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:14:28 am * Cuối tháng 4 năm 1970, tiếng súng diệt địch trên hướng Đắc Siêng còn đang nổ, cũng là lúc chiến sự bùng lên mạnh mẽ trên hướng Đông bắc Cam-pu-chia, nơi có chung hàng trăm kilômét biên giới với Tây Nguyên. Ngày 29 tháng 4, Mỹ, ngụy huy động một lực lượng rất lớn gồm sư đoàn 1 kỵ binh bay, sư Đoàn 25 bộ binh Mỹ và 6 sư đoàn (5, 25, 18, 7, 9, 21), 3 lữ đoàn (dù, lính thủy đánh bộ) 5 liên đoàn biệt động quân ngụy cùng nhiều xe tăng, pháo lớn, máy bay mở cuộc tiến công bất ngờ xâm lược Cam-pu-chia trên toàn tuyến biên giới. Mục tiêu của cuộc hành quân là tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của cách mạng miền Nam và khối bộ đội chủ lực Miền, phá hủy cơ sở hậu cần của ta, thực hiện kế hoạch ''Việt Nam hóa chiến tranh'', đồng thời đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Cam-pu-chia. Thực hiện tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương1, bộ dội ta được lệnh phối hợp chặt chẽ với bạn ''tiến mạnh về phía tây'', chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, dành liên tục không hạn chế, tạo một bước chuyển biến quan trọng về cục diện chiến lược có lợi cho ta và bạn trong một thời gian ngắn. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trưng ương Đảng, từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1970, ta phối hợp với bạn mở cuộc phản công lớn đánh trả quân địch ở vùng Đông Bắc Cam-pu-chia. Trên hướng Đông và Đông nam, ta tập trung 4 sư đoàn chủ lực Miền (1, 5, 7, 9) do đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục lám Chính ủy và đồng Chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Miền làm Tư lệnh. Hướng đông bắc, một lực lượng chủ lực của Chiến trường Tây Nguyên gồm: Trung đoàn 24, Trung đoàn 95, một số tiểu đoàn độc lập được lệnh tiến sang Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Giúp bạn là tự giúp mình'', với tình cảm quốc tế trong sáng thủy chung, cuối tháng 4 năm 1970 Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu Đoàn 5) được tăng cường Tiểu Đoàn 2 Trung đoàn 28 và 1 đại đội ĐKB, cối 120mm) do trung Đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước và Chính ủy Vũ Khắc Thịnh chỉ huy nhanh chóng rời Tây Nguyên sang Hạ Lào, đứng chân trong đội hình chiến đấu của Bộ tư lệnh 968 (Bộ tư lệnh mặt trận An Sơn)2. Nhiệm vụ trước mắt của Trung đoàn 24 là giải phóng thị xã A Tô Pơ, mở rộng địa bàn, bảo vệ đường hành lang chiến lược và tạo điều kiện cho cách mạng bạn phát triển. Mặc dù đường hành quân xa phải vượt núi băng sông, địa hình chưa quen thuộc, đối tượng địch mới lạ, ngôn ngữ bất đồng... nhưng với quyết tâm rất cao, lại được sự giúp đỡ của các đơn vị bạn và nhân dân địa phương nên trung đoàn đã nhanh chóng hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, khẩn trương bước vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. A Tô Pơ là một thị xã nhỏ (có khỏang l vạn dân) được sông Sê Kông bao bọc ba mặt (bắc, đông, nam) lưu thông với thị xã Saravan (phía bắc) và huyện Xiêmpạng (nước Cam-pu-chia) chủ yếu bằng đường sông. Phía đông thị xã có cụm điểm cao Phuxaphong (600m), phía tây cách 7km là cao nguyên Bôlôven. Tại A Tô Pơ, lực lượng địch có 2 tiểu đoàn bộ binh: 4BI phòng thủ phía bắc và BV43 chốt giữ Phuxaphong phía đông; ngoài ra còn 1 đại đội công tác vũ trang, 1 đại đội trinh sát, 2 trận địa pháo (ở nam điểm cao 1001 và đông bắc thị xã 4km), với tổng quân số khỏang 1.000 tên do đại tá Khăm Còm (ngụy Lào) chỉ huy. Thực hiện kế hoạch tác chiến, từ 24 giờ ngày 7 tháng 4 bộ đội ta đồng loạt tiến công 6 vị trí địch ở thị xã A Tô Pơ và vùng phụ cận. Trên hướng chủ yếu, hai tiểu đoàn 4 và 6 Trung đoàn 24 nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy 4BI, lám chủ hoàn toàn cứ điểm sau 40 phút tiến công. Thấy chỉ huy bị diệt, bọn địch ở hai đồn phía bắc bỏ chạy. Hiệp đồng chặt chẽ, khi tiếng bộc phá lệnh trên hướng chính nổ, các hướng khác đồng loạt nổ súng tiến công. Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) và đặc công đánh chiếm hai trận địa pháo; Tiểu đoàn 3 (quân tình nguyện Việt Nam ở Lào) đánh vào đồn địch bên bờ nam sông Sê Kông; Tiểu đoàn 4 đặc công tập kích vào các chốt ở Phuxaphong làm lửa cháy dữ dội. Phát huy thắng lợi, Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 2 có hỏa lực tăng cường tiến công các mục tiêu địch trong thị xã A Tô Pơ. Bọn ngụy Lào chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng tan rã. Tên đại tá Khăm Còm và đại đội văn phòng bỏ chạy về hướng cao nguyên Bôlôven, 600 tên địch đầu hàng quân cách mạng. Lúc 10 giờ sáng ngày 8 tháng 4, các chiến sĩ Đại đội 6 và Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm và cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh tỉnh trưởng, báo hiệu thị xã A Tô Pơ đã hoàn toàn giải phóng. Ngày 11 tháng 5, trước sự chứng kiến đồng đủ của Tỉnh ủy A Tô Pơ và các cơ quan quân, dân, chính địa phương bạn, Trung đoàn 24 bàn giao thị xã và toàn bộ chiến lợi phẩm thu được cho bạn, rồi nhanh chóng tiến lên phía bắc đánh địch trên cao nguyên Bôlôven. Trong những ngày tiếp theo, Trung đoàn 24 tổ chức trận địa phòng ngự trên đỉnh Phu Lăng Kẹo, một vị trí như bức bình phong bảo vệ thị xã A Tô Pơ. Địch cũng hiểu rõ giá trị của ngọn núi này. Vì vậy, từ ngày 8 đến ngày 13 tháng 5 chúng dùng một tiểu đoàn ngụy Lào có pháo binh ở căn cứ PS.38 và máy bay chi viện, liên tục tiến công lên chốt Phu Lăng Kẹo do Đại đội 13 phòng giữ. Các chiến sĩ giữ chốt chiến đấu rất dũng cảm, đẩy lùi hàng chục đợt tiến công của địch, đồng thời tích cực xuất kích ngắn đánh vào bên sườn phía sau đội hính tiến công của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực, giữ vững trận địa. Ngày 10 tháng 5, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 3) do tham mưu trưởng Trung đoàn 24 trực tiếp chỉ huy, trên đường chi viện cho chốt Phu Lăng Kẹo đã phục kích bắt sống toàn bộ 56 tên thuộc đại đội văn phòng, thu 56 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược. Đánh ngày không được, dịch chuyển sang đánh đêm. Tối 13 tháng 5 chúng dùng pháo bắn nghi binh, rồi bí mật cho một tiểu đoàn tập kích bất ngờ, chiếm trận địa chốt của ta: Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Sáu chỉ huy cơ động tiếp cận Phu Lăng Kẹo ngay trong đêm 13 rạng ngày 14 tháng 5. Lúc 6 giờ ngày 14, Tiểu đoàn 2 bất ngờ nổ súng, đồng loạt xung phong. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, khôi phục lại chốt Phu Lăng Kẹo, diệt 120 tên, thu 200 súng các loại, trong đó có 3 khẩu ĐKZ 75, 4 khẩu súng cối. Với chiến công xuất sắc trong trận đánh này, Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 được Quân khu Nam Lào tặng Huân chương Chiến công hạng hai. Bị tổn thất gần hai tiểu đoàn, bọn ngụy Lào phải từ bỏ ý định chiếm lại Phu Lăng Kẹo. Địch trong căn cứ PS.38 hoang mang bỏ chạy. Tiểu đoàn 2 tích cực truy kích, diệt một số vị trí địch trong khu vực, mở rộng vùng giải phóng thêm hàng chục kilômét vuông trên cao nguyên Bôlôven. Trong 15 ngày chiến đấu ở Hạ Lào, Trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường phối thuộc đoàn kết chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân bạn liên tục tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, giải phóng thị xã A Tô Pơ và vùng phụ cận. Trung đoàn đã được tặng Huân chương Quân công hạng ba và được Bộ tư lệnh Mặt trận An Sơn đánh giá ''hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vượt yêu cầu thời gian quy định''. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 17 tháng 5 năm 1970 Trung đoàn 24 (thiếu) được lệnh cơ động về Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch. Riêng Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) được giao nhiệm vụ ở lại A Tô Pơ giúp bạn phòng giữ thị xã và bảo vệ Chính quyền cách mạng. ------------------------------------------------------------------ 1. Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương họp ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1970. 2. Bộ tư lệnh mặt trận An Sơn do đại tá Hoàng Kiện (Tư lệnh phó Quân khu 4) làm Tư lệnh, thượng tá Ngọc Sơn làm Chính ủy; trung tá Tô Đình Khản và đồng chí Nguyễn Quốc Thước (trung đoàn trưởng Trung Đoàn 24) làm Tư lệnh phó. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:04:52 pm * Trung đoàn 24 hành quân sang Đông Bắc Cam-pu-chia vào lúc các đơn vị chủ lực Miền đang đánh bại một bước cuộc hành quân lớn của Mỹ, ngụy, giúp bạn giải phóng nhiều đánh, trong đó Sư đoàn 5 đang tiến về hướng Stung Treng. Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Xiêm Pạng tạo bàn đạp phối hợp với Sư đoàn 5 tiến công thị xã Stung Treng. Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 24 sử dụng Tiểu đoàn 4 và đại đội đặc công bí mật áp sát mục tiêu dịch. Đúng 5 giờ sáng, ta nổ súng. Sau ít phút, bộ đội đã tràn ngập căn cứ Xiêm Pạng, 450 tên địch bị bắt, toàn bộ vũ khí bị tịch thu. Thị trấn Xiêm Pạng được giải phóng, bọn lính ở các đồn bảo an trong vùng đều hốt hỏang bỏ chạy. Thực hiện lệnh cấp trên, đêm 19 tháng 5 Trung đoàn 24 để lại Đại đội 2 (Tiểu đoàn 4) ở lại Xiêm Pạng chờ bạn đến bàn giao, còn toàn bộ lực lượng lên 28 chiếc ca nô chở gạo của thương nhân Việt Kiều xuôi dòng Sê Kông tiến về hướng Stung Treng và lúc 10 giờ sáng hôm sau (20.5) đến cách thị xã 1km. Trung đoàn cho một bộ phận đánh chiếm sân bay Stung Treng và một bộ phận tiến về thị xã, nhưng Stung Treng vừa được đơn vị bạn giải phóng, Trung đoàn 24 được lệnh chuyển sang làm nhiệm vụ quân quản giúp bạn. Đồng chí Vũ Khắc Thịnh (Chính ủy trung đoàn) tham gia ban quân quản tỉnh được cử làm cố vấn chính trị; đồng chí Hà Đình Thuyên (tham mưu trưởng) làm chủ tịch quân quản thị xã Stung Treng. Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1970, Trung đoàn 24 để lại Tiểu đoàn 4 (thiếu) giúp bạn bảo vệ thành quả cách mạng, ổn định tình hình mọi mặt ở địa phương; đồng thời cơ động Tiểu đoàn 6, Đại đội đặc công và Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 do trung đoàn trưởng và phó chính ủy trung đoàn trực tiếp chỉ huy giải phóng tỉnh Prếtvihia. Đường đến Prếtvihia xa xôi, chủ yếu cắt rừng, vượt sông suối, địa hình lạ, khí hậu khắc nghiệt, ngôn ngữ bất đồng... nhưng được nhân dân giúp đỡ Trung đoàn 24 hành quân liên tục trong 10 ngày, vượt sông Mê Kông đến vị trí tạm dừng bước vào chuẩn bị chiến đấu ngay. Đối tượng tác chiến của đơn vị là 1 tiểu đoàn ngụy Lonnon, 1 đại đội cảnh sát cạnh dinh tỉnh trưởng và các đồn biên phòng dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. Nhìn chung khả năng tác chiến của địch hạn chế. Sau một thời gian chuẩn bị, đúng 0 giờ ngày 16 tháng 6, Tiểu đoàn 6 và Đại đội đặc công bất ngờ nổ súng tiến công tiểu đoàn địch ở Prếtvihia. Chỉ trong vòng 15 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ, bắt gọn 600 tên địch, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội cảnh sát và bọn lính ở nhiều đồn biên phòng hoang mang tan rã. Ta tiến đến đâu vùng giải phóng mở ra đến đó. Trong khi Trung đoàn 24 hoạt động mạnh trên hướng Stung Treng và Prếtvihia, từ ngày 3 đến ngày 27 tháng 6 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tập trung 4 tiểu đoàn (394, 2, 631, 1/95) tiến theo hướng đường 19 tây sang Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch. Các chiến sĩ Tây Nguyên và lực lượng bạn giải phóng tỉnh Ratanakiri, quận Chép, quận lỵ Cheyxeng, thị xã Tabomanchay. Ngày 27 tháng 6, đợt ba chiến dịch Đắc Siêng kết thúc, cũng là kết thúc toàn chiến dịch. Trong gần 3 tháng chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên liên tục cơ động đánh địch trên khắp chiến trường Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia. Ta đánh 1.519 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 13.715 tên địch (có 2.937 tên Mỹ, trong đó có tướng ba sao Jôn Đin - là tư lệnh công binh Mỹ ở miền Nam và tướng hai sao Ađam bị diệt, 589 tên ngụy Cam-pu-chia; 330 tên ngụy Lào), bắn rơi và phá hủy 316 máy bay, 771 xe quân sự (có 320 xe tăng, xe bọc thép), 68 pháo lớn, 211 lô cốt, 18 cầu cống, 54 kho đạn và xăng dầu, thu 1867 súng các loại và 62 vô tuyến điện. Đặc biệt, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên làm nhiệm vụ quốc tế. Với tinh thần trong sáng vô tư, trong gần hai tháng các chiến sĩ Tây Nguyên đã sát cánh cùng quân và dân hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia liên tục chiến đấu, giải phóng các tỉnh A Tô Pơ, Ratanakiri, Stung Treng, Prếtvihia góp phần mở rộng vùng giải phóng liên hoàn trung Đông Dương. Khu căn cứ cách mạng Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia nối liền, đường hành lang chiến lược xuyên Đông Dương được bảo vệ vững chắc, mở ra thế chiến lược mới của cách mạng mỗi nước, trong đó có Chiến trường Tây Nguyên. Với thành tích xuất sắc đó, tiếp sau chiến dịch Plei Me (1965) quân giải phóng Tây Nguyên lại vinh dự được nhận Huân chương Quân công hạng nhất; được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi. Phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm động viên của cấp trên là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Tây Nguyên hăng hái thi đua lập những chiến công mới. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:09:18 pm * Hè, thu năm 1970, Quân ủy Trung ương chỉ thị xây dựng căn cứ địa cho các chiến trường ở miền Nam và coi đây "là một nhân tố rất quan trọng để kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến lâu dài đến thắng lợi" cũng như để xây dựng kinh tế củng cố quốc phòng trong cả nước khi chiến tranh kết thúc thắng lợi''. Đối với Tây Nguyên, Quân ủy chỉ rõ: "Ý định của Trung ương là xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên và giúp bạn mở mang căn cứ địa Đông Cam-pu-chia và Hạ Lào thành một địa bàn vững chắc và có khả năng ngày càng lớn về kinh tế cũng như về quốc phòng, tăng thêm dự trữ ngoài này vào, mở mang nông nghiệp, từng bước xây dựng công nghiệp, mở mang đường giao thông bộ và thủy''1. Cũng trong thời gian này Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Khu ủy Chiến trường Tây Nguyên (gọi tắt là B6, nhưng do tình hình thay đổi nên nghị quyết không thực hiện được); đồng thời Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao cho Chiến trường Tây Nguyên phụ trách ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và trực tiếp giúp đỡ hai tỉnh Đông Bắc Cam-pu-chia (Stung Treng, Ratanakiri) và một số tỉnh Hạ Lào (A Tô Pơ, Si Thăn Đon, Chăm Pát Xắc). Về quân sự, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị B3 phải ''Chú trọng việc xây dựng chủ lực, chăm lo tăng cường lực lượng tại chỗ, chú trọng tổ chức đường sá, tổ chức tuyến hậu cần và chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm'', giữ vững và phát triển thế tiến công, cải thiện hơn nữa thế chiến lược của ta, uy hiếp địch hơn nữa, chuẩn bị cho đánh lớn trong thời gian tới. Quán triệt và thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 7 năm 1970, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết "Về phương hướng nhiệm vụ và công tác 6 tháng cuối năm 1970'', xác định rõ nhiệm vụ chiến lược cơ bản lâu dài của chiến trường là đẩy mạnh thế tiến công tiêu diệt địch, ra sức xây dựng củng cố hậu phương chiến lược vững mạnh toàn diện; tổ chức và đẩy mạnh việc sản xuất tự túc giúp bạn xây dựng củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt, khẩn trương xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ địa vững mạnh toàn diện. Cùng thời gian này, Đảng ủy Chiến trường ra nghị quyết ''Về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí Minh'', coi đây là công tác trọng tâm của xây dựng Đảng. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, trong suốt hè thu năm 1970 Bộ tư lệnh Chiến trường tổ chức củng cố mọi mặt, triển khai tập huấn quân sự, chính trị cho các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương, động viên toàn mặt trận thu hoạch một vụ mùa thắng lợi. Sau đợt tập huấn, bộ đội chủ lực bước vào diễn tập cấp tiểu đoàn bộ binh, bắn đạn thật cho hỏa lực đi cùng, hội thao kiểm tra kỹ thuật đều đạt kết quả tốt. Công tác tổng kết chiến dịch, chiến đấu được chú trọng. Tới cuối năm đã có 17 bản tổng kết hoàn thành, tập trung đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn đánh chiến đoàn, trung đoàn ngụy, các hình thức chiến thuật bao vây đánh lấn, tập kích, bao vây tiến công liên tục, đánh ấp, đánh giải tỏa, đánh giao thông, chống phá bình định gom dân; về kinh nghiệm trong nắm địch, công tác tham mưu cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tỉnh đội, kinh nghiệm sử dụng pháo binh, thông tin trong một số hình thức chiến thuật. Những kết quả nghiên cứu được đưa vào huấn luyện, góp phần nâng cao năng lực, trình độ chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và đơn vị, tích cực góp phần phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Để giữ vững căn cứ địa và đánh bại âm mưu đánh phá của địch, Bộ tư lệnh Chiến trường tổ chức ''Hội nghị bảo vệ căn cứ''. Hội nghị tập trung bàn các nhiệm vụ: đánh biệt kích thám báo, đánh máy bay bảo vệ hậu cứ, sản xuất, hành lang; lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ sẵn sàng đánh bọn Khơ Me phản động; đồng thời khoanh vùng bảo vệ giao cho các binh trạm, cụm kho đảm nhiệm và lập hệ thống chỉ huy thống nhất. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến tranh cách mạng, xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên ngày càng lớn mạnh. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn đặc công 400 (gồm 3 tiểu đoàn 20, 37, 9) giải thể Ban đặc công (thuộc Phòng Tham mưu B3), chuyển Tiểu đoàn 394 độc lập về Trung đoàn 95, bổ sung Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95 cho Tỉnh đội Gia Lai, khôi phục lại Trường Quân chính Tây Nguyên. Tiếp đó Đoàn vận tải quân sự 470 (chuyên làm nhiệm vụ ''vận chuyển hàng hóa, đưa khách ra vào, vận chuyển thương binh đi ra của B3, B2 và các tỉnh phía nam Quân khu 5 cũng như của cách mạng Cam-pu-chia''), Đoàn sản xuất 670 (có hai nhiệm vụ cơ bản là sản xuất và chiến đấu) và Đoàn 237 làm nhiệm vụ chuyên gia giúp lực lượng cách mạng Cam-pu-chia và Lào ở những vùng giáp chiến trường Tây Nguyên) cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động. Các đoàn 470, 670, 237 và Trung đoàn đặc công 400 đều trực thuộc Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường. Song song với nhiệm vụ củng cố, phát triển, nâng cao chất lượng mọi mặt lực lượng vũ trang ba thứ quân và xây dựng căn cứ địa; trong nửa cuối năm 1970, quân dân Tây Nguyên lại giành được nhiều thành tích trong chiến đấu. Sau thắng lợi của đợt hoạt động đánh biệt kích dọc hành lang, chống phá càn líp khắp ba tỉnh Tây Nguyên2; từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 20 tháng 10 ta sử dụng 8 tiểu đoàn, 10 đại đội bộ đội tỉnh và lực lương các huyện đội, du kích mở đợt tiến công mùa thu (H.25). Khi ta sắp nổ súng địch mở chiến dịch bình định đặc biệt với hàng chục cuộc hành quân càn quét khắp Tây Nguyên, trọng điểm là các khu 5, 6, 7 tỉnh Gia Lai. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Chiến trường chủ trương tập trung lực lương vũ trang địa phương kiên quyết đánh bại các cuộc càn quét của địch. Trên hướng Kon Tum, ta kịp thời chuyển hướng tiến công từ Măng Đen vào thị xã và ở phía tây thị xã, Hà Mòn, Đắc Vát. Tiểu đoàn 406 và Tiểu đoàn 304 đánh vào Trung Nghĩa, Hà Mòn, Đắc Vát, diệt ấp Đác Tem, Krông; phục kích diệt hàng chục tên địch trong cuộc hành quân ''Nguyễn Huệ'' ở vùng Đắc Mông, Đắc Hà; dùng ĐKB bắn vào sân bay Kon Tum, biệt khu 24 gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở Gia Lai, Tiểu đoàn 67 chặn đánh địch ở Khu 6; Tiểu đoàn 631 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 95) đánh mạnh ở Khu 5, Tiểu đoàn 2 và các đại đội công binh 17, 18 đánh cắt giao thông đường 19; các đại đội 59, 50 tập kích Quen Mép. Tại Đắc Lắc, Tiểu đoàn 301 tập kích ấp Phú Quang, Plei Quen, Plei Te; Tiểu đoàn 394 tập kích Haranga (nam Khu 6); lực lương tuyên truyền H3 đột nhập hai ấp Plei La Nú và Plei Sâm. Đợt hoạt động này ta loại kho vòng chiến đấu 3.178 tên địch (có 457 tên Mỹ) làm bị thương 91 tên, bắt 31 tên; bắn rơi và phá hủy 5 máy bay, 248 xe quân sự (có 81 xe tăng, xe bọc thép), 5 pháo lớn, 3 súng cối, 32 đại liên, thu 71 súng và 4 vô tuyến điện. Bộ tư lệnh Chiến trường đã đánh giá về đợt tiến công mùa thu: ''Trong tình hình địch ra sức tiến hành bình định đặc biệt, lực lương chủ lực cơ động củng cố, lực lượng địa phương phải hoạt động liên tục dài ngày, bảo đảm cơ sở vật chất có khó khăn, nhưng ta đã tăng cường nỗ lực, kiên quyết tấn công và duy trì được thế tấn công liên tục trên ba tỉnh, giữ vững và phát triển thế tấn công ở chiến trường nông thôn và đã từng bước giành được thắng lợi trong việc chống phá bình định gom dân của địch''. Cuối tháng 1l và trong tháng 12 năm 1970, khi địch càn vào Binh trạm Nam, các lực lương vũ trang địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 20 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 95)... mở đợt tiến công mùa Đông. Ta đánh mạnh vào các mục tiêu Hà Mòn, Đắc Vát (Kon Tum), chống bình định ở Khu 6 (Gia Lai), tiến công ở Buôn Hồ (Đắc Lắc) diệt nhiều sinh lực, phá hủy một số phương tiện chiến tranh, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân ra biên giới, rút toàn bộ lực lượng về đối phó. Trong khi tiếng súng diệt địch liên tục nổ ở Tây Nguyên, ở chiến trường Hạ Lào, Trung đoàn 28 cũng lập nhiều chiến công. Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1970, Trung đoàn 28 do trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước và Chính ủy Nguyễn Đằng chỉ huy, vượt qua những dãy núi đá tai mèo hiểm trở, chiếm lĩnh trận địa trên dãy Phu Luông, dũng cảm liên tục chiến đấu đánh bại cuộc hành binh ''Măng Con'' của 11 tiểu đoàn ngụy Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn chuyển sang tiến công đánh chiếm nhiều mục tiêu chủ yếu của địch trên dãy Phu Luông, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn thuộc sườn Đông cao nguyên Bôlôven, rồi trở về ngã ba biên giới kịp thời tham gia chỉnh huấn, chuẩn bị cho chiến dịch xuân hè 1971. ------------------------------------------------------------------ 1. Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân Đoàn 3. Biên niên sự kiện. Sđd, tr.226. 2. Đợt hoạt động này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 715 tên địch (có 134 tên Mỹ), bắt 20 tên, gọi hàng 821 tên, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, 70 xe quân sự, thu 319 súng các loại, giải phóng 700 dân. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:12:07 pm * Bị thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường Đông Dương trong năm 1970, nhất là việc mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, song đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn không cam chịu. Ngày 30 tháng l năm 1971, dưới sự chỉ huy của Mỹ, được không quân và một vạn lính Mỹ ở phía sau yểm trợ, cùng 4 tiểu đoàn ngụy Lào phối hợp, hơn ba vạn quân chủ lực ngụy Sài Gòn có 460 xe tăng, xe bọc thép, 250 pháo lớn, 700 máy bay mở cuộc hành quân lớn mang tên ''Lam Sơn 719'' đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Mục đích của cuộc hành quân là cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược của ta, hòng thực hiện âm mưu đen tối '''chiến tranh bóp nghẹt''; đồng thời chứng minh sự thành công của chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'', tạo thêm thế mạnh ép ta nhân nhượng trong cuộc đàm phán ở Pari. Đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình kiểu ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch. Để phối hợp với ''Lam Sơn 719'', quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy mở cuộc hành quân ra vùng biên giới, nhằm chiếm Tà Xẻng -Phi Hà (A Tô Pơ) triệt phá hành lang vận chuyển của ta, kết hợp với lính đánh thuê Thái Lan và ngụy Lào từ Pắc Xế đánh sang hòng chiếm Sa ra van, A Tô Pơ. Hướng Đông Bắc Cam-pu-chia địch huy động 25 tiểu đoàn bộ binh và 5 tiểu đoàn thiết giáp ngụy Sài Gòn và Lon Non mở cuộc hành quân ''Toàn Thắng'' (1.1971) ở khu vực đường 7 nhằm thu hút lực lượng và phá dự trữ hậu cần của ta ở vùng này. Để đánh bại cuộc hành quân ''Lam Sơn 719'' của địch, ta tập trung 5 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn đặc công, 20 trung đoàn binh chủng và nhiều đơn vị bảo đảm mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Trên các hướng Tây Nguyên, Đông Bắc Cam-pu-chia... các lực lượng vũ trang cách mạng được lệnh đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, phối hợp chiến trường. Tại Tây Nguyên, từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 2 năm 1971, quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy dùng 5 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo và 4 đại đội lẻ do bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn 22 chỉ huy, mở cuộc hành quân "Quang Trung 4'' vào vùng rừng núi thượng nguồn sông Sa Thầy. Đây là bước thăm dò và chuẩn bị bàn đạp để đánh ra vùng ba biên giới. Ngày l4 tháng 2, trung đoàn 42, tiểu đoàn 22 biệt động quân và 2 pháo đội đã ra Chư Hinh, sau đó chúng tăng lên 4 tiểu đoàn càn quét lùng sục vùng Cà Đin - Xóm 9 và hai bờ đông tây sông Sa Thầy. Từ ngày 24 đến ngày 28 tháng 2, địch chuyển hướng hành quân lên phía bắc tiến vào Ngọc Tô Ba. Do không gặp chủ lực ta nên quân địch khá chủ quan. Địch đã ra quân, trong khi ta đang gấp rút chuẩn bị mở chiến dịch ở vùng Đắc Siêng - bắc đường 181. Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch đã lên chỉ đạo triển khai những công việc cuối cùng. Các trung đoàn 28, 66, 40 đang vào cài thế trên hướng chính. Trước diễn biến mới về địch và được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 14 tháng 2, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định chuyển hướng chiến dịch từ phía bắc về phía nam đường 18, tập trung chủ lực tiêu diệt địch ở khu vực Ngọc Tô Ba, điểm cao 1030, 842. Với phương châm vây điểm, diệt điểm, diệt viện, lấy diệt viện làm chính, chiến dịch Ngọc Tô Ba phải đạt được mục đích đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn địch, thu hút giam chân nhiều lực lượng chủ lực, đập tan âm mưu đánh ra vùng ba biên giới của chúng, tích cực phối hợp với mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Trên các hướng phối hợp, ta đẩy mạnh phá ấp giành dân và tiến công địch rộng khắp ba tỉnh Tây Nguyên. Đây là một quyết định kịp thời đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế khách quan, vừa thuận lợi cho bộ đội tác chiến ở địa hình quen thuộc, vừa bảo đảm được hậu cần, thể hiện bản lĩnh dày dạn và mưu trí thao lược của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Thực hiện ý định tác chiến mới, ngay sau hội nghị quân chính toàn mặt trận (15.2) các trung đoàn 66, 28, 40 hành quân lật cánh trở lại phía nam đường 18 đánh địch. Khi ta hành quân vào khu vực tác chiến, cũng là lúc địch lập xong trận dịa pháo lớn, đưa sở chỉ huy trung đoàn 42 đến điểm cao 1030 và bắt đầu mở hai mũi tiến quân về phía hậu cứ của ta. Mũi một do tiểu đoàn 22 biệt động quân đaem nhiệm tiến về Điểm Năm vào vùng ba biên giới. Mũi hai có tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 tiến lên khu vực đểm cao 935. Nắm chắc mọi diễn biến về địch, Bộ tư lệnh Chiến dịch kịp thời ra lệnh cho Trung đoàn 66 sử dụng 2 tiểu đoàn (7 và 8 ) bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 42, dùng Tiểu đoàn 9 truy đuổi, ngăn chặn, bao vây tiểu đoàn 22 biệt động quân. Trung đoàn 28 từ phía bắc đường 18 chuyển xuống đứng chân ở Đắc Văng Kram sẵn sàng cơ động lên hướng điểm cao 1030 cùng Trung đoàn 66 đánh địch trong khu quyết chiến. Riêng Tiểu đoàn 3 vào triển khai ở Đông nam điểm cao 875 phối thuộc cho Trung đoàn 66 tiêu diệt tiểu đoàn 22 biệt động quân. Sau khi chặn đánh, bao vây, chiếm được một số công sự địch, 12 giờ 4 phút ngày 1 tháng 3 Trung đoàn 66 đồng loạt tiến công vào tiểu đoàn 1 ở điểm cao 935 và làm chủ trận địa lúc 13 giờ cùng ngày. Tiểu đoàn địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy theo hai hướng tây bắc và đông nam bị Đại đội 5 (Tiểu đoàn 8 ), Đại đội l (Tiểu đoàn 7) cùng phân đội 12,7mm truy diệt hầu hết, chỉ còn một số tên chạy được về trận địa pháo ở điểm cao 1030. Nhưng trận địa pháo này lại bị súng cối và ĐKZ của Trung đoàn 66 bắn phá mạnh, phá hủy 4 khẩu đại bác 105mm, diệt nhiều tên. 16 giờ trận đánh kết thúc, 354 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 125 khẩu súng các loại và 21 vô tuyến điện bị tịch thu, 5 máy bay bị bắn rơi. Đây là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước tiến bộ mới về tốc độ đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực trong chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục ở địa hình rừng núi Tây Nguyên2. Bị đòn phủ đầu chóang váng, địch vội vã đổ bộ tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 1030, xua tiểu đoàn 22 biệt động quân đi ứng cứu, tung tiểu đoàn 4 trung đoàn 42 xuống phía nam Plei Kần 6km. Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương dùng Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) bao vây chặt tiểu đoàn 2 địch ở điểm cao 1030, tập trung hai tiểu đoàn 7, 9 (Trung đoàn 66) và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 28 ) vây diệt tiểu đoàn 22 biệt động quân ở bắc điểm cao 935 khỏang 1km. Do tổ chức vây không chặt, Tiểu đoàn 9 chỉ diệt được khỏang 100 tên của tiểu đoàn 22, số còn lại chạy thóat về Plei Kần đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3. Sau khi tiểu đoàn 1 bị diệt, tiểu đoàn 22 biệt động quân phải tháo chạy, địch đổ tiếp 2 tiểu đoàn 3 và 4 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 830 tây bắc Ngọc Tô Ba nhằm yểm trợ cho tiểu đoàn 2 rút chạy. Phán đoán đúng âm mưu của địch, ta sử dụng Tiểu đoàn 8 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 bí mật phục kích ở bắc điểm cao 1030 để diệt tiểu đoàn 2, đồng thời dùng 2 tiểu đoàn 1 và 2 (Trung đoàn 28 ) bao vây chặn diệt tiểu đoàn 2 và 3 trung đoàn 42 vừa đổ xuống. Đúng như dự đoán của ta, lúc 17 giờ ngày 4 tháng 3 đội hình rút lui của tiểu đoàn 2 địch lọt vào trận địa phục kịch, bị đánh tan tác. Do trời tối, nên trận đánh kéo dài đến 10 giờ sáng hôm sau (5.3) mới kết thúc. Phần lớn tiểu đoàn 2 địch bị diệt, một bộ phận nhỏ có tên tiểu đoàn trưởng lều chạy về phía nam được trực thăng đến cứu, hai toán khác chạy về phía Đông bị Tiểu đoàn 3 và các lực lượng trinh sát, công binh, pháo binh truy diệt. Sau 15 giờ chiến đấu, ta diệt 230 tên địch, bắt 73 tên, thu 125 súng và 19 vô tuyến điện. Sáu ngày đầu ra quân, địch bị mất 1 tiểu đoàn, 2 tiểu đoàn bị tiêu hao thiệt hại nặng, 736 tên bị diệt, 180 tên bị bắt, 12 máy bay bị bắn rơi, 16 xe và 9 pháo cối lớn bị phá hủy. Lúng túng, hoang mang, ngày 5 tháng 3 chỉ huy sư đoàn 22 ngụy buộc phải rút nốt hai tiểu đoàn 3, 4 khỏi khu vực điểm cao 830. Cuộc tiến công ra vùng ba biên giới để phối hợp với cuộc hành quân ''Lam Sơn 719'' của quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy bị đập tan ngay từ giai đoạn triển khai. Ngay khi giai đoạn một chiến dịch Nam đường 18 vừa kết thúc, Quân ủy Trung ương đã gửi điện khen ngợi các đơn vị vừa làm nên chiến thắng Ngọc Tô Ba: ''Đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng''. Phấn khởi, tự tin cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên lại hăm hở bước vào chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới. ------------------------------------------------------------------ 1. Theo kế hoạch cũ, Chiến trường Tây Nguyên được tăng cường Sư đoàn 2 Quân khu 5, mở chiến dịch ở khu vực Đắc Siêng - bắc đường 18 vào cuối tháng 3.1971. Khi địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên không được tăng cường lực lượng. 2. Trận này, Trung đoàn 66 có 22 đồng chí hy sinh, 60 đồng chí bị thương. Tiêu thụ 52 viên đạn B40, B41; 168 viên đạn cối 82, 60mm; 6 bình phun lửa; 361 lựu đạn thủ pháo... Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:13:44 pm * Sau thất bại ở Ngọc Tô Ba, địch phải rút về tuyến phòng ngự đường 18: Plei Kần, Đắc Mót, Tân Cảnh và giữ khu điểm cao Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương tranh thủ thời cơ thuận lợi, phát huy thắng lợi và quyền chủ động, chuyển từ phản công sang tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, buộc chúng phải bị động tập trung binh lực đối phó, từ bỏ ý đồ đánh ra vùng ba biên giới. Ý định chiến dịch trong đợt hai của ta là: bí mật, bất ngờ tiến công tiêu diệt cứ điểm Ngọc Rinh Rua, biến vị trí có giá trị chiến thuật chiến dịch này thành cái ngòi buộc địch phải ra giải tỏa, dụ địch vào khu quyết chiến ở phía bắc, Đông - Đông bắc, đông nam (Ngọc Rinh Rua). Tập trung lực lượng bố trí sẵn thành thế trận, đánh diệt từ 2 đến 3 tiểu đoàn địch bằng chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục và vận động tiến công kết hợp chốt. Tranh thủ thời gian quý giá giữa hai đợt chiến dịch, ta củng cố và huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu nhất cho bộ đội theo phương án đánh địch trong công sự vững chắc trên điểm cao bằng bao vây đánh lấn; đồng thời tích cực chuẩn bị chiến đấu. Riêng các đơn vị chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên được lệnh đẩy mạnh tiến công. Trên hướng trọng điểm giành dân ở Gia Lai, từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4, Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn đặc công 20 và các tiểu đoàn 394, 301, 67, bảy đại đội lẻ, các huyện đội, du kích liên tục tiến công dịch ở Phú Nhơn, Phú Thiện, ngã ba Mỹ Thạch. Trong một tháng rưỡi chiến đấu, ta diệt quận lỵ Phú Nhơn, tiểu đoàn 2 trung đoàn 45, 6 đại đội, 3 trung đội, 1 cụm xe pháo, 1 đội bình định; đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, 1 chi đoàn thiết giáp và 3 đại đội; đánh tiêu hao 2 tiểu đoàn (1, 4/45), 3 đại đội; loại khỏi vòng chiến đấu 2.341 tên (có 46 tên Mỹ), bắt 154 tên, phá hủy 86 xe quân sự (có 42 xe tăng, xe bọc thép), 12 pháo cối lớn, 2 kho đạn, bắn rơi 14 máy bay, thu 238 súng các loại và 10 vô tuyến điện; giải phóng 7.453 dân. Các hướng khác, ta tập kích địch ở Hà Mòn, Đắc Vát, Plei Lăng Lô (Kon Tum), kho Mai Hắc Đế, chốt Buôn Hđốt, Buôn Kly, đột nhập dinh điền Quảng Trạch (Đắc Lắc)... diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, giải phóng 3.500 dân. Được chiến thắng vang dội ở Mặt trận Đường 9 - Nam Lào và những chiến công giòn giã của quân dân Tây Nguyên cổ vũ, cán bộ, chiến sĩ trên hướng chính bước vào đợt hai chiến dịch với quyết tâm rất cao. Mở đầu đợt hoạt động, 5 giờ sáng ngày 31 tháng 3 Tiểu đoàn 7, Đại đội 19 đặc công và Đại đội 15 ĐKZ của Trung đoàn 66 từ bốn hướng đồng loạt nổ súng tiến công tiểu đoàn hỗn hợp của địch ở điểm cao 1001 Ngọc Rinh Rua. Trên hướng chủ yếu đông bắc, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Doãn và Chính trị viên Lê Bảy chỉ huy, dùng mìn ĐH10 và bộc phá mở thông 5 hàng rào kẽm gai. Khi bộc phá viên lên đánh hàng rào cuối cùng thì 2 khẩu đại liên địch bất ngờ xuất hiện bắn chéo cánh sẻ bịt cửa mở, làm một số chiến sĩ thương vong. Lập tức, đại đội trưởng Nguyễn Văn Doãn dũng cảm mưu trí dùng B40 dập tắt 2 hỏa điểm nguy hại, yểm trợ cho tiểu đội trưởng mở cửa Vương Văn Chài ôm bộc phá đánh bung hàng rào cuối cùng. Cửa mở vừa thông, Nguyễn Văn Doãn và Vương Văn Chài dẫn đầu đội hình đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi phát triển sang khu cố vấn. Hướng thứ yếu phía Đông gặp khó khăn, Trung đoàn kịp thời cho Đại đội 3 cơ động theo cửa, mở của Đại đội 2 vào bên trong đánh địch. Sau ba đợt tiến công, đến 10 giờ 30 phút ta chiếm được hai phần ba cứ điểm, địch dồn về phía tây nam ngoan cố chống cự. Để cứu nguy cho đồng bọn ở Ngọc Rinh Rua, địch dùng pháo binh, máy bay đánh phá mạnh vào xung quanh cứ điểm và các khu vực cửa mở. Nhưng các trận địa pháo ở Tân Cảnh, Đắc Tô, Plei Kần, Đắc Mót vừa phát hỏa đã bị pháo của Trung đoàn 40 bắn trả chính xác, phá hủy 6 khẩu đại bác, 5 xe làm chết hàng chục pháo thủ. Từng tốp máy bay AD6, A37 lao đến giội bom, hàng chục máy bay trực thăng đến bắn rốc két và đạn 20mm vào trận địa ta, bị súng máy phòng không và súng bộ binh đánh trả quyết liệt. 11 giờ, 2 chiếc trực thăng đều chết sà xuống định bốc bọn chỉ huy, lập tức Vương Văn Chài giương súng bắn rơi l chiếc; chiếc còn lại vừa chạm đất đã bị đạn cối bắn trúng, bốc cháy. Trong trận đánh này, chiến sĩ Vương Văn Chài đạt danh hiệu ''Dũng sĩ 5 nhất'': mở cửa thông trước nhất, đánh chiếm lô cốt đầu cầu trước nhất, bắt tù binh trước nhất, bắn rơi máy bay trước nhất và đánh vào sở chỉ huy địch trước nhất. 15 giờ, ta mở đợt tiến công cuối cùng. Sau ít phút hỏa lực chuẩn bị ngắn, 4 mũi tiến công của 3 đại đội 2, 3, 1 đồng loạt xung phong đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn, trận địa pháo, khu thông tin. Trước sức tiến công mạnh của ta, địch bị chia cắt, rối loạn, chống cự yếu dần rồi rút chạy về hướng đông nam. Mặc dù cho máy bay đến ném bom mạnh vào xung quanh cứ điểm và thả hỏa mù tạo màn khói ngụy trang cho bọn tàn quân tháo chạy, nhưng ta đã phục sẵn ''cất vó'' toàn bộ. 16 giờ trận đánh kết thúc. Tiểu đoàn hỗn hợp địch gồm tiểu đoàn 4 (thiếu 2 đại đội), 1 đại đội bảo an, 1 đại đội pháo (thiếu 1 trung đội, thuộc tiểu đoàn 63) bị tiêu diệt hoàn toàn; 220 tên bị chết, 34 tên bị bắt, 5 máy bay bị bắn rơi, 4 pháo 105mm và nhiều súng đạn, đồ dùng quân sự bị tịch thu. Ngày hôm sau (1.4) những khẩu pháo chiến lợi phẩm ở Ngọc Rinh Rua được Đại đội 8 Trung đoàn pháo binh 40 quay nòng và bắn 104 quả đạn vào 2 căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trận tiến công Ngọc Rinh Rua là một trận đánh xuất sắc. Đây là lần dầu tiên ta tiến công cứ điểm có công sự vững chắc trên điểm cao trong tầm phi pháo ác liệt giữa ban ngày. Thắng lợi của trận đánh không những đã đập tan một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ tây nam Đắc Tô, Tân Cảnh của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, mà còn mở ra khả năng cho chủ lực Tây Nguyên tiến lên tiêu diệt những căn cứ có công sự vững chắc lớn hơn trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:15:36 pm * Mất chiếc lá chắn Ngọc Rinh Rua, lại bị pháo binh ta uy hiếp mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Từ ngày 31 tháng 3 đến ngày 5 tháng 4, chúng huy động một lực lượng lớn binh lực ở Tây Nguyên thành lập 5 chiến Đoàn (41, 44, 47, 53 và biệt động quân) liên tiếp phản kích ra khu vực Ngọc Rinh Rua nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, bảo vệ căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh. Quân đoàn 2 ngụy cũng di chuyển sở chỉ huy nhẹ lên Tân Cảnh để trực tiếp chỉ huy phản kích. Phán đoán đúng âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời điều chỉnh đội hình chiến đấu, tập trung lực lượng đánh bại từng chiến đoàn địch. Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 4, Trung đoàn 66 liên tục tiến công chiến Đoàn 41: bao vây khống chế tiêu hao tiểu đoàn 1 đổ bộ xuống Ngọc Rinh Rua, chặn đánh tiểu đoàn 2 từ Đắc Tô qua Đắc Ri Peng lên và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 4; diệt khỏang 600 tên, bắt 22 tên, bắn rơi 7 máy bay, thu 90 súng và 7 vô tuyến điện. Cùng thời gian này, pháo binh ta đánh mạnh vào Đắc Tô, Tân Cảnh, Plei Kần khống chế các trận địa pháo, phá hoại cơ sở hậu cần, uy hiếp sở chỉ huy hành quân... hỗ trợ đắc lực cho bộ binh chiến đấu. Ngày 4 tháng 4, cuộc hành quân giải tỏa của chiến đoàn 41 thất bại hoàn toàn. Bị thất bại liên tiếp, địch cố tìm cách gỡ. Ngày 5 tháng 4 chúng tung chiến đoàn 53 vào trận. Cùng lúc đổ bộ 2 tiểu đoàn của chiến đoàn này xuống Ngọc Rinh Rua và Ngọc Rinh Rong, tiểu đoàn 11 biệt động quân được tung ra phía bắc điểm cao 887 bảo vệ sườn đông đội hình phản kích. Ngày hôm sau từ bàn đạp này địch tiến về hướng Ngọc Rinh Rua. Quá trình chiến đoàn 53 đổ bộ và tiến quân địch dùng pháo binh và huy động tới 50 lần chiếc máy bay phản lực; có hàng chục lần chiếc B52 chi viện. Nắm chắc mọi diễn biến về địch, Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch kịp thời ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 311 chặn diệt cánh quân từ Ngọc Rinh Rong lên giải tỏa và tiếp tục dùng Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 vây hãm Ngọc Rinh Rua. 15 giờ ngày 7 tháng 4, tiểu đoàn 4 địch lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 9 Trung đòn 31 và bộ phận chặn đầu của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 ở điểm cao 821. Do hiệp đồng chưa chặt nên trong 1 giờ tiến công ta chỉ diệt được 150 tên địch, bắt 3 tên. Ngày 8 tháng 4, chiến đoàn 53 rút chạy khỏi khu chiến. Hai lần giải tỏa Ngọc Rinh Rua đều thất bại, địch vội vã đưa trung đoàn 47 lên Đắc Tô, tăng lực lượng tham chiến lên 16 tiểu đoàn bộ binh và 9 pháo đội. Ngày 9 tháng 4, địch tập trung 2 chiến đoàn, tiến theo hai hướng lên giải tỏa Ngọc Rinh Rua. Chiến đoàn 47 từ Đắc Tô vượt sông Pô Kô chiếm Đắc Ri Peng và bắc điểm cao 702. Cùng lúc chiến đoàn 44 cũng vượt sông Pô Kô tiến theo hướng Đắc Ri Lốp lên điểm cao 717, qua sườn nam điểm cao 702 lên Ngọc Rinh Rua. Trong 2 ngày (9 và 10), Trung đoàn 28 tích cực bao vây tiến công, tiêu diệt hầu hết tiểu đoàn 1, tiêu hao tiểu đoàn 2 và 3 chiến đoàn 47. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 31 cũng diệt gọn 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 4 chiến đoàn 44. Riêng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 chưa tích cực lùng sục truy diệt để địch chạy thóat. Bị đòn đau, ngày 10 tháng 4 Mỹ dùng B52 ném bom rải thảm vào khu chiến nhằm xóa dấu vết bại trận. Ngày 11 và 12 hai chiến đoàn 44, 47 rút chạy khỏi khu chiến. Tập trung hầu hết lực lượng cơ động của quân đoàn 2, quân khu 2 giải tỏa Ngọc Rinh Rua đều thất bại. Cứ điểm 1001 vẫn bị vây chặt, tuyến phòng ngự cơ bản tiếp tục bị uy hiếp mạnh, buộc địch phải điều lữ đoàn dù số 2 lên Tây Nguyên, đồng thời vét tiểu đoàn 3 ở Mỹ Thạch và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ở Dục Mỹ lên Kon Tum mở cuộc hành quân giải tỏa lần thứ 4. Ngày 13 tháng 4, dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiền phương quân đoàn 2 ngụy ở Tân Cảnh, 3 chiến đoàn hành quân theo ba hướng tiến lên Ngọc Rinh Rua: chiến đoàn 44 hướng bắc, chiến đoàn 41 hướng đông và chiến đoàn dù hướng nam. Địch ra quân đông và sớm hơn dự kiến. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch nhận thấy ý định tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm 1001 Ngọc Rinh Rua lần 2 không còn phù hợp, vì vậy chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt cho được 1 tiểu đoàn dù - một thắng lợi có ý nghĩa chính trị, đồng thời tiếp tục vây hãm Ngọc Rinh Rua và kiềm chế các cánh quân còn lại bằng pháo cối. Trong đợt này diễn ra một số trận đánh vừa và nhỏ của 2 tiểu đoàn 8, 9 Trung đoàn 66 và 1 trung đội thuộc Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31, tiêu diệt tiểu đoàn 3, tiêu hao tiểu đoàn 4 chiến đoàn 41, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, bắt 7 tên, thu 71 súng và 8 vô tuyến điện. Xét thấy tập trung lực lượng tiếp tục đánh địch trên hướng chính không hiệu quả, nửa cuối tháng 4 Bộ tư lệnh chiến dịch lần lượt cho các trung đoàn rời khỏi khu chiến về phía sau củng cố, chuẩn bị cho đợt 3 chiến dịch. ------------------------------------------------------------------ 1. Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5 được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên từ cuối tháng 3 đến tháng 6 năm 1971. Trung đoàn 31 tiền thân là Trung đoàn 64 Sư đoàn 320A, vào chiến trường Khu 5 từ tháng 1.1966, nay thuộc Sư đoàn 309, Quân đoàn 4. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:16:25 pm * Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 20 tháng 5 đợt 3 chiến dịch xuân hè 1971 ở Tây Nguyên mở màn. Trên hướng chính, lúc 3 giờ 30 phút ngày 22 tháng 5 Trưng đoàn 28 được phối thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn đặc công 400, bất ngờ tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 42 ở điểm cao 1338 nhằm kéo quân địch ra giải tỏa để ta tập trung lực lượng tiêu diệt ở khu quyết chiến đông - đồng bắc. Do tổ chức chỉ huy chiến đấu thiếu chặt chẽ, tư tưởng chiến thuật quán triệt chưa sâu, không có lực lượng luồn lót sẵn nên cả 4 mũi đốt phá đều không thành công, đội hình bị ùn tắc trước cửa mở, thương vong cao. Trời sáng dần, ta vẫn chưa chiếm được đầu cầu nên Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 28 chuyển sang bao vây, tiêu hao, chuẩn bị thêm để tiến công tiếp và sẵn sàng diệt viện. Để cứu nguy và giữ 1338, từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 5, quân đoàn 2 ngụy huy động 2 chiến đoàn (40 và biệt động quân) cùng một số đơn vị binh chủng với lực lượng 10 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội do bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn 22 chỉ huy, mở cuộc hành quân giải tỏa mang tên ''Quyết thắng 22''. Địch tiến quân theo hai hướng. Hướng chủ yếu, chiến đoàn 40 chiếm Ngọc Non và điểm cao 978; hướng thứ yếu, chiến đoàn biệt động quân đổ xuống điểm cao 1001, 1089 rồi cùng tiến về phía điểm cao 1338. Chúng tiến rất dè dặt, chậm chạp. Ngày 1 tháng 6, Trung đoàn 28 tiến công địch ở điểm cao 1338 lần thứ hai. Do mở cửa chưa sạch, tổ chức hiệp đồng giữa bộ binh và hỏa lực, giữa các mũi không chặt, chỉ huy thiếu sâu sát, xử lý tình huống chậm nên hướng Tiểu đoàn 1 mở được 5 lớp rào lại bị địch ngăn chặn, thương vong nhiều, bộ đội phải chuyển sang bao vây để đánh giải tỏa. Trong những ngày nửa đầu tháng 6, địch tập trung 13 tiểu đoàn bộ binh tổ chức thành 5 chiến đoàn, đưa 3 chiến đoàn đi giải tỏa cho 1338. Trước diễn biến mới về địch, ta nhanh chóng củng cố lực lượng, điều chỉnh đội hình chuyển sang đánh vận động, phục kích tiêu hao, diệt hàng trăm tên địch thuộc các tiểu đoàn 7, 1, 2. Sau một số trận đánh vừa và nhỏ, lực lượng ta bị tiêu hao, sức khỏa bộ đội giảm sút. Nhận thấy khả năng tiêu diệt tiểu đoàn địch khó khăn, ngày l4 tháng 6, Bộ tư lệnh Chiến trường chủ động kết thúc chiến dịch trên hướng chính. Phối hợp tác chiến, trong đợt ba chiến dịch, hai trung đoàn 24, 95, các tiểu đoàn 406, 304, 631, 2 đẩy mạnh tiến công, đánh nhiều trận vừa và nhỏ, phá hoại nhiều phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng một số ấp. Sau ba tháng rưỡi chiến đấu, chiến dịch Ngọc Tô Ba - Ngọc Rinh Rua thu được thắng lợi to lớn. Với 1.107 trận đánh lớn nhỏ, quân dân Tây Nguyên đã diệt 6 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 8 tiểu đoàn, đánh tiêu hao 12 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 11.152 tên địch (có 229 tên Mỹ), bắt 730 tên; phá hủy 600 xe quân sự (có 190 xe tăng, xe bọc thép), 57 pháo cồn lớn, 20 kho, bắn rơi và phá hỏng 110 máy bay, thu 1.240 súng các loại và l37 vô tuyến điện; giải phóng 20.725 dân, đưa hàng nghìn lượt người dân tham gia đấu tranh chính trị, nổi dậy phá ấp giành quyền làm chủ. Đây là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta mở một chiến dịch phản công đánh bại hoàn toàn một cuộc tiến công lớn của địch và chuyển từ phản công sang tiến công địch thắng lợi. Về chiến dịch này, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đã nhận xét: ''Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ cả chiến dịch, đã đạt được các mục địch đề ra, đạt được những chỉ tiêu cơ bản của chiến dịch, đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện có ý nghĩa chiến lược''. Một nguyên nhân thắng lợi và là điểm đặc sắc trong chiến dịch này là ta đã tổ chức được thế trận vững chắc, sâu và hiểm trên hướng chính ngay sát tuyến phòng ngự cơ bản của địch. Với thế trận tốt, chỉ huy mưu lược đã tăng thêm lực cho ta. Vì vậy, chỉ với 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cuối chiến dịch tăng thêm 1 trung đoàn bộ binh trên hướng chính, ta đã đánh bại chủ lực quân đoàn 2, quân khu 2 và tổng dự bị quân ngụy đông gấp 3 lần có máy bay pháo binh chi viện mạnh, đã tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng, tiêu hao 17 tiểu đoàn trong số 26 tiểu đoàn của 9 trung đoàn, liên đoàn địch. Qua cuộc đọ sức ở Ngọc Tô Ba-Ngọc Rinh Rua đã khẳng định: bộ đội chủ lực Tây Nguyên mạnh hơn hẳn chủ lực quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy, đồng thời mở ra khả năng đánh tiêu diệt lớn quân địch ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:18:14 pm * Tháng 7 năm 1971, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết "Về quán triệt tình hình nhiệm vụ nỗ lực phấn đấu, quyết tâm đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên'' và '' Quyết tâm phấn đấu giành thắng lợi vụ mùa 1971''. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, những tháng cuối năm 1971 Bộ tư lệnh Chiến trường chỉ để lại một số đơn vị chủ lực tại chỗ cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục duy trì các hoạt động tác chiến, đánh vào hậu cứ kho tàng, đường giao thông, căng kéo địch. Còn toàn bộ khối chủ lực tập trung về hậu cứ củng cố, huấn luyện, tăng gia sản xuất thu hoạch vụ mùa. Từ tháng 8, toàn mặt trận bước vào đợt tập huấn, huấn luyện, củng cố toàn diện về chính trị tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật, chiến thuật theo phương châm ''lấy chính trị làm cơ sở, cán bộ làm trung tâm, kỹ chiến thuật là quan trọng, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ là quyết định''. Về huấn luyện quân sự, cán bộ trung, cao cấp từ tiểu đoàn trở lên được tập huấn chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục, bao vây đánh lấn, đánh giải tỏa, đánh giao thông, cách đánh diệt chiến đoàn địch. Cán bộ tỉnh đội tập trung huấn luyện các nội dung đánh giải tỏa, chiến thuật đánh ấp. Từ tháng 10 tập trung huấn luyện cán bộ cấp đại đội, trung đội về chiến thuật đánh công sự vững chắc với các nội dung: mở cửa, đánh chiếm đầu cầu, chiến đấu bên trong. Thời gian này, việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật từng người, tổ, tiểu đội đến trung đội, đại đội được chú trọng. Các đơn vị đặc công tập trung học kỹ, chiến thuật binh chửng, đánh bám trụ. Pháo binh, phòng không rèn luyện kỹ thuật bắn, đánh hiệp đồng trong đội hình của bộ binh, đánh bám trụ và đánh bộ binh. Các đơn vị thông tim, công binh, hóa học đều rèn luyện theo yêu cầu đánh hiệp đồng trong đội hình tiểu đoàn, trung đoàn và chiến dịch. Cuối năm, các đơn vị chủ lực thực hành diễn tập đánh địch trong công sự vững chắc ở khu vực Đắc Son, điểm cao 1048 và khu vực gần biên giới Việt - Lào; các tỉnh đội tổ chức hội thao chiến thuật, kỹ thuật đạt kết quả tốt. Đây là lần đầu tiên ở Mặt trận Tây Nguyên, bộ đội có một thời gian khá dài tập trung củng cố, huấn luyện khá cơ bản, toàn diện, nâng cao chất lượng mọi mặt. Tư tưởng tiến công, quyết tâm dành tiêu diệt, tác phong chiến đấu: ''Xuất kích kiên quyết - Xung phong mạnh mẽ - Bám trụ kiên cường - Tiêu diệt triệt để - Đoàn kết và chủ động hiệp đồng" đã thấm sâu vào mỗi cán bộ, chiến sĩ. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy chiến trường, trên mặt trận sản xuất, bảo đảm hậu cần cũng diễn ra rất sôi động. Phong trào thi đua, thực hiện cho được chỉ tiêu: 315 kg thóc, 16 kg đậu lạc vừng, 1.000 gốc sắn, 80kg rau xanh, 6kg thịt chăn nuôi, 5 cây ăn quả, 5 cây thuốc lá, 1 hốc mía trên 1 người do Bộ tư lệnh phát động được các đơn vị, cơ quan và từng cá nhân hưởng ứng mạnh mẽ. Những nương rẫy ngày một lan rộng về phía Đông sông Sa Thầy tạo thế trận hậu cần chiến dịch uy hiếp địch. Cùng với việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ngành hậu cần mặt trận còn có nhiều biện pháp tận thu các nguồn, bảo đảm kịp thời vũ khí, đạn dược, ăn mặc cho bộ đội, tích cực cứu chữa thương binh trả nhanh quân số khỏe về đơn vị, bảo vệ hành lang kho tàng, chấn chỉnh củng cố các binh trạm và hệ thống kho, mở thêm các tuyến đường vận tải cơ giới, thồ, gùi. Để tiếp nhận, thu mua, bảo quản, vận chuyển một lượng lớn hàng hóa từ Đông Bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào cho Chiến trường Tây Nguyên, đồng thời giúp bạn củng cố căn cứ địa, giải quyết mối quan hệ giữa ta và bạn, tháng 7 năm 1971 Bộ tư lệnh Chiến trường thành lập Đoàn 671. ''Binh trạm miền Tây'' này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tạo thêm một khối lượng vật chất dự trữ chiến lược khá lớn cho Mặt trận Tây Nguyên trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Giữa những ngày sôi động thi đua huấn luyện, củng cố, sản xuất và chiến đấu, Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn Mặt trận Tây Nguyên lần thứ năm được tổ chức. Hơn 300 đại biểu dự Đại hội. Thay mặt cho Bộ tư lệnh Chiến trường, Chính ủy Trần Thế Môn đọc báo cáo tổng kết, biểu dương những đơn vị và cá nhân lập thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lập công đền ơn Đảng, Bác; rút ra 5 bài học kinh nghiệm quý. Đại hội quyết định tuyên dương 19 ngọn cờ đầu tiêu biểu cho lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên trong năm 1971. Về tập thể có: Đại đội 2 (Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66), Đại đội 2 vận tải (thuộc Tiểu đoàn 2 trực thuộc Mặt trận), Phân đội thông tin 33, Khoa Nội (thuộc Viện Quân y 211), Đại đội 52 cao xạ, Đại đội 48 cao xạ, Tiểu đoàn 394, Tiểu đoàn 631, Tiểu đoàn 7 (thuộc Trung đoàn 66), Trung đoàn 66, Trung đoàn 95, xã Đắc Uy (tỉnh Kon Thum). Về cá nhân có các đồng chí: Vương Văn Chài, Trần Phúc Yên, Sầm Văn Khèn, Y Buông... Tin vui nối tiếp tin vui, ngày 20 tháng 9 năm 1971 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 21 đơn vị lập thành tích đặc biệt xuất sắc. Trong đó chiến trường Tây Nguyên có 5 đơn vị: Đại đội 42 súng máy cao xạ (thuộc Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 40), Đại đội 2 vận tải (thuộc Tiểu đoàn 2 trực thuộc Mặt trận), Đại đội 7 bộ binh (thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 95), Đại đội 2 đặc công (Tiểu đoàn 430, tỉnh đội Gia Lai), dân quân du kích xã Đắc Uy (huyện 16, tỉnh Kon Tum). Những phần thưởng cao quý đó là nguồn cổ vũ động viên mạnh mẽ quân và dân Tây Nguyên hăng hái thi đua lập nhiều thành tích mới. Để chuẩn bị cho Tây Nguyên tiến lên ''đánh to thắng lớn'', cuối năm 1971, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được chấn chỉnh về biên chế tổ chức theo hướng gọn nhẹ, tăng quân số chiến đấu, tăng hỏa lực cho các trung đoàn bộ binh; thành lập thêm cơ quan tư lệnh pháo binh; lực lương đặc công tổ chức thành hai bộ phận chuyên trách: cơ động và đánh hậu cứ. Thời gian này, bộ đội chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển mới. Sau khi bổ sung Trung đoàn 83 công binh (4.1971), Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung cho Chiến trường Tây Nguyên: Trung đoàn pháo binh 6751, Tiểu đoàn xe tăng 2972, Trung đoàn 7 công binh3, Đại đội 2 tên lửa chống tăng mang vác có điều khiển Maliútca (B.72), Đội sửa chữa quân giới T61. Đồng thời nhiều đoàn cán bộ của các tổng cục, binh chủng cũng lần lượt đến Tây Nguyên giúp Bộ tư lệnh, các cơ quan và các đơn vị tổ chức kiện toàn lực lượng, tập huấn nâng cao chất lượng chiến đấu và công tác. Những cố gắng không mệt mỏi của quân và dân Tây Nguyên trong suốt 17 năm kháng chiến chống Mỹ và tay sai, nhất là kết quả toàn diện trong năm 1971 đã tạo cho chiến trường thế và lực mới để bước vào cuộc tiến công chiến lược xuân hè 1972 với sức mạnh: ''Trường Sơn chuyển mình, Pô Kô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên''. ------------------------------------------------------------------ 1. Trung đoàn pháo binh 675 do đồng chí Trần Ngự làm trung đoàn trưởng, đồng chí Hà Sĩ Quế làm chính ủy. 2. Tiểu đoàn xe tăng 297 có 5 đại đội, 37 xe tăng T54, T59, 3 cao xạ tự hành, 16 ô tô do đồng chí Đặng Vi làm tiểu đoàn trưởng và đồng chí Đồng Hữu Thao làm Chính trị viên. Vào đến Tây Nguyên tiểu đoàn được bổ sung Đại đội 16. 3. Trung đoàn công binh 7 do đồng chí Trần Đình Thiện làm trung đoàn trưởng, đồng chí Đoàn Văn Khóat làm chính ủy. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:24:29 pm 4. Chiến dịch xuân hè 1972 - đòn tiến công chiến lược quy mô lớn đầu tiên ở Tây Nguyên. Sau hơn 3 năm thực hiện chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'', đẩy mạnh ''Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai ở Đông Dương càng thêm suy yếu. Đặc biệt những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ba nước Đông Dương trong năm 1971 ở Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum, Krek - Công Pông Thom đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong cục diện chiến tranh. Tại miền Nam Việt Nam, đầu năm 1972 quân ngụy Sài Gòn còn trên 1 triệu tên, được gần 10 vạn quân Mỹ, máy bay, pháo binh hỗ trợ, nhưng sức chiến đấu đã sa sút, buộc phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (5.1971); ''Phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chính sách ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua'', xuân hè 1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược trên 3 hướng: Trị - Thiên (chủ yếu) Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (phối hợp). Trong đó chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ: ''Tiêu diệt địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plei Ku, có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng tây Plei Ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ''1. Quán triệt, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ thị, nhiệm vụ của Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh giao, cuối tháng 10 năm 1971 Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp bàn ra nghị quyết (số 116/A1) về chiến dịch xuân hè năm 1972, xác định quyết tâm: "Tích cực tạo mọi điều kiện, tập trung bộ đội chủ lực và binh khí kỹ thuật mở chiến dịch tấn công, đồng thời sẵn sàng phản công đánh bại quân địch, sau đó chuyển sang tấn công và mở chiến dịch tổng hợp phá ấp giành dân ở các tỉnh, nhằm: tiêu diệt một số chiến đoàn, trung đoàn địch, đánh qụy sư đoàn thuộc quân đoàn 2 và tổng dự bị quân ngụy; giải phóng một vài thị xã và giải phóng phần lớn nông thôn, mở Tây Nguyên thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa rừng núi Trị -Thiên đến miền Đông Nam Bộ và Hạ Lào, Đông Bắc, Cam-pu-chia, hình thành căn cứ địa vững mạnh rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương''. Ngay sau hội nghị của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên, công tác chuẩn bị chiến dịch được tiến hành tích cực, khẩn trương và bí mật. Trong khi Bộ tư lệnh, cơ quan mặt trận, chỉ huy các đơn vị đi chuẩn bị chiến trường, nắm địch, xây dựng quyết tâm kế hoạch, thì một lực lương lớn bộ đội được huy động vào làm đường, vận chuyển đạn gạo. Để bảo đảm giao thông, 12 vạn công được huy động mở thêm các đường 50K, 60, 70A, 110 với 508km đường mới; sửa chữa mở rộng nâng cấp 480km đường cũ, phá ngầm mở thông hàng trăm kilômét đường sông... kịp thời khắc phục tình trạng độc tuyến trên các hướng. Trên mặt trận vận tải, một chiến dịch vận chuyển lớn được tổ chức với sự tham gia của hàng nghìn người thuộc các đơn vị chuyên nghiệp, các trung đoàn bộ binh, pháo binh, đặc công, Trường Quân Chính, Trường Quân y, Viện 21l, các đội điều trị. Ta tổ chức 5 tuyến có vận tải cơ giới: tuyến 50K được tăng cường Đại đội 2 vận tải ô tô do Binh trạm Bắc phụ trách; hai tuyến 60, 70 có ba đại đội vận tải ô tô (141, 1, 4 thuộc Tiểu đoàn 10) do Trung đoàn 83 công binh tổ chức bảo đảm; tuyến C09 thuộc Binh trạm Trung được tăng cường Đại đội 3 ô tô và Tiểu đoàn 6 vận tải bộ. Các tuyến vận tải bộ cũng vươn dài theo bước chân của các chiến sĩ gùi, thồ. Quá trình vận chuyển cũng là quá trình vật lộn gian khổ với đèo cao, dốc đứng, sông sâu, đánh máy bay, biệt kích địch bảo vệ xe, hàng. Những tấm gương dũng cảm xuất hiện ngày càng nhiều, kỷ lục mới luôn được lập. Chiến sĩ Nguyễn Công Thức thồ được 450kg, có chuyến thồ được 2 phuy xăng, đạt kỷ lục cao nhất thồ bằng xe đạp ở Chiến trường Tây Nguyên. Các đại đội vận tải ô tô 141 và 4 băng qua bom đạn của kẻ thù, bền bỉ vượt qua những dốc núi cheo leo kiên quyết đưa hàng ra phía trước. Chiến sĩ lái xe Hà Văn Thêm có lần bị máy bay địch bắn đuổi dọc đường, xe trúng đạn bốc cháy, toàn thân bỏng rộp vẫn giữ vững tay lái đưa hàng tới đích. Với những cố gắng rất lớn, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1972, lực lượng vận tải đã bảo đảm cho chiến dịch: 6.137 tấn hàng các loại, gồm 932 tấn đạn dược, 5.311 tấn lương thực (có 1.300 tấn tự túc và 300 tấn do nhân dân huyện 80 và 16 tỉnh Kon Tum ủng hộ), 315 tấn muối, 383 tấn thực phẩm, 128 tấn sữa và 351.668 lít xăng, 116.221 lít dầu mazút. Trung đó vận chuyển bằng cơ giới chiếm 89% tổng khối lượng, còn 11% do bộ đội gùi thồ. Đây là lần đầu tiên chuẩn bị bảo đảm cho một chiến dịch tiến công lớn nhất từ trước đến nay ở Tây Nguyên, với nhiều binh chủng kỹ thuật tham gia; trong điều kiện địa bàn rộng, thời tiết phức tạp, nguồn cung cấp từ hậu phương lớn vào luôn gặp khó khăn, địch rình rập đánh phá ác liệt, sức vận chuyển có hạn, kinh nghiệm vận tải cơ giới quản lý bảo quản sử dụng còn ít. Vì vậy ngay từ giai đoạn chuẩn bị và trong suốt quá trình thực hành chiến dịch luôn thiếu đạn, gạo so với kế hoạch và nhu cầu, nhất là giai đoạn đầu và giai đoạn cuối chiến dịch, ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả chiến đấu. Tuy vậy, những kết quả trên mặt trận giao thông vận tải chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân hè 1972 là một cố gắng lớn, một bước tiến vượt bậc, một kỳ công của Chiến trường Tây Nguyên. Để tạo điều kiện cho Tây Nguyên hoàn thành thắng lợi chiến dịch, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972 Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 bổ sung, tăng cường cho B3 các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 320A, Trung đoàn bộ binh 24b2, Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu Trung đoàn 31) Quân khu 5, Tiểu đoàn đặc công 20, 3 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5mm, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải ô tô (827), 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 2 đội điều trị (17, 25) và một số phân đội bảo đảm, hậu cần, kỹ thuật. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển nhảy vọt cả về số lương và chất lượng. Trước khi chiến dịch mở màn, khối chủ lực B3 có 2 sư đoàn bộ binh (320A, 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 28, 95, 24B), 1 trung đoàn đặc công (400), 2 trung đoàn pháo binh hỗn hợp (40, 675), 1 tiểu đoàn xe tăng (297), 4 tiểu đoàn phòng không, 2 trung đoàn công binh (83, 7) và nhiều đơn vị trinh sát, thông tin, hậu cần - kỹ thuật cùng 423 xe (216 xe tác chiến, 207 xe vận tải). Tổng quân số lên đến 47.647 người, gấp 2 lần so với năm 1971 (24.483 người). Số tiểu đoàn bộ binh (29 tiểu đoàn) nhiều hơn thời kỳ cao điểm của năm 1968 (27 tiểu đoàn). Các trung đoàn bộ binh đều có trên 2.000 người, quân số chiến đấu từ 1.700 đến 1.800 người. Trung đoàn pháo binh 40 tổ chức thêm một tiểu đoàn pháo cơ giới, trang bị pháo 105 và 155mm thu được của địch. Thời gian này, nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Tư Thuận (Trương Chí Cương) - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng vào trực tiếp làm Chính ủy chiến dịch; Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Nguyễn Hòa vào làm Tư lệnh phó chiến dịch. Các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần cũng cử nhiều cán bộ, phái viên vào công tác giúp đỡ B3 mở chiến dịch. Cùng thời gian này, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch được thành lập, đứng chân ở phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, trực tiếp chỉ huy lực lượng tác chiến trên hướng đông. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch (Mặt trận cánh Đông) và chủ trì ba cơ quan gồm các đồng chí: Tư lệnh Nguyễn Mạnh Quân, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh phó Hồ Đệ, phó chính ủy Lã Ngọc Châu, Tham mưu trưởng Trần Quốc Biên, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Hữu Hưu, Chủ nhiệm hậu cần Đặng Văn Khóat. Từ cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1972 Bộ tư lệnh tiền phương bước vào hoạt động, trực tiếp chỉ đạo chỉ huy các trung đoàn 66, 28... sau đó là Sư đoàn 2 và các lực lượng binh chủng, đặc công, hậu cần - kỹ thuật triển khai công tác chuẩn bị chiến dịch. Nhằm phá giao thông vận chuyển, tiêu diệt tiêu hao một bộ phận sinh lực, phá hủy nhiều xe máy phương tiện chiến tranh, buộc địch phải phân tán binh lực đối phó, tạo điều kiện cho toàn mặt trận đẩy nhanh triển khai lực lượng chuẩn bị chiến dịch, đồng thời rèn luyện ba thứ quân; từ ngày 20 tháng 2 đến ngày 26 tháng 3, Bộ tư lệnh B3 mở một đợt tiến công trước chiến dịch xuân hè. Trong hơn một tháng chiến đấu, ta đã đánh 226 trận (có 44 trận đánh giao thông), diệt 1.150 tên địch (có 9 tên Mỹ); bắt 13 tên, bắn rơi và phá hủy 15 máy bay, 304 xe quân sự (có 50 xe tăng, xe bọc thép), 1 nhà máy điện, 7 lô cốt, 1 cầu, thu 31 súng và 2 vô tuyến điện. Nổi bật là các trận đánh giao thông cắt đường 14 của Trung đoàn 95 ở khu vực Chư Thoi, Chư Pao, của Tiểu đoàn 2 và bộ đội huyện, du kích các khu 2, 3, 5 tỉnh Gia Lai. Riêng Sư đoàn 320 quá trình vào chiếm lĩnh trận địa, cài thế chiến dịch đã đánh 14 trận nhỏ ở phía tây sông Pô Kô, diệt 109 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 8 máy bay. Quá trình ta chuẩn bị chiến dịch, tình hình địch ở Tây Nguyên có nhiều thay đổi. Đầu năm 1972 địch phán đoán ta sẽ tiến công lớn, hướng chủ yếu ở Kon Tum, hướng thứ yếu là Đường 9 và miền Đông Nam Bộ; thời điểm tiến công sẽ vào dịp Tết Nhâm Tý, sau lại cho là trong mùa hè. Do vậy, ngay từ đầu năm 1972 chúng điều trung đoàn 47 lên cùng trung đoàn 42 phòng thủ Tân Cảnh, ra sức củng cố công sự, tăng thêm chướng ngại vật và dự trữ vật chất ở căn cứ 42. Song song với các hoạt động trên, địch đẩy mạnh thăm dò đánh phá kho tàng, đường vận chuyển của ta, bằng máy bay, biệt kích tập trung trên các khu vực Pô Kô Hạ, nam - bắc đường 18, các trục đường 60, 70. Mặc dù ta đã cố gắng giữ bí mật, nhưng địch cũng phát hiện được những bộ phận nhỏ của Trung đoàn 95, Trung đoàn 28 ở hướng đường 14 và bộ phận thông tin của Sư đoàn 320 ở đông Chư Mom Ray, biết ta làm đường 70B ở phía tây sông Pô Kô hướng về phía Võ Định. Không tin vào khả năng phòng giữ của quân khu 2 quân đoàn 2, ngày 4 tháng 3 địch điều lữ dù 2 lên Kon Tum và ngày 7 đổ bộ 2 tiểu đoàn của lữ đoàn này xuống lập tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở dãy điểm cao bờ tây sông Pô Kô. Cùng lúc, trung đoàn 47 và bọn biệt động biên phòng được tung ra phía bắc Plei Kần, Pô Kô Hạ, Kon Kô ngăn chặn làm đường, phá kho tàng và chuẩn bị chiến dịch của ta. Đến ngày 30 tháng 3 (mở màn chiến dịch), địch đã tập trung ở Tây Nguyên 22 tiểu đoàn bộ binh (thuộc 7 trung đoàn của hai sư đoàn (22, 23), lữ dù 2; liên đoàn 2 biệt động quân), 8 tiểu đoàn thiết giáp (thuộc 4 trung đoàn 19, 3, 14, 8 ), gần 10 tiểu đoàn pháo và một lượng lớn máy bay. Ngoài quân chủ lực, chúng còn có 25 đại đội bảo an, 112 trung đội dân vệ, 3 đại đội thám báo, 1 chi khu 4 phân khu cảnh sát và 30 đoàn bình định. Riêng khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh có 12 tiểu đoàn. Địch bố trí: trung đoàn 42 ở Tân Cảnh, Đắc Mót, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Cung Giao, Plei Kần; trung đoàn 47 chốt giữ điểm cao 1015, nam Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rong và La Sơn (nam Plei Ku); trung đoàn 53 bảo vệ đường 14 đoạn Pleiku - Kon Tum; liên đoàn 2 biệt động quân lên phản kích ở khu vực Ngọc Lũ bắc Tân Cảnh bị Trung đoàn 28 chặn đánh phải lui về Biển Hồ củng cố, lữ dù 2 ở tây sông Pô Kô (tiểu đoàn 1 ở điểm cao 966, Cư Tơ Sung; tiểu đoàn 2 ở điểm cao 1049, nam 1015; tiểu đoàn 3 ở điểm cao 838, Ngọc Bờ Biêng), chỉ huy lữ đoàn dù ở Võ Định, trận địa pháo 155 - 105 ở Kon Trang Klả; trung đoàn 45 ở Phú Nhơn, Buôn Ma Thuột; trung đoàn 44 bảo vệ đường 14; các tiểu đoàn thiết giáp triển khai trên các hướng Tân Cảnh, Pleiku - An Khê, Buôn Ma Thuột. Quá trình chiến dịch diễn ra, địch đưa tiếp bộ tư lệnh sư đoàn dù 2, lữ dù 3, liên đoàn 6 biệt động quân lên Tây Nguyên, nâng tổng số binh lực lên khỏang 6 vạn tên (18.000 quân chủ lực, 27.000 quân địa phương, còn lại là dân vệ, nghĩa quân, cảnh sát, bình định). ------------------------------------------------------------------ 1. Trích điện số 236 của Bộ Tổng tư lệnh gửi Chiến trường Tây Nguyên, Quân khu 5 và Miền, ngày 10.9.1971. 2. Giữa tháng 1 năm 1972, Trung đoàn 24B vào Tây Nguyên thì Trung đoàn bộ binh 24A rời Tây Nguyên vào Nam Bộ chiến đấu. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:22:14 am * Phối hợp chặt chẽ với các hướng trong cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam. Đúng 6 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn bộ binh 52 Sư đoàn 320 do trung đoàn trưởng Hồ Hải Nam và Chính ủy Đặng Ngọc Truy chỉ huy, nổ súng vây ép tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1049, mở đầu chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân hè 1972. Do bố trí trận địa vây lấn quá xa mục tiêu, hướng thứ yếu (tây bắc) và kiềm chế (đông nam) bị lộ khi vào chiếm lĩnh, địch lấy được tài liệu, biết kế hoạch chiến đấu của ta, nên tập trung lực lượng đối phó và gọi pháo binh máy bay đánh phá dữ dội vào trận địa. Mặc dù bộ đội chiến đấu rất dũng cảm đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch từ điểm cao 1049 nống ra và Đại đội 1 súng máy phòng không 12,7mm do Đỗ Văn Bảy chỉ huy bắn rơi 4 máy bay... nhưng kết quả ngày đầu vây ép của trung đoàn rất hạn chế, ta tổn thất thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 kịp thời chỉ rõ nguyên nhân kết quả chiến đấu thấp là do vây chưa sát, cách dành không phù hợp, tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ, không thực hiện đúng kế hoạch tác chiến, thông tin liên lạc kém. Chấp hành mệnh lệnh của Sư đoàn, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 3 Trung đoàn 52 rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch, điều chỉnh đội hình, cử nhiều cán bộ xuống từng hướng quán triệt ý định, động viên bộ đội, củng cố quyết tâm, đưa trận địa vây áp sát mục tiêu và tập kích tiêu diệt 1 trung đội địch ở đồi C. Hai ngày (31 tháng 3 và 1 tháng 4), Trung đoàn 52 tiếp tục xiết chặt vòng vây quanh cứ điểm, dùng hỏa lực bắn phát một chính xác diệt hàng chục lô cốt ụ súng ở đồi A và B; chặn đánh các toán quân tiếp ứng gần, chuẩn bị tiến công dứt điểm. Thấy vòng vây của đối phương như chiếc thòng lọng đang siết dần quanh cổ, tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù 2 điện khẩn xin thượng cấp chi viện. Nhưng tướng Ngô Du - tư lệnh quân khu 2-quân đoàn 2 và tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh sư đoàn dù 2 cùng bọn chỉ huy lữ dù 2 cũng không tìm ra phương cách cứu nguy hữu hiệu. Cuối cùng, chúng chọn phương án tiếp tục cho tiểu đoàn dù 2 cố thủ, dùng máy bay pháo binh chi viện hỏa lực rất mạnh và cho 2 tiểu đoàn (1, 3) từ ngoài đánh vào 1049. Hoang mang lo sợ, bọn lính đi ứng cứu cứ chạm súng với ta là lùi lại không chịu tiến. Sau những cố gắng giải tỏa không hiệu quả, địch tung lữ dù 3 vào trận, dùng trực thăng đổ tiểu đoàn dù 11 xuống tây nam điểm cao 1015, rút tiểu đoàn dù 3 khỏi điểm cao 838. Địch đổ quân tăng viện ra bờ tây sông Pô Kô. Mục đích vây ép đã đạt được, Trung đoàn 52 được lệnh chuyển sang tiến công tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù 2, làm chủ điểm cao 1049. Thực hiện kế hoạch chiến đấu, 3 giờ 30 phút ngày 3 tháng 4 các hướng các mũi đồng loạt nổ súng tiến công. Hỏa lực chuẩn bị bắn dồn dập vào sở chỉ huy, tiêu diệt nhiều mục tiêu địch ở đồi A và B. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh nổ mìn định hướng, đánh bộc phá liên tục mở toang những hàng rào cuối cùng. 4 giờ cửa mở đã thông, bộ đội ào ạt xông lên đánh chiếm đầu cầu, phát triển vào bên trong. Bọn lính dù điên cuồng chống cự nhưng không cản được sức tiến công mạnh mẽ của đoàn quân ''Tây Tiến''. Người trước ngã xuống, người sau tiếp tục xông lên. Tiểu đội trưởng Đỗ Thượng Vượng, liên lạc viên Lê Xuân Chữ, y tá Lê Văn Niết xông pha lửa đạn, tả xung hữu đột. 7 giờ, ta chiếm sở chỉ huy tiểu đoàn dù 2 và một nửa đồi B, đồi A. Phần lớn quân địch bị diệt, chỉ còn khỏang 40 tên chạy dạt về đông nam đồi A và bắc đồi B. Tên tiểu đoàn trưởng kêu cứu khẩn cấp. Máy bay, pháo binh địch đánh trùm lên toàn bộ trận địa. Do công tác tổ chức chiến đấu ở giai đoạn cuối trận đánh thiếu chặt chẽ, bộ đội chưa được quán triệt kỹ tư tưởng đánh chiếm xong trụ bám vững chắc, truy diệt triệt để; khi bị thương vong nhiều do bom pháo đã rối loạn đội hình, tự động rút ra trận địa vây lấn. Bọn tàn binh địch ở đông nam đồi A thừa cơ phản kích chiếm lại đỉnh đồi lúc 8 giờ cùng ngày. Chiến sự diễn ra rất ác liệt, khẩn trương nhưng thông tin liên lạc bị đứt hoàn toàn, chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn không nắm được tình hình, không kịp thời xử trí tình huống. Xét thấy khả năng tiến công lại điểm cao 1049 của Trung đoàn 52 không còn chắc thắng, vì đơn vị bị tổn thất nặng, địch lại đổ thêm 3 đại đội của tiểu đoàn dù 4 cho cứ điểm này; nên Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định chỉ để lại một lực lượng của Tiểu đoàn 4 và hỏa lực tiếp tục giữ thế vây, kiềm chế địch ở 1049, tạo điều kiện cho Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn dù 11 ở điểm cao 1015, lực lượng còn lại về phía sau củng cố và sẵn sàng đánh chiếm lại điểm cao này khi có lệnh. Mặc dù trận mở màn chiến dịch chưa đạt mục đích đề ra là tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù 2 làm chủ điểm cao 1049, nhưng Trung đoàn 52 đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn địch, diệt 190 tên, bắn rơi 12 máy bay... giáng một đòn thôi động vào tuyến phòng ngự vòng ngoài bên bờ tây sông Pô Kô, buộc địch phải đưa quân ra khu vực này để đơn vị bạn tiến công tiêu diệt, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển đúng ý định. Trên đường chinh chiến tiếp sau, Trung đoàn 52 lập bao chiến công oanh liệt, vì đã nghiêm khắc rút kinh nghiệm và không bao giờ quên ''mối hận 1049 năm 1972''. Để thực hiện cho được ý định nhanh chóng đập vỡ tuyến phòng thủ ngăn chặn vòng ngoài của địch, đưa lực lượng tiến sang đường 14. Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 320 giao cho Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn dù 11 thuộc lữ dù 3 ở tây nam điểm cao 1015. Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, đêm 11 rạng ngày 12 tháng 4, Trung đoàn 64 do trung Đoàn trưởng Khuất Duy Tiến và Chính ủy Phạm Văn Đông chỉ huy, bí mật tiến vào chiếm lĩnh trận địa xung quanh điểm cao 1015. Quá trình cơ động bị tám trận bom cắt ngang đội hình và địch ra sức ngăn chặn, nhưng đến 5 giờ ngày 12 toàn đơn vị hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bộ đội sẵn sàng nổ súng. Đúng 6 giờ sáng, cụm pháo chiến dịch bắn chuẩn bị vào sở chỉ huy tiểu đoàn dù ở M1. 40 phút sau hỏa lực đi cùng trên các hướng tiến công tham gia bắn diệt một số mục tiêu ở phía trước và hai bên cửa mở. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh thực hành mở cửa. Trên hướng tiến công chủ yếu (tây nam) đại đội trưởng Đại đội 10 Đặng Văn Lưu trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 nổ mìn định hướng và đánh bộc phá mở thông cửa; rồi phối hợp với mũi thứ hai do đại đội phó Nguyễn Văn Hỏa và trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy, xung phong đánh chiếm được một số công sự, dồn địch ở M13 về một phía. Bọn lính dù co cụm chống cự quyết liệt, máy bay pháo binh đánh phá dữ dội vào đội hình tiến công của ta. Tiểu đoàn 9 đưa hai đại đội 9 và 10 vào phát triển chiến đấu nhưng đến 10 giờ 30 phút vẫn chưa chiếm được hoàn toàn mục tiêu. Cùng thời gian này, ở hướng tiến công thứ yếu phía tây, Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 chiếm được trận địa pháo địch trên đồi D3, khi phát triển sang mục tiêu M11 bị địch ngăn chặn phải tạm dừng. Mũi tiến công của Đại đội 6 vào mục tiêu D2 gặp khó khăn. Thấy hỏa lực chuẩn bị chưa đủ mạnh, chiều ngày 12, tư lệnh Sư đoàn 320 Nguyễn Kim Tuấn ra lệnh cho pháo lựu 122 và cối 120mm tiếp tục bắn phá liên tục 2 giờ liền vào điểm cao 1015. Hỏa lực Trung đoàn 64 và hai tiểu đoàn 8, 9 tham gia bắn cùng cấp trên, sau đó bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Hướng chủ yếu ta làm chủ M13 và chiếm được một số công sự tuyến ngoài của mục tiêu M12 phải tạm dừng, củng cố. Hướng thứ yếu, vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 8 bị trúng bom, tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp và Chính trị viên Nguyễn Văn The hy sinh. Đồng chí tham mưu phó trung đoàn được cử xuống trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 8, động viên bộ đội giữ vững thế trận tiến công. Sau một ngày đánh địch phản kích, giữ vững trận địa; đêm 13 tháng 4 bộ đội trên các hướng giãn đội hình ra cách địch 150m giữ khỏang cách an toàn cho pháo bắn. Từ 9 giờ đến 16 giờ 35 phút ngày 14, ta dùng pháo Đ74, pháo lựu 122, cối 120mm bắn phá mạnh vào các mục tiêu M1, D2. Các tiểu đoàn tổ chức hỏa lực tiêu diệt mục tiêu trên hướng đảm nhiệm. Pháo binh ta bắn chính xác trúng sở chỉ huy tiểu đoàn địch, phá sập nhiều công sự, diệt nhiều sinh lực và cháy 2 kho. Bọn địch ở M11 dao động, một số bỏ chạy về hướng đông bị Đại đội 10 chặn đánh, chạy ngược trở lại. 16 giờ 35 phút, đội hình địch rối loạn, trung đoàn trưởng hạ lệnh xung phong. Hướng chủ yếu, bộ đội ào ạt xông lên đánh chiếm M12. Một toán địch lợi dụng công sự và cây gỗ to đổ chắn ngang điên cuồng chống trả, nhưng hai mũi tiến công của Đại đội 10 do Chính trị viên phó Dương Văn Niên và trung đội trưởng Bùi Huy Điển chỉ huy nhanh chóng đột phá qua, đánh vào bên trong. Khi trận đánh diễn ra quyết liệt, phân dội dự bị của trung đoàn kịp thời bước vào phát triển chiến đấu, làm chủ hoàn toàn M12 lúc 17 giờ 20 phút. Số địch còn lại co cụm về M11. Phối hợp với hướng chủ yếu, Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 do Nguyễn Văn Hinh chỉ huy vượt qua khu lòng chảo đánh lên phía bắc M11, nhưng đồi dốc, địch bắn chặn không tiến được. Để cứu nguy cho bọn lính dù, máy bay địch lao đến oanh tạc dữ dội trận địa ta. Lực lượng phòng không chiến đấu mưu trí dũng cảm bắn rơi nhiều chiếc. Riêng Đại đội 2 (Tiểu đoàn 16) súng máy phòng không 12,7mm do Khuất Đình Nuôi chỉ huy đi phối thuộc cho Tiểu đoàn 8 đã bắn rơi 5 máy bay trong vòng 15 phút. Với cách đánh táo bạo, thông minh, trong trận đánh điểm cao 1015 Đại đội 2 đã hạ 9 máy bay các loại. Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 4, Trung đoàn 64 làm chủ hoàn toàn điểm cao 1015, truy diệt thêm 80 tên địch (có tên Mễ - tiểu đoàn phó), bắt 30 tên. Số địch còn lại gồm 191 tên chạy về hướng đông, rơi vào trận địa phục kích đã bày sẵn của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 ở Ngọc Đi Ốc, thêm 107 tên bị bắt và 78 tên bị diệt. Sau 3 ngày tiến công, tiểu đoàn dù 11 bị tiêu diệt hoàn toàn, hơn 350 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 20 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm súng bị phá hủy và gần 160 khẩu bị tịch thu. Đây là trận tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn dù đầu tiên trên Chiến trường Tây Nguyên, hạ uy thế các gọi là "lực lượng tin cậy nhất trong các lực lượng trù bị quốc gia'' của quân ngụy Sài Gòn. Bọn lính mũ đỏ hùng hổ kéo ra bờ tây sông Pô Kô hòng ''rửa mối hận'' năm trước ở Đường 9 - Nam Lào1, cho máy bay rải truyền đơn khắp núi rừng với lời lẽ huênh hoang, thách Sư đoàn 320 giao chiến và rùm beng tuyên bố với giới báo chí rằng sẽ ''nghiền nát Sư đoàn 320 Bắc Việt tại Tây Nguyên'', đã thảm bại nhục nhã. Chiến thắng ở điểm cao 1015 đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch, chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài bên bờ tây sông Pô Kô của địch, góp phần quan trọng tạo thế phát triển cho toàn mặt trận. Với chiến công vẻ vang này, Trung đoàn 64 vinh dự được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Sau khi ta làm chủ khu vực điểm cao 1015, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương nhanh chóng mở thông đường 70B, đồng thời sử dụng Trung đoàn 64 tiếp tục cài thế sẵn sàng tiêu diệt quân địch phản kích chiếm lại khu vực này. Về phía địch, tướng Ngô Du - tư lệnh quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy vội vàng lên Võ Định bàn với tư lệnh sư đoàn dù 2 Dư Quốc Đống tìm cách chiếm lại điểm cao 1015. Nhưng dù thượng cấp ban lệnh, bọn lính dù hoang mang không chịu đi, cuối cùng chỉ huy địch phải bỏ ý định chiếm lại điểm cao này. Cũng vào trung tuần tháng 4 năm 1972 ta tiến công mạnh trên toàn miền Nam, nhất là hướng Bình Long và Quảng Trị. Địch cũng thấy được hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta không phải ở Tây Nguyên; nên mặc dù tuyến phòng ngự phía tây sông Pô Kô bị chọc thủng, chúng vẫn phải điều động bộ chỉ huy nhẹ sư đoàn dù 2 và lữ dù 2 đi tăng cường cho Bình long, đưa liên đoàn biệt động quân 6 và tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 lên Kon Tum. Trước thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời chỉ đạo Sư đoàn 320 đón đánh tiêu diệt 1 đại đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác của tiểu đoàn dù 3 từ Đắc Kêng Peng mò sang khu vực Kon Kô Dốp (17.4), đánh chiếm lại điểm cao 1049 (21.4) rồi vượt sông Pô Kô phối hợp cùng Trung đoàn 28 cắt đường 14, tạo điều kiện cho lực lượng trên hướng bắc đánh chiếm Đắc Tô - Tân Cảnh. Phối hợp với Sư đoàn 320 tiến công địch bên bờ tây sông Pô Kô, các hướng khác đều tích cực hoạt động. Ở phía bắc, Sư đoàn 2 do sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn và chính ủy Lê Đình Yên chỉ huy pháo kích, tập kích vào trận địa pháo, sở chỉ huy trung đoàn 47, bao vây tiểu đoàn 9 thuộc lữ dù 3 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 4, tiêu hao tiểu đoàn 1 ở Ngọc Tụ. Trên đường 14 đoạn Kon Tum - Diên Bình, Trung đoàn 28 sau khi diệt tiểu đoàn 23 biệt động quân (24-28.3), tập trung lực lượng đánh phá giao thông, pháo kích Võ Định, tập kích diệt trận địa pháo ở Kông Trăng Lăng Loi (7.4) phá 9 pháo lớn, 20 xe, 3 kho đạn, 1 kho xăng, diệt 130 tên địch. Ở nam thị xã Kon Tum, Trung đoàn 95 tổ chức 7 chốt hỏa lực trên dãy Chư Thoi, chặn đánh một số đoàn xe trên đường 14 và đánh quân giải tỏa, phá hủy gần 100 xe, diệt hàng trăm tên; buộc địch phải huy động 2 trung đoàn 53, 45 và 2 chi đoàn thiết giáp có pháo binh máy bay chi viện mạnh nhưng vẫn không mở thông được đoạn đường huyết mạch này. Trong khi chủ lực đánh mạnh, trên hướng Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc lực lượng vũ trang địa phương tích cực đánh nhỏ và mở dân. Ở Kon Tum ta đánh khu kho Nguyễn Huệ trong thị xã, tập kích Kon Mơ Na, bắn ĐKZ vào đội hình tiểu đoàn 22 biệt động quân đang tập trung lên máy bay. Tại Gia Lai, bộ đội địa phương đánh giao thông ở đường 19, tập kích Be Len Tua, giải phóng 7.000 dân ở làng Dịt và Hà Lòng. Hướng Đắc Lắc, các đơn vị tỉnh, huyện đánh phá đường 7, giải phóng dân ở xã Đức An và Đức Lập. ----------------------------------------------------------------- 1. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung đoàn 64 do đồng chí Khuất Duy Tiến chỉ huy đã tiêu diệt chỉ huy lữ dù 3, tiểu đoàn 3, tiểu đoàn pháo binh địch ở căn cứ 31, diệt 370 tên, bắt 137 tên, trong đó có đại tá lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ (20-25.2.1971). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:27:25 am * Tuyến phòng thủ vòng ngoài ở bờ tây sông Pô Kô bị đập vỡ, đường 14 bị cắt đứt, địch ở thung lũng Đắc Tô - Tân Cảnh bị cô lập. Nắm vững thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định dùng Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn 37 đặc công, Đại đội 7 xe tăng, Đại đội 53 cao xạ tự hành, Đại đội 29 B72, 4 đại đội cối và súng máy phòng không, được các cụm pháo binh chiến dịch chi viện, tiến công tiêu diệt căn cứ 42 trung tâm chỉ huy của tập đoàn phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum, giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh, hoàn thành giai đoạn 1 chiến dịch. Căn cứ 42 nằm trên một dải đồi trọc, cách thị trấn Tân Cảnh và đường 18 khỏang 1km về phía tây nam, rộng chừng 24 héc ta, có cấu trúc hình lục giác. Bên trong có nhiều loại công sự được cấu trúc vững chắc, xung quanh có từ 8 đến 14 hàng rào kẽm gai, xen kẽ có nhiều mìn chống tăng và chống bộ binh. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở căn cứ 42 gồm có: chỉ huy sư đoàn 22 và cố vấn Mỹ, chỉ huy trung đoàn 42, chỉ huy trung đoàn 14 thiết giáp, chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum, chỉ huy ba tiểu đoàn (1, 2, 4/42), 1 đại đội bảo vệ, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội công binh, 1 thiết đoàn (41 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn pháo (10 khẩu 105, 155mm), với tổng số quân khỏang 1.500 tên, bố trí thành 13 khu. Là một cứ điểm phòng thủ mạnh, lại có nhiều cứ điểm và lực lượng xung quanh bảo vệ sẵn sàng ứng cứu, được máy bay pháo binh chi viện tối đa nên địch huênh hoang tuyên bố: ''Bao giờ nước sông Pô Kô chảy ngược thì Việt cộng mới đánh được''! Thực hiện kế hoạch chiến đấu, trong ba ngày (21, 22, 23 tháng 4) các cụm pháo chiến dịch của Trung đoàn 40 và Trung đoàn 675 bắn phá mạnh vào căn cứ 42. Đạn pháo rơi trúng hầm chỉ huy sư đoàn 22 khi chúng đang họp, diệt một số tên; phá hủy hoàn toàn khu thông tin, đài ra đa điều khiển máy bay, nhà máy điện, phá sập 50% nhà cửa, gây hàng chục đám cháy. Hỏa lực Trung đoàn 66 và lực lượng tăng cường tham gia bắn diệt nhiều lô cốt, hỏa điểm, xe tăng, xe bọc thép trước cửa mở. Lợi dụng kết quả hỏa lực chuẩn bị, bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa tiến công ở hướng đông (chủ yếu), tây bắc (thứ yếu) và nam (quan trọng). Xe tăng, cao xạ tự hành được hơn 30 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và công binh dẫn đường, vượt qua ngầm Đắc Ta Kan, cầu Đắc Sinh rẽ về hướng tây bắc và theo đường 14 chọc qua thị trấn Tân Cảnh tiến vào trận địa tiến công. Tranh thủ thời cơ khi xe tăng ta bất ngờ xuất hiện trong thị trấn, địch ở đây hoang mang; Tiểu đoàn 9 cùng đội công tác của tỉnh Kon Tum tiến công giải phóng Tân Cảnh lúc 4 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4, tạo thêm thuận lợi cho các lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu phía Đông. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Phùng Bá Thường ra lệnh tiến công. Lập tức, các loại hỏa lực của trung đoàn và xe tăng bắn dồn dập trong vòng 20 phút vào các mục tiêu. Căn cứ 42 chìm trong khói lửa, rung lên trong ánh chớp và tiếng nổ vang rền của đạn pháo cối. Trên các hướng tiến công, bộ binh nổ mìn định hướng và đánh bộc phá vào những hàng rào trong cùng. Hướng chủ yếu phía đông, Tiểu đoàn 7 mở thông 10 hàng rào thép gai, chỉ còn lại hàng rào cuối cùng. Bộ đội dùng tôn đặt lên để vượt qua, xung phong đánh chiếm đầu cầu. Hai xe tăng (số 328, 903) tiến thẳng vào cổng chính dùng hỏa lực diệt các mục tiêu phía trước, dẫn dắt bộ binh đánh thọc vào bên trong. 5 giờ 10 phút ta chiếm được đầu cầu, rồi đánh chiếm khu hội trường, nhà làm việc, phát triển sang sở chỉ huy trung đoàn 42. Tuy đã núng thế nhưng địch vẫn ngoan cố chống cự, dựa vào công sự và công trình kiến trúc cho bộ binh, xe tăng ngăn chặn, phản kích. Trên trời, máy bay địch gầm rú trút bom đạn xuống trận địa của ta. Giữa lúc trận đánh diễn ra ác liệt, khẩn trương tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng nhảy lên nóc xe tăng 373 chỉ huy một lực lượng lao vào tiếp ứng. Khi bị thương, đồng chí vẫn nén đau tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh thọc sâu vào sở chỉ huy địch. Được 4 xe tăng dẫn dắt, 2 xe tăng và 2 cao xạ tự hành đứng bên ngoài hàng rào chi viện, các chiến sĩ Tiểu đoàn 7 lần lượt đánh chiếm, làm chủ các mục tiêu: tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2, khu làm việc hậu cần, kỹ thuật, chỉ huy sở trung đoàn 42, chỉ huy sở sư đoàn 22 và khu cố vấn Mỹ. Trên hướng thứ yếu phía tây bắc, được 3 xe tăng và 1 cao xạ tự hành do trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy, chi viện hỏa lực, Tiểu đoàn 8 đánh bộc phá mở thông 7 hàng rào, rồi dùng gỗ đặt lên nửa hàng rào trong cùng cho bộ đội vượt qua đánh vào bên trong. Bộ binh, xe tăng phối hợp nhịp nhàng đánh chiếm các mục tiêu: khu cố vấn, kỹ thuật, tiểu đoàn 4. Riêng xe tăng trên hướng này bắn diệt hỏa điểm địch trên tháp nước và 4 xe tăng, phá sập 15 lô cốt, chi viện cho bộ binh rất hiệu quả. Khi thấy ta cơ bản làm chủ căn cứ 42, theo lệnh của trên, trung đội xe tăng của Nguyễn Nhân Triển rời căn cứ tiến sang phía tây bắc phối thuộc cho Trung đoàn 1 đánh chiếm căn cứ Đắc Tô 2. Cùng thời gian này, ở hướng tiến công phía nam, Tiểu đoàn 37 đặc công do tiểu đoàn trưởng Đỗ Công Mùi chỉ huy tổ chức mở hai cửa nhưng đều không thông. Thấy phân đội đặc công gặp khó khăn, trung đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 37 tiến theo cửa mở của Tiểu đoàn 7, đánh chiếm các mục tiêu ở phía nam cứ điểm. Được 2 xe tăng và B72 chi viện, phân đội chia làm 2 mũi kết hợp với mũi vượt rào của Đại đội 19 đánh chiếm khu kho hỗn hợp, bãi xe, trận địa pháo. 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh do đồng chí Phan Quyết (Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum) trao cho Trung đoàn 66 trước lúc xuất quân, được Nguyễn Xuân Hòa (tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7) kéo lên phấp phới bay tại trung tâm cứ điểm. Buổi chiều, bọn chỉ huy sư đoàn 22 trốn trong hầm ngầm cũng bị tiêu diệt và bắt toàn bộ. Sau hơn 6 giờ tiến công, Trung đoàn 66 và các phân đội tăng cường đã xóa sổ căn cứ 42, giải phóng thị trấn Tân Cảnh; loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 tên địch (trong đó có đại tá Lê Đức Đạt sư đoàn trưởng sư đoàn 22 ngụy và tên cố vấn Mỹ), bắt 429 tên (có đại tá sư đoàn phó Vi Văn Bình), bắn rơi 8 máy bay, thu và phá hủy 100 xe các loại, 10 khẩu pháo lớn, hàng vạn viên đạn pháo và toàn bộ kho tàng, phương tiện chiến tranh trong căn cứ. Đây là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta dùng lực lượng hiệp đồng binh chủng mạnh tiến công một căn cứ lớn có công sự vững chắc nằm sâu trong tuyến phòng ngự cơ bản của địch, với tốc độc nhanh, giành thắng lợi trọn vẹn. Thắng lợi của trận then chốt quyết định đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc và phát triển nhảy vọt về trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực Tây Nguyên, đồng thời kết thúc giai đoạn một chiến dịch. Khi bộ binh và xe tăng đánh chiếm căn cứ 42 tương đối thuận lợi, khả năng làm chủ cứ điểm đã rõ rệt. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch kịp thời ra lệnh cho pháo binh chuyển bắn vào Đắc Tô 2, chuyển thuộc 4 xe tăng và 1 cao xạ tự hành cho Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 làm chủ cứ điểm lúc 11 giờ 30 phút. Trong trận đánh này, trung dội trưởng Nguyễn Nhân Triển cùng kíp xe tăng số 377 lập kỷ lục xuất sắc, diệt 7 xe tăng địch rồi anh dũng hy sinh. Cùng thời gian này, Trung đoàn 141 Sư đoàn 2 được tăng cường xe tăng tiến công làm chủ quận lỵ Đắc Tô; Trung đoàn 400 đặc công đánh chiếm Diên Bình. Căn cứ 42 bị tiêu diệt, Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở tây bắc Kon Tum, nhanh chóng kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt vị trí địch trong vùng. Hỏang sợ và vội vả địch rút khỏi Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rua, Trí Lễ; các điểm cao 1338, 966, 1062. Sở chỉ huy lữ dù 3 cũng rút khỏi Võ Định về thị xã Kon Tum. Nhưng quân tháo chạy và bọn đi đón đã bị trung đoàn 28 diệt và bắt hàng trăm tên. Trong cảnh hỗn loạn và bị địch thúc ép, hàng nghìn dân bỏ chạy khỏi Đắc Tô, Tân Cảnh theo đường 14 về phía nam. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước, chính ủy Nguyễn Đằng và trung đoàn phó Vũ Khắc Đua kịp thời bảo vệ, giúp đỡ dân tránh bom rơi đạn lạc, đưa hơn 400 người trở về khu dân cư an toàn, tổ chức cho hàng nghìn người đi thành đoàn tạo điều kiện về thị xã Kon Tum. Ngay khi Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ vừa lập chiến công oanh liệt; đồng thời chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch kiên quyết khắc phục khó khăn, hết sức tranh thủ thời gian, khẩn trương cơ động lực lượng thực hiện ngay ''Nhiệm vụ trung tâm là tất cả để tranh thủ thời cơ giải phóng Kon Tum". Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:32:00 am * Sau khi mất Đắc Tô - Tân Cảnh, địch co về phòng thủ thị xã Kon Tum, lập bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 23, tập trung lực lượng của sư đoàn này và liên đoàn 6 biệt động quân vừa ở Nam Bộ ra lập tuyến phòng ngự phía bắc thị xã. Về phía ta, tuy có thời cơ thuận lợi nhưng cũng gặp khó khăn lớn về bảo đảm đạn, gạo và cơ động bih khí kỹ thuật vì đường 50K chưa thông với đường 14 và đường 70B chưa vượt qua dãy điểm cao phía tây sông Pô Kô. Ở Sư đoàn 2, số gạo chỉ còn đủ dùng trong 2 ngày. Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương dùng một lực lượng tiến công tiêu diệt liên đoàn 6 biệt động quân ở khu vực nam Võ Định, Kon Trang Klả và các cứ diềm Kleng, Plei Kần để mở đường vận chuyển; đồng thời đẩy nhanh tốc độ làm đường, chuẩn bị vật chất, cơ động lực lượng để ngày 10 tháng 5 tiến công thị xã Kon Tum. Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 10 tháng 5 các trung đoàn 28, 48, 64 đánh thiệt hại nặng liên đoàn 6 biệt động quân, Tiểu đoàn 20 đặc công tập kích căn cứ 42 Biển Hồ (diệt 400 tên, phá hủy 10 pháo lớn), Trung đoàn 95 diệt 3 đại đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác trên đường 14, Trung đoàn 52 đánh chiếm cứ điểm Kleng, xóa sổ tiểu đoàn 62 biệt động quân. Riêng Trung đoàn 66 do chủ quan khinh địch, tổ chức hiệp đồng chiến đấu thiếu chặt chẽ, cán bộ không sâu sát, báo cáo sai... nên trận đánh Plei Kần không thành công, kết quả hạn chế, ta thương vong nặng phải lủi ra củng cố. Lợi dụng lúc lực lượng ta phân tán đánh địch bên ngoài, giảm nhịp độ tiến công để làm công tác chuẩn bị. Địch từ trạng thái hoang mang, bấn loạn ở thị xã Kon Tum dã chuyển sang củng cố, tổ chức phòng ngự lại, tăng thêm trung đoàn 45. Ngày 11 tháng 5, tướng Ngô Du - tư lệnh quân đoàn 2 ngụy bị cách chức, tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay cho điều chỉnh lại đội hình, tập trung sư đoàn 23 dăng thành một tuyến phòng thủ mới khá chặt chẽ ngay sát phía bắc thị xã Kon Tum. Đến ngày 13 tháng 5, địch dã bố trí xong trung đoàn 53 trên hướng bắc, đông và nam, dọc hữu ngạn sông Đắc Bla; trung đoàn 44 ở tây bắc giữ khu vực ngã ba Trung Tín - Đường Ngang trung đoàn 45 làm dự bị, giữ căn cứ Lôi Hổ. Trước diễn biến mới về địch, trong khi ta vẫn chưa đủ điều kiện để thực hiện đánh nhanh giải phóng thị xã Kon Tum. Thường vụ Đảng ủy chiến dịch quyết định điều chỉnh lại kế hoạch tiến công thị xã thành hai bước: bước một đánh địch ở vùng ven, bước hai tiến công các mục tiêu bên trong giải phóng thị xã. Lực lượng sử dụng gồm 2 sư đoàn bộ binh (320, 2), 2 trung đoàn bộ binh (28, 66), có đặc công, xe tăng, pháo binh, cao xạ... tham gia. Thực hiện bước một đánh địch ở vùng ven, từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 5 Trung đoàn 64 được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48), 1 đại đội xe tăng đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 ngụy ở khu vực Đường Ngang - ngã ba Trung Tâm. Trung đoàn 48 (thiếu) tiến công căn cư Lôi Hổ nhưng do chuẩn bị quá gấp nên không thành, lại bị thiệt hại nặng. Trung đoàn 28 diệt được một số đại đội của trung đoàn 53. Trung đoàn 141 diệt một đại đội địch ở Kon Tiêu và Kon Kơ Pát. Đợt tiến công nay, ta diệt được một số đại đội địch nhưng chưa thực hiện được ý định đánh tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, chưa tổ chức được trận then chốt, chưa tìm ra cách đánh hữu hiệu trước đối tượng địch phòng thủ kiểu làng mạc, luôn di động lấn dũi có máy bay pháo binh chi viện mạnh. Phối hợp với đợt tiến công ở ngoại vi Kon Tum, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 24 cắt đứt con đường 14 huyết mạch đoạn Chư Pao, Chư Thoi. Địch tiếp tế cho Kon Tum chỉ còn dựa vào đường không. Để cứu nguy cho Kon Tum quân đoàn 2 ngụy huy động 2 liên đoàn biệt động quân (2, 6), 1 tiểu đoàn biệt động biên phòng, 1 trung đoàn thiết giáp tập trung pháo cối từ các trận địa ở điểm cao 738, Ninh Đức, Plei Mơ Rông, Tân Phú, Tà Bới và nhiều máy bay mở ... cuộc hành quân Bắc Bình Vương 712 do tên chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn chỉ huy nhằm mở thông đường 14. Nhưng suốt 10 ngày cuối tháng 5, địch vẫn không khai thông được con đường, lại bị diệt hơn 1.000 tên (trong đó có phó tư lệnh sư đoàn 23 Tạ Đình Liên và chi đoàn trưởng chi đoàn 3 thiết giáp Diêm Phú Hưng), 62 xe và 4 pháo 105 mm bị phá hủy, 2 kho đạn bị nổ tung. Nửa cuối tháng 5 mưa nhiều, tuyến vận chuyển bị địch đánh phá rất dữ dội, chiến dịch kéo dài gây cho ta nhiều khó khăn. Quân số thương vong cao, gạo chưa chuẩn bị kịp, đạn còn lại chưa đủ một cơ số. Trước tình hình khẩn trương và yêu cầu phối hợp chung, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch động viên toàn mặt trận khắc phục khó khăn, bằng mọi cách vận chuyển gạo đạn, kiên quyết tiến công địch giải phóng thị xã Kon Tum trong một thời gian tương đối ngắn. Thục hiện quyết tâm trên, đêm 24 tháng 5 cuộc tiến công và thị xã Kon Tum bắt đầu. Trên hướng đông nam và nam, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) cùng Đại đội 209 thị đội Kon Tum vượt sông Đắc Bla đánh vào đông nam sân bay, nam tỉnh đường rồi trụ lại đánh địch phản kích. Hướng Đông bắc, đêm 25 Trung đoàn (Sư đoàn 2) có xe tăng phối hợp nhanh chóng đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh thọc sâu diệt sở chỉ huy trung đoàn 53 ngụy ở Ngọc Hồi, rồi phát triển đánh chiếm khu kho 41, bệnh viện dã chiến bắc biệt khu 24. Trong 2 ngày tiến công, ta chiếm được các khu Ngọc Hồi, bệnh viện dã chiến 2, kho 41, một phần khu cơ giới, hai phần ba sân bay. Sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy phải di chuyển về phía nam thị xã, sở chỉ huy trung đoàn 44 lui về khu tiểu đoàn pháo 63. Từ ngày 26 đến ngày 28, địch tập trung bộ binh, xe tăng liên tiếp phản kích; đồng thời huy động một lực lượng lớn máy bay, pháo binh đánh phá rất dữ dội vào các khu vực ta chiếm trong thị xã. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Trên các hướng, bộ đội dũng cảm đánh chặn địch, tích cực tiến công chiếm được hai phần ba biệt khu 24, ba phần tư khu cơ giới... nhưng lực lượng bị tiêu hao, thiếu đạn dược, gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó Trung đoàn 64 và 52 vẫn chưa đột phá được trận địa phòng ngự địch ở ngã ba Trung Tín. Trước tình hình chiến sự diễn biến chậm chạp, Bộ tư lệnh chiến dịch đưa Trung đoàn 66 vào chiến đấu và điều chỉnh đội hình Sư đoàn 2 nhằm đẩy nhanh nhịp độ giải phóng thị xã. Trong những ngày này lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên tích cực đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật để phối hợp với bộ đội chủ lực. Ở Gia Lai, ta đánh sân bay Cù Hanh phá 3 máy bay C130, đốt cháy 70 vạn lít xăng, làm nổ tung một kho đạn lớn. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc tập kích căn cứ Ia Súp, phá cầu Ơi Nu và đánh lui nhiều đại đội bảo an giải tỏa. Song song với tác chiến, quân và dân các tỉnh mở thêm được nhiều vùng dân cư quanh thị xã Kon Tum khu vực Ma Rốc, buôn Phum Tra. Đặc biệt, ngày 9 tháng 6, tướng Giôn Pôn-van trưởng đoàn cố vấn Mỹ tại quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy đi trực thăng thị sát chỉ đạo sư đoàn 23 ngày phòng thủ thị xã Kon Tum; khi bay dọc đường 14 về Plei Ku bị ta bắn rơi, chết tại khu B1 Gia Lai. Đây là viên tướng được mệnh danh là nhân vật quan trọng thứ 3 của Mỹ ở miền Nam Việt Nam sau đại sứ Bân-cơ và tướng Oét-mo-len. Đầu tháng 6, cuộc chiến đấu ở trong thị xã Kon Tum ngày càng gặp nhiều khó khăn. Xét thấy những điều kiện giải phóng hoàn toàn thị xã không còn nữa, đêm 5 rạng ngày 6 tháng 6, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định cho các lực lượng trong thị xã Kon Tum lui quân, chủ động kết thúc chiến dịch Bắc Tây Nguyên xuân hè 1972. Trải qua 68 ngày đêm chiến đấu liên tục, khẩn trương, ác liệt, mặc dù ta chưa đạt được mục đích cao nhất của chiến dịch là giải phóng thị xã Kon Tum, nhưng chiến dịch tiếncông xuân hè 1972 của quân và dân Tây Nguyên cũng đạt được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa chiến lược. Ta đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu), đánh thiệt hại nặng sư đoàn 23 và sư đoàn dù 2, 2 liên đoàn biệt động quân (số 2, 6) và 10 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu 27.953 tên địch, bắn rơi phá hủy phá hỏng 212 máy bay, 1.227 xe quân sự, 146 pháo cối lớn, 75 kho, 25 cầu cống, 1 dàn ra đa, đốt cháy 70 vạn lít xăng và 1 vạn tấn bom đạn; thu 3.518 súng các loại, 88 xe, 3 trực thăng, 228 vô tuyến điện, 4 tổng đài, gần 9.000 viên đạn pháo và nhiều đạn dược, quân dụng, giải phóng phần lớn tỉnh Kon Tum và khỏang 4 vạn dân1. Chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972 là chiến dịch tiến công quy mô tương đương quân đoàn đầu tiên trên Chiến trường Tây Nguyên, diễn ra trong điều kiện ta còn nhiều khó khăn. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi cục diện chiến trường, mở rộng hoàn chỉnh thêm căn cứ địa rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn miền Nam đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Từ thực tiễn phong phú của chiến dịch, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, nhất là nghệ thuật giập thế trận, làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. ------------------------------------------------------------------ 1. Các số liệu trích dẫn theo (Báo cáo thành tích của chiến dịch xuân hè 1972 Tây Nguyên'' từ 26.3 đến 4.6.1972 của Bộ tư lệnh B3, tr. 1, 2. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:34:55 am * Ngay khi chiến dịch bắc Tây Nguyên vừa kết thúc, ngày 6 và 7 tháng 6 Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp mở rộng nghiên cứu nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đánh giá kết quả chiến dịch và đề ra chủ trương kế hoạch hoạt động trong mùa mưa năm 1972. Về tác chiến, Đảng ủy chủ trương ''tiếp tục phát triển cuộc tiến công trong mùa mưa" với trọng tâm là mở chiến dịch tổng hợp trên hướng tây nam Gia Lai. Thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, chủ trương của Đảng ủy chiến trường, cuối tháng 6 và dầu tháng 7 năm 1972 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức cho Sư đoàn 2, Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 và Trung đoàn công binh 83 hành quân về Quân khu 5; đồng thời khẩn trương điều chỉnh lại thế bố trí lực lượng bảo vệ vùng giải Phóng và đánh địch ở thị xã Kon Tum, cơ động Sư đoàn 320 (thiếu) về tây nam Gia Lai mở mặt mặt trận mới. Trong hai tháng (7 và 8 ) hai trung đoàn (66, 28) cùng lực lượng pháo binh luân phiên nhau vừa chiến đấu, vừa củng cố huấn luyện. Tháng 7, Trung đoàn 66 đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của 3 trung đoàn địch (45, 44, 53) ở vùng núi Ngọc Bay, Đắc Vát, Hà Mòn, Ngọc Quăn. Tháng 8, Trung đoàn 28 liên tục tiến công đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 ở Non Nước và trận địa pháo ở Kon Trang Klả. 60 ngày đêm chiến đấu, hai trung đoàn và lực lượng tăng cường đã diệt và bắt gần 1.500 tên địch, thu gần 400 súng các loại, giáng một đòn mạnh vào âm mưu lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Cùng thời gian này, Trung đoàn 24B và Trung đoàn 95 vừa tích cực đánh giao thông đường 14, bảo vệ vùng giải phóng huyện 3 và 4 Gia Lai, vừa tranh thủ thời gian củng cố, huấn luyện nâng cao khả năng tác chiến. Tiểu đoàn đặc công 20 Trung đoàn 400 tập kích căn cứ 41A đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy trung đoàn 53, diệt 1 tiểu đoàn pháo, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên địch, phá 7 pháo lớn. Hướng tây nam Gia Lai, tháng 7 ta thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây gồm các đồng chí lãnh đạo chỉ huy các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và chính quyền tỉnh Gia Lai. Đồng chí Phí Triệu Hàm (chính ủy Sư đoàn 320) làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Kim Tuấn (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) làm Tư lệnh Mặt trận. Dưới sự lãnh dạo chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây, đầu tháng 8 Sư đoàn 320, Tiểu đoàn 5 đoàn 671, Tiểu đoàn 2 đoàn 470 và quân dân tây Gia Lai mở đầu chiến dịch tổng hợp bằng đòn tiến công liên tục, rộng khắp. Chỉ trong một tuần, ta đã diệt đồn Tầm, bức rút đồn Chư Phổ, làm chủ ấp Chư Bồ, cắt đứt đường 19 tây, giải phóng hơn 2.000 dân ở Thanh Giáo, Làng Dịt, mở ra một vùng giải phóng kéo dài 30km từ Thanh An đến, đông Đức Cơ. Trước nguy cơ Plei Ku bị uy hiếp từ hướng tây nam quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy đã phải huy động sư đoàn 23 và 3 liên đoàn biệt động quân thay nhau phản kích giải tỏa, làm cho chiến sự ở tây nam Gia Lai ngày càng lan rộng và quyết liệt. Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách phát triển chiến tranh chính quy trên chiến trường Tây Nguyên trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Được sự chuẩn y của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 9 năm 1972 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 10. Hợp thành Sư đoàn là những đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang, được xây dựng chính quy trên miền Bắc, đã trải qua nhiều năm chiến đấu trưởng thành trong sự yêu thương đùm bọc và phối hợp tác chiến của lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên: Trung đoàn bộ binh 66 anh hùng1, Trung đoàn bộ binh 28, Trung đoàn bộ binh 95 và 8 tiểu đoàn trực thuộc (37 đặc công, 32 pháo hỗn hợp, 41 pháo cơ giới, 30 cao xạ, 31 công binh, 26 thông tin, 25 vận tải, 24 quân y). Bộ tư lệnh và cơ quan Sư đoàn 10 được chuyển từ Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Cánh Đông trong chiến dịch xuân hè 1972. Khi thành lập, Bộ tư lệnh Sư đoàn gồm các đồng chí: sư đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Quân, chính ủy Đặng Vũ Hiệp, sư đoàn phó Hồ Đệ, phó chính ủy Lã Ngọc Châu. Chủ trì ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần là các đồng chí Trần Quốc Biên (tham mưu trưởng), Nguyễn Đằng (chủ nhiệm chính trị), Đặng Văn Khóat (chủ nhiệm hậu cần). Sư đoàn 10 là hình ảnh thu nhỏ của bộ đội chủ lực Tây Nguyên trong những năm đánh Mỹ, diệt ngụy vô cùng ác liệt gian khổ. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định giải thể đoàn 400 đặc công, chuyển Tiểu đoàn 20 thành đơn vị độc lập trực thuộc B3; thành lập Trung đoàn bộ binh 25 (chủ lực tại chỗ) trên cơ sở đoàn bộ Đoàn 400 đặc công, Tiểu đoàn 5 (Đoàn 671) và Tiểu đoàn đặc công 20B; các đồng chí Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Ngãi được cử làm trung đoàn trưởng và chính ủy. Ngoài ra, Phòng Sản xuất Tiểu đoàn 12 (cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số rút từ các địa phương lên, hoạt động ở tây nam Gia Lai) cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động. Cuối năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang tiến gần đến bước ngoặt lịch sử. Sau 18 năm xâm lược Việt Nam gặp thất bại liên tiếp, tình hình kinh tế, chính trị xã hội nước Mỹ bị tác động sâu sắc, trong khi cuộc bầu cử tổng thống đã đến gần... buộc chính quyền Ních - xơn phải chấp nhận bản dự thảo ''Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam''. Nhưng khi đã chắc chắn trúng cử lại vào Nhà Trắng, Ních-xơn lật lọng, cố tình dây dưa trì hoãn việc ký kết nhằm tranh thủ thời gian tuồn vũ khí trang bị cho ngụy quân, đẩy mạnh các hoạt động lấn chiếm vùng giải phóng, tiến hành cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng hòng ép ta nhân nhượng theo những điều kiện có lợi cho chúng. Đồng thời địch ráo riết chuẩn bị kế hoạch ''tràn ngập lãnh thổ'' mở rộng địa bàn chiếm đóng trong trường hợp buộc phải ký Hiệp định Pa-ri. Trước tình hình khẩn trương, phức tạp đó, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho B3 phải giữ vững, hoàn chỉnh và mở rộng vùng giải phóng bắc Tây Nguyên, sẵn sàng làm địa bàn đứng chân cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; tiêu diệt và làm tan rã quân địch trong khu vực Đức Cơ, đẩy mạnh thế uy hiếp Plei Ku. Thực hiện chỉ thị trên, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên tích cực phòng giữ vùng giải phóng và đẩy mạnh tiến công trên các hướng. Ở Phía bắc, Trung đoàn 66 tiêu diệt các cứ điểm Plei Kần (12.10), Đắc Siêng (29.10), Non Nước (23.12); Trung đoàn 28 tiến công trung đoàn 53 ở Ngọc Quăn, Kon Trang Klả, sau đó cùng Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 chặn đánh ba trung đoàn 44, 45, 53 lấn chiếm vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Phía tây nam Gia Lai, Sư đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giải phóng 9 làng với trên 1.000 dân từ Phú Mỹ đến Phú Nhơn, rồi cùng Trung đoàn 24 đánh bại cuộc phản kích lớn của 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo trên đường 19 tây. Tiếp đó từ tháng 12 năm 1972 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 quân và dân Tây Nguyên mở một đợt hoạt động mạnh trước ngày Hiệp định ngừng bắn có hiệu lực, tập trung trên hướng tây nam Gia Lai và tây bắc thị xã Kon Tum; giải phóng các cứ điểm Chư Bồ, Đức Cơ, 601 Lam Sơn, loại khỏi vùng chiến đấu 4.000 tên địch, bắt 481 tên, phá hủy 290 xe quân sự, 45 pháo lớn, bắn rơi và phá 65 máy bay, thu trên 1.000 súng các loại và 173 vô tuyến điện; giải phóng 15 ấp chiến lược và khu dồn dân. Những đợt tiến công liên tiếp của ta ở Tây Nguyên cuối năm 1972 và tháng 1 năm 1973 không những tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của địch, giành được dân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng; mà còn tạo điều kiện củng cố căn cứ địa, tăng thêm thế và lực để bước sang giai đoạn cách mạng mới. ------------------------------------------------------------------ 1. Trung đoàn bộ binh 66 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 19 tháng 5 năm 1972. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:36:34 am * Tuy chỉ chiếm một phần năm thời gian trung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng giai đoạn đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' có ý nghĩa quyết định trực tiếp buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rút hết quân về nước. Bước vào Nhà Trắng trong tình thế thất bại, Ních-xơn nặn ra một ''học thuyết'' mới phản cách mạng mang tên y và được thử nghiệm ở Việt Nam bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng được Mỹ, ngụy thí điểm và thực hiện chiến lược mới này từ rất sớm. Ngay từ đầu năm 1969, với một lực lượng lớn quân ngụy đã được hiện đại hóa, có quân Mỹ hỗ trợ và máy bay pháo lớn chi viện, địch mở liên tiếp ba cuộc hành quân ''Bình tây'' nhằm thí điểm ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên. Nhưng keo đầu đọ sức với chủ lực ta tại Chư Pa, quân ngụy đã tỏ ra non kém. Âm mưu ''chia sẻ trách nhiệm'', ''thay màu da trên xác chết'' chưa thể thực hiện được, sư đoàn 4 Mỹ buộc phải tung tiếp 2 lữ đoàn cứu nguy xuống tây Kleng dể rồi bị đánh tơi tả, rút chạy thảm hại. Phát huy thắng lợi, quân và dân Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Tô 2 giáng đòn phủ đầu vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách do cuộc ''chiến tranh bóp nghẹt'' của địch gây ra, lực lượng vũ trang Tây Nguyên nêu cao ý chí quyết thắng sáng tạo, đoàn kết thống nhất, tự lực tự cường, trụ bám chiến trường, vừa đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ địa, vừa lật cánh về nam Tây Nguyên mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập giành thắng lợi giòn giã. Năm 1969, năm đầu đánh bại chiến lược ''Việt Nan hóa chiến tranh'', quân dân Tây Nguyên không chỉ đạt kỷ lục cao nhất về tốc độ mở các chiến dịch, về chất lượng diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, mà còn vượt qua những đỉnh cao của gian nan thử thách. Trưởng thành trong gian khó, lớn lên qua thử thách, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đỉnh đạc chủ động bước vào các chiến dịch Đắc Siêng (1970), Ngọc Tô Ba - Ngọc Rinh Rua (1971), tiến công địch ở Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia phối hợp hiệu quả với các cuộc phản cộng chiến lược của ta ở Đông Bắc Cam-pu-chia và Đường 9 - Nam Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế. Trên đà thắng lợi, với thế và lực lớn mạnh chưa từng có, quân và dân Tây Nguyên đã mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn đầu tiên ở cao nguyên, giải phóng phần lớn tranh Kon Tum, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung trong cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận bản dự thảo ''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam''. Trải qua thực tiễn chiến đấu đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên; với tài trí thao lược của Bộ tư lệnh Chiến trường, tính chủ động linh hoạt của cơ quan mặt trận và chỉ huy các cấp, sự thông minh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ đã góp phần làm cho nghệ thuật chiến tích phát triển đến trình độ cao; vừa hoàn thiện những chiến thuật đã có, vừa sáng tạo những cách đánh mới phong phú. Trong đó, chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục được sử dụng rộng rãi mang lại hiệu quả cao, đồng thời bước đầu thực hiện thành công chiến thuật tiến công địch trong cứ điểm có công sự vững chắc bằng hiệp đồng binh chủng quy mô trung đoàn tăng cường - một cách đánh được vận dụng rộng rãi trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ của bộ dội chủ lực Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:48:46 am Chương bốn GIỮ VỮNG VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG, TÍCH LỰC, TẠO THẾ, NẮM VỮNG THỜI CƠ, TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TÂY NGUYÊN (28.1.1973 - 26.3.1975) 1. Giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, tại Pa-ri thủ đô nước Cộng hòa Pháp ''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam" được ký kết. Nội dung cơ bản của Hiệp định là Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và các nước khác ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị và hai vùng kiểm soát. Hiệp định có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Hiệp định Pa-ri đánh dấu thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong suốt 18 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam bước vào giai đoạn cuối cùng với những thuận lợi chưa từng có: Mỹ đã ''cút'', ngụy cũng sẽ ''nhào''. Trước bước ngoặt của cách mạng và trong ngày lịch sử trọng đại này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi quân và dân cả nước ''tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà''. Tuy buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, cay đắng rút hết quân viễn chinh, âm thầm cuốn cờ về nước ngày 29 tháng 3 năm 1973, nhưng đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu thực hiện ''Học thuyết Ních-xơn'' duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta. Để thực hiện dã tâm đó, trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ đã đưa thêm vào miền Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, nhiều tàu chiến. Khi rút khỏi miền Nam, quân Mỹ để lại hầu như toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở vật chất cho quân đội Sài Gòn. Trong năm 1973, Mỹ còn đưa thêm vào miền Nam 124 khẩu pháo, 98 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Song song với viện trợ vũ khí, để lại cố vấn quân sự, Mỹ tiếp tục duy trì một lực lượng quân sự lớn ở khu vực Đông Nam Á làm ''lực lượng răn đe''; đồng thời dùng hoạt động ngoại giao xảo quyệt nhằm hạn chế viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Có quân đông, dựa vào vũ khí Mỹ và được cố vấn Mỹ giúp đỡ, ngay trong ngày ký Hiệp định Pa-ri và liên tục trong những ngày tiếp sau, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu xua quân lấn chiếm vùng giải phóng suốt từ Cửa Việt (Quảng Trị đến Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện kế hoạch ''tràn ngập lãnh thổ''. Tại Tây Nguyên, địch tập trung binh lực lớn gồm 43 tiểu đoàn chủ lực (24 tiểu đoàn bộ binh, 11 tiểu đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo, chiếm 68% tổng số tiểu đoàn của quân đoàn 2, quân khu 2), 5 phi đoàn (chiếm 40% số máy bay của quân đoàn 2) và lực lượng địa phương (19 tiếu đoàn, 15 liên đội và một số đại đội bảo an, 144 trung đội dân vệ) 700 liên toán và 719 toán phòng vệ dân sự, 4 đại đội 16 chi và 169 phân chi cảnh sát). Tổng quân số lên tới hơn 60.000 tên. Thực hiện âm mưu và kế hoạch từ trước, sáng sớm ngày 28 tháng 1, hàng chục tiểu đoàn địch có xe tăng đi cùng và máy bay, pháo binh chi viện mạnh mở các chiến dịch ''vì dân'', ''tràn ngập lãnh thổ'' ào ạt lấn chiếm vùng giải phóng của ta ở khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Trọng tâm là giải tỏa và chiếm lại các khu vực trên trục quốc lộ số 14 đoạn nam Kon Tum, nam Plei ku và quốc lộ 19 đoạn đèo Măng Yang - An Khê. Trong tuần đầu thi hành Hiệp định Pa-ri và lệnh ngừng bắn, ở tây bắc Kon Tum, địch đã nống ra Đắc Rơ Cót, tây suối Đắc Le; dùng 4 đại đội bảo an và 1 chi đoàn thiết giáp tiến chiếm Plei Ta, Plei Kla, Tân Điền, đổ bộ 1 đại đội của trung đoàn 44 xuống vùng giải phóng của ta ở Hà Mòn, Đắc Vát. Cùng lúc 9 tiểu đoàn bộ binh (80, 89, 62, 90, 72, 254, 251, 2/44, 213) và chi đoàn 1 thiết giáp (trung đoàn 8 ) liên tục phản kích dọc trục đường 14 đoạn Chư Thơi, từ cầu số 6 đến cầu số 8. Hướng tây nam Gia Lai, 3 chi đoàn thiết giáp (1, 3/21, 3/3) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 45), liên đội 266 bảo an đánh vào các chốt trên dường 14 nam Plei Ku, đoạn Phú Mỹ đến Mỹ Thạch; tiểu đoàn 11 biệt động quân đổ xuống Chư Quênh Dâu cách bắc làng Dịt 3km. Trên đường 19, đoạn đông đèo Măng Yang - Hà Tam, 3 tiểu đoàn bộ binh (1/41, 2/45, 95) cùng Trung đoàn 19 thiết giáp ráo riết đánh mở đường. Tại Đắc Lắc, 3 tiểu đoàn bảo an có máy bay pháo lớn chi viện lấn chiếm vùng giải phóng ở khu vực nam Buôn Hồ - bắc Đạt Lý. Trước tình hình diễn biến rất khẩn trương, thực hiện chủ trượng chỉ thị của cấp trên, ngay trong tháng 1 năm 1973 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chủ động điều chỉnh lực lượng, bố trí lại thế trận, kịp thời chuyển các đơn vị làm nhiệm vụ tiến công trước giờ ngưng bắn sang phòng giữ các khu vực vừa giải phóng. Sáng ngày 28 tháng 1, khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, các lực lượng của mặt trận đã triển khai xong thế trận bảo vệ vùng giải phóng, sẵn sàng trừng trị quân lấn chiến vi phạm Hiệp định. Tại vùng giải phóng Kon Tum, Trung đoàn bộ binh 24B Trường Quân chính B3, Tiểu đoàn 20 đặc công và tiểu đoàn pháo phòng không 37mm triển khai lực lượng bảo vệ các mục tiêu chính Đắc Tô, Tân Cảnh, Plei Kần và xây dựng các trận địa chốt trên dãy Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng, điểm cao 1015, 1038, các điểm cao phía đông Tân Cảnh. Sư đoàn bộ binh 10 bố trí 2 trung đoàn 66, 28, các phân đội hỏa lực giữ tuyến đông - tây suối Đắc Le dài hơn 20km từ Ngọc Quăn (điểm cao 751), Ngô Trang, Đắc Rơ Cót đến Ngô Thạnh, Krông, Trung Nghĩa. Tiểu đoàn 406 địa phương đứng chân ở bắc Do Lai và Tiểu đoàn 304 địa phương ở Kon Hơ Rinh tạo thêm thế trận vững chắc cho Sư đoàn 10 trên tuyến phòng giữ trực tiếp tiếp xúc với địch ở tây bắc thị xã Kon Tum. Cùng thời gian này, Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 37 đặc công và Tiểu đoàn 631 hoàn chỉnh trận địa chốt cắt giao thông đường 14 ở nam Kon Tum và bảo vệ vùng giải phóng tây nam Kon Tum - tây bắc Plei Ku. Trên hướng Gia Lai, Sư đoàn bộ binh 320 triển khai lực lượng trong một khu vực rộng lớn từ làng Dịt đến Đồn 30, ngã ba Phước Thiện, Đức Cơ, cùng với Tiểu đoàn 2 (đoàn 470 ở Phượng Hoàng) và Trung đoàn pháo binh 675 tạo thành thế trận vững chắc ở tây nam Plei Ku. Riêng Trung đoàn 48 (thiếu) và Tiểu đoàn 12 chốt giữ trận địa cắt đường 14 phía nam Phú Mỹ. Tiểu đoàn pháo binh 33 bảo vệ khu vực Cu Lang 3 và Làng Ó. Tiểu đoàn 2 địa phương cắt đèo Măng Yang. Tiểu đoàn 67 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 408 triển khai ở bắc ngã ba Plei Bôn. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn bộ binh 25 giữ vùng giải phóng Buôn Hồ - Quảng Nhiêu, lập các chốt ở bắc Ia Tung, điểm cao 782, Chư Bao. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 7 đứng chân ở nam Phú Nhơn. Các binh trạm, bệnh viện, nhà trường, kho tàng, trạm xăng, đơn vị sản xuất sẵn sàng đánh địch bảo vệ khu vực được giao. Trong thế trận đã chuẩn bị, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích kịp thời, kiên quyết trừng trị quân địch lấn chiếm vùng giải phóng ngay từ sáng sớm ngày 28 tháng 1 năm 1973 và những ngày tiếp sau. Ở nam Kon Tum, Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 631 đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn 251 bảo an và tiểu đoàn 80 biệt kích, diệt 492 tên, bắt 21 tên, phá hủy 4 xe, phá sập 1 cầu, thu 98 khẩu súng và 21 vô tuyến điện. Hướng nam Plei Ku, Cụm 212 (gồm Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 12) do đồng chí Nguyễn Hữu Ưng (trung đoàn phó Trung đoàn 48) và đồng chí Lý Sĩ Điểm (phó chính ủy) chỉ huy, chiến đấu liên tục suốt 14 ngày, đánh thiệt hại nặng và giam chân trung đoàn 21 thiết giáp và 4 tiểu đoàn bộ binh địch, diệt 169 tên, bắt 2 tên, phá hủy phá hỏng 39 xe tăng, xe thiết giáp (trong đó có loại xe tăng M48 mới được sử dụng lần đầu tiên ở Tây Nguyên), bắn rơi 3 máy bay, thu nhiều vũ khí. Trên các khu vực tay bắc thị xã Kon Tum, đèo Măng Yang, Chư Nghé, Buôn Hồ, Tiểu Teo..., ta đều diệt được địch, bắn rơi máy bay, phá hủy một số xe cộ, thu vũ khí. Tuần đầu thực hiện Hiệp định Pa-ri, quân và dân Tây Nguyên nêu cao canh giác, kiên quyết giáng trả quân địch vi phạm Hiệp định đánh 73 trận, diệt 734 tên địch, bắt 28 tên, phá hủy hàng chục xe quân sự, bắn rơi một số máy bay, tgu 145 súng các loại và 23 vô tuyến điện. Song do lực lượng ta mỏng vừa chuyển sang phòng giữ, địa bàn rộng, kinh nghiệm chống lấn dũi còn ít; trong khi quân địch tập trung đông trên từng hướng, liên tục phản kích lấn dũi dai dẳng nhiều ngày, sử dụng nhiều xe tăng, pháo binh, máy bay... nên dần dần đánh bật được ta ở đèo Măng Yang chiếm được các ấp Plei Ta Cha, Tân Điền, Plei Kla tây nam Kon Tum), các ấp xung quanh Quảng Nhiêu, Buôn Hđơt, Buôn Cao, Hà Lan 3 và đàn áp hai cuộc biểu tình của 1.000 người dân ở phú Quang (phú Nhơn) và Đạt Lý 1 (Đắc Lắc). Những hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri với quy mô ngày càng mở rộng và tính chất ngày càng ác liệt đã bộc lộ rõ âm mưu đen tối và rắp tâm phá hoại hòa bình của tập đoàn Nguyễn văn Thiệu. Máu của quân và dân Tây Nguyên vẫn tiếp tục đổ đã cảnh tỉnh những ai buông lơi cảnh giác, "xả hơi", ảo tưởng hòa bình, trông chờ kẻ địch thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định. Ngày 1 tháng 2 năm 1973, khi tiếng súng trừng trị quân lấn chiếm nổ vang khắp Tây Nguyên, tạo cuộc mít tinh trọng thể chào mừng thắng lợi của Hiệp định Pa-ri, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh chiến trường nhắc nhở: ''Cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang Tây Nguyên nghiêm chỉnh và triệt để chấp hành mệnh lệnh của bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, luôn luôn đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu, không ngừng phát triển lực lượng vững mạnh toàn diện làm hậu thuẫn cho nhân dân đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa- ri giữ gìn hòa bình... Thực tế đế quốc Mỹ và tay sai đã không nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định. Bộ đội ta cần phải chiến đấu, máu của đồng bào và chiến sĩ vẫn chưa ngừng chảy, chúng ta kiên trì hòa bình với thiện chí của chúng ta, nhưng chúng ta cũng kiên quyết đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm của kẻ địch, đồng thời cũng phải cảnh giác với mọi biểu hiện ảo tưởng, mất cảnh giác, mọi suy nghĩ không có lợi cho sự nghiệp cách mạng có thể xuất hiện''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:53:32 am * Trong hai tháng (2 và 3 năm 1973), lợi dụng ta chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri, quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy rút các đơn vị ở phía sau tăng cường cho các hướng lấn chiếm, tập trung giải tỏa đường giao thông và những nơi ta giải phóng trước ngày ngừng bắn có hiệu lực. Chỉ riêng trong tháng 2, địch đã mở tới 10 cuộc hành quân lấn chiếm cỡ chiến đoàn tăng cường trở lên. Các hướng An Khê - Măng Yang, đường 14 nam Plei Ku, Buôn Hồ, làng Dịt luôn có 7 tiểu đoàn bộ binh và nhiều xe tăng thiết giáp lấn chiếm giải tỏa. Các khu vực nam Phú Nhơn, Plei Bôn (Khu 3 Gia Lai), đường số 5 và tây nam thị xã Plei Ku, tây bắc thị xã Kon Tum thường xuyên có từ 3 đén 6 tiểu đoàn bộ binh được xe tăng, máy bay, pháo lớn hỗ trợ xâm lấn vùng giải phóng. Riêng khu vực đường 14 đoạn Chư Thoi, địch tập trung tới 11 tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp liên tục giảil tỏa và đánh rộng sang hai bên, nhất là hướng tây đường. Cùng với tiến công lấn dũi ở phía trước, địch dùng máy bay pháo lớn đánh phá mạnh vào các mục tiêu nằm sâu trong vùng giải phóng nhằm sát thương sinh lực, triệt hạ kho tàng, ngăn chặn các tuyến vận chuyển cơ động, phá hoại sản xuất và dân sinh. Trong tháng 2 chúng đã gây ra 1.615 vụ ném bom bắn pháo; tháng 3 bắn 43.000 viên đạn pháo các loại vào vùng giải phóng. Đặc biệt nghiêm trọng, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 2 địch ném hàng trăm quả bom và bắn hàng ngầm quả đại bác có cả đạn hóa học và khu dân cư ở ba làng Bông Mô, Bông Bim và Bông Rung (Khu 3, Gia Lai) phá hơn 100 ngôi nhà, làm cháy hơn 100 tấn thóc, giết chết 50 trâu bò. Ngoài các hoạt động trên, địch còn tổ chức móc nối nhiều cơ sở điệp ngầm ở dọc biên giới phía tây, nhất là vùng giải phóng ở trục đường 19 và 18. Trong vùng kiểm soát, địch tổ chức ''các chiến dịch'' ''thanh lọc'' khủng bố dân. Tháng 3 có tới 36 cuộc hành quân cảnh sát được tiến hành, tập trung đánh phá truy tróc các cơ sở của ta, đàn áp những ngươi có tư tưởng chống đối hoặc có xu hướng tán thành hòa bình, tuyên truyền Hiệp định Pa-ri không theo ý chúng. Đi đôi với các hành động quân sự, địch đẩy mạnh các hoạt động chính trị thâm độc. Nhiều tổ chức phản động mới được lập ra, như cái gọi là: ''Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình thực thi quyền tự quyết'', ''ủy ban đấu tranh chính trị'', ''ủy ban lâm thời bảo vệ quốc gia''... nhằm tập hợp bọn phản động chống phá cách mạng và lừa bịp dân chúng. Ở Đắc Lắc, Gia Lai... địch vực dậy tổ chức phun rô (FULRO)1, lập các đại đội chiến đấu, trang bị vũ khí, cung cấp tiền bạc, ráo riết hoạt động lôi kéo ép buộc đồng bào dân tộc thiểu số đi theo chống lại cách mạng. Trên khắp cao nguyên, bọn sinh viên phản động trong sinh viên, sĩ quan tâm lý len lỏi xuống tận các buôn làng, xóm ấp tuyên truyền xuyên tạc Hiệp định Pa-ri, vu cáo nói xấu cách mạng, gây chia rẽ kinh - Thượng, tổ chức biểu tình vu khống ta với Ủy ban quốc tế ở thị xã Kon Tum, gây ra vụ hành hung đối với phái đoàn thi hành Hiệp định của ta ở Buôn Ma Thuột. Lợi dụng thời cơ ''đục nước béo cò'', các đảng phái phản động như Quốc dân Đảng, Đại việt, Nhân xã Đảng... và những phần tử phản động đội lốt tôn giáo củng tăng cường hoạt động, mở rộng ảnh hưởng theo những ý đồ tăm tối. Những hành động quân sự và ''chiến tranh chính trị'' ráo riết thâm độc của địch ở Tây Nguyên, bộc lộ rõ âm mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu, tạm thời gây cho ta không ít khó khăn. Trước những hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định có hệ thống và ngày càng gia tăng của địch; thực hiện chủ trương chủ động kiên quyết đánh địch xâm lấn vùng giải phóng của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh B3, quân và dân Tây Nguyên dũng cảm đấu tranh trên tất cả các mặt trận quân sự, chinh trị, binh vận để giữ gìn hòa bình, bảo vệ vùng giải phóng. Trong hai tháng (2, 3) toàn mặt trận đã diệt 3.058 tên địch lấn chiếm, bắt 96 tên (có 9 sĩ quan), phá hủy 152 xe quân sự (có 53 xe tăng, xe thiết giáp), 10 pháo lớn, 6 kho, bắn rơi 12 máy bay , thu gần 370 khẩu súng các loại và hơn 50 vô tuyến điện; mở được 16 ấp với hơn 2.460 người dân. Song song với đòn quân sự trừng trị quân địch vi phạm Hiệp (định Pa-ri, ta đẩy mạnh tiến công về chính trị, binh địch vận và pháp lý giành nhiều kết quả. Được tuyên truyền giải thích thấy rõ chính nghĩa cách mạng và bộ mặt thật phản dân hại nước của tập đoàn cầm quyền Nguyễn Văn Thiệu, nhiều lính địch mang súng chạy sang với cách mạng, có đơn vị chống lệnh hành quân không chịu lấn chiếm vùng giải phóng, hoặc báo cáo sai lên trên. Tháng 3, có 15 lính ra hàng ta và 1 đại đội, 1 trung đội chống lệnh hành quân. Do đấu tranh kiên quyết, có lý có tình, ta đã buộc chỉ huy tiểu đoàn địch ở hướng tây nam Gia Lai, tây bắc Kon Tum phải thừa nhận hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri, chịu cam kết không lấn chiếm, không bắn pháo bừa bãi và càn quét quấy nhiễu nhân dân trong vùng, tham gia cùng ta làm nhà ''Hòa hợp'' hoặc dò gỡ mìn để dân đi lại làm ăn. Bên cạnh những kết quả bước đầu, trong giai đoạn này ta còn có nhiều hạn chế. Do phòng ngự mang tính thụ động, lúng túng trong cách đánh, địch đánh nơi nào ta đối phó nơi đó nên ở một số nơi địch giành được quyền chủ động. Mặc dù bộ đội chiến đấu rất dũng cảm nhưng địch vẫn mở thông được các đường 14 19 và lấn chiếm nhiều vị trí ở đông suối Đắc Le, Krông, Trung Nghĩa, Tà Rộp, Ngô Thạnh, Đắc Teng, Plei Klo (tây bắc thị xã Kon Tum). Tuy ta diệt được nhiều địch, song chưa tổ chức được những trận đánh tiêu diệt gọn, chưa giáng cho địch những đòn thật đau nên chưa cải thiện được thế trận phòng ngự. Đầu mùa hè năm 1973, sau khi tiểu đoàn 95 biên phòng ngụy bị ta đánh thiệt hại nặng ở tây Chư Thoi và hai tiểu đoàn 23, 62 bị trừng trị ở làng Dịt, địch buộc phản tạm hòa hoãn trên hai hướng này, để tập trung lực lượng lấn chiếm vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Đến cuối tháng 5, trong phạm vi Sư đoàn 10 phụ trách, quân địch đã có tới 17 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo2. Riêng hướng tây bắc Kon Tum, 15 tiểu đoàn địch và hàng chục xe tăng, xe bọc thép, 40 khẩu pháo lớn bố trí thành thế phòng ngự liên hoàn, kéo dài từ Ngô Trang, Ngọc Bay đến Krông, Trung Nghĩa. Từ các vị trí bàn đạp vừa chiếm, địch tiếp tục xâm lấn vùng giải phóng của ta trên toàn tuyến, tập trung vào Đắc Rơ Cót, điểm cao 674 và vùng Chư Dệt, Võ Định. Cùng với tiến công phía trước, địch dùng máy bay, đại bác đánh phá rất mạnh vào hậu phương ta. Trong tháng 5, chúng tiến hành 54 vụ oanh tạc, ném 724 quả bom, bắn 12 quả rốc két, 64 lần pháo kích bắn 8.670 quả đạn pháo cối và sử dụng 428 lượt máy bay trinh sát vùng giải phóng do Sư đoàn 10 đảm nhiệm. Phối hợp với các hoạt động quân sự, địch đẩy mạnh các thủ đoạn chiến tranh tâm lý. Lợi dụng những nơi tiếp xúc trực tiếp với ta, chúng tung bọn ''Phượng Hoàng'', ''Thiên Nga'' gái điếm mua chuộc dụ dỗ chiêu hồi, mở nhạc vàng, biểu diễn văn nghệ gieo rắc ảo tưởng hòa bình hòng lung lạc cán bộ, chiến sĩ ta. Để đánh bại các cuộc tiến công của địch lấn chiếm vùng giải phóng, khôi phục lại những vị trí đã mất, cải thiện thế trận phòng ngự, giữ vững vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Bộ tư lệnh chiến trường quyết định tập trung lực lượng của Sư đoàn 10, mở cuộc tiến công quân sự, chính trị, binh vận mạnh mẽ. Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6, Sư đoàn 10 tổ chức đợt một tiến công. Mở đầu đợt hoạt động, Tiểu đoàn 37 đặc công bất ngờ tập kích chiếm Trung Nghĩa - một vị trí quan trọng nằm trên đường 511, cách thị xã Kon Tum hơn 10km về phía tây, rồi vượt sông Pô Kô phối hợp với đơn vị bạn giải phóng Tà Rộp, Ngô Thạnh. Cùng lúc, Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 đánh chiếm các vị trí ở đông điểm cao 542 và nam Ngọc Bay; Trung đoàn 95 tiến công tiểu đoàn 251 bảo an ở khu ba làng (Plei Klo, Plei Klei, Plei Ta Cha). Sau đó các đơn vị chuyển sang phòng ngự, đánh địch phản kích. Đợt một, ta diệt 190 tên, bắt 22 tên, phá hủy 3 xe M113, sáu pháo lớn, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 80 súng và 7 vô tuyến điện. Bị mất các vị trí quan trọng ở bờ tây suối Đắc Le và khu vực ngã ba sông Đak Bla - Pô Kô, địch ở thị xã Kon Tum bị uy hiếp mạnh. Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy vội vã huy động 11 tiểu đoàn và nhiều xe tăng, máy bay, pháo binh, giao cho sư đoàn 23 chỉ huy, mở cuộc phản kích lớn nhằm chiếm lại các vị trí vừa mất. Đội hình phản kích của địch chia làm bốn cánh. Cánh thứ nhất gồm 4 tiểu đoàn đánh vào Trung Nghĩa; cánh thứ hai có 3 tiểu đoàn đánh vào Ngô Thạnh; cánh thứ ba có 2 tiểu đoàn tiến công Ngọc Bay và điểm cao 674; cánh thứ tư gồm 3 tiểu đoàn bảo an đánh vào khu ba làng và điểm cao 675. Cuộc phản kích kéo dài từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7. Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 chủ động chuyển sang đợt hai: kiên quyết giữ vững tuyến phòng thủ Đắc Rơ Cót - Ngọc Bay - Lam Sơn và vùng mới thu hồi Krông - Trung Nghĩa - Ngô Thạnh - Plei Klo. Các đơn vị nhanh chóng được điều chỉnh theo kế hoạch chiến đấu mới, Trung đoàn 28 cơ động về phía tây suối Đắc Le sẵn sàng đánh địch. Trong thế trận đã chuẩn bị sẵn, từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 7 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 dũng cảm chặn đánh cả 4 cánh quân địch. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 24 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 trung đoàn 45, diệt gần 70 tên ở khu vực đồi Tròn, điểm caơ 674 buộc địch phải rút về đông suối Đắc Le củng cố. Khi địch chiếm Trung Nghĩa, Đồi Tròn, ta kịp thời đưa Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 vào phản kích chiếm lại. Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 24, Trung đoàn 28 cơ động Tiểu đoàn 1 và Đại đội 19 đặc công đón đánh tiểu đoàn 11 biệt động quân ở tây điểm cao 607. Tuy chỉ diệt được 32 tên, bắt 5 tên nhưng đã giáng đòn phủ đầu vào cánh quân vu hồi của địch, Phá vỡ một bước kế hoạch chiếm Ngọc Bay, Trung Nghĩa của chúng. Ở hướng nam, Tiểu đoàn 37 đặc công liên tục chặn đánh tiểu đoàn 1 trung đoàn 45 từ cầu Đắc Lếch đến Trung Nghĩa. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 63 Trung đoàn 95 đánh tiêu hao tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 ở Ngô Thạnh. Sau đó hai tiểu đoàn 8, 9 Trung đoàn 66 chặn diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 47 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 95 đánh thiệt hại nặng đại đội 746 thám kích ở Plei Klo. Hơn một tháng rưỡi chiến đấu, Sư đoàn 10 đã đánh bại 2 đợt phản kích lớn của địch, khôi phục và giữ vững vùng giải phóng, đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn, diệt 905 tên, bắt 48 tên, phá hủy 9 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, thu 205 súng các loại và 28 vô tuyến điện. Bên cạnh những thành tích trên, trong đợt chiến đấu này ta đánh giá địch chưa sát, nhất là về sử dụng lực lượng phản kích, mức độ ngoan cố, thủ đoạn lấn chiếm nên vận dụng cách đánh còn thiếu linh hoạt, chưa tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, tỷ lệ thương vong cao. ----------------------------------------------------------------- 1. FULRO: viết tắt từ tiếng Pháp: "Front unifié du lutte des races opprimées (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức). 2. Trong đó 5 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn thiết giáp chiếm giữ khu vực Kon Trang Klả, Bãi Ủi, Ngô Trang Kép, Đắc Rơ Cót, Non nước; 8 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo triển khai ở Đắc Lếch, Trung Nghĩa, Krông, điểm cao 628; 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp và 1 tiểu đoàn pháo ở phía nam thị xã Kon Tum; các tiểu đoàn biên phòng chiếm đóng các trại biệt kích Đắc Pét, Plei Mơ Rông... Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:09:30 pm * Sau nửa năm thực hiện Hiệp định Pa-ri lợi dụng được niềm tin vào hòa bình, chờ đợi, thụ động của ta, địch liên tục phản kích khắp miền Nam. Chúng đã lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng ở nam - bắc đường số 4, các lõm căn cứ ở Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số vùng giải phóng cũ ở Khu 5, Khu 8. Riêng ở Khu 9, ta kịp thời kiên quyết đánh trả và chủ động tiến công, nên địch đông hơn gấp năm, sáu lần vẫn không thực hiện được kế hoạch lấn chiếm. Trước tình hình nghiêm trọng đó, tháng 6 năm 1973 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 211, vạch ra đường lối hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, khẳng định: ''Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến tiến công''2. Về phương châm hoạt động quân sự, Trung ương Đảng chỉ rõ: "Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng... Việc vận dụng phương châm trên phải gắn liền với yêu cầu giành dân và giành quyền làm chủ... nhằm giành lấy thế mạnh để thắng địch''3. Dưới ánh sáng Nghị quyết 21, quân và dân Tây Nguyên cùng toàn miền Nam và cả nước bước vào giai đoạn cuối cùng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, với khí thế mới. Giữa mùa mưa năm 1973, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chỉ đạo Sư đoàn 10 vừa kiên quyết giữ tuyến phòng ngự trực tiếp tiếp xúc ở tây bắc Kon Tum, vừa luân phiên đưa lực lượng về phía sau củng cố, đồng thời giao cho Sư đoàn 320 chuẩn bị mở hướng tiến công mới ở phía tây Gia Lai, nhằm giáng một đòn đau vào nơi xuất phát các cuộc hành binh lấn chiếm của địch. Trong những ngày mưa tầm tã, tiếng súng trên hướng tây bắc Kon Tum vẫn không ngừng nổ. Những cơn mưa lớn kéo dài hàng tuần đã gây ra bao khó khăn cho người chiến sĩ giữ chốt. Hầm hào đầy nước, sạt lở, gạo, đạn ẩm mốc, quần áo luôn ướt sũng rách bươm, bùn đất ngập ngụa, bệnh lở loét hắc lào viêm nhiễm kẽ chân tay và sốt rét hoành hành, quân số chiến đấu ngày càng giảm dần. Kẻ địch cũng biết rõ, đã triệt để lợi dụng khó khăn của ta, ra sức đánh chiếm các chốt. Từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, ba tiểu đoàn địch (1, 2/45, 2/44) liên tiếp đánh vào Trung Nghĩa, Đồi Tròn do Trung đoàn 28 chốt giữ. Cùng thời gian này nhiều đại đội địch tiến công vào tuyến phòng thủ của Trung đoàn 24 ở Đắc Rơ Cót, Ngọc Bay, điểm cao 674. Tàn bạo hơn, địch dùng máy bay, pháo cối đánh phá có tính hủy diệt trận địa ta. Chỉ riêng ngày 2 tháng 8, có tới 34 lần chiếc phản lực ném 200 quả bom các loại và pháo binh bắn hàng trăm quả đạn xuống khu vực nhỏ hẹp Trung Nghĩa, Đồi Tròn. Trong tháng 8, có 3.581 quả bom và 41.632 quả đạn pháo trút xuống Đắc Rơ Cót. Trên dải phòng ngự của ta cây cối cháy rụi, đất đá tơi vụn đỏ quạch, hố bom hố đạn chồng lên nhau. Nhưng trong hoàn cảnh cực kỳ gian khổ ác liệt: "Cây quanh mình trụi lá, đất đá hóa thành vôi", ''Cơm nắm ngày hai bữa, hớp nước cũng chia đôi"4, cán bộ, chiến sĩ càng đoàn kết thống nhất, đồng cam cộng khổ, sát cánh bên nhau bảo vệ từng tấc đất vùng giải phóng. Mỗi khi địch tiến lên chốt, lập tức các chiến sĩ bất thần xuất hiện, kịp thời quét những đường đạn chính xác quật ngã quân thù. Có nhiều trận ta và địch giành giật nhau từng đoạn hào, thước đất; bộ đội phải dùng cả súng phun lửa để phản kích. Tiêu biểu nhất là trận đánh của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 giữ chốt Đồi Tròn ngày 9 tháng 8. Lợi dụng trời nắng ráo, địch dùng máy bay pháo cối đánh phá suốt một giờ, rồi cho bộ binh (tiểu đoàn 1, trung đoàn 45) dàn hàng ngang tiến lên chốt. Trên trời, nhiều chiếc máy bay A37 bổ nhào sát trận địa nhưng không ném bom. Nắm chắc thủ đoạn mới của địch, bộ đội im lặng chờ cho chúng đến thật gần. Khi tên trung đoàn phó chỉ huy cuộc tiến công hí hửng điện về cho tên sư đoàn trưởng sư đoàn 23: "chứng tôi đã chiếm được chốt của Việt Cộng!'', thì cũng là lúc các loại hỏa lực của ta đồng loạt trút bão lửa xuống đầu quân địch. Với cách đánh gần, táo bạo trong ngày 9 tháng 8 Đại đội 1 đã diệt và làm bị thương 59 tên, thu 9 súng, bắn cháy 2 xe tăng bẻ gãy cả 3 đợt phản kích của lực lượng địch đông gấp bội. Trên hướng tây Gia Lai, ngày 20 tháng 9 năm 1973 Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 được tăng cường Tiểu đoàn 2 đoàn 470, hai tiểu đoàn phòng không (10, 16), Tiểu đoàn công binh 17, 1 đại đội xe tăng, được Trung đoàn pháo binh 675 chi viện hỏa lực do trung đoàn trưởng Trần Ngọc Chung chỉ huy, bất ngờ tiến công cứ điểm Chư Nghé. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ biệt kích tiền đồn phía tây Plei Ku của địch, xóa sổ tiểu đoàn 80 biệt động biên phòng, diệt 87 tên, bắt 204 tên, thu 205 súng, 13 vô tuyến điện và 50 tấn đạn dược. Chiến thắng Chư Nghé không những mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng, bảo vệ con đường chiến lược và đường ống dẫn dầu ta đang mở qua phía tây Gia Lai vào miền Đông Nam Bộ; mà còn là lời cảnh cáo đanh thép đối với kẻ địch cố tình vi phạm Hiệp định Pa-ri. Trận Chư Nghé đã được Bộ Quốc phòng khen: ''Chuẩn bị chu đáo... thu được kết quả tốt, đạt được yêu cầu đánh nhanh, diệt gọn. Cần rút kinh nghiệm cho trận đánh sau và báo cáo về Bộ phổ biến cho các chiến trường''. Mất Chư Nghé, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã lên Tây Nguyên ra lệnh cho quân đoàn 2 quân khu 2 phản kích chiếm lại cứ điểm tiền tiêu quan trọng này, đồng thời trực tiếp động viên khích lệ tinh thần cho đám quân rệu rã vì triền miên xâm lấn. Cuối tháng 9, đầu tháng 10 quân địch tiến theo đường 5a, 5b ra phía tây thị xã Plei Ku, một lực lượng khác phối hợp tiến theo đường 19 lấn chiếm vùng giải phóng. Trên hướng đường 5b, trung đoàn 47 chiếm lại khu vực Dê Chí làm bàn đạp đánh chiếm bản Ti Tô. Ngày 12 tháng 10, tiểu đoàn 2 trung đoàn 47 ra thay cho trung đoàn 42 ở khu vực R-S. Theo dõi sát mọi hành động của địch trong khu vực, nắm chắc thời cơ, Sư đoàn 320 kịp thời cho Trung đoàn 48 xuất kích bao vây tiêu diệt địch ở khu vực R-S. Ngày 13 tháng 10, bằng một trận tiến công hiệp đồng bộ pháo - mạnh, Trung đoàn 48 đánh thiệt hại nặng và làm tan rã tiểu đoàn 2 địch, diệt và bắt gần 80 tên, thu 51 khẩu súng và nhiều đạn dược. Thắng lợi của trận đánh đã khẳng định chủ trương dụ địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị săn để diệt gọn từng tiểu đoàn vào cuối năm 1973 của Sư đoàn 320 là đúng đắn. Sau trận R-S 10 ngày, Sư đoàn 320 (thiếu) lại đánh một trận hiệp đồng binh chủng lần thứ hai ở khu vực này, diệt gần hết tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40), loại khỏi vòng chiến đấu 209 tên, thu 129 súng các loại, bắn rơi 3 máy bay, đập vỡ một mắt xích quan trọng trên tuyến chốt chặn mới ở tây Plei Ku, làm phá sản một bước ý đồ đánh chiếm lại Chư Nghé, Đức Cơ của địch. Ngay khi trận đánh kết thúc, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đã gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 vừa lập chiến công, và coi ''đây là một trận đánh tốt, thể hiện tinh thần chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Nam về việc trừng trị quân địch lấn chiếm''. Phối hợp với Sư đoàn 320 tiến công địch ở tây Gia Lai, Tiểu đoàn 20 đặc công luồn sâu tập kích khu kho của quân đoàn 2 ngụy ở phía tây Plei Ku, phá hủy hoàn toàn 3 kho đạn 4.000 tấn, diệt 32 tên địch. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 33 pháo ĐKB bắn vào sân bay Cù Hanh, phá hủy 5 máy bay. Bộ đội tỉnh Gia Lai tích cực đánh giao thông trên đường 19, 14, 21 và chống địch càn quét ở vùng Lệ Ngọc. Năm đầu thực hiện Hiệp định Pa-ri, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã kịp thời chuyển hướng từ tác chiến tiến công là chính sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng và từng bước làm quen với loại hình chiến đấu mới này ở chiến trường. Nêu cao truyền thống quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực các đơn vị chủ lực và địa phương đã đánh 1667 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 9.581 tên địch (diệt 9.010 tên có 69 sĩ quan, bắt 571 tên có 21 sĩ quan), phá hủy 374 xe quân sự (có 128 xe tăng, xe bọc thép), 75 pháo lớn, 19 kho bom đạn, xăng dầu, bắn rơi và phá 38 máy bay, thu 1683 súng các loại và 189 vô tuyến điện5. Thắng lợi trên mặt trận quân sự đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh giữ vững và bảo vệ vùng giải phóng, vùng căn cứ địa, giữ được dân buộc địch thi hành Hiệp định Pa-ri; đồng thời ''bước đầu cải thiện việc bố trí lực lượng, duy trì được thế trận áp sát và uy hiếp địch về mặt chiến dịch'', tạo đà cho quân và dân Tây Nguyên bước sang năm 1974 với thế và lực mới. ----------------------------------------------------------------- 1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) lần thứ 21 họp hai đợt. Đợt 1: từ 19.6 đến 6.7.1973. Đợt 2: từ 1.10 - 4.10.1973 ra nghị quyết ngày 13.10.1973 2, 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975. Những sự kiện quân sự. Sđd tr. 289, 290, 291. 4. Ca dao trên vách chiến hào ở Đắc Rơ Cót. 5. Trích ''Báo cáo tổng kết năm 1973'' của Bộ tư lệnh B3. Trong thành tích chung năm 1973, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đánh 272 trận, diệt 1.526 tên địch, bắt 43 tên, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy l32 xe quân sự (có 39 xe bọc thép), thu 210 súng và 10 vô tuyến điện. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:17:47 pm * Đầu năm 1974, binh lực địch ở Tây Nguyên còn tương đối lớn, bao gồm 2 sư đoàn bộ binh (22, 23), 5 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25), 5 trung đoàn thiết giáp, 12 tiểu đoàn pháo và 1 sư đoàn không quân, được bố tên tập trung trên hai khu vực chính. Sư đoàn 22, bốn liên đoàn biệt động quân, 4 trung đoàn thiết giáp và phần lớn pháo binh, không quân ở Gia Lai và Kon Tum; sư đoàn 23, một liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp và một số phân đội pháo binh, không quân giữ Buôn Ma Thuột và Quảng Đức. Tiếp tục thực hiện âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng, giành lại những vị trí đã mất và quyền chủ động trên chiến trường; giảm sức ép cho hai thị xã Plei ku và Kon Tum; trong ba tháng đầu năm 1974 quân đoàn 2 - quân khu 2 ngụy tập trung quân chủ lực và bảo an tổ chức 4 cuộc hành quân lấn chiếm, quy mô trung đoàn, sư đoàn. Ở đông bắc Kon Tum, hỏang sợ khi thấy đường 220 của ta xuất hiện và ngày càng vươn dài, địch vội vã đưa tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40) chiếm Kong Kê Rơ Pô và 3 tiểu đoàn bảo an (251, 254, 280) chiếm vùng Kon Rốc, Cam Rẫy; sau đó đưa tiếp 2 tiểu đoàn (95, 62) biệt động quân ra thay, lập tuyến chốt chặn mới nhằm đánh phá ngăn ta mở đường. Hướng tây Gia Lai, sư đoàn 22, ba tiểu đoàn biệt động quân, 4 tiểu đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn bảo an, đánh ra vùng Chư Nghé. Cùng lúc liên đoàn 23 biệt động quân, 3 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp lấn chiếm vùng Lệ Ngọc, Làng Siêu, bắc Đồn Tầm. Tại Đắc Lắc, 11 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp và 1 tiểu đoàn pháo giải tỏa và ngăn chặn tuyến đường 1B của ta ở tây Bản Đôn. Cùng với các cuộc hành quân xâm lấn, địch tăng cường các hoạt động phá hoại hậu phương ta bằng phi pháo, biệt kích, gián điệp. Trong 3 tháng đầu năm 1974, chúng tung 40 toán biệt kích, sử dụng 250 lần chiếc máy bay trinh sát và 254 chiếc phản lực đánh phá vào tuyến hành lang chiến lược phía tây và vùng giải phóng. Đặc biệt nghiêm trọng, ngày 11 tháng 1 địch dùng tới 92 lần chiếc máy bay đánh phá vào khu vực Đức Cơ, Đức Nghiệp, Chư Bồ; ngày 31 tháng 1 có 46 lần chiếc phản lực ném hàng trăm quả bom phá, bom bi xuống khu vực cầu Diên Bình, 32 quả bom rơi trúng thôn 2 và 3 phá hủy 13 nhà dân, làm hàng chục người chết và bị thương, trong đó gia đình ông Hiệu có 7 người đang ăn cơm đều chết hết. Trong vùng kiểm soát, địch dùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát tiến hành 3.700cuộc càn quét vây ráp, thanh lọc 10.000 dân, bắt đi l.250 người. Để củng cố ngụy quyền cơ sở, chứng tổ chức các ban chỉ huy phân, chi khu để điều khiển lực lương dân vệ, phòng vệ dân sự ở các ấp, xã; tiếp tục di dân từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Mặc dù ra sức phản kích, nhưng quân địch đã mất quyền chủ động, phải lúng túng, bị động ứng phó. Quân tuy đông nhưng không đủ cho yêu cầu phòng giữ và lấn chiếm, buộc phải đưa 1.800 tên từ đồng bằng lên bổ sung (có 1000 tân binh, 800 lao công dân binh) và bắt lính ở Tây Nguyên được 400 tên, do vậy khả năng tác chiến và tinh thần binh lính ngày càng sa sút. Thủ đoạn chiến đấu của địch cũng không có gì mới. Khi lấn chiếm chủ yếu dùng đội hình dày đặc lấn dũi, có máy bay, pháo binh chi viện mạnh. Lúc đánh chiếm mục tiêu chủ yếu dùng chiến thuật phân đội nhỏ, tiến công liên tục dai dẳng, kết hợp đổ bộ đường không chiếm các vị trí bàn đạp hoặc mục tiêu phía sau để tạo mũi vu hồi. Trước tình hình địch liên tục xâm lấn và thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao: ''B3 trước mắt tập trung nỗ lực tổ chức phản công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của chúng, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng''1, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chủ trương sử dụng một lực lượng đủ mạnh giữ các tuyến phòng thủ, tích cực đánh nhỏ và vừa ngăn chặn, đẩy lui địch trên hai hướng trọng điểm tây Plei Ku, Đông bắc Kon Tum; đồng thời mở thêm các hướng hoạt động mới của chủ lực trên đường 19 (đoạn An Khê) và tỉnh bộ 1 (Bản Đôn - Buôn Ma Thuột), đẩy nhanh công tác chuẩn bị tiến công cứ điểm Đắc Pét và Ya Súp hoàn chỉnh vùng giải phóng. Thực hiện chủ trương trên, trong 2 tháng đầu năm 1974, Sư đoàn 320 liên tục đánh nhỏ và vừa, chặn đứng cuộc hành quân phản kích tái chiếm Chư Nghé của sư đoàn 22, hai liên đoàn biệt động quân (23, 25), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn (1/41, 3/47). Hướng Kon Tum, Sư đoàn 10 vừa giữ vững tuyến phòng ngự tây bắc, vừa kịp thời dùng Trung đoàn 28 bao vây tiến công liên tục tiểu đoàn 3 (trung đoàn 40) địch ở Kông Ke Rơ Pô (đông bắc Kon Tum), diệt 197 tên, bắt 33 tên, thu 128 súng các loại, giáng một đòn nặng vào chiến thuật ''mạng nhện'' của địch phối hợp với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh giao thông đường 19; Tiểu đoàn 408 đặc công tỉnh Gia Lai tập kích sân bay Aréa phá hủy 3 bồn xăng, đốt cháy 54 vạn lít; lực lượng địa phương các huyện 5 (Gia Lai), 16, 80, 29 (Kon Tum) đánh địch rất hiệu quả. Riêng Trung đoàn 25 (thiếu) hoạt động ở tây Đắc Lắc, tuy kết quả chưa cao, nhưng đã buộc địch phải đưa trung đoàn 44 và 1 tiểu đoàn thiết giáp lên hỗ trợ cho Bản Đôn. Sau 2 tháng hoạt động, địch ở Tây Nguyên bị đẩy lùi một bước và ngày càng lâm vào thế bị động đối phó, ta giữ vững thế trận và ngày càng nắm chắc quyền chủ động chiến trường. Phát huy thắng lợi, tranh thủ thời cơ, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định mở một đợt tiến công mới nhằm tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn địch, làm thất bại một bước âm mưu lấn chiếm của chúng, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện xây dựng củng cố bồi dưỡng lực lượng ta, thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng và phát triển chiến tranh du kích. Mở đầu đợt hoạt động, ngày 16 tháng 3 Trung đoàn 28 do trung đoàn trưởng Vũ Đình Thước chỉ huy được hỏa lực Sư đoàn 10 chi viện bất ngờ tiến công tiểu đoàn 95 biệt động quân ở điểm cao 800 đông bắc thị xã Kon Tum. Sau 25 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao này, rồi chuyển sang truy kích và đánh chiếm các chốt của địch ở 2 điểm cao 867, 920. Trong một ngày tiến công, ta xóa sổ tiểu đoàn 95 biệt động quân, diệt 218 tên, bắt 203 tên (có tên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó), thu 230 súng các loại, hàng trăm viên đạn súng cối và nhiều tài liệu quan trọng. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn 28 tiến công địch trên điểm cao có công sự tương đối vững chắc bằng hiệp đồng bộ - pháo cấp trung đoàn tăng cường. Thắng lợi của trận đánh không những góp phần mở rộng khu giải phóng đông bắc Kon Tum, bảo vệ đường 220 mà còn giải đáp một số vấn đề kỹ thuật trong cách đánh. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 28, Đại đội 10 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Được chiến thắng của Trung đoàn 28 cơ vũ, sáng 18 tháng 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 24 tập kích tiểu đoàn 62 biệt động quân ở gần cầu Kom Rẫy, diệt 72 tên địch, bắt 20 tên, thu 51 súng. Ngay chiều 18, hãng tin AFP đã đưa tin: ''Chiến sự dữ dội nhất kể từ ngày ngưng bắn nổ ra ở hai căn cứ biệt động quân cách Kon Tum 6 dặm về phía đông bắc. Quân Sài Gòn 72 chết, 111 bị thương''. Ngày 1 tháng 4, Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên họp đánh giá tình hình lãnh đạo trong ba tháng đầu năm 1974, đề ra chủ trương trong thời gian tới: ''Tích cực thực hiện kế hoạch tiến công tiêu diệt địch, mở rộng vùng ta, đánh bại hành quân lấn chiếm của địch mùa khô... trên cơ sở đó đẩy địch bị động sâu hơn nữa, phát triển quyền chủ động của ta''. Thực hiện chủ trương trên, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định cho Sư đoàn 10 chuyển sang thực hiện bước 2 của đợt hoạt động: dùng Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt chỉ huy tiểu đoàn 22 biệt động quân và tiểu đoàn 280 bảo an ở điểm cao 1227 Kon Rốc. Tuy đã chiến đấu hơn 2 năm ở chiến trường Tây Nguyên, nhưng đây là lần đầu tiên Trung đoàn 24 đánh công sự vững chắc quy mô toàn trung đoàn; vì vậy Đảng ủy Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 rất quan tâm giúp đỡ đơn vị về mọi mặt. Sư đoàn trưởng Nguyễn Đức Giá, trưởng ban pháo binh cùng nhiều cán bộ 3 cơ quan sư đoàn xuống đơn vị, ra tận trận địa kiểm tra, hướng dẫn giúp đỡ trung đoàn tổ chức, chỉ huy trận đánh. Lúc 12 giờ 55 phút ngày 2 tháng 4, phát hiện thấy địch ở Kon Rốc đang đi lại lộn xộn sau buổi ngủ trưa, mặc dù còn 5 phút nữa mới tới giờ quy định nhưng chớp thời cơ, trung đoàn trưởng Đinh Xuân La ra lệnh nổ súng. Lập tức pháo 105mm, súng cối, ĐKZ ầm ầm trút đạn vào căn cứ Kon Rốc (điểm cao 1227). Pháo binh ta bắn rất chính xác phá sập nhiều công sự đánh trúng sở chỉ huy diệt tên Thanh - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 280... làm quân địch rất hoang mang liên tục điện về tiểu khu Kon Tum kêu cứu. Sau gần hai giờ bắn phá, pháo binh ta đã phá sập trên một nửa số công sự, diệt nhiều sinh lực địch, làm tê liệt cứ điểm. 14 giờ 50 phút bộ binh trên hướng đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu. Các chiến sĩ ĐKZ, 12,7mm cũng kịp thời cơ động lên khu vực đầu cầu bắn chi viện cho bộ binh phát triển chiến đấu. Trước sức mạnh tiến công áp đảo của ta, mọi kháng cự của quân đã nhanh chóng bị đè bẹp. Hơn 15 giờ căn cứ Kon Rốc bị tiêu hoàn toàn, 116 tên địch phơi xác trên trận địa, 31 tên bị bắn hàng trăm khẩu súng bị phá hủy, 1 máy bay AD6 và 1 trực thăng bị bắn rơi. Cùng thời gian này, 2 trận địa pháo lớn địch ở Kon Kơ Pát và Kon Săm Lũ bị pháo binh ta kiềm diệt tê liệt hoàn toàn, 5 khẩu 105mm và 3 xe GMC bị phá hủy hàng chục tên địch chết và bị thương. Chiến thắng Kon Rốc đã chọc thủng "con mắt" rất lợi hại của địch ở đông bắc Kon Tum, giáng thêm một đòn mạnh vào âm mưu xâm lấn vùng giải phóng, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành mới của cán bộ, chiến sĩ đoàn ''Trung Dũng''. Trên đà thắng lợi, ngày 16 tháng 5, Đoàn 2602 (gồm Trung đoàn 66, 2 tiểu đoàn pháo 41, 32 Sư đoàn 10, trung đoàn 3 Sư đoàn 3243, một lực lượng của trung đoàn pháo binh 40 và Trung đoàn phòng không 234, Đại đội 6 xe tăng Trung đoàn 273, Tiểu đoàn trinh sát 28 và 4 tiểu đoàn công binh B3) có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân hai huyện (30, 40) tỉnh Kon Tum, do đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tư lệnh phó Tham mưu trưởng B3) làm chỉ huy trưởng và đồng chí Lã Ngọc Châu. (chính ủy Sư đoàn 10) làm chính ủy, tiến công cụm cứ điểm Đắc Pét. Sau hơn 4 giờ chiến đấu, tiểu đoàn 88 biệt động quân bị xóa sổ, 115 tên địch bị diệt, 403 tên bị bắt, 2 pháo 105mm và 2 xe ô tô bị phá hủy, 1 máy bay bị bắn rơi, 635 khẩu súng các loạt bị tịch thu, gần 3.000 dân được giải phóng khỏi ách kìm kẹp nhiều năm của địch. Cụm cứ điểm Đắc Pét bị diệt, điểm chốt cuối cùng của địch án ngự đường 14 ở bắc Kon Tum bị xóa bỏ, đường chiến lược Đông Trường Sơn được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đẩy nhanh vận chuyển phục vụ chiến đấu và chuẩn bị cho các chiến dịch lớn vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến thắng Đắc Pét đánh dấu bước trưởng thành mới về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực Tây Nguyên; được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi. Nhiều đơn vị tham gia trận Đắc Pét được khen thưởng, trong đó Trung đoàn 66, Trung đoàn 3, Trung đoàn 40 pháo binh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhât4. Trong khi hướng bắc Tây Nguyên chiến thắng giòn giã, ở hướng nam, các đơn vị chủ lực và địa phương cũng liên tiếp lập công. Sư đoàn 320 đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch ra vùng Chư Nghé, thu hút giam chân 11 tiểu đoàn bộ binh và 3 chi đoàn thiết giáp địch, chia lửa với Sư đoàn 10, Tiếp đó, Sư đoàn 320 bí mật cơ động lực lượng lật cánh về tây nam Plei Ku, mở hướng hoạt động mới trên đường 20 và đường 21. Sau một thời gian ngắn gấp rút chuẩn bị, ngày 10 tháng 4, Trung đoàn 64 do trung đoàn trưởng Phạm Quang Bào chỉ huy đã bất ngờ tiến công đánh chiếm căn cứ Lệ Ngọc ở điểm cao 491 trên đường 20; rồi chuyển sang phục kích đánh quân ứng cứu giải tỏa. Trong 2 ngày chiến đấu, Trung đoàn 64 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 67 biệt động quân và 1 đại đội xe tăng của trung đoàn 19, diệt 107 tên, bắt 36 tên, bắn cháy 9 xe tăng, thu 62 súng và 12 vô tuyến điện. Mắt xích quan trọng Lệ Ngọc trên tuyến phòng thủ phía nam quận lỵ Thanh An bị chọc thủng, buộc địch phải vội vã tăng quân đối phó ở tây nam Plei Ku, tạo điều kiện cho ta phát triển chiến đấu. Được chiến thắng Lệ Ngọc cổ vũ, trong hai ngày 15 và 16 tháng 4 Trung đoàn 48 do trung đoàn trưởng Trần Ngọc Chung và chính ủy Đoàn Đình Vinh chỉ huy được tăng cường hỏa lực mạnh tiến công đánh chiếm cứ điểm 711 Làng Siêu và điểm cao 601; tiêu diệt gọn tiểu đoàn 82 biệt động quân và chi đoàn 3 thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu 417 tên địch, phá hủy 17 xe M113 và 12 xe GMC, bắn rơi 6 máy bay, thu 2 pháo 105mm và nhiều đạn dược. Trận đánh đã làm đảo lộn kế hoạch và thế bố trí của địch ở tây nam Gia Lai, làm phá sản một bước âm mưu tập trung quân tải chiếm Chư Nghé, Đức Cơ của quân đoàn quân khu 2 ngụy. Sau chiến thắng Lệ Ngọc, Làng Siêu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 lệnh cho trung đoàn 25 cơ động về phía tây tỉnh Đắc Lắc đánh địch mở rộng vùng giải phóng. Ngày 30 tháng 5, Trung đoàn 25 dược tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và hỏa lực do trung đoàn trưởng Trần Minh Hảo và chính ủy Nguyễn Ngãi chỉ huy tiến công cứ điểm Ya Súp nằm sâu trong vùng giải phóng của ta. Chỉ trong hơn 2 giờ chiến đấu, tiểu đoàn 211 bảo an, trong đó có 50% là lực lượng FULRO đã bị diệt và bắt gọn, 65 tên bị giết, 60 tên bị bắt (có tên tiểu đoàn trưởng), 68 súng và 8 vô tuyến điện bị tịch thu. Đây là trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao5, giành thắng lợi trọn vẹn và là trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô toàn đơn vị đầu tiên của Trung đoàn 25. Chiến thắng Ya Súp có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị, phá tan ách kìm kẹp của địch, giải phóng các buôn Ya Súp A, Ya Súp B, Buôn Kha, Buôn Chua với 900 người dân, hoàn chỉnh vùng giải phóng huyện 5 Đắc Lắc. Phối hợp với đòn tiến công mạnh của Sư đoàn 320, các đơn vị chủ lực và địa phương ở nam Tây Nguyên tích cực đánh giao thông, hậu cứ, chống lấn chiếm, càn quét. Nổi bật là trận tắp kích cứ điểm Y2 (căn cứ 261) của Tiểu đoàn 631 do tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thanh chỉ huy. Với cách đánh táo bạo, dũng cảm, chỉ trong một giờ tiến công, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm, diệt gọn 1 đại đội pháo hỗn hợp, đại đội chỉ huy và ban chỉ huy nhẹ 1 tiểu đoàn 62; loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, thu 52 súng các loại (trong đó có 2 pháo 155mm, 4 pháo 105mm, 3 súng cối và 4 khẩu 12,7mm), 3.600 viên đạn pháo, 1 kho gạo và 6 xe ô tô sau trận đánh, Tiểu đoàn 631 dùng súng cối 120mm tập kích hỏa lực vào tiểu đoàn 90 của địch đến giải quyết hậu quả, làm chúng tháo chạy khỏi Y2. Đây là một trận đánh xuất sắc đạt hiệu suất chiến đấu cao6, được tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. ------------------------------------------------------------------ 1. Trích điện số 21 ngày 21.1.1974 của Bộ Tổng tư lệnh gửi B3. 2. Đoàn 260 được thành lập lâm thời, giải phóng Đắc Pét xong, thì giải thể. 3. Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân đoàn 2. 4. Trong trận Đắc Pét, Trung đoàn 66 diệt được 10 trong số 22 mục tiêu, diệt 51 tên, bắt 264 tên địch, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 3 diệt 7 mục tiêu và 60 tên địch, bắt 150 tên. 5. Trận Ya Súp, ta có 2 đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương. 6. Trận Y2, Tiểu đoàn 631 có 5 đồng chí hy sinh và 33 đồng chí bị thương. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:55:39 pm * Mùa mưa năm 1974, địch ở Tây Nguyên đã suy yếu một bước và mất quyền chủ động. Mặc dù ra sức đôn quân bắt lính nhưng chúng cũng chỉ bổ sung được quân số cho 7 tiểu đoàn, còn 5 tiểu đoàn bị ta đánh thiệt hại nặng (81, 82, 3/40, 3/47, 254) không sao bù đắp dược quân số hao hụt, tiểu đoàn 280 bị xóa phiên hiệu không thể phục hồi. Để tăng khả năng chiến đấu của quân chủ lực, từ tháng 7 năm 1974 các liên đoàn biệt động quân được biên chế thêm 1 đại đội pháo 105mm, các trung đoàn bộ binh cộng hòa được bổ sung một đại đội tên lửa chống tăng Tow (16- 18 ống phóng). Với quân số còn đông, lắm bom nhiều súng, quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy tiếp tục xua quân phản kích, tập trung trên hai hướng tây bắc - bắc thị xã Kon Tum và tây - tây nam thị xã Plei Ku, đồng thời dùng máy bay pháo lớn bắn phá liên tục vào vùng giải phóng. Ba tháng 7, 8 và 9 năm 1974 Quân khu 5 và Quân đoàn 22 Mở chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức và chiến dịch La Sơn. Một lực lượng của Quân khu 5 đánh mạnh trên hướng tây Quảng Ngãi và Bình Định. Để phối hợp với các chiến dịch, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên đẩy mạnh các hoạt động tác chiến nhằm giam chân chủ lực quân đoàn 2- quân khu 2 ngụy, không cho chúng cơ động tăng viện cho đồng bằng Khu 5. Chấp hành chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Chiến trường giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 đẩy mạnh hoạt động trên hướng Kon Tum; Sư đoàn 320 vây ép đồn Plei Me, đánh viện trên đường 21 và 5a, 5b; các đơn vị chủ lực chuyên trách và lực lương vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc tích cực đánh giao thông, kho tàng, hậu cứ địch. Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, Sư đoàn 10 kiên quyết chặn đánh 2 trung đoàn 44, 45 địch lấn chiếm vùng tây nam Kon Rốc, điểm cao 601 bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Kon Tum; đồng thời sử dụng Trung đoàn 28 tiến công tiểu đoàn 1 (trung đoàn 44) ở nam Kon Rốc. Trong 5 ngày liên tục chiến đấu, Trung đoàn 28 đã diệt và bắt 330 tên địch, thu 128 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Chiến thắng nam Kon Rốc đã góp phần phá vỡ hệ thống phòng ngự mới của địch trên hướng đông bắc thị xã Kon Tum, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ tuyến đường 220 và thu hút giam chân một lực lượng đáng kể quân địch. Tiếp đó, từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 Trung đoàn 28 (đồng chí Vũ Đình Thước làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Xuân Thịnh làm chính ủy và đồng chí Đỗ Công Mùi làm trung đoàn phó) được hỏa lực tăng cường, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương đánh chiếm cụm cứ điểm Măng Đen cách thị xã Kon Tum 37km về phía đông bắc. sau 13 ngày chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm cuối cùng của địch nằm sâu trong vùng giải phóng, xóa sổ ban chỉ huy chiến thuật tiểu khu Kon Tum, ban chỉ huy chi khu Chương Nghĩa, tiểu đoàn 254; loại khỏi vòng chiến đấu 430 tên địch, phá hủy 3 kho đạn, 5 xe quân sự, thu 539 khẩu súng và hàng trăm quả đạn pháo. Chiến thắng Măng Đen đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn nối liền hai tỉnh Kon Tum - Quảng Ngãi, với 1.920 người dân. Điểm nổi bật của trận đánh này là ta thành lập Ban quân quản và đưa vào hoạt động kịp thời bảo vệ được tính mạng tài sản, tổ chức lại đời sống cho nhân dân và củng cố vùng mới giải phóng. Đây là nét sáng tạo trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy chiến đấu mà các đơn vị chủ lực và địa phương ở Tây Nguyên thực hiện trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong khi Sư đoàn 10 đánh mạnh ở Kon Tum, Sư đoàn 320 cũng tích cực tiến công ở Gia Lai. Ngày 4 tháng 8, Trung đoàn 48 vận động bao vây tiến công liên tục trên đường 21, diệt gọn ban chỉ huy và 2 đại đội của tiểu đoàn 81 biệt động quân, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu 178 tên địch, thu 68 súng và 11 vô tuyến điện. Bị uy hiếp mạnh trên hướng tây nam Plei Ku, quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy buộc phải đưa quân đi ứng cứu. Từ ngày 21 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9, trung đoàn 53, trung đoàn 41 có xe tăng máy bay pháo lớn chi viện chia làm 2 cánh giải tỏa khu vực Plei Me. Chủ động, kiên quyết đón đánh địch, trong 2 ngày 29 và 30 tháng 8 Trung đoàn bộ binh 48 đánh vận động diệt tiểu đoàn 1 (trung đoàn 53) ở đông bắc Plei Me, loại khỏi vòng chiến đấu 287 tên, thu 111 súng và bắn rơi 1 máy bay. Những tháng cuối năm 1974, Sư đoàn 320 chặn đánh và đẩy lui các cuộc hành quân lấn chiếm của liên đoàn biệt động quân 23 ở nam Thanh An, của trung đoàn 53 ở Bảo Đức, đường số 5a, 5b, làng Dịt, diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy nhiều xe bọc thép. Các đơn vị phòng không bảo vệ Đứa Cơ, Phước Thiện cảnh giác cao, kịp thời đánh trả hàng chục lần máy bay xâm phạm vùng trời giải phóng, bắn rơi 2 chiếc A37. Cùng thời gian này, Trung đoàn 95 đánh mạnh trên đường 19, phá hủy hàng chục xe quân sự, diệt nhiều sinh lực địch. Lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tiến công khu kho hậu cần của quân đoàn 2 ngụy ở Cơ Ti Prông, diệt 40 tên, phá hủy 2 kho, 15 xe quân sự; đánh địch ở làng Mo diệt gần 100 tên, thu 32 súng. Bộ đội tỉnh và du kích Đắc Lắc tiến công tiểu đoàn 223 thông tin của sư đoàn 23 ở khu vực làng Dam và tây bắc Cẩm Ga, diệt 50 tên, phá hủy 16 xe quân sự. Năm 1974, năm thứ hai thực hiện Hiệp định Pa-ri quân và dân Tây Nguyên giành những thắng lợi quan trọng về quân sự. Toàn mặt trận đã đánh 1930 trận, tiêu diệt 5 tiểu đoàn, 16 đại đội, 24 trung đội; đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn, 8 đại đội; đánh chiếm 1 chi khu, 8 cứ điểm, 9 chốt, 2 tiền đồn, bức rút 1 chi khu; loại khỏi vòng chiến đấu 12.806 tên địch; phá hủy 842 xe quân sự (có 84 xe tăng, xe bọc thép), 65 pháo lớn, 151 kho tàng, 4 cầu, bắn rơi và phá 46 máy bay; thu 3. 893 súng các loại và 375 vô tuyến điện. Địch buộc phải co về giữ các thị xã, thị trấn, chi khu và các trục đường số 14, 19, 21 và 7. Ta không những giữ vững mà còn từng bước mở rộng vùng giải phóng; nhất là phía tây đường 14, từ cực bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc và nối với chiến trường Nam Bộ. Thắng lợi về mặt quân sự đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quân và dân Tây Nguyên củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng thế trận và căn cứ địa, nâng cao sức mạnh chiến đấu và tiềm lực kháng chiến để bước vào những trận đánh cuối cùng giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:12:01 pm 2. Tích cực, tạo thế, đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên Sau nhiều năm phấn đấu, đến đầu năm 1973 căn cứ địa cách mạng ở Tây Nguyên đã tương đối rộng lớn, liên hoàn bao gồm hầu hết vùng bắc và tây tỉnh Kon Tum, tây tỉnh Gia Lai và tây bắc tỉnh Đắc Lắc. Trong vùng giải phóng, chính quyền cách mạng đã được thành lập từ cơ sở đến huyện, tỉnh đang điều hành mọi hoạt động. Lực lượng vũ trang cách mạng gồm khối chủ lực B3 và bộ đội địa phương, dân quân du kích ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã lớn mạnh trưởng thành có đủ khả năng bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, là nòng cốt của chiến tranh nhân dân ở địa bàn. Kinh tế, cơ sở hạ tầng tuy còn rất khó khăn nhưng đang được củng cố xây dựng, từng bước vươn lên đảm nhiệm một phần quan trọng trong việc bảo đảm các nhu cầu xây dựng, phát triển lực lượng và nuôi quân đánh giặc. Thế trận tiến công và phòng thủ gắn liền với địa thế rừng núi tạo cho căn cứ địa cách mạng Tây Nguyên ngày càng phát triển vững chắc. Tuy vậy, so với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, căn cứ địa Tây Nguyên cỏn nhiều khó khăn, bất cập. Thấu hiểu điều đó và để giúp đỡ chiến trường Tây Nguyên giải quyết những khó khăn trước mắt, từng bước tạo thế và lực theo hướng cơ bản lâu dài, tháng 3 và tháng 4 năm 1973 Ban Bí thư Trưng ương Đảng và Quân ủy Trung ương cử đoàn cán bộ vào Tây Nguyên. Đoàn gồm các đồng chí Tố Hữu - Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Thống nhất Trung ương (Trưởng đoàn), Nguyễn Thọ Chân - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban Thống nhất Trung ương, Phạm Chung - Phó Văn phòng Tr ung ương Đảng, Đinh Đức Thiện - ủy viên Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và nhiều cán bộ thuộc các cơ quan của Trung ương Đảng, Nhà nước và Bộ Tổng tư lệnh. Sau khi nghe Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên báo cáo, trực tiếp kiểm tra mọi mặt công tác của mặt trận, đoàn cán bộ của Trung ương đã truyền đạt những chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, bàn bạc nội dung kế hoạch chi viện 3 năm (1973-1975), chỉ đạo hướng dẫn việc đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa, phát triển sản xuất, củng cố mở rộng mạng lưới giao thông vận tải... đồng thời nắm cơ sở thực tiễn cho việc quyết định mở thêm trục đường Đông Trường Sơn. Sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quân ủy Trưng ương và Bộ Tổng tư lệnh dã tạo những thuận lợi lớn và tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Tây Nguyên xây dựng căn cứ địa, củng cố hậu phương chiến lược trực tiếp cho cuộc kháng chiến trên địa bàn. Tiếp đó, đầu tháng 7 năm 1973 tại Hội nghị về tình hình nhiệm vụ trước mắt của chiến trường B1, B3, Bộ Tổng tư lệnh đã kết luận: ''Cần khẩn trương xây dựng và củng cố, chấn chỉnh dược một lực lượng chủ lực mạnh theo đúng tinh thần quân số chiến đấu thực tế ở các đơn vị phải đủ, đúng biên chế tổ chức. Tăng thêm sức cơ động và khả năng bảo đảm cho bộ đội, tăng sức đột phá công sự, tăng khả năng diệt cơ giới, diệt máy bay. Bảo đảm đồng bộ cân đối giữa các binh chủng''. Tổng quân số của chiến trường Tây Nguyên khỏang 4 vạn người. Trong 2 năm (1973-1974) Chiến trường Tây Nguyên được bổ sung một lực lượng quân số, vũ khí trang bị và vật chất hậu cần từ hậu phương lớn miền Bắc, bao gồm: 18.831 cán bộ, chiến sĩ, gần 300 xe ô tô và 34.224 tấn vật chất các loại. Về đơn vị được bổ sung gọn 2 trung đoàn pháo phòng không cơ giới 234 và 593, một tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thông tin dây trần, 1 tiểu đoàn vận tải ô tô và một số phân đội bảo đảm, kỹ thuật. Nhiều đoàn cán bộ của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị và Tổng cục Hậu cần được cử vào Tây Nguyên giúp đỡ Bộ tư lệnh Chiến trường chỉ đạo tổ chức và các ngành, các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ. Được sự chi viện của trên, để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng có quy mô ngày càng lớn ở Tây Nguyên, ngày 3 tháng 2 năm 1973, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn xe tăng 273. Trong biên chế của Trung đoàn có ban chỉ huy, 3 cơ quan, 3 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp và một số phân đội bảo đảm phục vụ. Ban chỉ huy Trung đoàn 273 gồm các đồng chí: Lê Ngọ (trung đoàn trưởng), Mai Sinh Giá (chính ủy), Đỗ Phùng (trung đoàn phó), Vũ Đình Tư (phó chính ủy). Sự ra đời trung đoàn xe tăng đầu tiên và xuất hiện các trung đoàn phòng không cơ giới ở Tây Nguyên đã tạo sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn, đánh dấu buộc phát triển vượt bậc của khối chủ lực cơ động trên chiến trường. Tiếp đó các đơn vị: Trung đoàn bộ binh 261, trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 29 thông, Tiểu đoàn pháo Đ74, Đoàn vận chuyển đường sông, xưởng Quân giới Z61 lần lượt ra đời; Đoà 671 được tổ chức biên chế lại, Đoàn 670 giải thể, Tiểu đoàn 12 độc lập chuyển cho Tỉnh đội Gia Lai, Trung đoàn 95 tách khỏi Sư đoàn 10 thành đơn vị độc lập trực thuộc B3, hai sư đoàn bộ binh (320,10) được tăng thêm lực lượng pháo phòng không và pháo mặt đất xe kéo. Thực hiện nghị quyết tháng 4 năm 1974 của Quân ủy Trung ương và chủ động xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng binh đoàn chủ lực, tháng 8 năm 1974, Bộ tư lệnh chiến trường tiến hành tổ chức biên chế lại các đơn vị chủ lực theo hướng tăng cường hỏa lực, sức cơ động và quân số trực tiếp chiến đấu, giảm nhẹ thành phần phục vụ, thu gọn các đầu mối. Theo đó quân số chiến đấu tăng lên 5,48% (so với năm 1973), riêng bộ binh tăng 6,08%. Hai sư đoàn bộ binh 10, 320 được tăng cường thêm một trung đoàn pháo binh hỗn hợp. Các trung đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng, phòng không, đặc công, công binh, thông tin đều có đủ 3 tiểu đoàn. Các trường: Quân sự địa phương, Quân chính B3, Quân y B3, Trường Văn hóa thiếu nhi cũng được chấn chỉnh tổ chức biên chế theo hướng tinh gọn, thiết thực, hiệu quả. Cuối năm 1974, khối chủ lực B3 đã lớn mạnh vượt bậc, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan mặt trận, 2 sư đoàn bộ binh (10, 320), 2 trung đoàn bộ binh độc lập (95, 25), 1 trung đoàn đặc công (198), 1 trung đoàn xe tăng (273), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 2 trung đoàn phòng không (234, 593), 1 trung đoàn công binh (7), 1 trung đoàn thông tin (29), 4 trưởng, 3 binh trạm, 2 đoàn sản xuất và các bệnh viện, đội điều trị, xưởng trạm... với tổng quân số 47.400 cán bộ, chiến sĩ. Vũ khí trang bị gồm trên 50 xe tăng, xe bọc thép, 381 xe ô tô, gần 100 khẩu pháo xe kéo, ĐKB, H12, hơn 250 súng cối và ĐKZ, 110 khẩu pháo phòng không xe kéo, trên 250 súng máy phòng không, hàng vạn súng bộ binh, hàng trăm máy thông tin và 1.600km dây diện thoại. Khối chủ lực Tây Nguyên đã lớn mạnh hơn hẳn, tạo thế trực tiếp uy hiếp quân đoàn 2- quân khu 2 ngụy, chuẩn bị cho việc chính thức thành lập Quân đoàn 3 vào mùa xuân năm 1975. Bên cạnh khối chủ lực mạnh, lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên cũng có bước phát triển mới. Tháng 4 năm 1973, Thường vụ Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết xác định 6 nhiệm vụ2 của lực lượng vũ trang địa phương và phương hướng xây dựng: ''Phải ra sức phát triển dân quân du kích rộng, mạnh, đều khắp thành một lực lượng vũ trang mạnh của quần chúng, nằm trong quần chúng; đồng thời xây dựng bộ đội địa phương gọn, sắt, tinh nhuệ, vừa trang bị tương đối hiện đại vừa tận dụng vũ khí thô sơ để các lực lượng vũ trang địa phương thực sự là nòng cốt đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân trên các địa phương, từng bước nâng cao sức mạnh chiến đấu làm cho bộ đội địa phương và du kích của ta đủ sức đánh bại các cuộc hành quân của ngụy trong phạm vi địa phương''3. Tiếp đó, tháng 6 năm 1973 Bộ tư lệnh chiến trường đã xây dựng phương án tổ chức biên chế ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Nắm vững phương hướng xây dựng và được Bộ tư lệnh chiến trường trực tiếp chỉ đạo, lực lượng vũ trang địa phương ở Tây Nguyên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Ba tỉnh đội Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc đã có 6 tiểu đoàn, 36 đại đội, 5 trung đội, 5 đội công tác vũ trang tuyên truyền với tổng quân số gần 6.000 cán bộ, chiến sĩ.Các đại đội trực thuộc tỉnh đội có từ 120 đến 200 người; các đại đội ở huyện có từ 14 đến 60 người. Lực lượng du kích có 14.767 người chiếm 11,8% tổng số dân trong vùng giải phóng, trong đó có 16,7% là nữ du kích, 3% là lão du kích, 9,5% là du kích thiếu nhi và 2% là du kích mật. Với lực lương khá đông, quen thuộc địa bàn đối tượng tác chiến, được huấn luyện khá chu đáo, trang bị khá mạnh, các lực lượng vũ trang địa phương kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận tích cực vận động quần chúng... đã dựng lên bức tường sắt giữ vai trò nòng cốt đánh bại quân địch xâm lấn các làng buôn, thôn xã, tích cực phối hợp với chủ lục trong các trận đánh lớn, các đợt hoạt động. Quán triệt chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu: ''Khối chủ lực Tây Nguyên phải đạt trình độ thành thạo tác chiến binh chủng hợp thành, bảo đảm tiến công tiêu diệt phá vỡ hệ thống phòng ngự công sự vững chắc của địch q uy mô sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh và không quân chi viện... bảo đảm tiêu diệt trong vận động các chiến đoàn, binh đoàn của địch, nhanh chóng phát triển khi có thời cơ''4; trong 2 năm 1973, 1974 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tập trung mọi nỗ lực cho công tác huấn luyện nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, để chuẩn bị cho những nhiệm vụ lớn sau này. Mặc dù các đơn vị phải luân phiên tham gia chiến đấu bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, nhưng mặt trận vẫn cơ bản hoàn thành những nội dung thiết yếu trong kế hoạch huấn luyện hàng năm. Xác định rõ cán bộ là cái gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là trung tâm của công tác huấn luyện. Năm 1973, Bộ tư lệnh và ba cơ quan mặt trận đã từ chức tập huấn bồi dưỡng cho 7.517 lượt cán bộ (thời gian từ 15 đến 45 ngày), mở 4 lớp tập huấn được 174 lượt cán bộ trung đoàn và tỉnh đội trở lên, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 750 lượt trợ lý chủ chốt. Các sư đoàn, trung đoàn tổ chức tập huấn hai vòng cho 3.644 lượt cán bộ trung - sơ cấp. Trường Quân chính bồi dưỡng được 143 cán bộ khung và giáo viên, đào tạo hàng trăm cán bộ phân đội cho các đơn vị trong toàn mặt trận. Trường Quân sự địa phương đào tạo bổ túc hàng chục cán bộ cho ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Trường Văn hóa thiếu nhi tiếp nhận và huấn luyện cho 818 học sinh. Tổng số cán bộ toàn mặt trận được tập huấn bồi dưỡng trong năm 1973 đạt 90%. Năm 1974 công tác huấn luyện cán bộ tăng lên về thời gian, phong phú về nội dung, tương đối cơ bản, hệ thống và toàn diện, Cán bộ trung cao cấp tập trung nghiên cứu, tập bốn nội dung: đánh công sự vững.chắc, đánh địch trong thị xã thị trấn, đánh cắt giao thông, đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng; đi sâu vào chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc bằng hiệp động binh chủng, vận động bao vây tiến công liên tục, vận động tiến công kết hợp chốt; ngoài ra còn được nghiên cứu kinh nghiệm tổng kết chiến dịch, các hoạt động và một số trận đánh tiêu biểu. Cán bộ sơ cấp được huấn luyện một số chiến thuật, kỹ thuật chủ yếu, trọng tâm là mũi đột phá, phân đội mở cửa đánh chiếm đầu cầu, đánh công sự vững chắc, làm giáo án, phương pháp huấn luyện phân đội, điều lệnh kỷ luật và nghiên cứu một số trận đánh. Cán bộ binh không được bồi dưỡng về chiến thuật, kỹ thuật, phương pháp huấn luyện chuyên ngành. Công tác huấn luyện chiến sĩ tương đối toàn diện, đi sâu vào các nội dung kỹ thuật bộ binh và chuyên ngành; chiến thuật cá nhân, tổ, tiểu đội trong một số hình thức chiến thuật cơ bản, trong mở cửa đánh chiếm đầu cầu và phát triển vào mục tiêu bên trong. Nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, thời kỳ này Bộ tư lệnh chiến trường còn tổ chức tổng kết 8 năm đánh Mỹ ở Tây Nguyên, tổng kết chiến thuật từ cấp đại đội trở lên và tổng kết một số chiến dịch, kịp thời rút ra những kinh nghiệm quý phục vụ công tác huấn luyện, giáo dục bộ đội. Do có kế hoạch, nội dung huấn luyện sát đúng từng đối tượng, thường xuyên quản lý chặt chẽ, cải tiến phương pháp, lấy thực tiễn chiến đấu công tác để kiểm nghiệm…nên kết quả huấn luyện ngày càng tiến bộ. Qua huấn luyện bồi dưỡng tập huấn, cán bộ các cấp đã quán triệt ngày càng sâu đường lối quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nắm vững các nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, nâng cao một bước trình độ tổ chức chỉ huy thực hành chiến đấu, huấn luyện và quản lý đơn vị. Chiến sĩ nắm vững về kỹ thuật, chiến thuật cá nhân, trong đội hình phân đội, nhất là tác chiến hiệp đồng binh chủng. Có nhiều đơn vị huấn luyện tốt như Trung đoàn 28, Trung đoàn 66, Trung đoàn 25, Trung đoàn 675, Trung đoàn 234... Kết quả kiểm tra nội dung bắn B40 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 25 đạt 100% yêu cầu, có 57,4% khá giỏi; kiểm tra pháo thủ của Trung đoàn 675 đạt 100% yêu cầu có 53% khá giỏi; kiểm tra 15 đồng chí trinh sát kế toán của Trung đoàn 40 đều đạt 100% yêu cầu, có 80% khá giỏi. Các đơn vị: Tiểu đoàn 37, Tiểu đoàn 63 Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 đạt kết quả cao trong huấn luyện chiến thuật. Những thành tích toàn diện trong huấn luyện bộ đội và xây dựng chính quy nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang Tây Nguyên, trong điều kiện luôn phải luân phiên chiến đấu là sự cố gắng cao của cấp ủy, chỉ huy các cấp và mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đây là cơ sở để bảo đảm chiến đấu thắng lợi và tạo điều kiện hoàn thành các nhiệm vụ khác. ----------------------------------------------------------------- 1. Trung đoàn bộ binh 26 thành lập được một thời gian ngắn, giải thể ngày 29.11.1973. 2. Sáu nhiệm vụ: đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định, đánh bại hành quân lấn chiếm của địch, làm công tác binh vận, củng cố phát triển lực lượng, tham gia xây dựng căn cứ địa vùng giải phóng, sản xuất tự túc. 3. Nghị quyết Thường vụ Đảng ủy B3 tháng 5.1974, tr. 19. 4. Trích điện số 1016 ngày 28.11.1973 của Bộ Tổng tham mưu gửi Bộ tư lệnh B3. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:13:33 pm * Song song với xây dựng về quân sự, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đặc biệt coi trọng công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang. Trước bước ngoặt của lịch sử, Mỹ đã ''cút'' nhưng nhiệm vụ đánh cho ngụy ''nhào'' còn rất nặng nề; vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, đa số cán bộ, chiến sĩ phấn khởi tin tưởng vào chủ trương đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, xác định rõ trách nhiệm trong giai đoạn cách mạng mới, nâng cao cảnh giác, khắc phục khó khăn tiếp tục cống hiến hy sinh để bảo vệ thành quả và đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Song điều kiện mới, hoàn cảnh mới cũng đã nảy sinh xuất hiện những lệch lạc ở không ít bộ đội. Có những cán bộ, chiến sĩ lập trường giai cấp thiếu vững vàng, nhận thức chưa hết ý nghĩa to lớn của Hiệp định Pa-ri, xem xét phiến diện tình hình địch - ta, dẫn đến thiếu cảnh giác, chủ quan khinh địch. Cũng có không ít người ''xả hơi'' thỏa mãn, lo lắng tính toán tiền đồ, thu vén cá nhân, đòi hỏi chính sách đãi ngộ; thậm chí có kẻ sa ngã trước sự cám dỗ của vật chất và chiến tranh tâm lý thâm độc của địch. Chính vì vậy, một số cán bộ giảm sút trách nhiệm quản lý giáo dục chỉ huy bộ đội, làm việc theo chủ nghĩa trung bình trên không chê dưới không trách; chiến sĩ mất cảnh giác làm lộ bí mật bị địch ném bom nổ 2 kho đạn (10 tấn); Đoàn 671 cho ca nô chạy giữa ban ngày bị máy bay bắn thiệt hại; chiến sĩ Trung đoàn 234 thiếu ý thức trong sử dụng lương thực gây lãng phí, chậm được ngăn chặn. Hiện tượng tự do, kỷ luật không nghiêm, dùng chất nổ không dùng mục đích hầu như ở đơn vị nào cũng có. Đúc rút nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn chiến trường và chủ động nhạy bén trước sự kiện lịch sử ký kết Hiệp định Pa-ri, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường kịp thời tập trung lãnh đạo chính trị, giáo dục tư tưởng nhằm làm chuyển biến căn bản về tổ chức, con người phù hợp với tình hình nhiệm vụ. Tổ chức Đảng, chỉ huy các cấp được kiện toàn, đại hội Đảng được tiến hành từ cơ sở đến sư đoàn và tương đương theo một kế hoạch thống nhất. Việc nghiên cứu chỉ đạo đấu tranh chính trị, binh vận và pháp lý buộc địch phải thi hành lệnh ngừng bắn chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri được gấp rút tiến hành. Ban Tổng hợp nghiên cứu trực thuộc Phòng Chính trị B3 được thành lập. Kiên quyết đẩy lui khắc phục những nhận thức và hành động lệch lạc trong cán bộ, chiến sĩ, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường tiếp tục đẩy mạnh ''Cuộc vận động dân chủ, đề cao kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong Quân đội" triển khai cuộc vận động ''Nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu''; tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập bài viết "Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kịp thời ra các chỉ thị: ''Về quản lý, sử dụng lương thực, thực phẩm''. ''Nâng cao ý thức làm chủ tập thể; quản lý sử dụng tốt cơ sở vật chất kỹ thuật''. Tháng 3 năm 1974, Thường vụ Đảng ủy chiến trường phát động phong trào thi đua ''Giành ba đỉnh cao quyết thắng'' trong thanh niên các lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Ba nội dung chính gồm: ý chí quyết tâm cao, kỹ thuật giỏi, kỷ luật nghiêm nếp sống đẹp. Vừa đẩy mạnh giáo dục động viên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh còn tích cực tổ chức kiểm tra. Hội nghị tập huấn về chức trách, chế độ kiểm tra trong Quân đội được tổ chức, "Chỉ thị về chỉ đạo công tác kiểm soát và chấp pháp hình sự'' được ban hành. Tháng 12 năm 1973, đoàn kiểm tra của Mặt trận do đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tham mưu trưởng B3) làm trưởng đoàn xuống kiểm tra Sư đoàn 10, làm rõ nguyên nhân đơn vị không tổ chức được những trận đánh then chốt trong năm 1973, đồng thời đề ra những biện pháp cụ thể để khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tới. Năm 1974, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định thành lập ''Hội đồng kiểm tra tài chính nội bộ'' để tiến hành kiểm tra ở tất cả các đơn vị từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên trong toàn mặt trận; trực tiếp kiểm tra Ban tài vụ Phòng Hậu cần B3, Đoàn 671, kịp thời chấn chỉnh và cho ngừng việc thu mua ở hướng Lò Gò, Kra Chiê (Cam-pu-chia), nắm chắc việc thu mua ở hướng Pắc Xế, Mường Khồng (Lào). Cuối tháng 9 năm 1973, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tây Nguyên lấn thứ nhất được tổ chức.'Tham dự Hội nghị có 118 đại biểu thuộc các Đảng bộ Sư đoàn 320, Sư đoàn 10, các trung đoàn: 7, 26, 675, 40, 234, 593, 273, Trường Quân chính, Trường Quân sự địa phương, Đoàn 671, Đoàn liên hiệp Khu vực 3; các đảng bộ tiểu đoàn trực thuộc: 1, l2, 20, 33, 408, bộ phận sĩ quan liên lạc và phục vụ quốc tế ở Đức Cơ; Đảng bộ các phòng: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và 8 đồng chí trong Đảng ủy chiến trường. Đoàn chủ tịch Hội nghị gồm 7 đồng chí: Trần Thế Môn, Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp, Trần Xuân Lư, Nguyễn Mạnh Quân, Phí Triệu Hàm, Nguyễn Đức Giá. Trong 6 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương các đại biểu nghiên cứu thảo luận đóng góp ý kiến vào bản dự thảo báo cáo đề án của Khu ủy Khu 5 và bản ''Báo cáo kiểm điểm lãnh đạo của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên từ năm 1968 đến tháng 9 năm l973''; đồng thời bầu 16 đại biểu đi dự Hội nghị đại biểu Đảng bộ Khu 5 lần thứ ba. Đây là lần đầu tiên Đảng bộ Mặt trận tổ chức hội nghị đại biểu quy mô toàn chiến trường. Hội nghị không những rút ra những kinh nghiệm quý giá trong 6 năm lãnh đạo lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện ý chí của toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực quyết tâm cùng quân dân Tây Nguyên và cả nước đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tháng 11 năm 1973, đồng chí Trần Thế Môn (Năm Minh) - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên được Quân ủy Trung ương điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Hoàng Minh Thảo -Tư lệnh Mặt trận kiêm Bí thư Đảng ủy; đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Phó Chính ủy được giao phụ trách Chính ủy Mặt trận. Tiếp đó tháng 4 năm 1974, Quân ủy Trung ương bổ nhiệm đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tham mưu trưởng) làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng mặt trận, đồng chí Thái Bá Nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị mặt trận. Tháng 6 năm 1974, Thiếu tướng Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thay Trung tướng Hoàng Minh Thảo về làm Phó tư lệnh Quân khu 5. Cùng thời gian này Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5 ra nghị quyết chỉ định Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên gồm các đồng chí: Đặng Vũ Hiệp - Bí thư, Vũ Lăng - ủy viên Thường vụ, Vương Tuấn Kiệt - ủy viên Thường vụ. Sau khi được kiện toàn, đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lãnh đạo chỉ huy toàn chiến trường khẩn trương kiện toàn tổ chức biên chế theo hướng binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành, đẩy mạnh huấn luyện theo hướng tác chiến hiệp động binh chủng nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:17:43 pm * Để giữ vững và xây dựng vùng giải phóng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, tích cực góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mau đến thắng lợi cuối cùng, song song với các nhiệm vụ tác chiến, huấn luyện, củng cố xây dựng lực lượng, công tác đảng, công tác chính trị, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương: ''Nhanh chóng xây dựng căn cứ và vùng giải phóng, xây dựng hậu phương quân đội; đặc biệt là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất tăng nhanh tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự tại chỗ để đánh thắng địch trong bất kỳ tình huống nào". Được sự giúp đỡ của đại diện Ủy ban Kế hoạch Nhà nước1, Bộ tư lệnh Mặt trận nhanh chóng hoàn chỉnh dự kiến phương hướng xây dựng kinh tế 3 năm (1974-1976) trong phạm vi vùng giải phóng. Cuối tháng 3 năm 1973, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức, chủ trì Hội nghị chuyên đề về phương hướng nhiệm vụ xây dựng căn cứ 4 huyện miền tây: huyện 67 (Kon Tum), huyện 4 và 5 (Gia Lai), huyện 5 (Đắc Lắc). Tiếp đó, giữa năm 1973 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận họp hội nghị liên tịch với Thường vụ tỉnh ủy và Thường trực ủy ban nhân dân cách mạng các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc thống nhất kế hoạch xây dựng và bảo vệ vùng căn cứ, vùng giải phóng, xây dựng hậu phương, bảo đảm hậu cần tại chỗ và cải thiện đời sống nhân dân trong năm 1973 và các năm sau. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy và chỉ tiêu kế hoạch Bộ tư lệnh giao, lực lượng vũ trang Tây Nguyên vừa chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng và huấn luyện, vừa tận dụng tranh thủ thời gian phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, kho, trạm, xưởng), bố trí thế trận hậu cần; đồng thời tích cực giúp đỡ địa phương khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, mở mang văn hóa, phát triển y tế giáo dục. Xác định sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trong đó sản xuất lương thực là trung tâm, ngoài việc giao chỉ tiêu hàng năm cho các đơn vị, Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức hai khu vực sản xuất lớn tập trung ở Plei Kần (cánh Bắc) và Tiểu Teo (cánh Nam) với 4 tiểu đoàn sản xuất chuyên nghiệp. Riêng cánh trung, bố trí 1 tiểu đoàn, 1 đại đội sản xuất chuyên nghiệp và 1 đại đội chăn nuôi. Các xưởng: dược, giấy, may, sửa chữa ô tô, quân giới được mở rộng và nâng cấp. Các bệnh viện V1 (cánh Bắc), V2 (cánh Nam), bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối 211 (cánh Trung) và 3 đội điều trị (3, 17, 25), 1 đội vệ sinh phòng dịch được củng cố xây dựng theo hàng lâu dài. Hệ thống kho tàng được củng cố thành 2 tuyến: kho mặt trận ở phía sau, kho các đơn vị ở phía trước. Năm 1973 toàn chiến trường củng cố sửa chữa được 120 kho cũ, làm mới 220 kho. Năm 1974 xây dựng 2 kho chứa xăng dầu (A5) ở hai cánh Bắc và Nam, mỗi kho có sức chứa 1.000 tấn, kịp thời tiếp nhận nhiên liệu từ đường ống dẫn dầu xuyên qua Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ. Nhằm đáp ứng yêu cầu vận chuyển cơ giới ngày càng tăng, các đoạn đường 14, 18, 19 trong các vùng giải phóng được dò gỡ mìn và sửa chữa lại. Nhiều cầu cống được khởi phục và làm mới như cầu Diên Bình, Thanh Giáo, Ngọc Lốc, Đắc Psi; phà Đắc Mót và Bến 8 được tổ chức đi vào hoạt động. Nhiều đường mới được mở ra, trong đó có đường 220 (dài 44,7km) nối đường 14 từ Võ Định qua đông bắc thị xã Kon Tum gặp đường 19 ở Măng Yang tạo thế uy hiếp địch. Trong 2 năm 1973, 1974 có 900km đường ô tô được mở mới, nâng tổng số đường cơ giới trong vùng giải phóng lên 1.332km. Bên cạnh hệ thống đường bộ, ta còn sửa chữa lại sân bay Đắc Tô, khai thông 110km đường sông, sử dụng ca nô vận chuyển hàng từ Bô Khăm (Cam-pu- chia) về các bến sông Sa Thày và suối Ia Lon. Hệ thống thông tin liên lạc với hàng trăm ki-lô-mét đường dây tải ba chạy dọc, ngang Tây Nguyên, giữ vững sự chỉ đạo của Trung ương với B3 và từ Bộ tư lệnh Mặt trận với các đơn vị trong toàn chiến trường. Với những cố gắng lớn, trong 2 năm 1973, 1974, Mặt trận Tây Nguyên đã tiếp nhận 34.224 tấn hàng hóa vật chất và hàng nghìn tấn xăng dầu do Trung ương chi viện và thu mua từ các nguồn; sản xuất được 8.240 tấn lúa, hàng chục triệu gốc sắn, hàng trăm tấn đậu lạc vừng, hàng nghìn tấn rau củ quả; chăn nuôi 21.820 con lợn và hàng chục nghìn gia cầm; hàng chục tấn hàng may mặc, thuốc chữa bệnh và hàng quân giới. Trong hoàn cảnh ta còn nhiều khó khăn về vật chất, kinh nghiệm sản xuất tập trung lớn ở chiến trường chưa nhiều, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, địch thường xuyên đánh phá, bọn phản động trong giới lãnh đạo Khơ Me đỏ ở Quân khu Đông Bắc Cam-pu-chia ra sức ngăn cản... những kết quả về xây dựng kinh tế, tạo dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị chiến trường là thành tích to lớn của lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Thành quả do bàn tay, khối óc của bộ đội tạo ra kịp thời phục vụ những nhu cầu thiết yếu thường nhật, cứu đói cho dân, tăng nguồn dự trữ chiến lược trực tiếp của chiến trường, chuẩn bị cho đánh to, thắng lớn. Tuy Bộ tư lệnh B3 chỉ được giao nhiệm vụ cùng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc xây dựng về mặt quân sự và tiến hành xây dựng căn cứ bàn đạp đứng chân, xây dụng mạng lưới giao thông vận chuyển trong vùng giải phóng Tây Nguyên; nhưng với bản chất truyền thống quân đội cách mạng và sự gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc trên địa bàn, lực lượng vũ trang Tây Nguyên tích cực chủ động tham gia xây dựng căn cứ địa. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận và sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Chính trị B3 nhiều hội nghị giữa các đơn vị chủ lực và địa phương nơi đứng chân được tổ chức; nhiều tổ, đội công tác, tuyên truyền vũ trang tỏa xuống các làng buôn, thôn xã hoạt động; Đoàn văn công B3 và các đội chiếu phim kịp thời hướng về cơ sở phục vụ nhân dân. Trong 2 năm 1973-1974, bộ đội B3 đã tham gia giúp địa phương tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng ở hàng chục xã; cấp hàng trăm héc ta đất và hàng chục tấn giống, huy động hàng vạn ngày công giúp dân sản xuất, dựng nhà, đào hầm, làm trường học, bệnh xá và trồng gần 10 triệu gốc sắn. Các bệnh xá Kon Đào (huyện 80 Kon Tum), xã B3 (huyện 4, Gia Lai), xã 4 (huyện 5, Đắc Lắc) được xây dựng, 54 ban y tế xã được củng cố và đi vào hoạt động, 16.180 lượt người dân được chữa bệnh, 17.439 lượt người được khám và cấp thuốc; 1.800 người tham gia xóa mù và học bổ túc văn hóa trong 170 lớp, 818 em thiếu nhi được học tập trung; 2 đội văn nghệ huyện và 75 đội văn nghệ xã dược củng cố đi vào hoạt động phục vụ 56.500 lượt người xem. Phong trào kết nghĩa quân dân phát triển mạnh: Trung đoàn 26 với xã B7, B14; Trung đoàn 64 với xã B8, B9; Trung đoàn 95 với xã B1, B2, B3; Trung đoàn 675 với xã B11, B13; các tiểu đoàn 33, 20 với xã B4, B6; Binh trạm Bắc với xã Đắc Xu, Rờ Kơi; Trung đoàn 28 với xã Đắc Cấm, Đắc Psi; Trung đoàn 25 với xã H5; Trung đoàn 40 với xã Tân Cảnh, Kon Đào 4, Kon Hơ Rinh. Tiêu biểu cho phong trào đoàn kết quân dân có Trung đoàn 95 với phong trào ''Nhường cơm sẻ áo''; Tiểu đoàn 20 với ''Rẫy vì dân'', Trung đoàn 64 với xây dựng làng Đoàn Kết ở khu 5 Gia Lai, Tiểu đoàn 631 và Sư đoàn 320 trong dìu dắt giúp đỡ phát triển phong trào du kích tây Gia Lai. Đặc biệt khi nạn đói lớn xảy ra ở các tỉnh Tây Nguyên mùa hè năm 1973 đe dọa tính mạng hàng vạn người, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã huy động hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ và các phương tiện vận tải không kể ngày đêm đưa 1.355 tấn gạo, 109 tấn muối, 309 kiện và 4 tấn thuốc chữa bệnh, hàng vạn mét vải của Trung ương chi viện đến tay nhân dân. Nhiều đơn vị xuất cả gạo của mình để kịp thời cứu dân, quyết không để một người nào trong vùng đóng quân bị chết vì đói. Trong đợt này, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã giúp dân 68,8 tấn gạo, 37 tấn muối, 3 tấn giống 29.000 gốc sắn, hàng nghìn bộ quần áo và hàng trăm mét vải. Những việc làm hết lòng vì dân và sự nghiệp cách mạng của bộ đội B3 đã thắt chặt mối quan hệ máu thịt, tình đoàn kết keo sơn với Đảng bộ, chính quyền cách mạng địa phương và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Tin tưởng, mến phục Bộ đội Cụ Hồ, nhiều người dân trong vùng mới giải phóng, trước đây còn băn khoăn hòai nghi cách mạng do kẻ địch tuyên truyền xuyên tạc, nay nhanh chóng xóa bỏ mọi mặc cảm, phấn khởi yên tâm sản xuất xây dựng cuộc sống mới và tích cực tham gia công tác cách mạng. Bên cạnh những công tác trên, thời gian này Mặt trận Tây Nguyên còn được Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ tổ chức đón tiếp 5.000 đồng chí bị địch bắt, nay trao trả theo Hiệp định Pa-ri. Với tình cảm biết ơn sâu sắc, hiểu rõ vinh dự, trách nhiệm được giao, 169 cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn đón tiếp đã lao động không kể ngày đêm dựng hàng nghìn mét vuông nhà, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất xong trước thời gian quy định 20 ngày. Với khẩu hiệu hành động: ''Dù thiếu vật chất, không được thiếu tình cảm'', cán bộ, chiến sĩ Đoàn đón tiếp B3 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm tuyệt đối an toàn, chăm sóc chu đáo, đưa các đồng chí ''Chiến thắng'' về Khu 5 đầy đủ, được cấp trên khen ngợi. Qua 2 năm thực hiện Hiệp định Pa-ri, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên, nòng cốt là bộ đội chủ lực đã kề vai sát cánh cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn kiên trì phấn đấu, vừa giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, vừa tích cực tạo thế xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương chiến lược trực tiếp ngày càng vững mạnh. Đây là giai đoạn chuẩn bị vô cùng quan trọng để quân dân Tây Nguyên cùng quân dân cả nước Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trên toàn miền Nam. ---------------------------------------------------------------- 1. Đồng chí Huỳnh Bá Vân - Ủy viên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước vào làm việc với Bộ tư lệnh Mặt trặn Tây Nguyên tháng 3.1973. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:27:14 pm 3. Chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. Sau 2 năm thi hành Hiệp định Pa-ri, đầu năm 1975 "so sánh lực lượng địch - ta, trên phạm vi cả nước cũng như trên chiến trường miền Nam, đã có những chuyển biến cơ bản rõ rệt có lợi cho cách mạng, ta đã mạnh hơn địch''1. Trên chiến trường miền Nam, quân ngụy Sài Gòn phải lui vào phỏng ngự chiến lược, giữ các đô thị, các đường giao thông và các địa bàn trọng yếu. Chúng không còn khả năng đánh chiếm lại những vùng đất quan trọng bị mất ở Nha Bích, Tống Lê Chân (Đông Nam Bộ), Tánh Linh (Khu 6) Đắc Pét, Măng Đen, Măng Bút, Chư Nghé, Ya Súp (Tây Nguyên), Nông Sơn, Giá Vụt (Khu 5). Đặc biệt Chiến thắng Đường 14 - Phước Long (6.1,1975) của quân và dân Đông Nam Bộ càng khẳng định quân chủ lực ngụy không thể đương đầu với chủ lực ta. Trong khi quân ngụy ngay càng sa sút lại bị Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự. Sau vụ Oa-tơ-ghết, Ních-xơn phải từ chức, G. Pho lên làm Tổng thống càng làm giảm khả năng can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Quân ngụy Sài Gòn vốn sống bằng đô-la và bắn giết bằng vũ khí Mỹ, nay bị ông chủ ''thờ ơ'' càng làm cho những khó khăn cố hữu bản chất không sao khắc phục nổi, đồng thời tạo ra một chỗ hổng về lòng tin đưa đến sự sa sút nghiêm trọng về tinh thần của binh lính. Tuy binh lực vẫn còn rất lớn: 1.351.000 tên, 2.074 xe tăng, xe bọc thép 1.556 khẩu pháo, 536 máy bay phản lực và 580 tàu xuồng các loại; nhưng do những nhận định chủ quan, sai lầm về đối phương, địch bố trí thế phòng thu trên chiến trường miền Nam theo kiểu ''nặng hai đầu'' tập trung binh lực trên hướng quân khu 1 (Trị - Thiên, Quảng Đà) và quân khu 3 (Sài Gòn Biên Hòa); còn ở giữa: quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên, lực lượng ít hơn. Đầu năm 1975, toàn quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy có 2 sư đoàn, 7 liên đoàn, 24 tiểu đoàn bộ binh chủ lực, 86 tiểu đoàn và 81 đại đội bảo an, 1.304 trung đội dân vệ cảnh sát; 13 tiểu đoàn, 8 đại đội, 5 trung đội Pháo binh (376 khẩu); 5 thiết đoàn, 13 đại đội xe tăng thiết giáp (487 xe); 16 phi đoàn (487 chiếc máy bay). Riêng khu vực Tây Nguyên (không kể Tuyên Đức, Lâm Đồng) lực lượng địch bao gồm: sở chỉ huy quân đoàn 2- quân khu 2, sư đoàn bộ binh 23, 7 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25, 4, 6), nhiều tiểu đoàn bộ binh chủ lực (30.900 tên) và 33 tiểu đoàn, 36 đại đội bảo an, 477 trung đội dân vệ, 5 đại đội và 2 trung đội cảnh sát; 8 tiểu đoàn, 7 đại đội, 25 trung đội pháo binh (230 khẩu); 4 thiết đoàn, 5 đại đội xe tăng thiết giáp (371 xe); 4 phi đoàn không quân (1 phi đoàn chiến đấu 32 chiếc, 2 phi đoàn trực thăng 86 chiếc, 1 phi đoàn quan sát huấn luyện 32 chiếc), tổng số 150 máy bay các loại2. Lực lượng tuy nhiều 63.000 tên, nhưng địch phải căng ra phòng ngự khắp Tây Nguyên, nuôi tham vọng giữ bằng được địa bàn chiến lược này. Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là thị xã Plei Ku và Kon Tum. Hướng thị xã Buôn Ma Thuột chúng có sơ hở và yếu hơn cả. Về ta, tranh thủ điều kiện thuận lợi do Hiệp định Pa-ri đem lại, quân và dân hai miền Nam, Bắc nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng giành được những thắng lợi rất lớn. Hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa tập trung sức nguời, sức của khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi lễ tế, đẩy mạnh sản xuất tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng v ũ trang. Hai năm 1973, 1974 miền Bắc được mùa, sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp vượt mức kế hoạch, giao thông vận tải được khôi phục, 150.000 thanh niên nhập ngũ, 68.000 quân và hàng vạn thanh niên xung phong vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu, hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu được chuyển đến các chiến trường. Ở miền Nam thế và lực của ta đã lớn mạnh vượt bậc, quyền chủ động chiến lược vẫn được giữ vững. Các quân đoàn và các khối chủ lực mạnh đứng vững trên các địa bàn chiến lược. Đường Đông Trường Sơn và đường ống dẫn dầu đã vươn tới Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ), bảo đảm sức người, sức của cho đánh lớn, liên tục, dài ngày theo kế hoạch tác chiến chiến lược. Trong vùng địch kiểm soát, phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ, hòa hợp dân tộc và lật đổ chính quyền Thiệu phát triển mạnh. Bên cạnh đó, những thắng lợi mới của cách mạng Lào và Cam-pu-chia càng tạo thêm điều luận thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mau tiến đến đích cuối cùng. Nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng và thời cơ chiến lược đang đến, tháng 10 năm 1974 và tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, kịp thời phân tích đánh giá đúng thực chất, khách quan khoa học tình hình mọi mặt và kết luận: ''Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, để tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc''3. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định: ''Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975, 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã nguy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân''4. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng dể khi ''thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975''5. Ngay sau khi Hội nghị Bộ Chính trị, ngày 9 tháng 1 năm 1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt và bàn tổ chức thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến dịch Tây Nguyên. Tại Hội nghị này, ý định đánh Buôn Ma Thuột hình thành rõ rệt và chiến dịch Tây Nguyên chính thức được quyết định mở với mật danh "Chiến dịch 275''. Do chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1975 có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn lao, nên Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương cử Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến trường để trực tiếp chỉ dạo chiến dịch và tổ chức sở chỉ huy tiền phương của Bộ ở Tây Nguyên. Đồng thời Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên6. Trung tướng Hoàng Minh Thảo (Phó tư lệnh Quân khu 5) được cử làm Tư lệnh, đại tá Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên) làm Bí thư Đảng ủy và Chính ủy, Thiếu tướng Vũ Lăng và các đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang làm Phó tư lệnh, đại tá Phí Triệu Hàm làm Phó chính ủy. Cơ quan chiến dịch được hình thành trên cơ sở nòng cốt là 3 cơ quan Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch có đồng chí Bùi San - Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy Khu 5 cùng một bộ phận cơ quan giúp việc để chỉ đạo các tỉnh ủy Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum huy động mọi khả năng của địa phương phục vụ chiến đấu. Căn cứ vào ý định tác chiến chiến lược của ta, phân tích lực lượng và thế bố trí của địch trên toàn chiến trường và riêng ỏ Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương gấp rút tăng cường lực lượng, vật chất kỹ thuật, đẩy nhanh công tác chuẩn bị chiến dịch, tích cực hoạt động nghi binh thu hút địch ở Mặt trận Tây Nguyên và các hướng phối hợp. Trong thời gian từ giữa tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 1975, nhiều đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm lần lượt đến Tây Nguyên theo sự điều động của Bộ Tổng Tham mưu. Sư đoàn bộ binh 968 do đồng chí Thanh Sơn làm sư đoàn trưởng và đồng chí Trần Trác làm chính ủy, từ Hạ Lào hành quân đến Gia Lai, Kon Tum ngày 15 tháng 1. Sư đoàn bộ binh 316 do đồng chí Đàm Văn Ngụy làm sư đoàn trưởng và đồng chí Hà Quốc Toàn làm chính ủy, được Trung đoàn vận tải ô tô 525 bí mật chuyển từ Nghệ An và đến khu vực tập kết Đắc Đam (tây Đắc Lắc) ngày 5 tháng 2. Cùng thời gian này, Trung đoàn bộ binh 95B (Sư đoàn 325), Tiểu đoàn đặc công 24, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn công binh 575, một tiểu đoàn công binh cầu phà, một tiểu đoàn vận tải ô tô, một tiểu đoàn thông tin, một đại đội trinh sát, một trung đội khí tượng, Đội điều trị 48, ba trạm sửa chữa xe pháo và 8.000 quân bổ sung cũng có mặt ở Tây Nguyên. Các đơn vị phối thuộc bí mật tiến vào các vị trí quy định: Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 5) đến khu vực đường 19 An Khê, Trung đoàn bộ binh 271 và Đại đội đặc công 14 (Bộ tư lệnh Miền) lên Gia Nghĩa, Tiểu đoàn bộ binh 21 (Sư đoàn 470) đến Bản Đôn. Đến ngày mở màn (4.3.1975), lực lượng ta tham gia chiến dịch Tây Nguyên gồm 5 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 968, 3), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25, 271), 1 trung đoàn (198) và 2 tiểu đoàn đặc công (27, 14), 1 trung đoàn xe tăng (273), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), 2 trung đoàn công binh (7, 575), 1 trung đoàn thông tin (29), 6 tiểu đoàn vận tải, một số đơn vị bảo đảm của Bộ và Mặt trận Tây Nguyên, lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh diễn ra chiến dịch. Tổng quân số. 65.141 người, trong đó có 43.020 người trực tiếp tham gia chiến dịch. Riêng khôn chủ lực Mặt trận Tây Nguyên (B3) có 36 tiểu đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn đặc công, 13 tiểu đoàn pháo mặt đất, 18 tiểu đoàn pháo phòng không, 3 tiểu đoàn xe tăng, quân số 44.900 người; vũ khí, trang bị có 88 khẩu pháo lớn, 1.561 súng chống tăng, 6 cơ cấu bắn B72, 343 súng phòng không, hàng vạn súng bộ binh, 57 xe tăng xe bọc thép, 679 ô tô các loại... tham gia chiến dịch. Song song với việc tăng cường các đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm Bộ Tổng tư lệnh còn bổ sung một lượng vật chất rất lớn cho Mặt trận Tây Nguyên. Trên tuyến vận tải chiến lược và chiến dịch có trên 1.000 xe ô tô của Đoàn 559, các quân khu và Bộ Giao thông vận tải ngày đêm vận chuyển vật chất vào chiến trường Tây Nguyên. Đến cuối tháng 2 năm 1975, Đoàn 559 và các lực lượng tăng cường đã thực hiện được 110% kế hoạch vận chuyển cho chiến dịch. Lượng vật chất dự trữ toàn mặt trận đạt 17.359 tấn, riêng chuẩn bị cho chiến tích là 10.603 tấn; trong đó lương thực thực phẩm đạt 114%, vũ khí đạt 83%, xăng dầu đạt 24%. Quá trình chỉ đạo trực tiếp chiến dịch vận chuyển cho Tây Nguyên, đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, thành viên cơ quan đại diện Bộ Quốc phòng trong chiến dịch Tây Nguyên đã kịp thời điều động đạn súng cối 160mm từ kho hậu cần B2 về B3. Những cố gắng cao của Ngành Hậu cần chiến lược và chiến dịch đã tạo cho Mặt trận Tây Nguyên có một lượng dự trữ vật chất rất lớn, bảo đảm cho bộ đội tác chiến hiệp động binh chủng dài ngày. ------------------------------------------------------------------- 1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975. Sđd, tr. 300. 2. Số liệu dẫn theo báo cáo ''Tổng kết về địch trong chiến dịch tiến công giải phóng Tây Nguyên tháng 3 năm 1975'' của Phòng Trinh sát Quân đoàn 3 ngày 29.5.1975, tr. 21, 22. 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Sđd, tr. 300, 301. 4. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Sđd, tr. 301. 5. Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại thắng Mùa Xuân. Nxb QĐND; H.1977. tr. 35. 6. Gọi là: ''Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:31:22 pm * Những tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975, công tác chuẩn bị chiến dịch ở Tây Nguyên diễn ra bí mật, nhịp độ ngày một khẩn trương và quy mô ngày càng lớn. Tháng 9 năm 1974, sau khi được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ mở chiến dịch ''nam Tây Nguyên'' với khu vực tác chiến chủ yếu là Đức Lập - Thuần Mẫn, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên triển khai ngay công tác chuẩn bị chiến trường. Giữa tháng 10, Trung đoàn công binh 7 (thiếu) và Tiểu đoàn 17 Sư đoàn 10 từ bắc Kon Tum vượt 300 km vào tây bắc Đức Lập; từ ngày 28, tổ chức thi công các con đường 6b, 2b, N1, N5, 14C, 22, 23, 128. Cùng thời gian này, một tiểu đoàn công binh của Trung đoàn 7 và lực lượng của Sư đoàn 10, Trung đoàn 273, Trung đoàn 40, Trung đoàn 234 gấp rút sửa chữa, khôi phục các trục đường từ vị trí đứng chân ra đến đường 128 chuẩn bị cho cơ động về phía nam.Tháng 11 năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xác định ''Chiến trường Tây Nguyên là hướng chủ yếu chung cho cả miền Nam'' trong năm 1975 và giao nhiệm vụ lần hai cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực tiếp tổ chức chỉ huy ''Chiến dịch nam Tây Nguyên'' với yêu cầu cao hơn, địa bàn mở rộng đến hai thị xã Gia Nghĩa và Cheo Reo; công tác chuẩn bị chiến dịch càng được đẩy mạnh. Các đoàn trinh sát chỉ huy, trinh sát hậu phương của Mặt trận mở rộng phạm vi hoạt động. Đầu tháng 12 năm 1974, trinh sát của các sư đoàn bộ binh, các trung đoàn binh chủng triển khai nắm địch, địa hình... trên hướng được phân công. Nhiều tuyến đường được sửa chữa và làm mới; hàng loạt cầu, phà, ngầm trên tuyến đường chiến lược 128 xuyên dọc Tây Nguyên và các đường cơ giới được gấp rút hoàn thành. Ngày 12 tháng 12, các chiến sĩ công binh bắc xong chiếc cầu phao trọng tải 50 tấn qua sông Pô Kô; bốn ngày sau, chiếc cầu phao thứ hai nối liền hai bờ sông Sê Rê Pôk cũng được đưa vào sử dụng. Cùng thời gian này cơ quan Mặt trận di chuyển về nam Tây Nguyên; hậu cần chiến dịch triển khai các kho, trạm và từ ngày 9 tháng 10 những chuyến hàng đầu tiên đã được chuyển vào các kho K10, K20, K37. Tháng 1 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên với trận đánh mở đầu then chốt Buôn Ma Thuột chính thức dược Bộ Chính trị quyết định, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo; Bộ tư lệnh C hiến dịch tập trung mọi nỗ lực cho công tác chuẩn bị chiến địch, từ xây dựng quyết tâm, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị vật chất, chuẩn bị bộ đội đến điều quân, cơ động lực lượng, tổ chức nghi binh lừa dịch. Trong đó, nhiệm vụ ''trung tâm số một'' là xây dựng quyết tâm, phương án tác chiến chiến dịch và các trận đánh then chốt, quyết định. Mặc dù quá trình chuẩn bị, phải thay đổi điều chỉnh quyết tâm, phương án tác chiến chiến dịch đến 3 lần theo nhiệm vụ trên giao, lần sau nặng nề hơn lần trước; nhưng Phòng Tham mưu B3, sau đó là cơ quan Tham mưu chiến dịch đã tập trung cao độ, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và kinh nghiệm tổ chức chiến dịch trong 11 năm đánh Mỹ của Mặt trận Tây Nguyên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau một quá trình điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét mọi vấn đề một cách công phu khoa học, vận dụng linh hoạt sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam vào tình hình cụ thể ở Tây Nguyên; Bộ tư lệnh chiến dịch đã hoàn chỉnh quyết tâm và phương án tác chiến chiến dịch. Trên cơ sở quyết tâm chính thức của Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch, trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 2 năm 1975 Hội nghị mở rộng bàn và xác định phương án tác chiến chiến dịch là: tiến công, nghi binh nhử, kéo địch về Plei ku và Kon Tum, cắt đứt các con đường 14, 19, 21 ''trói'' chặt địch ở bắc Tây Nguyên; nhanh chóng đánh chiếm Đức Lập, Thuần Mẫn cô lập địch ở thị xã Buôn Ma Thuột; tập trung lực lượng chủ yếu giáng đòn quyết định giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và đánh bại lực lượng phản kích của địch. Tiếp đó, phát triển tiến công đánh chiếm Cheo Reo, Gia Nghĩa, giải phóng ba tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức tạo điều kiện và thời cơ phát triển tiến công trên các hướng khác. Riêng trận then chốt quyết định Buôn Ma Thuột được xác định hai phương án: đánh quân địch chưa có phòng ngự dự phòng và đánh địch đã có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng. Đêm 25 tháng 2 năm 1975, tại Sở chỉ huy chiến dịch trong một cánh rừng già ở Đông nam điểm cao 501 (1,5km) cách Buôn Ya Wằn 3km về phía đông thuộc tỉnh Đắc Lắc, giữa tiếng đại bác địch bắn cầm canh, Bộ tư lệnh chiến dịch thông qua phương án tác chiến và quyết tâm chiến dịch trước dại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Các đồng chí Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp ký quyết tâm; Đại tướng Văn Tiến Dũng ký phê chuẩn. Việc Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên, chọn thị xã Buôn Ma Thuột để đánh trận then chốt là quyết định chính xác và sáng suốt. Quyết định đó đã được Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên cụ thể hóa bằng quyết tâm và kế hoạch tác chiến chặt chẽ, khoa học, táo bạo, công phu. Các nhà chiến lược phương Tây đã bình luận: ''Chỉ riêng việc đó thôi (tức chọn Buôn Ma Thuột đã là thiên tài rồi!" Thực tiễn diễn biến chiến dịch Tây Nguyên vượt xa mức dự kiến ban đầu và phát triển thành chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công lịch sử mùa Xuân năm 1975. Theo kế hoạch tác chiến, chiến dịch Tây Nguyên sẽ diễn ra những trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh địch trong thành phố. Các đơn vị tham gia chiến dịch đều được chuẩn bị tốt, quyết tâm chiến đấu cao; nhưng trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng bệnh chủng không đều; có đơn vị mới lần đầu vào Tây Nguyên chưa quen thuộc chiến trường và đối tượng tác chiến. Để khắc phục những nhược điểm đó, Bộ tư lệnh chiến dịch đã dành nhiều thời gian cho các đơn vị huấn luyện bổ sung. Các hình thức chiến thuật: tiến công địch trong công sự vững chắc, đánh địch trong thành phố bằng lực lượng binh chủng hợp thành... được chú trọng. Sư đoàn 10 giành nhiều thời gian huấn luyện cách đánh hiệp đồng ''cặp đôi'' 1 xe tăng, 1 xe bọc thép có bộ binh đi cùng nhằm tăng sức mạnh đột kích. Sư đoàn 320 tập trung huấn luyện tác chiến hiệp đồng giũa bộ binh và pháo binh có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ. Sư đoàn 316 hoàn thành tốt đợt huấn luyện bổ sung ngắn về các mặt chiến thuật, kỹ thuật đánh địch trong đô thị. Song song với công tác huấn luyện, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch lãnh đạo chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, nhiệm vụ của chiến dịch nắm chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến: ''Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật bất ngờ"; thấy rõ đặc điểm chiến trường, nhiệm vụ của đơn vị và bản thân, vinh dự và trách nhiệm. Từ đó xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ. Để giữ bí mặt công tác chuẩn bị chiến tích và cơ động lực lượng vào cài thế trên các hướng, từ tháng 11 năm 1974 đến cuối tháng 2 năm 1975 một kế hoạch nghi binh tuyệt mật mang mật danh ''Kế hoạch tác chiến B'' được Bộ tư lệnh mặt trận, sau đó là Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên triển khai thống nhất, chặt chẽ, liên tục trên diện rộng với nhiều lực lượng tham gia. Mục đích của kế hoạch này là: ''Tranh thủ tiêu hao, tiêu diệt một số sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch trên một số điểm trọng yếu. Giam chân, thu hút, căng kéo chủ lực địch ở tại chỗ, không cho địch cơ động lực lượng về C3 (khu vục Đức Lập), C4 (khu vực Gia Nghĩa), C9 (Thuần Mẫn) luôn luôn làm cho địch hiểu lầm ta triển khai đánh Kon Tum; cắt đường 19 đông, uy hiếp Plei Ku. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho hướng C3, C4, C9 triển khai các mặt chuẩn bị''1. Thực hiện kế hoạch nghi binh, từ đầu tháng 11 năm 1974 những hoạt động ''chuẩn bị chiến dịch'' diễn ra rầm rộ ở bắc Tây Nguyên. Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn công binh 7 tăng cường máy húc và sử dựng nhiều bộc phá tiếp tục mở đường 220 (nối đường 14 ở bắc Võ Định vòng qua đông bắc thị xã Kon Tum đến đường 19 đoạn gần đèo Măng Yang); hai bến phà ở khu vực cầu Diên Bình và sông Đăk Bla được triển khai, một số trận địa pháo giả được xây dựng ở xung quanh thị xã Kon Tum. Đêm đêm các xe kéo pháo, xe tăng cơ động thay đổi vị trí; các xe vận tải bật đèn gầm tăng cường hoạt động chở hàng trên hướng tây bắc và đông bắc Kon Tum. Sư đoàn 10 ra sức củng cố hầm hào, công sự chiến đấu ở các khu vực trực tiếp tiếp xúc với địch; dùng súng cối bắn vào thị xã Kon Tum. Sư đoàn 320 tăng cường các hoạt động ở khu vực đường 19 tây. Pháo binh của ta bắn vào La Sơn, Thanh An, Đồn Tầm. Trung đoàn 95 chặn đánh các đoàn xe quân sự, tập kích một số chốt địch trên trục đường 19 đông. Trung đoàn 198 đặc công tập kích kho xăng Plei Ku. Hệ thống thông tin vô tuyến diện của các sư đoàn 10, 320 và các trung đoàn 40, 234, 273, 675 vẫn giữ nguyên vị trí, liên tục phát đi các bức điện, mệnh lệnh, báo cáo giả với tần suất ngày càng cao. Ngoài ra ta còn bố trí các đài vô tuyến điện 15W hoạt động ở khu vực Kleng, đông bắc Võ Định, bắc điểm cao 518 bên đường số 19 đông. Theo kế hoạch, dân công các huyện 40, 67, 30, 80, Diên Bình, Tân Cảnh (Kon Tum), huyện 4 và 5 (Gia Lai) rầm rộ mở đường. Các địa phương nô nức chuẩn bị đón tiếp bộ đội giải phóng. Nhiều người dân đi tìm người thân ở vùng địch kiểm soát, phao tin sắp đánh lớn ở Kon Tum. Giữa lúc địch bị hút vào các hoạt động nghi binh của ta, Sư đoàn 968 bí mật vào thay thế Sư đoàn 320 ở hướng tây Gia Lai và Sư đoàn 10 ở tây bắc Kon Tum, để hai đơn vị này hành quân vào nam Tây Nguyên. Các đơn vị binh chủng cũng rút dần lực lượng, cơ động vào Đắc Lắc. Những hoạt động nghi binh của ta rất hiệu quả, thu hút một lực lượng lớn chủ lực địch về hướng bắc Tây Nguyên, làm cho chúng luôn lúng túng bị động đối phó trong một thời gian khá dài. Cuối năm 1974, địch phán đoán ta sắp mở chiến dịch ở bắc Tây Nguyên, lấy Kon Tum làm mục tiêu chủ yếu, chúng điều động 4 liên đoàn biệt động quân (6, 21, 22, 24) lên tăng cường dự phòng khu vực thị xã. Tháng 1 năm 1975 chúng phát hiện ta tăng thêm 1 sư đoàn ở tây nam Gia Lai, nên vội vã đưa liên đoàn biệt động quân 23 và 2 trung đoàn đoàn (44, 45) tăng cường cho Plei Ku. Tiếp dó, đầu tháng 2 địch phát hiện có lực lượng của hai sư đoàn 10, 320 ở nam Tây Nguyên. Chúng cho rằng 2 sư đoàn này ở đâu là ở đó có đánh lớn. Vì vậy địch tung ngay trung đoàn 53 ra lùng sục ở khu vực Quảng Nhiêu, Buôn Hồ; đưa trung đoàn 45 từ Plei Ku xuống phía tây Thuần Mẫn, Ia Hleo; đổ biệt kích thám báo xuống khu vực đứng chân của Sư đoàn 320 ở phía tây đường số 14. Ngày 10 tháng 2, quân khu 2 địch thông báo cho thuộc cấp: ''Chiến dịch đông xuân của Việt Cộng có thể bắt dầu từ ngày 10 tháng 2 và mạnh từ 18 tháng 2 tại Đắc Lắc, trọng điểm là Buôn Ma Thuột''2. Trước tình hình phức tạp về địch, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: ''Những hoạt động lùng sục của địch có tính chất bị động, rời rạc'', ''chưa có triệu chứng địch phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta''; đồng thời chủ trương ''kiên trì giữ bí mật ý định và lực lượng ở khu vực tác chiến chủ yếu, tích cực khôn khéo hoạt động nghi binh hơn nữa để nhử dịch về hướng bắc, tạo điều kiện cho quân ta tiếp tục chuẩn bị tốt ở hướng nam"3. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn 320 co ngay đội hình về phía sau, chỉ để lại những tổ trinh sát bám địch. Sư đoàn 968 đánh vào một loạt vị trí địch, tiêu diệt chết Mỹ, bức rút đồn Tầm, chiếm dãy điểm cao 605, Chư Kra, Chư Gôi, uy hiếp mạnh các cứ điểm Thanh Bình, Thanh An (tây Gia Lai), đánh nhỏ ở bắc Kon Tum, cắt đường số 14 ở nam Tân Phú. Nhân dân vùng giải phóng Gia Lai, Kon Tum được huy động rầm rộ làm đường, làm trận địa pháo. Địch lầm tưởng ta sắp tiến công lớn vào Plei Ku, nên vội vã rút trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga (Thuần Mẫn) về Thanh An đối phó. Những hoạt động nghi binh chiến dịch của ta đã thành công. Đầu tháng 3 năm 1975 phần lớn chủ lực quân đoàn 2 quân khu 2 địch vẫn bị giam chân ở Kon Tum, Gia Lai. Ở Đắc Lắc và khu vực Buôn Ma Thuột không có gì thay đổi. Ta có điều kiện và thời cơ tiến c công địch trong thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng. ------------------------------------------------------------------ 1. Trích "Kế hoạch tác chiến B'' của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, tr. 9. 2. ''Tóm tắt một số tình hình địch phát hiện và đánh giá về chủ trương hoạt động của ta trong mùa khô năm 1974-1975'' của Ban Trinh sát Mặt trận Tây Nguyên ngày 5. 3.1975, tr. 3. 3. Trung tướng Hoàng Minh Thảo. Chiến dịch Tây Nguyên... Sđd, tr. 69, 70. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:41:43 pm * Đầu tháng 3 năm 1975, các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Nguyên đã hoàn thành tập kết trên các khu vực quy định. Cụm lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột có Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn bộ binh 95b, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273 (thiếu), 2 cụm pháo của Trung đoàn pháo bình 40 (thiếu) và Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 232 và Trung đoàn phòng không 234 (thiểu), Trung đoàn công binh 7 và Trung đoàn công binh 575, Trung đoàn thông tin 29, một số phân đội bảo đảm và lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc. Cụm lực lượng trên hướng Đức Lập, Quảng Đức gồm Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu), Trung đoàn bộ binh 271, Tiểu đoàn đặc công 14, một tiểu đoàn pháo (Trung đoàn pháo binh 40), 2 tiểu đoàn phòng không (Trung đoàn 234). Cụm lực lượng trên đường 14 khu vực Thuần Mẫn có Sư đoàn bộ binh 320. Khu vực Bình Khê - Plei Bôn có Sư đoàn bộ binh 3 (thiếu) Quân khu 5, Trung đoàn 95A. Lực lương cắt đường 21 do Trung đoàn bộ binh 25 đảm nhiệm. Hướng Gia Lai, Kon Tum có Sư đoàn bộ binh 968 và lực lượng vũ trang địa phương đang triển khai đánh địch. Thời điểm tiến công địch đã đến, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết địch cho các lực lượng đánh cắt giao thông nổ súng chia cắt chiến dịch, tạo thế, mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95A đánh cắt giao thông đường số 19, diệt căn cứ A Dun và một số chốt giao thông, làm chủ một đoạn đường dài 20km từ ngã ba Plei Bôn đến ấp Phú Yên. Một bộ phận của Sư đoàn 320 cắt đường 14 ở bắc Cẩm Ga. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 (Quân khu 5) cắt đường số 19 ở đèo Thượng An đến cầu số 13, diệt 9 chết và 2 đại đội địch. Đêm 4 rạng ngày 5 Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch, cắt đứt đường số 21 ở đông Chư Cúc. Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chặn một đoàn xe 15 chiếc của trung đoàn 45 ngụy ở Cẩm Ga, diệt 8 xe, thu 2 pháo 105mm, nhưng địch chạy thóat 7 xe, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23, đường số 14 bị cắt đứt. Địch ở Tây Nguyên bị cô lập hoàn toàn với đồng bằng duyên hải phía đông, hai cụm bắc và nam Tây N Nguyên cũng bị cắt rời nhau. Trước diễn biến bước đầu thuận lợi, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm đánh địch theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột, đồng thời xác định những biện pháp cụ thể để bảo đảm cho các đơn vị hoàn thành triển khai đội hình tiến công. Tận dụng những nhận định sai lầm của địch cho rằng hướng tiến công chính của ta ở bắc Tây Nguyên và tập trung binh lực đối phố trên hướng đường 19 An Khê - Plei Bôn và phía tây Gia Lai, Bộ tư lệnh chiến tích ra lệnh cho Sư đoàn 320 dùng Trung đoàn 48 đánh chiếm cứ điểm Chư Xê (7.3) và quận lỵ Thuần Mẫn (8.3)1, kéo trung đoàn 53 từ Buôn Ma Thuột và lên đoàn 21 biệt động quân (vừa từ Kon Tum đổ xuống sân bay Hòa Bình) lên đối phó. Tận dụng thời cơ khi địch ở Buôn Ma Thuột bị thu hút lên hướng Thuần Mẫn, Buôn Hồ, 2 trung đoàn công binh (7 và 575) khẩn trương khai thông các đoạn còn lại của đường 51, 57b, 57C, 50B, 50C, 50D để xe pháo cơ động tiến công thị xã. Riêng tuyến dường phía tây và tây nam (20C), để giữ bí mật, các chiến sĩ Trung đoàn công binh 7 cưa sẵn ba phần tư đường kính gốc cây, liên kết bộc phá ở các bến vượt, đến giờ quy định sẽ cho nổ và nhanh chóng dọn đường. Cùng thời gian này, Trưng đoàn thông tin 29 gấp rút triển khai mạng hữu tuyến điện; Sư đoàn 316 và lực lượng đặc công tiến vào các vị trí quy định. Hậu cần chiến dịch chuẩn bị sẵn những xe đạn dược, xăng dầu sẵn sàng cơ động cùng đội hình hành quân chiếm lĩnh của các đơn vị. Theo đúng kế hoạch, ngày 9 tháng 3 Sư đoàn 10 (thiếu) được tăng cường đặc công, pháo binh, cao xạ do sư đoàn trưởng Hồ Đệ và chính ủy Lã Ngọc Châu chỉ huy bất ngờ tiến công quận lỵ Đức Lập. Tại đây, quân địch có 2.391 tên (chủ lực và bảo an), 12 pháo lớn, 15 xe tăng xe bọc thép... bố trí tập trung ở 5 vị trí: căn cứ 23, quận lỵ Đức Lập, Núi Lửa, Đắc Sắc, Đắc Song; ngoài ra còn nhiều chốt lẻ vòng ngoài như Bác Ái, Tư Minh, Ya Bét... và 2.500 tên phòng vệ dân sự. Với cách đánh táo bạo bỏ qua tuyến phòng ngự vòng ngoài của lực lượng bảo an dân vệ, tập trung lực lượng đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu, chỉ trong hơn 3 giờ tiến công Trung đoàn 28 và Trung đoàn 66 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Núi Lửa và căn cứ 23. Khi phát triển tiến công quận lỵ Đức Lập ta gặp khó khăn do nổ súng sớm trong khi nắm địch chưa kỹ, hiệp đồng không chặt. Ngày hôm sau (10.3) ta điều chỉnh bố trí lực lượng, tăng cường chỉ huy, tiến công lần thứ hai tiêu diệt hoàn toàn quận ly Đức Lập, làm chủ các mục tiêu Đắc Min, Đắc Sắc, Đắc song. Sau gần 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn 10 đã đập tan tuyến phòng thủ tây nam Buôn Ma Thuột, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, bắt hơn 100 tên, thu 14 pháo lớn và 20 xe tăng, xe bọc thép, giải phóng một khu vực rộng lớn với hàng chục nghìn dân. Chiến thắng Đức Lập ''ngoài ý nghĩa dứt điểm để có thể cơ động lực lượng sớm cho Buôn Ma Thuột... còn có ý nghĩa bảo đảm hành lang cho các lực lượng tiến công vào hướng nam... thu hút thêm sự chú ý của địch... bảo đảm bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt quyết định''2. Đến đây, giai đoạn đánh tạo thế chiến dịch đã hoàn thành. Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời cơ động Sư đoàn 10 và lực lượng tăng cường về triển khai ở đông , bắc thị xã Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh địch phản kích. Trong khi tiếng súng tiến công trên hướng Đức Lập còn đang nổ, đêm mùng 9 tháng 3 từ các khu vực tập kết cách Buôn Ma Thuột từ 15 đến 25km, theo lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, 12 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng hình thành 5 mũi hành tiến cơ giới như 5 cánh sao ầm ầm tiến về phía thị xã. Từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3, khi Trung đoàn đặc công 198 và hỏa lực ĐKB, H12 đánh vào kho Mai Hắc Đế, sân bay thị xã sân bay Hòa Bình và hậu cứ trung đoàn 53, các đoàn xe bật đèn pha mở hết tốc lực vượt qua tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch đưa bộ đội vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. Đúng 6 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, các cụm pháo chiến dịch của ta bắt đẩu trút bão lửa xuống các mục tiêu trong. thị xã Buôn Ma Thuột, làm tê liệt nhiều hành động chiến đấu của địch. Đại tá Nguyễn Trọng Luật - chỉ huy trưởng tiểu khu Đắc Lắc hỏang sợ, bỏ nhiệm sở trốn sang hầm ngầm của đại tá Vũ Thế Quang - phó tư lệnh sư đoàn 23 vừa được tướng Phạm Văn Phú (tư lệnh quân đoàn 2 - quân khu 2) giao cho làm tư lệnh chiến trường nam Tây Nguyên. Được sự chi viện của hỏa lực, các mũi tiến công binh chủng hợp thành gồm bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp, pháo phòng không đồng loạt đột phá trên các hướng. Trên hướng tiến công chủ yếu phía bắc, Trung đoàn 95B sử dụng Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 5 diệt chốt ngoại vi ở điểm cao 596 lúc 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 4 đặc công (Trung đoàn 198) đánh chiếm làm chủ hai phần ba sân bay thị xã, dồn đại đội bảo vệ của địch về góc đông bắc sân bay. Lợi dụng kết quả chiến đấu của đặc công và hỏa lực pháo binh, Trung đoàn 95 tiến theo hai đường phố Cao Thắng và Phan Chu Trinh chiếm khu nhà thờ; 6 giờ, Tiểu đoàn 5 đánh chiếm Ngã Sáu Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Địch cho xe tăng, xe bọc thép và bộ binh ra phản kích, dùng máy bay ném bom làm Tiểu đoàn 5 tổn thất phải lui ra củng cố. Tiếp đó, Trung đoàn 95B dùng Tiểu đoàn 4 và 4 xe tăng tiến công lần thứ 2 chiếm được Ngã Sáu rời trụ lại đánh phản kích, đồng thời từng bước phát triển tiến công về hướng tiểu khu Đắc Lắc. Địch ngoan cố chống cự bắn cháy 1 xe tăng ta, nhưng đến 15 giờ toàn bộ tiểu khu và các khu hành chính, quân cảnh đều bị ta chiếm. Ở sân bay thị xã, lực lượng đặc công được 3 xe tăng chi viện cũng làm chủ toàn bộ mục tiêu lúc 17 giờ. Sự xuất hiện của xe tăng ta ngay giữa trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột như cú sét đánh ngang tai, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã lệnh cho Phạm Văn Phú phải tử thủ giữ thị xã này bằng mọi giá. Ở hướng tây bắc, theo phương án tác chiến Trung đoàn 148 chiếm điểm cao Chư Ebua và triển khai xong đội hình chiến đấu lúc 5 giờ 30 phút. Song do pháo, cao xạ và một số xe tăng bị lạc đường vào chậm, trong khi hỏa lực của đơn vị chưa đủ mạnh để kiềm chế hỏa lực địch, nên chỉ huy trung đoàn cho bộ đội lợi dụng địa hình lồi lõm trong nghĩa trang ẩn nấp đợi lệnh xung phong và đề nghị cấp trên chi viện hỏa lực trực tiếp để mở cửa, xung phong. 9 giờ, các cụm pháo binh chiến dịch và pháp Sư đoàn 316 tập trung bắn yểm hộ cho Trung đoàn 148, tiêu diệt nhiều mục tiêu, đánh trúng trận địa pháo địch, làm một kho đạn bốc cháy. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh mở cửa. Do cửa mở không sạch, xe tăng vừa tiến và đã bị dây thép gai quấn xích, địch chống trả quyết liệt gây cho ta nhiều thương vong. Trước tình thế đó, thượng sĩ trung đội phó Nguyễn Quang Trung3 chủ động thay cán bộ đại đội bị thương vong, chỉ huy mở cửa và dùng cảm ôm bộc phá xông lên đánh rộng cửa mở cho xe tăng, bộ binh vượt qua, rồi đưa đơn vị phát triển đánh chiếm các mục tiêu. Chiến sĩ công binh Vì Anh Đôi (Đại đội 7) ba lần bị thương vẫn quyết tâm mở đường cùng bộ binh xung phong đánh chiếm lô cốt, cướp đại liên địch bắn chi viện cho đồng đội xung phong. Y tá Tống Viết Bá vừa kịp thời cấp cứu thương binh, vừa tích cực đánh địch, bắn 9 quả B40, B41 diệt 5 lô cốt và 9 tên địch rồi anh dũng hy sinh. Đến 13 giờ, Trung đoàn 148 làm chủ các mục tiêu: tiểu đoàn 1 trung đoàn 45, khu pháo binh, khu thiết giáp, tổ chức hướng dẫn cho dân sơ tán, truy quét tàn binh; đồng thời đại bộ phận phát triển theo đường Phan Bội Châu, đánh tan cụm địch ở trường trung học Bồ Đề, quét sạch địch ở chùa Khải Đoan và tiến ra Ngã Sáu bắt liên lạc với Trung đoàn 95B. Cùng thời gian này, mũi thọc sâu phía tây của Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) có Đại đội 9 xe tăng và Đại đội 6 thiết giáp (Trung đoàn 273) tăng cường, chiến sự cũng diễn ra quyết liệt. Đúng 8 giờ Đại đội 2 do đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy nổ bộc phá đánh bung cả bốn hàng rào trong ít phút, rồi nhanh chóng chiếm khu vực đầu cầu và phát triển vào bên trong. Cửa mở vừa thông, tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh dẫn đầu thê đội một thọc sâu gồm bộ binh, xe tăng xe thiết giáp vượt qua cửa mở đánh xuống phía nam vào khu vận tải và khu kỹ thuật. Tại đây, phân đội thọc sâu bị địch dùng súng cối, M79... dành chặn rất mạnh, máy bay địch lao đến trút bom. Tiểu đoàn trưởng Oánh và trung đội trưởng Định xuống xe chỉ huy chiến đấu. Một khẩu đại liên địch bất ngờ xuất hiện bắn xối xả về phía ta, cả hai đồng chí Oánh và Địh ngã xuống. Cùng thời gian này Đại đội 3 và lực lượng dự bị của Tiểu đoàn 4 cũng bước vào chiến đấu đánh vào khu truyền tin. Tại khu vực cột cờ, 9 chiến sĩ lần lượt ngã xuống, đại đội trưởng đại đội 6 bị thương, nhưng cuối cùng các chiến sĩ chiếm được trung tâm truyền tin. Sau nhiều đợt tiến công, lúc 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn các khu gia binh, vận tải, truyền tin nhưng cũng bị tổn thất lớn: 60 đồng chí thương vong, trong đó có tiểu đoàn trưởng và một số cán bộ đại đội. Được lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, Tiểu đoàn 4 do tiểu đoàn phó Bùi Văn Bịn chỉ huy, tạm dừng củng cố, sẵn sàng tiến công vào sáng hôm sau. Hướng tây nam, 2 giờ 10 phút Đội 2 đặc công (Trung đoàn 198) nổ súng đánh kho Mai Hắc Đế và làm chủ khu kho lúc 5 giờ. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 đánh chiếm Chư Duê. 6 giờ, địch dùng bộ binh và 5 xe thiết giáp từ hậu cứ sư đoàn 23 ra phản kích vào kho và Chư Duê nhưng bị đặc công và bộ binh ta đánh bại. Do xe tăng, pháo binh tăng cường vào muộn, nên 10 giờ ngày 10 tháng 3 Trung đoàn 174 mới tổ chức đột phá và đánh thọc thẳng và trung tâm thị xã. Trên đường hành tiến, bộ binh địch liên tục ngăn chặn phản kích, pháo binh máy bay oanh tạc dữ dội; nhưng bộ binh, xe tăng, pháo binh ta hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, lần lượt chiếm ấp Ba Lê, khu Phạm Ngũ Lão, khu tham mưu địch. Nhiều chiến sĩ bị thương nhưng không rời vị trí, chiến đấu rất dũng cảm như Nguyễn Như Lai, Hà Ngọc Kim đều diệt được từ 4 đến 11 tên địch, bắt 20 tên. Do không nắm chắc địa hình và tình hình địch nên tiến đến sát khu sở chỉ huy sư đoàn 23 thì Trung đoàn 174 dừng lại củng cố. Trên hướng nam thị xã, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn đặc công 198 nổ súng bất ngờ đánh địch ở sân bay Hòa Bình, nhưng vì quân địch đông đánh trả quyết liệt nên đến sáng ngày 10 tháng 3 ta mới chiếm được một số mục tiêu quanh đài kiểm báo và khu cảnh sát sân bay, phải tạm dừng, chuyển sang chốt giữ chờ bộ binh. Trung đoàn 149 cơ động tiếp cận mục tiêu bị địch phát hiện dùng máy bay pháo binh đánh chặn ở khu vực suối Ea Tam và đường Thống Nhất Nhưng bộ đội vẫn kiên quyết vận động, tiến công dũng mãnh vào các mục tiêu. Tiểu đoàn 7 đánh chiếm được khu cư xá sĩ quan, khu nhà thờ quân đội rồi đánh vào ngã 5 sở chỉ huy sư đoàn 23, bị địch phản kích phải dừng lại Tiểu đoàn 8 lần lượt chiếm khu tiếp vận, sở thú y, ngân khố, phát triển chiếm một phần khu nhà lao, cùng Trung đoàn 95B đánh chiếm tiểu khu Đắc Lắc rồi dừng lại củng cố. Tiểu đoàn 9 làm nhiệm vụ luồn sâu diệt chi khu quận lỵ Hòa Bình rồi tiến vào sân bay cùng Trung đoàn 198 tổ chức một đợt tiến công mạnh vào khu cố thủ chính của địch nhưng không thành công. Trời tối, tiểu đoàn phải dừng lại, củng cố để hôm sau đánh tiếp. Trải qua 1 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đã thu được thắng lợi lớn: chiếm 2 trong 3 mục tiêu quan trọng nhất ở Buôn Ma Thuột là sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc và sân bay thị xã, chiếm được một phần quan trọng và vây chặt sư đoàn bộ sư đoàn 23, khống chế sân bay Hòa Bình, bắn rơi 6 máy bay AD6. Lực lượng còn lại của địch trong thị xã Buôn Ma Thuột bị vây chặt, hoang mang dao động, quân cứu viện chưa kịp đến. Chiều ngày 10 tháng 3, quân địch biết rõ ý định đánh chiếm Buôn Ma Thuột của ta thì đã muộn. Lực lượng địch ở bắc Tây Nguyên và các tỉnh trung Bộ còn đông nhưng các con đường 14, 19, 21 đã bị cắt không thể ứng cứu cho Buôn Ma Thuột. Về phía ta, các đơn vị đều chiến đấu rất dũng cảm, hoàn thành nhiệm vụ bước một, bộ đội rất phấn khởi và đang tích cực chuẩn bị cho nhiệm vụ bước hai. Lực lượng ta tiêu hao ít, vẫn đủ khả năng đánh chiếm nhanh toàn bộ sư đoàn bộ sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã trước khi địch đưa lực lượng đến phản kích. Để giành thắng lợi triệt để cho trận then chốt mở đầu giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột; Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định giữ vững các vị trí đã chiếm được, đồng thời tập trung lực lương mạnh tổ chức một đợt tiến công mới vào sáng ngày 11 tháng 3, tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy và các mục tiêu còn lại. Sau một đêm củng cố chuẩn bị, bổ sung phương án, điều chỉnh dội hình và lực lượng, tổ chức hiệp đồng; sáng sớm ngày 11 tháng 3, bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp của ta đã áp sát mục tiêu, sẵn sàng nổ súng; các trận địa pháo lớn sẵn sàng bắn vào sở chỉ huy sư đoàn 23 nguy. Giờ tận số của địch ở Buôn Ma Thuột đã điểm. Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, pháo binh ta ầm ầm trút bão lửa xuống sở chỉ huy sư đoàn 23. Hỏa lực chuẩn bị vừa dứt, quân ta từ bốn hướng ào ạt tiến công đánh chiếm mục tiêu Trung đoàn 95B đánh trên hướng đông, bị địch chống cự mạnh, 2 xe tăng bị máy bay ném bom phá hủy, nhưng bộ đội vẫn kiên quyết tiến công đánh chiếm khu Biệt điện và tiến vào cổng chính sở chỉ huy sư đoàn 23. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 có xe tăng, xe thiết giáp đi cùng đột phá trên hướng tây, đánh chiếm liên đoàn 350 rồi phát triển vào sở chỉ huy. Trên hướng nam, Tiểu đoàn 7 Trưng đoàn 149 vượt qua khu trường học công giáo, chiếm khu vực đại đội tổng hành dinh và tiến vào trung tâm chỉ huy. Tiếp đó Trung đoàn 148 từ hướng tây bắc dùng 1 đại đội và 2 xe tăng tiến vào sở chỉ huy sư đoàn địch. Trong đợt đột phá cuối cùng vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, xe tăng 980 do đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy đã xô đổ cổng sắt, cùng xe tăng của Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách dẫn dắt bộ binh đột phá chiếm trung tâm chỉ huy. Lúc 10 giờ ngày 11 tháng 3, lá cờ chiến thắng thấm máu các chiến sĩ đoàn Trung Dũng đã được 3 đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Phạm Văn Vị và Đàm Duy Tộ thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 cùng đơn vị bạn4 cắm lên nóc nhà sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, báo hiệu trận đánh đã thắng lợi. Từ nơi hội tụ của 4 mũi tiến công ở sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy vừa bị đánh chiếm, bộ đội nhanh chóng tỏa ra các hướng truy lùng tàn binh, nhanh chóng quét sạch quân địch còn lại trong thị xã Lợi dụng lúc quan quân hỗn loạn, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật chạy trốn, nhưng sau đó đều bị bắt làm tù binh. 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột kết thúc toàn thắng. Sau 32 giờ chiến đấu anh dũng, bộ đội ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 10.210 tên địch, thu 3.215 súng các loại (có 42 pháo lớn), 765 xe cơ giới, 3.200 tấn đạn, 1.170 vô tuyến điện và hàng triệu lít xăng dầu, bắn rơi và phá hủy 50 máy bay; giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột - trung tâm quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa ở nam Tây Nguyên có diện tích 25km2 với 12 vạn dân. Trận then chốt quyết định Buôn Ma Thuột đã ''điểm trúng huyệt'', làm cho địch chóang váng bất ngờ, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở chiến trường Tây Nguyên; đồng thời mở ra cục diện mới và thời cơ rất thuận lợi cho ta phát triển thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên. Chiến thắng Buôn Ma Thuột cũng đánh dấu bước trưởng thành mới của quân đội ta nói chung và bộ đội chủ lực Tây Nguyên nói riêng về nghệ thuật chọn hướng chiến dịch và đánh trận then chốt, về tổ chức chỉ huy chiến dịch, tác chiến hiệp đồng binh chủng, nghệ thuật nghi binh, tạo thế, chuẩn bị chiến trường, vận dụng cách đánh địch phòng ngự trong thành phố một cách sáng tạo, có hiệu quả cao. Đánh giá về trận đánh này, báo Pháp ''Thế Giới'' số ra ngày 21 tháng 3 năm 1975 đã viết: ''Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam Việt Nam đã bị đảo lộn, chỉ có trận Buôn Ma thuột mà khiến cho từng mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột, đến nay đã được 30 năm''. Đêm 11 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch họp, nhận định: địch bị mất thị xã Buôn Ma Thuột nhưng các căn cứ bàn đạp ngoại vi vẫn còn, chúng có thể đổ quân tăng viện phản kích, chủ yếu trên hướng đông bắc nhằm chiếm lại thị xã; đồng thời chủ trương: nhanh chóng phát huy thắng lợi tiêu diệt quân địch ở các vùng phụ cận ngoại vi, trọng điểm là căn cứ 45 và 53, quét sạch tàn binh trong thị xã, từng bước củng cố khu vực đã chiếm, tiếp tục khẩn trương cơ động lực lượng còn lại của Sư đoàn 10 sang phía đông bắc Buôn Ma Thuột chuẩn bị đánh địch phản kích lớn. Thực hiện chủ trương đó, từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 3 các đơn vị đẩy mạnh truy quét và tiến công địch. Ngày 12, Trung đoàn 174 có xe tăng phối thuộc đánh chiếm khu vực cầu Thọ Thạnh (Sê Rê Pok), diệt và bắt 95 tên, thu 3 pháo 105mm; .Trung đoàn 95B truy quét trong thị xã, bắt 100 tên ở khu nhà lao; Trung đoàn đặc công 198 bám chắc sân bay Hòa Bình, đánh lui các đợt phản kích của địch từ căn cứ 53 sang; Trung đoàn 24 (thiếu) được tăng cường xe tăng tiến công tiêu diệt căn cứ 45 và trung tâm huấn luyện 23, diệt và bắt 353 tên địch, thu 12 pháo lớn, 29 súng cối, 2 xe M113 và 241 ô tô, hơn 1.000 khẩu súng, gần 5 vạn viên đạn cối, hàng trăm máy thông tin. Trong không khí tràn ngập niềm vui chiến thắng và đồng loạt tiến công địch trên các hướng, ngày 12 tháng 3 quân và dân Tây Nguyên rất phấn khỏi được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương điện: ''Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ; chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dừng, mưu trí, sáng tạo, táo bạo và khẩn trương giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần nhanh phóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa''. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị đẩy mạnh truy quét, tiêu diệt các cứ điểm còn lại của địch ở ngoại vi và cơ động lực lượng sang phía đông sẵn sàng đánh phản kích. Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 148 đánh chiếm ấp chiến lược Châu Sơn; Trung đoàn 64 giải phóng Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Đắc Lắc tiến công, làm chủ quận lỵ Lạc Thiện. Ngày hôm sau (14.3), Tiểu đoàn 5 hung đoàn 24 giải phóng Chư Nga; Tiểu đoàn 21 Đoàn 559 giải phóng Bản Đôn Trung đoàn 149 có xe tăng phối thuộc tiến công căn cứ 53 nhưng không thành công. Trong khi các đơn vị bạn dồn dập tiến công địch, Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 và các đơn vị binh chúng nhanh chóng cơ động từ khu vực Đức Lập về phía đông bắc thị xã tham gia chiến đấu. Lực lượng phòng không tích cực đánh máy bay bảo vệ vùng mới giải phóng. Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, các lực lượng của ta hoạt động mạnh khắp Tây Nguyên, giữ vững thế chia cắt, giam chân vả buộc địch phải phân tán đối phó. Trung đoàn 25 vẫn cắt đứt đường 21 ở đông Chư Cúc, diệt một số xe, đánh bại lực lượng địch từ Khánh Dương lên giải tỏa. Trên đường 19 đông, Trung đoàn 95A diệt cụm địch ở ngã ba Plei Bôn, đánh bại các đợt phản kích giải tỏa, đánh thiệt hại nặng hai chi đoàn thiết giáp; Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh bại các cánh quân giải tỏa của sư đoàn 22 ngụy, diệt nhiều lực lượng địch ở khu vực lăng Mai Xuân Thưởng, Vườn Xoài, phát triển tiến công Bình Tân, Bình Tường, Đồng Phú. Sư đoàn 968 đánh chiếm 2 chốt địch ở tây nam Plei Ku, áp sát Thanh Bình, uy hiếp Thanh An, dùng pháo binh đánh phá sân bay Cù Hanh và Kon Tum. Hướng Gia Nghĩa, Trung đoàn 271 đánh ấp Nhân Cơ, Nhơn Hải, áp sát sân bay Nhân Cơ. Cùng thời gian này, các chiến trường trên toàn miền Nam đẩy mạnh tiến công phối hợp với Tây Nguyên. Lực lượng tổng dự bị của địch vẫn bị giam chân ỏ hai đầu: Trị - Thiên Huế và Nam Bộ. Ở khu 5 ta đánh chiếm hai quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi, Tam Kỳ. Ở Thừa Thiên ta tiến công căn cứ Chúc Mao và nhiều mục tiêu trên trục đường số 1. ------------------------------------------------------------------ 1. Trận tiến công quận lỵ Thuần Mần (Cẩm Ga) ta diệt 219 tên địch, bắt 121 tên, thu 200 khẩu súng (có 2 pháo 105mm) và 18 xe quân sự. 2. Trung tướng Hoàng Minh Thảo. Chiến dịch Tây Nguyên.. Sđd, tr 87, 88. 3. Đồng chí Nguyễn Quang Trung được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân tháng 2 năm 1976. 4. Trung đội 2 Đại đội 1 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 23 đã lấy 1 lá cờ của ta trong phòng truyền thống của địch, dùng bút bi viết tên đơn vị lên mép cờ, sau đó 3 đồng chí Nguyễn Đức Thịnh, Ngô Văn Quyền và Trần Văn Thanh mang cắm lên nóc sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:45:02 pm * Buôn Ma Thuột thất thủ đã làm chấn động toàn miền Nam, lan tới Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Đại sứ Mỹ Ma-tin phải cấp tốc gửi cho Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu một bức thư khích lệ: ''Ở Hoa Thịnh Đốn, mặt trận đấu tranh thời gian tới sẽ vô cùng gay go, nếu có thể có cơ hội trong và tuần tới quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam để công chúng thấy rõ thì điều đó có tác dụng; phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tất đẹp nếu như có sự kiện như vậy... Đó là canh bạc có thể đem lai lợi ích tốt đẹp''1. Vâng lời chủ Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên ký lệnh "tử thủ Buôn Ma Thuột'' và ra lệnh cho tướng Phạm Văn Phú - tư lệnh quân đoàn 2-quân khu 2 phải "tái chiếm Buôn Ma Thuột'' bằng mọi giá. Đồng thời, địch ra sức bưng bít tin đại bại ở Tây Nguyên, cho cảnh sát bắn chết nhà báo Pháp, Pôn Lê-ăng-đri vừa đưa tin về sự việc ta đã thật sự làm chủ Buôn Ma Thuột2. Lực lượng quân đoàn 2 - quân khu 2 ngụy ở bắc Tây Nguyên và duyên hải Trung Bộ tuy còn đông. Nhưng mọi con đường đổ về Buôn Ma Thuột đã bị cắt đứt, không còn cách nào khác ngoài đổ bộ bằng máy bay trực thăng. Trong cơn bấn loạn, trên thúc ép, tuyến bàn đạp dự kiến lại bị mất căn cứ 45, căn cứ 53 bị vây chặt, chuẩn tướng Lê Trung Tường - sư đoàn trưởng sư đoàn 23 vừa tình nguyện nhận chức tư lệnh lực lượng phản kích buộc phải đổ quân xuống khu vực không xác định trước ở Nông Trại - Phước An (đông Buôn Ma Thuột). Từ nhiều ngày 12 đến hết ngày 13 tháng 3, sau khi dùng hơn 100 lần chiếc máy bay ném bom dọn bãi, 145 lần chiếc trực thăng đổ bộ trung đoàn 45, pháo đội 232 xuống trục đường 21 từ điểm cao 581, Nông Trại đến Phước An, Chư Cúc. Tiếp đó, chúng lại đổ thêm trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 23 xuống vùng này. Địch hy vọng với lực lượng sư đoàn 23 con cưng ''Nam bình, Bắc phạt, Tây Nguyên trấn'' và bọn tàn quân liên đoàn 21 biệt động quân có thể ''đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam'' ở đông Buôn Ma Thuột để xin viện trợ Mỹ, tiếp tục kéo dài chiến tranh. Chủ động đón đầu chuẩn bị và nắm chắc thời cơ thuận lợi tiến công tiêu diệt địch ngoài công sự, Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 10 kịp thời đua Trung đoàn 24, Trung đoàn 28 và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không vào chiến đấu trên hướng đường 21. Đêm 13 rạng ngày 14 tháng 3, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 có xe tăng phối thuộc lợi dụng ánh sáng đèn dù vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. Đúng 7 giờ 7 phút ngày 14, trận tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 địch ở điểm cao 581 mở màn. Ngay từ phút đầu pháo chiến dịch và hỏa lực cối 82, ĐKZ, 12,7mm của Tiểu đoàn 6 bắn dồn dập, chính xác vào các mục tiêu. 8 giờ 45 phút, bộ binh, xe tăng đồng loạt xung phong và làm chủ hoàn toàn trận địa sau 2 giờ tiến công. Gần 400 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, hàng trăm khẩu súng các loại bị tịch thu. Thấy tiểu đoàn 2 ở phía trước bị tiêu diệt, lực lượng còn lại của trung đoàn 45 địch co về khu vực đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại nhập với tàn quân của liên đoàn 21 bảo vệ mặt phía tây quận lỵ Phước An. Ngày hôm. sau, địch đổ bộ tiếp trung đoàn 44 xuống khu vực này, nâng quân số của chúng ở Nông Trại - Phước An lên 5.600 tên. Địch tuy đông, nhưng công sự vật cản rất sơ sài, hỏa lực chi viện hạn chế, tinh thần quân lính rệu rã hoang mang. Chớp thời cơ thuận lợi, Trưng đoàn 24 được lệnh phát triển tiến công tiêu diệt địch ở Nông Trại - Phước An đồng thời Trung đoàn 28 cũng khẩn trương cơ động về hướng này dành địch. Bộ tư lệnh chiến dịch cử đại tá Nguyễn Năng - Phó tư lệnh chiến dịch xuống trực tiếp giúp Trung đoàn 24, thông qua phương án tiến công, ấn định thời gian nổ súng. Sau một đêm chuẩn bị, sáng ngày 16 tháng 3 pháo cối của ta bắn dồn dập vào các mục tiêu địch trong vòng 25 phút. Hỏa lực chuyển làn, lập tức bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp dũng mãnh tiến công, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của tiểu đoàn 3 địch, rồi thọc thẳng vào sở chỉ huy trung đoàn 45. Với cách đánh nhanh, táo bạo của ta toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn 45 ngụy và chiếc trực thăng đang nổ máy chúng định dùng để chạy trốn đều bị tóm gọn. Lúc 8 giờ 15 phút, ta làm chủ hoàn toàn khu vực Nông Trại, thu 6 khẩu pháo 105mm còn nguyên vẹn và rất nhiều chiến lợi phẩm. Sáng hôm sau (17.3), Trung đoàn 24 làm chủ Phước An, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy đã rút về Chư Cúc. Sau bốn ngày tiến công, Trung đoàn 24 và lực lượng tăng cường đã đánh tan trung đoàn 45, tiêu diệt 477 tên, bắt 377 tên, thu 1.806 súng các loại, 4 giàn hỏa tiễn X202, 1 máy bay trực thăng và rất nhiều đạn dược, giải phóng một vùng rộng lớn dọc trục đường 21, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiếp tục phát triển tiến công. Trước diễn biến thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 10 dùng Trung đoàn 28 và một lực lượng xe tăng, pháo phòng không tiếp tục đánh địch trong hành tiến theo dọc trục đường 21 về hướng Khánh Dương. Từ chiều ngày 18 đến sáng ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 2 xe tăng (Trung đoàn 273) đánh tan tiểu đoàn 1 trung đoàn 44 địch, rồi tiếp tục truy kích đến cầu số 13. Tại khu vực cầu số 13, địch đánh sập cầu và lập tuyến chốt chặn bên bờ đông, kết hợp với máy bay, pháo binh hòng chặn bước tiến quân của ta. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của Trung đoàn 28, lực lượng địch chốt chặn nhanh chóng bị quét sạch; thừa thắng đội hình tiến công binh chủng hợp thành đánh chiếm chi khu quân sự Chư Cúc và làm chủ hoàn toàn khu vực thị trấn lúc 12 giờ. Trong cơn hỏang loạn, chuẩn tướng Lê Trung Tường chạy tháo thân, song chiếc máy bay trực thăng bị trúng đạn, y được đồng bọn lôi ra khỏi máy bay và đưa đi trốn. Tàn quân địch từ Chư Cúc chạy về hướng đông đã bị Trung đoàn 25 diệt và bắt 500 tên. Trong khỏang 20 giờ tiến công hành tiến, Trung đoàn 28 và lực lượng tăng cường đã vượt chặng đường dài 40km, đánh nhiều trận làm tan rã hoàn toàn trung đoàn 44, tàn quân liên đoàn 21 biệt động quân và lực lượng bảo an, diệt 250 tên, bắt 800 tên, thu 6 pháo lớn và nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng đất rộng lớn dọc trục đường 21, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch phát triển về hướng đông. Trong khi tập trung một lực lượng mạnh đánh bại quân địch phản kích trên đường 21, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 và Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt căn cứ 53. Nằm trên trục đường 27, cách trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột 8km về phía đông nam, căn cứ 53 có hình chữ nhật chiều dài 1,2km, rộng 1km, có hệ thống công sự kiên cố, hầm ngầm chỉ huy ở giữa bằng bê tông, xung quanh có tuyến tường hộp dày 1,5m, cao 2m và 4 đến 6 hàng rào thép gai. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở đây có ban chỉ huy trung đoàn 53, 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội bảo vệ sân bay, 1 đại đội pháo, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội vận tải, 200 nhân viên phục vụ và số tàn binh từ các cứ điểm xung quanh chạy về, tổng số khỏang 1.300 tên. Sau khi đẩy lui các đợt tiến công của một phân đội đặc công thuộc Trung đoàn 198 và Trung đoàn 149, bọn chỉ huy ác ôn ở đây càng ngoan cố, ráo riết tổ chức cố thủ để chờ quân tiếp viện. Để khích lệ bọn địch trong căn cứ này, Nguyễn Văn Thiệu dùng thủ đoạn phong cho tên trung tá Võ Ấn - trung đoàn trưởng trung đoàn 53 lên đại tá và đưa mồi vật chất ra nhử bọn lính. Mặc dù vậy, số phận của căn cứ 53 cũng nhanh chóng được định đoạt. Từ 17 giờ 10 phút ngày 16 tháng 3, hai trung đoàn (66 và 149) tổ chức tiến công. Trung đoàn 66 do trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Kiệp chỉ huy, được tăng cường xe tăng, pháo binh, phòng không mở 2 cửa trên hướng bắc và hướng đông. Hướng chủ yếu phía bắc, Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Ngọc Toái và chính trị viên Phạm Quang Vinh chỉ huy bị địch tập trung đánh chặn quyết liệt gặp khó khăn, mãi đến 5 giờ 10 phút sáng 17 mới mở thông cửa mở. Hướng thứ yếu phía đông, Tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Bạch Công Nghĩa và chính trị viên Phạm Chào chỉ huy, bộ đội chiến đấu rất dũng cảm, dùng bộc phá đánh bung các hàng rào rồi xung phong chiếm được đầu cầu lúc 18 giờ 15 phút. Sau đó tiểu đoàn mở rộng khu vực đầu cầu, chiếm một phần cứ điểm rồi trụ lại trong đêm. Trước diễn biến trận đánh, đêm 16 Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 66 quyết định chuyển hướng thứ yếu của Tiểu đoàn 9 thành hướng chủ yếu và tăng cường cho hướng này 2 xe tăng, khẩn trương xốc lại đội hình sẵn sàng tiến công tiếp vào sáng hôm sau. Cùng thời gian này, Trung đoàn 149 cũng tổ chức đột phá trên hai hướng tây và tây nam, mở thông hai cửa mở lúc 22 giờ, chiếm được đầu cầu rồi trụ lại, chuẩn bị tiến công tiếp. 6 giờ 35 phút ngày 17 tháng 3, ta đồng loạt tiến công đợt hai trên cả bốn hướng. Quân địch ngoan cố chống trả quyết liệt, gọi máy bay ném bom vào các khu vực cửa mở. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, chúng suy yếu nhanh buộc phải tháo chạy. Đến 8 giờ ngày 30 ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 53, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch, 120 tên bị bắt, 4 xe tăng và 2 pháo lớn bị phá hủy, trên 300 khẩu súng bị tịch thu. Do ta vây không chặt, một số lớn địch chạy thóat, trong đó có tên trung đoàn trưởng bị thương. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở phía đông Buôn Ma Thuột, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổi dậy mạnh mẽ, quét sạch 13 khu dồn, 35 ấp chiến lược và bộ máy kìm kẹp của địch; giải phóng hoàn toàn 70 buôn và 11 dinh điền, chính quyền cách mạng nhanh chóng được thiết lập ở các cấp. Ngày 18 tháng 3, tại ngôi chùa xã Lạc Giao đường Trần Hưng Đạo, Ủy ban quân quản tỉnh Đắc Lắc được thành lập, đại tá YBLốc làm Chủ tịch và đồng chí Lê Chí Quyết làm Bí thư Đảng ủy. Từ đây đồng bào các dân tộc tỉnh Đắc Lắc đã thực sự làm chủ vận mệnh của mình, ra sức khắc phục khó khăn ổn định mọi mặt, tích cực tham gia vào các công việc của cách mạng, giúp đỡ bộ đội tiến công về miền duyên hải và Nam Bộ. Trong hơn năm ngày tiến công, Sư đoàn 10 và các đơn vị xe tăng, pháo binh, phòng không chiến dịch đã lập chiến công vang dội, hoàn thành xuất sắc trận then chốt thứ hai của chiến dịch: đập tan cuộc phản kích ''tái chiếm'' Buôn Ma Thuột của quân đoàn 2 ngụy, xóa sổ sư đoàn 23 và liên đoàn 21 biệt động quân; diệt và bắt 5.266 tên, thu 3.718 súng các loại, 305 xe quân sự và 1 máy bay trực thăng; giải phóng hoàn toàn vùng đồng bắc tỉnh Đắc Lắc. Chiến thắng trên đường 21 đã góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển, tạo thế chia cắt địch về chiến lược, đẩy quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy ở bắc Tây Nguyên đến ngày cơ tan vỡ và bị tiêu diệt nhanh chóng khi tháo chạy trên đường số 7, mở đầu bước suy sụp không thể cứu vãn nổi của quân ngụy. Thắng lợi của trận đánh khẳng định sự trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật chỉ huy chiến tích, về trình độ tổ chức và thực hành tiến công địch trong hành tiến tiêu diệt lực lượng lớn quân địch phản kích bằng đổ bộ đường không và tinh thần chiến đấu rất dũng cảm của bộ đội ta. ------------------------------------------------------------------ 1. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb QĐND, H.1980, tr. 317, 318. 2. Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa xuân. Sđd, tr. 91. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:47:47 pm * Buôn Ma Thuột bị mất, sư đoàn 23 bị đánh tơi tả trên đường 21, sư đoàn 22 bị tiêu diệt một bộ phận và đang bị bao vây ở đông An Khê, phần lớn lực lượng biệt động quân bị tiêu hao và giam chân ở bắc Tây Nguyên, các con dường 19, 14, 21 vẫn bị cắt triệt; Nha Trang, Cam Ranh bị bỏ ngỏ, hy vọng tái chiếm Buôn Ma Thuột bị tiêu tan, khối chủ lực quân đoàn 2 - quân khu 2 bị vậy chặt ở Plei Ku, Kon Tum và có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước tình hình nguy ngập đó, ngày 14 tháng 3 tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã đến Cam Ranh tổ chức một cuộc họp khẩn cấp với Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Phạm Văn Phú, quyết định rút toàn bộ lực lượng ở Plei Ku và Kon Tum theo đường số 7 về giữ vùng đồng bằng duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Theo kế hoạch, địch sẽ rút trong 3 ngày: ngày 15 tháng 3 rải quân chốt bảo vệ và sửa đường 7, ngày 16 rút khỏi Kon Tum và ngày 17 rút khỏi Plei Ku. Lực lượng địch rút chạy gồm có: 6 liên đoàn biệt động quân, lữ kỵ binh 2 (3 thiết đoàn 19, 21, 3), 6 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 44, tiểu đoàn 89 liên đoàn 21, liên đoàn 20 công binh, liên đoàn 66 truyền tin, cơ quan quân đoàn 2, bộ phận sĩ quan của sư đoàn 6 không quân, 2 liên đoàn bảo an và tàn quân các nơi chạy về. Ngoài ra còn có lực lượng đồn trú trong các căn cứ, quận lỵ, thị xã từ Phú Thiện đến Củng Sơn. Theo lệnh Thiệu, để giữ bí mật lực lượng địa phương không được thông báo ''để cho chúng chống giữ khi chủ lực rút'', còn ''địa phương quân là người Thượng thì trả chúng về với Tây Nguyên''. Thực hiện kế hoạch, đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3, bộ tư lệnh quân đoàn 2 và lãnh sứ quán Mỹ ở Plei Ku tháo chạy bằng đường không về Nha Trang. Ngày 15, chúng đưa liên đoàn biệt động quân 23, thiết đoàn 21 và 1 tiểu đoàn pháo triển khai chốt giữ các điểm cao khống chế dọc đường số, từ Phú Thiện đến cầu Ơi Nu; một tiểu đoàn biệt động nống ra phía tây Cheo Reo chiếm dãy Chư Ba, bảo vệ vòng ngoài. Ngày 16, liên đoàn 6 biệt động quân, thiết đoàn 19, liên đoàn công binh 20 từ Kon Tum, Plei Ku rút về Cheo Reo, triển khai tu sửa đường, bắc cẩu. Các liên đoàn biệt động quân 22 (ở Plei Ku), 7 (hướng đường 5a, 5b), 25 và 4 (đường 19, 20, 21) được lệnh triệt phá và tháo chạy. Địch cho nổ kho đạn ở Plei Ku, đốt phá nhiều tài liệu gây những đám cháy trong thị xã. Do đường 7 hẹp, chất lượng xấu, xe pháo địch chạy hàng ba hàng bốn va quệt, húc đổ lẫn nhau làm cho giao thông luôn bị tắc nghẽn. Cuộc tháo chạy ngày càng lâm vào tình trạng hỗn loạn. Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi một chiến dịch, có một quân đoàn địch được trang bị hiện đại phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy. Về phía ta, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã sớm dự kiến một cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên. Đêm 16 tháng 3, Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo địch đã rút bỏ Kon Tum, Plei Ku đang theo đường số 7 về Cheo Reo và lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên khẩn trương cơ động lực lượng truy kích và đánh nhanh vào Plei Ku, Kon Tum; đồng thời lệnh cho sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 ở Bình Định điều động bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên lên chốt đường số 7 không cho địch chạy về Tuy Hòa. Chấp hành lệnh của trên, trước thời cơ tiêu diệt lớn quân địch xuất hiện, lúc 20 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 (được tăng cường Trung đoàn 95B, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 593) truy kích tiêu diệt dịch trên đường số 7; Sư đoàn 968 đánh chiếm Plei Ku, Kon Tum; Trung đoàn 95A đánh theo đường 19 chiếm Kon Tầng, phát triển về Lệ Trung, Plei Ku. Khi nhận lệnh, các đơn vị của Sư đoàn 320 và lực lượng tăng cường đang làm nhiệm vụ phân tán trên các hướng: Trung đoàn 64 (thiếu) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đang truy quét ở Đạt Lý, Phước An; Trung đoàn 48 đứng chân ở tây Cheo Reo và Cẩm Ga; Trung đoàn 9 cơ động đánh địch ở Kênh Săn; Trung đoàn pháo binh 54, Trung đoàn phòng không 593 và sở chỉ huy Sư đoàn ở phía tây đường 14, Trung đoàn 95B (tăng cường) đang làm dự bị cho Sư đoàn 10 trên hướng dường 21. Để kịp thời chặn địch lại, tạo điều kiện cho lực lượng lớn cơ động đến tiêu diệt, 22 giờ 30 phút sư đoàn trưởng Nguyễn Kim Tuấn lệnh cho Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 là đơn vị đứng gần đường số 7 nhất, cơ động ngay về nam Cheo Reo chặn địch. Cũng trong đêm 16 và ngày 17 tháng 3, hậu cần chiến dịch và Sư đoàn 320 huy động 110 xe ô tô cấp tốc chở các đơn vị ở đông bắc Buôn Ma Thuột về Thuần Mẫn, rồi hành quân theo dường 7B tiến về hướng Cheo Reo. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 9 hành quân liên tục vượt chặng đường dài gần 20km, qua nhiều dốc cao, khe sâu, rừng cây, đồi đá lởm chởm. Để chạy đua với cơ giới địch, có đoạn bộ đội phải dùng nứa làm đuốc, đốt cả quai dép cao su soi đường, bàn chân phồng rộp bật máu vẫn nén đau tiến về phía trước. 11 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3, Đại đội 11 đi đầu đội hình Tiểu đoàn 9 đã ra đến đường số 7, cách Cheo Reo 2km về phía nam. Nhưng do trận địa chốt không đứng vị trí, Tiểu đoàn 9 được lệnh lui xuống phía nam 2km, lập trận địa mới. 16 giờ 35 phút, một đoàn xe địch lọt vào trận địa, các chiến sĩ nổ súng tiêu diệt gọn tốp xe đi đầu làm đội hình phía sau phải lùi lại, đường 7 bị cắt đứt. Ngoài số xe địch chạy thóat sáng ngày 17 về Củng Sơn, đại bộ phận lực lượng rút chạy của quân đoàn 2 - quân khu 2 nguy bị chặn lại, ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, dịch tập trung lực lượng quyết nhổ chốt của ta, mở đường máu về phía Củng Sơn. Sáng ngày 18 tháng 3, địch dùng 21 xe tăng, xe bọc thép, 25 xe chở bộ binh và 24 xe kéo pháo đánh tràn vào trận địa chốt của hai đại đội 9, 10 và trận địa phía sau của Tiểu đoàn 9 làm chiến sự diễn ra rất quyết liệt không phân tuyến, ngày càng lan rộng. Dưới sự chỉ huy kiên quyết của tiểu đoàn trưởng Nghiêm, chính trị viên Nguyễn Hữu Khản và tiểu đoàn phó Phạm Xuân Hùng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 chiến đấu rất dũng cảm, đánh chặn địch ở trước chốt và trong trận địa. Ở đại đội 9, nhiều chiến sĩ lần đầu ra trận nhưng chiến đấu rất gan dạ, mưu trí, trở thành những dũng sĩ diệt xe tăng như Sẻng Vạn Vầu, Tạ Văn Kính, Nguyễn Văn Nhất, Hà Hồng Môn, Trần Văn Tuyển. Đại đội 11 có chiến sĩ Nguyễn Văn Quế vừa bổ sung về tháng 1 năm 1975, ngay từ những quả đạn đầu đã diệt 1 chiếc xe tăng M48 và 1 xe M113. Tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi hầu hết là chiến sĩ mới lần đầu chiến đấu nhưng ai cũng lập công. Riêng tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi trong trận này diệt 6 xe bọc thép, ''bắt'' 6 xe bọc thép khác, diệt 20 tên địch và cùng đồng đội bắt 120 tên. Thấy nhân dân bị địch cưỡng ép chạy theo đói lả dọc đường, đồng chí đã tổ chức cho thanh niên đi lấy gạo, muối về cứu giúp, đồng thời vận động được trên 200 người dân trở về quê cũ, được bà con rất biết ơn mến phục. Khi xe tăng địch tràn vào vị trí chỉ huy tiểu đoàn, tất cả cán bộ, chiến sĩ trinh sát, thông tin, y tá, nuôi quân đều xông ra đánh địch, bắt được tên trung tá lữ đoàn trưởng lữ đoàn 23 biệt động quân. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 9 đã bẻ gãy ba lần phản kích của địch, diệt và bắt hàng trăm tên, hơn 50 xe tăng, xe bọc thép, thu 200 khẩu súng, giữ vững chốt, cắt triệt đường số 7, phá vỡ ý đồ dùng xe tăng bộ binh mở đường của dịch. Đánh ngày không được, địch chuyển sang đánh đêm. Chúng dùng máy bay C130 và Trực thăng bắn dọc hai bên đường số 7 và chiếu đèn cho xe tăng bí mật đến sát trận địa chốt của ta, rồi tất cả các xe bất ngờ bật đèn pha vừa bắn xối xả vừa chạy hết tốc độ lao qua. Nhưng thủ đoạn mới mở đường máu của địch bị Trung đoàn 64 đánh bại, gần 2.000 tên địch bị diệt và bị bắt, hơn 100 xe tăng, xe bọc thép, ô tô và hàng nghìn khẩu súng bị phá hủy và bị tịch thu, 1 máy bay trực thăng bị bắn cháy. Đặc biệt tổ vận chuyển thương binh tử sĩ của Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 có 4 chiến sĩ khi cơ động đã phát hiện một bộ phận xe tăng, xe thiết giáp của thiết đoàn 19 và hàng trăm tên lính thuộc liên đoàn 2 biệt động quân sắp tràn vào sở chỉ huy Trung đoàn 64. Các chiến sĩ lập tức tổ chức đánh chặn. Chiến sĩ trẻ Trần Xuân Thiện dùng B40 diệt chiếc xe tăng đi đầu và bắn đứt xích 1 chiếc M113 đang bất ngờ chồm tới; sau đó cùng đồng đội dùng hỏa lực trên xe tiêu diệt địch. Với cách đánh táo bạo dũng cảm, chỉ trong hơn một giờ chiến đấu, 4 chiến sĩ đã diệt và bắt hơn 100 tên địch, bắn cháy 4 xe tăng và xe bọc thép, ''bắt'' 2 chiếc khác và 2 xe GMC. Đây không chỉ là một kỷ lục trong chiến đấu mà còn là chiến công của lòng dũng cảm, tinh thần chủ động phối hợp, hiệp đồng tác chiến. Trong khi Trung đoàn 64 dựng lên ''cánh cửa thép'' ngăn chặn địch ở phía nam Cheo Reo, Sư đoàn 320 kịp thời cơ động lực lượng bộ binh và binh chủng vào chiếm lĩnh trận địa tiến công địch. Trên hướng bắc, Trung đoàn 9 phát hiện địch sắp tháo chạy đã chủ động chuyển sang tiến công làm chủ các vị trí Kênh Săn; Phú Nhơn, Mỹ Thạch, chấố chặn Chư Xê cắt đứt đường 7 và đường 14, cô lập Cheo Reo. Ở hướng tây, Trung đoàn 48 vừa cơ động đến đã tổ chức diệt bọn địch nống ra Chư Ba, dùng một tiểu đoàn cắt đường 7 ở bắc Cheo Reo 3km, lực lượng còn lại áp sát và sẵn sàng tiến công địch trong thị xã. Hướng tây nam, Trung đoàn pháo binh 54 dùng H12 bắn vào tiểu khu, trại Ngô Quyền và các cụm pháo binh, xe tăng địch ở Cheo Reo, nhanh chóng triển khai các trận địa pháo 122, 105 và 85mm. Trung đoàn pháo binh 675 và Trung đoàn phòng không 593 khẩn trương cơ động chiếm anh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu. Ngày 18 tháng 3, Cheo Reo đã hoàn toàn bị cô lập và bao vây trên cả ba hướng: bắc, tây và nam, phía đông là dòng sông Ba; mọi con đường rút chạy bị cắt đứt, các mục tiêu địch nằm trong tầm súng của ta. Chiếc ''chảo khổng lồ'' thung lũng Cheo Reo với cái cán là con đường số 7 đang nóng lên từng giờ; số phận của đội quân lớn tay sai Mỹ với hàng chục ngàn tên đủ mọi sắc lính, pháo xe đã từng một thời ''hùng cứ cao nguyên Trung phần''đang được định đoạt. Sau khi dùng pháo bắn mạnh vào các mục tiêu địch ở Cheo Reo trong gần 8 giờ liền, đúng 17 giờ ngày 18 Trung đoàn 48 ào ạt xung phong, nhanh chóng làm chủ sân bay, trại Ngô Quyền, ty cảnh sát, đài phát thanh rồi mở đợt tiến công cuối cùng vào lực lượng co cụm của địch ở khu vục tiểu khu, giải phóng hoàn toàn thị xã Cheo Reo lúc 24 giờ cùng ngày. Phát huy thắng lợi, ngày 20 tháng 3 Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 cơ động theo đường số 7 về phía đông. Trong khi Trung đoàn 64 đập tan những chốt đề kháng dọc đường, làm chủ Phú Túc và tiến về phía Củng Sơn; lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Phú Yên đã cắt giao thông đường số 7 đoạn đông Củng Sơn, giam chân một lực lượng lớn địch ở khu vực quận lỵ. Được sự phối hợp tác chiến của Tiểu đoàn 96 địa phương và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Phú Yên giúp đỡ, Trung đoàn 64 nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu áp sát mục tiêu, nắm chắc thời cơ địch sắp tháo chạy, kịp thời chuyển sang tiến công vào chiều ngày 24 tháng 3. Địch ỷ vào quân đông, lắm xe nhiều súng ngoan cố chống cự và dùng máy bay đánh vào đội hình tiến công của ta làm một số chiến sĩ thương vong. Nhưng các chiến sĩ Trung đoàn ''Quyết Thắng'' và Tiểu đoàn 96 địa phương kiên quyết đột phá, lần lượt làm chủ các mục tiêu: Hòn Một, Hòn Ngang, khu Sơn Tịnh, sân bay, truy kích theo đường số 5 bắt toàn bộ quân địch và 600 xe quân sự ở tây bắc ngầm sông Ba. Địch chỉ thóat được 11 xe M113 và một bộ phận liên đoàn 6 biệt động quân về thị xã Tuy Hòa. Ngày 24 tháng 3, cuộc truy kích thần tốc trên đường số 7 của Sư đoàn 320 và các đơn vị bộ binh, binh chủng tăng cường có sự phối hợp của quân và dân địa phương đã kết thúc toàn thắng. Chỉ trong tám ngày chiến đấu (17-24.3 ta đã diệt gọn toàn bộ tập đoàn quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn tên địch, trong đó cớ 14.729 tên lính chủ lực1, thu 5.75 súng các loại (có 79 pháo lớn), 499 máy thông tin, thu và phá 2.000 xe các loại (có 207 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 6 máy bay. Để góp phần làm nên chiến thắng Cheo Reo - Củng Sơn, 56 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh và 100 đồng chí bị thương. Tiếp theo hai trận then chốt giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và đập tan lực lượng phản kích của địch trên đường 21, trận truy kích Cheo Reo - Củng Sơn là trận then chốt thứ ba của chiến dịch Tây Nguyên. Đây cũng là trận truy đuổi địch lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Đông Dương, là trận đánh xuất sắc nhất, ''ngoạn mục'' nhất của Đại đoàn Đồng Bằng trên chiến trường rừng núi Tây Nguyên. Ngoài ý nghĩa lớn lao về tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, đập tan âm mưu co cụm lớn để giữ đồng bằng của địch, tạo điều kiện cho ta phát triển tiến công xuống duyên hải Trung Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ; trận đánh còn để lại những kinh nghiệm quý giá về nắm thời cơ, xây dựng quyết tâm và chỉ huy chiến đấu truy kích, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật giành thắng lợi lớn trong thời gian ngắn. Giữa lúc Sư đoàn 320 truy kích địch trên đường số 7, ngày 18 tháng 3 Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A cùng lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum tiến công giải phóng hoàn toàn thị xã Plei Ku, Kon Tum và các khu vực khác. Một tiểu đoàn của Sư đoàn 3 Quân khu 5 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 95A giải phóng An Khê (22.3). Trung đoàn 271 đánh chiếm Kiến Đức và giải phóng thị xã Gia Nghĩa. Ngày 25 tháng 3 toàn bộ Tây Nguyên sạch bóng quân thù. Ước mơ cháy bỏng trong suốt 30 năm theo Đảng trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã được thực hiện. ------------------------------------------------------------------ 1. Trong số 14.729 tên lính chủ lực, có 1.044 tên chết và 13.685 tên bị bắt có 635 sĩ quan từ chuẩn úy đến đại tá. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:49:41 pm * Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Ngày 21 tháng 3, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây. Nguyên: ''Tiếp tục phát triển chiến đấu trên ba trục đường 19, 7, 21 giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ dù 3, trung đoàn 40 ở Khánh Dương, đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng và tiến xuống chiếm lĩnh Nha Trang, Cam Ranh". Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công về phía đông. Ba cánh quân: Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A, Sư đoàn 320, Sư đoàn 10 được tăng cường lực lượng binh chủng mạnh, như ba dòng thác lớn từ vùng cao nguyên đất đỡ ào ạt đổ về các tỉnh duyên hải phía đông theo ba trục dường 19, 7, 21 nhanh chóng nhấn chìm bọn ngụy quân, cuốn phăng bộ máy ngụy quyền mà địch đã dày công 30 năm xây dựng. Từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A cùng Sư đoàn 3 và quân dân tỉnh Bình Định liên tục tiến công tiêu diệt và làm chủ các vị trí Thủ Thiện, Lai Nghi, Phú Phong, Bình Khê, núi Trà Lam, lăng Mai Xuân Thưởng, sân bay Gò Quánh, giải phóng thị xã Quy Nhơn, vượt biển đánh chiếm các đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu xóa sổ sư đoàn 22 - đơn vị cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Định. Cùng thời gian này, Sư đoàn 320 và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không tăng cường được quân dân tỉnh Phú Yên phối hợp giúp đỡ đã nhanh chóng diệt địch ở Hòn Một, cắt đường số 1 từ Phú Khê đến cầu Hòa Xuân, tập trung lực lượng tiến công giải phóng hoàn toàn thị xã Tuy Hòa lúc 9 giờ ngày 1 tháng 4. Ta diệt và bắt nhiều địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - tư lệnh phó quân đoàn 2 kiêm tư lệnh chiến trường Phú Yên và đại tá Vi Văn Bình thanh tra quân đoàn 2 đều bị bắt làm tù binh. Trên hướng đường 21, từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, Sư đoàn 10, Trung đoàn 25, Trung đoàn pháo binh 40, một tiểu đoàn xe tăng, lực lượng phòng không liên tục tiến công làm tan rã trung đoàn 40 và 4 tiểu đoàn bảo an, giải phóng Khánh Dương; sau đó tiêu diệt hầu hết lữ dù 3 địch ở đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng, đập tan chiếc ''lá chắn phía tây'' Ninh Hòa của địch, ào ạt tiến xuống đồng bằng. Thừa thắng, bộ binh, xe tăng truy kích địch, đánh chiếm Dục Mỹ, Ninh Hòa, iếen theo đường số 1 giải phóng thành phố Nha Trang (2.4), quân cảng Cam Ranh (3.4). Ngày 3 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc toàn thắng. Kết quả chiến dịch rất to lớn, vượt xa mức dự kiến ban đầu. Trong 30 ngày đêm liên tục tiến công, ta đã diệt và làm tan rã quân đoàn 2, một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược, toàn bộ lực lương địch ở Tây Nguyên và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Về đơn vị, đã diệt gọn sư đoàn 23, sư đoàn 22, lữ đoàn dù 3 cùng 7 liên đoàn biệt động quân (số 4, 6, 7, 21, 22, 23, 25), 4 trung đoàn thiết giáp (9, 8, 21, 19), 11 tiểu đoàn và 11 đại đội pháo. Tiêu diệt hầu hết và làm tan rã trung đoàn 40 của sư đoàn 22, một liên đoàn công binh và liên đoàn 24 biệt động quân. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội bảo an; toàn bộ dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát 7 tỉnh; đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân. Loại khỏi vòng chiến đấu 28.514 tên lính chủ lực ngụy (diệt 4.502 tên có 165 sĩ quan, bắt 16.822 tên - có 779 sĩ quan, phóng thích 7.190 tên); thu và phá 17.183 súng các loại, 767 máy thông tin, 1.095 xe quân s ự, bắn rơi 44 máy bay, thu và phá 110 chiếc khác; thu hồi toàn bộ hệ thống kho tàng, thiết bị chỉ huy, cơ sở h ậu cần - kỹ thuật của quân đoàn 2 và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên ta đã giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa với khỏang 1.600.000 dân. Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh lực lượng và thế trận giữa ta và địch, dẫn đến sự sụp đổ và đột biến về chiến lược và tinh thần của ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn, tạo bước ngoặt quyết định đưa cuộc tiến công chiến lượt phát triển thành tổng tiến công chiến lượt trên toàn miền Nam. Qua chiến dịch, quân đội ta nói chung và bộ đội chủ lực Tây Nguyên nới riêng đã có bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức, chỉ huy và thực hành chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, về nghệ thuật đánh chìm thành phố, đánh địch phản kích lớn bằng đổ bộ đường không và truy kích tập đoàn quân địch rút chạy trên địa hình rừng núi. Chiến dịch Tây Nguyên để lại nhiều bài học kính nghiệm quý báu, đóng góp xứng đáng vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đánh giá cao và kịp thời động viên quân và dân Tây Nguyên vừa làm nên chiến thắng vang dội, ngày 30 tháng 3 năm 1975, Quân ủy Trung ương đã gửi điện khen ngợi, bức điện có đoạn: ''Quân và dân cả nước vô cùng phấn khởi trước thắng lợi rực rỡ của quân và dân Tây Nguyên. Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã lập chiến công xuất sắc và tuyên dương công trạng của các đồng chí trong toàn quân''. Tiếp dó, Quốc Hội và Chính phủ đã tặng thưởng Huân Chương Quân công hạng nhất cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên và 3 sư đoàn (10, 320, 316); tặng Huân chương Quân công hạng nhì cho Sư đoàn 968 và các trung đoàn binh chủng tham gia chiến dịch; nhiều đơn vị và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Chiến công các hạng. Những phần thưởng cao quý đó là nguồn cổ vũ động viên lớn cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua giết giặc lập công trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:50:47 pm * Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã thay đổi về căn bản. Thế và lực của ta đã hơn hẳn địch và ngày càng lớn mạnh, những điều kiện mới thuận lơi càng làm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta tiến nhanh đến đích cuối cùng. Trong điều kiện vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, bộ đội chủ lực Tây Nguyên sát cánh cùng quân dân địa phương bước vào nhiệm vụ mới: kiên quyết đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu, tích lực, tạo thế, xây dựng củng cố căn cứ địa, nắm vững thời cơ, mở chiến dịch tiến công giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Với vai trò nòng cốt trên mặt trận đấu tranh quân sự ở địa bàn, bộ đội chủ lực Tây Nguyên nhanh chóng vượt qua những khó khăn ban đầu, kiên quyết đánh trả quân địch lấn chiến vùng giải phóng, giữ vững tuyến phòng thủ trực tiếp tiếp xúc trên hướng tây bắc Kon Tum và tây nam Plei Ku. Từ đầu mùa khô năm 1973 - 1974, ta giành lại quyền chủ động chiến trường, tìm phương thức tác chiến mới, liên tiếp giáng những đòn trừng trị nghiêm khắc và đập tan âm mưu ''hồi sức'' của địch. Những chiến thắng ở Chư Nghé, đường 5b, Lệ Ngọc, Làng Siêu, Kon Rốc, điểm cao 800, Đắc Pét, Măng Đen... đã đánh dấu bước trưởng thành mới toàn diện của bộ đội chủ lực trong tác chiến hiệp đồng binh chủng và tiến công địch trong công sự vững chắc. Bên cạnh đòn quân sự, cán bộ và chiến sĩ còn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh pháp lý buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri; tích cực hoạt động trên mặt trận binh địch vận góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân Tây Nguyên. Vừa làm tốt nhiệm vụ chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên triệt để tranh thủ điều kiện thuận lợi, chủ động nắm bắt những yêu cầu của chiến tranh cách mạng giai đoạn cuối, kế thừa những kinh nghiệm về xây dựng lực lượng trong những năm trước, tập trung mọi nỗ lực xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng của một quân đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành. Đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có chất lượng ngày càng được nâng cao, số lượng hợp lý, cơ cấu cân đối đủ sức đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong cuộc đấu tranh quân sự ở địa phương, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Cùng với chiến đấu và xây dựng, bộ đội chủ lực Tây Nguyên còn tích cực tham gia xây dựng căn cứ địa, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở và các đoàn thể quần chúng, vận động nhân dân, khôi phục sản xuất phát triển kinh tế, văn hóa, kịp thời cứu đói và chữa bệnh cho dân; giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, giữ gìn trật tự an ninh địa bàn và huấn luyện nâng cao khả năng mọi mặt. Những kết quả toàn diện về củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng chính quy nâng cao sức mạnh chiến đấu và xây dựng căn cứ địa của bộ đội chủ lực Tây Nguyên trong 2 năm (1973-1974) không những đáp ứng yêu cầu chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng mà còn là bước chuẩn bị vô cùng quan trọng trước khi bước vào những chiến dịch lớn. Với khối chủ lực binh chủng hợp thành mạnh và lực lượng vũ trang địa phương được chuẩn bị tốt, quân và dân Tây Nguyên đã bước vào chiến dịch cuối cùng với sức mạnh dời non lấp biển, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, mở đầu thắng lợi cuộc Tổng tiến công lịch sử mùa xuân năm 1975. Sau 11 năm trường kỳ, gian khổ kháng chiến, sống và chiến đấu trong tình yêu thương đùm bọc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đến đây Mặt trận Tây Nguyên (Chiến trường Tây Nguyên - B3) đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình, phát triển thành Quân đoàn 3 - quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:18:16 am Chương năm QUÂN ĐOÀN 3 THÀNH LẬP, THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH (26.3 - 30.4.1975) 1. Thành lập Quân đoàn 3. Sau Hiệp định Pa-ri, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn cuối. Để thực hiện triệt để mục tiêu chiến lược của cách mạng là đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cần phải mở những chiến dịch quy mô lớn kế tiếp nhau có nhiều quân, binh chủng tham gia. Vấn đề xây dựng các quân đoàn chủ lực binh chủng hợp thành của lục quân đảm nhiệm vai trò quyết định trong các chiến dịch tiến công lớn có ý nghĩa chiến lược trở thành một yêu cầu cấp bách, tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của chiến tranh và điều kiện của quân đội ta. Tháng 10 năm 1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phê chuẩn đề nghị thành lập các quân đoàn chủ lực của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh. Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) ra đời đứng chân trên miền Bắc. Trong đội hình Quân đoàn có 3 sư đoàn bộ binh 308, 312, 320B, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 140. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn (Phó Tổng tham mưu trưởng) được cử làm tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) làm Chính ủy Quân đoàn 1. Tiếp đó, ngày 17 tháng 5 năm 1974 Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) được thành lập trên chiến trường Trị - Thiên. Hợp thành quân đoàn là 3 sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh làm Chính ủy Quân đoàn 2. Hơn hai tháng sau, ngày 20 tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) được thành lập tại miền Đông Nam Bộ. Trong quân đoàn có 2 sư đoàn bộ binh (7 và 9), Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn đặc công 429, ba tiểu đoàn thông tin. Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4. Việc hình thành các quân đoàn chủ lực binh chủng hợp thành đánh dấu bước phát triển mới cả về quy mô tổ chức lực lượng và về chất của quân đội ta sau gần 30 năm xây dựng; ta đã có đủ khả năng mở các chiến dịch tiến công bằng lực lượng binh chủng hợp thành quy mô lớn trên các hướng chiến lược, kết thúc chiến tranh. Trong khi tổ chức các quân đoàn 1, 2, 4 đứng chân trên các địa bàn chiến lược, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh sớm quan tâm xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng một binh đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng mạnh chuẩn bị cho những chiến dịch lớn. Khi chiến dịch tiến công có quy mô cấp quân đoàn tăng cường ở Tây Nguyên vào xuân hè 1972 kết thúc mặc dù còn nhiều khó khăn về bảo đảm hậu cần, ta vẫn duy trì một lực lượng lớn chủ lực ở đây. Từ sau Hiệp định Pa-ri, khối chủ lục B3 ngày càng được củng cố và phát triển lớn mạnh. Đến đầu năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh đánh giá: ''Chiến trường B3 có khối chủ lực và binh khí kỹ thuật khá mạnh; có vùng giải phóng rộng và tương đối hoàn chỉnh, được sự chi viện trực tiếp của hậu phương lớn, có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược'' Cùng thời gian này, Quân ủy Trung ương chủ trương đẩy mạnh xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng chính quy, nâng cao khả năng tác chiến, "Tiến tới tổ chức quân đoàn ở Tây Nguyên''. Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, tháng 6 năm 1974 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định xây dựng khối chủ lực B3 thành binh đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng được tổ chức biên chế cơ bản và bổ sung đầy đủ quân số, trang bị. Ba cơ quan mặt trận được kiện toàn, củng cố lại bảo đảm tinh, gọn, nhẹ, hiệu quả. Với những nỗ lực cao, toàn diện trong việc xây dựng, củng cố, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, đầu năm 1975 khối chủ lực B3 đã trở thành một lực lượng hùng mạnh, tiến hành thắng lợi chiến định Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975. Ngay sau khi ta giải phóng Tây Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định (số 54/QP-QĐ) thành lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Quyết định thành lập Quân đoàn đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố ngày 27 tháng 3, tại sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên1. Quân đoàn 3 ra đời có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ kết thúc vẻ vang sứ mệnh lịch sử của Mặt trận Tây Nguyên (Chiến trường Tây Nguyên, B3) và đánh dấu sự ra đời của quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là bước phát triển mới về chất của bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Ngày 27 tháng 3, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định (số 2347/NQ-TW) thành lập Đảng bộ Quân đoàn 3, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương về mọi mặt, chỉ định đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Bí thư Đảng ủy và đồng chí Vũ Lăng làm Phó Bí thư; đồng thời ra quyết định (số 2348/NQ) bổ nhiệm Thiếu tướng Vũ Lăng (Tư lệnh Mặt trận B3, Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên) làm Tư lệnh Quân đoàn và đại tá Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy kiêm Bí thư Mặt trận B3 và chiến dịch Tây Nguyên) làm Chính ủy Quân đoàn. Cùng ngày, Quân ủy Trung ương chỉ định 10 đồng chí làm ủy viên chính thức Đảng ủy Quân đoàn: Phí Triệu Hàm, Nguyễn Kim Tuấn, Nguyễn Quốc Thước, Lã Ngọc Châu, Bùi Huy Bổng, Hà Quốc Tỏan, Đoàn Hồng Sơn, Nguyễn Hải Bằng, Nguyễn Hữu Hưu, Nguyễn Minh Khang và 2 đồng chí ủy viên dự khuyết: Bùi Đình Hòe, Bùi Tố Tọa; đồng thời bổ nhiệm các đồng chí: đại tá Nguyễn Việt Năng , đại tá Nguyễn Kim Tuấn làm Phó tư lệnh và đại tá Phí Triệu Hàm là Phó chính ủy Quân đoàn. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, buổi đầu thành lập cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ tư lệnh, ba cơ quan: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần và các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 320, Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn phòng không 593, Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn thông tin 29, Trường Quân chính và các đoàn sản xuất, thu mua. Tuy mới thành lập, nhung Quân đoàn 3 chính là khối bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên phát triển, trưởng thành trong giai đoạn cách mạng mới. Nhiều sư đoàn trung đoàn có lịch sử và truyền thống vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đều lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên . Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã 11 năm liên tục sát cánh với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang địa phương đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi vượt qua bao gian nan thử thách, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến lập nên những chiến công vang dội, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Ba cơ quan Quân đoàn: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị , Cục Hậu cần do ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành. Đây là cơ quan cấp chiến dịch đã có nhiều kinh nghiệm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm tham mưu cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên; đồng thời trực tiếp chỉ huy, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và bảo đảm theo chức trách trong các chiến dịch và hoạt động chiến đấu, xây dựng thường xuyên. *Bộ Tham mưu Quân đoàn là cơ quan chỉ huy, cơ quan trung tâm hiệp đồng với các cơ quan, các ngành, các đơn vị hữu quan, có chức năng làm tham mưu và giúp Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn về công tác quân sự. Tổ chức biên chế ban đầu của Bộ Tham mưu gồm 13 phòng, ban: Tác chiến, Quân huấn, Quân lực, Trinh Sát, Pháo binh, Phòng không, Thiết giáp, Công binh, Thông tin, Hóa học, Cơ yếu, Quản lý hành chính và Chính trị; 3 tiểu đoàn: trinh sát, cảnh vệ, trinh sát pháo binh; hai đại đội: công binh, hóa học và trạm sửa chữa thông tin. Tham mưu trưởng: đại tá Hồ Đệ; tham mưu phó: thượng tá Nguyễn Quốc Thước và thượng tá Lê Minh. *Cục Chính trị Quân đoàn là cơ quan đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị. Tổ chức biên chế gồm 5 phòng: Tuyên huấn, Cán bộ, Tổ chức, Bảo vệ, Dân vận; hai ban: Chính sách, Tổng hợp hành chính; Viện kiểm sát, ủy ban kiểm tra Đảng ủy, Nhà Văn hóa và xưởng in. Chủ nhiệm chính trị: đại tá Thái Bá Nhiệm, phó chủ nhiệm: trung tá Nguyễn Đằng. *Cục Hậu cần Quân đoàn là cơ quan giúp Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tổ chức các mặt bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Tổ chức biên chế gồm 10 phòng: Tham mưu kế hoạch, Chính trị, Quân nhu, Quân y, Quân khí, Quản lý xe máy, Vận tải, Doanh trại, Tài vụ, Xăng dầu; các đơn vị trực thuộc: bệnh viện, đội điều trị, vệ sinh phòng dịch, các tiểu đoàn vận tải ô tô vận tải bộ, thu dung, kho, trạm, xưởng, đội sản xuất, phân dội công binh, thông tin. Chủ nhiệm hậu cần : thượng tá Cấn Văn Tại; các phó chủ nhiệm: trung tá Đặng Văn Khóat, trung tá Lưu Sĩ Hiệp, trung tá Đỗ Thuyên. Ba sư đoàn bộ binh 10, 320, 316 trong đội hình Quân đoàn đều là những đơn vị vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đang phát triển chiến dịch Tây Nguyên. Đây là những sư đoàn bộ binh chủ lực tinh nhuệ, thiện chiến, lập nhiều chiến công. Với thế mạnh riêng, lại thường xuyên bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, sức mạnh của mỗi đơn vị sẽ được nhân lên gấp bội trong ''ngôi nhà chung'' Quân đoàn 3 binh chủng hợp thành. * Sư đoàn bộ binh 10 (Đoàn Đắc Tô) thành lập ngày 20 tháng 9 năm 1972 tại tỉnh Kon Tum. Bộ tư lệnh Sư đoàn thuở ban đầu gồm các đồng chí: Nguyễn Mạnh Quân (Tu lệnh phó Mặt trận Tây Nguyên) là sư đoàn trưởng, Đặng Vũ Hiệp (Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nga.yên ) làm chính ủy, Hồ Đệ sư đoàn phó, Lã Ngọc Châu - phó chính ủy. Tuy ra đời muộn so với các sư đoàn bạn trong Quân đoàn, nhưng các trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng hợp thành Sư đoàn 10 đều ra đời rất sớm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu nhiều năm trên Chiến trường Tây Nguyên, lập nhiều chiến công. Từ khi thành lập đến đầu năm 1975, Sư đoàn tổ chức đánh nhiều trận, góp phần làm thất bại âm mưu ''tràn ngập lãnh thổ'' của địch ở tỉnh Kon Tum, từng buộc mở rộng vùng giải phóng. Trong chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật đập tan cụm cứ điểm Đức Lập, cơ động về phía đông đánh bại cuộc phản đột kích lớn của địch trên đường 21, tiêu diệt lữ dù 3 ngày ở đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng, phát triển tiến công giải phóng Nha Trang, Cam Ranh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong sư đoàn có Trung đoàn bộ binh 66 (Đoàn Plei Me), tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 66), Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66), Đại đội bộ binh 10 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28), Đại đội pháo binh 2 (Tiểu đoàn 32) và các đồng chí: Hoàng Khắc Dược, Lê Văn Nổ, Phạm Văn Vượng, Nguyễn Hồng Quảng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; trong đó Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn 7 hai lần được tuyên dương Anh hùng. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Sư đoàn 10 gồm có: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; ba trung đoàn bộ binh: 66, 28, 24, Trung đoàn pháo binh 4 và một số tiểu đoàn, đại đội trực thuộc. Bộ tư lệnh Sư đoàn: thượng tá Đoàn Hồng Sơn - sư đoàn trưởng, đại tá Lã Ngọc Châu - chính ủy, trung tá Võ Khắc Phụng sư đoàn phó, thượng tá Lưu Quý Ngữ - phó chính ủy. * Sư đoàn bộ binh 320A (Đại đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng) thành lập ngày 16 tháng 1 năm 1951 tại đình Mống Lá, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Sư đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên: Văn Tiến Dũng. Trong kháng chiến chống Pháp, Sư đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu lập nhiều chiến công cùng quân và dân đồng bằng Bắc Bộ giải phóng nhiều tỉnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn tham gia cuộc Tổng tiến công năm 1968 ở Quảng Trị, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến dịch bắc Tây Nguyên và chiến dịch tổng hợp ở tây nam Gia Lai (1972), giữ vững vùng giải phóng. Trong chiến dịch Tây Nguyên (1975) Sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ truy kích địch ở đường số 7 làm nên chiến thắng Cheo Reo - Củng Sơn, phát triển tiến công giải phóng thị xã Tuy Hòa. Trong Sư đoàn có Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 64), Đại đội bộ binh 11 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48) và các đồng chí: Trương Công Man, Nguyễn Phú Vỵ, Đỗ Văn Châu, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Ngữ, Nguyễn Như Hoạt, Phùng Quang Thanh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Biên chế của Sư đoàn khi thành lập Quân đoàn 3, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; 3 trung đoàn bộ binh: 48, 64, 9, Trung đoàn pháo binh 54 và một số phân đội trực thuộc. Bộ tư lệnh Sư đoàn: thượng tá Bùi Đình Hòe - sư đoàn trưởng, thượng tá Bùi Huy Bổng - chính ủy, trung tá Ngô Huy Phát sư đoàn phó, thượng tá Đặng Văn Trượng - phó chính ủy. * Sư đoàn bộ binh 316 (Đại đoàn 316, Đoàn Bông Lau) thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 tại Cốc Lùng, huyện Thóat Lãng (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn; do đồng chí Lê Quảng Ba làm sư đoàn trưởng và đồng chí Chu Huy Mân làm chính ủy. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 316 tham gia nhiều chiến dịch lớn trên chiến trường chính Bắc Bộ: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ; được Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng cờ ''Quyết Chiến Quyết Thắng''. Từ năm 1961 đến năm 1973, Sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, tham gia các chiến dịch: Nậm Thà, Nậm Bạc, 139, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khỏang. Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975, Sư đoàn là lực lượng đột kích chủ yếu trong trận then chốt quyết định giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, trong Sư đoàn có 7 đơn vị: Trung đoàn 174, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174), Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 148), Đại đội 9 (Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148), Đại đội 21 (Trung đoàn 148), Đại đội 2 (Tiểu đoàn 14), Đại đội 5 (Tiểu đoàn 11) và 13 cán bộ, chiến sĩ: La Văn Cầu, Nông Văn Vương, Bế Văn Đàn, Triệu Văn Báo, Lý Văn Mưu, Đàm Văn Ngụy, Đặng Đức Song, Lương Tuyết Sơn, Đèo Văn Khổ, Hoàng Văn Vịnh, Đỗ Văn Trì, Vi Văn Pụn, Nguyễn Như Hành được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Sư đoàn 316 gồm có: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; 3 trung đoàn bộ binh: 174, 149, 148, Trung đoàn pháo binh 178 và một số phân dội bảo đảm phục vụ. Bộ tư lệnh Sư đoàn: trung tá Nguyễn Hải Bằng - sư đoàn trưởng, thượng tá Hà Quốc Tỏan - chính ủy, trung tá Nguyễn Văn Thơi - sư đoàn phó, thượng tá Đoàn Độ - phó chính ủy. ------------------------------------------------------------------- 1. Lúc này sở chỉ huy chiến thành đã chuyển về tây Thuần Mẫn, gần sở chỉ huy Sư đoàn 320. Khi Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3, có các đồng chí: Thiếu tướng Vũ Lăng (phó tư lệnh chiến dịch), thượng tá Nguyễn Quốc Thước (phụ trách cơ quan Tham mưu chiến dịch), đồng chí Thế Nguyên (cán bộ Cục Tác chiến tăng cường làm Tham mưu phó chiến dịch), đồng chí Hoàng Dũng (Văn phòng Bộ Quốc phòng). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:23:28 am Các trung đoàn binh chủng trực thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn, tuy thời gian ra đời khác nhau, nhưng đều lập nhiều thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, có truyền thống vẻ vang, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên.
* Trung đoàn đặc công 198 (Đoàn đặc công hậu cứ) thành lập theo quyết định số 454/QĐ ngày 19 tháng 8 năm 1974 của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tuy mới ra đời, nhưng các phân đội trong trung đoàn đều đã chiến đấu nhiều năm trên Chiến trường Tây Nguyên, lập nhiều thành tích. Tiểu đoàn 20 (đặc công hậu cứ) trước đây là phân đội cùng tên trực thuộc B3; Tiểu đoàn 3 (đặc công hậu cứ) do Đoàn 3018 và Đại đội đặc công 19 thuộc Trung đoàn 66 hợp thành; Tiểu đoàn 37 (đặc công cơ động) vốn là đơn vị trực thuộc B3 và Sư đoàn 10, nay được bổ sung thêm Đại đội đặc công 19 Trung đoàn 24; Tiểu đoàn 33 pháo ĐKB đã chiến đấu nhiều năm ở Tây Nguyên; Đại đội đặc công chuyên đánh trong thị xã được chuyển gọn từ Đại đội đặc công 19 Trung đoàn 28; bốn đại đội: trinh sát, thông tin, quân y, vận tải và ba ban tham mưu, chính trị, hậu cần được chuyển gọn từ các đơn vị bạn về, cán bộ, chiến sĩ có nhiều nghiệm chiến đấu công tác binh chủng. Trung đoàn 198 vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên. Ban chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí, đại úy Trần Kình - trung đoàn trưởng, đại úy Lê Văn Tích - chính ủy. * Trung đoàn xe tăng 273 (Đoàn Sơn Lâm) thành lập theo quyết định số 442/QĐ ngày 3 tháng 2 năm 1973 của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, trên cơ sở lực lượng Tiểu đoàn xe tăng 297 của B3 và hai tiểu đoàn xe tăng (2,3) của Trung đoàn xe tăng 201 Bộ tư lệnh Thiết giáp chi viện cho Chiến trường Tây Nguyên. Tháng 9 năm 1974, Trung đoàn 273 tiếp nhận thêm Tiểu đoàn xe tăng 4 do Trung đoàn xe tăng 574 Quân khu 5 chi viện. Tuy ra đời muộn so với các trung đoàn xe tăng của các quân đoàn bạn, nhưng Trung đoàn xe tăng 273 tích cực xây dựng, trưởng thành nhanh chóng. Một lực lượng xe tăng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phối thuộc cho Sư đoàn 320 trừng trị quân địch lấn chiếm vùng giải phóng trên hướng đường 19 tây, 5b, tiêu diệt cứ điểm Chư Nghé; tham gia đội hình Đoàn 260 tiến công làm chủ cụm cứ điểm Đắc Pét. Trong chiến dịch Tây Nguyên, Trung đoàn 273 là lực lượng đột kích mạnh trong đội hình binh chủng hợp thành tiến công trên bốn hướng, giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột; sau đó cơ động về phía đông tăng cường cho Sư đoàn 10 đập tan lực lượng phản kích của địch trên đường 21, giải phóng Khánh Dương, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh và cùng Sư đoàn 320 thần tốc truy kích địch trên đường 7, làm nên chiến thắng Cheo Reo - Củng Sơn, phát triển đánh chiếm thị xã Tuy Hòa. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Trung đoàn 273 có 4 tiểu đoàn: 1, 2, 3, 4 và một số phân đội trực thuộc; đồng chí Lê Mai Ngọ làm trung đoàn trưởng và đồng chí Vũ Đình Tư làm chính ủy. * Trung đoàn pháo binh 40 thành lập theo quyết định số 18/A3 ngày 5 tháng 2 năm 1967 của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Buổi đầu thành lập, trong trung đoàn có 4 tiểu đoàn: 30 (súng máy phòng không 12,7mm), 31 (sơn pháo 75mm), 32 (cối 120mm), 34 (vận tải), 2 đại đội trinh sát, thông tin. Đây là những đơn vị đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong những năm đầu đánh quân Mỹ ở Tây Nguyên. Ban chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí: Nguyễn Đức Giá - trung đoàn trưởng, Sơn Hùng - chính ủy, Nguyễn Xô và Nguyễn Thái Lai - trung đoàn phó. Từ năm 1967 đến tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 40 vượt qua nhiều khó khăn thử thách, vừa chiến đấu vừa xây dựng, tham gia tất cả các chiến dịch và nhiều trận đánh trên chiến trường; góp phần quan trọng cùng quân và dân trên địa bàn đánh bại địch từng bước, tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Do lập nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, Trung đoàn pháo binh 40, Đại đội 42 súng máy phòng không (Tiểu đoàn 30) và hai đồng chí: liệt sĩ Nguyễn Hồng Quảng, Trần Phúc Yên được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối tháng 3 năm l975, tổ chức biên chế của trung đoàn gồm: ban chỉ huy và 3 cơ quan, 4 tiểu đoàn pháo (1, 2, 3, 4) và các đại dội bảo đảm phục vụ. Đồng chí Nguyễn Hữu Vinh làm trung đoàn trưởng và thiếu tá Mai Sinh Giá làm chính ủy. * Trung đoàn pháo binh 675 (Đoàn pháo binh Anh Dũng) là trung đoàn pháo binh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, tổ chức tháng 9 năm 1950 tại Trùng Khánh (Cao Bằng) với tên gọi Trung đoàn 95, gồm 3 tiểu đoàn sơn pháo (40, 178, 253); chính thức làm lễ thành lập ngày 20 tháng 11 năm 1950 tại bản Nà Tấu, huyện Quảng Yên (nay là huyện Quảng Hòa) tỉnh Cao Bằng với tên gọi Trung đoàn 675, gồm 6 liên đội sơn pháo 75 (751, 752, 753, 754, 755, 756). Quyền trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: đồng chí Nguyễn Thước và đồng chí Hoàng Phương. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung đoàn 675 tham gia các chiến dịch: Biên giới (1950); Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (1951); Hòa Bình, Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) và chiến dịch Điện Biên Phủ. Với thành tích xuất sắc, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu ''Trung đoàn pháo binh Anh Dũng''. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung đoàn tham gia các chiến dịch Khe Sanh (1968) Đường 9 Nam Lào (1971), chiến dịch bắc Tây Nguyên (1972) và chiến dịch Tây Nguyên (1975), lập nhiều chiến công. Cuối tháng 3 năm 1975, tổ chức biên chế Trung đoàn 675 gồm có: ban chỉ huy và 3 cơ quan, 4 tiểu đoàn pháo và các phân đội bảo đảm, phục vụ; trung đoàn trưởng Trần Đình Sai, chính ủy Nguyễn Xuân Dục. * Trung đoàn phòng không 234 (Đoàn Tam Đảo) thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1963 tại thôn Bảo Sơn, xã Hạnh Phúc, thị xã Vĩnh Yên (theo quyết định số 01/QPQĐ ngày 5.2.1963 của Bộ Quác phòng). Khi mới thành lập, Trung đoàn 234 có 5 đại đội pháo phòng không 57mm, 1 đại đội chỉ huy và một số phân đội bảo đảm, phục vụ. Ban chỉ huy gồm các đồng chí: Trần Trung Tín - trung đoàn trưởng, Nguyễn Ruyến - chính ủy, Trần Nghị - trung đoàn phó. Mùa mưa năm 1964, Trung đoàn 234 làm nhiệm vụ quốc tế ở mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khỏang (nước bạn Lào), bắn rơi nhiều máy bay địch, góp phần bảo vệ vùng giải phóng của bạn. Từ năm 1965 đến năm 1972, Trung đoàn cơ động chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng, phà Ghép, sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa), thành phố Hà Nội, thị xã Nam Định, cầu Đáp Cầu (Bắc Ninh), cầu Bắc Giang, ga Đồng Mỏ (Lạng Sơn), thị xã Đồng Hới, đèo Lý Hòa (Quảng Bình). Từ tháng 2 năm 1973 đến dầu năm 1975, trung đoàn trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, tích cực chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, cầu Diên Bình, đường 220, tham gia Đoàn 260 tiến công giải phóng Đắc Pét, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên. Đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Trung đoàn 234 có 3 tiểu đoàn pháo phòng không hỗn hợp (1, 2, 3), phân đội tên lửa A72, các phân đội bảo đảm phục vụ và ba cơ quan; trung đoàn trưởng Vũ Văn Lương, chính ủy Vũ Xuân Sắc. * Trung đoàn phòng không 593 được bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên cuối năm 1974, tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên. Trong trung đoàn có 3 tiểu đoàn pháo phòng không hỗn hợp. Ban chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí: Nguyễn Duy Sơn - trung đoàn trưởng, Phạm Minh Mẫn - chính ủy. * Trung đoàn phòng không 232 là một đơn vị của bộ tư lệnh 559, được bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên đầu năm 1975, tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 27 tháng 3 năm 1975, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra quyết định (số 156/QĐ-TM) điều động Trung đoàn phòng không 232 về trực thuộc Quân đoàn 3. Khi về Quân đoàn, Trung đoàn 232 có 3 tiểu đoàn pháo phòng không hỗn hợp. Ban chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Hách - trong đoàn trưởng, Trần Đình Khánh - chính ủy. * Trung đoàn công binh 7 (Đoàn Hùng Vương) thành lập ngày 13 tháng 12 năm 1965 tại Hà Nội, theo quyết định số 203/QĐ-QP (12.11.1965) của Bộ Quốc phòng, với tên gọi Công trường 7 trực thuộc Bộ tư lệnh Công Binh. Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Lê Văn Sương và Bùi Khắc Doãn. Từ tháng 4 năm 1968 đến tháng 11 năm 1971, Trung đoàn 7 thuộc Đoàn 559 và từ tháng 12 năm 1971 trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Trung đoàn đã mở đường, bảo đảm giao thông, tham gia chiến đấu trên các mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khỏang (1965-1967), Trị Thiên - Huế (1967-1971); đặc biệt trong chiến dịch Khe Sanh (1968) cán bộ, chiến sĩ đã mở được 267km đường mới, bảo đảm thông đường trên 152km, gỡ nhiều bãi mìn, khắc phục chướng ngại vật bảo đảm cho bộ binh xe tăng ta chiến đấu thắng lợi. Trong hơn 3 năm ở Mặt trận Tây Nguyên (12.1971 - 3.1975), Trung đoàn 7 mở hàng trăm kilômét đường, xây dựng nhiều cầu, tổ chức các bến phà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch bắc Tây Nguyên (1972), chiến dịch Tây Nguyên (1975) và nhiều nhiệm vụ khác. Do những thành tích đặc biệt xuất sắc, Trung đoàn 7, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1), Đại đội 4 (Tiểu đoàn 2) và các đồng chí Nông Văn Việt, Bùi Ngọc Dương được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Trung đoàn 7 có 4 tiểu đoàn (1, 2, 3, 4) và các phân đội trực thuộc khác; đồng chí Lê Hữu Công làm trung đoàn trưởng và đồng chí Đoàn Văn Khóat làm chính ủy. * Trung đoàn công binh 575 được bộ tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập tháng 1 năm 1975 để tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Tuy mới thành lập nhưng cán bộ, chiến sĩ phát huy truyền thống của bộ đội công binh 559, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở đường, bảo đảm cho các đơn vị của ta tiến công và truy kích địch trên hướng tây bắc Buôn Ma Thuột và khu vực Phước An, góp phần vào thắng lợi chung. Ngày 27 tháng 3 năm 1975 Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định (số 156/QĐ-TM) điều động Trung đoàn công binh 575 về trực thuộc Quân đoàn 3. *Trung đoàn thông tin 29 thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1974 theo quyết định số 441/QĐ của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tuy mới ra đời, nhưng các đơn vị nòng cốt (3 tiểu đoàn 26, 2, 16 trực thuộc B3 và 2 đại đội 36, 39 thuộc Phòng Tham mưu B3) hợp thành trung đoàn đều có nhiều năm làm nhiệm vụ và có nhiều thành tích, kinh nghiệm hoạt động ở Chiến trường Tây Nguyên. Cuối tháng 3 năm 1975, trong trung đoàn có 3 tiểu đoàn thông tin hỗn hợp (1, 2, 3), Đại đội 39 thông tin tiếp sức; đồng chí Lê Đức Đệ làm trung đoàn trưởng, đồng chí Đỗ Giả làm chính ủy. * Trường Quân chính Quân đoàn 3 thành lập ngày 20 tháng 8 năm 1966 với tên gọi Trường Huấn luyện cán bộ B3, theo quyết định (ngày 5 tháng 8 năm 1966) của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Ban đầu, tổ chức biên chế của trường gồm: ban giám hiệu, 3 ban: tham mưu, chính trị, hậu cần; 2 tổ giáo viên: quân sự, chính trị và 2 đại đội huấn luyện (gọi là lớp). Hiệu trưởng: thượng úy Hồ Bắc, chính ủy: thượng úy Đoàn Trọng Thông, hiệu phó quân sự: thượng úy Phạm Công Cửu. Với chức năng là trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ phân đội cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên, 9 năm gian khổ trụ bám giữa lòng chiến trường bom đạn khốc liệt, vừa huấn luyện vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sản xuất, nhiều lần di chuyển địa điểm, Trường Quân chính B3 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tổ chức được 12 khóa học, đào tạo bồi dưỡng được 6.365 cán bộ sơ cấp, trung cấp cho các đơn vị bộ đội chủ lực và hơn l.000 cán bộ cho lực lượng vũ trang địa phương 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc; đồng thời tham gia nhiều chiến dịch, lập nhiều chiến công. Với thành tích xuất sắc, Trường Quân chính B3 đã được tặng 5 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và hạng nhì. Khi đứng chân trong đội hình Quân đoàn 3, Trường Quân chính Quân đoàn gồm có: ban giám hiệu, 4 ban: huấn luyện, chính trị, hậu cần, hành quản; hai khoa giáo viên: quân sự, chính trị và 7 đại đội học viên. Hiệu trưởng: Trần Quốc Biên, chính ủy Nguyễn Minh Khang, hiệu phó Nguyễn Quốc Phiên, phó chính ủy Bùi Sĩ Dũng. Trường Quân chính Quân đoàn 3 kế tục truyền thống vẻ vang: ''Tự lực, Tự cường - Dũng cảm, Sáng tạo - Đoàn kết, Kỷ luật - Dạy tốt, Học tốt'' của Trường Quân chính B3. Vị trí đứng chân: khu vực sân bay Cù Hanh, thị xã Plei Ku, tỉnh Gia Lai. Do đã được chuẩn bị từ trước và thực hiện chuyển gọn 3 cơ quan cùng các đơn vị thuộc khối chủ lực B3 đang trong quá trình phát triển chiến dịch Tây Nguyên, nên ngay từ khi mới thành lập, Quân đoàn 3 đã là một binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành hoàn chỉnh; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, ổn định, sức cơ động cao, hỏa lực mạnh, có trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng; có thể độc lập tiến hành một chiến dịch hoặc đảm nhiệm hướng chủ yếu trong đội hình chiến dịch lớn của cấp trên, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Sinh ra từ khối chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, ngay trên vùng đất chiến lược vừa hoàn toàn giải phóng, Quân đoàn 3 mang trong mình truyền thống quý báu: Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực của bộ đội chủ lực, của quân và dân Tây Nguyên bất khuất, của Quân khu 5 kiên cường anh dũng và truyền thống chung của dân tộc anh hùng, quân đội anh hùng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện. Đại tướng Văn Tiến Dũng đã khẳng định: ''Quân đoàn 3 ra đời giữa lúc cuộc chiến tranh đang đi vào bước ngoặt... trong lúc cuộc tiến công đang phát triển đánh dấu một nét rất mới là ta càng đánh càng mạnh trong quá trình chiến dịch cũng như trong quá trình cuộc tiến công chiến lược''1. ------------------------------------------------------------------ 1. Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại thắng Mùa Xuân. Sđd, tr. 152. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:27:18 am 2. Quân đoàn 3 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau những thắng lợi rất to lớn của quân và dân ta ở Tây Nguyên, Trị -Thiên, Đà Nẵng, so sánh thế và lực trên chiến trường đã có sự chuyển biến vượt bậc, hoàn toàn có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Chỉ trong một tháng tiến công và nổi dậy (4.3-3.4.1975) quân và dân miền Nam đã xóa sổ 2 trong 4 quân khu của địch, với 46% số sư đoàn bộ binh (6/13), 40% số trung đoàn xe tăng xe thiết giáp (9/22); 50% số tiểu đoàn pháo binh (33/66), 36% số liên đoàn bảo an (15/41), 38% lực lượng dân vệ, 18% tổng số máy bay (310/1683 chiếc), thu 4.625 xe vận tải; loại khỏi vòng chiến đấu 269.000 tên địch (chiếm 38% tổng số 690.000 tên). Vùng giải phóng của ta đã chiếm ba phần tư diện tích, với 17 tỉnh (trong tổng số 44 tỉnh) và hơn 9,8 triệu người (trong tổng số 19 triệu người) của toàn miền Nam1. Trước những tổn thất nặng nề về binh lực, tan rã lớn về tổ chức và giảm sút rất nghiêm trọng về tinh thần chiến đấu, nhưng tập đoàn cầm quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn rất ngoan cố. Chúng ra sức tập hợp tàn quân từ quân khu 1 và 2 chạy về, cửng cố các đơn vị của quân đoàn 3 và 4, bố trí lại lực lượng. Để giữ Sài Gòn, địch gấp rút tổ chức 3 tuyến phòng thủ: tuyến ngoài (5 sư đoàn, 2 lữ đoàn),tuyến ngoại vi (1 sư đoàn biệt động quân mới thành lập) và tuyến nội đô (lực lượng cảnh sát, dân vệ và tại chỗ). Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, địch tập trung các sư đoàn bộ binh, lực lượng thiết giáp và không quân giữ phòng tuyến Tân An - Mỹ Tho. Về phía Mỹ, tuy khó có khả năng đưa quân trở lại Việt Nam, nhưng trong những ngày tàn của chế độ Sài Gòn, chúng vẫn cố tìm mọi cách nhằm kéo dài cơn hấp hối của bọn tay sai. Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tướng Uây-oen tham mưu trưởng lục quân Mỹ đến Sài Gòn vạch kế hoạch phòng thủ cho quân ngụy, đồng thời Mỹ lập cầu hàng không chở vũ khí (từ Thái Lan và Mỹ) đến Sài Gòn; đưa tàu sân bay Hen-cốc và 300 lính thủy đánh bộ vào biển Đông. Nắm vững tình hình mọi mặt, kịp thời phân tích đánh giá toàn diện khách quan khoa học, ngày 1 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, kết luận: ''Cả về thế chân lược và lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo quân địch, còn địch thì đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn tình thế sụp đổ đến nơi của nguy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chàm muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà''. Đồng thời Bộ Chính trị hạ quyết tâm: ''Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể để chậm''2. Để động viên mọi mặt lực lượng của cả nước quyết giành thắng lợi nhanh chóng và hoàn toàn trong trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện chiến trường do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch và lập Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn - Gia Định do Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị làm chính ủy; các đồng chí: Thượng tướng Trần Văn Trà; Trung tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện làm Phó tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy. Tiếp đó, theo đề nghị của Bộ tư lệnh chiến dịch, ngày 14 tháng 4 năm 1975 Bộ Chính trị quyết định chiến dịch tiến công Sài Gòn - Gia Định mang tên ''Chiến dịch Hồ Chí Minh''. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và kế hoạch chiến dịch, trong nửa đầu tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 4, Đoàn 232 và lực lượng địa phương đẩy mạnh tiến công tạo thế; các quân đoàn 1, 2, 3 gấp rút hành quân bằng cơ giới từ Tam Điệp, Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột, Tuy Hòa, Nha Trang rầm rập tiến về phía nam, vào vị trí tập kết trên các hướng chiến dịch, khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Chiến dịch hoàn chỉnh quyết tâm, các kế hoạch chiến dịch và giao nhiệm vụ cho các quân đoàn. Quán triệt phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến dịch ''Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng'', Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công Sài Gòn - Gia Định từ năm hướng tây bắc, bắc - đông bắc, đông, đông nam, tây - tây nam; sử dụng cách đánh: thực hiện chia cắt, bao vây tiêu diệt và làm tan rã các sư đoàn địch phòng thủ ở vòng ngoài không cho chúng co cụm về nội thành, đồng thời đánh chiếm các cầu lớn, mở đường cho các binh đoàn binh chủng hợp thành đột kích cơ giới mạnh tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào 5 mục tiêu chủ yếu: bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát, dinh Độc Lập, tiêu diệt và làm chủ mục tiêu trong thời gian ngắn nhất. Về sử dụng lực lượng, bốn quân đoàn chủ lực và Đoàn 232 được tăng cường binh khí kỹ thuật, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch trên năm hướng: - Quân đoàn 1: tiến công hướng bắc - đông bắc. - Quân đoàn 2: tiến công hướng đông nam. - Quân đoàn 3: tiến công hướng tây bắc. - Quân đoàn 4: tiến công hướng đông. - Đoàn 232: tiến công hướng tây và tây nam. Là một trong năm binh đoàn chủ lực, ngày 12 tháng 4 Quân đoàn 3 được Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: ''Quân đoàn 3 (với lực lượng trong biên chế) có pháo và cao xạ của chiến dịch chi viện đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu nhất của chiến dịch từ tây bắc vào Sài Gòn với nhiệm vụ: 1. Dùng lực lượng cỡ sư đoàn đến sư đoàn tăng cường đánh trận thôi động tiêu diệt căn cứ sư đoàn 25 ở Đồng Dù, chặn và tiêu diệt lực lượng sư đoàn 25 từ Củ Chi đến Trảng Bàng, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. 2. Tổ chức lực lượng đột kích mạnh binh chủng hợp thành cỡ sư đoàn tăng cường thọc thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất, phát triển hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy, đánh chiếm và làm chủ Quận 3, phát triển sang Quận 1 hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm dinh Độc Lập, phát triển sang Quận 10 hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm biệt khu thủ đô ngụy. ây là nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn. 3. Giữ vững các khu vực mục tiêu đã giao sau khi chiếm được, bảo vệ kho tàng, ổn định trật tự an ninh''3. ----------------------------------------------------------------- 1. Số liệu dẫn theo Điện số 10 (ngày 13.4.1975) của Bộ Quốc phòng gửi các quân khu. 2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ... Sđd, tr. 321, 322. 1. Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3. Biên niên sự kiện. Sđd, tr. 369, 370. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:32:26 am * Hướng tiến công của Quân đoàn 3 tương đối dài và hẹp. Từ vị trí xuất phát thuộc tỉnh Tây Ninh đến hết chiều sâu nhiệm vụ là các mục tiêu chính trong nội đô Sài Gòn dài khỏang 100km; chiều rộng từ bờ tây sông Sài Gòn đến đường số 1 và đường số 22 khỏang từ 7km đến 10 km. Nhìn chung địa hình trên hướng Quân đoàn đảm nhiệm tương đối bằng phẳng, chia ra hai khu vực rõ rệt. Khu phía bắc, từ quận lỵ Dầu Tiếng về phía bắc có nhiều rừng cây thấp, đồn điền cao su khá rộng và kín đáo, đất đồi cứng thuận lợi cho tập kết những lực lượng lớn, cơ động xe tăng, pháo xe kéo và bố trí kho tàng... nhưng phải vượt sông Sài Gòn. Khu vực phía nam, từ quận lỵ Dầu Tiếng đến bắc Củ Chi, Phú Hòa Đông, Hoóc Môn, đồi và ruộng xen kẽ, có 2 con kênh lớn là Bến Mương và kênh Sáng chạy ngang qua các con đường cơ động vào Sài Gòn; kênh rộng từ 50m đến 70m, hai bên sình lầy ruộng nước rộng từ 3km đến 4km. Từ Hoóc Môn đến sân bay Tân Sơn Nhất, địa hình trống tráng, ruộng khô xen kẽ là những làng mạc và một số vườn cây ăn quả, dân cư đông đúc. Càng vào sâu càng có nhiều đường ngang, phố xá công trình kiến trúc dày đặc, phức tạp, nhiều nhà cao tầng dễ bị lạc. Trên hướng tiến công của Quân đoàn chỉ có hai trục đường vào được Sài Gòn. Trục chính là quốc lộ 1, đoạn Củ Chi - Sài Gòn, phải qua cầu Bông. Trục thứ hai là tỉnh lộ số 15 đoạn từ Tân Phú Trung đến Phú Hòa Đông, Tân Quy, qua cầu Sáng về Hoóc Môn, Tân Sơn Nhất. Đây là hai con đường độc đạo, quá trình chiến đấu ta phải giữ được cầu Bông, cầu Sáng; nếu bị địch phá cầu sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng được sự giúp đỡ của địa phương, nhất là lực lượng vũ trang khu du kích nổi tiếng Củ Chi, Bời Lời phối hợp, được các đội biệt động thành phố Sài Gòn - Gia Định đưa đường, tạo thuận lợi cho Quân đoàn dưa những đơn vị luồn sâu, ém sẵn đánh chiếm trước các cây cầu và một số mục tiêu trên hai trục đường cơ động, bảo đảm cho lực lượng thọc sâu binh chủng hợp thành tiến công hành tiến từ ngoài vào nội đô. Cuối tháng 4 năm 1975, lực lượng địch trên hướng tiến công của Quân đoàn còn khá đồng và mạnh, bao gồm: sư đoàn bộ binh 25 (có 3 trung đoàn bộ binh 46, 49, 50 và trung đoàn thiết giáp 10), lữ dù 4 (thiếu), 2 liên đoàn biệt động quân 9 và 23, chỉ huy liên đoàn biệt động quân 33, liên đoàn 5 công binh, trung tâm huấn luyện Quang Trung, 1 tiểu đoàn biệt kích dù, 20 tiểu đoàn bảo an (ở Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Gia Định), thiết đoàn 3 thuộc trung đoàn 15, 4 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo ( 86 khẩu đại bác 105, 175mm), sư đoàn 5 không quân (178 máy bay chiến đấu và vận tải), bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp ở sân bay Tân Sơn Nhất và lực lượng bảo vệ ở bộ tổng tham mưu ngụy, với tổng quân số khỏang 24.000 tên. Với binh lực trên, địch tổ chức phòng thủ trên hướng tây bắc Sài Gòn - Gia Định thành ba tuyến: - Tuyến phòng ngự vòng ngoài, gồm các khu vực Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa do sư đoàn bộ binh 25 và một lực lượng biệt động quân, bảo an đảm nhiệm. Trong đó bộ tư lệnh sư đoàn 25, ban chỉ huy trung đoàn 50, tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, 1 chi đội xe tăng, tiểu đoàn 25 công binh và 5 tiểu đoàn bảo đảm phục vụ khác, trường huấn luyện hạ sĩ quan... ở căn cứ Đồng Dù; trung đoàn 46 ở Bến Kéo, trung đoàn 49 ở Trảng Lớn, trung đoàn 50 ở Trảng Bàng, trung đoàn 10 thiết giáp ở Tây Ninh. Đây là tuyến phòng ngự mạnh của địch trên hướng tây bắc Sài Gòn, trong đó căn cứ lớn Đồng Dù là ''cánh cửa thép'' án ngữ trục quốc lộ số 1. - Tuyến ngoại vi, bao gồm các khu vực: cầu Bông, Hoóc Môn, thành Quang Trung... do lực lượng bảo an, biệt động, biệt kích dù, công binh, tân binh đang huấn luyện và tàn quân từ các nơi khác chạy về phòng giữ. Lực lượng này tuy khá đông, nhưng khả năng chiến đấu hạn chế. - Tuyến phòng ngự bên trong có lữ đoàn dù 4 (thiếu), lực lượng bảo vệ và tại chỗ của sư đoàn 5 không quân, các bộ tư lệnh binh chủng ở sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu ngụy. Đây là lực lượng hỗn hợp tương đối đông, có xe tăng xe thiết giáp, dựa vào lô cốt và các công trình kiến trúc chống trả, nhưng dễ bị cô lập, sức chiến đấu không mạnh. Nhìn chung trên hướng tiến công của Quân đoàn 3, quân số của địch còn đông, binh khí kỹ thuật nhiều, phòng ngự theo chiều sâu, có nhiều cứ điểm công sự vững chắc được tổ chức từ lâu, lợi dụng kiến trúc trong thành phố phức tạp lập thêm các điểm chốt chặn mới, bọn chỉ huy ngoan cố ra sức đốc lính ''tử thủ'' và chuẩn bị sẵn thủ đoạn đối phó. Chúng sẽ chống trả quyết liệt khi bị tiến công. Song địch phải rải quân trên một tuyến dài để đối phó, đội hình dễ bị chia cắt, cô lập. Cách bố trí mạnh ở vòng ngoài, yếu ở bên trong, khi lực lương bên ngoài bị vây chặt, tiêu diệt, lực lượng bên trong dễ bị tan vỡ. Đặc biệt, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, quân địch liên tiếp bị thất bại, tinh thần suy sụp lớn; khi biết những tên cầm đầu ngày quận, ngụy quyền tháo chạy, bọn lính càng hoang mang tan rã nhanh. Thực hiện quyết tâm và kế hoạch thống nhất của Bộ tư lệnh chiến dịch, thượng tuần và trung tuần tháng 4 năm 1975 Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 khẩn trương triển khai công tác nắm địch, xây dựng và hoàn chỉnh quyết tâm, phương án tác chiến; đồng thời tập trung mọi nỗ lực cơ động nhanh các đơn vị và vật chất từ các tỉnh Tây Nguyên, Phú Yên, Khánh Hòa về tây bắc Sài Gòn.. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu do Bộ tư lệnh chiến dịch giao (12.4), Bộ tư lệnh Quân đoàn khẩn trương tổ chức quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm và phương án tác chiến, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316 và Sư đoàn 320, chỉ huy các binh chủng, (ngày 14, 15.4) tổ chức trinh sát chỉ huy khu vực Củ Chi, Đồng Dù (17.4). Để hoàn chỉnh quyết tâm chiến đấu cho trận đánh quan trọng tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy - trận mở màn của Quân đoàn 3 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Vũ Lăng, Phó tư lệnh Nguyễn Kim Tuấn, Phó chính ủy Phí Triệu Hàm và cơ quan Tham mưu Quân đoàn đã cùng đoàn trinh sát của Sư đoàn 320 trực tiếp trinh sát thực địa khu vực Đồng Dù. Sáng ngày 23 tháng 4, Thiếu tướng Vũ Lăng và đại tá Đặng Vũ Hiệp báo cáo quyết tâm và nhận nhiệm vụ chính thức tại sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau khi nghe Tư lệnh quân đoàn 3 báo cáo quyết tâm chiến đấu, các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng dành nhiều thời gian để phân tích và chỉ thị những vấn đề chinh mà Quân đoàn cần quan tâm giải quyết; động viên đơn vị phát huy chiến thắng Tây Nguyên hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên hướng chính của chiến dịch lịch sử mang tên Bác kính yêu. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: ''Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn 3 là tổ chức lực lượng mạnh đột kích liên tục, đánh ngã địch chiếm các mục tiêu then chốt trong thành phố. Đánh sư đoàn 25 ở ngoài chỉ là điều kiện, không thể... dùng nhiều lực lượng, hoặc giằng co mất nhiều thời gian. Đánh ngoài và đột vào trong là đồng thời, không chia thành bước. Nhiệm vụ chính là bên trong...; mục tiêu chính... là sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu. Còn Phủ tổng thống là sau khi cơ bản làm xong hai mục tiêu trên. Vì phủ tổng thống là nhiệm vụ chủ yếu của một đơn vị khác. Nếu họ giải quyết xong rồi thì Quân đoàn 3 không phải vào''.1 Ngày 24 tháng 4, Bộ tư lệnh chiến dịch chính thức phê chuẩn quyết tâm, phương án tác chiến, kế hoạch sử dụng lực lượng của Quân đoàn 3. Nội dung cụ thể: - Trước ngày tổng công kích, Quân đoàn chủ động sử dụng một lực lượng của Sư đoàn 316 cùng với lực lượng địa phương tỉnh Tây Ninh chặn cắt giao thông đường số 22 đoạn Trà Võ, tiêu hao tiêu diệt giam chân sư đoàn 25 ngụy, không cho chúng co cụm về Sài Gòn, buộc chúng phải bị động đối phó. Đồng thời sẵn sàng cơ động lực lượng tiến công tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy khi chúng rút chạy. - Tổ chức pháo binh đánh diệt các trận địa pháo địch trên toàn tuyến từ Đồng Dù dện nam Tây Ninh, bảo đảm an toàn cho các lực lượng của Quân đoàn vào tập kết và triển khai chiếm lĩnh. - Khi bắt đầu tổng công kích, dùng Sư đoàn 316 vây cắt giam chân địch ở khu vực Phước Mỹ, Sư đoàn 320 đánh chiếm thật nhanh căn cứ Đồng Dù, đồng thời đưa Trung đoàn 198 đặc công và Trung đoàn 64 luồn sâu đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp. Nắm chắc thời cơ, cơ động nhanh lực lượng đột kích chủ yếu gồm Sư đoàn 10 và lực lượng binh khí kỹ thuật tăng cường theo hai trục đường số 1 và số 15, đánh lướt qua tuyến phòng thủ ngoại vi, tiến công hành tiến thọc sâu chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Quân đoàn là: "Mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, đánh liên tục, nắm chắc thời cơ thọc sâu phát triển nhanh''. Cùng với quá trình chuẩn bị chiến trường và hoàn chỉnh quyết tâm, kế hoạch tác chiến, Bộ tư lệnh Quân đoàn gấp rút điều động lực lượng từ các hướng cơ động về tây bắc Sài Gòn tham gia chiến dịch. Được Đoàn 559 và chính quyền, nhân dân hai tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa giúp đỡ, Quân đoàn đã huy động gần 3.000 chuyến xe ô tô2 để chở bộ đội, đạn dược, lương thực từ các tỉnh Tây Nguyên và Tuy Hòa, Nha Trang về Đồng Xoài. Tuy đây là lần đầu tiên Quân đoàn hành quân bằng cơ giới đường dài, nhiều ngả, nhiều hướng phức tạp, luôn bị máy bay địch đánh phá... nhưng với tinh thần chủ động, sáng tạo, tổ chức chặt chẽ, bố trí cung trạm phù hợp, có lực lượng và biển chỉ dẫn chu đáo, vừa cơ động vừa đánh máy bay nên đã lần lượt dưa các đơn vị vào vị trí tập kết an toàn bảo đảm thời gian quy định. Ngày 3 tháng 4, Sư đoàn 316 và một bộ phận đi trước chuẩn bị chiến trường của Quân đoàn xuất phát từ Đắc Lắc theo quốc lộ số 14 tiến về phía nam. Sau 2 ngày hành quân bộ đội vào đến vị trí tập kết ở Đồng Xoài và ngày 10 tháng 4 di chuyển về Dầu Tiếng, Chơn Thành. Tiếp đó, từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 4, Sư đoàn 320 rời vị trí tạm dừng ở khu vực Củng Sơn hành quân bằng cơ giới ngược đường số 7, rồi theo quốc lộ số 14 qua Buôn Ma Thuột, Đức Lập, Bu Prăng, Bình Long vào Chơn Thành an toàn. Đến ngày 16 tháng 4, các đơn vị: Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn phòng không 593, Trung đoàn công binh 575 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn công binh 7), Trung đoàn thông tin 29, Trung đoàn đặc công 198 và lực lượng hậu cần Quân đoàn có mặt ở vị trí tập kết chiến dịch, khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu. Riêng Sư đoàn 10, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn công binh 7 (thiếu), Trung đoàn xe tăng 273 (thiếu) quá trình cơ động gặp một số khó khăn. Lúc đầu, các đơn vị trên hướng Cam Ranh, Nha Trang được lệnh cơ động toàn bộ lực lượng theo đường 450 do Trung đoàn công binh 7 vừa mở, theo đường 11 về tập kết ở Bảo Lộc. Được Cục Hậu cần Quân đoàn, Ủy ban quân quản và nhân dân Cam Ranh, Nha Trang giúp đỡ phương tiện vận chuyển, sau 72 giờ chuẩn bị ngày 11 tháng 4 khối hành quân thứ nhất của Sư đoàn 10 gồm Trung đoàn 28 và một tiểu đoàn xe tăng rời Cam Ranh. Hai ngày tiếp sau, khối hành quân thứ hai (gồm sư đoàn bộ Sư đoàn 10, Trung đoàn pháo binh 4, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 234) và khối thứ ba (Trung đoàn 24) cũng xuất phát. Phát hiện ta cơ động lực lượng theo đường 450, địch huy động 30 lần chiếc máy bay mỗi ngày, ném bom đánh chặn rất ác liệt làm 77 cán bộ, chiến sĩ thương vong, 21 xe ô tô và 6 xe chở phà bị cháy hỏng, 20 máy điện thoại và 76 km dây thông tin bị phá hủy. Đường 450 trở thành tọa độ lửa. Trước sự đánh phá của địch, các khối hành quân kiên quyết đánh trả máy bay, tích cực khắc phục hậu quả sau trận bom, dũng cảm tiến nhanh về phía trước. Trung đoàn phòng không 234 triển khai hai tiểu đoàn vừa cơ động vừa chiến đấu bảo vệ đội hình hành quân. Tiểu đoàn 2 đặt pháo 23mm ngay trên mặt đường đánh trả nhiều đợt oanh tạc của máy bay địch, hạ l chiếc trực thăng. Ngày 13 tháng 4, khi Trung đoàn 24 vừa tiến vào đường 450 và hai khối đi đầu gồm Trung đoàn 28, Trung đoàn xe tăng 273, sư đoàn bộ Sư đoàn 10, một bộ phận của Trung đoàn pháo binh 4 đến Đơn Dương thì Sư đoàn 10 được lệnh không tập kết ở Định Quán trên đường 20, phải quay trở lại Cam Ranh, Nha Trang cơ động theo đường 21 về Buôn Ma Thuột rồi theo đường 14 vào nam quận lỵ Chơn Thành. Nhận thấy hai khối đi đầu hành quân quay trở lại Cam Ranh, Nha Trang sẽ rất khó khăn vì máy bay địch đánh phá ác liệt và được Bộ tư lệnh Quân đoàn chấp thuận, Sư đoàn 10 tổ chức hành quân trên hai hướng. Các đơn vị đã đến Đơn Dương tiếp tục cơ động theo đường 20 đi Di Linh, Gia Nghĩa về Kiến Đức. Lực lương còn lại ở Cam Ranh, Nha Trang gồm Trung đoàn 24, Trung đoàn 66, một bộ phận sư đoàn bộ hành quân theo đường 21 lên Buôn Ma Thuột, qua Đức Lập về Kiến Đức. Ngày 20 tháng 4, hai cánh quân gặp nhau ở Kiến Đức và ngày 23 Sư đoàn 10, trung đoàn 273, Trung đoàn 234, Trung đoàn 7 có mặt tại vị trí tập kết ở huyện Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh. Riêng 63 xe ô tô huy động của nhân dân Nha Trang, Cam Ranh, khi tới Kiến Đức đã được Sư đoàn 10 cấp nhiên liệu, lương thực thực phẩm, giấy chứng nhận phục vụ, họp mặt động viên lái xe và cử cán bộ đưa trả về địa phương đầy đủ, an toàn. ------------------------------------------------------------------ 1. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ký ức Tây Nguyên. Nxb QĐND; H. 2000, tr. 470. 2. Quân đoàn huy động 2.486 xe, trong đó có 313 xe của Đắc Lắc, Nha Trang, Cam Ranh. Đoàn 559 chi viện 851 xe. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:35:41 am * Thực hiện kế hoạch đánh địch trước ngày tổng công kích toàn chiến dịch, bảo đảm thuận lợi cho các đơn vị của Quân đoàn triển khai lực lượng, chiếm lĩnh trận địa, ngày 20 tháng 4, Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 bất ngờ đánh chiếm cứ điểm Bầu Nâu, Trà Võ, sau đó đánh bại lực lượng địch phản kích, làm chủ một đoạn dài 7km trên đường 22 từ Cẩm An đến Bến Mương. Từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 148 có pháo phòng không của Trung đoàn 232 và lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ tiếp tục cắt giao thông và đánh một số trận cấp tiểu đoàn có hỏa lực tăng cường với các hình thức chiến thuật: tiến công địch trong công sự vững chắc, vận động tiến công kết hợp chốt. Với cách đánh linh hoạt, kiên quyết trong 9 ngày đầu nổ súng Trung đoàn đã diệt 495 tên địch, bắt 1 tên, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 1 xe tăng và 10 xe vận tải, phá hủy 1 khẩu pháo 105mm và hơn 100 súng các loại.1 Trong khi Trung đoàn 148 đánh địch, 2 trung đoàn 149 và 174 Sư đoàn 316 triển khai thế trận vây ép trên hướng Phước Mỹ, Suối Sâu, Phước Hiệp, Trảng Bàng. Ngày 26 tháng 4, phát hiện thấy sư đoàn 25 ngụy có triệu chứng co về Đồng Dù, Hoóc Môn, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 316 đưa toàn bộ lực lượng ra ngăn chặn giam chân địch. Lập tức Trung đoàn 149 cắt đứt đường số 1 ở đông Trảng Bàng, vây chặt và sẵn sàng tiến công tiêu diệt quân địch ở căn cứ này. Cùng lúc Trung đoàn 174 cắt đường số 1 ở khu vực Phước Mỹ và sẵn sàng đánh chiếm cứ điểm. Những trận đánh cắt giao thông, tạo thế của Sư đoàn 316 và lực lượng vũ trang địa phương trước ngày tổng công kích toàn chiến dịch đã cắt dứt hoàn toàn đường số 22 và đường số 1b, cô lập giam chân toàn bộ sư đoàn 25 và lực lượng biệt động quân địch trên hướng tây bắc với Sài Gòn; tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của Quân đoàn vào triển khai chiếm lĩnh trận địa. Phối hợp nhịp nhàng với các trận đánh tạo thế của bộ binh, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4, các cụm pháo binh của Quân đoàn và 2 sư đoàn 316, 320 gồm 27 khẩu pháo từ 85mm đến 155mm và 12 khẩu súng cối 120mm, 82mm bắn phá mạnh vào các trận địa pháo địch ở Đồng Dù, Phước Mỹ, Đồng Chùa, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ, Bến Kéo, Khiêm Hạnh. Thấy kết quả bắn chưa đạt ý định, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định tập trung pháo binh bắn phá thêm cả ngày 28 tháng 4. Sau 4 ngày bắn phá, pháo binh Quân đoàn đã bắn 2.227 quả đạn các loại, diệt 11 trong tổng số 18 trận địa pháo địch, làm tê liệt hoàn toàn 7 trận địa pháo còn lại; phá hủy 22 khẩu pháo 105mm, 12 khẩu 155mm, làm cháy 12 kho và diệt một số sinh lực địch. Trong các đợt diệt pháo, phá thế dựa của sư đoàn 25 ngụy, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn pháo binh 40 lập chiến công xuất sắc diệt gọn 3 trận địa pháo cố định và cơ động của địch ở Trảng Bàng và Đồng Chùa bằng 48 quả đạn. Đây là trận đấu pháo lớn đầu tiên và cuối cùng của Quân đoàn 3 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong khi Sư đoàn 316 và pháo binh đánh địch, các đơn vị tranh thủ thời gian gấp rút tiến vào chiếm lĩnh trận địa và hoàn thành những công việc chuẩn bị chiến đấu. Hai trung đoàn công binh 575 và 7 dồn sức mở đường, ghép phà để bộ đội, xe pháo vượt sông Sài Gòn. Đêm 20 tháng 4, Đại đội công binh 11 (Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 7) ghép xong phà 50 tấn qua Bến Củi; Đại đội 5 cũng hoàn thành chiếc phà thứ 2 qua Bến Tranh. Đêm 24 Đại đội 2 (Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 7) bắc xong cầu tải trọng 12 tấn dài 62 mét qua Bến Tranh. Đến ngày 27 tháng 4, các trục đường cơ động số 4, 5 (dọc), các đường nhánh 71, 72 cơ bản hoàn thành, sẵn sàng đón lực lượng thọc sâu cơ động. Cùng thời gian này, Trung đoàn thông tin 29 cũng triển khai xong các đường dây liên lạc từ Sở chỉ huy Quân đoàn đến các đơn vị, hai bến phà và thành đội Sài Gòn - Gia Định. Đường cơ động và thông tin liên lạc đã thông, chủ động triển khai lực lượng và đề phòng máy bay địch đánh phá cầu phà, lúc 20 giờ ngày 21 tháng 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho các đơn vị vượt sông Sài Gòn. Từ ngày 21 đến ngày 23 các đơn vị binh khí kỹ thuật hoàn thành vượt sông, bí mật tiến vào các vị trí tập kết phía bờ tây. Ngày hôm sau (24.4) sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn do Phó tư lệnh Nguyễn Kim Tuấn phụ trách triển khai ở Nhuận Đức; Sư đoàn 320 hoàn thành tập kết lực lượng khẩn trương làm công tác chuẩn bị tiến công cứ điểm Đồng Dù; Sư đoàn 10 và các đơn vị xe tăng, phòng không tăng cường vào khu vực Bến Tranh, Bến Củi gấp rút nhận xe, bố trí đội hình tiến công thọc sâu binh chủng hợp thành, tranh thủ huấn luyện bổ sung, kiểm tra các mặt bảo đảm. Lực lượng hậu cần Quân đoàn lập xong 3 tuyến bảo đảm Z1 (Minh Hòa, tây Chơn Thành), Z2 (Dầu Tiếng), Z3 (An Nhơn Tây) và chuẩn bị sẵn sàng lập tuyến Z4 (Hoóc Môn) trong quá trình tổng tiến công; triển khai 2 bệnh viện dã chiến, 3 đội điều trị, bảo đảm thu dung 2500 thương bệnh binh. Quá trình chuẩn bị chiến dịch, Cục Hậu cần Quân đoàn chủ động sáng tạo đem theo hạt lửa đạn 155mm vừa thu của địch, vận chuyển 1.500 viên đạn pháo 155mm ở Chơn Thành kịp thời đưa vào sử dụng, khắc phục được khó khăn do đường trơn vận tải chiến lược chưa chuyển kịp. Với những cố gắng cao, đến ngày 29 tháng 4, Ngành Hậu cần đã bảo đảm được 1.807 tấn đạn các loại (trong đó có 30.049 viên đạn pháo lớn), 776 tấn xăng dầu và 900 tấn lương thực, thực phẩm, cơ bản đáp ứng nhu cầu của toàn Quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Để lãnh đạo, chỉ đạo Quân đoàn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu trong trận quyết chiến, chiến lược lịch sử, ngày 21 tháng 4 Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn chỉ thị ''Về công tác chính trị chiến dịch Hồ Chí Minh'', xác định 8 nội dung chủ yếu công tác chính trị chiến dịch làm cơ sở cho các đơn vị, cơ quan triển khai thực hiện: "1. Giáo dục động viên xây dựng quyết tâm kiên quyết hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. 2. Lãnh đạo tổ chức thực hiện, tổ chức chiến dịch, chiến đấu cho tốt. 3. Phát huy đầy đủ chức năng đội quân công tác, làm tốt công tác tranh thủ nhân dân, phát triển sâu rộng ảnh hưởng chính trị của cách mạng. 4. Tích cực tiến hành công tác địch vận. 5. Làm tốt công tác chính sách. 6. Lãnh đạo bảo đảm vật chất, bảo đảm kỹ thuật phục vụ đầy đủ kịp thời cho yêu cầu chiến dấu. 7. Tiến hành tốt công tác bảo vệ. 8. Khẩn trương củng cố bộ đội về tư tưởng và tổ chức để liên tục chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn''2. Trong những ngày sôi động chuẩn bị chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ được quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, ý nghĩa lớn lao của chiến dịch, nhiệm vụ và cách đánh của đơn vị, được học tập 7 điều dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, lời dạy của Người ngày 5 tháng 9 năm 1954 khi bộ đội chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Ai cũng thấy rõ vinh dự và trách nhiệm trước giờ phút lịch sử, nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên quyết khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch mang tên Bác kính yêu, thực hiện di huấn thiêng liêng của Người: ''Đánh cho ngụy nhào'' giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Để kịp có sơ đồ thành phố Sài Gòn và khẩu hiệu cổ động cho bộ đội, cán bộ, chiến sĩ Xưởng in Quân đoàn làm việc liên tục suốt ngày đêm. Cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh được chuẩn bị cắm lên các xe; bộ đội khâu băng đỏ đeo bên cánh tay trái và nắm chắc mật khẩu khi gặp nhau: hỏi ''Hồ Chí Minh'', đáp ''muôn năm''. Cũng trong thời gian này, Quân đoàn hiệp đồng chặt chẽ với Thành đội Sài Gòn - Gia Định và lực lượng vũ trang địa phương thống nhất kế hoạch phối hợp tác chiến, ký ám hiệu tìm người dẫn đường và cơ sở cách mạng khi tiến công thọc sâu vào nội đô3. Ngày 27 tháng 4, các chiến sĩ biệt động Sài Gòn - Gia Định, trong đó có nữ biệt động Nguyễn Thị Trung Kiên đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 10, sẵn sàng dẫn dường cho bộ đội đánh vào nội đô. Đặc biệt quân và dân đất thép Củ Chi, Trảng Bàng sau bao năm kiên cường bám trụ kháng chiến, chịu bao mất mát hy sinh, vô cùng phấn khởi được đón những đoàn quân cách mạng hùng dũng tiến về giải phóng quê hương. Thanh niên nam, nữ nô nức giúp bộ đội xây dựng trận địa, đào công sự cho pháo; các mẹ các chị bất chấp những trận phản pháo ác liệt của địch, tích cực lấy lá ngụy trang và nấu nước tiếp tế cho các đoàn quân. Đêm 28 tháng 4, nhiều thanh niên tự động ra thường trực ở Xa Nhỏ, Đồng Lớn, ngã tư Bàu Bàng chỉ đường cho các khối cơ động tiến công thọc sâu của Quân đoàn. Sự phối hợp chặt chẽ, giúp đỡ hết lòng và tình cảm yêu thương nồng thắm của quân và dân địa phương là nguồn cổ vũ lớn, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 hăng hái tự tin bước vào trận quyết chiến chiến lược lịch sử. ----------------------------------------------------------------- 1. Trong các trận đánh này, Trung đoàn 148 có 37 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 187 đồng chí bị thương. 2. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr. 368. 3. Theo quy định: ai cầm vải đỏ, hoặc vải xanh, quần áo, khăn mặt phất 3 lần là người của ta bố trí dẫn đường; nhà ai treo cờ giải phóng có chữ ''Ủy ban nhân dân cách mạng" là nhà cơ sở cách mạng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:28:56 pm * Sài Gòn - Gia Định đêm trước giải phóng thật náo động khác thường. Ngày 21 tháng 4, Xuân Lộc thất thủ, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức Tổng thống ngụy, chạy trốn ra nước ngoài cùng với số của cải lớn vơ vét được. Trần Văn Hương làm bước đệm rồi chuyển chức Tổng thống ngụy cho Dương Văn Minh - người mà chúng hy vọng đối phương có thể chấp nhận thương lượng. Đối với Mỹ lúc này chỉ còn việc gấp rút di tản bằng cầu hàng không, vì theo Tổng thống Mỹ G.Pho: ''Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ''1. Trước đó, ngày 17 tháng 4, Mỹ cũng phải cam chịu thua cuộc ở Cam-pu-chia. Nhưng cũng vào những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, một số thế lực ngoại bang ra sức hoạt động hy vọng vớt vát quyền lợi, song âm mưu ''đục nước béo cò'' của chúng không mang lại kết quả. Giờ cáo chung của chế độ tay sai bán nước đã điểm. 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Từ 4 hướng, 5 cánh quân lớn của ta dũng mãnh đồng loạt tiến công vào tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn. Trên hướng đông nam, từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 4, Quân đoàn 2 đánh chiếm trường huấn luyện thiết giáp, căn cứ Nước Trong, quận lỵ Long Thành, Thái Lạc, Phước Tường, Phú Lộc, Nhơn Trạch, thị xã Bà Rịa. Lực lượng vũ trang địa phương phối hợp tiến công giải phóng Bình Ba, Hòa Long, Long Phước, Phú Nhơn hoàn toàn làm chủ khu vực Long Hải - Bà Rịa. Cùng thời gian này Quân đoàn 4 tiến công mạnh trên hướng đông Sài Gòn, chiếm căn cứ Trảng Bom, làm chủ từ Suối đến ga Long Lạc, phát triển tiến công Hố Nai. Các đơn vị đặc công đánh chiếm cầu Ghềnh, Rạch Cát, cầu Xa Lộ qua sông Đồng Nai. Pháo binh chiến dịch bắn phá làm tê liệt sân bay Biên Hòa, buộc địch phải di tản máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất, sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy phải bỏ Biên Hòa chạy về Gò Vấp. Hướng bắc, Quân đoàn 1 tiến hành bao vây căn cứ Phú Lợi, cắt đứt đường số 13, chặn sư đoàn 5 ngụy. Lực lương vũ trang địa phương giải phóng tây nam Bến Cát và tây nam Tân Uyên. Đoàn 115, Tiểu đoàn Gia Định làm chủ lộ Đại Hàn (đoạn Bình Phước - Quán Tre) mở thông cửa phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất. Không quân ta dùng 5 máy bay A37 ném bom và đặc công bắn trên 400 viên ĐKB vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ở hướng tây và tây nam Sài Gòn, Đoàn 232 và Quân khu 8 cắt đứt hoàn toàn đường số 4, thu hút và ngăn chặn 3 sư đoàn địch (7, 9, 22) rồi vượt sông Vàm Cỏ Đông vào tập kết ở Bầu Cong, Mỹ Thạch, Đức Hòa chuẩn bị thọc vào nội đô từ hướng nam. Phối hợp nhịp nhàng với toàn chiến dịch, Quân đoàn 3 tập trung Sư đoàn 316 đánh cắt giao thông đường số 1 và số 22, dùng pháo binh đánh phá các trận địa pháo địch, chặn vây cô lập sư đoàn 25 ngụy ở tây bắc Sài Gòn, đồng thời đẩy nhanh triển khai lực lượng, chuẩn bị cho trận tổng công kích toàn mặt trận. Trong 2 ngày đầu tiến công đồng loạt và mạnh mẽ, quân ta đã tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực địch, đánh chiếm làm chủ nhiều căn cứ và mục tiêu quan trọng, phá vỡ các khu vực phòng thủ ngoại vi, bao vây cô lập triệt để Sài Gòn, tạo thế có lợi để thực hành tổng tiến công vào nội đô. Thời cơ mở trận tổng công kích trên toàn mặt trận đã đến. Đêm 28 tháng 4, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho các cánh quân đồng loạt tiến công vào sáng ngày 29, đồng thời chỉ thị cho 2 quân khu (8 và 9) phối hợp tiến công và nổi dậy giải phóng đồng bằng tây Nam Bộ. 5 giờ sáng ngày 29 tháng 4, Bộ Chính trị -gửi điện nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị lập được chiến công lớn trong những ngày qua, kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh của một đội quân trăm trận trăm thắng, kết hợp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định, giành thắng lợi triệt để chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại. Lời kêu gọi của Bộ Chính trị và tin chiến thắng được truyền nhanh đến bộ đội đang bừng bừng khí thế tiến công càng thêm sôi sục trào dâng. Thực hiện mệnh lệnh tổng tiến công của Bộ tư lệnh chiến dịch, đêm 28 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định cho Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 hành quân chiếm lĩnh trận dịa đúng thời gian, kế hoạch hiệp đồng chung; đồng thời lệnh cho Sư đoàn 316 áp sát, vây chặt nắm chắc thời cơ chuyển sang tiến công đánh chiếm làm chủ chi khu Trảng Bàng, các cụm pháo binh chuẩn bị sẵn phần tử bắn vào Đồng Dù và sẵn sàng cơ động chi viện cho lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, công binh chuẩn bị đầy đủ sẵn sàng bắc lại cầu Bông, cầu Sáng nếu bị địch phá sập. Để kịp thời chỉ huy các đơn vị chiến đấu, sở chỉ huy Quân đoàn chuyển từ Dầu Tiếng về Hố Bò. Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4, Sư đoàn 320 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155m (thiếu), Trung đoàn phòng không 593 (thiếu) do sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe và chính ủy Bùi Huy Bổng chỉ huy bí mật triển khai trận địa tiến công căn cứ Đồng Dù. Bộ tư lệnh Quân đoàn cử đại tá Nguyễn Kim Tuấn - Phó tư lệnh trực tiếp xuống sở chỉ huy Sư đoàn 320 giúp đơn vị trong trận đánh quan trọng này. Đồng Dù là căn cứ hỗn hợp quy mô lớn có vị trí rất quan trọng, nằm trên trục quốc lộ số 1, án ngữ phía tây bắc Sài Gòn. Đây vốn là hang ổ của sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới) được xây dựng từ lâu, có hình bầu dục, chu vi gần 8.500m, xung quanh là vùng trắng bằng phẳng trống trải hoang tàn. Khi Sư đoàn 320 tiến công, lực lượng địch trong căn cứ Đồng Dù gồm có: bộ tư lệnh sư đoàn 25, ban chỉ huy trung đoàn 50, tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, l chi đoàn xe tăng và hậu cứ trung đoàn 10 thiết giáp, các tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải, chiến tranh chính trị, quân y, tiếp cận, chỉ huy căn cứ Củ Chi, trường huấn luyện hạ sĩ quan binh sĩ. Tổng quân số khỏang 3.000 tên, trang bị có 34 xe tăng xe bọc thép, gần 5.000 khẩu súng các loại trong đó có 18 khẩu pháo lớn (có 4 khẩu 175mm - vua chiến trường). Cậy có quân đông, lắm xe, nhiều súng, lại dựa vào hệ thống lô cốt công sự kiên cố bên trong và hệ thống vật cản bao quanh với gần chục hàng rào kẽm gai các loại có gài mìn dày đặc, nên chuẩn tướng Lý Tòng Bá (sư đoàn trưởng sư đoàn 25) rất ngoan cố, bắt quân lính ''tử thủ'' đến cùng. Song trong cơn hấp hối của chế độ bán nước, quân địch ở Đồng Dù tinh thần hoang mang dao động, sa sút, bị cô lập hoàn toàn, khả năng phòng giữ có hạn không thể chống đỡ nổi trước sức tiến công mạnh mẽ của Sư đoàn 320. Đúng 5 giờ 30 phút, pháo binh Sư đoàn 320 đồng loạt bắn vào căn cứ Đồng Dù và kéo dài trong suốt 2 giờ liền. Trong tiếng gầm dữ dội của đại bác, xe tăng và pháo phòng không cơ động vào tuyến xuất phát xung phong, bộ binh trên các hướng nổ mìn định hướng và đánh bộc phá liên tục mở bung nhiều lớp rào. Sau 30 phút pháo kích, địch phát hiện được hướng cửa mở của ta và phản ứng mạnh. Chúng điều động bộ binh, xe tăng ra bịt lấp các cửa mở, đồng thời dùng máy bay, pháo cối có cả đạn hóa học đánh vào đội hình tiến công của Sư đoàn 320. Trên hướng tiến công chủ yếu tây bắc, Trung đoàn 48 do trung đoàn trưởng Lê Quang Bình và chính ủy Đinh Hữu Tấn chỉ huy, chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ những phút đầu. Tại cửa mở số 1l, Đại đội 3 (tiểu đoàn 1) dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Trần Nhật Tăng và chính trị viên Đào Xuân Sáng, khi mở những hàng rào trong cùng bị địch tập trung hỏa lực bắn chặn dữ dội. Được pháo cối cấp trên chi viện kịp thời, trung đội trưởng Trung đội 7 Nguyễn Hữu Gióng dũng cảm chỉ huy phân đội đánh bộc phá liên tục mở thông cửa mở. Khi hàng rào cuối cùng bị phá tung cũng là lúc các bộc phá viên Nguyễn Khắc Bảo, Nguyên Văn Lĩnh anh dũng hy sinh. 7 giờ 30 phút, pháo cối ngừng bắn, bộ binh xung phong lên cửa mở nhưng bị hỏa lực xe tăng địch trong công sự bắn chặn làm một số chiến sĩ thương vong, không phát triển được. Trước tình hình đó, trung đội trưởng Trung đội 9 Vũ Văn Sơn quan sát mục tiêu, nhanh chóng chọn cách đánh rồi bất ngờ đứng thẳng dậy bắn một quả B40 tiêu diệt chiếc xe tăng. Lập tức bộ đội ào ạt xung phong đánh chiếm đầu cầu. Lúc 8 giờ, 4 xe tăng ta tiến đến khu vực cửa mở, nhưng bị địch bắn cháy 2 chiếc, 1 chiếc hỏng máy dừng lại, chỉ còn 1 chiếc vượt qua cửa mở cùng bộ binh đột phá vào 496 các mục tiêu bên trong cứ điểm. Sau khi đưa toàn bộ lực lượng còn lại vào phát triển tiến công, đến 8 giờ 30 phút Tiểu đoàn 1 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh và chính trị viên Nguyễn Văn Thư chỉ huy đã đánh chiếm được khu vực bãi xe của tiểu đoàn công binh, nhưng bị địch chặn lai. Cùng thời gian này, hướng cửa mở số 2 của Trung đoàn 48 do Tiểu đoàn 3 đảm nhiệm gặp khó khăn. Đại đội 11 mở thông 5 hàng rào, khi mở tiếp 2 hàng rào trong cùng bị xe tăng địch ngăn chặn. Không chút do dự, đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ và xạ thủ B41 Nguyễn Tiến Ngọ dũng cảm diệt xe tăng và dập tắt hỏa điểm địch trước cửa mở, tạo điều kiện cho bộc phá viên Lê Văn Sử đánh tung những hàng rào cuối cùng. 7 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 3 chiếm được tuyến công sự thứ nhất làm bàn đạp rồi phát triển vào bên trong. Ở hướng tiến công thứ yếu tây nam, Trung đoàn 9 do trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Ân chỉ huy, tổ chức mở hai cửa mở nhưng đều gặp khó khăn, bộc phá viên lên đánh hai hàng rào cuối cùng bị địch ngăn chặn không tiếp cận được. Lúc 9 giờ, qua đài trinh sát kỹ thuật, ta nắm được tin Lý Tòng Bá ra lệnh cho trung đoàn 46 nguy ở Trảng Bàng, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 50) ở Xóm Mới và một chi đội xe tăng ở Củ Chi đi cứu nguy cho Đồng Dù. Trước tình hình diễn biến chiến đấu ở Đồng Dù và âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 quyết định tập trung lực lượng trên hướng chính do Trung đoàn 48 đảm trách: đưa Tiểu đoàn 2 cùng 8 xe tăng vào hướng Tiểu đoàn 1 tiến công thọc sâu tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy rồi phát triển sang các hướng Tiểu đoàn 3 và Trung đoàn 9. Đồng thời nhanh chóng xốc lại đội hình Trung đoàn 9 tiếp tục đột phá, sử dụng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 16 súng máy phòng không ngăn chặn quân dịch tăng viện. Thực hiện ý định chiến đấu mới, từ 9 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 2 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ chỉ huy cùng lực lượng xe tăng phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 1 liên tục tiến công đột phá, lần lượt đánh chiếm khu vực hậu cứ trung đoàn 46, khu truyền tin, nhà máy điện, đập tan những ô đề kháng trên đường tiến công thọc sâu. Lúc 10 giờ 30 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá và ban tham mưu của y đã bỏ chạy. Bộ đội tỏa ra các hướng tiếp tục phát triển tiến công. Ở hướng Tiểu đoàn 3, bộ binh và xe tăng phối hợp đánh chiếm làm chủ các mục tiêu: trận địa pháo, sở chỉ huy trung đoàn 50, khu thiết giáp và sân bay. Cùng thời gian này, Trung đoàn 9 sử dụng Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 cùng một bộ phận dự bị của Tiểu đoàn 16 súng máy phòng không đánh bại lực lượng phản kích của tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 từ Xóm Mới và 1 chi đội xe tăng ở Củ Chi lên, diệt 100 tên bắt 135 tên, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3 địch. Được phân đội bạn bảo vệ phía sau, 10 giờ 30 phút Tiểu đoàn 5 đột phá được vào bên trong cứ điểm, nhanh chóng đánh chiếm khu huấn luyện, bắt 200 tên địch. Tiểu đoàn 4 không mở được cửa mở, đã cơ động lực lượng qua khu vực nhà thờ Bắc Hà đánh thẳng vào cổng phía nam căn cứ Đồng Dù, chiếm khu tiểu đoàn vận tải, quân y; sau đó phối hợp với phân đội bạn chiếm các mục tiêu còn lại: khu thiết giáp, sân bay và lùng quét tàn binh. 11 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 320 làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù. Lá cờ truyền thống của Đoàn Đồng Bằng phấp phới bay tại trung tâm chỉ huy sư đoàn 25 ngụy báo hiệu trận đánh đã toàn thắng. Như vậy chỉ trong 5 giờ tiến công bộ tư lệnh sư đoàn 25 và các lực lượng địch trong căn cứ Đồng Dù đã bị đập tan, 500 tên địch bị chết, 2.269 tên bị bắt làm tù binh, 4.909 khẩu súng các loại (có 9 khẩu đại bác 175, 155, 105mm) 100 máy thông tin, 2 máy bay bị tịch thu, 423 xe quân sự (có 23 xe tăng xe bọc thép) bị thu và phá hủy. Ngày hôm sau (30.4), được nhân dân Củ Chi giúp đỡ, ta đã tóm gọn chuẩn tướng Lý Tòng Bá (sư đoàn trưởng) và đại tá Trần Thắng Chức (sư đoàn phó) cùng một số sĩ quan tham mưu sư đoàn 25 ngụy. Căn cứ Đồng Dù bị đánh chiếm, cánh cửa thép án ngữ tây bắc Sài Gòn đã mở, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng tiến công thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn đánh thẳng về phía nội đô và Sư đoàn 316 tiêu diệt những lực lượng còn lại của địch ở vòng ngoài trên hướng tây bắc Sài Gòn. Nắm chắc thời cơ địch ở Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ hoang mang giao động mạnh khi biết tin căn cứ Đồng Dù thất thủ, Sư đoàn 316 kịp thời chuyển từ vây ép và đánh phản kích sang tiến công tiêu diệt các cụm địch. 11 giờ ngày 29 tháng 4, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 tiến công làm chủ hoàn toàn khu vực Trà Võ, rồi đánh chiếm Bến Mương, truy kích địch về hướng Gò Dầu Hạ, Bến Đền diệt và bắt hàng trăm tên địch, thu, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm và 3 xe tăng. Trung đoàn 149 tiến công làm chủ sở chỉ huy chi khu Trảng Bàng lúc 17 giờ 15 phút, sau đó phát triển đánh chiếm trận địa pháo, chặn đánh liên đoàn 32 biệt động quân rút chạy, diệt 76 tên, bắt 668 tên trong đó có tên liên đoàn trưởng Lê Khải Toàn, thu 2 khẩu pháo 155mm, 6 khẩu cối 106,7mm và hàng trăm súng các loại. Trên hướng Gò Dầu Hạ, Trung đoàn 174 liên tục tiến công, làm chủ toàn bộ khu vực Lào Táo, Phước Hiệp, Cây Trôm, Suối Sâu diệt 100 tên địch, bắt 700 tên, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng2. Đến 17 giờ 30 phút, Sư đoàn 316 cùng lực lương vũ trang Tây Ninh cơ bản tiêu diệt và làm tan rã 3 trung đoàn 46, 49, 50 liên đoàn biệt động quân 32, lực lượng bảo an, dân vệ và sẵn sàng cơ động lực lượng vào phát triển tiến công các mục tiêu địch trong thành phố Sài Gòn. Phối hợp chặt chẽ với Sư đoàn 320 và Sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt địch trên tuyến phòng ngự vòng ngoài, Sư đoàn 10 - lực lượng thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn do sư đoàn trưởng Đoàn Hồng Sơn và chính ủy Lã Ngọc Châu chỉ huy, được tăng cường Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn xe tăng 273 (thiếu), 1 tiểu đoàn pháo 155mm, 6 cơ cấu A72 được 2 cụm pháo binh (số 4 và 6) chi viện, đánh vào tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn từ rất sớm. Phương châm tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Sư đoàn là: ''Mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, nắm vững thời cơ thọc sâu phát triển nhanh, đánh hiểm, đánh trúng dứt điểm nhanh''. Để mở đường cho chủ lực Sư đoàn cơ động đánh thọc sâu vào sân bay Tân Sơn Nhất, đêm 28 rạng sáng ngày 29 tháng 4 Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 64 thực hành luồn sâu áp sát các mục tiêu cầu Bông (trên đường số 1), cầu Sáng (trên đường số 15) và một số mục tiêu khác dọc hai tuyến đường huyết mạch này. Hướng cầu Bông, lúc 3 giờ 30 phút ngày 29, Tiểu đoàn 20 đặc công Trung đoàn 198 với lối đánh luồn lót sở trường bất ngờ tập kích quân địch ở đầu cầu. Sau những phút dầu chóang váng, tiểu đoàn 81 biệt kích dù ngoan cố chống trả và tổ chức phản kích. Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 kịp thời đưa Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 vào tiếp sức. Trận đánh kéo dài 50 phút, ta làm chủ hoàn toàn cầu Bông. Trên hướng cầu Sáng, do đường xa, lại phải luồn lách tránh địch tuần phục nên đến 5 giờ sáng ngày 29 chỉ có 1 trung đội đặc công vào được vị trí triển khai và nổ súng. Bọn địch giữ cầu Sáng bị dồn về phía nam cầu nhưng ra sức chống cự. Chủ động phối hợp chiến đấu, Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 đang đến cách cầu hơn 1km đã vận động nhanh, bất ngờ đánh vào cụm địch, cùng lực lượng đặc công làm chủ cầu Sáng. Sau khi lám chủ 2 cây cầu quan trọng trên đường số 1 và số 15, Trung đoàn đặc công 198 có Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 phối hợp triển khai lực lượng phòng giữ, khẩn trương gỡ các khối thuốc nổ địch gài dưới chân cầu và phát triển đánh chiếm thành Quan Năm. Trung đoàn 64 sử dụng cả 3 tiểu đoàn đánh vào các mục tiêu: Tiểu đoàn 7 phát triển theo đường 15 tiến công quận lỵ Hoóc Môn, cùng đơn vị bạn làm chủ hoàn toàn căn cứ này lúc 12 giờ; Tiểu đoàn 8 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 tiêu diệt tiểu đoàn 99 biệt động quân; 10 giờ 20 phút làm chủ Ấp Chợ, sau đó đánh tan một đoàn xe địch từ hướng Hậu Nghĩa về cầu Bông. Trong khi tiếng súng mở đường còn đang nổ vang trên hướng cầu Bông, cầu Sáng và ở căn cứ Đồng Dù, lúc 5 giờ 50 phút, đội hình thọc sâu binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 gồm 347 xe cơ giới các loại, trong đó có 49 xe tăng xe bọc thép, 42 xe kéo pháo và 80 xe kéo pháo phòng không, mình tươi lá ngụy trang, phấp phới cờ giải phóng chia làm hai cánh rời vị trí xuất phát, rồi rầm rập tiến về hướng Sài Gòn. Từ ngày nhân dân Nam Bộ vạt ngọn tầm vông, Đứng lên kháng chiến đã 30 năm, đến nay nhân dân vùng tây bắc Sài Gòn mới được chứng kiến cảnh tượng oai hùng, sức mạnh diệu kỳ của một dân tộc quyết không chịu sống đời nô lệ cho ngoại bang, thực hiện bằng được ý nguyện và Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào'' giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong giờ phút lịch sử tiến vào cửa ngõ Sài Gòn, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 bồi hồi xúc động nhớ đến công lao trời biển của Bác, ai cũng thầm hứa với Người sẽ đem lá cờ quyết chiến quyết thắng cắm lên dinh lũy cuối cùng của bè lũ bán nước. Khối cơ động thọc sâu binh chủng hợp thành thứ nhất gồm Trung đoàn bộ binh 24 và các lực lương tăng cường (tiểu đoàn xe tăng, 2 khẩu pháo 85mm, 2 khẩu cối 120mm và 106,7mm, 1 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 2 cơ cấu A72 và 2 súng phun lửa) với 137 xe cơ giới và gần 2.000 cán bộ, chiến sĩ chia làm 4 thê đội, do trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài và chính ủy Bùi Văn Hòe chỉ huy xuất kích từ 5 giờ 50 phút ngày 29 tháng 4. Trên đường hành tiến, Trung đoàn 24 đập tan các lực lượng địch ngăn chặn, rồi theo đường 1 lướt qua Củ Chi, tiêu diệt cụm địch rút chạy ở Tân Phú Trung (diệt 28 xe bọc thép và 5 xe tăng), vượt qua thành Quan Năm, mở đường qua trung tâm huấn luyện Quang Trung, chiếm nhà máy dệt Vinatecco tiếp giáp đầu phía tây sân bay Tân Sơn Nhất lúc 18 giờ. Phát hiện thấy lực lượng thọc sâu của ta, địch tập trung 1 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn dù và 1 chi đội xe tăng, lợi dụng nhà xưởng, đồn bảo an, công trình kiến trúc ở khu vực tiếp giáp phía tây sân bay lập tuyến phòng ngự mới, ngăn chặn quyết liệt. Chúng dùng cả đạn hóa học bắn mạnh vào đội hình hành tiến của ta làm Trung đoàn 24 phải dừng lại. Trước tình hình đó, trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài nhanh chóng điều chỉnh lại đội hình chiến đấu, đưa pháo 85mm lên bắn thẳng vào các hỏa điểm, mục tiêu. Từ 18 giờ đến 19 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 và lực lượng xe tăng, pháo binh đánh lui 3 lần phản kích của bộ binh xe tăng địch, rồi chuyển sang tiến công đánh chiếm khu vực ngã ba Bà Quẹo, dồn địch về hướng ngã tư Bảy Hiền. Cùng thời gian này, pháo binh của ta bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, 2 kho bom và kho đạn pháo 105mm nổ tung, làm rung chuyển cả vùng tây bắc Sài Gòn. 21 giờ ngày 29, Bộ tư lênh Quân đoàn điện thông báo Trung đoàn 24 là mũi tiến công thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất, vượt thời gian quy định. Khối cơ động thọc sâu binh chủng hợp thành thứ hai gồm Trung đoàn bộ binh 28, một tiểu đoàn xe tăng (thiếu), 2 khẩu pháo 85mm, 2 khẩu cối 120, 106,7 mm và 1 tiểu đoàn phòng không 37mm do trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Cẩm và chính ủy Nguyễn Ngọc Xuân chỉ huy, có 103 xe cơ giới các loại và gần 1.900 cán bộ, chiến sĩ, được tổ chức thành hai thê đội và lực lượng dự bị, hỏa lực xuất phát lúc 6 giờ 30 phút. Theo lộ tiêu và đường công binh làm sẵn, toàn khối nhanh chóng tiến về phía Phú Hòa Đông. Đến đây, lộ tiêu bị mất, ta phải tạm dừng; địch ở Tân Quy dùng 4 khẩu pháo 105mm bắn dồn dập vào đội hình. Trước tình hình dó, trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 quyết định cho bộ binh, xe tăng đánh thẳng vào Phú Hòa Đông mở đường cơ động. Sau 30 phút tiến công, lúc 11 giờ 30 phút, ta làm chủ hoàn toàn đồn bảo an, phát triển chiếm Tân Quy rồi hành tiến theo đường số 15 về hướng Hoóc Môn. 12 giờ 50 phút, 3 xe tăng đi liền nhau vượt cầu Sáng đã làm gãy cầu, đội hình phải dừng lại. Thấy hai bên đường sình lầy khó cơ động xe pháo, trong khi công binh chưa đến kịp, đơn vị phải cơ động gấp nên Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 quyết định cho Trung đoàn 28 hành quân ngược trở lại Tân Quy, theo đường 8 ra quốc lộ số 1 tiến về Hoóc Môn. Đến 18 giờ ngày 29, đội hình khối cơ động thứ hai đến khu vực trung tâm huấn luyện Quang Trung thì dừng lại để tìm đường cơ động sang đường số 15 và chuẩn bị đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Cũng trong ngày 29 tháng 4, trên các hướng chiến dịch, các quân đoàn bạn đều phát triển tiến công thuận lợi, cơ bản đúng như dự kiến, kế hoạch hiệp đồng. Hướng bắc, Quân đoàn 1 tiến công căn cứ Phú Lợi, chiếm Tân Uyên rồi chia làm hai cánh tiến về bắc Lái Thiêu. Hướng đông và đông nam, Quân đoàn 2 đánh chiếm làm chủ căn cứ Nước Trong, Long Bình, chi khu Nhơn Thạch, Thành Tuy Hạ, căn cứ hải quân Cát Lái, giải phóng thị xã Vũng Tàu, dùng pháo tầm xa bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, lực lượng thọc sâu cơ động chuẩn bị đột phá vào nội đô; Quân đoàn 4 tiến công sân bay Biên Hòa, căn cứ thiết giáp Yên Thế, căn cứ pháo binh Hốc Bà Thức và đánh vào tuyến phòng thủ Hố Nai. Ở hướng tây và tây nam, Đoàn 232 chiếm thị xã Hậu Nghĩa, diệt chi khu Đức Hòa, bức rút chi khu Đức Huệ và căn cứ Trà Cúc, vượt sông Vàm Cỏ Đông đưa một lực lượng thọc sâu vào Bà Lai, tuyến đê Đại Hàn, bắc Bà Hom, bắn 200 viên ĐKB vào Tân Sơn Nhất. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tiến công trên các hướng, lực lượng đặc công đánh chiếm và giữ các cây cầu quan trọng chuẩn bị cho các binh đoàn thọc sâu tiến vào nội đô. Thành ủy Sài Gòn đưa hơn 1.700 cán bộ, chiến sĩ biệt động vào thành phố và các xã vùng ven cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở. 23 giờ ngày 29 tháng 4, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh điện giao nhiệm vụ bổ sung cho Bộ tư lệnh Quân đoàn 3: dùng lực lượng đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy và đây là nhiệm vụ chính thức, không phải nhiệm vụ phát triển hiệp đồng như trước. Vinh dự được cấp trên tin tưởng giao thêm nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang, Bộ tư lệnh Quân đoàn đánh giá tình hình diễn biến chiến đấu, thực lực khả năng tác chiến của đơn vị, cân nhắc phương án tiến công hiệu quả nhất... đã đề nghị Bộ tư lệnh Chiến địch cho Quân đoàn tiến công sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc trăng lên, không chờ đến sáng 30 tháng 4. Nhưng xét thấy việc hiệp đồng giữa Quân đoàn 3 với các trận địa pháo chiến dịch ở Nhơn Trạch đánh vào Tân Sơn Nhất có khó khăn, không bảo đảm an toàn nên Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định Quân đoàn 3 vẫn đánh theo kế hoạch đã hiệp đồng vào sáng 30 tháng 4. Tranh thủ thời gian quý giá trong đêm, toàn Quân đoàn gấp rút chuẩn bị cho đợt tổng công kích cuối cùng. Sư đoàn 10 dâng đội hình Trung đoàn 24 áp sát các mục tiêu, tăng cường hỏa lực cho các đại đội sẵn sàng đánh chìm sân bay Tân Sơn Nhất; giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 28 sau khi phối hợp đánh chiếm sân bay chuyển sang tiến công Bộ tổng tham mưu ngụy, gấp rút cơ động Trung đoàn pháo binh 4 và Trung đoàn 66 vào triển khai ở vị trí quy định. Sư đoàn 320 sẵn sàng cơ động vào Hoóc Môn làm nhiệm vụ đột kích nội đô theo hướng Biệt khu Thủ đô, dinh Độc lập và bộ tổng tham mưu ngụy. Sư đoàn 316 cơ động một lực lượng vào tây nam Hóc Môn làm dự bị cho Quân đoàn, sẵn sàng bước vào phát triển tiến công sân bay Tân Sơn Nhất khi Sư đoàn 10 gặp khó khăn. Lực lượng hậu cần, bảo đảm tập trung vận chuyển đủ đạn dược, phương tiện chiến đấu cho các đơn vị. Để kịp thời chỉ huy chiến đấu trong nội đô, 5 giờ 25 phút ngày 30, sở chỉ huy cơ bản của Quân đoàn 3 chuyển đến tây nam quận lỵ Hoóc Môn. Bộ đội đã sẵn sàng nổ súng. 7 giờ 15 phút ngày 30 tháng 4, Thiếu tướng Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh tiến công. Lập tức các trận địa pháo cối của Quân đoàn và Sư đoàn 10 đồng loạt trút bão lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu ngụy. 8 giờ 30 phút, pháo chiến dịch cũng tham gia bắn vào sân bay. Pháo binh ta bắn chính xác làm cho bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp và nhiều mục tiêu khác trong sân bay Tân Sơn Nhất chìm trong khói lửa. Giữa lúc quân địch hoang mang dao động, Trung đoàn 24 và xe tăng đột phá vào ngã tư Bảy Hiền. Tại khu vực này, địch có tiểu đoàn dù 8, lực lượng bảo vệ biệt khu Thủ đô và 1 chi đội xe tăng; lợi dụng của sổ nhà gác, sân thượng, ngõ hẻm, ngã ba, ngã tư bố trí lực lượng dày đặc, nhiều tầng ngoan cố chống cự, làm chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ những phút đầu. Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 do đại đội trưởng Lê Hồng Tư chỉ huy và 11 xe tăng xe thiết giáp của Đại đội 1 và Đại đội 11 Trung đoàn 273 do đại đội phó (Đại đội 1) Nguyễn Hồng Tư chỉ huy, dũng cảm đột kích mở đường. Mưu trí, gan dạ đại đội trưởng Lê Hồng Tư vừa chỉ huy phân đội cùng xe tăng đánh chính diện, vừa cho một trung đội có chiến sĩ biệt động thành dẫn đường mở một mũi vu hồi trên hướng bệnh viện ''Vì dân'', thọc sâu vào sườn địch. Các chiến sĩ đoàn Trung Dũng phát huy sở trường đánh gần, đánh giáp lá cà giành giật với địch từng căn nhà, góc phố. Trong một lần chỉ huy đột phá, Lê Hồng Tư anh dũng hy sinh. Tấm gương chiến đấu quên mình của người đại đội trưởng quả cảm trước giờ toàn thắng đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ anh dũng tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Hai chiến sĩ Tố và Việt tuy mới nhập ngũ nhưng đã dũng cảm dùng B40 và AK vượt lên trước xe tăng táo bạo đánh địch mở đường. Bị đánh mạnh, 2 tiểu đoàn địch vừa chống trả vừa lui dần, bỏ lại xác hàng chục tên và 10 xe tăng, xe ô tô bốc cháy. Phát huy thắng lợi, đại đội phó xe tăng Nguyễn Hồng Tư dẫn đầu phân đội đột kích, dùng khẩu đại liên thu được của địch ở ngã ba Bà Quẹo đặt lên cửa trưởng xe bắn quét vào đội hình địch, rồi cho xe 979 đột phá về hướng cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng khi vừa phát triển được 100m, xe 979 trúng đạn, cả kíp xe anh dũng hy sinh. Lúc này, xe tăng 985 cũng vừa kịp lên, song khẩu pháo trên xe bị địch bắn hỏng. Thấy xe địch ở cự ly quá gần, trưởng xe Mai Trọng Hoạt lệnh cho lái xe Phùng Văn Tính lao thẳng xe vào đám tăng địch, rồi ép chiếc M48 vào tường, buộc bọn địch ở trong xe mở cửa xin hàng. Lúc 8 giờ 5 phút, một chiếc máy bay L19 của địch xuất hiện trên bầu trời, các chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 234 kịp thời bắn những loạt đạn chính xác, làm nó bùng cháy rồi lao xuống hè phố Lê Thánh Tông. Đây là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau gần 1 giờ chiến đấu, lúc 8 giờ 45 phút, Trung đoàn 24 và lực lượng xe tăng pháo binh phòng không tăng cường đá hoàn toàn làm chủ khu vực ngã tư Bảy Hiền, rồi nhanh chóng phát triển về cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Nhận thấy tình hình chiến đấu có nhiều thuận lợi, trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài yêu cầu pháo cấp trên thôi bắn, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 5 và xe tăng đánh chiếm mục tiêu. Lập tức tiểu đoàn 5 do tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy phối hợp với Tiểu đoàn 1 xe tăng của tiểu đoàn trưởng Chu Khánh Tồn thực hành đột phá. Khi ta tiến đến cách địch khỏang 100m bị hỏa lực B90, ĐKZ, hỏa tiễn X202, xe tăng thiết giáp từ trong cổng số 5, các lô cốt ven đường và các tay súng ở nhà tầng bắn chặn xối xả. 2 xe tăng và 1 xe K63 của ta bốc cháy. Đại đội 7 xung phong liền mấy lần nhưng vẫn không đột phá được qua cổng, một số chiến sĩ thương vong. Trước tình hình đó, trung đoàn phó Trung đoàn 24, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn trưởng xe tăng lên nắm tình hình và tổ chức lực lượng tiếp tục đột phá. Chỉ huy trung đoàn điều thêm 4 xe tăng và 2 pháo 85mm lên trực tiếp chi viện cho Đại đội 5 tiến công. Khi xe kéo pháo 85mm vừa tiến vào vị trí triển khai thì bị địch bắn trúng thùng xe làm đạn nổ, xe cháy, súng hỏng, pháo thủ thương vong. Sau ít phút triển khai, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 1 xe tăng tập trung hỏa lực bắn mãnh liệt vào các hỏa điểm, lô cốt chi viện cho Đại đội 5 và xe tăng đột phá. Khi phát triển sang bên trái nghĩa trang, ba xe tăng đi đầu của ta bị địch bắn hỏng nằm cản đường tiến của các xe phía sau. Mặc dù xe hỏng, bom đạn ác liệt, nhưng các kíp xe vẫn kiên quyết bám trụ dùng súng 12,7mm và đại liên trên xe đánh địch. Pháo thủ xe tăng Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay, nhờ động đội cắt bỏ cánh tay hỏng cho khỏi vướng, rồi tiếp tục chiến dấu. Tấm gương quả cảm của Nguyễn Trần Đoàn đã cổ vũ thôi thúc đồng đội xông lên tiêu diệt địch. Sau 1 giờ tiến công đột phá, 9 giờ 45 phút Đại đội 5 do chính trị viên Đỗ Trọng Lợi chỉ huy đã chiếm được cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất rồi cùng Đại đội 6 phát triển đánh vào bên trong, Đại đội 7 chốt giữ khu vực cổng. Trên đường tiến công, Đại đội 5 chia thành 3 mũi nhanh chóng đánh chiếm khu truyền tin, bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân, câu lạc bộ, chia cắt địch ở sân bay Tân Sơn Nhất với bộ tổng tham mưu ngụy. 10 giờ 30 phút, mũi một Đại đội 5 bắt được 57 tên địch, trong đó có 3 đại tá: Lê Hữu Tiền (chỉ huy trưởng khu truyền tin), Trần Quang Thái (phụ trách chiến tranh tâm lý) và Nguyễn Duy Phụng (sư đoàn phó sư đoàn 5 không quân). Lợi dụng kết quả chiến đấu của đơn vị bạn, Đại đội 6 đánh chiếm khu cố vấn, ra đa, điện nước và tiến vào khu để máy bay3. Ngay khi Tiểu đoàn 5 và xe tăng đánh qua cổng số 5 vào bên trong sân bay, Trung đoàn 24 kịp thời đưa 2 tiểu đoàn 4 và 6 vào phát triển chiến đấu. Nhưng do nhận lệnh không rõ ràng, đường sá mới lạ, địch đánh phá ngăn chặn nên bị lạc, sau đó quay lại tiến đánh dọc theo đường Hoàng Hoa Thám. 9 giờ, Tiểu đoàn 4 bắt đầu đột phá vào sân bay Tân Sơn Nhất, nhanh chóng đánh chiếm bộ tư lệnh dù, bắt liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít, chiếm sân bay trực thăng và khu tiểu đoàn 2 công vụ. 10 giờ 30 phút, một cuộc hội ngộ cảm động đã diễn ra giữa những người lính trên hai mặt trận chiến đấu và ngoại giao. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn (Trưởng phái đoàn quân sự của ta) ôm hôn các chiến sĩ đoàn Trung Dũng quần áo sạm màu thuốc súng giữa lúc tiếng đạn vang rền khắp sân bay mà ai cũng nước mắt lưng tròng. Theo yêu cầu của trưởng đoàn quân sự, Đại đội 9 được lệnh ở lại chốt giữ trại Đa-vít, bảo vệ phái đoàn quân sự. Đúng 10 giờ 35 phút, lá cờ chiến thắng được các chiến sĩ Đại đội 10 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 kéo lên đỉnh cột cờ của bộ tư lệnh không quân ngụy, phấp phới bay trong nắng báo hiệu sân bay Tân Sơn Nhất đã hoàn toàn thuộc về ta. Bộ đội tỏa ra các hướng tiếp tục truy lùng tàn binh địch và chốt giữ các mục tiêu. Trên hướng Trung đoàn 28, do bộ phận đi đầu đi nhầm vào trại Quang Trung, đến 8 giờ 20 phút quay trở lại vị trí xuất phát, sau đó cơ động về hướng tây bắc sân bay Tân Sơn Nhất. 9 giờ, đội hình đi đầu của Trung đoàn 28 đến ngã tư Bảy Hiền, tiến qua khu vực Lăng Cha Cả gặp Trung đoàn 24 đang đánh vào sân bay. Thấy đường Võ Tánh bị xe cháy làm tắc nghẽn, sư đoàn phó Võ Khắc Phụng và trung đoàn phó Đỗ Công Mùi cho đội hình hành tiến theo đường Trương Minh Ký, qua nhà thờ Tân Châu Sa, rẽ sang đường Thoại Ngọc Hầu rồi trở lại đường Võ Tánh đánh vào Bộ tổng tham mưu ngụy. Tại dinh lũy cuối cùng của quân ngụy, bộ binh xe tăng địch dựa vào công sự, nhà gác ngoan cố chống cự bịt cổng chính và cơ động một mũi từ phía nam tới phản kích. 10 giờ Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 cùng xe tăng thiết giáp do tham mưu phó trung đoàn Lê Ngọc Tùng chỉ huy đánh thẳng vào cổng chính Bộ tổng tham mưu ngụy. Xe tăng 815 do đại đội phó Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu của địch và diệt thêm 1 chiếc xe M113. Trước sức tiến công áp đảo của ta, 3 xe tăng, xe bọc thép của địch bị bắn cháy, hàng chục tên địch bị tiêu diệt, đại đội giữ cổng bộ tổng tham mưu ngụy đầu hàng, số còn lại hỏang loạn tháo chạy. Thừa thắng, hai mũi tiến công của Trung đoàn 28 đánh qua cổng chính và cổng phía đông nam vào bên trong. Xe tăng số 982 do chính trị viên Nguyễn Hữu Thìn và xe tăng số 815 của Đỗ Hồng Kỳ dẫn đầu đội hình tiến công lao thẳng lên thềm tòa nhà chính của tổng hành dinh quân ngụy. Cùng lúc, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B Quân đoàn 1 do trung đoàn trưởng Đoàn Trưng và chính ủy Lê Xuân Yến chỉ huy, sau khi đánh chiếm được nhiều mục tiêu trong khu vực Bộ tổng tham mưu ngụy, cũng đang áp sát tòa nhà này. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 lá cờ chiến thắng được trung đội phó Trần Lựu và tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Tân thuộc Đại đội 10 anh hùng Trung đoàn 28 kéo lên đỉnh cột cờ chính giữa tầng thượng ngôi nhà ''Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa'', tung bay trong gió. Tiếp đó, tổ cắm cờ của Lại Đức Lưu, Hoàng Xuân Yến, Nguyễn Văn Đông thuộc Trung đoàn 48 cũng cắm một lá cờ giải phóng ở phía bên góc trái tầng thượng ngôi nhà. Ngay sau đó, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 tỏa ra kiểm soát mục tiêu vừa chiếm. Dưới sự chỉ huy của chính ủy trung đoàn Nguyễn Ngọc Xuân và chính trị viên Tiểu đoàn 3 Nguyễn Văn Quý, các chiến sĩ Trung đoàn 28 tiến vào các phòng làm việc, thu gậy chỉ huy, giấy thông hành, lon ''trung tướng'' và con dấu ''Tổng thống'' của Nguyên Văn Thiệu; thanh kiếm chỉ huy của Cao Văn Viên cùng nhiều tài liệu quan trọng của bộ máy chỉ huy quân sự đầu não địch, những chứng tích tội ác của bè lũ bán nước. Trong khi Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 phát triển tiến công, để hỗ trợ cho đơn vị bạn, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 cho Trung đoàn 64 cơ động về hướng nhà máy dệt Vinatecco và nam sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trên đường cơ động, đơn vị bạn đã đánh vào sân bay. Lúc 9 giờ 45 phút, ta nhận được tin Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng, Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 64 và 1 đại đội xe K63 do phó chính ủy Quân đoàn Phí Triệu Hàm và tham mưu phó Quân đoàn Nguyễn Quốc Thước trực tiếp chỉ huy đánh thẳng về dinh Độc Lập. Nhưng lực lượng của Trung đoàn 64 chưa đến kịp, đồng chí Phí Triệu Hàm và đồng chí Nguyễn Quốc Thước cho đại đội xe K63 tiến theo đường Lê Văn Duyệt rẽ sang đường Hồng Thập Tự vào phía sau dinh Độc Lập. Lúc này Quân đoàn 2 đã làm chủ mục tiêu, nên đại đội xe K63 quay lại. Cùng lúc này, Trung đoàn 64 chia làm hai mũi tiến công, nhờ xe của nhân dân cơ động đánh địch. Mũi thứ nhất gồm Tiểu đoàn 9 và hỏa lực tăng cường đánh vào phía nam dinh Độc Lập. 12 giờ 15 phút, Đại đội 10 chiếm một số nhà thuộc trung tâm thi hành Hiệp định Pa-ri và cổng phía tây nam dinh Độc Lập, rồi tỏa ra chiếm Quận 3. Mũi thứ hai của Trung đoàn 64 phát triển theo đường Công Lý vào nhà Dương Văn Minh, đến cư xá sĩ quan Mỹ (cách dinh Độc Lập 300m) gặp địch từ các nhà cao tầng hai bên đường ngoan cố bắn chặn. Các chiến sĩ triển khai đội hình chiến đấu ngay trên hè phố đánh địch. Đến 14 giờ, có lực lượng xe tăng chi viện, ta đánh chiếm làm chủ mục tiêu tòa đại sứ Mỹ và các mục tiêu lân cận. Trong đợt chiến đấu này, Trung đoàn 64 có 4 chiến sĩ hy sinh và 12 chiến sĩ bị thương. Đây là những mất mát hy sinh cuối cùng của Quân đoàn 3 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cũng trong sáng ngày 30 tháng 4, trên các hướng tiến công khác của chiến dịch Hồ Chí Minh, các quân đoàn 1, 2, 4, Đoàn 232 cùng quân và dân Sài Gòn - Gia Định tổng công kích và nổi dậy mạnh mẽ, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch, đánh chiếm các mục tiêu chiến lược và giành chính quyền ở cơ sở. 11 giờ 30 phút, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã đánh chiếm, làm chủ dinh Độc Lập, bắt Tổng thống ngụy Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn. Cờ giải phóng tung bay trước tòa nhà chính của dinh Độc Lập, đánh dấu chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã hoàn toàn sụp đổ, thành phố Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Ngụy quân, ngụy quyền trung ương đầu hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân đồng bằng sông Cửu Long tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn vùng đất cực nam của Tổ quốc vào ngày 2 tháng 5, hoàn thành trọn vẹn cuộc Tổng tiến công lịch sử mùa xuân năm 1975. Trải qua 10 ngày đêm chiến đấu gian khổ, ác liệt với những mất mát hy sinh, Quân đoàn 3 đã diệt, bắt, gọi hàng 19.084 tên địch (không kể khỏang 2 vạn tên đang huấn luyện). Tiêu diệt 1 sư đoàn (25), 1 thiết đoàn xe tăng (10), 3 liên đoàn biệt động quân (32, 9, 33), diệt và làm tan rã lữ đoàn dù số 4, trại huấn luyện Quang Trung, 14 tiểu đoàn bảo an, 1 liên đoàn công binh (5) và toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ của các quận Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ (Tây Ninh), Củ Chi, Hoóc Môn (Gia Định), Phú Hòa (Bình Dương). Quân đoàn đã đánh chiếm và làm chủ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Đồng Dù, Hoóc Môn, Thành Quan Năm, trung tâm huấn luyện Quang Trung, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy, Quận 3 Sài Gòn; phá hủy phá hỏng 1.063 súng, 63 xe tăng xe bọc thép, 136 xe ô tô, bắn rơi 6 máy bay; thu 6.830 khẩu súng các loại (có 61 pháo cối lớn) 24 xe tăng xe bọc thép, 500 ô tô và toàn bộ sân bay Tân Sơn Nhất với trên 300 máy bay các loại. Để làm nên chiến công chói lọi, góp phần xứng đáng vào chiến thắng huy hoàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn Quân đoàn có 382 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, 1.139 đồng chí bị thương trước giờ toàn thắng. Tổ quốc và nhân dân mãi mãi ghi nhớ công ơn những chiến sĩ đã không tiếc máu xương vì nền độc lập, tự do dân tộc, vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam. -------------------------------------------------------------------- 1. Lời tuyên bố của Tổng thống Mỹ G.Pho ngày 23.4.1975 tại Trường đại học New Orleans. 2. Trích điện số 38 (ngày 7.5.1975) báo cáo ''Tóm tắt kết quả và diễn biến chiến đấu của Sư đoàn 2'' và Lịch sử Sư đoàn 316, tập 2. Nxb QĐND, H.1986, tr. 314, 315. 3. Lịch sử Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 (1945-1995). Nxb QĐND, H. 1997, tr. 210, 211. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:32:05 pm Đánh giá cao những thành tích và cống hiến hy sinh của cán bộ, chiến sĩ, các đơn vị của Quân đoàn 3 trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quốc hội, Chính phủ đã tặng 5 Huân chương Quân công giải phóng hạng nhất cho Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Trung đoàn 48, Trung đoàn 24, Trung đoàn xe tăng 273; tặng 6 Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì cho Sư đoàn 316, Trung đoàn 28, Trung đoàn 64, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn pháo binh 40; tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba cho các trung đoàn 148, 149, 174, 178 (Sư đoàn 316), 9, 54 (Sư đoàn 320); 4 (Sư đoàn 10), Trung đoàn công binh 7, Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần; các tiểu đoàn: 1 (Trung đoàn 48), 9 (Trung đoàn 64), 5 và 6 (Trung đoàn 24), 1 (Trung đoàn 148), 5 (Trung đoàn đặc công 198), 1 (Trung đoàn xe tăng 273); 827 (Cục Hậu cần), 2 (Trung đoàn 675), 2 (Trung đoàn 40), 1 (Trung đoàn 234), Tiểu đoàn 28 trinh sát (Bộ Tham mưu), các đại đội 10 (Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28), 9 (Tiểu đoàn 3) và 5 (Tiểu đoàn 2) Trung đoàn xe tăng 273.
Tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất cho các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của 3 sư đoàn (10, 320, 316), các tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64), 3 ( Trung đoàn 174), 4 (Trung đoàn 148), 9 (Trung đoàn 149), 12 (Trung đoàn 178), 99 (Trung đoàn 232), 12 (Trung đoàn 54), 3 (Trung đoàn 675), 1 (Trung đoàn 40), 2 (Trung đoàn 7), 33 (Trung đoàn 40): Hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ được tặng Huân chương Chiến công các hạng. Tổng kết chiến địch Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: ''Quân đoàn 3... đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, có thể nói là đặc biệt xuất sắc''1. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất (5.1976) đã khẳng định: ''Trong chiến dịch lịch sử mang tên Bác... toàn Quân đoàn ra quân với một khí thế cách mạng sôi nổi chưa từng có, với một sức mạnh mới và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, góp phần tích cực vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh... Trải qua chiến dịch này, Quân đoàn đã xây dựng bộ đội tiến lên một bước mới: cơ động từ xa đến đánh tập trung... vào thành phố lớn, nhịp độ tấn công cao, thời gian chuẩn bị ngắn, kết hợp hoàn chỉnh các thủ đoạn đột phá, thọc sâu luồn sâu trong chiều sâu tương đối lớn, khi dứt điểm lực lượng Quân đoàn còn sung sức''2. * Ra đời vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cơ sở chuyển gọn khối bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên vừa hoàn thành xuất sắc chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 3 vừa mang những đặc điểm chung của một binh đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, vừa có những nét độc đáo riêng. Ngay từ khi thành lập, Quân đoàn đã có tổ chức ổn định, chặt chẽ, cân đối, sức cơ động cao, khả năng đột phá mạnh. Bộ tư lệnh, 3 cơ quan Quân đoàn, các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ đều đã được tôi luyện và lớn lên trong khói lửa ác liệt của chiến tranh, lập nhiều chiến công oanh liệt. Sau chiến dịch Tây Nguyên trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng và đánh độc lập được nâng cao, nhiều kinh nghiệm tổ chức chỉ huy và chiến đấu được tích lũy, truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực" của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới. Thành lập chưa đầy 10 ngày, Quân đoàn 3 đã vinh dự nhận nhiệm vụ đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn nhanh chóng cơ động toàn bộ lực lượng từ các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung Trung Bộ vừa giải phóng về hướng tây bắc Sài Gòn, kịp thời tham gia chiến dịch. Với quyết tâm rất cao, khí thế sục sôi cách mạng, nắm vững phương châm ''Mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, đánh liên tục, nắm chắc thời cơ thọc sâu phát triển nhanh'', trong đội hình chiến dịch lớn, cán bộ, chiến sĩ quân đoàn tiến công địch với thế áp đảo hoàn toàn. Vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm và nghệ thuật tiến công địch trong chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn tiến hành đồng thời giữa tiến công, bao vây, tiêu diệt địch ở vòng ngoài với tiến công thọc sâu của các khối cơ động binh chủng hợp thành mạnh vào nội đô; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công của bộ đội chủ lực với đánh địch rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương và nổi dậy đồng loạt của quần chúng; biết dựa vào địa phương để khắc phục những khó khăn về chiến trường mới lạ; đồng thời vận dụng linh hoạt nhiều hình thức chiến thuật, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Quân đoàn và các đơn vị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc. Những chiến công to lớn vừa lập được trong chiến dịch Hồ Chí Minh, không những đánh dấu bước trưởng thành mới vượt bậc của Quân đoàn, để lại những bài học kinh nghiệm vô giá, mà còn mãi mãi là niềm tự hào nâng bước người chiến sĩ binh đoàn Tây Nguyên vững bước tiến vào kỷ nguyên mới của cách mạng Việt Nam: Một chặng đường mới của Quân đoàn 3 lại bắt đầu. -------------------------------------------------------------------- 1. Phát biểu của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Hội nghị tổng kết của Quân đoàn 3 tháng 7 năm 1975, tr. 1. 2. "Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất", tr.4,5. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:34:50 pm Chương sáu XÂY DỰNG CHÍNH QUY, CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAM-PU-CHIA (5.1975 - 6.1979) 1. Xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ các địa bàn được giao (5.1975 - 9.1977). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới: độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Với khí thế cách mạng vô cùng sôi nổi, tràn đầy phấn khởi và niềm tin quân và dân ta tiếp tục tiến lên dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". Ngày 1 tháng 5 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cụ thể trong thời kỳ quân quản thành phố Sài Gòn cho các quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn 232, Đoàn 559. Trong đó trọng tâm trước mắt là tiếp tục truy quét tàn binh, tiếp quản giữ gìn các cơ sở quân sự, hậu cần, kỹ thuật của địch, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Quân đoàn 3 được giao đảm nhiệm các khu vực nam Tây Ninh, Củ Chi, Hóc Môn, sân bay Tân Sơn Nhất và Quận 3. Là một đơn vị chủ lực, nhiều năm làm nhiệm vụ chiến đấu, quen thuộc địa bàn rừng núi Tây Nguyên; nay chuyển sang phòng giữ các mục tiêu quan trọng trong thành phố, bảo vệ kho tàng trang thiết bị kỹ thuật, tài sản của Nhà nước và truy quét tàn binh, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn không khỏi bỡ ngỡ. Lần đầu tiên làm nhiệm vụ và xây dựng trong hòa bình với những thuận lợi cơ bản, nhưng bên cạnh cũng còn một số khó khăn: công việc bề bộn và mới mẻ song kinh nghiệm còn hạn chế, điều kiện mới hoàn cảnh mới cũng nảy sinh diễn biến tâm lý tư tưởng phức tạp ở không ít cán bộ, chiến sĩ, trong khi đó kẻ địch tuy đã bị đánh đổ hoàn toàn nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu đen tối chống phá cách mạng. Trong tháng 5 và đầu tháng 6, khu vực Quân đoàn 3 phụ trách xảy ra 37 vụ hoạt động của địch: ném lưu đạn, bắn lén, gài mìn, thả thuốc độc vào thức ăn, nước uống, bắt cóc, giả danh bộ đội trấn lột cướp của... làm 15 người chết (có 4 chiến sĩ Sư đoàn 10), hàng chục người bị thương, 3 người ngộ độc. Hàng nghìn tên ngụy quân ngụy quyền không chịu ra trình diện chính quyền cách mạng. Được những tên CIA, phủ đặc ủy tình báo trung ương cũ của ngụy, đặc vụ nước ngoài chỉ đạo, chúng thay tên đổi họ, chuyển nơi ẩn náu, tập hợp lực lượng, củng cố tổ chức, toan tính những mưu đồ đen tối thời hậu chiến. Lợi dụng lúc chính quyền cơ sở của ta đang trong giai đoạn hoàn chỉnh, ở một số nơi bọn phản động dựng lên những chính quyền ''tự quản'', mở trụ sở, giương cờ cách mạng để khống chế, lừa mị quần chúng, tập họp băng đảng và tranh chấp chính quyền với cách mạng; hoặc tìm mọi cách chui vào bộ máy chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương âm mưu tính kế lâu dài. Hòa trong ''bản đồng ca'' phản cách mạng, các thế lực cơ hội chính trị nặn ra cái gọi là ''mặt trận nhân dân Việt Nam tranh thủ hòa bình'', ''lực lượng tự do'', ''lực lượng hòa giải''... đòi có địa vị trong chính quyền mới, hòng "đục nước béo cò''. Những âm mưu và hoạt động chống phá cách mạng đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh và cuộc sống của nhân dân, cần được kiên quyết ngăn chặn, xóa bỏ. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ mới, ngày 2 tháng 5 năm 1975 Bộ tư lệnh Quân đoàn ra chỉ thị (số 368/M2) thống nhất quản lý, chỉ đạo, chỉ huy công tác quân quản và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, cơ quan đảm nhiệm 6 khu vực. Khu vực 1 gồm Quận 3 nội thị, sân bay Tân Sơn Nhất đến ngã ba Bà Quẹo do Sư đoàn 10 (có 1 tiểu đoàn xe tăng phối thuộc) phụ trách. Khu vực 2 từ ngã ba Bà Quẹo, đến Thành Quan Năm, do Cục Hậu cần, Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn công binh 7 đảm nhiệm và thủ trưởng Cục Hậu cần chỉ huy chung. Khu vực 3 gồm địa bàn cầu Bông, cầu Sáng đến Đồng Dù, Củ Chi, do: Sư đoàn 320, Trung đoàn phòng không 593, Trung đoàn pháo binh 40 đảm nhiệm và Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 chỉ huy. Trung đoàn pháo binh 675 và Trung đoàn đặc công 198 phụ trách khu vực 4: Tân Quy, xóm Hành, ấp Chánh, Ngã Ba. Trung đoàn công binh 575 đảm nhiệm khu vực 5: Phú Hòa Đông. Sư đoàn 316 và trung đoàn phòng không 232 phụ trách khu vực 6: Phước Mỹ, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ, do Bộ tư lệnh Sư đoàn 316 chỉ huy, Trường Quân chính tham gia giữ gìn an ninh chính trị trật tự xã hội ở thị xã Plei Ku tỉnh Gia Lai. Tiếp đó, trong tháng 5, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra các chỉ thị "Về giáo dục rèn luyện kỷ luật tác phong, nâng cao ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu'', về thu hồi chiến lợi phẩm và giao cho các đơn vị đảm nhiệm thu hồi trong từng khu vực cụ thể. Thực hiện các chỉ thị trên, những ngày đầu tháng 5 các đơn vị, cơ quan khẩn trương điều chỉnh, bố trí lại đội hình đứng chân, triển khai kế hoạch tác chiến tại chỗ, bảo vệ mục tiêu, thống nhất chỉ huy, tổ chức lùng quét làm trong sạch địa bàn. Hàng chục đội công tác cấp trung đội, đại đội nhanh chóng tỏa về các địa phương làm nhiệm vụ. Được sự giúp đỡ, phối hợp chặt chẽ của cấp ủy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, nhân dân địa phương, các đội công tác vừa kiên quyết trấn áp, vừa tích cực tuyên truyền thuyết phục vận động đã buộc hàng trăm tên ngụy quân ngụy quyền đang lẩn trốn ra trình diện, chặn đứng nhiều âm mưu tội ác manh nha, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chính quyền cách mạng và cuộc sống bình yên của nhân dân. Song song với các hoạt động lùng quét tàn binh địch, toàn Quân đoàn triển khai thống nhất hệ thống trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, canh gác, tuần tra, kiểm soát quân sự, chế độ báo cáo giao ban. Tại khu vực trọng điểm sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn phòng không 234 triển khai các trận địa ở phía bắc, sẵn sàng bắn máy bay địch. Sư đoàn 10 phòng giữ sân bay, tổ chức các vọng gác nghiêm ngặt, mỗi vọng gác có từ 4 đến 6 chiến sĩ, có cán bộ trung đội trở lên trực tiếp chỉ huy; các tiểu đoàn đều có đội tuần tra hoạt động thường xuyên và lực lượng trực chiến, đầy đủ phương tiện cứu hỏa. Vì vậy, đơn vị đã vô hiệu hóa các hoạt động phá hoại của địch, bàn giao đầy đủ máy bay, xe cộ, thiết bị, kho tàng, nhà xưởng cho các đơn vị của quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ Tổng tham mưu; trong đó có khu ''quy chuẩn vật lý'' với trang thiết bị quý hiếm còn nguyên vẹn. Bên cạnh những nhiệm vụ trên, Quân đoàn còn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện cho 4 khối diễu binh gồm 518 cán bộ, chiến sĩ, tham gia lễ mừng chiến thắng (15.5.1975) tại thành phố Sài Gòn; bắc xong cầu Sáng dài 42m, rộng 4,5m, tải trọng 20 tấn nối thông đường số 15 từ Củ Chi đi Sài Gòn, bước đầu thu hồi vũ khí trang bị của địch, khắc phục chướng ngại trên một số khu vực, dò gỡ được 200 quả mìn. Cùng thời gian này, Quân đoàn triển khai công tác tổng kết chiến dịch và chiến đấu trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải quyết chính sách, tổ chức bình công khen thưởng và làm công tác vận động nhân dân. Giữa những ngày sôi động, phấn khởi làm nhiệm vụ trên địa bàn tây bắc Sài Gòn vừa giải phóng, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 rất xúc động được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trần Quốc Hoàn đến thăm Quân đoàn bộ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Các đồng chí đã ân cần thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ, biểu dương Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong hai chiến dịch Tây Nguyên và Hồ Chí Minh lịch sử; đồng thời căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải luôn luôn nhớ và biết ơn Đảng, Bác Hồ vĩ đại, biết ơn các anh hùng, liệt sĩ đã hiến dâng cả đời mình cho cách mạng, biết ơn nhân dân cả nước đã cưu mang, đùm bọc, nuôi dưỡng. Về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trong giai đoạn mới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: ''Tích cực xây dựng lực lượng quốc phòng hùng mạnh để bảo vệ thành quả cách mạng; đồng thời hăng hái tham gia lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho đất nước. Trước mắt, phải rèn luyện tư tưởng thống nhất trong cả nước, trong Đảng, trong quân đội; rèn luyện tinh thần đoàn kết nhất trí cao trong toàn dân, toàn Đảng và trong toàn thể cán bộ, chiến sĩ; trên cơ sở đó đưa cách mạng tiến lên''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:43:40 pm * Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, đầu tháng 6 năm 1975, Quân đoàn 3 bàn giao địa bàn sân bay Tân Sơn Nhất, Quận 3 và ngoại vi tây bắc Sài Gòn cho đơn vị bạn, di chuyển đội hình về tỉnh Thủ Dầu Một và vùng Củ Chi. Thời gian này Bộ tư lệnh Quân đoàn tiến hành điều chỉnh vị trí đóng quân một số đơn vị cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. Quân đoàn bộ, Trung đoàn 29 thông tin, Viện Quân y 211, tiểu đoàn cảnh vệ và tiểu đoàn trinh sát pháo binh ở thị xã Phú Cường và thành Công Binh. Sư đoàn 320, Trung đoàn công binh 7, Trưng đoàn pháo binh 40, Trung đoàn xe tăng 273 đóng quân ở căn cứ Đồng Dù. Sư đoàn 10 ở căn cứ Phú Lợi và huyện Lái Thiêu. Sư đoàn 316 và Trung đoàn phòng không 234 ở Lai Khê, Bến Cát. Cùng thời gian này, Trung đoàn đặc công 198 và nhiều phân đội pháo binh lần lướt được Bộ điều động rời khỏi Quân đoàn, bổ sung cho các quân binh chủng bạn. Sư đoàn 320 bàn giao Trung đoàn bộ binh 9 cho Sư đoàn 968 và tiếp nhận Trung đoàn bộ binh 52 từ Quân khu 5 về đội hình. Ở khu vực Tây Nguyên, các kho được thu gọn dần vào ba khu vục: tây bắc thị xã Kon Tum, tây và tây nam thị xã Plei Ku, bắc và tây bắc thị xã Buôn Ma Thuột; Đoàn hậu cứ 75 và Trường Quân chính chuyển về khu vực sân bay Cù Hanh; Đoàn sản xuất 74 ỏ ngã ba Phước Thiện (đông Đức Cơ). Ngày 11 tháng 6, tại vị trí đóng quân mới ở thị xã Phú Cường, Đảng ủy Quân đoàn họp đánh giá tình hình lãnh đạo 6 tháng đầu năm 1975 và đề ra phương hướng công tác trong thời gian tới. Về nhiệm vụ trước mắt của Quân đoàn, Đảng ủy xác định: "1. Ra sức củng cố xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt theo phương hướng xây dựng quân đội cách mạng chính quy hiện đại. 2.Tích cực chủ động tham gia xây dựng vùng mới giải phóng, cụ thể giúp đỡ xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương, phối hợp với địa phương giữ vững trật tự an ninh, trấn áp bọn phản cách mạng, bọn tàn quân rã tại chỗ hoạt động chống đối và bọn lưu manh côn đồ phá rối''. Thực hiện nhiệm vụ thứ nhất: xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng chính quy hiện đại, ngày 19 tháng 6 năm 1975 Bộ tư lệnh Quân đoàn tiến hành chấn chỉnh tổ chức biên chế các sư đoàn bộ binh, các trung đoàn thiết giáp, pháo binh, công binh theo mẫu biên chế thống nhất của Bộ Quốc phòng. Theo đó, các sư đoàn 10, 316, 320 đều được kiện toàn thống nhất về tổ chức biên chế, trang bị. Mỗi sư đoàn gồm có: chỉ huy sư đoàn, 3 phòng: tham mưu, chính trị, hậu cần; 3 trung đoàn bộ binh (mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn bộ binh và một số phân đội hỏa lực bảo đảm, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội bộ binh và Đại đội 15 hỏa lực hỗn hợp ĐKZ, cối 82mm); 1 trung đoàn pháo binh (có 4 tiểu đoàn: lựu pháo xe kéo, pháo cối hỗn hợp, phòng không 37mm, súng máy phòng không 12,7mm); các tiểu đoàn trực thuộc cơ bản vẫn như cũ, có điều chỉnh: tổ chức 1 tiểu đoàn huấn luyện, lực lượng vận tải tổ chức thành 1 tiểu đoàn vận tải ô tô và vận tải bộ; đưa trung đội hóa học vào đại đội vệ binh. Trung đoàn thiết giáp 273 gồm: chỉ huy trung đoàn, 4 ban: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và tiểu ban tài vụ; 4 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn công binh; các đại đội trực thuộc: trinh sát, quân y, thông tin, sửa chữa và 1 trung đội vận tải ô tô. Trung đoàn pháo binh 40 trong biên chế có: chỉ huy trung đoàn, 3 ban: tham mưu, chính trị, hậu cần và tiểu ban tài vụ; 2 tiểu đoàn pháo Đ74, 2 tiểu đoàn pháo 155mm, 1 tiểu đoàn huấn luyện, 1 đại đội B72, các phân đội trực thuộc: đại đội chỉ huy, công binh, quân y, trung đội vận tải ô tô, trạm sửa chữa xe pháo và trung đội vệ binh. Trung đoàn công binh 7 có: chỉ huy trung đoàn, 4 ban: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và tiểu ban tài vụ; 4 tiểu đoàn (cầu phà, xe máy, công trình, huấn luyện); các đại đội trực thuộc: trinh sát, thông tin, vận tải ô tô, quân y và trạm sửa chữa. Tiếp đó, ngày 1 tháng 9 Bộ tư lệnh Quân đoàn ra các quyết định (số 668/QĐ, 669/QĐ, 670/QĐ) thành lập Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn công binh 7 trực thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn, trên cơ sở các trung đoàn 273 (xe tăng), 40 (pháo binh) và 7 (công binh) phát triển thành. Lữ đoàn xe tăng 273 tổ chức biên chế gồm có bộ tư lệnh, 4 phòng (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật), 4 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp (1, 2, 3, 4), 5 đại đội trực thuộc (trinh sát, công binh, thông tin, sửa chữa, quân y) và 1 trung đội vận tải ô tô. Trung tá Trần Doãn Kỷ (chủ nhiệm tăng - thiết giáp Bộ tham mưu) được bổ nhiệm làm lữ đoàn trưởng, trung tá Vũ Đình Tư (chính ủy Trung đoàn 273) làm chính ủy lữ đoàn. Lữ đoàn xe tăng 273 kế thừa truyền thống "Đoàn kết, quyết thắng, kiên cường, nghiêm túc, tự lực, đột kích mạnh, cơ động cao, hiệp đồng tốt. Đã ra quân là đánh thắng'' của Trung đoàn xe tăng 273. Địa bàn đóng quân của Lữ đoàn ở căn cứ Phú Lợi tỉnh Thủ Dầu Một. Lữ đoàn pháo binh 40: tổ chức, biên chế gồm có bộ tư lệnh 3 phòng (tham mưu, chính trị, hậu cần), 4 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn huấn luyện, 3 đại đội trực thuộc (công binh, chỉ huy, quân y), 1 trung đội vận tải ô tô, 2 trạm sửa chữa. Lữ đoàn trưởng: trung tá Nguyễn Hữu Vinh, chính ủy: trung tá Mai Sinh Giá. Lữ đoàn pháo binh 40 kế thừa truyền thống "Quyết thắng, kiên cường, sáng tạo, đoàn kết, nghiêm túc, tự lực'' của Trung đoàn pháo binh 40. Địa bàn đóng quân của lữ đoàn ở căn cứ Đồng Dù. Lữ đoàn công binh 7: tổ chức biên chế gồm: bộ tư lệnh, 4 phòng (tham mưu, chính trị, hậu cần, khí tài), 4 tiểu đoàn công trình, 1 tiểu đoàn cầu thuyền, 1 tiểu đoàn xe máy, 1 tiểu đoàn huấn luyện, 4 đại đội trực thuộc (trinh sát, thông tin, vận tải ô tô, quân y) và trạm sửa chữa xe máy. Ban chỉ huy lữ đoàn gồm các đồng chí: trung tá Lê Hữu Công (lữ đoàn trưởng), trung tá Trần Thể (chính ủy). Lữ đoàn công binh 7 kế thừa truyền thống ''Mở đường thắng lợi'' của Trung đoàn công binh 7. Địa bàn đóng quân của lữ đoàn ở căn cứ Đồng Dù. Ngày 19 tháng 11, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 224/QĐ-QP) chuyển Trung đoàn phòng không 234 thành Lữ đoàn phòng không 234, đồng thời chấn chỉnh hai trung đoàn phòng không 232 và 593 thành một trung đoàn làm nhiệm vụ sản xuất. Hợp thành Lữ đoàn phòng không 234 gồm toàn bộ Trung đoàn phòng không 234, một số phân đội của Trung đoàn phòng không 593 và Đại đội 45 Trung đoàn phòng không 232. Biên chế của Lữ đoàn gồm: bộ tư lệnh, 3 phòng (tham mưu, chính trị, hậu cần), 4 tiểu đoàn pháo phòng không hỗn hợp (1, 2, 3, 4, trang bị pháo 37 và 57mm) và các đại đội trực thuộc. Lữ đoàn trưởng: Hoàng Hách, chính ủy: Trịnh Thế Cường. Lữ đoàn phòng không 234 kế thừa truyền thống của Trung đoàn phòng không 234. Địa bàn đóng quân của Lữ đoàn ở Bến Cát. Cũng vào nửa cuối năm 1975, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định giải thể nhiều đơn vị: Đoàn thu mua 671, Trường Văn hóa thiếu nhi Tây Nguyên (bàn giao một số giáo viên và toàn bộ học sinh người dân tộc thiểu số Tây Nguyên cho Quân khu 5), Liên đội công tác 200, Liên đội công tác 300, Khung trại quản lý tù hàng binh, Tiểu đoàn 23 thu dung, Tổ Quốc tế Bến Hét; bàn giao cho đơn vị bạn Bệnh viện 2491, 2 tiểu đoàn bảo vệ kho, đại đội tên lửa phòng không A72, hai liên trại và 21 trại quản giáo tù binh (618 sĩ quan và 330 hạ sĩ quan binh sĩ khung). Đồng thời thành lập Ban Kiến thiết cơ bản thuộc Cục Hậu cần và giao nhiệm vụ cho 3 sư đoàn 10, 320, 316 và Cục Hậu cần đào tạo lái xe hệ chính quy. Thực hiện chính sách về phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1975 Quân đoàn đã giải quyết cho hơn 11.000 cán bộ, chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ trong những năm chiến tranh trở về địa phương, chuyển sang các cơ quan dân chính đảng, xí nghiệp quốc doanh. Việc tổ chức cho ra quân ''ồ ạt'' sau giải phóng đã dẫn đến thiếu nhiều cán bộ cơ sở có kinh nghiệm, thiếu cán bộ chuyên môn kỹ thuật, ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị và Quân đoàn. Đồng thời với quá trình ổn định vị trí đóng quân, thực hiện tổ chức biên chế mới, Quân đoàn nhanh chóng xây dựng các phương án cơ động tác chiến trên các hướng theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và giao nhiệm vụ, xác định khu vực phụ trách cho từng đơn vị. Sư đoàn 10 và Lữ đoàn xe tăng 273 (thiếu) đảm nhiệm 3 huyện Lái Thiêu, Châu Thành và Tân Uyên; hướng cơ động tác chiến là tỉnh Quảng Đức và khu vực từ biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia tới Đắc Đam. Sư đoàn 316 và một bộ phận của Lữ đoàn xe tăng 273 phụ trách khu vực huyện Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, hướng cơ động xa là Bình Phước, biên giới tỉnh Tây Ninh và Quảng Đức. Sư đoàn 320 đảm nhiệm các huyện Củ Chi, Hoóc Môn, Phú Hòa; hướng cơ động xa theo trục đường số 1 và ngã tư Bảy Hiền, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy cũ và đồng bằng sông Cửu Long. Quân đoàn bộ và các phân đội trực thuộc phụ trách khu vực tỉnh lỵ Bình Dương. Nhằm nâng cao hiệu quả công tác sẵn sàng chiến đấu và đưa mọi hoạt động vào nền nếp, Bộ tư lệnh Quân đoàn quy định thống nhất chế độ sẵn sàng chiến đấu, trực chỉ huy, trực ban, trực chiến. Về sẵn sàng chiến đấu tại chỗ, Quân đoàn quy định rõ: ''Các đơn vị từ tiểu đội trở lên đóng quân bất cứ ở chỗ nào, đều phải có kế hoạch tác chiến tại chỗ ngay, đồng thời phải chủ động... hiệp đồng kế hoạch chiến đấu tại chỗ cùng lực lượng vũ trang địa phương... với những đơn vị bạn trong khu vực trú quân... Nguyên tắc tác chiến lực lượng chiến đấu tại chỗ phải có lực lượng phòng giữ bảo vệ mục tiêu quan trọng, lực lượng sẵn sàng cơ động, lực lượng truy lùng bọn lẩn trốn tháo chạy để tiêu diệt''. Phát huy truyền thống, kinh nghiệm chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Bộ tư lệnh Quân đoàn và các đơn vị khẩn trương quán triệt nhiệm vụ, nghiên cứu thực địa, địch tình và phối hợp với địa phương xây dựng kế hoạch tác chiến tại chỗ, các kế hoạch cơ động tác chiến trên các hướng cơ động xa; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu như trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, canh gác, tuần tra, báo động luyện tập theo phương án; hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, tổ chức nắm địch. Tháng 9 năm 1975 các phương án tác chiến của đơn vị được Bộ tư lệnh Quân đoàn thông qua. Việc luyện tập theo phương án được duy trì thường xuyên mỗi tháng từ 1 đến 2 lần ở tất cả các cấp. Thời gian báo động cấp tiểu đoàn rút ngắn từ 20 phút xuống 15 phút, cấp đại đội từ 7 phút xuống 4 phút. Các trạm kiểm soát quân sự được thiết lập ở các trục giao thông thủy, bộ khu vực Tân Uyên và nam Bến Cát. Lực lượng thông tin hoàn thành ba đường dây trần từ Quân đoàn bộ đến sở chỉ huy các sư đoàn ở Đồng Dù, Lai Khê, Phú Lợi. Để bảo vệ chính quyền cách mạng và biên giới quốc gia, phát động quần chúng, truy quét FULRO và tàn binh ngụy, giữa tháng 7 năm 1975 Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 do thiếu tá Trương Văn Việt (trung đoàn trưởng) và thiếu tá Lê Xuân Thanh (chính ủy) chỉ huy, cơ động từ Phú Lợi lên tỉnh Quảng Đức, triển khai đội hình từ Đức Xuyên đến thị xã Gia Nghĩa và ngã ba Kiến Đức. Trung tuần tháng 9, đồng chí Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam và đại tá Tư lệnh phó Quân đoàn Nguyễn Kim Tuấn lên Quảng Đức kiểm tra, bổ khuyết phương án đánh địch của Trung đoàn 66. Được sự chỉ đạo thường xuyên của cấp trên và sự phối hợp chặt chẽ của cấp ủy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, nhân dân địa phương, trong 3 tháng đầu làm nhiệm vụ trên địa bàn mới, Trung đoàn 66 đã truy quét, gọi hàng được 125 tên FULRO (có 2 tên quận trưởng và 3 tên quận phó), thu 50 khẩu súng AR15, một khẩu ĐKZ75, năm máy thông tin PRC25, bảy gùi đạn các loại. Ngoài ra, đơn vị còn giúp địa phương phát hiện, loại ra khỏi chính quyền cơ sở 14 tên FULRO, bồi dưỡng lựa chọn được 18 người vào lực lượng an ninh và đưa 54 người vào chính quyền của 9 xã, vận động được 855 thanh niên và 1039 phụ nữ vào các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, khám chữa bệnh cho hàng trăm lượt người... được nhân dân tin yêu mến phục. Xác định huấn luyện chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm trong thời bình, ngày 23 tháng 6, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra chỉ thị ''Tổ chức huấn luyện chiến đấu''... chỉ rõ yêu cầu huấn luyện chung và cụ thể cho các đối tượng là cán bộ chỉ huy, hạ sĩ quan binh sĩ, cơ quan, phân đội. Đồng thời phân cấp huấn luyện, quy định thời gian, tổ chức phương pháp, công tác bảo đảm... cho các đơn vị thuộc quyền. Trên cơ sở kế hoạch huấn luyện chiến đấu toàn diện và thực tiễn triển khai nhiều nhiệm vụ trên địa bàn mới sau ngày giải phóng, Quân đoàn chỉ đạo huấn luyện có trọng tâm trọng điểm với nội dung cụ thể trong từng thời gian phù hợp với đặc điểm tình hình đơn vị. Tháng 6 tập trung huấn luyện điều lệnh và thể lực; 1.304 cán bộ từ cấp trung đội đến tiểu đoàn và cơ quan trung đoàn, sư đoàn được tập huấn; bộ đội dược huấn luyện bốn điều lệnh: đội ngũ, nội vụ, cảnh bị, kỷ luật. Quá trình huấn luyện được gắn chặt với cuộc vận động chấp hành điều lệnh, rèn luyện kỷ luật tác phong, thực hiện thống nhất 7 chế độ trong ngày và các chế độ trong tuần. Hai tháng (7 và 8 ) huấn luyện điều lệnh đội ngũ, thể lực và bắn AK bài 1; 31 lớp với gần 2.000 cán bộ các cấp được tập huấn; 3 trường bắn, 2 thao trường chiến thuật, 1 bãi tập thể lực được xây dựng. Nhưng do phương pháp huấn luyện, động tác chỉ huy của cán bộ còn yếu, quán triệt phương châm chưa sâu, chưa kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện tác phong chính quy... nên chất lượng huấn luyện chiến đấu những tháng đầu còn hạn chế. Sư đoàn 10 kiểm tra bắn AK bài 1 cho cán bộ chỉ đạt 60% yêu cầu trở lên; Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 có 50% lấy được đường ngắm cơ bản và đường ngắm đúng, 40% chệch choạc, 10% chưa biết ngắm. Nghiêm khắc rút kinh nghiệm huấn luyện chiến đấu, tìm ra nguyên nhân yếu kém, kịp thời đề ra biện pháp khắc phục... trong 4 tháng cuối năm 1975, toàn Quân đoàn tổ chức gần 50 lớp tập huấn cho trên 4.000 lượt cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn và cán bộ cơ quan trung, sư đoàn. Cán bộ được bồi dưỡng thống nhất về nội dung phương pháp huấn luyện, nắm vững thực hành động tác cá nhân, kỹ thuật bắn, chiến thuật từ cá nhân đến tổ, tiểu đội... công tác quản lý bộ đội trong huấn luyện. Do chuẩn bị chu đáo về cán bộ, đội mẫu, kế hoạch, nội dung, giáo án, vật chất, thao trường, kiểm tra chặt chẽ nên kết quả huấn luyện liên tục được nâng cao. Tháng 9 kiểm tra bắn đạn thật ba phân đội (mỗi phân đội 40 đến 47 chiến sĩ) của ba trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 316, kết quả có 2 phân đội đạt loại giỏi, 1 phân đội khá; trung đội bắn chiến đấu của Trung đoàn 148 đạt loại giỏi. Tháng 11, kiểm tra bắn AK bài 1 cho 134 đại đội, đạt 100% yêu cầu trở lên, trong đó có 96 đại đội đạt loại giỏi, 15 đại đội loại khá; kiểm tra bắn trung liên và đại liên 47 lướt đại đội của Sư đoàn 316 đều đạt đơn vị khá. Các nội dung huấn luyện binh chủng như: vượt sông, cầu Be-lây (Lữ đoàn công binh 7), hiệp đồng khẩu đội thao tác bắn trong các phương pháp (Lữ đoàn phòng không 234), bắn bài 4 (gián cách nhỏ), đo góc phương vị, góc tù, góc hướng, tính toán lượng sửa ở trận địa, khẩu đội chấp hành lệnh bắn (Lữ đoàn pháo binh 40), kỹ thuật xe tăng, sử dụng thông tin và bắn pháo trên xe, cơ động xe tăng trên các địa hình (Lữ đoàn xe tăng 273) đều đạt kết quả tốt. Cuối năm 1975, Quân đoàn tổ chức hội thao quyết thắng lấn thứ nhất. Sư đoàn 316 giành giải nhất về bóng đá, Sư đoàn 10 giành giải nhất về bóng chuyền. Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng kết quả huấn luyện chiến đấu tương đối toàn diện của Quân đoàn 3 trong nửa cuối năm 1975 rất có ý nghĩa. Nó không những nâng cao sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh xây dựng chính quy, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành các nhiệm vụ khác; mà còn đặt nền móng đầu tiên cho công tác huấn luyện chiến đấu - một nhiệm vụ trung tâm của Quân đoàn và các đơn vị trong thời bình. Thực hiện quyết định (ngày 13 tháng 5 năm 1975) của Thường vụ Quân ủy Trung ương về một số công tác trước mắt của quân đội, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 đã triển khai công tác tổng kết chiến dịch và chiến đấu trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh từ cấp đại đội đến Quân đoàn. Mục đích tổng kết là: ''xác định đúng đắn các sự kiện đã xảy ra và kết quả để có cơ sở biên soạn diễn biến chiến đấu, chiến dịch, chiến lược. Đánh giá đúng mức các ưu điểm, khuyết điểm, tìm ra được nguyên nhân, rút ra được các bài học kinh nghiệm chiến dịch và chiến đấu của toàn Quân đoàn và các đơn vị, binh chủng các ngành. Chuẩn bị tham gia tổng kết của toàn quân. Có cơ sở để xây dựng Quân đoàn trong giai đoạn mới của cách mạng. Góp phần xây dựng lý luận khoa học quân sự Việt Nam"2 quán triệt yêu cầu ''phản ánh đầy đủ kinh nghiệm, hết sức khách quan, toàn diện, lãnh đạo chặt chẽ, khẩn trương kịp thời'', từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 năm 1975, các sư đoàn bộ binh; lữ đoàn, trung đoàn binh chủng và cơ quan Quân đoàn hoàn thành tổng kết đến cấp đại đội. Tiếp đó, từ ngày 2 đến ngày 19 tháng 7 tại thị xã Bình Dương, Quân đoàn 3 tổ chức hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh. Dự hội nghị có 214 cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn và Bộ tư lệnh, cơ quan Quân đoàn. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị Phó Bí thư Quân ủy Trung Ương, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đại diện Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, đến dự. Tại hội nghị Thiếu tướng Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn đọc báo cáo tổng kết, nêu toàn bộ quá trình diễn biến, kết quả, những thành công, thiếu sót trong quá trình thực hành hai chiến dịch, rút ra một số kinh nghiệm trong tác chiến. Hội nghị cũng nghe và thảo luận một số báo cáo chuyên sâu về các trận then chốt: Buôn Ma Thuột, Cheo Reo, Khánh Dương - Chư Cúc, Tân Sơn Nhất, Đồng Dù, công tác bảo đảm cho bộ đội cơ động đường dài trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng... Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Văn Tiến Dũng nói: "Quân đoàn 3 tham gia từ đầu đến cuối cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975... Quân đoàn 3... đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, có thể nói là đặc biệt xuất sắc. Tổng kết của các đồng chí tương đối kỹ. Tuy nhiên những kinh nghiệm đó cũng chưa phải đến đó là dừng mà còn phải suy nghĩ tìm hiểu và nâng cao... Bài học đã tổng kết chẳng những giúp vào xây dựng Quân đoàn, đồng thời cũng là những bài học góp vào kho tàng khoa học quân sự Việt Nam, nghệ thuật quân sự về chiến dịch của Việt Nam... Trách nhiệm xây đựng nền khoa học quân sự Việt Nam là trách nhiệm của tất cả chúng ta... Quân đoàn 3 cần nhanh chóng củng cố tổ chức, tiến lên chính quy hiện đại, đủ sức cơ động trên khắp chiến trường, hoàn thành mọi nhiệm vụ''4. Là những chiến sĩ đã nhiều năm chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên gian khổ, ác liệt, lại trực tiếp sử dụng có hiệu quả vũ khí phương tiện của địch trong các chiến dịch mùa xuân 1975, hiểu rõ đất nước còn nhiều khó khăn, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 rất thấm thía giá trị và tích cực thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương ''Về công tác thu hồi quản lý, bảo quản sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật lấy được của địch trong vùng giải phóng''. Sau khi hoàn thành tốt đợt thu hồi, giao nộp chiến lợi phẩm trong tháng 5 năm 1975, ngày 23 tháng 9 Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho các đơn vị tiến hành thu hồi, quản lý, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của địch trên địa bàn mới. Đồng thời Bộ tư lệnh Quân đoàn thành lập Ban chỉ huy tiếp quản thu hồi do đại tá Nguyễn Kim Tuấn - Tư lệnh phó Quân đoàn làm trưởng ban, các đồng chí thượng tá Lê Minh (Tham mưu phó Quân đoàn), thượng tá Đặng Văn Khóat (Phó chủ nhiệm Hậu cần) lám phó ban. Thành lập ba đội thu hồi chuyên trách về xe tăng thiết giáp, khí tài công binh, xe máy trực thuộc Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn công binh 7 và Phòng Quản lý xe (Cục Hậu cần). Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân đoàn, từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 10 các đơn vị tích cực chủ động thu hồi, phân loại, giao nộp cho các đội chuyên trách. Sư đoàn 10 phụ trách dọc trục đường số 13 từ Sài Gòn về Phú Lợi. Sư đoàn 316 đảm nhiệm khu vực Lai Khê - An Lộc, Chơn Thành - Đồng Xoài. Sư đoàn 320 tiếp tục thu hồi từ Củ Chi đến Phú Cường. Lữ đoàn 234 phụ trách khu vực Lai Khê đến thị xã Thủ Dầu Một. Cục Hậu cần đảm nhiệm đoạn thị xã Phú Cường đến thị xã Thủ Dầu Một. Đoàn hậu cứ 75 thu hồi trong các khu vực đóng quân của Quân đoàn ở Tây Nguyên. Tính đến tháng 11 năm 1975, Quân đoàn 3 đã thu nộp lên trên 3.130 tấn vũ khí đạn dược, 308 tấn vật tư xe máy, hàng trăm tấn sắt thép vụn, 1.236 xe cơ giới (có 118 xe tăng, xe bọc thép). Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, những biểu hiện công thần thỏa mãn dừng lại, giảm sút nhiệt tình cách mạng và tinh thần trách nhiệm, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng hưởng lạc, quan liêu cục bộ, xa rời quần chúng thường nảy nở phát sinh. Quân đoàn 3 cũng không nằm ngoài quy luật đó, đồng thời còn chịu những tác động mạnh về tâm tư tình cảm do việc tổ chức cho phục viên, chuyển ngành ra quân ''ồ ạt' và thực hiện một số chính sách mới. Vốn có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy đơn vị trước những bước ngoặt lớn của lịch sử, Đảng ủy, Bộ tư lệnh và Cục Chính trị Quân đoàn đã chủ động, tích cực triển khai công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cho bộ đội. Đặc biệt, trong dịp học tập Nghị quyết 23 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân đoàn quyết định mở một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ. Nhằm tiếp tục quán triệt cho bộ đội sâu sắc thêm tình hình nhiệm vụ cách mạng của Đảng, nhiệm vụ quân sự trong tình hình mới và các nhiệm vụ đánh địch, tham gia củng cố chính quyền cách mạng; đẩy mạnh hơn nữa công tác bồi dưỡng cán bộ, giáo dục rèn luyện đảng viên, xây dựng nề nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức Đảng; đồng thời tổng kết công tác xây dựng chi bộ và công tác chính trị, thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng bộ, xây dựng cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Bằng những cố gắng liên tục và biện pháp tổng hợp, Đảng ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã quán triệt cho bộ đội các nghị quyết của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân đoàn, pháp luật của Nhà nước, học tập đạo đức tư tưởng Hồ Chí Minh... tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, từ đó xác định rõ trách nhiệm của bản thân, yên tâm phấn khởi với nhiệm vụ, tích cực khắc phục khó khăn, đoàn kết thân ái, đưa phong trào thi đua của đơn vị và toàn Quân đoàn tiến lên mạnh mẽ, tạo thành một cao trào thi đua với khí thế và hành động cách mạng sôi nổi. Bên cạnh những thành công trong công tác giáo dục quản lý bộ đội, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong nửa năm đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng ''Tư tưởng cá nhân chủ nghĩa tương dối phổ biến, biểu hiện dưới nhiều hình thức mức độ và khía cạnh'' khác nhau chậm được đấu tranh và chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu nên đã gây ''trở ngại trong việc đưa Quân đoàn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại''4. ------------------------------------------------------------------ 1. Bệnh viện 249 thành lập trên cơ sở các bộ phận còn lại của Viện 1, Viện 2, Viện 10, Đội điều trị 25 và bộ phận phía sau của Viện Quân y 211 ở Tây Nguyên. 2. Lịch sử bộ đội Chủ lực Mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr. 377, 3. Lịch sử bộ đội Chủ lực mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr. 377, 386. 4. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất'' ngày 25.5.1976, tr. 17. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:46:43 pm * Trong khi ra sức củng cố xây dựng đơn vị về mọi mặt theo hướng ''cách mạng, chính quy, hiện đại'', Quân đoàn 3 còn tích cực chủ động tham gia xây dựng vùng mới giải phóng. Cũng như nhiều địa phương khác ở miền Nam sau ngày giải phóng, trên khu vực đóng quân mới của Quân đoàn, cái thây ma của chủ nghĩa thực dân mới vẫn còn làm ô nhiễm nhiều nơi: Hàng nghìn tên ngụy quân, ngụy quyền cũ chưa chịu ra trình diện, những thành phần cặn bã con đẻ của xã hội cũ như lưu manh côn đồ, xì ke ma túy, gái mại dâm, trẻ bụi đời vất vưởng khắp đó đây. Kinh tế vốn đã què quặt, phiến diện phục vụ chiến tranh, nay bị tư sản mại bản ngoại kiều ra sức chi phối với những ý đồ thâm hiểm mới. Thực hiện kế hoạch ''hậu chiến'' của chủ cũ và sự tiếp tay của bọn phản động quốc tế, những tổ chức ''Đảng công nông Việt Nam'', ''Hồng Hà, Non Nước'', ''Bình Nam, phạt Bắc''... mọc ra, cùng với bọn ác ôn, FULRO lẩn khuất trong hang sâu núi thẳm và trà trộn trong dân chúng trỗi dậy ráo riết hoạt động. Chỉ trong tháng 8 năm 1975, chúng đã 10 lần cắt dây điện thoại của Sư đoàn 10 xuống các huyện Châu Thành, Lái Thiêu, 2 lần rải truyền đơn ở xã Phú Hòa, kích động quần chúng nhẹ dạ cả tin gây ra 30 vụ tụ tập bất hợp pháp ở địa bàn Sư đoàn 320 làm nhiệm vụ. Lợi dụng nỗi lo âu và sự hiểu biết còn hạn chế về chính sách đường lối cách mạng của 48.761 gia đình (chiếm 70% trong tổng số 61.877 hộ ở Thủ Dầu Một và vùng Củ Chi) có người thân tham gia bộ máy chế độ cũ; bọn ác ôn, phản động đội lốt nhà tu hành tuyên truyền xuyên tạc, khống chế làm cho bao người thấp thỏm lo sợ về một cuộc ''tắm máu'', ''trả thù''. Trước tình hình dó, nhiệm vụ bảo vệ củng cố chính quyền cách mạng cơ sở non trẻ, lập lại và giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân trở nên cấp bách, đòi hỏi phải truy quét làm trong sạch địa bàn. Thực hiện chỉ thị của Tổng cục Chính trị về việc bộ đội tham gia xây dựng củng cố vùng mới giải phóng, chấp hành nghị quyết của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 3, Bộ tư lệnh Quân đoàn nhanh chóng triển khai công tác phát động quần chúng trên các địa bàn đóng quân. Sau khi làm tốt bước lựa chọn, tổ chức, bồi dưỡng 5 bước phát động và học tập các quy định về công tác dân vận; từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975, 2.162 cán bộ đảng viên thuộc các đơn vị và cơ quan Quân đoàn tỏa xuống 300 ấp, 68 xã thuộc 8 huyện thuộc hai tỉnh Thủ Dầu Một, Quảng Đức và huyện Củ Chi phối hợp cùng địa phương phát động quần chúng, xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở. Trong bộ quân phục màu xanh lá cây giản dị, chiếc ba lô ''con cóc'' trên vai, phát huy truyền thống và kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa ở Tây Nguyên, cán bộ, chiến sĩ len lỏi trong các khóm, ấp của vùng trái cây nổi tiếng Lái Thiêu, vùng đất trắng Tam giác sắt Củ Chi và vùng chiến khu Đ cũ huyện Tân Uyên thực hiện ''ba cùng'' với nhân dân. Bằng sự kiên trì tuyên truyền vận động và việc làm thiết thực của các đội công tác, nhân dân vùng mới giải phóng hiểu được 10 chính sách của chính phủ, chính sách 7 điểm đối với gia đình có người thân tham gia bộ máy chế độ cũ, thấy được ý nghĩa to lớn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhận rõ âm mưu thủ đoạn mới của kẻ địch... từ đó yên tâm phấn khởi, tích cực khắc phục khó khăn ổn định đời sống, phục hồi sản xuất, thực hiện nếp sống văn minh, tham gia các hoạt động xã hội và công tác cách mạng. Cùng với vận động quần chúng, các đội công tác phối hợp chặt chẽ với địa phương củng cố và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng các đội du kích, tổ an ninh, các đoàn thể quần chúng cách mạng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, đội thiếu niên, đội văn nghệ. Trong 3 tháng làm nhiệm vụ, được sự giúp đỡ phối hợp chặt chẽ của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương, các đội công tác của Quân đoàn đã tuyên truyền chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cho gần 2,2 triệu lượt người dân, bồi dưỡng được 733 cán bộ xã, 799 cán bộ ấp, 767 cán bộ và 28.278 hội viên hội nông dân xã ấp, 546 cán bộ và 29.554 hội viên hội phụ nữ, 271 huynh trưởng thiếu niên nhi đồng và 27.855 cháu, 173 cán bộ xã đội và 4.133 du kích. Đồng thời, Quân đoàn cùng địa phương phát hiện và loại khỏi chính quyền, các đoàn thể ở xã, ấp gần 800 người là ngụy quân ngụy quyền và các phần tử xấu, tổ chức cải tạo học tập cho 35.439 ngụy quân ngụy quyền cũ, truy bắt và vận động 1.338 tên còn lẩn trốn ra trình diện, giáo dục 102 tên cờ bạc, ma túa quậy phá, 40 tên trộm cắp, 40 gái điếm; thu 795 khẩu súng các loại, 305 quả lựu đạn, 10 quả mìn, 23.005 viên đạn và 118 máy vô tuyến điện, Được bộ đội tuyên truyền giải thích về chính sách của cách mạng, các gia đình có người thân là ngụy quân, ngụy quyền còn đang lẩn trốn đã tự nguyện đi tìm, vận động được l.459 tên ra trình diện chính quyền. Cùng với những hoạt động trên, Quân đoàn còn huy động 4 đại đội công binh dò gỡ mìn trong một tháng, giải phóng 53 km đường giao thông thuộc quốc lộ 13 (đoạn Lai Khê - Phú Giáo), đường số 20 (Bến Cát - Thị Tính), đường số 7 (Bến Cát - Rạch Bắp) và đường số 6; sử dụng 2.600 công đào đắp 4.800m khối đất làm đê chống nước mặn ở xã An Sơn huyện Lái Thiêu, xây dựng 2 cống tưới tiêu nước cho 500 héc-ta đất; dò gỡ hàng vạn quả mìn, giải phóng 10.000 héc-ta đất canh tác cho nhân dân. Ngoài ra cán bộ, chiến sĩ các đơn vị còn thường xuyên giúp đỡ nhân dân trên địa bàn đóng quân, đã làm 7 cây cầu, trồng hàng vạn gốc sắn, bắt 187kg châu chấu, trồng trên 2 vạn cây lấy gỗ, làm 89 căn nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách, neo đơn, giúp dân 18.596 ngày công thu hoạch mùa màng, trợ cấp cứu đói hơn 5 tấn gạo và 2,3 triệu đồng, vận động được 2.745 gia đình (với 15.650 nhân khẩu) đi xây dựng vùng kinh tế mới; xây dựng nhiều bệnh xá và chữa bệnh cho 4.975 lượt người dân, làm nhiều trường học và tổ chức 280 lớp học văn hóa, xóa mù chữ cho 14.095 người, dựng 417 cổng chào, kẻ 14.268 khẩu hiệu, chiếu 117 tối phim và tổ chức 10 tối biểu diễn văn nghệ phục vụ 192.000 lượt người xem. Sau đợt phát động quần chúng, chính quyền cơ sở xã ấp được củng cố, ''hầu hết các xã bước đầu có khả năng giải quyết công việc trong điều kiện bình thường''; các đoàn thể quần chúng đi vào hoạt động có nề nếp, ngày càng phát huy hiệu quả. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân được bảo đảm. Cùng với màu xanh của lúa và cây trái hồi sinh trở lại trên các vành đai trắng, là sự ''hồi sinh'' của bao kiếp người thóat khỏi cảnh đời nô lệ tay sai cho đế quốc, trở về cuộc sống làm chủ và tự do. Sau gần một năm chiến đấu và xây dựng rất sôi động, ngày 15 tháng 12 năm l975 Đại hội mừng công toàn Quân đoàn khai mạc tại thị xã Thủ Dầu Một. Tham dự Đại hội có trên 300 Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, cá nhân xuất sắc trong toàn Quân đoàn, đại biểu cấp trên, các đơn vị bạn và địa phương. Trong 3 ngày làm việc khẩn trương, các đại biểu đã nghe và thảo luận báo cáo tổng kết phong trào thi đua Quyết thắng trong 2 năm 1974-1975 của Quân đoàn do đại tá Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy Quân đoàn trình bày; nghe 13 bản báo cáo điển hình của tập thể các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn và các cá nhân tiêu biểu: Bùi Văn Bịn, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Vi Hợi, Mai Trọng Hoạt, Nguyễn Đức Tuân, Tống Viết Bá... Thiếu tướng Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn công bố quyết định khen thưởng, biểu dương thành tích của những đơn vị và cá nhân trong phong trào thi đua quyết thắng 1974-1975; đồng thời phát động phong trào thi đua mới và 3 mục tiêu: 1-Huấn luyện sẵn sàng chiến đấu giỏi, 2-Tham gia sản xuất, góp phần xây dựng kinh tế giỏi, 3- Kỷ luật nghiêm, nếp sống đẹp, công tác quần chúng giỏi. Trong những tháng cuối năm 1975 và đầu năm 1976, nhiều tin vui lớn liên tiếp đến với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3. Ngày 12 tháng 9 năm 1975, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 59 đơn vị và 6 cá nhân, trong đó có 9 đơn vị và 2 cá nhân thuộc Quân đoàn 3: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 320, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn bộ binh 48, Trung đoàn bộ binh 148, Trung đoàn pháo binh 675, Đại đội pháo binh 4 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 40), Đại đội thông tin 6 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 29), Đội điều trị 3 (Cục Hậu cần); và hai đồng chí: thiếu úy Đoàn Sinh Hưởng (đại đội trưởng Đại đội 9 thiết giáp, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273), thiếu tá Nguyễn Đình Kiệp (trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 sư đoàn 10). Tiếp đó, ngày 15 tháng 1 năm 1976 có 8 đơn vị và 3 cá nhân thuộc Quân đoàn 3 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn bộ binh 28, Trung đoàn bộ binh 64, Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 48), Đại đội pháo binh 5 (Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 4 Sư đoàn 10), Đại đội 1 súng máy phòng không 12,7mm (Tiểu đoàn 14 Sư đoàn 316), Đại đội công binh 4 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 7); và các đồng chí: trung úy Bùi Văn Bịn (tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24), chuẩn úy Trần Hùng Vách (trung đội trưởng thuộc Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 273), thượng sĩ Nguyễn Vi Hợi (trung đội phó, Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64). Thành tích toàn diện trong năm 1975 còn được Bộ Quốc phòng ghi nhận, tặng danh hiệu ''Đơn vị Quyết thắng năm 1975'' cho 46 đơn vị thuộc Quân đoàn 3. Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng trao tặng là niềm hạnh phúc lớn lao, vô cùng phấn khởi tự hào, cổ vũ thôi thúc cán bộ, chiến sĩ toàn Quân đoàn hăng hái thi đua hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân đoàn 3, ngày 25 tháng 12 năm 1975 Đảng ủy Quân đoàn đã họp, quyết định đặt tên truyền thống cho Quân đoàn là "Binh đoàn Tây Nguyên"; đồng thời chọn 12 chữ vàng truyền thống của Quân đoàn là: ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực". Từ đây, tên ''Binh đoàn Tây Nguyên'' được gắn liền với mỗi bước đi, trong những chặng đường xây dựng và chiến đấu của Quân đoàn 3. Đó vừa là niềm tin yêu, là mềm tự hào vừa là nguồn động viên nhắn nhủ mỗi cán bộ, chiến sĩ dũng cảm vượt qua mọi khó khăn thử thách, không ngừng phấn đấu vươn lên giữ vững và xứng đáng với truyền thống cao đẹp của một binh đoàn mang tên một vùng đất chiến lược của Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 02:56:26 pm * Năm 1976 - năm thứ hai đất nước sống trong độc lập tự do, đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Ngày 25 tháng 4, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI thành công rực rỡ. Tại kỳ họp đầu tiên (24.6-3.7) Quốc hội khóa VI đã long trọng tuyên bố hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước và quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 12 năm 1976, Đảng lao động Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Đây là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, là Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là Đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã quyết định đổi tên đảng thành Đảng cộng sản Việt Nam. Về phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong giai đoạn mới, Đại hội quyết nghị: ''Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng dự bị rộng rãi và được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết; có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; có lực lượng dân quân tự vệ hùng hậu''1. Thực hiện các nghị quyết 23, 24, Chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; với khí thế ra quân sôi nổi và mạnh mẽ, đầu năm 1976 Quân đoàn 3 triển khai cuộc vận động ''Xây dựng đơn vị cơ sơ vững mạnh toàn diện'', tập trung vào 3 nội dung: xây dựng về quân sự, xây dựng về chính trị và xây dựng về hậu cần; nhằm đưa Binh đoàn Tây Nguyên trở thành ''Quân đoàn gương mẫu của Quân đội nhân dân Việt Nam". Trong khi sẵn sàng chiến đấu cao, đẩy mạnh huấn luyện, tăng cường rèn luyện bộ đội theo các phương án cơ động tác chiến trên các hướng được phân công, Quân đoàn dành một lực lượng thích hợp cho lao động sản xuất, tập trung trồng cây lương thực; đồng thời tổ chức tìm kiếm, cất bốc, quy tập được trên 5.000 mộ liệt sĩ trên Chiến trường Tây Nguyên vào các nghĩa trang địa phương. Giữa những ngày thi đua sôi động lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn và kỷ niệm một năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 5 năm 1976 Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất được tiến hành tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Dự Đại hội có 142 đại biểu chính thức thay mặt cho 8.126 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đồng chí Văn Tiến Dũng- Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương đã về dự và chỉ đạo Đại hội. Với tinh thần cách mạng tiến công, khẩn trương, nghiêm túc, đoàn kết, thống nhất cao trong hơn bốn ngày làm việc Đại hội đã kiểm điểm đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ trong 2 năm (1974 - 1975), rút ra 4 bài học kinh nghiệm; động thời đề ra phương hướng xây dựng Quân đoàn trong thời gian tới. Về phương hướng xây dựng Quân đoàn trong thời gian tới Đại hội quyết nghị: ''Ra sức phấn đấu xây dựng Quân đoàn 3 trở thành một Quân đoàn gương mẫu của Quân đội nhân dân Việt Nam: Chính quy hiện đại. Có sức đột kích mạnh, sức cơ động lớn. Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi. Đồng thời lao động xây dựng đất nước giỏi. Vận động nhân dân giỏi. Đoàn kết nội bộ. Đoàn kết quân dân. Luôn luôn nêu cao bản chất cách mạng và truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'' hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới''2. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) Quân đoàn nhiệm kỳ mới gồm 13 ủy viên chính thức: Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy Quân đoàn), Vũ Lăng (Tư lệnh Quân đoàn), Phí Triệu Hàm (Phó chính ủy Quân đoàn), Nguyễn Kim Tuấn (Tư lệnh phó Quân đoàn), Lã Ngọc Châu (chủ nhiệm chính trị Quân đoàn), Nguyễn Quốc Thước (Tham mưu phó Quân đoàn), Đoàn Hồng Sơn (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10, Lưu Quý Ngữ (Chính ủy Sư đoàn 10), Nguyễn Hải Bằng (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316), Hà Quốc Tỏan (Chính ủy Sư đoàn 316), Bùi Huy Bổng (chính ủy Sư đoàn 320), Nguyễn Hữu Hưu (chính ủy Cục Hậu cần), Nguyễn Minh Khang (Chính ủy Trường Quân chính); và 2 ủy viên dự khuyết: Bùi Đình Hòe (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320), Bùi Tố Tọa (Chính ủy Lữ đoàn 40). Ban Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn gồm ba đồng chí: Đặng Vũ Hiệp - Bí thư Đảng ủy, Vũ Lăng - Phó Bí thư Đảng ủy và Phí Triệu Hàm - ủy viên Thường vụ Đảng ủy. Đồng thời Đại hội bầu 15 đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ Quân đội, trong đó có Đại tướng Văn Tiến Dũng; đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm trưởng đoàn. Về Đại hội Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã nhận xét: ''Đại hội Đảng bộ Quân đoàn 3 đã làm tốt nhiệm vụ kiểm điểm công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua, quán triệt tình hình nhiệm vụ cách mạng, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Quân ủy Trung ương, quán triệt nhiệm vụ Quân đội và nhiệm vụ Quân đoàn... đã bầu ra được Ban Chấp hành Đảng bộ mới gồm những đồng chí ưu tú của Đảng bộ... đã thể hiện được tinh thần đoàn kết nhất trí, trên cơ sở đường lối nhiệm vụ mới, trên tình đồng chí, trên cơ sở mở rộng dân chủ nội bộ, đẩy mạnh tinh thần tự phê bình và phê bình...''3. Tin vui Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ nhất thành công tốt đẹp và thư của Đại hội ''gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên toàn Quân đoàn'' được truyền nhanh đến bộ đội. Nghị quyết của Đại hội được biến thành những hành động cụ thể của người chiến sĩ ngày đêm cầm chắc tay súng canh giữ mục tiêu, hăng hái luyện tập trên thao trường, đổ thêm mồ hôi cho những luống cày mới, vượt đèo cao suối sâu đi tìm mộ đồng đội. Tiếp đó, một tin vui lớn lại đến với cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên: ngày 3 tháng 6 năm 1976, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 90 đơn vị và 13 cá nhân, trong đó có 13 đơn vị và 1 cá nhân thuộc Quân đoàn 3: Trung đoàn bộ binh 24, Trung đoàn bộ binh 52, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273, Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 28), Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 52), Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 174), Tiểu đoàn phòng không 16 (Trung đoàn 54), Tiểu đoàn pháo binh 4 (Lữ đoàn 40), Đại đội bộ binh 3 (Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48), Đại đội bộ binh 3 (Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64), Đại đội hỏa lực 15 (Trung đoàn 66), Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148) và thượng sĩ Vũ Thanh Sơn (trung đội trưởng, thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48). Trong niềm hạnh phúc lớn lao, cán bộ, chiến sĩ toàn Quân đoàn hăng hái bước vào nhiệm vụ mới với tinh thần tất cả vì sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đầu tháng 6 năm 1976, Bộ Quốc phòngg ra lệnh cho Quân đoàn 3 bàn giao địa bàn phụ trách cho Quân khu 7, cơ động toàn bộ đội hình về nam Quân khu 5 làm nhiệm vụ dự bị chiến lược; đồng thời bàn giao Sư đoàn bộ binh 316 về Bộ tư lệnh Quân khu 1. Tiếp đó, ngày 30 tháng 6, Quân đoàn được lệnh dùng lực lượng của Sư đoàn 10 phối hợp với địa phương truy quét FULRO tại tỉnh Lâm Đồng. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ, tháng 6 năm 1976 Quân đoàn bàn giao gọn Sư đoàn 316 với 8.192 cán bộ, chiến sĩ và toàn bộ vũ khí trang bị, mang theo một phần ba cơ số đạn nhỏ, một phần mười cơ số đạn lớn về Quân khu 1 bảo đảm đúng thời gian quy định, an toàn. Sau một năm rưỡi chiến đấu, xây dựng cùng khối chủ lực Tây Nguyên và đứng trong đội hình Quân đoàn 3, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 316 phát huy cao độ truyền thống quý báu: ''Kiên quyết triệt để cách mạng - Dũng cảm kiên cường - Chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn - Bền bỉ vững chắc, trung thực vô tư - Khiêm tốn đoàn kết, chủ động sáng tạo'' lập nên những chiến công oanh liệt. Các địa danh Buôn Ma Thuột, Trảng Bàng, Tây Ninh, Củ Chi, Lai Khê, Bến Cát gắn liền với mỗi bước đường chiến đấu và xây dựng của Sư đoàn trong mùa Xuân 1975 lịch sử và năm đầu sau giải phóng. Ra đời và lớn lên từ quê phương cách mạng Việt Bắc, nay được trở về nơi chôn nhau cắt rốn, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 vô cùng phấn khởi, nhưng trước khi rời ''ngôi nhà chung'' Binh đoàn Tây Nguyên với biết bao kỷ niệm gắn bó thân thương ai cũng bịn rịn luyến tiếc. Người đi và người ở đều hứa với nhau tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đoàn 3 hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Sau khi hoàn thành đợt một di chuyển đội hình trong tháng 6, từ đầu tháng 7 đến giữa tháng 8 năm 1976 Quân đoàn 3 tổ chức đợt hành quân thứ hai, chuyển toàn bộ lực lượng từ Quân khu 7 lên vị trí đóng quân mới ở nam Quân khu 5. Do địa bàn đứng chân của các đơn vị nằm trên bốn tỉnh: Lâm Đồng, Thuận Hải, Phú Khánh, Đắc Lắc, các phương tiện bảo đảm hành quân có hạn, đường cơ động từ 200km đến 500km, thời gian di chuyển khá dài nên Quân đoàn tổ chức hành quân bằng cả ba phương tiện: ô tô, tàu hỏa và tàu thủy. Lực lượng hành quân bằng ô tô gồm Quân đoàn bộ, Sư đoàn 104, Trung đoàn thông tin 29 và một bộ phận của các đơn vị còn lại. Khối đi tàu hỏa có Sư đoàn 320, Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn công binh 7, Lữ đoàn xe tăng 273. Riêng số xe tăng của Lữ đoàn 273 được chở bằng tàu hải quân từ bến Bạch Đằng ra Phan Rang. Cùng thời gian này Trường Quân chính cũng hoàn thành chuyển vị trí đóng quân từ Plei Ku (Gia Lai) về khu vực Lam Sơn, Dục Mỹ huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa. Ngày 12 tháng 8 năm 1976 cuộc hành quân di chuyển của Quân đoàn cơ bản hoàn thành, 30.887 cán bộ, chiến sĩ và 24.400 tấn vũ khí trang bị vật chất, hàng nghìn xe cộ đã chuyển đến vị trí đóng quân mới an toàn. Các lực lượng còn lại: Trường hạ sĩ quan Sư đoàn 320, Xưởng X112, Xưởng X114, một lực lượng của Cục Hậu cần ở Bình Dương, hơn 20 xe tăng ở Phú Lợi, bộ phận thu hoạch mùa màng của các đơn vị cũng được chuyển hết trong tháng 9. Qua đợt hành quân di chuyển vị trí đóng quân lần thứ hai trong thời bình, quân đoàn rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý, làm cơ sở cho những cuộc hành quân lớn về sau. Giữa tháng 8, đội hình đóng quân của Quân đoàn đã cơ bản ổn định trên 5 khu vực: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Quân đoàn, Trung đoàn thông tin 29, Viện Quân y 215 ở Nha Trang; Sư đoàn 10 ở tỉnh Lâm Đồng; Sư đoàn 320, Lữ đoàn pháo binh 40, Trường Quân chính, Trường Hạ sĩ quan1 ở huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Lữ đoàn phòng không 234 và Lữ đoàn xe tăng 273 ở Phan Rang; Lữ đoàn công binh 7 ở Cam Ranh. Chủ động và tích cực khắc phục khó khăn do doanh trại xuống cấp, nhà cửa thiếu, nước sinh hoạt không bảo đảm6, thời tiết khắc nghiệt, giá cả leo thang, quân số tiếp tục biến động, tình hình chính trị xã hội phức tạp do FULRO và các tổ chức phản động trỗi dậy... Quân đoàn từng bước ổn định nơi ăn chốn ở, triển khai huấn luyện giai đoạn 2, lao động sản xuất và truy quét địch. Hưởng ứng phong trào thi đua quyết thắng do Bộ tư lệnh Quân đoàn phát động nhân dịp kỷ niệm 31 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2.9, cán bộ, chiến sĩ toàn binh đoàn đồng loạt tiến quân vào các ''mặt trận'', lập nhiều thành tích mới. Trên ''mặt trận'' quân sự, các chế độ sẵn sàng chiến đấu được duy trì nghiêm túc, chặt chẽ; các phương án đánh địch tại chỗ và cơ động tác chiến được tập dượt, xây dựng và bổ sung ngày càng hoàn chỉnh. Công tác huấn luyện được triển khai theo một kế hoạch thống nhất, kết quả ngày một cao: Lữ đoàn công binh 7 kiểm tra nổ mìn đạt 100% khá giỏi; Lữ đoàn pháo binh 40 bắn đạn thật đạt 100% yêu cầu, trong đó có 90,1% khá giỏi; Sư đoàn 320 kiểm tra 2 đại đội bắn pháo đều đạt khá giỏi, có Khẩu đội 4 đạt ưu tú. Để hoàn thành tốt huấn luyện khóa 13 theo biểu thời gian 14 tháng, Trường Quân chính có sáng kiến và tổ chức thành công thi giáo viên dạy giỏi, đại úy Phí Đình Tơm giáo viên kỹ thuật bộ binh được công nhận là giáo viên dạy giỏi đầu tiên của trường. Trên ''mặt trận'' xây dựng và sản xuất, phong trào thi đua diễn ra rất sôi động. Nhiều kỷ lục mới xuất hiện, nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật ra đời: các chiến sĩ Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 đưa năng suất vận chuyển vật liệu xây dựng từ 1 chuyến với 40 tàu lá cọ lên 2 chuyến, mỗi chuyến 60 tàu lá cọ trong một ngày; chi đoàn thanh niên Xưởng X114 đã cải tiến máy cắt tôn thép sản xuất ra nhiều công cụ lao động; Lữ đoàn công binh 7 có sáng kiến thu lượm sắt thép phế liệu làm lưỡi cày cho máy kéo; Trung đoàn 24 tìm cách đưa nước vào làm nguội máy sản xuất gạch, tăng thời gian làm việc của máy từ 1 ca lên 2 ca mỗi ngày. Sau một năm nỗ lực phấn đấu, toàn Quân đoàn cơ bản hoàn chỉnh hệ thống doanh trại, những ngôi nhà xây bằng gạch máy ngói đỏ tươi từng bước thay thế cho những nhà tạm mái tranh vách đất; đã thu được một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm, gồm: 1.160 tấn gạo, 230 tấn thịt cá, 30 tấn đậu lạc, 2300 tấn rau xanh, 150 con trâu, 2.400 con bò, 2.500 con lợn và hàng vạn gia cầm. Thành quả lao động sản xuất không những trực tiếp góp phần giải quyết khó khăn về ăn, ở và nâng cao sức khỏe cho bộ đội mà còn tạo điều kiện xây dựng chính quy, nâng cao chất lượng huấn luyện và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu truy quét FULRO làm trong sạch địa bàn. ------------------------------------------------------------------ 1. 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam. Nxb QĐND; H.1999, tr.386. 2. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất, tr. 38. 3. Đề cương nói chuyện của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Đại hội Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất, tr. 6. 4. Sư đoàn 10 sử dụng 420 chuyến xe và thuê 30 chuyến xe của dân. 5. Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn được thành lập tháng 9 năm 1976. Hiệu trưởng: Đặng Dự Nhượng, chính ủy: Nguyễn Gia Hưu. 6. Thời gian này Lữ đoàn pháo binh 40 phải dùng xe téc chở nước từ xa về nấu ăn. Trung đoàn 52 đào 4 giếng đều không có nước. Trung đoàn thông tin 29 có đợt 4 ngày liền không có nước phải cho bộ đội đi bộ 3km từ đèo Rù Rì xuống cầu xóm Bóng để tắm. Bệnh sốt rét, sốt xuất huyết lan tràn, có ngày Lữ đoàn 40 có 120 người sốt và Trung đoàn 52 có 40 người sốt. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:23:31 pm * FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức) là một tổ chức chính trị - quân sự phản động của các phần tử thân Pháp, Mỹ trong các sắc tộc thiểu số miền Nam Việt Nam, chủ yếu là Tây Nguyên. Vốn có mầm mống từ chủ trương của thực dân Pháp lập xứ Tây Kỳ tự trị (1948), tổ chức phong trào Badaraka chống Ngô Đình Diệm (1958) và chủ trương của Mỹ lập Mặt trận giải phóng cao nguyên để lôi kéo người Thượng (9.1964); đến năm 1965, cái tên FULRO chính thức ra đời tại đại hội thành lập ''Mặt trận thống nhất các dân tộc thiểu số ở Căm Pốt (Cam-pu-chia) và Việt Nam "họp ở Phnôm Pênh, với mục tiêu đòi thành lập quốc gia mới Đê Ga ở vùng cao nguyên nam Đông Dương. Do có sự dàn xếp của Mỹ, tháng 2 năm l969 một bộ phận của FULRO quy thuận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nhập vào quân đội ngụy Sài Gòn và tuyên bố tự giải tán. Để chuẩn bị cho kế hoạch hậu chiến tại Việt Nam, năm 1972 Mỹ lại thu gom những thành viên cũ của FULRO lập ra Mặt trận giải phóng cao nguyên người Thượng; đến tháng 8 năm 1974 dựng lên cái gọi là ''Chính phủ cách mạng lâm thời cao nguyên nam Đông Dương'', tự coi FULRO là đại diện nhân dân miền núi nam Đông Dương, chủ trương quan hệ với Mỹ để giải phóng Tây Nguyên và kêu gọi Liên hiệp quốc công nhận là ''Quốc gia miền núi nam Đông Dương" (20.9.1974)1. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, được các thế lực đế quốc và phản động quốc tế hà hơi tiếp sức, lại được bổ sung những thành phần mới gồm những tên ác ôn ngụy quân, ngụy quyền trốn cải tạo thâm thù cách mạng, những tên phản động đội lốt tôn giáo và những phần tử "cặn bã'' khác; FULRO tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phá hoại công cuộc xây dựng đất nước, gây bao tội ác với nhân dân ta. Bị ta truy quét mạnh, đến đầu năm 1976 lực lượng FULRO của 4 ''vùng'' (theo cách phân chia tổ chức hành chính của chúng) còn 4 sư đoàn (khung). Vùng 1, khu vực phía tây tỉnh Nghĩa Bình và tỉnh Phú Khánh có sư đoàn "Dăm ai"; Vùng 2, tỉnh Gia Lai - Kon Tum có sư đoàn ''Na ri''; Vùng 3, tỉnh Đắc Lắc có sư đoàn ''Dăm Yi''; Vùng 4, hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức (cũ) có sư đoàn ''Dăm bao'' (hay còn gọi là sư đoàn Y Dúck). Mỗi sư đoàn có 4 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 4 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội, mỗi đại đội có từ 7 đến 15 tên. Khi hoạt động, chúng tổ chức thành từng toán, mỗi toán từ 10 đến 15 tên. Vũ khí trang bị của chúng gồm súng AR15, các bin, M79, ĐKZ 75, cối 81 và 106,7mm, đại liên M60 và M72, máy vô tuyến PRC-25. Trên địa bàn đóng quân của Quân đoàn 3 gồm 4 tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Khánh, Thuận Hải, lực lượng FULRO còn khỏang 6.000 tên, trong đó 2.000 tên ở trong rừng và 4000 tên trà trộn trong dân. Theo tài liệu ta thu được của địch, tháng 6 năm 1976 cơ quan quân sự trung ương FULRO ở Đắc Lắc, có 8 tên: Yk Kơi (tổng chỉ huy), Yba Chi ban (trung tướng, tổng tham mưu trưởng), Diu I Pui (thiếu tướng, tổng tham mưu phó), Ib Rốc (thiếu tướng, phụ trách quân báo tác chiến), Igọc Liê (thiếu tướng, phụ trách an ninh), ITGốt Liê (thiếu tướng, phụ trách phó an ninh) I bơ Luốt Kôta (thiếu tướng, phụ trách nội vụ) và He Lam (thứ trưởng ngoại giao). Sư đoàn ''Dăm Yi'' có 4 trung đoàn: trung đoàn 61 ở nam thị xã Buôn Ma Thuột, trung đoàn 62 ở tây nam và bắc thị xã, trung đoàn 63 ở Chư Cúc đến Buôn Hồ, trung đoàn 64 ở Đông nam Buôn Ma Thuột đến Khánh Dương. Ở Lâm Đồng, sư đoàn ''Y Dúck'' cũng có 4 trung đoàn trải rộng trên các khu vực: tây Đức Trọng (trung đoàn 71), tây nam Đơn Dương (trung đoàn 72), Đầm Ròn và tây bắc Đà Lạt (trung đoàn 73), Đông bắc Đà Lạt (trung đoàn 74), chỉ huy sư đoàn ở tây suối Vàng (tây bắc Đà Lạt 10km). Bên cạnh chỉ huy sư đoàn ''Y Dúck'' có cơ quan đại diện bộ tổng tham mưu FULRO do thiếu tướng Kambơrơi chỉ huy. Lực lượng FULRO ở Phú Khánh và Thuận Hải có ban chỉ huy "FULRO tỉnh Ninh Thuận'' (khỏang 170 tên ở vùng núi bắc Hòn Bà); tiểu đoàn 5 FULRO Chăm (98 tên và 40 súng) do tên Đổng Thẹo và Hán Nhẫn chỉ huy hoạt động từ tây An Phước đến Cà Ná; tiểu đoàn Chế Bồng Nga do tên Măng Khá và Lê Quốc Chiều chỉ huy hoạt động ở vùng Ninh Hải, Du Long. Bị tổn thất đáng kể sau các đợt truy quét của ta, từ đầu năm 1976 FULRO thay đổi phương thức hoạt động. Chúng chia lực lương ra ba tuyến: tuyến trong rừng sâu gồm bọn chỉ huy đầu sỏ; tuyến giữa là lực lương hoạt động ven rừng và nương rẫy móc nối nhận lương thực, thuốc men; tuyến ngoài cùng là những tên sống trà trộn hợp pháp trong dân, ta khó phát hiện vì dân bị địch khống chế. Trong khi ra sức tuyên truyền móc nói gây cơ sở, phát triển lực lượng, thu lương thực thực phẩm tại các vùng dân tộc thiểu số và đồng bào theo đạo; FULRO còn dùng nhiều toán quân phục kích, tập kích chính quyền cách mạng cơ sở, cướp lương thực và vũ khí, bắn giết cán bộ hoặc khống chế chính quyền, lũng đoạn du kích, khủng bố dân chúng. Trong 9 tháng đầu năm 1976, FULRO đã gây ra 485 vụ hoạt động có vũ trang trên địa bàn 4 tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Khánh, Thuận Hải. Cuối năm 1976 và đầu năm 1977, chúng càng hoạt động ráo riết hơn, gây ra nhiều vụ rất nghiêm trọng. Trong một tuần (23-29.7.1976) chúng 6 lần cắt dây điện thoại của Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 từ Lạc Lâm đến Lạc Viên; cắt dây điện thoại từ Quân đoàn bộ xuống Lữ đoàn 40 (25.8.1976), cắt đường dây của Lữ đoàn 273 ở khu vực An Phước (27.12.1976) và 6 lần cắt đường dây của nhà máy thủy điện Đa Nhim. Cuối năm 1976, FULRO tập trung 3 trung đoàn (61, 62, 63) hoạt động mạnh ở xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột. Đêm 14 tháng 12, chúng đồng loạt tập kích vào 6 địa điểm: trụ sở xã Ea Pốc, đồn điền Chư Tam, Xanh Tơ Ni, xã Thống Nhất, Buôn Kna, Buôn Ea Đá. Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 12, FULRO tập kích 6 lần vào các xã EaĐê, Ta Lung, Buôn Wít, Buôn Đê, xã Ea Krông bắn chết và làm bị thương 31 người, bắt đi 6 cán bộ và du kích, lấy 6 súng và 130kg gạo. Đặc biệt nghiêm trọng, đêm 23 ngày 24 tháng 12 năm 1976, FULRO được du kích phản bội dẫn đường tập kích vào trụ sở xã Chư Thai và trại trồng bông của huyện Cheo Reo cướp 111 khẩu súng, 2.400kg thóc, 100kg thực phẩm, giết chủ tịch và công an xã, bắt đi 117 người. Ngày 20 tháng 3 năm 1977, hơn 100 tên thuộc trung đoàn 74 tập kích nơi kiểm phiếu hội đồng nhân dân xã Lĩnh Hội (tây Đức Trọng 16km) gây thương vong 7 cán bộ, bộ đội, lấy đi 7 AK, bắt đi 2 du kích. Phối hợp với FULRO ở Tây Nguyên, bọn FULRO Chăm và tàn quân phục quốc hoạt động mạnh ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ: đột nhập ấp Hậu Sanh ở huyện An Phước cướp gần 1 tấn ngô và bắt vịt của dân (9-14.8.1976), tập kích trụ sở xã Tân Lập (Hàm Tân, Thuận Hải) giết xã đội trưởng, cướp 5 súng (29.11.1976); gây ra hàng chục vụ gài mìn, lưu đạn ở các cây cầu, đường xe lửa ở hầm đèo Cả, dùng đá lấp đường ray, đóng đinh vào khe nối hai thanh ray để lật đổ tàu. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng giao, từ tháng 8 năm 1976 đến giữa năm 1977, Quân đoàn 3 sử dụng một lực lượng phối hợp với Quân khu 5 và chính quyền địa phương tiến hành phát động quần chúng, truy quét FULRO và các nhóm phản động khác. Sư đoàn 10 đảm nhiệm truy quét ở địa bàn tỉnh Lâm Đồng, với các trọng điểm: suối Vàng, bắc - Đông bắc Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng và dọc đường 21 từ Đức Trọng đi Gia Nghĩa. Sư đoàn 320 truy quét ở tỉnh Đắc Lắc. Lữ đoàn 273 và Lữ đoàn 234 đảm nhiệm khu vực An Phước, Tháp Chàm. Lữ đoàn 7 phụ trách địa bàn Cam Ranh. Phương thức truy quét là kết hợp chặt chẽ giữa tích cực triệt để liên tục tiến công bao vây chặt với công tác phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị. Trong gần 1 năm làm nhiệm vụ, toàn Quân đoàn đã tuyên truyền đường lối chính sách cho 30.405 lượt người, diệt hơn 200 tên địch, bắt gần 400 tên, hơn 300 tên ra hàng, thu hàng trăm khẩu súng, hàng chục vô tuyến điện và hàng chục nghìn viên đạn các loại. Ta đã phá tan các tổ chức phản động, truy quét tận hang ổ của bọn đầu sỏ FULRO ở các tỉnh nam Khu 5; diệt cơ quan chỉ huy tiền phương ''Vùng 4'' ở Lâm Đồng, bắt tên tỉnh trưởng FULRO Chăm Nam Lương ở Thuận Hải, buộc tiểu đoàn 2 FULRO phải nộp vũ khí xin hàng, xóa sổ ''trung đoàn 64'' FULRO ở Đắc Lắc... Nổi bật là trận đánh xuất sắc của Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 vào ''chỉ huy sở'' tiền phương của ''Vùng 4'' FULRO ở đông bản Ta Ni ngày 8 tháng 5 năm 1977, diệt tên ''đại tá'' Hà Sáu A và 3 ''sĩ quan'' khác, thu nhiều tài liệu qua trọng. Tháng 10 năm 1976, ta kịp thời phát hiện và giải tán vụ âm mưu nổi loạn cướp chính quyền ở 2 xã Quảng Thiện và Tân Mỹ (Phan Rang); ngày 24 tháng 1 năm 1977, giải tán cuộc biểu tình và bắt tên đầu sỏ phản động ở Đắc Lắc. Đặc biệt, trong hai ngày 20 và 21 tháng 11 năm 1976, bằng đấu tranh kiên trì và linh hoạt, ta đã lật tẩy bộ mặt bọn phản động lợi dụng tôn giáo kích động giáo dân ở xã Lạc Thiện huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng, phá tan hang ổ của nhóm phản cách mạng ''Liên minh tôn giáo chống cộng''. Trên cơ sở thành tích đã giành được, trong hai ngày 9 và 10 tháng 4 năm 1977 Quân đoàn tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm tác chiến truy quét FULRO, nhằm đánh giá đúng kết quả, tình hình địch - ta, rút ra bài học và đề ra phương hướng truy quét trong thời gian tới. Sau bản báo cáo đánh giá chung của Quân đoàn về truy quét FULRO, một số báo cáo điển hình của các đơn vị được trình bày: Trung đoàn 52 truy quét ở tây nam Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 64 hiệp đồng cùng địa phương và không quân diệt địch ở bắc Chư Cúc, Trung đoàn 24 vận động quần chúng và diệt địch ở Tu Trà, Đại đội 20 (Trung đoàn 24) đánh ở khu vực Lạc Lâm, Thành Mỹ; Trung đoàn công binh 7 báo cáo trận đánh diệt một trung đội địch ở khu vực Cam Ranh... Những hoạt động của Quân đoàn 3 phối hợp với Quân khu 5 và địa phương phát động quần chúng, truy quét FULRO và các tổ chức phản động trên địa bàn bốn tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Khánh, Thuận Hải đã góp phần giữ gìn trật tự an ninh, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, bảo vệ cuộc sống lao động bình yên cho nhân dân. Qua hoạt động thực tiễn, Quân đoàn và các đơn vị rút ra nhiều kinh nghiệm quý, bước đầu rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong các hoạt động chiến đấu, đồng thời kiểm nghiệm kết quả huấn luyện bộ đội. ------------------------------------------------------------------ 1. Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H.1996, tr 309. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:26:17 pm * Phát huy kết quả đạt được trong 2 năm 1975-1976, sang năm 1977 Quân đoàn tập trung đưa chất lượng các mặt công tác lên một bước mới. Một lực lượng bộ binh và binh chủng triển khai ở Đắc Lắc sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới, việc phối hợp với Quân khu 5 và địa phương truy quét FULRO hoàn thành, các kế hoạch cơ động tác chiến trên các hướng chiến lược được xây dựng hoàn chỉnh. Công tác huấn luyện theo hướng cơ bản, hệ thống, toàn diện đạt kết quả tốt. Các đơn vị được chấn chỉnh kiện toàn thêm một bước. Việc tổng kết chiến tranh tiếp tục được đẩy mạnh. Các ngành hậu cần, kỹ thuật cũng tập trung mọi nỗ lực phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Lao động sản xuất vừa tập trung mở rộng vừa nâng cao hiệu quả. Các khu sản xuất lương thực mới được mở ra ở Tà Nhiên, Thiện Hanh, Bù Pông. Sư đoàn 10 và Cục Hậu cần nâng cao công suất các xưởng gạch ngói ở Lạc Viên và Dục Mỹ. Lữ đoàn 40 thành công trong thử nghiệm sản xuất vôi, đi vào nung đại trà. Lữ đoàn 7 công binh và Trung đoàn 64 hoàn thành thi công đập nước "Chiến Thắng'' tại Học viện Quân sự Đà Lạt. Trại nuôi bò của Quân đoàn ở dưới chân đèo Phượng Hoàng tăng đầu gia súc lên gấp hai lần. Các xưởng sửa chữa vừa hoàn thành tốt chỉ tiêu vừa tích cực sản xuất công cụ lao động và đồ dùng phục vụ đời sống thường nhật. Khắc phục nhiều khó khăn, năm 1977 toàn Quân đoàn gieo trồng được 1743 héc-ta (đạt 116% kế hoạch), sản xuất lương thực đạt 75% chỉ tiêu, thu 30 tấn đậu lạc, 108 tấn thịt xô lọc, nung được 4.065.000 viên gạch, khai thác 4.484m3 gỗ và 2.000m3 đá sò, nung được 62 tấn vôi. Công tác đảng, công tác chính trị tập trung giáo dục tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ, đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng, phát động học tập gương điển hình tiên tiến... tạo khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp. Nhiều cán bộ chưa được nghỉ phép, có chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự vẫn tình nguyện ở lại tham gia chiến đấu, công tác xây dựng quân đội lâu dài. Năm 1977 có 211 cán bộ, chiến sĩ lập thành tích xuất sắc được tặng thưởng Huân chương Chiến công, 356 đoàn viên ưu tú được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau 2 năm thành lập, ngày 26 tháng 3 năm 1977 tại thành phố Nha Trang, Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày ra đời. Dự lễ kỷ niệm có đại biểu là chỉ huy, lãnh đạo Mặt trận Tây Nguyên qua các thời kỳ; đại biểu các quân khu, quân đoàn, đơn vị bạn; đại biểu các địa phương mà Quân đoàn 3 đã từng chiến đấu, công tác, chia ngọt sẻ bùi. Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Đắc Lắc, Phú Khánh, các đồng chí Nguyễn Văn Sỹ (Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum), YBLốc (Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc) và Mai Dương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Khánh) đã trao tặng Quân đoàn bức trướng mang dòng chữ vàng "tình nghĩa sắt son". Nhân dịp này, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Sông Bé cũng gửi điện chúc mừng đến Bộ tư lệnh Quân đoàn. Theo sự điều động của trên, tháng 3 năm 1977, Thiếu tướng Vũ Lăng - tư lệnh Quân đoàn 3 làm Hiệu trưởng Học viện Quân sự (Đà Lạt); Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - chính ủy Quân đoàn làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Các đồng chí đại tá Nguyễn Kim Tuấn - tư lệnh phó Quân đoàn đảm nhiệm quyền tư lệnh, đại tá Phí Triệu Hàm - phó chính ủy Quân đoàn đảm nhiệm quyền chính ủy Quân đoàn. Trong những ngày hè sôi động, tràn ngập khí thế thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên vô cùng phấn khởi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu phó... đến thăm, kiểm tra Quân đoàn và một số đơn vị trực thuộc. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen ngợi Quân đoàn 3 có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao cho; đồng thời căn dặn: ''Là binh đoàn cơ động, có nhiệm vụ chủ yếu là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Binh đoàn hãy tiếp tục tiến lên làm tốt nhiệm vụ được giao. Làm tốt rồi thì làm thật xuất sắc, anh hùng rồi thì anh hùng mãi?''. Sự quan tâm của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng là nguồn cổ vũ động viên mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái thi đua lập nhiều thành tích mới. Hơn 2 năm xây dựng chính quy và làm nhiệm vụ trong hòa bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã phát huy và giữ vững truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'' vượt qua mọi khó khăn trở ngại, dũng cảm tiến lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiều kinh nghiệm mới được tích lũy, một thế hệ mới đã trưởng thành. Mặc dù việc tổ chức ra quân ''ồ ạt'' sau giải phóng, tổ chức biên chế có những xáo trộn, di chuyển địa điểm đóng quân nhiều lần... tác động đến xây dựng chính quy, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; nhưng 2 năm xây dựng trong hòa bình là bước khởi đầu vô cùng quan trọng, là bước chuẩn bị toàn diện để Quân đoàn bước vào chặng đường mới: chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:28:29 pm 2. Tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (10.1977 - 11.1978).
