|
Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:38:00 pm Tên sách: Lịch sử Quân sự
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân Năm xuất bản: 2003 Số hoá: ptlinh, quansuvn Chỉ đạo nội dung: Đại tá, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG Biên soạn: - Đại tá, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG - Đại tá, TS. LÊ ĐÌNH SỸ - Thiếu tướng, GS. BÙI PHAN KỲ - Đại tá, PGS. TRẦN BƯỞI - Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN ĐÌNH SẮC - Đại tá, PGS, TS. LÊ VĂN QUANG - Đại tá, TS. PHẠM VĂN THẠCH - Đại tá, TS. NGUYỄN MẠNH HÀ - Thượng tá, TS. HỒ KHANG - Thượng tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP - Thượng tá, TS. NGUYỄN MINH ĐỨC Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:38:47 pm LỜI NÓI ĐẦU Viện Lịch sử quân sự Việt Nam là cơ quan khoa học đầu ngành về lịch sử quân sự của Quân đội và là trung tâm lịch sử quân sự của Nhà nước. Từ năm 1994, Viện được Thủ tướng Chính phủ giao cho nhiệm vụ đào tạo sau đại học, chuyên ngành "Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự". Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện Quy chế đào tạo sau đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chấp hành chỉ thị 577/1998 CT-QP ngày 9 tháng 5 năm Ĩ998 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc tổ chức nghiên cứu, biên soạn, hoàn thiện hệ thống tài liệu huấn luyện, giáo trình, giáo khoa, điều lệnh và điều lệ trong toàn quân, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã triển khai biên soạn tài liệu: "Lịch sử quân sự" dùng cho nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Sau một thời gian tổ chức thực hiện, đến nay, tài liệu đã hoàn thành. Tài liệu gồm hai phần: Phần một, giới thiệu một cách khái quát một số nội dung thuộc Lịch sử quân sự, quá trình chống ngoại xâm của dân tộc ta và những vấn đề nổi bật về chiến tranh và nghệ thuật quân sự trong gần suốt chiều dài lịch sử đất nước (từ thế kỷ III Trước công nguyên đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1975). Phần hai là một số chuyên đề tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nắm được những vấn đề cốt lõi về quan điểm tư tưởng, phương pháp nghiên cứu và một số nội dung chuyên sâu của chuyên ngành Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Tài liệu được biên soạn, trận cơ sơ kết qụả nghiên cứu và tổng kết các mặt thuộc lĩnh vực lịch vực quận sự trong những năm gần đây, trong đó có một số đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ. Mặc du tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, biên soạn, song do yêu cầu của công tác đào tạo sau đại học ngày càng cao, trình độ người viết có hạn nên chắc, chắn tài liệu không tránh khỏi khiếm khuyết. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoạ học và đông đảo bạn đọc để tài liệu ngày càng hoàn thiện hơn. Nhân dip cuốn sách được xuất bản, chúng tội xin chân thành cảm ơn Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để cuốn sách sớm ra mắt bạn đọc. VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:40:46 pm Phần một LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM KHỞI NGHĨA, CHIẾN TRANH VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG LỊCH SỬ CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA DÂN TỘC (TỪ THẾ KỶ III TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XVIII) Lịch sử quân sự Việt Xam thời cổ - trung đại có nội dung rất phong phú, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực hoạt động quân sự. Nghiên cứu lịch sử khởi nghĩa, chiến tranh và nghệ thuật quân sự giai đoạn này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, nhằm dựng lại các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, tìm hiểu các quy luật của lịch sử quân sự và tài thao lược của ông cha thuở trước, rút ra những bài học thành công và thất bại trong tiến trình lịch sử đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ tự do và độc lập dân tộc. Đó là một nhiệm vụ rất lớn của sử học quân sự nước ta. Dưới đây xin nêu một số đặc điểm khởi nghĩa, chiến tranh và nghệ thuật quân sự trong giai đoạn từ thế kỷ III trước công nguyên (TrCN) đến thế kỷ XVIII, với mục đích gợi mở để chúng ta cùng nghiên cứu lịch sử quân sự giai đoạn này. I- KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ THẾ KỶ III TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XVIII 1. Khái quát tiến trình lịch sử khởi nghĩa và chiến tranh Việt Nam là một quốc gia phát triển sớm và có lịch sử lâu đời. Trong lịch sử Việt Nam, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm được biểu hiện đậm nét và oanh liệt nhất. Nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên ở nước ta. Nước Văn Lang ra đời với một nền kinh tế phong phú, một tổ chức chính trị, xã hội đã phát triển và một nền văn hoá khá cao. Nền văn minh Văn Lang, còn gọi là văn minh sông Hồng mà đỉnh cao văn hóa Đông Sơn nổi tiếng là niềm tự hào của dân tộc ta. Nhưng vừa mới dựng nước thì nhân dân ta đã phải liên tiếp đương đầu với nhiều mối đe dọa dồn dập từ bên ngoài. Truyền thuyết dân gian đã kể lại cuộc chiến đấu chống nhiều thứ "giặc", như giặc "Man", giặc "Mũi đỏ", giặc "Đá", giặc "Ân"... Từ thời các vua Hùng, nhân dân ta đã phải nhiều lần đứng dậy chống ngoại xâm. Truyền thuyết về cậu bé làng Phù Đổng vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân, là câu chuyện đánh giặc giữ nước đượm màu thần thoại, nhưng có cái cốt lõi lịch sử của nó. Cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III TrCN) mà sử sách đã ghi lại được coi là cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên giữa dân tộc ta với thế lực bành trướng Đại Hán, lúc ấy kẻ đại diện là thế lực phong kiến Tần Thủy Hoàng, một đế chế lớn mạnh và tàn bạo nhất. Đó cũng là cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ (từ 214 đến 208 TrCN) mà sử sách đã ghi lại được coi là cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên giữa dân tộc ta với thế lực bành trướng Đại Hán, lúc ấy kẻ đại diện là thế lực phong kiến Tần Thủy Hoàng, một đế chế lớn mạnh và tàn bạo nhất. Đó cũng là cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ (từ 214 đến 208 TrCN) của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của vua Hùng và Thục Phán. Sử chép rằng, thế kỷ III TrCN, đế chế Tần huy động 50 vạn quân chinh phục các khu vực phía Nam sông Dương Tử. Hàng vạn quân Tần vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Văn Lang. Trước sức mạnh của giặc người Việt trốn vào rừng, ngày ẩn đêm hiện, tiến hành cuộc chiến tranh du kích rộng lớn; "họ cùng nhau cử người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần" (Hoài Nam tử). Sau hơn mười năm chiến đấu, quân Tần bị giết chết, "thây phơi đầy nội, máu chảy đầy sông". Chủ tướng giặc là Đồ Thư bỏ mạng. Quân xâm lược của Tần Thuỷ Hoàng thất bại. Kháng chiến chống Tần là cuộc kháng chiến của một nước nhỏ chống lại một đế chế lớn mạnh, là cuộc chiến tranh kiên cường, thể hiện tài trí và khả năng đánh giặc của tổ tiên ta buổi đầu lịch sử. Sau kháng chiến chống Tầu là cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống chiến tranh xâm lược của Triệu Đà từ 184 đến 179 TrCN. Đánh tan quân Tần, Thục Phán thay thế Hùng Vương, tự xưng là An Dương Vương, đổi tên nước là Âu Lạc, xây dựng thành Cổ Loa, chế nỏ Liên Châu để chống xâm lược. Thời kỳ này, ở phía Nam Trung Quốc xuất hiện một vương quốc mới gọi là Nam Việt, có kinh đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và vua là Triệu Đà đã nhiều lần đem quân xâm lược Âu Lạc, nhưng đều bị thất bại, bởi lúc đó nước Âu Lạc là một quốc gia văn minh, có quân đông, vũ khí tốt, có thành Cổ Loa kiên cố, mặt khác An Dương Vương lại có nhiều tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, v.v... Nhưng sau đó, Triệu Đà dùng kế gian, cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chua Mỵ Châu, xin ở rể tại thành Cổ Loa để dò xét tình hình và lung lạc tinh thần chiến đấu của vua tôi nước Âu Lạc. An Dương Vương mất cảnh giác, mắc mưu giặc để đất nước bị thôn tính. Từ đấy, trong hơn một nghìn năm (từ 179 TrCN đến 938), nước ta liên tiếp bị các triều đại phong kiến phướng Bắc từ nhà Triệu, nhà Hán... đến nhà Tùy, nhà Đường đô hộ. Sử nước ta gọi đó là giai đoạn Bắc thuộc. Đây là một thời kỳ thử thách hết sức nguy hiểm đối với sức sống của dân tộc ta. Kẻ thù vơ vét, bóc lột nhân dân ta và mưu toan đồng hoá dân tộc ta. Chúng chia nước ta thành quận, huyện, và sáp nhập vào lãnh thổ nước họ. Chúng vơ vét của cải, bắt thợ thủ công, phá trống đồng, huỷ hoại di sản văn hoá dân tộc, buộc dân ta phải thay đổi phong tục, tập quán, theo pháp luật và lễ giáo phong kiến phương Bắc. Dưới ách đô hộ tàn bạo và thâm độc của kẻ thù, nhân dân ta cực khổ, điêu đứng trăm bề. Không những cuộc sống của con người bị chà đạp mà đất nước ta có thể bị xoá bỏ vĩnh viễn và dân tộc ta, Tổ quốc ta đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Nhưng cũng chính trong thời gian mất nước kéo dài ấy, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bển bỉ đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữ gìn, phát huy tinh hoa của nền vàn hoá lâu đời và quyết tâm giành lại bằng được nền độc lập tự chủ. Thuở ấy, nhân dân ta mất nước nhưng không mất làng. Bám vào làng xã, đoàn kết đùm bọc lấy nhau, người Việt đã đấu tranh có hiệu quả chống lại chính sách nô dịch và đồng hoá của người Hán. Trong làng xã, nhân dân vẫn giữ được cốt cách làm ăn và phong tục tập quán riêng; không chỉ bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống, mà còn tiếp thu có chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại nhập phù hợp với cuộc sống của mình và liên kết nhau trong cuộc đấu tranh giành lại đất nước. Tiếng Việt và vốn văn hoá - nghệ thuật gây dựng từ thời dựng nước vẫn được bảo tồn. Chính quyền đô hộ không can thiệp được vào cuộc sống của các làng xã. Dựa vào làng xã, nhân dân ta duy trì và phát triển sản xuất. Nhờ vậy, nền kinh tế - xã hội nước ta vẫn có những bước phát triển. Những thành quà đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá làm tăng thêm sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu đánh đổ ngoại bang, giành lại chủ quyền dân tộc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:41:31 pm Hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị cùng bà Triệu Thị Trinh tiêu biểu cho khí phách dân tộc, cho ý chí quật cường, quyết tâm đánh giặc "giành lại giang san, cởi ách nô lệ". Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (mùa Xuân năm 40) và tiếp đó là cuộc kháng chiến giữ nước (năm 42 - 44) do Hai Bà lãnh đạo cùng với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (248) là bước phát triển mới của tinh thần dân tộc, mở đường cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong cả ngàn năm Bắc thuộc.
Khởi nghĩa Lý Bí thành công dẫn đến sự thành lập nhà nước Vạn Xuân độc lập (544), kháng chiến chống Lương (545 - 550), chống Tuỳ (602) cùng với các cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ nhà Đường như khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (722), của Phùng Hưng (766 - 791), của Dương Thanh (819 - 820) và cuộc nổi dậy khôi phục chính quyền tự chủ của Khúc Thừa Dụ (905) là những sự kiện lịch sử quân sự tiêu biểu trong tiến trình đấu tranh chống Bắc thuộc và chống đồng hoá của nhân dân ta. Hai cuộc kháng chiến chống Nam Hán các năm 931 và 938 do Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền lãnh đạo đã khẳng định quyết tâm giành và giữ nền độc lập tự chủ của cả dân tộc. Cuối năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Thao đem quân thủy sang cướp nước ta, và tự hắn đem quân đóng ở gần biên giới để sẵn sàng tiếp ứng. Nhưng đoàn thuyền giặc vừa mới vượt biển tiến vào cửa sông Bạch Đằng đã bị quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền chặn đứng và tiêu diệt đại bộ phận. Chủ tướng giặc bỏ mạng, Vua Nam Hán phải bãi binh. Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đánh tan giặc Nam Hán là cột mốc lớn kết thúc giai đoạn mất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới của lịch sử dựng nước và giữ nước Việt Nam. Như vậy, kể từ khi kháng chiến chống Triệu bị thất bại cuối đời An Dương Vương (năm 179 TrCN) đến chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (năm 938), thời Bắc thuộc kéo dài 1117 năm. Một dân tộc bị đô hộ trên mười thế kỷ quả là một thảm họa khủng khiếp. Tuy nhiên, đối với lịch sử Việt Nam, trong đêm trường bị đô hộ đó, không chỉ có Bắc thuộc mà còn có cả chống Bắc thuộc, không chỉ có Hán hóa mà còn cả chống Hán hóa. Trong hơn mười thế kỷ, biết bao cuộc khởi nghĩa dân tộc, chiến tranh giải phóng và chiến tranh tự vệ đã bùng nổ, được tổ chức lúc thành công lúc thất bại, có khi giành được độc lập và giữ chính quyền trong một thời gian... Nhưng nhìn chung phong trào dân tộc ngày càng phát triển từng bước nâng cao ý thức độc lập tự chủ, xây đắp nên những truyền thống đấu tranh thể hiện sức sống trường tồn của dân tộc ta trong cuộc trường chinh vì nền độc lập tự chủ. Đất nước được độc lập, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa. Nhà nước tập quyền đã được xây dựng nhưng các thế lực địa phương vẫn có xu hướng cát cứ. Ngô Quyền mất, xu hướng đó trỗi dậy gây loạn "Mười hai sứ quân" tranh quyền lãnh đạo. Được nhân dân ủng hộ, Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng dẹp yên loạn các sứ quân, khôi phục sự thống nhất đất nước. Nhà Đinh đóng đô ở Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Từ đó, trải qua các triều Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ1 (Triều Ngô (939-965), triều Đinh (968-979), triều Tiền Lê (980-1009), triều Lý (1010-1225), triều Trần (1225-1400), triều Hồ (1400-1407), triều Lê Sơ (1428-1527)) (thế kỷ X đến thế kỷ XV), quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố và từ thời Lý, công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn. Nước Đại Việt thời Lý, Trần Lê Sơ, với kinh đô Thăng Long, là một quốc gia thịnh vượng ở châu Á. Đây là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đất nước, được lịch sử mệnh danh là Kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Đất nước độc lập đang vươn lên xây dựng một quốc gia ngày càng có uy tín trong vùng, thì ở phương Bắc xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược lớn mạnh và nạn ngoại xâm vẫn thường xuyên đe dọa. Vừa dựng nước vừa giữ nước là hai mặt không thể tách rời trong lịch sử Việt Nam. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, không có thế kỷ nào dân tộc ta không phải chống ngoại xâm, thậm chí có thế kỷ đến hai - ba lần hay hàng chục năm phải liên tục đứng lên kháng chiến chống xâm lược. Trong năm thế kỷ phục hưng đất nước, quân và dân Đại Việt đã phải tiến hành 6 cuộc chiến tranh giữ nước và một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc với bao võ công hiển hách. Mùa Xuân năm 981, hai đạo quân thuỷ bộ nhà Tống cùng tiến đánh nước ta. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn - vị tướng tổng chỉ huy quân đội, được triều đình tôn lên làm vua tổ chức cuộc kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân và dân ta đã từng bước chặn đánh quân xâm lược Tống ở Hoa Bộ, Đồ Lỗ, ở Lục Giang, rồi sau đó đánh tan cả hai đạo quân giặc ở sông Bạch Đằng và Tây Kết. Cuộc xâm lăng lần thứ nhất bị đánh bại, nhưng vua tôi nhà Tống vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược. Giữa thế kỷ XI, chúng lại ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Với một lực lượng quốc phòng - quân sự lớn mạnh, thực hiện chủ trương chiến lược "tiên phát chế nhân" (đánh trước để chế ngự đối phương) của Lý Thường Kiệt, quân nhà Lý mở cuộc tiến công bất ngờ đánh sang đất Tống nhằm tiêu diệt các căn cứ xâm lược của quân thù. Tiếp đó, bằng chiến tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu), quân và dân ta đã chặn đứng 30 vạn quân Tống khi chúng tiến sang xâm lược. Cuối mùa Xuân năm 1077, quân ta mở cuộc phản công lớn, đánh úp vào doanh trại địch ở bờ bắc bến Như Nguyệt, tiêu diệt đến năm, sáu phần mười đạo quân Tống. Với trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt, quân ta đã đánh tan quân Tống, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng. Từ đó, nhà Tống tuy còn tồn tại trên 200 năm nữa, những không dám xâm phạm nước ta. Sang thế kỷ XIII, dân tộc ta phải đương đầu với nạn xâm lăng cực kỳ nguy hiểm của đế quốc Mông - Nguyên, một đế quốc lớn và hung hãn nhất trên thế giới lúc bấy giờ. Những đoàn kỵ binh khét tiếng của vua chúa Mông - Nguyên làm mưa, làm gió trên các lục địa Á, Âu, làm chủ một đế quốc mênh mông nằm vắt ngang từ bờ biển Thái Bình Dương ở phía Đông sang đến bờ biển Hắc Hải ở phía Tây. Trong vòng 30 năm (1258 - 1288), quân xâm lược Mông - Nguyên ba lần kéo sang định làm cở nước ta. Một tướng giặc ngạo mạn tuyên bố rằng: "càng bọ ngựa mà dám chống xe, liệu sẽ ra sao!". Hắn đe dọa: "Trong khoảng chốc lát, núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi (các ngươi) sẽ thành cỏ mục!"... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Tư, 2021, 01:42:14 pm Dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Trần, của các vua Trần và nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn, cả nước Đại Việt đứng lên, vua tôi đồng tâm, trên dưới một lòng, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, quyết chiến quyết thắng, cả ba lần xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên với tổng số quân viễn chinh huy động đến trên một triệu, đều bị thất bại. Nhiều tướng giặc lừng danh trên các chiến trường Á, Âu đà bị tiêu diệt. Những chiến thắng lẫy lừng ở Đông Bộ Đầu (Hà Nội) trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), ở Hàm Tử, Tây Kết (Hưng Yên), Chương Dương (Hà Tây), Thăng Long (Hà Nội), Vạn Kiếp (Hải Dương) trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và đặc biệt là đại thắng Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), càn mãi mãi âm vang, lưu truyền trong sử sách niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.
Sau ba lần thất bại nặng nề, ý chí xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên bị đè bẹp. Hốt Tất Liệt, tên vua hiếu chiến của nhà Nguyên phải ngậm ngùi thừa nhận: "việc Nam chinh như ngứa ngáy trong tim ta", nhưng không dám mạo hiểm tiến hành thêm cuộc chiến tranh nữa. Một sứ giả nhà Nguyên tên là Trần Phu đến Thăng Long khi đang trong khí thế bừng bừng chiến thắng, đã đau xót nói lên nỗi kinh hoàng, lo lắng trong những câu thơ: "Bóng loè gươm sắt lòng thêm đắng, nghe tiếng trống đồng tóc đốm hoa”. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta hồi thế kỷ XIII chẳng những giữ vững được độc lập của Tổ quốc mà còn góp phần ngăn chặn sự bành trướng của đế quốc Mông - Nguyên xuống vùng Đông Nam Á và có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh của các dân tộc ở châu Á thời bây giờ. Đầu thế kỷ XV, dân tộc ta lại phải đối phó với một kẻ thù mới. Đó là nhà Minh, một triều đại phong kiến lớn mạnh đang lúc cường thịnh và có xu hướng bành trướng xâm lược. Cuối năm 1406, hàng chục vạn quân Minh ồ ạt vượt biên giới đánh chiếm nước ta. Lúc đó, triều Hồ vừa mới lên thay thế triều Trần. Vì không đoàn kết được toàn dân, không thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược, cuộc kháng chiến do Hồ Quý Ly lãnh đạo đã thất bại nhanh chóng. Nhà Minh đặt ách đô hộ, nhưng không khuất phục nổi ý chí của dân tộc ta. Phong trào yêu nước phát triển rộng khắp và dần dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nổ ra ban đầu như một đốm lửa ở miền núi rừng Lam Sơn, Thanh Hoá vào mùa Xuân năm 1418. Nghĩa quân lúc đó "cơm ăn thì sớm tối không được hai bữa, áo mặc thì đông hè chỉ có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không" (Nguyễn Trãi). Đội nghĩa quân Lam Sơn có khi bị tổn thất nặng nề, chỉ còn hơn một trăm người. Nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, bền bỉ, mưu trí và được sự đùm bọc của nhân dân, nghĩa quân đã vượt qua được giai đoạn khó khăn ban đầu, từng bước trưởng thành, đi đến đâu cũng "chật đất người theo" và "càng đánh càng thắng...", "như phá vật nát, như bẻ cành khô". Cuộc khởi nghĩa phát triển theo ba giai đoạn lớn: - Giai đoạn tụ nghĩa và hoạt động du kích ở núi rừng Thanh Hoá (1418 - 1424); - Giai đoạn chuyển hướng chiến lược xây dựng căn cứ địa từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá (1424 - 1426); - Giai đoạn phát triển tiến công ra phía Bắc, mở rộng hoạt động trong cả nước, thực hành tiến công, phản công tiêu diệt địch trên phạm vi toàn quốc (1426 - 1427). Cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng quy mô cả nước. Sau mười năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, cuộc chiến tranh yêu nước giành được thắng lợi oanh liệt và kết thúc bằng trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng - Xương Giang nổi tiếng cuối năm 1427 tiêu diệt 10 vạn viện binh địch. Sau chiến công vĩ đại này, tướng giặc Vương Thông và 10 vạn quân đang bị vây hãm trong các thành buộc phải xin hàng và thực hiện lời thề Đông Quan, rút quân về nước. Mùa Xuân năm 1428, đất nước dạt dào trong niềm vui chiến thắng. Bình Ngô đại cáo được công bố như khúc ca khải hoàn vang động núi sông. Triều đại Lê Sơ được thiết lập (1428 - 1527). Trong năm thế kỷ (X đến XV) mà hai lần phá Tống, ba lần bình Nguyên, hai mươi năm diệt Minh; đấy là những chặng đường quan trọng của lịch sử chiến tranh với biết bao võ công hiển hách trong lịch sử quân sự nước ta. Đất nước ta sạch bóng quân xâm lược trong nhiều thế kỷ (từ XV đến XVIII). Tuy nhiên, các phe phái phong kiến thống trị trong các thế kỷ này đã giành giật, xâu xé nhau làm cho đất nước đắm chìm trong nội chiến, nhân dân cực khổ và tình trạng chia cắt đất nước diễn ra. Ngọn lửa chiến tranh nông dân bắt đầu dấy lên ở "Đàng Ngoài" đầu thế kỷ XVIII, đã nhanh chóng lan rộng khắp nước và đạt đến đỉnh cao chưa từng thấy với phong trào nông dân Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra vào mùa Xuân năm 1771 và đã phát triển như vũ bão, lần lượt đánh đổ ách thống trị của các tập đoàn phong kiến phản động nhà Nguyễn, nhà Trịnh và vua Lê, xoá bờ ranh giới sông Gianh chia cắt đất nước, đặt cơ sở cho sự thống nhất quốc gia. Nhân lúc trong nước ta nội bộ không ổn định và thừa cơ bọn phong kiến phản động cầu cứu, các thế lực xâm lược ở phía Tây Nam và phía Bắc đưa quân sang chiếm nước ta. Năm 1784, 5 vạn quân Xiêm đánh vào Gia Định (Nam Bộ); năm 1788, 29 vạn quân Mãn Thanh vượt biên giới đánh chiếm Thăng Long. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Huệ - Quang Trung, quân ta đã tổ chức những cuộc hành quân thần tốc vào Nam, ra Bắc lần lượt đánh tan quân giặc. Đầu năm 1785, bằng trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang), quân Tây Sơn, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm. Từ đó, quân Xiêm "sợ quân Tây Sơn như sợ cọp", không dám trở lại đánh ta nữa. Và bằng cuộc tiến công chiến lược đầu Xuân năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh ở Thăng Long. Lịch sử dân tộc lại ghi thêm một chiến công bất diệt: chiến thắng Ngọc Hồi - Đông Đa. Nhờ sự kết hợp sức mạnh vùng lên của quần chúng nông dân với truyền thống yêu nước, ý chí độc lập của dân tộc, phong trào Tây Sơn đã lập nên sự nghiệp vẻ vang: đánh thắng thù trong, giặc ngoài, đặt cơ sở khôi phục quốc gia thống nhất, mở ra triều đại mới tiến bộ: triều Tây Sơn (1789- 1802). Như vậy, thế kỷ XVIII, quân dân ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến thành công, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Sau cuộc kháng chiến chống Thanh năm 1789, về cơ bản họa xâm lược của phong kiến phương Bắc đối với nước ta đã chấm dứt. Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam bước sang trang mới; đó là những trang sử chống lại cuộc xâm lược của đế quốc tư bản phương Tây. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:12:33 pm 2. Một số đặc điểm của khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc từ thế kỷ III TrCN đến thế kỷ XVIII
a) Trong tiến trình lịch sử, nạn ngoại xâm là mối đe dọa thường xuyên và nguy hiểm nhất đối với sự sống còn của dân tộc; vì thế, khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm đã diễn ra hầu như liên tục, dựng nước luôn gắn liền với giữ nước Nước ta có tài nguyên phong phú, lại ở vào vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông Nam Á, vì thế nhiều đế chế cường thịnh, nhiều thế lực xâm lược đều thèm khát và đã âm mưu thôn tính, không những để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác tài nguyên mà còn để biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Ngay từ cuối thời Hùng Vương, người Việt đã phải chiến đấu chống ngoại xâm và luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc. Gần như ở triều đại nào, thời đại nào nhân dân ta cũng phải cầm vũ khí đánh giặc giữ nước. Kể từ thế kỷ thứ III TrCN đến thế kỷ XVIII, trong hơn 20 thế kỷ với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang đã hơn 10 thế kỷ. Họa mất nước có khi kéo dài mấy chục, mấy trăm, thậm chí tới hàng nghìn năm, có những thế kỷ nhân dân ta phải nhiều lần đứng lên đánh giặc. Điều đáng lưu ý ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện và số lượng các cuộc kháng chiến giữ nước, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng ở nước ta quá lớn so với nhiều nước khác trên thế giới. Không kể những trang sử chống ngoại xâm mang tính chất huyền thoại thời Hùng Vương như chuyện Thánh Gióng phá giặc Ân, chỉ tính từ cuộc kháng chiến chống Tần vào thế kỷ III TrCN trở đi, nhân dân ta phải tiến hành kháng chiến chống Tần, chống Triệu, chống Đông Hán, chống Lương, chống Tuỳ, chống Đường, chống Nam Hán, (hai lần), chống Tống (hai lần), chống Mông - Nguyên (ba lần), chống Minh, chống Xiêm và chống quân Thanh xâm lược. Trong khoảng thời gian nói trên, có hai giai đoạn nhân dân ta phải chịu mất nước; đó là giai đoạn Bắc thuộc hơn một ngàn năm và giai đoạn sau cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại. Trong những thời gian mất nước kéo dài này, nhân dân ta đã luôn giữ gìn bản sắc văn hoá của mình, đã nhiều lần vùng lên tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc. Dù phải trải qua bao gian khổ, hy sinh, nhưng cuối cùng nhân dân ta đã giành lại được độc lập dân tộc. Chiến đấu chống ngoại xâm vừa là thử thách gay go, ác liệt nhất, vừa thể hiện ý chí quật cường, là niềm tự hào lớn nhất của nhân dân ta. Tất nhiên, chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của lịch sử Việt Nam. Trên trái đất này, có quốc gia nào, dân tộc nào mà trong lịch sử sinh tồn và phát triển của mình lại không có một đôi lần phải chiến đấu tự vệ? Tuy nhiên, nhân tố chống ngoại xâm trong lịch sử nhiều nước, chỉ là nhân tố nhất thời với những tác động hạn chế trong không gian và thời gian. Nhưng đối với Việt Nam, đây là một nhân tố được lặp đi lặp lại nhiều lần với tần số cao và tác động sâu sắc đến toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc. Hiếm có một dân tộc nào mà quá trình đấu tranh giữ nước lại liên tục, lâu dài và oanh liệt như dân tộc Việt Nam. Do điều kiện đặc biệt về vị trí chiến lược và hoàn cảnh lịch sử của đất nước, quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ sớm đã chịu sự chi phối thường xuyên của quy luật dựng nước gắn liền với giữ nước, nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc luôn gắn liền với nhiệm vụ chống lại âm mưu thôn tính và hành động xâm lăng độc ác của kẻ thù bên ngoài. Trong lịch sử, ông cha ta vừa phải chăm lo phát triển kinh tế và mở mang văn hoá, vừa phải luôn củng cố quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với họa xâm lăng. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077), vua Lý Nhân tống đã căn dặn con cháu: "cần phải sửa sang giáo mác để để phòng việc không ngờ". Khi cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai vừa kết thúc (1285). Thượng tướng Trần Quang Khải cùng các vua Trần khi trở lại Thăng Long đã làm thơ Tụng giá hoàn kinh sư trong đó có câu: "Thái bình tu trí lực, vạn cổ thử giang san" (Thái bình nên gắng sức, non nước vững ngàn thu). Vua Lê Thái Tổ, sau khi bình Ngô, xây dựng đất nước thịnh vượng, vẫn lo nghĩ: "Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an" (Biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài) và không quên di chúc cho con cháu đời sau phải luôn "lo giữ nước từ khi chưa nguy”. Vua Lê Thánh Tông cho rằng: "Phàm có nhà nước, tất có võ bị" và luôn nhắc nhở các quần thần, tướng lĩnh phải bảo vệ từng thước núi tấc sông của vua Thái Tổ đã để lại. Từ những nhận thức đó, nhiều vị vua sáng, tôi hiền, giỏi việc nước luôn luôn có những phương lược lớn và tiến bộ nhằm kết hợp dựng nước và giữ nước. Quốc sách "Ngụ binh ư nông" (gửi binh ở nông), xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn dưới các thời Lý, Trần và Lê Sơ là một phương thức xây dựng lực lượng vũ trang thích hợp, liên kết hài hoà giữa "việc binh" và "việc nông", giữa "kinh tế và quân sự". Chính vì đặc điểm nạn ngoại xâm là mối đe dọa thường trực và nguy hiểm nhất đối với sự sống còn của dân tộc, khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm liên tục nổ ra, nên các triều đại, ngay cả khi vừa kháng chiến thành công đã nghĩ đến phát triển mọi mặt, làm sao để dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường, đất nước cường thịnh để sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Câu trả lời của Trần Quốc Tuấn trước vua Trần khi sắp bước vào cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) rằng: "Năm nay giặc đến dễ đánh", chứng tỏ sự chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến tranh giữ nước đã thật chu đáo. Trần Quốc Tuấn và quân đội nhà Trần bước vào cuộc đọ sức mới với lũ giặc hết sức chủ động, đầy niềm tin vào thắng lợi. Thực tế đã chứng tỏ điều tất yếu đó. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:13:24 pm b) Trong phần lớn các cuộc chiến tranh, kẻ thù dân tộc ta là những thế lực xâm lược to lớn, giàu mạnh, có quân đông gấp nhiều lần quân ta; vì thế, dân tộc ta luôn phải "lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"
Kẻ thù dân tộc trong lịch sử thời Cổ-Trung đại chủ yếu là những thế lực phong kiến lớn mạnh ở phương Bắc hoặc từ những vương quốc phía Nam. Đó là những thế lực xâm lược có cùng trình độ phương thức sản xuất, điều kiện vật chất và khoa học kỹ thuật quân sự so với ta không hơn kém nhau nhiều, nhưng là những nước lớn có tiềm lực kinh tế hơn ta, có quân đội đông và thiện chiến. Trải qua các triều đại, nhân dân ta đã phải tiến hành biết bao cuộc chiến tranh lớn vì độc lập tự chủ. Hoàn cảnh lịch sử của mỗi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh có khác, nhưng điểm chung xuyên suốt trong cả dọc dài lịch sử là với một nước nhỏ, dân không đông, quân không nhiều mà người Việt thường xuyên phải đương đầu, chống lại các thế lực xâm lược có đất nước rộng lớn, dân số nhiều, quân đội thường trực đông và giàu mạnh, đã từng chinh phục nhiều quốc gia, lại ở sát gần biên giới phía Bắc đất nước. Dân tộc ta phải chống ngoại xâm trong những điều kiện rất ác liệt, trong so sánh lực lượng quá chênh lệch. Nước đi xâm lược ngoại trừ vài ba trường hợp là những quốc gia không lớn lắm, so sánh về đất đai, dân số và tiềm lực các mặt không hơn kém nhiều (như Nam Việt, Nam Hán, Xiêm), còn lại là những đế chế giàu mạnh ở phương Bắc trong nhiều triều đại. Đế chế Tần cuối thế kỷ III TrCN huy động 50 vạn quân chinh phục các dân tộc Bách Việt, trong đó có một bộ phận lớn tiến vào Văn Lang. Bấy giờ, dân số nước ta chưa đầy một triệu người. Nhà Tống trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai (1075-1077) đã huy động hơn 30 vạn quân các loại; khi ấy dân số nước Đại Việt có khoảng 4 triệu và quân thường trực có khoảng 5-7 vạn người. Đế chế Mông-Nguyên thế kỷ XIII là một đế quốc giàu mạnh, rộng lớn, đã từng chinh phục khắp các lục địa Âu - Á. Trong hai lần chiến tranh xâm lược nước ta các năm 1285 và 1288, vua Nguyên đã huy động tất cả trên một triệu lượt quân: cuộc xâm lược năm 1285 có khoảng 60 vạn, cuộc xâm lược năm 1288 có trên 50 vạn quân. Lúc đó, nhà Nguyên đã thống trị toàn bộ Trung Quốc, có quân hùng tướng mạnh; còn Đại Việt có khoảng 5-6 triệu dân và quân thường trực của vương triều Trần lúc huy động cao nhất chỉ có khoảng 30 vạn. Đế chế Minh đầu thế kỷ XV đã huy động tới 80 vạn quân các loại để tiến công xâm lược Đại Việt. Cuối thế kỷ XVIII, nhà Thanh đã sử dụng 29 vạn quân tiến công, chiếm đóng Thăng Long, còn quân đội của Nguyễn Huệ có chừng 10 vạn. Như vậy, trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta đã phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Đó vừa là một đặc điểm vừa là một quy luật của chiến tranh chống ngoại xâm trong lịch sử nước ta. Chính do đặc điểm đó mà trong quan hệ láng giềng, các vương triều phong kiến ở Việt Nam xưa kia luôn luôn cố gắng giữ mối hoà hiếu, thực hiện nhiều biện pháp ngoại giao mềm mỏng để duy trì hoà bình như nhận triều cống, nhận lễ phong vương hiệu... Khi có nguy cơ bị xâm lược, ông cha chúng ta cũng hết sức tìm cách tránh chiến tranh và trì hoãn chiến tranh. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi nghiên cứu quan hệ ứng xử của triều Trần đối với đế chế Mông-Nguyên thế kỷ XIII. Nhưng một khi kẻ thù đã đẩy dân tộc ta vào thế không còn con đường nào khác, để bảo vệ độc lập và chủ quyền thì ông cha ta chấp nhận cuộc thử thách với tất cả quyết tâm, ý chí và nghị lực của mình, quyết chiến đấu và chiến thắng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Năm, 2021, 04:14:04 pm c) Dựa vào dân, xây dựng lực lượng vũ trang từ nhân dân, thực hiện khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc là phương thức thích hợp nhất dẫn đến thành công trong khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta
Sức mạnh to lớn cho phép một nước nhỏ đánh thắng một kẻ thù lớn mạnh là sức mạnh của cả dân tộc đứng lên bảo vệ và giải phóng Tổ quốc. Trong lịch sử, lực lượng đánh giặc không chỉ là lực lượng quân sự mà còn là lực lượng chính trị, kinh tế và văn hoá. Chế độ chính trị, nền kinh tế, văn hoá - xã hội và con người Việt Nam là cơ sở của sức mạnh giữ nước. Sức mạnh đó không chỉ là riêng của nhà nước (triều đình) mà còn là sức mạnh của mỗi địa phương, mỗi làng xã, động bản, mỗi gia đình (quốc gia tính lực), là sức mạnh của truyền thống cả nước đánh giặc, giữ nước. Thấm nhuần quan điểm đó, khi tiến hành khởi nghĩa chống ách thống trị ngoại bang, ông cha ta thường dựa vào dân, xây dựng các căn cứ ban đầu từ các vùng đồng bằng, rừng núi, từng bước phát triển lực lượng, mở rộng địa bàn khởi nghĩa, đánh thắng từng bước, đi đến thực hiện khởi nghĩa toàn dân, đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch. Trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Lý Bí, khởi nghĩa Lam Sơn..., các lãnh tụ nghĩa quân đều phải dựa vào dân để xây dựng nghĩa quân, vừa đánh giặc vừa xây dựng lực lượng và giành được thắng lợi cũng do đã phát động được đông đảo nhân dân tham gia đánh giặc. Đặc biệt, trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, nhờ có tính chất chính nghĩa của nó, nhờ có quan điểm chính trị tiến bộ của Bộ chỉ huy mà các lãnh tụ nghĩa quân đã tập hợp được trong hàng ngũ nghĩa quân đông đảo các trai tráng khắp các bản làng. Ở khởi nghĩa Hai Bà Trưng và khởi nghĩa Lam Sơn, dân coi nghĩa binh như vị cứu tinh, như những người thân yêu của mình nên đã sẵn sàng đem tài năng, sức lực và của cải cống hiến cho quân đội. Không những thế, nghĩa quân đi đến đâu đều được nhân dân ở đó nổi dậy hưởng ứng giúp đỡ và xin cho con em mình được đứng trong hàng ngũ cứu nước. Trong một thời gian rất ngắn dân chúng 65 huyện thành đã nổi dậy tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sử cũ cũng đã ghi lại sự nhiệt tình của nhân dân khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn: "Quân đi đến đâu, nghĩa thanh vang dậy, dân chúng bốn phương cõng địu nhau mà đến theo", "nhân dân dắt díu nhau đến đông như đi chợ", "đi đến đâu người ta nghe thấy đều quy phục, cùng nhau hợp sức đánh thành, diệt giặc", v.v... Khi tiến hành chiến tranh, tổ tiên ta không chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, vào quân đội, mà còn dựa hẳn vào dân chúng. Những bậc minh quân, hiền thần đều nhận thức được vai trò của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nguyễn Trãi nói: "Thân với người có nhân là dân, mà chở thuyền lật thuyền cũng là dân" "lật thuyền mới biết sức dân như nước". Lúc thường thì khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc: lúc có chiến tranh thì huy động cả nước đánh giặc, thực hiện "toàn dân là lính", "trăm họ đều là binh", "cử quốc nghênh địch". Lực lượng vũ trang trong đó có quân đội thường trực bao giờ cũng là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân. Lực lượng đó bao gồm quân triều đình, quân địa phương ở các lộ, phủ, trấn và hương binh các bản làng. Quân chủ lực của triều đình, của nhà nước Đại Việt là lực lượng trụ cột có số lượng hợp lý và tinh nhuệ, được xây dựng theo phương thức: "Quân cần tinh không cần nhiều". Các nhà nước Lý, Trần và Lê Sơ - những nhà nước phong kiến tiến bộ, đều thực hiện chính sách "Ngụ binh ư nông", xây dựng quân đội nằm trong nhân dân, gắn liền với sản xuất, thực hiện "tinh vi nông động vi binh” (lúc hoà bình là nông dân, lúc chiến tranh là binh lính). Đó là cơ sở để thực hiện toàn dân là lính, cả nước đánh giặc. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành công của dân tộc ta đều là chiến tranh nhân dân, với nền nghệ thuật quân sự tiêu biểu - nghệ thuật toàn dân đánh giặc, kết hợp sức mạnh chiến đấu của quân chủ lực với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, của toàn dân, của cả nước. Thời Lý, trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075- 1077), nhân dân các làng bản ở phía Bắc đã nhiệt tình tham gia đánh giặc. Trong 10 vạn quân thực hiện "tiên phát chế nhân" của Lý Thường Kiệt đã có hàng vạn trai tráng là thổ binh vùng biên giới do các tù trưởng yêu nước như Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An... Sau đó, nhân dân lại tích cực tham gia đánh chặn quân giặc, khi 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tiến công xâm lược. Nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống Tống thật đông đảo, nhiệt tình như lời thú nhận của Tể tướng Vương An Thạch trước vua Tống rằng: "Dân Man (chỉ người Đại Việt - TG) kéo hết cả nhà theo" và "cả nước Giao Chỉ nhà có 6 người thì 5 người tòng quân, còn một người không đi được phải ở lại”. Sang thế kỷ XIII, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Bấy giờ tầng lớp quý tộc còn tập hợp được đông đảo dân chúng quanh mình để đánh giặc. Giặc Mông-Nguyên đã giành thắng lợi ở nhiều nơi, nhưng khi tiến vào nước ta, chúng đã gặp phải một cuộc chiến tranh hoàn toàn khác. Chiến lược của quân giặc là đánh như chớp giật, như lửa cháy, đi đến đâu chúng cướp của cải và lương ăn, bắt người bản xứ phục vụ mình; nhưng điều đó chúng không thể thực hiện được ở Đại Việt. Trái lại, ở đây chúng không chỉ phải đọ sức với một quân đội tinh nhuệ của nhà Trần mà còn phải đương đầu với cả toàn thể nhân dân, với cả một dân tộc không chịu khuất phục. Do lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện nghiêm mệnh lệnh của triều đình: "Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến đều phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng giặc". Những nơi giặc đi qua, nhân dân cất giấu lương thực, làm vườn không nhà trống. Việc đó đã gây cho địch nhiều khó khăn. Nguyên sử cũng phải thừa nhận rằng, khi quân Mông-Nguyên tiến vào nước ta thì "Người Giao Chỉ bèn bở nước trống không, chạy trốn bằng đường biển", hoặc "Người Giao Chỉ giấu hết thóc gạo rồi trốn đi..." khiến chủ tướng Thoát Hoan "... đem quân vào sâu (đất Việt-TG) mà không thấy một người nào...". Đó là do nhân dân các làng xã thực hiện kế "thanh dã", "bất hợp tác" với kẻ thù. Vì thế, quân giặc đã lâm vào cảnh "không có lương ăn", buộc phải tổ chức các cuộc hành quân cướp bóc và nhân dân ta đã tổ chức chống lại. Tiêu biểu như dân làng Cổ Sở (xã Yên Sở) trong các năm 1258 và 1288; dân làng Yên Duyên (Thanh Hoá) đã đánh quân Toa Đô (1285); nhân dân xã Xối Đông (xã Trung Đông, Nam Ninh) đã tổ chức ba đồn binh đánh tan một cánh quân của Ô Mã Nhi ở cầu Vô Tình, khi chúng định sang sông cướp phá; hoặc như dân làng Phù Ninh (Vĩnh Phúc) chặn đánh giặc khi chúng chạy qua. Sách Đại Việt sử kỷ toàn thư khi tổng kết ba lần kháng chiến chống Mông-Nguyên cho biết, cả nước Đại Việt chỉ trừ có hai hương là Bàng Hà và Ba Điểm khi giặc đến không đánh, còn hầu hết các làng xã đều dựa vào luỹ tre làng, anh dũng chiến đấu, tiêu hao, chặn đứng và làm thất bại các cuộc hành quân của giặc. Trong tập Sử biên niên của Ba Tư, Rasít Utdin (1247-1318) đã viết về phong trào toàn dân chống giặc cướp bóc (1288) ở Đại Việt như sau:..."Bỗng đâu từ biển, từ rừng, từ núi xuất hiện những đội quân nước đó (chỉ Đại Việt - TG) đánh tan đạo quân của Tu Gan (Thoát Hoan) đang lao vào cướp bóc...". Trong lịch sử quân sự Việt Nam thời xưa, cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên (thế kỷ XIII) và chiến tranh giải phóng chống Minh (thế kỷ XV) là hai cuộc chiến tranh mang tính nhân dân sâu sắc nhất. Trong các cuộc kháng chiến đó, nhân dân ta đủ mọi tầng lớp, mọi dân tộc đã kề vai sát cánh cùng triều đình, cùng quân đội, cùng nghĩa quân chiến đấu giải phóng quê hương, bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Dựa vào dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc trở thành phương thức thích hợp, là chìa khoá thắng lợi và cũng là một đặc điểm nổi bật trong khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tuy nhiên, trong lịch sử dân tộc ta, cũng có đôi ba lần phải chịu thất bại cay đắng khi tiến hành chiến tranh tự vệ, như dưới thời An Dương Vương (thế kỷ II TrCN), thời Hồ (đầu thế kỷ XV) và sau này là thời Nguyễn chống Pháp (thế kỷ XIX)... Bài học rút ra từ các lần mất nước nói trên là các vương triều đó đã không có một đường lối chính trị - quân sự đúng đắn để động viên, đoàn kết nhân dân cả nước cùng đứng lên đánh giặc giữ nước. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:37:24 pm II- NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ THẾ KỶ III TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XVIII
Thực tiễn lịch sử quân sự dân tộc trong những thế kỷ nêu trên không chỉ chứng tỏ truyền thống quân sự vẻ vang, truyền thống đánh giặc giữ nước hào hùng và rất đáng tự hào của nhân dân ta mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Dân tộc ta đã có những quan điểm chiến lược đúng đắn và sâu sắc: về cả nước đánh giặc (cử quốc nghênh địch), trăm họ đều là binh (bách tính giai binh); về lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh (dĩ quả địch chúng, dĩ nhược chế cường): về thế trận và thời cơ, v.v... Dân tộc ta lại có kinh nghiệm phát huy và kết hợp mọi lực lượng, mọi phương thức đấu tranh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh tan quân xâm lược lớn mạnh. Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, dân tộc ta từ sớm đã xây dựng cho mình những quan điểm chiến lược tiến bộ, vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt, phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Thực tế lịch sử cho thấy, nếu chỉ đơn thuần dựa vào quân sự mà không chú ý đến yếu tố chính trị để phát động chiến tranh nhân dân thì không thể tránh khỏi thất bại trước những kẻ thù lớn và xảo quyệt. Với những quan điểm chiến lược tiến bộ, dân tộc ta đã vận dụng nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc đáo, trong đó nghệ thuật quân sự là nội dung cơ bản nhất. Dưới đây là một số nét nổi bật của nghệ thuật quân sự của dân tộc trong khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước từ thế kỷ III TrCN đến thế kỷ XVIII: 1. Một số vấn đề về chiến lược a) Về tư tưởng chiến lược Chiến lược quân sự là bộ phận chủ yếu của nghệ thuật quân sự, trong đó tư tưởng chiến lược là yếu tố có tác dụng chỉ đạo. Từ quan điểm cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc, lấy nhỏ đánh lớn và lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, dân tộc ta đã tạo dựng được một hệ thống tư tưởng chỉ đạo tác chiến thích hợp và hiệu quả. Thứ nhất, tư tưởng lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Trần Quốc Tuấn tổng kết kinh nghiệm đánh giặc trong lịch sử dân tộc như sau: "Khái quát lại, địch cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp". Nguyễn Trãi nói: "Kẻ có nhân lấy yếu chống mạnh, kẻ có nghĩa lấy ít địch nhiều”, "yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều thường dùng mai phục”. Nguyễn Huệ cho rằng: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít". Binh thư yếu lược viết: "Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến", v.v... Là một dân tộc nhỏ luôn phải chống lại những thế lực xâm lược to lớn nên từ rất sớm tổ tiên ta đã có tư tưởng "lấy nhỏ đánh lớn". Lần đầu tiên cách đánh đó được sử sách ghi lại là thời Hùng Vương chống lại sự xâm lược của nhà Tần (thế kỷ III TrCN). Thuở ấy, trước sức mạnh của quân Tần, người Việt trốn vào rừng, ngày ẩn đêm hiện, tiến hành cuộc chiến tranh du kích rộng lớn; "họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần” (Hoài Nam tử). Cuộc chiến đấu mưu trí, bền bỉ của người Việt đã làm cho quân Tần "lương thực bị tuyệt và thiếu, đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong" (Sử ký). Cuối cùng, khi thời cơ đến, người Việt đã tập trung lực lượng, tổ chức phản công, đánh lớn, tiêu diệt nhiều địch và đã giành được thắng lợi. Trong cái thế phải "lấy ít địch nhiều”, "lấy nhỏ đánh lớn", ông cha ta đã biết "đánh lâu dài", biết "thắng từng bước". Tư tưởng đó đã sớm xuất hiện, dần dần hình thành và hoàn thiện. Dân tộc ta vận dụng tư tưởng chỉ đạo trên đây ở mọi quy mô, trong đánh lớn và đánh nhỏ, trong từng trận hay trong cả cuộc chiến tranh. Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt với quân chủ lực có khoảng 10 đến 15 vạn đã đánh tan đạo quân Tọng 29 vạn. Thời Trần, số quân chủ lực của triều đình khi huy động cao nhất được khoảng 30 vạn, nhưng đã ba lần đánh tan quân Mông-Nguyên đông và thiện chiến, có lúc quân địch có gần 60 vạn (trong cuộc chiến tranh lần thứ hai). Đầu thế kỷ XV, ở trận Tốt Động-Chúc Động (1426), quân Lam Sơn có khoảng 3-4 vạn mà đã đánh tan 10 vạn quân của Vương Thông. Trong trận đại phá quân Thanh giải phóng Thăng Long (1789), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh có khoảng 10 vạn mà đã đánh tan 29 vạn quân Thanh cùng một vạn quân bán nước Lê Chiêu Thống. Quan điểm tư tưởng đó đối lập với quan điểm của quân xâm lược. Người phương Bắc thường vận dụng binh pháp truyền thống lấy nhiều hiếp ít, lấy mạnh đè yếu: "Phép dùng binh gấp 10 thì bao vây, gấp 5 thì tiến công, gấp đôi thì bắt địch phân tán, ngang nhau thì cũng có thể đánh được. Nhưng nếu binh lực nhỏ mà kiên trì đánh thì sẽ thành tù binh của kẻ địch lớn" (Binh pháp Tôn Tử). Trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta, lấy ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn là nét đặc thù, trở thành phổ biến và là một tư tưởng chỉ đạo tác chiến của ông cha ta. Tuy nhiên, về tư tưởng chỉ đạo chiến lược thì lấy ít địch nhiều, song trong chiến thuật và khi có điều kiện, ông cha ta cũng đã tập trung binh lực lớn để đánh kẻ địch ít hơn, tạo nên những thắng lợi quyết định, nhất là vào giai đoạn phản công chiến lược. Nhưng dù lấy ít đánh nhiều hay lấy nhiều đánh ít, dân tộc ta đều có nghệ thuật tạo nên ưu thế và sức mạnh đè bẹp và tiêu diệt kẻ địch. Chẳng hạn ở trận Bạch Đằng (1288), trận Xương Giang (1427) hay trận Ngọc Hồi (1789)... Những lúc đó, như Nguyễn Trãi viết: "Binh đánh vào đâu như đá đập vào trứng", "lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim", "như lấy lửa đỏ rực đốt cháy lông gà”, như "tổ kiến hổng làm toang đê vỡ, trận gió rung rụng trút lá khô"... Nghĩa là tạo nên thế mạnh, thế áp đảo để thắng lớn. Đó là bí quyết thành công: "chỉ dùng sức một nửa mà công được gấp đôi" như Lê Lợi đã nói. Thứ hai, tư tưởng tiến công kiên quyết, phòng ngự vững chắc. Lòng yêu nước thương dân, chí căm thù giặc, sự phối hợp đắc lực của nhân dân, tinh thần đoàn kết giữa các lực lượng, tài thao lược của chỉ huy, tướng lĩnh, v.v... là những cơ sở của sức mạnh tiến công. Những hình thức tiến công của cha ông rất phong phú, linh hoạt, như ngày ẩn đêm hiện (thời Hùng Vương đánh quân Tần, thời Triệu Việt Vương đánh quân Lương); chủ động tiến công sang đất giặc (thời Lý Thường Kiệt đánh Tống); lập thế trận mai phục, dụ địch rồi bất ngờ tiến công lúc quân địch tháo chạy (thời Trần Quốc Tuấn đánh Nguyên); tập kích, phục kích, đánh úp (thời Lê Lợi đánh Minh); tiến công vận động đánh chặn địch đang tiến công (thời Ngô Quyền đánh Nam Hán - 938 và Nguyễn Huệ đánh Xiêm - 1785); tiến công mãnh liệt, thần tốc, táo bạo, đánh bất ngờ bằng nhiều mũi, nhiều hướng (thời Quang Trung đánh quân Thanh - 1789)... Trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, hình thức tác chiến tiến công vẫn là chủ yếu. Tuy vậy, ông cha ta cũng đã biểu thị khả năng phòng ngự vững chắc để bảo vệ kinh đô, như trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Triệu, Lê Hoàn xây thành Bình Lỗ để ngăn chặn và đánh tan quân Tống hoặc Lý Thường Kiệt phòng ngự ở sông Như Nguyệt không cho quân giặc vào Thăng Long. Tất nhiên, nếu chỉ đơn thuần phòng ngự, coi thường giặc, không dựa chắc trên cơ sở toàn dân đánh giặc thì sẽ dẫn đến thất bại cay đắng. Đó là bài học phòng ngự đơn thuần chỉ dựa vào thành trì và vũ khí như trong cuộc kháng chiến của An Dương Vương chống Triệu Đà, hoặc trong kháng chiến chống Minh thời Hồ. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:38:12 pm Thứ ba, tư tưởng chủ động và bất ngờ đánh lúc địch không phòng bị (công kỳ vô bị).
Quân địch đông, quân ta ít, nhưng ông cha ta trong chỉ đạo, chỉ huy không phải gặp đâu đánh đó một cách giản đơn, mà luôn luôn chủ động đánh địch, tìm cách điều khiển chúng theo ý định và cách đánh của mình, đưa địch vào nơi "tử địa", vào những chiến trường mà ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt. Ngô Quyền bày sẵn thế trận mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, chủ động dẫn dắt địch theo kế hoạch, để tiến công tiêu diệt khi nước triều xuống. Lý Thường Kiệt chủ động đánh trước để phá kế hoạch tiến công xâm lược của quân Tống theo chiến lược "Tiên phát chế nhân”: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của chúng". Trần Quốc Tuấn trong khắng chiến chống Nguyên lần thứ hai và thứ ba, đã chủ động điều quân Nguyên rút lui theo hướng mình đã chuẩn bị trận địa ở Vạn Kiếp (1285) hoặc ở Bạch Đằng (1288). Lê Lợi - Nguyễn Trãi: "Nhử người đến chứ không để người nhử đến...", phải "chế người chứ không để người chế mình", đã luôn luôn giành quyền chủ động trong chiến tranh giải phóng đầu thế kỷ XV. Nguyễn Huệ chủ động dụ quân Xiêm vào trận địa mai phục ở Rạch Gầm - Xoài Mút (1785) để tiêu diệt, v.v... Từ chủ động cả về chiến lược và chiến thuật, ông cha ta thực hiện đánh úp, đánh bất ngờ. Đánh bất ngờ là nét đặc sắc trong tư duy quân sự của dân tộc ta. Bất ngờ về phương hướng, mục tiêu tiến công, bất ngờ về cách đánh. Lê Lợi bất ngờ đánh vào Nghệ An (năm 1424) để xây dựng đất đứng chân, sau đó lại bất ngờ tiến ra Bắc bao vây các thành giặc (năm 1426). Bất ngờ về hướng mục tiêu như Phùng Hưng (791) đột nhiên đưa quân đánh vào phủ thành đô hộ ở Tống Bình; Lý Thường Kiệt bất ngờ tiến công sang Ung-Khâm- Liêm. Bất ngờ về cách đánh như Ngô Quyền, Lê Hoàn và Trần Quốc Tuấn bày trận địa phục binh đánh giặc trên sông Bạch Đằng; Nguyễn Huệ đánh quân Xiêm trên sông Tiền Giang. Bất ngờ về thời gian đánh địch như Nguyễn Huệ đánh quân Thanh vào đúng dịp Tết năm Kỷ Dậu (1789)... Người tiêu biểu nhất có lối đánh bất ngờ là Nguyễn Huệ. Trong nghệ thuật dụng binh của mình, Nguyễn Huệ luôn luôn táo bạo, đánh địch vào những thời điểm mà chúng không ngờ tới; quân đi như chớp giật: "Tướng như từ trên trời rơi xuống, quân như ở dưới đất chui lên" (Hoàng Lê nhất thống chí). Đến nỗi tướng giặc Tôn Sĩ Nghị bàng hoàng rút kiếm chém xuống đất than rằng: "Sao mà thần đến vậy!" Để đạt bất ngờ phải hành động mau chóng, phải biết cách nghi binh, lừa địch. Nguyễn Trãi nói: "Việc binh phải mau chóng như thần, máy then mở đóng, như bánh xe chuyển, như đám mây bay, trong khoảng chốc lát, chợt nóng chợt rét, thay đổi khôn lường" và "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ", tiến công khi quân địch không phòng bị (công kỳ vô bị)... Để có bất ngờ, phải hành động bí mật, đánh ban đêm, như thời Văn Lang chống Tần: "Người Việt ngày ẩn, đêm hiện" và thời Triệu Quang Phục chống quân Lương: "Ngày thì ẩn náu, đêm lại đem quân ra đánh úp”. Quang Trung - Nguyễn Huệ đánh khi quân Thanh đang mải vui chơi, tiệc tùng ăn Tết... Thứ tư, tư tưởng biết mình biết người, đánh địch linh hoạt. Ông cha ta chủ trương rằng, đánh thắng giặc bằng mưu, bằng trí tuệ của mình, "phải quyền biến như đánh cờ, tuỳ cơ ứng biến" (Trần Quốc Tuấn), hoặc như Ngô Thì Nhậm nói: "Tướng giỏi ngày xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tuỳ theo tình thế thay đổi mà bày chước lạ. Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước, đừng có đem nước sau làm trước, đó mới là tay cao cờ" (Hoàng Lê nhất thống chí). Mỗi hoàn cảnh đánh một khác, tuỳ theo tình hình cụ thể, không máy móc, rập khuôn. Phép dùng binh phải "tri bỉ tri kỷ, năng nhược năng cường" (biết địch biết ta, hay yếu hay mạnh). Ngô Quyền đánh quân Nam Hán ở ngay cửa sông Bạch Đằng khi chúng mới vào. Lý Thường Kiệt chặn địch trên sông Như Nguyệt, quyết không cho chúng xâm phạm kinh đô Thăng Long. Trần Quốc Tuấn cả ba lần kháng chiến đều rút khỏi Thăng Long để bảo toàn lực lượng, đợi thời cơ phản công. Lê Lợi - Nguyễn Trãi chủ yếu dùng mai phục, đánh kỳ binh. Nguyễn Huệ thường dùng cách bất thần đánh úp. Trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn đã dùng hai cách đánh khác nhau mà đều giành thắng lợi lớn: Ngô Quyền đánh quân Nam Hán khi chúng đang tiến công, Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên khi chúng rút chạy. Ngô Thì Nhậm thì lại "cho địch ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi chúng đi"... Tất cả đều rất linh hoạt và sắc sảo. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:38:51 pm b) Nghệ thuật xây dựng thế trận
Trước hết là phải xây dựng thế trận chung, thế trận chiến lược: thế trận khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc. Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nghệ thuật khởi nghĩa giành chính quyền đã bắt đầu hình thành với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống Đông Hán thời Hai Bà Trưng (năm 40) và cuộc khởi nghĩa chống Lương thời Lý Bí (năm 542-543) - những phong trào quật khởi của toàn dân giành thắng lợi oanh liệt nhất thời bấy giờ. Tính chất toàn dân đã biểu hiện khá rõ nét và thể hiện trên các mặt chủ yếu: tổ chức lực lượng, xây dựng địa bàn và phương thức tiến hành khởi nghĩa. Từ căn cứ Mê Linh, nghĩa quân Hai Bà Trưng được các Lạc tướng, các thủ lĩnh có uy tín và đông đảo dân chúng từ 65 huyện thành nhất tề nổi lên hưởng ứng. Tham gia cuộc khởi nghĩa toàn dân đó có cả các Lạc tướng và Lạc dân, có cả những thủ lĩnh người Việt và những người dân công xã từng bị bóc lột cực khổ trăm bể. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhờ được nhân dân tham gia đông đảo nên đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô cả nước. Chính nhờ mục đích chính trị đúng đắn "dấy quân nghĩa cốt để an dân", nên khi Lê Lợi "nêu gậy làm cờ" đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo "manh lệ” bốn phương. Nghĩa quân ngay từ đầu đã quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt và càng ngày càng được dân chúng đủ các tầng lớp, thành phần tham gia. Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã tạo được một thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, với nhiều hình thức đánh giặc phong phú. Nhiều cuộc kháng chiến giữ nước trong lịch sử đã mang đậm tính chất nhân dân, nổi bật nhất là các cuộc kháng chiến dưới triều Trần. Chính nhờ tạo được thế trận chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc, kết hợp các cách đánh và nhiều lực lượng cùng đánh nên quân và dân nhà Trần đã có được khả năng to lớn là tiến công địch ở khắp mọi nơi, mọi lúc, cả trước mặt và sau lưng; khiến quân thù đông mà tản, nhiều hoá ít, mạnh hoá yếu, từng bước bị tiêu hao, suy yếu, mệt mỏi và cuối cùng bị phản công - tiến công tiêu diệt. Kỵ binh Mông Cổ cũng như kỵ binh, bộ binh nhà Nguyên đều nổi tiếng là thiện chiến nhất đương thời; đặc biệt kỵ binh Mông - Nguyên đã từng chiến thắng ở khắp nơi, nhưng chúng lạ thay khi đến Đại Việt lại "không thể thi thố được tài năng" như ở những chiến trường khác. Bởi vì, ở đây chúng đã gặp phải một phương thức chống đối hoàn toàn khác lạ: đó là cuộc chiến tranh toàn dân dưới sự chỉ huy tài tình của một Bộ tham mưu thống nhất. Đó là cách đánh "dĩ đoản chế trường", biết hạn chế sở trường của giặc, phát huy sức mạnh của ta, từng bước chuyển hoá lực lượng; ta càng đánh càng mạnh, càng thắng; địch càng đánh càng yếu, càng thua. Như vậy, để phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của cả nước đánh bại quân xâm lược, ông cha ta đã biết vận dụng không gian đất nước, tạo nên thế trận mạnh mẽ của khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân. Thế cả nước đứng lên đánh giặc, đánh địch ở mọi nơi trên khắp đất nước là thế trận chiến lược. Ở đâu có giặc là ở đó có người đánh giặc, nơi không có giặc thì chi viện, phối hợp cùng đánh với tinh thần "Quốc gia hữu sự thất phu hữu trách" (quốc gia có giặc thì người dân thường cũng có trách nhiệm đánh giặc), "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Thế trận của ta là thế toàn dân bám làng xã, quê hương, bằng mọi hình thức đánh nhỏ, đánh lớn, đánh úp, mai phục; khiến quân thù phải phân tán, bị tiêu hao, muốn đánh lớn không đánh được, muốn cướp lương thảo cũng không cướp được, luôn bị động và tinh thần sa sút. Trong khi đó quân triều đình có điều kiện bảo toàn lực lượng, có thể tập trung để đánh lớn, đánh tiêu diệt, đánh những đòn quyết định khi có thời cơ. Đó là thế trận làng nước cùng đánh giặc; nước nhà gắng sức, "chúng chí thành thành”. Tất nhiên, trong lịch sử dân tộc ta có những triều đại không xây dựng được thế trận này, chỉ dựa vào tác chiến đơn độc của quân đội thì không thể giành chiến thắng được; cuộc kháng chiến thời Hồ chống Minh là một ví dụ. Trên cơ sở thế trận chung cả nước đánh giặc, ông cha ta luôn chú trọng tạo nên thế trận lợi hại khi thực hành tác chiến. Mỗi trận đánh là một cuộc đấu tranh gay go giữa ta và địch để xây dựng thế trận của mình, phá thế trận của đối phương. Bọn tướng lĩnh xâm lược theo binh pháp cổ truyền thường đưa quân vào nơi tử địa, tức là vào thế chết, khiến cho quân lính sợ chết mà liều đánh, để thắng; chẳng hạn, khi xuất quân thì đập nồi, qua sông thì đốt thuyền, v.v... Tướng lĩnh ta thì luôn tận dụng địa hình quen thuộc, hiểm trở của mình để đưa quân giặc vào "thế trong miệng cọp”. Có khi từng bước dồn quân thù vào cái thế "tất phải hàng", "bó tay chờ chết"; lúc đó lực lượng của ta thì "thế tựa chẻ tre". Thế trận của ta thường là thế trận mai phục chờ giặc, dụ quân địch lọt vào trận địa phục binh đã bày sẵn để tiêu diệt; chẳng hạn như Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn trên sông Bạch Đằng, Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm - Xoài Mút, Lê Lợi - Nguyễn Trãi ở Tốt Động - Chúc Động hay ở Chi Lăng - Xương Giang. Muốn vậy, phải sử dụng nhiều lực lượng, nhiều cách đánh, giành cho được địa hình, địa thế có lợi cho ta, bất lợi cho địch và luôn luôn chủ động trong tác chiến. Có như vậy, nhỏ mới có thể thắng được lớn, ít có thể thắng được nhiều; từng bước giành thắng lợi. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:39:48 pm c) Phối hợp chiến đấu giữa quân triều đình, quân địa phương và dân binh; kết hợp đánh nhỏ với đánh lớn, đánh phân tán, du kích với đánh tập trung
Trong khởi nghĩa cũng như trong chiến tranh, để phát huy sức mạnh cả nước đánh giặc, dân tộc ta đã biết tổ chức chiến đấu bằng sự phối hợp giữa quân triều đình, quân địa phương và dân binh; kết hợp cách đánh nhỏ, phân tán, đánh tại chỗ ở khắp mọi nơi, mọi lúc của lực lượng vũ trang địa phương với cách đánh lớn, đánh tập trung của quân đội triều đình. Khi địch mạnh thì quân đội rút lui, bảo toàn lực lượng, dùng lực lượng nhỏ đánh phân tán, đánh tiêu hao, kìm chân địch. Quan địa phương ở các phủ, bộ và dân binh, hương binh làng xã luôn đánh địch ở trước mặt và sau lưng, nhằm tiêu hao, làm mệt mỏi, phân tán lực lượng địch; ngăn trở, phá hoại tiếp tế của chúng, làm cho địch mất dần sức tiến công, tạo điều kiện thuận lợi cho đại quân tập trung lực lượng đánh những trận then chốt, những đòn tiêu diệt lớn. Cách đánh lớn của quân chính quy triều đình có tác dụng lớn xoay chuyển cục diện chiến trường, tạo điều kiện thúc đẩy các lực lượng đánh nhỏ hoạt động có hiệu quả, đánh địch ở khắp nơi. Cách đánh nhỏ, đánh du kích xuất hiện từ thời Hùng Vương, trong kháng chiến chống quân Tần xâm lược (thế kỷ III TrCN). Điều kiện so sánh lực lượng thời đó đã buộc tổ tiên ta phải tiến hành cuộc chiến tranh du kích phân tán trong nhiều năm để chống lại cuộc xâm lăng ồ ạt của hàng chục vạn quân Tần. Sách Hoài Nam tử của Lưu An viết: "Trong ba năm (quân Tần) không cởi giáp, dãn nỏ... Nhưng người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. Quân Tần thây phơi máu chảy mấy chục vạn người". Sách Tiền Hán thư cũng ghi: "Người Việt trốn vào núi sâu rừng rậm, không thề đánh được. Quân Tần lưu quân ở lại đóng giữ đất không, lâu ngày sĩ tốt mệt mỏi. Người Việt bèn ra đánh. Quân Tần đại bại". Đó là những biểu hiện đầu tiên về cách đánh du kích ở nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống Lương (thế kỷ VI), trước sức tiến công mãnh liệt của quân giặc do Trần Bá Tiên chỉ huy, Lý Bí đã đưa quân xây dựng trận địa kiên quyết chặn đánh, nhưng từng bước thất bại và sau trận đánh lớn ở hồ Điển Triệt, quân đội Vạn Xuân hầu như tan rã. Triệu Quang Phục đảm nhận quyền chỉ huy lực lượng còn lại, đã thay đổi cách đánh, rút về lập căn cứ ở vùng đầm Dạ Trạch, lấy đó làm đất đứng chân để tiến hành cuộc chiến tranh du kích lâu dài. Đánh nhỏ, đánh lén, đánh ban đêm tiêu hao địch, khiến cho quân Lương đã bị dồn vào tình trạng căng thẳng, người mệt. lương tuyệt, tạo thời cơ cho quân ta phản công. Trong cả hai lần kháng chiến chống Tống (thế kỷ X và XI), ta đã thực hiện phối hợp chiến đấu giữa các thứ quân (quân triều đình, quân các châu lộ và dân binh, thổ binh). Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1075-1077), sự phối hợp giữa các lực lượng nói trên càng biểu hiện rõ nét. Cuộc tập kích chiến lược "tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt đã thực hiện bằng hai mũi tiến công, trong đó mũi tiến công trên bộ chủ yếu theo đường biển do quân địa phương đảm nhiệm; còn hướng tiến công chủ yếu vào Khâm Châu và Liêm Châu được thực hiện do quân chủ lực của triều đình. Năm 1077, với các tuyến, các khu vực phòng thủ liên hoàn, vững chắc, vừa có chính diện rộng vừa có chiểu sâu lớn, Lý Thường Kiệt đã tạo được một thế trận phòng thủ chiến lược mạnh có thể chặn đánh, phá kế hoạch hội quân thuỷ bộ của địch, đồng thời lại tạo điều kiện để thực hiện tác chiến phối hợp giữa quân triều đình và thổ binh; vừa có thể đánh địch phía trước, vừa quấy rối và tiêu hao địch ở sau lưng chúng; vừa đập tan được các đợt tiến công quy mô lớn của địch, vừa có thể liên tục thực hành tiến công cục bộ, từng bước đẩy quân thù vào tình thế khó khăn rồi thực hành trận quyết chiến chiến lược. Kết hợp tác chiến giữa các loại quân và binh, kết hợp đánh nhỏ tiêu hao với đánh lớn, tạo thế và thời cơ phản công tiêu diệt giặc là phương pháp tác chiến đúng đắn, có hiệu quả trong kháng chiến chống Tống. Đánh nhỏ, phân tán của lực lượng địa phương và dân binh thời Trần làm cho quân Nguyên buộc phải phân tán lực lượng, không thi thố được tài năng và sở trường của chúng, tạo điều kiện và thời cơ tốt để quân chủ lực thực hành phản công chiến lược, đánh những đòn quyết định như Tây Kết - Hàm Tử, Chương Dương - Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng... Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là một cuộc khởi nghĩa toàn dân, do đó hình thức đánh địch hết sức phong phú, mang đậm đặc điểm của một cuộc chiến tranh nhân dân. Trong giai đoạn đầu, các cuộc chiến đấu chủ yếu còn phân tán, nhỏ lẻ, đánh chặn, đánh úp, tập kích bất ngờ nhằm làm suy yếu, tiêu hao địch và làm thất bại các cuộc hành quân bình định của giặc. Khi lực lượng nghĩa quân đã trưởng thành, đặc biệt là sau cuộc tiến công chiến lược ra Bắc (1426), nghĩa quân Lam Sơn liên tục đánh thắng và làm chủ chiến trường; sự kết hợp giữa đánh phân tán với đánh lớn, tập trung đã xuất hiện nhiều và có hiệu quả lớn. Bồ Đằng, Trà Lân, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang... là những trận quyết định "trúc chẻ tro bay", "sấm vang chớp giật" của nghĩa quân Lam Sơn. Sự kết hợp giữa đánh nhỏ và đánh lớn là một yêu cầu tất yếu. Mục tiêu của ta là tiêu diệt lớn quân địch, đập tan ý chí xâm lược của chúng, giành thắng lợi trong chiến tranh yêu nước. Không có đánh lớn của quân chủ lực thì không có thắng lợi quyết định. Nhưng không có đánh nhỏ, rộng khắp của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương thì không thể từng bước làm suy yếu được kẻ địch, cũng không tạo được thế và thời cơ để tiến lên đánh lớn, đánh tập trung. Cho nên trong lịch sử, ông cha ta đã không xem nhẹ cách đánh nào cả. Sự kết hợp giữa đánh nhỏ, phân tán với đánh lớn, tập trung của các thứ quân được thực hiện trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước, đồng thời tạo điều kiện để củng cố thế trận đó càng vững chắc hơn. Thời Lý, khi đại quân của Lý Thường Kiệt chặn địch ở sông Như Nguyệt (1076), hàng vạn dân binh, thổ binh và quân các châu, lộ phía bắc đã hoạt động rất tích cực (như quân của phò mã Thân Cảnh Phúc, của Tông Đản, Vi Thủ An...). Và khi quân Tống hoàn toàn mệt mỏi, thì Lý Thường Kiệt tung quân phản công lớn, đánh tan giặc ở bờ bắc sông Như Nguyệt, giành thắng lợi trong chiến tranh. Thời Trần, sự kết hợp hai hình thức trên có cả trên bộ và trên sông; đánh nhỏ, đánh tiêu hao khiến quân kỵ mã Mông-Nguyên không thi thố được tài năng, ngày một suy yếu, Thoát Hoan phải bàn việc lui binh, hoặc buộc chúng phải bỏ thuyền đi bộ để ta thực hiện đánh tiêu diệt lớn ở biên giới, hoặc tạo điều kiện cho ta dẫn dắt chúng vào thế trận mai phục đã bày sẵn để tiêu diệt như ở Vạn Kiếp (1285), Bạch Đằng (1288)... Trong khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước, ông cha ta có khi từ tác chiến du kích lâu dài chuyển sang tác chiến tập trung, thực hành phản công hoặc tiến công lớn (chống Tần, chống Lương, chống Minh...); có khi từ kết hợp tác chiến tập trung quy mô vừa với tác chiến du kích rồi nhanh chóng chuyển lên đánh tập trung quy mô lớn (chống Tống); có khi từ tác chiến tập trung quy mô vừa rồi chuyển lên đánh tập trung quy mô lớn; hoặc cũng có lúc tổ chức đánh lớn ngay từ đầu để nhanh chóng kết thúc chiến tranh (thời Ngô Quyền chống Nam Hán). Cũng là đánh du kích lâu dài trong giai đoạn đầu của chiến tranh, nhưng có trường hợp vì mục đích để kìm chân và làm suy yếu địch khi chúng vừa xâm nhập lãnh thổ, như trong kháng chiến chống Tần (thế kỷ III TrCN); có khi dựa vào căn cứ đầm lầy trong nội địa ta để đánh du kích, quấy rối và tiêu hao địch, như trong kháng chiến chống Lương (thế kỷ VI); có thể tiến hành đánh du kích để chống sự vây quét của địch, bảo vệ và mở rộng căn cứ ta ở vùng rừng núi như trong giai đoạn đầu khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV), v.v... Cũng là tác chiến du kích kết hợp với tác chiến tập trung, nhưng có trường hợp tác chiến du kích được tiến hành bởi các lực lượng dân binh, thổ binh ở sau lưng địch, trong vùng địch chiếm đóng, như trong kháng chiến chống Tống lần thứ 2 (1077); có trường hợp tác chiến du kích được tiến hành bởi các lực lượng địa phương và dân binh, hoặc kết hợp với một bộ phận quân chủ lực ở những nơi địch tràn tới như trong kháng chiến chống Nguyên (thế kỷ XIII), v.v... Trong lịch sử, cũng có khá nhiều cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ mang tính địa phương, do không mở rộng địa bàn và không có đủ lực lượng để tiến lên tác chiến lớn nên đã bị quân địch đàn áp. Ở một số cuộc chiến tranh giữ nước. do không "tri bỉ tri kỷ" (biết địch biết ta) nên ngay từ đầu đã đưa quân đội dàn trận, đối địch với quân thù, nên trước sức tiến công mãnh liệt của quân thù đã nhanh chóng bị tổn hao lực lượng, bị động và dẫn đến thất bại như ở Lãng Bạc trong cuộc kháng chiến chống Đông Hán thời Hai Bà Trưng (42- 44), kháng chiến chống Lương thời Lý Bí (thế kỷ VI) và trọng kháng chiến chống Minh thời Hồ (thế kỷ XI). Trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ nhất (1258) và thứ hai (1285), ngay từ đầu, nhà Trần đã tỏ rõ quyết tâm chặn đánh địch; nhưng do đã đánh giá đúng thế lực của địch, của ta trên chiến trường, nên đã kịp thời thay đổi quyết tâm chiến lược và hình thức tác chiến, tránh quyết chiến với địch khi chúng đang mạnh, chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng và bằng mọi cách thực hiện đánh tiêu hao làm cho quân Mông-Nguyên suy yếu, tạo ra thời cơ và thế có lợi để phản công, đánh lớn, đánh bại quân thù. Tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi; lúc cần thì rút lui chiến lược, chấp nhận cho địch vào sâu, thậm chí phải tạm thời để mất cả kinh thành Thăng Long để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công. Đó cũng là một đặc điểm nổi bật trong cách đánh của các vua Trần và Trần Quốc Tuấn. Thời Trần đã biết tránh cái thế mạnh của địch lúc ban mai, đánh cái thế yếu của địch vào lúc chiều tà, nên đã giành thắng lợi, mặc dù kẻ thù lúc đó rất hùng mạnh, hiếu chiến. Như vậy, khi một dân tộc nhỏ chống lại sự xâm lược của một nước lớn, khi quân ít mà phải chống lại một đạo quân lớn, thì không thể hạn chế ở một hình thức đánh giặc đơn thuần; trái lại phải luôn quyền biến, biết địch biết ta, biết kết hợp nhiều hình thức, vận dụng nhiều cách đánh giặc. Kết hợp các hình thức đánh trên là nghệ thuật tài giỏi của ông cha ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Năm, 2021, 05:40:45 pm d) Đánh vào lương thảo - hậu cần địch, kết hợp tiến công quân sự với binh vận và ngoại giao
Để đối phó với một kẻ địch đông, mạnh, có nhiều kinh nghiệm tác chiến ở chiến trường xa và luôn chủ trương đánh nhanh thắng chóng, vừa đánh vừa cướp bóc của cải và lương ăn, ông cha ta đã khôn khéo biết khoét sâu vào yếu điểm cơ bản của chúng là vấn đề lương thảo, hậu cần. Sử ký của Tư Mã Thiên viết về cuộc xâm lăng của quân Tần vào đất Việt như sau: "Nhà Tần sai uý Đồ Thư đem quân lâu thuyền xuống Nam đánh đất Bách Việt, sai Giám Lộc đào cừ chở lương để tiến sâu vào đất Việt. Người Việt bỏ trốn. Quân Tần đánh giữ lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh. Quân Tần đại bại. Lúc bấy giờ nhà Tần ở phía Bắc thì mắc họa người Hồ, phía Nam thì mắc họa người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được thoái cũng không xong". Điều này chứng tỏ, ngay từ buổi đầu giữ nước, người Việt đã biết hạn chế binh lương của địch, tìm cách cất giấu của cải, trốn vào rừng, không hợp tác với giặc, khiến quân Tần gặp nhiều khó khăn về lương ăn. Trong cuộc kháng chiến chống Lương (thế kỷ VI), Triệu Quang Phục giấu quân ở đầm Dạ Trạch, thực hành đánh du kích nhằm tiêu hao và phá việc cung cấp lương thảo của giặc. Khi quân nhà Lương bị dồn vào tình trạng căng thẳng, người mệt, lương tuyệt, nguy khốn đến tuyệt vọng, thì Triệu Quang Phục đã tập trung lực lượng, phản công giành thắng lợi. Trong ba lần kháng chiến chống Mông-Nguyên thế kỷ XIII, nhà Trần đều chủ trương bằng mọi cách hạn chế, triệt đường lương thảo của quân giặc, gây cho chúng nhiều khó khăn không thể khắc phục được. Bước vào cuộc kháng chiến, nhân dân khắp nơi đều nhận được lệnh của triều đình: "Khi giặc đến phải liều chết mà đánh, nếu không đủ sức đánh thì cho phép lẩn trốn, không được hợp tác với địch”. Những nơi giặc đến, nhân dân đều thực hiện kê "thanh dã" (vườn không nhà trống). Nhiều cuộc hành quân cướp phá của quân giặc đều bị nhân dân các làng xã chống lại, khiến chúng không đủ lương ăn. Lần thứ nhất (1258), kỵ binh Mông Cô chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng đó là một toà thành trống rỗng, không một bóng người. Vì thiếu ăn, chúng đánh vào làng Cổ Sở để cướp lương thực thì bị dân làng ở đây chặn đánh quyết liệt. Chỉ trong một thời gian rất ngắn chúng đã hết sức hoang mang vì không tìm ra lương ăn: nên khi bị tập kích ở Đông Bộ Đầu, chúng đã hốt hoảng tháo chạy. Lần thứ 2 (1285), quân Nguyên chiếm được Thăng Long và nhiều vùng đất Đại Việt, nhưng đến đâu chúng cũng bị nhân dân ta chống lại, cất giấu hết lương thực. Sau một thời gian quân giặc sa vào tình trạng bị tiêu hao, mệt mỏi, ốm yếu và đặc biệt là thiếu lương thảo... Đó là thời cơ tốt để quân chủ lực phản công. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến lần thứ 3, nhằm khoét sâu vào yếu điểm của địch là vấn đề lương ăn, tổ tiên ta đã tập trung lực lượng thuỷ binh bố trí chặn đánh các đoàn thuyền lương của quân Nguyên, trong đó đặc biệt quan trọng là đoàn thuyền vận lương của tướng giặc Trương Văn Hổ. Kết quả hơn 70 vạn thạch lương của quân Nguyên bị ta đánh chìm hoặc tịch thu. Đó là một đòn giáng chí mạng vào kế hoạch hành quân xâm lược của quân Nguyên, làm thất bại ngay từ đầu kế hoạch hậu cần của chúng, khiến cho Thoát Hoan khi hay tin đã bủn rủn chân tay, bàng hoàng lo sợ và vội tính kế lui quân. Đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi của quân dân nhà Trần. Triệt đường lương thảo là cả một vấn đề chiến lược lớn, có tác động quan trọng đến sự thắng bại trong khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm. Trong các cuộc chiến tranh, đi đối với việc dùng sức mạnh quân sự tiêu diệt địch trên chiến trường, ông cha ta đã biết phát huy sức mạnh chính trị to lớn của mình trong cuộc chiến đấu chính nghĩa, nhằm đánh vào chỗ yếu về chính trị - tinh thần của kẻ xâm lược, phi nghĩa. Đó là phương pháp địch vận, là chiến lược "công tâm" của tổ tiên ta. Ở thế kỷ XI, sau khi đánh tan bọn giặc Tống ở bờ bắc sông Như Nguyệt, việc tiêu diệt số quân còn lại của Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ là ngày một ngày hai, nhưng Lý Thường Kiệt đã chủ động cử biện sĩ sang trại giặc, thuyết phục Quách Quỳ rút hết quân đội. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Quách Quỳ chấp thuận ngay; Tống Thần Tông ra; lệnh bãi binh. Sau đó nhà Lý tiếp tục đấu tranh ngoai giạo đòi lại châu Quảng Nguyên đang bị quân Tống chịếm đóng. Thời Trần, ta kiên trì đấu tranh ngoại giao, cử nhiều sứ giả sang Nguyên dùng lời lẽ nhún nhường để trì hoãn chiến tranh. Khi quân giặc sang xâm lược, vua Trần cũng cử biện sĩ sang trại tướng giặc vừa đấu tranh vừa thăm dò chúng. Quân Nguyên đã gây tội ác chồng chất, nhưng khi chúng thất bại hoàn toàn, ta vẫn cấp ngựa, cấp thuyền cho chúng về nước. Các sứ thần nhà Trần; rất kiên quyết và mềm dẻo trong đấu tranh, góp phần khiến vua Nguyên phải ngừng hẳn cuộc chiến. Thế kỷ XV, nghĩa quân Lam Sơn trong giai đoạn đầu đã phải thực hiện "giảng hoà" với giặc. Đó là vào khoảng giữa năm 1425, lúc đó quân ta gặp nhiều khó khăn; nhưng quân Minh cũng bị tổn thất và mệt mỏi. Việc "tạm hoà" hay "trá hàng" của Lê Lợi trong hoàn cảnh ấy là một sách lược nhằm "bên ngoài giả thác hoà thân" để bên trong "lo rèn chiến cụ" và "quyên tiền mộ lính"... nghĩa quân đã tranh thủ khai hoang, sản xuất lương thực, chiêu mộ nghĩa binh, sắm sửa khí giới. Ở giai đoạn này, trong quan hệ với bọn quan lại, tướng lĩnh nhà Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi giữ một thái độ nhún nhường. Lê Lợi rất khôn khéo, mềm dẻo, nhưng cương quyết và cảnh giác trước những âm mưu mua chuộc của quân thù. Cuộc đấu tranh "ngoại giao” giai đoạn này tuy phức tạp nhưng có kết quả là kéo dài thời gian hoà hoãn, tránh được mọi mưu mô, quỷ kế của giặc. Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã để ra và vận dụng thành công chiến lược "công tâm" (đánh vào lòng người). Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi đảm nhiệm cuộc đấu tranh phức tạp này, ông chủ trương: "Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất" (ta mưu đánh vào lòng người, không chiến đấu mà khuất phục được). Đặc biệt là sau thất bại Tốt Động - Chúc Động, quân địch càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Vương Thông vừa bí mật xin viện binh vừa xin "giảng hoà" với ta để làm kế hoãn binh. Từ đây, bên cạnh đòn tiến công quân sự là một cuộc đấu tranh rất kiên trì và khéo léo về ngoại giao, nhằm tiến công vào ý chí xâm lược của giặc, tiến tới chấm dứt chiến tranh bằng cách mở ra cho quân đội và triều đình nhà Minh một lối thoát "trong danh dự”. Nguyễn Trãi đã lên án bản chất phi nghĩa, tàn bạo và thái độ ngoan cố của lũ giặc, ông chỉ ra nguy cơ tất yếu bại vong của chúng; đồng thời nêu cao cuộc chiến đấu chính nghĩa và tất thắng của ta. Những bức thư dụ hàng tướng giặc của Nguyễn Trãi nhằm thực hiện chiến lược "công tâm", như Lê Quý Đôn nói: "có sức mạnh bằng mười vạn quân", đã góp phần làm tan rã tinh thần chiến đấu của giặc. Trong tình thế bị bao vây nguy khốn và trước những lời lẽ có lý có tình của Nguyễn Trãi, quân Minh trong nhiều thành như Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hoá, Điêu Diêu, Thị Cầu, Tam Giang... nối tiếp nhau hạ vũ khí ra hàng. Thái Phúc, viên tướng có công lớn trong trận Đa Bang (1407) cũng đã thấy rõ tính chất phi nghĩa và sự thất bại tất yếu của cuộc chiến tranh xâm lược, tự nguyện nộp thành Nghệ An và bản thân đã xin Lê Lợi - Nguyễn Trãi cho phép cưỡi ngựa đến tận các chân thành để chiêu dụ quân Minh ra hàng nghĩa quân. Công tác vận động thuyết phục kẻ thù được nghĩa quân coi là một nhiệm vụ chiến lược, một phương thức tiến công chiến lược đã đưa lại hiệu quả rực rỡ. Lê Lợi và Nguyễn Trãi dụ tướng giặc Vương Thông cùng khoảng 10 vạn quân đầu hàng khi ta đã tiêu diệt được 10 vạn viện binh của Liễu Thăng. Thực chất Hội thề Đông Quan (12-1427) là một cam kết đầu hàng của quân giặc. Tất nhiên sau đó ta đã cấp ngựa, cấp thuyền cho quân Minh về nước an toàn. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm phụ trách đấu tranh ngoại giao với nhà Thanh, khiến cho các tướng giặc cả Phúc Khang An và Tôn Sĩ Nghị đều đề nghị vua Càn Long bãi binh. Vua Thanh buộc phải công nhận phong vương cho Nguyễn Huệ. Bản thân Nguyễn Huệ hiểu rằng: "Nước mình là nước nhỏ, tranh chọi với nước Ngô to lớn hơn mấy mươi lần...", ’’nước Thanh lớn hơn nước ta mười lần..., nếu thắng chúng trận này nhất định chúng sẽ ôm hận trả thù..."; vì thế cần phải có ngoại giao khéo léo và việc đó Ngô Thì Nhậm đã thực hiện thành công. Như thế, trong các cuộc chiến tranh lớn ta đều có kết hợp giữa quân sự, binh vận và ngoại giao. Ta đấu tranh để kéo dài thời gian hoà bình, đấu tranh ngay khi chúng hăm dọa, chuẩn bị đánh ta, để ngăn ngừa chiến tranh hoặc để có thời gian chuẩn bị lực lượng; đặc biệt, ta xúc tiến đấu tranh ngoại giao kết hợp với đấu tranh quân sự khi chúng đã bị thất bại nặng nề, bị dồn vào thế "sợ chết xin hoà" mong được sống và về nước trong danh dự. Ông cha ta không e dè quân địch lớn mà không tiến công quân sự cho đến cùng. Nhưng khi trên mặt trận quân sự đã giành được những thắng lợi quyết định, quân thù đã suy yếu, thế chiến lược không thể đảo ngược được, thì ta dùng ngoại giao để tiến công địch, vừa tiết kiệm sức lực, xương máu, vừa khôi phục hoà hiếu lâu dài giữa hai nước; tạo điều kiện ngăn ngừa chiến tranh tiếp diễn. Tư tưởng kết thúc chiến tranh mang đậm tinh thần đại nghĩa và nhân văn đó được Nguyễn Trãi đúc kết và lý giải sâu sắc trong bài Phú núi Chí Linh: "Nghĩ vì kế lâu dài của nước nhà, Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh, Sửa, hoà hiếu cho hai nước, Tắt muôn đời chiến tranh". Đánh vào việc cung cấp lương thảo, hậu cần của địch, kết hợp giữa tiến công quân sự với binh vận và ngoại giao là những vấn đề chiến lược quan trọng đã thể hiện rõ nét trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của ông cha ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:11:28 am 2. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật
Trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, nhiều hình thức chiến thuật đã xuất hiện. Căn cứ vào nhiệm vụ của chiến lược, tuỳ theo tương quan lực lượng và điều kiện từng nơi, từng lúc, ông cha ta đã vận dụng các cách đánh một cách linh hoạt, tài giỏi. Về mặt tư tưởng, ông cha ta luôn luôn lấy tiến công làm chủ đạo, luôn tìm cách giành thế chủ động với phương châm: tích cực, chủ động, linh hoạt, đánh nhanh và bất ngờ, phát huy chỗ mạnh của ta, đánh vào chỗ yếu, sơ hơ của địch. Những hình thức chiến thuật mà ông cha ta thường vận dụng rất phong phú, sáng tạo, đa dạng, như tập kích phục kích, vây thành, diệt viện, công thành, thuỷ chiến, tiến công, phòng ngự, v.v... Dưới đây là một số hình thức chiến thuật phổ biến: a) Tập kích, phục kích Tập kích, phục kích là chiến thuật sở trường của các lực lượng vũ trang ta, luôn được sử dụng có hiệu quả trong quá trình khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm. Điều kiện địa hình - địa lý, thời tiết - khí hậu của nước ta cho phép ta vận dụng cách đánh phục kích, tập kích. Nguyễn Trãi nói: "Yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều thường dùng mai phục", sử thần thời Lê, Ngô Sĩ Liên khái quát nghệ thuật dùng binh của Lê Lợi như sau: "Trước sau mấy chục trận, đều đặt phục binh, dùng quân kỳ, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh". Văn bia Vĩnh Lăng cũng chép rằng: "Năm Mậu Tuất (1418) bắt đầu nhóm họp nghĩa quân, trước sau 20 trận, đều đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh lúc giặc hăng, nhằm lúc giặc mỏi, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục và Đại Việt thông sử cho biết, trong 10 năm chiến đấu, nghĩa quân Lam Sơn đánh hơn 20 trận phục kích, 10 trận tập kích, 1 trận công thành, v.v... Như vậy, cách đánh úp, đánh mai phục, tập kích, phục kích là cách đánh chủ yếu của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV. Cách đánh này cũng được vận dụng trong tất cả các cuộc kháng chiến của dân tộc với nhiều quy mô khác nhau: đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn. Tiêu biểu nhất là các trận Bạch Đằng (938), Đông Bộ Đầu (1258), Bạch Đằng (1288), Tốt Động - Chúc Động (1426), Chi Lăng - Xương Giang (1427), Rạch Gầm - Xoài Mút (1785), v.v... Trong trận Bạch Đằng chống Nam Hán do Ngô Quyền chỉ huy và trận Bạch Đằng đánh quân Nguyên do Trần Quốc Tuấn chỉ huy, quân ta đã lợi dụng thế thiên hiểm ở sông Bạch Đằng, đóng cọc gỗ, bố trí trận địa mai phục, lợi dụng con nước thuỷ triều và khéo léo dẫn quân địch vào trận địa rồi bất ngờ tung quân tiến công tiêu diệt. Năm 1258, quân nhà Trần đang đêm tập kích vào trại kỵ binh Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu, khiến quân giặc không kịp trở tay, chịu thất bại và tháo chạy. Ở Chi Lăng - Xương Giang (1427), nghĩa quân Lam Sơn đặt quân mai phục ở núi Mã Yên (Chi Lăng), bằng cách nhử địch, quân ta đã dẫn dắt tiền quân của Liễu Thăng vào trận địa phục binh rồi bất ngờ tiến công, chém đầu tướng giặc và tiêu diệt gọn đội kỵ binh tiên phong của chúng. Cách đánh trên cũng được Nguyễn Huệ vận dụng rất thành công trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Bấy giờ tuy quân Xiêm còn rất đông và mạnh, nhưng trước mưu kế của Nguyễn Huệ, chúng đã lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn trên sông Tiền Giang. Rốt cuộc, toàn bộ đạo thuỷ quân khoảng 4 vạn của các tướng giặc Chiêu Tăng và Chiêu Sương bị đánh tan tành... b) Công thành Trong chiến tranh, ông cha ta thường không chủ trương đánh thành, cho rằng: "Đánh thành là hạ sách" và chủ yếu là vây thành diệt viện. Tuy vậy, khi cần thiết, để hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng do yêu cầu của chiến lược đề ra và khi có điều kiện, ông cha ta cũng tiến hành một số trận công thành. Vây thành diệt viện biểu hiện phổ biến trong kháng chiến chống Minh. Từ cuối năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã hùng mạnh, thế và lực trên chiến trường cho phép quân tạ có thể công phá các thành, nhưng Lê Lợi và Nguyễn Trậi vẫn kiên trì chủ trương vây thành diệt viện. Và thực tế, sau khi đánh tan 15 vạn viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh, tất cả quân giặc còn lại trong các thành đểu phải ra hàng nghĩa quân. Trận hạ thành Ung Châu (1075) và trận hạ thành Xương Giang (1427) là hai trận tiêu biểu, thể hiện trình độ cao của nghệ thuật công thành trong lịch sử. Trận đánh thành Ung Châu là trận đánh lớn và ác liệt nhất trong cuộc tiến công sang Ung, Khâm, Liêm của Lý Thường Kiệt. Có hạ được thành Ung Châu thì mới thực hiện được mục tiêu chiến lược của cuộc tiến công. Thành Ung Châu được xây dựng kiên cố, có tường cao, hào sâu, trong thành có từ 5-6 vạn quân với rất nhiều kho lương thảo và vũ khí, dự trữ chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Sau khi đã bố trí lực lượng chặn viện binh của địch từ phía bắc xuống tại Côn Lôn và bao vây thành, Lý Thường Kiệt ra lệnh công phá. Qua 42 ngày đêm vây hãm và tiến công quyết liệt, hết dùng vân thê (thang mây) xếp nối nhau trèo lên mặt thành, lại dùng tên độc, máy bắn đá bắn vào thành; hết đào đường hầm để chui dưới chân thành lại dùng cả phép hoả công đốt phá; cuối cùng đem hàng vạn bao đất chồng lên nhau thành bậc cao sát tường và ngày 1 tháng 3 năm 1075, quân ta đã tràn vào, đánh chiếm được toà thành kiên cố này. Trong trận này, Lý Thường Kiệt đã dùng cả quân triều đình và quân địa phương, cả bộ binh, kỵ binh và thuỷ binh cùng phối hợp bao vây công phá. Trận công thành nổi tiếng đầu thế kỷ XV là trận hạ thành Xương Giang (9-1427). Thành Xương Giang là một căn cứ quân sự quan trọng của quân Minh nằm trên trục đường từ ải Pha Luỹ (Mục Nam quan) đến Đông Quan. Nhiệm vụ chiến lược vây thành diệt viện của nghĩa quân đòi hỏi phải hạ bằng được thành này. Bấy giờ quân ta đã vây chặt bốn mặt thành, đắp đất thành những cao điểm để đặt pháo bắn vào thành, đào đường ngầm để đột nhập vào trong và dùng cả thang trèo lên, rồi ào ạt tiến công... Trận hạ thành Xương Giang chứng tỏ sự trưởng thành lớn mạnh của nghĩa quân và đó cũng là một điển hình của nghệ thuật công thành trong lịch sử quân sự dân tộc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:12:16 am c) Chiến đấu trên sông biển (thuỷ chiến)
Chiến đấu trên sông biển từ sớm đã trở thành cách đánh, chiến thuật truyền thống của nghệ thuật quân sự Việt Nam xưa kia. Dân tộc ta có truyền thống thạo nghề sông nước, lại giỏi thuỷ chiến. Trong truyền thống thuỷ chiến có nhiều trận tiêu biểu như: Các trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng thòi Ngô Quyền (938), Lê Hoàn (981) và Trần Quốc Tuấn (1288); trận thủy chiến Đông Kênh do Lý Kế Nguyên chỉ huy (1075); trận Vân Đồn, Trần Khánh Dư tiêu diệt đoàn thuyền lương của địch (1288); trận Rạch Gầm - Xoài Mút đánh tan quân Xiêm (1786), v.v... Trong thuỷ chiến ông cha ta đã giải quyết thành công nhiều vấn đề lớn về nghệ thuật quân sự như chọn địa bàn tác chiến có lợi thế, lợi dụng quy luật thuỷ triều, phát huy các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà để giành thắng lợi; cơ đông và thực hành cách đánh nhanh, mạnh, tiêu diệt gọn quân địch; hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân, giữa bộ binh, thuỷ binh trong quá trình chiến đấu. d) Chiến đấu phòng ngự Trong các cuộc chiến tranh, hình thức phản công - tiến công luôn luôn giữ địa vị chủ yếu; tuy vậy tác chiến phòng ngự vẫn được vận dụng thành công. Mục đích của phòng ngự là làm chậm bước tiến của địch, giam chân và tiêu hao lực lượng chúng, tạo điều kiện cho ta tiến hành phản công và tiến công. Trong thực tế lịch sử đã xuất hiện phòng ngự trên quy mô chiến lược và chiến thuật. Phòng ngự trên chiến tuyến Như Nguyệt (1077) của Lý Thường Kiệt là trận phòng ngự thành công và có quy mô lớn. Tại đây, quân và dân ta đã xây dựng tuyến phòng thủ chạy dọc bờ nam sông Như Nguyệt, dài gần một trăm ki-lô-mét từ chân núi Tam Đảo đến Vạn Xuân, trọng điểm là từ khúc sông bên đò Như Nguyệt (Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh) tới bến đò Thị Cầu (Đáp Cầu, Tiên Sơn, Bắc Ninh) dài khoảng 30-40 km. Lợi dụng địa thế sông nước. Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng ở bờ nam sông một chiến luỹ kiên cố. Trên bờ có tường cao mấy thước, phía trước ngạy sát sông đóng ken dày mấy lớp dậu tre, dưới sông có các thuyền chiến đi lại cảnh giới, trên thành có các đồn binh bố trí đóng trại liên tục để canh phòng. Phía sau chiến luỹ là các lực lượng quân chủ lực của Lý Thường Kiệt và các tướng bố trí ở những nơi xung yếu, luôn sẵn sàng chặn đánh quân địch và chuẩn bị phản công. Chiến đấu phòng ngự ở Như Nguyệt đã chặn đứng các cuộc tiến công của quân Tống, buộc chúng phải chuyển sang phòng ngự bị động, tạo điều kiện thuận lợi để quân ta phản công, tiến công đánh bại quân địch. Trong lịch sử, ở nhiều triều đại ông cha ta cũng đã xây thành đắp luỹ nhằm mục đích phòng ngự, chặn giặc. Đó là thời kỳ An Dương Vương xây thành Cổ Loa với nhiều vòng xoáy trôn ốc, kết hợp với hệ thống sông, hào, bảo vệ kinh đô Âu Lạc; thời Lý Bí đắp thành Tô Lịch chống quân Lương; thời Lê Hoàn xây thành Bình Lỗ chặn quân Tống; thời Hồ Quý Ly xây Tây Đô và thành Đa Bang chống quân Minh, v.v... Tuy nhiên chỉ đơn thuần phòng ngự, coi thường giặc, không dựa trên cơ sở toàn dân đánh giặc thì dẫu có thành cao, hào sâu và vũ khí tốt cũng sẽ bị thất bại. Cách đánh phòng ngự đơn thuần dựa vào thành luỹ và quân đội thất bại thể hiện ở các trận sông Tô Lịch (thế kỷ VI) thời Lý Bí và trận Đa Bang (1407) thời Hồ Quý Ly. Nghiên cứu về chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử chống giặc ngoại xâm từ thế kỷ III TrCN đến thế kỷ XVIII, chúng ta thấy mặc dù luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược ở phương Bắc lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần, nhưng trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh đó, dân tộc ta không những đã dám đánh mà còn biết đánh và biết đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Chủ trương lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là phổ biến và trở thành một quy luật của chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử nước ta. Qua thực tiễn lịch sử nói trên, có thể phân các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh thành hai loại, đó là: các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng; và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nghệ thuật quân sự trong giai đoạn này, vì thế, bao gồm cả nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, nghệ thuật quân sự của chiến tranh giải phóng và nghệ thuật quân sự của chiến tranh giữ nước. Sự hình thành và phát triển liên tục, kế tiếp nhau và đan xen nhau của các loại hình đó, đặc biệt là sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật quân sự chiến tranh giữ nước trong kỷ nguyên độc lập tự chủ (từ thế kỷ X- XV), đã đưa đến sự hình thành và phát triển mạnh mẽ trường phái quân sự, trường phái binh pháp Đại Việt thời trung đại với những nội dung tiến bộ và tính ưu việt của nó. Trong khi trên thế giới, nhất là ở châu Âu, nghệ thuật quân sự thời trung đại không phát triển thì bước phát triển nói trên của nghệ thuật quân sự Việt Nam là một đặc điểm nổi bật, đáng tự hào. Do tính chất chính nghĩa của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, do sự cố kết dân tộc bền chặt và truyền thống yêu nước của nhân dân ta, do đường lối đánh giặc biết dựa vào dân trong các triều đại, chiến tranh cũng như nghệ thuật quân sự của ông cha ta sớm mang tính nhân dân - toàn dân đánh giặc. Vào những thời kỳ khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, việc toàn đân tham gia đánh giặc chủ yếu là do tự nguyện, tự phát. Đến những thời kỳ có chiến tranh giữ nước, để phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, các vương triều phong kiến phải lo tổ chức, chuẩn bị sẵn trong quá trình xây dựng quốc phòng, quân sự và được nhà nước phát động khi bước vào chiến tranh và suốt trong quá trình tiến hành chiến tranh. Tính chất nhân dân, toàn dân đánh giặc là một đặc trưng, một điểm đặc sắc trong khởi nghĩa, chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Mỗi cuộc khởi nghĩa, chiến tranh trong mỗi giai đoạn lịch sử đều mang những đặc điểm riêng biệt, nhưng tất cả đều chứng tỏ rằng, dân tộc ta đã chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng tinh thần, bằng ý chí mà bằng cả trí tuệ Việt Nam. Tài dùng binh, mưu cao mẹo giỏi biết địch biết ta biểu hiện phong phú trong quá trình lãnh đạo các cuộc chiến tranh. Một nền nghệ thuật quân sự tiêu biểu của dân tộc ta đã ra đời và phát triển theo yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Truyền thống và những kinh nghiệm quý báu về khởi nghĩa, chiến tranh và nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong lịch sử đã được dân tộc ta kế thừa, vận dụng, phát triển và đã lập nên những chiến công lớn trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Những truyền thống và kinh nghiệm đó ngày nay vẫn được Đảng ta, quân và dân ta tiếp tục vận dụng và phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:13:44 am NGHỆ THUẬT KHỞI NGHĨA VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG (1930-1945) Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, gánh vác nhiệm vụ lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam chổng phong kiến, thực dân đế quốc, giành lại độc lập cho đến tộc, tự do cơm áo cho nhân dân. Việc Đảng ta đảm đương sứ mệnh trọng đại nói trên phù hợp với xu thế thời đại mới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã sớm xác định Cương lĩnh và đường lối tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ, đề ra các hình thức đấu tranh thích hợp, nhằm tập hợp quần chúng nhân dân chiến đấu chống quân thù. Các hình thức đấu tranh (gồm đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang) đề ra, được thực hiện từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang, kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, sử dụng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng để từng bước và lần lượt đánh bại tất cả những kẻ thù xâm lược lớn mạnh, giành lại độc lập, thống nhất, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua thực tế, nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng trong giai đoạn 1930-1945 của Đảng từng bước được phát triển, bổ sung hoàn chỉnh. Điều này được đánh dấu bằng thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 trên phạm vi cả nước, đưa đến việc thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. I- THỜI KỲ TẬP DƯỢT ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG (1930-1935) 1. Cơ sở lý luận Ngay sau khi ra đời, trong "Chính cương vắn tắt", Đảng ta đã xác định rõ tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc cách mạng, về tính chất, mục tiêu, cách mạng Việt Nam là "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Nhiệm vụ của cách mạng là "phải đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, lấy ruộng đất của đế quốc, phong kiến chia cho nông dân nghèo. "Luận cương chính trị" của Đảng (10-1930) đã nêu rõ và cụ thể hơn tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta. Theo đó, cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương bao gồm cả cách mạng dân chủ và cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là cách mạng thổ địa đánh đổ phong kiến, làm cho người cày có ruộng và cách mạng phản đế, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Luận cương cũng xác định rõ mối quan hệ hữu cơ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến: "Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi, mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa"1 (Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Văn kiện Đảng 1930-1945. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, H.1977, tập 1, tr 63, 68). Bên cạnh việc xác định tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, các lực lượng chính tham gia là công nhân, nông dân và một tổ chức lãnh đạo là Đảng Cộng sản Đông Dương, Luận cương đã chỉ rõ con đường để thực hiện thắng lợi mục tiêu cuôc cách mạng là con đường cách mạng bạo lực, nêu lên những vấn đề về hình thức và phương pháp cách mạng. Theo Luận cương, khi chưa có tình thế cách mạng, chỉ nên nêu khẩu hiệu đấu tranh như đòi tăng lương, giảm giờ làm giảm sưu thuế, cần thông qua cuộc đấu tranh hàng ngày để giáo dục cho quần chúng nhân dân ý thức đấu tranh đánh đổ đế quốc, phong kiến, địa chủ đề giành độc lập, tự do và ruộng đất. Đến khi xuất hiện tình thế cách mạng, cần phải chuyển sang các khẩu hiệu, hình thức đấu tranh cao hơn như lập các Xô viết, vũ trang công nông, tổng bãi công, bạo động tiến lên khởi nghĩa vũ trang. Cụ thể, Luận cương chỉ rõ: "Nhiệm vụ của Đảng là phải lấy những nhu yếu hàng ngày làm bước đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mệnh. Đến lúc sức cách mệnh lên rất mạnh, giai cấp thống trị đã rung động, các giai cấp đứng giữa đã muốn bổ về phe cách mệnh, quần chúng công nông thì sôi nổi cách mệnh, quyết hy sinh phấn đấu, thì Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh chính phủ của địch nhân và giành lấy chính quyền công nông... Trong lúc không có tình thế trực tiếp cách mệnh cũng cứ kịch liệt tranh đấu: nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để suý động quảng đại quần chúng ra thị oai, biểu tình, bãi công, v.v... để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này". Tuy nhận thức và chỉ ra phương pháp cách mạng cơ bản để khởi nghĩa giành chính quyền là cách mạng bạo lực, song Đảng không coi cách mạng bạo lực chỉ là xây dựng lực lượng quân sự, tiến hành đấu tranh vũ trang, mà phải dựa vào cả lực lượng chính trị của quần chúng, coi đây là lực lượng chủ yếu trong đấu tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang. Luận cương nhấn mạnh việc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền "không phải là một việc thường” mà là một nghệ thuật "phải theo khuôn phép nhà binh”. Để chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa, khi xuất hiện tình thế cách mạng, Đảng cần phải tăng cường công tác vận động quần chúng nhân dân, vận động binh lính địch, tổ chức các đội tự vệ công nông... xây dựng lực lượng vũ trang. Đảng bác bỏ quan điểm cho rằng tiến hành chiến tranh du kích là hình thức đấu tranh cách mạng duy nhất để khởi nghĩa giành chính quyền ở Đông Dương. Đánh giá về đường lối, quan điểm khởi nghĩa vũ trang của Đảng buổi ban đầu, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cho rằng: "Khi khẳng định con đường cách mạng bạo lực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta không quan niệm cách mạng bạo lực chỉ là xây dựng lực lượng quân sự, tiến hành đấu tranh vũ trang. Để tiến tới khởi nghĩa vũ trang, ngay từ đầu Đảng rất coi trọng giáo dục, tổ chức, động viên đưa quần chúng ra đấu tranh chính trị, xây dựng "đội quân chính trị quần chúng” của cách mạng, dựa vào phong trào cách mạng quần chúng, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang. Do đi đúng con đường cách mạng bạo lực ấy mà Đảng ta, ra đời chưa được bao lâu, đã phát động được một phong trào cách mạng sôi nổi của công nông khắp cả nước những năm 1980-1945 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh”1 (Lê Duẩn - Đảng Lao động Việt Nam, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong cuốn "Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Nxb Sự thật, H. 1976, tập 2, tr 648). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:15:09 am 2. Những cuộc đấu tranh tiêu biểu
Thực tế đã chứng tỏ những quan điểm, chủ trương về đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, mà Đảng đề ra ngay sau khi thành lập, đã phản ánh đúng thực trạng tình hình đất nước vào đầu năm 1930. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (9-2-1930) đã cho thấy chủ trương, đường lối bạo động, nặng về khủng bố cá nhân và dựa chủ yếu vào tầng lớp tiểu chủ, công chức, giáo học, phú nông... của Việt Nam Quốc dân đảng là không phù hợp với xu thế thời đại, không phù hợp với quy luật phát triển khách quan, không phản ánh được nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Vai trò trên vũ đài chính trị của giai cấp tư sản ở Việt Nam còn nhỏ bé, mà đại diện là Việt Nam Quốc dân đảng, đến đây kết thúc. Họ không còn đủ sức giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đề cập đến những cuộc đấu tranh theo đường lối của Đảng Cộng sản trước tiên phải kể đến cuộc bãi công quy mô lớn của công nhân đồn điền Phú Riềng. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng, ngày 30-1- 1930, 5.000 công nhân đã tổ chức bãi công đòi cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt. Đội tự vệ công nhân đã anh dũng đương đầu và tước được một số vũ khí của binh lính đồn Phú Riềng được bọn chủ huy động đến đàn áp. Công nhân nhanh chóng làm chủ đồn điển. Tuy nhiên, lãnh đạo chi bộ Đảng cho rằng nếu nổi dậy giành chính quyền một cách đơn lẻ như vậy sẽ bị địch tập trung lực lượng nhanh chóng đàn áp. Vì thế, cuộc đấu tranh đã chuyển sang hình thức hợp pháp khiến kẻ thù phải nhượng bộ, hứa sẽ giải quyết một số yêu sách của công nhân, mặc dù đích thân Thống đốc Nam Kỳ, chánh mật thám Đông Dương đã cùng gần 1.000 binh lính kéo về Phú Riềng chuẩn bị đàn áp. Như vậy, đây là cuộc bãi công lớn đầu tiên do Đảng lãnh đạo, đã giành được thắng lợi do biết chuyển đúng lúc hình thức đấu tranh, đưa đấu tranh chính trị, đòi các quyền dân sinh, dân chủ bước đầu lên trước đấu tranh vũ trang, bạo động, nên kẻ thù không có cớ để khủng bố, đàn áp. Tiếp sau cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng là cuộc bãi công lớn của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định do tỉnh uỷ Nam Định và Đảng bộ nhà máy tổ chức. Cuộc bãi công này kéo dài 3 tuần lễ, từ 25-3 đến 16-4-1930, với các yêu sách: đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố, đuổi những đốc công và giám thị độc ác. Cuộc bãi công đã nhận được sự ủng hộ, quyên góp cả về vật chất và tinh thần của công nhân, nông dân trong tỉnh và cả một số nhà máy ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương... Đây là cuộc bãi công có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn thể công nhân nước ta lúc đó. Ngay sau đó ngày 19-4, lại nổ ra cuộc bãi công của 400 công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ, thành phố Vinh, đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc. Công nhân các nhà máy thuộc khu công nghiệp Bến Thuỷ cũng đồng loạt tổ chức các đợt đưa yêu sách cho giới chủ vào ngày 25-4. Điểm qua một số cuộc đấu tranh - bãi công trên đây, ta thấy một cao trào cách mạng mới đã bắt đầu với sự tham gia đông đảo của giai cấp công nhân trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Bên cạnh các cuộc đấu tranh của công nhân, còn có các cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng diễn ra sôi nổi trong thời gian này. Trên cơ sở kết quả các cuộc đấu tranh, Đảng chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn trên phạm vi cả nước nhân ngày Quốc tế lao động 1-5. Hưởng ứng chủ trương của Đảng, trong ngày 1-5 đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân trên khắp mọi miền đất nước. Ở miền Nam có bãi công của công nhân nhà máy điện Chợ Quán, nhà máy xe lửa Dĩ An (Sài Gòn). Hàng vạn nông dân Gia Định, Chợ Lớn, hàng nghìn nông dân ở Cao Lãnh (Sa Đéc), Chợ Mới (Long Xuyên) biểu tình đòi hoãn giảm sưu thuế, khiến chính quyền thực dân - phong kiến phải nhượng bộ. Tại miền Bắc, nông dân các huyện Duyên Hà, Tiên Hưng (Thái Bình) đưa yêu sách đòi bỏ sưu, bớt thuế, trợ cấp gạo cho các gia đình đói kém, bồi thường thiệt hại cho các làng xã bị quân lính phá phách, cướp bóc, đòi tự do đi lại, hội họp... Những yêu sách trên không được giải quyết, trái lại, thực dân Pháp còn nổ súng đàn áp, bắt giam hàng trăm người. Tại miền Trung, ngoài các cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương (Nghệ An), cuộc biểu tình của học sinh trường tiểu học Pháp-Việt ở Chợ Rộ, đặc biệt đáng chú ý là cuộc biểu tình lớn của công nhân khu công nghiệp Bến Thuỷ và nông dân 5 xã ngoại thành thành phố Vinh. Cuộc đấu tranh này, được sự chỉ đạo của Xứ uỷ Trung Kỳ và tỉnh uỷ Nghệ An, đã đưa ra các yêu sách kinh tế và chính trị rõ rệt như: tăng lương, giảm giờ làm, giảm sưu thuế, phản đối chính sách khủng bố của Pháp, đòi bồi thường thiệt hại các gia đình bị tàn sát trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy sợi Nam Định, ủng hộ Liên Xô... Mặc dù bị đàn áp, bắt bớ, song thực dân Pháp và tay sai không sao dập tắt được làn sóng mít tinh, biểu tình của công nhân, nông dân đang ngày một dâng cao. Chỉ tính riêng trong tháng 5-1930, trong cả nước đã có 54 cuộc biểu tình, bãi công, gồm 21 cuộc ở miền Bắc, 21 cuộc ở miền Trung và 12 cuộc ở miền Nam. Trong số 54 cuộc đấu tranh này có 16 cuộc của công nhân, 34 cuộc của nông dân, 4 cuộc của dân nghèo thành thị và học sinh. Trên cơ sở phong trào đấu tranh sôi nổi diễn ra trong tháng 5, vào tháng 6-1930, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, học sinh và các tầng lớp lao động trong cả nước cảnh giác, không sao nhãng đấu tranh trước những nhượng bộ bước đầu của kẻ thù. Tiếp đó, ngày 1-8-1930, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi nhân dân phản đối chiến tranh đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ; kêu gọi binh lính chống lại việc đi đàn áp nhân dân các nước thuộc địa của Pháp... Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8-1930, phong trào đấu tranh của quần chúng với nhiều hình thức vẫn liên tuc diễn ra với 121 cuộc đấu tranh, trong đó có 17 cuộc ở miền Bắc, 82 cuộc ở miền Trung và 22 cuộc ở miền Nam. Trong số 121 cuộc có 22 cuộc của công nhân, 95 cuộc của nông dân, 4 cuộc của các thành phần khác. Tập trung nhất vẫn là các cuộc bãi công, biểu tình của công nhân, nông dân Nghệ An như: nhà máy diêm Bến Thuỷ, nhà máy cưa, công nhân bốc vác cảng Bến Thuỷ, nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy cưa SIFA, nhà máy cưa Lao Xiên, nông dân Nam Đàn, Thanh Chương, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Đô Lương... Hình thức tổ chức công hội đỏ đã ra đời từ trong các cuộc đấu tranh này. Tờ báo "Người lao khổ" của Xứ uỷ Trung Kỳ ngày 18-9-1930 nhận định: ’’Cuộc tổng bãi công Bến Thuỷ là một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh kịch liệt đã đến". Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:16:05 am 3. Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh
Cho tới cuối tháng 8 đầu tháng 9-1930, đã có sự phối hợp khá chặt chẽ giữa các cuộc đấu tranh, biểu tình của công nhân và nông dân. Phong trào lên đến đỉnh cao với việc các khẩu hiệu đấu tranh kinh tế và chính trị đồng thời xuất hiện trong hầu hết các cuộc đấu tranh. Thực dân Pháp và tay sai đã không còn nhượng bộ nữa mà đàn áp hết sức dã man bởi tính chất quyết liệt của các cuộc đấu tranh ngày càng tăng. Hơn 200 người bị chết vì bom trong cuộc biểu tình của 8.000 nông dân Hưng Nguyên ngày 12-9-1930, đã đẩy tính chất phong trào đấu tranh từ các yêu sách về kinh tế, sang những đòi hỏi về quyền lợi chính trị một cách cụ thể. Các cuộc tiến công, bạo động vũ trang của quần chúng hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã khiến bộ máy chính quyền thực dân Pháp và tay sai bị tê liệt và tan rã ở nhiều huyện, xã. Ở một số địa phương đã bắt đầu xuất hiện các "khu đỏ" tự do. Tại đây, nhân dân tự quản lý đời sống chính trị, kinh tế, các tổ chức quản lý của chính quyền địch bị vô hiệu hoá. Hình thức chính quyền công nông đầu tiên ra đời với tên gọi các Xô viết (giống hình thức chính quyền công nông trong Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917). Trong khoảng thời gian cuối năm 1930, đầu năm 1931, sau các cuộc đấu tranh, biểu tình, chính quyền Xô viết đã được thiết lập tại nhiều xã thuộc các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Diễn Châu (Nghệ An); Oan Lộc, Đức Thọ, Thạch Hà, Nghi Xuân, Hương Khê (Hà Tĩnh). Tuy còn sơ khai, nhưng các Xô viết đã thực hiện các chức năng cơ bản của chính quyền nhân dân. Về chính trị, chính quyền Xô viết đã ban bố quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Quần chúng tự do tham gia các đoàn thể cách mạng, tự do hội họp, đề xuất ý kiến giải quyết các vấn đề đời sống xã hội. Về quân sự, các đội "tự vệ đỏ" được thành lập để bảo vệ chính quyền, trấn áp bọn phản động, giữ gìn trật tự trị an và chống địch khủng bố, đàn áp. Nhiều nơi tổ chức toà án nhân dân để nghiêm trị những kẻ bán nước, hại dân. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên hoạt động sôi nổi. Về kinh tế, chính quyền cách mạng đã tổ chức chia ruộng đất công cho dân nghèo, bãi bỏ một số loại thuế vô lý như thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối, thực hiện giảm tô, xoá nợ cho người nghèo, v.v... Ngoài ra, việc đắp đê phòng lũ lụt, sửa sang đường sá, cầu cống cũng được chính quyền Xô viết các địa phương quan tâm giải quyết. Về văn hoá, xã hội, nhiều tệ nạn xã hội từng bước bị xoá bỏ như rượu chè, cờ bạc, bói toán, trộm cướp. Một không khí đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong tình làng, nghĩa xóm bao trùm các vùng quê có chính quyền mới. Trật tự, trị an được giữ vững. Những hoạt động và kết quả bước đầu của các Xô viết đã có ảnh hưởng lớn đến cao trào đấu tranh của nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thời kỳ này, cổ vũ các địa phương khác cùng phối hợp hành động. Một phần bộ máy thống trị của thực dân Pháp và tay sai bị xoá bỏ hoặc tê liệt trước sức mạnh đoàn kết đấu tranh của quần chúng. Trước sự phát triển của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời lãnh đạo, kêu gọi các địa phương trong cả nước hưởng ứng, góp phần bảo vệ và duy trì cuộc đấu tranh. Trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam liên tiếp nổ ra các cuộc mít tinh, biểu tình, đưa yêu sách đòi bãi bỏ sưu thuế, chống khủng bố, bao vây phá công sở chính quyền địch, đốt hồ sơ, giương cao khẩu hiệu ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh. Một số địa phương như Cao Lãnh (Đồng Tháp), Đức Phổ (Quảng Ngãi), Tiền Hải (Thái Bình)... các cuộc biểu tình có tự vệ vũ trang hỗ trợ. Chỉ trong tháng 9 và 10-1930, cả nước có tới 362 cuộc đấu tranh, trong đó có 29 cuộc ở miền Bắc, 316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam. Hơn 300 cuộc đấu tranh là do nông dân, hơn 20 cuộc do công nhân, còn lại do các tầng lớp lao động, học sinh tiến hành. Điểm đáng chú ý là khẩu hiệu chính trị chiếm phần lớn trong các bản yêu sách của quần chúng. Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã được sự chỉ đạo kịp thời của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc để chống lại sự khủng bố của kẻ thù, bảo vệ dân, bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng ngay khi cao trào đang ở thời kỳ phát triển mạnh. Đồng thời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư cho Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản (29-9) và Quốc tế nông dân (5-11), báo cáo với Quốc tế Cộng sản (19-2-1931) về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và đề nghị cho ý kiến chỉ đạo để đối phó lại sự khủng bố điên cuồng của kẻ thù, giữ vững và phát triển phong trào. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã gửi thông tri cho Xứ uỷ Trung Kỳ, vạch rõ trách nhiệm của Đảng là phải tổ chức quần chúng đấu tranh chống khủng bố, giữ vững lực lượng và chuẩn bị rút vào hoạt động bí mật. Thông tri cho rằng: "ở Thanh Chương, Nam Đàn bây giờ, cấp uỷ thế là đã chủ trương bạo động rồi (lập Xô viết, chia đất...), chủ trương như thế thì chưa đúng hoàn cảnh, vì trình độ dự bị của Đảng và quần chúng trong nước chưa đủ, vũ trang bạo động cũng chưa có, bạo động riêng lẻ trong vài địa phương trong lúc bấy giờ là quá sớm..."1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban NCLSĐTƯ, H. 1977, tập 1, tr.58, 169, 170). Trung ương đã nêu ra một số biện pháp hành động cấp bách: khi cần thiết biểu tình thì phải biết khéo tổ chức để chống khủng bố; tránh những cuộc biểu tình vặt, không có tổ chức; củng cố chính quyền Xô viết, làm cho tất thảy cố, bần, trung nông đều ủng hộ chính quyền Xô viết, coi là chính quyền của mình, khi quân đội đế quốc đến thì tạm thời rút đi, khi chúng đi thì lại ra làm việc; các đội tự vệ phải năng tập luyện quân sự và tìm cách cướp súng giặc... Tháng 10-1930, Trung ương lại ra "Thông cáo cho đồng chí", đề cập đến việc thành lập các Xô viết ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh: "Tuy hoàn cảnh vài nơi đó có cách mạng, song trong Xứ thì trình độ giác ngộ và đấu tranh của vô sản và nông dân chưa được đều và cao. Tuy dân chúng ở mấy xã ấy có đủ giác ngộ, đủ hăng hái tranh đấu, song chưa có dự bị vũ trang. Hiện nay, theo hoàn cảnh trong nước, trình độ dự bị của vô sản và quần chúng lao khổ thành phố, nhà quê, trình độ dự bị của Đảng, tình hình của địch thù, thì thực hành lẻ tẻ bạo động riêng trong một vài địa phương không phải là chủ trương đúng". Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:17:10 am Từ nhận định trên, Trung ương nhấn mạnh nhiệm vụ của các tổ chức Đảng trong cả nước là phải hướng quần chúng ra đấu tranh chính trị, phát động phong trào bảo vệ "Nghệ Tĩnh đỏ", tránh khởi nghĩa quá sớm.