Sau thắng lợi vẻ vang của nhân dân Cam-pu-chia lật đổ hoàn toàn chế độ Lon-non (17.4.1975), những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong Đảng Cam-pu-chia do Pôn Pốt đứng đầu được các thế lực phản động quốc tế hậu thuẫn, ra sức lũng đoạn đảng, phản bội lại lợi ích của nhân dân Cam-pu-chia, phản bội tình đoàn kết chiến đấu cùng chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, rắp tâm đưa đất nước Chùa Tháp từ thắng lợi huy hoàng đến bờ vực thẳm của thảm họa diệt chủng. Song song với đường lối đối nội phát xít cực kỳ tàn bạo, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary thi hành đường lối đối ngoại phản động, ngang nhiên, liều lĩnh gây ra cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 8 năm 1977, chúng nhiều lần cho quân xâm chiếm, cướp phá có hệ thống gây bao tội ác dã man với nhân dân ta ở đảo Phú Quốc (3.5.1975), Thổ Chu (10.5.1975) và dọc biên giới trên bộ từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum đến tỉnh Kiên Giang. Tại Đắc Lắc, một trong những tỉnh Quân đoàn 3 đứng chân và làm nhiệm vụ, quân Khơ Me đỏ liên tiếp xâm phạm biên giới ở Bu Prăng, nhiều lấn tiến công đánh chiếm đồn biên phòng số 7 và số 8, luồn sang đất ta phục kích, gài mìn và giúp đỡ FULRO phá hoại chính quyền cách mạng. Thực hiện nhiệm vụ Bộ Tổng Tham mưu giao, Quân đoàn 3 đã cơ động Trung đoàn 66 và một số phân đội bộ binh, binh chủng lên đứng chân ở Đắc Lắc, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an võ trang và bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch, bảo vệ biên giới. Trong khi làm nhiệm vụ trinh sát vùng biên giới, thượng tá Võ Khắc Phụng - sư đoàn phó Sư đoàn 10 cùng 4 chiến sĩ thuộc Trung đoàn 66 đã bị địch phục kích, hy sinh tại huyện Đắc Nông. Đây là những chiến sĩ đầu tiên của Quân đoàn 3 hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, chống bọn phản động Khơ Me đỏ. Trước những hành động xâm lược ngày càng gia tăng và nghiêm trọng của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary, quân và dân ta hết sức tự kiềm chế, Đảng và Nhà nước ta tìm mọi biện pháp nhằm giải quyết bất đồng bằng con đường hòa bình; nhưng mọi thiện chí của ta đều bị chúng cự tuyệt và ngày càng lấn tới. Đặc biệt nghiêm trọng trong ngày 25 tháng 9 năm 1977, Khơ Me đỏ dùng 2 sư đoàn đánh chiếm hai huyện Bến Cầu và Tân Biên tỉnh Tây Ninh, kết hợp chiếm đất với chính sách ''đốt sạch, phá sạch, giết sạch'' rất man rợ đối với đồng bào ta. Chỉ tính riêng ở xã Tân Phú huyện Tân Biên, bọn lính áo đen đã dùng vồ, dao, gậy, lưỡi lê, lựu đạn và súng giết chóc tàn bạo trên 1.000 dân thường, đất 400 nhà dân, trường học, bệnh xá, hãm hiếp tập thể, vơ vét toàn bộ của cải đưa về nước. Đi đôi với hành động xâm lược, kẻ cướp, chúng dùng bộ máy tuyên truyền khổng lồ ngày đêm xuyên tạc bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, gieo rắc kích động tư tưởng hằn thù dân tộc và đòi sửa lại đường biên giới giữa hai nước do lịch sử để lại theo ý chúng. Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và cuộc sống yên lành cho nhân dân, quân và dân ta buộc phải giành quyền tự vệ chính đáng, kiên quyết giáng trả quân xâm lược. Một số đơn vị chủ lực được lệnh lên biên giới Tây Nam chiến đấu. Cuối tháng 9 năm 1977, Bộ Quốc phòng thông báo tình hình biên giới Tây Nam và chỉ thị cho Quân đoàn 3 sẵn sàng đợi lệnh. Đầu tháng 10, Bộ chính thức ra lệnh cho Quân đoàn cơ động Sư đoàn bộ binh 10 và một lực lượng binh khí kỹ thuật lên phía bắc tỉnh Tây Ninh chiến đấu bảo vệ biên giới. Thực hiện mệnh lệnh, ngày 8 tháng 10, đại tá Nguyễn Kim Tuấn - quyền tư lệnh Quân đoàn đến Tiền phương Bộ Quốc phòng (thành phố Hồ Chí Minh) nhận nhiệm vụ cụ thể, đồng thời một lực lượng của Quân đoàn rời vị trí đứng chân hành quân lên Tây Ninh. Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn, các phân đội thông tin, công binh, trực thuộc và Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) hành quân bằng máy bay từ Nha Trang và Buôn Ma Thuột đến sân bay Thiện Ngôn (Tây Ninh). Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24) và một số phân đội binh khí kỹ thuật cơ động bằng đường bộ đến huyện Tân Biên. Đợt hành quân cơ động chiến đấu này, Quân đoàn đã sử dụng 19 lần chiếc máy bay, 140 lần chiếc ô tô của Cục Vận tải và 262 lần chiếc ô tô của binh đoàn; chuyển được 6.370 cán bộ, chiến sĩ và 379 tấn hàng các loại, bảo đảm đúng kế hoạch, an toàn. Ngày 10 tháng 10, các đơn vị vào tập kết trên các vị trí quy định, khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu. Nhiệm vụ đầu tiên của Quân đoàn trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam là mở đợt tiến công mang mật danh A8. Mục đích của đợt tiến công là đánh đòn trừng trị, quét sạch quân xâm lược Khơ Me đỏ ra khỏi biên giới phía bắc tỉnh Tây Ninh, đồng thời triệt phá các vị trí bàn đạp tiến công của địch trên đấu đối phương. Ngày 20 tháng 10, quyết tâm chiến đấu A8 của Quân đoàn được thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt. Theo kế hoạch, Quân đoàn sử đựng Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320), 2 đại đội xe tăng, xe thiết giáp (Lữ đoàn 273), 1 đại đội pháo Đ74 (Lữ đoàn 40), 1 tiểu đoàn phòng không (Lữ đoàn 234), 1 tiểu đoàn công binh công trình (Lữ đoàn 7), 1 tiểu đoàn thông tin (Trung đoàn 29); quá trình chiến đấu được tăng cường 1 đại dội xe tăng, 1 đại đội pháo 130mm của Quân khu 7 và được các lực lượng của biên phòng, địa phương, Quân đoàn 4 phối hợp; tiến công tiêu diệt trung đoàn 156 thuộc sư đoàn 4 và lực lượng vùng 20 quân Pôn Pốt trong khu tam giác Tà Nốt - ngã ba Công Sự - phum Thơ Mây. Trong đó, Trung đoàn 28 được tăng cường xe tăng xe thiết giáp, pháo binh, công binh tiến công trên hướng chính diện từ khu vực Xa Mát theo trục đường 78 về hướng phum Thơ Mây; Trung đoàn 66 đảm nhiệm hướng vu hồi bên cánh phải từ bắc phum Soa thọc lên phía bắc đánh vào sở chỉ huy trung đoàn 156 địch; Trung đoàn 64 từ đồng Tà Nết thực hành luồn sâu lên khu vực Pring chốt chặn các điểm cao 26, 27, 28 cắt đường 78, đánh địch phản kích giải tỏa, tạo điều kiện cho Sư đoàn 10 tiêu diệt gọn quân địch. Sau hơn 2 năm xây dựng củng cố trong hòa bình, đây là lần đầu tiên Quân đoàn bước vào chiến đấu. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Quân đoàn cũng còn nhiều khó khăn: các đơn vị đều mới được củng cố kiện toàn; trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu của cán bộ, trang bị và tổ chức biên chế còn nhiều điểm chưa đáp ứng yêu cầu thực tế chiến đấu, 100% chiến sĩ nhập ngũ năm 1976, 1977; đối tượng tác chiến mới, địa hình rừng bằng xen kẽ sình lầy chưa quen; chuyển hướng nhiệm vụ từ thời bình sang thời chiến khẩn trương, thời gian chuẩn bị ngắn, nhận thức về kẻ địch còn chưa đầy đủ. Để khắc phục một bước những khó khăn, kịp thời đưa lực lượng vào chiến đấu đúng thời gian quy định, cán bộ các cấp khẩn trương tỏa xuống hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra đơn vị làm công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu và động viên bộ đội. Trưa ngày 16 tháng 10 năm 1977, đại tá Nguyễn Kim Tuấn - quyền Tư lệnh Quân đoàn trực tiếp xuống kiểm tra động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 trước lúc ra trận và căn dặn: ''Trung đoàn có truyền thống luồn sâu, thọc sâu như chặn quân địch ở Cheo Reo, luồn vào cầu Bông, cầu Sáng ở Sài Gòn trong chiến dịch đại thắng mùa xuân 1975; nay cứ thế mà làm và phải làm tốt hơn thế. Các đồng chí cũng không nên hỏi Quân đoàn làm như thế nào? Mà các đồng chí cứ làm như... đã làm trước đây... Chúc các đồng chí thành công!''. Sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của đồng chí quyền tư lệnh Quân đoàn và cán bộ các cấp tạo cho đơn vị nhanh chóng hoàn thành công tác chuẩn bị, bộ đội tin tưởng phấn khởi bước vào cuộc chiến đấu mới. Đường vào địch hậu bị quân Pôn Pốt giăng kín. Trinh sát của ta nhiều lần tổ chức luồn sâu nhưng vẫn không lọt qua phòng tuyến của địch. Thời gian nổ súng tới gần. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ trương: tích cực dùng trinh sát tìm mọi cách nắm địch, đồng thời đưa lực lượng bộ binh áp sát mục tiêu, chuẩn bị bàn đạp tiến công và tạo thế, tiến hành công tác tổ chức chiến đấu tại thực địa. Các mũi luồn sâu, vu hồi được lệnh ''đánh địch mà đi, mở đường mà tiến''. Thực hiện chủ trương trên, 4 giờ 30 phút ngày 20 tháng 10, Trung đoàn 64 bí mật vượt suối Đà Ha và suối Sa Nghe tiến vào hậu phương địch. Sau 3 ngày linh hoạt luồn lách, dũng cảm chiến đấu mở đường, lúc 5 giờ 20 phút ngày 23 một lực lương của Trung đoàn đã áp sát điểm cao 26, các đơn vị còn lại cũng đến gần vị trí chốt chặn. Bên cánh phải, đêm 22 rạng ngày 23 Trung đoàn 66 thực hành đột phá qua phòng tuyến địch, rồi khéo léo vòng tránh tiến sát mục tiêu quy định. Cùng thời gian này, Trung đoàn 28 và lực lương xe tăng thiết giáp bí mật tiến vào vị trí triển khai, sẵn sàng nổ súng. Đúng 5 giờ 50 phút ngày 23 tháng 10 năm 1977, các cụm pháo binh của Quân đoàn và Sư đoàn 10 ầm ầm trút bão lửa xuống trận địa địch ở phía bắc cầu Orung, Đảo Xanh, phum Thơ Mây. Đợt tiến công A8 chính thức mở màn. Sau 40 phút pháo bắn chuẩn bị, 6 giờ 30 phút bộ binh, xe tăng được lệnh xung phong. Hướng chính diện, Trung đoàn 28 do trung đoàn trưởng Đỗ Công Mùi và chính ủy Nguyễn Tiến Tứ chỉ huy, có xe tăng phối hợp nhanh chóng đánh chiếm trận địa địch ở khu vực cầu Orung và chiếm được một phần Đảo Xanh thì bị địch ngăn chặn phải tạm dừng để tổ chức đjột phá tiếp. Thấy Trung đoàn 28 gặp khó khăn, quyền tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Kim Tuấn và sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 Phùng Bá Thường trục tiếp xuống xem xét tình hình và hướng dẫn đơn vị tổ chức lại, mở đợt tiến công mới. 14 giờ ta làm chủ khu vực phía bắc cầu Orung và đến 19 giờ đội hình địch tan vỡ. Do ta đón lõng không chặt, tiểu đoàn 562 địch chạy thóat phần lớn về tây nam phum Long. Hiệp đồng chặt chẽ với hướng tiến công chính, Trung đoàn 66 do trung đoàn trưởng Tô Quốc Trịnh và chính ủy Nguyễn Văn Kiểm chỉ huy, đánh vu hồi vào các mục tiêu địch ở phía đông đường 78. Tiểu đoàn 8 đánh tan một cụm địch rồi phát triển về phía tây chiếm phum Dau; Tiểu đoàn 9 chiếm ngã ba đường cụt phum Thơ Mây. Quá trình tiến công, Trung đoàn 66 chưa hình thành được thế vây chặt, nên không diệt gọn được chỉ huy trung đoàn 156 địch. Ở hướng luồn sâu chốt chặn, Trung đoàn 64 nổ súng sớm 30 phút. Lúc 6 giờ 23, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 chia làm hai mũi bất ngờ tập kích chiếm điểm cao 28, rồi trụ lại đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Tiểu đoàn 7 tiến công làm chủ điểm cao 23, sau đó truy kích đánh chiếm điểm cao 25 và điểm cao 26 nơi đặt sở chỉ huy của vùng 20 và trung đoàn 156 địch. Ngay trong ngày đầu tiến công, quân xâm lược đã bị quét sạch khỏi đất ta, nhiều căn cứ bàn đạp của địch bị triệt phá. Các đơn vị nhanh chóng chuyển sang truy quét, mở rộng địa bàn và đánh địch phản kích. Bộ đội rất phấn khởi, tin tưởng, hăng hái chiến đấu lập công. Thực hiện mệnh lệnh bổ sung của Tiền phương Bộ Quốc phòng, 15 giờ ngày 24 tháng 10, Quân đoàn dùng pháo tầm xa bắn phá vào sở chỉ huy sư đoàn 4 địch ở khu vực Krêk 1, đồng thời sử dụng một tiểu đoàn bộ binh và một đại đội xe tăng hành tiến theo trục đường 78 lên phía bắc. Nhưng đến làng Tra Peăng Pring bị địch ngăn chặn quyết liệt ta phải tạm dừng. Trong những ngày tiếp theo, Quân đoàn điều chỉnh đội hình chiến đấu và tiếp tục đánh địch phản kích. Ngày 28 tháng 10, đợt 1 tiến công A8 hoàn thành. Các đơn vị được lệnh lui về biên giới chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Như vậy, chỉ trong 5 ngày chiến đấu Quân đoàn đã khôi phục chủ quyền của ta trên toàn tuyến biên giới từ bắc phum Soa đến Tà Nốt, đập tan tuyến bàn đạp xuất phát tiến công xâm lược của địch dọc trục đường 78; loại khỏi vòng chiến đấu 417 tên địch, thu và phá hàng chục súng các loại. Về phía ta có 52 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 336 đồng chí bị thương. Thắng lợi đợt một tiến công A8 có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị; đồng thời khẳng định quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc của cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên, củng cố niềm tin của quân và dân vùng biên giới Tân Biên trong cuộc chiến đấu mới. Được tin thắng lợi, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Tân Biên đã cử đoàn đại biểu đến chúc mừng và tặng quà cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 vừa lập chiến công, kịp thời động viên bộ đội vững chắc tay súng bảo vệ quê hương, đất nước. Bị đòn trừng trị A8, thế trận của sư đoàn 4 địch bị đảo lộn. Nhưng do chưa bị đánh đau nên chúng rất ngoan cố, tổ chức nhiều bộ phận nhỏ liên tục bám sát khi ta lui quân. Sau đó địch dùng các toán nhỏ áp sát các chốt của ta, kết hợp với hỏa lực liên tục bu bám, tập kích, lấn dũi; tập trung vào các trận địa bắc cầu Trung, Đảo Xanh (của Trung đoàn 28), bắc Bảy Bàu (của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66) và bắc Đập Đá (của Trung đoàn 64). Được thắng lợi đợt một cổ vũ, cán bộ và chiến sĩ binh đoàn hăng hái bước vào đợt hai hoạt động A8. Trong hơn 10 ngày đầu tháng 11, các trung đoàn 28, 66, 64 liên tục đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững chốt, bảo vệ nhân dân địa phương thu hoạch mùa màng. Ngày 13 tháng 11, Quân đoàn điều chỉnh đội hình phòng ngự, đưa hầu hết lực lượng về lập thế trận mới bên đất ta. Ngày 22, khỏang 2 đại đội địch vượt biên giới đánh sang khu vực tây nam đồn biên phòng Xa Mát đúng như dự kiến của ta. Lập tức Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 có xe tăng phối thuộc được lệnh bao vây tiêu diệt. Do tốc độ tiến công chậm, hiệp đồng không chắc, bao vây không chặt nên trận đánh kéo dài từ l6 giờ ngày 22 đến 9 giờ 30 phút ngày 23 mới kết thúc. Kết quả thấp, chỉ diệt được 58 tên địch và thu 7 khẩu súng. Ngày 23 tháng 11 đợt hoạt động A8 kết thúc. Sau một tháng chiến đấu liên tục, Quân đoàn đã đánh bại và quét sạch quân địch ra khỏi biên giới, cùng các lực lượng bạn thu hồi toàn bộ đất đai khu vực Tà Uất - Kà Tum; đánh thiệt hại trung đoàn l56, một số tiểu đoàn địa phương, phá hủy căn cứ chỉ huy vùng 20; loại khỏi vòng chiến đấu 596 tên địch, bắt 4 tên, thu 95 súng các loại và một số tài liệu.Đây là đợt chiến đấu đầu tiên của Quân đoàn sau hơn 2 năm xây dựng củng cố trong hòa bình. Qua đợt hoạt động A8, Quân đoàn rút ra được những kinh nghiệm bước đầu nhưng rất quý giá khi tác chiến với đối tượng địch mới, đồng thời đánh giá khách quan hơn về những mặt mạnh, yếu và khả năng tác chiến của bộ đội. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:32:05 pm * Những âm mưu và hành động xâm lược vùng biên giới Tây Nam Việt Nam liên tiếp bị thất bại. Tháng 12 năm 1977, tập đoàn Pôn Pốt công khai tuyên bố tiến hành chiến tranh chống Việt Nam, đồng thời ráo riết tập trung một lực lượng lớn chuẩn bị tiến công trên toàn tuyến biên giới. Trên hướng Tây Ninh, 2 sư đoàn chủ lực địch (290 và 3), các đơn vị pháo binh và lực lượng quân khu 203 triển khai dọc trục dường số 13 và số 1 chuẩn bị đánh qua Bến Cầu, Bến Sỏi - địa bàn do Quân đoàn 4 của ta phòng giữ, nhằm chiếm tỉnh Tây Ninh, buộc ta phải chấp nhận những yêu sách vô lý của chúng. Phối hợp với hướng chính, trung đoàn 58 thuộc sư đoàn 5 địch sẵn sàng đánh vào tuyến phòng giữ của Quân đoàn 3 từ nam Xa Mát đến Bàu Lùng Tung. Thực hiện nhiệm vụ Bộ giao và chủ động phối hợp với chiến dịch phản công và tiến công lớn của Quân đoàn 4 ở đông - đồng bắc tỉnh Xoài Riêng, đầu tháng 12 năm 1977 Quân đoàn 3 xây dựng hai phương án: đánh địch phản kích chiếm Xa Mát (mật danh S1) và đánh sang đất địch ở phạm vi hẹp nhằm triệt phá một số căn cứ bàn đạp (mật danh Z2). Đồng thời khẩn trương điều chỉnh lực lượng, lập thế trận đánh địch theo phương án S1. Nhưng trong một tuần quân địch vẫn không sang Xa Mát. Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định chuyển sang thực hiện phương án Z2. Ngày 3 tháng 12, Bộ tư lệnh và cơ quan Quân đoàn trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị của Trung đoàn 28 và Trung đoàn 64 tại thực địa; thấy việc nắm địch chưa chu đáo nên quyết định lui thời gian nổ súng tiến công từ ngày 4 sang ngày 5 tháng 12 để có thời gian chuẩn bị thêm và cho mạng thông tin vô tuyến điện phát sóng nghi binh. Giữa lúc bộ đội đang hoàn chỉnh những công việc chuẩn bị chiến đấu cuối cùng theo phương án Z2, thì sáng sớm ngày 4 tháng 12 trung đoàn 58 địch tiến công sang đất ta. Từ 5 giờ sáng, pháo binh địch bắn mạnh vào khu vực sân bay Thiện Ngôn; 15 phút sau một đại đội bộ binh địch vượt biên giới đánh vào trận địa Tiểu đoàn phòng không 12 thuộc Trung đoàn pháo binh 4 Sư đoàn 10. Với tinh thần cảnh giác cao, các chiến sĩ hai đại đội 8 và 9 của Tiểu đoàn 12 dùng AK, lưu đạn và hạ thấp nòng pháo phòng không 37mm bắn thẳng vào quân địch, đẩy lui các đợt tiến công của bọn lính áo đen, giữ vững trận địa. Khỏang 7 giờ, hai tiểu đoàn địch từ điểm cao 20 và phía đông Đập Đá tiến sâu vào khu vực Bàu Lùng Tung cách đồn biên phòng Xa Mát hơn 3km về phía tây nam. Trước diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh Quân đoàn và chỉ huy Sư đoàn 10 thống nhất nhận định: đây là thời cơ tốt để tiêu diệt địch, chúng vào gần đúng như dự kiến trong phương án S1, lực lượng ta tuy đang triển khai phương án Z2 nhưng vẫn kịp điều chỉnh đội hình, tập trung tiêu diệt địch theo phương án S1. Vì vậy, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định tập trung hai trung đoàn 64 và 66 bao vây tiêu diệt bọn địch nống sang đất ta; riêng Trung đoàn 28 vẫn tiến công địch ở điểm cao 20 và phát triển lên hướng đông bắc vừa ngăn chặn vừa bảo vệ sườn phía bắc cho các đơn vị bạn. Thực hiện ý định chiến đấu mới, 5 giờ 45 phút, pháo binh ta bắn mạnh vào cụm địch ở tây nam Xa Mát. Pháo ta bắn chính xác, làm quân địch tan vỡ đợi hình, chạy toán loạn sang cả phía đông đường 22. Chớp thời cơ, 6 giờ 35 phút Trung đoàn 66 có xe tăng phối hợp đồng loạt tiến công vào đội hình địch, chiếm khu vực xung quanh đồn công an, rồi liên tục bao vây đột phá cụm địch còn lại, làm chủ hoàn toàn trận địa lúc 8 giờ 30 phút. Cùng thời gian này, Trung đoàn 64 đánh mạnh vào cụm địch ở điểm cao 17 và phát triển ra xung quanh. Quân địch phần Đông bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy xộc vào cả sở chỉ huy Sư đoàn 10 và sở chỉ huy Trung đoàn 64, bị diệt và bắt thêm một số. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công trong nội địa, Trung đoàn 28 đánh chiếm điểm cao 20 và làm chủ mục tiêu lúc 12 giờ. Sau hơn 6 giờ tiến công, ta đã quét sạch quân địch xâm phạm biên giới, chiếm được một số vị trí bàn đạp có giá trị chiến thuật bên đất đối phương; đánh thiệt hại nặng trung đoàn 58 sư đoàn 5 địch, loại khỏi vòng chiến đấu 210 tên, bắt 7 tên, thu 64 súng các loại. Đây là trận đánh hay nhất, đạt hiệu quả cao nhất của Quân đoàn từ khi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Thắng lợi của trận đánh rất có ý nghĩa, nó không chỉ đập tan một ý đồ xâm chiếm của địch, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch phản công và tiến công của Quân đoàn 4, mà còn cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ thực hiện phương án tác chiến Z2. Phát huy thắng lợi và thời cơ do trận đánh ngày 5 tháng 12 tạo ra, trong những ngày tiếp theo hai trung đoàn (66 và 64) liên tục tiến công và làm chủ các mục tiêu: điểm cao 23, phum Long, điểm cao 26, phát triển mở rộng khu vực đứng chân. Trong đợt chiến đấu này, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 đã diệt gọn 1 đại đội địch, ta ít tổn thất, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Tuy thất bại liên tiếp, nhưng với bản chất phản động, ngoan cố, mù quáng tập đoàn Pôn Pốt tiếp tục bắt lính tăng quân, huy động một lực lượng lớn áp sát biên giới Việt Nam, hòng thực hiện những mưu đồ, cuồng vọng mới. Trên khu vực biên giới tiếp giáp với tỉnh Tây Ninh, địch tập trung 3 sư đoàn bộ binh (290, 3, 703), nhiều đơn vị binh chủng và quân địa phương ở mặt trận Xoài Riêng (vùng mỏ vịt) phản kích vào đội hình chốt giữ của Quân đoàn 4; đồng thời 3 sư đoàn bộ binh (4, 5, 17), lực lượng vùng 20, 21 (với tổng số 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp) nhanh chóng lập tuyến chốt chặn mới từ Chi Peng, phum Thơ Mây đến Krếc, Chông Chếch, Đầm Be và Chrum, Khna đối diện với vùng biên giới do Quân đoàn 3 đảm nhiệm. Nhằm giáng một đòn mạnh, phá tan âm mưu tập trung lực lượng chuẩn bị đánh chiếm tỉnh Tây Ninh của Pôn Pốt và phục vụ đấu tranh chính trị; ta chủ trương mở một đợt tiến công mới vào nửa cuối tháng 12 năm 1977 và đầu tháng 1 năm 1978. Để bảo đảm tiến công thắng lợi và bảo vệ vững chắc vùng biên giới Tây Ninh, Bộ Tổng tham mưu quyết định điều động toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 3 ở địa bàn Quân khu 5 lên Tân Biên chiến đấu. Thực hiện mệnh lệnh, ngày 8 tháng 12 năm 1977 Sở chỉ huy cơ bản của Quân đoàn từ Nha Trang chuyển lên khu vực đường 20, cách sân bay Thiện Ngôn 5km về phía nam. Cùng thời gian này, các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 320 (thiếu), Trung đoàn bộ binh 24 và lực lượng còn lại của các lữ đoàn 273, 234, 7 lần lượt cơ động bằng đường bộ lên Tây Ninh. Ngày 18 tháng 12 năm 1977, bộ đội, vũ khí trang bị đã cơ bản và hết vị trí tập kết, sớm hơn kế hoạch 4 ngày. Trong đợt này, Cục Hậu cần chuyển 450 khẩu súng AK, RPĐ, 1.200 quả mìn, 30 tấn đạn, lắp đặt 10 bể chứa xăng loại 25m3 (nhận ở Quảng Bình) và tiếp nhận 17.988 lít xăng dầu các loại, kịp thời cấp phát cho các đơn vị. Một lượng lớn lương thực, thực phẩm tăng gia sản xuất của Quân đoàn cũng được chuyển nhanh đến mặt trận phục vụ bộ đội. Tiểu đoàn vận tải ô tô 827 làm tiệc liên tục không kể ngày đêm. Với lực lượng mạnh binh chủng hợp thành, từ trung tuần tháng 12 năm 1977 đến đầu tháng 1 năm 1978 Quân đoàn 3 mở chiến dịch tiến công mang mật danh Đ7. Mục đích của chiến dịch nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, phá vỡ bàn đạp chuẩn bị tiến công xâm lược của địch ở biên giới khu vực đường số 7; rèn luyện và nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu cho cán bộ các cấp, kỹ chiến thuật và ý chí chiến đấu của bộ đội; thực hiện chủ trương: loại bỏ chiến tranh xâm lược từ gốc, phục vụ đấu tranh chính trị và ngoại giao. Lực lượng Quân đoàn sử dụng trong chiến dịch bao gồm: 2 sư đoàn bộ binh (10, 320), các lữ đoàn binh chủng (273, 234, 40, 7), Trung đoàn 29 thông tin và các lực lượng bảo đảm phục vụ. Trong đó có 54 khẩu pháo lớn (từ 85mm đến 155mm), 39 xe tăng, xe thiết giáp. Địa bàn diễn ra chiến dịch có chiều rộng khỏang 25km, chiều sâu từ 35km đến 40km, sử dụng cơ giới tương đối thuận lợi. Mở đầu chiến dịch, trong 2 ngày (20 và 21 tháng 12 năm 1977), trên cánh trái, Sư đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 64 và Trung đoàn 52 có xe tăng phối thuộc đánh chiếm bản Không tên và cầu Stốc, rồi tiến công thọc sâu chiếm Tà Hiên vào 16 giờ ngày 22, sau đó truy quét mở rộng vị trí đã chiếm. Trên cánh phải, Sư đoàn 10 tiến công tương đối thuận lợi. 5 giờ 55 phút ngày 22 tháng 12 pháo binh bắn chuẩn bị, 6 giờ 10 phút Trung đoàn 28 đánh thẳng vào phum Sâm và làm chủ mục tiêu sau 25 phút nổ súng. Phát huy thắng lợi, bộ binh, xe tăng ta phát triển tiến công theo trục đường số 7 về phía tây, nhanh chóng chiếm Âm Púc (8 giờ 30 phút), Krêc 1 (9 giờ), ngã ba đường số 7 (10 giờ). Lợi dụng kết quả chiến đấu của Trung đoàn 28, chỉ huy Sư đoàn 10 cho Trung đoàn 66 chuyển dần đội hình lên khu vực bàn đạp A6 (ở bắc Krêc 2); Trung đoàn 24 và xe tăng tiến công dọc trục đường 78 lên hướng bắc, chiếm điểm cao 28, ngã ba phum Thơ Mây và Pring; Trung đoàn pháo binh 4 di chuyển trận địa lên Âm Púc. Trong hơn mười giờ tiến công đồng loạt ngày 22, Quân đoàn đã đập tan tuyến bàn đạp của sư đoàn 4 và vùng 20 địch, làm chủ một khu vực rộng khỏang 300km vuông từ phum Sâm đến Tà Hiên và từ bắc đường số 7 đến Trảng Diệc, Lò Gò, hoàn thành bước một của chiến dịch. Trong những ngày tiếp sau, bộ đội được lệnh chuyển sang truy quét, củng cố thế trận, đánh địch phản kích. Ngày 24 tháng 12 Bộ tư lệnh Quân đoàn triệu tập hội nghị quân chính bàn phương án đánh địch phản kích và phương án tiến công mở rộng địa bàn tạo thế đứng vững chắc. Sau đòn phủ đầu chóang váng ở đường số 7, địch tập trung 3 sư đoàn (117, 4, 5) và lực lượng vùng 20 có xe tăng, pháo lớn hỗ trợ tổ chức phản kích vào các trận địa chốt của ta, tập trung trên hướng tây và tây nam Stoeng - nơi Sư đoàn 320 phòng giữ. Tại trận địa chốt của Trung đoàn 64 chiến sự diễn ra rộng khắp và rất quyết liệt trong suốt ba ngày cuối cùng của năm 1977. Ngay từ sáng sớm ngày 28 tháng 12, một lực lượng khá đông của sư đoàn 117 có xe tăng pháo lớn chi viện, ồ ạt đánh vào tất cả các chốt của cả 3 tiểu đoàn (7, 8, 9). Trận địa chốt của Đại đội 8 Tiểu đoàn 8 bị địch tràn vào, Trung đoàn 64 phải dùng cối 120mm bắn trùm lên trận địa và tập trung 3 đại đội (5, 6, 7) phản kích nhưng vẫn không đẩy lui được quân địch. Trước tình thế đó, trung đoàn trưởng Phạm Quang Bào kịp thời ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 và xe tăng đánh chi viện, chiếm lại trận địa. Tiếp đó, trận địa chốt của Đại đội 5 cũng bị địch vây kín và đột nhập được một phần; ta phải dùng bộ binh, xe tăng xuất kích ngắn đánh vu hồi, kết hợp trong phản kích ra mới đẩy lui được địch. Đánh ồ ạt không kết quả địch chuyển sang dùng các toán nhỏ lẻ bu bám dai dẳng kết hợp dùng hỏa lực tiến công liên tục vào các chốt. Nhưng các thủ đoạn của địch đều bị thất bại. Chỉ tính riêng trong ngày 29, Trung đoàn 64 đã tiêu diệt được 272 tên địch, bắn cháy 2 xe M113, thu 1 xe tăng và 34 khẩu súng các loại. Ngày 29 tháng 12, cuộc phản kích lớn của địch bị đánh bại. Trên toàn tuyến, các đơn vị sẵn sàng trong thế trận tiến công. Trước thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định chuyển sang thực hiện bước ba của chiến dịch: tiến công đánh chiếm các mục tiêu ở phía bắc và phía tây, tây nam sớm hơn thời gian dự kiến. Với thế tiến công áp đảo, bất ngờ, ngày 30 tháng 12 Trung đoàn 66 từ bắc Krêc 2 nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu M9, làm chủ Đầm Be (10 giờ 30 phút), M7, M5, M4; Trung đoàn 24 đánh mở rộng chiếm các làng xung quanh Ennimít, làm chủ Chông Chếch rồi phát triển chiếm Konk Srốt. Ngày hôm sau (31.12.1977) ta tiếp tục tiến công về phía tây theo trục đường số 7. Trung đoàn 64 có xe tăng phối hợp do phó trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu Mão chỉ huy từ phía đông ngã tư Stoeng nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Pô Léa, phát triển chiếm ChRum (11 giờ) rồi tiến về thành Ăng Ko Tây. Cùng thời gian này, Trung đoàn 28 có xe tăng đi cùng đánh chiếm Phrết Theai (8 giờ 50 phút), phát triển làm chủ phum Khna (11 giờ 15 phút) và tiến vào thành Ăng Ko Tây cùng Trung đoàn 64 làm chủ vị trí này. Những ngày đầu tiên của năm 1978, chiến dịch Đ7 kết thúc thắng lợi. Được lệnh trên, đêm mùng 3 và ngày 4 tháng 1 Quân đoàn cơ động toàn bộ lực lượng về biên giới Tổ quốc. Qua 25 ngày đêm chiến đấu (12.12.1977-5.1.1978), Quân đoàn đã đập vỡ toàn bộ tuyến bàn đạp chuẩn bị chiến tranh của địch ở vùng biên giới khu vực đường số 7; đánh thiệt hại nặng sư đoàn 4, sư đoàn 117 và lực lượng vùng 20; đánh thiệt hại một bộ phận cánh bắc quân khu 203 và sư đoàn 5 Pôn Pốt. Loại khỏi vòng chiến đấu 2.461 tên địch, bắt 362 tên; thu 520 súng các loại, 10 xe quân sự, 58 tấn đạn; phá hủy 3 xe tăng, xe thiết giáp; giải phóng hàng nghìn dân. Đồng thời cũng qua chiến dịch này, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn rèn luyện thêm bản lĩnh, ý chí và nâng cao năng lực chiến đấu, hiểu rõ hơn về kẻ thù mới, đối tượng tác chiến mới, từ đó củng cố vững chắc niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, quyết tâm cầm chắc tay súng giữ gìn biên giới quốc gia. Đến đây, 70 ngày đêm đầu tiên chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của binh đoàn đã hoàn thành. Về giai đoạn chiến đấu mở đầu đầy ý nghĩa này, Bộ tư lệnh Quân đoàn đã nhận xét: ''Quân đoàn đã hoàn thành được nhiệm vụ trên giao. Tuy lúc đầu chất lượng hoàn thành còn thấp, nhưng càng về sau càng có tiến bộ trên các mặt, chất lượng chiến đấu ngày càng tiến bộ hơn nhất là về mặt tiêu diệt sinh lực địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Nhưng kết quả chưa tương xứng với vai trò của một quân đoàn chủ lực cơ động, thể hiện về mặt đánh tiêu diệt và chất lượng đánh tiêu diệt lớn''1. Trong những ngày đầu xuân Mậu Ngọ mừng vui thắng lợi cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên rất xúc động được tin: ngày 1 tháng 1 năm 1978 Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa cho Sư đoàn bộ binh 10. Tiếp đó, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Thượng tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ra tận mặt trận thăm hỏi, động viên, khen ngợi bộ đội vừa hoàn thành tốt hai nhiệm vụ quân sự và chính trị. Sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ quân đoàn hăng hái thi đua, sát cánh cùng quân và dân vùng biên giới Tân Biên bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. ---------------------------------------------------------------- 1. Sơ kết đợt hoạt động đánh trừng trị bọn phản động Cam-pu-chia từ ngày 23.10.1977 đến ngày 15.1.1978 ở vùng bắc Tây Ninh của Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, tr 49. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:35:35 pm * Lợi dụng thiện chí của Chính phủ ta mong muốn giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia thông qua đàm phán hòa bình, tôn trọng lẫn nhau, bảo đảm công bằng hợp lý, có sự bảo đảm giám sát quốc tế và lực lượng vũ trang ta lui về biên giới, Pôn Pốt dựng lên ''chiến thắng'' giả tạo, mở chiến dịch tuyên truyền rùm beng xuyên tạc sự thật kích động gây hằn thù giữa hai dân tộc; nhanh chóng củng cố lực lượng, đôn quân bắt lính, tiếp tục chiến tranh chống Việt Nam với quy mô ngày càng lớn theo phương châm ''tích cực chủ động đánh Việt Nam trên đất Việt Nam''. Ngay từ đầu tháng 1 năm 1978, trên khu vực biên giới Cam-pu-chia đối diện với hướng Quân đoàn 3 làm nhiệm vụ, địch tập trung tới 10 vạn quân thuộc 4 sư đoàn 170, 310 (trung ương), 4, 5 (quân khu 203) và lực lương 3 vùng 20, 21, 22 áp sát biên giới. Chúng triệt để sử dụng chiến thuật du kích, dùng phân đội nhỏ bâu bám quấy phá tập kích các chốt, cho các toán nhỏ xâm nhập sâu, kết hợp với bắn pháo bừa bãi vào các khu dân cư giết hại dân thường gây tâm lý lo sợ hoang mang. Liều lĩnh hơn, chúng còn xây dựng cả một kế hoạch đánh chiếm tỉnh Tây Ninh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Ngọ. Trước âm mưu thủ đoạn mới của địch, thực hiện nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 chủ trương đẩy mạnh ''thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân. Giành và giữ thế chủ động trên địa bàn tác chiến, liên tục tiến công địch trên đất ta hoặc trên đất Cam-pu-chia bằng nhiều hình thức chiến thuật, tác chiến hiệp đồng binh chủng, hoặc bằng vũ khí mang vác trong biên chế, đánh những trận tiêu diệt hiệu suất chiến đấu cao, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, tiết kiệm đạn dược, thực hiện càng đánh càng mạnh''1; đồng thời kết hợp chặt chẽ với quân và dân địa phương xây dựng vững chắc tuyến phòng thủ biên giới. Thực hiện chủ trương trên, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1978 Quân đoàn sử dụng một lực lượng thích hợp mở liên tiếp 4 đợt hoạt động mang mật danh A18 (6.1-28.2), A28 (1.3-4.4), A38 (5-30.4) và A48 (1-29.5) trên khu vực biên giới thuộc huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh và một số địa bàn tiếp giáp phía tây bắc. Trong 5 tháng Quân đoàn đã đánh 560 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.886 tên địch, bắt 11 tên, thu 789 súng các loại và 6 máy thông tin. Những thắng lợi về quân sự không những góp phần giữ vững biên giới quốc gia, giữ thế chủ động đánh địch trên toàn tuyến; mà còn phá vỡ ý đồ xâm chiếm của địch, buộc chúng phải liên tục bị động đối phó, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta. Tranh thủ điều kiện thuận lợi do tác chiến tạo ra, các đơn vị cùng địa phương, thanh niên xung phong khẩn trương xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Đến tháng 8 năm 1978, đã có 115km phòng tuyến được xây dựng, trên đó gài 15.300 quả mìn các loại, 1.800 bàn chông sắt và 103.000 chông tre. Tuyến phòng thủ hoàn thành, rộng từ 100m đến 200m góp phần quan trọng ngăn chặn, hạn chế sự xâm nhập luồn lách bu bám của các toán địch, tạo điều kiện cho quân và dân vùng biên giới chiến đấu bảo vệ địa bàn. Bên cạnh những thành tích tốt, trong nửa đầu năm 1978, Quân đoàn cũng bộc lộ một số hạn chế: cán bộ, chiến sĩ quán triệt tư tưởng đánh tiêu diệt chưa sâu sắc; vận dụng chiến thuật, cách đánh ở một số đơn vị chưa phù hợp, chưa linh hoạt; việc bồi dưỡng cán bộ, xây dựng củng cố bộ đội và rút kinh nghiệm chiến đấu chưa được chú trọng đầy đủ... nên ít thực hiện được những trận đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, hiệu suất chiến đấu nhìn chung còn thấp, tiêu thụ đạn dược lớn, tổn thất thương vong cao2, hoàn thành nhiệm vụ thấp. Kịp thời biểu dương các gương điển hình tiên tiến, phát động phong trào học tập thi đua trong cán bộ, chiến sĩ, ngày 22 tháng 5 năm 1978, Bộ tư lệnh Quân đoàn tặng cờ ''Đánh giỏi diệt gọn đơn vị địch'' cho các đơn vị: Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 28 (diệt gọn 1 đại đội địch trong trận đánh ngày 8.5.1978 tại KhĐar); Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 24 (diệt gọn 1 đại đội địch ở điểm cao 68 ngày 11.5.1978) và Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 (diệt gọn 1 trung đội địch ngày 3.5.1978 tại bản Không tên trên đường số 7). Để đáp ứng yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, năm 1978, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng Quân đoàn 3 thành quân đoàn loại 1, trong đó quân số chiến đấu 36.000 người, quân số sản xuất 8.000 người và quân số kiến thiết là 3.000 người. Thực hiện quyết định đó, trong 6 tháng đầu năm 1978, Bộ bổ sung 4.437 cán bộ, chiến sĩ và nhiều vũ khí trang bị, trong đó chuyển gọn Sư đoàn bộ binh 31 từ Binh đoàn 14 Tổng cục Xây dựng kinh tế về trực thuộc Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3. Ngày 28 tháng 2 năm 1978, việc bàn giao Sư đoàn bộ binh 31 về Quân đoàn 3 đã hoàn thành. * Sư đoàn bộ binh 31 (Đoàn Lam Hồng) thành lập ngày 11 tháng 7 năm 1974 tại Chà Là, huyện Mường Pẹc, tỉnh Xiêng Khỏang nước bạn Lào trên cơ sở Mặt trận 31 rút gọn, trực thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4. Buổi đầu, tổ chức biên chế của Sư đoàn gồm có: Bộ tư lệnh, 3 phòng: tham mưu, chính trị, hậu cần; 2 trung đoàn bộ binh: 866 và 335; 5 tiểu đoàn binh chủng: Tiểu đoàn pháo binh 42, Tiểu đoàn phòng không 24, Tiểu đoàn thiết giáp 195, Tiểu đoàn công binh 25, Tiểu đoàn thông tin 26; 5 đại đội bảo đảm phục vụ: Đại đội trinh sát 31, Đại đội vệ binh 36, hai đại đội vận tải cơ giới 34 và 35, Đại đội 8 trinh sát kỹ thuật, Bệnh viện 139. Bộ tư lệnh Sư đoàn: sư đoàn trưởng: đại tá Nguyễn Lê Hoàn, chính ủy: đại tá Lê Vũ Nguyên, sư đoàn phó: đại tá Hà Vi Tùng và thượng tá Phạm Đình Tê, phó chính ủy: thượng tá Nguyễn Vân An. Từ khi thành lập đến tháng 3 năm 1976, Sư đoàn 31 làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào; sau đó trở về đóng quân ở Nghệ An. Tháng 9 năm 1976, Sư đoàn chuyển thuộc Binh đoàn 14 Tổng cục xây dựng kinh tế, từ tháng 11 năm 1977 cơ động vào An Giang, Kiên Giang xây dựng kinh tế. Trong quá trình chiến đấu và công tác, cán bộ, chiến sĩ đơn vị phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quốc tế trong sáng lập nhiều chiến công, hun đúc nên truyền thống: ''Đoàn kết, Nghiêm túc, Dũng cảm, Quyết thắng, Vì dân giúp bạn''. Các đơn vị: Trung đoàn 335, Đại đội trinh sát 31 (Phòng Tham mưu), Đại đội đặc công 24 (Trung đoàn 866) và thượng sĩ Vi Đức Cường lập thành tích đặc biệt xuất sắc được ĐẢng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Về đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Sư đoàn 31 gồm có: Bộ tư lệnh, 5 phòng: tham mưu, chính trị, hậu cần, vật tư, tài vụ; 3 trung đoàn bộ binh 866, 922, 977 và một số phân đội trực thuộc, với tổng quân số 4.523 cán bộ, chiến sĩ. Bộ tư lệnh gồm các đồng chí: sư đoàn trưởng: thượng tá Phạm Đình Tê, chính ủy: thượng tá Nguyễn Kim Mậu. Từ đơn vị làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế chuyển sang làm nhiệm vụ chiến đấu, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị của Sư đoàn 31 còn nhiều bất cập. Cơ quan sư đoàn chưa được kiện toàn, Trung đoàn 866 không có cấp tiểu đoàn và trung đội, hai trung đoàn 922 và 977 mới thành lập trên cơ sở rút cán bộ, chiến sĩ từ cán đơn vị bạn sang. Trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến, kinh nghiệm huấn luyện chiến đấu và quản lý bộ đội của đội ngũ cán bộ các cấp nhìn chung non yếu; quân số, vũ khí trang bị chiến đấu thiếu nhiều. Hiểu rõ những khó khăn của Sư đoàn 31, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị về mọi mặt: củng cố kiện toàn tổ chức biên chế, bổ sung quân số vũ khí trang bị, bảo đảm hậu cần, lập và triển khai các kế hoạch huấn luyện, phổ biến kinh nghiệm tác chiến... ''với tinh thần đoàn kết phấn đấu tích cực nhất, nhanh chóng đưa Sư đoàn bước vào chiến đấu''. Chỉ trong một thời gian ngắn, 2.000 cán bộ, chiến sĩ từ các đơn vị trong Quân đoàn được điều động về Sư đoàn 31. Sư đoàn 320 chi viện hàng trăm cán bộ, chiến sĩ tập trung xây dựng Trung đoàn 922; Sư đoàn 10 chi viện giúp đỡ xây dựng củng cố Trung đoàn 977. Các lữ đoàn binh chủng cũng kịp thời bổ sung cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật xây dựng các đơn vị pháo binh, phòng không, công binh... của Sư đoàn. Cuối tháng 4 năm 1978, Sư đoàn 31 hoàn thành một bước cơ bản tổ chức biên chế của một sư đoàn chiến đấu. Ba cơ quan Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị và Phòng Hậu cần được củng cố. Các đơn vị: Trung đoàn bộ binh 866, Trung đoàn bộ binh 922, Trung đoàn bộ binh 977, Trung đoàn pháo binh 4, Tiểu đoàn công binh 17, Tiểu đoàn thông tin 18, Tiểu đoàn vận tải 25, Tiểu đoàn quân y 24 và các đại đội trinh sát (20), vệ binh (23), thu dung (22) được kiện toàn. Quá trình củng cố đơn vị cũng là quá trình đẩy mạnh công tác huấn luyện chiến đấu. Được sự chỉ đạo giúp đỡ của Bộ tư lệnh, 3 cơ quan Quân đoàn và các đơn vị bạn, chỉ trong hơn một tháng Sư đoàn 31 đã hoàn thành 11 lớp tập huấn cho 610 cán bộ tiểu đội, 105 cán bộ trung đội, huấn luyện được hơn 80% quân số. Quán triệt phương châm huấn luyện ''thiết thực, thực sự, thực tế", đơn vị vừa chú trọng huấn luyện về chiến thuật, kỹ thuật, chiến đấu ban đêm, vừa tích cực rèn luyện bộ đội hành quân mang vác nặng và trú quân dã ngoại trên thao trường núi Bà Đen, kiểm tra bắn đạn thật và học tập kinh nghiệm chiến đấu. Với quyết tâm rất cao, Sư đoàn 31 đã hoàn thành củng cố và huấn luyện vượt thời gian quy định. Từ ngày 18 tháng 4 năm 1978 hai trung đoàn 866, 922 bước vào thay phiên phòng ngự, tham gia đợt hoạt động A48. Một chương mới trong lịch sử Đoàn Lam Hồng bắt đầu. ------------------------------------------------------------------ 1. Nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn 3, Số 03/NQĐU ngày 28.2.1978. 2. Trong 5 tháng đầu năm 1978, toàn Quân đoàn có 1.274 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 5.861 đồng chí bị thương, tiêu thụ 1.242 tấn đạn, mất 502 khẩu súng và 12 máy thông tin, bị bắn hỏng 2 xe tăng và 908 súng các loại. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:38:34 pm * Sau hơn 3 năm công khai thực thi đường lối phản động hủy diệt dân tộc và điên cuồng chống Việt Nam, tập đoàn diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary đã biến đất nước Cam-pu-chia thành một trại lính khổng lồ, biến nhân dân thành những nô lệ mới và đày đọa họ trong các ''công xã'', đầu độc thanh thiếu niên thành những tên ác ôn mất hết tính người, xóa bỏ mọi trường học, bệnh viện, chợ búa, văn hóa tôn giáo, hàng triệu người Cam-pu-chia đã bị sát hại rất man rợ. Trước sự tồn vong của dân tộc bị thách thức nghiêm trọng, nhân dân Cam-pu-chia không còn con đường nào khác là đứng lên cầm vũ khí chiến đâu lật đổ chế độ bạo tàn Khơ Me đỏ, cứu nước, cứu mình. Từ năm 1975 đến đầu năm 1978 liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy của nhân dân và một số đơn vị quân đội ở các tỉnh Bát Tam Băng, Căng Đan, Cô Công, Xiêm Riệp, Công Pông Thom, Môn Đun Ki Ri, Stung Treng, Kra Chiê... chống lại chế độ Pôn Pốt. Mặc dù bị đàn áp đẫm máu, nhưng ngọn lửa đấu tranh vẫn âm ỉ cháy, chờ thời cơ bùng lên mạnh mẽ. Tháng 5 và 6 năm 1978, phong trào đấu tranh lại bùng phát mạnh và lan rộng khắp quân khu Đông (203) của địch. Nhiều chỉ huy từ cấp quân khu đến cơ sở, đông đảo binh sĩ giác ngộ thuộc các sư đoàn chủ lực 280, 290, 4, 5 tuyên bố ly khai, quay súng chống lại Pôn Pốt rồi rút vào rừng lập căn cứ kháng chiến. Cuộc nổi dậy của quân đội được một bộ phận chính quyền tỉnh Công Pông Chàm và nhiều công nhân, nông dân vùng Suông, Chúp, Stoeng, Mi Mốt ủng hộ làm khí thế đấu tranh sôi động và ngày càng lan rộng. Hỏang hốt trước phong trào nổi dậy ở một địa bàn trọng yếu, đầu tháng 6 năm 1978, Pôn Pốt huy động một lực lượng lớn quân trung ương (Căng Đan) đàn áp khốc liệt, thanh trừng triệt để và thay đổi toàn bộ lực lượng quân khu 203. Tại Chúp, chúng giết hại dã man và ném xác người đầy 40 hố bom B52 của Mỹ trước đây; lùng bắt đưa 5.000 người vùng Đông lên ô tô rồi đổ xuống miền đồi trọc Xi Xô Phôn, Pai Lin, Ni Mít, dùng xe ủi đất cán chết. Hàng nghìn người dân và binh lính may mắn thóat khỏi vụ tàn sát đẫm máu, xuyên rừng chạy đến biên giới Việt Nam xin lánh nạn. Nhiều người tiếp tục dựa vào rừng núi phía bắc đường số 7 lập căn cứ kháng chiến. Trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Khơ Me đỏ, những người yêu nước Cam-pu-chia nhanh chóng đoàn kết, tập hợp lực lượng thành một mặt trận thống nhất, tôi rèn ý chí, kiên quyết kháng chiến, đồng thời yêu cầu Việt Nam giúp đỡ. Đến đây, phong trào cách mạng Cam-pu-chia đang xuất hiện những nhân tố mới. Trước yêu cầu giúp đỡ khẩn thiết của cách mạng Cam-pu-chia và thời cơ chiến lược mới, ta chủ trương mở đợt tiến công lớn trên toàn bộ tuyến biên giới, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và chính trị nhằm tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch, thu hồi đất đai bị chiếm, mở thông đường hành lang và giúp lực lượng kháng chiến bạn mở rộng vùng giải phóng, làm chuyển biến tình hình, chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho những hoạt động tiếp theo. Trong đội hình tiến công chung, bên phải có lực lượng vũ trang Quân khu 7, bên trái có Quân đoàn 4 và Quân khu 9, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái bước vào đợt tiến công mới mang mật danh A68. Trong đợt tiến công này Quân đoàn 3 có nhiệm vụ: ''Tiến công tiêu diệt và làm tan rã sư đoàn 5, sư đoàn 675 vùng 20, đánh thiệt hại nặng sư đoàn 310 của địch... chiếm địa bàn chiến lược quan trọng trên đường 78 và đường 7, từ Tra Peang Ph Long đến Krêc và từ Kh Đa đến Tà Hiên; thu hồi toàn bộ đất đai bị địch lấn chiếm, đồng thời luồn sâu bắt liên lạc với lực lượng nổi dậy ở bên trong''1. Ngày 9 tháng 6, thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt quyết tâm tiến công A68 của Quân đoàn 3 và nhấn mạnh: trong đợt tiến công này Quân đoàn phải quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến dịch là đánh tiêu diệt, tích cực thực hiện thọc sâu, vu hồi, bao vây địch. Trung tuần tháng 6 năm 1978, trên hướng đối diện với tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh, địch tập trung một lực lượng lớn gồm 7 sư đoàn và 3 trung đoàn. Sư đoàn 280 bố trí từ tây Lò Gò, Xóm Giữa đến Tà Nốt; sư đoàn 174 ở Tà Nốt, Đập Đá và dọc suối Đà Ha; sư đoàn 310 từ cầu Orung đến Tra Peang Ph Long, đường 78; sư đoàn 675 ở tây bắc Xa Mát, sư đoàn 215 bố trí từ ngã ba Krêc đến phum Sâm và Tra Peang Rum Seng; sư đoàn 450, sư đoàn 4 và 3 trung đoàn vùng 21 đứng chân trên tuyến biên giới đến đường số 7 đoạn phum Sâm, Kh Đa, phum Sàm Rông, Mi Mốt. Thực hiện kế hoạch tác chiến, chiều ngày 14 và ngày 15 tháng 6, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 28) và Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) có xe tăng pháo binh chi viện tiến công địch ở điểm cao 62 nhằm chiếm bàn đạp để đưa lực lượng vào phát triển tiến công. Nhưng do địch tăng thêm lực lượng của sư đoàn 174, địa hình cây cối rậm rạp khó phát huy hỏa lực nên trận đánh mở màn không thành. Sư đoàn 10 tạm dừng để củng cố và chuyển sang mở cửa trên hướng điểm cao 68. Cùng thời gian này Quân khu 7 đã đánh chiếm được Mi Mốt nhưng bị địch tập trung bu bám mạnh. Trước tình hình đó, Quân đoàn 3 được lệnh tạm hoãn phương án cơ bản A68, chuyển sang đánh phối hợp với Quân khu 7, chiếm Kh Đa, phát triển lên Sa Lăng tiêu diệt sư đoàn 4 và quân địch trước chính diện, tìm bắt liên lạc với lực lương nổi dậy của cách mạng Cam-pu-chia. Sau khi điều chỉnh lực lượng và làm công tác chuẩn bị, 8 giờ ngày 24 tháng 6 năm 1978 Sư đoàn 10 nổ súng tiến công mãnh liệt vào các mục tiêu địch. Tiểu đoàn 7 Trung oàn 66 làm chủ điểm cao 68 sau 20 phút nổ súng, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 làm chủ điểm cao 62. Được không quân ném bom yểm trợ, Sư đoàn 10 phát triển tiến công chiếm làng Kh Đa, bản Không tên, các điểm cao 105, 112 làm chủ tuyến dường số 7, phá vỡ thế trận của địch. Những ngày tiếp theo ta giải phóng Sàm Rông, Sa Lăng 2 chia cắt quân khu đông bắc và vùng đặc biệt Min Du Ka Rê với trung ương địch. Trong 2 tuần tiến công, Quân đoàn 3 và Quân khu 7, Quân đoàn 4 đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 290 và 2 trung đoàn 101, 154 thuộc sư đoàn 4 địch, diệt hơn 3.000 tên, bắt 2 tên, thu 400 súng các loại, giải phóng một địa bàn rộng lớn có giá trị chiến lược ở Đông bắc Cam-pu-chia. Để đẩy địch vào thế bị động và tan vỡ, tạo điều kiện cho cách mạng bạn, ta chủ trương giữ vững vùng giải phóng, tích cực đánh địch phản kích. Thực hiện chủ trương trên, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 kéo dài đợt hoạt động A68 (từ 15 đến 20 ngày) nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng của sư đoàn 310, sư đoàn 174 địch; đồng thời nắm chắc thời cơ tiến công trên toàn tuyến phòng thủ Đà Ha - Xa Mát, tìm bắt liên lạc với lực lượng cách mạng bạn. Trong những ngày sôi động chuẩn bị cho đợt tiến công mới, đại tá Nguyễn Kim Tuấn quyền tư lệnh Quân đoàn 3 được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn, đại tá Phí Triệu Hàm được bổ nhiệm làm chính ủy Quân đoàn, đại tá Lã Ngọc Châu làm phó chính ủy Quân đoàn kiêm trưởng ban kiểm tra, đại tá Nguyễn Quốc Thước lám Tư lệnh phó Quân đoàn. Về phía dịch, sau đòn chóang váng cuối tháng 6, lợi dụng lúc ta tạm dừng tiến công, chúng tập hợp lực lượng, tổ chức phản kích. Ngày 1 tháng 7 Pan Pốt thành lập cái gọi là ''bộ chỉ huy mặt trận đường 7'', giao cho tên Nho (tư lệnh sư đoàn 310) làm chỉ huy trưởng và hai tên Vin (tư lệnh sư đoàn 450), Sài (tư lệnh sư đoàn 174) làm chỉ huy phó, cùng 4 ủy viên là các tên Son (tư lệnh sư đoàn 170), Khươn (tư lệnh sư đoàn 5), Châu (tư lệnh pháo binh), San (tư lệnh tăng) để chỉ huy lực lương phản kích chiếm lại khu vực đường số 7 vừa bị mất. Ngày 3 tháng 7, địch dùng 3 sư đoàn có xe tăng pháo lớn hỗ trợ đồng loạt phản kích. Hướng chủ yếu phía nam, sư đoàn 310 đánh vào các điểm cao 62, 68, 53 tiến sát sở chỉ huy Sư đoàn 10. Cùng lúc, ở hướng tây bắc sư đoàn 174 đánh chia cắt đội hành ta ở bắc Kh Đa; sư đoàn 450 bu bám tập kích vào các trận địa chốt của Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28. Hướng Đông, .sư đoàn 260 cũng đánh mạnh vào Mi Mốt. Nắm chắc ý đồ phản kích lớn của địch và nhận định đây là thời cơ tốt để tiêu diệt chúng, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết tâm tập trung lực lượng kiên quyết đánh bại quân địch phản kích, nhất là hướng điểm cao 62, khu vực Vườn Chuối tây nam Kh Đa. Sau hơn hai ngày chặn đánh các mũi phản kích của địch, trưa ngày 4 tháng 7 ta tập trung Trung đoàn 28, Trung đoàn 64 có sự phối hợp của xe tăng thiết giáp và Trung đoàn 48, bất ngờ chuyển sang tiến công ba tiểu đoàn địch đang cụm lại ở khu vực Vườn Chuối. Sau 40 phút tiến công dũng mãnh, ta làm chủ hoàn toàn mục tiêu, phần lớn quân địch bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy ra các khu vực xung quanh cũng bị truy quét hầu hết. Đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt lớn nhất trong đợt tiến công A68; chiến thắng Vườn Chuối cổ vũ mạnh mẽ bộ đội hăng hái thi đua giết giặc lập công2. Trong bốn ngày chiến đấu, ta đã diệt gọn 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác của sư đoàn 310 địch, loại khỏi vòng chiến đấu 633 tên, thu 30 khẩu súng các loại, giáng một đòn chí mạng vào âm mưu phản kích khôi phục khu vực đường số 7 của địch. Ngày 6 tháng 7 năm 1978, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị sơ kết đợt tiến công lớn cuối tháng 6 đầu tháng 7 và chủ trương tiếp tục tiến công địch, củng cố địa bàn chiến lược vừa giải phóng, tích cực giúp đỡ lực lượng cách mạng Cam-pu-chia. Trong đợt hoạt động đầu mùa mưa này, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ vừa chiến đấu phòng thủ vững chắc toàn bộ khu vực tam giác Kh Đa - Mi Mốt - Cà Tum, vừa tranh thủ củng cố xây dựng theo phương hướng quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ; đồng thời bàn giao tuyến phòng thủ biên giới Đà Ha - Xa Mát cho Quân khu 7. Ngay sau hội nghị của Bộ, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 tổ chức hội nghị quân sự dân chủ bàn bạc thực hiện nhiệm vụ trên giao, quyết tâm hoàn thành bước cuối của đợt hoạt động A68, với mục tiêu: diệt một bộ phận và làm tan rã các sư đoàn 310, 174, 450 địch, chiếm Krêc, bắc Sa Lăng 1, mở rộng địa bàn đứng chân. Thực hiện ý định tác chiến mới, từ ngày 11 đến ngày 20 tháng 7 Sư đoàn 10 và lực lượng tăng cường đánh chiếm các mục tiêu: điểm cao 135, 105, bình độ 50; Sư đoàn 320 tiến công làm chủ điểm cao 94, 119, Mé May, Spean, Samakôm, Chư Peng và phum Sâm. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bạn, Sư đoàn 31 tích cực đánh địch giữ vững tuyến phòng thủ biên giới, đồng thời dùng Trung đoàn 866 thực hành vây lấn tiến công đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 trung đoàn 156 địch ở xã Tân Lập, huyện Tân Biên; diệt 85 tên, làm bị thương hàng chục tên, thu 11 súng các loại, khôi phục lại đất đai bị địch chiếm. Ngày 21 tháng 7 năm 1978, đợt hoạt động A68 kết thúc. Trong hơn một tháng chiến đấu, Quân đoàn đã đánh bại 5 sư đoàn địch (310, 174, 450, 4, 5) khôi phục, mở rộng vùng giải phóng, giữ vững một địa bàn có giá trị chiến lược ở vùng đông sông Mê Kong, hỗ trợ trực tiếp lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia. Điểm nổi bật trong đợt hoạt động này là Quân đoàn đã thực hiện được các trận đánh tiêu diệt gọn (1 tiểu đoàn, 2 đại đội, 1 trung đội địch), loại khỏi vòng chiến đấu 2.487 tên, bắt 18 tên, thu và phá gần 300 khẩu súng các loại, bắn cháy 1 xe M113 và 2 ô tô. Qua đợt hoạt động này, ta hiểu sâu thêm về đối tượng tác chiến, nhất là các thủ đoạn mới của chúng trong tiến công và phòng ngự; đồng thời rút ra nhiều kinh nghiệm quý giá để vận dụng vào các đợt hoạt động trong mùa mưa. Thắng lợi của Quân đoàn 3 và các đơn vị bạn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đầu mùa mưa năm 1978 đã đẩy địch lún sâu thêm vào thế bị động lúng túng, tiếp tục tăng quân đối phó trên hướng biên giới; làm tăng thêm mâu thuẫn nội bộ địch, tạo mầm mống cho sự tan rã lớn sau này. ------------------------------------------------------------------- 1. Báo cáo đợt hoạt động tiến công A68 của Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, tr. 6. 2. Trận tiến công ở khu vực Vườn Chuối và điểm cao 62, ta có 14 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 72 đồng chí bị thương. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 03:42:35 pm * Bị mất một địa bàn rộng có tầm quan trọng chiến lược và lo sợ trước phong trào kháng chiến ngày càng phát triển ở vùng Đông sông Mê Kông, Pôn Pốt huy động một lực lượng lớn, điên cuồng phản kích. Tại mặt trận đường số 7, địch tập trung 5 sư đoàn bộ binh có xe tăng pháo lớn hỗ trợ liên tục đánh vào các trận địa chốt của Quân đoàn 3, làm chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ những ngày đầu. Trận hướng Sư đoàn 10, địch tập trung sư đoàn 450 có xe tăng thiết giáp phản kích rất mạnh vào khu vực điểm cao 200, 202 do Trung đoàn 24 phòng giữ. Phát huy truyền thống ''Trung Dũng'', cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 ngoan cường trụ bám trận địa đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch. Trong hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt: địch dùng pháo cối đánh phá có tính hủy diệt, sinh hoạt kham khổ, bệnh tật hoành hành... đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân kiên trung lập công xuất sắc. Đặc biệt, tấm gương chiến đấu hy sinh quên mình của thiếu úy Trần Minh Xung1 - đại đội phó Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 có sức cổ vũ bộ đội mạnh mẽ. Noi gương người chỉ huy quả cảm, nhiều chiến sĩ mới gan dạ mưu trí chiến đấu và trở thành những dũng sĩ diệt xe tăng như Hồ Viết Văn, Nguyễn Thăng Tuấn, Dương Công Quý, Nguyễn Trung Thành. Đợt chiến đấu mùa mưa năm 1978, Trung đoàn 24 đã diệt 766 tên địch, bắt 3 tên, bắn cháy 2 xe tăng, thu và phá 48 khẩu súng các loại, đánh bại cuộc phản kích của sư đoàn 450 địch, trở thành lá cờ đầu diệt xe tăng địch của Binh đoàn Tây Nguyên. Cùng thời gian này, trên hướng Sư đoàn 320 chiến sự cũng diễn ra quyết liệt, rộng khắp, liên tục, kéo dài. Trong đó ác liệt nhất là khu vực chốt phum Sâm do Trung đoàn 64 đảm nhiệm. Từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 30 tháng 8, Trung đoàn 64 đã đánh 417 trận, diệt 300 tên dịch, bắt 2 tên, thu 44 súng, bắn cháy 2 xe tăng và giữ vững chốt. Nổi bật nhất là trận đánh giữ chốt phum Sâm của Tiểu đoàn 9 đầu tháng 8. Sau 6 ngày liền,tập trung 3 tiểu đoàn liên tục phản kích vẫn không nhổ được chết. Sáng ngày 7 tháng 8, một tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng, pháo cối hỗ trợ chia làm nhiều mũi ồ ạt đánh lên chốt phum Sâm. Mặc dù sau nhiều ngày chiến đấu quân số hao hụt, có đại đội chỉ còn 14 người, nhưng các chiến sĩ Tiểu đoàn 9 không hề nao núng. Đợi cho bọn bính áo đen gào thét man rợ đến sát chiến hào, các dũng sĩ Mạo Chử2 toàn thân nhuộm đỏ bụi đất bất thần xuất hiện tung lưu đạn, bấm mìn clâymo, lia những loạt đạn chính xác đánh bật chúng trở lại. Xác địch nằm ngổn ngang khắp trận địa. Kịp thời chi viện cho các hướng chiến đấu, tiểu đoàn trưởng Khuất Duy Hoan cho đặt 2 khẩu cối 60mm ở ngay cửa hầm chỉ huy tiểu đoàn, rồi cùng các chiến sĩ văn thư, liên lạc bắn những quả đạn chính xác vào đội hình địch. 14 giờ quân địch tung toàn bộ lực lượng mở đợt tiến công cuối cùng hòng nhổ bằng được chốt. Những tên lính lỳ lợm bị cấp trên thúc ép, liều lĩnh đánh tràn lên trận địa. Trước tình thế hiểm nghèo, tiểu đoàn trưởng Hoan và chính trị viên Minh hội ý chớp nhóang, quyết định xin pháo cấp trên bắn trùm lên trận địa. Nhận được bức điện tối khẩn của Tiểu đoàn 9, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu Mão cùng thường vụ Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 64 hội ý khẩn cấp, thận trọng báo cáo cấp trên và được sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến đồng ý. Khi bộ đội vừa rút xuống hầm, đạn pháo l55mm ngòi nổ trên không của ta ầm ầm trùm lên trận địa. Quân địch như nằm trên đe dưới búa, đứa tan xác, đứa bị thương, số còn lại hỏang loạn tháo chạy. Sau 10 phút pháo binh bắn chi viện, trận địa trở lai yên ắng. Đây là một trong những trận đánh điển hình về phòng ngự trận địa của Quân đoàn trong mùa mưa năm 1978, là một thực tiễn sinh động về lòng quả cảm trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Trận đánh đã được phóng viên chiến trường Trương Xuân Thìn kịp thời phản ánh trong bài phóng sự: "Phum Sâm vang bài ca dũng sĩ" và được phát đi trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ngày 10 tháng 8, Đảng ủy Quân đoàn họp kiểm điểm công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 1978 và quyết nghị phương hướng chủ trương công tác trong thời gian tới, xác định: "1. Trong mùa mưa, Quân đoàn vẫn... tiếp tục chiến đấu tiêu diệt và tiêu hao rộng rãi sinh lực địch, làm suy yếu kẻ địch nặng nề hơn. 2. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và xây dựng, tranh thủ mọi thời gian, điều kiện hoàn cảnh cụ thể củng cố xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện cả về tư tưởng và tổ chức, năng lực trình độ một cách đồng đều toàn diện, đạt cho được chiến đấu có hiệu suất cao, củng cố xây dựng đơn vị có chất lượng tốt, luân phiên có nhiều đơn vị và nhiều thời gian củng cố, thực hiện được phương châm: càng đánh, càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. 3. Khẩn trương tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho nhiệm vụ tác chiến mùa khô 1978-1979''3. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 8 năm 1978, Bộ tư lệnh Quân đoàn sử dụng Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64), Trung đoàn 24, một tiểu đoàn của Trung đoàn 866 và hai dại đội xe tăng thiết giáp mở đợt tiến công mới mang mật danh A781. Sau bốn ngày tiến công, ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của sư đoàn 450 và l trung đoàn thuộc sư đoàn 280 địch, làm chủ các mục tiêu: điểm cao 148, Sở 3, Ph Kran Gack, điểm cao 159, 119, 94 khôi phục trận địa ở khu vực điểm cao 200, 202 mở rộng vùng giải phóng, tạo thế trận phòng thủ thêm vững chắc. Cùng thời gian này, Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn 64, Trung đoàn 977 và một đại đội thiết giáp vừa giữ vững tuyến phòng ngự trực tiếp tiếp xúc, vừa tích cực đánh tiêu hao địch trên hướng tây - tây bắc đường 7. Sư đoàn 31 bàn giao toàn bộ khu vực phòng thủ biên giới cho Sư đoàn 302 Quân khu 7, chuyển về phía sau củng cố huấn luyện. Phát huy kết quả đợt hoạt động A781, Quân đoàn mở tiếp đợt tiến công mới mang mật danh A782, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng địa bàn, củng cố vững chắc thêm thế trận. Từ ngày 20 đến ngày 31 tháng 8, Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) được tăng cường xe tăng, xe thiết giáp thực hành đánh chiếm các khu vực phía đông điểm cao 112, Ph Sre Veng, Ph Kra Săng. Sư đoàn 10 đánh chiếm điểm cao 114 đông và điểm cao 114 tây, Ph Samakôm, Chi Peng, Krêc 2. Sau khi làm chủ các mục tiêu, hai sư đoàn (10, 320) chuyển sang truy quét, đánh địch phản kích, giữ vững địa bàn. Nhằm kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến ''tiêu biểu cho ý chí tiến công cách mạng và tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa'', đẩy mạnh hơn nữa phong trào thi đua quyết thắng, ngày 20 tháng 9 năm 1978, Bộ tư lệnh Quân đoàn triệu tập hội nghị ''Những tập thể và cá nhân chiến đấu, phục vụ chiến đấu giỏi'' tại thị trấn Cà Tum, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Dự hội nghị có gần 400 đại biểu tiêu biểu cho phong trào thi đua quyết thắng của các đơn vị trong binh đoàn và khách mời từ các đơn vị bạn, địa phương. Tại hội nghị, sau bản báo cáo tổng kết chung của Quân đoàn, có 17 bản báo cáo điển hình của 9 tập thể và 8 cá nhân có thành tích xuất sắc được trình bày. Đại tá Lã Ngọc Châu - phó chính ủy Quân đoàn thay mặt cho Bộ tư lệnh trao cờ ''Quyết Thắng'' và danh hiệu Quyết Thắng của Tổng cục Chính trị cho các đơn vị và cá nhân xuất sắc. Bộ tư lệnh Quân đoàn phát động một đợt thi đua mới với nội dung: đuổi kịp và vượt 3 ngọn cờ đầu là Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320, tiêu biểu về thọc sâu đánh giỏi), Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10, dẫn đầu về thành tích diệt xe tăng, xe thiết giáp) và Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31, làm nhiệm vụ quốc tế giỏi). Những thắng lợi liên tiếp của Quân đoàn 3 trên mặt trận đường số 7 và của các đơn vị bạn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam trong mùa mưa năm 1978 đã tạo điều kiện thuận lơi lớn cho cách mạng Cam-pu-chia phát triển lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến. Tại miền Đông Cam-pu-chia, lực lượng kháng chiến do ông Hêng Xom Rin (nguyên ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ khu Đông, chính ủy kiêm sư đoàn trưởng sư đoàn 4) lãnh đạo đã lên tới hàng nghìn người. Ngày 23 tháng 10 năm 1978, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 do tiểu đoàn trưởng Đỗ Khắc Kế và chính trị viên Lê Hải Triều chỉ huy đã liên lạc được với ông Hêng Xom Rin tại phía đông bản Săng Kê. Cùng thời gian này, Quân đoàn đã tích cực liên lạc và đưa gần 4.000 người dân Cam-pu-chia theo kháng chiến ra vùng giải phóng. Được sự giúp đỡ tích cực của Việt Nam, chiến khu đông bắc đường 7 của cách mạng bạn ngày càng được củng cố và lớn mạnh. Trên khắp đất nước Chùa Tháp, lực lượng cách mạng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Con đường giải phóng đất nước Cam-pu-chia thóat khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary đang từng bước được mở ra, như ánh bình minh đang hé rạng phía chân trời. Mùa mưa năm 1978 nhanh chóng qua đi, đồng thời cũng kết thúc một giai đoạn chiến đấu vô cùng gian khổ ác liệt nhưng cũng rạng rỡ chiến công của cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên trên mặt trận biên giới Tây Nam Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 3 đã phát huy cao độ truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'', tích cực chủ động linh hoạt trong chiến đấu và công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Thời kỳ này, nhiều hình thức chiến thuật trong tiến công và phòng ngự được vận dụng sáng tạo, đem lại hiệu quả; nhiều điển hình tiên tiến xuất hiện và được nhân rộng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua quyết thắng. Cùng với thành tích tiêu diệt gần 800 tên địch, thu và phá 251 khẩu súng, bắn cháy 8 xe tăng và 2 ô tô, việc giữ vững và mở rộng vùng giải phóng nam bắc đường số 7 của Quân đoàn có ý nghĩa lớn. Nó không những góp phần xây dựng, củng cố một căn cứ địa quan trọng nhất, ''thủ đô'' kháng chiến của lực lượng cách mạng Cam-pu-chia, mà còn tạo bàn đạp lớn để quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế khi Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước, lực lượng vũ trang và nhân dân Cam-pu-chia yêu cầu. ----------------------------------------------------------------- 1. Thiếu úy (liệt sĩ) Trần Minh Xung được tuyên dương Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân ngày 28.8.1981. 2. Tên truyền thống của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64. 3. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr. 504, 505. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Tư, 2021, 09:34:34 am 3. Thực hiện nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với Cam-pu-chia (12.1978 - 6.1979).
Sau một thời gian dài đấu tranh tự phát và tập hợp lực lượng, đến tháng 10 năm 1978 phong trào cách mạng Cam-pu-chia đã có bước phát triển mới về chất, mang tính tự giác có tổ chức thống nhất toàn quốc, tập hợp đông đảo rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân: công nhân, nông dân, binh lính, sư sãi, trí thức, tiểu tư sản... trong một mặt trận chung nhằm đấu tranh lật đổ chế độ Khơ Me đỏ bạo tàn. Ngày 2 tháng 12 năm 1978, tại khu giải phóng vùng Đông sông Mê Kông, Đại hội đại biểu thành lập Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia đã diễn ra. Hơn 200 đại biểu thay mặt cho các tầng lớp nhân dân, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo của cả nước về dự. Đại hội đã thông qua cương lĩnh chính trị và ra tuyên bố 11 điểm trước nhân dân trong nước và thế giới, đồng thời bầu ra Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia gồm 14 vị, do ông Hêng Xom Rin làm Chủ tịch và ông Chia Xim làm Phó Chủ tịch. Trong bản tuyên ngôn lịch sử, Ủy ban Trung ương Mặt trận trịnh trọng công bố. ''Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia được xây dựng trên tinh thần độc lập chân chính của nhân dân Cam-pu-chia, đoàn kết tất cả các dân tộc trong nước, tập hợp mọi lực lượng yêu nước... Đoàn kết toàn dân, nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động gia đình trị Pôn Pốt - Iêng Xary... xóa bỏ chế độ tàn ác đẫm máu của chúng, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân... làm cho nước Cam-pu-chia thật sự là một nước hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, không liên kết và tiến lên chủ nghĩa xã hội''1. Đồng thời Mặt trận ''thiết tha kêu gọi nhân dân và chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức dân chủ trên thế giới đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội hãy tích cực ủng hộ, giúp đỡ về mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân''2 Cam-pu-chia. Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia ra đời là một sự kiện chính trị trọng đại trong lịch sử cách mạng Cam-pu-chia. Công lĩnh của Mặt trận đáp ứng nguyện vọng tha thiết của dân tộc Cam-pu-chia, được đông đảo nhân dân trong nước nhiệt liệt hưởng ứng và nhân loại tiến bộ trên thế giới đồng tình ủng hộ. Dưới ngọn cờ sáng ngời chính nghĩa của Mặt trận, công nhân, nông dân, binh lính yêu nước, sư sãi... xiết chặt đội ngũ, hăng hái chiến đấu, kiên quyết lật đổ hoàn toàn chế độ diệt chủng Khơ Me đỏ, cứu nước, cứu mình. Khắp đất nước Chùa Tháp khí thế đấu tranh bừng lên mạnh mẽ; ngọn lửa cách mạng đang ngày một lan rộng, dâng cao thiêu đốt quân thù. Hỏang hốt trước sự lớn mạnh của cách mạng Cam-pu-chia, bè lũ Pôn Pốt tuy bị suy yếu nhưng vẫn liều lĩnh dốc toàn bộ lực lượng vào một cuộc phiêu lưu quân sự mới. Từ cuối tháng 11 đến giữa tháng 12 năm 1978, địch điên cuồng đàn áp trong nước, đồng thời huy động 19 sư đoàn trong tổng số 23 sư đoàn áp sát toàn tuyến biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam, ráo riết chuẩn bị tiến công sang đất ta, trong đó tỉnh Tây Ninh là một mục tiêu hàng đầu phải đánh chiếm vào cuối tháng 12 năm 1978. Trên hướng chính diện của Quân đoàn 3, địch tập trung 4 sư đoàn bộ binh (310, 174, 450, 280), 7 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp (57 khẩu pháo, cối các loại) và 1 trung đoàn xe tăng thiết giáp (40 xe) thuộc sư đoàn 377 do bộ tư lệnh mặt trận đường 7 chỉ huy3. Nắm chắc ý đồ phiêu lưu quân sự mới của Pôn Pốt, Tiền phương Bộ Quốc phòng ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp chặt chẽ với quân dân các địa phương trên toàn tuyến biên giới Tây Nam khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, kiên quyết đánh bại cuộc tiến công lớn của địch ngay từ đầu không cho chúng vượt sâu vào biên giới; đồng thời giữ vững kế hoạch tiến công trong mùa khô 1978 - 1979 quyết giành thắng lợi to lớn cả về chính trị và quân sự. Trong thế chiến dịch chung, ở Đông bắc có lực lượng Quân khu 7 và Quân khu 5; phía nam có Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Quân khu 9 hoạt động; Quân đoàn 3 được tăng cường Sư đoàn bộ binh 302 (Quân khu 7), 1tiểu đoàn vận tải ô tô, có không quân chi viện, địơc 3 tiểu đoàn và 6 đội công tác của lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia phối hợp, có nhiệm vụ: ''Tiến công tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ 5 sư đoàn địch ở nam bắc đường 7, đông sông Mê Kông... mở rộng căn cư cho lực lượng cách mạng Cam-pu-chia... nhanh chóng ổn định nhân dân, phát triển lực lượng cách mạng... giành thắng lợi trọn vẹn cả về quânsự và chính trị''4. Thực hiện nhiệm vụ trên giao, ngày 30 tháng 11 năm 1978 Bộ tư lệnh Quân đoàn ra ''Mệnh lệnh tiến công A88'' giáo nhiệm vụ chiến đấu cho 4 sư đoàn bộ binh: 320, 10, 31, 302; bốn lữ đoàn binh chủng: 273, 234, 40, 7 và Trung đoàn thông tin 29. Sư đoàn 320 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp (38 chiếc), 2 đại đội pháo (4 khẩu Đ74, 155 và 1 trung đội B72), 1 tiểu đoàn công binh công trình, 1 tiểu đoàn ô tô (40 chiếc); quá trình chiến đấu được không quân chi viện và được 2 tiểu đoàn, 3 đội công tác của lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia phối hợp; từ phía tây phòng tuyến tiến công Suông, Chúp. Sư đoàn 10 được tăng cường 4 đại đội xe tăng thiết giáp (37 chiếc), 1 đại đội pháo, 1 tiểu đoàn công binh công trình, có không quân chi viện và được 1 tiểu đoàn, 2 đội công tác của bạn phối hợp từ giữa phòng tuyến đánh xuống Stoeng, Tà Hiên. Sư đoàn 31 được tăng cường 1 đại đội xe tăng (8 chiếc), 1 đại đội pháo, 1 đại dội công binh công trình; quá trình chiến đấu được pháo binh Quân đoàn chi viện và 1 đại đội vũ trang bạn phối hợp từ bình độ 50 đánh chiến các mục tiêu phía nam đường 7 đến Krêc. Sư đoàn 302 từ phòng tuyến biên giới Xa Mát - Lò Gò đánh lên hướng nam đường 7 hợp điểm với các đơn vị bạn ở Tà Hiên, Stoeng. Để lãnh đạo Binh đoàn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch A88, ngày 22 tháng 12 năm 1978 Đảng ủy Quân đoàn họp mở rộng, chủ trương: ''... dốc hết sức mình cùng với các đơn vị bạn và nhân dân trên toàn tuyến, kết hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia... kiên quyết đánh thắng trong cuộc chiến tranh Tây Nam, đập tan mưu đồ của tập đoàn phản động... Pôn Pốt, Iêng Xary, giành thắng lợi một cách toàn diện cả về quân sự và chính trị... giúp cách mạng Cam-pu-chia giành thắng lợi''5. Mùa khô chiến đấu thứ hai lại về với cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên. Trên khắp vùng biên giới Tây Nam không khí chuẩn bị cho chiến dịch tiến công mới mang mặt danh A88 diễn ra rất sôi động. Các tuyến đường quân sự nối Cà Tum - Xa Mát - Mi Mốt được bộ đội và lực lượng Tổng đội Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh, dân công hỏa tuyến Tây Ninh ngày đêm gấp rút thi công. Những đội trinh sát nai nịt gọn gàng bí mật len lỏi vào vùng địch hậu. Cán bộ tham mưu nhiều đêm thức trắng bên những tấm bản đồ trải rộng. Dưới sự hướng dẫn của cán bộ chính trị, bộ đội vừa tích cực làm công tác chuẩn bị vừa tranh thủ nghiên cứu cương lĩnh của Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, những phong tục tập quán tín ngưỡng của nhân dân nước bạn, học những câu giao tiếp thông thường bằng tiếng Khơ Me và khẩu lệnh gọi bắt tù binh được in rõ phát tận tay từng chiến sĩ. Được cơ quan hậu cần chiến lược giúp đỡ, Ngành Hậu cần binh đoàn tập trung toàn bộ lực lượng vận tải, quân y và các đội sửa chữa đẩy mạnh công tác vận chuyển, bảo đảm các nhu cầu của bộ đội. Đến ngày chiến dịch mở màn, Quân đoàn đã chuẩn bị đủ 5 cơ số xăng dầu, 3 cơ số đạn, lương thực thực phẩm đủ sử dụng hết tháng 1 năm 1979, thuốc quân y đủ cho 1.600 thương bệnh binh qua tuyến, với tổng khối lượng vật chất hơn 2.100 tấn. Cùng thời gian này, chính quyền các tỉnh phía Nam, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh động viên mọi lực lượng, tích cực chi viện cả vật chất và tinh thần, kịp thời động viên các chiến sĩ ngoài mặt trận trước khi bước vào những trận đánh mới. Giữa những ngày sôi động, khẩn trương chuẩn bị chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ binh đoàn rất phấn khởi được đón đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Thượng tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về thăm Quân đoàn và kiểm tra một số đơn vị. Trong buổi nói chuyện với cán bộ binh đoàn ngày 18 tháng 12 năm 1978, đồng chí Lê Đức Thọ căn dặn: ''Kẻ thù muốn kéo dài cuộc chiến tranh... thì ta phải thắng nhanh... Lực lương cách mạng của bạn hiện nay còn nhiều khó khăn... ta phải tích cực giúp đỡ bạn với tất cả nghĩa tình, thái độ vô tư và sẵn sàng hy sinh cống hiến vì nghĩa vụ quốc tế cao cả... chiến đấu lật đổ chế độ Pôn Pốt - Iêng Xary... phải thắng trọn vẹn cả về quân sự và chính trị''. Sự quan tâm và tình cảm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Quân đội dành cho bộ đội trước khi bước vào chiến dịch lịch sử giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia là nguồn cổ vũ mạnh mẽ Quân đoàn hăng hái thi đua hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ và thực hiện cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng vừa phát động. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, khi những công việc chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch A88 của Quân đoàn đã hoàn thành, các lực lượng sẵn sàng bước vào chiến đấu; cũng là lúc Pôn Pốt ra lệnh cho 19 sư đoàn có xe tăng pháo tầm xa và không quân hỗ trợ mở cuộc tiến công lớn trên toàn tuyến biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Trên hướng Quân khu 9, địch tràn qua biên giới đánh chìm khu vực kênh Vĩnh Tế, tây bắc núi Tượng... nhưng đã bị lực lượng vũ trang địa phương và Quân đoàn 2 dồn dập giáng trả. Tới ngày 3 tháng 1 năm 1979 ta cơ bản làm chủ mặt trận biên giới An Giang, Kiên Giang, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn 250 và đánh thiệt hại sư đoàn 210 và 230 của địch, buộc sở chỉ huy mặt trận đông nam của chúng rút chạy về thị xã Ta Keo. Ở hướng Tây Ninh, từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 12 Quân đoàn 4 và lực lượng vũ trang Quân khu 7 chặn đứng cuộc tiến công của 3 sư đoàn 340, 703 và 221 địch vào Bến Sỏi, tiêu diệt 3 trung đoàn, đẩy địch về tuyến phòng ngư Xoài Riêng, giữ đường số 10 và 244, kế hoạch đánh chiếm tỉnh Tây Ninh của Pôn Pốt bị sụp đổ hoàn toàn. Cùng thời gian này, liên quân cách mạng Cam-pu-chia - Việt Nam đẩy mạnh tiến công địch trên hướng đông bắc, chiếm Bản Lung, thị xã Lom Phát, Vân Sai, giải phóng Bô Cô, Bô Khăm, Căm Tuốt và đánh vào thị xã Kra Chiê. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bạn đánh địch trên toàn tuyến biên giới và cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia. Từ ngày 22 đến ngày 30 tháng 12 năm 1978, Quân đoàn 3 chặn đứng và đẩy lui tất cả các cuộc phản kích của địch vào tuyến bàn đạp; đồng thời triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa tiến công trên các hướng và đưa các đơn vị luồn sâu vào hậu phương địch, lập chốt chiến dịch ở Đông bắc Suông, Chúp và nam Krêc. Tin tưởng chắc chắn cuộc tiến công phiêu lưu quân sự quy mô lớn nhất của Pôn Pốt vào Việt Nam cuối năm 1978 sẽ bị đập tan. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia đã nhận định: ''Sinh lực địch nhất định sẽ bị quân và dân Việt Nam tiêu diệt hoặc kìm chân tại chỗ. Đây là thời cơ tốt nhất để lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia cùng với nhân dân và binh sĩ khởi nghĩa trên toàn quốc và đánh vào đầu não của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xary đập tan chế độ độc tài phát xít, khát máu của chúng'';6 và kịp thời chỉ thị cho các địa phương chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Ngày 26 tháng 12 năm 1978 khi đại quân của Pôn Yốt đã bị thất bại một bước nghiêm trọng trên các hướng, thời cơ chiến lược đã xuất hiện, Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia quyết định tổng tiến công và nổi dậy trong cả nước lật đổ chế độ diệt chủng Khơ Me đỏ, đồng thời chính thức yêu cầu Quân đội và nhân dân Việt Nam giúp đỡ. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh ''giúp bạn là tự giúp mình'', với đường lối quốc tế trong sáng vô tư và tình nghĩa thủy chung, Đảng và Nhà nước ta nhanh chóng đáp lời yêu cầu khẩn thiết của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia. Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh cho tất cả các đơn vị đang chiến đấu trên biên giới Tây Nam Tổ quốc sát cánh cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia kiên quyết tiến công đập tan chế độ Pôn Yốt - Iêng Xary, giải phóng đất nước Chùa Tháp, khôi phục lại tình đoàn kết truyền thống gắn bó lâu đời giữa hai dân tộc. Trong đội hình tổng tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia có sự phối hợp chặt chẽ của quân tình nguyện Việt Nam; Quân đoàn 3 từ các bàn đạp nhanh chóng, đồng loạt chuyển sang tiến công mạnh mẽ vào các mục tiêu địch. Đúng 6 giờ sáng ngày 31 tháng 12 năm 1978, chiến dịch A88 của Quân đoàn 3 chính thức mở màn. Trên hướng Sư đoàn 320, Trung đoàn 64 luồn sâu, nổ súng đánh chiếm Đầm Be, mở toang cánh cửa lên hướng tây bắc, Lập tức Trung đoàn 48 với trên 200 xe pháo ầm ầm lướt qua, tiến công thọc sâu giải phóng Suông, Chúp làm chủ sở chỉ huy tiền phương mặt trận đường 7 của địch. Tiếp đó Sư đoàn 320 đánh tan lực lượng địch phản kính rồi mở rộng truy quét. Hướng Sư đoàn 10, khi pháo binh bắn chuẩn bị và không quân ném bom vào các mục tiêu địch vừa dứt, Trung đoàn 66 và xe tăng chuyển sang tiến công thọc sâu. Sau nhiều lần đột phá, ta đập tan tuyến ngăn chặn của địch ở Làng 18, điểm cao 125 và 113 khai thông cửa mở. Thừa thắng, bộ binh xe tăng phát triển tiến công đánh chiếm Tà Hiên, Stoeng, làm chủ sở chỉ huy mặt trận đường 7 của địch. Tiếp đó, Sư đoàn 10 tiếp tục phát triển tiến công trên ba hướng: Trung đoàn 66 chiếm ChRum Trung đoàn 28 làm chủ điểm cao 45 và Krêc, một bộ phận của Trung đoàn 24 đánh theo đường 24 chiếm cầu Tăng Toóc. Tranh thủ thời cơ thuận lợi khi hai sư đoàn 10 và 320 tiến công tạo ra, Sư đoàn 31 nhanh chóng tiến công đánh chiếm phum Lo Ất, phum Sâm, Âm Púc, tiến qua Krêc và phát triển theo đường 78 xuống Tra Paeng Pring. Cùng thời gian này, Sư đoàn 302 từ tuyến bàn đạp Lò Gò - Xa Mát đánh chiếm điểm cao 11, Tà Âm, Tà Nốt. Ngày 1 tháng 1 nam 1979, bước một chiến dịch hoàn thành, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho các sư đoàn nhanh chóng chuyển sang thực hiện bước hai. Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 1, bốn sư đoàn (10, 320, 31, 302) vừa củng cố thế đứng chân vừa tích cực truy quét mở rộng địa bàn, phối hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia vận động quần chúng. Trung đoàn 48 Sư đoàn 320, trên đường hành tiến về phía bến phà Công Pông Chàm đã đánh tan lực lượng viện binh của địch ở cầu Kh Mung, truy kích làm chủ bờ đông lúc 15 giờ 30 phút ngày 2 tháng 1. Ngày hôm sau (3.1) Sư đoàn 320 tiến công phá vỡ tuyến ngăn chặn mới của địch ở Orăng Âu sau đó phát triển về hướng thị xã Prây Veng bắt liên lạc với Quân đoàn 4. Ngày 5 tháng 1 năm 1979 toàn bộ vùng đông sông Mê Kông được hoàn toàn giải phóng. Sau gần 4 năm rên siết trong địa ngục trần gian với bao đau thương mất mát căm hờn, hôm nay nụ cười Bay On huyền diệu nhòa trong nước mắt sung sướng hồi sinh, lại trở về trên gương mặt rạng rỡ của những người dân vùng Đông anh hùng. ----------------------------------------------------------------- 1, 2. Tuyên bố của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, ngày 2 tháng 12 năm 1978. (Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 8944, ngày 4 tháng 12 năm 1978). 3. Sở chỉ huy mặt trận đường 7, khu kho hậu cần và cố vấn nước ngoài ở Suông, Chúp, sở chỉ huy tiền phương mặt trận đường 7 ở phum La Chơ Gium; các sở chỉ huy sư đoàn: 310 ở Thơ Yng, 174 ở Lếch, 450 ở Kra Nhung và 280 ở đồng nam Đầm Be. 4. Báo cáo ''Chiến dịch tiến công A88 của Quân đoàn 3 (20.11.1978-14.1.1979) của Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, tr. 41. 5. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr.521. 6. Tuyên bố của ông Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia (Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, số 8985 ngày 13.1.1979). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Tư, 2021, 09:38:18 am * Trước đòn tiến công đồng loạt, sấm sét của quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu- chia, 19 sư đoàn Pôn Pốt nhanh chóng bị đập tan, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống chính quyền Khơ Me đỏ. Hồi chuông báo tử con quỷ phát xít đã điểm. Chớp thời cơ chiến lược, Bộ chỉ huy liên quân Cam-pu-chia - Việt Nam quyết định dùng sức mạnh tiến công đè bẹp quân địch ở vòng ngoài, táo bạo thọc thẳng vào giải phóng thủ đô Phnôm Pênh trên cả ba hướng: đông, nam và tây. Khắp đất nước Chùa Tháp âm vang lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia: ''...đã đến lúc rồi, lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia trong toàn quốc hãy nỗ lực vượt mọi khó khăn đánh đổ bọn Pôn Pốt - Iêng Xary, kiên quyết giải phóng đất nước thóat khỏi bàn tay đẫm máu của chúng và bọn bành trướng nước ngoài. Quân đội cách mạng anh dũng ta hãy nêu cao tinh thần chiến đấu kiên cường để tiêu diệt địch và bắt sống địch, thu vũ khí, đạn dược của địch''1. Trong cuốc Tổng tiến công lịch sử này, Quân đoàn 3 được giao đảm nhiệm tiến công trên hướng tây, đánh chiếm các mục tiêu phía tây bắc và bắc thủ đô, hội quân cùng các đơn vị bạn ở đài Độc Lập và bộ tổng tham mưu quân Pôn Pốt. Đường vào giải phóng Phnôm Pênh còn xa, thời gian chỉ có 4 ngày, trong khi quân địch trên hướng tiến công của Quân đoàn còn khá đông, ngoan cố chống trả. Song khó khăn nhất là phải vượt qua con sông Mê Kông rất rộng, đập tan tuyến phòng thủ mạnh của địch bên bờ tây, mở toang cánh cửa thép mà chúng mới dựng lên ở thị xã Công Pông Chàm, để đại quân ta phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu đã định. Về phía địch, trong cơn bấn loạn, lúng túng, bị động đối phó trên các hướng, nhưng chúng cũng nhận rõ mối nguy cơ đang dện với Công Pông Chàm. Pôn Pốt biết rằng, khi đối, phương chiếm được thị xã trọng yếu này sẽ phát triển cắt chặn đường số 6, triệt mất đường rút chạy của chúng về hướng biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. Vì vậy, ngày 4 tháng 1 năm 1979, y vội vã phái bộ trưởng quốc phòng Xon Xen cùng cơ quan tiền phương bộ tổng tham mưu đem theo 2.000 quân thẳng tiến đến Công Pông Chàm. Vừa đến nơi, Xon Xen lập ngay tuyến tử thủ, gom nhặt tàn quân từ bờ đông sông chạy về cùng với sư đoàn 520 tổ chức thành những đơn vị chiến đấu mới, bắt hơn 700 dân ở thị xã sung vào đội quân ô hợp này. Thị xã Công Pông Chàm bấy lâu vắng lặng, bỗng chốc biến thành một căn cứ quân sự lớn. Bảo vệ nó là tuyến phòng thủ mạnh dọc theo bờ tây sông Mê Kông, kéo đài từ bắc thị xã đến nam bến phà Niếc Lương với hơn 500 công sự, ụ súng, hỏa điểm và hệ thống chiến hào được cải tạo từ các rãnh thóat nước. Xen kẽ trong các tuyến công sự và chốt chặn các ngã ba, ngã tư đường phố là một lực lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp. Hàng chục khẩu pháo lớn và súng cối ở các trận địa phía tây, tây bắc sẵn sàng nhả đạn. Xon Xen hy vọng với đội quân đông, hỏa lực dày đặc chĩa xuống lòng sông Mê Kông rộng hơn làm, nước chảy xiết, hai bờ dốc đứng sẽ trở thành một dòng sông lửa, một chiến hào thiên nhiên khổng lồ chặn đứng đối phương. Trong khi quân địch dốc toàn lực, ráo riết phòng thủ phía bờ tây, thì ở bên bờ đông quân ta cũng đang khẩn trương chuẩn bị cho một cuộc ''vượt sông bằng sức mạnh'' lớn nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương. Lực lượng vượt sông, đánh chiếm thị xã Công Pông Chàm gồm: Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 và các đơn vị binh chủng tăng cường (18 xuồng máy, phà tự hành GPS, 4 xe tăng T54, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 155mm, 7 khẩu pháo phòng không 37 và 57mm) bí mật triển khai đội hình chiến đấu. Đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng 1 năm 1979, Trung đoàn 64 đã áp sát bờ đông sông; Tiểu đoàn 4 thuộc Lữ đoàn công binh 249 hạ thủy xuồng máy an toàn; xe tăng, pháo binh, pháo phòng không hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng nổ súng. Sư đoàn 320 lập sở chỉ huy tiền phương do tham mưu phó Nguyễn Hữu Mão phụ trách bên cạnh sở chỉ huy Trung đoàn 64 để trực tiếp giúp đỡ đơn vị chỉ huy chiến đấu. Thực hiện kế hoạch, lúc 4 giờ 30 phút ngày 6 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn 9 do tham mưu phó Trung đoàn 64 Khuất Duy Hoan trực tiếp chỉ huy bí mật dùng xuồng vượt sông Mê Kông. Nhưng đi được khỏang 500m thì bị địch phát hiện bắn chặn buộc phải quay lại. Ý định bí mật lót trước một lực lượng sang bờ tây sông không thành. Trước tình hình đó, Tư lệnh phó Quân đoàn Nguyễn Quốc Thước (trực tiếp đi cùng Sư đoàn 320) quyết định chuyển ngay sang thực hiện phương án vượt sông bằng sức mạnh. Từ 5 giờ 45 phút, tất cả các loại pháo bắn thẳng, vòng cầu, pháo xe tăng, hỏa lực đi cùng bộ binh đồng loạt bắn phá mãnh liệt vào toàn tuyến phòng thủ của địch bên bờ tây sông Mê Kông và thị xã Công Pông Chàm. Pháo ta bắn chính xác làm tê liệt hầu hết các trận địa pháo cối địch, phá hủy nhiều công sự, 1 kho đạn nổ tung làm rung chuyển không gian, 1 kho xăng bốc cháy dữ dội khói đen trùm lên thị xã. Dưới sông, 3 chiếc xà lan của địch cũng bị trúng đạn bốc cháy, rồi chìm nghỉm. Sau đợt công phá thứ hai của pháo binh, tuyến công sự bên mép nước của địch bị vằm nát, hệ thống chỉ huy bị rối loạn. Thời cơ vượt sông đã đến. 6 giờ 30 phút, trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Vũ Cối hạ lệnh vượt sông. Lập tức các xuồng máy của Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 249 chở Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 rẽ nước lao sang phía bờ tây. Tốp xuồng đi đầu gồm 4 chiếc rời bến được vài chục mét thì 1 chiếc chết máy, 3 chiếc còn lại tiếp tục tiến. Phát hiện thấy lực lượng vượt sông của ta, địch tập trung hỏa lực pháo cối, ĐKZ, 12,7mm đánh chặn quyết liệt làm thủng xuồng và một vài chiến sĩ thương vong. Trong giờ phút gay go ác liệt của trận đánh, tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Điều bị thương vẫn dũng cảm chỉ huy đơn vị lao xuồng vào bờ; binh nhất Vũ Mạnh Tuấn xé áo bịt lỗ đạn xuyên thủng mạn xuồng rồi lấy chân chèn ngăn nước xối. 7 giờ xuồng áp bờ tây sông, các chiến sĩ như lò xo bật lên bờ, nhất loạt tung lựu đạn, rồi chia làm hai mũi xung phong đánh chìm tuyến công sự sát mép nước. Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thại nhanh như sóc đoạt khẩu ĐKZ đã bị hỏng kính ngắm của địch, quay nòng ''bắn vo'' hến 5 quả đạn diệt các ụ súng, hỏa điểm bên trong; xạ thủ B40 Đinh Xuân Khoa và chiến sĩ Nguyễn Đình Phùng mưu trí, gan dạ diệt khẩu đại liên nguy hại, mở đường cho phân đội phát triển chiến đấu. Sau ít phút tiến công, Đại đội 3 làm chủ khu vực đầu cầu bến vượt, chiếm một đoạn hào dài 300m, tạo điều kiện cho đột phá vào sâu phòng tuyến địch. Tranh thủ thời cơ thuận lợi các phân đội còn lại của Tiểu đoàn 7, toàn bộ Trung đoàn 64 và đại đội xe tăng... vượt sông bằng xuồng, phà của Lữ đoàn 249 và Lữ đoàn 7 công binh, kịp thời sang bờ tây sông bước vào chiến đấu. Với thế áp đảo, Trung đoàn 64 nhanh chóng đè bẹp mọi sự kháng cự của địch, tiến thẳng vào thị xã, dồn địch vào các ngõ cụt, truy kích về hướng tây và hướng bắc. Trong cơn tuyệt vọng, đích thân Xon Xen gom được 1 tiểu đoàn quân thất trận tổ chức phản kích vào phía nam thị xã, nhưng bị đánh bật ra trảng trống, buộc phải tháo chạy. Cùng lúc một kho đạn bốc cháy, những tiếng nổ dữ dội rền vang như tràng pháo khổng lồ chào mừng thị xã Công Pông Chàm đã thuộc về quân cách mạng. 8 giờ 10 phút ngày 6 tháng 1 năm 1979, cánh cửa thép Công Pông Chàm được mở toang. Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 10 và các đơn vị binh chủng khẩn trương vượt sông Mê Kông tiến về giải phóng Phnôm Pênh. Sáng ngày 7 tháng 1, lực lượng đột kích binh chủng hợp thành gồm Trung đoàn 28 đi trên 36 xe ô tô, 3 đại đội xe tăng, 4 khẩu pháo mặt đất, 2 khẩu pháo phòng không, 1 đại đội công binh do trung đoàn trưởng Vũ Khắc Đua và trung đoàn phó Võ Hồng Kháng chỉ huy, được không quân chi viện, ầm ầm hành tiến theo đường số 7 và số 6 lần lượt đập tan các cụm địch ở Skun, Phu Chê, bến phà Tông Lê Sáp, vu hồi vào phía tây thủ đô Phnôm Pênh. Đến 18 giờ 40 phút ngày 7 tháng 1, Trung đoàn 28 chiếm các mục tiêu Tak Leât, nhà máy xay, nhà máy hoa quả, kho súng đạn... rồi phát triển chiếm Hoàng Cung và bộ tổng tham mưu quân Pôn Pốt, bắt liên lạc với Quân đoàn 4. Cùng thời gian này các quân khu, quân đoàn bạn và lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu- chia đã tiến vào Phnôm Pênh làm chủ thủ đô. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn giải phóng, đánh dấu sự sụp đổ vĩnh viễn của chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xary. Ngày 8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia được thành lập gồm 8 thành viên do ông Hêng Xom Rin làm Chủ tịch. Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia trịnh trọng tuyên bố trước nhân dân trong nước và thế giới: ''Xóa bỏ hoàn toàn chế độ độc tài phát xít diệt chủng của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary, thành lập chế độ cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia. Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia quyết lãnh đạo toàn dân.. xây dựng thành công một nước Cam-pu-chia hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, không liên kết và tiến lên chủ nghĩa xã hội''. ''Một kỷ nguyên mới trong lịch sử Cam-pu-chia - kỷ nguyên thật sự độc lập, thật sự tự do, hoàn toàn không phụ thuộc nước ngoài''2 bắt đầu. Thủ đô Phnôm Pênh và hầu hết các tỉnh trong nước được giải phóng. Tàn quân Pôn Pốt - Iêng Xary hỏang loạn tháo chạy về các tỉnh miền tây bắc và tây nam giáp biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. Quyết không để tàn quân địch co cụm về phía tây, bắc có thời gian tổ chức lực lượng chống lại cách mạng, ngày 8 tháng 1 năm 1979, Quân đoàn 3 được lệnh dùng một lực lượng mạnh phát triển theo trục đường số 6, truy quét tàn binh, giải phóng toàn bộ các tỉnh thuộc ''quân khu tây bắc'' và ''quân khu miền tây'' cũ của địch. Thực hiện nhiệm vụ mới do Bộ tư lệnh Quân đoàn giao, Sư đoàn 10 và các đơn vị binh chủng có sự phối hợp của quân đội cách mạng Cam-pu-chia nhanh chóng tiến lên phía tây bắc. 12 giờ ngày 9 tháng 1, Trung đoàn 24 đánh tan 5 tiểu đoàn địch, giải phóng hoàn toàn thị xã Công Pông Thơm. Trung đoàn 66 trên đường hành tiến bất ngờ gặp một đoàn xe địch, đã khôn khéo tắt đèn, bỏ mũ, đội khăn mặt giả làm khăn rằn nghi binh, rồi diệt và bắt gọn quân địch cùng 23 chiếc xe; sau đó giải phóng thị xã Xiêm Riệt vào sáng ngày 10 tháng 1. Từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 1, Sư đoàn 10 tiếp tục phát triển tiến công theo trục đường số 5, đánh tan quân địch phòng ngự ở thị trấn Môn Lơn Bô Rây, giải phóng thị xã Bát Tam Băng, Pua Sát và đánh rộng về phía tây nam, bắt liên lạc với Quân đoàn 4 ở phía nam thị xã Pua Sát. Ngày 14 tháng 1 năm 1979, chiến dịch A88 của Quân đoàn 3 kết thúc thắng lợi. Trong 15 ngày đêm liên tục tiến công dũng mãnh và thần tốc, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên đã vượt chặng đường dài 600km, đập tan 5 sư đoàn địch trên mặt trận đường số 7, chọc thủng phòng tuyến Công Pông Chàm, đánh chiếm các mục tiêu ở phía tây bắc Phnôm Pênh, giải phóng 5 tỉnh: Công Pông Chàm, Công Pông Thơm, Xiêm Riệt, Bát Tam Băng, Pua Sát; đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.807 tên địch (bắt 1.759 tên), phá hủy 12 xe tăng và 59 ô tô; thu 16.799 súng các loại, 10 xe tăng, xe bọc thép, 332 ô tô, 2 máy bay vận tải, 499 máy thông tin và 25 kho; giải phóng hàng chục vạn dân, giúp bạn xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở ở 196 phum, 5 xã; cứu đói 1.000 người và giúp đỡ hàng vạn dân trở về quê hương. Chiến dịch A88 là chiến dịch lớn nhất, đạt hiệu quả cao nhất của Quân đoàn 3 trong cuộc chiến tranh bản vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế. Thắng lợi của chiến dịch đã góp phần quan trọng vào chiến công chung vĩ đại đánh đổ hoàn toàn chế độ diệt chủng Khơ Me đỏ, giải phóng đất nước Cam-pu-chia trong mùa xuân lịch sử năm 1979. Từ thực tiễn chiến dịch, Quân đoàn đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về nghệ thuật tiến công hành tiến binh chủng hợp thành, cách nắm và đánh giá địch, quán triệt nhiệm vụ xây dựng ý chí nắm vững tư tưởng tiến công, sử dụng các binh chủng trong chiến đấu và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật trong tiến công hành tiến. Về chiến thuật, cùng với việc vận dựng sáng tạo, hiệu quả những cách đánh truyền thống, lần đầu tiên Quân đoàn thực hiện thành công hình thức tác chiến mới: tiến công vượt sông bằng sức mạnh binh chủng hợp thành. Chiến công vẻ vang và kinh nghiệm quý giá đúc rút từ chiến dịch A88 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ và tạo đà cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn mới. ------------------------------------------------------------------ 1. Hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia ngày 7 tháng 1 năm 1979 (Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, số 8980 ngày 8.1.1979). 2.Tuyên bố của Hội đồng nhân dân cách mạng Cam-pu-chia ngày 10 tháng 1 năm l979 (Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 8984 ngày 12 tháng 1 năm 1979). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 06:51:51 am * Ngày 18 tháng 2 năm 1979, tại Phnôm Pênh, Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu- chia được ký kết; đánh dấu bước phát triển mới vô cùng quan trọng giữa hai quốc gia. Theo yêu cầu của bạn, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam vừa tham gia giải phóng đất nước Cam-pu-chia, trong đó có Quân đoàn 3, tiếp tục ở lại giúp bạn vận động quần chúng, xây dựng cơ sở và củng cố thành quả cách mạng. Địa bàn làm nhiệm vụ của Quân đoàn 3 thời gian này rất rộng. Sư đoàn 10 đảm nhiệm hai tỉnh (Xiêm Riệt và Bát Tam Băng). Sư đoàn 31 phụ trách toàn bộ vùng Đông sông Mê Kông, sau đó được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cùng Sư đoàn 303 Quân khu 7 đảm nhiệm khu tứ giác Công Pông Chàm, ngã ba SKun, Công Pông Thơm và Beng Lô Via. Sư đoàn 320 đang hoạt động ở tây nam Công Pông Chàm được lệnh đi phối thuộc với Quân khu 9 truy quét địch co cụm ở phía tây nam Phnôm Pênh. Các đơn vị binh chủng hoạt động dọc trục đường số 6 từ thị xã Công Pông Chàm đến thị xã Xiêm Riệt. Để lãnh đạo binh đoàn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mới, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn họp đánh giá tình hình lãnh đạo trong chiến dịch A88 và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới. Về ''Nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Quân đoàn'', Thường vụ Đảng ủy xác định: ''1. Lãnh đạo truy quét toàn diện, làm tan rã toàn bộ quân địch còn lại trong khu vực được phân công; 2. Ra sức tranh thủ nhân dân, giúp bạn xây dựng lực lượng cách mạng và ổn định đời sống nhân dân''. Những tháng đầu năm 1979, trên đất nước Chùa Tháp công cuộc hồi sinh đã diễn ra rộng khắp và phát triển từng ngày. Hàng triệu người dân được giải phóng khỏi các trại lao động khổ sai ''công xã'', như chim sổ lồng hăm hở trở về quê hương xây dựng cuộc sống mới. Chính quyền cách mạng được thiết lập từ thành thị đến nông thôn. Lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia phát triển nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng, vừa xây dựng vừa sát cánh cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng. Các công xưởng, nhà máy, bệnh viện, trường học, chợ búa, lễ hội văn hóa truyền thống được khôi phục và hoạt động trở lại. Chùa chiền lại vang tiếng mõ, tiếng chuông. Xuân Kỷ Mùi đã về với đất nước Cam-pu-chia, mùa xuân cũng trở lại trong mỗi con người, mỗi gia đình, phum sóc sau bao năm bị lũ đao phủ Pôn Pốt tước đoạt. Cùng chia sẻ niềm vui với nhân dân, chung sức chung lòng gánh vác công việc bề bộn với bạn, cán bộ và chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng vô tư, đẩy mạnh truy quét tàn binh địch, giúp dân hồi hương, ổn định đời sống, phục hồi sản xuất và xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở. Chỉ trong một tháng (15.1-15.2) các đơn vị trong Quân đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.300 tên địch, thu 2.700 súng các loại, phá hủy 12 xe tăng, xe bọc thép; tổ chức bàn giao toàn bộ kho tàng chiến lợi phẩm cho chính quyền bạn; huy động 1.854 chuyến ô tô đón trên 10 vạn dân về quê cũ làm ăn sinh sống, cứu đói và cấp cho dân 407 tấn thóc, 44 tấn gạo, 13 tấn muối; cấp thuốc chữa bệnh cho 52.800 lượt người, cấp cứu trên 1.000 ca bệnh hiểm nghèo; giúp bạn xây dựng chính quyền ở 26 xã, 578 phum, tổ chức 177 đội du kích, 13 đại đội và 1 tiểu đoàn bộ đội địa phương; tuyên truyền Cương lĩnh của Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia cho 40 vạn lượt người, chiếu phim phục vụ 18 vạn lượt người xem. Ngoài ra, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn còn tiết kiệm được 400kg gạo, 300kg muối, một số đường sữa kịp thời trợ giúp những người già yếu và trẻ em trên đường hồi hương. Cảm kích, tin yêu, mến phục ''Bộ đội Cụ Hồ'' trong sáng thủy chung tình nghĩa, nhân dân các địa phương tích cực giúp đỡ bộ đội tình nguyện Việt Nam truy quét địch và làm nhiệm vụ. Trong không khí thi đua sôi động làm nhiệm vụ quốc tế, ngày mùng 2 Tết Kỷ Mùi, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 rất vinh dự được đón ông Chia Xim - Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cách mạng Cam-pu-chia cùng các vị thành viên Mặt trận và Hội đồng đến thăm, chúc Tết. Đặc biệt, ngày 2 tháng 3 năm 1979, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố lệnh tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho các đơn vị đã có thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu, xây dựng lực lượng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có Quân đoàn 3. Phần thưởng cao quý, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta và tình cảm quý giá của lãnh đạo và nhân dân nước bạn là nguồn động viên cổ vũ lớn lao cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả, để sớm được về Tổ quốc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 06:55:32 am * Bị ta truy quét mạnh, cuối tháng 3 năm 1979, lực lượng tàn quân chủ yếu của địch khỏang 8.000 tên co cụm về phía tây các tỉnh Bát Tam Băng, Pua Sát, dựa vào vùng rừng núi hiểm trở gần biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, lập căn cứ, hoạt động chống phá cách mạng. Cơ quan trung ương của Pôn Pốt đóng ở thung lũng Tà Sanh, Săm Lốt cách thị xã Bát Tam Băng khỏang 60km về phía tây nam, cách đường biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan 12km; bộ tổng tham mưu và căn cứ hậu cần ở Tà Sanh, Lếch, Kra Vanh; quân khu tây bắc và tàn quân các nơi chạy về ở Mung Ru Sey, Ph Lếch, Tà Nghen, Múc Ria, Ta Lô, Ph Lia bảo vệ vòng ngoài. Hai lữ đoàn biên phòng, lực lượng thanh niên xung phong, tàn quân quân khu bắc cụm lại ở Lô Via, nam Ni Mít, nam Poi Pét và bắc Pai Lin. Được bọn phản động quốc tế hà hơi tiếp sức, tàn quân Pôn Pốt ráo riết phản kích gây nhiều khó khăn cho chính quyền cách mạng và nhân dân các tỉnh Bát Tam Băng, Si Xô Phôn, Pua Sát, Ốt Đô Miên Chay. Vì vậy, việc tiêu diệt các căn cứ phía tây, phá tan cơ quan đầu não tàn quân, triệt phá các căn cứ hậu cần của địch sớm được Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia và Bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam hoạch định. Trong chiến dịch truy quét lớn này, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ: tập trung lực lượng đánh chiếm làm chủ các căn cứ địch ở phía tây Bát Tam Băng, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, diệt và bắt chỉ huy đầu não ở Tà Sanh, Săm Lốt; sau đó hiệp đồng cùng Quân đoàn 4, Quân khu 9 và các đơn vị Hải quân tiêu diệt, làm tan rã, thu hồi, triệt phá toàn bộ cơ sở vật chất của địch ở tây Pua Sát. Vừa chiến đấu, vừa giải phóng nhân dân, giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Thực hiện nhiệm vụ mới, đầu tháng 3 năm 1979 Bộ tư lệnh Quân đoàn nhanh chóng điều động Sư đoàn 31 đang hoạt động ở Xiêm Riệt và các đơn vị binh chủng ở khu vực đường số 6 về Bát Tam Băng cùng Sư đoàn 10 mở chiến dịch truy quét tây Bát Tam Băng. Ngày 13 tháng 3, sở chỉ huy Quân đoàn cũng chuyển lên nam thị xã Bát Tam Băng kịp thời chỉ huy chiến dịch. Ngày 16 tháng 3, trên đường công tác, đoàn xe của Bộ tư lệnh và cơ quan Quân đoàn bị địch phục kích ở Ph Tốc cách thị xã Bát Tam Băng 40km về phía bắc. Mặc dù lực lượng địch bị đánh tan, nhưng đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn - Tư lệnh Quân đoàn bị thương nặng và ngày hôm sau đã hy sinh. Đây là một tổn thất lớn đối với Quân đoàn 31. Cuộc đời chiến đấu dũng cảm kiên cường, tấm gương tận tụy phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân và nghĩa tình quốc tế cao đẹp hơn 30 năm của đồng chí Tư lệnh đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ toàn binh đoàn quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà đồng chí để lại. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn do Thiếu tướng Phạm Sinh làm Bí thư kiêm Chính ủy và đại tá Nguyễn Quốc Thước làm Tư lệnh Phó Tham mưu trưởng, chiến dịch truy quét vào hang ở cuối cùng của địch vẫn được thực hiện đúng kế hoạch. Ngày 24 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh đánh chiếm các vị trí bàn đạp, mở màn chiến tích truy quét tây Bát Tam Băng. Sư đoàn 10 dùng Trung đoàn 66 đánh chiếm Chi Săng, Păng Rô Lin; Trung đoàn 24 luồn sâu chiếm lĩnh bàn đạp ở bắc Săm Lốt. Su đoàn 31 sử dụng Trung đoàn 977 truy quét mở rộng địa bàn Căng Hót, Thơ Min giữ hành lang; Trung đoàn 922 đánh những trận nhỏ thu hút địch ở nam Tà Nghen; Trung đoàn 866 cơ động vào chiếm bàn đạp ở xung quanh Tà Sanh. Được nhân dân giúp đỡ, Trung đoàn 866 tổ chức một đoàn xe 5 chiếc, chở 100 thùng phi nước cơ động theo đội hình và được chị Xô Phi dũng cảm ngồi trên xe thiết giáp dẫn đường đến đúng mục tiêu. Ngày 26 tháng 3, nhiệm vụ đánh chiếm bàn đạp hoàn thành. Sáng ngày 27 tháng 3, cuộc tiến công vào Tà Sanh, Săm Lốt bắt đầu. Trên hướng Tà Sanh, Trung đoàn 866 nổ súng lúc 6 giờ 30 phút. Pháo 105mm của ta bắn chuẩn bị 100 quả đạn vào căn cứ địch, gây nhiều đám cháy lớn. Lợi dụng kết quả bắn của pháo binh, Tiểu đoàn 3 cùng 4 xe tăng do tiểu đoàn trưởng Mai Nga chỉ huy từ hướng đông tiến gần mục tiêu thì bị vướng bãi mìn và xe tăng địch ngăn chặn. Lập tức trung đoàn trưởng Bùi Thanh Điếm tổ chức lại đội hình, dùng một mũi đánh vu hồi kết hợp tiến công mạnh ở chính diện. Bị đánh dồn dập cả ở phía trước và phía sau, quân địch chống trả yếu dần rồi tháo chạy, nhưng đều rơi vào các trận địa đón lõng của ta. Lúc 14 giờ ngày 27 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tà Sanh. Hơn 700 tên địch thuộc trung đoàn cận vệ Phnôm Pênh bảo vệ cơ quan trung ương bị loại khỏi vòng chiến đấu, 140 kho vũ khí phương tiện chiến tranh bị tịch thu. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 866 mở rộng truy quét chiếm đài phát thanh và cơ quan trung ương địch ở phum Tức Sóc, diệt đoàn xe của cơ quan đầu não địch ở Tắc Tuôn thu nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có 2 con dấu của ''bộ ngoại giao'' và vùng 4, hộ chiếu của Iêng Xary. Trùm Khơ Me đỏ Pôn Pốt chạy trốn vào rừng mới thóat thân. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công chính vào Tà Sanh, Trung đoàn 922 đẩy mạnh tiến công địch ở Cô Cô Lô; Trung đoàn 977 tiến đánh Sô Nô và truy quét ở Chư Lắc, Sàm Rông, Ph Lia, chiếm Kra Vanh, phát triển lên phum Yên. Trong trận Sô Nô, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 977 do tiểu đoàn trưởng Phạm Ngọc Châu chỉ huy đã dũng cảm đánh chiếm Tháp nước, vây chặt và gọi hàng 179 tên địch, thu 100 súng, giải phóng 7.000 dân. Quá trình đánh địch ở Ph Lia, Trung đoàn 977 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn đặc công 113 đã cứu hàng nghìn dân bị địch cưỡng ép đi theo làm bia đỡ đạn. Bộ đội tận mắt chứng kiến tội ác vô cùng dã man của bọn Pôn Pốt. Hàng trăm người dân bị sát hại, chỉ tính riêng vùng Sàm Rông đã có 200 xác người già, trẻ con, phụ nữ nằm rải rác dọc đường. Ở hướng Săm Lốt, cuộc tiến công truy quét của Sư đoàn 10 cũng giành được nhiều kết quả. Trung đoàn 24 tiến công trên hai hướng, kết hợp đột phá liên tiếp ở chính diện với các mũi luồn sâu vu hồi lợi hại, nhanh chóng đập tan quân địch ở vòng ngoài, thọc thẳng vào trung tâm Săm Lốt. Trước sức mạnh tiến công áp đảo của ta, quân địch vứt bỏ xe pháo, tìm hướng chạy về hướng biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. 17 giờ ngày 27 tháng 3 căn cứ Săm Lốt bị xóa sổ. Nhiều tên địch bị tiêu diệt, 152 tên bị bắt; 105 xe vận tải, 2 xe tăng và hàng trăm súng các loại bị tịch thu; hơn 9.000 dân được giải phóng. Phát huy thắng lợi, từ ngày 1 đến ngày 24 tháng 4 Quân đoàn tập trung lực lượng tiếp tục truy quét tàn quân địch ở vùng biên giới phía tây Bát Tam Băng. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 309, Trung đoàn 726 (mới được tăng cường cho Quân đoàn) lần lượt làm chủ các mục tiêu Pai Lin, Viên Viêng, Lô Via, Ni Mít, Poi Pét, Cao Mê Lai, Khao Ca Lon, giải phóng một dải biên giới dài trên 150km. Ngày 24 tháng 4, chiến dịch truy quét tây Bát Tam Băng kết thúc. Quân đoàn giành được thắng lợi lớn: đập tan cơ quan trung ương tàn quân Pôn Pốt, gây cho địch tổn thất nặng nề cả về sinh lực và phương tiện chiến tranh; loại khỏi vòng chiến đấu 3.958 tên địch, thu và phá hủy hàng nghìn súng các loại, hàng trăm xe cộ, hàng nghìn tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm, quân dụng; giải phóng 7 vạn dân và hầu hết vùng biên giới miền tây tỉnh Bát Tam Băng. Chiến thắng Tà Sanh - Tức Sóc, Săm Lốt có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự và chính trị. Nó không những đánh dấu bước trưởng thành mới của Quân đoàn, mà còn tạo đà thuận lợi cho ta tiến hành chiến dịch truy quét cuối cùng ở thung lũng Kra Vanh. Ngay sau khi hoàn thành chiến dịch tây Bát Tam Băng, Quân đoàn 3 nhanh chóng cơ động 2 sư đoàn (10, 31) và các lữ đoàn binh chủng (273, 7, 234) tham gia chiến dịch tây Pua Sát cùng các đơn vị bạn. Từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5, Quân đoàn dùng Trung đoàn 24 chốt chặn chiến dịch ở tây Pra Môi, Trung đoàn 66 đánh chiếm Sa Piêng, Tiểu đoàn 9 đặc công tiến công Sơ Nai Pra, Trung đoàn 977 chiếm Ph Lếch, Trung đoàn 28 luồn sâu. Với cách đánh bao vây chia cắt nhiều tầng, tiến công chính diện kết hợp với luồn sâu, vu hồi... ta nhanh chóng đánh vỡ thế trận của địch, làm chủ mục tiêu, thu hồi nhiều vũ khí, kho tàng, giải phóng nhiều người dân. Trên đà thắng lợi, từ ngày 4 đến ngày 30 tháng 5 Quân đoàn tiếp tục truy quét, triệt phá các cơ sở hậu cần của địch, giải phóng và phát động quần chúng nhân dân, giúp bạn củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía tây. Ngày 30 tháng 5 năm 1979, phòng tuyến biên giới hoàn thành, Quân đoàn tổ chức bàn giao cho chính quyền cách mạng tỉnh Pua Sát. Sau một tháng phối hợp với các đơn vị bạn truy quét, Quân đoàn đã triệt phá hoàn toàn căn cứ hậu cần chiến lược Kra Vanh của địch, giải phóng vùng biên giới phía tây tỉnh Pua Sát, giúp bạn củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.645 tên địch (bắt 3.359 tên), thu 6.121 súng các loại, nhiều xe cộ, đạn dược, quân dụng, tài liệu (có 4 con dấu vùng 4, 2, 6, 7 của Pôn Pốt); 466 tấn lúa gạo, 200 tấn muối, 69.539m vải, 1.400 lít xăng dầu, 25 kiện thuốc chữa bệnh và bàn giao đầy đủ cho chính quyền cách mạng tỉnh Pua Sát; giải phóng 145.000 dân, giúp bạn lập chính quyền ở 6 phum, 1 đội du kích, tuyên truyền cho 116.641 lượt người, khám chữa bệnh cho 959 người, cứu đói cho dân 115 tấn lương thực và 200 tấn muối. Chiến dịch truy quét tây Pua Sát giành thắng lợi lớn, đạt hiệu suất chiến đấu cao, ta thương vong thấp. Đây là chiến dịch cuối cùng của Quân đoàn 3 làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Trong khi Quân đoàn làm nhiệm vụ trên hướng tây bắc Cam-pu-chia, Sư đoàn 320 và một phân đội xe tăng đi phối thuộc với Quân khu 9 và lực lượng vũ trang cách mạng bạn truy quét tàn quân địch ở phía nam Phnôm Pênh. Trong gần sáu tháng, Sư đoàn 320 đã đánh hàng trăm trận, phá tan nhiều hang ổ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu và phá nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của tàn quân 4 sư đoàn địch (210, 250, 270, 805) thuộc quân khu tây nam do tên đao phủ Tà Mốc cầm đầu; góp phần bảo vệ thị xã Ta Keo, khai thông các tuyến đường sốt, 33, 42; giúp bạn xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở và lực lượng vũ trang địa phương. Trong đợt chiến đấu này, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp quốc tế vẻ vang, trong đó có thượng tá Trần Ngọc Chung - Tư lệnh phó Sư đoàn. Đầu tháng 6 năm 1979, Sư đoàn 320 kết thúc nhiệm vụ phối thuộc truy quét, trở về đội hình Quân đoàn 3. Tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với nhân dân Cam-pu-chia. Nửa năm làm nhiệm vụ quốc tế, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và truyền thống đơn vị, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên chiến công sáng chói, góp phần quan trọng giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng. Đến đây, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế của Quân đoàn 3 đã hoàn thành. Trong 20 tháng, Quân đoàn đã tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ quân địch ở mặt trận đường 7, quân khu đông, quân khu tây bắc, quân khu bắc, cơ quan trung ương tàn quân Pôn Pốt, tham gia giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, bao gồm 12 sư đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 48.064 tên, phá hủy 6.369 súng các loại, 11.000 tấn đạn, 176 ô tô và 35 xe tăng xe thiết giáp; thu 53.239 súng các loại, 10.756 tấn đạn, 685 ô tô, 34 xe tăng, 2 máy bay, và nhiều tài liệu, tài sản quý bàn giao đầy đủ cho bạn; giải phóng 1,7 triệu dân, giúp bạn xây dựng chính quyền cơ sở tại 1.084 phum, 64 xã, 10 xí nghiệp, 3 bệnh viện; tổ chức xây dựng trang bị một tiểu đoàn, 13 đại đội bộ đội địa phương và 1.106 đội du kích (6.055 người, trang bị 3.483 súng các loại). Đánh giá về Quân đoàn 3 trong nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: ''Binh đoàn đã thực hiện được... đi đến đâu là bạn tin, dân mến, kẻ thù khiếp sợ và ta thì trưởng thành'', ''hoàn thành một nhiệm vụ không đơn giản nhưng rất vẻ vang'', ''làm đẹp lòng Đảng, Chính phủ, nhân dân và mỗi gia đình Việt Nam ta''2. ------------------------------------------------------------------ 1. Thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn (Nguyễn Công Tiến), sinh năm 1927 tại Phú Lãm, Thanh Oai, Hà Tây. Nhập ngũ năm 1946, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hơn 30 năm (1946 - 1979) tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí trưởng thành từ chỉ huy trung đội đến Quân đoàn; hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đồng chí được tặng thưởng nhiều Huân chương Quân công, Chiến công. Ngày 20.12.1979 đồng chí được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 1. Trích bài phát biểu của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất, ngày 26 và 27.11.1979. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 06:57:26 am * Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia (5.1975 - 6.1979), Quân đoàn 3 trải qua một chặng đường 4 năm lịch sử. Đây là giai đoạn binh đoàn có rất nhiều biến động và thử thách nhưng cũng rất hào hùng, rực rỡ chiến công. Bước ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với niềm hân hoan chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn hăng hái thi đua thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ chiến tranh, chủ yếu làm nhiệm vụ chiến đấu chuyển sang xây dựng chính quy thời bình, tham gia vận động quần chúng củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, truy quét FULRO và lao động sản xuất với nhiều biến động về tổ chức biên chế, quân số liên tục giảm đến gần một nửa, di chuyển vị trí đóng quân mấy lần, kinh tế - xã hội khó khăn, kẻ thù ráo riết phung phá... Quân đoàn 3 gặp không ít trở ngại. Nhưng dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'', vượt qua mọi khó khăn thử thách, kiên trì phấn đấu xây dựng đơn vị theo hướng chính quy hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu; đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân quản, vận động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO, lao động sản xuất và những nhiệm vụ đột xuất khác. Khi kẻ thù gây ra cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam, Quân đoàn nhận lệnh, cơ động chiến đấu được ngay. Với phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng củng cố, Quân đoàn nhanh chóng vượt qua khó khăn, mở nhiều chiến địch và các đợt hoạt động, đánh bại quân địch từng bước, giữ vững và mở rộng địa bàn, tích cực giúp đỡ cách mạng Cam-pu-chia, thực hiện càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Với thế và lực mới, toàn binh đoàn bước vào cuộc tổng tiến công lịch sử mùa xuân năm 1979 với sức mạnh áp đảo, thần tử vượt chặng đường 600km xung quanh Biển Hồ, giải phóng 6 tỉnh phía bắc, tây bắc, góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia. Nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng vô tư, cán bộ và chiến sĩ binh đoàn tiếp tục giúp bạn bảo vệ, xây dựng chính quyền cách mạng, giúp dân trở về quê cũ, phục hồi sản xuất; đồng thời nắm chắc thời cơ, đồng loạt tiến công truy quét đập tan cơ quan trung ương và lực lượng chủ yếu của tàn quân dịch ở vùng rừng núi tây nam Cam-pu-chia, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của Quân đoàn 3 trong 4 năm xây dựng, chiến đấu và làm nhiệm vụ quốc tế, ngày 20 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Quân đoàn 3 và các đơn vị: Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn công binh 7, Trung đoàn bộ binh 66, Trung đoàn bộ binh 48, Trung đoàn bộ binh 866, bảy tiểu đoàn và đại đội, Ban Ngoại 1 (Viện Quân y 211) cùng các đồng chí: Thiếu tướng liệt sĩ Nguyễn Kim Tuấn, chuẩn úy Nguyễn Đình Tâm. Tiếp đó, Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia tặng Huân chương Ăng Ko và lá cờ mang dòng chữ ''Tinh thần quốc tế vô sản trong sáng'' cho Quân đoàn 3 và truy tặng liệt sĩ Trần Minh Xung danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Cam-pu-chia. Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước ta và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia trao tặng là niềm vinh dự tự hào, nguồn cổ vũ động viên lớn lao cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên trong chặng đường xây dựng và chiến đấu mới. Đến đây, một chặng đường xây dựng và chiến đấu của Quân đoàn sau ngày nước nhà thống nhất với nhiều khó khăn, thử thách đã hoàn thành thắng lợi. Một thế hệ mới đã trưởng thành trong chiến đấu và công tác. Một chặng đường mới trong xây dựng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của Binh đoàn Tây Nguyên bắt đầu. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 07:05:39 am Chương bảy TRÊN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC MỚI PHÍA BẮC TỔ QUỐC (7-1979-1987) 1. Cuộc hành quân lịch sử từ Cam-pu-chia về phía Bắc Tổ quốc và những ngày đầu làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới Sau những đợt truy quét lớn trong nửa đầu năm 1979 của lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia có sự phối hợp chặt chẽ của quân tình nguyện Việt Nam, những lực lượng lớn cuối cùng của tàn quân Pôn Pốt - Iêng Xary ở tây nam Cam-pu-chia đã cơ bản bị quét sạch. Lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia ngày càng lớn mạnh và phát triển nhanh chóng, từng bước đảm đương được nhiều công việc để bảo vệ thành quả cách mạng. Trước tình hình đó và yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc; được sự nhất trí giữa ta và bạn, quân tình nguyện Việt Nam tổ chức rút một phần lực lượng về nước để làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược mới. Sau khi hoàn thành cơ động Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang về phía Bắc Tổ quốc, ngày 3 tháng 5 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 3: ''Trong tháng 6 phải hoàn thành nhiệm vụ truy quét địch ở địa bàn tỉnh Pua Sát và tiến hành cơ động ra phía Bắc làm lực lượng dự bị cơ động của Bộ1. Tiếp đó ngày 28 tháng 6, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra các mệnh lệnh (số 48, 49/ML - TM) ''điều động toàn bộ Quân đoàn 3 từ vị trí đang hoạt động hiện nay ra khu vực thuộc tỉnh Bắc Thái'' với đầy đủ ''vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện vận tải và thông tin liên lạc để đến địa điểm mới sẵn sàng chiến đấu được ngay''. Thời gian hành quân được ấn định từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 1979; phương tiện cơ động bằng ô tô, tàu hỏa, tàu thủy; riêng Sư đoàn 320 và một bộ phận Quân đoàn bộ đi đường không từ sân bay Pô Chen Tông (Cam-pu-chia) xuống sân bay Nội Bài (Việt Nam). Để giúp đỡ Quân đoàn cơ động bằng đường không, Bộ Tổng Tham mưu cử một đoàn cán bộ đến sân bay Pô Chen Tông trực tiếp chỉ đạo hành quân. Nhằm giữ bí mật cuộc hành quân di chuyển, Quân đoàn 3 và các đơn vị trục thuộc được đổi phiên hiệu lâm thời2. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 cũng được kiện toàn đầy đủ. Đại tá Nguyễn Quốc Thước (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng) được giao quyền Tư lệnh Quân đoàn. Thiếu tướng Phạm Sinh (Phó chính ủy Quân khu 9) được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân đoàn (3.1979), đại tá Bùi Đình Hòe (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn, đại tá Hà Quốc Toản làm Phó chính ủy Quân đoàn. Ở các sư đoàn, lũ đoàn binh chủng, trung đoàn bộ Để lãnh đạo Quân đoàn hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân lịch sử vượt chặng đường dài gần 3.000km từ Cam-pu-chia về phía Bắc Tổ quốc, trong 2 ngày 12 và 13 tháng 5 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn họp, đề ra chủ trương: trong tháng 6 phải ''nhanh chóng thu quân, hết sức tranh thủ khẩn trương củng cố chấn chỉnh bộ đội, nâng cao sức chiến đấu, sẵn sàng cơ động hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào khi có lệnh''. Về nhiệm vụ cơ động lực lượng ra phía Bắc, Đảng ủy đề ra mấy việc lớn cần tập trung lãnh đạo: 1. Giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc tình hình nhiệm vụ mới. Đẩy mạnh cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu...'' đề cao ý thức tổ chức kỷ luật; kiên quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng mất cảnh giác, công thần, tự do tùy tiện; tranh thủ củng cố đội ngũ cán bộ, làm tốt việc phát triển đảng viên... thực hiện tốt chính sách. 2. Làm tốt công tác bàn giao cho bạn, tổ chức thu quân nhanh, gọn, bí mật, an toàn... nhanh chóng kiện toàn các thành phần kỹ thuật bảo đảm di chuyển, duy trì chặt chẽ kỷ luật, quản lý tốt bộ đội, vũ khí trang bị... 3. Thực hiện nghiêm chỉnh thu nạp và sử dụng chiến lợi phẩm theo chỉ thị đã ban hành. Tổ chức chu đáo việc nuôi quân phòng bệnh trong quá trình di chuyển... Đảng ủy quyết tâm: ''Tập trung sự lãnh đạo cao nhất của toàn Đảng bộ, khắc phục mới khó khăn, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hành quân với 5 yêu cầu: nhanh gọn, đồng bộ, bí mật, an toàn tuyệt đối, sẵn sàng chiến đấu cao''. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 3, từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 1979, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh truy quét và giúp đỡ bạn xây dựng chính quyền cơ sở, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng phòng tuyến biên giới ở phía tây tỉnh Pua Sát và Bát Tam Băng. Đồng thời công tác chuẩn bị hành quân được tiến hành bí mật, khẩn trương, dồn dập trên tất cả các mặt: chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị phương tiện, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; tổ chức bộ phận đi tiền trạm, chuẩn bị đường hành quân và vị trí đóng quân mới; tổ chức bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm, địa bàn cho chính quyền bạn và các đơn vị có liên quan. Mặc dù kinh nghiệm về xây dựng kế hoạch cơ động đường dài bằng nhiều phương tiện còn hạn chế, khả năng bảo đảm phương tiện của trên có nhiều khó khăn phải điều chỉnh kế hoạch nhiều lần, nhưng với quyết tâm cao, sự phối hợp giúp đỡ đầy trách nhiệm của Cục Tác chiến, Cục Vận tải và Tổng cục Kỹ thuật, ngày 9 tháng 6 năm 1979 các văn kiện hành quân đã hoàn thành, được báo cáo bằng văn bản chính thức lên Bộ Tổng Tham mưu và được phê duyệt. Theo kế hoạch, Quân đoàn tổ chức đợt hành quân tiền trạm và nửa cuối tháng 6 năm 1979, thành phần bao gồm một bộ phận Bộ tư lệnh và cơ quan Quân đoàn, chỉ huy và cơ quan các đơn vị, một số phân đội bảo đảm. Lực lượng tiền trạm có nhiệm vụ nghiên cứu đường hành quân cơ động, sắp đặt các cung, trạng; làm việc với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương những nơi đơn vị đóng quân, tổ chức tiếp nhận doanh trại và khu vực quản lý từ các đơn vị bạn; chuẩn bị mọi mặt để đón nhận bộ đội, phương tiện, kịp thời rút kinh nghiệm để Quân đoàn chỉ đạo, tổ chức các khối hành quân tiếp sau. Sau khi hoàn thành đợt hành quân tiền trạm, Quân đoàn sẽ tổ chức hai đợt hành quân lớn: Đợt 1: từ đầu tháng 7 đến đầu tháng 8 năm 1979, cơ động toàn bộ lực lượng, vật chất, trang bị, chiến dấu của Quân đoàn từ Cam-pu-chia về nước bằng cả 4 phương tiện: đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy. Đợt 2: tổ giữa tháng 8 đến cuối năm 1979, chuyển toàn bộ lực lượng còn lại như cơ sở sản xuất hậu cần, kho tàng, trạm xăng ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 7 về miền Bắc. Nhằm thực hiện thắng lợi cuộc hành quân lớn đầu tiên trong lịch sử Binh đoàn, Bộ tư lệnh Quân đoàn đã triệu tập hội nghị quân chính quán triệt nhiệm vụ, phổ biến kế hoạch, thống nhất triển khai công tác chuẩn bị trước lúc hành quân. Các sư đoàn, lữ đoàn và trung đoàn cũng tổ chức hội nghị quân chính, thảo luận bàn bạc dân chủ thống nhất nhận thức, tìm biện pháp hữu hiệu tổ chức thực hiện nhiệm vụ với kết quả cao nhất. Để chỉ huy điều hành các lực lượng tháng quá trình hành quân, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức hai sở chỉ huy: sở chỉ huy cơ bản ở Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) và sở chỉ huy tiền phương ở tỉnh Bắc Thái. Đồng thời từ chức riêng những bộ phận điều hành chuyên trách từng loại phương tiện cơ động: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay. Với kinh nghiệm được tích lũy và chủ động, nhạy bén trước mỗi bước ngoặt nhiệm vụ trong lịch sử của đơn vị, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra ''chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị hành quân A3'' (từ Cam-pu-chia ra phía Bắc Tổ quốc); quy định rõ nội dung công tác Đảng, công tác chính trị trong các giai đoạn trước hành quân, trong hành quân, khi tập kết ở vị trí mới và đề ra 3 biện pháp chính: 1.Tăng cường sự lãnh đạo tư tưởng của cấp ủy, chi bộ đối với đơn vị. 2. Cán bộ sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn trở xuống trực tiếp hành quân cùng đơn vị, phân công chỉ huy từng khối phương tiện chặt chẽ. 3. Phát huy tinh thần làm chủ của cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt phong trào thi đua quyết thắng. Cùng thời gian này, Quân đoàn tổ chức một bộ phận đặc biệt trang bị đầy đủ phương tiện tiến hành quy tập mộ liệt sĩ của Binh đoàn về các khu vực quy định, bảo đảm nhanh gọn, chu đáo. Đây vừa là công tác chính sách vừa là tình cảm kính trọng biết ơn, nghĩa tình đồng chí, đồng đội với những nguời con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh vì sự nghiệp quốc tế cao đẹp, vì tình hữu nghị truyền thống đời đời bền vững giữa hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia. Với tình cảm quốc tế trong sáng vô tư và trách nhiệm cao, Quân đoàn tổ chức bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm thu được của địch trong các đợt truy quét cho bạn. Ngày 4 tháng 6, các đồng chí Đỗ Khuếch (cục phó Cục Hậu cần), Vũ Lệnh Thắm (Phòng Quân nhu), Trần Muỗm (Phòng Hậu cần Sư đoàn 31) thay mặt Quân đoàn 3 bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm mới truy quét ở tây Pua Sát cho Ban cán sự tỉnh. Cùng thời gian này, đồng chí Bùi Văn Hoè (phó chính ủy Sư đoàn 10) cũng hoàn thành bàn giao chiến lợi phẩm thu được của địch ở Bát Tam Băng cho Ban cán sự tỉnh. Xúc động trước tình cảm quốc tế trong sáng của bộ đội tình nguyện Việt Nam, ông Lai Sa Mon - đại diện bên nhận đã nói: ''Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3 đã đóng góp công lao rất to lớn, đã cùng với lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia giải phóng tỉnh Bát Tam Băng, tiêu diệt bọn Pôn Pốt - Iêng Xary đến tận hang ổ cuối cùng của chúng, cứu nhân dân Cam-pu-chia thóat khỏi nạn diệt chủng. Các đồng chí đã giúp nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng huấn luyện trang bị cho lực lượng vũ trang, hướng dẫn nhân dân khôi phục và phát triển sản xuất, nhanh chóng ổn định đời sống. Các đồng chí cán bộ và chiến sĩ trong Sư đoàn còn góp phần thu gom tiết kiệm từ những vật nhỏ nhất vào kho tàng tài sản của tỉnh đã thể hiện đẩy đủ bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng''. Cuối tháng 6, đầu tháng 7, Quân đoàn cơ động các đơn vị từ những địa bàn đang làm nhiệm vụ về vị trí tập kết. Sư đoàn 320 từ mặt trận đường số 4 tỉnh Công Pông Spư cơ động trong 4 ngày, hoàn thành tập kết ở sân bay Pô Chen Tông vào ngày 5 tháng 7, khẩn trương bước vào luyện tập cơ động bằng máy bay. Sư đoàn 31 từ các cánh rừng miền tây tỉnh Pua Sát được 101 xe ô tô chuyển từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 7 về khu vực tạm dừng ở đông Niếc Lương. Cùng thời gian này các lữ đoàn binh chủng cũng đã hoàn thành tập kết ở đông Niếc Lương. Sư đoàn 10 là đơn vị cơ động cuối cùng hành quân từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 7, tập kết toàn bộ lực lượng về O Đông (tây Phnôm Pênh). Tại vị trí tập kết, các đơn vị tranh thủ thời gian huấn luyện bổ sung về hành quân cho bộ đội, củng cố tổ chức và hoàn tất những công việc chuẩn bị hành quân cuối cùng. Trong những ngày chuẩn bị trở về Tổ quốc, nhiều cuộc chia tay rất cảm động đã diễn ra giữa lãnh đạo và Nhân dân các tỉnh Pua Sát, Bát Tam Băng, Xiêm Riệp, Công Pông Chàm với các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam. Nhiều cụ già, em nhỏ ở các phum, sóc, phố, phường biết tin cũng tự tìm đến chia tay bộ đội Việt Nam; nhân dân tự động đứng suốt dọc đường bộ đội hành quân vẫy chào các chiến sĩ tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả trở về Tổ quốc với tình cảm nhớ thương và lòng biết ơn sâu sắc, bất chấp những lời phao tin đe dọa của bọn Pôn Pốt. Những tình cảm chân thành, sâu nặng, lớn lao của chính quyền và nhân dân nước bạn đã làm cho cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam vô cùng xúc động. Những đôi mắt lâu nay đã ráo hỏanh vì gian khổ, mất mát trong chiến tranh cũng ngấn lệ. Ai cũng cảm nhận sâu sắc hơn, cụ thể hơn những giá trị mà chúng ta đã bỏ bao xương máu, công sức... trong suốt một năm rưỡii qua để giúp một dân tộc giành lại tự do và quyền làm người, để cho những nụ cười lại trở về với mỗi con người... Ngay trước lúc lên đường, các vị lãnh đạo, Hội đồng nhân dân Cách mạng và Mặt trặn đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tỉnh Công Pông Chàm tổ chức lễ tiễn đưa Quân đoàn với tình cảm chứa chan. Ông Nơ Xong thay mặt chính quyền và nhân dân tỉnh Công Pông Chàm đã trân trọng ghi vào cuốn sổ vàng truyền thống của Binh đoàn Tây Nguyên: ''Chúng tôi vô cùng cảm ơn Đảng, Nhà nước Nhân dân và Quân đội Việt Nam. Các đồng chí và Nhân dân Việt Nam qua lần làm cách mạng tiêu diệt bọn Pôn Pốt - Iêng Xary này đã cứu nguy đất nước chúng tôi thóat khỏi thảm hoạ diệt chủng. Nhân dân Cam-pu-chia càng thấy tình đoàn kết Cam-pu-chia - Việt Nam thắm thiết thủy chung hơn bao giờ hết. Nay các đồng chí phải xa chúng tôi trở về Tổ quốc... nhân dân Công Pông Chàm vô cùng thương nhớ và mãi mãi ghi công ơn các đồng chí vào trong máu thịt"3. Trong những ngày chia tay tràn đầy tình cảm đoàn kết quốc tế trong sáng vô tư và bịn rịn tình quân dân, đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, người trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu ở biên giới Tây Nam đã về thăm Binh đoàn, gặp mặt thân mật cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320. Xúc động trước sự cống hiến hy sinh cao đẹp, những chiến công vẻ vang và tình cảm sâu nặng của nhân dân Cam-pu-chia dành cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên, đồng chí Lê Đức Thọ sáng tác bài thơ "Ngày về" và tặng cho Binh đoàn: "Hỡi anh chiến sĩ lên đường, Mấy năm gian khổ chiến trường chớ quên. Bạn thù đổi trắng thay đen! Tay cầm chắc súng tiến lên không ngừng. Ra đi lòng những chập chùng, Nhớ cây Thốt Nốt, nhớ rừng Tà Sanh. Nhớ người đồng chí hy sinh, Ngọn cờ quốc tế nghĩa tình thủy chung. Ngày về rực rỡ chiến công, Qua sông gió gọi, qua đồng lúa reo. Có ai đứng mãi nhìn theo, Mong anh trở lại sớm chiều Tượng Lăng, Hỏi ai gian khổ nào bằng, Anh về giải phóng xóm làng yên vui. Anh đi, em nhắn đôi lời, Nhớ anh nhớ mãi con người Việt Nam" ----------------------------------------------------------------- 1. Trích: Mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng gửi Quân đoàn 3 ngày 3.5.1979. 