Trước hành động khủng bố điên cuồng của kẻ địch, nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, đảng viên, quần chúng bị tàn sát, ngày 3-1-1931, Ban Thường vụ Trung ương đã kịp thời ra Thông cáo cho các xứ uỷ, yêu cầu các cấp uỷ Đảng phải dựa vào sức mạnh việc phát triển các đội tự vệ công nông để bảo vệ cho quần chúng đấu tranh. Thông cáo nhấn mạnh: "Đội tự vệ không phải tổ chức trong một lúc tranh đấu rồi giải tán đi, nhưng phải khuếch trương ra làm một lực lượng vĩnh viễn của quần chúng. Khi có tranh đấu thì đội tự vệ phải ra đi đầu, đi kèm quần chúng mà hộ vệ, còn lúc thường thì phải tập luyện riêng, phải bàn định những cách hộ vệ và bênh vực tranh đấu"1 (Văn kiện Đảng, Sách đã dẫn, tr.208). Tuy vậy, do thực dân Pháp khủng bố ngày càng ác liệt, hầu hết các cơ sở Đảng và quần chúng trung kiên bị tổn thất. Sau hội nghị Trung ương tháng 3-1931, nhiều cán bộ Đảng bị địch bắt. Ngày 19-4-1931, đồng chí Tổng bí thư Trần Phú bị bắt tại Sài Gòn. Ngày 6-6-1931, đế quốc Anh bắt giam lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng. Phong trào đấu tranh của quần chúng tạm thời lắng xuống. Mặc dầu vậy, cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, có ý nghĩa lịch sử rất to lớn. Tuy mới là cuộc đấu tranh ban đầu ngay sau khi Đảng ra đời và lãnh đạo nhưng Xô viết Nghệ Tĩnh đã giành được những kết quả quan trọng. Nó khẳng định đường lối đấu tranh cách mạng giành độc lập tự do do Đảng đề ra là đúng đắn; đã mở ra một thời kỳ cách mạng mới do Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo. Cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, chứng tỏ quyền lãnh đạo không thể thay thế được của giai cấp công nhân với đội tiền phong là Đảng cộng sản. Đây là lần đầu tiên, liên minh công nông đã được thực hiện trong đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây có thể coi là cuộc diễn tập lần thứ nhất của Đảng và quần chúng cách mạng chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa sau này. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá về Xô viết Nghệ Tĩnh: "Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt được phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ Tỉnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi sau này"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, tập 2, tr.154). Cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh đã để lại một số bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược và thực hành đấu tranh, khởi nghĩa tiến tới giành chính quyền. Đó là: - Xác định mục tiêu cụ thể của cuộc đấu tranh trực tiếp trước mắt. Sau khi Đảng đã đề ra đường lối chiến lược cho toàn bộ cuộc cách mạng thì vấn đề có tầm quan trọng quyết định là lãnh đạo quần chúng nhân dân kiên quyết đấu tranh thực hiện các mục tiêu cụ thể đã xác định. Mục tiêu cụ thể lúc đó là đấu tranh giành quyền lợi dân sinh, dân chủ nhằm "lấy những sự nhu yếu hàng ngày làm bước đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mệnh". Chính do việc đề ra mục tiêu cụ thể như vậy nên Đảng đã phát động được đông đảo nhân dân tham gia vào cao trào cách mạng. Nhưng khi bị địch đàn áp dữ dội thì ở một số địa phương đã tiến đến giành chính quyền. Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời kêu gọi và chỉ cho quần chúng thấy rằng mục tiêu cụ thể chỉ là đấu tranh giành quyền lợi hàng ngày chứ chưa phải là khởi nghĩa giành chính quyền. Tổng kết sự lãnh đạo của Đảng về vấn đề xác định mục tiêu cụ thể trước mắt, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: "Biết thắng từng bước cho đúng có nghĩa là ở mỗi thời kỳ nhất định hay mỗi tình thế nhất định, biết đề ra được mục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc đấu trạnh thế nào để thực hiện mục tiêu đó với mức thắng lợi tối đa, mở đường cho cách mạng tiến lên những bước mới cao hơn và tạo ra triển vọng chắc chắn nhất cho thắng lợi cuối cùng” . Muốn tạo ra cao trào đấu tranh cách mạng, phải có những hình thức và phương pháp cách mạng thích hợp nhằm biến đường lối chỉ đạo của Đảng thành hiện thực. Trong cao trào cách mạng 1930-1931, khi chưa có tình thế cách mạng thì phương pháp thích hợp nhất là vận động quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi thiết thực như nêu khẩu hiệu đòi tăng lương, giảm giờ làm, giảm thuế. Vừa đưa quần chúng ra tranh đấu vừa tập hợp lực lượng để chuẩn bị cho khởi nghĩa về sau nếu tình hình cho phép. Thực tế thời kỳ đó cho thấy có địa phương dùng hình thức đấu tranh quá cao như khởi nghĩa vũ trang nên đã bộc lộ lực lượng, sau đó bị địch đàn áp, tổn thất nặng nề. Đến khi có tình thế cách mạng, Đảng cần đưa ra những khẩu hiệu đấu tranh cao hơn, mạnh mẽ hơn để huy động quần chúng. Phương pháp cách mạng thích hợp lúc này là bạo lực cách mạng bao gồm kết hợp giữa lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng. Cao trào 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh đã trải qua hoàn cảnh có tình thế cách mạng, lực lượng chính trị quần chúng đã được chuẩn bị một bước, song cả hai lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị còn non yếu, chưa có được sự phối hợp cần thiết, lại bị kẻ thù thẳng tay đàn áp, nên kết quả bị hạn chế. Tuy nhiên, đây là một bài học kinh nghiệm quý báu của Đảng thời kỳ đầu mới thành lập về tổ chức tập hợp lực lượng và về thời cơ, tình thế cách mạng cũng như việc áp dụng phương pháp cách mạng phù hợp để giành thắng lợi sau này. - Về việc xây dựng khối liên minh công nông trong đấu tranh. Đây là vấn đề đã được xác định trong Cương lĩnh chính trị của Đảng khi mới thành lập vì Đảng ta coi công nông là chủ lực quân, là lực lượng quyết định thắng lợi. Cao trào cách mạng 1930-1931 cho thấy công nhân và nông dân đã phối hợp khá chặt chẽ trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, thực dân và đã giành được những kết quả quan trọng. Tuy chưa có nhiều thời gian tuyên truyền, giác ngộ, chuẩn bị về mặt tổ chức và phối hợp đấu tranh nhằm giành được những mục tiêu cụ thể, nhưng việc xác định đúng vai trò và sứ mệnh của công, nông, đưa họ ra mặt trận tranh đấu, là một thành công của Đảng thời kỳ này, đặt cơ sở vững chắc cho sự liên minh chiến lược giữa hai giai cấp trong tiến trình cách mạng sau này. Đây vừa là vấn đề thuộc chiến lược cách mạng vừa là vấn đề về phương pháp cách mạng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:17:58 am 4. Khôi phục và phát triển phong trào cách mạng (1932-1935)
Theo Niên biểu thống kê Đông Dương, từ năm 1930 đến 1933, thực dân Pháp đã đàn áp, giam giữ 246.532 người. Ở nhà tù Côn Đảo, từ 1930 đến 1935, có tới 833 tù chính trị bị giết hại. Trong hai năm 1930-1931, ở khu vực miền Bắc, thực dân Pháp đã mở tới 21 phiên toà đại hình, xử 1.094 vụ tù chính trị, kết án 164 người tử hình, 114 khổ sai chung thân, 420 án đày biệt xứ... Mặc dù bị đàn áp, khủng bố, các cán bộ, đảng viên của Đảng không hề nao núng. Các tấm gương hoạt động bất khuất, hy sinh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Trần Phú, người đoàn viên thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng trước toà án và trong xà lim, trên pháp trường của thực dân, là những tấm gương nêu cao khí tiết của người cộng sản, cách mạng, cổ vũ tinh thần đấu tranh của tù chính trị và quần chúng nhân dân. Đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của những người cộng sản bị giam giữ tại nhà tù Kon Tum, Hoả Lò, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Côn Đảo... khiến kẻ thù phải chùn tay. Tuy đa số các đồng chí Ủy viên trung ương và Xứ uỷ viên các xứ uỷ bị địch bắt, song đến tháng 6-1932, những đồng chí còn lại trong Ban lãnh đạo của Đảng đã thảo ra "Chương trình hành động", nêu lên 4 yêu cầu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chính quyền thực dân trả tự do cho tất cả tù chính trị, bãi bỏ chính sách đàn áp, giải tán hội đồng đề hình, trừng trị những kẻ tra tấn, giết hại các chiến sĩ cách mạng. Chương trình hành động vạch rõ sự cấp thiết phải củng cố và phát triển các đoàn thể cách mạng của quần chúng, nhất là công hội và nông hội, cử ra các uỷ ban hành động, uỷ ban bãi công, uỷ ban nông dân, kết hợp giữa hoạt động bí mật với hợp pháp và nửa hợp pháp. Chương trình hành động cho rằng muốn khôi phục và phát triển phong trào cách mạng "Phải xây dựng một đoàn thể bí mật, có kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng, tức Đảng cộng sản, để hướng đạo quần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu"1 (Văn kiện Đảng, Sđd, tr.307). Thông qua Chương trình hành động, Đảng vẫn giữ được mối liên hệ với quần chúng, lãnh đạo nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh trong tình hình mới nhằm khôi phục, phát triển phong trào. Theo thống kê của chính quyền thực dân, số lượng các cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng tăng: năm 1931 có 230 cuộc, năm 1933 có 244 cuộc. Còn riêng ở miền Bắc từ 1931 đến 1935 có 551 cuộc. Ngoài ra còn có nhiều cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớp lao động khác. Cũng trong thời kỳ này, Đảng đã tận dụng khả năng hoạt động hợp pháp để đưa người vào các tổ chức dân cử của chính quyền thực dân như Hội đồng thành phố Sài Gòn, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ; phát hành báo chí công khai vạch mặt bọn phản động, tố cáo âm mưu tội ác của chính quyền thực dân đồng thời dùng diễn đàn này để tuyên truyền cách mạng cho quần chúng, gây ảnh hưởng cho Đảng. Trong thời kỳ này, vào đầu năm 1934, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng, làm chức năng của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, được thành lập, do đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách. Sau sự kiện này, các xứ uỷ trong nước được chấn chỉnh, các tổ chức Đảng được khôi phục và xây dựng mới. Tình hình trên góp phần thúc đẩy việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 1 tại Ma Cao, từ ngày 27 đến 31-3-1935, với sự tham dự của 16 đại biểu, đại diện cho 600 đảng viên của Đảng. Đại hội đã thông qua các nghị quyết chính trị về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính, về công tác liên minh phản đế, về đội tự vệ... Đại hội 1 đã khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến các địa phương, trong nước và ngoài nước, thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác, tạo tiền đề cho phong trào cách mạng phục hồi và phát triển trong thời gian tới. Từ cuộc đấu tranh để khôi phục và phát triển phong trào cách mạng thời kỳ 1932-1935, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Cần phải giữ vững lòng tin vào thắng lợi cuối cùng. Mặc dù phong trào lúc đó đang bị địch đàn áp dữ dội, gặp rất nhiều khó khăn nhưng cá nhân và tập thể lãnh đạo phải có niềm tin vào sức mạnh vĩ đại của quần chúng đồng thời phải có phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình đã thay đổi để lôi kéo quần chúng đang hoang mang, do dự. - Trong điều kiện phong trào cách mạng đang bị địch khủng bố trắng, điều tối cần thiết là phải giữ vững tổ chức cách mạng hoạt động bí mật nhằm đảm bảo duy trì sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của phong trào cách mạng. Các tổ chức bí mật này phải hoạt động thống nhất dưới sự lãnh đạo tập trung của Ban chấp hành Trung ương Đảng. - Hết sức tận dụng mọi khả năng hợp pháp, nửa hợp pháp để hoạt động, để tập hợp quần chúng, từng bước đưa quần chúng tham gia vào đấu tranh cách mạng từ thấp lên cao. Có thể nói, thời kỳ 1932-1935 đã diễn ra quá trình vừa gìn giữ khôi phục, tích lũy lực lượng, vừa chuẩn bị đội ngũ để đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sự chuyển hướng kịp thời, sự rút lui đúng lúc để bảo toàn lực lượng, sự kết hợp các hình thức đấu tranh bí mật, nửa hợp pháp và hợp pháp... là những điểm nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của Đảng ta thời kỳ này. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:30:41 am II- THỜI KỲ VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ, CHỐNG PHẢN ĐỘNG THUỘC ĐỊA, CHỐNG PHÁT XÍT VÀ CHIẾN TRANH (1936-1939)
Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản họp từ 25-7 đến 20-8 năm 1935 trong bối cảnh họa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đe dọa loài người cũng như phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh đang dâng cao ở nhiều nước. Đoàn đại biểu Đảng ta, do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu, đã tham dự Đại hội. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội với tư cách là khách mời. Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã giúp cho lãnh đạo Đảng ta xác định phương hướng và mục tiêu đấu tranh cụ thể của cách mạng trong tình hình mới. Trong thời gian này, những biến chuyển trên chính trường nước Pháp cũng tác động trực tiếp đến Việt Nam và Đông Dương. Mặt trận nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập (1-1936) bao gồm Đảng Cộng sản và các đảng phái, tổ chức cánh tả. Đến tháng 6-1936, chính phủ cánh tả ở Pháp lên nắm chính quyền. Những chính sách, chủ trương của Mặt trận nhân dân và chính phủ Pháp đối với thuộc địa như lập phái đoàn điều tra tình hình thuộc địa, ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động... đã tạo điều kiện cho phong trào cách mạng, vận động dân chủ ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, phát triển. Tuy nhiên, tình hình kinh tế rất khó khăn lúc đó khiến đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động điêu đứng, cùng với hậu quả của nạn khủng bố trắng chưa khắc phục hết, đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc vận động cách mạng do Đảng lãnh đạo. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7-1936 tại Thượng Hải (Trung Quốc) vẫn khẳng định tiếp tục nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam là chống đế quốc, phong kiến. Tuy vậy, trước tình hình mới và căn cứ vào trình độ tổ chức, khả năng đấu tranh của quần chúng, hội nghị đã quyết định tạm thời chưa đưa ra khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ đề giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho nông dân, mà chỉ nêu ra mục tiêu trực tiếp trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tập hợp và hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao, thông qua đó phát triển lực lượng cách mạng. Việc chuyển hướng sự chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng thời kỳ này là một hành động đúng đắn, căn cứ vào so sánh lực lượng lúc đó nhằm tập hợp và mở rộng các hình thức đấu tranh cách mạng, phục vụ cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược sau này. Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: "Xét tình hình quần chúng vận động hiện thời cả về chính trị và về tổ chức chưa tới trình độ trực tiếp đánh đổ đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa..." Đảng cần "hiệu triệu được toàn dân không kỳ giai cấp nào, đảng phái nào ra cùng nhau đấu tranh chống chế độ thuộc địa phản động"1 (Văn kiện Đảng, 1930-1945, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản 1977, tập 2, tr.122, 123, 126). Chủ trương của Đảng là triệt để sử dụng các hình thức hoạt động công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để huy động được "quảng đại nhân dân từ thành thị tới thôn quê, từ các dân tộc tiên tiến cho tới các bộ lạc lạc hậu, từ các phần tử có giác ngộ cho tới những lớp dân chúng mấy lâu nay còn yên tĩnh, rụt rè, nay trở ra tham gia mặt trận thống nhất...". Đồng thời, Đảng vẫn củng cố tổ chức và công tác bí mật, kết nạp thêm nhiều đảng viên mới. Sự chuyển hướng chỉ đạo về chiến lược, sách lược của Đảng, thông qua Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, đã đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đấu tranh khôi phục phong trào, đưa cách mạng chuyển sang thời kỳ mới. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, mối quan hệ giữa mục tiêu đấu tranh với hình thức đấu tranh, giữa việc liên minh công nông với Mặt trận dân chủ thống nhất, tập hợp rộng rãi các lực lượng quần chúng, giữa phong trào cách mạng Việt Nam, Đông Dương với phong trào cách mạng ở Pháp và thế giới. Sau Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, Đảng ta chủ trương phát động và tổ chức quần chúng ở các cơ quan công sở, nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, trường học, ở cả thành thị và nông thôn, thảo luận các yêu cầu về tự do dân chủ, dân sinh để chuẩn bị cho việc tổ chức Đại hội đại biểu nhân dân toàn Đông Dương, đưa ra các kiến nghị đối với phái đoàn điều tra của Quốc hội Pháp sang Đông Dương. Đảng nêu ra 12 yêu cầu về tự do dân chủ, hội họp, thả tù chính trị, ngày làm 8 giờ, giảm thuế, nam nữ bình đẳng, học tiếng Việt trong các trường...; kêu gọi thành lập các Uỷ ban hành động ở khắp các địa phương để tập hợp quần chúng. Hơn 600 Ủy ban hành động được thành lập ở miền Nam chỉ trong vòng 2 tháng. Sau đó, Ủy ban lâm thời chi nhánh Bắc Kỳ, Trung Kỳ Đại hội Đông Dương đã được thành lập. Phong trào vận động dân chủ tổ chức Đại hội Đông Dương phát triển mạnh, thu hút đông đảo quần chúng cả nước tham gia. Chính quyền thực dân từng bước phải có một số nhượng bộ về quyền lợi của người lao động, thả tù chính trị... nhưng đã quay lại đàn áp, cấm đoán các hoạt động tự do dân chủ, cấm tổ chức Đại hội Đông Dương. Tuy nhiên, sự đàn áp của Pháp không ngăn nổi phong trào cách mạng đang dâng lên trong các tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, học sinh, phụ nữ... Chỉ riêng 6 tháng cuối năm 1936 đã nổ ra 361 cuộc đấu tranh, trong đó có 236 cuộc của công nhân, điển hình là các cuộc đấu tranh của hàng nghìn công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc, hàng chục nghìn công nhân mỏ than Cẩm Phả, Hòn Gai, Mông Dương, Hà Tu, Hà Lầm, Cọc 5, Uông Bí... Năm 1937, có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân, hơn 150 cuộc của nông dân và phong trào biểu dương lực lượng quần chúng rầm rộ, đưa kiến nghị đòi tự do, dân chủ cho Gô-đa, phái viên chính phủ Pháp, sang điều tra tình hình Đông Dương. Trong những năm tiếp sau, một mặt Đảng tập trung vào công tác xây dựng, chấn chỉnh các tổ chức, đoàn thể để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh, mặt khác Đảng triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh, xuất bản nhiều cuốn sách lý luận để tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và tội ác của chính quyền thực dân. Việc thành lập được nhiều tổ chức đoàn thể, xuất bản sách báo công khai để vận động, tuyên truyền đấu tranh cách mạng là một thành công lớn về nghệ thuật vận động và tinh thần tiến công cách mạng sáng tạo của Đảng ta thời kỳ này. Không những thế, Đảng còn vận động, ủng hộ những nhân vật tiến bộ, tán thành cương lĩnh đấu tranh của Mặt trận dân chủ, ứng cử vào các cơ quan dân biểu, để có tiếng nói quan trọng trong cuộc đấu tranh nghị trường đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân lao động. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:31:09 am Trước tình hình chính sách của chính phủ Pháp ngày càng ngả sang chính quyền thực dân ở Việt Nam, Đông Dương, tăng cường đàn áp các hoạt động dân chủ, trong khi những kết quả đạt được về cải cách dân chủ chưa nhiều, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm lúc này là phải thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi hơn nữa các tầng lớp quần chúng, tiếp tục thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Trong năm 1938 đã diễn ra 135 cuộc bãi công của công nhân và 125 cuộc đấu tranh của nông dân với trình độ lãnh đạo và tổ chức vững vàng, chặt chẽ hơn. Lần đầu tiên; các hoạt động kỷ niệm ngày Quốc tế lao động được tổ chức công khai tại nhiều nơi trong cả nước với các khẩu hiệu đòi dân sinh, dân chủ, ủng hộ hoà bình, chống chiến tranh đế quốc, chống phát xít. Cuộc mít tinh ngày 1-5 năm 1938 ở Hà Nội thu hút tới 25.000 người tham dự.
Tuy nhiên, thời gian cuối năm 1938 và suốt cả năm 1939, chính quyền thực dân ngày càng thi hành chính sách đàn áp, khủng bố, bóp nghẹt tự do báo chí. Mặt khác, tình hình kinh tế xã hội khó khăn gay gắt cũng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương một cách vững chắc, hiệu quả. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng, đã viết cuốn sách nhan đề "Tự chỉ trích", nêu lên những ưu, nhược điểm trong công tác tổ chức, vận động quần chúng, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách mặt trận. Đây là một tác phẩm quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là văn kiện tổng kết hoạt động của Đảng ta trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, giúp cho việc hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng khi tình hình mới xuất hiện. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ngày 1-9-1939. Thực dân Pháp tăng cường đàn áp các tổ chức hoạt động đòi tự do, dân chủ. Trước tình hình đó, Đảng quyết định rút vào hoạt động bí mật, chấm dứt thời kỳ gần 4 năm hoạt động hợp pháp, để chuẩn bị cho sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng. Có thể nói, trong thời kỳ 1936-1939, Đảng ta đã phát động và lãnh đạo cao trào quần chúng nhân dân đấu tranh bằng nhiều hình thức hợp pháp, công khai và bí mật, giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra lực lượng tổ chức và trận địa mới cho cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc tiếp theo từ 1939-1945. Đây là thời kỳ Đảng ta rút được một số bài học kinh nghiệm: - Xác định đúng phương hướng và mục tiêu cụ thể trước mắt là yêu cầu của quy luật giành thắng lợi từng bước, tạo điều kiện để tiến tới giành thắng lợi cho mục tiêu chiến lược lâu dài của cách mạng. Đây là một vấn đề quan trọng của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Trong thời kỳ 1936-1939, Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể là chống phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình là đúng đắn và sát hợp, nên đã tập hợp được đông đảo nhân dân. Đây là một sáng tạo lớn, một bước đi đúng và phù hợp nên đã tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng với nhiều nội dung đấu tranh phong phú, trên nhiều lĩnh vực, làm cho thê và lực của cách mạng được phát huy mạnh mẽ, khắc phục được các khó khăn, trở ngại, đưa phong trào tiến lên. - Xây dựng Mặt trận dân chủ rộng rãi là điều không thể thiếu để tập hợp các lực lượng quần chúng, tạo điều kiện phát triển phọng trào đấu tranh giành lấy những quyền lợi dân sinh, dân chủ hàng ngày. Mặt trận dân chủ phải là sự liên minh rộng rãi nhưng có nguyên tắc, chỉ liên minh với những tổ chức, đoàn thể, cá nhân tán thành đấu tranh cho tự do, dân chủ, hoà bình. - Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hình thức hoạt động, hình thức tổ chức công khai, hợp pháp với bán công khai, bí mật. Hình thức tổ chức và đấu tranh phải phù hợp với mục tiêu đấu tranh, phải đảm bảo huy động được tối đa lực lượng tham gia, đồng thời để mở rộng việc giáo dục và tập dượt đấu tranh cho quần chúng, trong những hoàn cảnh cụ thể. Không thể cứng nhắc áp dụng chỉ hình thức đấu tranh bí mật hoặc toàn công khai, hợp pháp mà cần có sự kết hợp uyển chuyển để đạt được kết quả cao nhất. Đây cũng là yêu cầu cần thiết để khi tình hình thay đổi, ta có thể chủ động chuyển và áp dụng hình thức đấu tranh phù hợp, tránh tổn thất. Tiếp sau thời kỳ 1930-1935 tập dượt đấu tranh và khôi phục phong trào cách mạng, thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939 thực sự là cuộc diễn tập lớn thứ hai cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:32:24 am III- THỜI KỲ VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1939-1945)
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã làm biến chuyển cơ bản tình hình quốc tế. Thực dân Pháp ở Việt Nam thi hành chính sách đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu các quyền tự do dân chủ, ra lệnh tổng động viên bắt lính, tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí nghiệp phục vụ cho quốc phòng và chiến tranh, thi hành chính sách kinh tế thời chiến nhằm vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh. 1. Sự chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng Hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 6, họp từ ngày 6 đên 8-11-1939 tại Bà Điểm, Gia Định. Hội nghị đã vạch rõ tính chất đế quốc và phát xít của cuộc chiến tranh phân chia lại thế giới của chủ nghĩa đế quốc và cho rằng tình hình Đông Dương sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp: Phát xít Nhật sẽ vào Đông Dương, thực dân Pháp sẽ đầu hàng Nhật, Đông Dương sẽ chịu sự cai trị của thực dân phát xít vô cùng tàn bạo, đời sống của nhân dân sẽ ngày càng cực khổ, điêu đứng. Vì thế, đặc điểm cơ bản của tình hình Đông Dương lúc này là chiến tranh đã khiến cho các mâu thuẫn nội tại của xã hội thuộc địa nửa phong kiến càng thêm trầm trọng, tới mức đối kháng quyết liệt đòi hỏi phải được giải quyết. Mâu thuẫn chủ yếu nhất lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc thực dân với các dân tộc Đông Dương. Trên cơ sở nhận định, phân tích tình hình, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc thời kỳ này vẫn bao gồm hai nội dung cơ bản chống đế quốc và chống phong kiến của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, do giai cấp công nhân lãnh đạo: "Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền... Cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được nhưng nó phải ứng dụng một cách khéo léo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc”1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.58). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược của Đảng so với thời kỳ trước. Để tập trung vào nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ đế quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (MTTNDTPĐĐD) với lực lượng chính là công nhân, nông dân và các tầng lớp quần chúng khác do giai cấp công nhân lãnh đạo. Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nêu lên một số chuyển hướng về tổ chức như xây dựng cùng lúc những tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi và các đoàn thể cách mạng bí mật với hướng chính là bí mật hoạt động. Các cuộc đấu tranh thời kỳ này đều phải tập trung vào mục tiêu là đế quốc, tay sai, nhằm "dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc”. Đây là hội nghị đánh dấu sự chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang chuẩn bị các điều kiện trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc, tay sai, bằng việc sớm nêu ra phương hướng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Sau hội nghị, phong trào cách mạng dần dần có sự chuyển biến. Nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của công nhân, nông dân đã nổ ra với khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc, chống khủng bố. Mặt trận TNDTPĐĐD từng bước được xây dựng ở các địa phương với số lượng lên tới hàng vạn hội viên. Tuy nhiên, trong năm 1940, tình hình Đông Dương tiếp tục có những biến động. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng bị chính quyền thực dân bắt giữ như Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn. Quân Pháp từng bước đầu hàng, mở cửa cho phát xít Nhật vào Đông Dương chiếm đóng các sân bay, kho tàng bến cảng khiến nhân dân ta cùng lúc chịu hai tầng xiềng xích, thống trị của cả Pháp và Nhật. Mặc dù điều kiện chủ quan về tổ chức, lực lượng, vũ khí trang bị còn thiếu, song trước tình thế khách quan thuận lợi, quân Pháp tháo chạy khi Nhật vào Lạng Sơn, ngày 27-9-1940, nhân dân huyện Bắc Sơn đã tự vũ trang, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nổi dậy đánh chiếm đồn Mỏ Nhài, làm chủ địa bàn. Đội du kích Bắc Sơn ra đời trong cuộc khởi nghĩa vũ trang này, đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ thành quả mới giành được. Chính quyền thực dân đã thẳng tay đàn áp cuộc khởi nghĩa. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn song khởi nghĩa Bắc Sơn đã mở đầu cao trào giải phóng dân tộc, mở đầu thời kỳ cách mạng nước ta sử dụng các hình thức của bạo lực cách mạng là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng với tiến công của các lực lượng vũ trang nhằm đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Khởi nghĩa Bắc Sơn đã giúp cho lãnh đạo Đảng ta rút rạ những bài học quý về khởi nghĩa vũ trang như chọn đúng thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi và liên tục tiến công kẻ thù. Đánh giá về ưu khuyết của khởi nghĩa Bắc Sơn, đồng chí Trường Chinh viết: "Ưu điểm lớn nhất của nhân dân Bắc Sơn là đã kịp thời nổi dậy giành chính quyền khi quân đội phát xít Nhật xâm lược Lạng Sơn và hàng ngũ quân Pháp cùng bè lũ tay sai đã hoang mang, dao động đến cực điểm. Khuyết điểm của khởi nghĩa Bắc Sơn là đã không sớm dùng chiến tranh du kích để châm ngọn lửa cách mạng ra các địa phương khác trong tỉnh Lạng Sơn và các tỉnh lân cận, làm cho cuộc khởi nghĩa lan rộng ra mãi; trái lại, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 13 tháng 10 đã chuyển sang phòng ngự, mà như Mác đã nói, phòng ngự là con đường chết của khởi nghĩa"1 (Trường Chinh: Diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 40 ngày khởi nghĩa Bắc Sơn, báo Nhân dân ngày 30-9-1980). Chưa đầy hai tháng sau ngày nổ ra khởi nghĩa Bắc Sơn, từ ngày 6 đến 9 tháng 11, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), nhằm đề ra các chủ trương, biện pháp ứng phó với tình hình quốc tế đang chuyển biến mau lẹ, phong trào cách mạng trong nước đang sục sôi, kiện toàn sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương. Hội nghị nhận định mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Nhật - Pháp càng thêm sâu sắc. "Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập". Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, được nêu ra từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6, được tiếp tục khẳng định. Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đổi tên thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp - Nhật ở Đông Dương. Hội nghị quyết định phát triển ảnh hưởng của khởi nghĩa Bắc Sơn bằng cách duy trì đội du kích Bắc Sơn, tiến tới thành lập căn cứ địa du kích, lấy vùng Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương. Riêng đối với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Hội nghị chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa do lúc này ở Nam Bộ chưa hội đủ điều kiện đảm bảo cho khởi nghĩa thắng lợi. Có thể thấy, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 là sự kế tục và phát triển những quyết nghị của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, lấy giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, sử dụng bạo lực cách mạng để giành lấy chính quyền. Hội nghị Trung ương kết thúc được 2 tuần lễ, chỉ thị hoãn khởi nghĩa chưa đến được với Ban lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ, thì ngày giờ phát động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã được quyết định và nổ ra ngày 23-11-1940. Tại hầu khắp các tỉnh miền Nam, quần chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh. Ở một số địa phương, chính quyền địch tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập, bước đầu thực hiện những cải cách dân chủ, dân sinh, trấn áp bọn phản động. Tuy nhiên, do nổ ra trong những điều kiện chưa chín muồi, nhiều cán bộ lãnh đạo bị địch bắt ngay trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, kẻ thù đã đề phòng, nên khởi nghĩa sớm bị đàn áp, khủng bố tàn bạo. Hàng nghìn người bị bắt, bị giết. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại đã đặt ra một loạt những vấn đề về lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, về lực lượng thực hành khởi nghĩa, vấn đề về thời cơ, điều kiện nổ ra cũng như công tác giữ bí mật khởi nghĩa. Những dư âm của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa tắt thì ngày 13-1-1941, tại Đô Lương, Vinh (Nghệ An) đã nổ ra cuộc binh biến của binh lính yêu nước do Đội Cung lãnh đạo. Tuy có giành được kết quả ban đầu song cuộc bạo động tự phát này cũng nhanh chóng bị địch đàn áp. Như vậy, chỉ trong vòng hơn 3 tháng, ở ba miền Bắc, Trung, Nam đã liên tiếp nổ ra ba cuộc khởi nghĩa vũ trang và binh biến với những quy mô lớn nhỏ khác nhau. Tuy đều bị chính quyền thực dân đàn áp, dìm trong bể máu, nhưng ba cuộc khởi nghĩa vũ trang và binh biến trên đây đã góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân trong cả nước. Ba cuộc khởi nghĩa và binh biến này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về lãnh đạo, thực hành khởi nghĩa vũ trang và tổ chức lực lượng tham gia, đánh dấu một thời kỳ mới của cách mạng: thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền đã bắt đầu. "Những cuộc khởi nghĩa... gây một ảnh hưởng rộng lớn toàn quốc. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương"1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.191). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:33:52 am 2. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền
Sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã, trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ, xây dựng căn cứ địa, tổ chức các đoàn thể cứu quốc. Tiếp đó, từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã được tổ chức tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị tiếp tục khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc: "Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp"1 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217) Bởi vì "Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được2 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217). Nhằm tập trung lực lượng cách mạng vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Hội nghị khẳng định sự đúng đắn của quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận DTTN chống phát xít Pháp - Nhật ở Đông Dương "cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại"3 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217). Lần đầu tiên, Hội nghị đã đề cập đến các vấn đề cụ thể như điều kiện và hình thái cuộc khởi nghĩa, về điều kiện cho khởi nghĩa nổ ra và thắng lợi, cần có: giai cấp thống trị lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện đến cực điểm; nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Nhật-Pháp, sẵn sàng vùng dậy khởi nghĩa; phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng Pháp hay cách mạng Nhật nổi dậy, quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương...; mặt trận cứu quốc đã thống nhất toàn quốc. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội nghị khẳng định: "Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và dân ta trong giai đoạn hiện tại. Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn"1 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217). Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ cách mạng mới là tập trung toàn lực nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược giải phóng dân tộc... Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Tổng bộ Việt Minh đã công bố Chương trình cứu nước gồm 44 điểm, đề cập đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, nêu lên các chính sách cụ thể đối với tầng lớp, giai cấp trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được sung sướng, tự do. Chương trình này sau được rút gọn lại thành 10 chính sách lớn, được thực hiện ở Khu giải phóng Việt Bắc trong những ngày trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sau này. Các hoạt động chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang từng bước được tiến hành. Ban đầu là những bài viết trên báo "Việt Nam độc lập '' khơi gợi tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, tiếp sau là các cuốn sách như Cách đánh du kích, Cách huấn luyện cán bộ quân sự... của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nêu lên một số vấn đề về đường lối đấu tranh vũ trang. Sự ra đời của Đội tự vệ vũ trang Cao Bằng cuối năm 1941 đặt cơ sở cho việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang ở Cao Bằng cũng như các địa phương khác trong căn cứ địa Việt Bắc. Đây là sự thể hiện quan điểm toàn dân tham gia cách mạng, toàn dân nổi dậy, huy động mọi vũ khí, phương tiện có trong tay để đánh địch của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Để xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, ngày 1-12-1941, Đảng có chỉ thị về công tác tổ chức, nêu rõ mục tiêu là đoàn kết hết thảy các lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chỉ thị yêu cầu xây dựng tổ chức của Đảng phải chặt chẽ, nghiêm ngặt, còn tổ chức của quần chúng thì phải rộng rãi, nhẹ nhàng. Tổ chức cơ sở Đảng phải ăn sâu bám rễ trong quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, tập trung vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. Tổ chức của quần chúng phải có nhiều hình thức phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp và lứa tuổi. Bên cạnh các tổ chức cứu quốc, cần phải có những hình thức tổ chức công khai, bán công khai để tập hợp quần chúng. Chỉ thị dẫn luận điểm của Lênin: "Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức" và nhấn mạnh: "Biết tổ chức tức là có thêm cán bộ, có võ khí, có tài chính, có chiến đấu lực, tất cả các điều kiện cần thiết cho công cuộc cách mạng dân tộc giải phóng"1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.284). Vừa tập trung xây dựng các đoàn thể, tổ chức cách mạng, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến chỗ đứng chân của cách mạng, xây dựng các căn cứ địa (ban đầu là các khu an toàn) để đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức chính trị, vũ trang. Tiếp theo các khu an toàn, địa bàn một số tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đã được chọn làm nơi tổ chức, xây dựng các căn cứ du kích với hai trung tâm đầu tiên là Cao Bằng và Bắc Sơn-Võ Nhai, nơi đứng chân hoạt động của Đội vũ trang Cao Bằng và Đội Cứu quốc quân. Hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả của Mặt trận Việt Minh đã đưa đến sự ra đời hàng loạt tổ chức cứu quốc cuốc 1941, đầu 1942 như Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc, v.v... trên cơ sở các hội phản đế trước đây. Tại Cao Bằng, phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ đã dẫn đến sự xuất hiện các xã và tổng có toàn dân tham gia Việt Minh (gọi là "xã hoàn toàn"; "tổng hoàn toàn"). Mặc dù thực dân Pháp và tay sai tiến hành khủng bố trắng một cách dã man, tàn bạo, hàng loạt đồng chí lãnh đạo Đảng bị giết hại, cầm tù, song phong trào cách mạng vẫn được duy trì, từng bước phát triển. Nhiều cuộc đình công, bãi công, đấu tranh chống khủng bố trắng, đòi quyền lợi của công nhân liên tiếp nổ ra ở cả trong Nam ngoài Bắc. Tình hình quốc tế lúc này tác động khá thuận lợi đến công cuộc cách mạng nước ta, đòi hỏi Đảng phải có chính sách, biện pháp cụ thể cho việc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ 25 đến 28 tháng 2 năm 1943 tại Võng La (Đông Anh) đã tập trung bàn thảo vấn đề mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra khỏi nhà tù Liễu Châu (Trung Quốc, tháng 9-1943), đã bắt liên lạc và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của tổ chức Hội giải phóng Việt Nam ở Trung Quốc, tập hợp, đào tạo cán bộ Việt Nam đưa về nước hoạt động. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:34:59 am Để đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị khởi nghĩa khi mà tình hình quốc tế đang ngày càng thuận lợi, tháng 5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị Sửa soạn khởi nghĩa. Chỉ thị nhấn mạnh "... thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó... Vì thế, các công việc cần làm là phải đẩy mạnh cao trào cứu nước từ những cuộc đấu tranh giành quyền sống hàng ngày tiến lên đấu tranh giành chính quyền; thống nhất các tổ chức cứu quốc, đẩy mạnh tổ chức các đội tự vệ, du kích; lập quỹ mua súng và tự chế vũ khí. Chỉ thị cho rằng "chọn giờ phát động khởi nghĩa là một cái thuật", cần theo dõi sát thời cuộc để chọn đúng thời cơ khởi nghĩa.
Mặc dù không khí cách mạng đã sôi sục ở nhiều nơi song thời cơ khởi nghĩa chưa tới bởi ta chưa chuẩn bị được đầy đủ điều kiện cho hai lực lượng chính trị và vũ trang giành thắng lợi. Chủ trương phát động khởi nghĩa ở Võ Nhai để đối phó với cuộc càn quét lớn của thực dân Pháp tháng 10-1944 không thành công, lực lượng bị tổn thất, là một ví dụ sinh động về việc thiếu chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cho khởi nghĩa thắng lợi. Chính vì thế, khi được tin Liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng chủ trương phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, mới từ Trung Quốc trở về nước, đã quyết định hoãn lại. Người chỉ ra rằng: "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng là chỉ mới căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Trong điều kiện bây giờ, nếu phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên đánh du kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết thì sẽ gặp khó khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ bị khủng bố vừa rồi. Bởi vì các địa phương khác trong toàn quốc, tuy phong trào cách mạng đang lên cao, nhưng hiện chưa nơi nào có điều kiện chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng”1 (Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H.1997, tr.129) . Tình thế cách mạng trực tiếp chưa xuất hiện vào cuối năm 1944, vì thế, quyết định hoãn phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tránh cho Cao-Bắc-Lạng bị tổn thất trước sự khủng bố của kẻ thù. Người chỉ đạo: "Bây giờ thời kỳ cách mạng hoà bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự..."2 (Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr.130). Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với phương châm và nhiệm vụ hoạt động là chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, thực hành vũ trang tuyên truyền, kêu gọi và tổ chức toàn dân đứng lên, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này. Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, đã được thành lập, dưới sự tổ chức, chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngay sau khi thành lập, trong các ngày 25 và 26-12, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống trăm trận trăm thắng của lực lượng vũ trang nhân dân ta. Chỉ hơn một tuần sau khi thành lập, quân số của đội quân chủ lực đầu tiên này đã tăng lên tới một đại đội. Sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của Độí Việt Nam tuyên truyền Giải, phóng quân đã đánh dấu một thời kỳ mới của cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã có hai lực lượng chính trị và quân sự, với hai hình thức đấu tranh chính trị, quân sự phối hợp, trong đó lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang là cơ sở để xây dựng, phát triển cơ sở, củng cố, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Trong lúc này, tình hình thế giới đang biến chuyển mau lẹ, lực lượng phát xít ngày càng bị thất bại nặng nề trên các mặt trận, ở Việt Nam và Đông Dương, phát xít Nhật đã tiến hành đảo chính vào ngày 9-3-1945, lật đổ thực dân Pháp, giành quyền cai trị Đông Dương, ngăn ngừa hậu họa khi quân Đồng minh tiến vào khu vực này. Ngay trong đêm 9-3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng tại Đình Bảng, Bắc Ninh, nhận định điều kiện tình hình lúc đó chưa chín muồi cho cuộc khởi nghĩa bởi vì cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh trong khi các tầng lớp trung gian chưa ngả hẳn về phía cách mạng, đội tiên phong còn lúng túng trong việc chuẩn bị khởi nghĩa. Hội nghị nêu khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật”, "Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương" và chủ trương "phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa". Hội nghị cũng quyết định thay đổi hình thức vận 1 động tuyên truyền, tổ chức đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như: Tuyên truyền xung phong có vũ trang, biểu tình, bãi công chính trị, phá kho lương thực để cứu đói, qua đó cổ động, tập dượt cho quần chúng đấu tranh, tổ chức nhiều đội du kích vũ trang, lập thêm căn cứ địa, thống nhất các chiến khu và thành lập Việt Nam Giải phóng quân, tổ chức các Ủy ban quân sự cách mạng, phát động đánh du kích ở những nơi có điều kiện, sẵn sàng chuyển sang hình thức khởi nghĩa khi thời cơ đến. Các nội dung chủ yếu trên đây được nêu trong chỉ thị ngày 12-3-1945 "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", một văn kiện thể hiện tinh thần quyết tâm, sáng tạo, kịp thời của Đảng, trở thành kim chỉ nam hành động của quân và dân ta trong thời kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Từ sau ngày 9-3-1945, phong trào cách mạng phát triển mạnh. Các cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra tại nhiều địa phương. Đã xuất hiện hàng loạt các xã, châu, huyện "hoàn toàn". Nạn đói nghiêm trọng ở miền Bắc khiến hàng triệu người chết đói, đã càng làm tăng lòng căm thù của toàn dân đối với kẻ thống trị, càng nung nấu ý chí quyết tâm đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi quân thù, giành lại độc lập, tự do. Khẩu hiệu "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" trở thành khẩu hiệu chủ yếu để phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước lúc này, bởi nó vừa có nội dung kinh tế, vừa mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Khẩu hiệu này có tác dụng, ảnh hưởng rất lớn, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân, phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Năm, 2021, 10:36:17 am Nhằm chuẩn bị trực tiếp cho cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp tới, ngày 15-4-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang). Hội nghị nhận định rằng tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp; cần tích cực phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ. Hội nghị đã quyết định thống nhất tổ chức Cứu quốc quân với Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân, quyết định xây dựng và đánh thông 7 chiến khu trong cả nước gồm: Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo ở miền Bắc; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở miền Trung và Nguyễn Tri Phương ở miền Nam.
Các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa liên tiếp diễn ra: - Ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam. - Đầu tháng 5-1945, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng đồng thời chỉ thị gấp rút thành lập khu căn cứ cách mạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng. - Ngày 4-6, Khu giải phóng Việt Bắc, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang được thành lập. Tại các địa phương diễn ra nhiều cuộc phá kho thóc, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình vạch mặt phát xít Nhật và tay sai của nhân dân, do Việt Minh tổ chức, lãnh đạo, được lực lượng vũ trang hỗ trợ khiến chính quyền địch bị tê liệt. Trong khi đó, tình hình quốc tế biến chuyển theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng nước ta. Ở châu Âu, phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và Đồng minh không điều kiện (9-5-1945). Tại châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật liên tiếp bị thất bại và cuối cùng phải chấp nhận đầu hàng (15-8) sau khi Liên Xô đánh tan đạo quân chủ lực Quan Đông. Quân Nhật ở Đông Dương hoang mang, rệu rã. Chính phủ thân Nhật, do Trần Trọng Kim làm thủ tướng, hoàn toàn tê liệt. Tình thế cách mạng trực tiếp đã chín muồi. Thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa đã đến. Ngày 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát lệnh tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Ngày 14 và 15-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, nhận định: "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi. Hội nghị quyết định kịp thời lãnh đạo toàn dân khơi nghĩa giành chính quyền: đề ra đường lối đối nội, đối ngoại của Việt Minh trong tình hình mới. Ngày 16-8, cũng tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng là: lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước minh mà tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương. Đại hội đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, nhằm giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời, do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau khi Đại hội quốc dân bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào, các đoàn thể cứu quốc, cán bộ, chiến sĩ cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, tr.554). Kể từ ngày 14-8, cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra ở một số địa phương thuộc các tỉnh trên cả ba miền đất nước như Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc, Nghệ An, Thanh Hoá... Ngày 19-8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, nhân dân Thừa Thiên Huế nổi dậy giành chính quyền, buộc vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, phải thoái vị. Ngày 25-8, cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến ngày 28, các địa phương cuối cùng là Hà Tiên, Đồng Nai Thượng đã khởi nghĩa thành công. Như vậy, chỉ trong vòng 2 tuần, cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm và chế độ thống trị thực dân hơn 80 năm, đã bị lật nhào. Ngày 25-8-1945, từ Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 28-8, danh sách Chính phủ lâm thời được công bố. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cuộc Tổng khởi nghĩa - Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn toàn thắng lợi. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo và thực hành khởi nghĩa của Đảng, thể hiện ở mấy nội dung sau: 1. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã tập hợp được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân, nòng cốt là lực lượng công nhân, hông dân vì mục tiêu cao nhất và cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Trong tổng khởi nghĩa, toàn dân đă đồng loạt nổi dậy ở khắp ba miền, cả nông thôn đồng bằng, thành thị và rừng núi, tạo nên sức mạnh to lớn, áp đảo kẻ thù. Đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh đã chỉ rõ: "Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo"1 (Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, H.1975, tập 1, tr.374). 2. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã vận dụng thành công sách lược lợi dụng mâu thuẫn, phân hoá kẻ thù, tập trung lực lượng vào kẻ thù chủ yếu. Đảng đã xác định đúng và tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu, trước mắt là phát xít Nhật và tay sai đồng thời tranh thủ hoặc trung lập những phần tử trung gian, lừng chừng, làm tăng thêm lực lượng cho cách mạng. 3. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã chủ trương và vận dụng thành công sự kết hợp chặt chẽ hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa nổi dậy của quần chúng với đấu tranh quân sự. Đảng đã kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy chính quyền địch, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. "Cách mạng tháng Tám thành công căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận tiện nhất, khởi nghĩa giành chính quyền Nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi"2 (Văn kiện Đại hội 3, Nxb Sự thật, H.1960, tập 1, tr.145, 146). 4. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa và nghệ thuật chọn đúng thời cơ. Diễn biến cuộc tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước cho thấy, dưới sự chỉ đạo của Đảng và thông qua các tổ chức Việt Minh, từ nông thôn, đồng bằng, thành thị đến miền núi, khi có thời cơ, nhân dân đều đồng loạt nổi dậy, thậm chí ở cả những nơi chưa nhận được chỉ thị của cấp trên. Hình thái khởi nghĩa rất đa dạng, phong phú: có địa phương khởi nghĩa từ nông thôn lan về thành thị, có nơi từ thành thị lan về nông thôn, có nơi cả thành thị và nông thôn cùng khởi nghĩa. Có nơi quần chúng đấu tranh chính trị giành chính quyền, có nơi kết hợp giữa khởi nghĩa của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang. Từ khởi nghĩa từng phần các địa phương tiến lên tổng khởi nghĩa. Một trong những thành công trong nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa của Đảng ta là thường xuyên giữ vững, phát huy ưu thế chính trị, tinh thần của quần chúng cách mạng, tạo sức mạnh áp đảo đối với kẻ thù, nhanh chóng giành thắng lợi. Thành công lớn nhất, đặc sắc nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám là nghệ thuật chọn thời cơ. Tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện khi mà quân Nhật bại trận, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng; chính quyền tay sai tan rã, tỏ thái độ đầu hàng, khi mà cao trào kháng Nhật cứu nước đã lên tới đỉnh cao, những người lừng khừng, do dự đã ngả hẳn về phía cách mạng: khi mà Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức lãnh đạo tiên phong, đã được chuẩn bị đầy đủ và có quyết tâm cao. Thời cơ khởi nghĩa đã được xác định chính xác bởi nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, đó là lúc quân Đồng minh chưa kéo vào Đông Dương để giải giáp phát xít Nhật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập tự do, bởi lúc này đang diễn ra cuộc chạy đua giành quyền làm chủ đất nước Việt Nam, ta phải chớp thời cơ để giành chính quyền, lấy danh nghĩa người chủ của nước Việt Nam độc lập đề đón tiếp quân Đồng minh. Có thể thấy, Đảng ta đã thành công trong việc xem xét và vận dụng tình thế, điều kiện thời cơ để khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên mấy nội dung sau: thường xuyên bắt mạch thời cuộc, nhạy bén trước sự chuyến biến của tình thế: tích cực chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần, vừa tuân thủ những quy luật khách quan, vừa biết phát huy tính năng động chủ quan, coi đây là yếu tố quyết định cho việc tạo thời cơ và đón thời cơ khởi nghĩa; khi thời cơ lịch sử xuất hiện, Đảng đã sớm phát hiện kịp thời và có các chủ trương hành động mau lẹ, kiên quyết, sáng tạo để phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa. Ba nguyên tắc chỉ đạo thực hành tổng khởi nghĩa được Hội nghị toàn quốc của Đảng để ra là: tập trung, thống nhất, kịp thời (tập trung lực lượng vào những mục tiêu chính; thống nhất các mặt chính trị, quân sự, hành động và chỉ huy; kịp thời tổ chức hành động đồng loạt, không bỏ lỡ cơ hội) cộng với việc chọn đúng thời cơ khởi nghĩa đã làm nên thắng lợi lịch sử vang dội của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã chứng tỏ tài lãnh đạo, chỉ đạo thực hành khởi nghĩa của Đảng ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:25:16 am LỊCH SỬ CHIẾN TRANH, TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954) I- TIẾN TRÌNH CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1954) 1. Bối cảnh trước cuộc kháng chiến a) Trên trường quốc tế, Chiến tranh thế giới lần thứ II, một trong những sự kiện lớn của nhân loại trong thế kỷ XX, đã tạo nên những biến đổi quan trọng đối với bộ mặt thế giới. Về chính trị, quan hệ quốc tế đã có những thay đổi rất cơ bản. Đó là sự hình thành hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nhau: hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nếu trước Chiến tranh thế giới thứ II chỉ có Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) thì chỉ ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, một loạt nước ở Trung Đông và Nam châu Âu đã tuyên bố xây dựng mô hình Nhà nước theo kiểu Liên Xô, đi từ chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vậy là, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một nước để trở thành hệ thống thế giới. Chiến thắng của Liên Xô, các nước Đồng minh và nhân loại tiến bộ đối với chủ nghĩa phát xít đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt nước dân chủ nhân dân ra đời. Ở châu Âu có Ba Lan, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri, An-ba-ni, Nam Tư, Cộng hoà dân chủ Đức; ở châu Á có Việt Nam dân chủ cộng hoà, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triểu Tiên, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tại những nước này, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và công nhân, nhân dân lao động đang bắt tay vào việc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự hình thành và ngày càng lớn mạnh của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, mà Liên Xô là trung tâm, đã từng bước có ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển của tình hình thế giới sau chiến tranh. Liên Xô ra khỏi chiến tranh với tư thế của người chiến thắng, góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít nên có uy thế cao trên trường quốc tế. Nếu trước Chiến tranh thế giới lần thứ II, Liên Xô có quan hệ ngoại giao với 25 nước, thì ngay trong thời gian chiến tranh, Liên Xô đã kiến lập quan hệ ngoại giao với 26 nước nữa. Với nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô, kế hoạch khôi phục đất nước và phát triển kinh tế sau chiến tranh thu những thành tựu tốt đẹp, làm cho Liên Xô thêm vững mạnh, trở thành trụ cột cho các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Phong trào công nhân và nhân dân lao động tiến bộ vốn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và hoà bình, bảo vệ đất nước trong chiến tranh, tiếp tục duy trì và phát triển. Đây là đồng minh gắn bó với phong trào dân tộc và các quốc gia đang từng bước thiết lập thể chế nhà nước dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Phong trào giải phóng dân tộc, nhờ những điều kiện thuận lợi do Chiến tranh thế giới thứ II tạo ra, đã có bước phát triển mạnh mẽ. Nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh giành độc lập hoặc thoát khỏi ách phụ thuộc. Các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, đã thực hiện xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các nước khác như Ấn Độ, Mi-an-ma, In-đô-nê-xi-a, Ai Cập, Xi-ry..., do các đảng phái tư sản lãnh đạo, sau khi giành độc lập về chính trị, đã đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản mang tính dân tộc (được gọi là nước dân tộc chủ nghĩa), theo đuổi chính sách đối ngoại hoà bình và trung lập. Các phong trào và lực lượng nói trên hợp thành sức mạnh to lớn, được gọi là ba dòng thác cách mạng, dồn dập tiến công các thế lực thực dân, đế quốc và phản động quốc tế, tạo ra một cục diện mới, tích cực sau chiến tranh và trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Với các nước trong phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật, hậu quả chiến tranh để lại cho họ rất nặng nề. Bại trận, phải đầu hàng không điều kiện trước phe Đồng minh, các nước nói trên bị kiệt quệ về kinh tế và tiềm lực quốc phòng: chính trị, xã hội khủng hoảng nghiêm trọng; đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Các nước tư bản còn lại, tuy mang danh thắng trận, trừ Mỹ giàu lên. song bị suy yếu và chia rẽ. Nước Anh bị thiệt hại nhiều về quân số và bị tàn phá nặng nề bởi sự đánh phá của phát xít. Các nước thuộc địa và phụ thuộc của thực dân Anh như Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Ân Độ, Xây Lan (Xri-lan-ca), I-ran, Ai Cập, Y-ê-men... đã đứng lên đấu tranh làm tan rã hệ thống thuộc địa của đế quốc già cỗi này. Ở trong nước, chính trị, xã hội không ổn định, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống dâng cao. Đối phó với tình trạng trên, Anh chủ trương dựa vào Mỹ để nhận được viện trợ tái thiết đất nước và cũng qua đó bảo vệ duy trì lợi ích giai cấp và thực dân của họ. Nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cách xa chiến trường chính, nên chỉ bị tổn thất về người và phương tiện chiến tranh1 (Trong tổng số 12.300.000 quân tham chiến lúc cao nhất, có 1.218.828 binh lính bị chết, mất tích, bị thương và bị bắt, trong đó có 292.131 chết vì tai nạn, bệnh tật; 671.801 bị thương; 139.709 bị bắt, mất tích. Mỹ đã chi phí 336,7 tỷ USD vào cuộc chiến kể từ 1-7-1940 đến 31-8-1945, một số tiền khổng lồ so với thời bấy giờ (Bách khoa toàn thư quân sự Mỹ)). Hơn nữa, sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ là nước tham chiến duy nhất nhờ chiến tranh mà giàu lên do sản xuất và bán được nhiều vũ khí, kỹ thuật quân sự, thu lợi nhuận khổng lồ. Kinh tế phát triển, Mỹ trở thành nước duy nhất cho vay trên thế giới, có nhiều ngành sản xuất đứng đầu thế giới. Về quân sự, Mỹ có bom nguyên tử, có không quân và hải quân mạnh nhất thế giới thời đó. Với các thế mạnh trên, Mỹ đã trở thành nước đế quốc đầu sỏ, chi phối chính sách của các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và ráo riết theo đuổi chiến lược toàn cầu, toan thực hiện mưu đồ "sen đầm" quốc tế, thống trị thế giới. Tóm lại, đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ II là ba trào lưu cách mạnh có bước phát triển mới cùng tiến công chủ nghĩa đế quốc; Liên Xô đóng vai trò trụ cột cho lực lượng cách mạng nhưng sức mạnh còn hạn chế; Mỹ vươn lên cầm đầu phe tư bản, chống phá các phong trào cách mạng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:26:49 am b) Ở trong nước, sau Cách mạng tháng Tám, khí thế cách mạng tiếp tục dâng cao biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất trong cuộc chiến đấu mới bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Sức mạnh đó bắt nguồn từ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, từ trách nhiệm công dân của một nước vừa giành được độc lập, tự do. Đây thực sự là nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc gìn giữ, bảo vệ và xây đắp thành quả cách mạng mới giành được.
Thực tế các phong trào yêu nước, ủng hộ kháng chiến đã tỏ rõ điều đó. Toàn dân ta từ già trẻ, trai, gái phấn khởi, tự giác, nô nức tham gia các hoạt động chính trị, xã hội. Công nhân, nông dân đi đầu trong việc tham gia lực lượng vũ trang, tập luyện quân sự và các công việc khó khăn, nguy hiểm. Thanh niên, học sinh, sinh viên hăng hái tòng quân, hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Đông đảo trí thức sát cánh cùng những người lao động chân tay, đem trí tuệ, tài năng phụng sự Tổ quốc. Nhiều công chức chế độ cũ tự nguyện phục vụ chính quyền mới. Nhiều tư sản dân tộc, địa chủ yếu nước đã hiến một phần gia tài, điền sản cho đất nước. Đồng bào các dân tộc một lòng một dạ theo Cụ Hồ. Đồng bào theo đạo và kiều bào ta ở nước ngoài nêu cao lòng yêu nước, tham gia và ủng hộ kháng chiến theo khả năng của mình. Thuận lợi cơ bản thứ hai là sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đây là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong quá trình vận động cách mạng, tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thắng lợi và là nhân tố quyết định sẽ đưa kháng chiến đến thành công. Bởi, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, luôn xác định được đường lối đúng qua các giai đoạn cách mạng, luôn đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng và phát huy được khối đoàn kết toàn dân, tổ chức toàn dân hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng. Thuận lợi thứ hai là, hệ thống chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương tới địa phương và thực sự là người đại diện cho quyền lợi, ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Chính quyền các cấp sẽ chỉ đạo, tổ chức toàn dân vừa xây dựng đất nước, vừa kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong công cuộc đó, nhân dân ta có Quân đội được thành lập từ trước Cách mạng tháng Tám, với lực lượng vũ trang đông đảo, làm nòng cốt cho sự nghiệp kháng chiến. Một thuân lợi cơ bản khác là, do sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa, nhân dân ta được sự ủng hộ chính trị - tinh thần mạnh mẽ của loài người tiến bộ. Và, ngay từ sớm, chúng ta xác lập được sự phối hợp chiến đấu với nhân dân hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia. Cùng những thuận lợi cơ bản trên đây, bước vào cuộc kháng chiến, quân và dân ta cũng đứng trước những khó khăn, thử thách khắc nghiệt. Chính quyền dân chủ nhân dân ở các cấp đã ra đời, song trình độ về mọi mặt, hiệu lực quản lý, điều hành còn hạn chế. Ở một số nơi, do nhận thức chưa đúng đắn hoặc sự phân công, phân nhiệm không rõ ràng đã dẫn đến tình trạng bao biện, thậm chí nảy sinh mâu thuẫn giữa các ngành, các cấp. Mặt khác, cơ cấu, tổ chức và quản lý chính quyền nhiều nơi giản đơn, lỏng lẻo khiến một số phần tử hám danh, vụ lợi thậm chí có phần tử phản động lọt vào được bộ máy chính quyền. Lực lượng vũ trang đầy lòng yêu nước và khí thế cách mạng nhưng còn nhiều hạn chế. Cán bộ chỉ huy thiếu và phần lớn chưa được đào tạo, chỉ có số ít được học trong các trường võ bị của Pháp, Trung Hoa dân quốc. Vũ khí, trang bị vừa thiếu, vừa lạc hậu. Kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy vừa thiếu vừa yếu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn nhiều ấu trĩ. Nền kinh tế do chế độ cũ để lại kiệt quệ, các ngành sản xuất đình đốn. Kho bạc trống rỗng, không có nguồn thu tài chính đáng kể để triển khai việc xây dựng xã hội, bảo vệ chính quyền. Nạn đói 1945 chưa khắc phục được lại thêm thiên tai, mất mùa khiến đời sống hàng ngày của hàng triệu đồng bào cực kỳ khó khăn. Mặt khác, các tàn dư, tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại còn rất nặng nề, phổ biến. Trình độ dân trí thấp, đa số đồng bào thất học, mù chữ. Tình hình trên đây gây nhiều khó khăn đối với công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, xã hội, ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, ảnh hưởng tới sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân và dân cả nước. Trong khi đó, các thế lực đế quốc thực dân và phản động trong nước điên cuồng chống phá cách mạng, tìm mọi cách tiêu diệt Nhà nước công nông non trẻ. Đây là nguy cơ lớn nhất, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, tập trung toàn lực để đối phó. Trong khi thực dân Pháp, kẻ thù cũ và là đối tượng của cuộc kháng chiến lăm le tái xâm lược nước ta thì Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc cũng có mưu đồ riêng. Đối với cách mạng ba nước Đông Dương, trước sau Anh vẫn giữ thái độ thù địch. Với Anh, cách mạng ba nước Đông Dương thành công sẽ uy hiếp trực tiếp sự thống trị của Anh ở các thuộc địa rộng lớn khắp thế giới, nhất là khu vực Đông Nam Á như Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Ân Độ, Xri- lan-ca... vả lại, Anh câu kết với Pháp đối phó với cách mạng Đông Dương đồng thời là đối phó với sự chen lấn của Mỹ, nhằm mục tiêu chung là khôi phục, duy trì hệ thống thuộc địa của họ ở khu vực này. Ý đồ và nỗ lực trở lại Đông Dương của Pháp với sự hỗ trợ, giúp sức của Anh, đã vấp phải sự cản trở của tập đoàn Tưởng Giới Thạch - kẻ xưa nay vẫn luôn coi Đông Dương nằm trọng khu vực chiến trường do Trung Quốc, Mỹ phụ trách và đang ráo riết thực hiện âm mưu riêng với xứ sở này. Ngay từ cuối năm 1940, khi Đông Dương bị Nhật xâm chiếm, do có mưu đồ riêng, Mỹ chẳng những không giúp Pháp chống Nhật mà còn nuôi tham vọng biến Đông Dương thành khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ khi chiến tranh kết thúc. Vì vậy, Mỷ chủ trương sử dụng Tưởng Giới Thạch để thực hiện tham vọng trên. Tuy nhiên, sau khi Ru-dơ-ven chết, Tru-man lên làm Tổng thống Mỹ thì quan điểm của chính phủ Mỹ đối với vấn đề Đông Dương bắt đầu có những thay đổi. Tru-man từng bước điều chỉnh chính sách của Ru-dơ-ven đối với các Đồng minh chống phát xít theo hướng chống cộng, cô lập Liên Xô, do vậy Mỹ nhượng bộ đối với lập trường cứng rắn của Anh trong vấn đề Đông Dương. Điều đó cũng có nghĩa là Mỹ bất chấp nguyện vọng chính đáng về quyền tự quyết của các dân tộc Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng. Về thực chất, Mỹ đã thay đổi lập trường, mở đường cho Pháp núp bóng quân Anh trở lại Đông Dương cũng như bật đèn xanh cho quân đội Tưởng Giới Thạch tràn xuống khu vực Bắc Đông Dương. Pháp cố bám lấy lợi ích thực dân1 (Sau này, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích về lợi ích thực dân của Pháp, xem như nguyên nhân chính của công cuộc tái xâm lược. Ví như năm 1936 lợi nhuận được chuyển về Pháp (chủ yếu từ Việt Nam) là 1 tỷ phrăng, năm 1937 là 1,9 tỷ phrăng; về người, lính và thợ Việt Nam bị đưa sang Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất là 97.903 người, hai tháng đầu Chiến tranh thế giới thứ hai đã có 70.000 thợ phải sang lao động ở Pháp), lại bị thôi thúc bởi nhu cầu tái thiết nước Pháp sau chiến tranh. Chính J.Xanh-tơ-ni, đương thời là Ủy viên cộng hoà Pháp ở Bắc Đông Dương cho rằng xứ sở này, chiếm lấy "sẽ thành một mối lợi vô cùng lớn lao có thể đóng góp khá nhiều trong việc khôi phục kinh tế của nước Pháp"2 (J.Xanh-tơ-ni: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Pa-ri, 1967, tr.47). Trong khi đó, Đờ Gôn và những người thuộc phái kháng chiến Pháp, sớm đã có ý định khôi phục lại thuộc địa Đông Dương. Theo chỉ thị của Đờ Gôn, việc chuẩn bị kế hoạch và lực lượng để chiếm lại Đông Dương khi quân Đồng minh tiến công Nhật ở vùng này được gấp rút xúc tiến. Ngày 8-12-1941, trong khi toàn quyền Đông Dương, Đờ-cu, phải ký với Nhật một thoả hiệp phòng thủ chung thì Đờ Gôn, nhân danh Nước Pháp tự do, chính thức tuyên chiến với Nhật, về thực chất, quyết định trên của Đờ Gôn là nhằm dựa vào Anh và Mỹ để trở lại Đông Dương khi có thời cơ thuận lơi. Còn trước mắt, khi Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp (CFLN) thành lập (tháng 6-1943), công cuộc chuẩn bị trở lại Đông Dương được xúc tiến khẩn trương và Đờ Gôn xem đó là "Ưu tiên hàng đầu"1 (Trong công văn ngày 21-7-1943, Đờ Gôn chỉ thị: "Một cuộc vận động quân sự bên ngoài chính quốc nhưng được xếp ưu tiên trước mọi cuộc khác, đó là việc giải phóng Đông Dương". Dẫn theo Ph.Devillers - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.42). Tháng 8-1943, Đờ Gôn chỉ thị xây dựng đạo quân viễn chinh cho vùng Viễn Đông. Đạo quân này bao gồm trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 5 (5e RIC) và lữ đoàn cơ động Viễn đông (BMEO), do tướng Ble-dô (Balaizot) chỉ huy. Bên cạnh đó, Đờ Gôn quyết định thành lập Phái đoàn quân sự Pháp có trụ sở tại Căng-đi (Xri-lan-ca), Can-quýt-ta (Ân Độ), Côn Minh (Trung Quốc), hình thành mạng lưới những người Pháp theo phái "kháng chiến" ở Đông Dương, đặc biệt là trong quân đội... Như vậy, mặc dù chủ trương và biện pháp có sự khác nhau nhưng phái thân phát xít của Pê-tanh lẫn phái kháng chiến của Đờ Gôn đều cùng một mục đích thực dân nham hiểm là duy trì vị trí thống trị của Pháp ở Đông Dương, lập lại chế độ thuộc địa cũ ở xứ sở này. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:27:35 am Ngày 8 tháng 12 năm 1943, nhân kỷ niệm lần thứ hai ngày cuộc chiến Thái Bình Dương nổ ra và cũng là ngày tròn hai năm "Nước Pháp tự do" chính thức tuyên chiến với phát xít Nhật, Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp công bố "Tuyên ngôn của Chính phủ" về Đông Dương. Trong khi nhất mực khẳng định Đông Dương sẽ vẫn là xứ thuộc địa Pháp, nước Pháp sẽ tiếp tục chiến đấu bên cạnh các nước Đồng minh cho đến ngày "kẻ xâm lược thất bại và toàn bộ lãnh thổ Đông Dương được giải phóng", bản "Tuyên ngôn" đồng thời hứa hẹn "sẽ ban hành, trong nội bộ khối cộng đồng Pháp, một quy chế chính trị mới. Theo đó, trong khuôn khổ của tổ chức Liên bang (Đông Dương), những quyền tự do của các nước trong Liên bang sẽ được nới rộng và khẳng định; tính chất tự do rộng rãi của các tổ chức sẽ được nổi bật mà không hề mất đi dấu hiệu của nền văn minh và truyền thống Đông Dương"1 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Pơ-lông, Pa-ri, 1979, tr.53. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Thanh Quang, lưu Tư liệu Viện lịch sử quân sự Việt Nam). Phù hợp với sự cải cách quy chế chính trị ấy, nước Pháp cũng sẽ tiến hành những cải cách về quy chế kinh tế cũng như có sự điều chỉnh trong mối quan hệ với nước Trung Hoa. Tựu trung, toát lên từ những lời hứa hẹn "cải cách" trên đây giành cho Đông Dương là sự nỗ lực quay lại vùng đất này của giới lãnh đạo "Nước Pháp tự do". Vì thế, vào cuối năm 1944, sau khi thành lập Chính phủ lâm thời nước Cộng hòa Pháp (GPRF), Đờ Gôn tổ chức ra Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương do viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa phụ trách. Ủy ban này ráo riết bắt tay chuẩn bị mọi mặt cho việc "giải phóng Đông Dương" khỏi tay phát xít Nhật, tái lập ách thống trị thực dân của Pháp. Tuy thế, trong khoảng thời gian này, trên thực tế, Pháp vẫn chưa thể hành động được gì nhiều cho mục tiêu trở lại Đông Dương. Ngày 29-11-1944, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Gia-cô-bi tuyên bố: "Việc giải phóng Đông Dương đòi hỏi phải có những sự chuẩn bị và phải có thời hạn. Giữ nguyên trạng cho đến lúc có lệnh mới là lập trường phù hợp hơn cả với khả năng của nước Pháp”.
Bấy giờ, dưới tác động của một loạt các sự kiện liên quan tói cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, tình hình Đông Dương chuyển biến nhanh chóng. Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nắm quyền kiểm soát và trực tiếp điều hành mọi công việc trên toàn cõi Đông Dương. Quân đội Pháp tại đây hầu như không có phản ứng gì và phần lớn bị Nhật tước vũ khí, bắt làm tù binh. Sau hành động này của phát xít Nhật, ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn ra bản tuyên bố về vấn đề Đông Dương, chính thức xác nhận quan điểm của Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp đối với vùng đất mà người Pháp đã có mặt và áp đặt ách thống trị kéo dài ngót 80 năm. Xem việc trở lại nắm quyền thống trị Đông Dương như một lẽ đương nhiên, không bàn cãi, bản tuyên bố đồng thời vạch ra những nội dung chính của chế độ mà Pháp dự định áp dụng ở đây. Theo đó, "Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp và những nước khác của cộng đồng thành lập một "Liên hiệp Pháp" mà lợi ích bên ngoài sẽ do nước Pháp đại diện. [...] Đông Dương sẽ có riêng một chính phủ Liên bang do toàn quyền đứng đầu và gồm nhiều bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Chính phủ, chọn hoặc trong số những người Đông Dương hoặc trong số những người Pháp cư trú ở Đông Dương. [...] Một quốc hội bầu theo kiểu đầu phiếu nào thích hợp nhất với mỗi nước cũ Liên bang và trong đó lợi ích của nước Pháp sẽ đại diện, sẽ biểu quyết những khoản thuế mọi loại cùng ngân sách Liên bang và thảo luận những dự án luật. [...] Ông toàn quyền là người trọng tài của tất cả trong lợi ích riêng của mỗi nước [...]. Liên bang Đông Dương sẽ được hưởng, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, một chế độ tự trị kinh tế cho phép nó đạt mức phát triển cao nhất về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại"...1 (Dẫn theo Ph.Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội, Sđd, tr.84, 85). Qua những nội dung chủ yếu trên đây trong bản tuyên bố sau ngày Nhật đảo chính Pháp, có thể thấy rằng, chế độ chính trị mà Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp dự định lập lại ở Đông Dương, ngoại trừ một vài điều chỉnh nhằm mị dân, về thực chất vẫn chỉ là một chế độ thực dân kiểu cũ: Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang, có một chính phủ chung. Chính phủ chung này do một viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu. Bên cạnh viên Toàn quyền, một hội đồng nhà nước với số thành viên người Đông Dương không quá 50% sẽ được thành lập; một quốc hội cũng được bầu ra mà thành phần và hoạt động của nó phải phản ánh đầy đủ quyền lợi của nước Pháp... Nhất quán với ý đồ quay lại Đông Dương, ngày 2 tháng 5 năm 1945, Bi-đôn (G.Bidault) - Bộ trưởng ngoại giao Pháp lúc bấy giờ đang tham dự Hội nghị San Phran-xi-xcô đã tuyên bố: Quyết định tương lai của Đông Dương phụ thuộc vào nước Pháp và chỉ có nước Pháp mà thôi (!). Đồng thời với những tuyên bố trên đây, Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp tiếp tục đẩy mạnh việc chuẩn bị mọi mặt để trở lại Đông Dương. Số quân Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam dạt sang biên giới Việt - Trung sau khi Nhật đảo chính được lệnh bám chắc và cầm cự ở vùng biên giới chờ thời cơ. Các đại diện Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp được cử đi thăm dò thái độ cũng như tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của các nước Đồng minh chống phát xít về việc Pháp trở lại Đông Dương. Pháp chính thức yêu cầu Trung Hoa dân quốc và Mỹ giúp đỡ và trang bị lại cho những đơn vị quân Pháp dạt sang đất Trung Quốc, để những đơn vị này có đủ điều kiện trở lại Việt Nam khi tình hình cho phép. Tại Vân Nam (Trung Quốc), một nhóm vũ trang người Pháp do viên tướng Sa-bá-chi-ê (Sabatier) cầm đầu được tổ chức. Tại Can-quýt-ta (Ấn Độ), quân Anh giúp Pháp tổ chức, huấn luyện và trang bị một trung đội quân Pháp. Trung đội này, trên danh nghĩa là một bộ phận của quân Anh nhưng thực tế là lực lượng quân sự mà Pháp chuẩn bị tung vào Đông Dương. Cùng thời gian này, Phái đoàn quân sự Pháp (M.5) tại Côn Minh ráo riết móc nối, liên kết và thiết lập hệ thống tình báo trên vùng biên giới Trung - Việt. "Cơ quan tổng chỉ đạo nghiên cứu và tìm tòi" (DGER) do đại tá Pát-xi Đờ Oa-vơ-xanh (Passy De Wavsin) phụ trách, có căn cứ đặt tại Can-quýt-ta, dưới tên gọi Ban liên lạc Pháp tại Viễn Đông (SLFE0) được thành lập nhằm điều phối các hoạt động chống Nhật, chuẩn bị cho việc Pháp trở lại Đông Dương. Hướng mạnh theo nỗ lực này, Pháp tung các toán biệt kích xuống hoạt động ở vùng rừng núi Việt Nam và Lào; cải tổ uỷ ban hành động giải phóng Đông Dương thành Ủy ban Đông Dương do chính Đờ Gôn làm chủ tịch; thành lập Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) - sau đổi thành Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CEFEO). Đạo quân này bao gồm sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9e DIC) do Va-luy (Valluy) chỉ huy, bấy giờ đang đóng trên đất Đức; binh đoàn thiết giáp do Mát-suy (Massu) chỉ huy và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3e DIC)... Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Đờ Gôn quyết định cử Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (Thierry d'Argenlieu) làm Cao uỷ kiêm Tổng tư lệnh lực lượng hải-lục-không quân Pháp tại Viễn Đông và tướng Lơ-cléc (Leclerc d' Haute Cloque) làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Viễn Đông. "Sứ mệnh đầu tiên của Cao uỷ là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ của Liên bang Đông Dương. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự-tại Viễn Đông chịu trách nhiệm dưới quyền Cao uỷ, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó"1 (Chỉ thị của Đờ Gôn gửi Đác-giăng-li-ơ ngày 16-8-1945. Dẫn theo Ph.Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội, Sđd, tr.131). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:29:29 am 2. Những chặng đường phát triển của cuộc kháng chiến
a) Từ kháng chiến ở miền Nam đến kháng chiến toàn quốc. Đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân pháp (9-1945-12-1947) Trải qua gần một trăm năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do. Nhưng thành quả vĩ đại đó đang bị kẻ thù uy hiếp, đe dọa nghiêm trọng. Ở miền Bắc, theo quyết định của Hội nghị Pốt-xđam, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc vào giải giáp phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Quân Tưởng ráo riết thực hiện âm mưu tiêu diệt cách mạng Việt Nam, lập chính quyền tay sai. Đứng sau Tưởng là đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, quân Anh vào giải giáp phát xít Nhật và vì lợi ích thực dân, họ giúp Pháp quay lại Đông Dương. Đến trung tuần tháng 9 năm 1945, hai đại đội quân viễn chinh Pháp, núp dưới bóng quân Anh, đã có mặt ở Sài Gòn và những tù binh Pháp mới được thả. Cộng với số Pháp kiều được vũ trang cùng quân Anh, quân Nhật thì lực lượng nước ngoài có mặt tại đây đã lên tới hơn 10.000 tên. Đêm 22 rạng sáng 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh tiếp tay, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn - Chợ Lớn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Việt Nam1 (Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược đã bùng nổ trên chiến trường Nam Bộ, ngày 23 tháng 9 năm 1945; 19 tháng 12 năm 1946 là mốc mở đầu kháng chiến toàn quốc). Chúng tập kích trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, Sở Cảnh sát, trại Cộng hoà vệ binh, cơ quan Quốc gia tự vệ cuộc (công an), nhà Ngân hàng, Khám Lớn, sở Bưu điện... nhằm tiêu diệt, vô hiệu hoá cơ quan đầu não của toàn Nam Bộ, nhanh chóng chiếm thành phố rồi đánh toả ra các nơi. Ngay buổi sáng ngày 23, Xứ uỷ và Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã họp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn), có các đồng chí Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng,... và Hoàng Quốc Việt, thay mặt Trung ương dự, xác định chủ trương kiên quyết đánh và phát động nhân dân Nam Bộ đứng dậy kháng chiến. Ta đánh trả địch ở khắp nơi. Sài Gòn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Công sở, hàng buôn, xí nghiệp đóng cửa. Chợ không họp, xe ngừng chạy. Nhà máy điện, nhà máy nước bị phá. Bàn, ghế, giường, phản, hòm tủ... được liệng ra đường. Vật chướng ngại mọc lên khắp nơi. Tự vệ, xung phong công đoàn triển khai tại các vị trí chiến đấu. Đồng bào ngoại thành phá đường, đào chiến hào, lập chiến luỹ ở Thị Nghè, Khánh Hội, cầu Bông, cầu Kiệu... Hừng hực khí thế Nam Bộ vào trận: "Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng..."1 (Lời bài hát "Nam Bộ kháng chiến" của Tạ Thanh Sơn, in trong tập Mùa thu rồi ngày hăm ba (nhiều tác giả), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.514) Ngày 26, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, có đoạn: "Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ... Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!"2 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.363). Máu chảy ruột mềm, cả nước dấy lên phong trào sôi nổi ủng hộ kháng chiến miền Nam. Khắp nơi liên tiếp diễn ra mít tinh, biểu tình biểu thị quyết tâm kháng chiến, kiên quyết bảo vệ độc lập tự do. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện vào Nam giết giặc. Đông đảo công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, thầy giáo, viên chức... và cả một số nhà sư cũng cởi áo cà sa tình nguyện lên đường chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn) Nam tiến và lên đường vào Nam chiến đấu. Ngay trong tuần lễ đầu, quân Pháp đã chịu nhiều tổn thất gặp nhiều khó khăn, đứng trước "một cuộc chiến tranh kỳ lạ", như nhận định đương thời của hãng Roi-tơ. Nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn được chia thành 16 khu tác chiến ngoại thành dần dần hình thành 3 mặt trận: phía Đông, phía Tây và phía Nam bao vây vòng ngoài. Tuy nhiên, sự phối hợp của các khu tác chiến kém ăn ý, vòng vây phía ngoài không xiết chặt lại được, do khu vực quá rộng, cửa ngõ quá nhiều. Tháng 10, có thêm viện binh, địch sử dụng tầu Anh, trương cờ Anh và dùng cơ giới theo các đường thuỷ bộ phá được vòng vây đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ. Trong khi đó, tại Nam Trung Bộ, ta phải đối phó với quân Nhật, do quân Anh điều khiển, tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược. Theo chủ trương, ta hết sức tránh xung đột với Nhật, trừ ở những nơi họ cố tình đánh chiếm mục tiêu để giao cho Pháp, như các trận trên đường 14 Nam Bộ - Buôn Ma Thuột, đường 21 Tây Nguyên - Ninh Hoà. Tại nhiều nơi như Nha Trang, Ba Ngòi... quân Nhật nghe theo sự giải thích của ta, rút về vị trí tập kết và đôi khi còn để lại cho ta một số vũ khí1 (5.000 quân Nhật ở Ba Ngòi khi rút về Cam Ranh đã để lại trên 1.000 súng, một số máy vô tuyến điện và quân trang, xăng dầu). Đêm 19 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ thêm quân lên đảo Hòn Cau, tiến chiếm Nha Trang. Bộ đội Nam tiến cùng quân và dân địa phương dựa vào dãy điểm cao phía Tây và ven sông Xóm Bóng bao vây địch ở Nha Trang, ngăn cản chúng phát triển chiếm Tây Nguyên và vùng lân cận. Cuối tháng 1 năm 1946, 15.000 quân Pháp, do Lơ-cle trực tiếp chỉ huy mở cuộc hành quân Gô (Gaur) đánh ra các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Đến đầu tháng 2, chúng chiếm được một số thị xã, thị trấn và đường giao thông. Lực lượng ta vẫn làm chủ vùng nông thôn Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng bộ đội Nam tiến chiến đấu cực kỳ dũng cảm. Nhưng địch có lực lượng lớn, ta lại chưa được chuẩn bị nên không thể làm chủ tình thế, không tránh khỏi bị tổn thất. Sau khi chiếm được các địa bàn then chốt và kiểm soát các đường giao thông chính ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, mục tiêu tiếp theo của Pháp là đưa quân ra miền Bắc. Nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược lan rộng đang đến gần. Ta chủ trương tạm hoà hoãn với thực dân Pháp, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc. Trên tinh thần đó, đại diện Chính phủ ta đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, hai bên họp trù bị ở Đà Lạt (cuối tháng 4 đầu tháng 5) chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức. Cuộc đàm phán Việt-Pháp khai mạc ngày 6-7-1946 tại Phông-ten-nơ-blô. Tuy nhiên, do lập trường của giới thực dân hiếu chiến Pháp, thiện chí và mọi cố gắng đối ngoại của ta đều không được đáp ứng. Bản Tạm ước, bước "nhân nhượng cuối cùng" của ta, được ký ngày 14-9, cũng không được phía Pháp tôn trọng. Những vấn đề chủ yếu liên quan đến vận mệnh Tổ quốc ta chưa được giải quyết. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:31:26 am Tận dụng thời gian hoà hoãn, ta ra sức củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược ở quy mô mới. Ngày 28-5-1946, với sắc lệnh 71/SL Vệ quốc quân chính thức trở thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đặt nền tảng đầu tiên cho việc xây dựng quân đội chính quy của một quốc gia độc lập. Một số binh chủng kỹ thuật bước đầu được xây dựng. Đông đảo thanh niên được động viên gia nhâp quân đội. Đến cuối năm 1946, tổng quân số có hơn 82.000 người, tăng 32.000 so với cuối năm 1945. Toàn quốc có gần 1.000.000 tự vệ và du kích. Khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ra đời. Chính quyền được củng cố. Chính phủ Liên hiệp quốc dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, gồm đại biểu các đoàn thể, đảng phái yêu nước được thành lập.
Trên mặt trận đối ngoại, cùng với việc làm cho thế giới hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, quan hệ đoàn kết sát cánh chiến đấu Việt - Lào - Cam-pu-chia bước đầu được xác lập. Uỷ ban nhân dân Nam Bộ hết sức giúp đỡ những người kháng chiến Cam-pu-chia tạo dựng cơ sở. Bộ đội Ít-xa-la và Liên quân Lào-Việt đã có những trận phối hợp chiến đấu. Về kinh tế, ruộng đất ngập lụt trước đây, nay cấy được 2 vụ. Diện tích trồng cây lương thực và sản lượng tăng từ hai đến năm lần. Các địa phương bắt đầu thực hiện giảm tô, chia ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo. Phong trào xoá nạn mù chữ lan rộng ra cả nước. Trong vòng một năm, có 79.665 giáo viên phụ trách 75.806 lớp; 2.585.589 người biết đọc, biết viết. Tháng 11 năm 1946, Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ nhất họp tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra phương châm của công tác văn hoá Việt Nam là: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng. Cách mạng nước ta từ thế "ngàn cân treo sợi tóc" chuyển sang thế vững chắc hơn, đủ khả năng đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Cùng với các hoạt động đàm phán, thương lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần gửi điện, thư, thông điệp tới phía Pháp yêu cầu cùng tìm giải pháp tháo gỡ bế tắc trong quan hệ giữa hai bên. Đầu tháng 12 năm 1946, Người tuyên bố: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng mọi cách... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm, thì chúng tôi sẽ làm"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tập 4, tr. 201) . Sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ, nhận rõ khả năng hoà hoãn không còn, không sớm thì muộn thực dân Pháp sẽ mở rộng chiến tranh xâm lược, cùng với công tác thường xuyên là xây dựng và củng cố Nhà nước, các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu được kiện toàn. Quân uỷ hội và Bộ Quốc phòng thống nhất thành Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy. Cả nước được chia thành 12 chiến khu, thuận tiện cho việc chỉ đạo chiến tranh và phát huy khả năng độc lập của địa phương khi chiến trường bị chia cắt. Bộ Tổng tham mưu đảm trách vạch kế hoạch tác chiến; các địa phương cũng vạch kế hoạch tác chiến của mình. Đội công tác đặc biệt, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, được Trung ương phái lên Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Công tác chính trị - tinh thần, tuyên truyền giáo dục kháng chiến được triển khai. Tất cả đều sẵn sàng kháng chiến cứu nước. Sáng 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư cho ta, đòi tước vũ khí của tự vệ, công an, đòi ta phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến và để cho chúng giữ trật tự trong thành phố. Chủ tịch Hồ Chí Minh phái ông Hoàng Minh Giám chuyển thư của Người tới Xanh- tơ-ni, yêu cầu ông ta gặp đại diện Chính phủ Việt Nam để "tìm một giải pháp cải thiện bầu không khí hiện tại". J.Xanh-tơ-ni khước từ. Cùng ngày 19, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) xác định đường lối và quyết định phát động kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Đường lối kháng chiến hình thành từng bước trong quá trình chỉ đạo kháng chiến ở miền Nam từ 16 tháng trước. Ta đã nhận thức sâu sắc rằng đánh với một cường quốc thực dân, đồng bào ta chắc chắn phải chịu nhiều hy sinh gian khổ. Trong bút ký "Công việc khẩn cấp bây giờ" (5-11-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phải làm cho dân ta có tín tâm và quyết tâm, "Cố rán sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân"1 (Văn kiện Đảng 1945-1954. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng TW xuất bản, Hà Nội 1978, tập I, tr.101). Những vấn đề cơ bản của đường lối kháng chiến chứa đựng trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" (19-12- 1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ thị "Toàn dân kháng chiến” (12-12-1946) của Thường vụ Trung ương Đảng. Sau đó, Tổng bí thư Trường Chinh viết một loạt bài giải thích làm sáng tỏ đường lối: "Chúng ta đánh ai?", "Đánh để làm gì?", "Tính chất cuộc kháng chiến của ta", "So sánh hơn thua"...1 (Đăng trên báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1947, in sách lần đầu tiên với tiêu đề Kháng chiến nhất định thắng lợi vào tháng 9 năm 1947). Với mục tiêu chân chính ’’đánh phản động thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất và độc lập", cuộc kháng chiến của ta sáng ngời tính chất chính nghĩa. Đường lối chung chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh2 (Trong các văn kiện đương thời chưa dùng khái niệm "tự lực cánh sinh" nhưng nội dung của chúng đã toát lên tinh thần đó). Đế quốc Pháp xâm lược nước ta thì toàn dân ta phải nhất tề đứng lên chống giặc. Với chiến lược toàn dân kháng chiến, ta có thể đánh địch ở khắp nơi, đâu đâu cũng là trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ. Toàn dân kháng chiến là nét đặc sắc, là nội dung chủ yếu, là tư tưởng chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng của cuộc chiến tranh nhân dân. Chiến tranh là một cuộc thử thách toàn diện đối với toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần của đất nước. Kẻ thù dùng chiến tranh tổng lực, ta phải huy động đến mức cao nhất, về mọi mặt, sức mạnh của toàn dân, phải đánh địch trên mọi mặt trận, kháng chiến toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, ngoại giao... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:32:23 am Nắm chắc quy luật vận động, chuyển hoá tương quan lực lượng, ta chủ trương "kháng chiến lâu dài”. Là bên xâm lược, địch muốn đánh nhanh. Ta đánh lâu dài làm cho chỗ yếu cơ bản của chúng ngày càng lộ rõ, chỗ mạnh của chúng ngày một hạn chế; chỗ yếu của ta dần dần được khắc phục, chỗ mạnh của ta ngày một phát huy đến lúc tương quan lực lượng có lợi cho ta, không lợi cho địch. Cuộc kháng chiến được dự kiến chia làm 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và phản công1 (Xem: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.61-172, các giai đoạn phân kỳ như sau: Giai đoạn I: 9-1945 đến 12-1947; giai đoạn II: từ đầu năm 1948 đến thu đông 1950; và giai đoạn III: từ 1951 đến 7-1954. Các giai đoạn đều được xác định nội dung cụ thể).
Ta chủ trương "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Dựa vào sức mình là dựa vào sức lực của toàn dân, dựa vào các điều kiện nhân hoà, địa lợi, thiên thời của đất nước; đồng thời xây dựng tình đoàn kết và ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế. Là một bộ phận của đường lối cách mạng mà những nét cơ bản đã được vạch ra trong tác phẩm "Đường kách mệnh" và các văn kiện tiếp đó của Đảng, đường lối kháng chiến vì thế được vạch ra đúng đắn và kịp thời. 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta tại các đô thị nổ súng đánh địch, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Ở Vinh, quân Pháp có một trung đội, đã phải đầu hàng. Ở Bắc Giang, Bắc Ninh mỗi nơi Pháp có một đại đội, sau mấy ngày cố thủ, chúng tháo chạy. Ở Hải Dương và Hồng Gai, mỗi nơi Pháp có gần một tiểu đoàn; một số đơn vị đóng lẻ bị diệt. Cuộc chiến đấu quyết liệt, dài ngày diễn ra tại Hà Nội, Nam Định, Huế và Đà Nẵng. ! Tại Nam Định, 650 quân Pháp dựa vào công sự và các kiến trúc kiên cố, cố thủ. Quân ta vây hãm, có chỗ chỉ cách địch một mặt đường, nhưng không có vũ khí công phá, nên không diệt được mục tiêu. Sau khi giải vây Hà Nội, địch tăng viện cho Nam Định. Chúng đổ bộ bằng đường thuỷ và đường không, kết hợp với lực lượng tại chỗ phá vây. Lực lượng ta rút về nông thôn sau 83 ngày đêm vây hãm và tiếp tục thường xuyên luồn vào nội thành đánh phá, quấy rối địch. Tại Huế, bộ đội, tự vệ cùng nhân dân dựng chiến luỹ dựa vào sông Hương, sông An Cựu và đường số 1 bao vây 750 lính Pháp suốt 50 ngày đêm. Đà Nẵng, cửa ngõ miền Trung, quân Pháp ở đây lên đến 6.500 tên. Do thiếu sót trong chỉ huy, nên kế hoạch tiến công phủ đầu quân địch không thực hiện được. Nhiều trận đánh ác liệt diễn ra tại Cổ viện Chàm, Ngã Năm, bốt Đội Cung... Sau một tuần, bộ đội và tự vệ rút dần ra ngoài cùng nhân dân các huyện Hoà Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên... lập vành đai chặn địch. Tiêu biểu cho cả nước là cuộc chiến đấu tại Hà Nội. Quân địch ở đây gồm 6.500 tên và 13.000 Pháp kiều, nhiều người được vũ trang. Chúng ở những nơi quan trọng, tạo thành thế bao vây chia cắt nội thành Hà Nội, không chế những nơi đóng quân và kèm sát các cơ quan đầu não của ta. Theo kế hoạch, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy. Đèn điện phụt tắt. Hiệu lệnh tiến công đã phát. Các pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo... đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu đã định. Nhân dân khuân bàn, ghế, giường, tủ, bao hàng... ra đường lập chiến luỹ, ngả cây cối, cột điện, toa tàu ngăn chặn địch. Quân Pháp tung lực lượng ra phản kích. Ta và địch giành đi giật lại ở nhiều nơi như Toà Thị chính, Bắc Bộ phủ, Bưu điện Bờ Hồ. Sau 4 ngày, tiểu đoàn 101 chuyển vào Liên khu I (trung tâm Hà Nội), các tiểu đoàn khác bố trí ở Liên khu II và III (phía Nam và Tây Nam thành phố), thực hiện kế "trùng độc chiến" theo cách nói của Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ. Vậy là thế trận "trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh" hình thành. Ta triệt để vận dụng cách đánh du kích, không cố thủ ở nơi nào lâu, dựa vào từng căn nhà, từng góc phố đánh địch. Nhiều gương chiến đấu hy sinh dùng cảm đã xuất hiện. Lê Gia Định đập bom trước thềm Bắc Bộ phủ, trung đội trưởng Trần Thành ôm bom ba càng lao lên phá xe tăng địch trước chợ Hôm, hai mươi nam nữ tự vệ Bưu điện Bờ Hồ chiến đấu đến người cuốỉ cùng, thà chết không chịu lọt vào tay giặc... Vừa chiến đấu vừa xây dựng, trưởng thành. Tháng giêng 1947, Trung đoàn Liên khu I, sau được mang tên Trung đoàn Thủ đô, ra đời. Kế đó là Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 sinh ra trên các cửa ô. Để duy trì chiến đấu, giếng nước được đào ngay trên hè phố, những bao đậu chất làm chiến lũy được lấy ngâm giá thay rau, bãi sông Hồng là đường tiếp tế, liên lạc vào Liên khu I. Nhưng từ 15 tháng 1 năm 1947, có viện binh, quân Pháp mở các cuộc tiến công lớn chiếm các cửa ô, hãm chặt Liên khu I. Tiếp tế ngày một khó khăn, lương thực, thuốc men, đạn dược cạn kiệt, đêm 17 tháng 2 năm 1947, lực lượng của ta ở Liên khu I làm cuộc rút quân "thần kỳ" về hậu phương an toàn. Ta đã tiêu hao tiêu diệt nhiều địch, vây hãm chúng suốt 2 tháng, vượt nhiều so với thời gian dự kiến. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta tại đô thị suốt gần 3 tháng có ý nghĩa rất lớn. Ta đã chủ động mở đầu kháng chiến toàn quốc đúng lúc, khi khả năng hoà hoãn không còn, ta có chuẩn bị và viện binh Pháp còn lênh đênh trên biển. Ngoài việc tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận địch, ta đã bảo vệ được an toàn cơ quan đầu não và bảo tồn lực lượng kháng chiến, giành được khoảng thời gian chiến lược quý báu để tiếp tục chuyển đất nước vào thời chiến và đẩy lùi âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch. Vừa chiến đấu, ta vừa xây dựng đất nước về mọi mặt và bước đầu triển khai thế trận chiến tranh nhân dân. Ngay từ tháng 11 năm 1946, máy móc, nguyên vật liệu, lương thực, muối... đã dần dần được chuyển về các nơi dự kiến địch chưa đánh tới, lên Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào tản cư và phá hoại để kháng chiến. "Phá cho bọn Pháp không lợi dụng được, để chặn chúng lại"... Bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ và nhân viên Nhà nước. Trong thư gửi các đồng chí Bắc Bộ tháng 3 năm 1947, tiếp đó trong thư gửi các đồng chí Trung Bộ, Chủ tịch yêu cầu cán bộ, đảng viên tu dưỡng, gương mẫu về đạo đức, trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ, một lòng một dạ vì dân. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:33:22 am Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, một đợt phát triển đảng viên mới được triển khai. Đến cuối năm 1947, tổng số đảng viên lên tới 70.000 người. Thanh niên khắp nơi nô nức, tình nguyện gia nhập quân đội trực tiếp đánh giặc đưa bộ đội chủ lực lên tới 120.000 người vào cuối năm 1947.
Trong điều kiện khó khăn của kháng chiến, Nhà nước ta vẫn tìm mọi biện pháp bồi dưỡng sức dân và ổn định đời sống cho đồng bào. Chính phủ ban hành nhiều chính sách về nông nghiệp để duy trì và phát triển sản xuất. Mọi người đều có nghĩa vụ sản xuất lương thực, theo khẩu hiệu "thực túc binh cường", "ăn no đánh thắng". Kháng chiến trong điều kiện bị bao vây, sản xuất quốc phòng được đặc biệt chú trọng. Ngay trong đợt tổng di chuyển đầu tiên, ta đã đưa được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên vật liệu ra vùng tự do, nhờ đó xây dựng được 57 cơ sở sản xuất (trừ Nam Bộ đã thực hiện từ trước). Đây là vốn liếng quý báu tạo nên cơ sở ban đầu để từng bước tăng cường tiềm lực kháng chiến. Tiền tệ được giải quyết trên cơ sở lòng yêu nước của nhân dân: giấy bạc Việt Nam (thường gọi là "bạc tài chính”) được tin dùng. Nam Trung Bộ được phép phát hành tín phiếu; Nam Bộ được phép đóng dấu vào giấy bạc Đông Dương từ loại 100 đồng (in màu đỏ) trở xuống để chi tiêu. Trên mặt trận văn hoá, khoa học chúng ta có rất nhiều cố gắng. Đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ khoác ba lô lên đường kháng chiến, ví như các cụ Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Tố, các giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tổn thất Tùng, Trần Hữu Tước, Hồ Đắc Di, luật sư Phan Anh, v.v... Một số cơ sở đại học và trung học chuyển từ Hà Nội lên Việt Bắc tiếp tục hoạt động. Đến cuối năm 1947, đã có hàng ngàn trường tiểu học và trung học thu hút hàng vạn con em nhân dân đến lớp. Phong trào bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ được duy trì và phát triển mạnh mẽ. Đêm đêm, trên khắp các làng bản thuộc vùng tự do lập loè ánh đuốc của học viên tới lớp. Đến cuối năm 1947, nhiều tỉnh thanh toán xong nạn mù chữ cho 60-70% đồng bào; toàn quân đã thanh toán xong nạn mù chữ. Nền văn hoá, giáo dục được xây dựng và phát triển toàn diện ngay trong khói lửa chiến tranh, tỏ rõ sức sống mãnh liệt của một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến. Về đối ngoại, ta đã đặt cơ quan đại diện ở Thái Lan, Miến Điện và cử một số đoàn đại biểu đi dự hội nghị quốc tế. Thành tựu thuộc các lĩnh vực kể trên đã tạo lập nên những yếu tố cơ bản của thế trận chiến tranh nhân dân đủ sức đối phó với cuộc tiến công sắp tới của địch và từng bước được bổ sung, xác lập vững chắc đáp ứng yêu cầu kháng chiến lâu dài. Từ giữa năm 1947, quân Pháp ráo riết chuẩn bị cho cuộc tiến công vào căn cứ địa Việt Bắc, nhằm chộp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của cả nước, tiêu diệt phần lớn chủ lực ta, bịt kín biên giới, dùng thắng lợi quân sự thúc đẩy việc lập ngụy quyền. Họ muốn "đánh đòn quyết định", thực hiện ý đồ "đánh nhanh thắng nhanh", kết thúc chiến tranh. Dự đoán "nếu mạo hiểm địch sẽ tiến công Việt Bắc", ta ra sức chuẩn bị đối phó. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, hơn 12.000 quân Pháp bắt đầu tiến công Việt Bắc. Trên trời, quân dù do trung tá Sô-va-nhắc chỉ huy nhảy xuống Bắc Kạn và Chợ Mới, trung tâm căn cứ địa. Dưới đất, một cánh do đại tá Bô-phrê chỉ huy từ Lạng Sơn theo quốc lộ 4 tiến lên Cao Bằng, theo quốc lộ 3 xuống Bắc Kạn tạo thành gợng kìm dài hơn 420 ki-lô-mét kẹp phía Đông, mặt sau Việt Bắc; cánh phía Tây, binh đoàn Com-muy-nan xuất phát từ Hà Nội, theo sông Hồng, sông Lô và sông Gâm lên Việt Trì, Tuyên Quang, Chiêm Hoá, tạo thành gọng kìm dài 250 ki-lô-mét. Bước thứ nhất của kế hoạch tiến công mang mật danh Lê-a1 (Lê-a: Tên một ngọn đèo cao 1.362 mét trên đường số 3 giữa Nguyên Bình và Bắc Kạn). Cả nước được lệnh đẩy mạnh tác chiến, chia sẻ lực lượng địch. Bộ đội được điều chuyển bố trí gồm 3 mặt trận sông Lô, đường số 3 và đường số 4. Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và Tổng thanh tra Quân đội trực tiếp xuống từng mặt trận. Ta chủ trương "du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phù trợ" và chỉ đạo đánh mạnh vào hai gọng kìm, triệt giao thông tiếp tế địch. Bộ Tổng chỉ huy sáng tạo phiên chế bộ đội thành 30 đại đội độc lập đưa về các địa phương phát động chiến tranh du kích và xây dựng cơ sở, 18 tiểu đoàn tập trung dựa vào phong trào chiến tranh du kích đánh những trận quy mô nhỏ. Cách đánh đó cùng phong trào làm "vườn không, nhà trống" của đồng bào khiến quân địch đi đến đâu cũng bị đánh, sinh lực hao mòn, tiếp tế khốn đốn. Khe Lau, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bông Lau, Chợ Đồn, Chợ Mới, v.v... là những nơi quân Pháp bị đòn đau. Suốt một tháng rưỡi quân Pháp tìm cơ quan đầu não của ta thì không thấy, tìm chủ lực Việt Minh để giao chiến thì không gặp, tổ chức chiếm đóng khó khăn ngày một tăng, rút quân thì mục tiêu chưa đạt. Thật là tiến thoái lưỡng nan. Cuối tháng 11-1947, quân Pháp chuyển sang bước hai chiến dịch với cuộc hành quân Xanh-tuya1 (Ceinture: Vành đai), kết hợp càn quét phía Đông đường số 3 và rút quân. Không để lỡ thời cơ diệt địch, trên đường thuỷ chúng bị đánh ở La Hoàng, Phan Lương; đường bộ, chúng tổn thất nặng ở Phủ Thông, Kam Tra, Lục Rã, Đại Từ, Phục Linh, Yên Rã... "Xanh-tuya", chiếc vành đai không "xiết chặt" lại được như tham vọng của Bộ chỉ huy Pháp mà bị cắt vụn thành nhiều khúc. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, đúng một năm sau ngày Toàn quốc kháng chiến, đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc. Đây là thất bại về chiến lược của Pháp. Chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh” nhằm đè bẹp đối phương, dựng chính quyền tay sai, hoàn toàn bị phá sản. "Đòn quyết định" không quyết định được gì. Từ đây, thực dân Pháp buộc phải theo đuổi một cách bị động cuộc chiến tranh kéo dài này. Với thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc1 (Trước đây, cuộc chiến đấu kể trên được gọi là cuộc phản công. Những năm gần đây, giới khoa học quân sự thống nhất rằng nó hội đủ yếu tố của chiến dịch phản công), quân và dân ta đã bảo vệ an toàn, chu đáo cơ quan đầu não kháng chiến của cả nước, bảo tồn được chủ lực, đánh bại một chiến lược chiến tranh của đối phương. Thắng lợi Việt Bắc làm tăng thêm lòng tin của toàn dân vào kháng chiến và tạo đà cho những thắng lợi mới. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:34:34 am b) Phát triển chiến tranh du kích, từng bước tiến lên vận động chiến, bước đầu đánh bại âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh của địch (1948-1950)
Trong những năm 1948-1949, tình hình quốc tế tiếp tục chuyển biến, có ảnh hưởng nhất định tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Liên Xô đạt những thành tựu mới trong phục hồi và phát triển kinh tế và thử thành công bom nguyên tử (9- 1945). Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Phi, châu Á, Trung Cận Đông. Kế hoạch Mác-san vực châu Âu dậy và làm cho châu lục này lệ thuộc Mỹ. Tại Pháp, khủng hoảng chính trị kéo dài và bế tắc vể nhiều mặt; thất bại bước đầu ở Đông Dương càng làm cho khó khăn của giới cầm quyển tăng thêm. Tính đến đầu năm 1949, Chính phủ Pháp đã bị đổ tới 8 lần. Ở Đông Dương, quân số Pháp thiếu hụt nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa tập trung quân để có lực lượng cơ động với phân tán giữ đất trở nên gay gắt. Họ buộc phải chuyển từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, quay về bình định vùng tạm chiếm và lấn chiếm vùng tự do của ta. Pháp đưa Bảo Đại về nước xúc tiến việc lập ngụy quyền trung ương; chia rẽ khối đoàn kết dân tộc bằng việc lập các xứ Thái, Mường... tự trị, lôi kéo và sử dụng giáo phái. Pháp tăng quân ngụy từ 25.000 (1947) lên 80.000 vào năm 1948... Ta tăng cường đưa lực lượng vào vùng địch kiểm soát. Từ Liên khu V trở ra, 103 đại đội độc lập và hàng trăm đội vũ trang tuyên truyền tiến vào địch hậu. Nhiều căn cứ du kích được thành lập, nhiều làng chiến đấu xuất hiện: Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Bình), Xi-tơ (Tây Nguyên), Vật Lại (Sơn Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), v.v... Cuối năm 1948, có lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân ở nhiều nơi, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, đồng loạt nổi dậy phá chính quyền địch - tổng phá tề. Chủ trương "biến hậu phương địch thành tiền phương ta" đang thành hiện thực. Tháng 5 năm 1949, Rơ-ve, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp được phái sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, tìm cách đối phó, tháo gỡ khó khăn. Rơ-ve chủ trương giữ vững Bắc Bộ, phát triển ngụy quân, xây dựng ngụy quyền và đánh phá ta toàn diện. Kế hoạch Rơ-ve được Mỹ thông qua và cung cấp viện trợ, đánh dấu bắt đầu sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương. Để đưa cuộc kháng chiến tiến tới, nhiệm vụ cấp bách của ta là phải hoàn chỉnh lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhằm tiếp tục phát triển chiến tranh du kích đồng thời đẩy vận động chiến từ quy mô nhỏ lên quy mô ngày càng lớn. Tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Tháng 11, Người ra sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự. Ba thứ quân hình thành hoàn chỉnh: dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Đến đây, tổng số quân đội ta là 230.000 người. Nhằm tạo thêm lực cho kháng chiến, ngày 11 tháng 6 năm 1948, nhân kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc. Phong trào quần chúng có ý nghĩa chiến lược này được hưởng ứng rộng rãi và thu những kết quả lớn cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá. Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta coi trọng xây dựng quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương, với nước láng giềng Trung Quốc và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, trong tinh thần "Giúp nhân dân nước bạn là tự giúp mình". Tháng 3 năm 1949, đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sang Việt Nam đề nghị cho lực lượng sang giúp xây dựng, củng cố biên khu Việt Quế và Điền Quế1 (Việt Quế: khu biên giới Quảng Đông - Quảng Tây; Điền Quế: khu biên giới Vân Nam - Quảng Tây). Sau 5 tháng hành quân, chiến đấu bộ đội ta đã góp phần cùng Bạn mở rộng và nối liền căn cứ địa trong khu Thập Vạn Đại Sơn và rút về nước để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân địa phương. Nhân dân tạ cũng nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của nhân dân châu Á và thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp, ở Pháp, nhiều cuộc mít tinh lớn phản đối "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" của thực dân Pháp đã diễn ra. Ray-mông Điêng nằm chắn ngang đường sắt ở nhà ga Tua, ngăn xe lửa chở vũ khí xuống tàu sang Việt Nam. Hăng-ri Mác-tanh bền bỉ vận động thuỷ binh và công nhân phản chiến. Cuối năm 1949 đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, Liên Xô, Hung-ga-ri tranh thủ sự ủng hộ của bầu bạn quốc tế. Đầu năm 1950 lần lượt các chính phủ Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ Đông Âu và Triều Tiến công nhận chính phủ ta. Yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến là phải đánh thắng một trận lớn, mở thông biên giới, phá thế bao vây của địch, giành quyền chủ động trên chiến trường chính. Lần đầu tiên ta huy động một lực lượng lớn bộ đội chủ lực (thuộc Bộ) và lực lượng địa phương, 12 vạn dân công Việt Bắc tham gia chiến dịch. Viện trợ của nước bạn cũng là nguồn cung cấp quan trọng cho chiến dịch1 (Theo thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô trong chuyến thăm kể trên, riêng năm 1950 ta nhận được 3.983 tấn hàng viện trợ, trong đó có 1.020 tấn vũ khí, 30 xe vận tải Mô-lô-tô-va, 2.634 tấn gạo... (xem TL lưu Tổng cục Hậu cần, cặp số 20, 21)). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch; Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh trực tiếp phụ trách bộ máy hậu cần chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thị sát mặt trận. Ngày 16 tháng 9 năm 1950, trận đánh Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới, bắt đầu. Sau 2 ngày ta hạ đồn Đông Khê. Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập. Quân Pháp bị đòn trúng huyệt phát sinh phản ứng dây chuyền: Lạng Sơn, Hà Nội, Sài Gòn và cả Pa-ri bàng hoàng, lo sợ. Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Các-păng-chi-ê quyết định rút quân khỏi Cao Bằng. Trung tá Lơ Pa-giơ được lệnh đưa quân từ Thất Khê chiếm lại Đông Khê làm bàn đạp đón quân của trung tá Sác-tông từ Cao Bằng rút về. Đồng thời, địch mở cuộc hành quân Phô-cơ (Phoque - Hải Cẩu) đánh lên thủ đô kháng chiến Thái Nguyên nhằm kéo chủ lực ta về đó, giảm sức ép ở Biên Giới. Trong khi lực lượng tại chỗ đối phó với Phô-cơ, ở Biên Giới, ta đánh địch suốt dọc phía Tây đường số 4. Khu vực Cốc Xá và điểm cao 477 là những nơi diễn ra các trận tiêu biểu. Sáng 7 tháng 10, binh đoàn ứng cứu tinh nhuệ địch gồm 1.200 tên, có cả Lơ Pa-giơ bị bắt sống. Buổi chiều cùng ngày, binh đoàn Sác-tông cũng bị xoá sổ, 577 tên bị diệt và bị thương, 1.386 tên bị bắt sống. Toàn vùng biên giới rung chuyển, tư tưởng thất bại lan tràn trong quân Pháp. Chúng hốt hoảng rút khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình và Đình Lập. Hệ thống phòng thủ đường số 4 được xây dựng trong nhiều năm bị phá vỡ chỉ trong gần một tháng. Qua 29 ngày chiến đấu, ta diệt và bắt sống 8.300 tên địch, thu trên 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập. Thắng lợi của chiến dịch Biên Giới mở ra bước ngoặt chuyển cuộc kháng chiến từ hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp giữa chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn. Từ đây ta phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính, liên tục tiến công và phản công địch. Từ đây, giao thông quốc tế được mở, kháng chiến thoát khỏi vòng vây của địch, liên lạc giữa Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và Liên khu 4 trở nên thông suốt. Chiến thắng Biên Giới là bước phát triển nhảy vọt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là cơ sở để quân và dân ta tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:35:51 am c) Phát triển tiến công và phản công (1951-1952)
Đến 1951, năm thứ sáu của cuộc kháng chiến, thế và lực của chiến tranh nhân dân có sự phát triển vượt bậc và tình hình chung cũng có nhiều biến đổi. Lực lượng vũ trang ba thứ quân được xây dựng hoàn chỉnh, có khả năng tiêu diệt bộ phận sinh lực quan trọng của địch; ta đã có những vùng giải phóng rộng lớn lại mở được cửa thông thương quốc tế. Tuy vậy thực dân Pháp vẫn nỗ lực tăng cường chiến tranh và Mỹ, qua việc giúp Pháp đã can thiệp sâu vào Đông Dương gây cho nhân dân ta nhiều khó khăn, phức tạp. Đại hội đại biểu lần thứ hai Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang nhằm đưa kháng chiến tiến tới, trong tình hình mới. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam và thông qua Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Đảng. Lào và Cam-pu-chia sẽ thành lập các đảng cách mạng phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước. Đại hội lần này là Đại hội kháng chiến. Trong nhiều nhiệm vụ của Đảng thì hàng đầu, cấp bách là đưa kháng chiến đến thắng lợi. Về phía Pháp, nhận rõ tình hình xấu đi một cách nghiêm trọng, đặc biệt sau thất bại thảm hại ở Biên Giới, ngày 6 tháng 12 năm 1950 Chính phủ Pháp đã cử Đại tướng Đò Lát đờ Tát-xi-nhi, người ”có tài năng và uy tín nhất" của Pháp lúc đó, làm Cao uỷ và Tổng tư lệnh ở Đông Dương. Đờ Lát vạch kế hoạch ưu tiên củng cố lại quân đội viễn chinh Pháp và xây dựng quân đội quốc gia ngụy, tăng cường quân cơ động và lập một tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh việc bình định vùng kiểm soát, sử dụng có hiệu quả viện trợ Mỹ, chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng phản công giành lại quyển chủ động chiến lược. Vừa chân ướt chân ráo tới Việt Nam, Đờ Lát đã phải lao vào đối phó với cuộc tiến công mới của quân dân ta trên hướng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Trần Hưng Đạo được mở từ 25 tháng 12 năm 1950 và kết thúc ngày 18 tháng 1 năm 1951 đánh vào phòng tuyến quân Pháp từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông Cầu. Ở vùng duyên hải Đông Bắc và đồng bằng sông Hồng ta tổ chức hoạt động tác chiến phối hợp. Đợt một chiến dịch, ta chặn đánh cuộc hành quân Bê-cát-xin của Pháp ở Xuân Trạch - Liễu Sơn, buộc chúng phải co về thị xã Vĩnh Yên; đồng thời vận động từ xa đến tiến công các cứ điểm Hữu Bằng, Tú Tạo, Yên Phục, Thằn Lằn... Ta đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công, bị tổn thất. Đợt hai, ta tiến hành đánh điểm diệt viện, tiến công cứ điểm Ba Huyện và chặn quân ứng cứu ở Thanh Vân - Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên. Pháp đổ quân ứng cứu, hai bên giành giật từng điểm cao ở khu vực núi Đanh. Sau gần một tháng chiến đấu quyết liệt, ta không còn lực lượng dự bị để phát triển, chiến dịch kết thúc. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 tên địch, giải phóng vùng bắc Vĩnh Yên và một phần Phúc Yên. Tiếp đó, chiến dịch Hoàng Hoa Thám được mở từ 22 tháng 3 đến 7 tháng 4 năm 1951, đánh vào phòng tuyến Trung du của quân Pháp trên đường 18, từ Phả Lại đến Uông Bí. Thực hiện đánh điểm diệt viện, ta tiến công 4 cứ điểm nhỏ ở Bắc Uông Bí là Lán Tháp, Lọc Nước, Máy Nước và Sống Trâu để nhử viện. Chờ 3 ngày địch không ra, ta tiếp tục diệt các cứ điểm Bí Chợ, Tràng Bạch và chuẩn bị tiến công Uông Bí. Quân địch ở Uông Bí rút chạy về Quảng Yên, chúng chạy thoát. Ta đánh vào Mạo Khê mỏ và Mạo Khê phố đều không thành công và bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt viện. Ta lại đánh vào các cứ điểm ở Đông Bắc Phả Lại: Bãi Thảo, Bến Tắm, Hoàng Gián và Hạ Chiểu đều không đạt kết quả. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.300 địch, ta cũng bị thương vong nhiều và mục tiêu chiến dịch đạt thấp. Từ ngày 25 tháng 5 đến 20 tháng 6 năm 1951, ta mở chiến dịch Hà Nam Ninh đánh vào phòng tuyến sông Đáy của địch, từ nam Phủ Lý (Hà Nam) đến Yên Mô (Ninh Bình). Đợt 1 chiến dịch, trên hướng chính Ninh Bình, ta diệt địch ở nhà thờ Đại Phong và các cứ điểm Non Nước, Gối Hạc và đánh vào nhiều cứ điểm nhỏ khác. Tại hướng Nam Hà Đông, ta diệt đồn Võ Giàng, đánh viện trên đoạn Đoan Vỹ - Mai Cầu - Kinh Đông. Nhiều cứ điểm ta đánh không thành công, bị tổn thất như Lan Khê, Chùa Cao, Kỳ Cầu và Hưng Công. Quân Pháp dùng lực lượng không quân và pháo binh mạnh hỗ trợ, từ Nam Định phản kích chiếm lại thị xã Ninh Bình và tăng cường phòng thủ các vị trí. Đợt hai, ta đánh cứ điểm Chùa Cao, vẫn không thành công; đánh các cứ điểm Cầu Bút, Ngọc Cầm, không diệt gọn. Chiến dịch kết thúc, địch bị loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 4.000 tên, song ta cũng bị thương vong lớn và chiến dịch đạt hiệu quả thấp. Trong cả 3 chiến dịch kể trên, ta chỉ thu được kết quả hạn chế. Địch bị thiệt hại nặng, nhưng ta cũng bị tiếu hao lớn. "Nhìn chung các chiến dịch trên không đạt mục đích chiến lược”1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị, tài liệu đã dẫn, tr. 178) và trong không ít trận chiến đấu, có đơn vị chẳng những không tiêu diệt được địch, mà trái lại còn bị tổn thất nặng nề. Tuy có buộc địch phải bị động đối phó, song sức chiến đấu của bộ đội ta cũng bị giảm sút và không phát huy được thế chủ động chiến lược giành được từ chiến dịch Biên Giới. Nguyên nhân chính "là do ta chủ quan, đánh giá không đúng tình hình so sánh lực lượng địch, ta ở địa bàn chiến lược (trung du và đồng bằng)"2 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị, tài liệu đã dẫn, tr. 178), tức là chọn hướng chiến dịch tiến công không phù hợp. Vừa liên tiếp mở các chiến dịch tiến công, ta vừa tiếp tục xây dựng hậu phương, căn cứ địa và phát triển chiến đấu ở vùng sau lưng địch. Qua 5 năm kháng chiến, hậu phương ta đã mở rộng từ Liên khu Việt Bắc nối thông xuống Liên khu 3, vào Liên khu 4 tạo thành vùng tự do liên hoàn, ở Nam Trung Bộ, nửa tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên là vùng tự do cùng các căn cứ Ba Tơ, Trà Bồng, Di Lăng, Minh Long, Bác Ái, Sơn Hà tạo thành hậu phương trực tiếp của chiền trường Liên khu 5 và một phần cho Nam Bộ. Các chiến khu Đ, Đồng Tháp, Dương Minh Châu, U Minh của Nam Bộ vẫn giữ vững. Nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của cuộc kháng chiến, Chính phủ liên tiếp phát động các cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Liên khu 5 vẫn giữ được tuyến đường sắt dài 300 ki-lô-mét và 150 ki-lô-mét đường ô tô phục vụ chiến đấu và xây dựng. Bộ đội ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Hạ Lào, Đông và Tây Nam Bộ tự túc được một phần lương thực, có kế hoạch mùa mưa sản xuất, mùa khô đi chiến đấu. Nhiều địa phương tiến hành tạm cấp đất công, đất vắng chủ, ruộng đất cửa địa chủ gian ác cho dân cày. Chính phủ còn chấn chỉnh lại chế độ thuế khoá, tài chính, xây dựng các ngành thương nghiệp, ngân hàng. Năm 1951, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập, ông Nguyễn Lương Bằng làm Tổng giám đốc. Ngày 10 tháng 6 năm 1951, Chính phủ phát hành giấy bạc "Ngân hàng Việt Nam". Ngân hàng ra đời và giấy bạc được phát hành khẳng định nền tài chính của một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, khó khăn của hậu phương, căn cứ còn nhiều bởi kinh tế thấp kém, chưa đáp ứng yêu cầu ngày một cao của chiến tranh. Bộ máy chính quyền được chấn chỉnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán và chỉ đạo uốn nắn, xử lý nghiêm khắc đối với những cán bộ có hành động sai trái trong khi thi hành chủ trương Tổng động viên, thực hiện cải cách dân chủ hoặc có hành vi tham ô, lãng phí, quan liêu, mệnh lệnh. Toà án nhân dân các cấp đã xét xử hàng chục cán bộ, nhân viên vi phạm tài sản quân đội, cách chức chủ tịch một số thị xã, thị trấn lợi dụng chức quyền chiếm đoạt của công. Trung ương Cục miền Nam phê phán và xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với Bí thư tỉnh uỷ và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến một tỉnh vì đã có những chủ trương sai, khiến nhân dân oán thán. Trong khi đó quân Pháp đẩy mạnh chiến tranh tổng lực, đánh phá dữ dội cơ sở ta ở vùng tạm chiếm, giành giật nhân lực, vật lực ném vào công cuộc xâm lược. Họ tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn đánh vào Vĩnh Bảo (Kiến An), Ninh Giang, Tiên Lữ, Phù Cừ (Hưng Yên), Thanh Miện, Bình Giang (Hải Dương), Tiền Hải, Kiến Xương, Tiên Hưng, Duyên Hà (Thái Bình), Bình Lục, Lý Nhân (Hà Nam), Vụ Bản, Ý Yên (Nam Định), v.v... Qua đó, địch biến nhiều căn cứ du kích, khu du kích thành vùng tạm bị chiếm. Hàng trăm, hàng ngàn vị trí giăng kín các làng xã, thôn xóm, trên các trục đường giao thông, kể cả các trục đường liên huyện, liên xã. Hội tề mọc lại ở khắp nơi. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:36:39 am Trên chiến trường Nam Trung Bộ, hơn 100 tháp canh kiểu Đờ La-tua được dựng lên. Thường xuyên các đội quân cơ động ứng chiến của địch từ 400 đến 800 tên càn đi, quét lại vùng tạm chiếm và khu du kích, vơ vét tài sản và khủng bố kháng chiến. Ở Khánh Hoà, ta chỉ còn nắm được 9.000 trên 18.000 dân; ở Ninh Thuận, số đó là 10.000 trên 12.0000 dân; còn ở Bình Thuận ta chỉ nắm được 40.000 trên 950.000 dân.
Ở Nam Bộ, đi đối với chính sách kìm kẹp và cướp đoạt, quân Pháp và tay sai ra sức lợi dụng các tôn giáo để mê hoặc lôi kéo quần chúng. Bằng nhiều thủ đoạn, đến tháng 10-1951, chúng đã bắt hàng vạn thanh niên vào lính, xây dựng được 68 tiểu đoàn. Để phá âm mưu địch, ta đẩy mạnh hoạt động du kích. Theo chủ trương của Trung ương Cục miền Nam, các tỉnh thành đều đưa thêm cán bộ, các đội vũ trang tuyên truyền về các địa bàn trọng yếu, vào sâu vùng địch hậu tuyên truyền, địch vận gây được nhiều cơ sở mới. Tại Sài Gòn, công nhân và đồng bào các tầng lớp đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, hoạt động phối hợp với chiến trường cả nước. Công nhân hãng CARIC bãi công. Các xí nghiệp PACL, Ep-phen, Soa May, Mi-tắc hưởng ứng. Từ tháng 3 năm 1951, công nhân hãng DIT đấu tranh suốt 1 tháng rưỡi, được đồng bào các giới ủng hộ, chủ hãng phải đáp ứng yêu sách. Sau lễ truy điệu Trần Văn Ơn (1-1951), nhiều cuộc đấu tranh ở hãng MIC, ga-ra Ô-lem-pic, trước trường Pê-tơ-ruýt Ký... đã nổ ra. Công nhân các đồn điền Lộc Ninh, Bình Thạnh, Xa Cam, Xa Cát, Mi Mốt bất chấp sự kìm kẹp của địch, giữ vững phong trào đấu tranh, lúc âm ỉ, khi quyết liệt đòi làm 8 giờ một ngày, đòi tăng lương, đòi được bán gạo tốt... Bộ đội Nam Bộ đã tăng cường hoạt động hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của đồng bào: Ta mở các chiến dịch Long Châu Hà (tháng 2 và 3 năm 1951), đánh địch ở Phú Châu (3-1951). Tại Sóc Trăng, trung đội "chiến sĩ hoà bình" (gồm binh lính Âu Phi phản chiến, bỏ ngũ sang phía ta) cùng bộ đội Việt Nam đánh nhiều trận. Phong trào đấu tranh ở vùng tạm chiếm dần dần hồi phục. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai (10-1951) chủ trương chia vùng sau lưng địch thành vùng tạm chiếm và vùng du kích. Vùng tạm chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị và kinh tế làm chính; vùng du kích lấy đấu tranh vũ trang làm chính, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và kinh tế. Cuối năm 1951, áp lực về nhiều mặt lại đè nặng lên chính phủ Pháp ở Đông Dương, quân viễn chinh và "quân đội quốc gia" đều tăng, tướng Đờ Lát vẫn chưa làm thay đổi tình thế trên chiến trường. Cùng gánh nặng chiến tranh ở thuộc địa, việc Pháp phải góp 10 sư đoàn cho khối Bắc Đại Tây Dương càng làm cho tình hình kinh tế - xã hội của nước Pháp trở nên căng thẳng. Để giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, xoay chuyển tình thế cuộc chiến, Bộ chỉ huy Pháp chủ trương một trận đánh có tính chất chiến lược. Hoà Bình1 (Hòa Bình nằm ngoài tuyến phòng thủ boong-ke xây dựng theo kế hoạch Đờ Lát, hoàn thành cuối năm 1951. Tuyến phòng thủ: Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Phúc Yên, Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình, có 80 vị trí với 8000 lô cốt) được chọn làm điểm quyết chiến. Đờ Lát hy vọng với nơi đây, có thể ngăn chặn giao thông của kháng chiến từ Bắc vào Nam, buộc chủ lực đối phương phải giao chiến qua đó giành một thắng lợi quân sự, chính trị vang dội, ổn định tình hình ngụy quân, dựng lại Xứ Mường tự trị ở tỉnh Hoà Bình. Ngày 14 và 15 tháng 11 năm 1951, gần 30 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh và các đơn vị kỹ thuật tiến ra chiếm đóng các vị trí then chốt trong khu vực Chợ Bến, Hoà Bình - đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Ta quyết định đánh địch ở Hoà Bình. Trong thư gửi cho bộ đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.188). Chiến dịch Hoà Bình bắt đầu ngày 10 tháng 12 năm 1951. Các đại đoàn 308, 312, 304, 351 và lực lượng vũ trang địa phương đánh địch ở phía trước; các đại đoàn 316 và 320 tiến sâu vào địch hậu đồng bằng Bắc Bộ hoạt động. Đợt 1, ta tập trung đột phá tuyến sông Đà, đánh giao thông tiếp tế trên đường số 6, phá càn ở Ba Vì và đánh diệt cứ điểm Tu Vũ. Đợt 2, tiếp tục đánh địch trên sông Đà, Ba Vì, diệt các cứ điểm 600, 400 và 165. Quân Pháp phải tăng viện cho đường 6, bảo vệ thị xã Hoà Bình. Đợt 3, hướng tiến công chủ yếu của ta là đường số 6, đánh địch rút chạy khỏi Hoà Bình. Trận đánh cứ điểm Pheo và Đầm Huống không thành công. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, phần lớn quân Pháp chạy thoát về Xuân Mai. Chiến dịch kết thúc, khoảng 6.000 địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 9 máy bay bị bắn rơi, 18 tàu xuồng chìm, 12 xe tăng bị phá. Ở mặt trận sau lưng địch, ta diệt 15.000 tên, bức hàng bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh, giải phóng 2 triệu dân. Chiến dịch Hoà Bình chấm dứt thời kỳ địch có thể dễ dàng mở các cuộc hành quân đánh chiếm sâu vào vùng giải phóng, đồng thời mở ra khu du kích liên hoàn ở các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, giáng đòn đau vào chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch. Sau khi củng cố hậu phương, thực hiện bước đầu chính sách ruộng đất, Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc. Đây là nơi địch yếu, sơ hở, nhưng lại là nơi hiểm yếu. Sau gần 2 tháng đánh địch (14 tháng 10 đến 10-12-1952), với những trận lớn như đánh tập đoàn cứ điểm Nà sản, Chân Mộng - Trạm Thản... ta diệt và bắt khoảng 10.000 quân địch, giải phóng gần 30.000 ki-lô-mét vuông với 250.000 dân. Âm mưu của Pháp chia rẽ khối đoàn kết dân tộc bằng Xứ Thái, Xứ Nùng "tự trị" phá sản. Vùng giải phóng Tây Bắc nối liền với Việt Bắc và Thượng Lào tạo thế liên hoàn có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Đầu năm 1953, thiết thực giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, đồng thời củng cố vững chắc vùng giải phóng Tây Bắc, ta đã phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch Thượng Lào trên địa bàn Sầm Nưa, Xiêng Khoảng. Liên quân Lâo - Việt diệt 3 tiểu đoàn và 11 đại đội địch, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ, với diện tích 35.000 ki-lô-mét vuông và hơn 300.000 dân. Căn cứ kháng chiến được mở rộng. Thắng lợi của các chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào cùng những kết quả của công cuộc xây dựng hậu phương, củng cố cơ sở và lực lượng vùng địch hậu ở cả Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ khiến cho cuộc kháng chiến của Việt Nam và các nước bạn Đông Dương có thêm điều kiện phát triển. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:39:16 am d) Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954. Kháng chiến kết thúc thắng lợi
Đến mùa Xuân năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã bước sang năm thứ tám và thu được những thắng lợi to lớn, có tầm chiến lược. Trong gần 8 năm đó, chiến tranh Đông Dương đã hút của nước Pháp bao nhiêu người và tiền của. Khả năng tăng viện của nước Pháp đã ở vào thời kỳ khó khăn nhất. Phía Pháp triệu hồi Xa-lăng và đưa Na-va, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Đương sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Pháp và Mỹ đang tính đến một âm mưu chiến lược mới nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập. Một hình thái chiến trường mới được xác lập. Tại Bắc Bộ, vùng tự do bao gồm hầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn ở miền Bắc, Tây Bắc (trừ thị xã Lai Châu và Nà Sản vẫn do địch chiếm) và tỉnh Hoà Bình; vùng tạm bị chiếm thu hẹp lại trong phạm vi các tỉnh trung du, đồng bằng và duyên hải Đông Bắc. Ngay trong vùng tạm bị chiếm cũng tồn tại các vùng tự do, khu và căn cứ du kích hoặc vùng tranh chấp. Thực trạng đó được thể hiện trên tấm bản đồ của quân Pháp, trong đó vùng trắng (quân Pháp làm chủ) chỉ chiếm gần 1/4 diện tích, vùng tô hồng (hai bên tranh chấp) chiếm khoảng 1/4 đến 1/3 diện tích, vùng tô đỏ (do ta làm chủ), chiếm một nửa diện tích. Các sĩ quan tham mưu Pháp gọi đó là "bản đồ bệnh sỏi”. Tại Trung Bộ, hai vùng tự do rộng lớn gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh (Liên khu 4) và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (Liên khu 5) ngày càng được củng cố. Tại các tỉnh khác, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ. Tại Nam Bộ, các căn cứ địa kháng chiến, căn cứ du kích vẫn đứng vững trước sự đánh phá của địch. Phong trào du kích lan rộng đến cả nhiều xã nằm sâu trong vùng tạm bị chiếm. Cơ sở kháng chiến được gây dựng ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng và trong các thành thị. Lực lượng vũ trang ba thứ quân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Riêng bộ đội chủ lực, tiếp theo việc thành lập các đại đoàn 308, 304, 312, ta tập trung cán bộ và cơ sở vật chất xây dựng tiếp được 4 đại đoàn chủ lực: Đại đoàn 320 (2-1951), 351 (3-1951), 316 (5-1951) và đại đoàn 325 (cuối năm 1952) cùng nhiều trung đoàn, tiểu đoàn thuộc các khu. Nhớ đó, lực lượng cơ động chiến lược của ta vượt xa lực lượng cơ động chiến lược của địch. Nhằm tăng cường bồi dưỡng sức dân, tháng 3 năm 1953, Hội đồng chính phủ thông qua các văn bản về chính sách ruộng đất và phát động quần chúng. Tháng 4, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh quy định về giảm tô. thoái tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, việt gian phản động và lấy ruộng đất hiến, ruộng đất công để chia cho nông dân, tạm giao ruộng vắng chủ cho nông dân cày cấy không phải nộp tô; về việc trừng trị những địa chủ ngoan cố không chấp hành chính sách ruộng đất; về việc thành lập toà án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng. Nhờ đó, bà con nông dân thêm tin tưởng vào chế độ mới, phấn khởi thi đua sản xuất, đóng nhanh đóng đủ thuế nông nghiệp, hăng hái đi dân công hoặc tình nguyện tòng quân giết giặc. Các chính sách đó đã động viên mạnh mẽ bộ đội ngoài tiền tuyến. Kháng chiến càng phát triển thì quân Pháp càng sa lầy với những khó khăn gay gắt khó bề giải quyết: khủng hoảng chính trị, nội các thứ 18 có nguy cơ bị đổ, tài chính và nhân lực không có nguồn bổ sung. Trong khi đó Mỹ ngày càng dấn sâu vào Đông Dương chờ cơ hội hất cẳng Pháp. Tháng 7 năm 1953, Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch mang tên Na-va, bản kế hoạch có tham vọng và được bảo đảm về chính trị cùng vật chất của Mỹ. Theo đó, trong chiến cuộc 1953-1954, quân Pháp phòng ngự chiến lược ở phía Bắc vĩ tuyến 18, tránh giao chiến toàn diện; thực hành tiến công ở Nam vĩ tuyến 18 nhằm bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương, tiến công chiếm đóng vùng tự do Khu 5. Sau khi nắm trong tay ưu thế về lực lượng cơ động, từ mùa thu 1954, sẽ chuyển lên tiến công ở phía Bắc Hoành Sơn, tạo nên cục diện quân sự khiến Pháp có được một giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh1 (Na-va: Đông Dương hấp hối, Nxb Pơ-lông, Pa-ri, 1958). Để đưa cuộc kháng chiến phát triển đến thắng lợi hoàn toàn, vấn đề đặt ra là phải phá cho được kế hoạch Na-va, cố gắng cao nhất của Pháp và Mỹ. Vào cuối tháng 9 năm 1953, tại Tỉn Keo dưới chân núi Hồng, huyện Định Hoá, Thái Nguyên, thuộc căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Chính trị đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Quyết kế chỉ đạo quan trọng nhất là làm sao phân tán được khối chủ lực mà địch đang xây dựng và tập trung phần lớn ở đồng bằng; phải chọn hướng chiến lược địch sơ hở nhưng lại là hướng quan trọng. Sao cho quả đấm chủ lực địch mà các ngón phải duỗi ra thành bàn tay xoè. Kế hoạch được xác định là mở các hướng tiến công lên Tây Bắc; phối hợp với bạn Lào đánh vào Thượng Lào và Trung Lào; phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào và bộ đội cách mạng Cam-pu-chia đánh địch ở Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia; tiến công trên chiến trường rừng núi Tây Nguyên; đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Theo kế hoạch đã định, giữa tháng 11 năm 1953, Đại đoàn 316 tiến lên Tây Bắc, một bộ phận của các đại đoàn 325 và 304 tiến sang Trung Lào. Được tin chủ lực ta tiến lên Tây Bắc, Na-va lập tức cho quân chiếm Điện Biên Phủ và điều lực lượng ở Bắc Bộ sang đứng chân ở biên giới miền Trung Việt-Lào. Vậy là, tình huống chiến lược mới đã xuất hiện: một bộ phận địch bị điều lên Điện Biên Phủ, bộ phận khác sang Trung Lào. Bộ Tổng tư lệnh nhận định: địch phải phân tán quân cơ động lên Điện Biên Phủ nhằm giữ Tây Bắc và che chở cho Thượng Lào, có thể giữ chúng ở Điện Biên Phủ và mở chiến dịch ở đó. Đại đoàn 316 được lệnh gấp rút lên Lai Châu, cắt đứt đường Lai Châu - Điện Biên Phủ. Đại đoàn 308 tiến lên Tây Bắc. Vào hạ tuần tháng 12 năm 1953, ta giành thắng lợi giòn giã ở Trung Lào. Tháng 1 năm 1954, hướng tiến công Hạ Lào giành thắng lợi. Quân ta tiến xuống phía Nam cùng quân giải phóng Ít-xa-rắc đánh địch ở Đông Bắc Cam-pu-chia, giải phóng phần lớn Công Pông Chàm, tiến sát bờ sông Sơ Lông. Tháng 1, ta mở chiến dịch Tây Nguyên; tháng 2 quét sạch địch ở Bắc Tây Nguyên. Quân Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh chiếm Tuy Hoà (Phú Yên) và bị giam một lực lượng lớn tại đó. Tại đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, quân và dân ta hoạt động đều khắp, kìm giữ và thu hút bộ phận lực lượng địch. Na-va tiếp tục đổ quân lên Điện Biên Phủ và tướng lĩnh Pháp nghĩ rằng ta chưa có cách gì đánh bại được hình thức phòng ngự kiên cố và liên hoàn như ở đây. Bài học Nà Sản, Cánh Đồng Chum còn đó, mà Điện Biên Phủ, như sau này được coi là "Nà Sản luỹ thừa mười"1 (Bu-đa-ren và F.Ca-ri-ghi-ô-li: Tướng Giáp xuýt thất bại trong trận Điện Biên Phủ như thế nào, Le nouyel Obrervateuor, ngày 8-4-1983), quân đội Việt Nam cũng không thể tập trung quá 2 đại đoàn với trang bị nặng để tới vùng núi xa xôi, đường sá rất xấu này. Việc tiếp tế thì chắc chắn là bế tắc. Với kiểu tính toán trên, Na-va (và cánh diều hâu Pháp Mỹ) cho rằng Điện Biên Phủ sẽ là cái "máy nghiền", nghiền nát chủ lực Việt Minh, nếu họ muốn đọ sức ở đó. Thế là, Điện Biên Phủ trở thành trung tâm của kế hoạch Na-va một cách không tự giác, nằm ngoài dự kiến trước đó. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:40:49 am Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, trực tiếp làm Bí thư Đảng uỷ và Chỉ huy trưởng mặt trận. Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội đồng cung cấp mặt trận trung ương. Đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách các vấn đề về đường sá và cung cấp của chiến dịch.
Với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", nhân dân ta với nỗ lực cao nhất dồn sức người, sức của cho Điện Biên Phủ. 261.464 dân công miền ngược, miền xuôi với trên 10.301.570 ngày công đã tham gia phục vụ chiến dịch. Nhiều tấm gương tiêu biểu xuất hiện: Ma Văn Thắng (Phú Thọ) thồ bằng xe đạp 352 ki-lô-gam, Cao Văn Ty (Thanh Hoá) chở 320 ki-lô-gam một chuyến, Nguyễn Văn Thành (Vĩnh Phúc), trong lần chuyển hàng đột xuất, vác được 100 ki-lô-gam... 27.000 tấn gạo được huy động cung cấp cho mặt trận, trong đó đồng bào Tây Bắc mới được giải phóng đã góp 7.300 tấn1 (Cứ 5.000 tấn gạo dân công chuyển từ Thanh Hóa lên đến Cò Nòi chỉ còn 4.000 tấn, tức là 8% tới đích. Số còn lại phải dùng ăn suốt dọc đường). Hàng vạn thanh niên xung phong phối hợp với bộ đội công binh, mở mới và sửa chữa hàng nghìn ki-lô-mét đường. Nhiều nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ lên đường ra trận: Các bác sĩ nổi tiếng Tôn Thất Tùng, Vũ Đình Tụng, họa sĩ Tô Ngọc Vân (hy sinh trên đường ra trận), nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, v.v... Các phương tiện vận tải được huy động tối đa: 628 ô tô, 11.800 thuyền bè, hơn 20.000 xe đạp thồ, 500 ngựa thồ và hàng nghìn xe trâu bò kéo. Quá trình chuẩn bị kế hoạch tác chiến cũng là quá trình nghiên cứu xung quanh hai phương châm chỉ đạo tác chiến: một là "đánh nhanh giải quyết nhanh", hai là "đánh chắc tiến chắc”. Khi địch mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, chúng còn nhiều sơ hở, lực lượng mỏng, công sự lâm thời, ta chủ trương "đánh nhanh" bộ đội còn sung sức, đỡ tổn thất, giảm khó khăn về tiếp tế lương thực, đạn dược. Nhưng đến trước ngày quân ta dự định nổ súng tiến công (25 tháng 1 năm 1954), tập đoàn cứ điểm này đã được tăng cường 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, nhiều xe tăng, máy bay, ô tô... Địch bố trí thành 49 cứ điểm, khoanh thành 8 khu vực sẵn sàng chi viện, phối hợp lẫn nhau. Những thay đổi trên khiến phương châm "đánh nhanh” không còn phù hợp. Sau quá trình tìm hiểu thực tế và suy nghĩ nung nấu, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chủ trì cuộc họp Đảng uỷ mặt trận (26-1-1954) đã kết luận: "Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc"1 (Xem Võ Nguyên Giáp: Quyết định khó khăn nhất, báo Nhân dân chủ nhật, ngày 7 tháng 5 năm 1983, số 13). Phương châm này được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị chuẩn y. Toàn bộ công tác chuẩn bị cho chiến dịch phải làm lại. Quân Pháp nóng lòng chờ Việt Minh tiến công để tiêu diệt, mãi không thấy. Họ cho rải truyền đơn và dùng làn sóng vô tuyến điện truyền đi những lời khiêu khích, thách thức đối phương. Nhưng rồi điều phải đến, cũng đã đến. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta mở đợt tiến công thứ nhất vào các cứ điểm vòng ngoài của địch ở phía Bắc và Đông Bắc. Chỉ trong 4 ngày, ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Độc Lập và uy hiếp gọi hàng địch ở Bản Kéo. Chính ở Him Lam, Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị tiến vào tung thâm. Hệ thống phòng ngự của phân khu Bắc bị đập vỡ. Pháo binh ta làm cho các trận địa pháo ở khu trung tâm bị tê liệt, 12 khẩu pháo, cối và 5 máy bay trúng đạn bị phá; viên trung tá Gô-sê cùng một số sĩ quan của phân khu Bắc bị diệt. Đợt tiến công thứ hai bắt đầu lúc 17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954. Ta đánh vào các ngọn đồi phía Đông, các vị trí C1, E, D và A1. Đến 9 tháng 4, hai bên trụ bám mỗi bên một phần các ngọn đồi. Lực lượng ta bị tiêu hao, hai trung đoàn 174 và 102 bị thương vong nặng. Đạn dược còn ít, nhất là đạn lựu pháo 105 ly, đơn vị nào muốn bắn một, hai viên đều phải được phép của Tham mưu trưởng chiến dịch. Lương thực chỉ còn cho nửa tháng. Mưa gây khó khăn cho chiến đấu, sinh hoạt và tiếp tế. Ở một số đơn vị bắt đầu nảy sinh tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực, mệt mỏi... Ngày 19 tháng 4, Bộ Chính trị họp quyết nghị "làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 19 tháng 4 năm 1954. Lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 173, tờ 49). Nhiều đồng chí uỷ viên trung ương được cử ra mặt trận và về các địa phương huy động lực lượng vật chất. Bộ đội sinh hoạt chính trị khắc phục tư tưởng hữu khuynh. Đêm 1 tháng 5 năm 1954, đợt tiến công thứ ba bắt đầu. Ta diệt địch ở vị trí C1 và nhiều vị trí khác. Vòng vây xiết chặt, ta chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300 mét. Thấy nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, địch định tổ chức thành 3 cánh quân phá vòng vây tháo chạy sang Lào vào đêm 7 tháng 5. 18 giờ 45 phút ngày 6 tháng 5, quân ta cho nổ khối bộc phá gần một tấn tiêu diệt địch ở hầm ngầm đồi A1, cũng là hiệu lệnh tổng công kích. Ngày 7, rạng sáng, cứ điểm A1, điểm cao cuối cùng bị ta đánh chiếm. 17 giờ 30 cùng ngày, tướng Đờ Ca-xtơ-ri cùng toàn bộ bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Sau 55 ngày đêm chiến đau, quân và dân ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 16.200 tên địch (trong đó 1.766 sĩ quan và hạ sĩ quan) bị diệt và bắt sống; 57 máy bay bị bắn rơi và phá huỷ tại trận, 5 chiếc bị bắn rơi trên tuyến cung cấp mặt trận. Ta thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất, cuối cùng của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ, đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ làm cho thế và lực của quân và dân ta được tích luỹ trong 9 năm kháng chiến phát triển lên nhiều, ta nắm quyền chủ động chiến trường yà đang ở giai đoạn phản công. Tuy vậy, do chiến tranh ác liệt kéo dài, kinh tế nước ta chưa phát triển, viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô chiếm tỷ trọng không lớn1 (Hồ sơ viện trợ quốc tế, lưu trữ Tổng cục Hậu cần, cặp số 20, 21 ghi rõ: Năm 1950 Việt Nam nhận được viện trợ quốc tế 3.983 tấn hàng, bằng 18,5% tổng số vật chất mà bộ đội Việt Nam sử dụng; năm 1951: 6.086 tấn (28,3%); năm 1952: 2.160 (10%); năm 1953: 4.400 tấn (20,5%); cả năm 1954: 4.892 tấn (22,7%). Theo so sánh của Phrăng-xoa Gioay-ô trong cuốn "Những người lính da trắng của Hồ Chí Minh" thì viện trợ quốc tế cho Việt Nam so với viện trợ Mỹ cho Pháp từ năm 1950 đến 1953 chỉ bằng 7,2%; so với viện trợ của Mỹ cho Pháp năm 1954 (400 triệu đôla), chỉ bằng 8,5%), việc bồi dưỡng sức dân, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tự lực tự cường đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, đặt ra những yêu cầu mới. Nhìn chung toàn chiến trường ta chưa đủ sức áp đảo so với địch. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Năm, 2021, 09:42:01 am Về phía Pháp, chiến tranh gây tổn thất và thương vong lớn, nhiều kế hoạch quân sự - chính trị bị phá sản; phong trào nhân dân Pháp đòi chấm dứt chiến tranh dâng lên mạnh mẽ; viện trợ Mỹ tăng bao nhiêu thì sự lệ thuộc của Pháp vào Mỹ tăng bấy nhiêu. Tiếp tục chiến tranh hẳn Pháp còn thua đau. Xu hướng muốn kết thúc chiến tranh trong chính giới Pháp xuất hiện.
Thế giới có những biểu hiện về hoà dịu Đông-Tây. Cả Liên Xô và Trung Quốc đều muốn làm dịu tình hình căng thẳng, đảm bảo an ninh phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã phân tích tình hình và tương quan lực lượng hai bên, âm mưu mới của Pháp, Mỹ và chiến lược các nước lớn, nhận định: ”Đế quốc Mỹ... hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống Pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1988, tập II, tr.361). Ta chủ trương vừa đánh vừa đàm cho đến khi cuộc chiến đấu đến mức ta có ưu thế hơn địch và đạt được một thoả thuận chính trị phù hợp2 (Theo ghi chép của Phan Anh "Về Hội nghị Giơ-ne-vơ". Lưu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Ngày 8 tháng 5 năm 1954, một ngày sau khi quân Pháp thảm bại ở Điện Biên Phủ, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương khai mạc. Tham dự hội nghị có đại diện của 9 bên: Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam dân chủ cộng hoà, Pháp, Mỹ, Anh và ba đoàn của chính quyền bù nhìn Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Chủ trương của các đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, Liên Xô, Trung Quốc, do Việt Nam đề nghị, là giải quyết toàn diện cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết toàn bộ vấn đề ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Chủ trương của phía bên kia, do Pháp đề nghị, là chỉ giải quyết vấn đề quân sự và tách vấn đề Lào, Cam-pu-chia khỏi vấn đề Việt Nam. Đến phiên thứ 4, hai phía mới thoả thuận được một số điểm. Do lập trường các bên khác nhau, mỗi đế quốc có một ý đồ riêng nên đến trung tuần tháng 6 năm 1954, qua 7 phiên họp toàn thể và 16 phiên họp hẹp, hội nghị hầu như dậm chân tại chỗ. Kế đó, nhiều phiên họp hẹp và các cuộc tiếp xúc tay đôi, tay ba giữa các trưởng đoàn, các nhân vật đã diễn ra để tháo gỡ bất đồng, tìm ra mẫu số chung của các bên. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, lúc 3 giờ 45 phút, hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và hiệp đình đình chỉ chiến sự ở Lào và tiếp đó là ở Cam-pu-chia được ký kết. Hội nghị thông qua tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương, gồm 13 điều. Trong số 9 đoàn tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ thì có 8 đoàn tham gia ký kết các văn kiện hội nghị, riêng đoàn Mỹ không ký mà chỉ ra một bản tuyên bố ghi nhận. Với Hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp và các nước đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ranh giới quân sự chỉ là tạm thời, không thể coi như một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ. Giơ-ne-vơ đã đặt cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước ta. Thắng lợi của ta qua Hội nghị Giơ-ne-vơ là to lớn1 (Cũng có những nhận định khác nhau về thắng lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ, tập trung chủ yếu ở 2 khía cạnh giới tuyến quân sự tạm thời và thời hạn tổng tuyển cử. Theo Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, trong Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.257 thì "Giải pháp Giơ-ne-vơ không phản ánh đầy đủ thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường"). Tuy nhiên, "trước bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp, ta chưa thấu hiểu ý định chiến lược của bạn đồng minh trong bước cuối của cuộc hoà đàm cho nên có phần chưa phát huy được đầy đủ độc lập, tự chủ khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ"2 (Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - thắng lợi và bài học, Sđd, tr.216 và 324). Riêng các vấn đề thuộc về Lào và Cam-pu-chia, mặc dầu Đoàn ta với quan điểm đúng và hết sức cố gắng, song kết quả thu được còn nhiều hạn chế, do "còn bị động với bối cảnh quốc tế, chưa kiên quyết đấu tranh cho lợi ích chung của cả ba nước Đông Dương"3 (Phrăng-xoa Gioay-ô, trong Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981, cho rằng điều kiện lịch sử đã chi phối những hạn chế trên). Từ 23 tháng 9 năm 1945 đến 21 tháng 7 năm 1954, nhân dân ta đã trải qua hơn 3.000 ngày kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ, anh dũng và vô cùng tự hào với thắng lợi vĩ đại. Trên nửa triệu quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp bị loại khỏi vòng chiến đấu, khoảng 3.000 tỷ Phrăng của nước Pháp (có tài liệu đưa 3.582,4 tỷ) và 2 tỷ 600 triệu đô la Mỹ viện trợ tiêu phí vì chiến tranh; 20 lần Chính phủ Pháp bị đổ, 7 lần Cao uỷ Pháp bị thay thế, 8 Tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau thua trận. Pháp buộc phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, phải rút hết quân khỏi miền Bắc nước ta. Ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương kéo dài hơn 80 năm đã chấm dứt. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến, nhân dân ta đã bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng tháng Tám. Chính quyền mới được bảo vệ, củng cố và phát triển. Chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và kiện toàn, nhân dân lao động thực sự làm chủ vận mệnh của mình, mọi quyền lợi căn bản của người dân về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá được đảm bảo. Đây là thắng lợi của ý chí và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta vì độc lập, tự do và hoà bình. Với cuộc chiến đấu này, nhân dân Việt Nam đã tìm ra đáp số của một bài toán có tính thời đại: một dân tộc nhỏ có thể dùng chiến tranh - chiến tranh nhân dân để đánh thắng chiến tranh xâm lược của một đế quốc to. Thắng lợi của nhân dân ta góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh vĩ đại của nhân loại tiến bộ: vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cùng với hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia, thắng lợi của nhân dân ta không những đập tan ách thống trị thực dân cũ của Pháp trên toàn cõi Đông Dương mà còn lay động mạnh mẽ và làm bùng nổ phong trào đấu tranh tự giải phóng tại nhiều khu vực trên thế giới, mở đầu sự đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên hành tinh. Như thế, nó đã góp phần tích cực làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc và thu hẹp dinh luỹ của chúng. Nó cũng góp phần thức tỉnh nhận thức và lương tri của nhiều người, kể cả nhiều nhân vật chính trị hàng đầu, về sự nghiệp và sức mạnh của các dân tộc bị áp bức. Báo Pháp viết: "Lương tri của một quốc gia cũng được rèn đúc nên trong những thất bại"1 (Nhật báo Pa-ri, ngày 7 tháng 5 năm 1984. Xem bản tin TTXVN, số 111, ngày 14-5-1984). Còn Tổng thống Pháp Mít-tơ-răng, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 2-1993 đã phát biểu: "Cuộc chiến tranh đó (chiến tranh Đông Dương 1945-1954-TG) đối với tôi luôn luôn là một sai lầm"2 (TTXVN, Tin tham khảo, số 033, năm 1993). Thắng lợi của nhân dân ta còn tăng cường uy thế và ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và các phong trào tiến bộ. Như lời tổng kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới"3 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 10, tr.12). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:16:36 pm II - SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
1. Về tư tưởng quân sự a) Chiến tranh nhân dân sáng ngời chính nghĩa Nhân dân làm nên lịch sử. Chân lý ấy sáng ngời trong toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong bất cứ thời kỳ nào của lịch sử dân tộc, nhân dân Việt Nam đã đi đến nhận thức cơ bản là mỗi khi đất nước bị xâm lăng, chỉ có chiến đấu anh dũng, bất khuất mới bảo vệ được độc lập của Tổ quốc, cuộc sống tự do của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là kế tục sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và ý nghĩa, mục đích chính trị sâu sắc không những đối với dân tộc Việt Nam mà còn cả đối với nhân loại cần lao. Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì độc lập và thống nhất của dân tộc, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh của các dân tộc chống thực dân, đế quốc, bảo vệ hoà bình dân chủ ở Đông Nam Á và thế giới. Ngọn cờ chính nghĩa của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà giương lên trong cuộc chiến tranh cách mạng chống đế quốc Pháp xâm lược là một dấu hiệu tiêu biểu cho những đặc điểm của thời đại mới: thời đại chế độ thực dân và chủ nghĩa đế quốc ngày càng tan rã, thời đại các nước thuộc địa và phụ thuộc ngày càng thu được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giành tự do và độc lập. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các cơ quan tuyên truyền và báo chí của thực dân Pháp, ở Pháp cũng như ở Đông Dương ra sức kêu gào rằng quân đội Pháp đã bị tấn công bất ngờ, rằng Việt Nam đã gây ra chiến tranh. Đã có một quyển sách của Jean Sainteny với đầu đề "Lịch sử một nền hoà bình bị bỏ lỡ". Đó là thủ đoạn quen thuộc của những kẻ vừa ăn cướp, vừa la làng hòng trút trách nhiệm gây chiến của chúng. Nhưng sự thật hết sức sáng tỏ. Nhiều nhà nghiên cứu, cả phương Đông và phương Tây: King C.Chen, He-ri-xơn, Tôn-nét-xơn... với các cách diễn đạt khác nhau đều cho rằng thực dân Pháp là kẻ gây chiến. King C.Chen vạch rõ nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến tranh Việt - Pháp khi viết: "Việc trở lại chế độ thực dân Pháp mới là nguyên nhân căn bản của cuộc chiến"1 (King C.Chen: Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954) Sài Gòn, Cơ sở xuất bản Sử Địa, 1973, tr.180). Sự thật lịch sử là Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã làm hết mọi việc có thể làm để tránh chiến tranh. Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau đều thất bại do thái độ ngoan cố của thực dân Pháp quyết duy trì những chính sách lỗi thời của chế độ thuộc địa. Tạm ước ngày 14-9-1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Marius Moutet, thay mặt chính phủ Pháp, ký chưa ráo mực đã bị phía Pháp vi phạm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, ngày 6-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Quốc hội và Chính phủ Pháp nhắc lại ý nguyện của nhân dân Việt Nam mong muốn hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp và nhấn mạnh: "Tôi khẩn thiết kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp vì quyền lợi tối cao của nhân dân hai nước Việt - Pháp mà ra lệnh cho các nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam khôi phục ở Hải Phòng, Lạng Sơn tình hình trước ngày 20-11-1946 nhằm thực hiện bản Tạm ước 14-9-1946 và đặt cơ sở cho một sự hợp tác Việt - Pháp chân thành, bền vững. Chiến tranh đã làm đổ quá nhiều máu người Pháp và người Việt Nam và đã gây ra quá nhiều tai hại, tình hình đó không thể để kéo dài mãi". Trong khi trả lời phỏng vấn của Bernard Dranber, phóng viên báo Paris - Sài Gòn ngày 7-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố thẳng thắn và kiên quyết: "Đồng bào tôi và tôi mong muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh và tôi biết nhân dân Pháp cũng không muốn chiến tranh. Nhưng, nếu người ta bắt buộc chúng tôi thì chúng tôi phải kháng chiến. Chúng tôi biết là nước Pháp có những phương tiện rất mạnh. Cuộc chiến đấu sẽ tàn khốc, nhưng nhân dân Việt Nam sẵn sàng chịu đựng tất cả còn hơn là mất tự do. Nhưng tôi thiết tha hy vọng và mong mỏi rằng chúng ta sẽ không đi đến giải pháp đó"1 (Philippe Devillers: histoire deu Viet Nam de 1940-1952 (Lịch sử Việt Nam từ 1940-1952) Nxb Du Seuil Paris 1952, tr.348). Ngày 15-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Le'on Blum, Chủ tịch Chính phủ Pháp đề nghị khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước Việt Nam và Pháp trên cơ sở tôn trọng quyền độc lập của Việt Nam và tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Sợ mất thời cơ gây chiến, bức điện của Ghủ tịch Hồ Chí Minh đã bị Cao uỷ Pháp, Đô đốc d' Argenlieu ngâm lại ở Sài Gòn mãi đến ngày 26-12-1946 mới chuyển về Pháp. Khi được tin, Chính phủ Pháp cử Moutet, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, sang điều tra về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố rất mong gặp ông ta để nói rõ ý muốn thành thật hoà bình của nhân dân Việt Nam, nhưng nhà lãnh đạo của Đảng xã hội Pháp đã lẩn tránh cuộc gặp đó. Thật ra, trước khi lên đường sang Việt Nam, theo sự tiết lộ của Max Andr'e trong Đại hội lần thứ ba của đảng Cộng hoà bình dân, Moutet đã chịu sức ép của Đảng này không cho bàn đến chuyện điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh2 (Philippe Devillers. Sách đã dẫn, tr.363). Ngày 25-4-1947, sau khi Ramadier lên thay Le’on Blum làm Thủ tướng Chính phủ Pháp. Chính phủ Việt Nam đã chủ động gửi Chính phủ Pháp một bức thư đề nghị đình chiến và mở cuộc đàm phán giảng hoà giữa hai nước. Chính phủ Pháp đã lầm tưởng đó là dấu hiệu thế yếu của Việt Nam, nên ngày 11-5-1947, tại thị xã Thái Nguyên, Cao uỷ mới của Pháp Bollaert đã cử Paul Mus, cố vấn của ông ta, đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và đưa ra những điều kiện ngang ngược không có gì khác buộc ta đầu hàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết bác bở những điều kiện láo xược đó và trong thư gửi nhân dân Pháp, Người nói rõ: "Bọn quân phiệt, thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng". Trong khi kiên trì thương lượng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giáo dục cho nhân dân phải chuẩn bị sẵn sàng chuyển sang chiến đấu- khi mọi khả năng hoà bình không còn nữa, trước tình hình kẻ thù ngày càng lấn tới và tỏ rõ dã tâm xâm lược nước ta, đã đến lúc nhân dân ta không thể nhân nhượng được nữa. Nhân nhượng nữa tức là từ bỏ chủ quyền của đất nước, là làm hại quyền lợi tối cao của dân tộc. Chiến tranh nhân dân là tính chất cơ bản và cũng là đặc điểm chủ yếu nhất của cuộc kháng chiến Việt Nam. Bản chỉ thị lịch sử "Toàn dân kháng chiến" của Trung ương Đảng ngày 12-12-1946 đã đặt cơ sở cho những tư tưởng chỉ đạo, những nguyên tắc và đường lối của một cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên truyền thống lâu đời: "cả nước đánh giặc" của dân tộc kết hợp với những quan điểm chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:17:37 pm Đường lối và chiến lược chiến tranh nhân dân cũng thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức mạnh vĩ đại của nhân dân: "Trong bầu trời, không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội, không có gì tôt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8, tr.276).
Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chiến lược chiến tranh nhân dân của Đảng đã hình thành từ sớm và thể hiện rõ ngay từ sau ngày 23-9-1945, khi quân đội Pháp, với sự giúp đỡ của đế quốc Anh, nổ súng đánh úp ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai đối với Việt Nam và Đông Dương. Đánh vào miền Nam và âm mưu tách miền Nam ra thành một nước riêng biệt, bọn thực dân Pháp đã đụng đến những tình cảm sâu sắc nhất của dân tộc Việt Nam luôn luôn đấu tranh kiên cường để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc. Đối với cả nước, miền Nam bao giờ cũng là "máu của máu Việt Nam...". Lịch sử cuộc xâm lược của đế quốc Pháp hồi giữa thế kỷ XIX cho thấy rõ: chiếm Nam Bộ chỉ là bước đầu, bọn thực dân cướp nước sẽ không dừng lại ở đó. Kẻ địch mong muốn tiếp tục áp dụng chiến thuật cổ điển vết dầu loang của thống chế Lyautey đã từng giúp chúng xâm chiếm thành công nhiều thuộc địa, nhưng tình hình lúc này đã hoàn toàn khác trước. Lúc này, nhân dân Việt Nam không chỉ có lòng yêu nước, mà còn có Đảng, người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến theo một đường lối đúng đắn và sáng tạo, bảo đảm chắc chắn thắng lợi. Ngày 26-9-1945, ba ngày sau khi Nam Bộ bị xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiệu triệu toàn dân chống nạn ngoại xâm. Lời hiệu triệu lên án thực dân Pháp đã gây nên tai họa chiến tranh, nêu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và phân biệt rõ ràng bọn thực dân đế quốc với nhân dân Pháp. Bản hiệu triệu biểu lộ một lòng tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của nhân dân và thắng lợi của kháng chiến: "Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và đồng bào toàn quốc sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập cho nước nhà. Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân". Ngày 29-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam Bộ bền bỉ kháng chiến. Người khẳng định: "Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn dân tộc". Ngày 5-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại nhiệm vụ kháng chiến của toàn dân, nhấn mạnh là nhân dân ta tha thiết yêu chuộng hoà bình, nhưng kiên quyết chiến đấu đến cùng: "bọn thực dân Pháp phải biết rằng: nhân dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng, nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn độc lập của Việt Nam, để con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ thì thế nào chúng ta cũng vẫn kiên quyết hy sinh. Và dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công". Những lời kêu gọi nói trên đã đặt cơ sở cho tư tưởng và đường lối của cuộc kháng chiến toàn dân, lâu dài và chỉ rõ thắng lợi cuối cùng tất yếu của nó. Phát triển những tư tưởng chủ yếu đó, ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc, cụ thể hoá đường lối của cuộc kháng chiến và chỉ đạo cụ thể về cách đánh. Bản chỉ thị nhận định là cuộc kháng chiến không những đã lan ra ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ mà còn mở rộng ở Lào và Cam-pu-chia. Do đó, mặt trận thống nhất của các dân tộc bị thống trị ở Đông Dương đã hình thành. Đó là một vân đề rất quan trọng vì nó đặt cơ sở cho tư tưởng coi toàn thể Đông Dương là một chiến trường trong việc chỉ đạo chiến tranh, đồng thời nó còn nói lên là với sự giúp đỡ ngay từ đầu hai nước Lào và Cam-pu-chia cùng chung cảnh ngộ bị thực dân Pháp xâm lược, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần quốc tế cao quý. Bản chỉ thị nhận định về tình hình kháng chiến là mặc dầu ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, "Giặc Pháp chiếm được nhiều tỉnh, lỵ. nhưng ta vẫn làm chủ ở thôn quê, tinh thần kháng chiến vẫn cao" và đề ra nhiệm vụ "động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài". Về mặt chỉ đạo đấu tranh, căn cứ vào sự so sánh lực lượng giữa ta và địch và diễn biến cụ thể của tình hình lúc đó, bản chỉ thị vạch rõ "nhiệm vụ chiến thuật của ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ là cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong toả những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự... Phải áp dụng chiến tranh du kích để triệt để và cổ động nhân dân thi hành nhà không đồng vắng nếu quân Pháp tràn về quê. Điều cốt tử là phải giữ vững liên lạc ở các chiến khu để thống nhất chỉ huy, nơi nào rút khỏi thành thị thì quân ta phải chiếm đóng ở những địa điểm chiến lược lợi hại: tiến có thể đánh, lui có thể giữ, các vùng chiến tranh chưa lan đến cũng phải chuẩn bị đối phó khi tiến, khi lui. Kế hoạch tiến công cũng như kế hoạch rút lui phải hết sức chu đáo (phòng đủ mọi việc: địa điểm, cán bộ, lương thực, thuốc men, quần áo, vũ khí, vật liệu, cơ kiện...)”. Một mặt khác, qua những biểu hiện trái với bản chất một quân đội cách mạng, bộc lộ ở một số đơn vị trong lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, Đảng chú trọng giáo dục quan điểm, lập trường cho quân đội, làm cho quân đội nhận thức được những vấn đề cơ bản phân biệt các lực lượng vũ trang cách mạng đăt dưới sự lãnh đạo của Đảng với quân đội của các giai cấp bóc lột. Những vấn đề cơ bản đó được đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp nói rõ trong diễn văn ngày 1-1-1946: "Chúng ta phải tranh đấu để thực hiện 3 điều sau này: Một là, quân dân nhất trí. Dù trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, mỗi người đội viên phải luôn luôn nhớ rằng mình đồng thời là người cán bộ tuyên truyền, tổ chức cho dân giác ngộ, làm cho dân yêu mến, làm cho dân nhận rõ quân đội ta là quân đội của nhân dân, tiêu diệt giặc để cứu dân. Hai là, đội trưởng, chính trị viên và đội viên phải đồng tâm, nhất trí. Ba là, chỉ huy phải thống nhất. Kiên quyết bài xích cái đầu óc địa phương chủ nghĩa lúc đầu mà hiện giờ đang còn di tích. Trong bộ đội, kỷ luật phải là một và nghiêm". Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:18:35 pm Trong phạm vi toàn quốc, Đảng nêu rõ vị trí của cuộc kháng chiến ở miền Nam đối với nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng, làm cho nhân dân thấy rõ kháng chiến và kiến quốc không tách rời nhau.
Muốn cho cuộc kháng chiến ở miền Nam được giữ vững và phát triển thì không những bản thân miền Nam phải được tăng cường mà căn bản là lực lượng miền Bắc cũng phải được xây dựng lớn mạnh. Trên tiền tuyến chiến đấu, quân đội và nhân dân miền Nam luôn luôn hướng về hậu phương miền Bắc, biến sự tiếp viện của miền Bắc thành sức mạnh vật chất và nghị lực dẻo dai để chiến đấu kiên cường. Đảng và Chính phủ kêu gọi thanh niên phát huy tinh thần yêu nước, hăng hái xung phong vào hàng ngũ Quân giải phóng và các đội tự vệ, sẵn sàng xông ra mặt trận để bảo vệ Tổ quốc. Một phong trào rộng lớn, sôi nổi động viên thanh niên trực tiếp tham gia chiến đấu được phát động: Phong trào Nam tiến. Chỉ sau ba ngày tiếng súng xâm lược nổ ở Sài Gòn, một số đơn vị đầu tiên của quân giải phóng (các đơn vị Nam Long, Quang Trung, Vũ Đức) đã lên đường và sau hai tuần đã có mặt trên tiền tuyến, sát cánh với quân dân miền Nam tham gia chiến đấu. Tiếp theo sau, trên toàn miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, các địa phương đều thành lập các đơn vị vũ trang đưa vào miền Nam. Đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu của thủ đô Hà Nội cũng chọn một đại đội cử vào Nam. Phong trào Nam tiến đã động viên sâu sắc tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Những công nhân, nông dân, sinh viên, công chức được sung vào các đội quân Nam tiến đều rất vinh dự tự hào. Thanh niên các dân tộc thiểu số, thiết tha với vận mệnh chung của Tổ quốc Việt Nam cũng không kém hăng hái, nhiệt tình. Những đoàn quân Nam tiến lên đường với khí thế của những ngày Cách mạng tháng Tám còn nóng hổi và trong sự tiễn đưa đầy tình thân yêu của nhân dân. Một thanh niên đã ghi lại hình ảnh hết sức cảm động trên đường Nam tiến: "Tôi không bao giờ quên được hình ảnh công nhân mỏ than, quần áo còn bám đầy bụi mỏ, vai rộng, lếch thếch mang chiếc kiếm cướp được của Nhật, chiếc kèn Harmonica hoen rỉ trên môi anh sinh viên đêm đêm thổi lên những bài ca sôi nổi khí phách anh hùng. Quên làm sao được mười hai cái bánh chưng của bà cụ trên 80 tuổi ở bến sông Ninh Giang vừa thoát nạn đói, gia đình có sáu người chết, đem đến nhét vào ba lô chúng tôi, vừa cười, vừa khóc gọi chúng tôi bằng con, và nói: "sung sướng quá, mẹ không có gì, xin gửi theo tấm lòng"1 (Báo Thống nhất, số 68 tháng 9-1958). Phong trào Nam tiến là biểu hiện sinh động sức mạnh đoàn kết toàn dân xung quanh Đảng và Chính phủ. Nó cũng đã đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, reo rắc tư tưởng bi quan, hoài nghi đối với cuộc kháng chiến ở miền Nam của bọn Việt quốc, Việt cách phản động lúc đó. Phong trào Nam tiến đã góp phần công lao to lớn vào sự nghiệp chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước. Đồng thời với việc gửi quân đội vào miền Nam, việc huy động tài lực, vật lực để cung cấp cho kháng chiến cũng rất cần thiết. Mặc dù, tình hình kinh tế, tài chính của đất nước hết sức khó khăn, nạn đói chưa hết đe dọa, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, nhân dân đã bớt ăn, bớt mặc, dành dụm từng đồng góp vào quỹ ủng hộ Nam Bộ. Ngày 5 tháng 11 năm 1945, Chính phủ quyết định tổ chức Ngày kháng chiến trong toàn quốc. Ngày ấy có một ý nghĩa rất lớn. "Nó động viên tinh thần kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là ngày nuôi chí căm thù đối với giặc Pháp, là ngày học tập các kinh nghiệm quý báu để thực hiện trường kỳ kháng chiến, hoàn toàn giải phóng cho nước nhà. Ngày ấy từ thành thị tới nông thôn, khắp mọi nơi nhân dân đều hưởng ứng, sửa soạn cuộc kháng chiến lâu dài, bền bỉ. Đó là ngày chúng ta nhắc lại lời thề độc lập, tăng thêm lòng tin tưởng, chuẩn bị chính trị, quân sự, kinh tế dốc vào cuộc đấu tranh sống còn vĩ đại quét sạch bọn thực dân"1 (Báo Thống nhất, số 68 tháng 9-1958). Trong ngày kháng chiến, một lần nữa, nhân dân ta biểu lộ ý chí sắt đá "cương quyết giành độc lập" và "ủng hộ cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ" cho đến khi toàn thắng. Việt kiều ở Trung Quốc, Lào cũng nhiệt tình hưởng ứng ngày kháng chiến. Sự tiếp viện vật chất và ủng hộ tinh thần của miền Bắc là một nguồn động viên mạnh mẽ đối với miền Nam. Thay mặt nhân dân Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, Phạm Văn Bạch gửi điện ra Trung ương nói rõ: "Nam Bộ đã được nghe những diễn văn thống thiết của Trung ương trong ngày kháng chiến. Từ mặt trận đến hậu phương, đồng bào Nam Bộ đều nâng chí chiến đấu với sự ủng hộ triệt để của Bắc Bộ và Trung Bộ. Chúng tôi tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng với sức lực của Việt Nam thống nhất, với sự đoàn kết chặt chẽ của dân chúng toàn quốc hy sinh và sẵn sàng kháng chiến. Nam Bộ tuân theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, hiểu rằng thực lực của Việt Nam sẽ định đoạt số phận của Việt Nam. Đồng bào Nam Bộ sẽ chiến đấu tới cùng"1 (Báo Cứu quốc, ngày 7-11-1945). Như thế là sự đoàn kết, thống nhất giữa miền Nam và miền Bắc được xây dựng nên trong quá trình lịch sử lâu đời của dân tộc, ngày nay lại bước sang một giai đoạn phát triển mới với cuộc đấu tranh gian khổ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng đoàn kết chiến đấu ấy trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến đã tỏ rõ sức mạnh của nó. Các giai đoạn chiến đấu sau này càng chứng minh lực lượng đó là vô địch. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:19:14 pm Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đường lối chiến tranh nhân dân đã được hình thành và phát triển rất nhanh trên cơ sở tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và của Đảng đã không ngừng bám sát thực tiễn chiến đấu, kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tống kết những kinh nghiệm sáng tạo của quân đội và nhân dân theo đúng tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 6, tr.246).
Như đã biết, trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biên soạn những cuốn sách về kinh nghiệm chiến đấu của Liên Xô chống phát xít Đức, kinh nghiệm của Trung Quốc chống phát xít Nhật, cách đánh du kích để tham khảo, nhưng căn bản vẫn dựa trên sự tổng kết những kinh nghiệm lịch sử kháng chiến của dân tộc và các cuộc đấu tranh vũ trang của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, đường lối chiến tranh nhân dân của Việt Nam là một đóng góp vô giá vào sự phát triển lý luận chiến tranh cách mạng trong thời đại mới và không phải ngẫu nhiên mà các dân tộc còn bị chủ nghĩa đế quốc thống trị đánh giá cao ý nghĩa và tác dụng to lớn của đường lối đó đối với phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ 20. Sau khi có một đường lối kháng chiến đúng thì việc tổ chức và lãnh đạo thực hiện đường lối đó có ý nghĩa quyết định. Vấn đề quan trọng bậc nhất đặt ra lúc đó là phải xây dựng căn cứ địa vững chắc cho cuộc kháng chiến, lấy đó làm cơ sở để bồi dưỡng và tích luỹ thực lực của ta. Núi rừng Việt Bắc, nơi chôn nhau cắt rốn của Cách mạng tháng Tám, lại trở thành căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến. Các tổ chức của Chính phủ, Trung ương và các cơ quan lãnh đạo của Đảng đều dời lên Việt Bắc. Điều mà tướng Leclerc sợ nhất là Chính phủ Hồ Chí Minh sẽ trở lại chiến khu và phát động cuộc chiến tranh trong toàn quốc Việt Nam, đã thành sự thật. Đảng và Chính phủ chẳng những chú trọng xây dựng căn cứ địa Việt Bắc mà còn chỉ thị cho các địa phương phải tích cực, nhanh chóng thành lập các khu căn cứ tương đối an toàn dựa trên điều kiện địa hình thuận lợi cho việc bảo vệ, phòng thủ và nhất là cơ sở nhân dân tốt, giác ngộ về chính trị, được tổ chức chặt chẽ, sẵn sàng sát cánh chiến đấu với quân đội và ủng hộ chính quyền về mọi mặt. Muốn xây dựng các căn cứ địa thật vững chắc, phải đặc biệt coi trọng công tác dân vận, củng cố và phát triển các tổ chức quần chúng, đào tạo cán bộ địa phương, huấn luyện quân sự, các mặt công tác phòng gian, giữ bí mật, bảo đảm trật tự, trị an, đồng thời ra sức giúp đỡ nhân dân tăng gia, sản xuất, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần. Để kịp thời chỉ đạo công tác kháng chiến, Chính phủ quyết định chia toàn quốc thành 12 chiến khu (các chiến khu 1, 2, 3, 10, 12 thuộc Bắc Bộ, chiến khu 4 thuộc Bắc Trung Bộ, các khu 5, 6 thuộc Nam Trung Bộ, các chiến khu 7, 8, 9 thuộc Nam Bộ, chiến khu 11 là thủ đô Hà Nội). Các Ủy ban kháng chiến được thành lập từ cấp bộ, đến khu, tỉnh, huyện, xã. Nhiệm vụ và quyền hạn của cấp khu được thêm để đảm bảo sự lãnh đạo sát với tình hình cụ thể của mỗi nơi và có thể tổ chức, động viên nhanh chóng mọi lực lượng phục vụ kháng chiến. Một hệ thống giao thông liên lạc được gấp rút tổ chức giữa trung ương và địa phương nhằm làm cho liên lạc giữa cơ quan lãnh đạo cao nhất với toàn thể bộ máy kháng chiến được duy trì đều đặn và thông suốt. Chiến tranh nhân dân đòi hỏi phải tìm mọi cách làm tê liệt sức chiến đấu của địch, hạn chế không cho chúng phát huy ưu thê về phương tiện chiến tranh và kỹ thuật quân sự. Phá hoại để kháng chiến là một việc rất cần thiết để đạt tới mục đích ấy. Trên chiến trường Nam Bộ, công tác phá hoại đã tỏ rõ tác dụng của nó và làm cho quân địch lúng túng lo sợ. Kinh nghiệm của Nam Bộ được áp dụng cho toàn quốc với một quy mô to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân "phá cho rộng, phá cho sâu, phá cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch". Với tinh thần yêu nước và lòng hy sinh cao cả, nhân dân đã phá hoại những công trình do chính mình xây dựng nên bằng mồ hôi và nước mắt. Họ không thể không cảm thấy xót xa trước việc làm, nhưng họ đã đặt quyền lợi tối cao của Tổ quốc lên trên hết và tin chắc rằng sau khi kháng chiến thành công, cũng những bàn tay ấy sẽ có đủ khả năng xây dựng lại những công trình đẹp đẽ hơn, vĩ đại hơn, xứng đáng với một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng ngàn cây số đường sắt bị bóc (riêng ở Liên khu 5, đoạn đường sắt từ Tam Kỳ (Quảng Nam) đến Phú Yên vẫn được giữ lại để sử dụng). Hầu hết các đường giao thông trọng yếu và cầu mà địch có thể lợi dụng đều bị phá và đánh sập, hàng vạn ngôi nhà ở các thành phố và thị xã địch có thể chiếm đóng đều bị phá hủy. Việc phá hoại các đô thị và tình hình chiến sự mỗi ngày một lan rộng đặt ra một vấn đề rất to lớn và cấp bách phải giải quyết là lo liệu cho hàng chục vạn người rời bỏ thành phố quê hương tản cư theo kháng chiến - Chính phủ thành lập các uỷ ban tản cư, di cư và những trại sản xuất để giúp đỡ một phần những người gặp khó khăn nhất, đồng thời kêu gọi nhân dân các địa phương chưa có chiến sự lan tới hết sức giúp đỡ đồng bào tản cư ổn định cuộc sống. Trong thời kỳ đầu, công tác này gặp rất nhiều trở ngại, nhưng dần dần quen với cuộc sống trong kháng chiến và với tinh thần tự lực cánh sinh, nhân dân đã tổ chức lại đời sống của mình cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Khi chiến tranh đã lan rộng đến mức khó có thể tổ chức tản cư, di cư cho hàng triệu người, Chính phủ chủ trương chỉ vận động nhân dân tạm thời tản cư khi địch càn quét ác liệt và điều chủ yếu là tích cực xây dựng làng chiến đấu để bám lấy đồng ruộng, tiếp tục sản xuất và chiến đấu bảo vệ quê hương. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:21:10 pm b) Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Mùa Xuân năm 1947, khi quân và dân ta đang chiến đấu kiên cường ở Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ: Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào Sức ta đã mạnh, người ta đã đông Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi Thống nhất, độc lập nhất định thành công. Từ các Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25-11-1945) và Toàn dân kháng chiến (ngày 12-12-1946) đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 19-12-1946) và một loạt bài của Tổng bí thư Đảng Trường Chinh trên báo Sự thật năm 1947, từ thực tế 16 tháng kháng chiến ở miền Nam cho đến khi cuộc kháng chiến mở rộng ra khắp toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn luôn nhấn mạnh cuộc kháng chiến của Việt Nam là cuộc kháng chiến toàn dân - Sức mạnh của toàn dân đã từng được thử thách trong Cách mạng tháng Tám ngày nay càng được phát huy ở một mức độ cao hơn trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống quân thù xâm lược để bảo vệ thành quả cách mạng và giải phóng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết - Không ai chiến thắng được lực lượng đó"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.20). Trong tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi", đồng chí Trường Chinh, đã khái quát chiến lược của cuộc kháng chiến là "Phải đánh toàn dân, đánh về mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khiến cho địch đến đâu là đụng phải sức kháng chiến mãnh liệt của ta tới đó, khiến cho chúng bị nghẹt thở, bao vây, không thể sống trên đất nước ta - Toàn dân đoàn kết phải là cốt tử"2 (Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb Sự thật, Hà Nội 1948, tr.7). Đường lối chiến tranh nhân dân đòi hỏi phải có hình thức tác chiến thích hợp. Hình thức tác chiến đó rất phong phú, đa dạng như Tổng bí thư Trường Chinh đã nhận định: "Chiến tranh chống Nhật thật có hình thái khác thường. Chiến tranh cài răng lược, chiến tranh lộn ẩu, chiến tranh không mặt trận, chiến tranh bao vây, chiến tranh tiêu thổ"1 (Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, tr.67). Bao trùm lên tất cả những hình thái đó là chiến tranh du kích - Chiến tranh du kích cho phép nhân dân ta phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc "lấy nhỏ đánh lớn lấy yếu chống mạnh", động viên được lực lượng vĩ đại của toàn dân vào cuộc kháng chiến, bao vây quân địch trong một cái lưới rộng lớn trong đó mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm, đường phố là một pháo đài. Với chiến tranh du kích, nhân dân ta đã sáng tạo nên những cách đánh hay, những mưu kế giỏi - Chiến tranh du kích có mặt khắp nơi làm cho kẻ địch phải căng lực lượng ra đối phó, không phải chỉ trước mặt mà ngay cả sau lưng chúng, khiến cho mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của chúng càng thêm gay gắt. Tướng Pellet đã đánh giá tác dụng cuộc chiến tranh du kích của Việt Nam như sau: "Trong cuộc chiến tranh du kích này, kẻ địch ở khắp nơi - Không có mặt trận cố định, cũng không có những công trình phòng ngự đặt đúng vị trí mà ở đó chúng ta có thể sử dụng có hiệu quả những phương tiện chiến đấu mạnh và hiện đại để tiêu diệt địch. Mỗi bụi tre, mỗi mái nhà đều có thể che giấu kẻ địch. Như thế sẽ thấy tinh thần quân đội ta bị căng thẳng đến chừng nào, vì bất cứ ở đâu và không kể ngày đêm đều phải chống cự với kẻ địch mà ta không thể nắm được". Quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam là từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ giành thắng lợi từng bước đến giành thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình đó, chiến tranh du kích dần dần tiến lên chiến tranh chính quy, nhưng ngay cả khi chiến tranh chính quy phát triển mạnh trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, chiến tranh du kích vẫn có vai trò hết sức quan trọng. Thực tế, cuộc chiến đấu của quân và dân ta đã chứng minh điều đó. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai, tháng 9 năm 1951 đã ra Nghị quyết về phương châm, nhiệm vụ đấu tranh nhằm "giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh sau lưng địch, phát động mạnh du kích chiến tranh". Tiếp theo đó, tháng 7 năm 1952, Hội nghị chiến tranh du kích đã tổng kết công tác vùng sau lưng địch và đề ra những phương châm hoạt động mới nhằm tranh thủ nhân dân vùng tạm chiếm, bồi dưỡng lực lượng của ta, làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, đánh những đòn quyết định vào âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Những chủ trương chính xác của hội nghị đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của vùng sau lưng địch, đưa cuộc chiến đấu lên một bước phát triển mới, dồn địch vào một thế bị động sâu hơn. Một thành tựu nổi bật của đường lối toàn dân kháng chiến là thu hút sự tham gia tích cực của các dân tộc - đa số cũng như thiểu số - trên đất nước Việt Nam. Đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng có truyền thống đấu tranh bất khuất, ngày nay lại cùng nhân dân cả nước chiến đấu chống xâm lăng. Trong 80 năm thống trị trước đây, đế quốc Pháp đã không tài nào dập tắt nổi những ngọn lửa đấu tranh của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam liên tiếp bùng lên, thì ngày nay, trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, những ngọn lửa đó càng bốc cháy mãnh liệt. Có điều khác trước là những cuộc đấu tranh đó không phải diễn ra tự phát, lẻ loi như trước mà là có mục tiêu rõ ràng, thống nhất, có sự lãnh đạo và tổ chức của Đảng và Chính phủ. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã rất chú trọng động viên, tổ chức và lãnh đạo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia chiến đấu. Ngày 1-2-1947, trong thư gửi các chiến sĩ quân đội lên đường đi xây dựng cơ sở ở miền Tây và Tây Bắc, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp viết: "Mỗi một tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không thể để cho địch dễ dàng dẫm lên được - Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt, chúng ta không thể không bảo vệ quyền lợi của đồng bào, không thể để đồng bào ta bị quân địch dày xéo hay lung lạc"1 (Thư Bộ Tổng chỉ huy gửi bộ đội Tây tiến. Tư liệu số 02/TL. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:22:49 pm Việc xây dựng cơ sở trong các vùng dân tộc thiểu số ở Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên những năm đầu của cuộc kháng chiến rất khó khăn, gian khổ. Nhưng với một quyết tâm sắt đá, các cán bộ Đảng và quân đội đã không lùi bước trước bất cứ mọi nguy hiểm, hy sinh nào để đưa đến cho những vùng còn nằm trong tay giặc ánh sáng của ngọn lửa kháng chiến và một niềm tin tất thắng - Một số cơ sở bước đầu được xây dựng, tập hợp những người giác ngộ, hăng hái nhất của đồng bào các dân tộc thiểu số và phát triển dần lên trong cuộc kháng chiến chống quân thù. Ở Tây Bắc, khu căn cứ Mộc Hạ (Mộc Châu) là một trong những cơ sở như thế. Đầu năm 1947, sau khi quân đội Pháp chiếm đóng hầu hết miền Tây Bắc, phần lớn cán bộ và bộ đội ta phải rút lui, chỉ để một số ít nằm lại nắm cơ sở bí mật. Đến giữa năm 1947, theo chủ trương của Đảng là phải tích cực phát động chiến tranh du kích, xây dựng các khu căn cứ, thì khu du kích Mộc Hạ được thành lập và củng cố, trở thành bàn đạp hoạt động của các cơ quan Đảng và chính quyền để từ đó loang ra các khu khác trên khắp chiến trường Tây Bắc. Trong thời gian từ tháng 12 năm 1947 đến tháng 7 năm 1948, địch đã mở 6 trận càn vào Mộc Hạ hòng tiêu diệt lực lượng du kích và uy hiếp nhân dân, nhưng chúng đều thất bại.
Nếu như đồng bào Thái ở Tây Bắc tự hào với khu du kích Mộc Hạ, những đội du kích Tú Lệ (Yên Bái), Tu Nang (Sơn La), thì đồng bào H'mông cũng đóng góp vào lịch sử kháng chiến quang vinh của dân tộc những tên anh dũng: Cao Phạ, Lao Chải, Pú Nhung. Đội du kích Cao Phạ (Yên Bái) khi mới thành lập năm 1947 chỉ có 6 người với vài khẩu súng kíp. Tám du kích Cao Phạ đã nêu cao tinh thần bất khuất với những gương hy sinh anh dũng của Giàng Khoa Kỷ, Vừ A Dính, đã giữ vững khí phách hiên ngang khi không may rơi vào tay giặc. Khu du kích Phú Nhung, cơ sở đầu tiên của Lai Châu, được xây dựng từ cuối năm 1947 đã dần dần giác ngộ và tổ chức được nhân dân đấu tranh với địch dưới nhiều hình thức từ thấp đến cao. Sùng Phái Sính (sau này được tuyên dương là Anh hùng quân đội) đã tỏ ra là người chỉ huy du kích xuất sắc, có lần một mình chiến đấu mười lăm ngày liền không nghỉ với một khẩu súng trường đã tiêu diệt mười tám tên địch. Cũng như đồng bào các dân tộc H'mông, Thái, đồng bào dân tộc Mường đã biểu lộ tinh thần yêu nước nồng nàn và sự ủng hộ triệt để chính phủ kháng chiến. Chính sách chia rẽ các dân tộc với việc thành lập "xứ Mường tự trị" theo kiểu "xứ Thái tự trị", "xứ Nùng tự trị" đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của đồng bào Mường. Đồng bào không ngừng chăm lo tổ chức, phát triển các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang để góp phần chiến đấu bảo vệ quê hương. Trên mặt trận Đông Bắc, đồng bào các dân tộc thiểu số cũng hăng hái tham gia kháng chiến và mặc dầu ở sâu trong vùng địch tạm chiếm, lại bị địch phong toả chặt chẽ về mặt biển, hoạt động vô cùng khó khăn, nguy hiểm, đồng bào vẫn tìm mọi cách giúp đổ cán bộ và quân đội xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng chiến đấu chống địch. Các đội du kích Đồng Văn, Đồng Thắng, Vô Ngại, làng chiến đấu Phong Dụ, khu chiến đấu Nà Thuộc - Chi Lăng đã cho địch nếm mùi thất bại trong nhiều cuộc càn quét của chúng. Nói đến cuộc kháng chiến của đồng bào các dân tộc thiêu số, không thể không nêu cao gương chiến đấu anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên. Truyền thống của đồng bào chống đế quốc Pháp xâm lược trước đây với những cuộc nổi dậy do N'Trang Gư, Ama Kơl, Ama Jiao, N'Trang Lơng lãnh đạo, ngày nay lại được phát huy trong cuộc kháng chiến. Ngay từ những ngày đầu khói lửa chiến tranh lan đến Tây Nguyên, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, sát cánh với bộ đội ngăn chặn bước tiến của quân thù. Tháng 1 năm 1946, sau khi mặt trận Buôn Ma Thuột vỡ, địch rải quân chiếm đóng hầu hết Tây Nguyên, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn không ngừng chống địch và tin tưởng vào chính phủ kháng chiến do Bok Hồ lãnh đạo. Điển hình của quyết tâm chiến đấu và niềm tin tưởng không gì lay chuyển nổi đó là làng kháng chiến Si-tơ thuộc xã Nam Kanak, huyện An Khê. Trong những năm từ cuối năm 1946 đến năm 1948, địch mở rộng phạm vi chiếm đóng. Si-tơ mất liên lạc với các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, bị địch dồn ép, khủng bố liên tục nhưng không hề chịu khuất phục. Nhân dân kiên quyết lên núi lập làng kháng chiến. Ba năm liền (1946 - 1949), dù không có một hạt muối phải dùng tro cỏ gianh ăn thay, nhưng địch vẫn không mua chuộc, dụ dỗ nổi. Giặc đến thì tổ chức đánh địch, giặc đốt làng thì dời đi nơi khác, lại xây dựng làng kháng chiến và tiếp tục chiến đấu. Suốt chín năm kháng chiến, nhân dân Si-tơ, dưới sự lãnh đạo của Anh hùng Núp, đã có mười ba lần dời làng như thế. Si-tơ đã trở thành nòng cốt cho cả một phong trào du kích rộng lớn và mạnh mẽ ở vùng này. Một nét độc đáo về sự lãnh đạo tổ chức và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam là để thực hiện toàn dân đánh giặc, cả nước ra trận. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng quân đội nhân dân theo mô hình tổ chức ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ. Tư tưởng quân sự này đã hình thành từ những ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12 năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phải "tập trung lực lượng để lập đội quân đầu tiên", đồng thời "phải duy trì lực lượng vũ trang các địa phương". Đối với dân quân du kích và dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "đó là lực lượng của cả dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.507) . Được hun đúc bởi tinh thần yêu nước và cách mạng, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, ba thứ quân đã phát triển rất nhanh. Tháng 10 năm 1949, chỉ mới sau gần ba năm toàn quốc kháng chiến, đại đoàn quân chính quy đầu tiên được thành lập, lấy tên là Đại đoàn Quân tiên phong, đánh dấu một thắng lợi mới và mở ra những triển vọng tốt đẹp trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Bộ đội địa phương cũng được chính thức thành lập trong toàn quốc với sắc lệnh ngày 1 tháng 4 năm 1949 và nhanh chóng chứng tỏ sự tiến bộ về mọi mặt trang bị, chỉ huy, chiến đấu, cấp dưỡng. Các lực lượng dân quân du kích, tự vệ ngày càng thể hiện rõ nét trí thông minh, lòng dũng cảm trên các mặt bảo vệ và củng cố hậu phương, chiến đấu chống càn, phá thế kìm kẹp của địch, diệt bọn ác ôn, trừ gian, địch vận, phá hoại và bao vây kinh tế địch... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:23:38 pm Quán triệt quan điểm kháng chiến toàn diện, quân và dân ta đã kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. Đối với bên ngoài, ta phải ra sức cô lập kẻ thù để có thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và các nước thuộc địa cũng như các lực lượng hoà bình, dân chủ thế giới hiểu rõ sự thật, đồng tình và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nhân dân, Đảng và chính phủ ta luôn coi trọng nhiệm vụ đối với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia đang sát cánh với Việt Nam chống kẻ thù chung.