2. Quân đoàn 3 được đổi thành Binh đoàn 500. Các sư đoàn 10, 320, 31 được mang phiên hiệu mới sư đoàn 5l6, 507, 508. Các lữ đoàn 40, 234, 273 và Lữ đoàn 7 được mang phiên hiệu 552, 553, 554 và 555; Trung đoàn thông tin 29 mang phiên hiệu Trung đoàn 550. binh và cơ quan Quân đoàn cũng dược kiện toàn một bước về chỉ huy và tổ chức cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. 3. Binh đoàn Tây Nguyên, tập 2, Cục Chính trị Binh đoàn Tây Nguyên xuất bản, năm 1985, tr. 170. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 07:10:30 am * Thực hiện kế hoạch cơ động, ngày 17 tháng 6 năm 1979, đoàn tiền trạm của Quân đoàn gồm 1.400 cán bộ, chiến sĩ đã xuất phát từ tỉnh Pua Sát (Cam-pu-chia). Sau 11 ngày hành quân bằng ô tô dọc đất nước Cam-pu-chia và Việt Nam, đến ngày 28 tháng 6 đoàn đã đến tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên, Bắc Kạn) an toàn. Sau khi làm việc với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, nơi có các vị trí đóng quân của Quân đoàn 3, đoàn tiền trạm đã tiếp nhận các doanh trại của Trường sĩ quan Thông tin liên lạc (Bắc Lý, Hiệp Hòa, Hà Bắc), Trường nghiệp vụ Hậu cần thuộc Bộ tư lệnh Phòng không (Minh Sơn, Đồng Hỷ, Bắc Thái), kho J102 Tổng cục Kỹ thuật, Trường Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu (thị trấn Phúc Yên, Mê Linh, Vĩnh Phúc), Trường Hậu cần Tổng cục Xây dựng kinh tế (Trung Giã - Đa Phúc, Sóc Sơn, Hà Nội). Đợt hành quân tiền trạm thành công không những trực tiếp chuẩn bị doanh trại và những cơ sở vật chất ban đầu để đón nhận bộ đội và phương tiện mà còn kịp thời rút ra những kinh nghiệm thiết thực làm cơ sở cho Quân đoàn tổ chức chỉ đạo, điều hành các đợt hành quân tiếp theo. Đầu tháng 7 năm 1979, cuộc hành quân lớn nhất trong lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên xuyên qua đất nước Cam-pu-chia và dọc nước Việt Nam bằng đường bộ, đường sắt đường thủy, đường không diễn ra dồn dập. Đi đầu khối hành quân của Quân đoàn là Sư đoàn 31. Được Bộ tăng cường 100 chiếc xe ô tô, từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 7, Sư đoàn 31 đã chuyển toàn bộ lực lượng từ đồng Niếc Lương về tập kết ở Long Bình và Tân Cảng (Thành phố Hồ Chí Minh). Tiếp đó, từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 7, Sư đoàn đã được 8 đoàn tàu hỏa chuyển thẳng từ ga Hố Nai ra ga Quán Triều thuộc tỉnh Bắc Thái, rồi được xe ô tô chuyển tiếp về vị trí đóng quân ở hai huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) và huyện Võ Nhai (tỉnh Bắc Thái). Cùng thời gian này, lực lượng ô tô chuyển thẳng của Sư đoàn gồm 146 xe chở 260 tấn hàng và 679 cán bộ, chiến sĩ cũng đã đến vị trí tập kết an toàn. Trung tuần tháng 8 năm 1979, Sư đoàn 31 cơ bản hoàn thành cuộc hành quân; trên 7.300 bộ đội, 590 tấn hàng và nhiều phương tiện xe cộ, pháo lớn đã đến vị trí mới. Tiếp sau Sư đoàn 31, một bộ phận Quân đoàn bộ và các đơn vị: Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn phòng không 234, Lữ đoàn công binh 7, Lữ đoàn pháo binh 40, Trung đoàn thông tin 29 xuất phát. Ngày 18 tháng 7, toàn bộ lực lượng gồm trên 4.000 người và gần 1.000 tấn vũ khí, phương tiện đã về tập kết ở Long Bình, Sóng Thần và Tân Cảng, rồi lần lượt được 6 đoàn tàu hỏa chuyển ra miền Bắc an toàn. Riêng số hàng gần 700 tấn và một số phát phòng không được chở bằng tàu hàng, xe ô tô đặc không dược chuyển bằng tàu thủy. Sư đoàn 10 là đơn vị hành quân đường bộ cuối cùng, được Bộ tăng cường 100 lần chiếc xe ô tô xuất phát từ O Đông ngày 20 tháng 7. Sau 4 ngày cơ động, gần 8.000 cán bộ, chiến sĩ và gần 800 tấn vũ khí, vật chất đã tập kết an toàn ở Long Bình. Tiếp đó, Sư đoàn đi trên 9 đoàn tàu từ ga Hố Nai ra ga Quán Triều và được 252 lần chiếc ô tô chuyển về vị trí đứng chân cuối cùng ở hai huyện Phú Lương và Định Hóa thuộc tỉnh Bắc Thái. Cùng lúc, 144 xe ô tô chuyển thẳng của Sư đoàn chở 200 tấn vũ khí, vật chất và 250 cán bộ, chiến sĩ cũng đã cớ mặt ở vị trí đóng quân mới. Trong khi các khối hành quân đường bộ, đường sắt, đường thủy cơ động, khối đi bằng đường không của Quân đoàn gồm 8.092 cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn bộ, Sư đoàn 320 và 34 khẩu pháo, 2 xe ô tô được 85 lần chiếc máy bay quân sự và dân dụng chuyển gọn từ sân bay Pô Chen Tông (Phnôm Pênh) đến sân bay Nội Bài (Việt Nam). Do được luyện tập chu đáo, tổ chức chặt chẽ, bộ đội được trang bị gọn,nhẹ, mang theo vũ khí bộ binh, một nửa cơ số đạn, cơm nắm, bi đông nước, ba lô cá nhân, nên cuộc hành quân diễn ra đúng kế hoạch, an toàn tuyệt đối, bộ đội đến vị trí mới là sẵn sàng chiến đấu được ngay. Ngay sau khi xuống sân bay, Sư đoàn 320 cơ động bằng ô tô về huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái. Giữa tháng 8, đợt một hành quân của Quân đoàn kết thúc thắng lợi. Toàn bộ lực lượng ở Cam-pu-chia và phần lớn các cơ sở hậu cứ, kho trạm, nhà trường ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 7 đã đến vị trí đóng quân mới trên miền Bắc. Trong đợt hành quân này, Quân đoàn đã sử dụng 23 đoàn tàu khách và 17 đoàn tàu hàng, 659 xe ô tô chuyển thẳng và 85 lần chiếc máy bay, một số chuyến tàu hải quân; chuyển được gần 29.000 người và 41.406 tấn vũ khí, trang bị, hàng hóa, hàng trăm đơn vị xe, pháo, phương tiện chiến đấu. Đợt hành quân thứ nhất hoàn thành thắng lợi, Quân đoàn rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực, tiếp tục tổ chức, chỉ đạo đợt hành quân thứ 2. Sau khi bàn giao toàn bộ các doanh trại ở Phan Rang, Cam Ranh (tỉnh Thuận Hải), Nha Trang, Dục Mỹ, Lam Sơn (tỉnh Phú Khánh) và căn cứ Nước Trong (tỉnh Đồng Nai) cho Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Quân khu 5, và các binh chủng: Pháo binh, Đặc công, Thông tin; trong những tháng cuối năm 1979, Quân đoàn cơ động toàn bộ lực lượng còn lại gồm các trường, cơ sở sản xuất, kho trạm hậu cần - kỹ thuật với gần 9.500 người và hàng trăm tấn vật chất từ phía nam ra miền Bắc an toàn. Tháng 9 năm 1979, tại sở chỉ huy mới ở huyện Phú Bình tỉnh Bắc Thái, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức Hội nghị sơ kết cuộc hành quân lịch sử. Hội nghị đã đánh giá kết quả, chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân trong quá trình lãnh đạo tổ chức chỉ huy, quản lý, cơ động lực lượng. Hội nghị khẳng định: Quân đoàn đã hoàn thành tốt cuộc hành quân, bảo đảm được các yêu cầu ''nhanh, gọn, sẵn sàng chiến đấu tốt, bộ đội có khí thế và có kỷ luật'', ''ra tới vị trí mới bắt tay vào củng cố huấn luyện, xây dựng... làm phương án tác chiến tại chỗ, bảo đảm có tình huống xảy ra là hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu''1. Các đơn vị tiêu biểu hoàn thành tốt nhiệm vụ hành quân gồm: Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31), Lữ đoàn công binh 7 và Sư đoàn 320. Các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thấp là: Trung đoàn thông tin 29, Lữ đoàn Phòng không 234 và bộ phận tiền trạm của Sư đoàn 102. Từ thực tiễn cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của Quân đoàn, hội nghị đã rút ra 3 bài học quý bảo đảm cuộc hành quân thắng lợi là: ''1. Chủ trương đúng đắn, kế hoạch biện pháp cụ thể, trách nhiệm cán bộ được phát huy, đơn vị chấp hành nghiêm chỉnh, bộ đội có kỷ luật. 2. Quán triệt nhiệm vụ được sâu sắc, tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn: kế hoạch tương đối sát, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, kiểm tra đôn đốc sâu sát, kỷ luật chấp hành kế hoạch nghiêm chỉnh. 3. Giữ được mối quan hệ với các cơ quan đơn vị bạn và nhân dân ở các địa phương, tạo được sự giúp đỡ rất lớn cho Quân đoàn hoàn thành nhiệm vụ di chuyển: tôn trọng cơ quan, các đơn vị bạn và địa phương; họp bàn dân chủ thống nhất, khó khăn chung cùng nhau khắc phục; giữ nghiêm kỷ luật hiệp đồng; tổ chức rút kinh nghiệm thường xuyên trong công tác bảo đảm''3. Thắng lợi của cuộc hành quân đầu tiên lớn nhất trong lịch sử Quân đoàn từ Cam-pu-chia ra miền Bắc Việt Nam, không chỉ đánh dấu bước trưởng thành của một quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn tạo cơ sở và cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên bước vào thực hiện nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới ở phía Bắc Tổ quốc. ----------------------------------------------------------------- 1. ''Báo cáo sơ kết hành quân di chuyển chiến trường của Quân đoàn 3'', ngày 8.9.1979 của Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, tr.9. 2. Đợt hành quân này toàn Quân đoàn có 5 chiến sĩ thương vong do địch phục kích, xảy ra 21 vụ tại nạn giao thông và mất an toàn vũ khí làm chết 13 người (có 2 là dân), bị thương 56 người khác, hỏng 2 xe ô tô; hơn 600 chiến sĩ trên đường cơ động vắng mặt trái phép, nhiều nhất là ở Sư đoàn 31 và Sư đoàn 10. 3. Báo cáo sơ kết... tài liệu đã dẫn, tr 11, 12. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 07:16:02 am * Mùa thu năm 1979, Quân đoàn 3 bước đầu ổn định vị trí đóng quân trên địa bàn mới, tập trung trong tỉnh Bắc Thái. Bộ tư lệnh, ba cơ quan Quân đoàn, Trung đoàn thông tin 29 ở huyện Phú Bình, Đồng Hỷ. Sư đoàn 10 ở hai huyện Phú Lương và Định Hóa. Sư đoàn 320 ở huyện Đại Từ. Sư đoàn 31 ở hai huyện Võ Nhai và Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn). Lữ đoàn pháo binh 40 và Lữ đoàn xe tăng 273 ở huyện Đồng Hỷ. Lữ đoàn phòng không 234 ở huyện Phú Lương; Lữ đoàn công binh 7 ở huyện Võ Nhai. Riêng Trường Quân chính ở huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc. Địa bàn đứng chân của Quân đoàn 3 là một hướng chiến lược hết sức quan trọng, xung yếu ở phía Bắc Tổ quốc, có quan hệ trực tiếp đến tuyến một và bảo vệ khu công nghiệp Thái Nguyên, sau lưng là Thủ đô Hà Nội. Bắc Thái là tỉnh trung du và miền núi, có diện tích 8.600km2, gồm 10 huyện và thành phố Thái Nguyên, dân số 826.840 người với 10 dân tộc anh em chung sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chí, Cao Lan, Mường, Mơ Nông, Hoa); có 5 trường đại học (Y khoa, Sư phạm miền núi, Nông nghiệp 3, Mỏ địa chất, Công nghiệp Việt Bắc); 12 trường trung cấp và 27 trường khác do Trung ương quản lý, 5 bệnh viện, 1 khu công nghiệp gang thép, nhiều xí nghiệp quốc phòng, quốc doanh với khỏang 50.000 công nhân, có nhiều đường giao thông huyết mạch, là một trung tâm lớn của vùng phía bắc miền Bắc nước ta. Đây vốn là quê hương của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trải qua nhiều năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc, nên trình độ giác ngộ cách mạng, tinh thần cảnh giác và ý thức chính trị của nhân dân khá cao. Các dân tộc có truyền thống đoàn kết lâu đời, có tinh thần khắc phục khó khăn, cần cù lao động sản xuất, anh dũng trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng cách mạng các cấp luôn được tăng cường và củng cố. Lực lượng vũ trang địa phương khá mạnh, mỗi xã đều có đội dân quân được trang bị, huấn luyện đầy đủ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy địa phương còn khớ khăn, nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân rất nhiệt tình, mở rộng cửa đón bộ đội. Thông cảm với những khó khăn buổi đầu của Quân đoàn 3, ngày 23 tháng 9 năm 1979 Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Thái đã triệu tập hội nghị các đồng chí Bí thư chi bộ trong toàn Đảng bộ tỉnh, đề ra những chủ trương, biện pháp tích cực nhất để giúp đỡ mới mặt cho Quân đoàn. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, chính quyền và đồng bào địa phương tích cực giúp đỡ Quân đoàn giải quyết những khó khăn ban đầu. Hàng nghìn bộ đội được đón về ở trong nhà dân, đuợc chăm sóc như con em đi xa trở về. Các đơn vị được tạo điều kiện thuận lợi nhất về địa bàn đóng quân, khai thác vật liệu xây dựng doanh trại. Nhân dân ủng hộ hàng vạn ngày công, hàng chục vạn cây tre, nứa, gỗ và hàng chục vạn tàu lá cọ giúp đỡ bộ đội làm nhà ở, kho tàng, nhà để xe pháo. Các huyện Đại Tử, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, thành phố Thái Nguyên và huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, đâu đâu cũng thấy nam nữ thanh niên, các cháu học sinh, các cụ phụ lão góp công góp của giúp đỡ và động viên bộ đội. Nghĩa tình ấm áp và sự giúp đỡ to lớn của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương không những giúp Quân đoàn sớm ổn định nơi ăn ở và bước vào thực hiện nhiệm vụ; mà còn là nguồn cổ vũ động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động. Xác định rõ nhiệm vụ của một Quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ trên hướng chiến lược hết sức quan trọng; trong khi tập trung ổn định củng cố vị trí đứng chân, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn quan tâm đầy đủ đến nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Ngày 24 tháng 8 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết xác định: ''Nhiệm vụ hiện nay của Quân đoàn là tranh thủ củng cố chấn chỉnh bộ đội, nâng cao sức chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng các thế lực thù địch nếu chúng liều lĩnh xâm lược''. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu ở các cấp, nhất là kế hoạch tác chiến tại chỗ và khả năng sẵn sàng cơ động chiến đấu của đơn vị; ra lệnh báo động mạng thông tin vô tuyến điện và hữu tuyến điện đến cấp tiểu đoàn, báo động thực binh một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và một tiểu đoàn pháo thuộc Trung đoàn pháo binh 4 Sư đoàn 10. Đồng thời triển khai công tác huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu cho các đơn vị. Nhằm bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, Quân đoàn khôi phục ngay lượng dự trữ theo quy định, bao gồm 1.000 tấn lương thực, thực phẩm khô mỗi loại bình quân 1,5kg một người; 3.000 suất đường sữa cho thương bệnh binh, 3.000 suất quân trang, 40.000 túi cơm, 20.000 bao đựng gạo cá nhân, 14.000 tăng võng, 15.000 bi đông đựng nuộc, đủ thuốc chiến thương cho từng cấp, 4 cơ số xăng dầu và lượng đạn dược vũ khí theo quy định. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới, những tháng cuối năm 1979 tổ chức biên chế của Quân đoàn có một số thay đổi. Ngày 2 tháng 11, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định (số 1044/QĐ-QP) chuyển các đơn vị: Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn công binh 7, Lữ đoàn phòng không 234, thành Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn phòng không 234. Bộ tư lệnh Quân đoàn ra Quyết định (số 176/QĐ ngày 22.9.1979) thành lập Cục Kỹ thuật trực thuộc Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn trên cơ sở tách một số phòng từ Cục Hậu cần và điều động một số bộ phận, cán bộ, chiến sĩ từ các nơi về. Khi mới thành lập Cục Kỹ thuật gồm có: Ban chỉ huy do thượng tá Đỗ Thuyên (nguyên cục phó Cục Hậu cần) làm phó tư lệnh Quân đoàn về trang bị kỹ thuật kiêm chủ nhiệm Cục Kỹ thuật, đồng chí Vũ Đình Tư làm Phó chủ nhiệm về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Cục, đồng chí Nguyễn Văn Thụ làm cục phó về kỹ thuật; 3 phòng: Phòng Quản lý xe máy (trưởng phòng Lê Hồng Thái), Phòng Quân khí (trưởng phòng Nguyễn Văn Dự), Phòng Tham mưu kế hoạch (phó phòng Nguyễn Hữu Truy) và 2 ban: Ban Chính trị, Ban Quản lý hành chính. Sau đó, theo quyết định của trên Phòng Tăng thiết giáp thuộc Cục Kỹ thuật (trưởng phòng Vũ Quang Tuyến) được thành lập. Cùng thời gian này, ở các sư đoàn 10, 320, 31, các phòng kỹ thuật cũng được tổ chức; ở các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng các ban kỹ thuật lần lượt ra đời. Tiếp dó Phòng Hóa học (trực thuộc Đảng ủy và thủ trưởng Bộ Tham mưu Quân đoàn), Trường Văn hóa (trực thuộc Đảng ủy và thủ trưởng Cục Chính trị Quân đoàn) được thành lập; Phòng Quản lý giáo dục Quân đoàn bộ đổi tên thành Phòng Quản lý hành chính, làm nhiệm vụ đảm bảo các mặt phục vụ sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ cơ quan Quân đoàn bộ. Một số phân đội binh chủng được điều động gọn đi bổ sung cho các đơn vị bạn trong toàn quân. Ngày 26 tháng 11 năm 1979, tại Quân đoàn bộ (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái) hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất được tiến hành. Tham dự hội nghị có 136 cán bộ trong Đảng bộ Quân đoàn. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về dự và chỉ đạo hội nghị. Trong 2 ngày làm việc các đại biểu đã nghe và thảo luận về bản báo cáo ''Kiểm điểm thành hình nhiệm vụ từ sau Đại hội Đảng lần thứ IV (1.1977 - 9.1979)'' và ''Phương hướng nhiệm vụ tới'' do đồng chí Phạm Sinh - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn trình bày. Tiếp đó là các bản báo cáo tham luận: về công tác tham mưu (do Tham mưu trưởng Quân đoàn Khuất Duy Tiến trình bày), công tác đảng, công tác chính trị (do phó chủ nhiệm chính trị Quân đoàn Nguyễn Đằng trình bày), về công tác hậu cần - kỹ thuật (do chủ nhiệm hậu cần Quân đoàn Lưu Sĩ Hiệp trình bày). Hội nghị đã đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới là: '' Trên cơ sở quán triệt đường lối và nhiệm vụ chính trị, đường lối quan điểm tư tưởng, quân sự, quyết tâm. chiến lược, ra sức xây dựng Quân đoàn chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến để trong tình huống nào, điều kiện hoàn cảnh nào cũng tiến hành phản công, tiến công mãnh liệt, phòng ngự kiên cường bền bỉ, kết hợp chặt chẽ phản công, tiến công, phòng ngự, đánh hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn hay quy mô thích hợp đều giỏi, chiến đấu giỏi với hiệu suất cao, hiệu quả chiến dịch lớn, tăng cường hiệu lực chiến lược càng đánh càng mạnh, trong mọi tình huống đều phải là quả đấm thép tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu từng sư đoàn và quân đoàn địch; làm thay đổi so sánh lực lượng tại chỗ, thay đổi thế trận, thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta... cùng toàn dân toàn quân làm thay đổi cục diện chiến tranh và giành thắng lợi quyết định trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc...''. Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Văn Tiến Dũng nhiệt liệt hoan ngênh Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao cho và xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của Quân đoàn trong thời gian tới là: "Quân đoàn 3 là một trong các quân đoàn chủ lực cơ động dự bị của Bộ Tổng tư lệnh... Quân đoàn đã được bố trí trước trên một hướng chiến lược hết sức quan trọng, nằm trên một địa bàn xung yếu có quan hệ trực tiếp đến tuyến 1 và đến việc bảo vệ khu công nghiệp Thái Nguyên và sau lưng là Thủ đô Hà Nơi... Vị trí của Quân đoàn 3 đảm nhiệm hiện nay hết sức quan trọng, không chỉ trước mắt mà còn lâu dài...''. Vì vậy Quân đoàn 3 ''phải hết sức cảnh giác ra sức nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu về mọi mặt để có thể kịp thời đánh địch trong bất kỳ tình huống nào, kịp thời chủ động chiến đấu giành thắng lợi lớn nhất. Đẩy mạnh huấn luyện cơ bản, huấn luyện chính quy, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy theo hiệp đồng quân binh chủng, theo yêu cầu chiến đấu, nhanh chóng làm chủ các trang bị kỹ thuật, tổ chức tốt đời sống tinh thần, vật chất cho bộ đội, đẩy mạnh sản xuất tự túc, tăng cường công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh toàn diện''. Ngày 27 tháng 11, hội nghị thành công và gửi thư kêu gọi ''Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong giai đoạn mới, ra sức thực hiện 4 mục tiêu, 9 công tác lớn của nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn... xây dựng Quân đoàn giỏi cả tiến công, phản công và phòng ngự, đã ra quân là chiến thắng, lập nên những chiến công vang dội''. Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất là một sự kiện lịch sử quan trọng của Quân đoàn trong những ngày đầu làm nhiệm vụ mới trên miền Bắc. Nó không những phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, thảo luận thống nhất nhiều nội dung lớn làm cơ sở cho Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong 2 năm 1980, 1981; mà còn thể hiện tính chiến đấu và sự đoàn kết nhất trí cao trong toàn Đảng bộ, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên Binh đoàn Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 11 năm 1979, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức hội nghị tổng kết nhiệm vụ tác chiến trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Sau khi đánh giá toàn diện các mặt, kết quả to lớn cả về quân sự và chính trị mà Quân đoàn đã lập được trong 21 tháng (8.10.1977-30.6.1979) chiến đấu, hội nghị đã thống nhất rút ra 5 bài học kinh nghiệm quý là: 1. Đánh giá đúng bản chất, âm mưu, ý đồ của địch, xác định đúng nhiệm vụ của ta. 2. Quán triệt tính chất nhiệm vụ của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nắm vững các quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng để có cách đánh đúng, đánh thắng lợi theo quyết tâm của Trung ương. 3. Một số kinh nghiệm về sử dụng các binh chủng trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. 4. Bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. 5. Một số vấn đề về công tác đảng, công tác chính trị trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Phấn khởi tự hào với những chiến công to lớn đã đạt được quyết tâm thực hiện thắng lợi chủ trương kế hoạch của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, trong ba tháng mùa đông giá rét đầu tiên trên đất Bắc, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên phát huy truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực" ra sức khắc phục khó khăn, đẩy mạnh thi đua, lập được nhiều thành tích mới. Ý thức sâu sắc về vị trí, trách nhiệm của mình trên địa bàn mới, xác định rõ sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ ''chủ yếu trọng tâm'', Quân đoàn luôn duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu; tiến hành nghiên cứu địa hình, tình hình mọi mặt trên hướng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, từng bước hoàn chỉnh phương án tác chiến cơ bản theo nhiệm vụ Bộ giao; lập các phương án cơ động lực lượng đánh địch đổ bộ đường không và tiến công bất ngờ vào vị trí đứng chân, phối hợp cùng địa phương triển khai phương án chống bạo loạn bảo đảm trật tự an ninh địa bàn và từng bước luyện tập ở các cấp. Trong 4 tháng cuối năm 1979, việc báo động kiểm tra, chiến đấu tại chỗ, báo động cơ động rèn luyện hành quân được tiến hành đều dặn với nhịp độ ngày càng tăng. Cấp trung đoàn tổ chức báo động được 3 lần, cấp tiểu đoàn báo động được 11 lần và cấp đại đội tổ chức được 16 lần. Các mạng thông tin được báo động toàn Quân đoàn một lần và ở cấp sư đoàn được 3 lần. Hệ thống công sự chiến đấu với hàng chục nghìn hố cá nhân, hàng nghìn mét chiến hào, hàng chục trận địa phòng không được xây dựng. Trong điều kiện công việc bề bộn, thao trường bãi tập chưa có, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo cho các đơn vị tập trung học tập những nội dung thiết yếu: đường lối quân sự của Đảng, phương thức tác chiến chiến lược, những kinh nghiệm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới phía Bắc; bước đầu huấn luyện các nội dung chiến thuật vận động tiến công và phòng ngự từ cấp tiểu đội đến cấp trung đoàn, bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh, đánh xe tăng bằng lựu đạn thủ pháo, bắn AK, RPĐ, B40, B41, dò gỡ mìm, làm công sự trận địa phòng ngự kiên cố, hiệp đồng chiến đấu cấp phân đội của pháo binh, phòng không. Do quán triệt tốt nhiệm vụ ngay từ đầu, thường xuyên tổ chức kiểm tra, hướng dẫn đơn vị, tích cực bồi dưỡng cán bộ và xạ thủ, động viên bộ đội khắc phục khó khăn... nên nhiều đơn vị đạt 90% quân số tham gia huấn luyện. Hầu hết các khoa mục kiểm tra đều đạt loại khá trở lên. Trung đoàn 28 Sư đoàn 10 đạt đơn vị bắn giỏi về B40, B41, đại liên; Trung đoàn 4 pháo binh Sư đoàn 10 kiểm tra 14 đại đội (bắn AK) có 11 đại đội đạt loại giỏi và 3 đại đội đạt loại khá. Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 kiểm tra bắn AK, RPĐ, tiểu đội, trung đội bộ binh bắn chiến đấu đều đạt loại giỏi. Sư đoàn 31 bắn đạn thật đạt 100% khá giỏi. Trong khi bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện, Quân đoàn tập trung lực lượng lớn và động viên mọi nỗ lực để xây dựng doanh trại, bảo đảm đời sống bộ đội. Với những cố gắng rất cao, lại được chính quyền và nhân dân địa phương tận tình giúp đỡ, chỉ trong hơn một tháng ra miền Bắc, Quân đoàn đã đưa toàn bộ bộ đội vào ở các doanh trại, từng bước thực hiện nếp sống chính quy. Đến đầu tháng 12 năm 1979, đã có gần 150.000m2 nhà tạm dược xây dựng; trên một vạn ván nằm, l.500 bàn làm việc và hàng nghìn bàn ghế phục vụ sinh hoạt được làm mới, các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng từng bước hình thành; hàng chục héc-ta rau xanh, nhiều đàn gia súc gia cầm được gây dựng bước đầu đem lại sản phẩm phục vụ đời sống thường ngày của bộ đội. Điện lưới quốc gia đã về với Lữ đoàn phòng không 234; 30.000 bộ quân trang chống rét, chống rách đã được bổ sung kịp thời, mỗi chiến sĩ đã có từ 2 đến 3 bộ quân phục lành. Hàng trăm y tá vừa tốt nghiệp khóa đào tạo tỏa về các đơn vị. Một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến đấu được thống kê quản lý và đưa vào bảo quản bảo dưỡng; một đợt sinh hoạt giáo dục về chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất người lái xe và chấp hành luật lệ giao thông được triển khai ở tất cả các đơn vị trong Quân đoàn. Cùng thời gian này, công tác kiện toàn tổ chức biên chế theo biểu mẫu mới của Bộ được triển khai. Các tổ chức Đảng, đoàn, hội đồng quân nhân được củng cố, hơn một nghìn đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Một đợt sinh hoạt chính trị tập trung làm rõ thắng lợi to lớn, trưởng thành của đơn vị và quán triệt nhiệm vụ trong giai đoạn mới được triển khai sâu rộng đến toàn thể bộ đội; phong trào thi đua đột kích ''Hiến kế, luyện rèn, ra quân quyết thắng'' lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn được phát động; nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các diễn đàn về chống tiêu cực lạc hậu thu hút đông đảo thanh niên; đại hội mừng công lần lượt được mở ở tất cả các cấp. Đợt thưởng phép đặc biệt cho hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế Cam-pu-chia được tiến hành. Thấu hiểu ý nghĩa, tầm quan trọng và tình cấp thiết của tình đoàn kết quân dân cá nước, ngay từ khi ra miền Bắc, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn rất quan tâm đến công tác vận động nhân dân, đặc biệt là dân tộc ít người. Cấp ủy Đảng và chỉ huy từ Quân đoàn đến đơn vị cơ sở chủ động quan hệ chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương, hiểu rõ nhiệm vụ và những thuận lợi, khó khăn của mỗi bên, đoàn kết tôn trọng, tích cực giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ. Dưới sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của hệ thống cơ quan chính trị các cấp, bộ đội dược phổ biến tình hình đặc điểm địa phương nơi đóng quân, học tập phong tục tập quán của nhân dân, học 12 điều kỷ luật và 10 lời thề danh dự của quân nhân, từng bước đẩy mạnh các hoạt động kết nghĩa, góp phần xây dựng địa phương về mọi mặt. Mặc dù phải triển khai rất nhiều công việc, nhưng các đơn vị vẫn dành hàng nghìn ngày công giúp đỡ địa phương trong việc thu hoạch mùa màng, tận tình cứu chữa bệnh tật, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ở Sư đoàn 10, trong mấy tháng cuối năm 1979 bộ đội đã giúp dân 1.472 ngày công cày, bừa, nhổ mạ và cắt 5.100 kg phân xanh. Thương yêu quý mến bộ đội như con em của chính mình, đồng bào Định Hóa, Phú Lương nhường nhà, chăm sóc tận tình bộ đội đoàn Đắc Tô, và ủng hộ 23.671 cây tre nứa, 85.740 tàu lá cọ, hàng chục nghìn bó củi, 69.796m2 đất trồng trọt, 70 con gà giống, gần 1 tạ giẻ lau súng, làm giúp 8 nhà kho, 2 bệnh xá, 15 nhà bếp, bốc dỡ hơn 100 tấn hàng hóa với hàng nghìn ngày công. Tình cảm ấm áp quân dân đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên nhanh chóng vượt qua những thử thách khó khăn trong những ngày đông giá rét đầu tiên trên miền Bắc, tạo dựng cơ ngơi ban đầu và bước vào thực hiện nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới. Đây là những cơ sở tốt dể đơn vị và địa phương đẩy mạnh thực hiện ''quân với dân một ý chí'' trong những năm tiếp sau. Ngày 11 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn Đức Thắng ký quyết định bổ nhiệm đại tá Nguyễn Quốc Thước (quyền Tư lệnh Quân đoàn) làm Tư lệnh Quân đoàn 3, Thiếu tướng Phạm Sinh (Chính ủy Quân đoàn 3) được điều động làm Tư lệnh Binh đoàn bảo vệ (32). Cùng thời gian này đại tá Hà Quốc Toàn (Phó chính ủy Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân đoàn 3 và đại tá Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Tư, 2021, 07:23:39 am * Ngày 1 tháng 1 năm 1980, Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh. Đến dự lễ có các đồng chí: Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân. Việt Nam, đồng chí Doanh Hằng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái, Anh hùng Đinh Núp, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3 qua các thời kỳ; đại biểu các quân khu, quân đoàn, binh chủng, cơ quan Bộ Quốc phòng, các gia đình anh hùng, liệt sĩ và nhiều cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các cơ quan đơn vị trong Quân đoàn. Tại buổi lễ, được sự ủy nhiệm của trên, Thượng tướng Lê Trọng Tấn đọc lệnh của Chủ tịch Nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh cho Quân đoàn 3, đồng thời thay mặt cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn: ''Phát huy thắng lợi đã giành được, luôn xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân, tiếp tục quán triệt đường lối nhiệm vụ cách mạng, đường lối nhiệm vụ quân sự của Đảng, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới, nêu cao tinh thần trách nhiệm, vai trò tiền phong gương mẫu, tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, thực hiện quân dân một ý chí, quyết chiến quyết thắng..., vì nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, chúng ta cùng nhau quyết tử để cho Tổ quốc trường sinh''. Cùng thời gian này, ở Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn công binh 7... cũng lần lượt tổ chức đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Một không khí hân hoan tràn ngập khắp các đơn vị. Tiếp đó, nhân địp kỷ niệm lần thứ 5 ngày thành lập Quân đoàn 3 (26.3.1975 - 26.3.1980), Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng gửi thư chúc mừng đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên Quân đoàn, bức thư nêu rõ: '' Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã anh dũng chiến đấu mưu trí sáng tạo, công tác bền bỉ tận tụy lập được nhiều chiến công xuất sắc hoàn thành các nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và Quân đội giao cho vì nghĩa vụ thiêng liêng của Tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Quân đoàn 3 là một quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ được bố trí trên một hướng chiến lược hết sức quan trọng, nằm trên 1 địa bàn xung yếu có quan hệ trực tiếp đến tuyến một và việc bảo vệ các mục tiêu trọng yếu. Nhiệm vụ của Quân đoàn hết sức nặng nề nhưng cũng hết sức vẻ vang. Để làm tròn nhiệm vụ đó cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên phải xây dựng Quân đoàn theo hướng chính quy hiện đại, tinh nhuệ và thiện chiến, tiêu biểu sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa''. Vô cùng phấn khởi, tự hào, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăm hở thi đua quyết tâm hoàn thành 4 mục tiêu trong 2 năm (1980-1981) mà nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn đã đề ra: "1 Xây dựng Quân đoàn có trình độ chính trị vững vàng, có ý chí chiến đấu cao, lòng trung thành tuyệt đối, luôn luôn phát huy được bản chất truyền thống tốt đẹp, có kỷ luật tự giác nghiêm minh, có ý thức làm chủ tập thể cao. Trước mắt, năm 1980 phải xây dựng được quyết tâm chiến đấu vững chắc, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt bất cứ lúc nào. 2. Xây dựng đội ngũ cán bộ theo đường lối cán bộ của Đảng cả về số lượng, chất lượng có năng lực và phẩm chất, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp và lý tưởng cách mạng có ý chí quyết tâm và ý thức tổ chức kỷ luật cao... 3. Xây dựng Đảng bộ mạnh, nâng cao chất lượng và hiệu lực lãnh đạo, nắm vững nguyên tắc Đảng ủy lãnh đạo tập thể, phân công cá nhân phụ trách Thường xuyên giữ vững đại đội có chi bộ, cấp ủy; trung đội có tổ đảng, tiểu đội có đảng viên. Năm 1980 không còn chi bộ kém, không còn đảng viên không đủ tư cách. 4. Xây dựng tốt nền nếp chế độ công tác hậu cần - kỹ thuật. Cuối năm 1980 phải bảo đảm vững chắc cho phù hợp chiến đấu sản xuất và tiết kiệm, bảo đảm quân số khỏe 97% trở lên...''. Năm 1980, Quân đoàn 3 làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc tuy đã kết thúc từ ngày 18 tháng 3 năm 1979, nhưng những hành động xâm lấn biên giới nước ta ở hướng này vẫn luôn diễn ra; đồng thời một kiểu chiến tranh thâm độc mới ''chiến tranh phá hoại nhiều mặt'' ngày một gia tăng trong nội địa. Đất nước ta ở trong trạng thái vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Một lượng lớn sức người, sức của phải dồn lên để xây dựng và giữ vững tuyến phòng thủ biên cương, làm cho tình hình kinh tế - xã hội ngày càng khó khăn. Vừa bước ra từ chiến tranh, Quân đoàn 3 có những thuận lợi cơ bản: thường xuyên được Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan Bộ, đơn vị bạn và địa phương quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ, phối hợp; Quân đoàn đã có mặt thời gian ngắn củng cố kiện toàn về mọi mặt; cán bộ, chiến sĩ hầu hết đã trải qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu, có những kinh nghiệm tác chiến, trẻ khỏe giàu nhiệt huyết cách mạng; tỷ lệ đảng viên chiếm tới 18% quân số, 100% số đại đội có chi bộ. Song bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Quân đoàn bước vào thực hiện nhiệm vụ mới cũng gặp nhiều khó khăn: đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, đời sống kinh tế - xã hội ngày càng khó khăn do cấm vận và phá hoại của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam làm ảnh hưởng trực tiếp tới tâm tư, đời sống và hậu phương cán bộ, chiến sĩ; Quân đoàn vừa sẵn sàng chiến đấu, xây dựng theo hướng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, thiện chiến, vừa sản xuất trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới với những yêu cầu mới rất cao. Trong khi đó, phần lớn cán bộ cơ sở trưởng thành trong chiến đấu chưa được đào tạo cơ bản, trình độ nhận thức chính trị và chuyên môn quân sự, năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội so với yêu cầu còn thấp; ''chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng còn tồn tại phổ biến''1 chậm được giải quyết là những trở ngại chính cho bước đường đi lên của Quân đoàn. Quán triệt sâu sắc chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu của Bộ Quốc phòng: ''Các lực lượng vũ trang phải hết sức đề cao cảnh giác. Từng ngày, từng giờ, từng phút phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, kịp thời đánh bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của địch, hoàn thành nhiệm vụ của lục lượng vũ trang: bảo vệ Tổ quốc, tích cực tham gia xây dựng kinh tế và làm nghĩa vụ quốc tế"2. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ động, kiên quyết, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy đơn vị vượt qua khó khăn, giành được nhiều thành tích tốt trên tất cả các mặt. Toàn Quân đoàn chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và chuẩn bị đầy đủ cho việc chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn theo mệnh lệnh quy định của Bộ. Các kế hoạch tác chiến trên hướng A1, A2 hoàn thành. Các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến được duy trì nghiêm. Hàng ngày cấp Sư đoàn có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội phòng không, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội pháo sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ chiến đấu Lữ đoàn xe tăng 273 có 1 đại đội xe tăng thiết giáp hỗn hợp trực chiến; Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234 và Trung đoàn công binh 7 luôn duy trì các đại đội trực chiến đúng quy định. Việc rèn luyện bộ đội hành quân xa, mang vác nặng, báo động chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu lên tăng cường và lên cao được tổ chức chặt chẽ. Trong năm có 2.289 lần báo động chiến đấu từ cấp đại đội đến cấp sư đoàn, 65 lần báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, 262 cuộc hành quân bộ rèn luyện. Đặc biệt, Quân đoàn đã hoàn thành thắng lợi các cuộc diễn tập lớn N18 và M34 (chỉ huy - cơ quan 3 cấp có một phần thực binh) do Bộ tổ chức trên hướng Lạng Sơn và Hà Bắc. Trong đó lực lượng công binh của Quân đoàn mở xong tuyến đường CĐ30 nối liền Phố Chợ (Lục Ngạn, Hà Bắc) đến Kéo Thiềng (Lộc Bình, Lạng Sơn) dài 47km kịp thời phục vụ cho cuộc diễn tập của Sư đoàn bộ binh cơ giới 308 Quân đoàn 1, được cấp trên khen ngợi. Thực hiện phương châm huấn luyện ''cơ bản, hệ thống, toàn diện, đồng bộ nhưng có trọng điểm theo hướng tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, toàn Quân đoàn đã tổ chức bồi dưỡng được 17.769 lượt cán bộ từ tiểu đợi đến sư đoàn và cơ quan các cấp; hoàn thành các chương trình huấn luyện cán bộ, huấn luyện phân đội bộ binh, huấn luyện binh chủng và huấn luyện cho 5.200 tân binh (trong đó có 400 chiến sĩ gái). Kết quả bắn đạn thật súng bộ binh lần 3, 4, 5 đều đạt 100% khá giỏi, 9 trung đoàn bộ binh đều đạt đơn vị bắn giỏi 4 loại súng. Trường Quân chính, Trường Hạ sĩ quan, Trường Đảng, Trường Hậu cần-kỹ thuật, Trường Văn Hóa thực hiện cải cách giáo dục theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và chỉ thị bổ sung nhiệm vụ về,công tác nhà trường của Tư lệnh Quân đoàn, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, bổ túc gần 2.500 cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, kịp thời bổ sung cho các đơn vị. Những kết quả trong công tác sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện đã trực tiếp góp phần đẩy mạnh xây dựng nền nếp chính quy, thực hiện có hiệu quả chỉ thị ''Toàn quân hành động theo điều lệnh'' của Bộ Tổng Tham mưu trong toàn Quân đoàn. Đóng quân trong khu vực phần lớn là đồi núi dốc, đất đai khô cằn, thời tiết thất thường, kinh nghiệm và vốn đầu tư sản xuất ít ỏi; nhưng cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn tích cực sản xuất lượng thực, trồng rau xanh, chăn nuôi; kịp thời mở hội nghị chuyên đề rút kinh nghiệm tăng gia sản xuất. Năm 1980 toàn Quân đoàn đã thu được 500 tấn gạo, 63 tấn thịt cá, 9,1 tấn đậu lạc, 1000 tấn rau xanh. Tuy chỉ đạt 40% chỉ tiêu; nhưng kết quả tăng gia rất có ý nghĩa; nó không chỉ trực tiếp góp phần giải quyết những khó khăn trước mắt mà còn tạo ra cơ sở sản xuất ban đầu, từng bước lựa chọn những cây, con phù hợp và rút ra những kinh nghiệm quý cho phát triển và đẩy mạnh sản xuất trong những năm sau. Trên lĩnh vực xây dựng doanh trại, năm 1980 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của Binh đoàn: 374.700m2 nhà các loại được xây dựng, bảo đảm bình quân 3m2 cho một người, 60% bộ đội có giường nằm, 40% nằm bằng sàn tre nứa nhưng sạch sẽ, thóang mát, bảo đảm vệ sinh. Nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng ra đời và bước vào hoạt động ngày càng có hiệu quả Ngành kỹ thuật tuy mới độc lập hoạt động nhưng cũng lập nhiều thành tích: triển khai nghiêm túc chỉ thị của Tư lệnh Quân đoàn về việc tăng cường công tác quản lý giữ gìn xe máy, đảm bảo nhà để xe đạt 98%, nhà cho pháo đạt 93%; bảo dưỡng 6.907 lượt xe (đạt 94% kế hoạch) và sửa chữa 3.591 lượt xe máy, 22.879 lượt súng bộ. binh, 524 lượt pháo xe kéo, 608 lần chiếc khí tài và 129 lần chiếc xe tăng, xe thiết giáp, bảo đảm phục vụ kịp thời nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và công tác của Quân đoàn. Công tác đảng, công tác chính trị trong năm 1980 có nhiều kết quả. Việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng luôn chủ động, bám sát tình hình nhiệm vụ. Phong trào thi đua được đẩy mạnh. Các hệ thống tổ chức Đảng, chỉ huy, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân ở các cấp luôn được củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động. Công tác thanh niên được tổng kết. Đặc biệt, Đảng bộ Quân đoàn đã triển khai và hoàn thành 4 đợt phát thẻ đảng viên cho 21 tổ chức cơ sở, 29 đảng bộ bộ phận, 268 chi bộ với 3.073 đảng viên; kịp thời đưa ra khỏi Đảng 34 người không đủ tiêu chuẩn. Đây là lần đầu tiên phát thẻ , đảng viên trong Đảng bộ. Kết quả của đợt phát thẻ rất có ý nghĩa, nó không những củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của các tổ chức Đảng, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên mà còn là dịp phát động mạnh mẽ quần chúng tham gia xây dựng Đảng, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhận thức rõ mục tiêu lý tưởng cao đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng nghìn đoàn viên thanh niên ra sức phấn đấu rèn luyện theo các tiêu chuẩn của người đảng viên và làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1980 Đảng bộ Quân đoàn đã phát triển được 2,327 đảng viên mới và xây dựng được nguồn đối tượng dồi dào. Năm 1980, năm bản lề của giai đoạn sẵn sàng chiến đấu cao, xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến trên miền Bắc nhanh chóng qua đi. Mặc dù kết quả ở một số nhiệm vụ còn ở mức độ nhất định, nhưng những thành tích toàn diện của Quân đoàn là một cố gắng nỗ lực rất lớn, thể hiện ý chí và bản lĩnh của cán bộ, chiến sĩ đã được tôi luyện dày dạn trưởng thành trong chiến tranh. Đây là vốn quý, là cơ sở để Binh đoàn Tây Nguyên tiến những bước dài vững chắc trên con đường xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc và góp phần xây dựng hậu phương trực tiếp trên hướng chiến lược hết sức quan trọng của Tổ quốc. ----------------------------------------------------------------- 1. "Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động lớn và phong trào thi đua quyết thắng năm 1982 của Quân đoàn 3". Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, ngày 20 tháng 12 năm 1982, tr. 13. 2. 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam. Sđd, tr. 413. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Tư, 2021, 03:56:15 pm 2. Xây dựng Quân đoàn theo hướng "Cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ'' nâng cao sức mạnh chiến đấu.
Đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX, nhiều sự kiện hách lịch sử trọng đại diễn ra trên đất nước ta có tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Chủ tịch nước ban hành lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong chương IV ''Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa'' quy định trách nhiệm của toàn dân và toàn quân trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 10 tháng 1 năm 1982 Hội đồng Nhà nước công bố Luật nghĩa vụ quân sự và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (27 -31.12.1982) khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Đại hội lần thứ IV đồng thời vạch ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1981 - 1985). Nghị quyết của Đại hội chỉ rõ: ''Đất nước ta đang ở trong tình thế vừa có hòa bình, vừa phải đương đầu với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt.,. Đồng thời phải sẵn sàng đối phó với tình huống địch có thể gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn... toàn Đảng, toàn dân và toàn quân luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xây dựng quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đập tan kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch để bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời ngăn ngừa và chiến đấu thắng lợi nếu địch liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với đất nước ta". Đại hội lần thứ V của Đảng đánh dấu sự chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đương đấu tranh "Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân''. Tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết (số 07/NQ- TW ngày 15.12.1982) ''Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội'' và Nghị quyết (số 27/ NQ - TM ngày 4.7.1985) ''Về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng''. Cùng thời gian này toàn quân thực hiện thống nhất các ''Điều lệnh nội vụ'', ''Điều lệnh kỷ luật'', ''Điều lệnh đóng quân và canh phòng'', ''Điều lệnh đội ngũ'' và mang mặc quân phục (kiểu K82), hệ thống chức vụ cấp bậc, cấp hiệu, phù hiệu theo quy định mới của Bộ Quốc phòng; đồng thời tiếp tục thực hiện cuộc vận động ''Phát huy bản chất ốết đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động, với năm yêu cầu mới1. Là một Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 3 nghiêm túc quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên. Thực hiện quy định (số 580/QĐ - QP ngày 30.9.1980) của Bộ Quốc phòng về việc thực hiện chế độ một người chỉ huy trong Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngày 1 tháng 10 năm 1980; trong đó ủy quyền cho Tư lệnh Quân đoàn 3 ra quyết định thực hiện chế độ một người chỉ huy đối với các đơn vị thuộc quyền. Ngày 10 tháng 5 năm 1981 Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết về thực hiện chế độ một người chỉ huy trong Quân đoàn, xác định rõ: ''Xây dựng và phát huy sức mạnh của chế độ một người chỉ huy là nhiệm vụ tổ chức rất quan trọng, một nhiệm vụ chính trị cấp bách trực tiếp của Đảng bộ và người chỉ huy của Quân đoàn trong thời gian tới''. Cần tập trung xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa người chỉ huy với Đảng ủy, người chỉ huy và cơ quan cấp trên; với Đảng ủy cấp mình, người phó chỉ huy, cơ quan, đông đảo cán bộ, chiến sĩ và các tổ chức quần chúng trong đơn vị. Trên cơ sở quyền hạn chức trách được giao và nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn, ngày 8 tháng 6 năm 1981 đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn ra quyết định (số 88/QĐ - B) thực hiện chế độ một người chỉ huy tại Sư đoàn bộ binh 320; tiếp đó ngày 23 tháng 11 năm 1981 Tư lệnh Quân đoàn ra quyết định (số 313/ QĐ ) thực hiện chế độ một người chỉ huy đối với các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn thông tin 29, Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, Trường Quân chính, Trường Hậu cần, Trường Hạ sĩ quan, Trường Văn Hóa, Viện Quân y 211. Từ đây, Binh đoàn Tây Nguyên chuyển sang một thời kỳ mới: thực hiện chế độ một người chỉ huy từ cấp đại đội đến Quân đoàn. Trong những ngày đầu tiên của năm mới Nhâm Tuất (1982), Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 2 được tiến hành tại Quân đoàn bộ (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái). Dự Đại hội có 214 đại biểu chính thức và 9 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 7.915 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam là đại biểu được Quân ủy Trung ương cử về chỉ đạo Đại hội và giới thiệu ứng cử bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân (15-19.1.1982). Trong 5 ngày Đại hội (2-6.1.1982) các đại biểu đã nghiên cứu, thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến vào các văn kiện quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và ''báo cáo đánh giá tình hình xây dựng tổ chức ở cơ sở Đảng'' của Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện phương hướng xây dựng Quân đoàn do Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất (26 - 27. 11 1979) đã vạch ra, quyết tâm ''xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, theo phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng hùng mạnh, có trình độ chính quy, hiện đại ngày càng cao, để bất cứ tình huống nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ''2 '' cùng với toàn quân, toàn dân đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội''. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 2 gồm 11 đồng chí. Đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn được bầu làm Bí thư, đại tá Hà Quốc Tỏan - Phó tư lệnh về Chính trị Quân đoàn được bầu làm Phó Bí thư. Đại hội cũng đã bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân gồm 9 đồng chí: 1. Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 2. Đại tá Nguyễn Quốc Thước - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn Tư lệnh Quân đoàn. 3. Đại tá Hà Quốc Tỏan - Phó tư lệnh về chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân đoàn. 4. Đại tá Bùi Đình Hòe - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn. 5. Thượng tá Nguyễn Văn Thanh - Phó tư lệnh về kỹ thuật, Chủ nhiệm kỹ thuật Quân đoàn. 6. Đại tá Nguyễn Đằng - Chủ nhiệm Chính trị quân đoàn, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Cục Chính trị. 7. Thượng tá Lê Quang Bình - sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn. 8. Thượng tá Đặng Công Toàn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn. 9. Thượng tá Đinh Xuân La - Sư đoàn trưởng Sư đoàn lo, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 2 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên. Nó không những tập trung trí tuệ dòng góp được chiều ý kiến thiết thực vào các dự thảo văn kiện quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, đánh giá toàn diện tình hình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đề ra nhiệm vụ mục tiêu, yêu cầu chủ yếu xây dựng Đảng bộ cơ sở thời gian tới mà còn khẳng định ý chí và nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ toàn Binh đoàn quyết tâm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới ở phía Bắc Tổ quốc. Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nghị quyết đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 2 , cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên thực hiện kế hoạch 5 năm (1981-1985) với nhiều thuận lợi. Quân đoàn thường xuyên nhận được sự lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ; sự hiệp đồng của các quân bình chủng và các đơn vị bạn; sự chi viện và ủng hộ to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. Sau nhiều năm cơ động chiến đấu và làm nhiệm vụ ở phía nam, đây là lần đầu tiên Quân đoàn có một khỏang thời gian khá dài, tương đối ổn định, không có thay đổi lớn về nơi đóng quân, tổ chức biên chế và nhiệm vụ; lại có đội ngũ cán bộ trẻ, khỏe, giàu nhiệt huyết được tôi luyện qua khói lửa chiến tranh, có tỷ lệ lãnh đạo cao và những cơ sở vật chất ban đầu những kinh nghiệm quý rút ra qua hơn một năm xây dựng củng cố. Bên cạnh những thuận lơi cơ bản trên, trong giai đoạn này Quân đoàn cũng phải trực tiếp đối mặt với nhiều khó khăn trở ngại chủ quan và khách quan. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới, vị trí đóng quân của một số đơn vị trong Quân đoàn được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 320 được chuyển thành Sư đoàn bộ binh cơ giới và chuyển vị trí đóng quân từ huyện Đại Từ tỉnh Bắc Thái về các khu vực Ngoại Trạch, Trung Mầu (Tam Đảo, Vĩnh Phú ) và xã Ngọc Thanh (Mê Linh, Hà Nội); Trung đoàn pháo binh 40 từ La Quang - Na Hiên chuyển về Gò Đầm (Trường đại học Mỏ địa chất); Trung đoàn công binh 7 từ Tràng Xá về vị trí cũ của Trung đoàn pháo binh 40 ở La Quang - La Hiên; Sư đoàn 31 chuyển gọn vị trí đóng quân về Võ Nhai, Tràng Xá; Trung đoàn phòng không 234 từ huyện Phú Lương về huyện Phú Bình. Việc chuyển vị trí đóng quân của một đơn vị cũng mở đầu một quá trình lao động vô cùng vất vả, vật lộn với nắng mưa giá rét để tạo dựng một cơ ngơi mới. Đội ngũ cán bộ với hàng nghìn đồng chí phát triển trong chiến đấu, thiếu kiến thức cơ bản về chính trị và quân sự nên trình độ năng lực nhìn chung chưa theo kịp yêu cầu xây dựng đơn vị theo hướng ''chính quy, hiện đại tinh nhuệ, thiện chiến'' và lúng túng khi chuyển sang thực hiện chế độ một người chỉ huy. Vì vậy phải tổ chức bổ túc đào tạo lại với số lượng lớn ở các trường của Quân đoàn và của Bộ, trong khi lực lượng bổ sung của trên có hạn, đã tạo ra sự thiếu hụt cán bộ ở hầu hết các đơn vị, cơ quan trong một thời gian khá dài. Thực hiện biểu biên chế 0288, số đơn vị cơ bản vẫn được giữ nguyên, nhưng có đơn vị như Sư đoàn 31 chỉ đạt 60% quân số so với yêu cầu quy định, trong đó Trung đoàn 922 rút gọn thành khung huấn luyện chiến sĩ mới và quân dự nhiệm. Thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, hàng năm Quân đoàn tuyển nhận từ 8.000 đến hơn 10.000 tân binh và giải quyết ra quân xuất ngũ một số lượng lớn, động thời chuyển gọn từng tiểu đoàn bổ sung cho các đơn vị bạn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc...nên công tác quản lý, huấn luyện, hậu cần gặp không ít trở ngại; trong đó việc bảo đảm lương thực, thực phẩm cho bộ đội hàng ngày luôn là nỗi lo thường trực của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Hoàn cảnh khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh để lại cũng làm nảy sinh thêm những tiêu cực, làm nản lòng không ít cán bộ, chiến sĩ thiếu bản lĩnh, chưa vững lập trường, kém rèn luyện... có trường hợp phải xử lý bằng pháp luật. Đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải ra quyết định kỷ luật lưu Đảng, cách chức đồng chí Phó tư lệnh Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 3 vì không làm tròn trách nhiệm; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cách chức đồng chí Trưởng phòng Huấn luyện chiến đấu Bộ Tham mưu Quân đoàn vì vi phạm nguyên tắc quản lý vật tư tài chính, lợi dụng chức quyền tham ô. Về khách quan, thời kỳ này Quân đoàn cũng gặp rất nhiều khó khăn. Sau Đại hội Đảng V, ta chậm cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đứng đầu tiên; bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy ngũ và hành động giản đơn nóng vội trong quản lý kính tế - xã hội, buông lỏng chuyên chính vô sản không được khắc phục kịp thời; thêm vào đó là ''cú hích'' tổng điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho nền kính tế thêm khó khăn gay gắt, đất nước lâm vào tình trạng khủng hỏang trầm trọng, nỗi lo cái ăn hàng ngày như một căn bệnh kinh niên lan tràn ở trong dân và các đơn vị quân đội. Cùng lúc, chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, các loại kẻ thù trong và ngoài nước cấu kết tạo nên liên Minh ma quỷ ra sức chống phá cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn vô cùng thâm độc, vừa trắng trợn vừa tinh vi, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và cả trong đời sống tình cảm riêng tư của mỗi con người. Trên địa bàn Quân đoàn 3 đứng chân và làm nhiệm vụ, cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù thách diễn ra ráo riết, muôn hình muôn vẻ. Lợi dụng sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kỹ thuật, kinh tế khó khăn, chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, phao tin đồn nhảm gây hòai nghi vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII (26.4.1981) ở địa phương. Tại nhiều huyện, bọn phản động rải truyền đơn chống Đảng, nói xấu chế độ, chống luật nghĩa vụ quân sự, pháp lệnh thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp; kích động lôi kéo người vượt biên trốn ra nước ngoài, tự động bỏ nơi cư trú, truyền bá văn hóa phẩm đồi truy, gieo rắc lối sống ích kỷ thấp hèn, xúi giục tiếp tay các phần tử cặn bã gây tội ác; mua chuộc cán bộ, chiến sĩ thóai hóa biến chất lấy cắp vũ khí, phá hoại phương tiện chiến đấu, tiếp tay cho chúng làm việc xấu. Từ năm 1981 đến năm 1985, nhiều tổ chức phản động nhen nhóm như "Đảng vô sản toàn cầu'', ''Thanh niên cách mạng H.V.H'', ''Chúng dân cứu quốc'', "Đảng hòa bình'', "Đảng tối mật'', ''Nông dân liên hiệp hội'', ''Đoàn kết dòng họ'' và ''Hội bảo vệ làng". Cùng với các hoạt động bí mật, ngấm ngầm chống phá về chính trị, chúng còn táo tợn gây ra các vụ khủng bố ném lựu đạn, đốt nhà, gây ra 4 vụ mất trật tự lớn ở một số trường đại học trên địa bàn; nhiều vụ cướp giật, trấn lột, giết người, buôn bán đồng đen, thuốc phiện, bạc trắng. Những tên phản động đội lốt tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta, vi hành khắp đó đây mê hoặc, lừa phỉnh, dọa dẫm, ép buộc giáo dân nhẹ dạ cả tin theo chúng chống lại cách mạng. Đi liền với chống phá về chính trị, địch dùng nhiều thủ đoạn phá hoại kinh tế của ta. Chỉ trong 3 năm (1983, 1984, 1985) trên địa bàn Quân đoàn 3 đóng quân đã xảy ra 43 vụ phá hoại ở khu Gang thép Thái Nguyên, mỏ than Phấn Mễ, khu thăm dò địa chất; trong đó có nhiều vụ gây thiệt hại lớn như làm chảy 150 tấn thép, cháy 90 tấn dầu, phá hệ thống điện xe tải cỡ lớn, nổ lò than, đốt kho vật tư nhà máy chè và kho vũ khí cắt phá 150km dây điện thoại. Là một mục tiêu quan trọng trong cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch ở địa bàn Bắc Thái, ngay từ khi. mới chuyển quân ra Bắc, Quân đoàn 3 bị địch liên tục chống phá. Khi bộ đội vừa ra vị trí đóng quân mới, lợi dụng khó khăn về vật chất, chúng tung tin kích động tư tưởng công thần địa vị, giả vờ ca tụng công lao thành tích rồi so sánh với cuộc sống vật chất hiện tại để quy kết Đảng và Nhà nước không quan tâm đãi ngộ; hoặc lợi dụng hành vi cá biệt của một chiến sĩ vô kỷ luật, thổi phồng thành sự việc lớn nói xấu Quân đoàn 3 nhằm chia rẽ mối đoàn kết quân dân. Ngoài ra, chúng còn đặt vè nói xấu bộ đội, tung tin bán vàng bạc, đóng giả làm bộ đội để thực hiện các hành vi trấn lột, trộm cắp, phá hoại hoa màu của dân gây dư luận rất xấu. Khi các đơn vị ổn định dừng chân, chúng vừa tìm mọi cách dùng tiền, gái lôi kéo mua chuộc hòng làm sa đọa cán bộ, chiến sĩ, lấy cắp bí mật, phá hoại vũ khí, phương tiện chiến đấu. Điển hình là các vụ đập vỡ bọt nước của pháo ở Tiểu đoàn 16 Sư đoàn 31; lấy bóng điện tử của pháo 57mm ở Trung đoàn 234, làm ẩm ướt hàng trăm viên đạn B40 và lấy cắp vũ khí ỏ Sư đoàn 320; khi ta diễn tập, chúng lột ván cầu, cắt dây điện thoại lúc chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Địch rất chú trọng tìm cách nắm các hoạt động diễn tập, chuyển quân, quân số, vũ khí, nhiệm vụ của Quân đoàn. Chính vì vậy, nhiệm vụ của Quân đoàn trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc rất nặng nề. Trong khi sẵn sàng chiến đấu cao, đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng chính quy, nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng và tích cực lao động sản xuất, Quân đoàn còn phải làm tốt chức năng một đội quân công tác, cùng địa phương xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, xây dựng vành đai an toàn, đập tan kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, thực hiện thắng lợi Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. ------------------------------------------------------------------ 1. Năm yêu cầu mới là: 1. Ý chí mạnh, trách nhiệm cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt. 2. Nâng cao ý thức và năng lực làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất. 3. Nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng cơ sở vững mạnh. 4. Đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế tốt. 5. Tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. 2. ''Báo cáo đánh giá tình hình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Ban chấp hành Đảng bộ trước Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 2''. Đảng ủy Quân đoàn 3, ngày 30.12.1981, tr 19, 20. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Tư, 2021, 04:06:12 pm * Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của một Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ trên hướng xung yếu phía Bắc Tổ quốc là sẵn sàng chiến đấu; Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên lãnh đạo, chỉ huy Binh đoàn thực hiện nghiêm túc các mệnh lệnh, chỉ lệnh 47B-QP về sẵn sàng chiến đấu của Bộ Quốc phòng. Các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến ở các cấp được đuy trì nghiêm, toàn Quân đoàn luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và kịp thời chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn khi có lệnh. Hàng năm các phương án tác chiến A1, A2 được rà soát bổ sung cho phù hợp với yêu cầu điều kiện mới. Các phương án đánh địch tại chỗ cả mặt đất và trên không được triển khai và luyện tập thường xuyên. Quân đoàn và các đơn vị chủ động hiệp đồng với Quân khu 1, các đơn vị có liên quan và chính quyền địa phương xây dựng, bổ sung hoàn chỉnh các phương án tác chiến trong khu vực và triển khai thực hiện theo kế hoạch thống nhất. Hệ thống theo dõi nắm địch các cấp được triển khai, nhiều đoàn cán bộ được cử đi nghiên cứu thực địa và học hỏi kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị bạn đang trực tiếp làm nhiệm vụ phía trước. Bộ đội vừa được quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chiến đấu vừa được phổ biến kịp thời những thủ đoạn tác chiến mới của đối phượng và kinh nghiệm phòng chống đánh trả của các đơn vị bạn; từ đó không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng cơ động chiến đấu bảo vệ biên cương, đập tan các hành động xâm lược và kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch trên địa bàn, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Mặc dù công việc bề bộn khi mới ra miền Bắc, nhưng trong năm 1981 toàn Quân đoàn vẫn tổ chức báo động luyện tập các phương án đánh địch tại chỗ được 2.272 lần, báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho chỉ huy cơ quan các cấp và nhân viên thông tin được 276 lần và tổ chức hành quân rèn luyện được 336 lần. Trong những năm sau, việc báo động luyện tập các phương án và rèn luyện bộ đội luôn được giữ vững và đi vào chiều sâu nâng cao chất lượng, ngày càng sát thực tế. Năm 1983, 1984 việc báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thông xuyên lên tăng cường, lên cao và toàn bộ ở cấp Quân đoàn từ 2 đến 3 lẩn, cấp sư đoàn từ 11 đến 12 lần, cấp trung đoàn từ 52 đến 79 lần, cấp tiểu đoàn là 171 lần; quân số tham gia. đạt từ 85% đến 90%; thời gian ngày một rút ngắn: 3 sư đoàn (10, 320, 31) từ 10 đến 12 phút, Lữ đoàn 234: 4 phút. Tại các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội báo động sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và kiểm tra quân số cũng tăng lên; trung bình một năm toàn Quân đoàn báo động cấp trung đoàn được trên 150 lần, cấp tiểu đoàn trên 500 lần và cấp đại đội hơn 1.300 lần, bảo đảm thời gian cấp trung đoàn: 16 phút; cấp tiểu đoàn: 7 phút và cấp đại đội: 5 phút. Để bảo đảm chỉ huy, thông báo báo động và nắm mọi tin tức kịp thời chính xác, bí mật, an toàn, trong khi Trung đoàn thông tin 29 giải thể rút gọn thành tiểu đoàn (13.5. 1982), Quân đoàn chú trọng củng cố mọi mặt, nâng cao chất lượng các trạm thông tin liên lạc, hệ thống thông báo báo động và năng lực chuyên môn phục vụ. Với tinh thần tự lực cao, Quân đoàn đã củng cố hoàn chỉnh các tổng trạm thông tin, xây dựng hệ thống đường dây trần từ Quân đoàn bộ đến Sư đoàn 31, Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Trung đoàn 7 với tổng chiều dài 138km, đồng thời tích cực khai thác mạng thông tin địa phương bảo đảm cho các nhiệm vụ phối hợp tác chiến và phòng chống lụt bão. Do được quan tâm xây dựng cả về cơ sở vật chất và con người, kiểm tra chấn chỉnh kịp thời nên hệ thống thông tin thông báo báo động toàn Quân đoàn được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, thu phát đủ, đúng, kịp thời mọi mệnh lệnh, tín hiệu; hữu tuyến điện luôn thông suốt, khi bị bão lụt đã khắc phục đường dây sau 1 giờ đến 4 giờ; vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và tiếp sức luôn đạt tỷ lệ bình quân trên 98% (loại giỏi), thông tin giản đơn, vận động được sử dụng hiệu quả, góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các cuộc diễn tập của Quân đoàn. Đóng quân trên một địa bàn rộng, nguồn cung cấp bảo đảm hậu cần không ổn định và luôn gặp khó khăn, Quân đoàn luôn chủ động khai thác các nguồn, thường xuyên bảo đảm đầy đủ lượng dự trữ vật chất sẵn sàng chiến đấu theo quy định, đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm tra thay thế, bổ sung kịp thời về lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, xăng dầu, các phương tiện cơ động sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu khi có lệnh. Tích cực chuẩn bị ''chiến trường'' theo các phương án tác chiến A1, A2, từ năm 1981 đến năm 1985 Quân đoàn huy động một lực lượng lớn nhân lực, vật lực gồm 67.884 ngày công, 5.843 giờ máy húc, 10.000 lít xăng dầu, hàng chục tấn thuốc nổ, mở mới và sửa chữa nâng cấp 7 tuyến đường với tổng chiều dài 285km, và một khối lượng đào đắp 709.584m3 đất đá. Nổi bật là thi công mở rộng tuyến đường CĐ30 từ Phố Chợ huyện Lục Ngạn tỉnh Hà Bắc đến Kéo Thiềng huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn (dài 47km, rộng 4 đến 6m, bán kính đường vòng 15 đến 18m), Quân đoàn đã sử dụng 35.384 ngày công và 5.843 giờ máy các loại, đào đắp 351.955ma khối đất đá, hoàn thành trước 2 ngày so với quy định của Bộ Tổng Tham mưu, được cấp trên đánh giá cao. Những tuyến đường do cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên mở vươn dài trên các sườn núi, vượt qua các sông suối vực sâu, không chỉ phục vụ kịp thời cơ động lực lượng trong các cuộc diễn tập lớn của Bộ và bảo đảm quốc phòng an ninh lâu dài trên địa bàn mà còn góp phần mở mang giao thông, phát triển kinh tế, xã hội ở một vùng chiến lược rộng lớn phía bắc - đồng bắc Bắc Bộ. Xác định rõ tính chất vừa cấp bách vừa lâu dài và tầm quan trọng của nhiệm vụ đánh bại kiểu chiến tranh Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn ra các nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, xây dựng kế hoạch, tổ chức nhiều hội nghị triển khai thực hiện và hàng năm đều tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm về nhiệm vụ quan trọng này. Quá trình tổ chức thực hiện, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy chỉ huy các đơn vị thường xuyên giáo dục cho bộ đội nhận rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của địch trong chiến tranh phá hoại nhiều mặt, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, thực hiện tốt các nghị quyết của Bộ Chính trị, các chỉ thị (106, 108, 110) của Trung ương Đảng, các nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn và đơn vị, chấp hành nghiêm chỉnh 12 điều bảo mật phòng gian; nắm chắc và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, triển khai nghiêm túc các chế độ quy định xây dựng đơn vị an toàn. Chấp hành Nghị quyết số 03 của Bộ Chính trị, chỉ thị số 01 - 02 của Liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ, từ tháng 5 năm 1983 Quân đoàn đã thống nhất và triển khai thực hiện kế hoạch chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch với các địa phương nơi đóng quân và giao nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng địa bàn cho các đơn vị thuộc quyền1. Các đơn vị đảm nhiệm các địa bàn phải phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng vũ trang và chính quyền địa phương nắm chắc mọi đối tượng trong khu vực, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, thời điểm, ngòi nổ gây bạo loạn, phá hoại, gây rối, có kế hoạch hiệp đồng hành động chung thống nhất, chủ động ngăn ngừa và kịp thời đập tan, vô hiệu hóa các hoạt động của địch; đồng thời tích cực tham gia xây dựng địa phương vững mạnh, xây dựng địa bàn an toàn, vành đai an toàn. Thực hiện kế hoạch dược giao, các đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, cấp ủy chính quyền địa phương lập kế hoạch hành động thống nhất, tổ chức học tập và tuyên ,truyền vận động cho nhân dân về âm mưu thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; đồng thời rà soát nắm chắc các đối tượng; tích cực tuần tra kiểm soát trên các địa bàn trọng điểm. Trong 3 năm (1983, 1984, 1985) được quần chúng giúp đỡ, Quân đoàn và địa phương đã thu hồi được 119 khẩu súng tàng trữ trái phép và hàng chục ki-lô-mét dây điện thoại bị cắt trộm, thu thập được nhiều nguồn tin có giá trị, kịp thời ngăn ngừa nhiều âm mưu đen tối của địch, tham gia xây dựng được 50 xã, phát hiện quản lý hàng trăm đối tượng xấu, góp phần cùng địa phương giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Phát huy thành tích và kinh nghiệm, trong những năm sau việc phòng, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch thu được nhiều kết quả, vừa giữ vững được địa bàn đẩy mạnh các phong trào ở địa phương, vừa xây dựng được vành đai an toàn xung quanh các doanh trại, tạo điều kiện tết cho Quân đoàn làm nhiệm vụ. Từ thực tiễn đánh bại chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, Quân đoàn đã rút ra được những nguyên nhân thành công rất có giá trị đó là: Cấp ủy Đảng, chỉ huy quan tâm lãnh đạo ra nghị quyết sát đúng kịp thời, có kế hoạch chu đáo, hối hợp chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương triển khai thống nhất đồng bộ; nắm chắc địch, chủ động hên tục tiến công bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, bằng nhiều biện pháp; giáo dục sâu sắc nhiệm vụ cho bộ đội, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh; phối hợp chặt chẽ nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch với các nhiệm vụ khác Tiêu biểu cho nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, là lá cờ đầu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ và xây dựng vành đai an toàn, địa bàn an toàn của Quân đoàn, trong các năm 1983, 1984 là Sư đoàn bộ binh 31 và Trung đoàn công binh 7. Trong 5 năm (1981-1985) công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn đã đi đúng hướng, có những bước tiến bộ vượt bậc, thu được những kết quả toàn diện. Xác định rõ huấn luyện chiến đấu ở một binh đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định nâng cao sức mạnh chiến đấu, xây dựng chính quy nên hàng năm Quân đoàn thực hiện nghiêm túc các mệnh lệnh, chỉ lệnh về huấn luyện của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, hoàn thành kế hoạch huấn luyện cho các đối tượng với chất lượng ngày càng nâng cao. Quá trình huấn luyện, Quân dân và các đơn vị luôn nắm chắc phương châm ''cơ bản, toàn diện, hệ thống, thống nhất, đồng bộ'' theo hướng tác chiến hiệp động binh chủng, hiệp đồng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quận tự vệ); đặc biệt coi trọng huấn luyện phân đội nhỏ và huấn luyện kỹ thuật, nắm vững trọng tâm huấn luyện cán bộ, chú trọng nâng cao chất lượng diễn tập chiến thuật, diễn tập chỉ huy cơ quan; lấy huấn luyện ngoài thực địa là chính, sát với thực tế chiến đấu; phù hợp với tổ chức biên chế vũ khí trang bị, đối tượng tác chiến, địa hình vùng núi, phát huy sở trường và cách đánh của Quân đoàn và từng đơn vị, thường xuyên phổ biến kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị đang tác chiến ở biên giới phía Bắc. Hàng năm trước mỗi giai đoạn huấn luyện, công tác tổ chức chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, tích cực, chu đáo, chặt chẽ. Từ Quân đoàn đến cơ sở, các cấp ủy Đảng đều ra nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo huấn luyện; chỉ huy, cơ quan tiến hành quán triệt phổ biến nhiệm vụ đến mọi cán bộ, chiến sĩ, lập kế hoạch huấn luyện, tổ chức tập huấn bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đơn vị mẫu, đội mẫu, chuẩn bị vật chất phương tiện huấn luyện, bãi tập thao trường, hậu cần phục vụ. Với nỗ lực rất cao, từ năm 1981 đến năm 1985, toàn Quân đoàn đã mở được 827 lớp tập huấn cho 70.745 lượt cán bộ chỉ huy binh chửng hợp thành, pháo binh, xe tăng, pháo phòng không, công binh, thông tin và chuyên môn kỹ thuật từ tiểu đội trưởng đến quân đoàn, trong đó có hàng chục lớp tập huấn chiến dịch với hàng nghìn lượt cán bộ trung, cao cấp. Việc nắm chắc và làm tốt khâu trọng tâm là huấn luyện cán bộ như đòn xeo, đưa công tác huấn luyện không ngừng đi lên. Phát huy thuận lợi của địa hình rừng núi trong huấn luyện chiến đấu, Quân đoàn đã xây dựng được trên 350 bãi tập và bắn súng bộ binh, 25 bãi bắn pháo binh phòng không, 1.239 thao trường chiến thuật từ cấp tiểu đội đến trung đoàn, gần 20 thao trường bắn chiến đấu tiểu đội đến tiểu đoàn bộ binh; hàng năm huy động hàng nghìn công để sửa chữa bổ sung nâng cấp ngày càng phù hợp với yêu cầu huấn luyện; ngoài ra còn làm được trên 6 vạn học cụ, kịp thời phục vụ bộ đội huấn luyện. Do làm tốt công tác chuẩn bị, quản lý chặt chẽ kế hoạch, thường xuyên cải tiến phương pháp, kiểm tra chặt chẽ, rút kinh nghiệm kịp thời, đánh giá đúng thực chất, gắn liền với việc củng cố xây dựng nền nếp chính quy, đẩy mạnh công tác thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến... nên kết quả huấn luyện chiến đấu hàng năm của Quân đoàn luôn đạt các chỉ tiêu kế hoạch được giao, có tính ổn định và ngày càng tiến bộ. Các nội dung huấn luyện: cán bộ, hạ sĩ quan binh sĩ; huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật, binh chủng chuyên ngành hầu hết đạt 100% yêu cầu, trong đó tỷ lệ khá giỏi khá cao. Năm 1981 các nội dung chiến thuật cá nhân đến tiểu đoàn đạt yêu cầu, bắn đạn thật loại khá; nhưng từ năm 1982 đến năm 1985 các nội dung trên và bắn chiến đấu từ cấp tiểu đội đến cấp tiểu đoàn bộ binh đều đạt 100% khá giỏi. Nổi bật là Tiểu đoàn 8 pháo BM-14 Trung đoàn pháo binh 40 là đơn vị huấn luyện có chất lượng cao, tiến hành diễn tập chỉ huy cụm pháo trong đội hình Sư đoàn 31 (năm 1983) đã bắn đạn thật đạt kết quả tốt; Trung đoàn phòng không 234 tham gia hội thao toàn quân đạt loại khá về bắn pháo phòng không và giành giải nhất về bắn tên lửa A72 (1983). Bên cạnh việc hoàn thành tốt những nội dung huấn luyện chiến đấu truyền thống, cuối năm 1983 khi Tổng Tham mưu trưởng quyết định chuyển Sư đoàn bộ binh 320 sang xây dựng Sư đoàn bộ binh cơ giới, công tác huấn luyện của Quân đoàn có bước phát triển mới. Cùng với những cố gắng rất cao trong việc phấn đấu làm chủ hàng trăm phương tiện vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, công tác huấn luyện chiến đấu bộ binh cơ giới đặt ra những yêu cầu mới đối với người chỉ huy và từng chiến sĩ. Với tinh thần tự lực, sáng tạo, khiêm tốn học hỏi và sự giúp đỡ chi viện có hiệu quả của các cơ quan chức năng của Bộ và Quân đoàn, Lữ đoàn xe tăng 273 nên cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 nhanh chóng vươn lên từng bước làm chủ kỹ thuật, đưa vũ khí phương tiện chiến đấu hiện đại và huấn luyện. Chưa đầy một năm, Sư đoàn đã tổ chức huấn luyện chiến thuật tiến công và phòng ngự đến cấp tiểu đoàn, kết quả kiểm tra đạt yêu cầu từ 90% đến 95%, trong đó có 30% đến 35% khá giỏi. Riêng kết quả bắn súng đại liên trên xe BTR 152 của Trung đoàn 64 đạt loại giỏi. Năm 1985, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 đã tổ chức diễn tập có bắn đạn thật đạt kết quả tương đối tốt, được cấp trên đánh giá cao. Tuy thành tích và kinh nghiệm huấn luyện bộ binh cơ giới của Sư đoàn 320 chỉ là bước đầu, nhưng rất quý. Nó không chỉ mang lại cho Quân đoàn nguồn sức mạnh mới mà còn tạo cơ sở và đúc rút những kinh nghiệm thiết thực để nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu bộ binh cơ giới trong những năm sau. Để nâng cao chất lượng công tác huấn luyện chiến đấu, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn rất chú trọng tổng kết đúc rút kinh nghiệm thực tiễn để đưa vào huấn luyện bộ đội, đồng thời triển khai nghiên cứu một số nội dung mới từng bước áp dụng vào đơn vị. Thực hiện chỉ thị về công tác khoa học quân sự của Bộ Quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn đã họp ra nghị quyết chuyên đề về công tác khoa học quân sự 5 năm (1981-1985), thành lập Hội đồng Khoa học quân sự Quân đoàn gồm 15 thành viên do đồng chí phó tư lệnh tham mưu trưởng Quân đoàn làm Chủ tịch và thành lập cơ quan chức năng là Phòng Khoa học quân sự trực thuộc Bộ Tham mưu. Trong 5 năm (1981- 1985) công tác khoa học quân sự được triển khai có nền nếp, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học phát triển và tổng kết hoàn thành; trong đó có những đề tài lớn: ''Tổ chức thực hành cơ động lực lượng của Quân đoàn trong chiến dịch tiến công và phản công", ''Quân đoàn chủ lực cơ động tác chiến chống quân lấn chiếm biên giới...'' (do Phòng Khoa học quân sự làm chủ đề tài); "Một số kinh nghiệm trong chiến dịch, chiến đấu trong chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh ở biên giới Tây Nam'' (do 3 sư đoàn 31, 320, 10 đồng làm chủ đề tài)... góp phần thiết thực vào công tác huấn luyện, xây dựng nếp sống chính quy và nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của Quân đoàn. Một trong những thành công nổi bật trong công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn 3 trong các năm 1981-1985 là việc tổ chức thành công 12 cuộc diễn tập với nhiều hình thức tác chiến và quy mô khác nhau. Trong đó có 7 cuộc diễn tập chỉ huy cơ quan cấp Quân đoàn, sư đoàn trên bản đồ và có một phần thực binh, 2 cuộc diễn tập thực binh cấp sư đoàn, 3 cuộc diễn tập binh chủng (pháo binh, phòng không) có bắn đạn thật. Nổi bật nhất là các cuộc diễn tập lớn mang tên MB-81 (phản đột kích quy mô quân đoàn), MB-82 (phản công cấp quân đoàn), MB-83 (chiến đấu trong đội hình phòng ngự chiến lược), K12 (vận động tiến công địch phòng ngự vội vã, phát triển tiến công và chuyển vào phòng ngự) và K15 (tiến công địch trên điểm cao có công sự vững chắc ở địa hình rừng núi). Thành công của các cuộc diễn tập đã khẳng định bước trưởng thành mới của Quân đoàn về trình độ tác chiến hiệp đồng binh phòng và khả năng sẵn sàng chiến đấu; nâng cao một bước trình độ của chỉ huy, cơ quan và cán bộ các cấp, rèn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu và củng cố thêm niềm tin vào cách đánh cho cán bộ, chiến sĩ. Thông qua diễn tập, Quân đoàn đánh giá khách quan hơn, cụ thể hơn về kết quả huấn luyện chiến đấu và xây dựng đơn vị; đồng thời thấy rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra nhiều kinh nghiệm quý để từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện trong những năm sau. Ngoài kết quả trên, thành tích huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn còn được đánh dấu bằng thành công của các nhiệm vụ: A852 (duyệt diễu binh nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hà Nội), diễu binh trong dịp lễ kỷ niệm ngày truyền thống (20.8 ) của tỉnh Bắc Thái ở thành phố Thái Nguyên3; tham gia đồng diễn và diễu hành phục vụ Đại hội thể dục thể thao toàn quân lần thứ II (1984); huấn luyện hàng nghìn sĩ quan dự bị tại Trường Quân chính và huấn luyện quản lý hàng nghìn quân dự nhiệm ở các địa phương; tổ chức tốt nhiều cuộc tổng hội thao đại đội giỏi toàn năng toàn Binh đoàn. Những thành tích huấn luyện trong 5 năm (1981- 1985) không những nâng cao sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đoàn mà còn trực tiếp đưa bộ đội vào thực hiện nếp sống chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, góp phần hoàn thành tốt các mục tiêu của cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' và cuộc vận động ''Toàn quân hành động theo điều lệnh''. ----------------------------------------------------------------- 1. Quân đoàn bộ và lực lượng trực thuộc đảm nhiệm khu vực thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình; Sư đoàn 10 đảm nhiệm hai huyện Phú Lương, Định Hóa; Sư đoàn 320 phụ trách khu vực huyện Đại Từ và sau đó là hai huyện Tam Đảo, Mê Linh; Sư đoàn 31 đảm nhiệm khu vực Võ Nhai; Lữ đoàn xe tăng 273 phụ trách khu vực Trại Cau, Trung đoàn pháo binh 40 đảm nhiệm khu vực Phố Cò, Gò Đầm, Trung đoàn công binh 7 đảm nhiệm khu vực La Hiên; các trường Hạ sĩ quan, Quân chính, Văn hóa hoạt động theo sự chỉ đạo phân công của các đơn vị chủ quản. 2. Lực lượng của Quân đoàn tham gia nhiệm vụ A85 gồm: 409 đồng chí thuộc khối bộ binh cơ giới, 82 đồng chí thuộc khôn PTR- 60BP với 34 xe Gát 66, 17 xe BMP-1, 17 xe PTR-60BP, 8 xe Uoát. 3. Lực lượng Quân đoàn tham gia diễu binh ở thành phố Thái Nguyên gồm 8 khối: 1 khối sĩ quan tay không (60 người), 2 khối hạ sĩ quan mang súng CKC (120 người), 1 khối xe tăng PT76 (8 chiếc), 1 khối bộ binh cơ giới và PTR-60BP (8 chiếc), 1 khối pháo binh BM-14 (6 dàn). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Tư, 2021, 04:11:14 pm * Không chỉ sẵn sàng chiến đấu cao, huấn luyện giới, Quân đoàn 3 còn lập nhiều thành tích trong công tác bảo đảm hậu cần và lao động, tăng gia sản xuất. Phát huy truyền thống tự lực cánh sinh, cần kiệm sáng tạo và những kinh nghiệm quý trong sản xuất làm kinh tế trước đây vào điều kiện, hoàn cảnh mới, trong 5 năm (1981 - 1985) Quân đoàn vừa bảo đảm tốt các nhu cầu hậu cần thường xuyên, vừa tạo dựng nên một cơ ngơi khang trang, sạch đẹp giữa núi đồi Việt Bắc. Hiểu rõ và chia sẻ những khó khăn chung của đất nước và địa phương, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy chỉ huy các đơn vị luôn làm tốt việc giáo dục động viên bộ đội quán triệt tốt nhiệm vụ xây dựng doanh trại, sản xuất lương thực, thực phẩm, kiên trì vượt qua trở ngại, phát huy thế mạnh, khai thác mọi tiềm năng sẵn có ở địa phương, vừa tích cực lao động sản xuất vừa thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí. Bên cạnh việc tách ngành Quân trang, Quân lương thành hai ngành độc lập trực thuộc chủ nhiệm hậu cần các cấp (12.1982), thành lập Phòng Kế hoạch Kinh tế và giải thể Phòng Sản xuất thuộc Cục Hậu cần, củng cố và lập các đơn vị sản xuất chuyên nghiệp (Đội chăn nuôi ở Phú Khánh, Đội chăn nuôi ở Quân Chu, Đội khai thác gỗ và xưởng cưa, xưởng may, Đội 84 khai thác than, Đội xây dựng cơ bản, Đội 85 sản xuất dược), Quân đoàn còn tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề về sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm, bảo đảm chất lượng bữa ăn cho bộ đội. Một số hình thức mới về sản xuất, làm kinh tế cũng ra đời như: trồng rừng, liên kết kinh tế với các đơn vị quốc doanh và địa phương, làm đường giao thông, xây dựng thủy điện nhỏ... đem lại hiệu quả bước đầu. Điểm nổi bật nhất và nhiều thành công của công tác hậu cần trong 5 năm (1981-1985) là xây dựng doanh trại và lao động sản xuất. Do tập trung xây dựng cơ bản đúng hướng, kết hợp chặt chẽ giữa tiềm năng, sức lao động của bộ đội với nguồn kinh phí quý giá của trên, tích cực khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, Quân đoàn đã xây dựng được 107.410m2 nhà lâu bền, 185.308m2 nhà quá độ, 130.979m2 nhà tạm, sửa chữa 431.844m2 nhà các loại; sản xuất được 47,5 triệu viên gạch nung, 1,655 triệu viên gạch không nung, 1,765 triệu viên ngói, 14.000 tấn than. Toàn Quân đoàn đã cơ bản có đủ nhà xe, nhà pháo, kho trạm xưởng và nhà ở, nhà ăn, hội trường, nơi sinh hoạt học tập cho bộ đội. Trong điều kiện đất đai đồi núi bạc màu, thời tiết khắc nghiệt, vốn đầu tư có hạn, nhưng Quân đoàn đã chọn được những cây, con phù hợp, liên tục nỗ lực bền bỉ sản xuất được: 1.132 tấn lương thực, 417,3 tấn thịt cá, 228 tấn đậu lạc 8.919 tấn rau xanh; xây dựng được hầu hết các bếp ăn tiểu đoàn đạt tiêu chuẩn 5 tốt, tổ chức được các khu giết mổ tập trung, sử dụng có hiệu quả các phương tiện vận tải sản xuất thô sơ, đẩy mạnh tăng gia quanh bếp quanh nhà, duy trì đàn gia súc, đàn lợn đàn gà, vườn rau ao cá, thực hiện nếp sống ăn ở vệ sinh, khoa học. Ngành quân y đã tích cực phòng chống dịch bệnh, điều trị được 64.907 lượt người, bảo đảm quân số khỏe đạt tỷ lệ từ 95% đến 97%. Bước đầu kết hợp đông, tây y vào phòng và chữa bệnh; sản xuất dược 27,9 tấn dược liệu các loại1. Tại hội chợ triển lãm kinh tế tỉnh Bắc Thái năm 1984, các mặt hàng rượu thuốc và cao do đội điều trị 3 sản xuất được khách hàng ưa chuộng và chính quyền địa phương rất hoan nghênh. Trong các năm 1981-1985, công tác kỹ thuật của Quân đoàn có những chuyển biến mới. Để bảo đảm đủ sức tiếp nhận, quản lý, khai thác, sử dụng mặt lượng rất lớn vũ khí, xe máy trang bị kỹ thuật hiện đại được giao, Cục Kỹ thuật Quân đoàn và cơ quan kỹ thuật các đơn vị, Trường Kỹ thuật2 tích cực khẩn trương đào tạo bồi dưỡng được 3.140 lượt cán bộ kỹ thuật, 18.000 lượt nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho các đơn vị. Với ngành Kỹ thuật và đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên môn làm nòng cốt, công tác kỹ thuật của Quân đoàn thu được nhiều thành tích: các kho đạn dược, nhà xe nhà pháo, khu kỹ thuật được xây dựng, hoạt động theo quy tắc chế độ nghiêm ngặt, mọi vũ khí xe máy trang bị kỹ thuật được tiếp nhận quản lý chặt chẽ, khai thác sử dụng đúng quy trình chế độ, giữ gìn bảo dưỡng sửa chữa tích cực thường xuyên. Hệ số kỹ thuật của xe ô tô, xe tăng, xe bọc thép luôn đạt từ 0,8 đến 0,97; các loại đúng pháo, khí tài đạt từ 0,8 đến 0,9. Phát huy truyền thống tự lực cần cù sáng tạo với tri thức và bàn tay người lính, người thợ cán bộ, chiến sĩ các trạm xưởng kỹ thuật đã sữa chữa hàng nghìn lượt xe máy, hàng vạn lượt khẩu súng; sản xuất hàng nghìn tiết phụ tùng chi các loại, 350 bộ vì kèo, 121 tủ sắt... phục vụ kịp thời cho các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng sản xuất, bảo đảm cơ động vận chuyển. Một thành công lớn của công tác kỹ thuật trong thời kỳ này là tiếp nhận, quản lý, đưa vào sử dụng hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, pháo phòng không tự hành hiện đại tại Sư đoàn bộ bút cơ giới 320. Để làm chủ và phát huy tính năng hiệu lực của các phương tiện vũ khí hiện đại quý giá mà ta chưa sản xuất được, trong khi không có chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 đã có những cố gắng rất lớn, vượt qua nhiều khó khăn thử thách và vượt lên chính bản thân mình. Sư đoàn vừa tích cực mở nhiều lớp chuyên môn kỹ thuật, vừa tổ chúc cho cán bộ đi các đơn vị bạn học tập nghiên cứu; sau một thời gian đã thành thạo sử dụng các loại vũ khí trang bị có trong biên chế. Riêng Trung đoàn phòng không 237 tích cực sửa chữa trang bị cũ, các xe Zờxu đã sử dựng chiến đấu trên nhiều chiến trường, vẫn phát huy tốt hiệu quả. Trong khi làm tốt các hoạt động bảo đảng kỹ thuật thường xuyên, ngành Kỹ thuật Quân đoàn luôn phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn, có nhiều sáng kiến có giá trị như: sản xuất thành công 6 bộ kẹp nòng pháo phòng không 37mm và 57mm, bộ dập khuôn bu lông và ê-cu đầu tròn làm tăng năng suất 1.600%, dùng động cơ điện thay máy nổ của máy hàn điện, cải tiến bộ rà nấm trơn, cải tiến bộ chiếu sáng pháo lựu 122mm dùng cho pháo 105mm. Với những thành tích xuất sắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chính quy trong hòa bình, Cục Kỹ thuật Quân đoàn đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng ba. -------------------------------------------------------------------- 1. Số liệu trích từ ''Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 1981-1986 và phương hướng nhiệm vụ mục tiêu nhiệm kỳ 1986 - 1990, tr.9. 2. Trường Kỹ thuật tách ra từ Trường Hậu cần - Kỹ thuật. Hiệu trưởng: thiếu tá Trần Đức Kiên, phó hiệu trưởng chính trị: thiếu tá Lê Hồng Kỳ. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Tư, 2021, 04:16:44 pm * Một trong những yếu tố quyết định thành công xây dựng Quân đoàn ''cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến'' trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc là công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò trong mọi hoạt động, mọi mặt công tác của toàn đơn vị. Quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, nhiệm vụ của Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị trên địa bàn chiến lược; hiểu rõ đất nước khó khăn, kẻ thù ráo riết cấm vận chống phá, gặm nhấm biên giới, phá hoại trong nội địa, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn; Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn kịp thời đề ra các chủ trương lãnh đạo sát đúng, xây dựng kế hoạch phương án cụ thể, kiên quyết linh hoạt sáng tạo lãnh đạo chỉ huy bảo đảm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các hệ thống tổ chức Đảng, chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp làm nòng cốt, vai trò của các tổ chức đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân và đội ngũ Cán bộ đảng viên; bằng nhiều hình thức hoạt động đa dạng phong phú trên các lĩnh vực trong mọi thời gian, đã giáo dục cho bộ đội thấu suốt nhiệm vụ, nhận rõ kẻ thù và đối tượng tác chiến, thấy được thuận lợi và khó khăn, kiên định lập trường, củng cố lòng tin, nâng cao cảnh giác cách mạng, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị, ở cấp Quân đoàn bỏ Đảng ủy Quân đoàn và sư đoàn, chỉ duy trì Đảng ủy cấp cơ sở đến chi bộ; bỏ hệ thống chính ủy, chính trị viên ở các cấp, biên chế chỉ huy phó về chính trị từ Quân đoàn đến đại đội. Ở cấp trung, lữ đoàn có bí thư Đảng chuyên trách. Thành lập hội đồng quân sự, hội đồng cơ quan chính trị ở cấp Quân đoàn và sư đoàn. Theo đó, cơ quan chính trị và cơ quan về Đảng từ Quân đoàn đến các đơn vị được sắp xếp kiện toàn theo đúng nguyên tắc của cơ chế lãnh đạo mới; giúp cho người chỉ huy thực hiện chức trách. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa người chỉ huy và cấp phó, người chỉ huy với Đảng ủy, tạo sự đoàn kết nhất trí cao; kịp thời khắc phục những hiện tượng lệch lạc khi chuyển sang thực hiện chế độ một người chỉ huy. Từ năm 1982, công tác đảng, công tác chính trị còn tập trung đi sâu vào quán triệt học tập nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V cho 27.338 cán bộ, chiến sĩ; các nghị quyết 3, 4 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị (về chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch), Nghị quyết 26 của Bộ chính trị (về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trên mặt trận quốc phòng - an ninh). Đặc biệt, khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 27/NQ-TW (4.7.1985) ''Về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng", Quân đoàn kịp thời khôi phục lại hệ thống Đảng ủy và chức năng cơ quan chính trị các cấp, giải thể các tổ chức hội đồng quân sự và hội đồng cơ quan chính trị. Nhằm động viên mọi nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, nhiều phong trào thi đua yêu nước được phát động. Nội dung thi đua bám sát vào 5 mục tiêu của cuộc vận động lớn "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động. Trong từng nhiệm vụ lớn đột xuất và nhân dịp các ngày lễ thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh nhật Bác Hồ, Quốc khánh, thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày truyền thống của đơn vị, đều có các đợt thi đua đột kích. Ngoài ra còn có các phong trào thi đua của các ngành, Đoàn thanh niên, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Nhìn chung các phong trào thi đua được tổ chức chặt chẽ, có giao ước thi đua trong từng khối sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn binh chủng, các nhà trường, cơ quan Quân đoàn do Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ trì và làm trọng tài, có chương trình mục tiêu rõ ràng, nội dung thiết thực, hình thức phong phú đa dạng, phát huy được chức năng của các tổ chức quần chúng, lôi cuốn đông đảo bộ đội tham gia, tạo nên khí thế thi đua sôi động, lành mạnh, tạo sự chuyển biến mọi mặt, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. Hàng năm, Quân đoàn và các đơn vị đều mở đại hội thi đua quyết thắng biểu dương những thành tích và tổng kết những kinh nghiệm quý trong một năm phấn đấu; đồng thời đề ra phương hướng nhiệm vụ phong trào thi đua trong năm tới. Đặc biệt, tại hội nghị thi đua quyết thắng tháng 4 năm 1982, có sự chứng kiến của đại diện Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng, đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên ''giao ước thi đua giành cờ luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng'' với Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2. Đây là một nét mới của phong trào thi đua quyết thắng của Binh đoàn Tây Nguyên và khối các quân đoàn chủ lực trên miền Bắc. Hiểu rõ ý nghĩa lớn của văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao trong đời sống văn hóa tinh thần bộ đội, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện cho các hoạt động trong lĩnh vực phong phú này. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, với lực lượng thanh mền làm nòng cốt, trong 5 năm (198l-1985) phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phát triển sôi nổi, rộng khắp từ đại đội đến Quân đoàn. Nhiều hội diễn nghệ thuật quần chúng được tổ chức, nhiều đợt thi đấu giao hữu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cờ tướng diễn ra. Hoạt động văn hóa văn nghệ và thể dục thể thao đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của người chiến sĩ. Năm 1983, toàn Quân đoàn đã có 15 đội tuyên truyền văn hóa không chuyên, 21 đội văn nghệ, 27 cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng sáng tác nhạc, 50 hạt nhân văn nghệ. Tính từ cấp trung đoàn trở lên đã có 127 đợt hội diễn văn hóa văn nghệ với 777 buổi, 1.705 tiết mục, trong đó có 1.112 tiết mục tự biên phục vụ bộ đội và nhân dân; đội văn nghệ quần chúng của Lữ đoàn xe tăng 273 có 5 tiết mục giành giải A và 6 tiết mục giành giải B trong hội diễn văn nghệ quần chúng Binh chủng Tăng Thiết giáp. Tháng 5 năm 1984 Đội nghệ thuật quần chúng của Quân đoàn được thành lập (lâm thời) có 30 nam, nữ diễn viên là các hạt nhân văn hóa, văn nghệ được điều động từ các đơn vị. Với sự hăng say lao động nghệ thuật của anh chị em trong đội và được sự giúp đỡ của các nghệ sĩ thuộc Tổng cục Chính trị, chỉ trong một thời gian ngắn Đội nghệ thuật đã hoàn thành dàn dựng một chương trình biểu diễn đặc sắc, tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quân (khu vực 3) năm 1984 đạt kết quả xuất sắc và phục vụ kỷ niệm 10 năm thành lập Quân đoàn (1985). Ngoài ra, Đội nghệ thuật quần chúng của Quân đoàn còn vào phục vụ đồng bào các tỉnh Tây Nguyên và Phú Khánh đạt kết quả tốt, được nhân dân và bộ đội nhiệt hệt hoan nghênh. Cùng thời gian này, đội tuyên truyền viên trẻ của Quân đoàn giành giải A trong đợt thi tuyên truyền viên trẻ toàn quân. Tại các đơn vị, phong trào văn hóa văn nghệ rất sôi động, trong đó Sư đoàn 10 Sư đoàn 31, Trung đoàn phòng không 234, Trường Quân chính, Cục Hậu cần là những đơn vị tiêu biểu, giành kết quả cao trong hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn Quân đoàn. Song song với các hoạt động trên, các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Binh đoàn Tây Nguyên thường xuyên bảo đảm cấp đến từng đại đội, kịp thời phục vụ bộ đội. Phong trào làm báo tường diễn ra rộng khắp, có tới 390 tờ báo tường, trên một vạn khẩu hiệu và hàng trăm tờ áp phích, bảng tin tuyên truyền ra đời và hoạt động hàng năm. Mặc dù điều kiện còn khó khăn, Quân đoàn vẫn tổ chức được trại viết văn, 17 truyện ngắn ra đời, có truyện giành được giải thưởng trong kỳ thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Hệ thống thư viện trong Quân đoàn được củng cố và ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ. Năm 1982 có 20 thư viện lớn nhỏ, 84 nhà câu lạc bộ với tổng số 74.500 cuốn sách các loại; hàng năm phục vụ 400.000 lượt người đọc. Quân đoàn, Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 xây dựng được nhà truyền thống. Mặc dù phát triển chưa thật đồng đều, chất lượng chuyên môn còn ở mức độ nhưng phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao của Quân đoàn trong những năm 1981-1985 là một cố gắng rất lớn, một tiến bộ vượt bậc, nó không những làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần, góp phần củng cố trận địa tư tưởng trong bộ đội, đấu tranh rất hiệu quả chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, mà còn tích cực rèn luyện cán bộ, chiến sĩ và hoàn thiện nhân cách quân nhân. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Cán bộ là cái gốc của mọi công việc'', trước yêu cầu nhiệm vụ mới và đối tượng tác chiến mới, Quân đoàn thường xuyên coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhằm bảo đảm đủ về số lượng, có chất lượng ngày càng cao, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt vừa chuẩn bị theo hướng cơ bản lâu dài. Nắm chắc đặc điểm đội ngũ cán bộ từ chiến đấu chuyển sang xây dựng chính quy: hầu hết cán bộ từ cơ sở phát triển lên đã được rèn luyện qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trẻ khỏe giàu nhiệt huyết cách mạng, ít nhiều có kinh nghiệm thực tiễn; nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ''ít được học tập cơ bản nên trình độ tổ chức chỉ huy và lãnh đạo tập trung thống nhất có những mặt còn chưa đáp ứng yêu cầu mới''1. Vì vậy, cùng với quy hoạch cán bộ 5 năm (1981 - 1985) và sắp xếp sử dụng cán bộ hàng năm phù hợp khả năng sở trường của mỗi đồng chí, Quân đoàn còn tích cực mở rộng, nâng cao năng lực đào tạo bổ túc của Trường Quân chính, Trường Đảng - Văn hóa, Trường Hạ sĩ quan, Trường Hậu cần, Trường Kỹ thuật và cử nhiều cán bộ đi tu nghiệp nâng cao trình độ ở các trường của Bộ và nước ngoài. Năm 1980, toàn Quân đoàn chỉ có gần 68% tổng số cán bộ đã qua đào tạo bổ túc, thì đến năm 1985 đã có 92,94% số cán bộ qua trường, trong đó có 30,8% được đào tạo cơ bản; hầu hết cán bộ trung, cao cấp và cán bộ chủ trì các cấp được học tập theo kế hoạch. Trong khi tích cực đào tạo cán bộ theo hướng cơ bản tại các trường, Quân đoàn luôn coi trọng khâu bồi dưỡng học tập tại chức, tại đơn vị, động viên cán bộ tự học tập nâng cao kiến thức; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục động viên tư tưởng với công tác tổ chức, lấy kết quả công tác làm thước đo đánh giá cán bộ. Ngoài ra, Quân đoàn còn tích cực giúp đỡ cán bộ giải quyết khó khăn hậu phương gia đình, nhất là các đồng chí có quê ở Quân khu 4 khi gặp thiên tai bão lụt, lúc giáp hạt gặp nhiều khó khăn. Do làm tốt công tác quản lý, sử dụng, bồi dưỡng, tạo nguồn nên trong 5 năm, Quân đoàn đã xây dựng được đội ngũ cán bộ cơ bản có đủ số lượng, cơ cấu cân đối, chất lượng ngày một cao, phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ quân sự thành thạo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đủ sức hoàn thành chức trách nhiệm vụ, thực sự làm nòng cốt xây dựng Binh đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, sẵn sàng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Theo yêu cầu nhiệm vụ, trong thời gian từ 1981-1985, Bộ tư lệnh Quân đoàn có một số thay đổi. Ngày 20 tháng 12 năm 1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ra quyết định điều động Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước (tư lệnh Quân đoàn 3) làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 4; đại tá Khuất Duy Tiến (phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn) được bổ nhiệm làm tư lệnh Quân đoàn 3. Cũng trong thời gian này, đại tá Bùi Đình Hoè - quyền tư lệnh Quân đoàn được điều động về Bộ tư lệnh Quân khu Thủ đô, đại tá Phạm Duy Tân (phó tư lệnh quân sự Quân đoàn 1) được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 3. Cuối năm 1984, đại tá Đinh Xuân La (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn; đại tá Phạm Duy Tân làm phó tư lệnh quân sự. Cuối năm 1985 Thiếu tướng Hà Quốc Toàn (chủ nhiệm chính trị Quân đoàn) được bổ nhiệm làm phó Tư lệnh về chính trị2 Quân đoàn. Cùng thời gian này, các cơ quan Quân đoàn cũng có những thay đổi. Tại Bộ Tham mưu, các đồng chí đại tá Vũ Đình Thước, đại tá Đinh Dung (phó tham mưu trưởng) được trên điều động về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao; đại tá Nguyễn Ngọc Ánh và đại tá Trương Văn Việt được bổ nhiệm làm phó tham mưu trưởng Quân đoàn. Ở Cục Chính trị, đại tá Nguyễn Đằng (chủ nhiệm chính trị) được bầu làm trưởng ban kiểm tra Đảng Quân đoàn, đại tá Trần Giang (phó chủ nhiệm chính trị) được điều động về Học viện Quân sự cấp cao; đại tá Đặng Công Toàn làm phó chủ nhiệm chính trị và đại tá Tiêu Văn Mẫn (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 320) được bổ nhiệm lầm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn. Cục Hậu cần, đại tá Nguyễn Duy Khâm (phó sư đoàn trưởng, chủ nhiệm hậu cần Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm cục trưởng, thượng tá Bùi Văn Hoè được bầu làm Bí thư Đảng ủy Cục Hậu cần. Cục Kỹ thuật, đại tá Lê Hồng Thái được bổ nhiệm làm cục trưởng. Nhận thức rõ mọi thắng lợi của Binh đoàn, trước hết đều bắt nguồn tự sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Quân, đoàn vững mạnh toàn diện phải gắn liền với xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, nên trong suốt 5 năm (1981-1985) Đảng bộ Quân đoàn được tập trung xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu. Thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với Quân đội, các cấp ủy Đảng nhanh chóng được kiện toàn, những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, lỏng lẻo trong lãnh đạo được đấu tranh khắc phục kịp thời. Công tác xây dựng Đảng đã tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng, lấy xây dựng chi bộ đại đội là khâu then chốt, chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên, đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra, làm cho các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên trưởng thành nhanh chóng. Năm 1981 toàn Đảng bộ chỉ có 6% tổ chức cơ sở Đảng và 26% tổng số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, đến năm 1985 tỷ lệ này đã tăng lên 15% và 34%. Thông qua việc bồi dưỡng, học tập sinh hoạt, tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên và phát thẻ đảng viên (năm 1980, 1981), đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ Quân đoàn được nâng cao nhận thức và năng lực toàn diện, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng và bản chất giai cấp công nhân, chủ động nhạy bén nắm bắt và phân tích tình hình kịp thời, cùng tập thể cấp ủy Đảng đề ra biện pháp lãnh đạo sát đúng, vừa là người lãnh đạo vừa là người tiền phong gương mẫu trong mọi mặt hoạt động của đơn vị. Năm 1982, khi tổng kết phát thẻ đảng viên, tỷ lệ đảng viên đạt tiêu chuẩn tiền phong gương mẫu chỉ đạt 11,6%, nhưng đến năm 1985 tỷ lệ này đã lên đến 58%. Quá trình xây dựng, Đảng bộ vừa tích cực rèn luyện bồi dưỡng nâng cao phẩm chất năng lực đội ngũ đảng viên, vừa kiên quyết đưa ra khỏi Đảng 520 người không còn đủ tiêu chuẩn; đồng thời kết nạp được 7.253 đảng viên mới. Trong điều kiện số đảng viên liên tục biến động hàng năm tới 25% 3, việc thường xuyên làm tốt công tác phát triển Đảng, kịp thời bổ sung cho Đảng những đoàn viên ưu tú, bước đầu được rèn luyện thử thách qua thực tiễn, giàu nhiệt huyết cách mạng, có trình độ văn hóa ngày càng cao, có uy tín trong quần chúng không chỉ đem lai cho các tổ chức Đảng nguồn sinh lực mới, tạo nên những thế hệ lãnh đạo kế tiếp nhau theo hướng cơ bản lâu dài mà còn giữ vững được các chi bộ ở đại đội. Luôn ý thức rõ mối quan hệ quân dân cá nước, tình yêu nhân dân, yêu quê hương đất nước, là nguồn sức mạnh, là động lực tinh thần to lớn của người chiến sĩ; vì vậy Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn, cấp ủy chỉ huy các cấp thường xuyên coi trọng nhiệm vụ vận động quần chúng. Quân đoàn và các đơn vị thuộc quyền thường xuyên chủ động quan hệ chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang địa phương, các đoàn thể xã hội, công trường xí nghiệp, nhân dân khu vực đóng quân và làm nhiệm vụ. Hàng chục hội nghị cụ thể hóa các hoạt động đoàn kết quân dân giữa các đơn vị trong Quân đoàn với địa phương được tổ chức; gần 70 đơn vị bộ đội kết nghĩa với các xã, nông trường, xí nghiệp, trường học ở các tỉnh Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Bắc và Thủ đô Hà Nội. Thông qua các hoạt động phong phú như: hiệp đồng theo các phương án bảo vệ địa bàn, giao ban nắm tình hình và thống nhất giải quyết công việc hữu quan, kết nghĩa, giao lưu tương trợ giúp đỡ, liên kết liên doanh làm kinh tế, giao thông, thủy lợi... đã làm cho nội dung đoàn kết ''quân dân một ý chí'' ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực. Từ năm 1981 đến năm 1985, các lực lượng của Quân đoàn đã phối hợp chặt chẽ với địa phương nắm vững tình hình địa bàn và mọi hoạt động của các đối tượng phản động; tích cực, chủ động tiến công và phòng ngừa, vô hiệu hóa nhiều hoạt động của chúng, thu giữ hàng trăm khẩu súng và các loại vũ khí khác tàng trữ trái phép, thu hồi hàng chục kilômét dây điện thoại bị cắt phá; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm cuộc sống lao động bình yên cho nhân dân. Sự hiện diện và sẵn sàng chiến đấu cao của Quân đoàn 3 - một binh đoàn chủ lực cơ động dự ịi chiến lược của Bộ là sự răn đe mạnh đối với những lực lượng phản động trên địa bàn. Tuy rất bận rộn trong các hoạt động thường xuyên và làm nhiệm vụ đột xuất khác, nhưng Quân đoàn vẫn dành một lượng lớn nhân lực và vật lực, tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và củng cố sở địa phương. Trong 5 năm (1981-1985), Quân đoàn đã huy động hơn 10 vạn công giúp địa phương làm thủy lợi, phát triển sản xuất, trồng rừng, khắc phục hậu quả bão lụt và chống hạn; 60km đường được sửa chữa, 7km đường và 2 cầu, 2 ngầm được làm mới; hàng chục trạm xá, phòng học được xây dựng, hàng trăm bộ bàn ghế được tặng cho các xã, hàng ngàn lượt người dân được kịp thời cấp cứu chữa bệnh; hàng trăm buổi chiếu phim và liên hoan văn nghệ quân dân được tổ chức phục vụ hàng chục vạn lượt người dân, hàng chục trận thi đấu giao hữu thể dục thể thao giữa bộ đội và thanh niên địa phương đã diễn ra. Nổi bật nhất là việc Quân đoàn huy động gần 4 vạn ngày công tham gia xây dựng hệ thống công trình thủy lợi hồ Núi Cốc, đưa trên 2.000 héc-ta lúa từ một vụ lên hai vụ và mở rộng diện tích sản xuất của các nông trường chè Sông Cầu và Quân Chu được địa phương đánh giá cao. Phát huy tiềm năng sẵn có và thường xuyên đúc rút kinh nghiệm công tác dân vận, Quân đoàn đã cử cán bộ giúp 50 xã củng cố các đoàn thể, huấn luyện quân sự cho hàng vạn lượt dân quân tự vệ và học sinh, bồi dưỡng 113 cán bộ đoàn, đào tạo 136 y tá; tuyên truyền truyền thống cách mạng cho hàng vạn lượt người, tổ chức 8 chuyến xe ca đưa 395 cán bộ lão thành và gia đình có công với cách mạng đi viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam; thăm hỏi tặng quà giúp đỡ hàng trăm gia đình liệt sĩ thương binh, dạy múa hát và quyên góp nhiều tiền, tặng quà cho học sinh nhân ngày khai trường và các cháu thiếu niên nhi đồng trong dịp Tết Trung thu và ngày 1 tháng 6 hàng năm: Tiêu biểu cho nhiệm vụ đoàn kết quân dân là Sư đoàn bộ binh 31. Từ một đơn vị lúc đầu để xảy ra vụ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng trong quan hệ quân dân ở hai xã Phúc Tiến và Vũ Sơn huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn (22.11.1981), Sư đoàn đã kiên quyết khắc phục khuyết điểm, làm tốt công tác dân vận, trở thành lá Cờ đầu về vận động quần chúng, xây dựng vành đai an toàn trong nhiều năm liền của Binh đoàn Tây Nguyên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái tặng Bằng khen. Những cố gắng liên tục và kết quả thiết thực của các hoạt động đoàn kết quân dân trong nhiều năm của Quân đoàn, đã góp phần quan trọng vào xây dựng hậu phương chiến lược trực tiếp, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân trên hướng chiến lược trọng yếu phía Bắc Tổ quốc, thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. ----------------------------------------------------------------- 1. Trích văn bản: "Hội nghị cán bộ định kỳ đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất", tr.5. 2. Đồng chí Hà Quốc Tỏan được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh về chính trị Quân đoàn 3 từ cuối năm 1979, sau đó thực hiện theo cơ chế 07 làm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn. 3. Trong 5 năm (1981-1995) sốđảng viên thuyên chuyển khỏi Quân đoàn là 7.471 đồng chí. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Tư, 2021, 04:25:13 pm * Bên cạnh những thành tích toàn diện trong công tác sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, hậu cần - kỹ thuật, công tác đảng, công tác chính trị và dân vận; một hoạt động rất sôi động và thành công lớn của Quân đoàn trong nửa đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX là kỷ niệm 10 năm thành lập Binh đoàn Tây Nguyên (26.3.1975 - 26.3.1985). Xác định rõ ý nghĩa rất lớn và tầm quan trọng của hoạt động kỷ niệm trong việc giáo dục, phát huy truyền thống anh hùng của Quân đoàn trong cán bộ, chiến sĩ và tuyên truyền trong nhân dân, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn lãnh đạo tổ chức triển khai từ rất sớm. Ngày 8 tháng 6 năm 1982, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức hội nghị bàn về các nội dung cụ thể chuẩn bị cho kỷ niệm 10 năm thành lập Quân đoàn. Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Quốc Thước (tư lệnh Quân đoàn), Hà Quốc Tỏan (phó tư lệnh về chính trị), Bùi Đình Hoè (phó tư lệnh Tham mưu trưởng), Khuất Duy Tiến (phó tư lệnh), Nguyễn Đằng (chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn), Nguyễn Văn Thụ (phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn) và một số cán bộ các phòng Doanh trại, Công binh, tổ chức động viên, Cán bộ, Tuyên huấn, Truyền thống, Tài vụ. Hội nghị đã quyết định tập trung mọi cố gắng của Quân đoàn vào xây dựng khu văn hóa - truyền thống, nghiên cứu biên soạn xuất bản cuốn lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên tập 2 và bộ phim truyền thống Quân đoàn; giao cho đại tá Khuất Duy Tiến làm trưởng ban chỉ đạo, trực tiếp phụ trách nhiệm vụ quan trọng này. Một năm sau (6.6.1983), các lực lượng trực tiếp xây dựng công trình truyền thống, viết lịch sử và làm phim được thống nhất thành ''Tổ chức công trình 26.3'' do trung tá Nông Quang Lộc - chủ nhiệm công binh Quân đoàn làm chỉ huy trưởng và các đồng chí trung tá Trần Hồng (trưởng Ban Truyền thống - phim), trung tá Đinh Ngãi (trưởng Ban Lịch sử) làm phó chỉ huy trưởng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp, một phong trào thi đua rất sôi nổi, sâu rộng lập thành tích chào mừng 10 năm thành lập Quân đoàn với các nội dung chỉ tiêu cụ thể, đóng góp xây dựng công trình 26.3 được phát động trong toàn thể cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên. Hàng triệu viên gạch hồng, hàng ngàn xe cát, hàng trăm mét khối gỗ kết tinh công sức và mang theo tình cảm của bộ đội nhanh chóng đưa đến công trình xây dựng khu lưu niệm ở xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái; được bàn tay tài hoa của những người lính - người thợ nhanh chóng tạo thành tượng đài, nhà rông, nhà triển lãm. Được tin Binh đoàn Tây Nguyên chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập, với tình cảm sâu nặng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân các tỉnh Tây Nguyên cử nhiều đoàn đại biểu đến động viên, thăm hỏi và góp của góp công giúp đỡ Quân đoàn trong suốt quá trình chuẩn bị. Tại Hội nghị liên tịch ngày 16.12.1983 ở sở chỉ huy Quân đoàn, Anh hùng Đinh Núp - Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Gia Lai - Kon Tum1 và các đồng chí Nguyễn Xuân Nguyên - Phó Bí thư Tỉnh ủy, YBLốc- Tỉnh ủy viên, nguyên Chủ tịch tỉnh, Nguyễn An Vinh - Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc2 thay mặt cho nhân dân Tây Nguyên tặng Quân đoàn 3 ''Nhà lưu niệm Tây Nguyên'' và nhiều gỗ quý, đồng thời cử cán bộ chuyên môn giúp đỡ thi công. Qua gần 2 năm xây dựng, Quân đoàn đã sử dụng hàng vạn ngày công lao động của bộ đội và một khối lượng vật tư rất lớn để xây dựng Khu Văn hóa truyền thống, bao gồm: 96.317kg sắt thép, 313.737kg xi măng, 525.688 viên gạch chỉ, 36.000 viên gạch lát nền, 450 viên gạch hoa, 5.000 viên gạch lát mái, 7.370 viên ngói Sông Cầu, 228 viên ngói xi măng, 215 viên ngói bò, 84 tấn vôi, 158m3 gỗ nhóm 6 và 7, 56m3 gỗ từ tỉnh Gia Lai - Kon ,Tum, Đắc Lắc đưa ra; 423,3m3 sỏi, 890m3 cát, 29.962kg đá trang trí; 99,5 ste củi; 122.872kg than, 3.198 cây tre, 1.163kg sơn các loại 490kg que hàn. Tổng chi phí xây dựng Khu Văn hóa truyền thống: 6.947.952 đồng3. Ngày 25.3.1985 Khu Văn hóa truyền thống Binh đoàn Tây Nguyên đã cơ bản hoàn thành và kịp thời phục vụ kỷ niệm 10 năm thành lập Quân đoàn. Đây là một quần thể kiến trúc văn hóa bao gồm: Nhà trưng bày chính (nhà Triển lãm - nhà Văn hóa truyền thống), tượng đài ''Chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên'', Nhà lưu niệm tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Nhà lưu niệm tỉnh Đắc Lắc, xen kẽ và bao quanh là khu vườn cây xanh rộng khỏang 2,2 héc-ta. + Nhà trưng bày chính: (nhà Triển lãm - nhà Văn hóa truyền thống) xây dựng tại trung tâm Khu Văn hóa truyền thống. Có diện tích xây dựng 567m2, diện tích sử dụng 320m2, do Công trình 26-3 thi công, kinh phí: 2.547.130 đồng. Tại đây trưng bày các hiện vật, tập ảnh, phim, tài liệu, sa bàn... về quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Tây Nguyên - Quân đoàn 3. Tổng số hiện vật: 304 loại (có 52 loại về địch), ảnh truyền thống các cỡ: 130 chiếc, phim (ảnh) lưu: 2.200 chiếc, ảnh lưu: 9 cuốn; nhiều bức điện, thư tay của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các bằng chứng nhận đơn vị anh hùng, quyết định tặng thưởng huân chương, các bức trướng. Nhà trưng bày đã khái quát bằng hình ảnh, hiện vật về lịch sử anh hùng của lực lượng vũ trang Tây Nguyên - Quân đoàn 3 trong thời gian từ năm 1964 đến năm 1985. + Tượng đài ''Chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên"4: được xây dựng trước Khu Văn hóa truyền thống, nhìn về hướng nam, phía trước tượng đài là sân vận động của Quân đoàn. Tượng đài kết cấu theo hình cung tên. Chiều cao toàn bộ tượng đài: 16,68m, cánh cung rộng 13m, đặt trên sân hình bán nguyệt đường kính 70m. Thân đài tiết diện hình thang cân, phía trước là tượng, phía sau đưa ra hình mái nhà rông, xung quanh là các bức tường trang trí Tượng đài ''Chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên'' thể hiện tính chất tưởng niệm, biểu dương công tích của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang Tây Nguyên - Quân đoàn 3, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với Quân đoàn; đồng thời toát lên tinh thần lạc quan, khí phách anh hùng, ý chí gang thép, sức mạnh vươn lên của Quân đoàn. + Nhà lưu niệm tỉnh Gia Lai - Kon Tum5: được xây dựng trong Khu Văn hóa truyền thống Quân đoàn, là quà tặng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum cho Quân đoàn 3, nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Quân đoàn. Đây là nhà rông, khẩu độ không lớn nhưng mái nhà cao, có kết cấu bê tông chịu lực vững chắc, là công trình vĩnh cửu, có yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật cao. Trong nhà, trưng bày các hình ảnh, hiện vật, phù điêu giới thiệu về nhân dân Tây Nguyên với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội; hình ảnh về địa lý tự nhiên, sản vật, văn hóa các dân tộc ở Gia Lai - Kon Tum; Hình ảnh của quân và dân trong tỉnh tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; một số thành tựu về xây dựng chủ nghĩa xã hội. + Nhà lưu niệm tỉnh Đắc Lắc6: được xây dựng trong Khu Văn hóa truyền thống của Quân đoàn, là quà tặng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Đắc Lắc cho Quân đoàn 3, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Quân đoàn. Nhà lưu niệm tỉnh Đắc Lắc có kiến trúc đẹp, bền vững, có hồ cảnh trước nhà. Bên trong, trưng bày các hình ảnh và một số hiện vật giới thiệu địa lý tự nhiên, sản vật và văn hóa truyền thống các dân tộc trong tỉnh, giới thiệu thành tích chiến đấu của quân và dân Đắc Lắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ những thành quả sản xuất và bảo vệ quê hương sau chiến tranh. Cùng với Khu Văn hóa truyền thống, cuốn sách "Binh đoàn Tây Nguyên tập 2" do Cục Chính trị Binh đoàn Tây Nguyên xuất bản và bộ phim truyền thống Binh đoàn Tây Nguyên do Điện ảnh Quân đội nhân dân hợp tác với Quân đoàn 3 xây dụng cũng hoàn thành, kịp thời đưa vào sử dụng. Tại các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, các nhà trường, bệnh viện, cơ quan Quân đoàn, nhiều công trình văn hóa, thể dục thể thao, nhà xưởng, khu sản xuất kinh tế cảnh quan môi trường chào mừng 10 năm thành lập Quân đoàn cũng lần lượt được nghiệm thu đưa vào hoạt động, tạo ra bộ mặt mới trong các doanh trại. Ngày 26 tháng 3 năm 1985, lễ kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập Binh đoàn Tây Nguyên diễn ra trọng thể tại Quân đoàn bộ ở xã Thượng Đình, huyện Phú Bình tỉnh Bắc Thái. Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật; Thủ trưởng các quận khu, quân đoàn, binh chủng và đại biểu Đảng bộ, chính quyền các tỉnh Bắc Thái, Gia Lai - Kon Tum, Đắc Lắc, thành phố Thái Nguyên..., chỉ huy các đơn vị cơ quan, nhà trường trong toàn Quân đoàn và lãnh đạo chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 qua các thời kỳ. Trong thời gian này, ở các đơn vị trong toàn Quân đoàn cũng diễn ra các hoạt động phong phú chào mừng ngày lịch sử trọng đại của Binh đoàn. Đây là một hoạt động sôi động nhất, rộng rãi nhất, mang nhiều nội dung ý nghĩa của Quân đoàn trong giai đoạn đứng chân và làm nhiệm vụ ở phía Bắc Tổ quốc. Kết quả to lớn và dư âm của nó còn phát huy tác dụng mãi về sau. Năm năm làm nhiệm vụ xây dựng chính quy nâng cao sức mạnh chiến đấu trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ, tạo điều kiện, đoàn kết hiệp đồng của các cơ quan Bộ và đơn vị bạn, sự cưu mang đùm bọc hết lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên đã phát huy cao độ truyền thống "Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, tự lực" vượt qua bao khó khăn thử thách, nỗ lực phấn đấu vươn lên lập nhiều thành tích xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều đơn vị, cơ quan và cá nhân trong Binh đoàn lập thành tích xuất sắc, trong đó Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Cục Hậu cần Quân đoàn được tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Cục Kỹ thuật Quân đoàn được tặng Huân chương Quân công hạng ba, Sư đoàn 31 được tặng cờ thưởng luân lưu của Bộ Quốc phòng. Kết quả 5 năm xây dựng Binh đoàn Tây Nguyên theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến trên địa bàn chiến lược phía Bắc Tổ quốc không chỉ có ý nghĩa góp phần răn đe đối với các thế lực thù địch chống phá đất nước ta mà còn là cơ sở để Quân đoàn 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. ----------------------------------------------------------------- 1. Nay là hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. 2. Nay là tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Đắc Nông. 3. Trong đó các đơn vị trong Quân đoàn đóng góp: 4.018.001,81 đồng; tỉnh Gia Lai Kon Tum tặng: 1.000.000 đồng; tỉnh Đắc Lắc tặng 1.000.000 đồng; tiền bán phim truyền thống cho phát hành phim quân đội: 382.385,25 đồng. 4. Tác giả tượng đài: Nhà điêu khắc Trịnh Dân. Thiết kế, thi công tại Xưởng mỹ thuật Quân đội; Quân đoàn 3 xây phần móng và bệ đài, sau lắp ráp lại. Công ty xây dựng Bắc Thái trát đá rửa; hợp tác xã 751 liên xã xây dựng Hà Nội làm đá mài granitô. Vật liệu xây dựng tượng đài: 72 tấn xi măng, 11 tấn thép, 25.400 viên gạch... Tổng chi phí: 1.153.445 đồng. Thời gian tồn tại của tượng đài theo thiết kế là 100 năm. 5. Nhà do tỉnh Gia Lai - Kon Tum thiết kế, công ty xây dựng tỉnh Bắc Thái thi công. Diện tích: 200m2, vật tư sử dụng: 36 tấn xi măng, 19 tấn thép, 42.350 viên gạch chỉ, 114m3 cát; 8,4 tấn vôi. Tổng kinh phí: 789.729 đồng. 6. Nhà do tỉnh Đắc Lắc thiết kế, công ty xây dựng tỉnh Bắc Thái thi công. Diện tích: 230m2, vật tư sử dụng: 69 tấn xi măng, trên 22 tấn thép, 18m3 đá hộc, 51.550 viên gạch chỉ, 1.950 viên đá chẻ, 21 tấn vôi. Tổng kinh phí: 1.102.137 đồng. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Năm, 2021, 06:46:46 am 3. Vừa tích cực chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, vừa đẩy mạnh xây dựng Quân Đoàn vững mạnh toàn diện.