Về mặt kinh tế, cuộc kháng chiến trên lĩnh vực này cũng không kém gay go, gian khổ. Địch ra sức phong toả, phá hoại ta về kinh tế, hòng đưa ta đến chỗ sức cùng, lực kiệt, không thể tiếp tục kháng chiến. Để đối phó lại, ta phải khắc phục những khó khăn, xây dựng cho được một nền kinh tế kháng chiến dựa trên hai nguyên tắc: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc và tự cấp, tự túc về mọi mặt. Trong kinh tế kháng chiến, vấn đề nông nghiệp có một tầm quan trọng đặc biệt. Đây không chỉ đơn thuần là sản xuất lương thực cung cấp cho tiền tuyến mà thực chất là xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, củng cố hậu phương. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, việc thực hiện cải cách ruộng đất có một ý nghĩa quyết định. Những chính sách lớn đề ra cho việc xây dựng kinh tế kháng chiến là động viên toàn dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ra sức xây dựng kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, tăng thu, giảm chi, thực hành tiết kiệm, củng cố tiền tệ, giữ vững giá hàng. Đi đối với việc xây dựng kinh tế, ta phải tìm mọi cách bao vây kinh tế địch, làm cho chúng bị thiệt hại nặng và thất bại trong việc thi hành chủ trương thâm độc "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Trong cuộc kháng chiến toàn diện, không thể coi nhẹ mặt trận văn hoá. Nhiệm vụ của mặt trận này là phải quét sạch mọi tàn tích nô lệ, ngu dân, phản động của bọn thực dân để lại và xây dựng một nền văn hoá dân chủ mới của Việt Nam với đầy đủ các tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng. Nội dung và mọi phương hướng của mọi hoạt động văn hoá phải nhằm phục vụ kháng chiến, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "phải kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến”. Trước hết, phải chủ động giáo dục lòng yêu nước nồng nàn, biểu dương và bồi dưỡng chí khí anh dũng của nhân dân ta, khơi sâu lòng căm thù quân địch tàn bạo để đoàn kết toàn dân cùng một quyết tâm tiêu diệt chúng. Trong đường lối chiến tranh nhân dân, nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc luôn luôn được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm. Về xây dựng lực lượng vũ trang, việc giáo dục chính trị, huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật cho quân đội được đặc biệt chú trọng. Ngoài trường Lục quân Trần Quốc Tuấn của Trung ương, mỗi khu đều có trường quân chính để đào tạo cán bộ, cung cấp cho nhu cầu tác chiến và xây dựng đơn vị mới. Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1947, trong phần nghị quyết về quân sự đã nhân mạnh là phải ra sức "nắm vững và rèn luyện quân đội, làm cho quân đội ta xứng đáng là quân đội cách mạng của nhân dân". Hội nghị đặc biệt chú trọng vấn đề tổ chức, huấn luyện, trang bị và lãnh đạo dân quân, phổ biến kinh nghiệm xây dựng làng kháng chiến, tăng cường công tác địch vận để làm tan rã tinh thần quân địch. Công tác sản xuất vũ khí bảo đảm nhu cầu tác chiến là một đòi hỏi cấp bách. Trước ngày kháng chiến toàn quốc ít lâu, ta đã bước đầu xây dựng được một số cơ sở sản xuất vũ khí thô sơ, đồng thời nghiên cứu một vài loại vũ khí không thể không có để chống lại một kẻ thù được trang bị toàn vũ khí hiện đại. Tháng 11 năm 1946, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã cùng với một số cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân chế tạo thành công 4 khẩu Ba-dô-ca và 50 viên đạn Ba-dô-ca đầu tiên1 (Tài liệu lưu trữ của Cục Quân giới - Bộ Quốc phòng). Trong hoàn cảnh lúc đó, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp kém, máy móc và nguyên vật liệu còn thiếu thốn, thành công nói trên là một sự cổ vũ lớn lao và mở đường thắng lợi cho nền công nghiệp quốc phòng trẻ tuổi của nước Việt Nam phát triển. Từ trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta đã tổ chức vận chuyển máy móc, nguyên vật liệu lên các chiến khu và lên Việt Bắc. Hàng ngàn tấn sắt thép rời các nhà máy và đô thị bằng sức hai cánh tay và đôi vai của công nhân. Trong những vùng rừng núi âm u, xuất hiện "thế giới" của những người công nhân quốc phòng. Ở đây, suốt ngày đêm vượt qua mọi gian khổ và thiếu thốn, họ đã làm nên những điều phi thường, không ngừng cung cấp cho tiền tuyến những vũ khí ngày càng tinh xảo như các loại mìn, lựu đạn, súng không giật (SKZ), đại bác không giật (DKZ) khiến cho quân thù bất ngờ, hoảng sợ trước hiệu quả của vũ khí Việt Nam. Công tác xây dựng Đảng được đặc biệt quan tâm. Việc giáo dục đảng viên được coi trọng hàng đầu. Ngày 1 tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể đảng viên ở Bắc Bộ và tháng 4 năm 1947 cho các đảng viên ở Trung Bộ, trong đó Người nhấn mạnh: "1. Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem hết cả tinh thần các lực lượng ra đế đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước thống nhất và độc lập. Vì vậy, mỗi một đồng chí và toàn cả đoàn thể phải sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng nhất trí. 2. Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đên trình độ cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to, sai một ly đi một dặm. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết tay sạch những khuyết điểm sau đây: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hoá"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr.167-170). Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1947 cũng vạch ra nhiệm vụ phải tiếp tục củng cố và phát triển Đảng, làm cho Đảng không ngừng lớn mạnh trong cuộc kháng chiến và thực sự trở thành một đảng có tính chất quần chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tiếp theo đó, khi cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn quyết định đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, tư tưởng, Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 2 (từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 4 năm 1952) đã nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và chuẩn bị tốt để chỉnh đốn Đảng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:24:49 pm c) Kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh
Khi phát động nhân dân toàn quốc đứng lên kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cân nhắc kỹ trong nhận định tình hình trong nước và quốc tế, cán cân so sánh lực lượng địch, ta, những thuận lợi căn bản, lâu dài và những khó khăn trước mắt. Về so sánh lực lượng, đế quốc Pháp có quân đội nhà nghề và trang bị vũ khí hiện đại, có kinh nghiệm đánh chiếm thuộc địa lại được các lực lượng phản động quốc tế, nhất là đế quốc Mỹ, ra sức giúp đỡ. Trong khi đó, nước Việt Nam vừa thoát khỏi vòng nô lệ, chính quyền còn trứng nước, kinh tế kiệt quệ, quân đội mới xây dựng. "Lúc bắt đầu kháng chiến, quân đội ta là một quân đội thơ ấu. Tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt". Với so sánh lực lượng như thế, có thể kháng chiến được không? Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời dứt khoát: có thể được, miễn là biết đứng trên lập trường, quan điểm chiến tranh cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích, giải quyết vấn đề, biết triệt để vận dụng những khả năng và thuận lợi của ta, đồng thời ra sức khoét sâu những khó khăn và nhược điểm của địch. Theo quan điểm đó, sự so sánh lực lượng giữa ta và địch không chỉ đơn thuần nhìn vào lực lượng vật chất mà phải so sánh lực lượng một cách toàn diện, thấy rõ những chỗ mạnh của địch chỉ là tạm thời, những chỗ yếu của chúng là căn bản và không thể nào khắc phục được, về phía ta, những điểm yếu chỉ là tạm thời; cuộc kháng chiến của nhân dân ta có những điểm mạnh rất cơ bản: cùng với những nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam dựa trên sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân, có đường lối lãnh đạo đúng đắn, được cả loài người tiến bộ đồng tình và ủng hộ. Tại Đại hội Đảng lần thứ hai (tháng 2 năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát tư duy biện chứng về so sánh lực lượng giữa ta và địch bằng hình tượng: Nay tuy châu chấu đá voi Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra. Chiến lược kháng chiến trường kỳ là sự đối địch có hiệu quả nhất với chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh của đội quân xâm lược. Nhân dân Việt Nam có thể kháng chiến trường kỳ, nhưng đế quốc Pháp không thể xâm lược trường kỳ, vì cuộc chiến tranh càng kéo dài thì khó khăn của chúng càng chồng chất, những mâu thuẫn trong lòng chúng càng gay gắt và cuối cùng sẽ dẫn chúng đến thất bại hoàn toàn. Đảng đã chỉ rõ chiến lược kháng chiến trường kỳ là một tất yếu khách quan. Do đó, mọi tư tưởng sốt ruột, chủ quan muốn mau đi đến thắng lợi cũng như bi quan, thiếu tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng đều là sai lầm. Chiến lược đánh lâu dài đòi hỏi một sự chỉ đạo rất sáng suốt trong từng giai đoạn của cuộc chiến tranh, căn cứ vào sự so sánh lực lượng giữa ta và địch. Về đại thể, Đảng ta dự kiến cuộc kháng chiến trường kỳ sẽ diễn ra theo ba giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, địch mạnh, ta yếu, nhiệm vụ căn bản của chúng ta là bảo toàn lực lượng, giữ vững căn cứ địa, tiêu hao một phần sinh lực địch để tạo điều kiện chuyển sang giai đoạn sau. Ở giai đoạn thứ hai, lực lượng của ta dần dần lớn mạnh lên, lực lượng của địch dần suy yếu tạo nên hình thái ta với địch ở thế giằng co. Giai đoạn này rất gay go, gian khổ và cũng chính trong giai đoạn này, lực lượng cửa ta chuyển từ yếu thành mạnh để bước vào giai đoạn thứ ba. Đến giai đoạn thứ ba, thế và lực của ta dần dần mạnh hơn địch, lúc đầu trong phạm vi cục bộ, sau đó trong phạm vi toàn cục. Khi các điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi, ta chuyển sang phản công, lúc đầu với quy mô nhỏ, sau này càng lớn để cuối cùng quét sạch quân thù ra khỏi đất nước. Vấn đề quan trọng là phải biết vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng chiến lược nói trên vào việc chỉ đạo cuộc chiến tranh diễn biến rất phức tạp trong thực tế. Tại Đại hội Đảng lần thứ 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách biện chứng quá trình chuyển biến của ba giai đoạn: "Chúng ta phải hiểu rằng giai đoạn này có dính líu với giai đoạn khác, nó kế tiếp giai đoạn trước nó và nó gây ra những mầm mống cho giai đoạn sau: "Có nhiều sự biến đổi mới sinh ra từ một giai đoạn này đến giai đoạn khác. Trong một giai đoạn cũng có những biến đổi của nó. Có thể xét tình hình mà định ra từng giai đoạn lớn, nhưng không thể tách hẳn từng giai đoạn một cách dứt khoát như người ta cắt cái bánh. Một giai đoạn dài hay ngắn phải tùy theo tình hình trong nước và thế giới, tuỳ theo sự biến đổi trong lực lượng địch và lực lượng ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.165). Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, tư tưởng tự lực cánh sinh là cực kỳ quan trọng. Đó không phải chỉ đơn giản là vì khi cuộc kháng chiến bắt đầu, chúng ta còn đang ở trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc nên không thể có chính sách nào khác. Trái lại, đây là một chủ trương chỉ đạo chiến tranh rất cách mạng. Nó xuất phát từ một lòng tin tuyệt đối vào năng lực của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam, khi được giáo dục, động viên, tổ chức và lãnh đạo theo những đường lối đúng thì có thể sáng tạo ra những điều kỳ diệu và vượt qua những tình thế khó khăn, hiểm nghèo nhất. Một điều cần nhấn mạnh là từ sau Cách mạng tháng Tám đến chiến thắng ở Biên Giới Thu Đông năm 1950, nhân dân ta đã tự mình xây dựng nên lực lượng chính trị và quân sự hùng hậu, một nền kinh tế, văn hoá, giáo dục hướng vào một chế độ xã hội tuy còn nghèo nhưng quý trọng con người, một nhà nước tuy còn non trẻ, nhưng thực chất là của dân, do dân, vì dân đúng như Đảng nhận định: "Trong lò lửa kháng chiến, một nước Việt Nam mới đang được rèn đúc". Theo quan điểm của Lê-nin, trong cộng đồng quốc tế, đối với mỗi dân tộc, cách thức thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế là hoàn thành nhiệm vụ đối với dân tộc mình. Xét trên quan điểm đó thì dân tộc Việt Nam đã góp phần xứng đáng vào cuộc chiến đấu của cộng đồng quốc tế vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với những thắng lợi ngày càng lớn của cuộc kháng chiến, khi đã thoát khỏi vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và mở rộng giao lưu quốc tế, khi viện trợ vật chất và tinh thần của bè bạn và nhân dân thế giới, trước hết là từ các nước xã hội chủ nghĩa đến với Việt Nam, tinh thần tự lực cánh sinh không vì thế mà mất đi. Với sự giáo dục của Đảng, nhân dân Việt Nam hiểu rằng tự lực cánh sinh là phẩm chất tự chủ, tự cường của dân tộc và có mối quan hệ hữu cơ giữa tự lực cánh sinh và tiếp nhận viện trợ của bên ngoài. Nhân dân Việt Nam luôn coi trọng và biết ơn sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, xem đó là nguồn động viên, cổ vũ cuộc chiến đấu của mình, nhưng không bao giờ ỷ lại vào sự giúp đỡ đó. Ngay trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến, khi ý chí xâm lược của kẻ địch đã sụp đổ hoàn toàn và hoà bình trở thành hiện thực, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn căn dặn nhân dân: "Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hoà bình và ủng hộ hoà bình. Song hoà bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng, không ngồi chờ nó đến. Chúng ta càng cố gắng, lực lượng càng to, thắng lợi ta càng lớn thì việc thực hiện hoà bình chân chính ở Việt Nam càng chắc chắn"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 6, tr.455). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Năm, 2021, 04:26:21 pm d) Quan điểm về sự thống nhất giữa chiến tranh và nền hoà bỉnh chân chính - Tư tưởng nhân văn
Chúng ta có thể khẳng định rằng có một cách nhìn nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng nhân văn đó trước hết biểu lộ sâu sắc trong thái độ đối với chiến tranh. Lịch sử loài người sẽ mãi mãi ghi nhận cống hiến to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh lâu dài chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình. Chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình là một tư tưởng nhân văn cao cả. Sự thật lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm những gì có thể làm được để tránh chiến tranh. Trái lại, về phía Pháp, những kẻ xâm lược đã không từ một thủ đoạn nào để làm cho mọi cuộc điều đình thất bại. Họ nói hoà bình nhưng đó là sự lừa mị và họ làm chiến tranh thật. Tiêu biểu cho thái độ đó là Đô đốc - Thầy tu Đác-giăng-li-ơ. Ngày 8 tháng 3 năm 1946, ông ta nói: "Tôi thấy thật kỳ lạ, nước Pháp có một đội quân viễn chinh ưu tú như thế ở Đông Dương mà những người chỉ huy lại thích điều đình hơn là đánh"2 (Philippe Devillers: Hytoire du Viet Nam). Trong thư gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp ngày 6-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ những hành động vi phạm nghiêm trọng các bản Hiệp định 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946 của bọn thực dân phản động, nhắc lại ý nguyện của nhân dân Việt Nam muốn hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp và kết luận: "Tôi khẩn thiết kêu gọi Quốc hội và chính phủ Pháp vì quyền lợi tối cao của nhân dân hai nước Việt - Pháp mà ra lệnh cho các nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam khôi phục ở Hải Phòng, Lạng Sơn tình hình trước ngày 20-11-1946 nhằm thực hiện Tạm ước ngày 14-9-1946 và đặt cơ sở cho một sự hợp tác Việt - Pháp chân thành, bền vững. Chiến tranh đã làm đổ quá nhiều máu người Pháp và người Việt Nam, đã gây ra quá nhiều tai hại. Tình hình đó không thể kéo dài mãi”. "Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.487). Những hành động trong chiến tranh càng làm nổi bật sự khác nhau căn bản giữa chính sách nhân đạo của quân đội và nhân dân Việt Nam đối với kẻ địch và những tội ác của quân đội Pháp đối với các chiến sĩ và nhân dân ta. Tháng 10-1945, trong những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi những người Pháp ở Đông Dương: "Lúc này, bọn thực dân Pháp đã mở đầu sự tấn công chúng tôi ở Nam Bộ... Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi. Mặc dầu như vậy, trên khắp đất nước Việt Nam, sinh mệnh và tài sản của người Pháp vẫn được che chở và tiếp tục được che chở miễn là các người ấy chịu sống yên ổn và không tìm cách gây chuyện. Tôi trịnh trọng cam đoan rằng những người Pháp làm ăn lương thiện và sống yên ổn sẽ mãi mãi được chúng tôi trọng đãi như bè bạn, như anh em. Chúng tôi là một dân tộc yêu hoà bình, trọng quyền lợi và tự do của người khác"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, đã dẫn trên, tr.67). Ngày 16-1-1946, trong Quốc lệnh bao gồm 10 công được thưởng và 10 tội phải phạt tử hình do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố có khoản 7: "vô cớ sát hại kiều dân ngoại quốc sẽ bị xử tử"2 (Như trên, tr.164). Trong các lực lượng vũ trang, mọi cán bộ và chiến sĩ đều biết rõ "Kỷ luật chiến trường" cấm ngược đãi và giết hại tù, hàng binh và luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đó. Trái lại, đội quân xâm lược luôn thực hiện một chính sách bạo lực tàn bạo đối với chiến sĩ và nhân dân ta. Trên mặt trận Nam Bộ, trong một bản quân lệnh tháng 12-1945, đại tá Massu tuyên bố: "phải khủng bố mạnh mẽ để ngăn cản nhân dân ủng hộ và chứa chấp bọn phiến loạn". Bọn thực dân phản động còn cho rằng phải áp dụng những phương pháp khủng bố của phát xít Hít-le trước đây. Báo Avenir (Tương lai) xuất bản ở Sài Gòn ngày 3-4- 1946 viết: "Trong thời kỳ nước Pháp bị chiếm đóng, dưới sự chỉ huy của tướng Von Stulpnagel, cứ hễ một người Đức bị ám sát thì 300 người Pháp bị xử bắn và cuối cùng thì nền trật tự được khôi phục". Quân xâm lược đã tàn sát không ghê tay, kể cả những chiến sĩ bị thương cũng không thoát khỏi, trong khi ta đối xử rất nhân đạo với những binh sĩ bị thương và bị bắt. Chính Dussart, một phóng viên mặt trận của Pháp, đã đưa ra dẫn chứng cụ thể về những hành động đó: "Quân đội Pháp xông vào một cái nhà gianh được bố trí thành một trạm cứu thương có tất cả 15 binh sĩ Việt Nam. Một số bị thương trong trận đánh hôm trước, một số khác đang băng bó cho họ. Chúng ta đã thủ tiêu tất cả mười lăm người" "những lính Pháp bị thương đều được du kích Việt Nam cứu chữa và được dẫn về trả cho các vị trí Pháp"1 (Vérité sur le Viet Nam (Sự thật về Việt Nam), Nxb La Bibliothèque francaise Paris, tr.55, 61). Mọi người đều biết rõ cuộc sống vật chất của quân đội ta trong kháng chiến khó khăn, gian khổ ra sao, nhưng chính phủ ta vẫn cố gắng chu cấp cho những tù binh những điều kiện sống không kém các chiến sĩ Việt Nam như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhà báo Pháp Le'o Figuère: "Hiện nay, chúng tôi đang tìm cách để nâng cao mức sống của họ. Họ được ăn uống đầy đủ hơn cả chúng tôi nữa. Họ đã gửi cho tôi nhiều bức thư tỏ lòng biết ơn"2 (Báo Cứu quốc, ngày 8-9-1950). Thông cảm sâu sắc với tình cảm của các bà mẹ và vợ Pháp có con và chồng chết trận ở Việt Nam, trong thư gửi họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chúng tôi tự coi có bổn phận thiêng liêng phải giữ nguyên vẹn để sau này khi chiến tranh chấm dứt, các bà có thể mang hài cốt của chồng, con mình về quê cha, đất tổ. Như thế, chúng tôi mong rằng có thể làm dịu nỗi đau của các bà"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.119). Tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta biểu hiện lòng tin ở con người, coi trọng, khuyến khích phát huy mặt tốt, mặt thiện, sửa chữa cải tạo mặt xấu, mặt ác trong con người. Đó là cơ sở để thực hiện chính sách đối với ngụy quân, ngụy quyền, mở đường cho họ trở về với dân tộc. Đó cũng chính là chính sách "tâm công", đánh vào lòng người, theo truyền thống đánh giặc của ông cha ta ngày trước. Kiên trì giải thích, thuyết phục làm cho nhiều sỹ quan và binh sĩ địch nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do bọn xâm lược gây nên và đấu tranh phản chiến, đòi hồi hương hoặc chuyển sang hàng ngũ chiến đấu của quân đội và nhân dân Việt Nam. Như vậy, tư tưởng chủ đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật sự giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ giữa cách mạng và chiến tranh, giữa chiến tranh và hoà bình. Tư tưởng đó không bỏ qua bất cứ một khả năng nào, dù là nhỏ nhất, có thể đem lại hoà bình, nhưng không phải hoà bình với bất cứ giá nào, mà là hoà bình trong độc lập, tự do, trong sự tôn trọng phẩm giá con người, hoà bình gắn với sự bảo đảm những quyền lợi căn bản của dân tộc. Tư tưởng đó mang tính nhân văn cao cả. Tại hội thảo quốc tế "Việt Nam trong thế kỷ 20", có đại biểu đề nghị nâng tư tưởng đó lên tầm triết lý nhân văn về chiến tranh và hoà bình ở thế kỷ 20. Romesh Chandra, Chủ tịch danh dự Hội đồng hoà bình thế giới nhận định: "Trong nửa sau thế kỷ 20, có một từ đã xuất hiện trong tiếng nói của những người bảo vệ và kiến tạo hoà bình trên thế giới, một từ cùng một lúc mang rất nhiều ý nghĩa: đấu tranh, dũng cảm, anh hùng, và nó còn ý nghĩa là chiến thắng, độc lập, tự do. Từ đó là Việt Nam. Và có một cái tên đã gắn liền với từ này, từ chỉ tên một đất nước. Đó là Hồ Chí Minh”. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:18:55 am 2. Về nghệ thuật quân sự
Dân tộc ta có truyền thống chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt cùng những kinh nghiệm độc đáo. Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược ở thời hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã kế thừa và phát huy kinh nghiệm quân sự của tổ tiên, vận dụng sáng tạo những quan điểm về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tiếp thu tinh hoa quân sự thế giới, đưa nền nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển lên một trình độ mới, nền nghệ thuật quân sự cách mạng với nhiều điểm độc đáo. a) Trong lĩnh vực chiến lược Sớm xác định đúng kẻ thù chủ yếu, đánh giá đúng so sánh lực lượng địch ta. Đây là vấn đề mấu chốt của chiến lược quân sự. Trong hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (14 đến 15 tháng 8 năm 1945), Đảng đã chủ trương "... chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương". Sau vụ quân Pháp khởi hấn ở Nam Bộ, trải qua hơn một năm nhân nhượng không kết quả, Đảng ta khẳng định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội 1986, tập 1, tr.82). Trải 5 năm đương đầu với quân xâm lược, thấy rõ động thái của Mỹ, năm 1950, Đảng nhận định: "Hiện nay Mỹ tiến lên một bước trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Thế là ngày nay, ta có một kẻ địch chính là giặc Pháp, lại thêm một kẻ địch nữa là can thiệp Mỹ"2 (Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2-9-1950). Trong quá trình kháng chiến, Đảng ta đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch để định ra đối sách chính xác. Do đó đã xây dựng được quyết tâm chiến đấu đúng đắn cho toàn dân, khắc phục mọi biểu hiện hữu khuynh, tiêu cực, bi quan, dao động hoặc chủ quan khinh địch... Thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, trong nhân dân ta cũng có một ít người chưa tin vào thắng lợi, lo ngại trước sức mạnh quân sự của địch. Nhưng với cách nhìn biện chứng, Đảng ta không chỉ căn cứ vào hiện tại mà xem xét cả tương lai, với lòng tin vào sức mạnh của quần chúng, của dân tộc, đã khẳng định: Kháng chiến nhất định thắng lợi. Như thế, Đảng ta đã thấy rõ, với sự tiến triển của cuộc kháng chiến, dù kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp mạnh hơn ta rất nhiều về quân sự, tuy lúc đầu quân đội ta còn yếu, trang bị thô sơ, kinh tế đất nước còn khó khăn, nhưng kháng chiến của ta là chính nghĩa, toàn dân đoàn kết một lòng, đánh địch trên đất mình và nhân dân ta được phe xã hội chủ nghĩa, nhân loại tiến bộ kể cả nhân dân Pháp ủng hộ. Địch tuy có quân đội mạnh, được trang bị hiện đại, có nền công nghiệp tiên tiến, nhưng tiến hành chiến tranh phi nghĩa, ở một chiến trường rất xa chính quốc, nội bộ chia rẽ, bị nhân dân tiến bộ trong nước và thế giới phản đối, kinh tế, tài chính sau chiến tranh thế giới bị kiệt quệ. Những chỗ mạnh của ta là căn bản, những chỗ yếu của ta có thể khắc phục được. Ta sẽ dựa vào và phát huy chỗ mạnh để khắc phục chỗ yếu. Những chỗ mạnh của địch có thể hạn chế được, những chỗ yếu của chúng là căn bản không thể khắc phục được. Với thời gian, ta có thể làm chuyển hoá lực lượng, ta từ yếu thành mạnh, địch từ mạnh chuyển thành yếu. Với cách đánh giá đầy tính cách mạng và khoa học đó, Đảng ta, nhân dân ta, ngay từ đầu đã dứt khoát khẳng định "ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Có quyết tâm xác đáng, có đường lối đúng, lại phải có phương thức tiến hành chiến tranh thích hợp và sự chỉ đạo chiến lược quân sự kịp thời mới có thể đưa cuộc kháng chiến từng bước phát triển tới thắng lợi cuối cùng. Trong các lĩnh vực trên, Đảng ta đã giải quyết thành công nhiều vấn đề, có thể nêu một số nội dung nổi bật sau đây: - Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, giành quyền chủ động tiến công địch. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là sự kế tục sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến khi vừa giành được chính quyền, tiềm lực mọi mặt đều còn non kém. Tuy nhiên, nhân dân ta thực hành chiến tranh cách mạng và cuộc kháng chiến phát triển từ khởi nghĩa lên nên Đảng xác định tư tưởng chiến lược là: tiến công, từng bước giành quyền chủ động chiến lược. Khi quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, Đảng ta chủ trương phát huy các chiến thuật du kích ngăn cản, làm chậm bước tiến công của địch; đồng thời chọn mục tiêu thích hợp chủ động tiến công tiêu hao địch, kiên quyết không dàn quân đánh trận địa. Khi chiến tranh không thể tránh khỏi, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn dân kháng chiến, chủ động tiến công quân địch trước tại các đô thị Bắc vĩ tuyến 16. Hồi đầu kháng Pháp, trước sức mạnh của địch, ta chủ trương "bảo tồn chủ lực", "tránh những trận bất lợi, rút lui tới một mức nào đó"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tập II, tr.125), nhưng vẫn tìm cách đánh địch ở khắp nơi, "tích cực tiến công từng bộ phận để tiêu diệt bộ phận địch"2 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tập II, tr.125). Sau chiến dịch phản công Việt Bắc thắng lợi (cuối năm 1947), ta chủ trương "bắt địch chuyển sang thế thủ"3 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tập II, tr.125) phát động chiến tranh du kích, tiến sâu vào vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta. Thế tiến công chủ động và rộng khắp của chiến tranh du kích từ năm 1948 đã mở ra thế tiến công chiến lược ngày càng phát triển vào vùng địch chiếm đóng trên khắp chiến trường Đông Dương. Thế tiến công quy mô ngày càng lớn, bằng cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy không ngừng phát triển. Các chiến dịch lớn được mở: Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào... và cuối cùng là cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 với chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy - tiến công quân sự hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với nổi dậy của quần chúng trên quy mô cả nước càng phát huy mạnh mẽ quyền chủ động chiến lược, tạo thành sức mạnh tiến công áp đảo để đánh bại kẻ địch. Đây là một thành công nổi bật về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nói chung cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến lược quân sự tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Nghệ thuật vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công và giành, phát huy quyển chủ động chiến lược. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:20:42 am - Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, không ngừng đẩy mạnh tiêu hao và tiêu diệt địch.
Trong điều kiện tương quan lực lượng giữa ta và địch thời chống Pháp, trong chỉ đạo chiến tranh và đấu tranh vũ trang cách mạng, lúc đầu ta chủ trương "du kích chiến là căn bản", kế đó, đưa chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy một cách thích hợp, đồng thời kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Nhờ thực hành chiến tranh du kích, ta đã tiêu hao lực lượng địch về chiến lược; đồng thời tiến lên chiến tranh chính quy (đồng thời duy trì chiến tranh du kích) để tiêu diệt địch về chiến lược, giành thắng lợi quyết định. Đó là thành công của Đảng ta trong giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa hai hình thức để phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân và lực lượng đông đảo quần chúng, của cả tác chiến du kích và tác chiến tập trung trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài. - Kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ vững quyền làm chủ của nhân dân, tích cực tiêu diệt lực lượng địch, giữ gìn và phát triển lực lượng ta, tiến lên từng bước giải phóng đất đai bị địch lấn chiếm. Với Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trên cả nước, nhưng hồi đầu kháng chiến, bằng nhiều cách khác nhau, quân địch đã thiết lập được sự thống trị của chúng bằng chế độ thực dân kiểu cũ trên nhiều vùng chiến lược quan trọng (tức một số căn cứ địa và vùng tự do của ta). Lực lượng vũ trang đã phối hợp với toàn dân dùng đấu tranh vũ trang để tiêu diệt địch và hỗ trợ cho quần chúng trong vùng địch tạm kiểm soát nổi dậy phá tề, trừ gian, giành chính quyền, xây dựng, củng cố và phát triển khu du kích và căn cứ du kích trong lòng địch. Đồng thời, ta tích cực xây dựng và củng cố vùng tự do về mọi mặt, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, chiến đấu bảo vệ vùng tự do, hậu phương kháng chiến. Thực hiện kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ của nhân dân, Đảng ta để ra tư tưởng chỉ đạo "tích cực tiêu diệt lực lượng địch, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta". Tiêu diệt địch, gồm cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của chúng. Và cũng như vậy, phải giữ gìn và phát triển lực lượng quân sự, chính trị, kinh tế của ta. Quân ta từ 5.000 và mấy vạn tự vệ hồi đầu kháng chiến; đến cuối cuộc chiến tranh phát triển lên tới hàng triệu tự vệ, dân quân du kích và 30 vạn bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương được tổ chức thành nhiều trung đoàn, đại đoàn mạnh. Sự chỉ đạo chiến lược quân sự đúng đắn: kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ; quán triệt tư tưởng tích cực tiêu diệt địch, giữ gìn và phát triển lực lượng ta nhằm thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh, càng đánh càng tiêu diệt lực lượng và đánh bại các chiến lược quân sự của địch, đập tan chính quyền các cấp của địch, giành chính quyền về tay nhân dân, đã trở thành hiện thực trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Chọn hướng tiến công chiến lược đúng đắn, đánh thắng từng kế hoạch chiến lược, nắm thời cơ tiến hành quyết chiến chiến lược, đánh thắng cố gắng chiến tranh cao nhất của địch. Cũng từ tương quan lực lượng địch ta kể trên, trong chỉ đạo kháng chiến, Đảng ta luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo quy luật đánh thắng địch từng bước, tiến lên đánh thắng hoàn toàn chiến tranh xâm lược của chúng. Sau khi đồng loạt tiến công vây hãm, giam chân địch tại các đô thị Bắc vĩ tuyến 16 hồi đầu toàn quốc kháng chiến, quân dân ta đã phản công thắng lợi ở Việt Bắc, lần lượt làm thất bại mưu đồ và kế hoạch xâm lược của Lơ-cle, Va-luy, Tát-xi-nhi và cuối cùng là kế hoạch chiến lược đầy tham vọng của Na-va. Trong tác chiến, ở từng thời đoạn và điều kiện cụ thể, ta luôn xác định mục tiêu và hướng tiến công đúng đồng thời chỉ đạo các chiến trường phối hợp chặt chẽ, nhân lên sức mạnh thắng địch. Khi địch rải quân chiếm đóng nhiều vùng rộng lớn, bộc lộ nhiều sơ hở, ta đưa lực lượng vào hậu địch hoạt động, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng của chúng. Nhận thấy tại chiến trường miền núi địch sơ hở và khó phát huy ưu thế của vũ khí, kỹ thuật, ta mở các chiến dịch Biên Giới (1950), Tây Bắc và Hoà Bình (1952) giành thắng lợi lớn. Trong Đông Xuân 1953 - 1954, bằng nhiều đòn chiến lược trên các hướng của chiến trường miền núi, đặc biệt là Tây Bắc - Điện Biên Phủ, trong khi đó đồng bằng hoạt động phối hợp, ta đã diệt được 1/4 tổng binh lực địch trên cả 3 nước Đông Dương, làm đảo lộn hoàn toàn thế bố trí chiến lược của địch trên chiến trường Đông Dương, đè bẹp ý chí xâm lược của thực dân Pháp. Đó là ví dụ tiêu biểu về việc chọn hướng tiến công trong chỉ đạo chiến lược quân sự. Chọn mục tiêu và hướng tiến công chính xác lại phải kết hợp với hoạt động tạo ra thời cơ và lựa chọn thời cơ thích hợp cho hoạt động quân sự mới có thể giành thắng lợi. Hồi đầu kháng Pháp, Đảng ta đã phát động kháng chiến, chủ động tiến công địch tại các đô thị Bắc vĩ tuyến 16 khi khả năng thương lượng không còn, viện binh địch chưa tới, việc chuẩn bị mở rộng quy mô xâm lược chưa hoàn tất. Cũng như vào cuối cuộc kháng Pháp, kế hoạch Na-va, cố gắng cao nhất của cả Pháp và Mỹ được triển khai, mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng bộc lộ rõ nét, ta đánh bại được kế hoạch củạ địch, mở ra khả năng kết thúc chiến tranh. Và thực tế diễn ra đúng như vậy. Điều đó đánh dấu bước phát triển cao về sự chỉ đạo chiến lược quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam, trong lịch sử chiến tranh giữ nước và cứu nước. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:25:02 am b) Nghệ thuật chiến dịch hình thành và phát triển
Hồi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân ta đã phải chiến đấu liên tục, dài ngày ở Sài Gòn, Nha Trang, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng... Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trước hết do trình độ hạn chế của bộ đội ta, các hoạt động tác chiến kể trên chưa hình thành chiến dịch, chưa hội đủ yếu tố chiến dịch. Đến cuối năm 1947, khi quân Pháp mở cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc, Bộ chỉ huy tối cao của ta đã phán đoán, phân tích đúng đắn âm mưu, kế hoạch, khả năng của địch và vạch ra kế hoạch tác chiến chỉ đạo cắc lực lượng và địa phương nơi địch tiến công chuẩn bị và đối phó địch. Các chiến trường toàn quốc cũng được lệnh chiến đấu phối hợp với cách đánh du kích kết hợp với đánh tập trung, lợi dụng triệt để địa hình rừng núi phức tạp, quân và dân ta đã đánh bại các kế hoạch Lê-a và Xanh-tuya của địch, bảo vệ được khu căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực ta. Đó là chiến dịch phản công Việt Bắc, mở đầu sự hình thành nghệ thuật chiến dịch thời hiện đại. Trong các năm 1948, 1949, vừa phát triển chiến tranh du kích, vừa đẩy mạnh vận động chiến, ta mở một số chiến dịch tiến công, từ quy mô nhỏ (do một số tiểu đoàn chủ lực phối hợp với các đại đội độc lập tiến hành) dần dần tiến lên quy mô do 2 đến 3 trung đoàn chủ lực tiến hành. Cách đánh phổ biến lúc đó là đánh điểm, diệt viện. Nghệ thuật chiến dịch tiến công qua đó hình thành, kinh nghiệm và lý luận về nghệ thuật chiến dịch được bổ sung từng bước. Đến năm 1950, khi mở chiến dịch tiến công Biên Giới, ta đã sử dụng lực lượng tương đương 2 đại đoàn chủ lực cùng một số tiểu đoàn, đại đội địa phương, một tiểu đoàn sơn pháo. Ta cũng tiến công vào cứ điểm quan trọng (Đông Khê) khiến địch phải kéo viện binh lớn đến ứng cứu, tạo cơ hội để ta tiêu diệt. Chiến dịch giành thắng lợi giòn giã. Ta tiêu diệt gọn một lực lượng quan trọng của địch, giải phóng biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, mở thông đường ra quốc tế. Chiến thắng Biên Giới đánh dấu bước nhảy vọt của nghệ thuật chiến dịch tiến công và nghệ thuật đó tiếp tục phát triển ở chiến dịch tiếp theo là Tây Bắc, Thượng Lào... Tới Đông Xuân 1953 - 1954, do trình độ trang bị và khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng (bộ binh, pháo binh, cao xạ và công binh...) có bước phát triển mới, quân và dân ta đã tiến hành chiến dịch tiến công quy mô lớn với lực lượng 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo, tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mạnh của địch ở Điện Biên Phủ. Ngoài hai loại hình chiến dịch tiến công và phản công, trong vận động chiến cũng như trận địa chiến nói trên, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nghệ thuật chiến dịch của ta còn được vận dụng đạt kết quả trong chống càn, trong những đợt tiến công của lực lượng vũ trang kết hợp với nổi dậy của quần chúng phá tề, đánh vào bộ máy thống trị địa phương của địch, chuyển từ vùng tạm chiếm thành vùng du kích hoặc vùng tự do của ta. Trong các hoạt động đó, có nhiều yếu tố của chiến dịch, của chiến tranh nhân dân Việt Nam phát triển cao. Nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp được phát huy và vận dụng sáng tạo, phát triển hoàn thiện trong kháng chiến chống Mỹ. Ví như nội dung về nghệ thuật chiến dịch tiến công giải phóng thành phố lớn, tiến công ở địa hình ven biển, tiến công trong hành tiến... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Năm, 2021, 07:25:57 am c) Về chiến thuật
Hồi đầu kháng Pháp, ta vận dụng cách đánh nhỏ, dùng mưu mẹo, bí mật bất ngờ. Đó là cách đánh du kích. Trong suốt quá trình kháng chiến, đánh du kích được vận dụng rộng rãi với nhiều hình thức phong phú: ôm hè, bắt bộ, quấy rối, bắn tỉa, đánh địa lôi, thuỷ lôi, đánh bằng chông mìn, cạm bẫy, đạp lôi... Cách đánh đặc công đã xuất hiện, đầu tiên ở Nam Bộ và được nâng cao trong một số trận ở miền Nam Trung Bộ. Do trình độ mọi mặt của bộ đội ta ngày một phát triển và điều kiện địa hình cùng hình thái xen kẽ giữa ta vài địch, chiến thuật được vận dụng trong táo chiến tập trung cũng ngày thêm phát triển và đa dạng. - Phòng ngự điểm chốt. Hồi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân và dân ta dùng phòng ngự trận địa nhằm đánh bại tiến công của địch, bảo vệ vùng tự do của ta, nhưng bị tổn thất nặng. Từ đó, ta chuyển sang phòng ngự bằng điểm chốt. Phòng ngự bằng điểm chốt ngăn chặn, làm chậm bước tiến công của địch, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng ta tiến công vào sau lưng và cạnh sườn đối phương. Cách phòng ngự như trên đã diễn ra khi ta bao vây địch ở Nha Trang - Ba Ngòi (cuối năm 1945), tại các trận phòng ngự trên đường 9 khi địch từ Lào tiến về Đông Hà và các trận đánh địch tại Hà Nội (cuối 1946, đầu 1947). - Chiến thuật phục kích. Phục kích là một trong những hình thức chiến thuật phù hợp với trình độ bộ đội và nhiều địa hình chiến trường nước ta, được sử dụng rộng rãi trong những năm 1945 - 1947. Bằng phục kích, ta vừa tiêu hao, vừa tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, phá huỷ phương tiện chiến tranh và thu vũ khí để trang bị cho ta. Các trận phục kích có hiệu suất chiến đấu cao đã diễn ra trên đường 4, trên sông Lô, trên đèo Hải Vân, đèo Phượng Hoàng (Khánh Hoà), Tầm Vu... Tuy nhiên, hồi đầu kháng Pháp, các trận phục kích của ta đều ở cự ly gần địch và với lực lượng không lớn. Ở những giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến, các trận phục kích hình thành lực lượng chặn đầu, khoá đuôi; tiến công trên hướng chính, trên hướng đối diện, có bố trí hoả lực kiềm chế, bôn tập từ xa đến - Tiêu biểu là các trận ở Bông Lau - Lũng Phầy, Mỹ Chánh - Ưu Điềm, La Ngà... Vào nửa cuối của cuộc kháng chiến, phục kích vẫn được áp dụng rộng rãi và hoàn thiện thêm về phương pháp. Nổi bật là hai trận Chân Mộng - Trạm Thản (Phú Thọ), trận Đắc Pơ (Khu 5)... - Chiến thuật tập kích. Hồi đầu kháng Pháp, ta thường vận dụng phương pháp bí mật tiếp cận địch và bất ngờ xung phong (kỳ tập). Khi vũ khí, trang bị khá lên, ta đã sử dụng hoả lực bắn vào mục tiêu (cường tập) trước khi xung phong. Tuy nhiên, vì vũ khí và trình độ phối hợp của bộ đội còn hạn chế, các trận tập kích ít hiệu quả. Vào nửa cuối cuộc kháng chiến, cả tập kích không dùng hoả lực bắn trước (kỳ tập) đều phát triển rộng rãi. Riêng kỳ tập, cùng với lực lượng được huấn luyện đặc biệt (đặc công), bộ binh cũng được huấn luyện cách bí mật tiếp cận đánh địch. Như vậy, kỳ tập được sử dụng rộng rãi trên chiến trường toàn quốc. Bộ đội đặc công xuất hiện ở Nam Bộ sau đó phát triển ra cả 3 miền Trung và Bắc Bộ. - Chiến thuật vận động tiến công. Lúc đầu, chiến thuật này chưa hình thành rõ nét. Thấy địch xuất hiện, thường cho bộ đội vận động ra tiến công, nhưng ít thành công. Hiện tượng đó đã được kịp thời uốn nắn. Khi trang bị và trình độ bộ đội phát triển lên, ta đã chủ động đánh địch ngoài công sự vững chắc bằng vận động tiến công. Ta triển khai lực lượng ở những vị trí tiện cơ động, từ đó vận động ra tiến công diệt địch khi chúng tiến đến khu vực ta dự kiến. Cách này sẽ càng phát huy hiệu quả khi bộ đội ta có hoả lực mạnh chế áp địch và có hoả lực phòng không ngăn chặn địch. Ở nửa sau cuộc kháng chiến, hình thức chiến thuật vận động tiến công có bước nhảy vọt cả về quy mô và phương pháp đánh địch với cách vận động bao vây tiến công liên tục và vận động tiến công kết hợp chốt trong các trận then chốt. Ví dụ rõ nhất là ở chiến dịch Biên Giới. Đó là bao vây, công kích liên tục, diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ ở khu vực Cốc Xá, là kết hợp chốt với vận động tiến công tiêu diệt binh đoàn Sác-tông ở khu vực điểm cao 477... - Tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Do chưa có hoả lực để tiến công địch trong các đồn bốt, cứ điểm bằng đột phá, ta đã sử dụng nhiều cách khác nhau để diệt địch. Dùng nhân mối trong binh lính địch để đánh địch như trận đánh cứ điểm huyện lỵ Gio Linh (Quảng Trị), trận đánh châu lỵ Chợ Đồn (Thái Nguyên). Nhiều trận ta đóng giả địch để vào vị trí của chúng (Phai Khắt) hoặc cải trang thành phu lao dịch cho địch để đánh đồn. Khi lực lượng phát triển lên, ta đã tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc bằng đột phá (công đồn). Như trận Yên Bình Xã, Phủ Thông (1948), Phố Ràng (1949), Phong Phú trong chiến dịch cầu Kè (Trà Vinh (1949)... Tuy nhiên cách đánh này hạn chế hiệu quả do ta ít vũ khí diệt hoả điểm trong lô cốt, thiếu phương tiện mở cửa qua vật cản. Trận Phố Lu, Phủ Thông, An Châu, vì lẽ trên mà ta bị thương vong cao. Vào nửa sau cuộc kháng chiến, chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc (công kiên) đã phát triển về quy mô và phương pháp khác nhau. Quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn dần dần thành phổ biến (Đông Khê, Nghĩa Lộ, Măng Đen...), về phương pháp, ta tiếp tục theo cách từ vị trí tập kết vận động tiếp cận địch, xây dựng trận địa xuất phát tiến công trong thời gian ngắn và tiến công tiêu diệt địch. Cách này cũng có hạn chế và gây tổn thất do trận địa xuất phát tiến công được xây dựng sơ sài. Đến trận Điện Biên Phủ, quân ta đã xây dựng trận địa xuất phát tiến công hoàn chỉnh hơn gồm chiến hào, giao thông hào, hầm ẩn nấp, trận địa hoả lực... Từ đây, hình thức bao vây đánh lấn (vây lấn) xuất hiện, mở ra cách đánh dứt điểm (như tiến công cứ điểm 106, 206, 311B). - Chiến thuật truy kích. Ra đời từ giai đoạn cuối các trận chiến đấu thắng lợi, truy kích, đánh địch rút chạy. Trong chiến dịch Thượng Lào (1953), nhiều đơn vị truy kích địch từ Sầm Nưa về Xiêng Khoảng. Phát triển lên, ta kết hợp truy kích với tìm cách chặn đầu quân địch. Các trận thắng lợi nổi bật như truy kích địch rút khỏi Lai Châu về Điện Biên Phủ hoặc tiến công sang Thượng Lào 1954. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đó cũng là thắng lợi của tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự trong chống Pháp sẽ là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển đến đỉnh cao của tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại và là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cửa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:17:37 am LỊCH SỬ CHIẾN TRANH VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 -1975) I- CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC THỰC DÂN MỚI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ 1. Bối cảnh lịch sử và nguyên nhân chiến tranh a) Tình hình Việt Nam và thế giới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Thắng lợi đông - xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta đã buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (ngày 20-7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn của nước Việt Nam, rút hết quân về nước. Đây là cột mốc quan trọng trên con đường giải phóng dân tộc của toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra một thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Do tương quan lực lượng đôi bên và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, đất nước ta tạm bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị đối lập. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh giành toàn vẹn độc lập, thống nhất đất nước còn phải tiếp tục trong những điều kiện mới, vừa thuận lợi nhưng cũng rất phức tạp, xét trên bình diện trong nước và trên thế giới. Ở trong nước, miền Bắc hoàn toàn giải phóng trở thành hậu phương căn cứ địa của cả nước, có chính quyền vững mạnh, có lực lượng vũ trang anh dũng, có mặt trận tập hợp và đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân. Nhân dân miền Nam giác ngộ chính trị cao, một lòng hướng về miền Bắc, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân cả nước được Đảng Lao động Việt Nam - một đảng Mác xít - Lênin nít chân chính, dạn dày kinh nghiệm lãnh đạo; được đông đảo nhân dân tiến bộ và nhiều quốc gia trên thế giới đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ. Đó là những thuận lợi rất cơ bản của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bên cạnh những thuận lợi, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta cũng gặp nhiều khó khăn. Miền Bắc kinh tế nghèo nàn, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, tình hình an ninh chính trị khá phức tạp do âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thực dân, đế quốc và bè lũ phản động, tay sai gây ra trước, trong và sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng; bộ máy chính quyền các cấp chưa được củng cố, trình độ nhận thức, kinh nghiệm và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế. Ở miền Nam, từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đây. phần lớn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc, cách mạng miền Nam phải chuyển sang phương thức hoạt động vừa hợp pháp vừa không hợp pháp; vừa công khai vừa bí mật. Tất cả những thay đổi đó, ở một mức độ đáng kể, đã tác động tới tâm tư, tình cảm của đồng bào đồng chí miền Nam và đặt ra cho cách mạng nước ta những nhiệm vụ mới đầy phức tạp, khó khăn. Trên thế giới, thắng lợi của nhân dân Việt Nam sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tác động to lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh. Phong trào này tìm thấy ở thắng lợi của nhân dân Việt Nam nguồn cổ vũ, sự động viên mạnh mẽ cùng những bài học lịch sử quý báu để vận dụng vào điều kiện cụ thể từng nước trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng. Thực tế lịch sử cho thấy, từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa có bước phát triển mạnh mẽ. Đến cuối những năm sáu mươi, đã có khoảng 40 nước giành độc lập mà phần lớn trong số đó vốn là thuộc địa của nước Pháp. Thực tế đó có tác động tới tình hình chính trị thế giới. Nếu trước kia, Liên hiệp quốc chỉ có khoảng 50 nước thành viên, chủ yếu là các nước châu Âu và Mỹ la tinh thì đến giữa những năm năm mươi của thế kỷ XX, tổ chức này có tới 100 thành viên. Chương trình nghị sự về các vấn đề chính trị thế giới vì vậy, không còn do những nước lớn thao túng, định đoạt, áp đặt cho Đại hội đồng Liên hiệp quốc... như trước được nữa. Sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ trước phong trào giải phóng dân tộc tác động trực tiếp tới nguồn lợi nhuận của nhiều nước tư bản phát triển, làm cho khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước này ngày càng sâu sắc, buộc các chính phủ đó phải tìm mọi cách ứng phó nhằm duy trì vị trí của họ ở nước ngoài, đồng thời tăng cường bóc lột các lực lượng lao động trong nước. Nhưng cũng chính vì thế, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, đi đầu là giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, ngày càng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, khiến cho tình hình nhiều nước tư bản ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á càng lâm vào tình trạng bất ổn về chính trị, xã hội... Trong khi đó, chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam góp phần làm suy yếu một bước chủ nghĩa đế quốc đã tạo cho các nước xã hội chủ nghĩa có thêm điều kiện thuận lợi để mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như tăng cường tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự của mình. Hệ thống xã hội chủ nghĩa được củng cố, tăng cường; phạm vi của hệ thống nối liền từ Âu sang Á đã thực sự là nhân tố đóng vai trò to lớn và quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ hoà bình và giữ gìn an ninh trên thế giới. Tuy vậy, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, nảy sinh bất đồng về đường lối, quan điểm và những bất đồng đó chẳng những không được khắc phục mà ngày càng sâu sắc; đặc biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc. Sự hình thành và lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản làm cho chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ lo sợ. Mỹ và các đồng minh của Mỹ ráo riết tìm mọi cách đối phó. Mỹ tiếp tục hướng nỗ lực vào việc chống phá chủ nghĩa cộng sản trên khắp các châu lục. Chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm bao vây, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đến năm 1955 đạt tới đỉnh cao với việc ra đời nhiều khối quân sự do Mỹ cầm đầu, 1.400 cặn cứ quân sự Mỹ có mặt tại 31 nước. Những nỗ lực trên đây của Mỹ và đồng minh khiến cho tình hình thế giới diễn biến ngày càng thêm căng thẳng, chiến tranh lạnh tiếp diễn ngày càng gay gắt, tuy vẫn có hoà hoãn bộ phận. Trong thế hình thành hai cực trên thế giới, hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vừa chống đối nhau quyết liệt nhưng đồng thời vẫn phải hợp tác với nhau trong chừng mực có thể để giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực có liên quan. Toàn bộ tình hình trên đây, ở từng chừng mực cụ thể, tác động tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:18:10 am b) Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước tư bản thuộc phe đồng minh, trừ Mỹ, tuy thắng trận nhưng nền kinh tế lại bị kiệt quệ; còn Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản bại trận, bị các nước Đồng minh chiếm đóng. Liên Xô, nước đóng vai trò quyết định trong việc đập tan chủ nghĩa phát xít bị tàn phá rất nặng nề. Các nước dân chủ nhân dân ra đời sau chiến tranh phần lớn là những nước kinh tế chưa phát triển... Do vị thế của mình, bước ra khỏi chiến tranh, nước Mỹ vươn lên mạnh mẽ, trở thành cường quốc số 1 duy nhất về kinh tế trên thế giới. Lợi dụng sự khó khăn của các nước và trước sức tiến công của 3 dòng thác cách mạng, đế quốc Mỹ đứng ra đóng vai trò sen đầm quốc tế, ráo riết thực hiện chiến lược toàn cầu nhằm bao vây, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, chĩa mũi nhọn chủ yếu vào Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào giải phóng dân tộc mà theo nhìn nhận của giới lãnh đạo nước Mỹ lúc bấy giờ, Việt Nam là điểm nóng bỏng nhất. Việt Nam có vị trí địa - chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, là bao lơn nhô ra biển Thái Bình Dương, điểm giao hội các tuyến hàng hải quốc tế, lại có tài nguyên phong phú, được các nhà chiến lược Mỹ đánh giá là một tiền tiêu quan trọng trên tuyến bao vây ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Cho đến giữa năm 1945, hiểu biết của Mỹ về tình hình chính trị đang diễn biến trên bán đảo Đông Dương, quả thật, còn hạn chế. Trong con mắt của Mỹ, phong trào Việt Minh lúc đó là tập hợp các đảng phái quốc gia có thể lợi dụng được để sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ thực hiện âm mưu biến khu vực này thành thuộc địa kiêu mới. Thế nhưng, khi nhận ra chính quyền mới ở Việt Nam được thiết lập trong Cách mạng Tháng 8 do những người cộng sản lãnh đạo, Mỹ ráo riết ủng hộ Tưởng Giới Thạch trong việc tìm cách lật đổ nhà nước đó. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, từ cuối năm 1949 trở đi, Mỹ dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam bằng cách, một mặt, viện trợ cho Pháp mà khoản viện trợ này, vào năm 1954, lên tới 78% trong tổng số chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương; và mặt khác, ráo riết thực hiện âm mưu thế chân Pháp, độc chiếm Đông Dương. Sau khi thực dân Pháp bại trận buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ thì Tổng thống Mỹ tuyên bố Mỹ không bị ràng buộc bởi Hiệp định này. Ngay sau đó, Mỹ tìm cách hất cẳng Pháp, độc chiếm miền Nam, gây nên cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới kéo dài và rất tàn khốc. Chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm chiến lược toàn cầu phản cách mạng, âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là đè bẹp cách mạng Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương và Đông Nam Á, qua đó bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa và răn đe phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới cũng như rút kinh nghiệm để tiến tới dập tắt phong trào này. 5 đời tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã theo đuổi âm mưu cơ bản trên đây bằng các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Chiến tranh xâm lược Việt Nam, vì vậy, là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng đầy tham vọng của đế quốc Mỹ. Về phía ta, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam và cũng là nguyện vọng chính đáng, thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Sau ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc, mục tiêu và nguyện vọng đó chưa hoàn thành do âm mứu và hành động chiến tranh xâm lược của Mỹ. Vì thế, Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thu non sông về một mối, thực hiện thắng lợi mục tiêu bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu cách mạng của thời đại. Bởi vậy, từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành nơi tập trung mâu thuẫn cơ bản của thế giới, chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai lực lượng cách mạng và phản cách mạng. Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, do đó, mang tính chất thời đại sâu sắc. Vậy, gây ra cuộc chiến tranh này, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía đế quốc Mỹ. Nói cách khác, mục tiêu chiến lược toàn cầu lâu dài và chính sách xâm lược của Mỹ chống lại nguyện vọng độc lập, hoà bình, thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam là nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử này. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:20:17 am 2. Những bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Căn cứ vào những biến chuyển về mặt chiến lược của cả hai phía và đặt trong diễn biến thực tế của chiến tranh, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta (từ tháng 7-1954 đến tháng 5-1975) đã trải qua 5 giai đoạn chiến lược. Mỗi giai đoạn chứa đựng trong đó những nội dung tầm chiến lược mà những nội dung này vừa là sự kế tiếp vừa mang tính khác biệt so với giai đoạn trước. Nói cách khác, mỗi một giai đoạn có nội dung riêng, phản ánh bước phát triển lớn của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước chuyển biến về chất của cục diện chiến tranh, đưa đến thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. a) Giai đoạn thứ nhất (tháng 7-1954 đến hết năm 1960). Sau hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và 15 năm tàn phá của chiến tranh, hoà bình lập lại, miền Bắc đứng trước một loạt khó khăn gay gắt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng. Những vấn đề này càng trở nên nóng bỏng do âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là Mỹ - Diệm. Bên cạnh khó khăn, miền Bắc hoàn toàn giải phóng là một thắng lợi to lớn, một điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong thời kỳ mới. Phát huy khí thế chiến thắng và trên nền tảng của những điều kiện thuận lợi này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, hoàn thành cải cách ruộng đất và sửa sai, phục hồi kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội, cải tạo xã hội chủ nghĩa các thành phần kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất mới với hai hình thức cơ bản là quốc doanh và tập thể, củng cố và tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, đập tan âm mưu và hành động chống phá miền Bắc của các thế lực thù địch... Thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, thắng lợi của 5 năm xây dựng và phát triển nói riêng của miền Bắc sau ngày hoà bình lập lại được phản ánh trong bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta mà Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong kỳ họp thứ 11, ngày 31-12-1959. Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên miền Bắc đang ra sức ổn định, củng cố mọi mặt nhằm biến miền Bắc thành nền móng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì ở phía nam vĩ tuyến 17, cách mạng miền Nam đang trải qua những tháng năm đầy gian khổ, hy sinh. Ngày 7-7-1954, trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết 13 ngày, Ngô Đình Diệm - kẻ do Mỹ nuôi dưỡng từ lâu, được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng thay Bửu Lộc. Từ đây, bắt đầu quá trình mà ở đó, đế quốc Mỹ ráo riết thực hiện một loạt biện pháp tầm chiến lược nhằm áp đặt ách nô dịch, thống trị kiểu thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam: - Hất cẳng Pháp, độc chiếm miền Nam. - Xây dựng chính quyền, quân đội tay sai, thực hiện chế độ độc tài, phát xít. - Triển khai biện pháp "tố cộng", "diệt cộng" hòng tận diệt lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam. Ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, Trung ương Đảng ta đã nhận rõ ý đồ can thiệp và âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam và Đông Dương. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (7-1954) xác định: đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Đi đối với việc nhận thức ngày càng rõ âm mưu cơ bản và thủ đoạn xâm lược của đế quốc Mỹ, Đảng ta đồng thời chỉ ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng hai miền. Tuy nhiên, việc tìm đường giải phóng miền Nam là cả một quá trình thực không đơn giản. Để tìm ra con đường đưa cách mạng miền Nam tiếp tục đi lên, cần tính toán, lượng định các nhân tố trong nước và quốc tế có liên quan. Hai năm đầu sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta trên cả 2 miền tiến hành cuộc đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định, đòi củng cố hoà bình, đòi các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo các điều khoản mà Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định. Các cuộc đấu tranh này của nhân dân ta ở miền Nam trong những năm từ 1955 đến năm 1958 đã bị kẻ thù dìm trong bể máu, bằng các chiến dịch khủng bố, "tố cộng", diệt cộng". "Tố cộng", "diệt cộng" được Mỹ Diệm nâng lên tầm "quốc sách". Chính sách và hoạt động chống cộng cực kỳ thâm độc và tàn bạo của kẻ thù khiến cho lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam bị tổn thất nặng nề1 (4 năm (1955-1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân viên bị bắt, bị tù đầy; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật, chỉ còn 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên lúc đó. Ở khu V (lúc bấy giờ còn gồm cả Trị - Thiên và Cực Nam Trung Bộ), khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết. Riêng Trị - Thiên, chỉ còn 160/23.400). Dẫn đến tình trạng này là do nhiều nguyên nhân, trong đó "chủ yếu là do về mặt chỉ đạo chiến tranh cách mạng, Đảng ta chưa tìm ra được phương pháp và hình thức thích hợp đề quần chúng chủ động chống trả địch một cách hiệu quả"2 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc BCT; Tổng kết cuộc KCCMCN: Thắng lợi và bài học. Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.40). Trong thực tế, hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị ngày càng tỏ ra không đủ mạnh để đối phó với bạo lực phản cách mạng ở miền Nam. Từ tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn, trên cương vị là Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ đã từ thực tiễn của tình hình miền Nam, viết Đề cương cách mạng miền Nam. Cuối năm đó, đồng chí dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao nhưng bằng cách nào thì cho đến lúc đó, ta vẫn chưa đề ra được những biện pháp cụ thể. Như thế, so với quá trình hoạch định đường lối kháng chiến chống Pháp, quá trình soạn thảo đường lối kháng chiến chống Mỹ còn gay go, gian khổ, phức tạp, công phu hơn nhiều. Khi bắt tay vào kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã có ngay đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến dẫn đường, nhưng khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1954 đến năm 1958, chúng ta mới chỉ có những định hướng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Hội nghị Trung ương 6, 7, 8... Theo dõi sát diễn biến của tình hình miền Nam, nghiên cứu những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên cũng như một số cấp uỷ Đảng miền Nam gửi ra, Bộ Chính trị đã giành nhiều tâm lực vào việc tìm ra một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 151 (Hội nghị Trung ương 15 họp 2 đợt: đợt 1 từ ngày 12 đến ngày 22-1-1959 là Hội nghị Trung ương mở rộng; đợt 2 từ ngày 10 đến 15-7-1959 chỉ có các Ủy viên Trung ương dự. Nghị quyết Hội nghị được thông qua trong đợt này) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa đã họp và quyết nghị về vấn đề này. Theo đó, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương pháp chiến tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; xu hướng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam là từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Với tất cả những nội dung cốt lõi trên đây, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng là một Nghị quyết lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nghị quyết đó phản ánh đúng tình thế chín muồi của cách mạng miền Nam, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của phong trào cách mạng miền Nam, của cán bộ và đồng bào yêu nước miền Nam. Để kịp thời chi viện cho cách mạng miền Nam, tháng 5-1959, Trung ương Đảng quyết định tổ chức Đoàn 559 và tháng 7-1959 quyết định tổ chức Đoàn 759. Trước khi Nghị quyết ra đời cũng như trong lúc Nghị quyết chưa được truyền đạt tới, ở nhiều địa phương miền Nam, quần chúng cách mạng có sự chỉ đạo của Đảng bộ cơ sở đã tổ chức một số cuộc dấu tranh vũ trang hoặc đấu tranh chính trị có vũ trang kết hợp, hỗ trợ. Đến giữa năm 1959, miền Nam đang trong quá trình xuất hiện khởi nghĩa từng phần. Trong điều kiện đó, Nghị quyết 15 đã thổi bùng lên ngọn lửa Đồng khởi, làm tan rã hàng loạt bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở, giành quyền làm chủ hàng nghìn xã, ấp, thôn, bản, đẩy quân đội và chính quyền Ngô Đình Diệm lâm vào thế bị đông lúng túng, khủng hoảng trầm trọng. Sau cao trào Đồng khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân chính trị, "đội quân tóc dài" của phụ nữ Nam Bộ, ra đời; lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp hình thành, các căn cứ địa tại chỗ được khôi phục, mở rộng... Trên đà thắng lợi, ngày 20- 12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Đại hội thông qua Tuyên ngôn và chương trình hành động. Cách mạng miền Nam đã từ thoái trào và thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công. Nghị quyết 15 và tiếp đó là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam nói riêng. Nhìn chung lại, từ tháng 7-1954 đến tháng 12-1960, là giai đoạn mà ở đó Mỹ ráo riết thiết lập chủ nghĩa thực dân mới bằng chế độ thống trị độc quyển phát xít, gây ra muôn vàn tổn thất, phức tạp và khó khăn cho cách mạng miền Nam. Đây cũng là giai đoạn Đảng ta tính toán, cân nhắc, lựa chọn để tìm ra con đường và phương pháp cho cách mạng miền Nam, đưa cách mạng miền Nam vượt qua tổn thất hiểm nghèo, tiếp tục phát triển trong những điều kiện mới. Về phương diện đó, Nghị quyết 15 và phong trào Đồng khởi chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một thành công điển hình của Đảng và nhân dân ta trong việc tiến hành cách mạng bạo lực, trong nghệ thuật chỉ đạo khởi sự chiến tranh ở miền Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:21:49 am b) Giai đoạn thứ 2 (1961 đến giữa 1965)
Phong trào Đồng khởi đã làm thất bại hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam là chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm: buộc Mỹ phải bị động chuyển sang dùng "chiến tranh đặc biệt" để đối phó với cách mạng miền Nam. Đây là một loại hình chiến tranh trong khuôn khổ chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ"1 (Chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" do Mắc-xoen Tay-lơ đề xướng và được Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi chấp thuận, thay thế cho chiến lược "Trả đũa ồ ạt" trước đó của Mỹ. Theo đó, Mỹ vẫn duy trì, phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành chiến tranh hạn chế. Chiến tranh hạn chế gồm hai hình thức: chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ. Cả hai loại hình này là bộ phận hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt"). Đặc điểm của loại chiến tranh này là sử dụng quân đội tay sai bản xứ làm công cụ tiến hành chiến tranh với đô la, vũ khí của Mỹ, do Mỹ chỉ huy. Vận dụng vào miền Nam, Mỹ ngụy triển khai thực hiện các nội dung lớn sau: - Dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn hòng "tát nước bắt cá", tách lực lượng cách mạng ra khỏi nhân dân. Nội dung này được xem là "xương sống" của chiến lược "chiến tranh đặc biệt". - Tăng cường quân đội Sài Gòn, mở các cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng và hỗ trợ cho việc dồn dân lập ấp chiến lược. - Tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc. Để thực hiện chiến tranh đặc biệt, Mỹ tập trung vào việc tăng cường lực lượng quân đội Sài Gòn, bộ máy cảnh sát; tăng cường viện trợ (quân sự và kinh tế), cố vấn, lực lượng yểm trợ... nhằm "bình định" miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962) theo kế hoạch Xta-lây - Tay-lo: sau đó là 2 năm (1963 - 1964) theo kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra. Với sự tăng viện về đô la, vũ khí, thiết bị chiến tranh, đội ngũ cố vấn của Mỹ, trong những năm "chiến tranh đặc biệt", Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòn dồn sức vào việc gom dân lập ấp chiến lược bằng nhiều thủ đoạn và biện pháp khốc liệt, đẫm máu: mở nhiều cuộc hành quân càn quét, sử dụng các loại vũ khí hiện đại và triển khai các chiến thuật "tân kỳ" như "thiết xa vận", "trực thăng vận", vận dụng thành công các thủ đoạn chiến thuật được mệnh danh là "bủa lưới phóng lao", "trên đe dưới búa", "phượng hoàng vồ mồi"... đánh phá phong trào cách mạng, đánh sâu vào toàn bộ hệ thống căn cứ kháng chiến của ta, bịt kín vùng biên giới nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam... Để đánh bại chiến lược chiến tranh mới của Mỹ, Đảng ta chủ trương, trên cơ sở thế và lực mới do phong trào Đồng khởi tạo ra, chuyển cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền. Thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, ta đã: - Tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang (cả khối cơ động và lực lượng tại chỗ) đi đối với xây dựng, củng cố và mở rộng hậu phương, căn cứ địa tại chỗ trên chiến trường miền Nam. - Phát triển mạnh chiến tranh du kích trên cả 3 vùng chiến lược đi đối với tăng cường đánh phá các vị trí xung yếu, nâng dần trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực. - Quân uỷ Trung ương cùng Ban thống nhất Trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ giúp Trung ương trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam. Tăng cường các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy ở miền Nam như Trung ương Cục, Khu uỷ, Bộ chỉ huy Miển và Bộ chỉ huy quân sự các quân khu. - Phân chia lại chiến trường theo yêu cầu phát triển của chiến tranh. - Tăng cường sự chi viện từ miền Bắc cho cách mạng miền Nam (mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược bằng đường bộ, đường biển). - Đẩy mạnh công cuộc xây dựng miền Bắc, thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về kinh tế - xã hội và Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 về xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng. Ở miền Nam, ngày 15-2-1961, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp bàn về việc nâng đấu tranh vũ trang lên ngang tầm với đấu tranh chính trị, quyết định lấy ngày 15-2-1961 là ngày thành lập Quân giải phóng thống nhất trên toàn miền Nam. Tiếp đó, chiến thắng Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) ngày 2-1-1963 là sự kiện quan trọng, báo hiệu khả năng quân và dân ta hoàn toàn có thể đánh bại các biện pháp chiến lược của địch trong chiến tranh đặc biệt. Với phương châm chiến lược "hai chân", "ba mũi", "ba vùng", "bốn bám", phong trào phá ấp chiến lược dâng cao kể từ sau chiến thắng Âp Bắc. Kế hoạch "bình định" miền Nam trong 18 tháng của Xta-lây - Tay-lo bị phá sản. Đồng thời, mặt trận đấu tranh vũ trang có bước phát triển mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng. Chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Tác chiến của bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực ngày càng phát triển. Nhiều trận đánh tiêu diệt đại đội, tiểu đoàn địch diễn ra, chứng tỏ khả năng tác chiến tập trung với quy mô ngày càng lớn của bộ đội chủ lực. Trong khi đó, phong trào đấu tranh trong các đô thị đòi quyền dân sinh, dân chủ, bình đẳng tôn giáo, chống bắt lính... dâng cáo. Tất thảy điều đó khiến cho nội bộ Mỹ - ngụy lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc. Mỹ buộc phải "thay ngựa giữa dòng", phế bỏ Diệm - Nhu (11-1963), nhưng ngay cả cố gắng này của Mỹ cũng không cứu vãn nổi tình hình. Công cuộc xây dựng miền Bắc vững mạnh về mọi mặt tiếp tục thu được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng. Trong khi đó, cách mạng Lào có những bước phát triển mới với việc thiết lập chính quyền liên minh ba phái, gồm cả Pa-thét Lào. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế có liên quan tới sự nghiệp cách mạng Việt Nam bấy giờ diễn biến phức tạp, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung trở nên gay gắt, tác động không nhỏ tới tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên ta... Trong bối cảnh trên đây, tháng 11-1963, Hội nghị Trung ương lần thứ 9 đã kịp thời xác định nhiều vấn đề quan trọng về đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng, về đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, miền Bắc nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu đạt các mục tiêu về kinh tế, văn hoá, xã hội của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; đồng thời ra sức chuẩn bị mọi mặt nhằm bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện tiền tuyến miền Nam. Trước sức tiến công của cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ càng tăng cường các hoạt động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đỉnh cao của các hoạt động đó của Mỹ là họ sử dụng hạm tàu Ma-đốc vi phạm lãnh hải nước ta, dựng nên sự kiện "Vịnh Bắc Bộ" để tạo cớ ném bom miền Bắc (ngày 5-8-1964) và thúc giục Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ (ngày 7-8-1964) trao cho Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyền sử dụng lực lượng quân sự Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Hành động trên đây khiến cho tình hình diễn biến ngày càng thêm căng thẳng. Tháng 3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt, biểu thị ý chí đoàn kết chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc Việt Nam. Cũng trong năm 1964 và đầu năm 1965, một số hội nghị lớn được tổ chức nhằm chuẩn bị mọi mặt cho miền Bắc sẵn sàng và có đủ sức mạnh đánh thắng mọi âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiển tuyến lớn. Trên chiến trường miền Nam, năm 1964 và những tháng đầu năm 1965, chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng khắp cả 3 vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị). Tiếp tục vận dụng các phương châm chiến lược trong cuộc đấu tranh chống phá bình định, quân dân các chiến trường đã làm thất bại "quốc sách” ấp chiến lược. Bộ đội chủ lực mở nhiều trận đánh và một số chiến dịch tiến công. Các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài thắng lợi, đánh dấu bước tiến mới về trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo ra bước ngoặt cho hình thái đấu tranh vũ trang của chiến tranh cách mạng miền Nam. Chiến tranh du kích tiếp tục phát triển rộng khắp, đặc biệt là hoạt động của bộ đội đặc công, biệt động sâu trong vùng hậu cứ, hậu phương của địch. Các nỗ lực chống phá miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc của Mỹ ngụy ngày càng tỏ ra không hiệu quả. Trong khi đó, ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục lún sâu vào cuộc khủng hoảng nội bộ với 14 lần đảo chính và phản đảo chính trong hơn một năm rưỡi kể từ ngày Diệm - Nhu bị lật đổ (11-1963 - 6-1965). Như thế, đến giữa 1965, hơn 50 vạn quân ngụy - nòng cốt của chiến tranh đặc biệt, không đủ sức đương đầu với Quân giải phóng miền Nam; chương trình bình định được coi là "xương sống" của cuộc chiến tranh này cũng bị phong trào tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam làm phá sản. Cuối cùng, chính quyền Sài Gòn, chỗ dựa về chính trị để Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, ngày càng lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Chiến lược chiến tranh đặc biệt, sau 4 năm triển khai thực hiện, về cơ bản đã bị đánh bại trên chiến trường miền Nam. Nhìn chung lại, trong giai đoạn này, thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", một trong ba hình thức chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt", Mỹ quyết định dùng chiến tranh bằng quân đội tay sai do Mỹ trang bị với hệ thống cố vấn Mỹ chỉ huy; dùng biện pháp chiến lược "càn quét và bình định” để tiêu diệt cách mạng miền Nam... Trước tình hình đó, ta kịp thời chuyển cuộc đấu tranh từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, tập trung đánh bại các biện pháp lớn của chiến lược Chiến tranh đặc biệt; đồng thời, ra sức xây dựng miền Bắc, kiềm chế và thắng địch ở miền Nam, sẵn sàng đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ. Đây là thời kỳ mà hình thái cuộc đấu tranh kết hợp quân sự và chính trị, tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ phát triển rất cao; đấu tranh quân sự có bước phát triển mới với sự xuất hiện một số chiến dịch khởi đầu. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:24:19 am c) Giai đoạn thứ 3 (giữa 1965 đến hết 1968)
Thất bại trong chiến tranh đặc biệt, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ bằng việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào tham chiến ở miền Nam và dùng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là sử dụng sức, mạnh quân sự trực tiếp của Mỹ đánh bại cách mạng miền Nam dự định chỉ trong vòng khoảng 20 đến 30 tháng (từ giữa năm. 1965 đến hết năm 1967). Kế hoạch giành thắng lợi quyết định ở miền Nam của quân Mỹ được phân thành 3 giai đoạn: giai đoạn đầu, triển khai quân Mỹ, chặn đứng chiều hướng thua của quân đội Sài Gòn; giai đoạn 2, mở các cuộc tiến công chiến lược "tìm diệt" Quân giải phóng và kiểm soát vùng nông thôn; giai đoạn 3, hoàn tất các mục tiêu, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam. Hỗ trợ cho các hoạt động quân sự ở miền Nam, không quân hải quân Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc nhằm khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân ta, ngăn chặn luồng tiếp tế từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam, nâng đỡ tinh thần quân đội Sài Gòn. Đây là nỗ lực quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Hành động chiến tranh mới này của Mỹ đặt cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam trước thử thách lớn lao và tình thế rất hiểm nghèo, cả thế giới lo lắng dõi theo diễn biến tình hình ở Việt Nam. Trước tình thế hiểm nghèo đó, các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và 12 (12-1965) trên cơ sở phân tích đúng đắn so sánh lực lượng địch ta, chỉ ra chính xác chỗ mạnh, chỗ yếu và khả nặng thực tế của cả hai bên trong cuộc đối đầu trực tiếp này, lượng định xu hướng diễn biến của tình hình.., đã hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh của cả nước, ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân tiến bộ thế giới, trước hết là cảc nước trong phe xã hội chủ nghĩa, tiếp tục giữ vững và phát huy tư tưởng chiến lược tiến công, ghìm chân và đánh thắng quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc, làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Theo phương hướng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 và 12, từ năm 1965, miền Bắc chuyển nhanh mọi mặt từ thời bình sang thời chiến: chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức; chuyển hướng về kinh tế; tăng cường sức mạnh quân sự. Đó là một quyết định kịp thời và đúng đắn; bảo đảm cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh để cùng một lúc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, duy trì và giữ vững sản xuất, tăng sức chi viện cho chiến trường. Khắp nơi trên miền Bắc, dấy lên các phong trào thi đua sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân. "Thanh niên 3 sẵn sàng”, "Phụ nữ ba đảm đang", "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng”, ’’Thiếu nhi làm nghìn việc tốt chống Mỹ, cứu nước”, "Tiếng hát át tiếng bom", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm"... Dưới đạn bom đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ, miền Bắc vẫn vững vàng trong lửa đạn, không nao núng quyết tâm. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp vẫn được giữ vững. Đời sống nhân dân nhìn chung vẫn ổn định mặc dù thiếu thốn, khó khăn hơn. Lực lượng phòng không 3 thứ quân trên miền Bắc phát triển nhanh chóng, đánh trả có hiệu quả không quân, hải quân Mỷ. Giao thông vận tải chẳng những không bị ngừng trệ mà hơn thế, ngày càng vươn sâu, vươn xa về phía Nam. Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến tăng nhanh theo từng năm, đáp ứng kịp thời và khá đầy đủ mọi nhu cầu về người, vũ khí, phương tiện chiến tranh của cách mạng miền Nam... Được miền Bắc chi viện sức người, sức của và dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh trong những năm đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", ngay từ những ngày đầu chiến tranh cục bộ và trong những năm sau đó, lực lượng vũ trang ba thứ quân của cách mạng miền Nam đã đón đánh mãnh liệt quân viễn chinh Mỹ. Tiếp theo các trận đánh phủ đầu quân Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) đêm 25 rạng ngày 26-5-1965, Vạn Tường (Quảng Ngãi) hạ tuần tháng 8-1965, Đất Cuốc (phía Bắc Biên Hoà) ngày 8-11-1965, Bầu Bàng ngày 12-11-1965, Plây Me (Tây Nam thị xã Plây Cu) từ 19-10 đến 20-11-1965, trong mùa khô 1965 - 1966, quân dân ta đã đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, làm thất bại chương trình bình định của Mỹ ngụy. Sau đó, tháng 6-1966, Quân uỷ Trung ương quyết định mở Mặt trận Đường 9- Bắc Quảng Trị, tạo hướng tiến công chiến lược mới vào nơi yếu của địch trên chiến trường, buộc địch phải tiếp tục phân tán binh lực lên vùng rừng núi, là nơi ta có điều kiện thực hiện tiêu diệt lớn lực lượng cơ động chủ lực địch bằng chủ lực mạnh của miền Bắc, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng ở miền Nam, ngăn chặn không để địch mở cuộc tiến công trên bộ ra khu vực Nam Quân khu 4... Tháng 1-1967, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 họp và quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh: "Mở mặt trận đấu tranh ngoại giao lúc này là đúng lúc" nhằm phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đánh bại các cố gắng chiến tranh của Mỹ ngụy. Bước vào mùa khô 1966 - 1967, địch dồn sức mở liên tiếp 3 cuộc hành quân lớn là At-tơn-bo-rơ, Xi-đa-phôn, Gian-xơn Xi-ti, tập trung đánh vào miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt, trong cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) sử dụng tới 45.000 quân nhằm chụp bắt cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam và tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam bấy giờ đang ở chiến khu Dương Minh Châu... Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân được chuẩn bị sẵn, kết hợp tác chiến của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam nói chung và ở Đông Nam Bộ nói riêng đã mở các trận đánh, các chiến dịch phản công, tiến công, đánh bại các nỗ lực quân sự trên đây của quân Mỹ. Đồng thời, lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của ta đẩy mạnh các hoạt động sâu trong nội đô, tiến công vào nhiều mục tiêu hiểm yếu ở hậu phương, hậu cứ địch. Thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược ở miền Nam cùng với sự bất lực của không quân, hải quân trong việc ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam đã đặt giới lãnh đạo hiếu chiến Mỹ vào thế "tiến thoái lưõng nan" về chiến lược, làm cho nội bộ nước Mỹ, đặc biệt trong giới cầm quyền Mỹ, bị phân hoá. Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến của tình hình chiến trường, trong nước và trên thế giới, từ giữa năm 1967, các cơ quan chiến lược tại Hà Nội bắt tay xây dựng kế hoạch quân sự Đông Xuân 1967 - 1968. Tháng 10-1967, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược vào các đô thị miền Nam. Bắt đầu từ đó, các chiến trường, các mặt trận khẩn trương và bí mật chuẩn bị theo phương hướng này. Tháng 1-1968, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua Nghị quyết của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1967, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, đêm 20 rạng ngày 21-1-1968, chủ lực ta bất ngờ nổ súng đánh vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, một vị trí có tầm quan trọng chiến lược phía tây phòng tuyến Mác-na-ma-ra mà địch lập ra nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Trong khi địch buộc phải tăng cường cho Khe Sanh và dồn tâm trí vào chiến sự ở nơi này thì đêm giao thừa và đêm mồng một Tết Mậu Thân (30 và 31-1-1968), ta đồng loạt tiến công vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh thẳng vào hầu hết các cơ quan đầu não Trung ương, địa phương của Mỹ, ngụy trên toàn miền Nam. Vùng nông thôn đồng bằng, với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ trên những khu vực rộng lớn... Cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt, bất ngờ, táo bạo Tết Mậu Thân đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng trên chiến trường, làm bất lực một đội quân đông tới một triệu hai trăm nghìn tên. Hai tháng kể từ khi xảy ra "biến cố Tết Mậu Thân", sau rất nhiều tính toán và lượng định tình hình, đêm 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đơn phương tuyên bố: chấm dứt thời kỷ đưa quân Mỷ vào tham chiến ở miền Nam, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Việt Nam dân chủ cộng hoà và không ra tranh cử nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo... Với tất cả những quyết định trên đây, Mỹ mặc nhiên thừa nhận sự phá sản hoàn toàn của chiến lược "Chiến tranh cục bộ”. Sau đó, tháng 5 và tháng 8-1968, ta mở tiếp các đợt tiến công mà hướng chính là vẫn nhằm vào mặt trận đô thị. Mặc dù bồi tiếp đòn mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ nhưng việc mở các cuộc tiến công trên đây cũng gây cho ta những hao tổn nặng nề về lực lượng, thế trận chỉến tranh nhân dân trên 3 vùng chiến lược bị suy giảm mạnh. Chủ lực ta bị địch đánh bật khỏi nhiều vùng ven đô, đồng bằng; phải lùi dần-lên vùng rừng núi, thậm chí ra khỏi biên giới miền Nam. Nhiều vùng giải phóng rộng lớn của ta bị địch chiếm lại... Dù vậy, ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn vẫn buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện mọi hành động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấp nhận Hội nghị 4 bên ở Pa-ri. Nhìn chung lại, chiến tranh cục bộ là cố gắng cao nhất trong toàn bộ nỗ lực chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Những năm tháng ấy, khắp hai miền Nam, Bắc Việt Nam, khí thế và quyết tâm đánh Mỹ dâng cao. Đây là giai đoạn mà bản lĩnh, sức mạnh và sự sáng tạo của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được chứng tỏ một cách rực rỡ bằng việc đương đầu và đánh thắng nỗ lực chiến tranh cao nhất của lục quân, không quân, hải quân Mỹ. Thất bại này, xét trên nhiều khía cạnh, đã là sự khởi đầu cho cả một quá trình đi xuống về chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ và quá trình đó là không thể đảo ngược. Thất bại ở Việt Nam và những hệ lụy của nó đã là một nhân tố quan trọng buộc Mỹ phải từ bỏ chiến lược quân sự toàn cầu ”Phản ứng linh hoạt". Với ta, những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn này đã đưa đến một tình thế: vừa đánh vừa đàm trong những năm tiếp sau. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:25:26 am d) Giai đoạn thứ 4 (1969 - 1-1973)
Thất bại trên chiến trường Việt Nam đã đẩy nước Mỹ lâm vào thời kỳ khủng hoảng kéo dài nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội và đối ngoại. Trong bối cảnh đó, lên làm Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 1969 - 1972, Ních-Xơn và giới cầm quyền Mỹ quyết định điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì sự thống trị miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới. Chiến lược toàn cầu mới này mang tên "Học thuyết Ních-xơn" và chiến lược quân sự "Răn đe thực tế" thay thế cho chiến lược "Phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản. Với chiến lược mới này, Mỹ chủ trương vẫn duy trì lực lượng quân sự mạnh để "răn đe", giữ vững cam kết với đồng minh trên cơ sở cùng nhau "chia sẻ trách nhiệm" và Mỹ vẫn khẳng định vị trí "lãnh đạo thế giới tự do”. Đồng thời, chiến lược mới này còn chủ trương lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô - Trung Quốc cũng như triệt để khai thác tính đa cực về chính trị trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế để chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy hiếp các nước nhỏ... Ứng dụng Học thuyết Ních-Xơn vào Việt Nam, chính quyền Mỹ điều chỉnh chủ trương "Phi Mỹ hoá" của thời Giôn-xơn thành chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh”. Nhưng khác với "Phi Mỹ hoá" là một kế hoạch thuần tuý về quân sự nhằm đảm bảo cho quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam đỡ bị tổn thất bằng cách trút dần gánh nặng chiến tranh lên vai quân đội Sài Gòn, "Việt Nam hoá" là một chiến lược hoàn chỉnh về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là bám giữ miền Nam Việt Nam, giảm bớt sự dính líu quân sự trực tiếp trên bộ nhưng vẫn phải giành thế mạnh trên chiến trường để ép đối phương ở bàn hội nghị theo những điều kiện của Mỹ. Về thực chất, đây là một chiến lược chiến tranh thâm độc, toan "thay đổi màu da trên xác chết” mà thôi. Chiến lược này được dự định trải qua 3 giai đoạn và mỗi giai đoạn gắn liền với việc trao dần gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền và quân đội Sài Gòn trên cơ sở đánh giá những "tiến bộ" của chương trình "Việt Nam hoá". Thực hiện chiến lược ''Việt Nam hoá chiến tranh", Mỹ đã tiến hành một loạt các biện pháp tàn bạo và thâm độc về quân sự, chính trị, ngoại giao mà tựu trung, các biện pháp đó được mệnh danh là "chiến tranh huỷ diệt", "chiến tranh giành dân" và "chiến tranh bóp nghẹt". Âm mưu, thủ đoạn và những hành động chiến tranh mới của Mỹ ngụy đặt sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta trước tình thế mới, vừa thuận lợi nhưng cũng nhiều phức tạp, khó khăn. Trên thực tế, từ giữa năm 1968 đến những tháng đầu năm 1970, cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ rất khó khăn các lực lượng cách mạng, yêu nước ở miền Nam phải đối măt với những thử thách nặng nề trước sự đánh phá dữ dội và những âm mưu, thủ đoạn "bình định” thâm độc, tàn bao của kẻ thù1 (Sau Tết Mậu Thân 1968, quân đội Mỹ trên chiến trường công khai bộc lộ sự tàn bạo của họ bằng cách gây ra nhiều vụ tàn sát dã man đối với đồng bào ta ở miền Nam - mà Mỹ Lai là một điển hình. Từ những tháng cuối năm 1968, địch triển khai mạnh mẽ các hoạt động gián điệp, tình báo. Thông qua chương trình "Phượng hoàng" khét tiếng, chúng tăng cường phát hiện, chỉ điểm, ám sát thủ tiêu, bắt bớ, tra khảo cán bộ, du kích và những người dân bị tình nghi ủng hộ, che giấu lực lượng cách mạng. Chương trình Phượng hoàng đã gây bao tang tóc đau thương cho nhân dân ta...). Cơ sở chính trị ở vùng địch chiếm bị hao tổn. Vùng giải phóng, vùng làm chủ bị thu hẹp dần. Mất chỗ đứng chân các đơn vị chủ lực Quân giải phọng phải lùi dần lên vùng rừng núi, thậm chí bật sang biên giới Cam-pu-chia; một số đơn vị phải ra Nam Quân khu 4 để củng cố lực lượng... Giữa những ngày tháng gian nan đó, một tổn thất vô cùng lớn đến với toàn dân tộc ta: ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Thủ đô Hà Nội. Lợi dụng đau thương này, Mỹ ngụy tăng cường các hoạt động tâm lý chiến hòng lung lạc tinh thần kháng chiến của quân và dân ta. "Lửa thử vàng, gian nan thử sức", trong khó khăn ác liệt, quân dân ta ở cả hai miền Nam Bắc vẫn giữ vững ý chí, quyết tâm, kiên cường và bền bỉ kháng chiến. Từ tháng 4 năm 19691 (Tháng 4-1949, Hội nghị Bộ Chính trị họp phân tích chỉ ra những mâu thuẫn không thể nào khắc phục được của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và khẳng định phương châm chiến lược: trong khi đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, phải sáng tạo và nắm vững thời cơ để giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn. Hội nghị yêu cầu các chiến trường, các địa phương miền Nam trong khi giữ vững thế tiến công bao vây thành thị, phải đẩy mạnh việc giải phóng vùng nông thôn. Thán 1-1970, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 18 xác định: nông thôn là hướng tiến công chính của quân và dân ta ở miền Nam), nhất là từ đầu năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã từng bước phát hiện những khuyết điểm của ta từ sau Tết Mậu Thân, chủ trương chuyển hướng tiến công, lấy nông thôn làm hướng chính, tập trung nỗ lực ngăn chặn và đẩy lùi các chương trình bình định nông thôn của địch, ra sức chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó có hiệu quả nếu địch liều lĩnh mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào... Trên cơ sở đánh giá tình hình nội bộ miền Nam cơ bản đã được ổn định, tháng 4-1970, Mỹ ngụy sử dụng 10 vạn quân tràn qua biên giới Cam-pu-chia, phối hợp với quân ngụy Lon-non đánh vào hai khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt nhằm tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng và chụp bắt cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam. Cùng lúc đó, Mỹ tăng cường chiến tranh ở Lào, sử dụng máy bay ném bom ở các tỉnh phía Nam Quân khu 4. Theo dõi sát diễn biến của tình hình, Bộ Chính trị kịp thời nhận định: từ đây, Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất, trong đó, chiến trường chính vẫn là miền Nam Việt Nam; Cam-pu-chia là chiến trường yếu của địch, Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu, miền Bắc là hậu phương chung của cách mạng 3 nước Đông Dương. Bộ Chính trị chủ trương phối hợp chặt chẽ với Bạn đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, giải phóng đất đai: đồng thời phá kế hoạch "bình định" ở chiến trường miền Nam. Theo phương hướng đó, ta và bạn đã hành động kiên quyết dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, giành thắng lợi to lớn ở chiến trường Cam-pu-chia, ở Lào1 (7 tháng trong năm 1970, ta và bạn Cam-pu-chia đã loại khỏi vòng chiến đấu 54.000 địch, giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh miền Đông và phần lớn nông thôn 10 tỉnh khác ở Cam-pu-chia. Ta và bạn Lào giải phóng A-tô-pơ và Xa-ra-van, tạo thành một địa bàn chiến lược rộng lớn, hiểm yếu ở khu vực biên giới ba nước Đông Dương) và ở Nam Việt Nam. Phát huy thắng lợi đã giành được trong năm 1970, những tháng đầu năm 1971, ta đã tiến hành thắng lợi chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 - một cuộc hành quân nhằm đánh chiếm Sê Pôn, phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc Nam, chia cắt 3 nước Đông Dương và thử nghiệm công thức chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh: Bộ binh ngụy + hoả lực + hậu cần Mỹ của quân đội Sài Gòn. Đây là cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ ngụy trong giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đã chấm dứt thời kỳ mà ở đó, Mỹ, ngụy tổ chức các cuộc hành quân quy mô lớn tiến công và phản kích ra vòng ngoài trên chiến trường 3 nước Đông Dương. Thắng lợi to lớn, toàn diện của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ trong 2 năm 1970, 1971 tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, năm nước Mỹ bước vào cuộc vận động tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ mới. Đây là thời điểm rất nhạy cảm trong đời sống chính trị nước Mỹ mà ta cần phải và có thể lợi dụng để làm thay đổi cục diện chiến tranh. Cuộc tiến công chiến lược 1972 bắt đầu từ ngày 30-3-1972, bằng 3 chiến dịch tiến công của chủ lực trên 3 hướng (Đường 9 - Trị Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ), kết hợp với các chiến dịch tiến công tổng hợp (ở đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng Khu V). Thời gian mở màn, hướng tiến công, quy mô sử dụng lực lượng và cường độ của cuộc tiến công chiến lược khiến Mỹ - ngụy bất ngờ, choáng váng, bị thiệt hại nặng. Ta đập vỡ nhiều tuyến phòng ngự cơ bản của địch, chiếm giữ thêm những địa bàn xung yếu có sức uy hiếp các căn cứ, chi khu, đô thị địch; giải phóng nhiều vùng rộng lớn gồm hầu hết các tỉnh Quảng Trị, Công Tum, Bắc Bình Định; hoàn chỉnh vùng giải phóng Đông Nam Bộ (Tây Ninh, Bình Long, Phước Long), mở ra vùng giải phóng mới ở đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc tiến công chiến lược 1972 của ta nổ ra, buộc Mỹ phải bị động dùng không quân, hải quân đánh phá ác liệt ở miền Nam và mở lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thâm độc hơn, đi đối với sự phản ứng quyết liệt về quân sự, địch đồng thời xúc tiến mạnh các hoạt động ngoại giao xảo quyệt hòng gây sức ép, buộc ta phải ngừng cuộc tiến công. Kế đó, tháng 12-1972, địch mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng hòng buộc ta phải chấp nhận điều kiện của Mỹ đưa ra trong đàm phán. Dù vậy, những nỗ lực quân sự, ngoại giao trên đây của Mỹ đã bị thất bại. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội ra khỏi miền Nam, chấp nhận việc quân đội miền Bắc vẫn ở lại chiến trường. Nhìn chung lại, khoảng thời gian từ 1969 đến 1972 là giại đoạn Mỹ ngụy tuy phải xuống thang chiến tranh nhưng lại thay đổi chiến lược, dồn sức phản công quyết liêt toàn diện, bằng những biện pháp thâm độc, tàn bạo hòng gỡ thể diện cho việc buộc phải rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt sự dính líu quân sự trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam. Thời kỳ đầu, ta có khuyết điểm trong chỉ đạo chiến lược đặc biệt là việc kéo dài tình huống đưa chiến tranh vào đô thị, bỏ trống vùng nông thôn. Địch kịp thời lợi dụng sơ hở của ta, dồn sức thực hiện kế hoạch bình định nông thôn, đẩy lùi thế tiến công của cách mạng miền Nam. Thế nhưng, từ giữa năm 1970 trở đi, ta kịp thời lợi dụng sai lầm của đối phương khi chúng đưa quân tràn sang biên giới Cam-pu-chia, tổ chức phản công và tiến công giành thắng lợi to lớn, toàn diện; kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các mặt đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri mà ý nghĩa cơ bản nhất là "Quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại" như nhận định của Cố Tổng bí thư Lê Duẩn; mở ra giai đoạn mới - giai đoạn "đánh cho ngụy nhào". Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:26:26 am đ) Giai đoan thứ 5 (1-1973 - 4-1975)
Thực ra, khi ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ không còn mong giành thắng lợi ở Việt Nam nữa. Thế nhưng, chính quyền Ních-xơn vẫn chưa chịu từ bỏ chính sách thực dân mới của họ ở miền Nam, vẫn nuôi hy vọng tiếp tục của chiến tranh bằng quân ngụy tay sai hòng tạo ra một khoảng cách cần thiết giữa việc Mỹ rút ra với sự sụp đổ của chế độ tay sai, qua đó, gỡ gạc thể diện cho Mỹ. Vì vậy, trước, trong và sau Hiệp định, Mỹ lén lút tuồn vũ khí, gài nhân viên, cố vân Mỹ ở lại làm nhiệm vụ chỉ huy, hỗ trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn. Sau ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, quân đội Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, các chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng. Trong khi đó, Mỹ duy trì lực lượng "ngăn đe" ở các vùng phụ cận quanh Việt Nam, đồng thời tiếp tục các hoạt động ngoại giao xảo quyệt hòng ngăn chặn sự phát triển của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Các hoạt động chống phá Hiệp định Pa-ri của địch ngày càng tăng, gây cho ta sự lúng túng trong việc đối phó. Đến giữa năm 1973, ở Khu 5, ta mất 26 vạn dân, 45 xã, 302 ấp, địch đóng thêm 200 bốt; Khu 6 và Khu 7, ta mất 29 vạn dân, 308 ấp, địch đóng thêm 287 đồn; Khu 8, ta mất 10 vạn dân, 24 xã, 102 ấp, địch đóng thêm 287 đồn. Tháng 5-1973, Bộ Chính trị họp và chỉ ra những sơ hở, khuyết điểm của ta về vấn đề này. Tiếp đó, tháng 7-1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 họp, khẳng định con đường của cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới này là tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, kẻ thù chính vẫn là đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tay sai. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đấu tranh trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; nhiệm vụ của miền Bắc là ra sức chi viện miền Nam, phục hồi và phát triển kinh tế. làm cho miền Bắc luôn luôn là chỗ dựa vững chắc của cách mạng miền Nam nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dưới ánh sáng Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, quân dân ta ở miền Nam đẩy mạnh các hoạt động phản công và tiến công địch. Đến giữa năm 1974, trên toàn Miền, ta xoá đươc 3.600 đồn bốt, giải phóng thêm 850 ấp với 115 vạn dân. Ở vùng địch kiểm soát, đặc biệt ở các đô thị lớn, mặt trận đấu tranh chính trị phát triển mạnh mẽ, tập trung vào việc đòi Mỹ ngụy thi hành Hiệp định, tố cáo chính quyền Thiệu độc tài, tham nhũng, bất công. Trong khi đó, tại Mỹ, tháng 7- 1974, Ních-xơn buộc phải từ chức do vụ bê bối Oa-tơ-ghết, Phó Tổng thống Mỹ Giê-rôn Pho lên thay. Lúc này, trên thực tế khả năng viện trợ của Mỹ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn sụt giảm tới 50% trong khi nền kinh tế của chế độ đó phụ thuộc vào viện trợ Mỹ tới 90%. Tháng 7-1974, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn trực tiếp hướng dẫn Bộ Tổng tham mưu khởi thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Theo dõi sát toàn bộ diễn biến trên chiến trường, trong nước và trên thế giới có liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và lượng định đúng khả năng phát triển của tình hình, tháng 10 và tháng 12-1974, tập thể Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương cùng các cán bộ chủ chốt ở chiến trường họp bàn về quyết tâm và kế hoạch giải phóng miền Nam trong thời gian 2 năm 1975, 1976. Trong lúc Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng đang tiến hành bàn bạc, thảo luận về kế hoạch chiến lược trên đây thì tại chiến trường miền Nam, quân dân ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự, nổi bật nhất là chiến thắng Phước Long (tháng 12-1974). Phước Long có vị trí chiến lược quan trọng1 (Tỉnh Phước Long nằm ở phía đông bắc và cách Sài Gòn hơn 100km, bắc giáp Cam-pu-chia, đông giáp Quảng Đức, nam giáp Bình Dương, tây giáp Bình Long. Đây là giao điểm của các địa bàn chiến lược Nam Tây Nguyên, đông nam Cam-pu-chia, Đông Nam Bộ, Khu 6 và là cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn). Chiến thắng Phước Long chứng tỏ khả năng đánh chiếm thành phố, thị xã và trụ lại của bộ đội ta; khả năng phản ứng của quân đội Sài Gòn và khả năng trực tiếp can thiệp quân sự trở lại của đế quốc Mỹ. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng kết luận: "Khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp, hiện nay đang gặp nhiều khó khăn", "dù chúng có can thiệp như thế nào ta cũng có đầy đủ quyết tâm và điều kiện đánh thẳng và chúng cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”. Do đó, "chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, để tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”. Bộ Chính trị hạ quyết tâm và thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 và 1976. Ngoài kế hoạch cơ bản này ra, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Thực hiện quyết tâm chiến lược trên đây của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, hai miền Nam Bắc khẩn trương hoàn tất các mặt chuẩn bị, cả về thế và lực. Ta thành lập 3 quân đoàn 1, 2, 4; mở rộng và kéo dài tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam tới Nam Bộ; miền Bắc dồn sức chi viện mạnh mẽ, toàn diện, liên tục cho miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam mở màn từ ngày 4-3-1975 bằng chiến dịch Tây Nguyên mà trận đột phá chiến lược là việc đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Qua 20 ngày đêm chiến đấu, đến ngày 24-3rỊ975, chiến dịch Tây Nguyên đã giành thắng lợi hoàn toàn. Quân ta đánh bại cuộc phản kích của Sư đoàn 23 ngụy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu II của địch, giải phóng Tây Nguyên, nhanh chóng phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung. Những thắng lợi to lớn trong chiến dịch Tây Nguyên là cơ sở để Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Trong lúc đó, từ ngày 6-3-1975, ta bắt đầu tiến công địch ở,Trị Thiên và Khu V. Đến ngày 21-3, phát huy thắng lợi nhanh chóng và dồn đập ở Tây Nguyên, và đồng bằng miền Trung, hai chiến dịch ở Quân khu V và Quân khu Trị Thiên đã phát triển thành chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng. Ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975. Ngày 26-3, Huế được giải phóng. Ngày 29-3, Đà Nẵng được giải phóng. Sau 25 ngày đêm chiến đấu (6-3 đến 29-3), ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1, Quân khu I của địch. Đến ngày 3-4, ta giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung. Ngày 4-4, Quân uỷ Trung ương giao cho Khu V và lực lượng hải quân tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Từ 14 đến 29-4. toàn bộ các đảo trên được giải phóng. Từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975, chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra và giành toàn thắng. Sài Gòn - Gia Định và miền Đông Nam Bộ được giải phóng. 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, Tổng thống ngụy buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Toàn bộ Quân đoàn 3, Quân khu III ngụy bị tiêu diệt và tan rã. Ở khu vực các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân ta từ đầu tháng 3-1975, đến ngày 1-5-1975 đã giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 4 và Quân khu IV của địch. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi. Nhìn chung lại, trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thời gian đầu sau Hiệp định Pa-ri, trong chỉ đạo, ta có thiếu sót và chập choạng. Thế nhưng, ngay sau đó, ta kịp thời khắc phục khuyết điểm, nhanh chóng chuyển thế chiến trường, tạo ra những điều kiện cần và đủ để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là kết quả cuối cùng của cả một quá trình kháng chiến lâu dài, bền bỉ, quyết chiến, quyết thắng, đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch, của quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc. Đó là thắng lợi của bản lĩnh Việt Nam, văn hoá Việt Nam; thắng lợi của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam; thắng lợi của sức mạnh khôi đoàn kết toàn dân. đoàn kết quốc tế, của chế độ xã hội mới được xây dựng trên miền Bắc và ở vùng giải phóng miền Nam của tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó keo sơn, bền chặt giữa nhân dân 3 nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Năm, 2021, 09:27:48 am 3. Tính chất, đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
a) Tính chất Diễn ra trong những điều kiện lịch sử cụ thể của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có những tính chất chủ yếu sau đây: Thứ nhất, đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. Trải qua 21 năm, mặc dù đế quốc Mỹ lần lượt thay đổi chiến lược chiến tranh và cho dù chính quyền, quân đội Sài Gòn mang chiêu bài "quốc gia", "dân tộc", song về thực chất và trên thực tế, đây vẫn là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, giấu mặt, trá hình, rất tàn bạo và thâm độc của Mỹ. về phía nhân dân ta, đây là cuộc chiến tranh giành lại và giữ vững nên tự do, độc lập và thống nhất đất nước - một sự nghiệp thiêng liêng mà bất cứ một quốc gia, dân tộc chân chính nào trên thế giới đều nỗ lực phấn đấu. Chính vì vậy, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỷ là sự nghiệp chính nghĩa. Đó tuyệt nhiên không phải là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Thứ hai, đó là cuộc kháng chiến vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc. Do đặc điểm của tình hình đất nước ta từ sau khi kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc là đất nước tạm chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nên cùng một lúc, cách mạng Việt Nam phải tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược phù hợp với tình hình, đặc điểm ở mỗi miền nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, về phía đối phương, xâm lược miền Nam luôn gắn liền với chống phá toàn diện, ngày càng mạnh mẽ miền Bắc, kể cả sử dụng sức mạnh của không quân, hải quân gây chiến tranh phá hoại. Bởi vậy, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh cứu nước của toàn dân tộc Việt Nam, của cả nước, không cắt rời Nam - Bắc; mang đậm tính chất giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Thứ ba, đó là cuộc kháng chiến mang tính chất liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia. Ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương từng có mối quan hệ đoàn kết, gắn bó với nhau từ lâu. Trong 21 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, chính sách của Mỹ đối với mỗi nước có sự khác nhau cho phù hợp nhưng mục tiêu chiến lược vẫn là nhằm xâm chiếm cả 3 nước. Trong điều kiện đó, để có đủ sức mạnh đương đầu và đánh bại âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân 3 nuớc đã tự nguyện liên minh chiến đấu với nhau và trên thực tế, đã hình thành Mặt trận nhân dân Đông Dương chống Mỹ. Theo thời gian, Mặt trận đó được củng cố, tăng cường, phát huy tác dụng to lớn, tạo nên thế chiến lược vững chắc của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân và cách mạng 3 nước Đông Dương. Thứ tư, đó là cuộc kháng chiến mang tính chất thời đại sâu sắc. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt sau khi cuôc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc, do vị trí địa - chiến lược, do tính chất của cách mạng Việt Nam cũng như do âm mưu của các thế lực đế quốc xâm lược hiếu chiến, Việt Nam trở thành nơi tập trung nhiều mâu thuẫn gay gắt của thời đại. Gây ra và đeo đuổi chiến tranh Việt Nam, đế quốc Mỹ không chỉ nhằm thống trị miền Nam mà còn toan tính những mục tiêu rộng lớn hơn trong chiến lược toàn cầu của Mỹ: răn đe phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội, lôi kéo và tập hợp đồng minh. Chính vì thế, Việt Nam trở thành trung tâm đối phó của chiến lược toàn cầu của Mỹ và cuộc chiến giữa Mỹ với Việt Nam trở thành cuộc đụng đầu lịch sử. Trên ý nghĩa đó, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chịu sự tác động và tác động trở lại đối với tình hình chính trị, quân sự, kinh tế thế giới cũng như các mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực. b) Đặc điểm Diễn ra suốt 21 năm, trên quy mô rộng lớn, với cường độ vô cùng quyết liệt, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mang những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, Việt Nam tạm chia làm hai miền, cách mạng Việt Nam đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hai nhiệm vụ chiến lược đó đều do một Đảng, một dân tộc, một quân đội tiến hành. Đây là đặc điểm lớn nhất, chi phối mạnh mẽ mọi phương hướng, chủ trương và chiến lược của cả hai bên tham chiến. Thứ hai, Việt Nam là một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển phải đương đầu với đế quốc Mỹ - thế lực xâm lược có sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn gấp nhiều lần. Do vậy, để giành chiến thắng, Việt Nam cần phải có quyết tâm, ý chí, trí thông minh, sự sáng tạo lớn lao; phải huy động sức mạnh tiềm tàng và to lớn của cả dân tộc và thời đại. Thứ ba, cả hai bên tham chiến đều phải vừa đánh vừa tìm hiểu đối phương. Điều này được quy định bởi một loạt nhân tố chủ quan và khách quan, trên chiến trường, trong nước, ở khu vực và trên thế giới. Đế quốc Mỹ có sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần nhưng do nhiều nguyên nhân, cả bên trong nước Mỹ và trên trường quốc tế, nên không thể dễ dàng sử dụng được hiệu quả sức mạnh đó để giành phần thắng mà buộc phải "leo thang" chiến tranh, về phía ta, cho dù kiên quyết kháng chiến nhưng đề đánh thắng địch, lại cũng cần phải có thời gian để hiểu rõ địch hơn; cần có thời gian để tăng cường lực lượng, đảm bảo càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Nhìn chung lại, tính chất, đặc điểm cũng như quy mô, độ dài, cường độ... của cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam là những nhân tố rất quan trọng. Những nhân tố này chi phối, tác động tới tính toán chiến lược, điều hành chiến tranh, nghệ thuật quân sự và nhiều chiều cạnh liên quan của cả hai phía Việt Nam và đế quốc Mỹ. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:19:16 am II- NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
Chiến tranh là sự tổng hợp tất cả các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá... của các bên đối chiến. Các mặt đấu tranh đó tuy đều liên quan mật thiết với nhau, chi phối, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau nhưng đấu tranh vũ trang là đặc trưng cơ bản của chiến tranh. Nghệ thuật quân sự, hiểu một cách chung nhất, là nghệ thuật chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang trong chiến tranh, là một bộ phận rất quan trọng của phương thức tiến hành chiến tranh và của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Như thế, nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nghệ thuật chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang của cuộc chiến tranh nhân dân trên cả hai miền Nam, Bắc. Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của kháng chiến chống thực dân Pháp, Chiến tranh nhân dân trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã phát triển lên một tầm cao mới với nội dung và hình thức đấu tranh hiệu quả và rất phong phú. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện nhằm mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Lực lượng tiến hành chiến tranh là "toàn dân đánh giặc, gồm lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt và lực lượng chính trị quần chúng: lực lượng chính trị quần chúng vừa là cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, vừa là chỗ dựa vững chắc để lực lượng vũ trang hoạt động tác chiến, vừa phối hợp với lực lượng tiến công, phản công quân địch... Trọng kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, lực lượng chính trị được tổ chức thành những đội quân chính trị trong đó có bộ phận xung kích của phụ nữ là đội quân tóc dài"1 (Trung tâm từ điển bách khoa quân sự BQP: Từ điển BKQSVN, Nxb QĐND, HN.1976, tr.174). Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ bó hẹp trong hoạt động đấu tranh vũ trang (mà nghệ thuật chỉ đạo tiến hành hoạt động đó chính là nghệ thuật quân sự). Phương thức đó còn có phạm vi rộng lớn hơn, tầm vóc cao hơn. Một cách tổng quát, có thể thấy rằng, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là "cả nước tổ chức thành một mặt trận rộng lớn, mỗi người dân yêu nước là một chiến sĩ, mỗi làng, xã, đường phố là một pháo đài, mỗi chi bộ Đảng là một bộ phận tham mưu, phát huy sức mạnh tổng hợp của sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả 3 vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận (ba mũi giáp công), kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phượng với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực"2 (Sđd, tr.174). Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được tiến hành dựa trên cơ sở của đường lòi, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, nhằm tạo nên sức mạnh hiện thực để đánh thắng chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đó là sự phát triển phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh trên hai miền Nam Bắc, phù hợp với sự phát triển của hai chiến lươc cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) và gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương trong xu thế phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng thời đại. Đó còn là nghệ thuật kết hợp tiến công địch ở miền Nam với bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời vùng biển miền Bắc với tăng cường sức mạnh mọi mặt cho miền Nam; phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường Nam Bắc Việt Nam với chỉến trường hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia trên một thế chiến lược tiến công của nhân dân ba nước Đông Dương. Trong toàn bộ nội dung trên của chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh vũ trang và nghệ thuật điều hành nó - tức nghệ thuật quân sự chỉ là một hộ phận cấu thành cơ bản và là đặc trưng nổi bật của toàn bộ cuộc chiến tranh này. Dưới đây, sẽ chỉ mới đề cập tới nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quá trình vận động, phát triển của đấu tranh vũ trang và nghệ thuật điều hành mặt đấu tranh này gắn bó với các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nói cách khác, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam, trên cơ sở kế thừa thành quả và kinh nghiệm của nghệ thuật quân sự thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp gồm 3 bộ phận hợp thành là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, đã phát triển lên một trình độ cao hơn, trước một đối tượng tác chiến mới chiếm ưu thế về số lượng, trang bị vũ khí là quân đội Sài Gòn, quân Mỹ và quân đội một số đồng minh của Mỹ. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:21:09 am 1. Chiến lược quân sự
Chiến lược quân sự là lĩnh vực cao nhất, có địa vị chủ đạo của nghệ thuật quân sự. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đề ra cho chiến lược quân sự nhiều vấn đề có tính nguyên tắc về chuẩn bị lực lượng và kế hoạch, về chỉ đạo tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trong đấu tranh vũ trang, đánh thắng địch về quân sự, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục đích chính trị của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến lược tiến công. Đó là chiến lược toàn dân đánh giặc dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp giữa tác chiến của lực lượng vũ trang với khởi nghĩa của quần chúng cách mạng; là chiến lược tiến công địch bằng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), trên cả 3 vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị); kết hợp giữa đánh địch với giành quyền làm chủ, làm chủ đề tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để làm chủ ngày càng vững chắc hơn. Đó còn là chiến lược luôn giành thế chủ động và quyền chủ động tiến công địch về mặt quân sự, tiến công một cách tích cực, kiên quyết và liên tục ở mọi nơi, mọi lúc, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, hạn chế tối đa sở trường của địch. Khả nảng tiến công của quân và dân ta cả ở chiến trường miền Nam (cũng như trên vùng trời, vùng biển miền Bắc), dựa trên sự đánh giá tương quan lực lượng giữa ta và địch theo quan điểm cách mạng và khoa học, đặc biệt là đánh giá chính xác sức mạnh và khả năng thực tế của địch trong chiến tranh, ngay tại chiến trường; đánh giá đúng ưu thế về sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng, của con người Việt Nam, truyền thống văn hoá Việt Nam; vận dụng và phát huy hiệu lực các phương thức tiến công của các lực lượng trên các mặt đấu tranh ở cả 3 vùng chiến lược, ở miền Nam (và trên vùng trời, vùng biển miền Bắc): tận dụng thế trận tiến công tổng hợp rất hiểm của chiến tranh nhân dân để đánh địch một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả ngay trên đất đai Tổ quốc mình. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở miền Nam gồm những nội dung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, đó là nghệ thuật kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy. Kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, đặc biệt là những kinh nghiệm tích lũy được trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tốc độ phát triển từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy và hình thái kết hợp giữa hai loại hình chiến tranh này trong kháng chiến chống Mỹ. cứu nước, trên từng vùng chiến lược ở miền Nam và trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, có những bước phát triển mới, rất sáng tạo và đạt hiệu quả cao. Thứ hai, đó là nghệ thuật kết hợp các phương thức tác chiến chiến lược của chiến tranh nhân dân đánh thắng các biện pháp chiến lược của địch từ càn quét, bình định trong những năm 1955 - 1964, "tìm - diệt" và bình định trong những năm 1965 - 1968, "chiến tranh giành dân" trong những năm 1969 - 1972, "lấn chiếm và bình định" trong 2 năm 1973, 1974. Phương thức tác chiến chiến lược đó bao gồm 6 nội dung: - Đẩy mạnh hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực bằng các chiến dịch vừa và lớn. - Đẩy mạnh chiến tranh du kích lên trình độ cao. - Đánh phá căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, bến cảng, cơ quan đầu não địch. - Triệt phá đường giao thông thuỷ bộ, tạo thế bao vây, chia cắt... - Đẩy mạnh hoạt động ở đô thị bằng cả quân sự và chính trị. - Tác chiến kết hợp với binh vận... Thứ ba, đó là nghệ thuật tổ chức, bố trí lực lượng và thế trận mạnh, hiểm trên thế chiến lược tiến công, kết hợp tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ đề tiêu diệt địch và mở rộng không ngừng quyền làm chủ của nhân dân ta trên cả ba vùng chiến lược. Thứ tư, đó là nghệ thuật kết hợp các nhân tố thế, lực và thời cơ, hình thành thế mạnh, đánh địch bất ngờ. Thứ năm, đó là nghệ thuật kết hợp giữa tiền tuyến với hậu phương, giữa đánh địch trong cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam với đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ở miền Bắc và chiến tranh ngăn chăn của Mỹ ngụy trên tuyến vận chuyển chiến lược Bắc - Nam bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững và phát triển nguồn chi viện toàn diện, mạnh mẽ, liên tục cho chiến trường miền Nam. Thứ sáu, đó là nghệ thuật phối hợp chiến đấu với quân đội Lào, Cam-pu-chiạ, thực hiện: Đông Dương - một chiến trường đánh Mỹ. Toàn bộ nội dung trên đây của chiến lược quân sự được quán xuyến trong quá trình xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho từng giai đoạn cũng như cho toàn bộ cuộc chiến tranh, trong đó, việc chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu và việc xác định nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang trên hướng đó là nội dung quan trọng bậc nhất của kế hoạch tác chiến chiến lược - một bộ phận hợp thành của chiến lược quân sự. Giải quyết các nội dung trên đây của chiến lược quân sự, ở từng giai đoạn cũng như trong toàn bộ 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã tổ chức và thực hiện thành công các hoạt động tác chiến chiến lược, các đòn tiến công và phản công chiến lược, tạo nên những bước chuyển biến lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta và bất lợi cho đối phương. Đó là việc Đảng ta quyết định chuyển cách mạng miền Nam từ Đồng khởi tiến lên thành chiến tranh cách mạng, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công về chiến lược. Đó còn là hoạt động tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng trong Đông Xuân 1964 - 1965 với những chiến dịch quân sự khởi đầu như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài làm nòng cốt, đánh bại chiến lược ”Chiến tranh đặc biệt" khi quân ngụy còn nguyên vẹn 11 sư đoàn bộ binh. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ", ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của Mỹ, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Cuộc phản công có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Xuân 1971) của ta đã đánh thắng một bước quan trọng về quân sự chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ngụy. Tiếp đó, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với 3 chiến dịch tiến công ở Quảng Trị, An Lộc, Kon Tum và 2 chiến dịch tổng hợp. Khu 5, Khu 8 đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Thắng lợi này cùng với chiến thắng trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đập tan cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ đã buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri. Trên đà thắng lợi, đầu năm 1975, ta mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Những hoạt động tiến công và phản công chiến lược nêu trên thể hiện hiệu lực của chiến lược quân sự Việt Nam cũng như sự tài giỏi trong việc tổ chức, điều hành của các cơ quan chỉ đạo chiến lược trên mặt trận đấu tranh quân sự nói riêng, trên các mặt đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao nói chung. Đó là một chiến lược quân sự tiến công chủ động, đầy sáng tạo: một chiến lược quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang 3 thứ quân làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ hành động tác chiến của lực lượng vũ trang với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng cách mạng và đó cũng là cơ sở để giải quyết thành công những vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trên chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:23:03 am 2. Nghệ thuật chiến dịch
Nghệ thuật chiến dịch là một bộ phận trong thể thống nhất và hoàn chỉnh của nghệ thuật quân sự. Về hình thức, nó là khâu trung gian nối giữa chiến lược quân sự với chiến thuật; về nội dung, nó có tính chất độc lập tương đối, sử dụng các hoạt động chiến thuật của bộ đội để hoàn thành nhiệm vụ mà chiến lược quân sự đặt ra. Một cách tổng quát, nghệ thuật chiến dịch nghiên cứu và giải quyết các vấn đề vể chuẩn bị, tổ chức, chỉ huy chiến dịch quân sự; về sắp xếp các trận chiến đấu của lực lượng vũ trang 3 thứ quân; về việc kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang với hoạt động của các mặt đấu tranh khác - mà trước hết là đấu tranh chính trị, làm cho các trận chiến đấu và các mặt hoạt động khác diễn ra trong mối liên quan mật thiết trên một không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm những mục đích nhất định, theo một kế hoạch và dưới sự chỉ huy thống nhất, tập trung, thực hiện nhiệm vụ mà chiến lược quân sự đặt ra. Kế thừa những kinh nghiệm chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỷ, cứu nước phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh, từ quy mô nhỏ và vừa (liên trung đoàn, sư đoàn) lên quy mô tương đối lớn (vài sư đoàn, quân đoàn hoặc tương đương) và cuối cùng là nhiều quân đoàn; từ tác chiến trên bộ đến tác chiến đất đối không... Sự phát triển của chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong thời kỳ này gắn liền với sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc; gắn liền với việc đương đầu và đánh bại lực lượng quân sự trên bộ của đốỉ phương - lực lượng này từ chỗ ban đầu gồm 30 - 40 vạn quân ngụy đến lúc tăng lên hơn 1 triệu tên Mỹ, ngụy, đồng minh của Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự phát triển phong phú về các loại hình chiến dịch là đặc trưng nổi bật của quá trình phát triển và hoàn chỉnh nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Sự phát triển đó được quy định bởi các nhân tố chủ yếu như: đường lối chiến tranh nhân dân và chiến lược tổng hợp của cuộc kháng chiến; sự chỉ đạo đúng đắn, sắc sảo của cấp chiến lược về mặt quân sự và sự phát triển phong phú, sáng tạo của chiến thuật; hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ, bao gồm cả tuyến vận tải chiến lược 559 ngày càng được củng cố vững chắc và không ngừng lớn mạnh... Các loại hình chiến dịch thời kỳ này nếu xếp theo phương thức tiến hành chiến tranh thì gồm chiến dịch của chiến tranh du kích (chiến tranh nhân dân địa phương) và chiến dịch chính quy đánh tập trung; nếu xếp theo lực lượng tiến hành thì gồm chiến dịch của chủ lực, chiến dịch địa phương, chiến dịch tổng hợp; theo hình thức tác chiến, gồm chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công, chiến dịch phòng ngự, chiến dịch chống càn (mang tính chất tiến công), chiến dịch phòng không. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã thực hiện trên dưới 50 chiến dịch mà phổ biến nhất là loại hình chiến dịch tiến công. Một cách tổng quát, có thể phân chia các bước phát triển chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành các giai đoạn lịch sử sau đây: - Từ 1964 đến 1965: là giai đoạn ta bắt đầu vận dụng nghệ thuật chiến dịch tiến công qua các chiến dịch khởi đầu như chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 2-7-1965), chiến dịch Ba Gia (từ 29-5 đến 20-7-1965). Đây là các chiến dịch tiến công có quy mô sử dụng lực lượng liên trung đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, được sự đảm bảo một phần về hậu cần của nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch, đánh vào đối tượng chủ lực ngụy là chính, diễn ra ở khu vực rừng núi hoặc giáp ranh trên một không gian khoảng 2 đến 3 huyện và trong thời gian từ 1 đến 2 tháng. Đặc điểm của các loại hình chiến dịch tiến công thời kỳ đầu này là mang tính chất tổng hợp - kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. - Từ giữa năm 1965 đến năm 1968: là giai đoạn ta trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ. Trong giai đoạn này, có các chiến dịch tiến công Plây Me, Tây Nguyên (từ 19-10 đến 26-11-1965), chiến dịch tiến công Bầu Bàng - Dầu Tiếng ở Đông Nam Bộ (từ 1-11 đến 27-11-1965), chiến dịch tiến công Tây Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi (từ 20-2 đến 20-4-1966), chiến dịch tiến công Sa Thầy ở Tây Nguyên (từ 18-10 đến @-12-1966), chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti, Đông Nam Bộ (từ 22-2 đến 15-4-1967), chiến dịch tiến công Đắc Tô ở bắc Tây Nguyên (từ 3 đến 23-11-1967). Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh ở bắc Quảng Trị (Xuân Hè 1968) và các cuộc tiến công vào nội đô Sài Gòn và Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi đậy Xuân Mậu Thân 1968 có quy mô như những chiến dịch tiến công mang tính chất chiến lược... Như thế, về loại hình, bên cạnh các chiến dịch tiến công, đã xuất hiện các chiến dịch phản công; về quy mô, lực lượng tham gia chủ yếu là cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường cùng lực lượng vũ trang địa phương; về cách đánh chiến dịch và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật trong chiến dịch cũng như nghệ thuật vận dụng các mưu kế, lập thế trận chiến dịch, nghệ thuật tổ chức, điều hành chiến dịch có sự phát triển cao hơn giai đoạn trước. - Từ 1970 đến năm 1971: là giai đoạn Mỹ ngụy mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Đông Dương. Đây là giai đoạn ta mở các hoạt động và các chiến dịch phản công như: hoạt động phản công làm thất bại cuộc tiến công sang Cam-pu-chia của Mỹ, ngụy; ba chiến dịch phản công đánh bại ba cuộc hành quân quy mô lớn của địch ở Đường số 9 - Nam Lào, đông bắc Cam-pu-chia và Đường số 6 (Công Pông Chàm - Công Pông Thom). Nghệ thuật chiến dịch phản công của ta đã phát triển lên một trình độ mới, khá hoàn chỉnh: Lực lượng sử dụng lên tới tương đương cấp quân đoàn, diễn ra ở vòng ngoài chiến trường chính miền Nam Việt Nam, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo thế và lực cho cuộc tiến công chiến lược 1972. - Năm 1972, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tiến hành đồng thời 3 chiến dịch tiến công lớn với lực lượng sử dụng ở mỗi chiến dịch tương đương cấp quân đoàn tăng cường, trên 3 hướng chiến lược quan trọng thuộc chiến trường chính miền Nam là Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; đột phá thẳng vào hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. So với các chiến dịch tiến công giai đoạn trước, đây là những chiến dịch có quy mô lớn hơn, không gian rộng hơn, thời gian dài hơn. Bên cạnh các chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực, ta còn liên tiếp mở 2 chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Định (Trung Bộ) và ở Khu 8 (Nam Bộ). Trên miền Bắc, Quân chủng Phòng không - Không quân cùng lực lượng Phòng không địa phương tiến hành chiến dịch phòng không quy mô lớn đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Ở Bắc Lào, ta và bạn thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Như vậy, đây là giai đoạn mà các loại hình chiến dịch của ta phát triển phong phú, nghệ thuật chiến dịch phát triển toàn diện và khá hoàn chỉnh. - Từ năm 1973 đến năm 1975, trên cơ sở tạo thế, tạo lực của 2 năm 1973, 1974, ta mở 3 chiến dịch lớn kế tiếp nhau là Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Hồ Chí Minh với quy mô lực lượng lớn, trên một không gian rộng, trong một thời gian ngắn. Với 3 chiến dịch này, loại hình chiến dịch tiến công đã có bước phát triển mới, mang ý nghĩa chiến lược. Nó có các đặc điểm chủ yếu như: do cấp chiến lược trực tiếp chỉ đạo, dọ từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành tương đối lớn thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của bộ đội địa phương, dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch, nhằm mục đích tiêu diệt và làm tan rã lớn từng tập đoàn chiến dịch - chiến lược của địch, giải phóng từng địa bàn chiến lược, tạo nên sự đột biến chiến dịch và đưa đến sự phá vỡ thế chiến lược của địch; các hình thức chiến thuật phát triển phong phú và ở trình độ cao, nhất là nghệ thuật tổ chức thực hành các trận then chốt... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:23:55 am Nhìn chung, trong kháng chiến chống Mỹ, nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân phát triển lên một trình độ mới. Sự phát triển này được biểu hiện trên những nội dung thuộc về nghệ thuật chiến dịch như chọn hướng, mục tiêu, đối tượng tác chiến chiến địch; tổ chức, sử dụng lực lượng; lập thế trận; chọn cách đánh; chuẩn bị và thực hành chiến dịch; chỉ đạo chiến thuật trong chiến dịch; tổ chức chỉ huy, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến dịch... Tựu trung, nghệ thuật chiến dịch quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã giải quyết thành công các nội dung trên đây, trong đó đặc biệt đáng chú ý các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghệ thuật lập thế trận chiến dịch của ta, phá thế trận chiến địch của địch có bước phát triển mới. Sự phát triển đó gắn liền với thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao, trên khắp cả 3 vùng chiến lược. Thế trận đó lồng xen với vùng địch kiểm soát, áp sát và bao vây các vùng ven đô thị, các căn cứ quân sự, hậu cần và các tuyến giao thông huyết mạch trên khắp chiến trường miền Nam. Thế trận đó cho phép quân và dân ta thực hành chiến lược tiến công bằng hai lực lượng quân sự, chính trị, buộc địch luôn phải dàn mỏng lực lượng và bị động chống đỡ ở khắp mọi nơi, vào mọi lúc... Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, ở các chiến dịch, ta đã bố trí, triển khai các lực lượng và thiết bị chiến trường một cách thích hợp; đã xây dựng được thế trận chiến dịch vững chắc, hiểm hóc và cơ động. Nhìn chung, nghệ thuật tạo thế trận chiến dịch của ta trong kháng chiến chống Mỹ rất linh hoạt, biến hoá theo sự thay đổi về so sánh về thế và lực giữa địch - ta và theo yêu cầu nhiệm vụ chiến lược... Thứ hai, việc xác định hướng (khu vực) và mục tiêu chiến dịch đúng đắn, sát hợp là một trong những thành công nổi bật của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vấn đề này trước hết tuỳ thuộc vào sự so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch về chiến dịch, vào yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, vào điều kiện đảm bảo vật chất - kỹ thuật và vào điều kiện địa hình. Ví như những năm khi Mỹ đưa quân Mỹ vào miền Nam trực tiếp tham chiến, lúc đầu ta chọn vùng rừng núi và vùng giáp ranh làm hướng chủ yếu để mở các chiến dịch. Đến đầu năm 1968, đồng thời với địa bàn trên, ta chọn đô thị, nhất là các đô thị lớn làm hướng tiến công chủ yếu. Tiếp đó, năm 1972, ta chọn tuyến phòng ngự chiến lược cơ bản của địch để mở 3 chiến dịch tiến công lớn. Trong các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá chương trình "bình định", ta đã chọn đúng hướng để mở mảng, mở vùng là khu vực đồng bằng đông dân cư, nơi có tầm quan trọng chiến lược đốĩ với cả hai phía: ta và địch... Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, việc chọn Tây Nguyên làm địa bàn mở đòn tiến công chiến lược đầu tiên và việc chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu đột phá là một mẫu mực mang tính kinh điển về nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thứ ba, tổ chức lực lượng và tổ chức chỉ huy chiến dịch có bước phát triển mới. Ví như, trong giai đoạn từ năm 1964 đến khi kết thúc chiến tranh cục bộ (1968), về quy mô lực lượng chiến dịch, ta sử dụng từ liên trung đoàn lên tới sư đoàn, sư đoàn tăng cường rồi liên sư đoàn; về chỉ huy chiến dịch, ta thành lập Bộ chỉ huy tiền phương và cơ quan chiến dịch tiền phương. Năm 1972, khi quy mô lực lượng sử dụng trong các chiến dịch trên các hướng chiến lược lên tới quân đoàn, quân đoàn tăng cường thì về mặt tổ chức chỉ huy, trên các hướng đó, ta đều tổ chức các Bộ tư lệnh chiến dịch và cơ quan chiến dịch có nhiều quyền hạn hơn trước. Đối với các chiến dịch tiến công tổng hợp, trong điều kiện sử dụng bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích xã ấp phối hợp chiến đấu với quần chúng trên địa bàn mở chiến dịch thì về mặt tổ chức chỉ huy, ta tổ chức cơ quan chỉ đạo chỉ huy thống nhất gồm các đồng chí chủ trì cấp uỷ địa phương và các đồng chí chỉ huy quân sự... Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 là đỉnh cao về nghệ thuật tổ chức lực lượng, tổ chức chỉ huy. Về tổ chức lực lượng chiến dịch, ta sử dụng từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành (bao gồm từ 1 đến 2 quân đoàn và tương đương đến 5 quân đoàn và tương đương). Về tổ chức chỉ huy, trong chiến dịch Tây Nguyên, bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch còn có đại diện Bộ Tổng tư lệnh thay mặt Bộ Tổng tư lệnh quyết định trực tiếp các tình huống chiến dịch quan trọng; trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, trên thực tế, Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy các cánh quân tiến công Đà Nẳng; đến chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh chiến dịch là đồng chí Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Tổng tham mưu trưởng Quân đội; Chính uỷ chiến dịch là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục kiêm chính uỷ Miền... Một bộ tư lệnh như vậy có đủ khả năng và quyền hạn để chỉ huy tập trung, thống nhất toàn bộ các lực lượng tham gia chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thứ tư, xác định cách đánh chiến dịch đúng đắn, sáng tạo là một nội dung nổi bật của nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cách đánh là lĩnh vực biểu hiện tập trung nhất tính sáng tạo của nghệ thuật chiến dịch, là căn cứ quan trọng để tiến hành tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Nó tuỳ thuộc vào các yếu tố như mục đích, nhiệm vụ chiến dịch, tình hình địch - ta, địa hình, thời tiết... trên địa bàn chiến dịch. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách đánh chiến dịch gắn liền với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến nói chung, của thế trận chiến lược và lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng. Nói cách khác, cách đánh chiến dịch của ta trong kháng chiến chống Mỹ là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ mới cách đánh chiến dịch thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là cach đánh chiến dịch của chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển trên cả 3 vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), là sự vận dụng tổng hợp cách đánh của lực lượng vũ trang ba thứ quân có kết hợp ở những mức độ khác nhau với lực lượng chính trị, là sự kết hợp nhiều phương thức và quy mô tác chiến, trong đó, phương thức tác chiến hợp đồng binh chủng ngày càng giữ vị trí quan trọng và về cuối cuộc chiến, giữ vai trò chủ yếu. Các chiến dịch của ta mở ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhằm một số mục đích quan trọng, nhất là tiêu diệt sinh lực địch vì đó là tiền đề để đạt các mục đích khác. Thực tiễn lịch sử kháng chiến chống Mỹ cho thấy, để đạt mục đích chủ yếu trên đây, về cách đánh chiến dịch, về việc tạo tình huống và thời cơ để thực hành các trận then chốt và trận then chốt quyết định, phải vận dụng mưu kế trong chỉ huy để đảm bảo tính chủ động, bất ngờ, linh hoạt, chắc thắng... Trên cơ sở quán triệt những đặc điểm, yêu cầu trên đây, cách đánh chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được vận dụng và phát triển phù hợp với các loại hình chiến dịch khác nhau như chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công, chiến dịch phòng ngự. Đối với chiến dịch tiến công - một loại hình chiến dịch chủ yếu, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số các chiến địch được mở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cách đánh được thể hiện tập trung ở hai phương thức tác chiến cơ bản: tiến công địch ở ngoài công sự bằng cách đánh vận động là chủ yếu và tiến công khu vực phòng ngự của địch bằng đánh trận địa. Thuộc loại hình này còn có chiến dịch tiến công tổng hợp. Cách đánh của loại chiến dịch này là tiến hành đồng thời và phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên địa bàn mở chiến dịch để tiêu diệt sinh lực địch, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ. Đối với loại hình chiến dịch phản công, cách đánh chủ yếu là kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến ngăn chặn của các lực lượng vũ trang tại chỗ với tác chiến của các đơn vị chủ lực cơ động nhằm tiêu diệt những bộ phận lực lượng chủ yếu của địch, bẻ gãy từng mũi, từng cánh, từng đợt phản công của địch. Phòng ngự là loại hình chiến dịch ít được tổ chức. Tuy nhiên thực tiễn cũng đã cho thấy, cách đánh chiến dịch phòng ngự là kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công kiên quyết giữ vững trận địa với tích cực phản kích và tiến công ra ngoài trận địa, chớp thời cơ, mở các trận phản đột kích then chốt tiêu diệt lực lượng tiến công nòng cốt của địch. Nhìn chung lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật chiến dịch Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Đó là nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu, chọn đối tượng tác chiến; nghệ thuật tạo thế ta, phá thế địch; nghệ thuật phân tán, chia cắt, cô lập địch và tập trung lực lượng ưu thế để đánh đòn quyết định vào nơi và vào lúc quyết định. Đó còn là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng hợp lý, hiệu quả; nghệ thuật lựa chọn và vận dụng cách đánh đảm bảo đánh trúng, đánh hiểm, đánh tiêu diệt, tạo sự đột biến về chiến dịch và chiến lược, góp phần dẫn đến các bước ngoặt trong cục diện chiến tranh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2021, 08:25:26 am 3. Chiến thuật
Chiến thuật là bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân sự, gồm lý luận và thực tiễn chuẩn bị và thực hành các trận chiến đấu, chịu sự chỉ đạo của chiến lược và nghệ thuật chiến dịch. Trận chiến đấu là hành động cơ bản của đấu tranh vũ trang, là biểu hiện cụ thể của chiến dịch và chiến lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên nền chung của thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao ở cả hai miền Nam, Bắc, các trận chiến đấu không phải chỉ là đấu tranh vũ trang có tổ chức của các đơn vị chủ lực, các binh đoàn chủ lực mà còn là của các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ, nhân dân có tổ chức hoặc tự động đánh giặc... Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của chiến thuật trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chiến thuật trong kháng chiến chống Mỹ phát triển lên một tầm cao mới với hình thức và nội dung rất phong phú, sáng tạo. Đó là chiến thuật của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc đối đầu và đánh bại đội quân xâm lược và đội quân tay sai là quân viễn chinh Mỹ và quân đội Sài Gòn, bao gồm chiến thuật của các quân chủng, binh chủng, bộ đội các binh chủng hợp thành; của từng cấp (đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn); của lực lượng dân quân, du kích các địa phương, các chiến trường... Sự hình thành và quá trình phát triển của chiến thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước liên quan tới các yếu tố tác động chủ yếu sau đây: Thứ nhất, đó là truyền thống độc đáo về nghệ thuật quân sự của quân dân Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, mà biểu hiện tập trung nhất là ở việc toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt. Thứ hai, đó là đối tượng chiến thuật của ta gồm quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, quân một số nước đồng minh của Mỹ. Mỗi đối tượng có đặc điểm riêng nhưng cũng có điểm chung như vũ khí, trang bị, quân số, hoả lực, sức cơ động, đảm bảo hậu cần vượt trội so với ta song lý tương và tinh thần chiến đấu lại non kém. Thứ ba, đó còn là một số nhân tố liên quan tới tình hình ta như lòng dân ở hậu phương và nơi tiền tuyến cũng như trong vùng địch kiểm soát luôn hướng về cách mạng, một lòng đi theo Đảng, bằng nhiều hình thức giúp đỡ, chở che đùm bọc bộ đội và tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu; lực lượng vũ trang được tổ chức, xây dựng và tăng cường theo một đường lối đúng đắn, có ý chí, quyết tâm kinh nghiệm và sức sáng tạo trong chiến đấu. Thứ tư, địa hình, thời tiết, khí hậu khá phức tạp, hình thành nhiều vùng khác nhau, tác động tới chiến thuật của các bên tham chiến. Có điều, dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển, lực lượng vũ trang ta đã khéo lợi dụng và khai thác tốt điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu để phục vụ cho ý đồ chiến thuật của mình. Căn cứ vào những yếu tố tác động có liên quan (tình hình địch, ta, đối tượng tác chiến...) và sự vận dụng, phát triển của các loại hình chiến thuật, có thể phân chia quá trình phát triển của chiến thuật thời kỳ này thành 3 giai đoạn sau đây: Giai đoạn đầu, từ phong trào Đồng khởi đến đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965). Trong giai đoạn này, bộ đội ta trên chiến trường miền Nam chủ yếu vận dụng các hình thức chiến thuật đã được tổng kết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là chiến thuật vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không, tập kích. Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968). Trước đối tượng có quân số đông, vũ khí trang bị dồi dào, hiện đại, có hoả lực và sức cơ động cao, lại chiếm ưu thế áp đảo trên biển, trên sông, trên không nên trong giai đoạn này, để đương đầu và đánh bại địch, ta chủ trương đẩy mạnh đánh đêm và đánh gần, "bám thắt lưng Mỹ mà đánh". Vì vậy, ở miền Nam, hình thức chiến thuật mà lực lượng vũ trang ta vận dụng và phát triển rộng rãi là tập kích (chiếm 54,14% trong tổng số trận đánh), vận động tiến công (thường là vận động tiến công kết hợp chốt), phục kích. Giai đoạn thứ ba, giai đoạn đánh thắng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969 - 1975). Trong giai đoạn này, lực lượng vũ trang ta trên chiến trường vận dụng và phát triển các loại hình chiến thuật như tập kích, vận động tiến công địch đang cơ động, tạm dừng hoặc mới chuyển vào phòng ngự nhưng chưa có công sự vững chắc; tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, phòng ngự. Trải qua 15 năm chiến đấu (1961 - 1975), chiến thuật của lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến chống Mỹ có sự phát triển liên tục, mạnh mẽ, với những hình thức và thủ đoạn chiến thuật chủ yếu như: Chiến thuật của chiến tranh du kích là hình thức chiến thuật cơ bản trong hoạt động đấu tranh vũ trang của đông đảo quần chúng cách mạng, bao gồm cả lực lượng vũ trang ở các thôn, ấp, bản, xã, xí nghiệp, thị trấn, thành phố và những đơn vị vũ trang tập trung như của các địa phương và một số đơn vị chủ lực hoạt động phân tán. Cách đánh của các lực lượng này là sử dụng lực lượng nhỏ, cơ động, linh hoạt, bằng mọi loại vũ khí sẵn có, tổ chức đánh tỉa, phục kích, tập kích nhỏ lẻ, phá huỷ phương tiện và trang bị, vũ khí, cơ sở hậu cần của địch, hệ thống đường giao thông, sở chỉ huy, đồn bốt... Chiến thuật tác chiến chính quy (của đánh tập trung) là hình thức sắp xếp, tổ chức tiến hành các trận chiến đấu lực lượng vũ trang tập trung đóng vai trò chủ yếu (trong tác chiến hiệp đồng). Các trận chiến đấu này gồm các hình thức: chiến đấu tiến công, phản công, phòng ngự; trong đó, phản công và tiến công là hình thức tác chiến chủ yếu, cơ bản nhằm tiêu diệt địch, giải phóng dân, giành đất, hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch hoặc chiến lược... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:46:51 am Chiến thuật trong kháng chiến chống Mỹ gồm có các đặc trưng chủ yếu:
- Chiến thuật của ta phát huy ưu thế chính trị - tinh thần của lực lượng vũ trang cách mạng, xem đó là một trong những nhân tố cơ bản để khắc phục mọi thiếu thốn, khó khăn về vũ khí, phương tiện chiến tranh, đảm bảo hậu cần; để xây dựng và củng cố ý chí, quyết tâm chiến đấu, là điều kiện thiết yếu để vận dụng sáng tạo và phát triển các hình thức chiến thuật trong các tình huống mới của cuộc chiến. Chính vì thế, công tác đảng, công tác chính trị trước, trong và sau mỗi trận đánh được lãnh đạo, chỉ huy đặc biệt chú ý nhằm xây dựng ý chí và quyết tâm chiến đấu cao, phát huy mạnh mẽ bản lĩnh chiến đấu, tính năng động, sức sáng tạo, sự linh hoạt của từng người, từng bộ phận để tạo nên sức mạnh to lớn. - Chiến thuật của ta là chiến thuật tiến công kiên quyết, phòng thủ kiên cường, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, vào nơi và lúc do ta lựa chọn. Các trận chiến đấu thời kỳ này của ta thường được thực hiện vào ban đêm là lúc địch khó quan sát, ta dễ che giấu lực lượng, có điều kiện áp sát mục tiêu để tạo thế bất ngờ. Ngoài ra, khi quân Mỹ vào tham chiến, cách đánh của ta là đánh gần, đánh quần lộn, "bám thắt lưng Mỹ mà đánh", không cho địch phân tuyến và chính cách đánh này của ta đã hạn chế ưu thế về vũ khí, hoả lực, phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại vốn là ưu thế của địch. Lối đánh tiến công kiên quyết và chủ động, phòng thủ kiên cường của bộ đội ta đã làm cho chiến thuật của địch bị "tréo giò", bị động, chắp vá, kém hiệu quả bởi quân Mỹ, quân đồng minh và quân Sài Gòn được huấn luyện để tiến hành chiến tranh mà chúng gọi là "chiến tranh quy ước" - kiểu chiến tranh phân vùng, phân tuyến rõ rệt; lực lượng quân sự hai bên dàn thành trận tuyến... - Chiến thuật của ta phát huy mạnh mẽ tính mưu trí, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, chú trọng công tác nắm địch, khéo tạo và tận dụng thời cơ, đánh bất ngờ, kiên quyết, táo bạo và dũng mãnh, nhằm vào chỗ sơ hở, hiểm yếu của địch. Tất thảy điều đó đảm bảo để trong mỗi trận chiến đấu, chúng ta đánh địch trên thế mạnh, thế bất ngờ, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy ý chí, trí tuệ con người để thắng vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. - Chiến thuật của ta là chiến thuật hiệp đồng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ), hiệp đồng các binh chủng, quân chủng; là chiến thuật kết hợp tính linh hoạt, táo bạo, bí mật, bất ngờ của cách đánh du kích với tính tể chức, kỷ luật "bài bản" và kiên quyết của cách đánh tập trung, chính quy. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cùng với nhịp độ phát triển của cuộc chiến tranh và gắn với các bước trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng, sự kết hợp, hiệp đồng trên đây diễn ra ngày càng nhịp nhàng, ngày càng hiệu quả trên cơ sở mỗi chiến sĩ, mỗi bộ phận, mỗi đơn vị phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của bản thân để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được phân công. Tóm lại, thời kỳ này, chiến thuật của chiến tranh cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ, sinh động. Đó là sự kết hợp nhiều phương pháp và hình thức đánh địch, sử dụng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí, trang bị hiện có, tận dụng mọi điều kiện thời tiết và địa hình, đánh địch trong mọi tình huống, ở mọi nơi, vào mọi lúc... Lối đánh đó dựa vào tính năng động chủ quan, trí thông minh, sự sáng tạo và lòng dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; dựa trên thế trận chiến tranh nhân dận phát triển ở cả ba vùng chiến lược và dựa vào sự che chở, đùm bọc, giúp đỡ, tham gia hiệu quả của nhân dân các địa phương. Trên những nét phát triển mới, nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có một số đặc điểm chủ yếu sau đây: Đó là nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt, trong cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao ở cả ba vùng chiến lược, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; Đó là nghệ thuật quân sự lấy nhỏ thắng lớn, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy trang bị, vũ khí ít hơn và kém hiện đại hơn đánh thắng quân địch có trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại; Đó là nghệ thuật kết hợp lực, thế, thời, hình thành thế mạnh, đánh địch bất ngờ; Đó là nghệ thuật phát huy ưu thế về chính trị - tinh thần, kết hợp quyết tâm, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn; Đó là nghệ thuật tác chiến cả chiến lược, chiến dịch, chiến đấu; đánh theo cách đánh do ta lựa chọn, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta... Hình thành và phát triển trong cuộc chiến tranh cách mạng, nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một nhân tố góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, nền văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Với tất cả sự phát triển trên các lĩnh vực chiến lược, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật, nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận khoa học quân sự cách mạng Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:49:29 am Phần hai MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ CHIẾN TRANH VÀ QUÂN ĐỘI Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội là hệ thống quan điểm lý luận khoa học về chiến tranh và quân đội, có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức và hoat động quân sự, đặc biệt là trong thời đại ngày nay. Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội nghiên cứu chiến tranh và quân đội như một hiện tượng chính trị - xã hội, một loại hình đặc thù của hoạt động xã hội, làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất, các quy luật cơ bản, trước hết về mặt chính trị - xã hội chi phối sự vận động, phát triển của các hiện tượng đó. Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội trang bị cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học cho việc nghiên cứu các cuộc chiến tranh và các loại hình quân đội nói chung cùng như sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. I- HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ CHIẾN TRANH 1. Nguồn gốc, bản chất, tính chất xã hội của chiến tranh a) Khái niệm chiến tranh, nguồn gốc chiến tranh Nhiều nhà tư tưởng trước Mác đã quan tâm nghiên cứu về chiến tranh, song do nhiều nguyên nhân, họ chưa giải đáp được một cách thật sự khoa học nguồn gốc và bản chất của chiến tranh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, bằng cách nhìn khoa học và biện chứng trên lập trường chính trị của giai cấp vô sản, đã khẳng định: Chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội có tính lịch sử, là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp, các nhà nước, các lực lượng xã hội đối kháng nhằm đạt mục đích chính trị nhất định. Nói một cách khác, chiến tranh là kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. Như vậy, chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hộí. Chiến tranh là một phạm trù lịch sử. Nó gắn liền với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp. Chiến tranh bao giờ cũng nhằm đạt tới mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước, lực lượng xã hội nhất định. Hình thức chủ yếu nhất của chiến tranh là đấu tranh vũ trang; công cụ chủ yếu, quan trọng nhất để tiến hành chiến tranh là lực lượng vũ trang. Chiến tranh chi phối mọi mặt hoạt động của xã hội, của nhà nước và nhân dân. Do vậy, chiến tranh, nhất là trong thời đại ngày nay, là cuộc đọ sức toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, ngoại giao, tâm lý, tư tưởng... giữa các bên tham chiến. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay, không phải xã hội nào cũng xảy ra chiến tranh. Ở xã hội công xã nguyên thủy, trình độ sản xuất còn thấp kém, tư liệu sản xuất là của chung toàn xã hội. Trong thời kỳ này, giữa các bộ lạc, bộ tộc có sự xung đột với nhau nhưng không phải vì mục đích chính trị nên không thể gọi đó là chiến tranh. Khi xã hội chuyển sang chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự phân hoá giai cấp xuất hiện, đồng thời nhà nước và quân đội cũng xuất hiện. Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô đã tổ chức ra quân đội làm công cụ bạo lực để bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình, đàn áp những cuộc đấu tranh của nô lệ hoặc đi xâm lược. Chiến tranh xuất hiện và nó đã trở thành phương tiện, công cụ quan trọng nhất để nô dịch các dân tộc khác và để củng cố địa vị thống trị, bóc lột ở trong nước. Khi xã hội loài người phát triển lên các hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa thì chiến tranh diễn ra liên miên. Nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, dã man do chủ nghĩa đế quốc gây ra đối với các dân tộc để lại những hậu quả rất nặng nề về sinh mạng con người cũng như của cải vật chất của xã hội. Tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, chiến tranh có nguồn gốc kinh tế và nguồn gốc xã hội. Chiến tranh xuất hiện và tồn tại gắn liền với sự ra đời, tồn tại của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai cấp. Sự xuất hiện, tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng làm nảy sinh chiến tranh. Đồng thời, sự ra đời, tồn tại của các giai cấp (lực lượng xã hội) đối kháng là nguồn gốc xã hội trực tiếp dẫn đến chiến tranh. Chiến tranh, do vậy, trở thành "kẻ đồng hành" của chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp trong xã hội. Đến giai đoạn phát triển nhất định của xã hội, khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp không còn nữa thì chiến tranh cũng không còn cơ sở nảy sinh và tồn tại. Bàn về nguồn gốc của chiến tranh, V.I.Lênin khẳng định: "Chừng nào xã hội còn phân chia thành giai cấp, chừng nào còn có người bóc lột người thì chiến tranh là không thể tránh khỏi"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 10, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1979, tr.379). Và "Không thể xoá bỏ được chiến tranh, nếu không xoá bỏ các giai cấp và không thiết lập chủ nghĩa xã hội"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 10, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1979, tr.379). Như vậy, để loại bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội phải xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và giai cấp đối kháng. Nguồn gốc của chiến tranh không đồng nhất với nguyên nhân chiến tranh. Nguyên nhân của chiến tranh bao giờ cũng gắn với các cuộc chiến tranh cụ thể, gắn với thời gian, không gian cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh. Nguyên nhân của chiến tranh có các cấp độ khác nhau: nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân đặc thù, nguyên nhân đơn nhất. Nguyên nhân cơ bản phản ánh sự tương tác sâu sắc giữa phương thức sản xuất bóc lột và sự vận động chính trị - xã hội do chính phương thức sản xuất ấy sinh ra dưới hình thức bạo lực vũ trang của giai cấp (nhà nước) này đối với giai cấp (nhà nước) khác. Những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt, xung đột chính trị - xã hội xảy ra. Điều này tất yếu dẫn tới việc sử dụng chiến tranh để giải quyết các mâu thuẫn giữa các giai cấp và các nhà nước. Như vậy, nguyên nhân cơ bản giữ vai trò quyết định làm nảy sinh chiến tranh. Nguyên nhân đặc thù của chiến tranh là sự vận động của nguyên nhân cơ bản trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định như trạng thái xã hội ổn định hay khủng hoảng, cán cân so sánh giữa các lực lượng hoà bình và lực lượng hiếu chiến... Nó phản ánh mối quan hệ giữa phương thức sản xuất có mâu thuẫn đối kháng với những điều kiện lịch sử cụ thể. Nguyên nhân đơn nhất là sự tác động của nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân đặc thù với các nhân tố cá biệt như hoạt động của các cá nhân, các nhà lãnh đạo chính trị, các tập đoàn xã hội trong các tình huống đặc biệt như: sai lầm về đường lối chính trị, tập đoàn cầm quyền phản động, hiếu chiến của giai cấp thống trị muốn dùng chiến tranh để giải quyết mâu thuẫn hoặc đi xâm lược nước khác... Các loại nguyên nhân làm nảy sinh chiến tranh luôn tác động biện chứng, thống nhất với nhau. Mối quan hệ và sự biểu hiện của chúng trong mỗi cuộc chiến tranh không giống nhau, trong đó nguyên nhân cơ bản giữ vai trò quyết định, chi phối các nguyên nhân khác. Nguyên nhân chiến tranh cũng không đồng nhất với nguyên cớ. Nguyên cớ chỉ là hiện tượng bên ngoài, ngẫu nhiên, tạo cớ để gây chiến tranh. Ví như sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ngày 5-8-1964 Mỹ vu cáo Việt Nam tấn công tàu hải quân của họ rồi vin vào cớ đó tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:50:30 am b) Bản chất của chiến tranh, mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị
Bản chất chiến tranh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của học thuyết Mác- Lênin về chiến tranh. Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng hoàn bị và triệt để, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra quan niệm khoa học về bản chất của chiến tranh: "Chiến tranh chỉ là một sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ thể là bằng bạo lực)"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1995, tr.163). Chính trị mà chiến tranh kế tục là một chính thể thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội bao gồm quan hệ chính trị, tổ chức chính trị, hệ tư tưởng chính trị... phản ánh lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp, nhà nước nhất định. "Chính trị là sự phản ánh tập trung của kinh tế"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1976, tr.349). "Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc"3 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 49, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1978, tr.500). Đường lối chính trị của một giai cấp, nhà nước thể hiện tập trung, đầy đủ nhất lợi ích cơ bản của giai cấp, nhà nước ấy; là sự thống nhất giữa đường lối đối nội và đường lối đối ngoại; trong đó đường lối đối nội giữ vai trò quyết định. Vì vậy, chính trị mà chiến tranh kế tục, trước hết là đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước nhất định. Chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét bản chất chiến tranh trên hai phương diện cơ bản: đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước nhất định và sự tiếp tục chính trị ấy bằng bạo lực vủ trang. Đường lối chính trị là yếu tố cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định đối với chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, là mục đích của bạo lực vũ trang. Bạo lực vũ trang là công cụ, phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích chính trị, là yếu tố đặc trưng không thể không có trong chiến tranh. Mọi mục tiêu, nhiệm vụ chính trị trong chiến tranh chủ yếu được thực hiện thông qua đấu tranh vũ trang. Ngược lại, mọi tiến trình, kết quả của đấu tranh vũ trang tác động sâu sắc đến đường lối chính trị, thậm chí có khi làm thay đổi cả đường lối chính trị. Như vậy, mối quan hệ giữa đường lối chính trị và bạo lực vũ trang là mối quan hệ cơ bản - quan hệ bản chất, quyết định sự nảy sinh, tồn tại, phát triển của chiến tranh. Mối quan hệ chiến tranh và chính trị là mối quan hệ xuyên suốt cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, cũng như mọi sự vật hiện tượng khác, mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị cũng mang tính lịch sử cụ thể. Nó luôn vận động và phát triển. Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, trong đó các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và phát triển. Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, tình hình chính trị thế giới có những biến đổi lớn. Phong trào cách mạng thế giới và chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa đế quốc tăng cường phản kích vào lực lượng cách mạng. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại có tác động lớn đến đời sống chính trị thế giới và đến chiến tranh. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã làm xuất hiện chiến tranh sử dụng vũ khí kỹ thuật công nghệ cao. Song bản chất chiến tranh vẫn là sự kế tục chính trị của nhà nước, giai cấp nhất định. "Chiến tranh chẳng qua là chính trị từ đầu tới cuối"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1981, tr.356). Dù vũ khí kỹ thuật trong chiến tranh được sử dụng là vũ khí kỹ thuật công nghệ cao, do đó phương thức tiến hành chiến tranh có những bước phát triển mới, làm cho tính chất gay go quyết liệt và cái giá phải trả cho chiến tranh ngày càng lớn, thì chiến tranh rốt cuộc vẫn là phương tiện để thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước nhất định. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của chiến tranh, mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị là cơ sở lý luận, phương pháp luận giúp chúng ta nghiên cứu, phân tích một cách khoa học bản chất các cuộc chiến tranh từ nội dung chính trị - giai cấp, từ đường lối, mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước tiến hành chiến tranh, từ đó có thái độ đúng đắn trong đấu tranh giữ vững hoà bình, bảo vệ vững chắc Tổ qưôc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:51:25 am c) Tính chất xã hội của chiến tranh
Tính chất xã hội của chiến tranh là phạm trù chỉ sự đánh giá về vai trò của chiến tranh đối với tiến bộ xã hội dựa trên hệ thống tiêu chuẩn chính trị - xã hội đặc trưng để phân biệt chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, tiến bộ hay phản động. Theo V.I.Lênin: "Đối với người mác xít thì làm sáng tỏ tính chất của chiến tranh là tiền đề cần thiết để giải quyết vấn đề thái độ của mình đối với chiến tranh"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr.30). Căn cứ vào chính trị mà chiến tranh đang tiếp tục, vào giai cấp tiến hành và mục đích chính trị của cuộc chiến tranh đó, V.I. Lênin đã chỉ ra: "Có nhiều loại chiến tranh, có chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phản động, có chiến tranh của những giai cấp tiên tiến và chiến tranh của những giai cấp lạc hậu, có chiến tranh nhằm củng cố ách áp bức giai cấp và chiến tranh nhằm lật đổ ách áp bức ấy"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1981, tr.403-404). Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh do giai cấp có vai trò lich sử tiến bộ, cách mạng tiến hành nhằm thực hiện mục tiêu đường lối chính trị tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, với xu hướng chung của thời đại, với nguyện vong và quyền lợi của đông đảo nhân dân lao động. Chiến tranh phi nghĩa là cuộc chiến tranh do giai cấp lạc hậu, phản động tiến hành, nhằm theo đuổi mục đích chính trị phản động, trái quy luật phát triển của lịch sử xã hội, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh: những cuộc chiến tranh như chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống xâm lược, chiến tranh cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động các nước có đối kháng giai cấp và bóc lột; chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia của các nước chống đế quốc... là những cuộc chiến tranh chính nghĩa. Những cuộc chiến tranh của các nước đế quốc chống các nước xã hội chủ nghĩa, chiến tranh của giai cấp bóc lột chống giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước có đối kháng giai cấp và bóc lột; chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc xâm lược các nước là những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Để đánh giá tính chất xã hội của chiến tranh là chính nghĩa hay phi nghĩa phải dựa vào hệ thống tiêu chuẩn chính trị - xã hội. Tiêu chuẩn quan trọng nhất, cơ bản nhất là tiêu chuẩn chính trị - giai cấp, tức là phải căn cứ vào đường lối, mục đích chính trị của cuộc chiến tranh và giai cấp tiến hành cuộc chiến tranh đó có phù hợp với yêu cầu phát triển, tiến bộ của xã hội hay không. Cùng với tiêu chuẩn chính trị - giai cấp còn phải xem xét đến các tiêu chuẩn khác như: - Tiêu chuẩn đạo đức: Cuộc chiến tranh đó có phù hợp với chuẩn mực đạo đức, với lương tri của nhân loại không? Giải phóng con người hay chống lại con người? - Tiêu chuẩn luật pháp: Cuộc chiến tranh đó có phù hợp với các công ước và luật pháp quốc tế để bảo vệ quyền bình đẳng giữa các quốc gia, các dân tộc, bảo vệ quyền con người hay ngược lại. Ngoài ra, đánh giá tính chất xã hội của một cuộc chiến tranh còn có thể theo tiêu chuẩn thẩm mỹ... Phạm trù ”tính chất xã hội của chiến tranh” biểu hiện phương hướng giai cấp - xã hội của chiến tranh, sự phù hợp hay không phù hợp của mục tiêu chính trị chủ yếu của các bên tham chiến với tiến bộ xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin "đòi hỏi phải phân tích theo quan điểm lịch sử đối với từng cuộc chiến tranh ấy có thể được coi là một cuộc chiến tranh tiến bộ không, có phục vụ lợi ích của chế độ dân chủ hay lợi ích của giai cấp vô sản không, và theo ý nghĩa đó có thể được coi là cuộc chiến tranh chính đáng, chính nghĩa... không"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1981, tr.105-106). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:52:26 am d) Các loại hình chiến tranh
Loại hình chiến tranh là một phạm trù dùng để chỉ các cuộc chiến tranh có đặc điểm chính trị - xã hội giống nhau, do những quan hệ kinh tế, chính trị và mâu thuẫn giữa các nhà nước, các dân tộc, các giai cấp trong một thời đại lịch sử quy định. Căn cứ chủ yếu để phân chia các loại hình chiến tranh là các mâu thuẫn cơ bản giữa các giai cấp, các dân tộc, các nhà nước trong một thời đại lịch sử. Trong thời đại chiếm hữu nô lệ có các loại hình chiến tranh cơ bản là: + Nội chiến giữa nô lệ và chủ nô; + Chiến tranh giữa các nhà nước chiếm hữu nô lệ và cậc bộ lạc. Loại hình chiến tranh cơ bản trong thời đại phong kiến: + Nội chiến giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến; + Chiến tranh xâm lược của các nhà nước phong kiến đối với các quốc gia dân tộc khác. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) có các loại hình chiến tranh: + Nội chiến giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tư sản; + Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc với các dân tộc; + Chiến tranh giữa đế quốc với đế quốc. Thời đại hiện nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, trong đó bốn mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tư sản; mâu thuẫn giữa chủ nghĩa thực dân, đế quốc với các dân tộc độc lập; mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với nhau. Đó là những khả năng khách quan dẫn tới sự xuất hiện bốn loại hình chiến tranh cơ bản. Chiến tranh giữa các nước tư bản chủ nghĩa với các nước xã hội chủ nghĩa: Đây là loại hình chiến tranh tiêu biểu nhất, quyết liệt nhất trong thời đại ngày nay nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản bằng bạo lực vũ trang. Trong lịch sử loại hình này đã từng diễn ra hai hình thức: chiến tranh giữa một nước xã hội chủ nghĩa với một nước tư bản chủ nghĩa; hoặc chiến tranh giữa một nước xã hội chủ nghĩa với nhiều nước tư bản chủ nghĩa. Trong loại hình chiến tranh trên lại bao hàm hai kiểu chiến tranh hoàn toàn đối lập nhau, về phía các nước xã hội chủ nghĩa, đó là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mang tính tự vệ, tính chính nghĩa sâu sắc, tính cách mạng triệt để nhất trong lịch sử, đồng thời có tính nhân dân, tính toàn diện, tính hiện đại và tính quốc tế. Về phía các nhà nước tư bản chủ nghĩa, đó là cuộc chiến tranh phản cách mạng nhằm mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ các nhà tư bản độc quyền, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân lao động, trái với xu thế của thời đại và quy luật phát triển của lịch sử nên mang tính chất phi nghĩa, phản động. Nội chiến là cuộc chiến tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại giai cấp tư sản và các lực lượng phản động trong các nước tư bản. Lênin chỉ rõ ”... nội chiến, nghĩa là những cuộc chiến tranh do giai cấp bị áp bức tiến hành chống giai cấp áp bức mình, do những người nô lệ tiến hành chống bọn chủ nô, do những người nông nô chống bọn địa chủ, do những người làm công tiến hành chống giai cấp tư sản"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr.390). Và "Không thể mở rộng quá khái niệm nội chiến vì như thế sẽ làm lu mờ bản chất của cuộc chiến tranh giữa những người lao động làm thuê chống giai cấp tư sản"2 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 49, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr.159-160). Nội chiến có hai hình thức cơ bản: cuộc chiến tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản và cuộc chiến tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với lực lượng phản động có sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng quốc tế. Nội chiến có thể xảy ra trước hoặc sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền và về phía giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đây là cuộc chiến tranh hoàn toàn chính đáng, chính nghĩa. Chiến tranh giữa bọn thực dân, đế quốc với các dân tộc tiến hành đấu tranh giành và giữ quyền độc lập dân tộc. Loại hình chiến tranh này thường tồn tại dưới hai hình thức chủ yếu. Một là cuộc chiến tranh của các dân tộc chống lại sự thống trị áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc. Hai là chiến tranh của các dân tộc đã giành được độc lập chống lại âm mưu phục hồi chủ nghĩa thực dân của bọn tư bản đế quốc. Xét dưới góc độ chính trị - xã hội, loại hình chiến tranh trên cũng bao gồm hai kiểu chiến tranh, về phía chủ nghĩa tư bản, đế quốc, đó là cuộc chiến tranh hoàn toàn phi nghĩa, đi ngược lại quy luật của lịch sử và xu thế của thời đại. Ngược lại, về phía các dân tộc tiến hành đấu tranh giành và giữ quyền độc lập dân tộc thì đó là cuộc chiến tranh hoàn toàn chính nghĩa, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng, thúc đẩy tiến bộ xã hội, mang tính cách mạng sâu sắc. Chiến tranh giữa các nước tư bản với nhau: Trong thời đại hiện nay, loại hình chiến tranh này đã xuất hiện dưới hai hình thức: chiến tranh giữa các nhóm tư bản với nhau để phân chia lại thuộc địa hoặc chiến tranh của một đế quốc lớn xâm lược một nước tư bản yếu hơn. Xét về bản chất và xu hướng phát triển, về nội dung chính trị - xã hội, đây là loại hình chiến tranh đặc biệt mà ở đó cẫ hai bên tham chiến đều phi nghĩa, phản tiến bộ xã hội, đe dọa nền hoà bình và sự tồn vong của nhân loại. Các loại hình chiến tranh trong thời đại ngày nay rất đa dạng. Vì vậy, nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh đòi hỏi phải nhận dạng chính xác loại hình chiến tranh để từ đó đề ra chiến lược, sách lược phù hợp nhằm giành thắng lợi. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:55:46 am 2. Những quy luật phổ biến của chiến tranh
a) Khái niệm quy luật chiến tranh và đặc điểm của nó Chiến tranh, cũng như các hiện tượng khác của xã hội vận động theo những quy luật nhất định. Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định quy luật của chiến tranh tồn tại một cách khách quan vốn có. Quy luật của chiến tranh là những mối liên hệ và quan hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại bền vững giữa các mặt, các yếu tố, quy định sự phát sinh, phát triển và kết thúc của chiến tranh. Quy luật của chiến tranh mang đầy đủ những đặc trưng chung của các quy luật xã hội (như: sự vận động và phát huy tác dụng phải thông qua hoạt động có ý thức của con người; tính xu hướng; hoạt động gắn với những điều kiện lich sử cụ thể, trong không gian và thời gian cụ thể...). Khi những điều kiện cụ thể thay đổi thì một số quy luật không phát huy tác dụng nữa mà nhường chỗ cho những quy luật mới. Đồng thời, những quy luật của chiến tranh lại có những đặc điểm riêng. Nó phản ánh bản chất của quá trình tiếp tục chính trị từ đầu đến cuối của chiến tranh; phản ánh quá trình nảy sinh chiến tranh, tức là sự chuyển biến xã hội từ trạng thái hoà bình sang trạng thái không hoà bình (chiến tranh); phản ánh đặc thù của đấu tranh vũ trang với tính cách là công cụ chủ yếu của chiến tranh. Các quy luật nảy sinh chiến tranh phản ánh sự chuyển bịến xã hội từ trạng thái hoà bình sang trạng thái không hoà bình. Chúng biểu hiện trực tiếp bản chất của các hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp và biểu hiện các quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng của xã hội bóc lột sinh ra chiến tranh. Các quy luật phát sinh chiến tranh hoạt động và phát huy tác dụng phụ thuộc vào các yếu tố như: cơ chế tác động của các nguyên nhân, các nhân tố, điều kiện cụ thể, tính chất và mục đích của các lực lượng xã hội, sự chín muồi của các mâu thuẫn, so sánh lực lượng chính trị - xã hội và các yếu tố ngẫu nhiên có thể trở thành nguyên cớ bùng nổ chiến tranh. Các quy luật quyết định tiến trình và kết thúc chiến tranh xuất hiện và phát huy tác dụng khi chiến tranh đã nổ ra. Lúc này, các quy luật nảy sinh chiến tranh không còn phát huy tác dụng, thậm chí không còn tồn tại. b) Các quy luật cơ bản chi phối tiến trình và kết cục chiến tranh - Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào đường lối, mục tiêu chính trị. Đây là quy luật cơ bản, quan trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình phát triển và kết cục của chiến tranh. Chiến tranh là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, chiến tranh do chính trị quyết định. Đường lối chính trị, mục tiêu chính trị có vai trò quyết định, chi phối đến mức độ sử dụng bạo lực quân sự, tính chất và mối quan hệ liên minh, đồng minh, việc bảo đảm về kinh tế, sự phối hợp đấu tranh về chính trị, ngoại giao, tư tưởng... và việc giải quyết các nhiệm vụ khác nhằm thực hiện mục tiêu của chiến tranh... Do vậy, sự phụ thuộc vào đường lối, mục tiêu chính trị của quá trình tiến hành và kết cục chiến tranh là quy luật khách quan. - Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào so sánh tương quan lực lượng quân sự giữa các bên tham chiến. Lực lượng quân sự là tổng hợp các yếu tố: quân số, trang bị, vũ khí kỹ thuật, chất lượng huấn luyện, trình độ chỉ huy, chất lượng vũ khí, quy mô, hình thức tác chiến, điều kiện vật chất bảo đảm, nghệ thuật quân sự, hậu phương, khả năng động viên quân sự của một quốc gia, v.v... thể hiện tập trung ở sức mạnh chiến đấu của quân đội trong chiến tranh. Nó tuỳ thuộc vào khả năng kinh tế - xã hội, chính trị - tinh thần, khoa học, kỹ thuật và khả năng quân sự của mỗi nước. Chiến tranh là cuộc đấu tranh "một mất một còn" giữa hai bên tham chiến mà ở đó mạnh thắng yếu thua. Điều đó có nghĩa là tương quan so sánh lực lượng quân sự giữ vai trò chủ yếu, trực tiếp quyết định tiến trình và kết cục chiến tranh. Vì vậy, nghệ thuật chỉ đạo và tiến hành chiến tranh đòi hỏi phải tạo ra so sánh lực lượng và sức mạnh quân sự mạnh hơn đối phương, biết hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu, tìm ra cách đánh có hiệu quả nhất nhằm giành thắng lợi. - Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham chiến. Quy luật này phản ánh vai trò của nhân tố kinh tế đối với chiến tranh, mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế. Nhân tố kinh tế là điều kiện cơ bản, chủ yếu, là yếu tố xét đến cùng quyết định trình độ phát triển quân sự, việc tổ chức lực lượng vũ trang và phương thức tác chiến của các bên tham chiến. Sự phát triển kinh tế bảo đảm nhu cầu vật chất trong xã hội cho quân đội và toàn bộ cuộc chiến tranh; tạo ra khả năng sản xuất, cung cấp các trang bị, vũ khí, kỹ thuật quân sự. Nhân tố kinh tế còn tác động đến cả quy mô, tính chất và phương thức tiến hành chiến tranh, khả năng và trình độ của con người, đặc biệt trong chiến tranh hiện đại. Ph.Ăng-ghen viết "Toàn bộ việc tổ chức và phương pháp tác chiến của quân đội, và do đó, thắng lợi và thất bại đều rõ ràng là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào nhân lực và vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân sự, của cả kỹ thuật nữa"1 (Ph.Ăng-ghen - Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.285). Như vậy, tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham chiến là một quy luật phổ biến. - Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực khoa học - công nghệ của các bên tham chiến. Tiềm lực khoa học - công nghệ là một trạng thái nhất định, là trình độ hay lực lượng, phương tiện, khả năng khoa học - công nghệ đã có hoặc có thể động viên sử dụng trong chiến tranh. Tiềm lực khoa học - công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến sức mạnh quân sự và chiến tranh của mỗi nước, đến sức mạnh của lực lượng vũ trang của các bên tham chiến. Thước đo để đánh giá tiềm lực khoa học của mỗi bên là trình độ phát triển, những thành tựu khoa học - công nghệ; quy mô, mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ vào quân sự... Các thành tựu khoa học - công nghệ là đặc trưng của tiềm lực khoa học - công nghệ của một quốc gia. Những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ luôn được ứng dụng nhanh nhất vào lĩnh vực quân sự. Ngày nay những vũ khí công nghệ cao, kể cả vũ khí hạt nhân, các trang thiết bị quân sự, các phương tiện chiến tranh ngày càng hiện đại đã và đang có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tiến trình và kết cục chiến tranh. - Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, tiềm lực chính trị - tinh thần, văn hoá của các bên tham chiến. Sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của nhân dân và quân đội của một quốc gia, một liên minh trong chiến tranh gắn chặt với chế độ kinh tế - xã hội nhất định, tiềm lực chính trị - tinh thần, văn hoá tức là những phẩm chất chính trị, trạng thái tinh thần, tâm lý, tư tưởng của nhân dân và quân đội. Nó phụ thuộc vào tính chất của các quan hệ kinh tế, của chế độ chính trị - xã hội và nhà nước. Do vậy chế độ xã hội ưu việt, tốt đẹp, lợi ích căn bản của toàn xã hội thống nhất sẽ tạo khả năng tối đa huy động mọi lực lượng vật chất, tinh thần văn hoá, sức người, sức của cho chiến tranh và để chiến thắng. Ph.Ăng-ghen khẳng định: Con người chứ không phải súng hoả thạch sẽ thắng trong trận đánh. V.I.Lênin cũng viết: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1977, tr.147). Trên đây là các quy luật cơ bản chi phối tiến trình và kết cục chiến tranh. Những quy luật này luôn vận động và tác động biện chứng với nhau. Nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành chiến tranh đòi hỏi phải nhận thức và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật nhằm giành thắng lợi trong chiến tranh (nếu xảy ra), bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Năm, 2021, 06:56:29 am 3. Về chiến tranh trong thời đại ngày nay
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.76). Ngày nay, tình hình thế giới đã có nhiều đổi thay. Đặc biệt, từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển như vũ bão tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực xã hội, làm cho lực lượng sản xuất tăng vọt, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, tạo ra xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế và đời sống. Nhân loại đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới trong quá trình phát triển. Xu hướng hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng mạnh mẽ, ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu của các quốc gia trên thế giới, đồng thời cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau đang vừa hợp tác, vừa đấu tranh quyết liệt. Trong bối cảnh mới của thế giới, Đảng ta nhận định: "Nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra..."2 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.76). Ngày nay, trong khi chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp vẫn chưa bị xoá bỏ tận gốc, do đó, nguy cơ chiến tranh vẫn còn tồn tại. Bản chất của chiến tranh vẫn là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vũ trang. Chiến tranh hiện đại (nếu xảy ra), dự báo có một số đặc điểm chủ yếu sau: Một là, chiến tranh hiện đại là công cụ, phương tiện thực hiện đường lối, mục tiêu chính trị của giai cấp, nhà nước tiến hành chiến tranh; Hai là, chiến tranh hiện đại sử dụng vũ khí, kỹ thuật, phương tiện công nghệ cao; Ba là, chiến tranh hiện đại diễn ra trong không gian, thời gian, quy mô rộng lớn, rất linh hoạt; Bốn là, chiến tranh hiện đại đòi hỏi rất cao về mọi mặt, tính chất hết sức quyết liệt; Năm là, nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành chiến tranh phát triển cao và độc đáo; Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (nếu xảy ra trong tương lai) sẽ là chiến tranh nhân dân hiện đại phát triển đến đỉnh cao với sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng và khoa học, nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:55:17 am II- HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ QUÂN ĐỘI
Học thuyết Mác - Lênin về quân đội là một nội dung lý luận hết sức quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, có giá trị to lớn đối với nhận thức và thực tiễn hiện nay. 1. Nguồn gốc, bản chất giai cấp, chức năng của quân đội a) Quân đội và nguồn gốc của quân đội Ph.Ăng-ghen chỉ rõ: "Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức do Nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hay phòng ngự"1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 2, Nxb QĐND, Hà Nội, 1976, tr.9). Quân đội, về thực chất, là tổ chức vũ trang chuyên nghiệp do nhà nước (hoặc tổ chức, tập đoàn, phong trào chính trị đại diện cho giai cấp nhất định làm chức năng như nhà nước) lập ra để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, giai cấp. Quân đội khác biệt với các tổ chức xã hội khác ở những đặc trưng chủ yếu của nó: Trước hết, quân đội là một hiện tượng chính trị - xã hội, lịch sử, ra đời, tồn tại ở giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người, gắn với các hình thái kinh tế - xã hội có chế độ tư hữu vể tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp và nhà nước với tư cách là công cụ của giai cấp thống trị. Thứ hai, quân đội là một tổ chức vũ trang chuyên nghiệp do nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, xây dựng. Quân đội gắn chặt với nhà nước tổ chức ra nó. Thứ ba, quân đội là một tổ chức xã hội đặc biệt với hệ thống tổ chức hết sức chặt chẽ, cơ cấu, biên chế, trang bị, phương tiện đặc thù phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nó. Thứ tư, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang của một nhà nước, của một giai cấp nhất định, bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó. Các đặc trưng của quân đội là một thể thống nhất. Bất kỳ quân đội nào đều mang đầy đủ những đặc trưng trên. Cùng với quan niệm đúng đắn về quân đội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải và chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc sinh ra quân đội đi từ cơ sở kinh tế của xã hội và khẳng định: quân đội xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp. Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm xuất hiện nhà nước. Và để bảo vệ lợi ích của mình, thống trị, đàn áp quần chúng lao động và các dân tộc khác, nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã thiết lập ra tổ chức vũ trang chuyên nghiệp, tức quân đội làm công cụ bạo lực vũ trang của mình. Sự ra đời, tồn tại của quân đội mang tính tất yếu lịch sử dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội nhất định. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, tổ chức vũ trang chuyên nghiệp - quân đội, không phải sinh ra, tồn tại ở mọi hình thái kinh tế - xã hội. Quân đội chỉ xuất hiện và tồn tại khi trong xã hội có chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp xuất hiện và tồn tại. Như vậy, chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp là nguồn gốc ra đời của quân đội và chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, còn giai cấp bóc lột thì quân đội còn tồn tại. Sự ra đời, tồn tại của quân đội gắn liền với giai cấp và nhà nước. Quân đội chỉ mất đi khi chế độ tư hữu, đối kháng giai cấp và nhà nước không còn. b) Bản chất giai cấp của quân đội Là một hiện tượng chính trị - xã hội, quân đội mang bản chất giai cấp sâu sắc. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp, nhà nước đó. Vì vậy, quân đội luôn mang bản chất giai cấp của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có quân đội phi giai cấp. Bản chất giai cấp của quân đội thể hiện tập trung ở mục tiêu chiến đấu, phương hướng tổ chức, xây dựng quân đội, cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nó. Mục tiêu chiến đấu của quân đội bao giờ cũng vì lợi ích của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó. Quân đội được xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị, quân sự, hệ tư tưởng của giai cấp. Giai cấp và nhà nước quyết định phương hướng, nguyên tắc tổ chức, xây dựng quân đội, chế độ lãnh đạo, chỉ huy, chế độ tuyển dụng và sử dụng sĩ quan, binh sĩ. Đồng thời, giai cấp, nhà nước cũng chỉ đạo, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của quân đội. Quân đội mang bản chất giai cấp sâu sắc, luôn gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó. Song quân đội cũng có tính độc lập tương đối trong quá trình phát triển. Là một tổ chức quân sự chuyên nghiệp, quân đội có những quy luật phát triển với tính đặc thù của nó. Quân đội có vai trò chính trị - xã hội to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích giai cấp, bảo vệ đảng cầm quyền và nhà nước. Bản chất giai cấp của quân đội có tính ổn định, bền vững nhưng không phải "nhất thành bất biến". Bản chất đó có thể vận động, biến đổi theo hướng ngày càng được tăng cường hoặc phai nhạt, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện. Do đó, các giai cấp, nhà nước luôn chú trọng củng cố, tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội của mình. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:56:05 am c) Chức năng của quân đội
Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là công cụ bạo lực của một giai cấp và nhà nước nên quân đội có chức năng: dùng bạo lực vũ trang, kể cả việc tiến hành chiến tranh để bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Quân đội của bất kỳ nhà nước nào đều có hai chức năng: đối nội và đối ngoại. Song do mục đích, nhiệm vụ chính trị, lợi ích của các giai cấp và nhà nước khác nhau nên biểu hiện và việc thực hiện hai chức năng này của quân đội ở mỗi nhà nước cũng khác nhau. Quân đội của nhà nước thống trị, bóc lột luôn trung thành và phục vụ cho lợi ích của giai cấp bóc lột. Về đối nội, nó là công cụ để đàn áp mọi phong trào của quần chúng lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ, đấu tranh chống lại giai cấp thống trị, bóc lột. Trái lại, quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa là công cụ vũ trang, kể cả việc tiến hành chiến tranh, để đập tan mọi sự phản kháng chống lại Nhà nước vô sản và mọi âm mưu, hành động phá hoại, xâm lược của các thế lực thù địch để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chức năng, nhiệm vụ của từng quân đội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, truyền thống của quân đội. Về chức năng đối ngoại: quân đội của các nhà nước bóc lột là công cụ xâm lược và cướp bóc các dân tộc khác, chống lại các dân tộc và phong trào cách mạng trên thế giới. Quân đội của nhà nước xã hội chủ nghĩa, trái lại sẵn sàng ủng hộ và giúp đỡ phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước. Như vậy, chức năng đối nội và đối ngoại của quân đội gắn bó hữu cơ chặt chẽ với nhau và đều nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp. d) Các loại hình quân đội: Loại hình quân đội là phạm trù phản ánh tổng thể các đặc trưng cơ bản xác định quân đội là công cụ của nhà nước, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chính trị trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Cơ sở để xác định các loại hình quân đội chủ yếu dựa vào những đặc trưng chính trị - xã hội vốn có của nó. Xét theo hình thái kinh tế - xã hội, có các loại hình quân đội chủ yếu sau: Quân đội của Nhà nước chiếm hữu nô lệ là loại hình quân đội đầu tiên trong lịch sử loài người, ra đời cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu vể tư liệu sản xuất và giai cấp thống trị, bóc lột đầu tiên trong lịch sử xã hội. Nhà nước chiếm hữu nô lệ tổ chức quân đội dựa vào giới quý tộc và lực lượng thân nhân của Hoàng đế làm hạt nhân, hoặc theo chế độ cảnh sát và tuyển binh sĩ từ những người trong giai cấp bóc lột hoặc công dân tự do. Quân đội của Nhà nước phong kiến có bước phát triển về cơ cấu tổ chức, trang bị vũ khí kỹ thuật, chức năng... so với quân đội của Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Quân đội không những là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp nông dân, tiến hành chiến tranh xâm lược các nước khác, mà còn là công cụ bảo vệ nhà thờ và giáo hội. Quân đội của Nhà nước tư sản là quân đội phát triển ở trình độ cao, có trang bị vũ khí và các phương tiện quân sự hiện đại nhằm tiến hành chiến tranh xâm lược và đàn áp phong trào cách mạng. Ngày nay, Nhà nước tư bản đế quốc không ngừng tập trung xây dựng những đội quân thường trực quân đội nhà nghề khổng lồ nhằm thực hiện những mưu đồ chính trị của chúng. Quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản - Quân đội của nhà nước xã hội chủ nghĩa, ra đời từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga. Đó là quân đội khác hẳn về bản chất so với các quân đội của các nhà nước trước đó. Nó là công cụ bạo lực vũ trang của giai cấp vô sản nhằm đè bẹp mọi sự phản kháng của kẻ thù để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ mới, bảo vệ quyền lợi của giai cấp và quần chúng nhân dân lao động; đồng thời sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù bên ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và làm nhiệm vụ quốc tế vô sản. V.I.Lênin đã viết: "Trong mỗi bước đi đến hoà bình, chúng ta đều phải dốc toàn lực ra để hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu, tuyệt đối không được giải giáp quân đội chúng ta. Quân đội của chúng ta là một bảo đảm thực sự khiến cho các cường quốc đế quốc không dám có chút mưu toan hành động gì, mưu toan xâm phạm gì đối với chúng ta được..."1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1977, tr.288). Ngoài chức năng đối nội và đối ngoại, quân đội xã hội chủ nghĩa còn tham gia vào việc giải quyết các nhiệm vụ văn hoá - giáo dục, kinh tế - xã hội... góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng - quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, luôn: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.35). Quân đội ta là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, là trụ cột vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vì hạnh phúc của nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện các chức năng chủ yếu: đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất. Các chức năng này phản ánh các mặt hoạt động chủ yếu: chiến đấu, công tác, sản xuất, bao hàm cả đối nội và đối ngoại của quân đội ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:57:56 am 2. Các quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của quân đội:
Quân đội là một bộ phận của xã hội nên chịu sự chi phối của các quy luật của sự vận động xã hội nói chung, đồng thời quân đội là một tổ chức quân sự, có tính độc lập tương đối, do đó, có các quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của nó. a) Quy luật về sự phụ thuộc của quân đội vào chế độ chính trị - xã hội và tính giai cấp của nhà nước tổ chức ra nó Bất cứ một quân đội nào cũng tồn tại, phát triển phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, giai cấp và nhà nước nhất định. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Nhà nước, đại diện cho quyền lực chính trị của giai cấp tổ chức ra quân đội làm công cụ bạo lực vũ trang để thực hiện đường lối chính trị, bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước - suy cho cùng là lợi ích kinh tế. Chế độ chính trị - xã hội, tính giai cấp của nhà nước quy định và chi phối bản chất giai cấp, đường lối tổ chức, hệ tư tưởng, mục tiêu chiến đấu và các mặt hoạt động của quân đội. Tuy nhiên, sự phụ thuộc của quân đội vào chế độ chính trị - xã hội, vào giai cấp và nhà nước trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau biểu hiện khác nhau. b) Quy luật sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế của xã hội. Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp các yếu tố vật chất, tinh thần, trạng thái và khả năng hoàn thành các nhiệm vụ. Các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội bao gồm: Quân số, tổ chức, biên chế, cơ cấu quân đội phù hợp; Nhân tố chính trị - tinh thần, kỷ luật của quân đội, trong đó, sự lãnh đạo của chính Đảng, của giai cấp và nhà nước đối với quân đội giữ vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Số lượng, chất lượng, trình độ trang bị, vũ khí, kỹ thuật, hậu cần; Trình độ huấn luyện và thể lực; Trình độ phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự; Trình độ lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy quân đội; Yếu tố truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc; Mối quan hệ quân đội - nhân dân; ... Các yếu tố trên thường xuyên có quan hệ và tác động biện chứng lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong thể thống nhất ấy, mỗi yếu tố đều có vai trò, vị trí nhất định, do đó không thể coi nhẹ một yếu tố nào. Song sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn luôn phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế của xã hội, Ph.Ăng-ghen viết: "Toàn bộ tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó, thắng lợi và thất bại đều tỏ ra phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế..."1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.27). Điều kiện kinh tế cần được hiểu đầy đủ, toàn diện bao gồm cả sức mạnh kinh tế, tiềm lực và trình độ phát triển kinh tế của một nước trên tất cả các mặt, là tổng thể lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, các mối quan hệ kinh tế... Điều kiện kinh tế là nền tảng vật chất của sự phát triển quân đội, có tác động to lớn đến phương thức, hình thức đấu tranh vũ trang, đến sự phát triển vũ khí, trang bị và trình độ huấn luyện bộ đội, cơ cấu tổ chức, sự phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, sản xuất quân sự, việc bảo đảm đời sống vật chất - tinh thần cho quân đội... "Không có gì lại phụ thuộc vào tiền đề kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội"2 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.20). Và: "Thắng lợi của bạo lực là dựa vào việc sản xuất vũ khí và việc sản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất nói chung, do đó... dựa vào "lực lượng kinh tế", vào "tình hình kinh tế" và những phương tiện vật chất mà bạo lực chi phối được"1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.20). Trình độ phát triển của sản xuất và tính chất của các quan hệ kinh tế chi phối quy mô, hiệu quả và khả năng huy động nhanh chóng và đầy đủ nguồn dự trữ cho quân đội, bảo đảm cung cấp vũ khí, đạn dược, xăng dầu, lương thực, v.v... Đặc biệt hiện nay, khoa học công nghệ càng phát triển càng tạo thuận lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu cho quân đội. Điều kiện kinh tế tác động đến sức mạnh chiến đấu của quân đội gắn liền với chính trị của giai cấp và nhà nước. Chính trị định hướng sử dụng khả năng kinh tế, khoa học, kỹ thuật... cho quân đội phù hợp với mục đích chính trị, lợi ích của giai cấp trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy, sự phụ thuộc của sức mạnh chiến đấu của quân đội vào điều kiện kinh tế của xã hội là một quy luật chung, phổ biến của mọi quân đội. c) Quy luật nhân tố chính trị - tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, tiềm lực chính trị - tinh thần là một nhân tố tạo nên sức mạnh quân sự của một quốc gia. Tiềm lực chính trị - tinh thần là tổng thể những nhân tố chính trị, tư tưởng, niềm tin và những phẩm chất chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội. Trong tiềm lực chính trị - tinh thần, hệ tư tưởng chính trị và đường lối chính trị của giai cấp giữ vai trò hạt nhân. Tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội luôn tác động và ảnh hưởng đến trạng thái chính trị - tinh thần, đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trong lĩnh vực quân sự, khi tiềm lực chính trị - tinh thần được phát huy trong hành động sẽ trở thành nhân tố chính trị - tinh thần có sức mạnh to lớn. Điều này được thể hiện trước hết ở khả năng của quân đội và nhân dân chịu đựng những thử thách của chiến tranh, ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, sáng tạo... Quân đội là một bộ phận của xã hội nên các quan điểm chính trị, đạo đức, tư tưởng, tâm lý, văn hoá... của giai cấp, nhà nước, nhân dân đều tác động và ảnh hưởng đến quân đội, có thể làm tăng thêm hoặc giảm sút tinh thần và khả năng chiến đấu, chi phối các hoạt động huấn luyện, giáo dục, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu của quân đội. Hệ tư tưởng chính trị giữ vai trò chủ đạo về chính trị - tinh thần cho quân đội. Nó góp phần hết sức quan trọng trong việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố lập trường giai cấp, xây dựng niềm tin và định hướng chính trị đúng đắn cho quân đội, củng cố sự thống nhất về chính trị - tinh thần của quân đội và xã hội. Như vậy, chính trị - tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội cũng là một quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của mọi loại hình quân đội. Muốn nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tất yếu phải phát huy tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội. Những quy luật cơ bản nêu trên tác động tổng hợp đến sư phát triển của quân đội. Trong xây dựng quân đội ta cần nhận thức đầy đủ, biết phát huy cao độ tác dụng của những quy luật đó. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:59:07 am 3. Một số vấn đề phương pháp luận đối với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quân đội ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Nhiệm vụ của quân đội hiện nay là phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội, sẵn sàng đập tan mọi cuộc bạo loạn lật đổ và chiến tranh xâm lược (nếu xảy ra), bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (cả vùng đất, vùng trời và vùng biển). Đồng thời quân đội ta còn thực hiện chức năng đội quân công tác, sản xuất. Để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cần nắm vững những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc phương pháp luận sau: Một là, không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dãn tộc, tình thần quốc tế vô sản trong sáng cho quân đội. Đó là sự chăm lo đến các thuộc tính rất cơ bản, đặc trưng của quân đội ta - quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản chân chính, trong sáng là vấn đề có tính quy luật quyết định sự trưỏng thành và chiến thắng của quân đội. Điều đó được thực tiễn lịch sử hơn 50 năm xây dựng, chiến đấu của quân đội khẳng định. Đây cũng là vấn đề Đảng, Bác Hồ luôn hết sức quan tâm và đặt lên hàng đầu, coi đó là vấn đề sống còn của quân đội. Đặc biệt, trong điều kiện nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, ngày nay đang phát triển nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự biến đổi phức tạp nên thành phần tham gia vào quân đội không thuần nhất. Nền kinh tế thị trường cùng sự biến đổi cơ cấu giai cấp - xã hội đã và đang tác động to lớn, nhiều mặt, nhất là đối với bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản cao cả của quân đội. Vì vậy, phải không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp, bản chất cách mạng và những thuộc tính cơ bản khác của quân đội. Để thực hiện được mục tiêu đó cần tập trung vào các vấn đề then chốt sau: - Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; - Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục bản chất, truyền thống quân đội; - Thực hiện tích cực và đồng bộ nhiều mặt hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp, làm tốt công tác dân vận, củng cố mối quan hệ quân - dân, thực hiện "quân với dân một ý chí". Hai là, chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở xây dựng vững mạnh toàn diện. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng cho quân đội. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị chính là cái "gốc", là cơ sở cho xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị, quân sự trong mọi tình huống. Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, trước hết đòi hỏi phải tăng cường công tác chính trị - tư tưởng trong quân đội nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, đối ngoại... của Đảng; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Công tác chính trị - tư tưởng phải làm cho toàn quân có giác ngộ chính trị cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, sự định hướng chính trị đúng, do đó, hành động đúng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải tiến hành có hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Công tác đảng, công tác chính trị là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, là công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác vận động quần chúng của Đảng trong quân đội, có nhiệm vụ xây dựng đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, vượt qua mọi thử thách, phát huy hiệu lực của cả tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy và sức mạnh của quần chúng, tạo ra các phong trào hành động cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, công tác, sản xuất và nghĩa vụ quốc tế mà Đảng và nhà nước giao cho. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị gắn liền với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, nhân dân và dân tộc ta. Vì vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn đân trong xây dựng quân đội về chính trị. Chính trị trong quân đội là chính trị của Đảng Cộng sản được quán triệt phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của tổ chức quân sự. Chính trị định hướng đúng đắn cho mọi hoạt động của quân đội, cho các mặt xây dựng khác. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, do đó, phải nhằm thúc đẩy các mặt khác, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện của quân đội. Xây dựng quân đội về chính trị là quán triệt, xây dựng quân đội theo quan điểm, nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới - xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, vì vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị - tư tưởng. Ba là, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xả hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là quy luật phát triển của quân đội ta. Phải xây dựng quân đội toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm tạo sức chiến đấu cao, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong điều kiện hiện đại. Trên cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thực hiện có kế hoạch, tích cực, chủ động, toàn diện và đồng bộ các mặt xây dựng quân đội trong giai đoạn hiện nay. Ngày nay, xây dựng quân đội chính quy không những là yêu cầu khách quan, đồng thời là một thuộc tính cơ bản không thế thiếu, một nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao. Vì vậy, cần đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy trên tất cả các phương diện, các hoạt động của quân đội, xây dựng kỷ luật quân đội tự giác, nghiêm minh. Xây dựng quân đội tinh nhuệ - "quân cốt tinh, không cốt đông" cũng là quy luật phát triển tất yếu của quân đội ta. Một quân đội tinh nhuệ mới có sức chiến đấu cao và sắc bén, sẵn sàng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Ngày nay, để xây dựng quân đội tinh nhuệ đòi hỏi phải không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác huấn luyện - giáo dục toàn diện; nâng cao bản lĩnh chiến đấu, trình độ làm chủ vũ khí, phương tiện chiến đấu, làm chủ kỷ - chiến thuật, vận dụng và phát triển sáng tạo khoa học, nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam; nâng cao khả năng chiến đấu trong mọi điều kiện, mọi không gian, thời gian... Quân đội ta là công cụ bạo lực vũ trang sắc bén, đồng thời là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân để chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù giai cấp và dân tộc. Vì vậy, cùng với xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tất yếu phải từng bước xây dựng quân đội hiện đại. Đây cũng là yêu cầu khách quan, một nhân tố hết sức quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cao của quân đội. Điều đó đòi hỏi sự phấn đấu tích cực để từng bước đưa quân đội đạt trình độ hiện đại trên các mặt, trong đó từng bước trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức ngăn chặn và sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những yêu cầu có tính phương pháp luận trên đây đối với xây dựng quân đội ta hiện nay là một chỉnh thế thống nhất biện chứng. Giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi tất yếu phải tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Học thuyết Mác - Lênin về quân đội là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nghiên cứu về quân đội nói chung; vận dụng và phát triển sáng tạo trong quá trình xây dựng quân đội ta hiện nay. Học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội là lý luận cách mạng, khoa học về chiến tranh và quân đội, trang bị thế giới quan - phương pháp luận cách mạng, khoa học cho chúng ta để xem xét và có thái độ đúng đắn về chiến tranh, quân đội trong điều kiện hiện đại. Ngày naỵ học thuyết này vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và có ý nghĩa to lớn đối với nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:59:58 am TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH Tư tưởng Hồ Chí Minh "là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.83). Đó là một hệ thống quan điểm lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, bao gồm tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc; về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về văn hoá và về đạo đức cách mạng... Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng là bộ phận rất trọng yếu. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dồn toàn bộ tâm trí và sức lực vào việc lãnh đạo công cuộc giải phóng một dân tộc đang bị thực dân đế quốc thống trị bằng ách nô dịch tàn bạo. Ở đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp giải phóng xã hội, giải phóng con người nhất thiết phải kinh qua quá trình giải phóng dân tộc bằng vũ trang khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, lấy sức mạnh của dân tộc mà đánh bại kẻ thống trị và xâm lược, giành lại và giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đề cập tới mọi vấn đề thuộc về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, về phong trào toàn dân cứu nước và giữ nước làm nền tảng cho bạo lực cách mạng chống đế quốc, về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, về khoa học và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam, về xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến lược của chiến tranh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân khi đất nước đã được giải phóng nhằm đẩy lùi, ngăn chặn chiến tranh và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ các thành quả cách mạng, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một cách tổng quát, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm xem xét và giải quyết mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa bảo vệ và xây dựng đất nước, giữa các hoạt động về quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng với nền kinh tế của đất nước, nền văn hoá của dân tộc, về vị trí của lực lượng vũ trang trong đời sống xã hội. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là nền tảng của đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam qua từng giai đoạn, từng chiến lược cách mạng: giữ vai trò chủ đạo trong việc vận dụng và phát triển lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thế của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó kế thừa và phát triển lên một trình độ mới truyền thống và kinh nghiệm đấu tranh kiên cường bất khuất giành và giữ nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm lịch sử. Lý luận quân sự Mác - Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng gắn với truyền thống và kinh nghiệm đấu tranh giành lại và giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam làm cho tư tưởng quân sự của Người khắc phục được tính hạn chế của quan điểm dân tộc, quan điểm giai cấp của các bậc tiền bối - những người trông chờ vào tầng lớp sĩ phu, hào kiệt chứ chưa dựa hẳn vào các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất trong xã hội. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Người đã, đang và sẽ mãi giữ vai trò trọng yếu vì "dựng nước phải đi đôi với giữ nước", xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn chặt với bảo vệ chủ nghĩa xã hội là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam và cũng là quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Đó là vũ khí tư tưởng và lý luận để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng, vừa bảo vệ chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:01:43 am I- NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
1. Bối cảnh ra đời tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh ra đời từ những năm hai mươi của thế kỷ XX. Sau khi Nguyễn Ái Quốc từng bước tiếp thu quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhận rõ muốn chống lại bạo lực của chủ nghĩa thực dân đế quốc - vốn là một thế lực xâm lược và thống trị có quy mô thế giới, bạo lực cách mạng phải có nền tảng chính trị - xã hội rộng lớn mới giành được thắng lợi. Cơ sở để Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước vốn đã hình thành vững chắc trong ý thức của Người. Từ khi người thiếu niên làng Sen có nhận thức rõ ràng vể thực trạng đen tối của quê hương, đất nước và thông qua những hiểu biết và tình cảm được truyền đạt trong một gia đình nhà nho yêu nước, lòng yêu nước đã sớm hình thành và ngày càng được bồi đắp trong tâm khảm của Người. Tới tuổi trưởng thành, lòng yêu nước sớm biểu thị thành thái độ chính trị độc lập trong việc lựa chọn đường đi: - Năm 1905, Người chủ động từ chối việc tuyển chọn mình vào danh sách sang Nhật du học của cụ Phan Bội Châu1 (Năm 1905 cụ Phan Bội Châu từ Nhật qua Trung Quốc về Việt Nam đã trực tiếp tìm đến nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vào lúc cụ Phó bảng đi vắng, ngỏ ý tuyển hai con trai cụ Phó bảng sang Nhật du học) với ý nghĩa không tán thành việc dựa vào nước Nhật, theo lối "đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau". - Năm 1911, Người tự quyết định chọn hướng sang Pháp có sự đồng tình của người cha yêu nước và mấy người bạn cùng chí hướng với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Chính sự lựa chọn độc lập và chủ động đó đã đánh dấu bước ngoặt trong việc quyết định đường đi của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, đã là một đảm bảo của sự gắn bó chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo ra bước ngoặt của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. a) Bối cảnh thế giới Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã chia nhau tới mảnh đất cuối cùng trên trái đất, đang độc quyền thống trị loài người. Trong 9 nước đế quốc có thuộc địa thì nước Anh đứng hàng đầu, rồi đến Hà Lan, Bồ Đào Nha, Bỉ, Italia, Mỹ, Nhật, Tây Ban Nha. Các đế quốc Đức, Áo "sinh sau đẻ muộn”, tìm cách mở rộng ảnh hưởng sang châu Phi, châu Đại Dương và đã kiếm cớ gây chiến tranh nhằm chia lại thế giới, kéo 12 nước Âu Mỹ vào cuộc chiến, làm cho loài người tổn thất gần 9 triệu sinh mạng. Tận dụng mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc lúc bấy giờ càng trở nên gay gắt trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất mà nước Nga Sa hoàng là một bên tham chiến, Đảng Cộng sản Nga do Lênin lãnh đạo đã nêu khẩu hiệu "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng", phát động vũ trang khởi nghĩa, phát triển cuộc đấu tranh chống Nga hoàng năm 1905 thành cuộc Cách mạng tháng Mười, giành chính quyền về tay các Xô-viết công - nông - binh, ký hoà ước Brét-Litôp với Đức vào năm 1918, đánh bại các thế lực phản cách mạng và các đế quốc can thiệp, xây dựng nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra kỷ nguyên mới cho loài người. Sự ra đời của Liên bang Xô-viết và liền sau đó là sự ra đời của Quốc tế Cộng sản thứ ba, với "Đề cương về các vàn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin đã tạo chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc có bước phát triển ngày càng vững chắc, làm sâu sắc thêm mối mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa vốn đã sâu sắc từ khi các đế quốc thi nhau chiếm đất, tàn sát các dân tộc nhỏ yếu, biến họ thành nô lệ ngay trên quê hương họ. Các mối mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản ở các nước phương Tây, giữa đế quốc với đế quốc, giữa các đế quốc già nua với các đế quốc còn non trẻ... không vì cuộc Đại chiến lần thứ nhất chia lại thế giới mà giảm bớt; trái lại, nó càng kích động tâm lý phục thù của những đế quốc bại trận, nuôi dưỡng chủ nghĩa phát xít, dẫn tới cuộc Đại chiến thế giới thứ hai, lôi kéo gần hai chục nước vào vòng chiến. Chiến thắng của Liên Xô đánh bại bọn Bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc đã chấm dứt địa vị độc tôn thống trị loài người của hệ thống tư bản đế quốc, xác lập quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động với một phương thức sản xuất kiểu mới, khác hẳn phương thức sản xuất của thế giới tư bản trên diện tích 1/6 địa cầu, cổ vũ mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân ở các dân tộc bị áp bức sôi sục đứng lên đấu tranh giành độc lập, giải phóng khỏi ách áp bức, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra cục diện mới chưa từng có trong lịch sử phát triển loài người. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:02:16 am b) Bối cảnh trong nước
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, quân Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ làm thuộc địa đã vấp phải cuộc chống trả quyết liệt của nghĩa quân Trương Định (1861-1864), của Nguyễn Trung Trực (1861-1868), của Võ Duy Dương (1865-1866). Sau thất bại của các danh tướng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, triều đình Huế ngả theo phái chủ hoà phải ký hiệp ưóc Patơnôt (6-6-1884) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc, Trung Kỳ, làm lễ tiêu huỷ ấn phong vương cho nhà Nguyễn của vua Thanh. Phái chủ chiến trong Triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã kịp thời hạ Chiếu Cần Vương. Vua Hàm Nghi tự nguyện rút lên miền tây Quảng Trị điều hành kháng chiến. Phong trào hưởng ứng Chiếu Cần Vương lập tức nổi lên ở khắp các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Bền bỉ và có tổ chức nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài tới 10 năm (1885-1895), với xưởng sản xuất vũ khí của tướng Cao Thắng biểu hiện trí tuệ và óc sáng tạo của dân tộc ta không thua kém bất cứ dân tộc nào trong thời phong kiến. Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân và Cao Điền lãnh đạo cùng thời với khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn (1886-1887), cũng kéo dài tới 6 năm (1886-1892). Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật lan rộng ra nhiều tỉnh đồng bằng đã đứng vững 4 năm (1885-1889). Những cuộc nổi dậy trong khoảng vài ba năm nổ ra khắp nơi như khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn (1885-1887) ở Nghệ An, khởi nghĩa của Lê Ninh (1885T1887) ở Hà Tĩnh, của Nguyễn Văn Giáp (1885-1887) ở vùng Tây Bắc. Điển hình về tính bền vững và sự kiên cường là cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa kéo dài suốt 29 năm (1884-1913), gây cho thực dân Pháp và bọn tay sai những tổn thất nặng nề, buộc chúng nhiều phen phải thương lượng, giảng hoà. Nhược điểm lớn nhất của các cuộc nổi dậy đó là tính cục bộ địa phương, không thống nhất được trong cả nước do thiếu một đường lối phát động toàn dân nên chỉ mở ra được trong phạm vi mấy tỉnh. Cơ sở chính trị xã hội của bạo lực không đủ mạnh, dễ bị địch bao vây, chia cắt, đẩy vào thế cô lập. Nó phản ánh rõ nét tính tản mạn của phương thức lãnh đạo và nghệ thuật quân sự thời phong kiến khi đã mất chính quyền, không thể đương đầu nổi với một bộ máy thống trị và trấn áp của đế quốc thực dân có nền công nghiệp hiện đại. Trong suốt thời gian từ 1911 đến 1919, trước khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, ở trong nước, ngoài cuộc khởi nghĩa Nơ Trang Lơng của đồng bào Mơ Nông dựa vào địa hình rừng núi vùng tiếp giáp biên giới Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã đứng vững được suốt 23 năm (từ 1912 tới 1935), chỉ còn lại những phản ứng cuối cùng của nghĩa quân Yên Thế và một cuộc binh biến phát triển thành khởi nghĩa của binh lính người Việt ở Thái Nguyên do Đội Cấn lãnh đạo, kéo dài được hơn 4 tháng (từ 31-8-1917 đến 10-1-1918). Những lời tự sự và bài nói, bài viết từ khi trở thành đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc chứng minh rằng cái mà Người đi tìm không dừng lại ở một "quyết tâm tiến hành cách mạng để giải phóng dân tộc". Cái Người quyết đi tìm còn là và trước hết là một con đường, một phương thức tiến hành giải phóng dân tộc sao cho có hiệu quả, trong cuộc đọ sức quyết liệt với những thế lực chưa từng bị đánh bại ở bất cứ nơi nào bị chúng biến thành thuộc địa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:03:49 am 2. Nguồn gốc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Một hệ thống tư tưởng quân sự đã hình thành hoàn chỉnh đến mức đã chỉ đạo thành công cuộc vũ trang khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, liên tục đánh thắng "hai đế quốc to" trong điều kiện ta luôn yếu kém so với đối phương trên nhiều phương diện, tất phải quy tụ và gạn lọc được từ rất nhiều nguồn gốc của dân tộc và của nhân loại, kim cổ, Đông Tây không bỏ qua tinh hoa trí tuệ từ bất cứ nguồn nào. Có thể khái quát thành 4 nguồn gốc chính. a) Cơ sở để tiếp thu học thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, tiếp thu các tinh hoa quân sự trên thế giới là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước đã đưa tôi tới chủ nghĩa Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Chủ nghĩa yêu nước mà Nguyễn Ái Quốc mang theo trên hành trình tìm đường cứu nước là chủ nghĩa yêu nước, là sự chứa chất đầy uất hận của cả một dân tộc bị giày xéo, chà đạp đến không còn đường sống, sẵn có trong ý thức của nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc chính là truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam; là niềm tự hào sâu sắc về những truyền thống vẻ vang đó. Sau này nhiều lần Người khẳng định: "Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v... Chúng ta phải ghi nhó công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 6, H.1995, tr.171-172). Chính tinh thần tự tôn dân tộc, tự hào với truyền thống quật cường bất khuất của ông cha đã thúc đẩy người thanh niên yêu nước đi tìm đường cứu nước, cũng đồng thời là cái vốn có sẵn làm cơ sở để tiếp nhận và hấp thụ lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm lý luận quân sự. b) Bản chất tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được xác định từ học thuyết Mác-Lênin về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Nguyễn Ái Quốc tiếp cận rất nhanh với quan điểm bạo lực cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo, vận dụng vào hoàn cảnh ở thuộc địa: "Người Đông Dương không được học... Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, sđd, tr.28). Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua thực tiễn chiến đấu và công tác, từ cương vị "thành viên Ban nghiên cứu thuộc địa trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp" tới cương vị là "Ủy viên ban thư ký Viễn Đông của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản", cộng tác viên đắc lực của Manuinxki - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản. Trong những năm ở Mátxcơva, Người đã để thời gian tìm hiểu về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, về Hồng quân công nông và cuộc chiến tranh yêu nước đánh bại bọn Bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc, về công cuộc khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc chính quyền Xô-viết. Người cũng chăm chú tìm hiểu những hoạt động đầy trách nhiệm của Quốc tế Cộng sản để thúc đẩy phong trào cách mạng giải phóng xã hội, giải phóng con người ở khắp nơi trên thế giới. Nhiều năm tiến hành công tác của Quốc tế Cộng sản trên đất Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã cùng Bôrôđin - bấy giờ đang là Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô ở Quảng Châu, trực tiếp chứng kiến sự thành công của Công xã Quảng Châu, sự ra đời của các lực lượng vũ trang cách mạng của Công xã; trực tiếp tổ chức và huấn luyện nhiều khoá đào tạo cán bộ Việt Nam tại Quảng Châu; trực tiếp cử nhiều cán bộ Việt Nam đi học trường Hoàng Phố và trường Đại học Cộng sản Phương Đông... Ngoài ra, trong thời gian đó, Người cũng đã cùng Bôrôđin chứng kiến cuộc đảo chính phản cách mạng của phái hữu Quốc dân Đảng diễn ra ngày 12-4-1927, cuộc tàn sát những người Cộng sản hoạt động trong công xã. Về Mátxcơva lần thứ hai để tìm đường trở lại Thái Lan, qua Đức, Ý, Singapo, Nguyễn Ái Quốc đã dành thời gian giảng dạy về công tác quân sự của Đảng trong nông dân "tại trường quân sự của những người Cộng sản Đức" ở Mátxcơva1 (Bài giảng này đã được A.Neuberg tuyển chọn và xuất bản ở Luân Đôn, được coi là tài liệu quân sự đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc giảng dạy năm 1927). Kinh qua công tác thực tiễn trong các tổ chức chỉ đạo của Đảng Cộng sản Pháp, của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã sớm trở thành người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, cả về lý luận và thực tiễn, là giảng viên lý luận quân sự Mác-Lênin tại trường quân sự quốc tế. Sau lần bị bắt tại Hồng Kông, trở lại Liên Xô lần thứ ba, ngày 11-9-1934, Nguyễn Ái Quốc vào học trường Quốc tế Lênin. Tại đây, Người trang bị cho bản thân kiến thức về các môn Triết học (Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử), Kinh tế chính trị, Lịch sử đất nước và Công tác xây dựng Đảng1 (Xưởng bánh kẹo Mátxcơva còn giữ kỷ niệm về những ngày Nguyễn Ái Quốc (Lin) đi nghiên cứu "công tác xây dựng Đảng tại xí nghiệp" ở xưởng mình) một cách hệ thống, cơ bản. Người đã chọn đề tài "Vấn đề ruộng đất ở vùng Đông Nam Á" để làm luận án tốt nghiệp. Năm 1935, Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa phân công Nguyễn Ái Quốc giảng lịch sử Đảng và những nguyên lý của công tác tổ chức Đảng cho nhóm học sinh Việt Nam học ở Mátxcơva. Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ bảy (tháng 7-1935), Nguyễn Ái Quốc tiếp tục về công tác tại "Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa” cùng Manuinski và trở lại Trung Quốc vào giữa năm 1938. Trong suốt thời gian từ 1938 tới cuối năm 1940, với danh nghĩa "phái viên toàn quyển của Ban thư ký Viễn Đông của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản", có lúc, Người là thượng khách của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An; có lúc, Người đóng vai thiếu tá Hồ Quang của Bát lộ quân Trung Quốc, nhiều năm làm bí thư chi bộ các giáo viên cộng sản tại trường cán bộ du kích Nam Nhạc do Tưởng Giới Thạch mở ở Hoành Sơn trong thời kỳ Quốc Cộng hợp tác. Dưới danh nghĩa một cán bộ cấp tá của Bát lộ quân, Nguyễn Ái Quốc có nhiều điều kiện tìm hiểu sâu về cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, về lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Trung Quốc, về chiến lược, sách lược của Đảng trong thời kỳ Quốc Cộng hợp tác và cả thời kỳ Tưởng Giới Thạch phá vỡ khối hợp tác đó. Nguyễn Ái Quốc tiếp thu học thuyết quân sự Mác-Lênin không thông qua một chương trình đào tạo người cán bộ chỉ huy, nhưng tiếp thu ở một cấp độ cao hơn là cấp độ chỉ đạo chiến lược cách mạng, chiến lược quân sự. Hầu như tất cả các nội dung thuộc về lý luận quân sự, Người chẳng những nắm vững mà còn trải qua trong thực tiễn sinh động và chính điều đó là những nhân tố cơ bản góp phần tạo nên một hệ thống tri thức phong phú cho phép Người ứng dụng một cách hoàn toàn độc lập, chủ động và sáng tạo. Cùng với truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam, lý luận gắn chặt với thực tiễn quân sự Mác - Lênin mà Người tiếp thu được trong suốt hai thập kỷ công tác trên đất Liên Xô và Trung Quốc (trong bối cảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc đang diễn ra sôi sục) đã trở thành nguồn gốc quy định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, nâng quan điểm bạo lực chống đế quốc sẵn có của dân tộc Việt Nam lên một chất lượng hoàn toàn mới, đủ sức làm đối trọng với bạo lực tàn bạo của thực dân đế quốc trên mọi lĩnh vực, cả lý luận và thực tiễn. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:04:35 am c) Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn được bổ sung từ tinh hoa quân sự Đông Tây, kim cổ
Ở phương Đông, các tinh hoa triết học, chính trị và quân sự của Trung Hoa cổ được Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu, tìm hiểu. Người nắm vững ngôn ngữ bản địa của các tác phẩm trên đây tới mức có thể đối thoại như một người Trung Quốc, có thể làm thơ như một thi sĩ Hán - Đường. Ở phương Tây, từ vốn tiếng Pháp được học tới bậc trung học ở trường Quốc học Huế, Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng tự trang bị cho mình rất nhiều ngoại ngữ làm công cụ cần thiết để tiếp xúc, tìm hiểu, nghiên cứu đặng thâu nạp một cách chọn lọc nguồn tri thức từ tinh hoa quân sự thế giới. Nhiều tác giả khi nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa việc Nguyễn Tất Thành chọn đường sang Pháp vì muốn tìm hiểu xem đằng sau những tiêu ngữ Tự do - Bình đẳng - Bác ái của nền Cộng hoà Pháp còn ẩn giấu cái gì. Đi sâu tìm hiểu quá trình trưởng thành của người thanh niên yêu nước làng Sen, người ta thấy rõ hơn tác dụng cuốn hút của các nhà tư tưởng Pháp trong các tác phẩm được truyền bá của Vônte, Điđơrô, Môngtexkiơ, đặc biệt của Giăng Giắc Rútxô với tập "Khế ước xã hội" đối với Nguyễn. Chẳng hạn như trong Khế ước xã hội, G. Rútxô từng viết: "Con người vốn sinh ra tự do nhưng đâu đâu cũng bị trói buộc trong xiềng xích. Người này tưởng mình là chủ của kẻ khác nhưng chính anh ta lại để cho mình còn bị nô lệ hơn họ... Khi một dân tộc bị (sức mạnh) ép phải phục tùng thì họ phục tùng là đúng. Ngay sau khi có thể rũ bỏ ách thống trị, họ liền rũ bỏ thì họ càng đúng hơn... Những kẻ nô lệ để mất tất cả trong xiềng xích, đến cả lòng ham muốn thoát khỏi tình cảnh đó... Nếu có những nô lệ bẩm sinh, chính vì đã có những nô lệ không bẩm sinh. Sức mạnh (của kẻ thống trị) đã tạo ra những nô lệ đầu tiên, sự hèn nhát của chính họ đã biến họ thành nô lệ vĩnh viễn... Vì kẻ mạnh hơn luôn luôn là kẻ có lý, chỉ còn lại vấn đề làm cách gì để mình thành kẻ mạnh hơn". Những tư tưởng cổ vũ cho cuộc đấu tranh tự giải phóng đó chắc chắn đã là một trong số những động lực thôi thúc Nguyễn Tất Thành không hướng theo con đường đi cầu viện nước ngoài của các bậc tiền bối (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh) mà lúc bấy giờ đang được nhiều người ngưỡng mộ. Nguyễn Ái Quốc đã chọn nước Pháp là một trong những chiếc nôi của cách mạng tư sản để sang tìm hiểu và chính ở đó, Người đã tìm thấy con đường để biến dân tộc mình thành "kẻ mạnh hơn" những thế lực thống trị và xâm lược. Qua các lục địa Âu, Mỹ, Á... Nguyễn Ái Quốc rất chú trọng tìm hiểu, nghiên cứu tinh hoa quân sự thế giới, nghiên cứu về chiến tranh du kích. Năm 1941, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Người giải thích: "Du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi một phần là do du kích tổ chức có vững vàng hay không, phát triển rộng rãi hay không”. Tiếp đó, từ 1942 đến 1945, Người đã liên tục viết 4 tập sách khác nhau về "chiến thuật du kích", mà ở những tác phẩm này, có thế thấy Người không bỏ qua kinh nghiệm đánh du kích của người Tây Ban Nha chống Pháp thế kỷ XIX, của người Mỹ chống quân Anh thế kỷ XVIII. Trên báo Cứu Quốc từ tháng 5 đến tháng 12-1945, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc, Người viết một loạt bài về quân sự (ký Q.T và Q.Th), kết hợp binh thư cổ với kiến thức quân sự hiện đại như "biết mình, biết người", "thiên thời, địa lợi, nhân hoà", "tướng giỏi, quân nhu đầy đủ", "phương pháp dùng gián điệp", "bàn về địa hình", "địa thế”, "tóm lược 12 điều về chiến thuật". Tất cả những nội dung này toát lên sự quán triệt quan điểm thực tiễn theo hoàn cảnh Việt Nam, bám sát những tri thức rút ra từ Đại chiến thế giới thứ hai. Ví dụ, Người viết: "Chiến tranh ngày nay đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận"... "Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau cả ở trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương nên người ta gọi là lập thể chiến tranh"1 (Lập thể: theo hình lập phương, với không gian 3 chiều). Trước kia chỉ đánh nhau về quân sự nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là "toàn diện chiến tranh"... "Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được...". "Chiến tranh về mặt văn hoá tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng. Ngày nay về quân sự, người ta coi phương pháp tuyên truyền là một lợi khí sắc bén nhất"... "Động viên kinh tế, tập trung hết thẩy nhân, vật, tài lực cho kháng chiến". Vào thời điểm đó, Đại chiến thế giới thứ hai vừa kết thúc (tháng 8-1945). Mặc dù các kinh nghiệm của Liên Xô tổng kết chưa thể phổ biến đến Việt Nam nhưng những kiến thức trên đây của Người đã thể hiện rõ sự quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin với việc cập nhật các tri thức về chiến tranh hiện đại. Đối với nền văn hoá của Trung Hoa cổ, bao gồm trong đó văn hoá quân sự, mọi tinh hoa đều được Người khai thác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biên dịch "Phép dùng binh của Tôn Tử" và được Chính trị cục xuất bản năm 1947. Nhiều luận điểm trong Kinh Thư, Kinh Thi, Luận Ngữ của Khổng Tử, hoặc trong sách Đại học của Mạnh Tử cũng được ứng dụng với nội dung phù hợp với thời đại mới và đó là một trong những nhân tố góp phần hình thành tư tưởng chính trị - quân sự Hồ Chí Minh. Những định đề như: "Ý dân là ý trời, trời thương dân, dân muốn gì trời cũng theo" (Kinh Thư); "Đủ lương thực, đủ binh lính - Dân tin. Dân không tin, không thể đứng vững" (Kinh Thi), "Dân là quý, đất nước ở hàng sau, vua là nhẹ” (Mạnh Tử) đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyền thành luận điểm: "Dân là chủ, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết". Những lời căn dặn tướng lĩnh về "thiên thời, địa lợi, nhân hoà" về "nhân, tín, trí, dũng, liêm, trung” về "trung với Đảng, hiếu với dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tiếp thu có chọn lọc từ các luận điểm của Tôn Tử, Khổng Tử, dĩ nhiên là đã được cải đổi cho phù hợp với quan điểm cách mạng. Nhìn chung lại, tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam làm nền tảng, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm thế giới quan và phương pháp luận, đồng thời đã tiếp nhận có chọn lọc mọi tinh hoa quân sự thế giới. d) Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được bổ sung, hoàn chỉnh qua thực tiễn chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy việc chỉ đạo cách mạng Việt Nam làm mục đích, đồng thời thực tiễn cách mạng Việt Nam lại cũng là thước đo để kiểm nghiệm tính hiện thực và hiệu quả của chính tư tưởng đó. Trước hết, dưới ánh sáng của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và do sự tổ chức thực tiễn của Người, đội ngũ cán bộ quân sự của cách mạng Việt Nam với nhãn quan nhìn xa thấy rộng đã hình thành, đảm bảo cho cuộc cách mạng Việt Nam không bị thiếu hụt những nhà lý luận quân sự, những tướng lĩnh cầm quân khi yêu cầu cách mạng đòi hỏi. Trong thực tế, tất cả đội ngũ cán bộ cách mạng, cán bộ quân sự được Chủ tịch Hồ Chí Minh đào tạo, dìu dắt đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là nền tảng của đường lối quân sự của Đảng. Tư tưởng và đường lối đó đã được vận dụng sáng tạo trong quá trình chuẩn bị cuộc Cách mạng tháng Tám, thành lập các lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng căn cứ địa, phát động khởi nghĩa bộ phận, tiến hành chiến tranh du kích, tiến lên chỉ đạo Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Tư tưởng và đường lối đó tiếp tục được vận dụng vào cuộc đấu tranh kiên quyết và khôn khéo của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo để phá vỡ sự câu kết giữa thù trong với giặc ngoài; vào việc chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Quan điểm đánh giặc bằng sức mạnh tổng hợp trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự là một quan điểm rất đặc sắc, phát triển từng bước qua hai cuộc kháng chiến. Nó bắt nguồn từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” được vận dụng, nâng lên từng bước một cách thiết thực và vững chắc, mở đầu bằng việc phát động phong trào thi đua ái quốc nhằm thực hiện khẩu hiệu toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, phát triển sâu rộng đến mức trở thành nếp sống của mọi lực lượng, mọi tổ chức trong toàn xã hội. Đến thời kháng chiến chống Mỹ, sức mạnh toàn dân, toàn diện đã được những người lãnh đạo chỉ huy các cấp vận dụng thành thục trên mọi lĩnh vực, biến thành sức mạnh tổng hợp to lớn đánh thắng các lực lượng quân sự khổng lồ của đối phương, góp phần quyết định bẻ gãy ý chí xâm lược của chúng. Như thế là, cơ sở hình thành đường lối quân sự Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua thực tiễn cách mạng và kháng chiến, chẳng những đã được kiểm nghiệm mà hơn thế, ngày càng được được bổ sung, hoàn chỉnh, trở thành nền tảng của mọi thắng lợi to lớn cùa các hoạt động quân sự đánh bại kẻ thù xâm lược. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:06:33 am 3. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Quá trình hình thành phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh gắn với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người, không tách rời phong trào cách mạng trong nước và trên thế giới từ những năm hai mươi đầu thế kỷ XX cho đến khi Người mất vào cuối những năm 60 thế kỷ XX. Có thể chia quá trình hình thành phát triển đó thành 3 thời kỳ rõ rệt: a) Thời kỳ phát triển từ chủ nghĩa yêu nước thành chủ nghĩa quốc tế công nhân, tiến tới chủ trì thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (khoảng từ trước 1920 tới 1930) Khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc mang theo ý chí chiến đấu chống thực dân Pháp của lớp người bị đàn áp và bóc lột đến cùng cực trong xã hội Việt Nam. Tự thân ý chí phản kháng quyết liệt chống kẻ thống trị dân tộc ấy ở Người cũng đã cho thấy mầm mống tư tưởng quân sự, in đậm dấu ấn các cuộc khởi nghĩa từ Hương Khê, Bãi Sậy tới Yên Thế, Thái Nguyên, tuy chưa tìm được phương thức có hiệu quả để đánh bại nền thống trị của thực dân đế quốc. Từ việc gia nhập Đảng Xã hội Pháp vào năm 1919 đến việc trở thành đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, bỏ phiếu gia nhập Quốc tế thứ ba (cuối năm 1920), Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước tiến tới chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính và gắn bó chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong suốt một thập kỷ vừa hoạt động thực tiễn vừa đấu tranh lý luận đó, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường cứu nước đã trở thành người tham gia vạch đường đấu tranh giải phóng các thuộc địa, người động viên và liên kết sức mạnh của các dân tộc bị áp bức; người có đủ kinh nghiệm và uy tín để hướng dẫn phong trào cách mạng trong nước hướng theo chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân, nhưng lại nắm rất vững những nét riêng của các dân tộc ở thuộc địa, không áp dụng máy móc những bài học giải quyết mối mâu thuẫn đối kháng giữa vô sản và tư sản ở các nước tư bản. Bước nhảy vọt ấy trên con đường hoạt động cách mạng của Người dẫn tới việc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên có nòng cốt cộng sản. Tiếp đó, Người đã trực tiếp chỉ đạo sự hợp nhất ba tổ chức cộng sản tiền thân thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc ra đời một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước kết thúc giai đoạn tìm đường của cách mạng Việt Nam, là đáp số đã tìm ra của một phương thức tiến công bộ máy thống trị của thực dân Pháp: phương thức đi từ phong trào cách mạng rộng rãi của nhân dân lao động, lấy công nhân và nông dân làm quân chủ lực tiến công địch chứ không phải bắt đầu từ các đội nghĩa quân trực tiếp đương đầu với các đội quân chiếm đóng của chủ nghĩa thực dân; bắt đầu từ cuộc tiến công vào nền tảng chính trị của chế độ cai trị, vào đầu não của bộ máy chỉ huy quân sự của chế độ ấy chứ không phải vào lực lượng quân sự địch. Phương thức ấy làm chuyển biến quan điểm bạo lực truyền thống chống đế quốc của dân tộc Việt Nam thành quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặt các hoạt động quân sự vào quỹ đạo đích thực của nó: đấu tranh vũ trang phát triển từ đấu tranh chính trị, quân sự phục tùng chính trị. b) Thời kỳ chống giáo điều, "tả" khuynh, kiên định quan điểm đúng đắn về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa (từ 1930 đến 1941) Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, cả về quân sự, biểu hiện nổi bật trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941) đặt sự nghiệp giải phóng dận tộc lên hàng đầu, đặt quyền lợi giai cấp (là bộ phận) phục tùng quyền lợi của toàn dân tộc, xúc tiến chuẩn bị cuộc vũ trang khởi nghĩa theo hướng khởi nghĩa toàn dân, thực chất là khởi nghĩa dân tộc phát triển thành chiến tranh giải phóng, không giống quan điểm "khởi nghĩa giai cấp, biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng" đã từng diễn ra ở nước Nga. Để tiến tới một quan điểm rõ ràng như thế, được toàn Đảng, toàn dân nhất trí tiến hành, Hồ Chí Minh đã phải trải qua một quá trình đấu tranh rất gay gắt ngay trong nội bộ cơ quan chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản vốn là một tổ chức mà trong điều kiện lúc bấy giờ, có quyền chi phối quan điểm của các Đảng Cộng sản trong mỗi nước. Đối với Quốc tế Cộng sản, việc chỉ đạo chiến lược cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc ở phương Đông là một chủ đề lớn trong đó có chiến lược cách mạng ở Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, ở đó nếu cách mạng thành công sẽ tác động rất lớn đến so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và việc thành lập Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn đã dẫn đến một thời kỳ "liên Nga, thân cộng, ủng hộ công nông" của chính phủ Nam Kinh từ năm 1919. Nhưng sự phản bội của Tưởng Giói Thạch vào năm 1923 đã đẩy Quốc tế Cộng sản tới việc lên án tất cả mọi chủ trương liên kết với giai cấp tư sản dân tộc, phê phán và phủ định tinh thần "đoàn kết dân tộc" của Cương lĩnh và Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc đề xuất trong hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Hương Cảng tháng 2-1930. Từ hội nghị Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng tháng 10-1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, để khắc phục "khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa", Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành "Đảng Cộng sản Đông Dương", chính cương, điều lệ của Đảng được hướng theo quan điểm "cách mạng giai cấp chống giai cấp, đấu tranh giành chính quyền, thực hiện chuyên chính vô sản" như đối với cách mạng ở các nước tư bản. Quán triệt tinh thần ấy, Xứ uỷ Trung Kỳ nêu khẩu hiệu: "Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" để chỉ đạo Xô-viết Nghệ - Tĩnh... Tinh thần đó kéo dài tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (tháng 3-1935) tại Ma Cao. Ngay sau khi kết thúc Đại hội ngày 31-3-1935, ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Quốc tế Cộng sản bản báo cáo diễn biến Đại hội, trong đó có đoạn viết: "Ở Đông Dương, những tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống những tàn dư của hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa pha lẫn chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của Thanh niên cách mạng đồng chí hội và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc"1 (Dẫn theo PTS Đỗ Quang Hưng: Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm 1934-1938 rọi sáng cho vấn đề dân tộc hay quốc tế. Tạp chí Lịch sử Đảng số 3-1996, tr.29). Từ sau khi bị bắt tại Hương Cảng năm 1931 cho đến mùa xuân 1934 trở lại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc vào học trường Quốc tế Lênin năm học 1934-1935 rồi lại được tuyển chọn làm nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, dự kiến đến cuối năm 1937 viết luận án "Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam châu Á" trong thời gian đó, Người hầu như không được giao bất cứ công tác nào của Bộ phương Đông cho tới Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản khai mạc ngày 25-7-19351 (Đại hội gồm 513 đại biểu thay mặt 3 triệu 14 vạn đảng viên của 76 Đảng và tổ chức Cộng sản toàn thế giới. Có mặt những nhà hoạt động nổi tiếng như Xtalin, Đimitrốp, Côlarôp, Cuxinen, Casanh, Tôrê, V.Pich, Unbrich, Tôgliati, Bêlacun, Manuinxki, Nôxaca Xanđô, H.Pôlit, U.Phô-xtơ, Xmê-ran, Ibaruri, Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong là trưởng đoàn đại biểu Đ.C.S.Đ.D). Bản báo cáo chính trị quan trọng của G.Đimitrốp nói về nguy cơ chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ đấu tranh cho sự thống nhất giai cấp công nhân, quyết định xây dựng Mặt trận thống nhất chống phát xít ở phương Tây và Mật trận nhân dân chống đế quốc ở phương Đông, đã uốn nắn đường lối "tả khuynh" đang lưu hành trong phong trào Cộng sản quốc tế. Đồng chí Lê Hồng Phong trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương đọc tham luận vể phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, tự phê bình về tư tưởng "ấu trĩ tả khuynh" của ”ban lãnh đạo hải ngoại" và xác nhận khả năng thực hiện "Mặt trận nhân dân chống đế quốc" của tất cả các dân tộc Đông Dương. Trong phiên họp tối 16-8, Nguyễn Ái Quốc đọc tham luận, tiếp tục làm rõ vị trí cuộc đấu tranh của nhân dân thuộc địa chống nguy cơ phát xít. Quan điểm mà Nguyễn Ái Quốc giữ vững từ Chính cương, Điều lệ vắn tắt từ tháng 2-1930 đến đó được xác minh là đúng. Sau Đại hội, Người nhắc nhở đoàn đại biểu ta về nước nhanh chóng phổ biến tinh thần Nghị quyết Đại hội quốc tế, kịp thời khắc phục bệnh tả khuynh, hẹp hòi. Ở Bộ phương Đông, Người nhận thêm nhiệm vụ giảng dạy nhóm học sinh Việt Nam ở "Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa"... Cho tới tháng 9-1938 đề nghị về nước của Nguyễn Ái Quốc được đích thân Chủ tịch Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản Đimitrốp chấp nhận, đồng chí Manuinxki thay mặt Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản trực tiếp đưa tiễn Người rời Mátxcơva tại ga xe lửa Iarôlépxki... Với tư cách là cán bộ cao cấp của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có mặt ở trụ sở Bát lộ quân Trung Quốc tại Lan Châu (Thiểm Bắc) rồi tới Diên An. Là khách của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Người được tạo điều kiện để về Quế Lâm (Quảng Tây) hoạt động. Người bắt liên lạc với cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Côn Minh (Vân Nam). Trong điều kiện chính quyền cả ở Trung Quốc và ở Việt Nam đều chưa nằm trong tay các lực lượng cách mạng, cuộc hành trình của Người qua các địa phương Trung Quốc để trở về Tổ quốc phải mất trên hai năm. Cho tới dịp Tết Nguyên đán năm 1941. Người mới đặt chân tới Pắc Bó, Cao Bằng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:07:03 am c) Thời kỳ trực tiếp lãnh đạo cách mạng Vỉêt Nam (từ 1941 đến 1969)
Tháng 5-1941, Người chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá I). Được sự hậu thuẫn vững chắc của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có điều kiện trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển. Lúc này, trên thế giới, nguy cơ chủ nghĩa phát xít đã bộc lộ từ cuộc nội chiến đẫm máu do Phrăngcô gây ra ở Tây Ban Nha vào mùa hè 1936. Cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai đã nổ ra từ đầu tháng 9-1939. Trên mặt trận Tây Âu, phát xít Đức đã chiếm nước Pháp, thiết lập chính quyền Vi-si làm tay sai cho Đức. Trục Đức - Ý - Nhật đã hình thành từ tháng 9-1940. Trước đó một tháng, phát xít Nhật đã gửi tối hậu thư cho chính quyền Pháp và Đông Dương đòi nắm quyền kiểm soát. Trên chiến trường châu Âu, Liên Xô đã chiếm miền Đông Ba Lan, Phần Lan và các nước ven biển Bantích... Tình hình thế giới hết sức căng thẳng, đang chuyển biến mau lẹ. Vấn đề đặt ra một cách cấp bách cho cách mạng Việt Nam lúc đó là phải kịp thời tổ chức và tập hợp mạnh mẽ các lực lượng cách mạng trong nước, bám sát diễn biến của chiến sự đang tác động trực tiếp đến vận mệnh xứ Đông Dương, dự đoán thời cơ và tranh thủ thời cơ, kết hợp tốt những nỗ lực chủ quan với những biến động khách quan, giành cho được chính quyền trong cả nước, tạo ra thế mới và lực mới để sẵn sàng đánh bại những đòn phản công quyết liệt của thực dân xâm lược. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng quân sự của Người trong suốt thời kỳ tiền khởi nghĩa đã được vận dụng một cách cực kỳ linh hoạt, sáng tạo vào việc chỉ đạo và tổ chức một loạt các nội dung lớn nhằm chuẩn bị mọi mặt tiến tới chớp thời cơ "nghìn năm có một", giành lại tự do độc lập cho dân tộc sau ngót trăm năm mất nước. Lực lượng được chuẩn bị, căn cứ địa được xây dựng và mở rộng, Mặt trận đoàn kết dân tộc được tăng cường. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời mà Chỉ thị thành lập của lãnh tụ Hồ Chí Minh là một mẫu mực về cương lĩnh quân sự cách mạng ở một xứ thuộc địa. Toát lên trong chỉ thị đó là tư tưởng lớn: muốn có đủ sức mạnh chống lại kẻ thù phải gắn chặt quân đội với nhân dân, gắn chặt quân sự với chính trị, bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương... dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Cộng sản. Cách mạng tháng Tám thành công là minh chứng sinh động của một mẫu hình cách mạng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” ở thuộc địa. Cuộc cách mạng đó thực hiện triệt để bước chuyển biến đưa dân tộc Việt Nam trở thành một nước tự do và độc lập, đưa nhân dân Việt Nam từ kẻ nô lệ thành người tự do, mỗi người đứng dậy tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Sự chỉ đạo chiến lược sắc sảo của Đảng, Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cách mạng tháng Tám tới ngày toàn quốc kháng chiến đã lần lượt vô hiệu hoá hàng loạt đối thủ muốn biến Việt Nam thành miếng mồi xâu xé, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vượt qua bao thử thách chông gai, ngày càng phát triển vững chắc, giành thắng lợi vang dội vào mùa Xuân 1975, thu non sông về một mốỉ, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm tư tưởng quân sự, trong suốt những tháng năm ấy chẳng những là ánh sáng soi đường, chỉ lối cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đi tới mà còn được bổ sung, hoàn chỉnh qua thực tiễn đấu tranh, trở thành tài sản vô giá của dân tộc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 07:58:50 pm II- NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
1. Quan điểm "quân sự lấy chính trị làm gốc", "quân sự phải phục tùng chính trị" Nắm vững nguyên lý "chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực" và không có cuộc chiến tranh nào không mang tính mục đích chính trị và tính giai cấp, Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quân sự và chính trị, chiến tranh và chính trị. Người khẳng định vai trò quyết định, chỉ đạo của chính trị trong mọi hoạt động quân sự, từ việc vạch ra đường lối chiến lược, phát động và tập hợp quần chúng đấu tranh vũ trang, xây dựng và sử dụng lực lượng đến việc củng cố hậu phương, căn cứ địa; nâng cao trạng thái chính trị, tinh thần của quân đội... Bởi vì: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.318). Điều đó có nghĩa là, mọi tổ chức và mọi hoạt động quân sự đều phải quán triệt và tuân theo sự chỉ đạo của đường lối chính trị, phải thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cách mạng. Mục tiêu chính trị của cuộc cách mạng mà Hồ Chí Minh và chính đảng vô sản do Người sáng lập và lãnh đạo, được xác định là: "Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người"; là "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"; là làm cho đất nước hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, mọi người được ấm no, hạnh phúc. Mục tiêu chính trị đó vừa phản ánh đúng ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Theo mối liên hệ bản chất giữa tư tưởng cách mạng và các bộ phận hợp thành, mục tiêu cách mạng trên đồng thời cũng quy định tính chất, mục đích yêu nước, tiến bộ và chính nghĩa của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo. Mục tiêu lâu dài của cách mạng được thể hiện thành mục đích chính trị của mỗi cuộc chiến tranh cụ thể: độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, tiến lên chủ nghĩa xã hội trong kháng chiến chống thực dân Pháp; bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định, mọi hoạt động quân sự và xây dựng lực lượng quân sự phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân của Đảng, phải được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp về mọi mặt của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân. Người chỉ rõ: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, sđd, tr.350). Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đó là nguyên tắc cao nhất và là nhân tố quyết định sự trưởng thành, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang và quân đội ta. Tuy nhiên, khi đề ra luận điểm "quân sự phục tùng chính trị", Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, đối với quân sự thì "chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.318). Điều đó cũng có nghĩa là, quân sự phục tùng chính trị không phải là chính trị chung chung, mà phải thể hiện ở việc giải quyết thắng lợi các vấn đề quân sự, nhằm đạt được mục đích chính trị của chiến tranh, mục tiêu của cách mạng. Quan điểm "quân sự lấy chính trị làm gốc", "quân sự phục tùng chính trị” là quan điểm cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo mọi lực lượng, mọi hoạt động quân sự của Đảng và nhân dân ta trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Thực tiễn thắng lợi của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng ở nước ta, của việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong hơn nửa thế kỷ qua, đã chứng minh quan điểm trên của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn trong chiến tranh, mà còn có ý nghĩa chỉ đạo công cuộc củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang trong hoà bình, kết hợp xây dựng đất nước với bảo vệ Tổ quốc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 07:59:49 pm 2. Quan điểm "dân là gốc", "dân làm chủ".