Đầu năm 1985, cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên tuyến biên giới phía Bắc Tổ quốc diễn ra rất quyết liệt, trong đó địa bàn Quân khu 2 đảm nhiệm là một trọng điểm. Để hỗ trợ cho quân và dân trên mặt trận biên giới tỉnh Hà Tuyên giữ vững biên cương, cuối tháng 2 năm 1985 Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh điều động một số phân đội bộ binh và pháo binh thuộc Quân đoàn 3 tăng cường cho Quân khu 2. Chấp hành mệnh lệnh trên, Quân đoàn 3 lần lượt đưa Tiểu đoàn bộ binh 8 (thuộc Trung đoàn 977) và Tiểu đoàn pháo binh 11 (thuộc Trung đoàn 4) Sư đoàn 31 đi phối thuộc với đơn vị bạn, bảo đảm đúng thời gian, địa điểm quy định, nhanh gọn, an toàn. Do được chuẩn bị chu đáo, mang theo một cơ số đạn và nửa tháng lương thực, các tiểu đoàn đến nơi bước vào chiến đấu được ngay trên hướng Hoàng Su Phì và Xín Mần. Tiếp đó, cũng vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1985, Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 10 sẵn sàng cơ động chiến đấu và giao nhiệm vụ cho Trung đoàn công binh 7 thi công mở rộng 26km đường Quyết Thắng đoạn từ Yên Lập đến Na Hang bảo đảm cơ động pháo 130mm dễ dàng và bàn giao cho Binh đoàn 12. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới và thực hiện quyết định (số 146/QĐ) của Tổng Tham mưu trưởng điều động Tiểu đoàn 2 xe tăng T54b thuộc Lữ đoàn xe tăng 273 về trực thuộc Bộ tư lệnh 479 Quân khu 7; trung tuần tháng 9 năm 1985, Quân đoàn tổ chức cơ động Tiểu đoàn 2 xe tăng gồm 211 cán bộ, chiến sĩ, 22 xe tăng và 10 xe khác từ tỉnh Bắc Thái vào ga Sóng Thần, rồi đi đến Xiêm Riệt bàn giao đầy đủ cho Trung đoàn 415 Mặt trận 479 đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Cam-pu-chia. Ngay sau khi Tiểu đoàn 2 lên đường, Quân đoàn quyết định điều động một số đại đội của các tiểu đoàn khác thuộc Lữ đoàn xe tăng 273 xây dựng một tiểu đoàn xe tăng mới vẫn lấy tên là Tiểu đoàn 2; đồng thời tiếp nhận xe tăng tại cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng) trang bị đầy đủ và tổ chức huấn luyện phân đội mới này. Cũng trong thời gian này, một đoàn công tác (gồm 10 đồng chí) của Quân đoàn do trung tá Lê Nhược (phó hiệu trưởng Trường Quân chính làm trưởng đoàn) lên đường sang nước bạn Lào giúp Sư đoàn 2 Quân đội nhân dân Lào tổ chức và xây dựng một trường đào tạo hạ sĩ quan. Tháng 9 năm 1985, Quân đoàn được lệnh chuẩn bị cơ động toàn bộ Sư đoàn bộ binh 31 đi phối thuộc cho Quân khu 2 chiến đấu bảo vệ biên giới. Nhiệm vụ cụ thể của Sư đoàn bộ binh 31 là thay phiên phòng ngự cho Sư đoàn bộ binh 313 và Sư đoàn bộ binh 356 trên tuyến biên giới thuộc huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Tuyên1. Quá trình làm nhiệm vụ chiến đấu, Sư đoàn 31 do Quân khu 2 đảm nhiệm chỉ huy tác chiến, bảo đảm kỹ thuật, đạn dược, thương binh, tử sĩ; được Quân đoàn 3 bảo đảm hậu cần và cơ động lực lượng. Sau 6 năm xây dựng chính quy trong hòa bình, đây là lần đầu tiên Quân đoàn đưa một lực lượng lớn đi chiến đấu ở phía Bắc, nên có nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng không ít trở ngại. Sư đoàn 31 là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được xây dựng chính quy trong một thời gian dài. Cán bộ, chiến sĩ phát huy truyền thống và điều kiện thuận lợi, ra sức khắc phục khó khăn, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nhiều năm là lá cờ đầu trong Quân đoàn. Đội ngũ cán bộ từ cấp đại đội trở lên hầu hết đã trải qua chiến đấu, lại được đào tạo bổ túc tại các trường trong và ngoài Quân đoàn, thường xuyên được tập huấn, rèn luyện qua thực tiễn và được phổ biến kinh nghiệm tác chiến bảo vệ biên giới của các đơn vị bạn... nên trình độ năng lực lãnh đạo chỉ huy đã nâng cao một bước. Hầu hết cán bộ tiểu đội, trung đội đã đào tạo cơ bản, đảm đương được nhiệm vụ theo chức trách. Chiến sĩ vừa được huấn luyện chặt chẽ theo chương trình quy định vừa thường xuyên được giáo dục và rèn luyện theo hướng chiến đấu ở địa hình rừng núi phía Bắc, ai cũng phấn khởi tự tin thấy rõ vinh dự và trách nhiệm được thay mặt cho Quân đoàn đi chiến đấu bảo vệ biên cương. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, trước yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu Sư đoàn củng còn nhiều khó khăn. Do tổ chức biên chế rút gọn, tuy có đủ 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo , binh và các phân đội trực thuộc nhưng cán bộ, chiến sĩ còn thiếu nhiều so với quy định. Trung đoàn 866 là đơn vị sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn nhưng cũng chỉ có 60% quân số Trung đoàn 977 huấn luyện chiến sĩ mới chỉ đủ nhân cốt, Trung đoàn 922 rút gọn thành khung huấn luyện quân dự bị, Trung đoàn pháo binh 4 đã tăng cường gọn 1 tiểu đoàn cho Quân khu 2. Là đơn vị chủ lực, Sư đoàn 31 thường xuyên huấn luyện theo hướng chiến đấu hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch; nay trước đối tượng tác chiến mới, địa hình núi đá phức tạp, thế phòng ngự cài răng lược, đánh nhỏ lẻ và chiến thuật phân đội nhỏ là chính, trong thế trận chiến tranh nhân dân nên phải có thời gian để chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị vật chất và tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Cùng với những vấn đề trên, việc thực hiện cơ chế lãnh đạo ở Sư đoàn 31 vẫn chưa ổn định, tỷ lệ đảng viên trong các phân đội chiến đấu thấp 2 và những khó khăn của nền kinh tế - xã hội đang ở giai đoạn cực kỳ gay gắt thường nhật tác động không nhỏ đến tâm tư tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Hiểu rõ những thuận lợi và khó khăn của Sư đoàn 31 và Quân đoàn 3, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan Bộ rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt. Ngày 17 tháng 9 năm 1985, Đảng ủy Quân sự Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy Sư đoàn 31 và chỉ định 9 đồng chí vào Đảng ủy Sư đoàn, gồm: Bí thư Nguyễn Đắc Giáp, phó Bí thư Trần Tất Thanh, các ủy viên: Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Văn Dự, Nguyễn Văn Bạ, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Văn Phú, Phạm Văn Đới. Tiếp đó, từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 10 Tổng cục Hậu cần kiểm tra toàn diện công tác bảo đảm hậu cần của Quân đoàn 3, đặc biệt quan tâm tới các mặt chuẩn bị cho Sư đoàn 31 lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu tại Vị Xuyên. Sau khi trực tiếp kiểm tra cụm kho Quân đoàn 3, sư đoàn 31, Trung đoàn 866, Trung đoàn 977, Tiểu đoàn vận tải ô tô 827, Đội điều trị 3..., Đoàn kiểm tra kết luận: ''Tổng cục thấy Quân đoàn đang có nhiều cố gắng làm tốt công tác chuẩn bị cho Sư đoàn 31. Đồng chí tư lệnh Quân đoàn và các đồng chí chỉ huy Sư đoàn 31, các trung đoàn, tiểu đoàn trong sư đoàn đều có nhiều ý kiến phong phú, sáng tạo để chỉ đạo hậu cần đơn vị, đồng thời đã đề ra nhiều biện pháp tích cực chủ động cho đơn vị triển khai các mặt bảo đảm hậu cần''3. Nhằm củng cơ Sư đoàn 31 có đủ điều kiện đi chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 1 1 năm 1985, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ đơn vị mọi mặt. Các đơn vị bạn trong Quân đoàn cũng tích cực chi viện cán bộ, chiến sĩ và vật chất để Sư đoàn 31 sớm hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, cơ động lên đường chiến đấu đúng thời gian quy định. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn Sư đoàn 31 đã kiện toàn các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy và quần chúng ở các cấp; tiếp nhận đầy đủ vũ khí trang bị vật chất và 2.236 chiến sĩ, 200 cán bộ bổ sung, nâng quân số đơn vị đạt từ 85% đến 90% so với quy định, mỗi trung đoàn bộ binh có khỏang 2.000 quân. Sư đoàn mở 2 đợt tập huấn 100% cán bộ từ trung đội đến trung đoàn; huấn luyện cấp tốc những nội dung thiết yếu cho bộ đội. Đặc biệt, sau khi đi trinh sát địa hình về cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện bổ sung thêm 20 ngày, tập trung vào nội dung chiến thuật đại đội bợ binh phòng ngư trực tiếp tiếp xúc trên điểm cao, địa hình núi đá. Cuối đợt huấn luyện có kiểm tra bắn chiến đấu đại đội bộ binh, kết quả đạt 100% khá giỏi. Bộ đội còn được huấn luyện kỹ 5 kỹ thuật băng bó cấp cứu, cách tải thương, vận tải bộ, đào bếp Hoàng Cầm, phòng chống dịch bệnh khi ở dã ngoại, thực hiện nếp sống ăn ở vệ sinh khoa học, cách nhận biết và sử dụng rau rừng. Riêng đội ngũ lái xe được rà soát lại, 296 đồng chí được huấn luyện bổ túc tay lái trên các đoạn đường khó vào ban đêm. Ngoài ra, các bếp ăn cũng được điều chỉnh từ bếp tiểu đoàn chuyển sang bếp ăn đại đội, trung đội, tiểu đội và dùng bếp dầu ở tổ chiến đấu lẻ trong các hang hốc núi đá tiền tiêu. Việc chuẩn bị chống rét, bảo đảm nước uống, dự trữ chế biến thực phẩm và trồng rau xanh cũng được tính toán kỹ. Nhằm tạo sự chuyển biến thật mạnh mẽ tình hình mọi mặt của đơn vị, kiên quyết khắc phục khó khăn hoàn thành tốt công tác chuẩn bị và cơ động vào thay phiên chiến đấu; từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1985, Sư đoàn 31 phát động một đợt thi đua đột kích 20 ngày đêm lập thành tích kỷ niệm 41 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Những khẩu hiệu ''Luyện hay, học giỏi'', Huấn luyện để chiến đấu, học tốt để đánh thắng quân... xâm lược'', ''Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu': đã trở thành hành động hăng say luyện tập của bộ đội trên thao trường; khẩu hiệu ''Tất cả vì điểm tựa tiền tiêu'', ''Tất cả để dành thắng quân... xâm lược'' trở thành mục tiêu hành động của tất cả cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt công tác. Trong những ngày rất khẩn trương và sôi động, các cơ quan Quân đoàn liên tục bám sát cơ sở, theo dõi giúp đỡ đơn vị, nghiên cứu đề xuất những ý kiến thiết thực giúp Bộ tư lệnh Quân đoàn kịp thời chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến đấu. Chủ động nắm tình hình đối phương, địa hình ở khu vực tác chiến và tích cực tìm cách khắc phục khó khăn, ngày 2 tháng 11 Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Trung đoàn công binh 7 sử dụng Tiểu đoàn 1 công binh công trình lên Vị Xuyên xây dựng các công trình phục vụ chiến đấu Phát huy truyền thống ''Mở đường thắng lợi'', chỉ trong một tháng nỗ lực phấn đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã hoàn thành cải tạo hang Dơi thành một khu hậu cần, đào hệ thống giếng nước ăn, nước sinh hoạt và xây dựng hệ thống cấp nước cho bộ đội, bắc 2 cầu treo, 2 cầu đứng, làm 2 ngầm vượt suối Thanh Thủy, xây dựng một số công sự chiến đấu. Quá trình làm nhiệm vụ, đơn vị an toàn, không có bộ đội thương vong. ------------------------------------------------------------------ 1. Nay là hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. 2. Thời gian này ở đại đội bộ binh chiến đấu tỷ lệ lãnh đạo cao nhất chỉ đạt 8,1% (Đại đội 2, Đại đội 6 Trung đoàn 866); thấp nhất là 3,8% (Đại đội 11 Trung đoàn 866 và Đại đội 6, Đại đội 7 Trung đoàn 977). 3. Lịch sử bộ đội chủ lực... Biên niên sự kiện. Sđd, tr. 760. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Năm, 2021, 06:50:46 am * Đầu tháng 11 năm 1985, khi công tác chuẩn bị chiến đấu cơ bản hoàn thành, cũng là lúc Tổng Tham mưu trưởng Quân dội nhân dân Việt Nam ra lệnh cơ động Sư đoàn 31 lên biên giới, vào thay phiên phòng ngự cho Sư đoàn 318 và Sư đoàn 356 rút ra củng cố. Thực hiện nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, giữa tháng 11, Sư đoàn 31 làm lễ xuất quân. Ngày 14 tháng 11 lực lượng tiền trạm do trung tá Nguyễn Quang Vinh . phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy đã triển khai các trạm chỉ dẫn cứu kéo dọc đường hành quân. Từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 11 năm 1985, đợt một hành quân gồm: chỉ huy và cơ quan Sư đoàn, các phân đội trực thuộc, Trung đoàn bộ binh 866 (do đại úy Nguyễn Hồng Thụ làm trung đoàn trưởng), Trung đoàn pháo binh 4 (do trung tá Nguyễn Văn Phú làm trung đoàn trưởng), sử dụng 146 chuyến xe chuyển thẳng từ Bắc Thái đi Hà Giang. Mặc dù quá trình cơ động gặp thời tiết bất thường, mưa to làm trôi cầu Nông Tiến và phà Bình Ca, nhưng sư đoàn chủ động chuyển sang hành quân theo trục đường số 2 vượt hơn 400km vào vị trí tập kết đầy đủ, an toàn. Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 12 năm 1985, lực lượng cơ động đợt 2 gồm Trung đoàn 977 (do thiếu tá Nguyễn Khang Đàm làm trung đoàn trưởng và đại úy Phạm Hồng Quang phụ trách phó trung đoàn trưởng chính trị chỉ huy) đi trên 61 chiếc xe vận tải cũng đến vị trí tập kết an toàn đúng thời gian quy định. Tại vị trí mới, dưới sự chỉ huy của đại tá sư đoàn trưởng Trần Tất Thanh, Sư đoàn 31 nhanh chóng vào thay phiên chiến đấu cho hai sư đoàn bạn. Trung đoàn pháo binh 4 nhận bàn giao từ Trung đoàn pháo binh 457; Trung đoàn 866 đảm nhiệm phòng ngự khu vực của ba trung đoàn bộ binh 982, 881 và 754; Trung đoàn 977 thay phiên cho Trung đoàn bộ binh 981 và Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn l35, Sư đoàn 356). Do tổ chức chỉ huy chặt chẽ, có kế hoạch cụ thể đến từng người, từng căn hầm, từng hỏa khí; lại vào thay phiên ban đêm nên nhìn chung Sư đoàn 31 hoàn thành nhiệm vụ ''thay phiên đúng thời gian, nhanh gọn, đầy đủ và an toàn''. Để phòng ngự lâu dài, chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, Sư đoàn 31 vừa tích cực chiến đấu vừa ra sức củng cố hệ thống công sự sẵn có; đồng thời xây dụng thêm một số công sự mới, làm hệ thống đường chui, cầu thang sắt, cải tạo thêm các hang núi, hốc đá thành kho trạm, hầm trú ẩn và sinh hoạt, kè hàng trăm mét khối đá trước cửa hang. Trong suốt 7 tháng làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, Sư đoàn huy động 242.656 công cải tạo, xây dựng công sự, củng cố được 1.358 hầm hố, trong đó có 404 hầm bê tông, 428 hầm gỗ đất, 101 hầm 3c22; đào mới 10.834m hào giao thông. Đặc biệt, các hầm bê tông xây dựng trên các điểm tựa trực tiếp tiếp xúc với địch khá kiên cố, chống được sự công phá của đạn pháo 130 - 160mm. Với hệ thống công sự trận địa vững chắc và tương đối hoàn chỉnh, cán bộ, chiến sĩ đoàn Lam Hồng đã tạo ra ''tấm áo giáp'' vững chắc để chiến đấu, bảo vệ vững chắc từng tấc đất của Tổ quốc. Vì vậy, suốt 7 tháng chiến đấu liên tục, Sư đoàn 31 đã giữ vững trận địa phòng ngự,... đẩy lui 5 đợt hoạt động tiến công của đối phương1, bảo vệ vững chắc một vùng biên cương của Tổ quốc. Thực hiện phương châm vừa chiến đấu, vừa xây dựng, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành, Đảng ủy chỉ huy Sư đoàn 31 chủ trương: ''Tranh thủ mọi thời gian, mọi lực lượng vừa chiến đấu giữ vững các điểm tựa vừa tổ chức huấn luyện cho bộ đội, huấn luyện chủ yếu phục vụ theo yêu cầu chiến đấu''2. Thực hiện chủ trương trên, các đơn vị trong Sư đoàn đều lập kế hoạch huấn luyện ngay tại trận địa và tổ chức huấn luyện theo phương án tác chiến từ đại đội đến trung đoàn. Trọng tâm huấn luyện là kỹ thuật, chiến thuật cá nhân, phân đội nhỏ và tổ chức hợp luyện tổng hợp theo phương án tác chiến của trung đoàn, sư đoàn. Nội dung huấn luyện đã bám sát các tình huống dự kiến tại trận địa, có những trường hợp trùng với diễn biến chiến đấu thực tế sau đó, nên ta đánh rất hiệu quả. Việc tổ chức huấn luyện ngay trên các điểm tựa phòng ngự tuyến trước là cách làm sáng tạo, táo bạo, vừa thiết thực nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp và khả năng chiến đấu của bộ đội, vừa là biện pháp cảnh giới tốt nhất trong tác chiến phòng ngự. Mặc dù làm nhiệm vụ trên một địa bàn núi non hiểm trở, đối phương nhiều lần bắn pháo rất ác liệt vào trận địa và bắn sâu vào hậu phương ta, nhưng công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật chiến đấu ở Vị Xuyên tương đôi ổn định và chất lượng phục vụ ngày càng tiến bộ. Cục Hậu cần Quân đoàn đã cử trung tá Trần Công Bình (phó cục trưởng) trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo Phòng Hậu cần Sư đoàn 31, đồng thời tổ chức một phân căn cứ hậu cần ở phía sau khu vực phòng ngự bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, xăng dầu... và tăng cường một đội phẫu (của Viện 211) cho Sư đoàn. Hậu cần sư đoàn và các trung đoàn đều được tổ chức thành 2 căn cứ: phía trước và phía sau. Do những cố gắng cao, nên trong điều kiện nền kinh tế đất nước rất khó khăn, nguồn cung cấp ở xa, không ổn định, nhưng ngành hậu cần Quân đoàn và Sư đoàn 31 vẫn bảo đảm khai thác thu mua tiếp nhận vận chuyển hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men, xăng dầu kịp thời phục vụ bảo đảm chiến đấu. Nhiều sáng kiến cải tiến việc bảo đảm ăn, ở và sinh hoạt cho bộ đội trên các trận địa chốt, hang hốc đá được áp dụng có hiệu quả. Ngành Hậu cần đã kết hợp chặt chẽ giữa vận tải cơ giới ở phía sau và vận tải bộ ở phía trước; ngoài ra còn dùng 4 xe trâu kéo, xe quệt để vận chuyển. Hậu cần Quân đoàn đã cấp hơn 20.000m giấy dầu và ni lông để chống dột, chống thấm ở các hầm. Để bảo đảm nước sinh hoạt, Sư đoàn nghiên cứu lắp đặt thành công hệ thống bơm nước, có đường ống dài 1.400m và xây 1 bể chứa nước bằng đá; mua sắm và cấp phát 150 bếp dầu cho các chốt; có nơi nấu ăn ở phía sau rồi dòng trong các túi ni lông vận chuyển lên trận địa; nước uống dự trữ trong các bi đông sử dụng được từ 3 đến 7 ngày; bộ đội tắm theo cách giản tiện dùng 3 khăn lau. Với cách làm sáng tạo đó, vừa giảm được nhân lực phục vụ và thương vong, vừa chủ động trong sinh hoạt mà vẫn bảo đảm được sức khỏe bộ đội. Do địa hình núi đá và khỏang cách giữa ta và địch chỉ trong tầm ném lựu đạn, nên việc vận chuyển thương bệnh binh được thực hiện vào ban đêm. Công tác vệ sinh phòng dịch được coi trọng, các bệnh sốt rét, lỏng lỵ, ghẻ lở, hắc lào được chủ động phòng ngừa. Tích cực hưởng ứng phong trào trồng rau xanh do Sư đoàn phát động, trong điều kiện khắc nghiệt, các đơn vị đều tổ chức trồng rau cải ở các khu vực phía sau, làm giá đỗ, đậu phụ, dưa muối, lạc, vừng đưa lên chốt. Nổi bật là Tiểu đoàn 25 vận tải bộ, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ gùi thồ ban đêm lên các chốt, vừa tự túc đủ rau ăn và gửi tặng các chốt tiền tiêu. Với những nỗ lực liên tục, trong quá trình chiến đấu, Sư đoàn 31 đã chế biến được 5.470kg đậu phụ, 801kg giá đỗ, 2.640kg dưa muối, 1.083kg lạc, thu mua và trồng được 19.200kg rau xanh... cải thiện đáng kể bữa ăn cho bộ đội và bảo đảm sức khỏe đạt 97%. Cùng với công tác bảo đảm hậu cần, công tác bảo đảm kỹ thuật cũng có nhiều cố gắng, luôn chủ động bảo đảm đủ đạn được, vũ khí cho các nhiệm vụ chiến đấu và phương tiện xe máy an toàn. Sư đoàn 31 đã tiếp nhận 1.729 tấn vũ khí đạn dược và cấp phát 810 tấn đạn an toàn; làm được 12 kho đạn bằng bê tông và kè đá, 205 hầm đạn, xây cất 80 gian nhà xe có diện tích 1.708m2. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ thường xuyên của Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh, Cục Chính trị Quân đoàn 3 và Quân khu 2; trong quá trình chiến đấu, công tác đảng, công tác chính trị của Sư đoàn 31 đã tập trung giữ vững quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, xây dựng, củng cố tình đoàn kết thương yêu đồng cam cộng khổ giữa cán bộ và chiến sĩ, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ, giải quyết chính sách chu đáo, đẩy mạnh cổ động chiến trường và tuyên truyền đặc biệt. Trong 7 tháng chiến đấu, Sư đoàn đã phát động nhiều đơn thi đua đột kích: ''Xây dựng công trình M12'', ''Mừng Đảng, mừng xuân'', ''Tuổi trẻ với 55 ngày truyền thống'', ''Phong trào bắn tỉa'', ''Nuôi quân phòng bệnh, vệ sinh điểm tựa''... Do tổ chức chặt chẽ, nội dung thiết thực, bám sát vào từng nhiệm vụ chính trị trọng tâm, chỉ tiêu phù hợp, hình thúc phong phú nên các phong trào thi đua được đông đảo cán bộ, chiến sĩ hưởng ứng mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn, làm chuyển biến tình hình, góp phần hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Nhiều tấm gương tiêu biểu như đại úy Tô Đình Ngữ - tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 866 có hoàn cảnh gia đình rất éo le khó khăn, khi hết phép đã gửi con nhờ chị trông nom trở về đơn vị chỉ huy chiến đấu rất dũng cảm; chiến sĩ Nguyễn Thế An (Trung đoàn 866) chiến đấu dũng cảm, hiệu suất chiến đấu cao; chiến sĩ Lê Ngọc Thạo (Ban chính trị, Trung đoàn 977) viết đơn bằng máu xin được trực tiếp cầm súng chiến đấu... được nhanh chóng truyền nhanh đến bộ đội trên các chiến hào và toàn mặt trận, có sức cổ vũ rất lớn. Noi gương điển hình, 17 đồng chí của Trung đoàn 866 viết đơn bằng máu xin được lên điểm tựa ác liệt nhất để chiến đấu cùng động đội; những đồng chí bị thương nhẹ đều xin được tiếp tục ở lại giữ chốt; nhiều hiện tượng mê tín dị đoan như lập bàn thờ, kiêng chào hỏi, không cắt tóc... đã nhanh chóng được khắc phục. Những "địa danh'' đặt tên ''tiêu cực'' đã biến thành những đường hào ''Mùa xuân'', ''Ngã ba Quyết thắng''. Đội chiếu phim của Sư đoàn đũng cảm kiên trì cõng máy lin chết, chiếu được 72 lần, phục vụ 14.720 lượt người xem; các đơn vị cũng đưa được 3.460 quyển sách, thường xuyên bảo đảm thư, báo đến tay bộ đội. Nhiều đoàn đại biểu Trung ương và địa phương bất chấp hiểm nguy, vượt đường sá xa xôi lên thăm, tặng quà bộ đội tại trận địa, đem lại cho các chiến sĩ nguồn động viên rất lớn. Mặc dù hoàn cảnh chiến đấu ác liệt, gian khổ, các cấp ủy Đảng vẫn chủ động, tích cực làm tốt công tác phát triển Đảng. Trong 7 tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, đã có 529 quần chúng ưu tú được đứng trong hàng ngũ của Đảng, bằng tổng số đảng viên kết nạp trong 2 năm 1984, 1985. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1986, Sư đoàn 31 hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, tổ chức bàn giao đầy đủ chu đáo khu vực phòng ngự cho đơn vị bạn, rồi chia thành 12 khối cơ động bằng ô tô trở về vị trí đóng quân tại tỉnh Bắc Thái an toàn, đúng kế hoạch. Bảy tháng chiến đấu, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 31 phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống ''Đoàn kết, nghiêm túc, dũng cảm, quyết thắng, vì dân giúp bạn'', vượt qua mọi gian khổ ác liệt hy sinh, kiên cường chiến đấu, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sư đoàn 31 được Bộ tư lệnh Quân khu 2 đánh giá: ''... đã quán triệt tốt nhiệm vụ, nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu, khắc phục nhiều khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được cấp trên và nhân dân tin tưởng, đơn vị bạn tín nhiệm''. Ghi nhận chiến công đó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Trường Chinh đã ký quyết định tặng Huân chương Quân công hạng nhì cho tập thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 31 và Trung đoàn bộ binh 866; tặng Huân chương Chiến công hạng ba cho 86 đơn vị và cá nhân lập chiến công. Ngoài ra, Sư đoàn còn được Bộ tư lệnh Quân khu 2 tặng cờ: "Đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ" và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái tặng cờ lưu niệm ''Đơn vị tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc''. Những phần thưởng vinh dự, thành tích chiến đấu vẻ vang là nguồn cổ vũ lớn lao, là niềm tự hào của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 31 nói riêng và Binh đoàn Tây Nguyên nói chung. Những kinh nghiệm quý báu đúc rút từ thực tiễn chiến đấu của Sư đoàn 31 ở biên giới phía Bắc được Quân đoàn kịp thời bổ sung vào nội dung huấn luyện 6 tháng cuối năm 1986 và làm cơ sở quan trọng để đẩy mạnh xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu trong những năm tiếp theo. ----------------------------------------------------------------- 1. 5 đợt hoạt động của đối phương: Đợt 1 từ ngày 2 đến ngày 10.12.1985. Đợt 2 từ ngày 11.12.1985 đến ngày 18.1.1986. Đợt 3 từ ngày 19 đến ngày 28.1.1986. Đợt 4 từ ngày 29.1 đến ngày 28.4.1986. Đợt 5 từ ngày 29.4 đến ngày 30.6.1986. 2. Lịch sử sư đoàn 31 (1974-2004). Nxb QĐND, H.2004, tr. 287. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Năm, 2021, 06:53:58 am * Tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị, chấp hành nguyên tắc và chỉ thị của Đảng, mùa thu năm l986, trong không khí thi đua rất sôi động lập thành tích chào mừng Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 3 được tiến hành tại Quân đoàn bộ (xã Thượng Đình huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái). Dự Đại hội có 250 đại biểu chính thức (có 2 là nữ) của 14 Đảng bộ cơ sở và trên cơ sở thay mặt cho hơn 6.500 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trung tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam là đại biểu được Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương cử về chỉ đạo Đại hội và giới thiệu ứng cử bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ toàn quân. Thượng tướng Đàm Quang Trung - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Tư lệnh Quân khu 1 là đại biểu của Đảng bộ Quân khu 1 dự Đại hội. Trong 5 ngày làm việc (22 - 26.9), các đại biểu đã thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI; kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đoàn trong nhiệm kỳ 1981 - 1986 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu trong nhiệm kỳ 1986-1990. Về phương hướng xây dựng Quân đoàn trong giai đoạn mới, Đại hội xác định: ''Tiếp tục xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại tinh nhuệ... có sức chiến đấu và chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đánh giỏi cả phản công, tiến công và tác chiến phòng ngự. Có trình độ tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, vừa hoặc tác chiến độc lập... đều giỏi… cùng với toàn dân và toàn quân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa''1. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 3 gồm 11 đồng chí; Bí thư Đảng ủy Hà Quốc Tỏan, Phó Bí thư: Khuất Duy Tiến, ủy viên Thường vụ: Phạm Duy Tân, và các ủy viên: Vũ Khắc Đua, Nguyễn Duy Khâm, Tiêu Văn Mẫn, Lê Quang Bình, Trần Tất Thanh, Cao Tiến Phiếm, Lê Hồng Thái, Đoàn Sinh Hưởng. Đại hội cũng bầu được 9 đại biểu chính thức đi dự Đại hội Đảng bộ toàn quân (13-18.10.1986) gồm: Trung tướng Đặng Vũ Hiệp (Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Thiếu tướng Khuất Duy Tiến (Tư lệnh Quân đoàn), Thiếu tướng Hà Quốc Tỏan (Phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn), đại tá Phạm Duy Tân (Phó tư lệnh quân sự Quân đoàn), đại tá Tiêu Văn Mẫn (Cục trưởng Cục Chính trị Quân đoàn), đại tá Trần Tất Thanh (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31), đại tá Lê Quang Bình (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320), đại tá Vũ Khắc Đua (sư đoàn trưởng Su đoàn 10), đại tá Nguyễn Duy Khâm (cục trưởng Cục Hậu cần Quân đoàn); đại tá Lê Hồng Thái (cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân đoàn) được bầu là đại biểu dự khuyết. Ngày 26 tháng 9 năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 thành công tốt đẹp. Đại hội đã gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, đảng viên, đoàn viên thanh mền toàn Quân đoàn ''Ra sức thi đua quyết thắng, thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ, phương hướng, mục tiêu và các công tác lớn mà nghị quyết của Đại hội đã đề ra'' Đại hội Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 3 là một sự kiện rất quan trọng trong lịch sử của đơn vị; là Đại hội tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo Quân đoàn xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu và chiến đấu trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc; là Đại hội kế thừa và quyết tâm xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 3 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được cán bộ, chiến sĩ biến thành những hành động cách mạng tập trung vào 4 mục tiêu cơ bản là: ''sẵn Sàng chiến đấu cao và huấn luyện giỏi; lao động sản xuất, làm kinh tế giỏi, có đời sống tốt; kỷ luật nghiêm, phong cách quân nhân đẹp; làm chủ trang bị kỹ thuật, đã thu được thành tích toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động quân sự, hậu cần, kỹ thuật, công tác đảng, công tác chính trị. Trong công tác quân sự, Quân đoàn thường xuyên thực hiện tốt các chế độ sẵn sàng chiến đấu, củng cố hệ thống sở chỉ huy và thông tin liên lạc các cấp, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho phù hợp với thực tiễn; tổ chức cho hàng nghìn lượt cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp đi trinh sát nghiên cứu thực địa, kịp thời bổ sung phương án tác chiến cơ bản Bộ giao. Các tuyến đường cơ động lực lượng được thi công, trong đó có tuyến đường Na Rì - Tân Tiến, Bông Lau dài 55km hoàn thành đúng kế hoạch, chất lượng tốt. Tình hình biên giới và khu vực đóng quân được theo dõi, quản lý chặt chẽ; các phương án phối hợp cùng địa phương bảo vệ địa bàn được triển khai nghiêm túc, an ninh chính trị, trật tự an toàn được giữ vững. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh huấn luyện của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ lệnh huấn luyện của Tổng Tham mưu trưởng, nắm chắc phương châm ''cơ bản, toàn diện, hệ thống, thống nhất'', kịp thời đưa những kinh nghiệm thực tiễn chiến dấu ở biên giới vào huấn luyện bộ đội nên Quân đoàn vừa giữ vững nền nếp, bảo đảm được chương trình nội dung kế hoạch huấn luyện, vừa nâng cao chất lượng huấn luyện toàn diện. Trong 2 năm (1986 - 1987), toàn Quân đoàn đã mở được 256 lớp tập huấn cho 24.180 lượt cán bộ các cấp, bồi dưỡng cho 6.820 lượt hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, huấn luyện hàng chục nghìn lượt chiến sĩ, trong đó có gần 9.500 chiến sĩ mới. Kết quả huấn luyện đạt 100% yêu cầu trở lên, có từ 40% đến 50% khá giỏi. Các nội dung: bắn súng bộ binh, kỹ thuật bắn của bộ binh cơ giới, xe tăng (BMP-1 và BTR-60PB bài 1 đến bài 3) đều đạt loại giỏi. Các cuộc diễn tập thực binh của Trung đoàn 48 Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn bộ binh 24 Sư đoàn 10, Trung đoàn bộ binh 866 Sư đoàn 31 đều đạt loại khá. Chất lượng huấn luyện toàn diện của Quân đoàn vừa nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền nếp chính quy, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác. Trong điều kiện có nhiều khó khăn, phương thức bảo đảm thay đổi, nhưng công tác hậu cần, kỹ thuật vẫn đáp ứng được các nhu cầu thường xuyên và đột xuất của Quân đoàn, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng các mặt bảo đảm. Hai năm (1986 - 1987) Quân đoàn tập trung đẩy mạnh sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng cơ bản, đã làm được hơn 47 triệu viên gạch các loại; 1,5 triệu viên ngói, gần 10.000 tấn vôi, 26.000m3 đá, 59.000m3 cát, hàng chục nghìn tấn than, xây dựng 79.978m2 nhà lâu bền và hơn 8.000m2 nhà quá độ, vượt 12 lần chỉ tiêu Bộ giao, bảo đảm cơ bản đầy đủ nhà ở, nhà ăn, nhà làm việc, nhà xe, nhà pháo, kho tàng. Trong khi tập trung cho xây dựng cơ bản, việc sản xuất lương thực thực phẩm trồng rau xanh và cải thiện bữa ăn cho bộ đội được chú trọng. Toàn Quân đoàn có 57 bếp tiểu đoàn (trong tổng số 114 bếp) và 55 bếp đại đội (trong tổng số 128 bếp) đạt tiêu chuẩn ''Bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt''; 62 tiểu đoàn 65 đại đội đạt tiêu chuẩn ''Nếp sống vệ sinh khoa học'', thường xuyên bảo đảm quân số khỏe đạt 97,75%. Tại hội thao ''Bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt'' toàn quân, Quân đoàn đạt giải ba. Điểm mới trong công tác hậu cần thời gian này là Quân đoàn đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, tiêu biểu là khu căn cứ hậu cần Na Rì (Bắc Thái); mở rộng các hướng liên kết kinh tế với các cơ quan đơn vị bạn, làm thủy điện, tăng nguồn thu hàng năm của Quân đoàn lên hàng trăm triệu đồng. Kết quả trong sản xuất làm kinh tế vừa trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, vừa làm cơ sở để Quân đoàn làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội. Cũng trong thời gian này công tác kỹ thuật của Quân đoàn có nhiều tiến bộ. Cuộc vận động ''Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm'' được triển khai rộng khắp đã đem lại những kết quả tốt. Năm 1987 tình trạng mất an toàn giao thông toàn Quân đoàn đã giảm 48% so với những năm trước. Một trong những nguyên nhân thành công và là động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong 2 năm (1986-1987) là đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng. Quân đoàn có phong trào thi đua "Một nghiêm, hai tốt, ba hay, bốn không'', Sư đoàn 320 phát động phong trào ba nhất ''Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đời sống tốt'' và phong trào ''Xây dựng tốt, làm kinh tế giỏi'', Sư đoàn 10 với phong trào ''Rèn hay, luyện giỏi, đánh thắng'', Sư đoàn 31 đạt nhiều thành công trong phong trào ''Rèn đức, luyện tài, tay chai bắn giỏi''; Trường Quân chính, Trường Đảng - Văn hóa, Trường Hạ sĩ quan, Trường Hậu cần, Trường Kỹ thuật, đẩy mạnh phong trào thi đua ''Dạy tốt, học tốt''; Ngành Hậu cần triển khai rộng khắp phong trào xây dựng ''Bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt'' Ngành Kỹ thuật với cuộc vận động ''Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm''. Được cấp ủy Đảng, chỉ huy các cấp quan tâm, tổ chức chặt chẽ, nội dung bám sát nhiệm vụ chính trị trung tâm, hình thức phong phú, xây dựng được điển hình, phát huy vai trò làm chủ của quần chúng với đoàn thanh niên làm nòng cốt, nên các phong trào thi đua luôn đi đúng hướng, lôi cuốn được đông đảo bộ đội tham gia tại nên không khí rất sôi động, làm chuyển biến tình hình mọi mặt, thu được kết quả thiết thực. Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng 2 năm 1986, 1987 toàn Quân đoàn có 38 đơn vị đạt danh hiệu Quyết thắng từ đại đội đến trung đoàn, 422 đơn vị được tặng bằng khen, 461 đơn vị được tặng giấy khen; 9.154 cán bộ, chiến sĩ được khen thưởng, trong đó có 12 đồng chí được tặng Huân chương, 134 đồng chí đạt danh hiệu Dũng sĩ, 12 đồng chí đạt danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng, 1.012 đồng chí là Chiến sĩ thi đua, 3.914 đồng chí được tặng bằng khen và 4.066 đồng chí được tặng giấy khen. Điển hình toàn diện có Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, Lữ đoàn xe tăng 273 và Trường Quân chính: Đặc biệt, Quân đoàn 3 đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tặng cờ đơn vị khá nhất trong cụm các quân đoàn chủ lực. Ngoài ra, các đơn vị: Sư đoàn 10, Lữ đoàn xe tăng 273 và Cục Kỹ thuật được Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái tặng bằng khen. ----------------------------------------------------------------- 1. Trích ''Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 3'', ngày 26.9.1986, tr.7. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Năm, 2021, 06:55:58 am * Trong 12 năm đầu kể từ ngày thành lập Quân đoàn, 8 năm (8.1979 - 1987) làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc là một giai đoạn tương đối ổn định về nhiệm vụ và vị trí đóng quân. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ, các đơn vị bạn và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương; Quân đoàn 3 giữ vững và phát huy tốt truyền thống "Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tư lực" nhanh chóng vượt qua những khó khăn thử thách ban đầu, sớm thích nghi với hoàn cảnh mới, điều kiện mới; đồng thời kiên quyết chuyển sang thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội. Do Đảng ủy Quân đoàn có nghị quyết, chủ trương lãnh đạo sát đúng, kịp thời, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ huy, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, các đơn vị thực hiện nghiêm túc linh hoạt sáng tạo, cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua... nên Quân đoàn giành được những thành tích toàn diện trên con đường xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu. Trong đó, thành công bước đầu xây dựng Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 đã mang lại cho Quân đoàn nguồn sức mạnh chiến đấu mới. Kết quả xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ còn được khẳng định bằng chiến công xuất sắc của Sư đoàn 31 trong chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên. Mặc dù còn có mặt chuyển biến chậm, tiến bộ chưa vững chắc1, nhưng thành quả xây dựng và chiến đấu của Quân đoàn trong 8 năm trên địa bàn chiến lược phía Bắc Tổ quốc là rất to lớn và toàn diện. Một thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã trưởng thành, nhiều kinh nghiệm quý giá được tích luỹ, đây là cơ sở vô cùng quan trọng để Quân đoàn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ theo đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn chiến lược Khu 5. _________ 1. Trong thời gian từ tháng 8 năm 1979 đến năm 1987, toàn Quân đoàn có hơn 6.000 bộ đội đào - bỏ ngũ, cắt quân số. Số vi phạm phải xử lý bằng pháp luật còn nhiều. Số tài sản do tham ô, lãng phí, hư hại: trên 560 tấn gạo và hàng chục nghìn bộ quần áo, chăn, màn, ba lô, quân dụng. Số vụ tai nạn giao thông cao, làm chết và bị thương khỏang 200 nguời, hỏng hơn 70 xe ô tô các loại. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Năm, 2021, 10:49:49 am Chương tám XÂY DỰNG QUÂN ĐOÀN THEO HƯỚNG "CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI" NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU TRÊN ĐỊA BÀN KHU 5 (11.1987 - 2005) 1. Trở lại địa bàn chiến lược Khu 5. Tháng 12 năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đề ra đường lối đổi mới nhằm xoay chuyển tình thế, đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, tiến lên phía trước. Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, Đại hội khẳng định: ''Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa''. Nhằm ''tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống... bảo vệ Tổ quốc'', Đại hội quyết nghị: ''Xây dựng quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, tiếp tục phát triển dân quân tự vệ với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Tăng cường xây dựng lực lượng dự bị. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nền khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam... Thực hiện đầy đủ các chính sách hậu phương quân đội. Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước...''1. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết (số 02/BCT ngày 30.7.1987) của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, năm 1987 quân đội ta tiến hành chấn chỉnh tổ chức và điều chỉnh bố trí lực lượng, trong dó Quân đoàn 3 là một đơn vị trọng điểm. Tháng 4 năm 1987, Bộ Quốc phòng thông báo sơ bộ nhiệm vụ di chuyển đội hình từ miền Bắc vào miền Trung Trung Bộ cho Quân đoàn 3 (mật danh ''nhiệm vụ 487"). Trong hai tháng 5 và 6, ''nhiệm vụ 487'' được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng xác định cụ thể hơn. Ngày 23 tháng 10 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng ra Mệnh lệnh (số 46/MTTM) :"Về chấn chỉnh tổ chức và điều chỉnh bố trí lực lượng'', giao nhiệm vụ chính thức bằng văn bản cho Quân đoàn 3 di chuyển toàn bộ đội hình từ miền Bắc vào Khu 5, đồng thời quy định vị trí đóng quân mới của Quân đoàn. Mệnh lệnh chỉ rõ: ''...Điều chỉnh bố trí lực lượng là để làm cho thế bố trí của ta vững chắc hơn, không mơ hồ, mất cảnh giác, sẵn sàng đối phó với các tình huống do kẻ địch gây ra... Công tác tổ chức hành quân của Quân đoàn hoàn thành trong năm 1988... Kế hoạch hành quân và tổ chức chỉ huy hành quân phải thật chu đáo, chặt chẽ, coi như một cuộc diễn tập hành quân để kết hợp rèn luyện bộ đội''. Tiếp đó, ngày 31 tháng 12 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng ra mệnh lệnh bổ sung về tổ chức hành quân đến vị trí mới cho Quân đoàn 3, trong đó rút ngắn thời gian hành quân di chuyển từ một năm xuống còn 6 tháng (15.1-15.7.1988). Để giúp đỡ Quân đoàn 3 hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hành quân di chuyển, Bộ Quốc phòng đã thành lập Ban chỉ đạo hành quân, đồng thời giao nhiệm vụ cho các cơ quan Bộ chỉ dạo chặt chẽ, giúp Quân đoàn 3 nắm chắc nhiệm vụ và tổ chức bảo đảm các mặt theo chức năng; các quân chủng và quân khu có liên quan tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho Quân đoàn thực hiện nhiệm vụ. Được Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng tin tưởng giao nhiệm vụ mới, Quân đoàn 3 bước vào thực hiện ''nhiệm vụ 487'' trong điều kiện có nhiều thuận lợi cơ bản: di chuyển trong thời bình, có sự hỗ trợ một phần phương tiện vận chuyển của quốc gia, được sự tập trung chỉ đạo trực tiếp, liên tục của cấp trên, sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ, đơn vị bạn và địa phương nơi đi và đến; nhưng cũng gặp không ít khó khăn trở ngại. Tuy tình hình trên tuyến biên giới phía Bắc Tổ quốc đã bớt căng thẳng, nhưng một số đảo của ta ở Trường Sa bị lấn chiếm. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vẫn ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam và cách mạng hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia với những thủ đoạn ngày càng xảo quyệt, phức tạp. Trên địa bàn đóng quân mới của Quân đoàn, bọn FULRO và các tổ chức phản động được các thế lực đen tối ngoại bang hà hơi tiếp sức vẫn tăng cường hoạt động nhằm củng cố lực lượng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng chính quyền hai mặt và các cơ sở ngầm, mở hành lang xâm nhập từ biên giới vào nội địa, từng bước đưa lực lượng từ bên ngoài về hoạt động, lới kéo thanh niên các dân tộc thiểu số ra rừng huấn luyện, lập căn cứ kho tàng chuẩn bị cho những toan tính lâu dài. Về phía ta, sau gần một năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước đang chuyển mình đi lên, nhưng đời sống kinh tế - xã hội vẫn còn khó khăn rất lớn. Một số ngành và địa phương có liên quan chưa có khả năng bảo đảm đầy đủ và kịp thời một số chỉ tiêu kế hoạch của Quân đoàn đã dược Nhà nước và Bộ Quốc phòng quy định như: xăng dầu, kinh phí, vật tư xây dựng và vật chất bảo đảm đời sống bộ đội, phương tiện cơ động. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng, nhất là đường sá giao thông ở 11 tỉnh, thành Quân đoàn sẽ hành quân qua, đã xuống cấp nghiêm trọng, quá tải, trong đó có nhiều đèo dốc lớn như Hải Vân, An Khê, Măng Yang, Cù Mông luôn tiềm ẩn những hiểm nguy bất trắc. Bên cạnh tình hình khách quán trên và so với cuộc chuyển quân năm 1976, trở lại Khu 5 lần này Quân đoàn 3 có thêm những nội lực mới. Sau hơn 8 năm xây dựng chính quy, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trên miền Bắc, Quân đoàn có bước trưởng thành mới toàn hiện trên tất cả các mặt. Các tổ chức Đảng, chỉ huy và quần chúng được kiện toàn củng cố, không ngừng nâng cao hiệu lực lãnh dạo, tổ chức thực hiện và hoạt động. Các đại đội đều có chi bộ, tỷ lệ lãnh đạo cao. Đội ngũ cán bộ cơ bản đủ về số lượng, có phẩm chất và năng lực, trình độ tổ chức chỉ huy và chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao một bước, có nhiều kinh nghiệm trong huấn luyện, quản lý bộ đội, xây dựng doanh trại, tăng gia sản xuất, bảo đảm kỹ thuật và vận động nhân dân. Chiến sĩ được huấn luyện cơ bản, giáo dục về truyền thống, nâng cao nhận thức chấp hành điều lệnh và pháp luật, có văn hóa, sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì được cấp trên giao. Những khả năng về bảo đảm vật chất, tài chính của Quân đoàn và các đơn vị có bước tiến bộ đáng kể. Địa bàn mới là chiến trường xưa, rất quen thuộc với Quân đoàn. Song trước yêu cầu nhiệm vụ mới rất nặng nề, Quân đoàn còn nhiều khó khăn. Theo quyết định của Tổng Tham mưu trưởng, tổ chức biên chế của Quân đoàn năm 1987-1988 tăng thêm đầu mối đơn vị, nhưng lại rút gọn về quân số. Yêu cầu nhiệm vụ trong 6 tháng Quân đoàn phải chuyển gọn đội hình với hàng vạn bộ đội, toàn bộ vũ khí, phương tiện, trong đó có hàng ngầm xe cộ súng pháo lớn, hàng vạn tấn vật chất bằng các phương tiện: tàu hỏa, ô tô, tàu thủy, vượt chặng đường xa 1.500km qua 11 tỉnh thành phố. Trong khi đó, lượng gạo dự trữ của Quân đoàn ở phía bắc đã cạn, có đơn vị phải chạy ăn từng ngày; số xe ô tô có tới 60% là xe cũ, đã sử dụng từ 12 đến 16 năm, với 50 loại xe của 10 nước chế tạo, có từ 70 - 80% tổng số xe niêm cất, trình độ đội ngũ lái xe không đều, nhìn chung còn yếu. Phần lớn lực lượng cơ động bằng tàu hỏa, phải tập kết lên tàu ở nhiều ga khác nhau cách xa đơn vị; khi xuống tàu có đơn vị phải cơ động hơn 200km về vị trí đóng quân, nên công tác hiệp đồng và bảo đảm đòi hỏi phải rất chật chẽ, chu đáo, tỉ mỉ. Tại địa bàn đóng quân mới, số nhà cửa tiếp nhận chỉ đủ cho 30% nhu cầu sử dụng, dân cư ở cách xa, thưa thớt, nên 70% bộ đội phải ở dã ngoại, lại trùng vào mùa mưa; một số bệnh, trong đó có bệnh sốt rét dễ lây lan phát triển. Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là nhận thức về nhiệm vụ chưa đầy đủ, chưa thông suốt của một bộ phận bộ đội; trong đó có không ít cán bộ chủ trì đơn vị: ngại đi xa, lo lắng hậu phương gia đình đời sống thiếu thốn khó khăn, tiếc công sức hơn 10 năm xây dựng doanh trại, ngại xây dựng cơ bản ở địa bàn mới. Thậm chí đã xuất hiện tư tưởng giản đơn lệch lạc cho rằng Quân đoàn giảm quân số, chuyển địa bàn đóng quân là vì thế giới đã đi vào hòa hoãn, thiếu lương thực... Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao, nắm chắc tình hình mọi mặt của đơn vị, với kinh nghiệm, sự nhạy bén trước mỗi bước ngoặt lịch sử và nhiệm vụ mới; ngày 20 tháng 7 năm 1987 Đảng ủy Quân đoàn đã họp ra ''Nghị quyết về việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ điều chỉnh bố trí đội hình chiến lược", đề ra 6 yêu cầu cụ thể về công tác lãnh đạo chính trị, tư tưởng, làm cơ sở cho các cấp tập trung lãnh đạo chặt chẽ thực hiện nhiệm vụ. Sau khi Tổng Tham mưu trưởng đã phê duyệt quyết tâm, thông qua phương án chính thức của Quân đoàn và ra mệnh lệnh bằng văn bản; ngày 9 tháng 11 năm 1987 Đảng ủy Quân đoàn họp ra Nghị quyết "về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 487'', xác định rõ phương hướng lãnh đạo chung là: ''Thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng nắm vững và thấu suốt nhiệm vụ được giao. Khẩn trương hoàn thành các kế hoạch có chất lượng, tổ chức chặt chẽ các đợt hành quân, đi nhanh, đi gọn, đến đủ, bảo đảm an toàn và có kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu tốt, đến nơi triển khai có chất lượng mọi công tác phục vụ đời sống, khai thác xây dựng doanh trại, đồng thời lãnh đạo tốt công tác chính sách hậu phương cán bộ và các bộ phận còn lại đi sau''2. Đồng thời, Đảng ủy quyết định phát động một phong trào thi đua sâu rộng trong toàn Quân đoàn, lấy lực lượng thanh niên làm nòng cốt, nhằm hoàn thành xuất sắc "nhiệm vụ 487''. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và các nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn 3, trong những tháng nửa cuối năm 1987 công tác chuẩn bị cho ''nhiệm vụ 487'' diễn ra bí mật nhưng rất khẩn trương, dồn dập trên tất cả các mặt: quán triệt nhiệm vụ, trinh sát địa bàn xây dựng quyết tâm và kế hoạch, chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị phương tiện cơ động, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Đầu tháng 7 năm 1987, Thiếu tướng Khuất Duy Tiến - Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn đã chủ động vào Tây Nguyên gặp gỡ, họp bàn với Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Với tình cảm thân thiết, vui mừng được đón những người con đi xa hơn 10 năm nay trở về, thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh nhà, các đồng chí Nguyễn Văn Sĩ (Ksor Krơn) - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Văn Tiềm - phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Hoàng Lê - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh, Thiếu tướng Kpă Thìn (Bơ hâm) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh hoàn toàn nhất trí với nhiệm vụ và dự kiến các khu vực đóng quân của Quân đoàn, hứa sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ để sớm dược đón Quân đoàn 3 trở về đất mẹ Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 15 tháng 7 đến ngày 15 tháng 8 năm 1987, Quân đoàn tổ chức một đoàn cán bộ đi xác định địa điểm đóng quân mới. Đoàn gồm 144 cán bộ chủ chốt 4 cơ quan Quân đoàn và chỉ huy các đơn vị, trưởng đoàn: đại tá Đinh Xuân La (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn), các phó trưởng đoàn: đại tá Trần Tất Thanh (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31), trung tá Trần Công Bình (phó cục trưởng Cục Hậu cần) và trung tá Lê Hồng Thái (quyền cục trưởng Cục Kỹ thuật). Được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Nghĩa Bình, Phú Khánh3, trong một tháng làm việc liên tục Đoàn đã hoàn thành việc xác định các vị trí bố trí đội hình đóng quân mới của Quân đoàn, đường hành quân và các cung trạm; các khu vực sản xuất' vật liệu xây dựng, chăn nuôi, trồng trọt; thống nhất với các địa phương về bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm, tài chính, vật tư; nắm tình hình chính trị, phong tục tập quán, chính sách dân tộc, các nghị quyết của Đảng ủy địa phương liên quan đến quân đội tình hình đấu tranh chống FULRO và chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Trong một cuộc họp của Đoàn với tỉnh Gia Lai - Kon Tum, đồng chí Nguyễn Văn Sĩ kết luận: ''Tây Nguyên là căn cứ địa vững chắc của cả nước, nếu chiến tranh lớn xảy ra thì phải xây dựng tinh thần một tấc không đi, một ly không rời. Nên phải xây dựng Tây Nguyên vững chắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Do đó Quân đoàn 3 phải xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đúng với chức năng nhiệm vụ của Quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ''. Những kết quả trong đợt nghiên cứu thực địa và làm việc với các địa phương ở địa bàn đóng quân mới là một trong những cơ sở quan trọng để Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra các quyết định và cơ quan đơn vị làm công tác chuẩn bị hành quân. Sau khi hoàn thành trinh sát thực địa, từ cuối tháng 8 năm 1987 công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân di chuyển được xúc tiến mạnh. Quân đoàn tập trung vào xây dựng quyết tâm, lập các kế hoạch, phương án. Các cơ quan: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, thường xuyên nắm chắc quyết tâm của người chỉ huy, những chủ trương lãnh đạo của Đảng ủy Quân đoàn, tranh thủ sự hướng dẫn của các cơ quan Bộ, hiểu rõ các yếu tố bảo đảm của cấp trên, tình lệnh thực lực Quân đoàn, khả năng giúp đỡ của các đơn vị bạn và địa phương... vừa khẩn trương, vừa thận trọng phân tích khoa học toàn diện, tính toán tỷ mỹ, cân nhắc kỹ càng xây dựng các kế hoạch. Đến ngày 6 tháng 10 năm 1987, Quân đoàn đã hoàn thành 10 kế hoạch4 và được Đảng ủy Quân đoàn thông qua. Ngày 13 tháng 10 năm 1987, đồng chí Tư lệnh Quân đoàn đã báo cáo quyết tâm và phương án thực hiện ''nhiệm vụ 487'' với Bộ Quốc phòng và được Bộ phê duyệt, ra mệnh lệnh chính thức. Trên cơ sở mệnh lệnh (23.10) của Tổng Tham mưu trưởng, Nghị quyết (9.11) của Đảng ủy Quân đoàn và quyết tâm phương án đã dược Bộ phê duyệt, đầu tháng 11 năm 1987, Tư lệnh Quân đoàn ra các mệnh lệnh: (số 285...287/ML) về đợt hành quân tiền trạm, chấn chỉnh tổ chức lực lượng, điều chỉnh bố trí đội hình cho các đơn vị trung Quân đoàn. Theo đó, các đơn vị: Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, Sư đoàn bộ binh 31, Sư đoàn bộ binh 8605, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn công binh 7 có một số thay đổi về biên chế và tổ chức; Trường Quân chính và Trường Đảng Văn hóa sáp nhập thành Trường Quân chính; Trường Hậu cần và Trường Kỹ thuật sáp nhập thành Trường Hậu cần - Kỹ thuật. Tiểu đoàn thông tin 29 biên chế đủ, Tiểu đoàn trinh sát 28 rút gọn; các đội: Than 84, Dược 85, Kinh tế 86, Xưởng cưa tiếp tục được duy trì, Xưởng may được mở rộng, Viện Quân y 211 và Đội điều trị 3 biên chế đủ. Ngoài ra Quân đoàn còn tổ chức thêm bộ phận hậu cứ ở ngoài Bắc để giải quyết chính sách hậu phương cán bộ và quản lý chung. Từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 11 năm 1987 Quân đoàn tổ chức hội nghị quân chính, hạ đạt mệnh lệnh chính thức cho chỉ huy, cơ quan các cấp; đồng thời phát động một đợt thi đua mới trong toàn Quân đoàn, nhằm thực hiện thắng lợi "nhiệm vụ 487'' với kết quả cao nhất. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, phương án chính thức của Quân đoàn và kết quả nghiên cứu thực địa, các đơn vị, cơ quan nhanh chóng hoàn chỉnh các kế hoạch, báo cáo Quân đoàn phê duyệt, tổ chức hiệp đồng với các cơ quan đơn vị có liên quan và triển khai cho các phân đội và cán bộ, chiến sĩ thực hiện. ----------------------------------------------------------------- 1. 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam. Sđd, tr. 468 2. Trích "Nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn về việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 487'' ngày 9.11.1987, tr 3. 3. Nay là các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa. 4. 10 kế hoạch gồm: kế hoạch trinh sát nghiên cứu địa hình bố trí lực lượng; kế hoạch hành quân di chuyển; kế hoạch điều chỉnh xây dựng lực lượng; kế hoạch bảo đảm thông tin liên lạc chỉ huy hành quân; kế hoạch bảo đảm hậu cần cho hành quân; kế hoạch bảo đảm kỹ thuật cho hành quân; kế hoạch bàn giao tiếp nhận doanh trại; kế hoạch tổ chức xây dựng cơ bản và bảo đảm đời sống ở địa bàn mới; kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị. 5. Sư đoàn 860 thuộc Quân khu 5 được Bộ Quốc phòng quyết định điều động về Quân đoàn 3 ngày 14.11.1987. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Năm, 2021, 10:59:41 am * Thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đoàn về đợt hành quân tiền trạm, đúng 7 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1987, dàn xe của khối chỉ huy do đại tá Phạm Duy Tân - Phó tư lệnh Quân đoàn chỉ huy rời cơ quan Quân đoàn theo quốc lộ số 2 tiến về phía nam mở đầu cuộc hành quân lịch sử trở lại Khu 5 của Binh đoàn Tây Nguyên. Ngày hôm sau (26.11) khối hành quân thứ hai gồm 44 xe ô tô (chở 220 cán bộ, chiến sĩ và 130 tấn vật chất hậu cần, kỹ thuật, khí tài công binh) của Bộ Tham mưu, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn pháo binh 40, Trường Quân chính, Đội điều trị 3, Tiểu đoàn 827, Xưởng cưa và hai ngày sau, khối hành quân thử ba gồm hơn 40 xe ô tô, xe đặc chủng của Trung đoàn công binh 7, Tiểu đoàn 30 (Cục Kỹ thuật) chở 215 người và 120 tấn vật chất cũng xuất phát tiến về phía nam. Dưới sự chỉ huy của thiếu tá Nguyễn Thanh Sơn (Phòng Tác chiến), các lực lượng của Bộ Tham mưu nhanh chóng lập 7 trạm: Tam Điệp, ngã ba Vọt, Quán Hầu, bắc đèo Lăng Cô, Nam Ô, nam Chu Lai, khu vực Đoàn 556 (ký hiệu G-478); tiến hành điều chỉnh giao thông, chỉ dường, kiểm soát quân sự, duy trì kỷ luật, hướng dẫn các đoàn xe vào đúng vị trí tạm dừng; đặt 5 trạm thông tin liên lạc cố định và cơ động ở Vinh, ngã ba Vọt, Nam Ô, Đà Nẵng, Quy Nhơn. Cùng thời gian này, Cục Hậu cần cũng triển khai các trạm bổ sung xăng dầu, quân y ở ngã ba Vọt, Liên Chiểu, Diêu Trì (ký hiệu: HC-487); Cục Kỹ thuật triển khai các trạm sửa chữa cứu kéo ở bắc đèo Ngang, bắc đèo Hải Vân, đông đèo An Khê (ký hiệu KT-487). Do được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ, nên quá trình cơ động gặp mưa bão kéo dài nhưng các phân đội hành quân đường bộ đều hoàn thành nhiệm vụ. Đến ngày 8 tháng 12, lực lượng hành quân bộ đã vào hết vị trí tập kết quy định ở Khu 5; toàn bộ xe vận tải có mặt đầy đủ ở Sư đoàn 860 sẵn sàng đón lực lượng hành quân bằng tàu hỏa về vị trí đóng quân. Để kịp thời chỉ huy chỉ đạo các lực lượng ở phía nam, Quân đoàn tổ chức sở chỉ huy tiền phương ở thị xã Plei Ku do đại tá Phạm Duy Tân (Phó tư lệnh Quân đoàn) chỉ huy; đồng thời lập sở chỉ huy bổ trợ tại Sư đoàn 860 do thiếu tá Nguyễn Thanh Sơn (Phòng Tác chiến) phụ trách để tiếp nhận và điều hành vận chuyển lực lượng, trang bị, vật chất từ ga Diêu Trì về các đơn vị. Sau khi khối hành quân tiền trạm bằng ô tô xuất phát, từ ngày 6 đến ngày 31 tháng 12 năm 1987, lực lượng tiền trạm đi bằng tàu hỏa gồm 1.875 cán bộ, chiến sĩ, 98 xe ô tô 20 xe máy công binh và 554 tấn hàng hóa vật chất đã nhanh chóng tập kết về ga Lưu Xá (xe máy), ga Thường Tín (người), ga Hà Nội (hàng hóa), lần lượt lên tàu vào ga Diêu Trì. Ngay sau khi xuống tàu, các lực lượng đã được xe ô tô chuyển thẳng về vị trí đóng quân của từng đơn vị. Tại vị trí đóng quân mới, lực lượng tiền trạm khẩn trương làm việc với cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương, tổ chức tiếp nhận và quản lý các doanh trại, cơ sở vật chất; nghiên cứu điều chỉnh đội hình đóng quân của từng đơn vị, lập quy hạch tổng thể xây dựng doanh trại; tiếp nhận hàng hóa vật tư, chuẩn bị mọi mặt cho các đợt hành quân tiếp sau; xác định các điểm khai thác vật liệu xây dựng, tăng gia sản xuất. Riêng lực lượng tiền trạm của Sư đoàn 320 và Trung đoàn công binh 7 cùng các cơ quan chức năng của tỉnh Gia Lai - Kon Tum hoàn thành ký kết các văn bản hợp đồng và tiến hành thi công lòng hồ A Yun Hạ. Đợt hành quân tiền trạm thành công, không những khẳng định quyết tâm cao và khả năng hoàn thành thắng lợi ''nhiệm vụ 487'' của cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên; mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để Quân đoàn bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch cơ động toàn bộ lực lượng từ 1 năm xuống còn 6 tháng theo mệnh lệnh mới của Tổng Tham mưu trưởng. Những kinh nghiệm thực tiễn bước đầu nhưng rất quý rút ra từ đợt hành quân tiền trạm của Quân đoàn, đã được Phòng Khoa học - Lịch sử Quân sự, Bộ Tham mưu kịp thời nghiên cứu tổng hợp thành những nội dung cụ thể và gửi đến các đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị trước khi bước vào các đợt hành quân lớn. Song song với tổ chức hành quân tiền trạm, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị và 4 cơ quan Quân đoàn khẩn trương điều chỉnh các kế hoạch và đẩy mạnh mọi công tác chuẩn bị hành quân theo lệnh mới của Bộ. Tại sở chỉ huy cơ bản, sở chỉ huy tiền phương và sở chỉ huy bổ trợ của Quân đoàn, nhiều cuộc họp quán triệt nhiệm vụ, bàn bạc triển khai thực hiện phương án, kế hoạch dược tổ chức. Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên thỉnh thị nắm vững sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng Bộ. Các cơ quan Quân đoàn tranh thủ mọi sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên và hiệp đồng chặt chẽ với Cục Vận tải, Tổng cục Đường sắt, các đơn vị bạn và địa phương; vừa chủ động kiên quyết thực hiện nhiệm vụ, vừa kịp thời đề xuất nhiều biện pháp tích cực giúp Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ huy chỉ đạo đơn vị. Chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của Tổng Tham mưu trưởng, Quân đoàn hoàn thành tốt việc tiếp nhận và bàn giao doanh trại, các loại vũ khí phương tiện, vật chất hậu cần, kỹ thuật ở cả hai khu vực phía Bắc và phía Nam theo kế hoạch thống nhất. Thực hiện Quyết định (số 1717/QĐ-QP ngày 14.11.1987) của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều động Sư đoàn bộ binh 860 thuộc Quân khu 5 về trục thuộc Quân đoàn 3; ngày 18 tháng 12 năm 1987, việc bàn giao Sư đoàn đã được hoàn thành tại sở chỉ huy Sư đoàn 860. Đại diện bên giao có đại tá Nguyễn Đăng Hòa - phó Tham mưu trưởng Quân khu (được tư lệnh Quân khu 5 ủy quyền chủ trì giao), đại tá Hoàng Nghị - phó chủ nhiệm Hậu cần Quân khu và một số cán bộ cơ quan Quân khu 5; đại diện bên nhận gồm đại tá Phạm Duy Tân - phó tư lệnh Quân đoàn 3, trung tá Nguyễn Đức Thiều - trưởng phòng Tham mưu, Cục Hậu cần và một số cán bộ cơ quan Quân đoàn. Tham dự bàn giao còn có đại tá Nguyễn Hữu Hòa - phó sư đoàn trưởng về quân sự, đại tá Võ Ngọc Bích - phó sư đoàn trưởng về hậu cần, trung tá - Trần Sơn - chủ nhiệm chính trị và một số cán bộ chủ trì các cơ quan của Sư đoàn 860. Từ đây Sư đoàn 860 là một thành viên trong Binh đoàn Tây Nguyên, với nhiệm vụ là đơn vị khung làm công tác quản lý huấn luyện quân dự bị và huấn luyện tân binh. Trong Sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh:, 963, 964, 965 và Trung đoàn pháo binh 561 được mang phiên hiệu 5 số là đơn vị: 10.919, 10920, 10.921 và 10.922. Với chức năng là cơ quan trung tâm hiệp đồng, Bộ Tham mưu luôn chủ động và đề xuất nhiều biện pháp giúp cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn lãnh đạo, chỉ huy công tác quân sự, diều hành cuộc hành quân, duy trì các chế độ sẵn sàng chiến đấu, củng cố các sở chỉ huy, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, duy trì hoạt động của các trạm trên đường hành quân, chuẩn bị tiếp nhận tân binh. Đồng thời triển khai huấn luyện bổ sung 15 ngày cho cán bộ các cấp về công tác tổ chức chỉ huy hành quân bằng cơ giới và huấn luyện bộ đội động tác lên xuống tàu xe, bốc xếp hàng hóa, gói buộc trang bị vật chất, giáo dục kỷ luật hành trú quân trên dọc đường và thực hiện các chế độ nền nếp trên địa bàn đóng quân mới. Xác định rõ vị trí ý nghĩa và tính chất vừa thường xuyên, lâu dài vừa cấp bách của công tác bảo đảm hậu cần, với Cục Hậu cần và cán bộ trong ngành làm nòng cốt, Quân đoàn giữ vững hoạt động của căn cứ hậu cần cơ bản ở Bắc Thái (bảo đảm cho lực lượng ở phía bắc); triển khai căn cứ hậu cần phía trước ở Plei ku (bảo đảm cho các lực lượng ở phía nam) , tổ chức một phân căn cứ hậu cần ở Sư đoàn 860 (làm nhiệm vụ vận chuyển bộ đội, hàng hóa từ ga Diêu Trì về các đơn vị), bố trí khu kho trung chuyển tiếp nhận hàng hóa Bộ giao ở khu vực Quy Nhơn. Do chủ động linh hoạt, tích cực khắc phục khó khăn, Quân đoàn đã bảo đảm được từ 10 ngày đến 15 ngày lương thực thực phẩm cho bộ đội mang theo khi hành quân. Đến cuối tháng 3 năm 1988 đã dự trữ được nửa tháng lương thực, thực phẩm và một phần ba cơ số xăng dầu cho các loại xe ở địa bàn mới. Nhiều biện pháp nhằm chuẩn bị đủ rau xanh, thịt, nước uống cho bộ đội trên đường hành quân được triển khai. Quân đoàn huy động 25 triệu đồng từ quỹ tăng gia tăng thêm cho mỗi người 1.000 động bồi dưỡng khi cơ động. Các trạm quân y dọc đường hành quân được củng cố, công tác phòng chữa bệnh được chú trọng. Hàng nghìn giường, ván nằm, bàn ghế các loại được đưa đến các vị trí đóng quân mới. Nhiều vật liệu xây dựng được tiếp nhận và tự khai thác phục vụ xây dựng nhà cửa, lán trại che mưa nắng cho người và vũ khí phương tiện. Việc tăng gia sản xuất rau xanh được đẩy mạnh. Mặc dù có rất nhiều khó khăn, Cục Kỹ thuật và các đơn vị trong Quân đoàn luôn chủ động, sáng tạo, có nhiều biện pháp tích cực bảo đảm kỹ thuật cho ''nhiệm vụ 487''. Các phương tiện xe máy, vũ khí khí tài được kiểm tra nắm chắc về Số lượng, phân loại chất lượng, lập kế hoạch và tiến hành bảo đường, khôi phục. Những biện pháp bảo đảm kỹ thuật trên đường hành quân được triển khai. Việc tiếp nhận vật tư phụ tùng và tổ chức bàn giao vũ khí phương tiện kỹ thuật được tổ chức chặt chẽ, đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn. Với nỗ lực cao, Ngành Kỹ thuật Quân đoàn đã kiểm tra phân loại chất lượng trên 1.200 xe ô tô các loại hàng vạn khẩu súng, hàng nghìn tấn đạn; bảo dưỡng cấp 1, 2 được 100% xe ô tô, 100% xe tăng, xe bọc thép, 44% pháo cơ giới; khôi phục 16 xe ô tô thanh lý; bổ túc tay lái cho 925 lái xe ô tô và 130 lái xe tăng; nâng hệ số kỹ thuật xe ô tô từ 0,75 lên 0,95 và xe tăng, xe bọc thép từ 0,93 lên 1, vũ khí từ 0,96 lên 1. Đặc biệt, Quân đoàn đã tổ chức hợp lý 3 đợt thi xe pháo tốt, tạo được phong trào sôi nổi cả chiều rộng và chiều sâu, nâng tốc độ sửa chữa, khôi phục xe pháo lên nhanh, chất lượng hiệu quả cao, kịp thời bảo đảm cho hành quân và sẵn sàng chiến đấu. Xác định rõ cán bộ, chiến sĩ là chủ thể của mọi hoạt động, là một nhân tố quyết định thắng lợi cuộc hành quân, nên song song với việc chuẩn bị cho cuộc chuyển quân lớn về các mặt quân sự, hậu cần, kỹ thuật; Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp rất quan tâm đến công tác đảng, công tác chính trị. Nhiều nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ di chuyển và nghị quyết chuyên đề ra đời; việc giáo dục, quán triệt nhiệm vụ cho bộ đội được tiến hành liên tục, phong trào thi đua được đẩy mạnh; các tổ chức Đảng, chỉ huy và quần chúng ở các cấp được kiện toàn củng cố. Theo quyết định của trên, cuối năm 1987, Thiếu tướng Hà Quốc Tỏan - Bí thư Đảng ủy, phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn nghỉ hưu, đại tá Tiêu Văn Mẫn (cục trưởng Cục Chính trị) được bổ nhiệm làm Bí thư Đảng ủy, phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn; đại tá Đinh Xuân La - phó tư lệnh Tham mưu trưởng chuyển công tác về Học viện Quân sự cấp cao, đại tá Trần Tất Thanh (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31) được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn. Tại các cơ quan Quân đoàn và các đơn vị cũng có những thay đổi về lãnh đạo, chỉ huy nhằm kiện toàn tổ chức cho phù hợp với yêu cầu, tình hình niệm vụ mới. Trước khi cơ động lực lượng vào Khu 5, Quân đoàn kịp thời giải quyết cho 389 cán bộ nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển vùng, xuất ngũ và đi xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ giải quyết một phần khó khăn hậu phương và yên tâm lên đường, Quân đoàn đã tổ chức cho 100% quân số lần lượt nghỉ phép, tranh thủ về thăm gia đình, kèm theo thư động viên thăm hỏi của Tư lệnh Quân đoàn. Bằng vốn tự có, Quân đoàn tích cực giải quyết chính sách hậu phương cán bộ: trợ cấp làm nhà và sửa chữa nhà cho 407 cán bộ tại chức từ cấp tiểu đoàn trở lên, trợ cấp khó khăn 27 tấn gạo cho 2.500 cán bộ các cấp. Với nội dung toàn diện, biện pháp tổng hợp, kiên trì giáo dục thuyết phục động viên nên công tác đảng, công tác chính trị thu được nhiều kết quả tốt. Trong dó vấn đề khó khăn hơn cả là tư tưởng nhận thức của bộ đội đã được giải quyết từng bước, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp đã cơ bản yên tâm, trách nhiệm xác định rõ ràng, quyết tâm cao, đoàn kết tin tưởng đã tạo ra nguồn sức mạnh to lớn đẩy nhanh quá trình chuẩn bị hành quân và tạo không khí phấn khởi, lạc quan trong toàn đơn vị. Luôn hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng chiến lược của công tác dân vận, Quân đoàn tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập chính sách dân tộc và phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc ít người ở Tây Nguyên; đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đi và đến, thực hiện quân với dân một ý chí. Tại địa bàn đóng quân ở phía Bắc, tất cả các đơn vị từ cấp tiểu đoàn độc lập đến Quân đoàn đều tổ chức họp với cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể địa phương kiểm điểm mới quan hệ quân dân trong thời gian đóng quân, xin ý kiến phê bình góp ý, bàn bạc giải quyết mọi vướng mắc tồn tại, xây dựng các công trình lưu niệm và việc làm tình nghĩa... được địa phương hoan nghênh và đánh giá tốt. Trong hội nghị quân dân giữa Quân đoàn 3 và tỉnh Bắc Thái, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã nhận xét: "Các quân nhân của Quân đoàn 3 là công dân của tỉnh Bắc Thái. Bắc Thái là hậu phương trực tiếp của Quân đoàn 3''. Phát biểu trong buổi lễ xuất quân làm ''nhiệm vụ 487'' của Binh đoàn Tây Nguyên, đồng chí Bí thư Đảng ủy Quân khu 1 nói: ''Quân khu coi Quân đoàn như lực lượng dự bị của mình; Quân đoàn 3 đã góp phần bảo vệ trọn vẹn biên giới phía Bắc Tổ quốc''1. Trong quá trình chuẩn bị hành quân, Quân đoàn thường xuyên nhận được sự chỉ đạo giúp đỡ của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và sự giúp đỡ của Tổng cục Đường sắt, Quân chủng Hải Quân, Quân khu 1 và Quân khu 5. Đồng chí Thượng tướng Đoàn Khuê - Tổng Tham mưu trưởng và các đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng trực tiếp xuống kiểm tra và động viên Quân đoàn. Nhiều đồng chí thủ trưởng, cơ quan các tổng cục, tư lệnh và cơ quan các binh chủng trực tiếp nắm tình hình Quân đoàn, giúp đỡ các mặt công tác chuẩn bị hành quân. Tổng cục Đường sắt ưu tiên tập trung phương tiện vận chuyển bảo đảm cho Quân đoàn hành quân đúng kế hoạch. Đặc biệt, Quân chủng Hải quân đang tập trung chống xâm lấn ở quần đảo Trường Sa, nhưng vẫn dành cho Quân đoàn hai chuyến tàu tình nghĩa. Các đơn vị bạn như Quân khu 1, Quân khu 5 và Đảng bộ, chính quyền, quân dân địa phương 11 tỉnh, thành phố có lực lượng của Quân đoàn hành quân qua đều sẵn sàng giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Được sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ của cấp trên và các cấp, các ngành, đơn vị bạn có liên quan, sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, ngày 28 tháng 2 năm 1988 đợt hành quân lớn thứ nhất của Quân đoàn bắt đầu. Trong khi từng đoàn xe ô tô vận tải từ Bắc Thái, Vĩnh Yên tập kết gần 8.000 bộ đội của Sư đoàn 10, Sư đoàn 31, Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 và các đơn vị binh chủng, nhà trường, cơ quan Quân đoàn về ga Thường Tín lên tàu vào Nam và chạy thẳng theo quốc lộ số 1, thì gần 300 xe chiến đấu, xe chuyên dụng, pháo lớn và gần 5.500 tấn hàng hóa vật chất được xếp gọn trên các toa tàu ở các ga: Lưu Xá, Khúc Rồng, Vĩnh Yên và lần lượt chuyển vào phía Nam. Cùng thời gian này, 108 cán bộ, chiến sĩ, 38 phương tiện xe pháo, 500 tấn xi măng, 300 bộ vì kèo thép... đi trên 2 chuyến tàu thủy của Hải quân, cũng rời cảng Hải Phòng rồi cặp cảng Quy Nhơn an toàn. Trong khi đợt hành quân thứ nhất đang diễn ra, ngày 18 tháng 4 năm 1988 Đại tướng Lê Đức Anh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã vào Tây Nguyên thăm và làm việc với Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 tại sở chỉ huy tiền phương ở thị xã Plei Ku, tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Trong thời gian làm việc với Quân đoàn, đồng chí Bộ trưởng đã trực tiếp xuống kiểm tra Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, phê duyệt vị trí đóng quân mới của Quân đoàn. Sự quan tâm chỉ đạo động viên của đồng chí Bộ trưởng là nguồn cổ vũ rất lớn cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái thi đua quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hành quân di chuyển mà Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã tin tưởng giao phó. Ngày 18 tháng 5, sở chỉ huy cơ bản của Quân đoàn 3 di chuyển từ Bắc Thái vào thị xã Plei Ku và chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 6 tại địa bàn mới. Ngày 29 tháng 5 năm 1988 đợt một hành quân kết thúc, toàn bộ quân số, vũ khí trang bị, hàng hóa đã tập kết an toàn ở các vị trí đóng quân mới phía Nam. Tuy thời gian còn chậm so với kế hoạch (do những yếu tố khách quan về bảo đảm phương tiện cơ động của đơn vị bạn), nhưng kết quả của đợt hành quân lớn thứ nhất chuyển được gần 40% quân số và vật chất, 50% vũ khí trang bị kỹ thuật từ miền Bắc vào Khu 5 là một thành công lớn, tạo đà cho Quân đoàn hoàn thành thắng lợi đợt hành quân cuối cùng và toàn bộ cuộc hành quân di chuyển. Được thắng lợi của đợt hành quân thứ nhất cổ vũ và kịp thời rút kinh nghiệm từ thực tiễn, từ ngày 30 tháng 5 năm 1988 Quân đoàn tiến hành đợt hành quân lớn thứ hai và cũng là đợt hành quân cuối cùng. Lực lượng tham gia đợt hành quân này bao gồm: 10.802 người, 116 xe tăng, xe thiết giáp, trên 2.000 tấn vật chất, cơ động bằng tàu hỏa và xe ô tô chuyển thẳng. Ngày 18 tháng 7 năm 1988, đợt hành quân cuối cùng của Quân đoàn đã hoàn thành và cũng kết thúc thắng lợi ''nhiệm vụ 487''. Từ ngày xuất phát cuộc hành quân tiền trạm đến khi toàn bộ đội hình Quân đoàn chuyển hết từ miền Bắc vào Khu 5, thời gian là 8 tháng 5 ngày. Với hai đợt hành quân chính và đợt hành quân tiền trạm, Quân đoàn đã sử dụng 52,5 chuyến tàu hỏa (815 toa), 1.147 xe ô tô chuyển thẳng, 8.806 chuyển xe ô tô vận chuyển ở hai đầu lên xuống tàu và 2 chuyến tàu thủy, chuyển được 20.961 người, hơn 1500 xe cơ giới và pháo lớn, hơn 11.000 tấn vũ khí đạn dược, vật chất hàng hóa các loại. Quân đoàn hoàn thành bàn giao 306.753m2 nhà cho các đơn vị bạn, và tổ chức tiếp nhận 97.403m2 nhà ở vị trí mới; giao đầy đủ an toàn lên trên gần 400 xe tăng, xe thiết giáp, ô tô, súng pháo lớn và hơn 2.500 tấn đạn dược. So với kế hoạch, Quân đoàn đã giảm được 2,5 chuyến tàu (hơn 50 toa), về thời gian chậm 15 ngày. Sau một thời gian ngắn đến vị trí đóng quân mới, toàn Quân đoàn đã ổn định mọi mặt, khôi phục được 50% lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng được 42.119m2 nhà các loại, gieo trồng được 400 héc-ta cây lương thực, phát triển đàn bò 1.400 con và đàn lợn 1.000 con; tiến hành niêm cất 113 xe chiến đấu và pháo lớn, 1.400 súng bộ binh, bảo dưỡng được 90% số xe tăng, xe thiết giáp, 30% số ô tô và 45% số súng pháo có trong biên chế, tiếp nhận an toàn 95 xe ô tô và pháo lớn. Ngày 22 tháng 8 năm 1988, tại sở chỉ huy cơ bản của Quân đoàn ở thị xã Plei Ku, Hội nghị tổng kết ''nhiệm vụ 487'' được tổ chức. Hội nghị khẳng định: ''Sau 6 tháng thực hiện nhiệm vụ hành quân di chuyển, Quân đoàn đã đưa được toàn bộ lực lượng, phương tiện, trang bị vũ khí kỹ thuật và vật chất vào vị trí mới. Thực hiện đúng ý đỉnh và mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng, Nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn và quyết tâm của chỉ huy thực hiện đầy đủ phương châm tư tưởng chỉ đạo: ''Đi nhanh, đi gọn, đến đủ, an toàn, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao''. Đồng thời chủ động khắc phục mọi khó khăn, bảo đảm tất đời sống bộ đội ở địa bàn đóng quân mới''2. Từ thực tiễn cuộc hành quân di chuyển lớn trung thời bình, Hội nghị rút ra 4 bài học kinh nghiệm thành công là: 1. Quán triệt ý định cấp trên, nắm chắc nhiệm vụ đơn vị, thống nhất trên dưới là cơ sở hạ quyết tâm đúng đắn tổ chức thực hiện nhiệm vụ thắng lợi. 2. Lập kế hoạch đầy đủ chính xác, tổ chức thực hiện chủ động linh hoạt là yếu tố quyết định hoàn thành nhiệm vụ. 3. Tổ chức lực lượng hậu cần đủ sức bảo đảm cho nhiệm vụ hành quân và tổ chức đời sống ở địa bàn mới là một nhân tố tính quyết định đến hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ. 4. Tổ chức bảo đảm kỹ thuật chu đáo là yếu tố quyết định cho hành quân bằng xe cơ giới. Về mức độ hoàn thành ''nhiệm vụ 487" của các đơn vị, Hội nghị đánh giá: Sư đoàn bộ binh 31, Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, Trung đoàn công binh 7, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234, Bộ Tham mưu, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 860, Cục Chính trị, Trường Quân chính, Trường Hạ sĩ quan hoàn thành nhiệm vụ, có cố gắng trên một số mặt3. Do hoàn thành tốt nhiệm vụ hành quân di chuyển, Quân đoàn 3 đã được Bộ Quốc phòng tặng cờ thi đua. Đặc biệt trong Quân đoàn có 8 đơn vị hoàn thành xuất sắc "nhiệm vụ 487'', được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương: Trung đoàn công binh 7 được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 và Bộ Tham mưu được tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Cuộc hành quân di chuyển toàn bộ Quân đoàn 3 từ miền Bắc vào Khu 5 năm 1988 là cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của Quân đội ta trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Từ diễn biến, kết quả và những bài học kinh nghiệm quý rút ra từ thực tiễn cuộc hành quân đã được Quân đoàn và cơ quan Bộ tổng kết đúc rút thành chuyên đề ''Hành quân cơ động 487'', nhằm phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi khi có tình huống xảy ra. Thắng lợi của cuộc hành quân và những phần thưởng vinh dự của Nhà nước và Bộ Quốc phòng trao tặng không những khẳng định ý chí, quyết tâm, bản anh của cán bộ, chiến sĩ và bước trưởng thành mới của Binh đoàn; mà còn là nguồn cổ vũ lớn lao, tạo đà cho Quân đoàn vượt qua mọi khó khăn thử thách trong những năm đầu trên địa bàn đóng quân mới. ------------------------------------------------------------------ 1. Báo cáo tình hình hành quân di chuyển đội hình từ tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Gia Lai - Kon Tum của Quân đoàn 3. Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, ngày 15.8.1988, tr. 28. 2. Báo cáo tình hình hành quân di chuyển đội hình từ tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Gia Lai - Kon Tum của Quân đoàn 3. Tlđd, tr. 39. 3. "Nhận xét các đơn vị thực hiện"nhiệm vụ 487''. Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, ngày 22.8.1988. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Năm, 2021, 11:09:30 am * Được thắng lợi to lớn của ''nhiệm vụ 487'' cổ vũ, tranh thủ những điều kiện thuận lợi của đất nước do kết quả bước đầu thực hiện đường lối đổi mới tạo ra và sự giúp đỡ của địa phương khai thác tiềm năng to lớn của Tây Nguyên và vùng ven biển Khu 5, phát huy thế mạnh nội lực, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái thi đua nhằm thực hiện thắng lợi phương hướng mà Đảng ủy Quân đoàn đã xác định: "Tập trung xây dựng Quân đoàn vững mạnh, có sức chiến đấu cao, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, đời sống được nâng lên, đồng thời tham gia xây dựng địa bàn chiến lược Tây Nguyên vững mạnh về mọi mặt".1. Tiếp tục thực hiện chấn chỉnh tổ chức biên chế rút gọn theo quy định của Bộ, phù hợp với tình hình nhiệm vụ của Binh đoàn, từ cuối năm 1988 đến năm 1990 Quân đoàn tiến hành giải thể các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 860, Bệnh xá 4 cơ quan Quân đoàn, Đội điều trị 3, Đoàn 487, Đội sản xuất dược liệu 85, Đội xây dựng, Đoàn 386 (thuộc Cục Hậu cần), Cơ quan Chủ nhiệm Tăng - Thiết giáp và Ban Vật tư (thuộc Bộ Tham mưu). Thành lập Phòng điều tra hình sự, Tiểu đoàn hóa học 21 (thuộc Bộ Tham mưu), Đoàn kinh tế 988 (lâm thời), Đội 688 (sản xuất chất kết dính, sau chuyển thành Xí nghiệp 688 liên doanh giữa Quân đoàn 3 và tỉnh Gia Lai - Kon Tum), Xưởng cưa mộc, Ban chỉ huy công trình 988 (xây dựng doanh trại cơ quan Quân đoàn), tờ tin Binh đoàn Tây Nguyên (Cục Chính trị). Tháng 5 năm 1989, Trường Hạ sĩ quan sáp nhập vào Trường Quân chính, Trường Hậu cần và Trường Kỹ thuật sáp nhập thành Trường Hậu cần - Kỹ thuật. Cũng trong giai đoạn này, Viện Quân y 211 hợp nhất với Bệnh viện 15 (thuộc Quân khu 5) thành bệnh viện khu vực lấy phiên hiệu là Bệnh viện 211 trực thuộc Quân đoàn 3, sáp nhập Tiểu đoàn 7 chỉ huy pháo binh (thuộc Bộ Tham mưu) về Trung đoàn pháo binh 40. Tháng 6 năm 1989, Quân đoàn thực hiện chấn chỉnh tổ chức, kiện toàn biên chế các đơn vị và cơ quan theo hướng giữ nguyên các đầu mối nhưng giảm dần về quân số, trang bị. Các sư đoàn 10, 320 và các trung, lữ đoàn binh chủng tích cực điểu chỉnh lực lượng, dồn dịch quân số, trang bị ưu tiên tập trung cho các đơn vị đủ quân, làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; các đơn vị còn lại làm nhiệm vụ khung huấn luyện và từng bước chuyên sang quản lý, huấn luyện lực lượng dự bị động viên ở địa bàn Quân khu 5. Riêng Sư đoàn 31 và Trường Quân chính được giao nhiệm vụ huấn luyện chen sĩ mới cho Quân đoàn. Cho đến cuối năm 1988, tổng quân số của Quân đoàn đạt 84% so với biểu biên chế (1988-1990) bằng khỏang 60% so với trước khi thực hiện ''nhiệm vụ 487''. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và tiếp tục đẩy mạnh xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ trong điều kiện tổ chức biên chế rút gọn, 2 năm 1989, 1990 Quân đoàn điều chỉnh vị trí đóng quân của một số đơn vị và cơ quan. Bộ tư lệnh và 4 cơ quan Quân đoàn chuyển từ nơi đóng quân tạm thời ở phường Thống Nhất (thị xã Plei Ku) về vị trí đóng quân mới. Thực hiện quyết định (số 171/QĐ/TM ngày 19.7.1989) của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, cuối năm 1989 và đầu năm 1990 Quân đoàn tổ chức di chuyển toàn bộ Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 từ huyện Ayunpa về địa điểm đóng quân mới. Mặc dù cuộc chuyển quân hoàn thành đúng kế hoạch và bảo đảm an toàn nhưng đã để lại cho Quân đoàn một bài học về việc quyết định đặt vị trí đóng quân cho một đơn vị cụ thể, ''phải bàn bạc tập thể để tránh những sai sót, gây lãng phí công sức và tiền của của đơn vị và Nhà nước''. Cũng trong thời gian này, Quân đoàn điều chỉnh và bố trí lại đội hình đóng quân của các đơn vị: Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10), Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31), Trung đoàn phòng không 234; bốn tiểu đoàn: 27, 28, 29, 21 (Bộ Tham mưu), Tiểu đoàn 30 (Cục Kỹ thuật) Và một số bộ phận khác trực thuộc 4 cơ quan Quân đoàn. Việc bố trí lai vị trí đóng quân phù hợp hơn mới nhiệm vụ và đặc điểm của từng đơn vị đã tạo sự ổn định, yên tâm, phấn khởi cho cán bộ, chiến sĩ, là cơ sở cho đơn vị triển khai và đẩy mạnh các hoạt động. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng 2 năm 1989-1990, nắm vững vị trí chức năng, nhiệm vụ Quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ trên địa bàn chiến lược quan trọng Tây Nguyên, Khu 5; mặc dù vừa chuyển đến vị trí mới, tổ chức biên chế liên tục rút gọn, vị trí đóng quân chưa ổn định, lại tập trung cao độ cho nhiệm vụ xây dựng cơ bản, nhưng Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác sẵn sàng chiến đấu và nâng cao sức mạnh chiến đấu. Hệ thống sở chỉ huy các cấp được củng cố hoạt động có nền nếp, nhất là cấp trung đoàn; các chế độ sẵn sàng chiến đấu được duy trì nghiêm ngặt; các phương án đánh địch tại chỗ, phòng chống cháy nổ, phòng chống bạo loạn được triển khai. Việc phối hợp với địa phương nắm chắc tình hình địa bàn và truy quét FULRO, tổ chức tuần tra canh gác, kiểm soát quân sự, bảo vệ an toàn đơn vị, giữ gìn an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được duy trì thường xuyên và có hiệu quả. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Quân đoàn đã tập trung xây dựng, lắp đặt tổng trạm thông tin, củng cố hệ thống thông tin liên lạc ở các cấp, xây dựng các tuyến thông tin dây trần nội bộ ở Sư đoàn 10 và Trung đoàn công binh 7; khôi phục nhanh lượng vật chất dự trữ chiến đấu theo quy định. Để xây dựng phương án tác chiến cơ bản, ngay, trong năm 1988 Quân đoàn đã chủ động tổ chức cho gần 300 lượt cán bộ chỉ huy và cơ quan từ trung đoàn trở lên đi nghiên cứu thực địa trên các hướng nhiệm vụ; đồng thời triển khai nghiêm túc Chỉ lệnh số 33/CL-QP về sẵn sàng chiến đấu, nhanh chóng hoàn chỉnh kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp. Năm 1989 quyết tâm tác chiến cơ bản của Quân đoàn hoàn thành với chất lượng cao và được Bộ thông qua; hệ thống văn kiện chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu được bổ sung hoàn chỉnh theo nội dung và phương pháp mới, nhiều lớp tập huấn về công tác tham mưu tác chiến được mở; những nhận thức lệch lạc trong lãnh đạo, chỉ huy ở một số đơn vị về sẵn sàng chiến đấu được đấu tranh khắc phục. Những cố gắng liên tục và kết quả tốt về sẵn sàng chiến đấu trong những năm đầu trở lại Khu 5 của Quân đoàn 3 không những góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn tạo cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị trong những năm sau. Xác định rõ huấn luyện chiến đấu và giáo dục chính trị luôn là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, vì vậy trong bộn bề công việc Quân đoàn vẫn kiên quyết giành thời gian tập trung cán bộ, bảo đảm vật chất, thao trường hoàn thành nội dung, chương trình huấn luyện cho các đối tượng phương châm huấn luyện ''cơ bản, thiết thực, vững chắc'' được giữ vững. Điểm nổi bật trong thời gian này là huấn luyện chiến sĩ mới quê ở các tỉnh phía Nam. Trong 2 năm 1989, 1990, Quân đoàn tiếp nhận và huấn luyện hơn 10.000 chiến sĩ mới. Trước yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị ngày càng cao, trong khi nhận thức của chiến sĩ mới về Luật Nghĩa vụ quân sự còn hạn chế, trách nhiệm và kinh nghiệm quản lý chiến sĩ mới của đội ngũ cán bộ còn ở mức độ, nên tỷ lệ đào - bỏ ngũ rất cao. Chỉ tính riêng năm 1989, Quân đoàn tuyển nhận 4.085 chiến sĩ mới, trong quá trình huấn luyện có 2.560 lượt đào ngũ, trong đó có 1.225 người phải cắt quân số. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo các ngành, các đơn vị kiểm tra nghiên cứu làm rõ nguyên nhân, đề ra các giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu và đi đến chấm dứt việc đào bỏ ngũ hàng loạt này. Một chuyên đề nghiên cứu khoa học: ''Tổ chức tuyển nhận quản lý giáo dục huấn luyện chiến sĩ mới, quê ở các tỉnh phía Nam'' được triển khai. Kết quả nghiên cứu chuyên đề nhanh chóng được phổ biến đến các đơn vị. Với những cố gắng cao của các ngành, các cấp, các đơn vị và những biện pháp tổng hợp được áp dụng đã giảm mạnh việc bỏ ngũ của chiến sĩ mới, làm cho công tác huấn luyện đi vào ổn định và thu được những kết quả ngày càng tiến bộ. Năm 1989 tất cả các nội dung huấn luyện đều đạt yêu cầu trở lên trong đó có một số khoa mục như bắn súng, ném lựu đạn, thuốc nổ của bộ binh đạt khá, giỏi. Năm 1990 kết quả huấn luyện được nâng cao hơn, 100% nội dung đạt yêu cầu trở lên, có từ 60 đến 70% khá giỏi. Tại các nhà trường Quân đoàn, hàng trăm cán bộ, hạ sĩ quan và nhân viên chuyên môn kỹ thuật được đào tạo và bổ túc hàng năm, kịp thời bổ sung cho các đơn vị. Truyền thống dạy tốt học tốt được giữ vững và phát huy. Những kết quả tốt trong huấn luyện đã góp phần nâng cao chất lượng công tác sẵn càng chiến đấu, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện theo 5 yêu cầu mới của Tổng Tham mưu trưởng và thực hiện chỉ thị ''Toàn Quân đoàn hành động theo điều lệnh'' của Tư lệnh Quân đoàn. Số vụ vi phạm kỷ luật hàng năm giảm dần: năm 1989 giảm 36% so với năm 1988, năm 1990 giảm 40,8% so với năm 1989. Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện cho các lực lượng trong biên chế, từ năm 1990 Quân đoàn được Bộ Quốc phòng giao thêm nhiệm vụ nắm và quản lý, huấn luyện 25.000 quân nhân dự bị động viên, trong đó có 1.300 sĩ quan dự bị thuộc 6 tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định, Đắc Lắc, Phú Yên, Khánh Hòa, Thuận Hải. Đây là một nhiệm vụ mới, Quân đoàn có rất ít kinh nghiệm, trong khi địa bàn được giao nắm nguồn trải rộng toàn Quân khu 5 với chiều dài 600 - 700km, chiều rộng 300 - 600km, nguồn động viên mỏng và yếu, có tỉnh không có sĩ quan dự bị (như tỉnh Thuận Hải), tỷ lệ dự bị hạng 1 trung bình chỉ đạt 20 - 45%. Song khó khăn nhất vẫn là nhận thức chưa toàn diện của không ít quân nhân dự bị về nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân đối với nhiệm vụ quốc phòng và của một số cán bộ chính quyền cơ sở về công tác dự bị động viên trong sự nghiệp đổi mới. Thực hiện nhiệm vụ trên giao, tháng 4 năm 1990 Bộ tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cho các đơn vị thuộc quyền; trong đó sư đoàn 10 động viên 5.900 quân dự bị ỏ hai tỉnh Đắc Lắc, Bình Định; Sư đoàn 320 động viên 6.100 quân dự bị ở các tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định; Sư đoàn 31 là đơn vị khung động viên, nắm và huấn luyện 9.807 quân dự bị của 3 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Thuận Hải; Lữ đoàn xe tăng 273 động viên 1.000 quân dự bị và Trung đoàn pháo binh 40 động viên 866 quân dự bị ở tỉnh Bình Định; Trung đoàn công binh 7 động viên 895 quân dự bị và Trung đoàn phòng không 234 động viên 888 quân dự bị ở tỉnh Phú Yên. Năm đầu thực hiện nhiệm vụ động viên, tuy kết quả còn ở mức độ nhưng rất có ý nghĩa, nó để lại những kinh nghiệm quý và tạo đà cho Quân đoàn giành nhiều thành tích về nhiệm vụ mới mẻ này trong những năm sau. Một trong những điểm nổi bật và thành công nhất của Quân đoàn trong những năm đầu trở lại Tây Nguyên, Khu 5 là công tác xây dựng cơ bản. Chỉ trong một thời gian ngắn, với tinh thần tự lực vượt bậc, bằng phần lớn vốn tự có và lao động của bản thân, Quân đoàn đã xây dựng được một khối lượng lớn công trình quan trọng như nhà xe, nhà pháo, kho tàng, sở chỉ huy, nhà ở... với bước đi thích hợp, đúng hướng, tốc độ nhanh, có chất lượng và hiệu quả. Năm 1988 toàn Quân đoàn xây dựng được 61.902m2 nhà các loại đạt 127% kế hoạch; năm 1989 xây dựng cơ bản vượt chỉ tiêu Bộ giao, đạt 270,8% (77.693/26.600m2) và năm 1990 cũng vượt chỉ tiêu 55%. Đến năm 1990, Quân đoàn đã bảo đảm được 80% nhà ở so với nhu cầu sử dụng. Tổng diện tích xây dựng được 165.690m2, với vốn đầu tư 13.397.030.000 đồng, trong đó ngân sách Nhà nước là 4.032.000.000 đồng, Quân đoàn tự cân đối 9.365.000.000 đồng2. Đặc biệt, công trình xây dựng cơ quan Quân đoàn được khởi công từ ngày 20 tháng 11 năm 1988 và hoàn thành vào ngày 9 tháng 11 năm 1990. Sau 2 năm thi công, đã có 22 nhà các loại được xây dựng với diện tích sàn là 11.815m2, có các công trình phụ và tường rào bảo vệ bao quanh3. Đây là một quần thể kiến trúc đẹp, tiện dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Quân đoàn thực hiện nếp sống chính quy và nâng cao hiệu suất công tác. Cùng với những thành công trong xây dựng cơ bản, sản xuất vật liệu xây dựng, một số đơn vị trong Quân đoàn đã chủ động liên kết kinh tế, tham gia xây dựng các công trình thủy lợi trồng cây công nghiệp, làm hồ nuôi tôm... tăng nguồn thu hàng trăm triệu đồng. Bên cạnh những kết quả trên, công tác hậu cần trong thời gian này, tuy có nhiều khó khăn khách quan nhưng cố gắng không đều, nên còn những tồn tại: việc phòng chống sốt rét và bệnh ngoài da chưa được chú trọng đúng mức, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Năm 1988, tỷ lệ sốt rét lúc cao nhất toàn Quân đoàn là 7%, có đơn vị như Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Trung đoàn 7 lên đến 20%, có 14 ca tử vong. Năm 1989, bệnh sốt rét còn chiếm 6,91% và bệnh ngoài da chiếm 8% quân số. Trong sản xuất nông nghiệp, tuy diện tích gieo trồng hàng năm đạt từ 300 héc-ta đến 500 héc-ta, nhưng chưa chọn được những loại cây phù hợp nên năng suất thấp, lãng phí công sức bộ đội. Việc quản lý cơ sở vật chất, trang bị hậu cần ở một số đơn vị thiếu chặt chẽ gây mất mát hư hao tổn thất nhiều. Công tác kỹ thuật gần 3 năm đầu trên địa bàn mới có nhiều chuyển biến. Ngay khi hoàn thành cuộc hành quân di chuyển, Quân đoàn đã tổ chức tổng kiểm tra nắm lại tình hình mọi mặt trang bị, phương tiện, binh khí kỹ thuật, kịp thời có kế hoạch và triển khai bảo dưỡng, sửa chữa khôi phục, niêm cất; đồng thời tích cực xây dựng nhà xe, nhà pháo, kho tàng. Năm 1989 đã bảo đảm 82% nhà xe ô tô, 76% kho đạn; năm 1990 số nhà xe nhà pháo, nhà kho đạt 50.413m2. Hệ số kỹ thuật các loại trang bị đều tăng từ 0,02 đến 0,09, trong đó xe ô tô từ 0,81 lên 0,90. Công tác quản lý kỹ thuật ngày càng chặt chẽ và đi vào nền nếp, 100% số xe máy, súng pháo, khí tài có lý lịch, việc cấp giấy phép sử dụng xe ô tô và vũ khí được duy trì. Các kho tàng được sắp xếp gọn gàng, phòng chống cháy nổ, tuần tra bảo vệ. Trong điều kiện phần lớn vũ khí trang bị đã sử dụng nhiều năm, nguồn cung cấp của trên hạn chế, điều kiện khí hậu Tây Nguyên khắc nghiệt; việc bảo đảm phục vụ tốt cho các nhiệm vụ và giữ vững tình trạng chất lượng trang bị kỹ thuật của toàn Quân đoàn là một cố gắng lớn, một thành công mới của Ngành Kỹ thuật. Ngoài những thành tích tốt, do một số đơn vị chấp hành quy định quản lý kỹ thuật lỏng lẻo đã dẫn đến mất mát nhiều vũ khí trang bị, làm cháy nổ kho tàng gây thiệt hại nghiêm trọng. Mặc dù việc phát huy phong trào thi xe tốt đợt 3 thu được nhiều kết quả, nhưng ở một số đơn vị việc quản lý giáo dục đội ngũ lái xe chưa chặt chẽ, nên tai nạn giao thông nghiêm trọng4 giảm chậm. Phát huy kết quả công tác đảng, công tác chính trị trong ''nhiệm vụ 487'' và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo trong những năm đầu khi chuyển từ Cam-pu-chia ra phía Bắc, chủ động nhạy bén trước mỗi bước ngoặt lịch sử Binh đoàn; Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt công tác đảng, công tác chính trị ngay từ thời gian đầu vừa đặt chân lên địa bàn mới Khu 5. Nắm chắc đặc điểm của Quân đoàn là hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở các tỉnh phía Bắc, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn rất khó khăn, có nhiều tâm tư lo lắng trong quá trình đất nước đổi mới chuyển sang cơ chế thị trường; lãnh đạo, chỉ huy các cấp rất quan tâm đến công tác giáo dục, quản lý tư tưởng của bộ đội. Trong các nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ từng năm (1988, 1989, 1990) của Đảng ủy Quân đoàn, công tác lãnh đạo tư tưởng luôn được coi trọng. Đặc biệt, ngày 17 tháng 2 năm 1989, Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác tư tưởng trong 2 năm 1989-1990, đề ra phương hướng chung là: ''Tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng Quân đoàn vũng mạnh về chính trị - nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm tăng cường sự lãnh đạo vững chắc của Đảng, bảo đảm cho quân đoàn vững vàng về chính trị trong mọi tình huống, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Tổ quốc giao phó''. Về nhiệm vụ cụ thể và yêu cầu của công tác tư tưởng, Nghị quyết chỉ rõ: "1. Các cấp ủy và các tổ chức cơ sở chi bộ Đảng, cán bộ chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp phải nắm thật chắc, vừa chỉ đạo công tác tư tưởng một cách chặt chẽ chủ động nhạy bén, căn cứ vào các nhiệm vụ công tác tư tưởng đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương 5, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và kết luận của Bộ Chính trị về một số vấn đề trước mắt trong công tác tư tưởng và Chỉ thị 310 của Tổng cục Chính trị để định hướng tư tưởng và tiến hành công tác tư tưởng. 2. Nâng cao sự nhất trí củng cố đoàn kết nội bộ về tư tưởng và hành động... 3. Nắm vững công tác tư tưởng kết hợp chặt chẽ với công tác khác, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đoàn yên tâm gắn bó với nhiệm vụ xây dựng quân đội, Quân đoàn. 4. Đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, mở rộng hơn nữa tính dân chủ công khai trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt tổ chức quần chúng. 5. Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị kết hợp chặt chẽ nội dung giáo dục chung với giáo dục riêng phù hợp với tình hình nhiệm vụ đơn vị... 6. Coi trọng công tác thông tin cho cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì, cán bộ làm công tác tư tưởng...''. Do xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, có phương pháp thích hợp, thường xuyên kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức nên cán bộ, chiến sĩ, đảng viên đoàn viên tiếp tục quán triệt tốt Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, các nghị quyết 06, 07, 08 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; trong đó nâng cao nhận thức và kiên định lập trường giai cấp công nhân, xác định rõ nhiệm vụ, đề cao trách nhiệm, ổn định tư tưởng, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đẩy mạnh thi đua, quyết tâm xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện. Với nhiệt tình cách mạng cao, cán bộ và chiến sĩ toàn Quân đoàn phát huy truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực" thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua ''Hành quân giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, tổ chức đời sống tốt'', ''Toàn Quân đoàn hành động theo điều lệnh, làm theo chức trách, thực hiện nếp sống văn hóa'', ''Thi xe tốt đợt 3''. Tập trung vào 4 nhiệm vụ chủ yếu: ''hành quân tốt, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao; lao động sản xuất, làm kinh tế và bảo đảm đời sống tốt; làm chủ trang bị kỹ thuật; đoàn kết, kỷ luật nghiêm minh". Cũng do được chuẩn bị tốt về tư tưởng và nhận thức nên cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 vững vàng trước những diễn biến bất lợi của tình hình cách mạng thế giới, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế ráo riết thực hiện âm mưu thâm độc ''diễn biến hòa bình'' ''bạo loạn lật đổ'' hòng xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới. Trải qua rèn luyện thử thách, được giáo dục truyền thống cách mạng và trước những tấm gương sáng của đảng viên, quần chúng càng thấy rõ những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cao đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên hàng năm Đảng bộ Quân đoàn phát triển được hàng trăm đảng viên mới. Vì vậy tỷ lệ lãnh đạo trong Binh đoàn từ 27,8% năm 1988 đã nâng lên 33,24% năm 1989 và luôn giữ tỷ lệ cao trong những năm sau. Đóng quân và làm nhiệm vụ trên địa bàn mới có nhiều dân tộc thiểu số và nhiều tôn giáo khác nhau, kinh tế - xã hội còn rất khó khăn, các thế lực thù địch ráo riết hoạt động xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lôi kéo, lừa mị, kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, với Quân đội hòng chuẩn bị cho những âm mưu đen tối lâu dài. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn xác định công tác dân vận là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên. Ngay sau khi vào đứng chân ở Khu 5, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã chủ động quan hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương, tổ chức các hội nghị quân dân, xây dựng quy chế làm việc, thống nhất quan điểm giải quyết công việc; đồng thời phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương xây dựng địa bàn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mối quan hệ giữa Quân đoàn với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân ngày càng được củng cố, phát triển, đã gây được lòng tin yêu và tình cảm tốt đẹp với nhân dân Tây Nguyên và các tỉnh ven biển Khu 5. Với tình cảm và trách nhiệm cao, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Quân đoàn đã tổ chức 9 đội công tác xây dựng cơ sở chính trị ở 2 huyện Ayun Pa và Măng Yang tỉnh Gia Lai - Kon Tum; giúp đỡ địa phương 4.398 công lao động, xây dựng 10 gian trường học, đóng 35 bộ bàn ghế, tổ chức tặng quà và 2.449.000 đồng cho các gia đình liệt sĩ và các cháu thiếu nhi, chữa bệnh cho 200 lượt người dân, huấn luyện cho 50 dân quân, tổ chức chiếu phim và liên hoan văn nghệ phục vụ nhân dân 93 buổi. Tin yêu ''Bộ đội B3'', Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương nơi có các đơn vị của Quân đoàn đóng quân, hết lòng giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để bộ đội sớm ổn định nơi ăn chốn ở, đẩy mạnh tăng gia sản xuất và công tác. Chỉ tính riêng ở Tây Nguyên, trong hơn 3 năm (11.1987 - 3.1990) đồng bào các dân tộc địa phương đã giúp Quân đoàn 15.500 tấm phên lợp nhà, 1.151 cây tre, 2.000m3 gỗ và 6.528 công. Mặc dù mới đạt được những kết quả bước đầu, những công tác dân vận đã góp phần củng cố mối quan hệ truyền thống giữa Quân đoàn với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương, gây được lòng tin tưởng và tình cảm tốt đẹp của nhân dân Tây Nguyên, Khu 5 với ''Bộ đội B3'', tạo cơ sở để đẩy mạnh đoàn kết quân dân trong những năm tiếp theo. Đặc biệt, sự có mặt của Binh đoàn Tây Nguyên - Quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự răn de hiệu quả đối với những thế lực phản động đang toan tính những âm mưu đen tối ở Tây Nguyên và Khu 5. Sau 3 năm làm nhiệm vụ trên địa bàn mới Khu 5, tháng 3 năm 1991 Binh đoàn Tây Nguyên triệu tập Hội nghị tổng kết phong trào thi đua quyết thắng (1988 - 1990). Ba phong trào thi đua có quy mô toàn Quân đoàn: Hành quân giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, tổ chức đời sống tốt:, "Toàn Quân đoàn hành động theo điều lệnh, làm theo chức trách, thực hiện nếp sống văn hóa'' và ''Thi xe pháo tốt đợt 3'' đều thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Với phong trào thi đua ''Hành quân giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, tổ chức đời sống tốt'', cán bộ và chiến sĩ toàn Quân đoàn đã hoàn thành thắng lợi ''nhiệm vụ 487''. Từ tháng 2 năm 1989 đến tháng 3 năm 1990 phong trào thi đua ''Toàn Quân đoàn hành động theo điều lệnh'', làm theo chức trách, thực hiện nếp sống văn hóa'' quy mô sâu rộng đạt hiệu quả cao làm chuyển biến mạnh mẽ về rèn luyện kỷ luật và các mặt công tác, lập nhiều thành tích thiết thực kỷ niệm 15 năm thành lập Binh đoàn. Từ phong trào thi đua này, các đơn vị vận dụng sáng tạo thành các phong trào thi đua tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, như phong trào ''Làm theo truyền thống, sống có văn hóa, kỷ luật của Sư đoàn 31, ''Ba không, bốn tốt'' của Lữ đoàn xe tăng 273, ''Kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt'' của Sư đoàn 10, ''Học hay, rèn giỏi'' của Trung đoàn pháo binh 40... Phong trào thi đua ''Thi xe pháo tốt đợt 3'' được vận dựng từ cuộc vận động lớn "Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm'' của ngành Kỹ thuật; đã thu hút hàng chục nghìn người tham gia, huy động được 31.424 công kỹ thuật và 135 triệu đồng mua sắm thêm phụ tùng vật tư phục vụ sửa chữa, nâng cấp xe; hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật ra đời. Trong đó có nhiều sáng kiến giá trị cao ở Tiểu đoàn 30 (Cục Kỹ thuật) và Tiểu đoàn 30 (Sư đoàn 320) như: cải tiến phanh dầu thành phanh hơi, cải biên côn hộp số máy M52 A1 lắp lên máy IAMZ 238, cải biên lắp máy IAMZ 238 lên khung xe M52 A1. Kết quả thi đua trong ngành Kỹ thuật đã khôi phục hoàn chỉnh 6 xe, nâng cấp 81 xe, đóng mới 31 thùng xe, làm lợi cho Quân đoàn 169.225.000 đóng, góp phần nâng hệ số kỹ thuật từ 0,81 lên 0,95 cho các loại xe và từ 0,93 lên 0,98 cho vũ khí đạn. Trong 3 năm thi đua, toàn Quân đoàn đã có 57 đơn vị từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng, 542 đơn vị được tặng bằng khen, 604 đơn vị được tặng giấy khen, 11.120 cá nhân được khen thưởng, 150 đồng chí đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 26 đồng chí là Chiến sĩ quyết thắng. Điển hình toàn diện là các đơn vị: Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, Trung đoàn phòng không 234 và Cục Kỹ thuật. Tiêu biểu cho thực hiện ''nhiệm vụ 487'' là Trung đoàn công binh 7, Sư đoàn bộ binh cơ giới 320 và Bộ Tham mưu, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công. Nổi bật về chấp hành kỷ luật có Tiểu đoàn trinh sát 28 (Bộ Tham mưu). Tiêu biểu về kỹ thuật có: Trung đoàn phòng không 234, Tiểu đoàn vận tải 827, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn pháo binh 40, Tiểu đoàn 16 và Tiểu đoàn 25 (Sư đoàn 31), Trung đoàn 52 (Sư đoàn 320) và các cá nhân: đại úy Nguyễn Văn Tỉnh (Phòng xe máy) nghiên cứu đề xuất nâng cấp 14 trong tổng số 16 trạm điện, hàng trăm binh diện, phục hồi 8 máy biến áp 30 KW, tham gia lập quy trình sửa chữa lớn 21 xe, làm lợi cho Quân đoàn 96 triệu động và 21 khối xăng; trung uý Nguyễn Quốc Đại (lái xe Tiểu đoàn 25, Sư đoàn 320) tận tụy yêu nghề được khen thưởng liên tục 5 năm liền; thượng uý Lê Đức Thiện (lái xe Tiểu đoàn 827, Cục Hậu cần) chạy hàng vạn kilômét an toàn, 3 năm liền là chiến sĩ thi đua. Đặc biệt, ngày 13 tháng 12 năm 1989 Viện Quân y 211 được Chủ tịch Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong 24 năm làm nhiệm vụ, cán bộ và chiến sĩ đã di chuyển 21 lần, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các địa bàn Tây Nguyên, biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia và biên giới phía Bắc; đã khám chữa bệnh cho 176.431 lượt người, thu dung điều trị 100.355 ca, cấp cứu 4.395 ca, phẫu thuật 11.921 ca trong đó có 1.353 ca mổ lớn... trả nhanh nhiều thương bệnh binh về đơn vị tiếp tục công tác và tham gia chiến đấu. Viện đã tích cực nghiên cứu, vận dụng các thành tựu y học, chú trọng bồi dưỡng nâng cao kiến thức và tay nghề, rút kính nghiệm qua thực tiễn, cùng Ban Quân y Mặt trận Tây Nguyên ra ''Nội san Quân y Tây Nguyên'', ''Dự thảo điều lệ xử trí vết thương ở chiến trường'', soạn thảo tài liệu và giảng dạy lớp chuyên tu bác sĩ đầu tiên ở Tây Nguyên; đào tạo 15 khóa y sĩ với hàng ngàn nhân viên quân y có trình độ trung cấp, sơ cấp kịp thời bổ sung cho các chiến trường. Nhiều cán bộ trong Viện đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ, đảm đương cương vị trọng trách ngành y trong và ngoài Quân đội. Do lập nhiều thành tích, Viện đã được tặng 5 Huân thương Chiến công các hạng, có 4 khoa và 206 lượt cán bộ, nhân viên được tặng Huân chương Chiến công. Ban ngoại 1 của Viện được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (20.12.1979). Theo yêu cầu nhiệm vụ, từ năm 1988 đến đầu năm 1991 nhiều đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn được điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Tháng 2 năm 1989, Thiếu tướng Khuất Duy Tiến (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động làm Cục trưởng Cục Tổ chức động viên, Thiếu tướng Trần Tất Thanh (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn; đại tá Lê Quang Bình được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn; đại tá Phạm Duy Tân (Phó tư lệnh Quân đoàn) nghỉ hưu. Năm 1990, Thiếu tướng Tiêu Văn Mẫn (Phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn) được điều động về Quân khu 5, đại tá Đỗ Công Mùi (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn, đại tá Vũ Khắc Đua (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn. Đầu năm 1991, Thiếu tướng Trần Tất Thanh (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động về Trường Sĩ quan lục quân 1, đại tá Lê Quang Bình (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn được cử làm quyền Tư lệnh và sau đó được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn (9.1991), đại tá Lê Xuân Thanh (Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh chính trị Quân đoàn (1991). Trong thời gian này, các cơ quan Quân đoàn cũng có một số thay đổi về cán bộ chủ trì: trung tá Lê Xuân Chuyển được bổ nhiệm làm Phó tham mưu trưởng Quân đoàn; thượng tá Vũ Khắc Hoan được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Chính trị; thượng tá Trần Công Bình và thượng tá Nguyễn Đức Thiều lần lượt được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Hậu cần, trung tá Nguyễn Ngọc Oanh được bổ nhiệm làm Phó cục trưởng Cục Hậu cần; trung tá Trần Ngọc Anh được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Kỹ thuật. Tại các đơn vị trực thuộc Quân đoàn cũng có một số thay đổi về cán bộ. Sư đoàn 10: đồng chí Nguyễn Quang Vinh quyền sư đoàn trưởng, đồng chí Phạm Chào được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị; Sư đoàn 320: đồng chí Đoàn Sinh Hưởng, sau đó là đồng chí Phạm Xuân Hùng được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Đình Hạng được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị; Sư đoàn 31: đồng chí Đỗ Công Mùi và đồng chí Nguyễn Hữu Hạ lần lượt được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đắc Giáp và đồng chí Nguyễn Văn Duyệt củng lần lượt được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị... Ba năm trở lại đất mẹ Tây Nguyên và Khu 5, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương; dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên phát huy truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'', vượt qua bao khó khăn trở ngại và vượt lên chính mình, giành được những thành tựu toàn diện quan trọng trên con đường xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ theo đường lối đổi mới của Đảng. Đây là giai đoạn chuẩn bị đầy ý nghĩa để Quân đoàn tiến những bước dài vững chắc trong những năm sau. Đánh giá về giai đoạn đầu trở lại Tây Nguyên, Khu 5, Thiếu tướng Nguyễn Văn Kiệm - Phó Tổng thanh tra Quân đội, trưởng đoàn thanh tra Bộ Quốc phòng (sau khi thanh tra Quân đoàn 3, từ ngày 5-10.3.1990) đã nhận xét: ''…Quân đoàn 3 đã phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, khắc phục mọi khó khăn, nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của trên, nỗ lực vươn lên, triển khai toàn diện các nhiệm vụ đạt được những kết quả bước đầu quan trọng đáng phấn khởi... Đã có đủ cơ sở để tin rằng: nếu có tình huống xảy ra, Bộ cần sử dụng đến các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, trước hết những đơn vị đủ quân của Quân đoàn thì những đơn vị đó có thể bước vào chiến đấu được, hoàn thành được nhiệm vụ''. ------------------------------------------------------------------ 1. Trích Nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 1989 của Đảng ủy Quân đoàn 3, ngày 7.1.1989. 2. Trích "Báo cáo của Tư lệnh Quân đoàn 3 với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam về thực hiện nhiệm vụ quân sự quân đoàn từ ngày 1.1 đến ngày 10.7.1990". 3. Công trình Quân đoàn bộ do Viện Khảo sát thiết kế Nghĩa Bình và Phòng Doanh trại Quân đoàn 3 đo đạc và quy hoạch. Lực lượng thi công gồm: Công ty xây lắp 1, Công ty xây lắp 2, Hợp tác xã Yên Đổ (Plei Ku), Hợp tác xã Nhơn Bình 2, Trung đoàn công binh 7, Đoàn 988, Đội khoan 3 Cục Hậu cần Quân đoàn 3. vật liệu xây dựng gồm: 238.880kg sắt thép, 1.204.165kg xi măng P.400, 10.677kg xi măng trắng, 611,6 m2, kính, 95,3m3 gỗ, tổng kinh phí là 2.048.431.557 đồng. 4. Năm 1989, toàn Quân đoàn xảy ra 103 vụ (có 31 vụ tai nạn giao thông) làm chết 48 người (có 36 bộ đội), bị thương 65 người (có 43 bộ đội), mất 4 súng ngắn, 13.000 viên đạn, hỏng nặng 4 xe, 2 căn nhà. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2021, 08:47:17 am 2. Phát huy truyền thống, kiên trì phấn đấu, từng bước xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện.
Đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX, trong khi công cuộc đổi mới đang diễn ra trên đất nước ta, thì tình hình thế giới có nhiều biến động lớn phức tạp không có lợi cho cách mạng. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế ráo riết phản kích khắp nơi, đẩy mạnh hoạt động ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước dân chủ nhân dân còn lại, trong đó Việt Nam là một mục tiêu hàng đầu. Vì vậy, độc lập chủ quyền của một số quốc gia bị thách thức bởi chính sách cường quyền và áp đặt. Tình hình phong trào cách mạng thế giới lâm vào khó khăn thóai trào và những âm mưu thủ đoạn mới rất thâm độc của kẻ địch đã làm một bộ phận lớn những người cộng sản trên thế giới hoang mang giao động; đồng thời tác động mạnh đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta nói chung và Quân đội ta nói riêng. Mặc dù nước ta ở vào tình thế vô cùng khó khăn, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam với bản lĩnh chính trị vững vàng vẫn kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng; Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kịp thời đúc rút kính nghiệm và phát huy thành tựu quan trọng sau 5 năm đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, kiên quyết đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tháng 6 năm 1991, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đề ra cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 và phương hướng nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch 5 năm (1991-1995). Về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh 5 năm (1991- 5995), Đại hội xác định: ''Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với chất lượng cao. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu''1. Để lập thành tích chào mừng sự kiện hịch sử Đại hội lần thứ VII của Đảng và đại hội Đảng bộ các cấp, phong trào thi đua diễn ra rất sôi động trong cả nước. Tại Binh đoàn Tây Nguyên, đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng hăng hái bước vào đợt thi đua đột kích mừng Đảng, mừng xuân, quyết tâm chiếm lĩnh những đỉnh cao trên tất cả các mặt hoạt động, nhằm thực hiện thắng lợi phong trào ''Thi đua quyết thắng, dành bốn đỉnh cao'' do Quân đoàn phát động. Giữa những ngày xuân Tân Mùi tràn đầy phấn khởi và giữ vững niềm tin cách mạng, Đảng bộ Quân đoàn 3 tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 4 (vòng 1). Dự Đại hội có 200 đại biểu thay mặt cho gần 4.000 đảng viên thuộc 7 đảng bộ cấp trên cơ sở trong toàn Đảng bộ Quân đoàn. Đại hội rất phấn khởi được Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về dự, chỉ đạo, theo dõi. Trong 3 ngày làm việc, các đại biểu đã nghe và thảo luận góp ý kiến xây dựng bản dự thảo Báo cáo chính trị và các văn kiện sẽ trình bày tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, tập trung vào 5 vấn đề chính: 1. Đánh giá thắng lợi, tồn tại và bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam; 2. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; 3. Mục tiêu xây dựng kinh tế - xã hội; 4. Quốc phòng - an ninh và chính sách đối ngoại; 5. Sửa đổi tên Cương lĩnh. Đồng thời Đại hội đã bầu 9 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội, gồm các đồng chí: Đặng Vũ Hiệp (Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Lê Quang Bình (Tư lệnh Quân đoàn 3), Lê Xuân Thanh (Phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn), Đỗ Công Mùi (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn), Vũ Khắc Hoan (Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn), Trần Đình Hạng (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 320), Phạm Chào (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 10), Nguyễn Đức Thiều (Chủ nhiệm hậu cần Quân đoàn), Trần Ngọc Anh (Chủ nhiệm kỹ thuật Quân đoàn), là các đại biểu chính thức và đồng chí Nguyễn Văn Duyệt (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 31) làm đại biểu dự khuyết. Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Tổng cục Chính trị, từ ngày 29 đến ngày 31 tháng 8 năm 1991, Đảng bộ Quân đoàn 3 tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 4 (vòng 2) tại thị xã Plei Ku tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Dự Đại hội có 185 đại biểu thay mặt cho 3.501 đảng viên trong toàn Đảng bộ Quân đoàn. Đại biểu cấp trên và khách mời có các đồng chí: Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Văn Sĩ (Ksor Krơn) - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum. Trong 3 ngày làm việc, Đại hội đã đánh giá kết quả lãnh đạo của Đảng bộ Quân đoàn trong nhiệm kỳ 1986-1990, đề ra phương hướng nhiệm vụ quân sự của Quân đoàn và phương hướng xây dựng Đảng bộ Quân đoàn 5 năm (1991-1995), bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn khóa 4. Về phương hướng nhiệm vụ quân sự của Quân đoàn 1991-1995, Đại hội xác định: "1. Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong những năm qua, phát huy cao độ tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đoàn, sẵn sàng chấp hành và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của bình đoàn chủ lực cơ động, cùng với toàn quân, toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2. Trên cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tích cực chủ động lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế trên địa bàn với hiệu quả cao hơn... tạo ra một phần cơ sở vật chất để củng cố và từng bước xây dựng hoàn thiện hệ thống kho tàng, nhà xe pháo, khu kỹ thuật, sở chỉ huy, nhà ở, sinh hoạt của bộ đội, duy trì và cải thiện tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ phù hợp với thực tiễn của Quân đoàn, thiết thực giải quyết một phần khó khăn chung cho quốc phòng và nền kinh tế của đất nước''2. Mục tiêu xây dựng Quân đoàn 5 năm (1991-1995) là : ''Xây dựng Quân đoàn luôn vững vàng về chính trị tư tưởng, vững mạnh về tổ chức, có trình độ quân sự (chiến thuật, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ khá, điều lệnh tốt, kỷ luật nghiêm) quản lý bảo quản trang bị kỹ thuật tốt, đời sống tinh thần bộ đội được duy trì vững chắc và có cải thiện, bảo đảm toàn Quân đoàn luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ đặt ra trong bất cứ điều kiện nào''3. Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn khóa 4 được Đại hội bầu ra gồm 11 đồng chí: Lê Xuân Thanh - Bí thư Đảng ủy Lê Quang Bình - Phó Bí thư Đảng ủy, Đỗ Công Mùi - Ủy viên thường vụ và các đảng ủy viên: Nguyễn Hữu Hạ, Vũ Khắc Hoan, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Đức Thiều, Trần Đình Hạng, Dương Văn Niên, Nguyễn Văn Duyệt, Hà Văn Vi. Thành công của Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 4 khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng bộ trước những diễn biến hết sức phức tạp và bất lợi cho cách mạng của tình hình thế giới, trong điều kiện đất nước còn rất nhiều khó khăn; thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và niềm tin vững chắc vào đường lối đổi mới của Đảng; thể hiện sự thống nhất cao, đoàn kết đồng tâm cùng chung ý chí nguyện vọng và quyết tâm của đảng viên đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ công nhân viên quốc phòng xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng, ra sức thi đua thực hiện phương hướng nhiệm vụ mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 4 đã đề ra;. từ năm 1991 đến năm 1995 Binh đoàn Tây Nguyên tiến mạnh trên con đường xây dựng đơn vị theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại'', lập thành tích toàn diện trên tất cả các mặt công tác. Quân đoàn đã thực hiện nghiêm túc ''Điều lệnh quản lý bộ đội'' (1991), Chỉ thị thống nhất mang mặc quân phục (3.1992), Chỉ thị ''về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân lên một bước mới" (3.1993), cuộc vận động ''Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các đơn vị cơ sở'' (5.1992), ''Xây dựng đơn vị có phong trào quân y 5 tốt và chiến sĩ quân y làm theo lời Bác Hồ dạy'' (1.1994); tiếp tục thực hiện cuộc vận động ''Quản lý xe máy tốt bền, an toàn, tiết kiệm'', ''50 ngày hành động tiến tới kỷ niệm 50 năm ngày thành lập quân đội'' (6.1994), ''Tuổi trẻ Quân đội tiếp sức cha anh, quyết giành ba nhất, xứng danh bộ đội Cụ Hồ'' (7.1994), cuộc vận động ''Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, an toàn, tiết kiệm'' (3.1995), phong trào ''phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và thực hiện chính sách hậu phương quân đội'' (7.1995) do Đảng ủy Quân sự Trung ương chỉ thị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu ban hành và Tổng cục Chính trị, Ban Thanh niên Quân đội phát động. Trong 5 năm (1991-1995) công tác quân sự của Quân đoàn tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ phòng chống ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không và tác chiến trên các phương cơ bản theo kế hoạch A, A2. Cùng với việc thường xuyên duy trì chặt chẽ các chế độ sẵn sàng chiến đấu, kịp thời bổ sung hoàn thiện các phương án tác chiến, tích cực phối hợp cùng địa phương nắm tình hình địa bàn; Quân đoàn tập trung kiện toàn các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, quy đmh cụ thể về các mặt bảo đảm chiến đấu, phê duyệt các phương án tác chiến, chuẩn bị các khu tập trung sơ tán khi chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị; đồng thời triển khai xây dựng công trình quốc phòng. Trước âm mưu và hoạt động ''diễn biến hòa bình'' cực kỳ nguy hiểm của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với nước ta, trong đó Tây Nguyên là một địa bàn trọng điểm hàng đầu; Quân đoàn đẩy mạnh các hoạt động sẵn sàng phòng chống. Tiếp theo mệnh lệnh tác chiến sẵn sàng chiến đấu (số 152/ML ngày 23.10.1991), ngày 19 tháng 3 năm 1994 Tư lệnh Quân đoàn ra Chỉ thị (số 97/CT) ''thực hiện nhiệm vụ phòng chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ trong tình hình mới''. Chỉ thị nêu lên 5 khả năng gây diễn biến hòa bình của địch trên địa bàn Quân đoàn đảm nhiệm; xác định rõ phương châm, tư trang chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phòng chống; giao nhiệm vụ cho các đơn vị trong Quân đoàn và quy định tổ chức thực hiện. Tháng 7 năm 1994, Quân đoàn thành lập tổ soạn thảo văn kiện tác chiến cơ bản bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa gồm 36 cán bộ thuộc 4 cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật do thượng tá Nguyễn Hữu Hạ - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn làm tổ trưởng. Sau khi ''Quyết tâm tác chiến cơ bản bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa'' của Quân đoàn được Bộ phê duyệt đã nhanh chóng được triển khai thực hiện. Phòng chống ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ mới; Quân đoàn chỉ có ít kinh nghiệm chống biểu tình gây rối, vận động quần chúng truy quét FULRO ở nam Khu 5 trong năm 1976, 1977. Nhưng với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa; quán triệt sâu sắc phương châm phòng chống ''diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ do Bộ xác định và nắm chắc nhiệm vụ vị trí đơn vị chủ lực trên địa bàn, phát huy truyền thống quyết thắng sáng tạo; Quân đoàn đã chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, chuẩn bị đầy đủ các phương án và lực lượng, hiệp đồng chặt chẽ với chính quyền và lực lượng vũ tràng địa phương, sẵn sàng cơ động một phần lực lượng hỗ trợ địa phương hành động, sẵn sàng đánh quân địch từ ngoài vào, bảo vệ các khu vực được giao. Nhằm nâng cao khả năng và đánh giá trình độ sẵn sàng chiến đấu của Quân đoàn, năng lực tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ các cấp và rèn luyện bộ đội, hàng năm Quân đoàn đều tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan, có một phần thực binh và diễn tập thục nghiệm kiểm tra phương án tác chiến do Bộ chỉ đạo. Năm 1992, Quân đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan 1 bên 1 cấp cho 3 sư đoàn, có sự tham gia của các trung đoàn, lữ đoàn binh chủng, góp phần củng cố kiến thức và cách đánh mới, nâng cao một bước trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu của người chỉ huy và cơ quan, làm cơ sở cho huấn luyện đơn vị và chiến đấu nếu xảy ra. Năm 1993, quân đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy, cơ quan 1 bên 2 cấp (sư đoàn, trung đoàn), thực binh Trung đoàn bộ binh 66 Sư đoàn 10 với đề mục: ''Sư đoàn bộ binh tiến công địch đổ bộ đường không ở địa hình rừng núi'' đạt kết quả khá (7,2 điểm). Nổi bật và thành công nhất là cuộc diễn tập mang tên TN-94 vào đầu tháng 12 năm 1994. Đây là cuộc diễn tập thực nghiệm kiểm tra phương án tác chiến của Quân đoàn do bộ Quốc phòng chỉ đạo Nội dung: diễn tập chỉ huy cơ quan 2 cấp có một phần thức binh ngoài thực địa, đề mục: ''Quân đoàn tiến công địch đổ bộ đường không chiến địch ở địa hình rừng núi". Tham gia diễn tập gồm Bộ tư lệnh và 4 cơ quan Quân đoàn, chỉ huy và cơ quan 3 sư đoàn, 4 trung đoàn, lữ đoàn binh chủng, một số phân đội bảo đảm phục vụ, thực binh Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 10), có lực lượng vũ trang địa phương huyện Măng Yang tỉnh Gia Lai phối hợp. Cuộc diễn tập diễn ra trong 5 ngày, hoàn thành tốt mục đích, yêu cầu và các chỉ tiêu, bảo đảm an toàn tuyệt đối; được Bộ Tổng Tham mưu đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngay sau cuộc diễn tập, Quân đoàn đã kịp thời tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm: ''Phải coi trọng công tác huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cơ quan các cấp: luyện tập kỹ và có hợp luyện chung. Quản lý duy trì nghiêm túc chế độ nền nếp dã ngoại. Đồng thời có kế hoạch chuẩn bị cơ sở vật chất phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng địa hình, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hành diễn tập quy mô chiến dịch phải xác định rõ ý định và khâu chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất''. Phát huy thành tích và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các cuộc diễn tập trên, năm 1995 Quân đoàn hoàn thành tốt diễn tập chỉ huy cơ quan 1 bên 2 cấp (sư đoàn, trung đoàn) có một phân thực binh cho các đơn vị bộ binh. binh chủng và các đợt diễn tập cấp tiểu đoàn, đại đội (30%), trung đội (50%). Thành công của các cuộc diễn tập hàng năm đã khẳng định bước trưởng thành mới về chất lượng sẵn sàng chiến đấu tổng hợp của Quân đoàn, đồng thời đóng góp những cơ sở thực tiễn để cấp trên nghiên cứu lý luận tác chiến chiến dịch trong tình hình mới. Đặc biệt, trình độ sẵn sàng chiến đấu của Quân đoàn còn được thể hiện sinh động trong chiến dịch ''Giành dân ở lòng hồ khỏi bàn tay thần nước'' tháng 8 năm 1995 và nhiều nhiệm vụ đột xuất khác. Cùng với thành tích về sẵn sàng chiến đấu, điểm nổi bật trong công tác quân sự 5 năm (1991-1995) của Quân đoàn là huấn luyện chiến đấu. Luôn xác định rõ huấn luyện bộ đội là nhiệm vụ trung tâm thường xuyên dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, đo người chỉ huy trưởng trực tiếp chịu trách nhiệm, thực hiện tốt phương châm ''Cơ bản, thiết thực, vững chắc'', sát với nhiệm vụ, cách đánh, tổ chức trang bị của Quân đoàn và đối tượng tác chiến, phù hợp với chiến trường rừng núi quen thuộc, phát huy được truyền thống và sở trường chiến đấu của Binh đoàn nên công tác huấn luyện luôn hoàn thành các nội dung chương trình quy định cho các đối tượng, chất lượng ngày một cao hơn. 5 năm, toàn Quân đoàn có gần 14.000 lượt cán bộ các cấp được tập huấn, 29.388 chiến sĩ mới hoàn thành nội dung chương trình huấn luyện, hàng chục nghìn lượt chiến sĩ được huấn luyện theo chương trình hàng năm về bộ binh, binh chủng, chuyên môn nghiệp vụ. Trường Quân sự Trường Hậu cần - Kỹ thuật và các đơn vị đào tạo, bổ túc khỏang 2.000 cán bộ phân đội, nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Do làm tốt công tác chuẩn bị, quản lý chặt chẽ nội dung chương trình kế hoạch, thường xuyên đổi mới phương pháp, kịp thời kiểm tra uốn nắn, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm chiến đấu đã được tổng kết, làm tốt công tác giáo dục động viên, xây dựng điển hình... nên kết quả huấn luyện hàng năm đều đạt 100% yêu cầu trở lên, trong đó có từ 60% đến 80% khá giỏi. Các nội dung bắn đạn thật của bộ binh, xe tăng thường đạt loại giỏi. Tại các hội thao toàn quân, các đội tham gia thi đấu của Quân đoàn giành nhiều thành tích cao. Năm 1992, hội thao các đơn vị khu vực phía Nam, Lữ đoàn phòng không 234 và Trung đoàn công binh 7 đoạt giải nhất. Năm 1993 Trung đoàn công binh 7 và Đại đội mang binh thuộc Sư đoàn 10 đoạt giải nhì; Tiểu đoàn trinh sát 28 Bộ Tham mưu đoạt giải nhất hội thi trinh sát đặc nhiệm; lực lượng hóa học đoạt giải ba. Năm 1994 phân đội súng máy phòng không 12,7mm của Quân đoàn đoạt giải ba hội thao toàn quân; Đội thi tiêu đồ đoạt giải nhì, đội thị pháo binh đoạt giải tư. Năm 1995, trong hội thi sư đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng binh chủng do Bộ Quốc phòng tổ chức, đội thi của Quân đoàn giành giải nhì, 2 cán bộ được tặng giấy khen; đội thi hóa học đoạt giải nhì. Kết quả huấn luyện của Quân đoàn còn được khẳng định qua các đợt thanh tra, khảo sát của Bộ Quốc phòng. Năm 1994, Cục Huấn luyện chiến đấu tổ chức kiểm tra 3 đơn vị: Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10), Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320), Tiểu đoàn hóa học 21 (Bộ Tham mưu) đều kết luận đơn vị huấn luyện khá. Năm 1995, đoàn Thanh tra của Bộ Quốc phòng đã kết luận Quân đoàn 3 đạt loại khá về huấn luyện; 2 đơn vị: Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) và Trung đoàn công binh 7 được khảo sát cũng đạt loại khá về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Với những thành tích tết trong công tác huấn luyện, Quân đoàn 3 đã được Bộ Quốc phòng chọn để tổ chức Hội nghị tập huấn về phương pháp huấn luyện và Hội nghị tổng kết công trình chiến đấu toàn quân năm 1993. Tiêu biểu cho công tác huấn luyện giai đoạn 1991-1995 của Quân đoàn là các đơn vị: Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn phòng không 234, Trung đoàn công binh 7 và Bộ Tham mưu. Bên cạnh kết quả tốt về huấn luyện lực lượng trong biên chế, Quân đoàn còn đạt được nhiều thành tích huấn luyện lực lượng dự bị động viên. Mặc dù địa bàn đảm nhiệm rất rộng, đối tượng quản lý da dạng, kinh nghiệm công tác động viên còn ít, nhưng Quân đoàn luôn quán triệt rõ ý nghĩa tầm quan trọng chiến lược của nhiệm vụ, chủ động phối hợp với địa phương, tích cực tổ chức nắm, quản lý và huấn luyện quân nhân dự bị. Đến năm 1995, đã có 13.800 quân nhân dự bị được quản lý, 4 tiểu đoàn và 16 đại đội bộ binh, binh chủng được huấn luyện. Tuy kết quả bước đầu còn ở mức độ nhưng rất có ý nghĩa. Từ thực tiễn công tác động viên ở các tỉnh phía Nam, Quân đoàn rút ra được một số kính nghiệm quý để đẩy mạnh công tác động viên và nâng cao chất lượng huấn luyện quân nhân dự bị trong những năm sau. Những kết quả ngày càng tiến bộ và hướng đi lên vững chắc trong công tác huấn luyện chiến đấu đã góp phần đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện trong toàn Quân đoàn, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị 37 của Đảng ủy Quân sự Trung ương ''Về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân lên một bước mới'' và Chỉ thị 85/CT- TM của Tổng Tham mưu trưởng. Hàng năm tỷ lệ vi phạm kỷ luật ngày một giảm dần. Năm 1991, tổng số vụ vi phạm kỷ luật giảm 12% so với năm 1990; năm 1992 giảm 1,77%, năm 1993 giảm 2% và tiếp tục giảm trong các năm sau. Riêng tỷ lệ đào - bỏ ngũ giảm đáng kể: năm 1994 còn 11,6% và năm 1995 còn 9,7% so với quân số. Mặc dù tỷ lệ vi phạm kỷ luật, nhất là đào - bỏ ngũ ở chiến sĩ mới còn cao, nhưng việc liên tục hạ tỷ lệ đào - bỏ ngũ xuống dưới 10% là một cố gắng lớn của Quân đoàn trong nửa đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ XX. Thực hiện Quyết định (số 194/QĐ-TM ngày 27 tháng 5 năm 1991) của Tổng Tham mưu trưởng "Về việc chấn chỉnh tổ chức - quân số Quân đoàn 3 năm 1991-1995'', Quân đoàn có một số thay đổi về tổ chức biên chế theo hướng vẫn giữ nguyên đầu mối trực thuộc, ưu tiên kiện toàn các đơn vị biên chế đủ, sẵn sàng chiến đấu, cơ quan các cấp, các đơn vị kho, khung huấn luyện, nhà trường và làm kinh tế. Năm 1991, Tư lệnh Quân đoàn ra các quyết định chấn chỉnh Trung đoàn pháo binh 40 thành Lữ đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234 thành Lữ đoàn phòng không 234, Lữ đoàn xe tăng 273 thành Trung đoàn xe tăng 273. Tại Sư đoàn bộ binh cơ giới 320, các đơn vị: Trung đoàn phòng không 237 và 5 tiểu đoàn (vận tải, trinh sát, pháo chống tăng, pháo phản lực, xe tăng) được giải thể, đồng thời thành lập một tiểu đoàn pháo phòng không. Ở Sư đoàn bộ binh 10: giải thể Trung đoàn pháo binh 4 và Tiểu đoàn pháo chống tăng; thành lập các tiểu đoàn súng cối, súng máy phòng không. Riêng Sư đoàn bộ binh 31 được rút gọn hơn và chuyển thành đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới. Khối cơ quan Quân đoàn: thành lập Phòng Xe tăng thiết giáp thuộc Bộ Tham mưu. Trong các năm 1992-1995, Quân đoàn tiếp tục chấn chỉnh Sư đoàn bộ binh 10 thành đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; chuyển Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 sang làm nhiệm vụ bảo quản trang bị vũ khí khí tài và huấn luyện quân dự bị; tiếp nhận Công ty Lam Sơn; thành lập Phòng Dân vận (lâm thời), Ban Quản lý công trình 26.3, Ban Đo lường. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng (11.1992), Trường Quân chính Quân đoàn 3 đổi tên thành Trường Quân sự Quân đoàn 3. Tháng 6 năm 1993, Trường Quân sự chuyển vị trí đóng quân từ Lam Sơn - Dục Mỹ (huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) về huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tháng 11 năm 1994, Trường Hậu cần - Kỹ thuật sáp nhập vào Trường Quân sự. Việc Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên quan tâm xây dựng lực lượng, củng cố kiện toàn tổ chức biên chế là một nhân tố quan trọng để Binh đoàn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. ------------------------------------------------------------------ 1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật; H.1991, tr 85. 2, 3. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên... Sđd, tr.917, 918. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2021, 08:48:58 am * Địa bàn đóng quân của Quân đoàn rất rộng, tiềm năng kinh tế lớn nhưng thời tiết khắc nghiệt, đất đai bạc màu; việc bảo đảm hậu cần theo cơ chế mới gắn với thị trường có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, nhất là vốn đầu tư. Nắm chắc và phân tích khoa học tình hình mọi mặt, phát huy vai trò nòng cốt của Ngành Hậu cần, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn tập trung lãnh đạo, đề ra chủ trương và xác định bước đi đúng hướng cho công tác bảo đảm hậu cần. Vì vậy, truyền thống tự lực tự cường dược phát huy, nội lực được khơi dậy, tranh thủ được sự bảo đảm của trên và tiềm năng lớn của địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm hậu cần trong cơ chế mới. 5 năm (1991-1995) Quân đoàn luôn bảo đảm đầy đủ lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu theo Chỉ thị số 81/CT-TM của Tổng Tham mưu trưởng, phục vụ kịp thời các nhiệm vụ huấn luyện và công tác; đồng thời tạo bước chuyển biến mạnh trong bảo đảm ăn, mặc, ở, đi lại, khám chữa bệnh cho bộ đội. Do tích cực tìm nguồn, tạo và khai thác nguồn hậu cần, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tổ chức thu mua thóc và xay xát cung cấp gạo đến các bếp tiểu đoàn, lập các điểm giết mổ tập trung, chú trọng khâu chế biến, chia ăn theo định suất nên chất lượng bữa ăn của bộ đội ngày càng được cải thiện, hạn chế được tiêu cực trong phân phối và cung cấp. Kết hợp kinh phí trên cấp với vốn tự có và công sức bộ đội, Quân đoàn đã xây dựng được hệ thống nhà ăn, nhà bếp đến cấp tiểu đoàn, mua sắm mới nhiều bàn ghế và dụng cụ cấp dưỡng. Phong trào thi đua ''Xây dựng bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt'' và ''Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy'' được đẩy mạnh. Năm 1993 số bếp đạt tiêu chuẩn ''nuôi quân giỏi, quản lý tốt'' toàn Quân đoàn đạt 80 bếp trong tổng số 151 bếp; năm 1995 là 98 bếp trong tổng số 127 bếp, đạt 77,16%. Đảm bảo các nhu cầu thường xuyên và xây dựng chính quy, ngành quân trang đã chú trọng nâng cao chất lượng và thống nhất về trang phục cho bộ đội, mở rộng xưởng may. Điểm nổi bật trong công tác hậu cần giai đoạn này là xây dựng cơ bản và làm kinh tế 5 năm, Quân đoàn đã xây dựng được 114.235m2 nhà các loại với tổng kinh phí lên đến 38.911 triệu đồng, trong Đó có 5.634 triệu đồng tự cân đối, đạt bình quân 120% kế hoạch xây dựng hàng tạm, trên 90% quân số được ở nhà lợp ngói. Bộ đội đã có đủ giường phản nằm và bàn ghế làm việc học tập, sinh hoạt. Nhiều doanh trại cấp tiểu đoàn, trung đoàn, cơ quan sư đoàn được xây dựng mới khang trang. Đặc biệt ''Nhà Văn hóa Binh đoàn Tây Nguyên'' kịp khánh thành và đưa vào sử dụng phục vụ kỷ niệm 20 năm thành lập Quân đoàn. Vượt lên những khó khăn và đổi mới tư duy làm kinh tế, Quân đoàn vừa đẩy mạnh lao động tăng gia tự túc, vừa tích cực tìm tòi mở ra các hướng trong sản xuất kinh doanh. Việc trồng cà phê, trồng rừng và xây dựng các nhà máy thủy điện Hùng Vương (của Trung đoàn công binh 7), Đắc Pô Kam (của Lữ đoàn pháo binh 40), Biển Hồ ( của Sư đoàn 320) đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, thiết thực phục vụ đời sống bộ đội và nhân dân địa phương. Một số đơn vị đã xúc tiến xây dựng căn cứ hậu cần, một mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng phù hợp với điều kiện khả năng của các đơn vị chủ lực. Với nỗ lực rất cao, hàng năm Quân đoàn thu được hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn tấn rau xanh và nhiều tỷ đồng. Kết quả lao động tăng gia sản xuất đã trực tiếp góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần bộ đội, làm công tác chính sách và đầu tư mở rộng kinh doanh. Có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ và cơ sở hạ tầng ngày một khang trang, Quân đoàn đã nâng cấp hàng chục buồng điều trị và phẫu thuật ở các đơn vị, xây dựng Viện Quân y 211 thành một bệnh viện khu vực tuyến cuối của quân đội ở Tây Nguyên. Do ngành quân y có cơ sở vật chất ngày càng tốt hơn, tích cực hướng xuống cơ sở, trồng và sử dụng thuốc nam, kết hợp quân dân y, đẩy mạnh phong trào "Quân y 5 tốt'' xây dựng ''Bệnh xá văn hóa'' nên quân số khỏe hàng năm ngày một cao. Năm 1992, Quân đoàn đạt 95,7% quân số khỏe, đến năm 1995 tăng lên 98%; trong đó bệnh sốt rét giảm còn 1,63% và bệnh ngoài da còn 1,53%. Nhằm nâng cao khả năng bảo đảm công tác hậu cần, ngoài việc bồi dưỡng đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn và huấn luyện bộ đội theo chương trình quy định, Quân đoàn còn tích cực tổ chức các cuộc hội thi, hội thao, triển lãm hậu cần. Năm 1993, Quân đoàn tổ chức thành công hội thi hội thao hậu cần từ cơ sở đến Quân đoàn, được Trung tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó Tổng tham mưu trưởng đến thăm, kiểm tra và đánh giá tốt. Do được chuẩn bị chu đáo, đội thi của Quân đoàn tham gia hội thi chủ nhiệm hậu cần trung đoàn bộ binh toàn quân năm 1995 đạt 100% khá giỏi; trong đó thiếu tá Vũ Đình Dũng (chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn 866 Sư đoàn 31) đoạt giải nhì được tặng bằng khen và thiếu tá Nguyễn Hữu Tiến (chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn 24 Sư đoàn 10) đoạt giải khuyến khích. Cũng trong năm 1995 Ngành Hậu cần Quân đoàn được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong 5 năm (1991-1995) công tác bảo đảm kỹ thuật của Quân đoàn có nhiều chuyển biến tiến bộ, tổ chức quản lý khai thác sử dụng tốt vũ khí trang bị kỹ thuật, phục vụ kịp thời nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và công tác Hàng năm, ngành kỹ thuật Quân đoàn luôn đạt và vượt mức kế hoạch về sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp vũ khí trang bị; đầu tư nhiều kinh phí và công sức xây dựng mời hàng nghìn mét vuông kho trạm xưởng, nhà xe, nhà pháo, tích cực phòng chống cháy nổ. Phong trào thi đua "Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm'' được đẩy mạnh, hàng chục sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị được đưa vào áp dụng đem lại hiệu quả thiết thực. Tháng 6 năm 1995, được sự hỗ trợ của Cục Quân khí, dây chuyền công nghệ nhuộm đen vũ khí được lắp đặt và đi vào hoạt động tại xưởng sửa chữa vũ khí của Quân đoàn. Chỉ trong một thời gian ngắn, phần lớn vũ khí bộ binh được nhuộm đen bảo đảm chất lượng tốt. Phát huy thắng lợi, cuối năm 1995 dây chuyền công nghệ sửa chữa nhẹ, bảo dưỡng đạn các loại với công suất hàng chục tấn mỗi năm bước vào vận hành. Cùng thời gian này, dây chuyền sản xuất hòm đạn ở Sư đoàn 10 cũng đi vào hoạt động. Việc tăng cường đưa kỹ thuật công nghệ vào sử dụng không những nâng cao chất lượng, năng suất bảo đảm kỹ thuật mà còn đánh dấu bước trưởng thành mới của Ngành Kỹ thuật Quân đoàn trong những năm đầu thập kỷ chín mươi. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2021, 08:53:16 am * Luôn xác định rõ sụ lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Đảng bộ Quân đoàn là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đoàn qua các thời kỳ lịch sử; việc xây dụng đơn vị vững mạnh toàn diện chỉ thành công khi tổ chức Đảng thực sự phát huy vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện một cách chủ động, linh hoạt Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng các nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quốc phòng, nghị quyết và chỉ thị của Quân ủy Trung ương. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cơ sở để xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện. Bảo đảm quân đoàn luôn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu cao và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; góp phần cùng Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. Từ năm 1991 đến năm 1995, Đảng bộ Quân đoàn tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ 4 (1991), Đại hội Đảng bộ giữa nhiệm kỳ (3.1994) và chỉ đạo Đảng bộ các cấp tổ chức tốt đại hội. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 03/NQ-TƯ (6.1992) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ''Về một số nhiệm vụ đổi m mới và chỉnh đốn Đảng'' và Nghị quyết số 79/NQ-ĐUQSTƯ của Đảng ủy Quân sự Trung ương về đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ Quân đội; Đảng bộ Quân đoàn tiến hành tự đổi mới, chỉnh đốn đồng bộ trên cả 3 nội dung: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới và chỉnh đốn, lấy chỉnh đốn là chính, với các hình thức, biện pháp và bước đi phù hợp đặc điểm của Đảng bộ Quân đoàn nói chung và từng cấp nói riêng. Xác định xây dựng về chính trị tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là một khâu đột phá, Đảng bộ Quân đoàn và cấp ủy Đảng, cơ quan chính trị các cấp đã vận dụng tổng hợp các biện pháp về giáo dục, tuyên truyền và tổ chức. Làm cho đội ngũ cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ trung cao cấp, cán bộ chủ trì nâng cao thêm trình độ và bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nhất trí cao đối với cương lĩnh cách mlạng, quan điểm đường lối đổi mới của Đảng và yêu cầu nhiệm vụ quân sự trong tình hình mới, tin tưởng vào khả năng thực hiện nghị quyết của cấp ủy, chi bộ, Đảng bộ. Vì vậy, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khó khăn trong nước, toàn Quân đoàn vẫn vũng vàng ổn định về chính trị tư tưởng, đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không có thóai hóa về chính trị sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Song song với xây dựng về chính trị tư tưởng, Đảng bộ Quân đoàn còn tích cực chấn chỉnh về tổ chức. Trước những thay đổi về tổ chức biên chế, Đảng ủy Quân đoàn kịp thời chấn chỉnh, kiện toàn, thành lập các tổ chức Đảng. Tháng 3 năm 1994, tại Đại hội Đảng bộ Quân đoàn giữa nhiệm kỳ, 3 đồng chí: Mai Hồng Bỉnh (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 10), Vũ Khắc Đua (Phó tư lệnh quân sự Quân đoàn) và Phạm Xuân Hùng (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) được bầu bổ sung vào Đảng ủy Quân đoàn. Một điểm nổi bật trong chỉnh đốn về tổ chức là tập trung kiện toàn các tổ chức Đảng cơ sở và khôi phục chi bộ ở đại đội đủ quân làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết khắc phục sự mất cân đối và thiếu hụt về tỷ lệ lãnh dạo. Năm 1992, số chi bộ ở đại đội đạt 39,09%, đến tháng 6 năm 1995 tỷ lệ này đã nâng lên 51,17%; trong đó chi bộ ở đại đội đủ quân là 66,2%; số chi bộ ở đại đội có từ 5 đảng viên trở lên đạt 68,8%. Để giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt quân đội, nâng cao hiệu lực lãnh đạo và chất lượng công tác, các cấp ủy rất coi trọng việc đổi mới về quy trình chuẩn bị nghị quyết và ra nghị quyết. Quy chế làm việc từ Đảng ủy Quân đoàn đến chi bộ được xây dựng. Công tác kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên chấp hành kỷ luật Đảng, chấp hành nghị quyết và thực,hiện nhiệm vụ được chú trọng. Từ năm 1991 đến năm 1995, Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp trong toàn Đảng bộ Quân đoàn đã tiến hành kiểm tra 219 tổ chức Đảng, trong đó có 5 cấp ủy trên cơ sở, 16 đảng ủy trung đoàn, 12 đảng ủy tiểu đoàn, 186 chi bộ và 4.027 đảng viên. Kết quả công tác kiểm tra đã góp phần chấn chỉnh việc chấp hành kỷ luật Đảng, nâng cao chất lượng lãnh đạo của các tổ chức Đảng và trách nhiệm của đảng viên, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề sai lệch, tiêu cực mới nảy sinh, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng ở Quân đoàn. Do giữ vững nguyên tắc, có biện pháp linh hoạt, phát huy dân chủ tập trung, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình, làm tốt công tác kiểm tra nên đã từng bước khắc phục được các biểu hiện dân chủ hình thức, tập trung quan liếu, sinh hoạt lỏng lẻo trong các tổ chức cơ sở Đảng; nâng dần chất lượng sinh hoạt lãnh đạo của các cấp ủy, chi bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm trong đội ngũ đảng viên đối với công tác xây dựng Đảng. Hàng năm, các tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh tăng lên, số yếu kém giảm dần. Năm 1992, toàn Đảng bộ Quân đoàn có 47,21% số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, 4,09% số chi bộ yếu kém và 5,71% Đảng bộ cơ sở yếu kém; đến năm 1993 không còn Đảng bộ cơ sở yếu kém và năm 1995 số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh đạt tỷ lệ 56,49%. Cùng với sự chuyển biến tiến bộ trong xây dựng chỉnh đốn Đảng về tổ chức, chất lượng đảng viên ngày càng được nâng cao thêm. Tỷ lệ đảng viên tiền phong gương mẫu hàng năm tăng trung binh 3,16%, số đảng viên vi phạm tư cách giảm dần. Đến năm 1995 số đảng viên đủ tư cách chiếm 92,86% trong tổng số đảng viên toàn Đảng bộ, số đảng viên vi phạm tư cách chỉ còn 3,05%. 5 năm Đảng bộ Quân đoàn phát triển được 1.546 đảng viên mới, kịp thời bổ sung cho Đảng những quần chúng ưu tú và đủ tiêu chuẩn; đồng thời kiên quyết xử lý hơn 553 đảng viên vi phạm kỷ luật, trong đó khai trừ ra khỏi Đảng 68 đồng chí. Những thành công trong công tác xây dựng Đảng, nhất là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng bộ Quân đoàn trong nửa đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ XX là nhân tố cơ bản, quyết định xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hiểu rõ ý nghĩa rất quan trọng của phong trào thi đua yêu nước, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt công tác thi đua. Từ năm 1991 đến năm 1993, Quân đoàn phát động phong trào ''Thi đua quyết thắng, giành 4 đỉnh cao'', tập trung vào 4 mục tiêu chủ yếu: ''Tư tưởng vững vàng, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật tốt. Huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Lao động sản xuất giỏi, tổ chức đời sống tốt. Giữ gìn, bảo quản, sử dụng và quản lý tốt vũ khí, trang bị, kỹ thuật. Hai năm 1994, 1995, Quân đoàn phát động phong trào thi đua "Hai tốt''1 nhằm lập nhiều thành tích chào mừng các ngày lễ kỷ niệm lớn: 65 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 105 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 50 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, 50 năm thành lập Quân đội nhân dân , 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 20 năm thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và 20 năm thành lập Binh đoàn Tây Nguyên. Tại các đơn vị, cơ quan và các ngành, nhiều phong trào thi đua hướng vào các nhiệm vụ cụ thể trọng tâm cấp bách được phát động. Nét mới của phong trào thi đua Binh đoàn thời kỳ này là mở rộng giao ước thi đua giữa các đơn vị trong Quân đoàn với các đơn vị bạn trong toàn quân; trong đó có giao ước thi đua giữa Sư đoàn bộ binh 10 và Sư đoàn bộ binh 316 (Quân khu 2), tạo nên những sắc thái mới. Để đưa công tác thi đua ngày càng đi vào nền nếp và đạt hiệu quả lơn, ngày 15 tháng 1 năm 1994, Tư lệnh Quân đoàn ra Quyết định (số 84/QĐ) thành lập Ban thi đua Quân đoàn, gồm 7 đồng chí, do Phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn làm trưởng ban. Ban thi đua có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan chính trị giúp Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn xây dựng chỉ tiêu, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động thi đua, nghiên cứu đề xuất chủ trương, biện pháp chỉ dạo và tổ chức phong trào thi đua theo phương hướng công tác thi đua hàng năm của Quân đoàn. Do công tác thi đua đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, sự điều hành trực tiếp của người chỉ huy và sự chỉ đạo hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; nội dung thi đua cụ thể, chỉ tiêu rõ ràng, gắn chặt với các hình thức hội thi, hội thao, có sơ kết, tổng kết, chú trọng nhân điển hình tiên tiến, phát huy vai trò nòng cốt của Đoàn thanh niên... nên đã thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ tham gia, đem lại những kết quả thiết thực. Chất lượng bộ đội được nâng cao hơn, cả về chính trị, tư tưởng và năng lực hành động; các mặt yếu, khâu yếu từng bước được khắc phục; đơn vị, cơ quan đều có sự chuyển biến cơ bản, toàn diện đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Thấm nhuần đạo lý ''uống nước nhớ nguồn'' và thực hiện tốt công tác chính sách, Quân đoàn tích cực giải quyết những tồn đọng sau chiến tranh như công tác liệt sĩ, thương binh, mất tin, mất tích. Ngày 29 tháng 10 năm 1994, Tư lệnh Quân đoàn ra quyết định thành lập Đội chuyên trách công tác mộ liệt sĩ (gồm 15 người) trực thuộc Cục Chính trị Quân đoàn. Với tinh thần trách nhiệm rất cao và tình cảm biết ơn sâu sắc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc; Đội công tác và các đơn vị trong Quân đoàn đã vượt qua nhiều khó khăn, tích cực tìm kiếm, khảo sát, cất bốc, quy tập được hàng trăm hài cốt liệt sĩ nằm rải rác trong các cánh rừng Tây Nguyên về các nghĩa trang địa phương. Ý thức rõ tầm quan trọng chiến lược và yêu cầu cấp thiết của mối quan hệ quân dân cá nước, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 8b của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chỉ thị 137 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị 5b của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 127 của Tổng cục Chính trị về tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới; phát huy truyền thống và kinh nghiệm công tác dân vận của Binh đoàn, trong 5 năm (1991-1995) Quân đoàn 3 đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và thu được nhiều kết quả tốt. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn đã ủng hộ hàng trăm triệu đồng, lập hàug trăm sổ tiết kiệm tặng các gia đình thương binh liệt sĩ, xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đồng bào vùng bị thiên tai, đoàn kết với nhân dân Cu Ba, tặng quà cho các cháu thiếu nhi, các trường học và phụng dưỡng 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Dưới sự lãnh đạo, tổ chức của cấp ủy, chỉ huy các cấp, chỉ đạo hướng dẫn của cơ quan chính trị, các hoạt động kết nghĩa giữa đơn vị bộ đội với địa phương nơi đóng quân được đẩy mạnh. Đến năm 1995, các cơ quan đơn vị trong toàn Quân đoàn đã kết nghĩa được với 56 xã, phường, nhà trường, bệnh viện. Nội dung hoạt động kết nghĩa ngày càng phong phú, hình thức đa dạng, có hiệu quả hơn. Để làm công tác vận động quần chúng ở vùng sâu vùng xa, hàng năm Quân đoàn cử hàng chục đội công tác đến các buôn làng hẻo lánh ở các huyện Đức Cơ, Chư Pả (Gia Lai), Sa Thày (Kon Tum). Được sự giúp đỡ của địa phương, các đội công tác đã tiến hành tuyên truyền đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, giúp đỡ củng cố các đoàn thể quần chúng, vận động đồng bào định canh định cư, làm lúa nước, phát triển kinh tế văn hóa xã hội, khám chữa bệnh, thực hiện nếp sống vệ sinh khoa học. Năm 1993 Quân đoàn có 14 đội công tác và gần 500 lượt cán bộ, chiến sĩ đến vùng sâu vùng xa vận động nhân dân; năm 1994 đã tăng lên 24 đội và hơn 800 lượt người xuống cơ sở. Cùng với các hoạt động trên, Quân đoàn còn tổ chức tốt các đợt hành quân dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận. Trong 2 năm 1994, 1995, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn đã giúp địa phương hơn 10.000 ngày công, sửa chữa 48km đường liên thôn liên xã, 6,2km kênh dẫn nước, làm 2,2 héc-ta lúa nước, 10,5 tấn gạo, trên 231 triệu đồng, khám chữa bệnh cho 1.821 lượt người dân. Đặc biệt, tháng 7 và 8 năm 1995 Tây Nguyên có mưa lũ lớn, hàng trăm hộ đồng bào dân tộc Ba Na, Ê Đê ở lòng hồ Ayun Hạ có nguy cơ bị nước nhấn chìm. Trước tình hình tính mạng và tài sản của nhân dân bị ''thần nước'' đe dọa, yêu cầu cấp bách bằng mọi cách phải cứu lấy dân; Bộ tư lệnh Quân đoàn đã kịp thời huy động hơn 600 cán bộ, chiến sĩ, gần 30 xe vận tải, phà và ca nô đến giúp dân. Mặc dù nhiệm vụ gấp, mưa lũ ngăn trở, đường sá khó khăn nhưng cán bộ, chiến sĩ dũng cảm dầm mình trong nước lũ ghép phà, lái ca nô, chặt cây chống lầy, mở thêm đường cơ động, khẩn trương cứu người và vận chuyển tài sản của đồng bào ra khỏi vùng ngập lụt về nơi định cư mới. Sau gần 2 tháng vật lộn với mưa lũ, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn đã thực hiện 214 chuyến phà, 316 chuyến xe và nhiều lượt ca nô , di dời an toàn 5 làng với 246 hộ đồng bào dân tộc từ lòng hồ Ayun Hạ về nơi ở mới cách xa hơn 40km. Nổi bật trong nhiệm vụ đột xuất này là 50 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 Trung đoàn công binh 7 do thiếu tá Ngô Minh (Tham mưu trưởng tiểu đoàn) chỉ huy đã ghép thành công phà 35 tấn, 1 ca nô, mở hàng chục ki-lô-mét đường qua vùng núi cao đèo dốc, chuyển được 139 hộ với gần 1.000 người và toàn bộ tài sản ở làng Hơ Bông. Với thành tích xuất sắc đó, Trung đoàn công binh 7 đã được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng nhì. Mặc dù công tác dân vận của Quân đoàn trong những năm 1991-1995 chưa thật đồng đều và còn chưa thật nhiều nhưng rất có ý nghĩa. Nó không chỉ góp phần cùng địa phương củng cố, nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức quần chúng cách mạng, ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, củng cố mối quan hệ quân dân cá nước; mà còn củng cố trận địa lòng dân, đấu tranh chống âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, hạn chế hoạt động của bọn xấu lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc chống phá cách mạng và nhân dân. Thông qua các hoạt động thực tiễn vận động quần chúng, Quân đoàn rút ra nhiều kinh nghiệm quý trong chỉ đạo và tổ chúc, cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về công tác dân vận của Đảng và tình cảm trách nhiệm vì dân, tạo những cơ sở quan trọng để đẩy mạnh công tác dân vận trong những năm sau. Đánh giá tốt về những hoạt động dân vận của cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Kon Tum đã tặng nhiều bằng khen cho tập thể và cá nhân các đội công tác vận động quần chúng của Sư đoàn 320, Sư đoàn 10, Trung đoàn công binh 7, Tiểu đoàn trinh sát 28 Bộ Tham mưu. Bên cạnh những thành tích toàn diện trong công tác quân sự, công tác Đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trong 5 năm đầu thập kỷ chín mươi của thệ kỷ XX, Quân đoàn 3 còn có những chuyển biến mới trong công tác khoa học quân sự. Hội đồng Khoa học quân sự quân đoàn và Hội đồng Sáng kiến cải tiện kỹ thuật được kiện toàn, củng cố. Cán bộ được tập huấn về tác chiến điện tử. Công nghệ thông tin từng bước được đưa vào áp dụng. Nhiều đề tài khoa học về nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự, y dược quân sự hoàn thành; nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật ra đời. Công tác tổng kết chiến tranh và lịch sử quân sự được đẩy mạnh; 4 tập tổng kết trận đánh và cuốn Lịch sử Trung đoàn công binh 7 được xuất bản. Kết quả nghiên cứu khoa học quân sự đã góp phần thiết thực vào mọi mặt hoạt động, cả trước mắt và lâu dài. Điểm nổi bật của công tác khoa học quân sự giai đoạn này là Bộ tư lệnh Quân đoàn đã phối hợp chặt chẽ với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức thành -công Hội thảo khoa học: ''Chiến thắng Plei Me - 30 năm sau nhìn lại'' vào ngày 12 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội. Dự Hội thảo có Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Võ Nguyễn Giáp - nguyên Tổng tư lệnh, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Chu Huy Mân - nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, trực tiếp chỉ đạo chỉ huy chiến dịch Plei Me; Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ đã trực tiếp tham gia chiến dịch Plei Me lịch sử, các cán bộ Quân đoàn 3; cán bộ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, đại biểu các hiện nghiên cứu, các trường đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tỉnh ủy Gia Lai, Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông - địa bàn diễn ra chiến dịch Plei Me đã gửi tham luận tới Ban tổ chức hội thảo. Tại Hội thảo, 10 bản tham luận (trong tổng số 40 bản tham luận tham gia hội thảo) được trình bày. Trong đó có 29 bản tham luận được tuyển chọn in trong cuốn kỷ yếu: ''Chiến thắng Plei Me - ba mươi năm sau nhìn lại'' do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản. Thấm nhuần đạo đức truyền thống ''Uống nước nhớ nguồn'' những người dự Hội thảo đề nghị Đảng, Nhà nước, Quân đội và cơ quan chức năng là Bộ Văn hóa - Thông tin sớm xét xếp hạng di tích lịch sử cho địa danh chiến thắng Plei Me, đồng thời xây dựng tại đây một tượng đài chiến thắng tương xứng với tầm vóc và ý nghĩa của chiến công đặc biệt quan trọng này. Trong những tháng năm kiên trì phấn đấu, sát cánh cùng Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên, Khu 5 thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên vô cùng phấn khởi được đón nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước và Quân đội đến thăm: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười (5.1992), Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (10.1991), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (11.1993), Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (11.1994), Thượng tướng Đào Đình Luyện - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (4.1992), Trung tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó Tổng tham mưu trưởng (12.1993). Nói chuyện với cán bộ Quân đoàn 3, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước, một số chủ trương của Đảng ta và nhiệm vụ xây dựng Tây Nguyên vững mạnh về mọi mặt. Đồng chí căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn phải nêu cao cảnh giác cách mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, xây dựng tốt các kế hoạch chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu cao, huấn luyện giỏi, bảo quản tốt vũ khí trang bị, có lệnh là chiến đấu thắng lợi. Đồng thời, Quân đoàn phải tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống bộ đội, làm tốt công tác dân vận, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng''. Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3, đồng chí Lê Quang Bình - Tư lệnh Quân đoàn tặng đồng chí Tổng Bí thư tượng đài ''Chiến sĩ Tây Nguyên''. Do yêu cầu nhiệm vụ, trong thời gian từ năm 1991đến năm 1995 Bộ tư lệnh, 4 cơ quan Quân đoàn và chỉ huy một số đơn vị có sự thay đổi. Tháng 12 năm 1993 Thiếu tướng Lê Quang Bình (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động đi nhận nhiệm vụ mới; đại tá Đỗ Công Mùi (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn (11.1993); thượng tá Nguyễn Hữu Hạ (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn (9.1993). Tại các cơ quan Quân đoàn: đại tá Phạm Chào (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn, đại tá Trần Đình Hạng (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm chính trị Quân đoàn; đại tá Hà Vi dược bổ nhiệm làm Phó tham mưu trưởng Quân đoàn. Sư đoàn 10: đại tá Nguyễn Khang Đàm được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, thượng tá Mai Hồng Bỉnh được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị, đại tá Phí Đình Tơm được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng. Ở Sư đoàn 31: đại tá Phạm Ngọc Châu được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, thượng tá Nguyễn Ngọc Cường được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị, thượng tá Nguyễn Minh Tác được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng. Mùa xuân năm 1995 trong không khí tưng bừng của cả nước kỷ niệm những ngày lịch sử trọng đại, ngày 26 tháng 3 Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (26.3. 1975 -26.3. 1995). Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi thư chúc mừng và tặng lẵng hoa cho Quân đoàn. Các đồng chí Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, Thiếu tướng Trần Tất Thanh và nhiều đại biểu của các cơ quan Trung ương, Bộ Quốc phòng, các quân khu, các tỉnh và các đơn vị trong Quân đoàn dự mít tinh, tham gia các hoạt động truyền thống: đêm lửa- trại của thanh niên, thăm quan khu Truyền thống Binh đoàn và các đơn vị. Cũng trong dịp này, nhiều hoạt động kỷ niệm ngày thành lập Quân đoàn diễn ra sôi động tại các đơn vị và địa phương nơi đóng quân, thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tham gia. Việc tổ chức thành công lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Binh đoàn Tây Nguyên là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Quân đoàn giai đoạn 1991-1995. Đây không những là một đợt sinh hoạt chính trị sâu sắc, một hoạt động lớn hướng về nguồn, trực tiếp góp phần xây dựng củng cố mọi mặt cơ quan, đơn vị; mà còn tạo cơ sở và động lực mới thúc đẩy Binh đoàn tiến mạnh trong những năm sau. Năm năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ XX, Quân đoàn làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và Khu 5 với bao khó khăn thử thách. Phát huy truyền thống ''Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực'' của đơn vị anh hùng, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn nỗ lực phấn đấu vươn lên, giành được những kết quả toàn diện, nâng cao một bước quan trọng chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu. Nhiều đơn vị trong Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước và cấp trên khen tặng. Sư đoàn 320 được tặng Huân chương Chiến công hạng ba về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua thực hiện cuộc vận động quản lý sử dụng xe máy tốt, bền, an toàn, tiết kiệm; Trung đoàn công binh 7 được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì về công tác cứu dân ở lòng hồ Ayun Hạ; Lữ đoàn phòng không 234 được tặng cờ ''Đơn vị khá nhất'' của Bộ Quốc phòng và bằng khen về thành tích hội thao phòng không lục quân; Trường Quân sự được tặng 2 bằng khen của Bộ Quốc phòng về thành tích xuất sắc trong tập huấn cán bộ và tập huấn giáo viên các trường quân sự quân khu quân đoàn; Sư đoàn 10 được tặng 2 cờ của Trung ương Đoàn và Ban tổ chức cuộc thi tuổi 'trẻ với Bộ đội Cụ Hồ. Đặc biệt, ngày 30 tháng 8 năm 1995, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trâng nhân dân cho Tiểu đoàn thông tin 29 Bộ Tham mưu Quân đoàn 3; truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ đại uý Lê Xuân Phôi (tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66, Mặt trận Tây Nguyên) và liệt sĩ Vương Văn Khảng (tiểu đội trưởng, thuộc Đại đội 3 đặc công Tiểu đoàn 631, Mặt trận Tây Nguyên). Vô cùng phấn khởi tự hào trước những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và cấp trên khen tặng, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái thi đua quyết tâm lập nhiều thành tích mới. ----------------------------------------------------------------- 1. Mục tiêu của phong trào thi đua ''Hai tốt'' là: ''Xây dựng nền nếp chính quy tốt và thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm''. Khẩu hiệu hành động: ''Phát huy truyền thống, đoàn kết vươn lên, giành cờ hai tốt''. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:05:35 am * Được thắng lợi toàn diện sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới cổ vũ, mùa xuân năm 1996 không khi thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VIII của Đảng và đại hội Đảng bộ các cấp diễn ra rất sôi động trên đất nước ta. Tại binh đoàn Tây Nguyên, cán bộ, chiến sĩ hăng hái thực hiện phong trào thi đua ''Ba nhất'' ngay từ đầu năm 1996, nhằm đạt 3 yêu cầu lớn: ''1. Ý chí, quyết tâm cao nhất. 2. Kỷ cương nghiêm nhất. 3. Tình thương, lối sống đẹp nhất''. Cùng thời gian này, tờ tin "Binh đoàn Tây Nguyên'' do Cục Chính trị Quân đoàn phát hành nội bộ đã hoạt động trở lại, ra số đầu tiên kịp thời phản ánh khí thế thi đua ''Ba nhất'' của Quân đoàn. Giữa những ngày xuân Binh Tý tràn đầy nắng và gió cao nguyên, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 5 được tiến hành tại Quân đoàn bộ (thị xã Plei Ku, tỉnh Gia Lai). Dự Đại hội có 198 đại biểu thay mặt cho 3.510 đảng viên trong toàn Đảng bộ Quân đoàn. Đại biểu cấp trên và các đơn vị bạn có các đồng chí: Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Nguyễn Văn Sĩ - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Gia Lai; Nguyễn Xuân Sang - Phó tư lệnh Chính trị Binh đoàn 15. Với tinh thần: ''Dân chủ, tập trung đoàn kết, hiệu quả'' trong hơn 3 ngày Đại hội, các đại biểu đã nghe, thảo luận đóng góp ý kiến vào bản dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam và báo cáo kết quả, ưu khuyết điểm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 4; phương hướng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 5 (1996 - 2000) và những công tác chính năm 1996. Đại hội bầu 13 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ mới và 8 đồng chí đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân. Đại hội cũng gửi thư đến toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong Quân đoàn. Đại hội xác định mục tiêu tổng quát xây dựng Quân đoàn từ năm 1996 đến năm 2000 là: ''Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ toàn quân lần thứ VI, nắm chắc nhiệm vụ từng thời kỳ, ra sức phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn. Tập trung xây dựng Quân đoàn cách mạng, chính quy, tinh nhuệ có sức chiến đấu ngày càng cao, kiên định vững vàng về chính trị, trong sạch vững mạnh về tổ chức; tinh thông về chỉ huy, quản lý; giỏi về trình độ kỹ thuật, chiến thuật; có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao; bảo đảm và phát huy tốt trang bị kỹ thuật hiện có, từng bước đầu tư thích đáng cho công tác bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật của Quân đoàn, tạo ra một bước chuyển biến vững chắc về chấp hành kỷ luật, xây dựng ngày càng nhiều các đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ trên giao''. Phát biểu với Đại hội, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhiệt liệt biểu dương thành tích của Đảng bộ Quân đoàn trong những năm qua và nêu rõ: ''Quân đoàn 3 là quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ, đứng chân trên vùng Tây Nguyên có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, giàu truyền thống cách mạng, kinh tế xã hội còn chậm phát triển, song lại có vị trí quan trọng về nhiều mặt. Quân đoàn phải sẵn sàng chiến đấu trên các địa bàn được phân công và sẵn sàng cơ động hoàn thành nhiệm vụ trong các tình huống có thể xảy ra ở các địa phương khác... Quân đoàn phải hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, ở mọi quy mô, bằng mọi hình thức chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Quân đoàn phải làm tốt chức năng đội quân công tác... phải làm tốt hơn nữa công tác lao động sản xuất cải thiện đời sống''. Đại hội bầu 13 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ khóa 5 là: Lê Xuân Thanh (Bí thư Đảng ủy), Đỗ Công Mùi (Phó Bí thư Đảng ủy), Nguyễn Hữu Hạ (Ủy viên Thường vụ Đảng ủy), Phạm Chào (Ủy viên Thường vụ Đảng ủy) và các đảng ủy viên: Vũ Khắc Đua, Trần Đình Hạng, Bùi Khắc Hải, Phạm Xuân Hùng, Phạm Hải Nhân, Dương Văn Niên, Mai Hồng Bỉnh, Phạm Ngọc Châu, Hà Văn Vi. Đại hội bầu 8 đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ toàn quân là: Lê Xuân Thanh (Phó tư lệnh chính trị Quân đoàn), Đỗ Công Mùi (Tư lệnh Quân đoàn), Phạm Chào (Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn), Phạm Xuân Hùng (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320), Phạm Hải Nhân (Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn), Bùi Khắc Hải (Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn), Mai Hồng Bỉnh (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 10), Hà Văn Vi (Phó tham mưu trưởng Quân đoàn). Tại Đại hội Đảng bộ Quân đội, đồng chí Đỗ Công Mùi được bầu vào Đoàn đại biểu Đảng bộ Quân đội đi dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng. Từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7 năm 1996, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VIII. Đại hội đã đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tổng kết 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới; đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2000 và 2020. Đại hội khẳng định: cần ''Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa''1. Về nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong 5 năm (1996 - 2000) và những năm đầu thế kỷ XXI, Đại hội xác định: ''Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa và làm thất hại mọi âm mưu và hành động gây mất ổn định xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn và trừng trị mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội''2 . Đại hội Đảng VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là Đại hội có ý nghĩa quyết định vận mệnh dân tộc và tương lai đất nước trước khi bước vào thế kỷ XXI. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 5; trong 5 năm cuối của thế kỷ XX, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên ra sức thi đua yêu nước, xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lập thành tích toàn diện trên tất cả các mặt công tác. Trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm 8 năm xây dựng trên dịa bàn chiến lược Tây Nguyên, Khu 5, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn tiếp tục tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Binh đoàn lên một bước mới, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và phòng chống ''diễn biến hòa bình''. Nắm vững vị trí, chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ của một binh đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ đội với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thường trực cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ của địch trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên; Quân đoàn luôn duy trì nghiêm các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với địa phương phát hiện nắm vững và có biện pháp, giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các khu vực đảm nhiệm, góp phần giữ vững ổn định chính trị địa bàn. Trong 5 năm (1996-2000), Quân đoàn củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống sở chỉ huy các cấp; hoàn thiện tổng đài điện tử của Binh đoàn, tổng đài tự động của Đoàn Đồng Bằng, Đoàn Lam Hồng, Đoàn Sơn Lâm; xây dựng công trình chiến đấu đạt chất lượng khá. Lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu luôn được bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng ngày một tốt hơn và đồng bộ. Thực hiện nhiệm vụ mới về sẵn sàng chiến đấu do Bộ Quốc phòng giao, Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ động, tích cực tổ chức cán bộ đi nghiên cứu địa hình các khu vực mới và hiệp đồng chặt chẽ với các quân khu, đơn vị bạn liên quan; xây dựng, điều chỉnh và bổ sung hoàn thiện các kế hoạch tác chiến theo phương án cơ bản A, A2, A3, B, kế hoạch phòng chống bão lụt, kế hoạch phòng chống cháy nổ, phương án chiến đấu tại chỗ. Tăng cường kiểm tra, luyện tập một số phương án để rèn luyện từ chỉ huy cơ quan Quân đoàn đến phân đội, chiến sĩ. Các đơn vị: Đoàn Đắc Tô, Trung đoàn Thăng Long (Đoàn Đồng Bằng), 1 tiểu đoàn pháo binh (Đoàn 40), 1 tiểu đoàn phòng không (Đoàn Tam Đảo), 1 tiểu đoàn công binh vượt sông (Đoàn Hùng Vương), Tiểu đoàn vận tải 827 và một số phân đội được báo động cơ động lực lượng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhằm kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị và toàn Quân đoàn, từng bước nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ các cấp và rèn luyện bộ đội; hàng năm trong Quân đoàn đều tổ chức các cuộc diễn tập chỉ huy cơ quan ở các cấp và đạt kết quả khá, tốt. Nổi bật nhất là các cuộc diễn tập trong đội hình lớn do Bộ Quốc phòng chỉ đạo. Trong cuộc diễn tập PT-99 (diễn ra từ ngày 3 đến ngày 10.12.1999), lực lượng Quân đoàn tham gia gồm: Thủ trưởng Bộ tư lệnh và 4 cơ quan Quân đoàn, chỉ huy và cơ quan các đơn vị: Đoàn Đắc Tô, Đoàn Đồng Bằng, Đoàn Lam Hồng, Đoàn Hùng Vương, Đoàn Sơn Lâm, Đoàn 40, Đoàn Tam Đảo với tổng quân số 450 cán bộ, chiến sĩ; có thực binh 1 tiểu đoàn xe tăng, BMP-1, một tiểu đoàn pháo 105mm. Kết thúc diễn tập PT-99, Quân đoàn đã được Ban chỉ đạo cuộc diễn tập và cơ quan Bộ Quốc phòng đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt 9 điểm; trong đó có nhiều nội dung, nhiều bộ phận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thông qua đợt diễn tập này, Quân đoàn rút ra một số kinh nghiệm thiết thực và bổ ích, làm cơ sở bổ sung cho phương hướng nhiệm vụ huấn luyện, xây dựng đơn vị mạnh trong những năm sau và phương pháp phối hợp hiệp đồng với đơn vị bạn. Phát huy thành tích và vận dụng linh hoạt kinh nghiệm các cuộc diễn tập trước, tháng 6 năm 2000 Quân đoàn tham gia cuộc diễn tập mang tên ''MT-2000'' do Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, đạt loại giỏi. Bộ Quốc phòng đã tặng bằng khen cho Trung đoàn bộ binh Trung Dũng và Đoàn Sơn Lâm. Từ thực tiễn diễn tập, đã giúp cho Bộ tư lệnh Quân đoàn đánh giá sát hơn khả năng sẵn sàng chiến đấu, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và kỹ năng chiến đấu của bộ đội, động thời rút ra nhiều bài học quý vận dụng vào việc hoàn chỉnh các phương án tác chiến cơ bản, phù hợp với tình hình mới. Ngay sau cuộc diễn tập, Tư lệnh Quân đoàn đã tặng bằng khen cho 3 đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là: Trung đoàn bộ binh Trung Dũng (Đoàn Đắc Tô), Đại đội xe tăng 7 (Đoàn Sơn Lâm), Phòng Tác chiến (Bộ Tham mưu); tặng giấy khen cho 3 đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ là: Đại đội pháo phòng không 3 (Đoàn Tam Đảo), Tiểu đoàn 28 và Tiểu đoàn 29 (Bộ Tham mưu). Để có được những kết quả cao trong sẵn sàng chiến đấu, 5 năm cuối thế kỷ XX, Quân đoàn đã nỗ lực rất lớn trong công tác huấn luyện. Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, các chỉ thị, mệnh lệnh huấn luyện của Bộ Quốc phòng được thực hiện nghiêm túc. Nhiều nội dung huấn luyện được bổ sung, điều chỉnh cho sát với đặc điểm, nhiệm vụ và từng đơn vị. Công tác xây dựng, điều hành kế hoạch huấn luyện, chuẩn bị cơ sở vật chất, thao trường, bãi tập và thực hiện các chế độ huấn luyện được chỉ đạo chặt chẽ thống nhất, có nền nếp. Việc tập huấn bồi dưỡng cán bộ các cấp, các ngành được chú trọng, tiến hành đều đặn hàng năm. 5 năm (1996-2000) đã có hơn 20.000 lượt cán bộ các cấp được tập huấn; trong đó cán bộ chỉ huy, cơ quan từ Quân đoàn đến trung đoàn được nghiên cứu tập trung về lý luận và tập bài nhiều lần, có những vấn đề mới và diễn tập với quy mô hình thức khác nhau. Trong quá trình huấn luyện, Quân đoàn đã quán triệt tốt phương châm ''cơ bản, thiết thực, vững chắc'' vận dụng linh hoạt sáng tạo 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp; đặc biệt chú trọng huấn luyện đêm, lấy thực hành là chính, tăng cường báo động kiểm tra; tích cực tổ chức các cuộc hội thi, hội thao ở các cấp, các ngành. Vì vậy, kết quả huấn luyện được giữ vững và ngày càng nâng cao. Quân số tham gia huấn luyện luôn đạt 98% đến 99%. Các nội dung kiểm tra đạt 100% yêu cầu, có từ 70% đến 80% khá giỏi, trong đó các môn kỹ thuật thường đạt loại giỏi, chiến thuật loại khá. Kết quả huấn luyện chung của toàn Quân đoàn đều có sự đóng góp quan trọng của Trường Quân sự. Từ trung tâm huấn luyện duy nhất của Binh đoàn, hàng nghìn cán bộ phân đội và nhân viên chuyên môn kỹ thuật được đào tạo, bổ túc tốt nghiệp ra trường đem theo kiến thức cơ bản tỏa về các đơn vị công tác Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức dạy văn hóa, bồi dưỡng cho các thí sinh dự thi tuyển sinh quân sự, liên kết với trường bạn dạy đại học đại cương cho cán bộ, lưu lượng hàng trăm lượt người mỗi năm. Chất lượng huấn luyện của Trường Quân sự luôn ổn định và tiến bộ không ngừng; được Cục Nhà trường Bộ Tổng Tham mưu kiểm tra toàn diện (10.1996), đánh giá đạt loại giỏi (8,91 điểm). Cùng với những kết quả cao trong huấn luyện lực lượng trong biên chế, từ năm 1996 đến năm 2000 Quân đoàn còn giành được nhiều kết quả trong huấn luyện quân dự bị động viên và giáo dục quốc phòng cho sinh viên, học sinh. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh về Dự bị động viên (8.1996) và nhiệm vụ được giao, Quân đoàn chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, cơ quan quân sự địa phương đưa công tác quản lý, xây dựng và huấn luyện lực lượng dự bị đi vào nền nếp; từng bước nâng cao chất lượng huấn luyện cho các đối tượng quân dự bị. Mặc dù còn không ít trở ngại trong việc nắm, quản lý nguồn dự bị do địa bàn rộng, nhận thức về nhiệm vụ động viên của địa phương và quân nhân dự bị chưa đồng đều, một số quy định về dự bị động viên còn bất cập..., nhưng hai năm (1999-2000) toàn Quân đoàn đã huấn luyện được 9.927 cán bộ, chiến sĩ dự bị, đạt 78,79% kế hoạch; tổ chức thành công 2 cuộc diễn tập có thực binh 2 tiểu đoàn dự bị. Đồng thời giáo dục quốc phòng cho hàng nghìn học sinh, sinh viên đạt kết quả tốt. Để đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm quý, tiếp tục đưa công tác dự bị động viên phát triển mạnh trong những năm tới; ngày 28 tháng 9 năm 2000 Quân đoàn tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm (1999-2000) về công tác quản lý, xây dựng và huấn luyện lực lượng dự bị động viên. Dự Hội nghị có 229 đồng chí, gồm: Thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân đoàn, các cục và các phòng ban cơ quan Quân đoàn; chỉ huy trưởng, chỉ huy phó chính trị; trưởng các phòng, ban, tiểu ban các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, Trường Quân sự; đại diện Ban chỉ đạo sơ kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh về Dự bị động viên Bộ Quốc phòng, Cục Quân lực, Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu); Cục Tổ chức, Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị); Bộ Tham mưu (Tổng cục Hậu cần), Bộ Tham mưu (Tổng cục Kỹ thuật), Cục Tài chính (Bộ Quốc phòng); Bộ tư lệnh, Phòng Quân lực (Quân khu 5); đại biểu Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự, trưởng ban quân lực 5 tỉnh thành phố. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Chủ trì hội nghị: Đại tá Trần Minh Hùng - Phó tư lệnh Quân đoàn 3. Hội nghị đã đánh giá những thành công, chỉ rõ những điểm còn hạn chế và nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm, thống nhất những công việc cần làm tốt trong thời gian tới. Hội nghị đã biểu dương các đơn vị: Đoàn Lam Hồng, Đoàn Đồng Bằng, Đoàn 40 và cơ quan Quân đoàn lập nhiều thành tích trong nhiệm vụ dự bị động viên trên địa bàn Quân khu 5. Tuy vẫn còn những vấn đề cần phải khắc phục, nhưng 5 năm (1996-2000) Quân đoàn 3 đã tiến những bước dài khá vững chắc và hoàn thành tốt công tác huấn luyện chiến đấu. Nhiều đơn vị trong Quân đoàn đạt đơn vị huấn luyện giỏi 3 năm liền. Kết quả huấn luyện của Quân đoàn còn được khẳng định qua các đợt kiểm tra, thanh tra của Bộ Quốc phòng và hội thi hội thao toàn quân. Hai năm 1998, 2000, Bộ kiểm tra công tác chuẩn bị huấn luyện chiến đấu, đều đánh giá Quân đoàn đạt loại giỏi; thanh tra nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn năm 1999 và quý 1 năm 2000 đánh giá đạt loại khá, trong đó các đơn vị: Đoàn Đắc Tô, Đoàn Tam Đảo, Đoàn 40, Trường Quân sự đạt loại giỏi. Các đội tuyển của Quân đoàn tham gia hội thao giành nhiều giải cao: giải nhất công binh khu vực phía Nam, giải ba thể thao và hóa học toàn quân (1996); giải nhì binh chủng pháo binh và giải ba binh chủng xe tăng (1998); giải nhất binh chủng pháo binh, giải nhì binh chủng thông tin khu vực phía Nam và Trung đoàn Trung Dũng (Đoàn Đắc Tô) xếp thứ ba thi diễn tập chỉ huy - cơ quan trung đoàn bộ binh toàn quân (2000). Những kết quả cao trong công tác huấn luyện đã góp phần trực tiếp nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và chất lượng tổng hợp của Quân đoàn. Thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị số 37 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị số 282 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chỉ thị số 85 của Tổng Tham mưu trưởng, từ năm l996 đến năm 2000, Quân đoàn đẩy mạnh xây dựng chính quy, giáo dục pháp luật và rèn luyện kỷ luật. Hàng trăm triệu đồng và nhiều công sức của bộ đội được huy động vào củng cố, làm mới hệ thống sổ sách, bảng, biển, thiết bị ở cơ quan, đơn vị, kho trạm... bảo đảm tính thống nhất cao. Được thường xuyên quán triệt, giáo dục thấy rõ ý nghĩa nhiệm vụ xây dựng chính quy nên bộ đội tự giác chấp hành kỷ luật, thực hiện nếp sống văn hóa, tích cực cải thiện cảnh quan môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp. Hàng năm, Quân đoàn vẫn tuyển nhận hàng nghìn chiến sĩ mới, nhưng tỷ lệ vi phạm kỷ luật và đào - bỏ ngũ ngày càng giảm mạnh. Năm 1996 có 4% quân số đào - bỏ ngũ, năm 1999 chỉ còn 0,7% và đến năm 2000 chỉ còn 0,59%. Có nhiều tiểu đoàn, trung đoàn huấn luyện chiến sĩ mới không có đào - bỏ ngũ. Những cố gắng liên tục trong nhiều năm xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật đã tạo nên ý thức tự giác của bộ đội làm việc, học tập, công tác theo chức trách, hành động theo điều lệnh, nâng cao sức mạnh Binh đoàn. Từ ngày 8 tháng 1 năm 2000, toàn Quân đoàn chuyển sang thực hiện chế độ làm việc 40 giờ trong một tuần, nghỉ 2 ngày thứ bảy và chủ nhật. Do được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ nên việc thực hiện chế độ làm việc mới không gây xáo trộn, nhanh chóng đi vào ổn định, nền nếp. Các đơn vị, cơ quan vẫn bảo đảm được các hoạt động như trước. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng có thêm điều kiện, thời gian đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí, củng cố sức khỏe và làm các công việc khác. Chủ động, linh hoạt trong cơ chế quản lý kinh tế mới, trong 5 năm (1996-2000) Ngành Hậu cần tích cực khai thác, tạo nguồn, bảo đảm đầy đủ, kịp thời mọi tiêu chuẩn, chế độ cho cán bộ, chiến sĩ. Phong trào tăng gia sản xuất có nhiều chuyển biến tích cực. Diện tích cây công nghiệp đạt gần 700 héc-ta, trong đó có 180 héc-ta cà phê, 270 héc-ta cao su, 24 héc-ta bời lời; thường xuyên duy trì đàn bò 300 con và đàn lợn 1.500 con. Cùng với các hoạt động trên, Quân đoàn còn tích cực tham gia xây dựng các công trình kinh tế - Quốc phòng của Nhà nước: Thủy điện Yaly và Sê San 3, đường dây 500KV, Đường Hồ Chí Minh, rà phá bom mìn... thu về hàng trăm triệu đồng. Thành quả từ lao động sản xuất được đưa thêm vào bữa ăn, việc thực hành tiết kiệm, cải tiến chế biến được chú trọng... nên chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội luôn ổn định và từng bước được nâng cao. Năm 2000 có 85% tổng số bếp đạt tiêu chuẩn ''Bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt'', tăng 8% so với năm 1996; không còn bếp kém. Bảo đảm về mặc và phòng chữa bệnh cho bộ đội cũng có những chuyển biến tiến bộ. Từ năm 1998 không còn tử vong do sốt rét ác tính, quân số khỏe bình quân hàng năm đạt 98,5%, cao nhất từ khi trở lại Tây Nguyên, Khu 5. Chương trình 12-2 kết hợp quân dân y được thực hiện có hiệu quả, hàng nghìn lượt người dân được khám và chữa bệnh. Về xây dựng doanh trại đã tập trung có trọng tâm, trọng điểm theo hướng cơ bản lâu dài; 100% đơn vị có điện và nguồn nước sạch cho bộ đội sinh hoạt và phục vụ các hoạt động công tác. Trong điều kiện địa bàn đóng quân rộng, khí hậu môi trường không thuận lợi, kinh phí hạn hẹp, vũ khí trang bị kỹ thuật sử dụng nhiều năm; công tác kỹ thuật đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, tích cực bảo dưỡng bảo quản sửa chữa nâng cấp duy trì vũ khí trang bị kỹ thuật hiện có, đáp ứng được các yêu cầu về sẵn sàng chiến đấu huấn luyện và công tác. Đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý, khai thác, sử dụng, bảo đảm an toàn, không để xảy ra cháy nổ, mất mát vũ khí trang bị, đạn dược. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Tổng cục Chính trị, bám sát định hướng công tác đảng, công tác chính trị những năm 1996-2000 và nhiệm vụ chính trị của Quân đoàn, kế thừa kinh nghiệm đã có; trong 5 năm cuối thế kỷ XX công tác đảng, công tác chính trị của Binh đoàn có nhiều thành công. Việc giáo dục chính trị, lãnh dạo tư tưởng đã tập trung quán triệt tốt Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương và nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn, nhiệm vụ đơn vị. Quy chế, chương trình giáo dục chính trị hàng năm được thực hiện tốt, nội dung ngày càng phong phú, hình thức đa dạng sát với đặc điểm từng đối tượng cụ thể. Công tác thi đua khen thưởng từng bước được đổi mới. Ban thi đua các cấp được kiện toàn. Phong trào thi đua được đẩy mạnh cả bề rộng và chiều sâu, tạo được khí thế sôi động và động lực mạnh mẽ góp phần làm chuyển biến tình hình mọi mặt đơn vị. Những vấn đề tư tưởng mới nảy sinh trong thực tiễn được nắm bắt giải quyết kịp thời. Chính vì vậy, trước diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng vẫn vững vàng về chính trị, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định lập trường chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững phẩm chất đạo đức "Bộ đội Cụ Hồ", thực sự yên tâm gắn bó với Quân đội, Quân đoàn, đoàn kết thống nhất, ra sức thi đua xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện. Song song với giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, công tác tổ chức xây dựng Đảng tập trung vào xây dựng các cấp ủy Đảng và chi bộ trong sạch vững mạnh, nhất là chi bộ ở đại đội đủ quân. Năm 1996 số đại đội có chi bộ đạt 62,69%, năm 2000 đã đạt 91,97%, trong đó có 10,31% chi bộ có chi ủy. Do đẩy mạnh chất lượng sinh hoạt, làm tốt việc tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 và Trung ương 6 (lần 2), tăng cường công tác kiểm tra nên sức chiến đấu của các chi bộ được tăng lên rõ rệt. Hàng năm, số tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tư cách mức 1 không ngừng tăng lên. Năm 1996 có 57,64% tổng số tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh và 74,64% đảng viên đủ tư cách mức 1; đến năm 1999 tăng lên 70,73% tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh và 83,13% đảng viên đủ tư cách mức 1, không còn tổ chức cơ sở Đảng yếu kém. Từ năm 1996 đến năm 2000, Đảng bộ Quân đoàn phát triển được 1.761 đảng viên mới. Đội ngũ cán bộ các cấp được chú trọng xây dựng, bảo đảm cơ bản đủ về số lượng, nâng cảo về chất lượng, đồng bộ và có tính kế thừa. Cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp được quan tâm xây dựng ngày càng đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu nhiệm vụ của Quân đoàn và các đơn vị. Nhằm đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết và các phong trào thi đua, rút ra kinh nghiệm thiết thực, tiếp tục thúc đẩy phong trào phát triển tiến lên. Từ năm 1996 đến năm 2000, Quân đoàn tổ chức: Tổng kết phong trào thi đua ''Hai tốt'' (3.1996), Tổng kết 5 năm đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị (8.1996), Tổng kết thực hiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị (khóa VII) về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, tổ chức thi tuyên truyền viên trẻ (7.2000). Cũng trong thời gian này, Cục Chính trị Quân đoàn phối hợp với Ban Biên tập chương trình Phát thanh Quân đội Đài tiếng nói Việt Nam mở lớp bồi dưỡng cộng tác viên tại Quân đoàn; chỉ đạo Hội Phụ nữ tổ chức thành công Đại hội Phụ nữ toàn Quân đoàn lần thứ nhất (20.2.1997), kiện toàn Ban chấp hành Hội, đẩy mạnh phong trào thi đua ''Giỏi việc nước, đảm việc nhà'', "Nuôi con khỏe, dạy con ngoan'', ''Kế hoạch hóa gia đình'' và 5 chương trình công tác của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nụ Việt Nam. Đoàn thanh niên các cấp cũng được kiện toàn, hoạt động có hiệu quả, phát triển được 11.375 đoàn viên mới và giành nhiều thành tích trong phong trào "Thanh niên phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ''. Nhân dịp kỷ niệm 110 năm sinh nhật Bác Hồ, 31 năm ngày Bác đi xa và kỷ niệm 56 năm thành lập nước (2.9.1945 - 2.9.2000), Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ đặt tượng Bác Hồ tại Hội trường Nhà văn hóa Quân đoàn. Dự buổi lễ có các đồng chí trong Bộ tư lệnh, thủ trưởng và đông đảo cán bộ cơ quan Quân đoàn, đơn vị. Đây là pho tượng được đúc bằng đồng, do Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng tặng cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên. Thực hiện tốt Pháp lệnh Người có công với cách mạng, trong 5 năm (1996-2000), Quân đoàn thường xuyên quản lý tốt các dối tượng chính sách; chủ động tham gia giải quyết những tồn đọng sau chiến tranh. Quân đoàn vẫn tiếp tục duy trì các đội tìm kiếm quy tập mộ liệt sĩ. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đặc biệt này đã không quản gian khổ, hiểm nguy xuyên rừng lội suối đến các trận địa cũ từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc để tìm kiếm cất bốc, quy tập được 665 hài cốt liệt sĩ về các nghĩa trang; trả lời nhiều thư và hướng dẫn thân nhân liệt sĩ thăm viếng, tìm tin. Năm 1997, Đoàn Đắcc Tô đã hoàn thành xây dựng Nhà bia tưởng niệm hơn mười nghìn liệt sĩ, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc những chiến sĩ đã hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho sự nghiệp giải phóng Tây Nguyên. Cùng với các hoạt động trên, hàng năm Quân đoàn cử nhiều đội công tác đến các vùng sâu, vùng xa ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum vận động nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị; quyên góp hàng trăm triệu đồng làm công tác đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào bị bão lụt; huy động hàng vạn ngày công làm đường giao thông, làm thủy lợi, xây dựng làng buôn định canh định cư và khám chữa bệnh cho nhân dân. Năm 1999, Quân đoàn phụng dưỡng 10 Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi tặng quà 254 lượt gia định chính sách với số tiền trị giá 76 triệu đồng; tổ chức sửa chữa 36 căn nhà, cử 36 đội công tác, huy động 2.960 ngày lượt cán bộ, chiến sĩ làm công tác dân vận thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ tham gia xóa đói giảm nghèo ở 6 xã đặc biệt khó khăn ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, ủng hộ đồng bào miền Trung bị bão lụt gần 222,5 triệu đồng. Năm 2000, Quân đoàn nhận phụng dưỡng 13 Mẹ Việt Nam anh hùng, quyên góp được 96 triệu đồng xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, làm công tác dân vận ở 36 xã, xóa đói giảm nghèo ở 6 xã, làm được 26,5km đường giao thông, 6,4km kênh mương, 6 héc-ta lúa nước, 90 ngôi nhà tình nghĩa, quyên góp giúp đỡ 170 triệu đồng xây dựng làng mới, tuyên truyền chính sách cho 32.000 lượt người dân, khám chữa bệnh cho 760 lượt người. Khi đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt tàn phá, Quân đoàn đã kịp thời cơ động một lực lượng quân y đến huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp giúp dân, khám chữa bệnh cho bà con ở 11 xã, cấp phát thuốc trị giá 40 triệu đồng. Tháng 6 năm 1997, nhân dân huyện Ayun Pa tỉnh Gia Lai gặp khó khăn trong thu hoạch mía, Quân đoàn đã huy động 714 cán bộ, chiến sĩ, thu hoạch 3.320 tấn mía và bắc một cầu phao qua sông Ba để vận chuyển mía về nhà máy đường; được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao và rất hoan nghênh. Những hoạt động kết nghĩa, hành quân dã ngoại rèn luyện bộ đội kết hợp làm công tác dân vận, cử các đội công tác cơ sở xuống vùng sâu vùng xa, đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa... của Quân đoàn đã góp phần thiết thực cùng địa phương tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền cơ sở, củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức quần chúng cách mạng, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, giữ gìn ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ trong thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Tây Nguyên, Khu 5. Thông qua các hoạt động dân vận, khối đoàn kết quân dân càng thêm gắn bó; niềm tin của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương vào Quân đoàn càng được củng cố, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. ----------------------------------------------------------------- 1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr. 61. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội... Sđd, tr.80. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:06:57 am Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 2 (khóa VIII) về ''Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ'', Nghị quyết số 10/ĐUQSTƯ (ngày 8 tháng 1 năm 1999), của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ''về đẩy mạnh nghiên cứu, phát huy vai trò của khoa học lịch sử quân sự trong thời kỳ mới'' và các Chỉ thị số 19/ĐUQSTƯ (ngày 19 tháng 3 năm 1997) của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị số 462/CT-QP (ngày 26 tháng 3 năm 1997) của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về khoa học công nghệ; Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn đã tổ chức quán triệt đầy đủ các nghị quyết chỉ thị của cấp trên cho cán bộ các cấp, đồng thời xây dựng triển khai chương trình hành động đến năm 2000. Được sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ Quốc phòng, với nỗ lực cố gắng rất cao, từ năm 1996 đến năm 2000, Quân đoàn đã hoàn thành nhiều đề tài khoa học về nghệ thuật quân sự, tổng kết - lịch sử quân sự, khoa học xã hội và nhân văn, hậu cần - kỹ thuật quân sự, y dược học quân sự. Trong đó có 2 đề tài khoa học cấp Bộ: ''Tổng kết chiến thuật trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Quân đoàn 3 (1945 - 1975)'' (do Phòng Khoa học công nghệ - môi trường biên soạn) và Sử dụng và bố trí lực lượng vũ trang tác chiến trên địa bàn Tây Nguyên trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc'' (do đại tá tiến sĩ Phạm Xuân Hùng - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn làm chủ nhiệm) đã được Hội đồng nghiệm thu Bộ Quốc phòng đánh giá đạt loại xuất sắc. Đề tài tổng kết chiến thuật đã xuất bản thành sách, kịp thời phục vụ cán bộ nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Quân đoàn. Về tổng kết - lịch sử quân sự đã hoàn thành và in thành sách các tập 5, 6 ,7 tổng kết trận đánh, biên niên sử công tác đảng, công tác chính trị, lịch sử và tổng kết Ngành Kỹ thuật; lịch sử các đơn vị: Đại Đoàn Đồng Bằng (tập 4), Đoàn Lam Hồng, Đoàn Tam Đảo, Đoàn 40, Trung đoàn Trung Dũng, Trung đoàn PleiMe, Trung đoàn 28. Đề tài khoa học bao gồm nhiều lĩnh vực: dân vận, kiểm tra (Cục Chính trị), châm tê trong phẫu thuật, dùng Atêmisinine đều trị sốt rét (Viện Quân y 211), kỹ thuật quân sự (Cục Kỹ thuật) nhanh chóng được triển khai áp dụng vào thực tiễn, đem lại nhiều kết quả thiết thực. Hàng chục sáng kiến cải tiến kỹ thuật và mô hình học cụ ra đời góp phần nâng cao năng suất, giảm giá thành trong lao động sản xuất và chất lượng huấn luyện.
Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn Quân đoàn từng bước được tin học hóa, việc sử dụng máy vi tính đã trở thành phổ biến trong các cơ quan, đơn vị đem lại hiệu quả ngày càng cao. Thực hiện chủ trương, kế hoạch đại học hóa đội ngũ cán bộ, hàng trăm cán bộ được học đại học đại cương, đi tu nghiệp ở các học viện trong và ngoài quân đội. Năm 1996, đội ngũ cán bộ Quân đoàn có 7,87% có trình độ đại học, đến năm 2000 đã tăng lên 22%. Những kết quả tương đối toàn diện trong nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ tiên tiến không chỉ góp phần nâng cao chất lượng mọi mặt công tác, mà còn khẳng định hướng đi đúng và bước phát triển mới trong công tác khoa học quân sự của Binh đoàn. Cũng như các giai đoạn trước, trong những năm cuối thế kỷ XX, Quân đoàn 3 thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ, động viên của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội đến thăm, làm việc, kiểm tra Quân đoàn và động viên cán bộ, chiến sĩ: Chủ tịch Nước Lê Đức Anh (4.1996), Thủ tướng Phan Văn Khải (1.1999), Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đỗ Mười (9.1998), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê (1.1997), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà (4.1998), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tổng Tham mưu trưởng Lê Văn Dũng (11.1998 và 2.1999), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trưởng ban chỉ đạo cuộc vận động 50 - Trương Khánh Châu (11.1999)... Đây là nguồn cổ vũ rất lớn cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn hăng hái thi đua xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã giao phó. Trong 5 năm 1996-2000, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và các cơ quan, đơn vị có một số thay đổi về cán bộ. Thiếu tướng Đỗ Công Mùi (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động làm Phó tư lệnh Quân khu 3 (12.1997), đại tá Nguyễn Hữu Hạ (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn (12.1997), đại tá tiến sĩ Phạm Xuân Hùng (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn (12.1997), đại tá Trần Minh Hùng (Phó tham mưu trưởng Quân khu 5) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn (12.1998). Tháng 3 năm 1998, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra quyết định: đồng chí Nguyễn Hữu Hạ giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân đoàn, đồng chí Phạm Xuân Hùng giữ chức Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn, hai đồng chí Phí Đình Tơm và Nguyễn Tiên Phong là Ủy viên Đảng ủy Quân đoàn. Bốn cơ quan Quân đoàn cũng có sự thay đổi: đại tá Phí Đình Tơm (phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng Sư đoàn 10) và đại tá Đỗ Văn Tắc được bổ nhiệm làm phó tham mưu trưởng Quân đoàn, đại tá - phó giáo sư - tiến sĩ Lương Minh Cao (Học viện Lục quân) thực tế Phó tham mưu trưởng Quân đoàn; đại tá Tô Bá Ánh (Học viện Chính trị Quân sự) và đại tá Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân Hà Minh Thám (Quân khu 5) được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm chính trị Quân đoàn, đại tá Phạm Hải Nhân được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Hậu cần Quân đoàn, đại tá Nguyễn Ngọc Nghĩa được bổ nhiệm lám Phó cục trưởng Cục Hậu cần Quân đoàn. Sư đoàn 10: thượng tá Trần Quốc Phú được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng, thượng tá Đào Mạnh Chỉnh được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng. Sư đoàn 320: đại tá Hoàng Văn Hoặc được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đại tá Nguyễn Thế Tân được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng, đại tá Nguyễn Tiên Phong được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị. Sư đoàn 31: đại tá Nguyễn Vĩnh Phú được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, thượng tá Nguyễn Ngọc Cường được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị, thượng tá Đỗ Quang Trung được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng. Trường Quân sự: đại tá Võ Mạnh Thắng được bổ nhiệm làm hiệu trưởng, thượng tá Ngô Thế Tuyền được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng chính trị, thượng tá Lưu Tiến Chức được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng quân sự. Tại các đơn vị khác cũng có một số thay đổi về cán bộ chủ trì phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Năm năm cuối thế kỷ XX là giai đoạn tương đối ổn định và có nhiều thuận lợi trong thực hiện nhiệm vụ của Binh đoàn Tây Nguyên. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, nắm vững nhiệm vụ kế thừa kinh nghiệm, phát huy truyền thống, tích cực chủ động sáng tạo trong thực hiện, ''Quân đoàn 3 có bước trưởng thành rất quan trọng, hoàn thành và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, đạt và vượt một số mục tiêu, chỉ tiêu do Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 5 đề ra; nhiều mặt công tác năm sau tiến bộ hơn năm trước; một số cơ quan, đơn vị tiếp tục được củng cố, có chiều hướng phát triển tốt; một số mặt yếu kém được đẩy lùi; trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh tổng hợp của Quân đoàn có bước tiến bộ trưởng thành mới, có mặt hơn hẳn so với thời kỳ đầu trở lại Tây Nguyên. Hoàn thành được các nhiệm vụ chiến đấu trong các tình huống chiến tranh do Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao''1. Trong vườn hoa thi đua muôn màu tươi thắm của Binh đoàn Tây Nguyên, có 6.029 tập thể và hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ được khen thưởng, 296 tập thể đạt danh hiệu "Đơn vị quyết thắng'', 14 cơ quan đơn vị được Bộ tư lệnh Quân đoàn tặng cờ thi đua. Dẫn đầu, toàn diện trong phong trào thi đua 5 năm 1996 - 2000 là Đoàn 40; được Chủ tịch Nước tặng Huân chương Chiến công hạng nhất (năm 2000), được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Quốc phòng tặng cờ ''Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua''. Đoàn Đồng Bằng là đơn vị có nhiều thành tích trong công tác kỹ thuật, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Đoàn Đắc Tô nổi bật trong công tác dân vận, chính sách được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Đoàn Hùng Vương hoàn thành xuất sắc cuộc vận động 50 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Ngoài ra, nhiều đơn vị cơ quan trong Quân đoàn được Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh xã hội, Trung ương Đoàn Thanh cộng sản Hồ Chí Minh tặng Bằng khen, cờ luân lưu và tặng phẩm. Đặc biệt, Đoàn Lam Hồng, Trung đoàn bộ binh 866 được Chủ tịch Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Khăm Tày Xi Phăn Đon tặng Huân chương Ít Xa La - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Lào. Những phần thưởng vinh dự đó không những đánh dấu bước trưởng thành mới toàn diện của Quân đoàn trong những năm cuối của thế kỷ XX; mà còn là cơ sở vững chắc, là nguồn cổ vũ động viên lớn lao cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái vươn lên lập những thành tích mới trong những năm đầu của thế kỷ XXI. ------------------------------------------------------------------ 1. Trích Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 6, tr. 7 Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 09:24:25 am 3. Đẩy mạnh xây dựng Quân đoàn theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại', vững bước tiến vào thiên niên kỷ mới.
Giữa tháng 11 năm 2000, tại Quân đoàn bộ (thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai), Đảng bộ Quân đoàn 3 tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ 6. Dự Đại hội có 179 đại biểu thay mặt cho gần 4.000 đảng viên ở 13 Đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Quân đoàn. Đại biểu cấp trên và địa phương có các đồng chí: Trung tướng Nguyễn Huy Hiệu - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Đỗ Tiến Hoàng - Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai, Nguyễn Thanh Cao - Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum và một số đại biểu cơ quan Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong 3 ngày làm việc tích cực, khẩn trương, với tinh thần dân chủ, trí tuệ và tập trung thống nhất cao, Đại hội đã nghe, thảo luận đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam; Báo cáo chính trị của Đảng ủy Quân sự Trung ương trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ VII; đánh giá tình hình, tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 1996-2000 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2001-2005. Về phương hướng xây dựng Quân đoàn 3 năm 2001 - 2005, Đại hội xác định: ''Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân ''Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại''. Nắm vững vị trí, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đoàn chủ lực, chính quy, vững mạnh bảo đảm sức chiến đấu, khả năng cơ động cao và là lực lượng chủ yếu giữ vững địa bàn chiến lược Tây Nguyên; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường. Tập trung xây dựng Quân đoàn có trình độ khoa học quân sự, kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có khả năng tác chiến chiến dịch (chiến đấu) trong mọi điều kiện; kỷ luật nghiêm; đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện; quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm; cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao; toàn Quân đoàn là một khối thống nhất ý chí và hành động, không ngừng nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu tổng hợp của Quân đoàn, sẵn sàng hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong mọi tình huống''. Phát biểu với Đại hội, Trung tướng Nguyễn Huy Hiệu đã chuyển lời biểu dương của Đảng ủy Quân sự Trung ương về những kết quả thành tích mà Đảng bộ Quân đoàn 3 đã đạt được trong 5 năm 1996-2000; đồng thời đi sâu phân tích về tình hình thế giới, khu vực có liên quan, thông báo những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân đội trong những năm qua, nhất là 2 năm 1999-2000; khẳng định tính khoa học sáng tạo, sự đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm rõ những yêu cầu phát triển mới và những vấn đề có tính nguyên tắc trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới; nhắc nhở Đảng bộ Quân đoàn tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, kiên quyết khắc phục mặt hạn chế, xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch vững mạnh, lãnh đạo xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, sẵn sàng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đại hội bầu 13 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn khóa 6 là: Lê Xuân Thanh (Bí thư Đảng ủy), Nguyễn Hữu Hạ (Phó Bí thư Đảng ủy), Phạm Xuân Hùng (Ủy viên thường vụ Đảng ủy), Phạm Chào (Ủy viên thường vụ Đảng ủy) và các đảng ủy viên: Trần Minh Hùng, Phí Đình Tơm, Phạm Hải Nhân, Bùi Khắc Hải, Trần Đình Hạng, Nguyễn Tiên Phong, Mai Hồng Bỉnh, Nguyễn Vĩnh Phú, Võ Mạnh Thắng. Đại hội bầu 7 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết đi dự Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VII là: đại biểu chính thức: Lê Xuân Thanh, Nguyễn Hữu Hạ, Phạm Xuân Hùng, Phạm Chào, Phạm Hải Nhân, Bùi Khắc Hải, Mai Hồng Bỉnh. Đại biểu dự khuyết: Võ Mạnh Thắng. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ VII, đồng chí Nguyễn Hữu Hạ được bầu làm đại biểu Đảng bộ Quân đội tham gia Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 6 thành công là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành mới toàn diện của Đảng bộ và tầm vóc của Quân đoàn ở tuổi 25; thể hiện ý chí nguyện vọng của toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI được đánh dấu bằng một sự kiện lịch sử trọng đại trên đất nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4.2001). Đại hội đã tổng kết những thành tựu to lớn, rất quan trọng và bài học chủ yếu sau 15 năm đổi mới; đồng thời đề ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước ta vững bước tiến vào thiên niên kỷ thứ ba. Về quốc phòng - an ninh, Nghị quyết Đại hội khẳng định: ''Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc''. Đồng thời chỉ rõ phải: ''Xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng... có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội''1. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng hòa trong khí thế thi đua yêu nước sôi động của toàn quân, toàn dân; cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên vững bước, tin tưởng, hăng hái thực hiện phong trào thi đua ''Bốn dẫn đầu'' với các mục tiêu: ''1. Xây dựng chính trị tư tưởng vững, tổ chức mạnh; 2. Hoàn thành các nhiệm vụ chính trị đạt chất lượng cao; 3. Duy trì nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật nghiêm; 4. Quan hệ quân dân tốt''. Quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 6 đề ra ngay từ những tháng đầu, năm đầu. Đầu tháng 2 năm 2001, Tây Nguyên xảy ra vụ bạo loạn chính trị phản cách mạng. Thực hiện âm mưu ''diễn biến hòa bình'', bọn phản động trong tổ chức FULRO lưu vong ở Mỹ, do Ksor Kớt cầm đầu, được các thế lực phản động quốc tế dung dưỡng giật dây, đã móc nối với bọn phản động nội địa tổ chức lôi kéo, kích động, lừa gạt, ép buộc một số đồng bào dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc biểu tình gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trước tình hình hết sức cấp bách và được lệnh của Bộ Quốc phòng, toàn Quân đoàn chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, tăng cường các biện pháp nắm địch, cơ động một số lực lượng làm nhiệm vụ, bảo vệ chặt chẽ các mục tiêu, tích cực phối hợp cùng địa phương ổn định tình hình. Tiếp đó, Quân đoàn đã tổ chức một đợt hoạt động dân vận trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Với tinh thần khẩn trương và kiên quyết, ngay từ khi đến địa bàn, các tổ đội công tác đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương đến từng buôn làng, kiên trì tuyên truyền cho đồng bào về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vạch rõ âm mưu ''diễn biến hòa bình'' bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn thâm độc lợi dụng tôn giáo, dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Cùng với tuyên truyền thuyết phục, cán bộ, chiến sĩ còn tích cực giúp dân làm đường, dựng trường học, khám chữa bệnh và cấp phát thuốc trị giá 20 triệu đồng. Quân đoàn quyên góp được 70 triệu đồng, kịp thời mua gạo, muối giúp đỡ đồng bào trong lúc giáp hạt. Bằng các việc làm thiết thực, Quân đoàn đã góp phần cùng địa phương nhanh chóng ổn định tình hình tại các buôn làng, đưa mọi hoạt động trở lại bình thường. Đồng bào các dân tộc hiểu và tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tin tưởng ''Bộ đội Cụ Hồ'', ''bộ đội B3'', không nghe theo bọn xấu hại dân, hại nước. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương, thực hiện nghiêm túc các mệnh lệnh và Chỉ thị 1662/CL-BQP của Bộ Quốc phòng, nắm vững chức năng nhiệm vụ, từ năm 2001 đến năm 2005 công tác sẵn sàng chiến đấu của Quân đoàn có bước tiến vững chắc. Các chế độ sẵn sàng chiến đấu được duy trì chặt chẽ, nghiêm ngặt ở tất cả các cấp. Việc báo động rèn luyện bộ đội và đơn vị theo các phương án tác chiến được tổ chức thường xuyên. Hệ thống thông tin liên lạc được củng cố, nâng cao chất lượng. Công tác nắm tình hình địa bàn và quan sát trên không thực hiện tốt. Vì vậy, ngay trong những ngày tết Nguyên đán Giáp Thân (2004) hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đoàn Đắc Tô kịp thời tham gia chữa cháy rừng ở Kon Tum; toàn Quân đoàn sẵn sàng chiến đấu cao khi bọn phản động gây ra vụ biểu tình gây rối ở Tây Nguyên tháng 4 năm 2004. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hàng năm Quân đoàn tiến hành điều chỉnh tổ chức biên chế ở một số cơ quan, đơn vị; đưa tiễn khối lượng lớn chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự về các địa phương từ Thanh Hóa đến Bình Thuận an toàn, chu đáo, đồng thời tuyển nhận hàng nghìn chiến sĩ mới, trong đó có nhiều đồng chí là người dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên. Do làm tốt công tác xây dựng lực lượng, nên tỷ lệ quân số toàn Quân đoàn luôn đạt ở mức cao, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trước những hoạt động ráo riết ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ của địch ở Tây Nguyên, theo dõi chặt chẽ các cuộc chiến tranh của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan (2002) và I-rắc (2003); công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn vừa bảo đảm hoàn thành các nội dung, chương trình theo mệnh lệnh chỉ thị của Bộ, vừa chú trọng bổ sung các nội dung mới phù hợp với nhiệm vụ, truyền thống, đặc điểm của Quân đoàn và mỗi đơn vị. Được chuẩn bị chu đáo, nắm vững phương châm nguyên tắc, duy trì nghiêm kế hoạch tiến trình, tích cực cải tiến phương pháp, coi trọng thực hành rèn luyện dã ngoại, thường xuyên tổ chức hội thi hội thao, kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời... nên kết quả huấn luyện chiến dấu của Quân đoàn luôn ổn định và tiến bộ. Các khoa mục chung, kỹ thuật chiến đấu bộ binh, binh chủng đều đạt 100% yêu cầu trong đó có 75% đến 86% khá, giỏi, nhiều môn đạt giỏi. Điểm nổi bật trong huấn luyện thời gian này là 100% cán bộ đã huấn luyện được theo phân cấp; trọng đó cấp trung đội có 70 - 75% khá giỏi, cấp đại đội tiểu đoàn đạt 80% khá giỏi, cán bộ cơ quan đạt 100% hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách. Tại Trường Quân sự trung tâm đào tạo duy nhất của Quân đoàn, hàng trăm cán bộ phân đội và nhân viên chuyên môn kỹ thuật tốt nghiệp ra trường mỗi năm, mang theo kiến thức cơ bản tỏa về các đơn vị công tác. Nhằm đánh giá, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, trình độ đội ngũ cán bộ các cấp và rèn luyện bộ đội, từ năm 2001 đến năm 2004, Quân đoàn thường xuyên tổ chức diễn tập chỉ huy - cơ quan các cấp; chỉ đạo các đơn vị diễn tập vòng tổng hợp đại đội, tiểu đoàn, diễn tập bắn đạn thật của bộ binh và binh chủng. Năm 2001, Quân đoàn tổ chức cuộc diễn tập ''ĐT- 01'' có bắn đạn thật đạt kết quả tốt, bảo đảm an toàn. Năm 2003, Trung đoàn bộ binh Trung Dũng hoàn thành tốt cuộc diễn tập thực nghiệm cơ động nhanh, chuẩn bị chiến đấu gấp đánh địch đổ bộ đường không. Năm 2004, Quân đoàn hoàn thành tốt cuộc diễn tập MN- 04. Kinh nghiệm rút ta từ các cuộc diễn tập được phổ biến nhanh đến các đơn vị và vận dụng vào huấn luyện bộ đội, đem lại kết quả thiết thực. Công tác dự bị động viên của Quân đoàn trong những năm đầu thế kỷ XXI có nhiều tiến bộ. Các kế hoạch mang tính cơ bản lâu dài được xây dựng; công tác nắm, quản lý, phúc tra nguồn, sắp xếp biên chế lực lượng dự bị được đẩy mạnh và ngày càng chặt chẽ. Đến cuối năm 2004, Quân đoàn nắm nguồn dự bị đạt 82,9% so với kế hoạch, sắp xếp đúng chuyên nghiệp quân sự đạt 48,3%. Hàng năm, việc phát lệnh tập trung kiểm tra sẵn sàng động viên và tổ chức huấn luyện quân dự bị được tiến hành chặt chẽ, chú trọng huấn luyện phân đội và chuyển loại chuyên nghiệp quân sự. Nhiều cuộc diễn tập chỉ huy cơ quan, có động viên tiểu đoàn bộ binh dự bị được tổ chức thành công. Phát huy thành tích và kinh nghiệm trong huấn luyện quốc phòng những năm trước, từ năm 2001 đến năm 2004 các đơn vị trong Quân đoàn đã huấn luyện cho hàng nghìn sinh viên, học sinh trên địa bàn, đạt số lượng đông nhất từ trước đến nay. Những kết quả ngày càng tiến bộ trong công tác dự bị động viên và giáo dục quốc phòng của Quân đoàn không những góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trực tiếp bảo vệ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tuyên truyền vận động thanh niên địa phương có hiệu quả, thắt chặt hơn mối quan hệ đoàn kết quân dân; mà còn đóng góp cả lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa bàn Khu 5 trong giai đoạn cách mạng mới. Kết quả huấn luyện toàn diện của Quân đoàn trong những năm đầu của thế kỷ XXI còn được khẳng định qua các cuộc hội thi, hội thao và các đợt kiểm tra của Bộ Quốc phòng. Năm 2001, các đội thi huấn luyện pháo binh, công binh, hóa học kiêm nhiệm, súng máy phòng không 12,7mm của Quân đoàn đều đạt giải nhì và giải ba hội thao toàn quân. Bộ Quốc phòng kiểm tra công tác huấn luyện của Đoàn Sơn Lâm và Trung đoàn bộ binh cơ giới Thăng Long (Đoàn Đồng Bằng) đều đánh giá đạt loại giỏi. Năm 2002 công tác huấn luyện cơ quan Quân đoàn được Bộ đánh giá đạt loại giỏi (8,25 điểm). Năm 2003, các đội thi toàn quân về: cán bộ tăng thiết giáp huấn luyện giỏi, đại đội trưởng phòng không, hậu cần, vận tải, quân y đều đoạt giải. Đoàn 40 đạt đơn vị huấn luyện thể lực giỏi của Bộ Quốc phòng. Công tác chuẩn bị huấn luyện và huấn luyện năm 2003 của Quân đoàn được bộ trực tiếp kiểm tra, đánh giá đạt loại giỏi. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 37 của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chỉ thị 917 và Quyết định 2530 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chỉ thị 85 của Tổng Tham mưu trưởng, công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Quân đoàn trong những năm 2001 - 2004 có nhiều chuyển biến tiến bộ. Các chế độ, chức trách được duy trì, thực hiện nghiêm túc; công tác quản lý bộ đội ngày càng chặt chẽ; việc phổ biến pháp luật, quán triệt chỉ thị được tổ chức kịp thời. Cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ và nâng cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước, nên số vụ vi phạm kỷ luật hàng năm giảm đáng kể. Năm 2002 tỷ lệ vi phạm kỷ luật là 1,36%, năm 2003 chỉ còn 0,83%; đến năm 2004 tỷ lệ đào ngũ cắt quân số chỉ chiếm 0,08%. Đây là lấn đầu tiên sau 16 năm trở lại Tây Nguyên, Khu 5, tỷ lệ đào ngũ, vi phạm kỷ luật của Quân đoàn được giảm xuống mức thấp nhất. Phát huy thành quả và kinh nghiệm trong những năm trước, thường xuyên bám sát nhiệm vụ chính trị trung tâm và sẵn sàng đáp ứng các nhiệm vụ đột xuất; công tác hậu cần của Quân đoàn trong những năm đầu thế kỷ XXI ngày càng nâng cao chất lượng và đi vào chiều sâu. Lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu theo phân cấp luôn bảo đảm đủ về số lượng, tốt về chất lượng. Bữa ăn của bộ đội ổn định và tăng thêm từ 300 đồng đến 500 đồng một người một ngày. Quân trang bảo đảm đầy dủ cho các đối tượng. Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên; thuốc nam được trồng và sử dụng rộng rãi. Quân số khỏe luôn đạt từ 98% trở lên, bệnh sốt rét giảm xuống còn 0,1%- một tỷ lệ thấp nhất từ trước đến nay. Kinh doanh của Công ty Lam Sơn vừa có hiệu quả, vừa thực hiện được kinh tế gắn với quốc phòng trên địa bàn. Bên cạnh việc duy trì đàn gia súc, gia cầm, củng cố các căn cứ hậu cần, ở nhiều đơn vị, cơ quan đã bước đầu xây dựng được các mô hình sản xuất tăng gia mới: vịt siêu trứng, gà siêu trứng, vườn rau tập trung cấp trung đoàn, lữ đoàn. Một thành công trong xây dựng cơ bản của Quân đoàn trong thời gian này là tập trung đầu tư xây dựng những công trình có chất lượng cao như: doanh trại Trung đoàn bộ binh Trung Dũng, doanh trại Tiểu đoàn 1 Đoàn Tam Đảo, Nhà Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên, Hội trường Quân đoàn, Thư viện Quân đoàn, Trạm khách Q1, Nhà truyền thống Đoàn Đắc Tô, Bệnh xá Trung đoàn bộ binh cơ giới Thăng Long (Đoàn Đồng Bằng), Công trình nước sạch Đoàn 40. Ngoài ra, Quân đoàn còn tổ chức triển khai các khu doanh trại mới của Đoàn Sơn Lâm, nâng cấp nhà làm việc, nhà ở bốn cơ quan Quân đoàn, nghiên cứu thiết kế và xây dựng 10 nhà ở dã ngoại cho lực lương phòng không trị giá 415 triệu đồng. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 50/CT-QP của Bộ Quốc phòng, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông'', đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đầu tư kinh phí hợp lý... nên công tác kỹ thuật của Quân đoàn từ năm 2001 đến năm 2004 luôn bảo đảm đầy đủ, đồng bộ đáp ứng các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, công tác. Hàng năm, các chỉ tiêu bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp đều đạt từ 100% đến 105%. Hệ số kỹ thuật nhóm tác chiến luôn bằng 1, nhóm huấn luyện bằng 0,98 trở lên. Năng lực chất lượng sửa chữa của các trạm, xưởng kỹ thuật ngày một tiến bộ. Đội ngũ lái xe được nâng cao nhận thức về chấp hành luật lệ giao thông, được bồi dưỡng tay nghề, nhất là lái xe trên các địa hình phức tạp và lái xe ban đêm. Cán bộ, chiến sĩ được học tập về luật giao thông đường bộ, quy định về sử dụng xe gắn máy. Tại hội thi thợ sửa chữa vũ khí đạn giỏi toàn quân tháng 8 năm 2001, đoàn tuyển thủ của Quân đoàn đoạt giải nhì. Một trong những nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Quân đoàn trong những năm đầu của thế kỷ XXI là đã phát huy tốt vai trò công tác đảng, công tác chính trị. Công tác đảng, công tác chính trị của Quân đoàn đã nắm vững định hướng lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đoàn; đồng thời coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của các tổ chức Đảng, phát huy tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên, bám sát thực tiễn, hướng về cơ sở, có nhiều biện pháp sáng tạo, thường xuyên chăm lo kiện toàn nâng cao chất lượng cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp... nên đã thu được những kết quả toàn diện. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Ở Việt Nam những hoạt động ráo riết ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhất là các vụ bạo loạn chính trị, biểu tình phản cách mạng ở Tây Nguyên đã tác động mạnh và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn. Bám sát tình hình chung, tình hình cụ thể của địa phương và chức năng nhiệm vụ đơn vị, ngày 5 tháng 2 năm 2001 Đảng ủy Quân đoàn đã họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong tình hình mới. Nghị quyết xác định rõ âm mưu của địch và tình hình diễn biến bạo loạn ngày 2 tháng 2 ở Tây Nguyên, đồng thời đề ra 6 biện pháp lãnh đạo chủ yếu. Nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn nhanh chóng được quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ, góp phần củng cố lòng tin, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu và đẩy mạnh các mặt công tác. Xác định rõ tầm quan trọng hàng đầu của trận địa tư tưởng, từ năm 2001 đến năm 2004 Đảng ủy, Bộ tư lệnh là Cục Chính trị Quân đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt cho bộ đội Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, các nghị quyết Hội nghị 4, 5, 6, 7, 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, học tập các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ 7, Chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Tổng cục Chính trị; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 6. Đồng thời hoàn thành tốt các chương trình giáo dục thường xuyên, thông báo thời sự, nói chuyện chuyên đề. Quá trình giáo dục đã quán triệt tốt 5 khâu: ''nắm chắc nội dung, chuẩn bị chu đáo, truyền đạt dễ hiểu, thảo luận nghiêm túc, kiểm tra chặt chẽ''. Do tích cực chủ động liên tục xây dựng và củng cố lòng tin, nâng cao ý chí quyết tâm cho bộ đội, nhạy bén kịp thời uốn nắn những tư tưởng lệch lạc, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của địch về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối quan điểm của Đảng, nên trận địa tư tưởng của Quân đoàn luôn được giữ vững. Gắn chặt công tác tư tưởng với công tác tổ chức xây dựng Đảng và công tác cán bộ, Đảng ủy Quân đoàn luôn lấy xây dựng Đảng làm trung tâm, xây dựng đội ngũ cán bộ làm khâu then chốt, kết hợp chặt chẽ với quản lý rèn luyện đảng viên cán bộ, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh gắn chặt với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm làm thước đo. Vì vậy số tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đại đội có chi bộ, đảng viên đủ tư cách ngày càng tăng lên. Hàng năm, toàn Đảng bộ Quân đoàn phát triển được gần 500 đảng viên mới. Đội ngũ cán bộ cơ bản bảo đảm về số lương, chất lượng ngày càng nâng cao, cơ cấu cân đối; trong đó ở các cấp đại đội, tiểu đoàn đều cơ bản bố trí đủ 2 cán bộ chính trị. Năm 2003, Đảng ủy Quân đoàn và Cục Chính trị đã chỉ đạo các Đảng bộ cơ sở, và Đảng bộ bộ phận, tiến hành thành công đại hội nhiệm kỳ 2003-2005. Công tác tổng kết rút kinh nghiệm trong thời kỳ này cũng rất được coi trọng. Từ năm 2001 đến năm 2003 nhiều hội nghị tổng kết, sơ kết đã diễn ra: Tổng kết 2 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng (2001), sơ kết 5 năm công tác giáo dục chính trị, tổng kết 10 năm xây dựng môi trường văn hóa; sơ kết 5 năm phổ biến giáo dục pháp luật (2002); tổng kết 5 năm đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới, tổng kết 5 năm thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở (2003). Qua tổng kết, sơ kết nhiều kinh nghiệm quý rút ra được nhanh chóng vận dụng vào thực tiễn và phát huy hiệu quả. Ý thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ máu thịt quân dân một ý chí; nó vừa mang tính cơ bản lâu dài và cấp bách, vừa là truyền thống và tình cảm của Binh đoàn với nhân dân Tây Nguyên, Khu 5; nên Quân đoàn luôn coi trọng công tác dân vận và ngày càng thu được nhiều kết quả. Năm 2001, các đơn vị trong Quân đoàn đã tổ chức kết nghĩa với 2 huyện, 28 xã, phối hợp hoạt động với 51 tổ chức quần chúng và 15 trường học, cử 2.970 lướt cán bộ, chiến sĩ làm công tác vận động quần chúng ở 21 xã; giúp nhân dân địa phương 67.000 ngày công, 93,6 triệu đồng, khám chữa bệnh cho hơn 8.000 lượt người, cấp phát thuốc trị giá 40 triệu đồng. Năm 2002 có 3 tiểu đoàn, 78 đại đội, 107 lượt tổ đội làm công tác dân vận ở 27 xã thuộc 22 luyện của 3 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định; giúp dân làm 102km đường liên thôn, 6 cầu gỗ, nạo vét 29km kênh mương, sửa chữa 193 căn nhà và 63 phòng học, khám chữa bệnh cho 15.300 lượt người. Năm 2003 Quân đoàn tổ chức 18 đội công tác tăng cường cho 18 xã trọng điểm, 18 lượt tiểu đoàn, 25 lượt đại đội, 40 lượt trung đội với 5.518 cán bộ, chiến sĩ làm công tác dân vận ở 62 xã, 24 huyện thuộc 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Nội dung hoạt động của đội công tác là giúp địa phương củng cố xây dựng cơ sở Đảng, củng cố, lập mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các chi đoàn thanh niên, hội phụ nữ, các đội dân quân tự vệ đúng với chức năng, nhiệm vụ. Ngoài ra 250 thanh niên của Quân đoàn tham gia hoạt động mùa hè tình nguyện ở tỉnh Bình Định và Gia Lai. Trong 3 năm (2001-2003) cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn quyên góp được hơn 540 triệu đồng xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, hàng trăm triệu đồng góp vào quỹ xóa đói giảm nghèo, ủng hộ đồng bào gặp thiên tai bão lụt hơn 270 triệu đồng, phụng dưỡng 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng quà gia đình chính sách và xây dựng nhà tình nghĩa trị giá gần 100 triệu đồng. Những hoạt động công tác vận động nhân dân của Quân đoàn trong những năm qua đã góp phần tích cực cùng địa phương củng cố, xây dựng cơ sở chính trị ở các làng xã ngày thêm vững chắc, giúp đỡ động viên đồng bào dân tộc thi đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống mới tiến bộ, làm cho nhân dân nhận rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù, càng thêm tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng và Chính phủ. Đã xây dựng được nhiều làng xã từ chỗ yếu thành xã tiêu biểu như các xã: Rờ Kơi, Mo Ray, Đắc Côi, Văn Lem (Kon Tum); Ia Dom, Ia Lang, Chư A Thai...(Gia Lai) những địa phương trên là những xã khá điển hình trong xây dựng và bảo vệ địa bàn vững mạnh. Cùng với những thành công trong công tác quân sự, công tác đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trong những năm 2001-2004, công tác khoa học quân sự của Quân đoàn cũng có nhiều chuyển biến. Hội đồng Khoa học thường xuyên được kiện toàn, các ban lịch sử ở cơ quan Quân đoàn và một số đơn vị được củng cố và lập mới. Việc đưa công nghệ thông tin vào các lĩnh vực hoạt động trở nên phổ biến, mạng INTRANET được nối thông giữa cơ quan Quân đoàn với Bộ Quốc phòng. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đẩy mạnh, việc xử lý môi trường được quan tâm. Trong 4 năm, nhiều đề tài khoa học về nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội nhân văn, lịch sử - tổng kết đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Quân đoàn xuất bản biên niên sử, tập tám tổng kết trận đánh; các Cục Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật và Bộ Tham mưu đều triển khai viết lịch sử ngành; các đơn vị hoàn thành xuất bản: Lịch sử Sư đoàn 10 (tái bản), Lịch sử Sư đoàn 31 (tái bản), Lịch sử Trung đoàn 52 Tây Tiến, Lịch sử Trung đoàn bộ binh cơ giới 48 Thăng Long, Lịch sử Trường Quân sự Quân đoàn. Tiến tới kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đoàn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xuất bản công trình "Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân đoàn 3 (1964-2005)'' và coi đây là một công trình trọng điểm trong kế hoạch chuẩn bị cho lễ kỷ niệm. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Bộ tư lệnh Quân đoàn và thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị có sự thay đổi. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạ (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân 1 (2.2002), Thiếu tướng Phạm Xuân Hùng (Tư lệnh Quân đoàn) được điều động làm Tư lệnh Quân khu 3 (2.2004), đại tá Trần Minh Hùng (Phó tư lệnh Quân đoàn) được điều động làm Phó cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu (5.2003). Các đồng chí Thiếu tướng Lê Xuân Thanh (Phó tư lệnh Chính trị Quân đoàn) và đại tá Vũ Khắc Đua (Phó tư lệnh Quân đoàn) nghỉ hưu. Đại tá, phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Tuấn Dũng (Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh chính trị Quân đoàn (2.2002); đại tá Nguyễn Trung Thu (Phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu) được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn (2.2004); đại tá Hoàng Văn Hoặc (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn (2.2002) sau đó được điều động làm Phó Giám đốc Học viện Quân y (6.2002); đại tá Nguyễn Vĩnh Phú (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn (6.2002); đại tá Nguyễn Khang Đàm (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn (12.2001), đại tá Trần Quốc Phú (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn (7.2004); đại tá Nguyễn Trọng Huy (Quân khu 5) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh chính trị Quân đoàn (7.2004). Các cơ quan Quân đoàn: đại tá Trần Đình Hạng (Phó Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn, đại tá Hồ Phí Thiện (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn; đại tá Khuất Duy Hoan (sư đoàn trưởng Sư đoàn 31) được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn, đại tá Dương Kim Hồng (Học viện Lục quân) đi thực tế Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn; đại tá Nguyễn Phi Sơn (Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn; đại tá Lại Mạnh Được và đại tá Nguyễn Văn Hoạt được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn; đại tá Tạ Văn Dũng (phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn, thượng tá Trần Minh Đức được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn. Đại tá Đỗ Văn Tắc (Phó tham mưu trưởng Quân đoàn) được điều động về Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Đại tá Phạm Chào (Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn), đại tá Phạm Hải Nhân (Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn), đại tá Hoàng Xuân Khoát (Phó Chủ nhiệm Hậu cần), đại tá Bùi Khắc Hải (Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn) và đại tá Nguyễn Công Hiển (Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân đoàn) nghỉ hưu. Cán bộ chủ trì các đơn vị cũng có một số thay đổi. Sư đoàn 10: đại tá Nguyễn Đức Hải được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đại tá Nguyễn Duy Quyền được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị, đại tá Đậu Đình Toàn được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng, thượng tá Trần Quốc Thái được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng. Sư đoàn 320: đại tá Nguyễn Thế Tân được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đại tá Đỗ Ngọc Viễn được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng tham mưu trưởng, thượng tá Nguyễn Xuân Trương được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị, đại tá Lê Văn Lan được bổ nhiệm lám phó sư đoàn trưởng. Sư đoàn 31: đại tá Đào Mạnh Chỉnh được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, đại tá Nguyễn Duy Minh được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng chính trị. Các đơn vị binh chủng cũng có một số thay đổi về cán bộ chủ trì cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên rất phấn khởi được đón nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội đến thăm, kiểm tra và động viên: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh (9.2001), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (4.2002), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (2.2003), Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2.2001), Bí thư Trung ương Đảng - Tòng Thị Phóng (9.2001), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà (4.2003), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Văn Dũng (9.2002), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tổng Tham mưu trưởng Phùng Quang Thanh (2003), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Rinh (9.2001), Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phùng Khắc Đăng (12.2001), Phó Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Trung Dương và nhiều đồng chí lãnh đạo ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Trong buổi nói chuyện với cán bộ Quân đoàn chiều ngày 14 tháng 9 năm 2001, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thông báo những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh mà nhân dân ta đã giành được, đồng thời động viên cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, luôn phát huy tốt truyền thống vẻ vang, biến hành động anh hùng trong chiến đấu thành hành động anh hùng trong xây dựng, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Bốn năm đầu của thế kỷ XXI (2001-2004), cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, nỗ lực thi đua yêu nước, đẩy mạnh xây dựng Quân đoàn theo hướng ''cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại'', giành được nhiều thành tựu quan trọng toàn diện trên tất cả các mặt quân sự, công tác đảng, công tác chính trị, hậu cần kỹ thuật. Binh đoàn không những hoàn thành tốt nhiệm vụ của một Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Khu 5; mà còn luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Cùng với sự trưởng thành lớn mạnh của Binh đoàn, hàng nghìn tập thể và cá nhân lập thành tích xuất sắc đã được khen tặng. Tiêu biểu cho phong trào thi đua quyết thắng trong thời gian này là các đơn vị: Trung đoàn bộ binh Plei Me và Đoàn 40 (dẫn đầu toàn diện); Đoàn Đắc Tô (dẫn đầu về kỹ thuật), Trung đoàn bộ binh cơ giới Thăng Long (dẫn đầu về hậu cần). Đặc biệt, Đoàn công binh Hùng Vương, Trung đoàn Plei Me và Tiểu đoàn vận tải ô tô 827 (Cục Hậu cần) lập thành tích đặc biệt xuất sắc được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đoàn Đồng Bằng được tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Đoàn Đắc Tô được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất, Lữ đoàn pháo binh 40 và Phòng Quân y (thuộc Cục Hậu cần) được tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Hàng chục đơn vị được tặng bằng khen và cờ thưởng của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Vô cùng phấn khởi tự hào trước những thành tích đã đạt được cán bộ và chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên đang phát huy cao độ truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'' ra sức thi đua lập nhiều thành tích mới thiết thực chào mừng những ngày lễ kỷ niệm lớn của đất nước trong năm 2005 và 30 năm thành lập Binh đoàn Tây Nguyên Anh hùng. ----------------------------------------------------------------------- 1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tr. 117, 118. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 09:26:22 am KẾT LUẬN Nếu tính cả giai đoạn tiền thân của mình là Mặt trận Tây Nguyên, đến đầu năm 2005 Lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên đã được hơn 40 năm. Trong suốt chặng đường chiến đấu và xây dựng gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt đó dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mà trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sát cánh cùng quân dân Tây Nguyên và cả nước hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Quân đoàn đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng 2 Huân chương Hồ Chí Minh và 296 huân chương các hạng, được Nhà nước Cam-pu-chia tặng Huân chương Ăng Ko. Trong Quân đoàn có 4 sư đoàn, 14 trung đoàn lữ đoàn, 18 tiểu đoàn, 34 đại đội, 3 đơn vị quân y và 31 cán bộ, chiến sĩ cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi mới thành lập, Mặt trận Tây Nguyên có 3 tiểu đoàn, một số phân đội bảo đảm và cán bộ nòng cốt của các phòng, ban thuộc tiền phương Quân khu 5. Với phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng, được sự chi viện mọi mặt của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và Quân khu 5, sự giúp đỡ của địa phương, Mặt trận Tây Nguyên lớn mạnh nhanh chóng. Đến đầu mùa khô năm 1965, bộ đội chủ lực Mặt trận đã là một tổ chức quân sự hoàn chỉnh, có lực lượng mạnh bao gồm Bộ tư lệnh và 3 cơ quan, 3 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn binh chủng và được lực lượng vũ trang địa phương 3 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc phối hợp tác chiến. Trước hành động phiêu lưu leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm của đế quốc Mỹ: đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, tiến hành ''chiến tranh cục bộ''; đáp lời ''hịch cứu nước'' vang dậy núi sông ngày 20 tháng 7 năm 1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch nhưng Bộ đôi chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã bước vào cuộc đọ sức trực tiếp đầu tiên đánh quân Mỹ với niềm tin sắt đá vào thắng lợi và quyết tâm cao độ: ''Dù phải một đổi một, cũng kiên quyết đánh thắng trận đầu''. Với tài thao lược của Bộ tư lệnh chiến dịch, tinh thần chiến đấu dũng cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ và sự giúp đỡ hết lòng của địa phương, trong 38 ngày đêm liên tục chiến đấu ta đã đánh bại sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ, tiêu diệt chiến đoàn 3 ngụy, làm nên chiến thắng Plei Me lịch sử, làm nức lòng quân dân cả nước và chấn động nước Mỹ. Từ thực tiễn chiến dịch đầu tiên thắng Mỹ của Quân đội ta, đã giải đáp một vấn đề nóng hổi: Việt Nam có đánh được Mỹ không? Và khẳng định: Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là vô địch, nhất định sẽ đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nối tiếp chiến thắng Plei Me, với thế và lực mới Mặt trận Tây Nguyên tiến hành thắng lợi các chiến dịch Sa Thày (1966), Đắc Tô 1 (1967) giáng cho sư đoàn 4, sư đoàn 25 ''Tia chớp nhiệt đới'' và lữ đoàn dù 173 "Thiên thần mũ đỏ'' những đòn chí mạng, bẻ gãy hoàn toàn hai cuộc phản công mùa khô của quân Mỹ ở Tây Nguyên. Trên đà thắng lợi, quân dân Tây Nguyên bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 sớm nhất, đồng loạt bất ngờ đánh vào tất cả các thị xã và mục tiêu lớn của địch ở 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Sau 115 ngày đêm Tổng công kích tổng khởi nghĩa, ta đã làm chủ nhiều đồn bốt, quận lỵ, thị trấn, thị xã, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đưa cuộc chiến tranh đến tận hang ổ của chúng ở Tây Nguyên; góp phần xứng đáng vào thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân l968, làm phá sản chiến lược ''chiến tranh cục bộ'', lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Năm 1969, Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' và sớm chọn Tây Nguyên làm nơi thí điểm học thuyết Ních-xơn. Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua được, nhưng bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã sát cánh cùng đồng bào các dân tộc địa phương kiên trì dũng cảm vượt qua thử thách, trụ bám chiến trường, vừa chiến đấu vừa sản xuất, liên tiếp giành chiến thắng. Ngay đầu xuân Kỷ Dậu (1969), ta giành thắng lợi oanh liệt ở Chư Pa đánh bại trận ra quân cuối cùng của bộ binh Mỹ và bước đầu thử nghiệm ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen ngợi. Phát huy thắng lợi, Mặt trận Tây Nguyên mở các chiến dịch Đắc Tô 2, Bu Prăng - Đức Lập (1969), Đắc Siêng (1970), Ngọc Tô Ba - Ngọc Rinh Rua (1971) và chiến dịch Bắc Tây Nguyên xuân hè 1972 góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'', buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân khỏi Việt Nam. Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, nhưng quân ngụy Sài Gòn vẫn rất ngoan cố, tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của chủ Mỹ, gây chiến tranh khắp nơi, liên tiếp xâm phạm vùng giải phóng miền Nam. Trước bước ngoặt mới của lịch sử, Bộ đội chủ lực Tây Nguyên sát cánh cùng quân dân địa phương vừa tích cực chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, vừa đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa cách mạng, tranh thủ điều kiện thuận lợi xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng Quân đoàn chủ lực cơ động, sẵn sàng đáp ứng thời cơ chiến lược. Tháng 3 năm 1975, Mặt trận Tây Nguyên rất vinh dự được Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tin tưởng giao cho nhiệm vụ mở chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử mùa Xuân năm 1975. Với sức mạnh áp đảo, chỉ trong một tháng tiến công quân và dân Tây Nguyên đã làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, đập tan cuộc phản kích của địch trên đường 21, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, thần tốc truy kích địch về hướng đông, giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung, cắt đôi quân địch ở miền Nam. Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng đã đánh dấu sự lớn mạnh và trưởng thành vượt bậc của Bộ đội chủ lực Tây Nguyên và mở ra một bước ngoặt đưa cuộc chiến tranh từ tiến công có ý nghĩa chiến lược đến Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Tây Nguyên hoàn toàn giải phòng, sứ mệnh lịch sử của Mặt trận Tây Nguyên đã hoàn thành. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn 3 ra đời trên cơ sở khối chủ lực Tây Nguyên chuyển gọn thành. Quân đoàn 3 thành lập đáp ứng yêu cầu khách quan của cuộc chiến tranh cách mạng, thể hiện sinh động quy luật xây dựng lực lương vũ trang cách mạng và quân đội nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là bước phát triển nhảy vọt về chất của Bộ đội chủ lực Tây Nguyên, phù hợp với nguyện vọng của quân và dân Tây Nguyên. Khi mới thành lập, trong đội hình Quân đoàn gồm có: Bộ tư lệnh Quân đoàn, 3 cơ quan: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần; các đơn vị: Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 316, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn phòng không 593, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn công binh 575, Trung đoàn thông tin 29, Trường Quân chính. Trong đó nhiều đơn vị được thành lập và có bề dày truyền thống từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đều lập thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tuy mới ra đời nhưng Quân đoàn 3 đã là một Binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành mạnh, hoàn chỉnh và chỉ 10 ngày sau đã nhận nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu tây bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với sức mạnh áp đảo và được sự chi viện hỏa lực của cấp trên, sự phối hợp của các đơn vị bạn và địa phương, trong 10 ngày đêm chiến đấu, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch từ Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng đến Đồng Dù, rồi tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất cùng đơn vị bạn làm chủ bộ tổng tham mưu ngụy và Quận 3 Sài Gòn, ''Hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt xuất sắc", góp phần quan trọng vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đất nước hòa bình thống nhất, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái bước vào xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ địa bàn đứng chân và tham gia truy quét FULRO ở nam Quân khu 5, lập nhiều thành tích mới. Khi chủ quyền quốc gia và cuộc sống bình yên của nhân dân ta ở biên giới Tây Nam bị bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary xâm hại nghiêm trọng; Quân đoàn nhanh chóng cơ động lực lượng lên Tây Ninh đánh địch. Với phương châm vừa chiến đấu, vừa xây dựng củng cố, Quân đoàn đã nhanh chóng vượt qua những thử thách ban đầu, mở nhiều chiến tích và các đợt hoạt động, đánh bại quân địch từng bước, giữ vững địa bàn và giúp đỡ lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển. Trước thời cơ chiến lược và đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân đoàn đồng loạt tiến công, truy kích thần tốc trên chặng đường 600km, giải phóng 6 tỉnh, góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia. Nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng vô tư, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên tiếp tục giúp bạn truy quét tàn binh địch làm trong sạch địa bàn, xây dựng củng cố chính quyền cơ sở, giúp dân phục hồi sản xuất ổn định đời sống, được bạn tín nhiệm, tin yêu mến phục. Tháng 7 năm 1979, Quân đoàn cơ động toàn bộ lực lượng từ Cam-pu-chia về phía Bắc Tổ quốc làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, xây dựng chính quy, củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn chiến lược xung yếu. Được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo giúp đỡ của cấp trên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, Quân đoàn nhanh chóng vượt qua khó khăn, sớm thích nghi với hoàn cảnh mới, kiên trì xây dựng Quân đoàn theo hướng ''cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ''. Tám năm làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc, Quân đoàn không những hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc; mà còn có những bước tiến dài trên con đường xây dựng chính quy, nâng cao sức mạnh chiến đấu. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, quân đội ta tiến hành chấn chỉnh tổ chức và điều chỉnh thế bố trí chiến lược nhằm từng bước hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vững chắc hơn. Thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, cuối năm 1987 và đầu năm 1988, Quân đoàn hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân lịch sử trong thời bình, cơ động toàn bộ lực lượng từ miền Bắc vào Tây Nguyên, Khu 5. Được sự lãnh đạo chỉ đạo thường xuyên của cấp trên, sự giúp đỡ tạo điều kiện mọi mặt của Đảng bộ, chính quyền địa phương và các đơn vị bạn, sống trong tình yêu thương đùm bọc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, cán bộ và chiến sĩ Quân đoàn phát huy truyền thống anh hùng, vượt mọi khó khăn thử thách nhanh chóng ổn định mọi mặt ra sức xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng ''cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại'', trở thành một quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam; luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, lực lượng chủ yếu giữ vững địa bàn chiến lược Tây Nguyên, răn đe có hiệu quả đối với những thế lực phản động đang âm mưu thực hiện ''diễn biến hòa bình'', bạo loạn lật đổ trên địa bàn chiến lược quan trọng này. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 10:03:03 am * Chặng đường hơn 40 năm qua của Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 là chặng đường chiến đấu và xây dựng của một Binh đoàn chủ lực cơ động gắn liền với lịch sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Như ngọc càng mài càng sáng, bản chất cách mạng và phẩm chất cao đẹp của ''Bộ đội Cụ Hồ'' đã được xây dựng và tôi luyện trong suốt 11 năm đánh Mỹ và diệt ngụy càng tỏa sáng trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Bằng sức lực trí tuệ và máu xương lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên đã hun đúc nên truyền thống vẻ vang: ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực". Truyền thống đó được thể hiện cụ thể ở những đặc trưng sau: 1. Trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; chấp hành vô điều kiện mệnh lệnh, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Là một trong những mặt trận ra đời sớm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam, Mặt trận Tây Nguyên thuở ban đầu là nơi hội tụ của một số tiểu đoàn quân chính quy từ miền Bắc chi viện và các phân đội cán bộ nòng cốt của Quân khu 5. Trong quá trình chiến đấu và xây dựng, Mặt trận được bổ sung nhiều đơn vị chính quy từ miền Bắc, được tăng cường nhiều đơn vị của Quân khu 5 và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương; đồng thời chi viện nhiều đơn vị, cán bộ, chiến sĩ cho các chiến trường bạn, các tỉnh Tây Nguyên. Về vũ khí trang bị, lúc đầu Bộ đội chủ lực Tây Nguyên chỉ có vũ khí mang vác, sau được bổ sung nhiều vũ khí trang bị mới hiện đại; nhưng nhìn chung còn chênh lệch so với vũ khí trang bị của địch. Đối tượng tác chiến của Bộ đội chủ lực Tây Nguyên là những đơn vị tinh nhuệ của quân đội viễn chinh Mỹ và quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy, có quân số hàng vạn tên, được huấn luyện chuyên nghề bắn giết, với những tướng tá chỉ huy có tiếng ở nước Mỹ và quân ngụy Sài Gòn. Quân địch được trang bị tận răng, vũ khí tối tân: máy bay phản lực, xe tăng, xe bọc thép, pháo lớn và được pháo đài bay B52 trực tiếp chi viện chiến thuật. Trong nhiều trận quân Mỹ sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay trực thăng và phản lực, hàng chục lần chiếc máy bay B52 ném bom rải thảm, bắn hàng vạn quả đạn pháo. Với quan điểm quân sự tư sản chúng tưởng rằng bằng tiếng động cơ xé trời của máy bay, sức tàn phá hủy diệt ghê gớm của bom đạn, xe tăng, xe bọc thép và bộ binh dày đặc trên mặt đất có thể dễ dàng đánh bại được chủ lực quân giải phóng Tây Nguyên. Để đánh thắng kẻ địch có ưu thế về quân số và vũ khí phương tiện chiến tranh, luôn thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh ''Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém về vật chất''; Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên và cấp ủy chỉ huy các cấp đã tổ chức, kiên trì giáo dục, huấn luyện bộ đội. Làm cho truyền thống yêu nước, lòng căm thù giặc Mỹ xâm lược và bè lũ bán nước trong mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn hòa quyện với niềm tin tưởng tuyệt đối vào đường lối quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân vô địch của Đảng. Giữ vững niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, trong suốt 11 năm đánh Mỹ, diệt ngụy gian khổ, Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã đánh bại quân viễn chinh Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, lập nên những chiến công vang dội, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đất nước thống nhất, cán bộ và chiến sĩ Quân đoàn chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh, ra sức khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chính quy, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Trong những năm cơ động làm nhiệm vụ trên các hướng chiến lược của Tổ quốc, Quân đoàn luôn chấp hành vô điều kiện mọi mệnh lệnh nhiệm vụ cấp trên giao, vượt qua mọi khó khăn thử thách, không chút chao chạnh ngả nghiêng, tin tưởng tuyệt đối vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, vào sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, vững vàng trước mọi diễn biến đổi thay trên thế giới và tình hình trong nước. Trải qua chiến đấu và xây dựng đã xuất hiện biết bao đơn vị Anh hùng, những tấm gương trung liệt. Đó là các đồng chí: Lê Xuân Phôi, Hồ Dục, Vương Văn Khảng, Trần Phúc Yên, Phạm Văn Vượng, Nguyễn Đình Kiếp, Đoàn Sinh Hưởng, Bế Văn Thành, Nguyễn Kim Tuấn, Hoàng Đình Hợp, Trần Minh Xung... Chính lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ, niềm tin tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng và tình yêu nhân dân, tình yêu Tổ quốc vô bờ đã tạo nên cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên có một sức mạnh diệu kỳ, to lớn đến thế! 2. Quyết thắng và biết cách đánh thắng mọi kẻ thù, tích cực chủ động sáng tạo trong xây dựng, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Truyền thống Quyết thắng của Quân đoàn bắt nguồn từ lòng tin tuyệt đối vào mục tiêu lý tưởng cao cả của cách mạng, vào đường lối quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội ta và truyền thống bất khuất của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Trong chiến đấu, truyền thống quyết thắng được thể hiện sinh đồng bằng quyết tâm dám đánh và quyết thắng quân Mỹ ngay từ khi chúng đặt chân lên Tây Nguyên, được duy trì và liên tục phát triển trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phát huy truyền thống quyết thắng trong kháng chiến chống Mỹ vào nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, cán bộ và chiến sĩ Binh đoàn đã đánh thắng các đối tượng tác chiến mới, luôn làm chủ chiến trường, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Trong xây dựng, truyền thống quyết thắng đó được thể hiện ở tinh thần kiên quyết khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt, nỗ lực xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh. Đặc biệt trong mỗi lần cơ động chuyển địa bàn đứng chân, tinh thần quyết thắng được thể hiện rõ nét ở mỗi cán bộ, chiến sĩ bằng chiến thắng chính bản thân mình. Không chỉ có tinh thần quyết chiến quyết thắng, mà Binh đoàn còn biết cách đánh thắng mọi kẻ thù. Ngay từ khi ra đời, Mặt trận Tây Nguyên đã được Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ xây dựng thành đội quân chủ lực mạnh đánh tiêu diệt lớn quân Mỹ, ngụy, thu hút và giam chân lực lượng chủ lực cơ động của địch, phối hợp với các chiến trường trên toàn miền Nam. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đó, Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên luôn tích cực chuẩn bị mọi mặt: nắm địch và địa hình, xây dựng quyết tâm, huấn luyện bộ đội, phối hợp chặt chẽ với địa phương và đơn vị bạn mở các chiến dịch tiến công ngày càng lớn đánh những đòn tiêu diệt quân chủ lực địch, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, cục diện chiến trường, tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân địch giải phóng Tây Nguyên. Những chiến dịch Plei Me, Sa Thày, Đắc Tô, Đắc Siêng, Ngọc Rinh Rua - Ngọc Tô Ba, Đắc Tô - Tân Cảnh, Tây Nguyên..., không chỉ đánh dấu chặng đường chiến thắng của Bộ đội chủ lực Tây Nguyên trước mọi đối tượng tác chiến Mỹ, ngụy, mà còn là những mốc son về sự sáng tạo cách đánh chiến dịch với đặc điểm nổi bật là bày mưu, lập thế, đồng thời mở đầu những chiến thuật mới của quân đội ta. Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đoàn đã sáng tạo và vận dụng thành công những cách đánh mới; nổi bật là cách đánh hành tiến thọc sâu bằng sức mạnh hiệp đồng binh chửng tiến công vào đô thị, đánh địch đổ bộ đường không phản kích chiến tích và truy kích địch bằng lực lượng binh chủng hợp thành. Kế thừa và vận dụng sáng tạo những cách đánh phong phú từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, Quân đoàn nhanh chóng trưởng thành, đánh giỏi cả tiến công và phòng ngự, đánh thắng các đối tượng tác chiến mới, trong đó tiêu biểu là trận đánh vượt sông Kông Pông Chàm bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, tiến công luồn sâu bằng bộ binh và cơ giới vào mục tiêu địch nằm sâu trong rừng núi ở Tà Sanh, Xăm Lốt, Tức Sóc và phòng ngự trên địa hình núi đá ở Vị Xuyên. Phát huy truyền thống quyết chiến quyết thắng và biết đánh thắng mọi kẻ thù trong chiến đấu thành tinh thần tích cực chủ động sáng tạo trong xây dựng hòa bình; cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn đã lập nên những thành tích mới: hoàn thành thắng lợi nhiều cuộc diễn tập với các quy mô và hình thức khác nhau. Có những cuộc diễn tập thực nghiệm hoàn thành xuất sắc, những cuộc diễn tập lực lượng dự bị động viên có chất lượng ngày càng cao, là cơ sở để cung cấp tư liệu, góp phần từng bước hoàn thiện lý luận về cách đánh và xây dựng lực lượng dự bị động viên trong giai đoạn mới. Truyền thống quyết thắng và biết thắng đó cũng được thể hiện cụ thể trong khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn tiến hành thắng lợi công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm hậu cần - kỹ thuật và vận động nhân dân, góp phần đưa chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Binh đoàn tiến lên những bước vững chắc. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 10:04:36 am 3. Đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, thắt chặt mối quan hệ máu thịt với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, thực hiện quân với dân một chí.
Đoàn kết là truyền thống, là sức mạnh của dân tộc ta, là biểu hiện đặc trưng củn quân đội cách mạng. Luôn ý thức rõ điều đó, Đảng ủy Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 và cấp ủy chỉ huy các cấp luôn chăm lo xây dựng toàn Binh đoàn thành một khối vững chắc, thống nhất ý chí và hành động, gắn bó mật thiết với nhau cả trong chiến đấu và trong xây dựng, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Trong chiến đấu ác liệt, hoàn cảnh nghiệt ngã, các đơn vị chủ động hiệp đồng theo tiếng súng, chia lửa với đơn vị bạn. Nhiều đồng chí không chút do dự hy sinh tính mạng để cứu chữa thương binh, có đồng chí bị địch vây bốn bề vẫn chiến đấu dũng cảm rồi tìm cách luồn lách đưa đồng đội bị thương về nơi an toàn. Trong chiến dịch Đak Tô, trung đội phó Bùi Xuân Xuyên bị thương nặng biết mình sắp hy sinh, đã dành bông băng cho đồng đội bị thương nhẹ để chiến đấu giữ chốt. Chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Mai chiến đấu ở đèo Măng Yang bị thương, biết không qua khỏi đã nhường nắm cơm duy nhất của mình cho đồng đội để lấy sức tiếp tục chiến đấu... Truyền thống đoàn kết của Bộ đội chủ lực Tây Nguyên còn được thể hiện trong phối hợp tác chiến với Quân khu 5 và toàn miền Nam, với lực lượng vũ trang địa phương. Từ chiến trường Tây Nguyên, nhiều đơn vị chủ lực chi viện kịp thời cho chiến trường Nam Bộ, Khu 5; nhiều phân đội và cán bộ, chiến sĩ được bổ sung cho ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc tạo nên mối đoàn kết thống nhất: Tây Nguyên Khu 5 là một chiến trường, toàn miền Nam là một chiến trường. Có thời kỳ, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu 5; nhưng mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa lãnh đạo và phục tùng luôn được giữ vững, tạo nên truyền thống đoàn kết và luôn giữ được mối quan hệ tốt đẹp cả khi Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Truyền thống đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng trong chiến đấu được cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên giữ vững và phát huy trong hòa bình, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn bảo đảm cho Quân đoàn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Là một đơn vị của Quân đội nhân dân Việt Nam, sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng và vì nhân dân mà chiến đấu; Binh đoàn Tây Nguyên thường xuyên gắn bó máu thịt với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ủy và Bộ tư lệnh, các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ luôn quan hệ chặt chẽ với địa phương ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc; tạo nên sự thống nhất cao ý chí và hành động. Để giúp địa phương đánh giặc và giảm bớt khó khăn về bảo đảm lương thực, ở mỗi tỉnh Tây Nguyên thường xuyên có một trung đoàn bộ binh của mặt trận tăng cường. Cán bộ, chiến sĩ vừa trực tiếp chiến đấu vừa giúp đỡ địa phương tổ chức huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng và các hoạt động khác. Trong quá trình làm nhiệm vụ, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ nhân dân, bảo vệ căn cứ địa và vùng giải phóng. Đặc biệt, khi nạn đói xảy ra ở Tây Nguyên, Bộ tư lệnh Mặt trận đã huy động một lực lượng lớn, nhiều phương tiện vận tải trực tiếp cứu đói cho dân. Ngoài ra còn tổ chức Trường Quân sự địa phương, Trường Văn hóa thiếu nhi và mở nhiều lớp huấn luyện cho cán bộ địa phương, tích cực giúp dân sản xuất, khám chữa bệnh, xóa nạn mù chữ và thực hiện nếp sống vệ sinh khoa học. Thương yêu bộ đội B3 như chính con em của mình; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tây Nguyên thường xuyên đóng góp lương thực thực phẩm, huy động hàng vạn ngày công phục vụ các chiến dịch của Bộ đội chủ lực, tích cực phối hợp tiến công địch trong chiến đấu. Nhiều bà mẹ Tây Nguyên lưng trần cháy nắng quanh năm làm rẫy ăn sắn ăn măng để dành gạo nuôi bộ đội Bok Hồ; có bà mẹ lưng gùi đạn, địu con trước ngực, tay dắt đứa lớn, dùng lá chuối che đầu tự nguyện đi dân công hàng tháng phục vụ chiến dịch. Chính tình đoàn kết quân dân ấy luôn là nguồn sức mạnh vô địch, vô tận của lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng hòa bình, Binh đoàn luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên các địa bàn miền Đông Nam Bộ, Khu 5, miền Bắc và nhân dân nước bạn. Đáp lại tình cảm to lớn của địa phương, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn chú trọng làm tốt công tác vận động nhân dân, xây dựng mối đoàn kết quân dân một ý chí, xứng đáng với lòng tin cậy và mến yêu của Đảng bộ chính quyền và nhân dân các địa phương. 4. Tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, cần kiệm xây dựng Binh đoàn trong mọi hoàn cảnh. Tự lực, tự cường là truyền thống và bản chất của quân đội ta. Truyền thống quý báu đó luôn được Binh đoàn Tây Nguyên giữ vững và phát huy trong mọi hoàn cảnh. Trong chiến đấu, đất nước còn nhiều khó khăn, địa bàn hoạt động thường xa hậu phương, gian khổ khắc nghiệt, quân địch thường xuyên dùng bom đạn, chất độc hóa học hủy diệt ngăn chặn mọi sự tiếp tế. Với ý thức tự lực tự cường rất cao, trí thống minh và lòng dũng cảm, từ đồng chí Tư lệnh chiến trường đến người chiến sĩ cầm súng chiến đấu đều tích cực tăng gia tự túc, coi hoàn thành chỉ tiêu sản xuất như kết quả chiến đấu. Chính vì vậy, Mặt trận Tây Nguyên đã vượt qua được khó khăn lớn năm 1969-1970, tiếp tục trụ bám chiến trường đánh giặc, từng bước tích lũy cho thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Khi làm nhiệm vụ xây dựng trong hòa bình, địa bàn đóng quân của Binh đoàn thường ở những nơi núi đồi, đất đai bạc màu, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện phát triển kinh tế sản xuất khó khăn. Nhưng với tinh thần tự lực sáng tạo, cần kiệm, kết hợp sử dựng có hiệu quả nguồn cung cấp của trên, Quân đoàn không những xây dựng được những doanh trại khang trang sạch đẹp, có điện nước đầy đủ cho bộ đội sinh hoạt công tác; mà còn tìm ra những phương thức làm kinh tế có hiệu quả, góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và làm công tác chính sách, xã hội. * Hơn 40 năm Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 đã đi qua. Một chặng đường chiến đấu và xây dựng oai hùng với những kỳ tích tận trung với nước tận hiếu với dân của Binh đoàn Tây Nguyên đã đi vào lịch sử. Nhưng truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực" mà lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ xây đắp nên bằng sức lực trí tuệ và máu xương sẽ mãi mãi trường tồn. Nó như mạch nước ngầm chảy mãi bồi đắp cho lớp lớp thế hệ hiện tại và mai sau, luôn âm vang như một bài ca không bao giờ tắt, hàng ngày hàng giờ giục giã cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăng hái tiến lên vượt qua khó khăn lập những kỳ tích mới; mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của Bác Hồ, của nhân dân và kỳ vọng của các thế hệ cha anh. Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 10:09:27 am PHỤ LỤC I. CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN, QUÂN ĐOÀN 3 QUA CÁC THỜI KỲ A. MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN (1.5.1964 - 26.3.1975) a. Tư lệnh: 1. Đại tá Nguyễn Chánh (5.1964 - 7.1965). 2. Thiếu tướng Chu Huy Mân (kiêm Chính ủy) (7.1965 - 7.1967). 3. Thiếu tướng, Trung tướng Hoàng Minh Thảo (7.1967 - 6.1974). 4. Thiếu tướng Vũ Lăng (6.1974 - 3.1975). b. Chính ủy: 1. Đại tá Đoàn Khuê (5.1964 - 7.1965). 2. Thiếu tướng Chu Huy Mân (7.1965 - 7.1967). 3. Đại tá Trần Thế Môn (7.1967 - 11.1973). 4. Đại tá Đặng Vũ Hiệp (6.1974 - 3.1975). (11.1973 - 5.1974: phụ trách Chính ủy). c. Phó Tư lệnh: 1. Thượng tá Nguyễn Hữu An (1964 - 1967). 2. Đại tá Nguyễn Chánh (7.1965 - 1966). 3. Đại tá Cao Văn Khánh (1966 - 1968). 4. Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo (11.1966 - 6.1967). 5. Đại tá Nguyễn Mạnh Quân (kiêm Tham mưu trưởng), (4.1970 - 9.1972). 6. Đại tá Nguyễn Hòa (tăng cường) (12.1971 - 1972) 7. Đại tá Vương Tuấn Kiệt (kiêm Tham mưu trưởng), (4.1974 - 2.1975). 8. Đại tá Nguyễn Việt Năng (10.1974 - 3.1975). B. QUÂN ĐOÀN 3 (26.3.1975 - 26.3.2005): Ngày tháng năm ghi theo quyết định bổ nhiệm a. Tư lệnh Quân đoàn (và quyền Tư lệnh): 1. Thiếu tướng Vũ Lăng (26.3.1975 - 3.1977). 2. Đại tá, Thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn (Nguyễn Công Tiến) (3.1977 - 3.1979). 3. Đại tá, Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước (5.1979 - 11.12.1979: quyền Tư lệnh), (11.12.1979 - 5.1982 và 3.1983 - 12.1983). 4. Đại tá Bùi Đình Hòe (quyền Tư lệnh) (5.1982 - 3.1983). 5. Đại tá, Thiếu tướng Khuất Duy Tiến (20.12.1983 - 2.1989). 6. Thiếu tướng Trần Tất Thanh (31.1.1989 - 1.1991). 7. Đại tá, Thiếu tướng Lê Quang Bình (12.9.1991 - 1.9.1993) 8. Đại tá, Thiếu tướng Đỗ Công Mùi (12.11.1993 - 30.12. 1997). 9. Đại tá, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạ (30.12.1997 - 1.2.2002). 10. Đại tá, Thiếu tướng, TS. Phạm Xuân Hùng (1.2.2002 - 16. 2.2004). 11. Đại tá, Thiếu tướng Nguyễn Trung Thu (từ 16.2.2004 - ...). b. Chính ủy, Phó tư lệnh về chính trị: 1. Đại tá Đặng Vũ Hiệp (3.1975 - 3.1977). 2. Đại tá Phí Triệu Hàm (3.1977 - 2.1979). 3. Thiếu tướng Phạm Sinh (3.1979 - 12.1979). 4. Đại tá, Thiếu tướng Hà Quốc Toản (12.1979 - 10.1987). 5. Đại tá, Thiếu tướng Tiêu Văn Mẫn (15.10.1987 - 1990). 6. Đại tá, Thiếu tướng Lê Xuân Thanh (1991 - 4.2004). 7. Đại tá, Thiếu tướng PGS, TS. Nguyễn Tuấn Dũng (từ 1.2.2002 - ...). 9. Đại tá Nguyễn Trọng Huy (từ 6.7. 2004 - ...). c. Phó tư lệnh: 1. Đại tá Nguyễn Kim Tuấn (Nguyễn Công Tiến) (3.1975 - 3.1977). 2. Đại tá Nguyễn Việt Năng (3.1975 - 1976). 3. Đại tá Hồ Đệ (1978). 4. Đại tá Nguyễn Quốc Thước (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng) (1978 - 5.1979). 5. Đại tá Bùi Đình Hòe (5.1979 - 1.1980: Phó tư lệnh) (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 25.1.1980 - 5.1982) 6. Đại tá Khuất Duy Tiến (1979 - 2.1983: Phó tư lệnh) (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng): (23.2.1983 - 12.1983) 7. Thượng tá Lưu Sĩ Hiệp (Phó tư lệnh về Hậu cần: 28.12.1979 - 13.11.1982). 8. Thượng tá Đỗ Thuyên (Phó tư lệnh về trang bị và kỹ thuật: 28.12.1979 - 1980). 9. Thượng tá Nguyễn Văn Thanh (Phó tư lệnh, Chủ nhiệm Kỹ thuật: 1981 - 1983). 10. Đại tá Phạm Duy Tân (12.1983 - 1990). (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng, tháng 12.1983 đến tháng 9.1984). 11. Đại tá Đinh Xuân La (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 8.11.1984 - 15.10.1987). 12. Đại tá, Thiếu tướng Trần Tất Thanh (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 15.10.1987 - 31.1.1989). 13. Đại tá Lê Quang Bình (Phà tư lệnh, Tham mưu trưởng: 21.10.1988 - 12.9.1991). 14. Đại tá Đỗ Công Mùi (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 25.8.1989 - 12.11.1993). 15. Đại tá Vũ Khắc Đua (12.10.1989 - 2001). 16. Thượng tá, đại tá Nguyễn Hữu Hạ (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 1.9.1993 - 30.12.1997). 17. Đại tá, TS. Phạm Xuân Hùng (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 29.11.1997 - 1.2.2002). 18. Đại tá Trần Minh Hùng (7.12.1998 - 29.5.2003). 19. Đại tá Nguyễn Khang Đàm (từ 11.12.2001 - ...). 20. Đại tá Hoàng Văn Hoặc (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: 1.2.2002 - 24.6.2002) 21. Đại tá Nguyễn Vĩnh Phú (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng: từ 24.6.2002 - ...). 22. Đại tá Trần Quốc Phú (từ 6.7. 2004 - ...). Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 04:23:14 pm (https://i.imgur.com/7DKHsBU.jpg) (https://i.imgur.com/KMgHY57.jpg) (https://i.imgur.com/l4256dh.jpg) (https://i.imgur.com/jYCiuTn.jpg) (https://i.imgur.com/RBpnWm2.jpg) (https://i.imgur.com/aZNq4lq.jpg) (https://i.imgur.com/dcJ0cQU.jpg) (https://i.imgur.com/Y0dXM9g.jpg) (https://i.imgur.com/456YpPi.jpg) (https://i.imgur.com/TiVuxSV.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2021, 04:26:48 pm (https://i.imgur.com/2mZsjqe.jpg) (https://i.imgur.com/0zlRD0k.jpg) (https://i.imgur.com/aiJ2XgB.jpg) (https://i.imgur.com/Lx1ynSI.jpg) (https://i.imgur.com/hC7e13g.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 09:08:57 am MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ QUÂN ĐOÀN 3 (https://i.imgur.com/G0HPar8.jpg) (https://i.imgur.com/5VTUU2A.jpg) (https://i.imgur.com/gEFXacm.jpg) (https://i.imgur.com/yx71ut0.jpg) (https://i.imgur.com/EWrcQtb.jpg) (https://i.imgur.com/qUscWRo.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 09:34:15 am (https://i.imgur.com/1AEpbSS.jpg) (https://i.imgur.com/Tux6fFG.jpg) (https://i.imgur.com/6KI5GHl.jpg) (https://i.imgur.com/bGTqRFX.jpg) (https://i.imgur.com/ZvX0jJW.jpg) (https://i.imgur.com/35Rl3H7.jpg) (https://i.imgur.com/oQaWZuM.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 09:37:23 am (https://i.imgur.com/Rvx1QzY.jpg) (https://i.imgur.com/2IcEkN3.jpg) (https://i.imgur.com/KMuDBRq.jpg) (https://i.imgur.com/bpXh4Od.jpg) (https://i.imgur.com/ufUrheg.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 09:55:46 am (https://i.imgur.com/61WhFSI.jpg) (https://i.imgur.com/KvRRBxb.jpg) (https://i.imgur.com/fzCNKdO.jpg) (https://i.imgur.com/f2qSXfn.jpg) (https://i.imgur.com/hUtgQt7.jpg) (https://i.imgur.com/NwgwM7I.jpg) (https://i.imgur.com/NCWmLJ5.jpg) (https://i.imgur.com/7HFxQ2R.jpg) (https://i.imgur.com/UEwR2xf.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 10:00:03 am (https://i.imgur.com/TBFoakn.jpg) (https://i.imgur.com/zGTXNgz.jpg) (https://i.imgur.com/wzkkNYa.jpg) (https://i.imgur.com/cpqpFP0.jpg) (https://i.imgur.com/j7hUQVv.jpg) (https://i.imgur.com/KPM5cdR.jpg) (https://i.imgur.com/CZD0Y1K.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 10:02:41 am (https://i.imgur.com/Lrm0W2N.jpg) (https://i.imgur.com/l0ceV1E.jpg) (https://i.imgur.com/rHvdUv7.jpg) (https://i.imgur.com/xqa6d3h.jpg) Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2021, 10:17:32 am (https://i.imgur.com/FmuUn8K.jpg) (https://i.imgur.com/acQ9pYY.jpg) (https://i.imgur.com/9lIQltj.jpg) (https://i.imgur.com/PUOzUzo.jpg) (https://i.imgur.com/tTAN8PF.jpg) (https://i.imgur.com/C096zTf.jpg) (https://i.imgur.com/PfjCfKu.jpg) (https://i.imgur.com/hwFSlxr.jpg) (https://i.imgur.com/8RoyEHd.jpg) (https://i.imgur.com/3okYkZr.jpg) Hết |