Thấm nhuần nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử và kế thừa truyền thống "lấy dân làm gốc" của dân tộc, Hồ Chí Minh trước sau như một đánh giá rất cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng nói chung, trong đấu tranh quân sự nói riêng. Theo Người, "dân là gốc", "có dân là có tất cả". Đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng đều là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Quan điểm "dân là gốc" và "dân làm chủ" trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thể hiện rõ rệt ở việc tổ chức, xây dựng lực lượng của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Người chủ trương động viên và tổ chức hết thẩy mọi lực lượng giai cấp và tầng lớp yêu nước của cả dân tộc, kể cả kiều bào ở nước ngoài tham gia. Người kêu gọi: "Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.507, 554) và "động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.507, 554), tiến hành khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân, lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống mới do nhân dân làm chủ. Khi miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiên trì quan điểm nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với an ninh nhân dân, thực hiện toàn dân xây dựng đất nước và toàn dân làm quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Người chỉ rõ: "Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung, là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, sđd, tr.404-405). Điều đó cho thấy, khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân, và quốc phòng toàn dân thể hiện đậm nét tư tưởng Hồ Chí Minh về "dân là gốc”, "dân làm chủ” trong quân sự, trong cả khởi nghĩa, chiến tranh và quốc phòng. Quan điểm "dân là gốc" và "dân làm chủ" cũng thể hiện rõ nét trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Hồ Chí Minh chủ trương "người trước súng sau", từ phong trào chính trị của quần chúng mà tổ chức và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Quân đội nhân dân, các lực lượng vũ trang nhân dân là từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đó là đội quân thực sự của dân, do dân và vì dân. Người chỉ rõ: "Dân như nước quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.207) thì mới đánh thắng giặc và chỉ có dựa chắc vào dân, các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân mới có nền tảng vững chắc để trưởng thành, lớn mạnh. Nhân dân chính là nguồn sức mạnh vô tận của quân đội nhân dân, của lực lượng vũ trang nhân dân. Trong chỉ đạo nghệ thuật quân sự của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phát huy tinh thần yêu nước, trí thông minh sáng tạo của mọi người dân Việt Nam, tham gia đánh giặc bằng mọi hình thức, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, đánh giặc ở trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao và ở mọi lúc, mọi nơi. Người kêu gọi: "Mỗi công dân là một chiến sĩ, mỗi làng là một chiến hào"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.151) tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân sâu rộng, liên tục vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt quân xâm lược. Cuộc chiến tranh nhân dân thực sự phát triển đến đỉnh cao, trong đó toàn dân tham gia đánh giặc, đánh giặc bằng mọi phương tiện và trên mọi lĩnh vực càng thể hiện rõ vai trò "dân là gốc" và "dân làm chủ" trong quân sự và trong chiến tranh. Đặc biệt "dân là gốc" và "dân làm chủ" được thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực xây dựng hậu phương, căn cứ địa - Quần chúng nhân dân là người che chở bảo vệ cán bộ và các đoàn thể cách mạng; là người làm ra của cải vật chất, cung cấp sức người, sức của cho khởi nghĩa và chiến tranh, phục vụ tiền tuyến và bảo đảm chiến đấu. Vai trò của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ, phát triển căn cứ địa, hậu phương được Hồ Chí Minh tổng kết: "Kháng chiến trường kỳ thì quân đội phải đủ súng, đủ đạn, quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc. Nước ta nghèo, kinh tế ta kém, những thành phố có chút công nghiệp đều bị giặc chiếm. Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của nhân dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.163). Rõ ràng, "dân là gốc" và "dân làm chủ" là một quan điểm cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đó là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, của lực lượng vũ trang nhân dân ta trong suốt mấy chục năm qua. "Dân là gốc" và "dân làm chủ" củng là nguồn sức mạnh vô địch của nền quốc phòng toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:01:24 pm III- NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHỦ YẾU
1. Về khởi nghĩa vũ trang toàn dân, chiến tranh toàn dân và quốc phòng toàn dân Thấu hiểu sâu sắc bản chất của chế độ thực dân ở nước thuộc địa nửa phong kiến, lại được tiếp thu quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ rất sớm Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường giành chính quyền ở Việt Nam phải bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Họa sĩ Thuỵ Điển Êrích Giôhanxơn trong một lần gặp gỡ với Người ở Mátxcơva (tháng 9 năm 1924) đã kể lại: "Nguyễn Ái Quốc đã suy nghĩ về sự giải phóng nước Việt Nam bằng khởi nghĩa vũ trang. Nguyễn cho rằng việc giải phóng đất nước không thể thực hiện bằng cải cách dần dần hay thông qua một sự giải phóng dân tộc từ trên xuống. Nguyễn thấy một cuộc đảo chính đơn giản không thể thực hiện được sự nghiệp giải phóng. Nguyễn nói chuyện rất say sưa về việc tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của nông dân và công nhân Việt Nam. Đó là những tế bào hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Nguyễn tin chắc rằng sẽ nổ ra"1 (Báo Nhân Dân ngày 15-5-1980). Cùng năm đó, trong "Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ", Người dự báo một cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra ở Việt Nam và nêu rõ: "Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1,sđd, tr.468). Từ khi Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5 năm 1941), vấn đề khởi nghĩa vũ trang được để cập một cách đầy đủ và toàn diện. Trên vấn đề này, Người xác định: cuộc cách mạng hiện tại ở Việt Nam là một cuộc vận động giải phóng dân tộc, "phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang". Tư tưởng Hồ Chí Minh vể khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam có bước phát triển mới với một số điểm nổi bật sau: - Một là, cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc phải do toàn dân tiến hành, lấy liên minh công nông làm lực lượng nòng cốt. Người kêu gọi toàn dân đoàn kết, từ "các chiến sĩ cách mệnh", "các bậc phụ huynh", "các bậc hiền nhân, chí sĩ”, "các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương, đến các bậc phú hào yêu nước, thương nòi"; hễ có cơ hội là vùng lên "đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa nóng". - Hai là, khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước để giành lấy chính quyền. Đó là một cuộc đấu tranh về chính trị và quân sự. Trên thực tế, thời kỳ này, Người đã trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị lực lượng, tổ chức địa bàn khởi nghĩa, nắm chắc thời cơ, kết hợp chặt chẽ hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự. - Ba là, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Hồ Chí Minh cho rằng, khác với khởi nghĩa vũ trang ở các nước Âu - Mỹ thường tiếp nối sau các cuộc đấu tranh chính trị, ở Việt Nam, khởi nghĩa có thể nổ ra ở một vài nơi rồi lan dần ra khắp cả nước. Người yêu cầu khởi nghĩa ở các địa phương phải đặt trong phong trào cách mạng rộng khắp của cả nước, đặc biệt phải luôn luôn hướng tới tổng khởi nghĩa để giành chính quyền. Tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám đã khẳng định khi thời cơ đến, "với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn". - Bốn là, sau khi khởi nghĩa thắng lợi phải thành lập ngay chính quyền cách mạng của nhân dân. Đó là chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Chính quyền đó có nhiệm vụ thủ tiêu hoàn toàn bộ máy nhà nước cũ, diệt trừ bọn phản động, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thành lập quân đội để tiếp tục chiến đấu và giữ gìn thành quả cách mạng. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ra đời đã chứng minh tính sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc trong thời đại mới. Vừa giành được chính quyền, nhân dân ta đã phải tiến hành liên tục hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong điều kiện lịch sử mới, từ khởi nghĩa vũ trang chuyển sang chiến tranh cách mạng, tư tưởng khởi nghĩa vũ trang toàn dân của Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng chiến tranh nhân dân, làm cơ sở cho đường lối kháng chiến của Đảng ta. Theo Hồ Chí Minh, chiến tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam phải là: toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, kháng chiến trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Đây là nội dung cơ bản của chiến tranh nhân dân ở một nước thuộc địa, kinh tế chậm phát triển chống lại chiến tranh xâm lược của bọn thực dân, đế quốc. Tư tưởng "toàn dân kháng chiến" của Người được thể hiện rõ ở Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr.480). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người tiếp tục khẳng định: "Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, sđd, tr.24, 323). "31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.444). Toàn dân kháng chiến phải gắn liền với toàn diện kháng chiến. Để đánh thắng bọn đế quốc xâm lược có lực lượng quân sự, kinh tế mạnh hơn ta gấp bội, Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp chặt chẽ các mặt trận, các hình thức đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; trong đó, đấu tranh quân sự là hình thức chủ yếu. Người kêu gọi: "Mỗi người dân Việt Nam bất kỳ già trẻ, trai gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên một mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd,tr.444). Thực hiện lời dạy của Người, quân và dân ta đã tiến hành một cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, đánh địch cả bằng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Trong cuộc kháng chiến đó, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng, đường phố là một pháo đài, mỗi chi bộ Đảng là một bộ tham mưu... Cả nước biến thành một trận địa bao la, buộc kẻ thù phải đương đầu với sức mạnh tổng hợp to lớn của cả một dân tộc quyết đánh và quyết thắng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:02:10 pm Hồ Chí Minh cũng xác định ta phải "trường kỳ kháng chiến". Bởi vì: "Đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện của toàn dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.164). Người chỉ rõ: "Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn cho đến ngày ta tổng phản công để quét sạch lũ chúng". Chủ trương của Người thể hiện tinh thần triệt để chống đế quốc xâm lược, kiên trì kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng; đồng thời cũng phản ánh đúng quy luật một nước nhỏ, thua kém địch nhiều lần về tiềm lực và sức mạnh quân sự, kinh tế như Việt Nam, muốn giành thắng lợi phải đánh lui địch từng bước, đánh thắng địch từng phần, đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Phát huy tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" trong Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh chủ trương kháng chiến phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời phải ra sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế. Người khẳng định: "Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.522). Theo Người, tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của dân tộc là cơ sở để "tranh thủ và tận dụng được sự ủng hộ", sự giúp đỡ vê vật chất, tinh thần của các nước anh em, của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ. Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là hết sức quan trọng, nhưng không được ỷ lại, dựa dẫm; không để ảnh hưởng đến độc lâp, tự chủ của đất nước. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã chứng tỏ sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. Trong tác phẩm Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, đồng chí Phạm Văn Đồng viết: "Có lẽ hiếm có ở đâu chiến tranh nhân dân trong thực tế lại đúng với tên gọi của nó như vậy, thực sự sâu rộng trong nhân dân và thực sự vô địch như nhân dân"; và, "Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh vào lý luận về phương pháp cách mạng là lý luận về chiến tranh nhân dân"1 (Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, H.1990, tr.142). Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh về mọi mặt làm "nền gốc" cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Để khắc phục nhận thức lầm tưởng hoà bình là thái bình ở một số cán bộ, Người nói rõ: "Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hoà bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nửa đất nước ta, và chúng đang chuẩn bị chiến tranh, vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hoà bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao để phòng và cảnh giác"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, sđd, tr.156). Vấn đề xây dựng đi đôi với bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vấn đề củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và quân đội nhân dân được khẩn trương đặt ra ngay sau ngày miền Bắc sạch bóng quân xâm lược. Tháng 3 năm 1957, Hội nghị lần thứ 12 của Ban chấp hành Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh chủ trì, đã ra nghị quyết về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và thông qua kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội (1956-1960). Hồ Chí Minh khẳng định, trong những điều kiện lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta hiện nay, xây dựng và củng cố quốc phòng phải là một bộ phận không thể tách rời của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; và muốn có nền quốc phòng vững mạnh thì "phải dựa vào lực lượng của nhân dân, phải làm cho mỗi người dân hiểu rõ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, sđd, tr.566). Người chủ trương xây dựng một nền quốc phòng thực sự của dân, do dân và vi dân; đó là nền quốc phòng mang bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, của nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử chuyên chính vô sản. Nền quốc phòng đó không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích củã nhân dân, không chỉ chống giặc ngoài mà còn chống cả thù trong, nhằm phục vụ mục tiêu cao cả của nhân dân ta là hoà bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Theo tư tưởng của Người, nền quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng do toàn dân xây dựng, dựa vào sức mạnh toàn diện của đất nước, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền quốc phòng đó đảm bảo cho miền Bắc vừa làm được nhiệm vụ là căn cứ địa, hậu phương của cả nước, vừa đủ sức đánh bại mọi mưu đồ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về quốc phòng được tiếp tục bổ sung, ngày càng hoàn chỉnh và trở thành cơ sở cho đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:04:16 pm 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân
Kế tục và phát huy nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc trong điều kiện mối, tư tưởng Hồ Chí Minh vể nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng có bước phát triển mới, rất phong phú và rất đặc sắc. Đó là nghệ thuật quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công đi đôi với giành thế chủ động trong chiến tranh. Với Hồ Chí Minh, cách mạng là tiến công, khởi nghĩa là tiến công, "chỉ có tiến không có thoái"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.314). Theo Người, chỉ có tiến công kiên quyết và liên tục mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, có tiến công mới giành được quyền chủ động; ngược lại, có nắm được quyền chủ động mới đảm bảo phát triển không ngừng thế tiến công. Hồ Chí Minh viết: "Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù1 (Tức là khôn khéo điều khiển quân thù), muốn đánh nó chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được... giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.473). Nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công nhưng không phiêu lưu, mạo hiểm mà phải biết tiến công. Đó là tiến công bằng mọi lực lượng, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, ở mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt phải biết tiến công vào những nơi hiểm yếu của quân thù. Người chỉ rõ phải biết "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", "tránh chỗ rắn, nắn chỗ mềm", phải đánh vào những nơi hiểm yếu của chúng. Nơi ấy thường là những nơi lực lượng địch yếu và mỏng, có nhiều sơ hở, hoặc cũng là nơi địch không phát huy được sở trường của chúng, còn ta lại có thể phát huy được ưu thế của mình. Đánh trúng những chỗ yếu, chỗ hiểm của địch, thì lực nhỏ cũng có thể tạo nên hiệu quả lớn. Trong tư tưởng của Người, chiến lược tiến công không loại trừ phòng ngự khi cần thiết. Người nhấn mạnh: "Bao giờ cũng giữ thế tiến công", nhưng trong điều kiện cụ thể nhất định buộc phải phòng ngự thì phòng ngự cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công "chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.491). Nghĩa là, muốn giữ, muốn phòng ngự thì phải tìm cách tiến công quân thù một cách có hiệu quả hơn, tiến công vào nơi hiểm yếu của địch, vào lúc chúng chủ quan, sơ hở. Đó là nghệ thuật tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để giành chiến thắng. Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của chiến tranh cách mạng Việt Nam là "nước nhỏ đánh nước lớn", "lấy yếu chống mạnh", "lấy ít địch nhiều", quan điểm của Hồ Chí Minh là phát động toàn dân đánh giặc, đánh giặc bằng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí, mọi cách đánh. Đó là nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị của quần chúng, tiến công cả trước mặt và sau lưng địch, bằng đánh du kích và đánh chính quy, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị; kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; tiêu hao, tiêu diệt địch gắn với làm tan rã hàng ngủ địch, đập tan ý chí xâm lược của chúng. Nhờ đó, hoạt động quân sự không còn là việc riêng của quân đội mà được nhân dân cả nước thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đấu tranh vũ trang cũng không còn là lĩnh vực dành riêng cho quân đội, ngược lại được toàn dân tự giác đứng lên chiến đấu. Cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân ta thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, đánh bằng sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, của quân đội và toàn thề nhân dân. Vì thế kháng chiến có thể kéo dài cho đến khi toàn thắng, còn quân địch dù hung hãn và trang bị hiện đại đến mức nào cũng thất bại. Đó là nghệ thuật tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu và phát huy các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Trong chỉ đạo chiến tranh, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc kết hợp lực, thế, thời, mưu để giành chiến thắng. Nắm vững và vận dụng tài tình quy luật về thế và lực trong chiến tranh, Người giải thích: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh nhấc bổng đước một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, sđd, tr.455). Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng vấn đề thời cơ và nhấn mạnh phải có quyết tâm tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi. Trong bài "Học đánh cờ" Người viết: "Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.287). Để phát huy hiệu quả của lực, thế, thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải dùng mưu, bày kế để đánh địch. Người chỉ rõ: "Phải dụ quân giặc vào bẫy để đánh", "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, náo phía đông, đánh phía tây" và "du kích cũng như đánh cờ, mưu cao kế khéo bao giờ cũng ăn". Trong tư tưởng của Người, lực, thế, thời, mưu có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau. Thế, lực vận động thì tạo ra thời; biết dùng mưu thì hạn chế được cái mạnh của địch, phát huy được cái mạnh của ta, tạo điều kiện chuyển biến về chất ở thời điểm quyết định để giành thắng lợi. Với Hồ Chí Minh, "Tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu" còn gắn liền với việc phát huy các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Người coi đây là những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh; trong đó, nhân hoà là quan trọng bậc nhất. Người nhấn mạnh: "Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hoà là phe ấy thắng"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr.463). Bởi vì, có nhân hoà mới có lực lượng, mới tạo được thế trận, mới tạo ra thời cơ và tranh thủ được thời cơ. Người khẳng định: "Lòng yêu nước của đồng bào nhập với hình thế hiểm trở của núi sông, thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tiến công của thực dân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.366). Đó còn là nghệ thuật biết khởi đầu và kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi từng bước. Xuất phát từ điều kiện chiến tranh của một nước nhỏ, tiềm lực quân sự, kinh tế thua kém địch nhiều lần, quan điểm của Hồ Chí Minh là giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Người xác định con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải trải qua một quá trình lâu dài, gồm nhiều chặng đường đấu tranh gian khổ phức tạp. Điều đó có nghĩa là ở mỗi chặng đường nhất định, phải biết đề ra mục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết lãnh đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh cho mục tiêu cụ thể đó thắng lợi, mở đường cho cách mạng bước tới những bước mới cao hơn và tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Trong khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở cơ sở về tay nhân dân, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Trong chiến tranh cách mạng, biết chủ động tiến công địch từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn cục, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra phải biết khởi đầu và kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất bởi, việc mở đầu chiến tranh vào lúc nào, như thế nào có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến cục diện, đến kết cục cuối cùng của cuộc chiến tranh; nghĩa là mở đầu chiến tranh phải bảo đảm giành được thắng lợi trong bước khai chiến, ngay từ những trận đánh đầu tiên; còn kết thúc chiến tranh làm sao vừa đạt được mục tiêu cách mạng, tạo cơ sở cho giai đoạn phát triển tiếp sau, vừa góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Người hết sức kiềm chế, tìm mọi cách để trì hoãn, tránh chiến tranh, nhưng khi không thể nhân nhượng hơn được nữa thì kiên quyết kháng chiến. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:05:38 pm 3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân được hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Có thể nêu lên một số điểm nổi bật sau đây trên lĩnh vực này: Theo Hồ Chí Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng phải bắt đầu từ việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, trên cơ sở đó mà xây dựng và phát triển lực lượng quân sự; từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Người chỉ rõ: "Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị này càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện vác súng thì mới thắng được"1 (Vũ Anh, Hồi ký Bác Hồ, Nxb Văn học, H.1960, tr.120). Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tư tưởng của Người về xây dựng ba thứ quân và mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang tập trung với các lực lượng vũ trang địa phương được nêu rất rõ trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tháng 12-1944). Bản Chỉ thị viết: "Về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng", do đó "sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực". "Trong khi tập trung lực lượng để thành lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.507). Thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đã chứng tỏ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc là hình thức tổ chức thích hợp nhất để phát huy sức mạnh của cả dân tộc, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta, phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thành một quân đội cách mạng vững mạnh về mọi mặt, từng bước chính quy hiện đại. Trước hết, Người chú trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, trong đó vấn đề cốt lõi là tăng cường bản chất giai cấp công nhân, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, với mục tiêu lý tưởng cách mạng. Người nhấn mạnh xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là cơ sở, là nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, "chính trị là vận mệnh của quân đội cách mạng". Vì vậy, "cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội, phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, sđd, tr.140). Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm xây dựng tinh thần dân chủ, kỷ luật, đoàn kết cho bộ đội. Người dạy: "Kỷ luật là sức mạnh của quân đội"; "kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật"; bộ đội phải nêu cao tinh thần đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng quân đội ta thực sự là quân đội của dân, do dân và vì dân. Người thường xuyên nhắc nhở: "Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, sđd, tr.101); "Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.393). Người dặn dò bộ đội: "Mình đánh giặc là vì dân nhưng không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.207). Trong buổi thành lập "Đội quân đầu tiên" của cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được"5 (Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H.1977, tr.130). Chỉ có dựa vào dân, quân đội ta mới có thể phát triển được nhanh chóng, vững mạnh. Người khái quát: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục"6 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, sđd, tr.350). Một nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội là lấy việc bồi dưỡng, xây dựng con người là chính "người trước, súng sau". Theo Hồ Chí Minh, người quân nhân có "tư tưởng vững, chính trị vững, kỷ luật khá, thân thể khoẻ mạnh thì nhất định thắng"; còn nếu "chính trị khá nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá, nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.320). Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ ra sức phấn đấu để có phẩm chất và năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng. Đề cao vai trò con người, nhưng Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nâng cao trình độ vũ khí, trang bị. Người xác định quân đội ta "phải tiến lên chính quy, hiện đại", bao gồm nhiều quân, binh chủng; có quy mô tổ chức và số lượng hợp lý, có chất lượng ngày càng cao. Người cũng nêu rõ: "Thực túc thì binh cường", yêu cầu các cấp, các ngành chăm lo nuôi dưỡng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của bộ đội, từ nơi ăn chốn ở đến sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ, "phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng đến chiến sĩ"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.514). Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, coi đó là khâu then chốt của việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Người xác định: "Tướng là kẻ giúp nước, tướng giỏi thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.519). Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chú trọng cử người đi học quân sự, quan tâm đến các trường quân sự và viết nhiều tài liệu để bồi dưỡng tri thức quân sự cho cán bộ, chiến sĩ. Người đề ra 6 yêu cầu đối với người tướng là: "Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung"; đặt chữ "Trí" lên đầu, nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm, thái độ của người tướng đối với nhiệm vụ, đối với binh sĩ, đối với nhân dân và đối với kẻ địch. Người yêu cầu: "Người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị phải làm kiểu mẫu"; lời nói, việc làm đi đôi với nhau và Người tự mình làm gương cho cán bộ chiến sĩ noi theo. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra, quân đội ta phải có một "lối đánh tài giỏi", biết thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Vì chỉ có đánh giỏi mới tăng hiệu suất tiêu diệt địch, làm cho chúng nhanh chóng suy yếu, đồng thời bảo toàn được lực lượng ta, để ta càng đánh càng mạnh. Nghĩa là, trong chiến đấu ý chí quyết đánh là điều kiện hàng đầu, nhưng biết đánh, biết chiến thắng mới là yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi. Người chỉ ra cách đánh thắng địch bằng mưu kế và bằng thế, thời; lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, trong trường hợp cần thiết lại biết tập trung ưu thế để đánh những đòn quyết định. Khi thì "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, náo phía đông, đánh phía tây”; lúc lại ’’mình yên đánh quân thù động, mình khoẻ đánh quân thù mệt", bao giờ cũng phải "giữ thế công", phải đánh chắc, tiến chắc, tuyệt đối không được chủ quan, khinh địch. Chính nhờ xác định đúng cách đánh giặc, quân và dân ta không ngừng phát huy sức mạnh của mình, giành thắng lợi từng bước, càng đánh càng thắng, tiến lên giành được thắng lợi hoàn toàn. Những nội dung tư tưởng nêu trên của Người thống nhất chặt chẽ với nhau, thể hiện sâu sắc những nguyên lý và quy luật về xây dựng quân đội cách mạng, lực lượng vũ trang nhân dân ở nước ta. Tư tưởng của Người chỉ rõ sức mạnh của quân đội, của lực lượng vũ trang gắn liền với sức mạnh lãnh đạo của Đảng, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:07:04 pm 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ dịa và hậu phương của chiến tranh nhân dân
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của căn cứ địa, hậu phương trong khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Người thường nói: "Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương". Đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng càng lâu dài, ác liệt thì vai trò của căn cứ địa, hậu phương càng trở nên quan trọng. Theo Người, căn cứ địa và hậu phương là "nơi đứng chân làm cơ sở" cho lực lượng vũ trang "tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng"1 (Hồ Chí Minh, Con đường giải phóng, Tư liệu lưu trữ tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam); là nơi, "đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.504), và là nhân tố bảo đảm cho khởi nghĩa, chiến tranh thắng lợi. Vì vậy, Người hết sức quan tâm đến việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương để tạo tiềm lực và chỗ đứng vững chắc trong khởi nghĩa cũng như chiến tranh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa và hậu phương thể hiện trên mấy vấn đề chủ yếu sau: Trước hết, Hồ Chí Minh cho rằng: "Căn cứ, hậu phương vững chắc nhất là lòng dân". Người coi vấn đề quan trọng hàng đầu là xây dựng cơ sở chính trị của quần chúng, triệt để dựa vào nhân dân, dựa vào "nhân sơn, nhân hải" để từng bước xây dựng, củng cố, mở rộng căn cứ địa cách mạng hậu phương chiến tranh. Vì nhân dân không chỉ là người nuôi dưỡng, che giấu, bảo vệ cán bộ và các tổ chức cách mạng, mà còn là nguồn cung cấp sức người, sức của cho khởi nghĩa và chiến tranh, đảm bảo kháng chiến lâu dài cho đến thắng lợi cuối cùng. Chỉ khi nào động viên và tổ chức lực lượng toàn dân của cả dân tộc tham gia thì sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng căn cứ địa, hậu phương mới trở nên vững chắc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sự nghiệp xây dựng căn cứ địa và hậu phương phải toàn diện, ngày càng hoàn chỉnh, vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá... Người đề ra kháng chiến đi đôi với kiến quốc, vừa chống giặc đói, vừa chống giặc dốt, vừa chống giặc ngoại xâm. Người kêu gọi tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, khôi phục kinh tế, mở mang văn hoá, "hậu phương thi đua với tiền phương" nhằm bồi dưỡng sức dân, nâng cao dân trí để chiến đấu lâu dài, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, bảo đảm thắng lợi hoàn toàn. Ngay từ ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Hồ Chí Minh đã vạch phương hướng cho việc xây dựng hậu phương: "Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ, người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.65) làm cho trong kháng chiến, nhân dân có "vật chất đầy đủ hơn, tinh thần được vững mạnh hơn". Trong kháng chiến chống Mỹ, Người xác định miền Bắc là hậu phương lớn của miền Nam. Người đã cùng Đảng ta lãnh đạo quân dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, làm cho hậu phương lớn miền Bắc ngày càng vững mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch và hết lòng chi viện sức người sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trong điều kiện cụ thể của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta, Hồ Chí Minh đề ra yêu cầu xây dựng căn cứ địa, hậu phương trên mọi địa bàn đất nước: ở vùng rừng núi, đồng bằng và xây dựng những cơ sở chính trị của quần chúng ở thành thị. Bởi vì, trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, lực lượng tham gia đánh giặc là toàn dân trên khắp mọi miền đất nước, từ miền ngược đến miền xuôi, trong đó công nhân và nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng, của kháng chiến. Có dựa vào lực lượng cách mạng quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở nông thôn và cơ sở chính trị ở thành thị, ta mới tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân trên cả nước, bảo đảm có thể đánh, giặc ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, Người cũng yêu cầu phải sẵn sàng chiến đấu, gắn liền việc xây dựng, củng cố căn cứ địa, hậu phương với tích cực chiến đấu chống mọi âm mưu phá hoại, lấn chiếm của địch vì căn cứ, hậu phương của ta luôn là mối uy hiếp đối với địch. Chúng liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét lấn chiếm, mở rộng phạm vi chiếm đóng, hòng thu hẹp và làm cho căn cứ địa, hậu phương của ta rối loạn, mất ổn định. Do đó, quân và dân ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu phá hoại, lấn chiếm của địch, giữ vững địa bàn, bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ sản xuất, giao thông vận tải, giữ vững trật tự trị an, giữ vững ý chí chiến đấu trong mọi tình huống. Hồ Chí Minh cũng chủ trương phát huy đến mức cao nhất những điều kiện thuận lợi của thời đại để xây dựng căn cứ địa, hậu phương. Người xác định hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào hoà bình tiến bộ trên thế giới là hậu phương lớn, là nguồn cung cấp vật chất cần thiết và cổ vũ tinh thần mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Kết quả to lớn của việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương bảo đảm cho Cách mạng tháng Tám thành công và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi đã chứng minh tính đúng đắn, sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về chỗ đứng chân, về xây dựng tiềm lực trong khởi nghĩa và chiến tranh. Trên đây là một số nội đung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam. Đó là tư tưởng của khoa học tạo ra sức mạnh nhằm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình. Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta suốt mấy chục năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không ngừng được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn chỉnh. Ngày nay, tư tưởng của Người vẫn đang tiếp tục định hướng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:09:17 pm IV- GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung toàn diện và phong phú. Tư tưởng đó không chỉ là sự vận dụng sáng tạo lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Việt Nam mà trên thực tế, còn bổ sung, làm phong phú thêm lý luận quân sự chủ nghĩa Mác - Lênin bằng thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam. Có thể nêu bật vài luận điểm chủ yếu sau đây: Cùng với các luận điểm nổi tiếng về cách mạng Việt Nam "chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, sđd, tr.128), "Không có gì quý hơn độc lập tự do"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, sđd, tr.108), luận điểm "đem sức ta mà giải phóng cho ta" (nêu lên trong lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945) thể hiện quan điểm quân sự cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc đấu tranh tự giải phóng của dân tộc Việt Nam. Quan điểm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" hình thành từ đầu năm 1905, khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ chối sự lựa chọn vào danh sách Đông du do cụ Phan Bội Châu đề xuất, với ý định dựa vào sự giúp đỡ của nước Nhật để thoát khỏi nền thống trị của thực dân Pháp. Quan điểm đó được củng cố trong suốt quá trình tham gia Đảng Xã hội Pháp, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, rồi chuyên viên về thuộc địa bên cạnh uỷ viên Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chuyên trách các vấn đề dân tộc và thuộc địa (Manuinxki). Luận điểm "chỉ có bản thân nỗ lực đấu tranh mới mong có giải phóng được" đã được Nguyễn Ái Quốc viết rõ trong "Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa" từ những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX. Trong nhiều Đại hội Quốc tế Cộng sản, nhân danh đại biểu xuất thân từ thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chẳng những đã thuyết minh về sự cấp bách và tính chủ động cần thiết của cách mạng ở thuộc địa mà còn chứng minh vai trò "ủng hộ cách mạng ỏ chính quốc" của cuộc đấu tranh tự giải phóng của nhân dân thuộc địa. Thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam đã chứng thực tính đúng đắn và sự sáng tạo đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng ở thuộc địa. Với Hồ Chí Minh, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" không có nghĩa là không thường xuyên tranh thủ sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, sự ủng hộ có hiệu quả của các Đảng anh em, những thời cơ do cuộc đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới đem lại, những thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga, sự viện trợ quý báu của các nước anh em, bè bạn cho kháng chiến Việt Nam. Luận điểm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" đã bao hàm quan điểm "bạo lực cách mạng" của lý luận quân sự Mác - Lênin, quan điểm "Dân là gốc và dân làm chủ", "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", quan điểm "quân sự phải phục tùng chính trị", "mọi hoạt động quân sự cách mạng đều nảy sinh từ ý chí cách mạng của quần chúng"... "Sức ta" đương nhiên phải bao gồm sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, của "thế trận lòng dân”, của vũ trang toàn dân, của quốc phòng toàn dân lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. "Giải phóng cho ta" không chỉ hàm nghĩa tự giải phóng khỏi nền thống trị của thực dân đế quốc, với điều kiện phải đánh thắng đồng thời cả ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; mà còn mang hàm nghĩa tự giải phóng khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" trong giai đoạn mới. "Sức ta" đương nghiên phải bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cũng không chỉ bao gồm sức mạnh quân sự, mà phải bao gồm một tổng hợp sức mạnh về kinh tế, chính trị tư tưởng và văn hoá, những nỗ lực xây dựng hậu phương, căn cứ địa cách mạng, phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự và kỹ thuật quân sự theo kịp yêu cầu, chiến đấu qua mỗi thời kỳ lịch sử. "Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" là một luận điểm cơ bản xuyên suốt mọi nội dung của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xuyên suốt toàn bộ quá trình cứu nước, dựng nước và giữ nước trong đời hoạt động của người thầy cách mạng Việt Nam. Đó cũng là luận điểm vừa vận dụng vừa phát triển lý luận quân sự Mác-Lênin vào hoàn cảnh một thuộc địa còn nghèo nàn lạc hậu mà đã chủ động đứng dậy tự giải phóng và tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh thắng "hai đế quốc to" rồi tiếp tục đứng vững trong cuộc khủng hoảng của cách mạng thế giới, do sự sụp đổ của "phe xã hội chủ nghĩa, lấy Liên Xô làm trụ cột". Những quan điểm "tự lực cánh sinh", "dựa vào sức mình là chính”, "triệt để phát huy nội lực",... đi đôi với tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của anh em, bè bạn, gắn chặt với sức mạnh thời đại,... đều là các dạng thức phát triển của luận điểm cơ bản đó. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự trong việc vận dụng và phát triển lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam còn thể hiện nổi bật ở quan điểm chỉ đạo xử lý một vấn đề rất cốt tử của sức mạnh quân sự ở một nước nghèo nàn lạc hậu, đến nay vẫn cần được làm rõ. Đó là vấn đề làm sao có đủ vũ khí trang bị cần thiết đê đương đầu với các thế lực đế quốc thống trị và xâm lược luôn luôn là kẻ mạnh hơn ta về vũ khí trang bị. Đó là luận điểm "Người trước súng sau" được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định trong thời kỳ chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám. Quả thật, lúc bấy giờ, "đánh Pháp, đuổi Nhật" tất phải có súng, mà súng lúc đó thì chưa biết lấy từ đâu. Nhiều người thành thật nêu lên thắc mắc và thắc mắc đó được Hồ Chí Minh giải đáp bằng luận điểm nổi tiếng trên đây. "Người trước súng sau" không phải là một mệnh đề để "đánh thông tư tưởng" mà là một quan điểm chỉ đạo rất sâu sắc, đầy sự sáng tạo trong suốt cuộc chiến đấu chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, chẳng những được thực tiễn cách mạng Việt Nam mà cả thực tiễn cách mạng thế giới chứng minh là đúng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Năm, 2021, 08:09:46 pm Lý luận quân sự Mác - Lênin đã đặt ra và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong các lực lượng vũ trang cách mạng. Dù luôn khẳng định vai trò làm chủ của con người đối với vũ khí, như "lý luận về bạo lực" của Ăng-ghen, nhưng chính Ăng-ghen trong khi xử lý mối quan hệ giữa bạo lực và kinh tế đã khẳng định những người sản xuất ra vũ khí tốt hơn sẽ chiến thắng những người sản xuất ra vũ khí thua kém. Trong phạm vi mối quan hệ giữa bạo lực và kinh tế, Ăng-ghen đã bác bỏ luận điểm ''bạo lực đơn thuần là hành vi của ý chí mà đã chứng minh bạo lực còn là sản phẩm của các trình độ phát triển của sức sản xuất. Đặt giả thiết các yếu tố khác đều ngang nhau thì theo Ăng-ghen, người sản xuất ra vũ khí tốt hơn sẽ đánh thắng người sản xuất ra vũ khí thua kém. Nhưng, lý luận quân sự tư sản lại tuyệt đối hoá vai trò của vũ khí kỹ thuật trong quân sự; hạ thấp vai trò của con người, dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt, gây hại cho sự phát triển bình thường của đời sống kinh tế và chính trị của thế giới.
Luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề phủ định sự cần thiết phải có vũ khí tốt, nhưng luận điểm đó khẳng định trên cương vị chỉ đạo cách mạng, nếu không tìm mọi cách tạo ra những con người có đủ quyết tâm, ý chí thì không có cách gì để có súng tốt, thậm chí có vũ khí tốt thì vũ khí đó cũng sẽ trở thành vô dụng nếu không có con người biết sử dụng một cách đúng đắn, hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh khi phong trào cách mạng đã phát triển rộng rãi thì có rất nhiều nguồn, nhiều cách để "tạo ra" vũ khí. Có nơi dùng uy thế của cách mạng tước vũ khí của bọn tay sai. Có người do yêu mến cách mạng mà trao tặng vũ khí tự vệ. Nhiều đội quân đã cướp súng giặc để đánh giặc. Khi khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng thì nhân dân đã hưởng ứng "Tuần lễ vàng" quyên góp cả đồ trang sức, của gia bảo cho Chính phủ có tiền mua thêm vũ khí. Cùng với phong trào cướp súng giặc của các lực lượng vũ trang, nhiều nước bạn, vì sự nghiệp đánh kẻ thù chung, đã ”viện trợ" rất lớn cho kháng chiến Việt Nam. Luận điểm trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là: muốn tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc chế độ mới, vấn đề đầu tiên là phải quy tụ cho được lòng người; có được con người thì sẽ có vũ khi trang bị. Dù cố tiếp thu khoa học - công nghệ mới để cải tiến vũ khí trang bị cũng phải có những con người tâm huyết với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Muốn mua sắm vũ khí trang bị mới cũng phải đi từ những con người sẵn sàng đóng góp của cải cho sự nghiệp phòng thủ quốc gia. Ngược lại, dù đã có vũ khí tốt mà con người không chăm lo bảo quản, học cách sử dụng cho thông thạo, sáng tạo thì cũng không phát huy được hết hiệu quả, còn để cho hư hỏng, thất tán. Ngày nay, luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh "vẫn đang soi sáng phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Đó là phương hướng "xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến dấu không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống". Quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ" đó là nói về con người; còn "từng bước hiện đại" là nói vể trình độ trang bị kỹ thuật và khả năng con người làm chủ trang bị kỹ thuật. Đương nhiên, trong yêu cầu chính quy, tinh nhuệ đã bao hàm yêu cầu làm chủ vũ khí kỹ thuật nhưng từ hai yêu cầu đó chưa nói rõ trình độ phát triển của vũ khí kỹ thuật mà vẫn nhấn mạnh những yêu cầu đối với con người. Bởi vậy, trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị trong việc giải quyết mối quan hệ cơ bản giữa con người và vũ khí. Không chăm lo nâng cao trình độ trang bị cho các lực lượng vũ trang để rơi vào tình trạng "tụt hậu" quá xa về vũ khí trang bị sẽ phải trả giá bằng những thiệt hại lớn do địch gây ra. Nhưng nếu không nắm chắc yêu cầu xây dựng con người, quy tụ lòng người thì dẫu vũ khí tốt cũng không phát huy nổi tác dụng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ. Đó là thực tế đã diễn ra ở nhiều nơi trong khủng hoảng tan rã của "hệ thống xã hội chủ nghĩa". Đối với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, thông qua cuộc đấu tranh tự giải phóng của dân tộc Việt Nam đã góp phần đắc lực làm thay đổi nhận thức về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức với các nước lớn trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa, mối quan hệ giữa phong trào cách mạng thế giới với cách mạng ở thuộc địa; đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh. Thật vậy, mấy mươi năm qua kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, thông qua cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, đã nhận rõ sức mạnh của chính mình. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đặc biệt sau đại thắng mùa Xuân 1975, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc phát triển rất mạnh mẽ, góp phần đắc lực vào việc buộc Liên hiệp quốc phải ban hành nghị quyết vể "phi thực dân hoá"1 (Sau nhiều năm đã ban hành Nghị quyết, tại phiên họp năm 1999 của "Ủy ban đặc biệt của Liên hiệp quốc về phi thực dân hóa", tổng thư ký Côphi Annan đề xướng việc thúc đẩy xóa bỏ chủ nghĩa thực dân vào năm 2000). Với những nội dung phong phú toàn diện, với những luận điểm cơ bản rút ra tuỳ theo góc độ của chủ đề nghiên cứu, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và những hiệu quả to lớn của nó, là sự cống hiến vĩ đại cho lý luận và truyền thống quân sự phong phú của dân tộc Việt Nam; đồng thời có sự phát triển sáng tạo lý luận quân sự Mác-Lênin vào hoàn cảnh cách mạng ở thuộc địa, một hoàn cảnh đặc thù đối với phong trào cách mạng vô sản toàn thế giới. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 07:56:26 pm QUỐC PHÒNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM Quốc phòng là hoạt động thường xuyên của mọi quốc gia nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Trong lịch sử, từ khi xuất hiện quốc gia - dân tộc thì cũng bắt đầu có các hoạt động quốc phòng. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức huy động sức mạnh mọi mặt của quốc gia để làm nhiệm vụ quốc phòng. Người dân càng ý thức được trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của đất nước thì càng hăng hái tham gia vào việc xây dựng và củng cố quốc phòng. Sức mạnh quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc rất nhiêu vào chế độ xã hội, trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật; đồng thời phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc. V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: "Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự của một nước mà ngân hàng đã quốc hữu hoá thì cao hơn khả năng phòng thủ của một nước mà ngân hàng còn trong tay tư nhân. Sức mạnh quân sự của nước nông nghiệp, trong đó ruộng đất ở trong tay những uỷ ban nông dân thì cao hơn sức mạnh quân sự của đất nước còn chế độ địa chủ chiếm hữu ruộng đất"1 (V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva (tiếng Việt), 1976, t.34, tr.261). Đây là chân lý đã được lịch sử nhiều cuộc chiến tranh chứng minh. Cũng như các quốc gia khác, nước Việt Nam ngay từ khi hình thành, các nhà nước đầu tiên dù còn tổ chức rất đơn sơ đã phải lo ngay đến việc phòng thủ đất nước. Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh bền bỉ, kiên cường chống hiểm họa bị đồng hoá và xâm lược. Phải có tinh thần tự chủ, tự cường rất mạnh mẽ, dân tộc ta mới giữ vững được nền độc lập của đất nước và bản sắc dân tộc của mình. Nước Việt Nam ta nằm trong miền Đông Nam châu Á, bắc giáp nước Trung Hoa, đông và nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương, tây giáp vịnh Thái Lan và hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia. Việt Nam không chỉ là một quốc gia giàu tài nguyên, mà quan trọng còn là cửa ngõ từ biển tiến vào lục địa và là ngã ba giao thông của khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, các thế lực phản động, đế quốc luôn dòm ngó, muốn làm chủ địa bàn này. Trong nhiều thế kỷ của thời Trung đại, khi các nước đế quốc phương Tây chưa kịp bành trướng thế lực đến Đông Nam Á thì các triều đại phong kiến Trung Hoa đã nhiều lần đem quân xâm lược Việt Nam. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh của phong kiến Trung Hoa đã 10 lần phát động chiến tranh xâm lược nước Đại Việt. Nhà Nam Hán 2 lần (năm 931 và 938), nhà Tống 2 lần (năm 981 và 1077), nhà Nguyên 3 lần (năm 1258, 1285 và 1288), nhà Minh năm 1406, nhà Thanh năm 1789. Triều đại này, thế kỷ này bị đánh bại thì triều đại sau, thế kỷ sau kẻ xâm lược lại thực hiện tiếp tham vọng xâm lược mới và dân tộc ta lại phải đứng lên chống xâm lược. Chỉ riêng trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dài tới 30 năm (1945-1975) mới giành được thắng lợi trọn vẹn. I- QUỐC PHÒNG TRONG CÁC TRlỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM Cách đây hàng ngàn năm, nhà nước cổ đại Việt Nam đầu tiên ra đời. Đó là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, tồn tại khá dài. Tiếp nối nhà nước Văn Lang là nước Âu Lạc của An Dương Vương. Từ 179 trước công nguyên trở đi đất nước ta bị phong kiến Trung Hoa xâm chiếm, dân tộc ta chìm đắm dưới ách đô hộ kéo dài trên 1.000 năm, được gọi là thời kỳ Bắc thuộc. Các nhà nước Việt Nam đầu tiên ra đời đã phải lo việc phòng thủ chống mối đe dọa bị xâm lược. Tuy tổ chức nhà nước còn rất đơn sơ nhưng các nhà nước đó đã chú ý đến việc cố kết cư dân, xây dựng ý thức cộng đồng để cùng nhau giữ làng giữ nước. Ngày nay còn rất ít tư liệu để tìm hiểu kỹ về công cuộc phòng thủ đất nước của các nhà nước Việt Nam sơ khai lúc mới ra đời. Nhưng dựa vào truyền thuyết dân gian và những cổ vật tìm kiếm được như các chuyện: vua Hùng kén rể (tướng), Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Thành Cổ Loa và nỏ thần của An Dương Vương,... cũng có thể suy đoán chắc chắn rằng: việc phòng bị chống giặc ngoại xâm đã được nhà nước Văn Lang, Âu Lạc coi trọng. Từ sau khi lật đổ ách Bắc thuộc, giành được độc lập, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Tây Sơn và nhà Nguyễn đã kế tiếp nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của các triều đại, quân dân Đại Việt đã phải tiến hành tới 10 cuộc chiến tranh lớn chống ngoại xâm. Điều kiện lịch sử và kẻ thù trong mỗi cuộc chiến tranh có khác nhau, nhưng đặc điểm chung nhất là kẻ thù luôn mạnh hơn ta cả về số lượng quân đội và vật chất huy động. Giặc Tống gây chiến với Đại Việt trong lúc nội tình đang gặp khó khăn, chúng muốn dùng chiến tranh để ổn định nội trị. Giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta trong lúc kỵ binh của chúng tung hoành khắp lục địa Âu-Á. Nhà Thanh đánh Đại Việt khi chúng đã chiếm gần hết lục địa Trung Hoa ngày nay. Quân Tống tràn vào nước ta với 30 vạn, trong khi quân đội của nhà Lý chỉ hơn 10 vạn. Trong lần xâm lược thứ hai (1285), quân Nguyên đông hơn nửa triệu còn triều đình nhà Trần động viên cao nhất chỉ được 30 vạn. Nhà Minh đánh triểu Hồ cũng sử dụng tới 50 vạn quân. Nhà Thanh đưa trên 29 vạn quân tiến vào Thăng Long trong khi quân của Quang Trung có khoảng 10 vạn. Kẻ xâm lược không chỉ lớn mạnh mà còn rất xảo quyệt. Trước khi xâm lược nước ta chúng tìm mọi cách phá hoại bằng nhiều thủ đoạn như mua chuộc tay sai, cài nội gián, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại kinh tế,... chúng chú trọng liên kết với lực lượng phản động trong nước, tìm cơ hội thuận lợi để đưa quân xâm lược. Hoàn cảnh đất nước và kẻ thù rình rập thường xuyên đã buộc các triều đại phong kiến Việt Nam phải luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, lương thảo để duy trì hoà bình, ổn định đất nước và để có khả năng đánh thắng quân xâm lược bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 07:57:34 pm 1. Quan điểm tư tưởng của các triều đại về quốc phòng
Nhiều triều đại phong kiến Việt Nam có những bậc minh quân, hiền thần và những nhà chí sĩ tiến bộ. Những con người này lãnh đạo đất nước thường lo lắng và quan tâm đến việc phòng thủ đất nước. Họ hiểu rằng ngay từ khi thái bình vẫn phải cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để chống giặc ngoài. Thông qua các chiếu chỉ, lời răn, thậm chí bằng thơ văn, nhiều vị vua sáng, tôi trung đã nêu lên những quan điểm tư tưởng tiến bộ trong chỉ đạo sự nghiệp quốc phòng. Vua Lý Nhân Tống (1072-1127), người đã cùng triều đình nhà Lý lãnh đạo đất nước đánh thắng giặc Tông (1077) trước khi mất đã căn dặn các đại thần: "Nên thường xuyên sửa sang giáo mác để để phòng việc không ngờ, các người chớ làm sai lệnh đó, ta dù nhắm mắt cũng không di hận". Đến đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) dù đất nước đang thái bình nhưng vẫn chăm lo công việc ổn định vùng biên ải và răn dạy người kế nghiệp (Thái tử): "Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất thiêng, châu ngọc bảo bối không cái gì không có, nước khác không thể ví được. Con nên giữ gìn cẩn thận". Năm 1285, sau khi đánh thắng quân Nguyên xâm lược nước ta lần thứ 2, trong không khí mừng đón chiến thắng, Thái sư Trần Quang Khải đã làm thơ1 (Trần Quang Khải (1241-1294) dưới triều vua Trần Thánh Tông (anh ruột) được cử giữ chức Thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần 2 (1285) và lần 3 (1288) là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn. Ông có công lớn đánh thắng quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long. Bài thơ mừng thắng lợi chống Nguyên của ông viết: "Đoạt sáo Chương Dương độ. Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn") nhắc nhở mọi người: dù thái bình rồi nhưng vẫn phải thường xuyên tu rèn trí lực thì mới giữ được giang sơn bền vững đời đời. Năm 1300, Hưng Đạo Đại vương ốm nặng, vua Trần Anh Tông (1293-1314) đến thăm và lo lắng hỏi: nếu có điều chẳng may mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thê nào? Ông đã trăng trối những lời tâm huyết, rất sâu sắc với nhà vua là phải chọn tướng giỏi, thực hiện vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, xây dựng bức thành của lòng dân "Chúng chí thành thành" và lấy khoan thư sức dân là kế sâu rễ bền gốc trong kế sách giữ nước. Đó cũng chính là những nguyên nhân cơ bản của ba lần đánh thắng giặc Nguyên. Sau khi đánh giặc Minh, giải phóng đất nước, Lê Thái Tổ, vị vua dựng nghiệp của triều đại Lê Sơ vẫn chăm lo công việc phòng thủ, thường trực tiếp kinh lý các vùng biên ải phía bắc. Trong một lần kinh lý, vua đã làm bài thơ lưu lại cho các thế hệ, trong đó có câu: "Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an", tức: Biên phòng phải luôn có phương án tốt, đất nước phải lo kế giữ lâu dài. Và kế lâu dài của Lê Thái Tổ không chỉ là chăm lo riêng việc vũ bị mà là chú ý đến nhiều mặt: Chính trị, kinh tế, quân sự.., như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép: "Vua lên ngôi, đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, mở mang trường học, có thể gọi là kế xa rộng mở mang cơ nghiệp vậy"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.237). Đi từ khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng giành thắng lợi, khi thế nước đã vững vàng, Lê Thái Tổ vẫn lo lắng, răn dạy con cháu: "Ta tự phát chông gai, thân trừ cường bạo, lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà, xéo đạp hiểm nghèo, xông pha gươm giáo, do đó phong trần quét sạch, cơ nghiệp dựng nên. Gây dựng kinh doanh thực gian khổ lắm. Nay con nhờ công lao của ta, nối cơ nghiệp của ta, phàm những phép giữ nước cầm quân, những phương sửa mình trị nước, thi hành nên cố sức, chăm chỉ chớ ham vui" (Hậu từ huấn). Đến đời Lê Thánh Tông (1460-1497), vị vua anh minh, tài trí đã đưa đất nước đến một giai đoạn thịnh trị nhất thời Lê Sơ. Ông cũng là một vị vua có những chiếu chỉ rất nghiêm túc đối với sự nghiệp quốc phòng. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, những vụ xâm phạm biên giới Đại Việt ở phía Bắc, phía Nam và phía Tây đều bị đẩy lùi. Ông dặn các đại thần trông coi biên giới phía Bắc rằng: "Một thước núi một tấc sông của ta, lẽ nào vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.262). Còn đối với các đại thần trong triều, ông nói: "Tông miếu xã tắc an hay nguy là ở các khanh mà thôi. Các ngươi nên nghĩ cho kỹ, tính cho chín, tâu việc trị nước cho trẫm biết. Trẫm sẽ cố gắng quyết đoán ở bên trong, các khanh sẽ thừa hành ở bên ngoài...". "Để làm sao trong nước yên bình, binh khí không phải dùng đến"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.262) . Trên đây là một số nhận thức, quan điểm của các nhà lãnh đạo quốc gia trong các triều đại tiến bộ đối với sự nghiệp quốc phòng. Có thể rút gọn các quan điểm đó trên một số ý sau: a) Phòng thủ đất nước - tức quốc phòng và an ninh là bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bảo vệ vương triều, bảo vệ dân và bảo vệ tài nguyên của đất nước. Chính vì thế trong các chiếu chỉ của triều đình đều nêu rõ phải bảo vệ bằng được mỗi thước núi, mỗi tấc đất, mỗi tấc sông của tổ tiên để lại. Và tất cả non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, châu ngọc... đều phải gìn giữ, không để rơi vào tay giặc. b) Quốc phòng an ninh phải có phương lược tốt, có kế sách lâu dài, ngay từ khi đất nước đang thái bình, đang xây dựng phát triển. Nhà Lý thì nói phải "... thường xuyên sửa sang giáo mác..."; triều Trần dù ba lần đánh thắng giặc Nguyên vẫn chú trọng "Kế sách giữ nước", đề phòng giặc phương Bắc xâm lược. Lê Lợi sau khi quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi vẫn căn dặn: "xã tắc phải lo kế lâu dài"... c) Muốn củng cố quốc phòng vững chắc, phải chăm lo vũ bị, xây dựng quân đội, chọn dùng tướng giỏi, thực hiện cố kết lòng người, khoan thư sức dân... Các triều đại luôn chú ý xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng tinh thần cố kết trong nước, vì vậy phải chăm lo đến đời sống dân chúng, giữ yên bên trong mới mong ngăn ngừa kẻ thù bên ngoài. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 07:59:25 pm 2. Những hoạt động chính của các triều đại nhằm xây dựng và nâng cao sức mạnh quốc phòng]
Dựa vào việc làm thực tế của các triều đại mà thấy nổi lên những hoạt động chính sau đây: a) Xây dựng chính quyền vững mạnh để thực hiện công cuộc dựng nước và giữ nước. Mọi triều đại khi mới sáng lập đều chú trọng xây dựng chính quyền trung ương vững mạnh, coi đó là bộ mặt, là thể diện cho quốc gia. Dưới chế độ phong kiến quan điểm của mọi người cho rằng đất nước không thể một ngày không có "vua". Khái niệm "vua" không chỉ là một người mà là một hệ thống chính quyền quản lý điều hành mọi hoạt động của đất nước. Ngoài việc kế thừa di sản của các tiên triều, triều đại mới còn căn cứ vào tình hình cụ thể và quyền lợi của hoàng tộc mà tổ chức hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở nhằm củng cố vững chắc quyền lực. Nội dung xây dựng chính quyền phong kiến cũng mang tính toàn diện. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: "Vua lên ngôi, ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, mở mang trường học, có thể coi là kế xa rộng, mở mang sự nghiệp"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.239). Rõ ràng, tất cả những việc làm đó khi mở đầu của một triều đại đều nhằm xây dựng thế nước mạnh đồng thời với việc tăng cường quyền lực của vương triều. Nhà Lý tồn tại trên hai thế kỷ (215 năm), củng cố được nhà nước trung ương tập quyền, xây dựng được một hệ thống chính quyền khá quy củ, từ trung ương đến các lộ, phủ, châu và hương giáp. Nhờ đó mà giữ được sự yên bình ở trong nước, và khi có giặc ngoại xâm thì huy động được sức mạnh của cả nước đánh thắng nhà Tống (1077). Triều Trần trị vì gần hai thế kỷ (175 năm), ngoài việc tiếp thu thành quả xây dựng của triều Lý, còn rất coi trọng củng cố chế độ tập quyền. Triều Trần có nhiều việc làm nhằm củng cố chính quyền, trong đó chú trọng đến cơ sở (cấp xã), nhấn mạnh cấp xã là bản vị quốc gia nhưng không vì thế mà làm suy yếu quyền lực của triều đình. Nhà Trần nêu cao tính độc lập tự chủ, trong lúc học hỏi kinh nghiệm của phong kiến Trung Hoa, vẫn nhấn mạnh: "Triều trước dựng nước đã có phép độ, không nên theo chế độ nhà Tống vì Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không phải noi theo". Đến thời Lê Sơ (1428-1527) bộ máy chính quyền càng được hoàn thiện ở cả trung ương và các địa phương. Điều quan trọng là các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ trong quá trình củng cố chính quyền đã chú ý việc kén chọn nhân tài để sung vào đội ngũ quan lại các cấp chính quyền. Khi ca ngợi triều Trần kén chọn hiền tài, sử gia Ngô Thời Sĩ viết: "Vua lập ra nhà học, tôn chuộng nghề văn, dựng lên ngôi nhà giảng tập việc võ, cả văn và võ có vẻ rực rỡ lắm, cho nên có các ông Hán Siêu, Trung Ngạn, Nhật Duật, Ngũ Lão nối nhau xuất hiện. Văn Trung và Hưng Đạo là bậc danh nho, danh tướng lẫy lừng thời bấy giờ là kết quả của sự tôn chuộng văn võ đó"1 (Ngô Thời Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên in dưới thời Tây Sơn. Sách: Lịch sử Sử học VN, Trường Đại học Sư phạm HNI in năm 1992, tr.34-35). Nhà Nguyễn trị vì cũng coi trọng kén chọn người đỗ đạt cao để bổ vào chức; ở cấp cao muốn được bổ nhiệm đều được triệu về kinh để kiểm tra năng lực. Trong việc củng cố chính quyền, các triều đại đều chú ý đến việc xây dựng và ban hành luật lệnh, coi đó là một công cụ để quản lý mọi hoạt động xã hội đồng thời còn bảo vệ lợi ích của vua quan. Nhà Lý ban hành bộ Hình thư năm 1042. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Triều Trần cũng coi trọng hoàn thiện luật pháp. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Canh dần năm thứ sáu tức 1230, mùa xuân tháng Ba xét các lệ của triều trước, để làm Thống chế của quốc triều và sửa đổi hình luật, lễ nghi"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.10). Triều Lê Sơ, ban hành bộ Quốc triều hình luật, còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Các bộ luật quy định nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế nông nghiệp, đạo lý, ngoài ra còn có luật quy định về binh dịch của các đinh tráng, nghĩa vụ đóng góp để bảo vệ đất nước... Dưới triều Tây Sơn tuy thời gian tồn tại không dài nhưng triều đình cũng ban hành những quy định khá chặt chẽ, như tháng 10 năm 1788, công bố bản quân pháp 5 điều, giữ nghiêm kỷ luật quân ngũ và bảo đảm cho các cuộc hành binh giành thắng lợi. Đến triều Nguyễn, năm 1812 đã ban hành bộ luật, có khoảng 10% các điều khoản đề cập đến quốc phòng, gọi là phần binh luật. Trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, thường giai đoạn đầu của mỗi triều đại là giai đoạn tiến bộ, có những chính sách hợp lòng dân nên đoàn kết được dân chúng, duy trì được sự ổn định trong nước để xây dựng phát triển; đồng thời có được sức mạnh để ngăn ngừa âm mưu xâm lấn từ bên ngoài. Nhưng vào giai đoạn cuối của triều đại, khi tầng lớp quý tộc thoái hoá, tham lam vơ vét của dân, đàn áp dân chúng nhằm bảo vệ lợi ích phản động của mình thì đất nước mất ổn định, sức mạnh giữ nước suy yếu, đất nước đứng trước nguy cơ bị ngoại bang xâm lược. Có thể nói chính quyền mạnh hay yếu là một nhân tố quyết định đến thế nước thịnh hay suy. Vì vậy, xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh cũng tức là xây dựng và củng cố sức mạnh phòng thủ đất nước. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:00:56 pm b) Xây dựng quân đội mạnh "Cốt tinh không cốt nhiều" thực hiện toàn dân là lính
Xây dựng quân đội mạnh để bảo vệ nhà nước, bảo vệ Tổ quốc được coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của mọi triều đại. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) nói: "Hễ có quốc gia tất cả phải có vũ bị". Sử gia Phan Huy Chú viết trong Lịch triều hiến chương loại chí rằng: "Quân đội là thiết bị giữ nước không thể thiếu được" và "Việc binh bị là việc thiết yếu của quốc gia". Sau khi lật đổ ách Bắc thuộc, các nhà nước phong kiến Đại Việt rất coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang của mình. Trải qua các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần... binh chế của nước ta ngày càng hoàn thiện, quân đội được tổ chức cũng ngày một quy củ. Hệ thống lực lượng vũ trang bao gồm nhiều loại quân, từ quân triều đình, quân các đạo, lộ và các châu đến hương binh, dân binh ở các làng xã. Quân triều đình được coi là quân chủ lực, thường đóng ở kinh thành, bảo vệ vua và chính quyền trung ương; còn quân địa phương, nhất là dân binh thì có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Sức mạnh của quân đội thể hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng, nhưng do đất nước ta thường phải đương đầu với những cuộc xâm lược của kẻ thù đông quân, giàu tiềm lực kinh tế hơn ta nên ông cha ta không chủ trương duy trì quân đội đông người mà coi trọng chất lượng quân đội. Theo Trần Quốc Tuấn: "Quân cần tinh không cần nhiều, dù đến như Bồ Kiên có 100 vạn quân, có làm được gì đâu?"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.59. (Bồ Kiên vua Tiền Tần có 100 vạn quân mà vẫn thua quân Tấn ít hơn 10 lần. Xem Các triều đại Trung Hoa, do Lê Giang biên soạn. Nxb Thanh niên, H.1999, tr.134-135)). Nguyễn Trãi viết: "Binh mạnh hay yếu không cứ ở nhiều, quân nhà Hồ trăm vạn người trăm vạn lòng, quân ta chỉ với vài chục vạn nhưng ai ai cũng một lòng thì tất thắng". Còn Nguyễn Huệ thì nói: "Quân cần tinh không cần nhiều, binh lính cốt hoà thuận không cốt đông”. Trong các cuộc chiến tranh chống Tống (981, 1077), chống Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288), chống Minh (1418- 1427) và chống Thanh (1789), quân đội Đại Việt luôn luôn ít hơn quân địch nhưng vẫn giành thắng lợi. Quan điểm xây dựng quân đội "cốt tinh nhuệ" là quan điểm truyền thống của dân tộc ta. Để nâng cao chất lượng "tinh nhuệ" của quân đội, các triều đại rất chú ý hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cải tiến trang bị và rèn luyện quân sĩ. Về cơ cấu tổ chức lúc hoàn thiện nhất, quân đội quốc gia Đại Việt đã hình thành các binh và quân, như lục quân, thuỷ quân. Trong lục quân có bộ binh, kỵ binh, tượng binh. Tuy nhiên do điều kiện địa hình của nước ta, các triều đại không chủ trương phát triển kỵ binh mà tập trung xây dựng bộ binh và thuỷ binh, về trang bị, trong chiến tranh vẫn sử dụng phổ biến vũ khí lạnh (cung nỏ, kiếm, qua, kích...) nhưng đến cuối đời Trần đã xuất hiện hoả khí (hoả pháo, pháo, súng). "Thần cơ sang pháo" thời Hồ là loại pháo nổi tiếng thời đó. Các thuyền chiến trang bị của thuỷ quân đã có từ thời Lý, đến thời Trần thì phát triển nhiều loại, có loại thuyền chiến nhỏ, thuyền chiến lớn (2 tầng, 32 mái chèo), có cả hoả pháo đặt trên thuyền, về rèn luyện quân sĩ, nhất là rèn luyện những người chỉ huy được chú trọng. Ngay từ thời Lý đã lập Điện Giảng Võ và Xạ Đình ở kinh thành. Thời Trần có Giảng Võ Đường và Trường đua, thời Lê có bãi tập, trường bắn và bãi luyện ngựa... Đây là những trường học quân sự, nơi rèn luyện các võ quan, tướng lĩnh, về binh pháp, từ triều Lý đã quy định những quy tắc riêng, mà sử nhà Tống gọi là "An Nam hành quân pháp", triều Trần có "Binh thư yếu lược” và ”Vạn kiếp tông bí truyền thư”. Những binh thư đó được biên soạn để đào luyện các tướng lĩnh. Việc học binh thư, binh pháp dưới thời phong kiến là điều bắt buộc đối với nhà vua, thái tử và các vương hầu... vì họ là những người chỉ huy quân đội và khi chiến tranh xảy ra thì vua "tự làm tướng” đi đánh giặc, còn thái tử, các vương hầu đều được cử là tướng trực tiếp chỉ huy các đạo quân trấn giữ ở các hướng chiến lược. Các triều đại đều chú trọng việc "Bạt dụng lương tướng” tức là "Chọn dùng tướng giỏi" không cứ trong giới quý tộc mà tiêu chí là: Nhân, Nghĩa, Tín, Trí, Minh, Tài, Cương và Nghiêm" Trong các triều Lý, Trần, Lê đã xuất hiện nhiều tướng lĩnh lỗi lạc, có tài cầm quân đánh giặc, đồng thời có tài giáo huấn quân sĩ. Các sử gia khi ca ngợi tướng lĩnh thời Trần đã viết: "Giao cầm quân thì cùng nhau sống chết", "Dụng binh tinh diệu, chiến tất phải thắng" và, "Khi đối địch với giặc thì tự mình xông pha lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui, không kẻ nào địch nổi"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.111). Để rèn luyện tướng lĩnh và quân sĩ, hàng năm nhà vua thường tổ chức tập trận hoặc thao diễn quân ngũ, làm cho quân lính quen với chiến trường, tướng lĩnh thạo cách bày trận và phá trận. Thế kỷ XIII, trước khi giặc Nguyên, xâm lược nước ta, vua Trần Nhân Tông cùng tiết chế Trần Quốc Tuấn thường tổ chức duyệt quân và tập trận lớn ở Đông Bộ Đầu2 (Đông Bộ Đầu, bến sông Nhị phía đông thành Thăng Long ngày nay ở vào khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc Hòe Nhai, Quận Ba Đình, Hà Nội (TĐBKVN, H.1993, t.1, tr.865) hay ở bãi sông Bạch Hạc (Vĩnh Phú). Thời Lê Sơ, việc duyệt quân, tập trận cũng được các vua tổ chức hàng năm: đời Lê Thánh Tông còn ban hành phép duyệt, tập trận thuỷ bộ rất quy củ3 (Chuyên đề "Quốc phòng an ninh trong lịch sử dân tộc" Viện LSQSVN, 1994, tr.22). Cùng với sự quan tâm nâng cao chất lượng quân đội, các triều đại vẫn chuẩn bị tích cực một thế trận giữ nước là "Lòng dân", nhằm khi có chiến tranh thì có thể huy động được nguồn nhân lực đáng kể sung vào quân ngũ. Khi bàn về chiến thắng giặc Nguyên của triều Trần, sử gia Phan Huy Chú đã viết trong Lịch triều hiến chương loại chí là do "Trăm họ đều là binh nên mới phá được giặc dữ và làm mạnh thế nước". Quan điểm của ông cha ta không cần duy trì một đạo quân thường trực đông trong thời bình, vì như vậy sẽ là một gánh nặng cho quốc khố. Từ thời Lý nhà nước Đại Việt đã ban hành quốc sách "Ngụ binh ư nông", các triều đại kế tiếp vẫn duy trì quốc sách này nhưng bổ sung bằng các quy định rõ ràng, cụ thể như: "Quân biên sổ", "Quân chia phiên". Để thực hiện các quy định này, việc đăng ký các đinh nam được quản lý chặt chẽ. Các đinh nam cứ đến tuổi trưởng thành đều phải ghi tên vào sổ quân. Hàng năm chiếu theo sổ mà tuyển lính tráng sung vào quân ngũ, số dư không tuyển hết thì cho về sản xuất, khi có việc sẽ gọi. Sau chiến tranh quân đội thường giảm quân, trong quân thường trực thì ngoài cấm quân ra (quân túc trực bảo vệ vua và kinh thành) còn lại thì thực hiện "Chia phiên", tức là luân phiên nhau ở lại canh phòng, luyện tập hay về nhà sản xuất tự túc lương ăn. Nhờ cách duy trì quân đội như vậy, nhà nước Đại Việt luôn có một quân đội thường trực số lượng không đông nhưng có chất lượng cao, đồng thời có lực lượng hậu bị đông đảo, sẵn sàng mở rộng quân đội khi có chiến tranh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:01:40 pm c) Kết hợp "Kiến quốc", với "Thủ quốc” làm cho "dân giàu nước mạnh", "Quốc phú binh cường".
Từ lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc, ông cha ta luôn nhắc nhở mọi thế hệ phải nắm vững quy luật "Dựng nước luôn luôn đi đối với giữ nước, xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng". Vì thế "Dân giàu nước mạnh" "Quốc phú binh cường", "Thực túc binh cường" là quan điểm rõ ràng của các triều đại. Các nhà nước phong kiến tiến bộ chăm lo sản xuất nông nghiệp, "coi việc làm ruộng là gốc rễ của nước", chủ trương "dồn hết sức vào việc làm ruộng, để cho sự tích trữ trong nước được dồi dào"1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb Văn-Sử-Địa, H.1959, t.3, tr.27). Các vua thời Lý, Trần, Lê Sơ... thường ra chiếu khuyến nông, có chính sách khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích, đặt thuế khích lệ sản xuất. Để động viên việc nông trang, nhiều vị vua còn xuống đồng cầy ruộng làm gương, tổ chức lễ tế thần nông, cầu thời tiết thuận hoà, mùa màng bội thu. Để bảo vệ sản xuất nông nghiệp nhà nước còn ban hành các điều luật về việc cấm lạm sát trâu bò, quản lý chặt nhân đinh ở làng xã, nghiêm cấm và trừng trị kẻ rong chơi, lêu lổng, du thủ du thực. Công cuộc đắp đê, xẻ mương máng tưới tiêu, nạo vét sông ngòi đều được các chức sắc ở địa phương đôn đốc thực hiện. Nhờ coi trọng nghề nông mà sản xuất lương thực có bước phát triển, đời sống nhân dân no đủ, đất nước có lương thực trữ phòng thiên tai và chi dùng cho quân đội khi có việc, sử sách còn ghi chép nhiều chuyện về nguồn trữ lương thực dồi dào của triều Lý Thái Tông (1028-1054), Trần Nhân Tông, (1279-1293), Lê Thánh Tông (1460-1497). Sử gia Lê Quý Đôn viết trong sách Kiến văn tiểu lục rằng: "Lúc ấy ở các trấn, sở đều có kho tàng dự trữ cho việc biên phòng"1 (Lê Quí Đôn, Toàn tập, Nxb KHXH, H.1977, t.2, tr.296). Ngoài nông nghiệp, thủ công nghiệp ở nước ta cũng đã xuất hiện sớm, được triều đình chú trọng phát triển chẳng những để phục vụ đời sống mà còn phục vụ quốc phòng. Nghề dệt, gốm, rèn đúc, đóng thuyền... vừa sản xuất vật dụng cho sinh hoạt và sản xuất, còn chế tạo trang bị, vũ khí cho quân đội. Thời Trần, Hồ đã có xưởng sản xuất, vũ khí, kho quân khí..., các pháo Thần cơ, súng phun lửa, thuyền chiến... đã được sản xuất dưới triều Trần và Hồ, nổi tiếng là lợi hại và có uy lực lớn. Cùng với việc phát triển nông nghiệp ở đồng bằng, các triều đại tiến bộ không coi nhẹ việc xây dựng kinh tế ở các vùng biên cương và những địa bàn trọng yếu. Nhà Trần cho các vương hầu, quý tộc được mộ dân nghèo hay người lưu tán đến các vùng núi hay ven biển khẩn hoang lập các điền trang. Trong các điền trang, các quý tộc được tổ chức các đơn vị vũ trang riêng, gọi là quân vương hầu. Các đơn vị quân đội đồn trú, canh phòng biên cương cũng khai phá đất hoang, lập đồn điền, sản xuất để có lương thực dự phòng tại chỗ. Trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, các nhà nước phong kiến Đại Việt còn xúc tiến công cuộc mở mang, tu bổ giao thông thuỷ, bộ trong nước. Ngay từ thời Tiền Lê đã cho đào kênh từ Bắc vào Nam (Thanh Hoá vào Nghệ Tĩnh), nhân dân thường gọi là kênh nhà Lê đến nay vẫn dùng. Các triều Lý, Trần, Lê Sơ... sau này tiếp tục xây dựng giao thông từ kinh đô đi các lộ, bắc giáp tới Trung Quốc, nam tới đất Chiêm Thành. Các tuyến giao thông thuỷ bộ được mở mang giúp cho giao lưu kinh tế nhộn nhịp đồng thời còn phục vụ quốc phòng thêm vững chắc. Qua công việc làm của tổ tiên ta, dù sử sách không ghi lại thật đầy đủ nhưng vẫn thấy rằng, các triều đại trước đây đã có quan điểm đúng đắn, biết kết hợp nhiệm vụ "Kiến quốc" với nhiệm vụ "Thủ quốc", như ngày nay chúng ta gọi là kết hợp xây dựng kinh tế với tăng cường sức mạnh quốc phòng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:02:15 pm d) Ban hành chính sách tiến bộ, thực hiện khoan thư sức dân, làm cho trong nước yên bình, lòng dân cố kết
Tư tưởng coi dân là gốc của nước đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử dân tộc ta. Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, sức mạnh của nhân dân đoàn kết là bức thành vững chắc nhất cản phá giặc. Mọi triều đại khi dựng nghiệp do coi trọng tranh thủ lòng dân nên chẳng những nâng cao được sức mạnh giữ nước mà còn củng cố được vương quyền. Năm 1010, Lý Thái Tổ trong chiếu dời đô đã nói đến "... thuận lòng dân"; khi giải thích nguyên nhân đánh thắng giặc Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn cho rằng, đó là do "Vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, lòng dân không chia"; còn Nguyễn Trãi thì viết: "Lật thuyền mới biết sức dân như nước", ông ví sức dân mạnh "như nước", nước có thể "chở thuyền" và cũng có thế "lật thuyền". Chính vì nhận thức được vai trò của nhân dân trong việc dựng nước và giu nước nên Trần Quốc Tuấn coi "Thượng sách giữ nước" là phải "Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc", và Nguyễn Trãi trong kế sách "Bình Ngô" đã đề nghị Lê Lợi là không đề cao việc chiếm thành trì mà bàn việc khéo thu phục lòng người; cuối cùng khiến cho dân và đất đai thảy đều trở về ta. Các vương triều tiến bộ khi muốn củng cố thế nước mạnh đều chú ý ban hành các chính sách "An dân" và "Khoan thư sức dân", về kinh tế thì chú ý thuế khoá hợp sức dân chứ không để dân cạn kiệt; gặp phải năm thiên tai phải kịp xem xét việc giảm hay miễn thuế để dân yên tâm phục hồi sản xuất. Ví dụ: Năm 1010, nhân dịp dời đô, vua Lý Thái Tổ ban chiếu đại xá thuế, những kẻ mồ côi, goá bụa, già yếu không thu khoản còn thiếu. Sau chiến thắng giặc Mông - Nguyên, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khuyên vua hoãn việc xây cất lại kinh thành mà cần kíp là cứu tế dân nghèo, giảm miễn thuế để dân hồ hởi, tích cực phục hồi sản xuất. Hay sau khi đuổi sạch giặc Minh, Lê Thái Tổ lên ngôi cho thực hiện chính sách quân điền vì nhà vua thấy rõ sự bất công: "Người đi đánh giặc thì nghèo, người rong chơi thì giàu, người đi chiến đấu thì không có một tấc đất để ở, kẻ du thủ du thực không có ích cho nước thì ruộng đất nhiều...". Cùng với ban hành các chính sách kinh tế, nhiều triều vua tiến bộ còn chú ý đến việc thực hiện các chính sách xã hội như thu thập ý nguyện dân chúng (đời Lý), họp đại hội quốc dân (hội nghị Diên Hồng đời Trần), ban hành luật pháp có những điểm tiến bộ (Luật Hồng Đức đời Lê Sơ), tổ chức các cuộc kinh lý để tìm hiểu đời sống dân chúng như vua Trần Thái Tông đã nói: Trẫm muốn ra ngoài chơi để nghe tiếng nói của dân, biết tình trạng khó khăn của dân1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1984, t.1, tr.277). Các chính sách kinh tế và xã hội tiến bộ, chú ý đến quyền lợi và đời sống của dân đã tạo nên một không khí hoà thuận trong nước, góp phần tăng cường đoàn kết quốc gia, dân tộc, ổn định được đất nước nên vững vàng ứng phó với các sự biến từ bên ngoài. Có vua anh minh như Lê Thánh Tông từng được sử thần ca ngợi: "Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, yên ủi người gần, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh. Có thể coi là bậc vua tốt". Tuy nhiên các nhà nước phong kiến theo quy luật phát triển của nó ngày càng chuyên chế, nên tính "Cận dân" cũng ngày càng ít đi. Vì vậy, các chính sách tiến bộ khó được thực hiện đầy đủ, lâu dài. Cứ sau một thời kỳ thịnh đạt là đến giai đoạn suy thoái, khi đó các vương triều bắt đầu suy đồi. đối lập với nhân dân và hậu quả là thất bại trước họa xâm lăng hoặc bị lật đổ. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:03:12 pm đ) Tỉnh táo, cảnh giác phát hiện kịp thời và đập tan âm mưu phá hoại và xâm lược của thù trong giặc ngoài.
Lịch sử đấu tranh dựng nước - giữ nước của dân tộc ta chứng minh rằng, những nguy cơ đe dọa độc lập của dân tộc thường xuất hiện cả ở bên trong và bên ngoài đất nước ta. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài luôn luôn tìm cách cấu kết với thế lực phản động bên trong để dễ dàng thôn tính nước ta. Do đó, ông cha ta thường dạy: "Có dẹp được thù trong mới chống được giặc ngoài". Để thực hiện ý tưởng đó, các triều đại rất quan tâm tiến hành những việc sau: - Chống mưu phản, đại nghịch: Trong nhiều triều đại, do những mâu thuẫn về quyền lợi thường xảy ra những hiện tượng chia bè kết đảng, chiếm đất xưng vương, thoán đoạt ngôi vị, mưu phản chống vua... Những hiện tượng này làm suy yếu đất nước, dễ bị kẻ thù bên ngoài tận dụng để phát động chiến tranh xâm lược. Do đó, triều đình phải kịp thời ngăn ngừa, trấn áp để bảo vệ sự thống nhất quốc gia và trật tự xã hội. Trong lịch sử nước ta đã từng xảy ra những nguy cơ này. Năm 944 Ngô Quyền mất, đất nước rơi vào cuộc loạn 12 sứ quân phải đến năm 968 mới dẹp xong và triều Đinh mới bắt đầu sự nghiệp. Dưới thời nhà Lý vào các năm 1039, 1141 đã xảy ra các vụ xưng vương ở biên giới phía Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn) buộc triều đình phải đem quân lên dẹp. Năm 1028, khi vua Lý Thái Tổ mất, các hoàng tử nổi lên giành ngôi báu gây ra loạn ba vương1 (Lý Thái Tổ vừa mất (1028) thì các hoàng tử: Võ Đức Vương, Dự Thánh Vương và Đông Chính Vương đã đem quân đến vây hoàng thành để tranh ngôi của Thái tử Phật Mã, nhưng bị dẹp tan. Sự kiện này được gọi là loạn ba vương), phải nhờ các đại thần trung trực đứng lên mới dẹp yên. Đến thời Trần và Lê Sơ cũng xảy ra các vụ mưu phản nhưng bị trấn áp kịp thời mới củng cố được triều chính, giữ được sự ổn định trong nước. - Kiên quyết trừng trị kẻ phản bội: Nhìn chung giới quý tộc phong kiến Đại Việt đều có tinh thần dân tộc cao, có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. Mỗi khi có ngoại xâm họ đều đứng lên chống giặc. Nhiều người nêu gương sáng, hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không tránh khỏi trong mỗi giai đoạn lịch sử vẫn có những người phản bội quyền lợi dân tộc, cam tâm theo giặc, phá hoại công cuộc xây dựng yà bảo vệ đất nước, thậm chí làm tay sai cho thế lực xâm lược bên ngoài, rước voi về giày mả tổ. Qua lịch sử có thể nêu lên tên tuổi những kẻ phản bội đó, như Kiều Công Tiễn liên kết với quân Nam Hán (938), Trần Di Ái đi sứ hàng giặc (1282), Trần Ích Tắc, Trần Kiện... chạy theo quân Nguyên (1285), Trần Thiêm Bình liên kết với quân Minh (1406), Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm (1785), Lê Chiêu Thống dẫn đường cho quân Thanh (1789) xâm lược. Tất cả những kẻ phản bội làm nguy hại đến độc lập dân tộc, an ninh quốc gia đều bị xử tội nghiêm khắc. Kiều Công Tiễn bị chém bêu đầu trước thành Đại La, Trần Di Ái bị bắt sung làm lính, Trần Ích Tắc sống nhờ nơi đất Bắc chết trong cô độc, Trần Kiện không tránh khỏi mũi tên độc của Nguyễn Địa Lô; ngoài ra còn nhiều tên tay sai bị chém đầu để răn. Sử cũ còn ghi lại: "Mùa thu, tháng 9 năm 1262 soát tù, kẻ nào khi giặc Bắc sang mà đầu hàng quân Nguyên thì không tha"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.33). Dưới thời Trần trong ba lần chống Mông - Nguyên, có hai hướng khi giặc đến không đánh nên bị xử tội, bắt làm binh thang mộc, cấp cho các tề thần làm hoành nô sai khiến, không ai được làm quan. Đến thời Lê Sơ, sau khi đánh thắng quân Minh, nhà vua ra chiếu chỉ quy định: phàm những ai đã hàng giặc, nay biết hối cải đều cho trở về làm dân; những kẻ lén lút, không chịu ra trình diện mà bị bắt thì chiểu theo luật pháp mà trị tội. Việc đề phòng, trừng trị nghiêm khắc những âm mưu phản bội, những kẻ mưu phản, hàng giặc đã được nhân dân đồng tình ủng hộ. Việc làm kiên quyết đó đã tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia. - Theo dõi sát sao, kịp thời phát hiện âm mưu xâm lược của địch, chủ động đánh phòng. Ông cha ta luôn cảnh giác, để tâm đến việc biên phòng cả mặt Bắc và mặt Nam, nhằm phát hiện sớm âm mưu của địch. Chúng rất nham hiểm và thâm độc nhưng trước khi phát động chiến tranh xâm lược thường có nhiều hoạt động chuẩn bị. Để nắm được nội tình nước ta về các mặt, địch thường xuyên cử do thám xâm nhập, núp dưới nhiều bộ mặt và danh nghĩa như sứ thần hay thương gia lẫn trong dân di cư và xâm cư, khoác áo nhà tu truyền đạo, đội lốt thầy thuốc làm việc thiện... về chính trị, địch sử dụng các ngón bài như giương cờ "phù Trần diệt Hồ" hay "phù Lê diệt Tây Sơn" để đưa quân vào nước ta. Nhằm chia rẽ lực lượng, địch còn dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc các tù trưởng và dân chúng ở vùng khe động biên giới để dễ bề xâm nhập. Trước những thủ đoạn phá hoại và xâm lấn của kẻ thù, các triều đại phong kiến Đại Việt đều rất cảnh giác và có nhiều biện pháp đối phó. Đối với các dân tộc miền, núi, nhất là các khu vực giáp biên, nhà nước đã thi hành chính sách "nhu viễn" khéo léo nhằm tranh thủ các tù trưởng, vỗ yên cư dân song song với chính sách tranh thủ dân chúng ở đó. Về quân sự triều đình tăng cường lực lượng bố phòng ở các cửa ải, cửa sông, đồng thời tổ chức nhiều cuộc tuần tra nhằm ngăn chặn sự thẩm lậu qua biên giới của các lực lượng thù địch. Ngay từ thời Lý, chỉ cho phép thương nhân cư ngụ ở Vân Đồn để giao dịch và buôn bán với ta, chứ không cho phép họ tự tiện vào nội địa. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Người ngoại quốc không được tự tiện vào nội trấn, tất cả đều ở Vân Đồn, Cần Hải, Hội Thống, Hội Triều, Thống Lĩnh, Phú Lương, Tam Kỳ, Trúc Hoa... Có thể nói sự đề phòng trong và ngoài thời kỳ này rất nghiêm ngặt"1 (Những địa danh mà Dư địa chí nêu đều là các cảng sông và các khu vực giao lưu sầm uất với thương nhân nước ngoài). Ngoài những biện pháp phòng chống nghiêm ngặt, các triều đại Lý. Trần, Lê còn sử dụng một màng lưới "điệp viên" xâm nhập vào đất địch, núp dưới nhiều danh nghĩa như thương nhân, nhà sư, sứ giả... để dò la, thu nhập tin tức. Nhờ những "tin tình báo" tập trung được, triều Lý sớm phát hiện nhà Tống đang chuẩn bị lương thảo và lực lượng ở Ung Châu, Liêm Châu và Khâm Liêm sẵn sàng tấn công ta. Thời Trần cũng dò biết được âm mưu của giặc Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta, cuối năm 1284, vua Trần Nhân Tông bèn cử sứ giả sang Nguyên tìm cách trì hoãn sự động binh của kẻ thù, đồng thời thăm dò ý đồ cụ thể của chúng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, sứ giả sau khi về nước đã tâu lên vua: "Vua Nguyên sai Thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan, Bình chương là A Lạt và bọn A Lý Hài đem quân thác cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường xâm lấn"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.55). Những biện pháp cảnh giác kể trên là một nội dung của hoạt động quốc phòng, được tiến hành thường xuyên theo tinh thần "biên phòng phải lo trước phương lược; giữ nước cần tính kế lâu dài" mà ông cha ta đã tổng kết được. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:03:45 pm e) Có chính sách đối ngoại mềm dẻo, kiên quyết nhằm duy trì hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh.
Các nhà nước phong kiến Đại Việt luôn luôn mong muốn có hoà bình để xây dựng. Vì vậy chính sách ngoại giao của nước Đại Việt nhằm mục tiêu giữ gìn hoà hiếu với các nước, nhất là các nước láng giềng, duy trì hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh. Là một nước nhỏ, dân ít, ở bên cạnh một nước rất lớn về đất đai và dân số như Trung Hoa, lại đứng ở ngã ba giao thông của khu vực, chính sách đối ngoại, của ông cha ta nhằm bảo vệ độc lập, chống sự bành trướng của phong kiến phương Bắc phải rất khôn khéo mới giành được thắng lợi. Các thế lực phong kiến Trung Hoa luôn luôn nhòm ngó và muốn thôn tính Đại Việt. Các triều đại Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã không từ một thủ đoạn nào hòng thực hiện ý đồ đó. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cha ta đều kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình như tuyên ngôn đã từng vang vọng: Quốc gia Đại Việt do người Việt làm chủ "Nam quốc sơn hà nam đế cư". Tuy nhiên, đế chế Trung Hoa rộng lớn, tiềm lực kinh tế, quân sự đều mạnh hơn nên ông cha ta đã "biết mình biết người" mà chọn kế sách đối ngoại khôn khéo. Kế sách đó tổng quát qua các triều đại là mềm dẻo, nhún nhường; bề ngoài tỏ ra thần phục tránh gây bất hoà, nhưng luôn giữ vững nguyên tắc tự tôn dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Các nhà nước Lý, Trần, Lê trong quan hệ bang giao với nhà Tống, Nguyên, Minh... vẫn nhún nhường giữ lễ phiên thần, thường qua lại chúc tụng và cống nạp. Sau những lần đánh bại quân xâm lược của nhiều triều đại Trung Hoa, ông cha ta vẫn tiếp tục duy trì quan hệ bang giao nhún nhường đó. Nhờ kế sách đối ngoại mềm dẻo và kiên quyết đó mà các triều đại phong kiến Trung Hoa tuy vẫn giữ thế bề trên nhưng vẫn buộc phải chấp nhận quan hệ giữa hai quốc gia, từ chỗ chỉ coi vua Đại Việt là Giao Chỉ quận vương đến chỗ phải phong là An Nam quốc vương (năm 1086 dưới thời Lý). Các vua Đại Việt đều nhận sắc phong của các triều đình Trung Hoa nhưng đó chỉ là "danh hiệu", còn thực chất thì đất nước ta vẫn là một nước độc lập. Mỗi khi xảy ra những tranh chấp ở biên giới, ông cha ta vẫn bình tĩnh, tỉnh táo và khôn khéo gỡ rối. Thời Lý, vua Lý Nhân Tông cử quan Binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh sang đất Tống bàn việc cương giới. Với thái độ mềm dẻo và lý lẽ sắc bén, có tình, có lý, nhà Tống đã phải hoà giải. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng, vua Tống khen sứ thần ta là cung kính biết lẽ phải nên hạ chiếu trả lại cho ta các động sở ở Quảng Nguyên - Cao Bằng1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb Văn - Sử - Địa và Nxb Sử học in trọn bộ 20 tập, 1957-1960). Các triều vua sau đều lấy đó làm điều tốt nên mọi chuyện xảy ra ở vùng biên cương phải giải quyết khôn khéo để giữ sự ổn định nhưng phải bảo vệ được chủ quyền. Ngay cả trong trường hợp biết chiến tranh khó tránh khỏi thì kế sách của ta là tìm mọi cách ngăn ngừa hoặc trì hoãn nó để đất nước có điều kiện chuẩn bị tốt và chủ động đối phó. Chính sách đối ngoại của các triều đại phong kiến Đại Việt là một bộ phận quan trọng để tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước. Tóm lại, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta dưới chế độ phong kiến, sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh quyện làm một và được các triều đại luôn quan tâm. Do phải chống với kẻ thù xâm lược thường xuyên lớn hơn mình, các nhà nước phong kiến Đại Việt luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện chính sách "cận dân", "khoan thư sức dân", động viên tinh thần cả nước một lòng, toàn dân chăm lo quốc phòng nên không ngừng tạo dựng được thế chủ động bố phòng vững chắc, đẩy lùi các nguy cơ và đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Mười thế kỷ qua, trừ hai thời kỳ do triều chính suy đồi, nội tình rối ren, lòng dân phân ly, quốc phòng trễ nải nên đã để đất nước rơi vào tay giặc. Đó là thời kỳ nhà Hồ bị nhà Minh xâm chiếm (1407- 1427) và thời Nguyễn bị thực dân Pháp xâm lược thống trị (1883-1945). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:04:19 pm II- QUỐC PHÒNG CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Lịch sử hiện đại Việt Nam tuy mới trải qua hơn nửa thế kỷ, còn rất ngắn so với chiều dài của toàn bộ lịch sử dân tộc nhưng lại có nhiều sự kiện trọng đại, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về chất của đất nước và con người Việt Nam. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã diễn ra, bền bỉ kiên cường qua nhiều thập kỷ, nhưng do thiếu đường lối cách mạng đúng đắn, không quy tụ được lực lượng toàn dân nên không giành được thắng lợi. Phải đến đầu thập kỷ 30, khi Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kết hợp với điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể của nước ta để định ra đường lối cách mạng đúng đắn, thì phong trào cách mạng mới phát triển mạnh mẽ. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Đảng đã đoàn kết được mọi lực lượng của dân tộc, vượt qua nhiều thử thách, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên những bước cao trào của mấy năm đầu thập niên 40. Với sự chuẩn bị lực lượng cách mạng đầy đủ, mùa thu năm 1945, nắm vững thời cơ, Đảng đã phát động toàn dân, khởi nghĩa toàn quốc giành chính quyền thắng lợi. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Đây là nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân lao động, dựa trên cơ sở liên minh công nông do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Nhưng chính quyền cách mạng của nhân dân ta chưa kịp củng cố thì giặc Pháp lại phát động chiến tranh xâm lược trở lại đối với Việt Nam. Tám năm kháng chiến trường kỳ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân và dân cả nước đánh giặc. Với đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc. Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đưa dân tộc ta giành thắng lợi vẻ vang, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo. Một nửa nước là miền Bắc được giải phóng hoàn toàn nhưng còn nửa nước là miền Nam vẫn bị đế quốc và bè lũ tay sai của chúng thống trị. Hoà bình vừa được lập lại thì đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam nhằm áp đặt chủ ngrnĩa thực dân kiểu mới lên nửa nước ta. Nhưng nhân dân ta không chấp nhận và đứng lên theo lời kêu gọi của Đảng tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài tới 20 năm (1955 - 1975) mới giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 5-1975. Như vậy là từ khi nhà nước VNDCCH thành lập, với Tuyên ngôn độc lập lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và công bố ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành hai cuộc kháng chiến anh hùng kéo dài 30 năm (1945 - 1975) mới giành và giữ được nền độc lập, chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn. Trong những năm đó, nhân dân ta chưa có khoảng thời gian nào có được hoà bình ổn định, kéo dài để chăm lo đến xây dựng đất nước và thiết kế một nền quốc phòng thống nhất cả nước. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta giữ được ba vùng tự do lớn là Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Nam - Ngãi - Bình - Phú tương đối ổn định để làm nhiệm vụ hậu phương chiến lược. Còn trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta đã có nửa nước miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, đang tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, là hậu phương lớn, căn cứ địa của cách mạng cả nước. Tuy nhiên hậu phương lớn đó cũng phải hai lần chuyển vào thời chiến (1965 và 1972) để đánh trả hai cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Rõ ràng, tình hình diễn ra trong những năm 1945 - 1975 cho thấy: đặc điểm cơ bản của công cuộc xây dựng nền quốc phòng của nước VNDCCH là "vừa xây dựng, vừa kháng chiến", xây dựng trong điều kiện một bộ phận đất nước vẫn còn đang chiến tranh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:05:47 pm 1. Quan điểm - tư tưởng chỉ đạo quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Sau khi khởi nghĩa giành được chính quyền, nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền dân chủ cộng hoà non trẻ đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng. Trong bản Tuyên ngôn độc lập công bố ngày 2-9-1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mang và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1988, tập 3, tr.386). Sự nghiệp quốc phòng từ đó được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sát sao với một hệ thống quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đúng đắn sáng tạo, được hình thành và từng bước hoàn chỉnh trong đấu tranh chống đế quốc và các thế lực phản động. Hệ thống quan điểm - tư tưởng đó là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại, liên minh phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước ta, đồng thời kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc. a) Quốc phòng toàn dân Quan điểm toàn dân phản ánh nét độc đáo về lực lượng và phương pháp xây dựng nền quốc phòng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là quan điểm đã được đúc kết qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một dân tộc nhỏ luôn phải đương đầu với kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình. Cuộc đấu tranh đó sở dĩ giành được thắng lợi vẻ vang là do sức mạnh của lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần cố kết dân tộc bền vững của nhân dân Việt Nam. Từ xưa để giữ nước, cha ông ta đã rất coi trọng sức mạnh của "cả nước chung sức", "trăm họ là binh", "lấy dân làm gốc" nên các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ... đã duy trì được độc lập lâu bền, đánh thắng những kẻ thù xâm lược hung bạo. Lịch sử cũng có những bài học mất nước cay đắng của những triều đại xa dân, không huy động được đông đảo nhân dân đứng lên giữ nước như nhà Hồ, nhà Nguyễn. Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, cùng với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử nên luôn coi quan điểm toàn dân đánh giặc giữ nước là một nội dung cơ bản của lý luận quân sự Việt Nam, trong chiến tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng quốc phòng nói riêng. Sau khi giành được chính quyền, thành lập nhà nước dân chủ cộng hoà, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đoàn kết để giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ của mình. Quan điểm quốc phòng toàn dân của Đảng là nền quốc phòng của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải do toàn dân xây dựng và dựa vào sức mạnh mọi mặt của toàn dân. Chỉ khi nào động viên, tổ chức được đông đảo quần chúng tham gia thì sự nghiệp bảo vệ đất nước mới thật vững chắc. Khi giặc Pháp nổ súng xâm lược ở Nam Bộ (23-9-1945), trong thư gửi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: "Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1998, tập 4, tr.43). Khi cuộc chiến tranh với thực dân Pháp không tránh được, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc từ đêm 19-12-1946 và ra chỉ thị "Toàn dân kháng chiến". Chỉ thị viết: "Tổ quốc đang lâm nguy. Quân đội, dân quân, du kích toàn quốc hãy nhất tề đứng lên giết giặc, cứu nước"2 (Ban NCLSĐTW - Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 2, Nxb Thông tin Lý luận, H.1979, tr.100). Còn trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến Hồ Chủ tịch viết: "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, tập 1, tr.403). Quan điểm dựa vào dân, tin ở sức mạnh của nhân dân đã chỉ đạo xuyên suốt mọi hoạt động chiến đấu, xây dựng, bảo vệ hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (7-1954), nửa nước phía bắc (miền Bắc)2 (Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954), vĩ tuyến 17° được xác định là ranh giới quân sự tạm thời, phân cách lực lượng hai bên. Từ đó bắt đầu xuất hiện cụm từ: miền Bắc, miền Nam) được giải phóng hoàn toàn nhưng nửa nước phía nam (miền Nam) vẫn nằm dưới sự cai quản của đế quốc và chính quyền tay sai. Từ đây bắt đầu cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ cửa nhân dân ta chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ và chính quyền phản động tay sai của Mỹ ở miền Nam, nhằm thống nhất đất nước, hoàn thành độc lập, dân chủ, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc đấu tranh lâu dài đó, Đảng ta xác định miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc. Trung ương Đảng xác định, phải ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, có tiềm lực mọi mặt vững mạnh để giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy. việc "xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng trong hoà bình là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng cách mạng"1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa II Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 8-1955). Quan điểm quốc phòng toàn dân trong giai đoạn đấu tranh chống Mỹ được khẳng định đầy đủ hơn trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) của Trung ương Đảng họp tháng 3-1957. Nghị quyết tập trung chỉ đạo nhiệm vụ "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng", xác định đây là sự nghiệp to lớn, có quan hệ trực tiếp đến an toàn của quốc gia, độc lập và chủ quyên của Tổ quốc, đến đời sống hoà bình và hạnh phúc của nhân dân và tiền đồ phát triển của cách mạng. Cho nên đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và quan điểm toàn dân làm quốc phòng cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Chế độ này là của ta, phải bảo vệ chế độ của ta. Nhà nước VNDCCH là của ta, phải bảo vệ nhà nước của ta. Ai xâm phạm đến nhà nước của ta, đến chế độ ta, ta phải chống lại họ, bằng bất cứ lời nói hay việc làm"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.8, tr.296). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:07:06 pm b) Quốc phòng toàn diện
Quan điểm toàn diện phản ánh nội dung xây dựng sức mạnh của nền quốc phòng. Toàn diện trong xây dựng nền quốc phòng bao gồm xây dựng và liên kết các mặt hoạt động về: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, quân sự, văn hoá, ngoại giao nhằm nâng cao khả năng quốc phòng để đất nước có hoà bình ổn định mà xây dựng. Ông cha ta trước đây cũng từng nhận thức được tính toàn diện của quốc phòng nên đã có những chỉ dẫn sâu sắc căn dặn lại cho các thế hệ sau như: "Dân cường quốc thịnh", "Quốc phú binh cường", "Vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước góp sức" thì giữ được nước. v.v... Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công cuộc xây dựng nền quốc phòng được tiến hành với quy mô rộng lớn, gắn liền với mọi hoạt động của xã hội. Ngay trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy". Quyết tâm đó thể hiện rõ quan điểm quốc phòng toàn diện trong thời kỳ lịch sử mới. - Về chính trị, quan trọng nhất là giáo dục, phát huy lòng yêu nước của nhân dân, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì dù "địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng yêu nước của nhân dân ta"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, tr.15). Tinh thần yêu nước của nhân dân ta vừa là truyền thống, vừa là cội nguồn của sức mạnh quốc phòng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Lòng yêu nước của đồng bào nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.4, tr.25). Dựa vào lòng yêu nước đồng thời với việc ban hành các chính sách xã hội đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân, mọi lực lượng yêu chuộng hoà bình, tiến bộ để thực hiện thắng lợi chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công". - Về kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn coi kinh tế là cơ sở vật chất của quốc phòng. Vì thế khi đất nước có chiến tranh cũng như trong hoà bình, nhiệm vụ xây dựng kinh tế không bao giờ lơi lỏng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng ra "chỉ thị kháng chiến kiến quốc", vừa đánh giặc vừa phải ra sức tăng gia sản xuất để cung cấp cho tiền tuyến và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Thực túc thì binh cường... chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.6, tr.44). Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta có miền Bắc hoàn toàn giải phóng thì nhiệm vụ: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH"2 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần III (9-1960)), là cơ sở để củng cố miền Bắc vững chắc và làm tốt vai trò là căn cứ địa cho cách mạng cả nước. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở miền Bắc được kết hợp chặt chẽ với việc nâng cao sức mạnh quốc phòng và ngược lại, quốc phòng được củng cố sẽ tạo điều kiện ổn định để xây dựng kinh tế. Coi kinh tế là cơ sở cho quốc phòng, Đảng đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá đúng đắn nhân tố kinh tế trong việc xây dựng sức mạnh quân sự của đất nước, như Ph.Ăng-ghen đã từng viết: "Không có gì lại phụ thuộc vào tiền đề kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội"3 (Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb QĐND, H.1982, t.1, tr.20). - Văn hoá xã hội, cũng là một mặt quan trọng của sức mạnh quốc phòng. Bởi vì, "xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc"1 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần II (1951)). Chính con người có giác ngộ chính trị, có kiến thức, có sức khoẻ sẽ là động lực quan trọng để xây dựng và củng cố quốc phòng. Đấu tranh chống văn hoá độc hại của đế quốc, phong kiến, bảo vệ và phát huy văn hoá tốt đẹp của dân tộc cũng là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, liên quan mật thiết đến quốc phòng. - Ngoại giao là mặt hoạt động quan trọng của nhà nước, nó hỗ trợ tích cực cho sự nghiệp quốc phòng. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, "Công tác ngoại giao của ta phải ra sức tranh thủ sự đồng tình của các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, tr.310). Bằng đấu tranh ngoại giao tích cực, chủ động, chúng ta có thể phân hoá được kẻ thù, tranh thủ được sự giúp đỡ của bè bạn, giữ được hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhờ công tác ngoại giao đúng đắn, sáng tạo và chính nghĩa, nhân dân ta đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, làm cho sức mạnh kháng chiến không ngừng tăng lên. Kết quả của đấu tranh ngoại giao đã góp phần tích cực vào việc củng cố và bảo vệ vững chắc miền Bắc. Vì vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (khoá III) đã quyết định, phải "đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước". - Về quân sự, sức mạnh quân sự luôn có vị trí quan trọng trực tiếp quyết định sức mạnh quốc phòng trong cả thời bình cũng như thời chiến. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến" và kêu gọi, phải "đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.5, tr.183). Trong xây dựng quân sự thì việc xây dựng lực lượng vũ trang có tầm quan trọng nhất. Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khoá II (3-1957) xác định, phải: "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng" nhằm bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Để thực hiện nhiệm vụ đó. Hội nghị quyết định "Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại"2 (Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khóa II (3-1957)). Cùng với xây dựng quân đội còn phải xây dựng lực lượng hậu bị mà "Vấn đề căn bản của việc xây dựng lực lượng hậu bị mạnh là động viên toàn dân tích cực thi hành nghĩa vụ quân sự"3 (Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khóa II (3-1957)). Việc xây dựng quân đội nhân dân đã được triển khai tích cực qua 2 kế hoạch 5 năm (1955 - 1960, 1961 - 1965) đưa quân đội ta từ một quân đội chủ yếu là bộ binh tiến lên một quân đội hợp thành có các binh chủng và quân chủng. Sau khi miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta bắt tay xây dựng và phát triển các mặt nhằm tăng cương tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá bảo đảm cho quốc phòng ngày càng vững chắc. Đó cũng là sức mạnh toàn diện của quốc phòng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:07:49 pm c) Quốc phòng hiện đại
Trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thấy nhất thiết phải từng bước xây dựng một nền quốc phòng hiện đại. Muốn vậy phải cố gắng xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, để có cơ sở vật chất mà hiện đại hoá quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế của đất nước chưa phát triển, việc hiện đại hoá nền quốc phòng, đặc biệt là hiện đại hoá trang bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang ta phải dựa một phần quan trọng vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Do đó, hiện đại hoá nền quốc phòng phải tiến hành từng bước, một mặt đề cao tinh thần tự lực tự cường đồng thời phải biết tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế. Quan điểm quốc phòng hiện đại của Đảng, Nhà nước ta là không ỷ lại vào trang bị vũ khí hiện đại mà quan trọng nhất là phải đào tạo được đội ngũ cán bộ có giác ngộ chính trị, có kiến thức khoa học, có năng lực vận dụng sáng tạo để làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại. d) Quốc phòng liên minh Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là bài học lớn của Đảng và Nhà nước ta để giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng Việt Nam "là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của cuộc đấu tranh của quần chúng lao động toàn thế giới chống bọn đế quốc áp bức"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.18). Chúng ta chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc mình, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, muốn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế thì mỗi dân tộc trước hết phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ của mình. Rõ ràng "muốn người ta giúp cho thì trước tiên mình phải tự giúp lấy mình đã"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.271). Trong đấu tranh chống đế quốc Pháp rồi đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng đường lối đối ngoại đúng đắn đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ thế giới. Trên bán đảo Đông Dương, do cùng chung cảnh ngộ bị đế quốc xâm lược và cùng chung kẻ thù nên nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã sớm hình thành khối liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này trong kháng chiến chống Mỹ. Khối liên minh ấy đã phát huy tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến của mỗi nước. Sau khi miền Bắc được giải phóng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đã được Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác viện trợ cả về kinh tế và quân sự. Tuy không công khai nhưng sự liên minh trong quốc phòng đã hình thành, tạo thế vững chắc cho việc tổ chức phòng thủ miền Bắc. Tóm lại, những quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng nền quốc phòng từ khi giành được chính quyền, và trải qua hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, Mỹ. Đó là những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, sáng tạo, kết hợp giữa truyền thống quân sự của dân tộc với tinh hoa quân sự thế giới mà nền móng của nó là học thuyết quân sự Mác - Lênin. Nắm vững luận điểm của V.I.Lênin về "bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc", Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà luôn luôn nhắc nhở, quốc phòng phải gắn liền với an ninh, quốc phòng không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn phải bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định, quốc phòng và an ninh là hai mặt hoạt động quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với nhau do quân đội và công an thực hiện, cùng chung một đối tượng là kẻ thù của dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:09:11 pm 2. Những nội dung hoạt động nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng
Để xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác định: "Nó không phải chỉ là vấn đề quân sự mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học. Nó đòi hỏi một sự cố gắng liên tục và tích cực của toàn quân và toàn dân"1 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khóa II (3-1957)). Vì vậy, các lĩnh vực hoạt động của đất nước đều có liên quan đến quốc phòng, và sức mạnh quốc phòng là dựa trên nền tảng sức mạnh mọi mặt của đất nước. Nhận thức được rõ ý nghĩa này, Đảng và nhà nước đã tăng cường chỉ đạo các mặt hoạt động sau: a) Xây dựng và không ngừng củng cố sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong nhân dân, coi đây là điều rất quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Ngay sau khi giành được chính quyền cũng như trong cả quá trình xây dựng hậu phương những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng và chính phủ thường xuyên coi trọng việc giáo dục nâng cao trình độ chính trị của nhân dân, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhiệt tình của nhân dân tham gia vào các hoạt động xây dựng quốc phòng, xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến. Nhờ lòng yêu nước nồng nàn của mọi tầng lớp nhân dân, sự nhất trí cao với đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng và chính phủ, hậu phương kháng chiến đã vượt qua những thử thách ác liệt của chiến tranh, có lúc bị bao vây bốn phía, bị địch đánh phá liên tục nhưng vẫn đứng vững, vừa chiến đấu vừa xây dựng, huy động được sức người, sức của to lớn cung cấp cho tiền tuyến đánh thắng. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta có miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng nửa nước là miền Nam vẫn bị đế quốc và tay sai thống trị. Nhiệm vụ xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trên cả nước và là cơ sở vững chắc bảo đảm cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến đấu chống đế quốc xâm lược, chúng ta có được một vùng lãnh thổ hoàn chỉnh là miền Bắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là ước mơ từ lâu đời của nhân dân lao động. Và như V.I.Lênin đã viết: "Khi chúng ta trở thành đại diện của giai cấp thống trị, là giai cấp bắt đầu tổ chức chủ nghĩa xã hội thì chúng ta yêu cầu mọi người phải có thái độ nghiêm túc đối với việc quốc phòng"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1977, t.36, tr.385): vận dụng nguyên lý đó của học thuyết Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định từ sớm, sau khi hoà bình được lập lại là: "Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng trong hoà bình là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng cách mạng"1 (Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa II (8-1955)) của nhân dân ta, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ vì độc lập và thống nhất đất nước. Và đề xây dựng nền quốc phòng vững mạnh phải giáo dục trách nhiệm và huy động được mọi khả năng của nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đang làm nhiệm vụ đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để làm cho sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác tổ chức, tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân ta thấu hiểu đường lối, chính sách, thấy được thuận lợi, khó khăn của đất nước, từ đó tạo nên sự nhất trí cao về chính trị trong nhân dân mà có hành động thiết thực ủng hộ và tham gia mọi hoạt động quốc phòng. Đó cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh càn dặn: "... phải làm cho dân ta có tín tâm và quyết tâm"2 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.398) thì mọi việc mới thành công. Để tạo được sự nhất trí về chính trị trong dân, thì phải chăm lo nâng cao đời sống và tinh thần của nhân dân, làm cho mọi tầng lớp nhân dân được hưởng các thành quả của cách mạng, qua đó mà đoàn kết toàn thể nhân dân vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ của mình, bảo vệ nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ban hành đều nhằm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.398). Nhờ có sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong dân nên xã hội miền Bắc là một mặt trận đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng và chính phủ. Kết quả của 10 năm xây dựng trong điều kiện có hoà bình (1955-1964) đã chứng minh rằng "Xã hội miền Bắc ngày nay là xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống cho mình và cho con cháu muôn đời sau"2 (Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3-1964). Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Thông tin lý luận, H.1982, tập 4, tr.201). Bằng sức mạnh của ý chí thống nhất, miền Bắc đã vượt qua mọi thử thách quyết liệt của chiến tranh, vừa liên tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt, vừa chiến đấu kiên cường đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Từ năm 1965, khi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ mở rộng ra cả nước thì từ hậu phương lớn miền Bắc những phong trào thi đua "ba sẵn sàng" trong thanh niên, "ba đảm đang" của phụ nữ, "ba quyết tâm" trong trí thức đã thực sự động viên mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc đứng lên sát cánh cùng nhân dân miền Nam quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Có thể nói, sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong nhân dân là một trong những nhân tố quan trọng của sức mạnh quốc phòng. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:10:28 pm b) Xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước là cơ sở vật chất của sức mạnh quốc phòng. Không chỉ đối với quốc phòng, kinh tế còn là cơ sở để giải quyết các nhiệm vụ chính trị - xã hội của mọi quốc gia. Tuy nhiên Đảng ta cho rằng, bản thân sự phát triển kinh tế không tự động thúc đẩy quốc phòng mà phải thông qua chế độ kinh tế và chỉ đạo của nhà nước. Vì vậy, trong đường lối và chính sách kinh tế của Đảng và nhà nước ta luôn luôn nêu rõ: phải đưa miền Bắc từ nên kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ nền kinh tế phân tán lạc hậu lên nên kinh tế cân đối và hiện đại. Như vậy quá trình xây dựng và phát triển kinh tế phải đồng thời thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất thích ứng.
Chúng ta biết rằng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng với bản chất của chế độ kinh tế - chính trị chi phối khả năng huy động vật chất phục vụ quốc phòng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), mặc dầu kinh tế của hậu phương kháng chiến còn nghèo, lại bị địch bao vây phá hoại nhưng dưới chế độ dân chủ nhân dân, ruộng đất trong tay nông dân lao động nên sản xuất mọi mặt, nhất là lương thực, thực phẩm vẫn bảo đảm được đời sống của nhân dân và cung cấp đều đặn, ngày một tăng để nuôi quân đánh giặc. Vào năm cuối của cuộc kháng chiến (1954), sản lượng lương thực ở các vùng tự do vẫn vượt 26 vạn tấn so với sản lượng lương thực thu được trước ngày toàn quổc kháng chiến, ngân sách thu-chi của chính phủ đạt cân bằng, giá cả các mặt hàng thiết yếu cho đời sống vẫn bình ổn. Sau ngày giải phóng, nhân dân ta ở miền Bắc đã bắt tay ngay vào nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế. Thông qua các kế hoạch 3 năm1 (Có 2 kế hoạch 3 năm. Kế hoạch 3 năm đầu (1955-1957) nhằm khôi phục kinh tế; kế hoạch 3 năm thứ hai (1958-1960) nhằm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) thực hiện một bước công nghiệp hóa...) rồi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất diện mạo kinh tế miền Bắc đã thay đổi hoàn toàn. Từ nền kinh tế gần như kiệt quệ do bị chiến tranh tàn phá với nạn đói đang đe dọa nhiều vùng, thất nghiệp lan tràn ở các đô thị mà chỉ sau 10 năm (1955-1965) đã được khôi phục và phát triển vững chắc với hai ngành sản xuất chính là công nghiệp và nông nghiệp. Năm 1965, tổng sản lượng lương thực đạt trên 5,5 triệu tấn với bình quân đầu người đạt 302kg/năm, là sản lượng cao nhất so với các năm trước đó. Nền kinh tế của miền Bắc không còn chủ yếu là nông nghiệp nữa, tỷ trọng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã chiếm 53% trong tổng giá trị của cả công- nông và lâm nghiệp. Quan hệ sản xuất thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa đã thay đổi về chất, hai hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể đã chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Đến cuối 1965, tỷ trọng kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm 92,5% trong tổng giá trị sản lượng của ngành công nghiệp và chiếm 90% trong tổng giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp. Trong nông thôn miền Bắc, đã có 90,1% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã với 80.8% tống diện tích ruộng đất. Trên cơ sở phát triển kinh tế. Đảng và nhà nước đã chỉ đạo các kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng, làm cho mỗi bước phát triển kinh tế lại tăng thêm khả năng quốc phòng. Ngược lại, quốc phòng được củng cố thì tạo điều kiện ổn định để xây dựng và phát triển kinh tế. Thành tựu xây dựng của các ngành cơ khí, hoá chất, giao thông, chế biến thực phẩm... đã giải quyết một phần nhu cầu của quốc phòng và của lực lượng vũ trang. Theo báo cáo của ngành hậu cần quân đội thì các xí nghiệp cơ khí ở nhiều địa phương đã dành một phần năng lực của mình để sửa chữa súng pháo hoặc chế tạo một số phụ kiện thông thường thay thế cho pháo cao xạ và súng máy cao xạ. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, ngành giao thông vận tải được quân sự hoá cao, đã phục vụ rất lớn cho quốc phòng, cho việc chi viện tiền tuyến. Từ năm 1965, khi Mỹ gây ra chiến tranh phằ hoại đối với miền Bắc, Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) vẫn xác định: "Phải ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng"1 (Đây là một trong 6 nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc được hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa III (12-1965) xác định) coi công cuộc xây dựng kinh tế luôn gắn liền với củng cố quốc phòng. Tuy nhiên, lúc này cả nước đã có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền nên Trung ương quyết định phải chuyển hướng nền kinh tế của miền Bắc sang thời chiến với tinh thần là: "Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.4, tr.53) . Với chế độ kinh tế ưu việt được xây dựng ở miền Bắc nên mặc dầu những năm có chiến tranh phá hoại, địch gây ra những tổn thất và khó khăn không nhỏ cho kinh tế của ta, nhưng hàng năm miền Bắc vẫn huy động khoảng 20% tổng số lương thực mà nhà nước huy động được cho các nhu cầu quốc phòng. Còn về nhân lực thì dành cho quốc phòng 51% tổng số nhân lực mà nhà nước đã động viên, trong đó ưu tiên là những thanh niên trẻ, khoẻ, có văn hoá. Các ngành kinh tế như cơ khí, hoá chất, dệt vải, vật liệu xây dựng, v.v... đều dành một phần quan trọng để phục vụ quốc phòng. Các nguồn viện trợ quốc tế như xăng dầu, sắt thép, xe vận tải, v.v... được ưu tiên cung cấp cho quốc phòng. Nền kinh tế của miền Bắc trong những năm có chiến tranh phá hoại vẫn tiếp tục được duy trì và giữ vững sản xuất, nhà nước tập trung sức đẩy mạnh nông nghiệp với 2 ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi đồng thời chú trọng củng cố quan hệ sản xuất. Còn công nghiệp thì những cơ sở sản xuất lớn đã kịp thời sơ tán, phân tán và đi dần vào sản xuất, đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế quốc dân, của đời sống nhân dân và của quốc phòng. Các cơ sở kinh tế địa phương phát triển nhanh vừa đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của nhân dân đồng thời còn thực hiện được một phần nhiệm vụ hậu cần tại chỗ cho lực lượng vũ trang. Những thành tựu xây dựng phát triển kinh tế và tính vững chắc của nền kinh tế miền Bắc trong những năm chiến tranh thật sự là cơ sở vật chất cho sức mạnh quốc phòng. c) Đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá, giáo dục nhằm xây dựng con người mới Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tăng cường quốc phòng toàn dân trong giai đoạn mới "Từ khi hoà bình được lập lại (7-1954), miền Bắc nước ta đã chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu làm những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đang tiến trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa". Đó là nhận định của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng trong văn kiện "Mấy vấn đề về đường lối cách mạng Việt Nam" công bố hồi tháng 1-1956. Vì vậy, nhiệm vụ quốc phòng ở miền Bắc rất nặng nề, chẳng những phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ và an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn phải làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà. Công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn mới đòi hỏi phải có thế hệ con người mới, có trình độ văn hoá, có tri thức cần thiết về khoa học kỹ thuật, có lòng yêu nước và gắn bó với chủ nghĩa xã hội, dám xả thân vì độc lập của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Cho nên tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá là thiết thực tăng cường sức mạnh quốc phòng. Những năm xây dựng miền Bắc trong hoà bình cũng như các năm có chiến tranh phá hoại, việc giáo dục phổ thông và đại học đã được Đảng và nhà nước hết sức chăm lo. Con em của nhân dân lao động, của các dân tộc ít người đều được đi học. Số học sinh phổ thông đến các trường lớp tăng mạnh hàng năm, kể cả khi có chiến tranh, tính trung bình cứ 4 người dân có 1 người đi học. Số học sinh đại học và trung học chuyên nghiệp vào năm 1964 so với ngày miền Bắc mới giải phóng đã tăng gấp 2 lần và những năm sau đó còn tăng cao hơn. Tính đến năm 1964, các nhà trường xã hội chủ nghĩa đã cung cấp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 21.332 cán bộ đại học và trên 55.000 cán bộ tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp1 (Số liệu lấy trong sách: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H.1997, tr.130). Chính thành quả của giáo dục đã cung cấp cho quốc phòng, cho lực lượng vũ trang nhân dân những chiến sĩ, cán bộ có kiến thức, có giác ngộ chính trị, dũng cảm trong chiến đấu, thông minh và trí tuệ trong chỉ huy và công tác. Cũng như trên mặt trận giáo dục, văn học và nghệ thuật cũng góp phần tích cực hun đúc lớp người mới có ý chí, tình cảm và đạo đức cách mạng trong sáng, giáo dục tình thương yêu giai cấp, đồng bào và tình cảm quốc tế cao đẹp. Thế hệ người Việt Nam mới được giáo dục và rèn luyện trong môi trường chính trị xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa đã trở thành những thành viên tích cực của công cuộc dựng nước và giữ nước, sống và hoạt động theo đạo lý "Mình vi mọi người". Sự nghiệp quốc phòng nặng nề, vẻ vang được xây dựng và củng cố vững chắc, phần quan trọng là do kết quả của công tác văn hoá, giáo dục được tiến hành thường xuyên trong cả thời bình và khi có chiến tranh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:12:34 pm d) Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần chủ yếu của sức mạnh quốc phòng
Nhận thức rõ về vị trí của lực lượng vũ trang trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở miền Bắc, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thường xuyên chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngay sau khi hoà bình được lập lại, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhắc nhở mọi người: "Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm, nguy hiểm... Cho nên, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, chính phủ và toàn thể nhân dân"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị (9-1954), Văn kiện Lịch sử Đảng, Trường Nguyễn Ái Quốc ấn hành, t.9, tr.29). Tiếp đó, các hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955), và lần thứ 8 (8-1955) đều nhấn mạnh: để củng cố miền Bắc phải chú trọng đến quốc phòng và tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia. Tháng 3 năm 1957, hội nghị Trung ương lần 12 (mở rộng) bàn và ra nghị quyết về "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng". Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cho quân đội nhân dân trong giai đoạn mới là, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sại, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Để thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó, phải "Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại". Phải xây dựng quân đội thống nhất về mọi mặt: chỉ huy, biên chế, huấn luyện, chế độ, kỷ luật... đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà từng bước trang bị cho quân đội ta các loại vũ khí và phương tiện hiện đại đi đôi với rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại. Tại hội nghị này, Trung ương đã thông qua kế hoạch xây dựng quân đội củng cố quốc phòng trong 5 năm đầu tiên (1955-1960), nhằm xây dựng lực lượng thường trực có số lượng thích hợp và chất lượng cao, xây dựng lực lượng hậu bị hùng hậu mang tính toàn dân; việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta. Những quan điểm, phương hướng, chủ trương xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng của hội nghị Trung ương 12, đánh dấu bước phát triển về lý luận xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng của giai đoạn cách mạng mới. Thực hiện nghị quyết Trung ương 12 và kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng, trong những năm 1958 đến 1960, quân đội ta triển khai nhiều công việc như: chấn chỉnh tổ chức, thống nhất biên chế, tiến hành huấn luyện theo kế hoạch thống nhất toàn quân, đào tạo và bổ túc cán bộ qua các trường quân sự - chính trị, đôi mới vũ khí trang bị cho các đơn vị nhằm tăng sức cơ động và hoả lực, xây dựng và ban hành các điều lệnh, điều lệ và chế độ chính quy. Để xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, Đảng chú trọng cải tiến và nâng cao hiệu lực công tác đảng - công tác chính trị, mở các đợt học tập chính trị nhằm nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, chiến sĩ, chú trọng xây dựng và phát triển Đảng trong lực lượng vũ trang. Với tinh thần trách nhiệm và sự chỉ đạo sâu sát của các đảng bộ và chỉ huy, nhiệm vụ xây dựng quân đội đã thu được kết quả tốt đẹp. Thông qua huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội được nâng cao. Trình độ sẵn sàng chiến đấu được tăng cường. Khả năng hiệp đồng tác chiến các binh chủng đã được huấn luyện và thử nghiệm qua diễn tập. Đến năm 1960, cơ cấu tổ chức của quân đội đã có thay đổi, từ chỗ bộ binh là thành phần chủ yếu đã tiến đến tỷ lệ giữa bộ binh các binh chủng xấp xỉ nhau (51/49%). Sức mạnh hoả lực và khả năng cơ động được nâng cao rõ rệt. Cán bộ, chiến sĩ được giáo dục và thông suốt nhiệm vụ quân đội, gắn bó với chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ ưu việt đang xây dựng và đạt được những thành tựu quan trọng về chính trị, kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Đã kết nạp vào Đảng hàng chục nghìn đảng viên, nâng tỷ lệ đảng viên trong toàn quân lên gần 40% (1960)1 (Số liệu trong sách Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H.1997). Để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong tình hình mới, ngày 31 tháng 3 năm 1959, Quốc hội đã thông qua Luật nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ tình nguyện từ thời kháng chiến, nhằm giáo dục ý thức và nghĩa vụ của toàn dân đối với sự nghiệp quốc phòng. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tháng 2-1961, Bộ Chính trị đã họp đánh giá kết quả xây dựng quân đội 5 năm đầu tiên (1955-1960) và thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965), nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng toàn dân. Do tinh hình cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam đã có sự phát triển mới, từ khởi nghĩa từng phần trở thành chiến tranh cách mạng nên nhiệm vụ xây dựng quân đội tuy chủ yếu lúc này là "Xây dựng lực lượng trong thời bình, đồng thời một bộ phận phải xây dựng theo thời chiến"1 (Quân ủy Trung ương: Những chủ trương công tác lớn về kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965). Hồ sơ 264/QUTƯ) và không chỉ xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền Bắc mà còn phải xây dựng lực lượng vũ trang cho miền Nam. Phải phát động trong quân đội cuộc vận động "xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại" để đạt mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2. Kế hoạch này vừa chú trọng xây dựng lực lượng thường trực, đồng thời còn chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị, vừa tiến hành xây dựng một số đơn vị theo biên chế thời chiến để sẵn sàng điều động cho các chiến trường. Từ năm 1963, do đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt ở miền Nam và tăng cường chống phá miền Bắc, điều kiện hoà bình để xây dựng quân đội ở miền Bắc lúc này không còn. Quân uỷ Trung ương quyết định phải thúc đẩy hơn nữa nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, hoàn thành các chi tiêu của kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965). Và để chủ động đối phó với tình huống xấu nếu địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Bộ Tổng tham mưu đã triển khai các phương án phòng thủ đồng thời chuẩn bị kế hoạch mở rộng lực lượng vũ trang nếu chiến tranh xảy ra. Tính đến cuối 1964, quân số bộ đội chủ lực tăng gấp 1,5 lần so với năm 1960, bộ đội địa phương được củng cố lại, quân số cũng tăng gấp 2,5 lần; lực lượng hậu bị với gần 1 triệu người (1962) và trên 1,6 triệu dân quân tự vệ (1965). Mười năm xây dựng (1954-1964) trong điều kiện có hoà bình là một giai đoạn rất quan trọng đối với quân đội ta trên con đường tiến lên chính quy, hiện đại. Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, quân đội ta đã tiến một bước dài, từ một quân đội mà thành phần bộ binh là chủ yếu đã trở thành một quân đội hợp thành với các binh đoàn chủ lực cơ động và các binh chủng kỹ thuật, sức mạnh chiến đấu và khả năng cơ động được nâng cao rõ rệt. Trong buổi lễ trọng thể mừng quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.2, tr.345). Từ năm 1965, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã mở rộng ra cả nước ta. Ở miền Bắc, địch tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt, chủ yếu bằng sức mạnh của không quân. Tháng 3 năm 1965, Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 quyết định: "Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công, nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốc phòng"1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa III, Ban chấp hành Trung ương Đảng (26-3-1965)). Tháng 4 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành Luật nghĩa vụ quân sự thời chiến, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ theo yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu. Tháng 5 - 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh động viên cục bộ và tiếp đó chính phủ quyết định thực hiện chính sách "dân công thời chiến" nhằm huy động nhân lực cho yêu cầu quốc phòng. Trong những năm miền Bắc có chiến tranh phá hoại, công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang vẫn được đẩy mạnh, vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, vừa xây dựng và đưa lực lượng vào miền Nam, đồng thời làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Trên hậu phương lớn miền Bắc dấy lên các phong trào "cử người đi đánh Mỹ", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương. Kết quả xây dựng lực lượng vũ trang đã đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chiến lược, bảo vệ vững chắc miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam, đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tính đến năm 1975, tổng số nhân lực miền Bắc động viên cho nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội, 60-65% trong số đó gia nhập lực lượng vũ trang. Vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh ở miền Nam (1973-1975), 50% quân số của chủ lực quân giải phóng là lực lượng từ miền Bắc tăng cường. Quân đội nhân dân từ 170.000 (1960) đã phát triển lên hơn 1 triệu người, với khối chủ lực cơ động gồm các sư đoàn và quân đoàn hợp thành, bao gồm đủ các binh, quân chủng, có trình độ tác chiến hiệp đồng quy mô binh đoàn và nhiều binh đoàn. Trên miền Bắc hậu phương lớn đã xây dựng được lực lượng hậu bị hùng hậu, bao gồm hàng triệu người, sẵn sàng cho động viên khi cần mở rộng hơn nữa lực lượng vũ trang. Lực lượng dân quân tự vệ đông đảo chiếm 10% dân số, được huấn luyện và triển khai rộng khắp trên tất cả các địa phương, là lực lượng xung kích trên các lĩnh vực sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh, bảo đảm giao thông vận tải, v.v... Thành tựu xây dựng lực lượng vũ trang là mặt biểu hiện đặc trưng quan trọng của sức mạnh quốc phòng của miền Bắc trong những năm đánh Mỹ. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2021, 08:13:38 pm đ) Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, khôn khéo là góp phần tích cực nâng cao sức mạnh quốc phòng
Trong suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề ra và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn. Nội dung cơ bản của đường lối là trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế. Mọi hoạt động đối ngoại của nhà nước cũng như của các đoàn thể đều nhằm tăng cường tình đoàn kết quốc tế, trước hết với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Cam-pu-chia. Với cách mạng Lào và Cam-pu-chia, Đảng, nhà nước ta chủ trương hết lòng giúp đỡ trên tinh thần quốc tế trong sáng và bằng các hoạt động thiết thực của bộ đội tình nguyện Việt Nam, sát cánh chiến đấu cùng quân-dân nước bạn vì sự nghiệp độc lập của ba nước và của mỗi nước. Với các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản, Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà luôn kiên trì, giải thích rõ đường lối đấu tranh đúng đắn, chính nghĩa của nhân dân ta, vì độc lập tự do của dân tộc mình, vì hoà bình ổn định của toàn thế giới. Qua đó mà tranh thủ sự ủng hộ về chính trị và sự giúp đỡ vê vật chất kỹ thuật. Với nhân dân, chính phủ các nước, trước hết là các nước Á, Phi, Mỹ - Latinh, Đảng và nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, vạch trần tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ, giới thiệu đường lối đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của ta. Với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và nhà nước chủ trương tuyên truyền, giải thích làm cho họ hiểu rõ lập trường và thiện chí của nhân dân ta, vạch tính chất phi nghĩa và tàn bạo của chiến tranh xâm lược Việt Nam do các chính quyền ở Mỹ theo đuổi. Vào những năm chiến tranh đang diễn ra ác liệt, hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967) đã bàn chuyên đề về "Đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước...". Trung ương xác định đấu tranh ngoại giao hiện nay giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động phối hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi. Tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi của nhân dân ta ở hai miền Nam-Bắc, đường lối đối ngoại và những hoạt động ngoại giao đúng đắn của Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đă thu được thắng lợi, tranh thủ được sự viện trợ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược. Một mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã hình thành và phát huy tác dụng mạnh mẽ. Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao đã góp phần không nhỏ tăng cường khả năng quốc phòng của chúng ta. Sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng có quan hệ trực tiếp đến an ninh, sống còn của đất nước. Vì vậy nó phải đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của nhà nước. Đảng và nhà nước xác định đường lối, các quan điểm - tư tưởng chỉ đạo toàn bộ công cuộc xây dựng quốc phòng. Với đường lối chính trị đúng đắn, Đảng và nhà nước đoàn kết và động viên toàn dân tham gia công tác quốc phòng. Đảng, nhà nước định ra chính sách, thể chế hoá thành luật, buộc mọi công dân có nghĩa vụ tham gia quốc phòng (ví dụ: Luật nghĩa vụ quân sự, Chính sách dân công thời chiến, Lệnh động viên cục bộ, nghĩa vụ lao động công ích, các thể lệ quy định về bảo mật phòng gian, chống gián điệp biệt kích, trừng trị bọn phản cách mạng, xây dựng thể dục, thể thao quốc phòng, điều lệ về dân quân tự vệ, chính sách hậu phương của lực lượng vũ trang, v.v...). Nhà nước là cơ quan quyền lực trong việc tổ chức huy động các nguồn tiềm lực cho quốc phòng, xét duyệt và thông qua các kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng, phối hợp ngoại giao với quốc phòng, v.v... Vì thế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và không ngừng cải tiến sự chỉ đạo của nhà nước đối với công cuộc xây dựng và củng cố quốc phòng là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi. Quốc phòng xuất hiện cùng với sự hình thành các quốc gia có nhà nước độc lập. Xưa kia ông cha ta đã coi "vũ bị" là công việc tất yếu của quốc gia, có quan hệ đến sự suy vong và hưng thịnh của dân tộc. Quốc phòng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chỉ xuất hiện sau khi ta giành được chính quyền, nhưng chủ quyền của nhà nước cách mạng chưa được củng cố trên toàn quốc thì thực dân Pháp đã xâm lược trở lại nước ta. Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm (9-1945 - 7-1954), chiến trường cả nước bị chia cắt, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng giữ vững được 3 vùng tự do rộng lớn là Việt Bắc, 3 tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh của Liên khu 4 và phần lớn 4 tỉnh Nam-Ngãi-Bình-Phú của Liên khu 5 để xây dựng thành hậu phương kháng chiến, trong đó Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cơ quan đầu não, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến toàn quốc. Trong những năm kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu "Tất cả để đẩy mạnh kháng chiến”, "Tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược", khái niệm quốc phòng gần như đồng nghĩa với khái niệm quân sự, và trên thực tế hồi đó mọi việc là "Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.5, tr.183-184). Các hoạt động quốc phòng được thể hiện tập trung ở hoạt động xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến. Kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, nửa nước phía bắc (miền Bắc) được hoàn toàn giải phóng, được xây dựng, củng cố thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam trong cả nước; và khi chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ phát động ở miền Nam thì miền Bắc đảm nhiệm vai trò là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ khi miền Bắc được giải phóng, tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố quốc phòng bắt đầu tiến hành có quy củ, trên quy mô của một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài nhận thức về quốc phòng chưa thật đầy đủ. Nhiều người vẫn hiểu quốc phòng đồng nhất với quân sự nên chưa huy động và phát huy được trách nhiệm và sự tham gia tích cực của mọi ngành, mọi lực lượng. Qua kinh nghiệm xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở miền Bắc trong những năm chống Mỹ, cứu nước, muốn xây dựng nền quốc phòng trong tình hình mới, tình hình cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội giành thắng lợi, cần tập trung làm tốt những công việc sau: 1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức đúng đắn về quốc phòng và an ninh. Thường xuyên coi trọng việc giáo dục quốc phòng, nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân, của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng và an ninh. 2. Kết hợp chặt chẽ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân với xây dựng an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sẵn sàng, phòng chống thắng lợi với các thế lực chống đối bên trong và sự can thiệp hoặc xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài. 3. Đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động tạo môi trường hoà bình, ổn định, tạo điều kiện cho việc bảo vệ độc lập, chủ quyển toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ, nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta. 4. Xây dựng, nâng cao chất lượng toàn diện và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng an ninh nhân dân mà nòng cốt là quân đội nhân dân và công an nhân dân. 5. Trong xây dựng đất nước phải đồng thời xây dựng tiềm lực quốc phòng và an ninh. Điều này được thể hiện trong sự kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh, trong kết hợp xây dựng và bảo vệ văn hoá dân tộc chống sự xâm nhập của các luồng văn hoá độc hại, v.v... 6. Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với công cuộc xây dựng quốc phòng và an ninh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:16:26 pm QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT VÀ TRUYỀN THỐNG Quán triệt và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời kế thừa và phát huy tinh hoa truyền thống dân chúng vũ trang kết hợp với xây dựng quân đội dân tộc trong lịch sử, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, tổ chức xây dựng nên Quân đội nhân dân Việt Nam, quân đội kiểu mới của dân tộc - quân đội của dân, do dân, vì dân. Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta hơn nửa thế kỷ qua là kết quả của đường lối đúng đắn của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Kể từ khi thành lập đến nay, quân đội ta đã trải qua những chặng đường xây dựng và chiến đấu hết sức vẻ vang: cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, lập nhiêu chiến công oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó đã thể hiện bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời nó cũng đúc kết nên truyền thống tốt đẹp của quân đội ta - Một quân đội được xây dựng và phát triển với những đặc điểm rất Việt Nam. I- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1. Quá trình hình thành và phát triển Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, Quân đội nhân dân Việt Nam hình thành và trải qua những chặng đường xây dựng, chiến đấu rất vẻ vang. Mỗi chặng đường có nội dung xây dựng, nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu chung và riêng, phản ánh từng thời kỳ phát triển, đánh dấu sự lớn mạnh, trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, quy mô tổ chức, vũ khí trang bị, trình độ tác chiến của quân đội ta. Trải qua hơn nửa thế kỷ vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành qua mỗi chặng đường lịch sử tương ứng với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. a) Quá trình hình thành (1930-1945) Khi ra đời, Đảng ta không có một đơn vị vũ trang tập trung nào làm vốn quân cho mình. Đảng phải từ tay không từng bước tổ chức xây dựng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ không đến có, từ chưa hoàn chỉnh đến dần dần hoàn chỉnh và ngày càng lớn mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Đảng đã nêu luận điểm: Sau khi đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, giành độc lập dân tộc sẽ thành lập chính phủ công nông, "tổ chức ra quân đội công nông"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.95). Tiếp đó, Luận cương chính trị của Đảng (10-1930) đề ra chủ trương "võ trang cho công nông", "lập quân đội công nông" và đội tự vệ công nông là mục tiêu phải tiến tới. Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất ra Nghị quyết về Đội tự vệ, khẳng định cần phải tổ chức công nông tự vệ đội và tổ chức đội tự vệ công nông thường trực; đội tự vệ công nông thì được tổ chức ở các sản nghiệp, các làng có cơ sở của Đảng, của Đoàn, của các hội quần chúng; còn đội tự vệ công nông thường trực thì phải gồm những phần tử lao động nhiệt thành nhất, những đảng viên và đoàn viên kiên quyết nhất2 (Nghị quyết quân sự của Đảng 1930-1960, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1959, tr.21-22). Trong thời kỳ vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, một số văn kiện của Đảng và tác phẩm quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ hơn về vũ trang toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang đã từng bước hình thành và phát triển trong phong trào cách mạng của nhân dân ta. Đó là Đội tự vệ công nông (Tự vệ đỏ), mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng trong cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ-Tĩnh; Đội du kích Bắc Sơn trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ trong khởi nghĩa Nam Kỳ, các trung đội Cứu quốc quân 1, 2, 3 ở căn cứ cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai... Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi ra đời, Đội đã đánh hai trận Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi, mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng gồm ba thứ quân, do lãnh tụ Hồ Chí Minh đề ra và chỉ đạo tổ chức đã bước đầu hình thành: đội quân chủ lực của khu căn cứ Cao-Bắc-Lạng (sau này là chủ lực của cả nước), các đội du kích tập trung của các huyện, tỉnh và lực lượng tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu ở khắp các làng xã. Đến đây, mô hình về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức quân sự cách mạng kiểu mới của dân tộc ta đã ra đời. Đó là lực lượng vũ trang kiểu mới, do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, từng bước được xây dựng và ngày càng hoàn chỉnh, không ngừng lớn mạnh. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, ngày 15-5-1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang tập trung khác trong cả nước được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Mặc dù quy mô tổ chức và lực lượng còn nhỏ bé (hơn 5.000 người), trang bị vũ khí thô sơ, thiếu thốn, huấn luyện sơ khai, Việt Nam Giải phóng quân đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân khởi nghĩa từng phần, làm nòng cốt và xung kích, cùng toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đánh đổ hoàn toàn ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền cách mạng trong cả nước. Như vậy, trong những năm 1930-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức vũ trang cách mạng gồm: Đội tự vệ công nông, Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ và một số đội du kích, tự vệ khác đã hình thành ở các chiến khu, căn cứ du kích trong cả nước. Đó là các đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ nhân dân mà ra, cùng toàn dân khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:17:23 pm b) Quân đội ta trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, quân đội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Trước tình hình các thế lực ngoại xâm và bọn tay sai phản động, chủ yếu là thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta lần nữa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung và xây dựng bộ đội chủ lực nói riêng. Trên cơ sở những đơn vị du kích và tự vệ chiến đấu phát triển rộng khắp, Đảng tuyển chọn những chiến sĩ có giác ngộ, có tinh thần chiến đấu, bổ sung cho các đơn vị bộ đội tập trung. Từ hơn 5.000 người được tổ chức thành một chi đội và vài đại đội trong những ngày Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945, Vệ quốc đoàn đã phát triển lên 50.000 người, với gần 40 chi đội (mỗi chi đội tương đương một trung đoàn sau này). Bộ Tổng tham mưu, các cục Chính trị, Quân nhu, Quân giới và Phòng Thông tin liên lạc được thành lập, phục vụ kịp thời cho chỉ huy và bảo đảm cho quân đội xây dựng, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng còn non trẻ. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp tiến công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Các lực lượng vũ trang và nhân dân Nam Bộ đã đứng lên anh dũng chiến đấu ngăn chặn bước chân xâm lược của giặc Pháp. Hướng về miền Nam, nhiều chi đội Giải phóng quân từ các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ đã xung phong vào chiến đấu. Một số chi đội được thành lập ở hải ngoại cũng tình nguyện về nước sát cánh cùng quân dân Nam Bộ kháng chiến. Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 71/SL về Quân đội quốc gia Việt Nam, quy định tổ chức, biên chế thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hoả lực trợ chiến. Theo phương hướng đó, các chi đội Vệ quốc đoàn ở Bắc Bộ và Trung Bộ được biên chế thống nhất theo từng đơn vị cấp trung đoàn (gồm 32 trung đoàn) và tiểu đoàn độc lập. Riêng Nam Bộ, do chưa có điều kiện cải tổ thành trung đoàn nên vẫn tổ chức chi đội (gồm 25 chi đội). Trên cơ sở các trung đoàn đó, ta tổ chức Đại đoàn 1, Đại đoàn 2 ở Bắc Bộ và ba Đại đoàn 23, 27, 31 ở Nam Trung Bộ. Các đơn vị được gọi là đại đoàn chỉ nặng về hình thức tổ chức, thu gom lực lượng, còn khả năng vai trò rất hạn chế. Vì thế, tháng 11 năm 1946, ta giải thể các đại đoàn ở Bắc Bộ, Nam Trung Bộ. Lúc này, tổ chức cao nhất trong các đơn vị bộ đội tập trung là trung đoàn và chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn). Đến cuối năm 1946, Quân đội quốc gia Việt Nam có 30 trung đoàn và 25 chi đội bộ binh với tổng quân số là 82.000 người. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau vài tháng chiến đấu tiêu hao, ngăn chặn địch ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã (Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng), phần lớn các đơn vị vũ trang tập trung của ta tạm thời chuyển lên vùng miền núi và về các vùng nông thôn đồng bằng, trung du xây dựng lực lượng làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến lâu dài. Thu Đông năm 1947, quân và dân ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Việt Bắc, đánh bại chiến lược ’’đánh nhanh, giải quyết nhanh" của thực dân Pháp, bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến của cả nước, chuyển cuộc kháng chiến của ta sang giai đoạn mới. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, Đảng ta tập trung bổ sung quân số, củng cố chấn chỉnh tổ chức, biên chế các đơn vị quân đội. Đến giữa năm 1947, quân đội ta đã phát triển lên tới 125.000 người, gồm 57 trung đoàn và 19 tiểu đoàn đứng chân ở khắp các địa phương trong cả nước. Tháng 4 năm 1949, bộ đội địa phương được thành lập với quy mô tổ chức phổ biến là đại đội, tiểu đoàn ở các tỉnh, huyện. Trên cơ sở lực lượng dân quân phát triển rộng khắp và bộ đôi địa phương hình thành, ngày 28 tháng 8 năm 1949, Đại đoàn bộ binh 308, Đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta được thành lập. Tiếp đó, tháng 3 năm 1950, Đại đoàn bộ binh 304 ra đời. Đến đây, lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) đã hình thành rõ rệt, tạo sự chuyển biến về tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Chấp hành quyết định của Trung ương Đảng và mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, Thu Đông 1950, quân và dân ta mở chiến dịch Biên giới giành thắng lợi lớn, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn ở vùng biên giới Việt-Trung, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng Biên giới đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta, làm thay đổi cục diện chiến tranh: Ta chuyển sang chiến lược phản công và tiến công, địch chuyển dần sang thế phòng ngự chiến lược. Sau chiến dịch Biên giới, lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội chủ lực có bước phát triển lớn. Trong những năm 1950-1952, bốn Đại đoàn bộ binh 312, 320, 316, 325 và Đại đoàn công - pháo 351 lần lượt được thành lập, hình thành khối chủ lực cơ động mạnh ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Việc hình thành các đại đoàn chủ lực đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về quy mô tổ chức. Đấy là một thay đổi về chất của quân đội ta qua 9 năm xây dựng và chiến đấu. Ở Liên khu 5 và Nam Bộ, lực lượng vũ trang tập trung được xây dựng thành các trung đoàn, liên trung đoàn. Trong thế trận chiến tranh du kích phát triển, ta đã kìm giữ, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực mở những chiến dịch tiến công và phản công, lập chiến công oanh liệt ở Tây Bắc, Hoà Bình, đồng bằng Bắc Bộ Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Liên khu 5, Nam Bộ. Thượng Lào... Đông Xuân 1953-1954, quân đội ta phối hợp với quân đội Lào và quân đội Cam-pu-chia, mở cuộc tiến công trên toàn chiến trường Đông Dương, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, giành thắng lợi lớn về quân sự, góp phần quyết định vào việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xám lược. Có thế nói, trong kháng chiến chống Pháp, quân đội ta được xây dựng ở các vùng giải phóng bị kẻ thù bao vây hoặc các vùng tự do nằm xen kẽ với vùng địch còn kiểm soát, nhưng đã từng bước trưởng thành về mặt tổ chức, quân số và trình độ chiến đấu. Đây là thời kỳ hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang ba thứ quân và một số đơn vị binh chủng, đưa quân đội ta từ một quân đội du kích tiến lên quân đội chính quy, từ đánh du kích lên đánh tập trung, kết hợp tác chiến du kích với tác chiến chính quy, làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến, đánh bại quân xâm lược nhà nghề, trang bị hiện đại của thực dân Pháp được Mỹ giúp sức. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:18:01 pm c) Bước phát triển và lởn manh của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975)
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa nước ta sang thời kỳ mới. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nựớc của nhân dân ta chưa hoàn thành. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân đội ta đã lớn mạnh, trưởng thành, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc trên các chiến trường từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, trước đối tượng tác chiến mới là đế quốc Mỹ, nhiệm vụ xây dựng quân đội đòi hỏi có những yêu cầu mới cao hơn. Tranh thủ những năm miền Bắc có hoà bình, quân đội ta vừa tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa tập trung xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955-1960) và 5 năm lần thứ hai (1961-1965), từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Trong 10 năm xây dựng (1954-1964), quân đội ta đã có bước trưởng thành mới, từ đơn thuần bộ binh tổ chức không thống nhất, trang bị thiếu thốn, trở thành quân đội chính quy và tương đối hiện đại gồm ba quân chủng: Lục quân, Phòng không-Không quân và Hải quân. Đây là sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức của quân đội ta. Trong đó, lục quân là quân chủng chủ yếu gồm cả bộ binh, pháo binh, công binh, thiết giáp, phòng hoá, thông tin, vận tải... được huấn luyện có hệ thống và khá cơ bản về kỹ thuật và chiến thuật, bước đầu nắm được nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng. Quân đội ta tích luỹ được một số kinh nghiệm về xây dựng trong hoà bình, là cơ sở để bảo vệ miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở miền Nam, trong những năm 1954-1960, cách mạng phát triển từ đấu tranh chính trị đơn thuần lên khởi nghĩa từng phần và đồng khởi. Lực lượng cách mạng được củng cố và từng bước phát triển. Các đội vũ trang tập trung của huyện, tỉnh và toàn Miền được thành lập. Trong những năm 1961-1964, các đơn vị Quân giải phóng ở các địa phương, một số đơn vị chủ lực của Khu và Miền được tổ chức với quy mô trung đoàn, làm nòng cốt cho toàn dân đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ-ngụy. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước, Đảng ta động viên lực lượng của toàn dân, chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến, nhanh chóng mở rộng lực lượng vũ trang, đặc biệt là phát triển bộ đội chủ lực. Về mặt tổ chức, Quân chủng Phòng không-Không quân phát triển các binh chủng: Ra-đa, Tên lửa, Pháo cao xa và Không quân chiến đấu. Các binh đoàn của lục quân được tăng cường nhiều binh chủng kỹ thuật. Lực lượng vận tải quân sự (Đoàn 559) phát triển thành binh đoàn vận tải chiến lược gồm bộ đội vận tải, công binh, phòng không và bộ binh. Trên chiến trường miền Nam, trên cơ sở phát triển ba thứ quân, trong hai năm 1965-1966, ta thành lập các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 chủ lực ở Nam Bộ; các sư đoàn 2 và 3 chủ lực ở Khu 5 và sư đoàn 1 chủ lực ở Tây Nguyên. Năm 1970, ta thành lập Binh đoàn 70, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến của quân đội ta trong giai đoạn mới và là tiên đê cho sự ra đời của các quân đoàn chủ lực sau này. Kết hợp vừa xây dựng, vừa chiến đấu, sau thắng lợi của các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, Ba Gia, Plây Me, Bầu Bàng-Dầu Tiếng, quân và dân ta đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967; tiếp đó, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam; đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến của ta. Trong những năm 1969-1972, trước sự phản kích điên cuồng của Mỹ-ngụy, quân đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, kiên trì chiến đấu, giữ vững các khối chủ lực ở miền Nam: đồng thời tăng cường lực lượng chủ lực và các binh chủng kỹ thuật, nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Quân đội ta đã giành được những thắng lợi lớn trên chiến trường ba nước Đông Dương, tiêu biểu là chiến dịch Đường 9-Nam Lào (1971). Năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam; đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đỉnh cao là chiến dịch phòng không đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam. Để sớm kết thúc chiến tranh, chúng ta phải tập trung xây dựng một lực lượng lớn với quy mô tổ chức cao hơn. Theo đề nghị của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Chính trị phê chuẩn việc thành lập các Quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) và tăng cường các binh chủng kỹ thuật. Việc thành lập các quân đoàn đánh dấu bước trưởng thành về quy mô tổ chức lực lượng và thay đổi về chất, tạo ra lực mới cho quân đội ta cùng toàn dân mở cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh đổ ngụy quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng và chiến thắng rất vẻ vang. Quân đội ta đã trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, trước hết là chất lượng chính trị và trình độ chính quy, hiện đại. Trải qua kháng chiến, quân đội ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về xây dựng lực lượng, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cùng toàn dân đánh thắng quân xâm lược Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự đứng hàng đầu các nước đế quốc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:18:31 pm d) Quân đội nhân dân Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 2000).
Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, quân đội ta chuyển từ nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong chiến tranh sang xây dựng và sẵn sàng chiến đấu; đồng thời tham gia xây dựng kinh tế đất nước trong thời bình. Quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng IV, trong những năm 1975-1977, quân đội ta vừa tham gia xây dựng kinh tế đất nước, vừa điều chỉnh tổng quân số, chấn chỉnh tổ chức biên chế, đẩy mạnh huấn luyện quân sự, nâng cao trình độ chính trị. chấp hành điều lệnh, điều lệ thống nhất trong toàn quân. Ngay từ những năm đầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quân và dân ta đã phải đối phó với kẻ thù mới. Thực hiện âm mưu tiếp tục làm suy yếu Việt Nam, một lần nữa, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế sử dụng tập đoàn Pôn-pốt Iêng-xa-ri ở Cam-pu-chia quấy phá và gây chiến tranh xâm lược ở vùng biên giới Tây Nam. Quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, quân và dân các quân khu 5, 7, 9 và một số đơn vị chủ lực cơ động đã kịp thời đánh trả, đẩy chúng về bên kia biên giới. Tiếp đó, một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của Mặt trận Dân tộc giải phóng Cam-pu-chia đã phối hợp với quân và dân nước bạn đánh đuổi tập đoàn Pôn- pốt Iêng- xa-ri, cứu dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng và giúp bạn xây dựng lại đất nước. Trong 10 năm (1979-1989) giúp cách mạng Cam-pu-chia, cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã phát huy tinh thần quốc tế trong sáng, giúp bạn truy quét bọn tàn quân Pôn-pốt Iêng-xa-ri, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, ổn định cuộc sống của nhân dân. Hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, trong những năm 1982- 1983, quân tình nguyện Việt Nam đã rút từng bộ phận và đến tháng 9 năm 1989 đã rút toàn bộ lực lượng và trang bị của mình về nước. Đồng thời với giúp bạn Cam-pu-chia, quân đội ta cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương giành thắng lợi lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc (17-2 - 18-3-1979), tiếp đó đánh trả các hành động lấn chiếm một số vùng biên giới và làm thất bại âm mưu gây chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và vùng biển, hải đảo của Tổ quốc. Như vậy, tiếp theo chiến công vì đại trong cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm (1945-1975). quân đội ta lại giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, góp phần cùng toàn dân giữ vững ổn định chính trị; thực hiện chức năng một đội quân công tác, đội quân sản xuất, tích cực tham gia xây dựng kinh tế đất nước, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng Cam-pu-chia. Từ cuối năm 1986 đến năm 2000, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quân đội ta tiếp tục xây dựng theo hướng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Trong thời kỳ này, chúng ta đã thực hiện việc điều chỉnh lực lượng, tinh giảm biên chế, chấn chỉnh quân đội thường trực, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Có thể nói, trong những năm đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quân đội ta đã bước ngay vào cuộc chiến đấu mới, giành thắng lợi ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Cam-pu-chia. Trước những thử thách của tình hình quốc tế và trong nước, quân đội ta luôn vững vàng về chính trị, tuyệt đôi trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Phát huy truyền thống anh hùng trong chiến đấu, quân đội ta tiếp tục xây dựng trong hoà bình, có bước trưởng thành mới về trình độ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đặt nền móng để xây dựng trong những năm đầu của thế ký XXI. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:19:49 pm 2. Những đặc điểm trong quá trình xây dựng và phát triển
Hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, quân đội ta đã trải qua những chặng đường phát triển đầy gian khổ hy sinh, nhưng cũng rất hào hùng. Từ quá trình xây dựng và phát triển đó, chúng ta có thể thấy những đặc điểm lớn của một quân đội cách mạng mang đặc trưng rất Việt Nam - "Bộ đội Cụ Hồ". Những đặc điểm đó là: a) Quana đội nhân dân Viêt Nam ra đời, xây dựng và chiến đấu trong điều kiện một nước đất không rộng, người không đông lắm, vốn là thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế chưa phát triển. So với các nước thực dân, đế quốc đã từng đến xâm lược, thì nước ta đất không rộng lắm, hình thế địa lý dài và hẹp, dễ bị quân thù chia cắt. Dân số nước ta cũng không đông lắm (năm 1945 là 25 triệu), phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng, trung du và rừng núi. Dưới ách thống trị và áp bức bóc lột hà khắc gần 100 năm của thực dân Pháp, đất nước ta đã lâm vào cảnh lầm than, kinh tế kiệt quệ, nhân dân nghèo đói. Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta chưa kịp bước vào xây dựng cuộc sống mới, thì thực dân Pháp trở lại xâm lược, khôi phục lại chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Sau 9 năm kháng chiến, vượt qua bao khó khăn, gian khổ, chiến đấu anh dũng, hy sinh, quân và dân ta mới giải phóng được miền Bắc, còn miền Nam tạm thời nằm dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Chúng âm mưu thống trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Nhân dân ta lại phải tiếp tục kháng chiến 21 năm nữa, mới giành được thắng lợi trọn vẹn, hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau nhiều năm chiến tranh tàn phá nặng nề, chưa kịp khôi phục, hàn gắn, quân và dân ta lại phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; tiếp đó đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt và chiến lược "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế âm mưu làm suy yếu đất nước Việt Nam, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Do chế độ bóc lột nặng nề, hà khắc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước, do chiến tranh tàn phá khốc liệt và nhân dân ta phải tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài, ác liệt, nền kinh tế đất nước ta chậm phát triển. Trong hoàn cảnh đó, vấn đề tổ chức xây dựng, bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho quân đội gặp nhiều khó khăn. Mọi việc từ tổ chức, trang bị, huấn luyện đến chiến đấu đánh thắng địch của quân đội ta ngay từ khi mới hình thành và trải qua các giai đoạn phát triển của cách mạng đã đặt ra nhiều vấn đề mới không giống quân đội các nước, kể cả quân đội các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Song quân đội ta vẫn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành qua từng chặng đường phát triển của cách mạng. b) Đối tượng tác chiến của quân đội ta là quân đội của các nước đế quốc lớn, đất rộng, người đông, có tiềm lực kinh tế, quân sự manh và trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại Trong mấy chục năm qua, kể từ khi thành lập đến nay, quân đội ta liên tiếp phải đương đầu với những đội quân cơ bản. Mọi mặt xây dựng, huấn luyện đều xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ ngay cho cuộc chiến đấu trên các chiến trường, với từng đối tượng tác chiến khác nhau. Nhờ biết kết hợp đúng theo yêu cầu vừa chiến đấu, vừa xây dựng, càng đánh càng mạnh, quân đội ta đã tạo được sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và từng bước trưởng thành trong từng mặt công tác. Có một thời gian, quân đội ta được tập trung xây dựng liên tục hơn 10 năm khi miền Bắc hoà bình (1954-1964). Trong thời gian này, khó khăn lớn nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và chuyên môn kỹ thuật. Nhiều công việc còn mới mẻ, phải triển khai cùng một lúc để nhanh chóng mở rộng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới đều phải học tập để làm cho được chức trách của mình. Việc xây dựng của quân đội ta có những thuận lợi hơn thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Miền Bắc được giải phóng đã tạo điều kiện cho quân đội ta phát triển cả về cơ cấu tổ chức và sức mạnh chiến đấu. Hàng vạn cán bộ các cấp đã trưởng thành qua rèn luyện, thử thách trong chín năm chiến tranh. Đông đảo chiến sĩ được tôi luyện trong thực tế chiến đấu và phục vụ chiến đấu là nguồn bổ sung lớn cho đội ngũ cán bộ quân đội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao và tổ chức thực hiện tốt, quân đội ta có bản lĩnh cách mạng cao và sức mạnh chiến đấu được nhân lên nhiều lần. Đó là cơ sở chắc chắn tạo cho quân đội ta sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng rất vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ đầu những năm 80, đặc biệt là từ năm 1990 đến năm 2000, quân đội ta tập trung xây dựng thành một quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Đây là những nội dung cơ bản trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện tại cũng như những năm tiếp theo, trong đó xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng là nội dung cơ bản không lúc nào được coi nhẹ, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:20:32 pm c) Sự nghiệp xây dựng và phát triển quân đội ta diễn ra trong điều kiện quốc tế có nhiêu thuận lợi, đồng thời có những diễn biến phức tạp
Sự nghiệp mà Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành chống lại quân đội các nước đế quốc xâm lược không những chỉ là kẻ thù của nhân dân ta, mà còn là kẻ thù của nhân loại yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quân dân ta chống lại sự xâm lược và nô dịch của các nước đế quốc, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc là phù hợp với đạo lý, với lòng người trên thế giới và quy luật phát triển của thời đại. Đây là thuận lợi lớn để ta cô lập kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ ngày càng rộng rãi và có hiệu quả của quốc tế. Trong khi đó, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, phong trào đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ngày càng phát triển. Mặc dù trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xâm lược hung bạo nhất của thời đại, từ phát xít Nhật, thực dân Pháp cho đến đế quốc Mỹ (gồm cả một số nước đồng minh của Mỹ), tên đế quốc đầu sỏ, kẻ thù của cả nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Đó là quân đội của các nước đế quốc lớn, đất rộng, người đông, có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự đứng hàng đầu thế giới hồi đó. Chúng được trang bị vũ khí kỹ thuật rất hiện đại, được huấn luyện một cách bài bản theo yêu cầu của một cuộc chiến tranh hiện đại với âm mưu và thủ đoạn rất xảo quyệt. Quân đội ngụy do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tổ chức, huấn luyện và chỉ huy cũng là những đội quân có số lượng đông, trang bị hiện đại. Tuy nhiên, chiến tranh của chúng là phi nghĩa, nên không những bị quân dân ta kiên quyết chống lại, không được nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình, mà còn không được nhân dân nước chúng ủng hộ, khiến chúng ngày càng bị cô lập về chính trị trên thế giới và ngay cả tại chính quốc. Tuy quân đội các nước đế quốc có số lượng đông, trang bị vũ khí hiện đại, nhưng chúng không có mục tiêu, lý tưởng chân chính, nên tinh thần chiến đấu có mặt hạn chế. Chúng lại phải tác chiến ở chiến trường xa, không quen thuộc, điều kiện về lòng người, thời tiết cũng như địa hình đều không thuận lợi. Những năm gần đây, đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch quốc tế mặc dù đã thất bại nặng nề ở Việt Nam, nhưng với bản chất ngoan cố, chúng vẫn ấm mưu thực hiện "diễn biến hoà bình", kết hợp với gây bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự, chuyển hoá từ bên trong và gây áp lực từ bên ngoài hòng buộc chúng ta phải tuân theo những giá trị do chúng áp đặt. Nếu so sánh với quân độỉ các nước đế quốc mà chúng ta phải đương đầu, thì quân đội ta còn thua kém về số lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật. Quân đội ta chưa được huấn luyện một cách bài bản để đối phó với chiến tranh hiện đại, công nghệ cao. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đã giao phó, quân đội ta luôn phải xây dựng và chiến đấu trong tình thế lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, vừa chiến đấu vừa xây dựng và phát triển lực lượng, tạo ra thế và lực đánh thắng bằng sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh của dân tộc và thời đại, chiến đấu lâu dài, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận quân địch, làm thất bại từng chiến lược và ý chí xâm lược của địch, giành thắng lợi từng bước và cuối cùng đánh thắng các đội quân nhà nghê xâm lược nước ta. d) Kết hợp vừa chiến đấu, vừa xây dựng trong chiến tranh; đồng thời xây dựng trong hoà bình, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và sức mạnh chiến đấu của quân đội Trong nửa thế kỷ vừa qua, do các cuộc chiến tranh kéo dài và vô cùng ác liệt, hơn nửa thời gian, quân đội ta phải vừa xây dựng, vừa chiến đấu trong chiến tranh. Từ năm 1944 đến năm 1989, hầu như quân đội ta liên tục chiến đấu, cùng toàn dân thực hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, tiến hành các cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc (1977-1979), thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào (1945-1954, 1960-1975) và Cam-pu-chia (1945-1954, 1970-1975, 1979-1989). Do các cuộc chiến tranh kéo dài, quân đội ta không có thời gian tập trung xây dựng, huấn luyện xuất hiện những quan điểm và xu hướng khác nhau về chiến lược, sách lược cách mạng, nhưng trước sự nghiệp chính nghĩa của quân dân ta và đường lối độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế đúng đắn của Đảng ta, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, giai cấp công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và nhân loại tiến bộ yêu chuộng hoà bình công lý kể cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ đều đồng tình ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam kháng chiến chống quân đội các nước, đế quốc xâm lược. Sự giúp đỡ của nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc đối với quân và dân ta về vật chất và tinh thần, đặc biệt là về vũ khí, kỹ thuật là to lớn và hiệu quả. Sự đồng tình và ủng hộ đó đã tạo thêm sức mạnh cho quân đội và nhân dân ta kiên trì cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Đặc biệt, tình đoàn kết chiến đấu giữa quân dân Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ngày càng được củng cố vững chắc. Cách mạng ba nước Đông Dương liên minh chặt chẽ với nhau trong chiến đấu và xây dựng đã trở thành một quy luật để đánh thắng quân xâm lược và giữ gìn độc lập tự do của mỗi nước. Thực tiễn tình đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương đã trở thành truyền thống đoàn kết đặc biệt, một sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù. Trên chiến trường Lào, Cam-pu-chia, cán bộ và chiến sĩ ta được quân đội và nhân dân hai nước anh em coi như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi, tận tình giúp đỡ nhiều mặt. Đó là những điều kiện thuận lợi để quân và dân ta cô lập kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng lớn của quốc tế, kiên trì các cuộc kháng chiến, không chỉ giành thắng lợi cho mình, mà còn giúp quân đội cách mạng và nhân dân các nước Lào, Cam-pu-chia. Sát cánh chiến đấu với Lào và Cam-pu-chia, quân đội ta đã góp phần xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân cho bạn, cùng bạn từng bước đẩy mạnh kháng chiến: ngược lại, chúng ta cũng được sự giúp đỡ to lớn của nhân dân hai nước anh em. Nhờ có sự giúp đỡ và học tập lẫn nhau trên tinh thần quốc tế vô sản, quân đội ta đã phát huy được khả năng của mình, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Năm, 2021, 08:20:58 pm đ) Từ khi thành lập đến nay, quân đội ta được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt
Quân đội ta trưởng thành vững mạnh và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mình trong các giai đoạn của cách mạng, trước hết là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng và lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đảng và Nhà nước, cùng toàn dân giành chính quyền, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Có Đảng lãnh đạo, quân đội ta mới có bản chất cách mạng tốt đẹp với tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc và tính quốc tế cao cả, có mục tiêu chiến đấu và đường lối xây dựng đúng đắn cho mình, thực hiện chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giáo dục cho quân đội ta lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, luôn phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp đó. Đảng lãnh đạo xây dựng các lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, bao gồm các quân chủng, binh chủng, các ngành nghề chuyên môn nghiệp vụ, trong đó tập trung xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, có hiệu suất chiến đấu cao, làm cho quân đội ta càng đánh càng mạnh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, giành thắng lợi từng bước, đi tới thắng lợi hoàn toàn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành công cụ tin cậy sắc bén, một lực lượng tinh thông cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, thực hiện chức năng của mình một cách sáng tạo, làm cho cuộc chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ, linh hoạt, khiến kẻ địch không thể đối phó nổi trong chiến tranh. Trong hoà bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ta đã xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong hoà bình. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn gốc, nhân tố quyết định sự ra đời, phát triển từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu thành mạnh, ngày càng trưởng thành và chiến thắng oanh liệt của quân đội ta. Không có đường lối đúng đắn, sáng suốt của Đảng, không có Đảng tổ chức xây dựng và lănh đạo, quân đội ta dù có được thành lập cũng sẽ gặp nhiều khó khăn, không thể đối phó nổi với kẻ địch, không thực hiện được yêu cầu càng đánh càng mạnh để đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ngày nay, điều cơ bản có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội nhân dân, giữ vững và nâng cao một bước mới về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, tính quốc tế của quân đội nhân dân. Thực chất là làm cho quân đội nhân dân nắm vững chức năng vũ trang, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Có thể nói, những đặc điểm trên đây đã ảnh hưởng thường xuyên, sâu sắc đến quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta trong hơn nửa thế kỷ qua. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội cách mạng; đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta để định ra đường lối xây dựng và phát triển quân đội nhân dân, một quân đội kiểu mới của dân tộc, quân đội của dân, do dân và vì dân, trở thành công cụ, lực lượng sắc bén cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 07:53:03 pm II- BẢN CHẤT VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1. Bản chất Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua là kết quả của đường lối xây dựng lực lượng vũ tran^nhân dân, quân đội nhân dân đúng đắn của Đảng. Đường lối đó được hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện theo quan điểm quân sự cơ bản của Đảng và những giá trị tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân. So với quân đội của dân tộc trước đây, Quân đội nhân dân Việt Nam thời hiện đại, có những bước phát triển mới về bản chất giai cấp trong xây dựng, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc hết sức vẻ vang. a) Quân đội ta mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc và tính quốc tế cao cả. Đó là quân đội kiểu mới ở Việt Nam, nó kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc và sự vận dụng sáng tạo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội cách mạng trong điều kiện của đất nước ta. Xác định bản chất cách mạng cho quân đội nhân dân là nguyên tắc hàng đầu trong đường lối xây dựng quân đội của Đảng ta. Tư tưởng đó bắt nguồn từ quan điểm "lấy dân làm gốc", coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Không có dân thì không có bộ đội, còn bộ đội thì "ở trong dân, bênh vực quyền lợi cho dân, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu", "tận tâm, tận lực, vui lòng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng"1 (Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.71). Tư tưởng đó còn xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Phải kết hợp vũ trang quần chúng cách mạng với xây dựng quân đội cách mạng, do chính Đảng vô sản lãnh đạo. Xuất phát từ những quan điểm đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho quân đội ta mang cái tên rất gần gũi là Quân đội nhân dân Việt Nam. Xây dựng quân đội nhân dân mang bản chất cách mạng là một trong những nội dung cơ bản trong đường lối xây dựng quân đội của Đảng ta. Khi chưa giành được chính quyền, quân đội ta mới hình thành (gồm các đội quân tiền thân như Tự vệ công nông, Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ...) là công cụ bạo lực của Đảng cùng toàn dân đấu tranh giành chính quyền. Khi đã giành được chính quyền, quân đội ta trở thành một bộ phận cấu thành của quốc gia, mang bản chất của chính quyền mới, Nhà nước mới, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước đây và Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Nhìn nhận bản chất cách mạng của quân đội ta có thể xem xét các mối quan hệ của quân đội với Đảng, Nhà nước, nhân dân, với nội bộ, bạn bè và với kẻ thù. Đồng thời cũng có thể nhận rõ bản chất cách mạng của quân đội theo quan điểm cơ bản của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở mục tiêu chiến đấu, vì Đảng, vì nước, vì dân, do dân. Quân đội nhân dân cùng với công an nhân dân nói riêng, các lực lượng vũ trang nhân dân nói chung là công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng, của Nhà nước ta và đó cũng là lực lượng nòng cốt cho toàn dân thực hiện Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, giành chính quyền cách mạng trong cả nước: tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, thống nhất đất nước, đưa cả nước chuyển sang thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, các triều đại phong kiến đã từng tổ chức ra những quân đội dân tộc. Đó là quân đội của các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt và Việt Nam thời cận đại. Quân đội của dân tộc trong các thời đại trước đây chủ yếu do giai câp phong kiến tổ chức và lãnh đạo, mang bản chất của giai cấp phong kiến tiến bộ, có sự điều hoà về lợi ích dân tộc và mục tiêu chiến đấu với đông đảo dân chúng. Khi các nhà nước phong kiến dân tộc có đường lối chính trị - quân sự đúng đắn, thì quân đội của họ cùng toàn dân hoàn thành nhiệm vụ đánh thắng giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, quân đội của các nhà nước phong kiến và dân chúng đông đảọ có sự đối lập về lợi ích giai cấp, bởi quân đội của các nhà nước phong kiến là quân đội của số ít người thuộc giai cấp phong kiến thống trị bóc lột, khi các tập đoàn phong kiến cầm quyền bị thoái hoá, suy tàn, họ đã sử dụng quân đội để đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân, giết hại nông dân, quần chúng lao động để bảo vệ lợi ích, bảo vệ ngai vàng và điền trang thái ấp của vua quan. Vì thế, sự nhất trí về quyền lợi dân tộc và mục tiêu chiến đấu cũng bị hạn chế, nên trong một số thời điểm lịch sử, quân đội của nhà nước phong kiến đã không hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của dân tộc trước các đạo quân xâm lược lớn mạnh. Những đạo quân viễn chinh của các thế lực phong kiến phương Bắc hay các đế quốc phương Tây, từng xâm lược nước ta đều là công cụ thực hiện âm mưu thôn tính, nô dịch các dân tộc khác. Nhiều đạo quân đông và mạnh đã được các triều đại Trung Hoa sử dụng đế xâm lược nước ta. Tiếp đó, hàng chục vạn quân viễn chinh trang bị vũ khí hiện đại cũng đã được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ huy động sang xâm lược Việt Nam. Những đạo quân viễn chinh xâm lược đó xuất hiện ở Việt Nam, thực chất là công cụ bạo lực để các thế lực phong kiến phương Bắc, các đế quốc phương Tây sử dụng, lộ rõ bản chất dã man, vô nhân đạo của quân đội nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản phản động, tiến hành các cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo để xâm lược, nô dịch, bóc lột, kìm hãm sự phát triển của đất nước ta. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời là một mốc son hoàn toàn mới trong lịch sử dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh. Quân đội ta đã kế thừa và phát huy bản chất tốt đẹp, nhưng lại khác hẳn vể bản chất so với quân đội các triều đại trong lịch sử dân tộc. Quân đội ta ngày nay là thành quả của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động, của toàn thể dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó chính là công cụ bạo lực để thực hiện và bảo vệ đường lối chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, đồng thời giáo dục, rèn luyện quân đội ta trưởng thành. Trong xây dựng quân đội, Đảng ta nhấn mạnh: Vấn đề cơ bản là phải tăng cường bản chất cách mạng của giai cấp công nhân cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Bởi tăng cường bản chất cách mạng của giai cấp công nhản, cũng là nhân tố cơ bản, bảo đảm cho quân đội ta xác định rỡ mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, luôn vững vàng trong mọi tình huống và theo kịp sự chuyển biến to lớn của cách mạng: đồng thời thường xuyên giữ được mối quan hệ máu-thịt quân với dân như cá-nước, giữ nghiêm kỷ luật quần chúng, vì nhân dân mà phục vụ, bảo vệ nhân dân không điều kiện. Được vũ trang trong mình bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, quân đội ta có bản lĩnh giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, quân đội và nhân dân; giữa các cấp trong quân đội với các cơ quan Đảng và Nhà nước; giữa quân đội ta với quân đội các nước Lào và Cam-pu-chia, chiến đấu chống kẻ thù chung thắng lợi. Tư tưởng chỉ đạo cơ bản trong xây dựng bản chất cách mạng cho quân đội nhân dân được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trung với nước, hiếu với dân". Đó là bổn phận rất thiêng liêng của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Trung với vua, với nước, hiếu với cha mẹ là hai đạo lý lớn của dân tộc Việt Nam, nay được Đảng ta nâng lên thành đạo lý cho quân đội nhân dân ở tầm cao mới, sâu sắc, triệt để hơn. Khái niệm trung với vua trước kia, nay trở thành trung với nước, với Đảng Cộng sản, hiếu với cha mẹ nay gồm cả lòng trung hiếu với nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. Năm 1964. nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát cô đọng bản chất cách mạng của quân đội ta: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.350). Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là bản chất chính trị, tư tưởng của quân đội nhân dân; đồng thời cũng là bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, do Đảng lãnh đạo. Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, được vũ trang bằng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quân đội của giai cấp vô sản, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang trong mình bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế; đó cũng là bản chất nhân dân của một tổ chức quân sự kiểu mới ở Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 07:53:53 pm b) Phấn đấu vì mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta hết sức coi trọng việc xây dựng và không ngừng tăng cường bản chất cách mạng cho các đội quân tiền thân của quân đội ta, đặc biệt là quân đội nhân dân sau này. Đó là yếu tố cơ bản trang bị cho quân đội ta ngày càng có sức chiến đấu mạnh mẽ, luôn là công cụ bạo lực đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó. Bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta thể hiện ở mục tiêu nhất quán: Chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc xâm lược và bọn vua quan phong kiến tay sai, giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc Việt Nam, đem lại ruộng đất cho dân cày, thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu- chia, đưa cả nước tiến lên xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu chiến đấu của quân đội ta phản ánh quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam, mà trước hết phản ánh quyền lợi cơ bản, khát vọng lâu đời của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, trong đó điều chủ yếu là phản ánh sự thống nhất quyền lợi của giai cấp công nhân và quyền lợi của cả dân tộc. Nội dung phản ánh bản chất của quân đội ta thể hiện tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế. Chỉ có giai cấp công nhân là người đại diện chân chính nhất, trung thành nhất với quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động, của toàn thể dân tộc Việt Nam và cả nhân loại tiến bộ. Bản chất nhân dân của quân đội ta không thể hình thành một cách tự phát. Quân đội nhân dân Việt Nam là một tập đoàn người xuất thân từ mọi tầng lớp nhân dân trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, chủ yếu là công nhân, nông dân và trí thức yêu nước. Nhân tố cơ bản quyết định sự hình thành và phát triển bản chất công nhân của quân đội nhân dân là sự lãnh đạo duy nhất của chính đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảng đã trực tiếp xây đựng, lãnh đạo và giáo dục quân đội nhân dân, trao sứ mệnh lịch sử và xác định mục tiêu chiến đấu cho quân đội ta trong suốt các giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Ngay khi mới ra đời, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu cách mạng của dân tộc Việt Nam nói chung cũng như "quân đội công nông" (sẽ tổ chức) nói riêng là làm "cách mạng tư sản dân quyền", do giai cấp công nhân lãnh đạo, tức là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất (10-1930) khẳng định cần đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho dân tộc độc lập và xoá bỏ chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, Đảng đã xác định rõ ràng mục tiêu phấn đấu của quân đội ta ngay từ những ngày đầu hình thành. Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, các đội quân tiền thân của quân đội ta đã lần lượt hình thành ở các chiến khu, căn cứ cách mạng, gồm chủ yếu là công nhân, nông dân. Cán bộ chỉ huy là những đảng viên hay cán bộ phụ trách trong các tổ chức cứu quốc thuộc Mặt trận Việt Minh. Xây dựng các đội quân tiền thân của quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân và có tính nhân dân là nội dung cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng hồi đó. Mục tiêu chiến đấu được xác định là đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, mang lại nền độc lập cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta rất coi trọng việc tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng cho quân đội thể hiện ở mục tiêu chiến đấu giành lại nền độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng quân đội mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, Đảng coi trọng kết hợp giác ngộ giai cấp với giác ngộ dân tộc, tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản, gắn giáo dục chính trị với nhiệm vụ quân sự, kết hợp nâng cao nhận thức với động viên hành động cách mạng trong xây dựng và chiến đấu. Nhờ không ngừng xây dựng bản chất của giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của Đảng, quân đội ta luôn kiên định, vững vàng trong mọi tình huống và ngày càng có sức chiến đấu mạnh mẽ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nội dung xây dựng bản chất quân đội ta có bước phát triển mới, đầy đủ và sâu sắc hơn trước. Ở miền Bắc, thành quả của công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm chuyển biến sâu sắc tình hình xã hội. Đội ngũ giai cấp công nhân lớn mạnh, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức hình thành tham gia quân đội ngày càng đông đảo. Từ những năm 1961-1965, số cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam ngày càng đông đã làm cho thành phần Quân Giải phóng miền Nam cũng có sự thay đổi. Mục tiêu của cuộc kháng chiến cũng là mục tiêu của quân đội ta, đó là vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội chiến đấu. Mục tiêu này được thể hiện rõ trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định phải tăng cường bản chất cách mạng cho quân đội trong điều kiện mới. Đó là tập trung xây dựng và không ngừng nâng cao bản chất cách mạng, tạo cho quân đội ta thực sự là một quân đội cách mạng kiểu mới của Việt Nam. Việc xây dựng quân đội mang bản chất cách mạng luôn gắn liền với việc xây dựng quân đội vê các mặt chính trị, quân sự, hậu cần và kỹ thuật. Đó là một trong những nguyên tắc trong xây dựng quân đội của Đảng ta. Trong những năm đất nước đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước những biến động phức tạp của tình hình quốc tế, việc xây dựng bản chất cách mạng của giai cấp công nhân cho quân đội đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi chặt chẽ, kiên định, vững vàng hơn. Mục tiêu chiến đấu cơ bản lâu dài của quân đội ta được xác định là bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn của chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, nâng cao bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân trong các thời kỳ xây dựng và chiến đấu, từ Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cán bộ và chiến sĩ quân đội ta luôn vững vàng về lập trường tư tưởng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng, quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, mất mát, hy sinh, thực hiện bằng được những nhiệm vụ mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó. Vừa mới hình thành, quân đội ta đã cùng toàn dân đấu tranh, giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước; khi đã có chính quyền thì cùng nhân dân củng cố, giữ vững chính quyền của nhân dân, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là bước phát triển về bản chất cách mạng và mục tiêu chiến đấu của quân đội ta; đồng thời khẳng định nó là công cụ bạo lực sắc bén thực hiện thắng lợi những mục tiêu do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện mới ở Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:00:24 pm c) Quân đội ta từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi dưỡng và bảo vệ
Quân đội nhân dân Việt Nam vốn xuất thân từ nhân dân và trở thành lực lượng đặc biệt của dân, do nhân dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải xây dựng quân đội nhân dân cũng như xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân "thật là một quân đội cách mạng của nhân dân"1 (Nghị quyết quân sự của Đảng 1930-1960, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1959, tr.147, 105) và "quân đội Việt Nam là quân đội nhân dân, từ nhân dân tổ chức ra, được nhân dân nuôi nấng, giúp đỡ, vì nhân dân mà chiến đấu"2 (Nghị quyết quân sự của Đảng 1930-1960, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1959, tr.147, 105). Đây chính là điểm cốt lõi trong xây dựng quân đội của Đảng ta. Nó khẳng định nguồn gốc của quân đội là từ nhân dân mà ra. Quan điểm xây dựng quân đội cách mạng đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội"1 (Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.61), "Muốn đánh thắng giặc... trước nhất và mọi việc phải dựa vào dân"2 (Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.61). Đảng ta coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và xác định công nông là đội quân chủ lực của cách mạng. Vì thế, Đảng thường xuyên giáo dục cán bộ, chiến sĩ rằng nhân dân là chủ, phải giữ vững mối quan hệ quân với dân như cá - nước; đồng thời phải giúp đỡ tận tình nhân dân, làm cho nhân dân luôn tin tưởng, mến phục, yêu thương. Đây là cả một quá trình phấn đấu, xây đắp mối quan hệ máu - thịt giữa quân đội với nhân dân, bắt đầu từ một người lan ra bộ phận, một đơn vị, địa phương đến toàn quân và toàn dân. Nhờ dựa chắc vào dân, được nhân dân giúp đỡ, nuôi dưỡng, quân đội ta đã không ngừng phát triển nhanh chóng, vững chắc, sức mạnh chiến đấu được nâng cao, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Theo yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ban đầu, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương chọn những người ưu tú trong các đội tự vệ, du kích và quần chúng cách mạng tích cực để tổ chức ra đội quân chủ lực đầu tiên, bởi "cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân" và "chọn trong hàng ngũ những du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.507). Quân đội ta "ban đầu lương thực, khí giới, chăn áo, thuốc men cái gì cũng thiếu thốn", nhưng nhờ dựa chắc vào dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, ủng hộ sức người, sức của, nên "chẳng mấy lâu, từ vài chục người đã trưởng thành đến vài trăm người. Thanh niên rầm rộ kéo đến xin vào bộ đội. Nhờ đồng bào Việt Bắc hăng hái giúp đỡ mọi mặt... từ đó người càng đông, sức càng mạnh, chẳng những lập nên khu giải phóng, mà lại xây dựng căn cứ địa khắp nơi"1 (Hồ Chí Minh: Những bài nói và viết về quân sự, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.285), tạo chỗ đứng chân vững chắc cho quân đội ta đẩy mạnh hoạt động, cùng toàn dân đấu tranh giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục, động viên và tổ chức, nhân dân ta ở khắp Bắc-Trung-Nam đều thương yêu, đùm bọc và dồn tâm sức giúp đỡ bộ đội, đó chính là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho quân đội ta ngày cặng lớn mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Nhân dân đóng góp sức người, sức của để xây dựng quân đội thật là to lớn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân đã đóng góp hàng trăm lượng vàng, thực hiện "hũ gạo kháng chiến" để có thêm lương thực nuôi quân, hoặc quyên góp quần áo trong phong trào "Mùa đông binh sĩ"... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân hậu phương miền Bắc hăng hái thi đua "mỗi người làm việc bàng hai", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", chi viện kịp thời cho tiền tuyến đánh giặc. Còn nhân dân miền Nam, mỗi người phấn đấu trở thành đũng sĩ diệt Mỹ. Trong cuộc chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta trên khắp mọi miền đất nước, từ thành phố, thị xã, vùng nông thôn đồng bằng đến trung du, miền núi, vùng ven biển và hải đảo đều có phong trào vì điểm tựa biên giới, vì Trường Sa thân yêu. Có thể nói, bất kỳ ở đâu có dân là ở đó có sự giúp đỡ tận tình về mọi mặt kể cả sức người, sức của to lớn của nhân dân cho quân đội. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:01:19 pm d) Đảng lãnh đạo và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
Trong xây dựng và tăng cường bản chất cách mạng cho quân đội nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước hết phải có Đảng cách mạng... Đảng có vững, cách mạng mối thành công"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.268). Và chính Người đã sáng lập, tổ chức ra Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính Đảng kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội nhân dân nhằm bảo đảm cho quân đội mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, thể hiện đầy đủ, sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đảng phải nắm quyền lãnh đạo chặt chẽ quân đội nhân dân, không thể chia sẻ cho bất kỳ giai cấp, đảng phái hoặc cá nhân nào khác. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, các thế lực thù địch, phản động mưu toan tiêu diệt quân đội, tiêu diệt Đảng Cộng sản, bóp chết cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì nguyên tắc "các đảng phái không được có quân đội riêng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.141), nhằm bảo đảm cho Đảng và Nhà nước ta nắm vững quân đội; đồng thời khẳng định người đứng ra tổ chức, lãnh đạo quân đội nhân dân phải là "Đoàn thể chúng ta" (tức Đảng Cộng sản Việt Nam) và quân đội phải thực sự là "tổ chức quân sự của Đoàn thể". Kiên trì và giữ vững nguyên tắc này, quân đội ta "theo con đường đúng đắn mà tiến lên". Trái lại, lơi lỏng, coi nhẹ, xa rời nguyên tắc này trong quá trình xây dựng và phát triển quân đội thì điều đó sẽ "ảnh hưởng về sau rất tai hại". Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tổ chức, sáng lập ra quân đội cũng như lực lượng vũ trang ta đã khẳng định vấn đề cơ bản hàng đầu trong tổ chức xây dựng quân đội "phải có con đường chính trị đúng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, sđd, tr.168). Từ năm 1941, Người khẳng định: "Du kích là binh lính cách mạng, do Đoàn thể cách mạng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo và tổ chức ra". Nhờ có Đảng lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, quân đội ta mới có đường lối chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đúng, cũng như xác định đối tượng tác chiến rõ ràng. Trên cơ sở đó, bảo đảm phương hướng tổ chức, xây dựng quân đội đúng đắn, phù hợp, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Một nội dung khác trong xây dựng bản chất cách mạng cho quân đội nhân dân là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Đây là nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; đồng thời cũng là nguyên tắc rất quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam để nâng cao chât lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu toàn diện của quân đội. Quân đội ta ra đời từ những đội du kích, đội vũ trang tuyên truyền, trong một giai đoạn chuyển tiếp cách mạng, từ thời kỳ chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Lúc đó, nhiệm vụ xây dựng quân đội được tập trung theo phương châm "chính trị trọng hơn quân sự". Phương châm này được xác định ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo. Tư tưởng "chính trị trọng hơn quân sự" tiếp tục được giữ vững và phát huy cao độ trong quá trình xây dựng quân đội trở thành một công cụ sắc bén, tin cậy của Đảng, lấy bản chất chính trị và mục tiêu chính trị của cách mạng làm nội dung hoạt động, phù hợp với mỗi giai đoạn của cách mạng. Trong các hoạt động quân sự, cán bộ chiến sĩ quân đội ta đều phải tuân thủ đường lối chính trị của Đảng và "chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.319). Xác định mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị"1 (Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.225), "quân sự mà không có chính trị, như cây không có gốc, vô dụng lại có hại"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, sđd, tr.318). Xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, coi chính trị là nền tảng, là "gốc", làm cơ sở để xây dựng các hoạt động khác trở thành quan điểm hàng đầu trong xây dựng quân đội của Đảng. Quan điểm các hoạt động quân sự phải phục tùng chính trị cũng có nghĩa là đường lối quân sự phải tuân thủ theo đường lối chính trị, do Đảng đê ra. Các hoạt động của quân đội về quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật phải quán xuyến theo đường lối chính trị, quân sự, đối nội và đối ngoại của Đảng; từ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và từ Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước ta. Quan điểm xây dựng bản chất quân đội về chính trị phản ánh quy luật phát triển khách quan của mối quan hệ chính trị và quân sự, trên cơ sở đó, định hướng cho quân đội ta hoạt động đúng đắn, đáp ứng với yêu cầụ của cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, giải phóng dân tộc, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Năm, 2021, 08:01:49 pm đ) Thực hiện chức năng đội quân công tác và đội quân sản xuất
Trong xây dựng bản chất quân đội nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chú ý xây dựng bản chất của quân đội thực hiện chức năng đội quân công tác và đội quân sản xuất. Thực tiễn hơn nửa thế kỷ xây dựng và chiến đấu cho thấy, quân đội ta không chỉ phát huy tốt bản chất cách mạng, lập nên nhiều chiến công oanh liệt trong chiến đấu, mà còn giữ vững bản chất cách mạng của "Bộ đội Cụ Hồ" trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác và đội quân sản xuất. Là lực lượng chính trị đặc biệt, quân đội nhân dân đã thực hiện chức năng đội quân công tác trong quá trình tham gia tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân thực hiện đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng và Nhà nước, không ngừng nâng cao niềm tin cho nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Từ việc tuyên truyền chống cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, đến nhiệm vụ sửa sai sau cải cách ruộng đất và việc đấu tranh chống những tư tưởng sai trái trong các thời điểm có những biến động về chính trị, xã hội; từ giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt, đến đưa ánh sáng văn hoá về các vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa, ở đâu, việc gì, cán bộ và chiến sĩ quân đội ta đều là lực lượng tin cậy, góp phần đoàn kết dân tộc, xây dựng cuộc sống, cải cách dân chủ, phát triển văn hoá, xây dựng con người mối, bảo vệ chính quyền cách mạng. Thực hiện chức năng đội quân sản xuất, quân đội ta đã nỗ lực sản xuất đáp ứng một phần nhu cầu về ăn, mặc và thêm vũ khí đánh giặc. Nhiều lúc tranh thủ thời gian, cán bộ chiến sĩ tích cực giúp đỡ nhân dân lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế trong kháng chiến, kinh tế dân chủ nhân dân và kinh tế xã hội chủ nghĩa ngay trong chiến tranh. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong những năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, quân đội là lực lượng xung kích trong việc xây dựng những công trình thuỷ lợi, giao thông lớn, xây dựng hệ thống các nông trường, các xí nghiệp quốc phòng phục vụ dân sinh và quốc phòng. Trong sản xuất, quân đội ta luôn quán triệt tinh thần tiết kiệm cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Xuất phát từ bản chất cách mạng, từ tính chất của quân đội kiểu mới, Đảng ta đã xác định quân đội nhân dân có ba chức năng thể hiện thành ba nhiệm vụ, đó là chiến đấu, công tác và sản xuất như đã nói ở trên; trong đó, chức năng cơ bản, chủ yếu là đội quân chiến đấu, quân đội ta đã hoàn thành rất vẻ vang. Quan điểm xây dựng quân đội nhân dân mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng. Quan điểm đó được thể hiện cụ thể qua quá trình xây dựng quân đội vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại. Đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta. Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó, quân đội nhân dân đã không ngừng xây dựng để trang bị cho mình bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, tạo nên sức mạnh chính trị-tinh thần to lớn. Nhờ đó, quân đội ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng toàn dân giành thắng lợi rất vẻ vang trước những kẻ thù mạnh hơn ta nhiều lần về tiềm lực kinh tế, quân sự. xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.350). Lời khen ngợi của Bác Hồ cũng đồng thời là sự khái quát rất sâu sắc, cô đọng về bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp và bản lĩnh chính trị vững vàng của quân đội ta; khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Sự vững vàng về chính trị là nguyên tắc trong xây dựng quân đội, yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Năm, 2021, 08:11:56 pm 2. Những truyền thống vẻ vang
Trải qua hơn nửa thế kỷ vừa xây dựng, vừa chiến đấu, quân đội ta do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở, đã cùng toàn dân lập nên những chiến công oanh liệt, đánh thắng những tên thực dân, đế quốc đông, mạnh, hung hấn của thời đại, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời làm tròn nhiệm vụ quốc tế với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia anh em. Cùng với những chiến công mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời về một quân đội nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, quân đội ta đã viết nên những truyền thống cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Đó là: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi giúp đỡ lẫn nhau"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, sđd, tr.350). Truyền thống cách mạng của quân đội ta, phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" được xây dựng, phát huy từ khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời và trải qua các thời kỳ Tổng khởi nghĩa tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, càng ngời sáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vừa qua, trở thành những truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. a) Trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tư do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Quân đội ta trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp đó đem lại độc lập chủ quyền cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Đó là mục tiêu phấn đấu của cả dân tộc, là nguyện vọng chính đáng của toàn thể nhân dân Việt Nam, đó cũng là nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Vì vậy, trong cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt có thể mất mát, hy sinh, nhưng hy sinh để dân tộc được độc lập tự do, nhân dân được ấm no, hạnh phúc thì cán bộ và chiến sĩ ta không ngần ngại, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn đó. Trong lịch sử xây dựng và chiến đấu lâu dài của quân đội, cán bộ và chiến sĩ ta dù ở bất cứ cương vị nào cũng đều nhận thức sâu sắc, luôn biểu thị lòng trung thành vô hạn của mình đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, thực hiện triệt để nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, thường xuyên bám sát và kiên trì chấp hành đường lối chính trị, đường lối quân sự trong từng giai đoạn của cách mạng. Lòng trung thành thể hiện ở sự tin tưởng tuyệt đối, tinh thần bảo vệ kiên quyết, chấp hành triệt để và quyết tâm giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng chân chính của Đảng, của nhân dân. Lúc thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, vất vả, dù phải đương đầu với những đội quân xâm lược lớn mạnh, hung bạo đến đâu, quân đội ta vẫn luôn vững vàng, kiên định, tin tưởng vào sự nghiệp chính nghĩa, vào thắng lợi của cách mạng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, tin cậy của Đảng và Nhà nước, luôn sẵn sàng theo tiếng gọi của Tổ quốc và Đảng thân yêu, vượt mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trong công cuộc xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng, trước tình hình quốc tế có những biến động lớn, cán bộ, chiến sĩ quân đội ta vẫn giữ vững lập trường, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp của Đảng, kiên định con đường cách mạng và mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Năm, 2021, 08:12:45 pm b) Quyết chiến quyết thắng, biết đánh và biết thắng.
Thiết tha với sự nghiệp giành độc lập, tự do của dân tộc, quân đội ta không quản ngại khó khăn, gian khổ không lùi bước trước ác liệt, đã xây dựng nên truyền thống quyết chiến, quyết thắng rất vẻ vang. Kế thừa và phát huy truyền thống quân sự quý báu của dân tộc, truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội ta được nâng lên ở một trình độ mới, biểu hiện ở tinh thần gan dạ, trí thông minh, sáng tạo. Với quyết tâm đánh thắng địch, quân đội ta đã tranh thủ từng giờ, từng phút để nâng cao trình độ, chạy đua với thời gian, khắc phục những lề thói lạc hậu để học tập, rèn luyện. Mỗi cán bộ, chiến sĩ đã kiên trì học tập, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại để không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của mình. Để đánh thắng địch, quân đội ta không chỉ có lòng dũng cảm phi thường, nghị lực cách mạng kiên định, mà phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo cách đánh độc đáo, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông. Kẻ địch tìm trăm phương, nghìn kế để phát huy sức mạnh của chúng, hòng đè bẹp tinh thần kháng chiến của quân dân ta, nhưng chúng đã thất bại trước sức kháng chiến mạnh mẽ của quân và dân ta. Kiên cường giữ vững trận địa, một tấc không đi, một ly không rời, một người, một súng cũng chiến đấu. Không chịu cảnh đất nước bị quân thù giày xéo, bị chia cắt dưới ách thống trị của thực đân, đế quốc, nên mỗi cán bộ, chiến sĩ ai cũng cố vắt óc tìm mưu đánh giặc. Cán bộ và chiến sĩ quyết tìm mọi cách để đánh thắng địch bằng những mưu hay kế giỏi, vượt mọi khó khăn, chịu cực nhọc để nghĩ ra cách đánh thắng, để thực hiện tư tưởng tiến công. Trong lao động sản xuất, nhân dân ta đã từng "vắt đất ra nước, thay trời làm mưa", thì trong chiến đấu, quân đội ta lại biết "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt". Trong bất kỳ tình huống nào, bộ đội ta cũng chiến đấu bằng tất cả lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo và nghệ thuật đánh giặc độc đáo của dân tộc Việt Nam trong điều kiện mới. Có thể nói, quyết chiến quyết thắng, biết đánh, biết thắng, dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, cần cù trong lao động, sẵn sàng chiến đấu cao, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng là truyền thống thứ hai của quân đội ta. c) Xây dựng và phát triển mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí Vốn sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng và chiến đấu vì nhân dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, quân đội ta thường xuyên được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục ý thức gắn bó chặt chẽ với nhân dân như máu-thịt và luôn xây dựng, giữ vững quan điểm quân với dân một ý chí. Đây là mối quan hệ bình đẳng, được xây dựng trên cơ sở hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân và dân. Quân đội ta luôn tôn trọng chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng, xây dựng và bảo vệ chính quyền của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh các đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, ra sức thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến và kiến quốc. Là quân đội của nhân dân, cán bộ chiến sĩ ta đã hết lòng phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kẻ thù nham hiểm đã tốn bao công sức hòng chia rẽ bộ đội với nhân dân nhưng chúng đều phí công vô ích. Biết bao lần chúng gây cho nhiều đơn vị bộ đội ta những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng được nhân dân che chở, giúp đỡ, những đơn vị đó đã phá được âm mưu của địch và hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nhân dân ta, dân tộc ta đối với quân đội nhân dân, con em của mình thật là tình sâu, nghĩa nặng. Các tầng lớp nhân dân ta đã luôn sát cánh chiến đấu với quân đội của mình, chia lửa với con em mình trên khắp mọi miền của Tổ quốc chống quân xâm lược. Quân đội được nhân dân chia lửa cùng đánh giặc bất kể chúng ở mặt đất hay trên trời, dưới biển. Hễ nơi nào có dân là ở đó có mặt trận đánh giặc. Khi thì đấu tranh chính trị với những hình thức công khai hoặc bí mật, khi thì đấu tranh quân sự với quy mô, phương thức thích hợp. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu của hàng triệu dân quân du kích, tự vệ trên các bản làng, đường phố; là cuộc chiến đấu của các đội quân chính trị trước họng súng quân thù trên các chiến trường; là cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân ở vùng tạm bị chiếm, nhất là các đô thị. Đó còn là cuộc chiến đấu không có tiếng súng của hàng triệu người con yêu nước trên các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, văn hoá, xã hội... phối hợp với quân đội của mình đánh giặc. Mối quan hệ máu thịt giữa quân và dân nổi bật ở chỗ, nhân dân đã tình nguyện đưa hàng triệu con em của mình vào quân đội cầm súng đánh giặc. Nhân dân đã giáo dục, rèn luyện quân đội lòng yêu nước, chí căm thù giặc, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, chịu đựng gian khổ của toàn dân. Sức chiến đấu của quân đội ta được nhân lên nhiều lần khi được nhân dân tận tình giúp đỡ: nhường nhà cho bộ đội ở, nhường hầm cho chiến sĩ đánh giặc và ẩn nấp, che giấu bảo vệ bộ đội bằng mọi cách: cung cấp lương thực, thuốc men, cứu chữa, chăm sóc thương, bệnh binh... Có thể nói, dựa chắc vào dân, được nhân dân che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng, quân đội ta đã có thêm sức mạnh vượt qua mọi thử thách để đánh thắng kẻ thù. Chính Hăng-ri Na-va, nguyên Đại tướng, Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cũng đã phải thừa nhận mối quan hệ quân và dân ta bền chặt: "Quân đội Việt Minh nằm ở trong dân, cả về vật chất và tinh thần"1 (Dẫn theo: Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.339). Đáp lại tấm lòng cao cả của nhân dân, quân đội ta đã chiến đấu quên mình, chịu đựng mọi gian khổ hy sinh vì lợi ích của nhân dân. Như vậy, truyền thống thứ ba là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, tôn trọng, học hỏi, giúp đở và bảo vệ nhân dân, dựa vào nhân dân mà hoạt động, cùng với nhân dân mà chiến đấu và chiến thắng, thực hiện quân với dân một ý chí. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Năm, 2021, 08:38:43 pm d) Đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ rộng rãi, kỷ luật nghiêm minh
Sức mạnh của quân đội ta trong xây dựng và chiến đấu được nhân lên nhiều lần do truyển thông đoàn kết. dân chủ và kỷ luật không ngừng được phát huy. Truyền thống này vừa thể hiện ở tình đoàn kết nội bộ, trên dưới đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt; vừa thể hiện bản chất dân chủ, tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh của quân đội cách mạng kiểu mới; đồng thời thể hiện tính truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Một yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh của quân đội ta, đó là không ngừng xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết, thống nhất, bình đẳng, yêu thương, giúp đỡ nhau như ruột thịt giữa cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới. Đây là mối quan hệ tiêu biểu giữa những con người cùng chung mục tiêu chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, có lợi ích chung duy nhất là sống trong độc lập, hoà bình, hạnh phúc và văn minh. Mục tiêu chiến đấu và lợi ích chung đó đã gắn bó cán bộ và chiến sĩ thành một khối thống nhất ý chí và hành động. Tình đoàn kết trong quân đội ta được xây dựng trong thời bình cũng như thời chiến. Cuộc sống trong đại gia đình quân đội dù ở tiền tuyến hay hậu phương, cán bộ và chiến sĩ đều thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng trung thành giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ và không ngừng tiến bộ giữa tình đồng đội, đồng chí; cùng chiến đấu hy sinh, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, kể cả hy sinh một phần thân thể, tính mạng để bảo vệ nhau, giúp nhau tiêu diệt địch. Trong mọi nhiệm vụ, ý thức tự giác phục tùng tổ chức, chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh và chỉ thị của cấp trên đã trở thành hành động hàng ngày của mọi quân nhân. Vì cùng chiến đấu cho mục tiêu cao cả, nên mọi quân nhân đều bình đẳng về chính trị. Thực hiện bình đẳng, dân chủ giữa các quân nhân trên các lĩnh vực xây dựng, chiến đấu, công tác và những nhiệm vụ khác đều được chấp hành một cách tự giác theo khẩu hiệu trong sáng: nhận khó khăn về mình và nhường thuận lợi cho bạn. Xây dựng, phát triển mối đoàn kết nội bộ chặt chẽ là quá trình giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ, dân chủ và kỷ luật, tự giác và bắt buộc. Việc xây dựng một cơ chế dân chủ trong quân đội, chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và kỷ luật quân đội đóng vai trò quan trọng nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Có thể nói, xây dựng, củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ chặt chẽ, bình đẳng, yêu thương giúp đỡ nhau như ruột thịt giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới; chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội một cách tự giác, nghiêm minh, thống nhất ý chí, hành động. Đó là truyền thống tốt đẹp thứ tư của quân đội ta. đ) Đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung, son sắt chí nghĩa, chí tình Trong quá trình xây dựng và chiến đấu chống các đội quân viễn chinh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân đội ta luôn tăng cường củng cố tình đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần làm thắm đượm nghĩa tình "bốn phương vô sản đều là anh em". Cán bộ chiến sĩ ta chú trọng nghiên cứu, chân thành học hỏi kinh nghiệm quý báu của quân đội các nước Liên Xô, Trung Quốc và qưân đội của các nước xã hội chủ nghĩa để nâng cao trình độ của mình. Coi sự nghiệp cách mạng của nhân dân các nước anh em như chính sự nghiệp của nhân dân nước mình, quân đội ta luôn cố vũ, động viên, chàm lo phát triển tình hữu nghị với các phong trào giải phóng dân tộc, với nhân dân tiến bộ, yêu chuộng công lý trên toàn thế giới trong cuộc dấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đối với cách mạng các nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, kẻ địch xảo quyệt định cô lập cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta, chia xẻ nhân dân ba nước Đồng Dương. Quân đội ta luôn có ý thức củng cố và phát huy truyền thống quốc tế của Đảng, của nhân dân ta. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp bạn là tự giúp mình", quân đội ta đã gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng của bạn, sát cánh cùng với quân đội và nhân dân hai nước Lào. Cam-pu-chia anh em chiến đấu chống kẻ thù, giành thắng lợi chung. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến đổi sâu sắc. Việt Nam ngày càng có vị thế quan trọng trong việc bảo vệ hoà bình, an ninh ở khu vực và trên thế giới. Quân đội ta tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế với quân đội hai nước Lào và Cam-pu-chia; đồng thời tiếp tục mở rộng quan hệ với quân đội các nước. Điều này phù hợp với đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối đối ngoại quân sự của ta nhằm phục vụ nhiệm vụ duy trì sự ổn định về an ninh, bảo đảm hoà bình ở Đông Nam Á và châu Á, nơi từng chịu nhiều đau thương, mất mát trong mấy chục năm do chiến tranh, nay cần có môi trường ổn định để phát triển. Trên cơ sở các mối quan hệ hữu nghị bước đầu tốt đẹp với các nước trong khu vực, nhất là với các nước láng giềng, sự hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội ta với quân đội các nước càng tốt đẹp hơn. Như vậy, truyền thống thứ năm của quân đội ta là có tinh thần quốc tế vô sản và tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa cao cả, đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung son sắt, chí nghĩa, chí tình. Nó thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao đẹp của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta dã xây dựng nên bản chất cách mạng cao đẹp và tô thắm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Đó là thành quả phấn đấu rèn luyện thường xuyên, bền bỉ theo đường lối của Đảng, bằng bao công sức và xương máu của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã cống hiến cả tuổi xuân, cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của quân đội ta, từ Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vừa qua là bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp luôn được phát huy mạnh mẽ. Được xây dựng và trang bị cho mình bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, Quân đội nhân dân Việt Nam trước kia, ngày nay cũng như sau này, không hề thay đổi, vì quân đội ta bao giờ cũng là quân đội nhân dân, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quân đội nhân dân Việt Nam là tiêu biểu cho quân đội kiểu mới của dân tộc - "Bộ đội Cụ Hồ", "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Có thể nói "thành quả vĩ đại nhất của quá trình cách mạng... là nhân dân ta đã giành được độc lập hoàn toàn và thống nhất trọn vẹn cho Tổ quốc, cả nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội và có một quân đội nhân dân vô địch... Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, chưa bao giờ nhân dân ta có một quân đội mạnh như ngày nay. Đây là một nhân tố cơ bản bảo đảm Tổ quốc ta đời đời bền vững, nhân dân ta vĩnh viễn sông trong độc lập, tự do"1 (Lê Duẩn: Về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.316). Tự hào về chặng đường lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta càng phải nỗ lực đoàn kết, chung sức, chung lòng phấn đấu xây dựng quân đội ta thực sự là quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; một quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có nhiều sự biến đổi, phát triển về nội dung chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, và nghệ thuật quân sự trọng những điều kiện lịch sử mới của đất nước, của khu vực và trên thế giới. Những đặc điểm trong quá trình xây dựng, chiến đấu của quân đội nhân dân trong hơn nửa thế kỷ qua, đặc biệt là việc xây dựng bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, thực hiện Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt quân đội nhân dân và những truyền thống vẻ vang của quân đội ta vẫn cần được giữ vững, tiếp tục kế thừa, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện mới, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 07:48:55 am MỘT SỐ VẤN ĐỀ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG 30 NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ (1945-1975) Kỹ thuật quân sự là lĩnh vực liên quan đến các hoạt động sản xuất tạo nguồn, nghiên cứu cải tiến, bảo đảm kỹ thuật và khai thác sử dụng các phương tiện kỹ thuật quân sự để bảo đảm cho các lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ quân sự. Phương tiện kỹ thuật quân sự gồm nhiều loại, trong đó vũ khí, trang bị kỹ thuật là những loại chủ yếu và chiếm khối lượng lớn nhất. Kỹ thuật quân sự là một thành tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang để chiến đấu và chiến thắng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta đã thể hiện tài năng chế tạo vũ khí và giải quyết những vấn đề về kỹ thuật quân sự rất sáng tạo để chiến thắng. Tiêu biểu như tổ chức các công trường chế tạo cung nỏ, mũi tên đồng từ thời đại Văn Lang - Âu Lạc; chế tạo hàng vạn thuyền chiến cùng các loại "Vũ khí nóng" như hỏa pháo, hỏa đồng, hỏa hổ và nhiều pháo thần công lớn, nhỏ... trang bị cho bộ binh, thủy binh, tượng binh... ở các triều đại Lê, Lý, Trần, Tây Sơn... nên đã góp phần quan trọng tạo nên những chiến thắng vang dội trong các trận quyết chiến chiến lược như của Lý Thường Kiệt trong trận tiến công sang Châu Ung và phòng ngự - phản công trên phòng tuyến sông cầu; của Trần Hưng Đạo trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng; của Nguyễn Huệ - Tây Sơn trong tiến công thần tốc giải phóng Thăng Long và cơ động bằng hàng ngàn thuyền chiến vào đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút... Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật thời kỳ 1930 - 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn tìm mọi cách để giải quyết vấn đề vũ khí, trang bị để tiến hành khởi nghĩa vũ trang như phát động phong trào "Đồng tiền cứu nước", kêu gọi nhân dân đóng góp để mua vũ khí súng đạn, lập các cơ sở để sản xuất vũ khí thô sơ, lấy vũ khí của địch... Nhờ vậy đã có hàng ngàn khẩu súng các loại trang bị cho lực lượng vũ trang tiến hành khởi nghĩa thắng lợi. Kế thừa, phát triển truyền thống và kinh nghiệm đó, trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân ta đã giải quyết đúng đắn sáng tạo các vấn đề có ý nghĩa chiến lược về kỹ thuật quân sự, phù hợp với tình hình thực tế của con người, đất nước Việt Nam. Nhờ vậy đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Theo khái niệm đầy đủ thì vấn đề kỹ thuật quân sự có nhiều nội dung, phương tiện kỹ thuật quân sự cũng gồm nhiều loại thuộc nhiều ngành. Chuyên đề này mới tập trung chủ yếu vào nội dung chỉ đạo giải quyết vấn đề vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. I- VẤN ĐỀ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954) Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn lịch sử, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trước tình thế cực kỳ nghiêm trọng. Dưới danh nghĩa lực lượng đồng minh vào giải giáp quân Nhật, gần 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch cùng bọn phản động kéo vào miền Bắc nước ta, quân Anh kéo vào miền Nam. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh tiếp tay, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Cùng với nạn ngoại xâm, bè lũ Việt gian tay sai cũng ráo riết hoạt động chống phá cách mạng. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài trong lúc tình hình kinh tế tài chính, văn hóa, xã hội gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng với quyết tâm thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ, nhân dân tA đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp trong 9 năm (1945-1954) kết thúc bằng thắng lợi của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có những đặc điểm: - Là cuộc chiến tranh chính nghĩa của một dân tộc nhỏ chống một đế quốc to; một nước nông nghiệp lạc hậu vốn là nước thuộc địa nửa phong kiến chống một nước công nghiệp phát triển lại được đế quốc Mỹ viện trợ to lớn về tài chính và phương tiện chiến tranh. - Là cuộc chiến tranh của toàn dân tộc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt; đánh địch toàn diện, trong đó đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định, chống chiến tranh xâm lược tàn bạo theo kiểu chiến tranh cổ điển bằng quân đội chính quy của thực dân Pháp. - Là chiến tranh cách mạng để tiếp tục thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng trong chiến tranh; vừa chiến đấu, vừa xây dựng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, vừa phục vụ kháng chiến thắng lợi, vừa đặt cơ sở cho xây dựng chế độ mới, xây dựng đất nước về lâu dài. - Là cuộc chiến tranh mà sức mạnh tự lực, tự cường của dân tộc ta được phát huy rất cao, kết hợp với tích cực tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 07:50:17 am 1. Ngành kỹ thuật quân sự hình thành và phát triển nhanh chóng theo phương hướng tự lực, tự cường (1945-1950)
a) Nhanh chóng hình thành và phát triển ngành quân giới bảo đảm vũ khí cho lực lượng vũ trang trong những năm đầu kháng chiến Nhận thức rõ tầm quan trọng của trang bị, vũ khí trong xây dựng, phát triển và đấu tranh vũ trang, ngày 9 tháng 9 năm 1945, chỉ một tuần sau khi chính thức tuyên bố nước nhà độc lập, Chính phủ thành lập Phòng Thông tin liên lạc quân sự và tiếp đó ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng do đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân phụ trách. Phòng Quân giới có nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí để trang bị cho quân đội. Ở các tỉnh trong toàn quốc, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quân sự đều có bộ phận chuyên lo việc cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ trang địa phương. Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL quy định tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có Chế tạo quân giới Cục và Công binh giao thông Cục. Đến tháng 5 năm 1946, Chế tạo quân giới Cục đổi thành Cục Chế tạo quân giới để thống nhất tổ chức và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở chế tạo vũ khí. Cùng thời gian này, tại các khu cũng thành lập cơ quan quân giới trực tiếp chỉ đạo các công binh xưởng và các xưởng vũ khí dân quân bảo đảm cung cấp vũ khí cho bộ đội và dân quân tự vệ. Từ Cực Nam Trung Bộ trở ra có các ty quân giới; Khu 7 có Phòng quân giới; Khu 8 có Ban giám đốc Công binh xưởng. Các ty, phòng, ban quân giới đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương và sự chỉ đạo chuyên môn theo ngành dọc của Cục Chế tạo quân giới. Nhưng do địa bàn xa cách nên Cục Chế tạo quân giới mới trực tiếp theo dõi chỉ đạo được các ty quân giới từ Khu 4 trở ra, còn các cơ quan và cơ sở quân giới từ Khu 5 trở vào đều do Đảng bộ và chính quyền địa phương chỉ đạo về mọi mặt nên tháng 8 năm 1946, Trung ương Đảng quyết định thống nhất sự lãnh đạo các xưởng vũ khí vào Bộ Quốc phòng và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Chế tạo quân giới. Từ cuối tháng 10 năm 1946, tất cả các công binh xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí thuộc vệ quốc đoàn đều do Cục Chế tạo quân giới quản lý. Đồng chí Nguyễn Duy Thái được bổ nhiệm làm Tổng giám đôc các công binh xưởng. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng họp, đã nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn. Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp'"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 2, Nxb QĐND, H.1979, tr.64). "Phải tự tin rằng, tuy kém về kỹ thuật, vũ khí nhưng với một tinh thần dẻo dai bền bỉ, mình nhất định thắng"2 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 2, Nxb QĐND, H.1979, tr.64). Hội nghị quyết định "Phải nghiên cứu cách phân phối vũ khí cho hợp lý. Các nhà máy chế tạo phải thống nhất và có kế hoạch sản xuất những thứ cần thiết. Phải thu hút những nhân tài chuyên môn"3 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 2, Nxb QĐND, H.1979, tr.64). Cuối tháng 10 năm 1946, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân báo cáo tình hình sản xuất vũ khí của các cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Có thể giặc Pháp sắp tân công mình... về quân giới, phải gấp rút chuyển hết máy móc, nguyên liệu ra khỏi Hà Nội, mang lên rừng núi lập căn cứ chống lại nó"4 (Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1990, tr.7). Thực hiện các chủ trương trên, hệ thống tổ chức quân giới tiếp tục được kiện toàn. Ngày 5 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp bổ nhiệm đồng chí Phạm Quang Lễ (kỹ sư - Việt kiều ở Pháp về nước cùng với Người tháng 10 năm 1946) làm Cục trưởng Cục Quân giới và được Người đổi tên là Trần Đại Nghĩa. Trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nọ, ngành quân giới đã bí mật tiến hành di chuyển thiết bị, nguyên vật liệu từ các đô thị vê nông thôn, rừng núi và căn cứ kháng chiến. Nhũng thứ được chuyển đi gồm hàng trăm máy tiện, phay, bào, khoan, dập, nhiều máy động lực, hàng ngàn tấn sắt thép, đồng, chì... cùng nhiều nguyên vật liệu khác. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946), cuộc di chuyển tiến hành rộng lớn, ồ ạt, mạnh mẽ trở thành đợt "tổng di chuyển" rầm rộ trong cả nước, sử dụng kết hợp mọi lực lượng, phương tiện cơ giới, thô sơ để di chuyển hàng chục ngàn tấn (tính riêng 3 tháng đầu năm 1947, các xưởng quân giới từ Khu 5 trở ra đã vận chuyển được 38.000 tấn). Kết quả của cuộc tổng di chuyển và sắp xếp lại tổ chức quân giới đã tạo được khối lượng vật chất kỹ thuật quý báu để tổ chức sản xuất, sửa chữa vũ khí, đáp ứng yêu cầu cấp thiết và lâu dài của cuộc kháng chiến. Ngay trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc (1947), cả nước đã hình thành 200 cơ sở sản xuất sửa chữa vũ khí với khoảng hơn 20.000 người. Cục Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng được kiện toàn một bước gồm các nha chuyên môn và chỉ đạo thống nhất toàn ngành. Nhờ vậy, những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ngành quân giới đã đạt được những thành tựu đáng kể. Về sản xuất chế tạo vũ khí: Trước ngày Toàn quốc kháng chiến, các xưởng quân giới chủ yếu sản xuất chế tạo vũ khí thô sơ như mã tấu, dao găm, kiếm, cung, lựu đạn, mìn... Một số nơi bước đầu nghiên cứu chế tạo súng, đặc biệt là quân giới ở Hải Phòng đã nghiên cứu chế tạo thành công súng và đạn cối 60mm. Đây là những khẩu súng cối đầu tiên do quân giới Việt Nam sản xuất. Tháng 4 năm 1947, Trung ương Đảng ra chỉ thị chỉ rõ: "Cần chú trọng chế tạo các loại vũ khí chống xe tăng (badôca) chống ca nô (thủy lôi) và vũ khí thô sơ (lựu đạn, súng kíp...), phải chống khuynh hướng coi thường vũ khí thô sơ mà chỉ chú trọng vũ khí tối tân; đồng thời chống khuynh hướng thiên về chế tạo vũ khí thô sơ mà không để ý hay không gắng sức chế tạo vũ khí tối tân. Động viên nhân dân làm nguyên vật liệu và tham gia sản xuất vũ khí thô sơ. Phổ biến cách chế tạo lựu đạn và súng kíp đơn giản cho dân... và tự vũ trang"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, sđd, tr.111). Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 07:55:01 am Thực hiện chủ trương trên, các xưởng quân giới tiếp tục chế tạo vũ khí thô sơ, mìn, lựu đạn... Phần lớn các xưởng nghiên cứu chế tạo nhiều loại mìn diệt bộ binh, cơ giới (gọi là địa lôi), đánh ca nô, tàu chiến (thủy lôi). Ở Nam Bộ ta đã nghiên cứu chế tạo thành công loại mìn lõm (badômin, FT) nổ định hướng có sức công phá lớn để đánh cầu, công sự, hầm ngầm... Nhiều đoàn tàu quân sự của địch đã bị ta phá hủy bằng mìn như trận Bàu Cá (ngày 14 tháng 7 năm 1947) lật nhào 2 đoàn tàu hỏa của địch... Thủy lôi đánh chìm tàu Xanh-lu-ba 7.000 tấn trên sông Lòng Tàu (ngày 26 tháng 5 năm 1950); đánh chìm tàu, diệt một đại đội địch trong trận La Hoàng ở Việt Bắc, Thu Đông 1947...
Số lượng lựu đạn, mìn ta sản xuất được trong nhữmg năm từ 1946 đến 1950 như sau2 (Tổng kết công tác của các cục thuộc Tổng cục Cung cấp (1945-1954), Tổng cục Hậu cần, 1983, tr.202-203): (https://i.imgur.com/5xEtl6L.jpg) Chế tạo súng, đạn bộ binh cũng được đẩy mạnh ở nhiều xưởng (tính từ Khu 4 trở ra trong các năm từ 1948 đến 1950, ta đã sản xuất và nhồi lại được 2.834.000 viên đạn DAM, 2 năm 1949-1950, chế tạo mới được 2 triệu viên đạn DAM). Về súng cỡ lớn, nhiều xưởng thuộc các liên khu và Cục Quân giới vẫn tiếp tục sản xuất các loại súng và đạn cối (cỡ 60mm, 51mm), một số xưởng còn chế tạo súng cối cỡ 81, 120, 187mm (nòng bằng vỏ bình ô xy). Đầu năm 1947, được Cục Quân giới cung cấp bản vẽ thiết kế, nhiều xưởng đã chế tạo được lựu phóng và súng phóng lựu theo kiểu của Nhật và Pháp, bắn xa tới 400m. Trong năm này, riêng các xưởng ở Bắc Bộ đã sản xuất được gần 1 vạn quả phóng lựu. Giữa năm 1947, Nha Nghiên cứu kỹ thuật chế thử thành công đạn AT, loại đạn chống tăng cỡ nhỏ, khi bắn lắp ở đầu súng trường. Sau đó nhiều xưởng đã chế tạo hàng loạt phục vụ bộ đội. Đặc biệt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trần Đại Nghĩa, việc nghiên cứu chế tạo súng và đạn badôca được tiến hành ráo riết. Sau nhiều lần thử nghiệm, ta đã chế tạo thành công đạn badôca đạt yêu cầu kỹ thuật tương đương với viên đạn mẫu của Mỹ, kịp thời cấp cho bộ đội ở mặt trận Đường 6 bắn cháy xe tăng địch tại Trúc Sơn, Chùa Trầm. Việc chế tạo thành công súng và đạn badôca là một thành công lớn của ngành kỹ thuật quân sự Việt Nam, khiến cho địch hết sức bất ngờ. Đầu năm 1949, Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng ra nghị quyết nhấn mạnh: "Sản xuất vũ khí cần đi đôi với yêu cầu chiến thuật. Bên cạnh những vũ khí đã chế tạo được, cần nỗ lực hơn nữa trong việc chế tạo vũ khí tối tân". Thực hiện nghị quyết trên, Cục Quân giới tiến hành nghiên cứu chế tạo súng không giật SKZ. Đây là loại vũ khí công đồn và diệt chiến xa, sử dụng đạn lõm, có sức công phá lớn gấp ba lần đạn badôca. Đồng chí Trần Đại Nghĩa xây dựng tài liệu thuật phóng và chỉ đạo Nha Nghiên cứu kỹ thuật triển khai thiết kế chế tạo. Sau một thời gian chế thử, ta đã sản xuất thành công súng và đạn SKZ cỡ 60mm và trực tiếp hướng dẫn xưởng TD 97 (Khu 10) sản xuất hàng loạt. Đạn SKZ nặng 9kg, tầm bắn hiệu quả đến 100m, sức xuyên bê tông dày 0,6m. Trong chiến dịch Lê Hồng Phong I (tháng 2 năm 1950), Đại đoàn 308 sử dụng SKZ tiêu diệt được nhiều lô cốt địch. Đây là lần đầu tiên ta sử dụng SKZ tự tạo và đã giành được thắng lợi lớn. Với các chủ trương, biện pháp đúng đắn, từ 1945 đến 1950, trong điều kiện tự lực cánh sinh, ngành quân giới đã sản xuất được hàng ngàn tấn vũ khí các loại và cùng với các xưởng của ngành công binh, thông tin liên lạc sản xuất 120.000 quân cụ cải tiến, lắp ráp 150 máy thu phát kiểu SX-A2... nhờ đó đã bảo đảm nhu cầu cơ bản phục vụ chiến đấu những năm đầu kháng chiến. Về tạo nguồn trang bị bằng thu vũ khí của địch: Phương châm "lấy vũ khí giặc đánh giặc" được quân dân ta tích cực thực hiện. Sau Cách mạng tháng Tám, trước tình hình quân Nhật hoang mang vì thua trận, quân Tưởng vào giải giáp vũ khí quân Nhật lại ô hợp nên ta đã tích cực dùng binh vận để lấy súng và dùng tiền mua yũ khí của chúng. Ở nhiều nơi, quân ta còn đột nhập vào các ,kho vũ khí, tiến công trại lính hoặc đánh địch trên đường chúng vận chuyển để lấy súng đạn. Ở Đáp Cầu, ta lấy được một kho vũ khí gồm thuốc nổ, đạn và súng các loại, có cả một khẩu đại bác 75mm của quân Tưởng. Tại Vân Thái, ta tổ chức đánh chiếm một đoàn xà lan của quân Nhật thu 200 tấn vũ khí. Ở Đình Ấm, ta thu được 300 quả đại bác... Ngày 29 tháng 6 năm 1946, với số pháo thu được của địch, Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập ba trung đội pháo binh tại Pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh. Đây là những đơn vị pháo binh đầu tiên của quân đội ta. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì nguồn cung cấp vũ khí của ta chủ yếu là ở tiền tuyến. Tính đến mùa hè 1947, riêng trên chiến trường Khu 7 ta đã thu được 6.776 súng trường, 346 tiểu liên, 187 trung liên, 66 đại liên. Trong chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 ta thu được 2 đại bác 75mm, 16 khẩu pháo 20mm, 337 súng liên thanh các cỡ. Trong 2 năm 1947-1948, trên chiến trường Bắc Bộ, riêng bộ đội chủ lực đã thu được 17.095 súng trường, 3.495 trung liên, đại liên và hàng chục pháo cối nhỏ. Đến tháng 10 nâm 1950, số vũ khí ta thu được của địch đủ trang bị cho 426 đại đội về súng trường, 296 đại đội về súng liên thanh, 23 đại đội về súng cối, 17 đại đội về pháo không giật1 (Lịch sử quân giới Việt Nam (1945-1954), Nxb Lao động, H.1990, tr.36). Về quyên góp, mua sắm vũ khí: Từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày 19 tháng 12 năm 1946, hầu hết số tiền và vàng nhân dân đóng góp trong Quỹ Độc lập và Tuần lễ vàng được chính phủ sử dụng vào việc mua vũ khí của quân Tưởng như súng trường, tiểu liên, súng cối... Ở Hải Phòng, ta đã sử dụng tới 2 triệu đồng Đông Dương mua được hàng ngàn khấu súng các loại. Ở Vĩnh Yên, ta còn mua được mấy toa tàu chở đầy vũ khí chuyển thẳng vào Nam Bộ. Trong 2 năm 1948-1949. Nha Mậu dịch thuộc Cục Quân giới đã mua được 27.279kg kaliclorat, 11.141 bánh đinamit gôm, 119.838 ống nổ... Xứ ủy Nam Bộ tổ chức một số đoàn vượt biển sang Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Hồng Kông... mua nguyên vật liệu. Ngoài số vàng do Xứ ủy cấp; các đoàn còn nhận được sự ủng hộ rất to lớn của bà con Việt kiều nên đã mua được hàng trăm tấn vũ khí, nguyên vật liệu quý hiếm, hóa chất, máy thông tin liên lạc. Đây là nguồn bổ sung rất quan trọng bên cạnh nguồn vũ khí, phương tiện kỹ thuật ta lấy được của địch. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Năm, 2021, 07:56:58 am b) Bước đầu xây dựng nền công nghiệp quốc phòng
Về tổ chức cơ sở sản xuất: Như đã nói ở trên, trước ngày toàn quốc kháng chiến nổ ra, ngành quân giới đã bí mật di chuyển thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu từ đô thị về nông thôn và các vùng căn cứ. Nhờ vậy, sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta đã xây dựng được gần 200 cơ sơ sản xuất, sửa chữa vũ khí. Để giải quyết khó khăn về nguyên vật liệu, quân và dân trong cả nước cùng ngành quân giới tạo nguồn nguyên vật liệu bằng nhiều cách theo nhiều hướng: Một là, triệt để khai thác nguồn sẵn có như đường ray, tà vẹt,... Tính đến năm 1948, ta đã bóc được 1.000km đường ray và tà vẹt. Ta còn thu được gần 100 đầu máy, toa xe lửa, hàng ngàn vành, bánh, trục xe lửa, hàng vạn tấn sắt thép cũ của hàng trăm cây cầu, hàng chục xe lu lăn đường, hàng trăm xe ô tô cũ... Tại sông Sở Thượng (Khu 8 ), quân và dân cùng cán bộ, công nhân quân giới đắp đập ngăn rồi tát cạn cả một khúc sông để lấy vũ khí từ chiếc tàu bị đắm của địch, sau đó chặt tàu ra hàng ngàn mảnh làm nguyên vật liệu. Hai là, vận động nhân dân hưởng ứng phong trào quyên góp vật liệu để làm vũ khí. Kết quả, ta thu được hàng ngàn tấn kim loại, trong đó có cả lư hương, đỉnh đồng... Ba là, các xưởng quân giới tích cực tổ chức sản xuất các loại nguyên, hóa liệu như phuminat thủy ngân, diêm tiêu... Về tổ chức nghiên cứu kỹ thuật quân sự, chế tạo vũ khí: Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú ý đến việc huy động đội ngũ trí thức tiến bộ trong nước và Việt kiều ở nước ngoài hăng hái tham gia nghiên cứu kỹ thuật quân sự, chế tạo vũ khí. Đội ngũ này gồm những thanh niên đã học xong hoặc đang học trong các trường đại học, cao đẳng, các trường kỹ nghệ. Đồng thời còn có những cán bộ kỹ thuật, đốc công đã từng làm trong các nhà máy của Pháp hoặc trí thức từ nước ngoài về như các đồng chí Trần Đại Nghĩa, Lê Tâm, Dương Hữu Thời. Chính đội ngũ trí thức này đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu kỹ thuật quân sự, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền công nghiệp quốc phòng non trẻ, đã nghiên cứu chế tạo thành công nhiều loại lựu đạn, mìn, súng badôca, SKZ, súng đạn cối, đạn AT,... kịp thời phục vu cho yêu cầu chiến đấu. Công tác nghiên cứu kỹ thuật quân sự được tiến hành tại hầu khắp các cơ sở sản xuất. Ngoài việc tập trung nghiên cứu chế tạo vũ khí, ta còn đẩy mạnh nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, thay đổi các quy trình công nghệ phù hợp... nhờ đó đã nâng cao hơn được năng suất, chất lượng (sản xuất quân giới năm 1949 gấp 5 lần năm 1947...). Về tổ chức huấn luyện và bảo đảm kỹ thuật: Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của các xưởng vũ khí, việc huấn luyện đào tạo cán bộ, công nhân quân giới được đặc biệt coi trọng, chủ yếu bằng phương pháp tổ chức các hội nghị quân giới và mở các lớp học chuyên môn kỹ thuật cho từng loại đối tượng, kết hợp với hướng dẫn, kèm cặp lẫn nhau ở cơ sở. Tháng 2 năm 1947, tại Ứng Hòa - Hà Tây, đồng chí Trần Đại Nghĩa - Cục trưởng Cục Quân giới trực tiếp tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức cơ bản về vũ khí. Đây là lớp học đầu tiên về vũ khí của quân đội ta. Học viên phần lớn là cán bộ kỹ thuật thuộc các nha và cơ quan Cục Quân giới, về sau họ đều trở thành cán bộ chủ chốt về kỹ thuật vũ khí của ngành kỹ thuật quân sự nước nhà. Để bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí trang bị ở các đơn vị chiến đấu, ngành quân giới đã xây dựng quy tắc bảo quản vũ khí, phương tiện kỹ thuật và ban hành nhiều tài liệu hướng dẫn sử dụng vũ khí phổ biến cho các đơn vị; tổ chức ra các kíp lưu động đi theo đơn vị chiến đấu để sửa chữa kịp thời vũ khí hư hỏng. Như vậy, từ năm 1945 đến năm 1950, vấn đề kỹ thuật quân sự đứng trước nhiệm vụ cấp bách nặng nề, vừa tổ chức xây dựng ngành kỹ thuật quân sự, vừa bảo đảm vũ khí cho cuộc chiến tranh nhân dân trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Hệ thống tổ chức của ngành đã nhanh chóng được xây dựng từ Trung ương đến cơ sở, hình thành một mạng lưới cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí là chủ yếu, (cùng với một số cơ sở sửa chữa, lắp máy thông tin, sửa chữa ô tô, chế tạo quân cụ...) để đảm bảo cho các lực lượng vũ trang. Dựa vào sự ủng hộ to lớn của nhân dân để tạo nguồn tài chính, vật tư kỹ thuật, ngành quân giới đã chế tạo ra một số loại vũ khí cung cấp cho bộ đội chiến đấu. Việc nghiên cứu chế tạo vũ khí và một số lĩnh vực kỹ thuật quân sự khác lúc đầu còn mò mẫm, sau được tổ chức ngày càng tốt hơn do đã thu hút được nhiều trí thức, nhà khoa học trong nước và Việt kiều về nước tham gia kháng chiến cùng với cán bộ, công nhân quân giới phát huy trí thông minh, sáng tạo, tự lực, tự cường. Nhờ vậy, chúng ta đã nghiên cứu thành công một số vũ khí tương đối hiện đại như badôca, SKZ... đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến, góp phần phát triển chiến thuật và nghệ thuật chiến dịch của quân đội. Vũ khí do ta sản xuất đã đáp ứng được yêu cầu của chiến tranh nhân dân, vừa bảo đảm cho du kích và bộ đội địa phương (vũ khí thô sơ, vũ khí cơ bản), vừa đáp ứng yêu cầu của bộ đội chủ lực, từ du kích chiến lên vận động chiến (như các loại súng, côi, badôca, SKZ...). Nguồn vũ khí phương tiện kỹ thuật ta mua và thu của đich cũng góp phần quan trọng giải quyết yêu cầu trang bị vũ khí cho các lực lượng vũ trang, tạo điều kiện phát triển nhanh lực lượng chiến đấu. Công tác huấn luyện kỹ thuật và bảo đảm kỹ thuật được triển khai một bước, nhất là vận dụng có hiệu quả các hình thức và phương pháp huấn luyện, đào tạo kết hợp giữa mở các lớp cấp tốc, ngắn hạn với hướng dẫn kèm cặp vừa làm vừa học. Tuy nhiên, giải quyết vấn đề kỹ thuật quân sự trong những năm đầu kháng chiến cũng còn những khuyết điểm, hạn chế: các cơ sở tự chế tạo nhiều kiểu, loại vũ khí, nhưng chất lượng có loại không cao; một số cơ sở chọn mẫu vũ khí để chế tạo chưa phù hợp với khả năng và thiết bị, chưa có quy tắc chặt chẽ nên đã xảy ra mất an toàn, gây thương vong (từ 1945-1949 có tới 200 người chết trong quá trình nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm). Công tác bảo đảm kỹ thuật chưa được triển khai đồng bộ... Tuy còn một số hạn chế, nhưng nhìn chung thời kỳ 1945- 1950, ngành kỹ thuật quân sự đã có bước phát triển nhanh chóng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo, tìm mọi cách bảo đảm vũ khí kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Sự nghiệp phát triển kỹ thuật quân sự được toàn dân tham gia phục vụ có hiệu quả trong những năm đầu kháng chiến. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Năm, 2021, 09:27:31 am 2. Chuyển hướng sản xuất, triệt để khai thác mọi nguồn vũ khí trang bị bảo đảm cho sự nghiệp kháng chiến đi tới thắng lợi (1950-1954)
Từ giữa năm 1950 và đặc biệt là từ sau khi chiến thắng Biên giới (tháng 9 năm 1950), ta bắt đầu nhận được sự chi viện của các nước anh em, chủ yếu là của Trung Quốc và Liên Xô. Hàng viện trợ chủ yếu là vũ khí, trang bị vật tư, máy móc (vũ khí viện trợ gồm: ĐKZ 75, badôca; cối 60, 81, 82; sơn pháo 75; lựu pháo 105; pháo phòng không 37; tiếu liên K50; súng trường; trọng liên...). Nguồn viện trợ đã góp phần nâng cao chất lượng kỹ thuật quân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Tiếp sau Đại đoàn 308, các đại đoàn chủ lực 304, 312, 316, 320, 325, Đại đoàn công pháo 351 và một số trung đoàn mạnh lần lượt được thành lập, được trang bị thống nhất và tương đối đủ vũ khí bộ binh. Một số đơn vị binh chủng như công binh, pháo binh, thông tin... cũng được tăng cường và phát triển. Với lực lượng lớn mạnh, ta đã liên tiếp mở nhiều chiến dịch trên các chiến trường, phát triển chiến tranh du kích ở khắp nơi giành thắng lợi to lớn. Tình hình đó đặt ra cho công tác kỹ thuật quân sự phải giải quyết những vấn đề phát triển mới so với mấy năm đầu kháng chiến trong vòng vây. a) Chuyển hưởng sản xuất, bảo đảm kỹ thuật quân sự phục vụ kháng chiến Về tổ chức hệ thống kỹ thuật: Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 121/SL thành lập Tổng cục Cung cấp (sau này đổi tên là Tổng cục Hậu cần) thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh. Tổng cục Cung cấp có nhiệm vụ quản trị, trang bị, cấp dưỡng quân đội và sản xuất quốc phòng. Tổng cục Cung cấp gồm các cục Quân vụ, Quân nhu, Quân y, Vận tải, Quân giới và Phòng quân khí. Do yêu cầu tác chiến phát triển, ta liên tiếp mở các chiến dịch và do có nguồn chi viện vũ khí, phương tiện kỹ thuật của các nước anh em nên tổ chức hệ thống kỹ thuật được chấn chỉnh một bước. Các cơ quan, cơ sở quân giới được củng cố, biên chế gọn, hợp lý, lề lối làm việc được cải tiến; đồng thời hệ thống quân khí được tổ chức. Cụ thể: Cuối năm 1950, cơ quan Cục Quân giới chấn chỉnh tổ chức biên chế. Bộ máy cơ quan Cục từ 20 phòng, ban trực thuộc còn lại 7 phòng, ban. Nha Nghiên cứu kỹ thuật được chuyển thành Viện Nghiên cứu kỹ thuật. Cuối năm 1953, qua đợt chỉnh biên lần thứ hai, cơ quan Cục Quân giới còn 5 phòng, 1 ban trực thuộc. Viện Nghiên cứu kỹ thuật giải thể. Công tác nghiên cứu kỹ thuật được giao cho Phòng Quản lý sản xuất. Mục đích của việc chấn chỉnh tổ chức nhằm làm cho bộ máy chỉ huy điều hành gọn nhẹ, giảm bớt đầu mối, rút người đưa ra đơn vị chiến đấu và thực hành chỉ đạo cơ sở sản xuất. Tháng 12 năm 1950, Phòng Quân khí được thành lập, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục Cung cấp. Phòng có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận, dự trữ, quản lý, phân phối, hướng dẫn sử dụng vũ khí, đạn dược cho các đơn vị trong toàn quân. Ngay sau khi thành lập, Phòng Quân khí đã lên đường phục vụ các các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung. Đến tháng 9 năm 1951, do yêu cầu phục vụ chiến đấu ngày càng lớn (quân số của Phòng lúc này có tới 570 người kể cả số quản lý ở các kho). Tổng cục Cung cấp quyết định chuyển Phòng thành Cục Quân khí. Sau một thời gian hoạt động, biên chế Cục Quân khí tăng lên 1.062 người, hệ thống tổ chức quân khí cũng từng bước được hình thành từ trên xuống dưới: ở đại đoàn có Ban quân khí, ở trung đoàn có Tiểu ban quân khí. Các tổ sửa chữa lưu động của Cục Quân giới được chuyển sang cho Cục Quân khí quản lý. Chuyển hướng sản xuất vũ khí: Do có nguồn vũ khí phương tiện kỹ thuật các nước anh em viện trợ, nguồn chiến lợi phẩm ngày càng dồi dào nên Đảng chủ trương chuyển hướng sản xuất vũ khí ở chiến trường phía Bắc. Quân giới tập trung sản xuất mìn, lựu đạn và bộc phá. Việc sản xuất đạn cối, đạn súng trường và súng badôca, SKZ giảm dần. Đến năm 1952 các xưởng phía Bắc ngừng sản xuất 9 loại vũ khí, trong đó có bom phóng, badôca, SKZ, các loại cối. Thay vào đó, việc sản xuất lựu đạn, mìn, bộc phá và các bộ phận thay thế súng pháo phục vụ cho sửa chữa được tăng cường. Đến năm 1954, các xưởng sản xuất được 400 bộ phận với hơn 50.000 sản phẩm. Đồng thời, việc sửa chữa pháo, cối cũng được tăng cường. Tại các chiến trường phía Nam, quân giới vẫn tiếp tục đẩy mạnh sản xuấltcác loại vũ khí như những năm trước đây. Ở miền Đông và Tây Nam Bộ, các xưởng quân giới đều được tổ chức gọn nhẹ, dễ di chuyển để chống địch tăng cường đánh phá. Tại các xưởng này, ta đã chế tạo được súng và đạn SS (loại vũ khí không giật như SKZ). Ở Liên khu 5, các xưởng tăng cường sản xuất súng phóng bom và bom phóng, súng đạn SKZ, thủ pháo, bộc phá ống... với số lượng nhiều hơn, chất lượng cao hơn trước: đồng thời còn cử nhiều cán bộ khá về chuyên môn kỹ thuật tới các đơn vị làm Trưởng ban quân khí mặt trận, tỉnh đội, trung đoàn để tổ chức việc chuẩn bị vũ khí đạn dược và hướng dẫn bộ đội sử dụng vũ khí. Tạo nguồn vũ khí trang bị bằng thu của địch: Thực hiện phương châm lấy vũ khí địch để đánh địch, "vừa đánh vừa vũ trang", quân và dân ta đã thu được của địch một lượng vũ khí rất lớn, chiếm 68% tổng số vũ khí mà quân và dân ta sử dụng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt là trong cảc chiến dịch lớn, số vũ khí, trang bị của địch ta thu được càng nhiều: Trong chiến dịch Biên giới, ta thu 642 tấn vũ khí: chiến dịch Điện Biên Phủ ta thu trên 1.000 tấn vũ khí. Ở chiến trường Liên khu 5, năm 1951 trong trận diệt đồn Kon Plong, ta thu 20 tấn vũ khí, đủ trang bị cho 4 đại đội. Trong trận An Khê (1952), ta thu 100 tấn, có cả pháo phòng không 88mm, đại bác 155mm và nhiều súng liên thanh các cỡ. Số vũ khí này đủ trang bị cho 4 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trợ chiến... Tính từ 1950 đến 1954 ta thu được của địch 319.359 khẩu súng bộ binh và hàng trăm khẩu pháo các loại. Số vũ khí đó đủ trang bị cho hàng chục trung đoàn. Tranh thủ nguồn viện trợ vũ khí của các nước anh em: Từ sau chiến thắng Biên giới, ta có điều kiện tiếp nhận viện trợ vũ khí của các nước anh em với số lượng ngày càng tăng, năm 1950 là 1.018 tấn, năm 1954 là 6.164 tấn1 (Hồ sơ số 674, Phông Viện trợ quốc tế, Lưu trữ Tổng cục Hậu cần, tr.139). Tính chung, nguồn vũ khí viện trợ chiếm khoảng 22% tổng số vũ khí mà quân dân ta sử dụng. Nhờ có nguồn vũ khí viện trợ, từ năm 1951 ở chiến trường miền Bắc. vũ khí chiến lợi phẩm (trừ các loại pháo) của các đơn vị chủ lực dần dần được chuyển sang trang bị cho bộ đội địa phương và dân quân du kích. Riêng Đại đoàn 320, chủ yếu chiến đấu ở vùng địch hậu nên vẫn trang bị bằng vũ khí chiến lợi phẩm để tiện việc bổ sung trong chiến đấu. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Năm, 2021, 09:28:58 am b) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và huấn luyên kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu chiến đấu góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến tới thắng lợi
Do có sự viện trợ vũ khí của các nước và yêu cầu ngày càng cao của tác chiến nên công tác nghiên cứu và huấn luyện kỹ thuật cũng đòi hỏi phải được đẩy mạnh. Để giải quyết khó khăn về nguyên liệu, nhất là gang thép, hóa chất, bảo đảm tiếp tục sản xuất mìn, lựu đạn và phụ tùng, từ năm 1951 đến 1953, Viện Nghiên cứu kỹ thuật và một số cơ sở đã nghiên cứu sản xuất gang, thép và hóa chất. Quân giới Liên khu 3 nghiên cứu sản xuất gang bằng lò cao ở Như Xuân (Thanh Hóa). Năm 1952, tại đây ta đã sản xuất được 200 tấn gang cung cấp kịp thời cho các xưởng ở Liên khu 4 trở vào; Viện Nghiên cứu kỹ thuật nghiên cứu luyện thép ở Bản Thi và công nghệ điều chế hóa chất để chế tạo thuốc nổ. Trọng điểm nghiên cứu kỹ thuật giai đoạn này là nghiên cứu khai thác, sử dụng, bảo quản vũ khí và nghiên cứu thiết kế, chế tạo các bộ phận, chi tiết thay thế phục vụ cho sửa chữa súng pháo. Cục Quân giới và Cục Quân khí đã tổ chức biên soạn nhiều tài liệu hướng dẫn sử dụng, tìm hiểu nguyên lý cấu tạo, cách bảo quản, sửa chữa các loai vũ khí trang bị và tổ chức nhiều kíp cán bộ tới các đơn vị để hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là các đơn vị pháo mặt đất và pháo phòng không. Kết quả nghiên cứu đã được đưa vào sản xuất hàng trăm loại chi tiết, bộ phận thay thế với hàng chục ngàn sản phẩm, kịp thời cung cấp cho các đơn vị và cơ sở, đáp ứng yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Từ năm 1951 đến 1954, ngành kỹ thuật đã tổ chức 22 lớp huấn luyện về kỹ thuật nghiệp vụ cho 1.427 cán bộ công nhân viên kỹ thuật. Mỗi lớp huấn luyện từ một đến ba tháng. Đối tượng huấn luyện chủ yếu là cán bộ, công nhân kỹ thuật các xưởng, công nhân viên quân khí ở cơ sở và một số trợ lý quân khí trung đoàn. Ngoài đào tạo huấn luyện trong nước, ta còn cử cán bộ đi học tập ở nước ngoài để tiếp thu kỹ thuật tiên tiến, nắm vững nguyên lý cấu tạo, sử dụng, bảo quản sửa chữa tốt các loại vũ khí được viện trợ. Như vậy, ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã rất quan tâm đến vấn đề bảo đảm vũ khí, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Chủ trương của Đảng là tự sản xuất, lấy vũ khí của địch, tổ chức mua sắm... Thời gian đầu, trang bị của ta chủ yếu là vũ khí thô sơ. Với tinh thần "ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm...", quân và dân ta nhất tề đứng lên đánh giặc. Phát huy trí thông minh, sáng tạo và sức mạnh của toàn dân, ta đã từng bước phát triển công tác sản xuất vũ khí và nghiên cứu kỹ thuật bảo đảm cho quân và dân ta thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ của Đảng. Việc triển khai các tổ chức kỹ thuật quân sự sớm được thực hiện. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, các tổ chức cơ quan quân giới ở trung ương, ở địa phương và hệ thống các xưởng vũ khí ở khắp nơi trong cả nước nhanh chóng được thành lập. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang. Tiếp sau đó, Tổng cục Cung cấp được thành lập đã thống nhất lãnh đạo, chỉ huy Cục Quân giới, Cục Quân khí cùng các cục chuyên ngành khác làm tốt chức năng sản xuất, sửa chữa, bảo quản, cấp phát, vận chuyển vũ khí trang bị, phục vụ đắc lực cho các lực lượng vũ trang chiến đấu và chiến thắng. Tùy theo hoàn cảnh, điều kiện mỗi giai đoạn, hoạt động kỹ thuật quân sự có hướng phát triển thích ứng. Những năm đầu kháng chiến (1946-1950), sức mạnh toàn dân được phát huy triệt để cho sự phát triển vũ khí, trang bị nhằm đáp ứng cho chiến tranh du kích. Nhiều hình thức động viên sức người, sức của trong nhân dân được phát động như tổ chức "Quỷ độc lập". "Tuần lễ vàng", "Quỹ đảm phụ quốc phòng",... để xây dựng cơ sơ vật chất cho hoạt động kỹ thuật quân sự. Do vậy, mặc dù phải chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù, các lực lượng vũ trang vẫn có vũ khí và sử dụng vũ khí một cách sáng tạo, có hiệu quả, từng bước đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của địch, từng bước giành được thế chủ động chiến lược. Sau năm 1950, ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của các nước anh em, nhờ đó, tiềm lực kỹ thuật quân sự phát triển nhanh chóng, tạo nên bước chuyển biến mới về chất trong sự phát triển vũ khí, trang bị kỹ thuật. Đồng thời, ta đã điều chỉnh hoạt động kỹ thuật quân sự phù hợp với tình hình mới. phát huy được tác dụng của vũ khí, trang bị kỹ thuật được viện trợ. Công tác nghiên cứu kỹ thuật quân sự luôn được chú trọng. Ta đã tiếp cận được với tri thức khoa học kỹ thuật của thời đại và đã có những vận dụng sáng tạo phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ta đã chế tạo thành công một số loại vũ khí tương đối hiện đại (súng đạn badôca, SKZ, AT, SS...) đáp ứng yêu cầu cấp thiết của kháng chiến. Trong suốt cuộc kháng chiến, ta vừa chú ý sản xuất vũ khí cơ bản, thô sơ cung cấp cho bộ đội và dân quân du kích, vừa cố gắng chế tạo vũ khí tương đối hiện đại cung cấp cho bộ đội chủ lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển chiến thuật... Công tác huấn luyện kỹ thuật quân sự đã góp phần xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ, công nhân ngay trong chiến tranh, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, sửa chữa bảo quản, khai thác sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật. Việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật quân sự cũng đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Tuy đã đạt được những kết quả đáng kể, song bên cạnh đó cùng còn những hạn chế như: một số vũ khí do ta chế tạo chưa phù hợp với khả năng công nghệ, thiết bị, vật liệu... gây lãng phí, chất lượng còn thấp, ảnh hưởng tới kết quả chiến đấu: sự điều chỉnh tổ chức, biên chế ngành kỹ thuật quân sự những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến tiến hành quá nhanh, chưa chú ý đầy đủ tới việc giải quyết mối quan hệ giữa tự lực, tự cường và viện trợ của nước ngoài; việc giải thể Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự (năm 1953), cũng như việc đình chỉ sản xuất một số loại vũ khí và một số loại nguyên vật liệu... làm cho công tác nghiên cứu kỹ thuật quân sự bị gián đoạn... Mặc dù có một số thiếu sót, nhưng những phương hướng, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đề ra cho công tác kỹ thuật quân sự đã được thực tiễn lịch sử 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp chứng minh là chính xác, sáng tạo. Công tác kỹ thuật quân sự đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo cơ sở cho việc xây dựng ngành kỹ thuật quân sự trong những giai đoạn sau. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:04:26 am II- VẤN ĐỀ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ (1954 - 1975)
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, công tác bảo đảm vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đóng vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; đồng thời bảo đảm cho quân và dân ta ở miền Nam "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Vấn đề bảo đảm vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự cho lực lượng vũ trang diễn ra trong điều kiện mới của lịch sử: - Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng yêu chuộng hoà bình, công lý trên toàn thế giới, đặc biệt là sự chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhờ có sự chi viện đó, ta có được một khối lượng lớn vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh hiện đại. - Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp quốc phòng. Nhưng do xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nên nền công nghiệp của đất nước nói chung còn nhiều mặt hạn chế. - Trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, quân đội ta đã lớn mạnh, ta thu được một khối lượng lớn vũ khí, trang bị của địch, có thêm kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề kỹ thuật quân sự; hệ thống tổ chức các ngành kỹ thuật đã được hình thành, các cơ sở vật chất kỹ thuật để tự sản xuất một số vũ khí thông thường được xây dựng... Nhưng trang bị vũ khí còn thiếu thống nhất, nền nếp quản lý, chỉ huy ở mỗi đơn vị còn khác nhau; trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên kỹ thuật còn thấp... - Kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế và quân sự đứng hàng đầu các nước đế quốc. Với sức mạnh của vũ khí, trang bị và trình độ khoa học công nghệ cao, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc nước ta với quy mô lớn và hết sức ác liệt. Tình hình trên đây tác động trực tiếp đến các mặt hoạt động trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta, trong đó có Vấn đề bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:06:02 am 1. Xây dựng và phát triển ngành kỹ thuật quân sự từng bước tiến lên chính quy, hiện đại bảo đảm vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang
a) Xây dựng và phát triển ngành kỹ thuật quân sự từng bước tiến lên chính quy, hiện đại Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đã sớm để ra chủ trương xây dựng quân đội nhân dân từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Ngày 5 tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết "Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng". Nghị quyết xác định: Tăng cường xây dựng quân đội nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân ta. Cần phải xây dựng quân đội ta thành một quân đội cách mạng, chính quy tương đối hiện đại... Tháng 3 năm 1957, Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) phê chuẩn Kế hoạch xây dựng quân đội 5 năm (1955 - 1959). Một trong những nội dung quan trọng của kế hoạch này là: chú trọng đào tạo nhân viên kỹ thuật, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ biết cách giữ gìn và sử dụng vũ khí, trang bị mới. Để xây dựng, phát triển ngành kỹ thuật quân sự tiến lên chính quy, hiện đại, ta đã tập trung vào mấy vấn đề cơ bản là xây dựng, phát triển về tổ chức, về cơ sở vật chất kỹ thuật và về con người. Xây dựng, phát triển vế tổ chức và cơ sở vật chất kỹ thuật: Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, trang bị của quân đội ta chủ yếu vẫn là súng bộ binh với gần 160.000 khẩu gồm nhiều chủng loại, chất lượng kỹ thuật thấp... Từ năm 1958, nhờ có viện trợ về vũ khí, phương tiện kỹ thuật, nên bộ đội ta được trang bị thêm vũ khí mối như súng CKC, AK, RPĐ, đại liên và một số loại pháo mặt đất, pháo phòng không, tăng thiết giáp, máy bay, tàu chiến... cùng các phương tiện bảo đảm như ô tô, máy thông tin... Do vậy, quân đội ta đã từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Cụ thể là: Đến năm 1960, về bộ binh quân đội ta có 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn, 12 trung đoàn. Pháo binh có 4 lữ đoàn, 2 trung đoàn được trang bị pháo nòng dài 122mm, pháo chống tăng 85mm và cối, tổng số có 3.000 khẩu với 2.000 ô tô kéo pháo. Phòng không có 8 trung đoàn, trang bị pháo phòng không 57ram, 100mm và rađa cảnh giới. Tăng thiết giáp có một trung đoàn xe tăng T.34 và pháo tự hành với 35 xe tăng T.34, 16 xe thiết giáp CAY.76. Thông tin có 4 trung đoàn cả vô tuyến và hữu tuyến điện. Bộ đội phòng hoá có 1 tiểu đoàn và 8 phân đội súng phun lửa, 214 xe đặc chủng, 400 mặt nạ và quần áo phòng độc. Không quân có 1 trung đoàn máy bay vận tải IL.14 và AN.2. Hải quân có 2 đoàn tàu tuần tiễu ven biển với 4 tàu trọng tải 50 tấn, 24 tàu trọng tải 79 tấn, vũ khí trên tàu có pháo phòng không 40mm và 20mm, rađa kiểu K.513. Vận tải có 3 trung đoàn xe ô tô và một đội ca nô. Từ năm 1961, vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự của ta lại được nâng cao thêm một bước mới, có nhiều chủng loại hiện đại hơn, số lượng tăng thêm. Mỗi sư đoàn bộ binh được trang bị 5.000 súng bộ binh mới, 174 pháo và súng cối, 40 pháo phòng không 37mm và 20mm 190 ô tô vận tải và xe kéo pháo, một bộ cầu nhẹ, 250 máy vô tuyến điện và 36 tổng đài với 300 máy điện thoại, 300km dây. Sức mạnh chiến đấu của sư đoàn bộ binh đã tăng lên rõ rệt. Pháo binh được tổ chức thành 70 tiểu đoàn, 100 đại đội với 1.000 khẩu pháo, 1.700 súng cối và ĐK.7. Tăng thiết giáp có 1 trung đoàn xe tăng gồm 3 tiểu đoàn T.34, T.54, PT.76 và pháo tự hành. Thông tin tổ chức thành các trung đoàn và trung tâm thông tin ở các quân khu, quân chủng được trang bị máy vô tuyến điện 50W, 400W, 1.000W. Phòng không có 12 trung đoàn được trang bị các loại pháo phòng không 37mm, 57mm và 100 mm. Binh chủng rađa ra đời với 3 trung đoàn rađa cảnh giới. Bắt đầu hình thành khung của trung đoàn tên lửa phòng không (nhưng chưa có vũ khí). Không quân có thêm các máy bay L.12, MI.4, MIG.17 tổ chức thành 3 trung đoàn. Hải quân đẵ có 100 tàu gồm các loại tàu tuần tiễu, tàu phóng lôi, tàu săn ngầm, tàu vận tải, tàu trinh sát. Đến năm 1964, quân đội ta đã có đủ 3 quân chủng Lục quân, Phòng không - Không quân và Hải quân. Vũ khí, khí tài của các quân chủng đều thống nhất và tương đối hiện đại. Tháng 8 năm 1965, khi đế quốc Mỹ bắt đầu mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, các lực lượng vũ trang chuyển sang biên chế thời chiến. Vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại được tăng thêm, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được tăng cường. Trong năm 1965 bộ đội địa phương đã có 28.000 người được tổ chức thành 16 tiểu đoàn, 32 đại đội và các phân đội binh chủng như pháo phòng không, pháo bờ biển, công binh: lực lượng dân quân tự vệ có khoảng hai triệu người với 3.000 tô, đội bắn máy bay bay thấp và một số đội pháo binh bờ biển. Bộ đội chủ lực, chỉ tính riêng bộ binh đã tăng gấp đôi với 10 sư đoàn, 6 trung đoàn và một số tiểu đoàn. Bộ đội pháo binh cũng tăng gấp đôi quân số. Lực lượng thiết giáp tăng gấp 6 lần. Thông tin tăng gấp 3 lần. Đặc biệt, bộ đội phòng không phát triển rất nhanh lên tới 21 trung đoàn, 41 tiểu đoàn pháo phòng không và 3 trung đoàn tên lửa SAM2. Không quân có 3 trung đoàn máy bay MIG.17, MIG.19. Bộ đội rađa có trung đoàn rađa cảnh giới, 5 tiểu đoàn rađa bờ biển, 5 đại đội rađa dẫn đường bay. Trong quá trình đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, quân đội ta cũng có bước tiến nhảy vọt về vũ khí, phương tiện kỹ thuật mới và ngày càng hiện đại. Đến năm 1972, lục quân đã có thêm tên lửa vác vai, tên lửa chống tăng, pháo phòng không tự hành 2 nòng, pháo phòng không tự hành 4 nòng. Pháo binh có thêm pháo tầm xa 130mm. Phòng không có thêm tên lửa SAM3. Không quân-có 4 trung đoàn: MIG.17, MIG.19, MIG.21. Ngoài ra, quân đội ta còn được viện trợ 75.000 xe ô tô và xe bánh xích kéo pháo. Tổng số hàng viện trợ đến năm 1972 gồm 1.515.000 tấn các loại. Đi đôi với hiện đại hoá vũ khí, phương tiện kỹ thuật, ta đã từng bước hiện đại hoá công tác bảo đảm kỹ thuật. Từ chỗ là một bộ phận trong hệ thống công tác hậu cần, công tác kỹ thuật quân sự có bước phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn chỉnh, trở thành một ngành độc lập của từng quân chủng, binh chủng rồi thành hệ thống của toàn quân. So với thời kỳ chống Pháp, công tác bảo đảm kỹ thuật quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ phát triển cao hơn, cả về khối lượng, nội dung, trình độ và quy mô. Sự xuất hiện nhiều binh chủng, quân chủng mới với vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại làm cho công tác bảo đảm kỹ thuật thêm đa dạng, phức tạp. Đảng và quân đội ta đã sớm đề ra những chủ trương đúng đắn và thực hiện nhiều biện pháp phù hợp, sáng tạo để phát huy vai trò của vũ khí phương tiện kỹ thuật như tổ chức huấn luyện hướng dẫn cho bộ đội nắm vững và làm chủ kỹ thuật mới, sử dụng có hiệu quả; xây dựng hệ thống nhà xe, pháo, kho vật liệu, đạn dược, các trạm, nhà máy sửa chữa; xây dựng hệ thống quy tắc chế độ tài liệu kỹ thuật cần thiết cho công tác bảo đảm kỹ thuật; cải tiến và hoàn thiện một số vũ khí trang bị phù hợp với điều kiện chiến trường; tích cực chủ động nghiên cứu cải tiến chế tạo một số vũ khí đồng thời chú ý tìm hiểu vũ khí, kỹ thuật mới của địch, từ đó tìm ra các biện pháp chống phá, hạn chế tác dụng của các loại vũ khí kỹ thuật hiện đại và các thủ đoạn tinh vi nham hiểm của chúng. Nhờ có chủ trương đúng đắn, kịp thời, ta đã tổ chức tốt việc bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và tác chiến trên các chiến trường miền Nam. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:06:42 am Xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức cơ quan kỹ thuật:
Nhiều năm trong kháng chiến chống Mỹ, công tác hậu cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả hai mặt công tác hậu cần và kỹ thuật. Nhưng do sự phát triển trang bị kỹ thuật quân sự nên các tổ chức cơ quan kỹ thuật cũng dần phát triển thành hệ thống. Bộ Tổng Tham mưu có 2 Cục phụ trách công tác trang bị. Cục Tác chiến, căn cứ vào ý định xây dựng quân đội định ra các chủng loại và số lượng vũ khí, phương tiện kỹ thuật. Cục Quân lực lo việc trang bị vật tư, tạo nguồn vũ khí, kiểm tra tiếp nhận và cấp phát cho các đơn vị thuộc các quân chủng, binh chủng và các lực lượng vũ trang địa phương hoặc đưa vào kho dự trữ chiến lược. Tổng cục Hậu cần có ba cục: Cục Quân khí, Cục Quân giới, Cục Quản lý xe máy là những cơ quan có chức năng chỉ đạo, quản lý các hoạt động liên quan đến mặt công tác kỹ thuật đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật trong toàn quân. Riêng Cục Quân giới được tổ chức như cơ quan quản lý công nghiệp. Trực thuộc Cục có 13 xí nghiệp, Viện Thiết kế vũ khí, Viện Công nghiệp và 2 trường đào tạo. Tại các quân chủng Hải quân và Phòng không - Không quân có Cục Kỹ thuật chỉ đạo hệ thống cơ quan kỹ thuật của các đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh. Các cục này đều được thành lập vào cuối năm 1960, bao gồm nhiều chuyên ngành kỹ thuật... Đến năm 1974, khối lượng công tác kỹ thuật phát triển mạnh, trong khi khối lượng công tác hậu cần cũng ngày một tăng. Vì vậy, ngày 5 tháng 4 năm 1974. Quân uỷ Trung ương ra Nghị quyết số 39/QUTƯ về việc thành lập Tổng cục Kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam và đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng chuẩn y cử đồng chí Đinh Đức Thiện giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Về chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật, nghị quyết chỉ rõ: "Tổng cục Kỹ thuật là cơ quan giúp Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo các công tác quản lý và bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự và trực tiếp quản lý các xí nghiệp quốc phòng...". Sau khi có Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần đã chuyển dần một bộ phận Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Văn phòng, Phòng Tài vụ cùng các Cục Quân giới, Cục Quân khí, Cục Quản lý xe máy để hình thành Tổng cục Kỹ thuật. Ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Quốc phòng ra quyết định chuyển Viện Kỹ thuật quân sự thuộc Bộ Tổng Tham mưu về trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật. Như vậy, trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống tổ chức cơ quan, cơ sở kỹ thuật quân sự được xây dựng, phát triển nhanh chóng tương ứng với sự phát triển vê vũ khí, trang bị kỹ thuật của quân đội đang xây dựng theo hướng tiến lên chính quy, hiện đại. Tuy còn một số hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển tổ chức và cơ chê điều hành phối hợp giữa các cơ quan, nội dung công tác kỹ thuật có chỗ chưa phù hợp, đầy đủ nhưng kết quả của việc xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức kỹ thuật đã góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kỹ thuật trong chiến tranh. Về huấn luyện, đào tạo kỹ thuật: Thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, hiện đại, trong khi rất coi trọng vũ khí, trang bị. Đảng ta luôn khẳng định vai trò quyết định của con người, coi con người sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự là yếu tố quyết định nhất tạo sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã đề ra nhiều chủ trương và biện pháp huấn luyện, đào tao cán bộ chỉ huy và nhân viên kỹ thuật như mở các lớp tâp huấn, huấn luyện tại chức, bổ túc ngắn hạn, đào tạo cơ bản, dài hạn, cử người đi học ở nước ngoài, mở các trường kỹ thuật, tuyển chọn những người có trình độ văn hoá và khoa học kỹ thuật bổ sung cho quân đội. Đưa kiến thức cơ bản về khoa học kỹ thuật quân sự vào chương trình đào tạo, huấn luyện quân sự. Tổ chức tổng kết kinh nghiệm để học tập sau mỗi đợt công tác hoặc sau mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch. Nhiều chuyên gia kỹ thuật quân sự được mời đến giảng dạy ở các trường quân đội hoặc hướng dẫn ngay tại đơn vị, có khi cả trong chiến đấu... Từ năm 1954 đến 1957, ngành quân khí và ngành xe máy đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn công tác chuyên môn kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật từ đơn vị cơ sở đến cơ quan quân khu, quân chủng. Từ năm 1957, ta bắt đầu mở các trường đào tạo cán bộ kỹ thuật cơ bản chính quy và dài hạn. Trường Hậu cần được tổ chức lại và mở rộng thành Trường Sĩ quan Hậu cần đào tạo và bổ túc cán bộ, trong đó có các hệ kỹ thuật như quân giới, quản lý xe máy, xăng dầu. Cùng thời gian này, Cục Quân khí và Cục Quân giới cũng mở các trường đào tạo nhân viên kỹ thuật và các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý để tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ của Liên Xô, Trung Quốc. 300 cán bộ được cử đi học ở nước bạn. Từ tháng 8 năm 1960, để thực hiện Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương về đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật cho chiến trường miền Nam và cho cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, Cục Quân giới liên tiếp mở 6 khoá huấn luyện về kỹ thuật nhồi lắp lựu đạn, mìn và sửa chữa vũ khí bộ binh, súng pháo phòng không cho dân quân tự vệ. Sau đó các trường kỹ thuật như Trường kỹ thuật 557 chuyên đào tạo cán bộ, công nhân viên quân giới để đưa vào chiến trường miền Nam và Trường trung cấp kỹ thuật quân giới đào tạo, bổ túc cán bộ kỹ thuật trung cấp đáp ứng yêu cầu phát triển vũ khí trang bị bảo đảm cho chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc được thành lập. Từ năm 1965 Đảng và Nhà nước quyết định mở Trường Đại học Kỹ thuật quân sự và 10 trường trung cấp kỹ thuật chuyên ngành, tuyển học sinh cấp ba và cán bộ tốt nghiệp đại học vào quân đội, huấn luyện thành nhân viên, cán bộ kỹ thuật quân sự. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được cử ra nước ngoài học tập về kỹ thuật quân sự. Tính đến năm 1974, Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đã đào tạo được hơn 1.000 kỹ sư kỹ thuật quân sự. Từ năm 1965 đến năm 1972, các trường lái xe thuộc Cục Quản lý xe máy và các quân khu, quân chủng đã đào tạo được 57.770 lái xe và 15.374 thợ sửa chữa; bổ túc được 24.264 lái xe và 10.000 thợ sửa chữa, riêng tuyến chi viện chiến lược 559, trong thời gian này đã được bổ sung 9.542 lái xe. Đây là lực lượng nòng cốt bảo đảm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngoài việc đào tạo, các trường trong quân đội còn tổ chức dịch và biên soạn, xuất bản nhiều tài liệu khoa học, kỹ thuật phổ biến rộng rãi tới cán bộ, chiến sĩ để nâng cao trình độ khai thác sử dụng vũ khí trang bị ngày càng hiện đại. Công tác nghiên cứu kỹ thuật quân sự trong nhiều năm được giao cho cơ quan quản lý kỹ thuật kiêm nhiệm hoặc giao cho cơ quan nghiên cứu kỹ thuật kiêm chức năng quản lý. Mặt khác, ta cũng thành lập lại Viện Nghiên cứu kỹ thuật vào năm 1960. Tuy còn một số hạn chế nhưng cũng đã đáp ứng các nhu cầu bảo quản, cải tiến thiết kế, chế tạo một số vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với cách đánh của ta, nghiên cứu đề xuất các biện pháp đối phó có hiệu quả với hầu hết các vũ khí kỹ thuật, thủ đoạn kỹ thuật luôn được cải tiến hiện đại hoá của địch. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Năm, 2021, 07:07:34 am b) Tổ chức kỹ thuật để vận chuyển, bảo đảm vũ khí, trang bị cho các chiến trường
Sau khi có Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (1959) quyết định tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang ta chiến đấu ở chiến trường miền Nam trở thành nhiệm vụ cấp thiết và rất khó khăn phức tạp. Về tổ chức kỹ thuật để vận chụyển chi viện cho miền Nam: Việc vận chuyển vũ khí phương tiện kỹ thuật từ miền Bắc vào miền Nam qua tuyến chi viện chiến lược 559 (cả đường bộ và đường biển) thời kỳ đầu rất khó khăn vĩ phải tiến hành bí mật, lại bị địch đánh phá ngăn chặn... Do vậy, việc tổ chức đóng gói vũ khí phương tiện kỹ thuật là khâu rất quan trọng, tốn nhiều công sức. Tính từ năm 1959 đến 1972, các đơn vị ở miền Bắc đã sử dụng tới 6.790.000 hòm hộp các loại, để bao gói vũ khí, phương tiện kỹ thuật chuyển vào chiến trường. Từ năm 1959 đến 1974, ta đã chuyển vào chiến trường miền Nam được 167.560 tấn vũ khí, đạn dược (nếu kể cả chiến trường Lào, Cam-pu-chia là 204.832 tấn), chưa tính số lượng vũ khí, đạn dược do bộ đội mang theo khi hành quân (gồm 2 triệu súng bộ binh, 7.550 súng cối các cỡ, 3.670 súng máy phòng không, 108 ĐKB... 394 triệu viên đạn súng bộ binh, 1,15 triệu viên đạn chống tăng, 3,036 triệu viên đạn cối... 8.770 máy thông tin vô tuyến, 16.000 máy điện thoại, 159 xe tăng, thiết giáp, 2.000 xe ô tô, 535.510 tấn xăng dầu1 (Biên niên sự kiện lịch sử quân khí, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H.1996, tr.333-334),.v.v... Ngoài vũ khí phương tiện kỹ thuật chuyển từ miền Bắc vào, các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam còn tự sản xuất lựu đạn, mìn, quân cụ, các vũ khí thô sơ và thu vũ khí trang bị của địch. Nhờ đó đã đáp ứng yêu cầu bảo đảm trang bị cho việc xây dựng phát triển lực lượng vũ trang và chiến đấu thắng lợi ở chiến trường miền Nam. Về công tác bảo đảm kỹ thuật: Bảo đảm kỹ thuật cho lực lượng vũ trang chiến đấu ở chiến trường miền Nam chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm kỹ thuật vũ khí. Những tổ chức bảo đảm kỹ thuật ở các địa phương, đơn vị vừa làm nhiệm vụ sửa chữa, vừa sản xuất vũ khí cơ bản và quân cụ, giống như trong kháng chiến chống Pháp. Hầu hết các thiết bị, dụng cụ, cán bộ nhân viên kỹ thuật, thợ sửa chữa, sản xuất được đưa từ miền Bắc vào (riêng Trường 557 và Phân viện Kỹ thuật sửa chữa đã đào tạo bổ sung cho chiến trường 3.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật. Khu 5, Nam Bộ, mỗi nơi nhận được từ 250 đến 300 tấn thiết bị, dụng cụ để xây dựng 2 xưởng quân khí). Mỗi khi có chiến dịch hoặc đợt hoạt động quân sự lớn. Bộ lại tăng cường cho các chiến trường các đội sửa chữa có đầy đủ dụng cụ và cán bộ nhân viên kỹ thuật. Riêng Cục Quân giới đã cử 10 đội sửa chữa tăng cường cho các chiến trường. Từ năm 1972 đến năm 1975, ta mở các chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn ở chiến trường miền Nam, công tác bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch cũng có sự phát triển cao hơn những năm trước. Trong chiến dịch Trị Thiên năm 1972 đã tổ chức 4 đại đội sửa chữa vũ khí, 9 trạm sửa chữa vừa, 13 trạm sửa chữa nhỏ với quân số 367 người. Quá trình diễn ra chiến dịch, lực lượng kỹ thuật đã tiến hành 3.179 lượt sửa chữa nhỏ và vừa đối với xe xích, 955 pháo mặt đất, 8.131 lượt pháo phòng không. Đồng thời có 15.519 khẩu súng AK, 2.228 khẩu B.40, 86 khẩu pháo phòng không 37mm, 35 khẩu pháo phòng không 57mm, 15 pháo Đ.74, 18 pháo 130mm được bổ sung. Đây là chiến dịch đầu tiên ta sử dụng vũ khí A.72, B.72 và xe tăng T.34... Chiến dịch đã tiêu thụ 21.376 tấn vũ khí đạn. Bảo đảm kỹ thuật cho tuyến vận tải chiến lược 559 cũng có khối lượng rất lớn và phức tạp. Do địch đánh phá ác liệt, vũ khí phương tiện kỹ thuật của ta bị tổn thất lớn, có năm bị phá huỷ trên 2.000 xe và hàng trăm tấn vũ khí, khí tài; số vũ khí, phương tiện bị hư hỏng cần sửa chữa còn cao hơn. Để bảo đảm cho tuyến 559 hoạt động, có năm hậu phương phải bổ sung thêm 1.500 xe ô tô, nhiều xe máy chuyên dùng và 500 khẩu súng pháo phòng không. Bộ Quốc phòng cho Bộ Tư lệnh 559 được phép dùng từ 18% đến 20% quân số làm nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật. Đây là tỷ lệ cao chưa từng có ở bất kỳ binh chủng nào. Toàn tuyến có 3 xưởng sửa chữa ô tô và 1 nhà máy sửa chữa vũ khí, khí tài. Các sư đoàn khu vực và sư đoàn binh chủng đều có xưởng sửa chữa vừa, các trung đoàn vận tải có trạm sửa chữa nhỏ tăng cường. Việc bảo đảm kỹ thuật cho tuyến 559 còn được thực hiện tích cực ở tuyến hậu phương. Các viện nghiên cứu kỹ thuật của quân đội phối hợp với các viện của Nhà nước tập trung nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để chống phá các thủ đoạn đánh phá của địch ở tuyến 559 như chống phá bom từ trường, bom nổ chậm, bom vướng nổ, hàng rào điện tử, v.v. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:09:11 am 2. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng phục vụ yêu cầu chiến đấu của quân đội
a) Xây dựng và phát triển các nhà máy sản xuất vũ khí, đạn Sau kháng chiến chống thực đân Pháp, trước yêu cầu của tình hình mới, ngành quân giới được chấn chỉnh, tổ chức, sắp xếp lại lực lượng. Từ 13 xưởng trước đây, đến nay toàn quân chỉ còn 6 xưởng sản xuất vũ khí. Thực hiện chủ trương chung về giảm quân số thường trực sau chiến tranh, phần lớn cán bộ nhân viên quân giới chuyển ngành. Từ 3.673 người đầu năm 1954, đến cuối năm 1954 chỉ còn 940 người. Đầu năm 1959, Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15 về chuyển hướng đấu tranh cách mạng ở miền Nam thì yêu cầu sản xuất trở lại một số vũ khí mới được đặt ra một cách cấp thiết. Hai nhà máy Z1 và Z2 được mở rộng để sản xuất một số bộ phận khí tài quang học và 20 triệu viên đạn K56 K53... Đến năm 1960, Trung Quốc lại giúp ta mở rộng 2 nhà máy Z1 và Z2 lần nữa cùng với 6 nhà máy khác. Nhờ đó ta đã sản xuất được khối lượng lớn vũ khí, đạn (nhà máy Z1 có thể sản xuất được 3 vạn khẩu CKC và 2 vạn khẩu AK mỗi năm; nhà máy Z2 nâng sản lượng đạn con lên 40 triệu viên và 12 triệu viên đạn 12,7mm một năm; nhà máy 6.501 đúc 1 triệu vỏ đạn cối 60mm và 82mm mỗi năm; nhà máy 6.505 sản xuất 1 triệu ngòi đạn cối, 5 vạn ngòi đạn B40, 1 vạn ngòi mìn hẹn giờ..). Các nhà máy trên đã tạo thành một hệ thống sản xuất súng, đạn bộ binh thế hệ mới khá hoàn chỉnh. Năm 1970, dự đoán trước tình hình quốc tế sẽ diễn ra phức tạp hơn nên ta đề nghị với Trung Quốc giúp đỡ xây dựng một số nhà máy nữa như: Nhà máy sản xuất súng B40, B41; Nhà máy sản xuất ngòi đạn pháo phòng không; Nhà máy sản xuất thuốc đạn, chất nổ... (Tính riêng súng B40 đến khi kết thúc chiến tranh, Nhà máy V125 đã sản xuất được 40.000 khẩu). Cục Quản lý xe có một số nhà máy sản xuất bộ phận thay thế như các bộ phận của máy nổ, bánh răng xe ô tô, bình điện, phục hồi đắp lốp. Cục Xăng dầu có Nhà máy Q164 sản xuất các bể chứa xăng dầu và sửa chữa máy bơm xăng. Cục Vật tư có Nhà máy Z176 chuyên sản xuất sơn và chi tiết bằng chất dẻo. Với hệ thống các nhà máy sản xuất trên, kết hợp với việc nghiên cứu của Viện Kỹ thuật quân sự, ta đã thiết kế và chế tạo thành công nhiều loại vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu cách đánh ở các chiến trường như: mìn bám có ngòi chống tháo, trang bị cho đặc công đánh máy bav địch ở các sân bay; mìn đáy (thuỷ lôi) cung cấp cho đặc công nước đánh tàu di chuyển trên sông; phương tiện phá rào (FR) gồm một đoạn dây dài buộc những ống bộc phá nối tiếp nhau kích nổ bằng ngòi quán tính, dùng quả tên lửa phóng cả chuỗi bộc phá để phá tan cả hệ thống hàng rào và mìn. Ngoài ra, ta còn cải tiến tên lửa đất đối đất thành tên lửa phòng không để đánh trả máy bay địch trên tuyến 559; cải tiến nâng tầm bắn của ĐKB lên 15km bằng sử dụng 2 động cơ tên lửa ĐKB gắn vào nhau thành tên lửa hai tầng, dùng loại ngòi nhoi để điểm hỏa tầng sau. Đặc biệt, Viện Kỹ thuật quân sự còn cải tiến giàn tên lửa BM14 thành A12 (tháo giàn tên lửa BM14 thành từng ống pháo riêng biệt, rồi thiết kế ống pháo mới bằng tôn, lắp trên bệ gỗ nhẹ, toàn bộ chỉ nặng 10,5kg. Một tiểu đội có thể mang 12 ống. Tên lửa A12 chỉ cần 1 người từ xa cũng có thể bắn vào sân bay, căn cứ địch, tác dụng phá hoại rất lớn, phù hợp với cách đánh du kích và đặc công. Bên cạnh đó, ngành kỹ thuật quân sự còn nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chống nhiễu, góp phần cùng quân chủng Phòng không - Không quân bắn rơi máy bay B52,v.v. Như vậy, việc xây dựng và phát triển các nhà máy sản xuất vũ khí, đạn trong kháng chiến chống Mỹ giữ vai trò rất quan trọng. Nó cùng với một số nhà máy sản xuất một số phương tiện kỹ thuật quân sự khác do quân đội quản lý trở thành nòng cốt của nền công nghiệp quốc phòng, đáp ứng nhanh và đúng yêu cầu của chiến tranh. Qua việc sản xuất súng đạn ở các nhà máy quân giới trên miền Bắc và các xưởng quân giới ở các chiến trường, các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật và các xí nghiệp đã tập trung mọi cố gắng, phát huy trí thông minh sáng tạo, tinh thần tự lực tự cường đáp ứng được yêu cầu của chiến đấu. Tuy vậy, cũng có một số mặt hàng sản xuất công phu nhưng không sử dụng rộng rãi vì tác dụng hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu, hoặc có loại, chiến trường yêu cầu sản xuất, nhưng khi được cung cấp lại ít sử dụng như AT, lựu phóng, cối "Giải phóng"... Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Năm, 2021, 07:10:11 am b) Tăng cường công tác quản lý, xây dựng chế độ bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí trang bị
Tăng cường công tác quản lý xí nghiệp: Ngay từ trước những năm 1960, các nhà máy đã đặc biệt quan tâm đến quản lý kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất lao động. Mỗi nhà máy đều có phân xưởng bổ trợ (dụng cụ và sửa chữa cơ điện), có các phòng thí nghiệm, phòng đo lường kiểm định dụng cụ đo, có các phương tiện, nơi thí nghiệm, trường bắn... Tổng cục Hậu cần sớm ban hành điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) và yêu cầu các nhà máy thực hiện nghiêm ngặt. Các xí nghiệp qưôc phòng cũng sớm thực hiện thống kê số liệu ban đầu ở các khu sản xuất, theo kiểu mẫu của Nhà nước. Nhờ vậy, có thể kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hàng ngày, kiểm soát năng suất lao động... điều hành sản xuất một cách khoa học. Xây dựng chế độ bảo đảm kỹ thuật: Trong 2 năm 1955 và 1956, toàn quân đã kiểm tra kỹ thuật và kiểm tra hiệu chỉnh gần 16 vạn súng bộ binh. Qua đó, ta phát hiện ra phần lớn súng bộ binh đều bị hao mòn, hư hỏng và đã vận dụng công nghệ khoan đầu nòng súng và nắn nòng, phục hồi và tiếp tục sử dụng một số lớn vũ khí đáng lẽ phải huỷ bỏ. Với chủ trương xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại, trong lĩnh vực kỹ thuật, các văn bản quy định, điều lệ công tác ngành, các quy định vể sử dụng bảo quản và tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng loại vũ khí trang bị được xây dựng. Những tài liệu này thường được dịch từ tài liệu của các nước đã chế tạo và chuyển giao vũ khí, khí tài cho ta, nhưng được ta biên soạn lại cho phù hợp, sau đó được in thành sách và được Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, các quân binh chủng ban hành từ năm 1958. Trong công tác bảo đảm kỹ thuật thì việc bảo dưỡng kỹ thuật được coi là quan trọng nhất, vì công việc này vừa bảo đảm tình trạng kỹ thuật tốt, sẵn sàng chiến đấu, vừa có tính dự phòng hư hỏng và hạn chế hư hỏng. Đến năm 1965, ta đã thống nhất trong toàn quân chế độ bảo dưỡng cho tất cả vũ khí, khí tài. Ngay từ đầu những năm 60, Bộ Quốc phòng đã đặc biệt quan tâm đến việc cất giữ dự trữ vũ khí phương tiện kỹ thuật. Bộ đã dành một khoản kinh phí khá lớn cho việc mua sắm dụng cụ, xây dựng nhà kho ở các cấp. Cấp trung đoàn, sư đoàn có đủ các nhà kho đạn dược, nhà xe, nhà pháo, kho khí tài quang học, kho vật liệu bảo quản và sửa chữa. Những kho này được xây dựng theo thiết kế thống nhất, đúng quy cách kỹ thuật. Cấp Bộ có hệ thống kho dự trữ chiến lược trực thuộc các ngành quân khí, quản lý xe máy, vật tư kỹ thuật. Hệ thống kho này được bố trí trên toàn miền Bắc theo ý định tác chiến của Bộ. Đến năm 1965 ta đã xây dựng được 6 kho đạn, 1 kho vũ khí, 3 kho xe và 1 kho vật tư tổng hợp (mỗi kho đạn có 22 nhà kho, mỗi kho chứa 200 đến 250 tấn đạn). Cho đến trước khi xảy ra chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, tại hệ thống các kho dự trữ chiến lược đã có khoảng 20.000 tấn đạn được dự trữ. Tại hệ thống kho của các quân khu, quân chủng, lượng đạn dự trữ tương đương. Khi chiến tranh xảy ra, tất cả các kho dự trữ chiến lược, chiến dịch được sơ tán nên tuy bị địch đánh phá nhiều lần nhưng tổn thất không lớn. Khi sơ tán, ta đã đưa đạn dược vào trong hang, ra rừng, vào làng xóm, đồng thời vẫn liên tục tiếp nhận lượng vũ khí đạn dược do các nước anh em viện trợ. Có lúc tổng dự trữ các kho đạn lên tới trên 19 vạn tấn. Số đạn này ta để ở khắp nơi, ngoài 19 kho chứa, ta còn phân phát cất giấu 57.100 tấn trong các hang động, 52.779 tấn ở kho lán dã chiến trong rừng, 2.000 tấn ở trong nhà dân... Do hoàn cảnh chiến tranh không có điều kiện chấp hành đầy đủ mọi quy tắc chế độ bảo quản, bảo dưỡng nên hòm gỗ bị mục nhanh, đạn xuống cấp, gây ra nhiều vụ cháy nổ làm thiệt hại không nhỏ. Bảo dưỡng kỹ thuật là khâu đầu tiên duy trì tính năng vũ khí, khí tài, còn sửa chữa là để phục hồi tính năng đó. Vì vậy, ngay từ năm 1954 và suốt quá trình chiến tranh, ta đã rất quan tâm đến việc sửa chữa vũ khí, khí tài, coi đó là nguồn bổ sung thường xuyên cho chiến đấu. Vũ khí, phương tiện hư hỏng do nhiều nguyên nhân; chủng loại khác nhau thì tỷ lệ hư hỏng trong từng tình huống cũng khác nhau. Vì vậy, ta đã xây dựng các quy định về chế độ sửa chữa cho thích hợp với thời bình, thời chiến: phân cấp tình trạng kỹ thuật theo 5 cấp tương ứng với mức độ hư hỏng để phân cấp sửa chữa. Căn cứ vào định mức sửa chữa cho từng loại vũ khí, khí tài và phân cấp cho ngành kỹ thuật, Bộ Quốc phòng đã tổ chức mạng lưới sửa chửa cho từng ngành từ dưới lên, có sự điều tiết trang thiết bị hợp lý (như ngành quân khí, phân cấp sửa chữa cho cấp trung đoàn bộ binh đảm nhiệm sửa chữa nhỏ, cấp sư đoàn bộ binh và cấp trung đoàn binh chủng đảm nhiệm sửa chữa vừa, cấp quân khu có xưởng sửa chữa lớn...). Ở cấp chiến lược, những phân xưởng sửa chữa vũ khí, ban đầu nằm trong các nhà máy sản xuất, sau đó được tách dần ra thành các nhà máy sửa chữa lớn. Đến năm 1974, ngành quân khí có 4 nhà máy sửa chữa lớn, ngành quản lý xe máy có 5 nhà máy sửa chữa lớn. Bên cạnh đó, các ngành còn tổ chức nhiều đội sửa chữa cơ động. Binh chủng Thông tin, Công binh; Quân chủng Hải quân và Phòng không - Không quân đều có nhà máy sửa chữa lớn, các trang bị kỹ thuật thuộc quân, binh chủng mình. Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống các nhà máy, cơ sở sửa chữa của toàn quân đã phát huy hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu chiến đấu. Tuy nhiên, trong chiến tranh, việc mỗi ngành kỹ thuật đều có nhà máy sửa chữa chuyên ngành bố trí ở một vị trí nào đó là chưa phù hợp, vì các chiến trường, các đơn vị không có điều kiện đưa trang bị kỹ thuật hư hỏng từ các nơi về sửa chữa. Như vậy, so với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp thì vấn đề kỹ thuật quân sự trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược có sự phát triển mới cả về quy mô tổ chức và tính chất phức tạp trong các mặt hoạt động. Để bảo đảm về kỹ thuật quân sự cho lực lượng vũ trang ta đánh thắng đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực quân sự, khoa học kỹ thuật mạnh hơn ta nhiều lần, Đảng, Nhà nước và quân đội ta đã có nhiều chủ trương và tổ chức thực hiện toàn diện các giải pháp. Đó là xây dựng và phát triển ngành kỹ thuật quân sự từng bước lên chính quy hiện đại cả về tổ chức, về cơ sở vật chất kỹ thuật và con người, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng... thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật quân sự trong quân đội. Trên cơ sở ấy, chúng ta đã tổ chức bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang hoạt động tác chiến trên các chiến trường với quy mô ngày càng lớn, đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và làm thất bại các chiến lược chiến tranh của chúng ở miền Nam. Đặc biệt là bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 kết thúc chiến tranh. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:34:54 pm III- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC VỀ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG 30 NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC
Trong 30 nàm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giữa ta và địch luôn có sự chênh lệch lớn về vũ khí, trang bị kỹ thuật. Pháp và Mỹ đều là những nước đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ hơn hẳn ta. Đặc biệt trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại của chúng đã nhanh chóng chuyến thành sức mạnh của vũ khí trang bị kỹ thuật mới. Đặc trưng của thế hệ vũ khí trang bị kỹ thuật mới của Mỹ thời kỳ này là đã có sự hỗ trợ rộng rãi của máy tính điện tử, công nghệ mạch tổng hợp quy mô lớn cùng những phát triển mới về vật lý, kỹ thuật điện tử - tin học. Vì vậy, đây là các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại nhất mà trước đó chưa thể có. Nó có uy lực lớn trong chiến tranh, tạo cho đế quốc Mỹ có ưu thế hơn hẳn đối phương. Điều này được thể hiện ở mấy đặc điểm lớn: Một là, ưu thế tuyệt đối trên không, dựa trên các lực lượng chiến đấu rất mạnh, với các loại máy bay phản lực siêu âm hiện đại như F105, F4, F111 và cả máy bay chiến lược B52, máy bay trinh sát điện tử RF4C, SR7I, máy bay chiến tranh điện tử EB 66... Hai là, khả năng cơ động cao cả trên không, trên bộ, trên sông rạch bằng số lượng lớn máy bay vận tải, máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép MI 13, các tàu chạy nhanh trên sông, ven biển... Ba là, khả năng hỏa lực mạnh, độ chính xác ngày càng cao với các loại thế hệ vũ khí mới, tên lửa, bom đạn tự điều khiển, tự tìm đến mục tiêu. Độ chính xác cao đó được phát huy nhờ kết hợp với khả năng cơ động trinh sát - thông tin - chỉ huy có máy tính hỗ trợ. Bốn là, khả năng cao về trinh sát, phát hiện nhìn đêm và tiến hành chiến tranh điện tử... Bao trùm lên tất cả là khả năng chung về chỉ huy, điểu khiển, thông tin và tình báo. Với những đặc điểm nói trên, cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh phát triển theo hướng chiến tranh công nghệ cao. Đó là thách thức lớn lao mà quân, dân ta và các lực lượng khoa học kỹ thuật quân sự của ta phải đương đầu, đặc biệt là từ năm 1964 đến khi kết thúc chiến tranh. Trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, suốt 30 năm kháng chiến. Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân ta đã giải quyết đúng đắn và sáng tạo nhiều vấn đề to lớn và phức tạp, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình thực tế con người và đất nước Việt Nam nên đã góp phần tích cực vào thắng lợi chung của dân tộc. Từ thực tiễn lịch sử 30 năm kháng chiến, có thế rút ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược vê kỹ thuật quân sự, và đó cũng là những bài học kinh nghiệm: 1. Coi trọng vị trí của kỹ thuật quân sự, xây dựng ngành kỹ thuật quân sự theo hướng phát triển của thời đại. Kỹ thuật quân sự là lĩnh vực liên quan đến các hoạt động tổ chức sản xuất, tạo nguồn, nghiên cứu cải tiến, bảo đảm kỹ thuật và khai thác sử dụng các phương tiện kỹ thuật quân sự để bảo đảm cho các lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ quân sự. Phương tiện kỹ thuật quân sự gồm nhiều loại, trong đó vũ khí, trang bị là những loại chủ yếu và chiếm khối lượng lớn nhất. Đảng ta luôn coi kỹ thuật quân sự là một thành tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến thắng của các lực lượng vũ trang. Trong chiến tranh hiện đại, vai trò của kỹ thuật quân sự ngày càng lớn, vì nó trực tiếp tạo ra những thay đổi rõ rệt trong chiến đấu, chiến tranh. Đặt đúng vị trí của kỹ thuật quân sự trong sự nghiệp đấu tranh vũ trang, trong chiến tranh, tức là chúng ta đã nhận thức được tính tất yếu của sự phát triển kỹ thuật quân sự. Điều này được thể hiện trên mấy điểm lớn sau: a) Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng, Đảng ta đã không ngừng coi trong phát triển kỹ thuật quân sự, sớm đề ra và thực hiện một cách nhất quán ba biện pháp tạo nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật là chiếm của giặc, tự chế tạo và tranh thủ sự giúp đở của quốc tế. Đầu những năm 1930, ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã có nghị quyết về tổ chức các đội tự vệ và chỉ ra phương hướng tạo nguồn là "phải tìm cách lấy súng giặc mà trang bị cho mình, càng nhiều vũ khí càng tốt để huấn luyện và chiến đấu khi cần thiết". Đến giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa (năm 1940), Đảng đã tổ chức một số cơ sở làm bom và lựu đạn thô sơ; vận động nhân dân bí mật quyên góp lấy tiền mua sắm vũ khí cho các đội tự vệ du kích. Chỉ thị Sửa soạn Tổng khởi nghĩa nhấn mạnh: "Có hai cách kiếm vũ khí là: tự chế, mua sắm và chiếm của giặc", "Cái gì không tự chế được phải mua hoặc chiếm của địch...". Nhờ đó, phong trào đấu tranh vũ trang được đẩy mạnh. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, các biện pháp tạo nguồn nói trên được mở rộng ra cả nước, phát triển quy mô lớn để chuẩn bị lực lượng bước vào kháng chiến chống Pháp (khi bước vào kháng chiến toàn quốc, ta đã có 17.000 súng trường, 3.000 súng liên thanh, chuyển ra vùng căn cứ kháng chiến 40.000 tấn máy, vật tư.,xây dựng 200 xưởng quân giới). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ta tiếp tục đẩy mạnh việc tạo nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật bằng tự chế tạo, chiếm của địch, đồng thời tranh thủ nguồn viện trợ của các nước anh em. Coi trọng kỹ thuật quân sự còn được thể hiện trong việc sớm thành lập và không ngừng phát triển các tổ chức cơ quan và cơ sở kỹ thuật. b) Đặt đúng vị trí kỹ thuật quân sự, không chỉ ở chủ trương, nhận thức mà có những biện pháp cụ thể phù hợp, chăm lo tạo nguồn vũ khí, đồng thời quan tâm không ngừng hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh. Trong lịch sử 30 năm kháng chiến, Đảng ta đã sớm nhận thấy chiến tranh sẽ ngày càng hiện đại, và để đáp ứng, quân đội cũng phải từng bước hiện đại. Trong khi khả năng của đất nước còn có hạn, ta đã hết sức tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, tìm mọi biện pháp để tiếp nhận những nguồn trang bị mà ta chưa chế tạo được như tiếp nhận nguồn viện trợ của Trung Quốc từ sau chiến thắng Biên giới năm 1950 để có pháo binh, cao xạ, xe vận tải... góp phần bảo đảm đánh thắng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, trước kẻ thù mới là đế quốc Mỹ, Đảng ta sớm nhận rõ phải xây dựng quân đội từng bước lên chính quy, hiện đại. Với sự chi viện của Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em cùng với kết quả của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế ở miền Bắc đã tạo điều kiện cho ta tiến hành một cuộc cách mạng kỹ thuật trong quân đội, đưa quân đội ta từ chủ yếu là bộ binh phát triển thành một lục quân mạnh có đủ các binh chủng kỹ thuật, xây dựng được những cơ sở đầu tiên của quân chủng Phòng không - Không quân và Hải quân. Khi đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh ở miền Nam và mở rộng chiến tranh ra cả miền Bắc, ta tiếp tục nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô. Trung Quốc; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ để tiến hành một bước phát triển nhảy vọt về vũ khí, trang bị. Đặc biệt Quân chủng Phòng không - Không quân đã nhanh chóng được hiện đại hóa, trang bị các loại pháo phòng không, tên lửa, máy bay hiện đại, kịp thời đối phó với chiến tranh công nghệ cao của Mỹ phá hoại miền Bắc nước ta. c) Nhận thức đúng vai trò, vị trí của kỹ thuật quân sự trong kháng chiến còn biểu hiện ở chỗ chúng ta đã sớm thấy tính tất yếu phải phát triển toàn diện và đồng bộ về kỹ thuật quân sự Đó là tổng thể các hoạt động cần thiết để bảo đảm cho vũ khí, trang bị kỹ thuật được khai thác sử dụng có hiệu quả, phát huy hết tính năng sẵn có và bảo đảm cho chúng giữ được tình trạng tốt, bền luôn sẵn sàng chiến đấu. Trong tổng thể các hoạt động đồng bộ này có nhiều hoạt động được tiến hành rất công phu, từ huấn luyện, tiếp nhận kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng bảo đảm kỹ thuật, xây dựng và thực hiện các chế độ bảo dưỡng, kiểm tra kỹ thuật bảo quản cất trữ đến sửa chữa phục hồi, sản xuất phụ tùng thay thế, thanh lý, thu hồi... Để làm được những viêc đó lại có nhiều nội dung bảo đảm cho nó như chuẩn bị con người, tài liệu, xây dựng kho tàng, trạm xưởng và cung cấp vật chất kỹ thuật... Tuy nhiên, trong quá trình kháng chiến, không phải lúc nào ở đâu, vị trí của kỹ thuật quân sự cũng được nhận thức đúng đắn và được thể hiện đầy đủ trong thực tiễn xây dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang. Khi có nguồn viện trợ trang bị hiện đại, có lúc ta đã coi nhẹ việc xây dựng nền công nghiệp quốc phòng và cả công tác nghiên cứu triển khai. Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện xây dựng cơ quan, cơ sở của ngành kỹ thuật, có thời kỳ thiếu đồng bộ và toàn diện. Vì vậy, quá trình giải quyết vấn đề kỹ thuật trong kháng chiến cũng là quá trình đấu tranh khắc phục những nhận thức chưa thật đúng đắn và đầy đủ về vị trí, vai trò của kỹ thuật quân sự. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:35:49 pm 2. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ khai thác sức mạnh thời đại để phát triển kỹ thuật quân sự.
Trong 30 năm chiến tranh, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, ý chí kiên cường, tinh thần tự lực, tự cường của quân và dân ta đã khiến cả loài người tiến bộ cảm phục và dành cho sự ủng hộ ngày càng to lớn. Nhờ có sự giúp đỡ đó, nên mặc dù nước ta là một nước nông nghiệp, kinh tế, khoa học kỹ thuật còn thấp kém, quân và dân ta vẫn có và làm chủ được vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, lần lượt đánh thắng những đế quốc to. Biết dựa vào sức mình và biết khai thác sức mạnh của thời đại để giải quyết vấn đề kỹ thuật quân sự là yếu tố rất quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của 30 năm kháng chiến. a) Phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, phát triển nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật bảo đảm cung cấp vũ khí, trang bị cho các lực lượng vũ trang chiến đấu và thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật, hiện đại hóa quân đội. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, một trong những khó khăn lớn nhất là cung cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật. Các biện pháp tạo nguồn bằng tự nghiên cứu sản xuất, mua sắm và chiếm của địch mà Đảng ta đề ra ngay từ thời kỳ hoạt động bí mật và được toàn quân, toàn dân ta tích cực thực hiện trong suốt 30 năm kháng chiến, đã thể hiện tinh thần cách mạng và khoa học, tự lực giải quyết vấn đề vũ khí, trang bị kỹ thuật. Khác với thông thường, ta không chỉ dựa vào nền kinh tế và trình độ công nghiệp để có vũ khí, trang bị kỹ thuật, mà kết hợp sáng tạo các biện pháp, trên cơ sở động viên tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và trí tuệ của quân và dân ta. Sau Cách mạng tháng Tám, ta cần mua vũ khí để trang bị cho lực lượng vũ trang mới thành lập, Chính phủ đã phát động toàn dân quyên góp tiền của để mua sắm vũ khí. Chỉ trong Tuần lễ vàng và Quỹ Độc lập, nhân dân đã đóng góp được 20 triệu đồng và 370kg vàng, ta đã dùng phần lớn số tiền vàng này mua được gần 5.000 khẩu súng các loại. Dựa vào tài trí và lòng dũng cảm của quân và dân ta, bằng nhiều cách, chúng ta đã đoạt được nhiều súng đạn của địch để trang bị cho mình. Chiến tranh càng quyết liệt thì nguồn vũ khí chiến lợi phẩm càng dồi dào hơn. Biểu hiện nổi bật nhất của tinh thần tự lực, tự cường là những nỗ lực cao độ của Đảng, Nhà nước và quân, dân ta trong việc xây dựng ngành chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bi kỹ thuật. Ngay trong những năm đầu, ngành đã chế tạo nhiều kiểu loại vũ khí khác nhau bảo đảm cho yêu cầu phát triển chiến thuật của chiến tranh nhân dân. Các hoạt động sản xuất, chế tạo vũ khí đã bảo đảm nhiệm vụ cung cấp vũ khí trong những năm đầu quân dân ta chiến đấu trong vòng vây. Khi biên giới được khai thông, ta có nguồn viện trợ to lớn của các nước anh em, nhưng việc tự sản xuất vũ khí vẫn được coi trọng, đặc biệt là ở chiến trường miền Nam. Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các biện pháp tạo nguồn lại tiếp tục được phát huy, nhất là ở chiến trường miền Nam. Nhờ đó trang bị vũ khí cho các đơn vị vũ trang đầu tiên ở miền Nam trong những năm 1959 - 1960 được bảo đảm. Trên cơ sở đó, ta đã tiếp tục xây dựng khối chủ lực ở những năm sau. Tinh thần tự lực, tự cường cũng được thể hiện ở quyết tâm tổ chức vận chuyển, cung cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật đến các chiến trường. Đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã khắc phục nhiều khó khăn ác liệt để vận chuyển vũ khí, trang bị kỹ thuật cung cấp cho các chiến trường qua tuyến vận tải chiến lược 559. Tinh thần tự lực, tự cường còn đưjc biểu hiện ngay trong quá trình tiến hành cuộc cách mạng kỹ thuật quân sự để hiện đại hóa quân đội và bảo đảm kỹ thuật, phục vụ chiến đấu đạt hiệu quả cao. Đây không chỉ là những nỗ lực để tạo nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật mà còn là những nỗ lực để tiếp nhận và vươn lên làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, sử dụng có hiệu quả trong chiến đấu. Biểu hiện rõ rệt nhất là trong giai đoạn tiếp nhận vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại mà Liên Xô, Trung Quốc chi viện cho ta để từng bước hiện đại hóa quân đội. Chúng ta đã nghiên cứu, cải tiến nhiều loại vũ khí, góp phần quan trọng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc cũng như bảo đảm cơ động, bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến hiệp đồng các quân binh chủng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giành thắng lợi quyết định. b) Tranh thủ khai thác sức mạnh thời đại để phát triển kỹ thuật quân sự Bằng đường lối đối ngoại đúng đắn, khôn khéo, Đảng ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ và sự chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vì vậy, lực lượng vũ trang ta có được những vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại trong khi trình độ khoa học kỹ thuật của nước ta còn thấp kém. Nhờ đó, quân đội ta có bước nhảy vọt thực sự về chất lượng vũ khí, trang bị, có điều kiện thực hiện những lần đổi mới vũ khí trang bị vào những năm 1956, 1958 và những năm tiếp sau, đặc biệt là khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc nước ta. Chỉ tính từ năm 1955 đến năm 1974, khối lượng hàng viện trợ mà ta nhận được từ các nước anh em lên tới 2.345.000 tấn, trị giá 4,185 tỷ rúp. Thực ra số lượng, trọng lượng và trị giá bằng tiền chưa thể nói hết những đóng góp và sự giúp đỡ to lớn của quốc tế đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Ngoài khối lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật to lớn, là trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ, thuộc loại hiện đại của thế giới mà chúng ta tiếp thu được. Bên cạnh vật chất, kỹ thuật, các nước anh em đã giúp ta tiếp cận nhanh chóng về kiến thức, vê thông tin, trình độ chung vê kỹ năng quản lý kỹ thuật quân sự, về tổ chức chỉ huy chiến đấu trong điều kiện hiện đại và sử dụng nó với quy mô lớn. Thực tiễn lịch sử 30 năm kháng chiến cho thấy, trong hoạt động nhiều mặt về kỹ thuật quân sự thì việc tạo nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật luôn luôn là một nội dung cốt lõi và quan trọng nhất. Và nó đã được giải quyết một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ chiến tranh từ hai hướng tự lực, tự cường và phát huy sức mạnh thời đại. Mặc dù còn một số hạn chế như có lúc còn coi nhẹ tự sản xuất, chưa xử lý tốt vấn đề quản lý và phát huy hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật có trong tay, nhưng về cơ bản ta đã kết hợp đúng đắn giữa hai yếu tố tự lực, tự cường và khai thác phát huy sức mạnh thời đại. Điều đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong 30 năm kháng chiến vừa qua, mà vẫn rất quan trọng sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngày nay. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:37:22 pm 3. Nỗ lực phát triển đồng bộ kỹ thuật quân sự bảo đảm khai thác sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật
Khi đã có nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật trong tay thì vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào để khai thác, sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Để khai thác sử dụng có hiệu quả cao vũ khí, trang bị kỹ thuật thì phải triển khai nhiều mặt hoạt động phức tạp một cách đồng bộ. Trong điều kiện cụ thể như ở nước ta với một nển kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc triển khai các hoạt động đó thường có nhiều khó khăn. Chính vì vậy, nó phải được quan tâm thích đáng. Về tổng quát, phải triển khai đồng bộ các mặt hoạt động kỹ thuật quân sự bao gồm những nội dung sau: - Bảo đảm cơ sở hạ tầng cho hoạt động của vũ khí (như phải có đường băng cho máy bay cất, hạ cánh: phải có bến cảng neo giữ, bảo vệ tàu; có đường, cầu cho xe cơ giới cùng các công trình kiến trúc quân sự...). - Bảo đảm đội ngũ sử dụng và quản lý bằng hoạt động đào tạo, huấn luyện để vũ khí trang bị kỹ thuật được khai thác trực tiếp, hết khả năng thiết kế của chúng, phát huy tác dụng và hiệu quả cao trong chiến đấu. - Bảo đảm cho hoạt động bình thường, lâu bền, đáng tin cậy của vũ khí, trang bị. Đó là những công việc thuộc về công tác bảo đảm kỹ thuật, gồm chế độ bảo dưỡng, bảo quản thường xuyên trong cất giữ tạm thời hoặc niêm cất dài hạn. - Những hoạt động xử lý có hiệu quả khi vũ khí, trang bị kỹ thuật bị xuống cấp, hư hỏng bằng công tác kiểm tra, sửa chữa, thay thế, phục hồi, thanh lý... Đây là những hoạt động mới mẻ, chúng ta phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, nghiêm túc học tập kinh nghiệm của các nước bạn, triển khai vận dụng trong thực tiễn, đặc biệt từ những năm 1960 trở đi. Nhờ quan tâm tổ chức chỉ đạo làm tốt các nội dung này nên mặc dù còn một số khó khăn hạn chế, ta đã bảo đảm cho cuộc cách mạng kỹ thuật trong quân đội đạt nhiều thành công, tạo điều kiện cho chiến đấu thắng lợi. 4. Phát huy trí tuệ Việt Nam, đẩy mạnh nghiên cứu kỹ thuật quân sự, góp phần nâng cao hiệu quả chiến đấu của các lực lượng vũ trang Để chỉ đạo và khai thác sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đòi hỏi phải đẩy mạnh nghiên cứu kỹ thuật quân sự. Hoạt động nghiên cứu kỹ thuật quân sự của ta đã sớm được triển khai từ trước, đến ngày 4 tháng 2 năm 1947, Nha Nghiên cứu kỹ thuật thuộc Cục Quân giới chính thức được thành lập. Trong buổi đầu, hoạt động nghiên cứu và sản xuất ở nước ta không tách rời nhau. Từ khi thành lập cơ quan nghiên cứu kỹ thuật thì hoạt động nghiên cứu kỹ thuật quân sự được đẩy mạnh lên, đã giải quyết được những yêu cầu đặt ra của nhiệm vụ chiến đấu (như nghiên cứu chế tạo badôca, AT, SKZ... cùng các loại hóa chất thiết yếu). Tuy nhiên, do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ và nhiều lý do khác, nên 6 năm sau ngày thành lập (1953), ta đã giải thể cơ quan nghiên cứu kỹ thuật quân sự. Mãi đến thấng 10 năm 1960, cơ quan này mới thành lập lại với tên gọi Cục Nghiên cứu kỹ thuật, sau đó đổi tên thành Viện Kỹ thuật quân sự cho đến ngày nay. Ở các quân, binh chủng, từ giữa năm 1960, cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của mình mới lần lượt được thành lập. Trong 30 năm kháng chiến, hoạt động nghiên cứu kỹ thuật quân sự đã góp phần rất quan trọng vào việc phát huy năng lực sáng tạo và hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang. Điều này được thế hiện ở các nội dung lớn sau: - Phát triển nhanh và rộng khắp việc sản xuất, chế tạo "Vũ khí căn bản" cho chiến tranh nhân dân, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ngày càng phát triển trong suốt 30 năm kháng chiến. - Vận dụng các nguyên lý hiện đại, phát triển những loại vũ khí có tính năng chiến đấu cao, những công nghệ chế tạo phù hợp với trình độ, khả năng sản xuất của ta (như súng badôca, SKZ, AT, mìn bám, thủy lôi APS, FR, A12 cải tiến từ rốc két nhiều nòng BM14). - Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật bảo đảm cho vũ khí, trang bị kỹ thuật được khai thác với hiệu quả cao, kéo dài thời gian sử dụng (như chống nhiễu, thông tin dẫn đường cho phòng không - không quân bắn rơi máy bay B52; nghiên cứu chống lại tác động của môi trường khí hậu nhiệt đới để bảo quản vũ khí, đạn dược...). - Nghiên cứu làm vô hiệu hóa vũ khí của địch (như thiết kế chế tạo thành công các phương tiện phóng từ để phá bom từ trường, máy làm liệt bom KC70, các biện pháp kỹ thuật kết hợp với chiến thuật để đối phó với các phương tiện trinh sát điện tử của địch...). Đây là một hướng nghiên cứu rất đúng đắn có tác dụng to lớn, kịp thời đă góp phần làm thất bại các âm mưu và biện pháp kỹ thuật mới của địch. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay, các thế lực thù địch đang và sẽ lợi dụng sự phát triển của vũ khí công nghệ cao đế chống phá ta nên ta cần phải kế thừa và phát triển kinh nghiệm nghiên cứu kỹ thuật quân sự lên một bước mới. Tiêu đề: Lịch sử Quân sự Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:38:07 pm 5. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng con người với phát triển kỹ thuật quân sự và nghệ thuật quân sự tạo nên sức mạnh chiến thắng
Sức mạnh của vũ khí trang bị nói riêng và sức mạnh của kỹ thuật quân sự nói chung, tự thân nó chưa thể khẳng định được hiệu quả trong chiến đấu, mà phải thông qua yếu tố con người và nghệ thuật quân sự để phát huy tác dụng. Trong mọi cuộc chiến tranh, hoạt động quân sự là sự kết hợp của nhiều yếu tố mà trước hết là con người, kỹ thuật quân sự và nghệ thuật quân sự. Vấn đề khác nhau giữa các quân đội là ở vị trí, vai trò từng yếu tố đó và cách kết hợp, phát huy chúng. Với đặc thù riêng của mình, từ thực tiễn 30 năm kháng chiến cho thấy, sức mạnh của sự kết hợp giữa con người với kỹ thuật quân sự và nghệ thuật quân sự là sức mạnh tổng hợp. Đó là sự kết hợp giữa sức mạnh vật chất kỹ thuật với sức mạnh tinh thần và sức mạnh trí tuệ con người Việt Nam. Kết hợp tốt các yếu tố trên cũng tức là chúng ta đã huy động đến mức cao các sức mạnh vật chất, con người và môi trường, địa lý, truyền thống, lịch sử đất nước... vào cuộc chiến tranh nhằm trực tiếp giáng vào đầu kẻ thù và cuối cùng đánh thắng chúng. Phát huy yếu tố con người trong các hoạt động kỹ thuật quân sự là sự cụ thể hóa mối quan hệ giữa con người với kỹ thuật quân sự. Nó thể hiện trên 2 mặt: Con người làm ra vũ khí, trang bị kỹ thuật và con người sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật. Con người Việt Nam, mang trong mình truyền thống của hàng ngàn năm lịch sử, có tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường bất khuất, lòng hiếu học và trí thông minh sáng tạo, khi bước vào cuộc kháng chiến 30 năm với cơ sở vật chất kỹ thuật rất nhỏ vếu, nhưng đã khắc phục vô vàn khó khăn để làm ra vũ khí đánh giặc. Số lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật làm ra ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao là do quân dân ta biết làm theo cách của mình với tinh thần tự lực, tự cường cao độ. Với tinh thần đó, khi được sự chi viện về vũ khí, trang bị kỹ thuật của các nước anh em, chúng ta đã nhanh chóng tiếp nhận kỹ thuật có trình độ kiến thức hiện đại, sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật đó vào chiến đấu đê giành thắng lợi. Để phát huy yếu tố con người trong hoạt động kỹ thuật quân sự của cuộc kháng chiến 30 năm, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, động viên khí thế thi đua yêu nước, giết giặc lập công trong toàn quân, toàn dân. Đồng thời, hết sức coi trọng công tác huấn luyện đào tạo với nhiều hình thức sinh động, phong phú nên đã bồi dưỡng một thế hệ con người Việt Nam vừa có ý chí cách mạng kiên cường, vừa có trí thức cần thiết về khoa học và kỹ thuật quân sự theo yêu cầu từng thời kỳ phát triển của chiến tranh. Cuộc kháng chiến 30 năm là một quá trình phát triển của kỹ thuật quân sự Việt Nam. Đó cũng là quá trình kết hợp giữa kỹ thuật quân sự và nghệ thuật quân sự, chúng dựa vào nhau, bổ sung cho nhau phát triển, Đường lối và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đã định hướng cho quá trình hình thành và phát triển của ngành kỹ thuật quân sự Việt Nam. Những yêu cầu của chiến thuật, của phương thức tác chiến, của nghệ thuật quân sự đã thúc đẩy sự phát triển nhanh và đầy sáng tạo của kỹ thuật quân sự. Mặt khác, sự phát triển của kỹ thuật quân sự thông qua chủng loại, tính năng, trình độ và số lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật và trình độ sử dụng chúng cũng tạo cơ sở cho sự phát triển của chiến thuật, của phương thức tác chiến, tác động tới quy mô, trình độ tổ chức lực lượng và nói chung là nghệ thuật quân sự (như sự phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự khá hiện đại trong kháng chiến chống Mỹ đã tạo cơ sở cho việc tổ chức các quân đoàn và tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh...). Kết hợp hoạt động nghiên cứu kỹ thuật quân sự với nghệ thuật quân sự còn giúp ta giải quyết có hiệu quả việc hạn chế sức mạnh vũ khí, trang bị của kẻ thù (tiêu biểu như việc kết hợp để đối phó có hiệu quả trong chống địch đánh phá tuyến vận tải 559 hoặc như trong chống chiến tranh điện tử khi địch tập kích chiến lược bằng máy bay B52 và bắn rơi chúng...). Điều đó khẳng định một định hướng: đối phó làm vô hiệu hóa vũ khí, trang bị hiện đại công nghệ cao của địch là điều ta có thể thực sự làm được trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay nếu nó xảy ra. Như vậy, với cuộc kháng chiến 30 năm, trong điều kiện ta luôn yếu hơn địch về vũ khí, trang bị kỹ thuật thì việc kết hợp chặt chẽ giữa 3 yếu tố là "con người Việt Nam - Kỹ thuật quân sự Việt Nam - Nghệ thuật quân sự Việt Nam" đã giúp ta tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch, tạo điều kiện để ta đánh thắng bọn xâm lược. Đây là một bài học quý báu để kế thừa và phát triển trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí của vũ khí, trang bị kỹ thuật trong chiến tranh, Đảng ta đã sớm đề ra ba biện pháp tạo nguồn vũ khí, trang bị kỹ thuật, hết sức quan tâm tạo điều kiện cung cấp cho các lực lượng vũ trang những vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại đáp ứng yêu cầu của 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Vũ khí, trang bị kỹ thuật tạo nên sức mạnh vật chất trực tiếp, có vai trò hết sức quan trọng, nhưng riêng bản thân nó không phải là yếu tố quyết định thành bại của chiến tranh. Chỉ có kết hợp vũ khí, trang bị kỹ thuật với yếu tố con người (trong chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật và sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật bằng tinh thần tự lực, tự cường để giải quyết mọi vấn đề kỹ thuật quân sự và bằng nghệ thuật quân sự Việt Nam) mới tạo nên được sức mạnh để giành thắng lợi quyết định. Trong cuộc kháng chiến 30 năm, quân và dân ta đánh giặc dựa trên sức mạnh tổng hợp của con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật. Vũ khí, trang bị kỹ thuật là công cụ để con người tiến hành chiến tranh, nhưng trong chiến đấu, con người còn dựa vào những sức mạnh khác của chính bản thân mình là sức mạnh tinh thần, sức mạnh trí tuệ. Đảng ta không cho rằng yếu tố tinh thần của con người sẽ quyết định tất cả, mà phải có cơ sở yật chất nhất định mới đảm bảo thắng lợi trong chiến tranh. Điều đó đòi hỏi vũ khí, trang bị kỹ thuật phải đạt tới trình độ nào đó thì sức mạnh tổng hợp chung của ta mới đủ lớn để có thể chiến thắng sức mạnh quân sự của kẻ thù. Ở tầm chiến lược, quan trọng nhất là đề cao ý chí tự lức tự cường, biết tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của quốc tế và triển khai đồng bộ các hoạt động kỹ thuật quân sự để khai thác có hiệu quả cao vũ khí, trang bị kỹ thuật, phát huy cao độ vai trò của trí tuệ luôn là nét nổi bật trong chiến lược phát triển kỹ thuật quân sự. Đó là đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, là nghệ thuật quân sự tiên tiến, là cách đánh mưu trí sáng tạo để "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh" và giành thắng lợi cuối cùng. Trong kỹ thuật quân sự, lấy nhỏ thắng lớn, ít địch nhiều, "lấy trí thắng lực" là biết tạo nên cách giải quyết vấn đề đặt ra, đó là vừa phát huy mặt ưu việt của cách đánh truyền thống, vừa năng động, sáng tạo, biết vượt qua mọi hạn chế thực tại để vươn tới những thành công lớn mà nền công nghiệp hiện có của đất nước chưa thể bảo đảm được... Bên cạnh những thành công to lớn trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự mà thực tiễn lịch sử đã khẳng định, trong quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện từng mặt kỹ thuật quân sự ở từng thời kỳ chiến tranh cũng còn những hạn chế, bất cập làm giảm hiệu quả và chất lượng như: coi nhẹ việc tự nghiên cứu và sản xuất một số vũ khí cần thiết sau năm 1950, khi có chi viện của nước bạn; tổ chức triển khai các hoạt động kỹ thuật quân sự thường thiếu đồng bộ: quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự chưa chặt chẽ, nên chất lượng, hiệu quả có thời kỳ chưa cao v.v... Đó là những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Từ chiến thắng vang dội mùa Xuân 1975 đến nay, gần 30 năm đã trôi qua, nhưng những bài học chủ yếu về giải quyết vấn đề kỹ thuật quân sự trong 30 năm kháng chiến vẫn còn ý nghĩa thực tiễn đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. |